Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-C Bài 51-97

Thứ năm - 14/02/2019 08:23
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-C Bài 51-97: Tám mối phúc thật
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 TN-C Bài 51-97: Tám mối phúc thật
TN 6-C Phần II Bài 51-97: Tám mối phúc thật
TN6-C51. Con người mới - R. Gutzwiller 2
TN6-C52. Chú giải của Fiches Dominicales. 4
TN6-C53. CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN.. 8
TN6-C54. HẠNH PHÚC THẬT. 10
TN6-C55. HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC.. 12
TN6-C56. HẠNH PHÚC & ĐAU KHỔ.. 13
TN6-C57. HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC.. 15
TN6-C58. Giáo Lý Của Tân Ước. 17
TN6-C59. SUY NIỆM CHỦ NHẬT VI THƯỜNG NIÊN 11-2-2001. 23
TN6-C60. NHỮNG MỐI PHÚC ĐÍCH THỰC.. 24
TN6-C61. MỐI PHÚC ĐÍCH THẬT.. 26
TN6-C62.  PHÚC HỌA TẠI TRỜI. 28
TN6-C63.  Chúa Nhật 6 quanh năm.. 30
TN6-C64. CHÚA NHẬT 6 QUANH NĂM... 34
TN6-C65.  GIÁO HỘI BỊ BÁCH HẠI 38
TN6-C66. Phúc Cho Người Nghèo Khó. 40
TN6-C67. Chúa Nhật 6 Thường niên, C.. 43
TN6-C68. Hạnh phúc thật – ViKiNi 45
TN6-C69. NGHÈO KHÓ NHƯNG LẠI GIÀU CÓ TRONG ĐỨC TIN.. 47
TN6-C70: Sẽ được đáp đền – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 48
TN6-C71: Phó thác nơi Thiên Chúa. 51
TN6-C72: Hạnh phúc đích thực. 53
TN6-C73: Giúp đỡ. 63
TN6-C74: Niềm hạnh phúc. 64
TN6-C75: Hạnh phúc. 67
TN6-C76: Người nghèo, có phúc. 69
TN6-C77: Sống tinh thần nghèo để được hạnh phúc. 70
TN6-C78: Được chúc phúc. 72
TN6-C79: Hạnh phúc. 73
TN6-C80: Mối phúc thật 75
TN6-C81: Mối phúc thật 76
TN6-C82: BÀI ĐỌC THÊM. 77
TN6-C83: Nghèo khó. 79
TN6-C84: Tám mối phúc. 81
TN6-C85: Những Hạnh Phúc Bất Tiện – GF. 82
TN6-C86: Hạnh phúc. 83
TN6-C87: PHÚC CHO ANH EM LÀ NHỮNG KẺ NGHÈO KHÓ.. 86
TN6-C88: HẠNH PHÚC THẬT.. 92
TN6-C89: Chúa muốn chúng ta là những người có phúc. 94
TN6-C90: Bài giảng các Mối phúc. 97
TN6-C91: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 6 TN C.. 98
TN6-C92: CHÚC LÀNH VÀ CHÚC DỮ.. 102
TN6-C93: Suy niệm chú giải Lời Chúa - Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 105
TN6-C94: PHÚC HỌA HỆ TẠI Ở VIỆC TRAO BAN.. 111
TN6-C95: PHÚC VÀ KHỐN.. 114
TN6-C96: Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, 116
TN6-C97: Phần thưởng anh em sẽ bội hậu trên trời  ( Lc 6, 26 ) 120

 

TN6-C51. Con người mới - R. Gutzwiller

Tinh thần mới, nội tâm quan trọng hơn là chức bậc, phẩm trật và hơn cả hình thức tổ chức bề: TN6-C51

Tinh thần mới, nội tâm quan trọng hơn là chức bậc, phẩm trật và hơn cả hình thức tổ chức bề ngoài. Tinh thần ấy được phác hoạ trong bài giảng trên núi, Thánh Luca viết cho những người ngoại giáo, không phải cho những người Do thái. Chính vì thế, những gì có tính cách đặc biệt Do thái đều bị bỏ đi và tất cả bài giảng chỉ bằng một phần ba bài giảng của Thánh Mathêu.
Công cuộc canh tân mà Chúa Giêsu đem đến đang bắt đầu nơi Ngài và nhờ Ngài, bây giờ đây, Ngài thấy nó trở nên sung mãn hoàn toàn: chính lúc con người chết, là đi vào cuộc sống mới, đối với toàn thể nhân loại, đó là ngày cùng tận được đi vào trời mới đất mới. Suốt trong sứ điệp của vị Thiên Chúa rao giảng, cái nhìn vẫn cố định trên cái viễn tượng tối cao đó: bài giảng trên núi chỉ có thể hiểu theo nghĩa này.

DIỄN TỪ.
Đối lại bốn lời chúc dữ là bốn lời chúc lành.
‘Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó, khốn cho các ngươi những kẻ giàu có…’. Đối với Chúa Kitô, đây không phải là diễn từ mang tính chất xã hội, một cách phân phối của cải, một cuộc cách mạng kinh tế, nhưng là một quan điểm về sự đảo lộn có tính cách quyết định, của cuộc cách mạng chân thật và sâu sắc nhất, của sự đảo lộn tuyệt đối trong đó những kẻ trước hết sẽ nên sau hết và những kẻ sau hết sẽ nên trước hết.
Lúc đó sẽ xảy ra là những ai đang sống nghèo khổ trong thế giới hiện thời sẽ được gìn giữ để khỏi sa vào lưới thế gian, họ đã luôn nhắm vào vũ trụ tương lai, vào nước Thiên Chúa. Người nghèo khó không bị của cải trần gian đè lấp: vì thế họ hy vọng với lòng trông cậy những ngày tươi sáng hơn. Người giàu trái lại coi thế này như là nơi vĩnh cửu. Họ tìm thấy ở đó những thoả mãn những điều họ ao ước. ‘Ở đó, ‘một ngày kia’, đó là những viễn tượng họ không nghĩ đến, và cũng chẳng nghĩ đến nữa: đó là cái họ sợ hãi và trốn chạy.
Nhưng dầu sao, nước Thiên Chúa vẫn sẽ đến, cũng vậy khốn cho ai ít ao ước nó, mà lại muốn xa tránh nó.
‘Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đói khát… Khốn cho các ngươi là kẻ đã được no nê đầy đủ’. Người đói khát là người cảm thấy có nhu cầu. Họ chờ mong với lòng ao ước điều ngày hôm nay họ không có được. Còn kẻ no nê, thoả mãn với chính mình lại muốn làm cho giây phút hiện tại này thành vĩnh cửu và từ chối sự vĩnh cửu thực sự. Họ đáng cái mà người ta ca thán khi giờ nước Thiên Chúa đến: đó là lời chúc dữ chứ không phải là lời chúc phúc.
‘Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ phải khóc lóc… khốn cho các ngươi là kẻ hiện đang vui cười’. Ở đây nữa, từ ngữ, ‘bây giờ’ ‘hiện giờ’ là chính yếu. Những kẻ khóc lóc là những người thấy thất vọng với cái thế gian này. Họ chỉ thấy những sự khó chịu, đau khổ. Do đó họ hướng về tương lai, hy vọng có cái gì khác lạ và mới mẻ mà Chúa Kitô mang đến.
Trái lại những kẻ cười nói, vui thú trong những sung sướng dưới thế này, họ hài lòng với tính chất hời hợt của thế gian này, không muốn tin rằng thế gian này là cái chóng qua. Đến lúc thay đổi, vui cười của họ sẽ biến thành than khóc; ngay từ bây giờ họ đã bị nguyền rủa.
‘Phúc cho các ngươi nếu vì Con Người mà thiên hạ oán ghét, trục xuất và loại trừ tên các ngươi như kẻ bất lương… Khốn cho các ngươi khi mọi người đều ca tụng các ngươi’.
Hai nhóm đó tạo thành một tương phản thật kêu và ít thấy có hoà đồng hỗ tương. Những kẻ nghèo khó, đói khát, những kẻ khóc lóc, bị đuổi bắt, bị những người no nê, giàu có, vui cười… ghét ghen và khinh dể. Nhưng có Chúa Kitô ở bên họ, Ngài là Đấng giảng lời quyền năng được dân chúng ca tụng, và Ngài sẽ lên tiếng khen họ.
Đó là một thái độ lạ lùng. Đối với Ngài, biến đổi thế gian này chưa đủ. Ngài còn mang đến một cái gì hoàn toàn khác hẳn, tuyệt đối mới mẻ: đó là nước Thiên Chúa.
Như thế, sứ điệp Ngài giảng không phải là chuyện cải biến thế giới hiện thời, một sự cao thượng hoá con người, kéo dài luân lý nhân loại. Và như vậy có thể giải thích được sức mạnh và quyền năng chưa hề nghe nói về vị giảng thuyết và về giáo huấn của Ngài.
Kẻ nghe lời Ngài sống bằng tương lai và xây tất cả hy vọng của mình trên sự đổi thay bao la đã được Chúa khai mở và một ngày kia sẽ đạt được tầm mức sung mãn.

 

TN6-C52. Chú giải của Fiches Dominicales

TÌM ĐÂU RA HẠNH PHÚC THẬT?
LÒNG NGƯỜI CHỈ TOẠI NGUYỆN KHI BƯỚC THEO ĐỨC GIÊSU
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Đường dẫn đến hạnh phúc thật
 

Chỉ có Mátthêu và Luca tường thuật lại các mối phúc. Tuy hai ông có lẽ cùng truy cứu chung một: TN6-C52

Chỉ có Mátthêu và Luca tường thuật lại các mối phúc. Tuy hai ông có lẽ cùng truy cứu chung một nguồn, nhưng mỗi người lại khai thác dữ liệu một cách độc đáo, khiến cho hai bản viết, bên cạnh những nét tương đồng rõ rệt, vẫn có những dị biệt tỏ tường về nội dung và con số các mối phúc cũng như về cấu trúc, thể văn và ý hướng.
 
  • Nội dung các mối phúc theo thánh Luca rất khác với nội dung Bài giảng trên Núi của thánh Mátthêu.
Đức Giêsu lên núi, nơi “ Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa", trước khi chọn lấy mười hai ông trong số các môn đệ, mà người gọi họ là "tông đồ" nghĩa là kẻ được sai đi. Giờ đây Người đóng vai một Môsê mới, “xuống núi", mang theo sứ điệp của Thiên Chúa và "dừng lại ở một chỗ đất bằng”, đối diện với "đông đảo môn đệ của Người" là đoàn lũ "dân chúng”, tiêu biểu cho những con người đến từ "khắp miền Giuđê, Giêrusalem" lẫn lộn với những người từ những miền dân ngoại thuộc "miền duyên hải Tyrô là Siđôn". Những lời Người sắp tuyên bố là các mối phúc, được dành cho hết mọi người, vì chỉ có mình Người mới có thể thoả mãn được khát vọng hạnh phúc của con người. Cộng đoàn các môn đệ của Người, một khi đã lãnh hội và sống các mối phúc ấy sẽ phải làm chứng về các mối phúc ấy cho mọi người.
 
  • Con số các mối phúc trong Matthêu là chín. Còn trong Luca chỉ có bốn. Điểm khác biệt nữa là: Luca cho thêm vào bốn "mối hoạ” đặt rất song hành với bốn "mối phúc"; đây không phải là những lời nguyền rủa, mà chỉ là những lời thiết tha kêu gọi những "người bất hạnh" ăn năn hối cải khi họ lỡ bước lao mình vào con đường sa đoạ.
Sau cùng, thể văn và ý hướng của các mối phúc này đều rất khác nhau. Thánh Matthêu trình bày các mối phúc ấy ở ngôi thứ ba số nhiều và nhắm những thái độ nội tâm: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó...." Còn Luca lại diễn tả ở ngôi thứ hai số nhiều và chỉ ra những loại người trong xã hội, mà "bây giờ" đang thực sự phải nghèo khổ, phải đói, phải khóc bị nguyền rủa hay bị ngược đãi: "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó... Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói..." Nếu mối phúc thứ hai hay thứ ba loan báo một sự đảo ngược hoàn cảnh hoàn toàn thì tuyệt nhiên không phải có ý khuyến khích đương sự chịu đựng, luồn cúi vì hy vọng ở thế giới bên kia. Mối phúc thứ nhất và cuối cùng nói ở thì hiện tại: "Nước Thiên Chúa là của anh em", "vì này đây, phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao"; những mối phúc ấy tỏ cho biết rằng triều đại cứu thế đang được khai mở trong con người Đức Giêsu.
R. Meynet viết: "Nước Thiên Chúa, không phải đợi tới ngày tận thế, Nước ấy đang ở đây ngay hôm nay cho ai biết chọn lựa nước ấy... Cũng giống như Nước Chúa, thiên đàng (trời) không phải đợi mai sau mới có, thiên đàng là đây, ngay bây giờ, chứ không phải tìm kiếm ở nơi đâu khác; thiên đàng thuộc về một trật tự khác, trật tự của Thiên Chúa chứ không phải của loài người" ("L'evangile se lon saint Luc. Phân tích tu từ", Cerf, trg 79).
2. Theo chân Đức Giêsu:
"Các mối phúc-mối hoạ" là mạc khải có tính tiên tri thúc giục ta hoán cải những quan niệm phàm trần của ta về hạnh phúc, nghèo đói và than khóc, theo ánh sáng của mầu nhiệm được tỏ ra ở đây: mầu nhiệm về Thiên Chúa muốn tỏ mình cho người ta chiêm ngưỡng Người trong mầu nhiệm Đức Giêsu, nơi Người mầu nhiệm về con người được soi sáng.
- Ở đây, người ta khám phá ra mầu nhiệm về Thiên Chúa đầy lòng xót thương những kẻ nghèo khổ. Ph. Bossuyt và J. Radermakers còn giải thích: Thực vậy, những người này, được tuyên bố là "người hạnh phúc", bởi vì Thiên Chúa quan tâm tới họ. Vì người quan tâm tới họ, không phải vì họ có công trạng gì, nhưng vì chính hoàn cảnh của họ: nghèo khổ, phải đói, phải khóc, bị ngược đãi… Đây chính là mầu nhiệm khơi nguồn cho hiến chương Nước Trời vậy (Sđd, trg 241)
- Ở đây chúng ta cũng được đưa vào chính trung tâm mầu niệm Đức Giêsu mà ngay từ bài giảng khai mạc ở hội đường Nadarét Người đã hé mở cho thấy trước số phận Con người sẽ phải chịu: số phận một người bị hiểu lầm, bị chối bỏ.
Hai tác giả trên tiếp tục: "Vì vậy, chân lý của Thiên Chúa về các mối phúc, không tỏ ra tách biệt với số phận của con người. Hơn nữa chân lý ấy còn có một nền tảng vững chắc là tin vào lòng trung tín của Thiên Chúa như vẫn được biểu lộ ra trong con người Đức Giêsu. Những kẻ nghèo khổ, đói khát, khóc than là những người có phúc, bởi lẽ, trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã hành động quyết liệt để bênh vực họ, khi con Người sống lại từ trong kẻ chết. Người là đang thực hiện niềm hy vọng của họ" (Sđd, trg 242).
- Sau cùng, người ta thấy vén lên ở đây mầu nhiệm về con người, một sinh vật có một trang sử để sống, được kêu gọi để tự do lựa chọn, được mời gọi sống theo khuôn mẫu của Chúa được bày tỏ ra nơi Đức Giêsu Kitô, Con của Người. Tóm lại là dám nối gót theo chân Đức Giêsu chết và phục sinh.

BÀI ĐỌC THÊM.
1. “Đức Giêsu đã làm đảo lộn quan niệm về hạnh phúc cách khác thường”
Chẳng có gì là ngạc nhiên, khi thấy Đức Giêsu, Lời Thiên Chúa hoá thân, tự giới thiệu và khẳng định mình là “đường, sự thật là sự sống". Ngay cả trước khi được gọi là Kitô hữu, những ai đã đặt lòng tin cậy nơi Đức Giêsu đều được gọi là "Người môn đệ của Đường". Người là con đường tốt, là sự chọn lựa đúng cho ta, là đầu tư ngắn hạn và dài hạn rất tốt, vì thế mà thánh Phaolô mới nói rõ: "Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô, chỉ để mưu ích cho cuộc sống này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người".
Thực ra khi tuyên bố về các mối phúc, Đức Giêsu đã đảo ngược bậc thang truyền thống về các giá trị là đặc biệt làm đảo lộn cả quan niệm về hạnh phúc. Vậy mà thánh Luca vẫn không do dự giới thiệu các mối phúc ấy với các tín hữu ở thế kỷ đầu vốn đã phải gian nan vì bị ngờ vực, khinh bỉ và bách hại. Không chỉ coi đây là một lời hứa hay là quy tắc sống, phải chăng Luca còn muốn phác hoạ chân dung những con người bé mọn kia, họ đã nhờ Đức Kitô mà thay đổi hẳn ý nghĩa cuộc đời của họ? Kìa, những con người ấy cảm thấy hạnh phúc ngay trong những hoàn cảnh mà ta cho là không có mảy may khả năng nào để mà hạnh phúc và vui sướng được. Vậy mà đó lại là kinh nghiệm và chứng từ của những người nam cũng như nữ chịu để cho Thần Khí tác động và hướng dẫn, đặt niềm tin tưởng vào Người và đi theo con Đường của Người.
2. “Nguồn đích thực của tự do và hạnh phúc”
Có những người đặt tất cả hy vọng và dùng hết sức lực của mình để đạt cho được tự do và hạnh phúc bao lâu còn sống ở đời này: họ chẳng hy vọng gì ở thế giới bên kia.
Người khác đã có được niềm tin chắc chắn rằng cuộc sống trần gian chỉ là điểm xuất phát, là một chuyến đi hay là một cuộc tập nghề và cuộc sống ấy sẽ được viên mãn ở thế giới bên kia, sau khi chết. Vì thế không nhất thiết phải khinh chê những vui sướng phàm trần. Họ coi những vui sướng trần gian kia vừa mong manh vừa giới hạn nên chỉ là hình ảnh mờ nhạt tượng trưng cho cái được hứa cho con người. Hầu hết các tôn giáo đều ấp ủ niềm xác tín này.
Ngay từ Cựu ước, Thiên Chúa đã được khẳng định là cội nguồn hạnh phúc đích thực và duy nhất: người công chính là kẻ "bước đi với Chúa". Trong quan niệm cổ xưa của Kinh Thánh, hạnh phúc ấy được thực hiện ngay ở đời này khi Thiên Chúa ban ân huệ cho ngươi trung tín như được sống lâu, đông con nhiều cháu, khoẻ mạnh, giàu có... Thế nhưng vẫn có những người công chính phải khốn khổ, bị khinh chê, bị bách hại: những người đó, Thiên Chúa hứa cho họ một sự đền bù mà bản chất thế nào thì còn bị che khuất.
Chính nhờ giáo huấn của Đức Kitô mà ta được biết rõ bản chất của hạnh phúc Thiên Chúa hứa ban cho con người, hạnh phúc của một tình yêu trọn vẹn, tuyệt đối, hoàn hảo: đó cũng chính là tình yêu hiệp nhất của Ba Ngôi trong tương quan với nhau.
Thư thứ nhất của thánh Gioan tông đồ, như bị chi phối hoàn toàn bởi một thứ tiếng lòng thổn thức "Thiên Chúa là tình Yêu", thường diễn tả và quảng diễn lời mời gọi này của Thiên Chúa gởi đến cho con người: "Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa là Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống tình yêu cốt ở điều này không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội, vì tội lỗi chúng ta. Thiên Chúa đã ban sự sống đời đời, và sự sống này ở trong Con của Người".
Vậy con đường mà Người con ấy là Đức Giêsu Kitô đề nghị cho con người để đạt được sự sống và tình yêu sung mãn (sự sống và tình yêu luôn liên kết với nhau) được diễn tả đặc biệt trong đoạn Phúc âm nổi tiếng thường được biết dưới cái tên là Bài Giảng Trên Núi hay đúng hơn, là bài giảng về Các Mối Phúc Thật (phúc ở đây là hạnh phúc thật).
Thực ra, người ta có thể hiểu các mối phúc mà các Phúc âm Mátthêu (5,3-11) và Luca (6,20tt) trình bày, là phần dẫn nhập vào luân lý Kitô giáo, một nền luân lý chủ trương hạnh phúc là vì Thiên Chúa muốn cho con người được hạnh phúc, ngoài ra các mối phúc vừa đưa ra một lời hứa, vừa là con đường đưa đến hạnh phúc.
Lời hứa ban hạnh phúc bắt đầu được thực hiện ngay từ hôm nay, vì rằng thứ hạnh phúc Chúa ban cho con người đây, tiên vàn không phải là kết quả ở sức riêng của con người, nhưng là sự cởi mở đón nhận ân huệ của Thiên Chúa, ân huệ mà Chúa ban cho hết thảy mỗi người là được hiệp thông sự sống với Người. Sống luân lý theo Kitô giáo là đáp lại ân sủng của Chúa một cách tự do tự nguyện.
Con đường hạnh phúc là một lược đồ gợi ra những thái độ nội tâm phải sống (tâm hồn nghèo khó, dợn sơ, tin tưởng), những cách xứ sự đối với tha nhân (lòng thương xót, ý muốn hoà bình), những hoàn cảnh khó khăn phải đối phó (những thử thách về tâm hồn và vật chất, những sự bắt bớ). Tất cả những điều này đều hoà hợp chặt chẽ trong bản thân Đức Giêsu, Đấng được coi như thực hiện trọn vẹn nơi mình khát vọng hạnh phúc. Chính Người đã muốn sống cách hoàn hảo tinh thần của Mối Phúc trong cuộc sống của mình và đến cả trong cái chết của Người nữa.
Nếu như các mối phúc dẫn nhập vào một luân lý chủ trương hạnh phúc, thì không phải vì luân lý ấy có những lời khuyên thực hành rõ rệt, hoặc đòi hỏi phải tự mình cố gắng mới được nhưng luân lý ấy chỉ muốn đưa ra cho người ta một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, ân huệ được hiệp thông trong sự sống và hoan lạc với Người. Ân huệ này, người ta sẽ bắt đầu tiếp nhận bằng cách ngày qua ngày sống hai giới luật về tình yêu của Chúa là yêu Chúa và yêu người. Giống như con đường hạnh phúc mà Đức Giêsu đã khởi sự và đi trước vậy.
Với người tín hữu, hãy hành động như Thiên Chúa, luôn sáng tạo và có sáng kiến như Người, biết hiến thân như Đức Kitô, đó là suối nguồn đích thực của tự do và hạnh phúc.

 

TN6-C53. CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN

Lc 6,17.20-26
Anh chị em thân mến
 

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta nhìn thấy rất nhiều điều trái ngược nhau. Cũng như tôi nhìn: TN6-C53

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta nhìn thấy rất nhiều điều trái ngược nhau. Cũng như tôi nhìn thấy có những người dường như rất nghèo khổ, họ dường như không có việc làm, không có được mái nhà để trú thân, không có được bữa cơm cho xứng đáng. Nhưng tôi cũng dường như nhận ra rằng: họ không có gì phải lo lắng; lúc nào họ cũng có chai rượu bên mình và một vài người bạn đồng cảnh, họ uống, rồi ngã lưng ra ngủ, vừa tỉnh dậy thì đã có chai rượu bên cạnh nữa rồi. Họ đã đóng kín cuộc đời lại, có vẽ như họ cảm thấy đã đầy đủ với cuộc sống như thế, nên những lời khuyên, những lời hướng dẫn không thể lọt vào đời sống của họ được. Họ không thấy có gì cần thay đỗi trong cuộc sống như thế.
Đồng thời cũng có những người, hằng ngày phải lo toan với bao nhiêu công việc, không để phung phí thời gian. Làm việc bên ngoài để có đồng tiền cho cuộc sống. Về gia đình họ còn bao nhiêu trách nhiệm, nào là lo cho con cái, lo trau dồi cuộc sống, còn giúp được những người bên cạnh khi cần thiết. Họ là những người không phải giàu lắm, nhưng cũng không đến nỗi phải thiếu ăn. Họ là những người biết làm cho cuộc sống mỗi ngày được hoàn thiện hơn bằng những gì mình đang có trong hiện tại.
Nhìn những người như thế thì đâu là người được chúc phúc theo như Lời Chúa mà chúng ta vừa nghe. Có lẽ chúng ta bỡ ngỡ và lo lắng, vì dường như Thiên Chúa của chúng ta không muống cho con cái mình có được đời sống tốt đẹp nơi trần gian. Dường như TC muốn cho những người con của Ngài phải đau khổ, nghèo đói và không được quyền vươn lên. Nhìn thoáng qua thì như thế. Nhưng nếu chịu để tâm, chịu lắng nghe thêm, suy nghĩ thêm và tìm hiểu thêm chút nữa, thì những lời chúc phúc thật chính đáng. Những nghèo khó, than khóc, đói khổ, bị oán trách. Đó là những gì con người chúng ta luôn mang nó bên mình, đó cũng là những gì là khiếm khuyết của con người. Nếu con người nhìn thấy được những khiếm khuyết đó, cố gắng hoàn thiện, chạy đến với Chúa, để từng ngày những khiếm khuyết được bù đấp. Mỗi lần được bù đấp, được đong đầy như thế là mỗi lần được nhận ân phúc. Còn nếu con người không nhìn thấy được những gì thiếu thốn, những cần thay đỗi.
Nếu con người tự mãn với cuộc sống hiện tại mà không cần lắng nghe, không cần hoàn thiện. Đó là con người đã tự đóng kín cửa lại, không để cho những gì bên ngoài có thể vào để làm cho họ nên tốt hơn. Đó là những người giàu có, no nê và luôn vui cười với những lời nịnh hót bên tai. No nê vui cười vì đã thỏa mãn với những khát vọng riêng tư ngông cuồng mà mình đã đạt được, và giàu có với những nguồn lợi bất chính, nhưng vẫn bằng lòng và thỏa mãn vì thấy mình hơn được người khác.
Nếu con người biết lắng nghe những lời nói chính đáng để thay đỗi đời sống cho tốt. Nếu con người biết tìm những gương sáng, những gương sống tốt đẹp của người xưa để noi theo. Đó là những người đói khát, những người nghèo khó. Vì đói, vì nghèo, nên họ mới tìm cách đong đầy cuộc sống của mình khi có thể. Mọi người nhìn vào, với con mắt người đời thì dường như họ là những người đau khổ bần cùng. Nhưng thật sự họ đang hạnh phúc vì họ biết mở rộng cửa của mình để đón nhận, họ đã biết mở rộng đôi tai để lắng nghe và làm cho cuộc sống mình được hoàn thiện. Họ biết mở rộng tâm hồn để đón nhận những ai muốn đến. Họ biết giang cánh tay để đón nhận và ban phát khi cần thiết, như thế họ được xứng đáng lãnh nhận lời chúc phúc.
Còn chúng ta, những người đang ngồi đây, chúng ta cho mình là những người đáng nhận lời chúc phúc hay lời chê trách. Mỗi người để ra một ít phút suy nghĩ và nhìn lại những việc làm của mình trong cuộc sống. Chúng ta có như những người tự mãn và lười biếng, với chai rượu của sự ít kỷ, hẹp hòi, tranh chấp bên cạnh, để rồi chúng ta bị chất men đó làm cho say sưa, không còn nhìn thấy được chính mình. Hay chúng ta là những người đang mỗi ngày, muốn làm cho cuộc sống mình được hoàn thiện hơn, với những gì tốt đẹp mà Thiên chúa đòi hỏi.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết chọn cuộc sống xứng đáng, để được nhận lãnh những lời chúc phúc của Ngài.

 

TN6-C54. HẠNH PHÚC THẬT.

Lc 6,17.20-26
 

Theo quan niệm cổ xưa trong Kinh Thánh, người hạnh phúc, người được Chúa thương là người: TN6-C54

Theo quan niệm cổ xưa trong Kinh Thánh, người hạnh phúc, người được Chúa thương là người ngay ở đời này được sống lâu, được đông con nhiều cháu, được có nhiều của cải... thế nhưng ngay trong chính cuộc sống của dân Do Thái họ vẫn chứng kiến có nhiều người công chính phải khốn khổ, bị khinh chê, bị bách hại... Như vậy, quan niệm về một Thiên Chúa thưởng phạt công minh có gì đó còn bị che khuất? Còn có gì đó ẩn khuất trong niềm tin vào Thiên Chúa của dân Do Thái? Phải chăng hạnh phúc chỉ là sống lâu, phải chăng hạnh phúc là có nhiều của cải, có đông con nhiều cháu....? chúa Giêsu trong Tin Mừng Luca được đọc hôm nay đưa ra cho chúng ta những mẫu mực để ta được hạnh phúc thật và nó như hoàn toàn trái nghịch với những khuôn mẫu hạnh phúc mà con người quan niệm.
Theo quan niệm của con người, người hạnh phúc là người có nhiều của cải, có công việc ổn định, thành đạt trong cuộc sống... nhưng Chúa Giêsu đưa ra bốn khuôn mẫu người hạnh phúc là người nghèo, là đói, là khát, là bị oán ghét, bị khai trừ, bị xỉ vả. Còn những người bất hạnh là giàu có, là no nê, là vui cười, là được ca tụng. Tại sao có sự đối nghịch như thế, có phải Chúa Giêsu muốn cho con cái mình mãi nghèo, mãi khóc than. Chắc chắn không phải thế, nếu phải thì Chúa Giêsu đã không nói “ Ai bỏ mọi sự mà theo Ta thì ngay ở đời này sẽ được gấp trăm ” . Nhưng điều Chúa muốn nhấn mạnh và nói đến là những người nghèo, những người đau khổ... là những người dễ dàng nhận Chúa là cùng đích, Chúa là tất cả vì họ như không thể bám víu vào những của cải phù hoa vật chất. Chính Chúa là nguồn mạch của hạnh phúc, tất cả tiền tài danh vọng chỉ là phương tiện đưa ta đến hạnh phúc thật, nếu ta biết sử dụng nó để mưu cầu cho hạnh phúc thật. Thật ra những gì con người tưởng là hạnh phúc chỉ là những hạnh phúc chóng qua, không có giá trị vĩnh cửu và nếu con người cố bám víu vào nó có thể dẫn tới vong thân. Trong cuộc sống ta mơ ước được cái này ta tưởng chắc là hạnh phúc nhưng khi đạt được rồi ta lại muốn cái cao hơn, quý hơn, giá trị hơn và luôn luôn như vậy. Chỉ trong Thiên Chúa mới có hạnh phúc thật, hạnh phúc vĩnh cửu. Đối với Chúa Giêsu nếu con người biết sử dụng của cải, danh vọng, quyền lực để phục vụ tha nhân, phục vụ nhân loại theo đúng ý Chúa thì làm sao có thể gọi đó là bất hạnh được, chắc chắn họ sẽ tìm được hạnh phúc thật, hạnh phúc vĩnh cửu. Cũng vậy nếu vận dụng những khó khăn, đau khổ để tín thác vào Chúa, dâng tất cả cho Chúa, để tăng thêm đức tin, lòng trông cậy sẽ tìm được hạnh phúc mai sau còn nếu gặp khó khăn, nghèo khổ mà cứ cay đắng oán trách Chúa, nguyền rủa người đời, nguyền rủa số phận thì nghèo khó như vậy làm sao gọi là phúc cho được.
Trong bài đọc I Tiên Tri Giêrêmia cũng đưa ra sự bất hạnh của những ai tin tưởng vào người đời. Trong lịch sử dân Do Thái đã chứng minh điều đó. Khi họ trung tín với Thiên Chúa thì họ được hạnh phúc, được Thiên Chúa che chở. Còn khi dân bỏ Chúa chạy theo các thần ngoại bang, chạy theo của cải vật chất thì họ bị ngoại bang xâm chiếm, phải lưu đày.... Chúa Giêsu qua lời rao giảng của Ngài, hạnh phúc mà Ngài mời gọi và trao ban là hạnh phúc Nước Trời, hạnh phúc nơi Thiên Chúa. Tất cả những gì thế gian cho là hạnh phúc thì mỏng giòn chóng qua. Vậy phải chăng Chúa Giêsu muốn nói hạnh phúc chỉ có được ở đời sau. Không phải như thế. Hạnh phúc mà Chúa ban bắt đầu thực hiện ngay từ hôm nay trong cuộc sống này, thứ hạnh phúc mà con người phải biết cởi mở đón nhận ơn huệ Thiên Chúa ban, không do sức riêng của con người, ơn huệ Thiên Chúa ban cho con người hiệp thông với Thiên Chúa, hạnh phúc là mở lòng ra đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa cách tự nguyện. Chúa Giêsu là người đã sống trọn vẹn các mối phúc. Ngài sống nghèo, Ngài chịu đau khổ, Ngài chịu đói khát, Ngài chịu xỉ vả....nhưng trong mọi sự Ngài luôn hiệp thông với Chúa Cha nên mọi sự Ngài đón nhận như ơn ban của Cha ban cho Ngài.
Người Kitô hữu chúng ta sống trong thế giới phải biết xây dựng thế giới này ngày một văn minh, tiến bộ giàu đẹp hơn. Nhưng không vì thế mà chúng ta coi nó như là cùng đích mà ta phải tiến về, mà ta phải đánh đổi tất cả chỉ vì muốn đạt được nó. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa ban mọi sự cho chúng ta để qua tất cả mọi sự đó chúng ta biết ca tụng và tôn thờ Thiên Chúa là cùng đích mọi loài và là nguồn hạnh phúc thật. Hy vọng mọi người chúng ta biết đặt đúng giá trị của những của cải vật chất, của các loài thụ tạo trước mặt Đấng Tạo Hoá là Thiên Chúa Toàn Năng.

 

TN6-C55. HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC

Lc 6,17.20-26
 

Con người luôn khao khát được hạnh phúc. Đó là khao khát chính đáng. Nhưng làm sao để : TN6-C55

Con người luôn khao khát được hạnh phúc. Đó là khao khát chính đáng. Nhưng làm sao để có được hạnh phúc đích thực. Người ta thường nói: “ Cái gì cũng có cái giá của nó ” . Trong cuộc sống có rất nhiều điều để ta lựa chọn. Ta sẽ được hạnh phúc hay bất hạnh tuỳ theo sự lựa chọn của mình. Phụng vụ Lời Chúa Chúa nhật hôm nay chỉ cho ta con đường để đạt được hạnh phúc đích thực.
Vì yêu thương con người chúng ta mà Thiên Chúa luôn muốn cho chúng ta được hưởng hạnh phúc. ngay từ thuở ban đầu lúc tạo dựng Thiên Chúa đã đặt để con người trong tình trạng hạnh phúc tuyệt hảo. Thế nhưng thật đáng tiếc ông bà nguyên tổ đã đánh mất. Do đó Thiên Chúa tìm mọi cách để cứu con người. Cụ thể, Lời Chúa hôm nay trong bài đọc 1 tiên tri Giêrêmia cho biết: “ Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào ĐỨC CHÚA, và có ĐỨC CHÚA làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái. ” (Gr 17, 7 - 8)
Rồi trong bài Tin mừng Chúa Giêsu nói: “ Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, xỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao ” (Lc 6, 20 - 23)
Có phải Chúa Giêsu khuyến khích ta phải đói khổ, phải nghèo, phải chịu sỉ nhục...mãi không?
"Chính Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi hạnh phúc đích thực. Không có Ngài thì không có hạnh phúc đích thực. Những gì con người tưởng là hạnh phúc chỉ là nhất thời và chóng qua, không có giá trị vĩnh cửu và có thể làm cho con người bị vong thân. Nếu biết sử dụng những gì mà người ta cho là hạnh phúc ở đời này như tiền bạc của cải, danh vọng quyền lực để phục vụ nhân loại, phục vụ anh chị em theo đúng ý Chúa thì sẽ có hạnh phúc vĩnh cửu, còn nếu không thì hạnh phúc đó sẽ trở thành tai hoạ cho mình. Ngược lại, cũng thế nếu biết vận dụng những khó khăn, đau khổ đời này như một phương thế tích cực để tín thác vào Chúa, để gia tăng đức tin và lòng bác ái thì rủi may sẽ trở nên phúc phần mai sau. Còn nếu cứ ngồi đó mà nguyền rủa phận đời, oán trách Thiên Chúa, cay đắng với đời thì chắc chắn không bao giờ có hạnh phúc”. (Sưu tầm)
Như vậy, trên hết mọi sự ta hãy luôn nhớ đặt niềm tin và lòng trông cậy vào Thiên Chúa là vững chắc nhất, là lựa chọn khôn ngoan nhất. sự lựa chọn này sẽ đưa ta tới hạnh phúc đích thực. Và đó cũng là ước muốn của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta.

 

TN6-C56. HẠNH PHÚC & ĐAU KHỔ

Lc 6,17.20-26
“Hỡi anh em là những người có Phúc, vì Nước Trời là của anh em..” (Lc 6, 20)
 

Hoàng đế Napoléon, người hùng chinh phục cả Âu Châu, vị hoàng đế lừng danh của Nước Pháp: TN6-C56

Hoàng đế Napoléon, người hùng chinh phục cả Âu Châu, vị hoàng đế lừng danh của Nước Pháp, đã có một câu nói đáng ghi nhớ. Lúc ông bị đày sang đảo St. Hélène và sắp đến ngày tàn của cuộc đời, người viết tiểu sử của ông, một hôm đến hỏi ông: “xin ngài cho biết trong cuộc đời của ngài, ngày nào là ngày hạnh phúc nhất ?” Napoléon chậm rải trả lời: “Tôi nhớ rất rõ, ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời của tôi, đã xảy ra cách đây lâu lắm, khi tôi còn bé, đó là ngày tôi Rước Lễ lần đầu.”… Kinh nghiệm sống của Napoléon cho chúng ta thấy, dù đầy danh vọng, giàu sang trần gian, ông cũng không có hạnh phúc thật sự. Ông chỉ có hạnh phúc thật, khi ông có Chúa mà thôi. Qua bài Tám mối phúc trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói đến một thứ hạnh phúc chân thật như thế.
a.Thời Cựu Ước: Người ta không hiễu rõ, khi cho rằng giàu có là do Thiên Chúa ban thưởng, còn nghèo khó là vì Thiên Chúa trừng phạt hoặc do: “cha ăn mặn, con khát nước” hoặc do người lớn gây nên. Các tiên tri Isaia, Amos, Daniel, sách Châm ngôn…đã cực lực lên án quan niệm này và cho rằng: người nghèo không hẳn là bị Chúa phạt; họ còn là người khiêm tốn, tin tưởng phó thác nơi Chúa; họ là người đáng để ta quan tâm hơn…
Thời Tân Ước : Chúa Kitô còn nói rõ ràng hơn qua “phúc cho ai sầu khổ, họ sẽ được ủi an” (Mt 5, 5); và “phúc cho anh em là kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em” (Lc 6, 20). Chúa Giêsu còn nhấn mạnh, đặc biệt qua thái độ yêu thương người nghèo khó, bé mọn. Người còn kêu gọi quyết liệt: phải từ bỏ của cải để theo Ngài (Mt 16, 24), đồng thời mạnh mẽ cảnh báo nguy cơ to lớn của giàu sang. Thánh Luca còn ghi lại các giáo huấn khắt khe về tiền của: Tiền là tên bất lương (Lc 16, 9), làm con người thành khờ dại (Lc 12, 15), ngăn cản ta vào Nước Trời; do đó các môn đệ phải từ bỏ tất cả mà theo Chúa Kitô. Qua bài Tin Mừng này, Chúa muốn khích lệ người nghèo khó, khổ đau; đồng thời cảnh cáo nghiêm khắc những người giàu có mà thiếu lòng bác ái , không san sẻ với anh em kém may mắn…
b. Mới nghe qua, có lẻ nhiều người trong chúng ta chắc lưỡ i và than: giữ đạo sao mà khó quá? Làm sao vào Nước Trời được đây? Thực ra muốn vào Nước Trời không phải là chuyện dễ, vì chính Chúa Giêsu cũng nói: muốn vào Nước Trời phải chiếm đoạt bằng sức mạnh. Hơn nữa, vì Nước Trời quá cao quí, nên người muốn vào phải có thái độ dứt khoát chọn lựa như người tìm ngọc quí, tìm kho báu vô giá . Tìm được rồi, vì hiểu giá trị “liên thành” của nó, nên người ta có thể sẳn sàng bán đi mọi thứ mình có để mua cho được ngọc quí, hay để đổi cho được kho báu đó. Chúa cũng nói: lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào được ích gì. Nếu để đổi lấy của cải trần gian chỉ là của tạm bợ, mà ta còn uổng phí công sức, ngày giờ, huống chi để mua cho được sự sống vĩnh cữu, ta còn phải hi sinh của đời này hơn nữa. Các thánh là những người khôn ngoan nhất vì đã biết chọn lựa hạnh phúc chân thật là Nước Trời.
c. Gợi ý sống và chia sẻ:
* Chúa chúc phúc cho người nghèo, người đau khổ, không phải vì muốn con người muôn đời phải nghèo, phải khổ đau, song là để cho chúng ta hiểu, tiền bạc danh vọng trên đời này, chưa phải là cái đem lại hạnh phúc thật, chưa phải là cái quý nhất. Ta có hiểu và nghĩ như thế không?
* Giữ đạo Chúa không phải là chối bỏ sự giàu sang, của cải ở đời. Nhưng phải biết sử dụng của cải cho đúng và xem đó như phương tiện sống chư không phải là mục đích sống. Vì đối với mỗi người Kitô hữu chúng ta chỉ có một mình Thiên Chúa mới là gia nghiệp vĩnh cữu và là cùng đích của đời người.

 

TN6-C57. HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC

Lc 6,17.20-26
 

Trong dịp Tết, ta thường chúc nhau an khang – thịnh vượng, ta cũng thường nghe câu “xóa đói: TN6-C57

1. Trong dịp Tết, ta thường chúc nhau an khang – thịnh vượng, ta cũng thường nghe câu “xóa đói, giảm nghèo”. Chính Đức Giêsu trong bước đường rao giảng, khi thấy dân chúng vì đi theo mình mà đói khát đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân. Giáo Hội từ xưa đến nay vẫn theo gương Đức Giêsu không những xoa dịu những đau đớn về tinh thần, mà còn làm hết sức để xoa dịu những đau khổ của con người cụ thể là thực hiện những việc từ thiện, góp phần đẩy lui nghèo đói. Thế nhưng trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, nếu như theo thánh Mátthêu thì ghi tám lời chúc phúc của Đức Giêsu, ta thường gọi là “Tám mối phúc thật”. Còn ở đây, Luca ghi lại bốn lời Chúa chúc phúc cho những người nghèo, đói, khóc, bị ngược đãi và bốn lời cảnh cáo cho những người giàu, no đủ, vui cười và được ca tụng! Như vậy chúng ta phải hiểu lời Chúa hôm nay như thế nào? Phải chăng Chúa khuyến khích chúng ta nghèo, khổ…? Phải chăng hạnh phúc đích thực của ta là nơi tiền bạc của cải ?
2. Ta có thể ghép bốn lời chúc phúc và bốn lời cảnh cáo thành bốn cặp tương phản nhau : Nghèo-giàu, đói-no, khóc-cười, bị ngược đãi-được ca tụng. Những cặp đối nghịch nầy có thể quy vào cặp thứ nhất, bởi vì với con mắt người đời người nghèo thường hay đói khát, khóc lóc, bị ngược đãi và người giàu thường được no đủ, vui cười, được ca tụng.
Một điều ai cũng dễ nhận ra rằng tuy tiền của không thể mua được tất cả, nhưng nó rất cần cho đời sống của con người. Tự thân tiền của không tốt cũng chẳng xấu. Xấu tốt là do con người sử dụng nó. Người ta thường nói “tiền của là đầy tớ tốt, và là ông chủ xấu”. Quả đúng thế, tiền của là đầy tớ tốt khi ta biết sử dụng nó để giữa ta với tha nhân, giữa ta với Thiên Chúa được tương quan tốt hơn. Ngược lại, là đầy tớ xấu khi vì nó mà ta xa Chúa, xa anh em. Như vậy, dù ta giàu hay nghèo không quan trọng cho bằng thái độ của ta đối với của cải bạc tiền.
3. Đức Giêsu nói : “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó”. Cái phúc của người nghèo không phải hệ tại ở việc không có tiền của, mà chính yếu là không bận tâm về những của cải chóng qua đời nầy nhưng hướng tới những giá trị của sự sống đời đời. Điều đó được chứng tỏ khi : dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, luôn phó thác vào Thiên Chúa quan phòng (x. Mt 6,25-34); dù nghèo mà vẫn trung thành giữ Lề Luật của Thiên Chúa; dù nghèo mà không tham lam, không lỗi đức công bằng ; dù nghèo, mà vẫn rộng rãi trong việc đóng góp việc chung, như bà góa và hai đồng tiền nhỏ (x. Lc 21,1-4. Có thể nói từng thành viên gia đình Nagiarét (Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse) là mẫu gương cho những người nghèo của Thiên Chúa.
Cũng có những Kitô hữu chọn nếp sống thanh bần, nghèo tự nguyện, như các ẩn sĩ, các tu sĩ… thật đáng cho chúng ta trân trọng. Không phải những người nầy không biết giá trị của tiền của, nhưng họ nhận ra rằng chỉ duy nơi Thiên Chúa mới là nguồn hạnh phúc thật. Họ từ bỏ tiền của để trở nên giống Đức Giêsu hơn, Đấng rất giàu có mà lại hạ mình mang thân phận người nghèo.
Tuy nhiên cũng có những người nghèo mà thật đáng trách. Đó là những người nghèo mà do lười biếng. Có những người nghèo tiền, nghèo của nhưng lại giàu dục vọng, tham lam… thì không thể là phúc được, vì như thế không được gì đời này lẫn đời sau !
4. Thiên Chúa đã cho con người làm chủ vũ trụ vạn vật nầy (x. St 1,26.28), cho nên con người phải có trách nhiệm làm cho nó trở nên sung túc, tươi tốt hơn. Vì vậy giàu có là biểu hiện sự chúc phúc của Thiên Chúa, nếu việc giàu có đó do siêng năng lao động, do làm ăn lương thiện mà có. Ngược lại giàu có mà do gian lận, do tham ô, xảo trá thì thật là đáng trách.
Người giàu cũng được xem là phúc nếu nhận ra rằng tiền của chỉ là phương thế cho cuộc sống. Họ biết sử dụng cách hợp lý tiền của cũng như quảng đại trong việc tông đồ. Kinh thánh kể lại bà Gioanna, vợ ông Khuda quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều người khác nữa, đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ Người (x. Lc 8,3). Hay như các tín hữu khá giả đã chia sẻ cho những người nghèo thời lời khuyên của các tông đồ (x. 2Cr 8,14). Còn ngược lại, hưởng thụ của cải cách ích kỷ và làm ngơ trước nỗi đau khổ của người khác, như ông phú hộ và Lazarô nghèo khó (x. Lc 16,19-31) thì thật là đáng trách. Cũng vậy, nếu ai đó coi tiền của là nơi nương tựa vững chắc thì quả là ngu xuẩn, như câu chuyện người phú hộ không khôn, chỉ lo cậy dựa vào của cải, lo xây thêm kho lẫm, nhưng chưa kịp hưởng thụ thì đã chết (Lc 12, 16-21)!
5. Thực tế trong cuộc sống, tuy không phải hết đúng cho mọi người, người có nhiều tiền của thường cậy dựa vào tiền của, bị trói buộc bởi tiền của. Người ít tiền của có thể được thanh thoát hơn. Chính vì vậy lời Chúa qua Tin Mừng Luca hôm nay khuyên chúng ta nên có một chọn lựa, thà chọn sự giàu sang, no đủ đời sau hơn là sự giàu sang no đủ đời nầy. Người ta thường nói “ cái nết đánh chết cái đẹp”, hay “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, phần nào qua đó cho chúng ta hiểu rằng không những ở nơi người đời mà nhất là dưới mắt Thiên Chúa, giá trị của con người không hệ tại ở người đó giàu hay nghèo, có của cải ít hay nhiều… mà ở chỗ là người đó có sống đúng với phẩm giá con người, xứng danh là con Thiên Chúa hay không?
Đời sống của người Kitô hữu là một hành trình tiến về nhà Cha trên trời. Mỗi người có điều kiện, hoàn cảnh riêng, người giàu đi con đường của mình, người nghèo cũng phải đi con đường của mình, không ai thế cho ai được. Điều quan trọng là dù giàu hay nghèo, ta phải biết dùng những gì mà Thiên Chúa ban cho để đạt hạnh phúc nước Trời.

 

TN6-C58. Giáo Lý Của Tân Ước

(Giêrêmia 17,5-8; 1Côrintô 15,12.16-20; Luca 6,17.20-26)
 Phúc Âm: Lc 6, 17. 20-26
"Phúc cho những kẻ nghèo khó. Khốn cho các ngươi là kẻ giàu có".
Khi ấy, Chúa Giêsu từ trên núi xuống cùng với mười hai tông đồ, và dừng lại trên một khoảng đất bằng; ở đó có đông môn đệ và một đám đông dân chúng từ Giuđêa, Giêrusalem, miền duyên hải Tyrô và Siđon kéo đến để nghe Người giảng và xin Người chữa bệnh tật. Bấy giờ Người đưa mắt nhìn các môn đệ và nói: "Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của các ngươi. Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đói khát, vì các ngươi sẽ được no đầy. Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ phải khóc lóc, vì các ngươi sẽ được vui cười. Phúc cho các ngươi, nếu vì Con Người mà người ta thù ghét, trục xuất và phỉ báng các ngươi, và loại trừ tên các ngươi như kẻ bất lương. Ngày ấy, các ngươi hãy hân hoan và reo mừng, vì như thế, phần thưởng các ngươi sẽ bội hậu trên trời. Chính cha ông họ cũng đã đối xử với các tiên tri y như thế.
"Nhưng khốn cho các ngươi là kẻ giàu có, vì các ngươi hiện đã được phần an ủi rồi. Khốn cho các ngươi là kẻ đã được no nê đầy đủ, vì các ngươi sẽ phải đói khát. Khốn cho các ngươi là kẻ hiện đang vui cười, vì các ngươi sẽ ưu sầu khóc lóc. Khốn cho các ngươi khi mọi người đều ca tụng các ngươi, vì chính cha ông họ cũng từng đối xử như vậy với các tiên tri giả".
Suy Niệm:
 

Các Cbúa nhật trước đã cho chúng ta thấy Đức Giêsu khởi sự truyền giáo. Người từ giã gia đình: TN6-C58

Các Cbúa nhật trước đã cho chúng ta thấy Đức Giêsu khởi sự truyền giáo. Người từ giã gia đình để đi vào xã hội (tiệc cưới Cana, Chúa Nhật II). Người đến hội đường Nadarét tự giới thiệu là vị tiên tri mà Thiên Chúa hứa gửi đến (Chúa Nhật III). Kẻ đồng hương phủ nhận Người (Chúa Nhật IV) khiến chúng ta thấy trước công việc của Người rồi sẽ đi tới đâu. Nhưng Đức Giêsu đã chọn các tông đồ để sứ mạng của Người được đảm bảo trong tương lai (Chúa Nhật V). Hôm nay (Chúa Nhật VI) bài Tin Mừng sẽ cho chúng ta thấy chính nội dung giáo lý của Người, cũng là giáo huấn trường tồn trong Hội Thánh. Nó đã được chuẩn bị trong Cựu Ước, như bài sách Giêrêmia có thể cho chúng ta thấy. Và nó chỉ có thể được tin theo nếu chắc chắn ở việc Đức Giêsu đã sống lại để trở thành người đi trước chúng ta vào hạnh phúc trường sinh.
Bài thư Phaolô hôm nay ngắn nhưng rất quan trọng. Chúng ta hãy suy niệm Lời Chúa để nhận ra những bài học rất hiện đại cho đời sống con người.
1. Sự Khôn Ngoan Của Cựu Ước
Giêrêmia là một tiên tri. Ông là một trong bốn tiên tri lớn còn lại một văn phẩm. Ở đây lời lẽ của ông không có vẻ "tiên tri" bao nhiêu. Đành rằng vẫn có công thức mà các tiên tri vẫn dùng để khai ngôn: "Lời Chúa phán như thế này". Nhưng sau đó tác giả đã sử dụng lối văn khôn ngoan, đưa ra ý kiến phải ăn ở thế nào cho được hạnh phúc và khỏi bất hạnh.
Thực ra thì lối văn này không phải là không bao giờ được các tiên tri dùng. Môsê vẫn dùng nó khi vạch ra cho con cái Israen thấy rằng họ luôn luôn đứng trước hai con đường: một đường dẫn đến sự sống và một đường dẫn đến sự chết. Người ta được tự do lựa chọn một trong hai con đường ấy. Cũng là hai con đường hạnh phúc và vô phúc. Lối văn tiên tri thường không mặc hình thức trình bày gẫy gọn ấy... Nó thường phong phú và tâm tình hơn. Nhưng cuối cùng nó thôi thúc người ta phải lựa chọn giữa đường dẫn tới sự sống và đường đưa tới sự chết. Đoạn tiên tri Giêrêmia hôm nay là một khúc nằm trong toàn bộ tác phẩm mang tên ông. Nó mặc hình thức lối văn khôn ngoan, nhưng vẫn giữ giọng tiên tri, vì nó bắt đầu với những câu tuyên án mà các tiên tri vẫn phải nói để sửa sai và phá đổ.
Giêrêmia loan báo tai họa cho kẻ tin tưởng vào người đời và trở lòng đối với Chúa. Ông có nhắm cụ thể vào ai không, hay chỉ nêu lên những lẽ khôn ngoan ngàn đời? Chắc chắn nhiều người nghe ông nói thời bấy giờ, đã giật mình và khó chịu. Họ cảm thấy bị nhắm thật sự. Vì ở thời Giêrêmia con cái Israen đang sa sút lòng đạo đức. Nhất là bậc vua Sêđêcias (597-586 trước CN). Nhà vua không chịu nghe lời tiên tri. Cứ ăn ở theo xác thịt. Rồi thấy roi Chúa bắt đầu quất lên, thay vì thống hối ăn năn trở về với Người, ông đi tìm sức mạnh nơi các liên minh quân sự. Ông không đang trở lòng với Chúa và tin tưởng vào phàm nhân sao? Ông bỏ chỗ cậy dựa vào Thiên Chúa cao cả, để cầu cứu với những con người xác thịt. Và không riêng gì Sêđêcias. Hầu hết hàng đầu mục dân bấy giờ đều như vậy. Chính sách của Israen bấy giờ là coi thường đường lối của Chúa và tin tưởng ở mọi tổ chức loài người.
Giêrêmia đến làm sứ mạng tiên tri... Ông nguyền rủa chính sách ấy. Ông loan báo tai họa sẽ ập đến trên những kẻ bỏ Chúa như vậy. Họ sẽ như cỏ cây nơi sa mạc, làm sao có được hạnh phúc? Nắng sẽ thiêu, đất sẽ đốt, cỏ sẽ rụi. Khác hẳn với con người đặt tin tưởng vào Chúa. Họ như cây trồng bên bờ suối. Rễ sẽ mát, lá sẽ tươi, trái sẽ nhiều. Đó là những hình ảnh quen thuộc mà Kinh Thánh vẫn dùng để mô tả định mệnh của kẻ dữ, người lành. Giêrêmia lặp lại những hình ảnh ấy để khẳng định niềm tin của mình và kêu gọi mọi người trở về với Chúa.
Đó chỉ là sáo ngữ hay là những lời chân thật? Chúng ta biết Sêđêcias đã kết thúc cuộc đời thảm hại như thế nào: ông bị bắt, bị khoét mắt, bị dẫn đi lưu đày và con cái ông đã bị tàn sát thảm thương (Gr 39,1-10).
Giêrêmia đã không thấy trước hoàn toàn như vậy đâu. Nhưng ông thâm tín về chung cuộc bi đát của những kẻ bất trung với Chúa. Ông nói lên những lời khôn ngoan và tiên tri cho mọi người và mọi thời. Chẳng bao giờ những lời này mất giá trị. Nhưng chúng ta cũng có những giáo huấn rõ ràng và đầy đủ hơn nữa. Chính Đức Giêsu đã đến dạy chúng ta. Và thánh Luca đã ghi lại cho Hội Thánh trong bài Tin Mừng hôm nay.
2. Giáo Lý Của Tân Ước
Đức Giêsu bấy giờ ở trên núi xuống... Người vừa qua một đêm cầu nguyện cùng Chúa Cha... Và sáng ngày, Người đã gọi 12 môn đệ lại và đặt họ làm tông đồ. Bấy giờ Người xuống khỏi núi, không những có đoàn 12 và nhiều môn đệ khác đi theo, mà còn có rất đông dân chúng đang đứng chờ ở một chỗ đất bằng và rộng. Họ từ khắp nơi kéo đến, như muốn đươc chia sẻ những gì mà Đức Giêsu đã ban cho các tông đồ của Người khi ở trên núi. Quả vậy, thánh Mátthêu nói rằng Đức Giêsu đã giảng về các Phúc thật khi ở trên núi và bài giảng đó được mệnh danh là bài giảng trên núi. Nó lại kê khai 8 điều phúc hứa cho những người nghe Lời Chúa, nên được gọi là bài giảng 8 mối phúc thật. Ở đây chúng ta chỉ thấy có 4 điều phúc và thấy Đức Giêsu đã tuyên bố những điều này ở một chỗ đất bằng phẳng và rộng. Là vì thánh Luca là tác giả có tinh thần phổ quát, muốn cho hết mọi dân tộc được chia sẻ tin mừng cứu độ. Chỗ đất bằng và rộng gợi lên mặt biển bao la mà tác giả đã nhiều lần vượt qua với thánh Phaolô để mang tin mừng đến cho các dân tộc. Hôm nay các dân tộc cũng hiện diện chỗ đất bằng và rộng này vì có đông đoàn lũ từ Giêrusalem và nhiều tỉnh kéo đến.
Chắc chắn không phải Luca đã bớt xén bài giảng của Đức Giêsu, khiến 8 mối phúc thật chỉ còn có 4. Chúng ta phải nói rằng cả thánh Luca và thánh Mátthêu đã ghi lại toàn bộ bài giảng của Chúa qua trung gian một bản văn đã có trước bản văn của các ngài. Bản văn này ghi 4 điều phúc cho kẻ nghèo, kẻ đói, kẻ khóc, và kẻ bị bắt bớ vì đạo. Mátthêu và Luca cũng chép lại cả 4, nhưng cả hai muốn quảng diễn thêm. Mátthêu thì phân 4 thành 8; còn Luca thì nhân 4 với 2, tức là dùng thêm hình thức tiêu cực, nghĩa là sau khi nói đến 4 điều phúc, Luca nói đến 4 điều vô phúc cho những kẻ mâu thuẫn với 4 hạng người nghèo, đói, khóc lóc, và bị ghét bỏ, thì bốn điều vô phúc lại đe dọa những kẻ giàu, no, cười cợt và được tâng bốc. Như vậy, thể văn của Luca gần với lối văn khôn ngoan như chúng ta nhìn thấy trong bài sách Giêrêmia. Ở đây chúng ta cũng đã thấy có 2 phần: đoạn trước nói về số phận những kẻ bỏ Chúa để chạy theo thế gian. Định mệnh của họ ngược hẳn với tương lai của những người đặt hết tin tưởng vào Chúa, được trình bày ở đoạn sau. Nhưng chúng ta hãy thôi nói về hình thức văn chương, để tập trung suy nghĩ vào tư tưởng của bài Tin Mừng hôm nay.
Luca là một y sĩ và là tác giả của lòng Chúa thương xót nhân loại. Ngay từ câu đầu tiên, chúng ta đã nhìn thấy một lòng thương xót rất cụ thể. Luca viết rằng: Chúa phán: Phúc cho những kẻ khó nghèo; chứ không nói như Mátthêu: Phúc cho những kẻ có tinh thần nghèo khó. Có thể nói được rằng, theo Luca, khi ấy Đức Giêsu nhìn vào môn đồ và tuyên bố như trên. Lời của ngài có tính cách rất chân thật vì các môn đệ kia thật sự đã khó nghèo... Và khi ghi lại Lời Chúa, Luca cũng thấy trước mắt chỉ có những kẻ nghèo khó đã tin vào Phúc Âm và đang làm nên Hội Thánh của Chúa ở trần gian. Nói cách khác theo Luca, Chúa tuyên bố những người nghèo khó trong xã hội là những người có phúc. Còn những người giàu có, chính là những hạng vô phúc.
Và như vậy Luca tỏ ra trung thực với truyền thống các tiên tri trong Cựu Ước. Vì các ngài luôn loan báo những kẻ nghèo khó sẽ được rao giảng Tin Mừng. Nay Đức Giêsu mang Tin Mừng đến; những người có phúc nhận lãnh chính là những thành phần nghèo khó trong xã hội. Chính Người cũng đã sinh ra giữa đám người này. Họ là những người đầu tiên được loan báo ơn cứu độ đã đến, khi sứ thần Thiên Chúa hiện ra với mục đồng trong đêm Chúa Giáng Sinh, Nhiều lần Người khẳng định Tin Mừng và của cải không thể đi với nhau, vì nhất thiết họ sẽ mê của và bỏ Chúa, hoặc ngược lại người ta sẽ đi theo Chúa và bỏ hết mọi sự.
Đặc biệt nhất trong sách Luca có câu chuyện người phú hộ và Lazarô, một kẻ ăn mày ngồi ở ngoài cửa nhà ông (16,19-32). Không phải người giàu có ác tâm gì với Lazarô. Nhưng khi hai người chết, số phận đã đảo ngược hẳn lại. Lazarô được đưa vào cung lòng Abraham, còn người phú hộ phải ở nơi đau đớn. Lý do chỉ vì xưa kia ông đã sung sướng và Lazarô đã khổ; bây giờ Lazarô được an ủi và ông phải đau đớn. Dĩ nhiên chúng ta không nên cắt nghĩa một cách máy móc. Nhưng phải thành thật công nhận rằng Kinh Thánh vẫn có truyền thống chiếu cố những thành phần nghèo khó trong xã hội và thường phủ nhận nếp sống của những người giàu sang.
Sách Tin Mừng của Luca lại càng rõ rệt về vấn đề này (xem 16,13; 18,22.25; 12,30; 8,14...) Có thể vì như sách ấy viết ở đầu, tác giả đã tra cứu kỹ lưỡng về cuộc đời của Chúa Cứu Thế và thấy rõ thái độ ưu ái của Người đối với thành phần nghèo khổ trong xã hội. Và cũng có thể vì yêu mến Hội Thánh và thấy Hội Thánh gồm toàn những thành phần khổ sở nhất trong xã hội, tác giả thâm tín quả thật Nước Trời là của những kẻ nghèo khó.
Một bằng chứng nữa về việc tác giả Luca đã hiểu những con người nghèo khó đây một cách cụ thể là cách người trình bày các mối phúc thật sau. Khác với bản văn có trước mà Người với thánh Mátthêu đã sử dụng để viết lại bài giảng của Chúa, đoạn Tin Mừng hôm nay đã đổi chỗ nói về những con người đói ăn lên trước những con người khóc lóc. Và như vậy những con người nghèo khổ trước hết là những con người bây giờ túng đói. Họ sẽ được no đầy ở đời sau; nhưng bây giờ Nước Trời cũng đã là của họ rồi vì họ là thành phần những người nghèo khó. Ngược lại, những kẻ bây giờ no đủ sau này sẽ bị đói khát, như người phú hộ nọ.
Nhưng trong truyền thống của Thánh Kinh, những kẻ nghèo khó không những phải túng đói mà còn gặp rất nhiều đau khổ khác ở đời. Hiện tại họ phải khóc lóc; nhưng phúc cho họ vì họ sẽ được vui cười. Còn những kẻ bây gờ vui cười, sau này sẽ phải ưu phiền khóc lóc. Có thể nói ba mối phúc đầu làm thành một bộ và chủ yếu nhắm tới hạng người khổ sở trong xã hội mà Kinh Thánh gọi chung là những người nghèo khó. Họ sẽ được rao gaỉng Tin Mừng cho ở đời này và sẽ được bù lại ở đời sau... Nhưng khi đã lãnh nhận Tin Mừng, họ phải cẩn thận. Nếu họ bị ghét bỏ vì danh Chúa; thì họ có phúc vì họ sẽ giống các tiên tri thật. Còn nếu họ được khen lao, họ sẽ như các tiên tri giả.
Chúng ta có thể nghĩ rằng, ở đây tác giả Luca cũng đã diễn tả Lời Chúa cho một hoàn cảnh rất cụ thể. Chúa đã nói trước cho các môn đệ biết họ sẽ bị ghét bỏ, bắt bớ vì Tin Mừng... Nhưng khi Luca viết sách, có lẽ các cơn bắt đạo chưa mãnh liệt hoặc đã lặng xuống. Ngược lại, đâu đâu người ta theo Chúa cũng bị kỳ thị và gặp khó khăn. Do đó tác giả không nói đến bắt bớ mà chỉ diễn tả ý tưởng bị ghét bỏ. Và như vậy chúng ta lại có dịp phải hiểu sách Luca trong hoàn cảnh cụ thể của Hội Thánh.
Dân Chúa bấy giờ, như sách Công Vụ các Tông Đồ cho thấy là cộng đoàn bác ái đến nỗi không còn ai nghĩ của mình có là của riêng mình nữa, nhưng đã đem chia sẻ hết cho nhau để không còn ai túng thiếu. Tuy lòng bác ái đã bắt đầu sa sút khi những kẻ muốn giữ một phần của cải lại cho mình, như vợ chồng Anania... Luca thấy rõ tiền của thật là bất lương (16,9). Người ta không thể làm tôi Thiên Chúa và tiền của được (16,13). Thế nên phúc cho người nghèo khó vì nước Thiên Chúa là của họ.
Nhưng dân Chúa bấy giờ cũng đang gặp khó khăn với người Do Thái, nên phúc cho họ khi bị kỳ thị vì danh Chúa. Họ đang đóng vai trò của các tiên tri thật ở giữa dân được tuyển chọn. Sự khôn ngoan của Cựu Ước vì thế nay đã thuộc về họ. Họ hãy tin tưởng vào Chúa.
3. Niềm Tin Của Chúng Ta
Hoàn cảnh của chúng ta hiện nay ở trong Hội Thánh dĩ nhiên đã khác với thời thánh Luca. Nhưng những nét tả trên đây của Người về Hội Thánh vẫn còn nhiều giá trị. Mọi nơi, Tin Mừng Nước Trời vẫn đến với những người nghèo khó và những người theo Chúa thường bị ghét bỏ... Chúng ta không mong nhận được bù đắp và phần thưởng ở đời này, vì đúng như lời thánh Phaolô hôm nay nói: Nếu chúng ta đặt mối hy vọng vào Đức Kitô vỏn vẹn cho lúc sinh thời này thôi thì quả thật chúng ta là những kẻ khốn nạn nhất trong tất cả thế gian. Không, vì chúng ta tuyên xưng Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết, thì chúng ta cũng chắc chắn rằng những kẻ chết trong Người cũng sẽ sống lại.
Tuy nhiên ngay ở trần gian này, mỗi khi cử hành phụng vụ Thánh Thể, hơn bao giờ hết, chúng ta lại thấy được ở trong Nước Trời. Và đó không phải là một hạnh phúc nhỏ đâu... Nói cách khác, đời sống Kitô hữu hiện nay của chúng ta đang thể hiện những lời Luca đã viết và đã được sự khôn ngoan của các tiên tri ngày xưa báo trước. Về mặt xã hội chúng ta là những thành phần khó nghèo và đang phải phấn đấu nhiều, nhưng hiện nay nhờ mầu nhiệm Đức Giêsu Phục Sinh, không những chúng ta được an ủi vì đang ở trong Nước Trời, nhưng hơn nữa, chúng ta còn nắm vững niềm tin về hạnh phúc bất diệt sau này, khi những kẻ chết trong Đức Kitô sẽ sống lại cho sự sống muôn đời. Và không nói gì xa, cộng đoàn phụng vụ chúng ta đang ở đây lúc này, là gì sánh với xã hội loài người? Nhưng ai trong chúng ta không đang cảm thấy được hạnh phúc tràn trề vì đang được tiếp xúc, được vây quanh, được ở trong Nước Trời của Tin Mừng cứu độ? Và mầu nhiệm Nước Trời cử hành bây giờ không là bảo chứng cho việc sống lại mai ngày và hạnh phúc trường cửu sao? Do đó chúng ta hãy yêu mến phụng vụ, hãy cử hành thánh lễ sốt sắng đầy niềm tin, để luôn luôn trong cuộc sống hằng ngày chúng ta vẫn nhớ mình đang có hạnh phúc Nước Trời và sự sống muôn đời nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã sống lại từ cõi chết. Chúng ta hãy đứng lên tuyên xưng niềm tin ấy.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

TN6-C59. SUY NIỆM CHỦ NHẬT VI THƯỜNG NIÊN 11-2-2001

Trong cuộc sống của anh chị em hải ngoại có một cái hết sức quen thuộc, ngoài sự quan trọng: TN6-C59

Trong cuộc sống của anh chị em hải ngoại có một cái hết sức quen thuộc, ngoài sự quan trọng cần thiết để có thể hội nhập xã hội Mỹ, thì ít ai đặt vấn đề : đó là cái thẻ tín dụng (credit card). Cho dù có mặt ở đấy hơn 4 tháng, có thoáng thấy mấy người cháu quẹt thẻ nơi quầy thu tiền các siêu thị, nhưng chưa cầm nó trên tay, thành ra chẳng biết hình thù và cơ cấu của nó. Nhưng có lần tôi thấy người ta cũng hết sức bối rối vì máy không nhận thẻ, cuối cùng phải nhờ thẻ của người cùng đi. Tôi hiểu đại khái là thẻ này có một ai đó bảo chứng giá trị cho nó trên khắp đất Mỹ. Cũng thật tiện lợi và đóng góp vào sự thịnh vượng chung của đất nước chú Sam. Ở Việt Nam thẻ tín dụng chưa có thói quen lưu hành trên thị trường, nó vẫn chỉ như một biên lai giữa 2 đối tác trực diện.
Qua vài nét về thẻ ấy cuối cùng tôi nhận ra rằng "niềm tin" vẫn là vấn đề sống còn và thịnh vượng của nhân loại. Thiếu nó, con người vẫn không thể trở thành con người bình thường trong xã hội, dù đó là xã hội Mỹ. "Niềm Tin" cần được "bảo kê" hay "bảo chứng" để có giá trị khách quan trong xã hội, để rồi nó có thể tương tác với xã hội trong những lãnh vực không phải là nó. "Niềm Tin" cũng có thể bị lợi dụng về phía này hay phía kia, và khi "niềm tin" phá sản thì đại họa ập tới, người ta cũng không thể mường tượng hết mọi hậu qủa của nó trên đất Mỹ.
 Trong cuộc sống của anh chị em hải ngoại hiện nay đang lên cơn sốt vì thị trường chứng khoán. Rõ ràng đây là một thứ đặt cược niềm tin của mình vào những cổ phần của một công ty nào đó. Và chính ở cái thị trường lớn lao này, thị trường vượt ra khỏi mọi sự kiểm soát tương tác, mà tôi có thể nói chính đây là chợ rao bán và đổi chác niềm tin. Một sự kiện khó thấy trong những xã hội cổ xưa. Và cách nào đó khi niềm tin trở thành hàng hóa thì nó đã bộc lộ mặt trái của nó : bản chất cũng chỉ là cái mồi cho thiên hạ cắn câu. Nền kinh tế Mỹ dù thịnh vượng không nước nào sánh kịp, nhưng không ai có thể đánh giá thực chất nó là gì, tất cả chỉ là những con số đã được cược vào đó. Mỗi cổ phần của một công ty mang giá trị của những niềm tin đã cược vào nó. Và vì vậy, vấn đề sống còn của kinh tế Mỹ là duy trì niềm tin của khách "làng chơi". Chúng ta mới thấy cái ngớ ngẩn của con người: trong khi bằng mọi cách loại trừ niềm tin tôn giáo, thì lại dồn hết tài sức để duy trì "niềm tin" cho khách "làng chơi".
Theo Giêrêmia và thánh Phaolô thì đó là "cái khốn" của loài người.
 Tại sao người Kitô chúng ta lại phải mặc cảm về lòng tin của mình: phải che đậy nó. Nhiều người "có ăn học" bảo rằng làm dấu trong một quán ăn là thiếu lịch sự. Trong khi cả một xã hội văn minh hàng đầu người ta phải mất hàng chục nghìn đô để mượn cái thân lõa lồ của một minh tinh để nói lên niềm tin của họ vào một món hàng (có khi thật kém chất lượng), thì họ lại cho là "lịch sự và đúng điệu". Ngôn ngữ cũng đã vấy mùi gian trá trong cái chợ buôn bán lòng tin ấy.
 Dấu Thánh Giá đó là bảo chứng của Niềm Tin Kitô Giáo, theo Luca, đó là bảo chứng tuyệt vời nhất: vì nó nghèo, vì nó đói khát, vì nó là nước mắt không ngừng chảy, vì nó là dấu hiệu bị thù ghét, bị trục xuất, bị phỉ báng. Bởi vì Luca người cộng sự một thời của Phaolô đã xác tín rằng Thánh Giá chính là lối vào Sự Sống Lại. Và đấy là tất cả niềm tin và hy vọng của người Kitô Hữu. Ở đây không phải là con số nay còn mai mất, mà là Một Đấng, Một Con Người đã chết và sống lại vì mỗi người chúng ta.
 Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên.

 

TN6-C60. NHỮNG MỐI PHÚC ĐÍCH THỰC

Lc 6, 17.20-26
 

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu chúng ta không khỏi ngạc nhiên và sửng sốt khi Chúa Giêsu: TN6-C60

  Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu chúng ta không khỏi ngạc nhiên và sửng sốt khi Chúa Giêsu chúc phúc cho những người nghèo đói, khóc than, bị oán ghét, bị khai trừ, sỉ nhục và đi kèm theo là những lời nguyền rủa những người giàu có, no nê, phè phỡn, vui cười, được mọi người ca tụng. Chúng ta có thể nhận ra những nghịch lý, những đối chọi giữa người giàu, kẻ nghèo, giữa những người đói khát và những người no nê. Đây là hai giai cấp trong xã hội giữa giàu và nghèo mà Tin Mừng mô tả để người môn đệ Chúa chọn lựa.
  Có một nghịch lý rất cơ bản mà Tin Mừng gợi lên, đó là Chúa luôn chúc phúc cho những người nghèo khó không ham lợi lộc thế gian, biết cam với số phận, biết bám chặt vào Chúa. Đối với những người này, Chúa luôn hướng họ tới một niềm hy vọng hạnh phúc tương lai. Chúa cũng không lên án những người giàu có biết chia sẻ, biết cảm thông với người khác. Chúa chỉ lên án những hạng giàu có như ông phú hộ giàu không biết quan tâm, không thương xót. Những người giàu có biết chia sẻ sẽ được hạnh phúc cả đời này, lẫn đời sau bởi vì họ biết trao ban, cảm thông và sẻ chia.Chúa không lên án của cải nói chung, nhưng lên án cách đặc biệt cách sử dụng tiền của. Vâng, của cải có thể tốt nhưng cũng có thể xấu. Tiền bạc là con dao hai lưỡi: nó có thể sử dụng vào việc tốt cũng như việc xấu. Chúa lên án những người giàu chỉ khư khư bám lấy của cải và chỉ thiển cận nhìn thấy cái nẫm, cái kho tàng của mình thôi. Họ để cho tiền của nhận chìm họ trong những sự việc hào nhoáng bề ngoài, những sự mau qua của trần thế này. Họ không hiểu cái mau qua và cùng đích của đời sống, của con người. Họ quên đi cùng đích hay mục đích của con người là “ Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người “ ( Mt 6, 33 ). Chính vì thế mà họ đã chỉ tìm phương tiện, và để cùng đích tan biến trong phương tiện.Chúa chỉ lên án hạng giàu sang nhưng sống ích kỷ, sống bo bo với con người của mình. Họ sống theo chủ nghĩa cá nhân và quên đi họ còn mắc nợ nhiều người bởi vì đời sống con người là một sự liên đới không thể tách rời. Chúng ta sống có nợ với nhau, chúng ta nợ ấy cho kẻ đói ăn, cho kẻ kẻ rách rưới ăn mặc, cho kẻ khát uống, thăm viếng kẻ tù đày. Nói như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn :” Sống trên đời phải có tấm lòng “. Đặc biệt Chúa dạy :” Hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương các con “. Do đó, người giàu, làm giàu một cách lương thiện, chính đáng không phải là tội.Tiêu xài căn cơ, đúng không phải là điều xấu xa. Nhưng giầu có, hưởng thụ và làm ngơ trước sự đau khổ của người khác là một tội ác. Hạnh phúc thật không phải do sự giầu có mà là sự trao ban như thánh Phaolô viết :” Cho thì có phúc hơn nhận lãnh “. Hạnh phúc thật là sống trong an bình, thanh thản và tử tế với mọi người.
   Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay đã mở ra cho chúng ta một chân trời mới, một trật tự mới, trật tự khác với trật tự chúng ta đang sống. Trật tự, chân trời mới được đặt trên nền tảng là chính Thiên Chúa, niềm tin và niềm cậy trông của người môn đệ Chúa. Giầu có biết chia sẻ, biết trao ban là hạnh phúc thật. Nghèo khó nhưng biết phó thác, tin tường, cậy trông và không tham lam của cải, không tham lam tiền của của ngưởi khác là hạnh phúc thật.
   Thánh Luca ghi lại những lời chúc phúc và những lời chúc dữ của Chúa Giêsu với chủ ý vạch ra con đường mà những người muốn theo Chúa phải lựa chọn. Con đường đó là con đường siêu thoát đối với những quyến rũ, những cạm bẫy của trần gian để chỉ khao khát và tìm kiếm và cậy trông vào Chúa đến cùng.
   Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết tin tưởng, cậy trông và phó thác nơi bàn tay nhân từ đầy thương yêu của Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT
 

TN6-C61. MỐI PHÚC ĐÍCH THẬT

Lc 6, 17-18. 20-26
 

Con người sinh ra ở trần gian này, ai cũng muốn cho mình được ấm no, hạnh phúc. Đó là: TN6-C61

Con người sinh ra ở trần gian này, ai cũng muốn cho mình được ấm no, hạnh phúc. Đó là khuynh hướng và ước mong tự nhiên của con người. Tuy nhiên, thế giới vẫn có những người quá giầu, bên cạnh đó lại nhan nhản có những người quá nghèo: cơm không đủ ăn, mặc không đủ ấm. Tại sao lại như vậy ? Con người vẫn cho rằng giầu mới có hạnh phúc, mới được Chúa, Trời, Thượng Đế chúc phúc. Có đúng vậy không?. Tin Mừng của thánh Luca 6, 17-18. 20-26 sẽ trả lời những vấn nạn này.
TIN MỪNG THÁNH LUCA NÓI GÌ HÔM NAY ? : Đọc đọan Tin Mừng của thánh Luca hôm nay phải chăng con người sẽ chưng hửng khi Chúa Giêsu đưa ra bốn lời chúc phúc ngược lại theo suy nghĩ của con người trần thế: “ Phúc cho những người nghèo đói, thiếu thốn, lầm than; phúc cho những kẻ khóc than, bị ngược đãi, bắt bớ, bị lọai trừ, bị sỉ nhục” và kèm theo đó là bốn lời Chúa Giêsu nguyền rủa :” Những kẻ giầu có, no đầy, sung sướng nói cười thỏa thê, được mọi người tôn vinh,ca tụng”. Đây là sự tương phản giữa hai lớp người trong xã hội mà Chúa Giêsu trình bầy để môn đệ Chúa chọn lựa. Điều rất quan trọng và gợi hình, gợi cảm ở đây là Chúa Giêsu hướng đến người xấu số, bất hạnh, bị xã hội khinh bỉ, đẩy lui ở đời này và Chúa hứa cho họ phần phúc đời sau. Đây là phản đề nổi bật của tám mối phúc Chúa nói với môn đệ và mọi người ở muôn thời, ở muôn thế hệ. Quả thực Chúa Giêsu không hề có ý chúc dữ những người giầu có mà biết sử dụng của cải Chúa ban một cách hợp lý, biết chia sẻ cho những người túng nghèo như Giakêu, người thu thuế giầu có, nhưng được Chúa biến đổi để tin nhận Chúa là phần phúc và tự tâm biết chia sẻ với những người nghèo, với những người mà ông đã làm thiệt hại. Chúa muốn ám chỉ tới người giầu có và ông Nagiarô nghèo nàn, ghẻ lở vv…Chúa muốn  nói đến những người giầu có biết chia sẻ và biết trao ban. Chúa Giêsu không lên án của cải nhưng Ngài kết án đồng tiền bất lương, đồng tiền không ngay chính, đồng tiền liên lẹo. Tự bản chất tiền của không xấu, nhưng không biết sử dụng nó, không biết chia sẻ, bo bo ích kỷ làm giầu trên xương máu người khác là bất chính. Chúa kết án nặng nề những thành phần ích kỷ, keo kiệt.
KHỐN KHỔ CHO NHỮNG NGƯỜI GIẦU NHƯ ÔNG GIẦU CÓ TRONG TIN MỪNG MÀ CHÚA ĐỀ CẬP TỚI : Nghèo khó tự nó không phải là nhân đức. Cùng cực như ông Gióp mà biết chấp nhận theo ý Chúa mới là nhân đức đáng ca ngợi. Tuy nhiên giầu có mà xài phung phí, yến tiệc linh đình ngày này qua ngày khác mà làm ngơ trước nỗi thống khổ, đau thương của người khác, để người nghèo ghẻ lở nằm ngòai cửa, ngòai trời cho chó liếm, không để một vụn bánh rơi xuống đất, ích kỷ đến vắt ra
nước như ông giầu có Chúa nói đến là bất nhân, Chúa lên án thật nặng nề. Vâng, Chúa nói :” Khốn cho người giầu có” khi họ chỉ biết tích lũy, giầu kếch sù nhưng vẫn bon chen, hà hiếp người nghèo để cuỗm tay trên,ăn trên mồ hôi nước mắt của kẻ khác.Mỗi người đều có sự liên đới với người khác.Không ai là một hòn đảo, không ai được sống riêng lẻ. Ích kỷ, sống chủ nghĩa cá nhân mà quên đi tất cả, quên đi sự có mặt của người khác là có tội. Cùng đích của con người :” Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa…còn những thứ kia Người sẽ ban cho”( Mt 6, 33 ). Thiên Chúa không bần cùng hóa con người, nhưng Ngài luôn muốn con người thăng tiến, luôn muốn con người vươn lên. Mỗi người Chúa ban cho một trái tim. Con tim phải biết rung lên những nhịp điệu của tình yêu, rung lên những thì của yêu thương. Giầu có mà biết quảng đại, biết chia sẻ là hạnh phúc. Tuy nhiên, giầu có mà ích kỷ, keo kiết, không trao ban, không chia sẻ là bất hạnh và đáng Chúa lên án, nguyền rủa.
Hạnh phúc Nước Trời là khi chúng ta sống cái nghịch lý của Tin Mừng với tất cả niềm tin, cậy trông và phó thác.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết sống hạnh phúc đích thực của tám mối phúc theo như lời Chúa dậy. Xin Chúa ban cho chúng con quả tim biết quảng đại và chia sẻ. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

TN6-C62.  PHÚC HỌA TẠI TRỜI.

Chúa Nhật 6C Thường Niên.
 

Phúc họa vẫn hằng theo đuổi con người.   Nói khác cuộc đời chỉ là cuộc chơi hú tim giữa phúc : TN6-C62

Phúc họa vẫn hằng theo đuổi con người.   Nói khác cuộc đời chỉ là cuộc chơi hú tim giữa phúc và họa.   Làm cách nào tránh họa và hưởng phúc ?  Cái nhìn rất thực tế của Đức Giêsu xoáy tận vào thân phận  người nghèo và những người khốn cùng trong xã hội.   Cái nhìn đó đã đảo lộn mọi toan tính con người và vẽ nên một cảnh bồng lai ngay giữa những khốn cùng trần thế.
NGỔN NGANG TRĂM MỐI.
Đức Giêsu đã chọn sinh ra trong một xã hội đẫy dẫy bất công.  Những tệ nạn xã hội như nghèo đói, trộm cướp, giết người, đĩ điếm.   Bị đặt ra ngoài lề xã hội là những người phong cùi, bị bỏ rơi, khinh bỉ, áp bức.   Xã hội đời nào cũng có những cái nhìn đóng khung những người như thế vào số phận hẩm hiu.
Nhưng Đức Giêsu thì khác.   Người có một cái nhìn rất trân trọng và trìu mến đối với những người đau khổ đó.   Cái nhìn đó không phát xuất từ một lòng thương hại của những người giàu có hay quyền lực.   Vì chính Người cũng là một người nghèo, từng sống một đời tầm thường trong một đất nước mất chủ quyền và giữa một dân tộc bị áp bức.   Người thấy rõ những nguy hiểm của những người giàu có và quyền lực.  Bởi đó, Người mới lên tiếng: “Phúc cho anh em là những người nghèo khó.” (Lc 6:20)   Người nghèo trước tiên là những người bị bóc lột về kinh tế.   Nhưng cũng được xếp vào hạng nghèo những người bị mất hết quyền căn bản về chính trị, văn hóa hay tôn giáo, những nạn nhân của nạn kỳ thị nam nữ hay chủng tộc.   Chắc chắn khi lên tiếng như thế, Đức Giêsu không có ý mị dân.  Nhưng làm thế nào Người có thể thấy được hạnh phúc lớn lao nơi những con người xấu số đó ?  
Cái nhìn của Đức Giêsu sâu xa hơn mức bình thường.   Sâu hơn vì Người thấy Thiên Chúa đang ngự trị tâm hồn con người.   Xa hơn vì Người tin niềm hi vọng của những người nghèo có cơ sở vững chắc nơi Thiên Chúa. Niềm hi vọng đó không phải chỉ đạt được trong tương lai để người Kitô hữu khỏi phải tranh đấu chống lại những cơ chế bất công.   Nhưng ngay từ bây giờ niềm hi vọng đó phải là nguồn động lực cho những ai tin tưởng nơi Đức Kitô.   Vì “Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17)   Muốn xây dựng Nước Thiên Chúa mà không hoạt động tích cực chống lại bất công, đó là tự mâu thuẫn.   Bởi thế, hạnh phúc tương lai tùy thuộc nỗ lực hôm nay làm cho người anh em nghèo khổ được hạnh phúc.   Thiên Chúa không muốn trở thành một thứ bình phong cho người ta lẩn tránh trách nhiệm đối với anh em đồng loại.
Thực tế, nếu vì hoạt động tích cực cho hạnh phúc tha nhân và sự công chính của Nước Thiên Chúa mà bị bách hại, Kitô hữu không được phép tìm sự an ủi nơi người đời.   Thánh Kinh cảnh cáo : “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và lòng dạ xa rời Đức Chúa.” (Gr 17:5)   Trái lại, càng bị bách hại, họ càng “vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:23)   Chính Đức Giêsu đã là nạn nhân của những cơ chế bất công.   Người đã bị giết vì sứ điệp của Người làm suy giảm quyền lực của những người cầm quyền thời đó.   Cuộc đời của Người là một bể nước mắt.  Nhưng Người vẫn công bố Tin Mừng và những mối phúc cho những ai đồng cảnh ngộ với Người.   Đó là lý do tại sao dân chúng tuốn đến với Người.   Người nói lên được khát vọng sâu xa của tâm hồn họ.   Không chia sẻ cùng cảnh ngộ với họ, Đức Giêsu không thể diễn tả và phóng lên những hình ảnh và niềm hi vọng lớn lao đó.   Hơn nữa, chính Người trở thành niềm hi vọng cho những ai đặt hết niềm tin tưởng nơi Người.   Vì “Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết.” (1 Cr 15:20)   Người trở thành tiêu chuẩn để phân biệt phúc họa cho cuộc đời.   Từ đó, người ta mới thấy rõ tiền bạc, của cải, thú vui và danh vọng là những thứ có thể gây nguy hiểm và trở thành mối họa cho những người chiếm hữu.   Thực tế, nhiều người đã mắc vào vòng cùng khốn đó.   Cuối cùng chẳng biết ai là người hạnh phúc trên cõi đời này ?!   Đức Giêsu tỏ ra ái ngại trước những người đang mắc vòng kiềm tỏa đó.  Người mạnh mẽ kêu gọi mọi người hối cải bằng những lời ngăm đe : “Khốn cho ... “ (Lc 6:24-26), chứ không phải nguyền rủa.   Chắc hẳn những ngăm đe đó cũng đánh thức nhiều người !
ÁNH SÁNG CỨU ĐỘ.
Vấn đề không phải là giàu nghèo.   Nhưng đâu là hạnh phúc ?    Dưới ánh sáng cứu độ, con người có thể phân biệt rõ ràng “phúc họa tại trời”.   Với niềm tin, con người có thể làm được mọi sự.   Quả thế, Đức Giêsu quả quyết :“cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin.” (Mc 9:23)   Vượt qua những thách đố của cuộc đời nghèo khó, đói khát, sầu khổ không phải là chuyện khó lắm đối với những người có lòng tin.   Đúng hơn, trong niềm tin vào Thiên Chúa, Kitô hữu nhận thấy “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người.” (Rm 8:28)
Thế giới hôm nay còn biết bao vấn đễ chưa giải quyết được chỉ vì Kitô hữu thiếu niềm tin.   Nếu có lòng tin thực sự, họ không thể đặt mình ngoài cuộc.   Tóm lại, họ là những người phải nhập cuộc, sẵn sàng cho người khác phiền đến mình.   Không ai có thể lên thiên đàng một mình. Bởi đó, một cách hay nhất lo hạnh phúc của mình là bắt tay lo cho hạnh phúc tha nhân.  Nói khác, Kitô hữu đích thực phải liên đới và hợp tác với mọi người thiện chí  để xây dựng hạnh phúc cho đồng loại.   Đứng trước những cơ chế bất công, không phản ứng tức là đồng lõa.   Hạnh phúc Đức Giêsu hứa cho những ai nghèo khó, đói khát và khóc lóc không phải đợi tới đời sau mới thực hiện.   Ngay từ bây giờ, Kitô hữu phải thấy được chiều kích thực tế của Tin Mừng để mau mắn bắt tay vào công cuộc chống đối mọi hình thức bất công.   Càng lo hạnh phúc tha nhân, càng bảo đảm hạnh phúc tương lai, vì “phần thưởng danh cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:23)
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

TN6-C63.  Chúa Nhật 6 quanh năm

(Lu-ca 6: 17, 20-26)
 

Chúa Giê-su tuyển chọn mười hai người trong số các môn đệ và đặt họ làm Tông đồ.  Họ sẽ được: TN6-C63

          Chúa Giê-su tuyển chọn mười hai người trong số các môn đệ và đặt họ làm Tông đồ.  Họ sẽ được huấn luyện đặc biệt và ở bên cạnh Chúa Giê-su để tập việc.  Họ cần phải am hiểu giáo lý của Người hơn ai hết, để đến lượt họ sẽ phải loan truyền giáo lý ấy cho dân chúng.  Giáo lý ấy có những điểm đặc biệt giúp người nghe căn cứ vào đó mà làm phát triển những gì là độc đáo nơi con người họ.  Những điểm đặc biệt ấy được gọi là những Mối phúc trong bài giảng khai mạc của Chúa Giê-su.  Ta thường quen thuộc với Tám Mối phúc trong Tin Mừng Mát-thêu.  Còn bài Tin Mừng của thánh Lu-ca hôm nay lại trình bày những Mối phúc ấy với một kết cấu hơi khác biệt.
 
  1.   Bối cảnh quen thuộc:  Chúa Giê-su ngước mắt nhìn các môn đệ
          Trước khi ghi lại bài giảng hay diễn từ của Chúa Giê-su, thánh Lu-ca thường mở đầu bằng cách mô tả khung cảnh tụ họp của các môn đệ hoặc dân chúng kéo đến với Chúa.  Ngài cũng không quên nhắc tới một số việc làm của Chúa Giê-su, như làm phép lạ và chữa lành bệnh tật.  Điều ấy cho thấy Lu-ca muốn diễn tả Chúa Giê-su đang thi hành sứ vụ mà ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo (Lc 4:18-19).  Từ đầu sách Tin Mừng tới giờ, ta chỉ mới nghe nói về Chúa Giê-su giảng dạy tại nơi này nơi kia, nhưng chưa có dịp nghe một bài giảng của Người.  Hôm nay ta được nghe bài giảng khai mạc của Chúa.  Chắc chắn phải là một bài giảng hết sức quan trọng, vì tất cả những gì ta được nghe sau đó sẽ là những điều được khai triển từ chủ đề của bài giảng khai mạc.
          Một chi tiết khác giúp ta hiểu tầm quan trọng của bài giảng, đó là nó được công bố ngay sau việc Chúa tuyển chọn mười hai Tông đồ.  Các ông không thể vắng mặt trong biến cố quan trọng này được.  Trong buổi lễ nhậm chức, tân tổng thống Hoa-kỳ bao giờ cũng có một bài diễn văn, và mọi người, từ các tổng trưởng tới mọi người dân đều chăm chú lắng nghe.  Thí dụ ấy giúp ta hiểu khung cảnh trang trọng của bài giảng khai mạc Chúa Giê-su nói hôm nay.
          Bài giảng trong Tin Mừng Mát-thêu dành cho dân chúng.  Còn bài giảng trong Tin Mừng Lu-ca lại đặc biệt nhắm đến các môn đệ Chúa.  “Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói”.  Dĩ nhiên là có cả đám đông dân chúng cũng có mặt.  Nhưng Lu-ca nói đến cử chỉ Chúa ngước mắt nhìn các môn đệ là ngài muốn ta hiểu rằng bài giảng của Chúa nhắm mô tả chân dung người môn đệ thập toàn.  Từ các Tông đồ cho tới đám dân chúng theo Chúa, ai mà chẳng phải làm môn đệ thập toàn của Chúa?  Cử chỉ ngước mắt nhìn các môn đệ ngầm nói lên một mong ước hoặc mời gọi đầy thiết tha của Chúa.  Cử chỉ ấy cũng giúp ta hiểu lời lẽ trong các mối họa (“Khốn cho...”) không phải là lời nguyền rủa ngăm đe, nhưng là lời kêu gọi người ta hối cải, đừng sống theo não trạng đi ngược lại giáo lý của Chúa.
 
  1.   Bài giảng khai mạc hay niềm vui nỗi buồn của Chúa Giê-su về các môn đệ
          Bài giảng này Chúa đặc biệt dành cho các môn đệ đang ở trước mặt Người lúc ấy cũng như dành cho các môn đệ mọi thời mọi nơi trong tương lai.  Nó chứa đựng tất cả tâm tình của Chúa Giê-su đối với những ai muốn làm môn đệ Người.  Nếu những người đó sống theo đường lối Người chỉ dạy thì đó là một ân sủng cho họ, vì ân sủng ấy sẽ là con đường đưa họ tới sự hoàn hảo.  Môn đệ được như vậy, hẳn người hạnh phúc nhất phải là Thầy của họ.  Còn nếu môn đệ sống ngược lại với giáo lý của Thầy thì quả thực là một tai họa lớn lao cho họ.  Trường hợp này Thầy sẽ buồn rầu lắm, những mong họ hối cải ăn năn.  Vậy Chúa Giê-su muốn các môn đệ Người hãy trở nên loại người nào và phải ăn năn hối cải trong những trường hợp nào?
          Chắc chắn có rất nhiều đức tính tốt của người môn đệ, nhưng ở đây Lu-ca chỉ ghi lại bốn loại tiêu biểu cho mẫu người môn đệ trong tình huống lúc ấy của cộng đoàn Ki-tô.
          Trước hết người môn đệ phải là “những kẻ nghèo khó”.  Nghèo khó trong Tin Mừng Lu-ca được hiểu theo hai ý nghĩa.  Có thể là người nghèo khó về vật chất tiền của, như ta thấy Chúa Giê-su thường quan tâm tới họ (Lc 14:13,21; 16:20).  Nhưng cũng có thể là người sống khiêm nhu, bé mọn (Lc 18:14; 10:21).  Chính Chúa Giê-su cũng là người nghèo khó gương mẫu, nghèo tiền bạc nhưng giầu sự khiêm nhường.
          Tiếp đến, người môn đệ phải là những người hiện tại đang đói, đói của ăn thiêng liêng là lời Chúa và luôn ước mong theo đó mà sống, để qua cơn đói thiêng liêng đời này họ sẽ được no thỏa trong ngày cánh chung.  Chúa Giê-su thường nói:  Lương thực của tôi là làm theo ý Cha tôi.
          Thứ ba, con đường làm môn đệ đòi ta phải “bỏ mọi sự, vác thập giá mà theo Thầy”.  Dù ta có phải trả giá làm môn đệ Chúa bằng bao nước mắt thì cũng không có nghĩa đó là mối họa, vì chính Chúa cũng phải trả giá bằng cái chết khổ nhục để thi hành thánh ý Chúa Cha.
          Mối phúc sau hết là chấp nhận mọi thiệt thòi khi làm môn đệ Chúa.  Không hẳn chỉ là những bách hại hay cái chết như những Ki-tô hữu thời Lu-ca đã phải gánh chịu, nhưng cũng là những thiệt thòi hôm nay khi ta can đảm sống theo những giá trị Tin Mừng.
          Đó là những điều kiện căn bản người môn đệ Chúa mọi thời phải lấy làm mẫu mực để sống theo.  Tuy nhiên hành trình làm môn đệ luôn gặp trở ngại, từ nội tâm cũng như từ bên ngoài.  Nếu người môn đệ không sống theo những đòi hỏi trên của Tin Mừng thì là điều bất hạnh cho họ.  Chọn lựa duy nhất khi ấy là phải ăn năn hối cải để trung thành với lý tưởng làm môn đệ Chúa.
          Tóm lại, ta có thể hiểu những mối phúc họa trong bài giảng khai mạc của Chúa Giê-su chính là những đặc tính người môn đệ phải có để theo Chúa và những nguy hiểm họ phải đề phòng để khỏi phản bội lý tưởng sống theo gương Người.
 
  1.   Suy nghĩ và cầu nguyện
          Suy nghĩ về người môn đệ của Chúa hôm nay, tôi thấy điều kiện nào là khó khăn nhất cho tôi:  nghèo khó và khiêm nhu?  luôn khát khao nên trọn lành?  phải biết khóc để mà trở về với lý tưởng làm môn đệ Chúa sau những vấp ngã?  chấp nhận thiệt thòi trước mặt người đời?  Tại sao khó, và tôi sẽ làm gì để thắng vượt?
          Trong tất cả những điều kiện làm môn đệ thập toàn, tôi có luôn luôn nhìn lên gương mẫu là Chúa Giê-su không?  Tôi đã học được nơi Người những gì trong từng điểm Người dạy?
          Nếu tôi phải nghe Chúa nói với tôi những lời “Khốn cho anh em...”, thì tôi hiểu thế nào về tâm tình của Chúa Giê-su đối với tôi?  Tôi có sẵn sàng đáp lại lòng yêu thương của Chúa muốn tôi ăn năn hối cải không?  Và tôi sẽ làm gì?
Cầu nguyện
          “Lạy Chúa Giê-su,
          sống cho Chúa thật là điều khó.
          Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
          Chúa đòi con cho Chúa tất cả
          để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.
          Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựa
          để con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
          Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà
          để cây đời con sinh thêm hoa trái.
          Chúa cương quyết chinh phục con
          cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.
          Xin cho con dám ra khỏi mình,
          ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan
          để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,
          dù phải