Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 25-B Bài 151-187 Muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết

Thứ bảy - 18/09/2021 03:10
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 25-B Bài 151-187 Muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 25-B Bài 151-187 Muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 25-B Bài 151-187 Muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết
----------------------------

TN25-B101. PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI 3
TN25-B102. CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM, B.. 6
TN25-B103. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.. 9
TN25-B104. Chọn lựa để phục vụ. 10
TN25-B105. Đầy tớ của mọi người. 12
TN25-B106. Làm gia tăng giá trị của mình. 13
TN25-B107. Suy niệm của Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu. 15
TN25-B108. Đời tôi tiến bước như một con lừa. 16
TN25-B109. Thiên vị – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 21
TN25-B110: Chất người trong tôi - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 24
TN25-B111: Người lớn nhất – Thiên Phúc. 26
TN25-B112: Theo Chúa phải khiêm nhường phục vụ. 27
TN25-B113: Quyền bính là để phục vụ. 29
TN25-B114: NGƯỜI LỚN NHẤT.. 32
TN25-B115: NGƯỜI LỚN NHẤT.. 34
TN25-B116: Thang giá trị mới 35
TN25-B117: Phục vụ. 37
TN25-B118: Máu làm quan – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 38
TN25-B119: Ghen tỵ! – Huệ Minh. 39
TN25-B120: Miếng tiếng - Lm. Vũ Đình Tường. 41
TN25-B121: Người lớn hơn cả là ai?. 44
TN25-B122: Suy niệm của Jean-Pierre Camerelain. 46
TN25-B123: Hiểu lầm – Lm Gioan B. M. 48
TN25-B124: Nên thánh trong phục vụ – Lm. Vũ Xuân Hạnh. 50
TN25-B125: Suy niệm của Fx. Đỗ Công Minh. 52
TN25-B126: Nghĩ đến cùng đích. 54
TN25-B127: Danh lợi – Trầm Thiên Thu. 56
TN25-B128: Nhân Danh – Trầm Thiên Thu. 59
TN25-B129: Bước theo Chúa trong khiêm hạ. 63
TN25-B130: Đấng Ki-tô, người công chính của Thiên Chúa. 65
TN25-B131: Làm kẻ phục vụ mọi người 67
TN25-B132: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 25 TN B.. 69
TN25-B133: Ra đường…, về nhà…... 73
TN25-B134: Trở nên người cao quý. 76
TN25-B135: Chú giải của Noel Quesson. 78
TN25-B136: Người phục vụ là ai? _ Lm Giuse Nguyễn Văn Tuyên. 83
TN25-B137: Phục vụ trong khiêm tốn. 85
TN25-B138: NGƯỜI MÔN ĐỆ MẪU.. 87
TN25-B139: Cuộc khổ nạn và tinh thần phục vụ. 89
TN25-B140: Người làm lớn. 93
TN25-B141: Ai muốn làm lớn. 98
TN25-B142: Ai là người lớn nhất 100
TN25-B143: Người đứng đầu phục vụ mọi người 103
TN25-B144: Cũng một chữ ganh. 106
TN25-B145: Tham vọng. 108
TN25-B146: Suy niệm của Lm. Anfonso. 109
TN25-B147: Một ly nước lã. 111
TN25-B148: Suy niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. 113
TN25-B149: Não trạng đại gia. 116
TN25-B150: SỐNG GIỐNG NHƯ THẦY CHÍ THÁNH CỦA CHÚNG TA.. 120
TN25-B151: GHEN TƯƠNG ĐỐ KỴ.. 124
TN25-B152: LÀM NGƯỜI PHỤC VỤ.. 126
TN25-B153: Ở ĐÂU CÓ GHEN TỴ, Ở ĐÓ CÓ TỆ ĐOAN.. 128
TN25-B154: CHÚA BÊN CON.. 131
TN25-B155: NÊN NHỎ BÉ.. 132
TN25-B156: LÀM LỚN ĐỂ PHỤC VỤ.. 133
TN25-B157: HAI CÁCH ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI 136
TN25-B158: LÃNH ĐẠO PHỤC VỤ.. 138
TN25-B159: SO ĐO.. 141
TN25-B160: SỰ GHEN TƯƠNG.. 145
TN25-B161: CON NGƯỜI CHỊU NHIỀU ĐAU KHỔ.. 146
TN25-B162: DANH VỌNG.. 148
TN25-B163: ĐỨC GIÊSU, GƯƠNG MẪU PHỤC VỤ.. 150
TN25-B164: NGƯỜI CON THỨ.. 154
TN25-B165: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B.. 157
TN25-B166: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B. 159
TN25-B167: PHỤC VỤ LÀ VĨ ĐẠI 162
TN25-B168: VÒNG XOAY.. 163
TN25-B169: SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B.. 167
TN25-B170: CHÚNG TA TIN VÀO CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH.. 170
TN25-B171: LÀM NGƯỜI PHỤC VỤ.. 173
TN25-B172: TRỞ NÊN NGƯỜI CAO QUÍ 174
TN25-B173: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 25 TN_B.. 177
TN25-B174: CON ĐƯỜNG GIÊSU.. 182
TN25-B175: GHEN TUÔNG – TRANH CHẤP. 184
TN25-B176: SỰ HAM MUỐN KHÔN NGOAN.. 188
TN25-B177: THÂN PHẬN CỦA THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI 191
TN25-B178: KHIÊM NHƯỜNG VÀ PHỤC VỤ.. 193
TN25-B179: BÀI HỌC VÀ GƯƠNG PHỤC VỤ.. 194
TN25-B180: CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B.. 197
TN25-B181: BÀI HỌC VỀ QUYỀN BÍNH.. 200
TN25-B182: CON  ĐƯỜNG  ĐÃ CHỌN.. 202
TN25-B183: CHÌA KHÓA NƯỚC TRỜI: PHỤC VỤ.. 204
TN25-B184: GHEN TƯƠNG.. 207
TN25-B185: TÂM TƯ CỦA CHÚA CÓ TRONG NGƯỜI MÔN ĐỆ?. 209
TN25-B186: KHÔN NGOAN KITÔ GIÁO.. 212
TN25-B187: HỌC HỎI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT XXV TN-B.. 216

----------------------

 

TN25-B101. PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI


Chúa Nhật 25B Thường Niên

Kn 2:12.17-20
Mc 9:30-37
Gc 3:16-4:3

 

Tương quan giữa con người và con người thật là phức tạp. Có những người lúc nào cũng đòi: TN25-B101


Tương quan giữa con người và con người thật là phức tạp. Có những người lúc nào cũng đòi hỏi. Họ sinh ra để được phục vụ chứ không phải để phục vụ. Tất cả cuộc sống chỉ có nghĩa là thỏa mãn nhu cầu. Cá nhân là tiêu chuẩn tối cao xác định mọi giá trị. Đức Giêsu bác bỏ tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục đó. Người nêu cao tiêu chuẩn phục vụ để thẩm định vai trò người lãnh đạo. Chính Người cho thấy mức phục vụ cao độ trên cây thập giá.

TIÊU CHUẨN PHỤC VỤ

Khi đả phá não trạng chủ tớ, phải chăng Đức Giêsu làm rối loạn trật tự xã hội ? Người không phản đối quyền bính, vì quyền bính vẫn cần thiết trong Nước Thiên Chúa. Nhưng Người phản kháng não trạng và cách thức thi hành quyền bính trong cộng đồng nhân loại. Người ta lạm dụng quyền bính để đè đầu đè cổ đồng loại, đến nỗi quên nguồn gốc mọi quyền bính là Thiên Chúa. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thực quyền trên nhân loại. Nhưng Người đã thực thi quyền bính thế nào ? Người đã thi hành quyền bính khi sai “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45). Đó là mức độ phục vụ lớn lao nhất và có mục đích cao cả nhất.

Muốn “theo Thày”, các môn đệ không còn con đường nào khác. Thày trở thành tiêu chuẩn và mẫu mực phục vụ mọi người. Mặc dù theo sát Đức Giêsu, các môn đệ vẫn chưa thể học nổi bài học của Thày. Đức Giêsu đau khổ không phải chỉ vì “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người” (Mc 9:32), nhưng còn bị các môn đệ “tỉnh bơ” trước những thao thức lớn lao về thân phận mình. Thời gian theo Người quá ngắn. Các ông không thể thích ứng kịp. Chính vì thế, dù vừa nghe Thày trăn trở về thân phận tôi tớ đau khổ, các ông vẫn cao hứng to tiếng về miếng đỉnh chung, “vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9:34). Thày là thế. Trò là thế. Hai con đường song song không dễ gì gặp nhau.

Thày tìm mọi cách phục vụ con người, phục vụ đến hi sinh tất cả mạng sống. Trước khi lên tiếng dạy môn đệ, Thày đã nêu gương: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9: 35). Thày là Người đứng ở đỉnh cao nhất. Bởi vậy, Thày nêu gương phục vụ lớn lao nhất. Muốn phục vụ như thế, các môn đệ phải thấy được hình ảnh Thày nơi các em nhỏ. Em nhỏ không có chỗ đứng nào hết trong bực thang xã hội. Chính vì thế, các em nhỏ không được ai chú ý và tôn trọng. Nếu người môn đệ đích thực thấy được Chúa trong nơi rốt cùng đó, việc phục vụ sẽ có một chiều kích lớn lao. Vì chính nơi rốt cùng đó có một Đấng cao trọng vô cùng. Quả thực “ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37). Đức Giêsu đồng hóa mình với em nhỏ cũng như với người nghèo. Phục vụ tới mức độ này đòi phải có một tâm hồn thật đơn sơ và không tính toán. Việc phục vụ đó hoàn toàn phải vô tư và vô vị lợi.

Như vậy, việc phục vụ vừa phải khiêm tốn và đơn sơ mới mong bắt chước khuôn mẫu và đi theo con đường Chúa đã vạch ra. Khiêm tốn đến nỗi “chết nhục nhã,” bị “hạ nhục và tra tấn” mà vẫn “hiền hòa làm sao” (Kn 2:19-20). Người hoàn toàn không còn nghĩ đến chính mình nữa. Người không muốn tranh chấp với ai, nhưng chỉ muốn trở thành“người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:3). Nhưng chính cuộc đời công chính đó đã là bản cáo trạng tố cáo “phường vô đạo” (Kn 2:12). Cuộc đời trở thành trận chiến khốc liệt giữa sự công chính và bất công. “Phường vô đạo” âm mưu và quyết hạ bệ người công chính: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Tất cả những âm mưu đen tối đó đã đổ ập xuống con người Đức Giêsu. Cuộc đời thật là một bể khổ, một cõi ô trọc.

Nhưng Đức Giêsu không dừng lại nơi những nét tang thương đó để bi quan, yếm thế và #tìm cách trả thù đời. Trái lại Người luôn sống “hiền lành và khiêm nhường” với mọi người. Sau cùng Người đã chết để “cứu độ mọi người.” Sống giữa một bể khổ, Người vẫn luôn tràn ngập hồng ân. Người đã biến đổi tất cả thành phương tiện cứu độ. Tất cả lực lượng tử thần không làm gì được Người. Vì nhờ sức mạnh Thánh Linh, “Người sẽ sống lại” ( Mc 9:31) trong tình yêu Chúa Cha. Chính sức mạnh và tình yêu đó đã khiến Đức Giêsu hiên ngang đương đầu với mọi thử thách. Nhưng sức mạnh và tình yêu đó vẫn là những thực tại huyền nhiệm. Làm sao các môn đệ có thể hiểu nổi ? Đó là lý do tại sao Đức Giêsu vẫn bị hiểu lầm và cô đơn cho đến chết.

PHỤC VỤ HÔM NAY

          Nhưng không vì thế Đức Giêsu trở thành bất lực. Trái lại, Người trở thành động lực thúc đẩy Giáo Hội không ngừng phục vụ nhân loại trong bất cứ hoàn cảnh nào. Rất nhiều sáng kiến và nhiệt tình đã được tung ra để đáp ứng những nhu cầu lớn lao của thời đại. Giáo Hội là “bí tích thực hiện sứ vụ Đức Giêsu để sứ mệnh Nước Trời của Người được mở rộng khắp không gian và thời gian” (McGonigle 1993:658). Cộng đoàn Kitô giờ đây tiếp tục sứ vụ của Người và làm cho sứ vụ đó trở thành hiện thực, hầu có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của quần chúng, giúp họ bắt gặp tình yêu Thiên Chúa đầy thương xót trong những hoàn cảnh sinh sống khác nhau. Kitô hữu vững tin vào sứ vụ Giáo Hội lãnh nhận từ Đức Giêsu có sức cứu độ toàn thể nhân loại. “Vì cùng một Thánh Linh đã hoạt động trong sứ vụ Đức Giêsu, ngày nay cũng là nguồn ân sủng ban cho bất cứ sứ vụ nào trong Giáo Hội, phát sinh từ công cuộc cứu độ của Đấng Phục Sinh” (McGonigle 1993:658).

Công cuộc phục vụ hôm nay rất đa dạng. Ngoài những tổ chức bác ái truyền thống, còn có những sáng kiến kết hiệp độc đáo giữa những người cùng chia sẻ một niềm tin Thiên Chúa. Chẳng hạn tổ chức The Foundation for Interfaith Research and Ministry (FIRM) liên kết nhiều người đến tận nhà săn sóc người lớn và trẻ em đang mắc bệnh kinh niên hay sắp chết và suy nhược cơ thể trầm trọng. Các hội viên xuất thân từ các cộng đoàn Do thái và Kitô giáo. Hội tổ chức thành những đội ngũ cung cấp và hỗ trợ cá nhân hay gia đình trong những nhu cầu đặc biệt như trò truyện, giọn bàn ăn, di chuyển, giọn nhà, đi chợ, nâng đỡ tinh thần hay tình cảm, chăm sóc nhu cầu căn bản về thể xác hay cá nhân v.v. Hiện nay nhờ tình nguyện chăm sóc bệnh nhân như thế, hằng chục ngàn người đã thay đổi cuộc sống và cảm thấy cuộc đời phong phú hơn. Hằng năm hội dành ra gần một triệu giờ săn sóc bệnh nhân. Họ đều nhận thức rằng nhu cầu tha nhân là một món quà Thiên Chúa làm cho cuộc đời thăng tiến và khát vọng tinh thần được no thỏa.

Theo bước Đức Giêsu, Giáo Hội không ngừng hướng về những người nghèo khổ, bệnh tật và già nua. Các tổ chức Caritas, Vincent de Paul, Cor Unum, v.v... đã và còn đem bao nguồn an ủi tinh thần và vật chất cho những người xấu số. Nhưng sống bác ái bao giờ cũng tương đối dễ hơn sống công bằng. Giáo Hội có dám noi gương Thày chí thánh “bị nộp vào tay người đời” mà vẫn nhất quyết sống công chính, bị “giết chết” mà không ngừng tranh đấu cho công bằng không ? Hay Giáo Hội vẫn thích chơi với người giàu hơn, để mặc những người đói khổ quằn quại dưới những áp chế bất công ? Thánh Linh đã làm cho Đức Giêsu Phục Sinh, không thể nào chịu nhượng bộ trước những bất công đó. Người có thừa sức mạnh thúc đẩy Giáo Hội dấn thân vào những vùng đất nguy hiểm nhất tranh đấu cho người nghèo khổ và xấu số.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

--------------------

 

TN25-B102. CHÚA NHẬT 25 QUANH NĂM, B


21-9-2003

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:       Gia-cô-bê 3:16-4:3

 

Nằm trong chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói về sự khôn ngoan, đoạn trích thư thánh: TN25-B102


Nằm trong chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói về sự khôn ngoan, đoạn trích thư thánh Gia-cô-bê hướng chúng ta tới lãnh vực thực hành đức khôn ngoan trong cuộc sống.  Bài đọc Cựu Ước mời gọi chúng ta tiếp nhận sự khôn ngoan đích thực tức là đi theo đường lối của Thiên Chúa chứ không phải của thế gian.  Bài Tin Mừng giới thiệu cho chúng ta mẫu gương của Chúa Ki-tô, Đấng đã từ chối sống theo khôn ngoan trần thế, nhưng sẵn sàng chấp nhận sứ mệnh Người Tôi Tớ chịu đau khổ của Thiên Chúa và thi hành kế hoạch cứu chuộc như Thiên Chúa muốn.  Đoạn thư Gia-cô-bê giúp chúng ta suy nghĩ về đức khôn ngoan đích thực và đem áp dụng vào cuộc sống Ki-tô hữu.  Có lẽ nhận định tình huống “ghen tương và tranh chấp” của cộng đoàn mình, thánh Gia-cô-bê thấy cần phải nói gì với anh chị em tín hữu về đức khôn ngoan.

 a)  Phân biệt khôn ngoan thật và khôn ngoan giả 

          Người tín hữu đang sống trong một thế giới là nơi “sự khôn ngoan của thế gian, của con người tự nhiên, của ma quỷ” đang khống chế.  Lẽ khôn ngoan ấy cần thiết để người đời có thể “tự cao tự đại.”  Người đời thấy mình phải theo lẽ khôn ngoan ấy để tranh sống, làm giầu, được danh tiếng...  Cuối cùng, nó đưa người ta đến cuộc sống đầy gian dối, trái với sự thật.  Đó là mấy nét thánh Gia-cô-bê phác họa về khôn ngoan giả của thế gian, trước khi ngài đề cập tới đức khôn ngoan của Thiên Chúa ban.  Nguồn gốc phát xuất khôn ngoan giả là do ghen tương, chua chát và tranh chấp.  Trái lại, nguồn gốc của khôn ngoan đích thực là “từ trời ban xuống” do nơi Thiên Chúa.

          Nhìn vào đời sống cộng đoàn ngài và có lẽ của mọi cộng đoàn khác, thánh Gia-cô-bê nhận ra có những tranh chấp và ghen tương giữa Ki-tô hữu với nhau.  Đúng là họ đang bị khôn ngoan thế gian lôi cuốn!  Ngài tế nhị nhắn nhủ họ phải khiêm tốn nhận định tình huống cộng đoàn mình, với giọng điệu nhẹ nhàng của một vị chủ chăn nhân hậu:  “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa.”  Theo nguyên tắc xem quả biết cây, tín hữu có thể nhận ra đâu là khôn ngoan thật và khôn ngoan giả.

 b)  Thế nào là khôn ngoan thật? 

          Vẫn theo nguyên tắc xem quả biết cây, thánh Gia-cô-bê muốn chúng ta nhận định những gì khôn ngoan đích thực đã biến đổi con người chúng ta.  Trong câu 17, ngài đã kể ra những hiệu quả do đức khôn ngoan đích thực đem lại:  thanh khiết, hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi, sinh hoa trái tốt, không thiên vị và không giả hình.  Tất cả những đức tính này đã đủ để nói lên mẫu người Ki-tô hữu biết sống đức khôn ngoan đích thực, tức là người xây dựng hòa bình.

          Ở đây chúng ta thấy phảng phất tư tưởng của một trong tám mối phúc Đức Ki-tô đã công bố trong Bài giảng trên núi.  “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.”  Cùng với bài Tin Mừng nói về chính Đức Ki-tô, chúng ta cũng thấy sáng tỏ hình ảnh của Đức Ki-tô qua lời ngôn sứ I-sai-a:  “Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn...  Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường.  Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng” (Mt 12:18-20).

          Từ sự khôn ngoan như một ý niệm, chúng ta phải tìm đến khôn ngoan như một ngôi vị, đó là chính Đức Ki-tô, đức Khôn ngoan của Thiên Chúa đã nhập thể làm người.  Dõi theo bước Đức Ki-tô, theo sát lối sống của Người, chúng ta không còn sợ lạc đường.  Những điều Người dạy, những việc Người làm, những cách đối xử của Người, hết thảy đều sống động và biểu lộ một con người hoàn toàn đi theo đức Khôn ngoan của Thiên Chúa.

 c)  Áp dụng đặc biệt:  tránh những mối bất hòa 

          Khôn ngoan giúp Ki-tô hữu có một thái độ thích hợp khi phải đối phó với những xung đột và bất hòa.  Bất cứ đời sống cộng đoàn nào, từ gia đình nhỏ bé cho đến những cộng đoàn rộng lớn hơn, không thể tránh được bất hòa và tranh chấp.  Tội nguyên tổ đã để lại gốc rễ bất hòa, giữa Thiên Chúa với con người, giữa con người với con người và giữa con người với những tạo vật khác.  Để hóa giải được những mối bất hòa trong đời sống cộng đoàn, không gì hay hơn là sống đức khôn ngoan đích thực mà thánh Gia-cô-bê đã trình bày ở trên.  Tất cả những đặc điểm của khôn ngoan đều liên kết với nhau làm thành một lối sống đặc thù của con Thiên Chúa.  Sự thanh khiết phải là thái độ căn bản để chống lại với ham khoái lạc, vì khoái lạc là nguyên nhân đưa đến bất hòa.  “Chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em.”  Cái nhìn thanh khiết về những người chung quanh sẽ giúp Ki-tô hữu có những thái độ tích cực trong cách đối xử.  Thay vì tìm cách chiếm đoạt, ganh ghét và gây chiến, Ki-tô hữu sẽ sống những tâm tình yêu thương mà thánh Phao-lô đã trình bày trong bài ca đức ái (1 Cr 13:4-7), hoặc như thánh Gia-cô-bê kể ra trong câu 17.  Chính thánh Gia-cô-bê còn nghiêm nghị dùng kiểu nói của Đức Ki-tô, gọi những người không chịu sống theo Lời Chúa là “những kẻ ngoại tình,” là “thù địch của Thiên Chúa.”

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

          Cộng đoàn của tôi (gia đình, nhóm, xứ đạo) có những mối bất hòa nào?  Tôi thử suy nghĩ về nguyên nhân sâu xa nhất của những bất hòa ấy.    

          Đức Ki-tô là Đấng Khôn Ngoan.  Tôi có để cho Đấng Khôn Ngoan dạy dỗ tôi và nhất là muốn thiết lập mối quan hệ cá nhân với tôi không?  Tôi chiêm ngưỡng và nghe lời mời gọi “Hãy học cùng Ta” của Người như thế nào?

          Đức Ki-tô, người Tôi Tớ chịu đau khổ của Thiên Chúa dạy tôi bài học nào về đức khôn ngoan?

 Cầu nguyện kết thúc

          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm có thể cùng đọc lời nguyện sau đây:

Lạy Chúa Giê-su, sống cho Chúa thật là điều khó.  Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.  Chúa đòi con cho Chúa tất cả để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.

Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa, để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.  Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà để cây đời con sinh thêm hoa trái.  Chúa cương quyết chinh phục con cho đến khicon thuộc trọn về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan, để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước gì con cảm nghiệm được rằng trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa, thì Chúa đã sống trong con và thuộc về con từ lâu.  A-men. 

(Trích RABBOUNI, lời nguyện 30)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

-----------------------------

 

TN25-B103. CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN


(Mc 9,30-37)

Cơm ba bữa, ngủ một giường

 

 Ai cũng muốn hơn người khác. Chẳng phải hôm nay, mà cả ngày xưa cũng thế. Chẳng phải chỉ ở ngoài TN25-B103


Ai cũng muốn hơn người khác. Chẳng phải hôm nay, mà cả ngày xưa cũng thế. Chẳng phải chỉ ở ngoài xã hội, mà còn cả ở trong Giáo Hội nữa. Tuy dù ở trong Giáo Hội ít hơn. Hơn người khác, là phải ngồi được vào cái ghế cao hơn. Có người thì cậy vào ô dù quen biết, người thì cậy dựa vào số tiền. Có người thì có khi mưu đồ, chờ đợi; có người thì cậy vào số đông phe phái, để chiếm được chỗ ngồi cao, có điều kiện để làm ra tiền. Câu chuyện hôm nay, xảy ra giữa các môn đệ. Nhưng sơ sơ, nhẹ thôi. Còn có thể chấp nhận được. Các ông tranh luận với nhau, ai sẽ là người ngồi ở chiếc ghế cao hơn, khi Thầy Giêsu bước vào vinh thắng. Nhân cơ hội, Đức Giêsu đã có một bài luân lý rõ ràng, với một cái nhìn chính xác về chức vụ trong Hội Thánh.

          1- Ai muốn làm đầu, thì phải là người rốt hết

          Chỉ thế ấy, nhắc cho những người “làm lớn” là, phải hết sức khiêm tốn: Ghế ngồi trong xã hội, không phải là chỗ để chỉ tay năm ngón; nhưng là người phải biết sẵn sàng dấn thân, không nề hà bất cứ chuyện gì. Điều gì có lợi ích cho đàn chiên, là mình phải làm. Như Đức Kitô, đã không ngần ngại quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ.

          2- Và làm phục vụ mọi người

          Lãnh nhận chức vụ trong Giáo Hội, không phải để tự kiêu; hay là cơ hội để thu vén. Đành rằng, thợ thì đáng ăn công của mình, nhưng là để Chúa nuôi, chứ không phải là chính mình thu vén. Vì là để phục vụ mọi người; cho nên, mình phải ĐẾN với người khác, chứ không phải bắt họ phải đến với mình.

          Có một Tổng Giám Mục, trước khi đi lãnh dây Pallium, gọi điện báo cho tôi: Xin cầu nguyện cho; vì kỳ này không thoát khỏi gánh nặng nữa rồi. Tôi cười và bảo: Chúc mừng Ngài, nhưng dù Ngài có là Tổng Giám mục đi nữa, thì Ngài cũng chỉ như tôi thôi: Nghĩa là, dù có làm tới chức vụ nào, thì cũng chỉ ngày ăn ba bữa, tối đến cũng chỉ ngủ một giường. Tất cả, chỉ để phục vụ.

          3- Ai đón tiếp một trẻ nhỏ, là đón tiếp Thầy.

          Một điều hệ trọng mà những người có trách nhiệm trong Giáo Hội phải nhớ, là phải lưu ý đến những người hèn mọn, xấu hổ. Hãy nhớ, dù là trẻ con hay người khuyết tật, tất cả, cũng vẫn là những con người, những nhân vị đáng kính trọng. Ở trên cao, bị khuất bởi những người đứng gần, mà bỏ quên những người bé mọn, là một thiếu sót đáng trách.

Câu hỏi:

1- Trong thâm tâm, bạn đang muốn ngồi ở chỗ nào?
2- Phục vụ người khác, đưa bạn lên cao, hay hạ giá nhân phẩm của mình.

 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

-----------------------------

 

TN25-B104. Chọn lựa để phục vụ

 

Nơi nào có phục vụ, có chăm sóc, có chia sẻ không tính toán và cầu cạnh giữa con người với nhau TN25-B104


Nơi nào có phục vụ, có chăm sóc, có chia sẻ không tính toán và cầu cạnh giữa con người với nhau, thì nơi đó người ta sẽ thấy được sự chân thực của tình yêu. Trái lại, khi con người cố gắng tìm kiếm những thành công thế tục, muốn có chức có danh, muốn mình phải được hơn kẻ khác, thì con người bắt đầu xa dần với ý định của Thiên Chúa.

Chả thế mà khi Chúa Giêsu bảo các môn đệ: Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài nhưng ba ngày sau Ngài sẽ sống lại... thì các ông hiểu và không muốn hiểu. Các ông nghe mà chẳng muốn nghe, nhưng các ông cũng chẳng muốn hỏi Ngài xem lời đó có ý nghĩa gì. Các ông sợ và không muốn nghe những điều xui xẻo, cũng giống như bao nhiêu người khác đã không muốn nghe những sự chẳng lành xảy đến cho mình.

Thế nhưng, đó lại là chính sự mạc khải của tình yêu mà Thiên Chúa muốn tỏ bày cho con người, trước tiên là với các môn đệ, Chúa Giêsu không muốn điều xui xẻo xảy đến, Ngài không đi tìm cái khổ, cái mất; nhưng trong sự loan báo này có hàm chứa đựng một nội dung sâu xa của tình yêu. Thương là phải chịu vất vả, chịu thiệt thòi, dù là thiệt thòi ngay cả mạng đến sống mình, như dấu chỉ của một tình yêu tuyệt hảo nhất: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.

Nếu dọc đường các môn đệ đã tranh luận và cãi vã với nhau về chuyện ai sẽ là người làm lớn hơn cả, thì khi hiểu cái giá phải trả nơi tình yêu thương của Thầy, các ông sẽ thấy những toan tính của mình quá mong manh. Khi đi theo thầy, các ông đã thầm mong được vinh hoa phú quý. Thầm mong này sẽ chẳng bao giờ ăn khớp được với ý định của Thầy.

Chính vì thế, Chúa Giêsu đã nói với các ông: Ai muốn làm đầu thì phải là kẻ rốt hết và trở nên tôi tớ cho mọi người. Ai tiếp đón một trẻ nhỏ là tiếp đón Thầy. Từ đây, các ông thấy được việc đi theo Đức Kitô là sắm lấy cho mình một vị trí trong Nước Trời bằng tinh thần của một đời sống xả thân, khiêm tốn, vô vị lợi.

Khi ai đó xem vinh hoa trần tục như những giá trị để trau chuốt phải đạt tới bằng bất cứ giá nào, là người ấy đã xa lìa tinh thần của Chúa. Người của Tin Mừng phải là tôi tớ cho mọi người, phải biết phục vụ để mưu cầu lợi ích cho người khác, mà không được đặt mình trong một vai vế, trong một chức vụ, trong một địa vị nào cả. Chúa Giêsu đã lấy một em nhỏ làm khuôn mẫu cho Nước Trời. Có nghĩa là chúng ta phải trở nên như trẻ nhỏ, đồng thời phải quan tâm giúp đỡ những người rất tầm thường, bé nhỏ, không có gì trả lại hay đền ơn được cho chúng ta.

Đối chiếu lời Chúa dạy hôm nay với cuộc sống thực tế của bản thân, chúng ta cảm nhận được những gì? Sự dấn thân và phục vụ của chúng ta đã ở vào chừng mực nào và mục đích của nó là gì, giúp đỡ người khác hay mưu cầu danh lợi cho riêng bản thân mình.
 
 

-----------------------------

 

TN25-B105. Đầy tớ của mọi người.

 

Bác sĩ Mayo là người đã xây dựng một bệnh viện nổi tiếng trên thế giới tại bang Minnesota. Ngày TN25-B105


Bác sĩ Mayo là người đã xây dựng một bệnh viện nổi tiếng trên thế giới tại bang Minnesota. Ngày kia có một đoàn chuyên viên từ Âu châu đến thăm. Và theo tập tục ở đó, thì ban tối, trước khi đi ngủ, khách sẽ để giày của mình ở ngoài cửa phòng và sẽ có người đến lấy để đánh bóng. Bác sĩ Mayo là người về sau cùng khi đêm đã khuya. Ông thấy các đôi giày để ở ngoài của phòng, nhưng ngần ngại không muốn đánh thức các người giúp việc. Ông thở dài rồi đem các đôi giày xuống bếp và tự tay ông, thức đến quá nửa đêm để đánh bóng những đôi giày của khách.

Câu chuyện trên làm cho chúng ta nhớ tới lời Chúa qua đoạn Tin Mừng sáng nay: Nếu ai muốn làm lớn, thì phải trở nên kẻ rốt hết. Cũng như các tông đồ, chúng ta thường hay tranh luận xem ai trong chúng ta là người lớn nhất. Và Chúa Giêsu đã trả lời: Người lớn nhất phải làm đầy tớ cho mọi người. Chính Chúa Giêsu đã làm gương trước cho chúng ta. Ngài phán: Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Và rồi trong bữa Tiệc ly, Ngài đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Ngài phán: Các con gọi Ta là Chúa và là Thầy thì phải lắm. Nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.

Vậy chúng ta phải làm gì để noi theo mẫu gương của Ngài về vấn đề phục vụ? Chúng ta đã giúp đỡ những người anh em như thế nào? Chúng ta đối xử với những người đã làm ơn cho chúng ta ra làm sao? Và thế nào là một người đầy tớ? Tôi xin thưa đó là một người được mướn để làm việc, đặc biệt là những việc trong nhà. Và theo một ý nghĩa rộng rãi hơn, thì người đầy tớ là một người hăng hái nhiệt tình với người khác bằng một mục đích, một niềm tin. Và phục vụ có nghĩa là làm một việc để giúp đỡ hay đem lại lợi ích cho người khác.

Trong chiều hướng đó thì tất cả chúng ta đều được mời gọi để trở nên những tôi tớ. Chẳng hạn: người mẹ trong gia đình thực sự là đầy tớ cho cả nhà, bởi vì mỗi chức vụ đều có những cơ may để phục vụ. Điều quan trọng là chúng ta đã thực hiện được tinh thần tôi tớ ấy hay chưa.

Đức Giáo Hoàng người đứng đầu Giáo Hội công giáo, nắm giữ một địa vị quan trọng nhất trên thế giới, thế mà ngài vẫn tự nhận cho mình là “servus servorum”, tôi tớ của các tôi tớ.

Để kết luận, chúng ta hãy đánh giá cao việc phục vụ của những người chung quanh chúng ta, chẳng hạn như người bán hàng, người hốt rác, người giảng dạy. Đồng thời trong giây phút này, chúng ta hãy phục vụ Thiên Chúa bằng việc dâng thánh lễ, như một đỉnh cao của tinh thần phục vụ. Rồi khi trở về với cuộc sống, chúng ta hãy biến cuộc sống trở thành một thánh lễ nối dài bằng chính tinh thần phục vụ của mình. Mỗi người chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem: Trong hoàn cảnh của tôi, tôi phải làm những gì để phục vụ và giúp đỡ những người anh em của tôi.

-----------------------------

 

TN25-B106. Làm gia tăng giá trị của mình


(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

 

Đang lúc Chúa Giêsu nói về cái chết sắp đến của Ngài tại Giêrusalem thì các môn đệ của Ngài dường TN25-B106


Đang lúc Chúa Giêsu nói về cái chết sắp đến của Ngài tại Giêrusalem thì các môn đệ của Ngài dường như không quan tâm, không hiểu gì, vì các ông còn bận tâm đến chuyện khác: tranh luận xem giữa các ông ai là người lớn nhất.

Muốn làm lớn, muốn tỏ ra mình là người có giá trị, hay nói khác đi, muốn tự khẳng định mình là một nhu cầu hết sức quan trọng và được biểu hiện bằng nhiều hình thức trong cuộc sống.

Thời Chúa Giêsu, các vị kinh sư và các người biệt phái tự khẳng định mình bằng cách "đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi". (Mt 23, 5-7)

Ngay cả các môn đệ Chúa Giêsu cũng hay tranh luận với nhau giữa họ ai là người lớn nhất. Điều nầy đã được ghi lại nhiều lần trong Tin Mừng (Mc 9, 33-37; Lc 9, 46; Lc 22, 24)

Có lần Bà Giêbêđê đem hai người con là Gioan và Giacôbê đến gặp Chúa Giêsu và khẩn khoản nài xin Ngài cho hai con của Bà được ngồi bên hữu bên tả Chúa Giêsu khi Ngài được hiển trị trong Nước Ngài. Mười môn đệ khác đâm ra bất bình với hai anh em nầy, có thể là vì hai anh em nầy dám tranh giành trước hai chiếc ghế mà họ đã ngấp nghé từ lâu! Hoá ra ai cũng muốn tìm địa vị cao, ai cũng muốn làm gia tăng giá trị của mình. (Mt 20, 21-24)

Thời nay cũng vậy, người ta cố làm gia tăng giá trị của mình, khẳng định tài năng và bản lãnh của mình dưới mọi hình thức. Không ai muốn chìm lĩm giữa đám đông. Ai cũng muốn vươn tới những đỉnh cao.

Đây là một ao ước rất tự nhiên. Chính Thiên Chúa đã đặt vào lòng chúng ta khát vọng đó để thúc đẩy chúng ta vươn lên thành những con người cao cả. Chúa Giêsu cũng kêu gọi chúng ta đạt tới những giá trị cao vời: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện." (Mt 5, 48)

Nhưng phải làm gì để trở thành người cao cả thật sự?

Có người cố làm tăng giá trị của mình bằng cách trang điểm thân xác. Tuy nhiên, người ta không thật sự nên cao cả nhờ nhan sắc, vì "tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người".

Người ta tìm cách làm gia tăng giá trị của mình bằng của cải vàng bạc, nhưng thực ra, "giá trị con người không hệ tại những gì người ta sở hữu".

Có người làm tăng giá trị của mình bằng cách phát huy tài năng cho người ta nể phục, hoặc cố giành những địa vị cao trong xã hội để nâng cao giá trị mình lên.

Còn Chúa Giêsu, khi các môn đệ tranh cãi với nhau xem giữa họ ai là người lớn nhất, Ngài chỉ cho họ một giải pháp: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người".

Lời dạy của Chúa Giêsu xem ra trái nghịch với suy nghĩ của loài người. Thông thường, muốn làm lớn thì phải nâng mình lên để thống trị, đằng nầy Chúa Giêsu dạy phải hạ mình xuống làm tôi tớ hầu hạ mọi người.

Làm sao chấp nhận được giải pháp của Chúa Giêsu?

* * *

Trong thời đại chúng ta, chưa có ai được nhiều người yêu mến và cảm phục cho bằng Mẹ Tê-rê-xa Calcutta. Chưa bao giờ một phụ nữ già nua còm cõi thuộc giới bình dân, khi lìa đời lại được cả thế giới thương tiếc, ngưỡng mộ và được Nhà Nước Ấn-độ tổ chức quốc táng trọng thể như Mẹ Tê-rê-xa Calcutta. Mẹ là con người cao cả và vĩ đại thật sự. Giá trị của Mẹ không hệ tại ở sắc đẹp, giàu sang, tài năng hay quyền thế. Mẹ vĩ đại vì mẹ đã thực hiện lời Chúa Giêsu dạy: "làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người". Mẹ là người tôi tớ nhiệt thành phục vụ những con người hèn kém và đau khổ nhất thế gian nên Mẹ đã trở thành người phụ nữ cao cả và đáng ngưỡng mộ nhất.

Quả đúng như lời Chúa Giêsu, chỉ có sự phục vụ trong khiêm tốn mới là phương thế làm cho con người nên cao cả vĩ đại nhất.

-----------------------------

 

TN25-B107. Suy niệm của Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu


Suy niệm:

 

Ngoài chuyện chậm tin, chậm hiểu, các môn đệ còn có một điểm yếu là hay cãi nhau. Họ cãi nhau TN25-B107


Ngoài chuyện chậm tin, chậm hiểu, các môn đệ còn có một điểm yếu là hay cãi nhau. Họ cãi nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm. Người ấy sẽ là người đứng đầu trong Nước sắp tới của Đấng Mêsia.

Tiếc thay trong bài Tin Mừng hôm nay, họ lại cãi nhau khi đang đi ngoài đường (c. 33).

Tệ hơn nữa, họ cãi nhau ngay sau khi Thầy Giêsu loan báo lần thứ hai về cái chết và sự phục sinh sắp đến của mình (c. 31). Hẳn Thầy Giêsu rất đau vì thấy học trò của mình khá trần tục.

Dù đang đi với Thầy trên cùng một con đường, nhưng họ vẫn để lòng mình theo đuổi vinh quang thế gian.

Đức Giêsu quả là một bậc thầy về sự điềm đạm. Ngài đợi tới khi về nhà ở Caphácnaum mới gợi lại chuyện trên đường. Ngài làm như mình không rõ về đề tài câu chuyện: “Dọc đường anh em đã bàn tán điều gì vậy?”

Khi các ông mắc cỡ làm thinh, không dám nói ra chuyện cãi nhau (c. 34), Thầy Giêsu cũng chẳng nỡ ép các ông phải nói.

Ngài ngồi xuống như một vị thầy bắt đầu giảng dạy (c. 35), gọi Nhóm Mười Hai lại - nhóm các nhà lãnh đạo tương lai của Giáo Hội - và đưa ra một nguyên tắc chi phối việc quản trị cộng đoàn: “Nếu ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết của mọi người và làm người phục vụ cho mọi người (c. 35).

Câu nói trên của Đức Giêsu mở ra một cuộc cách mạng nơi tâm con người.

Đức Giêsu không dạy ta lật đổ người đứng đầu để chiếm lấy quyền lực. Ngài cũng không đòi ta bỏ ước mơ làm lớn. Ngài dạy cho ta cách trở nên lớn lao thực sự trước mặt Thiên Chúa. Đó là trở nên người phục vụ mọi người, sống như Ngài đã sống: “Suốt đời Thầy đã sống giữa anh em như một người phục vụ”(Lc 22, 27).

Nếu làm đầu mà phải phục vụ thì có ai muốn làm người đứng đầu nữa không?

Lịch sử của nhân loại là lịch sử của những cuộc cãi nhau không ngớt giữa các quốc gia, các tôn giáo, các bộ tộc, và ngay trong giáo xứ, gia đình.

Đề tài muôn thuở vẫn là quyền lực, chức tước, địa vị, tiếng tăm.

Ai cũng muốn làm đầu, làm lớn để được phục vụ, để khỏi phải hầu bàn.

Ước gì chúng ta hiểu rằng quyền uy chỉ là giấy phép để phục vụ.

Cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin cất khỏi con mọi lo lắng bề ngoài.

Xin tha thứ cho con vì đã quá bận tâm đến những điều mình nói, đến ảnh hưởng của mình, đến những điều người ta nói và nghĩ về con.

Xin tha thứ cho con vì muốn nên giống kẻ khác mà quên mất chính mình, vì khao khát có được những đức tính của họ, mà quên phát triển bản thân.

Xin tha thứ cho con vì đã mất nhiều thời gian cho việc phô trương hơn là cho việc xây dựng bản thân.

Xin cho con biết cởi mở với anh em; nhờ đó, Chúa có thể đến với con như đến với một người bạn. Và Chúa sẽ làm cho con trở nên “người” mà Chúa mong muốn trong tình yêu của Ngài vì con là con của Chúa và là anh em của mọi người. (Michel Quoist).

-----------------------------

 

TN25-B108. Đời tôi tiến bước như một con lừa


(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)

 

Nhà văn Bossuet đã viết: “Ai trong chúng ta không có thói tự kiêu, người đó là thượng đế”. Câu nói TN25-B108


Nhà văn Bossuet đã viết: “Ai trong chúng ta không có thói tự kiêu, người đó là thượng đế”. Câu nói của nhà văn ngụ ý rằng, tự bản chất con người chúng ta ai cũng có cái tôi ích kỷ, thích được người khác nể trọng và thán phục. Trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy nhan nhản những khẩu hiệu, như “ Cán bộ là đầy tớ của nhân dân” hoặc sống “Yêu thương để phục vụ”... nhưng trong thực tế, nhiều khi đó chỉ là những khẩu hiệu lý thuyết, và lắm lúc những khẩu hiệu xem ra đao to búa lớn ấy chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch. Tuy nhiên, nếu can đảm và thẳng thắn nhìn lại cách sống của chính chúng ta là các Kitô hữu, đặc biệt nơi các anh em linh mục, chúng ta sẽ thấy rất rõ cái tôi của mình, qua cung cách trịch thượng hoặc qua lối hành xử hách dịch mà chúng ta rất hay biểu tỏ ra bên ngoài.

Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta tiêu chí căn bản để trở nên môn đệ Đức Giêsu: “Ai muốn làm đầu phải làm người rốt hết, và làm kẻ phục vụ mọi người” (Mc 9,35). Khiêm tốn để phục vụ là bài học căn bản mà chúng ta phải học, học mãi, học cho tới suốt đời, để sao chép lại cách sống của chính Đức Giêsu như Ngài đã từng nói: “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29).

Khiêm nhường, khởi đầu của mọi nhân đức.

Thánh Tôma Aquinô diễn tả có vẻ hơi cường điệu. Ngài nói: “Khi chúng ta chết đi, cái tôi của chúng ta sau 15 phút mới chết hẳn”. Cái tôi ích kỷ và kiêu căng vẫn luôn đeo bám dai dẳng nơi tất cả mọi người. Tội đứng đầu trong bảy mối tội chính là tính kiêu ngạo. Đây chính là tội đầu tiên đã du nhập vào trần gian, và đó cũng là tội mà Thiên Chúa ghét bỏ nhất. Adam đã sa ngã vì kiêu ngạo muốn trở nên ngang bằng với Thiên Chúa. Tháp Babel cũng là biểu tượng của sự kiêu căng khi con người muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Luxiphe là một thiên thần biến chất cũng chỉ vì quá tự phụ. Quả thật, khuynh hướng kiêu ngạo đã ăn sâu nơi bản tính con người, và trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn phải đấu tranh liên lỉ để vượt thắng. Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất đã không vâng phục Thiên Chúa mà muôn người trở nên tội nhân” (Rm 5, 19). Con người đó chính là Adam. Tội Adam hay gọi là tội nguyên tổ, khởi đầu của các giống tội, chính là kiêu ngạo và bất tuân. Tính kiêu ngạo đã ăn sâu vào bản tính nhân loại nơi chúng ta.

Có một câu ngạn ngữ tây phương đã viết: “Cái tôi thì đáng ghét” (le moi est haissable). Ai trong chúng ta cũng biết điều này, nhưng không phải giản đơn nếu chúng ta muốn khuất phục cái tôi đáng ghét đó. Thánh Phêrô cũng khuyên dạy các tín hữu: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho ai khiêm nhường. Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa (1P 5,5-6). Quả thật, khiêm nhường chính là cửa ngõ dẫn đưa chúng ta đi vào sự thánh thiện, bởi vì khiêm nhường chính là mẹ sản sinh các nhân đức khác (tư tưởng của Tennyson).

Khiêm nhường: linh đạo Thập giá.

Sự khiêm nhường mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng đây chính là linh đạo Thập giá. Đó là con đường trọn lành mà Đức Giêsu đã gợi mở để mời gọi chúng ta dấn bước vào: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34).

Hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã đến trần gian để thực hiện sứ mạng cứu thế. Ngài đã khởi đầu cuộc hành trình tại máng cỏ Bêlem và kết thúc sứ mạng nơi đỉnh cao Thập giá. Bêlem và Golgôtha là hai thông số của một thực tại duy nhất: Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Để diễn bày tình yêu, Thiên Chúa cao cả đã tự nguyện mang lấy kiếp người hèn hạ. Một Thiên Chúa đầy uy quyền và dũng lực lại ẩn dấu trong dáng dấp của một bé thơ mỏng manh và yếu ớt. Một đứa trẻ mới sinh ra chưa có thể làm được điều gì. Nó cần đến vòng tay che chở của cha, cần những giọt sữa yêu thương của mẹ để được lớn lên. Trẻ Giêsu còn cần đến cả những hơi thở của những con bò con lừa giữa đêm khuya lạnh giá. Vì thế, trong bài Tin mừng hôm nay, để nói về sự khiêm tốn, Chúa mượn lại hình ảnh của một đứa bé như một chuẩn mẫu: “Ai tiếp đón một em bé như em này vì danh thầy, là tiếp đón chính thầy” (c.37). Một đứa trẻ trong xã hội Do thái khi xưa hoàn toàn không có một giá trị gì về mặt xã hội. Nhưng Đức Giêsu luôn yêu quý trẻ thơ. Ngài còn đề cao các em nhỏ và mời gọi các môn đệ phải nên giống trẻ thơ.“ Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở nên như trẻ thơ, thì sẽ chẳng được vào nước trời. Vậy ai tự hạ và nên như trẻ nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong nước trời” (Mt 18,2-4). Đứa bé còn là hình mẫu về sự nghèo khó mà Chúa nói đến. Một đứa con nít không có vị thế gì trong xã hội. Chúng chẳng bao giờ dám mơ tưởng sẽ làm ông này hay bà nọ. Chúng cũng nghèo xác nghèo xơ, không có tài sản hay tiền bạc trong túi. Tinh thần nghèo khó chính là mối phúc đầu tiên trong tám mối phúc mà Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi, và đây cũng chính là linh đạo thập giá, đi đôi với sự khiêm tốn nội tâm mà Chúa nói tới trong Tin mừng hôm nay.

Viễn ảnh thập giá xem ra rất mù tối đối với các học trò của Chúa Giêsu. “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời. Họ sẽ giết chết Người, và sau ba ngày Người sẽ sống lại”. Thánh Marcô xác nhận: “Các ông không hiểu lời nói đó (Mc 9,32), bởi vì con đường theo Đức Giêsu còn rất nhiều trầy truột và gian nan. Đối diện trước cái chết, Đức Giêsu đã bị người đời chửi rủa, mạt sát, và coi khinh. Ngài vẫn không cự cãi một tiếng, không chống trả một câu. Sự thinh lặng của Ngài không phải là một sự câm nín thụ động, nhưng đó là ngôn ngữ phong phú nhất để dạy chúng ta bài học khiêm tốn. Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Khôn ngoan cũng phác vẽ trước viễn ảnh Thập giá này: “Ta sẽ hạ nhục nó và tra tấn nó để biết nó hiền hòa làm sao, và để xem nó nhẫn nhục tới mức nào. Nào ta sẽ kết án cho nó chết một cách nhục nhã” (Kn 2, 19-20). Mầu nhiệm Thập giá hàm ngậm sự tự hủy luôn luôn là một thách đố đối với các học trò của Chúa Giêsu năm xưa cũng như đối với mọi người chúng ta hôm nay. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Philip cũng vạch dẫn con đường này, và Ngài mời gọi chúng ta nhìn vào linh đạo Thập giá như là khung căn bản định hình sự khiêm tốn nội tâm: “Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên Thập tự (Phil 2, 6-8).

Vì vậy, sự khiêm tốn không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng chính là linh đạo Thập giá. Chúng ta học sống khiêm nhường không phải theo gương của vị vĩ nhân này hay lối sống của nhà hiền triết nọ, nhưng chúng ta được mời gọi nhìn vào chính Đức Giêsu chịu đóng đinh để sao chép lại lối sống và tiếp bước dấu chân của Ngài. “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Đời tôi tiến bước như một con lừa.

Đây là tựa đề một quyển sách Đức Hồng y Etchegarey đã viết khi suy tư về hành trình ơn gọi của mình. Ngài vay mượn hình tượng một con lừa để mô tả. Người đời vẫn thường nói: “Ngu như bò và dốt như lừa”. Nhưng bò và lừa lại là hai vị thượng khách được ưu tuyển để đến cung chiêm Vua Trời đất khi Ngài mới hạ sinh. Đức Hồng y cũng mượn lại hình ảnh con lừa chở Chúa tiến vào Giêrusalem để nói về hành trình ơn gọi của Ngài. Người dân hai bên đường vỗ tay reo hò, trải áo và cầm cành lá trên tay để nghinh đón. Con lừa vẫn không vênh mặt lên để tự mãn, vì những lời tung hô đó dành cho Chúa chứ không phải cho nó. Nó mãi mãi cũng chỉ là một con lừa mà thôi. Đường vào Giêrusalem đầy sỏi đá làm chân nó đau nhức, nó vẫn không một lời kêu than. Con lừa vẫn cứ âm thầm lặng lẽ mang Chúa trên vai, và tiến bước một cách ngoan thuần. Nó khiêm tốn bước đi để Chúa hướng dẫn, và suốt đời nó mãi mãi vẫn chỉ là một con lừa mà thôi. Cuộc hành trình ơn gọi của mỗi người chúng ta cũng phải giống như vậy. “Đời tôi tiến bước như một con lừa” chính là như thế. Thái độ căn bản chúng ta cần phải có là khiêm tốn để Đức Giêsu hướng dẫn đời mình. Chính Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta, như Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, này con xin đến để thi hành thánh ý Cha”. Khi đi vào trần gian, Ngài đã đến “ không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20,28).

Chủ nghĩa ‘cha chú’ (paternalism)

Thánh Phanxicô Assisi là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần khiêm tốn và nếp sống khó nghèo. Ông Stalin, một lãnh tụ vô thần, cho dù không tin vào Thiên Chúa, nhưng khi đọc tiểu sử của thánh nhân đã thốt lên: “Nếu tôi có trong tay 10 người như Phanxicô, tôi sẽ làm thay đổi cả bộ mặt thế giới”. Con người chúng ta ít nhiều ai cũng có bệnh sỹ diện, thích phô trương cái tôi của mình. Căn bệnh trầm kha này không phải chỉ có nơi giáo dân, nơi các ông trương ông trùm, nhưng có ngay cả nơi các anh em linh mục. Một Cha già đã chia sẻ rằng, khi các linh mục được mọi người kính trọng và gọi bằng cha, rất dễ quên đi ơn gọi làm con nơi mình. Ngài nói tiếp “Nhiều cha lại cứ thích ‘chơi cha’ thiên hạ, qua lối hành xử trịch thượng và hống hách, thậm chí còn dùng tòa giảng để chửi bới giáo dân. Đó là lối sống theo chủ nghĩa cha chú (paternalism) mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết án rất mạnh mẽ khi Ngài nói với giáo triều Rôma dịp Noel năm ngoái (ngày 22/12/2014). Điều nhận xét trên không phải mang tính cách vơ đũa cả nắm, nhưng rất cần thiết cho mọi người, nhất là các anh em linh mục, để chúng ta biết can đảm và thẳng thắn nhìn lại chính mình khi thi hành tính năng mục tử.

Kết luận: Tôi tớ của các tôi tớ

Sau hết, chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria như là khuôn mẫu nội tâm để chúng ta học nơi Ngài bài học khiêm nhu. Mẹ vẫn luôn coi mình chỉ là “tôi tớ” của Thiên Chúa. Bí quyết duy nhất của Đức Maria khi thực hành sự khiêm tốn và vâng phục là luôn thưa lời “xin vâng”, tuyệt đối để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình. Mẹ đã cảm nghiệm rất sâu lắngsự khiêm tốn ấy khi cất lên bài ca Magnificat: “Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng, Người nâng dậy những ai khiêm nhu”. Bắt chước Đức Maria, người nữ tỳ (serva) của Thiên Chúa, Đức Thánh Cha Gioan 23 và Đức Phaolô đệ lục khi chuẩn nhận các văn kiện công đồng Vatican II luôn luôn đặt bút ký tên của mình với hàng chữ “ servus servorum” (tôi tớ của các tôi tớ). Còn các Kitô hữu, cách riêng các anh em linh mục, chúng ta đã hành xử và thực thi quyền bính được trao phó cho chúng ta, “những tôi tớ của các tôi tớ” như thế nào?
 
 

-----------------------------

 

TN25-B109. Thiên vị – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Sống chung trong một xã hội, con người không tránh khỏi những va chạm, ganh tị và cãi vã. Con TN25-B109


Sống chung trong một xã hội, con người không tránh khỏi những va chạm, ganh tị và cãi vã. Con người mang tính ích kỷ trong mình và luôn mong muốn được hơn người khác. Người ta bon chen đua đòi hơn thua về mọi khía cạnh cuộc sống cả về tinh thần lẫn thể xác. Tranh dành về quyền thế, địa vị, danh vọng, tiền bạc và về thành quả công ăn việc làm. Điều gì tốt đẹp và có lợi ích cũng có kẻ ham muốn chiếm đoạt. Sách Khôn Ngoan đã cảnh báo: Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo (Kn 2, 12). Kẻ sống trong lầm lạc, tự do và bất công thì thù ghét những người công chính và ngay thẳng. Họ ghen tị người khác chỉ vì họ yêu thích lối sống tầm thường theo bản năng.

Nhiều người chạy theo những đòi hỏi tạm thời mau qua chóng hết để thỏa mãn cuộc sống. Họ sống buông thả đi ngược lại với luân thường đạo lý. Họ ghét bỏ những người dám lên tiếng trách cứ hành động sai trái và lầm lạc của họ. Những người sống vô kỷ luật thì không muốn nhắc đến luật lệ vì lương tâm của họ có thể sẽ bị cắn rứt nhức nhối. Họ cũng không muốn ai nhắc bảo điều hơn lẽ thiệt vì có thể sẽ mất đi những hương vị ngọt ngào và dễ dãi của kiểu sống hưởng thụ. Tâm hồn của những kẻ gian ác chứa đầy những mầm mống của thù hận, ghen ghét và hủy hoại. Nếu không biết thức tỉnh, những sự thôi thúc nội tâm của bản năng thú tính sẽ đưa đẩy và kéo lôi con người vào sự dữ. Chúng ta không thể tưởng tuợng sự hung dữ cực kỳ của con người có máu lạnh.

Theo lời dạy của thánh Giacôbê tông đồ: Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa (Giac 3, 16). Trong thế giới, xã hội con người đã trải qua những cuộc tàn phá diệt chủng khủng khiếp ở Đức Quốc, Rwanda và Căm-bốt… Khi cái ác chiếm ngự tâm hồn thì con người giống như những con quái vật. Họ mất đi tính người mà hành động theo thú tính, thực tình mà nói dữ hơn thú dữ. Chúng ta không thể hiểu điều gì đã thôi thúc cháy lửa trong lòng để họ phải hành động dã man như thế. Người ta gọi họ là những người say máu hay khát máu. Khi lương tâm một người bị cuồng say và sa đọa, người đó có thể làm bất cứ điều gì. Sự thiện và sự ác, tình yêu cũng như hận thù, nếu không được khơi dậy, dưỡng nuôi và chăm tưới, nó sẽ lụi tàn. Càng gây hận thù thì lửa hờn ghen báo thù càng mạnh. Chúng ta đừng thêm dầu vào lửa.

Sự ghen tương và tranh quyền đạt lợi đã dẫn đến những cuộc chiến tranh thảm khốc gây nên sự chết chóc, chia ly và phá hủy. Tất cả là do lòng tham sân si của con người. Hai bên thiện ác luôn đối nghịch trong cuộc sống của con người xã hội. Sự ác dữ và sự sai trái có một hấp lực thu hút con người cách mạnh mẽ như nam châm. Tội ác làm chúng ta mê lầm và mù quáng khi xét đoán: Chúng suy tính như vậy thật sai lầm, vì ác độc mà chúng ra mù quáng (Kn 2, 21). Người gian ác chỉ muốn tiêu diệt và phá hủy. Người ác tìm cách giết hại những người công chính. Tác giả sách Khôn Ngoan muốn ám chỉ về Con Thiên Chúa. Như một lời tiên báo Con Người sẽ phải bị kết án và chết cách nào:Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm."(Kn 2, 20).

Chúa Giêsu dám đối diện với sự thật vì chỉ có sự thật mới có thể giải thoát. Chúa đã từ từ mạc khải cho các môn đệ về đường đi lối bước của Chúa. Chúa chọn con đường khởi từ thấp đi lên và con đường chông gai khổ đau để đạt tới vinh quang. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ một cách rất chân tình:Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại (Mc 9, 31). Đối diện cái chết, thường thì ai cũng tránh né và sợ hãi. Mấy ai dám nói đến sự chết của riêng mình. Vua chúa trần gian tìm mọi cách để bảo vệ sự sống và vương quốc của riêng mình. Họ lo xây dựng và tìm đạt vinh quang qua sự hy sinh của thuộc hạ và toàn dân. Trong khi Chúa Giêsu chọn một con đường khác biệt, con đường thánh giá. Không mấy ai muốn hiến thân đi vào con đường này.

Con đường Chúa đi là con đường đi lên Núi Sọ. Con đường của hiến thân phục vụ và hy sinh mạng sống vì anh chị em. Các tông đồ dù đã đi theo Chúa nhiều ngày, nhiều tháng những vẫn chưa hiểu được ý nghĩa thâm sâu của mầu nhiệm thập giá. Các tông đồ vẫn còn não trạng của con người trần thế tìm đạt vinh quang mau qua chóng hết. Các ngài tranh luận với nhau và tranh dành chỗ đứng trong anh em. Chúa Giêsu mở một đường sống mới: Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người (Mc 9, 35). Làm đầu là để phục vụ. Đây là một tư tưởng hoàn toàn mới lạ đối với các tông đồ và chúng ta. Chúa Giêsu dẫn các tông đồ vào con đường hẹp của thập giá.

Chúa lại chọn con đường khiêm hạ và đau khổ thập giá để đến với nhân loại. Chúa đi con đường khổ hẹp cốt để thuyết phục nhân tâm. Chúa đã hạ mình xuống tận đáy vực thẳm để cảm thông những cùng cực của kiếp người. Chúa dẫn dắt con người vào chính lộ của niềm vui phục vụ và bác ái. Niềm vui tự tại trong tâm hồn. Muốn theo Chúa, chúng ta phải vác thánh giá hằng ngày mà theo. Thánh giá chính là những sự vui buồn và sướng khổ của cuộc sống. Chúng ta vui nhận cuộc sống vô thường này với tất cả ý thức và sự trân qúi. Không có điều gì tốt lành mà chúng ta đã thực hiện mà không sinh ích. Việc tốt sẽ sinh trái tốt. Chấp nhận mọi sự cố xảy đến trong đời với sự bình tâm và thanh thản. Chọn lựa thái độ sống là của chúng ta và không có sự gì có thể làm khó chúng ta.

Thánh Giacôbê khuyên dạy chúng ta hãy có thái độ khôn ngoan: Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình (Giac 3, 17). Hoa trái của sự khôn ngoan là sự hài hòa, tha thứ, bao dung và hợp nhất. Người ta thường nói: Người đầu bạc thì khôn ngoan. Muốn nên hoàn thiện, chúng ta phải kinh qua thử thách như lửa thử vàng, gian nan thử đức. Càng trải nghiệm qua nhiều đau khổ, chúng ta càng có nhiều kinh nghiệm sống và khôn ngoan đối xử. Gian khổ là nấc thang giúp chúng ta bước lên, tiến tới, gạn bỏ đi những lầm lỗi và nết hư tật xấu. Bất cứ nhân đức nào cũng cần phải tu luyện, tập tành và bồi dưỡng hằng ngày.

Chúa Giêsu đã loan báo sự đau khổ, sự chết và sống lại. Chúa đã từng trải tất cả những biến cố đau thương và chết cách nhục nhã trên thánh giá. Từ trên thánh giá nguồn ơn phúc đổ tràn. Chúa tha tội cho mọi người xúc phạm đến Chúa. Chúa mở cửa thiên đàng đón nhận kẻ biết ăn năn hối cải. Chúa giao hòa giữa Thiên Chúa Cha và loài người cùng ban ơn cúu độ cho nhiều người. Thánh giá đã trổ hoa.

Lạy Chúa, Chúa đã đi qua tất cả các chặng đường khổ đau qua sự chết tới sự sống lại. Xin cho chúng con biết kết hợp những sầu khổ vào thánh giá của Chúa, để những khổ đau biến thành những hoa trái của niềm hoan lạc và hạnh phúc muôn đời.
 
 

-----------------------------

 

TN25-B110: Chất người trong tôi - Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn

 

Ở đâu có ghen tương, tranh chấp, ở đó có hỗn độn và các thứ tệ đoan… Chinh chiến tự đâu? Đấu TN25-B110


“Ở đâu có ghen tương, tranh chấp, ở đó có hỗn độn và các thứ tệ đoan… Chinh chiến tự đâu? Đấu tranh tự đâu? Nếu không phải là tại các đam mê dục tình hằng làm giặc nơi chi thể anh em đó sao? Anh em ham muốn mà không được, nên anh em giết nhau. Anh em ghen tương mà không được, nên anh em đấu tranh, chinh chiến và cãi vã” (Gc 3:16-4:2).

Lời chất vấn và khiển trách của Thánh Giacôbê tông đồ khiến tôi nghĩ đến một câu chuyện.

Có một chàng thương gia nọ rất sùng đạo; mặc dầu lo làm ăn vất vả nhưng dường như anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp phải thời kỳ có cạnh tranh trong công ăn việc làm, anh ta càng khẩn cầu tha thiết hơn. Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên đâu đó hiện ra với anh và phán: “Thấy nhà ngươi cứ thành tâm cầu xin nên ta không nỡ làm ngơ. Bây giờ hãy cho ta biết ước muốn của ngươi. Điều gì ta cũng ban cho. Đồng thời để tỏ cho thế nhân biết được lòng quảng đại của ta thì hễ thứ gì đã ban cho ngươi thì ta cũng sẽ ban cho tha nhân, đồng nghiệp của ngươi như thế và có khi gấp đôi luôn.”

Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng sung sướng qua ưu tư lo buồn. Anh tự nhủ: “Nếu bây giờ mình xin cho được một chiếc xe Lexus thì mấy người bạn, chúng nó sẽ được hai chiếc. Ái dà, không được đâu! Nhưng nếu xin cho được trúng số một triệu thì mấy nhà xung quanh, họ sẽ được tới hai triệu mất. Thế thì không ổn!”

Anh tiếp tục suy nghĩ: “Nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn, thì rồi đồng nghiệp của ta, chúng sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn và giỏi gấp đôi con mình. Thế thì lại càng không ổn… Đó là chưa nói tới chuyện chúng có tới hai vợ trong khi mình chỉ được một. Trong thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ. Nhưng nếu xin theo kiểu này thì thật là thất sách vô cùng!”

Chàng thương gia đắn đo không biết nên xin cái gì. Sau một hồi lâu ưu tư, anh ta chợt reo lên như vừa tìm thấy điều chi hay lắm. Anh thành kính quì xuống thưa với thần: “Lạy Ngài, xin cho con đui một con mắt.”

Không xin cho được khá giả may mắn vì sợ người khác sẽ được hơn, nhưng lại xin cho bị rủi ro thiệt hại một tí để kẻ khác bị khốn đốn bất hạnh nhiều hơn. Xin cho mình đui một con mắt để người khác bị mù cả hai quả là quá tiểu nhân và quá dã tâm. Một tâm địa xấu xa nhỏ nhen! Thế nhưng nếu thành thật rà soát lại lòng mình thì không chừng cái chất tiểu nhân kia-những so sánh hơn thua, những đố kỵ ghen ghét-cũng đang ẩn nấp đâu đó trong hồn tôi. Để rồi nếu được thành công, may mắn, xinh đẹp… hơn người, thì nó sẽ nằm yên bất động. Còn như kẻ khác trổi vượt, thì chất tiểu tâm và lòng dã nhân kia sẽ bùng lên với những gì là khó chịu và đắng cay. Thế rồi những xung khắc cay chua, những tổn thương tình người, những xúc phạm nhân phẩm cứ từ đó mà phát sinh và lan đi.

Trong Thánh Kinh không thiếu những câu chuyện như trên. Chẳng hạn trường hợp 12 môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Bỏ tất cả mọi sự đi theo Ngài, bất chấp nắng mưa, cực nhọc, túng thiếu. Ăn ở với nhau rất đề huề vui vẻ. Nhưng rồi một ngày kia, một người đàn bà xuất hiện, xin cho hai anh Gioan và Giacôbê được ngồi bên hữu, bên tả Đức Giêsu sau khi Ngài khải hoàn vinh quang.

Thế là sinh chuyện! Kinh Thánh nói rõ: mười môn đệ kia phẫn uất với hai anh em con nhà Zêbêđê. Không biết chiến tranh nóng lạnh giữa các tông đồ đi đến mức độ nào, chỉ biết rằng sau đó, Chúa Giêsu phải can thiệp và dạy cho các ông một bài học của khiêm nhường, quên mình, thí mạng để làm giá chuộc thay cho nhiều người.

Một ví dụ khác là câu chuyện Người Con Hoang Đàng: Một ông chủ có hai con trai. Đứa em thì ăn chơi phung phí, phá tan sản nghiệp gia đình, làm bại hoại gia phong, giao du với quân đàng điếm. Người anh dường như chẳng care, không quan tâm. Nó đi bụi đời, sống chết mặc nó. Đời mình cứ vậy mà êm trôi. Thế nhưng bất ngờ đứa em trở về và được đón tiếp linh đình. Tức thì anh ta lồng lộn lên. Lòng ghen tuông gia tăng khiến anh cắt đứt luôn những quan hệ cha con anh em khi tuyên bố “thằng con của ông.” chứ không phải “đứa em của tôi”. Tình người bị cắt đứt!

Và khi tình người bị cắt đứt thì còn đâu chuyện thương cảm, lắng lo cho nhau khi gặp rủi ro, sa cơ, hay vui mừng chia sẻ với nhau khi gặp may mắn, hạnh phúc.

Nhưng tại sao người ta lại thiếu tình người? Phải chăng vì họ đã không nhận ra tình Chúa-khi vô tình thì cũng dễ vô ơn và vô tâm? Phải chăng người ta không nhận ra chân lý trong Tin Mừng của Đức Kitô: chỉ là người hơn khi tự làm rốt hết và trở nên tôi tớ mọi người.

Thật lạ kỳ! Thói thường, nhân thế hay tìm đến với danh vị, lợi lộc, quyền uy, kết thân với chốn cao sang để mưu cầu ảnh hưởng. Phần Đức Kitô, Ngài lại dạy người ta tìm đến với những ai hèn kém, nghèo khổ, đơn côi, những kẻ mà xét theo khách quan, chỉ biết đón nhận chứ không thể cho đi. Thế nhưng chính khi trao ban cho những người như thế lại là đang tiếp cận với Đức Giêsu và đón nhận chính Ngài. Bởi lẽ “những gì các ngươi làm cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đang làm cho chính mình Ta” (Mt 25:40).

Càng chân thành trao ban cho các “anh em hèn mọn,” tôi càng làm phong phú chất người trong tôi và tăng thêm sức sống cho đời. Giá trị và mức độ của chất người và sức sống đó lại không tùy thuộc vào chất lượng hay số lượng của vật được cho đi, song là tùy thuộc vào thái độ của việc trao ban. “Để vinh Danh Chúa hay hiển danh tôi?” “Để tỏ mình là người quảng đại hay để ‘anh em hèn mọn’ có được cơ may hạnh phúc?” Đó là những câu hỏi mà tôi phải dùng để tự vấn thường xuyên.

Trở nên đầy tớ mọi người, để mang hạnh phúc cho đời, vui trong niềm vui của người, xót cho nỗi đau của đời. Tập sống như thế là tôi đang trở thành môn đệ đích thật của Đức Kitô vậy.

-----------------------------

 

 TN25-B111: Người lớn nhất – Thiên Phúc

 

Một linh mục kể lại câu chuyện đầy kịch tính sau đây: Tại một vùng hoang dã, những tay giang TN25-B111


Một linh mục kể lại câu chuyện đầy kịch tính sau đây:

Tại một vùng hoang dã, những tay giang hồ tứ chiếng tập trung trong một khu trại. Một phụ nữ duy nhất sống giữa đám đàn ông sa đọa. Ban ngày cuốc xới bới tìm, đêm về là rượu chè bài bạc. Người phụ nữ đã gian díu với một tay quái nào đó và đang mang thai. Ngày sinh con, chị suy nhược không chịu nổi phút thử thách đã chết trên giường sinh.

Biến cố này bắt những tay giang hồ phải suy nghĩ một cái gì khác hơn là chuyện tranh chấp vàng bạc, rượu chè. Thơ nhi được đặt nằm trên tấm ván cạnh xác người mẹ. Bên dưới người ta đặt một cái nón ngửa để nhận quà tặng. Chiếc nón đầy đồng hồ, dây chuyền, nhẫn cưới, đồng vàng. Tất cả quà tặng dùng để chôn xác người mẹ xấu số và nuôi đứa bé thơ dại. Một ông già tình nguyện lo cho cháu nhỏ.

Người ta vô cùng bỡ ngỡ là ngày góp mặt đứa bé trong trại, cuộc sống đám quái đã đổi hẳn. Họ bỏ đánh bạc đêm để cho em bé ngủ yên, dừng lại những câu tục tĩu khi ở trước mặt bé, những nụ hôn thắm thiết như mưa trên nét mặt vô tội.

Một hôm vỡ đê, nước cuồn cuộn tràn lều. Nhảy khỏi giường, ai cũng đến tìm bé. Không ngờ bé và cụ già bố nuôi đã bị cuốn trôi lúc nửa đêm. Hai tay bé vẫn níu chặt cổ bố. Ngày đào hố chôn hai xác thiên thần cũng là ngày những người trong trại giang hồ chôn hết quá khứ. Họ vẫy tay, từ giã nhau mỗi người về một nẻo. Có phải chính nét thơ ngây thiên thần kia làm cho khách giang hồ trực cảm được một ý nghĩa cao đẹp trong cuộc đời trôi nổi phi lý đó? Có phải chính ánh mắt, nụ cười, nét đẹp thiên thần đã khơi một hương sống mới lạc quan và tươi vui hơn.

"Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy" (Mc.9,37).

"Trẻ nhỏ" ở đây được xem là những người không quan trọng, không đáng kể, không cần lưu ý; những người nghèo hèn, tàn tật, bị bỏ rơi. Đức Giêsu muốn đồng hòa với những con người bất hạnh ấy, để khi đón tiếp họ, chúng ta hoàn toàn vô vị lợi, vì không mong chờ sự đáp trả của những kẻ khốn khổ ấy. Đó chính là sứ điệp mà Đức Giêsu muốn gởi tới chúng ta qua bài Tin mừng hôm nay.

Người còn khẳng định: "Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" (Mc.9,35). Với tinh thần phục vụ vô vị lợi, chúng ta thực sự lớn lên trước mặt Thiên Chúa và anh em. "Người lớn nhất" là người phục vụ nhiều nhất, hăng say nhất. "Người lớn nhất" là người làm trước nhất và nghỉ sau cùng.

Đó là một cuộc cách mạng về quan điểm "Người lớn nhất" nơi Đức Giêsu. "Người lớn nhất" theo kiểu của Đức Giêsu không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng đôi tay để phục vụ. "Người lớn nhất" không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng con tim để yêu thương. Thế giới ngày nay rất cần những người đứng đầu theo kiểu mẫu ấy: khiêm tốn, phục vụ, và yêu thương. Bourdaloue có nói: "Đặt mình trên kẻ khác chính là tự buộc mình làm việc và phục vụ họ". Nhà truyền giáo Albert Schweitzer nói: "Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ".

Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng là người đứng đầu trong một tập thể nhỏ bé nào đó, xin cho chúng con biết dùng quyền hạn của mình để phục vụ những người Chúa giao phó cho chúng con. Nhất là xin cho chúng con luôn thao thức, làm cho họ ngày càng được an vui và hạnh phúc hơn. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B112: Theo Chúa phải khiêm nhường phục vụ


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

 

Sau khi thăm dò ý kiến dân chúng về chính con người của mình, Chúa Giêsu quay sang hỏi các môn TN25-B112 Lương


Sau khi thăm dò ý kiến dân chúng về chính con người của mình, Chúa Giêsu quay sang hỏi các môn đệ, và nhận được phản hồi từ Phêrô tuyên xưng: "Thầy là Đấng Kitô" (Mc 8, 29). Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các ông biết Người là "Người Tôi Tớ đau khổ" được Isaia loan báo cũng Đavít đã nói trong Thánh Vịnh 22 (21). Người Tôi Tớ ấy: "Sẽ phải chịu đau khổ nhiều…bị giết đi" (Mc 8, 31).

Các môn đệ kia không biết các ông có hiểu hay có ý kiến gì không, vì không thấy ai nói gì? Còn Phêrô, vì không chấp nhận mạc khải ấy nên đã bị khiển trách nặng nề: "Satan, hãy lui đi" (Mc 8, 33). Nhưng với tình thầy trò, Chúa Giêsu tiếp tục dạy dỗ các ông nhiều điều, dẫn các ông lên một ngọn núi cao và biến hình trước mặt các ông, để củng cố niềm tin của các ông trước cuộc Khổ Nạn sắp tới.

Bài học về sự phục vụ

Sau khi biến hình, thầy trò xuống núi, trở lại với các môn đệ kia, Chúa Giêsu lại tiếp dục dạy dỗ các ông lần thứ hai: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Marcô ghi rõ: "Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người" (Mc 9, 10), nghĩa là có Phêrô, Giacôbê và Gioan vừa chứng kiến cảnh Thầy biến hình, vậy mà các ông vẫn không hiểu, vì không hiểu nên các ông mới hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?" (Mc 9,10) Và cũng từ sự không hiểu biết này dẫn đến cuộc cãi vã dọc đường (x. Mc 9, 34), tệ hơn nữa Giacôbê và Gioan đến xin Chúa Giêsu cho được một ngồi bên tả, một ngồi bên hữu Thầy (x. Mc 10, 35). Câu trả lời của Chúa Giêsu thật mạnh mẽ: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" (Mc 9, 35); Và Người nói tiếp: "Cũng vậy, Con Người đến không phải để được người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống cho nhiều người" (Mc 10, 45).

Bài học về sự khiêm nhường

Khiêm nhường đón tiếp cả trẻ nhỏ và trở nên người rốt hết phục vụ mọi người, là điều Chúa Giêsu muốn các môn đệ của mình phải noi theo. Kiêu ngạo sẽ biến người ta trở thành kẻ tự phụ, đề cao mình không đúng mức, hoặc khinh dể kẻ khác, tìm cách hạ người khác xuống để mình được tôn lên. Người kiêu ngạo hay khoe khoang và có thái độ tự đắc, rất ham thích địa vị và tiếng khen, muốn được phục vụ và không phục thiện. Ai không đồng ý kiến, hay nói lời khinh chê, thì họ tỏ thái độ buồn giận bực tức và tìm cách trả thù. Hậu quả là kẻ kiêu ngạo bị Thiên Chúa đối địch và người đời ghen ghét.

Kinh Thánh dạy rằng: “Thiên Chúa chống đối kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho người khiêm tốn” (x. Gc 4,6). Kẻ kiêu ngạo không những bị Thiên Chúa đối địch mà còn bị người đời ghét bỏ và xa tránh. Bị người đời chống lại đã nguy hiểm, phương chi bị Thiên Chúa đối địch thì khủng khiếp biết bao, khốn nạn biết chừng nào. Có lời Chúa phán "Kẻ nào tự nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, và kẻ nào tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên" (Mt 23,12)... Nếu như bạn có điều gì tốt, hãy nhận về bạn, nhưng đừng quên lỗi lầm của bạn; đừng thổi phồng những gì hôm nay bạn đã làm tốt, đừng loại sự xấu gần đây và trong quá khứ; nếu điều hiện tại mang lại cho bạn hư vinh, hãy nhớ quá khứ; đây là cách bạn nhận ra sự kém cỏi của mình!

Và nếu bạn thấy lỗi lầm của tha nhân, hãy thận trọng coi như lỗi này ở trong anh em, nhưng cũng phải suy nghĩ về những gì tốt anh em đang làm hoặc đã làm; nếu bạn duyệt toàn bộ cuộc sống của bạn và không tính toán chi li, thì theo lẽ thường, bạn sẽ khám phá ra điều tốt nơi mình. Thiên Chúa không để ý đến từng li từng tí của con người... chúng ta phải luôn nhắc nhủ nhau rằng, đừng có kiêu ngạo, hãy ăn ở khiêm hường và hạ mình xuống để được nhấc lên.

Chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, Đấng đã từ trời hạ mình xuống… Nhưng sau khi tự hạ, Người đã được tôn vinh, những người bị ngược đãi như các môn đệ đầu tiên, hay những người nghèo khổ, đói rách, trần truồng, đi khắp thế gian, không lời khôn ngoan, không đánh trống phô trương, nhưng nhiệt thành làm việc, lang thang trên đất và trên biển, bị đánh đập, bị ném đá, bị trục xuất và cuối cùng bị giết cũng được tôn vinh với Người.

Chúng ta cũng vậy, hãy bắt chước họ và bước theo để được vào nơi đầy ánh sáng và vinh quang đời đời, đây là món quà tốt hảo và chân thật Thiên Chúa dành cho những ai đi theo đường lối Người.

Lạy Chúa Giêsu khiêm nhường và hiền lành, xin giúp chúng con dẹp tính khoe khoang, cậy mình và năng nhớ lời Chúa dạy: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" (Mc 9, 35). Amen.

-----------------------------

 

TN25-B113: Quyền bính là để phục vụ


(Suy niệm của Đs. Montfort Nguyễn Xuân Pháp O.Cist)

1. Tóm Lược

Bài Đọc 1: Kn 2, 12. 17- 20

 

Người gian ác tìm cách gài bẫy người công chính, vì họ thường tố cáo lối sống không tuân hành lễ TN25-B113


Người gian ác tìm cách gài bẫy người công chính, vì họ thường tố cáo lối sống không tuân hành lễ giáo và vi phạm lề luật. Hơn  nữa, người gian ác mưu hại người công chính là để thấy cuộc đời họ kết thúc ra sao, vì nếu người công chính là con Thiên Chúa thì Người sẽ phù hộ và cứu thoát khỏi tay địch thù.

Bài Đọc 2: Gc 3, 16; 4, 3

Ở đâu có ghen tương, tranh chấp thì ở đấy có xáo trộn và mọi thứ xấu xa. Sở dĩ có xung đột giữa anh em là vì khoái lạc đã gây nên chiến tranh, ganh ghét và chém giết lẫn nhau. Còn đức khôn ngoan Thiên Chúa là thanh khiết, hiếu hòa, khoan dung, từ bi, không thiên vị, không giả hình.

Bài Tin Mừng: Mc 9, 30- 37

Mặc dầu Đức Giêsu loan báo cuộc thương khó lần thứ hai, nhưng các môn đệ vẫn không hiểu những lời đó, lại còn tranh dành ai là người lớn hơn cả. Thấy vậy, Đức Giêsu liền nói: “Ai làm người đứng đầu phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”. Người còn đặt một em nhỏ vào giữa các ông và nói: Ai tiếp đón một em nhỏ vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.

2. Suy Niệm

Khi đề cập tới quyền bính, nhiều người cảm thấy e ngại, né tránh. Bởi chưng giữa cảnh đời tranh đua xua nịnh, quyền bính là phương tiện hữu hiệu để ra lệnh, chỉ đạo, cai trị, lấn át người dưới và trục lợi cho bản thân. Cách hành xử của người nắm quyền thường mang tính áp đặt, “cả vú lấp miệng em” nhằm đạt được danh vọng, vinh thân phì da và củng cố địa vị. Sự thánh thiêng của quyền bính đã bị bào mòn khi đồng hoá nó với uy danh của cái tôi và nhắm tới quyền lợi người trên. Thay vì trở nên cách thế phục vụ và bảo vệ kẻ thấp cổ bé miệng, nó lại chất lên vai những gánh nặng mà chính người nắm quyền không thèm đụng ngón tay.

Còn theo Chúa Giêsu, quyền bính là để phục vụ; người đứng đầu là người có khả năng dấn thân phục vụ và mở ra chiều kích sứ vụ nhiều hơn. Chúa Giêsu đã nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9, 36). Ở đây, Đức Kitô không đề ra xu hướng loại trừ quyền bính. Cũng như đồng tiền, quyền bính tự nó là tốt và cần thiết cho sự phát triển và an sinh xã hội. Vấn đề không hệ tại quyền bính mà ở cách sử dụng chúng và hướng đích mà người nắm quyền muốn nhắm tới. Chúa Giêsu đưa ra một phương cách hành quyền khác giúp các môn đệ tránh những cám dỗ mà quyền bính có thể mang lại: Người làm lớn là người phục vụ anh em, sẵn sàng rửa chân cho nhau và hiến dâng mạng sống vì lợi ích tha nhân.

Như vậy, Chúa Giêsu đòi hỏi người nắm quyền chấp nhận phần thua thiệt, tiêu hao chính mình để người khác được lớn lên trong ân sủng và tình yêu. Đồng thời, luôn sống chiều kích vâng phục như chính Ngài “đã vâng lời cho đến chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 8). Chính Ngài đã nêu gương cho các môn đệ: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4, 34). Sống chiều kích vâng phục giúp người nắm quyền thi hành chức vụ bằng tinh thần của Chúa: yêu thương, cảm thông, tha thứ và phục vụ. Họ không tìm ưu đãi cho bản thân hay nhằm thăng tiến địa vị, nhưng luôn nhắm tới người bé mọn và nghèo khổ là thành phần cần được bảo vệ và ưu đãi trong cộng đoàn (x. Mt 18, 1- 4).

Có thể nói, quyền bính là lối ngõ dẫn người khác tới gặp Thiên Chúa và tha nhân. Ngang qua quyền bính, con người khám phá ra tình yêu, sự tin tưởng và tình liên đới, cũng như tìm được chìa khoá mở ra những chân trời tươi sáng và hy vọng. Bởi vì, nó làm cho con người sống xứng với nhân phẩm của mình và không ngừng lớn lên. Nói cách khác, người nắm quyền là người có khả năng bắt nhịp cuộc sống người khác: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15), “trở nên tất cả cho mọi người” (1Cr 9, 22) để mưu ích cho anh chị em mình (x. 1Tx 1, 5), sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa (x. Rm 7, 4) và xây dựng Hội Thánh (x. 1Cr 14, 26).

Điều này đòi hỏi người lãnh đạo cần trang bị cho mình những đức tính cần thiết như: Tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, cởi mở, hiếu khách, hiền hoà và có khả năng giảng dạy (x. 1Tx 3, 2- 4; 1Tm 6, 11; 1Tt 1, 6- 9). Họ phải nêu gương mẫu cho người khác về lời ăn tiếng nói, cách cư xử, đức ái, đức tin và lòng trong sạch (x. 1Tm 4, 12; 2Tm 2, 22); thái độ dịu dàng với mọi người và biết chịu đựng những thử thách, đau khổ (x. 1Tm 2, 24). Người nắm quyền phải xác tín rằng quyền bính Chúa ban để xây dựng và củng cố, chứ không phải để phá đổ (x. 2Cr 13, 16). Thánh Phaolô đưa ra khuân mẫu cho người nắm quyền bính: Xem người dưới như ruột thịt và đối xử trọn tâm tình của người cha (x. 1Cr 4, 14; 2Cr 3, 16; 1Tx 2, 11), hay như sự dịu dàng của người mẹ hiền (x. 1Tx 2, 7; Gl 4, 19).

Với thánh Phaolô, điều có sức chinh phục người khác không phải là quyền- luật cho bằng một trái tim biết rộng mở và cùng đồng hành với những nỗi thăng trầm của họ. Hơn ai hết, chính thánh nhân là mẫu gương tuyệt hảo cho những ai hành quyền: “Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ. Chúng tôi quí mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa” (1Tx 2, 7- 8). Ở đây, cách hành quyền không mang màu sắc áp đặt. Trái lại, luôn kêu gọi và mở ngỏ cho người khác đáp lại với tất cả tự do: “Chúng tôi khuyên nhủ, khích lệ, van nài anh em sống xứng đáng với Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi anh vào nước của Người và chia sẻ vinh quang với Người” (1Tx 2, 11- 12).

Chúng ta cùng cầu xin Chúa ban cho những người đang hướng dẫn chúng ta được khôn ngoan, bác ái, từ tâm, hiền lành và dạt dào hồng ân Chúa, để các ngài dẫn dắt đoàn chiên Chúa tín trao luôn an hòa và thăng tiến như Thiên Chúa muốn.

-----------------------------

 

TN25-B114: NGƯỜI LỚN NHẤT


Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, năm B

Mc 9, 30-37

 

Khuynh hướng của con người luôn muốn hơn người khác. Đặc biệt, ai cũng muốn xếp hạng nhất, muốn TN25-B114 Dalat


Khuynh hướng của con người luôn muốn hơn người khác. Đặc biệt, ai cũng muốn xếp hạng nhất, muốn làm người lãnh đạo, làm người điều khiển người khác. Trên thị trường, nhiều quảng cáo xem ra rất kêu, nhằm kéo thị hiếu của con người.  Như vậy, con người luôn nghĩ ra nhiều kế, nhiều kế hoạch, nhiều trò nhằm làm thỏa mãn khuynh hướng muốn thống trị, đứng đầu, số một của mình. Chúa Giêsu lại dạy con người bài học thật khác lạ:” Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người “ ( Mc 9, 35).

Thật vậy, Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại một luồng gió mới.Ngài dạy dỗ con người với lòng yêu thương vô bờ của Ngài. Ngài đến làm cho Lề Luật nên trọn hảo.Ngài kiện toàn luật Cựu Ước. Do đó, Chúa Giêsu ban cho nhân loại, ban cho con người giới răn yêu thương mới, giới răn được đặt trên bác ái yêu thương. Các môn đệ của Chúa đã được Chúa uốn nắn,dạy dỗ và rèn luyện,nhưng thực tế, các Ngài vẫn chưa hiểu được ý Chúa, chưa nhận ra con đường của Người.Do đó, các môn đệ còn tranh cãi nhau, còn giành giật nhau theo kiểu người đời, theo cung cách của thế gian.Một bữa kia khi đi trên đường, các môn đệ tranh cãi nhau xem ai làm lớn, làm bé.Chúa không can thiệp vào công việc của các môn đệ lúc đó,Ngài giả bộ như không biết gì.Ngài muốn đo lường sự hiểu biết của các môn đệ. Chính vì thế, sau khi về đến nơi nghỉ,Chúa Giêsu đã vặn hỏi các môn đệ xem các Ngài đã tranh luận gì khi đi dọc đường. Chúa Giêsu đã biết rõ cõi lòng của các môn đệ.Bởi vì, các môn đệ cứ tưởng Chúa sẽ làm vua theo kiểu người đời và các Ngài sẽ tranh nhau các ghế trong nội các của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ bài học phục vụ khiêm nhường, phục vụ vô vị lợi. Chúa đem một em bé đến trước mặt các ông và nói:” Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy “ ( Mc 9, 37 ). Đối với Chúa Giêsu trẻ nhỏ bị xã hội, bị người lớn coi thường, họ coi trẻ nhỏ như những người không quan trọng, không đáng quan tâm, lưu ý; những người tàn tật, bị bỏ rơi, những kẻ bơ vơ, vất vưởng, neo đơn, tất bạt. Chúa Giêsu đồng hóa với những con người bất hạnh ấy. Ngài nói:” khi cho một kẻ nghèo, một người bơ vơ, bệnh hoạn, tù đầy…vv… ăn, uống,giúp đỡ, thăm nuôi họ là đã làm cho chính Chúa. Chúa Giêsu muốn gủi đến thế giới, đến con người, đến mỗi người chúng ta sứ điệp yêu thương này. Về vấn đề phục vụ, làm người đứng đầu,Chúa Giêsu lại có một quan điểm khác lạ bởi vì bình thường người lãnh đạo, người đứng đầu là người truyền lệnh, bắt cấp dưới thi hành lệnh của cấp trên. Chức tước, địa vị càng cao, họ càng có quyền, càng ra lệnh bắt cấp dưới phải thi hành ý muốn của họ. Đối với Chúa Giêsu  thì khác, người làm lớn là người phục vụ nhiều nhất, hăng say, năng nổ nhất, người làm lớn làm trước, làm gương và nghỉ sau cùng. Người làm đầu theo kiểu của Chúa, theo quan điểm của Ngài là người không dùng quyền để quyết định, dùng quyền để sai khiến, lãnh đạo. Người lãnh đạo không dùng sức mạnh để chỉ huy, để chèn ép người khác, nhưng dùng con tim đầy yêu thương, đôi tay nhẹ nhàng để phục vụ. Làm lớn theo kiểu của Chúa Giêsu là người hy sinh phục vụ quên mình, là người yêu thương, quảng đại. Chính Chúa Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Chồn có hang, chim trời có tổ…Chúa Giêsu đã làm gương cho những người làm lớn là Ngài không nhà, không cửa,không dành cho mình bất cứ điều gì…Ngài tay không: không có nơi tựa đầu thua con chồn, chú chim vv…Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói:” người ngày nay thích chứng nhân hơn là người nói “. Làm, phục vụ theo cung cách của Chúa Giêsu  là kiểu mẫu Ngài muốn để lại cho những người lãnh đạo: khiêm nhường, phục vụ, yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con đẩy ra khỏi đầu óc chúng con sự ích kỷ, ghen tương, khoe khoang, tự cao, tự đắc. Xin cho chúng con biết khiêm tốn phục vụ trong yêu thương bởi vì Chúa đã thật sự dạy nhân loại bài học khiêm tốn, hy sinh và phục vụ. Albert Schweitzer đã viết:” Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ “. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1.Trẻ nhỏ theo quan điểm của Chúa Giêsu là gì ?
2.Phục vụ đối với Chúa Giêsu phải làm sao ?
3.Làm lớn theo quan điểm của Chúa Giêsu ?
4.Chúa Giêsu đã dạy chúng ta bài học gì qua việc lanh đạo ?
5.Làm lớn theo cung cách của Chúa Giêsu phải thế nào ?                          

-----------------------------

 

TN25-B115: NGƯỜI LỚN NHẤT


Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, năm B

Mc 9,30-37

 

 Chúa Giêsu nói:” Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết…. Chúa quan niệm làm lớn làm TN25-B115


Chúa Giêsu nói:” Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người “. Chúa quan niệm làm lớn làm bé trong Vương Quốc của Ngài hoàn toàn khác với cách phân chia quyền bính của con người. Ngài giải thích tiếp:” Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy là đón tiếp chính mình Thầy “ ( Mc 9, 37 ).

Tinh thần mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ và mọi người chúng ta là “ Ai muốn làm lớn nhất hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người “ ( Mc 9, 35 ). Thật vậy, cái cám dỗ lớn nhất của con người là muốn thống trị, muốn lãnh đạo đạo người khác. Người ta hơn nhau tiếng nói, hơn nhau địa vị, danh tiếng vv…Chúa Giêsu có quan niệm khác hẳn với cách suy nghĩ của con người. Cám dỗ về quyền bính và làm lớn cũng đã xẩy ra ngay từ thời các tông đồ, giữa các môn đệ. Bởi vì, vào chính lúc Thầy Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài thay vì tìm hiểu để chia sẻ với ưu tư, với suy nghĩ của Thầy, các môn đệ đã có thái độ ích kỷ, vụ lợi, tranh dành quyền hành với nhau, các ngài tưởng thời lập quốc của Thầy đã tới và vinh quang của các ngài đã ló rạng, sáng ngời.Do đó, các ngài tranh luận xem ai sẽ làm chức này, chức nọ trong Vương Quốc của Chúa Giêsu. Các môn đệ cũng tự cảm thấy ngượng vì tranh cãi nhau như thế bởi khi Cúa Giêsu hỏi dọc đường các con tranh luận với nhau về việc gì, các ngài đã im lặng. Đối với Chúa Giêsu  trong Nước Trời cũng có tôn ti trật tự nhưng là một tôn ti trật tự lạ lùng: Người làm lớn là người hầu hạ kẻ khác, người nhỏ nhất phải là đối tượng để được hầu hạ, phục vụ. Chính Chúa Giêsu tuy là Chúa, là Thầy mà đã làm gương quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Đây quả thực là một cuộc cách mạng lớn về quan điểm của Chúa Giêsu: Người làm lớn phải là người phục vụ, người đi trước và về sau như các Đức Giáo Hoàng thường ký trong các văn bản của các ngài:” Tôi tớ của các tôi tớ “. Người lớn nhất theo Chúa Giêsu là người không dùng quyền hành, địa vị để cai trị, thống lãnh người khác mà dùng đôi tay để phục vụ, để hầu hạ. Người lớn nhất không dùng quyền lực để cai trị nhưng dùng con tim để yêu thương.  Đối với Chúa:” Quyền bính là để phục vụ”.Tự bản chất “ quyền bính’ tự nó là tốt, là cần thiết cho sự an sinh xã hội. Điều quan trọng là biết dùng nó để quyền bính trở nên hữu ích cho con người, cho người khác. Tin mừng của Chúa Giêsu hôm nay vẫn là bài học muôn thuở cho trần gian, cho con người, cho loài người. Quyền bính cần thiết cho sự an bình và trật tự của mọi cơ cấu xã hội và ngay cả Giáo Hội, nhưng bài học đó sẽ hữu ích, và vô cùng cần thiết nếu con người luôn biết noi gương bắt chước Thầy Chí Thánh Giêsu:” Đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ “ “ Ai muốn làm lớn, làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người hầu hạ, phục vụ mọi người” .

Thế giới muôn thời vẫn luôn cần có những người lãnh đạo hiền lành, khiêm tốn, yêu thương và phục vụ. Thiếu những đức tính ấy người lãnh đạo, người đứng đầu sẽ không còn là người lãnh đạo theo gương Chúa Giêsu mà trở thành người lạm dụng quyền bính, tự kiêu và sống giống như người Biệt phái,Pharisêu vv…Bước theo Chúa là noi gương Chúa cúi xuống rửa chân cho các môn đệ và yêu thương các ngài tới cùng, yêu thương nhân loại bằng việc đổ máu trên Thập Giá…

 Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con biết sống hiền lành, khiêm tốn, yêu thương và phục vụ như Chúa.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1.Quyền bính theo quan niệm của con người ?
2.Quyền bính có cần không ? Theo Chúa Giêsu:” Quyền bính và người lãnh đạo phải làm sao ?”.
3.Chúa Giêsu đã làm gương nào cho các môn đệ về việc lãnh đạo?
4.Trẻ nhỏ theo quan niệm của Chúa Giêsu ?

-----------------------------

 

TN25-B116: Thang giá trị mới


(Đức Cha L. Daloz trong "Qui don est-il?", DDB, trang 55-56).

 

Đây là lần thứ hai Đức Giêsu loan báo cho môn đệ điều sẽ xảy đến cho Người. Người biết mình sẽ đi TN25-B116


Đây là lần thứ hai Đức Giêsu loan báo cho môn đệ điều sẽ xảy đến cho Người. Người biết mình sẽ đi về đâu và người nói không úp mở về cái chết gần kề và sự sống lại của Người. Phải chăng Người đã phải chịu nỗi lo âu về cuộc khổ nạn: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này?”. Người còn lo lắng hơn không hiểu gì và họ sợ không dám hỏi Người. Phải chăng họ cũng tiên cảm được mối nguy đang rình chờ? Chúng ta đôi khi cũng không hiểu Đức Giêsu nói gì. Có lẽ vì ta sợ phải hiểu chăng? Qua im lặng, các môn đệ bình thản ở lại trong sai lầm: Nước Trời mà họ mơ tưởng là nước mà ở đó họ đóng vai ông lớn, là nơi mà họ tranh cãi xem ai trong nhóm họ là người lớn nhất. Khi Đức Giêsu hỏi họ: "Lúc đi đường các anh đã tranh luận gì thế?”, họ làm thinh. May thay, Đức Giêsu dịu dàng và kiên nhẫn loại bỏ sự im lặng và suy nghĩ sai lầm của họ. Vương quốc của Chúa là vương quốc của người phục vụ, là nơi người trước hết trở nên rốt hết, người nhỏ bé nhất trở nên người lớn nhất. Đức Giêsu hiểu rất rõ bản tính con người. Người không cho phép các môn đệ giam mình trong sự thinh lặng để che giấu nỗi sợ hãi và tham vọng. Người đi bước đầu, loan báo, chất vấn, giải thích. Rồi Người đặt một em bé ở giữa các ông, để tỏ cho các ông thang giá trị mới, nó bắt nguồn từ tình yêu đối với Chúa Cha".

2. “Ai là người lớn nhất?”

(Noel Quesson, trong "Les entretiens du Dimanche. Année B", Droguet & Ardant, trang 194-195).

"Trong xã hội loài người, tự nhiên ai cũng muốn chiếm được vị trí quan trọng. Đó cũng là luật lệ của thế giới loài vật, một thế giới rất có phẩm trật: luật rừng xanh, nơi kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu, nơi người lớn thống trị người bé. Nhưng Đức Giêsu đến đảo ngược lô-gic đó: “Ai muốn làm đầu thì hãy làm người rốt hết. Ai muốn làm người lớn thì hãy làm đầy tớ mọi người”.

Những câu nói khiêu khích, cách mạng này không do các tông đồ sáng chế ra đâu, vì chính họ là người mong chiếm được địa vị cao. Nhưng chính Đức Giêsu đã đảo ngược khuynh hướng tự nhiên của con người. Nếu chỉ đổi chủ mà thôi thì không hơn gì: nếu người bị thống trị lại trở thành người thống trị, nào có thay đổi gì. Vậy mà lịch sử loài người lại đầy dẫy những cuộc nguỵ cách mạng, những người hò hét "đả đảo quân bóc lột" lại trở thành nỗi kinh hoàng cho những người thấp cổ bé miệng.

Đức Giêsu đề nghị một giải pháp khác: ông chủ tự nguyện đầy tớ mọi người. Đây là một cuộc cách mạng diễn ra trong nội tâm con người: một cuộc đổi mới tâm hồn, một sự từ bỏ truyền thống trị người khác.

Để làm điều đó Đức Giêsu nêu ra một minh hoạ: đứa bé. Trẻ em là một sinh vật nhỏ bé, không được trọng vọng loài xã hội, không có khả năng tự vệ, lại dễ bị người ta loại bỏ, cả bằng cách phạm pháp, như giết nó ngay khi còn trong bào thai nghĩa là vào lúc nó không có một chút khả năng nào để tự vệ. Đứa bé là một kẻ nghèo hèn đúng nghĩa nhất vì nó chẳng có quyền gì. Lúc nào và ở đâu, người ta cũng có thể trao nó vào tay kẻ mạnh, kẻ có quyền lực.

Vào những ngày này, khi bắt đầu các hoạt động, chúng ta tự hỏi xem mình sẽ phục vụ ở đâu?.

-----------------------------

 

TN25-B117: Phục vụ

 

Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đưa ra một sự trớ trêu và sự trớ trêu này lại do chính các môn đệ, TN25-B117 Luong


Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay đưa ra một sự trớ trêu và sự trớ trêu này lại do chính các môn đệ, là những người thân yêu của Chúa gây nên.

Thực vậy, một lần nữa Chúa Giêsu dạy riêng các môn đệ về con đường thực hiện sứ mạng của Ngài: Con Người sẽ bị giết chết nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Và lần này cũng như lần trước, các môn đệ đã tỏ ra không hiểu, thế nhưng rút kinh nghiệm lần trước, không một ai đã lên tiếng góp ý. Điều trớ trêu và mỉa mai ở đây đó là chính lúc Chúa Giêsu muốn cho các ông hiểu về con đường đau khổ và thập giá mà Ngài phải trải qua để tiến đến vinh quang phục sinh, thì các ông lại nghĩ đến địa vị, đến chỗ đứng. Các ông tranh luận với nhau xem ai lớn hơn ai.

Như những người Do Thái khác, các ông vẫn quan niệm về một vị cứu tinh trong phạm vi chính trị, sẽ lật đổ ách nô lệ của đế quốc Lamã, giải phóng dân tộc, đem lại tự do và sự phồn thịnh cho đất nước. Và nếu vị cứu tinh nhân dân đang mong đợi dó chính là Chúa Giêsu, bậc thầy của các ông, thì quả thật, các ông là những người may mắn, vì sẽ được ban cho những chỗ đứng, những địa vị cao trọng trong vương quốc của Ngài. Tin Mừng cho thấy là những cuộc tranh luận này, hay những vụ tranh giành ngôi thứ vẫn thường xảy ra giữa các môn đệ, cho tới ngày Chúa bị nộp và bị giết.

Trong bài học Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, Ngài đã muốn đảo lộn cái nhìn và cách đánh giá của các ông. Trong cái nhìn và cách đánh giá của Chúa Giêsu, thì người lớn nhất lại không phải là người ngồi vào chỗ cao nhất, trên tất cả mọi người, nhưng là người rốt hết, là kẻ tôi đòi của mọi người. Như thế, con người được đánh giá không phải ở địa vị, ở quyền cao chức trọng mà là ở khả năng phục vụ. Và con đường dẫn tới vinh quang chính là con đường phục vụ mọi người.

Bài học đó, Chúa Giêsu đã thực hiện nơi chính bản thân của Ngài. Là Con Thiên Chúa, Ngài đã không dành chỗ nhất trong xã hội, nhưng Ngài đã chọn con đường yêu thương phục vụ, trở thành hữu ích đối với kẻ nghèo khổ, đói khát, bệnh tật và bị áp bức. Ngài trở nên hữu ích bằng cách chỉ cho họ tình thương của Chúa. Cứu chữa họ, giải phóng họ, trả lại cho họ quyền lợi và chỗ đứng trong xã hội và tôn giáo. Ngài đã đi cho đến cùng con đường yêu thương phục vụ của Ngài như lời Ngài đã phán. Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người. Cái chết và đau khổ chính là cái giá Ngài phải trả cho sự chọn lựa này.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta có biết chấp nhận đau khổ và thập giá, nhất là chúng ta có hết can đảm bước vào con đường dấn thân và phục vụ anh em như Chúa Giêsu ngày xưa hay không?

-----------------------------

 

TN25-B118: Máu làm quan – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

Nếu hỏi một em bé: “con đi học để làm gì?” , thì đa số các em sẽ trả lời rằng: con đi học để làm TN25-B118


Nếu hỏi một em bé: “con đi học để làm gì?” , thì đa số các em sẽ trả lời rằng: con đi học để làm ông này bà kia...; làm kỹ sư, làm bác sỹ, làm linh mục hay nữ tu...; Điểm chung về cái học luôn là một nỗ lực cần phải có để tiến thân, hay để có danh với đời như Nguyễn Công Trứ đã nói:

“Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”

Nhất là truyền thống dân tộc Việt Nam luôn trọng sự học. Và đương nhiên cũng rất trọng "cái danh"- làm quan. Cái danh ấy, không chỉ mang lại bổng lộc cho bản thân mà dường như còn cho cả gia tộc, vì “một người làm quan, cả họ được nhờ”.

Vì mong có cái danh mà vợ phải hy sinh cho chồng, cha mẹ hy sinh cho con cái. Họ chấp chận mọi đắng cay để gia đình có người làm quan như trong bài thơ “Trăng sáng vườn chè” diễn tả. Bài thơ này những bà mẹ thường kèm theo lời hát ru hời trong giấc ngủ của con:

Sáng trăng sáng cả vườn chè/ Một gian nhà nhỏ đi về có nhau/ Vì tằm tôi phải chạy dâu/ Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay/ Chồng tôi thi đỗ khoa này/ Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi...

Công bằng mà nói, máu làm quan là bản năng của con người. Khi bắt đầu có nhận thức về nhóm, về tập thể, cộng đồng và xã hội thì luôn có người muốn đứng trên mọi người! Con người luôn muốn thống lĩnh mọi người để được hưởng lợi. Con người đua nhau làm quan xem ra chỉ để được vinh thân phì gia, có mấy ai để xả thân cứu đời.

Dường như các môn đệ đi theo Chúa cũng muốn tìm cái danh. Ai cũng muốn làm người đứng đầu. Ai cũng muốn bổng lộc, sung sướng an nhàn. Họ cũng tranh dành nhau quyền lực. Họ cũng chèn cựa ganh tỵ với nhau để kiếm chỗ nhất trong anh em.

Hôm nay, Chúa Giê-su bảo người theo Chúa là để phục vụ, để hy sinh, để xả thân. Người theo Chúa không phải vinh thân phì gia mà để sống có ích cho đời, đem cái tài của mình để  cống hiến cho nhân loại. Người theo Chúa phải bỏ lại ruộng vườn, thân nhân, gia tài để sống thanh thoát với đời. Người theo Chúa còn phải vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa. Như vậy, người có danh là để phục vụ, để cống hiến cho đời chứ không phải để hưởng lợi bổng lộc từ danh vọng.

Tinh thần phục vụ mà Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ là vô điều kiện, là vô vị lợi. Tinh thần ấy sẵn lòng cúi xuống phục vụ mọi hạng người cho dù đó là trẻ em, là những phận người bé nhỏ nhất trong xã hội con người. Tinh thần ấy còn sẵn lòng đón nhận mọi khó khăn, thử thách để chu toàn sứ vụ được giao.

Cuộc đời con người ai cũng mong có được địa vị, có được danh vọng. Điều quan yếu là hãy dùng nén bạc Chúa trao ấy để sinh lợi cho Chúa. Xin đừng tìm kiếm danh vọng để vun quén cho bản thân, để vinh thân phì gia. Danh giá của con người không hẳn ở chức tước mà hệ tại việc mình quảng đại dấn thân cho đời. Đó mới là lý tưởng mà Chúa muốn người môn đệ cần phải theo.

Xin cho chúng ta luôn bé nhỏ để Chúa được lớn lên trong chúng ta. Xin đừng vì danh vọng mà sống ganh ghét, tỵ hiềm gây nên những tranh chấp hận thù đau thương. Nhưng xin cho chúng ta biết sẵn lòng đón nhận chức vụ với tấm lòng gánh lấy trọng trách Chúa trao để phục vụ lợi ích cho tha nhân. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B119: Ghen tỵ! – Huệ Minh

 

Cái ác, sự ghen tương nó đã len lỏi vào cuộc sống của con người, vào đòi sống của con người từ TN25-B119


Cái ác, sự ghen tương nó đã len lỏi vào cuộc sống của con người, vào đòi sống của con người từ những ngày tạo thiên lập địa. Cũng chính vì ganh tỵ với Thiên Chúa nên hai ông bà nguyên tổ đã đánh mất đi tình yêu của Thiên Chúa. Cái ác và ghen tương củ ông bà đã để lại cho con cháu những bài học quý giá nhưng rồi dường như chẳng ai muốn học cả. Đơn giản bởi lẽ con người vẫn mãi mãi ghen tương.

Sách Huấn ca vừa nói vói ta: Những kẻ gian ác nói rằng: “Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Vậy chúng ta hãy xem điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!”

Người công chính bị người ác mưu hại và còn hơn nữa là thách thức Thiên Chúa.

Sự ác, sự ghen tuông tưởng chừng chỉ có ở thời Cựu Ước hay như ông bà nguyên tổ Ađam nhưng rồi cứ kéo dài mãi cho đến thời các môn đệ.

Đã là những người gần gũi, đã là những người thân tín, lẽ ra nhường nhịn nhau, thông cảm cho nhau nhưng rồi lại cứ phải hơn thua, tranh giành.

Hôm nay, sự tranh giành, tính toán hơn thua nhau ta thấy có tự trong hàng ngũ những môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Trên đường đi loan báo Tin Mừng nhưng rồi các ông đã sống sai Tin Mừng và xa rời Tin Mừng mà Thầy Giêsu đang muốn gửi đến cho nhân loại, muốn gửi đến cho các ông và nhất là qua các ông là những người gần gũi.

Ắt hẳn là con người, khi các môn đệ đã nhắm đến chỗ cao, chỗ hơn thì chính trong nội bộ đã gây chia rẽ với nhau rồi. Và khi nội bộ của những người loan báo Tin Mừng gây chia rẽ thì tiếng nói của Lời Chúa, những lời rao giảng về Chúa coi như ra rỗng tuếch.

Ngày nay, điều mà người ta vẫn dễ nhận thấy đường hướng của những người gây chia rẽ là ai trong cuộc sống. Nếu như không tỉnh táo con người sẽ dễ bị cuốn hút đi theo con đường gây chia rẽ đó.

Thật ra mà nói, nếu như con người chấp nhận cái tôi của mình, sự yếu đuối của mình và nhất là không chay theo tiền bạc cũng như quyền lực thì sự hơn thua, ganh tỵ, chia rẽ khó mà có chỗ ngự trị. Ngược lại, nếu như con người ta để cho cái tôi của mình ngày một lớn thì sự chia rẽ đó càng mạnh.

Ngày nay, phải nói rằng sự chia rẽ ngay trong nội bộ gia đình, cộng đoàn đã đến mức báo động đỏ cũng chỉ vì người ta hơn thua tranh giành nhau. Có khi chỉ vài tấc đất thôi nhưng người ta có thể thù oán nhau và hại nhau có khi là mất mạng.

Ngày nay, người ta dễ nổi nóng với nhau cũng như dễ hành xử với nhau trong tư cách là con hơn là người. Cũng dễ hiểu bởi đó là tác động của xã hội nhưng rồi không thể nào đổ lỗi cho xã hội để ta cuốn theo xú u hướng của xã hội như thế.

Đau lòng hơn cả là trong những cộng đoàn tu trì cũng như giữa các đấng các bậc với nhau. Có thể không nói ra nhưng những lời xầm xì của những người trong nhà, của cộng đoàn đã để lọt ra ngoài để cho người ngoài nhìn thấy chính nội bộ cộng đoàn tu trì gây chia rẽ hơn thua nhau.

Chuyện giản đơn là chức vụ, xét cho bằng cùng chức vụ cũng chỉ là cộng đoàn đưa lên để phục vụ cộng đoàn.

Phải nói rằng ngày hôm nay hơn bao giờ hết người ta ghen tuông với nhau đến tột cùng. Chính vì sự ghen tuông mà người ta hành xử với nhau có khi không còn là tình người, là tính người nữa.

Ghen tuông nó len lỏi vào con người rất khéo léo và ẩn nấp dưới cái vẻ đẹp là phục vụ. Cần nhìn lại, lắng đọng tâm hồn để xét về chính bản thân mình xem vai trò của mình trong cộng đoàn, trong gia đình, trong họ đạo... để rồi ta nhìn lại xem ta có tính hơn thua, giành giật hay không.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày chúng ta bớt đi cái tính hơn thua, tranh giành trong tâm hồn ta để ta mặc lấy tâm tình hiền từ, nhân hậu và nhẫn nại để đối xử với nhau. Có khi đó, tâm hồn ta mới bình an thật sự và những người sống quanh ta mới bình an.

-----------------------------

 

TN25-B120: Miếng tiếng - Lm. Vũ Đình Tường

 

Miếng và tiếng không mấy khi sống đời độc thân. Người ta luôn tìm cách cho chúng kết hôn. Đủ TN25-B120


Miếng và tiếng không mấy khi sống đời độc thân. Người ta luôn tìm cách cho chúng kết hôn. Đủ miếng ăn rồi, cần phải có chút danh phận với đời. Miếng và danh thứ nào đến trước cũng được miễn là chúng chung đôi. Có miếng mà thiếu tiếng không mấy ai hài lòng. Chính vì thế khi ăn uống không còn là mối lo, người ta kiếm danh. Có kẻ hám danh, thèm tiếng đến độ nhịn ăn, dành tiền, mua sắm, chưng diện, mong có tiếng.

Hám danh là nguyên nhân của nhiều sự tội, đầu mối của tranh chấp, bất hoà. Mọi tai tiếng đều bởi đó sinh ra. Có danh phận vẫn chưa xong, còn phải học cách ăn uống, sinh hoạt xã hội hợp với danh phận. Mấy ai vào đường ăn chơi tránh khỏi truỵ lạc.

Kẻ thực tài, sống chân thành phát triển tài năng Chúa ban. Không mong danh, danh vẫn đến và danh tồn tại lâu dài. Kẻ hám danh, nếu có cũng chỉ vang bóng một thời. Thời vang bóng nhập nhóm có danh phận. Đổi đời. Không bao lâu sau, tiếng vang chìm vào dĩ vãng. Bóng lập loè qua đi. Đời đã lỡ hoá thân, đổi kiếp, giờ mất hết phẩm chất, cả tiếng lẫn miếng. Danh mất, phận không còn. Trở về tình trạng khố rách, áo ôm, tệ hơn thời chưa nổi tiếng. Nhận ra chân lí, khi đời đã tàn, sức đã kiệt.

Tai tiếng

Tư tưởng muốn được lừng danh, muốn được mọi người biết đến nảy sinh khi có của ăn, của để. Đã không tạ ơn Chúa, thương người nghèo. Trái lại mong lột xác, chào tạm biệt giai cấp trước. Học làm trưởng giả, tập làm sang bằng cách dán vào mình nhiều nhãn hiệu mới. Thay đổi nhãn hiệu bên ngoài thì dễ; xoá nhoà thực chất bên trong mới khó. Xưa có tình trạng mua quan, bán tước. Nay, mấy ai bán danh tiếng. Giả như có cũng chỉ mua được ‘tiếng hám danh’, không mua được tiếng tốt.
Để có tiếng, phải đeo sắt đá. Làm đẹp cho xã hội hay tự nhận sống đời lệ thuộc. Hám danh lệ thuộc miệng lưỡi thiên hạ. Vui khi được khen. Buồn bực khi bị bình phẩm. Cũng từ miệng đến tai, nhưng là miệng thiên hạ, tai mình. Rõ khổ. Đã mất của lại thiếu tự do. Không sống cho mình, vì mình. Sống vui nhờ lời khen.

Vòng danh lợi

Xã hội hưởng thụ ca tụng kẻ biết cách phơi bày sắc đẹp. Lanh lẹ, lợi khẩu để nổi danh, bất kể, lành mạnh hay sa đoạ. Thành công trên thương trường, sáng tác nghệ thuật, nổi tiếng nhờ khám phá khoa học, kĩ thuật vẫn đi sau làn son, lớp phấn. Thời buổi nhung lụa, son phấn dẫn đầu. Thành tài nhờ lươn lẹo cũng là một cách, miễn sao qua mặt được luật pháp. Có trường sở dậy cách mau thành công, chóng nổi tiếng. Đời sống đạo, đức hạnh, việc lành, bác ái bị coi là thứ yếu. Các tông đồ của Chúa cũng không bị gạt khỏi cái vòng danh lợi. Đi theo Thầy các ông không sợ đói khát. Không phải lo miếng ăn, các ông manh nha tìm chút tiếng tăm.

Đường lối Chúa

Dọc dường các ông tranh biện với nhau ai sẽ là người nổi tiếng hơn ai.
Về đến nơi Đức Kitô hỏi dọc đường các ông tranh luận gì sôi nổi thế?
Các ông nhìn nhau, mắc cở, thẹn thùng không dám nói.

Hám danh còn biết mắc cở vẫn còn thuốc chữa. Đức Kitô dậy. Đường lối Chúa là chọn sống khiêm nhường. Hạ mình xuống phục vụ. Muốn làm đầu hãy học làm bề tôi trước. Muốn được phục vụ thì hãy đi phục vụ. Hãy trở nên giống như Ngài trong lời nói, hành động. Ngài mong các môn đệ bắt chước, thực hành, sống khiêm nhường, không phải một ngày mà mọi ngày trong đời.

Nguyên nhân

Hám danh, ham của vì nội tâm trống rỗng. Một tâm hồn trống rỗng, nghèo đói giá trị tinh thần. Không sai lầm nào nguy hại hơn là chọn lối sống ảo vọng, theo hình, bắt bóng. Danh lợi, vật chất không thoả mãn cơn đói tâm linh. Đời trống vắng vì giá trị đời người nương nhờ vào vật chất. Vật đổi, sao dời đời hụt hẫng. Dùng Lời Chúa nuôi dưỡng tâm linh. Dựa vào Bí Tích, các nhân đức là sống khôn ngoan trong Chúa.
Chúa ban cho mỗi người, từ lúc tạo dựng, một giá trị cao quí, độc nhất vô nhị. Kẻ danh chính ngôn thuận đâu cần đeo vào mình đá quí, kim cương, cẩm thạch mà vẫn nổi danh. Vấn đề là biết phát triển tài năng Chúa ban, bắt chúng sinh hoa, kết trái. Làm giầu đời sống thiêng liêng bằng thực hành bác ái, yêu thương. Chính những giá trị chân truyền này mang lại niềm vui thật, niềm vui nội tâm, lâu bền; cần chi đến niềm vui giả tạo tiếng đời ban cho.

Gặp gỡ Đức Kitô

Bình an thật, niềm hoan lạc vững bền phát xuất từ tâm tình phục vụ với lòng yêu mến. Kẻ sống khiêm nhường an thân vì không ai tranh sống khiêm nhường. Trái lại tiếng và miếng có lắm kẻ giành, nhiều người giật. Ngày đêm sống bất an. Lúc nào cũng sợ mất tiếng và miếng.

Nghèo tinh thần nên nương nhờ vật chất. Dùng tiền của che đậy cái nghèo nội tâm. Dùng quyền lực che đậy thế đứng bấp bênh. Nhờ nịnh nọt, tâng bốc mong khoả lấp khát khao tình yêu thật. Đeo đuổi lợi danh là chọn sống đời lục bình. Sống nhờ biết nương sóng, đón gió.

Gặp gỡ Đức Kitô để được biến đổi, được thánh hoá, được trở nên tốt lành. Muốn được em nhỏ đón nhận hãy trở nên giống, đơn sơ như em. Hiểu em, cảm thông với em sẽ được em cảm thông, đón nhận.

Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp Thầy; và ai đón tiếp Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy. (Mc 9,37)

-----------------------------

 

TN25-B121: Người lớn hơn cả là ai?


(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB)

 

Thời gian gần đây tôi thường hay phải đi bệnh viện. Những ngày sống trong đó, như bao bệnh nhân TN25-B121


Thời gian gần đây tôi thường hay phải đi bệnh viện. Những ngày sống trong đó, như bao bệnh nhân khác, tôi đúng là yếu đuối và hoàn toàn lệ thuộc vào sự giúp đỡ của các điều dưỡng, y tá, bác sĩ và những người thân phục vụ… Dưới con mắt của xã hội bệnh viện, tôi đột nhiên biến thành một người rốt hết và yếu hèn nhất. Chính trong bối cảnh đó, cuộc cãi vã giữa các môn đệ khi đi đường ‘xem ai là người lớn hơn cả’, cùng với các ý tưởng Đức Giêsu đã dùng để giải trình vấn nạn đó, đã chiếu một luồng sáng rất mới và rất Tin Mừng vào suy nghĩ của tôi về, thế nào là giá trị đích thực của kiếp sống con người, không những của con người nhân loại mà còn cả của chính Thiên Chúa nữa.

Khi Đức Giêsu cố gắng giải thích cho các môn đệ hiểu rằng, sự vĩ đại đích thực của Thiên Chúa chính là lúc ‘Con Người bị nộp vào tay người đời…’, các ông đã không tài nào nắm bắt được. Cái lô-gích này là hoàn toàn vô lý; làm sao sự khôn ngoan của một Đức Chúa vĩ đại và cao cả lại có thể biểu lộ qua sự thấp hèn và yếu đuối được? Nghịch lý lớn tới độ các môn đệ đâm ra hoảng sợ ‘không dám hỏi lại Người’, và cũng không dám, không muốn tin rằng điều đó thực sự có thể xảy ra (xem Mt 16:21-23). Kitô hữu chúng ta ngày nay cũng thế! Ngay cả khi đã biết tường tận về biến cố Thập Giá và Phục Sinh, chúng ta vẫn luôn có khuynh hướng tách hai biến cố này rời khỏi nhau. Thập giá thường được coi chỉ là giai đoạn tạm bợ để Đức Kitô có thể đạt tới vinh quang đích thực; và vinh quang này chỉ có khi Người sống lại và lên trời vinh hiển. Ngược hẳn với quan niệm đó, khi đề cập tới giờ tử nạn sắp xảy ra, Đức Giêsu đã có suy nghĩ hoàn toàn khác; Người gọi đó chính là thời điểm (Kairos) mà Con Người được tôn vinh; “Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người” (Ga 13:31-32). Như vậy, theo Đức Giêsu, chính trong cái chết thập giá nhuốc khổ mà Thiên Chúa tỏ lộ vinh quang vĩ đại nhất của mình, vinh quang của một thứ tình yêu tự hiến và xót thương; Phục Sinh chỉ là dấu ấn của vinh quang đó, chứ không phải là cùng đích của nó. Có lẽ chính vì thế mà, khi tường thuật về các biến cố phục sinh, cả bốn sách Tin Mừng đã không hề có một lời mô tả nào về Đức Kitô sống lại (kể cả việc Người lên trời vinh hiển, như chúng ta quen nói) như một nhân vật vinh quang khải hoàn đầy uy quyền thống trị.

Vì không vào được tư tưởng của Đức Giêsu nên mà ít ai trong chúng ta có thể hiểu ra rằng, người ‘đứng đầu’ hay ‘làm lớn nhất’ lại phải chính là người ‘rốt hết’, là người cúi mình xuống ‘phục vụ’. Để dễ chập nhận cách lô-gích hơn, chúng ta thường lập luận như sau: để được làm lớn, trước hết ta phải cam lòng phục vụ mọi người, đó là lối sử thế khôn ngoan phổ biến mà dân gian gọi là ‘chịu đấm ăn sôi’, hay ‘luồn cúi cầu vinh’. Chắc hẳn Đức Giêsu đã không suy nghĩ theo thói khôn ngoan người đời như thế (‘cam lòng chịu chết’ ‘Per Crucem ad Lucem’ như chúng ta vẫn quen nói). Tông đồ Phao-lô, một khi đã hiểu biết được phần nào Đức Kitô, đã phải lên tiếng giải thích điều nghịch lý này như sau: “Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1:25). Ông khảng định, khi Đức Giêsu tuyên bố: ‘người đứng đầu phải là kẻ rốt hết, người lớn nhất phải là kẻ phục vụ’, Người đang đưa ra một định luật tuyệt đối cách mạng. Đây không thể là một lý luận tầm thường, mà chính là mạc khải về giá trị đích thực của Thiên Chúa trước hết, rồi sau đó của mỗi môn đệ Kitô chúng ta theo chuẩn mực Tin Mừng.

Rồi khi Đức Giêsu ‘đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó…’ người không chỉ đơn thuần có ý khuyên các môn đệ hãy phục vụ trẻ nhỏ, hạng người được coi là rốt hết trong xã hội Do Thái. Tác giả Mát-thêu trong đoạn song hành đã cho thấy, hàm ý của Người còn thâm sâu hơn nhiều; “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời? Đức Giêsu liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông, và bảo: Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Tròi… Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy là kẻ lớn nhất Nước Trời” (Mt 18:1-4). Vậy thì ai phục vụ một trẻ nhỏ hay một kẻ nghèo hèn thì không chỉ phục vụ một Đức Kitô uy quyền tạm ẩn dấu dưới hình hài hèn hạ, mà là phục vụ một Đức Kitô thực sự vinh quang trong sự bé nhỏ, nghèo hèn và tự hủy. Qua việc phục vụ đó, họ đang tham dự vào sự vĩ đại cao sang nhất của Thiên Chúa xót thương và tự hiến; vì đối với một Thiên Chúa cứu độ và tự hiến thì vinh quang lớn nhất chính là lúc Người trở nên rốt hết và cúi xuống phục vụ mọi người.

Trong bài ca Ngợi Khen (Magnificat), đức Ma-ri-a một khi nhìn nhận phận hèn của mình thì đồng thời cũng khám phá ra sự cao cả vĩ đại vô song của kiếp sống mình. Mẹ là người đầu tiên đã nhận thức được, sự cao cả của Thiên Chúa luôn đối nghịch với những gì là ‘biểu dương sức mạnh, quyền thế, giầu có…’, và gần gũi hơn với những gì là ‘khiêm nhu, nghèo đói, thấp kém…’ Lý do duy nhất được đưa ra là, chỉ vì Người là đấng giầu lòng xót thương (Lc 1:46-55). Phao-lô cũng nhìn nhận sức mạnh của mình nằm trong chính sự yếu đuối mình cảm nghiệm, “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”, tới độ ông còn vui mừng khi phát hiện ra rằng mình yếu đuối, “tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi” (2 Cr 12:9-10). Khi các ngài khảng định như vậy chắc hẳn phải dựa trên một nguyên lý hiện sinh vững chắc lắm, chứ không chỉ trên một thái độ khiêm cung nhất thời.

Là linh mục của Chúa Kitô Thập Giá, mỗi lần cử hành Thánh Lễ, tôi luôn được nhắc nhở rằng, Thiên Chúa là Đấng cao sang và vĩ đại nhất chính vì Người đã cúi xuống, tự hủy và trở nên rốt hết! Tư tưởng này phải là định hướng cho toàn bộ đời sống thiêng liêng và họat động mục vụ của tôi.

Lạy Thiên Chúa bé nhỏ và mọn hèn! Chỉ khi nào nghiệm thấy được lòng nhân ái và dịu hiền của Chúa, con mới thấu hiểu được thế nào là vĩ đại và vinh quang đích thực, và cũng chỉ khi đó con mới có thể khảng định rằng, mình đã thực sự hiểu biết về Thiên Chúa. Xin cảm tạ Chúa đã ban cho con ơn gọi Kitô hữu để con có thể khám phá ra sự khôn ngoan này. Xin cho con tiếp tục tiến bước trên con đường Tin Mừng phong phú dường bao, khác xa với lối sống tự nhiên của loài người, kể cả những người tốt lành thánh thiện nhất. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B122: Suy niệm của Jean-Pierre Camerelain.


“Những Kitô Hữu Này Thật Là Điên”

 

Ở mọi thời, những chứng nhân đích thực của Thiên Chúa đều bị coi là điên. Người ta đã chế giễu, TN25-B122


Ở mọi thời, những chứng nhân đích thực của Thiên Chúa đều bị coi là điên. Người ta đã chế giễu, bách hại, đôi khi giết họ nữa. Chính Chúa Giêsu đã trải qua một kinh nghiệm như thế. Nhưng sự sống đã tuôn trào từ sự điên rồ kia.

Ngày xưa có một cộng đoàn Do Thái thiểu số nhưng sốt sắng. Người ta có khuynh hướng khinh dể cộng đoàn này. Những cách hành xử của họ, niềm tin của họ làm cho thành phố Alexandria nơi họ sống, phải ngạc nhiên. Các thành viên của cộng đoàn này ngưng làm việc ngày thứ bảy, tụ họp lại xung quanh những cuộn giấy cũ được cất giữ cẩn thận từ nhiều thế kỷ, kiêng ăn thịt heo. Để nâng đỡ cộng đoàn này, một trong những thành viên của cộng đoàn đã viết một quyển sách rất hay. Một quyển sách gọi là Khôn Ngoan trong đó tác giả nhắc lại cho những kẻ cùng tôn giáo với mình rằng người công chính bao giờ cũng bị bách hại, nhưng Thiên Chúa chẳng khi nào bỏ rơi họ. Tác giả nhắc lại những vị anh hùng của lịch sử dân tộc đã chịu một số phận như thế. Chính từ quyển sách này mà hôm nay chúng ta đã nghe một đoạn trích. Tại sao những người công chính lại bị kẻ khác bách hại như thế? Bài đọc hai trích thư thánh Giacôbê sẽ trả lời cho chúng ta.

Sự ghen tương muôn thuở.

Có hai con đường cho nhân loại: Con đường dễ dãi, tìm kiếm của cải để thỏa mãn bản năng của mình, và con đường của sự khôn ngoan, chính trực, hòa bình. Bao giờ cũng sẽ có một sự tranh chấp giữa những kẻ chọn con đường này và những kẻ dấn thân vào con đường kia, giữa những kẻ tìm kiếm quyền uy, sở hữu của cải vật chất, và những người sống theo tinh thần hòa bình, khoan dung, thông cảm. Vào thế kỷ thứ I, kỷ nguyên chúng ta (lúc thánh Giacôbê viết thư của người) cũng như cũng như vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên (thời đại của sách Khôn Ngoan), đã có sự tranh chấp này rồi, vậy ta không nên ngạc nhiên khi thấy nó xuất hiện vào thời Chúa Giêsu hoặc cả thời đại chúng ta nữa!

Ông Giêsu này thật là điên!

Chính Chúa Giêsu cũng bị coi là điên. Một người tự xưng là phát ngôn viên của Thiên Chúa và bị các ký lục và biệt phái thù ghét, đã tự cho mình được tự do đối với luật sabat và nhiều tập tục thiết thân đối với những người đạo đức của dân Ngài, điều này không thể chấp nhận được. Chúa Giêsu biết mình bị thù ghét. Lúc đó Ngài bắt đầu nói về những nỗi đau khổ mà Ngài sắp phải chịu về việc Ngài bị các nhà chức trách của dân tộc ruồng bỏ và thậm chí về cái chết của Ngài nữa. Phêrô không thể chấp nhận được những chuyện như thế. Nhưng khi ông trách móc Ngài thì Chúa Giêsu đã vạch mặt Satan là kẻ ẩn nấp trong sự can thiệp của Phêrô. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn nói với các môn đệ là chính các ông nữa cũng sẽ phải chịu một số phận như Ngài!

Bước theo Chúa Giêsu trong việc tử đạo của cái thường nhật.

Vác thập giá của mình không chỉ “vào giờ chết” mà thôi nhưng “ngay từ bây giờ”. Trong cái “ngay bây giờ” của những mối tương quan giữa con người với nhau. Không những dấn thân vì chính nghĩa lớn lao như việc cứu rỗi thế giới hoặc phát huy nhân phẩm, nhưng sống hằng ngày với việc mang niềm vui đến cho những kẻ vì đau khổ mà trở nên gắt gỏng với những người chung quanh, nâng đỡ những người thiếu tình yêu thương, giúp những kẻ bị ruồng rẫy, bị bỏ rơi tìm lại được phẩm giá của họ.

Trở thành đầy tớ của những kẻ bé mọn nhất như Chúa Giêsu đã làm dù có nguy cơ sẽ không được những kẻ đương thời hiểu. Làm sao chúng ta có thể là môn đệ Chúa Giêsu nếu chúng ta chỉ đón tiếp những ai suy nghĩ như chúng ta, những kẻ “trong tình trạng hợp lệ”, những kẻ đã thuộc lòng tất cả bộ kinh tin kính hoặc đã tham dự tất cả những buổi họp được yêu cầu để chuẩn bị các bí tích? Chúng ta có hiểu rằng khi đã chấp nhận làm đầy tớ thì phải bỏ đi não trạng làm thầy, dù là thầy dạy suy tư chăng?

Khiêm tốn thật.

Có lẽ đó là khiêm tốn thật. Nhìn nhận rằng dù có đạo từ lâu, thậm chí còn dấn thân trong Giáo Hội nữa, với tất cả lòng thành, ta vẫn còn phải khám phá nơi kẻ bé mọn nhất một cái gì đó phát xuất từ Thiên Chúa. Phải tìm lại cho mình thái độ của đứa trẻ luôn luôn có khả năng ngưỡng mộ trước những con người và sự vật.

Trẻ con ngược hẳn với kẻ chán chường, kẻ biết mọi sự, kẻ đã thấy mọi sự. Trẻ con là kẻ, dù cao niên, vẫn biết thán phục, cởi mở đối với Thánh Linh, Đấng muốn thổi đâu thì thổi và thường gây phiền hà cho chúng ta.

Không phải vô cớ mà Chúa Giêsu đưa một trẻ nhỏ làm gương mẫu cho các tông đồ của Ngài, khi Ngài đòi các ông phải phục vụ theo hình ảnh của trẻ thơ. Ngài muốn các ông trở thành như trẻ nhỏ, có khả năng đón nhận không hậu ý, không nhỏ nhen, không tìm lợi lộc cho riêng mình. Đó là sự cao cả thật sự mà Chúa Giêsu muốn cho những kẻ thuộc về Ngài: sự cao cả của lòng khiêm tốn, sự cao cả của tinh thần phục vụ.

Thánh Phaolô nói: Dù là Con, Chúa Giêsu đã không sợ hạ mình mang thân phận người phàm, Ngài đã khiêm tốn thẳm sâu đến nỗi để cho mình bị kẻ khác ruồng bỏ và chết trên cây thập giá. Tuy nhiên, nhờ vậy mà Ngài đã Phục Sinh và sống muôn đời. Có thể nào khác hơn được đối với các môn đệ của Ngài chăng?

-----------------------------

 

TN25-B123: Hiểu lầm – Lm Gioan B. M.

 

Có người du khách kia kể lại rằng vào tờ mờ buổi sáng, khi anh lái xe qua miền rừng núi quanh co ở TN25-B123


Có người du khách kia kể lại rằng vào tờ mờ buổi sáng, khi anh lái xe qua miền rừng núi quanh co ở Pêru thì có một người từ trong rừng chạy ra, đầu đội chiếc mũ đen trùm kín cả mặt, tay cầm vật gì đó vừa vẫy tay vừa hô to. Vì không hiểu tiếng nói, nên anh sợ hết hồn tưởng là tên cướp trong rừng cầm khí giới mò ra kiếm ăn. Khi thấy người ấy chạy nhanh về phía mình. Anh chốt cửa xe, và dọt lẹ tiến lên phía trước. Nhưng ông ta đổi hướng chạy đường tắt đón đường. Anh cố nhấn ga chạy thoát thân thì người đó đã tới gần bên vệ đường, lột mũ ra và tay cầm một con cá lớn, ông ta mới bắt được ở hồ gần đó và muốn bán cho khách qua đường. Nhưng anh lại hiểu lầm cho là tên cướp cầm khí giới ra chặn đường.

Có lẽ, nhiều lần ta cũng hiểu lầm người khác khi ta chỉ nhìn họ theo dáng vẻ bên ngoài, hoặc chỉ nghe qua tai mà không hiểu lời họ muốn nói. Tin Mừng cho thấy nhiều lần các môn đệ cũng đã hiểu lầm lời Chúa Giêsu. Nhiều khi các ông hiểu ngược hẳn lại với những điều Chúa Giêsu muốn dạy. Có lần Chúa bảo các ông hãy coi chừng men bọn Pharisiêu thì các ông lại nghĩ chắc mình quên mang bánh, nhưng Chúa không có ý nói về men trong bánh mà Ngài có ý nói về cách sống giả hình, cách giữ đạo vụ vào hình thức của người Pharisiêu và Ngài lên tiếng cảnh giác các ông đừng để mình bị sa lầy vào lối sống ấy. Tin Mừng theo thánh Marcô hôm nay tường thuật việc Chúa Giêsu đã

tiên báo cho các môn đệ Ngài: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta, họ sẽ giết Ngài và ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại” (Mc 9,31). Mặc dầu đã nghe Chúa nói nhiều lần nhưng các ông vẫn còn chưa hiểu. Ngài lại dạy: “Ai muốn làm đầu thì phải làm đầy tớ, ai muôn làm lớn thì phải là kẻ rốt hết” (Mc 9: 31) thì đâu các ông đã hiểu được ý nghĩa. Vì thế khi đi đường các ông đã tranh luận xem ai là kẻ cả trong nước Ngài thiết lập, và tranh nhau cho được địa vị đó.

Nếu kiểm điểm cuộc sống của mỗi người, nhiều lần ta cũng đã hiểu lầm Chúa Giêsu và hiểu sai lời Ngài. Mặc dầu là Kitô hữu, là người đã theo Chúa, chắc gì mấy ai đã hiểu được lời Chúa dạy trên đây. Chúa còn quả quyết: “Ai bỏ mọi sự mà theo Thầy thì sẽ được gấp trăm ở đời này và được sống đời đời” (Mt 19: 29). Nhiều khi ta cũng hiểu lầm Chúa như các môn đệ xưa. Ta tưởng đã theo Chúa thì mình phải được quyền ưu tiên trong mọi sự. Ưu tiên trước mặt Chúa, xin gì Chúa cũng phải cho, phải chiều theo ý của ta. Ưu tiên trước người đời, phải được mọi người nể vì, tôn trọng, phải được hưởng cuộc sống vật chất thoải mái, phải được các người hữu trách ưu đãi, mà nếu không được như ý là thôi Chúa, thôi nhà thờ luôn. Như thế là ta theo Chúa như kiểu đi đạo lấy gạo mà ăn. Đó là sự hiểu lầm tai hại.

Nhưng vì đâu lại có sự hiểu lầm? Hiển nhiên người du khách trên đã hiểu lầm người lương thiện vì thiếu hai yếu tố:

1/ Yếu tố thứ nhất là tại thiếu ánh sáng, vì trời chưa sáng tỏ, còn lờ mờ nên không nhìn thấy rõ, tay ông ta cầm con cá mà anh tưởng là khí giới.

2/ Yếu tố thứ hai là thiếu chuẩn bị ngôn ngữ, không học tiếng Pêru, nên không hiểu tiếng nói, do đó, ông ta càng gọi to nói lớn thì anh càng sợ.

Khi ta không hiểu Chúa hay hiểu lầm Chúa ít nhất cũng tại thiếu hai yếu tố:

1/ Yếu tố thứ nhất là tại thiếu ánh sáng của Chúa Thánh Thần soi sáng. Chúa Giêsu đã nói với các Tông đồ: “Đấng Bảo Trợ là Thần Chân Lý Cha sai đến Ngài sẽ dạy cho các con mọi điều và làm cho các con nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với các con” (Jn 14: 26). Và qủa thực, sau ngày lễ Ngũ Tuần khi các tông đồ được tràn đầy ánh sáng của Chúa Thánh Thần thấm nhập, các ngài đã hiểu Thánh Kinh, đã hiểu lời Chúa và đã can đảm hăng hái dấn thân phục vụ làm nhân chứng cho Tin Mừng Cứu độ.

2/ Yếu tố thứ hai là tại thiếu chuẩn bị ngôn ngữ là khiêm tốn cầu nguyện. Để có thể hiểu Lời Chúa thì cần phải cầu nguyện với tâm hồn đơn thành khiêm tốn. Đó là thứ ngôn ngữ cần thiết để trao đổi, thông đạt, và nói với Thiên Chúa. Vì Lời Ngài đã tự hạ, bỏ trời đến với con người, tỏ mình ra cho con người dưới hình một hài nhi nhỏ bé tí ti, thì con người cũng phải dùng thứ ngôn ngữ đó mới gặp gỡ và hiểu được Chúa.

Tóm lại, để hiểu rõ lời Chúa và ý định của Ngài về mỗi người chúng ta, thì yếu tố quan trọng nhất là khiêm tốn cầu nguyện và mở lòng mình ra để Chúa Thánh Thần hoạt động, như các Tông Đồ xưa đã quây quần bên Mẹ Maria sốt sắng cầu nguyện khi ấy CTT đã ngự xuống trên từng vị và đã biến đổi các ngài, làm cho các ngài hiểu rõ Lời Chúa và can đảm dấn thân phục vụ các linh hồn.

-----------------------------

 

TN25-B124: Nên thánh trong phục vụ – Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

Trong Tin Mừng, có lần Chúa mời gọi: Hãy nên thánh thiện như Cha trên trời là Đấng Thánh. Bởi TN25-B124


Trong Tin Mừng, có lần Chúa mời gọi: Hãy nên thánh thiện như Cha trên trời là Đấng Thánh. Bởi thế, ơn gọi nên thánh là ơn gọi dành cho từng người không trừ ai. Dù vậy không ai được quyên rằng, cuộc sống hôm nay của ta có một giá trị vĩnh cửu. Vì thế, nếu tội lỗi hôm nay sẽ theo ta đi vào vĩnh cửu thì giá trị của việc lành cũng đưa ta tiến về hạnh phúc vĩnh cửu. Ơn gọi nên thánh là ơn gọi bao hàm lời răn dạy hãy tránh xa sự xấu, và thực hiện những việc lành, để ngày càng tiến đến sự thánh thiện hoàn hảo. Một trong rất nhiều ơn lành mà hôm nay Chúa mời gọi, đó là sự phục vụ: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Chính khi hạ mình làm đầy tớ, nghĩa là hạ mình để phục vụ với tất cả lòng mến, với hết khả năng của bản thân, chính là lúc ta tiến đến sự thánh thánh thiện hoàn hảo như Chúa mời gọi.

Có hai lý do cho biết phục vụ sẽ đưa ta đạt đến đỉnh cao của sự nên thánh:

Lý do 1: Dựa trên Chính lời dạy của Chúa Giêsu: Ai phục vụ, dù là phục vụ những người mang thân phận nhỏ bé nhất, người ấy thật vinh dự, thật cao cả vì được phục vụ chính Chúa Giêsu, qua đó cũng sẽ là người phục vụ chính Thiên Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay cho biết điều đó: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón nhận chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.

Lý do 2: Khi sống đời phục vụ, ta nên giống Chúa Kitô. Người xuống thế làm người, không ngoài một lý do này là: “Đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người”. Vì thế, cả cuộc đời Chúa Giêsu, sinh ra, sống, chết, sống lại chỉ nhằm một lý do quan trọng: chuộc lại cho ta ơn thánh thiện hoàn hảo mà Thiên Chúa đã tặng ban từ nguyên khởi. Chúa đã dạy và đã nêu gương để xây dựng thành một bằng chứng hùng hồn, một bài học lớn lao và quý giá. Vì thế, đến lượt mình, ta cũng phải học lấy tinh thầy khiêm nhu, yêu thương và phục vụ như Người.

Có một tấm gương lừng danh trong thời đại chúng ta, mà khi nhắc tới, hiếm có người nào không biết, cũng không ai là không ngưỡng mộ, yêu mến và nể phục. Tôi muốn nói đến tấm gương của Mẹ Têrêsa thành Calcutta. Mẹ đã sống trọn vẹn lời mời gọi của chúa Kitô, vì thế, đến lúc kết thúc cuộc đời, Mẹ đã có thể đến trước Thánh Nhan bằng một niềm hạnh phúc tuyệt diệu, vì cả một đời, Mẹ đã nên giống Chúa Kitô trong tình yêu hiến thân và phục vụ.

Ngày 19.10.2003, Mẹ Têrêsa thành Calcutta đã được Giáo Hội phong chân phước. Thời gian điều tra và chuẩn bị án phong chân phước cho Mẹ chỉ mất có sáu năm. Một thời gian ngắn như thế, lúc đó là một kỷ lục mà Giáo Hội yêu thương dành cho Mẹ, cũng như qua Mẹ, Giáo Hội dạy chúng ta những bài học lớn bằng chính tấm gương thánh thiện của Mẹ.

Ngày 5. 9. 1997, ngay sau khi tin Mẹ Têrêsa qua đời được loan đi, đã gây một chấn động lớn cho toàn thế giới. Cũng từ ngày đó, người ta đã nghĩ ngay đến việc phong thánh cho Mẹ. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn. Lập tức Đức Gioan Phaolô II đã làm lễ tưởng niệm Mẹ ngay tại biệt thự của mình. Tổng thống Bill Clinton xúc động nói: “Mẹ là người luôn gây kinh ngạc, một trong những bậc vĩ nhân của thời đại này”. Tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam ghi nhận: “Nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ sự hy sinh cả cuộc đời của Mẹ Têrêsa cho những người bần cùng trên thế giới”. Còn thủ tướng Singapo, Goh chok Tong thì mói: “Mẹ Têrêsa là một trong những người nổi bậc nhất của thế kỷ 20”. Và còn nữa, còn rất nhiều những lời chia buồn của các vị nguyên thủ trên khắp thế giới.

Mẹ Têrêsa là ai mà quang trọng quá vậy? Mẹ chỉ là một nữ tu người Albani, rất bình thường. Mẹ sang Aán độ lập dòng nữ tu Thừa Sai Bác Aùi. Điều đáng chú ý nơi người nữ tu bé nhỏ này là một tâm hồn vĩ đại, một tâm hồn dạt dào lòng yêu thương không nhỏ chút nào. Mẹ đã dành cả đời mình để lo cho những anh chị em cùng khổ. Mẹ đã cúi xuống để đưa người đói rét, bệnh tật, bị bỏ rơi… về lại với cuộc sống con người. Mẹ đã đưa người hấp hối bên lề đường, phố chợ về lại một mái nhà để họ được yêu thương vỗ về và được chết như một con người. Mẹ đã cúi xuống để trả lại hy vọng cho những ai mất hết lòng tin trong cuộc đời. Mẹ đã đưa bàn tay, dẫu đã già nua, nhưng tràn đầy sức mạnh của tình yêu để nâng đỡ bất cứ ai bạc nhược, cô thân, và bất cứ ai đói khát tình người, đói khát yêu thương…

Chính vì vậy, trước dong linh Mẹ, Thủ tướng Albani, Fatos Nano đã bày tỏ nỗi lòng: “Mẹ Têrêsa là con người nhỏ bé nhưng có một tâm hồn lớn lao cao cả”. Chính ông đã muốn đưa thi hài của Mẹ về nước an táng, nhưng không thành vì Mẹ là ân nhân của nhân dân Aán độ. Chính quyền Aán độ đã tuyên bố lễ tang của Mẹ là quốc tang. Hàng ngàn người Aán độ và nhiều người thuộc nhiều quốc tịch, thuộc mọi tầng lớp, bất chấp mưa gió, nối nhau xếp hàng dài hàng cây số trước trụ sở dòng Thừa Sai Bác Aùi ở Calcutta để được viếng xác và để nhìn thấy lần cuối cùng gương mặt người nữ tu vô cùng khả ái ấy. Quả thật Mẹ Têrêsa là tấm gương của thời hiện đại cho những ai muốn sống đời khiêm nhu tự hạ và phụ vụ. Chỉ khi nào đã trở nên người nhỏ bé, ta mới thật là một vĩ nhân. Bây giờ mẹ Têrêsa còn hơn một vĩ nhân: Mẹ trở thành thánh nhân. Gương nhân đức của Mẹ chiếu sáng lấp lánh cho cả loài người.

Chính Chúa Giêsu đã tự hạ đến tột cùng nên Người được Thiên Chúa tôn vinh đến tột đỉnh vinh quang. Vì thế, ai đi con đường khiêm tốn và tự hạ như Chúa, Người ấy cũng sẽ được đưa tới vinh quang tột đỉnh.

Đức Maria, Mẹ Têrêsa, và các thánh là những tấm gương trên mọi tấm ghương về nhân đức và sự thánh thiện. Để đạt tới sự thánh thiện như các ngài, chúng ta hãy khắc sâu Lời Chúa dạy trong hồn mình, để mỗi một ngày một sống lời dạy ấy cách tốt hơn, xứng đáng hơn: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”.

Ước gì lời dạy của Chúa Kitô và tấm gương yêu thương, phục vụ của Người thấm đẫm tâm hồn ta, giống như Mẹ Têrêsa, và các thánh, để nhờ đó ta luôn ý thức sứ mạng Chúa trao là phục vụ anh chị em mình, trong cuộc sống đời thường và trong chức vụ mà mình đang mang, đang gánh như: là một người cha, người mẹ, là bổn phận làm con, bổn phận đào tạo con người, hoặc mình là người buôn bán, làm thuê độ nhật, hay trong vai trò của người nghiên cứu, học tập… Nhờ ý thức như thế, ta sẽ ra sức chu toàn bằng tất cả tài năng, sức lực, suy nghĩ, hành động của bản thân. Vì khi chu toàn ơn gọi Chúa trao là lúc ta nên thánh trong chính ơn gọi của mình.

-----------------------------

 

TN25-B125: Suy niệm của Fx. Đỗ Công Minh.


Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết (Mc 9, 35).

 

Bài Tin mừng hôm nay Thánh Maccô tường thuật chuyện Chúa mạc khải cho các môn đệ về con TN25-B125


Bài Tin mừng hôm nay Thánh Maccô tường thuật chuyện Chúa mạc khải cho các môn đệ về con đường khổ giá Người phải trải qua trước khi bước vào vinh quang phục sinh: “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết Người sẽ sống lại”, nhưng các ông không hiểu lời đó và các ông sợ không dám hỏi lại Người. Các ông lúc ấy chỉ chăm chăm vào vị trí của từng người trong cộng đòan. Thánh Maccô mô tả “khi đi đường các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.

Chúa Giêsu đã biết rõ lòng các ông. Chúa thấu hiểu tâm lý con người trần gian là ai cũng muốn có vị trí cao hơn người trong một tập thể, trong xã hội lòai người. Ý tưởng muốn “làm lớn” cũng là tâm trạng bình thường trong xã hội có tổ chức, có sự phân công. Nhưng quan niệm làm lớn để làm gì thì lại không đơn giản. Người mong được làm lớn để thể hiện quyền lực với người khác, với bề dưới. Cũng có người có thiện ý là mong có vị trí cao để phát huy năng lực của mình, thể hiện tài năng của mình trong môi trường được giao. Nhưng đa phần thì mong có quyền cao chức trọng là để thỏa mãn cái tôi, để được thụ hưởng quyền lợi lớn lao về tiền tài, nhà cửa, phương tiện do chức vụ, vị trí đem lại. Có người mong có danh vị theo suy nghĩ “một người làm quan cả họ được nhờ”, thích đi đến đâu cũng được người khác chào đón tung hô, tùng phục, kiêng nể, kính sợ.

Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có cái nhìn khác, Người là Thầy dạy của các môn đệ lúc đó đã ngồi xuống, gọi nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”, và chính Người đã làm như vậy với các ông. Một quan niệm xem ra trái ngược với suy nghĩ của con người mọi thời mọi lúc. Làm việc, học hỏi, nghiên cứu... tốn không biết bao nhiêu công sức, thời gian, tiền bạc bỏ ra để mong có ngày được cất nhắc lên vị trí cao hơn như tổ trưởng, trưởng khoa, trưởng phòng, quản đốc rồi lên phó giám đốc, giám đốc... của một đơn vị, một công ty, một cơ quan, một ngành, sở mà Chúa lại dạy phải sống như người rốt hết, phải phục vụ mọi người thì dại gì mà phấn đấu, dại gì mà hăng say. Làm sao lại phải khép mình sống nghịch lại lẽ thường như vậy? Thế mà Đức Kitô lại dạy như thế ai nghe cho lọt. Và để minh họa rõ thêm, Người đã dùng một em nhỏ đặt giữa các ông, ôm lấy em và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy”.

Sống trong xã hội hay trong Giáo hội vẫn có sự sắp xếp, phân công. Cần những người có khả năng, đáp ứng một số điều kiện sẽ được điều động cất nhắc, không vì lợi ích của bản thân họ, nhưng vì lợi ích của cộng đồng, mưu ích cho nhiều người. Người được cất nhắc tất nhiên có quyền lợi chính đáng nhưng đồng thời có trách nhiệm lớn lao đối với công việc đảm nhận. Có quyền hạn để thực thi chức trách của mình. Nhưng quan trọng hơn cả là thái độ và tinh thần phục vụ, phải tận tụy, hy sinh cho tập thể, cho lợi ích chung chứ không theo quyền lợi cá nhân, riêng tư theo kiểu lợi ích nhóm. Thực hiện chức trách theo đúng bổn phận, quyền hạn như đón tiếp một trẻ thơ, không đòi hỏi nơi các em sự hầu hạ mà sẵn sàng hạ mình đáp ứng nhu cầu của em bé ngây thơ, trong trắng. Phục vụ trong Giáo hội cũng như vậy.

Lạy Chúa,

Xin cho con biết nhìn lại mình với vai trò người cha, người mẹ trong gia đình; người anh, người chị; người đội trưởng, đoàn trưởng các đòan thể trong giáo xứ. Người trưởng khu giáo, hay trong Hội đồng mục vụ giáo xứ...Là người có địa vị nào đó trong xã hội, con đã thể hiện vai trò đó ra sao? Có trở nên người phục vụ mọi người, hay đòi hỏi người khác phải qui phục, phải phục vụ con?

Xin cho con biết: “Phục vụ là hy sinh, phục vụ là quên mình. Phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ơn nghĩa không màng. Phục vụ là hy sinh, phục vụ vì Chúa Kytô” (Bài ca phục vụ).

-----------------------------

 

TN25-B126: Nghĩ đến cùng đích


(Suy niệm của Lm. Louis M. Nhiên, CMC)

 

Cách đây khá lâu trên con đường từ Calif trở về nhà Dòng ở Missouri, trước khi lên máy bay tôi mua TN25-B126


Cách đây khá lâu trên con đường từ Calif trở về nhà Dòng ở Missouri, trước khi lên máy bay tôi mua một tờ nhật báo USA Today chính là để theo dõi phần thể thao. Tình cờ tôi đọc được một bài báo của tác giả Michael Levine, một bình luận gia ở thành phố Los Angeles, trong đó ông viết: Nếu ông được làm vua ở xứ này thì việc đầu tiên ông sẽ làm đóa là ông sẽ ra chiếu chỉ buộc mọi người từ 40 tuổi trở xuống kể cả đàn ông đàn bà cùng con nít phải đi tham dự đám tang, lễ an táng người chết, của ai cũng được nhưng một năm ít nhất là một lần.

Chúng ta thắc mắc là tại sao việc đầu tiên ông không làm là ví dụ như sửa sang lại Toà Bạch Ốc thành cung điện nguy nga tráng lệ, hay bãi bỏ thuế má này nọ kia hoặc ân xá tha thứ cho các tù nhân, nhưng lại buộc phải tham dự lễ an táng người chết một năm một lần.

Ông trả lời sở dĩ ông có ý tưởng như vậy là do một lần ông tham dự lễ an táng thân phụ của người bạn của ông. Ông thú nhận ông chưa gặp mặt vị này lần nào, và ông tham dự nghi lễ chỉ để bày tỏ lòng kính trọng với người quá cố và vì lịch sự xã giao với người bạn. Nhưng những gì ông học được trong ngày hôm đó thật quan trọng.

Ông nhận thấy rằng tất cả những người đọc điếu văn cũng như vị linh mục giảng thuyết ở nghi lễ này đều đề cập đến sự tử tế, lòng thương yêu, sự tế nhị của ông dành cho gia đình và bạn bè cùng tất cả những người sống chung quanh. Ngay cả đến những bạn cùng làm chung trong ngành thương mại, làm ăn buôn bán với ông cũng không đề cập nhắc nhở gì đến các sự nghiệp thành công cũng như địa vị bằng cấp, chức tước của ông đã đạt được trong khi ông còn sống, nhưng tất cả đều chú trọng đến con người của ông, con người họ đã biết và đã yêu.

Nhấn mạnh đến tư cách, đến đức tính con người đó là điều trái ngược với xã hội thường chú ý đến. Xã hội hôm nay cũng như các thời đại khác thường đề cao chú trọng đến bằng cấp, địa vị, coi trọng tiền tài danh giá.

Chúng ta thường cho những kẻ tu hành những kẻ theo Chúa là những người khiêm nhường chẳng còn thiết gì đến danh giá chức quyền, nhưng Lời Chúa hôm nay cho thấy các môn đệ là những người đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa, đã được Chúa trực tiếp huấn luyện nhưng, một chữ nhưng thật quan trọng, nhưng các các ngài vẫn còn là con người. Đối với các ngài địa vị vẫn quan trọng. Dưới con mắt của các ngài, người lớn nhất chính là người có địa vị cao nhất. Được ngồi bên cạnh ông vua là điều ai nấy đều mong muốn. Họ muốn được điạ vị cao nhất với nhữnglý do thấp kém nhất. Họ là nạn nhân của tham vọng đầy ích kỷ ghen tương.

Tuy nhiên điều Chúa muốn dạy các môn đệ và chúng ta hôm nay một bài học đó là: Vinh quan trần thế sẽ qua mau, chỉ duy có sự khiêm nhường phục vụ yêu thương, hy sinh cho tha nhân mới là điều đáng kể.

Nói một cách tổng quát, ước muốn ước vọngtham vọng là điều tốt vì nó là động lực thúc đẩy con người cố gắng tiến hơn trên đường sự nghiệp, giúp thành công trên đường đời. Ví dụ, ước muốn làm linh mục, bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư, khoa học gia… sẽ thúc đẩy các bạn trẻ cố gắng hơn trong việc học hành, dấn thân hơn trong việc phục vụ Giáo Hội và xã hội. Tuy nhiên, nó trở nên xấu khi có những ước vọng tham vọng quá đáng và vượt quá khả năng giới hạn của mình. Tôi còn nhớ khi còn nhỏ đọc được câu chuyện ngụ ngôn giữa con nhái và con bò.

Con nhái nom thấy con bò,
Hình dung đẹp đẽ, mình to béo tròn.
Nhái bằng quả trứng tí hon,
Lại toan cố sức bằng con bò vàng,
Ngậm hơi, cổ bạnh, bụng trương;
Kêu: chị em đến xem tường cho ta.
Đã bằng chưa, chị trông, nà!
Bạn rằng: còn kém. Nhái đà phồng thêm;
Hỏi rằng: được chửa, chị em?
Bạn rằng: Chưa được; Phồng thêm ít nhiều.
Chị ơi! Còn kém bao nhiêu?
Bạn rằng: Còn phai phồng nhiều. Kém xa!
Tức mình, chị nhái oắt ta,
Lại phồng bụng quá vỡ ra chết liền.
Ở đời lắm kẻ thật điên,
Sức hèn lại muốn tranh tiên với người.
Dại thay những thói đua đòi.
Vinh gì cuộc rượu trận cười mà ganh.

Người ta kể rằng vua A-lịch-sơn đại đến, một vị vua lừng danh bách chiến bách thắng, trước khi chết đã truyền là khi chôn cất ông bỏ hai tay của ông ra ngoài quan tài với mục đích để cho mọi người hiểu được rằng: vua A-lịch sơn khi vào đời với hai bàn tay trắng và dù trong cuộc sống có đạt được danh vọng giầu sang phú quí, thì khi ra khỏi đời này cũng vẫn chỉ với hai bàn tay trắng.

Nếu trước cái chết, một số người đã cảm thấy ân hận vì quá muộn mới nhận ra được rằng danh vọng vinh quang trần gian này mau qua, chỉ duy có sự khiêm nhượng phục vụ, bác ái yêu thương tha nhân mới là điều đáng kể, còn chúng ta? Chúng ta được mời gọi suy nghĩ nhiều về giá trị đích thực của cuộc sống hôm nay, để ngày mai khi giờ chết đến, chúng ta không phải ân hận vì cũng đã quá muộn đối với chúng ta.

-----------------------------

 

TN25-B127: Danh lợi – Trầm Thiên Thu

 

Cái vòng danh lợi cong cong Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào. Đó là cái vòng luẩn quẩn TN25-B127


Đó là cái vòng luẩn quẩn cuộc đời. Với bản chất con người, ai cũng “máu” lắm (nhiều loại máu), thả ra cũng chẳng ai vừa: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”. Thật vậy, ai cũng thích được khen chứ chẳng ai thích bị chê. Nghĩa là con người rất thích có DANH, gọi là “háo danh”, như Nguyễn Công Trứ (*) xác định: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”. Chữ DANH với nam giới lại càng “to” hơn nhiều.

DANH và LỢI có quan hệ “thân thiết” với nhau. Chưa có cái “danh” thì tìm cách có, có “danh” rồi thì tìm cái “lợi”. Có những người mê “danh” đến nỗi sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để “chạy” bằng cấp, chức tước, địa vị,… Thậm chí có người còn dám bán rẻ lương tâm để mua lấy cái “danh”, ngay cả tình nghĩa trong các mối quan hệ cũng chỉ là “chuyện nhỏ”, như người ta “đùa mà thật” khi nói: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Đó là điều tất yếu? Vì “con gà còn tức nhau tiếng gáy” kia mà! Có lẽ dày dạn kinh nghiệm nên hiền sĩ Nguyễn Công Trứ mới chua chát nhận định: “Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”, hoặc: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược, Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”.

Tiền chẳng là gì, chỉ là những tờ giấy có cấp độ giá trị khác nhau theo những con số mà con người quy ước. Nhưng người ta coi “tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý” thế nên nó có thể thay trắng đổi đen mọi thứ. Kinh khủng quá! Chiến tranh tàn khốc xảy ra cũng vì cái “danh” và “lợi”. Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, thế nên: Thật thà bị ghét bỏ, nghèo khó bị rẻ khinh, thông minh bị trù dập. Đời là thế! It’s life! C’est la vie! Ôi, chuyện đời cười ra nước mắt!

Những người dã tâm hùa nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Họ ranh mãnh và mỉa mai: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào” (Kn 2:17). Người chính trực luôn bị ghét, người theo Chúa cũng bị “dè chừng”, thậm chí còn bị sát hại. Kẻ xấu toan tính: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2:18-19). Cuối cùng họ quyết định: “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:20a). Nhưng đó chỉ là “sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2:20b).

Người công minh chính trực thì chẳng sợ gì. Cây ngay không sợ chết đứng như Từ Hải, và luôn vững tin vào Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi” (Tv 54:3-4). Phường kiêu ngạo có nổi lên chống đối, hay bọn hung tàn tìm hại mạng sống người công chính, dù chúng không kể gì đến Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn độ trì và nâng đỡ những tôi trung và hiền tử của Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa đời đời thành tín.

Dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ, dù hạnh phúc hay bất hạnh, người thật lòng theo Chúa vẫn một lòng một dạ chân thành thân thưa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo” (Tv 54:8). Đó là cách sống của những người thực sự trưởng thành tâm linh. Ước gì mọi người đều biết sống như vậy!

Thánh Giacôbê phân tích: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3:6). Một cách suy luận lô-gích và minh nhiên. Thánh nhân kết luận: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:17-18). Phàm nhân chúng ta gọi đó là “luật nhân quả”, gieo gì gặt nấy: Tư tưởng à ước muốn à hành động à thói quen à tính cách à số phận.

Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao?” (Gc 4:1). Và rồi thánh nhân đúc kết một cách vô cùng thẳng thắn: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:2-3).

Nhận xét của Thánh Giacôbê “chạm” đến bất kỳ ai, đến bất kỳ cương vị nào, đến tận mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của lòng dạ và tư tưởng con người. Thật vậy, đôi khi chúng ta ích kỷ ngay trong lời cầu nguyện của mình, thậm chí còn dám “ngã giá” và “ra điều kiện” với chính Thiên Chúa mà cứ tưởng là mình… đạo đức và thánh thiện. Nguy hiểm quá!

Một lần nọ, Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê, nhưng Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết chết, Ngài sẽ sống lại” (Mc 9:31). Nhưng các ông không hiểu lời đó, vả lại các ông sợ nên không dám hỏi lại Ngài. Theo Thầy đi khắp mọi nơi, tới từng hang cùng ngõ hẻm, ăn dầm nằm dề với Thầy, thế mà các môn đệ vẫn “như người trên cung trăng”, lơ ngơ mà chẳng hiểu Sư phụ nói gì. Không hiểu mà lại không dám hỏi. Lạ thật! Nhưng phàm phu tục tử là thế, chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì ai! Chúa biết thừa, nhưng Ngài vẫn thông cảm và lại càng thương các “ngu đệ” hơn.

Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9:33). Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để các môn đệ bớt… run. Chứ Ngài biết tỏng, biết rõ mười mươi như “đi guốc trong bụng” từng người! Nhưng các ông nín thinh như ngậm tăm, vì Thầy nói trúng phoóc tim đen. Rõ ràng khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Tranh giành địa vị, tranh chấp ngôi thứ, tranh nhau cái DANH cốt để mong có cái LỢI. Không thể nào biện hộ, dù chỉ nửa lời!

Biết các môn đệ chưa thể “thoát tục”, Đức Giêsu ngồi xuống và gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9:35). Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37). Một cách so sánh đầy triết lý và thần học. Tiếp nhận trẻ nhỏ à tiếp nhận Chúa Giêsu à tiếp nhận Chúa Cha. Hay quá! Nhưng có lẽ chúng ta chưa thể hiểu đúng, hoặc không dám hiểu, thậm chí không muốn hiểu. Nhưng nên nhớ rằng Chúa Giêsu luôn thực tế, mạch lạc, rất hiếm khi bóng gió xa xôi. Và vì thế mà chúng ta khó lĩnh hội thấu đáo để có thể thực hành bài học “đơn giản” của Ngài là sống Yêu thương và Phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).

Muốn thoát vòng danh lợi và vòng kiềm tỏa của nó, chúng ta phải theo “mẹo” của Chúa Giêsu: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Danh lợi chỉ là thứ tạm bợ, chóng qua, thế mà người ta vẫn tìm mọi thủ đoạn để giành giật bằng mọi giá. Đó là loại “giàu” khiến người ta khó vào Nước Trời nhất. Cụ Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Chí lý lắm thay!

Lạy Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con từng giây phút, để chúng con đừng giành nhau những thứ không phù hợp với Luật Chúa, trái ngược với Nước Trời. Xin giúp chúng con không ngừng biết YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ đúng như Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

***
(*) Nguyễn Công Trứ (chữ Hán: 阮公著, 1778 – 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.

-----------------------------

 

TN25-B128: Nhân Danh – Trầm Thiên Thu

 

Hằng ngày, các tín hữu Công giáo làm dấu Thánh Giá nhiều lần: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, TN25-B128


Hằng ngày, các tín hữu Công giáo làm dấu Thánh Giá nhiều lần: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Một tín hữu bình thường thì người ta làm dấu khi thức dậy, khi tham dự Thánh Lễ, khi cầu nguyện, khi đọc kinh, khi ăn (cơm, phở, bánh,…), khi đi ngủ. Một tín hữu biết mình yếu đuối thì họ còn làm dấu khi uống nước, khi ăn vặt, khi chạy xe, khi làm thơ, khi viết nhạc, khi viết bài, khi dịch thuật,… Nói chung, bất cứ làm gì, chúng ta đều làm nhân danh Thiên Chúa chứ không nhân danh bất cứ ai hoặc thứ gì khác, như Thánh Phaolô khuyên: “Dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31), và “Hãy làm mọi sự vì đức ái” (1 Cr 16:14).

Khi nói đến “nhân danh”, chúng ta nhớ tới Tổng lãnh Thiên thần Micae – một đại anh hùng chiến đấu để bênh vực Chân Lý và Công Lý, nhân danh Thiên Chúa. Ngài là người thách đố: “Ai bằng Thiên Chúa?”.

Khi nhân danh người nào hoặc điều gì, cũng có những người “mạo danh” để làm điều sai trái, thay vì làm điều nhân nghĩa. Đó là “nhân danh” cái ác, một dạng giả hình mà chúng ta cần cảnh giác cao độ – cảnh giác với người khác và với chính mình. Thực tế đã và đang cho chúng ta thấy có những kẻ “mạo danh” để trục lợi cá nhân – ngoài đời cũng có đầy mà trong tôn giáo cũng chẳng thiếu.

Thời Cựu Ước, những kẻ xấu đã “nhân danh” sự ác mà vào hùa với nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Khi nhân danh điều gì, đôi khi người ta cũng dễ bị ảo tưởng hoặc suy nghĩ lệch lạc. Gọi là nhân danh điều tốt này hoặc sự thiện kia, nhưng thực chất có thể chỉ là nhân danh mình – tức là muốn chứng tỏ “bản lĩnh” của mình mà thôi. Dạng này rất tinh vi, chúng ta phải thực sự cảnh giác kẻo “sập bẫy” mưu ma chước quỷ!

Tư tưởng xấu sinh ra ước muốn xấu, ước muốn xấu sinh ra hành động xấu, hành động xấu là nhân danh cái ác. Những kẻ xấu cũng tưởng người khác cũng xấu như mình nên họ nghi ngờ người khác. Họ lý luận: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào. Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:17-20). Chính Chúa Giêsu cũng đã bị những kẻ xấu thách thức tương tự!

Những người công chính, tâm địa ngay thẳng, nhưng đôi khi vẫn gặp tai ương. Không phải là Thiên Chúa không biết hoặc làm ngơ, nhưng Ngài tôn trọng luật tự nhiên. Khi thực sự cần thiết thì Ngài mới ra tay. Những người tín thác vào Thiên Chúa thì luôn chân thành khấn cầu: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi. Phường kiêu ngạo nổi lên chống đối, bọn hung tàn tìm hại mạng sống con, chúng không kể gì đến Thiên Chúa. Nhưng này có Thiên Chúa phù trì, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ” (Tv 54:3-6).

Quả thật như vậy, vì Ngài biết rõ ai như thế nào, mạnh hay yếu, và Ngài không bắt chúng ta chịu đựng quá sức mình. Vấn đề quan trọng là chúng ta phải biết nhận ra ơn độ trì của Thiên Chúa, như tác giả Thánh Vịnh thầm hứa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo!” (Tv 54:8).

Ai tin tưởng và hành động nhân danh Thiên Chúa thì chắc chắn sẽ không lầm đường lạc lối, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8:12).

Cụ thi hào Nguyễn Du đã nhận định và so sánh: “Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI” (Truyện Kiều). Cái “tâm” vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Ai cũng có lương tâm, nhưng vấn đề là lương tâm đó đúng đắn hay lệch lạc. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:16-18).

Chắc chắn ai cũng biết lợi ích của cái tâm chân chính, nhưng biết là biết vậy, cố gắng áp dụng hay không lại là chuyện khác. Cổ nhân nói: “Tâm phẫn xí tắc bất đắc kỳ chính”. Từ cái tâm sẽ sinh ra nhiều hệ lụy khác, thậm chí ảnh hưởng cả sức khỏe thể lý.

Thánh Giacôbê tiếp tục phân tích: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:1-3). Hệ lụy rạch ròi, tất yếu. Đúng là “lỗi tại tôi mọi đàng” chứ chẳng lỗi tại ai ráo trọi!

Cái thiện ý hoặc thiện tâm rất quan trọng, ngược lại thì rất nguy hiểm với ác ý hoặc dã tâm: “Thiện ý một câu ấm ba đông, lời ác lạnh người sáu tháng ròng”. Trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh, đạo binh chư thần đã đồng ca: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 1:14). Điều đó cho thấy sự thiện tâm là điều kiện tất yếu để được Thiên Chúa yêu thương, nhờ đó mà quyết tâm chỉ nhân danh sự thiện mà thôi.

Trình thuật Mc 9:30-36 cho chúng ta biết về hai vấn đề quan yếu mà chính Chúa Giêsu muốn giáo huấn mỗi chúng ta: Lớn – nhỏ, và thuận – nghịch.

Một lần nọ, Chúa Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê. Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang “bật mí” cho các môn đệ biết chuyện hệ trọng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”. Tuy nhiên, các ông y như vịt nghe sấm, chẳng hiểu gì cả. Vả lại, các ông vừa sợ vừa ngại nên không dám hỏi lại Sư Phụ.

Sau đó, Thầy và trò cùng đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Ngài hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?”. Ui da! Rỉ tai nhau thế mà Thầy cũng cũng biết. Chết thật! Vì thế, các ông nhìn nhau nhưng im thin thít, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Thánh sử Mác-cô cho biết rõ là các môn đệ “cãi nhau”, chứng tỏ vấn đề nghiêm trọng chứ không đơn giản. Họ tranh giành về chuyện “cao – thấp”, về chức quyền. Vấn đề này cũng vẫn thường xảy ra trong chúng ta ngày nay.

Ngài ngồi xuống, có lẽ Ngài rất buồn khi thấy các đệ tử vẫn tục lụy, vẫn hám danh và mê lợi như vậy, rồi Ngài gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Đó là đức khiêm nhường. Ý tưởng của Ngài hoàn toàn trái ngược với chúng ta. Kế đó, Ngài đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Một chuỗi hệ lụy kỳ diệu quá!

Đó là vấn đề thứ nhất: Vấn đề lớn – nhỏ, cao – thấp. Vấn đề thứ nhì là thuận – nghịch. Khi đó, ông Gioan nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta”. Nghe vậy, Ngài liền khoát tay và nói ngay: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta”.

Động thái của Chàng trai trẻ Gioan nhắc nhở chúng ta một điều: Đừng tưởng mình ngon người khác, đừng tưởng mình có quyền hơn người khác. Vì thế mà coi thường người khác, khinh miệt hoặc ghét bỏ người khác. Từ hệ lụy này sinh ra hệ lụy khác. Cứ “tưởng rằng” như vậy là mạo nhận, là ảo tưởng, là kiêu ngạo! Tương tự, TIN mình được Chúa yêu thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG mình được Chúa yêu thì lại là kiêu ngạo. Cái “khoảng cách” giữa TIN và TƯỞNG rất mong manh.

Kiêu ngạo là đối lập với Đức Kitô, vì Ngài là Đấng có “lòng hiều hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29). Đồng thời hãy nhớ lại lời Kinh Ngợi Khen (Magnificat) của Đức Maria: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1:52).

Ước gì mỗi khi gặp nhau, dù là bất kỳ ai, chúng ta có thể chân thành nói với nhau: “Chúng tôi chúc lành cho anh em nhân danh Chúa” (Tv 129:8).

Lạy Thiên Chúa, xin giúp con luôn biết nhân danh Ngài mà thực hiện bất cứ điều gì, từ suy nghĩ tới hành động, từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn. Vâng, lạy Thiên Chúa, con thật lòng ước muốn và cố gắng thực hiện như vậy. Xin Ngài hướng dẫn con mọi nơi và mọi lúc. Xin Tổng lãnh Thiên thần Micae nguyện giúp cầu thay. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B129: Bước theo Chúa trong khiêm hạ


Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật XXV – B

(Mc 9, 30 – 37)

 

Sau khi biến hình, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ từ trên núi xuống tiến về Giêrusalem để TN25-B129


Sau khi biến hình, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ từ trên núi xuống tiến về Giêrusalem để sống Lễ Vượt Qua cái chết và sự phục sinh của Người. Trước thảm kịch đau thương đang chờ đợi và iết trước cái chết ở Giêrusalem, đối với các môn đệ, niềm tin cần phải được Chúa củng cổ, Người loan báo cuộc thương khó lần thứ hai cho các ông, nhưng Người nhấn mạnh hơn đến sự đánh bại thần chết vào sống lại vinh quang.

Nhưng các môn đệ nào đâu có hiều, dọc đường tới ở Capharnaum họ vẫn tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất. Câu trả lời của Đấng Cứu Thế từ đó đến nay vẫn làm chúng ta ngạc nhiên: "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy" (Mc 9,37). Như thế kẻ lớn nhất sẽ là người phục vụ mọi người và Nước Thiên Chúa dành cho những ai đón nhận các trẻ nhỏ.         

Đoạn Tin Mừng này không phải hai phần khác biệt: phần thứ nhất Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn, phần thứ hai Chúa giáo huấn các môn đệ. Đây chỉ là một diễn từ chúng ta có thể gọi là: "Thập giá của Chúa Giêsu và hậu quả của các môn đệ". Trở thành đầy tớ, đón tiếp trẻ nhỏ nhân danh Chúa Giêsu là hai hành động mà Chúa Giêsu, nhẹ nhàng nhưng cương quyết dạy các môn đệ phải "thi hành" cùng lúc. Thi hành để bắt chước Chúa Kitô, theo Chúa đến chân Thập giá, và như Chúa, trở nên tôi tớ phục vụ mọi người, "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người "(Mc 9, 35).

Từ ngày Con Thiên Chúa nhập thể bước vào lịch sử loài người sau một chặng đường dài, từ cái nôi Belem để "cái nôi" trên đồi Calvariô ở Giêrusalem, đỉnh cao là (cây Thập giá). Những tiêu chí để đánh giá giá trị và nhân phẩm của con người hoàn toàn đảo lộn: phẩm giá của một người không tùy thuộc vào vị trí người ấy đang có, hay chức vụ người ấy thi hành... Sự vĩ đại của con người không lệ thuộc vào cái làm cho người ta quan trọng, nhưng dựa trên sự phục vụ người ấy làm đối với Thiên Chúa và tha nhân để tỏ bày vinh quang, sự tốt lành và tình yêu của Chúa.

Đón nhận là một phương tiện làm thi hành việc phục vụ này. Thánh sử Marcô dùng động từ " đón nhận " vào những dịp khác nhau với cách thức khác nhau, nhưng tất cả đều qui về một mối. Thánh sử nói với chúng ta về thái độ đón nhận Lời Chúa (x. Mc 4,20), đón nhậ Nước Thiên Chúa (x. Mc 10,15). Đón nhận có nghĩa là lắng nghe, sẵn sàng, đón nhận Đấng Vô Cùng trở thành Hài Nhi, đón nhận các trẻ nhỏ còn trong nôi, phản ánh của trời cao.

Đem một em bé đặt giữa các môn đệ, ôm nó, Chúa Giêsu dạy các ông một bài học. Đứa trẻ Chúa ôm lấy là chính Người, vì Người là dấu chỉ Chúa Cha sai đến. Trẻ em là dấu chỉ lòng trắc ẩn của Thiên Chúa và sự vâng phục đầy tình con thảo đối với Con Một Chúa đã trở nên bé nhỏ vì yêu thương và chịu đóng đinh trong sự vâng phục giữa những kẻ gian ác. Hài Nhi ấy đến từ Thiên Chúa ; những lời sau đây của Chúa Giêsu: ( "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy "Mc 9,37) thật rõ ràng: đứa trẻ đặt giữa các ông là hình ảnh của Chúa Kitô, đồng thời cũng là hình ảnh của người kitô hữu, hơn nữa là hình ảnh của chính Thiên Chúa. Đón nhận trẻ nhỏ nhân danh Chúa Kitô là đón nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Tin Mừng hôm nay là một bài giáo lý nhấn mạnh đến nhân tính của Con Thiên Chúa: Chúa Giêsu là Con của loài người. Đó là lý do tại sao cái chết và sự phục sinh của Chúa là những điều cụ thể, có thật. Chúa không trách các môn đệ nhưng giải thích cho các ông về cách thức của người đứng đầu: đón nhận trẻ nhỏ là đón nhận chính Chúa và Chúa Cha (x. Mc 9,37).

Các môn đệ phải khó khăn lắm mới hiểu rằng bước theo Chúa Giêsu đồng nghĩa với việc từ bỏ mình vác thập giá mình mà bước, nên họ sợ. Chúng ta cũng thế, chúng ta sợ hiểu, không phải chúng ta không hiểu, nhưng vì chúng ta không muốn hiểu. Em bé được đặt giữa các môn đệ là dấu chỉ nhiệm mầu tự hủy của một vì Thiên Chúa nộp mình cho con người. Nghĩa cử đón nhận "trẻ nhỏ" chứng thực lòng mộ mến Đấng Vô Cùng đã trở nên Hài Nhi bé nhỏ cho chúng ta và vì chúng ta.

Trong cuộc Thương Khó chúng ta thấy có lòng thương xót. Không có tình yêu nào cao cả và lớn lao hơn là trở nên nhỏ bé và trao dâng chính mình vì bạn hữu, bước lên thập giá và tự hào, như thánh Tông Đồ Phaolô khao khát: "Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta "(Gal 6,14). Nhưng khi nói đến thập giá, nó không chỉ là hai miếng gỗ, nhưng là toàn thể loài người. Chúng ta là thập giá của Chúa Giêsu, vì khi dang tay ra, con người được coi như là hình hài của cây thập. Trong thực tế, đó là tất cả tình yêu mà Chúa Giêsu đã chấp nhận khi đến với chúng ta, mang vào thân cho đủ mức để sinh ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.

Vì thế, việc theo Chúa luôn đòi con người phải có sự hoán cải sâu xa, thay đổi lối sống và suy nghĩ, mở rộng con tim để lắng nghe và biến đổi nội tâm. Nơi Thiên Chúa không có sự kiêu ngạo, chỉ có yêu thương và ban sự sống. Con người tuy bé nhỏ, nhưng lại khao khát được coi là cao cả, được chiếm chỗ nhất, trong khi Thiên Chúa không do dự hạ mình xuống, trở nên người rốt cùng.

Lạy Mẹ Maria, chúng con tín thác khẩn cầu Mẹ là Ðấng hoàn toàn sống hợp với Thiên Chúa, xin dạy chúng con trung thành theo Chúa Giêsu trên con đường yêu thương và khiêm hạ.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

-----------------------------

 

TN25-B130: Đấng Ki-tô, người công chính của Thiên Chúa


CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Kn 2:12.17-20;  Gc 3:16 – 4:3;  Mc 9:30-37)

 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại Chúa Giê-su tiên báo lần thứ hai về cuộc Thương Khó Người TN25-B130


Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại Chúa Giê-su tiên báo lần thứ hai về cuộc Thương Khó Người sẽ phải chịu tại Giê-ru-sa-lem.  Trong mỗi lần Chúa tiên báo, thánh Mác-cô cho chúng ta thấy hai chiều kích, một về chính Chúa Giê-su và hai về phản ứng của các môn đệ Người.  Lần thứ nhất, song song với việc Chúa Giê-su nói đến sứ mệnh của Con Người, tức Đấng Ki-tô, là bài ca Người Tôi Trung trích sách ngôn sứ I-sai-a.  Bài ca nhấn mạnh đến sự nhẫn nhục và vâng lời Thiên Chúa của Chúa Giê-su.  Còn phản ứng của các môn đệ trước lời tiên báo là việc Phê-rô can gián Chúa đừng để cho cuộc Thương Khó xảy ra.  Hôm nay là lần tiên báo thứ hai, chúng ta có bài trích sách Khôn Ngoan mô tả người công chính chịu lăng nhục và bị kết án chết, để nói lên Đức Ki-tô là “người công chính” của Thiên Chúa.  Vậy sách Khôn Ngoan mô tả người công chính ấy thế nào?

          “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã!”  Đó là lời hô hoán đồng thanh của “phường vô đạo” quyết tâm hại “tên công chính, con Thiên Chúa”.  Vậy thì lý do nào khiến bọn ác nhân kia phải diệt bằng được người công chính?  Bọn họ đã trả lời là “vì nó làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo”.  Đúng thế, Chúa Giê-su đã làm”vướng chân” nhóm Pha-ri-sêu cùng các kinh sư, và Người đã “chống lại” những việc làm giả hình khoa trương của họ (xem Mát-thêu 23:1-36).  Cho nên sau khi đã tìm đủ cách để bắt bẻ, tranh luận và cố hạ uy thế của Chúa Giê-su trước mặt dân chúng mà không làm gì được Người, nên họ cuống cuồng bảo nhau: "Các ông thấy chưa: các ông chẳng làm nên trò trống gì cả! Kìa thiên hạ theo ông ấy hết!"  Thế là các thượng tế quyết định giết Chúa Giê-su và cả anh La-da-rô nữa, vì tại anh mà dân chúng theo Chúa (Gio-an 12:10-11, 19).  Chúa Giê-su đã khiển trách nhóm Pha-ri-sêu và kinh sư không phải vì Người thù ghét họ, nhưng Người đã lên tiếng như một người Cha đầy lòng thương xót muốn nhắc nhở và kêu mời những đứa con hoang đàng trở về.  Người mong họ từ bỏ lối sống “ghen tương và tranh chấp” để sống theo “đức khôn ngoan” của Thiên Chúa (như thánh Gia-cô-bê nhắc đến trong bài đọc 2).  Quả thực, sống theo đức khôn ngoan, chúng ta sẽ được trở nên “trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình” (Gc 3:16, 17).  Tóm lại, đây là những đặc nét của hình ảnh người công chính đã được thể hiện hoàn toàn nơi Chúa Giê-su, người công chính của Thiên Chúa.

          Nếu bài trích sách Khôn ngoan và bài trích thư thánh Gia-cô-bê đã trình bày Đấng Ki-tô như người công chính, thì việc Chúa Giê-su tiên báo lần thứ hai về cuộc Thương Khó lại cho chúng ta thấy một điểm vô cùng độc đáo về Đấng Ki-tô:  “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.  Có lẽ không có đoạn Tân Ước nào diễn tả tuyệt vời về Đấng Ki-tô hơn là đoạn thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Phi-líp-phê 2:6-8.  Phải, từ địa vị Thiên Chúa, Chúa Giê-su đã được sai đến trần gian để trở nên “người rốt hết” bằng cách nhận lấy “thân nô lệ” và bằng lòng chịu chết ô nhục trên thập giá.  Chúa Giê-su còn “làm người phục vụ mọi người”.  Chúa đã phục vụ mọi người qua sứ mệnh rao giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh nhân và trừ ma quỷ.  Tột đỉnh của việc phục vụ là Người chấp nhận cái chết ô nhục, để mọi người được cứu chuộc làm con Thiên Chúa.  Đó là cách Người phục vụ nhân loại vì yêu thương họ đến cùng.

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Không phải Chúa Giê-su chỉ báo trước cuộc Thương Khó của Người, mà Người còn dạy chúng ta nhiều bài học nữa.  Sau khi Chúa đã báo trước lần thứ hai về cuộc Thương Khó, điều mỉa mai là các môn đệ lại “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.  Chắc họ tranh nhau xem ai là người sẽ “kế vị” Chúa sau khi Người bị giết chết!  Thế là Chúa cho họ và cho cả chúng ta một bài học đích đáng!  Hãy làm “người rốt hết” và làm “người phục vụ”.  Chúa không có ý bảo chúng ta phải luôn luôn đứng bét, phải đội sổ…, nhưng chúng ta hãy là người khiêm nhường đích thực.  Nếu làm người khiêm nhường đích thực, thì kết quả tất nhiên là đức khiêm sẽ giúp chúng ta phục vụ người khác với lòng yêu thương, sẽ giúp chúng ta “cúi xuống và rửa chân cho anh em”, cho dù chúng ta có là thầy cô, cha mẹ hay người có địa vị.
          Một bài học khác chúng ta có thể học nơi “người công chính” là Chúa Giê-su.  Đó là bài học can đảm.  Thử hỏi có ai biết mình sẽ “bị nộp vào tay người đời và bị họ giết chết” mà vẫn chấp nhận không?  Chúa Giê-su Ki-tô đã can đảm chấp nhận chết cho chúng ta.  Động lực giúp Người được can đảm chính là tình yêu.  Người chết để làm chứng rằng “Thiên Chúa đã yêu    thương thế gian” và muốn mọi con cái Người được ở bên cạnh Người muôn đời.  Cuộc đời trần thế của Chúa Giê-su là một chứng từ tình yêu vĩ đại chưa từng có.  Đồng thời cuộc sống của Người cũng là một mẫu mực cho hết thảy Ki-tô hữu và là lời mời gọi chúng ta hãy làm chứng nhân tình yêu Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh sống.  Để làm chứng nhân tình yêu, chúng ta hãy tiếp nhận anh chị em “vì danh Thầy”, tức là vì Tình Yêu, để ta cũng được Chúa tiếp nhận!

       Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

-----------------------------

 

TN25-B131: Làm kẻ phục vụ mọi người


CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 9:30-37)

 

Thánh Mác-cô thuật lại ba lần Chúa báo trước cuộc Thương khó theo cùng một khuôn mẫu:  việc TN25-B131


Thánh Mác-cô thuật lại ba lần Chúa báo trước cuộc Thương khó theo cùng một khuôn mẫu:  việc tiên báo, hành động của các môn đệ và giáo huấn của Chúa.  Lần thứ nhất, sau khi Chúa báo trước cuộc Thương khó thì ông Phê-rô can gián Người, nên Người dạy các môn đệ và dân chúng bài học “từ bỏ mình và vác thập giá” mà theo Người.  Hôm nay, sau lời tiên báo cuộc Thương khó lần thứ hai, Nhóm Mười Hai “đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.  Bài học Chúa dạy cho họ là “ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”.  Cuộc tranh giành của các tông đồ và bài học Chúa dạy cũng là những gì chúng ta cần học hôm nay và áp dụng vào đời sống Ki-tô hữu.

          Sau khi ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Chúa bắt đầu dạy cho các tông đồ biết sứ mệnh của Đấng Ki-tô là gì.  Trên đường trở về và đi qua Ga-li-lê, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục dạy dỗ để các ông biết sứ mệnh đích thực của Người.  Vậy mà các ông vẫn không chấp nhận một Đấng Ki-tô chịu đau khổ, chỉ muốn Người là đấng Ki-tô trần thế hầu đáp ứng những tham vọng của họ!  Họ vẫn mong Người sẽ làm ông vua của Ít-ra-en và họ sẽ được ban chức tước.  Chính những tham vọng này đã đưa họ tới việc “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.  Đúng như lời nhận định của tông đồ Gia-cô-bê sau này:  “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (bài đọc 2).  Chúa Giê-su đã khéo léo can thiệp và lợi dụng cơ hội dạy họ thêm một bài học về lãnh đạo:  lãnh đạo là phục vụ mọi người.

          Cách thức Chúa Giê-su dạy các tông đồ cũng là điều rất thích thú.  Chính tai Chúa đã nghe các ông tranh cãi, nhưng trở về đến “nhà”, Người muốn họ xác định lại việc ấy để Người dạy dỗ họ đúng đắn, chứ không đoán mò.  Họ im lặng và im lặng là thừa nhận.  Tuy nhiên Chúa Giê-su cũng không dạy dỗ ngay.  Phản ứng nóng tính không phải là phương pháp giáo dục tốt.  Người đang áp dụng tinh thần “đóng cửa bảo nhau”, nên Người đợi về đến nhà.  Phong thái của Người là bậc Thầy, bậc cha mẹ, nên Người thư thái “ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói…”  Nói thôi chưa đủ, cần có thí dụ sống động.  Do đó, Chúa đem một em nhỏ, đặt vào giữa các ông và nói:  “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy…, là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”.  Thật là phương pháp giáo lý đơn sơ, nhưng sống động.  Chắc chắn các tông đồ sẽ nhớ đời bài học này!  Phương pháp nhẹ nhàng, đầy ắp yêu thương và thuyết phục.  Còn chúng ta, có khi nào chúng ta xét lại việc chúng ta dạy dỗ con cái, học trò… để nhận ra những thiếu sót không?

          Mai mốt khi ở vai trò lãnh đạo Giáo Hội, các tông đồ sẽ áp dụng bài học của Thầy.  Trẻ em trong xã hội Do-thái ngày xưa không được tôn trọng.  Các em bị liệt vào hàng các vật sở hữu!  Vậy mà Chúa dạy các ông phải tiếp đón chúng như tiếp đón chính Người và Cha Người.  Tiếp đón đây không phải chỉ là mỉm cười vui vẻ vẫy tay chào hỏi, nhưng là tận tình chăm sóc và đáp ứng mọi nhu cầu thích đáng của chúng.  Nói tóm lại, tiếp đón là phục vụ!  Đây là một thí dụ để Chúa dạy các ông phải phục vụ mọi người các ông gặp trên đường truyền giáo sau này.  Chính Chúa đã phục vụ nhu cầu được cứu độ của nhân loại đến nỗi chấp nhận cái chết nhục nhã.

Sống sứ điệp Tin Mừng

          Tranh cãi và không chấp nhận phục vụ là tình trạng thường xảy ra ngay trong gia đình và cộng đoàn.  Như thánh Gia-cô-bê nhận định, nguyên nhân của chiến tranh và xung đột là do những tham vọng và ganh ghét.  Người khác có trong khi mình không có, thế là tham và thấy thua kém người thì đâm ra ganh ghét.  Trong gia đình, chồng và con thiếu tinh thần phục vụ, nên mọi sự đổ trên đầu người vợ và mẹ.  Tại giáo xứ, mình không có khả năng đảm trách việc nọ việc kia thì đâm ra bất mãn, nói xấu những người đang làm việc.  Họ đặt tham vọng và ganh ghét của mình trên lợi ích của cộng đoàn.  Thánh Gia-cô-bê khẳng định:  “Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính”.  “Tôi đã gieo gì trong hòa bình?” Đây có phải là câu hỏi chúng ta cần suy nghĩ không?      

 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

-----------------------------

 

TN25-B132: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 25 TN B


Thiếu nhi chúng con yêu quí,

 

Thánh Marco vừa thuật lại một câu chuyện mà cha chắc là phải Chúa buồn. Chúng con biết tại TN25-B132


Thánh Marco vừa thuật lại một câu chuyện mà cha chắc là phải Chúa buồn.

Chúng con biết tại sao không?

- Thưa cha, tại các môn đệ của Chúa cãi nhau.
- Rất đúng! Chúng con giỏi quá. Đúng là như vậy.
- Môn đệ của Chúa cãi nhau về vấn đề gì nào?
- Thưa cha…cãi nhau xem ai là người lớn nhất.
- Giỏi nữa. Thế chúng con đã cãi nhau bao giờ chưa?
- Dạ rồi.
- Cãi nhau về vấn đề gì?

…………

Đây cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này:

Một ngày nọ, các màu sắc nổ ra một cuộc tranh cãi lớn. Màu nào cũng cho rằng mình mới là sắc màu tuyệt vời nhất, quan trọng nhất và được hết thảy mọi người yêu thích.

Màu xanh lá cây nói:

- Rõ ràng mình là màu quan trọng nhất. Mình là dấu hiệu của sự sống và hy vọng. Chính vì thế mà mình được chọn là màu của cỏ cây, của hoa lá. Không có mình, cả thế giới này chỉ là một nơi khô cằn, chết chóc. Các cậu thử nhìn khắp các vùng làng quê xem, đâu đâu cũng thấy mình trên đó.

Màu xanh dương vội ngắt lời:

- Sự tồn tại của bạn chỉ giới hạn trên đất đai mà thôi, sao bạn không thử nhìn bầu trời và mặt biển xem. Không phải nước là nguồn sống cơ bản của mọi vật à? Còn bầu trời lại cho bạn không gian, sự bình an trong tâm hồn. Rõ ràng, nếu không có tôi, thế giới này sẽ không hoàn hảo chút nào.

Nghe vậy, màu vàng mỉm cười và lên tiếng:

- Sao các bạn lại quan trọng hóa những vấn đề nhỏ nhặt như thế nhỉ? Chính mình là người mang lại tiếng cười, niềm vui và sự ấm áp cho hành tinh này, bởi mình là màu của mặt trời, mặt trăng, của các vì sao. Hãy ngắm nhìn màu vàng rực rỡ của đóa hướng dương mà xem, chẳng phải nó khiến các bạn thấy cả thế giới đang mỉm cười với mình hay sao? Không có mình sẽ không có niềm vui đâu.

Màu da cam lớn tiếng:

- Còn mình là màu tượng trưng cho sức khỏe và sự mạnh mẽ. Có lẽ các bạn ít thấy mình, nhưng mình quý lắm đấy nhé! Mình chứa đựng những vitamin quan trọng cho con người. Tuy không phải lúc nào mình cũng có mặt, nhưng khi mọi người ngắm nhìn bầu trời lúc bình minh hay hoàng hôn, không ai tránh được sự cảm phục trước vẻ kiều diễm của mình cả.

Không thể chờ đợi lâu hơn nữa, màu đỏ cất giọng phản đối:

- Mình mới là màu thống trị thế giới. Mình là màu của máu, và ai cũng biết rõ máu là thứ quan trọng nhất cho sự sinh tồn của loài người. Mình cảnh báo hiểm nguy và tượng trưng cho lòng dũng cảm. Mình sẵn sàng chiến đấu vì chính nghĩa, kêu gọi lòng nhiệt tình, tự tin chiến thắng. Không có mình, trái đất này sẽ vô vị và vắng lặng như chốn hoang mạc. Mình cũng chính là màu tượng trưng cho đam mê và tình yêu, là màu của hoa hồng, hoa trạng nguyên và của trái tim đang nồng cháy.

Đến lúc này thì màu tím mới đứng dậy, hết sức duyên dáng nhưng cũng thật sắc sảo:

- Mình là sắc màu của hoàng gia và sức mạnh. Các vì vua, các nhà lãnh đạo và các vị quyền cao chức trọng đều chọn mình cho dấu hiệu của uy quyền và thông thái. Khi đứng trước mình, mọi người đều không bao giờ dám thắc mắc. Họ chỉ biết lắng nghe và phục tùng.

Khi tiếng xôn xao còn chưa kịp lắng xuống, màu chàm đã cất giọng, rụt rè nhưng cũng khá quyết liệt:

- Còn mình, mình là màu của sự im lặng. Bạn khó mà nhận ra mình giữa đám đông, nhưng nếu không có mình, các bạn chỉ là những kẻ hời hợt, nông cạn và thiển cận. Mình tượng trưng cho tư duy, cho bề dày của lịch sử, của những điều bí ẩn… Các bạn phải cần mình mới có cân bằng, tương phản, cho những lúc lắng đọng tâm hồn và cho sự bình ổn bên trong.

Lời lẽ của màu sắc nào cũng đầy thuyết phục, nên chẳng ai chịu ai. Thế là chúng lại tiếp tục lớn tiếng đề cao bản thân và tranh cãi với nhau. Ai cũng muốn mình là sắc màu tuyệt vời nhất. Tiếng tranh cãi càng lúc càng lớn dần. Bỗng nhiên một ánh sáng lóe lên, bầu trời phủ kín đầy mây mù, sấm sét giật liên hồi. Mưa bắt đầu rơi. Các màu sắc sợ hãi nép sát vào nhau như để tìm chốn nương tựa. Giữa âm thanh hỗn độn đó, mưa bắt đầu lên tiếng:

- Các ngươi thật là một lũ ngu ngốc, tranh cãi nhau chỉ vì cái tôi ích kỷ, hẹp hòi, chỉ vì muốn mình nổi trội hơn người khác.

Đó là lý do khiến người ta hay cãi nhau. Cải nhau vì cái tôi ích kỷ, hẹp hòi, chỉ vì muốn mình nổi trội hơn người khác.

Các môn đệ của Chúa Giêsu hôm nay cãi nhau cũng vì những lý do đó. Ai cũng muốn làm lớn. Ai cũng muốn hơn người. Đó là cái gốc sinh ra những bất hoà giữa người với người và là cớ sinh ra sự cãi nhau.

2. Bây giờ cha hỏi chúng con đứng trước việc đó Chúa Giêsu đã có thái độ như thế nào?

Câu trả lời: Chúa kiên nhẫn giáo dục các môn đệ của Ngài. Chúa không giận, không la rầy. Bằng một thái độ của một bậc Thầy Chúa ôn tồn dậy dỗ các môn đệ.

Chúng con hãy nghe lời Chúa nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Ðấng đã sai Thầy.”

Chúa nói hay quá chúng con. Đây có thể coi là một toa thuốc chữa bệnh cãi nhau. Toa thuốc này gồm có hai thứ:

- Thứ nhất là sống khiêm nhường và phục vụ nhau

- Thứ hai là biết mở lòng đón tiếp và tôn trọng nhau.

Biết dùng hai loại thuốc này thì căn bệnh cãi nhau sẽ hết.

Cha mượn câu chuyện dụ ngôn này để chúng con thấy được ý của Chúa. Câu chuyện về con Ngựa và con Trâu.

          Ngựa và trâu cùng ăn cỏ trên một cánh đồng. Bỗng ngựa liếc nhìn trâu và khinh bỉ nói:

          - Này tên thợ cày kia! Cớ sao mi dám ngọam cỏ cạnh ta? Đứng xa ra một tí đi! Có khôn thì biến đi cho khuất mắt ta!

Trâu rất bực, nhưng cũng cố nhịn mà nói lại:

- Sao anh lại giương vây giương cánh mà coi thường tôi thế?

- Hừm! Thế mi không thấy trên lưng ta có bộ yên đẹp hay sao? -ngựa đáp- Mi không thấy người ta đã dùng vàng bạc châu báu để trang điểm cho ta hay sao? Nhà vua thân chinh cưỡi ta, thường xoa bườm, vuốt ve và khen ngợi ta. Ta vừa có tài chạy mau, lại vừa có ích. Còn mi là cái thá gì? Nhà vua đâu có thèm nhìn tới.

  - Điều đó rất đúng!- Trâu cất giọng ồ ồ đáp-, nhưng dẫu sao tôi vẫn có ích hơn bạn. Tôi tuy chậm chạp nhưng có sức. Giả sử tôi không cày ruộng, không vò lúa, không kéo xe chở thóc về kinh đô, không quay bánh xe ở cối xay bột, thì chẳng những anh mà ngay cả đến nhà vua phúc hậu cưỡi anh cũng nhăn răng mà chết. Tôi đã đem sức lao động của mình làm cho nhân dân khắp thế gian được no ấm.

  - Cha cái tên khốn kiếp kia!- Ngựa hí lên- , đừng có già mồm nói láo, ta đá cho lòi ruột ra bây giờ !

  -Trâu cũng không lép vế, lớn tiếng mắng lại ngựa. Hai con vật sắp ẩu đả thì vừa lúc ấy voi đi tới. Voi đã nghe rõ đầu đuôi câu chuyện, liền nói:

  - Hai tên mất trí kia, cãi nhau như vậy thì được tích sự gì. Cả hai chú đều vô ích, mỗi chú làm được một việc khác nhau. Này, chú ngựa hãy nghe ta nói: Trâu không làm được việc của chú, còn chú cũng không thay được trâu. Chú hầu hạ người, còn trâu thì làm việc cho người, cả hai đều có ích. Những lời chú tự khen mình chỉ là những lời rỗng tuếch. Thôi đừng cãi nhau nữa, người nào việc nấy đi làm đi!

Nghe xong, thấy Voi nói phải, Ngựa đâm ngượng. Từ đó trở đi, ngựa không bao giờ khoe khoang và gièm pha người khác nữa. Ngựa hiểu rằng ai lao động thì cũng đều đem lại lợi ích cho mọi người.

Nếu ai cũng biết mình thật sự là ai và sống để làm gì thì chắc là thế giới này sẽ tốt đẹp biết bao! Amen.

LM. Giuse Đinh Tất Quý

-----------------------------

 

TN25-B133: Ra đường…, về nhà…

 

Ra đường hỏi ông già,  về nhà hỏi con nít.” “Ra đường lắm chuyện bực mình, về nhà gặp vợ cười tình TN25-B133


“Ra đường hỏi ông già,  về nhà hỏi con nít.” 

“Ra đường lắm chuyện bực mình, về nhà gặp vợ cười tình cũng vui.”

Câu tục ngữ và câu ca dao trên đều có hai vế: ra đường và về nhà: “ra đường hỏi ông già, về nhà hỏi con nít.” Ra đường hỏi ông già, vì ông từng trải, đi nhiều, biết nhiều. Về nhà hỏi con nít, vì con nít thành thật, khai báo hết những gì xảy ra khi mình đi vắng.

Bài Tin Mừng hôm nay, cũng có 2 vế: ra đường và về nhà. Ra đường, hay đang khi đi đường, Chúa Giêsu báo một tin gây hoang mang ; và về nhà Chúa tuyên bố một câu đầy kinh ngạc.
 
1. "Ra đường" Chúa báo một tin gây hoang mang.


Lời báo gây hoang mang đó là lời "Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, rồi sau ba ngày bị giết chết, Người sẽ sống lại." Đây là lần thứ hai Chúa báo tin này. Lần đầu báo tin này, được Phêrô đại diện anh em khuyên can, bị Chúa Giêsu dán nhãn Satan ngay cho Phêrô, “Satan, xéo ngay !”. Lần thứ hai này, ở ngoài đường, ồn ào, nên các môn đệ làm bộ điếc, lãng tai, bàn chuyện khác. Chúa Giêsu nói gà, các tông đồ nói vịt. Chúa báo tin buồn, sẽ bị giết ; các môn đệ bàn tin vui: ai sẽ làm tể tướng trong triều Vua Giêsu. Còn nếu thầy Giêsu sẽ làm Giáo Hoàng, ai trong chúng ta sẽ làm quốc vụ khanh đây !

Làm sao một Đấng Kitô lại đau khổ được, lại còn bị giết. Một cái chết được báo trước như thế, mà không phải cái chết của căn bệnh, tuần tự nhi tiến, thế nào cũng chết, mà bị chết, do người ta giết. Quả thật, nếu tôi là môn đệ theo Chúa xưa kia, tôi cũng không hiểu nổi, mà ngay cả bây giờ theo Chúa nhiều năm vẫn không hiểu tại sao Chúa lại chọn cái chết đau thương như thế.

Ta bước chân vào nhà Chùa, thấy lòng an tĩnh, vì tượng Phật ngồi mỉm cười, tĩnh an. Ta bước chân vào Nhà Chúa, thấy tượng chuộc tội thật thảm thương, nhiều trẻ khóc thét khi gặp lần đầu. Một số nhà thờ kinh hoàng hoá bằng hình tượng Giê-su máu chảy thịt rơi, trông thật khiếp sợ. Làm sao hiểu nổi cảnh như thế !

Thật ra ta chỉ hiểu phần nào, khi chính ta đau khổ, ta nhìn lên Chúa cũng đang khổ đau, ta thấy sao ta được an ủi thế này. Tôi bảo đảm với anh chị, khi bệnh tật, thất vọng, vác thập giá, mà nhìn lên thánh giá, thấy bình an hơn là nhìn lên một đấng an bình mỉm cười. Những lúc đó ta có thể nói, thấy người ta khổ thế này, mà còn cười ! Trong khi đó nhìn lên đấng chịu đóng đinh, tin đó là Chúa, mà cũng phải chịu khổ như vậy, ta thấy nỗi khổ của ta sẽ nhẹ tênh.

Vì khổ đau ít ai hiểu nổi, nên ngay cả khi sống lại rồi, Chúa vẫn còn phải giải thích cho các đồ đệ, rằng phải qua đau khổ mới được vào vinh quang. Trên đường Emmaus Chúa đã trách hai đồ đệ “ngu đần, chậm hiểu” lời Kinh Thánh !
 
Ra đường hỏi người già. Người già là người biết nhiều, nhưng người già cũng là người biểu tượng cho đau yếu, khổ buồn. Chúa ra đường, nói về thân phận đau khổ, chết chóc. Và về nhà, hỏi con trẻ. Chúa về nhà, cũng có nhắc tới con trẻ thật.
 
2. "Về nhà", Chúa tuyên bố một câu đầy kinh ngạc.


Câu kinh ngạc là khi các môn đệ bàn tính xem ai sẽ đứng đầu, thì Chúa nói "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người". Nói thành tục ngữ, sẽ là: “Ai muốn làm đầu, phải hầu thiên hạ.” Một ví von thật mâu thuẫn, tựa như điều ta hay nghe: cán bộ lớn đi xe con, cán bộ con đi xe lớn (xe bus) !

Nhìn vào xe con, ta biết ngay ai làm lớn, ai làm bé. Chắc chắc người ngồi băng sau, xa tài xế, là lớn. Vào phòng khách, ai đang ngồi hút thuốc uống trà là lớn ; kẻ cầm ly, đưa nước là bé. Nhưng Chúa dạy ngược lại ! Tuy nhiên chúng ta đừng hiểu lầm, Đức Giêsu không chủ trương đảo lộn tất cả, biến kẻ ở địa vị cao thành người nhỏ và cho kẻ ở địa vị thấp thành người lớn đâu. Tiêu chuẩn Chúa đưa ra để đánh giá một người, ấy là sự phục vụ. Như thế ai biết phục vụ thì là người lớn. Còn kẻ không phục vụ thì là người nhỏ. Người ở địa vị cao mà biết phục vụ thì vẫn là người lớn, còn kẻ ở địa vị thấp mà không phục vụ thì cũng vẫn là người nhỏ. Nghĩa là: giá trị của một con người không phải do địa vị của người đó, mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó.

Để minh hoạ cho bài học này, Đức Giêsu đưa một em bé đến, đặt giữa các ông và nói: “Ai tiếp đón (phục vụ) một em bé là tiếp đón (phục vụ) Thầy”. Em bé ở đây là biểu tượng cho người không có gì (để đáp trả), người bị lãng quên (ở Do Thái, chứ không phải ở Mỹ để mà tôn trẻ em lên hàng nhì, sau lady first !), trẻ em là người bị loại trừ (“trẻ em đi chỗ khác !”)… Phục vụ những người đó, mình mới đúng là người lớn nhất. (Ngày nay, những người không có gì, những người bị lãng quên, bị loại trừ nhan nhản đầy đường !) 
 
Ra đường nói về người già (đau khổ), về nhà nói tới con nít (làm lớn là phải phục vụ kẻ không có gì).
 
Có một người già đã trở thành lớn nhất khi phục vụ cho con trẻ (bị bỏ rơi), cho người cùng khốn trong xã hội. Người già đó vừa nhỏ vừa thấp, cao không tới mét rưỡi, với làn da nhăn nheo và bàn chân phải có sáu ngón, dáng người xem ra chẳng có gì hấp dẫn. Vậy mà con mắt thì sáng rực toát ra sức chinh phục, và vẻ thu hút phát ra từ một tình thương yêu vô hạn. Đó chính là mẹ Têrêxa Calcutta. Mẹ lãnh giải Nobel Hòa Bình năm 1979 và bao nhiêu danh dự khác nữa, nhưng mẹ nhận với lòng khiêm tốn thẳm sâu. Mẹ lãnh thay cho những người nghèo khổ mà thôi. Cả nước Ấn Độ đa số theo Ấn giáo mà lại tổ chức quốc táng cho một người nữ tu Công Giáo với danh dự cao nhất thì kể cũng lạ thật.


Khi còn sống, mẹ thường kể: "Khi có người bảo tôi rằng các chị dòng chẳng biết làm chuyện gì lớn lao cả, mà chỉ biết làm những chuyện âm thầm nhỏ bé thôi, thì tôi đã trả lời: ngay dù các chị chỉ giúp được một người thôi thì cũng được rồi; Chúa Giêsu sẵn sàng chết cho một người, cho một tội nhân cũng đủ."

Mẹ nói tiếp: “Chúng tôi cảm thấy công việc chúng tôi đang làm chỉ là một giọt nước trong biển cả. Nhưng tôi nghĩ nếu giọt nước không có trong biển cả thì biển cả sẽ hụt đi vì thiếu một giọt nước đó.”

Giọt nước đó là gì, ta hãy nghe thêm: "Một số người tới Calcutta, rồi trước khi ra về đã xin tôi: "Xin nói cho chúng tôi một điều có thể giúp chúng tôi sống tốt hơn". Và tôi đã nói: "Hãy mỉm cười với nhau; hãy mỉm cười với vợ mình, với chồng mình, với con cái mình, và mỉm cười với người khác, bất luận là ai. Điều đó sẽ giúp bạn thấy tình thương yêu lớn lên". Và họ còn hỏi tôi: "Bà có chồng chưa ?" Tôi trả lời: "Có rồi chứ, và tôi cũng cảm thấy đôi khi khó mà mỉm cười được với chồng tôi là Đức Giêsu."Mà thật vậy, Đức Giêsu xem ra cũng rất đòi hỏi, và khi Ngài đòi hỏi thì chỉ cần tặng Ngài một nụ cười tươi thì cũng đẹp lắm rồi". Ta phải nhớ, Giêsu là em bé, là người không có gì, là người bị bỏ rơi, là người sống bên lề. Hãy nở nụ cười với Giêsu. Đó là giọt nước giữa đại dương, nhưng thiếu nó, đại dương thiếu một giọt nước.
Đường lối của mẹ rất đơn giản: Bắt đầu ngay đi. Từng việc một. Việc này rồi tới việc kia. Bắt đầu từ gia đình, nói một lời dễ thương với con cái, với chồng, với vợ. Bắt đầu giúp đỡ một người trong cộng đoàn. Bắt đầu làm bất cứ việc gì, một việc gì đẹp cho Chúa. Làm việc đang làm với tâm hồn vui tươi. Người đang hấp hối dưới gầm cầu là chính Chúa Giêsu ẩn hình. Mỗi lần gặp Chúa Giêsu, hãy mỉm cười với Ngài. Mẹ đã từng nói với các chị dòng: "Nếu chúng con không muốn mỉm cười với Chúa Giêsu, thì chỉ có cách gói đồ mà đi về thôi".
 
Hãy làm theo mẹ, và chúng ta sẽ không hoang mang hay ngạc nhiên khi Chúa báo tin ở “ngoài đường” hay lúc đã “về nhà.”
 

An-Phong Nguyễn Công Minh, ofm

-----------------------------

 

TN25-B134: Trở nên người cao quý.


Lm Inhaxiô Trần Ngà

 

Giá trị của một người tùy thuộc phẩm chất đạo đức của người ấy. Muốn tỏ ra mình là người có giá  TN25-B134


Giá trị của một người tùy thuộc phẩm chất đạo đức của người ấy.

Muốn tỏ ra mình là người có giá trị, hay nói khác đi, muốn tự khẳng định giá trị của mình là một nhu cầu hết sức quan trọng của con người và nhu cầu này được biểu hiện bằng nhiều hình thức trong cuộc sống.

Thời Chúa Giê-su, các vị kinh sư và các người biệt phái tự khẳng định mình bằng cách "đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi" (Mt 23, 5-7).

Ngay cả các môn đệ Chúa Giê-su cũng thường tranh luận với nhau xem ai trong họ là người lớn nhất. Điều nầy đã được ghi lại nhiều lần trong Tin mừng (Mc 9, 33-34; Lc 9, 46; Mt 18,1; Lc 22, 24).

Có lần, hai môn đệ Gioan và Giacôbê cùng với mẹ mình đến xin Chúa Giê-su cho ngồi bên tả bên hữu Chúa khi đến thời Ngài được hiển vinh. Bấy giờ, mười môn đệ kia tỏ ra bất bình với Gioan và Giacôbê vì anh em nhà nầy muốn giành trước hai chiếc ghế mà họ đang mơ ước (Mt 20, 20-24; Mc 10, 35-37).

Khát vọng của con người là thế đó. Ai cũng muốn nổi bật, ai cũng muốn vươn cao; không ai muốn bị lu mờ. Nói chung, ai cũng muốn làm gia tăng giá trị của mình.
 
Đây là một khao khát tự nhiên. Chính Thiên Chúa đã đặt vào tâm hồn con người khát vọng đó để thúc đẩy họ vươn lên thành những người cao cả. Chúa Giê-su cũng kêu gọi các môn đệ vươn tới đỉnh trọn lành: "Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5, 48).
           
Làm thế nào để trở thành người cao cả thật sự?


Có người cố làm tăng giá trị của mình bằng cách trang điểm và chưng diện. Tuy nhiên, người ta không thật sự trở nên cao cả nhờ nhan sắc, vì "tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người."

Có người tìm cách làm gia tăng giá trị của mình bằng cách sở hữu thật nhiều vàng bạc của cải, nhưng thực ra, "giá trị con người không hệ tại những gì người ta sở hữu."

Có người trau dồi và phát huy tài năng cho người ta nể phục, hoặc cố giành những địa vị cao trong xã hội để nâng giá trị mình lên.  

Còn Chúa Giê-su, nhân cơ hội các môn đệ tranh cãi sôi nổi ai là người lớn nhất, Ngài chỉ cho họ một cách để trở thành cao cả thực sự. Đó là "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người" (Mc 9,35).

Lời dạy của Chúa Giê-su xem ra trái nghịch với suy nghĩ của người đời. Thông thường, muốn làm lớn thì phải tôn mình lên để thống trị người khác; đằng nầy Chúa Giê-su dạy phải hạ mình xuống làm tôi tớ hầu hạ mọi người. Thật thế ư?
           
Ngày 5 tháng 9 năm 1997, cả thế giới xúc động, thương tiếc và bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu xa khi hay tin Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu già nua, thấp bé, nghèo nàn, không có nhan sắc… qua đời tại Calcutta, Ấn-độ ở tuổi 87. Nhà Nước Ấn-độ, một quốc gia phần đông theo Ấn-độ-giáo, đã long trọng tổ chức quốc táng cho Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu công giáo khiêm tốn bình dị, người gốc An-ba-ni! Hơn triệu người dân Ấn-độ tuôn ra đường để tiễn đưa Mẹ Tê-rê-xa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Thật là điều không tưởng tượng nổi.


Tại sao Mẹ Tê-rê-xa lại được vinh dự lớn lao như thế?

Vì Mẹ đã thực hành đến mức hoàn hảo điều mà Chúa Giê-su truyền dạy cho các môn đệ trong Tin mừng hôm nay. Đó là hạ mình làm tôi tớ hầu hạ phục dịch những con người khốn khổ nhất thế gian với lòng yêu thương vô hạn.
 
Cuộc đời của Mẹ Tê-rê-xa Calcutta là một bằng chứng hùng hồn cho thấy rằng giáo huấn của Chúa Giê-su là xác đáng: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người" (Mc 9,35).


Như thế, phục vụ trong yêu thương và khiêm hạ chính là con đường đưa tới vinh quang.
 
Lạy Chúa Giê-su,


Xin cho chúng con tỉnh táo nhận ra rằng giá trị con người không tuỳ thuộc vào những thứ “phụ tùng” mà người ta khoác vào thân như các loại y phục hợp thời trang hay các đồ trang sức xa hoa, đắt giá; giá trị con người cũng không tuỳ thuộc vào của cải, bạc vàng châu báu hay địa vị công danh… nhưng cốt yếu là tuỳ vào đức hạnh, vào phẩm chất cao đẹp của mỗi người.

Xin dạy chúng con biết làm gia tăng giá trị bản thân bằng cách hiến thân hy sinh phục vụ mọi người như Chúa đã nêu gương.
 
Linh mục Inhaxiô Trần Ngà


-----------------------------

 

TN25-B135: Chú giải của Noel Quesson.

 

Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho TN25-B135


Đức Giêsu và các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Nhưng Đức Giêsu không muốn cho ai biết.

Một lần nữa, chúng ta lặp lại đề tài Chúa muốn ẩn thân. Đức Giêsu không được người ta hiểu, bị đám đông dân chúng bỏ rơi, bây giờ hoàn toàn chỉ chăm lo cách riêng vào việc đào tạo một số môn đệ của Người.

Phát xuất từ những vùng miền Bắc đi về miền Xêxarê Phi-líp-phê, ở nguồn sông Giođan, Đức Giêsu tiến gần về Giê-ru-sa-lem. Người băng qua xứ Galilê mà ở đó cách đây vài tháng Người đã rất thành công, nhưng một sự thành công không rõ rệt. Lần này Người không tìm dịp nói chuyện trước công chúng. Người chỉ nói với các tông đồ, là mầm mống của cộng đoàn Kitô hữu tương lai và những gì Người sắp nói với họ, là chính những luật lệ giúp họ sống trong cộng đoàn Giáo Hội.

Vì Người đang dạy các môn đệ rằng: "Con người sẽ bị nộp vào tay người đời".

Trong khi Đức Giêsu không muốn người ta dùng tước vị "Con Thiên Chúa". Người luôn đúng, nhất là trong giai đoạn thứ hai đời sống tác vụ của Người, tước vị "Con Người". Ngược lại những gì thoạt tiên chúng ta có thể nghĩ, đây không phải là việc nhấn mạnh đến nhân tính của Đức Giêsu. Thực tế, những Kitô hữu đầu tiên, phát xuất từ đạo Do Thái đã gán cho tước vị này một ý nghĩa sâu đậm: Đối với họ, tước vị này ám chỉ Đấng Mêsia do ngôn sứ Đanien đã báo trước (7,13-14). "Con Người" này có nguồn cội từ trời, Người từ trên mây trời mà xuống... Người đến nhân danh Thiên Chúa để hoàn tất công trình của Chúa.

Chúng ta thấy cách nói của Đức Giêsu muốn điều chỉnh lại ý niệm mà các tông đồ đã có về Đấng Mêsia. "Con Người Thần Thánh" từ trên mây trời hiện đến cách vinh quang mà các bạn đang mơ ước, thì Đấng đó sẽ bị giao nộp không chút tự vệ "vào tay loài người". Các bạn chớ nhầm lẫn Đấng Mêsia, chớ nhầm lẫn Thiên Chúa! Đức Giêsu thực sự do Thiên Chúa mà đến, nhưng không phải là Đấng mà loài người thường tưởng nghĩ.

Bị giao nộp.

Một Thiên Chúa 'bị giao nộp', một Thiên Chúa được 'tăng ban', một Thiên Chúa 'Tình yêu' chứ không phải một Thiên Chúa toàn năng, toàn quyền. Chúng ta tin không phải ở một Thiên Chúa toàn năng, nhưng là một Người Cha Toàn Năng, tin ở Đấng đã trao hiến hết mình, Đấng đã giao nộp mình vì chúng ta, mà Thập giá của Đức Giêsu là "mạc khải" rõ ràng và dứt khoát.

Cụm từ "bị giao nộp vì chúng ta" là những từ chủ yếu trong khoa thần học ban sơ. "Bị giao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính" (Rm 4,25).

"Người đã không tha chính con của Người, mà đã giao nộp cho tất cả chúng ta" (Rm 8,32).

"Người đã thương yêu và thí mạng vì tôi" (Gl 2,20).

"Anh em hãy sống trong tình bác ái như Chúa Kitô đã thương yêu chúng ta và đã nộp mình" (Ep 5,2).

"Chúa đã giao nộp Người vì tội của chúng ta" (Is 53,2).

Chứng từ này được nhắc lại cho chúng ta mỗi khi cử hành Thánh Thể; "Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con".

Họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau, Người sẽ sống lại.

Kể từ lúc Thánh Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêxarê Phi-líp-phê, thì đây là việc loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó. Toàn thể Tin Mừng của Maccô dẫn đưa chúng ta đến chóp đỉnh này: Sự tử nạn và Phục sinh. Đó là trọng tâm kinh Tin kính của chúng ta: Hai biến cố lịch sử. Đây thật là tiểu sử lạ lùng của một con người. Không phải sự sống của Người là quan trọng mà là "cái chết" của Người và việc Người "sống mãi". Chúng ta không thể không lưu ý con người đó luôn luôn báo trước, cùng một lúc và một cách bình tĩnh rằng, Người sẽ "sống lại" sau khi chết. Đó cũng như Người coi cuộc sống thứ nhất của Người ở Palestine thời đó, không phải là cuộc sống quan trọng nhất.

Ngày nay, chúng ta có thực sự tin rằng Đức Giêsu vẫn đang sống không?

Mầu nhiệm Phục sinh là cốt yếu của Đức tin chúng ta. Và đó là đặc quyền duy nhất và căn cốt của Đức Giêsu. Không có một vĩ nhân nào khác dám tự phụ giải phóng được con người, khỏi định mệnh cuối cùng, là cái chết. Cả Đức Phật và Mahômét hay bất cứ một chủ thuyết nhân bản nào khác, cũng không đưa ra được một giải pháp trước thái độ lo âu lớn lao của con người luôn biết mình sẽ phải chết. Chỉ có Đức Giêsu, một cách bình tĩnh và chân thành đã dám nói: "Họ sẽ giết Tôi, nhưng Tôi sẽ sống lại".

Đó là ánh sáng chủ yếu Chúa đã soi chiếu trên cái chết: Đức Giêsu biết rằng đó không phải là chấm dứt tất cả. Người biết những gì đang chờ đợi Người. Khi trải qua giây phút bi thảm của "hơi thở cuối cùng", Đức Giêsu biết rằng Người không rơi vào hố đen của hư vô, nhưng vào vòng tay của Chúa Cha. Và điều đó đã dệt nên bài ca hy vọng của người Kitô hữu trong nghi thức từ biệt cuối cùng với người chết: "Chúa Cha đợi bạn, và cánh tay của Thiên Chúa sẽ mở ra đón bạn".

Chúng ta cứ tin chắc rằng cái chết là như vậy không? Đây là sứ điệp của mọi người tử vì đạo. Đó là niềm tin vững chắc của những tín hữu đích thực. Nhưng các môn đệ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Chúa. Tin Mừng không hề tô vẽ cho các tông đồ. Đó cũng là những con người đáng thương như chúng ta. Thánh Maccô không những nhấn mạnh đến trí óc trì trệ, nông cạn, hẹp hòi của các ông. "Họ không hiểu"(Mc 6,52; 8,17; 8,21; 9,32). Do đó nhóm Mười Hai là một tiêu biểu cho những con người thông thường, trung bình. Người ta tự hỏi làm sao Giáo Hội và suốt dòng lịch sử vĩ đại của Giáo Hội, lại phát sinh từ những tưởng tượng và dự án của các tông đồ được. Quả thực các ông đã được một biến cố thay đổi. Các ông đã được nâng lên cao khỏi chính mình, và được một sức mạnh mới bao bọc. Và luôn diễn ra như thế đối với Giáo Hội.

Nếu chỉ là một Giáo Hội của loài người, thì Giáo Hội đã bị tiêu diệt từ lâu bởi những khiếm khuyết và tội lỗi của các nhà lãnh đạo và thành phần của Giáo Hội. Nhưng chúng ta có nên xét đoán Giáo Hội đơn thuần theo quan điểm của con người không?

Trong lúc này, các tông đồ đã sợ Đức Giêsu và họ giữ một thứ im lặng đến khó chịu "họ đã sợ không dám hỏi Chúa".

Đức Giêsu và các môn đệ đến thành phố Caphácnaum. Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: "Dọc đường, anh em đã tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?". Các ông làm thinh.

Các ông chưa nói được lời nào. Các ông giữ im lặng trước câu hỏi của Chúa. Sự "lúng túng" giữa họ trở nên nặng nề như trong một nhóm mà người ta không còn đồng ý với nhau nữa.

Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau về chuyện ai là người lớn hơn cả.

Thật là hoàn toàn bất đồng ý kiến với Thầy của họ!

Chúa thì nghĩ đến cái chết của mình, khiến Người "giao nộp" mạng sống. Còn các ông thì chỉ nghĩ đến những "địa vị cao". Các ông vẫn một mực bám vào quan niệm sai lầm về Đấng Mêsia, và về Thiên Chúa. Các ông vẫn tiếp tục mong chờ một "biến cố vẻ vang", chứng tỏ quyền năng của Đấng Mêsia, một vương quốc trần gian, mà các ông đã tranh luận xem ai là "thủ tướng" khi Chúa và các ông thắng thế.

Nhưng xin các bạn đừng quá nghiêm khắc xét đoán việc các Ngài không hiểu vai trò của Chúa Giêsu. Mặc dù đã được soi dẫn với ánh sáng Phục sinh, ngày nay, chúng ta có thể nói rằng mình chấp nhận sự vắng mặt hiển nhiên của Thiên Chúa, sự im lặng của Người, sự thất bại của Thập giá không? Chúng ta không tiếp tục xin Chúa can thiệp để chiến thắng sao?

Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi mười hai môn đệ lại mà nói: "Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm tôi tớ mọi người".

Trong cuộc thương khó mà Chúa vừa loan báo, Chúa Giêsu đã tự hạ thành "kẻ sau rốt và là "đầy tớ" của mọi người. Thực sự, Thiên Chúa là như thế. Tại sao lời khẳng định này lại có vẻ như một cậu phạm thượng đối với một số người? Đúng ra, Thiên Chúa là Đấng trên hết, cao cả nhất, nhưng Chúa cũng là "Người đứng đầu trong phục vụ", Người đứng đầu trong tình yêu.

Các con gọi Ta là Thầy, là Chúa và điều đó phải lắm, vì Ta đúng là như thế, thế mà Ta đã rửa chân cho các con, như một người đầy tớ" (Ga 13,13). Thiên Chúa thực sự là Đấng Toàn Năng, nhưng là Toàn Năng để "phục vụ đến cùng". "Ta ở giữa các con như một người phục vụ" (Lc 22,27). "Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng làm giá cứu chuộc muôn người" (Mc 10,42-45).

Trong xã hội và tập thể con người (và cũng là luật tự nhiên trong thế giới động vật), người ta thường tìm kiếm sức mạnh, sự kính nể, uy tín, danh dự và quyền lợi. Đức Giêsu lật đổ nhào tận gốc rễ thứ trật tự này: Người "thứ nhất" trở thành "người sau rốt", "ông chủ" trở nên "đầy tớ". Chắc chắn Đức Giêsu đã nói một cách có vẻ khiêu khích và cách mạng.

Nhưng một lần nữa, đó không phải là để làm một cuộc "cách mạng" nghĩa là thay đổi "chữ" mà thôi! ở đây, nhằm đưa ra giải pháp thực sự cho nội tâm con người, giúp chế ngự xu hướng tranh đấu không ngừng giữa loài người, để thống trị để đoạt giầu sang, quyền thế, bằng cách đè bẹp người khác.

Người dắt một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: "Ai đón tiếp một em nhỏ như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy".

Trong những tập thể chúng ta sống, trong lòng chúng ta và trên thế giới, bạo lực không ngớt gia tăng. Trong cơn thủy triều đen tối đang dâng lên như thế, Đức Giêsu đề nghị cách tượng trưng sự yếu đuối của đứa trẻ như một lý tưởng. Đứa trẻ là sinh vật nhỏ bé trong xã hội, ít được kính nể, và người ta gạt bỏ nó dễ dàng, kể cả bằng cách tội lỗi mà lại hợp pháp. Đứa trẻ đúng là kẻ "nghèo hèn", không tự vệ được, "bị giao nộp" cho những kẻ mạnh mẽ quyền thế hơn nó. Nhưng Chúa lật ngược những tiêu chuẩn xã hội về quan niệm ngôi thứ: Người ta nói, kẻ sau rốt là kẻ đứng đầu. Bây giờ Người nói tiếp, dưới mắt Thiên Chúa kẻ nhỏ bé lại là người lớn nhất. Đức Giêsu đặt đứa trẻ ở giữa cộng đoàn Kitô hữu.

Tôi dành ít thời giờ để niệm tưởng hình ảnh Đức Giêsu đang vuốt ve và ôm ấp đứa bé này. Sự cao cả của Kitô hữu được đo nghiệm theo phẩm chất của việc phục vụ những người "thấp hèn" nhất, những kẻ kém may mắn nhất. Chúng ta sẽ bị xét đoán theo tiêu chuẩn đó (Mt (25,31). Vả lại, đây không phải là một sự "nô lệ", vì chúng ta phục vụ Đức Giêsu khi chúng ta phục vụ những kẻ thấp hèn. Và qua Đức Giêsu, chúng ta phục vụ chính "Đấng" đã tạo nên thế gian và đã trao ban Con Một của Người.

-----------------------------

 

TN25-B136: Người phục vụ là ai? _ Lm Giuse Nguyễn Văn Tuyên

 

Thời xã hội nguyên thủy, con người sống theo kiểu “bầy đàn”, con người ta đối xử với nhau thật TN25-B136


Thời xã hội nguyên thủy, con người sống theo kiểu “bầy đàn”, con người ta đối xử với nhau thật tàn nhẫn. Người ta tranh giành thực phẩm. Người ta tranh chấp đất đai. Tất cả đều theo quy luật cạnh tranh sinh tồn, theo kiểu: mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.

Khi con người đã biết tổ chức thành xã hội, sự cạnh tranh được định chế hóa trong giai cấp, quyền chức. Người có quyền có chức bao giờ cũng được lợi. Người dân đen thấp cổ bé miệng bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi. Người nghèo không được có tiếng nói, như người ta vẫn ví von: “Miệng kẻ sang có gang có thép”; “Nhà giàu trồng lau ra mía. Nhà khó trồng củ tía ra củ nâu”… Chính vì thế, ai cũng cố gắng vượt lên trên người khác hoặc bằng tiền bạc hoặc bằng chức quyền. Ai cũng muốn làm người đứng đầu. Ai cũng muốn làm lớn. Vì thế luôn luôn có sự cạnh tranh ngôi thứ. Trong cuộc cạnh tranh, người ta nhìn nhau như đối thủ cần phải chà đạp, cần phải loại trừ.

“Người phục vụ” theo quan niệm của Tin Mừng

Mặc dù đã theo Chúa nhiều năm, thế nhưng chính các Tông Đồ cũng không hiểu hết ý nghĩa của hai chữ “phục vụ”. Khi Đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn thì các ông tỏ ra “không hiểu gì” (x.Mc 9,32), trong khi, dọc đường các ông lại tranh luận với nhau xem “Ai là người lớn nhất” (x.Mc 9, 34).

Nhân vì việc các Tông Đồ tranh luận về việc ai làm lớn, ai làm bé, Đức Giêsu mới đưa ra một bài học cho các ông. "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người" (Mc 9,35). Kết luận của Đức Giêsu xem ra trái ngược hoàn toàn với cách nghĩ, cách hiểu của những người đương thời. Đang khi những kinh sư, biệt phái, tức là những người lãnh đạo tôn giáo Do thái muốn được “ngồi chỗ nhất trong đám tiệc, ngồi ghế đầu trong hội đường, muốn được người ta chào hỏi nơi phố chợ…” thì Đức Giêsu lại yêu cầu, nếu muốn làm lớn thì hãy phục vụ người khác.

Với lời dạy dỗ ấy, Đức Giêsu đã mở ra một cuộc cách mạng về ngôi thứ trong xã hội. Trong cuộc cách mạng này, người ta không còn nhìn nhau như những đối thủ cần phải loại trừ trong cuộc cạnh tranh, nhưng là nhìn nhau như những người anh em phải yêu thương nâng đỡ. Sẽ không còn tranh giành. Sẽ không còn xâu xé, chà đạp nhau. Sẽ chỉ có yêu thương. Sẽ chỉ có quan tâm nâng đỡ. Người mạnh sẽ quan tâm dắt dìu người yếu. Người lớn sẽ cúi xuống bồng bế người bé. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể.

Đức Giêsu là mẫu gương phục vụ

Để làm gương cho ta, chính Đức Giêsu đã tự hạ mình trước, như lời trong bài Thánh Ca Philipphê 2,6-11: Mặc dù là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Là Đấng cầm quyền, nhưng Người đã tự nguyện vâng lời. Là Thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là người lãnh đạo, nhưng Đức Giêsu không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi, trái lại Người sẵn sàng hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại.

Người đã hóa thân làm một con người bé nhỏ, nghèo túng, hèn yếu nhất. Để từ nay, ai đón tiếp một người bé nhỏ nhất là đón tiếp chính Người. Ai giúp đỡ một người yếu hèn nhất là giúp đỡ chính Người. Ai yêu mến một người nghèo túng nhất là yêu mến chính Người.

Với sự hạ mình của Người, số phận con người từ nay thay đổi tận gốc rễ. Như lời thánh Giáo phụ đã nói: “Thiên Chúa đã làm người để con người được làm Chúa”. Trong vương quốc của Người, người bé nhỏ trở thành đối tượng được quan tâm phục vụ. Người yếu đuối được nâng niu chăm sóc. Người nghèo hèn được kính trọng yêu thương. Vì họ đã trở thành hình ảnh của chính Thiên Chúa.

Lời Chúa dạy các môn đệ của Ngài hôm nay, thiết tưởng cũng là lời Ngài nhắc bảo mỗi chúng ta. Có thể nhiều người thắc mắc, tại sao các môn đệ lại bon chen thế nhỉ? Đi với Chúa rồi mà vẫn còn tranh giành nhau! Thế nhưng ngẫm lại, cái tính ganh đua, kèn cựa, vẫn tồn tại đâu đó ngay trong gia đình, trong giáo xứ, giáo họ của chúng ta.

Theo văn hóa Á Đông, trong gia đình, người chồng được gọi là “người gia trưởng” tức là người trưởng của gia đình, là trụ cột, là chỗ dựa cho vợ và các con. Thế nhưng, không ít đức ông chồng đã lợi dụng vào điều đó để lên mặt kẻ cả, đánh vợ mắng con. Thay vì là trưởng của gia đình thì lại mang óc gia trưởng: hống hách, độc đoán…

Cũng vậy, trên chính trường, người ta tìm đủ mọi thủ đoạn để làm sao có được vị trí cao nhất, đến mức đánh mất hết nhân phẩm. Ban đầu là dụ dỗ, mua chuộc, rồi đến chà đạp lên đối phương, thậm chí thủ tiêu đối phương để vươn lên, để đạt cho được vị trí mà họ đang mong đợi.

Quyền bính, thay vì để phục vụ  thì họ lại tự cho mình cái quyền “hành” dân. Có những vị ngang nhiên phát biểu: Vị trí này tôi phải bỏ ra bao nhiêu tiền mời có được, nên khi có được rồi, tôi phải vơ vét để “bù” lại cũng là điều hợp lý thôi.

Đã một thời, người ta đưa ra khẩu hiệu “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân” như một lý tưởng, cũng như một phương châm phải thực thi. Thế nhưng, tiếc thay, trên thực tế thì: Ông chủ (nhân dân) cuộc sống lầm than - đầy tớ vẫn sung túc. “Ông chủ” phải lao động đầu tắt mặt tối, suốt ngày quần quật, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời – “đầy tớ” ngồi mát ăn bát vàng. “Ông chủ”giãi năng dầm mưa – “Đầy tớ” ngồi xe hơi hạng sang, đi khách sạn nhà hàng… Dần dà, câu khẩu hiệu “Mình vì mọi người” được thay bằng “Mọi người vì mình”.

Tuy nhiên, cũng như dân làng Vũ Đại nghĩ rằng, anh Chí Phèo anh có chửi cả cái làng này, chắc trừ tôi ra. Lời Chúa kết án thái độ kiêu căng, hách dịch là kết án ai đó trong giáo xứ, ngoài xã hội, chứ đâu phải tôi!

Vậy, muốn thay đổi, thiết tưởng, chúng ta phải thành thật nhìn nhận lại chính mình. Con đường tự hạ, làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất trước mặt Chúa. Chính Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài đã làm người rốt hết, làm người tôi tớ mọi người, đem chính mạng sống của Ngài mà phục vụ mọi người. “Ngài đã vâng phục đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá, chính vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài là “Đức Chúa” (x.Pl 2,5-11). Chỉ ai đi con đường đó với Ngài sẽ được Ngài đưa tới vinh quang với Ngài. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B137: Phục vụ trong khiêm tốn


(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

 

Khi Chân Phước Mẹ Têrêxa Calcutta đoạt giải Nobel hòa bình, ai ai cũng chạy đến chúc mừng. Có TN25-B137


Khi Chân Phước Mẹ Têrêxa Calcutta đoạt giải Nobel hòa bình, ai ai cũng chạy đến chúc mừng. Có một nhà báo đến phỏng vấn Mẹ. Ông ta hỏi rằng: “Bây giờ Mẹ đã có đầy đủ tiền bạc, danh dự, Mẹ muốn làm gì nữa không? Mẹ trả lời: I am a little pencil in my God, tôi chỉ là cây bút chì nhỏ bé trong tay Thiên Chúa”. Vâng, ở đời có ít người như Mẹ Têrêxa Calcutta, người ta thường nói “được voi đòi tiên”, cho nên một khi đã thành đạt, thì tỏ ra người có chức, tỏ vẻ uy quyền, khoe danh, ăn trên ngồi trốc để người ta thấy mà “lé mắt, kính nể”. Vì thế người đời thường tranh dành, chiến tranh, ganh đua… để có được những thứ đó. Nói đâu xa, thánh Giacôbê trong bài đọc hai nói rằng: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau” (Gc 4,1-2).

Bài Tin Mừng thuật lại các môn đệ của Chúa Giêsu cãi nhau chí chóe vì tranh dành địa vị, quyền lợi và muốn làm lớn đến nỗi chẳng màn chi đến lời mời gọi của Chúa Giêsu: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?” (Mc 8,34-36). Con đường thập giá đó chính là khiêm nhường phục vụ trong yêu thương, quên mình, coi mình không là gì hết. Chân Phước Mẹ Têrêxa Calculta làm nhiều điều đến nỗi cả thế giới nghiên mình kính phục ấy thế mà Mẹ chỉ coi mình là cây bút chì nhỏ bé, tức là loại cây bút các em, hay các ông thợ mộc dùng hết còn có chút chun, bỏ đi cũng chẳng tiếc!

Chính Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Chúa đã khiêm tốn tự hạ mình trước. Là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự nguyện trở nên người phàm. Là Đấng cầm quyền, nhưng Người đã tự nguyện vâng lời. Là thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là người lãnh đạo, nhưng Đức Giêsu không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi, trái lại Người sẵn sàng hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại. Vì vậy, “Người để lại mẫu gương cho chúng ta dõi bước theo, vì Người không hề phạm tội, chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà không hề ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công minh” (1Pr 2,21-23).

Ở đời này, ai ai cũng có cao vọng làm lớn, muốn có uy quyền, có tiền… điều đó không sai trái, nhưng chúng ta có được những thứ đó không phải bằng những hành vi giang hồ mà bằng nỗ lực chân chính của mình. Và khi ta có chúng, chúng ta sử dụng chúng đúng với mục tiêu xứng hợp với nhân phẩm của mình, đúng với luật tự nhiên và luật Chúa. Đừng vì chúng mà tranh cãi nhau, xâu xé nhau, đối xử với nhau một cách bất công và tàn nhẫn. Chúa Giêsu không hủy bỏ cao vọng của con người nhưng khẳng định rằng cao vọng không phải là thống trị, đàn áp người khác nhưng là hạ mình phục vụ Chúa và tha nhân. Cho nên, trong bài đọc 2, Thánh Giacôbê dạy: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình” (Gc 3,16-17).

Chúa Giêsu hôm nay dạy người lớn nhất, người đứng đầu không phải là người dùng quyền để lãnh đạo chỉ huy từ trên cao, nhưng là người đến trước mọi người và về sau mọi người, để phục vụ. Vì thế, khi phục vụ vô vị lợi, tôi được thực sự lớn lên trước mặt Thiên Chúa, trước mặt anh em. Thế giới hôm nay rất cần những người muốn đứng đầu theo kiểu Đức Giêsu, nghĩa là trong phục vụ khiêm hạ. Cho nên, trong Thư Mục Vụ gửi cộng đồng dân Chúa năm Tân Phúc Âm Hóa Đời Sống Các Giáo Xứ và Các Cộng Đoàn Sống Đời Thánh Hiến, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mời gọi mọi thành phần trong giáo xứ hay cộng đoàn “Hãy luôn luôn hiệp thông với nhau. Sự hiệp thông trong cộng đoàn được thể hiện qua sự tôn trọng, cộng tác và chia sẻ. Thật vậy, trên nền tảng bí tích Rửa Tội, mọi tín hữu đều bình đẳng với nhau về phẩm giá, cho nên phải tôn trọng lẫn nhau, tránh mọi hình thức phân biệt đối xử. Đồng thời phải cộng tác và chia sẻ với nhau để cùng xây dựng ngôi nhà chung là giáo xứ và thi hành sứ mạng chung là loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Các thành viên Hội đồng Giáo xứ là những cộng sự viên gần gũi của các linh mục trong việc điều hành giáo xứ, vì thế các vị cần hiểu biết về trách nhiệm và quyền hạn của mình, và cộng tác với các linh mục trong tinh thần phục vụ để mang lại kết quả tốt đẹp nhất cho giáo xứ. Tình hiệp thông đó còn được mở rộng ra bên ngoài qua việc cộng tác với mọi người thiện chí để thực hiện những việc đem lại phúc lợi chung” (số 4).

Ước gì, Lời Chúa dạy cung cách sống làm người và làm con Chúa hôm nay, xin cho chúng ta biết quyết tâm sống phục vụ Chúa và tha nhân hết tình, hết mình trong khiêm tốn. Đồng thời biết nhìn ra và dứt bỏ tội ganh ghét, tự cao tự đại để luôn thanh thản, bình an và chan hòa sống với mọi người. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B138: NGƯỜI MÔN ĐỆ MẪU


Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật XXV, Thường Niên, Năm B

 

Người môn đệ của Đức Giêsu cần có niềm xác tín nền tảng: “Ở đâu có  yêu thương, ở đó có TN25-B138


TMĐP- Người môn đệ của Đức Giêsu cần có niềm xác tín nền tảng: “Ở đâu có  yêu thương, ở đó có Thiên Chúa”. Và với người môn đệ thì chỉ một mình Đức Giêsu là Đấng họ đi tìm, và “vinh quang của Đức Giêsu” là vinh quang duy nhất suốt đời.

Trên đường đi theo Đức Giêsu, rất nhiều lần chúng ta đã trao đổi, bàn bạc với nhau về hình ảnh của người môn đệ lý tưởng và nhiều hình mẫu lý tưởng đã được vẽ lên.

Việc làm này  nhóm môn đệ của Đức Giêsu ngày xưa đã làm, và Tin Mùng Máccô hôm nay tiết lộ cho chúng ta: các ông đã nói với nhau những gì ?

Các ông đã không chỉ nói với nhau,  hay bàn bạc với nhau, nhưng còn to tiếng, sừng cồ “ cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả ” (Mc 9,34), điều mà người ở ngoài Nhóm không thể  ngờ và không thể hiểu nổi.

Người không thuộc về nhóm môn đệ Đức Giêsu không thể ngờ, vì họ thấy Đức Giêsu nhân hậu, chỉ rao giảng giới luật Tình Yêu, dạy dỗ mọi người sống nghèo khó, hiền lành, trong sạch, yêu chuộng hoà bình,  khiêm  hạ, nhịn nhục và có lòng xót thương (x. Mt 5,2-12), nhưng sao các môn đệ của Ngài lại ham hố vinh quang, tranh chấp chức quyền, địa vị và bất hoà, hiềm khích vì những hư danh. Người không thuộc hàng ngũ những người đi theo Đức Giêsu cũng không thể hiểu, khi thấy nhiều môn đệ của Ngài không khá hơn ho, có khi còn tệ hơn nhiều người trong số họ, vì ganh ghét, tham vọng, ích kỷ, mưu mô thủ đọan.

Thực vậy, câu chuyện tình nguyện đầu quân đi theo Đức Giêsu để đuợc làm lớn, để đươc thiên hạ kính nể, trọng vọng, kể cả để vinh thân phì gia không chỉ là  chuyện cũ của các môn đệ Đức Giêsu, nhưng mãi  là câu chuyện thời sự đang xẩy ra “ở đây và lúc này”. Đó là câu chuyện được lặp đi lặp lại, mà người môn đệ chân chính  không ngừng phải chiến đấu với chính mình để không liều mình lầm đường lạc lối, không uổng phí một đời tận hiến, không phải sống một đời môn đệ gượng gạo, giả hình:

Để không lầm đường lạc lối khi đi tìm những điều thế gian say mê đua nhau đi tìm, vì con đường Đức Giêsu muốn người môn đệ phải đi, chính là con đường Ngài đã đi: đường lên Giêrusalem, ở đó, “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại” (Mc 9, 31). Đây là con đường “qua thập giá đến vinh quang”, con đường Thánh Giá đau thương, chết chóc để có buổi sáng phục sinh khải hoàn, bởi “nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu qúy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12, 24-25).

Để không uổng phí đời tận hiến, khi chân thì đi theo Đức Giêsu, tay thì phục vụ Hội Thánh, nhưng cái đầu thì chỉ mong tìm cho mình một vị thế, xây dựng riêng cho mình pháo đài quyền lực, ngai toà thống trị, vì kim chỉ nam của đời môn đệ là khiêm tốn phục vụ, như Đức Giêsu đã đến để phục vụ, bởi “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” (Mc 9, 35).

Để không phải sống một đời môn đệ gương gạo, giả hình, khi sống ngược Hiến Chương Nước Trời mà mình được mời gọi (x. Mt 5,1-12), sống trái lời hứa ban đầu khi chọn đi theo Đức Giêsu (x. Lc 9,23), vì tâm tình và thái độ của người môn đệ phải là tâm tình và thái độ Vâng Phục và Tín Thác của trẻ thơ đối với cha mình, như Đức Giêsu với Chúa Cha.

Thánh Giacôbê đã lý giải nguyên nhân gây ra nếp sống, và những thái độ cư xử không phù hợp ở người môn đệ khi viết: “Thật vậy, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3,16). Thánh Tông Đồ còn quảng diễn: “Quả thế, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng đuợc gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau” (Gc 4,3).

Xin Chúa ban cho chúng ta, những môn đệ của Đức Giêsu niềm xác tín nền tảng, đó là: “Ở đâu có  yêu thương, ở đó có Thiên Chúa”, và quyết tâm ở lại trong Đức Giêsu,  với Đức Giêsu mọi nơi mọi lúc, mà không tìm kiếm xa gần những gì không thuộc về Đức Giêsu, như lời Ngài cầu xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con trước khi thế gian được tạo tành” (Ga 17, 24).

Vâng, với người môn đệ, thì chỉ một mình Đức Giêsu là Đấng họ đi tìm, và “vinh quang của Đức Giêsu” là vinh quang duy nhất suốt đời họ chiêm ngưỡng, mà không bao giờ là “cái tôi” danh lợi thú, “cái mình” kiêu căng, quyền lực.

Jorathe Nắng Tím

-------------------

 

TN25-B139: Cuộc khổ nạn và tinh thần phục vụ


(Suy niệm của Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng)

Tin mừng Mc 9: 30-37: Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay mời gọi Kitô hữu cũng sống đời sống phục vụ, là cách thức thông phần vào cuộc Thương khó tử nạn của Chúa Giêsu.

 

Ơn cứu độ là ân huệ cao quý nhất mà Thiên Chúa ưu ái tặng ban cho nhân loại. Ngài tặng ban TN25-B139


Ơn cứu độ là ân huệ cao quý nhất mà Thiên Chúa ưu ái tặng ban cho nhân loại. Ngài tặng ban bằng chính sự hạ mình yêu thương phục vụ của Chúa Giêsu, Con Một Ngài. Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay mời gọi Kitô hữu cũng sống đời sống phục vụ, là cách thức thông phần vào cuộc Thương khó tử nạn của Chúa Giêsu.

I. KHÁM PHÁ SỨ ĐIỆP TIN MỪNG: Mc 9,30-37.

Bản văn Tin mừng Chúa nhật hôm nay bao gồm lời loan báo thứ hai về cuộc khổ nạn và phần đầu của một diễn từ kéo dài cho đến Mc 9,50, thâu tập các lời dạy của Chúa Giêsu về nhiều vấn đề từ tinh thần phục vụ, việc đón tiếp, sự hiệp nhất giữa những người cùng tin vào Chúa cho đến đời sống bác ái và làm gương sáng.

1. Lời loan báo thứ hai về cuộc khổ nạn: Lời loan báo này có điểm đặc biệt khác với lời loan báo đầu ở câu "bị nộp vào tay người ta". Thành ngữ "bị nộp" không xa lạ gì với Kinh thánh. Chúng ta bắt gặp từ ngữ này trong Thánh vịnh nói về nỗi khổ đau của người công chính kêu cầu được giải thoát khỏi tay kẻ bạo tàn (Tv 71,4 ; 140,5) ; trong Đaniel 7,25, nơi các Đấng Thánh của Chúa bị nộp vào tay vị Vua bách hại Antiôkô Êpiphan. Do đó, câu này mạc khải khía cạnh quan trọng của cuộc Thương khó và Tử nạn của Chúa Giêsu: Người thâu tóm và hoàn tất trọn vẹn mọi nỗi khổ đau của người công chính, sự bách hại các Tiên tri phải chịu và cái chết của các vị Tử đạo cùng với mọi nỗi khổ khác của đời người. Khi loan báo về cuộc khổ nạn như thế, Chúa Giêsu cho thấy cuộc khổ nạn của Người là biến cố trung tâm, đỉnh cao của công trình cứu độ.

2. Tinh thần phục vụ: Máccô trình bày khá độc đáo cuộc tranh luận của các môn đệ xem ai là người lớn nhất trong số họ. Cuộc tranh luận này có lẽ là dư âm của nhiều vấn đề trong cộng đoàn sơ khai về chức tước, địa vị của các Tông đồ (1Cr 1-4 ; Cv: Những đoạn về Phêrô và Gioan). Để giải quyết cuộc tranh luận này Chúa Giêsu không đề cập trực tiếp ai là người lớn nhất, nhưng Người khẳng định một chân lý, một nguyên tắc: "Ai muốn làm người lớn nhất thì tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người". Với Chúa Giêsu, sự lớn lao đích thực hê tại việc trở nên người tôi tớ phục vụ người khác. Mọi quyền bính đều nhắm mục đích phục vụ, nói cách khác, quyền bính chỉ có thể đến, danh vọng chỉ có thể có khi người ta biết tự hạ mình phục vụ anh chị em mình. Chính Chúa Giêsu đã thực hiện trọn hảo điều này và Người cũng đã khẳng định: Con Người đến để phục vụ chứ không phải để được người ta phục vụ.

3. Thái độ đón tiếp: Sự kiện Chúa Giêsu bồng một em bé đặt giữa các môn đệ và kêu gọi sự đón tiếp có lẽ không liền lạc với văn mạnh cũng như bối cảnh của đoạn trước. Dầu không liên lạc gì với phần trước nhưng cũng có giá trị mạc khải lớn lao. Sự lưu tâm của Chúa Giêsu đối với trẻ em là một nét đặc biệt nơi Người. Với xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, trẻ em không được coi trọng, chúng không đáng kể, không đáng được lưu tâm trước mắt người lớn. Nói chung trẻ em cũng như những người thu thuế, gái điếm… là đại diện của tầng lớp bị bỏ rơi, bị chà đạp, bị khinh miệt. Do đó, việc Chúa Giêsu tiếp nhận trẻ em và mời gọi các môn đệ cũng tiếp đón chúng, và xa hơn nữa Người khẳng định ai đón tiếp chúng là đón tiếp Người, đón tiếp chính Đấng đã sai Người là Chúa Cha, đó là một mạc khải về tình yêu của Thiên Chúa. Một tình yêu không thiên tư, thiên vị, một tình yêu nhưng không dành cho tất cả mọi người.

II. CHIÊM NGẮM CHÚA GIÊSU:

Tin mừng hôm nay tiếp tục phác họa chân dung Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ. Người cứu độ nhân loại bằng cuộc Thương khó, Tử nạn là trung tâm, là đỉnh cao công trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngay chính trong hành trình tiến tới cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu qua lời giảng dạy, qua tình yêu dành cho trẻ em, cho những người bị bỏ rơi và cho những người tội lỗi còn cho thấy: Người đến là để phục vụ nhân loại này. Phục vụ bằng tất cả tình yêu dâng hiến của mình. Theo Người cũng đòi hỏi phải mang lấy tinh thần khiêm nhu phục vụ. Vác thập giá mình theo Người được cụ thể hóa bằng đời sống hy sinh phục vụ anh chị em.

III. GỢI Ý BÀI GIẢNG:

1. Khổ nạn và phục vụ:

Tin mừng hôm nay cho thấy có sự liên kết chặt chẽ giữa cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và lời mời gọi trở nên tôi tớ phục vụ mọi người. Chúa Giêsu đã sống trọn hảo tinh thần tự hạ phục vụ này. Người là Chúa nhưng đã hạ mình làm người để chia sẻ mọi nỗi khốn cùng của kiếp người, đồng cam cộng khổ với mọi người qua hành trình rao giảng Tin mừng, yêu thương chữa lành bệnh nhân, xua trừ ma quỷ… Tất cả đều nhằm lợi ích cho tha nhân, phục vụ sự sống của mọi người. Đỉnh cao của tinh thần phục vụ nơi Người đó là sẵn sàng hiến thân chết để cho nhân loại được sống và sống dồi dào. Kitô hữu, môn đệ của Người cũng được mời gọi phải mang lấy tinh thần phục vụ của Người. Phải tự trở nên người đầy tớ phục vụ anh chị em mình. Đây chính là một nghịch lý cho đời Kitô hữu. Chấp nhận sống nghịch lý ấy đó chính là thái độ chấp nhận vác thập giá theo Thầy Chí Thánh của mình.

2. Quyền bính đến từ sự phục vụ:

Điều làm nên sự vĩ đại, tạo nên uy tín cho Giáo hội và cho mỗi Kitô hữu chính là đời sống phục vụ. Mọi quyền bính trong Giáo hội được trao ban chính là nhắm mục đích phục vụ, chứ không phải để thống trị. Lời Chúa Giêsu dạy: "Ai muốn làm người lớn nhất thì tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người" đã minh nhiên khẳng định phục vụ chính là con đường đưa tới danh vọng, uy quyền thực sự. Kitô hữu không đi tìm danh vọng, quyền chức trần thế, nhưng đi tìm con người và môi trường để phục vụ. Yêu thương, hy sinh, chia sẻ, bác ái, khoan dung, tha thứ… luôn là những việc phải làm của các Kitô hữu, những đầy tớ của anh chị em mình.

IV. LỜI CẦU CHUNG:

Mở đầu: Anh chị em thân mến. Chúa Giêsu được sai đến trần gian để phục vụ sự sống nhân loại chúng ta bằng con đường Thương khó, Tử nạn. Người đã dâng hiến chính mình để phục vụ chúng ta. Trong tâm tình cảm tạ, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

1. Giáo hội được mời gọi hãy trở nên rốt hết và làm đầy tớ mọi người. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần trong Giáo hội, đặc biệt các bậc chủ chăn luôn hết mình yêu thương hy sinh phục vụ dân Chúa và lợi ích của cộng đồng nhân loại.

2. "Dọc đàng các con tranh luận gì thế?" câu hỏi của Chúa dành cho các môn đệ ngày xưa cũng đang là câu hỏi cho con người và thế giới hôm nay. Ngày nay biết bao quốc gia, thế lực, con người đang muốn củng cố danh vị và quyền lực của mình bằng bạo lực chiến tranh, bằng sức mạnh đồng tiền và nhiều cách bất chính khác. Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia, những công bộc, đầy tớ của nhân dân biết quên mình phục vụ đời sống tự do, công bình và tình thương của dân nước.

3. "Ai đón tiếp một trong những trẻ nhỏ này là đón tiếp chính Thầy". Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta biết sống tinh thần phục vụ của Chúa Giêsu bằng lòng bao dung, yêu thương đón nhận giúp đỡ những anh chị em nghèo khổ, bất hạnh chung quanh.

Lời kết: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã đến trần gian để hy sinh phục vụ đến độ chấp nhận chết cho chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con, những môn đệ của Chúa cũng được như Chúa sống đời sống yêu thương phục vụ tha nhân, để xây dựng xã hội chúng con ngày càng có hòa bình, tự do và công lý. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

--------------------------

 

TN25-B140: Người làm lớn


MINH HỌA LỜI CHÚA

1. Ngưới lớn nhất

 

Tại một vùng hoang dã, những tên giang hồ sống chung trong một căn trại, có một phụ nữ ở TN25-B140


Tại một vùng hoang dã, những tên giang hồ sống chung trong một căn trại, có một phụ nữ ở với họ. Phụ nữ này đã gian díu với một tên trong nhóm đó và đã có thai. Đến ngày sinh, chị yếu nhược quá nên đã chết, để lại đứa con còn non nớt. Từ ngày có đứa trẻ trong căn trại, đời sống của đám giang hồ đã thay đổi hẳn. Họ bỏ đánh bạc rượu chè ban đêm để cho đứa bé ngủ yên. Họ không dám nói tục tằn thô lỗ trước mặt nó …

2. Đầy tớ phục vụ

Một tu sĩ lớn tuổi đã nhiều lần cầu xin Chúa hiện ra củng cố niềm tin cho ông. Nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra. Và trong lúc ông không còn hy vọng điều đó xảy đến cho ông thì ngày nọ Chúa đã hiện ra. Ông hết sức vui mừng tiếp rước Chúa, nhưng ngay lúc đó một hồi chuông vang lên, báo hiệu đến giờ phát chẩn cho kẻ nghèo. Hôm nay lại đến phiên ông phát chẩn cho họ.

Vị tu sĩ bị xâu xé giữa nhiệm vụ và cuộc diện kiến với Chúa. Nhưng ông đã can đảm ngưng cuộc diện kiến, mặc dầu ông vô cùng tiếc nuối, để đi phát chẩn cho người nghèo. Vừa làm xong nhiệm vụ, ông chạy nhanh về phòng, và ông không thể tin mắt mình, ông thấy Chúa còn ở lại chờ ông. Ông quỳ xuống cảm tạ Chúa, Chúa liền nói với ông, “Nếu con không đi phát chẩn cho người nghèo, Ta đã không ở lại chờ con.”

3. Bị bắt vì giúp người nghèo

Tại Baltimore ờ Hoa Kỳ, cảnh sát đã bắt giữ một thanh niên vì có hành động lạ thường. Anh đã nhận được ột gia tài kếch sù. Anh quyết định phân phát cho người nghèo, nên anh đi từ nhà này đến nhà khác hỏi, “Ông bà có túng thiếu không? Nếu tôi cho tiền ông bà, ông bà có hứa sẽ sử dụng tiền đó vì ích lợi cho ông bà không?” Và như thế, ai đồng ý thì người thanh niên này trao cho một số tiền. Cảnh sát bắt giữ anh vì hành động lạ thường này. Nhưng sau khi điều tra kỹ lưỡng, họ không thấy anh có hành động phạm pháp nào, vì trong nước không có điều luật nào cấm công dân lấy tiền của mình giúp đỡ kẻ khác.

4. Tuổi thơ là mẫu mực

Nhà thần bí học nổi tiếng của Ấn Độ là Ramah Chrisna thường kể câu chuyện như sau. Ở ngôi làng hẻo lánh thuộc bang Bengala, một quả phụ nghèo có đứa con trai thơ ngày ngày phải băng qua một khu rừng để đi học. Một hôm em nói với mẹ, “Mẹ ơi! Con không dám đi qua khu rừng một mình nữa. Mẹ tìm người đi với con.”

Người mẹ nhìn con ái ngại nói, “con ơi! Nhà mình nghèo, làm sao thuê được người đưa đón con. Con hãy nói với ông Chrisna là thần của khu rừng đó giúp đưa đón con.” Tin lời mẹ, mỗi ngày đi học, cậu bé kêu thần Chrisna đưa đi rước về. Ngày nọ, nhân ngày sinh nhật của thầy giáo, thấy các bạn lớp chuẩn bị mua sắm quà cáp cho thầy, cậu bé cũng xin tiền mẹ mua quà cho thầy, nhưng bà than thở, “Con ơi! Nhà mình nghèo, đâu có tiền mua quà cho thầy. Con cứ xin thần Chrisna giúp con.”

Và theo lời nó xin, thần Chrisna đã cho nó món quà. Nó đem trao cho thầy giáo. Ông thầy thấy món quà của nó đơn sơ quá, không muốn mở ra, nên trao cho người làm bếp. Đó là một gói sữa tươi. Người đầu bếp mở gói ra, đổ sữa vào chai. Nhưng lạ thay, anh đổ đầy chai nầy đến chai khác mà gói sữa vẫn còn nguyên vẹn. Thầy giáo nghe biết thế thì hỏi nguyên do, cậu bé bảo là của thần Chrisna. Không tin việc lạ đó, thầy giáo bảo cậu dẫn đến gặp Chrisna. Nó liền đưa thầy giáo và các bạn đến khu rừng. Nó kêu gọi mãi mà chẳng thấy thần nào. Nó khóc òa lên nài nỉ, “Thần Chrisna ơi! Nếu thần không đến thì mọi người cho là con nói dối.”

Và nó nghe có tiếng vọng lại, “Con ơi! Ta không thể đến được. Ngày nào thầy giáo con có niềm tin và trái tim đơn sơ như con, Ta mới đến.”

5. Người đàn bà nổi tiếng

Thế giới hiện đang chú ý đến một người đàn bà nổi tiếng nhất của thế kỷ, đó là mẹ Têrêsa Calcutta mới qua đời ngày 5 tháng 9 năm 1997. Toàn thể nhân loại nhất là những người cùng khổ đều thương tiếc khi nghe tin mẹ qua đời. Tại sao cả thế giới chú ý đến mẹ Têrêsa nhiều đến thế? Vì mẹ đã trọn đời hy sinh phục vụ người nghèo khổ, bệnh tật, đau khổ.

Năm 1937, nữ tu Têrêsa được cử làm giám đốc một trường trung học dành riêng cho học sinh giàu tại Calcutta. Nữ tu còn nhớ rõ lời căn dặn của người mẹ, “Con hãy nhớ, con được gởi đến Ấn độ là để phục vụ người nghèo.”

Trước cảnh đói khổ của dân chúng, trước cảnh đau xót của các bệnh nhân, những người phong cùi, và nhất là các trẻ em và những người già yếu lê lết ngoài đường phố, nữ tu Têrêsa không thể an tâm tiếp tục làm giám đốc, nhất là giám đốc của một trường dành riêng cho học sinh giàu.

Năm 1946, nữ tu Têrêsa đang ngồi trên chiếc xe lửa chật chội gần bên những người cùng khổ, chị nghe như có tiếng thì thầm trong lòng, “Con hãy phục vụ người nghèo bằng cách đến sống với họ và như họ.”

Đây là lần thứ hai nữ tu nghe tiếng gọi như thế. Xác tín đây là tiếng Chúa gọi, chị đã trình lên bề trên, và đúng một năm sau, chị được bề trên và Đức Giám mục địa phương cho phép ra khỏi dòng để đến sống với những người nghèo khổ.

Cởi chiếc áo dòng của các nữ tu, chị Têrêsa choàng vào chiếc áo Sari cổ truyền Ấn độ, giống như người nghèo, phục vụ người nghèo, chia sẻ cuộc sống của người nghèo. Chị thực sự trở nên người nghèo giữa những người nghèo, nhất là chị “nhìn thấy Chúa trong những người nghèo.” Năm 1974, mẹ trả lời cho một cuộc phỏng vấn, “Tôi thấy Chúa trong mỗi người. Khi tôi rửa các vết thương cho người cùi, tôi nghe như tôi rửa cho chính Chúa Giêsu.”

6. Tôn Ngộ Không.

Trong phim truyện Tây Du Ký, vai trò nổi bật nhất là Ngộ Không. Ngộ Không bá chủ loài khỉ, chưa đủ, anh còn học 78 phép biến hoá, rồi đi thống trị các lân bang. Vẫn chưa hài lòng, Ngộ còn đòi lên trời làm Tề Thiên Đại Thánh: Tề Thiên là bằng Trời. Đại Thánh là cao sang vĩ đại nhất. Ngọc Hoàng Thượng Đế biết Ngộ ngạo mạn quá trớn phong cho Ngộ làm mã quan. Ngộ hý hửng tưởng bở, nhưng khi bị sai đi chăn ngựa, Ngộ mới hiểu  mã quan là quan coi ngựa.  Ngộ bực tức vì ngu mà bị mắc bẫy. Ngộ giận dữ phá phách, bị đại tướng nhà trời đánh đuổi rơi xuống đất bị đè bẹp dưới tảng đá lớn suốt 500 năm để thấy mình bất lực mà ăn năn cải thiện.

Khi đã cải thiện, Ngộ được cứu thoát và gia nhập phục vụ đoàn  đi tìm chân lý.  Khi Ngộ Không bất mãn, bất phục lệnh, Ngộ lại bị cái vòng kim cô xiết vào đầu  làm Ngộ Không nhức óc kêu la thảm thiết.  Khi biết tuân lệnh quay về đường phục vụ, thì Ngộ được lành mạnh, tài giỏi. Nhờ biết đi vào con đường phục vụ như tôi tớ, Ngộ Không đã tìm được chân lý và hạnh phúc, và giúp cho cả đoàn tới được chân lý.

Phim truyện có hai màn đối nghịch nhau. Màn đầu: diễn tả cảnh tranh bá đồ vương khủng khiếp của Ngộ Không. Màn sau: diễn tả những việc phục vụ rất đắc lực của Ngộ Không.

(Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm B, tr. 182)

Trong bài Tin Mừng hôm nay, các môn đệ tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất. Chuyện này chẳng tốt đẹp gì. Nó chứng tỏ các  ông chưa học được bao nhiêu từ những giáo huấn của Đức Giêsu. Nó cho thấy các ông chả hiều gì về sứ mạng Đức Giêsu. Bởi đó,  Đức Giêsu gọi các ông lại và dạy cho họ biết ý nghĩa của việc làm lớn.

Đức Giêsu không huỷ bỏ cao vọng, nhưng Ngài định nghĩa nó lại cho đúng. Thay vị cao vọng thống trị người khác, Ngài dạy họ phục vụ người khác. Thay vì cao vọng muốn người khác hầu hạ mình, Ngài dạy họ biết hầu hạ người khác. Như thế điều Ngài lên án không phải là cao vọng mà là cao vọng sai.

7. Nghị viên Paedateros.

Người Hy lạp có một câu truyện về một người ở thành Spartes tên gọi Paedateros là một ứng củ viên. Người ta chọn và bầu ra ba trăm người để cai trị thành Spartes. Paedateros là một ứng cử viên. Khi danh sách những người trúng cử được công bố, không có tên ông. Một bạn thân của ông ta nói:

- Tiếc thật, người ta không bầu cho anh, thiên hạ không biết nếu bầu cho anh , anh sẽ là một chính khách lỗi lạc đến thế nào”?

Nhưng Paedateros thản nhiên đáp:

- Trái lại, tôi rất vui vì trong xứ Spartes này còn có ba trăm người có tài, có đức hơn tôi.

Đây là một người đã đi vào truyền thuyết vì sẵn sàng nhường cho kẻ khác ngôi vị hàng đầu mà không hề tỏ ra cay đắng.

Nhà văn hào R. Tagore cũng có một lý tưởng cao đẹp như thế khi ông nói: ”Khi tôi ngủ, tôi mơ rằng cuộc đời là niềm vui. Lúc thức dậy, tôi thấy rằng cuộc đời là phục vụ. Khi phục vụ, tôi thấy rằng phục vụ là niềm vui”.

8. Chân phước Charles de Foucauld.

Cha Charles de Foucauld,  biệt danh là người hùng sa mạc Sahara, trước đây là một viên thượng tá trong quân đội Pháp. Đã từng chỉ huy các đoàn kỵ binh anh dũng rong ruổi ngược xuôi trên lưng ngựa để phục vụ hoàng triều nước Pháp. Foucauld tưởng như vậy là thành công và oai hùng. Nhưng nắm trong tay những tấm huy chương chói lọi, và tai nghe tiếng vó ngựa vang trời, Foucauld vẫn cảm thấy sự trống vắng, vô nghĩa của cuộc đời ! Để cho đời mình có ý nghĩa tròn đầy, ông rời quân ngũ, xin vào phục vụ trong một tu viện ở làng Nazareth. Tại đây, Foucauld gánh nước cho từng nhà, nhất là những người già yếu bệnh tật.  Rồi Chúa lại dẫn lối cho Foucauld đi tĩnh huấn trong sa mạc để đem Tin Mừng cho người Phi châu. Trong đời quân ngũ, Foucauld không chinh phục được ai, nhưng trong đời tu sĩ, ông đã đem nhiều linh hồn vê với Chúa.

9. Âm thầm phục vụ

Sáu trong số bảy anh em đi làm hàng ngày; người thứ bảy lo công việc nhà. Khi sáu anh em lao động mệt nhọc trở về nhà, họ thấy nhà gọn gàng và sạch sẽ, cơm đã sẵn, mọi thứ đều tốt đẹp và thoải mái. Họ biết ơn về điều này và khen người em út.

Nhưng một trong những anh em muốn tỏ ra khôn ngoan hơn những người khác. Anh cho là người em út lười biếng. Nó cũng nên có một việc để có cơm bánh hàng ngày. Những anh em khác cũng nghĩ thế. Nên họ nhất trí không cho người em út làm công việc trước đây.

Sáng hôm sau, họ bảo cậu cùng đi và tìm cho cậu một công việc. Tối đến, họ trở về nhà, mệt đói và bộ mặt cáu kỉnh.

Không ai chuẩn bị giường chiếu và lau nhà. Không có gì trên bàn ăn.

Họ nhận ra họ đã hành động ngu xuẩn khi ngăn cản người em út làm công việc phục vụ âm thầm.

Họ cảm thấy hối tiếc. Họ phục hồi công việc của người em út. Tình trạng êm ấm trước đây đã trở lại với gia đình

10. Bò và lừa.

Khi Đức Maria và Thánh Giuse đang trên đường đến Bêlem, thiên thần hiện ra với đàn súc vật để chọn lấy một con có thể giúp đỡ Thánh Gia. Sư tử tình nguyện trước. Nó nói: “Chỉ có tôi là chúa sơn lâm đáng phục vụ người cai trị thế giới. Tôi sẽ xé xác kẻ nào đến gần hài nhi.”

Thiên thần nói: “Bạn hùng hổ quá”.

Cáo tinh khôn theo dõi và với vẻ mặt vô hại, nó nói: “Tôi sẽ hết sức cung phụng trẻ Giêsu, mỗi sáng tôi sẽ bắt một con gà cho mẹ ngài”.

Thiên thần nói với cáo: “Bạn xảo quyệt quá”.

Rồi con công đến khoe màu sắc tuyệt vời của cái đuôi. Nó nói: “Tôi sẽ trang hoàng ngôi nhà nhỏ bé này đẹp hơn cả đền thờ Salômon”.

Thiên thần nói: “Bạn hão huyền quá”.

Nhiều con khác đến và cũng muốn giúp đỡ nhưng không con nào được chọn. Sau cùng, thiên thần rảo mắt nhìn quanh và thấy một con lừa và một con bò đang làm việc với một bác nông dân. Thiên thần gọi chúng lại và hỏi: “Các bạn có gì giúp đỡ Thánh Gia không?”.

Lừa cụp tai xuống trả lời: “Không có gì. Chúng tôi chả được học hành, càng cố học càng dốt, nhưng chúng tôi khiêm tốn và kiên nhẫn.” Bò ngượng ngùng tiếp lời: “Vâng, có lẽ chúng tôi chỉ có thể làm được một vài việc nhỏ như lấy đuôi đuổi ruồi thôi”

Thiên thần nói: “Được lắm, Tôi cần hai bạn.”

---------------------

 

TN25-B141: Ai muốn làm lớn


(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy)

Tin mừng Mc 9: 30-37:  Chúa Giêsu không những không chấp nhận khuynh hướng xấu của loài người là muốn thống trị, muốn ăn trên ngồi trước mà Ngài còn đưa ra một đề nghị thật khác thường: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và phục vụ mọi người”.

 

Trong ba năm rao giảng của Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng thuật lại ba lần Chúa Giêsu báo trước TN25-B141


Trong ba năm rao giảng của Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng thuật lại ba lần Chúa Giêsu báo trước cuộc thương khó Ngài phải chịu ở Giêrusalem. Mỗi lần đều đặt trong một khung cảnh khác nhau và lời loan báo cũng khác nhau. Nhưng cũng như đại đa số người Do Thái, không hề có ý tưởng về một Vị Cứu Thế bị đau khổ, bị đóng đinh. Các tông đồ cũng vậy, không hiểu và cũng không muốn hiểu. Các ông chỉ mường tượng đến một nước trần gian vật chất, với danh vọng, uy quyền và giầu có. Mỗi lần nghe biết như vậy Chúa buồn lắm. Mà không buồn sao được, đang khi Chúa tiến về Giêrusalem để chịu chết, thì các môn đệ lại tranh cãi xem ai được quyền cao chức trọng hơn cả, đó là điều khiến Chúa Giêsu hết sức đau lòng. Dù vậy, tự thâm tâm, các môn đệ vẫn biết là mình sai quấy, nên khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ đang cãi nhau về chuyện gì thì các môn đệ không trả lời. Họ im lặng vì xấu hổ.

Nhân dịp này Chúa dạy các ông:”Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và phục vụ mọi người. Khi nói như thế, Chúa Giêsu muốn đảo ngược trật tự thông thường của phẩm trật nhân loại. Muốn làm đầu thì phải làm cuối mọi người, muốn chỉ huy thì phải làm “tôi tớ mọi người”.

Là Thủ Lãnh, Ngài đã đặt mình vào vị trí rốt hết để phục vụ mọi người. Và Chúa Giêsu tin rằng cần phải minh hoạ lời Ngài nói bằng một cử chỉ có ý nghĩa. Ngài đặt một em bé vào giữa họ rồi ôm lấy em. Cử chỉ này tạo ra một tác dụng bất ngờ. Dắt một em bé vào giữa đám môn đệ rồi ôm hôn nó: tất cả điều này đi ngược với tập tục đương thời.

Xã hội thời đó không quan tâm đến trẻ em.

Một đứa bé thì chẳng có ảnh hưởng gì, không thể giúp được ai thăng tiến trong sự nghiệp, nó cũng chẳng giúp thêm uy tín cho ai.

Một đứa bé chẳng làm gì cho chúng ta, trái lại nó luôn cần đến cái này, cái kia, người ta phải làm việc này, việc nọ cho nó.

Nó luôn tùy thuộc vào người lớn, luôn trông nhờ người lớn. Hơn nữa chúng chẳng biết nói năng, lý luận gì cả, thậm chí chúng thường bị xua đuổi, khai trừ khỏi cộng đồng tôn giáo vì cho rằng chúng ngu dốt không biết lề luật.

Như thế Chúa Giêsu đã thực hiện hành động phục hồi mang hai chiều kích (con người và tôn giáo) khi Ngài đặt đứa bé – tiêu biểu một hạng người bị khai trừ – vào giữa những bạn hữu Ngài. Và Ngài nhấn mạnh hành động này bằng một lời nói mang đầy ý nghĩa. Đây là câu trả lời đầy kinh ngạc Chúa Giêsu dùng để đáp lại câu hỏi mà các môn đệ tranh cãi nhau trong lúc đi đường: “Ai là kẻ cao trọng nhất?”.

Việc đua đòi danh vọng đã trở nên sỗ sàng đối với những kẻ bước theo Chúa Giêsu vào lúc Ngài đang đi trên con đường khổ giá, con đường dẫn đến Núi Sọ. Trở nên “tôi tớ” mọi người, mở rộng vòng đai khép kín của Giáo Hội đến tận những kẻ hèn mọn nhất, trơ trụi nhất chính là “sứ vụ” Chúa Giêsu uỷ thác cho các môn đệ.

Có câu chuyện kể rằng:

Một hôm, Hồ Khưu Trượng hỏi Tôn Thúc Ngao:“Có ba điều chuốc oán, ông đã biết chưa?”

Họ Tôn trả lời: “Tôi chưa được biết”.

Trượng Nhân nói: “Tước vị cao người ta ganh, quyền thế lớn người ta ghét, lợi lộc nhiều người ta oán”.

Tôn Thúc Ngao lắc đầu nói:“Không phải luôn luôn như thế, tước vị tôi càng cao tôi càng xử nhún nhường, quyền thế tôi càng lớn tôi càng ở khiêm cung, lợi lộc tôi càng nhiều tôi càng chia bớt cho những người chung quanh, như thế thì làm gì bị oán thù của thiên hạ”.

Đức Khổng Tử cũng đã dạy các đồ đệ của ông như vậy.

Một hôm, Khổng Tử tới thăm miếu vua Hoàn Công, thấy một chiếc lọ đứng nghiêng nghiêng, ngài hỏi, thì người giữ miếu cho biết: “Cái lọ này là một bảo vật, thuở trước nhà vua thường để bên ngai vàng hầu làm gương”.

Khổng Tử liền hỏi: “Ta vốn nghe đồn nhà vua có một bảo vật, bỏ không thì nghiêng, đổ nước vào vừa phải thì đứng thẳng, mà đổ nước đầy thì lại ngã, có phải là vật này chăng?”

Rồi ngài bảo các đồ đệ múc nước thí nghiệm, thì quả nhiên đúng như thế.

Bấy giờ ngài mới trịnh trọng giảng dạy: “Thông minh hiểu biết hơn người thì nên giữ bằng cách khiêm cung, sức khỏe hơn người thì nên giữ bằng cách nhút nhát, giàu có nhiều thì nên giữ bằng cách bố thí và tỏ ra nhún nhường. Đó là lối san sẻ bớt đi để khỏi đầy tràn mà sụp đổ vậy”.

Cũng thế, Chúa Giêsu không những không chấp nhận khuynh hướng xấu của loài người là muốn thống trị, muốn ăn trên ngồi trước mà Ngài còn đưa ra một đề nghị thật khác thường: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và phục vụ mọi người”.

Đó là những điều mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay. Amen.

-------------------

 

TN25-B142: Ai là người lớn nhất


(Suy niệm của Lm. Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc)

Tin mừng Mc 9: 30-37:  Con đường tự hạ làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất, người đáng kể trước mặt Thiên Chúa.

 

Tin Mẹ Têrêxa thành Calcutta qua đời ngày 5/9/97 đã gây một chấn động lớn lao cho mọi từng TN25-B142


Tin Mẹ Têrêxa thành Calcutta qua đời ngày 5/9/97 đã gây một chấn động lớn lao cho mọi từng lớp nhân dân trên thế giới, tiếp theo cái chết của Công Nương Diana. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn. Đức Giáo Hoàng đã làm lễ tưởng niệm Mẹ ngay tại biệt thự của Ngài ở Rôma. Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã nói: "Mẹ là người luôn gây kinh ngạc, một trong những bậc vĩ nhân của thời đại này". Còn Thủ Tướng Singapo, Goh Chok Tong nói: "Mẹ Têrêxa là một trong những người phụ nữ nổi bật nhất của thế kỷ 20". Tổng Thống Hàn Quốc, Kim Young Sam cũng nói: "Nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ sự hy sinh cả cuộc đời của Mẹ Têrêxa cho những người bần cùng trên thế giới". Thủ Tướng Albani, Fatos Nano thì cho rằng: "Mẹ Têrêxa là con người nhỏ bé nhưng có một tâm hồn lớn lao cao cả" và ông đã muốn đưa thi hài Mẹ về an táng tại Albani, đất nước quê hương của Mẹ. Nhưng ý nguyện đó không thành. Riêng tại Ấn độ, hàng ngàn người dân thuộc mọi tầng lớp, bất chấp mưa gió, đã xếp hàng dài 3km trước trụ sở Dòng nữ tu Thừa Sai Bác Ái ở Calcutta để được vào viếng Mẹ lần cuối. Lễ quốc táng của Mẹ Têrêxa đã được cử hành ngày 13/9/87 tại sân vận động quốc gia New Delhi. Đức Giáo Hoàng đã cử Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh, Angelo Sodano đại diện Ngài đến chủ tế lễ an táng. Mười hai ngàn người gồm các nhà lãnh đạo, các chính khách, các nhân vật nổi tiếng trên thế giới cùng hàng triệu người khác đã đến tiễn đưa lần cuối Mẹ Têrêxa, "vị Thánh của những người cùng khổ".

Thưa anh chị em,

Tại sao Mẹ Têrêxa thành Calcutta, một nữ tu nhỏ bé lại trở nên một vĩ nhân như thế? Chính vì Mẹ đã khiêm tốn phục vụ những người nghèo khổ nhất. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã giải quyết cuộc tranh luận giữa các môn đệ: "Ai là người lớn nhất" khi Ngài tuyên bố: "Ai muốn làm đầu thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người", có nghĩa là ai muốn làm người lớn nhất thì phải làm người nhỏ nhất và phục vụ anh em. Sau lời tuyên bố vắn gọn đó, Chúa Giêsu làm một cử chỉ để giải thích: Ngài dẫn một em bé đến, đặt em đứng giữa các môn đệ và sau khi ôm em bé vào lòng, Ngài tuyên bố: "Ai tiếp đón một em bé như em này, vì danh Thầy, là tiếp đón Thầy, và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy".

Nhiều lần Chúa Giêsu tự đồng hóa với những người nhỏ bé, nghèo hèn. Ở đây Chúa Giêsu tự đồng hóa với một em bé, một con người chưa được kể là thành phần của xã hội Do Thái. - Trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu, đàn bà và trẻ em là những con người không đáng kể - Trẻ nhỏ là thành phần không có chỗ đứng trong xã hội. Ở đây, Chúa Giêsu ôm em bé vào lòng. Đó là một cử chỉ tiếp đón, chấp nhận, quý mến. "Ai tiếp đón một em bé như em bé này, vì danh Thầy, là tiếp đón Thầy". Tiếp đón một em bé như thế chắc chắn không phải để em bé đó hầu hạ mình, nhưng là hầu hạ em bé đó. Một người nhỏ bé, nghèo hèn nhất, không đáng kể trước mặt người đời cũng được Chúa Giêsu coi là hiện thân của Ngài, đón tiếp người ấy là đón tiếp Ngài và là đón tiếp chính Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài.

Thiên Chúa đã tự liên đới với người nhỏ bé, nghèo hèn, không đáng kể nhất. Vậy thì chúng ta đừng sợ làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người. Phục vụ một người không đáng kể nhất, một người bị bỏ rơi, bị gạt ra ngoài lề xã hội là phục vụ chính Chúa Giêsu, phục vụ chính Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao trở nên người rốt hết và phục vụ mọi người lại làm cho Mẹ Têrêxa Calcutta thành người lớn nhất, được mọi người yêu mến, kính phục, ngưỡng mộ và thương tiếc. Cuộc đời của Mẹ Têrêxa là một câu chuyện rất đời thường và có ít tình tiết éo le để khán giả háo hức tò mò. Hầu như gần cả cuộc đời của Mẹ, nào có ống kính paparazzi - những người săn ảnh - nào bám theo Mẹ khi Mẹ khòm lưng trên những con đường tăm tối ở Calcutta để ôm vào lòng những con người đang chết đói, hay khi Mẹ băng bó vết thương lở lói của những người phong cùi, nghèo khổ, chán chường, những người bị bỏ rơi, cô độc. Khi Ủy ban Nobel Hòa Bình đem vinh quang đến cho Mẹ thì Mẹ đã viết gần trọn câu chuyện về cuộc đời mình, một cuộc đời âm thầm lặng lẽ theo đuổi con đường mà mình đã chọn: phục vụ những người nghèo khổ nhất. Trong suốt cuộc đời hoạt động từ thiện bác ái, Mẹ Têrêxa không muốn danh vọng mà chỉ làm việc vì tình yêu Thiên Chúa. Mẹ đã nói: "Tôi nhìn thấy Thiên Chúa nơi mỗi một người khi tôi rửa vết thương của người cùi, tôi cảm thấy như là tôi đang chăm sóc cho chính Chúa".

Anh chị em thân mến,

Con đường tự hạ làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất, người đáng kể trước mặt Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài đã làm người rốt hết, làm tôi tớ mọi người, đem chính mạng sống của Ngài mà phục vụ mọi người. Vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài đến tột đỉnh vinh quang, đã ban tặng Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu (x.Pl 2,5-11). Ai đi con đường khiêm tốn phục vụ như Ngài sẽ được Ngài đưa tới vinh quang tột đỉnh với Ngài.

Một khi Chúa Giêsu đã tự hạ làm người rốt hết và tự đồng hóa với cả những người mà thế gian coi như không có, thì mọi thái độ thống trị đã bị kết án rồi, vì thống trị, chà đạp bất cứ ai cũng là thống trị, chà đạp chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã nói: "Anh em biết: thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, những người làm lớn thì dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người".

Mỗi người kitô hữu chúng ta hôm nay phải tự đặt câu hỏi: "Trong địa vị của tôi, tôi phải làm sao để thực sự phục vụ người khác?". Mẹ Têrêxa với hơn 4000 Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái của Mẹ có mặt ở 250 cộng đoàn rải rác trên các nước là những mẫu gương phục vụ của thời đại chúng ta.

-----------------------

 

TN25-B143: Người đứng đầu phục vụ mọi người


(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

 

Lần thứ hai Chúa Giêsu cho các môn đệ biết về số phận của Ngài: “Con Người sẽ bị nộp vào TN25-B143


Lần thứ hai Chúa Giêsu cho các môn đệ biết về số phận của Ngài: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết Người và ba ngày sau Người sẽ sống lại”.

Đây là lần thứ hai, Người đề cập đến vấn đề nầy. Thánh Maccô đã chú thích: Ngài nói không úp mở; nghĩa là rõ ràng. Nhưng lần này Thánh Maccô lại nói rõ: “Các môn đệ không hiểu Ngài muốn nói gì và các ông sợ không dám hỏi Người”.

Các môn đệ không hiểu, nhưng chúng ta có hiểu không?

Chúng ta đã nghe nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhiều hơn các môn đệ, nhưng hình như chúng ta cũng chẳng hiểu gì. Tâm trí chúng ta mù tối. Hình như Chúa Giêsu là một người xa lạ. Ngài sống hay chết, chúng ta cảm thấy như ngoại cuộc, người dưng nước lã.

Giữ đạo là gì?

Đâu phải chỉ là những nghi thức phải giữ, những lề luật phải tuân hành!

Giữ đạo chính là gắn bó với Chúa Giêsu đến nỗi thân phận của Ngài trở nên thân phận của chúng ta. Cái gì liên hệ đến Ngài là liên hệ đến chúng ta. Phải là một với Ngài như vợ chồng thương nhau.

Chúng ta có cảm thấy cuộc sống chúng ta liên hệ mật thiết với Ngài không?

Thánh Phaolô đã đạt đến mức độ đó: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống mà Chúa Kytô sống trong tôi”.

Tuy chúng ta chưa đạt đến mức độ thâm sâu đó, nhưng chúng ta có xem đó như mục tiêu chúng ta phải đạt đến không? Và từng ngày, chúng ta nhắm đích điểm đó để tiến tới. Tình yêu mới mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Không có tình yêu, tất cả chỉ là vô nghĩa. Tình yêu của Chúa Giêsu mới mang lại cho chúng ta lẽ sống và ý nghĩa tròn đầy của nó. Thánh Phaolô đã nói rõ điều đó: “Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa…Giả như tôi được nói tiên tri và được biết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì”.

Các môn đệ không hiểu lời Chúa nói vì đó chỉ là tiên báo, còn chúng ta, đó không còn là tiên báo mà đã trở thành hiện thực rồi. Chúng ta chưa hiểu sao? Chúng ta không thấy tử tội trên thập giá hay sao? Sao chúng ta vẫn chưa hiểu? Ngài đã yêu thương chúng ta đến như thế, chúng ta vẫn dửng dưng, lòng trí chúng ta vẫn mù tối đến mức độ nào nữa?

Phải nhận chân rằng chúng ta vẫn chưa hiểu tình yêu của Ngài, làm sao có thể yêu Ngài như Ngài đáng được yêu?

Các môn đệ không thể hiểu vì việc đó chưa xảy ra, họ không thể nghĩ rằng số phận của Thầy bi đát đến thế. Còn chúng ta, chúng ta đã thấy, đã nghe, chúng ta vẫn không hiểu. Làm gì hơn nữa để chúng ta biết được rằng Ngài đã yêu chúng ta đến chết và chết trên thập giá? Tại sao Ngài phải lãnh nhận một thân phận đau đớn như thế?

Chúng ta chưa hiểu, nhưng chúng ta có cố gắng tìm hiểu hay không? Đó chính là vấn đề cần phải  lưu tâm.

Khi về đến nhà, Chúa Giêsu hỏi ngay: “Dọc đường anh em bàn tán với nhau việc gì vậy?” Họ không trả lời vì dọc đàng, các ông đã cải nhau xem ai là người lớn hơn cả…”

Đây là một bài học khác mà Chúa Giêsu muốn dạy các ông. Ngài đã biết mọi sự, nhưng Ngài muốn các ông ý thức hơn.Vì thế Ngài nói ngay: “Ai muốn là người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người”.

Thoạt nghe như thế, chúng ta tưởng như Chúa đảo lộn tất cả, nhưng Chúa chỉ nhắc lại một điều bình thường , chính chúng ta mới đảo ngược. Xin đan cử một ví dụ: cha mẹ là gì của con cái? Cha mẹ sinh ra con, đúng ra cha mẹ có quyền trên con mình; nhưng nghĩ cho cùng, cha mẹ chỉ là đầy tớ của con cái. Vậy là đúng với điều Chúa nói: “Ai muốn làm lớn, phải là người rốt hết…” Chính chúng ta đảo ngược chứ không phải Chúa.Thế gian không biết phục vụ. Người lớn cứ tưởng mình có quyền sai khiến người nhỏ hơn mình, buộc người dưới quyền phải phục vụ mình nhưng phải là người phục vụ mới đúng. Chúng ta cần thiết lập lại trật tự đầu tiên.

Chính Chúa Giêsu đã thiết lập lại những gì con người đã đảo lộn. Chính Ngài trở thành con người phục vụ: “Ở giữa chúng con, Thầy là tôi tớ”. Ngài là Thiên Chúa, Ngài biết quyền lực của Ngài, Ngài biết Ngài là Thiên Chúa toàn năng, thế nhưng Ngài đã “chọn chỗ rốt hết đến nỗi không ai giành được chỗ đó của Ngài”. Chúng ta nghĩ sao?

Các môn đệ tranh nhau chỗ cao nhất. Chúng ta nhớ câu chuyện của hai anh em con ông Giêbêđê: bà mẹ của hai anh em nầy đến xin Chúa Giêsu cho hai đứa con mình một đứa ngồi bên hữu, một đứa ngồi bên tả. Chúa Giêsu không trả lời mà chỉ mời gọi họ uống chén của Ngài. Uống chén tức là thông dự vào cuộc khổ nạn, chịu chết với Ngài.

Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài cho đi. Đó là định luật căn bản Ngài thiết lập khi tạo dựng con người. Chúa Giêsu là Tình Yêu, Ngài luôn giữ đúng định luật đó. Chúng ta thì không. Thế gian đã đảo ngược định luật của Ngài. Chúng ta cần trở về nguồn để tìm lại một nếp sống thực sự là Công giáo, tức là sống cho tình yêu, sống cho tha nhân chứ không chỉ sống cho bản thân mình. Lề lối thế gian đã ăn sâu vào trong chúng ta đến nỗi chúng ta không còn biết cho đi mà gom góp. Chúng ta không còn biết yêu thương là gì?. Hãy thành thật nhìn lại nếp sống của chúng ta, chúng ta đã sống cho ai? Chúa Giêsu đến, phá đổ thành trì ích kỷ của chúng ta, Ngài dẫn chúng ta đi vào con đường của Ngài và chúng ta la hoảng lên vì sợ người khác dẫm lên chúng ta. Chúng ta sợ thua kém người khác.Vậy bài học khiêm tốn của Chúa Giêsu, chúng ta đã để ở đâu?

Thiên Chúa là sự khiêm tốn. Cha Henri Varillon đã viết một quyển sách để chứng minh cho mọi người Thiên Chúa khiêm tốn như thế nào, chỉ vì Ngài là Tình Yêu. Chúng ta không thể đi con đường nào khác. Thế gian không biết yêu thương là gì, vì thế họ cũng không bao giờ biết khiêm tốn là gì. Chỉ có con người biết yêu thương mới khiêm tốn và ngược lại con người biết khiêm tốn mới biết yêu thương. Và khiêm tốn mới có thể phục vụ.Phục vụ mới đem đến hạnh phúc. Ông Gandhi, một vị anh hùng hiếm có trong thế giới đã nói rất chí lý:

“Đêm ngủ, tôi mơ thấy đời là hạnh phúc.
Khi tỉnh giấc, tôi thấy đời là phục vụ.
Khi phục vụ, tôi thấy đời là hạnh phúc”.

Một người không phải là công giáo đã tìm được con đường của Tin Mừng. Ông đã thuộc lòng sách Tin Mừng mặc dù ông không là người Công giáo. Thật đáng cho chúng ta khâm phục!

Tất cả những ai Giáo Hội tôn phong hiển thánh đều là nhưng con người phục vụ tối đa. Thánh Gioan Maria Vianney đã phục vụ các linh hồn trong công việc Mục vụ, nhứt trong Tòa giải tội. Thánh Gioan Boscô phục vụ các thanh thiếu niên bụi đời đến chết. Thánh Đamiên phục vụ những người cùi. Thánh Maximilianô Kolbê đã chết để cứu một người tù. Chúng ta đã phục vụ ai chưa? Phục vụ đến mức độ nào?

Trên hết, Chúa Giêsu đã phục vụ chúng ta đến chết trên thập giá, và giờ đây vẫn còn phục vụ chúng ta trong Bí Tích Thánh Thể. Nét phục vụ của Ngài không ai so sánh được, và Ngài đang mời gọi chúng ta làm như Ngài, trong thực tế của hôm nay. Hãy đi vào con đường của Ngài, chúng ta sẽ thấy cuộc sống chúng ta phong phú và tuyệt diệu.

--------------------------

 

TN25-B144: Cũng một chữ ganh


(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

 

Ở đời tiến hay lùi cũng bởi một chữ “ganh”. Ganh đua sẽ giúp ta thăng tiến nhưng ganh tị sẽ TN25-B144


Ở đời tiến hay lùi cũng bởi một chữ “ganh”. Ganh đua sẽ giúp ta thăng tiến nhưng ganh tị sẽ hủy hoại danh dự của ta. Ganh đua là cạnh tranh để giành lấy phần thắng, phần hơn một cách lành mạnh và chính đáng. Ganh tị là cảm giác tức tối với người khác vì những gì họ có như tài sản, sự thịnh vượng, lợi thế v.v. nhưng không dừng lại ở cảm giác muốn được bằng người khác mà còn muốn đạp đổ của họ.

Xem ra ở đời người ta ganh tị với nhau nhiều hơn. Vì ganh tị mà người ta có thể làm hại lẫn nhau gây nên những bể dâu sóng gió cho cuộc đời. Ngay cả vườn địa đàng năm xưa đã không còn bình an khi lòng ganh tị xâm chiếm ông bà nguyên tổ. Họ không chỉ muốn bằng Thiên Chúa mà còn đòi loại trừ Thiên Chúa. Hậu quả là con người phải đau khổ và cái chết đã đến với kiếp người chúng ta. Sự ganh tị của ông bà đã để lại cho con cháu những bài học quý giá nhưng rồi dường như chẳng ai muốn học cả. Đơn giản bởi lẽ con người vẫn mãi mãi ganh tị lẫn nhau.

Điều đáng buồn là sự ganh tị lại xuất hiện ngay trong hàng ngũ những môn đệ của Chúa Giêsu. Trên đường đi loan báo Tin Mừng nhưng rồi các ông đã sống sai Tin Mừng và xa rời Tin Mừng yêu thương mà Thầy Giêsu đang muốn gửi đến cho nhân loại, và qua các ông để đến với muôn dân.

Theo lẽ thường, khi các môn đệ đã nhắm đến chỗ cao, chỗ hơn thì chính trong nội bộ đã gây chia rẽ với nhau rồi. Và khi nội bộ của những người loan báo Tin Mừng gây chia rẽ thì tiếng nói của Lời Chúa, những lời rao giảng về Chúa sẽ chẳng hoán cải được ai.

Có thể nói sự ganh đua và ganh tị vẫn song hành với nhau, và đôi khi hòa lẫn với nhau. Điều đó đã làm cho con người dễ nổi nóng với nhau hơn. Vì tham quyền cố vị mà ta biến đoàn hội, biến giáo xứ thành chiến trường tranh dành quyền lực và đồng tiền. Chính vì sự ganh tị mà người ta hành xử với nhau có khi không còn là tình người, là tính người mà chỉ còn sự loại trừ lẫn nhau.

Nhìn vào những gì đang diễn ra nơi cộng đoàn và giáo xứ chúng ta thấy có quá nhiều người tham quyền cố vị. Họ cần địa vị, cần có chức, có quyền để “ăn trên ngồi trốc” thiên hạ. Họ đua nhau leo lên đài cao danh vọng để hưởng những đặc quyền, đặc lợi mà chức tước sẽ mang lại cho họ. Vì quyền, vì lợi mà biết bao người đã chẳng ngại lừa thầy, phản bạn, sống vô ơn, phản phúc. Vì bổng lộc mà biết bao người đã chẳng sợ đánh mất nhân phẩm của mình để chà đạp người dưới và luồn cúi cấp trên. Có mấy ai sống vị tha, sống quên mình vì lợi ích đồng loại?

Năm xưa, Chúa Giêsu đã rất đau buồn khi nghe các môn đệ thân tín của mình kèn cựa nhau chỗ thấp chỗ cao. Nỗi lòng của Thầy, các môn sinh đâu muốn chia sẻ. Thầy quên mình vì lợi ích nhân sinh. Trò lại lo vinh thân phì gia. Thầy đang đi dần đến đỉnh cao của hiến tế để cứu độ nhân loại, các môn sinh lại tìm kiếm vinh hoa phú qúy trần gian.

Chúa Giêsu đã không ngần ngại đặt thẳng vấn đề với các môn sinh: “Dọc đường anh em bàn tán điều gì vậy?”. Các ông im lặng làm thinh. Im lặng vì có mấy ai trong lòng không chứa đầy những toan tính vụ lợi! Có mấy ai thanh sạch lòng ngay trước danh vọng mà các ông tưởng chừng như sắp đến tay mình? Im lặng để lắng nghe. Lắng nghe lòng mình để thấy rằng tính tham sân si vẫn còn đó sau bao ngày tháng theo Thầy tầm đạo. Lắng nghe lời Thầy giáo huấn để sửa đổi và bước đi theo gương Thầy chí thánh đã đi.

Chúa buồn nhưng không trách mắng. Chúa mời gọi các ông: “ai làm lớn hãy hết mình phục vụ”. Phục vụ với thái độ như một người đầy tớ. Phục vụ không phân biệt sang hèn. Đỉnh cao của phục vụ là không toan tính theo kiểu “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”. Chúa Giêsu dùng hình ảnh trẻ nhỏ để tượng trưng cho những con người tay trắng, yếu đuối và chắc chắn không có gì để đền ơn đáp nghĩa. Họ mới cần chúng ta giúp đỡ. Họ mới thực sự có nhu cầu để van xin lòng tốt của chúng ta. Chúa còn đồng hoá họ đến nỗi ai tiếp đón họ là tiếp đón chính Chúa. Và ngược lại, ai từ chối họ là từ chối chính Chúa.

Có lẽ cuộc đời sẽ hạnh phúc hơn khi mỗi người biết từ bỏ tham sân si, để sống bác ái vị tha. Cuộc đời sẽ hết khổ đau bởi ganh ghét, tị hiềm và nhân loại sẽ cùng đan tay nhau xây dựng một thế giới đầy yêu thương. Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết dùng khả năng, địa vị Chúa ban để phục vụ lẫn nhau trong yêu thương chân thành.

Nguyện xin Chúa là Đường dẫn dắt chúng ta bước đi trên con người mà Chúa đã đi để mỗi ngày chúng ta được trở nên giống Chúa hơn. Amen.

------------------------

 

TN25-B145: Tham vọng


(Suy niệm của Lm. Vũ Đình Tường)

 

Môn đệ Đức Kitô trên đường đi tranh luận với nhau về việc ai sẽ là người lãnh đạo tương lai. Tranh TN25-B145


Môn đệ Đức Kitô trên đường đi tranh luận với nhau về việc ai sẽ là người lãnh đạo tương lai. Tranh luận xảy ra, ít là sau hai lần nghe Đức Kitô tâm sự Ngài sẽ bị các Thượng Tế và Biệt Phái bắt, bị kết án tử hình và sau ba ngày Ngài sẽ sống lại. Các ông không hiểu việc sống lại, việc Đức Kitô sẽ chịu đau khổ nhưng các ông hiểu trong tương lai gần Đức Kitô không còn hiện diện với các ông nữa nên việc tìm người lãnh đạo tương lai là việc các ông lo lắng. Điều các ông tranh luận cho biết dù Đức Kitô bị bắt các ông vẫn không tan hàng, bởi nếu giải tán thì đâu cần người lãnh đạo nhóm. Các ông có thể sống trong lo sợ, trốn chui, trốn nhủi, nhưng không tan hàng, rã đám. Cũng qua tranh luận chúng ta thấy có sự chia rẽ trong nhóm và biểu tỏ đức tin non kém của các ông vào Đức Kitô.

Nếu sự việc xảy ra cho chúng ta, chúng ta cũng hành động tương tự. Nếu muốn tiếp tục sinh hoạt chung với nhau, nếu muốn nhóm tồn tại, cần phải có người lãnh đạo, nhất là trong thời gian khó khăn trước mắt, càng cần người lãnh đạo tốt. Điều các ông bàn thảo không có gì sai, nhưng cách bàn thảo, phương pháp bàn thảo sai khiến cho sự việc trở nên phức tạp, mất tin tưởng nhau và gây chia rẽ nhóm. Trong quá khứ mỗi khi nghe Đức Kitô giảng cho đám đông, điều gì không hiểu các ông gặp riêng hỏi và Ngài chỉ dậy, hướng dẫn. Lần này các ông không làm thế, mặc dù Ngài đi cùng con đường, bước trước các ông ít bước nhưng các ông tự tin vào tài phán đoán riêng mình và không hỏi í kiến Đức Kitô.

Tranh giành chức tước là hình thức tham vọng trá hình. Điều này hoàn toàn trái ngược với đức khiêm nhường của Kitô hữu. Ước mong được làm người lãnh tụ, được người khác phục vụ, không phải lãnh đạo để phục vụ người khác. Khao khát ước mơ đạt điều mong muốn, không phải thoả mãn thiết yếu nhu cầu cho cuộc sống. Đói khát quyền hành, tiền của và danh tiếng. Thư thánh Giacôbê tông đồ 3,16 cảnh tỉnh như sau tham lam và ích kỉ mở đường, dẫn lối đón chào bất ổn và hành động bất chính. Tham vọng dẫn đến cãi cọ, tranh luận to tiếng và đả kích kịch liệt trong nhóm. Các ông tin vào sự khôn ngoan trần thế và coi như Đức Kitô không còn là người lãnh đạo nhóm và các ông cần một người lãnh đạo khác.

Tham vọng cá nhân trở thành lực cản, ngăn cản thành công hơn là dẫn đến thành công và tham vọng của nhóm dẫn đến chia rẽ, bè phái, đả kích, dèm pha và có thể đi đến thù địch. Thế giới thương mại cho biết kẻ có chức cao trong công ti nhờ vào sự tin tưởng, tích cực hăng say làm việc của thuộc cấp mà thành công. Thiếu tích cực, chân thành cộng tác của thuộc cấp là lãnh đạo tồi và công ti tuột dốc. Nếu chủ nhân chỉ muốn ngồi trên đầu trên cổ công nhân thì công nhân sẽ không phục và không tận tuỵ phục vụ vì thế muốn cho mình leo lên, hãy giúp người khác cùng leo lên như thế mới tạo sự công bằng. Nói cách khác giúp người khác tiến thân chính là làm cho mình thăng tiến và đây cũng là điều Đức Kitô dậy.

Nhà lãnh đạo không yên tâm trong vị thế của mình thì còn giờ đâu làm việc tốt cho tha nhân, ngoài việc tự lo cho cái ghế của mình đứng vững.

----------------------------

 

TN25-B146: Suy niệm của Lm. Anfonso


Tin mừng Mc 9: 30-37:  Chúa Giêsu còn minh họa rõ nét và ý nghĩa hơn cho lời dạy của Người bằng cử chỉ đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy đứa bé và nói: "Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy. Và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”...

Suy niệm:

 

Đối với thế giới loài vật cũng như xã hội loài người, tính tự nhiên của quy luật sinh tồn khiến phần TN25-B146


Đối với thế giới loài vật cũng như xã hội loài người, tính tự nhiên của quy luật sinh tồn khiến phần tử nào cũng muốn chiếm được vị trí hàng đầu để có được sự kính nể, uy tín, danh dự và quyền lợi. Vị trí ấy nhiều lúc được chiếm bằng luật rừng, nơi quyền lực thuộc về tay kẻ mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.

Thêm nữa, cũng chính vì thấy mình thua thiệt kẻ khác, hay thấy người khác hơn mình về một số phương diện mà sinh ra đố kỵ, mưu toan tìm cách hạ bệ, tranh giành quyền lực với nhau. Đó cũng là điều mà thánh Giacôbê Tông đồ trong bài đọc II đã cảnh báo: “Ở đâu có ganh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan”.

Sự tham vọng và tánh ganh tỵ cũng không tránh khỏi nơi người môn đệ Chúa Giêsu. Trong trang Tin mừng hôm nay, thánh sử Marcô cho biết là đang khi đi đường, các môn đệ đã tranh cãi với nhau xem ai là người lớn nhất. Chúng ta có thể tưởng tượng ra khung cảnh cuộc tranh luận ấy: Phêrô thì nghĩ mình chiếm vị trí nhất vì được Chúa đặt là tông đồ trưởng; Gioan tự hào mình là người được Chúa yêu mến nhất; Anrê thì cho rằng mình mới đúng vì là người môn đệ mà Gioan Tiền Hô giới thiệu cho Chúa; còn Giacôbê cho rằng mình có lợi thế vì là bà con thân thiết; Philipphê thì bảo ông quan trọng vì khi thấy nhóm người đông đảo kéo đến nghe Chúa giảng đến quên ăn uống, Chúa đã nhờ ông tư vấn để xem mua đâu ra bánh cho họ ăn; Bartôlômêô lại cho rằng Chúa quan tâm tới ông khi ông còn ngồi ở dưới gốc cây vả nữa là; Matthêu thì nghĩ mình mới đúng vì mình bỏ hết sự nghiệp để theo Chúa ngay, còn Giuđa Iscariot lại vỗ ngực rằng mình quan trọng vì được Chúa tin tưởng giao cho giữ túi tiền; và các môn đệ khác nữa cũng không ngoại lệ...

Vì thế, khi Chúa Giêsu hỏi tới cuộc tranh luận của họ thì họ làm thinh vì cảm thấy xấu hổ. Họ không dám thú nhận là đang lo tranh giành địa vị trong lúc Thầy mình đang tiến về Giêrusalem để chịu khổ giá trong khiêm hạ. Chúa Giêsu biết điều họ đang bận tâm chứ, nhưng “có gì trong nhà từ từ dạy nhau”. Người đợi khi về tới nhà rồi mới chỉ dạy cách riêng. Vì các môn đệ chính là nhân tố, nền móng cho cộng đoàn Kitô hữu sơ khai, nên Người huấn dụ cho họ luật lệ giúp sống cộng đoàn với nhau.

Tính phân biệt sang-hèn, bà con-người ngoài, giáo sĩ-giáo dân, công chính-tội lỗi... đều không xứng hợp với những người lãnh đạo. Cho nên, Chúa Giêsu đã đảo ngược khuynh hướng tự nhiên của con người. Trình thuật cho thấy Chúa Giêsu muốn các môn đệ khắt cốt ghi tâm với lời dạy của Người, qua cử chỉ Người ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: "Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người". Chúa Giêsu không ngăn cản người ta làm lớn. Cần có những người nắm giữ địa để điều hành trong cơ cấu Giáo hội và xã hội. Nhưng Người đã đề nghị với họ giải pháp mới cho người muốn làm môn đệ Chúa: đó là người lãnh đạo tự nguyện làm đầy tớ phục vụ mọi người.

Nhà chú giải J. Hervieux giải thích: Chúa lấy 'người rốt hết' đối chọi với 'người đứng đầu', lấy 'người đầy tớ mọi người' đối chọi với 'người cai quản'. Điều nghịch lý này có nghĩa rõ nhất khi nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, Đấng Thánh thiện cao cả đã tự đặt mình vào chỗ rốt hết để phục vụ mọi người, Người sẵn sàng làm một tôi tớ, cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Vâng, nếu người bị trị làm cuộc cách mạng trở thành kẻ thống trị chỉ để đổi chủ mà thôi và chẳng giúp cho xã hội văn minh phát triển, thì nhiều khi lại trở thành nỗi ám ảnh cho những người sống trong xã hội, cộng đoàn ấy. Kinh nghiệm lịch sử nhân loại nơi này nơi kia trên thế giới đã minh chứng điều đó.

Vì thế, Chúa Giêsu còn minh họa rõ nét và ý nghĩa hơn cho lời dạy của Người bằng cử chỉ đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy đứa bé và nói: "Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy. Và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Trẻ em thường bị xem là người bé mọn, yếu ớt cả về thân xác lẫn địa vị, tiếng nói chẳng có giá trị, lại không có khả năng tự vệ, có khi còn bị người ta loại bỏ bất kể phạm pháp như sát hại ngay khi còn trong bào thai. Vì thế thật phúc cho người làm lãnh đạo, đứng đầu mà lại sống khiêm nhường, phục vụ, sống đơn sơ hiền hòa như thiếu nhi, sẵn sàng đón nhận lời góp ý. Khiêm nhường không phải là yếu đuối hay mặc cảm tự ti. Người khiêm nhường biết mình là ai, trách nhiệm mình ở đâu, và khi được nhờ đứng ra lãnh đạo thì cũng sẵn sàng với tinh thần phục vụ. Nhờ tập sống khiêm nhường, chúng ta sẽ tránh được mối tội đầu là kiêu ngạo, tự xem mình hơn kẻ khác, ganh ghét gièm pha khi thấy người khác hơn mình, vì ý thức tất cả những gì mình có đều đến từ Thiên Chúa.

Lạy Chúa, con chỉ tìm được sự bình an và hạnh phúc thực sự khi biết sống khiêm tốn, phục vụ tha nhân cách vô vị lợi. Nhưng nhân đức Kitô giáo này lại là một nghịch lý trong xã hội, nơi mà người ta luôn muốn thể hiện bằng quyền lực. Xin Chúa giúp con can đảm để dấn thân không mệt mỏi trong việc phục vụ anh chị em, vì người mạnh chính là người đỡ người khác trên vai mình chứ không phải là người giẫm đạp trên vai kẻ khác để đứng lên. Amen.

-----------------------

 

TN25-B147: Một ly nước lã

 

Một cậu bé nghèo làm nghề bán hàng rong để kiếm tiền ăn học. Một ngày nọ, cậu bé chỉ còn TN25-B147


Một cậu bé nghèo làm nghề bán hàng rong để kiếm tiền ăn học. Một ngày nọ, cậu bé chỉ còn một hào trong túi, mà bụng thì đang đói, cậu ta đi đến nhà bên cạnh để xin ăn. Một phụ nữ trẻ đẹp ra mở cửa, nhìn thấy cậu bé. Cô ta đoán là cậu đang đói bèn mang cho cậu một ly sữa lớn. Cậu chầm chậm nhấp từng ngụm sữa rồi hỏi: Cháu phải trả cô bao nhiêu ạ? Người phụ nữ trả lời: Cháu không nợ cô cái gì cả. Mẹ cô đã dạy không bao giờ nhận tiền trả cho lòng tốt. Cậu bé cảm kích đáp: Cháu sẽ biết ơn cô từ sâu thẳm trái tim cháu. Khi ra đi, cậu cảm thấy khỏe khoắn hơn và niềm tin của cậu vào con người càng mãnh liệt hơn. Trước đó, cậu như muốn đầu hàng với số phận.

Nhiều năm sau, người phụ nữ bị ốm nặng. Các bác sĩ địa phương không chữa khỏi. Họ chuyển bà đến thành phố lớn để các chuyên gia nghiên cứu căn bệnh lạ lùng này. Tiến sĩ Howard Kelly được mời đến tham vấn. Ngay lập tức, ông khoác áo choàng và đi đến phòng bệnh của người phụ nữ nọ. Ông nhận ra ngay người ân nhân của mình năm xưa. Quay về phòng hội chuẩn, ông quyết định sẽ dốc hết sức lực để cứu sống bệnh nhân này.

Sau đó, tiến sĩ Howard Kelly đề nghị phòng y vụ chuyển cho ông hóa đơn viện phí của ân nhân để xem lại. Ông viết vài chữ và chuyển nó đến người phụ nữ. Bà nhìn tờ hóa đơn thầm nghĩ rằng, bà phải thanh toán nó cho đến hết đời cũng chưa xong. Bỗng nhiên, có gì đó khác thường khi bà nhìn thấy ngay dòng chữ: “Trị giá hóa đơn = một ly sữa”. ( trích câu chuyện tiến sỹ Howard Kelly).

Khi đọc câu chuyện này, chúng ta nhận ra được giá trị của việc làm phúc đức, bác ái dù nó là một ly sữa thôi, nhưng đã cứu cả mạng sống của một con người. Việc làm đó được ghi rõ trong Tin mừng của thánh Mác-cô: “ Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Một chỗ khác Chúa Giê-su bảo: “ Khi Ta đói các người không cho ăn. Ta khát các người không cho uống...” Rõ ràng, điều kiện tiên quyết để được vào Nước Trời là thể hiện lòng bác ái, yêu thương tha nhân.

Thế nhưng, nhìn xung quanh ta, còn có biết bao người đang sống cảnh lầm than, đói khát, kiếm từng hạt cơm qua ngày. Người bán hàng rong, kẻ làm thuê, trẻ em đi bán vé xố... Sau một ngày vất vả, họ lại trở về trú ẩn trong mái nhà dột nát, khi gặp trời mưa, bão tố thì không có chỗ để che thân. Trong khi đó, có những kẻ thì dư thừa phung phí, họ vẫn dửng dưng trước những con người đang từng ngày từng giờ đi tìm miếng ăn dư thừa của kẻ giàu sang.

“Nếu anh em làm cớ cho kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển. Nếu tay anh em làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn có hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt”.

Khi nghe những lời răn đè này, chúng ta có suy nghĩ gì về số phận của con người?. Nếu hiểu theo nghĩa đen thì chắc hẳn con người trên thế gian này toàn là những người khuyết tật, bị cụt tay, què chân, mù mắt. Khi con người ta đang chạy theo sự văn minh của nhân loại, nhu cầu đời sống hưởng thụ càng ngày càng cao, thì con người ta lại đang mất dần niềm tin, họ không cần đến Chúa. Ngay cả những bậc làm cha mẹ cũng quên nhiệm vụ truyền đức tin cho con cái mình. Họ không còn thời gian để đến nhà thờ, đọc kinh dự lễ. Phải chăng đó là cái cớ cho kẻ khác vấp phạm! Có thể chúng ta không mù về thể lý, nhưng một cách nào đó chúng ta cũng đang bị mù tâm linh mới là điều đáng sợ nhất. Khi làm điều gian ác, nhưng người ta vẫn không cảm thấy là tội. Khi thấy người ta gặp tai nạn, nhưng ta vẫn đứng cười một cách vô tư. Một thái độ, một trái tim vô cảm thật là đáng sợ.

Nếu nói cái tay, cái chân, cái miệng và con mắt làm nên dịp tội, thì tội đó được xuất phát từ bên trong con người chúng ta. Theo lời của thánh Gia-cô-bê nói rất rõ: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi khoái lạc của anh em đang gây ra trong con người anh em đó sao?. Thật vây, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết và ganh ghét; anh em xin mà không được vì anh em xin với tà ý”. Cho nên, chúng ta chỉ có thể chữa lành vết thương tâm hồn khi chúng ta ý thức được mình là kẻ có tội, cần được Chúa thứ tha với thật lòng ăn năn và sám hối thì mới có thể làm những việc lành và là tấm gương sáng cho người khác. Người ta không thể cho những cái mình không có. Chúng ta có thể rút lấy kinh nghiệm của thánh Augustino, ngài nói: “ Lòng con khuâng buâng khắc khoải đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa”. Chính kinh nghiệm quá khứ tội lỗi của Augustino đã dạy cho ngài bài học quý giá của sự sám hối và trở về với Chúa. Vì Chúa cần chúng ta biết quay trở về cùng Chúa sau những lần lầm lỡ, nhờ đó, chúng ta biết cảm thông và chia sẻ nỗi khổ đau và bất hạnh của anh chị em đang cần lòng quảng đại của chúng ta.

Một ly sữa đã đổi lấy mạng sống một con người, thì ly nước lã dù cho người anh em uống thì cũng chẳng mất đâu. Đó là hứa của Chúa Giêsu cho những ai đặt niềm tin vào sự sống mai sau.

Lạy Chúa, đã biết bao lần tay con không biết nắm lấy một cụ già cần con dắt qua đường; đã biết bao lần chân con đi lạc bước vào những nơi tội lỗi xấu xa, và làm điều gian ác hại đến tha nhân; đã bao lần đôi mắt con thấy người ăn xin ven đường, nhưng chẳng biết xót thương. Thế là Chúa vẫn nói với con rằng: “Chỉ một ly nước lã thôi!”.

-----------------------------

 

TN25-B148: Suy niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


TĂM TỐI TỬ GIÁ BỪNG LÊN ÁNH SÁNG SỰ SỐNG PHỤC SINH!

 

Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXV Thường Niên Năm B tuần này, tương tự như trường hợp của bài TN25-B148


Bài Phúc Âm Chúa Nhật XXV Thường Niên Năm B tuần này, tương tự như trường hợp của bài Phúc Âm tuần trước, cũng không phải là bài Phúc Âm tiếp ngay sau bài Phúc Âm được Thánh Ký Marcô trình thuật, nhưng ý nghĩa lại gắn liền với bài Phúc Âm tuần trước. Đúng thế, cách bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước và bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này là những đoạn Phúc Âm Giáo Hội bỏ qua không sử dụng, thứ tự là đoạn về biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi rồi đến đoạn Người trừ quỉ ám câm điếc ra khỏi đứa con trai. Giáo Hội đã lấy đoạn Phúc Âm về lời Chúa Giêsu tiên báo lần thứ hai liên quan đến cuộc Vượt Qua của Người cũng như về lời Người dạy các tông đồ cách tiếp nhận Người là Đức Kitô. Đó là lý do, như trên đã nhận định, bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước và bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này tuy cách nhau hai đoạn Phúc Âm kể trên, song vẫn ăn khớp với nhau về ý nghĩa. Và như bài chia sẻ tuần trước đã nhận định, bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này sẽ cho thấy lý do tại sao các tông đồ dù đã tuyên nhận “Thày là Đức Kitô” song vẫn vấp phạm trước sự thật này.

Như Thánh Ký Marcô ghi nhận trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này về thái độ của các tông đồ sau khi nghe Chúa Giêsu mạc khải cho biết lần thứ hai về cuộc Vượt Qua của Người như sau: “Mặc dù không hiểu được lời lẽ của Người, song các vị sợ không dám hỏi Người”. Không biết có phải “các vị sợ không dám hỏi Người” là vì không muốn bị Người quở cho như trường hợp tông đồ Phêrô trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước hay chăng, nhưng chắc chắn một điều là các vị chưa hoàn toàn theo Đức Kitô của Thiên Chúa, một Đức Kitô “đến không phải để được phục vụ mà là để phục vụ, để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20:28), mà là theo một Đức Kitô chính trị, một Đức Kitô đầy quyền lực, chẳng những trên thần ô uế, trên thiên nhiên tạo vật, trên tật nguyền bệnh hoạn, mà còn trên cả đế quốc Rôma nữa. Bởi thế, thậm chí cho đến ngay trước khi Chúa Giêsu về trời, các vị còn tỏ ra ngớ ngẩn hỏi Người “phải chăng Thày sắp khôi phục lại nước Do Thái?” (Acts 1:6). Đó là lý do, với tâm trạng trần tục như thế, làm sao các tông đồ hiểu được và chấp nhận được sự thật hoàn toàn thua bại của Thày mình, và làm sao các vị lại không tranh giành ngôi thứ, như bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này cho thấy. Bởi vậy, Chúa Giêsu phải dạy cho các vị biết đường lối của Người, đường lối của một Đức Kitô Vượt Qua chư không phải một Đức Kitô chính trị, đường lối phải bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo Người, như Người đã khuyên giục ở cuối bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước, đường lối làm đầu là làm cuối, làm đầy tớ mọi người.

Tuy nhiên, trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, ở phần cuối có một chi tiết rất lạ và khó hiểu, hình như chẳng có liên quan gì đến những lời Chúa Giêsu đang nói và đến những tác động Người đang làm bấy giờ, đó là, sau khi khuyên bảo các tông đồ về đường lối ngược đời của mình, làm đầu là làm cuối, lãnh đạo là làm tôi, Chúa Giêsu liền đưa một em bé vào ở giữa các vị, rồi vòng tay ôm lấy em mà nói cùng các vị rằng: “Ai vì Thày đón nhận một con trẻ nào như em nhỏ này là đón nhận Thày. Và ai đón nhận Thày thì không phải là đón nhận Thày mà là đón nhận Đấng đã sai Thày”. Như thế nghĩa là gì? Phúc Âm không thuật lại cho chúng ta biết bấy giờ Chúa Giêsu chỉ nói riêng với các tông đồ thôi hay có cả dân chúng ở đấy nữa. Theo mạch văn thì Người chỉ nói riêng với các tông đồ thôi, vì Thánh Ký Marcô viết: “Các vị trở về Caphanaum và khi đã vào nhà rồi, Chúa Giêsu bắt đầu hỏi các vị ‘dọc đường các con đã bàn cãi với nhau điều gì vậy?’ Mà nếu chỉ có các tông đồ thôi thì đứa bé ở đâu ra? Phải chăng là đứa con của chủ nhà? Hay đứa nhỏ Chúa dẫn theo Người? Chỉ biết rằng, Người rất yêu thích em, đến nỗi, như Thánh Ký Marcô tỉ mỉ thuật lại cử chỉ Người “vòng tay ôm lấy em”. Và sở dĩ em được Chúa Giêsu cho xuất hiện ở đây, ngay giữa người lớn, giữa các vị tông đồ là thành phần sau này là nền tảng của Giáo Hội (x Eph 2:20), vì em là chìa khóa được Chúa Kitô sử dụng để mở cửa mầu nhiệm Chúa Kitô Vượt Qua cho các vị có thể tiến vào.

Đúng thế, “ai vì Thày đón nhận một con trẻ nào như em nhỏ này là đón nhận Thày” nghĩa là gì, nếu không phải ai hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ mới được vào Nước Thiên Chúa (x. Mt 18:3), tức mới thấu triệt được mầu nhiệm Nước Trời (x Mt 11:25,27; Lk 10:21-22), thấu hiểu được sự thật về Con Người Giêsu Nazarét là Đức Kitô Vượt Qua. Bằng không, không hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ, trái lại, chỉ thích làm đầu cho oai, như trường hợp các tông đồ trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, sẽ chẳng bao giờ hiểu được Mầu Nhiệm Nước Trời, chẳng bao giờ có thể chấp nhận được một Đức Kitô Vượt Qua. Và, như bài chia sẻ tuần trước đã nhận định, khi Chúa Giêsu chứng thực mình là Đức Kitô đồng thời Người cũng tỏ Cha của Người ra, chính lúc Người chứng tỏ Người là Đấng Thiên Sai là Người đồng thời cũng chứng thực Cha Người là Đấng đã sai Người. Bởi thế, trong bài Phúc Âm Chúa Nhật tuần này, ngay sau khi khẳng định “ai vì Thày đón nhận một con trẻ nào như em nhỏ này là đón nhận Thày”, Người liền thêm: “Và ai đón nhận Thày thì không phải là đón nhận Thày mà là đón nhận Đấng đã sai Thày”. Và chỉ khi nào biết đón nhận Thày, đón nhận Chúa Kitô Vượt Qua, như một trẻ nhỏ, đơn sơ khiêm hạ như thế, con người mới không ham thích làm đầu, mà nếu cần phải làm đầu theo ý Chúa, họ sẽ chỉ làm theo ý Ngài, chứ không làm theo ý mình, chỉ tìm lợi ích cho chủ nhân ông của mình là Thiên Chúa, với tư cách là một tôi tớ hay quản lý, phục vụ những người trong nhà của chủ.

Tinh thần phục vụ của Kitô giáo hoàn toàn ngược lại với đường hướng của Khổng giáo. Nếu Khổng giáo chủ trương quân, sư, phụ, đến nỗi người dưới phải hết mình hy sinh cho người trên, cho dù có phải bỏ mạng sống mình, thì tinh thần của Kitô giáo, tinh thần của một Đức Kitô Vượt Qua, tinh thần của một Vị Mục Tử Nhân lành đến hiến mạng sống mình vì chiên (x Jn 10:10), là người trên phải hy sinh cho người dưới, phải phục vụ người dưới, phải quì xuống rửa chân và lau chân cho người dưới (x Jn 13:4-5). Nếu không có dân sẽ không còn xã hội thì quả thực người làm đầu phải hy sinh cho dân mới đúng, thiểu số hy sinh cho đa số để bảo tồn đa số, chứ đa số không thể hy sinh cho thiểu số, để thiểu số tồn tại. Vua không dân, thày không trò, cha không con, đâu còn là nước, là trường, là nhà nữa. Nếu các chính trị gia và thể chế xã hội loài người theo tinh thần phục vụ này thì thế gian đâu có chiến tranh liên lỉ từ khi lịch sử loài người bắt đầu cho tới nay. Tại sao Giáo Hội Chúa Kitô theo chế độ quân chủ mà vẫn tồn tại bền vững hơn các chế độ quân chủ dân sự, một thứ chế độ quân chủ đã bị lỗi thời từ Cách mạng Pháp 1789? Và tại sao chế độ dân chủ dân sự hiện đại trên thế giới vẫn không mang lại cho xã hội loài người phúc hạnh chân thật và vĩnh viễn, trái lại, càng văn minh, cáng nhân bản càng lộn xộn và hỗn loạn, đến nỗi ý dân là ý trời, ly dị là ý trời, phá thai là ý trời, đồng tính hôn nhân là ý trời, tạo sinh ngoại nhiên là ý trời? Phải chăng vì tinh thần của chế độ quân chủ trước đây cũng như của chế độ dân chủ hiện nay đều là những gì tương phản xung khắc với tinh thần phục vụ của Chúa Kitô? Mầu nhiệm Đức Kitô Vượt Qua chẳng những liên quan đến tinh thần phục vụ mà còn đến cả đau khổ nữa. Vấn đề cứu độ nơi Kitô giáo không phải chỉ là việc cứu con người cho khỏi đau khổ, như chủ trương “đời là bể khổ” của Phật giáo, mà là việc không sợ đau khổ, trái lại, chấp nhận đau khổ, đối đầu với đau khổ, biến đau khổ thành phương tiện cứu độ, thành đường lối chứng tỏ tình yêu tuyệt hảo. Kitô giáo cứu độ không phải chỉ là việc “ánh sáng (Nhập Thể) chiếu trong tăm tối” (Jn 1:5), mà còn là việc tăm tối Tử Giá bừng lên ánh sáng sự sống Phục Sinh!

----------------------------

 

TN25-B149: Não trạng đại gia


- JM. Lam Thy ĐVD.

 

Hiểu rõ các môn đệ với tâm trạng hoài nghi, chưa thật sự tin vào Lời Người giảng dạy trong hội TN25-B149


Hiểu rõ các môn đệ với tâm trạng hoài nghi, chưa thật sự tin vào Lời Người giảng dạy trong hội đường ở Ca-phác-na-um, nên mới có cảnh “Nghe rồi, nhiều môn đệ của Người liền nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6, 60); và vì thế, Đức Giê-su muốn tạm gác việc rao giảng Tin Mừng và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên, để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể hiểu và chấp nhận. Đó là cảnh “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” (Mc 9, 31). Sở dĩ Người làm vậy là có ý giúp các môn đệ chuẩn bị tinh thần, để các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng khi biến cố xảy ra, mà sẵn sàng đón nhận nó.

Đây không phải lần đầu tiên Người nói việc ấy với các môn đệ, Người đã từng nói rõ với các ông trước đó không lâu (“Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết.” – Mc 8, 31), nhưng lúc đó các ông tỏ ra ngán ngại, không tin rằng Thầy mình – một “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mc 1, 22) – lại có thể phải chịu đau khổ đến như vậy. Thái độ không chấp nhận này biểu lộ rõ rệt nhất ở Phê-rô, khi ông “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”, khiến Đức Giê-su quở trách rất nặng lời: “Xa-tan! lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mc 8, 31-33). Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề như thế, nên lần này “các ông sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9, 32).

Các môn đệ không dám hỏi lại Thầy về cuộc thương khó Người sắp phải chịu vì sợ bị khiển trách, nhưng trong lòng vẫn nghĩ khi Thầy chết rồi thì ai trong nhóm 12 sẽ lên thay, ai sẽ là người lớn nhất? Ấy thế là “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9, 34). Đức Kitô dư biết các môn đệ bàn tán điều gì, nhưng khi tới thành Ca-phac-na-um, Người vẫn hỏi: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” Các môn đệ chỉ còn nước ngậm miệng làm thinh. Cũng chính vì thế nên Đức Kitô mới gọi nhóm Mười Hai mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.” (Mc 9, 33-37).

Vấn đề làm lớn, làm bé vẫn là vấn đề muôn thuở của con người. Thường ở đời, con người ai cũng thích làm lớn, thích “ăn trên ngồi trốc”, chớ chẳng ai muốn làm bé và thích ngồi ở dưới. Cái “miếng đinh chung” luôn luôn và mãi mãi là cái hấp lực vô cùng mạnh mẽ. Quan nịêm “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp” đã trở nên như một phong tục tập quán khiến cho giấc mộng “sống ở làng, sang ở nước” luôn ám ảnh con người. Ngày nay, hủ tục mua quan bán tước hay khao vọng đình đám tuy không còn ồn ào như ngày xưa, nhưng vẫn diễn ra bằng nhiều kiểu, nhiều cách, với đủ thứ mưu ma chước quỷ để tranh bá đồ vương, tiếm quyền tiếm chức, tranh danh đoạt lợi, hầu mong được nổi danh nổi tiếng, tiền hô hậu ủng, xe hơi nhà lầu, võng lọng xênh xang. Tâm lý chung của con người ai chẳng muốn chọn cho mình phần tốt nhất, ai chẳng muốn làm “đại gia” đi ăn tiệc được ngồi vào “cỗ nhất”. Cái não trạng “đại gia” đã ăn sâu vào tiềm thức con người, khiến nhiều khi nó trở nên như một bản năng cố hữu.

Chính vì thế, nên các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải khiêm nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an muốn được “một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” (Mc 10, 37). Tin tưởng khi Thầy mình được vinh quang sẽ làm Vua, mà lại xin được ngồi bên tả và bên hữu Người, thì chẳng phải đó là muốn được ngồi “cỗ nhất”, được hưởng “miếng đinh chung” bảnh nhất là “Tả hữu Thừa tướng” đó sao? Không phải chỉ có 2 môn đệ này đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối (“Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an.” – Mc 10, 41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn, và “chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh” xảy ra cũng là điều tất nhiên (“Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau.” – Gc 4, 1-3)

Rõ ràng Đức Kitô “nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi” (Lc 14, 7). Vì thế, nên Người mới dạy: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối.” (Lc 14, 8-9). Người còn chỉ rõ những người ham ngồi “cỗ nhất”, đó là “những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc.” (Lc 20, 46). Ngay đến cả việc đãi khách, mời khách dự tiệc, Người cũng dạy trái ngược với thông lệ của người đời: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có… Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù…” (Lc 14, 12-13).

Lời dạy của Đức Kitô mới thoạt nghe sẽ thấy là mâu thuẫn, khó chấp nhận được, chẳng hạn như Người muốn ai đi theo Người thì phải từ bỏ tất cả, từ của cải vật chất đến cha mẹ anh em họ hàng, kể cả từ bỏ chính mình. Trong khi đó, Người lại dạy phải yêu thương mọi người như yêu thương chính bản thân mình, thậm chí còn yêu thương cả kẻ thù của mình nữa (Mt 5, 44). Tuy nhiên, suy nghĩ cho thấu đáo, thì thấy Đức Kitô chuyên dùng dụ ngôn với những cách nói tương phản, phản đề, cốt ý nhấn mạnh để nêu bật ý chính (chủ đề). Như Lời dạy trên (Lc 14, 12-13), nếu trích đầy đủ, sẽ là: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” (Lc 14, 12-14). Và như vậy, mục đích nhắm tới của Lời dạy là “… ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” Rõ ràng Đức Giê-su chỉ luôn mong muốn Lời dạy của Người có tác động mạnh mẽ, làm cho người nghe hiểu được ý nghĩa sâu xa và cái mục đích tối hậu cần đạt tới.

Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, cũng vì thấu hiểu được tâm địa con người như vậy, nên Đức Kitô mới dạy: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” (Mc 9, 35). Người chỉ muốn dạy môn đệ đức tính khiêm nhu tự hạ. Và nếu anh biết khiêm nhường chịu lụy, anh sẽ được mời lên ngồi “cỗ nhất”. Anh đừng nghĩ khi được ngồi cỗ nhất là anh sẽ được kẻ hầu người hạ, anh sẽ vênh vang nhìn đời bằng nửa con mắt. Trái lại, “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.” (Hc 3, 18), “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” (Mt 20, 43-44).

Khiêm nhường cũng có nhiều cách thể hiện, có thể thực lòng và cũng có thể màu mè bên ngoài, thậm chí còn có trường hợp giả bộ khiêm nhường để bóng gió móc họng nhau nữa. Và cũng vì thế nên Đức Giê-su Thiên Chúa đã vâng lời Chúa Cha xuống thế làm người khó nghèo và dùng chính cuộc sống của Người minh hoạ cho những Lời dạy dỗ chân tình về đức khiêm nhường. Người đã khiêm nhường vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu để cái tính kiêu ngạo của loài người hành hạ, đánh đòn, sỉ nhục, đóng đinh Người vào thập giá. Người đã thức tỉnh nhân loại bằng cách hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, phỏng đã được bao nhiêu người ý thức được tội kiêu ngạo đứng hàng đầu trong 7 mối tội đầu, hiểu được chính tội kiêu ngạo đã đóng đinh Chúa Giê-su vào thập giá? Và chẳng hiểu có được bao nhiêu con người dám hy sinh chỗ ngồi “cỗ nhất” (chưa dám nói hy sinh mạng sống mình) cho anh em, cho đồng loại, để sẵn sàng xuống ngồi “chỗ cuối” mà phục vụ mọi người? Quả thực “Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó.” (Hc 3, 28).

Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa luôn soi sáng và hướng dẫn con, để con đừng bao giờ quên dụ ngôn “Người Pha-ri-sêu và người thu thuế” (Lc 18, 9-14). Cũng bởi vì đến ngay như việc thờ phượng Thiên Chúa, con cũng cách này cách khác làm như anh chàng Pha-ri-sêu lên tận cung thánh khoe hết thành tích nọ đến chiến công kia (“Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”). Và nếu không tìm ra được chiến công, thành tích (kiểu như rủ nhau đóng góp mua một vài thùng mì tôm, đôi ba bao gạo mốc, năm ba túi quần áo rách, rồi trương biểu ngữ thật hoành tráng đi làm chuyện tế bần, từ thiện), con cũng cố gắng tìm những việc làm thường nhật (đi lễ, đọc kinh sớm tối, bỏ tiền lẻ vào túi kín, hay vênh vang ném từng đồng xu cho những hành khất...) để kể công với Chúa hệt như anh chàng Pha-ri-sêu thủa xưa. Con đã kênh kiệu nhắm tít mắt mà không quay nhìn lại dưới cuốí nhà thờ đang có những “người thu thuế” chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” (Lc 18, 13).

Ôi! “Lạy Chúa! Con là kẻ có tội!” Con biết tội con nặng lắm rồi, vì chỉ thích làm đại gia chớ không thích làm nguời bé mọn, chỉ thích đứng đầu, ăn “cỗ nhất” chớ không thích ngồi sau, ăn cơm thừa canh cặn. Con biết những hành động trên của con đã hàng ngày hàng giờ đóng đinh Chúa, đâm thâu vào Trái Tim Chúa. Cúi xin Chúa không chỉ dạy con mà luôn đồng hành với con để con sẵn sàng thể hiện bằng hành động, bằng chính cuộc sống của con như những kẻ bé mọn, như những “người thu thuế”, như những “bà goá nghèo”, như những “người rốt hết”, để đến ngày sau hết, con được Chúa cho đứng bên phải Ngài. Ôi! Lạy Chúa! Con hết lòng cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

------------------------

 

TN25-B150: SỐNG GIỐNG NHƯ THẦY CHÍ THÁNH CỦA CHÚNG TA


[Kn 2,12.17-20; Gc 3,16-4, 3; Mc 9,30-37]

 

Làm môn đệ Thầy Giê-su có nghĩa là đi theo Người, là đi con đường chính Thầy đã đi. Con đường TN25-B150


I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

Làm môn đệ Thầy Giê-su có nghĩa là đi theo Người, là đi con đường chính Thầy đã đi. Con đường Thày Giê-su đã đi là con đường tự hạ và phục vụ tha nhân như kẻ tôi tớ.

Đi con đường ấy chẳng dễ chút nào, vì mỗi con người chúng ta đều có xu hướng muốn đưa mình lên, muốn là người được phục vụ chứ không muốn là kẻ phục vụ. Và vì thế gian ma quỷ luôn tìm cách lôi kéo và rình rập gài bẫy chúng ta.

Vì thế mà hành trình theo Thầy Giê-su là một cuộc chiến nội tâm quyết liệt giữa được và mất, giữa sống và chết.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

2.1 Trong bài đọc 1 (Kn 2,12.17-20): "Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã"  (Những kẻ gian ác nói rằng:) "Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Vậy chúng ta hãy xem điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!"

2.2 Trong bài đọc 2 (Gc 3,16 - 4,3): "Hoa quả của công chính được gieo vãi trong bình an cho những người xây đắp an bình" Anh em thân mến, ở đâu có ganh tị và cãi vã, ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan. Nhưng sự khôn ngoan từ trời xuống, thì trước tiên là trong trắng, rồi ôn hoà, bao dung, nhu mì, hướng thiện, đầy lòng nhân từ và hoa quả tốt lành, không xét đoán thiên vị, không giả dối. Hoa quả của công chính được gieo vãi trong bình an cho những người xây đắp an bình.

Bởi đâu anh em cạnh tranh và cãi cọ nhau? Nào không phải tại điều này: tức tại các đam mê đang giao chiến trong chi thể anh em đó sao? Anh em ham muốn mà không được hưởng, nên anh em giết nhau. Anh em ganh tị mà không được mãn nguyện, nên anh em cạnh tranh và cãi cọ. Anh em không có là tại anh em không xin. Anh em xin mà không nhận được, là vì anh em xin không đúng, cứ mơ tưởng thoả mãn các đam mê của anh em.

2.3 Trong bài Tin Mừng (Mc 9,30-37): "Con Người sẽ bị nộp. Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết" Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ từ trên núi xuống, rồi đi ngang qua xứ Galilêa và Người không muốn cho ai biết. Vì Người dạy dỗ và bảo các ông rằng: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người.

Các ngài tới Capharnaum. Khi đã vào nhà, Người hỏi các ông: "Dọc đàng các con tranh luận gì thế?" Các ông làm thinh, vì dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất. Bấy giờ Người ngồi xuống, gọi mười hai ông lại và bảo các ông rằng: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người". Rồi Người đem một em bé lại đặt giữa các ông, ôm nó mà nói với các ông rằng: "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy".

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG & SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)   

3.1.1 Bài đọc 1 (Kn 2,12.17-20) là những lời của sách Khôn Ngoan, về âm mưu thâm độc mà phường vô đạo sẽ thực hiện để thử thách và ám hại người công chính.  Qua đó chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng phù trợ, bênh đỡ và cứu giúp con cái Người khỏi tay phường vô đạo.

3.1.2 Bài đọc 2 (Gc 3,16 - 4,3) là những nhận xét và phân tích chí lý của Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ về con người và xã hội: một bên là thế giới của người công chính với những hoa thơm trái ngọt của Đức Khôn Ngoan; còn bên kia là thế giới đối nghịch, thế giới của ghen tương và tranh chấp giữa con người với con người. Thánh Gia-cô-bê rất chính xác khi chỉ ra nguyên nhân của chiến tranh, xung đột giữa người với người, giữa các nhóm người và các dân tộc với nhau: Dục vọng và khoái lạc là nguồn gốc sinh ra mọi rắc rối và hỗn loạn trong nội tâm cũng như trong tương quan xã hội. Trong bài đọc 2 này chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng Công Chính, Khôn Ngoan và là Vua Hòa Bình.

3.1.3 Bài Tin Mừng (Mc 9,30-37) là tường thuật tiếp theo của Thánh Mác-cô về những khó khăn mà các môn đệ của Chúa Giê-su gặp phải sau khi Người loan báo về Cuộc Thương Khó. “Các ông không hiểu nhưng sợ không dám hỏi lại Chúa.”

Vì không hiểu mà lại không dám hỏi, nên trên đoạn đường tiến về Ca-phác-na-um các ông tranh cãi với nhau khá quyết liệt xem ai là người lớn nhất. Suy nghĩ của các ông khác xa với quan điểm của Chúa Giê-su: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người.”

Trong Bài Tin Mừng này Chúa Giê-su muốn mạc khải cho chúng ta biết/thấy Thiên Chúa là Đấng hạ mình như thế nào để gần gũi và phục vụ con người.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa (Chúa muốn chúng ta làm gì?)   

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: Những ai muốn

- sống như người công chính (bài đọc 1),
- sống theo Đức Khôn Ngoan (bài đọc 2),
- sống theo Chúa Giê-su (bài Tin Mừng) thì phải biết

  (a) vượt thắng cám dỗ và thử thách của ma quỷ, thế gian,
  (b) dẹp bỏ dục vọng và ham muốn khoái lạc,
  (c) và chấp nhận sống tự hạ và bỏ mình để trở thành kẻ tôi tớ phục vụ mọi người theo gương Chúa Giê-su Ki-tô.

IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

4.1 Sống với Thiên Chúa là dành những giây phút thinh lặng chiêm ngắm Thiên Chúa, phó thác cuộc đời cho Thiên Chúa là Đấng trung tín trong mọi lời Người đã hứa với con cái loài người. Sống với Thiên Chúa là nhìn vào cách sống của Chúa Giê-su Ki-tô mà noi gương bắt chước.

4.2 Thực thi Sứ điệp Lời Chúa hôm nay là làm những việc sau đây:

* Trước hết là phải cảnh giác và tỉnh thức trước những dụ dỗ, thử thách đến từ bên ngoài là thế gian và ma quỷ. Chúng tinh khôn, xảo quyệt, nhiều mưu mô lôi kéo chúng ta sống theo chúng.

* Kế tiếp là phải đề phòng với chính bản thân mình, cụ thể là với dục vọng và ham muốn khoái lạc là gốc rễ của ghen tương, tranh chấp và mọi điều xấu xa khác.

* Sau cùng là hãy nhìn vào các Tông Đồ để thấy việc đi theo Chúa Giê-su khó khăn vất vả như thế nào! Nên chúng ta phải không ngừng khẩn cầu, xin Chúa Giê-su ban ơn phù giúp để chúng ta hiểu và dũng cảm sống khiêm nhường, từ bỏ, chấp nhận làm tôi tớ phục vụ mọi người theo gương Chúa Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa và là Chúa chúng ta.

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI  VÀ HỘI THÁNH

5.1 «Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho hết mọi người trên thế gian này biết quý trọng và sống theo sự chỉ dậy của đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa, để mọi người trở nên thanh khiết, hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, từ bi, công minh, chân thật và sinh nhiều hoa thơm trái tốt cho mình và cho người khác.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp:  Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.2 «Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho các Vị Lãnh Đạo Hội Thánh toàn cầu và Hội Thánh ở Việt Nam, để các ngài sống khiêm hạ và phục vụ vô vị lợi theo gương của chính Chúa Giê-su Ki-tô.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp:  Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.3 «Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho giáo dan thuộc giáo xứ chúng ta, để mọi người biết dẹp bỏ ghen tương và tranh chấp là mầm mống của xáo trộn và mọi thứ xấu xa và cùng nhau kiến tạo bình an và hạnh phúc cho mọi thành phần xã hội.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp:  Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.4 «Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho  những người bị cô-vit 19 và những người  đang đau khổ vì mất người thân vì côvit-19, để họ được Chúa chúc lành và an ủi vì những đau khổ mà họ đang phải chịu.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa!  Đáp:  Xin Chúa nhận lời chúng con!

Sàigòn ngày 15 tháng 09 năm 2021      

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 

----------------------

 

TN25-B151: GHEN TƯƠNG ĐỐ KỴ


Tgm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Những ai đọc tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa đều biết đến nhân vật Chu Du. Ông là một vị TN25-B151


Những ai đọc tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa đều biết đến nhân vật Chu Du. Ông là một vị tướng giỏi, túc trí đa mưu, nhưng lại có tính ghen tương đố kỵ. Đối thủ của Chu Du là Gia Cát Lượng. Khi bị thua trận cách bẽ bàng, trước khi hộc máu miệng và chết, Chu Du đã thốt lên câu cảm thán và câu này đã trở thành kinh điển: “Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng!”. Thật thê thảm thân phận một con người nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, ngó đâu cũng thấy tai hoạ! Hậu thế không khỏi xót xa cho một nhân tài mà không thắng nổi tính ghen tương của chính mình.

Ghen tương là sợ người khác hơn mình. Ghen tương có từ khi con người hiện hữu trên trái đất. Quả vậy, Cain ghen với Aben là em ruột, nên đã xuống tay đoạt mạng người em cùng huyết nhục. Tính ghen tương cũng hiện hữu nơi mỗi con người ở mọi thời đại, và đó là nguyên nhân gây nên biết bao đổ vỡ, thậm chí án mạng. Tác giả sách Khôn ngoan ghi lại những lời hằn học đố kỵ của những người mà ông gọi là “phường vô đạo” (Bài đọc I). Họ ghen tức với những người sống ngay chính, và những người không a dua theo thói sống mưu mô của họ. Họ bàn mưu tính kế để kết án và giết chết người công chính. Các nhà chú giải Kinh Thánh, dưới nhãn quan Kitô giáo, đã nhận ra đây là hình ảnh của Đức Kitô khổ nạn. Người đã cam lòng chịu chết cách bất công, để nêu gương bài học khiêm nhường, kiên nhẫn và phó thác nơi Thiên Chúa, như chúng ta sẽ thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay là lời loan báo cuộc khổ nạn lần thứ hai của Chúa Giêsu. Cũng như các ngôn sứ và những người công chính thời Cựu ước, Chúa sẽ bị nộp vào tay người đời, sẽ bị giết chết, nhưng Người sẽ sống lại. Lời loan báo này xem ra không gây chút ấn tượng nào nơi các môn đệ. Thánh Mác-cô đã làm độc giả ngạc nhiên khi ghi lại cuộc tranh cãi của các môn đệ xoay quanh đề tài “ai sẽ là người lớn nhất” vào lúc Chúa Giêsu tiên báo cuộc khổ nạn thập giá. Người ta đặt câu hỏi: làm sao các môn đệ lại vô tâm trước những điều Đức Giêsu vừa nói? Thì ra, kể cả lúc Chúa tiên báo cuộc khổ hình đau thương mà Người sắp trải qua, các ông vẫn còn mơ về thời thiên sai theo nhãn giới phàm tục. Vì vậy, nghe Chúa nói về việc Người sẽ bị bắt bớ và bị giết, các ông “không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người”. Trong tâm trí các ông lúc đó, việc bình bầu ai là người lớn nhất còn đáng quan tâm hơn cả những gì Thày mình vừa nói về cuộc đau khổ và về thập giá.

 “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Đó là lời khẳng định của Chúa, cũng là bài học Chúa muốn dạy cho các môn đệ. Chính Chúa đã thực hiện nơi bản thân Người bài học này. Là Thiên Chúa uy quyền cao sang, Chúa Giêsu đã hạ mình mặc lấy thân phận con người để sống cùng và sống cho con người, nhằm mưu cầu hạnh phúc của họ. Qua hình ảnh một em bé, Chúa muốn khẳng định, những ai muốn theo Người cần phải sống đơn sơ, phó thác để có thể trở nên môn đệ đích thực của Người. Lý tưởng của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với lối suy nghĩ thông thường của con người. Ở đời, ai cũng muốn nổi hơn người khác về mọi phương diện. Nếu thấy người bên cạnh hơn mình thì họ ghen tương, thậm chí tìm cách gài bẫy để loại trừ. Chúa Giêsu cũng đã là nạn nhân của sự ghen tương của con người, và Người đã phải chết trên thập giá.

Thánh Giacôbê hôm nay nói đến sự ghen tương giữa các thành viên trong cộng đoàn tín hữu (Bài đọc II). Theo tác giả, ghen tương và tà ý là nguyên nhân gây nên mọi điều xấu xa. Điều tác giả đề cập, vẫn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, kể cả trong những cộng đoàn đức tin. Ghen tương đến từ việc người ta không bằng lòng với khả năng và vị trí của mình. Cũng có khi vì thấy người khác thành công, nên muốn “dìm hàng” phê phán và hạ bệ người khác. “Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình” – lời khẳng định của Thánh Giacôbê cho thấy, những gì chúng ta làm với thiện ý và với trái tim chân thành, sẽ đóng góp xây dựng hòa bình nơi trần thế, đồng thời làm cho Vương quốc vĩnh cửu được hình thành ngay trong cuộc sống chúng ta.

“Ai tiếp đón một em nhỏ như em này, vì danh Thày, là đón tiếp chính Thày; và ai tiếp đón Thày, thì không phải là tiếp đón Thày, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thày”. Thật không ngờ, những việc nhỏ mọn lại có ý nghĩa cao cả đến thế. Nhờ những nghĩa cử bác ái đơn sơ, mà chúng ta được gặp Đấng cao cả, là Thiên Chúa và là Cha của chúng ta.

---------------------------

 

TN25-B152: LÀM NGƯỜI PHỤC VỤ


Lm. Thái Nguyên

 Suy niệm

 

Đây là lần thứ hai Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ về cuộc khổ nạn của Ngài, để khi sự TN25-B152


Đây là lần thứ hai Chúa Giêsu loan báo cho các môn đệ về cuộc khổ nạn của Ngài, để khi sự việc xảy ra thì họ sẽ không quá ngỡ ngàng và hoang mang, nhưng họ vẫn không hiểu, hoặc không muốn hiểu. Nói rằng các ông sợ không dám hỏi lại, nhưng đúng hơn, các ông muốn tránh né vấn đề. W. Barclay đã bình phẩm thái độ này như sau: Tâm trí con người vốn có năng khiếu lạ lùng để loại bỏ điều họ không muốn thấy. Chúng ta có khác gì họ đâu? Cũng vậy thôi, chỉ tiếp nhận phần nào mình thích và phù hợp với mình, và từ chối không chịu hiểu phần còn lại.

Có lẽ các môn đệ cũng đoán được Đức Giêsu sắp kết thúc hoạt động rao giảng, nhưng kết thúc một cách huy hoàng bằng cuộc cách mạng tái lập lại Israel. Thế nên giữa các ông bắt đầu có một cuộc tranh chấp về địa vị trong vương quốc mới của Thầy mình. Các ông tranh cãi nhau ngay trong lúc đi đường xem ai là người lớn nhất trong nhóm. Điều đó cho thấy các ông không hiểu gì về sứ mạng của Thầy mình, nên nằm trong tình cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược.

Khi về đến nhà, Chúa Giêsu bảo các môn đệ ngồi lại, vờ hỏi xem đã bàn chuyện gì khi đi đường. Họ làm thinh không trả lời. Trong bầu khí trầm lắng, Ngài nhẹ nhàng đưa ra cho họ một cách thế để trở nên những con người lớn lao thực sự:“Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Lời này có lẽ làm cho các đồ đệ vừa sượng sùng trước cái ham muốn quyền thế, vừa rơi xuống chiếc mặt nạ ảo tưởng về chính mình. Bởi vì người đứng đầu mà phải sống như người đứng cuối, thì có ai muốn đứng đầu nữa không?

Chúa Giêsu còn minh họa bằng một hình ảnh sống động khi đặt đứa bé vào giữa họ rồi ôm lấy nó, và tuyên bố: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy”. Khi nói và làm như thế, Chúa Giêsu đã thực hiện một hành động phục hồi mang hai chiều kích: con người và tôn giáo; vừa nhận mình là tôi tớ của mọi người, vừa mở rộng vòng đai khép kín của Giáo hội đến tận những người hèn mọn nhất. Đó chính là sứ vụ của Chúa Giêsu ủy thác cho các môn đệ. Để nhấn mạnh thêm bài học quan trọng này, Ngài đã kết luận:“Ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Như vậy, ai đón nhận Ngài trong bản thân những kẻ bé nhỏ là đón nhận chính Thiên Chúa. Lạ thay! Thiên Chúa mang khuôn mặt một con trẻ. Đó là sứ điệp rất mới và rất lạ của đoạn Tin Mừng này.

Quả thật, trước giáo huấn của Chúa Giêsu, việc đua đòi danh vọng trở nên cái gì hàm hồ đối với những ai bước theo Ngài. Nhưng dường như ai cũng háo hức về chức tước, địa vị, quyền thế, vì nó không chỉ thỏa mãn được nhu cầu thể hiện bản thân, mà còn vì được công thành danh toại:“Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”, hoặc “Không công danh thà nát với cỏ cây”.

Chức vụ, địa vị, là điều phải có trong mọi tổ chức xã hội cũng như Giáo hội. Nó xấu là vì người ta quy về mình, lo chiếm hữu cho mình. Nhưng nó lại rất tốt khi người ta coi đó như một phương tiện phục vụ để đem lại bình an và hạnh phúc cho tha nhân. Tuy nhiên, kẻ ham mê quyền cao chức trọng thì không thể nói tốt được. Thực tế, việc ham muốn đứng đầu vẫn là một cám dỗ không ngừng đối với cả đạo đời. Rất ít người mong đứng đầu để phục vụ, mà để hưởng thụ và sống trên người khác. Dù có phục vụ đi nữa thì cũng phục vụ như kẻ có quyền hành. Không mấy ai có được tính cách phục vụ như Chúa Giêsu.

Nếu phải coi ai là “Người lớn nhất”, thì chắc phải là người phục vụ nhiều nhất, với lòng khiêm nhường và tình yêu vô vị lợi. “Người lớn nhất” không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng con tim để yêu thương; không đứng trên cao để điều khiển, nhưng xuống dưới thấp  để hầu hạ. Không phải chỉ Giáo hội, mà bất cứ một tập thể nào cũng rất cần những người đứng đầu theo kiểu mẫu của Đức Giêsu. Nhà truyền giáo Albert Schweitzer nói: “Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ”.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu!
Ngài là Con Thiên Chúa toàn năng,
nhưng không đến trần gian làm bá chủ,
mà chỉ đến để hiến thân phục vụ,
để đem lại hòa bình cho thế giới,
và trở thành giá cứu chuộc cho đời.

Ai cũng muốn mình nên cao trọng,
nên chạy theo danh vọng quyền hành,
dùng mọi phương kế để đua tranh,
đưa đến bao nhiêu chuyện chẳng lành.

Chúa dạy con muốn nên người lớn nhất,
phải làm người nhỏ nhất giữa anh em,
làm cao phải biết cúi mình phục vụ,
làm lớn phải hành động thật khiêm nhu.

Nhìn ngắm tượng ảnh Chúa Giê-su,
con thấy tay Ngài không chỉ lên đầu
mà chỉ vào trái tim bị đâm thâu,
một trái tim bốc lửa vì yêu dấu.

Điều đó đã làm cho con hiểu:
đứng đầu phải sống như người hầu,
vui lòng đón nhận những thương đau,
như chính Chúa đã nên gương mẫu.

Sự phục vụ nào cũng đòi con xả kỷ,
không tìm mình và cũng chẳng mong chi,
chỉ mong sao ý Chúa được thực thi,
và ai cũng thấy mình được yêu quý.

Xin cho con đừng toan tính điều gì,
chỉ biết chân thành và phục vụ cho đi,
đặt mình làm tôi tớ của mọi người,
nhận ra vị trí của mình là ở dưới,
để góp phần cho cuộc sống đẹp tươi. Amen

----------------------------

 

TN25-B153: Ở ĐÂU CÓ GHEN TỴ, Ở ĐÓ CÓ TỆ ĐOAN


Lm Phêrô Nguyễn Văn Hương

 

Lời Chúa hôm nay nói nhiều về tính ghen tương hay là ghen tỵ nhau. Ghen tương là một trong bảy TN25-B153


Lời Chúa hôm nay nói nhiều về tính ghen tương hay là ghen tỵ nhau. Ghen tương là một trong bảy mối tội đầu, nghĩa là tật xấu này sinh ra nhiều nhiều tội khác. Tính ghen tương có thể xuất hiện ở bất người nào và bất cứ hoàn cảnh nào.

Bài đọc I từ sách Khôn Ngoan đề cập đến việc người xấu ghen tỵ với người tốt, phường vô đạo ghen tỵ với người công chính, họ tìm cách gài bẫy và làm hại người công chính. Bởi vì sự hiện diện của người công chính làm cho họ cảm thấy chướng tai gai mắt và chống lại những việc làm xấu xa họ làm. Dưới ánh sáng Tân Ước, những điều này được ứng nghiệm trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Như một người công chính, Người lên án thái độ giả hình và tham vọng của các Biệt Phái và Luật Sĩ, nên họ đã chống lại Người, bách hại và đóng đinh Người trên thập giá vì sự ghen ty và thù ghét Người.

Bài đọc này cũng được ứng nghiệm trong đời sống của tất cả những ai phải chịu đau khổ bởi sự bách hại bất công vì đã sống công chính và ngay thẳng. Giống như Đức Kitô, nhiều lúc, chúng ta bị bách hại bởi những kẻ thù bên ngoài và nhiều lúc bởi chính cả bạn bè, người thân nữa vì chúng ta làm điều gì đó tốt đẹp. Họ có thái độ thù địch và ghen ghét chúng ta. Nhưng chúng ta phải can đảm và bền lòng, vì Thiên Chúa chắc chắn sẽ minh oan cho chúng ta như Người đã làm cho Đức Kitô.

Bài đọc II nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc tập trung sống những điều tốt lành vốn chúng mang lại sự hiệp nhất với nhau hơn là chạy theo những điều làm chia rẽ chúng ta. Đó là anh em hãy “trở nên thanh khiết, hiếu hòa, bao dung, mềm dẻo, đầy lòng từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình” (Gc 3,17).
Tất cả chúng ta đều ước ao một cuộc sống hòa hợp, bởi vì nhiều cộng đoàn Kitô hữu, nhiều gia đình thường xuyên sống trong cảnh chiến tranh, xung đột và xáo trộn.

Những tranh chấp như thế nhiều lúc không thể tránh khỏi trong đời sống, nhưng chúng ta không được phép để cho chúng chia rẽ chúng ta. Thật đáng buồn, gốc rễ của hầu hết các cuộc tranh chấp như thế là do tham vọng ích kỷ. Vì thế, thánh Giacôbê nhắc nhở chúng ta đừng để cho những tham vọng ích kỷ phá hủy những tương quan, gia đình và cộng đoàn chúng ta. Thánh nhân quả quyết:

“Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa… Anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau” (Gc 3,16.4,2).”

Dĩ nhiên, nhiều gia đình, nhiều vợ chồng, nhiều cộng đoàn và nhiều quốc gia đã bị phá hủy vì những tham vọng và ước muốn ích kỷ.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi Chúa Giêsu loan báo về việc Người sẽ bị bắt, bị giết chết và ngày thứ ba, Người sẽ sống lại, thì các môn đệ chỉ có nghĩ đến quyền lợi, địa vị và tranh dành nhau ai lớn hơn ai trong Nước Chúa. Rõ ràng các môn đệ theo Chúa nhưng vẫn còn mang trong mình những “giấc mơ trái mùa” mà họ nghĩ rằng Chúa đến để thiết lập, họ sẽ được thăng quan tiến chức theo kiểu thế gian hơn là đi theo Chúa để phục vụ tha nhân. Như thế, giống như cộng đoàn mà thánh Giacôbê viết thư khuyên bảo, các môn đệ của Chúa Giêsu cũng đã kinh nghiệm về sự tranh dành quyền lực và ganh tỵ nhau.

Đây cũng là điều mà chúng ta thường thấy trong xã hội, Giáo Hội, gia đình và bất cứ nơi đâu mà sự tham vọng cá nhân được xem là quan trọng hơn bất cứ điều gì. Khi đó, chúng ta thấy xuất hiện chiến tranh, ngồi lê đôi mách, dửng dưng, gây hấn, đe dọa mạng sống và tài sản, hiềm thù, và mọi tật xấu tệ đoan. Tất cả những điều này phá hủy hết mọi thiện ích chung và sự sống chung hòa bình.

Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta một con đường để vượt thắng sự ghen tỵ. Đó là không nhìn người khác như là đối thủ phải loại trừ trong cuộc cạnh tranh. Tha nhân là đối tượng để chúng ta thăng tiến và phục vụ.

Vì thế, khi Chúa Giêsu bồng một em bé lên như là một mẫu gương cho chúng ta hôm nay, Người đơn giản muốn dạy chúng ta rằng chúng ta phải trở nên giống như trẻ thơ để trở nên người lớn nhất. Dĩ nhiên, đây không có nghĩa là trở nên “ấu trĩ.” Đúng hơn, nó có nghĩa là trở nên giống tinh thần trẻ thơ. Nghĩa là sống cách đơn giản, trong sáng, với tinh thần khiêm tốn, phục vụ Chúa và tha nhân.

Cuối cùng, để trở nên người lớn nhất có nghĩa là người biết tập trung vào người khác chứ không phải tập trung vào chính mình, người biết dùng khả năng mình để phục vụ, đón tiếp, và cộng tác với người khác như các trẻ thơ thường làm. Nó cũng có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận sự thật, tôn trọng sự khác biệt của người khác và hợp tác với nhau một cách tích cực.
Để kết thúc, chúng ta nghe lại câu chuyện dân gian Việt Nam về sự nguy hại của sự ghen tỵ, câu chuyện Thiếu Phụ Nam Xương.

Cô là một người phụ nữ có tên là Nguyễn Thị Thiết, lấy chồng họ Chương, sống ở tỉnh Hà Nam. Hai vợ chồng đang yêu thương và chung thủy với nhau, nhưng vì nước, chàng phải đi lính theo lời hiệu triệu của nhà vua. Trước khi ra trận, hai người có con mà không biết. Khi sinh con, mỗi buổi tối, người mẹ ru con ngủ, đứa con trai hỏi mẹ: “Bố con ở đâu?” Người mẹ chỉ vào cái bóng mình in trên vách nhà và nói: “Bố con đó.” Sau ba năm anh trở về, hai mẹ con đi ra đón chồng. Khi anh tới ôm đứa bé, nó liền bảo: “Ông không phải là bố tôi, bố tôi tối mới về kìa.” Nghe vậy chàng Chương bừng bừng nổi giận máu ghen với vợ mình. Đau lòng quá và không thể làm cách gì để giải thích cho chồng hiểu, nàng đành ra sông tự tử. Sau đó, cứ mỗi tối thấy bóng người trên vách nhà, đứa con lại kêu lên: “Bố con đã về kìa!” Hiểu ra vấn đề, chàng Chương ân hận, thương tiếc vợ mình, nhưng mọi sự đã quá muộn. Anh và đứa con liền ra sông lập miếu để thờ nàng.

Câu chuyện trên minh chứng lời này: có yêu thì mới ghen, nhưng quá ghen thì giết chết tình yêu!
Xin Chúa giúp chúng ta biết giệt trừ tính ghen tỵ trong lòng chúng ta. Amen!

-------------------------

 

TN25-B154: CHÚA BÊN CON


Bông hồng nhỏ

 

Sau khi chữa một người bị quỷ ám mắc bệnh động kinh, Thầy Giêsu cùng các môn đệ ra khỏi TN25-B154


Sau khi chữa một người bị quỷ ám mắc bệnh động kinh, Thầy Giêsu cùng các môn đệ ra khỏi đó, đi băng qua miền Galilê. Thầy trò âm thầm tiến bước, không có đám đông vây quanh, chỉ có Thầy và trò sát cánh bên nhau, vì Chúa Giêsu không muốn cho ai biết về cuộc hành trình này. Lần này, Thầy Giêsu một lần nữa nhắc lại lời loan báo về cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Các môn đệ không hiểu và cũng vì sợ nên chẳng ai dám hỏi lại Người. Một sự thinh lặng đến nghẹt thở. Nhưng trong chính tâm hồn mỗi môn đệ đều đang có một cuộc chiến dữ dội. Cuộc chiến đấu nội tâm ấy là gì thì chỉ mình Chúa và mỗi người biết. Có lẽ, nỗi băn khoăn mà các ông đều cưu mang trong lòng đó là: Ai trong các ông là người lớn nhất?

Hơn ai hết, Thầy Giêsu hiểu rõ con đường mà Người đang dẫn các môn đệ bước đi. Càng ngày, cuộc hành trình càng đến gần thập giá. Đồi Canvê một chiều loang máu như ẩn hiện trong tâm trí Thầy. Những cực hình và cả cái chết treo trên thập giá đang chờ đợi phía trước, nhưng tất cả không ngăn được bước chân của Thầy. Thầy nhận thấy nỗi lo lắng và sợ hãi hiện trên khuôn mặt từng môn đệ, Người cũng hiểu rõ cả những nỗi ưu tư và bao toan tính đang giằng xé tâm hồn họ. Những con người ấy đã chia sẻ với Thầy bao hân hoan và vui mừng, chia sẻ cả những thiếu thốn trên hành trình rao giảng Tin Mừng. Liệu họ có trung thành theo Thầy đến đỉnh đồi Canvê? Thầy Giêsu thấu biết từng người trong các ông, và nhất là Người dành cho các ông một tình yêu trước sau như một, một tình yêu tròn đầy.

Khi cùng Thầy đến thành Caphácnaum, các môn đệ đã cãi nhau. Về đến nhà, Thầy mới hỏi: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?”( Mc 9, 33). Câu hỏi của Thầy khiến các ông lặng thinh. Có lẽ, các ông đã cãi nhau kịch liệt nhưng Thầy lại chỉ gọi đó là một cuộc “bàn tán”. Các ông cúi mặt khi bắt gặp ánh mắt trìu mến của Thầy. Dọc đường, có Thầy cùng đi nhưng các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Khi đụng đến quyền lợi, danh vọng, tất cả các ông đều bộc lộ con người mình. Thầy ngồi xuống, gọi các ông lại và nhẹ nhàng dạy bảo: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9, 35). Đó là giáo lý của Thầy Giêsu, một giáo lý hoàn toàn trái ngược với những gì mà con người vẫn suy tính và mong đợi. Lời Thầy dạy bảo như mũi tên đâm trúng tim đen của từng người và làm lộ ra những tham vọng đã chất đầy trong họ. Thầy biết rõ ước muốn của họ. Thầy dạy họ hãy làm mọi việc bằng tình yêu và nhân danh Thầy.

Còn ta, mỗi ngày qua đi, có biết bao điều đã xảy đến với ta. Kìa, Thầy Giêsu cũng đã ngồi xuống, Người đưa mắt mời gọi ta. Ta có mau mắn đến ngồi xuống bên Thầy như các môn đệ lúc này đây? Ta có sẵn sàng để Thầy chạm đến nơi sâu thẳm của tâm hồn mình không? Hãy để Lời Người thức tỉnh ta, đánh một tiếng động lớn trong lòng ta. Chắc chắn, ánh sáng tình yêu của Người sẽ làm lộ ra những gì ẩn khuất nơi tâm hồn ta: đó là những ước muốn bất chính, những đam mê, những ham muốn quyền lực, danh vọng hay cả những ước muốn yêu và được yêu. Người sẽ hướng dẫn ta quay trở về, nối lại những tương quan đã đổ vỡ vì hiểu lầm, xích mích; làm mới lại tình yêu với Chúa trong ta. Hãy nhớ rằng, những nẻo đường ta đang bước đi đều có Thầy hiện diện. Dù Người lên tiếng hay chỉ âm thầm đi bên cạnh, Người vẫn hướng toàn bộ cái nhìn và sự quan tâm dành riêng cho ta.

Lạy Chúa Giêsu! Cảm tạ Chúa đã luôn bước đi bên con. Dù có lúc con không để ý đến sự hiện diện của Chúa, dù lắm lúc con đã quên mất rằng Người vẫn có đó, hay vì con không thể nhận ra rằng Chúa thật sự đang ở bên con, thì trong ánh mắt của Chúa, trong tâm trí và trái tim của Chúa vẫn luôn ghi khắc hình ảnh của đứa con bé nhỏ và tội lỗi này: “Vì mỗi lần nhắc đến con; Ta lại thấy nhớ thương; Nên lòng Ta bồi hồi thổn thức; Ta thương con, thương con thật nhiều” (x.Gr 31, 20). Amen.

---------------------------

 

TN25-B155: NÊN NHỎ BÉ


Thiên San

 

Xin cho con nhỏ bé trước mặt Chúa, đơn sơ, hiền hòa như suối mát. Xin cho con nhỏ bé trước TN25-B155


“Xin cho con nhỏ bé trước mặt Chúa, đơn sơ, hiền hòa như suối mát. Xin cho con nhỏ bé trước anh em…” Đó là những ca từ rất giản dị, mộc mạc, đơn sơ của  một vị linh mục, như muốn gói gọn tâm tình của người môn đệ Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay cũng dạy cho chúng ta bài học về sự nhỏ bé ấy. Đức Giêsu vẫn kiên nhẫn trong việc hướng dẫn các môn đệ của mình.

Dân gian có câu: “Có chuyện gì thì đóng cửa bảo nhau”. Quả thực, đó là sự tế nhị, khôn khéo, bác ái để chúng ta giúp nhau xây dựng hòa khí trong gia đình, nhóm bạn. Sau khi nghe Thầy Giêsu loan báo lần thứ hai về Cuộc Thương Khó của Người, các môn đệ vẫn chưa hiểu và vì sợ nên không dám hỏi lại. Dường như các môn đệ không hiểu điều Thầy đang muốn mạc khải. Đang khi Thầy của mình còn phải đối diện với những khó khăn, với Cuộc Khổ Nạn sắp tới, thì các ông vẫn còn bận tâm đến chuyện ai lớn hơn ai. Nỗi bận tâm đó khiến các ông cãi nhau dọc đường. Biết vậy, về tới nhà, Đức Giêsu mới bắt đầu hỏi các môn đệ của mình: “Dọc đường, anh em bàn tán với nhau chuyện gì vậy? (Mc 9, 33). Các ông làm thinh (Mc 9,34).

Dường như nét mặt của các môn đệ đã nói lên tất cả. Các ông hãy còn đang hằn học với nhau, khuôn mặt vắng bóng nét vui tươi, bình an. Không hẳn vì các ông lo nghĩ đến những điều Thầy loan báo, nhưng có thể vì lòng các ông còn bận tâm đến “cái ghế” – chỗ đứng của mình. Tâm trạng của Thầy Giêsu như thế nào? Chắc hẳn Ngài phiền lòng lắm. Đức Giêsu hành xử thật tế nhị, dễ thương, nhân từ và vô cùng kiên nhẫn. Người ngồi xuống, gọi các môn đệ lại và ôn tồn dạy bảo: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9, 35). Người cũng đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, ôm nó vào lòng. Đoạn Người dạy rằng: “Ai đón tiếp một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là đón tiếp Thầy; và ai đón tiếp Thầy thì không phải là đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9, 37).

 Với những ai chấp nhận trở nên bé nhỏ, khiêm tốn trước nhan Chúa, trước anh chị em mình, họ sẽ được Thiên Chúa yêu thương. Người ấy sẽ được ở trong vòng tay của Thầy Giêsu. Theo giáo huấn của Thầy Giêsu, những ai muốn làm lớn hơn cả phải chấp nhận làm người rốt hết, làm người phục vụ mọi người. Lời dạy bảo của Thầy Giêsu hôm nào cũng dành cho cả chúng ta. Thiết nghĩ, thường chúng ta thích làm lớn nhưng lại không thích phải phục vụ kẻ khác, không muốn trở nên người rốt hết. Nhưng lời Chúa dạy luôn là chân lý. Những ai muốn trở thành môn đệ đích thực của Thầy Giêsu thì phải chấp nhận đi theo giáo huấn của Người. Bởi chính Người cũng đã trở nên nhỏ bé, khiêm hạ, trở nên người phục vụ mọi người. Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và làm giá chuộc muôn người (x. Mt 20,28).

Là một Kitô hữu, khi đảm trách một công việc hay chức vụ gì, chúng ta được mời gọi sống khiêm tốn, trở nên nhỏ bé, rốt hết và phục vụ mọi người. Khi ý thức sống theo gương của Thầy chí thánh, chúng ta sẽ biết cách hành xử bác ái với nhau, biết cùng nhau xây dựng hòa bình, yêu thương. Nhất là, chúng ta sẽ trở nên nhỏ bé trước cái nhìn yêu thương của Chúa, được Chúa ôm vào lòng. Khi ý thức sự nhỏ nhỏ bé của mình, chúng ta cũng học biết được thế nào là sống tâm tình phó thác vào Chúa, tôn trọng những người ta đang phục vụ, biết dùng tình thương mà đối xử với nhau. Khi chúng ta đón tiếp những con người bé nhỏ như vậy là chúng ta đang đón tiếp chính Thiên Chúa.

-----------------------------

 

TN25-B156: LÀM LỚN ĐỂ PHỤC VỤ


Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Quyền lực là gì? Quyền lực là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ TN25-B156


Quyền lực là gì? Quyền lực là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình. Tâm lý con người nói chung ai chẳng thích quyền lực, không có gì hấp dẫn, cám dỗ con người bằng quyền lực. Thích làm lớn, hay thích quyền lực là thứ “gây nghiện” bằng tất cả những thứ “gây nghiện” khác cộng lại. Bởi quyền lực làm cho người chưa có khao khát có nó, có chút quyền lực rồi lại muốn quyền lực lớn hơn. Thích quyền, có thể biến người ta thành kẻ tán tận lương tâm, chia rẽ và giết chết nhau. Các môn đệ Chúa Giêsu cũng không nằm ngoài qui luật thông thường ấy. Các ông có tranh giành nhau cũng là chuyện bình thường. Quyền lực khiến cho hai anh em Gioan và Giacôbê xin được ngồi bên hữu và bên tả Chúa Giêsu (x.Mc 10 37) và làm cho “Mười môn đệ kia đâm ra tức tối” (Mc 10, 41) sinh ra chia rẽ, bất hòa.

Tranh giành quyền lực

Chuyện xảy ra vào chính lúc Chúa Giêsu loan báo cho các ông về cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Thay vì dừng lại và chia sẻ với Thầy, hoặc nếu chưa hiểu thì trao đổi với Thầy để am tường hơn, đàng này các ông lại ích kỷ, vụ lợi; tưởng thời lập quốc của Ðấng Mêsia sắp đến và ngày tể tướng triều chính phải được cắt đặt đã tới, thế là các ông bắt đầu tranh cãi về địa vị với nhau. Hiểu rõ nhân tình thế sự nơi người môn đệ, Chúa Giêsu nói với họ: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi mọi người” (Mc 9, 35). Đã ba lần Chúa Giêsu báo trước cuộc khổ nạn của Người cho các môn đệ, nhưng họ đâu có muốn Chúa nói với họ về khổ đau và thập giá. Họ càng không muốn biết về những thử thách và lo âu. Vì thế, họ tranh luận với nhau xem ai hơn ai, ai là người xuất sắc nhất, thanh sạch nhất, người có quyền được hưởng đặc ân nhiều hơn so với người khác. Thái độ tranh biện về quyền lực và danh vọng là thái độ vô ích, khiến người ta từ tránh khó, ngại khổ, không dấn thân vào việc chung vì ích chung.

Chúa Giêsu đặt em bé ở giữa

Chúa Giêsu biết rõ tư tưởng của các môn đệ, nên Người đề nghị một thuốc giải cho cuộc tranh giành quyền lực và sự từ khước hy sinh của họ; để mang lại tính chất long trọng cho điều Người sắp nói, Chúa “đem một em bé lại đặt giữa các ông, ôm nó mà nói với các ông rằng: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9, 37). Bài học khiêm nhường như đứa trẻ nhỏ họ vẫn chưa thuộc.

Trước cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu dạy họ một bài học mà họ sẽ không bao giờ quên được. Chúa đã làm gì?

Trong lúc mọi người đang dùng bữa chung, Chúa Giêsu đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ngoài ra, lấy một chiếc khăn và quấn ngang thắt lưng rồi đổ nước vào chậu. Các môn đệ lúc ấy ngỡ ngàng sửng sốt lắm, Thầy sắp làm gì đây. Trong khi họ quan sát thì Chúa Giêsu đi đến từng người trong trong các ông, cúi xuống rửa chân cho họ. Người dùng khăn lau khô chân họ. Họ cảm thấy bối rối, còn Phêrô thì không muốn để Thày làm công việc phục vụ thấp kém này cho mình (x. Ga 13,1-15).

Ngày nay chúng ta thường không rửa chân cho nhau. Chúa Giêsu đã làm như vậy. Khi làm điều này, Chúa Giêsu dạy các môn đồ một bài học quan trọng là phục vụ lẫn nhau. Người không muốn họ chỉ nghĩ đến mình, cho mình là quan trọng đến độ luôn phải được người khác phục vụ. Người muốn họ sẵn sàng phục vụ người khác.

Phục vụ người khác không khó đâu. Vậy chúng ta đừng bao giờ do dự phục vụ người khác.

Giáo Hội được Chúa Giêsu thiếp lập để phục vụ

Bao lâu xã hội loài người còn, thì bấy lâu bài học Chúa dạy hôm nay vẫn còn giá trị, bởi vì cám dỗ về quyền lực và lạm quyền đã ăn sâu trong mỗi người và trong mọi cơ chế xã hội. Giáo hội cũng không được miễn nhiễm khỏi căn bệnh tìm kiếm chức quyền danh vọng. Não trạng thế gian thì tìm kiếm danh vọng chức quyền, còn tư tưởng của Thiên Chúa là phục vụ và trao ban sự sống.

Những người làm lớn trên thế gian xây dựng những ngai vàng cho quyền bính của họ, Thiên Chúa lại chọn một ngai không tiện nghi, là Thánh Giá, từ ngai đó Người cai trị khi ban tặng sự sống của Người: Chúa Giêsu nói: “Con Người đến không phải để được người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống cho nhiều người” (Mc 10, 45).

Phục vụ là thuốc giải độc hiệu quả chống lại căn bệnh tìm kiếm địa vị chức quyền. Giáo Hội phải cúi xuống mà rửa những bàn chân của những người rốt hết, để phục vụ họ bằng tình yêu, đơn giản và chân thành.

Chúng ta hãy khẩn cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, Người Nữ khiêm nhường luôn gắn bó với thánh ý  Chúa, giúp chúng ta vui vẻ bước theo Chúa Giêsu trên con đường phục vụ, con đường chính dẫn đến Thiên Đàng.

-----------------------------

 

TN25-B157: HAI CÁCH ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI


Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

Có hai vợ chồng cùng đi mua bàn ghế để trang bị nội thất cho ngôi nhà mới xây. Người vợ thì TN25-B157


Có hai vợ chồng cùng đi mua bàn ghế để trang bị nội thất cho ngôi nhà mới xây. Người vợ thì thích sắm những đồ mộc thuộc nhóm gỗ kém, nhưng có phủ lớp sơn láng bóng, đẹp mắt; còn người chồng thì muốn chọn loại bàn ghế đóng bằng gỗ quý, chẳng sơn phết gì vì cho rằng “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.” Việc mua sắm bất thành vì mỗi người có một thị hiếu khác nhau, một cách đánh giá khác nhau.

Khi nhận định về giá trị con người cũng vậy, người ta cũng có những cách đánh giá khác nhau, dựa vào những tiêu chí khác nhau.

Cách đánh giá của người đời

Người đời đánh giá con người chiếu theo lớp sơn hào nhoáng bên ngoài.

Lớp sơn thứ nhất là sắc đẹp.

Một số người đánh giá con người tùy theo sắc đẹp ngoại hình. Thần tượng của họ là những ngôi sao điện ảnh, là hoa hậu, là những ca sĩ ăn mặc lố lăng hoặc người mẫu đang ăn khách… Điều nầy khiến khá đông bạn trẻ xem nhẹ việc trau dồi nhân cách, không màng phát huy đạo đức, không lo trau dồi kiến thức hay học tập mà chỉ tìm cách chưng diện, đua đòi y phục hợp thời trang…

Lớp sơn thứ hai là sang trọng, giàu có.

Lắm người đánh giá con người tùy theo tiền bạc, tài sản. Thần tượng của họ là những đại gia nghìn tỷ. Điều nầy thúc đẩy người ta đua tranh làm giàu bất chính, cố tậu cho mình những siêu xe sang trọng, xây cho mình những biệt thự xa hoa hoặc sở hữu những ngôi nhà hoành tráng, những đồ trang sức xa xỉ mắc tiền…

Lớp sơn thứ ba là địa vị xã hội.

Nhiều người cho rằng giá trị con người nằm ở địa vị cao, nên cần phải phấn đấu để đạt được ghế cao trong xã hội.

Ngay cả các môn đệ Chúa Giê-su cũng mang não trạng nầy.

Tin mừng hôm nay cho biết, hôm ấy, các môn đệ vừa đi đường vừa tranh luận với nhau xem giữa các ông, ai là người lớn nhất (Mc 9, 34).

Ngay cả khi các tông đồ cùng Chúa Giê-su ăn tiệc Vượt qua trước khi Ngài nộp mình chịu chết, các vị “cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất” (Lc 22,24)

Và cũng có lần hai môn đệ Gioan và Gia-cô-bê cùng với mẹ mình đến xin Chúa Giê-su cho ngồi bên tả bên hữu Chúa khi đến thời Ngài được hiển vinh (Mt 20, 20-24; Mc 10, 35-37).

Cách đánh giá của Thiên Chúa

Chúa Giê-su đánh giá tùy vào tinh thần hy sinh phục vụ.

Chúa Giê-su phản đối não trạng đánh giá con người dựa vào lớp sơn hào nhoáng bên ngoài. Ngài đánh giá con người không tùy thuộc vào vẻ đẹp ngoại hình, vào tiền tài của cải, vào ghế thấp ghế cao trong xã hội… nhưng đánh giá con người tùy theo tinh thần hy sinh, phục vụ của mỗi người.

Hôm ấy, sau khi Chúa Giê-su nghe các môn đệ vừa đi đường vừa tranh cãi với nhau xem giữa các ông, ai là người lớn nhất, thì về đến nhà, Ngài gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người (Mc 9,35).

Và trong Tin mừng Lu-ca, sau khi nghe các môn đệ tranh cãi với nhau về điều nầy, Chúa Giê-su bảo các ông: “Vua các dân thì dùng uy quyền mà thống trị dân… nhưng anh em thì không phải như thế; trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ nhất và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22, 25).

Qua những lời nầy, Chúa Giê-su tỏ cho thấy giá trị con người được nâng cao khi người ta biết hạ mình phục vụ mọi người.

Nên theo cách đánh giá của ai?

Lối đánh giá con người dựa vào những lớp sơn hào nhoáng bên ngoài gây ra hậu quả tai hại là khuyến khích nhiều người tìm cách đánh bóng mình bằng những lớp sơn phù phiếm, tạo ra những con người thiếu phẩm chất cao đẹp, nghèo đạo đức…

Còn cách đánh giá dựa vào tinh thần phục vụ của Chúa Giê-su sẽ khích lệ con người sống khiêm tốn, biết hy sinh quên mình để giúp ích cho tha nhân.

Lạy Chúa Giê-su,

Từ bỏ cách đánh giá dựa theo lớp sơn bên ngoài để biết đánh giá con người theo tinh thần hạ mình phục vụ là điều rất khó.

Xin Chúa ban thêm khôn ngoan và soi tâm mở trí, để chúng con biết nhận ra giá trị con người không tùy thuộc vào lớp vỏ bên ngoài nhưng tùy vào lối sống hy sinh, phục vụ và biết thể hiện nếp sống nầy trong cuộc đời chúng con. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B158: LÃNH ĐẠO PHỤC VỤ


Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

Tin Mừng tuần trước, các tông đồ tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chúa đã tỏ cho TN25-B158


Tin Mừng tuần trước, các tông đồ tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chúa đã tỏ cho các ông biết, Ngài là Đấng Cứu Thế khiêm hạ như lời tiên tri Isaia mô tả.

Tin Mừng tuần này, Chúa nói rõ hơn về cách thức cứu thế của Ngài: Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết, Người sẽ sống lại.

Tuy nhiên, các tông đồ dường như im lặng suy nghĩ về những điều Thầy nói mà họ không hiểu! Khi bị Thầy hỏi:“Dọc đường anh em đã bàn tán chuyện gì vậy?”. “Các ông làm thinh”. Bởi vì “khi đi dọc đường các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”.

Chân thì đi đàng sau Thầy, nhưng lòng thì đi ngược chiều với Thầy. Điều đáng hỏi Thầy để hiểu thì không hỏi, lại quay ra cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Các ông vẫn nuôi hy vọng về chức tước, địa vị mà các ông nghĩ mình sẽ được nên đã ngấm ngầm bàn cãi với nhau để phân chia chỗ ngồi thấp cao.

Mọi chuyện khác thì Người vừa đi vừa dạy, cả đến chuyện Người sẽ bị nộp, bị giết chết thì Người cũng vừa đi vừa nói. Nhưng chuyện này thì Người long trọng dạy các ông: “Rồi Đức Giêsu ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói…”. Người ngồi xuống trong tư thế thầy dạy và gọi các ông lại trong tư thế môn đệ. Người trả lời thẳng đề tài mà các ông đã cãi nhau dọc đường: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Lời dạy thật rõ ràng, thiết thực, không văn hoa bỏng bảy. Rồi Người minh hoạ bằng hình ảnh một trẻ nhỏ. Trẻ nhỏ thường gợi chúng ta nghĩ tới sự đơn sơ, trong sáng, nhưng trong Kinh Thánh thì “trẻ nhỏ không kể”, là số không. Người đưa ra một định luật ngược đời: muốn làm người lớn hơn cả thì phải trở thành số không! Chính Người tự đồng hoá với trẻ nhỏ: “Ai tiếp đón một trẻ nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”.(x. tĩnh tâm với sách Tin mừng Maccô. Lm Giuse Nguyễn Công Đoan).

Chúa Giêsu dạy cho các môn đệ con đường trở nên lớn lao thật sự. Đó là con đường phục vụ. Con đường phục vụ thay thế cho tham vọng thống trị. Giúp đỡ tha nhân thay cho tham vọng bắt người khác phục vụ chính mình. Chức quyền là để phục vụ lợi ích của mọi người. Địa vị chỉ là sự phân công hợp lý. Mỗi người một việc vì lợi ích của tập thể. Người lớn nhất, người đứng đầu là người phục vụ hết mình. Chức tước, chức vụ, chức vị, chức quyền chỉ là phương tiện để phục vụ. Ai sống tinh thần phục vụ đó là người lớn nhất. Ai không biết phục vụ thì là người nhỏ nhất. Giá trị của một con người không do địa vị chức tước mà tuỳ vào khả năng phục vụ và mức độ hữu ích của người đó. Chúa Giêsu mở ra một nền văn minh mới. Người lớn nhất không dùng quyền để lãnh đạo, nhưng dùng khả năng để phục vụ. Người lớn nhất không dùng sức mạnh để chỉ huy, nhưng dùng trái tim để yêu thương.

Để làm gương cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã tự hạ mình: “không phải để được phục vụ mà đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc nhiều người” (Mt 20,25-28). Là Thầy nhưng Người đã tự nguyện phục vụ môn đệ. Là lãnh đạo nhưng Người sẵn sàng hiến mạng sống “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Tinh thần phục vụ của Chúa Giêsu được thể hiện rõ nét nhất trong cử chỉ rửa chân “Nếu Thầy là Chúa mà còn rửa chân cho anh em thì anh em phải rửa chân cho nhau”. (Ga 13,14-15). “Ta ở giữa các con như một người phục vụ” (Lc 22,27). Phục vụ lên đến tuyệt đỉnh trong hành vi tự hiến “không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

Quyền bính và phục vụ gắn liền với nhau làm nên bản chất người môn đệ Chúa Giêsu. Người lãnh đạo theo gương Chúa Giêsu là người có tâm, có tầm, có đức và có tài để phục vụ tha nhân theo tinh thần đức ái mục tử. Mục tử rao giảng chân lý và dám sống chân lý ấy cho dù phải hy sinh tính mạng.

Thánh Phêrô đã thấm nhuần lời dạy của Thầy Chí Thánh nên sau này ngài viết những lời tâm huyết cho các mục tử:“Cùng các bậc kỳ mục trong anh em, tôi xin có mấy lời khuyên nhủ, vì tôi cũng thuộc hàng kỳ mục, lại là chứng nhân những đau khổ của Đức Kitô và được dự phần vinh quang sắp tỏ hiện trong tương lai. Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi ích thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt tình tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1Pr 5,1-4). Thánh Phêrô cũng khuyên các tín hữu: “Ơn riêng của Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban.” (1Pr 4, 8-11).

Quyền bính đòi chiếm hữu và kiểm soát. Nhưng trong Giáo hội, quyền bính được xây trên nền tảng tình yêu Chúa. Chính vì thế, Chúa Giêsu mới cần Phêrô xác quyết tới ba lần: “Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,15-17). Quyền bính được xây dựng trên tình yêu nên người mục tử luôn khiêm tốn phục vụ tha nhân. Dân Chúa mong muốn trước tiên các linh mục của họ phải là các nhà lãnh đạo tinh thần: “Giáo dân mong muốn linh mục của họ là các người lãnh đạo tinh thần, luôn dễ gần, có tình yêu của Đức Kitô và chăm lo cho tất cả mọi người. Giáo dân mong muốn các linh mục dễ thương và ân cần tiếp đón. Giáo dân mong ước các linh mục yêu mến các công việc của các ngài, thi hành sứ vụ được xây dựng trên sự cầu nguyện, ban phát các bài giảng hay, quan tâm đến sự đào tạo tôn giáo cho trẻ em và người lớn, giảng dạy niềm tin Công giáo, là thành viên của giáo xứ nơi các ngài phục vụ hiểu biết và có tài lãnh đạo và các kỹ năng giao tiếp tốt”. (The Repord, 6-6-2006). Lãnh đạo tinh thần cơ bản là “gây ảnh hưởng”, là khả năng một người ảnh hưởng lên người khác qua sự mời gọi, thuyết phục và gương sáng để đưa người khác từ nơi họ đang ở đến nơi mà Chúa muốn họ đến. Linh mục là người giảng Lời Chúa, thi hành các Bí Tích và lãnh đạo cộng đoàn tín hữu. Các ngài là nhà lãnh đạo tinh thần hiệu quả khi trui rèn ba kỹ năng ấy. Mẹ Thánh Têrêxa đã diễn tả các đòi hỏi của thuật lãnh đạo tinh thần một cách hết sức đơn giản qua câu nói: “để giữ cho đèn cháy sáng, bạn phải luôn châm dầu cho nó”.

Lời dạy của Chúa Giêsu đưa nhân loại đi vào nền văn minh của tình thương. Và kể từ đó, hàng triệu vị Thánh được tôn vinh như là những chứng từ sống động cho hình ảnh “Người lớn nhất” trong nền văn minh mới của Tin Mừng. Mẹ Têrêxa Calcutta trở thành vĩ nhân của thời đại bằng con đường yêu thương và phục vụ người nghèo. Phục vụ luôn gắn liền với yêu thương. Đức Cha Gioan Casaigne, sau 15 năm trong cương vị chủ chăn tại Sài Gòn, ngài đã tình nguyện về sống và phục vụ những bệnh nhân phong cùi ở Di Linh trong một ngôi nhà gỗ nhỏ hẹp. Ngài đã dành trọn trái tim và cả cuộc đời phục vụ những phận đời khốn khổ.Thánh Augustinô nhận định: Trong đời sống người kitô hữu, có một cuộc chiến đấu giữa hai thứ tình yêu: yêu Thiên Chúa cho đến từ bỏ bản thân mình và yêu bản thân cho đến nỗi chối bỏ Thiên Chúa.

Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất. Một vĩ nhân không hệ tại ở địa vị xã hội của người ấy mà là sự cống hiến cuộc đời cho sự phát triển của nhân loại. Giáo hội tuyên phong một người lên bậc hiển thánh chung quy cũng là tuyên dương tinh thần phục vụ của người ấy vì Nước Chúa. Phục vụ để trở nên phong phú, có giá trị, nên hoàn thiện và trở nên gần Chúa Giêsu hơn.

“Nghệ thuật làm lớn” của Chúa Giêsu chính là khiêm tốn phục vụ. Người thật sự cao cả là người dâng đời mình cho lợi ích của cộng đoàn. Thiên Chúa đã tự liên đới với người nhỏ bé, nghèo hèn, không đáng kể nhất. Phục vụ một người không đáng kể nhất cũng là phục vụ chính Thiên Chúa. Con đường tự hạ, làm người bé nhỏ và phục vụ anh em là con đường để trở nên vĩ đại, trở nên người lớn nhất trước mặt Chúa.

Muốn trở thành người phục vụ đích thực, thánh Giacôbê trong bài đọc 2 khuyên hãy sống: “thanh khiết, hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa trái, không thiên vị, cũng đừng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, đó là người công chính”. Nơi nào có phục vụ, có chăm sóc, có chia sẻ không tính toán, nơi đó người ta sẽ thấy được sự chân thực của tình yêu.

Lạy Chúa, xin cho con biết: Phục vụ là hy sinh, phục vụ là quên mình. Phục vụ không đòi đền đáp, phục vụ ơn nghĩa không màng. Phục vụ là hy sinh, phục vụ vì Chúa Kitô. (Bài ca phục vụ).

----------------------------

 

TN25-B159: SO ĐO


Trầm Thiên Thu

 

Con gà tức nhau vì tiếng gáy. Còn con người “gáy” nhau nhiều thứ lắm: giàu có, nhà to, xe TN25-B159


Con gà tức nhau vì tiếng gáy. Còn con người “gáy” nhau nhiều thứ lắm: giàu có, nhà to, xe đời mới, quần áo hàng hiệu, ngoại hình đẹp, bằng cấp cao,… Bất cứ cái gì có vẻ hơn người khác một chút thì người ta đều ra vẻ vênh váo, ngông nghênh, nói năng trịch thượng, hách dịch.

Văn hào William Shakespeare nhận xét chí lý: “Thằng ngốc tự cho mình là thông minh, còn người thông minh biết mình là thằng ngốc.” Bác học Albert Einstein nói: “Cái tôi và sự hiểu biết tỷ lệ nghịch với nhau. Hiểu biết càng nhiều, cái tôi càng bé. Hiểu biết càng ít, cái tôi càng to.” Và ông khuyên: “Ðừng nên cố trở thành một người thành công mà hãy gắng trở thành một người có giá trị.” Cứ là chính mình, không cần tranh giành gì với ai.

Kinh Thánh nói: “Người khôn khéo chẳng khoe điều mình biết, kẻ dại khờ để lộ chuyện ngu si.” (Cn 12:23) Người khôn ngoan là người sống khiêm nhu, người lương thiện là người sẵn sàng thứ tha. Chỉ có kẻ ngu si mới ép người quá đáng, chỉ có kẻ bất lương mới tính toán so đo.

Thuở xưa, vì thấy mình kém cỏi mà ác nhân ghen tức và tạo phe kết đảng với nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo.” (Kn 2:12) Họ hèn nhát vì mù quáng nên dễ mắc chứng ảo tưởng và suy nghĩ lệch lạc. Họ rất ranh mãnh, chúng ta phải thực sự cảnh giác kẻo “sập bẫy” mưu ma chước quỷ. Ngày nay mức nguy hiểm hơn nhiều!

Có đầy mới tràn. Tư tưởng xấu sinh ra ước muốn xấu, dẫn tới hành động xấu. Kẻ xấu cứ tưởng người khác cũng xấu như mình nên họ nghi ngờ người khác, và họ biện luận: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào. Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hòa làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm.” (Kn 2:17-20) Chúa Giêsu đã bị những kẻ xấu ghét cay ghét đắng dù họ biết Ngài công minh chính trực.

Người công chính luôn sống ngay nói thẳng, và thường bị kẻ xấu không ưa. Không phải Thiên Chúa không biết hoặc làm ngơ, nhưng Ngài tôn trọng luật tự nhiên, Ngài chỉ ra tay khi thực sự cần thiết. Những người tín thác vào Thiên Chúa luôn tín nguyện: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi. Phường kiêu ngạo nổi lên chống đối, bọn hung tàn tìm hại mạng sống con, chúng không kể gì đến Thiên Chúa. Nhưng này có Thiên Chúa phù trì, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ.” (Tv 54:3-6)

Thiên Chúa biết rõ người nào mạnh, người nào yếu, nên Ngài không bắt ai chịu đựng quá sức. Vấn đề quan trọng là người đó nhận biết ơn độ trì của Ngài, như Thánh Vịnh gia thề hứa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo!” (Tv 54:8) Bất cứ ai tin tưởng và hành động nhân danh Thiên Chúa thì chắc chắn sẽ không lầm đường lạc lối, vì Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” (Ga 8:12)

Vấn đề lương tâm vô cùng quan trọng đối với con người. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình, là cuộc đời công chính.” (Gc 3:16-18) Lương tâm không ngay thẳng sẽ sinh ra nhiều rắc rối, thậm chí còn ảnh hưởng sức khỏe thể lý.

Đúng là “lỗi tại tôi mọi đàng” chứ chẳng lỗi tại ai. Thánh Giacôbê phân tích: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc.” (Gc 4:1-3) Hệ lụy rạch ròi, tất yếu, hiển nhiên!

Cuộc sống không chỉ là bể khổ mà còn phức tạp. Thiện tâm rất quan trọng, ngược lại thì rất nguy hiểm vì là dã tâm: “Lương ngôn nhất cú tam đông noãn, Ác ngữ thương nhân lục nguyệt hàn.” (Thiện tâm một tiếng ấm ba đông, Lời độc lạnh người sáu tháng ròng.) Trong đêm Con Thiên Chúa giáng sinh, đạo binh chư thần đã đồng ca: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm.” (Lc 1:14) Điều đó cho thấy sự thiện tâm là điều kiện cần thiết để được Thiên Chúa yêu thương.

Cuộc sống có nhiều thứ trái ngược: xuôi – ngược, phải – trái, hiền – dữ, to – nhỏ, thuận – nghịch, cao – thấp, dài – ngắn,… Trình thuật Mc 9:30-36 cho biết vấn đề so đo và cách Chúa Giêsu giáo huấn để chúng ta nên người.

Ngày hôm đó, Chúa Giêsu và các môn đệ băng qua miền Galilê. Ngài không muốn cho ai biết, nhưng Ngài “bật mí” cho họ biết chuyện rất quan trọng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” Nhưng họ không hiểu gì hết. Có lẽ họ vừa sợ vừa ngại nên không dám xin Thầy cho biết rõ ràng chi tiết hơn.

Rồi Thầy trò cùng đến Caphácnaum. Khi về nhà, Ngài hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” Ôi, chỉ rỉ tai nhau thế mà Thầy cũng cũng biết sao? Các ông nhìn nhau mà không dám nói gì, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. Thánh sử Máccô cho biết rõ là các môn đệ “cãi nhau” – chứng tỏ vấn đề nghiêm trọng chứ không đơn giản. Họ tranh giành nhau mức “cao – thấp” về chức quyền. Ngày nay vấn đề này có lẽ còn “dữ dội” hơn nhiều, nhất là trong một xã hội coi trọng hình thức và vật chất như Việt Nam.

Lúc đó có lẽ Chúa Giêsu rất buồn khi thấy các đệ tử vẫn vướng vòng tục lụy, vẫn nặng danh lợi như vậy. Ngài ngồi xuống rồi gọi các môn đệ lại và nói: “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” Ngài đề cao đức khiêm nhường. Ý tưởng của Ngài hoàn toàn trái ngược với chúng ta. Sau đó, Ngài đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.” Một chuỗi hệ lụy thật lạ lùng biết bao!

Khi đó ông Gioan nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” Nhưng Ngài nói ngay: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.”

Có hai vấn đề. Thứ nhất là lớn – nhỏ, hoặc cao – thấp: Muốn làm đầu thì phải hạ mình thành rốt hết. Thứ hai là thuận – nghịch: Không chống lại là ủng hộ. Động thái của chàng trai trẻ Gioan nhắc nhở chúng ta chớ ảo tưởng: Đừng nghĩ hơn người khác về bất cứ lĩnh vực nào. Vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Tự đề cao mình là coi thường người khác. Đó là mạo nhận, là kiêu ngạo! Tương tự, “khoảng cách” giữa TIN và TƯỞNG rất mong manh: TIN mình được Chúa yêu thì không là kiêu ngạo, nhưng TƯỞNG mình được Chúa yêu thì lại là kiêu ngạo. Đó là đối lập với Đức Kitô, Đấng hiền hậu và khiêm nhường. (Mt 11:29) Thiên Chúa luôn hạ bệ những kẻ tự cao và nâng cao mọi kẻ khiêm hạ. (Lc 1:52; Hc 10:14; 1 Sm 2:7; Tv 147:6; Is 2:12, 17; Is 13:11; Ed 17:24; Ed 21:34)

Khiêm nhường thuộc về Thiên Chúa, kiêu ngạo thuộc về Satan. Thánh Philip Neri nói: “Đức khiêm nhường là người bảo vệ đức thanh sạch. Trong vấn đề thanh sạch, không có nguy hiểm nào tai hại hơn là thái độ không sợ nguy hiểm. Khi một người tự đặt mình vào dịp tội và tuyên bố mình không sa ngã, đó là dấu hiệu gần như xác thực rằng kẻ ấy sẽ sa ngã, với một thương tích trầm trọng cho linh hồn.” Và Thánh Piô Năm Dấu cho biết: “Khiêm nhường, khiêm nhường, và luôn luôn khiêm nhường. Satan sợ hãi và run rẩy trước những linh hồn khiêm nhường. Chúa sẵn lòng thực hiện những việc lớn lao, nhưng với điều kiện là chúng ta phải thực sự khiêm nhường.”

Cái bẫy của ma quỷ rất tinh vi. Thánh Augustinô nói: “Ma quỷ thường dùng hai cách lừa dối: Khi người ta chưa phạm tội, nó dụ dỗ người ta cậy vào lòng thương xót của Chúa mà phạm tội; khi người ta đã phạm tội, nó xúi giục người ta sợ hãi phép công thẳng của Chúa mà ngã lòng trông cậy.” Còn Thánh Catherine Bologna phân tích: “Đôi khi ma quỷ xúi giục các linh hồn ham hố một nhân đức hoặc một việc đạo đức nào đó đến lạ kỳ, để họ thực hiện việc ấy cách cuồng nhiệt, rồi nó làm họ đâm ra chán nản đến độ chểnh mảng với mọi sự vì mỏi mệt và ngao ngán. Chúng ta cần phải thắng vượt cả chiếc bẫy này lẫn chiếc bẫy kia.”

Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con luôn làm theo Thánh Ý Ngài bằng mọi giá, không thỏa hiệp với ma quỷ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.

--------------------------

 

TN25-B160: SỰ GHEN TƯƠNG


Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến xung đột trong cuộc sống, đó là sự ghen tương. Ghen TN25-B160


Một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến xung đột trong cuộc sống, đó là sự ghen tương. Ghen tương cũng giống như một thứ nghiện. Những người ghen sau cơn giận đều biết mình sai trái, đều xấu hổ với hình ảnh xấu xí của mình, đều ân hận vì đã làm tổn thương những người xung quanh, thế nhưng khi “cơn nghiện” đến họ lại không làm chủ được bản thân. Ghen tương làm cho con người mù quáng, mất hết minh mẫn, và bỗng chốc trở thành tội phạm, gây tổn hại nghiêm trọng đến sinh mạng và tài sản của người khác, đến khi tỉnh ngộ thì đã quá muộn.

Thánh Giacôbê hôm nay nói đến sự ghen tương giữa các thành viên trong cộng đoàn tín hữu (Bài đọc II). Theo tác giả, ghen tương và tà ý là nguyên nhân gây nên mọi điều xấu xa. Điều tác giả đề cập, vẫn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, kể cả trong những cộng đoàn đức tin. Ghen tương đến từ việc người ta không bằng lòng với khả năng và vị trí của mình. Cũng có khi vì thấy người khác thành công, nền muốn “dìm hàng” phê phán và hạ bệ người khác.

Tác giả sách Khôn ngoan ghi lại những lời hằn học ghen tương của những người mà ông gọi là “phường vô đạo” (Bài đọc I). Họ ghen tức với những người sống ngay chính, và những người không a dua theo thói sống mưu mô của họ. Họ bàn mưu tính kế để kết án và giết chết người công chính. Các nhà chú giải Kinh Thánh, dưới nhãn quan Kitô giáo, đã nhận ra đây là hình ảnh của Đức Kitô khổ nạn. Người đã cam lòng chịu chết cách bất công, để nêu gương bài học khiêm nhường, kiên nhẫn và phó thác nơi Thiên Chúa, như chúng ta sẽ thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Các môn đệ là những người đã theo Chúa ba năm, mà vẫn không tránh khỏi thái độ chèn ép ghen tỵ. Thánh Mác-cô đã làm độc giả ngạc nhiên khi ghi lại cuộc tranh cãi của các môn đệ xoay quanh đề tài “ai sẽ là người lớn nhất” ngay sau khi Chúa Giêsu tiên báo cuộc khổ nạn thập giá. Người ta đặt câu hỏi: làm sao các môn đệ lại vô tâm trước những điều Đức Giêsu vừa nói? Thì ra, kể cả lúc Chúa tiên báo cuộc khổ hình đau thương mà Người sắp trải qua, các ông vẫn còn mơ về thời thiên sai theo nhãn giới phàm tục. Vì vậy, nghe Chúa nói về việc Người sẽ bị bắt bớ và bị giết, các ông “không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người”. Dường như trong đầu các ông, băn khoăn xem ai là người lớn nhất còn đáng quan tâm hơn cả những gì Thày mình vừa nói về cuộc đau khổ và về thập giá.

“Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Đó là lời khẳng định của Chúa, cũng là bài học Chúa muốn dạy cho các môn đệ. Chính Chúa đã thực hiện nơi bản thân Người bài học này. Là Thiên Chúa uy quyền cao sang, Chúa Giêsu đã hạ mình mặc lấy thân phận con người để sống cùng và sống cho con người, nhằm mưu cầu hạnh phúc của họ. Qua hình ảnh một em bé, Chúa muốn khẳng định, những ai muốn theo Người cần phải sống đơn sơ, phó thác để có thể trở nên môn đệ đích thực của Người. Lý tưởng của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với lối suy nghĩ thông thường của con người. Ở đời, ai cũng muốn nổi hơn người khác về mọi phương diện. Nếu thấy người bên cạnh hơn mình thì họ ghen tương, thậm chí tìm cách gài bẫy để loại trừ. Chúa Giêsu cũng đã là nạn nhân của sự ghen tương của con người, và Người đã phải chết trên thập giá.

“Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình” – lời khẳng định của Thánh Giacôbê cho thấy, những gì chúng ta làm với thiện ý và với trái tim chân thành, sẽ đóng góp xây dựng hòa bình nơi trần thế, đồng thời làm cho Vương quốc vĩnh cửu được hình thành ngay trong hiện tại. Giữa cơn bão hưởng thụ của cuộc sống hôm nay, người ta ngại dấn thân, chỉ biết sống cho mình. Những khái niệm “phục vụ” được quảng diễn khắp nơi, nhưng đó là thứ phục vụ nhằm tới lợi nhuận. Phục vụ theo tinh thần của Chúa Giêsu, đó là đón nhận thập giá trong đời sống, và vác đỡ thập giá cho anh chị em mình. Tuy vậy, thập giá không phải chặng đường cuối cùng của Chúa Giêsu, trong sứ mạng cứu độ trần gian. Chính Người đã loan báo sự kiện phục sinh, sau khi chịu khổ nạn. Những đau khổ của chúng ta có thể được biến thành ân phúc, nếu chúng ta đón nhận với tinh thần hy sinh mến Chúa yêu người. Nếu chúng ta biết san sẻ cho nhau gánh nặng cuộc đời, sức nặng của thập giá sẽ bớt đi, đau thương sẽ biến thành niềm vui, thập giá sẽ nở hoa, niềm vui phục sinh sẽ rạng rỡ nơi cuộc đời.

“Lòng ghen tuông giống như muối trong thức ăn: một chút có thể tăng thêm vị, nhưng nhiều quá có thể làm mất ngon, và, trong một số trường hợp nào đó, có thể nguy hiểm đến tính mạng” (Sưu tầm).

--------------------------

 

TN25-B161: CON NGƯỜI CHỊU NHIỀU ĐAU KHỔ


Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

 

Đang khi con người đi tìm giải thoát khỏi đau khổ ở cuộc đời này, Chúa Giêsu lại loan báo Con TN25-B161


Đang khi con người đi tìm giải thoát khỏi đau khổ ở cuộc đời này, Chúa Giêsu lại loan báo Con Người sẽ chịu nhiều đau khổ, bị bắt, chịu sỉ nhục, chịu chết sau cùng sẽ sống lại. Chẳng thể hiểu và chấp nhận được, Phêrô đã thưa với Chúa: “Làm sao có chuyện ấy được?” Câu trả lời của Chúa vẫn là một cương quyết: “Vác thập giá mình mà theo Chúa!”.

Thập giá, đau khổ.

Chẳng ai muốn đau khổ và thập giá. Đó là điều bình thường, vì sống trong trần thế này đâu phải là để đau khổ mà là hạnh phúc, sung sướng. Con người đi tìm cho mình hạnh phúc, sung sướng ở đời này, nên con người cố gắng tranh thủ thời gian sống để có được nhiều điều kiện nhất để sống sung sướng.

Thông thường những hưởng thụ, hưởng lạc của người này là dựa trên những đau khổ của người khác, như trong lời bài hát: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ về phần ai” (một đời người, một rừng cây, Trần Long Ẩn”. Chẳng ra khỏi những đau khổ nhưng có thể dừa những đau khổ cho kẻ thấp bé, nghèo hèn.

Đau khổ là một phần lớn trong cuộc sống. Sống bi quan, chỉ nhìn vào những đau khổ, con người sẽ sống yếm thế, cố tìm đường trốn thoát nó bằng nhiều con đường đào thoát. Bằng những con đường khổ chế để diệt thân, diệt dục, bằng những con đường hưởng thụ, khoái lạc, chìm đắm trong ma túy, thuốc an thần… Ra khỏi cũng lại phải trở về để đối diện với đau khổ và càng cảm thấy khổ đau hơn, không giải quyết gì được.

Đi tìm một cứu chúa như lòng mình mong ước, một cứu chúa sẽ giải thoát cho khỏi những tai ương, hoạn nạn, áp bức, bóc lột. Một cứu chúa mang lại an bình toàn phần để mọi người được sống yên vui, nhàn hạ, không nhọc nhằn. Ngay Phêrô và các môn đệ cung mong một đấng cứu thế như vậy. Chẳng có vị chúa nào được thế cả. Chúa Giêsu là một con người giữa trần gian, một Thiên Chúa đã làm người, sống như con người, cũng chịu nhiều đau khổ, bị ghen ghét, tẩy trừ và bị giết chết. Chỉ có một điều Chúa Giêsu là Đấng không có tội như con người.

Con đường giải thoát của Chúa.

Đó là con đường vác thập giá mình mà theo Chúa. Không thể trốn tránh, con người cần có một nghị lực can đảm, một sức mạnh trưởng thành, một ý chí lành mạnh để đương đầu với khó khăn, đau thương trở ngại,. Khi dám đương đầu, con người mang theo những suy nghĩ tích cực. Xa điều gian dối, ru ngủ, sống vững mạnh qua đau khổ.

Con đường giải thoát là con đường chiêm niệm và hành động. Chiêm niệm trong những giờ thinh lặng để kín múc nguồn sức mạnh siêu nhiên, đổ rỗng để được đong đầy chính Chúa. Thinh lặng chiêm niệm cũng là phương thuốc tiêu diệt những toan tính và dự tính riêng thuộc con người, để  Ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện.

Giải thoát cũng chính là đồng hảnh. Con người không bao giờ cô độc nếu đã kinh nghiệm về sự hiện diện của Chúa. Chúa đã làm người, trong mọi nỗi khốn khổ, gian truân, những khinh miệt hoặc những lúc tưởng chừng bị bỏ rơi. Luôn có Chúa là Đấng âm thầm theo từng bước chân con người đi trên mọi nẻo đường, miễn là người lữ hành có lòng yêu mến Chúa. Còn nhớ câu hỏi sau khi Chúa sống lại, hiện ra và hỏi Phêrô: “Anh có mến Thấy không” (Ga 21, 17). Dù tình yêu ấy nhỏ bé nhưng cũng đủ để cho Chúa luôn hiện diện ở bên.

Con người đến để phục vụ.

Khi lòng mến Chúa được thấm nhuần, người môn đệ mới thấy những sự thúc giục từ bên trong tâm hồn làm nên những hành động, khiệm nhường và phục vu vô vị lợi. Một trái tim biết yêu thương như Chúa đã yêu thương: bênh vực kẻ nghèo hèn, quảng đại với anh chị em, giảm áp lực nhiều mặt cho người khác. Tạo nên những thước đo giá trị, công bằng, bác ái, yêu thương.

Con người có thể chịu nhiều đau khổ nếu như biết rằng “Ơn Ta đủ cho ngươi” (2 Cor 12, 9) và gánh nặng đau thương đó không chỉ là riêng mình mà còn là của anh chị em, những con người đang đau khổ, nghèo khó bên cạnh cuộc sống của ta.

Giải thoát thực sự chỉ có ý nghĩa khi chính mình trở nên con người hiền hậu, khiêm nhường, sống và mang bình an cho người khác. Chia sẻ trong một niềm vui là chính Chúa cho mọi người, an bình và hạnh phúc đích thật chỉ có thể đến từ Chúa.

------------------------

 

TN25-B162: DANH VỌNG


Lm. Trần Việt Hùng

 

Đi ngang qua xứ Ga-li, Âm thầm nhắn nhủ, lối đi đường về. Con Người phải gánh nặng nề, Vai TN25-B162



Đi ngang qua xứ Ga-li,
Âm thầm nhắn nhủ, lối đi đường về.
Con Người phải gánh nặng nề,
Vai mang thánh giá, tư bề bủa vây.
Người ta bắt nộp cả Thầy,
Đánh đòn phỉ báng, treo thây chết trần.
Ba ngày sống lại hóa thân,
Vinh quang sự sống, tinh vân rạng ngời.
Môn đồ không dám hỏi Người,
Khổ đau tiên báo, gọi mời dấn thân.
Tông đồ tranh luận công thần,
Ai ngồi chỗ trước, chia phần quản cai.
Chúa thương dậy dỗ sớm mai,
Nêu gương phục vụ, tương lai đích cùng.
Không màng danh vọng uy hùng,
Theo Thầy kiên vững, thiên cung phúc lành.

Ở đâu có cãi vã và ganh tị, ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan. Khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó thì các môn đệ không hiểu chi hết. Các ông không thể tưởng tượng rằng Chúa Giêsu, thầy của mình sẽ phải chịu mọi sự khốn khổ và phải bị giết.

Các môn đệ còn đang tranh luận xem ai là người lớn nhất trong nhóm. Các tông đồ muốn tránh không bàn luận về sự xui xẻo và chết chóc. Các ông cũng mang tất cả những yếu đuối như chúng ta. Các ông cũng mong có chỗ đứng trong xã hội, cũng mong được có chức, có quyền. Các ông không hiểu đường lối của Chúa.

Chúa Giêsu giải thích về sứ vụ tông đồ: Ai muốn làm lớn nhất thì hãy tự làm rốt hết và làm đầy tớ mọi người. Làm tông đồ của Chúa là để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Các tông đồ ngây thơ không muốn thập giá nhưng muốn được vinh quang. Chúa Giêsu lợi dụng cơ hội này giúp các ông hiểu con đường Chúa chọn khác với con đường hư danh của thế gian.

Tin Chúa là chấp lối Chúa đi. Dám làm nhân chứng cho Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào. Truyện kể ở Nam Mỹ giữa ranh giới Venezuela và Columbia, tại một ngôi nhà thờ nhỏ vào một sáng Chúa Nhật, khi thánh lễ bắt đầu, một nhóm du kích từ trong rừng đi ra với súng ống kè bên bước vào nhà thờ. Cha chủ tế và mọi người sợ hãi tái mặt. Họ bắt vị linh mục ra khỏi nhà thờ và hành quyết. Trưởng du kích trở lại nhà thờ nói: Ai tin vào Chúa bước ra. Mọi người sợ hãi im lặng.

Hồi lâu, một người đàn ông bước ra và nói: Tôi yêu Chúa Kitô. Ông bị đẩy tới cho nhóm du kích và đem ra ngoài xử bắn. Sau đó mấy người tín đồ khác tiếp tục bước ra và tuyên xưng đức tin. Mọi người đều nghe một loạt súng máy. Khi không còn ai giơ tay nhận mình là người Kitô hữu. Trưởng du kích bước vào và hô: Mọi người bước ra khỏi nhà thờ. Ông nói: Các ông các bà không có quyền ở trong nhà thờ. Rồi họ đuổi mọi người ra khỏi. Họ hết sức ngạc nhiên khi thấy cha xứ và những người khác còn đừng đó. Linh mục và nhóm này được lệnh vào nhà thờ tiếp tục dâng lễ. Còn những người kia nhút nhát sợ hãi không dám tuyên xưng đức tin thì ở ngoài. Thật là ngại ngùng!

Chúng ta theo đạo. Chúng ta tin Chúa. Chúng ta muốn được hưởng vinh quang. Chúng ta có dám làm chứng cho Chúa không ? Chúa phán: Có Thầy đây! Các con đừng sợ.

--------------------------

 

TN25-B163: ĐỨC GIÊSU, GƯƠNG MẪU PHỤC VỤ


Lm. Đinh Lập Liễm

 

Khi Đức Giêsu loan báo lần nhất cuộc Thương khó và Phục sinh: ”Con Người phải chịu đau khổ TN25-B163


Khi Đức Giêsu loan báo lần nhất cuộc Thương khó và Phục sinh: ”Con Người phải chịu đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế cùng luật sĩ loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại” (Mc 8,31), Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người đến nỗi Đức Giêsu nặng lời quở trách ông: ”Satan, lui lại đàng sau Thầy! vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mc 8,33). Khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, tư tưởng của Phêrô và của Nhóm Mười Hai hướng tới một nhân vật nổi nang nào đó trong xã hội. Chẳng hạn một chính trị gia có khả năng giải phóng dân tộc khỏi bị lệ thuộc vào đế quốc Rôma.

Đức Giêsu loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó và phục sinh: ”Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, rồi sau ba ngày Người sẽ sống lại” (Mc 9,31). Nhưng các ông không hiểu lời đó và còn sợ không dám hỏi Người. Tại sao lời loan báo không lọt vào tai môn đệ? Điều xẩy ra liền sau đó giúp cắt nghĩa sự kiện. Marcô cho ta thấy các môn đệ bận tâm về điều ngược hẳn lại với cuộc Thương khó của Thầy các ông. Vì thế, trên đường đi Capharnaum, các ông đã tranh cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả trong Nước mà Đức Giêsu sắp thành lập (Mk 89:34).

Marcô kể tiếp: ”Khi về tới nhà, Đức Giêsu hỏi các ông: ”Dọc đường, anh em đã tranh luận với nhau về chuyện gì vậy? Các ông làm thinh vì khi đi dọc đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9,33-34).

Các ông chưa học được những bài học của Thầy. Chúa thì nghĩ đến cái chết của mình, còn các ông thì chỉ nghĩ đến “địa vị cao.” Các ông vẫn một mực bám vào quan niệm sai lầm về Đấng Messia. Các ông vẫn tiếp tục mong chờ một “biến cố vẻ vang”, chứng tỏ quyền năng của Đấng Messia, một vương quốc trần gian mà các ông đã tranh luận xem ai là người đứng đầu khi Chúa và các ông thắng thế.

Bị Chúa hỏi bất ngờ, các ông hổ thẹn không dám nói sự thật, các ông ngậm miệng làm thinh. Sau đó Người ngồi xuống với tư cách là một vị tôn sư, Người ôn tồn dạy bảo: ”Ai muốn làm đầu, thì phải làm người rốt hết và làm tôi tớ mọi người” (Mc 9,35).

Trong xã hội và tập thể con người, người ta thường tìm kiếm sức mạnh, sự kính nể, uy tín, danh dự và quyền lợi. Đức Giêsu lật đổ nhào tận gốc rễ thứ tự này: người “thứ nhất” trở thành “người sau rốt”, “ông chủ” trở nên “đầy tớ.” Chắc chắn Đức Giêsu đã nói một cách có vẻ khiêu khích và cách mạng.

Nhưng một lần nữa, đó không phải là làm một cuộc “cách mạng” nghĩa là thay đổi “chủ” mà thôi! Ở đây, nhằm đưa ra giải pháp thực sự cho nội tâm con người.

Hervieux giải thích thêm: ”Chúa lấy người rốt hết để đối chọi với người đứng đầu, lấy người đầy tớ mọi người đối chọi với người cai quản. Điều nghịch lý này tất nhiên có nghĩa rõ rệt nhất khi nhìn cuộc đời Đức Giêsu, Đấng đã thực hiện trong bản thân và trong sứ mạng của Người. Người là Đấng cao cả hơn hết đã tự đặt mình vào chỗ rốt hết để phục vụ mọi người (Lc 22:27).

Trong xã hội ai cũng muốn cho thân mình được đề cao, được khen ngợi, được kính trọng. Ai lại không muốn ăn trên ngồi trước, không muốn cai trị người khác, không muốn được người ta hầu hạ? Nói chung, ai cũng muốn tranh dành quyền bính trong tay để bắt mọi người phục vụ mình.

Các màn kịch tranh giành quyền bính đã diễn ra từ xưa. Lúc mới dựng nên loài thiên thần, Luxiphe đã tranh ngôi bá chủ với Thiên Chúa. Thiên Chúa buộc lòng phải tống cổ hắn xuống làm bá chủ hoả ngục. Adong Evà cũng đòi đồng hàng với Thiên Chúa và cũng bị tống cổ ra khỏi vườn địa đàng, đến làm vua trái đất khô cằn và chết chóc.

Đến đây chúng ta phải giải đáp một thắc mắc: Người ta có được phép có CAO VỌNG không? Thực ra cao vọng không là gì sai trái cả. Người Anh có một câu tục ngữ: ”My place is at the top”: chỗ của tôi phải ở trên cao. Đấy là câu tâm niệm giúp kích thích mọi người phải biết sống vươn lên, không được sống tà tà trên ngọn cỏ. Thực vậy, sống là phải biết đặt mục tiêu cho đời mình, làm việc thì phải muốn thành công. Tuy nhiên, cao vọng có thể vượt qua tầm kiểm soát của mình, khiến mình quên hết tất cả mọi sự khác để chỉ còn biết đeo đuổi điều mình mong ước. Bởi đó, chúng ta phải cẩn thận để ý xem những gì mình hy sinh khi theo đuổi cao vọng. Chúng ta có thể hy sinh đời sống gia đình, sự công bình, sự khả ái và thậm chỉ cả cuộc sống của mình nữa. Cao vọng có thể khiến người ta đối xử với người khác một cách bất công và tàn nhẫn. Thế nhưng, dù được lời lãi cả thế gian mà phải đánh mất chính mình thì nào có ích gì? (Lc 9:25).

Các môn đệ tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất. Các ông chưa học được bao nhiêu từ những giáo huấn của Đức Giêsu. Bởi đó, Đức Giêsu gọi các ông lại và dạy cho họ biết ý nghĩa của việc làm lớn. Đức Giêsu không huỷ bỏ cao vọng, nhưng Ngài định nghĩa nó lại cho đúng. Thay vị cao vọng thống trị người khác, Ngài dạy họ phục vụ người khác. Thay vì cao vọng muốn người khác hầu hạ mình, Ngài dạy họ biết hầu hạ người khác. Như thế điều Ngài lên án không phải là cao vọng mà là cao vọng sai.

Những con người danh tiếng được gọi là vĩ nhân đều có một lý tưởng là phục vụ xã hội. Những nhân vật thực sự vĩ đại, những con người luôn luôn được người đời nhớ ơn vì đã thực sự đóng góp cho đời, là những người đã tự hỏi “Ta phải dùng tài năng mình để phục vụ quốc gia dân tộc mình như thế nào?” Sự vĩ đại của một người không phải là việc người ấy leo được đến tột đỉnh các nấc thang của quốc gia, xã hội, nhưng ở trong sự kiện người ấy sẵn sàng phục vụ quốc gia dân tộc, xã hội, đồng bào mình bất cứ lúc nào và ở đâu. Nhà văn hào R. Tagore cũng có một lý tưởng cao đẹp như thế khi ông nói: ”Khi tôi ngủ, tôi mơ rằng cuộc đời là niềm vui. Lúc thức dậy, tôi thấy rằng cuộc đời là phục vụ. Khi phục vụ, tôi thấy rằng phục vụ là niềm vui.”

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, Thánh Phaolô đã làm một bài thánh ca để ca tụng tinh thần phục của Đức Giêsu: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

Đức Giêsu đã có một tinh thần khác hẳn với tinh thần bình thường của loài người. Bởi vì con người tự nhiên thích ngồi chỗ cao, thích được khen ngợi, thích làm lớn và ưa địa vị quan trọng. Đó là cái tật cố hữu của loài người từ ngày tạo thiên lập địa, chứ không phải chỉ là tật xấu của các môn đệ Đức Giêsu. Tật xấu này trái ngược với tinh thần Tin Mừng. Tin Mừng chủ trương sống khiêm nhường, quên mình, quảng đại, coi mình không là gì hết, bởi vì hễ ai trở nên bé nhỏ trước mặt loài người, kẻ ấy sẽ được đề cao trước Thiên Chúa (Mt 18:4). Lòng khiêm nhượng ở đời này là điều kiện và là mức đo sự cao trọng trong Nước Trời.

Cha Charles de Foucauld, biệt danh là người hùng sa mạc Sahara, trước đây là một viên thượng tá trong quân đội Pháp. Đã từng chỉ huy các đoàn kỵ binh anh dũng rong ruổi ngược xuôi trên lưng ngựa để phục vụ hoàng triều nước Pháp. Foucauld tưởng như vậy là thành công và oai hùng. Nhưng nắm trong tay những tấm huy chương chói lọi, và tai nghe tiếng vó ngựa vang trời, Foucauld vẫn cảm thấy sự trống vắng, vô nghĩa của cuộc đời! Để cho đời mình có ý nghĩa tròn đầy, ông rời quân ngũ, xin vào phục vụ trong một tu viện ở làng Nazareth. Tại đây, Foucauld gánh nước cho từng nhà, nhất là những người già yếu bệnh tật. Rồi Chúa lại dẫn lối cho Foucauld đi tĩnh huấn trong sa mạc để đem Tin Mừng cho người Phi châu. Trong đời quân ngũ, Foucauld không chinh phục được ai, nhưng trong đời tu sĩ, ông đã đem nhiều linh hồn về với Chúa.

Chúng ta sống sau những biến cố đau thương của Đức Giêsu, chúng ta suy niệm, học hỏi những biến cố đó. Thế nhưng sau đó chúng ta vẫn còn tranh giành địa vị lớn nhỏ; tranh giành ngôi thứ trong các giáo xứ còn phản ảnh nơi chúng ta cái tâm trạng của các môn đệ xưa kia. Chung qui cũng tại bản năng muốn ăn trên ngồi trước, muốn thống trị người khác mà thời đại nào cũng thế.

Đức Giêsu đã dạy chúng ta: ”Hãy làm tôi tớ cho mọi người” (Mc 9,35). Đã là tôi tớ thì phải hầu hạ, phục vụ, giúp đỡ. Giúp đỡ người khác chính là giúp đỡ chính mình. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc của Đức Giêsu: “Cho thì có phúc hơn nhận lãnh” (Cv 20,35). Bởi vì, cho tức là trao tặng cho chính mình.

Người Anh có một câu ngạn ngữ tương tự: “Điều tôi tiêu đi thì tôi có. Điều tôi giữ lại thì tôi mất. Điều tôi cho đi thì tôi được.” Tình yêu lớn lên theo mức độ của sự trao ban. Có biết yêu thương con người mới thực sự triển nở và gặp lại chính mình. Có biết yêu thương thì con người mới tìm được hạnh phúc đích thật và một sự bình an trong cuộc sống: “Thành quả của sự thinh lặng là cầu nguyện. Thành quả của sự cầu nguyện là yêu thương. Thành quả của yêu thương là phục vụ. Thành quả của phục vụ là bình an (Mẹ Têrêsa Calcutta).

Bác sĩ Miki trong phim “Vận mệnh” thấy đời mình thất bại nhiều, chồng chết, muốn tự tử. Tình cờ đỡ đẻ cứu sống được cả mẹ con, lúc ấy Miki bừng tỉnh và thấy đời mình còn có ích cho người khác. Miki quyết định đến một hòn đảo xa phục vụ đồng bào với số ngày còn lại. Và Miki đã thực sự thấy mình được hạnh phúc trong phục vụ.

Để kết thúc, chúng ta hãy lắng nghe trong tinh thần cầu nguyện những lời của bác sĩ Albert Schweitzer, một Kitô hữu vĩ đại thời nay, người đã từ giã những phòng hoà nhạc Âu Châu để trở thành một bác sĩ thừa sai phục vụ cho người nghèo khổ ở Phi Châu: “Tôi không biết số phận bạn ra sao, chỉ biết một điều duy nhất là: Trong các bạn, chỉ những ai biết tìm và tìm thấy cách thức phục vụ tha nhân thì mới thực sự được hạnh phúc.”

--------------------------

 

TN25-B164: NGƯỜI CON THỨ


Lm. Nguyễn Thái

 

Trong giới sưu tầm tranh ảnh nghệ thuật có một câu chuyện được lưu truyền lại như sau: Có hai TN25-B164


Trong giới sưu tầm tranh ảnh nghệ thuật có một câu chuyện được lưu truyền lại như sau: Có hai cha con nhà giầu kia say mê sưu tầm tranh ảnh nghệ thuật quý giá, từ tranh của Picasso tới tranh của Raphael. Trong cuộc chiến tranh, người con đi động viên, và tử trận đang khi anh tiếp cứu một người lính bạn của mình. Người cha rất đau buồn về cái chết của người con yêu quý duy nhất của ông.

Chừng một tháng sau cái chết của con, trước Lễ Giáng Sinh, có một thanh niên trẻ đến gõ cửa nhà ông. Anh ta nói: “Thưa ông, con chính là người lính mà con ông đã hy sinh để cứu mạng sống. Hôm ấy anh đã cứu được rất nhiều người bạn đồng đội. Đang khi anh cõng con trên lưng về nơi an toàn, thì anh bị tử thương. Khi còn sống, anh thường kể cho con nghe về ông. Hôm nay con mang đến cho ông một bức tranh con đã vẽ. Con biết nó không được đẹp lắm, nhưng con tin chắc là con ông rất muốn ông có bức tranh này.”

Người cha mở bức chân dung người con của ông. Ông nhìn chăm chú vào bức tranh. Tất cả cá tính của con ông đã được diễn tả hết nơi đó. Nhạt nhoà nước mắt, ông cám ơn chàng thanh niên và muốn trả tiền cho bức tranh quý này nhưng anh không nhận, vì bức tranh là món quà cho ơn cứu mạng.

Người cha đã treo bức tranh ngay giữa ngôi biệt thự. Tất cả mọi người khách đến thăm ông, việc trước tiên là ông dẫn họ tới chiêm ngắm bức chân dung này, sau đó mới tới những bức vẽ khác. Sau đó, một cuộc bán đấu giá tất cả những bức tranh sưu tầm của ông được tổ chức long trọng. Quan khách giàu sang từ khắp các nơi tụ về với hy vọng mua được một bức nào đó trong bộ tranh sưu tầm quý giá của ông.

Bức tranh người con yêu quý của ông được treo ngay giữa hội trường đấu giá. Ban tổ chức gõ búa tuyên bố: “Trước hết, chúng tôi sẽ bắt đầu cuộc đấu giá hôm nay bằng bức tranh người con của chủ nhân. Ai sẽ trả bức tranh này 200 đô?” Tất cả im lặng! Một giọng nói từ phía sau la to: “Bỏ qua bức này đi! Chúng tôi đến đây vì những bức nổi tiếng!” Người khác thêm vào: “Chúng tôi đã không đến vì bức này. Chúng tôi muốn những bức tranh của Rembrandts và Van Goghs!” Ban tổ chức lại la to: “Người con! Người con! Ai sẽ trả giá người con?” Đám đông la ó, phản đối ồn ào.

Sau cùng một giọng nói từ phía cuối phòng vang lên: “Tôi trả 10 đô cho bức tranh đó!” Đó là ông già làm vườn của hai cha con. Ông rất nghèo, nhưng đó là tất cả số tiền ông có. Ban tổ chức lên tiếng: “Đã có người trả 10 đô! Ai muốn trả 20 đô?” Đám đông lại la ó giận dữ: “Cho hắn bức đó 10 đô đi! Chúng tôi chờ đợi những tác phẩm nghệ thuật thực sự!” Ban tổ chức lại gõ búa tuyên bố: “Một, hai, bán với giá 10 đô!” Một người ngồi ở hàng ghế đầu tiên la lớn: “Bỏ qua đi! Tới phiên bộ sưu tầm!”

Ban tổ chức hạ búa xuống tuyên bố: “Chúng tôi rất tiếc, buổi đấu giá đã kết thúc. Khi chúng tôi được mời đến tổ chức buổi đấu giá này, chúng tôi được cho biết một bí mật  phải giữ kín đến giờ phút này: “Bức tranh người con được đấu giá và ai mua bức tranh này sẽ được thừa kế toàn bộ tài sản gồm tất cả những bức tranh sưu tầm của chủ nhân. Ông già làm vườn mua bức tranh vẽ người con, sẽ được tất cả.”

Câu chuyện trên là dụ ngôn thời nay cắt nghĩa đoạn Phúc Âm, Mc 9: 30-37, của Chúa Nhật 25 Thường Niên. Ai chọn Chúa Con sẽ được thừa kế tất cả. Khi Chúa Giêsu tiên báo về việc Con Người sẽ chịu đau khổ và hy sinh mạng sống vì sự cứu rỗi của nhân loại, thì các môn đệ lại đang tranh luận với nhau xem ai trong số họ sẽ là người cao trọng nhất trong Vương Quốc mà Ngài sẽ thiết lập. Chúa Giêsu dạy cho họ thấy con đường dẫn tới sự cao trọng là con đường từ bỏ mình, khiêm tốn, và phục vụ người khác. Không có con đường nào khác cho bất ai muốn theo Ngài.

Các học giả đã nhận xét thấy rằng trong những câu chuyện của Thánh Kinh đã có một loại kiểu mẫu được ưa thích mà người ta gọi là “khuôn mẫu bé nhỏ hơn” – “the younger child motif”. Họ thấy rằng trong những câu chuyện phải giải quyết giữa hai anh em hay hai chị em, thì hầu như người em nhỏ hơn bao giờ cũng trổi vượt lên như một người anh hùng, một người tốt và được chúc phúc. Chẳng hạn khởi đầu Thánh Kinh với câu chuyện của Ca-in và A-ben, Ít-ma-ên và I-xa-ác, Ê-xau và Gia-cóp, Giu-se và các anh, Đa-vít và các anh, A-đô-ni-gia và Sa-lô-môn, người con hoang đàng và người con trưởng, câu chuyện của Mác-ta và Maria. Thật khó cắt nghĩa tại sao khuôn mẫu Thánh Kinh “bé nhỏ hơn” này lại trở nên có ý nghĩa.

Theo Carl Jung, nhân cách của con người được thành hình bởi hai nguồn năng lực mà ông gọi bằng tiếng Latinh là “senex” và “puer eternis”. “Senex” có nghĩa là người lớn, con cả, anh hai. “Puer eternis” có nghĩa là con bé nhỏ, con trẻ, con út. Xin tạm dịch là năng lực con cả và năng lực con trẻ. Nguồn năng lực con cả, anh hai, thì khôn ngoan, thận trọng và tính toán hơn. Vì có khuynh hướng nhìn xa, thấy trước, nên anh hai thường thận trọng và kỹ lưỡng, nhưng sau cùng chẳng dám hành động gì. Trái lại, người con trẻ, hay con út lại thích mạo hiểm và liều lĩnh hơn. Vì có khuynh hướng thích hoạt động, nên dễ phạm lỗi lầm, nhưng lại có nhiều cơ hội. Người con lớn hay bảo thủ và ý thức về sự an toàn hơn. Người con trẻ lại dễ dãi, dễ sống và sẵn sàng thích nghi với mọi hoàn cảnh. Người con cả có khuynh hướng tranh giành quyền lực và sự thành công hơn. Còn người con trẻ lại có khuynh hướng cộng tác, cởi mở, thích bầu bạn hơn. Người con cả sớm trưởng thành và chịu trách nhiệm hơn, trong khi người con trẻ vẫn vô tư. Trong những đại gia đình, cha mẹ thường di truyền những sinh lực con cả cho người con đầu lòng của họ, và những người con kế sẽ kết thúc bằng việc duy trì thêm những năng lực của người con trẻ.

Từ lý thuyết này Carl Jung tiếp tục suy diễn ra rằng khi một trong hai nguồn năng lực này bá chủ hoàn toàn nhân cách của một con người, sẽ gây hậu quả là nhân cách đó dễ bị chết. Để trở thành một con người là con người thực sự, đầy sinh động, cả hai nguồn sinh lực này phải được cân bằng và hài hòa trong một nhân cách.

Nhìn vào hành động của các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy rằng hành động của họ quá nghiêng về nguồn năng lực của con cả. Đây là lần thứ hai, Chúa Giêsu cố gắng nói rõ cho họ biết về sự đau khổ, sự chết và sống lại đang chờ đợi Ngài ở Giê-ru-sa-lem. Họ không hiểu, mà cũng chẳng chịu hỏi lại: “Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người” (Mc 9:32). Đây chính là đặc tính của con cả. Người con cả luôn tỏ ra tự tin nơi chính mình, không muốn bàn hỏi với ai!

Một yếu tố rõ ràng khác của năng lực con cả nơi họ là: “dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất” (Mc 9:34). Điều này chứng tỏ rằng họ liên hệ và làm việc với nhau dựa trên sự cạnh tranh quyền hành hơn là sự cộng tác. Do đó, chúng ta mới hiểu được rằng tại sao Chúa Giêsu đem một em bé đặt giữa các ông, ôm lấy em và nói rằng: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37).

Lời tuyên bố có tính cách quyết định nầy quan trọng ở chỗ: để đón tiếp trẻ thơ phải chấp nhận một cái gì khác hơn là sự đơn thuần của một trẻ thơ. Đó là, theo như sự phân tích của Carl Jung, đón tiếp phần năng lực của con trẻ, cái nhân cách của trẻ thơ. Với năng lực con trẻ, chúng ta trở nên ít tính toán, ít quan tâm tới sự tủi nhục hay phẩm giá cá nhân của mình, ít sợ thất bại, đau khổ và sự chết. Và nhất là ít bám víu lấy quyền hành và sự thành công xét dưới con mắt của người đời. Với năng lực của con trẻ, chúng ta dám từ bỏ, ra đi, không bám víu, dám mạo hiểm, chấp nhận bấp bênh và thử thách. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể phó thác, tin tưởng và bước theo Chúa Giêsu được.

Văn hóa ngày nay làm cho chúng ta quá nghiêng về năng lực của người anh cả. Chúng ta giống như các môn đệ chỉ muốn thành công, quyền hành, vinh quang, chiến thắng, và những cảm giác an toàn bảo đảm cho cuộc sống trần gian. Ai muốn mang lấy những năng lực của con trẻ như sự vô tư, tin tưởng, cộng tác, và vui tươi? Ai muốn mạo hiểm ôm lấy những thử thách, đau khổ và khó khăn trong đời mình? Ai muốn đi tìm con đường khiêm tốn và phục vụ người bị lãng quên? Ai muốn đi với những người bé nhỏ, kẻ nghèo hèn, người bệnh tật?

Các tông đồ ở thời điểm này trong cuộc đời của họ, giống như những người đến dự cuộc đấu giá tranh trong câu chuyện ở trên. Họ chú ý đến quyền lực, địa vị, và danh vọng. Họ đã thất bại, vì không hiểu được cái nghịch lý của con đường Chúa Giêsu đi. Con đường khiêm tốn, phục vụ, và từ bỏ bản thân là con đường dẫn đến sự cao trọng.

Thông điệp của câu chuyện đấu giá tranh và câu chuyện của Phúc Âm hôm nay rất giống nhau: Thiên Chúa cho chúng ta Người Con duy nhất của Ngài. Người Con ấy đã hy sinh mạng sống mình để cứu vớt nhân loại. Và ai chọn Người Con, bước theo tinh thần và năng lực của Người Con, cùng con đường phục vụ khiêm tốn của Ngài, sẽ hưởng di chúc của Chúa Cha, thừa kế tất cả mọi sự. “Người Con! Người Con!” Ai bước theo Người Con sẽ thừa kế mọi sự!

------------------------------

 

TN25-B165: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B


Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

 

Tin mừng Chúa nhật XXV Quanh năm trình bày một nội dung thật ấn tượng đó là phục vụ trong TN25-B165


Tin mừng Chúa nhật XXV Quanh năm trình bày một nội dung thật ấn tượng đó là phục vụ trong khiêm hạ và phục vụ vô vị lợi. Càng làm lớn, địa vị cao thì phải là người tôi tớ phục vụ mọi người.

    Chúa Giêsu và các môn đệ từ trên núi xuống băng qua Galilê đến miền Capharnaum. Ngài đã dạy các môn đệ và loan báo lần thứ hai về cuộc thương khó và sự phục sinh của Ngài: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”.

    Đa số dân Do Thái cũng như các môn đệ không hiểu về vấn đề Messia đau khổ, Người tôi tớ của Thiên Chúa phải chết thay cho muôn người. Các ông chỉ nghĩ đến một Đấng Messia uy quyền và vinh quang, một nước trần gian vật chất, danh vọng, uy quyền, giàu sang… Vì thế ngay sau khi nghe Chúa nói về cuộc thương khó, thì các ông bàn luận, tranh cãi với nhau về ngôi vị, cấp bậc trong nước mà Chúa sẽ thiết lập: ai sẽ là thủ thướng, là bộ trưởng, là chủ tịch… Nhân dịp này, Chúa Giêsu đã dạy các ông một bài học: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.

Các quan chức trong một nước, trong xã hội, người đứng đầu lãnh đạo, chỉ huy, cai trị dân và bắt dân phục vụ mình, tùng phục mình. Càng làm lớn, càng giàu sang, danh vọng, uy quyền và được mọi người hầu hạ, đi đâu cũng có kẻ đưa người đón. Trái lại, trong nước Thiên Chúa, người công dân Nước Trời càng làm lớn thì phải là tôi tớ phục vụ mọi người. Quyền bính, chức vụ trong Giáo hội là phục vụ trong khiêm hạ và vô vị lợi. Đức Giêsu đã làm gương về vấn đề này trong bữa tiệc ly: Ngài đã rửa chân cho các môn đệ, làm công việc của người đầy tớ: “Thầy đã rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau”. Lần khác, Chúa Giêsu cũng dạy các tông đồ: “Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc cho muôn người”.

    Hạnh phúc là phục vụ. Phục vụ là đem lại an vui hạnh phúc cho anh em. Nếu các quan chức mà thực hành bài học phục vụ trong khiêm hạ và vô vị lợi đối với nhân dân thì chắc chắn hòa bình, an vui, hạnh phúc sẽ đến với mọi người, mọi nhà, và không còn chiến tranh khủng bố, bất công trong xã hội.

    Một hôm Hồ Khưu Trượng hỏi Tôn Thúc Ngao:

    – Có ba điều chuốc oán, ông biết chưa?

    – Tôi chưa được biết, họ Tôn trả lời.

    Trương Nhân nói: Tước vị cao, người ta ganh. Quyền thế lớn, người ta ghét. Lợi lộc nhiều, người ta oán”.

    Tôn Thúc Ngao lắc đầu nói: “Không phải luôn luôn như thế, tước vị tôi càng cao, tôi càng xử nhún nhường; quyền thế tôi càng lớn, tôi càng khiêm cung; lợi lộc tôi càng nhiều, tôi càng chia bớt cho người xung quanh. Như thế thì làm gì bị oán thù của thiên hạ”. Câu trả lời thật chí lý và phù hợp với giáo lý của Chúa Giêsu. Đối với Chúa, người chỉ huy, lãnh đạo, người đứng đầu là người phục vụ tha nhân trong khiêm hạ, hy sinh và hoàn toàn vô vị lợi.

 Chúa Giêsu còn dạy các môn đệ bài học nhớ đời: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9, 37). Đứa nhỏ, trẻ con là mẫu gương của sự khiêm nhường, đơn sơ, tín thác mà các môn đệ và mọi người được mời gọi để thực hành điều đó.

Các trẻ nhỏ là hình ảnh tượng trưng cho những người tầm thường, nghèo hèn, thấp cổ bé họng không đáng kêt trong xã hội. Tiếp nhận và phục vụ các em nhỏ, những người bần cùng trong xã hội không mong họ phục vụ lại, mà phục vụ vô vị lợi. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã đồng hóa Ngài với những người bé nhỏ, nghèo hèn. Phục vụ họ là phục vụ chính Chúa. Giúp đỡ và yêu thương họ là giúp đỡ và yêu mến chính Ngài: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn”.

Tóm lại, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy sống khiêm nhường và sẵn sàng phục vụ lẫn nhau, nhất là những người nghèo khổ, bất hạnh, những người hèn kém trong xã hội. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và đáng sống khi con người biết nhiệt tình phục vụ anh em một cách vô vị lợi noi gương Đức Giêsu. Chính khi yêu thương và phục vụ tha nhân là chúng ta đang phục vụ Thiên Chúa.

----------------------------

 

TN25-B166: SUY NIỆM CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B.


Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

Bài Tin Mừng hôm nay có hai phần tương đối rõ rệt. Phần thứ nhất Chúa báo trước về cuộc tử TN25-B166



Bài Tin Mừng hôm nay có hai phần tương đối rõ rệt.

Phần thứ nhất Chúa báo trước về cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa
Phần thứ hai Chúa đề nghị một lối sống mới cho tất cả những ai muốn theo Ngài.

I. Hôm ấy Chúa Giêsu đang đi với các môn đệ. Ngài tránhkhông muốn cho ai biết Ngài. Ngài sợngười ta nô nức đi theo Ngài như chạy theo một “Người lớn”. Và chính trong bối cảnh này Ngài loan báo cho các môn đệ về cuộc khổ nạn Ngài sắp phải chịu. Đây là lần thứ hai Ngài làm như thế.

Ngài sử dụng lại các từ ngữ hầu như y hệt lần trước (8,31) “Con Người” sẽ bị “nộp” vào tay người ta.

Và cũng như lần trước lời hứa Phục sinh được thêm vào ngay sau đó, thế nhưng lời hứa này xem ra chẳng an ủi được các môn đệ trước viễn ảnh đớn đau của cái chết. Tệ hơn nữa các ông ấy còn tỏ ra hầu như chẳng hiểu gì về những lời giáo huấn của Thầy mình. Lần trước thì Phêrô đã biểu lộ sự phản kháng. Còn lần này tuy không nói ra nhưng thái độ “khép lòng” của họ được ghi nhận qua nỗi sợ hãi không dám “hỏi Ngài” chứng tỏ họ cố tránh né những khó khăn và thử thách đang chờ đợi Chúa.

Đứng trước hoàn cảnh như thế Chúa phản ứng lại như thế nào?

Một lần nữa Marco cho chúng ta thấy Chúa lại kiên trì và nhẫn nại giáo dục dạy dỗ họ.

Ngài khởi đầu công việc dạy dỗ bằng cách kéo các môn đệ về với những gì mới xẩy ra. Ngài hỏi họ về nội dung cuộc tranh luận giữa họ với nhau ở dọc đường. Nghe lời Chúa Giêsu hỏi, họ không trả lời. Thực ra họ đã tranh luận với nhau xem ai là người “lớn” nhất.

Chúa Giêsu cảm thấy có bổn phận phải can thiệp để làm cho các môn đệ mình thoát khỏi cái khuynh hướng đua đòi, chạy theo quyền lực và Ngài cho họ một bài học sống động (9,35).

Marco diễn tả Chúa ngồi xuống để biểu lộ cung cách của một vị sư phụ mà các đệ tử phải chú tâm lắng nghe. Đây là tư thế của một người giảng dạy đầy uy quyền.

Chúa Giêsu nói với họ một cách thật rõ ràng. Trong lời ngỏ với những vị lãnh đạo tương lai của dân Chúa, Chúa Giêsu đã đảo ngược cái phẩm trật thông thường của nhân loại. “Muốn làm đầu thì phải làm cuối, muốn chỉ huy thì phải làm ‘đầy tớ tất cả”.

II. Nhưng thử hỏi sứ điệp của Chúa có được đón nhận hay không?Ngài tin là có. Và để cho lời của Ngài được cụ thể hóa Ngài đặt một em bé giữa các ông, ôm nó vào lòng. Cử chỉ này tạo nên một ảnh hưởng bất ngờ. Dắt một em bé vào giữa họ rồi ôm hôn nó: Đây là một việc làm hoàn toàn trái với tập tục đương thời. Xã hội lúc đó không hề quan tâm đến trẻ em. Người ta coi rẻ trẻ em như một sinh vật vô nghĩa, thậm chí họ còn xua đuổi khai trừ chúng ra khỏi cộng đoàn vì cho rằng chúng ngu dốt không biết gì về lề luật.


Vậy khi đón nhận một em bé như thế Chúa Giêsu đã làm một công việc hết sức quan trọng. Đó là Ngài trả lại giá trị cho những con người bị loại trừ và Chúa còn nhấn mạnh thêm là việc đón tiếp những con người bị khai trừ như thế cũng chính là đón tiếp Ngài. Đây quả thật là một sứ điệp bất ngờ và cũng rất là mới mẻ của những trang Tin Mừng khả ái này.

Kính thưa anh chị em

Tới đây thì ý nghĩa của Bài Tin Mừng đã khá rõ. Điều Chúa Giêsu muốn ở nơi các môn đệ của Ngài ngày xưa cũng là điều mà Chúa muốn đối với chúng ta hôm hay. Vấn đề đặt ra là khi theo Chúa, sống cuộc đời tự hạ phục vụ như thế, Chúa sẽ dẫn chúng ta đi đến đâu. Câu trả lời tương đối cũng dễ: Đến vinh quang. Đối với Chúa thì vinh quang đã rõ. Đó là sự phục sinh của Ngài. Còn đối với chúng ta thì xem ra vinh quang còn bị che phủ chưa ló dạng. Nhưng chúng ta có cơ sở để tin rằng vinh quang đó sẽ tới.

Xin chứng minh bằng một thí dụ.

Anh chị em biết Mẹ Têrêsa, một con người sống rất gần gũi với chúng ta trong thời gian. Giáo Hội đã phong thánh cho Mẹ. Tại sao thế? Tại vì mẹ xứng đáng được tôn vinh như thế. Một con người khi còn sống chỉ biết phục vụ những người nghèo khó, bệnh tật, bị bỏ rơi….Vậy mà khi qua đời, không biết bao nhiêu danh hiệu cao quí người ta đã đặt ra để ca tụng mẹ.

Ngay khi vừa được tin Mẹ qua đời các báo đã đưa ngay lên trang nhất những bản tin với những những hàng tít thật lớn: “Mẹ của những người nghèo đói đã ra đi” – “Vị nữ thánh của những người cùng khổ không còn nữa” – “Vị nữ thánh giữa đời thường đã vĩnh viễn ra đi”

Bên cạnh những lời ca tụng của báo chí, nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cũng bày tỏ lòng thương tiếc sâu sắc. Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã gửi đến Calcutta bức điện chia buồn như sau: “Buổi tối hôm nay đã có ít tình yêu hơn, ít lòng trắc ẩn hơn và cũng ít ánh sáng hơn trên thế giới”

Tại Mỹ tổng thống Bill Clinton đã nói: “Mẹ là người luôn gây ngạc nhiên, một trong những vĩ nhân của thời đại này”

Nữ hoàng Elizabeth II nước Anh gửi một bức thư chia buồn với dòng Nữ Tu thừa Sai Bác Ái đã viết: “Mẹ Têrêxa và công Chúa Diana mỗi người một cách đã nói lên tấm gương: Là con người hãy biết đối xử với nhau bằng lòng nhân ái” – Còn thủ tướng Tony Blair đã gửi đến Calcutta lời thương tiếc: “Trong một tuần đầy bi kịch, thế giới lại càng buồn hơn vì một trong những người phục vụ nhiều lòng trắc ẩn đã ra đi”

Tại Albani quê hương thứ nhất của mẹ, thủ tướng Fatos Nano đã nói: “Đất nước Albani quê hương thương tiếc mẹ vô vàn và muốn đưa thi hài của mẹ về an táng tại quê hương, nhưng ý nguyện này không thành tựu được. Albani sẽ để tang Mẹ trong ba ngày”

Còn tại Châu Á, chính phủ Indonesia bày tỏ lòng thương tiếc và kính phục. Chính phủ Philippin tổ chức lễ tang Mẹ trọng thể tại một trong những quận nghèo nhất ở thủ đô Manila. Tại Singapore thủ tướng Goh Chok Tony đã nói: “Mẹ Têrêxa là một trong những phụ nữ nổi bật nhất của thế kỷ 20” Tại Hàn quốc tổng thống Kim Yong Sam nói: “Nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ sự hy sinh cả cuộc đời của Mẹ Têrêxa cho những người bần cùng trên thế giới”

Đó không phải là vinh quang sao kính thưa anh chị em? Là vinh quang chứ! Có rất nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới này thèm được cái vinh quang đó nhưng nào có ai cho! Có nhiều người giầu có muốn được một chút vinh quang như thế nhưng làm sao mà có được.

Để kết thúc bài suy niệm hôm nay, tôi xin được mượn lời của tờ Báo Lao động để nói lên tâm tư của tôi: “Trong cuộc đời bình thường của mình, Mẹ Têrêsa chỉ sống bên cạnh nhưng người bần hàn cơ cực, sắp chết, lở lói, đói ăn, không nhà, không thân nhân, nhưng ngày thứ bảy vừa qua có đến hai nữ hoàng, bốn vị tổng thống đương nhiệm, ba đệ nhất phu nhân, hai thủ tướng và rất nhiều người cao sang quyền quí đã đến dưới chân bà nghiêng mình tiễn biệt. Kể từ ngày cố thủ tướng Javahartal Nerhu qua đời dến nay, chưa bao giờ người dân Ấn độ chứng kiến được một đám tang vĩ đại như vậy.”

Và lời của Chúa Giêsu: “Ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.”+” Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy.”(Ga 12,26).

----------------------------

 

TN25-B167: PHỤC VỤ LÀ VĨ ĐẠI


Lm. Hữu Độ

 

Hằng năm giải thưởng Nobel được trao tặng cho những nhân vật nào đã đóng góp một cách trổi TN25-B167


Hằng năm giải thưởng Nobel được trao tặng cho những nhân vật nào đã đóng góp một cách trổi vượt trong lãnh vực: Hoà bình, Văn chương, Kinh tế, Vật lý, Hoá học và Y khoa. Ai nhận lãnh giải thưởng Nobel sẽ được người ta kính nể và khen ngợi là nhân vật vĩ đại.

Phúc Âm hôm nay thuật lại các Tông đồ tranh luận với nhau xem ai là người vĩ đại, tức là người lớn nhất. Nhưng vĩ đại theo cái nhìn của Thiên Chúa thì hoàn toàn khác, ngược với cái nhìn của con người. Theo Thiên Chúa thì vĩ đại hay có vị thế lớn trong Nước Trời là người biết phục vụ, “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải là ngưòi rốt hết và phục vụ mọi người” (Mc. 9:35).

Phục vụ  tức là chấp nhận thiệt thòi và hy sinh để đem ích lợi cho người khác. Hy sinh tiện nghi, sở thích, sự nhàn nhã, ngay cả tiền bạc và thời giờ để cho người khác được hài lòng và hạnh phúc. Người khác có thể là con em chúng ta ở trong gia đình, cũng có thể là giáo dân trong giáo xứ, cũng có thể là đồng sự tại công sở, hay bạn bè tại trường học. Người khác có thể là đồng hương Việt Nam hay bất cứ người ngoại quốc nào. Nói chung là những người cần tới sự giúp đỡ như: già yếu, bệnh tật, trẻ em và những người nghèo khó… Phục vụ luôn có trong tầm tay, trong khu vực chúng ta sống. Đừng mơ tưởng xa xôi hay ước vọng đi truyền giáo ở Phi Châu, Nam Mỹ. Chung quanh chúng ta luôn có những thành phần cần đến sự giúp đỡ.  Thời đại chúng ta đã có gương sống động của Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta.

Một bác sĩ giải phẫu hôm đó nhằm ngày nghỉ về miền quê đi dạo. Ông khát nước nên đến gõ cửa một căn nhà xin nước uống. Cô bé trong nhà vui vẻ vắt một ly nước chanh cho ông uống. Uống xong, ông đưa tấm danh thiếp ra trao vào tay cô bé và dặn khi nào có người nhà muốn chữa bệnh thì cầm tấm danh thiếp này đến với ông. Bốn năm sau mẹ cô bé bị bệnh cần được giải phẫu. Họ đưa bà tới nhà thương kèm theo tấm danh thiếp đó. Bà được chữa khỏi bệnh. Lúc trở về, ông bác sĩ giải phẫu trao cho bà một hoá đơn tính tiền rất tốn kém, nhưng bên dưới ông viết chữ: “Đã trả xong bằng một ly nước chanh của con bà.”

Thiên Chúa muốn chúng ta phục vụ tha nhân không mong mỏi được trả ơn ở đời này. Nhưng chắc chắn Thiên chúa đã ghi nhận đầy đủ và ban thưởng cho chúng ta ở đời sau hơn lòng chúng ta ước mơ tới. Vì đó là cách Thiên Chúa đã hứa và thi hành.

-----------------------------

 

TN25-B168: VÒNG XOAY


Trầm Thiên Thu

 

Có nhiều loại vòng – cả tốt và xấu, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cái vòng thì hình tròn, tròn thì TN25-B168


Có nhiều loại vòng – cả tốt và xấu, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cái vòng thì hình tròn, tròn thì cứ lòng vòng, và người ta gọi là “vòng xoay”, nó cũng chính là cái vòng luẩn quẩn của cuộc đời liên quan chữ Danh. Vòng xoay có khi hóa thành vòng xoáy. Loại “vòng đời” rất đáng sợ, nó được tiền nhân mô tả thế này: “Cái vòng danh lợi cong cong – kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào”. Cứ thế, và cứ thế. Mệt thật! Và từ đó có thể xảy ra chiến tranh – cả lạnh và nóng.

Cuộc đời phàm nhân thật là phức tạp, thế nhưng chắc chắn rằng “cái vòng luẩn quẩn” đó không tại Thiên Chúa, mà tại chính chúng ta. Ngày xưa, trường hợp tháp Babel là đại họa đối với con người, nhưng đó không phải là thiên tai mà là nhân tai, là tội kiêu ngạo và ích kỷ của con người. Ngày nay cũng như vậy, tự con người tạo ra các tai họa, tự tạo ra ngày tận thế – chứ không phải do Thiên Chúa, mà lại cứ đổ lỗi cho Ông Trời và nói là “thiên tai”. Thánh Lm Arnold Janssen (1837-1909, sáng lập Dòng Ngôi Lời – SVD, Societas Verbi Divini) xác định: “Mặc dù ý Chúa KHÔNG PHÙ HỢP với bạn thì vẫn LUÔN ÍCH LỢI cho bạn”.

Với bản chất con người, ai cũng “máu” lắm (nhiều loại máu), thả ra cũng chẳng ai vừa: “Kẻ tám lạng, người nửa cân”. Cứ theo lẽ thường thì chẳng ai hơn/kém ai. Ai cũng thích được khen chứ chẳng ai thích bị chê. Nghĩa là con người rất thích có DANH, gọi là “háo danh”, như chí sĩ Nguyễn Công Trứ (1778–1858, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là nhà quân sự, nhà kinh tế và nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại) đã xác định: “Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”. Chữ DANH đối với nam giới càng “to lớn” hơn!

Kể cũng lạ (mà cũng chẳng lạ), bởi vì có mối liên quan “thân thiết” giữa DANH và LỢI – gọi là Danh Lợi. Chưa có cái “danh” thì tìm cách có, có “danh” rồi thì tìm cái “lợi”. Có những người mê “danh” đến nỗi sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn để “chạy” bằng cấp, chức tước, địa vị,… Thậm chí có người còn dám bán rẻ lương tâm để mua lấy cái “danh”, ngay cả tình nghĩa trong các mối quan hệ cũng chỉ là “chuyện nhỏ”, như người ta “đùa mà thật” thế này: “Tình cảm là chín (chính), tiền bạc là mười”. Điều tất yếu ư? Có thể. Bởi vì “con gà còn tức nhau tiếng gáy” kia mà! Có lẽ dày dạn kinh nghiệm nên cụ Nguyễn Công Trứ mới chua chát nhận định: “Thế thái nhân tình gớm chết thay, Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy”, hoặc: “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược, Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”. Chua chát lắm!

Thẳng thắn mà nói thì tiền chẳng là gì, chỉ là những tờ giấy có cấp độ giá trị khác nhau theo những con số mà con người quy ước với nhau, chứ tự nó không có giá trị. Thế nhưng người ta coi “tiền là tiên, là Phật, là sức bật của con người, là nụ cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của người già, là cái đà của danh vọng, là cái lọng để che thân, là cán cân của công lý”, do đó mà nó có thể “thay trắng, đổi đen” mọi thứ. Xã hội ngày nay rất rõ nét, đặc biệt là ở Việt Nam. Thật là kinh khủng! Chiến tranh tàn khốc xảy ra cũng chỉ vì danh lợi. Cái lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, thế nên: Thật thà bị ghét bỏ, nghèo khó bị miệt khinh, thông minh bị trù dập – nhưng gian ác được yêu thương, giàu sang được đề bạt, khoác lác được đề cao. Đời là thế! Than ôi, thế thái nhân tình Cười ra nước mắt nên mình thương ta!

Mọi thời và mọi nơi đều có người lành, kẻ dữ. Thời Cựu Ước, những người dã tâm đã hùa nhau: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm lề luật, và tố cáo ta không tuân hành lễ giáo” (Kn 2:12). Họ còn ranh mãnh và mỉa mai: “Ta hãy coi những lời nó nói có thật không, và nghiệm xem kết cục đời nó sẽ thế nào” (Kn 2:17). Người chính trực luôn bị ghét, người theo Chúa cũng bị “dè chừng”, thậm chí còn bị sát hại. Và rồi kẻ xấu toan tính: “Nếu tên công chính là con Thiên Chúa, hẳn Người sẽ phù hộ và cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó, để biết nó hiền hoà làm sao, và thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào” (Kn 2:18-19). Cuối cùng, họ quyết định: “Nào ta kết án cho nó chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm” (Kn 2:20a). Nhưng đó chỉ là “sai lầm của phường vô đạo” (Kn 2:20b).

Tuy nhiên, người công minh chính trực vẫn chẳng sợ gì. Cây ngay không sợ chết đứng như Từ Hải, vì họ luôn vững tin vào Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin dùng uy danh mà cứu độ, lấy quyền năng Ngài mà xử cho con. Lạy Thiên Chúa, xin nghe con nguyện cầu, lắng tai nghe lời con thưa gửi” (Tv 54:3-4). Phường kiêu ngạo có nổi lên chống đối, hay bọn hung tàn tìm hại mạng sống người công chính, dù chúng không kể gì đến Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn độ trì và nâng đỡ những tôi trung và hiền tử của Ngài, vì Ngài là Đấng đời đời thành tín.

Mặc dù vui – buồn, sướng – khổ, hạnh phúc hay bất hạnh, người thật lòng theo Chúa vẫn một lòng một dạ chân thành thân thưa: “Con tự nguyện dâng Ngài lễ tế, lạy Chúa, con xưng tụng danh Ngài, thật danh Ngài thiện hảo” (Tv 54:8). Đó là cách sống của những người thực sự TRƯỞNG THÀNH TÂM LINH. Ước gì mọi người đều biết sống như vậy!

Thật thú vị với cách phân tích của Thánh Giacôbê: “Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (Gc 3:6). Một cách suy luận lô-gích và minh nhiên. Và ngài kết luận: “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là THANH KHIẾT, sau là HIẾU HOÀ, KHOAN DUNG, MỀM DẺO, đầy TỪ BI và SINH NHIỀU hoa thơm trái tốt, KHÔNG thiên vị, cũng CHẲNG giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Gc 3:17-18). Phàm nhân chúng ta gọi đó là “luật nhân quả”, gieo gì gặt nấy: Tư tưởng ước muốn hành động thói quen tính cách số phận. Từ ngàn xưa, Kinh Thánh đã xác định: “Gieo gió thì phải gặt bão” (Hs 8:9). Thánh Phaolô nói: “Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời” (Gl 6:8).

Đúng là “XẤU hay làm TỐT, DỐT hay nói CHỮ”. Thế mới rắc rối, thế mới gây xung đột. Thánh Giacôbê đặt vấn đề: “Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những KHOÁI LẠC của anh em đang GÂY CHIẾN trong con người anh em đó sao?” (Gc 4:1). Và rồi thánh nhân đúc kết một cách vô cùng thẳng thắn: “Anh em HAM MUỐN mà không có, nên anh em CHÉM GIẾT; anh em GANH GHÉT cũng chẳng được gì, nên anh em XUNG ĐỘT với nhau, GÂY CHIẾN với nhau. Anh em không có, là vì anh em KHÔNG XIN; anh em XIN MÀ KHÔNG ĐƯỢC, là vì anh em xin với TÀ Ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4:2-3).

Công bình mà nói thì nhận xét của Thánh Giacôbê “chạm” đến bất kỳ ai, đến bất kỳ cương vị nào, đến tận mọi ngõ ngách sâu thẳm nhất của lòng dạ và tư tưởng con người. Thật vậy, đôi khi chúng ta ÍCH KỶ NGAY TRONG LỜI CẦU NGUYỆN của mình (như dụ ngôn hai người cùng cầu nguyện trong Đền Thờ – Lc 18:9-14), thậm chí còn dám “ngã giá” và “ra điều kiện” với chính Thiên Chúa mà cứ tưởng là mình… đạo đức và thánh thiện lắm. Ôi, nguy hiểm quá chừng!

Thánh Máccô cho biết một lần nọ, Đức Giêsu và các môn đệ đi băng qua miền Galilê, nhưng Ngài không muốn cho ai biết, vì Ngài đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết chết, Ngài sẽ sống lại” (Mc 9:31). Nhưng các ông không hiểu lời đó, vả lại các ông LO SỢ nên KHÔNG DÁM hỏi lại Ngài. Bao tháng ngày theo Thầy đi khắp mọi nơi, tới từng hang cùng ngõ hẻm, ăn dầm nằm dề với Thầy, thế mà các môn đệ vẫn “như người trên cung trăng”, lơ ngơ mà chẳng hiểu Sư Phụ có ý nói gì. Đã không hiểu mà lại không dám hỏi. Lạ thật! Nhưng phàm phu tục tử là thế, chúng ta cũng vậy, chẳng hơn gì đâu! Chúa biết thừa, nhưng Ngài vẫn thông cảm và lại càng thương các “ngu đệ” hơn. Tội lắm, thương lắm, thương tới cùng luôn (Ga 13:1).

Sau đó, Thầy trò cùng đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Sư Phụ Giêsu hỏi các đệ tử: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9:33). Hỏi để mà hỏi, hỏi cho có chuyện, hỏi để họ bớt… run, chứ Ngài biết tỏng, biết rõ mười mươi như “đi guốc trong bụng” từng người! Nhưng các ông nín thinh như ngậm tăm, vì Thầy nói trúng phoóc tim đen rồi. Rõ ràng khi đi đường, các ông đã CÃI NHAU xem ai là người LỚN HƠN. Tranh giành địa vị, tranh chấp ngôi thứ, tranh nhau cái DANH cốt để mong có cái LỢI. Không thể nào biện hộ, dù chỉ nửa lời. Cái “vòng kim cô” Tham-Sân-Si khó gỡ ghê!

Thầy Giêsu biết các môn đệ chưa thể “thoát tục”, Ngài ngồi xuống và gọi họ lại mà nói: “Ai muốn làm người ĐỨNG ĐẦU thì phải làm người RỐT HẾT, và làm người PHỤC VỤ MỌI NGƯỜI” (Mc 9:35). Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37).

Một cách so sánh đầy triết lý và thần học, với chuỗi lô-gích: TIẾP NHẬN trẻ nhỏ TIẾP NHẬN Chúa Giêsu TIẾP NHẬN Chúa Cha. Hay quá! Nhưng có lẽ chúng ta chưa thể hiểu đúng, hoặc không dám hiểu, thậm chí có thể là không muốn hiểu. Nhưng đừng quên điều này: Chúa Giêsu luôn thực tế, mạch lạc, rất hiếm khi bóng gió xa xôi (khi dùng dụ ngôn). Thế nhưng với “đầu óc bã đậu”, chúng ta cảm thấy khó lĩnh hội thấu đáo để có thể thực hành những bài học “đơn giản” của Ngài là SỐNG YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28). Chính Ngài đã LÀM rồi mới NÓI.

Chẳng dễ gì thoát khỏi vòng danh lợi và vòng kiềm tỏa của nó, nhưng không thoát thì không xong. Làm sao đây? Chỉ có cách làm theo “mẹo” của Chúa Giêsu: “Nếu anh em không TRỞ LẠI mà NÊN NHƯ TRẺ NHỎ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18:3). Danh lợi chỉ là thứ tạm bợ, chóng qua, thế mà người ta vẫn tìm mọi thủ đoạn để giành giật bằng mọi giá. Đó là loại “giàu” khiến người ta khó vào Nước Trời nhất. Cụ Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục, Vào cuộc trần ai khóc trước cười”. Chí lý thay, độc đáo quá, tuyệt vời lắm!

Có mối liên quan kỳ lạ: “Không có TÌNH YÊU và HÀNH ĐỘNG thì người thông thái nhất cũng chẳng là gì” (Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu). Thánh Juliana Norwich phân tích: “Chân lý ngắm nhìn Thiên Chúa, sự khôn ngoan chiêm ngưỡng Thiên Chúa, từ hai thứ đó phát sinh cái thứ ba là niềm vui thánh thiện tuyệt vời nơi Thiên Chúa, Đấng là tình yêu”. Thật chí lý khi Kinh Thánh nhắc nhở: “Làm xong một việc thì tốt hơn mới bắt đầu, nhẫn nại thì tốt hơn huênh hoang tự đắc. Chớ vội để cho lòng mình nổi giận, vì chỉ người ngu mới nuôi giận trong lòng” (Gv 7:8-9).

Lạy Thiên Chúa, xin biến đổi tâm hồn chúng con từng giây phút, để chúng con đừng giành nhau những thứ không phù hợp với Tin Mừng của Ngài, trái ngược với Nước Trời. Xin thúc đẩy chúng con không ngừng biết YÊU THƯƠNG và PHỤC VỤ đúng Tôn Ý Ngài. Trong khi phục vụ, đôi khi công việc có thể khiến chúng con cảm thấy cô đơn và nhàm chán, thậm chí còn bị hiểu lầm, xin giúp chúng con kiên tâm và tín thác vào Ngài, xin cho tâm hồn chúng con luôn bình an trong Ngài để ý Ngài nên trọn, tất cả xin vì Ngài mà thôi. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen.

---------------------------

 

TN25-B169: SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B


Jorathe Nắng Tím

 

Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần rõ rệt: 1. Phần đầu, Đức Giêsu dậy các môn đệ của TN25-B169


Tin Mừng hôm nay được chia làm hai phần rõ rệt:

1. Phần đầu, Đức Giêsu dậy các môn đệ của Ngài một lần nữa: Ngài sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.

Cũng như trong Tin Mừng chúa nhật tuần 24, Đức Giêsu đã công khai dậy: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị loại bỏ, bị giết chết và ba ngày sau sống lại” (Mc 8,31), nhưng cũng như lần này, các môn đệ “đã không hiểu lời đó, và các ông sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9,32).

Trước viễn cảnh thê lương của đau khổ và chết chóc đang rình rập Đức Giêsu, các môn đệ rất hoang mang, sợ hãi. Các ông không chỉ sợ cho Thầy, mà còn sợ cho an toàn tính mạng và tương lai đen tối của chính các ông. Và một lần nữa các môn đệ của Đức Giêsu cho chúng ta thấy các vị đã không hiểu hoặc đã hiểu rất nông cạn sứ vụ và đường lối cứu thế của Đức Giêsu. Chính vì thế, khi được dậy về cuộc tử nạn sắp tới của Thầy, các ông hoặc đã hoang mang vì sợ, hoặc đã tỉnh bơ vì không tin.

2. Thái độ không quan tâm, không màng tới lời loan báo cuộc tử nạn sắp tới nơi đa số các môn đệ được khẳng định qua cuộc đụng chạm, cãi nhau giữa các ông “xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9,34).

Vì không quan tâm đến chuyện Thầy mình sắp bị giết chết “bởi các kỳ mục, thượng tế, cùng kinh sư” (Mc 8,31), nên các môn đệ mới hăng say đấu đá về chuyện thứ bậc, trên dưới, cao thấp, to nhỏ. Thế mới biết, đã là con người thì dù ở ngay bên Chúa, là tông đồ cùng sống cùng chết với Chúa, chỉ làm những công việc đạo đức, thánh thiện thuộc về Chúa cũng vẫn bị cám dỗ “vinh thân phì gia”, tìm kiếm vinh danh chính mình, và ganh ghét, kiêu căng không muốn phụ thuộc, dưới quyền ai.

Nhưng tại sao chúng ta tìm kiếm chỗ đứng chỗ ngồi quan trọng, tranh giành thứ bậc, đấu đá tưng bừng để nắm giữ quyền hành trọng yếu? Thưa vì chúng ta muốn được người khác phục vụ và không muốn phục vụ người khác. Vì muốn được phục vụ, nên phải tìm kiếm quyền hành ; vì không muốn phục vụ ai, nên phải tìm cách đứng đầu mọi người, để ai cũng phải tuân lệnh và hầu hạ, phục dịch mình.

Chính vì thế, khi gọi Nhóm Mười Hai lại, Đức Giêsu đã nghiêm nghị nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35). Khi nhấn mạnh hai chữ Phục Vụ, Đức Giêsu đã đi thẳng vào tim đen của các ông, vì qủa thực, người ta tìm kiếm, tranh giành ngôi thứ, quyền lực chỉ vì ích kỷ, muốn được mọi người nể sợ, hầu hạ, phục vụ nhu cầu và những đòi hỏi hưởng thụ cá nhân. Cám dỗ và nguy cơ không phục vụ, mà chỉ muốn được phục vụ là nguyên nhân của mọi chia rẽ, tỵ hiềm, đấu đá, phủ nhận, loại trừ nhau trong các cộng đoàn, bằng chứng là ngay cả cộng đoàn Nhóm Mười Hai của Đức Giêsu cũng không mấy ngày là không sôi sục, nóng bỏng chuyện “ai là người lớn nhất”, quan trọng nhất, có quyền nhất.

Và để các ông hiểu thấu đáo điều Ngài dậy, Đức Giêsu “đã đặt vào giữa” các ông một em nhỏ, rồi “ôm lấy nó” và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy” (Mc 9,36 – 37).

Hình ảnh em bé là hình ảnh không chỉ khiêm tốn, đơn sơ, trung thực, trong sạch, mà còn là hình ảnh của bé nhỏ, yếu đuối, thiếu thốn, luôn cần được giúp đỡ. Đức Giêsu đặt em bé giữa Nhóm Mười Hai, như đặt các tông đồ ở giữa những người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu tình thương, thiếu hy vọng, thiếu tương lai, thiếu tất cả. Ngài ôm hôn em bé, như nhắn nhủ các tông đồ phải biết yêu thương, và chạnh lòng trước những người đau khổ, bất hạnh. Và sau cùng Ngài bảo các ông hãy đón tiếp em bé này như đón tiếp chính Thiên Chúa.

Đức Giêsu đã cho các tông đồ một bài học về phục vụ. Theo Ngài, phục vụ trước hết và trên hết là đón tiếp: đón tiếp với thái độ thân thiện, kính trọng, cởi mở ; đón tiếp với tình yêu thương chân thành ; đón tiếp với tinh thần phục vụ, hy sinh. Người phục vụ không nghĩ cho mình, nghĩ về mình, nhưng nghĩ đến người khác, và để dễ nghĩ đến người khác, dễ làm vì người khác, chúng ta rất cần khiêm tốn để dám chọn chỗ rốt hết, chỗ thấp nhất để phục vụ hữu hiệu. Chẳng thế mà Đức Giêsu đã không làm gương rửa chân mình, nhưng dậy các tông đồ rửa chân cho nhau, tức khiêm tốn cúi mình xuống phục vụ nhau, bởi trong phục vụ, khiêm tốn luôn giữ vai trò quyết định.

Tin Mừng hôm nay cũng làm chúng ta liên tưởng đến đọan Tin Mừng Mátthêu (25,31- 46) mô tả ngày phán xét chung , ở đó, mỗi người đều được Thiên Chúa hỏi về tinh thần và thái độ yêu thương, phuc vụ anh em đồng loại, mà đối tượng được ưu tiên số một phải là “những người bé nhỏ nhất trong anh em”, bởi “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Và ngược lại: “mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45). “Làm như thế”, nghiã là: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến hỏi han” (Mt 25, 35-36).

Lậy Chúa Giêsu, Chúa biết chúng con sợ thử thách, đau khổ, và không thích dưới quyền ai, cũng không muốn phục vụ ai, nhưng muốn nắm đầu, nắm cổ mọi người và được mọi người phục vụ. Như đã dậy Nhóm Mười Hai ngày xưa, xin Chúa dậy chúng con mỗi ngày và giúp chúng con trở nên người rốt hết, bé như em nhỏ, nhỏ như em bé và làm người phục vụ mọi người.

Chương trình học khiêm tốn và phục vụ với Chúa tuy qúa khó, nhưng vì Chúa đã chọn con đường quên mình để yêu thương, hiến mình để phục vụ, mất mình vì hạnh phúc của mọi người, nên chúng con không thể đi theo Chúa trên những con đường khác. Vì tin yêu, chúng con liều lĩnh lên đường với ơn phù trợ của Chúa. Xin thương xót và đồng hành với chúng con trên đường theo Chúa, phục vụ mọi người.

--------------------------

 

TN25-B170: CHÚNG TA TIN VÀO CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Ngày xưa, sau khi thấy Chúa Giêsu làm phép lạ, dân chúng đi theo Người rất đông. Họ đi theo TN25-B170


Ngày xưa, sau khi thấy Chúa Giêsu làm phép lạ, dân chúng đi theo Người rất đông. Họ đi theo vì chờ đợi Chúa Giêsu sẽ cho họ bánh ăn mà không cần làm việc. Cũng vậy, các môn đệ theo Chúa Giêsu vì họ ngưỡng mộ một người thầy trẻ trung, năng động, dám lên tiếng bênh vực cho sự thật và công lý. Các tông đồ mong đợi ngày nào đó Chúa sẽ khởi nghĩa thành công, xưng vương, các ông sẽ được chia sẻ vinh quang và quyền lực với Chúa. Tuy nhiên, khi Chúa nói với mọi người về sứ mạng của Ngài không phải là giành lại ngai vàng và quyền lực tại trần gian, mà là đón nhận cái chết thập giá, thì đã có nhiều người, kể cả các môn đệ dường như thất vọng. Họ không muốn theo một vị Thầy sẽ phải chết trong thất bại đau đớn nhục nhã như vậy, vì thế họ bỏ đi. Không vì bất cứ lý do gì khiến Chúa Giêsu thay đổi chọn lựa của Ngài, Chúa Giêsu chọn đi theo con đường mà Thiên Chúa Cha đã muốn, đó là con đường khiêm hạ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhân loại.

Bước vào trần gian, Chúa Giêsu đã sống và đi hoàn toàn ngược lại với xu hướng và dòng chảy của thế gian. Người đời tìm kiếm vinh dự, quyền lực, tiền bạc, danh vọng, Chúa Giêsu lại chọn để trở nên một người tôi tớ của Thiên Chúa. Mang thân phận là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu không giữ lại cho mình vinh dự nào, Ngài chấp nhận mang lấy thân phận tôi đòi, bị người đời hành hạ nhục mạ, như tiên tri Isaia đã mô tả trong bài ca về Người Tôi Tớ của Thiên Chúa: “Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó làm vướng chân ta, cản trở công việc của ta, nó chống lại những việc ta làm. Nếu nó là người công chính, Thiên Chúa chắc chắn sẽ cứu nó khỏi tay địch thù. Ta hãy hạ nhục và tra tấn nó để biết nó hiền lành làm sao, thử xem nó nhẫn nhục đến mức nào. Ta hãy kết án cho nó chết nhục nhã, vì như nó nói, Thiên Chúa sẽ cứu nó”. Những lời tiên báo này được nói trước đó năm trăm năm, nay được ứng nghiệm nơi cuộc đời của Chúa Giêsu. Tiên tri Isaia đã thấy trước về sứ mạng Đức Giêsu trải qua trong đau đớn, khổ nhục, bị người đời khinh chê, khạc nhổ, loại trừ.

Các môn đệ cũng giống như những Người Do Thái khác, họ mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng lại là Đấng Cứu Thế theo ý của họ. Hôm nay, vì muốn cho các tông đồ có thể bình tâm đón nhận được sự thật, Chúa Giêsu tách riêng các môn đệ ra khỏi đám đông dân chúng để Ngài dạy họ: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người và ba ngày sau Người sẽ sống lại”. Tác giả Tin Mừng nhận định: Các môn đệ không hiểu và sợ không dám hỏi lại. Lời mặc khải này, Chúa Giêsu nói về chính bản thân mình. Chúa nói trước cho các tông đồ biết việc Chúa sẽ bị bắt, bị nộp vào tay người đời và bị giết chết. Theo lẽ tự nhiên, đang lúc thành công không ai muốn nói về thất bại, đang lúc khỏe mạnh không ai muốn nói về cái chết. Chúa Giêsu lại làm ngược lại, Ngài nói về thất bại đang lúc rất thành công, Ngài nói về cái chết đang khi mọi người tung hô và các môn đệ đặt hết hy vọng vào Ngài. Điều đó chứng tỏ rằng, Chúa không mị dân, không lấy những thành công bên ngoài để lôi kéo người khác, nhưng Ngài luôn chỉ cho thấy sự thật về sứ mạng của Ngài là phải bị bắt bớ, đau khổ và bị giết.

Chúa Giêsu không dừng lại đó, Ngài còn mặc khải thêm một điều hết sức quan trọng và cũng là mặc khải chính yếu, đó là: Ngài sẽ sống lại sau ba ngày. Sống lại sau cái chết là mục đích của chương trình cứu chuộc của Chúa chứ không dừng lại ở đau khổ. Thập giá, đau khổ và cái chết chỉ là phương thế để đạt đến sự phục sinh. Đó là điều các tông đồ chưa thể hiểu và cũng chưa thể chấp nhận được. Vì thế, các ông sợ không dám hỏi lại Chúa, hay đúng hơn, các ông không muốn hỏi lại vì không muốn đón nhận đau khổ thập giá.

Các tông đồ dường như đang muốn trốn tránh sự thật về mặc khải của Chúa, các ông không muốn nghe, không muốn đón nhận, nên đã bàn qua chuyện khác. Các ông bàn nhau xem trong anh em ai là người lớn hơn, ai sẽ được trao quyền lực nhiều hơn. Thấy các học trò của mình đang tìm cách tránh né sự thật như vậy, khi về đến nhà, Chúa Giêsu đã gọi nhóm Mười Hai lại, yêu cầu các ông ngồi xuống quanh Ngài và Ngài chấn chỉnh lại suy nghĩ và ham muốn tìm kiếm quyền lực và danh vọng nơi các ông bằng bài học phục vụ: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm kẻ phục vụ mọi người”. Khi dạy như thế, Chúa Giêsu đã hoàn toàn đảo lộn suy nghĩ và quan niệm của các tông đồ trước đây. Các tông đồ theo Chúa với mục tiêu tìm kiếm quyền lực và địa vị, thì giờ đây Chúa muốn các ông phải trở thành rốt hết và là những con người dám phục vụ người khác. Đòi hỏi của Chúa Giêsu là một nghịch lý và cũng là một thách thức cho tất cả những người tin theo Chúa.

Kế đó, Chúa Giêsu xác định lại cho các tông đồ biết mục tiêu và thái độ khi đi theo Chúa là gì? Là phải có một tâm hồn đơn sơ, tín thác vào Chúa như một trẻ nhỏ và đón nhận chính Chúa vào trong cuộc đời của mình. Chúa muốn các môn đệ của Chúa phải có một tâm hồn mở rộng để đón nhận người khác, kể cả các em nhỏ là tầng lớp bị coi thường trong xã hội. Trẻ nhỏ là những người không có gì để trả lại, trẻ nhỏ luôn cần sự trợ giúp của người lớn. Khi dám đón nhận người khác giống như đón nhận một em nhỏ tức là đón nhận người khác một cách vô vị lợi không tình toán và còn sẵn sàng để cho người khác làm phiền mình, chiếm thời gian, sức lực của mình. Chúa Giêsu muốn mỗi chúng ta cũng dám đón nhận Chúa như vậy. Khi dám đón nhận Chúa một cách quảng đại và sẵn sàng phục vụ Chúa như đón nhận trẻ nhỏ, Chúa Giêsu kể như đón tiếp chính Thiên Chúa Cha – Đấng đã sai Ngài.

Thưa quý OBACE, người tín hữu chúng ta không đi tìm đau khổ thập giá, mà là đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu lại chấp nhận trải qua con đường đau khổ thập giá để bước vào trong vinh quang phục sinh. Vì vậy, muốn theo Chúa Giêsu, chúng ta không thể đi đường tắt, cũng không thể đi một con đường nào khác ngoài con đường chúa đã đi. Vì một khi cố tìm kiếm một con đường nào khác, chúng ta sẽ đi lạc, không thể gặp được Đức Giêsu.

Đức Giêsu đã bước vào con đường thập giá vì lòng yêu mến và sự vâng phục hoàn toàn thánh ý Chúa Cha. Qua hành trình đau khổ và cái chết thập giá, Thiên Chúa đã muốn diễn tả tình yêu tột cùng Ngài dành cho nhân loại; và qua cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã thể hiện quyền năng tuyệt đối của Ngài vượt trên sự dữ và sự chết. Do đó, những ai tin và bước theo Chúa Giêsu, tức là dám bước theo Chúa trên hành trình thập giá vì lòng yêu mến và vâng phục thì cũng được chia sẻ vào vinh quang phục sinh với Chúa.

Trong thực tế, chúng ta không dễ dàng để đối diện với đau khổ và chết chóc, chúng ta tìm cách tránh né. Lời Chúa hôm nay cho thấy: một khi tin Chúa, theo Chúa, Chúa sẽ ban cho chúng ta sức mạnh và lòng can đảm để ta đương đầu với đau khổ và sự chết. Chúng ta không tìm kiếm đau khổ nhưng khi gặp đau khổ, chúng ta dám sống trong phó thác và tin rằng chúng ta không phải đương đầu một mình, nhưng có Chúa cùng đồng hành và trợ giúp chúng ta.

Chúa không hứa hẹn cho chúng ta cuộc sống dễ dãi, nhưng Người chắc chắn những ai dám vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa, sẽ được cùng chia sẻ vinh quang phục sinh với Chúa. Theo Chúa, không phải để tìm kiếm danh vọng hay địa vị, nhưng là dám học nơi Chúa để cúi mình phục vụ anh chị em như một người tôi tớ. Các linh mục tu sĩ được mời gọi phục vụ cộng đoàn theo bậc sống của mình; các người sống đời gia đình được mời gọi phục vụ trước hết cho gia đình, kế đến là những người chung quanh mình. Cha mẹ, vợ chồng con cái phục vụ nhau, hy sinh cho nhau và cùng vác thập giá vì nhau bước đi cùng với Chúa, Chúa sẽ làm cho từng nhịp sống của gia đình trở thành những cung điệu yêu thương.

Xin Chúa giúp chúng ta dù sống trong bậc nào, là tu sĩ, linh mục hay sống đời gia đình, là người già hay người trẻ, đều biết đón nhận Đức Giêsu chịu đóng đinh làm gương mẫu và dám vác thập giá cuộc đời của mình bước theo Ngài. Nhờ đó, chúng ta cùng chia sẻ vinh quang phục sinh với Ngài . Amen.

--------------------------

 

TN25-B171: LÀM NGƯỜI PHỤC VỤ


Bông hồng nhỏ

 

Bé Vân cầm vở toán chạy vào bếp gọi mẹ: Mẹ ơi, bài toán này khó quá! Con ra hỏi bố, bố chỉ TN25-B171


Bé Vân cầm vở toán chạy vào bếp gọi mẹ:

Mẹ ơi, bài toán này khó quá!
Con ra hỏi bố, bố chỉ cho.
Bố chỉ rồi mà con không hiểu.
Thì con nói bố chỉ lại, chỉ từ từ thôi.
Nhưng… con sợ.

Nỗi sợ làm ta không dám hỏi, dù ta chưa hiểu. Hôm nay, khi nghe Thầy Giê-su loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh lần thứ hai, các môn đệ vẫn không hiểu nhưng các ông sợ không dám hỏi  lại Thầy (x. Mc 9,30-32).

Các ông sợ điều gì vậy? Lần trước khi nghe Thầy loan báo cuộc Thương Khó và Phục Sinh, Tông đồ Phê-rô đã kéo riêng Thầy ra mà trách (x.Mc 8, 31-33). Đó là lời trách yêu bởi ông lo lắng cho Thầy nhưng Thầy lại mắng ông là “Xatan, lui lại đằng sau Thầy”. Các ông sợ bị khiển trách hay sợ phải đối diện với sự thật? Theo Chúa, nhiều khi ta cũng chọn cách im lặng không dám hỏi Chúa, để ta được tự do đi theo con đường riêng của mình. Ta vẫn đi theo Chúa nhưng kỳ thực lòng ta lại cách xa Chúa.

Nhìn ngắm hình ảnh đôi bạn cùng sánh bước lúc chiều tà, tay trong tay tỏ niềm tâm sự, ta thấy nó thật đẹp. Có một hình ảnh đẹp hơn mà Thánh sử Mác-cô đã ghi lại nhiều lần: “Đức Giê-su và các môn đệ”, hình ảnh Thầy trò song hành thật đẹp. Thầy đi đâu trò đi theo đó. Hôm nay cung là Thầu đi trước, trò theo sau nhưng dường như bước chân trò có gì đó không cùng nhịp bước với Thầy. Trò không cùng nhịp với Thầy bởi các trò đang bận tâm, theo đuổi những nẻo đường riêng của mình. Người môn đệ vẫn chưa hiểu đường Thầy đi, con đường Thương Khó và Phục Sinh mà Thầy loan báo đến hôm nay là lần thứ hai. Thầy có buồn không khi chẳng có ai hiểu nỗi lòng mình, chẳng có ai san sẻ, làm vơi bớt nỗi ưu tư đang đè nặng tâm hồn? Thầy buồn lắm khi các môn đệ thương mến lại cãi cọ tranh dành nhau chỗ đứng.  Bởi không hiểu chương trình của Thiên Chúa dành cho Đức Ki-tô nên các ông đã hiểu sai con đường Ngài sẽ đi. Con đường Ngài đi không phải là con đường đấu tranh chính trị để giải phóng dân tộc, để xưng vương xưng bá nhưng là con đường phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (x. Mc 10,45).

Thầy hiểu rõ lòng người môn đệ còn u tối, bị danh vọng, tiền tài, tham vọng làm đầu chi phối: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” (Mc 9,33b). Câu hỏi nhẹ nhàng của Thầy khiến các ông làm thinh. Các ông xấu hổ vì bị Thầy bắn trúng tim đen hay xấu hổ vì đã làm Thầy khổ tâm? Chắc hẳn các ông nhìn thấy ánh mắt đượm buồn của Thầy. Thầy đã chẳng quát tháo, mắng mỏ hay giận dữ ngăn cản các ông cãi nhau vì các ông làm Thầy mất mặt. Thầy dạy dỗ các ông cách tế nhị, với tình thương nhưng không. Về đến nhà, nơi các ông có thể ngồi lại với Thầy và ngồi lại bên nhau để mọi xích mích, mọi tranh chấp được tháo gỡ, để tình thương nối liền tất cả. Thầy biết lòng người môn đệ đều muốn làm người đứng đầu nên Thầy ân cần chỉ dạy: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35). Con đường đó chính Thầy đã đi, đang đi và sẽ đi cho đến cùng. Theo Chúa, ta có dám cùng đi với Chúa trọn con đường ấy không? Nếu ta đặt tình yêu vào mỗi bước chân, mỗi việc làm dù nhỏ bé và làm vì Danh Chúa Giê-su là ta đã có Giê-su ở cùng, có Chúa Giê-su ở cùng là ta được chính Chúa Cha ở cùng.

Lạy Chúa Giê-su mến yêu! Chúa yêu con thật quá lạ lùng. Chúa đã chịu treo mình trên Thánh Giá để cho máu đào tuôn chảy, cho tình yêu gột rửa tội đời, cho Thánh Ý Chúa Cha thể hiện, đó là tình yêu đẹp nhất.  Xin cho con cùng đi với Chúa sao cho cùng nhịp bước, cùng nhịp đập trái tim, từng hơi thở mỗi phút giây của đời con đều hòa điệu với Chúa. Nếu có khi nào con lỡ bước, con chưa hiểu điều Chúa muốn, xin ánh sáng Lời Chúa dẫn dắt con để con theo gương Chúa phục vụ vì yêu mến. Amen.

--------------------------

 

TN25-B172: TRỞ NÊN NGƯỜI CAO QUÍ


Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

Muốn tỏ ra mình là người có giá trị, hay nói khác đi, muốn tự khẳng định giá trị của mình là một TN25-B172


Muốn tỏ ra mình là người có giá trị, hay nói khác đi, muốn tự khẳng định giá trị của mình là một nhu cầu hết sức quan trọng của con người và nhu cầu này được biểu hiện bằng nhiều hình thức trong cuộc sống.

Thời Chúa Giê-su, các vị kinh sư và các người biệt phái tự khẳng định mình bằng cách “đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “ráp-bi” (Mt 23, 5-7).

Ngay cả các môn đệ Chúa Giê-su cũng thường tranh luận với nhau xem ai trong họ là người lớn nhất. Điều nầy đã được ghi lại nhiều lần trong Tin mừng (Mc 9, 33-34; Lc 9, 46; Mt 18,1; Lc 22, 24).

Có lần, hai môn đệ Gioan và Giacôbê cùng với mẹ mình đến xin Chúa Giê-su cho ngồi bên tả bên hữu Chúa khi đến thời Ngài được hiển vinh. Bấy giờ, mười môn đệ kia tỏ ra bất bình với Gioan và Giacôbê vì anh em nhà nầy muốn giành trước hai chiếc ghế mà họ đang mơ ước (Mt 20, 20-24; Mc 10, 35-37).

Khát vọng của con người là thế đó. Ai cũng muốn nổi bật, ai cũng muốn vươn cao; không ai muốn bị lu mờ. Nói chung, ai cũng muốn làm gia tăng giá trị của mình.

Đây là một khao khát tự nhiên. Chính Thiên Chúa đã đặt vào tâm hồn con người khát vọng đó để thúc đẩy họ vươn lên thành những người cao cả. Chúa Giê-su cũng kêu gọi các môn đệ vươn tới đỉnh trọn lành: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48).

Làm thế nào để trở thành người cao cả thật sự?

Có người cố làm tăng giá trị của mình bằng cách trang điểm và chưng diện. Tuy nhiên, người ta không thật sự trở nên cao cả nhờ nhan sắc, vì “tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.”

Có người tìm cách làm gia tăng giá trị của mình bằng cách sở hữu thật nhiều vàng bạc của cải, nhưng thực ra, “giá trị con người không hệ tại những gì người ta sở hữu.”

Có người trau dồi và phát huy tài năng cho người ta nể phục, hoặc cố giành những địa vị cao trong xã hội để nâng giá trị mình lên.

Còn Chúa Giê-su, nhân cơ hội các môn đệ tranh cãi sôi nổi ai là người lớn nhất, Ngài chỉ cho họ một cách để trở thành cao cả thực sự. Đó là “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35).

Lời dạy của Chúa Giê-su xem ra trái nghịch với suy nghĩ của người đời. Thông thường, muốn làm lớn thì phải tôn mình lên để thống trị người khác; đằng nầy Chúa Giê-su dạy phải hạ mình xuống làm tôi tớ hầu hạ mọi người. Thật thế ư?

Ngày 5 tháng 9 năm 1997, cả thế giới xúc động, thương tiếc và bày tỏ lòng ngưỡng mộ sâu xa khi hay tin Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu già nua, thấp bé, nghèo nàn, không có nhan sắc… qua đời tại Calcutta, Ấn-độ ở tuổi 87. Nhà Nước Ấn-độ, một quốc gia phần đông theo Ấn-độ-giáo, đã long trọng tổ chức quốc táng cho Mẹ Tê-rê-xa, một nữ tu công giáo khiêm tốn bình dị, người gốc An-ba-ni! Hơn triệu người dân Ấn-độ tuôn ra đường để tiễn đưa Mẹ Tê-rê-xa đến nơi an nghỉ cuối cùng. Thật là điều không tưởng tượng nổi.

Tại sao Mẹ Tê-rê-xa lại được vinh dự lớn lao như thế?

Vì Mẹ đã thực hành đến mức hoàn hảo điều mà Chúa Giê-su truyền dạy cho các môn đệ trong Tin mừng hôm nay. Đó là hạ mình làm tôi tớ hầu hạ phục dịch những con người khốn khổ nhất thế gian với lòng yêu thương vô hạn.

Cuộc đời của Mẹ Tê-rê-xa Calcutta là một bằng chứng hùng hồn cho thấy rằng giáo huấn của Chúa Giê-su là xác đáng: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35).

Như thế, phục vụ trong yêu thương và khiêm hạ chính là con đường đưa tới vinh quang.

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con tỉnh táo nhận ra rằng giá trị con người không tuỳ thuộc vào những thứ “phụ tùng” mà người ta khoác vào thân như các loại y phục hợp thời trang hay các đồ trang sức xa hoa, đắt giá; giá trị con người cũng không tuỳ thuộc vào của cải, bạc vàng châu báu hay địa vị công danh… nhưng cốt yếu là tuỳ vào đức hạnh, vào phẩm chất cao đẹp của mỗi người.

Xin dạy chúng con biết làm gia tăng giá trị bản thân bằng cách hiến thân hy sinh phục vụ mọi người như Chúa đã nêu gương.

-------------------------

 

TN25-B173: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT 25 TN_B


Lm. Inhaxio Hồ Thông

 

Như Chúa Nhật trước, Chúa Nhật XXV tuần này nêu bật viễn cảnh về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh TN25-B173


Như Chúa Nhật trước, Chúa Nhật XXV tuần này nêu bật viễn cảnh về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh được Đức Giê-su loan báo lần thứ hai theo sách Tin Mừng Mác-cô. Ở nơi chủ đề này, ngầm chứa những tranh cãi phàm nhân có thể dẫn đến ghen tuông, thù hận, thậm chí sát hại đối thủ của mình. Người Công Chính (Bài Đọc I và Tin Mừng) là nạn nhân tiêu biểu cho sự ghen tuông và thù hận này.

Kn 2: 12, 17-20

Trong Bài Đọc I trích từ sách Khôn Ngoan, chính vì cuộc sống trọn tình vẹn nghĩa với đạo mà Người Công Chính bị quân vô đạo bách hại cho đến chết.

Gc 3: 16-18; 4: 3

Đoạn trích thư của thánh Gia-cô-bê là cuộc bút chiến lên án những ghen tuông tranh chấp xuất phát từ những đam mê và những khuynh hướng xấu. Trái lại, Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa là yêu thương anh em mình cho đến quên bản thân mình.

Mc 9: 29-36

Trong Tin Mừng, Đức Giê-su loan báo lần thứ hai cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài, nhưng các ông chẳng những không chịu hiểu mà còn tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm họ. Chúa Giê-su muốn họ hiểu rằng trong Giáo Hội của Ngài người lớn nhất là người hầu hạ mọi người. Đó là bầu khí thân thương của một gia đình trong đó cha mẹ là người lớn nhất lại trở thành người hầu kẻ hạ tận tình phục vụ con cái của mình.

BÀI ĐỌC I (Kn 2: 12, 17-20)

Tác giả sách Khôn Ngoan là một người Do thái sinh trưởng ở thành A-lê-xan-ri-a, ông đã viết tác phẩm của mình vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên. Thành A-lê-xan-ri-a lúc đó là một trong những trung tâm rực rỡ nhất của văn hóa Hy lạp và đồng thời là một trong những thành phố quan trọng nhất của những người Do thái Hải Ngoại.

Quả thật, cộng đồng Do thái ở đây gìn giữ nét đặc thù của mình. Tuy nhiên, sức cám dỗ của môi trường ngoại giáo chung quanh là một thực tế hằng ngày: tính đa dạng của những lý luận triết học, sự phát triển của các bộ môn khoa học, tôn giáo tổng hợp, sức hấp dẫn của những tôn giáo bí nhiệm, vân vân. Ở thành phố này, số lượng những người bội giáo càng lúc càng đông. Tác giả viết sách Khôn Ngoan để phòng ngừa những sa ngã mới ở nơi những anh em đồng đạo của ông. Với tâm trí sáng suốt của một hiền nhân, ông ra sức chận đứng sự thù ghét càng ngày càng gia tăng ở giữa họ: từ ước muốn dập tắt những lời trách cứ gây phiền hà cho cuộc sống vô đạo của mình, cho đến ước muốn làm khổ và làm hại người công chính lòng dạ sắc son.

Lập luận cực đoan của quân vô đạo

Đoạn trích sách Khôn Ngoan này không là sấm ngôn trực tiếp liên quan đến cuộc Tử Nạn của Đức Ki-tô, nhưng là một phân tích tâm lý mô tả tình trạng tinh thần của những người Do thái bội giáo trước cuộc sống đạo hạnh của người công chính. Cuộc sống trọn tình vẹn nghĩa với đạo của người công chính khiến quân vô đạo chướng tai gai mắt không thể nào chịu nỗi. Lòng căm tức đã đẩy họ đến lập luận quá khích, dẫn họ đến làm khổ và sát hại người công chính: “Ta hãy gài bẫy hại người công chính, vì nó làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, trách ta vi phạm luật Chúa và hạch ta không giữ lễ giáo. Ta hãy xem những lời nó nói có thật không và nghiệm xem cuối cùng nó sẽ ra sao”. Tiến trình thù ghét này một ngày kia được áp dụng chống lại Người Công Chính tuyệt hảo là Đức Giê-su. Vì thế, sứ điệp này mặc lấy một khía cạnh ngôn sứ.

Người công chính chịu đau khổ

“Nếu người công chính là con Thiên Chúa, thì Người sẽ phù hộ nó”. Tước hiệu “con Thiên Chúa” được dành cho dân Chúa chọn, họ hãnh diện vì Thiên Chúa đã công bố họ là con cái của Ngài. Nhưng trong trường hợp này, tước hiệu “con Thiên Chúa” mặc lấy một sấm ngôn, vì đó sẽ là lý do mà Thượng Hội Đồng Do thái sẽ nại đến để kết án tử Đức Giê-su: “Người này tự xưng mình là Con Thiên Chúa”.

“Ta hãy lên án cho nó phải chết nhục nhã, vì cứ như nó nói, nó sẽ được Thiên Chúa viếng thăm”. Những lời này nhắc nhớ Tv 22 mô tả người công chính bị bách hại kêu gào nỗi khốn khổ của mình, nhưng cũng đặt niềm cậy trông của mình vào Đức Chúa. Chính Thánh Vịnh này mà trên Thập Giá Đức Giê-su thốt lên cách thống thiết: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”.

Những kẻ thù của Đức Giê-su cũng sẽ trích Thánh Vịnh này để nói với nạn nhân của họ đang hấp hối trên thập giá: “Hắn cậy vào Thiên Chúa, thì bây giờ Người cứu hắn đi, nếu quả thật Người thương hắn! Vì hắn đã nói: Ta là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 43). Tác giả sách Khôn Ngoan phác họa trước dung mạo Người Công Chính lý tưởng gần một trăm năm sau đó.

BÀI ĐỌC II (Gc 3: 16-18; 4: 3)

Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Gia-cô-bê. Đoạn trích thư hôm nay chứa đựng những lời khuyên bảo theo hình thức châm ngôn gợi nhớ cách thức mà các bậc hiền nhân Cựu Ước đã sử dụng, nhưng mang hơi thở Tin Mừng. Thánh Gia-cô-bê đã nhiều lần khai triển mối phúc thứ nhất: “Phúc thay những người nghèo khổ!”. Đoạn văn trích dẫn hôm nay minh họa một mối phúc khác: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình!”. Đoạn văn này có hai phần đối nghịch nhau:

Những danh thơm tiếng tốt của Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa (3: 16-18)
Trong phần thứ nhất, tác giả liệt kê những danh thơm tiếng tốt của Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa. Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa “làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm dẻo, mến chuộng điều lành, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình”. Việc liệt kê những phẩm chất của Đức Khôn Ngoan nhắc nhớ bài ca đức mến trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13: 4-7). Nhưng thánh Gia-cô-bê đặt dấu nhấn chủ yếu trên việc xây dựng hòa bình: “người xây dựng hòa bình là người gieo giống trong hòa bình; và hoa trái họ thu hoạch được là cuộc đời công chính”.

Những hận thù, ghen ghét của con người (4: 1-3)

Đối nghịch với những phẩm chất của Đức Khôn Ngoan Thiên Chúa là những xung đột ở bên trong con người, trong đó những ham muốn là nguyên do sâu xa nhất của “những hành động hung ác”. Cung giọng của tác giả trở nên khẩn thiết, văn phong được đẩy cao đến mức ngoa dụ: “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột nhau, gây chiến với nhau”. Cách diễn tả dữ dội này, chúng ta cũng gặp thấy ở nơi thư thứ nhất của thánh Gioan: “Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân” (1Ga 3: 15). Những từ ngữ và hình ảnh ở đây thuộc thể loại bút chiến.

Là thủ lãnh của cộng đồng tín hữu Giê-ru-sa-lem, Giáo Hội Mẹ, thánh Gia-cô-bê cảm thấy mình chịu trách nhiệm về những tín hữu ở xa của mình; vì thế, thánh nhân đặt tất cả hồn tông đồ của mình vào những lời kêu gọi sống cuộc đời Ki-tô hữu chân chính.

TIN MỪNG (Mc 9: 30-37)

Trong đoạn trích Tin Mừng hôm nay, ý tình đan quyện vào nhau, tâm tư tình cảm dạt dào cảm xúc. Đức Giê-su thực hiện giai đoạn sau cùng sứ vụ tại miền Ga-li-lê của Ngài. Ngài trở lại lần cuối cùng thành Ca-phác-na-um được xem là bản doanh sứ vụ của Ngài. Từ đó, Ngài sẽ lên Giê-ru-sa-lem để bước vào con đường Thương Khó và Tử Nạn, Phục Sinh và Lên Trời của Ngài. Chúng ta biết rằng trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giê-su chỉ lên Giê-ru-sa-lem một lần, trong khi Tin Mừng Gioan tường thuật Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem nhiều lần vào các đại lễ trong năm.

Loan báo lần thứ hai cuộc Tử Nạn và Phục Sinh

Khi đi ngang qua miền Ga-li-lê, Đức Giê-su tránh gặp gỡ đám đông; Ngài giới hạn giáo huấn của Ngài chỉ trong vòng các môn đệ của Ngài. Khi Thầy trò đang đi trên đường, Ngài gợi lên lần thứ hai viễn cảnh cuộc Tử Nạn và Phục Sinh sắp đến của Ngài bằng những ngôn từ hầu như y hệt lời loan báo thứ nhất.

“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời”. Động từ “nộp” ở đây có một ý nghĩa rất mạnh, nhưng được dùng ở thể thụ động “bị nộp” muốn nói lên điều gì? Sau này, thánh Mác-cô sẽ vạch mặt chỉ tên những kẻ nộp Đức Giê-su đưa Ngài đến cái chết: đó là ông Giu-đa (14: 10), các thượng tế (15: 1) và quan tổng trấn Phi-la-tô (15: 15). Tuy nhiên, đây cũng là hình thức thụ động thần linh thông dụng mà người Do thái thường dùng để chỉ Thiên Chúa là tác nhân bằng cách tránh nêu danh Người vì lòng tôn kính. Vì thế, cái chết của Đức Giê-su có thể quy trách cho những kẻ tội lỗi gây ra, nhưng nhất là nằm trong ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đó cũng là điều mà lời loan báo đầu tiên diễn tả: “Con người phải chịu nhiều đau khổ”. Đây không là cái tất yếu của định mệnh mà Đức Giê-su phải chịu, nhưng là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa mà Đức Giê-su phải thực hiện.

“Vào tay người đời”, đây là diễn ngữ Kinh Thánh để chỉ những kẻ thù không có lòng xót thương. Ở đây kiểu nói này hình thành nên một sự đối chiếu thống thiết với danh xưng “Con Người”. Qua danh xưng “Con Người”, Đức Giê-su nhấn mạnh nhân tính của Ngài. Như bao nhiêu con người khác, Ngài cũng biết đau khổ và sự chết đang chờ đợi Ngài, nhưng vận mệnh của Ngài được hoàn tất theo thị kiến của Đa-ni-en về Con Người trong vinh quang. Vì thế, như trong lần loan báo đầu tiên, trong lời loan báo thứ hai này, sau khi báo trước cuộc Tử Nạn của mình, Đức Giê-su cũng báo trước cuộc Phục Sinh của Ngài. Như vậy Tử Nạn và Phục Sinh là hai mặt của một thực tại bất khả phân.

Nỗi cô đơn của Đức Giê-su

Mỗi lần Chúa Giê-su loan báo rõ ràng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, thánh Mác-cô đều nhấn mạnh đến “sự ngu muội” chậm hiểu của các môn đệ (8: 32; 9: 32). Các ông không hiểu, nhưng không dám hỏi Ngài; thay vì đó, các ông lại nghĩ đến việc khác. Các ông đinh ninh rằng việc đi lên Giê-ru-sa-lem lần này chắc hẳn Thầy mình sẽ thực hiện sứ mạng của Đấng Mê-si-a, Ngài sẽ thiết lập vương triều của Ngài; vì thế, các ông bắt đầu tranh luận với nhau về những đặc quyền đặc lợi, xem ai là người lớn nhất trong nhóm.

Đức Giê-su không dự phần vào cuộc tranh luận của họ; chắc chắn Ngài đi một mình riêng ra. Không ai trong nhóm Mười Hai, những người đã gắn bó với Ngài suốt ba năm nay, hỏi Ngài về vận mệnh đau thương mà Ngài mời gọi họ dự phần vào. Nói cho cùng, ở nơi họ Ngài không gặp thấy sự đồng hội đồng thuyền đồng sinh đồng tử với Ngài. Đây là khúc dạo đầu cho việc bỏ rơi hoàn toàn mà Ngài sẽ nhận biết vào lúc Ngài bị bắt. Chúng ta cảm thấy nỗi đau đớn của Ngài qua cách trình bày giản dị của đoạn Tin Mừng này.

Bài học về sự phục vụ

Khi đến thành Ca-phác-na-um, vào trong nhà, Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Dọc đường, anh em tranh luận với nhau về chuyện gì vậy?”. Các ông làm thinh, không ai dám thú nhận điều làm họ bận lòng trên đường. Nhưng Đức Giê-su không cần ai nói với Ngài. Vả lại, bài học mà Ngài sắp cho họ có thể giúp cho họ hiểu một cách gián tiếp những lời của Ngài mà vào giây phút này, họ đã không thể hiểu được: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.

Với giáo huấn về sự phục vụ này, Đức Giê-su đả đảo ngược cơ cấu phẩm trật thông thường của nhân loại theo đó người đứng đầu là người chiếm những chỗ ngồi danh dự, ăn trên ngồi trước, hưởng những đặc quyền đặc lợi, mà Ngài đã rất dị ứng ở nơi cách sống của giai cấp lãnh đạo Do thái. Có lần Ngài đã nói lên sứ mạng của Ngài: “Con Người đến không để được người ta phục vụ nhưng để phục vụ”.

Đức Giê-su sẽ đưa ra một mẫu gương rõ ràng hơn nữa vào bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ, khi Ngài rời chỗ ngồi danh dự của Ngài, mặc bộ đồng phục của người hầu và cúi xuống rửa chân cho các môn đệ của Ngài (Ga 13: 4-16) kèm theo với lời dạy rõ ràng: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13: 13-15).

Nhưng ngay từ bây giờ, Ngài ban cho họ một bài học đặc biệt, soi sáng mặc khải trên đường lên Giê-ru-sa-lem, con đường tiến về cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ngài, ở đó Ngài đích thân hiện thực sứ điệp của Ngài: Ngài sẽ bị đối xử như người rốt hết và sẽ chịu khổ hình như kẻ nô lệ. Sau điều đó, Ngài sẽ là người đầu hết, trưởng tử của một nhân loại mới. Ngài ngầm hướng tư tưởng của các môn đệ Ngài về sấm ngôn Người Tôi Trung đau khổ của I-sai-a, chịu thương chịu khó kể cả hy sinh mạng sống mình để đem lại ơn cứu độ cho muôn người.

Bài học về đức khiêm hạ

Để có thể nhổ tận gốc rể tính tự cao tự đại và tự mãn của các môn đệ Ngài, Đức Giê-su đưa ra một ví dụ khác. Ngài đem một em nhỏ đặt giữa các ông và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Chúa Giê-su đối lập thế giới người lớn tự phụ và tham vọng với thế giới trẻ thơ. Trẻ thơ có nhiều đức tính mà người môn đệ của Ngài phải học: chúng biết rõ thân phận nhỏ bé của mình, vì thế, chúng không phô trương sự khôn ngoan và quyền hành của mình, nhưng bày tỏ một niềm tin tưởng đơn sơ và chân thành. Hơn thế nữa, trong Tin Mừng, những người phận nhỏ lại là đoàn chiên của Ngài mà Ngài tận tình chăm sóc và hy sinh mạng sống mình cho chúng (Ga 10: 11-15). Đó cũng là những “chiên con” mà Ngài sẽ trao gởi cho thánh Phê-rô chăm sóc với lời căn dặn đến ba lần phải yêu mến đoàn chiên của Ngài như yêu mến Ngài hơn bất cứ ai (Ga 21: 15-16).

Trang Tin Mừng này là một trong những trang làm chứng về sự chân thật của các tác giả sách Tin Mừng. Các Tông Đồ chẳng có lý do gì để mà tự phụ về mình ở nơi những tình tiết này; tuy nhiên họ đã để lại một mẫu gương cho những thế hệ mai sau, họ khiêm tốn nhận ra tâm trí chậm hiểu và thiếu độ nhạy bén của mình.

Sức hấp dẫn và lôi cuốn của Giáo Hội Đức Ki-tô không phải ở nơi việc phô trương những quyền cao chức trọng, nhưng ở nơi thái độ khiêm tốn hạ mình xuống mà phục vụ những anh chị em bé nhỏ cách đơn sơ chân thành. Nói cho cùng, đây là bầu khi thân thương của một gia đình, ở đó cha mẹ là người lớn nhất nhưng đã tự biến mình thành con sen, đứa ở để phục vụ con cái của mình, con cái càng nhỏ thì cha mẹ càng tận tình yêu thương phục vụ hơn nữa.

---------------------------

 

TN25-B174: CON ĐƯỜNG GIÊSU


Lm. Jos. DĐH.

 

Đường tình yêu là con đường mùi mẫm, nhiều người đang đi, đã đi, và sắp bước vào, có người TN25-B174


Đường tình yêu là con đường mùi mẫm, nhiều người đang đi, đã đi, và sắp bước vào, có người nhận xét đường tình là con đường thơ mộng, vô cùng lãng mạn, tạ ơn trời đất. Không phải là không có những kẻ thất bại, gặp nhiều trắc trở khổ đau, vì thế mà họ rất thâm thuý khi nói về con đường tình: cá trong lờ đỏ hoe con mắt, cá bên ngoài lúc lắc muốn vô. Thực ra thì con đường công danh sự nghiêp, con đường tình ái, con đường giải thoát khổ đau, đều có ý đưa dẫn người ta đến thành công hạnh phúc. Bước vào trường đời, người ta tính toán, vận sức dụng mưu để đạt tới công thành danh toại, đâu phải là không có lý. Con đường có lý tưởng đến đâu, nhưng thiếu bước chân người hùng đi trên đó, con đường và nhân vật anh hùng sẽ mãi chỉ là vô vọng, hão huyền, không bao giờ có thực !

Trên thế giới này, không có con đường nào đáng nói hơn là con đường hạnh phúc, không có lời nào trầm ấm, ngọt ngào, và dễ nghe hơn lời: “tôi yêu bạn”. Giáo huấn của Đức Giêsu xưa kia không phải là hướng người ta tới con đường nhung gấm lụa là, mà đặt giá trị trên con đường đau khổ thập giá, chết đi rồi sống lại vinh quang. Trải qua nhiều sóng gió ở đời, các đấng bậc của chúng ta đã nghiệm ra rằng: có vấp ngã, mắt mới nhìn sáng suốt, có đau thương lòng mới cứng rắn hơn, có thẳng căng như một sợi dây đàn, mới tạo được những âm thanh kỳ diệu. Các môn đệ có sai sót lỗi lầm, mới cho thấy các ông là người phàm trần, các ông làm ngơ trước con đường khổ đau thập giá hoặc còn tranh chấp với nhau về quyền bính, cho thấy, các ông rất cần Thầy Giêsu uốn nắn, sửa dạy, biến đổi nhiều.

Con đường Giêsu là con đường không có danh lợi thú ở đời này, không những vậy, con đường Giêsu chính là con đường từ bỏ chính mình để được mặc lấy con người mới, con người của tình yêu thương tha thứ trong Giêsu, trong tín thác cậy trông. Con đường Giêsu không tín hiệu vàng, đỏ, xanh, không được tính bằng chiều rộng chiều dài của mưu mô quyền lực, chỉ có những gạch nối yêu thương, hiệp thông, để được nên một với Giêsu thuỷ chung, để được gọi Thiên Chúa là Cha. Ngày hôm nay liệu chúng ta có thể hiểu quyền bính là để phục vụ, chỗ nhất, chỗ nhì ? Theo đường lối Giêsu là trở nên bé nhỏ, biết quan tâm đến anh chị em, xây dựng và bảo vệ một đức ái vẹn toàn, nếu bao lâu chưa được biến đổi và thấm nhuần bài ca dâng hiến của Thầy Giêsu.

Con đường khổ đau thập giá là con đường mà Đức Giêsu đã tiên báo, mời gọi các học trò cùng hiệp thông tiếp bước, con đường đó vĩ đại và cao trọng đến độ các học trò “làm thinh”, im lặng, hay vì các ông còn cần thời gian để suy tư, tìm hiểu ? Người xưa cho rằng: con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ. Với mỗi chúng ta hôm nay, không ai muốn mình bị gọi là ngu dại, cũng trong ý chí vươn lên đỉnh cao của khôn ngoan, hạnh phúc, giá trị của tình yêu đều tuỳ thuộc tự do của mỗi người. Con đường mà Đức Giêsu đi và sẽ đi, mãi mãi là một mầu nhiệm của đức ái kitô, chỉ khi mỗi người thực sự tin tưởng, hiệp thông, chúng ta mới đủ hiểu đâu là bình an, niềm vui trong sứ mạng theo Thầy Giêsu dấn thân phục vụ.

Con đường tình nào Thầy Giêsu đã đi, hẳn không khó trả lời với chúng ta hôm nay, tuy nhiên con đường khổ đau thập giá chỉ có thể hoá giải mọi khúc mắc khi con người biết dặt tương quan trong tin yêu phục vụ. Tương quan yêu thương là tương quan vô vị lợi như lời Thầy Giêsu: “ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải là đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”. Giá trị của tình yêu tuỳ thuộc vào năng lực tin yêu nhiều, và phục vụ bằng cả trái tim và khối óc của người tự do hiến dâng vì đối tượng mình yêu thương. Đức Giêsu gián tiếp cho các học trò thấy giá trị của tình yêu dâng hiến, một tình yêu đi ngược với quy luật tự nhiên: “Con người sẽ bị nộp vào tay người ta, và họ sẽ giết Người”. Hành động yêu thương trong tự do, cũng là sự vâng phục trọn vẹn trước sứ mạng cứu độ Thiên Chúa Cha uỷ thác.

Không có con đường tắt nào mang lại vinh quang và danh dự, không có sự lười biếng, gian dối nào đưa dẫn người ta đến hạnh phúc ; cũng không thể gọi là môn đệ Đức Giêsu, khi người ta từ chối khổ đau thập giá và ngại dấn thân phục vụ. Bản chất và phong cách sống của mỗi người không phụ thuộc vào thân thế sự nghiệp, nhưng hệ tại vào cách sống tin yêu và thực thi đức ái của mình. Con đường lý tưởng hơn cả theo Đức Giêsu không phải là tìm né tránh khổ đau thập giá, cũng không phải như con thiêu thân tự tìm đến cái chết, quả là vô nghĩa lý. Con đường tự hạ, sống tinh thần người môn đệ luôn tín thác và biết thực thi thánh ý Chúa vẹn toàn, hẳn đó là con đường Giêsu, con đường thuần tuý là yêu thương phục vụ, phát xuất từ nguồn cội Giêsu. Amen.

----------------------------

 

TN25-B175: GHEN TUÔNG – TRANH CHẤP


JM. Lam Thy

 

Sau khi làm phép lạ chữa cho một người vừa điếc vừa ngọng (bài Tin Mừng CN XXIII.TN-B TN25-B175


Sau khi làm phép lạ chữa cho một người vừa điếc vừa ngọng (bài Tin Mừng CN XXIII.TN-B – Mc 7, 31-37), Đức Giê-su không muốn mọi người xôn xao rồi đi báo cho bọn kinh sư, luật sĩ Pha-ri-sêu biết để họ có cớ làm hại Người, “Đức Giê-su truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả.” Tuy nhiên “Người càng truyền bảo họ, họ lại càng đồn ra. Họ hết sức kinh ngạc, và nói: “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được.” (Mc 7, 36-37). Sự việc diễn ra đúng như sự tiên liệu của Đức Ki-tô, đó là lý do khiến Người quyết định truyền cho các môn đệ băng qua miền Ga-li-lê một cách âm thầm không cho ai biết.

Bài Tin Mừng hôm nay (CN XXV.TN-B – Mc 9, 30-37) trình thuật việc Đức Giê-su muốn tạm gác việc rao giảng Tin Mừng và chữa bệnh cho dân chúng qua một bên, để có thì giờ dạy dỗ các môn đệ, đặc biệt báo cho các ông biết một viễn cảnh sắp xảy ra mà các ông khó có thể hiểu và chấp nhận. Viễn cảnh đó là “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” (Mc 9, 31). Sở dĩ Người làm vậy là có ý giúp các môn đệ chuẩn bị tinh thần, để khi biến cố đó xảy ra thì các ông không quá ngỡ ngàng và thất vọng, mà sẵn sàng đón nhận nó.

Đây không phải lần đầu tiên Người nói việc ấy với các môn đệ, Người đã từng nói rõ với các ông trước đó không lâu (“Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết. ” – Mc 8, 31), nhưng lúc đó các ông tỏ ra ngán ngại, không tin rằng Thầy mình – một “Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền” (Mc 1, 22) – lại có thể phải chịu đau khổ đến như vậy. Thái độ không chấp nhận này biểu lộ rõ rệt nhất ở Phê-rô, khi ông “kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”, khiến  Đức Giê-su quở trách rất nặng lời: “Xa-tan! Lui lại đằng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mc 8, 31-33). Chính vì lần trước các ông bị quở trách nặng nề như thế, nên lần này “các ông sợ không dám hỏi lại Người” (Mc 9, 32).

Các môn đệ không dám hỏi lại Thầy về cuộc thương khó Người sắp phải chịu vì sợ bị khiển trách, nhưng trong lòng vẫn nghĩ khi Thầy chết rồi thì ai trong nhóm 12 sẽ lên thay, ai sẽ là người lớn nhất? Ấy thế  là “cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả”. Đức Ki-tô dư biết các môn đệ bàn tán điều gì, nhưng khi tới thành Ca-phac-na-um, Người vẫn hỏi: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” Các môn đệ chỉ còn nước ngậm miệng làm thinh. Cũng chính vì thế nên Đức Ki-tô mới “gọi nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”. Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.” (Mc 9, 33-37).

Vấn đề làm lớn, làm bé vẫn là vấn đề muôn thuở của con người. Thường ở đời, con người ai cũng thích làm lớn, thích ăn trên ngồi trước chứ chẳng ai muốn làm bé và thích ngồi ở dưới. Cái ”miếng đinh chung” luôn luôn và mãi mãi là cái hấp lực vô cùng mạnh mẽ. Quan niệm “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp” đã trở nên như một phong tục tập quán (tục ngữ) khiến cho giấc mộng “sống ở làng, sang ở nước” luôn ám ảnh con người. Ngày nay, hủ tục mua quan bán tước hay khao vọng đình đám tuy không còn ồn ào như ngày xưa, nhưng vẫn diễn ra bằng nhiều kiểu, nhiều cách, với đủ thứ mưu ma chước quỷ để tranh bá đồ vương, tiếm quyền tiếm chức, tranh danh đoạt lợi, hầu mong được nổi danh nổi tiếng, tiền hô hậu ủng, xe hơi nhà lầu, võng lọng xênh xang.

Kẻ viết bài này vẫn chưa quên câu chuyện xảy ra ở Việt Nam cách đây không lâu: Giám đốc một công ty cỡ bự, một hôm gửi thiệp báo tang đến toàn thể công ty, cho biết con chó cưng của ông ta vừa “từ trần”! Thế là cả công ty – từ phó giám đốc đến anh bảo vệ quèn – xôn xao “khăn đóng áo dài” đổ xô đi phúng điếu bằng những phong bì đủ kích cỡ, trong đó ít nhất cũng phải “nửa tháng lương”. Ôi chao! Không ngờ trong cái xã hội văn minh ngày nay mà vẫn còn cái cảnh hối lộ bẳng kiểu “báo tang, viếng tang một con chó”. Tiếng chửi “đồ chó chết” không ngờ ngày nay lại mang ý nghĩa tâng bốc hơn là chửi rủa. “Chó chết” lại hoá ra nổi đình nổi đám hơn cả ”người chết”! Oái oăm thật!

Tâm lý chung của con người ai chẳng muốn chọn cho mình phần tốt nhất, ai chẳng muốn làm “đại gia” đi ăn tiệc được ngồi vào “cỗ nhất”. Ngay đến các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải khiêm nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an muốn được “một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang” (Mc 10, 37). Tin tưởng khi Thầy mình được vinh quang sẽ làm Vua, mà lại xin được ngồi bên tả và bên hữu Người, chính là muốn được ngồi “cỗ nhất”, được hưởng “miếng đinh chung” bảnh nhất là ”Tả hữu Thừa tướng”. Không phải chỉ có 2 môn đệ này đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối (“Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an.” – Mc 10, 41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn, và “chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh” xảy ra cũng là điều tất nhiên (“Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau.” – Gc 4, 1-3). Quả thật “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Rõ ràng Đức Ki-tô “nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi” (Lc 14, 7). Vì thế, nên Người mới dạy: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối.” (Lc 14, 8-9). Người còn chỉ rõ những người ham ngồi “cỗ nhất”, đó là “những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc.” (Lc 20, 46). Ngay đến cả việc đãi khách, mời khách dự tiệc, Người cũng dạy trái ngược với thông lệ của người đời: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có… Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù…” (Lc 14, 12-13).

Lời dạy của Đức Ki-tô mới thoạt nghe sẽ thấy là mâu thuẫn, khó chấp nhận được, chẳng hạn như Người muốn ai đi theo Người thì phải từ bỏ tất cả, từ của cải vật chất đến cha mẹ anh em họ hàng, kể cả từ bỏ chính mình. Trong khi đó, Người lại dạy phải yêu thương mọi người như yêu thương chính bản thân mình, thậm chí còn yêu thương cả kẻ thù của mình nữa. Tuy nhiên, suy nghĩ cho thấu đáo, thì thấy Đức Ki-tô chuyên dùng dụ ngôn với những cách nói tương phản, phản đề, cốt ý nhấn mạnh để nêu bật ý chính (chủ đề). Như Lời dạy trên, nếu trích đầy đủ, sẽ là: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” (Lc 14, 12-14). Và như vậy, mục đích nhắm tới của Lời dạy là “ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại.” Rõ ràng Đức Giê-su chỉ luôn mong muốn Lời dạy của Người có tác động mạnh mẽ, làm cho người nghe hiểu được ý nghĩa sâu xa và cái mục đích tối hậu cần đạt tới.

Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay, cũng vì thấu hiểu được tâm địa con người như vậy, nên Đức Ki-tô mới dạy: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” (Mc 9, 35). Người chỉ muốn dạy môn đệ đức tính khiêm nhu tự hạ. Và nếu anh biết khiêm nhường chịu lụy, anh sẽ được mời lên ngồi “cỗ nhất”. Anh đừng nghĩ khi được ngồi cỗ nhất là anh sẽ được kẻ hầu người hạ, anh sẽ vênh vang nhìn đời bằng nửa con mắt. Trái lại, “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.” (Hc 3, 18), “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người.” (Mt 20, 43-44).

Khiêm nhường cũng có nhiều cách thể hiện, có thể thực lòng và cũng có thể màu mè bên ngoài, thậm chí còn có trường hợp giả bộ khiêm nhường để bóng gió móc họng nhau nữa. Và cũng vì thế nên Đức Giê-su Thiên Chúa đã vâng lời Chúa Cha xuống thế làm người khó nghèo và dùng chính cuộc sống của Người minh hoạ cho những Lời dạy dỗ chân tình về đức khiêm nhường. Người đã khiêm nhường vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu để cái tính kiêu ngạo của loài người hành hạ, đánh đòn, sỉ nhục, đóng đinh Người vào thập giá. Người đã thức tỉnh nhân loại bằng cách hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Tuy nhiên, cho đến ngày nay, thử hỏi đã được bao nhiêu người ý thức được tội kiêu ngạo đứng hàng đầu trong 7 mối tội đầu, hiểu được chính tội kiêu ngạo đã đóng đinh Chúa Giê-su vào thập giá? Và chẳng hiểu có được bao nhiêu con người dám hy sinh chỗ ngồi “cỗ nhất” (chưa dám nói hy sinh mạng sống mình) cho anh em, cho đồng loại, để sẵn sàng xuống ngồi “chỗ cuối” mà  phục vụ mọi người? Quả thực “Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng thì vô phương cứu chữa, vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó” (Hc 3, 28).

Lạy Chúa! Cúi xin Chúa luôn soi sáng và hướng dẫn con, để con đừng bao giờ quên dụ ngôn “Người Pha-ri-sêu và người thu thuế” (Lc 18, 9-14). Cũng bởi vì đến ngay như việc thờ phượng Thiên Chúa, con cũng cách này cách khác làm như anh chàng Pha-ri-sêu lên tận cung thánh khoe hết thành tích nọ đến chiến công kia (“Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.”). Và nếu không tìm ra được chiến công, thành tích (kiểu như rủ nhau đóng góp mua một vài thùng mì tôm, đôi ba bao gạo mốc, năm ba túi quần áo rách, rồi trương biểu ngữ thật hoành tráng đi làm chuyện tế bần, từ thiện), con cũng cố gắng tìm những việc làm thường nhật (đi lễ, đọc kinh sớm tối, bỏ tiền lẻ vào túi kín, hay vênh vang ném từng đồng xu cho những hành khất…) để kể công với Chúa hệt như anh chàng Pha-ri-sêu thủa xưa. Con đã kênh kiệu nhắm tít mắt mà không quay nhìn lại dưới cuốí nhà thờ đang có những ”người thu thuế” quỳ gối đấm ngực than van “Lạy Chúa! Con là kẻ có tội!”

Ôi! “Lạy Chúa! Con là kẻ có tội!” Con biết tội con nặng lắm rồi, vì chỉ thích làm đại gia chớ không thích làm nguời bé mọn, chỉ thích đứng đầu, ăn “cỗ nhất” chớ không thích ngồi sau, ăn cơm thừa canh cặn. Con biết những hành động trên của con đã hàng ngày hàng giờ đóng đinh Chúa, đâm thâu vào Trái Tim Chúa. Cúi xin Chúa không chỉ dạy con mà luôn đồng hành với con để con sẵn sàng thể hiện bằng hành động, bằng chính cuộc sống của con như những kẻ bé mọn, như những “người thu thuế”, như những “bà goá nghèo”, như những “người rốt hết”, để đến ngày sau hết con được Chúa cho đứng bên phải Ngài. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa

----------------------------

 

TN25-B176: SỰ HAM MUỐN KHÔN NGOAN


 Lm. Bosco Dương Trung Tín

“Người xây dựng hòa bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hòa bình là cuộc đời công chính” (Gc 3,18).

 

Người sống công chính thì xây dựng hòa bình và người xây dựng hòa bình là người sống công chính TN25-B176


Người sống công chính thì xây dựng hòa bình và người xây dựng hòa bình là người sống công chính. Người sống công chính thì bình an và người xây dựng hòa bình thì công chính. Hòa bình và công chính, như cặp bài trùng, luôn đi đôi với nhau, có liên hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời. Cũng như các cặp: hòa bình – công lý; bình an – công bằng; ghen tương – tranh chấp; chiến tranh – xung đột.

  Nghĩa là ở đâu có hòa bình, ở đó có công lý. Ở đâu có công lý thì ở đó có hòa bình. Ở đâu có bình an, ở đó có công bằng. Ở đâu có công bằng thì ở đó có bình an. Ở đâu có ghen tương, ở đó có tranh chấp. Ở đâu có tranh chấp, ở đó có ghen tương. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có xung đột. Ở đâu có xung đột, ở đó có chiến tranh.

  Ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đó có xáo trộn và đủ mọi việc xấu xa. Ở đâu có công chính và hòa bình, ở đó có bình an và có nhiều hoa thơm trái tốt. Tại sao lại có ghen tương và tranh chấp; tại sao lại có chiến tranh và xung đột ? Thánh Gia-cô-bê trả lời, đó là do trong lòng người ta có sự ham muốn.

  Thậy vậy, “khi ta ham muốn mà ta không có, ta sẽ chém giết (chiến tranh); ta ghen ghét chẳng được, nên ta xung đột và gây chiến với người khác” (x.Gc 4,2). Nhưng tại sao ta không có ? Không có vì ta không xin, không làm. Ta xin mà không được vì ta xin không đúng; không làm thì đương nhiên ta không có rồi, khỏi bàn. Không có gì từ trên trời rơi xuống cả, trừ nước mưa thôi.

Xin không đúng là xin thế nào ? Là ta xin để hơn người khác; ta xin là người lớn nhất, giỏi nhất thiên hạ; ta xin cho được giàu sang, xin cho được trúng số, để ta khỏi phải vất vả để làm; để trong phút chốc ta lên tiên, ta lên mây; ta thành tỉ phú; ta từ cô bé lọ lem, trở thành cô công chúa, bà hoàng; từ chó ta lên voi. Từ đây ta khỏi phải làm chi cho mệt, cứ ngồi mát mà ăn bát vàng. Xin như vậy có đúng không ? Chúa có cho không ? Chắc là không rồi.

  Thấy người ta giàu có, giỏi dang, ta ghen, ta tức; ta ham, ta muốn. Trong khi ta không biết rằng người ta đã phải phải khổ cực thế nào mới có được như thế. Đâu phải tự nhiên mà người ta giàu; đâu phải tự nhiên mà người ta giỏi dang đâu. Ta chỉ nhìn thấy cái ngọn, cái trước mắt mà không thấy cái gốc, cái đã qua. Do đó, ta chỉ ngồi mà xin thôi thì làm gì mà ta có được. Ai mà ban cho ta chứ.

  Lại nữa, trong thực tế, có ai trúng số, có ai giàu sang mà hạnh phúc và bình an đâu; lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Nào là sợ người ta đến xin giúp đỡ, đến nhận họ nhận hàng; nào là sợ ăn trộm, sợ bị giết; luôn bất an, ăn không ngon, ngủ không yên. Đó là chưa nói đến việc tập tành các nhân đức. Giàu sang và hạnh phúc như sự xung khắc, không bao giờ đi đôi với nhau. Giàu sang thì không hạnh phúc và hạnh phúc thì không giàu sang.

Có tỉ phú, không để tiền cho con mình trong di chúc, sợ chúng ăn chơi phung phí và hư người. Huống chi là Chúa, làm sao Chúa ban cho ta trúng số được. Nhiều khi ta khôn lỏi, ta xin trúng số để làm việc thiện hay dâng cho nhà thờ một nửa, còn ta được một nửa. Xin gì mà xin khôn thế, thánh thiện thế !!! Thật ra chẳng thánh thiện chút nào cả. Làm việc thiện hay dâng cúng gì thì phải là những gì do mồ hôi, nước mắt mình làm ra thì mới có giá trị; chứ xin Chúa ban, rốt cuộc Chúa mất toi 50%, bộ Chúa không khôn hơn ta sao, Chúa không biết gì sao.

Nếu ta muốn xin kiểu đó thì ta đến xin ông địa, ông ban cho. Chuyện kể rằng, có bà kia đi buôn, đến xin ông địa: xin cho con trúng mẻ này, con sẽ cúng cho ông con 2 chân. Ông địa tưởng rằng chắc sẽ là con gà trống thiến đây, nên cho. Bà ta trúng được mẻ buôn, nên đến tạ ơn ông địa và xin tiếp: xin cho con trúng mẻ này nữa, con sẽ cúng ông con 4 chân. Ông địa nghĩ, chắc sẽ là con trâu, con bò hay con heo đây, nên cho.

Bà ta trúng mẻ tiếp, đến tạ ơn và nói: xin cho trúng mẻ nữa, con sẽ cúng ông 8 chân. Ông địa nghĩ chắc là 2 con bò hay 2 con trâu hoặc 2 con heo, nên cho. Lần này bà ta tiếp tục trúng và đến lạy tạ và nói: xin cho con lần trót, đã thương thì thương cho trót, xin cho con trúng mẻ này nữa con sẽ cúng 10 chân. Ông địa nghe vậy khoái chí, tưởng sẽ là 2 bò, 2 trâu, một gà hay 2 trâu, 2 heo, một gà hoặc 2 bò, 2 heo một gà, nên ban cho. Trúng mẻ này, bà ta hớn hở vui mừng, ra chợ một con cua, đến cúng cho ông địa. Ông địa thấy vậy cười toang hoắc, không ngờ mình bị người ta lừa !!!! Đó là khôn lỏi của con người.

 Thiên Chúa không phải là ông địa, nên không bị ta lừa đâu. Chúa biết trước những khi ta xin mà, ta qua mặt Chúa sao được. Ta đâu có khôn hơn Chúa được. Thánh Phao-lô nói “Cái điên rồ của Chúa còn hơn cái khôn ngoan của ta” mà (x. 1 Cor 1,25).

Cái khôn lỏi của con người chỉ là lừa thầy, phản bạn; lừa chủ, phản Chúa; chỉ có ghen tương và tranh chấp thôi. Có bao nhiêu cũng không; được bao nhiêu cũng không đủ. Có voi lại đòi tiên, vì lòng người vô đáy mà. Tốt hơn ta hãy xin sự khôn ngoan của Chúa, cái khôn ngoan từ trời ấy. “Ơn khôn ngoan Chúa ban làm cho ta trở nên trước là thanh khiết; sau là hiền hòa, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt; không thiên vị cũng không giả hình” (x.Gc 3,17).

Sự khôn ngoan này đáng cho ta ao ước, đáng cho ta ham muốn. Ước gì ta ham muốn sự khôn ngoan này như ta ham muốn tiền bạc, danh vọng thì hay biết mấy. Nói sự khôn ngoan này từ trời, chứ thực sự nó lại ở dưới đất; sự khôn ngoan này đang có ở trong Lời Chúa, ta mà siêng năng đọc, suy gẫm và đem ra thực hành thì ta sẽ được. Ta xin Chúa cho ta biết được kho tàng sự khôn ngoan của Chúa ở trong Lời Chúa và ban cho ta có sức để kiên trì đọc, suy niệm và thực hành Lời Chúa hàng ngày trong đời của ta.

Có sự khôn ngoan này, ta sẽ có bình an, ta sẽ nên thánh nên thiện và nên công chính. Trong con người của ta sẽ không còn ghen tương hay tranh chấp nữa; không còn xáo trộn, cũng không còn những việc làm xấu xa nữa; không có xung đột và gây chiến với người khác nữa. Thế giới sẽ có hòa bình, không còn chiến tranh nữa.

Vậy, ta là con Chúa thì ta hãy ham muốn sự khôn ngoan của Chúa; biết siêng năng đọc, suy niệm và sống Lời Chúa hằng ngày, để ta trở nên người xây dựng hòa bình và sống công chính. Như thế, ta sẽ có bình an ở đời này và hạnh phúc ở đời sau.

-------------------------

 

TN25-B177: THÂN PHẬN CỦA THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI


Nguyễn Văn Nội

“Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người.
Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (9,30-37):

Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ từ trên núi xuống, rồi đi ngang qua xứ Galilêa và Người không muốn cho ai biết. Vì Người dạy dỗ và bảo các ông rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”. Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người. Các ngài tới Capharnaum. Khi đã vào nhà, Người hỏi các ông: “Dọc đàng các con tranh luận gì thế?” Các ông làm thinh, vì dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất. Bấy giờ Người ngồi xuống, gọi mười hai ông lại và bảo các ông rằng: “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Rồi Người đem một em bé lại đặt giữa các ông, ôm nó mà nói với các ông rằng: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy”.

II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (9,30-37):

 

2.1 Các tông đồ của Đức Giê-su Na-da-rét là những tín hữu Do-thái nhiệt thành, nhưng nông cạn TN25-B177


2.1 Các tông đồ của Đức Giê-su Na-da-rét là những tín hữu Do-thái nhiệt thành, nhưng nông cạn và chưa thấu hiểu Phúc Âm. Suy nghĩ và quan điểm sống của các ông cũng giống như của tất cả những người Do-thái thời bấy giờ và của mọi người trong thế gian này là muốn có nhiều quyền lực, muốn được làm người lớn nhất trong xã hội. Là người lớn nhất hay là người có nhiều quyền lực thì có đủ vinh hoa phú quý, được trọng vọng, được phục vụ tận răng, được ăn trên ngồi trước, được bẩm thưa trước cộng đoàn.

2.2 Nhưng Đức Giê-su Na-da-rét là Thiên-Chúa-làm-người đã giảng dậy một tinh thần và lối sống mới: đó là yêu mến sự khiêm nhường tự hạ:  “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”.  Đức Giê-su Na-da-rét không chỉ dậy các môn đệ như thế mà chính Người còn tự chọn cho mình một nếp sống nhỏ bé, một thân phận ”không ra gì”. Người đã sinh ra trong hang bò lừa ở Bê-lem, đã sống ẩn dật và lao động ở Na-da-rét, đã rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa khắp các làng mạc thành thị Pa-lét-tin, đã bị bắt, bị trói, bị đánh đâp, nhạo báng, xỉ vả, bị tra hỏi và kết án tại Giê-ru-sa-lem, và sau cùng đã bị treo trên cây gỗ ở đồi Gol-go-ta và đã được mai táng trong ngôi mộ mới của người môn đệ cạnh đồi Núi Sọ. Khi suy gẫm về thân phận của Đấng tự nhận/xưng là “Con Người”, chân phước Charles de Foucauld đã đưa ra nhận xét này: “Chẳng ai muốn có một thân phận giống như Người!”  Quả là một nhận xét chính xác!

III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (9,30-37):

3.1 Suốt hơn hai ngàn năm Hội Thánh Công giáo không ngừng rao giảng một Đấng Thiên Chúa bị đóng đinh thập giá (Dieu Crucifíé) và mời gọi các Ki-tô hữu (Hồng y, Giám mục, Linh mục, Tu sĩ và Giáo dân) theo chân Chúa Ki-tô trên con đường khổ nạn (thương khó), noi gương bắt chước Chúa Ki-tô trong nếp sống tự hạ và tự hiến. ”Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của kẻ hiến mạng sống mình vì/cho người mình yêu.” Cũng có thể nói càng hiến dâng cho Thiên Chúa và tha nhân người môn đệ càng chứng tỏ tình yêu của mình với Chúa và tha nhân. Mức độ tự hiến dâng là thước đo tình yêu của người môn đệ.

3.2 Để theo chân Chúa Ki-tô trên con đường khổ nạn hay để noi gương bắt chước Chúa Ki-tô trong nếp sống tự hạ tự hiến, chúng ta cần rất nhiều sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa.  Chúng ta cũng rất cần sự nâng đỡ của các Thánh Nam Nữ, nhất là các Thánh Tử Đạo Việt Nam là cha ông của chúng ta.

IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (9,30-37):

Lạy Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Chúa đã tự hạ tự hiến trong thân phận chẳng có ai muốn giống như Người, chúng con vô cùng ngưỡng mộ và bái phục Chúa. Chúng con muốn nên giống Chúa, nhưng chúng con không thể.

Chúng con xin Chúa ban Thần Khí của Chúa cho chúng con, để Người giúp chúng con noi gương bắt chước Chúa và đưa chúng con vào con đường thập giá mà Chúa đã đi.

Chúng con cầu xin Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần Amen.

------------------------------

 

TN25-B178: KHIÊM NHƯỜNG VÀ PHỤC VỤ


Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Thánh Mác-cô đã làm độc giả ngạc nhiên khi ghi lại cuộc tranh cãi của các môn đệ xoay quanh đề TN25-B178


Thánh Mác-cô đã làm độc giả ngạc nhiên khi ghi lại cuộc tranh cãi của các môn đệ xoay quanh đề tài “ai sẽ là người lớn nhất” ngay sau khi Chúa Giêsu tiên báo cuộc khổ nạn thập giá. Người ta đặt câu hỏi: Làm sao các môn đệ lại vô tâm trước những điều Đức Giêsu vừa nói? Thì ra, kể cả lúc Chúa tiên báo cuộc khổ hình đau thương mà Người sắp chịu, các ông vẫn còn mơ về thời Thiên sai theo nhãn giới phàm tục. Vì vậy, nghe Chúa nói về việc Người sẽ bị bắt bớ và bị giết, các ông “không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người”.
 
Nhân cuộc tranh luận của các môn đệ, Chúa Giêsu muốn dạy các ông bài học về khiêm nhường và phục vụ. “Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người”. Chính Chúa đã thực hiện nơi bản thân Người bài học này. Là Thiên Chúa uy quyền cao sang, Chúa Giêsu đã hạ mình mặc lấy thân phận con người để sống cùng và sống cho con người, nhằm mưu cầu hạnh phúc của họ. Qua hình ảnh một em bé, Chúa muốn khẳng định, những ai muốn theo Người cần phải sống đơn sơ, phó thác để có thể trở nên môn đệ đích thực của Người. Lý tưởng của Chúa Giêsu hoàn toàn trái ngược với lối suy nghĩ thông thường của con người. Ở đời, ai cũng muốn nổi hơn người khác về mọi phương diện. Nếu thấy người bên cạnh hơn mình thì họ ghen tương, thậm chí tìm cách gài bẫy để loại trừ. Bài đọc I đã diễn tả điều này. Tác giả sách Khôn ngoan đã ghi lại “lý sự” đầy hằn học của những kẻ gian ác. Họ ghen tương khi thấy người tốt sống đạo hạnh. Những việc làm tốt của người đạo đức lại là một lý do để họ gây chiến. Các nhà chú giải Kitô giáo đã sớm nhận ra người công chính mà sách Khôn ngoan nói đến chính là Đức Giêsu Kitô. Quả vậy, người Do Thái đã phân bì với Chúa và họ vu khống cho Người có âm mưu phản loạn, xách động dân chúng. Kết cục, Chúa Giêsu bị kết án thập giá và Người đã chết cho Chân lý.
 
Chúa Giêsu đã báo cho các môn đệ về cuộc khổ nạn của Người. Qua lời tiên báo này, Người cũng muốn thanh luyện quan niệm trần tục về Đấng Thiên sai. Vị Thiên Chúa sai đến không phải một chính trị gia hay một người thống trị bằng quyền hành hay bạo lực. Người là Thiên Chúa tình yêu, Người cứu độ con người bằng yêu thương và phục vụ. Người cũng mời gọi con người hãy tiếp nối Người để làm cho tình yêu thương thấm đượm trần gian. Thánh Giacôbê đã phê phán thói ganh tị và cãi vã giữa các thành viên của cộng đoàn tín hữu thời bấy giờ (Bài đọc II). Theo vị Tông đồ, nguyên nhân của những cãi vã và xung đột là sự đam mê ích kỷ của con người, nhất là do thiếu tinh thần siêu nhiên và đời sống nội tâm.
 
Trong tuần lễ vừa qua, ngày 14-9 là lễ suy tôn thập giá Chúa Giêsu. Liền ngày hôm sau, tức là ngày 15-9, Giáo Hội tôn kính Đức Trinh nữ Maria với tước hiệu “Đức Mẹ sầu bi”. Đức Giêsu là Thiên Chúa chí thánh đã trở nên “tội nhân” vì con người. Đức Trinh nữ không hề mắc tội lại mang trên thân mình biết bao đau khổ cay đắng để cộng tác với hy sinh của Đức Giêsu, mang lại ơn cứu độ cho trần gian. Đức Maria đã được tuyên xưng như một vị “tử đạo mà không phải chết”, vì Mẹ đã đón nhận đau khổ trong Đức tin và tâm tình vâng phục.
 
Đau khổ gắn liền với thân phận con người. Vừa lọt lòng mẹ, đứa trẻ đã chào đời bằng tiếng khóc. Đã sống trên đời, không ai tránh khỏi đau khổ. Hành trình cuộc đời cũng là hành trình thập giá. Dù muốn hay không, đau khổ vẫn luôn kề bên ta. Cây gỗ Chúa Giêsu vác lên đồi Can Vê năm xưa đã trở thành thánh giá, vì mang lấy thân thể của Đấng cứu độ. Những đau khổ của chúng ta có thể được biến thành ân phúc, nếu chúng ta đón nhận với tinh thần hy sinh mến Chúa yêu người. Nếu chúng ta biết san sẻ cho nhau gánh nặng cuộc đời, sức nặng của thập giá sẽ bớt đi, đau thương sẽ biến thành niềm vui, thập giá sẽ nở hoa, niềm vui phục sinh sẽ rạng rỡ nơi cuộc đời.

---------------------------

 

TN25-B179: BÀI HỌC VÀ GƯƠNG PHỤC VỤ


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Người đời có câu: Chính trường cũng là chiến trường. Câu nói đó quả là không sai. Theo dõi các TN25-B179


Người đời có câu: Chính trường cũng là chiến trường. Câu nói đó quả là không sai. Theo dõi các cuộc chay đua quyền lực của những người làm chính trị, chúng ta có thể thấy đó là một cuộc chạy đua khốc liệt. Người chiến thắng trở thành người nắm giữ quyền lực, kẻ thất bại trở nên tan gia bại sản và có khi mất mạng. Chúng ta đang chứng kiến những sự kiện này trên thế giới. Tại Triều Tiên, vì muốn triệt hạ những người có nguy cơ tạo phản, ông Kim- Jung- Un trong mấy năm cầm quyền vừa qua, đã xử tử hàng trăm người, trong đó có cả những người họ hàng thân thuộc và là người cưu mang ông. Tại Trung Quốc, người ta đang nói đến chính sách “đả hổ diệt ruồi” nhằm thanh trừng lẫn nhau. Điều đó cho thấy, quyền lực vẫn là một cám dỗ hết sức mạnh mẽ và thường xuyên trong con người và quyền lực có thể biến con người trở thành ác thú đối với nhau.

Ngày xưa, khi theo Chúa Giêsu, các môn đệ cũng không tránh khỏi cám dỗ tìm quyền lực và danh vọng. Mặc dù đã được tận mắt thấy Chúa Giêsu sống một cuộc sống hết sức thanh bần khó nghèo, được nghe những bài giảng về tinh thần phục vụ, nhưng dường như, những điều đó vẫn chưa thay đổi được suy nghĩ trong các tông đồ.

Tin Mừng tuần trước, các tông đồ tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chúa đã tỏ cho các ông biết Ngài là Đấng Cứu thế khiêm hạ như lời tiên tri Isai mô tả, chứ không như các ông tưởng tượng ra. Hôm nay, Chúa nói rõ hơn về cách thức cứu thế của Ngài: Con người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Ngài, và ba ngày sau khi bị giết, Người sẽ sống lại. Tuy nhiên, các tông đồ dường như bỏ ngoài tai những lời tiên báo của Chúa Giêsu, vì các ông vẫn nuôi hy vọng về chức tước, quyền lực mà các ông nghĩ mình sẽ được. Vì thế, các tông đồ đã ngấm ngầm bàn cãi với nhau để phân chia quyền lực xem ai là người lớn hơn.

Trước suy nghĩ sai lạc của các tông đồ, Chúa Giêsu đã ngồi xuống, gọi các ông lại để “cảnh cáo” các ông. Đây là lần đầu tiên Kinh Thánh kể lại việc Chúa ngồi xuống, gọi các ông lại để dạy bảo. Điều đó chứng tỏ rằng, đây là vấn đề hết sức quan trọng. Vì nếu trong tâm trí các ông còn tìm kiếm địa vị hơn thua, thì các ông sẽ không thể đi theo con đường của Chúa được. Chúa đã chỉnh lại để các ông rõ quan điểm của Chúa: Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm kẻ phục vụ mọi người.

Chính Chúa Giêsu đã chấp nhận từ bỏ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa để mang thân phận con người trong vâng phục Ý Chúa Cha và để phục vụ con người bằng đời sống và bằng đôi tay của mình. Vì thế, các môn đệ của Chúa cũng phải đi theo đường lối phục vụ như thế. Chúa muốn các môn đệ của Chúa cũng phải phục vụ không tính toán thiệt hơn, không chọn nơi phục vụ, cũng không chọn lựa đối tượng để phục vụ. Vì thế, Ngài đưa một em bé để làm ví dụ: Ai tiếp đón một em nhỏ vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy. Đón tiếp và phục vụ một em nhỏ thì không được lợi gì cả. Phục vụ trẻ nhỏ là công việc không tên, lại bận rộn suốt ngày, mà trẻ nhỏ thì không có gì đền trả. Thế nhưng, Chúa Giêsu lại kể những việc phục vụ nhỏ bé, không tên, tầm thường ấy như là phục vụ cho chính Ngài và hơn thế nữa là phục vụ chính Thiên Chúa Cha.

Chúa Giêsu đến cứu độ trần gian, Ngài phục vụ và đem hạnh phúc cho tất cả mọi người, Ngài không tranh giành quyền lực với trần gian. Tuy nhiên, các vua chúa và chính quyền trần gian vẫn cứ sợ Ngài gây ảnh hưởng hoặc sợ Ngài chiếm chỗ của mình, nên họ tìm mọi cách để loại trừ Ngài. Sách Khôn Ngoan đã nhìn thấy sự đối nghịch giữa hai lối sống của thế gian và của người công chính: Phường vô đạo lên tiếng nói: Ta hãy gài bẫy hại tên công chính, vì nó chỉ làm vướng chân ta, nó chống lại các việc ta làm, nó trách ta vi phạm lề luật.

Các thủ lãnh thế gian thù ghét người công chính chỉ vì người công chính đã sống khác họ, không a dua, đồng lõa với thế gian trong những điều xấu xa và không làm ngơ trước những sai trái của thế gian. Người công chính mà sách Khôn Ngoan nói đến chính là Đức Giêsu. Ngài đã đến ở giữa thế gian, nhưng Ngài đã rao truyền một lối sống khác với thế gian, nên thế gian thù ghét Ngài. Chúa Giêsu đã lên tiếng cảnh cáo lối sống gian tham, buông thả và kêu gọi sống từ bỏ, hy sinh tiết chế. Ngài kêu gọi giũ bỏ mọi sự gian dối, giả trá để sống ngay thẳng trước mặt Thiên Chúa và mọi người. Vì thế, thế gian, cụ thể là các nhà lãnh đạo Do Thái, đã tìm cách giết Ngài.

Cho đến ngày nay, các thế lực trần gian vẫn thù ghét Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài, bởi vì họ vẫn cho rằng, Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài đang tìm cách gây ảnh hưởng hoặc lật đổ họ. Vì vậy, họ tìm cách loại trừ Chúa Giêsu và môn đệ của Ngài. Thế nhưng, Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài không hề nhắm gây ảnh hưởng, cũng không tìm kiếm quyền lực chính trị trần gian, trái lại, chỉ muốn phục vụ mọi người, mọi thành phần như một người tôi tớ. Chúa Giêsu đã biết trước điều đó nên từ bài học và lời dạy đầu tiên cho đến bài học cuối cùng của Ngài vẫn là bài học phục vụ trong khiêm hạ, không đòi hỏi, không tính toán. Bài học cuối cùng để lại cho các tông đồ, là Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các ông và căn dặn: Anh em hãy rửa chân cho nhau, hãy làm như Thầy vừa làm cho anh em.

Thánh Giacôbê trong bài đọc hai đã giải thích thêm về tinh thần phục vụ mà Chúa Giêsu đã dạy: Người môn đệ của Chúa, trong mọi công việc, cần loại bỏ sự ghen tương và tranh chấp. Vì ghen tương, tranh chấp sẽ dẫn đến thù oán và nhiều việc xấu xa khác. Người phục vụ cần học nơi Chúa để biết sống thanh khiết, hiền hoà, khoan dung, là những đức tính làm trổ sinh hoa trái tốt lành. Thánh Giacôbê cũng cho thấy, các cuộc chiến tranh đang diễn ra trên thế giới từ xưa đến nay bắt nguồn từ tham vọng cá nhân của con người. Hoàng đế Neron ngông cuồng đã đem đến chết chóc cho bao nhiêu người, một Napoleon muốn sơn cả thế giới cùng một màu, một Hitle muốn biến thế giới trở thành một dân tộc duy nhất, một cường quốc muốn dùng vũ khí để giữ vai trò làm chủ thế giới… Tất cả là do tham vọng trong con người, từ đó đã nổ ra những cuộc chiến tranh giết chóc.

Tham vọng, quyền lực là cám dỗ chung của mọi người. Vì thế, âm thầm phục vụ luôn là một mời gọi và là thách đố, khiến người môn đệ của Chúa luôn bị giằng co. Tham vọng quyền lực đang diễn ra ngay trong tôn giáo và xã hội, nơi gia đình và nơi mỗi người. Ngoài xã hội, có nhiều người bị say men quyền lực và họ tìm mọi cách, kể cả mọi thủ đoạn, để đạt được quyền lực và giữ được quyền lực. Trong tôn giáo, có các linh mục, tu sĩ không dễ dàng từ bỏ nhiệm vụ, nhiệm sở của mình khi được thuyên chuyển. Trong gia đình, nhiều bậc cha mẹ đã đánh mất tinh thần phục vụ, sự tận tuỵ của người cha người mẹ, thay vào đó là thói gia trưởng gia mẫu trong cách cư xử với vợ chồng con cái, khiến cho gia đình luôn căng thẳng, con cái sợ hãi mỗi khi gặp bố mẹ. Nhiều gia đình, vợ chồng đùn đẩy trách nhiệm giáo dục con cái cho nhau, kể công tính toán với nhau. Cuối cùng, con cái trở thành những kẻ bị đẩy ra ngoài đường chỉ vì cha mẹ tranh chấp nhau.

Không chỉ tham danh, tham địa vị, nhiều người còn bị cám dỗ bởi tham tiền bạc của cải, tham công việc đến độ bỏ qua lề luật giới răn Thiên Chúa. Có những người vì một chút địa vị, họ sẵn sàng từ bỏ ơn gọi Kitô hữu của mình để đạt được một cái danh, một chỗ đứng ngoài xã hội. Họ lao vào công việc nghề nghiệp để ganh đua với mọi người hơn là để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống.

Nhiều bạn sinh viên ngày nay lao vào con đường học, chỉ với một mục đích duy nhất, là tìm được một chỗ đứng trong xã hội và kiếm được nhiều tiền cho mình, mà không mấy người nghĩ đến việc học tập của họ, sẽ giúp họ phát triển bản thân, phục vụ cộng đồng một cách hiệu quả hơn. Vì háo danh, nên nhiều bạn trẻ đã biến mình trở thành nổi tiếng bằng những hành động thiếu văn hoá, thiếu đạo đức.

Bài học khiêm nhường phục vụ và tấm gương cúi mình phục vụ của Chúa Giêsu vẫn mãi là lời mời gọi cho tất cả chúng ta. Xin Chúa tẩy rửa khỏi chúng ta mọi thứ tham vọng quyền lực, để cho Lời Chúa uốn nắn, chúng ta trở nên những học trò theo sát bước Chúa Giêsu và học nơi Chúa tinh thần phục vụ của Ngài. Amen.

-----------------------------

 

TN25-B180: CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN_B


Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

 

Vào khoảng 300 năm trước Công nguyên hay trước Chúa Cứu Thế sinh ra, hoàng đế Hy Lạp là TN25-B180


Alexander trị vì toàn cõi từ Ai cập cho đến Ấn độ. Và trong khoảng 250 năm, các vua Hy lạp đã cai trị và kiểm soát tất cả vùng Trung đông kể cả Đất thánh. Họ bắt buộc dân của các quốc gia dưới quyền phải chấp nhận theo văn hóa, phong tục và tôn giáo của họ. Người Do thái lúc đó cũng bị cưỡng ép chối bỏ đức tin vào Thiên Chúa. Những người không tuân theo thì bị bách hại và giết chết. Một số người Do thái đã bỏ đạo và thờ thần của Hy lạp. Và bài đọc 1 trích sách Khôn ngoan hôm nay, đề cập đến những người Do thái bỏ đạo này. Họ gài bẫy để tìm cách hãm hại những người trung thành với Thiên Chúa và chế diễu gọi là những người trung thành với Thiên Chúa là “những người công chính.”

Bài đọc một nối kết với bài Tin mừng diễn tả Chúa Giê-su là “Người Công Chính” thật, và tiên báo về sự đau khổ mà Ngài sẽ phải chịu để trung thành với Thiên Chúa Cha và với sứ mệnh của mình. Bài Tin mừng có 2 phần. Phần thứ nhất, Chúa Giê-su báo trước cho các môn đệ biết về sự đau khổ và cái chết của Ngài. Đây là lần thứ 2 Chúa cho các môn đệ biết về vấn đề này. Trong phần thứ 2 của bài Tin mừng, Chúa hỏi các môn đệ về cuộc tranh luận giữa các ông khi đi đường, sau đó Chúa dạy các ông và tất cả chúng ta một bài học quan trọng trong đời sống Ki-tô hữu.

Như chúng ta vừa nghe, trong lúc Chúa muốn cho các môn đệ biết về sứ vụ, một điều quan trọng, thì các môn đệ lại không chú ý, không quan tâm. Họ tranh luận về danh vọng và đưa đến sự ghen ghét, ganh tị lẫn nhau. Sau đó, khi bị Chúa hỏi các môn đệ cũng đã nhận ra điều sai trái, và làm thinh. Chúng ta thấy đối với Chúa, Ngài không buồn hay chán nản vì thái độ của các ông. Ngài đã chọn các ông với tất cả thực chất con người: tham vọng và yếu đuối. Nhưng chắc chắn, Chúa sẽ dạy dỗ và giúp các ông vượt thắng những trở ngại đó. Vì thế nhân dịp này Chúa đã dạy các môn đệ một bài học về ý nghĩa, giá trị đích thực của người môn đệ chân chính, và sự kiện làm cho trở thành lớn hơn, quan trọng hơn. Đó là sự khiêm nhường và phục vụ mọi người.

Sau lời dạy bảo ngắn gọn này, Chúa kêu gọi một em nhỏ đến, đặt em đứng giữa các môn đệ và nói: “Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy.” Đến đây, tôi xin, thứ nhất, chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong chương trình giáo lý và Việt ngữ, đã lắng nghe lời Chúa kêu gọi, hy sinh thời giờ phục vụ các em nhỏ học sinh, để hướng dẫn và dạy dỗ để các em hiểu biết về giáo lý và đến gần với Chúa hơn. Tôi cũng cám ơn phụ huynh, cha mẹ giúp đỡ trong mọi công việc, và thành tâm kêu gọi tất cả mọi người, hy sinh, khiêm nhường hợp tác với các thầy cô để phục vụ giúp đỡ con em. Và điều thứ hai, như chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng, đón tiếp, phục vụ và giúp đỡ các em là phục vụ và đón tiếp chính Chúa Giê-su. Ngoài ra, em nhỏ là hình ảnh tượng trưng cho những người tầm thường, nghèo khổ và yếu kém trong xã hội, tiếp đón và phục vụ những người này là phục vụ và tiếp đón chính Chúa.

Thật vậy, đối với Chúa, người môn đệ chân chính phải là người có tinh thần phục vụ tha nhân. Và đối tượng phục vụ là những người nhỏ nhất, những người hèn kém và những người nghèo khổ. Chúng ta phải luôn ý thức, phục vụ họ là phục vụ Chúa. Như vậy nếu chúng ta phục vụ trong sự yêu thương và với lòng khiêm nhường chính là vì chúng ta muốn phục vụ Chúa Giê-su trong họ, và nếu ai phục vụ chúng ta thì cũng chỉ vì họ muốn phục vụ Chúa Giê-su trong chúng ta. Cho nên, điều quan trọng không phải là làm lớn, làm nhỏ, mà là chúng ta có tinh thần, lòng nhiệt thành phục vụ và phục với thái độ như thế nào.                                                 

Ông bà anh chị em thân mến. Tâm lý thông thường của con người là tự ái, là tự cao, muốn được chú trọng, thích được khen ngợi, làm lớn và ưa địa vị quan trọng. Đó là cái tật cố hữu của loài người từ ngày tạo thiên lập địa, chứ không phài chỉ là tật xấu của các môn đệ Chúa Giê-su. Thế nhưng những tật xấu này trái ngược với tinh thần Tin Mừng, cho nên Chúa dạy chúng ta muốn trở thành môn đệ, Ki-tô hữu chân chính phải cố gắng loại bỏ, và sống khiêm nhường, quảng đại, biết dùng đời sống và những ơn lành Chúa ban để phục vụ Chúa và anh chị em, cũng như biết sống yêu thương và hiệp nhất.

Trong bài đọc 2, thánh Gia cô bê cho chúng ta biết ở đâu có ganh ghét, ganh tị thì sẽ sinh ra chia rẽ, bất hòa và mọi thứ xấu xa. Những người có tính ganh ghét thì sẽ làm hại không những cho người khác, mà còn cho chính mình vì tự nung nấu một sự xấu trong con người, trở thành bất an, sẽ sinh ra nhiều bệnh tật, và tự giảm giá trị con người của mình. Ganh ghét còn làm hại đến cộng đoàn vì người ganh ghét như một con sâu, một con vi trùng độc hại, âm thầm mà hiểm độc phá hoại tập thể, làm cho tập thể mất đoàn kết, mất bình an, mất hăng hái. Cho nên thật là tai hại cho tập thể nào có một vài người ganh ghét.  Ngược lại, thánh Phao-lô cho chúng ta biết, ở đâu có hiền lành, chính trực thì có an hòa và hạnh phúc. Cho nên, là những Ki-tô hữu, lời Chúa kêu gọi chúng ta phải cố gắng kiến tạo sự hiệp nhất trong yêu thương và hy sinh phục vụ lẫn nhau. Đây là phương cách chúng ta vinh danh và làm sáng danh Chúa.

Ông bà anh chị em thân mến. Chúa Giê-su Ki-tô, Ngôi Hai Thiên Chúa, vì yêu thương đã vâng lời sinh xuống trần và khiêm nhường phục vụ chúng ta là những người tội lỗi và yếu hèn như thánh Phao-lô đã nói: “Người là Thiên Chúa nhưng đã chịu lấy xác phàm và trở thành nô lệ.” Trong thời gian rao giảng Tin mừng, Chúa đã chịu chỉ trích và chế diễu, chịu đánh đòn, đóng đinh và chết trên thập giá để hoàn thành sứ mệnh cứu rỗi nhân loại. Tóm lại, Chúa Giê-su dạy chúng ta hãy noi gương Ngài, sống khiêm nhường và sẵn sàng hy sinh phục vụ lẫn nhau. Sứ mênh của người Ki-tô hữu chúng ta là sống để phục vụ Thiên Chúa trong mọi người. Thật vậy, khiêm nhường và hy sinh phục vụ là con đường Chúa đã đi, và cũng là con đường Chúa kêu gọi chúng ta, những người tin và được Chúa yêu thương, hãy can đảm bước đi theo Chúa, để hợp tác với Chúa trong sứ mệnh đem ơn cứu độ và tình yêu của Chúa đến cho mọi người. Xin Chúa ban nhiều ơn lành cho chúng ta.

--------------------------

 

TN25-B181: BÀI HỌC VỀ QUYỀN BÍNH


Lm. Jos. DĐH

 

Ở trường học, người ta truyền đạt cho các học trò bài học lịch sử, nhằm khơi dậy ý chí anh hùng TN25-B181


Ở trường học, người ta truyền đạt cho các học trò bài học lịch sử, nhằm khơi dậy ý chí anh hùng của các bậc tiền nhân sẽ ở mãi nơi cộng đồng xã hội hôm nay. Bài học được ghi chép từ sách vở, bài học truyền khẩu từ dân gian, đều được xem là những kiến thức, những kinh nghiệm bổ ích, quí báu, góp phần làm phong phú nền văn minh đất nước. Ở trường đời, bài học thu hút hơn cả, đó là bài học mang lại chức quyền, mang lại kinh tế cho gia đình, bài học giúp người ta sớm nổi danh nổi tiếng…..

Bài học ở trường đạo hôm nay, cho thấy tâm trí của các học trò Đức Giêsu đang bị đè nặng bởi tính hơn thiệt, không bận tâm về lời Thầy dạy, các ông còn tranh luận sôi nổi với nhau về quyền bính, chức lớn, chức nhỏ trong tương lai. Thật ra thì sống trên đời quyền cao chức trọng bao giờ cũng là một vấn nạn không nhỏ. Sinh ra làm người, phấn đấu để có kiến thức khả năng, được coi là một nửa thành công; một nửa thành công còn lại chính là biết sống những khả năng hiểu biết của mình. Sống không lỗi với đạo trời, không thẹn với đạo trong tâm, luôn là bài học thiết thực.

Quan niệm dân gian : một người làm quan cả họ được nhờ. Có chức thì có bổng lộc; giầu, giỏi, thì quyền theo sau, vì vậy mà có câu : miệng người giầu sang có gang có thép. Hiểu biết về khả năng của mình, sống đúng với chức quyền mình đang có, chỉ đáng nói khi ta đã trải qua bài học làm người. Cổ nhân để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho con cháu : làm người mà không có nhân cách, mai này sẽ thành độc ác. Làm người mà thiếu nghĩa tình, sẽ thành kẻ bội bạc. Làm người mà không có lễ giáo, sẽ thành kẻ vô phép. Làm người mà không có lý trí, chỉ là kẻ ngu ngốc. Làm người mà không có chữ tín, mai này cũng chỉ kẻ giả dối.

Tâm lý tự nhiên, ai chẳng khao khát hạnh phúc, thích nghe tin vui, nhìn ngắm vẻ đẹp, và rất mong được mãi sở hữu quyền bính, địa vị, bổng lộc vật chất. Các thầy chân chính hay giả hiệu đều chỉ có thể thu hút các học trò bằng khả năng, kiến thức thực thụ của mình, không thể có người thầy cổ vũ, gieo rắc những thất bại, những bế tắc ở phía trước. Khuynh hướng chung chung là hòn đất ném đi, hòn chì ném lại. Thầy giỏi cũng cần có trò ngoan, đầu tư nhiều, có thành quả cao, dù cái đích ai ai cũng hướng về niềm an vui hạnh phúc.

Đức Giêsu không chủ trương sống dị biệt, đi ngược với quan niệm tiền nhân, điều chân thật cao quý được Ngài qui chiếu về bài học : “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã giết Người, ngày thứ ba Người sẽ sống lại”. Làm sao các môn đệ có thể hiểu : chỗ nhất, chỗ trọng, không phải là chỗ của người tài giỏi chức quyền, mà là chỗ dành cho những ai dám trở nên người dốt hết, và làm tôi tớ phục vụ mọi người.

Đức Giêsu không thể trao chức quyền cho các học trò, khi mà đạo làm người các ông chưa thông, khi mà sứ mạng làm môn đệ các ông chưa tỏ ! Quyền làm người là để hiệp thông, để sống phục vụ với những khả năng hiểu biết của mình. Quyền làm con Chúa đâu phải là để thụ hưởng, để thống trị kẻ khác, quyền làm con Chúa là để thông chia niềm vui, tình yêu, và ơn cứu độ đã được ban. Đạo làm người, đạo làm con Chúa không thể phân tách khỏi tâm trí và trái tim mỗi người. Quyền làm con Thiên Chúa và quyền để phục tha nhân, chính là bài học mến Chúa yêu người mà không ai có thể cắt xén, lọc lựa.

Lời mạc khải về Đấng Cứu Thế phải chịu đau khổ, chịu chết và sống lại không phấn khởi cho các học trò, lời giải thích về chức quyền, người làm lớn, quả là một thách thức đối với ơn gọi làm môn đệ. Người làm lớn phải là người biết sử dụng con tim khối óc của mình để phục vụ, khác hẳn với quan niệm quyền để thống trị. Người môn đệ theo Đức Giêsu, phải là người biết dùng lý trí để yêu thương, dùng khả năng, quyền bính của mình để tổ chức, lãnh đạo, khơi dậy tinh thần phục vụ anh chị em trong Đức Kitô.

Từ xa xưa, người ta vẫn quan niệm : trong đạo đức cũng như trong nghệ thuật, vấn đề không ở lời nói mà là ở việc làm. Nhiều người trong chúng ta thuộc lòng câu nói của người xưa : cây cao bóng cả, thuyền to sóng lớn. Không bậc làm cha mẹ nào nuôi dạy con cháu nên người hữu ích mà không trải qua vất vả, ưu tư, lo lắng. Chẳng ai hiểu theo nghĩa đen : tu là cõi phúc, tình là giây oan; đại đa số người theo Chúa Kitô đều hiểu : đau khổ thập giá và vinh quang phục sinh không thể tách khỏi người môn đệ theo Chúa Kitô.

Quan niệm mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, xưa lắm rồi, người ta chỉ nhắc lại sự việc ấy xảy ra thời phong kiến mà thôi. Bao lâu con người còn lữ hành trần thế, bấy lâu chúng ta còn mang trong mình sự bất toàn, thích an nhàn, thích được thống trị kẻ khác. Với thời đại hôm nay, người ta chỉ tâm phục khẩu phục khi công bằng tình yêu thương được thực thi, dễ đón nhận việc làm và lời nói không bất nhất. Chúa Giêsu lưu ý các học trò, và đang nhắc nhớ chúng ta bài học về quyền bính là bài học phục vụ, chỗ nhất, chỗ trọng trong đạo làm người, làm con Chúa, chính là mỗi người biết thực thi sứ mạng yêu thương, giúp nhau sử dụng đúng nén bạc Chúa trao. Amen.

------------------------------

 

TN25-B182: CON  ĐƯỜNG  ĐÃ CHỌN


“Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người.
Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". “

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ

 

Tôi không có ý nhắc đến một bộ phim về chiến tranh Việt Nam có tên là “Con đường đã chọn TN25-B182


Tôi không có ý nhắc đến một bộ phim về chiến tranh Việt Nam có tên là “Con đường đã chọn” sắp được trình chiếu trên màn hình Tv; điều mà tôi muốn nói đến là “Con đường đã chọn” của Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô đã chọn con đường này không chỉ cho bản thân mình mà còn cho tất cả những ai muốn làm môn đệ Người. Đó là con đường hẹp, con đường thập giá, con dường khổ nạn và phục sinh, con đường tự hạ, tự hủy (như hạt lúa) và tự hiến, con đường cứu chuộc nhân loại. Bài Phúc âm Chúa Nhật XXV Thường Niên năm B hôm nay mời chúng ta đọc, suy niệm, cầu nguyện và thực hành “con đường đã chọn” ấy.

II. LẰNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mc 9,30-37: Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ từ trên núi xuống, rồi đi ngang qua xứ Galilêa và Người không muốn cho ai biết. Vì Người dạy dỗ và bảo các ông rằng: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Nhưng các ông không hiểu lời đó và sợ không dám hỏi Người.

Các ngài tới Capharnaum. Khi đã vào nhà, Người hỏi các ông: "Dọc đàng các con tranh luận gì thế?" Các ông làm thinh, vì dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất. Bấy giờ Người ngồi xuống, gọi mười hai ông lại và bảo các ông rằng: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người". Rồi Người đem một em bé lại đặt giữa các ông, ôm nó mà nói với các ông rằng: "Ai đón nhận một trong những trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức là đón tiếp chính mình Thầy. Và ai đón tiếp Thầy, thực ra không phải đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy".

III. SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM  Mc 9,30-37

3.1 Con đường mà Chúa Giêsu Kitô đã chọn cho mình là con đường Khổ Nạn và Phục Sinh: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại". Chúa Giêsu đã đi hết con đường này từ ngày thành thai trong dạ Đức Maria cho đến sáng ngày thứ nhất trong tuần khi Chúa sống lại từ cõi chết.

3.2 Con đường mà Chúa Giêsu Kitô đã chọn cho các môn đệ là con đường hạ mình và phục vụ tha nhân: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người"  Chúa Giêsu đã không ngừng kêu mời các môn đệ và dân chúng đi vào con đường hẹp, hy sinh từ bỏ và hiến mình cho tha nhân. Cả sách Tin Mừng chứa đựng những lòi mởi gọi tha thiết ấy.

IV. THỰC THI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mc 9,30-37:

4.1 “Con đường đã chọn” của Chúa Giêsu Kitô và của các Kitô hữu là con đường độc đáo và cách mạng: Không nhà hiền triết hay lãnh tụ nào trong lòai người đã chọn con đường  Chúa Giêsu Kitô và các môn đệ Người đã chọn. Người ta chọn con đường chiếm hữu quyền lực, địa vị, giầu sang phú quý và hưởng thụ.

4.2 “Con đường đã chọn” của Chúa Giêsu Kitô là con đường dẫn tối hạnh phúc thật: vì những cái chúng ta mất khi đi vào con đường ấy sẽ được ban lại cho chúng ta, - ban lại gấp chục gấp trăm - bởi chính Thiên Chúa là Đấng giầu sang và quảng đại.  

V. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG BÀI PHÚC ÂM Mc 9,30-37:

KHAI MỞ:  Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu Kitô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ban cho chúng con Con Một Cha là Chúa Giêsu Kitô, Người đã chọn con đường tự nguyện, tự hạ, tự hủy và hy sinh từ bỏ để cứu chuộc chúng sinh. Xin Cha nghe lời chúng con cầu xin.

Ý VÀ LỜI CẦU NGUYỆN

1.- «Khi ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ từ trên núi xuống, rồi đi ngang qua xứ Galilêa và Người không muốn cho ai biết" Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa cho ngày càng có nhiều người biết Chúa Giêsu Kitô là Ai và Người từ đâu tới.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

2.- «Người dạy dỗ và bảo các ông rằng: "Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta và họ sẽ giết Người. Khi đã bị giết, ngày thứ ba, Người sẽ sống lại»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa cách riêng cho Đức Giáo Hoàng Phanxicô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế và Tu Sĩ Nam Nữ để các vị noi gương bắt chước Chúa Giêsu Kitô mà tin vào con đường Người đã chọn.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

3.- «Các ngài tới Capharnaum. Khi đã vào nhà, Người hỏi các ông: "Dọc đàng các con tranh luận gì thế?" Các ông làm thinh, vì dọc đàng các ông tranh luận xem ai là người lớn nhất»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Chúa cho các Kitô hữu trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta và trong các cộng đoàn giáo xứ khác, để mọi Kitô hữu biết sống khiêm nhường tự hạ và quảng đại phục vụ theo gương húa Giêsu Kitô.

Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! háp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

4.- «Bấy giờ Người ngồi xuống, gọi mười hai ông lại và bảo các ông rằng: "Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người»  Chúng ta hãy dâng lời cầu xin Thiên Chúa cho tất cả các vị lãnh đạo trong Đạo ngoài đời học được bài học mà Chúa Giêsu Kitô để lại cho loài người nói chung, cho những người có chức có quyền nói riêng.

LỜI KẾT:

Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu và là Cha của chúng con, chúng con xin chúc tụng ngợi khen và cảm tạ Cha, vì Cha đã ban Con Một Cha là Chúa Giệsu cho chúng con. Người đã chọn con đường tự hạ, tự hủy, tự hiến và hy sinh từ bỏ để cứu chuộc chúng con và nhân loại tội lỗi. Người đã mời gọi chúng con làm môn đệ Người bằng cách đi vào con đường Người đã chọn..

Chúng con xin Cha ban cho chúng con lòng tin và sức mạnh để chúng con bước theo chân Chúa Giêsu Kitô Con Cha, Chúa chúng con. Amen.

Sàigòn ngày 17 tháng 09 năm 2021

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 

---------------------------

 

TN25-B183: CHÌA KHÓA NƯỚC TRỜI: PHỤC VỤ


Kính thưa quí cụ, quí ông bà và anh chị em,

 

Tương quan là một trong những điều cần thiết trong cuộc sống của con người. Nhà thần (bí) học TN25-B183


Tương quan là một trong những điều cần thiết trong cuộc sống của con người. Nhà thần (bí) học chuyên về tu đức và đời sống thiêng liêng rất nổi tiếng bên Mỹ, tên là Thomas Merton đã nói một câu thật chí lý như sau: “Không ai là một hòn đảo.” Có nghĩa là chúng ta chỉ thật sự sống như một con người khi biết sống nối kết với người khác. Người khác đó không ai khác hơn là người sống chung quanh ta, những người ta gặp hàng ngày, thậm chí có thể là những người không cùng ‘phe’ mình. Nói chung, người khác mà chúng ta đề cập ở đây là tất cả mọi người trong cộng đòan.

Còn gì hạnh phúc hơn khi chúng ta được sống trong một cộng đòan, nhỏ bé như gia đình hoặc rộng lớn như Giáo hội, mà trong đó mọi thành viên đều biết sống cho nhau. Và điều đó không tự nhiên hoàn thành. Tất cả mọi thành viên trong cộng đòan đều có trách nhiệm và bổn phận xây dựng và hoàn thành mục tiêu sống và nghĩ đến nhu cầu của nhau. Trái lại, nếu các thành viên trong cộng đoàn chỉ nghĩ và sống cho quyền lợi riêng, thì không cần đi tìm ‘hỏa ngục’ đâu xa nữa; nó hiện diện ngay trong môi trường và lối sống ích kỷ mà chúng ta đang dành cho nhau đó. Và chúng ta cũng chẳng ngạc nhiên khi nhìn thấy những va chạm, bất hòa hay đổ vỡ tại các cộng đòan có lối sống như thế. Một thực tế đáng buồn là chúng ta quá dễ dàng hòa hợp với lối sống đó. Và như cơn bịnh ung thư, nó cứ thế lan rộng và ăn dần vào từng bộ phận và giết dần giết mòn các chức năng khác của thân thể.

Những nguyên nhân gây ra tình trạng chia rẽ trong cộng đoàn thì nhiều. Thật đáng buồn nhiều lúc mầm mống của sự chia rẽ lại xẩy ra trong giới lãnh đạo. Điều này cũng đã xẩy ra trong hàng ngũ của các Tông đồ. Trong thân phận con người, các ngài cũng bị cám dỗ về quyền lực, và điều này đã được thể hiện qua lời cầu xin với Chúa của Gio-an và Gia-cô-bê: “Xin cho hai anh em chúng con, một người đuợc ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả của thầy, khi Thầy được vinh quang.” (Mk 10:37) Có nghĩa là nếu Chúa là chủ tể (Tổng Thống) thì một ông là Thủ Tướng và ông kia là Tổng trưởng quốc phòng. Còn vị trí nào cao hơn điều mà các ông xin. Các tông đồ kia cũng có tham vọng như thế, nhưng không ‘nhanh miệng’ bằng hai anh em ông Gio-an, vì thế đâm ra tức tối (Mk: 10:41). Nói tóm lại, dựa vào các chứng cứ và các hiện tượng đã xẩy ra trong quá khứ, chúng ta nhận ra rằng quyền bính hay quyền lực thường là những nguyên nhân khiến cộng đòan - dù nhỏ bé như gia đình, hay rộng như Giáo hội - bị chia rẽ và phân tán.

Anh chị em đều có kinh nghiệm này: Gia đình ít khi bị đổ vỡ vì con cái, chúng có thể là nguyên nhân gây ra sự bất đồng trong việc giáo dục. Nhưng nguyên nhân chính yếu thường xẩy ra bởi cha mẹ. Thay vì dùng khả năng, ân phúc để xây dựng và phục vụ lẫn nhau, nương tựa và cùng giúp nhau chu toàn nghĩa vụ được trao ban; trái lại chúng ta lạm dụng uy quyền để áp bức và thống trị nhau. Thậm chí có những tình huống bạo lực xẩy ra trong gia đình. Chỉ vì không ai chịu thua ai. Ai cũng dành phần thắng, phần nhất về cho mình. Trong khi dùng quyền bính để sai bảo người khác, chúng ta đã quên đi một điều là ai nói lại không đuợc, ai cũng bảo vệ lập trường và lý luận của mình. Lắng nghe nhau mới là điều khó mà chúng ta cần học.

Nói tới đây, tôi nhớ lại những lời khuyên của các bậc trưởng thượng, trải qua bao thử thách trong cuộc sống chung. Các ngài đã chia sẻ cho chúng ta kinh nghiệm trong việc xây dựng gia đình của họ như sau. Họ nói rằng, thua là nghệ thuật sống chung trong gia đình. Khi bạn thua là lúc bạn thắng. Thắng chính mình để sống cho nguời khác hầu đem lại bầu khí an vui và hạnh phúc cho gia đình.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể nào loại bỏ các khuynh hướng xấu đang lan tràn và ảnh hưởng cuộc sống của chúng ta, đó là lối sống thống trị, ăn trên ngồi trốc. Trước hoàn cảnh đó, đặc biệt để giải quyết các tranh cãi của các Tông đồ hôm nay, Đức Giê-su đã đưa ra một giải pháp luôn luôn mới lạ và vô cùng hiệu quả nếu chúng ta biết áp dụng, và đây cũng là một thách đố cho Giáo Hội trong mọi thời đại.

Trong quá khứ quyền bính của các vị lãnh đạo Giáo Hội được công nhận về mặt thế quyền nữa. Thần quyền và thế quyền hòa trộn với nhau. Các nhà lãnh đạo trong Giáo Hội quá nhiều quyền bính và được tôn vinh quá mức. Vinh quang mà họ thụ hưởng phản ảnh quyền lực của thế gian hơn là cách thức mà Chúa Giê-su dậy bảo trong bài Tin Mừng hôm nay: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết và làm người phục vụ mọi người.” Không chỉ có thế, sau đó Người đem một em nhỏ đến và đặt cháu đứng giữa các môn đệ, rồi ôm lấy cháu rồi nói: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy là tiếp đón chính Thầy.”

Như anh chị em đã biết, vào thời Đức Giê-su, thân phận của người phụ nữ và trẻ con không được tôn trọng và quí mến. Đối với họ thì hai hạng người này bị coi là không đáng kể, là thành phần không có chỗ đứng trong xã hội. Theo luật thì các cháu phải chờ đến lúc lên mười hai tuổi mới đuợc tham dự các nghi thức phụng vụ tại Đền Thờ.

Đối với Đức Giê-su thì khác, khi đem em nhỏ đến và đặt giữa các ông là lúc Người muốn căn dặn các ông và chúng ta rằng: em nhỏ này là hình ảnh tượng trưng cho những người thấp cổ bé miệng, nghèo hèn, bị coi thường và không có tiếng nói về mặt đạo cũng như mặt đời. Như vậy, qua cử chỉ đón tiếp thật ân cần mà Đức Giê-su dành cho em bé hôm nay, Người muốn dậy các ông bài học quan tâm và đón tiếp nhau.

Không ai trong chúng ta là người giầu có hết. Trước mặt Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều là người nghèo. Chúng ta chẳng có gì trao cho nhau cả. Tất cả đều lệ thuộc vào Thiên Chúa, Đấng trao vào tay chúng ta những món quà cho người khác. Vì thế, khi chúng ta đón tiếp người nghèo, người tất bạt, người đói khát, trần truồng, bịnh hoạn, những người không có địa vị như trẻ em thì đó không phải là một hành vi bố thí, thương xót về thân phận của họ bị coi thường, cho bằng nhận ra sự hiện diện của Đức Chúa nơi những người đó. Chúa hiện diện trong con người và cuộc sống của họ, cho nên khi chúng ta đón tiếp, yêu thương và giúp đỡ những người như thế là giúp đỡ và yêu thương chính Chúa.

Lời khuyên của Chúa được kèm với việc làm của Người. Cử chỉ của Đức Giêsu khi ôm em nhỏ vào lòng là lúc Người biểu lộ lòng quí mến, yêu thương và tiếp nhận. Tiếp nhận một em nhỏ như thế chắc chắn không phải để em nhỏ phục dịch mình, nhưng là cơ hội mà Người muốn dậy cho các môn đệ bài học phục vụ. Hãy nhớ lại Lời Người đã nói “ai phục vụ ta thì hãy theo Ta”. Chúng ta đã là môn đệ của Người, vì thế chúng ta không còn chọn lựa nào khác hơn là chọn lối sống phục vụ. Đó chính là lẽ sống và niềm vui cho cuộc sống dấn thân.

Như vậy, điều Chúa khuyên: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải là người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” quá rõ ràng. Có nghĩa là ai muốn làm lớn, theo tinh thần của Đức Ki-tô, phải là người phục vụ trước. Phục vụ là chìa khóa, là nguyên tắc của quyền lãnh đạo. Uy quyền có được trao ban cũng là do Thiên Chúa. Địa vị, quyền cao chức trọng cốt để phục vụ mọi người, chứ không phải để thống trị, như Chúa phán: "Ta đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ." Chính Chúa mới là ông chủ, còn tất cả chúng ta chỉ là những người thừa hành. Nói cách khác, cuộc sống của những kẻ có niềm tin vào Chúa Ki-tô phục sinh là cuộc sống phục vụ, sẵn sàng hiến mạng mình vì ích lợi của người khác. Amen! mục lục

Lm. Giuse Mai Văn Thịnh, DCCT

----------------------------

 

TN25-B184: GHEN TƯƠNG

 

Sau khi tổ tông loài người ta nghe lời dụ dỗ của ma quỷ: “[Cứ ăn đi] chẳng chết chóc gì đâu TN25-B184


Sau khi tổ tông loài người ta nghe lời dụ dỗ của ma quỷ: “[Cứ ăn đi] chẳng chết chóc gì đâu! Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3:4-5) thì từ lúc đó trở đi, con vi khuẩn độc hại có tên là GHEN TƯƠNG bắt đầu sinh sôi nảy nở trong cơ thể của tất cả loài người ta. Sức tàn phá và phạm vi hoạt động của con vi khuẩn GHEN TƯƠNG này độc hại và rộng lớn vô cùng cho nên từ người cân đai áo mão đến kẻ khố rách áo ôm, ai cũng đều giận dữ, ghen tương …rồi hận thù cãi cọ (Hc 40:4). Thật vậy!

• Vì ghen tương cho nên vua Sa-un mới trở nên điên dại, mất cả lý trí đến độ ông tìm cách dùng cây giáo ghim ông Đa-vít vào tường (1 Sam 19:10).

• Vì ghen tương cho nên các thượng tế và kỳ mục mới sách động đám đông đòi quan Phi-la-tô phóng thích tên Ba-ra-ba …[và đòi]… "Đóng đinh [Chúa Giê-su] vào thập giá!” (Mc 15:11-13).

• Vì ghen tương cho nên những người Do Thái mới có những hành động gian ác, họ sách động nhóm phụ nữ thượng lưu đã theo đạo Do-thái, và những thân hào trong thành, xúi giục họ ngược đãi ông Phao-lô và ông Ba-na-ba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ (Cv 13:50).

Ngày xưa cũng như ngày nay, con vi khuẩn GHEN TƯƠNG vẫn còn đang tàn phá cơ thể của con người ta, trong đó có bạn và có tôi nữa. Sức tàn phá của con vi khuẩn GHEN TƯƠNG này kinh khủng lắm!

• Nó làm cho bộ não của người ta bị tê liệt cho nên người ta mới đâm đầu vào đi vay tiền với giá lời cắt cổ để mua nhà to hơn, rộng hơn, sang trọng hơn…xe mới hơn, xịn hơn, nổi tiếng hơn, sang trọng hơn…để rồi sau đó họ đi cày ngày đêm, tối mặt tối mày, bảy ngày một tuần để trả tiền lời cho ngân hàng, trả tiền thuế đất và trả tiền cho bảo hiểm.

• Nó khiến lưỡi của người ta bị lở loét, cho nên người ta không thể nói được những lời nói có tính xây dựng, tử tế, lịch sự, tế nhị, nhỏ nhẹ, ngọt ngào và dễ thương.

• Nó làm cho tính kiêu ngạo trong con người ta mỗi ngày mỗi lớn lên. Họ mua cái này, sắm cái nọ, tậu cái kia … cốt chỉ để khoe khoang và mong đợi những lời khen tặng.

Tắt một lời, con vi khuẩn GHEN TƯƠNG vô cùng nguy hiểm cho nên thánh Gia-cô-bê mới quả quyết: “Ở đâu có [vi trùng] ghen tương và tranh chấp, thì ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa” (3:16). Con vi khuẩn GHEN TƯƠNG nguy hiểm lắm là bởi vì nó sẽ gây ra cho tôi và cho bạn sự mệt mỏi, hận thù, kiêu căng, băn khoăn, lo lắng, cãi cọ, phiền não, bất an, đau khổ, và bất hạnh.

Bạn thân mến,

Nếu bạn nhận ra và đồng ý với tôi rằng, con vi khuẩn GHEN TƯƠNG vô cùng nguy hiểm, để cho con vi khuẩn GHEN TƯƠNG ở trong cuộc đời của chúng ta thêm ngày nào thì cuộc đời của bạn và tôi sẽ đầy bất hạnh và đau khổ thêm ngày ấy, thì ngay hôm nay, chúng mình phải kiếm cách tiêu diệt cái con vi khuẩn GHEN TƯƠNG ra khỏi cuộc đời của chúng mình ngay lập tức, không thể chần chờ thêm được nữa, dù chỉ là một giờ!

Để có thể tiêu diệt tận gốc con vi khuẩn GHEN TƯƠNG thì bạn và tôi cần phải đi gặp Bác sĩ Giê-su ngay lập tức. Chạy đến với Chúa Giê-su bằng ba phương cách tuy rất cổ điển nhưng vô cùng lợi hại sau đây:

• CẦU NGUYỆN: Là phương cách giúp cho tôi và bạn liên lạc và trình bày với bác sĩ Giê-su những triệu chứng do con vi khuẩn GHEN TƯƠNG gây ra.

• XƯNG TỘI: Mỗi tháng một lần để bác sĩ Giê-su có cơ hội đặt tay chữa lành bịnh kiêu ngạo, hay khoe khoang và phô trương do con vi khuẩnGHEN TƯƠNG gây ra.

• RƯỚC LỄ: Đi tham dự Thánh Lễ và rước lễ sốt sắng hàng ngày bởi vì qua thánh lễ, chúng mình nhận được những lời khuyên cùng những liều thuốc rất bổ ích của bác sĩ Giê-su, những lời khuyên và những liều thuốc của Ngài có khả năng khống chế và tiêu diệt con vi khuẩn GHEN TƯƠNG đang ở trong cơ thể của chúng mình.

Bạn có muốn tiêu diệt con vi khuẩn GHEN TƯƠNG trong cơ thể của bạn không? Nếu muốn thì hãy đi gặp Dr. Jesus ngay đi! Phòng mạch của Ngài mở cửa 24/7 đó, đừng chần chờ nữa! mục lục

Lm. Đaminh Phạm Tĩnh, SDD

---------------------------

 

TN25-B185: TÂM TƯ CỦA CHÚA CÓ TRONG NGƯỜI MÔN ĐỆ?

 

Bài Tin Mừng hôm nay ghi dấu một giai đoạn quan trọng: Chúa Giêsu đang từ phía tiến về Giêrusa TN25-B185


Bài Tin Mừng hôm nay ghi dấu một giai đoạn quan trọng: Chúa Giêsu đang từ phía tiến về Giêrusalem. Tại thủ đô Giêrusalem, khổ hình thập giá với tất cả nỗi nhục nhằn, tang thương, đau xót đang chờ đợi phía trước.

Suốt hành trình tiến về phía thập giá cứu chuộc, có đến ba lần Chúa mạc khải cho tông đồ đoàn về những thương đau đang chờ đợi Thầy trò phía trước. Nhưng thật lạ lùng, các tông đồ không một chút đón nhận hay cảm biết lời dạy ủa Chúa. Các ông như người xa lạ, đứng ngoài tất cả mọi tâm tư mà Chúa muốn mạc khải.

Nội dung Tin Mừng Chúa nhật hôm nay là một trong những lần mạc khải ấy của Chúa Giêsu. Nội dung này có thể chia làm ba phần: 1- Chúa Giêsu loan báo cuộc tử nạn của Chúa. 2 - Nhưng ngay sau những lời loan báo tử nạn, thái độ mà Chúa nhận được nơi các môn đệ là sự tranh giành ngôi thứ: ai là người lớn, ai là người bé. Nghĩa là ai ngồi trên ai, ai có quyền nắm đầu ai; 3 - Chúa Giêsu dạy người đứng đầu phải là người phục vụ.

I. SỰ TƯƠNG PHẢN GIỮA TÂM TƯ CỦA CHÚA VÀ THÁI ĐỘ CỦA CÁC TÔNG ĐỒ.

Đọc cả ba nội dung trong đoạn Tin Mừng này, ta thấy nổi lên sự tương phản hết sức lớn giữa Chúa Giêsu và các môn đệ của Chúa:

- Chúa Giêsu là Chúa, là Đấng lãnh đạo tối cao thì lại chấp nhận chịu thiệt thòi, chấp nhận hy sinh, chấp nhận bị giết chết. Các môn đệ chỉ là những kẻ hèn mọn, dốt nát, kém cỏi thì lại muốn ăn trên ngồi trước, muốn nên bậc nhất nhì trong thiên hạ.

- Đây là hành trình cuối đời của Chúa Giêsu. Thời gian thụ nạn chẳng còn bao lâu. Chắc chắn Chúa đang cảm nghiệm sâu xa hình ảnh thập giá, những khổ đau mà người đời dành cho Chúa. Các môn đệ lại hết sức vô tâm. Các ông vô tâm đến nỗi không một chút mảy may nhận ra tâm tư của Thầy để mà đồng cảm, để mà sớt chia. Dù chỉ một chút ưu tư của Thầy, các ông cũng không thể chia sẻ. Sự vô tâm của các ông thật đáng trách.

- Đường đi của Chúa Giêsu là đường đi một mình. Có cả một đoàn tông đồ bên cạnh, có cả một đám đông được Chúa chữa lành, được Chúa nhiều lần làm phép lạ giúp đỡ, hay dạy dỗ…, nhưng chẳng một ai hiểu được nỗi lòng của Chúa. Chỉ có Chúa vò vỏ một mình vâng phục thánh ý Chúa Cha, một mình đón nhận thập giá, một mình đi đến cùng trong sự hiến dâng chính mình.

- Đối với Chúa, người làm lớn phải là người cúi xuống phục vụ, còn các tông đồ, một khi thích “ăn trên ngồi trước” thì chắc chắn chẳng bao giờ nghĩ mình phải phục vụ ai. Ngược lại, hình như các ông đang nuôi mộng thống trị thì đúng hơn.

Tất cả các ông đều như thế, chứ không riêng hai anh em Giacôbê và Gioan (kẻ đã xin cho được ngồi bên hữu, bên tả khi “Thầy vinh quang”). Bởi mười người còn lại đã “tức tối với Giacôbê và Gioan”. Sao lại tức tối, nếu không phải là kẻ cũng đồng một ý nghĩ hám danh, hám lợi như Giacôbê và Gioan.

- Chúa không bao giờ nhắm đến việc chính trị. Không bao giờ Chúa dạy các môn đệ về quyền hành trần thế. Không bao giờ Chúa nghĩ đến việc phải tiêu diệt chính quyền, để Chúa xưng vương xưng bá. Bao nhiêu năm rồi mà các môn đệ vẫn chưa thuộc bài. Các ông vẫn mang não trạng về một Đấng Thiên Sai trần thế uy quyền thống lãnh sơn hà.

Vì thế, hình như các ông theo Chúa là để tìm lợi lộc trần thế cho các ông hơn là tìm sáng danh Thiên Chúa. Các ông chưa thể hiểu được rằng, Thầy Giêsu của các ông sẽ là Đấng cứu chuộc con người về mặt tâm linh chứ không phải trần thế.

II. BÀI HỌC NÀO CHO CHÚNG TA?

Chúng ta cũng giống các tông đồ, chỉ biết tìm kiếm những cái phụ hệ, nào là hào nhoáng bên ngoài, là vinh quang cho bản thân, là quyền hành trên mọi người, là tìm cách tự tạo cho mình vỏ bọc của kẻ có uy, có danh…

Thói tìm kiếm những trang bị ích kỷ để cốt sao vinh thân, phì da ở trần thế không bao giờ có trong giáo huấn của Chúa Giêsu, vì thế, chẳng những không bao giờ phù hợp mà còn đi ngược với giáo huấn ấy.

Giáo huấn của Chúa không chỉ qua đời sống, qua lời dạy, mà còn cụ thể qua việc Chúa chấp nhận hiến dâng chính mình làm giá cứu chuộc. Nói cách khác, giáo huấn đó, đòi phải có đức mến lớn lao, trào tràn, đồng thời trong một nỗ lực quyết sống, quyết chết cho tình yêu một cách liên lỉ mới thực hiện được.

Nhiều người tài được ca tụng nhất thời, sau đó tên tuổi bị phai nhạt với thời gian! Trái lại, những “Tôi tớ Nước Trời” được ghi danh lưu truyền chẳng những ở trần gian mà trên thiên quốc. Vì việc họ làm là để sáng danh Chúa và mưu cầu lợi ích thiêng thiêng cho các linh hồn, chứ không nhắm vinh danh mình.

Chúng ta hãy mang lấy tâm tư của Chúa Giêsu, để sống giống như Chúa, và nếu cần, chết như Chúa. Tâm tư đó thể hiện qua lời dạy: “Ai muốn làm lớn, phải làm người phục vụ. Ai muốn đứng đầu thì phải làm đầy tớ”.

Một trong những trang sử của các thánh là cuộc đời của Charles E. Foucauld, biệt danh là người hùng sa mạc Sahara. Trước đây, Foucauld là một viên thượng tá trong quân đội Pháp. Đã từng chỉ huy các đoàn kỵ binh anh dũng rong ruổi ngược xuôi trên lưng ngựa để phục vụ hoàng triều nước Pháp. Foucauld tưởng như vậy là thành công và oai hùng.

Tuy nắm trong tay những tấm huy chương chói lọi, và tai nghe tiếng vó ngựa vang trời, dần dần Foucauld cảm nhận sự rỗng tuếch trong tất cả những điều tưởng chừng rất vinh quang ấy. Thăm thẳm trong cõi lòng, người đàn ông vẫn cảm thấy sự trống vắng, vô nghĩa của cuộc đời!

Đến một ngày, bức phá nhằm tìm kiếm cho mình một ý nghĩa tròn đầy, người sĩ quan lừng danh rời quân ngũ, xin vào phục vụ trong tu viện ở làng Nagiaret. Tại đây, Foucauld gánh nước cho từng nhà, nhất là những người già yếu bệnh tật.

Rồi Chúa lại dẫn lối Foucauld. Một lần, ông đi tĩnh huấn trong sa mạc. Ông khám phá ra ý Chúa muốn ông ra đi đem Tin Mừng cho Phi Châu. Từ đó, Charles E. Foucauld gắn mình hết sức nhiệt thành, trung tín với lục địa đen nghèo khổ. Ông tìm thấy lẽ sống trong chính môi trường nghèo mà ông đang chọn dấn thân.

Xưa trong đời quân ngũ, Foucauld không chinh phục được ai. Nhưng giờ đây, trong đời tu sĩ, ông đã đem nhiều linh hồn về với Chúa...

Đó là bài học cho bạn và tôi. Chỉ có con đường hy sinh phục vụ như Chúa Kitô mới là con đường phù hợp nhất với ơn gọi Kitô hữu.

Chỉ có một thái độ duy nhất, đó là noi gương Chúa Kitô để nếu sống thì sống cho anh chị em; nếu cần phải chết, thì chết cho con người mới là con đường đẹp, hoàn hảo và vinh quang. mục lục

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

---------------------------------

 

TN25-B186: KHÔN NGOAN KITÔ GIÁO

 

Hình ảnh người công chính trong sách khôn ngoan nơi bài đọc 1 hôm nay dựa trên bài ca người TN25-B186


Hình ảnh người công chính trong sách khôn ngoan nơi bài đọc 1 hôm nay dựa trên bài ca người đầy tớ số 4 (Is 52:13-53:12) và sách Isaiah 42:1 cũng như thánh vịnh 12:8. Dù sách Khôn Ngoan không được các thầy cả / rabbis ở Palestine công nhận là Kinh Thánh, nó cũng đã ảnh hưởng đến các tác giả của Tân Ước, đặc biệt hình ảnh Đức Giêsu là người công chính bị kết án bất công.

Cách thức kẻ dữ mai phục người công chính thật lạnh lùng và đầy mưu toan: “Hãy coi điều nó nói có thật không, hãy xét nghiệm xem những gì sẽ xẩy đến cho nó và chờ xem chung cuộc đời nó sẽ thế nào. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ giúp nó, giải thoát nó khỏi tay kẻ thù. Chúng ta hãy nhục mạ và làm cho nó khổ sở thử xem nó có hiền lành và nhẫn nhục không. Chúng ta hãy kêu án tử hình cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói thì người ta sẽ cứu nó!” (Kn 2:12,17-20)

TẠI SAO NGƯỜI CÔNG CHÍNH BỊ KẾT ÁN?

Người công chính bị tấn công vì đã dám phê phán cách sống của kẻ ác: “Nó trách chúng ta là phạm luật” (Kn 2:12). Người công chính được bảo vệ vì lòng trung thành, không chết vì đã chia sẻ cộng đoàn với Thiên Chúa. Đặc điểm của người công chính là dịu hiền và nhẫn nhục, dù bị kẻ xấu đem ra thử nghiệm, truy kích và giết chết. Chúng quyết định thử người công chính xem mức công chính đạt tới đâu (c.17-20). Cuối cùng, lời nói và việc làm của người công chính đã chứng minh lời tố cáo của kẻ xấu là sai lầm (Kn 2:12-16). Kẻ xấu đã giết chết người công chính bằng những mưu mô quỉ quyệt.

KHÔN NGOAN KITÔ GIÁO

Câu hỏi về khôn ngoan mở đầu thư thánh Giacôbê (Gc 3:13) đã nói lên ý nghĩa cuộc bàn luận: “Ai là kẻ khôn ngoan và hiểu biết, hay thế nào là đức khôn ngoan?” Thánh Giacôbê đã đưa ra những dấu hiệu của sự khôn ngoan (Gc 3:13-4:3), gồm khôn ngoan của Thiên Chúa, khôn ngoan của thế gian và của kẻ dữ (Gc 3:15). Thánh Giacôbê đã nêu rõ sự khác biệt giữa khôn ngoan thật và giả bằng cách so sánh người khôn ngoan thật là “kẻ thù của thế gian” và người khôn ngoan giả là “kẻ thù của Thiên Chúa” (Gc 4:4). Xem vậy đức khôn ngoan Kitô giáo mà Chúa ban làm cho “con người trở nên, trước là thanh khiết sau là hiếu hòa, khoan dung, mềm mỏng, đầy lòng từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái ngọt, không thiên vị không giả hình nhân đức.” (Gc 3:17)

Đức khôn ngoan thực của Kitô Giáo thì có tính hướng ngoại, hiến tặng cho tất cả mọi người, trong khi khôn ngoan giả là tham lam, ghen tương, hận thù, cãi lộn, ích kỷ, có tính hướng nội, coi mình là nhất. Vậy chúng ta nên bắt chước khôn ngoan thật, không theo khôn ngoan giả là danh vọng tiền tài phù du của thế gian bằng những âm mưu bất chính và thất đức.

NHỮNG YẾU TỐ CỦA KHÔN NGOAN

Bài Tin Mừng Marcô hôm nay (Mc 9:30-37) tiên đoán về cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu lần thứ hai. Chúa báo tin này đã chẳng giúp các môn đệ hiểu biết hơn chút nào. Họ lại bàn tán xem ai sẽ là người quan trọng nhất trong đám họ. Giống như bài Tin Mừng tuần trước, các mộn đệ đã hiểu lầm về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu và giáo huấn của Người về tình nghĩa và bổn phận của người môn đệ.

Giữa khung cảnh này Marcô đã nêu ra những yếu tố của khôn ngoan Kitô giáo. Bài Tin Mừng (Mc 9:30-37) đưa ra một loạt những lời Chúa nói về tình môn đệ qua ba hình ảnh:

Trước hết, sau khi thất bại, các môn đệ rút ra bài học “phải bền chí”. Ngay trước đó các môn đệ đã không thể chữa được một đứa trẻ bị quỉ ám (Mc 9:14-29) đã bị Chúa quở trách nặng lời: “Ôi! Thế hệ cứng lòng, Ta còn phải ở lại với các ngươi bao lâu nữa đây?” (Mc 9:19). Tuy nhiên sự yếu đuối đó đã không làm các ông mất nhuệ khí mà còn quyết tâm sửa để đổi chuẩn bị cho cuộc sống mai sau trên vương quốc Thiên Chúa.

Thứ đến, các môn đệ nhận ra lời Chúa nói quá ghê sợ. Đây là lần thứ hai Chúa nói trước về số phận của Người ở Jerusalem, nhưng các môn đệ cũng không hiểu mà không dám hỏi Chúa (Mc 9:32) cho đến khi Chúa làm bộ hỏi các ông bàn bạc cái gì trên đường đi thì các ông luống cuống nói là “không có gì cả”. Các môn đệ có thể đã không hiểu lời Chúa nói nên đã bàn bạc ngoài đề. Các ông rất xấu hổ vì bị hạ nhục. Nhưng Chúa chưa tha các ông đâu….

Thứ ba là các môn đệ đã học được bài học bổn phận của người đầy tớ. Khi Marcô dùng tiếng “đầy tớ”, ông dùng từ Hy Lạp có nghĩa là deacon tức phó tế hay thừa tác viên. Từ này lúc đầu được dùng để chỉ người bồi bàn, hầu nước và rượu trong tiệc cưới ở Cana (Ga 2:5). Mátthêu dùng nó để chỉ đầy tớ của các vua chúa trong dụ ngôn tiệc cưới (Mt 22:13). Thánh Phaolô tự ví mình như như là đầy tớ của Phúc Âm (Cl 1:23; Ep 3:7), đầy tớ của Giáo Hội (Cl 1:25), đầy tớ của tân giao ước trong Chúa Thánh Thần (2Cr 6:4). Gioan dùng nó để nói về những ai có liên hệ với Chúa Giêsu một cách tổng quát, và gọi các phó tế/thừa tác viên là đầy tớ của Chúa Giêsu (Ga 12:26).

AI LÀ NGƯỜI LỚN NHẤT?

Quan niệm về tiếng Lớn Nhất đã được Chúa Giêsu tái định nghĩa cho các Tông đồ hiểu. Quan niệm mới này cũng để xác định thành công hay thất bại, thắng hay thua, hoàn thành hay không hoàn thành bổn phận. Chúa Giêsu lấy một đứa trẻ làm thí dụ. Đứa trẻ này không phải là đứa ngây thơ, đáng tin cậy, hay đùa nghịch, nhưng là đứa trẻ chậm hiểu đang ở dưới quyền coi sóc của người lớn. Chúa Giêsu đưa ra một hệ thống liên hệ mới: “Ai đón nhận đứa trẻ này nhân danh Ta tức là đón nhận Ta. Ai đón nhận Ta là đón nhận Thiên Chúa, đấng đã sai Ta (Mc 9:37). Đây là tình hiệp thông giữa đứa trẻ, Chúa Giêsu và Thiên Chúa.

Đứa trẻ là biểu tượng của vô quyền lực và hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Marcô dạy chúng ta phải chào đón những kẻ yếu kém, nghèo khổ và mất hết tự do. Qua cử chỉ này, Chúa Giêsu làm nổi bật đặc tính của đứa trẻ. Chúa ôm đứa trẻ trong lòng cho thấy Chúa chẳng mong gì nơi đứa trẻ, nhưng luôn luôn che chở ấp ủ nó.

Môn đệ phải trở thành gương mẫu để cho mọi người noi theo. Thất bại của các môn đệ, không hiểu hoặc làm sai Lời Chúa vô tình hay cố ý đều là hình ảnh của họ nơi các thế hệ môn đệ tương lai, di sản của những thế hệ đi trước đáng nguyền rủa. Những thế hệ tương lai sống trong sa đọa, gương mù gương xấu là vì đã nhận những di sản xấu của những thế hệ đi trước. Chế độ độc tài tàn ác bất chính và những “tôi tớ Chúa” đã hùa theo nó, nịnh bợ để được an thân, có danh lợi, chắc chắn đã tạo ra những di sản xấu.

KHÔN NGOAN VÀ NHÂN ĐỨC

Một trong những bài học phổ quát và sâu xa nhất để đạt đức khôn ngoan là bài học do Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đưa ra tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York ngày 05-10-1995. Lời ngài nói giờ này vẫn còn văng vẳng trong tâm trí chúng ta:

“Phải vượt thắng mọi sợ hãi về tương lai. Nhưng chúng ta sẽ không thể nào lướt thắng nó một cách trọn vẹn trừ khi chúng ta cùng nhau làm. ‘Giải quyết’ nỗi sợ hãi đó không phải là lừa đảo, dụ dỗ hay ép buộc, cũng không phải là áp đặt một xã hội ‘khuôn mẫu’ trên toàn thế giới. Giải quyết nỗi sợ hãi đó -đang làm đen tối loài người ở cuối thế kỷ XX này - phải là cố gắng chung cùng nhau xây dựng văn minh tình thương, trên nền tảng giá trị phổ quát của hòa bình, đoàn kết, công bằng và tự do. Và, ‘linh hồn’ của văn minh tình thương là văn hóa của tự do: tự do cá nhân và tự do quốc gia, sống trong tình liên đới đoàn kết tự hiến và trách nhiệm.

“Đừng sợ tương lai. Chúng ta đừng sợ con người. Không phải bất ngờ mà chúng ta hiện hữu. Mỗi người và tất cả mọi người đều được tạo dựng nên theo ‘hình ảnh và giống như’ Đấng là nguồn gốc của tất cả mọi sự đang có. Chúng ta có những khả năng về khôn ngoan và nhân đức. Với tặng phẩm này và với sự trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa, chúng ta có thể xây dựng, ở thế kỷ tới và thiên niên kỷ sau, một nền văn minh tình thương xứng đáng của loài người, một văn hóa đích thực của tự do. Chúng ta có thể và phải làm được như vậy! Trong khi thực thi như vậy, chúng ta sẽ nhận ra rằng những giọt nước mắt của thế kỷ này đã sửa soạn đất cho một mùa xuân mới của tình nhân loại.”

Chúng ta hãy nguyện cầu xin Thiên Chúa ban cho mùa gặt có nhiều hạt giống công chính, khôn ngoan và nhân đức được gieo vào lòng con người. Không có những tặng phẩm đó, văn minh tình thương và văn hóa tự do mà tất cả chúng ta mong đợi sẽ không thể có được. mục lục

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

-------------------------

 

TN25-B187: HỌC HỎI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT XXV TN-B


Mc 9,30-37

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, phụ trách

 

Đọc ba đoạn sau đây: Mc 8,31-38; 9,30-50; 10,32-45. Hãy cho biết ba đoạn này có gì giống nhau TN25-B187


1.  Đọc ba đoạn sau đây: Mc 8,31-38; 9,30-50; 10,32-45. Hãy cho biết ba đoạn này có gì giống nhau về hình thức (cấu trúc hay dàn bài).

2.  Trong Tin Mừng Máccô, Đức Giêsu ba lần loan báo cuộc khổ nạn và phục sinh cho ai? Vì sao Ngài loan báo cho họ như vậy?

3.  Ai là người đã “nộp” Đức Giêsu? Đọc Mc 9,31; 14,18; 15,1; 15,15; Cv 2,23; Rm 8,32.

4.  Tại sao các môn đệ không hiểu lời loan báo trên của Đức Giêsu? Đọc Mc 4,13; 7,18; 8,18.21.

5.  Khi các môn đệ cãi nhau xem ai là người lớn nhất trong nhóm, Đức Giêsu đã làm gì để dạy các ông? Đối với văn hóa của người Do Thái thời Đức Giêsu, các em nhỏ tượng trưng cho điều gì?

6.  Đọc Mc 9,36-37. Đức Giêsu đã đón tiếp một em nhỏ như thế nào?

7.  Đọc Mc 9,35. Đức Giêsu mời các môn đệ phục vụ “mọi người”, nhưng cụ thể là ai?     

8.  Đọc chậm Mc 9,33-37. Bạn học được gì về khoa sư phạm của Thầy Giêsu trong đoạn văn này?

CÂU HỎI SUY NIỆM:

Tại sao ở đời người ta thích làm người lớn nhất, người đứng đầu, người lãnh đạo? Theo ý bạn, giá trị đích thật của một người nằm ở chỗ nào?

Nếu người đứng đầu phải phục vụ mọi người, thì bạn có thích làm người đứng đầu không?

PHẦN TRẢ LỜI

1. Cả ba đoạn văn này đều có hình thức (cấu trúc hay dàn bài) như nhau: A. Đức Giêsu tiên báo 3 lần cho các môn đệ về cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài (8,31-32a; 9,30-32; 10,32-34). Các lời tiên báo càng lúc càng rõ hơn. B. Thái độ của các môn đệ sau những lời tiên báo (8,32b-33; 9,33-37; 10,35-41). Họ thường tỏ ra không hiểu, không đón nhận hay không muốn đi vào con đường hẹp mà Thầy sắp đi. C. Lời giáo huấn của Đức Giêsu là lời mời các môn đệ đi vào con đường Thầy đi (8,34-38; 9,38-50; 10,42-45).

2. Trong Tin Mừng Máccô, Đức Giêsu ba lần loan báo cuộc khổ nạn và phục sinh cho các môn đệ (8,27.31; 9,31; 10,32). Các môn đệ ở đây là Nhóm Mười Hai (9,35; 10,32.41). Ngài loan báo cho họ để chuẩn bị họ đón nhận những biến cố kinh hoàng sắp xảy đến cho Thầy mình.

3. Có nhiều người “nộp” Đức Giêsu. Người đầu tiên chúng ta thường nghĩ đến là Giuđa Ítcariốt (Mc 3,19; 14,10.18.21.42). Anh là một người trong Nhóm Mười Hai. Kế đến là các nhà lãnh đạo Do Thái giáo. Họ đã nộp Đức Giêsu cho quan Philatô, vì họ muốn nhờ tay Philatô mà đóng đinh Đức Giêsu (Mc 15,1.10). Cuối cùng là Philatô, kẻ đã nộp Ngài cho quân lính đóng đinh (Mc 15,15). Tuy nhiên, vì việc trao nộp này nằm trong kế hoạch cứu độ từ trước của Thiên Chúa (Cv 2,23), nên thánh Phaolô dám nói rằng Thiên Chúa đã trao nộp chính Con của mình vì chúng ta (Rm 8,32).

4. Các môn đệ không hiểu lời loan báo cuộc khổ nạn và phục sinh của Thầy Giêsu (Mc 9, 32). Họ không hiểu vì họ có một hình ảnh khác về Đấng Kitô/Mêsia. Đối với họ, Đấng Kitô/Mêsia phải là Đấng mạnh mẽ oai hùng, có khả năng giải phóng dân tộc Ítraen, chứ không phải là Đấng chịu thất bại, chịu đau khổ và chịu chết. Họ cũng không hiểu được chuyện Thầy báo sẽ sống lại sau ba ngày, vì đối với Do Thái giáo, người ta chỉ sống lại vào ngày tận thế. Trong Tin Mừng Máccô, các môn đệ vẫn thường không hiểu lời Thầy dạy (Mc 4,13; 7,18; 8,18.21).

5. Trên đường đi, các môn đệ tranh cãi xem ai là người lớn nhất. Khi về nhà, Đức Giêsu đã giảng dạy về sự phục vụ khiêm hạ. Ngài còn dùng một em nhỏ để minh họa cho bài học của Ngài. Trong văn hóa thời Đức Giêsu, một em nhỏ không tượng trưng cho sự ngây thơ, trong sáng, nhưng tượng trưng cho sự lệ thuộc: em không có chỗ đứng trong xã hội, không thể tự sống một mình, và phải tùy thuộc vào người lớn về mọi phương diện.

6. Đức Giêsu đã đem một em nhỏ, đặt em vào giữa các môn đệ, và ôm em ấy trong cánh tay (Mc 9,36). Cử chỉ này cho thấy Ngài quý em, dù trong văn hóa Do Thái thời đó, trẻ em không được người ta coi trọng. Hơn nữa, Đức Giêsu còn tuyên bố em có giá trị cao quý, vì đón tiếp bất cứ em nhỏ nào như em này, nhân danh Thầy, là đón tiếp chính Đức Giêsu. Mà đón tiếp Đức Giêsu là đón tiếp chính Thiên Chúa, Đấng đã sai Ngài (Mc 9,37). Như thế cũng có thể nói, không đón tiếp một em nhỏ là không đón tiếp Đức Giêsu và Chúa Cha. Một em nhỏ bị coi thường trong xã hội lúc bấy giờ, lại được Đức Giêsu coi như hình ảnh cụ thể của Thiên Chúa đang cần sự đón tiếp. Đức Giêsu không chỉ ở nơi người đói khát, trần trụi, yếu đau (Mt 25) mà còn ở nơi một em nhỏ yếu đuối, không được quý trọng, không có vị thế trong xã hội.

7. Khi các môn đệ tranh nhau làm người đứng đầu, Đức Giêsu mời gọi họ làm người đứng cuối mọi người, và làm người phục vụ mọi người (Mc 9,35). Mọi người ở đây chẳng trừ ai, nhưng đặc biệt là những người yếu thế, như phụ nữ, trẻ em, người nhập cư, bệnh nhân, người nghèo, người bị đẩy ra ngoài lề xã hội…Trong cộng đoàn luôn có những người bị bỏ rơi vì yếu kém mặt này mặt khác. Đức Giêsu đòi các môn đệ quan tâm đến những người không được ai quan tâm.

8. Sau khi Đức Giêsu loan báo cuộc khổ nạn lần thứ hai, trên đường về Caphácnaum, các môn đệ đã cãi nhau xem ai là người lớn nhất (Mc 9,34). Điều này cho thấy tim họ không đập cùng một nhịp với Thầy của mình trong những ngày cuối đời. Họ vẫn sống trong mộng tưởng về chức quyền và chỗ đứng trong nhóm. Dù biết họ cãi nhau, nhưng Đức Giêsu đã không mắng họ ngoài đường. Chỉ khi về đến nhà, Ngài mới tế nhị giả vờ hỏi xem họ bàn chuyện gì trên đường đi. Dù sao Đức Giêsu đã không ép các ông phải trả lời câu hỏi này, Ngài chấp nhận họ làm thinh (Mc 9,33-34). Sau đó Ngài mới ngồi xuống, gọi họ lại và dạy các ông một bài học rất sống động. Qua những phản ứng trên, ta thấy Đức Giêsu là một nhà sư phạm khôn ngoan, tự chủ, biết cách truyền đạt sống động một bài học.

(http://www.cgvdt.vn/loi-chua-va-cuoc-song/)
-----------------------------
 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Báo công giáo
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/
Giáo phận long xuyên
Chuyen ke cho cac gia dinh
Chuyện kể cho các gia đình
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây