Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 3-B Bài 51-100 Hãy sám hối và tin

Thứ năm - 18/01/2018 05:27
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 3-B Bài 51-100 Hãy sám hối và tin vào Tin mừng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 3-B Bài 51-100 Hãy sám hối và tin vào Tin mừng
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật TN 3-B Bài 51-100 Hãy sám hối và tin vào Tin mừng

TN3-B51. BIẾT MÌNH ĐỂ SỐNG ĐÚNG.. 2
TN3-B52. PHẨM CHẤT ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ.. 4
TN3-B53. HÃY THEO THẦY! 5
TN3-B54. NHỮNG NGƯ ÔNG CỦA CHÚA.. 7
TN3-B55. HÃY THEO TÔI 10
TN3-B56. Chúa Giê-su khời đầu sứ vụ. 12
TN3-B57. Chúa Nhật 3 Thường niên, B.. 13
TN3-B58. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM... 17
TN3-B59. NHỮNG NGƯ PHỦ CHÀI NGƯỜI 21
TN3-B60. Thời điểm PHÚC - LỘC - THỌ.. 23
TN3-B61. Lời Loan Báo Tiên Khởi và những tay chài lưới người 26
TN3-B62. Các người tìm gì?. 30
TN3-B63. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng. 32
TN3-B64. Anh em hãy suy nghĩ và tin vào Chúa. 33
TN3-B65. HÃY SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG.. 34
TN3-B66. CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.. 36
TN3-B67. Từ bỏ. 37
TN3-B68. Phẩm chất đầu tiên của người môn đệ. 39
TN3-B69. Năm mới người mới cả trời đất mới 41
TN3-B70: Theo Chúa từ bỏ tất cả – Cố Lm. Hồng Phúc. 43
TN3-B71: Sám hối và tin vào Tin Mừng – Radio Veritas Asia. 45
TN3-B72: Thấy - Gọi - Bỏ - Theo. 46
TN3-B73: Đức Giêsu đến. 48
TN3-B74: Tuyển quân – Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn. 50
TN3-B75: Bỏ nghề chài lưới mà theo Chúa Giêsu. 53
TN3-B76: Theo Chúa Giêsu, sám hối để hiệp nhất 55
TN3-B77: CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN.. 57
TN3-B78: HÃY SÁM HỐI VÀ TIN VÀO TIN MỪNG.. 59
TN3-B79: THỜI ĐẠI MỚI 64
TN3-B80: XIN ĐỪNG BUÔNG TAY.. 67
TN3-B81: BƯỚNG BỈNH VÀ NGOAN NGOÃN.. 69
TN3-B82: Nhóm mười hai 73
TN3-B83: Mau qua chóng tàn - Anmai, CSsR.. 74
TN3-B84: Sống và chia sẻ niềm tin – Thiên Phúc. 78
TN3-B85: Chúa Nhật 3 Thường Niên. 80
TN3-B86: Hoa Hướng Dương - Lm Jos Tạ Duy Tuyền. 82
TN3-B87: Hoán cải 84
TN3-B88: Theo Chúa từ bỏ tất cả – Cố Lm. Hồng Phúc. 86
TN3-B89: Đôi cánh Thiên Thần. 87
TN3-B90: Đáp trả. 89
TN3-B91: Hãy theo Ta". 91
TN3-B92: Phaolô Vị Tông Đồ hăng say rao giảng Tin Mừng. 92
TN3-B93: Đã mãn. 94
TN3-B94: Hãy đến theo Tôi – Lm. Mark Link. 97
TN3-B95: Suy niệm của Lm. Phạm Đức Trị 101
TN3-B96: Chúa Nhật 3 Thường Niên. 102
TN3-B97: Hãy hối cải và tin vào Tin Mừng. 104
TN3-B98: Chúa Nhật 3 Thường Niên. 105
TN3-B99: ƠN GỌI 107
TN3-B100: CHÚA NHẬT  III THƯỜNG NIÊN.. 108

--------------------
 

TN3-B51. BIẾT MÌNH ĐỂ SỐNG ĐÚNG


Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

Có một lúc nào đó trong cuộc đời, chúng ta vẫn thường tự hỏi: Tôi là ai? Tôi sinh ra trong: TN3-B51


Có một lúc nào đó trong cuộc đời, chúng ta vẫn thường tự hỏi: Tôi là ai? Tôi sinh ra trong cuộc đời này làm gì? Chết rồi đi đâu? Đây là những câu hỏi quyết định hướng đi của một đời người, nó quyết định phận số của một con người. Sống có ích cho xã hội hay trở thành gánh nặng cho xã hội cũng tuỳ thuộc vào chọn lựa cơ bản này của từng người chúng ta.

Người ta kể rằng: thuở xưa khi con người chưa biết soi gương trang điểm nên họ cũng chẳng biết mình là ai? Và khuôn mặt mình thế nào? Một lần kia, anh chồng lên tỉnh thành, người vợ dặn chồng nhớ mua cho mình một cái trâm cài đầu. Nhưng anh không biết cái trâm hình thù như thế nào. Chị vợ liền nhìn trời thấy ánh trăng lưỡi liềm liền nói: “Cái trâm nó giống như ánh trăng kia, nếu anh quên anh cứ nhìn lên ánh trăng thì sẽ nhớ.

Người chồng lên đường mải miết xem bao cảnh lạ ở tỉnh thành mãi mười ngày sau mới trở về quê nhà. Anh sực nhớ lời vợ dặn, anh liền nhìn lên trời và thấy ánh trăng tròn trịa của đêm trăng rằm, anh liền vào tiệm và mua một cái gương tròn trịa như ánh trăng theo lời vợ dặn.

Lòng vui rộn ràng khi vừa về tới nhà vội trao cho vợ cái gương mà anh đã mua từ tỉnh thành. Tưởng rằng vợ sẽ vui mừng với món quà anh đưa về, thế nhưng, khi vừa nhìn vào đồ vật, cô vợ đã tức giận và quát tháo rằng: “Tôi dặn anh mua cái trâm cài đầu, tại sao anh lại đem về một đứa con gái nào đây?”. Anh chồng giật mình, dành lại cái gương và nhìn xem chuyện gì xẩy ra. Anh nhìn vào gương lại thấy một người đàn ông trông giống bố mình hồi còn trẻ, nên anh phân bua rằng: “Không, đây là bố tôi mà!” Cô vợ dành lại và nói: “bố ông bao giờ, con nào rõ ràng. Ông còn chối hả?”. Đính chính chẳng được, nên anh chồng đành bỏ đi. Mẹ chồng thấy vậy đến an ủi con dâu, và người con dâu đưa cho mẹ chồng coi bằng chứng rõ ràng thế mà anh chồng còn chối quanh quẩn. Mẹ chồng xem qua rồi trịnh trọng nói: “Thôi đừng ghen nữa! Tao thấy con này không đáng ghen đâu. Tao thấy, nó cũng già lắm rồi!”

Đó là câu chuyện vui nhưng cũng nói lên một chân lý: nếu không biết mình thì sẽ làm khổ mình và khổ người khác. Chúa Giê-su cũng từng nói: “Mù dắt mù thì cả hai đều rơi xuống hố”. Đó cũng là quang cảnh của xã hội chúng ta đang sống. Một xã hội đầy những bóng tối của tội lỗi, của sa đoạ, cúa ích kỷ và hưởng thụ đã làm cho nhiều người mù quáng để chạy theo những đam mê lầm lạc, lạc mất hướng đi của đời người, dìm mình trong bóng tối của danh lợi thú. Nhiều người đã không còn ý thức giá trị đạo đức con người nên họ sẵn sàng đánh mất phẩm giá của mình và chà đạp lên phẩm giá của người khác. Họ không còn biết mình là ai? Sống để làm gì? Họ như những người lạc hậu trong câu chuyện đã không biết mình, nên gây ra những mâu thuẫn, hiểu lầm không đáng có. Thực vậy, nhiều người trong xã hội hôm nay, đã không hiểu rõ ý nghĩa cuộc sống nên buông thả trong những đam mê tội lỗi. Họ tưởng rằng, con người sinh ra, lớn lên, chết là hết nên chẳng cần sống theo lẽ phải, hay sống theo luân thường đạo lý, dẫn đến tội lỗi ngập tràn, cuộc sống đầy chiến tranh, loạn lạc.

 Vì vậy, sứ điệp đầu tiên mà Chúa gửi đến nhân loại chính là: “Hãy sám hối”. Sám hối để bước ra khỏi bóng đêm của tội lỗi, ganh tương, đố kỵ và chia rẽ để bước vào ánh sáng của yêu thương và hiệp nhất. Chúa Kytô chính là ánh sáng cho thế gian. Từ nay tin mừng cứu độ của Chúa sẽ soi sáng cho con người biết đâu là thiện, là ác, vì chính Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Và ai theo Ngài sẽ không phải đi trong tối tăm, nhưng bước đi trong tự do của con cái sự sáng.

Thế nhưng, nhân loại hôm nay vẫn thích bóng tối hơn ánh sáng. Người ta sợ ánh sáng của tin mừng sẽ phơi bày bộ mặt thật của mình nên che dấu bằng thủ đoạn, lừa đảo và giả hình, và dần dần đánh mất ý thức về tội. Tội lỗi vẫn lan tràn. Con người tự làm khổ mình, làm khổ nhau bởi chính tội lỗi mình gây ra.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết nhìn lại mình để biết mình. Biết những giới hạn và bất toàn để sửa đổi. Biết những khiếm khuyết để bổ túc và canh tân. Biết tội lỗi mình để sám hối. Xin Chúa giúp chúng ta biết sám hối từng ngày để canh tân đổi mới cuộc đời trong chân lý và tình yêu của Chúa. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền


 

TN3-B52. PHẨM CHẤT ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ


Lm. Inhaxiô Trần Ngà

 

Khi bắt đầu lên đường thi hành sứ vụ, việc đầu tiên Chúa Giê-su làm là tuyển chọn một so: TN3-B52


Khi bắt đầu lên đường thi hành sứ vụ, việc đầu tiên Chúa Giê-su làm là tuyển chọn một số môn đệ nòng cốt để tiếp tay và nối gót Người rao giảng Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh.

Đây là một nhiệm vụ rất trọng đại cao cả nhưng đồng thời cũng đầy gian truân và thách thức, thế nên cần phải tuyển cho được những ứng viên phù hợp.

Trong các thành phần dân chúng thời đó, chúng ta thấy nổi bật nhất là các tư tế ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Họ là những người ngày đêm ứng trực trong đền thờ lo việc thờ phượng tế lễ Thiên Chúa. Xem ra họ là những ứng viên sáng giá nhất cho công cuộc loan báo Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh. Thế nhưng Chúa Giê-su đã không chọn bất cứ ai trong số các vị ấy làm tông đồ xây dựng Hội Thánh Người.

Kế đó, các kinh sư là những người học rộng và thông thạo thánh kinh. Có ai xứng đáng hơn họ trong việc giải thích và loan truyền Lời Chúa? Có ai giàu kiến thức về đạo lý bằng họ? Thế mà Chúa Giê-su cũng không chọn một ai trong số các vị nầy làm tông đồ của Người.

Thành phần thứ ba cũng rất sáng giá là các người biệt phái. Họ giữ luật rất nhiệm nhặt, có đời sống đạo rất nghiêm túc. Những người như thế cũng đáng làm đầu thiên hạ và lãnh đạo người ta. Thế mà Chúa Giê-su cũng không chọn bất cứ người biệt phái nào vào hàng ngũ các môn đệ đầu tiên.

Chúa Giê-su cũng không chọn những người có địa vị trong xã hội hay những người giàu sang quyền quý làm môn đệ của Người.

Cách chọn lựa môn đệ của Chúa Giê-su khiến chúng ta kinh ngạc: “Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy ông Si-môn với người anh là ông An-rê, đang quăng lưới xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá. Người bảo họ: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá."  Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. Đi xa hơn một chút, Người thấy ông Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang vá lưới ở trong thuyền. Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người.” (Mc 1,14-20)

Như thế, Chúa Giê-su đã chọn bốn ngư phủ là Simon, An-rê, Gioan, Giacobê, làm môn đệ đầu tiên trong lúc họ đang quăng chài kéo lưới hoặc đang vá lưới trong thuyền.

Tại sao Chúa Giê-su lại chọn các ngư phủ làm môn đệ đầu tiên?

Các ngư phủ là những người dạn dày sương gió. Họ quen chịu giá lạnh giữa biển khơi; từng trải qua những đêm tối giữa sóng gió trùng khơi; không sợ đói, không sợ rét, không sợ bão tố cuồng phong, không sợ cảnh chơi vơi giữa ba đào sóng gió. Nói chung, họ có khả năng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và nghịch cảnh để đạt cho bằng được nguyện vọng của mình.

Họ là những người đầu tiên được Chúa Giê-su chiếu cố và mời gọi làm môn đệ loan Tin Mừng, làm những trụ cột nòng cốt để xây dựng Hội Thánh.

Điều nầy cho thấy phẩm chất đầu tiên của người môn đệ Chúa Giê-su là không ngại gian truân, sẵn sàng hy sinh để thực hiện những mục tiêu mà Chúa đề ra cho mình.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã anh dũng vượt qua vô vàn gian khó trong sứ mạng loan báo Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh. Chúa không hề lùi bước trước bất cứ nghịch cảnh nào, cho dù phải chịu khổ nạn đau thương và chịu chết thảm khốc trên thập giá.

Xin ban ơn giúp chúng con biết noi gương Chúa, sẵn sàng vượt khó, dám đương đầu với mọi thách thức và sóng gió như các môn đệ đầu tiên, hầu có thể chu toàn trọng trách mà Chúa và Hội Thánh trao phó cho chúng con.

Lm. Inhaxiô Trần Ngà


 

TN3-B53. HÃY THEO THẦY!


AM Trần Bình An

“Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần.

Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!”(Mc 1, 15)

 

Thời kỳ hiện tại đã mãn, khi Chúa Giêsu nhập thế cứu độ nhân loại trước thời cánh chung: TN3-B53


Thời kỳ hiện tại đã mãn, khi Chúa Giêsu nhập thế cứu độ nhân loại trước thời cánh chung. Thời răng đền răng, mắt đền mắt đã đặt dấu chấm hết, để nhân loại bước sang thời kỳ mới, vượt qua các giá trị nhân bản, thời mà lòng nhân ái được tôn vinh hơn bao giờ hết, thời người ta tát má phải, thì giơ cả má trái cho họ tát nữa. Một sự đổi đời thật sự, không phải ai cũng sẵn sàng chấp nhận để hội nhập.

Ngài kêu gọi nhân loại sám hối và sống theo Tin Mừng, tựa như một cuộc cách mạng vĩ đại, tuy chỉ âm thầm, lặng lẽ như sóng ngầm, nhưng vô cùng mãnh liệt  và tác động sâu xa. Cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu, không chỉ diễn ra trên bình diện xã hội, mà còn diễn ra ngay chính trong tâm hồn từng người. Trước lời kêu gọi tha thiết của Chúa Giêsu, người ta phải đối mặt với hai chọn lựa một cách dứt khoát và thẳng thắn: Theo hay chống?

Tiêu biều phái chống lại Ngài, chống lại Tin Mừng là cơ cấu quyền lực, các nhóm lợi ích, như bạo vương Hêrôđê và nhóm tay sai, như các kinh sư, kỳ mục, Biệt Phái, thông đồng, cấu kết với nhau để tìm và diệt, cũng như công kích, khống chế Ngài.

Còn đi theo và ủng hộ Ngài lại là số đông quần chúng, đang chịu áp chế đủ thứ gông cùm luật lệ, sưu cao thuế nặng, những nông dân nghèo khó, những ngư dân chân chất vất vả. Trong bối cảnh như vậy, Chúa Giê su mời gọi các môn đệ đầu tiên từ ngay trong cánh dân đen bần cùng.

Các ngư dân cần mẫn, thất học, khó nghèo, nhưng đơn sơ và chân thành, như các ông Anrê, Simon, Giacôbê và Gioan, đang mải mê lao động nhọc nhằn. Khi nghe tiếng Chúa gọi, lập tức từ bỏ tất cả, bỏ cả nghề nghiệp mưu sinh, bỏ cả gia đình, cha mẹ, tức thì theo Chúa.

Chúa gọi và giao ngay nhiệm vụ thánh thiêng. Các ông chắc chắn đã chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để đón nhận ơn gọi và mau mắn lên đường, cùng đồng hành, rao giảng Tin Mừng với Chúa. Như thế, có thể nói các ông quả thực can đảm, gan dạ, dám dứt bỏ tất cà những ràng buộc của đời sống bình thường. Các ông xứng đáng gọi là những lính cảm tử đầu tiên, gia nhập vào đạo binh Đi Gieo của Chúa Cứu Thế.

“Hãy đi rao giảng Phúc Âm!..”, để dám nhận sứ mạng cao cả như thế, Chúa cần “cảm tử.” Hai ngàn năm lịch sử Hội Thánh cho ta thấy giai đoạn nào cũng không thiếu cảm tử từ mọi tầng lớp giáo dân. (ĐHY Fx Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng, số 64)

Lạy Chúa, xin cho con luôn biết lắng nghe tiếng Chúa Gọi, và can đảm thực thi Thánh Ý Chúa trong mọi lúc, mọi nơi.

Lạy Mẹ Maria chí ái, xin cầu bầu cho con luôn biết ăn năn, sám hối, biết dứt bỏ những ràng buộc, những cám dỗ thế tục, trở nên người mới, để sẵn sàng nghe theo Ơn Gọi. Amen.

AM Trần Bình An


 

TN3-B54. NHỮNG NGƯ ÔNG CỦA CHÚA


J.B. Nguyễn Quốc Tuấn 

 

Tin Mừng Chúa Nhật III Thường niên B là một trình thuật ấn tượng và biểu mẫu về hành động đáp: TN3-B54


Tin Mừng Chúa Nhật III Thường niên B là một trình thuật ấn tượng và biểu mẫu về hành động đáp trả tiếng Chúa của các môn đệ đầu tiên. Dưới góc độ này, trình thuật Mc 1, 14 – 20 không chỉ dừng lại ở việc diễn tả thái độ cao thượng của những con người bình thường chuyên nghề chài lưới, mà đặc biệt hơn, tiêu điểm chính là sự thông hiệp trọn vẹn của người môn đệ với Đức Kitô trong kỷ nguyên cứu độ.   

1. Những “ngư ông” của Chúa

           Sự xuất hiện của Đức Giêsu trước biển hồ Ga-li-lê như một nguồn sáng thần diệu bất ngờ dọi chiếu vào giữa cuộc sống bình lặng và đơn điệu của những ngư ông.

     “Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy ông Si-mon với người anh là ông An-rê, đang quăng lưới xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá” (Mc 1, 16).

           Giữa khung cảnh đời thường tưởng chừng vô vị ấy, tiếng gọi của Đức Giêsu đã vang lên: “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1, 17). Lời mời gọi của Đức Giêsu có sức lay động và biến đổi hoàn toàn con người những ngư ông. Không hề có một chất vấn, truy xét và mặc cả xảy ra, Si-mon và An-rê đã “lập tức bỏ chài lưới mà theo Người” (Mc 1, 18). Và đối với Gia-cô-bê và Gio-an, chúng ta nhận thấy sự đáp trả càng trọn vẹn và cụ thể hơn: “Các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người” (Mc 1, 20 b).

           Thái độ đáp trả kịp thời, không toan tính cho thấy các môn đệ đầu tiên đích thực là những “ngư ông của Chúa”. Với niềm xác tín triệt để trước lời mời gọi của Đức Giêsu, các ngài đã không cố níu giữ hay tiếc xót niềm vui bình dị trong nghề chài lưới đã trở nên một phần máu thịt của mình. Nhưng các ngài đã dám từ bỏ tất cả những gì có thể vướng víu cho hành trình sứ vụ, ngay cả tình cảm ruột thịt, nhờ đó tập chú hướng tới một mục tiêu cao cả và bền vững, là “trở thành những kẻ lưới người” trong “Triều Đại Thiên Chúa đang đến gần”.

          Những “ngư ông của Chúa” như Si-mon, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an là những con người từng nếm trải gian lao vất vả đời thường, phải vật lộn “giữa ba đào cuồn cuộn nước mênh mông” để có được manh áo, hạt cơm, để có sự sống. Chính “trường đời” ấy đã tôi luyện và giúp các ngài có được kinh nghiệm sinh động, cụ thể và hiệu quả khi bước vào sứ vụ “chài lưới” linh hồn.  

          Đích thực là những “ngư ông của Chúa”, các môn đệ đầu tiên đã kết hiệp trọn vẹn với Thầy mình trong hành trình đau khổ để có thể đạt tới vinh quang tối hậu. 

2. Tiếng gọi giữa biển đời

      Chúa vẫn gọi tôi, gọi bạn trước biển đời đang cuộn chảy với bao ưu tư, khát vọng vì những nhu cầu của cuộc sống. Chúng ta khác nào những ngư phủ phải cực trí nan tâm để có được những thành quả nhằm bảo tồn và phát triển sự sống, phẩm giá, để khẳng định vị thế của mình giữa thời cuộc không ít những con sóng vô hình nhiều lúc khiến ta tưởng chừng đã bị xô ngã giữa vô vọng… Trong bối cảnh ấy, Lời của Đức Kitô lại vang lên mời gọi chúng ta như đã gọi các môn đệ xưa.

          Chúa gọi ta khi ta là những con người rất đỗi bình thường, có vị thế thấp kém trong xã hội, mang thân phận của những “ngư ông” phải một nắng hai sương, vật lộn với bon chen vất vả cuộc sống. Nhưng chính Chúa đã đi bước trước gọi mời và thánh hóa toàn bộ con người và lý tưởng sống của ta để trở nên tông đồ thực thụ của Chúa, dám xả thân vào giữa biển đời, gieo mẻ lưới yêu thương trên những tâm hồn đang khát khao tìm Chúa.

Chúa gọi ta khi ta đang mải miết, bận rộn với bao hoạch định, công việc của gia đình, của cơ quan, đoàn thể… Lời mời gọi của Chúa nhiều khi đặt ta phải đứng trước thách đố lớn để chọn Chúa hay chọn danh lộc phù hoa với những thành quả vật chất đầy hấp dẫn. Trong hoàn cảnh đó, người môn đệ Chúa phải đánh đổi bằng sự hy sinh rất lớn là không toan tính cân nhắc thiệt hơn, nhưng sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì không cần thiết để có thể thuộc trọn về Chúa. 

           Trên con thuyền đời, ta chợt nhận ra tiếng Chúa mời gọi ta hãy sám hối trở về với bến bờ  chân lý và tình yêu đích thực của Tin Mừng. Bởi lẽ, cuộc sống dương thế với ngàn nỗi phức tạp và cam go, người môn đệ Chúa không thể ở trong trạng thái dao động nước đôi, vừa chọn Chúa lại vừa làm tôi cho một hệ tư tưởng hay học thuyết nào đó lạc xa giáo huấn của Tin Mừng.

          Tiếng gọi của Đức Kitô không ngừng âm vọng trong tâm hồn những ai đang ngày đêm dấn thân phục vụ rao truyền “sự sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15b). Họ như những “ngư ông của Chúa” rất mực cần cù, tận tụy, không ngại gian khổ để có thể đem về cho Chúa thật dồi dào, phong phú mẻ lưới thiêng. Mẻ lưới ấy là kết tinh của tinh thần tử bỏ triệt để và niềm tin yêu nơi Chúa là Đấng đã yêu thương mời gọi tất cả chúng ta thông dự vào chương trình cứu độ của Người. 

          3. “Bỏ chài lưới mà theo Người…” 

          Nghe tiếng gọi của Đức Giêsu, các môn đệ đầu tiên đã không đặt ra bất cứ điều kiện nào, nhưng đã đáp trả cách triệt để nhất bằng cách “bỏ chài lưới” và người thân yêu để bước đi theo Chúa. Trước tiếng gọi của Chúa, chúng ta đáp trả với thái độ nào ? Thực sự, đây là một câu hỏi không dễ trả lời cho người Kitô hữu trong thời đại hôm nay.

          Những “ngư ông của Chúa” không thể đổ lỗi hoàn toàn cho bối cảnh sống của xã hội hiện đại đã tạo ra khó khăn thách thức đối với việc chọn lựa lý tưởng sống Tin Mừng. Nhưng lý do căn yếu hệ tại ở ngay chính mỗi người chúng ta, đã đáp trả tiếng Chúa cách triệt để chưa, và đã thực sự trở về với Tin Mừng trong lối nghĩ, cách sống và thái độ phục vụ của mình ? !

          Các môn đệ đầu tiên đã “bỏ chài lưới mà theo Người”, để có thể thuộc trọn về Chúa trong mọi biến cố của đời sống. Những “ngư ông của Chúa” hôm nay biết thành tâm sám hối để có thể thanh tẩy những con sóng dữ tham sân si ra khỏi tâm hồn mình. Nhờ vậy, chúng ta mới dễ dàng nhận ra Chúa và lắng nghe lời Người cách trọn hảo nhất.

           Đối với người Kitô hữu, “bỏ chài lưới mà đi theo Người”, hệ tại ở việc ưu tiên phục vụ Chúa và tha nhân trên hết mọi hoạt động thường nhật khác. Bao lâu chúng ta còn quá vướng bận với những nhu cầu, công việc chỉ nhằm phục vụ cho việc thăng tiến bản thân, lúc đó, những sợi dây của chiếc lưới vô hình vẫn buộc chặt ta trong nhãn quan cố hữu, không còn tự do để vươn tới Thiên Chúa và tha nhân.

          “Bỏ chài lưới mà đi theo người”, là thái độ tín thác tuyệt đối nơi tình yêu Chúa. Chỉ khi chúng ta ý thức và nhận chân triệt để vai trò quyết định của Chúa trên đời ta, thì ánh sáng của Đức Kitô mới chiếu giãi vào tận thâm sâu của tâm hồn ta, ở đó, ta bắt gặp và kết hiệp trọn vẹn với chính Chúa là Đấng yêu thương mời gọi ta làm môn đệ của Người.

          Thật ý nghĩa, trình thuật Tin Mừng Chúa Nhật III Thường niên B nhằm vào ngày cuối cùng của năm Tân Mão. Hiệp tâm tình với các môn đệ đầu tiên, chúng ta hãy dâng lời cám tạ Chúa đã yêu thương ban muôn hồng ân và mời gọi ta đồng hành với Người để phục vụ anh chị em trong suốt năm qua. Đặc biệt, chúng ta cũng hết lòng cám tạ Chúa, vì giữa bao tân toan, lắng lo, vất vả của phận người, Chúa vẫn luôn đi bước trước để dẫn đưa ta cập bến bờ Mùa Xuân Hạnh Phúc.

 J.B. Nguyễn Quốc Tuấn


 

TN3-B55. HÃY THEO TÔI


Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

Mc 1, 14-20

 

Ơn gọi là một huyền nhiệm, là một mầu nhiệm cao quí của con người, đặc biệt là của mỗi Kitô: TN3-B55


Ơn gọi là một huyền nhiệm, là một mầu nhiệm cao quí của con người, đặc biệt là của mỗi Kitô hữu chúng ta. Muốn theo ai, muốn giúp ai, chúng ta phải biết họ là ai, phải biết họ đang cần ta cái gì ? Hôm nay, Tin Mừng và hai bài đọc Chúa nhật III thường niên, năm B trình bày cho chúng ta hiểu về ơn gọi của bốn môn đệ tiên khởi đã nghe tiếng gọi của Chúa Giêsu, họ đã can đảm, mạnh dạn để đi theo chân Chúa.

Thực tế, ơn gọi của các môn đệ đầu tiên khi bị Chúa Giêsu thuyết phục vẫn là ơn gọi của mỗi người chúng ta ở muôn thời. Chúa Giêsu khai mạc sứ vụ công khai của Ngài,và Ngài muốn có nhiều người cộng tác vào sứ mạng cứu thế của Ngài. Do đó, Ngài đã kêu mời một số người đầu tiên đi theo Ngài để nghe, học hỏi và nhìn xem công việc của Ngài làm. Sau đó, các môn đệ sẽ tiếp tục công trình cứu độ của Ngài.Trong đời sống thường nhật của chúng ta, Chúa đang có mặt như Chúa đã đi qua bờ hồ Galilêa và thấy bốn môn đệ là Anrê, Simon đang quăng lưới dưới biển và Giacôbê, Gioan đang vá lưới trong thuyền ( Mc 1, 19 ). Chúa mời gọi họ, họ bỏ mọi sự mà theo Chúa. Chúa cũng đang kêu mời chúng ta vì Chúa thấy chúng ta, Chúa chấp nhận mỗi người chúng ta, đón nhận cả khả năng,thành toàn của mỗi người, nhưng Ngài đón nhận cả những yếu đuối, tội lỗi, bất toàn của chúng ta.

Vâng, cuộc đời của mỗi người chúng ta, mỗi Kitô hữu chúng ta cứ tưởng mình đã ổn định, cứ lầm mình đã hoàn hảo thành toàn, nhưng chính lúc chúng ta đang miệt mài sống với những ước mơ, sống với của cải, danh vọng đã đạt được, đã có được thì chính lúc đó tiếng Chúa vang vọng, mạnh mẽ và hết sức dõng dạc, dứt khoát:” Hãy theo Tôi ! “.

Chúa mời gọi chúng ta theo chân Ngài để Ngài làm cho chúng ta trở thành những kẻ chài lưới người. Chúa không mời chúng ta đi theo một trào lưu tư tưởng, một ý thức hệ nào đó. Chúa mời gọi chúng ta đi theo Ngài để trở nên những kẻ chài lưới lành nghề, chài lưới người nghĩa là trở nên những môn đệ, những nhà tông đồ đích thực của Chúa. Chúa mời gọi chúng ta phải dứt khoát, bỏ lại tất cả để đến gặp Ngài, nhận ra chỗ Ngài và ở lại với Ngài. Bốn môn đệ và các môn đệ khác cũng một mực, dứt bỏ mọi sự mà theo Chúa. Simon đã bỏ lại vợ, con của mình.Giacôbê và Gioan đã bỏ lại Cha già để dứt khoát theo Chúa. Họ đã bỏ lại sự nghiệp, biển khơi và tất cả để theo một con người là Đức Giêsu Kitô.

Chúa cũng đang mời gọi chúng ta. Chỉ có một điều duy nhất Chúa không thể làm được cho ta nếu chúng ta không mở lòng ra để đón nhận Ngài. Bài Tin Mừng hôm nay hướng dẫn cho chúng ta biết cách thức mở lòng ra để cho Chúa bước vào và sẵn sàng phải bước theo con đường hẹp như các tông đố khi xưa đã bước. Nếu chúng ta quyết tâm như các môn đệ xưa thì Chúa cũng giúp chúng ta mọi điều như Ngài đã làm cho các môn đệ xưa. Chúa sẽ biến chúng ta trở nên những tông đồ và biến đổi đời chúng ta thành những chứng nhân vượt quá niềm mong ước của mỗi người chúng ta.

Để hiểu rõ con người của Chúa Giêsu, chúng ta hãy đọc lời này của Edward Farrell trong “ Surprised by spirit “:” Người đang đi dọc bờ biển lung linh sáng, Người là ai, trông sáng ngời kinh khiếp, đang nhìn chúng tôi bằng đôi mắt mòn mỏi, đôi mắt như tìm kiếm chính linh hồn chúng tôi ?

Người là ai mà thấy được tư tưởng, đọc được tâm hồn sâu kín của chúng tôi bằng ánh mắt yêu thương, thông suốt, như muốn nói rằng: Ta chẳng muốn gì cả ngoài bản thân của bạn “.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con, để chúng con mạnh dạn bước theo Ngài khi Ngài mời gọi chúng con. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

Ơn gọi là gì ?
Anrê, Simon và Gioan, Giacôbê đã đáp lại lời mời gọi của Chúa thế nào ?
Chúng ta có được mời gọi theo Chúa hay không ?
Công trình cứu độ của Chúa là gì ?
Ngài có cần chúng ta tiếp nối sứ mạng cứu thế của Ngài ?


 

TN3-B56. Chúa Giê-su khời đầu sứ vụ


Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 1:14-20)

 

Tin Mừng theo thánh Mác-cô có một đặc điểm là giới thiệu con người Chúa Giê-su Ki-tô (1:1): TN3-B56


          Tin Mừng theo thánh Mác-cô có một đặc điểm là giới thiệu con người Chúa Giê-su Ki-tô (1:1) và đề tài rao giảng của Người (1:15).  Mùa Thường niên chu kỳ năm B là thời gian trình bày lời giảng và việc làm của Chúa Giê-su theo Tin Mừng Mác-cô.  Bài Tin Mừng tuần trước đã thuật lại câu chuyện hai môn đệ ông Gio-an Tẩy Giả đã đi theo Chúa Giê-su để khám phá chân tính của Người.  Còn bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu hai công tác chính của Chúa Giê-su khi Người khởi đầu cuộc đời công khai, đó là nội dung sứ vụ rao giảng của Người và việc Người kêu gọi những môn đệ đầu tiên.

          Là Ngôn Sứ của Thiên Chúa, Chúa Giê-su sẽ rao giảng như Đấng có thẩm quyền (Mác-cô 1:27).  Người nói cho chúng ta biết tất cả những điều Thiên Chúa muốn nói “vào thời sau hết này” (Do-thái 1:2).  Vậy trước khi thuật lại sứ vụ của Chúa, thánh sử Mác-cô đã tóm tắt sứ điệp rao giảng của Chúa trong một câu:  “Người nói:  ‘Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’”.  Sứ điệp Tin Mừng ấy Chúa Giê-su sẽ rao giảng và giải thích bằng những lời lẽ đơn sơ hoặc bằng những câu chuyện dụ ngôn thực tế, cộng thêm những phép lạ như các dấu chỉ giúp người ta nhận ra “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.  Sứ điệp có hai phần rõ rệt:  thứ nhất, thời kỳ chờ đợi ơn cứu độ đã hết để mở đầu cho Triều Đại Thiên Chúa;  thứ hai, chúng ta hãy thay đổi não trạng để đón nhận Tin Mừng cứu độ. 

Sám hối là quay lưng lại với quá khứ tội lỗi, trở về với hiện tại để đón nhận Ân Sủng là chính Chúa Ki-tô và theo sự hướng dẫn của Thánh Thần mà hướng về tương lai.  Hai hành vi sám hối và tin vào Tin Mừng gắn liền với nhau, nghĩa là nếu chúng ta không thay đổi não trạng thì chúng ta cũng không thể tiếp nhận Tin Mừng.  Tại sao thế?  Vì lối suy nghĩ và hành động của chúng ta là theo lối của thế gian, trái lại, tiếp nhận Tin Mừng là suy nghĩ và hành động theo đường lối của Chúa.  Tin vào Tin Mừng không thuần túy là lấy lý trí để chấp nhận sự thật của Tin Mừng, nhưng là lấy trái tim để lắng nghe, yêu mến và tuân giữ những điều Chúa dạy.

          Việc thứ hai Chúa Giê-su làm khi khởi đầu sứ vụ, đó là kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên.  Đáp lời Chúa gọi “Các anh hãy theo tôi”, anh em ông An-rê và Si-mon “lập tức bỏ chài lưới mà đi theo Người”.  Còn anh em ông Gia-cô-bê và Gio-an thì “bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công mà đi theo Người”.  Chúa Giê-su đã chủ động kêu gọi họ và họ sẵn sàng bỏ lại những gì trân quý nhất trong đời để đi theo Người.  Đấy là gương mẫu về việc Chúa gọi mỗi người chúng ta lên đường phục vụ Người và anh chị em.  Trở lại với câu chuyện Chúa Nhật trước thánh sử Gio-an nói về hai ông An-rê và Gio-an đi theo Chúa Giê-su về chỗ Người ở, chúng ta không lạ khi thấy hôm nay cả bốn người đều mau mắn đáp lời kêu gọi của Chúa, bởi họ đã có dip tìm hiểu về Người hoặc được giới thiệu nên sẵn sàng khi Người gọi họ.

Sống sứ điệp Tin Mừng

          Triều Đại Thiên Chúa nhiều khi vẫn còn là những danh từ xa lạ đối với nhiều người chúng ta.  Chúng ta đang sống trong triều đại ấy, tức là đang sống trong thời gian Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử nhân loại để cứu độ chúng ta.  Như vậy Triều Đại Thiên Chúa cũng chính là thời cánh chung, hoặc thời sau hết để định đoạt số phận đời đời của chúng ta.  Số phận ấy tùy thuộc vào lối sống mới của chúng ta.  Chúa Giê-su đã cho chúng ta được làm con cái Thiên Chúa và sống theo Thánh Thần của Người.  Đó là lối sống của những người thuộc Triều Đại Thiên Chúa.  Nhưng liệu chúng ta có luôn tự hỏi mình:  Tôi đang sống trong Triều Đại Thiên Chúa hay vẫn còn níu kéo lối sống của “triều đại ma quỷ và tội lỗi”?

          Như Chúa Giê-su đã gọi bốn môn đệ đầu tiên, Người tiếp tục gọi chúng ta làm môn đệ Người mỗi ngày.  “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá hằng ngày mà theo” (Lu-ca 9:23).  Bước đường làm môn đệ Chúa sẽ liên tục biến đổi con người chúng ta trong lốí sống của mình, suy nghĩ giống như Chúa Giê-su, hành động giống như Người, phản ứng giống như Người, để chúng ta “nên đồng hình đồng dạng với Người”.

         Lm Đa-minh Trần đình Nhi      


 

TN3-B57. Chúa Nhật 3 Thường niên, B


2009

 

Sau lễ nhận chức của tổng thống, dân chúng Hoa-kỳ đang chờ đợi những thay đổi ông đã hứa: TN3-B57


          Sau lễ nhận chức của tổng thống, dân chúng Hoa-kỳ đang chờ đợi những thay đổi ông đã hứa khi tranh cử.  Thay đổi để có tương lai tốt đẹp hơn về mọi phương diện.  Khi bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su không hứa hẹn những thay đổi, nhưng Người kêu gọi dân chúng phải thực hiện sự thay đổi nơi chính họ trước.  Hãy sám hối, hãy thay đổi chính mình, đó là đề tài của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

1.  Sứ điệp sám hối của ngôn sứ Giô-na đã được dân thành Ni-ni-vê tiếp nhận   (bài đọc Cựu Ước – Gn 3:1-5.10)

          Sám hối là hành vi của một cá nhân nhằm thay đổi cuộc sống mình bằng cách quay lưng lại với tội lỗi và những điều xấu xa để hướng mặt về con đường thánh thiện và tốt lành.  Sám hối là đề tài rao giảng của hầu hết các vị ngôn sứ, những người nói thay cho Thiên Chúa, kêu gọi dân Chúa là Ít-ra-en từ bỏ lối sống gian ác tội lỗi mà trở lại con đường công chính.

          Câu truyện ngôn sứ Giô-na rao giảng sám hối cho dân thành Ni-ni-vê kể lại một cuộc thay đổi thật cảm động.  Về phần ngôn sứ Giô-na, ông đã mau mắn thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa.  Sau khi bước ra khỏi bụng cá, ông “đứng dậy và đi Ni-ni-vê như lời Đức Chúa phán”.  Tình trạng tội lỗi của dân thành Ni-ni-vê như thế nào ta không rõ.  Nhưng theo lời Chúa nói với Giô-na, thì Ni-ni-vê là “thành phố lớn, trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không phân biệt được bên phải với bên trái, và lại có rất nhiều thú vật” (Gn 4:11).  Nói khác đi, dân Ni-ni-vê là những người đang sống trong tình trạng “không phân biệt được bên phải với bên trái”, nghĩa là đời sống luân lý chẳng tốt đẹp gì.  Đến như bên phải bên trái mà còn không phân biệt được thì làm sao phân biệt được điều tốt với điều xấu.  Như vậy, họ sống theo bản năng không khác gì thú vật.  Có lẽ vì thế mà Chúa đã nói thêm “và lại có rất nhiều thú vật” bên cạnh họ!

Tuy nhiên điểm tuyệt vời của câu truyện là lời giảng của Giô-na đã mang lại kết quả kỳ diệu.  Thành phố rộng lớn, phải mất ít nhất ba ngày đường mới đi ngang qua từ đông sang tây.  Đúng ra Giô-na phải đi ba ngày mới có thể đem sứ điệp của Chúa đến cho mọi người.  Thế mà ông mới đi một ngày đường để kêu gọi sám hối, thì từ vua quan, thứ dân, người lớn, trẻ nhỏ cho tới cả súc vật, đã đón nhận sứ điệp và thực hành sám hối.  Sám hối không chỉ có tính cách cá nhân, nhưng là cộng đồng.  Ni-ni-vê là một cộng đồng sám hối.  Ở đây sám hối nói lên cả chiều kích xã hội, là điều cần thiết cho mọi thời mọi nơi.  Thiên Chúa là đích điểm mọi sự phải hướng tới và sám hối là hành trình con người quay trở về với Thiên Chúa.  Còn điểm khởi hành cho hành trình sám hối là “từ bỏ con đường gian ác”.  Sứ điệp rao giảng của Giô-na đã đưa người dân thành Ni-ni-vê vào cuộc hành trình khởi đi từ việc bỏ đường gian ác mà trở lại với Thiên Chúa.  Họ bày tỏ lòng tin vào Thiên Chúa bằng cách “ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ”.

Ta có thể nói câu truyện dân thành Ni-ni-vê trở lại với Thiên Chúa là mẫu gương sám hối cho những cộng đồng hoặc xã hội con người.  Ngày nay, kêu gọi cả một quốc gia hoặc một tập thể sám hối không phải là điều quá đáng, nhưng là điều những vị lãnh đạo có bổn phận phải làm. Họ là những Giô-na của thời đại.  Như thế, những thông điệp của Giáo Hội, những thư mục vụ của các giám mục, những chương trình của giáo xứ… có nói đến việc kêu gọi thống hối, thì cũng là lập lại sứ điệp mà ngôn sứ Giô-na đã công bố hơn hai ngàn năm trước đây.  Sám hối là điều cần thiết, gắn liền với thân phận con người.  Do hậu quả của tội nguyên tổ và dưới ảnh hưởng của tội lỗi cá nhân cũng như xã hội, ta dễ dàng bị lôi kéo mỗi ngày một xa và đối nghịch với Chúa.  Do đó, việc quay trở về với Chúa là điều ta phải thực hành từng giây phút trong cuộc sống.  Thái độ mau mắn sám hối của dân Ni-ni-vê cũng là tấm gương cho ta noi theo.

2.  Khởi từ sám hối đến tin vào Tin Mừng của Chúa Giê-su      (bài Tin Mừng – Mc 1:14-20)

          Ông Gio-an Tẩy giả đã phải chấm dứt việc rao giảng sám hối khi ông bị bắt và nộp cho vua Hê-rốt.  Nhưng sứ điệp của ông đã được tiếp nối do tác vụ rao giảng của Chúa Giê-su.  Ông Gio-an kêu gọi người ta sám hối để tiếp nhận “Đấng đến sau tôi nhưng quyền thế hơn tôi”, thì giờ đây Chúa Giê-su đến sau ông, kêu gọi người ta sám hối để có thể tiếp nhận và tin vào Tin Mừng.  Quả thực có sự tiếp nối hết sức nhịp nhàng và ý nghĩa giữa sứ mệnh tiền hô của Gio-an và sứ mệnh cứu thế của Chúa Giê-su.  Khi mời gọi người ta chuẩn bị tiếp nhận Đấng đến sau ngài, Gio-an không chỉ có ý nói về một người, nhưng nói về cả một triều đại mà vị ấy thiết lập, là triều đại của ân sủng, chân lý, tình yêu Thiên Chúa và cứu độ.  Vì thế, Chúa Giê-su đã khẳng định rõ ràng điều Gio-an muốn nói.  “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”.  Đúng vậy, thời kỳ đã mãn là thời kỳ chờ đợi ơn cứu độ, thời kỳ “không phân biệt được bên phải với bên trái” đã kết thúc, vì Đấng dạy bảo chân lý và đường nẻo của Thiên Chúa đã đến rồi (Tv 24:4-5ab).  Theo ý nghĩa kế hoạch cứu độ, Triều Đại Thiên Chúa là thời gian để Thiên Chúa ban ân sủng cho nhân loại bằng cách sai Con Một Người đến với họ, chỉ bảo dạy dỗ và dẫn dắt họ về quê hương vĩnh cửu.  Đối với nhân loại, Triều Đại Thiên Chúa là thời gian để họ được làm con cái Thiên Chúa nhờ Đức Ki-tô, được sống đời sống mới trong Thánh Thần, để sau khi chu toàn bổn phận ở trần thế, họ sẽ được sống lại với Đức Ki-tô trong ngày Người lại đến và được hưởng phần gia nghiệp muôn đời.

          Vậy nếu Triều Đại Thiên Chúa đã khai mở thì ta phải làm gì?  Đó chính là nội dung sứ vụ rao giảng của Chúa Giê-su:  hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.  Hai điều này không thể tách rời, nhưng đi liền với nhau.  Ta không thể tin vào Tin Mừng nếu ta không sám hối.  Sám hối là việc quay chiều cần thiết, đòi ta phải quay lưng với những gì là tội lỗi xấu xa và đi ngược lại với Thiên Chúa.  Ta không thể đi “giật lùi” đưa lưng lại để đến với Thiên Chúa, cũng không thể tiếp nhận Tin Mừng Chúa Ki-tô ở phía đằng sau mà là trước mặt.  Sám hối đích thực sẽ mở cánh cửa tâm hồn ta để cho Tin Mừng đến với ta.  Sám hối sẽ dọn sạch sẽ căn phòng trái tim ta để Tin Mừng có chỗ “ở lại” với ta và biến đổi con người của ta nên giống với con người Ki-tô.

          Đoạn Tin Mừng hôm nay không chỉ nói đến sứ điệp mở đầu của Chúa Giê-su kêu gọi hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, nhưng còn cho ta những thí dụ cụ thể về sám hối và tin vào Tin Mừng, đó là các môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-su.  Quả thực họ là những người đã nghe và đáp lời kêu gọi sám hối và tin vào Tin Mừng.  Họ là các ông Si-môn, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an.  Ta thấy rõ cuộc thay đổi của họ, sám hối bằng cách thay đổi cuộc sống từ kẻ lưới cá thành kẻ lưới người.  Họ bắt đầu hành trình tin vào Chúa Giê-su và Tin Mừng của Người.  Dĩ nhiên hành trình làm môn đệ này sẽ kéo dài cả một đời và đòi họ phải trả một giá đắt, bỏ lại mọi sự kể cả mạng sống mình.  Họ sẵn sàng để cho Chúa và Tin Mừng thay đổi họ dần dần, từ kẻ lưới cá biến thành kẻ lưới linh hồn người ta.  Họ bước theo Chúa trước mặt và phấn đấu không nhìn lại sau lưng để hối tiếc những gì họ bỏ lại.  Càng quyết tâm sám hối, tức là quay lưng lại với những quyến rũ trần gian, họ càng tin vào Đấng đã kêu gọi họ làm môn đệ.

          Con đường sám hối và tin vào Tin Mừng ấy cũng là con đường mọi Ki-tô hữu phải đi.  Ta hết thảy được Chúa Giê-su gọi làm môn đệ Người.  Ta nghe cùng một mệnh lệnh Người đã truyền cho các môn đệ tiên khởi:  “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8:34).  Nhưng liệu ta có sẵn sàng đáp lời và đi theo Chúa như các môn đệ ấy không?

3.  Một thí dụ cụ thể sống sứ điệp sám hối  (bài đọc Tân Ước – 1 Cr 7:29-31)

          Có lẽ ta nghĩ bài đọc trích đoạn thư của thánh Phao-lô chẳng ăn nhập gì với đề tài sám hối và tin vào Tin Mừng.  Nhưng thực ra, đây là một đề nghị rất điển hình hàm chứa đầy tinh thần sám hối.  Điều sai lầm ta khó nhận ra được, đó là ta sống mà không màng gì tới chân lý “bộ mặt thế gian này đang biến đi”.  Cuộc sống trần gian của ta cũng biến đi dần dần và ta mỗi ngày một tiến gần đến chân trời của phán xét, của chung cuộc, của ngày Đức Ki-tô trở lại.  Vì không màng tới hoặc bất cần những gì sẽ tới từ chân trời ấy nên nhiều người sống theo chủ thuyết duy vật hoặc “hiện sinh” để sống vội, sống ích kỷ cho mình, sống bi quan vì cuộc đời là buồn nôn và tha nhân là hỏa ngục.  Đối với những người sống không có “trời mới, đất mới” như thế, thánh Phao-lô có lời khuyên họ hãy sám hối, hãy thay đổi lối sống. 

          Trước hết ngài mời gọi ta hãy nhìn vào hiện tại, hiểu ý nghĩa đích thực của hiện tại.  Hiện tại là cuộc sống trên đời, với những gì ta đang có hoặc đang cảm nghiệm.  Nhưng tất cả những gì ấy không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện và đều có thể giúp ta tiến gần đến trời mới đất mới, tức là tiến gần đến quê hương vĩnh cửu.  Dĩ nhiên ta không thể hiểu theo nghĩa đen rằng thánh Phao-lô bảo ta làm những điều vô lý như phải khóc mà lại đừng khóc, phải vui mà lại đừng vui, đang khi vợ ở bên cạnh mà lại sống như không có!  Nhưng ngài muốn nói lên chân lý về những thực tại trần thế như sau. 

Khoảng thời gian giữa hiện tại và ngày Chúa quang lâm là thời gian ngắn ngủi, cho nên ta phải hiểu đúng đắn về giá trị của những thực tại trần thế như tình cảm, của cải tiền bạc, những vui buồn trong cuộc đời.  Không phải thánh Phao-lô kêu gọi ta sống hờ hững với những thực tại trần thế, nhưng ngài khuyên ta phải cảnh giác, ý thức rằng giá trị của chúng chỉ tương đối, và tránh hưởng thụ đến độ sa lầy trong đó, đang khi những thực tại căn bản nằm trong những giá trị và lối sống theo Tin Mừng Chúa Ki-tô.  Của cải tiền bạc cần thiết cho cuộc sống.  Nhưng nếu chỉ sống vì của cải tiền bạc, đến độ không cần biết đến người khác, thì đúng là đã lấy cái tương đối làm tuyệt đối rồi.  Do đó, ta cần phải sám hối, thay đổi não trạng (metanoia), sắp đặt lại đúng thứ tự những bậc thang giá trị, để “trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho” (Mt 6:33).

4.  Sống Lời Chúa

          Cuộc thay đổi nào cũng đòi hỏi ta phải chấp nhận một giá đắt.  Muốn thay đổi lối sống không tốt đẹp của ta để tiếp nhận Chúa Ki-tô và Tin Mừng của Người, ta phải dứt khoát quay lưng lại tội lỗi để sẵn sàng sống theo khuôn vàng thước ngọc của Tin Mừng Chúa Ki-tô.  Hành trình sám hối và làm môn đệ Chúa Ki-tô phải được thực hiện liên tục suốt cuộc đời của ta.  Biến đổi không xảy ra trong một sáng một chiều, nhưng dần dần và nhờ sức mạnh của Thánh Thần và mối quan hệ khắng khít giữa ta với Chúa Ki-tô.  Điều quan trọng là ta có luôn hướng về Chúa Ki-tô và sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi của Người:  Hãy đi theo Ta (Mc 1:17).

Suy nghĩ:  Trong cuộc sống hằng ngày, tôi có nghe tiếng gọi của Chúa Giê-su:  “Hãy đi theo Ta” không?  Tôi đã trả lời Người như thế nào?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa cho kẻ lầm lạc thấy ánh sáng chân lý của Chúa để họ được trở về nẻo chính đường ngay;  xin ban cho những người xưng mình là Ki-tô hữu biết tránh mọi điều bất xứng và theo đuổi những gì thích hợp với danh nghĩa của mình.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật 15 Thường niên).

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

TN3-B58. CHÚA NHẬT 3 QUANH NĂM


 Thánh ca và lời nguyện mở đầu

 Kinh Thánh:      1 Cô-rin-tô 7: 29-31

 

Bài đọc hôm nay trích từ những lời thảo luận của thánh Phao-lô về đời sống hôn nhân và độc: TN3-B58


          Bài đọc hôm nay trích từ những lời thảo luận của thánh Phao-lô về đời sống hôn nhân và độc thân mà tín hữu Cô-rin-tô đã viết thư hỏi ngài (7:1). Không rõ họ đã viết những gì cho ngài, nhưng hình như trong cộng đoàn có một nhóm người sống khổ hạnh đã chủ trương rằng: khi trở lại đạo, không chỉ những người sống một mình (độc thân, mới đính hôn, góa chồng) mà cả những cặp vợ chồng nữa (cả hai đều là Ki-tô hữu, hoặc một người là Ki-tô hữu và một người là ngoại đạo), cũng không được gần gũi nhau. Để trả lời, Phao-lô đưa ra nguyên tắc chung: mỗi người nên giữ thân phận đang sống lúc được Chúa gọi vào đạo (7:17-24). Nếu lúc trở nên Ki-tô hữu bạn đang sống trong bậc hôn nhân, thì cứ tiếp tục sống bậc hôn nhân; nếu đang độc thân thì cứ ở vậy, nhưng nếu có lập gia đình thì cũng không có gì là xấu cả. Cuộc giao lưu giữa văn hóa Hy-lạp và đức tin Ki-tô giáo trong thời điểm ấy đã nảy sinh không biết bao nhiêu vấn đề. Thánh Phao-lô sau khi đưa ra nguyên tắc chung là hôn nhân và độc thân cả hai đều tốt và bổ sung cho nhau, đã không quên đề cập tới một yếu tố quan trọng áp dụng cho mọi bậc sống, đó là Ki-tô hữu phải có não trạng nào đối với những giá trị của cuộc sống.

 a) Não trạng về thời gian

          Điểm gây chú ý trong bài đọc là thánh Phao-lô mở đầu và kết thúc lời khuyên bằng cách nêu lên ý niệm về thời gian: "Thời gian chẳng còn bao lâu," và "Bộ mặt thế gian này đang biến đi." Với hai hình ảnh này về thời gian, ngài muốn nhấn mạnh rằng khoảng thời gian giữa lúc chúng ta đang sống đây và ngày giờ Đức Ki-tô quang lâm thật là ngắn ngủi. Do đó, chúng ta không thể sống bám chặt lấy những thực tại trần thế và coi đó là cùng đích, nhưng trái lại, cần phải cảnh giác nhận định giá trị tương đối của thực tại ấy và làm như phương tiện để giúp chúng ta đạt tới giá trị tuyệt đối là chính Thiên Chúa.

          Thời gian là một đặc tính nói lên giá trị. Cuộc sống tạm đời này so với cuộc sống vĩnh cửu chỉ có giá trị tương đối vì thời gian của nó ngắn ngủi và thay đổi. Sự sống đời này là phương tiện để tiến tới sự sống vĩnh cửu, chuẩn bị cho sự sống mai sau.

 b)Não trạng Ki-tô hữu về thời gian nói lên hai chân lý:

          - Sự ngắn ngủi của cuộc sống: khi khẳng định "thời gian chẳng còn bao lâu," thánh Phao-lô hiểu thời gian này là lúc Đức Ki-tô quang lâm. Dù việc Chúa quang lâm có thể không xảy ra lúc chúng ta còn đang sống, nhưng giờ chết của chúng ta chắc chắn sẽ đến và ngày ấy chúng ta sẽ phải đứng trước tòa phán xét của Đức Ki-tô. Ý thức sự ngắn ngủi của cuộc sống có thể ảnh hưởng đến lối sống. Nếu chỉ là "chơi xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng sộc nó thì theo sau!" thì đúng là mới nhận ra thời gian ngắn ngủi của mình thôi mà quên rằng ngay sau đó là thời gian của Chúa, thời gian Người phán xét chúng ta. Não trạng của nhiều người hôm nay là não trạng hiện sinh, hưởng thụ, vịn vào lý do thời giờ ngắn ngủi để hô hào cho lối sống trác táng và vô luân.

          - Tính cách tạm bợ của cuộc sống: "Bộ mặt thế gian này đang biến đi." Nêu lên một số sinh hoạt cơ bản của con người, thánh Phao-lô đã diễn tả thế nào là "bộ mặt thế gian," thế nào là cuộc đời. Cuộc sống có những lúc vui vẻ hạnh phúc, những khi ngậm đắng nuốt cay, những ngày huy hoàng tiền bạc, tha hồ mua sắm, hưởng thụ, rồi những ngày kinh tế tuột dốc hoặc thất nghiệp dài dài, phải bán xe, để cho nhà băng xiết nhà. Đúng là bộ mặt thế gian này đang biến đi, lui dần vào dĩ vãng. Bạn bè cùng học ngày xưa, sau khi ra trường mấy năm còn lại mấy người? Các hội cựu học sinh không đủ khả năng ràng buộc họ với nhau..., cùng lắm chỉ còn là một hội để các trường học kiếm tiền tài trợ cho trường!

          Điểm quan trọng tuy thánh Phao-lô không nói ra nhưng muốn chúng ta phải nghĩ tới, đó là nếu bộ mặt thế gian này đang biến đi thì sẽ còn lại cái gì? Tất cả thế giới của tôi đi dần vào dĩ vãng, nhưng sẽ đưa tôi tiến đến mỗi ngày một gần hơn cái gì trước mặt? Sa lầy trong những vật chất tạm bợ, hay là tâm hồn nhẹ nhàng thanh thoát? Đến gần Chúa Ki-tô và anh chị em, hay là cứ để mình bị giam hãm trong cái tôi ích kỷ? Tóm lại, chúng ta cần phải nhận ra những gì có giá trị tuyệt đối và vĩnh cửu, tức là sự sống đời đời với Thiên Chúa. Chúng ta phải đặt lại vấn đề về ý nghĩa cuộc đời: sống là Chúa Ki-tô.

 c)Vậy phải sống thế nào với não trạng Ki-tô về thực tại trần thế?

          Thoạt mới đọc lời khuyên của thánh Phao-lô: "hãy sống như... hãy làm như..." chúng ta dễ hiểu lầm ngài muốn nói đến một cách sống giả vờ. Cô vợ kè kè bên cạnh mà lại bảo như không có! Nước mắt nước mũi đẫm cả mặt mà lại nói là không khóc! Cái xe Lexus đậu chình ình trước nhà để cho thiên hạ lé mắt và mình ngồi êm ru mà lại bảo là không hưởng! Thế là chúng ta hiểu sai ý của Phao-lô rồi. Ngài không chối bỏ những thực tại trần thế. Nhưng ngài bảo: ngoài những thực tại ấy, chúng ta đừng quên những thực tại khác, có giá trị cao hơn hoặc tuyệt đối. "Như không có, như không hưởng" có nghĩa đây không phải là cùng đích, không phải là vĩnh cửu, mà chỉ là những trang bị cuộc đời để giúp chúng ta trở về với Đấng Tạo dựng. Trái lại, sống "như là có vĩnh viễn, như là hưởng hoài không bao giờ mất" mới thực sự là sống giả vờ, vì mình đã biết rõ dù đến tóc bạc răng long thì vợ mình cũng phải lìa trần, chuyện buồn rồi cũng qua đi, cái xe cái nhà cũng cũ mèm...! Đừng lẫn lộn phương tiện với cứu cánh.

          Não trạng Ki-tô về thực tại trần thế đã thay đổi lối sống của biết bao người. Có người đã để lại kinh nghiệm về sắp đặt lại bậc thang giá trị cuộc đời mình, loại bỏ đi "những quyến luyến lệch lạc", thí dụ như thánh I-Nhã thành Loyola. Có người đã nhận ra ưu tiên nhu cầu giúp đỡ những người nghèo khổ nhất và đã hy sinh cuộc đời mình để phục vụ tha nhân, như Mẹ Tê-rê-xa. Còn rất nhiều không sao kể hết. Nhưng còn tôi
?
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

          Đặt lại ý nghĩa cuộc đời có phải là một câu hỏi để tôi hồi tâm mỗi ngày không? Tôi có luôn luôn hỏi đời mình có ý nghĩa gì không? Những gì giúp tôi thấy là có ý nghĩa, hoặc những gì khiến tôi thấy là đời vô nghĩa?
          "Những quyến luyến lệch lạc" nào làm cho tôi không nhận ra được giá trị vĩnh cửu của đức tin? của đời sống thiêng liêng? của phục vụ và bác ái?
          Thánh Phao-lô nói: "Vậy từ nay..." Khi nào mới là "từ nay..." đối với tôi? Còn quá sớm hay bắt đầu muộn rồi? Tôi có kế hoạch gì để thay đổi não trạng và lối sống?

Cầu nguyện kết thúc

          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:

"Lạy Chúa, xin dạy con vững bước trong đêm trăng mờ ảo hay ngày sáng rạng ngời.

Xin dạy con nhìn phía trước, đừng lầm lẫn những gì của ngày mai với hôm qua.

Xin dạy con cùng Ngài làm nên ngày mới, đừng tích tụ hoa tàn nhụy rữa bên lối cũ đường xưa.

Xin dạy con mở toang những vách ngăn thành cánh cổng của một lộ trình mới."

(ĐHY Roger Etchegaray, trích trong RABBOUNI, lời nguyện 75)

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

TN3-B59. NHỮNG NGƯ PHỦ CHÀI NGƯỜI

 

Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galiêa, Người thấy Simon và em là Andrê đang thả lưới xuống: TN3-B59


“Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galiêa, Người thấy Simon và em là Andrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người. Đi xa hơn một chút nữa, Người thấy Giacôbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Ngài liền gọi các ông” (Mc 1: 16-20).

Cũng như trong thế giới hiện tại, thế giới siêu nhiên cũng có nhiều ngành nghề - ơn gọi - khác nhau. Riêng trong lần tuyển mộ những cộng tác viên này, Chúa Giêsu đã chuyển đổi nghề chài lưới bình thường của Simon, Andrê, Giacôbê và Gioan thành nghề “chài người” trong thế giới siêu nhiên.

Cũng trong Thánh Kinh, chúng ta đọc thấy một số khác được Chúa Giêsu dùng hình ảnh vườn nho và những người làm công; hoặc cánh đồng lúa chín vàng và những thợ gặt làm hình ảnh để kêu gọi những ai muốn tham dự vào dự án Cứu Độ mà Ngài đã thực hiện, và còn đang được tiếp nối cho đến ngài thế mạt. Ngài muốn tất chúng ta, tùy vào hoàn cảnh, sở thích, khả năng, tiếp tay phổ biến và loan truyền Tin Mừng Cứu Độ mà Ngài đã từ trời mang xuống. Ngài muốn chúng ta trực tiếp và năng động đối với phần rỗi các linh hồn mà Ngài đã đổ máu đào trên thập giá để cứu chuộc.

Thánh Kinh ghi nhận, sau những chuẩn bị rất tâm lý và kỹ lưỡng, Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài xuống trần. Rồi bằng cách thế nhân loại, Ngài đã từ từ giới thiệu Chúa Con với con người mà lần đầu tiên là được mẹ Ngài mang đến thăm bà dì Isave và người anh họ Gioan lúc đó cũng còn đang trong bụng mẹ. Sau những cuộc gặp gỡ với các mục đồng, ba nhà Đạo Sỹ tại hang bò lừa ở đồng quê Belem, và các tiên tri Simêon và Ana trong Đền Thờ Giêrusalem. Và nhất là sau khi đã trải qua 30 năm ẩn dật, chuẩn bị, giờ đây Tin Mừng cần được rao giảng, và Chúa Giêsu bắt đầu tuyển mộ những cộng tác viên. Nhu cầu tuyển mộ đã được Ngài nói bóng gió: “Mùa màng thì bề bộn, mà thợ thuyền lại ít ỏi” (Mt 9:37).

“Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người” (Mc 1:17). Câu nói mà Chúa Giêsu đã nói với Phêrô, Andrê, Giacôbê, và Gioan, hay câu nói mà Ngài đã nói với mọi người qua miệng ông chủ vườn nho nói với những người thợ mà ông thuê mướn: “Cả các anh nữa, cũng hãy đi làm vườn nho cho ta” (Mt 20:7), Ngài cũng đã nói với triệu triệu người trải qua dòng thời gian, và hôm nay là với bạn và tôi.

Ngày chịu Phép Thánh Tẩy, tất cả chúng ta đều được mời gọi vào với sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Ngày đó, chúng ta được trao cây nến sáng tượng trưng Ánh Sáng Phục Sinh của Chúa Kitô, ánh sáng phá tan bóng đêm sự chết. Đó là sứ mạng chiếu tỏ ánh sáng và rao truyền sự sáng của mỗi chúng ta. Chúng ta cũng đã được xức dầu, và được sai đi trong Thần Khí của Thiên Chúa. Cũng như các Tông Đồ đã lãnh nhận Thần Khí trong ngày lễ Ngũ Tuần, Thần Khí ấy cũng đến và đỗ trên mỗi người chúng ta khi chúng ta chịu Phép Thêm Sức. Và cũng như các Tông Đồ trong Bữa Tiệc Ly đã được rước Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta cũng được tham dự cùng một bàn tiệc ấy khi tham dự Thánh Lễ và khi rước Mình Máu Thánh Chúa.

Tóm