Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 PS ABC Bài 101-150 Chúa đã sống lại

Thứ hai - 01/05/2017 10:38
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 PS ABC Bài 101-150 Chúa đã sống lại
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 PS ABC Bài 101-150 Chúa đã sống lại
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Phục Sinh ABC Bài 101-150 Chúa đã sống lại
PS1-101: CON NGƯỜI CŨ PHẢI PHỤC SINH THÀNH “CON NGƯỜI MỚI”. 2
PS1-102: RAO TRUYỀN ƠN PHỤC SINH Tgm Ngô Quang Kiệt 6
PS1-103: CHÚA ỊÃ SỐNG LẠI THẬT.. 8
PS1-104: Chúa đã sống lại rồi 9
PS1-105: LỄ PHỤC SINH 10.4.2004. 11
PS1-106: Bài giảng Lễ Vọng Phục Sinh - + Gm Phêrô Nguyễn văn Nhơn. 13
PS1-107: Bài giảng Lễ Vọng Phục Sinh - + Gm Nicolas Huỳnh Văn Nghi 14
PS1-108: Hãy V? Báo Tin Cho Các Anh Em Ta. 16
PS1-109: Niềm vui tĩnh lặng. 18
PS1-110: Chướng ngại trên đường tin vào Đấng Phục Sinh. 19
PS1-111: NGÔI MỘ TRỐNG - Gm Vũ Văn Thiên. 23
PS1-112: CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI THẬT.. 25
PS1-113: DƯỚI ÁNH SÁNG PHỤC SINH.. 37
PS1-114: CHUYỆN 3 NGƯỜI ĐI TÌM CHÚA.. 39
PS1-115: Những Chuyển Biến Mới. 41
PS1-116: Gặp gỡ Chúa Giêsu. 43
PS1-117: TÁC DỤNG CỦA NIỀM TIN PHỤC SINH.. 46
PS1-118: CÁC PHỤ NỮ VIẾNG MỒ.. 49
PS1-119: MỒ TRỐNG - SỨ ĐIỆP CÁC THIÊN THẦN.. 52
PS1-120: TUYÊN XƯNG NIỀM TIN.. 57
PS1-121: NGỘI MỘ MỞ TUNG VÀ TRỐNG RỖNG.. 59
PS1-122: MỒ TRỐNG.. 62
PS1-123: Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết 68
PS1-124: SLC – SỨ ĐIỆP PHỤC SINH GỬI QUA PHÊRÔ.. 74
PS1-125: SLCTTY/141 – KINH NGẠC.. 77
PS1-126: SLCTTY/141 – Đừng sợ. 79
PS1-127: CSTM/88 – Niềm tin. 80
PS1-128: Thiên Chúa Quan Phòng. 82
PS1-129: Ra khỏi mồ. 84
PS1-130: NGHE RA NHƯ OÁN NHƯ SẦU... ! 85
PS1-131: HÃY PHỤC SINH VỚI CHÚA KITÔ ALLELUIA.. 88
PS1-132: Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 92
PS1-133: Lời Chúa cho hôm nay: ĐỔI MỚI LÒNG TIN - Phó tế Nguyễn Định. 94
PS1-134: HÂY VUI LÊN - Sr Mai An Linh, OP. 96
PS1-135: NGÔI MỘ TRỐNG - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb. 98
PS1-136: LÀM CHỨNG CHO LÒNG TIN.. 100
PS1-137: Đức Kitô Sống lại từ cõi chết - Lm Nguyễn Bình An. 104
PS1-138: Mặt trời hé mọc. 106
PS1-139: SLC- Sứ Điệp Phục Sinh. 107
PS1-140: LỄ PHỤC SINH.. 110
PS1-141: LỄ PHỤC SINH.. 113
PS1-142: BIẾN CỐ PHỤC SINH.. 117
PS1-143: NGÔI MỘ TRỐNG.. 119
PS1-144: CHÚNG TA SẼ SỐNG LẠI. 122
PS1-145: HÃY VỀ BÁO TIN CHO CÁC MÔN ĐỆ.. 123
PS1-146: SÁNG CHÚA NHẬT PHỤC SINH.. 124
PS1-147: BIẾN CỐ PHỤC SINH.. 125
PS1-148: CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI 129
PS1-149: MÙA PHỤC SINH.. 131
PS1-150: LỄ VỌNG PHỤC SINH.. 133

 

PS1-101: CON NGƯỜI CŨ PHẢI PHỤC SINH THÀNH “CON NGƯỜI MỚI”

Lc 24, 1 – 12
CHIA SẺ
CÂU HỎI GỢI Ý:
 

Bạn đã trải qua bao nhiêu mùa Chay và mùa Phục sinh rồi ? Qua những mùa ấy, bạn có thật sự: PS1-101

1. Bạn đã trải qua bao nhiêu mùa Chay và mùa Phục sinh rồi ? Qua những mùa ấy, bạn có thật sự được biến đổi để thực hiện “con người mới” không ? Nếu không thì tại sao ? Cần phải biết rõ nguyên nhân.
2. Muốn được biến đổi thật sự nên “con người mới”, đâu là điều quan trọng có tính quyết định và tất yếu ? Đâu là những điều không quan trọng ?
3. Thiên thần nói: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ?” Ta có thể tìm gặp Đức Giê-su khi quá chú trọng đến những phương tiện để gặp Ngài không ?
SUY TƯ GỢI Ý:
1. QUA MỘT MÙA CHAY, TA ĐÃ THẤY MÌNH ĐƯỢC BIẾN ĐỔI CHƯA ?
Hôm nay là lễ Phục Sinh. Thế là chúng ta đã qua mùa Chay thánh, mùa của ăn năn sám hối, của cải thiện đời sống. Nếu ta sống mùa Chay đúng với tinh thần phải có của mùa Chay, chắc hẳn ta đã cảm thấy mình như được phục sinh trở lại về mặt tâm linh, nghĩa là trở thành “con người mới”. Nhưng ta thử xét lại xem dịp lễ Phục Sinh này, ta có trở thành “con người mới” thật sự không ? Ta đã sống lại cùng với Đức Giê-su Phục Sinh chưa ? Cuộc đời ta đã thật sự thay đổi chưa ?
Cuộc đời Ki-tô hữu của ta đã trải qua không biết bao nhiêu là mùa Chay, còn được gọi là “Mùa Xuân của Giáo Hội”, với bao nhiêu cuộc tĩnh tâm, cấm phòng, canh thức… Nhưng nhìn lại bản thân, nhiều khi ta thấy mình chẳng được biến đổi bao nhiêu. Đáng lẽ mỗi dịp mùa Chay, ta phải tiến lên một bước trên con đường tâm linh. Nhưng hỡi ôi, đôi lúc ta thấy mình như thụt lùi, tình trạng tâm linh của ta hiện nay đôi khi không bằng ngày xưa. Nếu có tiến bộ, thì chẳng bao nhiêu, nghĩa là dường như ta chẳng thay đổi gì cả hay chẳng thay đổi bao nhiêu. Nhất là ta chưa cảm nhận được một sức mạnh đến từ bên trong giúp sống thánh thiện hơn, yêu thương hơn, vui tươi hạnh phúc hơn, đúng như một Ki-tô hữu đáng lý phải như thế.
Tóm lại, bản thân tôi hiện nay, dù trải qua bao nhiêu mùa Chay và mùa Phục sinh, dường như vẫn chỉ là “con người cũ”, chưa hề được biến đổi ra “con người mới” bao giờ.
2. QUÁ TRÌNH PHẢI CÓ ĐỂ BIẾN ĐỔI
Làm việc gì, muốn thành công cũng đều phải có phương pháp, phải tuân theo một quá trình hợp lý và hữu hiệu. Vậy phải theo phương pháp hay quá trình nào mới có thể biến từ con người cũ sang con người mới ? Bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu cho ta hai điều quan trọng,
a ) QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI:
Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại”. Đức Giê-su được biến đổi thành thân thể phục sinh bằng cách chịu đau khổ và chết đi. Chỉ sau khi chết đi, Ngài mới có thể sống lại. Ngài đã từng nói bóng gió về quá trình này, “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn mãi mãi chỉ là hạt lúa; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” ( Ga 12, 24 ). Do đó, muốn biến đổi “con người cũ” thành “con người mới”, thì điều kiện không thể không có là “con người cũ” phải chết đi.
Con người cũ” ở đây phải được hiểu là “cái tôi ích kỷ” mà ta luôn luôn muốn bảo vệ, muốn đề cao, muốn tất cả mọi người mọi sự phải quy hướng về, muốn là “cái rốn” của vũ trụ, muốn phình to lên để đè bẹp và lấn át những “cái tôi” khác… “Con người cũ” ấy phải chết đi, thì “con người mới” kia mới sinh ra được. “Chết đi” ở đây không hiểu theo nghĩa đen, mà theo nghĩa tâm linh. “Chết đi” là dù nó đang có, dù ta đang cảm nghiệm nó một cách rất rõ ràng, ý thức về nó một cách rất sâu sắc, nhưng ta hãy coi nó như không có, như nó chẳng là gì cả, như nó không đáng ta phải quá bận tâm. Và tích cực hơn nữa là thái độ sẵn sàng chấp nhận để “cái tôi” ấy bị đau khổ, bị hạ giá, bị mất đi, bị quên lãng, thậm chí bị hủy diệt để ích lợi cho Thiên Chúa và tha nhân. Làm như thế là thực hiện tinh thần xóa mình, quên mình, từ bỏ mình của Đức Giê-su. Ngài đã từng nói: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” ( Mt 16, 24; Mc 8, 34; Lc 9, 23 ).
Thái độ tự xóa này phải là một thái độ chân thành, nghĩa là phải luôn luôn sẵn sàng trở thành hành động thực tế. Điều hết sức nghịch lý là khi “cái tôi” của ta càng sẵn sàng xóa mình, chấp nhận đau khổ hay bị hủy diệt, thì Thiên Chúa và tha nhân càng thấy “cái tôi” ấy của ta giá trị lên, và “cái tôi” ấy càng cảm thấy tràn đầy sức sống, sự mạnh mẽ của Thiên Chúa. Đúng như lời của thánh Phanxicô Assi: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân – chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” ( chữ chết đivui sống muôn đời ở đây nên hiểu là một thái độ sống, chứ đừng hiểu theo nghĩa đen, mặc dù nghĩa đen cũng có phần đúng ).
Bản thân hay con người ta phải trống đi “cái tôi”, cùng với những thứ liên quan tới nó như “ý muốn của tôi”, “ý kiến của tôi”, chỉ khi ấy Thiên Chúa mới lấp đầy bản thân ta bằng sức mạnh của Ngài được. Làm trống rỗng “cái tôi” ấy là cách khôn ngoan nhất để nhận được sức mạnh vô biên của Thiên Chúa. Hãy dùng một minh họa để dễ hiểu. Giả như ta có một bình nước đang đựng một chất nước không đáng giá. Bây giờ ta muốn dùng nó để đựng một chất nước quý giá gấp ngàn lần. Lúc đó ta phải làm sao ? Người khôn ngoan sẽ đổ hết tất cả nước cũ ra ngoài hầu có thể đổ vào đó tối đa thứ nước quý giá kia. Cũng vậy, bản thân ta như cái bình, muốn nhận được sức mạnh vô song của Thiên Chúa thì phải đổ bỏ hoàn toàn nước cũ kém giá trị kia đi là “cái tôi” của ta. Chỉ cần còn lại một ít nước cũ trong bình thì chất nước mới sẽ kém chất lượng và không thể chiếm trọn dung tích bình được.
Tóm lại, muốn cho “con người mới” sinh ra, thì “con người cũ” phải chết đi. “Chết đi” được thực hiện trong tinh thần ( chứ không phải bằng thân xác ) là sẵn sàng chấp nhận đau khổ, nhục nhã, thiệt thòi, bất an, vì tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Còn là “con người cũ”, ta chỉ có được những hạnh phúc mau qua được xây dựng bằng những thực tại trần gian. Trở thành “con người mới” ta sẽ đạt được bình an và hạnh phúc siêu nhiên, bền vững, không ai lấy mất được ( x. Ga 16, 22; Rm 8, 38-39 ), và tâm hồn ta mạnh mẽ hơn lên rất nhiều ( x. Mt 11, 12; Cv 1, 8; 4, 33; Pl 4, 13 ).
Điều tôi khám phá ra và trở thành một kinh nghiệm quí báu của tôi, đó là khi tôi sẵn sàng chấp nhận bất cứ thứ đau khổ nào xảy đến, thậm chí phải chết đau đớn và nhục nhã, thì khó có điều gì xảy đến có thể làm tôi đau khổ. Vì sẵn sàng chấp nhận như thế, nên tôi phần nào trở nên “vô úy”, không sợ hãi những điều mà trước đây tôi luôn luôn lo sợ. Nhờ vậy, tôi thấy tâm hồn mình mạnh mẽ hơn lên rất nhiều. Hóa ra càng sẵn sàng chấp nhận đau khổ, thì nghịch cảnh càng khó làm cho mình đau khổ. Và điều kỳ diệu hơn nữa là nghịch cảnh dường như ít xảy đến với tôi hơn. Các bạn cứ thử thí nghiệm như tôi đi, tôi nghĩ các bạn cũng sẽ thấy như vậy.
b ) BÍ QUYẾT BIẾN ĐỔI:
Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ?” Đây là một thái độ thông thường của rất nhiều Ki-tô hữu. Chúng ta muốn tìm sự sống, nhưng lại tìm ở những nơi, những thực tại không sự sống. Sự sống phát xuất từ Đức Giê-su, từ chính bản thân Ngài, từ Thần Khí của Ngài, hơn là từ lý thuyết của Ngài hay của bất kỳ ai, hơn là từ những công việc của Ngài. Vì thế, muốn tìm sự sống, ta phải gắn bó với bản thân Ngài, tiếp xúc thật sự với chính Ngài, trở nên một với Ngài, chứ không phải với bất kỳ cái gì khác với Ngài, dù là giáo lý của Ngài, lời nói của Ngài, những lý thuyết nói về Ngài…
Chỉ có Ngài hay Thần Khí của Ngài mới có thể ban cho ta sự sống chứ không phải những thứ khác. Giáo lý của Ngài, lời nói của Ngài, những lý thuyết nói về Ngài chỉ là những phương tiện ban đầu giúp ta hiểu Ngài, đến với Ngài, và nhờ đó ta kết hiệp được với Ngài, chứ những thứ đó không hề có khả năng đem lại sự sống cho chúng ta. Những thứ đó thường chỉ ví như những “văn tự chết”: “Chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống” ( 2Cr 3, 6 ). Tôi không phủ nhận sự cần thiết của giáo thuyết, giáo lý hay thần học, của các bí tích, các lễ nghi… Nhưng tất cả những thứ ấy chỉ là những phương tiện dẫn ta đến với Thiên Chúa hay Đức Giê-su. Tất cả những thứ ấy tuyệt đối không thể ban cho ta sự sống hay sức mạnh. Nếu ta dùng tất cả những phương tiện ấy mà không nhắm gặp được chính bản thân Đức Giê-su, thì tất cả đều trở nên vô ích. Còn nếu ta quyết tâm tìm gặp chính Đức Giê-su, gặp chính Ngài, cảm nghiệm được Ngài, kết hiệp với Ngài, thì ta mới nhận được sự sống từ Ngài, mà không luôn luôn nhất thiết phải nhờ một phương tiện cố định nào.
Thật vậy, rất nhiều khi ta dâng thánh lễ, hay rước lễ chỉ là để dâng thánh lễ hay rước lễ, chứ không phải là để gặp Đức Giê-su. Tâm trí ta bị thu hút bởi thánh lễ, bởi việc rước lễ, chứ không phải bởi việc gặp Đức Giê-su. Chúng ta bị thu hút hoàn toàn bởi phương tiện ta dùng, mà quên đi chính mục đích. Chính vì thế, rất nhiều khi ta đến với phép Thánh Thể, đến với Thánh Lễ, rước lễ mà chẳng gặp được Đức Giê-su. Muốn gặp Đức Giê-su, ta phải tìm chính bản thân Đức Giê-su, Ngài rất dễ tìm, vì Ngài hiện diện khắp nơi, trong các tạo vật, nhất là nơi những người sống chung quanh ta, và nơi cung lòng của chính chúng ta.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, con chỉ có thể trở thành “con người mới” khi “con người cũ” của con chết đi. Xin giúp con chết đi con người ích kỷ của con, để con người vị tha của con có thể sinh ra.         
Gs.NGUYỄN CHÍNH KẾT

 

PS1-102: RAO TRUYỀN ƠN PHỤC SINH Tgm Ngô Quang Kiệt

Lc 24, 13 – 35
 

Sau ngày Chúa chịu chết, các môn đệ rơi vào một tình trạng thê thảm: buồn rầu, sợ hãi, chán nản: PS1-102

Sau ngày Chúa chịu chết, các môn đệ rơi vào một tình trạng thê thảm: buồn rầu, sợ hãi, chán nản, thất vọng. Còn đâu niềm vui khi được ở bên người Thầy yêu dấu. Còn đâu niềm an ủi khi thấy những người đói khát được ăn no, người bệnh tật được chữa lành, kẻ tội lỗi được tha thứ, người chết được sống lại. Còn đâu niềm hi vọng tràn trề khi chứng kiến ma quỉ bị xua đuổi.
Tất cả đã chìm vào quá khứ. Giờ đây sự ác đã chiến thắng, sự dữ đã thống trị. Cả một bầu trời tang tóc phủ trùm trên những người tin Chúa. Tâm hồn các ngài như đã chết. Niềm tin yêu hi vọng của các ngài như cùng bị chôn táng trong mộ với người Thầy yêu quí.
Giữa lúc ấy, Chúa sống lại khải hoàn. Đức Giê-su Phục Sinh đã khiến cuộc đời các ngài thay đổi tận gốc rễ. Khi tảng đá lấp cửa mộ tung ra cũng là lúc tâm hồn các ngài thoát khỏi màn đêm vây phủ. Khi gặp được Chúa Phục Sinh, tâm hồn các ngài bừng lên sức sống mới. Máu chảy rần rần. Tim đập rộn ràng. Mắt sáng. Miệng tươi. Các ngài như người đã chết nay sống lại. Đức Giê-su đã Phục Sinh tâm hồn các ngài. Sự sống mới của Chúa đã tràn vào các ngài. Ơn phục sinh đã được ban cho các ngài Sự sợ hãi đã trở thành mạnh dạn. Sự yếu đuối đã trở nên mạnh mẽ. Sự thất vọng đã biến thành hi vọng. Nỗi sầu khổ đã biến thành niềm vui.
Cảm nghiệm ơn phục sinh rồi, các môn đệ không còn có thể ngồi yên trong căn phòng đóng kín cửa nữa. Các ngài mở tung cửa, hăng hái ra đi đem Tin Mừng Phục Sinh chia sẻ cho mọi người. Các ngài muốn vực dậy những mảnh đời đang chết dần mòn. Các ngài muốn phục hồi những tâm hồn đang héo úa. Các ngài muốn thế giới biến đổi trong một đời sống mới, tươi vui, hạnh phúc, dồi dào hơn.
Hôm nay Chúa muốn cho tất cả mọi người chúng ta, noi gương các Thánh Tông đồ, tiếp nối công việc của Chúa, đem ơn phục sinh đến với mọi người.
Có những người đang chết dần mòn vì không đủ cơm ăn áo mặc. Có những cuộc đời tàn lụi đi vì bệnh hoạn tật nguyền. Có những tấm thân gầy mòn vì lao lực vất vả. Có những cuộc đời trẻ thơ bị giam kín trong tăm tối thất học, nghèo nàn. Tất cả đang đợi chờ được Phục Sinh.
Có những tâm hồn đang ủ rũ vì buồn phiền. Có những mạch máu như ngừng chảy vì đau khổ. Có những trái tim đang tan nát vì bị phản bội. Có những cuộc đời cay đắng vì thất bại. Có những tương lai bị chôn kín trong những nấm mồ đen tối không lối thoát. Tất cả đang đợi chờ ơn Phục Sinh.
Nhất là có những tâm hồn đang lún sâu trong vũng lầy tội lỗi. Có những linh hồn đang tự hủy hoại trong đam mê tiền bạc, quyền lợi, danh vọng. Có những niềm tin héo úa vì lạc hướng. Có những đời sống đang rỉ máu vì chia rẽ bất hoà. Có những cuộc đời đang chao đảo vì gặp khó khăn thử thách. Tất cả đang đợi chờ ơn Phục Sinh.
Đem Tin Mừng Phục Sinh đó là giúp cuộc đời anh em thoát khỏi những bế tắc, giúp cho linh hồn anh em được sống cao thượng và khôi phục niềm tin yêu của anh em vào Thiên chúa, vào con người và vào cuộc đời. Tuy nhiên, để có thể đem Tin Mừng Phục Sinh đến với mọi người, bản thân ta cần được Phục Sinh trước. Trong chính bản thân ta cũng đang chất chứa những mầm mống chết chóc đó là những tội lỗi, đam mê, dục vọng. Trong chính bản thân ta cũng đang ấp ủ những lực lượng tàn phá đó là thói kiêu căng, ích kỷ, chia rẽ, bất hoà, tham lam, bất công. Trong chính bản thân ta đức tin đang héo úa, lòng mến đang nguội lạnh, niềm hi vọng đang lụi tàn.
Để đón nhận được ơn Phục Sinh và để ơn Phục Sinh có thể thấm vào mọi ngõ ngách trong tâm hồn, ta phải cộng tác với Chúa, tẩy trừ mọi lực lượng sự chết ra khỏi tâm hồn ta. Cuộc chiến đấu sẽ khốc liệt vì ta phải chiến đấu với chính bản thân mình. Nhưng với ơn Chúa Phục Sinh trợ giúp, chắc chắn ta sẽ toàn thắng.
Lạy Chúa Phục Sinh, xin ban ơn cho con được sống lại thật về phần linh hồn. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ
1- Bạn có nhận thấy những lực lượng sự chết đang ở trong người bạn không ? Bạn có muốn loại trừ chúng không ?
2- Bạn có thấy ơn phục sinh là cần thiết không ?
3- Bạn có sẵn sàng đem ơn phục sinh cho mọi người không ?
4- Tuần này, bạn sẽ sống mầu nhiệm Chúa Phục Sinh thế nào ?
Gm. NGÔ QUANG KIỆT

 

PS1-103: CHÚA ỊÃ SỐNG LẠI THẬT

(Lễ Đêm Phục Sinh)
 

Đỉnh cao của năm phụng vụ là Đêm Phục Sinh, vì đêm nay chúng ta mừng Chúa Sống Lại. Sự kiện: PS1-103

Đỉnh cao của năm phụng vụ là Đêm Phục Sinh, vì đêm nay chúng ta mừng Chúa Sống Lại. Sự kiện Chúa Giêsu sinh ra, lớn lên, đi giảng đạo, bị đóng đinh và giết chết, mọi người đều có thể tin, kể cả những người không theo Đạo Chúa. Nhưng việc Chúa Sống Lại là một điều đặc thù của niềm tin kitô giáo. Chỉ những người kitô hữu mới tin Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Ai tin Chúa Sống Lại, đã là người Kitô hữu trong tâm hồn, dù chưa chịu phép rửa. Chính vì thế mà thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu thành Rôma: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ”. ( Rm 10, 9 ).

Các sách Tin mừng không mô tả việc Chúa sống lại, vì đây là một sự kiện siêu việt, huyền nhiệm: Đức Kitô đã vượt qua thế gian về cùng Chúa Cha, vượt qua các ranh giới thời gian và không gian, vượt qua giới hạn của sự chết, chiến thắng sự chết và không còn chết nữa. Tin mừng Luca kể lại việc mấy người phụ nữ ra thăm mộ của Chúa Giêsu, không thấy xác Người đâu nữa, chỉ thấy thiên thần hiện ra cho biết là Chúa đã trổi dậy, đã sống lại. Người không còn trong ngôi mộ, vì đó là chỗ của người chết, không phải là chỗ của người sống.

Đức Kitô đã sống lại là tín điều trọng tâm của đức tin Kitô giáo. Những người tân tòng chịu phép rửa đêm nay sẽ tuyên xưng cùng với chúng ta Đức Kitô đã sống lại, mọi người vui mừng, hát Alleluia để chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa. Chúa Giêsu Sống Lại xác nhận tất cả những gì Người đã nói và đã làm khi còn tại thế là đúng sự thật. Người đích thực là Con Thiên Chúa, là Chúa và là Thiên Chúa, như lời thánh Tôma tông đồ tuyên xưng khi gặp Chúa Phục Sinh. Cái chết của Đức Giêsu giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi, sự sống lại của Người cho chúng ta thông phần sự sống mới, được trở nên con cái của Thiên Chúa cùng với Người và trong Người. Sự Phục Sinh của Chúa còn là nguyên lý và là nguồn suối sự Phục Sinh mai ngày của chúng ta.

Sự Phục Sinh của Chúa cho chúng ta thấy rõ Tình Yêu mạnh hơn sự chết và tội lỗi của con người. Tiếng nói cuối cùng không phải là của sự dữ và tội ác, mà là lòng xót thương và ơn tha thứ của Thiên Chúa. Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu cho phép chúng ta có một cái nhìn lạc quan hơn về thế giới và lịch sử, về con người và xã hội. Dù phải trải qua bao nhiêu đau khổ và thăng trầm, bao nhiêu tội ác và xung đột. Số phận cuối cùng của con người sẽ giống như sự Phục Sinh của Chúa, chiến thắng sự dữ, chiến thắng tội ác, gặp được điều lành, biết được chân lý, đạt tới những gì là cao đẹp của đời sống con người. Quan trọng hơn cả là gặp được Chúa; chỉ khi gặp Chúa, chúng ta mới được sống đích thực và trọn vẹn, vì Chúa là Sự Sống Lại và là Sự Sống.

Chúng ta ước mong và cầu nguyện cho các anh chị em dự tòng chịu phép rửa đêm nay, xin cho các anh chị em được gặp Chúa bằng đức tin và lòng mến, đón nhận được Sự Sống của Chúa, Thần Khí của Chúa qua phép rửa. Xin cho các anh chị em chung với chúng ta, cùng chết với chúa để cùng sống lại với Người. Xin cho anh chị em, hôm nay được rước Chúa lần đầu tin thật đó là Mình và Máu Thánh Chúa, là Chính Chúa đến với chúng ta trong mầu nhiệm Thánh lễ mà chúng ta cử hành. Xin Thiên Chúa Cha chúc phúc cho anh chị em, như đã chúc phúc cho Chúa Giêsu và đã cho Người Sống lại từ cõi chết.
+ Giám mục Bùi văn Đọc


 

PS1-104: Chúa đã sống lại rồi

CHỦ NHẬT PHỤC SINH

Tin mừng : Ga 20, 1-9.

Anh chị em thân mến,

 

Chúa đã sống lại rồi- Alleluia !. Đó là điệp khúc vui mừng của chúng ta và của cả nhân loại: PS1-104

 “Chúa đã sống lại rồi- Alleluia !”
Đó là điệp khúc vui mừng của chúng ta và của cả nhân loại, vui mừng vì nhân loại sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi, vui mừng vì từ nay cửa thiên đàng rộng mở chờ đón chúng ta, vui mừng vì sự ác sẽ không còn thống trị mặt đất nữa, nhưng cái vui mừng hiện tại nhất của chúng ta hôm nay chính là : chúng ta đã được cùng với Chúa Kitô sống lại sau bốn mươi ngày chết cho tội lỗi.

Trong niềm vui phục sinh hôm nay, tôi xin chia sẻ với anh chị em hai điểm này :

1. Phục Sinh là chổi dậy và đi lên.

Chúa Giêsu đã phục sinh, Ngài đã chổi dậy ra khỏi mồ và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, đó là đức tin và là niềm vui cứu độ của chúng ta.

Chúa Giêsu đã phục sinh nghĩa là Ngài đã chổi dậy từ thân xác bất động trở nên sống động, từ trong mộ đá lạnh tanh toả sáng vinh quang phục sinh của Thiên Chúa, từ cõi chết đi qua sự sống, đó chính là những dấu hiệu để cho chúng ta thấy được rằng Ngài chính là Thiên Chúa và là Đấng cứu độ trần gian.

Chia sẻ niềm vui phục sinh này với Chúa Kitô, không phải là chúng ta chỉ hân hoan hát Alleluia mà thôi, nhưng chúng ta phải thật sự sống lại với Ngài, đi ra khỏi tội lỗi và nơi chốn khiến chúng ta phạm tội, để nơi nào có mặt chúng ta là ở đó ánh sáng và gương lành phục sinh của Chúa Kitô ở trong chúng ta hấp dẫn người khác đi theo ánh sáng Tin Mừng của Ngài.

2. Phục Sinh là hiệu quả của yêu thương.

“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46b) và thế là mọi sự đã hoàn tất (Ga 19, 30) : hoàn tất cuộc khổ nạn, hoàn tất chương trình cứu độ ở trần gian, hoàn tất ba mươi ba năm chia sẻ thân phận làm người, để rồi đỉnh cao hoàn tất chính là sự phục sinh vinh hiển của Ngài -Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ trần gian.

Phục Sinh là hiệu quả của tình yêu, bởi vì Chúa Giêsu Kitô vì yêu thương nhân loại đã đi qua sự chết và đã sống lại, đó chính là hạt lúa mì được gieo vào lòng đất chịu mục nát và trở thành cây lúa mì đơm hoa kết trái nuôi sống muôn người. Chúa Kitô chính là hạt lúa mì, là hạt tình yêu bởi trời gieo vào trong thế gian để cho thế gian nhờ Ngài mà được sự sống đời đời.

Chúa Kitô đã sống lại, Ngài cũng mời gọi chúng ta cùng sống lại với Ngài để đem niềm tin yêu phục sinh này cho mọi người, đó chính là nguồn mạch của yêu thương, bởi vì tình yêu không qua đau khổ là tình yêu chưa trọn vẹn và chưa hoàn hảo. Do đó, khi chúng ta loan báo tin vui Phục Sinh cho tha nhân thì chính là lúc chúng ta làm chứng rằng : Phục Sinh không chỉ là Chúa Kitô sống lại mà thôi, nhưng còn là sự sống lại cho những kẻ tin yêu Ngài mà chịu nhiều gian khổ và hi sinh.

Anh chị em thân mến,

Chúa Kitô đã sống lại như lời của Ngài đã nói, sự sống lại này đã đổi mới tâm hồn tội lỗi của chúng ta trở nên đền thờ của Ngài. Ba ngày trong mồ đá là biểu tượng quyền lực của ma quỷ tạm thời thắng thế, nhưng ba ngày sau, từ trong mồ đá này, ma quỷ đã thất bại vì Chúa Kitô đã sống lại vinh hiển và muôn đời thống trị ác thần.

Chúa đã sống lại rồi, Alleluia.

Xin Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật Phục Sinh tại nhà thờ Phục Sinh-Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

PS1-105: LỄ PHỤC SINH 10.4.2004

Lễ Phục Sinh là "Lễ Trọng trên hết các Lễ Trọng" và "Chúa Nhật Phục Sinh là Chúa Nhật vĩ : PS1-105

Lễ Phục Sinh là "Lễ Trọng trên hết các Lễ Trọng" "Chúa Nhật Phục Sinh là Chúa Nhật vĩ đại" ( Giáo Lý 1169 ). Giáo Hội gọi "Mầu Nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của Đức Tin" ( Giáo Lý 638 ). Tại sao ?
Nguồn gốc và ý nghĩa: "Lễ Phục Sinh", như tuyên xưng trong Bài Ca Phục Sinh Phụng Vụ Bizantin, là Lễ Trọng tôn vinh "Mầu Nhiệm Chúa Ki-tô sống lại từ cõi chết" ( Giáo Lý 638 ). Nhưng, các cách gọi khác về Phụng Vụ được hình thành và phát triển "từ ngày Hiện Xuống, ngày Giáo Hội xuất hiện nơi trần gian với các giáo hữu kiên tâm theo lời giáo huấn của các Sứ Đồ, cùng nhau quy tụ để cử hành Mầu Nhiệm Phục Sinh, loan truyền sứ điệp cứu rỗi cho những kẻ không tin để mọi người nhận biết một Thiên Chúa duy nhất và chân thật, cùng Đấng Ngài sai là Chúa Giê-su Ki-tô" ( Phụng Vụ Thánh 6, 9 ).
Do đó, Lễ Phục Sinh tiếng Anh là Easter – liên hệ đến bụt thần "Bình Minh và Mùa Xuân là Eastre". Vì thế, có nhiều anh em Ki-tô Giáo ngoài Công Giáo, như Tin Lành, Baptist, Methodist, Chính Thống v.v... tin vào Đức Ki-tô sống lại, mừng Lễ Phục Sinh vào lúc "bình minh", ở nơi cao hay nơi rộng thoáng hướng về phía nhìn thấy "Mặt Trời mọc". Thời xưa, có nơi Lễ được mừng suốt cả tuần 7 ngày. Dần dần, ngày Lễ có kèm theo từ "Resurrectio – Phục Sinh", như Sách Lễ La-tinh gọi Lễ Phục Sinh là "Pascha Resurrectionis", hoặc "Dominica Resurrectionis".
Đêm Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mừng "Đêm Thánh Vọng Phục Sinh", với Phụng Vụ hát trọng thể bài Exultet mừng vui tuyệt vời:
"Vì đây là Lễ Vượt Qua..., đêm xưa kia Thiên Chúa đã đưa cha ông chúng ta, con cái Israel ra khỏi Ai-cập, qua Biển Đỏ khô chân. Bởi vậy, đêm này phá tan bóng tối tội lỗi bằng ánh sáng cột lửa. Này là đêm làm cho các người tin Chúa Ki-tô ngày nay trên khắp hosàn vũ thoát khỏi nết xấu thế gian và bóng tối tội lỗi, đưa họ về ơn Chúa và cho họ thông dự vào sự thánh thiện... Oi tội hồng phúc, vì đã đáng được Đấng Cứu Chuộc cao sang như thế..." ( Trích Sách Lễ Giáo Dân, trang 385 ).
Ngay Thánh Lễ Trong Ngày, bài ca Tiếp Liên, xưa kia gọi là "Victimae Paschali", cũng nêu cao liên hệ giữa "hy lễ Vượt Qua""Đức Ki-tô Phục Sinh" như sau:
"Các Ki-tô hữu hãy tiến dâng lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua. Chiên Con đã cứu chuộc đàn chiên mẹ: Đức Ki-tô vô tội đã hòa giải tội nhân với Chúa Cha. Sống và chết, hai bên song đấu cách diệu kỳ, tướng lãnh Sự Sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai tri... Tôi đã thấy mồ Đức Ki-tô đang sống và vinh quang của Đấng Phục Sinh..." ( Sách Lễ Giáo Dân trang 423 ).
Một số truyền thống dân gian, như Trứng Phục Sinh và Thỏ Phục Sinh, cũng giúp hiểu thêm ý nghĩa Lễ Phục Sinh. Theo Phụng Vụ xưa, giáo hữu không được ăn trứng trong Mùa Chay, đến ngày Lễ Phục Sinh, họ mới được dọn món trứng ra bàn ăn. Trứng còn sơn đỏ chỉ sự vui mừng Phục Sinh. Có giải thích khác rằng: trứng mang mầm sống, tượng trưng khả năng sinh sản – fertility. Theo tập tục của rất đông dân ngoại xưa kia: biểu hiệu trứng như mầm sống của Mùa Xuân mới. Dân gian còn bày ra trò tô màu trứng và giấu cho trẻ con thi nhau tìm, như ở Mỹ có trò chơi nhặt trứng – egg-picking. Còn thỏ, đối với dân ngoại thời xưa, cũng là biểu hiệu cho khả năng sinh sản. Về sau trong cách tục hóa nền thương mại, Thỏ Phục Sinh đẻ trứng và được giấu trong vườn để dân chúng hoặc trẻ con thi đua tìm kiếm, làm trò vui trong ngày Lễ Phục Sinh.
MẦU NHIỆM PHỤC SINH
Giáo Hội dạy: "Sự Phục Sinh của Chúa Ki-tô là chân lý chóp đỉnh của Đức Tin về Đức Ki-tô. Đó là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Ki-tô Giáo nguyên thủy; rồi được truyền đạt lại như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của Mầu Nhiệm Vượt Qua cùng với Mầu Nhiệm Thánh Giá" ( Giáo Lý 638 ). "Không có Phục Sinh thì không có đạo Công Giáo. Mầu Nhiệm Phục Sinh đã được lịch sử nhận thực, được chứng tỏ trong bộ Tân Ước, được các Tông Đồ và nhất là Thánh Phao-lô Tông Đồ hằng rao giảng" ( Giáo Lý 639 ).
Do đó, điều tốt nhất Giáo Hội ước mong trong Mùa Phục Sinh là các giáo hữu hãy siêng năng học hỏi Giáo Lý và đọc Kinh Thánh.
Ks. TRẦN VĂN TRÍ, Hiệp Nhất số 136, tháng 4.2004

 

PS1-106: Bài giảng Lễ Vọng Phục Sinh - + Gm Phêrô Nguyễn văn Nhơn

VietCatholic News (12/04/2004 )

Bài giảng Đêm Vọng Phục Sinh

 

Đêm canh thức Phục Sinh gồm hai thì : một thì thực hiện trong bóng tối và một thì thực hiện trong: PS1-106

Đêm canh thức Phục Sinh gồm hai thì : một thì thực hiện trong bóng tối và một thì thực hiện trong ánh sáng chan hòa.

Thì thứ nhất làm sống lại thời kỳ con người sống trong bóng tối của tội lỗi và sự chết, sống trong chờ đợi và hy vọng : Các bài Kinh thánh Cựu Ước vừa nói lên với chúng ta tâm trạng của con người trong thời kỳ này : Tội lỗi, đau khổ, chết chóc chen lẫn sám hối, tha thứ, hy vọng. Một cách nào đó, nơi này nơi kia, trong nguời này người nọ, vẫn tồn tại bóng tối của tội lỗi. Đó chính là toàn bộ cuộc sống con người. Vì vậy, khởi đầu cuộc canh thức này chúng ta đi trong bóng tối.

Thì thứ hai : nến Phục Sinh được thắp lên, ánh sáng tỏa lan khắp nhà thờ và nơi khuôn mặt mọi người, đó là ánh sáng Đức Kitô, là Đức Kitô sống lại từ trong kẻ chết vàø làm cho kẻ chết được sống lại. Cũng là lịch sữ của con người tái sinh trong Đức Kitô Phục Sinh.

Phúc âm thánh Luca thuật lại : Từ sáng sớm, các người phụ nữ mang dầu thơm ra viếng xác Chúa Giêsu … Các bà không ngờ ngôi mộ bị bỏ trống … Ngạc nhiên, sợ hãi … về thuật lại cho các tông đồ … Các ông không tin vì nghĩ rằng không nên tin các bà … Phêrô ra mộ kiểm chứng và cũng thấy như vậy. Thánh Luca không cho biết lúc ấy Phêrô có tin hay không (chỉ biết rằng theo những gì được tường thuật trong các sách Phúc âm, thì Phêrô được Chúa Giêsu hiện ra trước các tông đồ khác - như trong câu chuyện hai môn đệ trên đường về làng Emmau đã nhắc đến, hoặc lúc được trao sứ mệnh khi trở lại thì kiện toàn đức tin của anh em …)

Phải bình tình để nhớ lại : Thì ra tất cả đều đã được loan báo trước : “Con Người phải bị nộp vào tay kẻ tội lỗi, bị đóng đinh vào thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại” … hôm nay đúng là ngày thứ ba. Nếu Đức Kitô không sống lại như lời Ngài đã loan báo trước, thì quả thật cuộc sống của con người với những nổ lực, những hy sinh, những hy vọng … đều trở thành vô nghĩa. Ngược lại, chính sự Phục Sinh của Đức Kitô làm chúng ta tin tưởng có một con đường dẫn đến sự sống đời đời và hạnh phúc đời đời như con người luôn khát vọng, đó là con đường theo Đức Kitô và nhờ Đức Kitô mà chết cho tội lỗi để được sống lại với Ngài : đó chính là ý nghĩa và mục đích của việc Ngôi Lời Nhập thể, chịu chết và sống lại.

Ngay từ đầu Mùa Chay, với việc kêu gọi ăn năn sám hối tội lỗi, chúng ta cũng đã hướng đến và cùng đồng hành với các anh chị em dự tòng. Cũng như các tông đồ và các người nữ đã vất vả, từng bước mới gặp gỡ, đón nhận được Đức Kitô Phục Sinh và đi theo Ngài, thì anh chị em của chúng ta cũng đã phải trãi qua một đoạn đường rất dài, không phải chỉ từ đầu Mùa Chay, mà là từ đầu cuộc đời của mình, là lúc mà chính Đức Kitô đã kêu gọi và đồng hành với các anh chị, để dẫn dắt các anh chị đến ngày hôm nay.

Trong sức mạnh của Đức Kitô Phục Sinh, bởi tình yêu của Chúa Cha và ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, hiệp thông với Hội thánh toàn cầu, những anh chị em của chúng ta giờ đây được ơn thanh tẩy để làm con Chúa và con Hội thánh, là những người anh chị em của chúng ta trong Đức Kitô. Hãy rộng mở tâm hồn đón nhận những anh chị em này cũng như vô vàn anh chị em khác mà hằng ngày trong cuộc sống Chúa gửi gắm cho chúng ta, để cùng nhau xây dựng một thế giới yêu thương và được cứu độ.
+ Giám mục Phêrô Nguyễn văn Nhơn


 

PS1-107: Bài giảng Lễ Vọng Phục Sinh - + Gm Nicolas Huỳnh Văn Nghi

VietCatholic News (12/04/2004 )

Bài giảng Lễ Vọng Phục Sinh

Anh chị em thân mến,

 

Trong phần kết luận bài giảng hôm qua, tôi đã nói với anh chị em: Sự hiệp nhất giữa các môn: PS1-107

Trong phần kết luận bài giảng hôm qua, tôi đã nói với anh chị em: Sự hiệp nhất giữa các môn đệ của Chúa, không những là nguyện vọng, là lời di chúc của Ngài, nhưng nó còn là giá mua, giá chuộc mà Ngài đã trả “không phải bằng máu dê hay máu bê, mà bằng chính Máu châu báu của Ngài” (Dt 9,12). Vì thế, chúng ta phải hết sức coi trọng và gìn giữ sự hiệp nhất.

Chúa Giêsu đã cầu xin: “Lạy Cha, Con đã ban cho chúng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để chúng nên một như chúng ta” (Ga 17,22).

Rồi Chúa lại cầu xin tiếp:

“Con ở trong Cha và Cha ở trong Con, để chúng được hoàn toàn hiệp nhất, ngỏ hầu thế gian biết rằng Cha đã sai Con và đã yếu mến chúng như Cha đã yêu mến Con”.

Tin Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài – theo thánh Gioan Tông đồ – là tin Ngài là Thiên Chúa, đồng bản tính và luôn luôn liên kết với Chúa Cha. Tin nơi thần tính của Chúa Giêsu là viên đá tảng của đức tin chúng ta. Toàn bộ Thánh Kinh, lời giảng dạy của các Tông đồ, tác phẩm của các Giáo phụ, và giáo huấn của Hội Thánh, từ trước đến nay, đều quả quyết Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Chính niềm tin này là nơi quy tụ của các môn đệ, và của tất cả những ai, nhờ lời rao giảng của các ngài, mà gia nhập Giáo Hội.

Đức tin chúng ta có thể xác định như vậy, là tụ điểm, là nơi tập hợp, là nền tảng hiệp nhất của các Kitô hữu. Nói cách khác, vì tin như nhau, mà những người Công giáo ở Rôma vẫn coi những người Công giáo ở Ấn độ hay ở một nơi nào khác, như là anh em ruột thịt của mình; như chi thể trong cùng một Thân Thể. Nói chi những kẻ ở xa, ngay trong giáo xứ chính tòa này, ngay trong buổi lễ chiều nay, lý do nào đã tập hợp chúng ta tại đây, để cùng cầu nguyện với nhau, cùng nhau cử hành việc Chúa sống lại… Lý do đó không gì khác hơn là đức tin chung của tất cả chúng ta.

Chúng ta tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật.

Chúng ta tin Người đã từ trời xuống thế, bởi phép Chúa Thánh Thần, Người đã chịu thai trong lòng trinh nữ Maria, và đã làm người.

Chúng ta tin Người đã chịu nạn chịu chết vì chúng ta. Chúng ta tin Người đã sống lại và lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Chúng ta tin toàn bộ Kinh Tin Kính, tin Phúc Âm và tin những điều Hội Thánh dạy. Chúng ta tin Chúa Giêsu yêu mến và vâng phục Thánh ý Chúa Cha. Đó là điểm tựa, là nền tảng của sự hiệp nhất giữa các tín hữu.

Kế đến, Chúa Giêsu đã cầu xin tiếp: “Ngỏ hầu thế gian biết Cha đã sai Con, và đã yêu mến chúng như Cha đã yêu mến Con” (Ga 17,23). Sự hiệp nhất giữa các môn đệ của Chúa là bằng chứng và là nhân tố để thế gian tin Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu, tức là để việc truyền giáo được kết quả. Nếu không sự hiệp nhất, đừng nói đến việc truyền đạo.

Vì không gì chướng mắt và làm trở ngại việc truyền bá Tin Mừng bằng sự chia rẽ giữa những người rao giảng! Sự hiệp nhất giữa chúng ta còn là cơ sở để thế gian nhận biết là Chúa Cha yêu thương họ.

Kết luận: Hãy chống lại và phòng ngừa những gì gây chia rẽ, đồng thời bảo vệ và củng cố sự hiệp nhất như ý Chúa muốn. Amen
+ Giám Mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi


 

PS1-108: Hãy V? Báo Tin Cho Các Anh Em Ta 

VietCatholic News (12/04/2004 )

Thứ Hai tuần I Mùa Phục Sinh :

Hãy Về Báo Tin Cho Các Anh Em Ta (Mt 28,8-15)

 

Cách đây hai thế kỷ, giả sử như có một lon bia hay có một lon thực phẩm tươi, chắc chắn người: PS1-108

Cách đây hai thế kỷ, giả sử như có một lon bia hay có một lon thực phẩm tươi, chắc chắn người ta vẫn không dám yên tâm thưởng thức những món ăn uống tiện dụng này. Ngày nay, chúng ta yên tâm thưởng thức là nhờ công trình nghiên cứu của ông Louis Paster, nhà ký sinh trùng học người Pháp sống vào thế kỷ XIX. Ông đã nghiên cứu các vi sinh để rồi dùng chúng hoặc tiêu diệt chúng. Dùng vi sinh trong việc tiêm các thuốc chủng ngừa, chữa bệnh chó dại, hoặc tiêu diệt chúng trong các quá trình lên men trong đồ ăn, thức uống. Ðây là những đóng góp lớn lao cho toàn thể gia đình nhân loại.

Tuy nhiên, ông còn có các đóng góp khác ít được ai nhắc đến, đó là những đóng góp cho niềm tin. Trong lúc các bạn đồng nghiệp nhìn vào kính hiển vi chỉ thấy có một số tế bào liên kết với nhau, chẳng có gì hơn nữa, thì trái lại, khi nhìn vào chiếc kính hiển vi, Louis Paster lại reo lên: "Thật kỳ diệu! Còn một điều gì ẩn nấp ở đàng sau nữa: đó là Thượng Ðế".

Anh chị em thân mến!

Qua những khám phá nhà bác học thời danh Louis Paster đóng góp cho nhân loại, chúng ta có thể rút ra được nhiều điều, đặc biệt là cách nhìn các diễn biến và thái độ phải có trước các diễn biến ấy. Cùng một sự kiện, nhưng mỗi nhà bác học lại có một cái nhìn khác nhau. Cùng một tìm tòi khám phá, những mỗi người lại đạt được kết quả riêng biệt.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng đề cập đến hai thái độ khác nhau trước biến cố Chúa Kitô Phục Sinh. Một bên là các phụ nữ và một bên là nhóm lính canh. Ðối diện với họ đều là ngôi một trống. Với nhóm phụ nữ, ngôi một trống là dấu chỉ Tin Mừng Phục Sinh và là khởi điểm cho niềm hy vọng. Tuy lo âu, nhưng họ vội vã đi báo tin vui cho các môn đệ. Nhóm lính canh, họ cũng được nhìn thấy ngôi mộ trống và điều đó không lạ gì đối với họ. Vì thế, ngôi mộ trống không là khởi điểm và tin tưởng của niềm tin, mà còn khiến cho họ càng rời xa niềm tin, càng muốn khỏa lấp niềm tin. Lời đồn đãi ấy vẫn còn vang dội đối với người Do Thái cho đến ngày nay.

Với sự kiện Chúa sống lại, lời nói của nhóm lính canh là những chứng từ có thể đáng tin cậy, vì họ là những người canh giữ mồ đêm hôm ấy. Nếu không vì sợ hãi quyền lực của hội đường Do Thái hoặc không vì chút lợi lộc, tiền của thì chắc chắn họ sẽ là sứ giả loan Tin Mừng Phục Sinh.

Trước Tin Mừng Phục Sinh ai cũng vội vã: các bà thì loan tin cho các môn đệ, còn nhóm lính canh thì vội vã báo tin cho hội đường Do Thái. Ai cũng vội vã, nhưng tùy thái độ mỗi bên mà Tin Mừng Phục Sinh được công bố hay bị dập tắt. Người Kitô hữu cũng là những người được đối diện với Tin Mừng Phục Sinh. Họ được trao cho nhiệm vụ loan báo lại cho người khác biết tin vui này. Chắc chắn lời nói của họ là những chứng từ giá trị, vì họ đã được đón nhận sức sống Phục Sinh của Ðức Kitô.

Tuy nhiên, như nhóm lính canh, có thể vì sợ hãi trước những áp lực trần thế, hoặc vì sức quyến rũ của chức tước, lợi lộc... họ đành tâm phản bội Tin Mừng. Vì thế cho đến hôm nay, họ còn hiểu biết lệch lạc về Chúa Kitô, về Giáo Hội.

Nguyện xin Chúa Kitô Phục Sinh, Ðấng đã chiến thắng quyền lực của tội lỗi, ban cho mỗi người chúng ta lòng tin yêu và can đảm. Tin yêu để chúng ta nhận biết được sự hiện diện của Ngài qua các biến cố cuộc sống, dù cho có vẻ trống vắng, u buồn như ngôi mồ trống của Ðức Kitô. Và khi nhận ra được Ngài, chúng ta sẽ can đảm loan truyền Ðức Kitô cho tất cả mọi người, bất chấp mọi gian lao thử thách.

Lạy Chúa, xin cho chúng con được bắt chước các tông đồ cũng như các phụ nữ nhiệt thành tìm kiếm Chúa trong yêu mến và hăm hở ra đi rao truyền tin vui Phục Sinh của Chúa Kitô. Amen
Đức ông Nguyễn văn Tài


 

PS1-109: Niềm vui tĩnh lặng

VietCatholic News (12/04/2004 )
 

Vào sáng Chủ Nhật Phục Sinh, niềm vui tĩnh lặng với bàn tiệc thánh thể trong căn phòng nhỏ: PS1-109

Vo sng Chủ Nhật Phục Sinh, niềm vui tĩnh lặng với bn tiệc thnh thể trong căn phịng nhỏ của gia đình Jean Vanier đ nối kết năm người chng tơi. Sau khi lắng nghe Phúc Âm, chúng tôi đ chia sẻ với nhau về tin mừng Phục sinh. Liz đến từ Anh Quốc - một người xả thn chăm sĩc cc người ngho khổ - mở lời:, ,chng ta luơn phải ra sức lăn tảng đá lớn ra, tảng đá đ ngăn cản bao người ngho khổ thốt ra khỏi nấm mồ đói rách v bần cng.“ Elizabeth, một người Mỹ hiện đang sống với 4 người đin trong một ngơi nh nhỏ, chia sẻ tiếp:, ,Gisu sau khi sống lại đ cng ăn sng với các môn đệ của mình. Qua đó Ngi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của những điều nhỏ b trong cuộc sống thường ngy.“ Cơ Sue đến từ Canada đang suy nghĩ về ơn gọi phục vụ trong một cộng đon Arche ở Hơn-du-rt cũng gĩp một vi lời:, ,Thật l an ủi biết bao khi nhận ra rằng cc vết thương nơi thn xc của Gisu vẫn cịn đó v tỏ hiện một cch r rng. Cũng thế, những vết thương của chng ta sẽ khơng biến mất. Chng trở thnh nguồn hy vọng cho những người khc“. Trong bầu khí chia sẻ ny tơi thấy mình rất gần với biến cố Phục Sinh. Qua những tm tình chia sẻ, qua những nh mắt v cử chỉ của mọi người tơi khm ph một sức sống mới xuất hiện. Sức sống cĩ khả năng biến đổi bộ mặt trái đất. Ngy xưa Maria Mác-đa-l-na đ nghe Đấng Phục Sinh gọi tn mình. Gioan v Phrơ đ nhìn thấy ngơi mộ trống. Cc bạn b của Gisu đ cảm được tm hồn của họ chy rực như thế no, khi họ hội ngộ với Đấng Phục Sinh, qua đó họ đ thốt ln rằng: «Thầy đ sống lại thật rồi! «

Tất cả đều như cũ, nhưng tất cả đều được biến đổi trong một sức sống mới. Chng tơi, năm người đang cng chia sẻ một tấm bnh, một ly rượu bn bn tiệc thnh thể nhận ra sự hiện diện của Gisu trong cuộc sống mình. Trong su thẳm của tm hồn, chng tơi biết rằng tất cả đều trở nn mới, d rằng mọi sự vẫn như cũ.

Vo sng Chủ Nhật Phục Sinh hơm nay, chng tơi vẫn cảm nhận được những nỗi thống khổ của thế giới, những sự đau đớn của người thn, của bạn b v của chính tm hồn chng tơi. Nhưng tất cả đ được biến đổi trở nn mới, khi chng tơi hội ngộ với Đấng Phục Sinh. Một niềm vui tĩnh lặng v chn tình đ nối kết chng tơi. Trong tm khảm chng tơi cảm nhận rằng, chúng tôi được tình yu ấp ủ v chở che. Một tình yu lớn lao, lớn hơn cả sự chết.

(Henri J.M. Nouwen)
Lm Nguyễn Ngọc Thế SJ (chuyển ngữ)


 

PS1-110: Chướng ngại trên đường tin vào Đấng Phục Sinh

VietCatholic News (12/04/2004 )

Chướng ngại trên đường tin vào Đấng Phục Sinh

“Ai sẻ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây?”(Mc 16, 3)

 

Kìa mặt trời đang lên và một ngày mới bắt đầu! Một ngày mới gắn liền với ánh dương vừa ló: PS1-110

Kìa mặt trời đang lên và một ngày mới bắt đầu! Một ngày mới gắn liền với ánh dương vừa ló dạng
Kìa mặt trời đang lên và một ngày mới bắt đầu!

Một ngày mới gắn liền với ánh dương vừa ló dạng. Ngày đó đánh dấu một bước ngoặc của nhân trần. Ngày đó sự chết và sự sống gặp nhau ở một điểm chung, để rồi sự chết sẽ không còn chết nữa, và sự sống tiếp tục trong sự sống mới.

Chuyện kể rằng, vào sáng sớm ngày hôm đó, khi Ánh Dương ló dạng và một ngày mới bắt đầu, nỗi đau buồn của phụ nữ đã vơi đi một chút. Các bà phần nào đã chấp nhận được sự ra đi của Thầy mình. Vì vậy, giờ đây các bà ra mộ với một bình dầu thơm trên tay. Khi Thầy sống các bà đã luôn kính trọng, giờ Thầy nằm xuống các bà vẫn muốn tỏ lộ lòng kính trọng yêu thương này. Phải chăng cái chết không thể ngăn cách được tình yêu? Phải chăng cái chết không có nghĩa là mất mát?

Chuyện kể tiếp rằng, khi tới cửa mộ thì các phụ nữ đã đụng phải một chướng ngại lớn. Một tảng đá lớn lấp lối vào mộ. Với sức phụ nữ làm sao có thể lăn tảng đá ra đây? Với sức con người làm sao có thể dẹp chướng ngại vật to tổ bố, đang ngăn cản con người tin vào một Đấng đã chết giờ đây lại sống lại? Ai có thể lăn dùm tảng đá lớn này ra, để các bà có thể vào với Đấng Yêu Thương? Các bà ngơ ngác nhìn nhau, hỏi nhau và bất lực. Nhưng kìa tảng đá lớn đã được lăn ra. Ai lăn vậy? Chẳng biết nữa, nhưng chỉ biết rằng sức mạnh siêu nhiên đang hiện diện đâu đây.

Chướng ngại đã được dẹp qua một bên, tảng đá đã được lăn đi, lối vào đã mở. Hãy vào thôi! Vừa bước vào mộ, các phụ nữ hoảng sợ ngay, vì họ thấy một người thanh niên lạ, mặc áo trắng ngồi bên phải mộ. Sự gặp gỡ này đâu được hẹn trước. Mà người họ gặp lại không bình thường như bao con người. Hơn nữa, ai lại không run rẩy khi đứng trước một người của thế giới siêu nhiên?

Sự run sợ của các phụ nữ xen lẫn sự ngạc nhiên. Sự run sợ tiếp nối sự mất mát người Thầy kính yêu. Sự run sợ trong mộ càng lớn hơn, khi họ khám phá rằng xác của Thầy không còn trong mộ nữa. Tưởng rằng tảng đá lớn bên cửa mộ đã được lăn ra, thì chướng ngại đã được dẹp đi. Không, tảng đá lớn kia giờ đây không so được với chướng ngại mới đang hiện diện trong ngôi mộ trống. Chướng ngại của run sợ, chướng ngại của mất mát, của đau đớn trong tâm hồn các phụ nữ về sự ra đi của Thầy. Chướng ngại này đã đè nặng niềm tin của các bà. Chướng ngại này nhiều người của thế giới hôm nay đã và đang gặp phải. Làm sao sự sống có thể vượt qua được sức mạnh của sự chết? Làm thế nào sự sống có thể tồn tại được giữa những đau khổ và bất nhân của cuộc đời? Chướng ngại này đã “đào bới” niềm tin của biết bao người và đã cật vấn họ: “Làm sao còn có thể tin vào Thiên Chúa từ nhân được nữa? Ngài đâu rồi? Sao thế giới hôm nay lại có nhiều chết chóc, nhiều sự dã man, nhiều bất công đến vậy? Ai có thể lăn tảng đá lớn của đau khổ trong cuộc đời ra khỏi cửa mồ, để con nguời hôm nay gặp được Đấng làm chủ sự sống và sự chết đang hiện diện với ánh hào quang mới?”

Chuyện kể tiếp rằng, giữa khung cảnh sợ sệt đó, người thanh niên lạ lẫm kia lên tiếng. Một tiếng nói phá tan bầu khí lạnh lùng của ngôi mộ trống. Một tiếng nói sưởi ấm lòng người đang bần thần và đau đớn: “Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giêsu Na-gia-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi không còn ở đây nữa. Chỗ đã đặt Người đây này!”

Tiếng nói này có thể trấn an được những tâm hồn bất an kia không? Làm sao có thể trả lại bình an cho các phụ nữ, khi họ không còn tỉnh táo để đón nhận và hiểu được lời người thanh niên nói. Làm sao niềm vui Phục Sinh của Thầy, của sự sống mới được các phụ nữ cất tiếng tung hô, khi niềm tin của họ vào Đấng Phục Sinh đang bị sự run sợ, một tảng đá lớn hơn tảng đá bên cửa mồ đè nặng.

Hơn nữa, Phục Sinh là gì vậy? Ai ở trong đau khổ, ai đang run lẩy bẩy và mất hết hồn vía có thể hiểu được ý nghĩa của hai từ “Phục Sinh”?

Dù cảm được chướng ngại đang đè nặng các phụ nữ, người thanh niên mặc áo trắng vẫn nói tiếp: “Các bà hãy đi và nói với môn đệ Người và ông Phêrô rằng Người sẽ đến Ga-li-lê trước các ông. Ở đấy các ông sẽ thấy Người, như Người đã nói với các ông!” Các phụ nữ đã phản ứng như thế nào trước lời nói đó?

Họ đã ra khỏi mộ! Vâng, nhưng khi vừa ra, họ đã nhanh chân cao chạy xa bay. Phải trốn thôi! Hơn nữa, vừa chạy vừa run lẩy bẩy nữa chứ. Hồn vía của họ đã lên mây. Tảng đá ở cửa mộ mà họ gặp vào buổi sáng sớm đã không đánh bật họ ra. Nhưng chướng ngại của mồ trống, của sự sợ hãi đã bắt họ phải đào thoát. Sự sợ hãi của các phụ nữ lớn hơn cả lời kêu gọi của Thiên Thần: “Đừng hoảng sợ”. Trong sự sợ hãi này các phụ nữ đã trở thành những con người đui mù, đến nỗi họ không thể nhận ra và hiểu được sứ điệp của người thanh niên. Sợ hãi đã ngăn cản họ nhớ lại con người của Thầy và những lời loan báo của Thầy về sự Phục Sinh trước khi Thầy ra đi. Trong khi sợ hãi tột cùng như vậy, các phụ nữ đã trốn chạy và chẳng nói gì với ai. Không lẽ tin mừng Phục Sinh sẽ bị chôn vùi vào trong “mảnh đất của run sợ sao” ?

Nên Im lặng hay nên loan báo về sự Phục Sinh của Thầy dấu yêu đây? “Im lặng” một điều quan trọng mà thánh sử Mác-cô hay lập đi lập lại. Khi Giêsu còn sống và hoạt động, Ngài luôn luôn đòi hỏi các người mà Ngài chữa lành phải im lặng, không được “rỉ tai” hay “loan báo” giữa chợ đời về những phép lạ Ngài làm. Ngay cả khi Giêsu biến hình trên núi Ta-bo Ngài cũng bắt các môn đệ chứng kiến biến cố huy hoàng đó phải im lặng, không được “ngồi lê mách lẻo” về chuyện đó cho đến khi Giêsu từ cõi chết sống lại.

Hôm nay, Giêsu đã sống lại rồi. Ngài đã chỗi dậy. Các phụ nữ và những người tin vào Giêsu, trong đó có chúng ta, nên tiếp tục im lặng hay ngược lại cần phải mở lời, cần loan báo giữa chợ đời hôm nay về một niềm vui lớn lao? Niềm vui về sự hội ngộ giữa sự sống và sự chết, để rồi sự chết sẽ không còn chết nữa, sự sống tiếp tục bằng một sự sống mới bắt nguồn từ Đấng Phục Sinh.

Trong niềm tin vào Giêsu, biết rằng cần phải loan báo sự Phục Sinh của Ngài. Nhưng sao vẫn không mở lời được, sự sợ hãi vẫn còn vương vấn đâu đây, chướng ngại trên con đường tin vào Đấng Phục Sinh vẫn chưa được dẹp đi. Phải chăng chướng ngại này không thể dẹp đi được? Phải chăng sợ hãi đã đẩy lui niềm vui Phục Sinh vào trong tận cùng của đêm tối? Phải chăng Ánh Dương đời đời kiếp kiếp bị mây đen phủ lấp?

Không, ngày mới đang bắt đầu. Mặt trời đang hé mở!

Hãy lên đường ra mộ của Thầy, kỳ này không phải để xức dầu thơm cho xác của Thầy, mà là gặp gỡ Thầy với ánh hào quang Phục Sinh. Tảng đá lớn là chướng ngại của run sợ đang nằm nơi cửa mộ, đang nằm trong chính tâm hồn của các phụ nữ và của mỗi người chúng ta. Điều quan trọng là hãy để cho sức mạnh của siêu nhiên lăn tảng đá đi, hãy để cho chính Thần Khí Thiên Chúa dẹp tan nỗi sợ hãi trong lòng chúng ta. Như Mẹ Maria cũng đã run sợ, khi thiên thần xuất hiện và truyền tin cho Mẹ. Nhưng Mẹ đã mở lòng cho Thần Khí Thiên Chúa ngự trị, để niềm vui cứu độ của Thiên Chúa dành cho mọi người trở thành niềm vui của Mẹ. Giờ đây chúng ta hãy xin Thần Khí đến ngự tràn trong tâm hồn, để niềm vui Phục Sinh mang lại ơn cứu độ trở thành niềm vui của chúng ta.

Thực vậy, hãy nhìn kìa !

Giêsu đã trỗi dậy thật rồi !

Đừng hoảng sợ nữa! Hãy chạy đến và quỳ xuống bên chân Ngài như xưa Maria Mác-đa-la đã làm khi chính cô đi tìm Thầy của cô.

Đấng Phục Sinh sẽ kêu tên mỗi người chúng ta, như xưa kia Ngài đã thân thương kêu tên “Maria”. Hướng nhìn lên Đấng Phục Sinh, chúng ta nhận ra rằng:

Nơi nào con người đụng đến tảng đá và chướng ngại vượt quá sức của mình, thì Thiên Chúa sẽ ra tay và lăn tảng đá qua một bên.

Lúc nào con người dù khôn ngoan biết mấy mà vẫn không tìm được lối thoát ra khỏi sự sợ hãi và nỗi thống khổ của mình, thì hãy xem kìa, lúc đó Thiên Chúa sẽ đỡ nâng.

Khi nào kẻ thù của những người công chính nghĩ rằng, chúng đã chiến thắng một trăm phần trăm, thì Thiên Chúa sẽ xuất hiện và cứu giúp những người công chính của Ngài.

Nếu sự chết nói rằng: “Ta làm chủ con người, chế ngự thế giới và trái đất hôm nay”, thì Thiên Chúa sẽ đáp lời bằng cách Ngài vẫn cho Ánh Dương ló dạng và một ngày mới với sự sống mới lại bắt đầu.

Vì vậy, cùng với Giêsu Phục Sinh,

chúng ta hãy trổi dậy !

Hãy ra khỏi mồ và lên đường !

Đừng im lặng, ngược lại hãy nói với tất cả mọi người chúng ta gặp trên đường:

“Giêsu đã sống lại !”
Nguyễn ngọc Thế, SJ


 

PS1-111: NGÔI MỘ TRỐNG - Gm Vũ Văn Thiên

VietCatholic News (12/04/2004 )

NGÔI MỘ TRỐNG

 

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Ngày Chúa nhật Phục sinh, chúng ta giống như các môn: PS1-111

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Ngày Chúa nhật Phục sinh, chúng ta giống như các môn đệ Phê-rô và Gioan vội vã hối hả đến bên mộ Chúa, sau khi đã nghe Maria Mađalêna loan tin : « Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu » (Ga 20,2).

Thiên Chúa như người thích chơi trò trốn tìm với con người. Con người cứ tìm kiếm, khám phá và dõi theo Người. Mới hôm nào, Đức Giêsu còn hẹn với các môn đệ : « sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilêa trước anh em » (Mc 14,28). Vậy mà hôm nay Ngài để lại giữa họ một ngôi mộ trống Trước ngôi mộ này, người chứng kiến có những nhận định khác nhau : Phê-rô và người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến « đã thấy và đã tin », trong khi các thượng tế và các kỳ mục lại tạo nên câu chuyện về việc các môn đệ đã lấy trộm xác (Mt 28, 12-15)

Như các môn đệ ngày xưa, khách hành hương Thánh Địa hôm nay vẫn được chứng kiến một ngôi mộ trống. Người ta đến có thể vì tò mò, hiếu kỳ. Nhưng phần lớn trong họ là các tín hữu Kitô đến để cung kính và cầu nguyện tại chính nơi đã an táng xác Chúa, như truyền thống công nhận, sau khi tháo đanh Ngài khỏi Thập giá. Ngôi mộ trống của ngày Phục sinh nói với chúng ta biết bao điều :

1-Ngôi mộ trống là khởi điểm đức tin của các môn đệ :

Trước cuộc tử nạn, Phê-rô là người nhát đảm. Mặc dù trước đó Ông đã mạnh mẽ tuyên bố : « dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng vẫn sẵn sàng » (Lc 22,33), vây mà khi Thày bị bắt, Ông đã vội vàng chối Thày mình ba lần trước câu hỏi bâng quơ của một cô đầy tớ. Trước ngôi mộ trống, các ông đã tin. Ngôi mộ trống là bằng chứng hùng hồn về quyền năng Thiên Chúa.Bởi vì nếu thân xác của Đức Giêsu còn nằm yên trong ngôi mộ thì Ngài cũng chỉ như bao người khác mà thôi, giáo lý của Ngài không có gì đặc biệt. Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến đồng thời cũng là tác giả của Phúc âm thứ Bốn đã nói lên cảm nghiệm cá nhân của mình khi chứng kiến ngôi mộ trống : Ông đã thấy và Ông đã tin. Thấy và Tin, đó chính là nội dung chính của Tin Mừng này và đó cũng chính là nguồn hứng khởi đã khiến Ông viết ra để làm chứng về Đức Giêsu, « để Anh Em tin rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa và để Anh Em tin mà được sống nhờ Danh Ngài ».(Ga 20,31)

2-Ngôi mộ trống là khởi điểm của một Dân Tộc Mới :

Vào thuở bình minh của công cuộc sáng tạo, khi muốn dựng nên người phụ nữ, Thiên Chúa đã khiến Ông A-đam ngủ say, và từ chiếc xương sườn của Ông, Ngài đã tạo nên người phụ nữ (xem St 2,18-25). Trong ngôi mộ này, Đức Giêsu, vị A-đam thứ hai - hay vị A-đam cuối cùng - đã ngủ yên. Và trong giấc ngủ này, chính tại cạnh sườn bị đâm thâu qua mà một dân tộc mới được sinh ra. Dân tộc này bao gồm tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc màu da và ngôn ngữ (xem Cv 10,34a.37-43, bài đọc đề nghị cho Phụng vụ Lời Chúa của Chúa nhật Phục sinh). Dân tộc mới này bao gồm tất cả những ai đã được thanh tẩy nhân danh Đức Giêsu, Đấng đã chết và sống lại, và chính chúng ta, những người từ « dân ngoại » cũng được trở nên thành viên của Dân tộc này. Qua làn nước tái sinh, chúng ta đã được « chỗi dậy cùng với Đức Kitô » (2 Cl 3,1) để làm thành « giống nòi được tuyển chọn,là hàng tư tế vương giả,là dân Thánh, Dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người » (l Pr 2,9)

3-Ngôi mộ trống giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của cuộc đời :

Phụng vụ Giáo hội đề nghị chúng ta suy ngắm Đàng Thánh Giá vào chiều Thứ Bảy Tuần Thánh. Một nghi thức thật cảm động : từng đoàn người lặng lẽ âm thầm chiêm ngắm thập giá, biểu tượng của tình yêu tự hiến, biểu tượng của tình thương Thiên Chúa. Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội nghiêng mình tưởng niệm và cầu nguyện bên mộ Chúa. Tuy vậy, Đức Kitô không chỉ dẫn đưa chúng ta tới nấm mộ. Sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa. Ngôi mộ trống muốn nhắc nhở chúng ta rằng : chúng ta sống là sống cho Thiên Chúa. Cuộc sống đời này là sự chuẩn bị cho đời sau. Ngôi mộ là một điểm dừng, nhưng không phải là cùng đích, vì Đức Giêsu đã ra khỏi mồ, đã chiến thắng tử thần. Cuộc sống này tìm thấy ý nghĩa sâu xa của nó trong chính cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giêsu. Thập giá là lời mời gọi yêu thương, phục vụ. Thập giá là niềm hy vọng an ủi. Thập giá còn là lời hứa hẹn bảo đảm cho chúng ta về cuộc sống vĩnh cửu.

Vâng, Thiên Chúa vẫn thích chơi trò trốn tìm với con người. Ngôi mộ trống là một bằng chứng hùng hồn cho quyền năng Thiên Chúa. Sự trống vắng ấy là một lời phát biểu mạnh mẽ về sự hiện diện của Ngài, một sự « hiện-diện-vắng-mặt » (présence-absence) đang mời gọi chúng ta hãy tiếp tục kiếm tìm và gặp gỡ.

Như thế, Lễ phục sinh mời gọi chúng ta đến chiêmngưỡng ngôi mộ trống năm xưa trong khu vườn gần nơi Chúa chịu đóng đinh, để khám phá ra chính sự hiện diện của Ngài. Ngài đã sống lại, Ngài không còn chết nữa. Đức Kitô đang mời gọi chúng ta hãy vượt lên cái thực tại hữu hạn để vươn tới cái siêu nhiên, vô hạn; hãy thoát ra khỏi sự sợ hãi để ra đi loan báo sự Phục sinh của Ngài.

GM Vũ văn Thiên


 

PS1-112: CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI THẬT

CHÚA NHẬT PHỤC SINH A,B,C.
+++

A. DẪN NHẬP

 

Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay đều nói đến việc Đức Giêsu sống lại. Thánh Phêrô đã loan: PS1-112

Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay đều nói đến việc Đức Giêsu sống lại. Thánh Phêrô đã loan báo cho quan bách quản Cornêliô về các sự việc đã xẩy ra nơi Chúa Giêsu: đi truyền giáo, chịu chết trên thập giá và sống lại vinh quang (Bài đọc 1)

Thánh Gioan nói cho biết sự kiện ngôi mộ trống mà ngài đã tận mắt trông thấy là bằng chứng nói lên việc Chúa sống lại (Bài Tin mừng)

Còn thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy tin vào Chúa sống lại, hãy hướng lòng về trời là quê hương thật và đừng để những đam mê trần tục chi phối làm hư hỏng con người (Bài đọc 2).

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Cv 10,34.37-43

Viên quan bách quản Rôma, là người ngoại giáo, khi nghe biết về Chúa Giêsu, đã đến xin ông Phêrô làm phép rửa để được gia nhập cộng đoàn các tín hữu đầu tiên. Thánh Phêrô đã nhắc cho ông và gia đình ông niềm tin căn bản này: Đức Giêsu đã phục sinh. Đây là bài giảng đầu tiên mà Phêrô dạy dỗ cho những người tân tòng. Thánh Kinh gọi bài giảng truyền giáo này là Keryma. Lược đồ của mỗi Keryma thường là:

a) Tóm tắt cuộc đời của Đức Giêsu ở trần thế.

b) Cái chết của Ngài.

c) Việc Ngài sống lại.

d) Kêu gọi hãy tin vào Ngài để được ơn cứu độ.

Tin vào Chúa Kitô phục sinh là một điều kiện tiên quyết phải có vì nếu Chúa Giêsu không sống lại thì niềm tin của ta trở nên trống rỗng. Vì thế, sự phục sinh của Đức Giêsu chính là trung tâm của lịch sử nhân loại, là nền tảng cho niềm tin Kitô giáo.

+ Bài đọc 2: Cl 3,1-4)

Trong bức thư gửi cho tín hữu Côlôssê, thánh Phaolô kêu gọi những ai đã nhờ phép rửa mà được tham dự vào mầu niệm Vượt qua, hãy sống một đời sống tỏa hương thánh thiện: “Hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giói”(Cl 3,1-2).

Các tín hữu đã tin vào Chúa Phục sinh, nhưng chưa đủ, còn phải thể hiện niềm tin đó trong cuộc sống. Mặc dầu phải sống giữa những thay đổi của trần gian này, phải chịu vật chất chi phối, nhưng đừng để lòng mình ra nặng nề, hãy hướng lòng trí về trời là quê hương thật. Đức Kitô phục sinh đem đến cho chúng ta niềm hy vọng trong cuộc sống hiện tại để hướng về cuộc sống mai hậu.

Người tín hữu tìm được ý nghĩa thực của đời sống dưới ánh sáng phục sinh mà họ đang tiến về. Do đó, họ không được thoát ly khỏi cuộc sống đời này với nhiều nghĩa vụ, bao gian nan thử thách; tuy thế, họ đã tìm được ý nghĩa của cuộc sống trong sự kết hợp với Đức Kitô Phục sinh.

+ Bài Tin Mừng: Ga 20,1-9

Trong bài Tin mừng này, thánh Gioan nhắc đến Maria, người tội lỗi, mà Chúa đã trừ cho khỏi bảy qủi. Bà rất yêu mến Chúa. Ngay sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần bà đã ra mộ viếng Chúa, nhưng thấy mộ trống. Bà tức tốc chạy về báo tin cho ông Phêrô và các tông đồ biết: người ta đã lấy trộm xác Chúa. Ông Phêrô và Gioan đã ra mộ và thấy sự kiện ấy: ngôi mộ trống. Phêrô tỏ ra không hoảng hốt, ông bình tĩnh, xem ra ông đã tin Thầy mình phục sinh rồi.

Thực ra, sự kiện ngôi mộ trống chưa có thể xác quyết được sự kiện Chúa sống lại. Chúng ta còn phải nhờ Kinh Thánh và với đức tin chân thật thì mới có thể tin Chúa đã sống lại. Chính người Do thái không tin vào sự kiện đó và cho rằng xác Đức Giêsu đã bị lấy trộm đi. Việc Chúa sống lại chỉ là tin vịt do các môn đệ dựng nên. Tuy thế, đối với ông Gioan thì không còn nghi ngờ gì nũa: ”Ông đã thấy và ông đã tin” (Ga 20,9).

B. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Thành công và thất bại

I. ĐỨC GIÊSU THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI ?

Trong mùa chay, cách riêng trong tuần thánh vừa qua, tâm trí chúng ta luôn luôn bị căng thẳng, tâm hồn chúng ta luôn luôn bị xúc động và hồi hộp khi suy ngắm những biến chuyển nơi Chúa Giêsu trước đây ngót hai ngàn năm, mà Giáo hội đã diễn lại một cách sống động khác nào sự việc đang xẩy ra vậy:

Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem (Ga 12,13)

Chúa từ giã các môn đệ (Mt 16,45).

Chúa ăn bữa tối sau hết (Mc 14,15).

Chúa rửa chân cho 12 tông đồ (Ga 13,50.

Chúa lập phép Thánh Thể (Lc 22,17).

Chúa vào vườn Cây Dầu cầu nguyện (Lc 22,42).

Chúa bị Giuđa tìm bắt (Lc 22,48).

Chúa bị điệu đến dinh Philatô (Lc 23,1)

Chúa chịu đánh đòn (Mt 26,67).

Chúa chịu đội mạo gai (Mt 27,29).

Chúa bị nhạo báng (Mt 27,30).

Chúa phải vác thánh giá nặng (Lc 23,26).

Và sau cùng Chúa phải chịu đóng đinh vào thập giá (Lc 23,33).

Tất cả những điều này đã làm lu mờ sự nghiệp của Chúa: nào làm bánh hóa ra nhiều – nào kẻ mù được sáng – kẻ điếc được nghe – kẻ câm được nói – kẻ què được đi – kẻ chết sống lại với những niềm tin Người là Đấng Cứu thế muôn dân đợi trông – là Con Thiên Chúa, tất cả đều tan đi như mây khói.

Nhưng ở đời có tan thì lại có hợp, có mưa rồi lại có nắng, và có thất bại rồi mới có thành công vì như người ta nói: ”Thất bại là mẹ thành công”. Nếu chỉ dừng lại ở đây thì Đức Giêsu đã thất bại hoàn toàn, bởi vì người ta thường nói: chết là hết, bao nhiêu sự nghiệp đều tiêu tan. Có biết bao nhiêu anh hùng cái thế, bao nhiêu bậc vĩ nhân trên thế giới đã làm được những công việc vĩ đại, nhưng rồi họ cũng đã ra đi, họ bị lãng quên cùng thời gian, họa chăng chỉ còn trong sử sách.

Nhưng đối với Đức Giêsu, Ngài đã thành công giữa những thất bại. Những thất bại Ngài phải chịu trong một thời gian càng làm cho thành công của Ngài thêm vinh quang. Đúng như văn hào Corneille đã nói: ”Chiến đấu có gian nan, khải hoàn mới vinh quang”. Nhìn vào cuộc tử nạn của Ngài, ta thấy Ngài thất bại hoàn toàn bởi vì bao nhiêu sự nghiệp lẫy lừng Ngài đã làm trong ba năm truyền giáo đã bị tiêu tan. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại như lời Ngài đã báo trước lúc còn sinh thời. Ngài đã sống lại, nên các sự nghiệp xem ra đã bị tiêu tan, ngày này cũng được sống lại theo và muôn đời sẽ còn ghi nhớ những công việc ấy. Ngày nay, sau 2000 năm, hằng tỷ người vẫn còn nhắc đến những sự kiện ấy, nhất là trong Tuần thánh vừa qua.

II. THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG TRONG ĐỜI THƯỜNG

1. Suy nghĩ của người đời

Trong cuộc sống hằng ngày, không ai dám nói rằng mình chưa bao giờ gặp đau khổ, chưa bao giờ nếm mùi thất bại, chỉ có những kẻ không làm gì thì mới không thất bại. Thất bại và thành công luôn đi đôi với nhau, cũng như vinh với nhục là chị em với nhau, đã có vinh thì có nhục:

Nước dưới sông có khi trong khi đục,

Trang anh hùng có khi nhục khi vinh.

(Tục ngữ)

Xưa nay biết bao người không thành công, chí không đạt được, là vì bỏ cuộc giữa đường, thất vọng tràn trề khi gặp hết tai nọ đến nạn kia. Người có chí phải bền gan gánh vác việc đời, bắt chước theo câu phương ngôn người Nhật: ”Ngã xuống bảy lần, lần thứ tám đứng dậy “ mà hành động thì mới mong thành đạt.

Ngày xưa, Hán Bái Công đánh với Hạng Vũ, trăm trận đều thua, vậy mà ông vẫn không hề thối chí, cho đến khi thắng trận cuối cùng thì thành được đế nghiệp. Lưu Bị đời Tam quốc, lúc chưa gặp thời, lang thang ở trọ hết nơi này sang nơi khác, không mảnh đất dung thân, thất bại bao phen, nhiều lần suýt vong mạng, vậy mà vẫn bền gan chịu đựng cho đến ngày làm vua một cõi.

(Nguyễn văn Y, Có chí thì nên, 1971, tr 24-25)

Muốn thành công phải chấp nhận thất bại vì như người ta thường nói: ”Thất bại là mẹ thành công”. Đối với người hèn kém thì thất bại là cơ hội làm cho họ nhụt chí, còn đối với người hùng thì thất bại là dịp thúc đẩy họ tiến lên hơn.

Vì thế, René Bazin, hàn lâm viện Pháp, có khuyên mọi người: ”Đừng sợ thất bại. Lần thất bại thứ nhất cần phải có, vì nhờ đó mà ý chí ta thêm cứng cát. Lần thất bại thứ hai có thể có ích. Bị bại lần thứ ba mà anh vẫn đứng vững, thì anh thật là một người..., anh như chùm nho chín ở trên đá sỏi: Không có thứ nho nào ngọt hơn nữa”.

Hòn sỏi nào tròn trịa trơn láng mà chẳng phải chịu biết bao nhiêu sự cọ xát từ tháng năm này sang tháng năm khác. Con người muốn đạt được sự cao qúi của tâm hồn, học hỏi được kinh nghiệm sống, không thể chưa từng va chạm tới trăm đau nghìn khổ. Xưa nay anh hùng hào kiệt, chí sĩ văn gia, những bậc tài hoa dường như đều trần ai như thế cả. Nếu mỗi lần gặp gian nguy, trở ngại mà lùi lại thì bao giờ mới đặt chân được đến đài vinh quang (Sđd, trang 27).

Cũng trong tư tưởng ấy, Abraham Lincoln nói: ”Điều mà tôi muốn hiểu trước hết, không phải là anh có thất bại không, mà là anh có biết chấp nhận sự thất bại của anh không”.

Ông Henry Ford cũng khuyên: ”Một cuộc thất bại chỉ là cơ hội để thử lại lần thứ nhì với nhiều khôn ngoan hơn”.

2. Chuyển bại thành thắng

Trong cuộc sống thường ngày cũng như trong đời sống thiêng liêng, chúng ta đã có kinh nghiệm: không thiếu gì thành công, nhưng cũng chứa đầy thất bại. Có người vui sướng đón nhận những thành công và buồn rầu chấp nhận thất bại; nhưng cũng có những con người xứng đáng là con người: đón nhận thành công nhưng cũng bình tĩnh và đôi khi vui lòng đón nhận thất bại. Đối với những con người này, họ coi thất bại chỉ là động lực khiến họ mạnh dạn tiến lên đến thành công. Thành thử, thất bại không còn gì là đáng sợ mà chỉ là cơ hội cho họ can đảm hơn.

Ai cũng đã có lần thành công mỹ mãn, nhưng cũng đã có lần gặp những thất bại chua cay. Thất bại cũng có ý nghĩa của nó.

Có hai loại thất bại:

- Thất bại khách quan (hay thụ động, tiêu cực).

- Thất bại chủ quan (hay chủ động, tích cực).

Thất bại khách quan: đó là những thất bại không thể tránh được vì nó vượt quá sức lực của con người. Đó là tình trạng bi đát, không còn cách nào tránh né và cũng không thể chỗi dậy được. Đối với những loại thất bại này, người ta chỉ thụ động chịu đựng ví dụ như bệnh tật, sa cơ thất thế, thua trận...

Thất bại chủ quan: đó là những thất bại có tính toán trước theo phương pháp: ”Thả con tép, bắt con tôm” hay “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”. Người ta sẵn sàng chịu những thất bại nhỏ để đạt tới những thành công lớn, hay ít ra chịu thất bại trước mắt để thành công trong tương lai. Như vậy, người ta không nhằm rước lấy thất bại những nhằm đón lấy thành công sau này.

- Chúng ta đã có kinh nghiệm trong thể thao: muốn nhảy xa, muốn nhảy cao, người ta phải lùi lại nhiều bước rồi mới tiến lên, mới nhảy cao, nhảy xa được, những bước lùi đó chính là những bước tiến, vì không có nó thì không thể nhảy cao, nhảy xa được.

- Trong chiến trận cũng thế: đôi khi người ta phải giả vờ thua chạy tháo lui cho quân địch đuổi theo, khi quân địch lọt vào vòng vây, khi ấy người ta mới phản công, chiến thuật này rất nguy hiểm, đã bị lọt vào trong vòng vây, quân địch không còn cách nào tháo lui được nữa và chắc chắn người ta thành công.

- Trong cuộc sống hằng ngày, người ta cần phải hiểu phương cách “Tiến thoái”. Tiến là đi lên, thoái là đi xuống hoặc rút lui. Có một sự tương quan biện chứng giữa tiến và lùi. Tiến chưa hẳn đã thắng và lùi chưa hẳn đã thua. Trong cái lùi đã có cái thắng. Như trong thể thao và trận chiến, chúng ta đã nhận thấy phải có lùi thì mới tiến được, lùi là điều kiện phải có để tiến, lùi đây là lùi chiến thuật.

Chúng ta thử xem câu nói này có đúng không ? Mới đọc xem ra vô lý, nhưng nếu suy nghĩ kỹ thì câu nói ấy rất hay. Đây là một kiểu nói bắt người đọc phải động não mới tìm ra ý nghĩa của nó: ”

“Một ngàn việc tiến,

“Chín trăm chín mươi chín việc lùi,

đó là TIẾN BỘ”.

(Henri Frédéric AMIEL)

III. THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG

1. Chúa đã sống lại thật

Khi còn sinh thời, Đức Giêsu đã nhiều lần loan báo trước Ngài sẽ bị bắt, đánh đòn, giết chết và sau ba ngày thì sống lại. Sự kiện tiên tri Giona nằm trong bụng cá ba ngày và việc xây đền thờ Giêrusalem trong ba ngày đã là những hình ảnh báo trước việc Đức Giêsu sống lại sau ba ngày đã chết. Trên dương gian này, những ai đã chết là chết luôn, chỉ có Đức Giêsu mới có thể dùng quyền năng của mình mà tự sống lại.

Đức Giêsu đã sống lại thế nào ? Ai đã khám phá ra điều này ? Cả bốn sách Tin mừng đều tường thuật về biến cố này, nhưng đều không cho biết Đức Giêsu đã sống lại thế nào. Vì thật sự, không ai có mặt để chứng kiến biến cố lịch sử quan trọng này. Nhưng có những nhân chứng đã thấy ngôi mộ trống, họ quả quyết xác Chúa không còn trong mộ, và sau đó Chúa đã hiện ra nhiều lần với họ, xác nhận Ngài đã sống lại, đồng thời dạy bảo họ nhiều điều. Đó là các tông đồ và một số phụ nữ… những nhân chứng về sự sống lại của Đức Giêsu.

Như vậy, một điều chắc chắn: sự kiện Đức Giêsu phục sinh không thể minh chứng một cách rõ ràng như chúng ta minh chứng một biến cố, một sự kiện tự nhiên mà phải dùng đến đức tin. Cho nên, đối với chúng ta việc Chúa sống lại là vấn đề đức tin: phúc cho ai không thấy mà tin.

2. Phải sống theo niềm tin ấy

Trong mùa Phục sinh chúng ta vẫn đọc đi đọc lại câu: ”Người đã sống lại thật như lời đa phán hứa”. Chúng ta tin thật Đức Giêsu đã sống lại như lời minh chứng của Thánh Kinh, chúng ta hân hoan ca mừng việc Chúa sống lại vì Ngài đã chết để tiêu diệt sự chết và đã sống lại để phục hồi sự sống cho chúng ta. Chúng ta tin chắc như vậy ! Nhưng tin như thế vẫn chưa đủ, còn phải thể hiện niềm tin ấy ra trong cuộc sống hằng ngày. Phải theo gương Đức Giêsu mà chết đi để rồi mới sống lại được. Phần thưởng của chúng ta chỉ có được sau khi đã trải qua mọi thử thách trong cuộc sống ở trần gian này: per crucem ad lucem !

a) Có những nghịch lý phải chấp nhận

Chúng ta đã có một gương sán lạn của Đức Giêsu: Người đã chịu chết để chuộc tội cho nhân loại. Trước mặt người đời, người ta cho là Đức Giêsu đã thất bại hoàn toàn vì chết là một thất bại, mọi sự nghiệp đã tan thành mây khói. Nếu chết là hết mà không có sự sống lại thì Đức Giêsu bị thất bại hoàn toàn, nhưng sau cái chết đã có sự sống lại. Ngài đã dùng sự chết để đánh tan cái chết và sống lại để phục hồi sự sống lại cho chúng ta. Vậy Ngài đã chuyển bại thành thắng, đã thành công trong thất bại.

Trong cuộc sống của chúng ta cũng thế, chúng ta phải chấp nhận hy sinh, phải lột bỏ con người cũ đầy tội lối để mặc lấy con người mới thánh thiện. Chúng ta có chết đi cho tội lỗi thì mới hy vọng được sống lại vinh quang như lời Chúa Giêsu dã nói: ”Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Như vậy, chúng ta phải đón nhận những thất bại đời này để chuẩn bị cho đời sau. Đây chỉ là thất bại chiến thuật vì trong thất bại đã có chiến thắng.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thấy có những nghịch lý. Nghịch lý là điều thoạt xem có vẻ phi lý nhưng khi suy nghĩ kỹ thì thấy rất hợp lý. Chúng ta thấy có nghịch lý giữa “mat” và “được” hay giữa “bị” và “được”. Theo khuynh hướng tự nhiên thì ai cũng muốn “được” và sợ “mất”, muốn “sống” hơn là “chết”. Nhưng nghịch lý thay ! Nhiều khi vì “được” mà phải “mất”. Ví dụ: bạn muốn cho có một mùa bội thu thì hạt giống phải “bị” mục nát ra thì mới có thể “được” một mùa bội thu, nếu không “bị” thì cũng chẳng có “được”.

Hay một ví dụ khác: trong một vụ tranh cãi bạn cố gắng dùng đủ mọi mưu mô để tranh cãi cho bằng được, kết quả là bạn thắng trong vụ cãi nhưng mất tình nghĩa bạn bè hay người thân; trái lại, nhiều khi “mất” mà lại “được”. Ví dụ: thánh Anphongsô là một luật sư nổi tiếng. Một lần kia ngài biện hộ cho một vụ kiện lớn, ngài bị thua. Thất bại ê chề hôm đó đã giúp cho ngài nhận thức rằng danh vọng thế gian chỉ là giả trá, ngài đi tìm một lẽ sống khác và trở thành một vị thánh lập dòng (Cf Carôlô).

Chúng ta cũng thấy có một nghịch lý nữa giữa “sống” và chết”. Chết và sống không phải là hai điều luôn đối nghịch nhau, nhiều khi chúng liên kết hỗ trợ nhau: sự chết nuôi sự sống và sự sống sống được là nhờ sự chết. Ví dụ: con vật phải chết đi mới có thịt nuôi sống con người, hay cây nến sáp phải chảy ra và bị đốt thì anh sáng mới bùng lên soi sáng cho con người.

Đối với cái chết của Chúa trên thập giá cũng vậy. Đức Giêsu chính là Đấng mà con rắn đồng trong sa mạc là hình ảnh loan báo trước: ”Khi các ông đưa Con người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai”. Như thế việc Đức Giêsu chết trên thập giá không phải là một thất bại mà là một chiến thắng. Ngài không “bị” mà “được” đưa lên cao để trở thành nguồn ơn cứu độ cho những ai tin tưởng nhìn lên Ngài.

Vì thế, chính khi Đức Giêsu “bị” giết chết trên thập giá là lúc Ngài “được” tôn vinh và là nguồn ơn cứu độ cho nhiều người. Khi chúng ta “bị” đau khổ nhưng biết nhìn lên thập giá Đức Giêsu là lúc chúng ta “được” cứu độ. Nhìn ngược lại ngày xưa, khi nguyên tổ tưởng mình “được” bằng Thiên Chúa thì lại “bị” đuổi ra khỏi vườn địa đàng.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta hãy nghiền ngẫm câu nói của Đức Giêsu: ”Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”(Ga 12,25). Như vậy, chúng ta thấy rõ tương quan giữa cái “mất” và cái “còn”.

Truyện gợi ý: Phải biết tan biến đi

Nếu Đức Giêsu là người Ả rập, thì thay vì hình ảnh của hạt lúa được gieo vào lòng đất, có lẽ Ngài sẽ kể câu truyện ngụ ngôn sau đây:

Một dòng suối mát rơi từ ngọn núi, chảy qua một đồng bằng cho đến khi chạm đến một sa mạc. Tại đây, nó chợt nhận ra nước của mình bắt đầu bốc hơi và khô dần. Dù vậy, dòng nước vẫn quyết tâm băng qua sa mạc. Nó nghe có tiếng thì thầm:

- Nếu ngươi muốn, ngươi có thể băng qua sa mạc được, bởi vì gió vẫn làm được điều đó.

Dòng suối giận dữ:

- Nhưng ta có phải là gió đâu ?

Nó thấy gợi ý của tiếng thì thầm là điều ngu xuẩn, nhưng tiếng nói vẫn tỏ ra kiên nhẫn:

- Gió sẽ mang ngươi đi. Dĩ nhiên với điều kiện là ngươi phải tan biến đi trong gió.

Dòng suối suy nghĩ miên man về ý nghĩa này: nó vẫn chưa hiểu được tại sao nó phải tan biến đi, phải chăng nó phải đánh mất chính mình ? Điều gì bảo đảm được rằng khi băng qua hết sa mạc, nó sẽ tìm lại được bản thân một cách nguyên vẹn ? Đọc được ý nghĩ của nó, gió mới lên tiếng

- Ngươi chỉ cần tin tưởng nơi ta, không còn cách nào khác nữa đâu.

Dòng suối vẫn tiếp tục giữ giọng kiêu hãnh:

- Đồng ý, nhưng ta không thể chấp nhận tan biến được.

Tiếng nói thì thầm giải thích:

- Ngươi không thể băng qua sa mạc mà vẫn giữ nguyên hình nguyên trạng được. Làm thế ngươi chẳng khác nào một con rắn xấu xí, nhưng nếu ngươi để cho gió mang ngươi đi xuyên qua sa mạc, thì bên kia sa mạc, ngươi sẽ hiện nguyên hình là một dòng suối xinh đẹp. Dòng suối thắc mắc:

- Vẫn một dòng suối như cũ ư ?

Giọng nói giải thích:

- Dĩ nhiên, ngươi sẽ tìm gặp lại bản thân, tóm lại nếu ngươi cứ chần chừ đứng ở đây, ngươi cũng sẽ đánh mất chính mình ngươi mà thôi.

Thế là dòng suối chấp nhận biến thành hơi nước và để cho gió mang đi. Nó cùng với gió băng qua sa mạc. Và khi cả hai đến đầu ngọn núi bên kia sa mạc, gió để cho nó rơi từ từ như mưa. Không mấy chốc, dòng suối gặp lại chính nó, đẹp hơn, trong suốt hơn.

(R. Veritas, Mạch nước trường sinh, tr 96-97)

Hạt lúa có được gieo vào lòng đất để thối đi mới có thể sinh hoa kếtr quả. Dòng suối có chấp nhận tan biến trong gió mới có thể gặp lại bản thân. Đây là định luật của cuộc sống thiêng liêng mà Đức Giêsu đã vạch ra cho chúng ta. Đây là con đường siêu thoát, con đường chiến đấu, ai muốn được sự sống đời đời không thể đi theo con đường nào khác.

b) Chiến đấu không lùi bước

Đức Giêsu đã chỉ đường dẫn lối cho chúng ta tiến tới cuộc sống đời đời. Con đường ấy là con đường khổ giá. Con đường từ bỏ, con đường siêu thoát chính mình, vì Đức Giêsu đã phán: ”Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”. Đấy là con đường một chiều, ai đã theo thì chỉ có tiến chứ không có lùi, như thế mới xứng đáng làm môn đệ của Chúa:”Ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”(Lc 9,62).

Thập giá của Chúa trao không nặng lắm, luôn vừa sức ta, nhưng đòi hỏi ta phải kiên trì vác hằng ngày vì sự khốn khó ngày nào đủ cho ngày ấy. Hãy bắt tay vào việc ngay, đừng chần chừ, đừng để công việc hôm nay sang ngày hôm sau. Về vấn đề này, ta hãy nghe John Newton nói:

“Những khổ sở mà đời chúng ta phải chịu cũng giống như một bó củi rất to và rất nặng. Chắc chắn chúng ta không vác nổi. Nhưng Thiên Chúa đã thương tháo dây bó củi đó ra, rồi chia nó ra để mỗi ngày chỉ chất lên vai ta một khúc thôi. Hôm sau một khúc nữa, và hôm sau tiếp tục… Cuối cùng ta cũng vác xong hết bó củi. Nhiều người lại không làm như thế: chẳng những họ chất lên vai khúc củi của hôm nay mà còn thêm vào đó khúc củi của hôm qua và khúc củi của ngày mai. Lạ gì họ không vác nổi”.

Hãy tin tưởng cất bước, quyết không lùi trước những khó khăn. Phần thưởng chỉ dành cho những ai chiến đấu và kiên trì cho đến cùng. Hãy tin tưởng vào Chúa, Đấng đã trải qua mọi khó khăn sẽ giúp đỡ chúng ta vượt qua mọi thử thách. Trong cuộc chiến này, chúng ta chỉ biết tiến chứ không biết lùi.

Truyện: Quên bài kèn rút lui

Trong một trận giao tranh ác liệt giữa quân của Napoléon và quân địch, trận chiến càng về khuya càng ác liệt và phần thắng dần dần nghiêng về phía địch. Quân của Napoléon chết rất nhiều, hàng ngũ rối loạn mặc dầu cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp tục nhưng rời rạc. Nhìn rõ thế trận, Napoléon biết phải làm gì, vua gọi tên lính thổi kèn lại gần và ra lệnh: ”Hãy thổi kèn lui binh vì quân ta chết quá nhiều”.

Tên lính trẻ được lệnh, nhảy tót lên ngựa, phi nhanh ra giữa trận, và đưa kèn lên thổi hồi kèn thúc trận một cách mạnh mẽ. Quân của Napoléon đang mệt mỏi và thất vọng, nghe tiếng kèn thúc quân, tưởng có viện binh tới giúp, chồm dậy phản công kịch liệt. Kèn cứ thổi, đám tàn quân vươn mình lên vừa đánh vừa la hét. Kết quả thế trận thay đổi: quân của Napoléon toàn thắng bất ngờ. Tuy nhiên, hoàng đế Napoléon sai bắt tên lính kèn kia lại, và khiển trách y rất nặng nề về tội bất tuân thượng lệnh. Anh lính bình tĩnh tâu:”Muôn tâu đức vua, từ khi được theo bước chân ngài trong binh lửa, và chiến đấu trăm trận đều trăm thắng cho nên hạ thần đã quên hẳn bài kèn rút lui rồi”.

Muốn có chiến thắng thì phải chiến đấu. Chiến đấu càng cam go, chiến thắng càng vinh quang. Không có thành công nào mà không đòi cố gắng. Thành công của chúng ta là biết lắng nghe và thi hành thánh ý Chúa. Để giúp chúng ta biết cách kiên trì sống theo thánh ý Chúa với niềm tin tưởng trong gian truân, chúng ta hãy đọc đoạn thư của thánh Phaolo tông đồ gửi cho tín hữu Do thái sau đây:

“Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con: Con ơi, đừng coi nhẹ Lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy ? Nếu anh em không được sửa dạy như tất cả mọi người, thì khi đó anh em là con ngoại hôn, chứ không phải là con chính thức. Vả lại, chúng ta có cha trần thế sửa dạy mà chúng ta vẫn tôn kính, thì chúng ta lại càng phải tùng phục Cha trên trời để được sống. Cha trần thế sửa dạy chúng ta trong một thời gian ngắn, và theo sở thích của mình; còn Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta.

Lm Giuse Đinh lập Liễm

Giáo xứ Kim phát

Đà lạt

Giuse Đinh lập Liễm
 

PS1-113: DƯỚI ÁNH SÁNG PHỤC SINH

Nhö trong moät kính maøu.

 

Khi suy gẫm theo bài Tin mừng hôm nay, một hình ảnh đã xuất hiện trong trí tôi. Sáng nay: PS1-113

Khi suy gẫm theo bài Tin mừng hôm nay, một hình ảnh đã xuất hiện trong trí tôi. Sáng nay khi tôi đi vào nhà thờ để cầu nguyện, sự chú ý của tôi bị thu hút bởi tấm kính màu trước mặt. Tự nó, tấm kính màu không có gì lạ lùng cả, tuy nhiên đối với tôi dường như nó là chìa khóa giúp tôi đi vào tinh thần của Lời Chúa vừa được công bố cho chúng ta.
Trong lúc trời còn tối.
Chắc chắn đã có lần chúng ta ở trong nhà thờ buổi chiều hoặc là vào một ngày mặt trời có vẻ quên mọc. Lúc đó các kính màu đối với chúng ta thật không có gì là hấp dẫn. Đó là những khung kính xám rải rác vài hình ảnh lờ mờ và lạnh lẽo. Không có gì để làm cho lòng ta va con mắt ta vui thích cả.
Kinh nghiệm của Maria Mađalêna gần giống như vậy. Đến mồ vào lúc tảng sáng khi trời còn tối, bà chỉ thấy một màu xám xịt trong ngày Phục sinh này thôi. Điều đánh động bà là màu xám của tảng đá, khoảng tối cửa mồ và từ nơi tối này, khoảng trống được để lại bởi cái xác đáng lẽ phải ở đó mà không còn ở đó nữa. Những gì Mađalêna nhìn thấy, những gì bà nắm bắt được là sự vắng mặt, chỉ có thế thôi.
Và biết bao nhiêu người ngày nay cũng ở trong cùng một tình trạng này. Họ được loan báo về một Thiên Chúa làm người, chết và sống lại, toàn thắng bóng tối, sự dữ và cái chết. Nhưng tất cả những gì đánh động họ khi họ nhìn xung quanh đó là cảnh tối tăm của thế giới chúng ta, sự đau khổ còn rất rõ nét và cái chết đường như vẫn thống trị vũ trụ. Đối với họ Thiên Chúa đã chết, thậm chí người ta đã lấy mất xác của Ngài, không còn gì cả.
Trong ánh bình minh.
Bây giờ chúng ta trở lại với những tấm kính màu. Khi các màu sắc bắt đầu từ từ nổi lên trong ánh sáng thì thật là một cảnh tượng tuyệt vời. Dù chưa nhìn thấy rõ hình ảnh trước mắt chúng ta, nhưng càng lúc chúng ta càng thấy xuất hiện một cái gì đó lớn lao hơn, đẹp đẽ hơn, nhưng chúng ta chưa nắm bắt được.
Này đây Phêrô bước vào mộ. ông nhìn thấy tấm khăn liệm ở đó, và tấm khăn phủ đầu được để đúng chỗ, xếp thật kỹ càng, chu đáo, ông nhận thấy không có xác ông cũng nhận thấy một sự hiện diện nào đó, nhưng ông không hiểu. Nơi ông chưa có đủ ánh sáng để cho lòng ông khám phá ra thực tại của cuộc Phục sinh.
Đó chẳng phải là thái độ của nhiều người trong chúng ta sao ? Chúng ta chấp nhận những tín điều mà không hiểu nhiều, cũng không tin chắc nữa. Đức tin của chúng ta đang còn Ơ trong ánh sáng bình minh và chúng ta không muốn nhìn thấy nó đi vào chính ngõ. Chúng ta thích dừng lại đó hơn. Chúng ta giống như ánh bình minh xuyên qua kính màu vậy : yếu ớt, nguội lạnh, chưa có khả năng làm những hành vi đức tin thực sự. Chúng ta đang tìm kiếm, chúng ta cần thời gian và những lời giải thích.
Như  giữa ban ngày.
Chính giữa ban ngày kính màu mới bộc lộ tất cả vẻ huy hoàng của nó. Màu sắc óng ảnh một cách tuyệt vời. Khung cảnh tuyệt vời ấy gợi lên sự phối hiệp giữa ánh sáng kính màu và tài năng của nghệ sĩ đã quy tụ những yếu tố này thành một bài ca tôn vinh Thiên Chúa. Nếu chúng ta biết nhìn, lúc đó không cần lời, mọi sự sẽ được sống và được nói lên tận đáy lòng. Mỗi người sẽ hiểu với con tim ý nghĩa của bản ca này, mỗi người sẽ hiểu mầu nhiệm và bị nó thu hút
Và đây là người môn đệ được Chúa Giêsu yêu, ông đi vào ngôi mộ. Trước mặt ông, cũng những dấu chỉ mà Phêrô đã nhìn thấy : "Một tấm khăn liệm và một tấm khăn che mặt được cuộn lại. Ông nhìn dưới ánh sáng của lòng mến mà ông vẫn có đối với Chúa của mình, và ông hiểu. Ông nhìn thấy và ông tin. Đối liền với những gì ông nhìn thấy, lòng ông ca vang lên rằng có sự sống ở đó, rằng tình yêu không chết, nó rất sống động.
Hôm nay chính là ngày Chúa Phục Sinh. Chúng a không có ngôi mộ trống, chúng ta không có tấm vải được cuộn tròn cũng không có khăn liệm, những gì còn lại cho chúng ta là đức tin. còn hơn tất cả những ngôi mộ trống, còn hơn tất cả những tấm khăn liệm, đức tin công bố cho chúng ta về cuộc Phục sinh. Đức tin thì thầm với chúng ta rằng Ngài hằng sống, Ngài ở với chúng ta bây giờ và mãi mãi. Hãy để cho ánh sáng huy hoàng của ngày hôm nay tràn ngập tâm hồn chúng ta. Lúc đó chúng ta sẽ có thề làm chứng rằng Chúa Kitô đã thực sự Phục sinh.
JEAN RATTÉ

 

PS1-114: CHUYỆN 3 NGƯỜI ĐI TÌM CHÚA

Trong Tin mừng Chúa nhật Phục sinh, thánh Gioan kể lại cho chúng ta câu chuyện 3 người đi: PS1-114

Trong Tin mừng Chúa nhật Phục sinh, thánh Gioan kể lại cho chúng ta câu chuyện 3 người đi tìm Chúa : Maria Mađalêna, Gioan và Phêrô. Khi đọc đoạn Phúc âm đó, chắc chắn mỗi người chúng ta đều nhận thấy rằng tất cả 3 người đều đến mồ, đều thấy cùng một sự kiện mồ trống và khăn liệm, nhưng chỉ có mỗi một mình Gioan là tin Chúa Giêsu đã sống lại. Thánh Gioan đã viết về chính mình trong : "ông thấy và ông đã tin ".
Đề hiểu rõ câu chuyện, chúng ta hãy trở lại chương 16. Sau khi Chúa Giêsu chết, người Do Thái đến xin Philatô cho hạ xác những người đóng đinh xuống vì họ không muốn thấy xác chết treo trên thập giá trong ngày thứ bảy, ngày sabbat, nhất là ngày sabbat trong lễ Vượt Qua của họ.
Phép tắc, thủ tục xong, xác Chúa được hạ xuống. Theo phong tục người Do Thái, họ tính bắt đầu ngày mới từ lúc mặt trời lặn. Maria Mađalêna và các môn đệ có mặt lo hối hả đề chôn xác Chúa cho xong và ra về trước khi mặt trời lặn, nếu không họ sẽ lỗi luật tôn giáo vì ngày sabbat chỉ được đi bộ một quãng bằng ném hòn đá mà thôi.
Chúng ta cũng nên biết qua cách liệm xác của người Do Thái. Cách liệm xác của họ là rửa xác, ướp thuốc thơm và gói lại bằng tấm vải trắng, lấy băng quấn lại từ đầu đến chân như người ta băng bó vết thương, xong xuôi đâu đó đem đặt xác vào trong hang huyệt đượcc sẵn trong đá và lấy tảng đá to đậy cửa hang lại. hối hả nên Mađalêna về nhà nhận thấy mình không cân thận được đối với Thầy Giêsu của mình và nóng lòng chờ đến sau ngày thứ bảy. Vào ngày thứ nhất trong tuần, tức ngày Chúa nhật, bà đem thuốc thơm đến mồ để ướp xác lại Khi đến nơi bà thầy mồ trống, cửa đã được đẩy ra và Thầy không còn trong đó nên vội đã chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan. Gioan là thanh niên trai trẻ chạy nhanh hơn Phêrô nên ra đến mồ trước. Đến nơi Gioan chỉ đượcng ngoài khom người nhìn vào chờ Phêrô đến, cả hai cùng vào mồ, họ đều thấy dây băng liệm và vải liệm, nhưng Gioan thú thực trong lòng ông đã tin Chúa sống lại. Phân tách tâm lý của 3 nhân vật, chúng ta sẽ thấy tại sao ?
Đối với Maria Mađalêna, bà đến mồ chỉ mong để ướp xác Thầy lại cho chu đáo hơn. Bà cầm thuốc thơm trong tay và đau óc chỉ nghĩ đến thân thể đã nầm yên bắt động. Nói tắt một Lời : Bà đến mồ chl để tìm xác chết. Một tâm trạng như thế, thấy mồ trống không, bà khó có thể nhận ra tức thì Chúa Giêsu đã sống lại. Còn Phêrô, ông đã sơ hãi. Ông đã chối Thầy của mình trong giờ phút Thầy bị hành hạ nhục nhã vì ông sợ bị liên luỵ. Thầy đã chết và nằm yên trong mỗ. Điều ông mong muốn lúc đó là xin đượcng có gì rắc rối xảy ra nữa, xin được hai chữ "bình yên". Nhưng tại sao lại có sự kiện mất xác này. Ông chạy đến mồ với tất cả mọi lo âu trong đầu. Ông lo nhóm nào đó sau khi giết Thầy lại tìm cách phá rối các tông đồ để kết án họ và xử tử họ nữa chăng. Ông là trưởng nhóm, vậy ông chạy đến mồ để quan sát những gì đã xảy ra. Vậy ông chạy đến mồ mà trong lòng chỉ lo nghĩ đến việc tại sao thế này, tại sao thế nọ để tìm cách đối phó. Với tâm trạng đó, Phêrô khó có thể nhận ra Chúa Giêsu đã sống lại.
Phần Gioan, ông yêu thương Chúa Giêsu và ông biết rằng Chúa Giêsu đã yêu thương ông. Trong Phúc âm, khi ông viết một điều gì có đề cập đến mình trong đó, thánh Gioan luôn dùng kiểu nói,"người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến". Thánh Gioan đã yêu mến Chúa Giêsu thật sự, tình yêu mến đó đã thể hiện ra bên ngoài, nhất là trong những giây phút cuối cùng của Chúa Giêsu. Thánh Gioan đã theo chân Chúa Giêsu trên con đượcờng thập giá và là tông đồ duy nhất đượcng dưới chân thánh giá đến giờ phút cuối cùng và chỉ trở về nhà với Mẹ Maria sau khi đã chôn cất Chúa Giêsu. Kinh nghiệm cho thấy, khi yêu ai thì ta luôn nghĩ đến người ấy, luôn cảm thấy sự hiện diện của người ấy trong cuộc đời mình cho dù hoàn cảnh bắt buộc phải xa nhau. Thánh Gioan luôn nhớ lại Lời giảng dạy của Thầy trong lòng và hy vọng Thầy sẽ sống lại vì Thầy đã báo trước. Với cái nhìn đó, Gioan đã nhận ra dễ dàng sự kiện sống lại. Ông đã thấy và ông đã tin.
Qua câu chuyện, chúng ta thầy rõ ràng rằng : tình yêu dẫn đến đượcc tin. Những lo âu trần gian như lo lắng của Maria Mađalêna đi tìm xác chết không vượt lên được. Những suy tư, lý luận lo âu của Phêrô đã không đượca đến đâu. Chỉ có tình yêu Chúa Giêsu của thánh Gioan đã đượca ông nhanh chóng đến đượcc tin vào Chúa Giêsu Phục sinh.
Trong cuộc hành trình đượcc tin, chúng ta cùng tìm Chúa, chúng ta có thể cảm thấy sự hiện diện của Chúa, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của mọi biến cố trong cuộc đời mình nếu chúng ta noi gương Gioan, để cho lòng trí mình luôn tiến trên con đượcờng tình yêu Chúa.

 

PS1-115: Những Chuyển Biến Mới.

VietCatholic News(11/04/2001). Bài giảng thánh lễ đêm Phục Sinh tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, Ngày 14-4-2000, Gm. Đức Cha Bùi Tuần
Những Chuyển Biến Mới.
 

Các bài Phúc Âm thuật lại sự Chúa Giêsu sống lại đều rất đơn sơ, vắn gọn. Khi suy gẫm, nhìn: PS1-115

Các bài Phúc Âm thuật lại sự Chúa Giêsu sống lại đều rất đơn sơ, vắn gọn. Khi suy gẫm, nhìn ngắm khung cảnh đêm Chúa Phục Sinh được kể trong Phúc Am, tôi thấy xuất hiện những yếu tố mới lạ:
Yếu tố mới lạ thứ nhất là về nhân sự được Chúa dùng. Những người đầu tiên được Chúa chọn để loan báo Tin Mừng không phải là đám đông, nhưng là vài nhóm nhỏ. Nhóm ba phụ nữ, đứng đầu là Maria Mađalena. Nhóm hai môn đệ là Phêrô và Gioan. Nhóm 11 môn đệ. Họ là những người khiêm tốn, nhiệt thành. Có người trước đây đã rất tội lỗi.
Yếu tố mới lạ thứ hai là về nơi Chúa hẹn gặp. Nơi Chúa Giêsu Phục Sinh hẹn gặp các nhóm không phải là đền thờ, mà là căn nhà thường. Căn nhà đó là một căn nhà gia đình, thuộc diện nhà dân, ở giữa đám dân thường. Chủ nhà là người dân thường.
Yếu tố mới lạ thứ ba là về cung cách Chúa gặp gỡ. Cung cách gặp gỡ của Chúa Phục Sinh đã không ồn ào, trịnh trọng, đắc thắng, nhưng rất thân mật, đơn sơ, âm thầm, khiêm tốn.
Yếu tố mới lạ thứ tư là về nội dung đàm đạo. Nội dung đàm đạo không đề cập gì tới những dụ ngôn, những luật lệ, nhưng chỉ tập trung vào chính Chúa Giêsu Phục Sinh. Chúa đã sống lại. Và để được sống lại vinh hiển, Người đã phải đi qua con đường thánh giá. Hành trình Phục Sinh đó chính là con đường Tin Mừng, và Chúa Giêsu chính là Tin Mừng. Người là Đấng cứu độ. Người đem lại sự sống đời đời, sự sống trường sinh.
Bốn yếu tố mới lạ trong đêm Phục Sinh, mà tôi vừa trình bày, gợi ý cho tôi nhận ra những chuyển biến đang xảy ra tại nhiều nơi trong Hội Thánh Việt Nam từ ít lâu nay. Những chuyển biến mới là thế này:
Một là đang xuất hiện những nhóm nhỏ chuyên chăm cầu nguyện và loan báo Tin Mừng. Họ tự ý, tự nguyện. Họ thuộc mọi thành phần những người sống giữa đời. Nhiều người là những tân tòng. Tất cả đều khiêm tốn và nhiệt thành.
Hai là đang xuất hiện dạng “Hội Thánh gia đình”. Các gia đình giữa đời trở thành một thứ đền thờ, một thứ Hội Thánh. Họ cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa trong nhà họ, trong nếp sống gia đình họ.
Ba là đang xuất hiện cung cách loan báo Tin Mừng một cách đơn sơ nhẹ nhàng, nhưng sống động và linh động. Nhiều người loan báo Tin Mừng một cách thân mật trong những gặp gỡ, trong các liên hệ, trong chính thái độ sống. Chính Chúa Giêsu Phục Sinh sống âm thầm trong họ và toả sáng qua họ, trong đời sống phục vụ con người và xã hội của họ.
Bốn là đang xuất hiện sự trở về căn bản của Tin Mừng. Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Người là tình yêu phục vụ và cứu độ. Người đã chết vì ta. Người đã phục sinh và đang ở bên ta.
Nhìn tình hình sống đạo tại Việt Nam hôm nay, tôi thấy bốn yếu tố trên đây đang phát triển, mặc dù có những cản ngăn từ nhiều phía. Bốn yếu tố mới này sẽ góp phần đáng kể vào việc Tân-Phúc-Âm-hoá.
Với bốn yếu tố này, Chúa Thánh Thần đang thổi vào Hội Thánh Việt Nam một luồng gió mới. Nơi nào biết cộng tác với Chúa Thánh Thần, nơi đó đang sáng lên mùa Phục Sinh rạng rỡ.
Như vậy, từng người chúng ta, từng gia đình chúng ta, đều được mời gọi tham gia tích cực vào việc sống Tin Mừng và loan báo Tin Mừng trong hoàn cảnh cuộc sống thực tế của mình. Khi tích cực như thế, chúng ta từng bước đi vào sự phục sinh của chúng ta. Sự phục sinh sẽ được thực hiện mọi ngày, trong chính đời thường. Khi đời thường của ta biết tự do chọn đi theo Chúa Giêsu phục sinh. Người đang hiện diện giữa thực tại cuộc sống chúng ta đầy thử thách cam go.

Chúng ta tin vào Chúa Giêsu phục sinh. Chúng ta sống niềm tin này với lòng hoan lạc và với cái nhìn cởi mở. Hãy cầu nguyện cho nhau và cho toàn thể Hội Thánh Việt Nam một mùa Phục Sinh theo thánh ý Chúa.

 

PS1-116: Gặp gỡ Chúa Giêsu

Trong tuần thánh, nhất là ngày lễ Phục sinh, các người công giáo đến nhà thờ rất đông. Đến: PS1-116

Trong tuần thánh, nhất là ngày lễ Phục sinh, các người công giáo đến nhà thờ rất đông. Đến, để tham dự các nghi thức thánh, để nghe Lời Chúa, để hồi tâm, để hoà giải, để cầu nguyện, để đón nhận ơn phục sinh.
Đây là thói quen tốt. Thói quen tốt này nên được nâng lên cao hơn. Một cách để nâng cao lên là hãy sống tuần thánh như một cuộc đi tìm gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng cứu độ chúng ta.
Những gì chưa phải là gặp gỡ thực sự.

Thời Chúa Giêsu còn tại thế, biết bao người đã gặp gỡ Ngài. Chính mắt họ đã nhìn thấy Ngài. Chính tai họ đã nghe tiếng Ngài. Chính tay họ đã chạm đến Ngài. Chính nhà họ đã đón Ngài vào dùng bữa.
Những gặp gỡ như thế rất là quí giá. Nhưng không thiếu trường hợp vẫn gây nên những hiểu lầm vốn có từ ngàn xưa. Họ nghĩ Chúa Giêsu đến là để cứu độ, và chủ yếu cứu độ là cứu khỏi những khốn khổ về cuộc sống, trong các lĩnh vực sức khỏe, kinh tế, xã hội, chính trị.
Họ đi tìm Chúa Giêsu do những động lực như thế thôi. Chúa Giêsu, khi biết sự thực đó, đã không ngại nói rõ cho họ hiểu: Ngài đến để đem lại một thứ hạnh phúc khác mà đời này không có, đó là hạnh phúc trường sinh, Ngài phán: “Thật, Thầy bảo thật anh chị em. Anh chị em đi tìm Thầy, không phải vì anh chị em đã thấy dấu lạ, nhưng vì anh chị em đã được ăn bánh no nê. Anh chị em hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư mất, nhưng để có lương thực trường tồn, đem lại hạnh phúc trường sinh, là lương thực Con Người sẽ ban cho anh chị em” (Ga 6,26-27).
Hôm nay nếu thiếu cảnh giác và nhận thức đúng, nhiều người chúng ta vẫn đến nhà thờ một cách máy móc, với một mục đích mơ hồ. Chưa hẳn là để gặp gỡ Chúa Giêsu. Và cho dù để gặp gỡ Ngài, thì chưa hẳn là muốn nhận ra Ngài cho đúng sự thực. Tất nhiên, Chúa Giêsu đã, đang và sẽ làm nhiều phép lạ cứu chữa con người khỏi bệnh nạn, quỉ ám, và tai ương. Nhưng đó mới chỉ là những dấu chỉ về một sự cứu độ khác. Sự cứu độ này sâu hơn, cao hơn, quan trọng hơn.
Gặp gỡ thực sự.
Sự cứu độ mà Chúa Giêsu để ý một cách đặc biệt chính là nhắm vào gốc rễ mọi sự dữ. Đó là những tội lỗi, những sai lầm, những tính mê nết xấu. Cứu khỏi chúng để đưa người ta vào hạnh phúc thực. Công việc cứu độ khởi đi từ sự gặp gỡ Chúa Giêsu. Một cuộc gặp gỡ thực sự phong phú, khi chúng ta đến với Ngài trong niềm tin ở Ngài, như những lời Ngài đã mặc khải.
“Chính Thầy là bánh trường sinh (Ga 6,34) Thầy là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống đời đời” (Ga 6,51).
“Thầy là ánh sáng thế gian, ai theo Thầy, sẽ không đi trong tăm tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12).
“Thầy là cửa. Ai qua Thầy sẽ được cứu” (Ga 10,9)

“Thầy là mục tử nhân lành... Thầy hy sinh mạng sống cho đoàn chiên” (Ga 10,14-15).
“Chính Thầy là con đường, là sự thực và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha, mà không qua Thầy” (Ga 14,6a).
“Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh được nhiều hoa trái. Không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,5).
“Chính Thầy là sự sống và là sự sống lại. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25).

Gặp gỡ Chúa Giêsu là nhận ra dung mạo Ngài. Ngài đang gần gũi ta, đang thương yêu ta, đang hy sinh cho ta, đang đem lại cho ta sự sống dồi dào, đang đưa ta về với Chúa Cha trên trời.
Gặp gỡ Chúa Giêsu là nhận ra tiếng Ngài. Ngài gọi tên ta. Ngài nói lại lời xưa: “Thầy đến không phải để cứu người công chính, nhưng để cứu người tội lỗi” (Mt 9,13)

Gặp gỡ Chúa Giêsu là nhận ra tấm lòng của Ngài. Ngài nhắn nhủ ta: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến với Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Hãy học cùng Thầy, vì Thầy có lòng nhân hậu và khiêm nhường” (Mt 11,28-29).
Nhưng một điều hết sức quan trọng cần nhớ là: Trong gặp gỡ Đức Kitô, để được nhận ra Ngài, chúng ta phải nhờ ơn thiêng của Chúa. Ơn này chỉ dành cho những ai khiêm nhường, đơn sơ, bé mọn.
Hãy gặp gỡ Đức Kitô như vậy, để biết đi theo Ngài và gắn bó với Ngài.
Những cảm nghiệm.
Khi gặp gỡ Chúa Giêsu như vậy, chúng ta thường sẽ có một số cảm nghiệm thiêng liêng.
Trước hết là sự bình an. Sự bình an này rất sâu xa, lắng đọng. Như lời thánh Phaolô làm chứng: “Sự bình an của Chúa là sự bình an vượt trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh chị em được kết hợp với Chúa Giêsu” (Pl 4,7).
Hơn nữa, chúng ta cũng cảm nghiệm được phần nào sự khôn ngoan của Chúa “Điều mà mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng không hề nghĩ tới, nhưng đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người” (1Cor 2,9). Thánh Phaolô viết thêm: “Sự khôn ngoan này không phải là sự khôn ngoan của thế gian, trái lại chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, để chúng ta được vinh hiển” (1Cor 2,6-7)
Ngoài ra, chúng ta còn cảm nghiệm thấy tiếng Chúa rất nhỏ nhẹ, như hơi thở của sự thinh lặng, như thì thầm của sự tỉnh thức. Theo lời sách Khải Huyền viết: “Này Ta đứng ngoài cửa và gõ, nếu ai mở cửa, Ta sẽ vào, và sẽ ăn tối với họ, Ta ở bên họ và họ ở bên Ta” (Kh 3,20).
Một cảm nghiệm khác rất khó diễn tả. Đó là khi gặp được Chúa Giêsu rồi, người môn đệ đi theo Ngài không hẳn chỉ cần có đức tin mạnh, lửa mến bừng cháy, tính anh hùng dũng cảm, nhưng còn đòi một thái độ nào đó rất là khiêm tốn, rất là khó nghèo, rất là trẻ thơ. Lúc đó cái nhìn đầy thương xót Chúa sẽ tràn sâu vào toàn thể con người, biến đổi sự tự do con người, để nó biết chọn những gì là thánh ý Chúa. Nhất là từ đó, con người biết ăn năn sám hối, bỏ đường tội lỗi, dấn thân vào con đường phục vụ và cứu độ
Được như vậy chính là tiến về phục sinh để chúng ta trở nên tạo vật mới.
Năm nay, sống tuần thánh đầu thế kỷ XXI, tôi nhìn về Israel nói chung, và Giêrusalem nói riêng. Ở đó, xưa Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất. Ở đó, Chúa Giêsu đã trối lại điều răn mới là yêu thương nhau. Ở đó, Chúa Giêsu đã đổ máu ra, hy sinh mạng sống để làm chứng cho tình yêu cứu độ. Thế mà hôm nay, tình hình ở đó lại là chia rẽ, là hận thù, là đổ vỡ. Một tình hình như thế khiến chúng ta lo buồn và suy nghĩ.
Tại sao vậy?

Người ta có tự do, để hợp tác với Chúa Giêsu hoặc không hợp tác với Ngài. Hiện nay xem ra nhiều người đang dùng tự do của mình, để chọn lựa sự không hợp tác với Ngài. Nhìn người, rồi lại nghĩ đến chính mình ta.
Xin Chúa Giêsu thương cứu độ chúng ta, nhất là cứu độ sự tự do bệnh hoạn, của chúng ta.
Long Xuyên, ngày 2 tháng 4 năm 2001
Đức Cha Bùi Tuần

 

PS1-117: TÁC DỤNG CỦA NIỀM TIN PHỤC SINH

Lu-ca 24, 1-12
“Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn. Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả. Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ. Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói : "Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ? Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại."
Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói. Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Mấy bà nói đây là bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Gio-an-na, và bà Ma-ri-a, mẹ ông Gia-cô-bê. Các bà khác cùng đi với mấy bà này cũng nói với các Tông Đồ như vậy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin.
Dầu vậy, ông Phê-rô cũng đứng lên chạy ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra”.
 

Trong một trận giao tranh ác liệt giữa quân của Napoléon và quân địch, trận chiến càng về: PS1-117

Trong một trận giao tranh ác liệt giữa quân của Napoléon và quân địch, trận chiến càng về khuya càng ác liệt và phần thắng dần dần nghiêng hẳn về phía địch. Quân của Napoléon chết rất nhiều, hàng ngũ rối loạn mặc dầu cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp tục nhưng rời rạc. Nhìn rõ thế trận, Napoléon biết phải làm gì, vua gọi tên lính thổi kèn lại gần và ra lệnh : "Hãy thổi kèn lui binh vì quân ta chết quá nhiều."
Tên lính trẻ được lệnh, nhảy thót lên ngựa, phi nhanh ra giữa trận, và đưa kèn lên thổi hồi kèn thúc trận một cách mạnh mẽ. Quân của Napoléon đang mệt mỏi và thất vọng, nghe tiếng kèn thúc quân, tưởng là có viện binh tới giúp, chồm dậy phản công kịch liệt. Kèn cứ thổi, đám tàn quân vươn mình lên vừa đánh vừa la hét. Kết quả thế trận thay đổi : quân của Napoléon toàn thắng cách bất ngờ. Tuy nhiên, hoàng đế Napoléon sai bắt tên lính kèn kia lại, và khiển trách y rất nặng nề về tội bất tuân thượng lệnh. Anh lính bình tĩnh tâu: "Muôn tâu đức vua, từ khi được theo bước chân ngài trong binh lửa, và chiến đấu trăm trận đều trăm thắng cho nên hạ thần đã quên hẳn bài kèn rút lui rồi!"
Đó là tinh thần phải có trong lễ Phục Sinh, vì Chúa chúng ta đã toàn thắng vẻ vang nơi bản thân Ngài và Thân thể Ngài suốt hai mươi thế kỷ nay và còn mãi mãi. Ta không thể nào sống trong buồn phiền than vãn vì "Thiên Chúa không ban cho chúng ta một thần khí làm ta nhút nhát, nhưng là Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ." (2 Tm 1,7). Hãy cảm tạ Chúa và tiến bước trong tinh thần đắc thắng : "Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng hằng cho chúng tôi tham dự cuộc khải hoàn trong Đức Ki-tô." (2 Cr 2,14).
Tiếp theo sức đắc thắng của Chúa Phục Sinh, Hội Thánh trải qua các thế hệ nhờ vào quyền năng của Đấng Phục Sinh mà đắc thắng luôn, không một quyền lực nào có thể ngăn cản được sự đắc thắng ấy : Phê-rô đã đắc thắng sự nhút nhát, trước đó đã ba lần chối Chúa trước mặt một tớ gái, nay công khai mạnh dạn rao giảng đầy quyền năng đến nỗi chỉ trong một ngày ba ngàn người trở lại. Tê-pha-nô đã đắc thắng trong Thánh Linh mà chết vì đạo cách vinh hiển, Phao-lô đã đắc thắng việc cậy nhờ luật pháp, để từ một người bắt đạo trở nên một người truyền bá Tin Mừng không biết mệt mỏi. Hàng triệu tín hữu trong các thế kỷ đầu tiên đã đắc thắng quyền lực của đế quốc La-mã không chịu chối Chúa để phải đầu rơi dưới lưỡi gươm hay phơi thây nơi hý trường …
Cha ông chúng ta đã đắc thắng vì niềm tin vào Chúa Phục Sinh để lại cho chúng ta một Giáo Hội Việt Nam như hôm nay.
Bí quyết đắc thắng : "Ai là người thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa." (1Ga 5,5).
Chính niềm tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh đã đem lại sự đắc thắng cho người ki-tô hữu nơi thế gian này, thứ thế gian cách biệt khỏi Thiên Chúa và chống nghịch Ngài. Điều giúp người ki-tô hữu chinh phục được thế gian là chính niềm tin, và thánh Gio-an nói rõ thêm là niềm tin rằng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa. Đó là niềm tin nơi sự thành nhục thể. Tại sao điều này lại ban cho sự đắc thắng nhứ thế ? Nếu chúng ta tin nơi sự thành nhục thể, tức là chúng ta tin rằng trong Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã bước vào thế gian và mang lấy đời sống con người vào chính Ngài. Nếu Thiên Chúa làm như thế là vì Ngài rất quan tâm đến con người nên bằng lòng đặt sự vinh hiển qua một bên và mang vào thân Ngài những giới hạn của con người, đó là hành động yêu thương vượt quá sự hiểu biết của con người. Nếu Thiên Chúa làm như vậy tức là Ngài vui lòng chia sẻ những sinh hoạt muôn mặt của cuộc sống con người, và biết nhiều thử thách, cám dỗ, buồn bã khác nhau trong cuộc sống và trong thế gian này. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa hiểu thấu tất cả những gì xảy đến cho chúng ta và Ngài có mặt trong các công việc của cuộc sống cùng với chúng ta. Đức tin nơi sự nhập thể là sự tin chắc rằng Thiên Chúa chia sẻ và lo lắng chăm sóc. Khi chúng ta chấp nhận đức tin này thì một số điều sẽ xuất hiện :
Chúng ta có được sức đề kháng chống lại sự nhiễm độc của thế gian.
Áp lực của những tiêu chuẩn và động lực thế gian hiện diện khắp mọi nơi, chung quanh đầy dẫy những điều sai quấy. Cả bên trong lẫn bên ngoài đều có những sự cám dỗ, đó là một phần của hoàn cảnh con người sống giữa thế gian và trong xã hội không thích Thiên Chúa và đôi khi còn thù ghét Ngài. Khi chúng ta ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong Chúa Giê-su luôn luôn ở với chúng ta, chúng ta có được một chất kháng độc rất mạnh chống lại sự nhiễm độc của thế gian. Kinh nghiệm cho thấy trong một cộng đồng của những người tốt, người ta dễ sống tốt hơn, và nếu chúng ta tin vào sự nhập thể, chúng ta có được sự hiện diện liên tục của Thiên Chúa trong Chúa Giê-su.
Chúng ta có năng lực để chịu đựng sự tất công của thế gian.
Hoàn cảnh con người đầy dẫy những điều tìm cách cướp mất đức tin của chúng ta. Có những sự buồn rầu, có những sự xảy đến cho chúng ta trong cuộc sống vượt quá sự hiểu biết, có những thất vọng và thất bại. Phần lớn chúng ta gặp phải sự thất bại, chán nản, tuyệt vong trong cuộc sống … nhưng nếu chúng ta tin vào sự nhập thể, chúng ta tin vào Chúa Cứu Thế, Đấng đã trải qua mọi khó khăn đó sẽ giúp đỡ chúng ta vượt qua được những thử thách trên.
Chúng ta có niềm hy vọng vào chiến thắng sau cùng.
Thế gian đã thực hiện điều tồi tệ nhất cho Chúa Giê-su. Nó đã săn đuổi, phỉ báng Ngài, gán cho Ngài là tà giáo và tội nhân hay đồng lõa với tội nhân. Nó xét đoán Ngài, xử án Ngài, đóng đinh Ngài rồi chôn Ngài. Nó làm tất cả những gì con người có thể làm được để bóp nát Ngài, loại trừ Ngài, nhưng nó đã thất bại. Sau sự chết là sự sống lại, sau xỉ nhục là vinh hiển. Đó chính là Chúa Giê-su, Đấng ở với chúng ta, Ngài là Đấng thắng cuộc sống ở chỗ tàn bạo nhất, là Đấng bị cuộc sống xử tệ nhất, là Đấng đã chết, nhưng không bị sự chết cầm giữ, là Đấng chia sẻ với chúng ta chiến thắng của Ngài. Nếu chúng ta tin vào sự nhập thể, sự sống, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-su thì chúng ta mãi mãi có Chúa Cứu Thế đắc thắng ở với chúng ta để ban cho chúng ta sự chiến thắng.

 

PS1-118: CÁC PHỤ NỮ VIẾNG MỒ

LỄ VỌNG PHỤC SINH
Lc 24,1-12)
II VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Các phụ nữ bấn loạn vì Lời:
 

Ngày hôm sau ngày Sabbat, "ngày thứ nhất trong tuần " mau chóng trở thành Ngày Chúa nhật: PS1-118

Ngày hôm sau ngày Sabbat, "ngày thứ nhất trong tuần " mau chóng trở thành Ngày Chúa nhật của các Kitô hữu. Một nhóm phụ nữ đi viếng mồ. Các bà đã theo Đức Giêsu ngay từ những ngày đầu ở Galilê, các bà là những nhân chứng về cái chết của Người, việc hạ xác Người xuống và việc táng xác trong mồ. "Sáng sớm", trung thành với tập tục, các bà đem dầu thơm để làm nghi thức ướp xác đã chịu nhục hình của Thầy.
- Làm sao không ngạc nhiên khi các bà thấy "tảng đá đã lăn qua một bên cạnh mồ ". Làm sao không lo lắng khi vào mà không thấy "xác của Đức Chúa đâu". H. Cousin nhận định: "ở đây việc sống lại chỉ được nói thoáng qua cho độc giả, liệu họ có hiểu rằng một thân xác như thế không thể bi giữ lại trong một ngôi mộ nữa không? " ("Tin Mừng thánh Luca", Centurion, trg 325).
Hốt hoảng, các bà "chẳng còn biết nghĩ sao ".
- Bỗng xuất hiện hai thiên sứ y phục sáng láng, hai vị - nghĩa là lời chứng của các ngài về sự phục sinh là có giá trị (cf. Tl 19,15). Như, thái độ cung kính của Abraham khi đến gần Thiên Chúa (St 17,3), "các bà cúi mặt xuống đất".
Ngay khi ấy, một tin vui ngoài sức tưởng tượng được loan báo: "Tại sao các bà đi tìm Đấng đang sống ở nơi những kẻ chêt? Người không còn ở đây, Người đã sống lại ". Đức Giêsu không còn thuộc về thế giới kẻ chết; Người thuộc về một thế giới mới, thế giới sự sống. Đấng mà các bà tìm kiếm giữa những kẻ chết là "đấng đang sống " (danh hiệu nói về Thiên Chúa trong Cựu ước), là chính nguồn mạch sự sống.
Các thiên sứ mời các bà hãy "nhớ lại " các lời lẽ Đức Giêsu đã nói với họ khi Người còn ở Galilê: " Con Người phải chịu nộp vào tay những kẻ tội lỗi, phải chịu đóng đinh nhưng ngày thứ ba Người sẽ sống lại ".
H. Cousin giải thích: "Niềm tin vào đức Kitô phục sinh không thể phát nguồn từ một biên bản của cảnh sát điều tra: ngôi mộ trống rỗng; chẳng có vết chân nào... Vậy, Người đã sống lại. Ngôi mộ ấy phải được soi sáng bằng một lời nói của Thiên Chúa mới có ý nghĩa ". Nghe lời các thiên sứ nói, các bà nhớ lại những lời của Đức Giêsu và tìm lại được sự hiện diện của Người: trong ngôi mộ trống rỗng, các bà nhận ra rằng tất cả các lời liên tri đều đã ứng nghiệm. Các bà nhìn bằng cặp mắt khác và các bà đã tin. Các bà tin và tức khắc làm chứng đức tin của mình: các bà chạy về "thuật lại tất cả những điều ấy cho 11 tông đồ và mọi người ". .
2. Các môn đệ chậm tin.
- Là những người cuối cùng ở lại bên Đức Giêsu và những người đầu tiên..biết Tin Mừng Phục sinh, các bà đã trở thành tông đồ của các Tông đồ, những người đầu tiên rao giăng Tin Mừng. Nhưng lời chứng của Maria Mađalena, của Gioan và Maria, mẹ Giacôbê, được các phụ nữ khác đồng thanh xác nhận, lại chỉ được 11 tông đồ đón nhận với sự hoài nghi khinh bạc: " Với họ những lời lẽ ấy dường như hoang đường " .
Để hết nghi ngờ, chính họ phải tìm lại được ký ức sống động về các Lời Đức Giêsu nói.
- Tuy thế Phêrô cũng chạy đến mồ. ông nhận thấy ngay là tảng đá đã bị lăn ra và "cúi xuống, ông chỉ thấy tấm khăn liệm". Tất cả những điều ấy xác nhận lời các phụ nữ nói nhưng ông chỉ thấy ngạc nhiên và lạ lùng "ông trớ về, kinh ngạc về những gì đã xảy ra ".
H. Cousin kết luận: " Vi tông đồ đi đến mồ đế kiểm tra lời kể của các phụ nữ. Ông thấy ngôi mộ trống... và ông ngạc nhiên. Sự không hiểu này chẳng có liên quan gì đến niềm tin....Phêrô không nhớ lại lời Đức Giêsu đã nói và chẳng có cuộc hiện ra nào đến bổ khuyết sự quên lãng ấy để giải nghĩa ngôi mộ trống... Tuy nhiên, Phêrô đã có một sáng kiến, tuy chưa hoàn hảo, và Đấng Phục sinh đã mau chóng  hoàn tất bằng cách tỏ mình ra cho ông (cau 34). Do đó, ta thấy được vai trò đặc biệt của vị Tông đồ này trong nội bộ nhóm các môn đệ (cf 22,32) cũng như bên ngoài nhóm " (cf 5,l0; Cv 2,14) (Sđd, trg 326-327).
II. BÀI ĐỌC THÊM:
Đài tưởng niệm thực sự của Đức Giêsu .
(Roland Meynet, trong "Tin Mừng theo thánh Luc. Phân tích tu từ quyền.2, trg 235).
Nơi Đức Giêsu, còn lại gì, nếu không chỉ là thi hài và nấm mồ của Người? Các phụ nữ bám víu vào đó một cách tuyệt vọng, theo như Lề luật cho phép. Từ nay đó còn là mối liên hệ duy nhất nối kết họ với Thầy và Chúa của họ. Các bà, dù đem hết tài sản phục vụ Người khi Người còn sống, sẽ tiếp tục trong khoảnh khắc thời giân ít ỏi còn lại để chăm sóc thi thể Người. Rồi họ chỉ còn có thể đến mộ mà tưởng nhớ đến Người. Nhưng hai người y phục sáng láng đã chỉ họ một nơi khác của ký ức, nơi các bà sẽ gặp Người, vì đài tường niệm mồ mả đã trống rỗng. Đừng tìm Người ở đây, nhưng hãy tìm trong Lời Người. Chắc chắn các bà - làm sao quên được cái chết của Đức Gỉêsu và việc chôn táng Người trong mồ nhưng các bà sẽ nhớ lại ngay từ ban đầu tại Galilê Người đã loan báo rằng ngày thứ ba sẽ sống lại từ trong kẻ chết. Đài tưởng niệm thực sự của Người không phải là nơi thân xác đã chết của Đức Giêsu an nghỉ, nhưng là ở trong ký ức sống động của các bà về những lời loan báo cuộc khải hoàn của sự sống qua cái chết và nấm mồ của Người... .
Trả lời cho cái chết và nấm mồ chỉ có thái độ câm lặng của tuyệt vọng. Trái lại, nhớ lại những lời ban sự sống sẽ phát sinh những lời loan báo vui tươi về sự sống lại. Lời các phụ nữ nói với các tông đồ là kết quả của một truyền thống lâu dài. Đó chẳng là gì khác hơn những điều Đức Giêsu đã nói rất nhiều lần khi còn ở với các môn đệ. Lời của Đức Giêsu thực ra cũng chỉ là lặp lại điều các tiên tri đã loan báo từ lâu và các ngài vừa đích thân nhắc lại khi mặc y phục sáng láng như tia chớp. Đó là những lời xa xưa nhưng lại trở nên mới mẻ vì được loan báo lúc này, mới mẻ trước hết vì đã được ứng nghiệm trong ngày hôm nay, và sau cùng mới mẻ vì những lời ấy là khởi điểm cho một cuộc công bố mới.
Ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ đem thuốc thơm đến mộ. Giây lát sau, các bà đem lời sự sống đến cho 11 tông đồ và các môn đệ khác. Các bà bỏ thân xác đã chết của Đức Giêsu vì thân thể sóng động của cộng đoàn các môn đệ. Với các bà, Giáo Hội đã trở nên thân thể Đức Kitô, khuôn mặt của sự hiện diện hữu hình của Người. Tuy nhiên, với điều kiện là lời Người phải sống động trong Giáo Hội cũng như đã được hoàn tất nơi Người. Với điều kiện là các môn đệ tin tưởng và đừng rao giảng sự Phục sinh như bài học thuộc lòng.

 

PS1-119: MỒ TRỐNG - SỨ ĐIỆP CÁC THIÊN THẦN

LỄ ĐÊM PHỤC SINH C
Lc 24,1-12
 

Người ta thường bảo lược đồ tác phẩm Lc (phúc âm và Cv) là một lược đồ địa lý, một hành: PS1-119

1. Người ta thường bảo lược đồ tác phẩm Lc (phúc âm và Cv) là một lược đồ địa lý, một hành trình mà trạm chính là Giêrusalem. Từ Galilê nơi Ngài đã bắt đầu rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu lên Giêrusalem, vừa đi vừa tiếp tục sứ mệnh, để chết, sống lại và lên trời ở đó. Và cũng từ đó, Chúa Giêsu sai Thánh Thần xuống trên các tông đồ. Rồi khởi từ Giêrusalem, các vị này chia tay nhau đi rao giảng Tin mừng khắp mọi nơi cho đến La mã, kinh đô thế giới ngoại giáo đương thời.
Nhưng tại sao Giêrusalem xem ra là bản lề của không gian nếu không phải là vì trước hết và sâu xa hơn hết sự phục sinh của Chúa Kitô là bản lề của thời gian. Đây chính là yếu điểm của toàn thể lịch sử, đây chính là biến cố vĩ đại tạo nên ý nghĩa cho các biến cố khác. Sấm ngôn tiên tri, lề luật Môisen, Thánh vịnh, đến cả giáo huấn của Chúa Giêsu đều chỉ có thể hiểu được nhờ ánh sáng của phục sinh. Tất cả đều qui về sự hoàn thành ấy. Lc không ngừng lặp đi lặp lại điều đó trước (9,22.30-31. 44.51; 18,31-33; 22,37) cũng như sau biến cố vĩ đại này (24,6-7. 25-27.44-46).
Những trình thuật phục sinh cấu thành chóp đỉnh và trung tâm tác phẩm của Lc. Trong tác phẩm của ông, các biến cố có vẻ như chỉ xảy ra cùng một ngày. Đứng trước sự ngu độn này ngày càng tăng của môn đồ, Đức Kitô đưa ra chứng cớ ngày càng hiển nhiên về sự phục sinh của Ngài: nào là mồ trống, nào lời thiên thần quả quyết Ngài đã sống lại theo lời Thánh kinh, nào là chính Ngài hiện ra “bẻ bánh”, tỏ vết thương, và ngay cả ăn uống với các môn đệ. Khi đức tin của họ đã được củng cố, Ngài sai họ đi khắp thế giới và hứa ban Thánh Thần cho, rồi Ngài ngự về trời.
2. Sứ điệp các thiên thần hàm chứa lời tuyên bố vĩ đại, “tin mừng lớn nhất": Chúa Giêsu đã phục sinh. Nhưng trước khi lấy lại từ ngữ của Mt để diễn tả chân lý ấy, Lc phát biểu nó theo ý niệm của Thánh Phaolô và của người Hy lạp: ngoài hình ảnh thông thường của việc thức dậy (êgêrô) ông thêm một ý niệm nặng chất thần học hơn: ý niệm “sống” (x.Rm 6,9-10; Cv 25,19). Hạn từ này sẽ được ông đặt trên môi hai môn đệ làng Emmau để tóm tắt sứ điệp thiên thần (24,23)
Trong CƯ, Đấng hằng sống chính là TC (Ds 24,21.28; Đnl 32,40); Giavê là TC hằng sống (Đnl ,2; Xac 5,11). Người ta lấy danh TC hằng sống mà thề (1S 19,6). Chỉ có mình TC là nguồn mạch sự sống, là chủ sự sống (St 2,7; 1S 2,6). Do đó, người ta có thể hiểu từ ngữ “hằng sống” này theo nghĩa mạnh nhất và dịch: “Tại sao các bà lại tìm “Đấng sống” giữa người chết ? (TOB) thay vì dịch: “Tại sao các bà tìm người đang sống...” Hiểu như thế, lời tuyên bố của các thiên thần hàm chứa thần học của thánh Phaolô và Gioan; theo thần học ấy, Đức Kitô đồng hóa với sự sống (Ga 1,4; 11,25; 14,6), là nguồn mạch sự sống (10,10; Rm 5,10; 1Cr 15,45; Ga 5,11). Những người Hy lạp thường định nghĩa thần tính bằng bất tử tính vì họ thấy loài người là “hay chết”. Lc lấy hai cách đối chiếu này. Trên kia (c.3) ông đã dùng từ ngữ rất mạnh: “Chúa Giêsu” (Seigneur Jésus), thì đây cũng thế, ông đã gán cho chữ “đấng sống” một nội dung phong phú như niềm tin của Giáo hội vào thiên tính của Chúa Giêsu, thiên tính mà cuộc phục sinh đã xác nhận.
3. Lời của các thiên thần bao hàm một sự khiển trách: các bà đã quên lời tiên báo về tử nạn và phục sinh của Đức Kitô. Các môn đệ làng Emmau (c.25-26) và các tông đồ (c.38) cũng bị khiển trách như vậy. Lời thiên thần trách móc phụ nữ làm chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu đã thưa với mẹ Ngài trong đền thờ: “Thế thì tìm con làm gì ? ...” (Lc 2,49). Ai biết Chúa Giêsu trong mầu nhiệm cao siêu của Ngài thì biết tìm Ngài ở đâu. Các phụ nữ tìm Ngài ở nơi Ngài không thể ở. Tìm một người chết giữa những kẻ chết có gì lạ đâu. Nhưng đối với Chúa Giêsu thì không phải thế; khi thấy mồ trống các phụ nữ phải hiểu là Chúa đã sống lại.
Nếu các môn đệ thực sự tin vào các lời tiên tri và các lời Chúa Giêsu dạy, thì họ đã không bối rối thất vọng khi Chúa Giêsu chết hoặc khi thấy mồ trống. Việc nhắc lại các lời tiên tri, Mt đã thêm vào các trình thuật của Mc. Vì làm sao Mt, kẻ luôn luôn nhấn mạnh Chúa Giêsu làm ứng nghiệm các lời tiên báo, lại không trình bày sự phục sinh của Chúa Giêsu như là thể hiện các lời đó được. Nhưng trong lúc ông chỉ ghi đại khái: “Ngài đã sống lại, như Ngài đã nói” thì Lc cho thiên thần trích lại một trong các lời tiên báo của Ngài và ông sẽ cho thấy Chúa Giêsu tự áp dụng lời tiên báo ấy trước mặt các môn đệ (cc.25-27; 44-46).
“Các bà hãy nhớ lại...”, thiên thần nói với các phụ nữ như thế. Tuy nhiên trong các phúc âm, chính các môn đệ chứ không phải các bà đã được nghe Chúa Giêsu loan báo cuộc tử nạn và phục sinh. Có cần tưởng tượng rằng các bà cũng được nghe Chúa Giêsu nói hoặc đã được các tông đồ nhắc lại cho không ? Đối với Lc, chỉ cần biết rằng các bà có mặt trong phúc âm là đủ. Có lẽ chính vì vậy mà Lc đã thêm vào lời loan báo tử nạn đầu tiên câu này: “Hãy ghi kỹ vào tai các lời này” (Lc 9,44, so sánh với Mc 9,31; Mt 17,21). Câu “các bà hãy nhớ lại...” tương ứng với lời khuyến cáo đó.
Còn về điểm xác định “ngày thứ ba” mà ta đã thấy ở 9,22, có cần coi đó như là một sự ngẫu nhiên hay như một điểm mà các sứ ngôn đã nhắm đến ? Và do bản văn nào trong CƯ ? Các nhà chú giải bất đồng về vấn đề này. Có thể là Giáo hội sơ khai đã gán cho các đoạn tiên tri Ôse 6,2 và Giona 2,1 một tầm mức, một ý nghĩa thiên sai mà thực ra chúng không có theo bản nghĩa.
Lời các thiên thần khiển trách những phụ nữ không phải là vô ích. Các bà nhận ra trong mồ trống dấu hiệu ứng nghiệm lời tiên tri và tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại. Gioan đứng trước sự kiện ấy cũng sẽ tin luôn (Ga 20,8b-9). Do đó đề tài “nhớ lại và hiểu được sau phục sinh lời tiên báo của Chúa Giêsu” là một điểm chung giữa hai phúc âm thứ ba và thứ tư (Ga 2,17.22; 7,39; 12,16; 13,7; 16,12-13).
4. Thường thường Lc thích nhấn mạnh tình cảm của các nhân vật trong phúc âm ông, vui mừng và nhất là sợ hãi (1,12.14.65; 2,9). Nếu ở đây ông không nói đến tình cảm của các bà, là vì ông chỉ muốn làm nổi bật một sự kiện quan trọng: các bà đã tin. Đó không phải là một hành động thiếu suy nghĩ và nông cạn mà người ta thường gán cho tính nhẹ dạ của đàn bà như các tông đồ đã làm, nhưng đây là một đức tin đặt cơ sở vững chắc trên sự chứng thực các sự kiện: mồ trống, lời nói của các thiên thần chứng từ của Thánh kinh và của Chúa Giêsu.
“Họ đã nói lại hết các điều đó cho nhóm mười một, và cho mọi kẻ khác” (c.23). Chúng ta ghi nhận: từ ngữ “nhóm mười một”, không có túc từ “môn đệ”, là một tiếng đặc biệt chỉ có Lc dùng (so sánh Mt 28,16; Lc 24,9.33; Cv 2,14; còn Mc 16,14 có lẽ là tóm tắt Lc 24,36tt...) Đây là một tên gọi liên quan với tiếng “nhóm 12”. Nó chuẩn bị cho trình thuật tuyển chọn Matthias (Cv 1,15-26). Nhưng không phải chỉ có “nhóm 11” mới được báo tin. Dĩ nhiên các tông đồ là những chứng nhân chính thức của việc phục sinh (Cv 1,21-22); nhưng Lc đã cố ý nói rằng sứ mệnh đó không chỉ thuộc về họ. Bên cạnh nhóm 12, còn có “72” môn đệ khác, những người này cũng được lãnh nhận một sứ mệnh (Lc 10,1-16). Hai môn đệ làng Emmau là hai người trong bọn họ đã làm chứng cho sự phục sinh (so sánh c.9 với c.22; x. cc.33-35; 1Cr 15,6).
Chúng từ của các bà rất vững chắc, không những vì đưđc tin họ dựa trên các sự kiện đã xảy ra, mà còn vì chính con người họ nữa (c.10). Họ là những kẻ theo Chúa Giêsu từ Galilê, nhất là Maria Mađalêna và Gioanna, vợ của ông quản gia vua Herodê (8,2-3), cũng như bà Maria mẹ Giacobê mà Mc đã nói tới (16,1). Còn Salomé (Mc 16,1) có lẽ ít được biết đến hơn nên Mt đã không kể tên. Lc thay vào Gioanna mà các độc giả ông đã biết để làm chứng nhân tiêu biểu.
Để chứng thực rằng Chúa Giêsu đã sống lại ra khỏi mồ, hỏi có chứng nhân nào xứng đáng hơn các bà ấy, những người đã tẩm liệm Chúa Giêsu, đã nhìn ngôi mộ và đã thấy cách thức đặt xác Chúa vào đó ? (23,55). Lc đã nhấn mạnh điểm này hơn các tác giả phúc âm khác. Nhưng mặc dầu có giá trị, chứng tá các bà cũng không đủ để thuyết phục các môn đệ quá thất vọng; họ chỉ thấy đó là chuyện nhảm nhí đàn bà (c.11; x. 22-24).
5. Chỉ có Phêrô bị đánh động và muốn tự mình kiểm chứng. Trong khi Mc và Mt không biết đến giai thoại này thì Gioan đã kể lại với nhiều chi tiết hơn Lc và đã dàn cảnh “người môn đệ kia” (20,2-10) bên cạnh Phêrô. Phải chăng Lc (hoặc một trong các môn đệ) đã tóm tắt Gioan hoặc truyền thống Gioan đã khai triển Lc ? Vấn đề này khó giải quyết vì trình thuật Lc hàm chứa từ ngữ của ông lẫn Gioan. Hai bên đã lần lượt ảnh hưởng nhau. Các độc giả của Gioan có nhiều lý do để biết việc ông đến mộ và tuyên xưng đức tin; còn Lc thì không để ý đến chuyện đó làm gì, không phải vì ông không biết đến (x.c.24) nhưng vì ông muốn tập trung chú ý của độc giả vào một mình Phêrô thôi.
Phêrô, với thói quen phản ứng bộp chộp, chạy ngay đến mồ, và nhận thấy xác Chúa Giêsu đã biến mất. Nhận xét này chỉ làm cho ông ngạc nhiên. Ông không biết phải nghĩ thế nào. Phúc âm thứ tư xác nhận bạn đường của Phêrô đã tin và do đó cho thấy ông chưa tin việc Chúa sống lại. Lc kín đáo hơn, vì mục đích của ông là nhấn mạnh vai trò quan trọng của Phêrô hơn là vạch trần yếu đuối của vị tông đồ.
Sở dĩ Lc thuật ngay hành động của của Phêrô, mặc dầu hành động ấy khi đi đến thái độ đức tin, là vì ông muốn chuẩn bị cho những gì ông sắp nói trong phần còn lại của chương này, nhất là trong Cv, về chứng từ phục sinh của Phêrô. Lc, thần học gia về đời sống giáo hội, biết rằng đức tin của giáo hội về sự phục sinh dựa trên đức tin của Phêrô, nên ông đã nhấn mạnh một cách đặc biệt đức tin của vị trưởng tông đồ và do đó làm cho chúng ta chứng kiến sự phát triển chậm chạp của nó nơi Phêrô.
Dưới đôi mắt của Lc, Phêrô là một chứng nhân tuyệt hảo của sự phục sinh. Theo lời các môn đệ (c.34) và theo Phaolô (1Co 15,5) thì ông đã được Chúa hiện ra cho cách đặc biệt trong chính ngày phục sinh. Ngày hiện xuống, Phêrô sẽ nhân danh “nhóm mười hai” để công bố sự kiện này (Cv,14-36; 3,12-26; 4,8-12). Vậy việc thấy mồ trống đã không gợi lên đức tin nơi Phêrô, thì việc nhìn thấy Đấng sống lại sẽ làm cho ông trở thành một người có đức tin không lay chuyển nổi. Chính vì thế, ông có thể “trở lại” và từ đấy “củng cố đức tin anh em mình” (Lc 22,32).
KẾT LUẬN
Mồ trống và những khăn liệm tháo ra tự chúng không đưa đến đức tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu. Nhưng tác giả phúc âm xác tín rằng sau khi sống lại, xác Chúa Giêsu không thể còn nằm trong mồ, người ta không thể tìm thấy Ngài ở đó nữa. Sự phục sinh của Chúa Giêsu là sự phục sinh thể xác. Sự phục sinh đó đã được các thiên thần công bố và được đối chiếu với những lời Chúa Giêsu tiên báo lúc Ngài còn tại thế. Chỉ còn đợi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra là hoàn toàn xác tín.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Chúng ta đã nghe nhiều câu chuyện sống lại. Chính Chúa Giêsu đã cho nhiều người chết sống lại. Phúc âm kể cho chúng ta việc Ngài cho con trai bà góa thành Naim, con gái ông Giairô và Lazarô bạn Ngài sống lại Mt cũng thuật: khi Chúa Giêsu chết, thì “xác của nhiều thánh đã yên nghỉ được sống lại” (Mt 27,52). Nhưng những kẻ được Chúa cho sống lại thực sự chỉ là được hồi sinh. Họ trở về ại cuộc sống như bao người khác, chịu những định luật thông thường của kiếp người và rồi cũng sẽ chết. Họ là dấu chỉ cho một cuộc phục sinh khác, cuộc phục sinh của Chúa Giêsu mà chúng ta mừng lễ hôm nay.
Thật vật, đối với Đức Kitô hoàn toàn khác. Sự phục sinh của Ngài không giống tí nào sự hồi sinh của Lazarô hay của con gái ông Giairô. Nếu đọc những trình thuật phúc âm về những lần Chúa Giêsu hiện ra cho các tông đồ sau khi sống lại, trước tiên chúng ta nhận thấy rằng Chúa Giêsu đi đứng như một người sống bình thường: Ngài ăn với các tông đồ cho người ta nhìn thấy để nhận ra; Ngài nói, Ngài nghe, Ngài kêu tên những ai Ngài gặp, Ngài đề nghị họ đến sờ những thương tích Ngài, để bảo đảm Ngài đang thực sự hiện diện.
Nhưng sự sống của Ngài rất khác lạ. Ngài đang sống, nhưng được lúc đi đứng như một người thường thì Ngài lại có thể hành động cách khác như thể Ngài đã thoát khỏi thân phận, điều kiện con người. Không gian và thời gian, các vật thể đặc cứng không đáng kể đối với Ngài. Trong Đức Kitô phục sinh, hiện ra một con người hoàn toàn mới mẻ, chưa bao giờ gặp thấy. Ngài vừa là một con người, vừa là một tinh thần thuần túy (pur esorit). Thật khó mà diễn tả vì Ngài rất giống chúng ta nhưng cũng lại rất khác chúng ta. Ngài đạt đến một trạng thái đã hứa từ lâu nhưng chưa bao giờ thực hiện. Đó là trạng thái con người “đi ngang qua thế gian này mà về cùng Cha”.
Đó là sự kiện phục sinh của Chúa Kitô, một sự kiện duy nhất nhưng làm đảo lộn tất cả. Chúa Giêsu là người đầu tiên và là người duy nhất được lịch sử đã đi qua cái chết và đã sống lại nguyên vẹn với thân xác Ngài đã chết và sau đó đã trở về; dĩ nhiên Ngài không tỏ tâm sự bí mật, không nói cho chúng ta hay Ngài đang cảm thấy gì để chúng ta thỏa mãn tính tò mò. Ngài làm hơn thế, Ngài nói cho chúng ta biết cái chết có mục đích gì và ý nghĩa nào. Ngài bảo chúng ta đừng sợ chết, vì nó đưa chúng ta đến trạng thái chung cục, khởi điểm cho một cuộc sống mới một sáng tạo mới.
2. Cuộc sống mới này, mà Chúa Giêsu là người đầu tiên sinh ra trong đó, chúng ta có thể kinh nghiệm được ngay từ bây giờ. Nó không phải là một giả thiết cho tương lai, song là một thực tại hiện thời. Đó là tất cả ý nghĩa của phép thánh tẩy và sức mạnh canh tân của nó mà ta đang thấy qua các cử hành phục sinh. Nếu Chúa Giêsu là trưởng tử của tạo vật mới, thì không nguyên một mình Ngài mà tất cả những ai được rủa tội, ngay từ bây giờ, đã làm thành một dòng tộc mới giống Chúa Giêsu. Và đây là vai trò chính yếu của Giáo hội: loan báo cho thế gian biết rằng: Chúa Giêsu đã sống lại và trao ban sự sống mới của Ngài cho mọi người nhờ phúc âm.
3. Những tín hữu đã chịu phép thánh tẩy giống Chúa Giêsu phục sinh. Họ giống đồng thời cũng khác biệt mọi người. Như mọi người, họ sống giữa thế gian; họ nói, họ làm, họ lao động, họ đau khổ và họ sung sướng giống hệt những người khác. Như mọi người và với mọi người, họ cộng tác vào việc là chủ vũ trụ và nỗ lực xây dựng một thế giới công bình và bình an.
Khác với mọi người, họ không đóng khung trong trần gian. Họ biết rằng trần gian này không phi lý như một vài người nghĩ, cũng quá đủ như một số người chủ trương. Họ biết rằng TC muốn con người, chấp nhận trần gian với tất cả yêu sách của nó, họ biết rằng phải tùng phục các định luật của sáng tạo, họ cũng hiểu rằng trần gian này không vĩnh cửu mà chỉ là một hình thức chuyển tiếp của một thực tại luôn tiến về việc thiết lập Nước TC.
4. Chúng ta hãy canh tân phép rửa của chúng ta lại trong sức mạnh nguyên tuyền của nó để củng cố sự hiện hữu của thế giới mới đã được Chúa Giêsu phục sinh khai mào. Muốn thế, chúng ta phải không ngừng từ bỏ tội lỗi và sự chết của con người và luôn luôn sống Chúa Giêsu là sự sống của nhân loại.

 

PS1-120: TUYÊN XƯNG NIỀM TIN

Bà Ac-Xec-dep, một tù nhân của Liên xô ngày trước, thuật lại một sự kiện bà đã chứng kiến: PS1-120

Bà Ac-Xec-dep, một tù nhân của Liên xô ngày trước, thuật lại một sự kiện bà đã chứng kiến như sau:
Một buổi chiều kia, một cô gái trẻ cùng bị giam với chúng tôi kề miệng vào tai tôi nói nhỏ: “Chị biết mai là ngày gì không?” Rồi không đợi tôi trả lời, cô nói tiếp: “Mai là ngày lễ Phục Sinh”.
Nghe thế, tôi tự hỏi: “ lễ Phục Sinh đã đến rồi sao? Đó lễ của niềm vui và hy vọng. Nhưng trong tù, niềm vui của chúng tôi đã héo úa và khô cằn. Còn hy vọng…?” tôi nghĩ đi lại trong phòng và không dám suy nghĩ tiếp.
Bỗng một tiếng reo vang nổi lên phá tan bầu không khí nặng nề: “Chúa Kitô đã Phục Sinh!” tôi quay nhìn cô gái vừa cất tiếng tuyên xưng niềm tin  và tôi thấy chiếu lên từ đôi mắt cô một ánh sáng long lanh diệu huyền. Cùng lúc ấy từ mọi phía của những phòng giam khác cũng vọng lên tiếng đáp: “Người đã Phục Sinh thật!”
Quá sửng sốt trước một biến cố không bao giờ đã xảy ra tại nơi đây, các nhân viên trại giam trở nên bất động như những tượng gỗ. Sau một lúc yên lặng, tôi nghe tiếng giầy nặng nề tiến lại gần phòng giam của chúng tôi. Cửa phòng mở tung. Hai nhân viên bước vào giận dữ hỏi ai đã xướng câu mê tín dị đoan rồi hùng hổ túm lấy cô gái lôi cô sềnh sệch ra khỏi phòng.
Một tuần lễ sau, cô trở lại, mặt mày xanh xao, người gầy đi thấy rõ. Sau khi nằm yên tại một góc phòng hồi lâu cô vẫy tay gọi tôi lại và thều thào: “dù sao tôi cũng đã tuyên xưng niềm tin vào Chúa Phục Sinh. Những cái khác không quan trọng gì cho lắm”. Nói xong, cô rán sức mỉm cười, và tôi thấy ánh mắt cô vẫn sáng lên như hôm trước.
***
Được dịp tuyên xưng đức tin trong một hoàn cảnh đặc biệt nhưng cô gái trên đây thật là hiểm họa. Nhưng mẫu gương can đảm của cô phải nhắc nhở chúng ta cố gắng thể hiện trong cuộc sống lời tuyên xưng  trong Thánh lễ: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến”.
Tuyên xưng việc Chúa sống lại bằng cách hiểu rõ ý nghĩa và giá trị của sự chết, của những đau khổ, những khó khăn. Nhưng cuộc sống của  chúng ta không chỉ hạn hẹp trong sự hiểu biết ấy.
Người tin vào Chúa Phục Sinh còn phải chiến đấu để chiến thắng khó khăn, chế ngự đau khổ, tiêu diệt tội lỗi, để phát huy cuộc sống mới của những tạo vật được tái sinh nhờ cái chết và cuộc phục sinh của Chúa Kitô.

 

PS1-121: NGỘI MỘ MỞ TUNG VÀ TRỐNG RỖNG

LỄ PHỤC SINH
Ga 20,1-9
1 VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Người Đang Sống
 

Thật nghịch lý, Tin Mừng ngày Lễ Phục sinh chỉ dừng lại ở chỗ khám phá ra ngôi mộ mở: PS1-121

Thật nghịch lý, Tin Mừng ngày Lễ Phục sinh chỉ dừng lại ở chỗ khám phá ra ngôi mộ mở tung và trống rỗng mà không dẫn ta đi đến cùng câu chuyện, cho đến khi gặp Maria Madalêna cùng với Đấng Phục sinh và lời loan báo cho các môn đệ : " Tôi đã thấy Đức Chúa, và đây là lời Người nói với tôi , (câu 28). Dường như phụng vụ hôm nay muốn mời ta đi lại hành trình đức tin theo gót những chứng nhân đầu tiên.
Trong đoạn Tin Mừng ta đọc sáng nay, tác giả rõ ràng đã sắp xếp một quá trình ""tiệm tiến gây ấn tượng ".
- Trước tiên đó là những "di chuyển " rất nhiều và rất nhanh: động từ "chạy " được lặp lại ba lần chỉ trong một câu. Sau khi khám phá ra ngôi mộ mở tung, Maria Madalêna chạy đi "tìm Simon-Phêrô và môn đệ kia". Simon-Phêrô và môn đệ kia chạy đến mồ, môn đệ kia tới trước. Các cuộc chạy nối tiếp nhau để tìm ra một câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi không thế hiểu nổi về ngôi mộ mở tung và trống rỗng.
 Kế đó là những "dấu chỉ" ngày càng rõ nét với những động từ "nhìn ", "thấy ", và "lời giải thích " về các dấu chỉ do chính các tác nhân đưa ra.
* Maria Madalêna "thấy " phiến đá lấp cửa mộ "được cất đi và kết luận rằng thi thể của Thầy mình cũng đã "bị lấy đi ".
* Môn đệ kia tới trước. Tuy nhiên ông không vào mộ trước Phêrô, "cúi xuống, ông thấy tâm khăn liệm còn đó ".
* Còn Simon-Phêrô, sau khi đã vào trong mộ. "ông nhìn tâm khăn liệm nằm đó, tâm vải phủ đầu, không ở cùng chỗ với khăn liệm, nhưng cuộn lại và để riêng ra ". Khác với Tin Mừng của Luca (24,12) gợi lên ở đây sự "kinh ngạc " của Phêrô, thánh Gian không đi xa hơn những gì nhận thấy. Mãi sau này, khi đã gặp gỡ Đấng Phục sinh và đã nhận tràn đầy Thánh Thần, Phêrô mới hiểu tại sao ngôi mộ lại trống và tâm hồn ông mới mở ra để hiểu lời Thánh Kinh. Tin Mừng thứ tư nói rõ: "Thật vậy cho đến lúc ấy các môn đệ vẫn chưa tin rằng theo Thánh Kinh Đức Giêsu phai phục sinh từ trong kẻ chết"
* Riêng người môn đệ kia, sau đó cũng vào mộ, ông nói rằng ngay lần cảm nghiệm phục sinh đầu tiên đó "ông đã thấy và ông đã tin ".
2. . và ông đã tin".
Dưới mắt Giáo Hội, Phêrô vào trước và đương nhiên trở thành chứng nhân thứ nhất. Trái lại, “Môn đệ kia " được trình bày ở đây như mẫu mực của người môn đệ.. người môn đệ tuyệt hảo. Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến ? người trong bữa Tiệc ly đã "tựa đầu vào lòng Đức Giêsu", với trực giác của tâm hồn, đã nhìn thấy tróng cõi trống không của ngôi mộ, vị trí của tấm vải liệm - xếp đặt gọn gàng chứ không bừa bãi - biết bao dấu chỉ về một thực tại khác, chỉ có đức tin mới cảm nhận được: "ông đã thấy và ông đã tin ". Theo ông, chẳng có ai "lấy đi” thi thể của Đức Giêsu như Maria Madalêna đã loan báo: Kẻ cắp nếu đã lấy trộm xác Thầy làm sao có thời giờ cởi bỏ vải liệm rồi cẩn thận xếp đặt gọn gàng đến thế? Theo ông, sự chết đã hoàn toàn bị sự sống tước đoạt hết sức mạnh. Trong ông đã hình thành một "chuyển biên từ "thấy" đến hoàn toàn tin vào Đức Giêsu phục sinh. Khăn liệm dược xếp đặt ngay ngắn đã chứng tỏ rằng thi thể Đức Giêsu chẳng hề bị lấy cắp, nhưng chính Đức Giêsu đã đi ra, đế lại khăn liệm gọn gàng thứ tự tại nơi Người đã được liệm. Khác với Lazarô đi ra vẫn quấn khăn liệm, Đức Giêsu chẳng cần y phục vì Người giã từ thế giới loài người " (A. Marchadour. "Tin Mừng thánh Gian". Centurion, trg 244).
II. Bài ĐỌC THÊM
1. Khi sinh ra trong đức tin, Phêrô và Gian mời ta theo các ngài.
“Cử hành" (tạp chí của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ và phụng vụ số 237, trg 41-42).
Các động từ chỉ sự di chuyển tràn ngập trình thuật: ra đi, chạy, vào. Những động từ ấy nói lên các giai đoạn trong hành trình của các môn đệ đồng thời kéo theo hành trình của độc giả. Hành trình này không kết thúc ở đoạn cuối của một giai thoại. Các cuộc hiện ra với Maria Mađalêna, với các môn đệ, với Tôma, vẫn còn biết bao chặng đường thiết yếu để đi đến cùng “tin dù không thấy” và tin nhờ vào quyển sách của các chứng nhân.(Ga 20,29-31).
Trong chặng đầu tiên, ta đuổi theo một câu trả lời đầu tiên. Bí hiểm ngay ở khởi điểm: "' Chúng tôi không biết họ đã đặt Đức Chúa ở đâu.” Cần một cuộc điều tra, một loạt động. từ thứ hai điểm nhịp theo biến trình nhìn, thấy. Ta đi từ ghi nhận này đến ghi nhân khác...Ghi nhận đầu tiên là của Maria Mađalêna: tảng đá được cất đi, thi thể bị lấy đi. Ghi nhận thứ hai là của các môn đệ: vài liệm xếp gọn gàng: Ghi nhận thứ ba nhưng liệu có trung với hai ghi nhận trên không? Người môn đệ Đức Giêsu yêu quý "đã thấy và đã tin”
Anh sáng đức tin phát xuất từ Kinh Thánh và Lời Đức Giêsu. Nhưng ngôi mộ mở tung, đầy những dấu chỉ của một thi thể người chết nhưng biến mất, bước đầu cho phép ta có cảm tưởng rằng Đức Chúa đang sống ở nơi khác. Hai con người đang sỉnh ra trong đức tin, mỗi người cất bước theo con đường riêng, dắt dìu nhau. Họ mời ta hãy bước theo họ.
2. Tại ngôi mộ để ngỏ.
(G. Boucher trong "Thiên đường tại thế" (Kerampir, 29820 Bohars).
Buổi sáng hôm ấy một phụ nữ, Maria Madalena đến viếng mộ Đức Giêsu. Nhưng, sững sờ: cửa mộ để ngỏ, mở tung ra. Ai đã lăn tảng đá lấp cửa mộ ra rồi.
Thoạt nhìn ngôi mộ mở tung gợi lên một trò lừa đảo, Gian lận, một trò bỡn cợn đê tiện hoặc một sự tục hóa không chấp nhận được.  
Phải, phản ứng thế nào trước một xì căng đan như thế? Trước Maria Madalena tham vấn các môn đệ. Bà chạy đến với Phêrô. Tức tốc Phêrô và Gian thoát ra khỏi tính e dè, khỏi sự im lặng sợ sệt. Ông rời bỏ nơi ẩn náu. Ông chạy đến xem và ghi nhận tại chỗ. Thật là một sự báng bổ. Ghi nhận đầu tiên là thế.
Phêrô và Gian cùng chạy. Họ chạy đến ngôi mộ mở ngỏ. Họ phải đối diện với một biến cố quan trọng. Và Gian đã thấy. Ông đã thấy và đã tin."
Gian thấy. Mà thấy gì? Chẳng thấy gì cả? Có gì đâu mà thấy. Vậy mà điều ông thấy đã khiến ông tin. 
Ta hãy cùng Gian cúi xuống. Ta thấy gì? Một lổ hổng đen ngòm, đầy màu trống. Một sự trống rỗng mênh mông chứa đầy sự sống. Những vật trang hoàng cho lễ tang đã biến thành y phục sáng láng. Một sự vắng mặt la lên sự có mặt. Một sự im lặng chết chóc hùng hồn hơn tất cả những bài diễn văn. Một bức tường chỉ thấy được phần bị khoét lổ. Một kết thúc tất cả mang vóc dáng sự khởi đầu. Một cái chết nối kết với một sinh thành. Một mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí quyết.
Ai đã sáng chế ra từ ngữ ngôi mộ trống rỗng? Ngôi mộ đâu có trống rỗng. Bằng chứng là Gian thấy được trong mộ chân dung đích thực của Đức Giêsu, bạn ông.
Ngôi mộ đâu có trống rỗng. Đâu có hoang vu. Đâu có câm nín. Đâu có bay mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó vẫn còn nói với ta. Ta sẽ bỡ ngỡ. Vì sự vắng mặt ấy, tuy to lớn như một nấm mồ, lại là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.
Dưới ánh mắt của não trạng hiện đại đã ăn sâu vào mỗi người, chết là cham dứt tất cả. Là dấu chấm hết. Sau đó chẳng còn gì. Chẳng còn gì ngoài đêm đen, chẳng còn gì ngoài sự trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết giam kín ta.
Nhưng này đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người mở tung. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Có tên là chỗi dậy. Phục sinh.
Ngôi mộ mở tung lòng trí và tâm can ta. Ký ức ta lấy được sự sống và hồi sinh: Ta mở lòng ra cho đức tin.  Sau cùng ta hiểu rằng khi vượt qua bức tường sự chết, khi nâng tảng đá cửa mộ lên, Đức Giêsu hoàn thành cuộc phục sinh đã báo trước.

 

PS1-122: MỒ TRỐNG

CHÚA NHẬT PHỤC SINH A B C
Ga 20,1-9
 

Khi trình bày các biến cố ghi dấu và nối tiếp việc Chúa Giêsu sống lại, các thánh sử không: PS1-122

1. Khi trình bày các biến cố ghi dấu và nối tiếp việc Chúa Giêsu sống lại, các thánh sử không muốn làm chóa đọc giả bằng những cách diễn tả nhằm đánh động trí tưởng tượng, nhưng chỉ muốn tập trung vào những nét chính yếu: Chúa Giêsu đã sống lại, mộ của Ngài trống rỗng từ ngày Chúa nhật, và chính Ngài nhiều lần đã hiện ra với các tông đồ của Ngài như một người sống.
Các bài tường thuật của họ luôn luôn khác nhau và mỗi người trình bày theo một nhãn giới riêng. Nếu tất cả đồng ghi nhận việc ngôi mộ được phát hiện trống rỗng từ sáng Chúa nhật do một hay nhiều phụ nữ, một hay hai thiên thần loan báo sự sống lại, thì mỗi một thánh sử sau đó lại xếp đặt câu chuyện theo sơ đồ riêng. Vì lưu tâm đến tư tưởng: Chúa Giêsu là thầy của luật mới mà Ngài đã công bố trên núi miền Galilê (Mt 5,7), Mt chỉ muốn tường thuật việc Chúa hiện ra (sau khi sống lại) trên một ngọn núi miền Galilê. Ở đó Ngài sai các môn đồ đi rao giảng khắp thế giói như những vị thầy (Mt 28,16-20). Mc thì quan tâm đến việc minh chứng Chúa Giêsu là Con TC mà không tìm cách xác định vị trí các sự kiện được kể lại; ông chỉ vắn tắt nêu lên lần hiện ra với Madalena, với hai khách bộ hành, sau đó với nhóm 11 tông đồ trong một bữa ăn, có lẽ bữa ăn tối phục sinh, mà ông ghép luôn với việc sai các tông đồ đi truyền giáo (Mc 16,9-18). Lc chỉ trình bày sứ vụ Chúa Giêsu như một tiến trình từ Galilê về Giêrusalem và sứ vụ các tông đồ như một tiến trình khác từ Giêrusalem đến với thế giới (24,47), cho nên ông không ghi lại những lần hiện ra ở Galilê, vì sợ xáo trộn lược đồ địa dư của mình; ông kể lại rất dài dòng lần hiện ra với hai môn đệ làng Emmau, với các tông đồ trong bữa ăn vào chiều Phục sinh mà ông ghép luôn với việc sai đi truyền giáo (Lc 24,13-49).
Gioan thì xếp đặt câu chuyện về sứ vụ Chúa Giêsu cốt để xác định thiên tính của Ngài và trình bày các chứng nhân đã tin hay không tin vào Đức Kitô trần thế. Trong chương 20, ông vẫn đeo đuổi những mục tiêu ấy, liên quan đến việc Chúa Giêsu sống lại. Trước hết ông quả quyết Chúa Giêsu đã sống lại và tiến về Chúa Cha, sau đó, cho biết Maria Madalena và các môn đệ, ban đầu hoàn toàn không tin, nhưng dần dần đã tin vào sự sống lại, vào Đức Kitô thiên quốc thế nào. Câu chuyện bắt đầu bằng tiếng kêu thống khổ của Maia Madalena: “Người ta đã cất Chúa khỏi mộ, mà chúng tôi không biết họ đặt Ngài ở đâu !” để rồi kết thúc bằng việc tuyên xưng đức tin và hoàn hảo của Tôma, người nghi ngờ cố chấp nhất: “Lạy Chúa tôi và là TC tôi”.
Trong trình thuật này, như sẽ thấy, Gioan lần lượt gặp gỡ bản thánh sử khác nhưng không quan tâm kể lại tất cả. Cũng như trong các phần khác của phúc âm, ông thu gọn chứng từ của mình vào những yếu tố quan trọng để thêm rõ ràng và mạnh mẽ hơn; trong các đoạn văn liên hệ đến những người nữ thánh thiện, ông chỉ đề cập đến một người hoạt động và nổi bật hơn hết về đức tin là Maria Madalena. Ông bỏ qua nhiều cảnh huống hấp dẫn nhưng ít quan trọng; trong các lần hiện ra ông chỉ giữ lại những lần khơi dậy niềm tin và đánh tan nghi ngờ hay cứng lòng tin. Trong trang cuối của “Phúc âm các dấu chỉ”, hơn lúc nào hết, ông muốn đưa chúng ta đến hành động tuyệt vời của đức tin, là chóp đỉnh và mục tiêu của cả cuốn sách: “Lạy Chúa tôi và là TC tôi”.
2. Khởi đầu câu chuyện, Gioan chỉ giới thiệu một mình Maria Madalena trên đường đến mộ, trong phúc âm nhất lãm thì nói đến nhiều người. Tuy nhiên, trên đường từ mộ về, Maria Madalena phát biểu ở ngôi thứ nhất số nhiều: “người ta đã cất chúa khỏi mộ, mà chúng tôi không biết họ đặt Ngài ở đâu” (c.2). Người ta đã tìm cách cắt nghĩa sự bất thường này bằng nhiều cách:
a. Một vài nhà chú giải cho rằng Gioan chỉ kể tên Madalena vì bà là người đầu tiên được đề cập tới trong phúc âm nhất lãm và là người hoạt động nhất trong số các người nữ thánh thiện. Nếu Gioan không đề cập tới các người nữ khác, thì không phải là muốn cho người ta hiểu rằng Maria đã đi thăm mộ một mình đâu. Như một người chú trọng ăn thể, Gioan có thói quen đơn giản hóa: ông tách rời, rồi cho hai nhân vật chạm trán nhau để đề cao nét chính yếu của đề tài mà ông trình bày ở đây: là sự trái nghịch giữa phản ứng ngây ngô, đại lượng và đầy tình người của Maria Madalena và yêu sách của Chúa Giêsu kêu mời bà phải thấu hiểu bằng đức tin. Trong trường hợp này, tiếng “chúng tôi” của câu hai hình như được cắt nghĩa cách tự nhiên bằng sự kiện là Maria nói đại diện cho các người nữ khác cùng đi viếng mộ với bà mà đã về trước để báo tin cho Phêrô và Gioan.
b. Wellhausen và Spitta thì nghĩ tiếng “chúng tôi” chỉ là một cố gắng của người viết để dung hòa Gioan và các phúc âm nhất lãm; nhưng trong khi câu chuyện của Gioan khác biệt với các phúc âm nhất lãm về nhiều khía cạnh, mà muốn dung hòa về một điểm nhỏ nhặt và tinh vi như thế thì thật là chuyện lạ.
c. Bultmann và một vài nhà chú giải khác cho rằng: tiếng “chúng tôi” chỉ là một kiểu diễn tả của Do thái, có vài nét tương tự với Hy lạp. Dựa theo giả thuyết này, dalman (trong sách Grammatik des judischpalastinischen Aramaisch, xuất bản năm 1960) có viết: “trong tiếng Aramêo ở Galile, ngôi thứ nhất số nhiều được dùng để thế ngôi thứ nhất số ít”. Dầu có cách cắt nghĩa văn phạm như thế cũng chưa thỏa mãn, vì trong phần nối tiếp câu chuyện (c.13) Maria vẫn nói lại câu chuyện đó nhưng lần này thì ở số ít.
Trong các lối giải thích trên, thì hình như lối giải thích thứ nhất hay và tự nhiên hơn hết.
Hai chi tiết khác của câu chuyện được các nhà chú giải giải thích khác nhau. Trước hết tại sao Gioan lại chạy đến mộ trước Phêrô ? Vì Gioan trẻ và nhanh hơn. Lagrange và nhiều người khác giải thích như thế. Một lối giải thích khác cho rằng nếu Gioan chạy nhanh hơn và chạy đến trước vì ông là môn đệ Chúa yêu và tình yêu của Thầy đã thúc đẩy ông chạy nhanh hơn. Một vài nhà chú giải cổ xưa còn dám cho rằng Gioan chạy nhanh hơn vì ông là người độc thân. Người khác thấy đây là một biểu tượng đặc biệt: Gioan tượng trưng cho Kitô giáo gốc lương dân cởi mở đón nhận đức tin hơn, còn Phêrô tiêu biểu cho các tín hữu Do thái là những người đầu tiên được sát nhập vào giáo hội, mặc dầu đức tin của họ yếu kém hơn. Nhưng tiến vào ngôi mộ chưa phải là tin, hình như câu chuyện cũng muốn gợi ý là Gioan, người vào mộ sau hết lại chính là kẻ đạt đến đức tin trước hết. Trước những cố gắng giải thích rời rạc như vậy, cách khôn ngoan hơn hết có lẽ là xem như vấn đề không giải quyết được hoặc theo cách giải thích đơn giản và tự nhiên hơn hết: vì Gioan trẻ nên chạy nhanh hơn.
Chi tiết thứ hai: tại sao Gioan lại phải đợi Phêrô vào mộ trước rồi mới vào sau ? Các nhà chú giải đưa ra nhiều lối giải thích khác nhau. cách thông thường hơn hết cho rằng Gioan có lẽ đã chờ Phêrô vì địa vị tối cao của Phêrô trong cộng đoàn các môn đệ. Người khác lại thấy trong chi tiết này một dấu vết của truyền thống trong Lc 24,12 theo đó thì chỉ có Phêrô chạy đến mộ mà thôi. Cách đơn giản hơn hết có lẽ nghĩ rằng: vì bàng hoàng trước cửa mộ rộng mở và những giải khăn liệm còn ở dưới đất nên Gioan đã chần chờ một vài giây phút trước sự kiện lạ lùng này, và như thế Phêrô đã đủ thì giờ bắt kịp; ông này thì tính tình nóng nẩy có lẽ đã chun vào mộ trước khi Gioan hết sững sờ. Cũng như trong các chi tiết khác thuộc loại này, việc tìm hiểu một biểu tượng để cắt nghĩa một sự kiện là điều không luôn luôn thích hợp mấy. Chắc hẳn, cách giải thích hay hơn hết thường là xác nhận rằng nếu như người chép sách Kinh thánh đã nghĩ rằng mình phải nêu lên một chi tiết không mấy quan trọng nào đó là vì sự kiện đã xảy ra như thế. Nằm trong biến cố quan trọng của cuộc đời Chúa Giêsu, một chi tiết đã đánh động ông, chi tiết tự nó không quan trọng, nhưng đã khắc sâu vào trong trí nhớ của ông vì có liên quan với biến cố quan trọng trên. Ngồi suy tưởng lại biến cố ấy, thánh sử cũng đồng thời nhớ lại chi tiết trên và ghi vào trong phúc âm mình để nói lên cái nét sống động và đích thật của biến cố.
Bên trong mộ, các khăn liệm vẫn còn. Khác với Lazarô khi sống lại (11,43), Chúa Giêsu không cần đến sự giúp đỡ nào của con người. Như Ngài đã lăn tảng đá đóng kín mộ ra thế nào, thì Ngài cũng tự tháo gỡ các khăn liệm và khăn phủ mặt thể ấy. Sự kiện các khăn liệm vẫn còn “đặt đó” và khăn phủ mặt “được buộc riêng ra một chỗ”, loại bỏ giả thiết cho rằng xác Chúa bị đánh cắp vội vã hoặc là bị đánh cắp một cách nào đó, vì không lẽ những người trộm xác lại có thể nghĩ đến chuyện lột trần xác chết như vậy. Chi tiết này là một dấu chỉ việc Chúa sống lại. Thực vậy khi chỉ nhìn dấu chỉ này thôi, Gioan liền tin vào Chúa sống lại, nhờ đức tin sống động của ông...Nếu không cần thấy Chúa đích thân sống lại để tin, thì ông cũng cần đến sức mạnh của dấu chỉ đó: “ông đã thấy và tin”. Ông thú nhận mình đã không thực hiện hoàn toàn lời chúc phúc của thày: “phúc cho ai không thấy mà tin” (20,29). Chỉ một mình Mẹ Chúa Giêsu, người đã tin ở con mình trước khi được thấy bao phép lạ (2,3-6), là đã chứng tỏ một đức tin hoàn hảo, đến độ người không xuất hiện tất cả các biến cố này. Người đã không cần đến bằng chứng hoặc dấu chỉ nào đề tin vào sự sống lại của con mình. Nếu Chúa Giêsu có hiện ra với người sau khi sống lại, thì hầu như chắc chắn là không phải để tỏ bằng chứng sống lại cho người, nhưng đúng hơn là để chia sẻ với người nguồn vui và chiến thắng vinh hiển của mình. Có lẽ có người chống lại giả thuyết cho rằng Chúa Giêsu vinh hiển đã hiện ra với mẹ Người, vì bản văn Mc nói rõ ràng: “Chúa Giêsu hiện ra trước hết với Maria Madalena (16,9), cả trước khi hiện ra với hai người nữ thánh thiện khác lúc họ đi loan báo cho các môn đệ; nhưng không có gì ngăn trở việc nghĩ rằng Chúa Giêsu hiện ra trước hết với mẹ Ngài như lòng đạo đức của các người tín hữu xưa nay vẫn thường tin như vậy. Nếu các tài liệu đã không thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra với mẹ Ngài, là vì nó có tính cách riêng tư. Còn về phần Phêrô, thì thánh sử không nêu lên việc ông đạt đến niềm tin nhờ vào dấu chỉ khăn liệm. Theo Lc và Phaolô, ông là người đầu tiên được diễm phúc thấy Chúa hiện ra với mình (1Cr 15,6; Lc 24,34). Có phải vì thế mà Lc và Phaolô muốn gián tiếp cho rằng Phêrô phải thấy Chúa sống lại đã rồi mới tin không ?
5. Môn đệ yêu dấu của Chúa Giêsu, một khi đã vào mộ thì thấy rõ điều mà Phêrô đang quan sát và chính ông khi mới tới mộ cũng thoáng thấy: đó chính là khăn liệm vẫn còn nguyên vẹn, ngôi mộ vẫn còn thứ tự không bị xáo trộn: giả thuyết xác bị mất trộm như vậy bị loại bỏ. “Ông tin”.
Một vài người nghĩ rằng kiểu nói này tương đương với “ông xác tín” và cần phải nối ghép câu ấy vào lời nói của Maria Madalena. Ông xác tín rằng bà đã nói thật và thêm tin tưởng vào lời bà hơn (khi đã thấy khăn liệm). Lối giải thích đó của W.Nank xem ra không thể đứng vững được. Trước hết nó không để ý đến sức mạnh của kiểu nói “thấy và tin” của thánh Gioan, hơn nữa, còn mâu thuẫn với toàn bộ câu chuyện. Thật vậy, Maria Madalena không chỉ nói Chúa không còn đó nữa mà còn quả quyết là họ đã “lấy mất” xác rồi. Mà chính điểm này đã bị loại bỏ vì khăn liệm và khăn phủ mặt còn nguyên. Sau hết giải thích như thế là làm suy yếu đi tầm quan trọng của việc sùng kính đối với đức tin vào sự sống lại của môn đệ Chúa Giêsu yêu và giản lược đức tin này vào việc hùa theo lời nói của Maria Madalena. Khi nhìn thấy ngôi mộ trống, khăn liệm và khăn khăn phủ mặt, người môn đệ Chúa Giêsu yêu liền tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại.
Còn Phêrô thì sao ? Phúc âm không nói gì. Lc 24,12 cho biết là ông trở về nhà, kinh ngạc về việc xảy ra. Một số đông các nhà chú giải nghĩ rằng: ý hướng của thánh sử, dĩ nhiên là Phêrô cũng tin. Có lẽ người ta suy diễn điều đó từ câu sau đây: “Là vì họ chưa hiểu lời kinh thánh là Ngài phải sống lại từ cõi chết” (Ga 20,9). Theo các nhà chú giải khác, thì hầu như thánh sử muốn biện minh cho người Chúa Giêsu yêu dấu, cố đề cao đức tin nhanh chóng của ông với sự chậm chạp của Phêrô: ông đã đến mộ trước tiên, thì cũng thế ông đã đạt được niềm tin phục sinh trước hết, và hồng ân này là do tình thương đặc biệt của TC. Dầu vậy, nói như Cha Lagrange là bản văn không đề cập đến Phêrô thì có lẽ đúng hơn. Nếu “môn đệ kia” chỉ nói cho mình thôi, thì phải là ông muốn nghi ngờ đức tin của ông đã nghiệm lòng: ông chỉ nói lên điều mình đang sống và cảm nghiệm.
Có nhiều lý lẽ vững vàng không cho phép nghi ngờ giá trị lịch sử và truyền thuyết liên quan đến việc khám phá mồ trống. Trước tiên là truyền thuyết này được xây dựng trên chứng từ của các người nữ. Mà chứng từ của phái nữ thì được coi là không thể chấp nhận (x.Lc 24,11), và các thánh sử đều đồng ý đặt chung từ đó dưới sự kiểm soát của các môn đệ, đặc biệt là thánh Phêrô. Ta không thấy lý do mà cộng đoàn Kitô hữu đã nêu lên vấn đề khó khăn đó nếu như thực tế không buộc như vậy. Đàng khác, cuộc tranh luận với người chống đối đã không bao giờ bàn về sự kiện ngôi mộ được phát hiện trống trơn, nhưng chỉ bàn về cách giải thích (x. Mt 27,62-66). Những kẻ nghịch đạo thời xưa cũng không bao giờ chối cãi sự kiện ấy. Qua bao nhiêu đổi thay của truyền thuyết phục sinh, sự xác quyết “mồ trống” vẫn không thay đổi.
KẾT LUẬN
Đoạn phúc âm này dẫn đưa chúng ta đến hai nền tảng thiết yếu của đức tin phục sinh: kinh thánh đã mạc khải chương trình TC, và chứng từ của các tông đồ, dựa trên kinh nghiệm mồ trống và các lần hiện ra, xác quyết rằng ý định TC đã được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Con TC (20,30-31; Ga 1,1). Cho dẫu được căn cứ trên kinh nghiệm mồ trống và các lần hiện ra, đức tin phục sinh chỉ đạt mức độ sung mãn và chân lý hoàn toàn khi được đào sâu và kiện toàn trong sự thông hiểu ý định của TC mạc khải trong kinh thánh. Vì thế cho nên, câu tuyên xưng đức tin Kitô giáo cổ xưa nhất cũng mang khoản này: ”...theo lời kinh thánh” (1Cr 15,3-4); ngay chính Chúa Giêsu trên đường Emmau cũng “khởi từ Môisen và lướt qua hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ (môn đệ) các điều đã viết về Ngài trong toàn bộ kinh thánh” (Lc 24,27.32). Chính nhờ sự thông hiểu ý định TC mà người môn đệ Chúa Giêsu yêu đã có trực giác ngay khi thấy dấu chỉ đầu tiên. Với ông dù chưa thấy Chúa, nhưng ý định của TC đã tỏ lộ; lời chúc phúc của Chúa được thực hiện cho ông rồi.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Điều gì đã đi sâu chừng nào vào đời sống của con người thì khó diễn tả chừng ấy. Kinh nghiệm đức tin vào Chúa Giêsu sống lại cũng vậy. Đối với người ngoại giáo, sự sống lại của Chúa Giêsu chỉ có thực trong niềm tin của các Kitô hữu. Còn đối với người Kitô hữu, sự sống lại của Chúa Giêsu là một thực tại còn xác thực hơn một sự kiện lịch sử đã được kiểm chứng cách chắc chắn nhất. Người Kitô hữu có thể biểu lộ niềm tin của mình thế nào trước người ngoại giáo hoặc giản dị hơn, trước đòi hỏi chính đáng của lý trí mình ? Ai tin vào sự sống lại của Đức Kitô thì rồi cũng phải mặc lấy thái độ của các tông đồ. Nhờ vào ngôn ngữ và cách suy tư riêng của họ, các vị này chứng thực rằng họ đã quen biết Chúa Giêsu trước khi Ngài chết, họ đã gặp thấy lại Ngài đang sống. Họ làm chứng, nghĩa là họ quả quyết điều họ đã sống và thấy. Biến cố xảy ra thế nào, họ không hiểu. Chúa Giêsu vượt qua từ sự chết đến sự sống thế nào, Ngài làm thế nào mà hiện ra trong cách sống không còn như xưa nữa, các tông đồ không nói gì hết. Nhưng họ xác nhận sự kiện một cách chắc chắn tuyệt đối. Cũng vậy đức tin của người Kitô hữu hôm nay xác quyết sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu, nhưng không thể trả lời những vấn nạn đòi hỏi nó phải tường trình về cách thế sống lại. Tuy nhiên, nhờ vào sự hiện diện và hành động của Chúa Giêsu sống lại trong đời sống của mình. Họ có thể làm chứng cho Đức Kitô sống lại, nhưng không thể giải thích. Đó là mầu nhiệm, nhưng là một mầu nhiệm làm cho sống.
“Cả hai cùng” Phêrô và Gioan vội vã chạy đến mộ, sau khi được Maria Madalena báo tin. Trong sự vội vã và nao nức ấy, hãy xem đó là một dấu hiệu tượng trưng. Chúng ta có bị thu hút về Chúa Giêsu sống lại và hiện đang sống không ? Với Phêrô và Gioan, ngôi mộ biểu hiện cho sự thất bại hoàn toàn từ chiều thứ sáu. Thế mà giờ đây họ đang hướng về một niềm hy vọng, chắc chắn còn mơ hồ, nghi ngại, nhưng hoảng chạy. trong cuộc sống của chúng ta, có những lần thất bại mà chúng ta bị cám dỗ cho là tuyệt vọng không ? Một ước vọng nào đó mà chúng ta đã không thể thực hiện được, một công việc tông đồ nào đó không có kết quả, một hạnh phúc chính đáng nào đó đã chìm mất trong thất bại... chúng ta có nguồn hy vọng để biết nhìn thấy quyền năng sống lại của TC trong các cơn thử thách không ? Chúng ta là môn đệ của Đấng Sống lại, Ngài kêu mời chúng ta đừng bao giờ đặt hòn đá thất vọng trên bất cứ sự gì, nhưng luôn luôn hy vọng. Có lẽ điều sống lại sẽ khác với điều ta mơ ước, nhưng chắc chắn là điều tốt đẹp hơn.
“Ông thấy và tin”. Câu nói này về Gioan. Bản văn thêm rằng, lúc ấy ông mới hiểu lời kinh thánh. Kinh thánh đây là CƯ. Thật vậy con người và cuộc đời Chúa Giêsu là ánh sáng chiếu soi CƯ. Người ta có thể nói như vậy về TƯ. Phải đọc Thánh kinh như thế nào ? Phải tìm gặp Chúa Giêsu Kitô, là chân lý, là sức mạnh, là cố vấn, là đạo đức, là chính cuộc sống của chúng ta.
4. Sự sống lại của Chúa Giêsu vô hiệu hóa sức quyến rũ của những thắng lợi trần thế, bằng cách minh chứng rằng sự sống đích thực không tọa lạc nơi dương thế nhờ định luật đào thải hủy diệt, nhưng chính là sự trung thành với Thần khí, Đấng tác tạo con người mới của sự công chính và tình yêu Chúa Cha. Trong ý hướng ấy, Chúa Giêsu đã hủy diệt quyền lực tội lỗi cho dù ảo vọng của con người vẫn chưa tiêu tan, cho dù sự vô ý thức của chúng ta vẫn còn nặng nề khó lay chuyển; thực tế đã như thế rồi từ sáng phục sinh, lúc mà trong tiếng động đất, Chúa Giêsu con ông Giuse và bà Maria đã chỗi dậy khỏi mồ và tiến vào sự sống thật. Như thế một lần thay cho tất cả, Ngài minh chứng cho chúng ta rằng: con đường đưa tới hạnh phúc thật, con đường dẫn đến sự sống lại, không đi qua tội lỗi song qua lòng yêu mến TC và tha nhân vô điều kiện.

 

PS1-123: Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết

Dẫn vào Thánh lễ và sám hối
 

Chúa nhật Phục Sinh là lễ trọng nhất trong Năm Phụng vụ. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết: PS1-123

Chúa nhật Phục Sinh là lễ trọng nhất trong Năm Phụng vụ. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết không chỉ cho chính Người, nhưng còn cho tất cả mọi người chúng ta. Niềm vui của Lễ Phục Sinh tràn đầy trên trái đất, niềm vui chế ngự sự chết. Chúng ta hãy mở rộng cõi lòng của chúng ta để đón nhận niềm vui trọng đại này.
Lạy Chúa Giêsu, qua hồng ân Phục Sinh của Ngài, Ngài chứng tỏ cho chúng con thấy ánh sáng mạnh hơn bóng tối. Chúa chỉ cho chúng con thấy sự thiện mạnh hơn sự dữ. Chúa chỉ cho chúng con thấy sự sống mạnh hơn sự chết.
Dẫn vào các bài đọc
Bài đọc 1 : Cv 10,34.37-43
Chúng ta nghe một phần trong bài giảng đầu tiên của  thánh Phêrô.
Bài đọc 2 : Cl 3,1-4
Qua phép Rửa, chúng ta hoàn toàn được chia sẻ trong sự sống lại của Đức Kitô, mặc dù trong cách thức ẩn dấu và mầu nhiệm.
Tin Mừng : Ga 20, 1-9
Phát hiện ngôi mồ trống của Chúa Giêsu, các môn đệ bắt đầu thấu hiểu điều Kinh Thánh đã tiên báo, đó là Chúa Giêsu sè sống lại từ trong cõi chết.
Bài giảng 1
CHỨNG THỰC LÒNG TIN
Mỗi năm vào Chúa nhật Phục Sinh hàng vạn người hành hương tập họp tại quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma để lãnh nhận phép lành Phục Sinh do Đức Giáo Hoàng ban. Đó là cơ hội tuyệt vời để đấng kế vị thánh Phêrô tuyên bố Sứ Điệp Phục Sinh, "Đức Kitô Phục Sinh, Alleluia." Người đã thực hiện điều mà thánh Phêrô đã làm vào ngày Phục Sinh (đầu tiên - củng cố lòng tin của anh em. Và tại quảng trường, không chút hoài nghi, chỉ có sự củng cố đức tin cho những ai diễm phúc được hiện diện.
Thánh Phêrô đã làm điều mà Chúa đã mói gọi ngài trong bữa tiệc ly : (Simon, kìa Sa tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh" (Lc 22,31-32).
Thánh Phêrô đã củng cố lòng tin của anh em thêm vững mạnh ! Sự chọn lựa này thật đáng ngạc nhiên, khi chúng ta nhìn đến điều mà thánh Phêrô đã thực hiện trong cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Làm sao một người với niềm tin không kiên vững như thế lại có thể củng cố lòng tin của anh em ? Chúng ta thoáng nhớ lại điều thánh Phêrô đã làm trong đêm Chúa Giêsu bị bắt.
Chúng ta nhớ lại những lời nói đầy can đảm của ông trong Bữa Tiệc Ly: "Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã" (Mt 26,3.3). ông thật sự có ý định nói điều này. Ông nghĩ mình thật can đảm và mạnh mẽ. Một lúc sau nơi vườn Cây Dầu; Chúa Giêsu trong buồn rầu, cô đơn và sợ hãi, Người mời Phêrô cùng thức với Ngài. Nhưng Phêrô không thế làm được - ông buồn ngủ. Ong để Chúa Giêsu uống chén sầu một mình. Điều tệ hại hơn đã đến.
Tối hôm đó, trong sân nhà thầy cả, một người đến trước Phêrô và hỏi "Có phải ông là một trong những môn đệ của hắn không ? Có phải ông vừa ở trong vườn với hắn không ?" Và điều gì đã xảy ra ? Không chỉ một lần mà đến ba lần, Phêrô chối Chúa Giêsu, chối rằng chưa bao giờ biết đến Chúa Giêsu. Rồi thì tiếng gà gáy. Ngay lúc đó Chúa Giêsu đã nhìn Phêrô, và Phêrô ngay tức khắc nhận ra những gì ông đã làm - ông đã chối bạn của mình. Và ông chạy vội ra ngoài và nhục nhã khóc lóc. .
Đó là giây phút thấp hèn nhất trong đời của ông. Ong nhận ra sự thật rất đau thương về chính mình. Ông không mạnh mẽ, can đảm hay rộng lòng như ông tưởng. Nhưng Chúa Giêsu không bỏ rơi ông. Người thấy trước tất cả. Thậm chí Người đã báo trước. Người vẫn tiếp tục tin tưởng ông.
Người biết Phêrô còn có khía cạnh khác tốt hơn. Sau khi sống lại, Người đã phục hồi lại một Phêrô khôn ngoan và khiêm tốn hơn so với trước đây, và làm cho ông trở nên viên đá mà trên đó Người sê xây dựng Giáo Hội.
Và Phêrô trở nên tốt. Ong được phục hồi và bắt đầu củng cố đức tin của anh chị em trong cộng đoàn. Vì lẽ đó ông dẫn đầu các môn đệ trong việc làm chứng cho sự sống lại (bài đọc 1). Vì lẽ đó ông là người tập họp lại những môn đệ của Chúa Giêsu đang tản mác. Trên nền tảng lời chứng của ông mà cộng đoàn reo lên : "Chúa chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simon" (Lc 24,34).
Phêrô dược gọi là vị thánh của sự vấp ngã: ông được nhiều người yêu mến, có lẽ vì sự yếu đuối con người của ông khiến chúng ta cảm thấy gần gũi với ông. Tất cả chúng ta đều thiếu lòng can đảm. Cuối cùng, chúng ta chỉ là những con người, những con người không kiên vững trong niềm tin của mình. Chúng ta không kết án chính mình hay người khác qua những sa ngã nhất thời.
Chính Chúa Giêsu đã củng cố đức tin của Phêrô. Cũng thế, Chúa Kitô Phục Sinh đã củng cố đức tin của chúng ta. Chúng ta là cộng đoàn của những người tin mà đức tin của cộng đoàn đã củng cố đức tin cho mỗi thành viên.
Bài giảng 2
THỰC HIỆN BƯỚC NHẢY VỌT TRONG ĐỨC TIN
Đôi khi chúng ta ghen tỵ với các tông đồ và các môn đệ đầu tiên. Chúng ta cho rằng họ lợi thế hơn những Kitô hữu sau này, bởi vì họ đã hiện diện thật sự trong các biến cố được đề cập đến trong Tin Mừng. Họ đã nhìn tận mắt, sờ tận tay Chúa Giêsu sống lại. Bởi thế, tin là điều dễ dàng đối với họ. Và chúng ta cũng cho rằng chúng ta cũng sẽ dễ dàng tin nếu như chúng ta được gặp đích thân Chúa Giêsu như các tông đồ, hoặc nếu chúng ta có thể thấy phép lạ mà Người đã thực hiện cho chúng ta, như các môn đệ đầu tiên.
Vâng, các môn đệ đầu tiên có lợi thế là được nhìn thấy Chúa Giêsu tận mắt. Nhưng điều đó có đem lại đức tin dễ dàng hơn cho họ không ? Khi nhìn vào Chúa Giêsu họ đã thấy gì ? Họ đã không thấy và không thể thấy Thiên Chúa, vì họ không thể nhìn và biết Người một cách trực tiếp được. Nơi Chúa Giêsu, họ đã thấy một con người có dáng vẻ bề ngoài như họ. Nhưng để từ đây đi đến niềm tin rằng Người là Con Thiên Chúa, đòi hỏi một hành động mạnh mẽ của đức tin. Điều này giải thích cho việc có nhiều người đã từng nghe Chúa Giêsu nói và thấy Chúa Giêsu làm, nhưng họ vẫn không tin Người. Thậm chí chính những môn đệ, những người đã từng theo Chúa ngay từ buổi ban đầu, vẫn là những người chậm tin. Đã thấy thì không còn cần phải tin nữa.
Cú sốc gây ra từ cuộc khổ hình và cái chết trên thập giá của Chúa Giêsu quá lớn, đến nỗi các môn đệ chậm tin vào những tin tức về sự Sống Lại. Khi Chúa Giêsu hiện ra với họ vào chiều ngày Phục Sinh, Người đã quở trách họ về sự không tin và cứng lòng của họ, bởi vì họ không chịu tin những kẻ đã được gặp Người sau khi Người chỗi dậy (Mc 16,14).
Chúng ta không thể thấy Chúa Giêsu như các môn đệ đã thấy. Chúng ta không thể hiện diện khi Chúa Giêsu hiện đến tại Lầu Trên, nơi diễn ra những sự kiện Tuần Thánh.
Chúng ta không thể đặt ngón tay vào những vết thương của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng không thể nhìn vào khuôn mặt Người và nói “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con". Chúng ta phải sống bằng đức tin, chứ không phải bằng việc chùng kiến. Vả lại nếu chúng ta tin vào Chúa Giêsu thì bằng cách nào đó chúng ta sẽ thấy được Người. Nhưng chúng ta chỉ là con người, làm sao thấy được Chúa Giêsu? Chúng ta phải làm gì để tin ?
Chúng ta là môn đệ cách gián tiếp (không được trực tiếp sống trong thời đại của Chúa Giêsu). Đối với những môn đệ gián tiếp, ở một số phương diện nào đó có khó hơn, nhưng lại dễ hơn ở những phương diện khác. Khó, bởi vì 20 thế kỷ đà trôi qua từ khi Chúa Giêsu nhập thể. Bụi đã phủ, ánh sáng đã mờ. Nhưng về tính xác thực, ý niệm Con Thiên Chúa nhập thể đã trở nên "tự nhiên" qua mọi thời đại, và vì thế, cách nào đó đã trở nên dễ dàng tin hơn. Nhưng vào ngày sau hết, tất cả các môn đệ đều bình đẳng trong bản chất - tất cả đều đã phải thực hiện bước nhảy vọt trong đức tin. Chúng ta trở thành môn đệ thông qua đúc tin.
Những người bạn của Chúa Giêsu đã gặp và nghe thấy chính Người không chỉ vài lần sau ngày Phục Sinh, nhưng cuộc sống của họ đã hoàn toàn được biến đổi. Và vì dự phần vào đức tin của họ, mà cuộc sống của chúng ta cũng sẽ được biến đổi. Chúng ta có thể lữ hành trong hy vọng, vì chúng ta biết sự thiện sẽ chiến thắng sự ác, và sự sống sẽ chiến thắng sự chết, bởi vì Chúa Giêsu đã sống lại.
Bài giảng 3
VIẾNG THĂM NGÔI MỘ
Vào buổi sáng Phục Sinh, những người phụ nữ đã đến mộ nơi Chúa Giêsu đã được chôn cất. Họ thực hiện một công việc buồn rầu là ưóp xác Người . Nhưng đó không phải là lý do duy để họ đến mộ. Họ muốn được ở gần Đấng đã lấp đầy cuộc sống của họ, và cái chết của Người đã làm họ chìm ngập trong nỗi nuối tiếc không nguôi.
Chính chúng ta cũng thường làm giống như thế. Khi nhất một người chúng ta yêu mến chết đi, chúng ta thấy khó mà chấp nhận sự ra đi vĩnh viễn của họ. Chúng ta thấy cần phải duy trì mối tương quan với người vừa mới chết. Một trong những cách để chúng ta thoả mãn được yêu cầu này là viếng mộ. Tuy nhiên, điều này thay vì làm giảm bớt nỗi đau mất mát của chúng ta, nó lại làm tăng thêm. Nó có khuynh hướng tiến đến sự chết còn hơn cả chính ngay cái chết, bởi vì không có nơi nào khiến chúng ta chắc chắn rằng người mà ta yêu mến đã chết hơn ở trong ngôi mộ. Vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên đó, nếu sự việc diễn ra như chúng ta thường nghĩ : những người phụ nữ ưóp xác Chúa Giêsu xong, họ lấp cửa mồ lại và ra đi, chúng ta tin chắc rằng biến cố đã từng xảy ra vào Ngày Thứ Sáu không chỉ là một cơn ác mộng mà là một sự thật khủng khiếp.
Nhưng sự việc đã không diễn ra như ta nghĩ. Nơi ngôi mộ, họ gặp hai thiên thần nói với họ rằng : (tại sao các bà tìm người sống ở giữa kẻ chết ? Người không còn ở đây nữa, nhưng đã chỗi dậy rồi." Sứ điệp Phục Sinh đã gửi đến với các phụ nữ đạo đức này : Chúa Giêsu không chết ; Người vẫn sống. Vì thế họ không phải phí thời gian để tìm kiếm Người trong ngôi mộ.
Tất cả chúng ta đã từng đứng đơn độc trong nghĩa trang, nơi ấy mọi vật đều nói về cái chết. Song, chính trong một nơi như thế, sự Phục Sinh đã được loan báo lần đầu tiên. Ở đây có một điều thật trùng hợp, nơi cái chết dường như bao trùm hơn khi nào hết, lại chính là nơi Tin Mừng về sự sống lại của Chúa Giêsu đã được loan báo đầu tiên.
Thông qua ngôn ngữ của phụng vụ, cùng một sứ điệp như thế đã gửi đến chúng ta : Đừng tìm kiếm người yêu thương của anh em trong ngôi mộ. Họ không còn ở đó. Chúa Giêsu đã chiến thắng cái chết, không chỉ cho riêng Người, mà còn cho tất cả chúng ta. Chúa Giêsu là Đấng đầu tiên đã chỗi dậy từ cõi chết, chúng ta sẽ đi theo Người. Thế nên, với người Kitô giáo, chết không phải là một sự huỷ diệt cuối cùng. Cái chết của chúng ta không phải là kết thúc. Họ vẫn sống, và sống một cuộc sống tốt đẹp hơn và thật hơn của chúng ta. Và họ cũng không xa rời chúng ta. Những ai chết trong ân sùng không xa cách chúng ta hơn so với Chúa, mà Chúa thì lại rất gần. Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho những người thân yêu của chúng ta đã qua đời, họ vẫn cần sự giúp đỡ của chúng ta. Và chúng ta tiếp tục viếng thăm nghĩa trang nếu điều đó giúp cho kỷ niệm về họ được sống lại. Nhưng chúng ta đừng bao giờ tìm kiếm họ ở nơi đó. Và nếu nỗi buồn cử dai dẳng trong tâm trí chúng ta, vì bởi biến cố của buổi sáng Phục Sinh, chúng ta hãy để niềm hy vọng thầm lặng hoà lẫn với nỗi buồn của chúng ta.
LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế : Đức Kitô, Ngôi sao mai, đã chỗi dậy từ cõi chết, và nay chiếu toả ánh sáng bình an trên toàn thế giới. Chúng ta hãy nguyện xin Người với niềm tin tường, về những nhu cầu cần thiết của chúng ta.
Xướng : Để ánh sáng Chúa chiếu soi trên những người bước theo Chúa, và canh tân đức tin và đức cậy của họ.
Xướng : Để ánh sáng Chúa chiếu soi trên các vị lãnh dạo thế giới, khích lệ họ trên đường tìm kiếm công lý và hoà bình.
Xướng : Để ánh sáng Chúa chiếu soi trên những người đang sống trong tang chế.
Xướng : Dể ánh sáng Chúa chiếu soi trên những người đau buồn, cô đơn, ngờ vực, và đau ốm.
Xướng : Để ánh sáng Chúa chiếu soi trên nhúng tù nhân.
Chủ tế : Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Chúa đã cho Con Chúa chỗi dậy từ bóng tối cua sự chết, và đưa Người tiến vào ánh sáng vinh quang của Vương quốc Ngài. Xin ban cho chúng con trung thành bước theo ánh sáng Ngài để tiến vào Vương quốc nơi mà niềm hy vọng không bị phá huỷ và những ước mơ không bị tiêu tan. Chúng con câu xin ...

 

PS1-124: SLC – SỨ ĐIỆP PHỤC SINH GỬI QUA PHÊRÔ

Hẳn chúng ta còn nhớ lời sứ thần nói với những người đàn bà đạo đức : - Hãy về báo cho Phêrô: PS1-124

Hẳn chúng ta còn nhớ lời sứ thần nói với những người đàn bà đạo đức :
- Hãy về báo cho Phêrô và các môn đệ biết Ngài sẽ đi trước các ông đến Galilêa.
Chúng ta thử tưởng tượng xem Phêrô đang như thế nào trong buổi sáng Phục sinh ?
Chắc hẳn lúc ấy Phêrô đang ngồi với các môn đệ trong phòng Tiệc Ly. Cõi lòng thì tan nát, tâm hồn thì đau đớn. Phêrô thì nhớ lại  tội đã chối bỏ Chúa. Gioan thì nghĩ đến cái nhìn của Chúa trên thập giá trước khi trút hơi thở cuối cùng. Các môn đệ khác thì lo lắng về một tương lai đen tối.
Họ ngồi yên lặng, không nói một lời. Bầu khí thật là nặng nề và ngột ngạt. Bỗng chốc những tiếng gõ cửa dồn dập vang lên và giọng nói của những người đàn bà như vội vã và thúc giục :
- Này Phêrô, Phêrô hãy đến mau, Thầy đã Phục sinh. Thầy đang sống và gửi lời chào ông đó.
Phêrô người đã từng chối bỏ Chúa, người đã từng thề sống thề chết rằng mình không hề quen biết Ngài, người đã ăn năn sám hối. Và giờ đây, Chúa không còn nghĩ đến tội lỗi của ông nữa.
Đức Kitô Phục sinh đã quên đi, đã xóa bỏ dĩ vãng đau buồn của Phêrô, khi ông quay trở về với Ngài. Còn chúng ta ngày hôm nay, tòa giải tội chính là niềm an ủi cho những tâm hồn sám hối. Sứ điệp tha thứ của Đức Kitô Phục sinh sẽ khích lệ chúng ta, gia tăng sức mạnh để chúng ta biết chỗi dậy sau những lần sa ngã và vấp phạm. Hỡi Phêrô, ông có nghe thấy không, Thầy đang đợi chờ ông ở Galilêa.
GỬI QUA MADALÊNA
Để đi sâu vào lòng thương xót và tha thứ của Chúa, chúng ta cần phải tiếp nối và tìm hiểu cái sứ điệp Đức Kitô Phục sinh gửi qua Madalêna. Thực vậy, khi những tia nắng đầu tiên xuất hiện, thì bên cạnh ngôi mộ của Chúa đã vang lên những tiếng khóc nức nở và nghẹn ngào của một tâm hồn tan nát, đó là Madalêna.
Đời sống dĩ vãng là như một đám mây đen phủ kín cõi lòng chị. Thế nhưng chị đã sám hối, đã ăn năn, đã bước theo Chúa trên con đường thập giá dẫn tới đỉnh đồi Canvê, để rồi chị đã xứng đáng đón nhận tin mừng Phục sinh. Madalêna thổn thức khóc lóc :
- Người ta đã lấy mất Thầy tôi rồi và tôi không biết họ để Ngài ở đâu ?
Bỗng chốc Chúa Giêsu hiện đến, nhưng nàng lại chưa nhận ra Ngài. Chúa Giêsu hỏi :
- Ngươi đang làm gì thế và tại sao ngươi lại khóc ?
Tưởng là người làm vườn, Madalêna đã trả lời :
- Thưa ông, nếu ông đã lấy xác Ngài, thì xin ông vui lòng bảo cho tôi biết ông đã để Ngài ở đâu ?
Nhưng Chúa Giêsu đã nói với chị bằng một giọng ôn tồn và ngọt ngào như ngày nào :
- Maria.
Và rồi một cái gì đó đã xảy đến trong tâm hồn của chị. Chị như bừng tỉnh, vội vã chạy đến quì dưới chân Ngài. Nhưng Ngài lại phán :
- Đừng động đến Ta, vì Ta chưa về cùng Cha Ta.
Điều này có nghĩa là sứ mạng và công việc của Ngài chưa kết thúc, hay nói một cách khác, Nước Ngài vẫn chưa hoàn thành.
Thực vậy, kể từ khi Chúa Giêsu đến với nhân loại, thì nước Thiên Chúa đã ở giữa chúng ta, thế nhưng nước ấy lại chưa hoàn thành. Nó mới là như một hạt giống được gieo vào lòng đất. Và chỉ được hoàn thành khi Ngài lại đến, như lời sứ thần đã nói với các môn đệ trong ngày Ngài về trời :
- Đức Kitô đã lên trời và Ngài sẽ lại xuống một lần nữa, cũng với cách thức mà các ngươi đã nhìn thấy.
Trong thời gian chờ đợi này, chúng ta phải thực thi lệnh truyền của Ngài :
- Hãy đi khắp thế gian và rao giảng tin mừng cho muôn dân.
Nhưng rồi để an ủi Madalêna, Ngài đã nói với chị :
- Ta về cùng Cha Ta cũng là Cha các ngươi. Ta về cùng Thiên Chúa Ta, cũng là Thiên Chúa các ngươi.
Ngài là người đầu tiên đã bước vào vinh quang và giờ đây đang mở rộng vòng tay chờ đón chúng ta, những kẻ tin theo Ngài.
Chúng ta hãy đưa mắt nhìn vào xã hội hôm nay. Nó giống như một ngôi mộ khổng lồ vì có biết bao nhiêu người đang sống, nhưng thực sự họ là những kẻ đã chết từ lâu. Họ cũng đi đứng, cũng chạy nhẩy, cũng ăn uống, cũng ngủ nghỉ, nhưng đồng thời họ lại là những kẻ đã chết vì họ không có linh hồn. Nơi họ chỉ có những đam mê gào thét, những dục vọng chất đầy và những toan tính bất công trào dâng.
Tất cả chỉ còn lại một nắm bụi tro khi giờ chết đến và chẳng có gì cả cho cuộc sống vĩnh cửu. Dù cuộc đời chúng ta có nhiều gian nguy và thử thách, đắng cay và chua xót, thì cũng hãy cố gắng làm cho Nước Chúa được lớn lên trong tâm hồn chúng ta, cũng như trong tâm hồn người khác. Hãy trung thành với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng, nhờ đó mà chúng ta sẽ được chia sẻ phần vinh quang Phục sinh với Ngài.
GỬI QUA KẺ THÙ
Sau cùng, biến cố Phục sinh còn là một lời cảnh cáo cho những kẻ thù của Ngài. Trong đêm thánh vọng Phục sinh chúng ta thấy gì ? Tất cả Giêrusalem đang chìm trong giấc ngủ đêm dài. Philatô đã ngủ với sự hèn nhát của mình. Các thầy cả thượng phẩm đã ngủ yên với sự thỏa mãn của mình. Dân chúng cũng ngủ yên vì đã thực hiện được ý đồ độc ác của mình. Nhưng rồi bọn lính canh đã hối hả chạy về, mặt tái xanh như cắt không còn một giọt máu. Họ hổn hển nói với Caipha và Ana rằng :
- Đức Kitô không còn ở trong mộ nữa.
Nguồn tin ấy như một tiếng sét đánh ngang tai, khiến cho họ phải suy nghĩ, phải ra tay để mà chận đứng những lời đồn thổi bất lợi. Cuối cùng họ đã dối gạt và vu khống.
Ngày hôm nay, chúng ta cũng gặp thấy những kẻ đã hành động giống như các thầy cả thượng phẩm Do Thái. Phải thổi phồng, phải bóp méo, phải bôi nhọ để mọi người không còn tin tưởng vào Đức Kitô, vào Giáo Hội vào tôn giáo nữa.
Trải qua dòng thời gian, nhiều lần Giáo Hội cũng đã nghe thấy những tiếng reo hò và chống đối như trong ngày thứ sáu tuần thánh :
- Đóng đinh nó đi, đóng đinh nó vào cây thập giá. Máu nó sẽ đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi.
Giáo Hội chính là Đức Kitô tiếp tục hiện diện giữa chúng ta. Biết bao nhiêu lần Giáo Hội cũng đã phải bước đi trên nẻo đường thập giá. Nhưng rồi buổi sáng Phục sinh đã xuất hiện.
Quân thù muốn hạ nhục Ngài bằng cực hình thập giá, nhưng chính khi bị treo lên thập giá, Ngài bắt đầu hiển trị như lời Ngài đã nói :
- Ngày nào Ta bị treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi sự đến cùng Ta.
Dân Do Thái đã khinh bỉ nhìn Ngài trên thập giá, nhưng bây giờ hằng triệu triệu người đã quì gối, thờ lạy và suy tôn thập giá:
- Đây là cây thánh giá, nơi treo Đấng Cứu độ trần gian, chúng ta hãy đến thờ lạy.
Dân Do Thái đã kêu gào :
- Chúng tôi không có một vị vua nào khác ngoài hoàng đế César.
Còn bây giờ, hằng triệu triệu con tim đã tuyên xưng :
- Chúng tôi thờ lạy Chúa, chúng tôi tôn vinh Chúa, vì Chúa đã dùng thập giá mà cứu độ trần gian.
Hãy sám hối ăn năn để được tha thứ như Phêrô. Hãy tin tưởng vững vàng Giáo Hội sẽ vượt qua muôn vàn sóng gió, như Đức Kitô đã đón nhận thập giá để được tiến vào vinh quang Phục sinh.

 

PS1-125: SLCTTY/141 – KINH NGẠC

Biến cố Phục sinh đã xảy ra với nhiều kinh ngạc. Kinh ngạc về sự chết ! Kinh ngạc về các tông: PS1-125

Biến cố Phục sinh đã xảy ra với nhiều kinh ngạc. Kinh ngạc về sự chết ! Kinh ngạc về các tông đồ ! Kinh ngạc vì Ngài đã sống lại ! Kinh ngạc vì Ngài đã hiện ra với những người phụ nữ trước hết và sai họ đi loan báo Tin Mừng !
 “Vào thời Chúa Giêsu, phụ nữ là giới bị thua thiệt. Họ không được bình đẳng với đàn ông. Phần lớn họ không có cơ hội học hành, không được đối xử đồng đều về mặt pháp lý, và không được tham gia một số công tác dành cho nam giới. Tình trạng này được cải thiện từ từ nhờ thái độ và lời giáo huấn của Chúa Giêsu”.
Trong bản tường thuật của Matthêu về sự sống lại của Chúa Giêsu, chúng ta nghe kể bà Maria Mácđala và một bà Maria khác đến mộ với sự buồn bã, vì nghĩ rằng xác Ngài vẫn còn nằm trong mộ. Tuy nhiên, các bà đã cảm nghiệm một sự kinh ngạc vĩ đại nhất trong cuộc đời. Chúa Giêsu Kitô không còn chết nữa, Ngài đã sống lại !
Từ kinh ngạc chuyển sang vui mừng. Matthêu kể rằng : “Hai bà vội vã ra khỏi mồ vừa sợ hãi vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người”. Sự buồn rầu và tuyệt vọng của họ đã bị đánh tan bởi sự kinh ngạc và vui mừng khi nghe tin Chúa đã sống lại.
Chúng ta cũng đã có những cảm nghiệm giống như các bà khởi từ sự buồn bã, tăm tối và thất vọng chuyển sang kinh ngạc và vui mừng. Điều này có thể xảy ra trong nhiều hình thức khác nhau đối với mỗi người trong cuộc đời. Đó có thể là một tình huống tuyệt vọng đã trở nên sáng sủa hơn. Điều chúng ta nghĩ rằng xấu nhất, nhưng với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, đã trở nên tốt hơn như khi một người ốm đau được ơn chữa lành, một người vô thần đón nhận ánh sáng đức tin, những kẻ thù địch hòa giải với nhau, những kẻ bị giam cầm được thả tự do…
Cha Manton đã kể lại cảm nghiệm ấy qua câu chuyện như sau. Vào ngày Thứ Tư Tuần Thánh trong năm cuối cùng của cuộc thế chiến thứ hai, tôi đã trông thấy một bà quỳ trước bàn thờ Đức Mẹ, nước mắt tuôn rơi. Tôi tự hỏi, “Bà ấy có chuyện rắc rối gì đây ?” Bà sụt sùi, thò tay vào trong túi sách màu đen rút ra cái điện tín nhàu nát. Rồi lại khóc nức nở, “Con nhận được cái điện tín này cách đây 2 tiếng đồng hồ”. Điện văn với hàng tin, “Bộ chiến tranh rất tiếc phải báo tin cho bà biết rằng con trai của bà đã bị mất tích tại chiến trường”.
Tôi chẳng biết phải làm gì để an ủi bà ngoài những tiếng lầm bầm hứa hẹn cầu nguyện cách riêng cho con bà. Sáng hôm sau, Thứ Năm Tuần Thánh, tôi lại thấy bà mẹ đó quỳ trước bàn thờ Thánh Thể, khuôn mặt buồn sầu hơn bao giờ hết. Dường như bà đã già đi nhiều chỉ qua một đêm. Bà giống như Chúa Giêsu chịu hấp hối trong vườn cây dầu…
Vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, tôi thấy bà ngồi ở hàng ghế đầu tiên, nhìn vào khoảng trống của bàn thờ với cây thập giá phủ khăn tím. Bà giống như Đức Mẹ Maria đang đứng dưới chân thập giá. Đây là ngày Thứ Sáu khổ nạn của tâm hồn bà.
Bước sang đêm Thứ Bảy Tuần Thánh, trước khi chúng tôi bắt đầu nghi thức Vọng Phục Sinh, bà tiến đến nói với tôi một tin mừng. Dường như đây không phải là người đàn bà của ngày hôm trước. Đây là một người đàn bà mới với cái điện tín mới. Con trai của bà an toàn, đang là một tù binh chiến tranh. Bà đã không thể nói với tôi được điều gì, chỉ đơn giản đẩy chiếc điện tín vào tay tôi. Rồi bà lại khóc nữa, nhưng những giọt nước mắt của niềm vui và hạnh phúc. Khi bà ra về, tôi gọi lớn, “Chúc mừng Phục sinh”… và từ nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt của người mẹ, tôi biết bà đã cảm nghiệm được ý nghĩa của niềm vui Phục sinh nhiều hơn tôi. Đó chẳng phải là sự sống lại của con bà hay sao ?

 

PS1-126: SLCTTY/141 – Đừng sợ

Một người đàn bà nông dân Nga Sô đang đến hôn chân Chúa Giêsu nằm trên thánh giá. Một người: PS1-126

Một người đàn bà nông dân Nga Sô đang đến hôn chân Chúa Giêsu nằm trên thánh giá. Một người lính Sô Viết hỏi bà, “Thưa cụ, tại sao cụ lại không hôn chân vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta, đồng chí Stalin ?” “Có chứ,” bà đáp lại, “Nếu ông ấy chịu đóng đinh vì tôi”.
Sau khi diễn tả sự kinh ngạc và vui mừng của các bà, thánh Matthêu viết : “Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói : “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy”. Sự vui mừng dẫn tới hành vi thờ phượng.
Có hai người đàn bà đứng chiêm ngưỡng trước cửa Nhà thờ Đức Bà ở Paris. Một bà hỏi “Tại sao chúng ta không thể xây thêm được những công trình kiến trúc giống như thế này nữa ?” Người bạn của bà trả lời “Những người xây dựng ngôi thánh đường này đã có đức tin. Ngày nay, chúng ta có các ý kiến. Và bạn không thể xây được một ngôi nhà thờ chính tòa với những ý kiến”.
Các người phụ nữ thánh thiện đi theo Chúa Giêsu là những người đã được Chúa chữa lành, trung thành với Chúa trong suốt cuộc thương khó, cho đến khi Chúa chết trên thập giá và sau cùng an táng trong mồ. Họ không sợ sệt trước những quyền lực của quân lính Rôma và những người lãnh đạo tôn giáo. Họ đã theo Chúa bằng mọi giá. Đức tin và tình yêu đã giúp cho các bà nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, phải thờ phượng Người.
Theo bản kể của thánh Matthêu, Tin Mừng Phục sinh đã được chính Chúa Giêsu truyền lệnh cho các bà : “Các bà đừng sợ ! Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta”. Các người phụ nữ là những nhà truyền giáo đầu tiên của Giáo Hội. Chính đức tin và tình yêu của các bà xứng đáng cho Chúa tin tưởng trao phó trách nhiệm loan báo Tin Mừng này.
Chủ đề ngày Hòa Bình Thế Giới năm 1995 là “Phụ Nữ, nhà Giáo Dục về Hòa Bình”. Giới thiệu chủ đề này, báo Người Quan Sát Viên Rôma số 30 ngày 26.6.1993 đã viết : “Phụ nữ, nhà giáo dục về hòa bình, đây là chủ đề được Đức Thánh Cha chọn cho ngày Hòa Bình Thế Giới năm 1995. Với chủ đề này, người ta muốn trước tiên công nhận vai trò không thể thiếu mà người phụ nữ có thể đóng góp cho hòa bình, như qua việc thường xuyên giáo dục giới trẻ, hay qua sự chống đối những hoàn cảnh bạo lực thường xảy ra. Qua đề tài này, Đức Giáo Hoàng cũng ước ao vọng lên một lời mời gọi cấp bách, thôi thúc các chị em phụ nữ ngày càng trở thành những người xây dựng không mỏi mệt trong khuôn khổ gia đình mình cũng như trong các tổ chức xã hội”.
Chính tình yêu của các bà Maria Mácđala và Maria đối với Chúa Giêsu đã làm cho các bà trở thành những nhà truyền giáo đầu tiên rao giảng Tin Mừng Phục sinh. Có phải Maria Mácđala là người đàn bà đã được Chúa Giêsu trừ khỏi bẩy quỷ ám ? Có phải Maria là người đàn bà tội lỗi đã xức dầu thơm cho Chúa Giêsu ? Bởi được tha thứ nhiều, nên các bà đã yêu nhiều. Tình yêu đã làm cho Tin Mừng Phục sinh trở nên hy vọng và hoan lạc. Chúng ta không thể nghĩ về sự chết và Phục sinh của Chúa Giêsu mà không nghĩ về tình yêu của Ngài dành cho chúng ta. Tình yêu đó cũng sẽ làm cho chúng ta sống lại với Ngài.
Tình yêu có năng lực tái sinh con người. Mệnh lệnh “Hãy đi báo tin” không chỉ được ban ra cho các bà và các môn đệ, nhưng còn cho mỗi người chúng ta. Tin Mừng Phục sinh là chính Tin Mừng về tình yêu Thiên Chúa đối với con người. Chúng ta được mời gọi để chia sẻ Tin Mừng và tình yêu đó với tất cả mọi người như Chúa Giêsu đã nói với các người phụ nữ : “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta”.

 

PS1-127: CSTM/88 – Niềm tin

Có một cuốn phim, tựa đề là “Đức Giêsu Kitô”, đây là một cuốn phim nhạc nổi tiếng về cuộc: PS1-127

Có một cuốn phim, tựa đề là “Đức Giêsu Kitô”, đây là một cuốn phim nhạc nổi tiếng về cuộc đời Chúa Giêsu. Bằng ngôn ngữ của âm nhạc, tác giả cuốn phim đã cố gắng diễn tả cuộc đời Chúa Giêsu theo tâm thức của con người thời nay, giúp cho người xem có thể học hỏi và hiểu biết thêm về Chúa Giêsu. Nhưng có một thiếu sót lớn nhất của cuốn phim nhạc này là đã không đề cập đến việc Chúa Giêsu sống lại. Cuốn phim kết thúc cuộc đời của Chúa bằng cái chết treo trên thập giá.
Cuộc đời Chúa Giêsu chết là hết chăng ? Những người không có niềm tin Kitô giáo xem cuốn phim này sẽ kết luận như thế. Bởi vì “chết là hết”, đó là ý nghĩa thông thường của con người. Đó cũng là tâm trạng của các môn đệ Chúa Giêsu sau cái chết nhục nhã của Ngài : tất cả mọi hy vọng của họ đều tan thành mây khói. Thế nhưng, một biến cố bất ngờ đã xảy ra : Ngày thứ ba sau khi tử nạn, Chúa Giêsu đã sống lại. Đây là một biến cố vĩ đại, một sự kiện vô tiền khoáng hậu, độc nhất vô nhị, có một không hai trong lịch sử, một biến cố đã làm phát sinh một tổ chức lan rộng khắp thế giới mà chúng ta gọi là Kitô giáo.
Việc Chúa Giêsu Kitô sống lại là một biến cố cực kỳ quan trọng, nhưng lại là sự việc mà lý trí con người khó hiểu nổi, vì nó ở ngoài và vượt trên lịch sử nhân loại, không một người nào đã thấy và có kinh nghiệm. Ngay các môn đệ đi theo Ngài và được Ngài báo trước cho biết việc đó, thế mà khi Ngài sống lại họ cũng chưa tin, huống chi những người khác. Phục sinh là một chân lý mà người ta chỉ có thể chấp nhận được nhờ đức tin.
Tuy nhiên, biến cố Phục sinh cũng có những dấu hiệu bề ngoài chứng thực, như ngôi mộ trống, không có xác Chúa Giêsu ở đó. Ngài hiện ra cho mấy phụ nữ đến thăm mộ và nhất là một số môn đệ, họ nhận ra Ngài khi thấy những thương tích của cuộc khổ nạn trên thân thể Ngài và trò chuyện ăn uống với Ngài. Rồi Ngài đã làm cho các môn đệ sau khi gặp gỡ, truyện trò, ăn uống với Ngài phải tin và xoay chuyển tầm nhìn của họ về Ngài : từ hồ nghi không tin đến tuyên xưng Ngài chính là Đức Kitô, đồng thời xoay chuyển cả lối sống của họ : từ thất vọng sợ hãi trở thành tin tưởng, can trường, rồi đồng loạt đi khắp nơi loan báo và minh chứng Ngài đã Phục sinh. Minh chứng cách trung thành và can đảm, không sợ bị đánh đòn, chế nhạo, cầm tù, mà còn sẵn sàng chịu tử hình nữa. Việc ngôi mộ trống, việc Ngài hiện ra nhiều lần, việc các môn đệ có niềm tin và lối sống mới sau khi gặp gỡ Chúa Phục sinh, tất cả đều có thật.
Quả thực, việc Chúa Giêsu sống lại là một biến cố cực kỳ quan trọng đối với chính Ngài, với giáo huấn của Ngài, với các môn đệ cũng như với tất cả mọi người, vì là nền tảng cho niềm tin và sự cứu độ của mọi người. Đối với Chúa Giêsu, sự sống lại chứng tỏ Ngài vừa là người thật (đã đau khổ và chết) vừa là Thiên Chúa thật (đã sống lại và được tôn vinh) làm cho Ngài trở thành siêu việt trên tất cả mọi nhân vật tôn giáo trên thế giới, vì Ngài là hoa quả đầu mùa của nhân loại mở đường vào hạnh phúc thật vĩnh hằng. Sự sống lại chứng tỏ giáo huấn của Ngài là do Thiên Chúa mạc khải và dẫn đưa con người chắc chắn đạt tới hạnh phúc ấy. Sự sống lại đã làm xoay chuyển tầm nhìn của các môn đệ về Ngài và xoay chuyển cả lối sống của các ông. Sau hết, sự sống lại là bảo đảm cho mọi người được sống lại thật và có thể được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng như Ngài.
Trải qua hai ngàn năm, niềm tin của các tông đồ và của các tín hữu tiên khởi vẫn còn được tiếp tục tuyên xưng. Mãi mãi vẫn còn có người tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế, là Chúa. Ngài đã chết để cứu chuộc chúng ta và Ngài đã sống lại để bảo đảm chúng ta cũng sẽ sống lại. Và hiện Chúa Kitô Phục sinh vẫn đang đồng hành với chúng ta trong cuộc sống trần gian. Chúng ta vẫn gặp Ngài trong Giáo Hội, trong các bí tích, trong cầu nguyện, trong lời Chúa và trong khi thi hành điều răn mới của Ngài.

 

PS1-128: Thiên Chúa Quan Phòng

Có hai người bộ hành đi lên đường đi đến một phương xa. Họ dùng một con lừa để chuyên chở: PS1-128

Có hai người bộ hành đi lên đường đi đến một phương xa. Họ dùng một con lừa để chuyên chở hành lý. Để cho con lừa có bạn, họ mang theo một chú gà cồ. Và đêm đến họ đốt đuốc để soi đường. Một người bộ hành là một tín hữu rất đạo đức. Trên miệng ông lúc nào cũng có câu nói: "Thiên Chúa là Đấng tốt lành trong tất cả mọi sự". Người bạn đồng hành của ông thì lại là một người rất cứng lòng tin. Ông rất bực mình mỗi khi ông nghe người bạn ông thốt lên những lời ca tụng lòng thiện hảo của Thiên Chúa.
Lên đường chừng vài phút đồng hồ, ông đã cảnh cáo người bạn có lòng tin như sau: "Rồi đây anh sẽ thấy anh tin Chúa đến độ nào". Trước khi mặt trời lặn, họ đến một ngôi làng nhỏ. Họ tìm một nơi để qua đêm. Họ gõ cửa khắp nơi, nhưng không có ai đón tiếp họ. Cuối cùng họ đành phải ra khỏi làng và tìm đến bìa rừng để qua đêm.
Trong cảnh màn trời chiếu đất, người bạn cứng lòng tin mới thốt lên: "Nào, Chúa của anh có tốt không?". Người bạn đồng hành luôn tin tưởng ở Chúa quan phòng bình tĩnh đáp lại: "Đây là chỗ tốt nhất Chúa dành cho chúng ta ngủ qua đêm này".
Đêm đó, họ nằm ngủ dưới một gốc cây lớn nằm sát bìa rừng. Họ cột chú lừa vào một gốc cây gần đó. Họ chưa kịp đốt lên ngọn đuốc thì một tiếng mạnh từ xa vang lại. Thì ra, chỉ trong chớp nhoáng, một chú sư tử đã đến cắn xé con lừa và mang đi. Vừa thương tiếc cho chú lừa, vừa lo sợ cho thân phận của mình, hai người bộ hành chỉ còn biết leo lên cây để tránh tai họa.
Vừa tức giận, vừa mỉa mai, người bạn cứng lòng tin mới thốt lên: "Nào, Chúa của anh còn tốt nữa không?". Người tín hữu ngoan đạo dõng dạc tuyên bố: "Nếu con sư tử không bắt gặp con lừa trước, thì chắc chắn nó đã bổ nhào trên chúng ta rồi. Chúa là Đấng tốt lành".
Một vài phút sau, con gà cồ bỗng kêu la thất thanh. Hai người bộ hành mới trèo cao hơn. Họ nhận ra con gà cồ đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng. Người bạn cứng lòng tin chưa kịp thốt ra một lời cay đắng nào, thì người tín hữu ngoan đạo đã chúc tụng như sau: "Tiếng kêu thất thanh của con gà cồ lại một lần nữa giúp chúng ta thoát nguy hiểm. Cám ơn Chúa là Đấng tốt lành".
Họa vô đơn chí. Chỉ vài phút sau đó, một cơn gió mạnh ùa đến, ngọn đuốc bỗng tắt ngụm đưa hai người vào trong cảnh tối tăm ghê rợn. Lần này con người cứng lòng tin lại lên tiếng mỉa mai như sau: "Xem chừng như Chúa của anh làm việc phụ trội trong đêm nay". Lần này, người tín hữu ngoan đạo chỉ biết giữ thing lặng.
Sáng hôm sau, hai người mon men trở lại làng để mua thức ăn. Họ mới hay biết rằng đêm hôm đó một băng cướp đã vào làng và họ đã vơ vét tất cả tài sản của dân làng. Nhìn cảnh tượng hoang tàn của ngôi làng và nhìn lại sự toàn vẹn của mình, người tín hữu ngoan đạo mới đắc thắng giải thích cho người bạn như sau: "Anh đã chứng kiến từ đầu đến cuối. Giá như đêm hôm qua, chúng ta thuê được một chỗ trọ trong làng, thì có lẽ chúng ta cũng không thoát khỏi tay của bọn cướp. Nếu cơn gió lớn không làm tắt ngọn đuốc của chúng ta, thì hẳn bọn chúng đã nhìn thấy chúng ta. Bạn thấy chưa, trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa là Đấng thiện hảo".
Tin ở Thiên Chúa quan phòng không có nghĩa là bảo rằng tất cả mọi tai họa rủi ro xảy đến trong cuộc sống đều do Chúa gửi đến, nhưng có nghĩa là, khi đứng trước một bất hạnh mà mình không thể tránh khỏi, chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa thiện hảo và quyền năng đến độ có thể biến sự bất hạnh ấy thành khởi điểm của một hồng ân cao cả hơn.
Trong ánh sáng Phục Sinh của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi để nhìn vào biến cố trong cuộc sống bằng cái nhìn lạc quan và tin tưởng ấy. Cái chết ô nhục của Đức Kitô trên thập giá quả là một bất hạnh và là một tội ác, nhưng Thiên Chúa quyền năng và yêu thương đã biến thành khởi điểm của nguồn ơn cứu thoát.
Giữa muôn nghìn thử thách, hãy tin tưởng rằng Thiên Chúa đang dành cho chúng ta một ân huệ cao cả hơn ngoài sự chờ đợi của chúng ta. Chúng ta hãy xưng tụng tình yêu quan phòng của Ngài.

 

PS1-129: Ra khỏi mồ

Biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm rồi, và ngày nay có lẽ: PS1-129

Biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu đã xảy ra cách đây hơn 2000 năm rồi, và ngày nay có lẽ chúng ta cũng không thể cảm nhận được nỗi niềm vui sướng và hy vọng của các tông đồ ngày xưa khi nghe tin Chúa Giêsu sống lại. Tuy vậy, trong ít phút ngắn ngủi này, chúng ta thử làm sống lại một chút những tâm tình của các tông đồ trong ngày Chúa Phục Sinh, để thấy được sự kiện Phục Sinh của Chúa Giêsu đã đem lại ý nghĩa nào cho cuộc đời của các ông. Từ đó, chúng ta cũng hãy để cho Chúa Phục sinh tác động làm cho cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa. Hòa chung niềm hy vọng với dân tộc mình, các tông đồ cũng chờ mong một vị Cứu Tinh để giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh nô lệ ngoại bang. Trong niềm hy vọng ấy, Đức Giêsu đã xuất hiện như một con người có thể đáp lại những khát vọng mãnh liệt của các ông. Chính vì thế mà các ông đã bỏ mọi sự để theo Người, tin tưởng hoàn toàn nơi Người, phó thác trọn cuộc đời cho Người và chấp nhận mọi đòi hỏi của Người. Thế nhưng, đáng buồn thay cho các ông biết bao, khi mà vào một buổi tối ngày thứ 5, thần tượng Giêsu của các ông đã bị bắt, bị tra tấn, bị đánh đòn, bị lăng mạ và cuốci cùng bị kết án tử hình, một cái chết đớn đau và tủi nhục trên thập giá. Điều đó làm các ông thất vọng biết là dường nào. Thế là hết. Thầy Giêsu đã chết, đã được chôn trong mồ đá. Điều đó có nghĩa là những niềm hy vọng, những hoài bão, những tin tưởng của các ông cũng chết theo và cuộc đời của các ông cũng bị chôn vùi trong những nấm mồ của tuyệt vọng và sợ hãi. Hiểu ván đề như thế chúng ta mới hiệu được rằng : khi các phụ nữ báo tin cho ông Phêrô và ông Gioan về việc Chúa sống lại thì quả thật đó là một nguồn tin gân chấn động rất mạnh cho các ông. Thầy Giêsu đã sống lại cũng có nghĩa là những ước mơ, những hy vọng của các ông cũng được sống lại. Chính vì vậy mà cả ông Phêrô và ông Gioan đã vội vã chạy ra mộ Chúa Giêsu như để kiểm nghiệm nguồn tin mà các phụ nữ vừa loan báo. Khi tới mồ, các ông thấy mồ trống, chỉ còn lại khăn liệm và khăn phủ đầu Chúa Giêsu. Thánh Gioan đã viết về chính   mình : “Ông thấy và ông tin”. Rồi những ngày sau đó Chúa Giêsu đã hiện ra với các tông đồ nhiều lần như để củng cố niềm tin chắc chắn  rằng : Thầy Giêsu của mình đã sông lại thật thì niềm tin ấy đã tạo nên một biến đổi triệt để nơi các ông.
- Trước đây các ông sợ hãi chạy trốn các nhà cầm quyền đạo đời, thì nay các ông hiên ngang ra vào công đường để rao giảng về Đức Kitô Phục Sinh. Các ông can đảm chấp nhận bắt bớ, chấp nhận đòn vọt và bao nhiêu thử thách khác để làm chứng rằng Đức Giêsu đã Phục Sinh.
- Trước đây các ông là những người nhỏ nhen, ham danh ham lợi, ghen tị với nhau về chỗ ngồi trên dưới, thì nay các ông quên bản thân mình để chỉ sống và chết cho Đấng Phục Sinh, đồng thời cũng sống và chết cho anh chị em mình.
Thế hệ của chúng ta hôm nay không được diễm phúc để thấy Chúa Phục Sinh như các tông đồ xưa, nhưng chúng ta tin lời rao giảng của các Ngài vì các Ngài là những chứng nhân trung thực bởi các Ngài đã dám hy sinh mạng sống để làm chứng cho sự thật ấy. Tuy nhiên, tin vào sự Phục Sinh không phải chỉ là chấp nhận trong trí khôn một chân lý, một sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, nhưng còn là để cho Chúa Phục Sinh biến đổi cuộc đời mình, là để Người đưa mình ra khỏi những nấm mồ ích kỷ, hận thù, gian tham, lọc lừa, kiêu căng, tự mãn, ham mê sắc dục… Bao lâu chúng ta còn cố tình sống trong những nấm mố ấy thì bấy lâu chúng ta chưa thật sự tin vào Chúa Phục Sinh. Và nếu thế thì lời tuyên xưng của chúng ta về việc Chúa Phục Sinh chỉ là những lời đâu môi chót lưỡi và chẳng đem lại lợi ích nào cho đời sống của chúng ta.
Xin cho mầu nhiệm Chúa Phục Sinh mà chúng ta kính nhớ hôm nay trở thành một động lực đổi mới cuộc đời chúng ta, để chúng ta đám sống, dám chết cho Chúa và cho nhau.

 

PS1-130: NGHE RA NHƯ OÁN NHƯ SẦU... !

Ha-lê-lui-a ! Chỉ nghe thôi đã biết là Phục Sinh rồi. Mừng ngày Chúa Sống Lại hiển vinh: PS1-130

Ha-lê-lui-a ! Chỉ nghe thôi đã biết là Phục Sinh rồi. Mừng ngày Chúa Sống Lại hiển vinh. Nhưng sao “nghe ra như oán, như sầu phải chăng” ( Kiều, Nguyễn Du ). Nếu không muốn nói là có thoáng chút “mỉa mai”, hài hước như truyện tiếu lâm của một người kể mà không ai cười nỗi ! Niềm vui Phục Sinh phải chằng chỉ là câu nói máy móc mà người Ki-tô hữu nghe hoặc lập đi lập lại. Làm sao không vui được khi người chết sống lại chứ, nhưng cũng giống như chia sẻ chia sẻ “may mắn” với một người nào đó quen biết hay có ít nhiều quan hệ vậy thôi. Và chấm hết ! Hoặc niềm vui ấy nếu có chăng thì cũng chỉ quanh quẩn trong Nhà Thờ, trong Phụng Vụ chứ can dự gì đến đời sống cơm-gạo-áo-tiền mà con người ta đang nhăn nhó, đổ mồ hôi và nước mắt – nhiều khi lẫn máu – mới có được. Vậy đâu là Niềm Vui Phục Sinh thật ?
Thật lòng mà nói, những lúc nầy ai mà vẫn còn hớn hở vui tươi và cười nói suốt ngày thì mới là người có “vấn đề”. Trước đây, ở Miền Bắc có hơn 2 triệu người chết đói mà trong Nam mấy ai hay biết; cho nên vẫn “tối sâm banh, sáng sữa bò”, no kè cơm rượu ! Người ta vẫn “vui” được, chỉ vì không biết ! Ngày nay, một nơi nào đó trên hành tinh xảy ra điều gì lớn nhỏ thì chỉ sau một ngày, thậm chí một giờ, là cả thế giới đều rõ. Song tin lành, tin vui, tin an bình thì chẳng ai đăng làm gì ( vì có đăng, như một lần nọ Thái Tử Charles, nước Anh, đề nghị với giới báo chí, cũng chẳng mấy ai đọc ! ). Người ta chỉ đưa ( và đọc ) những tin cần đưa, cần đọc, phần nhiều là tin giật gân, tin chẳng lành như: Những vụ đánh bom, bắn giết dày hơn cơm bữa ở Iraq; Những thiên tai hạn hán khắp nơi; Những ma túy, rửa tiền, mại dâm, giết người, cướp bóc v.v... Tất cả như một màn đen chụp lên địa cầu, lên số phận của mỗi con người, mà trong đó con người ngày càng thấy mình nhỏ nhoi vô nghĩa trước tội ác, bạo lực. Người vô tâm đến mấy cũng chẳng thể cười được !
Làm sao cầm thiệp cưới trên tay mà có thể chia sẻ hạnh phúc với đôi tân hôn khi những thiệp mời tới tấp gửi đến và cái nào cũng khó lòng tránh né làm ngơ. Nhưng mỗi thiệp mời là mỗi lần khiến cho kinh tế gia đình lao đao, thiếu hụt ! Niềm vui của người khác, lại là khổ đau cho cả gia đình mình. Làm sao Exultet ( Mừng Vui Lên ! ) trong  Đêm Vọng Phục Sinh ? Khi mà giá cả các nhu yếu phẩm leo thang từng ngày, khi mà tiền học hay học thêm và vô số đóng góp cho nhà trường chẳng thể thiếu hoặc chậm trễ được, rồi tiền thuốc men đau ốm cứ như vận vào người. Làm sao Exultet được ?
Trong những ngày nầy, những ai còn chút quan tâm về tiền đồ đất nước hẳn phải đau xót nhìn một thế hệ trẻ sa đọa – hậu quả tất yếu của cách nghĩ, cách làm nơi những nhà giáo dục không chút căn bản đạo đức, nơi những phụ huynh chạy theo vật chất, xa hoa trụy lạc làm gương mù gương xấu ! Tâm hồn nào, môi miệng nào có thể “mừng vui lên !” được chứ ? Nhưng vẫn cứ phải Ha-lê-lui-a !
Đó là “Hạnh phúc khi được chia sẻ bất hạnh của người khác” như câu chuyện sau đây ( trích báo Thế Giới Phụ Nữ, số 7 ):
Mới 2 tuổi, cô bé Mận đã mồ côi cha mẹ, phải sống với bà nội. Cô trở thành gánh nặng trong gia đình, luôn hứng chịu đòn roi và những lời nhiếc móc. Mận đã nếm trải nhiều nỗi đắng cay, đau đớn của một đưá trẻ đường phố: bị đốt chân để biến thành ăn xin, bị đánh đến nỗi điếc một tai v.v... Cô trôi nổi khắp nơi: khi bán hàng rong, khi làm nghề cạo mủ cao su. Sau cùng Mận vào Sài-gòn bán bánh mì ở bến xe Miền Đông, vừa kiếm sống, vừa học chữ, rồi học thêm tiếng Anh, tiếng Hoa. Được một người hảo tâm giúp đỡ, Mận bước vào lãnh vực kinh doanh, khởi sự là môi giới cho thuê xe du lịch. Mận tích cóp dần, mua được xe rồi cho thuê lại.
Giờ đây, cô bé Mận côi cút lầm than ngày nào đã trở thành Giám Đốc công-ty TNHH Nước Tinh Khiết Huỳnh Hương. Chị cảm nhận: “Chia sẻ nỗi bất hạnh của người khác, bất hạnh của mình sẽ vơi bớt đi”... Trung tâm từ thiện tí Hon do chị và nhiều tiểu thương đóng góp được xây dựng tại Bình Dương. Hiện chị đang nuôi hơn 10 cháu mù loà côi cút. Vào những ngày cuối tuần, ngôi nhà ở Gò Vấp của Chị luôn náo nhiệt với cả trăm em nhỏ lang thang quây quần bên mâm cơm do chính chị nấu. Nhìn các em ăn uống ngon lành, nước mắt chị chảy dài...
Và đây nữa, một câu chuyện để hiểu được tại sao phải Exultet trong cuộc đời, khi biết dùng Tình Yêu để chia sẻ ( Alliancespirite.org ):
Ngày nọ, một người ra khỏi nhà thì thấy ba ông lão râu tóc bạc trắng ngồi ở trước nhà. Ông liền nói: ”Tôi không biết các cụ nhưng có lẽ các cụ đang đói. Vậy xin mời vào trong để tôi lấy gì cho các cụ”. Nhưng chủ nhà đã phải ngạc nhiên, khi nghe ba cụ già đáp: ”Chúng tôi không bao giờ cùng nhau vào một nhà”. Chủ nhà hỏi lại: ”Tại sao có chuyện lạ lùng như thế ?” Một cụ già chỉ vào một cụ và giải thích: ”Tên ông ấy là Giàu Sang”, rồi chỉ sang cụ kia: ”Còn ông ấy tên là Thành Công. Còn tôi là Tình Yêu”. Rồi ông cụ nói tiếp: “Hãy vào nhà và bàn với nhau, xem các vị sẽ mời ai trong chúng tôi vào ?” Những người trong nhà thảo luận: Kẻ thì cho là nên mời Thành Công; kẻ khác bảo tốt nhất là mời Giàu Sang; chỉ riêng cậu bé út là nói nên mời Tình Yêu. Và cuối cùng, mọi người nhất trí mời ông cụ mang tên Tình Yêu.
Tình Yêu nghe mình được mời vào nhà thì liền đứng lên, nhưng hai người kia, là Giàu Sang và Thành Công, cũng nối gót vào theo. Chủ nhà liền nói: ”Các cụ đã nói chỉ có ai được mời mới vào cơ mà ! Chúng tôi chỉ mời Tình Yêu, tại sao hai vị cũng vào vậy ?” Bấy giờ cả ba cụ già đồng thanh đáp lời: ”Nếu các bạn mời Giàu Sang hoặc Thành Công, thì hai người còn lại trong chúng tôi dứt khoát sẽ ở ngoài; nhưng bởi vì các vị đã mời Tình Yêu, thì ở đâu Tình Yêu tới, ở đó cũng sẽ có Giàu Sang và Thành Công”.
“Ubi Caritas et Amor, Deus ibi est !” Đâu có Bác Ai và Tình Yêu, ở đó có Thiên Chúa, ở đó có Niềm Vui, niềm vui tinh tuyền, niềm vui chân thành, cho dẫu sống giữa khổ đau, cho dù đang gặp thử thách truân chuyên. Lửa thử vàng, gian nan thử đức: chỉ khi gặp cám dỗ, thử  thách, khổ đau, thì mới thấy ai là người có và sống niềm tin Phục Sinh !
Đó là Niềm Vui của các Đấng Tử Vì Đạo Việt Nam, cha ông chúng ta. Đó là Niềm Vui của “hoa nở trong kẽ đá”; Niềm Vui khiến Đức Hồng Y Roger Etchegaray rất đỗi ngạc nhiên  khi nhìn Giáo Dân Việt Nam vất vả, cay đắng mà vẫn cất tiếng hát và tươi vui trong nghẹn ngào !
Đơn giản vì Đức Giê-su Ki-tô đã không Phục Sinh – nghĩa  là không có và không thể mang Niềm Vui, nếu đã không chịu khổ nạn và chết đi. Hiểu, sống và thể hiện thế nào, thì đó là bổn phận của mỗi Ki-tô hữu !
Gs. NGUYỄN THẾ BÀI, ĐTĐSTY 93  

 

PS1-131: HÃY PHỤC SINH VỚI CHÚA KITÔ ALLELUIA

Lm. Jude Siciliano, OP
(Ga 20, 1-9)

Thưa quý vị,

 

Chúng ta có năm lựa chọn cho Phúc âm tuần này. Tuy nhiên, các bài đều mở đầu giống nhau: PS1-131

Chúng ta có năm lựa chọn cho Phúc âm tuần này. Tuy nhiên, các bài đều mở đầu giống nhau : “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần”(Ga). “Chiều ngày Sabat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng”(Mt)… Tuần tới thánh Gioan cũng dùng giọng văn tương tự để thuật chuyện Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ ở phòng trên lầu của nhà tiệc ly : “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì sợ người Do thái.”(Ga 20, 19) Thường thường các tác giả Phúc âm không quan tâm đến ngày tháng chính xác, chỉ kể chung chung. Thí dụ : “Sau đó Chúa vào thành Giêrusalem” hoặc “Sáng sớm Chúa lên đền thờ”. Nếu ai hỏi lý do tại sao thì các thánh sử trả lời : Việc đó không quan trọng. Điều quan trọng là sự kiện. Vậy hôm nay là ngoại lệ và chắc chắn phải có lý do.

Mặc dù chi tiết trong các bài Tin Mừng hôm nay rất lộn xộn, không bài nào ghi lại đầy đủ những lần Chúa hiện ra, hoặc theo một thứ tự hợp lý. Thí dụ, có mấy thanh niên mặc áo trắng trong mồ ? Hai thiên thần hay chỉ một ? Marcô viết : “Vào trong mộ các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải mặc áo trắng.” Luca lại nói : “Họ còn đang phân vân thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói đứng bên họ.” Gioan rõ hơn : “Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mồ thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.” Bà Maria Macdala ra mộ một mình hay còn các phụ nữ khác cùng đi ? Tuy nhiên, về thời gian Chúa sống lại thì các thánh sử đều rõ ràng, không phải bất cứ ngày nào trong tuần mà là ngày thứ nhất. Các vị có dụng ý cho độc giả thấy việc Chúa phục sinh là một khởi đầu mới, giống như việc tạo dựng vũ trụ. Cho nên Tân Ước ưa dùng cụm từ “trời mới đất mới” để mô tả Hội thánh trong kỷ nguyên phục sinh. Tín hữu không còn thuộc về thế giới cũ, nô lệ cho tội lỗi, mà thuộc về vương quốc tái sinh, tràn đầy ơn thánh. Ngày tạo dựng, Thiên Chúa đã làm cho ánh sáng chiếu thâu qua bóng tối để soi sáng vũ trụ, thì ngày hôm nay, Chúa phục sinh cũng xuyên qua tối tăm của sự chết để mang hy vọng cho nhân loại. Hai biến cố đều do bàn tay quyền năng của Thiên Chúa. Cho nên chúng ta không còn lý do để sợ hãi, không còn lý do làm tôi dục vọng, nhưng phải sống tinh tuyền theo ánh sáng Chúa soi đường.

Chúng ta nên suy gẫm thấu đáo hơn về các bài đọc hôm nay. Và lấy chuyện của ba môn đệ trong biến cố Chúa sống lại (Maria Macdala, Phêrô, Gioan) làm thầy dạy. Trước hết, bà Maria đi ra mồ trong tâm trạng giống hệt mọi người trước đau thương : Khóc lóc, thở than, thất vọng, tôn kính người quá cố, gợi nhớ các kỷ niệm, cái chết bất ưng không lường trước. Chắc chắn bà không có tư tưởng thầy sẽ sống lại. Thánh Gioan ký thuật : “Lúc trời còn tối bà Maria Macdala đi đến mộ thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ.” Bà chẳng hiểu điều chi đã xảy đến cho xác Thầy. Bà hoàn toàn ngỡ ngàng, vì vẫn ở trong vòng tăm tối, chưa được đức tin soi sáng. Ngôi mộ trống không đủ thuyết phục bà Chúa đã chỗi dậy. Tư tưởng của bà vẫn bình thường như mọi người : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu.” Bà chỉ biết có thế và đã báo tin cho hai tông đồ Phêrô và Gioan có vậy. Chúng ta không thể gán cho bà tội giả tạo, sắp xếp sự việc rồi loan tin thất thiệt. Cũng chẳng thể tưởng tượng ra điều chi phức tạp hơn. Có chăng thì cố gắng nhìn vào thế giới thiên nhiên để tìm ra vài hình thức của sự hồi sinh. Thí dụ, tổ kén sẽ trở thành bươm bướm nhờ ơn huệ của trời đất và di truyền. Ở miền Bắc địa cầu, mùa đông chỉ thấy đất giá lạnh, trơ trụi, cây cối trơ cành như chết, nhưng mùa xuân ấm áp tới, thiên nhiên hồi sinh, cảnh vật trở thành nâu, rồi xanh và hoa lá bắt đầu trổ bông. Chúng ta có thể tưởng tượng đó là những dấu hiệu của sự hồi sinh, những chỉ dẫn cho thấy sự sống có thể phát xuất bất ưng từ cõi chết. Tuy nhiên, với những bằng chứng chết chóc hằng ngày không đủ để thuyết phục nhân loại là có hy vọng phục sinh. Thí dụ tai hoạ sóng thần ở Đông Nam Á, ôm bom tự sát ở Palestin, Iraq, sập mỏ ở Trung quốc, chết đói hằng triệu ở Phi châu, buôn bán phụ nữ trẻ con trên thế giới, chạy đua nguyên tử, tai nạn xe hơi, máy bay, xe lửa, xảy ra hầu như hằng ngày khắp nơi. Những biến cố đó và nhiều sự kiện chết chóc tương tự, chứng tỏ dù tổ kén biến thành bươm bướm, dù cành khô trổ bông tươi tốt cũng không đủ bằng chứng cống hiến cho nhân loại tình cảnh hồi sinh. Gần đây, một người họ hàng có chồng mới qua đời nói với tôi : “Anh ấy là toàn bộ đời con và các cháu. Anh ấy qua đi đột ngột chúng con làm thế nào đây ?” Những nỗi đau thương như vậy làm sao vượt qua ? Cái kén trở thành con bươm bướm không đủ. Cho nên lý luận biện chứng tự nhiên, chết đi để nảy sinh đời sống mới, vẫn chỉ là một ẩn số, cần bằng chứng lớn hơn, vững chãi hơn, ngõ hầu thiên hạ có thể tin. Tạ ơn Thiên Chúa. Hôm nay chúng ta được bằng chứng đó. Các thánh sử thuật : bà Maria Macdala thực sự đã được gặp Chúa phục sinh và bà nhanh chóng loan truyền cho các môn đệ sợ hãi đang tụ họp ở căn phòng trên lầu : “Tôi đã xem thấy Chúa.” (20, 18) Một khi đã lãnh nhận ơn này, chúng ta cũng phải biết noi gương bà đem Tin Mừng cho mọi người. Nếu không thì là ích kỷ.

Tôi tự hỏi điều gì khiến ông Phêrô chạy chậm lại khi cùng người môn đệ khác hối hả đến mồ. Người ta thường giải thích là vì tuổi già sức yếu. Nhưng lúc ấy có lẽ ông chưa đầy 30. Vậy thì phải loại bỏ vấn đề tuổi tác. Thánh Gioan, người cùng chạy với ông, ngầm cho hay đó là do tâm lý. Phêrô nhớ lại mình chối thầy chỉ mới mấy ngày trước. Sự kiện còn quá mới mẻ để trực diện với ngôi mộ của Thầy. Gánh nặng quá khứ đeo đuổi lương tâm ông. Nếu đúng như vậy thì sự tha thứ của Chúa rất cần thiết cho ông. Đức tin vào Chúa phục sinh sẽ hoàn toàn thay đổi ông. Đức tin ấy ông không đạt đến được mà là ơn huệ nhưng không của Đấng phục sinh. Vì vậy ông cũng phải sẵn sàng ban cho kẻ khác. Xin nhớ có lần ông đã hỏi thầy phải tha thứ đến 7 lần chăng ? Chúa trả lời tới bảy mươi lần bảy. Lúc này ông cảm nghiệm điều đó một cách cụ thể, áp dụng vào chính bản thân mình. Cho nên, việc tha thứ không còn là lý thuyết mà là điều ông phải thực hành. Đây là bài học quý giá cho mỗi chúng ta, những kẻ đã nghe phúc âm nhiều lần, nhưng thực hành quá ít. Nếu như thời Trung cổ người ta hoả thiêu nhau vì hận thù thành kiến, thì bây giờ người ta cũng không kém độc ác. Phải chăng chúng ta là môn đệ Đức Ki-tô ? Câu trả lời tích cực xem ra gượng ép. Nếu như chúng ta nhìn vào ngôi mộ trống với các tông đồ hôm nay và bày tỏ đức tin vào Chúa sống lại, thì chúng ta phải sẵn lòng tha thứ cho bất cứ ai xúc phạm đến mình. Có thể chúng ta không nặng nề lương tâm vì phản bội Chúa đến nỗi phải chậm lại bước chân khi đến gần mồ Chúa. Nhưng phẩm chất người tín hữu nơi chúng ta thật nghèo nàn, tình yêu chúng ta dâng cho Chúa thường khi yếu ớt. Chúng ta không dám dấn thân như Ngài đòi hỏi, không dám phục vụ những kẻ nghèo nàn, xấu số, bơ vơ, ngoài lề như đức ái thúc giục, chúng ta tìm kiếm tiện nghi dễ dãi cho bản thân, quên bẵng những nhu cầu của hàng xóm láng giềng. Tệ hơn nữa, lánh xa không dám tiến đến gần “ngôi mộ trống” của đức tin chân thành, tức các hy sinh hãm mình, từ bỏ đam mê tội lỗi, các ưa thích riêng tư, tivi, đầu máy, các băng đĩa khiêu dâm đồi bại, các giải trí “lành mạnh” nơi hộp đêm, hồ tắm; nói chung “đi sung sướng” như kiểu nói bóng bảy của một số tu sĩ trẻ.

Nhưng nếu chúng ta vì gánh nặng quá khứ mà chậm bước như Phêrô thì có nguy cơ chẳng bao giờ được trông thấy Chúa phục sinh. Ngày thứ nhất trong tuần sẽ bình thường như các Chúa nhật khác, chẳng có chi để mà “mừng vui hân hoan” cất cao bài “Alleluia”. Ngược lại, nếu tông đồ Phêrô đã tin vào ơn sống lại, ông sẽ nhìn thế giới bằng quan điểm khác, qua lăng kính của Chúa Giê-su. Đối với ông không còn tiêu chuẩn đạo đức nào ngoài tiêu chuẩn Chúa Giê-su đã dạy, không còn thế giới quan nào ngoài giáo huấn của Chúa Cứu Thế. Ông sẽ hoàn toàn gắn bó với Chúa, đi theo con đường hẹp của Ngài, từ bỏ mọi quyền lực trái nghịch với cây thập tự. Thực tế Phêrô đã làm như vậy. Chuyện này đã rõ ràng mọi tín hữu đều thông suốt cả. Phần chúng ta nếu tin vào sự sống lại, chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều vấn đề của thế giới. Và hành động để thay đổi các quyền lực sự dữ, ngõ hầu bày tỏ công lý và tình yêu như Chúa dạy bảo. Thí dụ, tại sao trong một nước giàu có nhất thế giới như nước Hoa Kỳ lại có đến 25 % trẻ con sống trong cảnh nghèo khổ ? Tại sao dân chủ như nước Mỹ mà phần lớn phụ nữ chưa được hưởng quyền bình đẳng ? Tại sao nữ giới trong Giáo hội Công giáo chưa có tiếng nói ? Mặc dù Tin Mừng Chúa sống lại được một phụ nữ loan báo đầu tiên ? Làm thế nào đức tin vào Đấng phục sinh ban cam đảm và khả năng để chúng ta đối mặt với thế giới sa đoạ ngày nay, “ngày thứ nhất trong tuần” ?

Nếu lúc này đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” thì thánh Gioan nhắc nhở toàn thể nhân loại, đặc biệt là Giáo hội rằng có một điều gì hoàn toàn mới, hoàn toàn không biết trước đang xảy ra và chúng ta có lý do để phấn khởi. Một người nào đó được ơn soi sáng đã nhận ra. Thánh Gioan không tiết lộ rõ tên người ấy, chỉ nói “người môn đệ được Chúa yêu mến”. Xưa nay người ta vẫn gán cho chính ông. Nhưng thánh nhân để trống chỗ cho mỗi tín hữu được phép điền tên mình vào. Thật là một dụng ý tốt đẹp ! Chúng ta nên nhanh chóng thi hành kẻo lỡ vận hội trong mùa này : “Người môn đệ Chúa yêu mến nhìn vào trong mồ, ông đã thấy và ông đã tin”. Tình yêu mở mắt cho ông. Chúng ta cũng được đức tin mở mắt linh hồn và hãy tự gọi mình : “Người môn đệ được Chúa mến thương”. Hạnh phúc và hy vọng của mỗi tín hữu nằm ở đây. Kinh nghiệm về tình yêu Chúa mở ra cho chúng ta cơ hội lành thánh để thấy được bổn phận ơn gọi của mình “ngày thứ nhất trong tuần” ở không gian phục sinh. Khi nhìn vào trong mồ, các tín hữu cũng được mở mắt. Tình yêu Chúa đã ban tặng ơn đó, không do công nghiệp, tài khéo hay khôn ngoan của mình. Nó hoàn toàn là một ơn huệ nhưng không. Nhờ đó chúng ta chẳng còn sợ hãi thần chết trong muôn vàn thể hiện. Nó kêu mời mỗi người nhìn về tương lai, không còn nhìn lại quá khứ xem mình là ai, đã làm gì. Bởi vì quá khứ làm chúng ta nhát đảm. Đây là ngày thứ nhất trong tuần lễ mới, với những thực tại và khả năng mới cho các môn đệ Chúa. Tình yêu Chúa phục sinh là căn bản của nếp sống mới này. Chúng ta sẽ khởi sự hành động như những người được Thiên Chúa yêu thương, không còn mang trong lòng thù hận, ghét ghen; không tẩy chay, loại trừ nhau, không đòi hỏi đặc quyền đặc lợi. Bởi vì Chúa đã cứu chuộc hết thảy mọi người. Làm thế nào những người được cứu chuộc lại có thể chia rẽ ? Làm thế nào họ không hợp lại thành một gia đình nhân loại yêu thương ? Tôi hy vọng chúng ta sẽ không rơi ra ngoài vòng tay thương yêu của Thiên Chúa. Chúng ta hoàn toàn liên kết với Đức Ki-tô trong cuộc sống của Ngài. Các mầu nhiệm của Ngài cũng là các mầu nhiệm của chúng ta. Cái chết của Ngài trên đồi Calvariô cũng là cái chết của các tín hữu. Ngài chịu thương khó không phải riêng lẻ mà như đại biểu của toàn thể nhân loại tội lỗi mà Ngài đã nhận lấy thân phận khi nhập thể làm người. Ngài nhân cách hoá nơi mình mọi lợi ích của chúng ta và có năng lực trả nợ cho mọi người. Ngài đã gánh chịu cái án tử hình mà tội lỗi chúng ta gây ra, còn Ngài hoàn toàn trong trắng.

Cho nên khi Ngài sống lại là mọi người đều được phục sinh trong Ngài. Thánh Phaolô ở bài đọc 2 quả quyết như vậy. Sự trỗi dậy của Ngài nhất thiết kéo theo sự phục sinh của toàn thể nhân loại. Chúng ta có thể tự hào mình đã sống lại và ngự bên hữu Thiên Chúa trên các tầng trời cao : “Thật vậy, anh em đã chết và sự sống mới của anh em hiện đang ẩn tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa.” Trong lúc kỷ niệm cuộc khổ nạn, phục sinh và thăng thiên của Chúa Giê-su, chúng ta không chỉ nhớ lại quá khứ, nhưng là cử hành những mầu nhiệm hiện tại, tức là sự khổ nạn, phục sinh và lên trời thiêng liêng của mỗi linh hồn. Chính bí tích rửa tội nói lên tất cả thực tại đó. Vì thế, mọi người nhắc lại lời thề trong đêm vọng phục sinh. Lời thề không phải là hình thức nghi lễ mà có nội dung nghiêm trọng kèm theo. Chúng ta buộc phải thi hành, nếu muốn là môn đệ Chúa. Ước chi hôm nay đúng là “ngày thứ nhất trong tuần” của mỗi cuộc đời tín hữu trong nếp sống mới, nếp sống phục sinh nơi Đức Ki-tô. Amen. Allêluia.


 

PS1-132: Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

Tin mừng : Ga 20, 1-9.

Anh chị em thân mến,

 

Hôm nay chủ nhật Phục Sinh, bài tin mừng hôm nay tường thuật câu chuyện cô Maria: PS1-132

Hôm nay chủ nhật Phục Sinh, bài tin mừng hôm nay tường thuật câu chuyện cô Maria Madalena đến mộ của Chúa Giêsu từ sáng sớm, nhưng rất kinh hoàng vì cửa mộ đã mở toang và xác Chúa Giêsu không thấy đâu cả, thật ra Ngài đã sống lại rồi, sống lại thật như lời Ngài đã phán trước.

Tìm Chúa Giêsu phục sinh nơi mộ trống

Không ai đi tìm người sống nơi mộ, nhưng người ta hy vọng người chết sẽ bằng an ra đi về nơi cõi vĩnh hằng.

Cách nhìn của người không phải là Kitô hữu.

Người ta cũng sẽ không tìm thấy Chúa Giêsu phục sinh nơi những người Kitô hữu sống bê tha gây gương mù gương xấu, bởi vì những người này như những ngôi mộ âm u lạnh lẽo không có sinh khí, nhưng họ sẽ tìm thấy Ngài nơi những Kitô hữu sống thực hành lời của Ngài dạy là phục vụ tha nhân như phục vụ chính Ngài, bởi vì phục vụ chính là dấu hiệu sống động của Thần Khí Thiên Chúa.

Cái nhìn của người Kitô hữu.

Trong cuộc sống thường ngày, có những lúc chúng ta nhìn những người tội lỗi bằng cặp mắt không mấy thiện cảm, nhìn những người có thành tích không mấy tốt đẹp bắng thái độ khinh chê, tâm hồn của họ như những nấm mồ trống không có Chúa Giêsu Phục Sinh, vâng, dưới cái nhìn và suy tư của chúng ta, họ là những người vắng bóng Thiên Chúa trong cuộc sống.

Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn đồng hành với chúng ta.

Ngài đồng hành với chúng ta trong thân phận của người nghèo khó, đang chờ chúng ta mời Ngài vào trong quán trọ bên đường như hai môn đệ thành Emmau; Ngài cũng đang đồng hành với mọi người trên con đường dương thế, nhưng mấy ai nhận ra Ngài là Chúa Giêsu Phục Sinh ?

Anh chị em than mến,

Tối hôm qua trong thánh lễ Vọng Phục Sinh chúng ta đã long trọng xác tín và tuyên xưng rằng Chúa Giêsu đã sống lại vinh hiển, và tiếng hoan ca Alleluia vẫn sẽ còn vang vọng mãi cho đến ngày Ngài lại đến trong vinh quang.

Chúng ta vui mừng vì Chúa Giêsu đã sống lại, nhưng mỗi người trong chúng ta vẫn chưa thật sự sống lại với Ngài, bởi vì chúng ta không muốn tìm Chúa Giêsu phục sinh nơi những nấm mồ trống, tức là chúng ta không muốn tiếp xúc trò chuyện với những người đang bị cho là kẻ tội lỗi, bởi vì chúng ta vẫn chưa đẩy được tảng đá kiêu ngạo, ghét ghen che lấp tâm hồn của chúng ta, làm cho chúng ta không thoát ra được để đi tới với tha nhân và vươn lên tới Thiên Chúa...

Lăn tảng đá tự kiêu tự mãn ra khỏi tâm hồn mình, là chúng ta sẽ thấy ánh sáng phục sinh của Chúa Giêsu nơi những nấm mộ trống, tức là những người tội lỗi và bất hạnh trong cuộc đời này...

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật lễ Phục Sinh tại nhà thờ Phục Sinh


 

PS1-133: Lời Chúa cho hôm nay: ĐỔI MỚI LÒNG TIN - Phó tế Nguyễn Định

CHÚA NHẬT PHỤC SINH - EASTER SUNDAY

Lời Chúa cho hôm nay:
ĐỔI MỚI LÒNG TIN - Phó tế Nguyễn Định

* Renewed Faith * Change of heart *

*
Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. (1Cor 5, 7)

A- Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc sau: (Some points of Reflection, live out and share)

 

Tông đồ Công vụ (10: 34a.37-43). “Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long: PS1-133

Bài đọc 1: Tông đồ Công vụ (10: 34a.37-43). “Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán…(câu 42)

a/ Mỗi Tín hữu đều có trách nhiệm rao giảng Đức Kitô: Bạn đang làm gì để mọi người biết Chúa?

b/ Long trọng làm chứng: Taị sao bạn can đảm làm chứng cho Chúa trong hòan cảnh khó khăn hiện tại?

Bài đọc 2: Thư 1 Corintô (5:6b-8 ). “Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ. (câu 8)

a/ Đức Kitô đã vượt qua sự chết và sống lại. Bậy tôi đã bỏ được những tính xấu nào để trở nên mới?

b/ Mỗi ngày tôi đã lắng nghe người khác, để canh tân đổi mới con người mình như thế nào?

c/ Bạn đừng lấy men cũ. Vậy men cũ là gì? Nhưng hãy lấy bánh không men, bánh không men là gì?

Tin Mừng: Gio-an (20, 1-9).Thánh lễ chính ban ngày. “Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước.” (câu 3 và 4)

a/ Mọi người đều được ơn gọi theo Chúa. Bạn đã dùng phương tiện nào tốt nhất để gặp được Chúa?

b/ Tìm Chúa trong moị người là một việc CẦN làm. Bạn đã từ bỏ những gì để tìm thấy Chúa Phục sinh?

c/ Thánh Phaolô nói theo Chúa như là một cuộc chaỵ đua. Bạn phấn đấu thế nào để chóng về tới đích?

d/ Lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ: Là phụ nữ hôm nay, bạn làm gì cho Giáo hôị&Xã hội?

B-Câu Kinh Thánh đánh động bạn và tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: (The Best God’s Word)


CHÚNG TA ĐỪNG LẤY MEN CŨ, LÀ LÒNG GIAN TÀ VÀ ĐỘC ÁC ... ( 1 Cor 5, 8)

Not with the old yeast, the yeast of malice and wickedness



C- Ngay bây giờ bạn và tôi phải làm gì để sống lại với Đức Kitô: (So what am I doing/ For Action)

1/ Tôi tham gia hay thiết lập một Nhóm Chia sẻ Lời Chúa. 2/ Bạn chuyên thăm viếng người ốm đau. 3/ Tôi bỏ ngay thói hút thuốc, uống rượu. 4/ Bạn bỏ tính nóng nảy, hay giận dỗi, tự kiêu, nịnh bợ.

* Công đồng Vatican II dạy: Ngày nay phụ nữ càng ngày càng đóng góp phần tích cực vào tất cả đời sống Xã hội, cho nên điều quan trong là cho họ tham gia nhiều hơn vào cả những lãnh vực tông đồ của Gíao hội. Gíao dân tích cực vào đời sống và họat động của Gíao hội, nhờ được tham dự vào chức vụ của Chúa Kitô là Tư tế, Ngôn sứ và là Vua. (Trích: Ơn gọi làm Gíao dân số 9 và 10)

D- Bạn và tôi cùng cầu nguyện với Lời Chúa và Sống lời này: ( I pray and practice/ Pray in Action)

Lạy Chúa, thánh Phaolô tha thiết khuyên con đừng lấy men cũ là lòng gian tà và độc ác; nhưng lấy bánh không men là lòng tình tuyền và chân thật. Thế mà con vẫn còn nhiều gian dối, hiểm độc để lừa đảo nhau mong lợi ích cá nhân... Xin cho con Phục sinh với Đức Kitô là đổi mới tâm hồn, bỏ ngay lòng tham, sân, si, để được Sống lạị với Chúa ngay từ hôm nay.

Hoa thơm cỏ lạ: THẬP TỰ GIÁ LÀ CHIẾC CẦU DUY NHẤT DẪN ĐẾN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI
The cross is the only bridge to eternal life


 

PS1-134: HÂY VUI LÊN - Sr Mai An Linh, OP

 (Mt.28,1-11)

HÃY VUI LÊN - Sr Mai An Linh, OP

 

Đây là đại ý của phụng vụ Lời Chúa, Chúa Nhật Phục Sinh hôm nay, sứ thần và chính Đức: PS1-134

Đây là đại ý của phụng vụ Lời Chúa, Chúa Nhật Phục Sinh hôm nay, sứ thần và chính Đức Giêsu đã mời gọicác bà, những người đi thăm mộ trong lúc trời hừng sáng và mời gọi mọi người Kitô hữu chúng ta nữa “ Hãy vui lên Chúa đã sống lại rồi”.

Đối với các bà, một tâm trạng bấn lọan : Mới ngày nào đây Thầy mình được khen ngợi “ Xưa nay chưa hề có ai nói năng như ông này”(Jn.7,46), “ ông nói như Đấng có uy quyền”(Mt.7,29) và được tung hô “ hoan hô Đấng nhân danh Chúa mà đến”(Mt.21,9). Thế mà nay họ lại giết treo trên cây Thập Gía và được chôn trong mộ đá. Tâm hồn các bà là cả một bể sầu khôn nguôi, chẳng ai có thể chia sẻ, ủi an, lòng các bà nặng trĩu như phiến đá che mộ kia.

Nhưng “một người xuất hiện ngồi trên phiến đá và lên tiếng : các bà đừng sợ” (Mt.28,5), lời trấn an tưởng chừng như một cánh tay che chở, nhưng thực ra “các bà vẫn sợ hãi”(Mt.28,8a), sự buồn rầu trở thành nỗi sợ hãi, lo lắng, nhưng sự sợ hãi này khác với lính canh mồ. Thật vậy,

Tác giả nhằm đề cao sự tương phản giữa phản ứng của quân canh mồ và của các bà. Quyền năng của Thiên Chúa biểu hiện gây ra nơi mọi người cảm tính sợ hãi. Nhưng nếu sự sợ hãi ấy không đưa đến đức tin, thì nó làm cho con người nên bất động “lính canh khiếp sợ, run rẩy và hóa ra như chết”(Mt.28,4). Trái lại, nếu biết kiếm tìm Thiên Chúa, sự sợ hãi ấy sẽ chuyển đổi thành niềm vui và hối thúc con người phấn khởi hành động và chúng ta đã thấy sự ấy nơi hai hạng người trên.

Kìa lời nói lại vang lên “ tôi biết các bà đi tìm Đức Giêsu chịu đóng đinh, Người không còn đây nữa, vì Người đã chỗi dậy”(Mt.28,5b). Lời loan báo vỡ òa như thác nước đổ xuống, như phiến đá nặng ngàn cân kia đã được lăn ra khỏi cửa mồ và người loan báo đang ngồi trên đó “ hãy về báo tin cho môn đệ, Người đã chỗi dậy từ cõi chết, hẹn gặp ở Galilê ”(Mt.28,7). Tỉnh hay mơ đây ? Các bà “ vừa sợ vừa rất đỗi vui mừng”(Mt.28, 8a).

Sợ vì phải chạm trán, tiếp xúc và chứng kiến quyền năng của Thiên Chúa được biểu lộ. Mừng vì biết rằng Chúa Giêsu đã sống lại, biết chắc rằng sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ là dấu chỉ cứu thóat cho các bà. Các bà vui niềm vui của các nhà đạo sĩ khi thấy lại ngôi sao lạ dẫn đường(x.Mt.2,10), của các mục đồng khi được tin báo Đấng Cứu Thế đã sinh ra(x.Lc.2,10).

Đúng là hãy vui lên đừng sợ, vui lên cho những tâm hồn biết cất đi, lấy đi tảng đá ích kỷ, kiêu ngạo khỏi lòng mình để Đức Giêsu có thể Phục Sinh nơi tâm hồn họ và hăm hở loan báo Tin Mừng như những phụ nữ hôm nay “ các bà chạy đi báo tin”(Mt.28,9), chạy chứ không phải đi vì là Tin Mừng vĩ đại, không thể chần chừ, không thể lần lữa rầy mai, ngay nhịp độ của trình thuật cũng cho thấy là chạy. Sau đó chính Chúa Giêsu cũng đã hiện ra và cũng chào các bà : đừng sợ, hãy vui lên (x.Mt.28,10). Cuộc gặp gỡ tuy đơn sơ nhưng đầy cảm động với lời chào bầy tỏ niềm hân hoan cánh chung (x.Xp.3,14; Ge.2,21; Za.9,9)

Phản ứng của các bà là nhào đến ôm chân Chúa Giêsu tỏ lòng kính tôn, yêu mến Ngài, hành động tôn kính mang sắc thái long trọng lạ thường, hơn hẳn các lời khác được mô tả trong Tin Mừng (x.Mt.8,2; 9,18; 14,33), cho thấy tâm tình của các bà đối với Chúa Giêsu mà các bà gặp lại, một cách đầy thích thú. Rồi Chúa Giêsu cũng lập lại lệnh truyền mà vị thiên sứ đã ra cho các bà “ hãy đi báo cho anh em Thầy để họ đến Galilê và sẽ gặp Thầy ở đó”(Mt.28,10). Dù các tông đồ đã phản bội và và chối từ Chúa Giêsu, Ngài cũng vẫn tha thứ hết cho họ, Ngài vẫn còn gọi họ là các anh em của Ngài, một khi Ngài đã vào chốn vinh quang cũng thế, tội lỗi của chúng ta nhiều, nhưng cũng được tha thứ hết trong đêm cực thánh này và sẽ được Ngài gọi là anh em. Qua câu này, Đấng Phục Sinh diễn tả tình thân mật với các môn đệ của Ngài, Ngài tha thứ lầm lỗi mà họ đã phạm trong giờ thương khó của Ngài.

Hiệp với niềm vui của tòan thể Hội Thánh “ Hãy vui lên”, người Kitô hữu chúng ta tham dự vào đêm Phục Sinh bằng cả niềm vui của mình : vui mừng vì được cứu độ, vui mừng trước sự can thiệp vô tiền khóang hậu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, nhất là vui mừng vì được chung phần vinh quang của Đức Kitô mà phần bảo đảm nhận được qua Bí Tích Thánh Tẩy.

Lòng trung thành của các bà được bù đắp : vì họ đã theo Chúa trên Núi Sọ, đã chứng kiến giây phút cuối cùng của Chúa Giêsu, nên họ được phúc là chứng nhân đầu tiên của Phục Sinh…và trở thành sứ giả loan tin vui Phục Sinh cho mọi người. Chính nhờ sứ mạng của một vài người nữ, mà Đấng Phục Sinh đã bắt đầu chinh phục cả thế giới. Vì “Thiên Chúa đã chọn những gì thế gian coi là yếu đuối để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ”(1Cr.1,27). Người Kitô hữu đích thực là người gieo rắc niềm vui Phục Sinh ra trong môi trường sống của mình …

Sr.Mai an Linh OP


 

PS1-135: NGÔI MỘ TRỐNG - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Ga 20, 1-9
 

Chúa nhật Phục sinh, Giáo hội mời gọi con cái mình khám phá ngôi mộ trống để rồi cùng nhau: PS1-135

Chúa nhật Phục sinh, Giáo hội mời gọi con cái mình khám phá ngôi mộ trống để rồi cùng nhau tuyên xưng niềm tin CHÚA KYTÔ PHỤC SINH và ra đi loan báo niềm tin đó cho muôn dân.

Tin mừng hôm nay ghi lại việc Maria Macđala bất ngờ phát hiện tảng đá dùng để lấp ngôi mộ Chúa đã được ai đó lăn ra. Bà vô cùng lo lắng, vội vã chạy về báo cho các môn đệ của Người. Nhìn thấy hiện tượng tảng đá không còn nguyên như cũ, bà nghĩ rằng đã có ai đó đem xác Chúa của bà đi. Bà tìm gặp Phêrô và Gioan và mong muốn các ông sớm tìm ra thủ phạm lấy xác Thầy mà giờ đây bà không biết họ Người để đâu. Maria Macđala chưa hiểu đàng sau tảng đá được lăn ra kia ẩn chứa một mầu nhiệm siêu phàm. Vì thế, bà cùng với hai môn đệ vội vã chạy đi kiếm tìm…

Chạy đến mộ trước bởi sức trai trẻ, người môn đệ Chúa yêu ngoài việc thấy những gì Maria Macđala nói, ông còn phát hiện thêm những hiện tượng bất thường. Ông thấy những băng vải còn đó. Nghĩa là không bị ai đó mang đi, và như thế, chưa hẳn xác thầy đã bị đánh cắp như bà Maria nói. Sau đó không lâu, Phêrô còn phát hiện ra rằng tất cả các băng vải, khăn che đầu được xếp lại, để riêng ra từng nơi cách gọn gàng. Những hiện tượng này là những lý chứng để có thể trả lời cho những nghi ngờ của Maria trước đó là vô căn cứ. Bởi một điều dễ hiểu là nếu có âm mưu trộm xác, kẻ trộm sẽ lợi dụng thời khắc lính canh thiếp ngủ- rất ngắn ngủi, thì không thể nào thoải mái sắp xếp các băng vải liệm cách gọn gàng như thế được. Những phát hiện như thế tuy không phải là những bằng chứng về sự Phục sinh của Chúa, nhưng nó lại là những dấu chỉ chứa đựng sự nhiệm mầu.

Người môn đệ Chúa yêu cuối cùng cũng đi vào bên trong ngôi mộ, ông đã nhìn thấy tất cả những gì Maria và Phêrô đã thấy. Chúng ta thấy ở đây là, cùng một hiện tượng, nhưng cách suy nghĩ, cánh nhìn nhận vấn đề của Gioan khác xa với Phêrô và Maria.

Maria Macđala nghĩ rằng có kẻ ăn cắp xác Chúa. Bà nghi ngờ tất cả. Bà nghĩ đó có thể là những kẻ thù nghịch với Chúa trong vụ án vừa qua, nay vứt xác đi cho bỏ ghét; mà cũng có thể là người làm vườn lắm chứ?…

Còn Phêrô, ông nhìn thấy tất cả nhưng không bình luận. Phêrô cẩn trọng và dè dặt trước hiện tượng có tính chất nhậy cảm. Một mặt chúng ta có thể hiểu rằng ở cương vị lãnh đạo, Phêrô cần phải có thái độ cẩn trọng trong mọi hoạt động; nhưng mặt khác, dựa vào kinh thánh, chúng ta biết lý do Phêrô không bình phẩm là vì ông chưa hiểu “theo Kinh thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết”. Con người của Phêrô là thế. Chưa biết thì im lặng chờ đợi. Không vội vã suy diễn, cũng không hấp tấp quy kết, nhận xét này nọ.

Gioan đi vào mộ. Ông thấy và ông tin. Thông qua ngôi mộ trống và những vị trí gọn gàng của các băng vải liệm, Gioan đã đọc ra dấu chỉ về những thực tại siêu nhiên bằng con mắt đức tin. Đức tin và sự cảm nghiệm này một phần xuất phát từ trong cách quan sát và phân tích vấn đề một cách logic và biện chứng của Gioan. Cùng một lúc, Gioan đã thâu gom những hiện tượng hữu hình, ông lượng định vấn đề để rồi đưa đến kết luận- dù không nói ra, một cách khoa học. Niềm tin của Gioan không hời hợt, ướt át, mị dân. Niềm tin đó dựa trên sự soi sáng của lý trí và tình yêu. Thế nên, với ông, xác của Thầy chả có ai lấy đi cả. Cái chết đã thất bại. Nó đã bị ánh sáng Phục sinh tướt đoạt. Niềm tin ban sơ này của ông sẽ dần dần được chính Đấng Phục sinh và Chúa Thánh Thần củng cố và hoàn thiện.

Mừng lễ Chúa Phục sinh, phải chăng là dịp nhắc nhớ chúng ta đào sâu thêm niềm tin của chúng ta vào Đấng Phục sinh. Hơn bao giờ hết, lời của Thánh Phaolô : “Nếu Đức Kytô đã không phục sinh, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả niềm tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15, 14) vẫn còn nguyên giá trị. Xin cho mỗi người chúng ta không ngừng ra đi, loan báo tin mừng Phục sinh cho thế giới này. Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng việc Chúa Sống lại cho tới khi Chúa lại đến.


 

PS1-136: LÀM CHỨNG CHO LÒNG TIN

 [CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM C (08.04.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Đọc kỹ Phúc Âm và Công Vụ Tông Đồ, chúng ta sẽ thấy hai hành động TIN & LÀM CHỨNG: PS1-136

Đọc kỹ Phúc Âm và Công Vụ Tông Đồ, chúng ta sẽ thấy hai hành động TIN & LÀM CHỨNG luôn đi cùng với nhau, không bao giờ tách lìa nhau được. Chỉ sau này, và nhất là ngày nay, mới có sự tách rời giữa hai việc làm ấy, khiến có nhiều Ki-tô hữu tin mà không làm chứng, tức cách sống của những người tín hữu ấy không nói lên được những điều người ấy tin.
          Hôm nay cùng với Hội Thánh mừng kính trọng thể Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, chúng ta được mời gọi kiểm điểm xem:
          (a) Mỗi người đã là chứng nhân thực sự của Chúa Ki-tô Phục Sinh chưa?
          (b) Tại sao chưa?
          (c) Chúng ta cần phải làm gì hơn nữa để làm chứng cho lòng tin của chúng ta vào Chúa Ki-tô Phục Sinh?
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Cv 10, 34a.37-43: Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.
             34 Bấy giờ, tại nhà ông Cô-nê-li-ô ở Xê-da-rê, ông Phê-rô lên tiếng nói:  37 “Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giu-đê, bắt đầu từ miền Ga-li-lê, sau phép rửa mà ông Gio-an rao giảng. 38 Quý vị biết rõ: Đức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người. 39 Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giê-ru-sa-lem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. 40 Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, 41 không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. 42 Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. 43 Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội."
(2) Bài đọc 2: Cl 3,1-4:  Anh em hãy tìm kiến những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.
          1 Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. 2 Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. 3 Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa. 4 Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang.
(3) Bài Tin Mừng: Ga 20,1-9: Đức Giê-su phải trổi dậy từ cõi chết.
         1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu." 3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.”
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Cv 10, 34-43) là một chứng từ rất quan trọng của Thánh Phê-rô, vị tông đồ trưởng, người trong cuộc Thương Khó của Thầy mình, đã chối bỏ căn tính của Thầy và chối bỏ cả mối tương quan sư-phụ của Thày với mình. Có lẽ vì lúc đó, ông Phê-rô vừa chưa đủ tin tưởng ở Thày vừa sợ những kẻ thù của Thầy. Nhưng sau khi đã tin và cảm nghiệm Thầy đã trỗi dậy từ cõi chết như Lời Thánh Kinh thì ông  đã mạnh dạn và hăng hái tuyên xưng lòng tin của mình và can đảm làm chứng cho căn tính và sứ mạng của Thầy. Lời chứng của Phê-rô vừa mang tính cá nhân  vừa mang tính cộng đoàn, cộng đoàn các môn đệ và tín hữu thời kỳ đầu của Ki-tô giáo.
Trong đoạn sách Cv 10,34a.37-43 trên chúng ta thấy rõ chân tướng, vai trò và sứ mạng của Chúa Giê-su Ki-tô trước và sau Khổ Nạn Thập Giá: “Đức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người. Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giê-ru-sa-lem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.  Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội."
 (2) Bài đọc 2 (Cl 3,1-4) là lời khuyên của Thánh Phao-lô Tông Đồ về định hướng và cách sống mà những người tin theo Chúa Ki-tô Phục Sinh phải có. Đó là “hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ không chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.”
            Trong đoạn thư Cô-lô-xê 3,1-4 trên, chúng ta thấy sau khi hoàn thành công trình cứu rỗi nhân loại, Chúa Giê-su ngự bên hữu Chúa Cha, ban sự sống của Thiên Chúa cho mọi người  và sẽ xuất hiện trong vinh quang để đem vinh quang cho những ai sống theo Người. Ngự bên hữu Chúa Cha vừa có nghĩa là Chúa Giê-su là Thiên Chúa như Chúa Cha vừa có nghĩa là Chúa được Chúa Cha tôn vinh (thưởng công).
(3) Bài Tin Mừng (Ga 20,1-9) là tường thuật những gì xẩy ra vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, tức vào Sáng Chúa Nhật Phục Sinh của Hội Thánh chúng ta ngày nay. Những việc xẩy ra có liên quan mật thiết  tới ba con người gần gũi nhất với Chúa Giê-su Na-da-rét. Đó là bà Ma-ri-a Mác-đa-la, ông Phê-rô và Gio-an. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la là người đầu tiên phát hiện ngôi mộ trống. Bà chạy về báo cho hai môn đệ thân tín nhất của Thầy. Hai ông này lập tức chạy tới mộ, cũng thấy ngôi mộ trống, không thấy Thầy Giê-su đâu cả, chỉ thấy vải liệm còn trong mộ. Nhưng Gio-an và Phê-rô đã tin là Thầy Giê-su đã sống lại như lời Thánh Kinh.
          Qua Bài Phúc Âm Ga 20,1-9 chúng ta không thấy Chúa Giê-su, mà chỉ thấy những dấu vết, những chứng tích của Người mà thôi. Chỉ có bấy nhiêu thì chưa đủ làm cơ sở cho Niềm Tin Phục Sinh. Tin Mừng Phục Sinh gắn liền với những lần hiện ra của Chúa Giê-su cũng như những lời giáo huấn và hành động của Đấng Phục Sinh.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là Tin & Làm Chứng Cho Chúa Ki-tô Phục Sinh như lời của Thánh Gio-an trong Sách Phúc Âm (Ông đã thấy và đã tin) và của Thánh Phê-rô trong Sách Công Vụ Tông Đồ (Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm….).
          Làm chứng hay thể hiện lòng tin bằng tâm tình, thái độ, cử chỉ, lời nói và việc làm. Làm chứng hay thể hiện lòng tin không chỉ trong thánh đường, mà còn trong gia đình và/nhất là ngoài xã hội.
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Để thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay, tôi xét mình xem cách sống đức tin của tôi đã tới mức biến tôi thành chứng nhân của Chúa Ki-tô phục sinh chưa? Nói cách cụ thể hơn, những người tiếp xúc, gặp gỡ tôi hằng ngày có nhận ra tôi là môn đệ của một Đấng Thiên Chúa nhập thể, nhập thế, chết và phục sinh để cứu độ chúng sinh không?
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
4.1 Lạy Thiên Chúa Cha là Đấng quyền năng và công minh, Chúa đã dùng sức mạnh của Thánh Thần mà làm cho Chúa Giê-su trỗi dậy từ cõi chết. Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về Kỳ Công Tuyệt Vời mà Chúa đã làm cho Chúa Giê-su Ki-tô. Chúng con xin Chúa ban cho chúng con SỰ SỐNG MỚI là quà tặng của Chúa Ki-tô Phục Sinh.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 Lạy Thiên Chúa Cha là Đấng quyền năng và công minh, Chúa đã ban Con Một Cha cho chúng con để những ai tin vào Người và sống theo Người thì được cứu rỗi. Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về Món Quà Tuyệt Vời là Chúa Giê-su Ki-tô mà Chúa đã ban cho chúng con. Chúng con xin Chúa ban cho chúng con một LÒNG TIN SON SẮT và một ĐỜI SỐNG ĐẸP LÒNG Chúa Ki-tô Phục Sinh.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 Lạy Thiên Chúa Cha là Đấng quyền năng và công minh, Chúa đã dùng sức mạnh của Thánh Thần mà làm cho các Tông Đồ, nhất là Phê-rô, Phao-lô và Gio-an, trở thành những chứng nhân trung kiên và quảng đại của Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh. Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa về Kỳ Công Biến Đổi Tuyệt Vời mà Chúa đã làm cho các Tông Đồ. Chúng con xin Chúa ban cho chúng con ƠN TRỞ THÀNH NHÂN CHỨNG ĐÍCH THỰC của Chúa Ki-tô Phục Sinh trong gia đình và ngoài xã hội.
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
Sàigòn ngày 26.03.2007.

 

PS1-137: Đức Kitô Sống lại từ cõi chết - Lm Nguyễn Bình An

Đức Kitô sống lại từ cõi chết đã được lính canh mồ (Mt 27.62) tin và trình bày đầy đủ lên: PS1-137

Đức Kitô Sống lại từ cõi chết đã được lính canh mồ (Mt 27.62) tin và trình bày đầy đủ lên các vị lãnh đạo Do thái (Mt 28.11).

Họ thấy đất rung chuyển và Ngài trắng như tuyết anh dũng bước ra (Mt 28.2-3). Phản ứng của họ là run rẩy, lo sợ và đứng ngây như chết (Mt 28.4). Một lần nữa, các vị lãnh đạo đã gian dối, dùng tiền mua chuộc lính canh để họ phao vu rằng "các môn đệ Giêsu nửa đêm đến cướp xác" (Mt 28.13).

Chủ trương của các tư tế, trưởng lão và biệt phái là đảo lộn và dấu diếm sự thật: Giêsu đã chết thật và đã sống lại từ cõi chết chỉ là tin hão huyền và là lời đồn vô bằng của những người ngưỡng mộ.

Alleluia, Ngài đã sống lại thật, như lời đã phán hứa (Mt 16.21; 17.23;20.19) là Tin mừng của tín hữu. Ngài đã xông vào hang cọp để cứu nhân sinh và đã bị tử thương. Ngài đã thanh toán cái món nợ khổng lồ nguyên tổ lưu lại cho con cháu. Ngài đã giao hòa trời và đất. Ngài mang hy vọng đến cho nhân loại. Ngài đã hiện ra với Maria Mađalêna, nhưng bà không nhận ra (Ga 20.14). Ngài đến với các môn đệ và họ tưởng là ma (Lk 24.37). Ngài xuất hiện bên bờ biển nhưng không ai nhận diện ra (Ga 21.5).

Những sự kiện trên chứng minh rằng nhiên tính của thần học phục sinh nơi Chúa Kitô khác hẳn sự hồi sinh của con gái ông Jairô, của con trai bà góa thành Naim, và của Lazarô. Phục sinh từ cõi chết không có nghĩa là sống trở lại cuộc đời đã có trước kia, nhưng là một cuộc sống siêu thăng khỏi không gian, thời gian và địa điểm. Xác sống lại của Đức Kitô vì thế hoàn toàn khác hẳn với xác đã được mai táng ngày thứ Sáu Tuần thánh. Nhưng không hẳn vô hình vì Chúa đã đốt than và nướng cá cho các môn đệ (Ga 21.9), đối thoại và gọi các ông đến dùng điểm tâm (Ga 21.12), song hành và đàm đạo với hai môn đệ trên đường về Emmaus (Lk 24.13-32), yêu cầu các môn đệ rờ nắn thân xác Ngài (Lk 24.39), ăn uống trước mặt các môn đệ (Lk 24.42), và trách Tôma cứng tin khi thách thức ông sờ các vết thương trên thân mình Ngài (Ga 20.27-28).

Alleluia, Chúa Kitô đã phục sinh khải hoàn. Tin mừng thật vĩ đại và "vô tiền khoáng hậu". Từ nay Ngài không còn bị ràng buộc trong không gian và thời gian. Không quyền lực nào có thể hãm hại hay cản trở Ngài nữa. Và lời cầu "danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện" đã hiện thực đầy đủ nơi Ngài. Satan và bè lũ tưởng chiến thuật" giết chủ chăn, chiên sẽ tan tác" đã thành công nhưng chúng đã chuốc lầy một thất bại ê chề. Một thế giới Kitô giáo và một trật tự mới đã khai mở bằng một thiếu số rất khiêm tốn, đã triển nở và sẽ trở thành đông đảo như sao trên trời, như cát đại dương, như Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham.

Với chúng ta những người tin vào Chúa Kitô và sự sống lại, chết là khởi đầu một cuộc sống thần tiên và thánh thiện. Nếu chúng ta biết sống như Chúa, hành động như Chúa và chết như Chúa thì chết là bước vào cõi vinh quang bất diệt.


NS Dân Chúa Mỹ Châu


 

PS1-138: Mặt trời hé mọc

Để hiểu sâu mầu nhiệm Vượt qua, chúng ta cần dừng lại thật lâu bên mộ Chúa. Một ngôi mộ: PS1-138

Để hiểu sâu mầu nhiệm Vượt qua, chúng ta cần dừng lại thật lâu bên mộ Chúa. Một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai (x. Ga 19,41). Ngôi mộ này của ông Giô-xép, người trong Thượng Hội Đồng, và cũng là một môn đệ âm thầm của Đức Giêsu. Ông đã đến xin xác và tẩm liệm Thầy cẩn thận.
Hãy đến thăm mộ và ngày thứ bảy, không có ai. Ngôi mộ nằm im lìm như trăm ngàn ngôi mộ khác. Một tảng đá to ngạo nghễ che cửa mồ.
Kẻ thù Chúa hả hê vui sướng vì đã nhổ được một cái gai. Tử thần đắc ý vỗ tay reo vì Đấng là Sự Sống đã bị nuốt chửng.
Xác Đức Giêsu nằm trong mộ, tối tăm, như hạt lúa ủ trong lòng đất. Có ai nghe được tiếng hạt giống cựa mình? Có ai thấy được một mầm non đang nhú?
Đêm dài quá! Ba phụ nữ chỉ mong cho chóng sáng. Họ thấp thỏm không ngủ được, chỉ nghĩ đến ngôi mộ, với xác của Thầy nằm đó.
Và khi lóe lên những tia nắng đầu tiên của mặt trời, thì cả ba đã sẵn sàng ra thăm mộ, với dầu thơm vừa mua được để ướp xác.
Khi đi đường, họ chỉ có một nỗi bận tâm: "Ai sẽ lăn giùm tảng đá ra cho chúng ta?" Tảng đá to thật là một trở ngại... Nhưng lạ thay, khi đến nơi, các bà thấy tảng đá được lăn ra một bên rồi, và xác của Thầy cũng không còn ở chỗ cũ. Sứ thần Chúa loan báo Tin Mừng: Đấng bị đóng đinh đã chỗi dậy rồi, Ngài hẹn gặp lại các môn đệ tại Galilê.
Từ ngôi mộ, từ tối tăm, chết chóc, rữa nát, sự sống đã bật dậy, làm bàng hoàng sửng sốt.
Không cần phải lăn tảng đá. Không cần phải xức dầu thơm.
Cửa mộ đã mở toang, vì ngôi mộ không thể chứa được Đấng đang sống, Đấng đang đến để nối lại một cái hẹn...
Vẫn có những ngôi mộ trong đời ta.
Những ngôi mộ chôn vùi bao ước mơ, hy vọng, bao điều chúng ta yêu mến và ấp ủ. Chúng như dấu hiệu của những đổ vỡ, đớn đau. Ta có chờ gì nơi đó, hay chỉ biết tiếc nuối?
Chỉ sự phục sinh của Đức Kitô mới làm ta tin rằng chẳng có mất mát, khổ đau, thất bại nào lại không thể làm ta lớn lên và cứng cáp.
Ước gì giữa nước mắt, ta cảm nghiệm được niềm vui, dám chôn đi điều phải chôn, mất đi điều phải mất.
Gợi Ý Chia Sẻ
Có những tảng đá chắn ngang, khiến đời tôi như ngôi mộ khép kín. Hiện nay có điều gì khiến bạn cảm thấy bị nghẽn lối, đi vào ngõ cụt? Tin Mừng Phục Sinh có giúp bạn ra khỏi không?
Đức Giêsu chỉ phục sinh sau khi đã chết và được mai táng. Bạn thấy mình có những điều cần phải chôn, cần phải quên, cần phải từ bỏ không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

 

PS1-139: SLC- Sứ Điệp Phục Sinh

GỬI QUA TỘI LỖI
 

Lúc bấy giờ trời đã bắt đầu tối, các tông đồ buồn bã ngồi thinh lặng trong phòng tiệc ly và cửa: PS1-139

Lúc bấy giờ trời đã bắt đầu tối, các tông đồ buồn bã ngồi thinh lặng trong phòng tiệc ly và cửa thì đóng kín. Các ông khẽ bàn bạc với nhau về Đức Kitô. Phêrô và Gioan đã đi đến ngôi mộ, nhưng ngôi mộ hoàn toàn trống trơn. Rồi những lời đồn thổi của các phụ nữ được loan truyền. Các môn đệ vừa lo sợ nhưng cũng cảm thấy một tia hy vọng lóe lên.
Thế rồi sự gì đã xảy ra ? Có phải là một luồng ánh sáng ? Hay là một bóng ma, một ảo ảnh ? Không. Đó chính là Đức Kitô bằng xương bằng thịt với đôi mắt trìu mến. Ngài nói với các ông: Bằng an cho các con. Thầy đây mà. Đừng sợ. Có lẽ Ngài đã nói tiếp với các ông: Các con hãy vui mừng vì Ta đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Chiến thắng tội lỗi và sự chết là hai sứ điệp quan trọng mà Đức Kitô Phục sinh muốn gửi đến chúng ta, những người đã đặt trót niềm tin tưởng và cậy trông nơi Ngài.
Như chúng ta đã biết: Tội của Adong Eva được sánh ví như là một chiếc móc xích đầu tiên, kéo theo một chuỗi dài tội lỗi của nhân loại qua muôn thế hệ. Tội của Adong Eva đã mở toang cánh cửa để tội lỗi ùa tràn và ngự trị trần gian. Bởi tội của một người mà chúng ta phải chết, thì giờ đây, nhờ công phúc của một người mà chúng ta được sống. Thánh Ambrosio đã nói: Trời và đất cũng sẽ được sống lại trong Đức Kitô. Trần gian này, nhân loại này sẽ được sống lại, có nghĩa là những vết thương, những khổ đau do tội lỗi gây nên, sẽ được hàn gắn, sẽ được chữa lành, sẽ được xóa bỏ. Adong đã làm cho nhân loại chìm ngập trong tội lỗi và sự chết, thì giờ đây Đức Kitô Phục sinh sẽ khai mở một thế hệ mới trong ân sủng và tình thương nhờ đó mà nhân loại được bước vào cõi sống muôn đời.
Vì thế, lời nói đầu tiên của Đức Kitô Phục sinh là gì, nếu không phải là lời cầu chúc bình an: Bình an cho các con. Khi nói lời ấy, Ngài thổi hơi, tượng trưng cho Chúa Thánh Linh, trên các ông và trao cho các ông quyền tha tội. Chúa Giêsu đã thấu suốt tâm hồn chúng ta, Ngài biết rằng tâm hồn chúng ta đang khao khát sự bình an. Thế nhưng tội lỗi và sự bình an không thể nào đi đôi với nhau được. Tội lỗi là như trái phá, làm nổ tung sự bình an. Nó hủy diệt và phá vỡ sự bình an trong tâm hồn cũng như ngoài xã hội. Bởi đó, để chúng ta có được sự bình an đích thực, thì trước hết Ngài phải tha thứ tội lỗi chúng ta, Ngài phải chiến thắng quyền lực của tội lỗi: Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm lại. Một tâm hồn tội lỗi bao giờ cũng sống trong lo âu, trong hận thù và không thể nào có được sự bình an, bởi vì sự bình an chỉ là kết quả của việc hòa giải giữa chúng ta với Thiên Chúa và giữa chúng ta với nhau, cũng như giữa chúng ta với chính bản thân mình. Cuộc tử nạn và sống lại của Chúa là nhịp cầu hòa giải, là nhịp cầu cảm thông đầu tiên, nối liền đất với trời, nối liền nhân loại với Thiên Chúa, nhờ nhịp cầu này mà chúng ta sẽ được Thiên Chúa thứ tha.
GỬI QUA SỰ CHẾT
Hậu quả của tội lỗi là sự chết. Cái chết phần xác và nhất là cái chết phần hồn. Từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, con người đã phải run sợ trước cái chết. Họ ra sức tìm kiếm viên thuốc trường sinh bất tử, để khỏi phải chết. Thế nhưng viên thuốc trường sinh ấy mãi mãi chỉ là một câu chuyện huyền thoại. Một giấc mơ chưa bao giờ trở thành sự thật. Cái chết là như một tiếng chuông gọi hồn. Nó sẽ vang lên bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu. Dù là vua chúa uy quyền thì cũng vẫn phải cúi đầu vâng theo. Không ai có thể chống cự lại nó. Cái chết là khung cửa hẹp đẩy chúng ta vào vùng tăm tối.
Thế nhưng Đức Kitô đã hiên ngang bước vào, đã chiến thắng anh dũng và đã chiếu dọi vào khung cửa tăm tối ấy một luồng ánh sáng huy hoàng. Kể từ nay với Đức Kitô Phục sinh, dù chúng ta vẫn còn phải chết, nhưng cái chết không còn là một trạm cuối cùng để chấm dứt mọi sự, nhưng là một bước đi dứt khoát, để nhờ đó chúng ta được tiến vào vùng ánh sáng, được tiến vào cõi sống đời đời. Vì chúng ta đã được ghép, đã được tháp vào Đức Kitô. Hạt giống của sự sống vĩnh cửu đã được gieo trồng nơi con người chúng ta. Từ đó những tháng ngày hiện tại sẽ ngập tràn hy vọng, bởi vì cuộc đời chúng ta đang được dấu ấn trong Thiên Chúa, nơi Đức Kitô, nó sẽ nẩy mầm, đâm bông và kết trái trong ngày sống lại, khi Đức Kitô ngự đến trong vinh quang.
Cái chết là một định luật chung của số kiếp con người. Cho dù sông có cạn, núi có mòn thì sự thật này vẫn không hề thay đổi, vì từ trước đến nay, nào có ai thoát khỏi cái chết. Nó không phải là một cái gì xa lạ, nhưng là một cái gì thật gần gũi. Nó không phải là một con dao cắt đứt cuộc đời chúng ta, nhưng là một yếu tố luôn ở sẵn trong chúng ta. Từ khi chúng ta bắt đầu sống, thì chúng ta cũng bắt đầu chết. Càng đi xa trong cuộc sống, thì chúng ta lại càng tiến gần tới cái chết. Nếu cuộc sống là một chấm hỏi, thì cái chết cũng là một chấm hỏi, một vấn đề làm cho chúng ta băn khoăn lo nghĩ. Cái chết là như một vị nữ hoàng quyền uy, mà mọi người chúng ta đều phải vâng phục.
Tuy nhiên như chúng ta đã thấy: có một người trên trái đất này đã chiến thắng, đã vượt qua cái uy quyền của sự chết. Người ấy chính là Đức Kitô. Thánh Phaolô đã diễn tả như sau: Đức Kitô đã sống lại từ trong kẻ chết. Ngài sẽ không còn chết nữa và sự chết không còn quyền hành gì trên Ngài nữa. Hỡi sự chết, chiến thắng của ngươi ở đâu ? Hỡi sự chết, sức mạnh của ngươi ở đâu ? Hãy cảm tạ Chúa, Đấng đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Kitô.
Kitô giáo là đạo của Tin Mừng. Hay nói một cách mạnh mẽ hơn, Kitô giáo đã trở thành một tin mừng cho nhân loại khi rao giảng sự chết của Đức Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự phục sinh của Ngài đã chiến thắng cái chết. Từ ngày Đức Kitô Phục sinh, chúng ta có quyền hy vọng và nói lên rằng: chúng ta sống là để chết và chúng ta chết là để được sống muôn đời. Cái thung lũng nước mắt chúng ta đang sống mới chỉ là một tiền đường, một khởi đầu cho tòa nhà vĩnh cửu, mà rồi chúng ta sẽ sống ở đó sau này. Ngày tháng hiện tại là hạt giống được gieo xuống đất để nảy sinh những hoa trái vĩnh cửu. Đó chính là sứ điệp mà Đức Kitô phục sinh đã gửi cho chúng ta.
Lạy Đức Kitô phục sinh,
Đã chiến thắng tội lỗi và sự chết,
Xin thương xót chúng con.

 

PS1-140: LỄ PHỤC SINH

Gioan 20, 1-19
Sáng sớm ngày nhứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-mon Phê-rô và người môn đệ được Đức Giê-su thương mến. Bà nói : "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu ?"
Ông Phê-rô và người môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-mon Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, nhưng cuốn lại xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh , Đức Giê-su phải chỗi dậy từ cõi chết.
 

Không ai yêu thương Chúa Giêsu nhiều bằng Maria Mađalena. Luca cho chúng ta biết đã có bảy: PS1-140

Không ai yêu thương Chúa Giêsu nhiều bằng Maria Mađalena. Luca cho chúng ta biết đã có bảy con quỷ bị đưổi ra khỏi bà. Điều Chúa Giêsu làm cho bà không ai làm được và bà không thể nào quên. Truyền thuyết vẫn cho rằng Maria này là tội nhân đáng ghê tởm mà Chúa Giêsu đã gọi, đã tha thứ và thanh tẩy. Bà đã phạm tội nhiều, và cũng yêu thương nhiều, tình yêu thương là tất cả những gì bà cần đem đến.
Tại Palestine có phong tục viếng mộ người thân ba ngày sau khi thi hài được đặt vào phần mộ. Họ tin linh hồn người chết còn bay lượn và chờ đợi chung quanh mộ luôn ba ngày, sau đó mới bỏ đi, vì lúc đó thi thể không còn nhận diện được nữa, bởi đã bắt đầu thối rữa. Các bạn thân của Chúa Giêsu không thể đến mộ Ngài vào ngày Saba, vì đi đường trong ngày Saba là vi phạm luật. Ngày Saba là ngày thứ bảy của chúng ta. Vậy Maria Mađalena đến mộ trước tiên vào ngày Chúa nhật. Bà đến thật sớm, từ ngữ "rạng đông" là "proi" chỉ canh chót trong bốn canh của đêm, từ ba giờ đến sáu giờ sáng. Lúc Maria đến mộ, trời còn mờ mờ, vì quá nóng lòng bà không thể trì hoãn hơn nữa.
Khi đến mộ, bà vô cùng ngạc nhiên. Mồ mả thời xưa thường không có cửa để đóng lại. Tại lối ra và mộ có một đường rãnh dưới mặt đất, trên đó có một tảng đá tròn như thể bánh xe, tảng đá được lăn vào chặn chỗ được xem như cửa mộ. Hơn nữa Matthêu còn cho chúng ta biết là nhà cầm quyền đã cho niêm phong cửa mộ để bảo đảm không có ai lăn tảng đá ấy đi (27,66). Maria kinh hoàng khi thấy tảng đá đó đã bị lăn ra. Có hai điều xuất hiện trong trí bà. Bà nghĩ là người Do thái đã lấy xác Chúa Giêsu đem đi nơi khác , vì họ chưa bằng lòng với việc giết Ngài trên thập giá mà còn muốn làm nhục thi thể Ngài thêm nữa. Cũng có một số người bất lương chuyên nghề đào mộ để ăn trộm xác. Có lẽ Maria nghĩ người ta đã lẻn vào trong mộ ăn cắp xác Chúa.
Đây là một tình cảnh mà bà Maria Mađalena cảm thấy mình không thể đối phó được nên chạy vào thành tìm Phêrô và Gioan. Maria là trường hợp tiêu biểu cho một người cứ tiếp tục yêu thương, cứ tiếp tục tin tưởng, dầu mình không hiểu được, đó là loại tình yêu thương, loại lòng tin tưởng đến cuối cùng sẽ được tôn vinh.
Câu truyện ở đây cho thấy Phêrô vẫn còn là vị lãnh tụ mà các Tông đồ thừa nhận. Bà Maria đến tìm ông, bất chấp việc ông đã chối Chúa. Viêc chối Chúa của Phêrô hẳn là được loan truyền ra khắp nơi nhanh chóng lắm. Phêrô vẫn còn là người cầm đấu. Chúng ta vẫn thường nói đến nhược điểm và tính tình bất thường của ông, nhưng hẳn nơi con người ấy phải có một cái gì ưu việt hơn mới khiến ông có thể đối mặt với các đồng bạn sau cái ngã tai hại khiến ông thành kẻ hèn nhát. Nơi con người ông hẳn phải có một điểm gì đó khiến những người kia sẵn sàng thừa nhận ông vẫn là lãnh tụ sau biến cố đó. Sự yếu đuối nhất thời của Phêrô không thể bịt mắt chúng ta trước sức mạnh đạo đức cùng tầm vóc của ông, và trước sự kiện ông là người sinh ra để lãnh đạo.
Vậy, lúc Maria Madalena tìm thấy Phêrô và Gioan, họ lập tức đến mộ. Họ liền chạy, chắc chắn Gioan trẻ hơn Phêrô vì ông còn sống đến cuối thế kỷ, nên ông đã vượt lên trước Phêrô trong cuộc chạy hết sức hồi hộp này. Khi đến mộ, Gioan nhìn vào nhưng không tiến vào trong. Với tính bồng bột điển hình, Phêrô không những nhìn vào mà còn tiến vào trong nữa. Lúc ấy, Phêrô chỉ ngạc nhiên vì thấy phần mộ trống rỗng, nhưng Gioan có nhiều ý nghĩ xuất hiện. Nếu ai đó lấy xác Chúa Giêsu đi, hoặc nếu những tên trộm đã ra tay, tại sao họ bỏ các vải liệm lại ? Bấy giờ, một điểm khác khiến Gioan chú ý : các đồ khâm liệm không bị vứt bừa bãi vô trật tự, nhưng đều nằm y nguyên tại chỗ chúng. Theo nguyên văn Hi lạp có nghĩa là vải liệm nằm tại chỗ phần thi thể đã nằm, chiếc khăn nằm tại chỗ đã đặt cái đầu. Đồ khăn không có vẻ gì bị tháo ra và dẹp đi, nhưng đều nằm đúng chỗ chúng vốn được sắp xếp, dường như chỉ có thân thể là biến mất khỏi đó, mọi vật để lại đúng nguyên chỗ của chúng. Khi thấy như vậy, Gioan biết ngay có truyện gì xảy ra và ông tin. Không phải những gì Gioan đã đọc trong Kinh Thánh thuyết phục ông tin Chúa Giêsu đã sống lại, nhưng chính những gì ông đang chứng kiến tận mắt.
Vai trò của tình yêu thương trong câu truyện này thật phi thường. Chính bà Maria , người yêu mến Chúa rất nhiều, đã đến nơi phần mộ Chúa trước nhất. Chính tông đồ Gioan, người môn đệ được Chúa yêu và yêu Chúa, là người đầu tiên tin vào sự sống lại. Điều này vẫn luôn luôn là vinh dự lớn của tông đồ Gioan. Ông là người đầu tiên hiểu và tin. Tình yêu thương đã cho đôi mắt ông đọc được các dấu hiệu, và tâm trí ông thấu hiểu sự việc.
Ở đây, chúng ta thấy qui luật quan trọng của đời sống. Bất luận việc gì, chúng ta không thể giải thích được tư tưởng của người khác, trừ phi giữa ta với họ có một mối dây ưu ái, cảm thương nhau. Không ai có thể diễn thuyết hay viết lại về sự thành công, cuộc đời, sự nghiệp của một người mà mình không có thiện cảm. Các thính giả có thể thấy rõ một nhạc sĩ có thiện cảm với nhà soạn nhạc như thế nào qua tác phẩm ông đang trình diễn. Tình yêu thương là nhà lý giải vĩ đại. Tình yêu thương có thể lĩnh hội ngay chân lý mà trí thức vẫn còn mò mẫm, phân vân. Tình yêu thương có thể biết ngay ý nghĩa sự việc mà sự nghiên cứu và tìm tòi chẳng nhìn thấy. Người ta kể, có một họa sĩ trẻ đem bức tranh ông vẽ Chúa Giêsu đến để Dorè cho ý kiến. Ông chần chừ, cuối cùng chỉ nói một câu : "Anh không yêu Ngài, bằng không anh đã vẽ Ngài đẹp hơn". Chúng ta chẳng bao giờ hiểu Chúa Giêsu hoặc giúp người khác hiểu được Ngài, trừ phi chúng ta dành hết lòng và trí mình cho Ngài.

 

PS1-141: LỄ PHỤC SINH

 Mt 28,1-10
Sau ngày Sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rang.
 

Đó là một kỷ nguyên hoàn toàn mới mẻ. Thời Phục Sinh được bố trí trong một tuần lễ mới, sau: PS1-141

Đó là một kỷ nguyên hoàn toàn mới mẻ. Thời Phục Sinh được bố trí trong một tuần lễ mới, sau ngày sabát ngày thứ nhất bắt đầu, chính là ngày của Chúa mà tất cả Kinh Thánh loan báo (Tv 109,5; Is 2,12; Gr 46,10; Ge 1,15 - 2,1-11 - 3,1; Dcr 4,1...)
Chúng ta hiểu các Chúa nhật của chúng ta có ý nghĩa gì ? Phải chăng chúng ta không luôn luôn có xu hướng làm cho chúng trở thành một ngày thứ bảy trong tuần, một ngày Sabát, một sự nghỉ ngơi sau một tuần làm việc đã hoàn tất ? Trong viễn cảnh này, chính ngày thứ Hai trở thành ngày thứ nhất! Vậy mà, đối với các Kitô hữu đầu tiên, Ngày Phục Sinh chính là ngày thứ nhất trong tuần, một ngày lễ và thờ phượng trước khi tiếp tục công việc chúa nhật Kitô giáo đích thực khánh thành và ăn lan sang các ngày trong tuần ngày Sabát là ngày Đóng lại một quá khứ (ngày thứ bảy).. Chúa nhật thì mở về tương lai.. Chúa nhật được Đức Giêsu Phục Sinh khánh thành sẽ kéo dài cho mãi đến tận thế (Mt 28,20). Đó là thời gian của Chúa, suốt toàn bộ lịch sử, ở Đó, Đức Giêsu đến tìm gặp những ai tìm kiếm một ý nghĩa cho cuộc đời mình ở bên kia cái chết. Chớ chi toàn bộ cuộc sống chúng ta, tầm thường, hằng ngày lam lũ, được định hướng theo Chúa nhật!
Bà Maria Mađalêna và một bà Maria khác đi viếng mộ Đức Giêsu.
   Bốn sách Tin Mừng đều đồng ý về điểm này, phát hiện đầu tiên về. sự kiện phục sinh đều do các người nữ thực hiện. Điều này thật sự cần thiết một cách mạnh mẽ, vì đúng hơn khi Đó là một điểm yếu trong tâm lý của thời đại Luca chú thích rằng những vị có trách nhiệm, những người chính thức, Nhóm Mười Một đã xem những lời chứng của các Phụ nữ như chuyện lẩm cẩm (Lc 24,11). Sự kiện này làm nổi bật hai sự thật: 1. Trong Giáo Hội, vai  trò của  những người sống mật thiết với Chúa là chính yếu và nhiều lúc đi  trước vai trò của những nhân vật chính thức... 2. Tác vụ của người phụ nữ trong Giáo Hội  làm chính yếu và trước hết là rao truyền Tia Mừng, loan báo Tin Mừng. Giáo hội sơ khai chú trọng nhiều đến sự kiện này khi chúng ta thấy những người đàn ông, cả những người được Đức Giêsu chọn lựa một cách rõ ràng, đã bỏ Người, chối Người, phản bội Người.. thì những người đàn  bà trong suốt cuộc Khổ Nhạn vẫn có mặt,  chăm chú, mến yêu. Các bà ở dưới chân trập giá (Mt 27,56) các bà ngồi trước mộ, khi muốn đợi chờ (Mt 27,61),các bà là những người đầu tiên, lúc rạng đông, ở chỗ ngôi mộ, phát hiện ra tin mừng (Mt 28,1), và chính các bà, là những người được Đức Giêsu sai đi như các tông đồ, cho các Tông Đồ, những tác giả Tin Mừng đầu tiên  về sự kiện phục sinh (Mt 28,7).
Tôi chiêm ngưỡng hai người đàn bà này, hai bà Maria, trong một buổi sáng sớm lễ Phục Sinh.
Chính hai bà này lát nữa sẽ nghe thấy tiếng chào đầu tiên của Đấng phục sinh. 
Và kia kìa thình lình đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa  từ  trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rối ngồi lên trên, diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết thấy Người, lính canh khiếp sơ, run rẩy chết ngất đi.
   Chúng ta chú ý đến hai tiếng "Và kia kìa!" "Kaiidou!".
 Thực tế, đây không phải là một liên hệ về ngữ pháp đơn giản. Vay mượn ở văn phong ngôn sứ (Ed 1,4; Is 25,9 - 62,11), lời lẽ này thực sự báo trước có một cái gì Đó sắp  sửa xảy ra thuộc lãnh vực Mạc khải, một cái gì rất cần thiết, và, nếu thuộc trật tự siêu nhiên, thì không thế biểu thị được. A kia kìa!.. Chính ở Đó! Mátthêu đã làm cho chúng ta quen với lối trình bày mỗi khi có một sự can thiệp ngoài tự nhiên. Khi Đức Kitô chịu phép rửa: "Và kìa! các tầng trời mở ra! và kìa! người ta nghe thấy có tiếng phát ra! (Mt 3,16-17). Khi Đức Giêsu biến hình: "Và kìa! ông Môisê và Êlia đang đàm đạo với Người! Và kìa! có tiếng đến từ trên đám mây!" (Mt 17,3-5). Khi Đức Giêsu sống lại: Và kìa! có một cơn địa chấn lớn lao!" (Mt 28,2) biến cố xảy đến là có tính lịch sử  không ai dự vào biến cố Đức Giêsu phục sinh, như nhiều bức tranh đã được người ta cố tình biểu thị, nhưng quả không đúng lúc. Sách Tin Mừng lại tỏ ra kín đáo tột độ, chứng cứ về tính xác thực của sự kiện biến cố có tính quá thần linh, quá dao động, quá ngoài tự nhiên, mà Mátthêu mặc cho nó tất cả mọi hình ảnh của  kinh Thánh để diễn rả ngày Quang lâm của Đức Giavê.
-"Địa chấn", động đất (Am 8,8 ; Is 2,10 ; Ge 2,10)
-"Thiên Thần của Gioan", dấu chỉ của cõi siêu nhiên (St 16,7; Xh 3,2; Đn 3,49)  ;         
-“Tia  chớp" (Ge 3,3; Xh 19,16; II Mb 10,30 ; Tv  76,19; Đn 10,6)
-"Y phục trắng” (Đn 7,9 ; Ed 9,2 ;. Kh l,13-4,4-10,30)
-“Sợ hãi", biểu tượng kính sợ thần thánh khi đến gần Thiên Chúa (Ge 1,15-2,1; Xh 10,2; Is 6,5; Đn 8,17-18;  Tv 113,7; Qx 6,22-13,22) ;
Mátthêu là người duy nhất trong các tác giả Tin Mừng, có thế nói, làm cho chúng ta dự phần vào sự kiện nấm mồ mở ra. Ông không chứng minh chính việc sống lại, hiển nhiên là không thế mô tả được.. nhưng ông mô tả, với những từ có ghi mã số, những sự kiện trên trời, thiên thần của Thiên Chúa từ trời xuống.. đã lăn hòn đá và ngồi lên trên, như thế muốn nói cho chúng ta, đừng tìm cách đậy lại ngôi mồ này.. các ông không thế làm gì chống trời được!
Thiên thần lên tiếng bảo cho các phụ nữ: “Này các bà, các bà đừng sợ tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị Đóng đinh người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người  đã nằm."
Thiên thần công bố sứ điệp Phục sinh, dấu hiệu cổ truyền về sự can thiệp của Thiên Chúa, người đưa tin chứng minh rằng việc Đức Giêsu sống lại trước hết không thuộc vào trật tự các hiện tượng hữu hình và có thế tưởng tượng được Ngôi mồ rỗng, tự nó, không còn là một bằng chứng Đó là một vấn đề, một dấu chỉ, người ta có thế đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau nhất  về chuyện này, lấy trộm tử thi, truyện bịa đặt, truyện man trá, ảo giác.. ngày nay vẫn thế, chúng ta đứng trước tất cả mọi thứ luận chứng và ý thức hệ giản lược vẫn dai dẳng từ khước vấn đề trong khi luôn luận đoán ngôi mộ như một ngôi mộ Đóng kín, không có sứ điệp, để cho con người đứng trước cái chết như trước kia.
Tại sao ngôi mộ này được mở ra và trống rỗng?
Câu trả lời có tính cách siêu nhiên: Chính Thiên thần đưa ra...
Đấng bị Đóng đinh đã trỗi đậy, Người không ở đây. Bây giờ Người ở đâu?.
Hãy mau về nói với các môn đệ Người thế này: "Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Galilê trước các ông, ở Đó các ông sẽ được thấy Người.. Đấy tôi xin nói cho các bà hay." 
Trước khi phát hiện ngôi mà trống. Miền Đất Hứa, để gặp gỡ Thiên Chúa theo cách được đặc ân,  khi Đó chính là Miền Giuđê, với trung tâm là Giêrusalem đây là một khoảng không mới được mở ra cho một cuộc gặp gỡ  khôn tả: Đó là Miền Galilê của các dân nước. Sự Phục Sinh chứng tỏ rằng không có biên cương, không có giới hạn, trước sự hiện điện có thế có của Thiên Chúa với con người. Và Mátthêu viết sách Tin Mừng của mình, bằng một cuộc hiện ra tại Galilê, nơi mà Chúa sẽ nói: Hãy đi khắp thế giới Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,19-20) đặc điểm riêng của người Kitô hữu, chính là không ở lại cố định trên ngôi mộ đã mở ra: Đức Giêsu ở chỗ khác.. người hiện diện cách khác, ở khắp nơi.  Bạn ở chỗ nào, bạn cũng có thế gặp gỡ Người bằng đức tin... người đi trước bạn. Hiển nhiên, chúng ta không đứng trước những hình ảnh không gian nữa: Đức Giêsu không ẩn núp đàng sau một bụi cây ở Galilê, trong khi chờ đời các bạn mình đến gặp lại chúng ta cần phải khước từ tất cả mọi thứ tưởng tượng vật chất hóa Thiên Chúa ở Đó ngay giữa cuộc đời chúng con, và chính Chúa làm cho chúng con sống, ôi lạy Đức Giêsu Kitô
Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ  Đức Giêsu hay.
Nhanh! Nhanh lên! Thiên thần đã nói.. nhanh! Nhanh lên! Họ chạy. Không còn thời gian để mất. Và cả hai bà Maria chạy suốt buổi sớm, run sợ và vui mừng.
Bỗng Đức Giêsu đến gặp các bà và nói: "Chào  chị em" .
Giờ đây chúng ta nhận rõ một từ dùng để báo hiệu của Mátthêu: chú ý! việc phi thường! xem kìa!” Kairêté", “anh em hãy vui mừng lên", "chào các bạn! Đức Giêsu có một sự thân mật tuyệt vời.     
Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân và bái lạy Người.  
Trước lần cuối cùng, Mátthêu cho chúng ta thấy một cử chỉ mà ông đã gieo rắc khắp cả cuộc đời Đức Giêsu: Các nhà chiêm tinh đã bái lạy  trước Hài nhi Giêsu (Mt 2,11), những người ốm bái lạy trước vị cứu tinh của mình (Mt 8,2-9,18-15,25), những người cầu xin bái lạy dưới chân Đức Giêsu để xin Người (Mt 18,26-20,20), hay, còn đơn giản hơn nhiều Người bái lạy trước mặt Người, như bị giữ chặt vì lòng tôn kính và thờ phượng, cử chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa (Mt 4,9-10 - 14,33 - 28,9-17) Nhiều bạn trẻ ngày nay, tìm thấy lại cử chỉ đẹp đẽ này khi người ta cúi mặt sát đất, hai đầu gối, hai tay và trán để sát đất Hồi giáo, Phật giáo cũng như tất cả các tôn giáo khác, đều biết đến cách bái lạy này Đó chính là một cử chỉ cầu nguyện mà chúng ta phải phát hiện lại nếu các bạn cố gắng, các bạn sẽ ngạc nhiên nhận thấy rằng toàn thân khi Đó giúp người ta dễ dàng thốt ra lời cầu nguyện thờ phụng: Con đang ở trước mặt Chúa, và Chúa là Chúa của con, và con muốn tuân phục hoàn toàn theo ý muốn của Chúa. 
Bấy giờ Đức Giêsu nói với các bà: "Chị em đừng sợ. Về báo cho anh em của Thầy để họ  đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở Đó”.
Đơn sơ cực độ. Không gì có thế so sánh được với những hình ảnh rạng rỡ, có tính chất Khải huyền, những hình ảnh đã bao trùm sự hiện ra của thiên thần. Đức Giêsu tỏ ra rất tự nhiên; người chỉ lặp lại lời các thiên thần đã nói với một chút tiểu tiết mà cần phải khám phá ra trong bản văn: Đức Giêsu gọi, hiện nay, các môn đệ của Người, các anh em của Người cho dù họ thiếu xót cho dù họ chối từ, bây giờ đây họ được nâng lên cao tới phẩm cách đầy yêu mến của người anh em.
 Kinh nghiệm sống lại chỉ có thế  được thực hiện trong Giáo Hội; những Người thân tín, những người đàn bà, nhờ trực giác riêng của chính mình, đã trông thấy đầu tiên nhưng các Nhóm Mười Một, các tông đồ sẽ là những chứng nhân đích thực.

 

PS1-142: BIẾN CỐ PHỤC SINH

CHÚA NHẬT PHỤC SINH
GỢI Ý GIẢNG
1. Tin là thế nào?
 

Đức tin của các tín hữu thường chỉ có một chiều kích, đó là chiều kích của trí óc: tin có Thiên Chúa: PS1-142

Đức tin của các tín hữu thường chỉ có một chiều kích, đó là chiều kích của trí óc: tin có Thiên Chúa; tin rằng Ngài đã tạo dựng mọi sự, Ngài biết mọi sự và điều hành mọi sự.
Đức tin của các tín hữu thường hướng tới đời sau: tin rằng mình sẽ được ở với Thiên Chúa sau khi từ giã cõi đời này.
Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay buộc ta phải điều  chỉnh lại đức tin ấy: phải có thêm chiều kích hiện sinh nữa: Không chỉ tin bằng trí óc mà còn bằng cả cuộc sống: Không chỉ nhắm tới cuộc sống mai sau mà phải nghĩ tới cuộc sống hiện tại . Thánh Phaolô dạy: “Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô.
2. Làm chứng thế nào?
Chỉ có các tông đồ là những “chứng nhân" đúng nghĩa: các ngài đã cùng sống với Đức Giêsu, đã thấy Ngài chết và thấy Ngài sống lại. Việc làm chứng của các ngài dựa trên điều các ngài đã thấy.
Nhưng lời chứng xuất phát từ cảm nghiệm cũng có giá trị, nhiều khi lại còn có sức thuyết phục hơn. Chúng ta có thể làm chứng cho Đức Giêsu phục sinh theo cách thứ hai này: sống làm sao cho người ta biết chúng ta đang sống một cuộc sống mới, chúng ta hạnh phúc, chúng ta tự do, chúng ta vui mừng trong cuộc sống mới đó, và trong bất cứ hoàn cảnh nào lòng chúng ta cũng tràn trề hy vọng. 
3. Tâm thức kiêu căng của kẻ chiến thắng .
Nhiều người trách rằng những người công giáo có tâm thức kiêu căng vì nghĩ rằng mình là kẻ chiến thắng, kẻ mạnh, kẻ giỏi hơn người... Tiếng pháp là "triomphalisme". Thực ra, chúng ta có tâm thức đó không? Và xét cho cùng, nên có tâm thức đó không?
Chúng ta xác tín rằng chúng ta có một chỗ dựa vô cùng vững chắc là Đức Giêsu phục sinh, và cũng xác tín rằng nếu có Ngài phù trợ thì chúng ta sẽ vượt thắng tất cả. Những câu đáp ca hôm nay trích từ Thánh vịnh 117 tuyên bố niềm xác tín đó: "Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa cao cả vô song. Tôi không phải chết nhưng còn sống mãi, để tường thuật những kỳ công Chúa làm".
Thế nhưng, chúng ta không nên kiêu căng, cũng không nên khinh chê những người khác không có được niềm xác tín của chúng ta. Đúng hơn, chúng ta cần làm chứng cho họ và chia sẻ với họ niềm xác tín ấy, một niềm xác tín vẫn giúp con người lạc quan hy vọng cho dù đang ở giữa bao khổ đau, thất bại, bệnh tật và thậm chí sắp chết.
4. Mộ mở toang
Gioan "cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó... ông đã thấy và đã tin.
Nhưng ông thấy gì? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin.
Ta hãy nghiêng mình xuống như Gioan. Ta thấy gì? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật.
Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Đức Giêsu, bạn ngài.
Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.
Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chấm hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.
Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên chỗi dậy. Phục sinh.
Ngôi mộ mở lòng mở trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Đức Giêsu đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục sinh báo trước.
 5. "Sao lại tìm người sống nơi chỗ kẻ chết?"
Một vài tuần trước lễ Phục sinh, người chồng đã chết vì một tai nạn đột ngột: đang khi ông đốt các nhánh cây vụn trong khu vườn của gia đình, ông đã sơ ý để lửa bắt vào mình.
Tai nạn đã làm cho bà vợ trở nên như người mất trí, một đàng vì nó đột ngột quá, đàng khác vì nó xảy ra tại chính khu vườn của gia đình. Bà không dám bước chân ra vườn. Thậm chí không dám nhìn về hướng đó nữa.
Rồi tới ngày lễ Phục sinh. Hai người hàng xóm đến thăm bà và rủ bà đi ra vườn. Mới nghe tới đó, bà co rúm người lại. Nhưng các bà hàng xóm tin rằng việc này sẽ có ích cho bà nên cứ khuyến khích. Thế là cả 3 ra vườn, đến chính nơi xảy ra tại nạn. Ngài vợ muốn quay lưng bỏ vào nhà. Nhưng đúng lúc ấy, một lời trong Tin Mừng bỗng loé lên trong đầu bà: "Sao lại tìm người sống nơi chỗ kẻ chết? Ngài không còn ở đây nữa. Ngài đã sống lại rồi? Bà nghĩ lời đó nói về chính người chồng của bà.
Thế là nỗi buồn sầu bấy lâu nay chắp cánh bay mất. Bà tìm lại được niềm vui.

 

PS1-143: NGÔI MỘ TRỐNG

CHÚA PHỤC SINH
Bài đọc: Cv 10,34.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,7- 9
 

Chúa Giêsu đã đi vào cõi chết của con người. Người ta đã chôn Ngài trong mộ đá. Nhưng rồi: PS1-143

Chúa Giêsu đã đi vào cõi chết của con người. Người ta đã chôn Ngài trong mộ đá. Nhưng rồi sáng ngày thứ nhất trong tuần, người ta không thấy xác Ngài ở đó nữa. Bà Maria Mađalêna ra thăm mộ đã hoảng ởt kêu lên: người ta đã lấy mất xác Thầy rồi!” Hai môn đệ Phêrô và Gioan chạy ra mộ kiểm chứng. Hai ông thấy ngôi mộ mở toang. Nhìn vào trong thấy khăn liệm còn đó, nhưng xác Ngài đã biến mất. Phêrô im lặng suy nghĩ, còn Gioan, người môn đệ Chúa yêu đã thấy và đã tin : "Đúng như Thầy đã nói, Thầy đã sông lại thật rồi".
NGÔI MỘ TRỐNG.
Tất cả khởi đầu với ngôi mộ trống. Thực là nghịch lý, Tin Mừng ởm nay dừng lại ở việc khám phá ra ngôi mộ mở toang và trống rỗng mà không dẫn ta đi đến cuối trình thuật, tới cuộc gặp gỡ của Maria Mađalêna với Đấng Phục Sinh và tới lời bà loan báo cho các môn đệ : "Tôi đã thấy Chúa, và Ngài đã nói với tôi". Dường như Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta lần bước trên con đường đức tin, theo vết chân những chứng nhân tiên khởi.
Trong trình thuật Tin Mừng ởm nay, rõ ràng tác giả đã sắp xếp một tiến trình đầy kịch tính.
Trước hết, rất nhiều di động : Maria chạy đến thấy ngôi mộ đã mở toang, rồi chạy đi tìm Simon-Phêrô và môn đệ kia". Simôn-Phêrô và môn đệ kia chạy đến mồ, môn đệ kia đến trước. Những cuộc chạy liên tục để tìm câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi không thể chịu nổi về ngôi mộ mở toang và trống rỗng.
Rồi đến những chỉ dẫn và giải thích sự kiện đã xảy ra ngày càng rõ rệt: Maria Mađalêna thấy tảng đá cửa mộ đã được lăn ra và kết luận rằng thi thể của Thầy mình đã bị lấy trộm. Môn đệ kia đến trước, nhưng không vào trong mồ trước Simon-Phêrô , "khi cúi xưống, ông thấy khăn liệm còn đó”.
Đến lượt Simon-Phêrô vào mộ, "nhìn khăn liệm nằm dó, và vải phủ đầu không dặt chung với khăn liệm, nhưng cuộn lại và để riêng ra". Tác giả không cho biết tâm trạng của Phêrô lúc đó ra sao, chỉ sau này, trong cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh và đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Phêrô mới hiểu lời Kinh Thánh. Thực vậy, tới lúc đó, Tin Mừng thứ tư nói : "Các môn đệ vẫn chưa tin rằng, theo lời Kinh Thánh, Đức Giêsu sẽ phục sinh từ trong cõi chết"
Cuối cùng, môn đệ kia cũng bước vào trong mộ, và Sách Thánh ghi nhận rằng, ngay phút đầu tiên, "ông đã thấy và ông đã tin” .
ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ÔNG TIN
Phêrô, người đầu tiên vào mộ, đã trở thành chứng nhân không chối cãi được trước mắt Giáo Hội sơ khai. Trái lại, môn đệ kia được trình bày ở đây như khuôn mẫu của người môn đệ, người môn đệ tuyệt hảo. ông, "người môn đệ mà Đức Giêsu yêu mến”, người trong bữa tiệc ly ngồi tựa đầu vào ngực Chúa, với trực giác của tình yêu, ông đã thấy ngôi mộ trống rỗng và vị trí sắp xếp ngay ngắn của khăn liệm, dấu chỉ của một thực tại khác, chỉ cảm nhận được trong đức tin : "ông đã thấy và ông đã tin ".
Với Gioan, thi thể của Thầy đã không bị lấy trộm đi như Maria Mađalêna tưhóg. Trộm cướp, trước khi lấy xác Thầy đi, làm gì có thời giờ cởi bỏ, xếp đặt khăn áo cẩn thận như thế ! Với ông, ngôi mộ trống và các khăn liệm được sắp xếp cẩn thận chứng tỏ rằng thi thể Đức Giêsu đã không bị lấy trộm nhưng là chính Đức Giêsu đã ra đi từ cõi chết. Khác với Lazarô khi bước ra còn mặc áo liệm, Đức Giêsu không cần gì đến y phục nữa, vì Ngài đã rời bỏ thế giới con người.
Gioan, một trong các nhân chứng đầu tiên đã thấy Đức Giêsu Phục Sinh, là khuôn mẫu cho những ai đón nhận lời chứng của ở : "tin dù không thấy".
NẾU CHÚA ĐÃ KHÔNG SỐNG LẠI
Người môn đệ Chúa yêu đã thấy và đã tin : Đúng như Thầy đã nói, Thầy đã sống sống lại thật rồi " . Nếu Chúa đã không sống lại thì mọi sự sẽ vẫn như cũ : sự sống có nghĩa lý gì, nếu bao giờ nó cũng kết liễu bằng cái chết? Con người có nghĩa là gì, nếu mọi cố gắng đạt hạnh phúc chỉ bảo tồn được ảo tường của hạnh phúc, hạnh phúc luôn bị cái chết đe dọa từ bên trong? Tình yêu có nghĩa là gì, nếu mọi tiếng sét ái tình sẽ tắt nghẽn trên nấm mộ phân ly? Sống mà giả quên cái chết hiện diện khắp nơi, phải chăng là một trò chơi không xứng với một con người? Trò chơi của cuộc sống ấy sẽ phi lý và thất vọng, nếu Chúa Kitô đã không sống lại.
Thánh Phao lô đã nói : Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì chúng ta là những người vô phúc nhất, ngu đần nhất, vì chúng ta đặt tin tưhóg vào một chuyện hão huyền. Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, thì chúng ta vẫn còn mang lội lỗi trong mình và không ai giải cứu được chúng la, không ai đem chúng ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, thì thập giá chỉ là dấu hiệu nhục nhã; đau khô của con người sẽ không có lối thoát và cái chết của con người sẽ là con đường cùng là ngõ cụt. (x. lCr. 15,12tt)
NHƯNG CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI THẬT.
Nhưng Chúa Kitô đã sống lại thật rồi. Ngài đã đem theo những đau khô của loài người qua bên kia bờ tuyệt vọng. Ngài đã làm cho những quằn quại đau thương của con người không còn là nỗi quần quại đau thương của người sắp bị cái chết tiêu diệt, nhưng là nỗi đau của người mẹ đang sinh con, nỗi đau sẽ phát sinh sự sống mới, một niềm vui mới. Ngài đã làm cho cuộc sống trần gioan không còn là một ảo tưhóg, nhưng là một phản ảnh và là con đường đưa tới cuộc sống vĩnh cửu.
Chúa Kitô đã sống lại. Từ nay thập giá không còn là dấu hiệu của nhục nhã, nhưng là dấu hiệu của vinh quang. Chúa Kitô đã sống lại, cái chết của con người không còn là đường cùng, không còn là ngõ cụt, vì ánh sáng của Chúa Kitô đã bừng lên trong đêm tối, đã chiếu sáng ở cuối đường hầm. Chúa Kitô đã sống lại, niềm hy vọng phục sinh của thân xác chúng ta không phải là hão huyền, vì Ngài đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Ngài đang điều khiển giòng lịch sử và khi Ngài xuất hiện trong vinh quang, thì chúng ta cũng được xuất hiện trong vinh quang với Ngài.
TRONG CHÚA KITÔ, MỌI NGƯỜI ĐÃ CHẾT VÀ ĐÃ SỐNG LẠI.
Chúa Kitô là người đã chiến thắng chung quyết trên đau khô, tội lỗi và sự chết. Trong Ngài, mỗi người và cả nhân loại, quá khứ, hiện tại và tương lai đều đã chết và đã sống lại. Không còn người nào, không còn một tội nào, không còn một giây phút nào của cuộc sống chúng ta thoát khỏi cuộc chiến thắng của Chúa Kitô. Không có gì nằm ở ngoài cuộc cứu độ mà Chúa Kitô đã vĩnh viễn hoàn thành. Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.
Chúa Kitô đã phục sinh. Ngài đang sống trong vinh quang của Chúa Cha. Chính vì chúng ta tin rằng chúng ta đã được phục sinh trong Chúa Kitô và sau này sẽ được phục sinh như Ngài, nên chúng ta đón nhận cuộc đời, kể cả đau khô và cái chết, một cách tích cực, chủ động và vui tươi. Bởi, đau khô không còn phi lý nữa. Thập giá đã được đưa vào vinh quang phục sinh. Không còn gì là tuyệt đối bi đát, tuyệt đối hư hỏng. Vì từ cái chết, Thiên Chúa đã làm phát sinh sự sống trong Chúa Kitô. Nếu chúng (a đã tin vào sự phục sinh, vào chiến thắng chung quyết của Chúa Kitô, thì chúng ta sẽ không còn lo âu, sợ hãi, buồn phiền; không còn sống ích kỷ hẹp hòi, mà dám từ bỏ, hy sinh, xả thân liều mạng vì sự sống và hạnh phúc của mọi người. Phục Sinh không chỉ nhằm ngày mai, nhầm bên kia thế giới, nhằm Thiên đàng đã được hứa ban. Phục sinh cũng nhằm và còn nhằm ngày nôm nay, nhằm chính cuộc sống cụ thể của chúng ta.
Chúng ta có thể thực hiện trước kỳ hạn lễ Vượt Qua của chúng ta trên Mtền đất chúng ta đang sống hằng ngày bằng cách sống cho tình yêu, chết vì tình yêu: yêu chúa, yêu anh em, yêu quê hương, yêu đồng bào. Đó phải là chương trình mới của cuộc sống Vượt qua của chúng ta ở đời này: chương trình Phục Sinh.

 

PS1-144: CHÚNG TA SẼ SỐNG LẠI.

Vào năm 1858, tước Dong là một làng Công giáo Trung Hoa bị bách hại. Một số đông tín hữu: PS1-144

Vào năm 1858, tước Dong là một làng Công giáo Trung Hoa bị bách hại. Một số đông tín hữu bị bắt. Trong số đó có một cậu con trai rất can đảm. Lý hình đem ra những lối tra tấn khủng khiếp: kìm nung đỏ, đinh nhọn, vạc dầu ... Có ý làm lung lạc đức tin tín hữu.
Người anh hùng tí hon tự nhiên cũng khiếp sợ. Nhưng cậu đã xin Chúa cho mình can đảm vác thập giá tới cùng. Khi quan xét xử và dụ dỗ cậu bước qua Thập giá để được tha thứ, và cho bổng lộc. Nhưng cậu vừa khóc vừa nói: “Tôi đã mất người cha yêu quí của tôi, bây giờ tôi chỉ còn Chúa Giêsu, Cha trên trời chăm sóc tôi, các ông lại muốn tôi chối bỏ người nữa sao ?”
“Tôi không sợ chết đâu, hãy giết tôi đi, tôi muốn ở với Chúa Giêsu trên trời!”
Cậu bị giết đang khi miệng còn lâm râm kêu cầu. Cậu trai thực là can đảm. Đấy là ý nghĩa mới cho đời sống hầu như không chứa dựng nổi của cậu. Tại sao cậu trai đó đã thắng vượt được mọi khổ hình chết vì Chúa ? Bởi vì cậu tin vào Chúa Giêsu, Ngài đã phục sinh, bởi vì cậu hy vọng rằng Chúa Giêsu sẽ giải thoát cậu khỏi cực khổ ở đời này, bởi vì Cậu tin rằng sự chết bị thất bại bởi Đấng đã hứa: “Ai sống và tin vào ta sẽ không chết bao giờ”.
Chúng ta tin chắc, chúng ta quả quyết rằng Chúa Kitô đã chỗi dậy khỏi mồ và chúng ta cũng sẽ chỗi dậy khỏi mồ.
Các bạn được nghe phát biểu: “Có hai điều chắc chắn trong đời sống, đó là những chết và nộp thuế”. Nhưng không đúng, sự chết thì chắc chắn, nhưng việc nộp thuế thì không, và một số người trốn thuế. Như sự chết là điều chắc chắn, còn có điều quan trọng hơn và chắc chắn, là mỗi người chúng ta sẽ sống lại khỏi mồ, như lời những người đã tìm thấy Chúa Kitô. Đã nói chuyện với Ngài và cả ăn uống với Ngài sau khi Ngài sống lại. Phải, có hai điều chắc chắn – sự chết và sự sống lại, sống lại trong cuộc sống vĩnh cửu mà Chúa Kitô hứa cho những ai theo Ngài.
Đó là lý do cho niềm vui mừng của chúng ta hôm nay, đó là lý do chúng ta mừng lễ với hoa nến rực rỡ, với đàn ca hân hoan.
Đó là  lý do một lát nữa đây chúng ta sẽ diễn tả niềm tin trong lời tuyên xưng. “Tôi tin... Ngày thứ ba người sống lại... Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Mỗi thánh lễ là một cử hành lễ Phục sinh. Mỗi thánh lễ là một cử hành sự sống lại của Chúa Kitô. Ôi Thánh lễ là một biến cố vui mừng. Chúa Kitô sống lại, tôi sẽ sống lại. Ngợi khen Chúa. Cầu chúc mỗi người các bạn Lễ Phục sinh vui mừng và chứa chan hồng phúc.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

PS1-145: HÃY VỀ BÁO TIN CHO CÁC MÔN ĐỆ

Mt 28. 1- 10
Anh chị em thân mến!
 

Chúng ta không thể nào suy niệm về sự Phục Sinh của Chúa mà không nghĩ đến sự tha thứ của: PS1-145

Chúng ta không thể nào suy niệm về sự Phục Sinh của Chúa mà không nghĩ đến sự tha thứ của Chúa. Lễ Phục Sinh cũng là lễ của sự tha thứ. Trước hết đó là Thiên Chúa đã tha thứ cho con người, cho tất cả mọi người qua cái chết và sự sống lại của Con Thiên Chúa. Sự tha thứ này đã phải mua bằng một giá rất đắt đó là giá máu của chính Con Thiên Chúa, và không có hy sinh của Chúa Giêsu Kitô trên Thập giá thì loài người chưa được ơn tha thứ của Thiên Chúa.. Sự tha thứ của Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta nhìn về thái độ sống của mình. Chúng ta là những người đã được hưởng ơn tha thứ, đến phiên chúng ta, chúng ta cũng hãy thực hiện lòng tha thứ ấy đối với tha nhân.
Thật vậy, trong cuộc sống nếu chúng ta chấp nhất tầm lỗi của anh chị em, hay chúng ta để lòng ghen ghét mà không tha thứ, lúc đó chúng ta không được an vui nhưng cảm thấy một cái gì đen tối luôn đè nặng trong tâm tư chúng ta. Đó chính là cái chết âm thầm làm mất đi sự an bình, mất đi sự vắng mặt của Thiên Chúa trong cuộc sống của mình. Nhưng một khi với ơn Chúa giúp, chúng ta mở rộng tâm hồn vượt thoát ra khỏi những bức tường đen tối của hận thù để tha thứ, dù với giá phải hy sinh, phải đau khổ thì lúc đó chúng ta mới cảm thấy được an vui, được bình an. Đó là sự sống lại của tâm hồn, và được Chúa sống lại và hiện diện ở giữa chúng ta.
Anh chị em thân mến!
Thế giới không có Thiên Chúa là một thế giới của lo âu của hận thù, của một niềm vui gượng gạo, của sự giả tạo, của một thế giới vô nghĩa và người ta muốn trám lỗ trống vô nghĩa đó bằng đủ mọi thứ của vật chất, bằng đủ mọi thứ thần tượng do con người tạo nên.
Nhưng, đứng trước một thế giới vô nghĩa ấy, Thiên Chúa đã có sáng kiến thực hiện sự tha thứ cho thế giới, cho toàn thể nhân loại bằng chính cái chết và sự Phục Sinh của Con Một Ngài. Thiên Chúa tha thứ để rồi thế giới con người gặp lại niềm vui an bình, vì có Chúa hiện diện ở giữa thế giới con người. Nhưng nếu trong tâm hồn chúng ta mà Thiên Chúa đã bị giết chết, đã vắng mặt vì những tội lỗi của chúng ta, thì chúng ta sẽ không có được sự bình an.
Vậy chúng ta hãy xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta đừng để lễ Phục Sinh này qua đi mà chúng ta chưa được sống lại với Chúa. Sống lại, vì chúng ta đã được Chúa tha thứ, sống lại vì chúng ta cũng đã tha thứ cho anh chị em xúc phạm đến chúng ta. Và lễ Phục Sinh cũng là lễ của niềm tin, của đức tin vào Chúa Kitô Phục Sinh, do đó Chúa Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta tin, chấp nhận vào tình yêu Ngài.
Anh chị em thân mến!
Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan kể lại biến cố Maria Madalena đến mồ mà không nhìn thấy Chúa Phục Sinh, nhưng thấy những dấu chỉ, và dấu chỉ ấy đã làm cho bà ngạc nhiên, đó là điều làm cho bà chạy vội vàng về để báo tin cho Simon Phêrô và Gioan. Khi nhận được tin ấy, Phêrô và Gioan cả hai cùng chạy đến mồ, nhưng không nhìn thấy Chúa Phục Sinh mà chỉ nhìn thấy những dầu chỉ "mồ trống". Kế đó, tác giả lại viết: "ông thấy và ông tin". Vì chưng ông đã hiểu rằng, theo Kinh Thánh thì Ngài phải sống lại từ cõi chết. Đứng trước mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giêsu, chúng ta hãy kiểm điểm lại đức tin của mình đang ở mức độ nào? Xin Chúa ban cho chúng ta được mở mắt tâm hồn, được nhìn thấy những dấu chỉ của Chúa trong đời sống của mình, trong mọi biến cố to nhỏ, để rồi chúng ta cũng có thể chấp nhận thưa: "Lạy Chúa, con tin. Lạy Chúa là Chúa Trời con, con tin Chúa đã sống lại để cứu chuộc chúng con". Xin Chúa gìn giữ mỗi người chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

 

PS1-146: SÁNG CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Các bài Kinh Thánh của Thánh Lễ hôm nay cho thấy cùng với Đức Giê-su Phục Sinh, một thời: PS1-146

Các bài Kinh Thánh của Thánh Lễ hôm nay cho thấy cùng với Đức Giê-su Phục Sinh, một thời mới đã khởi đầu. Nói một cách cụ thể hơn, cùng với sự xuất hiện của một con người mới và lý tưởng là Đức Giê-su sống tột mức cho tình mến, thì một lớp người mới đã xuất hiện.
Lớp người mới đó trước hết được tiêu biểu bởi chị Ma-ri-a Ma-đa-lê-na: đó là con người “đi ra mồ từ sáng sớm, khi trời còn tối” nghĩa là tâm tình và động thái hướng tất cả về mộ Đức Giê-su, tức là về Đức Giê-su trong mầu nhiệm Thương Khó, hủy mình ra không, từ bỏ bản thân vì yêu mến. Đó là con người sống khác và sống ngược với đám đông nhân loại còn đang chìm sâu trong giấc ngủ, theo nghĩa là chìm đắm trong cảnh tối tăm, trong việc kiếm tìm hay say mê những thực tại thế tục.
Lớp người mới đó cũng được tiêu biểu bởi các Tông Đồ, những kẻ từ nay canh cánh nghĩ tưởng về Thầy đã khuất và vội vã vì những chuyện liên quan đến Thầy Giê-su của mình. Vừa được Ma-ri-a Ma-đa-lê-na báo tin, pro và Gio-an bỏ mọi sự khác, tức tốc chạy đến mộ, với tất cả tình mến dành cho Thầy, với một tâm hồn sẵn sàng để tin. Để rồi nhờ thêm những lần được Thầy hiện ra sau đó, những lần – như Thánh pro làm chứng trong Bài Đọc 1 – đích thân được cùng ăn cùng uống với Đức Giê-su, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại, các ngài sẽ không chỉ nguyên rong ruổi khắp nơi rao giảng về Đức Ki-tô Phục Sinh, mà còn bẻ ngoặt hẳn đời sống sang hướng mới: từ bỏ mọi sự, sống cho Chúa, hy sinh đến cả mạng sống mình vì Chúa. Từ đây, các ngài thật sự trở thành những con người “đã sống lại với Đức Ki-tô trong đời sống mới, đã không còn nghĩ đến những sự dưới đất, mà chỉ kiếm tìm những sự trên trời” như Thánh plo nói trong Thư gửi tín hữu Cô-lô-xê ( Bài Đọc 2 ). Từ các ngài, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, một Giáo Hội được khai sinh, gồm những con người sống đời sống mới, trong đó có chúng ta.
Trong niềm vui lớn lao của Ngày Phục Sinh, chúng ta ngợi khen Chúa đã đến mở ra một kỷ nguyên mới giữa trần gian. Chúng ta quyết tâm hướng về Chúa nhiều hơn, dành cho Chúa một chỗ quan trọng trong cuộc sống mình, noi gương chị Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, và chuyên chăm đào sâu Kinh Thánh, để ngày càng hiểu biết về Chúa mình, và nên giống các Tông Đồ và lớp tín hữu thời đầu, sống nên những con người tích cực của thời đại mới, thời đại cứu rỗi.
LM. AN-TÔN TRẦN THẾ PHIỆT, CSSR
MÙA CHAY 2001

 

PS1-147: BIẾN CỐ PHỤC SINH

Sợi chỉ đỏ:
B ái đọc I : Các tông đồ lâm chứng việc Đức Giêsu sống lại.
Bài đọc II : Tín hữu là những người cùng sống lại . với Đức Giêsu trong cuộc sống mới. .
- Bài Tin Mừng : Ngôi mộ trống là dấu chỉ Đức . Giêsu đã sống lại từ cõi chết.
Minh họa.
- Mille images 72 B .
- "Chúa đã sống lại thật rồi  (Lc 24,34)
 
  1. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Chúa đã sống lại !" Thánh phêrô, Thánh Gian, Thánh Phaolô và tất cả các tông đồ khác đều hô: PS1-147

"Chúa đã sống lại !" Thánh phêrô, Thánh Gian, Thánh Phaolô và tất cả các tông đồ khác đều hô vang Tin Mừng ấy. Tiếng hô ấy vẫn còn vang mãi trong Giáo Hội sơ khai và các thế hệ Kitô hữu, để biểu lộ niềm tin của Giáo Hội và kêu mời mọi người hy vọng. Hy vọng, bởi vì cho dù mọi vẻ bề ngoài có thể ngược hẳn lại, cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn, cuộc đời vẫn có hồi kết thúc nhưng đau khổ không phải là số phận, cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng. .
Nếu Đức Giêsu đã trở thành Đấng hằng sống, và nếu chúng ta đã được Ngài ban cho sự sống đời đời, thì tại sao chúng ta còn hoang mang, sợ sệt, chán nản trước những gian khổ đời này ? 
Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta vững tin vào việc Chúa sống lại, và làm chứng cho Tin Mừng của Ngài trong thế giới hôm nay.
 
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Thực ra chúng ta chưa thực sự tin tưởng vào việc sống lại, cho nên chúng ta sống như mục đích của đời mình chỉ là dưới thế này. Chúng ta thường chán nản ngã lòng khi gặp khó khăn, thất bại.
Chúng ta cm biết sống cho mình chứ không quan tâm làm chứng về Chúa cho người khác.
 
III. LỜI CHÚA
 Bài đọc I : Cv 0,34.37-43
Lời rao giảng này của Phêrô được các nhà Thánh Kinh gọi là Kerygma, tức là bài giảng truyền giáo. Lần đầu tiên ngõ lời với một nhóm thính giả mới, các tông đồ luôn giảng Kerygma.
Mỗi Kerygma, cho dù có khác nhau trong những chi tiết phụ, nhưng luôn gồm những yếu tố chính về Đức Giêsu :
a/ Tóm tắt cuộc sống trần thế của Đức Giêsu ;
b/ Cái chết của Ngài ;
c/ Việc Ngài sống lại ;
d/ Kêu gọi tin vào Ngài để được cứu độ.
Tin vào nội dung Kerygma là bước đầu tiên và là điều quan trọng cơ bản để trở thành Kitô hữu.
2. ĐÁD ca. : Ty  7
Thánh vịnh này là tâm tình của người đã cám nghiệm được tình thương và quyền năng của Thiên Chúa . Quyền năng và tình thương ấy đã chiến thắng tất cả, cho dù là khổ đau, là chết chóc. Tác giả muốn sống mãi để có thể ca tụng Thiên Chúa đến muôn đời.
3. Bài đọc II : Cl 3,-4
Thánh Phaolô dạy cách sống của người thực sự tin vào việc Đức Giêsu sống lại:
- Kitô hữu là người đã chết với Đức Giêsu và sống lại với Ngài.
Hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới. Hãy hướng lòng trí về những gì thuộc về thượng giới. 4. Bài Tin Mừng : Ga 20,-9  Những chi tiết quan trọng nhất của bài tường thuật l này là ngôi mồ trố lg và 3 phản ứng trước lĩiện tượng đy .
 Ma ria Mađalêna nghĩ rằng "Người ta đã lấy mất . Chúa rồi". Bà hoang mang chạy đi báo tin chúng hành"   ấy cho các tông dỗ khác. Phải chờ đến khi Đức Giêsu  ( phục sinh hiện ra với bà thì bà mới tin Ngài sống lại. Luôn luôn  Phêrô nhìn thấy những hiện tưởng nhưng chưa có  phản ứng nào cả      .      .
- "Người môn đệ kia" khi thấy thì nhớ lại những lời  Đức Giêsu đã nói trước nên dã tin ngay. l
 
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Tin là thế nào?
Đức tin của các tín hữu thường chỉ có một chiều kích, đó là chiều kích của trí óc: tin có Thiên Chúa; tin rằng Ngài đã tạo dựng mọi sự, Ngài biết mọi sự và điều hành mọi sự.
Đức tin của các tín hữu thường hướng tới đời sau: tin rằng mình sẽ được ở với Thiên Chúa sau khi từ giã cõi đời này.
Lời Chúa trong Thánh lễ hôm nay buộc ta phải điều  chỉnh lại đức tin ấy: phải có thêm chiều kích hiện sinh nữa: Không chỉ tin bằng trí óc mà còn bằng cả cuộc sống: Không chỉ nhắm tới cuộc sống mai sau mà phải nghĩ tới cuộc sống hiện tại . Thánh Phaolô dạy: “Sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô.
2. Làm chứng thế nào?
Chỉ có các tông đồ là những “chứng nhân" đúng nghĩa: các ngài đã cùng sống với Đức Giêsu, đã thấy Ngài chết và thấy Ngài sống lại. Việc làm chứng của các ngài dựa trên điều các ngài đã thấy.
Nhưng lời chứng xuất phát từ cảm nghiệm cũng có giá trị, nhiều khi lại còn có sức thuyết phục hơn. Chúng ta có thể làm chứng cho Đức Giêsu phục sinh theo cách thứ hai này: sống làm sao cho người ta biết chúng ta đang sống một cuộc sống mới, chúng ta hạnh phúc, chúng ta tự do, chúng ta vui mừng trong cuộc sống mới đó, và trong bất cứ hoàn cảnh nào lòng chúng ta cũng tràn trề hy vọng. 
3. Tâm thức kiêu căng của kẻ chiến thắng .
Nhiều người trách rằng những người công giáo có tâm thức kiêu căng vì nghĩ rằng mình là kẻ chiến thắng, kẻ mạnh, kẻ giỏi hơn người... Tiếng pháp là "triomphalisme". Thực ra, chúng ta có tâm thức đó không? Và xét cho cùng, nên có tâm thức đó không?
Chúng ta xác tín rằng chúng ta có một chỗ dựa vô cùng vững chắc là Đức Giêsu phục sinh, và cũng xác tín rằng nếu có Ngài phù trợ thì chúng ta sẽ vượt thắng tất cả. Những câu đáp ca hôm nay trích từ Thánh vịnh 117 tuyên bố niềm xác tín đó: "Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa cao cả vô song. Tôi không phải chết nhưng còn sống mãi, để tường thuật những kỳ công Chúa làm".
Thế nhưng, chúng ta không nên kiêu căng, cũng không nên khinh chê những người khác không có được niềm xác tín của chúng ta. Đúng hơn, chúng ta cần làm chứng cho họ và chia sẻ với họ niềm xác tín ấy, một niềm xác tín vẫn giúp con người lạc quan hy vọng cho dù đang ở giữa bao khổ đau, thất bại, bệnh tật và thậm chí sắp chết.
4. Mộ mở toang
Gioan "cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó... ông đã thấy và đã tin.
Nhưng ông thấy gì? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin.
Ta hãy nghiêng mình xuống như Gioan. Ta thấy gì? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật.
Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Đức Giêsu, bạn ngài.
Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.
Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chấm hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.
Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên chỗi dậy. Phục sinh.
Ngôi mộ mở lòng mở trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Đức Giêsu đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục sinh báo trước.
 5. "Sao lại tìm người sống nơi chỗ kẻ chết?"
Một vài tuần trước lễ Phục sinh, người chồng đã chết vì một tai nạn đột ngột: đang khi ông đốt các nhánh cây vụn trong khu vườn của gia đình, ông đã sơ ý để lửa bắt vào mình.
Tai nạn đã làm cho bà vợ trở nên như người mất trí, một đàng vì nó đột ngột quá, đàng khác vì nó xảy ra tại chính khu vườn của gia đình. Bà không dám bước chân ra vườn. Thậm chí không dám nhìn về hướng đó nữa.
Rồi tới ngày lễ Phục sinh. Hai người hàng xóm đến thăm bà và rủ bà đi ra vườn. Mới nghe tới đó, bà co rúm người lại. Nhưng các bà hàng xóm tin rằng việc này sẽ có ích cho bà nên cứ khuyến khích. Thế là cả 3 ra vườn, đến chính nơi xảy ra tại nạn. Ngài vợ muốn quay lưng bỏ vào nhà. Nhưng đúng lúc ấy, một lời trong Tin Mừng bỗng loé lên trong đầu bà: "Sao lại tìm người sống nơi chỗ kẻ chết? Ngài không còn ở đây nữa. Ngài đã sống lại rồi? Bà nghĩ lời đó nói về chính người chồng của bà.
Thế là nỗi buồn sầu bấy lâu nay chắp cánh bay mất. Bà tìm lại được niềm vui.

 

PS1-148: CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI

“Chúng tôi là chứng nhân”
 

Phúc âm hôm nay kể rằng: Sáng hôm ấy, một buồi sáng như hôm nay, có ba người tất tả chạy ra: PS1-148

Phúc âm hôm nay kể rằng: Sáng hôm ấy, một buồi sáng như hôm nay, có ba người tất tả chạy ra mộ, bóng họ trải dài trên đường đất. Một người đàn bà là Madelêna và hai người đàn ông là Phêrô và Gioan. Họ chạy đi đâu ? Họ chạy ra một ngôi mộ. Họ đi tìm một xác chết hình ảnh ngàn đời của nhân loại liên tiếp đi ra phần mộ, đi vào cõi chết. Ngươi là bụi tro và sẽ hoàn về tro bụi.
Nhưng hôm nay một cái gì lớn lao vĩ đại đã xảy ra: Họ đi tìm một người chết nhưng họ gặp một người sống, một người đã chết nhưng nay đã phục sinh sống lại. Họ bước vào bên trong phần mộ, khăn liệm xác còn đó, dây băng nhỏ còn đây. Chiếc khăn che đầu để riêng một chỗ. Nhưng người chết không còn đó nữa. Và họ đã tin: Chúa đã sống lại. Ngài đã toàn thắng sự chết như lời Ngài đã báo trước: "Ta sẽ phải lên Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các Kỳ Lão Luật sĩ và thượng tế, phải bị giết và ngài thứ ba thì sống lại” (Mt 16, 21).
Đó là niềm Tin của Phêrô và của các Tông đồ. Đó là niềm Tin của Giáo hội và của chúng ta hết thảy.
Sau ngày hiện xuống , Phêro con người nhát đảm đã chối Thầy ba lần đó, đã đứng ra trước công chúng và tuyên bố. “Người là Đấng người ta phải giết treo lên Thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho người được sống lai... Chúng tôi  chứng nhân”. Ông và các bạn đã được tuyển chọn, đã theo Người "từ ban đầu ở Galilêa” và nay Thiên Chúa truyền cho họ phải rao giảng cho toàn dân và làm chứng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Vậy mầu nhiệm Phục sinh là mầu nhiệm căn bản của Đức Tin chúng ta. Chúng ta là tín hữu, là người có Đức Tin vì chúng ta tin rằng Chúa đã chết nhưng Ngài đã toàn thắng sự chết: Ngài đã sống lại.
Và Thánh Phaolô nói: "Nếu Chúa Gies5u không sống lại thì Đức Tin của chúng ta sẽ ra huyền ảo và vô ích, và chúng ta vẫn còn trong tội lỗi” (ICor 15,17). Nếu Chúa không sống lại thì đạo thánh chúng ta đã tan rã như mây khói.
Vậy ý tưởng thứ nhất trong ngày vui mừng hôm nay là chúng ta hãy cám ơn Chúa vì đã phục sinh sống lại, đã ban cho ta niềm tin và chúa là Thiên Chúa, có quyền năng trên sự sống và sự chết.
Thứ hai, sự sống lại của Chúa Ki tô là niềm hy vọng cho chúng ta. Xưa nay, người ta đã thất vọng trước sự chết không thuốc nào có thể chữa lành, không phát minh nào có thể chận đứng được Văn hào hiện sinh vô thần Jean-paul Sartres nói: “Sự chết là một sự vô nghĩa lý", cũng như ngày xưa khi Phaolô đến công trường Nhã điển, giảng về sự sống lại, đã bị nhạo cưới chế diễu.
Nhưng đối với chúng ta, sự Phục sinh sống lại Không những là một niềm tin mà còn là một niềm hy vọng. Chúa đã đi qua con đường Thánh Giá để đến vinh quang khải hoàn sống lại thì không gian lao đau khổ nào có thể làm cho chúng ta mất niềm hy vọng.
Vào năm thứ nhất cuộc Cách mạng cộng sản tại Mạc tư Khoa, ông Lounatcharobi, bộ trưởng, đã thuyết minh vè thuyết duy vật vô thần. Ông kịch liệt đả kích sự Chúa sống lại. Trong cuộc hội thảo tiếp theo sau, có một người xin phát biểu và ông bộ trưởng cho phép được nói 5 phút. Người ấy cám ơn và nói: quá đủ rồi. Ông đứng lên và dõng dạc nói: Hỡi anh em, Chúa Giêsu đã sống lại-Resurtexit! Thế là trong cả hội trường như có một luồng điện chuyển qua. Mọi người đứng dậy và hô to: Phải, Chúa đã sống lại. Người phát biểu đó là một người trẻ nói tiếp: Xin cám ơn anh em và tôi xin hết lời. Công an đến còng tay dẫn đi. Anh là một linh mục trong bộ áo công nhân.
Chúa đã sống lại là rùềm trông cậy của chúng ta. Chúa đã sống lại thì chúng ta cũng sẽ sống lại như Chúa. "Khi Chúa Kitô là sự sống anh sẽ xuất hiện với người trong vinh quang”(Col 3,4)

 

PS1-149: MÙA PHỤC SINH

Y nghĩa tổng quát
 

Với giờ Canh thức Vượt qua, chúng ta đã cử hành mầu nhiệm Phục sinh cách trọng thể và chính: PS1-149

Với giờ Canh thức Vượt qua, chúng ta đã cử hành mầu nhiệm Phục sinh cách trọng thể và chính thức bước vào Mùa Phục sinh.
Như đã biết, Phục sinh là ngày lễ lớn nhất và duy nhất trong thời ởi thánh sơ khai, và Hội thánh cử hành mầu nhiệm này từ Chúa nhật này nối tiếp Chúa nhật khác. Chính sự kiện Chúa Giêsu sống lại vào "ngày thứ nhất trong tuần" đã thúc đẩy ởi thánh thay đổi ngày nghỉ lễ từ thứ Bảy sang Chúa nhật, được gọi là "ngày của Chúa" (Cv 20,7; 1Co 16,2; Kh 1,l0)
Mầu nhiệm Phục sinh tiếp tục là tâm điểm của Năm Phụng vụ, và là nền tảng cho toàn bộ đời sống đức tin của Kitô hữu. Lịch sử cứu độ nhân loại sẽ mãi mãi được chia thành hai giai đoạn: trước và sau biến cố phục sinh của Chúa Kitô. Cũng vậy, lịch sử cứu độ mỗi cá nhân cũng được chia thành hai giai đoạn: trước và sau khi lãnh nhậntích Thánh tẩy, đón nhận sự sống mới trong Thánh Thần.
Vì thế không lạ gì khi ởi thánh cử hành lễ Phục sinh kéo dài 7 tuần lễ cho đến lễ Ngũ tuần, tức là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Thời gioan 7 tuần lễ này được gọi là "Mùa Phục sinh ". Vào ngày thứ 40 sau lễ Phục sinh, Hội thánh cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời; tuy nhiên tại Việt Nam, vì hoàn cảnh riêng, chúng ta thường cử hành lễ này vào chúa nhật thứ 7 sau Phục sinh, tức là Chúa nhật trước lễ Hiện xuống.
Các bài đọc Chúa nhật trong mùa Phục sinh
 Trong tất cả các chúa nhật mùa Phục sinh, bài đọc I được rút từ sách Công vụ ; qua đó Hội thánh muốn nhìn lại đời sống của ởi thánh sơ khai như nguồn gợi hứng cho đời sống Kitô hữu . Dối với các Kitô hữu sơ khai, sự phục sinh của Chúa Kitô là một biến cố còn rất mới mẻ và sống động trong tâm trí, và biến cố ấy thúc đẩy người tín hữu sống đời Kitô hữu cách mãnh liệt. Nhìn lại đời sống của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai là phương thế rất tốt cho ta hâm nóng niềm tin của mình.
Ngoại trừ lễ Phục sinh, Thăng thiên và Hiện xuống, còn trong các chúa nhật khác của mùa Phục sinh, bài đọc I thường được sắp xếp như sau :
Năm A : thư thứ nhất của thánh Phêrô
Năm B : thư thứ nhất của thánh Gioan
Năm C : Sách Khải huyền.
Thánh Phêrô và Phao lô là những chứng nhân đặc biệt của biến cố Phục sinh. Các ngài viết cho các Kitô hữu sống vào khôảng từ 30-60 năm sau biến cố Phục sinh. Đây một thế hệ Kitô hữu mới, chưa từng gặp Chúa Giêsu khi Người còn tại thế; hơn thế nữa ở lại đang phải chịu những cơn bách hại. Vì thế, những lá thư này cũng rất bổ ích cho chúng ta.
Còn các bài đọc được rút từ sách Khải huyền là những lời thánh Gioan an ủi và khích lệ các tín hữu phải gặp thử thách, và cũng là lời khích lệ chúng ta.
Trong các chúa nhật mùa Phục sinh, các bài Tin Mừng chủ yếu được rút từ Tin Mừng thứ tư, tường thuật những lần hiện ra khác nhau của  Đấng Phục sinh với các môn đệ. Những bài tường thuật này vừa là nền tảng cho niềm tin Kitô giáo vào mầu nhiệm Phục sinh, vừa dẫn đưa chúng ta vào lối sống của những con người đã được sống lại với Chúa.
Riêng Chúa nhật thứ tư được gọi là Chúa nhật  "Chúa chăn chiên lành" với bài Tin Mừng được rút từ Ga 10 cho cả ba năm. Đây là dịp để Hội thánh nhắc nhớ ta: Mục tử Giêsu vẫn tiếp tục hướng dẫn và chăm sóc đoàn chiên của Người, nhưng lại qua những con người được tuyển chọn đệ họ phục vụ Dân của Người. Chính vì thế, ngày này cũng là ngày cầu nguyện cho ơn Thiên triệu.
Kết luận
Mỗi Chúa nhật trong suốt năm Phụng vụ, cách riêng trong Mùa Phục sinh, phải được coi là những cơ hội đặc biệt cho chúng ta gặp gỡ Đấng Phục sinh đang ở giữa cộng đoàn. Người đến và dành cho ta mối quan tâm và tình yêu như đã dành cho các môn đệ ngày xưa trong những lần hiện ra với các ông. Người đến đệ " nói với chúng ta về Nước Thiên Chúa" (Cv 1,3).
Vì thế lời cầu nguyện của ta phải là lời khẩn nài của hai môn đệ Emmaus : "Xin Thầy ở lại với chúng tôi vì trời đã xế chiều " (Lc 24,29). Ước gì cả đời ta là lễ Phục sinh liên lỉ, vì có Chúa phục sinh ho với ta và ta được bước đi trong đời  sống mới.

 

PS1-150: LỄ VỌNG PHỤC SINH

Matthêu 28,1-10
Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a , đi viếng mộ. Và kìa, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết.Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy và hóa ra như chết.Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ :"Phần các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su , Đấng bị đóng đinh. Người không còn ở đây, vì Người đã chỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay." Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.
Và kìa Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : "Chào chị em !" Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. Bấy giờ Đức Giê-su nói với các bà : "Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê . Họ sẽ được thấy Thầy ở đó."
 

Vào thượng tuần tháng giêng năm 1964, tại tiểu bang Casmir miền bắc Ấn độ, đã xảy ra cuộc: PS1-150

Vào thượng tuần tháng giêng năm 1964, tại tiểu bang Casmir miền bắc Ấn độ, đã xảy ra cuộc náo động đưa tới cái chết cho hàng trăm người mà truy nguyên chỉ vì một sợi tóc ! Trong một ngôi đền Hồi giáo tại thủ phủ Xitrinaga, có một chai thủy tinh bọc bạc, đặt trong một hộp bọc ba lớp gỗ quí, chiếc hộp ấy để trong một phòng kín hơn hết trong bốn phòng kín, ngày đêm luôn luôn có bốn người canh gác. Trong chiếc chai thủy tinh bọc bạc kia có đựng một sợi tóc nâu mà người ta tin là tóc của giáo chủ Mahômét. Vào những ngày đại lễ, người ta đem sợi tóc nâu ấy ra, buộc vào một sợi dây, choàng quanh thắt lưng của một trong năm anh em họ Banđê, là những người được xem như kẻ duy nhất có quyền giữ gìn thánh vật. Người ta đem sợi tóc ấy ra giơ cao lên cho những thiện nam tín nữ khắp nơi đến chiêm bái. Nhưng rủi thay, đầu năm nay, khi hàng vạn khách hành hương đến Xitrinaga thì mới hay là sợi râu thánh ấy đã bị đánh cắp. Tất cả các nơi Hồi giáo đều treo cờ tang và các tín đồ khóc lóc thảm thiết. Sau đó thái độ buồn bã biến thành căm thù, họ xông vào nhà những người Ấn giáo để cướp phá và giết chóc. Cảnh náo động ấy nan đến các đô thị khác của Ấn độ như Bombay, Calcutta... làm cho hàng trăm người chết. Chính phủ Ấn phải phái những thám tử giỏi nhất đến điều tra, và rốt cuộc đã tìm lại được sợi râu thánh. Bấy giờ cảnh tang chế biến thành cảnh liên hoan, người ta reo hò nhảy múa ngay cả ngoài công lộ.
Sự kiện trên đây khiến chúng ta liên tưởng đến điểm khác biệt căn bản giữa các tôn giáo và đạo chúng ta. Phần nhiều các tôn giáo khác tự hào về những di tích thánh như răng, tóc, râu, xương... mà người ta cho rằng đã tìm thấy nơi thi thể các vị giáo chủ của mình. Người ta cung kính lạy thờ các vật ấy và xem như những thánh tích, thánh vật, xá lợi... Kitô giáo thì khác hẳn. Điều mà những môn đệ Chúa Kitô tự hào không phải là một thánh tích nào của Đức Kitô để lại mà là chính ngôi mộ trống của Ngài. Ngôi mộ trống ấy không phải chỉ nằm trong Kinh Thánh hoặc trong óc tưởng tượng của các kitô hữu , nhưng là nó đã đi vào lịch sử của loài người, và hiện vẫn còn trên thánh địa Palestine . Ngôi mộ trống ấy nói lên rằng Đức Giê-su không phải chỉ là một con người mà còn là Con Thiên Chúa . Ngài đã đến thế gian để chịu chết trên thập giá làm giá cứu chuộc nhân loại tội lỗi. Nhưng Ngài không chết luôn mà ngày thứ ba đã từ kẻ chết sống lại. Hiện nay Ngài vẫn sống, đang ở trên trời bên hữu Chúa Cha. Rồi đây Ngài sẽ trở lại trần gian để đoán xét kẻ sống và kẻ chết.
Trước đây ít lâu, người ta loan báo là đã tìm ra được những mảnh xương (cũng gọi là xá lợi) của Đức Phật Thích Ca. Những mảnh xương ấy đã được đưa về một trong các thành phố gọi là thánh địa của Ấn. Người ta tổ chức những cuộc lễ vô cùng long trọng để cung nghinh và chiêm bái. Trước quang cảnh ấy một giáo sĩ đã phát biểu với một người bạn cùng đi tham quan : "Nếu người ta tìm được một mảnh xương của Chúa Giêsu thì Kitô giáo sẽ phải sụp đổ mất."
Thật vậy, sự sống lại của Chúa Giêsu chính là nền tảng của Đạo chúng ta, do đó thánh Phaolô nói rằng: "Nếu Chúa Kitô không sống lại, lời giảng dạy của chúng tôi vô ích, và đức tin anh em mất nền tảng" (1Cor 15,14). Xưa nay biết bao kẻ thù của Hội Thánh đã nhắm vào yếu điểm ấy để tấn công, nhưng tất cả những cố gắng của họ nhằm đánh đổ Kitô giáo rốt cuộc chỉ như sóng vỗ vào tảng đá vì ngôi mộ trống của Chúa là một trong những chứng cớ hùng biện hơn hết.
Vì thế, mỗi lần Đại lễ Phục Sinh về chúng ta lại có dịp cảm tạ Thiên Chúa toàn năng đã ban cho chúng ta một Đấng Cứu Thế sống và hằng sống...
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây