Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 PS ABC Bài 1-50 Chúa đã sống lại

Thứ hai - 01/05/2017 09:12
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 PS ABC Bài 1-50 Chúa đã sống lại
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 PS ABC Bài 1-50 Chúa đã sống lại

Suy Niệm Tin Mừng Lễ Phục Sinh ABC Bài 1-50 Chúa đã sống lại
PS1-1: Canh thức Vọng Phục Sinh - Lm Trần Thế Phiệt, DCCT.. 2
PS1-2: NIỀM HY VỌNG SỐNG LẠI 5
PS1-3: CS/55: TIN CHÚA PHỤC SINH.. 7
PS1-4: Biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu. 8
PS1-5: RA KHỎI MỒ - CS/47. 10
PS1-6: SỐNG VỚI CHÚA - STM/97. 11
PS1-7: NIỀM HY VỌNG - CSTM/96. 12
PS1-8: MỘ MỞ TOANG - CSĐ/167. 14
PS1-9: ĐỨC TIN - LS/69. 16
PS1-10: CHỜ ĐÓN - LS/330. 17
PS1-11: TRO TÀN CỦA LỊCH SỬ.. 18
PS1-12: PVCNLT/184. 19
PS1-13: HY VỌNG.. 21
PS1-14: NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI TỪ TRONG KẺ CHẾT.. 23
PS1-15: NIỀM TIN VÀO ĐẤNG PHỤC SINH : Sr. Inê. 27
PS1-16: Đức Giê-su đang sống hay đã chết trong tâm hồn ta? – JKN.. 28
PS1-17: NGÔI MỘ TRỐNG –DẤU CHỈ PHỤC SINH.. 32
PS1-18: NIỀM TIN KHƠI NGUỒN ƠN PHÚC - Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR.. 34
PS1-19: CHÚA KITÔ SỐNG LẠI- Lm Giuse Nguyễn Trung Điểm.. 36
PS1-20: Đức Kitô Sống lại từ cõi chết 38
PS1-21: TẠO VẬT MỚI TRONG CHÚA KITÔ.. 39
PS1-22: CHÚA KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT-Msgr Trần Văn Khả. 41
PS1-23: NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI TỪ CÕI CHẾT-Sr Rosemary Nhàn, MTGQN.. 43
PS1-24: Sự Phục Sinh của Đức Giê-su là biến cố trung tâm.. 44
PS1-25: Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết 48
PS1-26: Sự sống sự sống mới - PS/ LỄVỌNG.. 50
PS1-27: LÀM CHỨNG CHÚA KI-TÔ PHỤC SINH.. 52
PS1-28: Cuộc chiến thắng khải hoàn của Đấng Cứu Thế. 54
PS1-29: ĐÓN NHẬN ƠN PHỤC SINH.. 56
PS1-30: TÔI ĐÃ TRỖI DẬY CÙNG VỚI MẶT TRỜI - Mark Link S.J. 58
PS1-31: CÔ ĐÃ THẤY GÌ TRÊN ĐƯỜNG ĐI?. 60
PS1-32: ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ ĐANG SỐNG, 61
PS1-33: THỜI ĐIỂM CẢM ƠN HOA.. 64
PS1-34: ĐÂY LÀ ĐÊM. 68
PS1-35: Thánh lễ Đêm Phục Sinh là Đỉnh Cao của năm phụng vụ. 70
PS1-36: SỐNG NIỀM TIN VÀO ĐỨC KI-TÔ PHỤC SINH.. 72
PS1-37: Người tân tòng vững mạnh trong cuộc sống mới 74
PS1-38: Suy Niệm của Lm Augustine, S.J. 82
PS1-39: ÁNH LỬA PHỤC SINH - Lm Bùi Quang Tuấn CSsr 86
PS1-40: Suy Niệm của Lm Giuse Hoàng Kim Toan. 88
PS1-41: SỨ ĐIỆP GỬI QUA CÁC PHỤ NỮ.. 92
PS1-42: Câu hỏi gợi ý: 94
PS1-43: Đức Kitô chết, nhưng đã sống lại 98
PS1-44. Sống Lời Chúa - NIỀM HY VỌNG SỐNG LẠI 102
PS1-45. CSTM/106- SỐNG LẠI 104
PS1-46. SCĐ/190- HAI CÁI NHÌN.. 106
PS1-47. PV/205- LẬP LẠI LỜI HỨA.. 107
PS1-48. PV/208- NIỀM VUI PHỤC SINH.. 109
PS1-49. PV/210- CHIẾN THẮNG.. 110
PS1-50. HRK/310- SỐNG LẠI 112
 

PS1-1: Canh thức Vọng Phục Sinh - Lm Trần Thế Phiệt, DCCT

Thứ Bảy Tuần Thánh/ Vọng PS
Phần Canh thức chọn 3 bài đọc.
St 1, 1- 2, 2; Xh 24,15 - 15,1; Ez 36, 16 – 28
Trong Thánh kinh, chữ thế gian có cả nghĩa tốt lẫn nghĩa xấu. Nghĩa tốt như khi nói về trái đất: PS1-1
I. Trong Thánh kinh, chữ thế gian có cả nghĩa tốt lẫn nghĩa xấu. Nghĩa tốt như khi nói về trái đất và con người do Thiên Chúa dựng nên, với bao nhiêu điều kỳ diệu, đến nỗi chính Thiên Chúa hài lòng và sung sướng, như bài Sách Sáng thế vừa cho thấy. Nghĩa xấu, khi thế gian nhuốm sự tội, và tinh thần của thế gian trở nên xấu xa và hư hỏng.
Lịch sử Cứu độ từ Cựu ước đến Tân ứơc đã phơi bày biết bao hình thức xấu xa của tội thế gian, của tinh thần thế gian.
+ Trước hết, nó phá hủyvẻ đẹp và sự hài hoà trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa, sự thân nghĩa giữa con người với vạn vật và với nhau, từ khi hai ông bà nguyên tổ phạm tội bất tuân Thiên Chúa, như ta đã biết.
+ rồi tinh thần thế gian là nguồn sinh ra các cuộc chiến tranh, chém giết, cụ thể là cuộc đàn áp hành hạ của vua Ai cập đối với dân Do thái, mà bài đọc II gợi đến.
+ chưa hết, tinh thần thế gian còn làm hư hỏng chính tâm hồn dân chọn của Thiên Chúa.
- khiến họ sớm quên tình thương của Giavê, đấng đã can thiệp để cứu thoát họ khỏi kiếp nguy kịch ở Ai cập để đưa họ về Đất Hứa với cuộc sống ổn định no đủ, và họ sớm coi khinh Giavê, sống ngược với giao ước thánh, đến nỗi bị lưu đầy
- rồi ngay trên đất lưu đầy, thay vì sám hối sửa mình, nhiều người trong họ tiếp tục xúc phạm thánh danh Thiên Chúa, như đoạn sách của ngôn sứ Egiekiel vừa cho thấy.
- Nhất là đến thời Tân Ước, mặc dù Đức Giêsu đã dùng lời nói, các phép lạ và thái độ sống, mạc khải mình là đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, thế gian vẫn ngoan cố khước từ, thậm chí còn giết chết Ngài nữa.
+ Có thể nói, tội thế gian đã thực sự đưa kiếp người vào một tình cảnh bi thảm, còn đáng sợ hơn cảnh khốn đốn trong Ai cập hoặc trong Babilon, hơn cảnh tối tăm của một đêm đen dày đặc. Tội thế gian ghì giữ con người trong sự vô vọng, trong cõi chết đời đời, vì là cái chết tâm linh,  khác nào ngôi mộ có tảng đá nặng lấp chặn ngoài cửa. Do tội mà thế gian gây ra, nhân loại đã đi vào bế tắc và hiểm họa tột cùng. Tự mình, họ không bao giờ có thể có cơ may thoát khỏi. Chỉ có Thiên Chúa là đấng độc nhất giải thoát họ được.
II. Phụng vụ đêm nay đã công bố cho ta Tin Mừng ấy:
Giữa lúc nhân loại ở vào đêm đen vô vọng, do bị sự tội và sự chết cầm giữ, Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết, đã sai thiên thần lăn tảng đá lấp cửa mồ ra và ngồi trên nó. Người phục sinh Đức Giêsu, để Ngài trở thành sự sáng cho nhân loại, thành Môisê mới dẫn đầu nhân loại. Sự sáng của Ngài ngày càng lan tỏa, củng với sự sống mới và ơn cứu độ Đêm Ngài Phục Sinh là Đêm đánh dấu lúc tội thế gian bắt đầu bị chế ngự, lúc Thiên Chúa thống trị và tinh thần Nước trời chi phối mọi cõi lòng, đưa nhân loại sang một khúc quanh và một kỷ nguyên mới.
III. Đặc biệt, chúng ta được cứu khỏi đời tối tăm và bước vào đời sáng tươi này từ khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Từ hôm đó, chúng ta đã cùng sống lại với Đức Kitô, đã thề hứa đi theo Ngài. Hôm nay, chúng ta có còn ý thức diễm phúc lớn lao đó không và có còn bước theo Ngài không? Nối tiếp hàng giáo sĩ đã tuyên lại các lời hứa của mình hôm Lễ Dầu vừa qua, giờ đây tất cả chúng ta cũng lập lại các lời hứa khi chịu phép Rửa tội. Trong nơi kín ẩn lòng mình, mỗi người hãy thành tâmvới Chúa và thề nguyền sống tư cách kẻ đã được Chúa cứu chuộc.
Sáng Chúa nhật Phục sinh
+ Đối vối người Kitô hữu chúng ta, sự phục sinh của Đức Giêsu là biến cố trung tâm chẳng những về mặt siêu nhiên, mà còn trong lịch sử nhân loại nói chung, biến cố thay đổi chẳng những số phận của linh hồn con người mà cả chính đời sống tự nhiên của con người nữa.
Bởi vì biến cố này xác nhận nhiều sự thật vô cùng căn bản và lớn lao,
- chẳng hạn sự thật Đức Giêsu Nagiaret chính là Đấng Thiên sai mà dân Israel từng mong đợi.
- sự thật Ngài đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết và đã hiện ra cho các tông đồ, đã cùng ăn cùng uống vối các ông.
- sự thật các lời loan hứa của Thiên Chúa và nhiều ngôn sứ trong Cựu ước đã ứng nghiệm.
- và do đó đời người từ đây đã chính thức đi đến một khúc quanh mới, bước sang một kỉ nguyên mới, hứa hẹn một tương lai tươi sáng.
+ Với sự Phục Sinh của Đức Giêsu,  lịch sử nhân loại đã sang một trang mới. Nhân loại vào buồi sáng phuc sinh hân hoan và hạnh phúc khác nào dân Israel xưa vĩnh viễn thoát tay Pharaon và đang đặt chân trên miền đất tự do, khác nào đám tù nhân vừa mới mãn hạn tù và hít thở những làn khí đầu tiên của đời thong dong. Từ nay thân phận họ đổi khác. Cũng thế từ nay, nhân loại có Đức Giêsu Phục sinh đồng hành, dắt dìu, bảo vệ - điều được biểu tượng bằng cây nến Phục sinh cháy sáng giữa cung thánh suốt Mùa Phục sinh này. Từ đây, nhân loại được cứu độ là dân mới của Thiên Chúa, phấn khởi và bình tâm tiến bước về quê trời.
+ Đó thật là Tin mừng vĩ đại mà các tông đồ, những người đầu tiên được phúc nhận biết, không thể không loan báo. Điều này, thánh Phêrô đã làm tại Giêrusalem, như đoạn sách Công vụ vừa kể lại.
Đó cũng là Tin mừng hoàn toàn thay đổi thái độ và nếp sống của nhóm người đầu tiên đi theo Chúa như bài Tin mùng cho thấy.
- họ là Maria Madalena từ đây sống khác thế gian: tức là ra khỏi cảnh tối tăm, đi ra mộ Chúa, hướng tâm hồn về cuộc Khổ nạn của Chúa, và khi được cảm nghiệm về Chúa thì trở thành chứng nhân đi loan báo về Chúa.
- họ là Phêrô và Gioan nhậy cảm về mọi chuyện liên quan đến Thày mình và mau mắn đến những nơi có thể gặp Thày.
+ Biến cố Phục sinh đã khai sinh một Dân mới với những tâm hồn mới. Tuy thế, không phải biến cố này ngay một sớm một chiều đã đẩy lui được tinh thần và nếp sống thế gian. Bên cạnh niềm vui Phục sinh, một nỗi lo còn nguyên: Đó là cõi lòng mỗi cá nhân có thể tiếp tục nghĩ đến những sự dưới đất - và môi trường chung quanh có thể còn thu hút người ta đi theo nếp sống thế tục, khiến người ta chưa chống lại được các đam mê xấu và chưa chết đi với Đức Kitô cho đời sống cũ được.
+ Vậy tuy đã được Đức Kitô đưa vào kỉ nguyên vui mừng rồi,  mỗi người chúng ta vẫn còn cần nỗ lực nhiều để bảo vệ cho được diễm phúc của mình và bắt chước gương sống của các tông đồ đầu tiên tức là sống ngược lại với thế gian và chiêm ngắm, thể hiện cuộc khổ nạn Chúa trong đời sống, để ngày càng phát huy thái độ mới, nếp sống mới của kể đã được cứu độ.
 

PS1-2: NIỀM HY VỌNG SỐNG LẠI

Trong những ngày này, chúng ta hớn hở mừng vui. Tiếng Alleluia không ngừng vang lên trên: PS1-2
Trong những ngày này, chúng ta hớn hở mừng vui. Tiếng Alleluia không ngừng vang lên trên môi miện chúng ta. Tại sao chúng ta hát đi hát lại điệp khúc hân hoan ấy ? Phải chăng vì Đức Kitô đã chiến thắng kẻ  thù ? Phải chăng vì Ngài đã thực hiện một phép lạ vĩ đại nhất : sống lại từ trong kẻ chết ? Tất cả những điều đó làm cho chúng ta vui mừng khi nghĩ về biến cố Phục sinh. Tuy nhiên, niềm vui còn dạt dào hơn nữa, khi chúng ta ngắm nhìn ngôi mộ rỗng của Ngài. Niềm vui dạt dào ấy đã được thánh Phaolô diễn tả như sau : Thiên Chúa đã cho Đức Kitô sống lại thế nào thì Ngài cũng sẽ dùng quyền năng để cho chúng ta được sống lại như vậy. Đó chính là một niềm an ủi tuyệt vời nhất, một ý nghĩ cao sâu nhất xuất phát từ ngôi mộ phục sinh : Nếu Đức Kitô đã sống lại, thì rồi đến lượt chúng ta, chúng ta cũng sẽ được sống lại.
Chúng ta thường nghe thấy lời phàn nàn và kết án như sau : Đạo Công giáo là một đạo quá nghiêm khắc bởi vì Đức Kitô đã nói : Ta đến không đem sự bình an, nhưng đem gươm giáo. Với lưỡi gươm lưỡi giáo này, phải chăng Ngài đã cắt đứt xác thịt và cuộc đời chúng ta ? Đọc kinh, đi lễ, bố thí mà thôi chưa đủ, Ngài còn muốn chúng ta phải dâng hiến trọn cuộc sống cho Ngài, từ tư tưởng, lời nói đến việc làm. Tôi không được phép hưởng thụ những điều bất chính, dù chỉ trong tư tưởng mà thôi. Tôi muốn ăn uống no say, nhưng hôm nay lại là ngày giữ chay, nên tôi không được phép. Tôi muốn nằm ngủ nướng cho đẫy con mắt, nhưng hôm hay là Chúa nhật, tôi có bổn phận phải thức dậy để đi tham dự thánh lễ…Cho dù tội lỗi có hấp dẫn và quyến dũ, luôn mời gọi và lôi kéo đến đâu chăng nữa, thì chúng ta cũng không được phép chạy theo. Công giáo là một đạo nghiêm khắc, đòi chúng ta phải làm chủ thân xác, chế ngự những thèm muốn và hy sinh đời sống cho Đức Kitô. Thế nhưng, cái đạo nghiêm khắc ấy đã đem đến cho chúng ta một tin mừng, đã hứa ban cho chúng ta một điều không ai có thể đem lại được, đó là : nếu Đức Kitô đã sống lại, thì rồi chúng ta cũng sẽ được sống lại. Nghĩa là một ngày kia, chúng ta sẽ tìm lại được cuộc sống vĩnh cửu đã mất đi vì tội lỗi.
Niềm tin vào sự sống lại trước hết đã được chính Chúa Giêsu truyền dạy. Ngài đã nói nhiều lần để chứng tỏ tầm mức quan trọng của nó. Thực vậy, Phúc âm thánh Gioan đã ghi lại : Giờ đến, khi mọi kẻ trong mồ nghe tiếng Ngài và bứơc ra. Những người làm lành sẽ sống lại để được sống. Còn những kẻ làm dữ sẽ sống lại để bị luận phạt…Thánh ý của Cha, Đấng đã sai Ta là : bất kỳ ai thấy Con và tin ở Ngài, thì có sự sống vĩnh cửu. Và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết…Ai ăn thịt Ta và uông máy Ta, thì sẽ có sự sống đời đời.
Trước khi làm phép lạ cho Lagiarô sống lại, Ngài đã phán với Martha : Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không chết, nhưng sẽ có  sự sống đời đời. Sau cùng, khi bọn Sađucêô, những kẻ không tin vào sự sống lại dã nêu lên vấn nạn về một người đàn bà có bảy đời chồng và như vậy khi sống lại, bà ấy sẽ thuộc về ai ? Chúa Giêsu đã trả lời cho họ như sau : Lúc bấy giờ, không còn vấn đề vợ chồng. Họ sẽ không chết nữa, nhưng sẽ trở nên như thiên thần. Họ sẽ là con cái của Thiên Chúa và của sự sống lại.
Chúng ta có thể suy ngắm về chính sự sống lại của Ngài để tìm thấy ở đó niềm hy vọng ủi an. Thực vậy, vào buổi sáng ngày thứ nhất, các bà đạo đức đi ra mồ để xức thuốc thơm cho thi thể Chúa. Vừa đi, các bà vừa thầm nghĩ : Ai sẽ lăn giùm tảng đá lấp cửa mồ ? Phải, trước khi Đức Kitô phục sinh, một tảng đá nặng cũng đã lấp kín phần mộ của chúng ta và của những người thân yêu. Tảng đá của chết chóc, đau khổ và tuyệt vọng. Bởi vì ngôi mộ chính là trạm chót, để rồi sau đó sẽ chấm dứt cuộc sống cũng như tình thương, sẽ chấm dứt mọi ý nghĩ cũng như mọi ước mơ. Phải chăng đó là sự chấm dứt của chính con người ? Thế nhưng, Đức Kitô đã phục sinh. Tảng đá nặng đã bị lăn qua một bên, bởi vì Ngài đa giải quyết được vấn đề từng làm cho chúng ta băn khoăn lo nghĩ : Sau cái chết, sẽ còn lại gì ?  Sự phục sinh của Ngài chính là bảo chứng cho lời Ngài đã phán : Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta sẽ không phải chết, nhưng sẽ có sự sống đời đời.
Từ khi Đức Kitô nghỉ yên trong ngôi mộ, thì ngôi mộ đã trở nên một cái gì thánh thiện đối với chúng ta. Và hơn thế nữa, kể từ khi Đức Kitô sống lại, thì tất cả chúng ta, những con người phải chết, sẽ chờ mong buổi sáng phục sinh huy hoàng. Trước Đức Kitô, con người phải chết và trên bia mộ chúng ta ghi : Đây là nơi an nghỉ trong bóng tối và trong tuyệt vọng. Nhưng từ khi Đức Kitô phục sinh, chúng ta có thể ghi trên bia mộ ấy như sau : Đậy là nơi an nghỉ trong tin yêu và hy vọng.
Sau cùng, chúng ta có thể dùng suy luận để thấy được rằng : sự sống lại là một cái gì thích hợp với chương trình của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa. Thực vậy, chúng ta chỉ là người bao lâu hồn còn kết hiệp với xác. Giữa hồn và xác luôn có một liên hệ mật thiết. Nếu hồn mà buồn thì nước mắt sẽ tuôn trào. Nếu hồn mà vui thì khuôn mặt sẽ rạng rỡ. Bởi đó, sự phát triển toàn vẹn của con người đòi buộc hồn xác phải kết hiệp với nhau sau một thời gian bị cái chết tạm thời chia rẽ. Hơn thế nữa, việc sống lại còn là đều thích hợp với sự công bằng của Thiên Chúa. Thân xác của chúng ta đã tham dự vào tất cả những hành vi thánh thiện cũng như tội lỗi. Vì thế, sự công bằng đòi buộc : nếu thân xác đã tham dự vào những hành động tội lỗi thì cũng phải có những hình phạt dành cho thân xác. Trái lại, nếu thân xác đã tham dự vào những hành động thánh thiện, thì cũng phải có những phần thưởng dành cho thân xác.
Tóm lại, chúng ta sống là để chuẩn bị cho cái chết và chúng ta chết là để được sống đời đời.
 

PS1-3: CS/55: TIN CHÚA PHỤC SINH

“Nếu Đức Kitô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trở thành vô ích và niềm tin của anh em thật là hão huyền”
Quả thật, nếu Đức Kitô không sống lại thì tất cả chúng ta, nhưng con người mang danh Kitô: PS1-3
Quả thật, nếu Đức Kitô không sống lại thì tất cả chúng ta, nhưng con người mang danh Kitô hữu chỉ là những kẻ điên khùng, bởi vì chúng ta đánh đổi cả đời mình để tin và đi theo Đức Giêsu nhưng cuối cùng chẳng được gì. Trong khi nhiều người ăn chơi xả láng, hưởng thụ thoải mái, trong khi nhiều người xây dựng sự giàu có, xây dựng công danh sự nghiệp trên xương máu của những người khác, trên những trò bóc lột, trên sự lường gạt bỉ ổi mà vẫn sống phây phây, thì chúng ta, nhưng người Kitô hữu luôn bị bao quanh bởi một hệ thống luật lệ dầy đặc. Ở đâu cũng thấy tội. Ở đâu cũng thấy cấm đoán, bắt buộc và đe loi v.v…Cả cuộc đời chỉ thấy nói tới hy sinh, từ bỏ. Cả cuộc đời chỉ thấy toàn là mất mát, thiệt thòi. Vì thế mà trước mặt người đời chúng ta chỉ là những tên ngu xuẩn, điên rồ.
Một anh bạn trẻ đã chia sẻ rằng : Khi anh từ chối một chức vụ khá quan trọng trong cơ quan, cấp trên của anh đã nói : “Mày khùng quá, cái ghế mà tao dành cho mày đáng giá năm mười cây vàng đấy. Bao nhiêu thằng ước mơ và lo lót, còn mày thì từ chối”. Và anh bạn trẻ ấy trả lời : “Tôi biết khi ngồi vào chiếc ghế đó, tôi sẽ trở thành một ông hoàng. Nhưng tôi cũng biết khi ngồi vào chiếc ghế đó, tôi sẽ uốn cong theo vòng quay của cả một cơ chế có vô vàn điều tiêu cực, không thể khác được”. Thế là anh bạn trẻ đành chấp nhận một cuộc sống thanh bần chỉ vì danh hiệu Kitô hữu của mình.
Vâng, nếu Đức Kitô không sống lại thì anh bạn trẻ này và các Kitô hữu chỉ đáng sống trong những nhà thương điên. Nhưng Đức Kitô đã sống lại. Đó là xác quyết của các anh bạn trẻ Phêrô, Giacôbê, Gioan…Họ là những người đã từng đi theo, đã cùng sống, cùng ăn, cùng ở với Đức Giêsu. Họ cũng là những người đã từng thất vọng và trốn chạy trước cái chết thê thảm của Thầy Giêsu trên thập giá. Nhưng rồi họ đã là những người dám chấp nhận lao tù, cùm gông, tra tấn và cả cái chết để làm chứng về sự Phục Sinh của Đức Kitô, bởi chính họ đã thấy tận mắt Đức Kitô đang sống. Mà Đức Kitô sống lại có nghĩa là những lời rao giảng của Người là sự thật. Và sự thật Đức Giêsu công bố chính là những nẻo đường dẫn tới sự sống, tới hạnh phúc đích thực. Vì thế, ai bước đi theo Người, ai sống theo Lời Người, chắc chắn sẽ được sống và được hạnh phúc.
Lời chứng của những người dám đem cả mạng sống của mình ra mà đoan quyết chắc  không phải là một sự lừa dối phải không thưa quí ông bà và anh chị em ?
 

PS1-4: Biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu

Chúng ta sắp sửa kỷ niệm (…) năm tròn ngày chính quyền cộng sản chiến thắng trên toàn nước: PS1-4
Chúng ta sắp sửa kỷ niệm (…) năm tròn ngày chính quyền cộng sản chiến thắng trên toàn nước Việt Nam. Ngày 30-4 của (…) năm trước đã đi vào dĩ vãng. Nhưng biến cố của ngày 30-4 năm ấy đã tạo nên và để lại trong tâm tư của những người lớn tuổi nhiều cảm giác không thể quên. Nếu kể lại những cảm giác ấy cho thế hệ con cháu chúng ta hôm nay, thì chúng cũng chỉ nghe biết vậy thôi chứ không thể cả thông một cách sâu sắc với những cảm giác của chúng ta ngày ấy. Biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu cũng đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm rồi, và chúng ta hôm nay cũng không thể cảm nhận được nỗi niềm vui sướng và hy vọng của các tông đồ ngày xưa khi nghe tin Chúa Giêsu sống lại. Tuy vậy, trong ít phút ngắn ngủi này, chúng ta thử làm sống lại một chút những tâm tình của các tông đồ trong ngày Chúa Phục Sinh, để thấy được sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu đã đem lại ý nghĩa nào cho cuộc đời của các ông. Từ đó, chúng ta cũng hãy để cho Chúa Phục sinh tác động làm cho cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa. Hòa chung niềm hy vọng với dân tộc mình, các tông đồ cũng chờ mong một vị Cứu Tinh để giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh nô lệ ngoại bang. Trong niềm hy vọng ấy, Đức Giêsu đã xuất hiện như một con người có thể đáp lại những khát vọng mãnh liệt của các ông. Chính vì thế mà các ông đã bỏ mọi sự để theo Người, tin tưởng hoàn toàn nơi Người, phó thác trọn cuộc đời cho Người và chấp nhận mọi đòi hỏi của Người. Thế nhưng, đáng buồn thay cho các ông biết bao, khi mà vào một buổi tối ngày thứ 5, thần tượng Giêsu của các ông đã bị bắt, bị tra tấn, bị đánh đòn, bị lăng mạ và cuốci cùng bị kết án tử hình, một cái chết đớn đau và tủi nhục trên thập giá. Điều đó làm các ông thất vọng biết là dường nào. Thế là hết. Thầy Giêsu đã chết, đã được chôn trong mồ đá. Điều đó có nghĩa là những niềm hy vọng, những hoài bão, những tin tưởng của các ông cũng chết theo và cuộc đời của các ông cũng bị chôn vùi trong những nấm mồ của tuyệt vọng và sợ hãi. Hiểu ván đề như thế chúng ta mới hiệu được rằng : khi các phụ nữ báo tin cho ông Phêrô và ông Gioan về việc Chúa sống lại thì quả thật đó là một nguồn tin gân chấn động rất mạnh cho các ông. Thầy Giêsu đã sống lại cũng có nghĩa là những ước mơ, những hy vọng của các ông cũng được sống lại. Chính vì vậy mà cả ông Phêrô và ông Gioan đã vội vã chạy ra mộ Chúa Giêsu như để kiểm nghiệm nguồn tin mà các phụ nữ vừa loan báo. Khi tới mồ, các ông thấy mồ trống, chỉ còn lại khăn liệm và khăn phủ đầu Chúa Giêsu. Thánh Gioan đã viết về chính   mình : “Ông thấy và ông tin”. Rồi những ngày sau đó Chúa Giêsu đã hiện ra với các tông đồ nhiều lần như để củng cố niềm tin chắc chắn  rằng : Thầy Giêsu của mình đã sông lại thật thì niềm tin ấy đã tạo nên một biến đổi triệt để nơi các ông.
- Trước đây các ông sợ hãi chạy trốn các nhà cầm quyền đạo đời, thì nay các ông hiên ngang ra vào công đường để rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh. Các ông can đảm chấp nhận bắt bớ, chấp nhận đòn vọt và bao nhiêu thử thách khác để làm chứng rằng Đức Giêsu đã Phục Sinh.
- Trước đây các ông là những người nhỏ nhen, ham danh ham lợi, ghen tị với nhau về chỗ ngồi trên dưới, thì nay các ông quên bản thân mình để chỉ sống và chết cho Đấng Phục Sinh, đồng thời cũng sống và chết cho anh chị em mình.
Thế hệ của chúng ta hôm nay không được diễm phúc để thấy Chúa Phục Sinh như các tông đồ xưa, nhưng chúng ta tin lời rao giảng của các Ngài vì các Ngài là những chứng nhân trung thực bởi các Ngài đã dám hy sinh mạng sống để làm chứng cho sự thật ấy. Tuy nhiên, tin vào sự Phục Sinh không phải chỉ là chấp nhận trong trí khôn một chân lý, một sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, nhưng còn là để cho Chúa Phục Sinh biến đổi cuộc đời mình, là để Người đưa mình ra khỏi những nấm mồ ích kỷ, hận thù, gian tham, lọc lừa, kiêu căng, tự mãn, ham mê sắc dục… Bao lâu chúng ta còn cố tình sống trong những nấm mố ấy thì bấy lâu chúng ta chưa thật sự tin vào Chúa Phục Sinh. Và nếu thế thì lời tuyên xưng của chúng ta về việc Chúa Phục Sinh chỉ là những lời đâu môi chót lưỡi và chẳng đem lại lợi ích nào cho đời sống của chúng ta.
Xin cho mầu nhiệm Chúa Phục Sinh mà chúng ta kính nhớ hôm nay trở thành một động lực đổi mới cuộc đời chúng ta, để chúng ta đám sống, dám chết cho Chúa và cho nhau
 

PS1-5: RA KHỎI MỒ - CS/47

Bỏ xứ mình để đến phục vụ tại nơi đất khách quê người quả là một lý tưởng đáng ca ngợi. Hiện: PS1-5
Bỏ xứ mình để đến phục vụ tại nơi đất khách quê người quả là một lý tưởng đáng ca ngợi. Hiện nay, người ta thấy có rất nhiều thanh niên thiếu nữ tây phương chán cuộc sống trống rỗng, thiếu lý tưởng trong xã hội dư dật, đã tình nguyện sang các nước thuộc thế giới thứ ba để phục vụ. Một thanh niên nọ đã xin đến Ấn Độ để phục vụ người nghèo. Ra đi hồ hởi bấy nhiêu, giờ này chạm với thực tế, anh cảm thấy thất vọng bấy nhiêu. Tất cả đều xa lạ và tất cả đều làm anh chán nản: từ khí hậu cho đến thức ăn, điều kiện sống và nhất là những khuôn mặt xem ra rất bí hiểm đối với anh. Nhưng điều làm cho anh mất hết kiên nhẫn lại là một điều không đáng bận tâm mấy...Người ta dành cho anh một căn phòng không sạch sẽ và dĩ nhiên cũng không nhiều tiện nghi lắm. Anh dọn dẹp và sắp xếp căn phòng lại cho tươm tất. Duy có một chướng ngại mà anh không thể vượt qua để có thể sống bình thản: đó là sự hiện diện của một chú thằn lằn. Anh tìm đủ mọi cách để xua đuổi nó ra khỏi căn phòng, nhưng vô ích: đâu lại vào đó, anh đuổi nơi này, nó chạy vào nơi khác. Cuối cùng con vật chui được vào trong tủ đựng thức ăn và ngự trị hẳn trong đó. Không còn biết làm cách nào khác hơn để tẩy chay con vật, anh đành phải nghĩ đến chuyện làm quen với nó. Dần dần, con thú đã trở thành một người bạn của anh. Mỗi khi đi đâu về, việc đầu tiên của anh là tìm cho được chú thằn lằn. Khi con vật đã trở thành thân thiết với anh, anh đặt cho nó một cái tên và trò chuyện với nó. Từ một con vật dơ bẩn xấu xa, giờ này anh nhìn thấy nơi nó rất nhiều đức tính trong đó quan trọng hơn cả đó là tài săn muỗi của nó. Sự hiện diện của chú thằn lằn đã giúp cho anh khám phá được một chân lý trong cuộc sống: những khó khăn không đến từ môi trường chung quanh, mà chính từ bản thân anh.
Chúng ta vẫn thường lặp lại câu thơ của Nguyễn Du: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", như để nói rằng lắm khi chúng ta mặc cho ngoại cảnh chính tâm trạng của chúng ta. Khi chúng ta vui, chúng ta như thấy cảnh vật xung quanh chúng ta cũng vui lây. Khi chúng ta buồn, cảnh có đẹp đến đâu, chúng ta vẫn thấy u ám. Lắm khi những vấn đề khó khăn không đến với chúng ta từ ngoại cảnh, từ những người khác, mà chính từ chúng ta. Gương mặt cau có của chúng ta thường được chúng ta nhìn thấy nơi tất cả mọi người xung quanh. Trái lại, khi chúng ta vui, chúng ta như cảm thấy mọi người đều vui vẻ với chúng ta. Quả thật, chúng ta đong đấu nào, thì người sẽ đong lại đấu ấy cho chúng ta.
Câu chúc đầu tiên của Đức Kitô phục sinh mỗi lần hiện ra cho các môn đệ của Ngài là: :bình an cho các con". Có sự bình an đích thực trong tâm hồn, chúng ta mới thắng được sợ hãi, mới vượt qua được những khó khăn trong tâm hồn. Có sự bình an đích thực trong tâm hồn, chúng ta mới dễ dàng tha thứ và chấp nhận chính bản thân để rồi từ đó mới có thể tha thứ và chấp nhận tha nhân cũng như mọi nghịch cảnh. Mang lấy màu xanh của hy vọng, đôi mắt chúng ta mới dễ dàng nhìn đời, nhìn người một cách lạc quan. Trái lại, mang lấy bộ mặt cau có và buồn chán, đi đâu, ở đâu, chúng ta cũng chỉ thấy bất mãn, thất vọng và khó chịu.
 

PS1-6: SỐNG VỚI CHÚA - STM/97

Một câu chuyện dụ ngôn Nhật Bản kể về Hoàng tử bị gù lưng, theo tục lệ của Hoàng triều đang: PS1-6 FB

Một câu chuyện dụ ngôn Nhật Bản kể về Hoàng tử bị gù lưng, theo tục lệ của Hoàng triều đang trị nước, bất cứ Hoàng tử nào được chỉ định thế nghiệp vua cha thì phải đúc tượng của mình đặt vào trong Bảo tàng viện của Quốc gia để lưu danh muôn thuở. Tiếc thay vị Hoàng tử được chỉ định này lại là vị Hoàng tử bị khuyết tật gù lưng, nên nhất định không chịu cho tạc tượng mình trưng trong Bảo tàng viện.
Cuối cùng với áp lực của nhà vua, Hoàng tử chấp nhận, nhưng với hai điều kiện :
Thứ nhất, tạc tượng Hoàng tử không bị gù lưng, nhưng đứng thẳng người như thể không bị khuyết tật nào cả.
Thứ hai, Hoàng tử được giữ bức tượng này trong phòng riêng cho tới khi nào mình chết thì bức tượng mới được đem trưng trong Bảo tàng viện Quốc gia.
Làm như vậy Hoàng tử muốn giấu đi những khuyết tật của mình, không cho thần dân trong nước biết đến. Vua cha để tùy ý. Sau khi đã có bức tượng rồi, Hoàng tử đem trưng trong phòng riêng, hằng ngày đứng ngắm mình lâu trước bức tượng, vừa cố gắng thẳng người lên như bức tượng và điều lạ lùng xảy ra, sau thời gian dài ngắm nhìn bức tượng thẳng người, Hoàng tử cảm thấy mình như thật sự đã đứng thẳng người, không còn gù lưng nữa.
Đây là một chuyện dụ ngôn, nhưng cũng có thể được người Kitô chúng ta áp dụng vào trong cuộc sống tinh thần của mình. Đến với Chúa Giêsu Kitô, khuyết tật gù lưng thể xác, không có gì là xấu phải giấu diếm, nhưng gù lưng tinh thần không những là khuyết tật xấu, mà còn là tội lỗi, là những tật xấu bám chặt với điều xấu.
Hoàng tử gù lưng không bằng lòng với khuyết tật thân thể của mình. Người Kitô chúng ta cũng ý thức về những khuyết tật tinh thần của mình.
Không bao giờ bằng lòng với những khuyết tật này, Hoàng tử có một ước muốn mãnh liệt thoát ra cảnh gù lưng. Người Kitô cũng cần có ước muốn mạnh mẽ thoát ra khỏi những tật xấu của mình. Hoàng tử nhờ nhìn vào bức tượng thẳng người, là lý tưởng của mình và trở thành thẳng người, người Kitô chúng ta cần nhìn thẳng vào lý tưởng của chúng ta là Chúa Giêsu Kitô và không những phải nhìn từ cái nhìn bên ngoài mà thôi mà còn thực hiện điều Chúa Giêsu mong ước, đó là sống kết hiệp với Ngài để trở nên giống Chúa đến mức độ như thánh Phaolô Tông đồ đã sống: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”.
Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi. Chúa Giêsu là mẫu gương của chúng ta, Chúa đã thực hiện cuộc vượt qua, đã chết và sống lại để thực hiện ơn cứu rỗi cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi những gì gù lưng tật xấu, để trở thành của ăn nuôi sống chúng ta và biến đổi chúng ta thành con người mới được tái tạo theo hình ảnh Chúa Kitô, và chúng ta cần luôn nhìn vào Chúa Giêsu Kitô để giải thoát mình khỏi những tật xấu, để chúng ta không còn bị gù lưng tinh thần mà đứng thẳng lên sống lại cuộc sống mới với Chúa.
Vậy mừng lễ Phục sinh hôm nay, chúng ta phải nhất quyết luôn nhìn vào Chúa, để mình đồng hóa với Chúa, để mình sống sự sống của Chúa, để trở nên giống như Chúa và được Phục sinh với Chúa. Alleluia.
 

PS1-7: NIỀM HY VỌNG - CSTM/96

Biết trước cái chết và cách thế phải chết, nhất là cái chết mình không chấp nhận, quả là một: PS1-7
Biết trước cái chết và cách thế phải chết, nhất là cái chết mình không chấp nhận, quả là một tâm trạng khủng khiếp nhất đối với con người. Đó là trường hợp những người bị kết án tử hình hay những người bị bức tử, tức là bị bắt buộc phải tự kết thúc đời mình. Chúa Giêsu cũng trải qua những giờ phút kinh hoàng ấy. Ngài biết trước cái chết của Ngài : Đã ba lần Ngài nói trước với các môn đệ là Ngài sẽ bị tử hình. Và Ngài cũng nói rõ cách thế Ngài bị giết chết :”Ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá mình mà theo”,  “Như Mô-sê treo con rắn lên ở sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ phải bị treo lên như vậy”,  “Khi nào Ta bị treo lên, ta lôi kéo mọi sự lên với Ta”.  Qua những lời đó, Chúa Giêsu muốn nói đến một cực hình diễn tả cảnh tượng những phạm nhân phải kéo lê những khúc gỗ sẽ được dùng làm thập giá để đóng họ vào và treo lên tại một nơi gọi là núi Sọ. Nhưng có một điều khác, đây là cái chết Ngài biết trước, nhưng Ngài chấp nhận :”Lạy Cha, nếu có thể, xin cất chén này khỏi con, nhưng đừng theo ý con, mà theo ý Cha”.  Hơn nữa, không những Ngài chấp nhận, mà Ngài còn mong chờ nữa, vì không có máu đổ ra thì không có ơn cứu chuộc.
Tất cả những điều trên đã xảy ra đúng theo từng chi tiết như Chúa Giêsu đã nói trước : Ngài phải vác thập giá và bị đóng đinh chết trên thập giá. Tuy nhiên, việc Chúa Giêsu chết chưa phải là mục tiêu cuối cùng của sứ vụ cứu độ. Ngài còn phải vượt qua cõi chết để trở thành con người đầu tiên trong nhân loại được phục sinh và tôn vinh. Và đây cũng là điều Ngài nói trước luôn, mỗi khi nói về cái chết, Ngài đều nói thêm : Ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại. Và điều này cũng xảy ra đúng như vậy vào ngày thứ ba sau khi chết, Ngài đã sống lại.
Trước hết, chúng ta cần hiểu cho đúng thế nào là phục sinh hay sống lại. Sống lại không phải là lại sống y như trước, giống như mấy người được Chúa Giêsu làm phép lạ cho sống lại như trước rồi sau cũng phải chết, như con trai bà góa ở Na im hay ông Ladarô. Chúa Giêsu phục sinh và được tôn vinh nghĩa là Ngài đã chết thật, rồi được sống lại với một thân xác đã được đổi mới, không còn lệ thuộc các luật vật lý hay sinh lý nữa, không chết bao giờ nữa. Ngài được tôn vinh là được về trời, không phải là vào tầng mây xanh mà là vào một tình trạng hoàn toàn mới, được ở bên hữu Chúa Cha, nghĩa là hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong hạnh phúc vĩnh hằng.
Việc Chúa Giêsu vượt qua cõi chết để phục sinh và được tôn vinh là một biến cố cực kỳ quan trọng đối với chính Ngài, với giáo huấn của Ngài, với các môn đệ, và với tất cả mọi người. Vì là nền tảng cho đức tin và sự cứu chuộc của mọi người. Thực vậy, đối với Chúa Giêsu, sự sống lại chứng tỏ Ngài vừa là người thật (đã đau khổ và chết) vừa là Thiên Chúa thật (đã phục sinh và được tôn vinh) làm cho Ngài trở thành siêu việt trên tất cả mọi nhân vật tôn giáo trên thế giới. Tiếp đến, sự sống lại chứng tỏ giáo huấn của Ngài thật là do Thiên Chúa mạc khải và dẫn đưa con người chắc chắn đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu. Lại nữa, sự sống lại đã làm xoay chuyển tầm nhìn của các môn đệ về Ngài, để lời loan báo đầu tiên và cả việc soạn thảo Tin mừng của các ông đều được coi là diễn tả cái nhìn mới về con người Nagiarét, nhìn nhận Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu thế, là Đấng Kitô; đồng thời cũng làm xoay chuyển cả sự lựa chọn và lối sống của các ông khiến các ông sẵn sàng sống chết làm chứng cho niềm tin vào Đức Giêsu phục sinh.
Sau hết, sự sống lại của Đức Giêsu phục sinh là nòng cốt cho niềm tin của chúng ta. Niềm tin này kéo theo nhiều niềm tin khác : chúng ta tin Chúa sống lại là chúng ta tin chúng ta được cứu chuộc. Bởi vì Chúa sống lại Chúa mới cứu chuộc được nhân loại. Nếu như Ngài chết luôn như các giáo chủ khác, thì Ngài không có quyền gì cứu chuộc được ai. Nhưng Ngài đã sống lại, để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa và Ngài có quyền cứu chuộc được tất cả chúng ta.
Đàng khác, Chúa sống lại còn là niềm hy vọng cho chúng ta : tất cả chúng ta sẽ sống lại. Thực vậy, thân xác chúng ta sẽ sống lại, đúng như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin kính :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Bởi vì thân xác sống lại là hiệu quả của mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu, như Kinh thánh đã nói :”Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại cũng sẽ làm cho chúng ta được sống lại với Ngài”. Như vậy, Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết và Ngài cũng cho hết thảy chúng ta được chung hưởng chiến thắng đó. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ rằng : ai cũng sống lại, mọi người đều sống lại, người tội lỗi hay người công chính, người có đạo hay không có đạo, người tin Chúa Giêsu hay người không tin Chúa Giêsu… tất cả đều sống lại. Nhưng sống lại để được thưởng hay chịu phạt, được lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục lại là một chuyện khác. Sự khác biệt đó đều do cuộc sống hôm nay. Vì thế, cuộc sống hiện tại, tuy ngắn ngủi, nhưng lại là cái giá đảm bảo cho cuộc sống hạnh phúc mai sau. Vì vậy, chúng ta cần sống cho thật tốt đẹp, sống đúng tư cách người Kitô hữu đã được cứu chuộc, để được sống lại và sống mãi với Chúa Giêsu.
Tóm lại, việc Chúa Giêsu phục sinh là một biến cố cực kỳ quan trọng, nhưng lại là một sự việc mà lý trí con người khó hiểu nổi, vì nó ở ngoài và vượt trên lịch sử nhân loại, không một người nào đã thấy hoặc có kinh nghiệm. Đối với chúng ta, đây là một vấn đề thuộc đức tin. Chúng ta không thấy, nhưng chúng ta tin, không phải là tin nhảm nhí hay ảo tưởng, mà có bằng chứng xác thực, đó là Kinh thánh đã nói về việc Chúa Giêsu phục sinh, đó là lòng tin của Giáo Hội suốt hai mươi thế kỷ qua. Chính niềm tin này là động lực giúp chúng ta sống tốt đẹp, thúc bách chúng ta sống tốt đẹp. Bởi vì chúng ta biết : cuộc sống ở trần gian này chỉ là tạm gởi, trước sau gì chúng ta cũng sẽ chết. Nhưng cái chết không còn là một ngõ cụt hay tận cùng, chết không phải là hết, nhưng là cửa ngõ dẫn vào một cuộc sống mới, một cuộc sống trong Đức Giêsu và cùng Đức Giêsu trong cõi vĩnh hằng.
 

PS1-8: MỘ MỞ TOANG - CSĐ/167

Gioan “cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó… Ông đã thấy và đã tin. Nhưng ông: PS1-8
Gioan “cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó… Ông đã thấy và đã tin.
Nhưng ông thấy gì ? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin.
Ta hãy nghiêng mìn xuống như Gioan. Ta thấy gì ? Một hố sau thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật.
Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Đức Giêsu, bạn ngài.
Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.
Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.
Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên chỗi dậy. Phục sinh.
Ngôi mộ mở lòng mớ trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Đức Giêsu đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục sinh báo trước. (G. Boucher, “Le ciel sur terre”, được trích dịch trong Fiches dominicales, năm A, trang 122 -123).
 Một vài tuần trước lễ Phục sinh, người chồng đã chết vì một tai nạn đột ngột : đang khi ông đốt các nhánh cây vụn trong khu vườn của gia đình, ông đã sơ ý để lửa bắt vào mình.
Tai nạn đã làm cho bà vợ trở nên như người mất trí, một đàng vì nó đột ngột quá, đàng khác vì nó xảy ra tại chính khu vườn của gia đình. Bà không giám bước chân ra vườn. Thậm chí không dám nhìn về hướng đó nữa.
 Rồi tới lễ Phục sinh. Hai người hàng xóm đến thăm bà và rủ bà đi ra vườn. Mới nghe tới đó, bà co rúm người lại. Nhưng các bà hàng xóm tin rằng việc này sẽ có ích cho bà nên cứ khuyến khích. Thế là cả 3 ra vườn, đến chính nơi xảy ra tai nạn. Người vợ muốn quay lưng bỏ vào nhà. Nhưng đúng lúc ấy, một lời trong Tin Mừng lóe lên trong đầu bà : “Sao lại tìm người sống nơi chỗ kẻ chết ? Ngài không còn ở đây nữa. Ngài đã sống lại rồi”. Bà nghĩ lời đó nói về chính người chồng của bà.
Thế là nỗi buồn sầu bấy lâu nay chắp cánh bay mất. Bà tìm lại được niềm vui.
 

PS1-9: ĐỨC TIN - LS/69

Đối với đức tin và những đòi hỏi của phép rửa như thánh Gioan, thánh sử Marcô cho rằng người: PS1-9
Đối với đức tin và những đòi hỏi của phép rửa như thánh Gioan, thánh sử Marcô cho rằng người đầu tiên được Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra là bà Maria Madalena, kẻ đã được Ngài trừ cho bảy quỉ. Sau bà Maria Madalena, những người đầu tiên được Chúa Giêsu hiện ra cũng không phải là các Tông đồ, mà là hai môn đệ đang trên đường trở về làng Emau. Như vậy những người được diễm phúc thấy Chúa Giêsu đầu tiên cũng chỉ là những người ở bên lề nhóm mười hai.
Thánh Marcô cho chúng ta thấy thái độ cứng lòng tin của các Tông đồ, các ngài không tin lời của bà Maria Madalena và cũng chẳng đón nhận chứng từ của hai người đi về làng Emau. Vậy mà cuối cùng chứng từ về Chúa Kitô Phục sinh của các Tông đồ vẫn là nền tảng đức tin của chúng ta. Đức tin của chúng ta qui chiếu về niềm tin của các Tông đồ.
Đây chính là bài học mà thánh Marcô muốn dạy cho chúng ta qua đoạn Tin mừng Phục sinh hôm nay. Đức tin mà chúng ta đón nhận qua phép rửa chính là đức tin mà Chúa Giêsu đã ủy thác cho các Tông đồ để truyền lại cho chúng ta. Chúng ta sống đức tin của các Tông đồ mà các ngài đã dùng chính mạng sống của mình để tuyên xưng đức tin và lưu truyền cho chúng ta.
Chỉ trong và qua Giáo Hội chúng ta mới lãnh nhận được ơn đức tin. Bởi vì, Giáo Hội ấy được xây dựng trên nền tảng các Tông đồ, do đó trung thành với đức tin của các Tông đồ cũng chính là hiệp thông với Giáo Hội, và khi hiệp thông với Giáo Hội, các tín hữu Kitô cũng hiệp thông với nhau. Giáo Hội vốn là đền thờ, trong đó mỗi Kitô hữu là một viên gạch sống. Giáo Hội hữu hình được hoạt động và liên kết chặt chẽ là nhờ vào những viên gạch này. Hình ảnh viên gạch nói lên sự hiệp thông và trung thành đối với mỗi người giáo hữu, vừa nói lên sự trưởng thành và tinh thần trách nhiệm của mỗi Kitô hữu.
Chúa Kitô Phụcsinh đã không hiện ra trước với các Tông đồ mà với người đàn bà và hai môn đệ không thuộc nhóm Tông đồ. Chính những người này là các chứng nhân đầu tiên được sai đến loan báo Tin mừng Phục sinh cho các Tông đồ, họ cũng được Chúa trao phó cho một sứ mệnh loan truyền Chúa Kitô Phục sinh. Các tín hữu Kitô được đón nhận đức tin từ Giáo Hội, đức tin ấy không phải là một kho tàng để chôn giấu hay như một nhãn hiệu để trưng bày. Nhưng đức tin ấy thiết yếu là một sứ mệnh được trao phó cho từng người trong ngôi nhà Giáo Hội mà mỗi người tín hữu Kitô là một viên gạch sống động.
Mỗi người tùy theo chỗ đứng và cuộc sống của mình để có thể lãnh một trách nhiệm. Trước hết là trách nhiệm đối với bản thân, bởi vì không ai có thể sống đức tin thay cho người khác hoặc cũng không ai được cứu rỗi nếu chính mình không muốn được cứu rỗi. Thứ đến trách nhiệm đối với tha nhân, mỗi người đều có trách nhiệm đối với phần rỗi của anh chị em mình. Cuộc sống của mỗi người ít hay nhiều đều ảnh hưởng đến cuộc sống của người khác. Người trưởng thành luôn ý thức về hai trách nhiệm ấy.
Mùa Phục sinh chúng ta được kêu gọi để lặp lại những cam kết của phép rửa tội và tuyên xưng đức tin mà các Tông đồ đã truyền lại cho chúng ta. Ước gì lời tuyên xưng ấy không chỉ dừng lại trên môi miệng của chúng ta, mà phải được thể hiện bằng một chứng tá sống động cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Nguyện xin Chúa Kitô Phục sinh ban cho chúng ta sức sống mới và biến đổi chúng ta thành người Kitô hữu trưởng thành và có trách nhiệm để làm chứng về Chúa Kitô Phục sinh.
 

PS1-10: CHỜ ĐÓN - LS/330

Lối xóm gọi anh ta là Tư Còm, vì anh ốm o gầy còm lại mắc chứng bệnh sáng xỉn, chiều say: PS1-10 FB
Lối xóm gọi anh ta là Tư Còm, vì anh ốm o gầy còm lại mắc chứng bệnh sáng xỉn, chiều say, tối lăn quay ngày mai nhậu tiếp. Mỗi lần nhậu thì lời ra, anh chửi bới xóm làng, không trừ một ai. Một số người tìm hiểu hoàn cảnh của anh được biết anh có một vợ và năm người con. Ngày ngày anh đạp xe xích lô mà cũng không có đủ để nuôi sống gia đình. Các con anh lần lượt bỏ học vì không có tiền để đóng học phí. Nhà của anh nằm trên vũng sình lầy và bị dột nát. Sống trong hoàn cảnh cơ cực kéo dài suốt tháng này, qua năm khác như thế, anh thất vọng nên mượn rượu để giải sầu. Nhưng chén rượu càng vơi thì chén sầu càng đầy ắp.
Hiểu được hoàn cảnh đáng thương của anh, lối xóm quyết định kẻ bỏ công, người bỏ của để cất lại cho gia đình anh một căn nhà chắc chắn và kín đáo trên đất liền, để gia đình có thể che nắng che mưa được. Rồi xóm làng cũng đưa đến những lon gạo, những bó củi, cái nồi, con dao, cái chén, dĩa… thế là anh có đủ những vật dụng cần thiết trong gia đình và một căn nhà đàng hoàng, bảo đảm cho sức khỏe. Còn các con anh cũng được các bà mẹ nhận đỡ đầu và đài thọ cho học phí, tất cả đều được đi học trở lại. Quá cảm động trước tấm lòng ưu ái của bà con lối xóm, anh Tư Còm đã bỏ rượu hẳn và bắt đầu giữ đạo sốt sắng cùng với gia đình của anh.
Theo một ý nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói anh Tư Còm đã phục sinh từ cõi chết của những ngày say sưa và bê trễ. Anh đã chết cho tính nghiện ngập của mình và sống lại cho tình yêu thương của Chúa và của mọi người.
Trong biến cố Phục sinh bằng quyền năng của Thiên Chúa, ngôi mồ chôn cất Đức Giêsu được mở ra và Ngài đã bước ra khỏi mồ. Cũng bằng quyền năng của Thiên Chúa, những hòn đá chôn vùi cuộc đời của chúng ta sẽ bị lăn đi, nó có thể là hòn đá của ích kỷ, chỉ biết đến lợi ích riêng mình. Đức Kitô Phục sinh sẽ giúp chúng ta lăn hòn đá đó đi, để biết dấn thân phục vụ Chúa và hạnh phúc của tha nhân. Nó có thể là hòn đá tham lam. Mê ăn uống đã từng đè nặng trên tâm hồn và thân xác chúng ta. Nó có thể là hòn đá lãnh đạm, thiếu tình thương đã ngăn cản chúng ta phục vụ Chúa và phục vụ anh chị em. Nó có thể là hòn đá an phận nhút nhát, khiến chúng ta chỉ giữ đạo trong Chúa nhật qua việc xem lễ, đọc kinh. Chúa Kitô Phục sinh sẽ giúp chúng ta sống đạo, sống niềm tin, thực thi bác ái một cách tràn đầy tình mến hơn.
Mỗi năm khi mừng lễ Phục sinh, chúng ta chiêm ngưỡng tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta và chúng ta đón nhận sức mạnh của Chúa Kitô Phục sinh để phá vỡ những hòn đá chôn vùi cuộc đời của mình. Để thực sự sống với Chúa Kitô đêm nay, trong suốt ngày thứ bảy Tuần Thánh này, chúng ta hãy tìm thời giờ sống những giây phút thinh lặng để thử tìm xem hòn đá nào cần phải được lăn đi. Phải chăng đó là sự thiếu trong sạch, không lương thiện, lười biếng, kiêu căng, giận hờn ghen tương…Cùng với sự giúp đỡ của Chúa Kitô, chúng ta hãy ném nó ra khỏi cuộc đời của mình để hưởng niềm vui Phục sinh trọn vẹn hơn. Nhưng Phục sinh cuộc đời mình thôi chưa đủ, chúng ta còn có bổn phận giúp tha nhân, bạn bè và đồng loại cùng hưởng ơn Phục sinh.
 

PS1-11: TRO TÀN CỦA LỊCH SỬ

Một buổi sáng dạo đầu tháng 8 năm 1990, dân chúng Bulgary bỗng chứng kiến một cảnh khác: PS1-11
Một buổi sáng dạo đầu tháng 8 năm 1990, dân chúng Bulgary bỗng chứng kiến một cảnh khác thường tại quảng trường chính ở thủ đô Sofia: người ta kéo thi hài của chủ tịch Georgi Dimitrov ra khỏi lăng tẩm và mang đi hỏa táng. Chỉ có một vài người thân của ông tham dự nghi lễ hỏa táng. Sau đó, tro tàn của ông được mang đi cải táng bên cạnh phần mộ của mẹ ông.
Georgi Dimitrov đã từng được tôn thờ như anh hùng dân tộc vì đã đánh đuổi được Phát xít và sáng lập Đảng Cộng Sản Bulgary. Năm 1949, khi ông qua đời, người ta đã ướp xác ông và đặt vào trong lăng tẩm để dân chúng chiêm ngắm và suy tôn. Nhưng vinh quang của quá khứ ấy đã không đủ sức để bảo vệ ông khỏi đống tro của lịch sử...
Người ra lệnh đưa ông ra khỏi lăng tẩm và hỏa táng không ai khác hơn chính là Đảng Cộng Sản Bulgary nay đã đổi tên thành Đảng Xã Hội...Georgi Dimitrov là một trong số các lãnh tụ Cộng Sản như Lênin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đã được ướp xác và tôn thờ trong lăng tẩm như các vua chúa Ai Cập thời cổ...
Con người bởi đâu mà ra? Con người sống để làm gì trong cõi đời này? Con người sẽ đi về đâu sau cái chết?... Nếu ai cũng nghiêm chỉnh từ đặt ra chi mình những câu hỏi lớn ấy thì có lẽ không ai còn nhọc công để chạy theo tiền của, danh vọng, không ai còn nghĩ đến chuyện ướp xác và xây lăng tẩm nữa... Có ai thoát khỏi đống tro tàn của lịch sử? Hôm nay người ta tôn thờ, ngày mai người ta hạ bệ. Hôm nay người ta ướp xác, ngày mai người ta lại đưa ra đốt...
Là người có niềm tin, chúng ta đặt tin tưởng nơi Đức Kitô. Qua cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh. Chúa Giêsu đã mang lại giải đáp cho tất cả những câu hỏi lớn của đời người. Phúc thay cho những ai biết mình từ đâu đến, biết mình sống để làm gì và biết mình sẽ đi về đâu. Một ý nghĩa, một hướng đi cho cuộc sống: phải chăng đó không là điều chúng ta đang tìm kiếm?
 

PS1-12: PVCNLT/184

Một nữ tu hiện đang làm việc tại nước Anh đãkể cho tôi nghe  một câu chuyện sau đây: PS1-12
Một nữ tu hiện đang làm việc tại nước Anh đãkể cho tôi nghe một câu chuyện sau đây :
Vài tuần trước ngày Lễ Phục Sinh, người cha của một trong những học sinh trong trường dòng đã bị một tai nạn kinh khủng, trong khi đang đốt một số cành cây ở trong vườn, vô tình ông đã tự làm cho mình bị phỏng, và đã qua đời do hậu quả nạn phỏng này.
 Cả gia đình ông đều bị sốc, và cảnh u buồn bao trùm lên toàn bộ căn nhà. Sự kiện thảm kịch này xảy ra ngay tại nhà, lại càng làm cho điều này trở nên tệ hại hơn. Vợ của ông quá bị quẩn trí, đến nỗi không thể đi ra ngoài vườn, nơi đã xảy ra tai nạn. Thật vậy, bà cảm thấy thật khó khăn, ngay cả đối với việc nhìn ra ngoài cửa sổ đối diện với khu vườn, bởi vì điều đó làm cho bà nhớ lại toàn bộ thảm kịch.
 Tuy nhiên, thời gian trôi qua, và Lễ Phục Sinh nữa lại đến. Buổi chiều Chúa Nhật Lễ Phục Sinh, người nữ tu trở lại thăm gia đình đó. Bà cứ ngỡ là họ vẫn còn đau khổ. Nhưng bà rất ngạc nhiên một cách đầy thú vị. Ngay khi bước vào nhà, bà cảm nhận được rằng cảnh tượng ảm đạm đã được vén lên, và bà có cảm giác bình an, thậm chí vui tươi nữa.
 Người nữ tu này nói với bà mẹ “Có điều gì đó đã xảy ra ở đây. Tôi có thể cảm nhận được điều này”.
Bà mẹ trả lời “Sáng nay, chị tôi và một bà hàng xóm đến thăm tôi. Họ bảo tôi đi ra ngoài vườn, để có được đôi chút không khí trong lành. Hầu như tôi luôn bị kích động, mỗi khi nghĩ đến cảnh đi ra vườn. Nhưng họ cứ khăng khăng nói mãi, họ đã thuyết phục tôi rằng điều đó sẽ giúp ích cho tôi, thế rồi cuối cùng, tôi đã đồng ý cùng đi ra vườn với họ.
Chúng tôi rảo bộ chậm chạp xuống chỗ trước đây đã xảy ra hỏa hoạn. Khi gần đến nơi, toàn cơ thể của tôi bắt đầu rung động. Nhưng đột nhiên, tôi không biết bằng cách nào hoặc từ đâu, những lời trong Tin Mừng đến với tôi “Tại sao các ngươi lại đi tìm người sống giữa cái chết ? Người không còn ở đây nữa, Người đã sống lại rồi”. Và ngay lúc đó, dường như thể gánh nặng được cất đi khỏi vai tôi, rồi tôi có một cảm giác bình an và vui tươi lớn lao”.
 Câu chuyện này gợi nhớ lại về những người phụ nữ đã đi viếng mộ của Đức Giêsu vào buổi sáng ngày Phục Sinh. Đối với họ, quả thật việc đi đến một nơi đã được đặt thi hài của Người không phải là điều dễ dàng. Họ đã làm điều đó với tâm trạng bi thảm và đôi chân nặng trĩu. Nhưng họ có một việc phải làm, đó là hoàn tất việc ướp xác Người. Họ cảm thấy rất buồn bã, buồn khủng khiếp. Đức Giêsu đã chết. Đức Giêsu đã ra đi. Và dường như Người ra đi mãi mãi. Không có Người, họ cảm thấy thế giới này quá ư trống trải. Họ không thể tưởng tượng được một cuộc sống mà không có Người.
 Tuy nhiên, khi vừa đến gần mộ, họ phát hiện là ngôi mộ trống rỗng. Nhưng sau đó, họ nghe được một tin tuyệt vời “Cac ngươi đừng đi tìm người sống giữa kẻ chết. Người không ở đây, Người đã sống lại rồi”. Đức Giêsu không còn ở chỗ của kẻ chết nữa, Người đang sống, Người đã sống lại. Những chiếc áo mai táng được đặt sang một bên, bởi vì chúng được dành cho kẻ chết, không phải là của người sống. Bằng sức mạnh của Thiên Chúa, Đức Giêsu đã thoát ra khỏi xiềng xích của cải chết và sử hủy hoại.
Nhưng hiện nay, Người đang sống như thế nào và ở đâu ? Người không quay trở lại với cuộc sống trần thế. Người đã sống lại bằng một cuộc sống mới mẻ và phong phú. Đó là một lối sống tự cơ bản là mới mẻ, trong đó, xác thịt hay chết của Người nay đã được biền hình, lấp lánh vinh quang bà ánh sáng chói lọi của thần thánh. Đó cũng là Đức Giêsu, nhưng một Đức Giêsu với lối sống mới giống như một hạt giống đả chết trong lòng đất, và đang đến với cuộc sống mới, trong tư thế của một thân cây. Thân cây đó xuất phát từ hạt giống, nhưng chỉ vừa đủ để được ghi nhận như là một nhánh của thân cây này. Theo như lời Thánh Phaolô “Phàm hạt giống đã được gieo xuống, thì sẽ bị mục nát, và khi đã mọc lên, thì sẽ không bị hư mất”.
 Các môn đệ đã tin. Có lẽ lúc đầu họ không hoàn toàn tin tưởng. Nhưng dần dần, sứ điệp Phục Sinh đã bén rễ trong tâm hồn họ. Đức Giêsu không chết. Người vẫn sống. Như vậy, họ không được mất thì giờ tìm kiếm Người tại chốn mồ mả.
Qua Phụng vụ ngày Lễ Phục Sinh của Giáo Hội, chúng ta được loan báo cũng một sứ điệp đó “Các ngươi đừng đi tìm người sống giữa kẻ chết. Người không còn ở đây, Người đã sống lại rồi”. Đức Giêsu đã chế ngự cái chết, không chỉ cho bản thân Người, nhưng còn cho tất cả chúng ta nữa. người là Đấng đầu tiên sống từ cõi chết, nhưng chúng ta phải đi theo Người. Vậy thì, đối với người Kitô hữu, cái chết không mang ý nghĩa của sự hủy diệt tận cùng. Những người thân yêu của chúng ta đã qua đời không phải là những kẻ đã bị chết hẳn. Họ được chia sẻ sự sống của Đức Kitô sống lại. Họ vẫn còn sống động. Và vì lẽ đó, chúng ta nên nghĩ đến họ.
 Sự kiện xảy ra trong ngày Phục Sinh đem lại cho chúng ta khả năng cứ để mặc cho những người thân yêu của chúng ta ra đi trong lòng tin. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là quên lãng họ. Biến cố Phục Sinh cũng giúp chúng ta đương đầu với chính cái chết của mình bằng lòng can đảm và hy vọng. Giống như việc mong đợi mùa xuân đã được manh nha từ trong mùa đông, tương tự như vậy, sự sống lại của Đức Giêsu cũng đã được manh nha từ trong cái chết dành cho chúng ta.
 

PS1-13: HY VỌNG

Chúng ta có thể đương đầu và chịu đựng được bất cứ điều gì, miễn là chúng ta nhận biết hoặc: PS1-13
Chúng ta có thể đương đầu và chịu đựng được bất cứ điều gì, miễn là chúng ta nhận biết hoặc tin tưởng rằng điều đó sẽ không kéo dài mãi mãi, và có một điều gì đó tốt đẹp hơn sẽ xảy ra.
Chẳng hạn, người ta sẽ đương đầu được với một cuộc giải phẫu lâu dài, đau đớn và nguy hiểm, nếu họ tin tưởng rằng cuộc giải phẫu đó sẽ làm cho họ được mạnh khỏe trở lại. Các tù nhân có thể đương đầu với một bản án lâu dài, miễn là họ tin tưởng rằng bản án đó rồi sẽ kết thúc, và họ sẽ được vui hưởng tự do trở lại. Chúng ta có thể đương đầu được với sự khắc nghiệt của một mùa đông kéo dài và khổ sở, bởi vì chúng ta biết rằng mùa xuân sẽ trở lại. Tất cả điều này nhằm nhấn mạnh đến tầm quan trọng của niềm hy vọng. Hy vọng cũng cần thiết đối với tinh thần, giống như cơm bánh đối với cơ thể. Thật đáng ngạc nhiên khi tinh thần con người có thể chịu đựng và vượt qua được mọi sự, miễn là nó được nuôi dưỡng bằng tấm bánh của hy vọng.
Biến cố Phục sinh cung cấp một niềm hy vọng vĩ đại cho tinh thần con người. Niềm hy vọng này thật cần thiết biết bao. Trong cuộc sống, có nhiều bi kịch, làm tiêu hủy mất những điều tốt đẹp. Một số người tốt đã bị ngã quị : Thomas More, Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Oscar Romero… và tất nhiên trong đó có cả Đức Giêsu. Người cũng đã bị ngã quị. Nhưng Người đã sống lại.
Thế giới thời đó đã không để ý nhiều đến sự sống lại của Đức Giêsu. Lý do vì đây là một sự kiện khiêm tốn, được giữ kín. Đức Giêsu đã không xuất hiện trong tư thế chiến thắng tại đền thờ ở Giêrusalem, làm cho những kẻ đã hạ gục Người bị ngỡ ngàng. Chỉ những ai được Người kêu gọi, ban cho chiếc bánh, và những lời nói an bình, mới ý thức được sự kiện gì đã xảy ra, và thậm chí họ còn khó mà tin tưởng được. Giống như chúng ta, họ chậm tin. Tuy nhiên, chính sự kiện được giữ kín này đã giải phóng nhân loại khỏi xiềng xích của sự chết.
Đức Giêsu đã đưa ra một dấu hiệu cho những ai yêu mến và đi theo Người là tình yêu của Thiên Chúa còn mạnh mẽ hơn cả cái chết. Sự sống lại của Đức Giêsu không hề tách biệt khỏi sự sống lại của nhân loại mà Người đã cứu độ. Bằng cách hoàn toàn đi vào sự sống nhân loại, và bằng cách trải qua nỗi cay đắng của cái chết, Đức Giêsu đã trở nên một người Anh và Đấng cứu độ cho tất cả mọi người. Cái chết của Đức Giêsu là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa, Đức Giêsu là đấng đi tiên phong và dẫn đường cho sự cứu độ của chúng ta : Người đang chỉ đường và dẫn lối cho chúng ta, trên bước đường của sự vâng phục và đau khổ.
Trong ngày Phục sinh, chúng ta vẫn cảm thấy nỗi đau khổ của thế giới, của gia đình và bạn bè chúng ta. Nhưng một yếu tố mới mẻ đã được đưa vào trong cuộc sống của chúng ta. Yếu tố này không tiêu hủy nỗi đau khổ, nhưng đem lại cho nó một ý nghĩa, soi sáng nó bằng niềm hy vọng. Tất cả nay đều được khác hẳn, bởi vì Đức Giêsu đang sống động, và nói với chúng ta những lời bình an, giống như Người đã từng nói với các tông đồ của Người.
Lòng tin vào sự sống lại của Đức Giêsu là nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta vào sự sống đời đời, một niềm hy vọng đem lại cho chúng ta khả năng kiên nhẫn chịu đựng những thử thách của cuộc đời. Do đó, có một niềm vui thầm lặng ở giữa chúng ta, và một ý nghĩa sâu xa về sự bình an, bởi vì chúng ta biết rằng sự sống mạnh mẽ hơn cái chết, tình yêu mạnh mẽ hơn nỗi sợ hãi, và niềm hy vọng mạnh mẽ hơn nỗi thất vọng.
 

PS1-14: NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI TỪ TRONG KẺ CHẾT

 - Đaminh M. Cao Tấn Tĩnh
Biến Cố Phục Sinh chính là Chứng Từ Thần Linh tối hậu

Nếu Mầu Nhiệm Chúa Kitô là trọng tâm và là cốt lõi của phụng vụ, và việc cử hành phụng vụ: PS1-14

Nếu Mầu Nhiệm Chúa Kitô là trọng tâm và là cốt lõi của phụng vụ, và việc cử hành phụng vụ là "làm việc này mà nhớ đến Thày" (Lk 22:19), ở chỗ: "Lạy Chúa, chúng tôi loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến" (lời tung hô sau giây phút truyền phép), thì quả thực Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô được hiện thực hóa nơi mỗi một Thánh Lễ, nhất là nơi Thánh Lễ Chúa Nhật, đặc biệt và long trọng nhất là nơi Thánh Lễ Phục Sinh. Biến Cố Phục Sinh là giai đoạn quan trọng nhất và là yếu tố quyết liệt nhất trong toàn thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Nếu Chúa Kitô không sống lại thì Người không phải là Đức Kitô Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, từ đó cũng không có hay không còn nữa Đức Tin Kitô Giáo: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16:16).
Thật vậy, cả cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu "là để làm chứng cho chân lý" này (Jn 18:37), chân lý Người "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Chính vì thế, cho dù có thể xuống khỏi thập giá, Người cũng không làm. Bởi vì, việc xuống khỏi thập giá này, về mặt tiêu cực, chẳng những có thể là một việc tìm cách tránh né đau khổ, sợ hãi sự dữ, (sự dữ đệ nhất đó là làm theo ý riêng mình, chứ không theo ý Đấng đã sai), mà tự việc xuống khỏi thập giá này, về mặt tích cực, cũng không phải là chứng từ tuyệt diệu nhất, mãnh liệt nhất có thể chứng thực Người "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Đúng thế, chỉ sau khi hoàn toàn chết đi, tức sau khi hoàn toàn để cho (xem Jn 10:18) sự dữ thắng thế trên nhân tính của mình. Ở chỗ, Người đã để cho sự dữ luân lý là tội lỗi của loài người lấy mạng sống thể lý của mình đi, Con Người Giêsu mới có thể chứng thực Người "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống", khi Người từ trong cõi chết sống lại, sống lại với cùng một nhân tính ấy, một thân xác ấy (xem Lk 24:39-43), một thân xác còn in những dấu vết tử giá (xem Jn 20:20, 27).
Biến Cố Phục Sinh chính là Chứng Từ Thần Linh tối hậu trong việc làm sáng tỏ "tất cả sự thật" (Jn 16:13) "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Chính thành phần thân cận nhất của Con Người Giêsu này cũng chỉ thực sự trở thành những chứng nhân tiên khởi của Người và chính thức có thể làm chứng nhân cho Người (xem Lk 24:48), hay cũng chỉ được Người sai đi rao giảng tin mừng cho tất cả mọi tạo vật (xem Mk 16:15), sau khi các vị chấp nhận "tất cả sự thật" về Thày của các vị mà thôi, tức sau khi các vị đã minh nhiên tuyên xưng như tông đồ Tôma: "Lạy Chúa tôi. Lạy Thiên Chúa tôi" (Jn 20:28). Có thể nói, chứng từ của Biến Cố Phục Sinh, không phải chỉ là chính thân xác phục sinh của Chúa Kitô, mà còn là chính các vị chứng nhân tiên khởi tông đồ này vậy. Bởi vì, vào ngay giây phút Đức Kitô Thiên Sai Con Thiên Chúa tự mình sống lại từ trong cõi chết và ra khỏi mồ, không một ai tận mắt chứng kiến thấy. Thế nhưng, còn hơn thế nữa, họ được chứng kiến thấy tường tận, thấy chính "sự thật" của Biến Cố Phục Sinh đó là thấy chính Đấng đã chết đi trên thập giá, thấy chính Đấng "tất cả mọi người (trong các vị) đã tẩu thoát" sau khi Người bị bắt giải đi trong vườn Cây Dầu (xem Mk 14:50). Đấng Tử Giá ấy đã thực sự hiện ra ngay trước mặt các vị, cho dù các vị bấy giờ có đang ru rú ở trong một gian nhà đóng kín cửa (xem Jn 20:19, 26). Người đã thực sự sống lại, chẳng những đúng như lời Người đã loan báo trước cho các vị hay (xem Mt 16:21, 17:22, 20:18), mà còn hoàn toàn hợp với các lời Thánh Kinh nữa (xem Lk 24:27, 44-45).
Chứng từ của Biến Cố Phục Sinh còn là chính các vị tông đồ
Chính vì các vị tông đồ phải trở thành những chứng nhân cho Chúa Kitô Phục Sinh, đúng hơn, cho "sự thật" "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống", mà các vị đã đóng vai trò rất quan trọng trong Biến Cố Phục Sinh này. Ở chỗ, Đấng Phục Sinh đã không hiện ra với tất cả mọi người để tất cả có thể nhận biết Người đã sống lại, chẳng hạn vào dịp thuận tiện nhất và đông đảo nhất là vào Ngày Lễ Ngũ Tuần cách Lễ Vượt Qua 50 ngày. Hay hiện ra với từng người đã trực tiếp dính dáng đến bản án tử giá của Người, như với thượng tế Anna và Caipha, với đám thuộc hạ của Hội Đồng Do Thái, với những kẻ tố gian Người trước Hội Đồng Do Thái, với Philatô và Hêrôđê, với đám lính Rôma hành quyết Người, v.v. Chúng ta có thể đặt vấn đề Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra cho hết mọi người thấy một cách gọn gàng như thế, tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quên rằng, các tông đồ là thành phần thân cận với Người mà còn mãi mới chấp nhận được "sự thật" Thày mình đã phục sinh, huống hồ là những người này, trong đó có đám thuộc hạ canh mồ Chúa cùng với thành phần lãnh đạo tinh thần dân chúng chủ mưu phao tin đồn thất thiệt về sự kiện mồ trống (xem Mt 28:11-15). Các tông đồ còn đóng vai trò quan trọng trong Biến Cố Phục Sinh của Chúa Kitô ở chỗ, Người cũng không hiện ra với các vị ngay sau khi sống lại, mà là với nhóm phụ nữ vẫn theo hầu cận Người, để nhờ các bà báo tin cho các vị hay. Phải chăng phụ nữ là thành phần nhạy cảm và dễ tin hơn nam nhân (xem Mt 28:9 so sánh với Lk 24:36-45), một thứ tâm lý tự nhiên của phụ nữ đã được rắn quỉ tinh khôn khám phá ra và lợi dụng trong vườn địa đường ngay từ ban đầu (xem Gen 3:1-6)?
Chúa Giêsu đã dọn lòng cho các tông đồ bằng ba lần tiên báo vệ cuộc Vượt Qua của Người, để họ có thể chấp nhận "sự thật" Tử Giá vô cùng kinh hoàng hết sức tối tăm đối với trí khôn thiển cận của con người trần gian. Cũng thế, để sửa soạn cho các tông đồ có thể từ từ chấp nhận được "sự thật" Phục Sinh vô cùng huy hoàng, song cũng hết sức chói lọi có thể làm lòa mắt tâm trí trần gian của con người các vị, Chúa Giêsu cũng phải như ánh sáng hiện lên dần dần như vậy: trước hết bằng việc các phụ nữ báo tin cho các vị biết rằng Thày đã sống lại, (như bài Phúc Âm Lễ Vọng Phục Sinh của cả ba chu kỳ A, B, C, nhất là Phúc Âm Thánh Luca cho thấy), sau đó đến việc hai tông đồ chính là Phêrô và Gioan chạy đến mồ xem sự thật như thế nào, (như bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho Thánh Lễ Phục Sinh sáng đề cập đến), sau hết là việc hai môn đệ đi Emmau về báo tin, (như bài Phúc Âm theo Thánh Luca cho Thánh Lễ Phục Sinh buổi chiều cho biết). Và chỉ sau ba sự việc sửa soạn này, Chúa Giêsu Phục Sinh mới hiện ra với chung 11 Vị, như bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh tuần tới trình thuật, trong đó có cả sự kiện tông đồ Tôma chấp nhận "sự thật" Thày Phục Sinh, bằng lời tuyên xưng: "Lạy Chúa tôi. Lạy Thiên Chúa tôi".
Tính cách "vọng" trong Phúc Âm Lễ Vọng Phục Sinh
Sự kiện các phụ nữ đến mồ Chúa được bộ ba Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại và được Giáo Hội sắp xếp vào Thánh Lễ Vọng Phục Sinh thật là hết sức ý nghĩa. Vì "Vọng" đây nghĩa là mới hướng về, chứ chưa có "thật" hay xẩy ra "thật". Do đó, trong ba bài Phúc Âm cho ba chu kỳ A, B, C khác nhau của Lễ Vọng Phục Sinh, chúng ta chưa thấy Chúa Giêsu Phục Sinh "thật sự" hiện ra hay hiện ra "hoàn toàn". Riêng Phúc Âm Thánh Mathêu Năm A có thuật lại chi tiết Chúa Giêsu hiện ra với các bà khi các bà theo lời Thiên Thần bảo ở ngoài mồ đang trên đường chạy về báo tin cho các tông đồ. Tuy nhiên, việc Chúa Giêsu hiện ra với các bà đây cũng chỉ có tính cách "vọng" mà thôi. "Vọng" ở chỗ Chúa Giêsu hiện ra trên đường đi vội vã, chứ không phải trong Căn Tiệc Ly đàng hoàng như khi Người hiện ra với các tông đồ sau này. "Vọng" ở đây còn được thể hiện qua việc hướng về thành phần "anh em" của Người, thành phần chính Người đã nhờ các bà báo tin cho biết, như Thiên Thần của Người đã căn dặn các bà.
Kể cả trong chính việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra một cách vội vã với các phụ nữ này đi nữa, chúng ta cũng thấy tính cách "vọng" trong đó. Vì hiện ra một cách vội vã và không chính thức, do đó, như trên vừa nói "chúng ta chưa thấy Chúa Giêsu hiện ra 'hoàn toàn'". Ở chỗ, Người chưa có dịp tỏ hết mình ra một cách rõ ràng về mọi chi tiết cần thiết ở nơi chính thân xác phục sinh của Người. Chẳng hạn Người đã không tỏ cho các bà thấy những gì sau này Người sẽ tỏ cho các tông đồ thấy, như tỏ cho thấy tay chân của Người, cũng như tỏ cho thấy thân xác của Người là thân xác thật, cũng biết ăn uống, chứ không phải là ma. Chính lời của cả Thiên Thần lẫn của Chúa Giêsu căn dặn các phụ nữ là hãy báo tin cho các tông đồ biết rằng các vị hãy về Galilêa để gặp Chúa Giêsu (xem Mt 28:7,10), trong bài Phúc Âm theo Thánh Mathêu cho Lễ Vọng Phục Sinh Năm A không có trong hai Phúc Âm cho lễ Vọng Phục Sinh Năm B và C, cũng nói lên tính cách "vọng" ấy, tính cách ngưỡng "vọng" đến việc "thực" sự gặp được, "thực" sự thấy Thày Phục Sinh.
Còn về lý do tại sao Chúa Giêsu lại hẹn hò gặp gỡ các tông đồ tại Galilêa, chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời ở cùng Phúc Âm Thánh Mathêu cho Lễ Thăng Thiên của Chu Kỳ Phụng Vụ Năm A.
Vấn đề thực hành sống đạo: Chúa Giêsu sống lại từ trong kẻ chết và đã làm cho các tông đồ tin rằng Người đã Phục Sinh để các vị có thể làm chứng nhân cho Người cho đến tận cùng trái đất. Kitô hữu hậu sinh chúng ta sở dĩ tin Chúa Kitô là nhờ và bởi chứng từ tông truyền này. Tuy nhiên, như các tông đồ đã theo Chúa Kitô và được Người tỏ mình ra cho đến tột đỉnh mạc khải là Cuộc Vượt Qua của Người thế nào, nếu trung thành theo Người, Kitô hữu hậu sinh chúng ta cũng được Người tỏ mình ra cho chúng ta như vậy, cho đến khi chúng ta Vượt Qua với Người. Ở chỗ, đức tin tông truyền của chúng ta cũng "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Jn 5:24), được Chúa Kitô dần dần làm cho chúng ta thực sự cảm nghiệm được quyền lực phục sinh mãnh liệt của Người nơi chúng ta, để chúng ta có thể chẳng những mạnh mẽ tin vào Người hơn mà còn sống động làm chứng cho Người nữa. Kinh nghiệm sống đạo của các thánh cho chúng ta thấy, các ngài đã cảm nghiệm được quyền lực phục sinh của Chúa Kitô hiển nhiên nhất nơi những lúc các ngài thực sự cảm thấy mình bất lực, nhưng lại làm được những việc ngoài sức tự nhiên nhất, nhưng lại chịu được những thử thách khủng khiếp nhất, thắng được quyền lực tối tăm nhất. Bởi thế, mỗi lần gặp đau khổ thử thách, chúng ta hãy nhớ rằng, dấu vết đau khổ đã được vinh quang sáng ngời nơi thân xác phục sinh của Chúa Kitô, và là dấu chứng tỏ Người thực sự đã phục sinh. Qua bí tích rửa tội, chúng ta đã được mai táng và sống lại với Chúa Kitô (xem Rm 6:3-4), nên con người mới Kitô hữu chúng ta chỉ thực sự sống lại khi sự sống của Người được tỏ hiện nơi thân xác của chúng ta (xem 2Cor 4:10).
 

PS1-15: NIỀM TIN VÀO ĐẤNG PHỤC SINH : Sr. Inê

Một em bé hỏi mẹ về đứa em mới chết hiện đang ở đâu? Người mẹ đáp: -Em con đang ở trên: PS1-15
Một em bé hỏi mẹ về đứa em mới chết hiện đang ở đâu ?
Người mẹ đáp: -Em con đang ở trên thiên đàng với Chúa Giêsu.
Mấy ngày sau, bà mẹ nói chuyện với bạn bè tỏ ý đau buồn khi nhắc đến đứa con mới mất.
Em bé ngạc nhiên hỏi mẹ: -Khi mẹ mất vật gì tức là mẹ không biết nó đang ở đâu phải không mẹ?
Bà mẹ đáp: -Phải.
Bé nói tiếp: -Mẹ biết em con đang ở với Chúa, sao mẹ lại nói là em con đã mất ?
Bà mẹ chợt tỉnh, không còn đau buồn nữa mà ý thức con mình đang vui hưởng hạnh phúc thiên đàng cùng Chúa Phục Sinh.
Thật vậy, Chúa Ki-tô đã Phục Sinh như trong tin mừng Gio-an 20,1-9 đã tường thuật một cách tỉ mỉ như một nhân chứng đã mắt thấy tai nghe, diễn tả hành trình mà các tông đồ, cụ thể là 3 nhân vật: Ma-ri-a Mac-đa-la, Phê-rô và Gio-an đã trải qua để tiến đến niềm tin ”Chúa đã Phục Sinh”. Chúng ta có thể suy niệm về vai trò của Phêrô và Gioan trong ý nghĩa về Giáo hội học. Nhưng hôm nay chúng ta lưu ý đến chính cuộc phục sinh của Chúa Kitô và ý nghĩa của biến cố này.
Thánh Phao-lô quả quyết: "Nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của chúng ta là điều vô ích,… chúng ta là những người khờ dại nhất vì chúng ta tin tưởng vào một điều hão huyền” (1Cr 15,12-19).
Vậy Phục Sinh là gì ? Đâu là ý nghĩa của biến cố Phục Sinh ?
Phục Sinh không có nghĩa là hồi sinh trở về đời sống cũ, giống như trường hợp con trai bà góa thành Na-im (Lc 7,11-17), con gái ông Gia-ia (Lc 8,40-56), và đặc biệt là ông La-za-rô (Ga 11,1-45). Cả ba trường hợp này người chết đều sống lại, nhưng đó chỉ là trở lại với đời sống cũ, có nghĩa là một ngày nào đó họ cũng phải theo cái số phận chung của loài người là phải trở về với bụi đất. Họ vẫn còn nằm dưới quyền của sự chết.
Trường hợp của Chúa Giê-su hoàn toàn khác hẳn. Quả thực, Ngài đã chết nhưng khi nói rằng Ngài Phục Sinh, có nghĩa là Ngài hoàn toàn chiến thắng sự chết, Ngài không sống lại một thời gian để rồi chết lại. Sống lại đối với Chúa Giêsu có nghĩa là mặc lấy sự sống sung mãn mới mẻ đến độ sự chết không còn chi phối nữa, cũng không định luật tự nhiên nào có thể chi phối được Ngài. Nhưng quan trọng hơn nữa, Chúa Kitô Phục sinh trở nên nguồn sự sống và sự sống lại của chúng ta. Điều Chúa nói trước đây: "Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,24) bây giờ trở nên sự thực qua việc Chúa sống lại.
Là những chứng nhân của Đấng Phục Sinh các môn đệ Đức Giê-su đã ra đi khắp nơi để rao giảng Tin Mừng của Ngài, Tin Mừng ấy là: Ai tin nhận Đức Giê-su, tuyên xưng Ngài là Chúa và sống theo giáo huấn của Ngài, người đó cũng sẽ được Phục Sinh như Ngài. Ngày nay tất cả mọi người tín hữu trên khắp thế giới đều được liên kết bởi cùng một niềm tin, đó là là niềm tin vào sự Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô. Chính niềm tin ấy mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, hướng dẫn các Ki-tô hữu bước qua tăm tối và giúp cho họ sống vui tươi, can đảm, và kiên nhẫn trong mọi nghịch cảnh.
Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, xin ban cho chúng con niềm tin mãnh liệt vào quyền năng Phục Sinh của Chúa. Xin cho chúng con sáng suốt nhận ra Ngài trong mọi biến cố cuộc đời. Nhất là xin cho chúng con luôn hăng say loan báo và làm chứng cho Ngài bất chấp mọi thử thách gian nan. Amen.
 

PS1-16: Đức Giê-su đang sống hay đã chết trong tâm hồn ta? – JKN

Câu hỏi gợi ý:
Trong tâm thức ta hiện nay, Đức Giê-su đóng vai trò gì? Ngài đang sống và hoạt động tích cực: PS1-16
1. Trong tâm thức ta hiện nay, Đức Giê-su đóng vai trò gì? Ngài đang sống và hoạt động tích cực, hay Ngài đã chết và không hoạt động gì cả? Nếu Ngài đang hoạt động, tất nhiên đời sống ta sẽ đổi mới rõ rệt. Ít lâu nay, đời sống tâm linh ta có gì thay đổi tích cực không? Điều đó chứng tỏ gì?
2. Làm sao để Đức Giê-su sống lại trong tâm thức ta? để Ngài hoạt động tích cực trong ta hầu ta được biến đổi thành con người mới?
Suy tư gợi ý:
1. Đức Giê-su đang sống hay đã chết trong tâm hồn ta?
Đức Giê-su đã sống lại. Điều ấy có ảnh hưởng gì đến ta không? Đức tin dạy ta rằng: "Nếu Đức Kitô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là vô ích" (1 Cr 15,14). Thật vậy, nếu Đức Giê-su không sống lại, thì cho dù có Ngài, cũng sẽ không có Kitô giáo, vì người ta không có một bằng chứng cụ thể và chắc chắn nào để tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Và nếu như thế, ta cũng như mọi Ki-tô hữu khác đều chẳng phải là Ki-tô hữu, và lúc ấy đối với ta, Đức Giê-su cũng chỉ là một đạo sư như bao đạo sư khác. Nhưng nếu Ngài đã thật sự phục sinh và ta đã là Ki-tô hữu, thì sự phục sinh của Ngài có ảnh hưởng gì đến ta một cách hiện sinh không? Có làm ta thay đổi cuộc sống hiện nay của ta không? Biết bao lễ phục sinh qua đi, mà lòng ta hay cuộc sống ta đâu có gì thay đổi! Ta vẫn là ta, vẫn có biết bao thói hư thật xấu như trước, chẳng thay đổi bao nhiêu, đôi khi tệ hơn!
Tại sao? Vì ta đã coi sự phục sinh của Đức Giê-su như một biến cố xảy ra hoàn toàn ở bên ngoài ta, chứ không xảy ra chút nào trong bản thân ta cả. Một nhà tu đức nói: "Nếu Đức Giê-su chỉ sinh ra tại Bê-lem, chỉ sống tại đất nước Do Thái, chỉ chịu chết trên đồi Can-vê, và chỉ phục sinh trong lịch sử cách đây 2000 năm, mà không sinh ra, sống, chịu chết và phục sinh ngay trong tâm hồn ta, tại đây và lúc này, thì tất cả những biến cố ấy của Ngài đều hoàn toàn vô ích đối với ta". Vì thế, điều quan trọng để sự phục sinh của Ngài có ích lợi cho ta, là Ngài phải phục sinh ngay trong bản thân ta, trong tâm thức của ta.
Theo niềm tin và sự tuyên xưng của ta, Ngài vẫn đang sống và hiển trị, nhưng dường như tất cả đều xảy ra ở bên ngoài ta. Còn ở trong ta, trong tâm thức ta, Ngài đã chết và đã được an táng từ lâu. Thỉnh thoảng ta chỉ tưởng nhớ đến Ngài như một người đã sống cách đây 2000 năm, tương tự như ta vẫn nhớ đến ông bà tổ tiên ta, hay đến một đức Trần Hưng Đạo nào đấy trong lịch sử. Trong tâm thức ta, Ngài được coi như một người quá cố. Một người chết như thế đương nhiên chẳng có thể ảnh hưởng hay thay đổi gì ta được!
2. Hãy phục sinh Đức Giê-su trong tâm thức ta
Vậy, để được biến đổi nên một con người mới, mạnh mẽ, tốt đẹp, tràn đầy thần khí của Thiên Chúa, trước hết ta phải phục sinh Đức Giê-su ở ngay bản thân ta, trong tâm hồn ta, trong tâm thức ta. Ngài có thật sự sống và hoạt động trong ta, thì ta mới được biến đổi để trở nên như Ngài.
Trong Tin Mừng có đoạn mô tả Đức Giê-su ngủ say như chết, bất động, trên thuyền của các tông đồ giữa cơn phong ba bão táp, để mặc các tông đồ phải đối phó trong hốt hoảng sợ hãi (x. Mt 8,23-27; Mc 4,35-41; Lc 8,22-25). Đó chính là hình ảnh mô tả thật chính xác tình trạng của Đức Giê-su trong tâm hồn ta: Ngài đang ngủ, hay Ngài đã chết, nghĩa là Ngài bất động. Nếu Ngài thức hay sống trong tâm hồn ta, tất nhiên Ngài sẽ hoạt động, Ngài sẽ làm những việc lạ lùng, thậm chí phép lạ để biến đổi ta, tương tự như Ngài đã làm sóng gió yên lặng sau khi các tông đồ đánh thức Ngài dậy trên thuyền.
Cuộc đời ta, tâm hồn ta nhiều khi ảm đạm, buồn tẻ, không có gì hứng thú hay khởi sắc về mặt tâm linh, chính vì ta đã để Đức Giê-su ngủ yên hay còn nằm chết trong ngôi mộ của tâm thức ta. Lúc nào Ngài cũng hiện diện trong ta, đầy quyền năng của một vị Thiên Chúa. Ngài sẵn sàng làm mọi sự để biến đổi ta nên hoàn thiện, mạnh mẽ, để cứu giúp ta khi gặp cùng khốn. Nhưng thái độ lãng quên và hờ hững của ta đối với Ngài đã khiến sự hiện diện của Ngài trong ta thành một hiện diện thụ động của một xác chết, hay của một người đang ngủ. Một cách khách quan, Ngài vẫn luôn hiện diện trong ta từng giây phút, nhưng ta không hề ý thức điều ấy, ta chẳng nhớ gì đến Ngài. Ngài hiện diện ở đó, nhưng đối với tâm thức ta, Ngài dường như không hiện diện. Nói cách khác, Ngài dường như vắng mặt trong tâm thức ta. Chính vì thế, sự hiện diện khách quan nhưng thụ động của Ngài chẳng đem lại lợi ích gì cho ta, chẳng làm cho đời sống ta thêm dồi dào phong phú, bình an hạnh phúc, đang khi ta rất cần và rất mong điều ấy. Ngài hiện diện nhưng chẳng khác gì vắng mặt, Ngài vẫn sống nhưng chẳng khác gì đã chết, vẫn thức nhưng chẳng khác gì đang ngủ, vì ta đã không để Ngài hiện diện hay sống động trong tâm thức ta. Ngài giống như một kho tàng rất lớn chôn dấu ngay trong nhà ta, nhưng vì ta không biết, nên ta nghèo vẫn hoàn nghèo, và kho tàng ấy chẳng ích lợi gì cả.
Nếu nhờ ý thức, Ngài trở nên hiện diện trong tâm thức ta, lập tức sự hiện diện ấy sẽ trở thành sự hiện diện hoạt động, hữu ích. Ngài sẽ biến đổi ta một cách hữu hiệu. Cũng như khó tàng bị chôn dấu kín kia, nếu được biết đến và đem ra sử dụng, sẽ đem lại một cuộc sống hết sức phong phú và hạnh phúc.
3. Sự phục sinh của Ngài trong ta tùy thuộc vào ta
Ngài ngủ hay thức, chết hay sống trong tâm hồn ta, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào ta có đánh thức hay để Ngài sống và hiện diện trong ta hay không. Ngài để ta hoàn toàn tự do quyết định điều đó. Trong chương trình của Ngài, rất nhiều việc Ngài đòi hỏi sự cộng tác tự nguyện của ta thì mới thành sự. đó là cách Ngài trọng phẩm giá của ta, là hình ảnh của Ngài, một Thiên Chúa hoàn toàn tự do. Phẩm giá đó buộc Ngài phải tôn trọng tự do của ta, Ngài không muốn đơn phương làm mọi việc, dù Ngài có thể làm, nhất là sự hoạt động tự do trong tâm thức ta.
Như vậy, tuy Ngài hiện diện và hoạt động cùng khắp, nhưng vẫn có chỗ mà ngài không thể tự do hiện diện và hoạt động theo ý Ngài. đó là hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta. Tâm thức ta là một không gian bất khả xâm phạm đối với chính Ngài, nghĩa là chính Ngài cũng không dám xâm phạm. Ngài chỉ vào đó để hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta khi nào ta cho phép Ngài, bằng cách hướng về Ngài, ý thức được sự hiện diện khách quan của Ngài và nhất là hết mình sống với sự hiện diện đó. Sự hiện diện của Ngài trong tâm thức ta chỉ đạt tới tuyệt đỉnh và trở nên tích cực hoạt động khi nào ta có thể nói được như thánh Phao-lô: "Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2,20).
Muốn thế, ta phải để Đức Giê-su chiếm trọn bầu trời tâm thức ta. Bình thường, "cái tôi" của ta chiếm trọn bầu trời ấy, vì lúc nào ta cũng nghĩ về ta, về quyền lợi, hạnh phúc, đau khổ của ta. Mọi hoạt động của ta đều bị cái tôi ích kỷ đó chi phối, điều khiển, huy động, khiến ta lúc nào cũng chỉ biết lo cho bản thân mình. Nhưng càng lo cho bản thân ta bao nhiêu, ta càng cảm thấy thiếu thốn, trống rỗng và đau khổ bấy nhiêu, vì đòi hỏi của ta thì vô hạn, mà sức của ta thì có hạn. Trong bầu trời tâm thức đó, ta chỉ dành một khung rất nhỏ cho Thiên Chúa và người khác.
Vậy, nếu muốn Đức Giê-su luôn hiện diện sống động và sử dụng được toàn bộ năng lực của Ngài trong ta, ta phải dành trọn bầu trời tâm thức của ta cho Ngài. Ngài phải là một ưu tư, lo lắng lớn lao nhất của ta, và ta chỉ nên dành một khoảng trời bé nhỏ nào đó cho chính ta thôi. Làm như thế là ta đã phục sinh Ngài, đã đánh thức Ngài dậy trong ta, để Ngài thi thố quyền năng của Ngài. Làm như thế là ta đã đào được cái kho tàng quí báu nhất mà ta vẫn vùi sâu chôn chặt trong tâm thức ta, để biến kho tàng ấy trở nên ích lợi cho ta. Và đương nhiên sau đó, nhờ sự sống và hoạt động của Ngài trong ta, ta sẽ hoàn toàn được biến đổi, cuộc sống trở nên phong phú và hạnh phúc hơn.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, có lẽ Đức Giê-su đã chết từ lâu trong tâm thức con, hoặc con đã để Ngài ngủ quá say trong tâm thức con, khiến cho sự hiện diện của Ngài trong con không gây nên một tác động nào ích lợi cho bản thân con, cho đời sống tâm linh của con. Xin Cha hãy giúp con đánh thức Ngài dậy, hoặc làm cho Ngài sống lại trong tâm thức con, để sự sống đích thực của Ngài triển nở trong con, và biến đổi đời sống con. Amen.
 

PS1-17: NGÔI MỘ TRỐNG –DẤU CHỈ PHỤC SINH

  Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Con người ở đời thường khởi sự bằng cái có: có địa vị, có quyền thế, có bằng cấp, có tiền của: PS1-17
Con người ở đời thường khởi sự bằng cái có : có địa vị, có quyền thế, có bằng cấp, có tiền của, có sức mạnh, có tài năng … mới làm nên chuyện.
Nhưng Thiên Chúa lại thường khởi sự bằng cái không.Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa khởi sự từ cái hoang vu trống rỗng, không không “Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng chưa có hình dạng, tối tăm bao trùm vực thẳm và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên nước” ( St 1,1-2).
Cái hoang vu trống rỗng của “ngày thứ nhất” trong công trình sáng tạo trời đất sẽ lại xuất hiện trong một “ngày thứ nhất” khác : Ngày Chúa Kitô sống lại từ cõi chết.Đó là cái hoang vu trống rỗng của Ngôi Mộ Trống mà Mađalêna đã chứng kiến và đau buồn thốt lên “ Người ta đã lấy mất xác Chúa tôi rồi”, Phêrô ngạc nhiên trong hoài nghi, Gioan đã thấy và đã tin.
Tất cả được khởi đầu bởi một sự kiện lạ lùng.  Các phụ nữ ra mồ thấy tảng đá lăn ra khỏi mộ. sau đó Phêrô, Gioan không còn thấy xác Đức Giêsu trong ngôi mộ mở toang.
Có lẽ lúc này Philatô còn đang ngũ, các Thượng tế, Kinh sư, Kỳ mục cũng thế. Họ ngủ thật say, sung sướng vì đã dẹp yên được một chướng ngại từng làm họ ghen tức, mất ăn mất ngủ. Mọi sự đã được giải quyết đúng như sự sắp đặt khéo léo của họ.Cái tên Giêsu rồi sẽ bị quên lãng, chẳng còn ai nhắc tới.Tảng đá to đã niêm phong cửa mộ. Giêsu Nazarath đã đi vào lòng đất lạnh.
Đối với những người vẫn thương mến Chúa Giêsu thì kể như đã hết, không còn gì ngoài những kỷ niệm xót xa chua chát.Một thực tế phủ phàng trĩu nặng nổi âu lo sợ hải.Niềm hy vọng lớn lao xưa đã bị chôn vùi cùng với Giêsu Nazareth. Sáng nay, mấy chị em phụ nữ ra mộ thì cũng chỉ có mục đích là ướp lại cái xác không hồn chưa kịp thối rửa.Họ đi tìm một cái xác, một kẻ chết nhưng họ đã đối diện với Ngôi Mộ Trống.Mađalêna đau khổ thốt lên “ người ta đã đánh cắp xác Chúa tôi rồi”. Các Thiên Thần hiện ra cắt nghĩa Chúa đã sống lại. Không biết các bà đã tin hay chưa, họ vội chạy về báo tin cho các Tông Đồ. Phản ứng của Phêrô là thinh lặng, Ong đang phân vân.Nếu có kẻ lấy trộm xác Thầy thì tại sao kẻ gian lại mất công xếp đặt khăn liệm và các dây vải cách thứ tự và gọn gàng như thế ? Ong vẫn còn bàng hoàng về những lỗi lầm chối Thầy với niềm ăn năn thống hối, Ong chưa hiều sống lại nghĩa là gì. Còn Gioan, Ong đã thấy và đã tin.Ong đã thấy gì ? thấy các dấu chỉ lạ lùng của Ngôi Mộ Trống, khăn liệm và các thứ dây được xếp gọn gàng.Chính bởi Gioan đã chứng kiến dấu lạ Chúa Giêsu cho Lazarô sống lại, khi Lazarô được Chúa cho sống lại, ông ngồi dậy, nhưng thân mình còn quấn chặt các thứ khăn liệm, còn ở đây, mọi thứ được xếp gọn gàng. Gioan nhớ lại lời Chúa Giêsu : Ngài phải chiọu đau khổ trước khi bước vào vinh quang.Nhờ ghi nhớ lời Chúa mà đức tin đã đến với Gioan sớm hơn Phêrô.
Trước mọi phản ứng đó, Đức Kitô Phục Sinh đã biểu lộ một sự chiến thắng âm thầm, không rình rang giữa tiếng kèn trống,reo hò của toàn dân.
Đức Kitô đã chiến thắng tử thần,thân thể bằng xương bằng thịt của Ngài hôm nay đã được “ Thần Khí Hoá” và từ đây Người sống hoàn toàn bởi Thần Khí, vì chỉ “ Thần Khí mới làm cho sống còn xác thịt thì có ích gì” ( Ga 6,36).
Đức Kitô đã sống lại thật trong vinh quang.Ngài không mặc lấy một thân xác khác, thân xác Phục Sinh của Ngài vẫn chính là thân xác trước đây chịu khổ hình, chết thập giá, nay thân xác đó được biến đổi, thân xác tâm linh không hư nát.Sự Phục Sinh của Đức Kitô không chỉ là phục hồi sự sống như trước mà còn chuyển qua thể thức hiện hữu mới.Thân xác của Ngài được Thần Khí hoá không bị vật chất cản trở.Đấng Phục Sinh đã nhiều lần hiện ra với các Tông Đồ để cũng cố đức tin cho họ chuẩn bị tâm hồn các ông đón nhận Chúa Thánh Thần, trở nên chứng nhân rao truyền sự chết và sống lại của Con Thiên Chúa
Ngày nay nếu muốn làm chứng cho Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta cũng cần khởi đi từ Ngôi Mộ Trống như các Tông Đồ ngày xưa.Nói theo ngôn ngữ tu đức thì chúng ta trở về với đời sống thanh bạch, đó là đời sống trong sạch,ngay lành và có tinh thần nghèo khó.
Thế giới hôm nay không thiếu những dấu chỉ của Đấng Phục Sinh. Nhưng người ta không nhận thấy được Ngài vì thiếu tâm hồn ngay thẳng trong sạch “ Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa “ ( Mt 5,8 ).Nói khác đi mỗi tâm hồn chúng ta là một ngôi mộ trống.Ngôi Mộ Trống là ngôi mộ không còn xác Chúa nhưng còn dấu chỉ Đấng Phục Sinh, đó là khăn liệm và khăn che mặt.Tất cả những gì nhân loại dùng để trói buộc Chúa Giêsu, che mặt Người, cần phải cởi ra và xếp gọn một bên.Gioan đã đi vào Ngôi Mộ Trống, Ong nhìn với cặp mắt trong sạch nên đã thấy và đã tin.Ong không thấy Chúa, nhưng thấy dấu chỉ của Phục Sinh, dầu vậy Ong vẫn tin.Chúng ta không thấy Chúa mà vẫn tin vì “ Phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20,29) ).Chúng ta không thấy Chúa nhưng chúng ta thấy Ngôi Mộ Trống là cái thế giới bao la đầy dấu chỉ sự hiện diện của Người.Ta cũng có thể thấy Chúa trong trong tâm hồn khiêm nhu, tự hạ,quên mình, trong sự bình an thanh thản của nội tâm. đó là những dấu chỉ mà Đấng Phục Sinh ban tặng.
Không có Phục Sinh, đức tin chúng ta chỉ là hảo huyền, cuộc sống chúng ta có ý nghĩa gì nếu không có gì sau hết, nếu tất cả chỉ dừng lại ở đời này ?. Nhìn lại đời sống mình, chúng ta sẽ nhận thấy vô vàn sự Phục sinh, rất nhiều những cuộc vượt qua nho nhỏ trong đời sống hướng tới Phục sinh. Khi một tình bạn,một tình yêu bị tan vở, chúng ta biết hàn gắn lại bằng yêu thương thì đó không phải là sự phục sinh sao ?. Khi mà chúng ta có kinh nghiệm về sự tha thứ,dẹp tan lòng thù hận, oán ghét thì đó là cuộc vượt qua phi thường …
Như mùa xuân sau đông tàn, Phục Sinh mãi mãi vọt lên trong đời sống chúng ta những chồi lộc ân sủng, những sức sống tươi trẻ. Tin vào Đấng Phục Sinh là thắp lên ánh sáng mới, là đón nhận tình yêu mới cho mùa xuân tâm hồn.
 

PS1-18: NIỀM TIN KHƠI NGUỒN ƠN PHÚC - Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR

Báo chí Việt Nam từng đưa tin về tình trạng một số nghĩa trang tại Bình Thuận bị kẻ gian đào: PS1-18
Báo chí Việt Nam từng đưa tin về tình trạng một số nghĩa trang tại Bình Thuận bị kẻ gian đào bới, và hài cốt của nhiều người bị mất cắp. Tìm hiểu lý do đào bới, người ta được biết: nào là để giả hài cốt Mỹ rồi bán cho những ai muốn đi ra nước ngoài, nào là đòi bà con họ hàng người chết chuộc lại hài cốt, nào là chôn dấu đâu đó rồi giả làm thầy bói chỉ cho người có thân nhân mất tích tìm tới đào lên. Lý do nào cũng đều chung một mục đích: kiếm tiền.
Hôm nay, sau khi đọc lại bài Tin mừng Phụs Sinh, tôi tự hỏi đây có phải là một mẩu tin như bao mẩu tin khác? Phải chăng cũng có một cuộc đánh cắp xác chết khiến cho thân nhân thăm mộ lo lắng hoang mang?
Xác Đức Giêsu đã bị đánh cắp. Đây chính là tin đồn mà các thượng tế cùng hàng niên trưởng đã tung ra. Số là sau khi được quân canh cửa mồ về báo cho biết những gì đã xảy đến, họ liền cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: "Các anh cứ nói: đang đêm các môn đệ của hắn đã đến trộm xác lúc chúng tôi đang ngủ" (Mt 28:11-13).
Nhưng nếu quân canh ngủ gục, làm sao lại biết những người trộm xác là môn đệ Đức Giêsu? Canh phòng và biết người ăn trộm sao lại không ra tay ngăn lại?
Thành ra có một sự hàm hồ trong mẩu tin "trộm xác" này. Người tung tin là để không bị mất mặt, còn kẻ phao tin là để thu được một món tiền lớn.
Thế rồi đang khi quân canh chạy về trình báo và thi hành tất cả những gì các thượng tế và hàng niên trưởng căn dặn, một trong những người theo Chúa Giêsu lúc Ngài còn sống là Maria Mađalêna đã ra viếng xác Chúa. Nàng sững sờ khi thấy mồ trống. Chung quanh chẳng có một bóng người. Hoảng hốt, nàng chạy bay về báo cho Phêrô và Gioan: "Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu."
Nghe thế, hai ông lập tức chạy phóng ra mồ. Phêrô bước vào huyệt trước và thấy các dải băng còn nguyên; khăn liệm quấn đầu để giữ quai hàm theo tập quán tẩm liệm Do thái vẫn còn đó. Không có dấu hiệu gì là trộm cắp hay bàn tay bên ngoài nhúng vào. Phêrô băn khoăn suy đoán nhưng vẫn không hiểu gì.
Song khi Gioan bước vào, ông đã thấy và tin.
Đây là lời tuyên xưng đức tin đầu tiên của "người môn đệ Chúa Giêsu yêu" vào sự Phục sinh của Thầy mình. Tuy cô Maria Mađalêna là người đầu tiên loan báo biến cố mồ trống cho các môn đệ, nhưng nhận định của nàng cũng chỉ theo kiểu con người: "Ai đã lấy mất xác Thầy rồi." Còn vị thủ lãnh tông đồ Phêrô tuy chứng kiến tường tận cảnh trí mồ trống nhưng lúc ấy cũng "chưa hiểu gì." Chỉ riêng Gioan, qua những dấu chỉ bên ngoài của mồ trống và các dải khăn liệm, đã tiến đến một khám phá lớn lao: "Theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết". Và ông đã tuyên xưng niềm tin sống lại đó.
Nhưng thử hỏi sự sống lại của Chúa Giêsu có khác với bao sự Phục sinh được nhắc đến trong Thánh kinh không? Vì trong thực tế, Lagiarô em của Matta và Maria cũng sống lại, con gái ông Giairô cũng sống lại, con trai bà góa thành Naim cũng sống lại, thế thì sự sống lại của Chúa Giêsu có gì đáng cho Giáo hội vui mừng công bố?
Lagiarô, con gái ông Zairô, con trai của bà góa thành Naim, tất cả đã sống lại, nhưng cũng chỉ sống lại trong sự giới hạn của thời gian và không gian, để rồi mấy mươi năm sau lại phải nằm xuống trong sự chết. Còn Đức Giêsu, Đấng là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống, và là Tình Yêu đó sống lại "để không bao giờ chết nữa; sự chết không còn làm chủ được Người nữa" (Rm 6,9). Như thế các chân lý và giá trị yêu thương mà Ngài mang đến cho nhân loại đã được Phục sinh để tồn tại đến muôn đời.
Và Gioan, người môn đệ Đức Giêsu yêu, đã nhận ra điều đó bằng đôi mắt đức tin. Qua Lời Chúa và các dấu chỉ bên ngoài, ông đã khám phá nội dung sâu xa ẩn chứa bên trong: Chúa đã phục sinh. Đây là cao điểm của niềm tin và lòng mến. Yêu thương làm tăng trưởng niềm tin, và tin nhau kiên vững tình yêu. Chắc hẳn nhờ lòng yêu mến Chúa Giêsu cách đặc biệt, Gioan đã nhạy bén với những dấu chỉ đức tin. Khi mà mồ trống, dải băng làm cho Phêrô khó hiểu và hoang mang, thì tình yêu đã khai mở niềm tin sống lại nơi Gioan, dù ông chưa thấy Chúa.
Như thế, Gioan không những khẳng định mình là người được Chúa yêu, song còn nhận mình là người có phúc. Bởi như lời tuyên bố sau này của Chúa Giêsu: "Phúc cho những ai không thấy mà tin" (Gn 20,29), Gioan đã trở thành người tin và có phúc sau lúc bước vào mồ, dù khi đó Chúa Phục sinh chưa hiện ra.
Chính Gioan muốn thông truyền lại ơn phúc lớn lao đó cho nhân loại. Tin vào Đức Giêsu Phục sinh là khởi điểm đưa con người từ tuyệt vọng qua hy vọng, từ u sầu qua hân hoan, và từ sự chết qua sự sống. Có niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh, không khổ đau gian lao nào có thể khuất phục con người, bởi như thánh Phaolô xác quyết: "Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng Ngài phục sinh. Nếu ta chịu khổ với Ngài, ta sẽ cùng Ngài thống trị" (2 Tim 2,11). Và sẽ đến một ngày "Đức Kitô, sự sống của ta hiện tỏ, và khi ấy tất cả chúng ta sẽ được tỏ hiện làm một với Ngài trong vinh quang" (Col 3,4).
 

PS1-19: CHÚA KITÔ SỐNG LẠI- Lm Giuse Nguyễn Trung Điểm

Chúa Kitô sống lại. Phải chăng Chúa Kitô đã chết và sống lại như các vị thần Osiris, Adonis: PS1-19
Chúa Kitô sống lại. Phải chăng Chúa Kitô đã chết và sống lại như các vị thần Osiris, Adonis trong các tôn giáo cổ xưa bên Ai Cập hoặc như Sơn Tinh, Thủy Tinh trong thần thoại Việt Nam? Không phải. Các vị thần nầy chỉ là huyền thoại biểu tượng cho sức sống của thiên nhiên, họ chết đi và sống lại mỗi năm theo mùa. Trái lại, Chúa Kitô là một nhân vật hiện thực, đã chết và sống lại chỉ một lần cho mãi mãi.
Chúa Kitô sống lại. Phải chăng Người đã chết thực, nhưng hình ảnh Người còn sống động trong tâm hồn tín hữu giống như văn hào Nguyễn Du đối với người Việt, hoặc công chúa Diana đối vối bao nhiêu người mộ mến cô? Không phải. Những người này đâu còn sống nữa, chỉ còn lại tác phẩm hoặc hình ảnh của họ thôi. Trái lại, Chúa Kitô đã chiến thắng cái chết và sống thực sự.
Chúa Kitô sống lại. Phải chăng sau khi Người chết, Thiên Chúa đã cho Người sống tiếp tục như trước kia, giống như phép lạ xảy ra cho chàng thanh niên ở Naim hoặc ông Ladarô? Không phải. Những người nầy do phép lạ được sống lại, nhưng vẫn mang thân phận con người và sau đó cũng đã chết. Trái lại, Chúa Kitô sống lại có một cuộc sống mới mà cái chết không còn quyền lực gì trên Người nữa.
Chúa Kitô sống lại. Phải chăng có nghĩa là linh hồn Chúa Kitô rời khỏi xác để về quê trời? Không phải. Bởi vì linh hồn mọi người, ít nhất là các người công chính, sau cái chết cũng đều được như thế. Trái lại, sự sống lại của Chúa Kitô hiển nhiên là một biến cố duy nhất, có một không hai.
Vậy Chúa Kitô sống lại có nghĩa là gì? Có nghĩa là Chúa Giêsu đã bị xử án và chịu tử hình, nay sống lại một cách mới mẻ qua tác động quyền năng của Thiên Chúa. Có nghĩa là biến cố này không chỉ ăn thua đến cá nhân Người: được Thiên Chúa cứu độ; nhưng hơn nữa, Phục Sinh là một biến cố liên quan đến tất cả chúng ta: Chúa Kitô đã chết cho chúng ta và Người đã sống lại đi trước chúng ta. Vì chúng ta thuộc về Người, cho nên Thánh Thần Người ngự trong chúng ta, tác động giúp chúng ta chỗi dậy sau những thất bại hoặc ngã lòng. Vì chúng ta thuộc về Người, cho nên sức sống của Người ở trong chúng ta, sức sống đưa chúng ta đến cuộc sống vĩnh cửu như Người.
Nói đến niềm tin của Giáo Hội trước tiên là nói đến niềm tin của các vị tử đạo.
Trước tiên là những người đã chứng kiến cái chết của Chúa Kitô trên đồi Golgôta, trước kia họ đã đặt một niềm hy vọng lớn lao nơi Người và sau đó họ đã thất vọng khi Người chết: bà Mađalêna, ông Phêrô và các tông đồ. Sự biến đổi lớn lao trong niềm tin của họ đã xảy ra chính ở cuộc gặp gỡ Đấng Phục sinh: Người đến với họ mỗi người trong mỗi hoàn cảnh khác nhau.
Với những tông đồ nhút nhát sợ sệt, trốn tránh ở Giêrusalem, Người hiện ra cho họ xuyên qua cửa đóng kín;
với những ngư phủ đã trở lại nghề đánh cá cũ vùng Galilêa, Người hiện ra cho họ ở bờ hồ;
với hai môn đệ thất vọng rời Giêrusalem để đi về Emmau, Người hiện ra cho họ trên đường đi;
với người đàn bà đau buồn vì tang tóc, Người hiện ra cách riêng ở khi vườn gần mồ;
với Phaolô, kẻ tiếp tục bắt giết Người, Người hiện ra cho ông như là kẻ "đã yêu thương ông và hiến mạng cho ông". Đấng Phục Sinh đã gặp họ, và, do đó, họ đã biến đổi hoàn toàn.
Họ chứng minh niềm tin Phục sinh đó bằng lời nói, bằng lòng can đảm, bằng chính mạng sống họ, từ thuở đầu tiên, trải qua nhiều thế kỷ mãi cho đến những vị tử đạo ngày nay. Đó là niềm tin Giáo hội cử hành trong ngày lễ hôm nay.
Chúa Kitô luôn tiếp tục đến với mỗi người trong chúng ta, xin Người biến đổi chúng ta nên những chứng nhân của Người.
 

PS1-20: Đức Kitô Sống lại từ cõi chết

Lm Nguyễn Bình An
Đức Kitô Sống lại từ cõi chết đã được lính canh mồ (Mt 27.62) tin và trình bày đầy đủ lên các vị lãnh đạo Do thái (Mt 28.11).
Họ thấy đất rung chuyển và Ngài trắng như tuyết anh dũng bước ra (Mt 28.2-3). Phản ứng của:PS1-20
Họ thấy đất rung chuyển và Ngài trắng như tuyết anh dũng bước ra (Mt 28.2-3). Phản ứng của họ là run rẩy, lo sợ và đứng ngây như chết (Mt 28.4). Một lần nữa, các vị lãnh đạo đã gian dối, dùng tiền mua chuộc lính canh để họ phao vu rằng "các môn đệ Giêsu nửa đêm đến cướp xác" (Mt 28.13).
Chủ trương của các tư tế, trưởng lão và biệt phái là đảo lộn và dấu diếm sự thật: Giêsu đã chết thật và đã sống lại từ cõi chết chỉ là tin hão huyền và là lời đồn vô bằng của những người ngưỡng mộ.
Alleluia, Ngài đã sống lại thật, như lời đã phán hứa (Mt 16.21; 17.23;20.19) là Tin mừng của tín hữu. Ngài đã xông vào hang cọp để cứu nhân sinh và đã bị tử thương. Ngài đã thanh toán cái món nợ khổng lồ nguyên tổ lưu lại cho con cháu. Ngài đã giao hòa trời và đất. Ngài mang hy vọng đến cho nhân loại. Ngài đã hiện ra với Maria Mađalêna, nhưng bà không nhận ra (Ga 20.14). Ngài đến với các môn đệ và họ tưởng là ma (Lk 24.37). Ngài xuất hiện bên bờ biển nhưng không ai nhận diện ra (Ga 21.5).
Những sự kiện trên chứng minh rằng nhiên tính của thần học phục sinh nơi Chúa Kitô khác hẳn sự hồi sinh của con gái ông Jairô, của con trai bà góa thành Naim, và của Lazarô. Phục sinh từ cõi chết không có nghĩa là sống trở lại cuộc đời đã có trước kia, nhưng là một cuộc sống siêu thăng khỏi không gian, thời gian và địa điểm. Xác sống lại của Đức Kitô vì thế hoàn toàn khác hẳn với xác đã được mai táng ngày thứ Sáu Tuần thánh. Nhưng không hẳn vô hình vì Chúa đã đốt than và nướng cá cho các môn đệ (Ga 21.9), đối thoại và gọi các ông đến dùng điểm tâm (Ga 21.12), song hành và đàm đạo với hai môn đệ trên đường về Emmaus (Lk 24.13-32), yêu cầu các môn đệ rờ nắn thân xác Ngài (Lk 24.39), ăn uống trước mặt các môn đệ (Lk 24.42), và trách Tôma cứng tin khi thách thức ông sờ các vết thương trên thân mình Ngài (Ga 20.27-28).
Alleluia, Chúa Kitô đã phục sinh khải hoàn. Tin mừng thật vĩ đại và "vô tiền khoáng hậu". Từ nay Ngài không còn bị ràng buộc trong không gian và thời gian. Không quyền lực nào có thể hãm hại hay cản trở Ngài nữa. Và lời cầu "danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện" đã hiện thực đầy đủ nơi Ngài. Satan và bè lũ tưởng chiến thuật" giết chủ chăn, chiên sẽ tan tác" đã thành công nhưng chúng đã chuốc lầy một thất bại ê chề. Một thế giới Kitô giáo và một trật tự mới đã khai mở bằng một thiếu số rất khiêm tốn, đã triển nở và sẽ trở thành đông đảo như sao trên trời, như cát đại dương, như Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham.
Với chúng ta những người tin vào Chúa Kitô và sự sống lại, chết là khởi đầu một cuộc sống thần tiên và thánh thiện. Nếu chúng ta biết sống như Chúa, hành động như Chúa và chết như Chúa thì chết là bước vào cõi vinh quang bất diệt.
 

PS1-21: TẠO VẬT MỚI TRONG CHÚA KITÔ

-Lm Trọng Thưởng, CMC:
Tiến là một chàng sinh viên sắc sảo kiêu hãnh, tự cho mình vào loại trí thức cao, đã nghênh: PS1-21
Tiến là một chàng sinh viên sắc sảo kiêu hãnh, tự cho mình vào loại trí thức cao, đã nghênh ngang tuyên bố với bạn bè rằng anh không tin bất cứ điều gì mà trí khôn anh không hiểu. Trung, một sinh viên khác sống ở nông trại gần trường, nói với Tiến:
- Hôm nay lái xe đến trường tôi chạy ngang qua một cánh đồng cỏ có đàn chiên đang ăn. Anh có tin không?
- Dĩ nhiên tôi tin.
- Và rồi cạnh đàn chiên có mấy con bê nhai cỏ xanh. Anh có tin không?
- Có chứ, sao không?
- Rồi chạy xuống dọc theo con đường có đàn ngỗng vừa ăn cỏ vừa kêu vang ầm ĩ. Anh có tin không?
- Có, tôi tin.
Trung hỏi tiếp:
- Vậy thì cỏ mà con cừu ăn trở thành len; cỏ mà con bê ăn trở thành lông bò; cỏ mà con ngỗng ăn biến thành lông chim. Anh có tin như vậy không?
Tiến trả lời:
- Anh nói đúng, tôi tin.
Trung hỏi vặn lại:
- Nhưng anh có hiểu tại sao không?
Lúc đó Tiến không còn giữ được vẻ cao ngạo, nhưng tỏ vẻ bối rối, trả lời:
- Ờ, không.
Trung khuyên nhủ:
- Anh biết không; nếu anh sống lâu trên đời, anh sẽ thấy rằng có rất nhiều điều anh tin mà anh không thể hiểu làm thế nào ra như vậy.
Mầu nhiệm Phục Sinh là điều chúng ta tin nhưng không thể giải nghĩa được vì nó vượt trên định luật tự nhiên, vượt trên lý lẽ của trí khôn. Tạo sao Chúa Kitô phải chết để mất công phải sống lại?
Mầu nhiệm Phục sinh chỉ cho ta thấy có một thế giới thần linh, mầu nhiệm mà mỗi người chúng ta đều mang mầm mống; có mầm sự sống không bao giờ chấm dứt chứa đựng trong mỗi người. Cuộc sống ở trần gian này không trọn vẹn được khát vọng của con người. Người ta mong hạnh phúc nhưng chỉ thấy bất hạnh, thèm khát, thiếu thốn dù là những người giầu sang. Người ta tìm cách để sống lâu, sống mãi nhưng cuối cùng cũng phải chết. Con người mang trong mình mầm sống hạnh phúc, mầm sống không bao giờ chấm dứt, nhưng thực tế khiến người ta thất vọng.
Qua mầu nhiệm Phục Sinh, Chúa Kitô đem lại cho chúng ta niềm hy vọng. Ngài đã chịu chết để được sống lại, sống mãi mãi và sống hạnh phúc. Thánh Phaolô đã gọi Chúa Kitô là trưởng tử của một nòi giống tạo vật mới. Ngài là người đầu tiên chịu chết và được sống lại, để nhờ Ngài mà chúng ta đã được sống lại như Ngài, trở nên những tạo vật mới trong Ngài. Câu mở đầu bài Phúc âm miêu tả cho chúng ta cảnh huy hoàng của ánh bình minh ngày Phục Sinh: "Sau ngày Sabbat, khi ngày trong tuần vừa tảng sáng..." Sách Sáng Thế Ký đã miêu tả ngày đầu tiên Thiên Chúa đã tạo dựng ánh sáng rồi phân rẽ ánh sáng và bóng thành ngày và đêm. Ca vịnh "Mừng Vui Lên" được Giáo Hội cất lên trong đêm Phục Sinh cũng nhắc đến cuộc giao tranh giữa bóng tối và ánh sáng. Chúa Kitô là vị tướng lãnh sự sáng đã chiến thắng bóng tối sự chết và tội lỗi. Ánh ban mai ngày Phục Sinh chính là khởi điểm của công cuộc tạo dựng mới; một nòi giống tạo vật mới đã xuất hiện mà Chúa Kitô chính là Người Anh Trưởng của đàn em đông đúc. Nơi Chúa Kitô mầm sự sống hạnh phúc không bao giờ chấm dứt trong bản tính nhân loại được triển nở thành cây và đơm bông kết trái.
Mầm sự sống đời đời trong mỗi người chúng ta có thể bị giết chết vì vô tình, hờ hững đưa mình vào những hoàn cảnh sống bệnh hoạn, bị trói buộc bởi đam mê xác thịt, của cải, danh vọng... Hình ảnh Chúa Kitô Phục sinh nhắc nhở, kêu mời chúng ta hãy dõi nhìn vào tâm hồn mình để nhìn thấy phẩm giá cao quí của người con của Thiên Chúa được kêu gọi sống đời đời trong hạnh phúc với Ngài. Nơi mỗi người chúng ta có mầm sống vĩnh cửu cần được nuôi dưỡng bằng ơn thánh qua các bí tích, và đời sống cầu nguyện; đồng thời nó cũng cần được che chở khỏi biết bao ảnh hưởng bệnh hoạn giữa thế giới ngày nay, như những cơn bão tố đe dọa giết chết nó.
 

PS1-22: CHÚA KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT-Msgr Trần Văn Khả

Hôm nay Giáo Hội hân hoan cử hành biến cố Chúa Kito sống lại, tột đỉnh của mầu nhiệm Chúa: PS1-22
Hôm nay Giáo Hội hân hoan cử hành biến cố Chúa Kitô sống lại, tột đỉnh của mầu nhiệm Chúa Kitô và là nguồn ơn cứu rỗi cho toàn thể nhân loại. Đây cũng là nội dung của lời rao giảng của Giáo hội sơ khai, như lời sách Công vụ Tông đồ nói: "Anh em đã giết Đấng là nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết: về điều này, chúng tôi xin làm chứng" (Cv 3,15). Các Phúc âm nhất lãm và Phúc âm thánh Gioan đã ghi lại những chứng từ của Giáo hội sơ khai về vấn đề này. Qua các bài tường thuật, các ngài cho thấy ý nghĩa sâu xa của biến cố nền tảng này, cũng như cho thấy cảm nghiệm của Giáo hội sơ khai về biến cố Chúa Kitô sống lại. Vì thế chúng ta cần đọc các bài tường thuật về cuộc sống lại trong cái nhìn này.
Về sự việc Chúa Giêsu sống lại, không thánh sử nào tường thuật trực tiếp, nhưng tất cả đều công nhận sự việc mồ trống do các phụ nữ đạo đức thuật lại và sự việc sứ thần hiện ra nói cho các phụ nữ hiểu biết ý nghĩa mầu nhiệm Chúa Kitô sống lại và việc các phụ nữ được trao nhiệm vụ về loan báo cho các môn đệ biết Chúa Kitô đã sống lại. Trong cả hai biến cố, các phụ nữ đã nhận được sứ mệnh phải về loan báo cho các môn đệ sự việc Chúa sống lại và phải đi Galilêa để gặp Ngài. Riêng thánh sử Matthêô ghi thêm một vài yếu tố liên hệ tới việc Chúa Kitô sống lại như là mộc cuộc xuất hiện của Thiên Chúa.
Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Matthêô ghi lại hai sự việc: thứ nhất là việc các thiên sứ hiện ra với mấy bà đạo đức (28,1-7); và thứ hai chính Chúa sống lại hiện ra với các bà (28,8-10). Thánh sử Matthêô ghi thêm các yếu tố gắn liền với biến cố Thiên Chúa hiện ra, như việc động đất, việc lính canh hoảng sợ, việc thiên thần hiện ra và chi tiết áo các vị trắng tinh sáng ngời. Thiên thần còn cho các bà một dấu chứng là Chúa sống lại sẽ đi Galilêa trước các môn đệ, như lời Ngài đã phán trước đây.
Ngày hôm nay, khi cử hành biến cố Chúa Giêsu sống lại qua phụng vụ, Giáo hội đã đưa chúng ta vào kinh nghiệm sâu xa như các phụ nữ đạo đức xưa và như các tín hữu thời Giáo hội sơ khai. Điều này được lặp lại mỗi năm, để cảm nghiệm này được thêm dồi dào phong phú hơn. Vì thế việc lặp lại này không thể mang tính chất nhàm chán, nhưng là một con đường đi vào cảm nghiệm siêu nhiên. Mỗi ngày tín hữu phải đến mồ trống mà tìm ra Chúa. Điều này có nghĩa là phải loại bỏ tất cả những mong chờ tìm gặp Chúa trong cách thế thường tình, trái lại cần tin nhận Ngài đã được Thiên Chúa tôn vinh và nên nguồn ơn cứu rỗi cho nhân loại. Từ đây mối liên hệ của chúng ta với Ngài cũng phải thay đổi: với niềm tin vững chắc nơi Ngài, với sự gắn bó thân mật với Ngài như muốn được gần gũi đụng chạm tới Ngài, và với sự hăng say để loan báo Tin mừng Ngài đã sống lại. Đó là điều chúng ta rút tỉa ra cho cuộc sống đức tin từ biến cố Chúa Kitô sống lại và từ cảm nghiệm của Giáo Hội sơ khai.
 

PS1-23: NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI TỪ CÕI CHẾT-Sr Rosemary Nhàn, MTGQN

Tin mừng của thánh Gioan hôm nay đã trình thuật lại cho chúng ta nghe về sự Phục Sinh của: PS1-23
Tin mừng của thánh Gioan hôm nay đã trình thuật lại cho chúng ta nghe về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu và "ngôi mộ trống" của Ngài. Những sự kiện được mô tả trong bài Phúc âm thánh Gioan không chỉ muốn minh chứng cho chúng ta biết về sự sống lại của Chúa Giêsu mà thôi, nhưng điều trọng yếu nhất chính là nền tảng cho lòng tin vào mầu nhiệm của sự sống lại.
Qua các dấu chỉ bên ngoài nơi mộ Chúa, Maria Mađalena, Phêrô, và người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến đã chắc chắn rằng Thầy mình đã sống lại. "Họ đã thấy và họ đã tin" (Ga 20.8). Điều này cho chúng ta thấy được niềm tin mãnh liệt của họ, mặc dầu trước đây họ vẫn chưa hiểu được Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết như thế nào !
Đức tin là một điều không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi một người Kitô hữu. Có đức tin là một điều cần thiết, tuyên xưng đức tin lại là một điều cần thiết hơn nữa. Trong niềm vui trọng đại của ngày Chúa Giêsu Phục sinh, chúng ta hãy cùng nhau dành một chút thời gian để suy niệm niềm tin yêu nầy.
Một buổi chiều nọ, một cô gái trẻ đang cùng bị giam cầm trong tù với nhiều người khác, đã kề miệng vào tai người bạn thì thầm: "Chị biết ngày mai là ngày gì không?" Rồi không đợi chị bạn trả lời, cô nói tiếp: "Mai là ngày lễ Phục Sinh". "Lễ Phục Sinh là lễ của niềm vui và hy vọng, nhưng trong tù, chúng ta đã héo úa và khô cằn, còn hy vọng gì?" Chị ta đi lại trong phòng và không dám suy nghĩ tiếp. Bỗng tiếng reo vang nổi lên phá tan bầu không khí năng nề: "Chúa Kitô đã Phục Sinh". Chị quay lại thì kìa cô bạn mình đang cất tiếng tuyên xưng niềm tin, đồng thời chị thấy chiếu lên từ đôi mắt cô một ánh sáng long lanh diệu huyền. Cùng lúc ấy từ mọi phía của những phòng giam khác vọng lên tiếng đáp: "Người đã Phục Sinh thật!". Quá sửng sốt trước một biến cố không bao giờ xảy ra trong chốn này, các nhân viên trại giam trở nên bất động như tượng gỗ. Sau một lúc yên lặng, tiếng giày nặng nề tiến dần lại phòng giam của họ, cửa phòng mở tung. Hai nhân viên bước vào giận dữ, hỏi ai đã xướng câu mê tín dị đoan, rồi hùng hổ túm lấy cô gái kéo xềnh xệch ra khỏi phòng. Thật là họa hiếm đối với một thiếu nữ đã tuyên xưng đức tin trong một hoàn cảnh quá ư là đặc biệt này. Niềm tin và sự can đảm của cô đã nhắc nhở mỗi người chúng ta phải cố gắng thể hiện đức tin của mình htrong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Hơn hết hãy nhìn vào mẫu gương sống động của Đức Kitô, Chúa chúng ta. Ngài đã khiêm hạ để sống kiếp người như ta. Chính khi tiếp nhận mọi mùi vị của cuộc sống. Ngài đã mặc cho cuộc sống một chân lý, một ý nghĩa, một hướng đi. Cuộc sống có ngọt ngào có đắng cay, có lao nhọc có nghỉ ngơi, có thành công có thất bại. Tất cả đều mang một ý nghĩa. Trong Đức Kitô, mất mát trở thành thắng lợi, thua thiệt trở thành cơ may, đau khổ trở thành dịu ngọt, và cái chết sẽ trở thành khởi đầu cho cuộc sống.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin khơi dậy trong tâm hồn chúng con một niềm tin mãnh liệt như Maria Mađalene, Phêrô, Gioan và đặc biệt như cô thiếu nữ trong trại tù kia. Qua sự sống lại vinh hiển của Chúa, xin thương giúp mỗi người chúng con tin và hiểu rõ ý nghĩa giá trị của sự chết, để từ đó chúng con biết chiến đấu lướt thắng những khó khăn trở ngại, biết chế ngự đau khổ, biết tiêu diệt tội lỗi hầu phát huy một cuộc sống mới. Xin Ánh Sáng Phục Sinh soi cho mọi hành vi ngôn ngữ và biến tất cả thành động lực đóng góp vào cuộc sống hân hoan vui vẻ, vì nó là bước đầu cuộc sống Phục Sinh Vĩnh Cửu. Amen.
 

PS1-24: Sự Phục Sinh của Đức Giê-su là biến cố trung tâm

Đối vối người Ki-tô hữu chúng ta, sự Phục Sinh của Đức Giê-su là biến cố trung tâm chẳng: PS1-24
Đối vối người Ki-tô hữu chúng ta, sự Phục Sinh của Đức Giê-su là biến cố trung tâm chẳng những về mặt siêu nhiên, mà còn trong lịch sử nhân loại nói chung, biến cố thay đổi chẳng những số phận của linh hồn con người mà cả chính đời sống tự nhiên của con người nữa.
Bởi vì biến cố này xác nhận nhiều sự thật vô cùng căn bản và lớn lao. Chẳng hạn sự thật Đức Giê-su Na-da-rét chính là Đấng Thiên Sai mà dân Ít-ra-en từng mong đợi. Sự thật Ngài đã được Thiên Chúa cho sống lại từ cõi chết và đã hiện ra cho các tông đồ, đã cùng ăn cùng uống vối các ông. Sự thật các lời loan hứa của Thiên Chúa và nhiều ngôn sứ trong Cựu Ước đã ứng nghiệm. Và do đó đời người từ đây đã chính thức đi đến một khúc quanh mới, bước sang một kỷ nguyên mới, hứa hẹn một tương lai tươi sáng.
Với sự Phục Sinh của Đức Giê-su, lịch sử nhân loại đã sang một trang mới. Nhân loại vào buồi sáng phuc sinh hân hoan và hạnh phúc khác nào dân Ít-ra-en xưa vĩnh viễn thóat tay Pha-ra-ô và đang đặt chân trên miền đất tự do, khác nào đám tù nhân vừa mới mãn hạn tù và hít thở những làn khí đầu tiên của đời thong dong. Từ nay thân phận họ đổi khác. Cũng thế, từ nay, nhân loại có Đức Giê-su Phục Sinh đồng hành, dắt dìu, bảo vệ – điều được biểu tượng bằng cây nến Phục Sinh cháy sáng giữa cung thánh suốt Mùa Phục Sinh này. Từ đây, nhân loại được cứu độ là dân mới của Thiên Chúa, phấn khởi và bình tâm tiến bước về quê trời.
Đó thật là Tin mừng vĩ đại mà các tông đồ, những người đầu tiên được phúc nhận biết, không thể không loan báo. Điều này, thánh Phê-rô đã làm tại Giê-ru-sa-lem, như đoạn sách Công Vụ vừa kể lại.
Đó cũng là Tin mừng hoàn toàn thay đổi thái độ và nếp sống của nhóm người đầu tiên đi theo Chúa như bài Tin mùng cho thấy.
Họ là Ma-ri-a Mác-đa-la từ đây sống khác thế gian: tức là ra khỏi cảnh tối tăm, đi ra mộ Chúa, hướng tâm hồn về cuộc Khổ Nạn của Chúa, và khi được cảm nghiệm về Chúa thì trở thành chứng nhân đi loan báo về Chúa.
Họ là Phê-rô và Gio-an nhậy cảm về mọi chuyện liên quan đến Thầy mình và mau mắn đến những nơi có thể gặp Thầy.
Biến cố Phục Sinh đã khai sinh một Dân Mới với những tâm hồn mới. Tuy thế, không phải biến cố này ngay một sớm một chiều đã đẩy lui được tinh thần và nếp sống thế gian. Bên cạnh niềm vui Phục Sinh, một nỗi lo còn nguyên: Đó là cõi lòng mỗi cá nhân có thể tiếp tục nghĩ đến những sự dưới đất – và môi trường chung quanh có thể còn thu hút người ta đi theo nếp sống thế tục, khiến người ta chưa chống lại được các đam mê xấu và chưa chết đi với Đức Ki-tô cho đời sống cũ được.
Vậy tuy đã được Đức Ki-tô đưa vào kỷ nguyên vui mừng rồi, mỗi người chúng ta vẫn còn cần nỗ lực nhiều để bảo vệ cho được diễm phúc của mình và bắt chước gương sống của các tông đồ đầu tiên tức là sống ngược lại với thế gian và chiêm ngắm, thể hiện cuộc Khổ Nạn Chúa trong đời sống, để ngày càng phát huy thái độ mới, nếp sống mới của kể đã được cứu độ.
Lm. An-tôn TRẦN THẾ PHIỆT, DCCT
Chuyện: MÔN ĐỒ KHÔNG MUỐN RỬA CHÂN
Nhạn rừng mát lòng hả dạ nói với Chúa Tạo Vật: "Con đến làm môn đồ của Ngài có được không ?" "Tốt thôi !" – Chúa Tạo Vật chỉ con hạc đàng xa, nói tiếp: "Con đi rửa chân cho nó, nó vừa mới đi qua một vũng bùn lầy lội". "Cái gì ?” Nhạn rừng kinh ngạc kêu lên một tiếng, không thèm để ý, nói tiếp: "Con là môn đồ của Chúa Tạo Vật, không thể phục vụ người khác". Chúa Tạo Vật cười nói: "Bé con, nếu con không phục vụ người khác, thì mọi người làm thế nào mà nhận ra được con là môn đồ của Ta chứ ?" ( Hạnh Lâm Tử)
Nghi thức rửa chân chiều Thứ Năm Tuần Thánh thật vô cùng có ý nghĩa: Phục Vụ. Đối với người Do-thái cổ, tập tục rửa chân cho khách trước khi dự tiệc, là biểu lộ sự kính trọng, yêu mến khách... Chúa Giê-su đã dùng tập tục này để dạy cho các Tông Đồ một bài học: Phục Vụ và Yêu Thương. Sau khi rửa chân cho các Tông Đồ, Chúa Giê-su đã nói: "Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em" ( Ga 13, 15 ).
Phục Vụ là Yêu Thương, Phục Vụ là quên mình... Nhưng có một vài mục tử của Chúa đã để cho con chiên phục vụ mình nhiều hơn là mình phục vụ họ: "Con chiên" phải làm thêm giờ tăng ca, không thể xưng tội theo ngày đã ấn định, đến xin mục tử của mình cho xưng tội, liền bị mục tử khóac tay từ chối vì hết giờ hành chánh. "Con chiên" nhìn thấy vị mục tử của mình xa xa, liền sợ hãi tránh qua đường khác mà đi, vì sợ mục tử hơn cả sợ... sói dữ. "Con chiên" đi lạc vào trong các bụi gai, mục tử làm ngơ; "con chiên" thiếu ăn, mục tử vẫn phậy phây "đi mây về gió" giữa cảnh nghèo đói của con chiên.
Hình thức Phục Vụ bên ngoài là bày tỏ yêu thương bên trong của môn đệ Chúa Giê-su.
 Lm. Giu-se Ma-ri-a NHÂN TÀI, CSJB. dịch và viết suy tư
Chuyện: CẬU BÉ HIẾN MÁU CHO EM
Một bé trai tám tuổi lâm chứng bệnh nguy hiểm. Cả tháng trời em vật lộn với thần chết. Khi các bác sĩ cho biết cuối cùng em đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần, em và cả gia đình đều mừng rỡ vô cùng.
Thế nhưng không bao lâu sau, đến lượt em gái của bé trai này lâm phải chứng bệnh y như anh nó. Cả gia đình lại rơi vào cảnh âu lo. Các bác sĩ cho biết cách duy nhất để cứu sống bé gái là sử dụng máu của chính cậu bé anh mới có hy vọng khỏi bệnh.
Không thể tránh né vấn đề, người ta phải hỏi ý kiến bé trai. Thoạt đầu em tỏ ra lo lắng, nhưng trong chốc lát, em đã cương quyết trả lời: “Vâng, con sẵn sàng hiến máu cho em con”.
Quả thật, nhờ sử dụng máu của cậu bé anh mới vừa lành bệnh, tiếp cho cô bé em đang mê man, các bác sĩ đã cứu sống được thêm một sinh mạng. Có điều, bé trai đã làm cho các bác sĩ ngẩn người ra khi nêu câu hỏi: “Vậy ra, con vẫn còn sống à ?” Bé cứ tưởng mình sẽ tắt thở ngay sau khi tiếp máu cho em, và em đã can đảm chấp nhận hy sinh !
Nơi cậu bé 8 tuổi, chúng ta được chiêm ngưỡng một tình yêu lớn: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" ( Ga 15, 13 ). Mặc dầu không chết như em tưởng, nhưng sự sẵn sàng chết vì tình ruột thịt đã khiến cho tình thương của em trở nên cao cả...
Trích bài giảng của cha AUGUSTINE, SJ, 25.6.2000
Chuyện: THÁNH GIÁ CỦA ĐỜI TA
Có một người kia cứ phàn nàn trách Chúa vì đã gửi đến cho mình một thập giá quá nặng... Chúa bèn đưa người đó đến một cửa hàng có các thập giá đủ cỡ để người đó chọn lựa. Người đó hăm hở bước vào cửa hàng và dựng cây thập giá của mình vào tường. Người đó tự nhủ trong lòng: "Đây là chuyện cả đời người, ta phải hết sức cẩn thận". Thế là anh ta đi rảo khắp hết mọi lối đi của cửa hàng và thử hết cây thập giá này đến cây thập giá khác. Nhưng không có một cây nào làm anh vừa lòng. Cây thì quá dài, cây thì quá ngắn. Cây thì quá nhẹ, cây thì quá nặng... Anh lại tiếp tục tìm kiếm.
Cuối cùng, anh đã tìm được cây thập giá mà anh cho là ưng ý nhất. Anh mang đến với Chúa và nở nụ cười mãn nguyện: "Lạy Chúa, đây chính là cây thập giá mà con hằng tìm kiếm. Con xin vác lấy". Khi anh vừa định hí hửng ra khỏi cửa hàng, thì Chúa mỉm cười nói với anh: "Ta rất vui mừng vì con đã chấp nhận cây thập giá. Đây cũng chính là cây thập giá mà con đã vác vào hồi nãy và con đã bỏ lại, dựng ở vách tường của cửa hàng".
Thánh Gio-an Maria Vianney, cha sở họ Ars bên Pháp, đã nói: “Thập giá là quyển sách cao siêu nhất... Chỉ có những ai yêu mến, nghiền ngẫm quyển sách này, những người đó mới thật sự là người thông thái".
Thập giá Chúa Giê-su là quyển sách cao siêu nhất, bởi vì, đó là dấu chứng cao cả nhất của Tình Yêu. "Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người thí mạng vì người mình yêu". Từ một khí cụ độc ác đê hèn nhất của con người đã có thể nghĩ ra để hành hạ người khác, Chúa Giê-su đã biến nó thành dấu chứng của Tình Yêu: Tình Yêu vâng phục đối với Chúa Cha và Tình Yêu dâng hiến cho nhân loại...
Suy tôn Thánh Giá Chúa, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta được đi vào Mầu Nhiệm Tình Yêu của Chúa. Trong Mầu Nhiệm ấy, cuộc sống của chúng ta không còn bị đè bẹp dưới sức nặng của những đau khổ nữa, nhưng luôn mang lấy một ý nghĩa: đó là ý nghĩa của Tình Yêu.
Trích từ Lẽ Sống
 

PS1-25: Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết

Bài đọc 1: Cv10:34.37-43; Bài đọc 2: Col 3:1-4; Tin Mừng: Ga 20:1-9
CHỦ ĐỀ CÁC BÀI ĐỌC
Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết! Đó là mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay. Toàn bộ phụng: PS1-25
Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết! Đó là mầu nhiệm mà chúng ta cử hành hôm nay. Toàn bộ phụng vụ tóm gọn trong câu này: “Sau ba ngày, Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại.” Phêrô đã giảng cho Ong Cornêliô và gia đình của ông (Bài 1). Đối với Thánh Phaolô, sự sống lại của Đức Giêsu Kitô – ý thức của kitô hữu về mầu nhiệm này – là nền tảng của mọi việc đạo đức kitô, và do đó thúc đẩy ta suy nghĩ và tìm kiếm những việc trên trời chứ không phải những việc dưới đất (bài 2). Trong bài Tin mừng, trích từ chương 20 tin mừng theo Thánh Gioan, cả bài tường thuật chú ý vào ngôi mộ trống, nhưng chỉ để làm nổi bật niềm tin của người môn đệ được Chúa yêu vì theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải sống lại từ cõi chết (Tin Mừng).

Sứ Điệp Niềm Tin

Điểm đầu tiên cần ghi nhận đó là chúng ta đang đối diện với một mầu nhiệm. Một mầu nhiệm làm ta kinh ngạc và vượt trên chúng ta. Đây chẳng phải là điều phi lý nhưng là điều vượt lên trên mọi rào cản của lý trí nhân loại và cách thức hiểu biết thực tại của chúng ta. Đây là điều cần phải được giữ bằng lòng mến và lòng tin hơn là bằng trí hiểu. Đây là điều mà càng khát khao thì ta càng thấu rõ tuy chắc chắn vẫn còn những điều vượt quá tầm tay của ta. Sau cùng, đây là điều mà ở đây ngay trong đời sống nhân loại không thể chạm tới được, thật tuyệt hảo và đầy ấn tựơng. Khi chúng ta nói về mầu nhiệm, bất cứ mầu nhiệm nào nhưng nhất là mầu nhiệm Đức Giêsu sống lại, mầu nhiệm đó có liên quan đến ta cách riêng biệt và ta không thể giả vờ không biết điều ấy, mầu nhiệm này liên kết chặt chẽ với đời sống và hạnh phúc của ta. Một mầu nhiệm từ đó con người không thể “trốn thoát” mà không làm phương hại chính mình. Cần thêm rằng thật tốt và ích lợi cho ai “chạm” đến hoặc được mầu nhiệm ấy chạm đến. Có người nghĩ rằng vì là mầu nhiệm nên điều đó làm nhục ta, làm ta mất danh giá, đánh mất tự chủ và sự cao cả, đánh gục ta ngay từ nền tảng lý trí và dẫn ta vào đường lối mù quáng của sự cả tin. Chẳng có gì sai lạc cả! Đối diện với mầu nhiệm nghĩa là với điều gì vượt trên việc ta kinh nghiệm về sự vật và con người, là dấu chỉ của cội nguồn cho thấy rằng con người không hoàn toàn là trần tục, và được mời gọi đến một thế giới cao hơn cái cát bụi trần đời này. Sau cùng, mầu nhiệm nhắc nhớ, làm sống lại nơi con người nơi mà từ đó nó phát xuất ra, sứ mạng của nó ở trần gian, điểm đến và mục đích cuộc đời của nó. Đó chẳng phải là sự cao cả của con người khi sánh với thế giới thụ tạo đó sao? Hôm nay chúng ta cử hành mầu nhiệm Đức Kitô sống lại, sự sống chiến thắng sự chết, bảo đảm cho sự sống vĩnh cửu của ta, được ẩn giấu nơi Thiên Chúa. Mầu nhiệm này không được truyền lại cho ta nhờ các nhà tư tưởng vĩ đại nhất lịch sử hoặc nhờ những nhà thần bí trong các tôn giáo. Ta cũng chẳng thể biết gì nhờ các pháp sư các phù thủy đủ loại qua các thời đại. Mầu nhiệm này được mạc khải cho ta nhờ chứng cứ của “những người đã thấy và đã tin”. Không do kết quả nổ lực của con người, nhưng là bằng chứng của một kinh nghiệm lạ lùng đậm dấu ấn mãi mãi trong cuộc đời của con người. Là bằng chứng, ta chỉ có thể tin hoặc không tin chứ không thể chứng minh được. Nhưng một bằng chứng trở nên đáng tin nhờ dòng máu của các vị tử đạo, và hợp lý dù ta có chấp nhận hay không. Đó là lý do sự sống lại của Đức Giêsu Kitô là một mầu nhiệm của niềm tin nhưng hoàn toàn hợp lý và khả tín và hết sức quan yếu cho cuộc sống con người trong trần thế.

Gợi ý Mục Vụ

Trong việc dạy giáo lý và trong việc mục vụ suốt mùa phục sinh, cần lưu tâm trao cho giới trẻ và những người trưởng thành một giải thích tốt rõ ràng về ý niệm và ý nghĩa của mầu nhiệm. Làm thế, một đàng ta tránh chủ thuyết tin mù quáng. Đàng khác ta muốn tránh không để mầu nhiệm được quan niệm như là điều gì phi lý, chỉ dành cho người tiền sử hoặc trẻ con hoặc cho người yếu tâm lý, và là điều không tương hợp cho con người tri thức trưởng thành ngày nay. Xét lại ý niệm về mầu nhiệm đối với các tín hữu, bằng những từ ngữ rõ ràng chính xác, là điều quan trọng giúp người ta đến gần những mầu nhiệm lớn trong đời sống kitô bằng niềm tin và bằng lý trí. Tôi tin rằng hai chiều kích cần được nhấn mạnh. Một, mầu nhiệm là điều hợp lý, tuy nó vượt xa biên giới của lý trí. Lý trí nói: Xa tầm tay của tôi, nhưng không nghịch lại những nguyên tắc chính yếu cho việc suy tư, và cũng có yếu tố cảm nhận được hoàn toàn hợp lý. Hai, mầu nhiệm cần thiết cho đời sống con người. Dù họ không thể hiểu thấu hết mầu nhiệm, mầu nhiệm vẫn có liên hệ mật thiết với họ, thay đổi hướng sống, dù người ta chẳng quan tâm đến mầu nhiệm. Thay vào đó, nếu họ để cho cuộc đời họ chạm đến mầu nhiệm, đó là điểm quy chiếu, một sức sống sẽ thâm nhập và tràn trào trong cả cuộc sống, biểu lộ trong mọi công việc. Trong cuộc sống đời thường của kitô hữu, của giáo dân, mầu nhhiệm Đức Giêsu Kitô phục sinh có còn quan trọng không? Vậy làm sao nó trở nên quan trọng đối với mọi người được?

Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê

 

PS1-26: Sự sống sự sống mới - PS/ LỄVỌNG

Bài đọc 1: St 22:1-18; Bài đọc 2: Rm 6:3-11; Tin Mừng: Mt 28:1-10
CHỦ ĐỀ CÁC BÀI ĐỌC
Toàn thể phụng vụ và các bài đọc được chọn để nói về sự sống sự sống mới, phát sinh từ: PS1-26
Toàn thể phụng vụ và các bài đọc được chọn để nói về sự sống, sự sống mới, phát sinh từ quyền năng Thiên Chúa. Phụng vụ ánh sáng và việc tái lập lời hứa thánh tẩy, vang lên bài ca chúc tụng cho con người mới, cùng chết và được sống lại với Đức Kitô. Trình thuật sáng tạo kể về vũ trụ và con người xuất phát từ bàn tay vô cùng thánh thiện của Thiên Chúa. Còn riêng về Isáac, được xem như một cuộc tái sinh mới, không chỉ là đứa con thừa tự duy nhất của Ap-ra-ham nhưng còn là đứa con của lời hứa. Trong bài sách Xuất hành, nói đến việc thành lập một dân mới được Giavê cứu thoát khỏi Ai-cập. Bài Thánh thư trích từ thư gởi tín hữu Roma, Thánh Phaolô mời gọi họ sống đời sống mới, bởi vì Đức kitô đã sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng của Chúa Cha. Trong bài Tin Mừng theo thánh Matthêu, các phụ nữ đã phục lạy Đức Kitô phục sinh. Nhờ Đức Giêsu Kitô phục sinh, quả thật Thiên Chúa đã đổi mới mọi sự.

Sứ Điệp Niềm Tin

Theo sự hiểu biết thường tình và theo thánh Kinh, ‘mới’ ngược lại với ‘cũ’. Đàng khác, từ “mới” ngày nay còn có nghĩa vừa mới xảy ra gần đây và tươi mới, trong khi đó Kinh Thánh lại nhấn đến một điều gì “khác và tốt hơn” so với cái cũ. Từ đó, cũ không nhất thiết mang ý nghĩa là quá khứ và mới không nhất thiết là hiện tại, bởi vì cả hai có thể hiện hữu đồng thời với nhau. Cũ cũng không nhất thiết có nghĩa là xấu và mới có nghĩa là tốt, ít ra trong Tin Mừng, vì, đây là một ý thức đạo đức hình như thấy có trong các văn bản của Thánh Phaolô: không phải tương quan giữa xấu và tốt nhưng là giữa cái ít tốt và cái tốt hơn. Đức Giêsu đã nói: “không ai lại đổ rượu mới vào bình cũ…Rượu mới, phải đổ bình mới! (Mc2,22) Trong sứ điệp của Đức Giêsu và của cộng đoàn kitô tiên khởi, sự mới mẻ chính là Đức Giêsu, sự hiện diện của Ngài trong lịch sử và sứ vụ cứu độ của Ngài, mạc khải về Thiên Chúa và kế hoạch của ngài trên con người và trên vũ trụ. Cái cũ nghĩa là mọi hệ thống tôn giáo, triết học cố gắng tìm giải thích và mang lại ý nghĩa cho cuộc sống con người, và trong đó người kitô hữu có thể nhận ra một sự chuẩn bị trước cho Tin Mừng, là ngưỡng cửa để bước vào những điều mới của Đức kitô. Đâu là những điều mới của Đức Kitô? Trước tiên, đó chính là bản thân của Ngài. Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Rồi, Ngài hiện hữu trên trần gian. Thiên Chúa ở giữa con người là một điều hoàn toàn mới, chưa từng nghe nói đến bao giờ. Thêm vào đó, sứ điệp của Ngài là điều mới: mạc khải mầu nhiệm của Thiên Chúa, một mầu nhiệm của sự thông hiệp và tình yêu không thể diễn tả được và lời mời gọi con người chia sẻ mầu nhiệm ấy. Điều được hoàn tất trong thế giới, đó là một con người tự hiến trao trọn vẹn vì lợi ích của anh chị em mình. Đây chính là chứng cứ cao vời nhất của tình yêu và của sự tự hiến: chết trên thập giá để cứu độ chúng ta. Mầu nhiệm cao siêu của sự phục sinh, một điều hoàn toàn độc đáo. Sau cùng, việc Ngài trao ban Thánh Thần như là ‘linh hồn’ của Hội thánh, việc Ngài ở lại trong lịch sử qua sự hiện diện trong bí tích Thánh thể, và cùng đích cuộc đời chúng ta, tuy không thể tưởng tưởng nổi nhưng lại là hạnh phúc hết sức thiết thực. Sự mới mẻ của kitô hữu đặt nền trên sự mới của Đức Kitô. Qua bí tích Thánh tẩy, ta được trao ban sự mới mẻ để trở thành con cái Thiên Chúa, môn đệ của Đức kitô, thành viên của hội Thánh hiệp nhất trong đức tin, đức cậy và đức mến. Sự mới mẻ này thúc đẩy ta noi gương Đức Giêsu Kitô tái hiện lại khuôn mặt và đời sống của Ngài trong chính cuộc đời chúng ta, để chúng ta trở nên “những đức Kitô” khác cho nhân loại và để Chúa Cha nhận ra chúng ta là con cái Ngài khi thấy khuôn mặt của Người Con chí ái duy nhất của Ngài nơi chúng ta. Điều mới mẻ này đưa ta đến việc nhận chân một trật tự giá trị đích thực trong cuộc sống và kiên trì sống phù hợp với.

Gợi Ý Mục Vụ

Kitô giáo luôn luôn mới. Tuy nhiên nhiều người nghĩ rằng kitô giáo là cổ lổ, không hợp thời, xa lạ và bên lề lịch sử, chẳng có gì liên quan đến con người ngày nay. Do đâu có hiện tượng này? Phải chăng kitô hữu chúng ta đã chẳng sống đúng như ta phải sống? Phải chăng trong thực tế kitô hữu chẳng khác gì người do thái giáo, người Hồi giáo hoặc tín đồ của một tôn giáo khác? Đây là những vấn nạn mà chúng ta các linh mục không được phép coi nhẹ. Chúng là những vấn nạn mà các linh mục quản xứ cần tự hỏi chính mình và can đảm đặt ra cho giáo dân. Đây chẳng phải là vấn đề nêu lên cách khó xử giữa số đông và thành phần ưu tú của kitô giáo. Đây là vấn nạn để có được ý thức sống động và vui tươi hơn về căn tính kitô hữu của mình, về sự mới mẻ của kitô giáo trong xã hội và giữa nhiều tôn giáo khác. Và trên hết, nó mang ý nghĩa là sống cách súc tích bên trong cái mới mẻ tuyệt diệu chính là đức tin kitô giáo, cảm nghiệm Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa và người anh của con người, Đấng cứu độ thê giới. Là kitô hữu, ta có chung nhiều điều với người không phải là kitô hữu và những giá trị chung này cần được bảo vệ và xúc tiến, nhưng không phải điều có chung đó xác định chúng ta. Chung với họ nhưng chúng ta có khác biệt, và cái khác biệt giúp ta sống những giá trị chung ấy với cách đặc biệt. Điều đó cũng mang lại cho chúng những nét đặc biệt của gia đình kitô, mà ta không thể im lặng nhưng cần dương cao như biểu ngữ về căn tính của chúng ta. Làm kitô hữu là một ân huệ không phải do công nghiệp của ta. Đây cũng là một tước hiệu làm ta vinh dự, một bổn phận đeo đuổi chúng ta hằng ngày, và một sự mới mẻ không ngừng đổi mới chúng ta

Lm. Phêrô Phạm Ngọc L

 

PS1-27: LÀM CHỨNG CHÚA KI-TÔ PHỤC SINH

GIỮA THẾ GIỚI HÔM NAY
1. Tầm quan trọng của chứng tá của Phê-rô đối với Niềm Tin Phục Sinh:
Dù có đọc hết các sách Tân Ước, chúng ta cũng không thể tìm ra một đoạn văn nào mô tả cách: PS1-27
Dù có đọc hết các sách Tân Ước, chúng ta cũng không thể tìm ra một đoạn văn nào mô tả cách Đức Giê-su đã Phục Sinh từ cõi chết như thế nào. Thật vậy, các Phúc Âm đã tường thuật rất tỉ mỉ, chi tiết cuộc Thương Khó và Cái Chết thập giá của Đức Giê-su, nhưng chỉ nói rất ngắn gọn về sự Phục Sinh của Người. Tại sao vậy ? – Tại vì chẳng có ai chứng kiến tận mắt biến cố hay sự kiện ấy. Vậy niềm Tin Phục Sinh dựa vào đâu ?
Tin Mừng Gio-an kể lại câu chuyện ngôi mộ trống là một phần của sự kiện Đức Giê-su Phục Sinh. Trong câu chuyện ấy vai trò của Phê-rô, tông đồ trưởng, được Gio-an chủ ý làm nổi bật bằng một chi tiết nhỏ là dù Gio-an tới mộ trước ( trẻ, chạy nhanh hơn ), nhưng đứng chờ để Phê-rô bước vào trong mộ trước. Còn sách tông đồ công vụ ghi lại bài giảng của Phê-rô ở Xê-da-rê tại nhà ông Co-nê-li-ô. Bài giảng này có tầm quan trọng hết sức đặc biệt, vì đó là cơ sở vững chắc nhất của Niềm Tin Phục Sinh của Ki-tô giáo. Cũng Đức Giê-su đó, Đấng đã xuất thân từ Na-da-rét, được Thiên Chúa ban Thánh Thần và sứ mạng Rao giảng Nước Trời khắp các thôn xóm làng mạc, đã bị giới cầm quyền Do-thái giết hại bằng cực hình thập giá, nay được Thiên Chúa tôn vinh, Phục Sinh từ cõi chết. Sự kiện Phục Sinh thì không ai chứng kiến, nhưng Chúa Ki-tô Phục Sinh thì rất nhiều người – trong đó có Phê-rô và Gio-an – đã được diễm phúc thấy và gặp.
2. Sự Phục Sinh của Đức Giê-su có nhiều ý nghĩa:
Phao-lô đã nói: Nếu Đức Giê-su không Phục Sinh thì niềm Tin của chúng ta chẳng có giá trị gì ! Thật vậy, nếu Đức Giê-su không Phục Sinh thì cùng lắm, chúng ta chỉ có thể coi Người là một vị anh hùng, một vĩ nhân của loài người, chứ không phải là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ của chúng ta. Và như thế thì dù chúng ta có mến mộ Người đến đâu đi nữa, thân phận của chúng ta vẫn chẳng có gì thay đổi quyết liệt. Nhưng Đức Giê-su đã Phục Sinh có nghĩa là Người đã được Thiên Chúa tôn vinh là Đức Ki-tô, tức Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong làm Sứ Gỉa được cử đến với loài người và làm Cứu Chúa của nhân loại. Những lời Người nói, những việc Người làm, những cực hình Người đã chịu là những lời nói, hành động, cực hình có gía trị cứu độ vô biên. Những mặc khải của Người về Thiên Chúa, về Vương quốc của Thiên Chúa, về phẩm gía cao quí của con người, về con đường đạt tới Sự Sống Thật là những mặc khải vô giá. Những chọn lựa của Người, những cách Người sống trở thành mẫu mực và tiêu chuẩn cho chúng ta noi theo.
3. Cách làm chứng Chúa Ki-tô Phục Sinh trong xã hội hôm nay:
Để giúp chúng ta làm chứng Chúa Ki-tô Phục Sinh, Phao-lô đã vạch ra cho chúng ta một định hướng: “tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, hướng lòng trí về những gì thuộc về thượng giới” Thượng giới được hiểu là thế giới của Thiên Chúa và của Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế thượng giới được hiểu cách cụ thể là những gía trị của Tin Mừng, mà bài giảng trên núi đã nêu lên, nhất là Hiến Chương Bát Phúc. Nói một cách đơn sơ, dễ hiểu hơn là chúng ta tìm cách sống giống như Chúa Giê-su đã sống, có những lời nói và hành động cứu độ như Người. Chúa Giê-su đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, thì chúng ta sống ở đâu, cũng phải đem niềm vui, hạnh phúc, bình an, công lý và thịnh vượng ( cả nghĩa vật chất, tinh thần và tâm linh ) cho nơi đó.
Giữa một xã hội nặng cơm áo gạo tiền, trọng đô la hơn những gía trị đạo đức truyền thống của dân tộc, giành giật nhau như những kẻ khùng điên để làm giầu và có chức quyền, thì chúng ta càng phải sống như Chúa Giê-su đã sống ! Giữa một xã hội mà những người bệnh hoạn, tật nguyền, thiểu số, kém may mắn, phụ nữ, trẻ em và giới trẻ. . . là những người dễ trở thành nạn nhân của guồng máy xã hội, thì chúng ta càng phải ưu tiên chọn lựa đứng về phía người nghèo, người cô thế cô thân, người bị lãnh quên và gạt bỏ, để chia sẻ thân phận hẩm hiu của họ, để bênh vực quyền lợi của họ, để thăng tiến phẩm giá làm người và làm con Chúa của họ.
Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ Cha đã làm cho Đức Giê-su, Con yêu dấu của Cha, Phục Sinh từ cõi chết. Xin Cha ban cho chúng con lòng tin vững vàng vào Người và giúp chúng con biết cách tuyên xưng Niềm Tin ấy trong môi trường xã hội Việt Nam của chúng con hôm nay !
Lạy Đức Giê-su là Đấng đã được Cha Phục Sinh từ cõi chết. Xin Chúa đổ tràn Ơn Phục Sinh vào lòng chúng con, hầu củng cố lòng tin của chúng con và giúp chúng con biết sống như Chúa đã sống, để chúng con trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh giữa dòng đời hôm nay.
Lạy Thánh Thần là Thần Khí và Sức Mạnh của Thiên Chúa, là Đấng đã làm cho Đức Giê-su Phục Sinh từ cõi chết và đã củng cố lòng tin của các Tông đồ và các tín hữu đầu tiên, biến họ thành những chứng nhân kiên cường của Đấng Phục Sinh, xin Chúa ban Ơn sức mạnh và dũng cảm cho chúng con, để chúng con làm chứng cho Chúa Ki-tô Phục Sinh trên mảnh đất hình chữ S thân yêu và trong thế kỷ XXI này.
Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI
 

PS1-28: Cuộc chiến thắng khải hoàn của Đấng Cứu Thế

- CSTM/100- PHỤC SINH
Hôm nay, không riêng gì Giáo Hội Công giáo mà tất cả những người tin Chúa Kitô trên khắp: PS1-28
Hôm nay, không riêng gì Giáo Hội Công giáo mà tất cả những người tin Chúa Kitô trên khắp thế giới, đều hân hoan mừng kính cuộc chiến thắng khải hoàn của Đấng Cứu Thế trên tội lỗi và sự chết. Chúa Giêsu đã bị giết chết trên thập giá, được an táng trong mộ đá, nhưng ngày thứ ba sau khi chết, Ngài đã sống lại. Đây là một biến cố vĩ đại, một sự kiện vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị, có một không hai trong lịch sử.
Chúa đã sống lại thế nào ? Ai đã khám phá ra điều này ? Cả bốn sách Tin Mừng đều tường thuật về biến cố này nhưng đều không cho biết Chúa Giêsu đã sống lại thế nào. Vì thật sự không có ai có mặt để chứng kiến biến cố lịch sử quan trọng đó. Nhưng có những nhân chứng đã nhìn thấy ngôi mộ trống, họ quả quyết xác Chúa không còn trong mộ và sau đó Chúa đã hiện ra nhiều lần với họ, xác nhận Ngài đã sống lại, đồng thời dạy bảo họ nhiều điều. Đó là các tông đồ và một số phụ nữ… những nhân chứng về sự sống lại của Chúa Giêsu.
Như vậy, một điều chắc chắn : sự kiện Chúa Giêsu Phục sinh không thể minh chứng một cách rõ ràng như chúng ta minh chứng một biến cố, một sự kiện tự nhiên, nghĩa là không thể chụp hình, đo lường hay thí nghiệm được, vì cả nhân loại chỉ có một mình thân xác Chúa sống lại, lấy đâu mà thí nghiệm, kinh nghiệm. Cho nên, việc Chúa sống lại, đối với chúng ta hôm nay, vấn đề chính yếu là tin : không thấy mà tin.
Anh chị em có bao giờ thấy, chụp hình hay đo lường được tình yêu không ? Chỉ thấy qua hậu quả thôi phải không ? Thấy họ hay đi với nhau, thấy họ thường ngồi nói chuyện với nhau, thấy họ có những cử chỉ thân mật với nhau… chúng ta biết họ yêu thương nhau. Niềm tin vào Chúa Giêsu Phục sinh cũng thế, chúng ta không thấy Chúa sống lại, nhưng chúng ta tin, vì Kinh Thánh đã nói về việc Ngài Phục sinh, lòng tin của Giáo Hội hai mươi thế kỷ qua : Chúng ta tôn thờ Đấng bị đóng đinh trên thập giá, chúng ta tôn thờ Đấng đang ngự trong nhà chầu… là chúng ta tin Chúa Giêsu đang sống, chứ không phải tôn thờ Ngài đã chết, không còn liên hệ gì đến chúng ta. Không, chúng ta tin Chúa đang sống, Ngài đang điều hành vũ trụ này, Ngài có mặt khắp nơi, Ngài đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường, ngõ ngách… đâu đâu cũng có Ngài, Ngài là Thiên Chúa toàn năng và hằng hữu. Vì thế, biến cố Phục sinh là nòng cốt của niềm tin Công giáo. Niềm tin này kéo theo nhiều niềm tin khác : tin Chúa Giêsu Phục sinh không chỉ là một nhân vật lịch sử được ghi chép lại, nhưng là một lòng tin vẫn sống động trong lịch sử hôm nay. Chúng ta không chỉ biết về Ngài mà thôi, nhưng chúng ta thực sự gặp gỡ chính Ngài, như Ngài đang sống động hiện diện giữa chúng ta.
Nói rõ hơn, vì Chúa đã sống lại thật, nên chúng ta không chỉ nghe biết về Chúa như nghe biết một nhân vật nào đó, chẳng hạn như ông tổng thống Mỹ, ông chủ tịch nhà nước Trung Quốc, ông vua này, bà hoàng nọ. Nhưng có một khác biệt sâu xa giữa việc nghe biết về một con người bình thường hay về những nhân vật lịch sử, vì họ đã chết và đã biến khỏi mặt đất. Với Chúa Giêsu thì khác hẳn, Ngài đã sống lại và đang sống. Chúng ta biết Ngài và gặp gỡ Ngài một cách thực sự.
Tiếp đến, chúng ta tin Chúa sống lại là chúng ta tin chúng ta được cứu chuộc. Bởi vì Chúa sống lại mới cứu chuộc được nhân loại. Nếu như Ngài chết luôn như các giáo chủ khác, thì Ngài không có quyền gì cứu chuộc chúng ta, nhưng Ngài đã sống lại để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa và Ngài có quyền cứu chuộc tất cả chúng ta.
Đàng khác, Chúa sống lại còn là niềm hy vọng cho chúng ta : tất cả chúng ta cũng sẽ sống lại. Thân xác chúng ta sẽ sống lại, đúng như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính : “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Bởi vì thân xác sống lại là hiệu quả của mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Giêsu, như Kinh Thánh đã nói : “Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại cũng sẽ làm cho chúng ta sống lại với Chúa Giêsu”. Như vậy, Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết và cho hết thảy chúng ta được chung hưởng chiến thắng đó.
Tóm lại, ngày đại lễ Phục sinh hôm nay, chúng ta xác tín : Chúa Giêsu đã sống lại. Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Ngài đang sống thật sự và đang ở với những ai tin Ngài, trong đó có chúng ta. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa và cố gắng sống như những người đã được cứu chuộc : sống công bình và yêu thương, sống vui vẻ và phấn khởi, để cuộc đời chúng ta luôn là một lời ca “Allêluia” chứng nhân cho Chúa.
 

PS1-29: ĐÓN NHẬN ƠN PHỤC SINH

(Ga 20,1-9)
(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)
Sau khi Đức Kitô phục sinh, các môn đệ biến đổi lạ lùng. Ma-ri-a Mác-đa-la buồn sầu ảm đạm: PS1-29
Sau khi Đức Kitô phục sinh, các môn đệ biến đổi lạ lùng. Ma-ri-a Mác-đa-la buồn sầu ảm đạm trở nên phấn khởi vui tươi. Tô-ma cứng cỏi trở nên tin tưởng. Hai môn đệ Em-mau lạnh lùng trở nên sốt mến. Tất cả các môn đệ hèn yếu trở nên vững mạnh, từ ích kỷ nhỏ nhen chỉ biết lo cho quyền lợi bản thân trở nên quảng đại hiến thân cho Nước Chúa, từ chia rẽ tranh dành địa vị trở nên đoàn kết yêu thương, từ khép kín trở nên cởi mở đi đến với mọi người.
Chúa Phục sinh đổ vào tâm hồn các ngài một nguồn sống mới. Tâm hồn các ngài được ơn phục sinh. Ơn phục sinh được tóm tắt trong một câu ngắn gọn : "Ông đã thấy và ông đã tin". Nhờ đâu các ngài đã thấy ?
Các ngài đã thấy nhờ gắn bó với Chúa. Thương nhớ Thày, nên khi ngày Sabbat vừa chấm dứt các ngài đã vội vã ra thăm mộ Thày. Các ngài không đi, nhưng chạy. Các ngài chạy vì muốn thu ngắn quãng đường. Các ngài chạy vì muốn thu ngắn mọi khoảng cách ngăn các ngài với Chúa. Các ngài muốn ở sát bên Chúa. Các ngài muốn kết hiệp với Chúa.
Các ngài đã thấy vì đã biết dứt bỏ quá khứ. Khi nhìn vào mộ, các ngài thấy gì ? Các ngài không thấy gì hết ! Ngôi mộ trống rỗng. Không có gì, nhưng các ngài thấy tất cả. Nếu xác Chúa còn đó thì thật đáng buồn. Xác còn có nghĩa là Chúa vẫn còn trong thế giới kẻ chết. Ngôi mộ còn xác là ngôi mộ gieo niềm tuyệt vọng. Ngôi mộ trống là ngôi mộ chứa đầy niềm hi vọng. Ngôi mộ trống là một khởi điểm mới, là khối hỗn mang để Chúa làm nên một trời mới đất mới. Các ngài hiểu rằng không nên gắn bó với xác chết nhưng nên gắn bó với Đức Kitô đang sống. Không nên gắn bó với quá khứ chết chóc, nhưng nên gắn bó với tương lai tràn đầy sự sống.
Các ngài đã thấy vì đã có thái độ khiêm nhường. Tin mừng thuật lại : Các ngài đã "cúi xuống nhìn vào ngôi mộ". Khi cúi xuống nhìn vào ngôi mộ, các ngài không thấy Chúa. Nhưng càng cúi xuống sâu các ngài thấy rõ mình. Chìm xuống đáy lòng như chìm xuống đáy đại dương, xa mọi sóng gió xôn xao. Càng nhìn vào đáy lòng mình, càng bắt gặp niềm bình an. Bình an là quà tặng Chúa Phục sinh rộng rãi ban phát cho các môn đệ sau khi Người sống lại.
Các ngài đã thấy vì đã nhìn với ánh mắt tin yêu. Thánh Gio-an quan sát kỹ hiện trường nên đã miêu tả rất cặn kẽ : Khi ở ngoài mộ nhìn vào "Ong thấy những băng vải còn ở đó". Khi đã bước vào trong mộ, Ong "thấy những băng vải để ở đó và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi".
Là người gần gũi, quen biết các thói quen của Thày, thánh Gio-an lập tức nhận ra dấu vết Người để lại. Khăn liệm được xếp đặt gọn gàng chứng tỏ bàn tay Người tự xếp đặt. Người tự xếp đặt tức là Người đang sống. Người bỏ khăn liệm vì Người không còn trong thế giới kẻ chết.
Trái tim yêu mến đã làm cho thánh Gio-an nhạy bén cảm nhận được mầu nhiệm phục sinh.
Hôm nay, Đức Kitô phục sinh đang tuôn đổ ơn lành xuống cho ta. Để đón nhận được ơn lành của Người, ta hãy học tập nơi các môn đệ, biết tha thiết gắn bó với Người trong lúc vui cũng như lúc buồn, biết dứt khoát với quá khứ tội lỗi lười biếng, trì trệ, biết khiêm nhường chìm vào đáy sâu tâm hồn, biết nhìn thế giới bằng ánh mắt tin yêu.
Với những phấn đấu như thế, ta sẽ đón nhận được ơn Chúa Phục sinh. Chúa sẽ tuôn đổ Ơn Phục Sinh tràn ngập tâm hồn ta, biến đổi ta nên người mới, tràn đầy niềm vui, tràn đầy niềm hi vọng, tràn đầy sự quảng đại, tràn đầy tình yêu mến.
Lạy Đức Kitô phục sinh, xin cho linh hồn con được sống lại thật. Amen.
 GỢI Ý CHIA SẺ
1- Chỉ một lần mừng lễ Phục sinh, tâm hồn các tông đồ đã đổi mới hoàn toàn. Còn ta, đã bao lần mừng lễ Phục sinh, sao ta chưa thay đổi đời sống ?
2- Khi ngắm thứ nhất mùa Mừng : "ĐCGS sống lại, ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn", bạn suy nghĩ gì ? Bạn có thực sự tha thiết đổi mới cuộc đời không ?
3- Bạn sẽ làm gì để sống ơn Phục sinh Chúa ban ?
 

PS1-30: TÔI ĐÃ TRỖI DẬY CÙNG VỚI MẶT TRỜI - Mark Link S.J.

Chủ đề: "Phục sinh là dịp giúp ta cảm nhận được Chúa Giêsu Phục sinh đang hoạt động trong đời sống chúng ta."
Trong chiếc phi cơ đang bay từ Chicago đến Providence thuộc tiểu bang Rohde Island có một nữ: PS1-30
Trong chiếc phi cơ đang bay từ Chicago đến Providence thuộc tiểu bang Rohde Island có một nữ sinh viên đại học. Từ cửa sổ phi cơ, cô nhìn xuống cảnh đồng quê màu xanh lá phía dưới, trái tim cô bỗng thấy nặng trĩu và  mắt cô bỗng nhoà lệ. Cô là một sinh viên tại Đại học Loyola đang trên đường về nhà để nghỉ lễ Phục sinh. Năm đầu tiên ở đai học sắp chấm dứt nhưng đây là một năm thảm bại đối với cô. Cô thấy cuộc sống đối với cô chẳng có một ý nghĩa thực sự nào nữa. Chỉ còn niềm hy vọng duy nhất tồn tại đó là lát nữa đây cô được trông thấy đại dương mà cô rất yêu thích.
Khi chiếc phi cơ đáp xuống phi đạo tại Providence, cô tự hỏi làm sao cô có thể mừng lễ Phục Sinh được trong tình cảnh hiện tại của cô như thế.
Bà nội ra cổng đón cô và cả hai bà cháu lái xe về trong một bầu khí im lặng nặng trĩu. Ngay khi hai người vừa lui xe vào con đường hẻm cạnh nhà, trong đầu cô chỉ có một ý nghĩa là leo lên chiếc xe hơi của mình và phóng thẳng ra bãi biển.
Cô gái đến biển vào qúa nửa đêm. Những gì xảy ra sau đó được cô mô tả tuyệt diệu như sau. Cô nói: “Tôi chỉ ngồi đó dưới ánh trăng ngắm nhìn sóng dạt vào bờ. Năm đầu tiên đầy thảm hại ở đại học từ từ xuất hiện trước mặt tôi ngày này qua ngày nọ, tuần này sang tuần khác, tháng nọ kế tháng kia. Thế rồi bỗng nhiên tất cả mọi cảm nghiệm đều lắng xuống đâu vào đấy. Tất cả đều đã xong và đã qua rồi. Tôi có thể vĩnh viễn quên nó đi nhưng đồng thời cũng lại không muốn quên.
Điều tiếp thao mà tôi biết chắc chắn là mặt trời lại sắp sửa mọc lên ở phương đông. Và khi mặt trời lên, tôi thấy các xúc cảm của mình cũng bắt đầu lên giống như những ngọn sóng dâng cao lên trước khi tan vỡ ra. Tâm trí và xác thân tôi như hút được sức mạnh từ đại dương. Tất cả mọi dự định và nhiệt tình trước kia ồ ạt trở về mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cùng với mặt trời lên, tôi chỗi dậy nhảy vào xe hơi lái thẳng về nhà.”
Sau kỳ nghỉ lễ Phục Sinh, cô gái trở lại đại học Loyola, nhặt những mảnh vỡ của năm trước và ráp lại với nhau. Trong thời gian ngắn ngủi là kỳ nghỉ Phục Sinh, cô ta đã chết rồi sống lại. Lần đầu tiên trong đời, cô hiểu được ý nghĩa thực tiễn của Lễ Phục Sinh.
Trong đời sống thực tế hằng ngày của chúng ta, Phục Sinh có nghĩa là cảm nghiệm được quyền năng của Chúa Giêsu đang biến đổi tấn đại bi kịch trong đời chúng ta thành môt khởi đầu vinh quang đầy mới mẻ. Hãy lấy trường hợp môn đệ Chúa Giêsu: “Trước khi đại bi kịch thứ Sáu tuần thánh xẩy ra, Chúa Giêsu đã mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của họ, các môn đệ đã thề nguyện dâng cuộc sống cho Chúa, đã đặt mọi ước mơ nơi Chúa, đã gắn chặt mọi hy vọng vào Chúa, thế nhưng, khi biến cố thứ Sáu tuần thánh xảy ra, mọi thề ước, mọi mộng mơ, mọi hy vọng của họ đều vỡ tan thành triệu mảnh vụn. Cùng với chiếc đòng quái ác mà tên lính đâm vào người Chúa Giêsu, mọi thề ước, mộng mơ và hy vọng của họ cũng tiêu tan trên thập gía theo cái chết của Chúa Giêsu. Cùng với mũi đòng quái ác tên lính đâm vào người Chúa Giêsu, cuộc sống của các môn đệ cũng tiêu tan trên thập giá theo cái chết của Chúa Giêsu. Khi mặt trời lặng chiều thứ Sáu tuần thánh, họ cũng bị chôn luôn theo Chúa Giêsu vào mồ. Mọi sự thế là xong xuôi cả rồi!
Thế nhưng sự việc đã xảy ra!
Ngay khi mặt trời mọc lên vào sáng Chủ Nhật Phục Sinh, Chúa Giêsu đã sống lại và hiện ra với các môn đệ. Ngài còn rạng rỡ và sống động hơn những gì họ đã từng thấy ở Ngài trước kia. Vào lúc đó, quyền năng Phục Sinh bắt đầu hoạt động trong đời sống các môn đệ. Bỗng nhiên, họ được biến đổi: từ một nhóm người tuyệt vọng trở thành một binh đoàn thừa sai gan dạ. Theo lệnh Chúa Giêsu, họ bắt tay loan báo Tin Mừng Phục Sinh khắp bốn phương trên khắp mặt đất. Bất cứ nơi nào các môn đệ rao giảng Tin Mừng, quyền năng Phục Sinh cũng đều hoạt động trong mọi người như đã từng họat động trong chính họ. Những điều kỳ diệu bắt đầu xảy ra. Tuyệt vọng đã nhường bước cho hy vọng, bóng tối đã lùi bước trước ánh sáng.hận thù đã nhường chỗ cho tình thương, khổ đau đã thay thế bằng vui mừng.
Tóm lại, bất cứ nơi nào các môn đệ rao giảng, quyền năng Phục sinh cũng thực hiện những phép lạ trong cuộc sống mọi người. Những phép lạ này vẫn chưa kết thúc. Chúng vẫn còn tiếp tục trong thời đại chúng ta.
Phục Sinh được thể hiện nơi cô nữ sinh đại học tan nát cõi lòng đang lau khô dòng lệ đã khởi sự trở lại. Phục Sinh được thể hiện nơi nhóm môn đệ thảm bại đã được biến đổi thành một đạo quân thừa sai gan dạ. Phục Sinh được biểu  hiện khi thế giới tăm tối phá tan được xiềng xích tuyệt vọng để bước vào ánh sáng hy vọng.
Sự việc ấy đã khiến chúng ta tụ họp tại giáo đường này vào buổi sáng Phục Sinh hôm nay. Vậy thì lễ Phục Sinh kêu gọi chúng ta làm gì đây?
Trước hết Lễ Phục Sinh kêu gọi chúng ta mở lòng mình ra cho Chúa Giêsu Phục Sinh, để Ngài làm cho chúng ta điều Ngài đã làm cho các môn đệ cũng như cho những người nghe lời họ giảng sau ngày lễ Phục Sinh đầu tiên.
Lễ Phục Sinh kêu gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu giúp chúng ta biết yêu thương trở lại sau khi tình yêu của chúng ta đã bị ai đó từ chối.
Lễ Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu giúp chúng ta tin tưởng trở lại sau khi niềm tin của chúng ta đã bị kẻ khác phản bội.
Lễ Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu giúp chúng ta hy vọng trở lại sau khi chúng ta đã thấy niềm hy vọng của mình bị lung lay và tàn lụi.
Lễ Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy để Chúa Giêsu giúp chúng ta lau khô dòng lệ, nhặt lên những mảnh vụn và khởi sự trở lại sau một tấn đại bị kịch nào đó.
Đó là tất cả ý nghĩa của ngày lễ Phục sinh. Đó là Tin Mừng loan báo Chúa Giêsu đã phục sinh hiện đang ngự giữa chúng ta và sẵn sàng làm nơi chúng ta những phép lạ nếu chúng ta đồng ý. Đó là Tin Mừng loan báo rằng sẽ không còn gì có thể đánh ngã chúng ta được nữa dù là sự thất vọng đau đớn, bất hạnh và cả sự chết. Đó là Tin Mừng loan báo cho Chúa Giêsu đã khải hoàn và chúng ta cũng sẽ khải hoàn với Ngài nếu chúng ta biết mở rộng lòng ra đối với Ngài.
Đó là tất cả ý nghĩa của lễ Phục sinh, đó là điều chúng ta mừng kính trong khi chuẩn bị cùng bẻ bánh nhân ngày khai sinh trọng đại của đức Kỉtô chúng ta.
 

PS1-31: CÔ ĐÃ THẤY GÌ TRÊN ĐƯỜNG ĐI?

"Maria hỡi xin thuật lại Trên đường đi đã thấy gì, cô?"
Gérard Bessière- Hyacinthe Vullier
Không phải chỉ có các Tông đồ mà mỗi người Kitô hữu chúng ta đều đặt ra cho cô Maria: PS1-31
Không phải chỉ có các Tông đồ mà mỗi người Kitô hữu chúng ta đều đặt ra cho cô Maria Mađalêna câu hỏi ấy. Đến lượt mình, mỗi người sẽ lại đặt câu hỏi ấy cho những người khác.
Câu trả lời có thể là: Tôi đã thấy Đức Giêsu trong dung mạo một người nghèo không tên không tuổi, tay trần đối diện với bạo lực và cường quyền. Tôi đã thấy Đức Kitô trong thân hình một trẻ bụi đời ở Braxin bị đội tử thần bắn gục, đạp xác vào hố rác. Tôi đã thấy Đức Kitô đảm nhận đến tuyệt vọng tất cả những tội lỗi xấu xa của con người. Nhưng con đường Thập giá của Ngài dẫn đến ánh sáng. Ở đáy mộ chôn xác Ngài, một nhân loại mới đã khai sinh. Nói Đức Kitô Phục sinh là khẳng định rằng: không có định mệnh nghiệt ngã, bởi vì tình yêu mạnh hơn sự chết và chúng ta tự do yêu thương nhau.
Đó là niềm xác tín của tôi. Dĩ nhiên không phải của tôi, bởi niềm tin của tôi đã được thức tỉnh, nâng đỡ, nuôi dưỡng bởi nhiều người... Những người này và tôi, chúng tôi là thành viên của Giáo Hội. Không ai là một hoàn đảo cả. Kitô giáo là một cuộc mạo hiểm chung của cộng đoàn.
Đó là ý nghĩa của câu hỏi đặt ra trong bài vãn Phục sinh cổ xưa.
 

PS1-32: ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ ĐANG SỐNG,

I. ĐỨC GIÊ-SU ĐANG SỐNG HAY ĐÃ CHẾT TRONG TÂM HỒN TA ?
Đức Giê-su đã sống lại. Điều ấy có ảnh hưởng gì đến ta không ? Đức tin dạy ta rằng: "Nếu: PS1-32
Đức Giê-su đã sống lại. Điều ấy có ảnh hưởng gì đến ta không ? Đức tin dạy ta rằng: "Nếu Đức Ki-tô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là vô ích" ( 1 Cr 15, 14 ). Thật vậy, nếu Đức Giê-su không sống lại, thì cho dù có Ngài, cũng sẽ không có Ki-tô giáo, vì người ta không có một bằng chứng cụ thể và chắc chắn nào để tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Và nếu như thế, ta cũng như mọi Ki-tô hữu khác đều chẳng phải là Ki-tô hữu, và lúc ấy đối với ta, Đức Giê-su cũng chỉ là một đạo sư như bao đạo sư khác. Nhưng nếu Ngài đã thật sự Phục Sinh và ta đã là Ki-tô hữu, thì sự Phục Sinh của Ngài có ảnh hưởng gì đến ta một cách hiện sinh không ? Có làm ta thay đổi cuộc sống hiện nay của ta không ? Biết bao lễ Phục Sinh qua đi, mà lòng ta hay cuộc sống ta đâu có gì thay đổi ! Ta vẫn là ta, vẫn có biết bao thói hư thật xấu như trước, chẳng thay đổi bao nhiêu, đôi khi tệ hơn !
Tại sao ? Vì ta đã coi sự Phục Sinh của Đức Giê-su như một biến cố xảy ra hoàn toàn ở bên ngoài ta, chứ không xảy ra chút nào trong bản thân ta cả. Một nhà tu đức nói: "Nếu Đức Giê-su chỉ sinh ra tại Bê-lem, chỉ sống tại đất nước Do-thái, chỉ chịu chết trên đồi Can-vê, và chỉ Phục Sinh trong lịch sử cách đây 2000 năm, mà không sinh ra, sống, chịu chết và Phục Sinh ngay trong tâm hồn ta, tại đây và lúc này, thì tất cả những biến cố ấy của Ngài đều hoàn toàn vô ích đối với ta". Vì thế, điều quan trọng để sự Phục Sinh của Ngài có ích lợi cho ta, là Ngài phải Phục Sinh ngay trong bản thân ta, trong tâm thức của ta.
Theo niềm tin và sự tuyên xưng của ta, Ngài vẫn đang sống và hiển trị, nhưng dường như tất cả đều xảy ra ở bên ngoài ta. Còn ở trong ta, trong tâm thức ta, Ngài đã chết và đã được an táng từ lâu. Thỉnh thoảng ta chỉ tưởng nhớ đến Ngài như một người đã sống cách đây gần 2.000 năm, tương tự như ta vẫn nhớ đến ông bà tổ tiên ta, hay đến một đức Trần Hưng Đạo nào đấy trong lịch sử. Trong tâm thức ta, Ngài được coi như một người quá cố. Một người chết như thế đương nhiên chẳng có thể ảnh hưởng hay thay đổi gì ta được !
2. HÃY PHỤC SINH ĐỨC GIÊ-SU TRONG TÂM THỨC TA
Vậy, để được biến đổi nên một con người mới, mạnh mẽ, tốt đẹp, tràn đầy thần khí của Thiên Chúa, trước hết ta phải Phục Sinh Đức Giê-su ở ngay bản thân ta, trong tâm hồn ta, trong tâm thức ta. Ngài có thật sự sống và hoạt động trong ta, thì ta mới được biến đổi để trở nên như Ngài.
Trong Tin Mừng có đoạn mô tả Đức Giê-su ngủ say như chết, bất động, trên thuyền của các tông đồ giữa cơn phong ba bão táp, để mặc các tông đồ phải đối phó trong hốt hoảng sợ hãi ( x. Mt 8, 23 – 27; Mc 4,35-41; Lc 8, 22 – 25 ). Đó chính là hình ảnh mô tả thật chính xác tình trạng của Đức Giê-su trong tâm hồn ta: Ngài đang ngủ, hay Ngài đã chết, nghĩa là Ngài bất động. Nếu Ngài thức hay sống trong tâm hồn ta, tất nhiên Ngài sẽ hoạt động, Ngài sẽ làm những việc lạ lùng, thậm chí phép lạ để biến đổi ta, tương tự như Ngài đã làm sóng gió yên lặng sau khi các tông đồ đánh thức Ngài dậy trên thuyền.
Cuộc đời ta, tâm hồn ta nhiều khi ảm đạm, buồn tẻ, không có gì hứng thú hay khởi sắc về mặt tâm linh, chính vì ta đã để Đức Giê-su ngủ yên hay còn nằm chết trong ngôi mộ của tâm thức ta. Lúc nào Ngài cũng hiện diện trong ta, đầy quyền năng của một vị Thiên Chúa. Ngài sẵn sàng làm mọi sự để biến đổi ta nên hoàn thiện, mạnh mẽ, để cứu giúp ta khi gặp cùng khốn. Nhưng thái độ lãng quên và hờ hững của ta đối với Ngài đã khiến sự hiện diện của Ngài trong ta thành một hiện diện thụ động của một xác chết, hay của một người đang ngủ.
Một cách khách quan, Ngài vẫn luôn hiện diện trong ta từng giây phút, nhưng ta không hề ý thức điều ấy, ta chẳng nhớ gì đến Ngài. Ngài hiện diện ở đó, nhưng đối với tâm thức ta, Ngài dường như không hiện diện. Nói cách khác, Ngài dường như vắng mặt trong tâm thức ta. Chính vì thế, sự hiện diện khách quan nhưng thụ động của Ngài chẳng đem lại lợi ích gì cho ta, chẳng làm cho đời sống ta thêm dồi dào phong phú, bình an hạnh phúc, đang khi ta rất cần và rất mong điều ấy. Ngài hiện diện nhưng chẳng khác gì vắng mặt, Ngài vẫn sống nhưng chẳng khác gì đã chết, vẫn thức nhưng chẳng khác gì đang ngủ, vì ta đã không để Ngài hiện diện hay sống động trong tâm thức ta. Ngài giống như một kho tàng rất lớn chôn dấu ngay trong nhà ta, nhưng vì ta không biết, nên ta nghèo vẫn hoàn nghèo, và kho tàng ấy chẳng ích lợi gì cả.
Nếu nhờ ý thức, Ngài trở nên hiện diện trong tâm thức ta, lập tức sự hiện diện ấy sẽ trở thành sự hiện diện hoạt động, hữu ích. Ngài sẽ biến đổi ta một cách hữu hiệu. Cũng như khó tàng bị chôn dấu kín kia, nếu được biết đến và đem ra sử dụng, sẽ đem lại một cuộc sống hết sức phong phú và hạnh phúc.
3. SỰ PHỤC SINH CỦA NGÀI TRONG TA TÙY THUỘC VÀO TA
Ngài ngủ hay thức, chết hay sống trong tâm hồn ta, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào ta có đánh thức hay để Ngài sống và hiện diện trong ta hay không. Ngài để ta hoàn toàn tự do quyết định điều đó. Trong chương trình của Ngài, rất nhiều việc Ngài đòi hỏi sự cộng tác tự nguyện của ta thì mới thành sự. đó là cách Ngài trọng phẩm giá của ta, là hình ảnh của Ngài, một Thiên Chúa hoàn toàn tự do. Phẩm giá đó buộc Ngài phải tôn trọng tự do của ta, Ngài không muốn đơn phương làm mọi việc, dù Ngài có thể làm, nhất là sự hoạt động tự do trong tâm thức ta.
Như vậy, tuy Ngài hiện diện và hoạt động cùng khắp, nhưng vẫn có chỗ mà ngài không thể tự do hiện diện và hoạt động theo ý Ngài. đó là hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta. Tâm thức ta là một không gian bất khả xâm phạm đối với chính Ngài, nghĩa là chính Ngài cũng không dám xâm phạm. Ngài chỉ vào đó để hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta khi nào ta cho phép Ngài, bằng cách hướng về Ngài, ý thức được sự hiện diện khách quan của Ngài và nhất là hết mình sống với sự hiện diện đó. Sự hiện diện của Ngài trong tâm thức ta chỉ đạt tới tuyệt đỉnh và trở nên tích cực hoạt động khi nào ta có thể nói được như thánh Phao-lô: "Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" ( Gl 2, 20 ).
Muốn thế, ta phải để Đức Giê-su chiếm trọn bầu trời tâm thức ta. Bình thường, "cái tôi" của ta chiếm trọn bầu trời ấy, vì lúc nào ta cũng nghĩ về ta, về quyền lợi, hạnh phúc, đau khổ của ta. Mọi hoạt động của ta đều bị cái tôi ích kỷ đó chi phối, điều khiển, huy động, khiến ta lúc nào cũng chỉ biết lo cho bản thân mình. Nhưng càng lo cho bản thân ta bao nhiêu, ta càng cảm thấy thiếu thốn, trống rỗng và đau khổ bấy nhiêu, vì đòi hỏi của ta thì vô hạn, mà sức của ta thì có hạn. Trong bầu trời tâm thức đó, ta chỉ dành một khung rất nhỏ cho Thiên Chúa và người khác.
Vậy, nếu muốn Đức Giê-su luôn hiện diện sống động và sử dụng được toàn bộ năng lực của Ngài trong ta, ta phải dành trọn bầu trời tâm thức của ta cho Ngài. Ngài phải là một ưu tư, lo lắng lớn lao nhất của ta, và ta chỉ nên dành một khoảng trời bé nhỏ nào đó cho chính ta thôi. Làm như thế là ta đã Phục Sinh Ngài, đã đánh thức Ngài dậy trong ta, để Ngài thi thố quyền năng của Ngài. Làm như thế là ta đã đào được cái kho tàng quí báu nhất mà ta vẫn vùi sâu chôn chặt trong tâm thức ta, để biến kho tàng ấy trở nên ích lợi cho ta. Và đương nhiên sau đó, nhờ sự sống và hoạt động của Ngài trong ta, ta sẽ hoàn toàn được biến đổi, cuộc sống trở nên phong phú và hạnh phúc hơn.
Lạy Cha, có lẽ Đức Giê-su đã chết từ lâu trong tâm thức con, hoặc con đã để Ngài ngủ quá say trong tâm thức con, khiến cho sự hiện diện của Ngài trong con không gây nên một tác động nào ích lợi cho bản thân con, cho đời sống tâm linh của con. Xin Cha hãy giúp con đánh thức Ngài dậy, hoặc làm cho Ngài sống lại trong tâm thức con, để sự sống đích thực của Ngài triển nở trong con, và biến đổi đời sống con. Amen.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT
 

PS1-33: THỜI ĐIỂM CẢM ƠN HOA

Một hôm tôi chợt thấy một con ve sầu đang đong đưa trên một cành cây ở vườn sau nhà, nhưng: PS1-33
Một hôm tôi chợt thấy một con ve sầu đang đong đưa trên một cành cây ở vườn sau nhà, nhưng đến gần thì nhận ra đó chỉ là một cái xác, có một kẽ nứt phía sau lưng. Đúng là mồ trống rồi. "Nó" đi đâu mất? Bên cạnh là một nụ hoa chớm nở đầy sức sống. Không thấy "nó", nhưng trông thấy biểu hiện của "nó" nơi một nụ hoa mới thì chẳng phải mất công tìm ở đâu nữa. Nó đã lột xác và đã phục sinh mang một dạng hình khác đầy hoạt lực tươi trẻ. Với cảm hứng này, tôi đã lấy máy chụp ra mà chộp được cái nét hồn của chính mình đang chuyển biến qua biểu tượng đời sống, và đặt tên là "Xác Ve Sầu và Nụ Hoa Mới: Mồ trống và Phục Sinh".

CHỜ ĐÓN MÙA HOA

"Hope For the Flowers" tạm dịch là Chờ Đón Mùa Hoa. Đó là tên một cuốn sách tâm linh khá nổi tiếng, bán chạy nhất trong nhiều năm liền của tác giả Trina Paulus. Cái đặc biệt của cuốn sách này là rất ít chữ mà chỉ có hình vẽ thôi. Mà lại toàn là hình sâu róm, sợ quá!

Con sâu róm sinh ra trên một cành cây trong một "gia đình êm ấm". Một hôm nó nhận ra mình đã trưởng thành, cần "đi xuống cuộc đời". Và nó đã bò xuống. Nó lấy làm lạ là tại sao nó toàn gặp những con sâu đang đi hối hả về phía trước. Nó hỏi đi đâu, thì những chú sâu không có giờ trả lời, chỉ ngoắc đầu thật nghiêm trọng. Nó cũng sinh tò mò đi theo. Một lúc lâu thì nó thấy một cái cột thật cao, ngọn chạm tới trời. Nhìn kỹ hơn, nó nhận ra đó là một cái cột toàn sâu lúc nhúc đang chen nhau bò lên. Nó hỏi trên đó có gì thì không đứa nào trả lời. Thấy đông đứa hăm hở như thế chắc là phải có gì hồ hởi lắm. Vậy là nó cũng hòa mình vào đám đông "ai sao tôi dzậy" mà cố sức leo lên, đạp văng nhiều thằng khác mà đạt mục tiêu. Lên đến lưng chừng thì nó "thấm mệt cuộc đời", "ngựa nản chân bon", bèn nghĩ chuyện bỏ cuộc. Chắc là chả có gì đâu. Và nó bò được xuống đất. Hú hồn.

Nhưng rồi nó đâm hồ nghi chính nó. Hay là mình chẳng giống ai. Nó quan sát thấy "người ta" miệt mài tranh nhau bò lên thế kia, ắt là phải có cái gì chứ. Thế là nó lại ra sức trèo lên một lần nữa. Lần này nó hung hãn hơn trước. Đấm đá kỹ hơn. La hét kỹ hơn. Tỏ ra ta đây lắm. Và cuối cùng nó đã leo lên được đỉnh cao chót vót. Nhưng cũng chính là lúc nó thất vọng nhất. Chẳng có gì cả. Thì ra cái cột giầu sang cuộc đời này chỉ là một ảo tưởng được tạo bằng chính những con sâu bon chen đặt ra tiêu chuẩn giá trị. Nhìn sang rừng cây bên cạnh, nó thấy một đàn bướm đủ màu tung tăng vỗ cánh thảnh thơi. Nó có dịp lắng đọng nhìn kỹ để phát giác một điều lạ là ở cành cây đang đeo lủng lẳng những cái tổ kén. Đó là những cái mồ chôn để sâu có thể chui vào mà lột xác thành bướm. Con đường thật là kham khổ đầu tắt mặt tối "chân lấm tay bùn", ai mà chẳng sợ! Nhưng có con đường nào khác nữa đâu?!

TIN VUI TÌM ĐỘNG HOA VÀNG

Mặc dù đang thấy hiện trạng là con sâu, nhưng con sâu biết bản chất của nó là có thể mọc cánh thành bướm bay lên được. Này nhé: Sâu có thể trở thành bướm, những mô đất đá cằn cỗi hai bên đường bỗng bật lên những mầm nụ mới vào buổi sang xuân, chẳng phải là sửng sốt lắm sao?!

Cao điểm của năm phụng vụ trong Đạo Chúa là ba ngày Thứ Năm, Thứ Sáu và Thứ Bẩy Tuần Thánh. Kể cũng lạ đấy, Tuần Thánh bao giờ cũng trùng vào đầu mùa xuân hoa nở. Hằng ngày đi đến nhà thờ, tôi thật may mắn được lái xe qua con đường quê thật đẹp vùng Avondale ngoại ô thành phố New Orleans. Nhưng đẹp nhất phải kể là những ngày đầu xuân. Bãi cỏ xơ xác hai bên đường mùa đông nay bỗng trải dài một thảm hoa vàng mênh mông. "Động hoa vàng" là đây rồi chứ sao phải mất công mơ tưởng mãi đâu đâu để phải hát nghêu ngao theo kiểu Phạm Thiên Thư với nhạc Phạm Duy:

Rằng xưa có gã từ quan,
lên non tìm động hoa vàng ngủ say.


Mình như đang đi giữa vùng đất thần tiên thơ mộng quá chừng, mà cũng thật gần tầm tay với. Con đường này chắc cũng nhiều người qua lại mỗi ngày. Không biết được mấy người lái xe chậm lại một chút để chiêm ngưỡng vẻ hút hồn của đất trời hòa nhập, nhất là vào những lúc mặt trời đang lăm le đòi đi ngủ, nhoẻn miệng cười toát ra một sắc đẹp quyến rũ vô cùng. Mình bỗng bật lên lời thơ của Tô Thùy Yên:

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời.
Cảm ơn hoa đã vì ta nở,
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.


Tim mình bỗng đánh nhịp bản hoan ca mùa xuân sau những ngày lạnh thu mình lại ẩn dưới những cành trơ trụi tiêu sơ. Mình đọc tiếp lời thơ trên:

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đâu mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay.
Vĩnh biệt ta mười năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.


NHỊP ĐIỆU LUÂN VŨ

Chắc là Tô Thùy Yên đã bị đầy đọa vùi dập mười năm chứ gì. Đời như đã bỏ. Lỡ vận. Lỡ thời. Nỗi buồn dài dệt bằng những tiếng thở dài, mênh mang, mênh mang. U uất thâm gan tím mật. Mười năm coi như mình đã chết dấp.

Vậy mà mình bỗng bắt lại được nhịp đời bật nụ non khi nhìn hoa nở. Nó nở thì nở chứ có mắc mớ gì mà dám bảo là đã vì ta nở? Nhưng mình thấy rõ là nó vì mình mà nở. Ai muốn nói sao, kệ. Nó nở để cho hoa mình nở. Mọi phiền muộn bỗng dưng thành hòa khúc dịu êm. Mặt trời đang rạng lên trong tâm ta. Một bình minh mới như bình minh đầu tiên thuở hoang sơ nổ ra từ tiếng "big bang".

Thiên nhiên quả là người mẹ hiền có phép mầu hóa giải những oan khiên, những phiền muộn. Mẹ có điệu ru của mẹ, qua bốn mùa đong đưa nhịp đời trong nôi đại dương dòng sinh lực vẫn tuôn chảy. Nhìn nụ hoa vừa nở, mọi tàn lụi đời mình bỗng mở lối thênh thang. Một nhịp mới bắt đầu. Tự nhiên lắm. Tự nhiên như dòng nước chảy, như tia nắng vừa lên, như dòng hơi thở bơm sinh khí mỗi khoảnh khắc. Thì ra vạn vật đều đi theo một vũ khúc bao la đất trời, gồm ba giai đoạn, tức là nhịp ba, nhịp luân vũ. Đây cũng là tiến trình chết đi và phục sinh, niềm tin gốc của đạo Chúa, nơi Đức Giêsu, và nơi mỗi người.

1. Nhận ra hiện trạng mình là một hạt cây hay con sâu với hướng vọng thành lá hoa với đàn bướm tung tăng.

2. Dám chấp nhận bị vùi giập thối rữa hay chui vào tổ kén, chấp nhận được những trở ngại, những khổ đau. Mình đâu có dễ tự mình lột xác được. Thì đây mình được gửi đến những thập giá giúp mình lột xác biến thể. Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục, sẽ vẫn trơ trọi một mình (Gioan 12:24). Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai vui chết đi sẽ được sống tròn đầy (Gioan 12:25).

3. Mọc cánh thành bướm vươn lên một cuộc sống mới thênh thang thảnh thơi, không còn gì có thể chế ngự ràng buộc được nữa.


PHÚT TỊNH TÂM

Nhưng con người nhiều khi lại không khôn ngoan được như thế, mà cứ cố bám lấy lớp vỏ dầy cứng khiến đời sống mỗi ngày mỗi tàn tạ?! Nhà thơ Luân Hoán thấy cảnh đáng thương như vậy liền cất lời tự tình:

Cảm ơn đất đá trổ thơ
Lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài.


Ta không tự mình buông xả dễ dàng đâu. Thì đây thập tự như "ỷ thiên kiếm" được gửi đến để chém chặt khai quang cho lòng ta phải trống trơn. Cảm ơn những khổ đau đã làm ta nên người. Cảm ơn hạt cây chịu thối mục để hoa bỗng nở tràn. Ngày lễ Phục sinh thể hiện đúng tiết nhịp hoa nở. Hoa trong vườn. Hoa trong tâm ta.

Hạt cây không phục sinh trở lại hạt cây, nhưng đã là hoa lá mới. Con sâu không rụng lông sống lại với kiếp sâu róm, nhưng đã thành con bướm bay. Đó mới là cảm nghiệm phục sinh cho tôi lúc này.

Liệu tôi đã bắt đầu dám lột xác vươn mình lên hay vẫn tiếp tục bám vào lớp bụi bặm phù du, tự đầy đọa mình và làm khổ nhiều người? Những gì tôi đang cần xả bỏ để bắt đầu sống thảnh thơi hơn? Và lời thơ vang vọng trở thành lời phản tỉnh:

Cảm ơn đất đá trổ hoa
U mê hạt bụi lòng ta bám hoài.

Lm. Trần Cao Tường

 

PS1-34: ĐÂY LÀ ĐÊM.

Đêm gợi lên hình ảnh đen tối tiêu cực và trong đêm tối bao phủ nhiều lo âu sợ hãi. Nhưng trong: PS1-34
Đêm gợi lên hình ảnh đen tối tiêu cực và trong đêm tối bao phủ nhiều lo âu sợ hãi. Nhưng trong đêm tối ánh sáng mặt trăng, ngôi sao, đèn nến, đèn điện mới toả ánh quang và làm nổi bật khu vực chung quanh và mang đến không khí thi vị linh thiêng.

Đêm mừng kỷ niệm ngày Chúa Giêsu sinh ra làm người ngày hai mươi lăm tháng mười hai, được ca ngợi là đêm thánh vô cùng. Vì Chúa Giêsu, đấng Thánh, sinh ra mang ánh sáng từ trời cao vào trong đêm tối trần gian. Anh sáng tình yêu của Thiên Chúa đã biến đổi đêm tối tội lỗi, thất vọng thành đêm thánh, đêm của niềm hy vọng.

Trong đêm này ánh sáng là trung tâm mốc trụ cho tương lai và cho thời gian.

Đêm phục sinh mừng kỷ niệm ngày Chúa Giêsu sống lại từ cõi kẻ chết, traí lại không phaỉ ánh sáng nhưng đêm được ca ngợi trong công trình sáng tạo mới. Không chỉ bóng tối là tên của đêm, nhưng đêm còn có nhiều tên khác như cô đơn, sầu khổ, thất vọng, thiếu vắng tình yêu niềm hy vọng, tội lỗi, sợ hãi.

Hội Thánh khi hát ca mừng cây Nến Phục Sinh (Exultet), chỉ sáu lần ca ngợi cây nến, tượng trưng cho Chúa Giêsu phục sinh, nhưng tới 12 lần ca ngợi đêm: Haec nox est ! Đây là đêm ! Đêm hồng phúc và hơn thế nữa còn ca ngợi O felix culpa - Oi tội hồng phúc!

Tại sao Hội Thánh lại hết lời ca ngơị đêm, ca ngợi tội như thế? Phải chăng đây là việc ngược với tâm lý con người hay Hội Thánh muốn nói lên kinh nghiệm sâu xa trong thực tế cuộc sống, nhất là trong lãnh vực niềm tin?

Khi sáng tạo vũ trụ, ngay ngày thứ nhất Thiên Chúa đã dựng nên ánh sáng xoá tan cảnh hỗn mang, phân định ngày và đêm cùng làm nền tảng cho trật tự và sự sống mọi tạo vật. (St 1,1-5) Và Chúa Giêsu sống lại cũng vào ngày thứ nhất trong tuần,Ngaì đã phá huỷ bóng tối đêm đen tội lỗi sự chết, mang niềm vui niềm hạnh phúc đến tâm hồn con người. Như thế đâu còn lý do gì để ca ngợi đêm, ca ngợi O felix culpa nữa?

Bình thường không ai ca ngợi bệnh tật, tội lỗi và sự chết cùng đêm đen đe doạ. Trái lại những gì mang đến sự sống, ánh sáng, niềm vui, ngày nắng sáng, tha thứ bình an luôn được yêu thích ca ngợi.

Trong đời sống nơi vạn vật và riêng từng người, hầu như luôn có hai mặt tương phản nhau: ánh sáng và bóng tối, ngày và đêm, tội lỗi và ân đức tha thứ, sống và chết, vui và buồn, phải và trái, thuận và nghịch, hòa bình và chiến tranh, lo âu và hy vọng, khoẻ mạnh và bệnh tật... Đó là giới hạn và thực tế cuộc sống.

Và còn một kinh nghiệm sâu xa khác hơn nữa là cuộc sống nào, thời điểm nào cũng thay đổi biến chuyển, như nước chảy trong giòng sông, không ngừng. Đó là luật tuần hoàn trong vũ trụ do Thiên Chúa dựng nên. Chính sự biến chuyển thay đổi này làm cho đời sống thành sinh động.

Chúng ta cũng hay thường nói: sau cơn mưa trời lại sáng. Hay sau một mùa đông dài giá lạnh rét mướt, mùa xuân đến, mang không khí nồng ấm nhiều niềm vui tươi, sức sống mới cho vạn vật.

Vì thế, trong đêm này Hội Thánh muốn nói lên sự tương phản sâu thẳm trong cuộc sống nơi vũ trụ và nơi con người, nhất là nơi niềm tin: đêm đen bóng tối càng dầy đặc khốc liệt, ánh sáng chiếu soi vào trong đó càng rạng tỏ và mang lại hiệu quả lớn lao.

Hội Thánh không ca ngợi đem đen bóng tối tội lỗi, nhưng muốn đặt nó bên cạnh sự sống, bên cạnh hào quang Chúa sống lại như nguyên nhân của ân đức cứu chuộc qua cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu.

Thiên Chúa không cất xóa đêm đen cùng tội lỗi sự chết ra khỏi công trình sáng tạo trong vũ trụ, ra khôi đời sống, nhưng soi chiếu ánh sáng ân đức tha thứ cứu độ vào trong đó.

Anh sáng Chúa Giêsu trong đêm Ngài từ trời cao xuống thế làm người và trong đêm Ngài từ cõi kẻ chết sống lại biến đổi đêm tối tội lỗi thành đêm thánh, đêm hồng phúc, đêm ơn tha thứ cứu chuộc.
Lm. Nguyễn ngọc Long

 

PS1-35: Thánh lễ Đêm Phục Sinh là Đỉnh Cao của năm phụng vụ

- GM Bùi Văn Đọc
Thánh lễ Đêm Phục Sinh là Đỉnh Cao của năm phụng vụ, là đỉnh cao và trọng tâm của niềm tin: PS1-35
Thánh lễ Đêm Phục Sinh là Đỉnh Cao của năm phụng vụ, là đỉnh cao và trọng tâm của niềm tin Kitô-giáo. Không những chúng ta tuyên xưng, mà chúng ta cử hành việc Chúa Sống Lại cho tới khi Chúa lại đến. Chúng ta cử hành mầu nhiệm Chúa Phục Sinh, việc Chúa chiến thắng sự chết, Chúa chiến thắng thần dữ, Chúa chiến thắng địa ngục.

Chúa là vị Cứu Tinh mà Thiên Chúa ban cho loài người chúng ta, để cứu độ chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi, khỏi mọi sự dữ, khỏi mọi hình phạt, và mang lại hạnh phúc cho chúng ta. Đêm nay chúng ta đón mừng ơn cứu độ đã được ban cho nhân loại qua việc Thiên Chúa đã Phục Sinh Đức Giêsu Kitô, đã cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết. Ta hãy ý thức một cách mạnh mẽ ơn cứu độ quan trọng đối với ta là dường nào, như bài ca Exultet công bố Tin Mừng Phục Sinh: Nếu chúng con không được cứu độ, thì sinh ra đời nào có ích chi!

Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của sự dữ và tội ác, khỏi sự kềm kẹp của thần dữ và các thế lực xấu, khỏi chính con người tội lỗi và bất toàn của chúng ta, khỏi sự chết đời đời, ban cho chúng ta sự sống bất diệt, sự sống mới mẻ làm cho con người chúng ta được luôn đổi mới. Chúng ta được thông phần sự sống mới của Chúa Kitô Phục Sinh nhờ phép rửa mà chúng ta đã lãnh nhận. Phép rửa đã tháp nhập chúng ta vào cây thánh giá là cây sự sống, để chúng ta có được nhựa sống của Chúa Kitô Phục Sinh. Mọi người có đạo chúng ta đều sống bằng nhựa sống ấy là Thánh Thần của Chúa Phục Sinh.

Thật là vui thay, vì đêm nay có thêm nhiều người cùng với chúng ta được thông phần vào Sự Sống ấy, được nhận lãnh bí tích rửa tội và thêm sức tháp nhập họ vào với Chúa Kitô. Họ sẽ trở nên những người tín hữu kitô cùng với chúng ta. Họ sẽ thề hứa từ bỏ thần dữ, từ bỏ những quyến rũ gian tà của thần dữ, từ bỏ tội lỗi và những hành vi xấu, như ta đã hứa ngày chịu phép rửa tội và sẽ lập lại lời tuyên hứa ấy đêm nay. Họ sẽ tuyên xưng Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Đấng tạo thành trời đất, tuyên xưng Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, đã chịu khổ hình, đã từ cõi chết sống lại, tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Đấng Ban Sự Sống giống như tất cả chúng ta.

Đó là đức tin của chúng ta, đó là đức tin của Hội Thánh. Chúng ta tin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúng ta làm dấu thánh giá nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Nhưng đêm nay, chúng ta tuyên xưng một cách đặc biệt Chúa Cha là Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa sống lại nhờ Chúa Thánh Thần là Quyền Năng của Thiên Chúa. Ba Ngôi Thiên Chúa đã cho chúng ta thông phần sự sống và hạnh phúc của các ngài. Chúng ta hãy vui mừng, cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa cách đặc biệt hơn trong đêm nay.

Đêm nay Chúa Kitô Phục Sinh đến với chúng ta qua nghi thức phụng vụ mà chúng ta cử hành. Chúng ta hãy đón Chúa vào trong tâm hồn, vào trong trái tim và cuộc sống chúng ta. Mặc dù chúng ta không thấy Chúa bằng mắt phàm, nhưng chúng ta tin Chúa đang đến và hiện diện ở giữa chúng ta, chúng ta hãy vui mừng hân hoan, và hãy mang niềm vui Phục Sinh đến cho mọi người.

Hãy theo Chúa Phục Sinh đến với mọi người, nhất là những người chưa biết Chúa. Hãy làm theo lời thiên thần loan tin Chúa Phục Sinh và lời của chính Chúa, đã yêu cầu các môn đệ hãy mau đến Galilê là vùng của các dân ngoại, vì họ sẽ được gặp Chúa ở đó. Sứ điệp Phục Sinh trong bài Tin Mừng Máthêu mà chúng ta nghe đọc đêm nay là sứ điệp truyền giáo. Hãy loan báo tin mừng Phục Sinh cho những người chưa biết Chúa, và ai làm như vậy chắc chắn sẽ được gặp Chúa. Cách này hay cách khác, hãy làm cho Tin Mừng Phục Sinh thấm vào môi trường ta đang sống, để hạt giống Tin Mừng ấy sinh hoa kết quả, tạo thành một môi trường mới, môi trường của sự sống, tình yêu và chân lý.

Giám Mục Giáo Phận Mỹ Tho. + GM Bùi Văn Đọc

 

PS1-36: SỐNG NIỀM TIN VÀO ĐỨC KI-TÔ PHỤC SINH

Suy Niệm Lễ Phục sinh A - của Lm Ignatio Hồ Văn Xuân

 GIÚP HIỂU CÁC BÀI ĐỌC

Bài đọc 1 (Cv 10,34a.37-43)

Lúc bấy giờ, thánh Phê-rô, một người Do-thái đạo đức, xuất hiện tại nhà viên sĩ quan của đội quân: PS1-36
Lúc bấy giờ, thánh Phê-rô, một người Do-thái đạo đức, xuất hiện tại nhà viên sĩ quan của đội quân Rô-ma không phải là một việc ngẫu nhiên. Nhưng Phê-rô và viên đại đội trưởng vâng theo một sức mạnh từ trên cao. Bài diễn từ của vị Tông đồ là lời giáo huấn dành cho một nhóm lương dân, mà phần quan trọng là Tin Mừng liên quan đến Đức Giê-su. Đi tới đâu Người thi ân giáng phúc tới đó (chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền) ; nhưng người ta đã giết chết Người trên cây thập giá. Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết và cho Người xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước. Bây giờ các chứng nhân này có trách nhiệm phải nói cho mọi người biết rằng Thiên Chúa đã đặt Người làm Thẩm Phán xét xử kẻ sống và kẻ chết, Người là Đấng các ngôn sứ trông chờ, và ai tin vào Người thì nhận được ơn tha tội. Niềm tin vào Đức Giê-su Phục Sinh và ơn tha tội dành cho hết thảy mọi người, Do-thái cũng như lương dân. Đó chính là điều sắp được xác nhận qua việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên viên sĩ quan Cô-nê-li-ô và gia quyến của ông.

Bài đọc 2 (1 Cr 5,6b-8)

Thánh Phao-lô phải cho ý kiến về một trường hợp loạn luân xảy ra trong cộng đoàn Cô-rin-tô. Sau khi đưa ra một lời kết án nghiêm khắc dựa vào dân luật Rô-ma, vị Tông đồ muốn nhắc lại những đòi hỏi mà niềm tin vào Đức Ki-tô buộc phải có. Lối sống cũ đầy dẫy xấu xa không được tồn tại trong một cộng đoàn Ki-tô hữu. Ở đây không phải là vấn đề luân lý mà bởi vì sự phục sinh của Đức Giê-su thay đổi tất cả đối với những ai gắn bó với Người. Mỗi năm, khi mùa gặt mới đến, người Do-thái đem ra khỏi nhà tất cả men và bánh có men. Họ ăn con chiên vượt qua với bánh không men. Thánh Phao-lô nói người Ki-tô hữu cũng phải sống một đời sống mới do Đức Ki-tô đem lại và loại trừ những việc làm xấu xa ra khỏi đời sống đức tin của mình.

Bài Tin Mừng (Ga 20,1-9)

Gio-an bắt đầu câu chuyện của mình bằng cách xác định thời gian xảy ra biến cố : Sáng sớm, ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối. Ở đây giống như lúc khởi đầu việc sáng tạo trời đất muôn vật, ta có thể trông chờ một cuộc tạo dựng mới. Tuy nhiên, nơi xảy ra là một nấm mồ, một nơi chết chóc. Ba nhân vật kế tiếp nhau hành động. Người đầu tiên là Ma-ri-a Mác-đa-la, như trong tất cả các Tin Mừng khác. Lúc đầu hình như chỉ có một mình bà, nhưng nói "chúng tôi" khi kể lại cho Phê-rô sự việc bà đã khám phá. Việc mặc khải mầu nhiệm Phục Sinh tiến triển dần dần. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Phản ứng tự nhiên của bà là chạy đi báo tin cho Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su yêu quý. Bà không bước vào trong mộ và kết luận rằng xác Đức Giê-su đã bị đem ra khỏi mộ, rồi vì xúc động bà nói thêm : "người ta đã lấy mất xác Chúa rồi".

Bà Ma-ri-a chạy về phía các môn đệ, còn các môn đệ chạy ra hướng mộ đang mở trống. Người môn đệ Đức Giê-su yêu quý chạy nhanh và đến mộ trước. Nhưng ở đây ta thấy tôn ti trật tự được tôn trọng triệt để và chính thánh Phê-rô vào trước và thấy khăn liệm đã được cuộn lại, xếp riêng ra một nơi. Tuy nhiên, tác giả Tin Mừng nói rằng người môn đệ kia tin khi đến lượt mình vào phía trong mộ. Ông thấy những dấu chỉ chứng tỏ không có chuyện đánh cắp xác ở đây. Tất cả mọi chuyện bên trong mộ giúp ông tin vào sự phục sinh của Đức Giê-su, đặc biệt là câu cuối cùng của bản văn. Vấn đề còn lại là đọc kỹ Thánh Kinh và hiểu Thánh Kinh nhờ đó ánh sáng niềm tin phục sinh bừng lên. Ngôi mộ mở ra chỉ là một chặng trong cuộc hành trình đức tin mà thôi.

C. CHIA SẺ LỜI CHÚA (Bài Tin Mừng)

1. Ba môn đệ, chứng nhân của ngôi mộ trống, được Tin Mừng Gio-an đề cập đến, tượng trưng cho các khía cạnh hoặc chặng đường đức tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của các môn đệ. Trước tiên là bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Bà đi đến mộ "vào sáng sớm, lúc trời còn tối". Nếu Đức Giê-su đã chiến thắng sức mạnh của tối tăm, thì con người vẫn còn chìm đắm trong bóng đêm tăm tối. Bà thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ : đây là dấu chỉ đầu tiên khiến bà bối rối. Bà là người phụ nữ đầu tiên bập bẹ tuyên xưng niềm tin của mình. Vì bà vẫn ở lại bên cạnh mộ của Đức Giê-su sau khi các môn đệ khác bỏ đi, nên Người cho bà được đặc ân nhận biết Đấng Phục Sinh và tuyên xưng Người là Chúa : "Ráp-bu-ni" (nghĩa là "Lạy Thầy").

2. Ngay sau đó, bà vội vã chạy về báo cho ông Si-môn Phê-rô và "người môn đệ Đức Giê-su yêu quý" - truyền thống hiểu là thánh Gio-an tông đồ. "Cả hai cùng chạy ra mộ, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phê-rô." Một dấu chỉ tượng trưng mới, chỉ những cuộc hành trình đức tin khác nhau. Phê-rô chạy chậm hơn, đây là một cách nói nhắc lại rằng cho tới lúc ấy, ngài là con người chậm hiểu và niềm tin bị chao đảo. Là lãnh tụ của Nhóm Mười Hai, ngài vào bên trong ngôi mộ trước và xác nhận rằng xác Đức Giê-su không thể bị lấy cắp được. Lúc bấy giờ Phê-rô là một con người quyết đoán và đáng cho ta tin cậy, và đó là bước khởi đầu của đức tin tuy chưa gắn bó mật thiết với tất cả tâm hồn.

3. Thánh Gio-an, chứng nhân thứ ba, chạy nhanh hơn. Tôn trọng quyền ưu tiên của thánh Phê-rô, nhưng ngài nhanh chóng hiểu những dấu chỉ đang có trước mặt ngài : "Ông đã thấy và đã tin." Thánh Gio-an là một con người trực giác, một trực giác phát sinh do lòng yêu mến đối với Đức Giê-su và không hề bận tâm vì những lý lẽ dài dòng. Ngay lập tức ngài hiểu rằng, nếu thân xác Đức Giê-su không còn ở đó nữa, là vì Người đang sống lại. Thánh Gio-an nhìn thấy những dấu chỉ nơi con mắt đức tin.

4. Trong Giáo Hội ngày nay, các đặc sủng rất khác nhau của Phê-rô (mục tử, tiến sĩ, …) và Gio-an (các nhà linh đạo, chiêm niệm, ngôn sứ, …) vẫn hết sức cần thiết. Chúng ta có xác tín như vậy không ?

 

PS1-37: Người tân tòng vững mạnh trong cuộc sống mới

Sợi chỉ đỏ của các Chúa nhựt mùa Phục sinh năm A
Nếu như các bài đọc Mùa Chay là một khóa giáo lý chuẩn bị người dự tòng lãnh nhận Phép: PS1-37
Nếu như các bài đọc Mùa Chay là một khóa giáo lý chuẩn bị người dự tòng lãnh nhận Phép Rửa, thì các bài đọc Mùa Phục sinh là một khóa giáo lý nữa giúp người tân tòng vững mạnh trong cuộc sống mới.
- Chúa nhựt Phục sinh : Biến cố Phục sinh.
- Chúa nhựt II Phục sinh : Kết quả việc Đức Giêsu phục sinh trong cuộc sống của các tín hữu.
- Chúa nhựt III Phục sinh : Cuộc sống mới của kẻ tin vào Đức Giêsu phục sinh.
- Chúa nhựt IV Phục sinh : Đức Giêsu là mục tử, tín hữu hãy bỏ nếp sống cũ và đi theo Ngài sống nếp sống mới.
- Chúa nhựt V Phục sinh : Sống trong thực tế của thế giới.
- Chúa nhựt VI Phục sinh : Chúa Thánh Thần là Đấng phù trợ tín hữu
CHỦ ĐỀ : Biến cố Phục sinh
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I : Các tông đồ làm chứng việc Đức Giêsu sống lại.
- Bài đọc II : Tín hữu là những người cùng sống lại với Đức Giêsu trong cuộc sống mới.
- Bài Tin Mừng : Ngôi mộ trống là dấu chỉ Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết.
Minh họa
- Mille images 172 B
- "Chúa đã sống lại thật rồi" (Lc 24,34)
I. Dẫn vào Thánh lễ
"Chúa đã sống lại !" Thánh Phêrô, Thánh Gioan, Thánh Phaolô và tất cả các tông đồ khác đều hô vang Tin Mừng ấy. Tiếng hô ấy vẫn còn vang mãi trong Giáo Hội sơ khai và các thế hệ kitô hữu, để biểu lộ niềm tin của Giáo Hội và kêu mời mọi người hy vọng. Hy vọng, bởi vì cho dù mọi vẻ bề ngoài có thể ngược hẳn lại, cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn, cuộc đời vẫn có hồi kết thúc, nhưng đau khổ không phải là số phận, cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng.
Nếu Đức Giêsu đã trở thành Đấng hằng sống, và nếu chúng ta đã được Ngài ban cho sự sống đời đời, thì tại sao chúng ta còn hoang mang, sợ sệt, chán nản trước những gian khổ đời này ?
Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta vững tin vào việc Chúa sống lại, và làm chứng cho Tin Mừng của Ngài trong thế giới hôm nay.
II. Gợi ý sám hối
- Thực ra chúng ta chưa thực sự tin tưởng vào việc sống lại, cho nên chúng ta sống như mục đích của đời mình chỉ là dưới thế này.
- Chúng ta thường chán nản ngã lòng khi gặp khó khăn, thất bại.
- Chúng ta chỉ biết sống cho mình chứ không quan tâm làm chứng về Chúa cho người khác.
III. Lời Chúa
1. Bài đọc I : Cv 10,34.37-43
Lời rao giảng này của Phêrô được các nhà Thánh Kinh gọi là Kerygma, tức là bài giảng truyền giáo. Lần đầu tiên ngõ lời với một nhóm thính giả mới, các tông đồ luôn giảng Kerygma.
Mỗi Kerygma, cho dù có khác nhau trong những chi tiết phụ, nhưng luôn gồm những yếu tố chính về Đức Giêsu : a/ Tóm tắt cuộc sống trần thế của Đức Giêsu ; b/ Cái chết của Ngài ; c/ Việc Ngài sống lại ; d/ Kêu gọi tin vào Ngài để được cứu độ.
Tin vào nội dung Kerygma là bước đầu tiên và là điều quan trọng cơ bản để trở thành Kitô hữu.
2. Đáp ca : Tv 117
Thánh vịnh này là tâm tình của người đã cảm nghiệm được tình thương và quyền năng của Thiên Chúa. Quyền năng và tình thương ấy đã chiến thắng tất cả, cho dù là khổ đau, là chết chóc. Tác giả muốn sống mãi để có thể ca tụng Thiên Chúa đến muôn đời.
3. Bài đọc II : Cl 3,1-4
Thánh Phaolô dạy cách sống của người thực sự tin vào việc Đức Giêsu sống lại :
- Kitô hữu là người đã chết với Đức Giêsu và sống lại với Ngài.
- Hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới.
- Hãy hướng lòng trí về những gì thuộc về thượng giới.
4. Bài Tin Mừng : Ga 20,1-9
Những chi tiết quan trọng nhất của bài tường thuật này là ngôi mồ trống và 3 phản ứng trước hiện tượng ấy.
- Maria Mađalêna nghĩ rằng "Người ta đã lấy mất Chúa rồi". Bà hoang mang chạy đi báo tin "chẳng lành" ấy cho các tông đồ khác. Phải chờ đến khi Đức Giêsu phục sinh hiện ra với bà thì bà mới tin Ngài sống lại.
- Phêrô nhìn thấy những hiện tượng nhưng chưa có phản ứng nào cả.
- "Người môn đệ kia" khi thấy thì nhớ lại những lời Đức Giêsu đã nói trước nên đã tin ngay.
IV. Gợi ý giảng
1. Tin là thế nào ?
Đức tin của các tín hữu thường chỉ có một chiều kích, đó là chiều kích của trí óc : tin có Thiên Chúa ; tin rằng Ngài đã tạo dựng mọi sự, Ngài biết mọi sự và điều hành mọi sự…
Đức tin của các tín hữu thường hướng tới đời sau : tin rằng mình sẽ được ở với Thiên Chúa sau khi từ giã cõi đời này.
Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay buộc ta phải điều chỉnh lại đức tin ấy : phải có thêm chiều kích hiện sinh nữa : Không chỉ tin bằng trí óc mà còn bằng cả cuộc sống. Không chỉ nhắm tới cuộc sống mai sau, mà phải nghĩ tới cuộc sống hiện tại. Thánh Phaolô dạy : "Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô".
2. Làm chứng là thế nào ?
Chỉ có các tông đồ là những "chứng nhân" đúng nghĩa : các ngài đã cùng sống với Đức Giêsu, đã thấy Ngài chết và thấy Ngài sống lại. Việc làm chứng của các ngài dựa trên điều các ngài đã thấy.
Nhưng lời chứng xuất phát từ cảm nghiệm cũng có giá trị, nhiều khi lại còn có sức thuyết phục hơn. Chúng ta có thể làm chứng cho Đức Giêsu phục sinh theo cách thứ hai này : sống làm sao cho người ta biết chúng ta đang sống một cuộc sống mới, chúng ta hạnh phúc, chúng ta tự do, chúng ta vui mừng trong cuộc sống mới đó, và trong bất cứ hoàn cảnh nào lòng chúng ta cũng tràn trề hy vọng.
3. Tâm thức kiêu căng của kẻ chiến thắng
Nhiều người trách rằng những người công giáo có tâm thức kiêu căng vì nghĩ rằng mình là kẻ chiến thắng, kẻ mạnh, kẻ giỏi hơn người… Tiếng pháp là "triomphalisme". Thực ra, chúng ta có tâm thức đó không ? Và xét cho cùng, nên có tâm thức đó không ?
Chúng ta xác tín rằng chúng ta có một chỗ dựa vô cùng vững chắc là Đức Giêsu phục sinh, và cũng xác tín rằng nếu có Ngài phù trợ thì chúng ta sẽ vượt thắng tất cả. Những câu đáp ca hôm nay trích từ Thánh vịnh 117 tuyên bố niềm xác tín đó : "Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa cao cả vô song. Tôi không phải chết nhưng còn sống mãi, để tường thuật những kỳ công Chúa làm".
Thế nhưng, chúng ta không nên kiêu căng, cũng không nên khinh chê những người khác không có được niềm xác tín của chúng ta. Đúng hơn, chúng ta cần làm chứng cho họ và chia sẻ với họ niềm xác tín ấy, một niềm xác tín vẫn giúp con người lạc quan hy vọng cho dù đang ở giữa bao khổ đau, thất bại, bệnh tật và thậm chí sắp chết.
4. Mộ mở toang
Gioan "cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó… Ông đã thấy và đã tin.
Nhưng ông thấy gì ? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin.
Ta hãy nghiêng mình xuống như Gioan. Ta thấy gì ? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật.
Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Đức Giêsu, bạn ngài.
Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không ? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.
Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chấm hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.
Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên chỗi dậy. Phục sinh.
Ngôi mộ mở lòng mở trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Đức Giêsu đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục sinh báo trước. (G. Boucher, "Le ciel sur terre", được trích dịch trong Fiches dominicales, năm A, trang 122-123).
5. "Sao lại tìm người sống nơi chỗ kẻ chết ?"
Một vài tuần trước lễ Phục sinh, người chồng đã chết vì một tai nạn đột ngột : đang khi ông đốt các nhánh cây vụn trong khu vườn của gia đình, ông đã sơ ý để lửa bắt vào mình.
Tai nạn đã làm cho bà vợ trở nên như người mất trí, một đàng vì nó đột ngột quá, đàng khác vì nó xảy ra tại chính khu vườn của gia đình. Bà không dám bước chân ra vườn. Thậm chí không dám nhìn về hướng đó nữa.
Rồi tới ngày lễ Phục sinh. Hai người hàng xóm đến thăm bà và rủ bà đi ra vườn. Mới nghe tới đó, bà co rúm người lại. Nhưng các bà hàng xóm tin rằng việc này sẽ có ích cho bà nên cứ khuyến khích. Thế là cả 3 ra vườn, đến chính nơi xảy ra tại nạn. Ngài vợ muốn quay lưng bỏ vào nhà. Nhưng đúng lúc ấy, một lời trong Tin Mừng bỗng loé lên trong đầu bà : "Sao lại tìm người sống nơi chỗ kẻ chết ? Ngài không còn ở đây nữa. Ngài đã sống lại rồi." Bà nghĩ lời đó nói về chính người chồng của bà.
Thế là nỗi buồn sầu bấy lâu nay chắp cánh bay mất. Bà tìm lại được niềm vui. (Flor McCarthy)
Lời nguyện cho mọi người
CT : Anh chị em thân mến
Thiên Chúa đã cho Đức Kitô sống lại và bừng sáng trên thế giới như mặt trời chính ngọ. Ước gì ánh sáng phục sinh của Ngài luôn hướng dẫn đời sống đức tin của người kitô hữu. Trong niềm hân hoan mừng Con Chúa đã sống lại khải hoàn, chúng ta cùng dâng lời nguyện xin.
1- Từ hai mươi thế kỷ nay / Hội Thánh không ngừng công bố một Tin Mừng duy nhất cho muôn dân / đó là Tin Mừng Con Chúa đã phục sinh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho lời rao giảng của Hội Thánh / được nhiều người thành tâm đón nhận.
2- Chỉ một mình Đức Kitô phục sinh có quyền năng đổi mới / và hòa giải mọi tâm hồn / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa thương xót nhân loại đang đau khổ vì hận thù chia rẽ / và canh tân lòng trí con người hôm nay.
3- Nhờ Đức Kitô phục sinh / Chúa mở lối cho nhân loại vào cõi sống muôn đời / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / chỉ vẽ cho các kitô hữu biết cách xây dựng quê hương trần thế / làm sao cho những cố gắng đó / cũng giúp họ đạt tới quê trời vĩnh phúc.
4- Chính Đức Kitô phục sinh đã tập họp chúng ta trong thánh lễ này / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / lấy lời chân lý mà cải hóa / và giúp cộng đoàn giáo xứ chúng ta sống một đời thánh thiện / để mọi việc chúng ta làm đều đẹp lòng Chúa.
CT : Lạy Chúa, Đức Giêsu Kitô Con Chúa đã trải qua bao đau thương và chịu khổ hình Thập giá rồi mới bước vào vinh quang thiên quốc. Xin cho tất cả chúng con được chia sẻ đau thương, được chết với Người, để cùng được phục sinh vinh hiển với Người là Đấng hằng sống và hiển trị…
VI. Trong Thánh Lễ
- Trước kinh Lạy Cha : Đức Giêsu phục sinh đã thiết lập cơ sở vững chắc cho Nước Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin cho Nước ấy được mở rộng khắp nơi, trong lòng mọi người.
- Sau kinh Lạy Cha : "… xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an, sự bình an mà Đức Kitô phục sinh đã mang đến cho các tông đồ…"
VII. Giải tán
Đức Kitô đã sống lại và đang sống mãi. Ngài sống trong cuộc đời chúng ta và trong thế giới này. Chúng ta hãy làm những chứng nhân nhiệt tình cho Ngài, mang niềm vui và an bình đến cho mọi người. Halleluia, Halleluia.
Chuyện minh Hoạ: Chuyện vui theo chủ đề mùa Phục sinh
Chúa Nhật I Phục Sinh – Sống lại

Chuyện: Con sâu bướm
Các em đã nhìn thấy con sâu bao giờ chưa ? nhất là con sâu dóm, mình nó đen xì, lông sâu dóm chĩa ra tua tủa. Nếu chẳng may chạm vào mình sâu dóm là bị lông nó đâm vào da thịt ta và làm cho ta nhức nhối, ngứa ngáy, nổi sần sùi da lên, ghê qúa há.
Vậy mà một chú sâu dóm ghê sợ đó. Sau một thời gian làm sâu sẽ được lột xác thành một con bướm rất xinh đẹp với nhiều mấu sắc. Những chú bướm nhở nhơ trên cành phượng, trên giàn hoa Thiên lý, trên vườn hồng rực rỡ nắng ban mai, bướm gieo tung tăng vào thời gian. Vắng cánh bướm vũ trụ sẽ mất vẻ đẹp. Nhưng bướm có biết đời bướm ra sao ? Ta đâu có hay mỗi con bướm là một cuộc đời rất ly kỳ.Thế thì ra, trước khi thành con bướm đẹp, nó là một con sâu trông rất ghê gớm.
Hiểu lịch sử ly kỳ của bướm, em thấy bướm càng đẹp. Nét đẹp kín đáo lắm. Không phải nét đẹp bên ngoài mà thôi nhưng là nét đẹp từ cuộc đời của bướm. Nét đẹp từ tháng ngày làm sâu xấu xa, ghê gớm và ngày lột bỏ con người cũ thành cánh bướm lộng lẫy duyên sắc.
Chúng ta cũng có thể bắt chước con bướm lột bỏ từ con người tội lỗi xấu xa, “ Chết đi cho con người tội lỗi và chỗi dậy trong sự phục sinh của Chúa Kitô”. Khi con người phạm tội , chúng ta bị tước quyền làm con Thiên Chúa , mất sự sống đời đời. Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, để rồi phục sinh đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.
Con chuồn chuồn
 Vào một buổi chiều oi ả, nhà đạo diễn B. de Mille tại Hollywood đi du thuyền để đọc sách. Ong rời mắt khỏi quyển sách, nhìn lên mặt nước thấy một đàn con cánh quýt nước đang đùa giỡn, bỗng một chú cánh quýt bò lên mạn thuyền bám chặt vào đó rồi chết. Nhà đạo diễn lại tiếp tục đọc sách, sau 3 tiếng đồng hồ nhìn xuống nơi con cánh quýt đã chết. Ong thật bỡ ngỡ vì con cánh quýt đã khô và chiếc mai của nó bắt đầu nứt ra, từ trong một chiếc đầu ươn ướt, rồi tới những chiếc cánh. Thì ra là một con chuồn chuồn thật đẹp.
Nhà đạo diễn ngạc nhiên ngồi thừ ra quan sát. Con chuồn chuồn bắt đầu cử động đôi cánh duyên dáng rồi lượn trên mặt nước, nơi có những con cánh quýt khác đang nô đùa, nhưng chúng không nhận ra đó chính là con cánh quýt đã nô đùa trước 3 giờ trước đó. Ong đưa ngón tay khẩy nhẹ chiếc vỏ đã khô, giống như một ngôi mộ trống rỗng.
Qua câu chuyện con chuồn chuồn trên đây  chúng ta rút ra bài học :
-Con cánh quýt lột xác để thành con chuồn chuồn đẹp.
-Em cũng phải lột bỏ tội lỗi, tính mê nết xấu để trở thành người con ngoan của Thiên Chúa .
Quyết tâm : từ bỏ tính xấu, tội lỗi và sống tốt theo gương Đức Kitô.
( trích: Giảng lễ CNB- Mark Link, S.J. trang 109 )
 

PS1-38: Suy Niệm của Lm Augustine, S.J

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

TỪ ĐEN TỐI ĐẾN ÁNH SÁNG

Một thanh niên Canada, 23 tuổi, thuật lại cuộc hành trình đưa anh từ khát vọng ma tuý đen tối: PS1-38
Một thanh niên Canada, 23 tuổi, thuật lại cuộc hành trình đưa anh từ khát vọng ma tuý đen tối đến tình yêu mang lại sự sống và ánh sáng cho anh như sau:

Ngay từ nhỏ, tôi đã mang một mặc cảm tự ti nặng nề. Tôi thường đóng kịch để được người chung quanh chú ý vỗ về, tuy nơi thâm tâm tôi vẫn thấy mình gian dối và trống rỗng. Tôi đã chạy đến với ma túy và nhạc kịch động để khỏa lấp nỗi trống vắng. Thế là tôi đã đánh mất tuổi trẻ tươi đẹp khiến cha mẹ tôi phải thất vọng.

Nhưng niềm tin Kitô giáo nơi cha mẹ tôi luôn sống động. Từ nhỏ các ngài đã dạy tôi tâm sự với Chúa Kitô. Các ngài vẫn tiếp tục cho tôi cơ hội để làm việc đó.

Một buổi tối, tôi đang lao mình vào nơi ăn chơi thường ngày, bỗng cha mẹ tôi đến, Cha tôi nói với tôi:

- Thường vào giờ này, bố mẹ đi dự buổi cầu nguyện chung. Nhưng tối nay bố mẹ thấy sự hiện diện của bố mẹ cần thiết cho con. Nếu con bằng lòng trở về gia đình, bố mẹ sẽ lo đủ mọi điều cho con.

Nghe Thấy Chúa Nói Nơi Thâm Tâm

Tôi suy nghĩ về những lời cha tôi vừa nói. Nơi thâm tâm, tôi nghe thấy tiếng Chúa nói với tôi: "Nếu con muốn thoát khỏi xiềng xích của ma quỉ, phương thuốc chữa trị tốt nhất là trở lại với mái ấm gia đình. Con hãy nghe lời chỉ dạy của cha con."

Thế là tôi đã trở về nhà.

Nhưng chấm dứt một thói quen đâu phải là chuyện dễ. Tôi nghĩ như vậy nên cuối cùng lại trở về với nếp sống buông thả như cũ.

Một hôm tôi đi chơi về khuya lắm. Tôi mở cửa vào nhà thì gặp mẹ tôi; người nhìn tôi với nét mặt lo âu nhưng rất hiền. Mẹ tôi không la rầy mà chỉ nói cho tôi biết bà đang chờ tôi về. Lúc ấy, tôi như kẻ mất hồn, không trả lời, cũng không lưu tâm đến tình thương người dành cho tôi.

Đặc biệt nhất là lần kia tôi về khuya mà thấy cha mẹ tôi đang cầu nguyện. Tôi nghe thấy cha tôi đang nói chuyện với Chúa về tôi. Tự nhiên tôi bị đánh động do tình thương mà cha mẹ tôi dành cho tôi. Quả thật, hôm đó tôi như bị tiếng sét của tình thương quật ngã. Tôi thâm tín rằng Chúa đã dùng cha mẹ tôi để chinh phục tôi.

Thế là tôi được ơn dứt khoát với tội lỗi và với quá khứ của mình. Tôi móc túi cầm trong tay số lượng cần sa trị giá 1000 đô la. Tôi không ngần ngại liệng số cần sa đó vào đống rác. Tôi nhận được ơn thâm tín rằng khoảng trống nơi tâm hồn tôi chỉ có thể được lấp đầy bằng tình yêu của Thiên Chúa mà tình yêu ấy tôi đã từng thoáng thấy nơi cha mẹ tôi.

Câu chuyện vừa kể về người thanh niên 23 tuổi bỏ nghiện ngập ma tuý xem ra chẳng ăn nhằm gì với bầu khí của niềm vui Phục Sinh. Xem ra các môn đệ cần được chính Chúa Phục Sinh hiện ra các ông mới được vui mừng (Ga 20,20).

Nhưng Tin Mừng của Gioan còn nói đến niềm vui trọn vẹn nhờ "Cứ xin, anh em sẽ được" (Ga 16,24), nhờ cậy dựa vào danh Đức Giêsu. Cha mẹ người thanh niên trong câu chuyện nói trên không những dạy con mình tâm sự và cầu xin cùng Chúa Kitô, mà chính các ngài đã kiên trì cầu nguyện với con và cho con. Và việc kiên trì này đi đôi với những dấu chỉ của lòng yêu thương dịu hiền của các ngài, đã tạo nên biến chuyển nơi nội tâm người con. Các ngài như được thấm nhuần điều Chúa Giêsu dạy các môn đệ là "Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5).

Giáo Hội Thao Thức Đi Tìm Chúa

Riêng Tin Mừng của đại lễ Phục Sinh hôm nay, theo Gioan, là Tin Mừng của một Giáo Hội thao thức cùng nhau đi tìm Chúa Phục Sinh ngang qua những dấu chỉ mà Người để lại, như những băng vải hoặc khăn che đầu (cc.6-7).

Tác giả Gioan là con người chiêm niệm. Ngay ở lời tựa, Gioan đã cho thấy "Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa" (Ga 1,1). Đấng Thiên Chúa ấy đã trở nên người phàm và ở giữa chúng ta (c.14) để những ai đón nhận Người thì Người cho họ "quyền trở nên con Thiên Chúa"(c12). Họ không trở nên một cách riêng lẻ nhưng trở nên một đoàn chiên duy nhất dưới sự chăm sóc của một mục tử duy nhất (Ga 10,16). Sẽ luôn có những người được giao phó trách nhiệm để chăm sóc đoàn chiên với Người đứng đầu là Simon Phêrô (Ga 21,15-16).

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy ảnh hưởng qua lại giữa các thành viên trong Giáo Hội ngay từ buổi sơ khai. Nhưng sự sống xuyên qua họ do đâu mà có và khiến họ trở nên những con người như thế nào?

- Như đã nói, sự sống đó do Ngôi Lời Thiên Chúa ban nhưng không mà thôi, tức là do chính Ngôi Lời Thiên Chúa trở nên người phàm khi được loài người đón nhận (Ga 1,12) trong tình bạn thiết nghĩa liên vị (Ga 1,35-51).

- Sự sống đó chính là tình yêu mà Đấng Thiên Chúa làm người dành cho những kẻ thuộc về mình: "Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng." (Ga 13,1).

- Lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên thập giá là "Mọi sự đã hoàn tất" (Ga 19,30). Liền sau đó, Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (Ibid). Ở đây Gioan dùng từ Pneũma để nói rằng qua cái chết của Người, Người thông ban cho nhân loại Thần Khí của Người là Đấng thực hiện công cuộc tạo thành mới. Chính Thần Khí này tác động làm nên Giáo Hội.

- Thần Khí của Chúa Phục Sinh tác động như thế nào để làm nên Giáo Hội? Tác động đó xem ra quá đơn giản và bất ngờ qua những con người như Maria Mácđala, như Gioan hay như Phêrô.

Maria chỉ là người bình thường muốn tỏ lòng quí mến Thầy Giêsu, nên mang thuốc thơm tới bổ túc cho việc xức xác Thầy mới được thực hiện ba hôm trước đó. Cô thấy tảng đá che mộ đã được lăn ra một bên nên vội về đưa tin cho hai ông Phêrô và Gioan.

Cả ba nhân vật đều cho thấy một Giáo Hội sơ khai còn sững sờ trước cái chết của Thầy Giêsu. Cái chết đó kể như chấm dứt luôn những hy vọng mà họ đặt ở nơi Thầy. Họ đi tìm xác Thầy đã chết. Còn Thiên Chúa cho họ đụng chạm tới thực tại thật lớn lao là Thầy vẫn còn sống và hành động ngang qua họ.

Đi tìm những Dấu Chỉ Hữu Hình Về Thiên Chúa Vô Hình

Sự sống của Giáo Hội mẹ ở việc đi tìm những dấu chỉ hữu hình về một Thiên Chúa vô hình. Người vẫn có đó nhưng các thành viên của Giáo Hội phải liên đới với nhau trong việc tìm kiếm Người trong cầu nguyện và trong hành động. Nếu Maria Mácđala không tới mộ, cô sẽ chẳng biết ngôi mộ ấy đã bị bỏ trống. Phêrô và Gioan cũng không được thúc đẩy để chạy đi tìm kiếm Thầy Giêsu. Các băng vải và khăn che đầu Thầy Giêsu vẫn nằm nơi mộ. Chúng cũng không có cơ hội nhắc nhở các ông về Kinh Thánh là điều phải khơi dậy nơi các ông niềm tin mà các ông phải có. Niềm tin ấy phải trở nên sinh động đối với Chúa Phục Sinh (c.9).

Cũng vậy khi áp dụng với "Giáo Hội nhỏ như một tế bào" là gia đình của người thanh niên 23 tuổi trong câu chuyện nói trên. Anh cũng như bố mẹ anh đều thuộc về Chúa Giêsu nhờ bí tích Thánh Tẩy. Cả ba người đều đã nhận được Thần Khí của Chúa. Chính nhờ Thần Khí đó bố mẹ anh mới có thể dạy anh tâm sự với Chúa Kitô: "Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải" (Rm 8,26).

Tiếng Sét Tình Thương Quật Ngã Người Thanh Niên

Nơi bố mẹ người thanh niên, điều này hay điều kia xem ra chỉ là chuyện bình thường. Một cái nhìn quan tâm của người mẹ chờ con về mà không la rầy. Những lời cầu nguyện chân thành của người bố về con và người con nghe được… Điều lạ lùng là chính Chúa đã dùng những thứ bình thường ấy như tiếng sét tình thương để "quật ngã" người thanh niên nghiện ngập. Và khi anh chỗi dậy, anh liền được tự do đáp lại tình thương của Chúa và của cha mẹ anh!

Biết bao là những điều bình thường như vậy trong đời sống thường ngày của người môn đệ Chúa Giêsu! Họ chỉ cần hồi tâm để Lời Chúa làm cho chúng trở nên dấu chỉ về sự hiện diện của Đấng Phục Sinh luôn ở với họ!

Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn nghĩ gì về hình ảnh dễ thương của người mẹ chờ con về khuya mà không la rầy hoặc của người bố thưa chuyện với Chúa về con mà người con nghe được? Bạn nghĩ điều gì tiềm tàng về tự nhiên và siêu nhiên nơi người mẹ, người bố và nơi người con trong câu chuyện?

2. Vaticanô II dạy rằng "Đức Kitô được Cha sai đến vừa là nguồn suối vừa là nguồn gốc của mọi việc tông đồ của Giáo Hội" (AA2). Bạn nghĩ điều đó được áp dụng như thế nào với bài Tin Mừng cũng như với các nhân vật trong câu chuyện nói trên?

 

PS1-39: ÁNH LỬA PHỤC SINH - Lm Bùi Quang Tuấn CSsr

Nếu cuộc đời của Đức Kitô bị chấm hết bằng cái chết thì quả đó là một thất bại ê chề, không: PS1-39
Nếu cuộc đời của Đức Kitô bị chấm hết bằng cái chết thì quả đó là một thất bại ê chề, không hơn không kém. Thất bại vì không cứu được nhân loại. Thất bại vì phải chết nhục nhã dưới bàn tay con người. Chắc hẳn, sau khi đóng đinh Đức Giêsu lên thập giá, các trưởng tế và biệt phái đang dương dương nắm chắc phần thắng khi niêm phong cửa mồ với thân xác vô hồn của Ngài trong đó. Bao niềm mong đợi, tin tưởng của các môn đệ dường như cũng bị chôn sâu vào huyệt đá.

Thế nhưng, ngày thứ ba, sau hôm các tử tội bị xử tử, lúc trời vừa chớm sáng, Maria Magđalêna, kẻ được Đức Giêsu cải hoá cuộc đời, đã vội đi thăm mộ người ân nhân vĩ đại nhưng vắn số của mình. Nỗi xót xa thương tiếc thúc đẩy nàng ra bãi tha ma, khóc than cho niềm hạnh phúc quá ngắn ngủi. Ước mong của nàng là làm sao lăn được tảng đá lấp mồ, ướp chút hương trầm trên thân xác Giêsu, Đấng đã cứu mình khỏi vũng lầy tội lỗi.

Nhưng kìa, quân canh đâu rồi? Mồ trống. Xác Thầy biến mất. Chỉ còn các tấm khăn liệm được xếp lại để đó. Sững sờ. Hoảng hốt. Maria chạy ào về báo tin cho Phêrô và Gioan. Lập tức hai ông chạy bay ra mồ. Nét âu lo lộ trên khuôn mặt hai ông. Chuyện gì đã xảy ra? Phải chăng người Do thái không thoả mãn với cái chết tàn khốc trên thập giá của Đức Giêsu nên đã đánh cắp luôn xác Ngài để thủ tiêu? Hay có môn đệ nào đã lấy trộm xác lúc các lính canh đang ngủ? Nếu thế thì vô lý quá. Người ta đã cẩn thận niêm ấn cửa mồ và cho quân canh gác xung quanh cơ mà. Với lại, nếu ngủ thì làm sao biết được những kẻ trộm xác là các môn đệ? Nếu biết tại sao lại không ra tay ngăn lại?

Nhưng rõ ràng là chẳng có dấu hiệu nào của trộm xác. Các giây vải, khăn che mặt đều được sắp xếp gọn gàng. Tấm khăn liệm bó mình Đức Giêsu vẫn còn đó. Vị trí không có gì thay đổi như lúc táng xác. Nhìn vào thì trông như thân thể Đức Giêsu đã bị bốc hơi khỏi tấm khăn. Không có dấu hiệu gỡ ra.

Phêrô bước vào mộ và thấy như vậy. Gioan, người đến mộ trước nhưng vào sau, cũng thấy như thế. Nhưng Thánh kinh ghi nhận phản ứng của Gioan: "Ông đã thấy và ông đã tin" (Ga 20:8).

Gioan đã tin gì? Phải chăng ông tin các lời tiên báo phục sinh của Đức Giêsu đã thành sự?

Chắc hẳn ngay giây phút "ông thấy" cũng là lúc ông nhớ lại lời nói của Chúa Giêsu sau khi đuổi phường buôn bán ra khỏi đền thờ: "Hãy phá đền thờ này đi, và trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại" (Ga 2:19). Ông còn nhớ nữa điềm lạ của Giona với lời khẳng định của Chúa Giêsu: "Như Giona ở trong bụng cá ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày đêm như vậy" (Mt 12:40). Rồi sau lúc biến hình trên núi Tabo, Đức Giêsu cũng đã căn dặn các ông không được nói lại với ai về chuyện đó, cho đến khi Ngài sống lại từ cõi chết (Mc 9:9).

Chưa hết, trước lúc lên đường về Giêrusalem để dự lễ Vượt qua, Ngài cũng đã nói với 12 môn đệ thân tín: "Này, chúng ta lên Giêrusalem và sẽ hoàn tất cho Con Người mọi điều các tiên tri đã viết. Vì chưng Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại, sẽ bị nhạo báng, hành hạ, khạc nhổ, và sau khi đã đánh đòn Ngài, người ta sẽ giết Ngài, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại" (Lc 18: 31-33). Và mới đây nhất là lời tâmsự của Chúa Giêsu trong buổi tiệc ly: "Hết thảy các ngươi sẽ vấp ngã vì Ta trong đêm nay... Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đi trước các ngươi tới Galilê" (Mt 26: 31-32).

Thế ra điều Gioan xác tín ngay khi bước chân vào mồ chính là: Đức Giêsu đã phục sinh. Niềm tin này không dừng chân nơi ngôi mộ trống, với các dải vải còn nguyên, nhưng tiếp tục được củng cố qua bao lần tiếp xúc ăn uống với Đấng Phục sinh của các môn đệ. Niềm tin ấy kiên cường đến độ các nhân chứng dám loan truyền với tất cả nhiệt tình, thậm chí dám hy sinh đến tính mạng cho niềm xác tín đó.

Thử hỏi có ai ngây dại khi lấy sự sống mình vun bón cho một sự chết. Nhưng nếu chỉ nói đến Chúa Giêsu phục sinh như một sự kiện của ngày hôm qua, và nếu sự kiện đó không gây một tác động chân thực nào trên cuộc sống hôm nay của tôi, thì đó cũng chỉ là một thứ ngây dại không kém.

Thế nên, âm vang của tin mừng Phục sinh phải trở nên động lực chi phối làm bừng dậy nếp sống đức tin của tôi, để rồi nó tiếp tục lan tới tất cả mọi người xung quanh. Điều đáng ghi nhận ở đây: tình yêu phải là động lực làm nên âm hưởng phục sinh.

Nhờ tình yêu nồng nàn dành cho Đức Giêsu mà Maria Magđalêna đã thắng được nữ tính nhút nhát, dám đi ra mồ mả lúc trời còn tranh sáng tranh tối để trở thành người nữ đầu tiên loan báo tin mừng Phục sinh.

Nhờ tình yêu chân thành dành cho Thầy mình mà Gioan đã trở nên người nam đầu tiên, bằng niềm tin, khám phá ra tính chất bất diệt của tình yêu. Tình yêu không thể bị chôn vùi trong huyệt mả của khổ đau, u sầu, thất vọng, nhưng sẽ chảy tràn niềm vui, vinh quang, và sự sống. Tình yêu không thể chết với cái chết mục nát. Trái lại sẽ làm sống lại những gì tan vỡ.

Chính Tình yêu Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu Kitô tử nạn. Và chính Đức Giêsu Phục sinh đã mang lại niềm hy vọng chiến thắng trên mọi khổ đau, chết chóc, thất vọng của con người. Nên chi, mừng Chúa Phục sinh, một lần nữa tôi cầu xin Tình yêu của Ngài tác động và dẫn lối con người trong mọi quan hệ hàng ngày, từ vợ chồng con cái đến bạn bè thân nghĩa, từ gia đình làng xóm đến cộng đoàn xứ đạo. Để rồi như ánh lửa được đốt lên và chuyền thắp đến mọi ngọn nến trong đêm vọng Phục sinh thế nào, người tin vào Chúa Kitô cũng sẽ là ánh sáng do tình yêu Thiên Chúa đốt cháy và thắp lên nơi tâm hồn mọi người như vậy.

 

PS1-40: Suy Niệm của Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Niềm tin kính "Vì loài người chúng tôi" hôm nay hoàn tất trong lịch sử trần thế. Sự hoàn tất đang: PS1-40
Niềm tin kính "Vì loài người chúng tôi" hôm nay hoàn tất trong lịch sử trần thế. Sự hoàn tất đang chín dần trên cõi thế. Lịch sử như là thời gian trải ra, chín dần mầm ơn cứu độ, nên lịch sử cũng bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai. Lịch sử có hướng đi xác định như một vectơ định hướng, ngày càng đi lên và ghi ấn biết bao biến cố mới mẻ.

Đêm Hoài Mong.

Có sự đi lên, có sự chín dần nên có sự hoài mong. Sự hoài mong mang đậm ước mong của dân tộc Israen, một dân đặc thù được tuyển chọn, để chuẩn bị cho một Dân mới, dân Duy nhất của Thiên Chúa hiện diện mọi dân nước trần gian.
Niềm hoài mong của Dân Cựu Ước đã được thực hiện nơi Dân Tân Ước, nhờ Chúa Kytô đã đến thành tựu mọi lời hứa của Thiên Chúa và thực hiện mọi lời sấm của các ngôn sứ. Hình bóng của Cựu Ước nhờ thế có một ý nghĩa đích thực, chung cuộc "để lời Kinh Thánh nên trọn."

Ơn Cứu Độ đã được Chúa Kytô thực hiện trọn vẹn trong Lịch Sử, sở dĩ có sự chín dần mầm ơn cứu độ là đối với từng người qua nhiều thời đại còn mong đợi ơn cứu độ được thể hiện nơi mỗi người và tỏ hiện trong ngày Chúa Kytô lại đến.
Việc mong đợi đó cũng nói lên hành trình còn bóng tối chen lẫn với ánh sáng, lo âu với hy vọng, cần đến ánh sáng đức tin dấn bước. Gợi lại việc mong đợi, Giáo Hội cũng thắp trên niềm hy vọng, củng cố thêm đức tin, hun đúc niềm hân hoan sốt sắng trong đêm tỉnh thức và Đêm hồng ân Cứu thế.

Đêm Tỉnh Thức

Trong Thánh Kinh ý nghĩa Bóng tối không chỉ con người nhưng chỉ lãnh vực xấu thuộc quyền của Satan và những lãnh mãnh vực chống lại Thiên Chúa và Chúa Kytô.

Ở đâu có ánh sáng , ở đấy đêm tối bị đẩy lui và ở đâu có đêm tối ở đấy thiếu ánh sáng. Đêm tối không ưa ánh sáng vì "Ai làm điều ác thì ghét ánh sáng" (Ga 3,20).

Đêm theo nghỉa đen là thời điểm bất trung, tội lỗi của dân Israen quay mặt với Giavê, thi hành những điều trái với Lề Luật, đi ngược lại với Giao Ước mà Thiên Chúa đã ký kết với họ. Trong đêm tuyệt vọng ấy, Thiên Chúa hằng kêu gọi họ trở về và hứa ban lại cho họ "Anh vừng nguyệt sẽ nên như ánh vừng ô, và ánh hừng ô sẽ tăng gấp bảy, như ánh sáng bảy ngày dồn lại, vào ngày Giavê băng bó vết thương cho dân Người và chữa lành những vết đòn hằn của nó." (Ys 30,26). Thiên Chúa đổi thay tự nội tâm cho những người quay về với Người, dù họ đã tả tơi vì điều họ đã xúc phạm nhưng Thiên Chúa đã chữa lành và thêm sức cho những bàn tay rã rượi, tăng cường cho đôi gối đã quỵ ngã. Một tương lai mới mở ra trước mặt, lòng người nao nức đáp lời gọi "Hãy bạt lối, trong chốn hoang giao hãy san bằng ngự lộ cho Thiên Chúa ta thờ. Mọi thung lũng sẽ dâng lên, mọi núi đồi sẽ lún xuống, gồ ghề sẽ thành bình nguyên, lồi lõm sẽ hóa ra đồng bằng." (Is 40, 3-4).

Đêm không còn là đêm tối tuyệt vọng, bởi vì Chúa thương loài người, và cho dầu tội lỗi có vây bủa như đêm đen đi chăng nữa, thì Tình Thương của Người vẫn lớn hơn tội lỗi, công trình Cứu độ của Người vẫn không ngừng đi lên và chín dần theo năm tháng. Thiên Chúa là Đấng mở ngỏ tương lai, đi về phía trước mà quên đi chặng đường đã qua. Thiên Chúa không ngừng làm nên những cái mới. Tương lai mới dường như là một bài ca khải hoàn được hát lên từ những đổ vỡ, nay được dựng xây lại, và xác tín Thiên Chúa Cứu Độ cũng chính là Thiên Chúa Sáng tạo, luôn làm ra những cái mới, mở ra một cuộc xuất hành mới, đưa dân trở về lại với Yérusalem mới.

Là xuất hành mới nên đêm còn là đêm tỉnh thức, đêm Thiên Chúa giải cứu, đêm đưa dân ra khỏi Babylon, chốn tối tăm của dân nô lệ. Đêm của Thiên Chúa dùng Kyrô như khí cụ Giavê. "Ai đã cho chỗi dậy từ Phương Đông kẻ mà chính nghĩa hoan hô mọi nước? Trước mặt nó Người nộp các nước, Người cho nó chà đạp các Vua". (Ys 41,2) Đêm chờ đợi còn nhiều khiếp sợ vì bình minh chưa đến, nhưng khi tỉnh thức trong đêm họ được Thiên Chúa đáp cứu, phù hộ, quyền lực của đêm đen không còn làm gì được họ và nay "chúng sẽ phải xấu hổ thẹn thuồng, mọi kẻ giận dữ với ngươi, chúng sẽ ra như không và phải diệt vong những người gây hấn với ngươi" (Ys 41,11). Đêm tỉnh thức "đừng sợ vì có Ta ở với ngươi, chớ hãi, vì Ta là Thiên Chúa của ngươi" (Ys 41, 10).

Đêm tỉnh thức sẽ hướng tới ngày loan báo "Đêm này kể với đêm kia" TV 18 tường thuật vinh quang Thiên Chúa, Đấng đã tác thành trời đất và trong niềm hân hoan của người loan báo "Đẹp thay trên các núi non, chân người sử giả, kẻ loan báo bình an, kẻ loan Tin Mừng, kẻ loan báo ơn Cứu Độ, kẻ nói với Sion: "Ngươi đã làm Vua, Thiên Chúa ngươi thờ" (Is 51,7)
Như đêm chong đèn chờ trời sáng, đêm của lính canh mong chờ hừng đông, đêm mong đợi ơn cứu chuộc của dân Israen. Sau những hình phạt và những tội bất trung của dân, chưa phải là tiếng nói sau cùng của Thiên Chúa, Người hứa ban cho một số sót còn lại sau những thử thách, là những mầm mống dân Thánh được hứa ban và Đấng Messia là Vua của họ. Đêm của thử thách sẽ qua, xin cho chúng con cũng vững tin vượt qua đêm hành trình trong tỉnh thức.

Đêm Hồng Ân

Đêm cũng là thời gian yên tĩnh, để phục hồi sức lực. Đêm của thời gian tích lũy, tăng cường sự chờ đợi và đóng góp vào việc phát triển. Đêm của Thiên Chúa tụ họp đoàn dân tản mác của Người, chính tay Người dẫn dắt và cho nghỉ ngơi bổ sức. Đêm Thiên Chúa kết giao bình an với dân của Người, Đêm không còn là đêm hoành hành của thú dữ, nơi rừng rú chúng cũng ngủ được." (Ed 34)

Đêm còn là thời gian chờ đợi của tân nương: Dân Israen còn được coi là tân nương được Thiên Chúa cưới về vì Tình Yêu của Người. "Vì ngươi cũng như thân gái bỏ rơi, lòng dạ bời bời khi Người gọi ngươi. Nhưng nào ai nỡ rẫy từ người vợ cưới lúc thanh xuân , Yavê Thiên Chúa của ngươi đã phán. Ta đã bỏ ngươi trong chốc lát nhưng Ta sẽ thâu họp ngươi lại bởi lòng thương xót bao la" (Is 54, 6-7). Thiên Chúa đã đặt cheo sính lễ "Ta sẽ đính hôn với ngươi mãi mãi, Ta sẽ đính hôn với ngươi bằng công chính, công minh, nhân nghĩa, xót thương." (Hs 2, 21).

Các điều ấy là những thái độ Israen phải có như một dân Giao Ước, để Thiên Chúa đính hôn mãi mãi. Hôn lễ ấy Thiên Chúa đã thực hiện trong đêm tỉnh thức của các mục đồng canh giữ chiên, họ được thiên thần loan báo "Này ta đem Tin Mừng cho các ngươi về một niềm tin to tát, tức là niềm vui cho toàn dân là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kytô Chúa "trong thành của Đavít" (Lc 2,10-11). Đêm Thiên Chúa đưa dân của Người ra khỏi Ai Cập và cũng là đêm Thiên Chúa đưa dân Người ra khỏi thân phận nô lệ tội lỗi.

Đêm là khởi đầu cho ngày mới. Cũ đã qua kìa ngày mới đang thành sự, những tang thương sầu khô đã nảy mầm hân hoan, chốn u sầu đã thành nơi đại hội, thành nhỏ bé nay đã nức tiếng hoan hô. (Mc 5, 1), người đau khổ nay đã được vui mừng vì điều chờ đợi nay Thiên Chúa đã thành tựu. "Lời đã thành xác phàm và đã lưu trú nơichúng tôi., và "Vì loài người chúng tôi, và để cứu rỗi chúng tôi".

Sứ điệp không còn bằng lời nữa, nay đã đích thân và hữu hình trong Con Một tự nơi Cha đã làm người ở giữa nhân loại. Sứ điệp cao trọng và viên mãn loan báo nơi Chúa Con được Chúa Cha sai đến để ai tin vào Con Thiên Chúa thì được trở nên con cái Thiên Chúa.

Một vinh quang xưa kia vô hình (Xh 33,20) bây giờ lộ diện ngang qua nhân tính của Con Thiên Chúa (Ga 2, 11 & 3, 12) mạc khải lòng nhân nghĩa và sự trung tín Chúa Cha. (Xh 34, 6 ; Hs 2,22).

Đêm Mẹ của mọi Đêm.

Đêm được Mặt trời công chính chiếu rọi, không còn là đêm nữa, bình minh đã rạng soi "Mặt trời của ngươi sẽ không lặn và mặt trăng sẽ không còn khuyết vì Giavê sẽ là ánh sáng vĩnh tồn của ngươi và sẽ chấm dứt những ngày tang tóc của ngươi" (Is 60, 20). Người đã đến hoàn tất lời hứa của Thiên Chúa và các lời sấm của ngôn sứ, ngày mới đã thành tựu trong Con Một Thiên Chúa. "Người là Anh sáng đích thật sáng soi cho mọi người" (Ga 1, 9). Người là Chúa Kytô, Đấng Mạc Khải độc nhất về Cha, vì Người là Con (Ga 3, 11), thế gian nhờ Người mà được cứu " (Ga 3, 17).

Đêm đã qua đi vĩnh viễn và ngày đã là vĩnh hằng, những ai còn trong tối tăm thì chịu án xử "bởi chưng ai làm Sự Dữ thì ghét Sự Sáng, không đến với Sự Sáng, kẻo bị bắt lỗi về các việc của mình" (Ga 3, 20).

Hãy hân hoan trong đêm hồng phúc này, như lời tụng ca Exsultet vang lên trong đêm Thiên Chúa giải thoát. Thiên Chúa vì quá yêu thương loài người, tội lỗi, quyền lực tăm tối bị đẩy lui. Tội của con người lỗi phạm, trở nên tội hồng phúc. Huyền nhiệm sẽ ngất ngây bởi Tình thương của Chúa làm say ngất tâm hồn.

Đêm diễm phúc, đêm của mọi đêm báo trước ngày hừng sáng, Thiên Chúa vì yêu thương loài người đã tự phó nộp chính Con Duy Nhất của Người làm giá chuộc tội chúng ta.

Hãy Mừng Vui Lên !

Hãy hân hoan, hãy vui mừng Thiên Chúa đã yêu thương loài người chúng ta. Hãy kín múc tận nguồn ân sủng, hãy bước đi trong ánh sáng vì ngày mới đã xuất hiện. Hãy Vui lên và reo hò lên mừng Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Hãy làm cho môi miệng này tràn ngập những lời, vang lên câu tán tụng và vẫn là "chưa bưa chưa đã được chí muôn sao". Hãy tán tụng bằng tất cả các âm điệu của trần thế, bằng tất cả những hỷ hoan trong ngày Chúa đoái thương, bằng những nhạc điệu trầm bổng và những Thánh Ca cùng Thánh Vịnh. Mừng vui lên !

Mừng vui lên, từ nay nhân loại bước đi không chỉ còn nhìn thấy dấu chân riêng của mình, cho dầu lịch sử có nhiều bóng tối như thế nào chăng nữa, ngày mới, ngày ánh sáng đã ló dạng bình minh. Mừng vui lên, Hãy đàn ca lên, hãy reo hò lên bởi lịch sử mới đã xuất hiện và ngày mới đã bắt đầu.

Hãy vui mừng, hãy hân hoan trong ngày Thiên Chúa giải thoát, từ nay nhân loại đã và đang vội vã đi về lòng Chúa yêu thương. Cái vội vã của những khám phá khi Chúa làm nên những cái mới, khi chính Người là Đấng Mới. Mừng vui lên, đừng ôm sầu lẻ bóng, đừng hát lại bản tình cũ, sống cuộc đời cũ nữa làm chi. Hãy đi về phía trước như bóng đêm không còn bao phủ khi bình minh ngày mới bắt đầu. Hãy vui mừng luôn trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta.

Lạy Chúa, Đêm thật diễm phúc được long trọng hát lên bài hát Exsultet. Mừng vui khôn tả, đọng trên từng đôi môi, vọng trong từng câu hát, thấm từ sâu trong tâm hồn lời tán dương Thiên Chúa: "Vì loài người chúng tôi".

Xin cho con biết được một lần cúi đầu trước tình Thương của Người, để cuộc đời của con nhận ra chính Người là Đấng Cứu Độ con.

Xin cho con mọi ngày sống trong hồng ân cứu độ của Chúa.

 

PS1-41: SỨ ĐIỆP GỬI QUA CÁC PHỤ NỮ

Trong nghi thức vọng Phục sinh, khi vị linh mục cất cao lời hát : Vinh danh Thiên Chúa trên các: PS1-41
Trong nghi thức vọng Phục sinh, khi vị linh mục cất cao lời hát : Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, thì lập tức đèn nến được thắp sáng trên bàn thờ và chuông trống được vang lên vui mừng rộn rã. Sau đó vị linh mục chính thức công bố tin mừng. Phục sinh bằng cách hát ba lần câu Alleluia. Nếu suy nghỉ về sứ điệp phục sinh mà Đức Kitô muốn gửi đến, chúng ta sẽ hiểu được tại sao Giáo hội lại hân hoan mừng rỡ như thế. sứ điệp chúng ta cùng nhau chia sẻ sáng hôm nay là sứ điệp nơi những người phụ nữ đạo đức và thánh thiện.
Vào tờ mờ sáng ngày thứ nhất trong tuần, khi mọi người còn đang ngủ yên, các bà đã vội vả tới mộ để xức thuốc thơm cho thi thể Chúa. Tâm hồn các bà nặng trĩu một nỗi buồn, như tảng đá đã lấp kín cửa mộ. Nhưng rồi sự gì đã xảy ra ? Từ đàng xa, các bà đã nhìn thấy tảng đá được lăn qua một bên. Các bà hối hả chạy tới và nhìn vào trong : ngôi mộ hoàn toàn trống trơn. Và rồi một thiên thần ngồi trên phiến đá đã chào và nói với các bà bằng một giọng tươi vui : này các bà đừng sợ. Tôi biết các bà tìm Đức Kitô bị đóng đánh. Ngài không còn ở đây nữa. Ngài đã sống lại như lời Ngài đã phán. Hãy đến và nhìn xem chỗ Ngài đã nằm.
Với những sự kiện trên, sứ điệp Đức Kitô muốn gửi đến các bà và qua các bà đến với mỗi người chúng ta là gì ? Trước hết chúng ta thấy rằng : các bà chỉ muốn đến mộ để xức thuốc thơm cho thi thể Chúa, nhưng Chúa lại không bỏ qua một hành động phục vụ nào mà chẳng có phần thưởng cân xứng. Và phần thưởng Chúa dành cho các bà, đó là tin mừng phục sinh, một tin mừng lạ lùng nhất trong lịch sử nhân loại. Các bà đã muốn chăm sóc cho thân xác Chúa, thì giờ đây Chúa cũng muốn chúng ta chăm sóc cho thân xác Ngài, sống động trong tâm hồn chúng ta cũng như trong tâm hồn người khác.
Trước hết đó là phải xa tránh tội lỗi, vì tội lỗi làm cho tâm hồn  chúng ta trở nên nhơ bẩn, đồng thời tội lổi còn như giết chết Chúa Giêsu  một lần nữa.
 Tiếp đến là hãy dùng lời nói và việc làm để dẫn đưa người khác trở về cùng Chúa. Đồng thời hãy có những hành động bác ái yêu thương để có được một sự giúp đỡ cụ thể cho những người chung quanh. Vì mỗi người chúng ta là một chi thể trong thân thể màu nhiệm của Đức Kitô, nên mỗi khi chúng ta chăm sóc cho ai là chúng ta đã chăm sóc cho chính Chúa vậy.
Biến có phục sinh phải là một động lực thôi thúc chúng ta làm việc tông đồ bằng những hành động bác ái yêu thương, để cuộc sống của chúng ta sẽ là một dấu chứng cho tin mừng phục sinh. Và như thế làm việc tông đồ bà truyền bá phúc âm cũng là sứ điệp Đức Kitô phục sinh muốn gửi đến chúng ta qua trung gian cảa các bà.
Thực vậy, sứ thần đã truyền cho các bà : hãy đi báo tin cho các môn đệ và cho Phêrô biết rằng Thầy sẽ đến Galilêa trước các ông. Qua đó, chúng ta thấy các bà là những vị tông đồ đầu tiên rao giảng tin mừng phục sinh. Đúng thế, tin mừng phục sinh, tin mừng cứu độ không phải là một đồ vật quí giá, chúng ta lo cất giấu cho riêng mình, để nó khỏi bị hư hao và mất mát. Trái lại, đã là một tin mừng, chúng ta có bổn phận phải sống, phải loan truyền, phải chia sẻ cho người khác. Đó cũng là lệnh truyền cuối cùng mà Chúa đã trao phó cho các môn đệ trước khi về trời : các con hãy đi rao giảng tin mừng cho muôn dân. Ai tin và chịu phép Rửa tội thì sẽ được cứu rỗi.
Việc tông đồ truyền giáo không phải chỉ là một việc làm độc quyền được dành riêng cho các linh mục và tu sĩ, nhưng phải là một việc chung mà mỗi người chúng ta đều có bổn phận góp phần vào đó. Và như chúng ta đã biết : những người đàn bà đạo đức đã hối hả chạy về báo tin cho Phêrô và các môn đệ. Để rồi sau đó, trong ngày lễ Hiện xuống, Phêrô và các môn đệ đã chính thức và mạnh dạn phổ biến tin mừng ấy cho mọi người thuộc mọi dân nước.
Đức Kitô phục sinh đã trở nên trung tâm điểm cho mọi lời rao giảng, cũng như cho mọi hoạt động của các ông. Và thậm chí các ông còn sẵn sàng chấp nhận cái chết để làm chứng cho tin mừng ấy.
Chúng ta cũng thế, là một phần tử trong gia đình, chúng ta có bổn phận phải góp phần xây dựng niềm hạnh phúc chung. Là một chi thể trong nhiệm thể Đức Kitô, chúng ta có bổn phận phải góp phần cho nhiệm thể ấy được lớn mạnh bằng cách dẫn đưa người khác trở về với Ngài.
Chăm sóc cho thân xác Đức Kitô bằng cách giữ gìn tâm hồn mình luôn trong sạch, xa tránh mọi tội lỗi, cũng như giúp đỡ những người anh em bằng những hành động bác ái yêu thương, đồng thời loan báo tin mừng phục sinh cho những người chúng ta có dịp tiếp xúc, đó chính là sứ điệp đầu tiên, Đức Kitô phục sinh muốn gửi cho các phụ nữ, và qua các bà, gửi đến cho mỗi người chúng ta. Thế nhưng, chúng ta đã đón nhận và thực thi sứ điệp ấy hay chưa ?
 

PS1-42: Câu hỏi gợi ý:

Nếu Đức Kitô không sống lại, thì ai dám tin Ngài là Con Thiên Chúa? Cốt tủy của niềm tin Kitô: PS1-42
  1.       Nếu Đức Kitô không sống lại, thì ai dám tin Ngài là Con Thiên Chúa?  Cốt tủy của niềm tin Kitô giáo là gì?
  2.       Có những chứng cứ nào đáng tin làm cơ sở cho niềm tin của chúng ta vào sự sống lại của Đức Kitô?
  3.       Nếu chúng ta tin chắc Đức Kitô đã thật sự sống lại, đời sống chúng ta phải thế nào?
Suy tư gợi ý:
Đức Kitô chết, nhưng đã sống lại. Đó là niềm tin căn bản của người Kitô hữu. Vì «nếu Đức Kitô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là vô ích» (1 Cr 15, 14). Nói cách khác, cho dù có Đức Kitô, nhưng nếu Ngài không sống lại, thì sẽ không có Kitô giáo, vì người ta không có một bằng chứng cụ thể và chắc chắn nào để tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Nhưng nếu đích thực Ngài đã sống lại từ trong kẻ chết đúng như Ngài đã tuyên báo nhiều lần, thì chúng ta phải kết luận rằng những điều Ngài nói về thần tính của Ngài là xác thật. Vì nếu Ngài chỉ là thường nhân, và những điều Ngài xác nhận về thần tính của Ngài chỉ là bịp bợm, thì chắc chắn Thiên Chúa sẽ không bao giờ cho Ngài sống lại, vì «Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của người thì Người nhậm lời kẻ ấy» (Ga 9, 31).
Vậy, vấn đề mấu chốt là: Ngài có sống lại hay không? và chúng ta dựa vào đâu để xác quyết rằng Ngài đã sống lại? Chúng ta cần phải nắm vững những chứng cứ để củng cố niềm tin căn bản của chúng ta.
  1.       Chứng tá của các tông đồ
Các tông đồ là những người đã sống đồng thời với Đức Kitô, bên cạnh Đức Kitô. Các ông đã làm chứng suốt cuộc đời rằng Đức Kitô đã chết, nhưng 3 ngày sau đã sống lại và đã hiện ra với các ông. Các ông đã sẵn sàng chịu đau khổ và chịu chết vì lời chứng đó.
Không ai ngu dại đến nỗi sẵn sàng hy sinh cả đời mình để rao giảng và nhất là lại sẵn sàng lấy đau khổ và cái chết của mình ra để làm chứng cho một người nói dối hay nói sai: vì Đức Kitô đã tiên báo trước đó khá lâu rằng Ngài chết được 3 ngày sẽ sống lại.
Nếu Ngài không sống lại như Ngài đã nói trước thì khó có thể nghĩ được rằng những kẻ vốn nhát đảm như các tông đồ lại có thể can đảm mạnh dạn rao giảng về Ngài và coi việc chết vì Ngài như một vinh dự. Hãy nghĩ lại sự hèn nhát của các tông đồ khi Đức Kitô bị bắt: các ông trốn sạch, thậm chí đã chối Thầy, mặc dù trước đó đã thề thốt nặng lời rằng sẽ không bao giờ bỏ Thầy ([1]). Sự hèn nhát đó có nguyên nhân của nó, vì các ông tuy đã tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Mêsia vì nhiều dấu chỉ và chứng cớ khá rõ, nhưng chưa xác tín, vì chưa có chứng cớ nào đủ mạnh. Chỉ có sự sống lại đích thật của Đức Giê-su mới có thể giải thích việc các ông trở nên can đảm một cách nhanh chóng như thế.
  1.       Các tông đồ có thể ngụy tạo việc Chúa sống lại chăng?
Việc các tông đồ ngụy tạo quả là khó tin. Các ông đều là những ngư dân dốt nát, nhát đảm, lẽ nào lại có khả năng qua mặt được các kinh sư, luật sĩ, là những người trí thức và khôn ngoan. Việc tạo ra một huyền thoại hết sức khó tin nhưng lại được vô số người tin như thế, mà cho tới nay người ta vẫn chưa thể chứng minh là phi lý, không phải chuyện đơn giản mà những người dốt nát như các tông đồ có thể làm được. Vả lại, nếu đó là huyền thoại thì việc tạo ra huyền thoại này đã hoàn tất trong một thời gian kỷ lục: chưa đầy 10 năm ([2]).
Việc những con người đơn sơ chất phác tạo ra một huyền thoại một cách hết sức thông minh, để rồi sẵn sàng chết vì huyền thoại ấy, là điều hết sức khó chấp nhận.
  1.       Lính canh mồ
Vì việc Đức Kitô tuyên bố Ngài sẽ sống lại tới tai những người chủ mưu giết Ngài, nên họ đã đề phòng việc các môn đệ Ngài duy nhất đánh cắp xác của Ngài. Vì thế, họ đã xin Philatô cho lính đến mộ để canh gác (xem Mt 27, 62-66). Và sau khi Đức Giêsu sống lại, các thượng tế đã bảo họ: «Các anh hãy nói thế này: ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự» (Mt 28, 13-15).
Chuyện phao tin là các tông đồ đến đánh cắp xác Đức Giêsu thật phi lý. Khi Ngài bị bắt mà các ông đã sợ hãi trốn mất, thậm chí khi nghe các phụ nữ báo tin Ngài đã sống lại, các ông vẫn còn sợ hãi đến độ vào buổi chiều ở trong nhà mà phải đóng kín cửa vì sợ người Do Thái (xem Ga 20, 18-19). Nhát như thế thì có gan đâu mà dám ăn trộm xác Ngài khi có lính canh với độ cảnh giác rất cao (vì đã được báo trước để đề phòng). Vả lại, kỷ luật của quân đội đế quốc Rôma rất nghiêm khắc, canh phòng không kỹ lưỡng hoặc ăn hối lộ để sổng mất người phải canh giữ thì chỉ có nước bị tử hình ([3]).
  1.       Mồ trống và khăn liệm để lại
Sự kiện mồ trống chứng tỏ xác Đức Kitô không còn ở đó: hoặc một là do Ngài đã sống lại, hoặc hai là do có người đem đi, hoặc ba là do một trận động đất nào đó nuốt xác Ngài như có nhiều người giả thiết ra để bác bỏ sự kiện sống lại. Nhưng sự kiện khăn liệm Ngài còn để lại đã bác bỏ hai giả thuyết sau ([4]). Nếu có ai đó đem xác Ngài đi thì chắc chắn trong hoàn cảnh lén lút và gấp rút, người ấy sẽ phải đem cả khăn liệm Ngài đi. [5] Còn nếu có trận động đất thì quả là khó hiểu nếu đất nuốt thân xác Ngài mà lại chừa không nuốt khăn che đầu và băng vải quấn chung quanh.
  1.       Sự thành thật và kín đáo của các nhân chứng
Sự ngay thật của những người viết Tin Mừng bộc lộ qua sự kín đáo khi nói về sự sống lại và các cuộc hiện ra của Đấng Phục Sinh. Mátthêu dành ra 2,4% Phúc Âm của mình, Luca 3,6%, Máccô 4,5%, và Gioan 6,1%. Việc Đức Kitô sống lại là cốt lõi của Tin Mừng mà các tông đồ muốn loan báo, thế mà số trang dành cho biến cố này quá ít ỏi. Chính vì khi ngay thật, người ta không thêm thắt vẽ vời!
Các thánh sử không đả động gì đến thời điểm Đức Kitô sống lại và cách Ngài ra khỏi mồ, đơn giản chỉ vì các ông không được chứng kiến. Các bài tường thuật hết sức đơn giản, không mở đầu bằng một tuyên bố ầm ỹ về biến cố xảy ra. Nếu là ngụy tạo, không ai lại để cho người làm chứng đầu tiên là một phụ nữ như Maria Mađalêna. Thời đó, chứng từ của một phụ nữ dường như không có giá trị, nhất là khi phụ nữ đó đã từng là gái điếm, đến nỗi phụ nữ không được gọi ra làm chứng trước tòa án. Và nếu là ngụy tạo, có lẽ số lần Đức Giêsu hiện ra với các tông đồ sẽ nhiều hơn để gây niềm tin. Nhưng các thánh sử chỉ thuật lại có 5 lần Ngài hiện ra trong một thời gian dài tới 40 ngày từ lúc sống lại tới ngày lên trời.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu, con tin thật Chúa đã sống lại, và con sẵn sàng làm chứng trước mọi người về điều đó. Nhưng điều hết sức quan trọng là xin Chúa hãy sống lại trong tâm hồn con, để tâm hồn con tràn đầy tình yêu, sức sống và sức mạnh của Chúa. Vì việc sống lại của Chúa trong lịch sử chỉ trở nên thật sự ích lợi cho con nếu Chúa thật sự sống lại trong chính tâm hồn con. Amen.          (NCK)
 

PS1-43: Đức Kitô chết, nhưng đã sống lại

Đức Kitô chết, nhưng đã sống lại. Đó là niềm tin căn bản của người Kitô hữu. Vì «nếu Đức Kitô: PS1-43
Đức Kitô chết, nhưng đã sống lại. Đó là niềm tin căn bản của người Kitô hữu. Vì «nếu Đức Kitô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là vô ích» (1 Cr 15, 14). Nói cách khác, cho dù có Đức Kitô, nhưng nếu Ngài không sống lại, thì sẽ không có Kitô giáo, vì người ta không có một bằng chứng cụ thể và chắc chắn nào để tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Nhưng nếu đích thực Ngài đã sống lại từ trong kẻ chết đúng như Ngài đã tuyên báo nhiều lần, thì chúng ta phải kết luận rằng những điều Ngài nói về thần tính của Ngài là xác thật. Vì nếu Ngài chỉ là thường nhân, và những điều Ngài xác nhận về thần tính của Ngài chỉ là bịp bợm, thì chắc chắn Thiên Chúa sẽ không bao giờ cho Ngài sống lại, vì «Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của người thì Người nhậm lời kẻ ấy» (Ga 9, 31).
Vậy, vấn đề mấu chốt là: Ngài có sống lại hay không? và chúng ta dựa vào đâu để xác quyết rằng Ngài đã sống lại? Chúng ta cần phải nắm vững những chứng cứ để củng cố niềm tin căn bản của chúng ta.
  1.       Chứng tá của các tông đồ
Các tông đồ là những người đã sống đồng thời với Đức Kitô, bên cạnh Đức Kitô. Các ông đã làm chứng suốt cuộc đời rằng Đức Kitô đã chết, nhưng 3 ngày sau đã sống lại và đã hiện ra với các ông. Các ông đã sẵn sàng chịu đau khổ và chịu chết vì lời chứng đó.
Không ai ngu dại đến nỗi sẵn sàng hy sinh cả đời mình để rao giảng và nhất là lại sẵn sàng lấy đau khổ và cái chết của mình ra để làm chứng cho một người nói dối hay nói sai: vì Đức Kitô đã tiên báo trước đó khá lâu rằng Ngài chết được 3 ngày sẽ sống lại.
Nếu Ngài không sống lại như Ngài đã nói trước thì khó có thể nghĩ được rằng những kẻ vốn nhát đảm như các tông đồ lại có thể can đảm mạnh dạn rao giảng về Ngài và coi việc chết vì Ngài như một vinh dự. Hãy nghĩ lại sự hèn nhát của các tông đồ khi Đức Kitô bị bắt: các ông trốn sạch, thậm chí đã chối Thầy, mặc dù trước đó đã thề thốt nặng lời rằng sẽ không bao giờ bỏ Thầy ([6]). Sự hèn nhát đó có nguyên nhân của nó, vì các ông tuy đã tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Mêsia vì nhiều dấu chỉ và chứng cớ khá rõ, nhưng chưa xác tín, vì chưa có chứng cớ nào đủ mạnh. Chỉ có sự sống lại đích thật của Đức Giê-su mới có thể giải thích việc các ông trở nên can đảm một cách nhanh chóng như thế.
  1.       Các tông đồ có thể ngụy tạo việc Chúa sống lại chăng?
Việc các tông đồ ngụy tạo quả là khó tin. Các ông đều là những ngư dân dốt nát, nhát đảm, lẽ nào lại có khả năng qua mặt được các kinh sư, luật sĩ, là những người trí thức và khôn ngoan. Việc tạo ra một huyền thoại hết sức khó tin nhưng lại được vô số người tin như thế, mà cho tới nay người ta vẫn chưa thể chứng minh là phi lý, không phải chuyện đơn giản mà những người dốt nát như các tông đồ có thể làm được. Vả lại, nếu đó là huyền thoại thì việc tạo ra huyền thoại này đã hoàn tất trong một thời gian kỷ lục: chưa đầy 10 năm ([7]).
Việc những con người đơn sơ chất phác tạo ra một huyền thoại một cách hết sức thông minh, để rồi sẵn sàng chết vì huyền thoại ấy, là điều hết sức khó chấp nhận.
  1.       Lính canh mồ
Vì việc Đức Kitô tuyên bố Ngài sẽ sống lại tới tai những người chủ mưu giết Ngài, nên họ đã đề phòng việc các môn đệ Ngài duy nhất đánh cắp xác của Ngài. Vì thế, họ đã xin Philatô cho lính đến mộ để canh gác (xem Mt 27, 62-66). Và sau khi Đức Giêsu sống lại, các thượng tế đã bảo họ: «Các anh hãy nói thế này: ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự» (Mt 28, 13-15).
Chuyện phao tin là các tông đồ đến đánh cắp xác Đức Giêsu thật phi lý. Khi Ngài bị bắt mà các ông đã sợ hãi trốn mất, thậm chí khi nghe các phụ nữ báo tin Ngài đã sống lại, các ông vẫn còn sợ hãi đến độ vào buổi chiều ở trong nhà mà phải đóng kín cửa vì sợ người Do Thái (xem Ga 20, 18-19). Nhát như thế thì có gan đâu mà dám ăn trộm xác Ngài khi có lính canh với độ cảnh giác rất cao (vì đã được báo trước để đề phòng). Vả lại, kỷ luật của quân đội đế quốc Rôma rất nghiêm khắc, canh phòng không kỹ lưỡng hoặc ăn hối lộ để sổng mất người phải canh giữ thì chỉ có nước bị tử hình ([8]).
  1.       Mồ trống và khăn liệm để lại
Sự kiện mồ trống chứng tỏ xác Đức Kitô không còn ở đó: hoặc một là do Ngài đã sống lại, hoặc hai là do có người đem đi, hoặc ba là do một trận động đất nào đó nuốt xác Ngài như có nhiều người giả thiết ra để bác bỏ sự kiện sống lại. Nhưng sự kiện khăn liệm Ngài còn để lại đã bác bỏ hai giả thuyết sau ([9]). Nếu có ai đó đem xác Ngài đi thì chắc chắn trong hoàn cảnh lén lút và gấp rút, người ấy sẽ phải đem cả khăn liệm Ngài đi. [10] Còn nếu có trận động đất thì quả là khó hiểu nếu đất nuốt thân xác Ngài mà lại chừa không nuốt khăn che đầu và băng vải quấn chung quanh.
  1.       Sự thành thật và kín đáo của các nhân chứng
Sự ngay thật của những người viết Tin Mừng bộc lộ qua sự kín đáo khi nói về sự sống lại và các cuộc hiện ra của Đấng Phục Sinh. Mátthêu dành ra 2,4% Phúc Âm của mình, Luca 3,6%, Máccô 4,5%, và Gioan 6,1%. Việc Đức Kitô sống lại là cốt lõi của Tin Mừng mà các tông đồ muốn loan báo, thế mà số trang dành cho biến cố này quá ít ỏi. Chính vì khi ngay thật, người ta không thêm thắt vẽ vời!
Các thánh sử không đả động gì đến thời điểm Đức Kitô sống lại và cách Ngài ra khỏi mồ, đơn giản chỉ vì các ông không được chứng kiến. Các bài tường thuật hết sức đơn giản, không mở đầu bằng một tuyên bố ầm ỹ về biến cố xảy ra. Nếu là ngụy tạo, không ai lại để cho người làm chứng đầu tiên là một phụ nữ như Maria Mađalêna. Thời đó, chứng từ của một phụ nữ dường như không có giá trị, nhất là khi phụ nữ đó đã từng là gái điếm, đến nỗi phụ nữ không được gọi ra làm chứng trước tòa án. Và nếu là ngụy tạo, có lẽ số lần Đức Giêsu hiện ra với các tông đồ sẽ nhiều hơn để gây niềm tin. Nhưng các thánh sử chỉ thuật lại có 5 lần Ngài hiện ra trong một thời gian dài tới 40 ngày từ lúc sống lại tới ngày lên trời.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu, con tin thật Chúa đã sống lại, và con sẵn sàng làm chứng trước mọi người về điều đó. Nhưng điều hết sức quan trọng là xin Chúa hãy sống lại trong tâm hồn con, để tâm hồn con tràn đầy tình yêu, sức sống và sức mạnh của Chúa. Vì việc sống lại của Chúa trong lịch sử chỉ trở nên thật sự ích lợi cho con nếu Chúa thật sự sống lại trong chính tâm hồn con. Amen.          (NCK)

PS1-44. Sống Lời Chúa - NIỀM HY VỌNG SỐNG LẠI

Đức Kitô đã sống lại thế nào, thì chúng ta cũng sẽ được sống lại như vậy. Thế nhưng, làm sao: PS1-44
Đức Kitô đã sống lại thế nào, thì chúng ta cũng sẽ được sống lại như vậy. Thế nhưng, làm sao chúng ta có thể sống lại được ?
Có những kẻ nghĩ rằng : Sự sống lại làm sao có thể xảy ra cho những người chết mất xác, chết không toàn thây, chẳng hạn như bị pháo kích thân xác nổ tung thành từng mảnh nhỏ, hay chết chìm dưới lòng biển cả làm mồi cho cá mập ? Chết mà không để lại một dấu vết nào cả.
Tôi xin hỏi lại họ : Phải chăng đó là điều khó khăn đối với quyền năng Thiên Chúa? Dựng nên một sự sống khi nó chưa có hay là phục hồi nó một khi đã có, thì đằng nào khó hơn? Làm cho một thân xác được sống lại hay là tạo thành nó từ hư vô, đằng nào khó hơn? Chẳng lẽ Đấng Toàn Năng, đã tạo dựng vũ trụ lại bất lực, không thể cứu chúng ta khỏi sự hư mất sao? Trong bức thư gửi giáo dân Côrintô, thánh Phaolô đã viết : Có người bảo kẻ chết làm sao sống lại được, họ sẽ lấy thân xác nào mà phục sinh? Thật là vô lý. Đúng thế. Thật là vô lý, nếu chúng ta bảo rằng Đấng đã tạo thành sự sống, lại không có thể trao ban sự sống ấy lại một lần nữa. Thật là vô lý nếu chúng ta bảo rằng một thân xác đã chết và bàn tay uy quyền của Chúa sẽ không thể nào làm cho nó sống lại.
Có kẻ thì nói : Tất cả đã bị vùi sâu trong lòng đất lạnh, tất cả đã trở về với cát bụi, thì làm sao có thể nghe thấy tiếng Con Thiên Chúa?
Như chúng ta đã biết : Lời của Thiên Chúa là Lời của uy quyền. Lời ấy đã phán : Hỡi chàng trai, Ta truyền cho con hãy chỗi dậy. Lập tức chàng trai thành Naim đã chỗi dậy, đã sống lại. Đứa con gái của ông Giairô, cũng đang nằm chết ở trên giường và Lời ấy đã vang lên : Hãy chỗi dậy. Lập tức, cháu bé ấy cũng đã chỗi dậy, cũng đã sống lại. Cũng như Lagiarô, mặc dầu đã được chôn táng trong mồ những bốn ngày rồi, nhưng khi Lời ấy vang lên, thì Lagiarô cũng đã chỗi dậy, cũng đã sống lại và ra khỏi mồ. Và như thế, Lời ấy cũng sẽ vang lên một lần nữa và tất cả mọi người đã chết đều được sống lại.
Nhìn vào cảnh vật thiên nhiên, chúng ta sẽ thấy được rằng Thiên Chúa đã in dấu chiến thắng trên vật chất. Sau đêm tối là hừng đông rạng rỡ. Sau mùa đông băng giá là mùa xuân huy hoàng. Một hạt giống mục thối cho mầm non vươn lên.
Với chúng ta cũng vậy, sẽ có một cuộc phục sinh để hoàn tất chương trình cứu độ. Bấy giờ sẽ không tang tóc và đau khổ, chết chóc và buồn phiền, bởi vì Thiên Chúa sẽ lau khô những giọt nước mắt chúng ta. Bấy giờ chúng ta sẽ tiến lên, lãnh nhận cuộc sống vĩnh cửu.
Vậy niềm tin vào sự sống lại sẽ đem đến cho chúng ta những hậu quả nào?
Hậu quả thứ nhất, đó là một lời báo động : Hãy chuẩn bị cho ngày ấy vì ngày ấy là một ngày trọng đại nhất của lịch sử nhân loại. Cũng như ngày đầu tiên, Thiên Chúa phán : Hãy có ánh sáng và ánh sáng liền có. Thì trong ngày cuối cùng ấy, Thiên Chúa sẽ nói : Hãy có bóng tối và chấm dứt mọi sự. Lập tức đã xảy ra như thế. Rồi những người đã chết sẽ chỗi dậy và sống lại : Từng triệu triệu người, từ những ngôi mộ lộng l”y hay từ lòng đất ở một nơi xa xôi nào đó, cũng như từ biển khơi bao la; những kẻ đã bị quên lãng, không một ai biết đến; những kẻ đã từng nếm mùi khổ đau trong cuộc sống; những người trung thành với Đức Kitô cũng như những kẻ phản bội Ngài…Tất cả sẽ nhìn thấy Con Người ngự đến trong vinh quang.
Hãy chuẩn bị cho ngày ấy. Nếu một lúc nào đó chúng ta sẽ được sống lại, thì ngay từ giờ chúng ta phải mến Chúa và yêu người, vì cuộc đời vĩnh cửu không thể nào được tạo nên bởi một nếp sống tầm thường, trống rỗng và không một chút công nghiệp. Cũng như một hạt lúa lép hay một chiếc vỏ trấu sẽ không thể nào nảy mầm và mọc lên thành một cây lúa xanh tươi. Bởi đó, hãy chuẩn bị cho mình tấm áo cưới là tâm hồn trong sạch và đôi tay chất đầy công nghiệp, vì đó là những thứ hành trang cần thiết để được đón nhận vào nước trời.
Niềm tin tưởng vào sự sống lại còn là một nguồn sức mạnh cho chúng ta trong những cám dỗ và thử thách. Thực vậy, thánh Phaolô đã viết : Nếu anh em được sống lại với Đức Kitô, thì anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời. Nhờ việc Phục sinh mà chúng ta có được sức mạnh để đứng vững, để trung thành cùng Chúa. Nếu như bây giờ chúng ta phải chờ đợi, thì chắc chắn ngày huy hoàng ấy sẽ xuất hiện. Nếu như bây giờ chúng ta phải bước đi trong đêm tối, thì chắc chắn bình minh sẽ bừng sáng. Điều quan trọng đó là đừng bao giờ chúng ta thất vọng, đừng bao giờ chúng ta nản chí. Bởi vì, chúng ta không thể nào gặt hái khi những bông lúa còn xanh và chưa được chín vàng.
Sau cùng, niềm tin tưởng vào sự sống lại sẽ là một niềm an ủi cho chúng ta. Thực vậy, người ta kể lại rằng : Những sắc dân bán khai ở Pérou, mỗi khi có nhật thực, mặt trời bắt đầu tối lại giữa ban ngày, thì họ vội vã giật tóc và nức nở khóc lóc một cách thảm thiết vì họ nghĩ rằng sẽ chẳng còn mặt trời nữa.
Với chúng ta thì khác. Từ ngày Đức Kitô Phục sinh, chúng ta biết rằng : Bóng tối và cái chết chỉ kéo dài một thời gian ngắn. Chúng ta có thể buồn và khóc trên phần mộ của những người thân yêu, nhưng nỗi buồn của chúng ta sẽ chẳng bao giờ đi đến chỗ tuyệt vọng như những kẻ không tin tưởng, bởi vì chúng ta biết rằng : Hạt lúa cần phải mục nát đi thì mới nảy mầm, lớn lên, đâm bông và kết trái.
Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô sống lại thế nào, thì Ngài cũng sẽ làm cho chúng ta được sống lại như vậy. Chúng ta cũng biết rằng : Mặt trời lặn vào ban chiều, nhưng sáng hôm sau, sẽ là hừng đông rạng rỡ. Mùa thu thì lá vàng rơi, nhưng khi mùa xuân trở lại, thì những cành cây trơ trụi sẽ đâm chồi nẩy lộc và trở nên xanh tươi.
Sau cùng, chúng ta cũng biết rằng : Hiện thời thân xác chúng ta sẽ phải chết đi, nhưng rồi ngày hội lớn sẽ đến và chúng ta sẽ được sống lại như lời Chúa đã phán : Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ sống. Và Ta, Ta sẽ cho họ được sống đời đời.
Cái chết là khung cửa hẹp mà tất cả chúng ta đều phải bước qua. Kẻ thì lo buồn run sợ, kẻ thì khóc lóc chống cự. Chỉ có một người đã hiên ngang bước vào, đã chiến thắng và đã chiếu vào khung cửa tối tăm ấy một luồng ánh sáng. Người ấy chính là Đức Kitô Phục sinh, Ngài đã cầm trên tay cành lá chiến thắng và đem đến cho chúng ta một mùa xuân vĩnh cửu.
 

PS1-45. CSTM/106- SỐNG LẠI

Cách đây ít lâu, một tờ báo phát hành tại Ca-li-phoc-ni-a, Hoa kỳ đưa tin như sau : có một công: PS1-45
Cách đây ít lâu, một tờ báo phát hành tại Ca-li-phoc-ni-a, Hoa kỳ đưa tin như sau : có một công ty nhận làm nhiệm vụ ướp xác chết trong tủ lạnh để khỏi bị hư thối. Rồi với những khám phá và tiến bộ khoa học, những người chủ trương hy vọng rằng ; họ có thể tìm ra nguyên nhân cái chết của xác đó, tình trạng bệnh lý của cái xác đó trước khi chết. Và trong tương lai, họ có thể điều trị chứng bệnh đã tìm thấy và làm cho cái xác ấy được sống lại và sống mãi.
Chúng ta thực sự không biết được chương trình này rồi sẽ ra sao, thành công hay không, chúng ta cứ chờ xem. Nhưng hôm nay, nói về sự sống lại của Chúa Giêsu, chúng ta không nói đến chuyện con người sẽ sống lại để tiếp tục sống mãi với cái thân xác mà người ta gọi là xác đất vật hèn này.
Vậy Chúa Giêsu sống lại là thế nào ? Khi sống lại Ngài có sống với thân xác cũ không ? Ngay từ thời thánh Phaolô tông đồ, trong thư gửi giáo đoàn Côrintô, ngài cho biết đã có những người đặt ra các câu hỏi như thế. Và ngài đã khẳng định với họ rằng : thân xác phục sinh không giống như thân xác cũ trước kia, nhưng bất tử và thiêng liêng. Nghĩa là Chúa Giêsu đã sống lại trong thân xác của Ngài. Nhưng thân xác lúc sống lại hoàn toàn khác thân xác lúc còn sống trước kia. Cũng là thân xác lúc trước thật, nhưng sau khi sống lại, thân xác Chúa Giêsu trở thành siêu việt, không còn bị ràng buộc bởi những cản trở vật chất nữa, không còn bị chi phối bởi những định luật của không gian và thời gian nữa, nên muốn đi lại đâu tùy ý, vượt qua tường hay vào trong phòng khi các cửa đều đóng kín, và biến mất liền sau đó như các sách Tin Mừng đã thuật lại. Vì thế, thánh Phaolô nói : “Ngài là Người Trời”.
Đây cũng là tình trạng của thân xác chúng ta sau này, nghĩa là sau ngày tận thế, thân xác chúng ta cũng sẽ trở nên giống thân xác của Chúa Giêsu sau khi sống lại, tức là trở nên siêu việt và linh thiêng như thế, tuy v”n là thân xác của mình. Về điều này trí óc chúng ta không thể hiểu thấu được, vì chúng ta còn bị giới hạn trong những phạm trù của không gian và thời gian, và chúng ta chỉ có thể chấp nhận được bằng đức tin. Nhưng tin có cơ sở, có bằng chứng, đó là sự sống lại, sự phục sinh của Chúa Giêsu.
Như vậy, Chúa Giêsu đã sống lại, có nghĩa là Chúa Giêsu chết trên thập giá, bây giờ v”n đang sống. Và nếu Ngài muốn, Ngài cũng sẽ xuất hiện cho chúng ta gặp Ngài tận mắt như các tông đồ xưa. Vì thế, chúng ta tin Chúa Giêsu là chúng ta tin một người sống, một người có thể gặp được. Những vĩ nhân trên đời, những anh hùng dân tộc… Sự nghiệp của họ l”y lừng nên chúng ta khâm phục; cuộc đời họ đáng quí, nên chúng ta tưởng nhớ. Và tưởng nhớ vì họ đã chết. Đâu còn gì để gặp gỡ và đâu còn gặp gỡ nữa mà bảo tin. Còn Chúa Giêsu thì hằng sống, Ngài đang sống thực. Chúng ta tin Ngài vì chúng ta v”n gặp Ngài.
Trải qua hai ngàn năm, niềm tin của các tông đồ và của các tín hữu tiên khởi v”n còn được tiếp tục tuyên xưng. Mãi mãi v”n còn có người tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, là Chúa, là Con Thiên Chúa. Ngài đã chết để cứu chuộc chúng ta. Ngài đã sống lại để bảo đảm chúng ta cũng sẽ sống lại. Và hiện giờ Chúa Giêsu Phục sinh v”n đang đồng hành với chúng ta trong cuộc sống trần gian. Chúng ta v”n gặp Ngài trong Giáo hội, trong các bí tích, trong thánh lễ, trong cầu nguyện, trong lời Chúa và trong khi thi hành giới răn mới của Ngài.
Chúng ta hãy nhớ : ai cũng sống lại : người tội lỗi hay người công chính, người có đạo hay không có đạo… đều sống lại. Nhưng sống lại để được thưởng hay chịu phạt, được lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục… đều tùy thuộc vào cuộc sống hôm nay trên trần gian. Vì thế, cuộc sống hôm nay, tuy ngắn ngủi, nhưng lại là cái giá cho cuộc sống mai sau. Cho nên chúng ta cần sống đúng người Kitô hữu đã được cứu chuộc để được sống mãi với Chúa Kitô.
Dưới tựa đề “Trái tim của chàng E-rôn Phơ-lin (Errol Flinn) đã quá lâm lụy”, báo Paris Match cho in tấm hình của Flinn, một tài tử lừng danh của Holywood. Tấm hình chụp Flinn nằm trần như nhộng trên chiếc ghế xếp, tay phải cầm ly rượu Wuytky, tay trái đặt nhẹ trên vai một phụ nữ xinh đẹp cũng đóng khố như chàng. Bên trên tấm hình có hàng chữ sau : “Errol Flinn đã chết như khi chàng sống”. Thì ra tấm hình này, tuy chụp Flinn lúc còn sống, nhưng đồng thời nó cũng đã ghi lại đầy đủ chi tiết cái chết của chàng. Khi bệnh tim đến kết liễu đời chàng, người ta thấy Flinn giống hệt như trong tấm hình chụp lúc còn sống.
Cây nghiêng về hướng nào sẽ ngả theo hướng đó. Đời sống thế nào, cái chết sẽ thế ấy. Anh chị em tin có đời sau và chắc anh chị em cũng đồng ý với tôi : sống thế nào chết thế ấy. Thế thì chúng ta phải sống thế nào cho xứng đáng với phẩm giá con người. Hơn nữa, chúng ta còn phải cố gắng sống sao cho xứng đáng với chức vị là con Chúa nữa.
 

PS1-46. SCĐ/190- HAI CÁI NHÌN

Trước ngôi mồ trống của Đức Giêsu, có hai cái nhìn, dẫn đến hai cái thấy khác nhau: PS1-46
Trước ngôi mồ trống của Đức Giêsu, có hai cái nhìn, dẫn đến hai cái thấy khác nhau :
- Cái nhìn của bà Maria Magdala là cái nhìn tự nhiên, bị ảnh hưởng bởi tình cảm : chỉ mới nhìn tảng đá đã lăn khỏi mộ, tình cảm của bà bị tác động ngay khiến bà không còn thấy thêm điều gì khác mà chỉ nghĩ đến tình huống xấu nhất : “Người ta đẽ đem Chúa ra khỏi mộ !” Cái nhìn tình cảm này không giúp thấy được sự thật mà chỉ làm cho bà buồn rầu, lo lắng, khóc lóc.
- Cái nhìn của người môn đệ Chúa yêu được đức tin hướng dẫn : Ông nghe nói tảng đá đã lăn khỏi mộ, ông chạy đến nơi để xem và xem xét rất kỹ. Ông cúi xuống nhìn vào trong, quan sát những tấm khăn liệm và dừng lại để suy nghĩ. Rồi ông nhớ lại những lời Thánh kinh mà Đức Giêsu đã dạy. Cái nhìn này giúp ông thấy được sự thật : Đức Giêsu đã sống lại. Cái nhìn đức tin này đem lại cho ông niềm vui : “Ông đã thấy và đã tin”.
Có thể so sánh cái nhìn đức tin giống như người ta nhìn các sự vật trong đêm tối bằng ánh sáng của tia hồng ngoại, nên có thể thấy được những điều mà mắt thường không trông thấy. Theo định nghã, “Tín hữu” là người tin. Vì thế tín hữu vừa có cái nhìn tự nhiên như mọi người, vừa phải có cái nhìn đức tin. Ai biết nhìn sự việc bằng đức tin thì sẽ thấy mọi sự rất thanh thản và lạc quan.
Chẳng hạn thánh Phaolô trong lúc đang ngồi tù và sắp bị đem ra xử, ông nghĩ đến hai tình huống có thể xảy ra : một là bị xử tử, hai là được tự do. Bằng cái nhìn đức tin, ông đã thấy sống hay chết đều tốt  cả : “Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi”. Còn thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu sau khi đã nhìn lại mọi sự việc xảy đến trong đời mình bằng cặp mắt đức tin, đã kết luận “Tất cả là hồng ân”.
Đức Giêsu Phục sinh đã chiếu một luồng sáng mới lên tất cả mọi sự. Thiết tưởng, việc đầu tiên mà chúng ta cần cố gắng và cũng là ơn đầu tiên mà chúng ta cần xin trong mùa Phục sinh là biết nhìn mọi sự bằng cặp mắt đức tin. Có như thế, trong tất cả mọi sự chúng ta mới đều có thể lạc quan cất lên tiếng hát đặc trưng của Mùa Phụng vụ này : Halleluia !
 

PS1-47. PV/205- LẬP LẠI LỜI HỨA

Trong ngày này, chúng ta có truyền thống lập lại những lời hứa khi chịu Phép Rửa tội. Nếu: PS1-47
Trong ngày này, chúng ta có truyền thống lập lại những lời hứa khi chịu Phép Rửa tội. Nếu có thể được, nên cử hành nghi lễ này một cách long trọng. Trong trường hợp đó, chỉ cần một bài giảng ngắn gọn thôi. Mỗi người trong cộng đoàn nên cầm một cây nến thắp sáng.
Linh mục : Trong ngày này, chúng ta cử hành chiến thắng vĩ đại của Đức Kitô vượt lên trên sự chết. Đức Kitô, Anh Cả của chúng ta, đã bẻ gãy những xiềng xích của sự chết, và Người muốn chia sẻ cho chúng ta chiến thắng của Người. Sức mạnh nơi sự sống lại của Người đem lại cho chúng ta khả năng sống trong niềm vui là sự tự do của con cái Thiên Chúa.
Có người nào trong chúng ta lại không muốn chia sẻ một chiến thắng vĩ đại như vậy? Chúng ta có thể làm được điều này, nếu chúng ta tin tưởng và đi theo Đức Kitô. Sau hết, đây là điều mà chúng ta đã hứa lúc được lãnh nhận Phép Rửa tội.
Do đó, trong ngày vĩ đại này, sẽ thật là phù hợp khi chúng ta lập lại những lời hứa khi chịu Phép Rửa tội, và một lần nữa tự cam kết đi theo Đức Kitô, Vị Chúa đã sống lại của chúng ta. Đồng thời, chúng ta đổi mới lại niềm tin của chúng ta nơi các chân lý vĩ đại của lòng tin.
Câu đáp sau mỗi câu hỏi : Thưa có.
Linh mục : Đức Kitô đã mặc khải cho chúng ta rằng Thiên Chúa là một người Cha ân cần và đầy tình yêu thương, Đấng quan tâm chăm sóc mỗi người chúng ta. Anh chị em có tin kính Thiên Chúa là Cha, và tin tưởng nơi tình yêu của Người đối với chúng ta không?
Thế giới hiện đại tạo ra nhiều thần tượng trước mắt chúng ta : những tiện nghi, quyền sở hữu, lạc thú… Anh chị em có từ bỏ các tà thần không?
Anh chị em có tin kính Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta, để nâng chúng ta lên sự sống mới không?
Anh chị em có tin rằng Người sống giữa chúng ta, với tư cách là Người Đồng Hành và Bạn Bè trên đường đời không?
Anh chị em có từ bỏ Satan, tinh thần của sự dữ không?
Satan quyến rũ chúng ta bằng những lời hứa sai lạc và trống rỗng : rằng những thứ vật chất có thể hoàn toàn thỏa mãn chúng ta; rằng hạnh phúc bao gồm lối sống dễ dãi và tiện nghi; rằng tất cả những thứ đáng kể trong cuộc đời chính là được nổi tiếng và thành công. Anh chị em có khước từ những lời hứa trống rỗng này không?
Anh chị em có tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần cư ngụ trong tâm hồn anh chị em, an ủi, hướng d”n và ban sức mạnh cho anh chị em không?
Anh chị em có tin tưởng rằng mỗi người chúng ta đều có một nhân phẩm cao đẹp, với tư cách là con người và là con cái Thiên Chúa không?
Anh chị em có tin tưởng rằng đời sống con người được hiến thánh ngay từ giây phút đầu tiên, cho đến giây phút cuối cùng không? Anh chị em có tin tưởng rằng bất chấp sự khác biệt về chủng tộc, chính trị, niềm tin, và màu da, dưới mắt Thiên Chúa, mọi người đều bình đẳng về nhân phẩm và tạo thành một gia đình không? Anh chị em có tin tưởng vào Hội thánh, mà trong đó, chúng ta được trở nên anh chị em với nhau trong Đức Kitô, và thông qua Hội thánh, Tin Mừng được rao giảng cho cả thế giới không? Anh chị em có tin tưởng rằng với tư cách là những người đi theo Đức Kitô, chúng ta được mời gọi để trở nên những chứng nhân của Người trong thế giới không? Anh chị em có tin tưởng rằng Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu, cũng là Mẹ của chúng ta, và là Mẹ của tất cả các Kitô hữu không? Anh chị em có tin tưởng rằng trong sự sống đời đời, Đức Kitô đã chiến thắng vì chúng ta, thông qua cuộc sống, cái chết và sự sống lại của Người không? Lúc đó, chủ tế rẩy nước thánh để chúc lành cho cộng đoàn. Trong khi đó, chủ tế có thể nói “Xin Thiên Chúa chúc lành và gìn giữ anh chị em trong lòng tin”. Trong khi chờ đợi, mỗi người nên âm thầm cầu nguyện, cho được ân sủng lòng tin nơi Đức Kitô. Chủ tế : Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con cảm tạ Chúa vì trong thế giới đầy r”y những cạm b”y và những lời hứa hẹn sai lạc, Chúa đã sai Con của Chúa đến dạy dỗ chúng con sự thật về bản thân chúng con, về cuộc đời, và về chính Chúa. Xin giúp chúng con biết trung thành đi theo Con của Người, để một ngày kia, chúng con có thể được chia sẻ trong sự Phục sinh vinh quang của Người trên Nước trời, nơi mà nỗi buồn và cái chết không còn tồn tại nữa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
 

PS1-48. PV/208- NIỀM VUI PHỤC SINH

Niềm vui mà các tông đồ cảm nghiệm được trong ngày Phục sinh hẳn phải lớn lao biết bao. Câu: PS1-48
Niềm vui mà các tông đồ cảm nghiệm được trong ngày Phục sinh hẳn phải lớn lao biết bao. Câu chuyện sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu được phần nào cảm hứng nơi niềm vui của họ :
Trong thế chiến 1, một người Nga Cô-dắc có hai cậu con trai tên Peter và Gregory. Ngày kia, ông nhận được một lá thư từ tiền tuyến. Vì không biết đọc, nên ông đã đưa cho cô con gái. Đó là lá thư từ viên sĩ quan chỉ huy của Gregory, được mở đầu như sau : “Tôi rất tiếc khi báo tin cho ông biết rằng cậu con trai của ông là Gregory đã bị tử nạn trong khi thi hành công vụ vào ngày 10 tháng 7. Gregory là một anh lính xuất sắc, và đã chết một cái chết anh dũng. Ông có đủ lý do để tự hào về anh ấy…”
Tin này gây ra hậu quả ngay tức khắc và hoảng hốt đối với người cha. Dường như ông bị suy kiệt một cách rõ rệt. Chỉ trong khoảng vài ngày, ông già hẳn đi, gần như trong một đêm, mái tóc của ông đã ngả màu bạc. Trí nhớ của ông bắt đầu xuống dốc, và thậm chí trí khôn của ông cũng bị ảnh hưởng. Ông bắt đầu uống nhiều rượu.
Ông đặt lá thư đó bên dưới tượng thánh trong nhà bếp. Mỗi ngày, ông đều lấy lá thư đó ra, và yêu cầu cô con gái của ông đọc lại. Nhưng ngay khi cô bắt đầu đọc “Tôi rất tiếc khi báo tin cho ông rằng…” thì ông liền lấy lá thư đó lại và cất đi. Sau khi vị linh mục ở địa phương dâng thánh lễ cầu hồn cho con trai ông, thì ông cảm thấy hơi khá hơn.
12 ngày qua đi trong tình trạng đó. Đến ngày thứ 13, một lá thư thứ hai gửi về từ tiền tuyến. Lá thư này nói rằng con trai của ông chưa chết ! Anh chỉ bị thương, và bị bỏ mặc cho chết ở trên chiến trường. Sáng hôm sau, anh đã bò suốt 4 dặm đường, để trở về hàng ngũ của anh, kéo lê theo một sĩ quan cũng bị thương. Anh đã được phong quân hàm hạ sĩ, và được trọng thưởng huy chương ghi nhận sự can đảm của anh. Cho đến nay, những vết thương của anh đã được phục hồi tại bệnh viện, và anh sẽ sớm được trở về với gia đình.
Khi nghe đến đây, người cha sôi sục niềm vui, ông chộp lấy lá thư, và đem vào làng. Ông chặn lại bất cứ người nào ông gặp gỡ trên đường, ép từng người đọc lá thư đó. Ông giải thích “Con trai tôi v”n còn sống ! Nó đã được trọng thưởng huy chương vì lòng can đảm của nó !”.
Câu chuyện này đem đến cho chúng ta một số ý tưởng về niềm vui mà các môn đệ cảm nghiệm được trong lễ Phục sinh đầu tiên. Nhưng cũng có những sự khác biệt. Con trai của người Cô-dắc thực sự chưa chết. Đức Giêsu đã chết. Các môn đệ đã chứng kiến tận mắt cái chết của Người. Lúc bấy giờ, ngôi mộ trống trơn, và họ đã thấy Đức Giêsu v”n sống ! Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhớ rằng sự sống lại không phải là trở về với cuộc sống trần thế – Đức Giêsu sống lại với một sự sống mới vượt ra ngoài cái chết.
Niềm vui của họ sôi sục lên, vì Đức Giêsu, người đứng đầu và bạn bè của họ, đã bẻ gãy những xiềng xích của sự chết bằng chính sức mạnh của Thiên Chúa. Sự chết, kẻ thù cuối cùng và vĩ đại nhất, đã bị khuất phục nơi Người.
Niềm vui của các tông đồ cũng có nghĩa là niềm vui của cả chúng ta nữa. Điều này không ngay tức khắc lấy đi khỏi chúng ta nỗi sợ hãi đối với cái chết. Bởi vì chúng ta v”n còn phải đi ngang qua cái chết. Nhưng chính bằng cách đi ngang qua cái chết, mà Đức Giêsu đã khuất phục được nó. Như vậy, điều này cũng dành cho chúng ta, là những kẻ tin tưởng nơi Người.
Nếu không có lễ Phục sinh, thì câu chuyện về Đức Giêsu sẽ chỉ sáng hơn đôi chút, so với một ánh lửa lóe lên trong đêm tối mà thôi. Bóng tối sẽ v”n còn có tiếng nói sau cùng. Nhưng với sự sống lại, chúng ta biết rằng bóng tối sẽ không có tiếng nói sau cùng nữa. Chúng ta đừng e ngại trong việc tắm mình trong ánh sáng rạng ngời, mà Đức Kitô sống lại đã đưa vào thế giới bóng tối và cái chết của chúng ta.
Chúng ta không bao giờ nên để cho bất cứ điều gì lấy đầy nỗi buồn nơi chúng ta, đến nỗi chúng ta quên mất niềm vui Phục sinh, niềm vui của Đức Kitô sống lại từ cõi chết.
 

PS1-49. PV/210- CHIẾN THẮNG

Chúng ta không thể nào đánh giá được tính cách vĩ đại nơi sự sống lại của Đức Giêsu, trừ phi: PS1-49
Chúng ta không thể nào đánh giá được tính cách vĩ đại nơi sự sống lại của Đức Giêsu, trừ phi chúng ta nhìn nhận đầy đủ sự thật về cái chết của Người. Đức Giêsu chết đi trong tối tăm. Nhưng Người đủ tin tưởng nơi Thiên Chúa, để có thể đương đầu với bóng tối, và chờ đợi sự sống lại. Cú nhảy vọt trong lòng tin của Người không uổng công. Chúa Cha đã nâng Người lên. Hiếm khi Kinh Thánh và Giáo hội tiên khởi nói rằng “ Đức Giêsu sống lại từ cõi chết”, nhưng nói rằng “Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết”. Đức Giêsu cũng phải thực hiện một cú nhảy vọt trong lòng tin, mà một ngày kia, chúng ta sẽ được mời gọi thực hiện.
Đức Giêsu đã đi vào trong bóng tối của cõi chết, và bật dậy trong chiến thắng. Ngài đã giành được chiến thắng của Người – Người đã chế ngự sự chết. Nhưng chiến thắng đó phải vận hành theo cách thế của nó, và trở thành một thực tại nơi chúng ta, các môn đệ của Người. Chúng ta đạt được chiến thắng của Người ngay trong bản chất của chúng ta. Nếu chúng ta không chiến đấu và chiến thắng ngay trong bản chất của mình, thì chúng ta sẽ không có khả năng được hưởng lợi từ chiến thắng của Người, nhưng chúng ta v”n còn ở dưới quyền lực của cái chết.
Chúng ta không bao giờ được nghi ngờ về tự thân sự sống lại – Thiên Chúa không thể chết được. Nhưng điều đáng ngạc nhiên và là quà tặng của lễ Phục sinh chính là sự sống lại cũng cho cả chúng ta nữa. Đức Giêsu đã được sống lại trong máu thịt của chúng ta. Chính cái chết của chúng ta đã bị đánh bại.
Và chúng ta tiếp tục đi tới trong cuộc đời, dần dần trở nên có ý thức về tính hay chết của mình, và về cuộc hành trình không thể tránh khỏi hướng đến cái chết. Cái chết tạo ra một thách đố khổng lồ đối với lòng tin của chúng ta, bởi vì chúng ta chỉ nhìn vào phía sau cái chết, giống như xuyên qua một tấm kính tối tăm. Nhưng trong ngày hôm nay, chúng ta được hít thở luồng không khí trong lành của sự sống đời đời.
Dường như sức mạnh của bóng tối có thể đang lan tràn, nhưng chúng ta đã giành được chiến thắng rồi. Chúng ta phải tin tưởng vào chiến thắng đó, và không được sống như thể cái chết v”n còn thống trị chúng ta.
Trở nên người Kitô hữu là trở nên một con người của niềm hy vọng, nhờ những gì đã xảy ra trong ngày thứ ba. Nhưng niềm hy vọng của người Kitô hữu không phải là sự lạc quan hời hợt, dựa trên sự khước từ nhìn vào các sự kiện. Nói đúng hơn, đó chính là niềm tin tưởng sâu xa nơi Thiên Chúa.
Ngày Thứ Sáu Tuần thánh, một ngày của bóng tối và cái chết, đến với tất cả mọi người. Cũng vậy, ngày Thứ Bảy Tuần Thánh là một ngày của sự trống rỗng và u buồn. Trong mấy ngày này, thật khó mà tin tưởng được. Nhưng ngày Chúa nhật Phục sinh, ngày của sự sống và niềm vui, chắc chắn sẽ giống như ánh bình minh vậy. Kẻ thù cuối cùng là sự chết đã bị chế ngự.
Trong lòng từ ái của Người, xin Chúa mở lòng trí chúng ta ra, để chúng ta có thể tin tưởng vào tin vui nơi chiến thắng của Người vượt lên trên sự chết. Trong tình yêu của Người đối với chúng ta, Thiên Chúa lôi kéo chúng ta hướng ra bên ngoài, để đi vào một nơi mà chúng ta chưa biết, ở thật xa, trong cõi vô biên, trong chốn đời đời. Chúng ta tiến tới một cách tin tưởng và hy vọng hơn, bởi vì Đức Giêsu, Anh Cả của chúng ta, đã đi trước chúng ta.
 

PS1-50. HRK/310- SỐNG LẠI

Trong Tin Mừng sáng Chúa nhật Phục Sinh hôm nay, thánh Gioan kể cho ta câu chuyện ba người: PS1-50
Trong Tin Mừng sáng Chúa nhật Phục Sinh hôm nay, thánh Gioan kể cho ta câu chuyện ba người đi tìm Chúa : Maria Madalena, Phêrô và Gioan. Khi đọc đoạn Phúc Am đó chắc chắn mỗi người chúng ta đều nhận thấy rằng, tất cả ba người đều đến mồ, đều thấy cùng một sự kiện “mồ trống và khăn liệm để qua một bên”, nhưng chỉ có một mình Gioan là tin Chúa Giêsu đã sống lại. Thánh Gioan viết về chính mình rằng : “Tôi thấy và tôi tin”.
Để hiểu rõ sự kiện chúng ta hãy trở lại chiều thứ Sáu, sau khi Chúa Giêsu chịu chết, Phúc Am ghi lại rằng, chiều Thứ Sáu hôm đó người Do thái đến xin Philatô cho hạ xác những người bị đóng đinh xuống, vì họ không muốn thấy xác chết treo trên thập giá trong ngày Thứ bảy là ngày nghỉ lễ, gọi là ngày Sabat. Hơn nữa, ngày Sabat đó lại là ngày Sabat trong mùa lễ Vượt qua của họ. Phép tắc thủ tục xong, xác Chúa Giêsu được hạ xuống thì đã chiều tà, và theo phong tục của người Do thái, họ tính ngày mới bắt đầu từ lúc mặt trời lặn, khi mỗi người với mắt thường nhìn thấy được ít nhất vì sao lấp lánh trên bầu trời. Vì thế Đức Mẹ cùng với bà Maria Madalena và các môn đệ phải hối hả lo chôn xác Chúa Giêsu cho xong để về nhà trước khi mặt trời lặn, nếu không họ sẽ lỗi luật tôn giáo, vì ngày Sabat chỉ được đi bộ một quãng bằng ném hòn đá mà thôi.
Ngoài ra, chúng ta cũng nên biết qua về cách liệm xác của người Do thái; cách liệm xác của họ là rửa xác, ướp thuốc thơm và gói lại trong tấm vải trắng, xong lấy băng vải quấn lại từ đầu đến chân như người ta băng bó vết thương, xong xuôi đâu đấy thì đem đặt xác vào hang đục sẵn trong đá và lấy tảng đá lớn đậy cửa hang lại. Vì hối hả cho nên Maria Madalena về nhà nhận thấy mình không cẩn thận đủ với Thầy kính yêu của mình, nên bà nán lòng chờ đến ngày Thứ Bảy là sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, tức là Ngày Chúa nhật, bà đem thuốc thơm đến mồ để ướp lại xác Chúa. Nhưng đến nơi bà thấy mồ trống, cửa đã được đẩy ra mà không thấy xác Chúa Giêsu còn trong đó nên vội vã chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan, vì Gioan còn trẻ nên chạy nhanh hơn do đó mà đến mồ trước. Gioan chỉ đứng ngoài chờ Phêrô tới, cả hai cùng vào một  lượt, họ nhìn thấy vải liệm và khăn che mặt để gọn vào một chỗ, nên Gioan thú thật trong lòng là ông tin Chúa đã sống lại.
Phân tích tâm lý của ba nhân vật chúng ta sẽ thấy tại sao đối với Maria Madalena, bà đến mồ chỉ mong ướp xác Thầy lại cho chu đáo hơn. Bà cầm thuốc thơm nơi tay mà đầu óc bà chỉ nghĩ đến một thi thể đã nằm yên bất động, nói tắt một lời là bà đến mồ để tìm xác chết. Trong một tâm trạng như thế, khi thấy ngôi mộ trống không, bà khó có thể nhận ra việc Chúa Giêsu sống lại thật.
Còn Phêrô, ông sợ hãi, ông đã chối Thầy mình trong giờ phút bị hành hạ nhục nhã và ông sợ sệt bị liên lụy vì Thầy đã chết, đã chôn yên trong mồ. Điều ông mong muốn lúc đó là xin đừng có gì rắc rối xảy ra nữa, xin được hai chữ “bình an”. Nhưng tại sao lại có sự kiện mất xác này? Ông chạy đến mồ với tất cả mọi lo âu trong đầu, ông đang lo có lẽ đứa nào đó sau khi giết Thầy lại tìm cách phá rối các tông đồ để kết án họ, để xử tử họ nữa chăng. Ông là trưởng nhóm, vậy ông chạy đến mồ để quan sát những gì đã xảy ra, trong lòng chỉ nghĩ đến việc tại sao thế này, tại sao thế nọ để tìm cách đối phó. Với tâm trạng đó, Phêrô khó có thể nhận ra Chúa Giêsu đã sống lại.
Phần Gioan, ông yêu thương Chúa Giêsu và ông biết rằng, Chúa Giêsu đã yêu thương ông. Trong Phúc Am của ông, khi viết điều gì có thể liên quan đến mình thì thánh Gioan luôn dùng kiểu nói : “Người môn đệ được Chúa Giêsu yêu dấu”. Thánh Gioan đã yêu mến Chúa Giêsu thật sự, tình yêu đó thể hiện ra bên ngoài, nhất là trong những giờ phút cuối cùng, thánh Gioan đã theo chân Chúa Giêsu trên đường thập giá và cũng là tông đồ duy nhất đứng dưới chân thập giá. Cuối cùng, ngài chỉ về nhà cùng với Đức Mẹ sau khi chôn cất Chúa Giêsu xong.
Kinh nghiệm cho thấy rằng khi yêu ai thì người ta thường hay nghĩ đến người ấy, luôn cảm nghiệm cách hiện diện của người ấy trong cuộc đời của mình, dù cho nhiều khi hoàn cảnh bắt buộc phải xa nhau hoặc từ biệt. Gioan yêu mến Thày, vì thế Chúa Giêsu luôn hiện diện trong ông, vì vậy ông luôn nhớ lại lời giảng dạy của Thầy trong lòng và hy vọng Thầy sẽ sống lại. Vì Thầy đã từng nói : “Con Người sẽ bị nộp vào tay quân dữ, họ sẽ giết Ngài, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại”. Với tâm tình đó, Gioan nhận ra dễ dàng việc Chúa Kitô Phục sinh. Ông đã thấy và ông đã tin.
Qua việc phân tích tâm lý của ba nhân vật phần nào có thể giúp cho chúng ta một bài học thật quí giá là : “Chỉ có tình yêu đích thực từ đáy tâm hồn mới làm cho người ta dễ nhận ra Chúa Kitô Phục sinh”. Thật vậy, cuộc đời của người Kitô hữu là một cuộc hành trình đức tin, chúng ta cùng đi tìm Chúa, chúng ta có thể cảm thấy sự hiện diện của Chúa. Chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của mọi biến cố trong cuộc đời của mình, nếu chúng ta biết yêu Chúa như Gioan, nghĩa là làm cho tâm hồn mình luôn tiến bước trên con đường tình yêu của Chúa.
Ước gì cuộc hành trình đức tin ấy luôn là ngọn đèn soi d”n chúng ta tiến bước trong cuộc sống trần gian này, để rồi giữa những thử thách của cuộc đời, chúng ta biết nhận ra được sự hiện diện của Chúa luôn đồng hành với chúng ta. Xin Ngài gìn giữ đức tin của chúng ta luôn vững mạnh, đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.
 
 
[1]        «Phêrô nói :  “Lạy Thầy, với Thầy, con sẵn sàng vào tù, và dù có chết cũng cam lòng”» (Lc 22,33).  «Phêrô nói :  “Dầu có phải chết với Thầy con cũng không chối Thầy”.  Tất cả các môn đệ khác cũng đều nói như vậy» (Mt 26,35).
[2]        Trong lịch sử các tôn giáo, mọi huyền thoại đều phải hình thành trong những thời gian lâu hơn rất nhiều.
[3]        Ở đây, họ phao tin như thế mà vẫn vô sự nhờ có sự can thiệp đặc biệt của các tư tế với Philatô (Mt 28,13-15).
[4]        Gioan đến trước, nhìn vào trong mồ và «thấy những băng vải còn ở đó».  Simon đến sau, cũng nhìn vào trong mộ và cũng «thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu.  Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi» (Ga 20,3-8).  Khăn liệm này hiện còn lưu lại đến ngày nay.  Và kết quả của những nghiên cứu khoa học về khăn liệm này rất ăn khớp với những bài tường thuật trong các sách Tin Mừng.
[5]        Không thể nào hiểu được trong hoàn cảnh như thế mà người ta lại thay khăn liệm, hay cởi bỏ khăn liệm để đem thân xác trần trụi của Ngài đi, và nhất là có đủ thì giờ để cuốn lại, xếp lại và để riêng khăn che đầu ra khỏi các băng vải.
[6]        «Phêrô nói :  “Lạy Thầy, với Thầy, con sẵn sàng vào tù, và dù có chết cũng cam lòng”» (Lc 22,33).  «Phêrô nói :  “Dầu có phải chết với Thầy con cũng không chối Thầy”.  Tất cả các môn đệ khác cũng đều nói như vậy» (Mt 26,35).
[7]        Trong lịch sử các tôn giáo, mọi huyền thoại đều phải hình thành trong những thời gian lâu hơn rất nhiều.
[8]        Ở đây, họ phao tin như thế mà vẫn vô sự nhờ có sự can thiệp đặc biệt của các tư tế với Philatô (Mt 28,13-15).
[9]        Gioan đến trước, nhìn vào trong mồ và «thấy những băng vải còn ở đó».  Simon đến sau, cũng nhìn vào trong mộ và cũng «thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu.  Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi» (Ga 20,3-8).  Khăn liệm này hiện còn lưu lại đến ngày nay.  Và kết quả của những nghiên cứu khoa học về khăn liệm này rất ăn khớp với những bài tường thuật trong các sách Tin Mừng.
[10]     Không thể nào hiểu được trong hoàn cảnh như thế mà người ta lại thay khăn liệm, hay cởi bỏ khăn liệm để đem thân xác trần trụi của Ngài đi, và nhất là có đủ thì giờ để cuốn lại, xếp lại và để riêng khăn che đầu ra khỏi các băng vải.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây