Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 101-150 Lòng thương xót

Thứ tư - 04/04/2018 22:37
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 101-150 Lòng thương xót Chúa & Tôma
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 101-150 Lòng thương xót Chúa & Tôma
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 101-150 Lòng thương xót Chúa & Tôma
PS2-101.  CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH NĂM BA - Lm. Augustine. 2
PS2-102. CHÚA NHẬT II PHỤC SINH - Lm. Ignatiô Hồ Thông. 4
PS2-103. XIN CHÚA THƯƠNG XÓT CHÚNG CON.. 13
PS2-104. ĐỨC KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT - Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 15
PS2-105. HỒ HỞI VUI MỪNG VÌ THẤY CHÚA.. 22
PS2-106. CỘNG ĐOÀN KHÀ TÍN- Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa. 23
PS2-107. SHALOM VÀ RA ĐI - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb. 27
PS2-108. PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN - Lm. An Phong, OP. 29
PS2-109. CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY CHÚA.. 30
PS2-110. NHÂN CHỨNG PHỤC SINH - Lm. Giuse Đỗ Văn Lực, OP. 32
PS2-111. PHỤC SINH KHÔNG PHẢTU7O ĐIỀU TƯỞNG TƯỢNG.. 35
PS2-112. VUI MỪNG VÌ THẤY CHÚA - Manna. 38
PS2-113. HỘI THÁNH CỦA CHÚA SỐNG LẠI 41
PS2-114. CẢM TẠ CHÚA XÓT THƯƠNG.. 46
PS2-115. KÊ CAO GỐI NGỦ NGON.. 49
PS2-116. NHỮNG VẾT SẸO.. 52
PS2-117. Tôma. 53
PS2-118.  Lạy Chúa là Thiên Chúa con. 54
PS2-119. Tôma đa nghi - McCarthy. 57
PS2-120. Chú giải của Noel Quesson. 58
PS2-121. Chú giải của Fiches Dominicales. 62
PS2-122. Chúa Giêsu sống lại: một sáng tạo mới! 65
PS2-123. MỐI PHÚC THỨ CHÍN.. 67
PS2-124. Tin vào Chúa sống lại 68
PS2-125. Một sự thăng cấp lạ lùng – Achille Degeest. 69
PS2-126. Tôma. 71
PS2-127. TOMA CHỚ CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN ! 72
PS2-128. Cộng đoàn tin vào Chúa Phục sinh. 74
PS2-129. Bình An Cho Các Con. 76
PS2-130. MỘT CHIỀU KÍCH LẠ LÙNG.. 79
PS2-131. Chúa Nhật II Phục Sinh. 82
PS2-132. Hãy chứng nghiệm Thánh Thần trong cuộc sống của mình. 85
PS2-133. CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH.. 90
PS2-134. CHÚA NHẬT  II  PHỤC SINH.. 93
PS2-135. CHÚA NHẬT II PHỤC SINH (A) 96
PS2-136. TÔN VINH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA.. 99
PS2-137. TRÁI TIM NGƯỜI THẦY, TRÁI TIM HỌC TRÒ.. 101
PS2-138. Lòng Thương Xót (Chúa Nhật 2 Phục Sinh B) 103
PS2-139. CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH.. 105
PS2-140:  Sứ mệnh làm chứng nhân đức tin. 116
PS2-141:  ĐỨC TIN CỦA TÔMA.. 118
PS2-142: Bình An Cho Các Con. 120
PS2-143: Chúa Nhật II Phục Sinh. 121
PS2-144: TÁM NGÀY SAU.. 125
PS2-145: CHÚA NHẬT  2  PHỤC SINH.. 127
PS2-146: ĐỨC GIÊSU ĐÃ THỰC SỰ SỐNG LẠI 130
PS2-147: THIÊN CHÚA TÌNH THƯƠNG.. 132
PS2-148: Thời điểm THẤY LUỒNG ÁNH SÁNG LẠ.. 136
PS2-149: KÍNH CHÚA TÌNH THƯƠNG.. 140
PS2-150: Chỉ có Trẻ Nhỏ mới có thể đi vào cốt lõi của Tin Mừng Phục Sinh. 143

 

PS2-101.  CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH NĂM BA - Lm. Augustine

Qu trình đưa tới đức tin
 

Để thấy rõ ý của tác giả, ta nên theo dõi phản ứng của các nhân vật không những trong bài Tin: PS2-101

Ðể thấy rõ ý của tác giả, ta nên theo dõi phản ứng của các nhân vật không những trong bài Tin Mừng hôm nay nhưng của suốt chương 20. Các nhân vật của Gioan chương 20 đã được liệt kê ở trang đầu của tờ chia sẻ này. Những nhân vật ấy đạt được niềm tin vào Chúa Phục Sinh như thế nào?
 Vậy ở Hồi 1, cảnh 1 ở nơi mộ, có Mai đệ Liên, nhân vật phụ, thấy tảng đá che mộ đã được lăn sang một bên. Phản ứng tự nhiên của cô là: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu." (c.2). Cô chưa tin.
Phêrô và môn đệ được Ðức Giêsu yêu, là hai nhân vật chính, vội vã đi đến mộ. Họ mang theo một niềm hy vọng. Họ được thấy trong mộ có những khăn liệm cùng với khăn che mặt người quá cố. Trong khi Phêrô phân vân nghĩ ngợi, người môn đệ được Ðức Giêsu yêu đã phản ứng ngay nhờ đức tin. "Ông đã thấy và đã tin." (c.8). Ông tỏ ra là con người bén nhạy vì được Thầy yêu và vì ông đã biết đáp lại bằng tình yêu cho nên nhìn thấy: và ông đã có thể tin nhiều.
Ở cảnh 2 vẫn là cảnh bên mộ (cc 11-18), Mai đệ Liên bây giờ trở nên nhân vật chính. Quan điểm của cô vẫn là quan điểm tự nhiên như thấy ở hai câu 13 và 15. Cô chỉ đạt được niềm tin qua điều mắt thấy (c.18), và tai nghe (c.16) về Ðức Giêsu. Ðúng như lời Ðức Giêsu đã nói: "chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi." (x. Ga 10,3-4).
Các môn đệ được giới thiệu ở cảnh 2 ở trên, bây giờ trở nên nhân vật chính (cc 19-25). Khởi sự họ ở trong tình trạng sợ hãi với những cửa đóng kín. Nhưng từ đó họ đã chuyển sang mừng vui "Khi nhìn thấy Chúa" (c.20). Với họ đức tin cũng đến qua điều mắt thấy.
Cuối cùng nhân vật chính là Tôma (cc 19-25). Tôma đã từng là nhân vật phụ ở cảnh trước đó. Lập trường mà người môn đệ này cố thủ là không tin cho tới khi mắt thấy và tay sờ được Chúa (c.25). Lạ lùng, Chúa đã chiều theo điều kiện ông nêu. Người đã mời ông đến với đức tin ngang qua điều chính mắt ông thấy và tay ông sờ được (c.27).
Tác giả Tin Mừng Gioan muốn trình bày cho người đương thời thấy những phản ứng và những khả hữu khác nhau đối với Ðấng Phục Sinh. Tác giả như muốn đặt câu hỏi về chính niềm tin của họ. Họ sẽ là loại tín hữu nào đây: như Phêrô hãy còn phân vân hay như người môn đệ nghiệm được Ðức Giêsu yêu mình nên đã đáp lại bằng niềm tin khi những dấu chỉ về Chúa Phục Sinh chưa có gì là nhiều? Hay họ giống như Mai đệ Liên, hoặc như các môn đệ khác? Mai đệ Liên và các môn đệ này chỉ đạt được niềm tin khi đã thấy và đã nghe. Hay họ giống như Tôma là người đã từ chối không tin cho tới khi được đặt trong tư thế không cho phép Tôma duy trì được lập trường cứng tin nữa?
Ta ở vào tư thế có lợi hơn xưa.
Tác giả Tin Mừng Gioan như muốn nói với người đương thời rằng: "Các môn đệ đầu tiên của Ðức Giêsu không phải là những bông hoa tiên tiến về đức tin cả đâu. Hoàn cảnh đặc thù của họ không nhất thiết là hoàn cảnh thuận lợi. Họ hầu như bị bó buộc phải tin. Ðó không phải là hoàn cảnh đáng ta ao ước xảy ra cho ta. Có thể nói rằng hoàn cảnh của ta ngày nay còn tích cực hơn hoàn cảnh của các môn đệ xưa. Ta ở vào tư thế có lợi hơn và thích hợp hơn đối với tinh thần Kitô giáo. Ta hãy đặt mình dưới ánh sáng của một số câu then chốt của bài Tin Mừng hôm nay.
c.20: "Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa." Ðiều Ðức Giêsu đã loan báo tại bữa tiệc ly nay được ứng nghiệm. Khi ấy Người nói "Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được." (Ga 16,22). Vậy Người đã chiến thắng sự chết và đến với các môn đệ. Người còn ban Thánh Thần của Người cho các ông, nhờ đó các ông có khả năng loan Tin Mừng cứu độ cho cả gia đình nhân loại. Cho nên niềm vui các ông nhận được từ Ðức Giêsu Phục Sinh là niềm vui tràn lan làm nên Giáo Hội.
c.21-22: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một (Ga 3,16). Người Con ấy đã tự ý hy sinh mạng sống mình (10,18) và đã gục đầu xuống để trao ban Thánh Thần (19,30). Từ cạnh sườn bị đâm thủng, Người đã để cho máu cùng nước chảy ra (19,34), tượng trưng nguồn suối của các bí tích. Bây giờ chỗi dậy khỏi sự chết, Người thổi hơi trên các môn đệ, ban Thánh Thần cho các ông, đó là Ðấng tái tạo dân Thiên Chúa. Như Chúa Cha đã sai Người, bây giờ Người cũng sai các môn đệ (20,21). Sứ mạng của Người trở nên sứ mạng của các ông; công trình Người thực hiện trong suốt cuộc đời trần thế, bây giờ Người đặt trong tay các ông. Sứ mạng ấy biểu lộ tình yêu Thiên Chúa cho loài người qua lời nói và việc làm. Các ông được Chúa Thánh Linh tác động nên có khả năng làm cho sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa được nhận biết và được nghiệm thấy nơi thế giới.
c.22-23: Ở đầu Tin Mừng của Gioan, Ðức Giêsu được nhìn nhận là Ðấng xóa tội trần gian. Nơi Ðức Giêsu phục sinh, quyền tha tội được ban cho các môn đệ. Chính Thánh Linh luôn ở lại trong Giáo Hội để phục hồi lại mối giây hiệp nhất với Chúa Cha và Chúa Con khiến người tín hữu hưởng được ơn bình an (c.21) với Thiên Chúa và đồng loại.
c.24: Trong Tin Mừng Gioan, nhân vật Tôma vừa là người quả cảm (11,16), lại vừa là người thiếu hiểu biết, nhất là mang nặng thói cứng tin. Qua Tôma, Ðức Giêsu và tác giả Tin Mừng muốn khuyến cáo những ai bên ngoài tỏ ra can đảm nhưng nơi thâm tâm thiếu niềm tin sâu sắc, rằng: "Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin" (c.27)
c.28: "Lạy Chúa của con, Lạy Thiên Chúa của con!" Quả thật là một lời tuyên tín mạnh mẽ. Lời tuyên xưng này song song với lời tuyên xưng ở đầu sách Tin Mừng Gioan "và Ngôi Lời là Thiên Chúa" (1,1) khiến toàn bộ Tin Mừng thứ bốn đạt được mục đích, "tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên Con Thiên Chúa" (1,12)
  Một số câu hỏi gợi ý
 
  1. Bạn nghĩ ông Tôma đã trải qua quá trình nào trước khi đạt tới lời tuyên xưng để nhìn nhận Ðức Giêsu Phục Sinh là Chúa và là Thiên Chúa của ông? Bạn thấy quá trình đức tin ấy có khác với quá trình đức tin mà các nhân vật như Mai đệ Liên, Phêrô hoặc Gioan đã trải qua chăng?
  2. Bạn có dịp tìm hiểu trường hợp một ai trở lại đạo Công giáo chăng? Ít nhất, hãy so sánh cuộc trở lại của Saolô sau được gọi là tông đồ Phaolô, với cuộc hoán cải của Tôma trong bài Tin Mừng hôm nay. Bạn có thể học được những gì nơi các vị ấy?
Lm. Augustine,SJ

 

PS2-102. CHÚA NHẬT II PHỤC SINH - Lm. Ignatiô Hồ Thông

Chúa Nhật II Phục Sinh tiếp tục tưởng niệm biến cố Phục Sinh và những hoa trái mà biến cố nầy đem lại trong suốt Mùa Phục Sinh cho đến lễ Ngũ Tuần.      
Cv 4: 32-35      
Đoạn trích của sách Công Vụ nầy trình bày cuộc sống gương mẫu của các Ki tô hữu tiên khởi.      
1Ga 5: 1-6      
Thánh Gioan nhắc nhở chúng ta rằng niềm tin vào Đức Giê-su phục sinh đã biến đổi những mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa.       
Ga 20: 19-31      
Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su phục sinh hiện ra cho các Tông Đồ, đặc biệt là thánh Tô-ma, qua người môn đệ cứng tin nầy, Ngài nhắn gởi đến tất cả chúng ta: "Phúc thay những người không thấy mà tin".       
BÀI ĐỌC I Cv 4: 32-35      
 

Trong suốt Mùa Phục Sinh, bài đọc I được trích dẫn từ sách Công Vụ Tông Ịồ trình bày cho chúng: PS2-102

Trong suốt Mùa Phục Sinh, bài đọc I được trích dẫn từ sách Công Vụ Tông Đồ trình bày cho chúng ta một cái nhìn bao quát trên cuộc sống cộng đồng tiên khởi, cộng đồng Giê-ru-sa-lem.      
Như chúng ta biết, sách Công Vụ bao gồm hai phần: phần thứ nhất nêu bật nhân cách thánh Phê-rô, vạch lại thuở ban đầu của Giáo Hội; phần thứ hai được dâng hiến cho hoạt động truyền giáo của thánh Phao-lô, mà thánh ký Lu-ca là người đồng hành và môn đệ của thánh nhân: tác giả tường thuật những biến cố mà mình được dự phần vào hay biết rất rõ.   
    Để mô tả thời kỳ mà mình đã không sống, tác giả đã lợi dụng thời gian sống hai năm ở Palestine trong khi thánh Phao-lô bị giam cầm ở Xê-da-rê (59-60) để điều tra, hỏi những nhân chứng mắt thấy tai nghe. Chúng ta thấy những dấu vết của sự thảo khảo tận nguồn của tác giả ở nơi văn phong, từ vựng, những ngữ điệu sê-mít điểm xuyến phần thứ nhất của sách. Trong khi tác giả biên soạn phần thứ hai tùy thuộc vào chứng liệu riêng của mình, nên ngữ điệu Hy-lạp trau chuốt hơn.     
 Việc Ki tô giáo lan tràn nhanh chóng đánh động thánh ký Lu-ca; ông khám phá những bí mật sức sống kỳ diệu của Giáo Hội tiên khởi, vừa ở nơi hoạt động của Chúa Thánh Thần (tác động nầy chiếm một chỗ quan trọng trong sách Công Vụ), vừa ở nơi sức mạnh lời chứng của các Tông Đồ lẫn cuộc sống gương mẫu của các Ki tô hữu tiên khởi. 
     Ba lần thánh Lu-ca phác họa cuộc sống của các tín hữu nầy, chắc chắn hơi được lý tưởng hóa, nhưng thật sự là mẫu mực. Trong chu trình Phụng Vụ năm B nầy, chúng ta đọc bản tóm tắt thứ hai. Bản tóm tắt thứ nhất (Cv 2: 42-47) đã được đọc vào Chúa Nhật II Phục Sinh năm A; bản tóm tắt thứ ba (Cv 5: 12-16) sẽ được đọc vào Chúa Nhật II Phục Sinh năm C.   
1. Một lòng một ý:      
Cộng đoàn Giê-ru-sa-lem chắc chắn là một tập thể hỗn hợp: những người Ki tô hữu gốc Do thái Palestine và những người Ki tô hữu gốc Do thái hải ngoại (Cv 2: 9) sống cùng nhau tại Thành Thánh và các vùng phụ cận, thuộc đủ tầng lớp: giàu cũng như nghèo, dân thường cũng như tư tế (Cv 6: 7), không phân biệt nam hay nữ (Cv 5: 14).      
Bất chấp những nguồn gốc và tầng lớp khác nhau nầy, họ đồng tâm một lòng một ý với nhau: một niềm tin duy nhất gắn bó họ lại với nhau, niềm tin vào Đức Ki tô phục sinh trong vinh quang.     
 Thánh Lu-ca cũng không che dấu những bất đồng, những tranh cãi nhỏ nhặt trồi lên ở giữa lòng cộng đoàn tạp nham nầy như những lời kêu trách của các Ki tô hữu Do thái theo văn hóa Hy lạp đối với những Ki tô hữu Do thái bản xứ, nhưng những bất đồng mà thánh ký gợi lên không tác động đến sự duy nhất trong đức tin của họ.     
 2. Mọi sự đều là của chung:      
Sự duy nhất đức tin nầy tạo nên tình huynh đệ được cụ thể hóa bởi việc đặt của cải chung, điều nầy hàm chứa việc người giàu chia sẻ cho người nghèo cái nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày như cơm ăn áo mặc. Việc chia sẻ nầy không bị đòi buộc như ở Qum-ran (Quy luật IX, 21-23), nhưng hoàn toàn tự nguyện. Phần tiếp theo của sách nêu gương ông Ba-na-ba, một thầy lê-vi thuộc đảo Síp. Ông có một cánh đồng, bán đất đi lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ.
       Mẫu gương của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem chắc chắn tạo nên những làn sóng thi đua. Lời chứng gần với lời chứng của sách Công Vụ nhất là cộng đoàn Ki tô hữu Carthage cuối thế kỷ thứ hai. Cảnh tượng mà cộng đoàn nầy phô diễn về một cuộc sống huynh đệ đáng thán phục đã lay động nhà biện giáo Tết-tu-liên và không lạ gì đã lôi kéo nhà biện giáo nầy theo. Ông hết lòng ca ngợi đức ái sống động của cộng đoàn nầy ở nơi việc chia sẻ của cải, lòng ưu ái đối với những người nghèo.
      Bức tranh về đời sống gương mẫu của cộng đoàn tiên khởi mà thánh Lu-ca mô tả bị gián đoạn bởi một câu lạc điệu với chủ đề: "Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giê-su đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ngài dồi dào ân sủng". Tốt hơn nên đặt đoạn văn này vào nơi khác. Chúng ta có thể nghĩ đến đoạn văn thêm vào hay lỗi của nhà sao chép.
       3. Không ai phải thiếu thốn.      
"Tất cả những người có ruộng đất, nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các tông đồ". Dường như thánh Lu-ca muốn mặc cho cử chỉ nầy một sắc thái phụng vụ. Quả thật, trong thời kỳ đầu tiên của Ki tô giáo, những hiến lễ của các tín hữu được định vị trong khung cảnh phụng vụ và đặc biệt việc cử hành Thánh Thể. Phụng sự Thiên Chúa hàm chứa "phục vụ anh em". Không phải Bàn Tiệc Thánh Thể đã dâng hiến mẫu gương tuyệt vời nhất ở đó mọi người, giàu cũng như nghèo, đều đón nhận cùng một thức ăn thức uống sao?
      4. Mỗi người đều được phân phát tùy theo nhu cầu.      
Từ vựng mà thánh Lu-ca sử dụng ở đây vẫn còn gây sự chú ý. Động từ "phân phát" được dùng ở đây cũng là động từ Đức Giê-su đã sử dụng ở nơi huấn lệnh của Ngài cho chàng thanh niên giàu có: "Hãy bán tất cả những gì ông có mà phân phát cho người nghèo" (Lc 18: 22). Việc ám chỉ đến Tin Mừng kết thúc bức tranh phác họa của thánh Lu-ca về cộng đoàn tiên khởi.
      BÀI ĐỌC II  1Ga 5: 1-6      
Sau bài đọc sách Công Vụ Tông Đồ, Phụng Vụ Lời Chúa đề nghị chúng ta suy niệm trong suốt Mùa Phục Sinh những bản văn của thánh Gioan, sách Tin Mừng và các thư, chung cho ba cả ba năm Phụng Vụ và phù hợp với một truyền thống rất lâu đời (chỉ trừ Chúa Nhật III Phục Sinh, được trích từ Tin Mừng Lu-ca về hai người môn đệ trên đường Em-mau).   
    Ba bức thư – không đề tên tác giả - đều được quy cho thánh Gioan. Quả thật, tư tưởng và văn phong rất gần với Tin Mừng thứ tư nên không thể không xếp chúng vào cùng một tác giả Gioan.
       Thư thứ nhất dài nhất và quan trọng nhất trong số ba bức thư nầy dường như gởi cho các cộng đoàn miền Tiểu Á bị tác động bởi các trào lưu ngộ đạo.
       Thánh Gioan nhấn mạnh đức tin. Chính nhờ đức tin mà chúng ta nhận ra Đức Giê-su là Đức Ki tô (Đấng Mê-si-a) và là Con Thiên Chúa. Không thể có niềm tin vào Thiên Chúa mà không có niềm tin vào Đức Ki tô.
      Thánh Gioan liên kết mật thiết đức tin và đức ái, vì tiêu chuẩn của đức tin Ki tô giáo chính truyền là đức ái đối với anh em đồng loại và tiêu chuẩn yêu người đích thật là hoa trái của lòng mến Chúa. Cuối cùng, thánh Gioan liên kết đức tin với lời chứng của Chúa Thánh Thần cũng mạnh mẽ không kém. 
1. Gắn bó với Đức Ki tô.      
Dáng dấp đầu tiên của đức tin là sự gắn bó với con người Đức Giê-su được nhận biết là Đức Ki tô. Hành vi đức tin nầy dẫn đưa chúng ta vào trong cung lòng của Chúa Cha, Đấng sinh chúng ta ra thành con cái Thiên Chúa về phương diện siêu nhiên và liên kết chúng ta với những người khác trong mối tử hệ tình yêu nầy đến nỗi tình huynh đệ Ki tô giáo là hệ luận tức khắc của đức tin.
      Những khẳng định nầy là đòn đáp trả chí mạng cho những diễn từ sai lạc của hai trào lưu tư tưởng đang hoành hành ở giữa lòng các cộng đoàn mà bức thư nầy gởi đến.
      1.1- Trào lưu của những Ki tô hữu gốc Do thái:      
Trào lưu thứ nhất xuất xứ từ những Ki tô hữu gốc Do thái. Những người nầy không chấp nhận Đấng Mê-si-a có thể đã bị đóng đinh, vì thế họ phân biệt ở nơi con người của Đức Giê-su, một phàm nhân, con của ông Giu-se và bà Ma-ri-a, và một nhân vật được biến đổi bởi phép Rửa và bởi việc Thánh Thần xức dầu tấn phong. Trở thành Đức Ki tô (nghĩa là được xức dầu tấn phong), Đức Giê-su đã có thể công bố một sứ điệp siêu việt và thực hành các phép lạ, nhưng Đức Ki tô thiên giới nầy tự tách ra khỏi Đức Giê-su phàm trần vào giây phút Tử Nạn; vì tự bản tính thuộc linh, Đức Ki tô nầy không thể nào chịu đau khổ và chết được.
      Từ đó, chúng ta hiểu điểm nhấn của thánh Gioan: "Ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki tô, thì đều do Thiên Chúa mà sinh ra". Trong một đoạn văn trước đó, với một cung giọng dữ dội hơn, thánh Gioan viết: "Ai là kẻ dối trá, nếu không phải là kẻ chối rằng Đức Giê-su là Đấng Ki tô ? Kẻ ấy là tên phản Ki tô, là kẻ chối Chúa Cha và Chúa Con" (1Ga 2: 22).      
Đức Ki tô và Con Thiên Chúa, hai tước hiệu duy trì sắc thái riêng của chúng, không ngừng lập đi lập lại trong bức thư nầy.
       1.2- Trào lưu ngộ đạo:      
Trào lưu ngộ đạo nầy xuất xứ từ những Ki tô hữu gốc lương dân. Họ nhạy bén trước tư tưởng thần bí của các tôn giáo mầu nhiệm rất thịnh hành vào lúc đó, đặc biệt trong những miền Tiểu Á nầy như chiếc nôi của chúng. Những người truyền bá trào lưu tư tưởng nầy cho rằng không cần thiết phải qua Đức Ki tô để đến Thiên Chúa; sự hiệp thông với Thiên Chúa có thể đạt được qua ơn thần khải nội tâm, sự xuất thần hay thậm chí nghi thức khai tâm.
      Chống lại những suy luận nầy, thánh Gioan đề cập đến tử hệ thần linh mà Chúa Cha ban ngay tức khắc cho những ai tin vào Con của Ngài. Ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki tô, người ấy thật sự sinh ra từ Thiên Chúa. Người nầy không thể nào không yêu mến Chúa Cha, bởi vì chính Ngài là tác giả của sự sinh hạ siêu nhiên nầy.
      Ngược lại những suy luận trừu tượng nầy, thánh Gioan nêu lên việc thực hành "mến Chúa""yêu người" như tiêu chuẩn cơ bản của Ki tô giáo chính truyền.
      2. Đức Tin và Đức Ái:      
Từ đó, thánh Gioan dạn dĩ xác quyết: "Căn cứ vào điều nầy, chúng ta biết mình yêu mến con cái Thiên Chúa". Đức ái Ki tô giáo cắm rễ sâu vào tận nguồn mạch Thiên Chúa. Thánh nhân tố cáo ngụy thần bí đức ái theo đó yêu mến anh em của mình chỉ vuông tròn trong một thứ tình cảm thuần túy nhân bản. Tổ ấm yêu thương độc nhất và chân thật là Thiên Chúa.       
"Đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa, và thực hành các giới răn của Người". Những giới răn nầy đã được xác định ở trên
3: 23 ở đó Chúa Cha đòi hỏi con người:      
- phải tin vào Con của Ngài,      
- phải yêu thương nhau.       
Việc đòi hỏi nầy không là gánh nặng. Ở đây ám chỉ đến lời của Đức Giê-su: "Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mt 11: 30). Thánh Âu-tinh đã quảng diễn lời nầy trong một biểu thức danh tiếng: "Ở đâu có tình yêu ở đó không có sự nhọc mệt; hay nếu có sự nhọc mệt, thì sự nhọc mệt được yêu" (De bono viduitatis 26).       
Đừng quên rằng những dòng nầy ngỏ lời với những tín hữu phải trung thành sống giới răn kép: đức tin và đức ái, trong hoàn cảnh đầy khó khăn. Vị tông đồ an ủi họ. Giới răn nầy có nặng nề gì đâu. Anh em tất sẽ chiến thắng thế gian.       
Đây là một chủ đề mang đậm nét Gioan: người Ki tô hữu sẽ chiến thắng thế gian (thế gian được hiểu theo nghĩa thế giới tội lỗi, từ chối tin như trong Tin Mừng thứ tư). Trong thư thứ nhất của thánh Gioan nầy, thuật ngữ "chiến thắng" lập đi lập lại đến sáu lần.      
"Chúng ta thắng được thế gian, chính là nhờ lòng tin". Chúng ta lưu ý rằng thánh Gioan nói: "chúng ta", như thế, thánh nhân liên kết mình vào cùng một cuộc chiến của những tín hữu của ngài. Thánh nhân nâng đỡ và khích lệ họ; ngài nhắc nhở cho họ lý do của cuộc khải hoàn của họ: đối đầu với mọi diễn từ sai lạc, họ đã giữ vững đức tin vào tính toàn vẹn bất khả phân của Đức Giê-su, vừa là Đấng Mê-si-a vừa là Con Thiên Chúa, Ngài tỏ mình ra không chỉ trong nước phép rửa của Ngài nhưng cũng trong máu Tử Nạn của Ngài, không chỉ trong nước mà thôi như những nhà ngụy rao giảng khẳng định, nhưng cả trong máu của cuộc hiến tế của Ngài nữa. Đây không là một Đức Giê-su phàm nhân nhưng Con Thiên Chúa nhập thể đã đổ máu mình ra.      
Chắc chắn thánh Gioan cũng nghĩ đến ân ban cao vời của Đức Ki tô, dù đã chết vẫn để máu và nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của mình. Vị tông đồ là chứng nhân nhãn tiền của những dấu chỉ về phép Rửa và Bí Tích Thánh Thể.      
3. Chúa Thánh Thần làm chứng:      
Nếu nước và máu là những chứng từ hữu hình, có một chứng từ vô hình khác, lời chứng của Chúa Thánh Thần. Vì thế, sự thật chiến thắng sự sai lạc, đức tin chiến thắng lạc giáo, điều nầy chứng thực sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chính Ngài gìn giữ sự thật.      
Ở bên kia lời nhắc nhở đạo lý nầy, chúng ta nhận ra ở đây một cuộc bút chiến. Vài trào lưu ngộ đạo tự nhận mình là "thuộc Thần Khí" và viện dẫn những ơn đặc sủng của mình và tình trạng "ánh sáng" của mình là "thuộc Thần Khí".       
Ấy vậy, hành động của Thần Khí chỉ được xem là chính truyền nếu hoạt động nầy làm cho sự thật của Đức Giê-su hiện diện. Như vậy, Chúa Cha làm chứng cho Chúa Con khi sai phái Chúa Thánh Thần đến. Chính trên việc ghi nhận Ba Ngôi nầy mà đoạn thư nầy kết thúc, việc ghi nhận Ba Ngôi nầy thường hằng lập đi lập lại trong bức thư thứ nhất nầy của thánh Gioan.       
TIN MỪNG Ga 20: 19-31       
Đây là một trong những trang Tin Mừng xây dựng nền tảng niềm xác tín chúng ta: Đức Giê-su của niềm tin đích thật là Đức Giê-su của lịch sử. Các Tông Đồ chứng thực biến cố Phục Sinh. Hơn nữa, nhờ sự cứng tin của một trong số họ, vài ngày sau đó, họ hưởng được một sự kiểm chứng. 
     Theo truyền thống, bản văn nầy được đọc vào Tuần Bát Nhật Phục Sinh, vì thánh ký nói với chúng ta, Đức Giê-su hiện ra cho thánh Tô-ma "tám ngày sau", nghĩa là cũng vào "chiều ngày thứ nhất trong tuần" sau đó. Quả thật, chúng ta đọc thấy nơi bài tường thuật nầy hai tình tiết: Đức Giê-su phục sinh hiện ra cho mười Tông Đồ vào buổi chiều Phục Sinh, và Ngài hiện ra đặc biệt cho Tô-ma một tuần sau đó.
      1. Đức Giê-su phục sinh hiện ra cho mười Tông Đồ.      
"Chiều thứ nhất trong tuần" tức vào chính buổi chiều của biến cố Phục Sinh. Việc chỉ dẫn thời gian nầy rất quý: ngày thứ nhất trong tuần chính là ngày mà các Ki tô hữu đã rất sớm chọn cho những buổi hội họp của họ, như vậy nhấn mạnh tính chất phục sinh của việc cử hành Thánh Thể. Cũng vậy, việc Đức Giê-su phục sinh hiện ra cho thánh Tô-ma được định vị "tám ngày sau đó", nghĩa là cũng chính ngày thứ nhất trong tuần sau đó.      
Các Tông Đồ họp nhau lại gồm mười vị bởi vì rõ ràng thiếu Tô-ma. Dường như Tô-ma đã không tha thiết gì đến việc hội họp với các Tông Đồ khác nữa. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng chính thánh Phê-rô đã quy tụ họ để thông báo cho họ những biến cố: việc khám phá ngôi mộ trống, quang cảnh khăn che mặt không để lẫn với những băng vải liệm, sự kiện bà Ma-ri-a Mác-đa-la trong số vài người phụ nữ đã nói đã thấy Đức Giê-su phục sinh và Ngài đã nói với bà…      
Chúng ta đoán rằng các Tông đồ sống trong bầu khí hoang mang ngờ vực vừa hy vọng lẫn sợ hãi: "Nơi các môn đệ ở, cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái" (diễn ngữ "vì sợ người Do thái" được lập đi lập lại nhiều lần trong Tin Mừng Gioan, thậm chí trước cuộc Thương Khó (như cha mẹ của anh mù từ lúc mới sinh chỉ nói vòng vo "vì sợ người Do thái": Ga 9: 22). Trong Tin Mừng thứ tư, người Do thái trước hết chỉ giáo quyền Giê-ru-sa-lem. Họ đã ra án tử cho Thầy bây giờ sẽ ra tay với các môn đệ chứ?      
Và nầy Đức Giê-su thình lình đứng giữa họ bất chấp "các cửa đều đóng kín"; Ngài tự đặt mình ở giữa nỗi hãi hùng xao xuyến của họ như Ngài đã đồng hành bên cạnh nỗi buồn phiền của hai môn đệ trên dường Em-mau (Lc 24: 13-32). Nỗi sợ hãi và buồn phiền sẽ sớm biến thành niềm vui.      
2. Bình an cho anh em.      
Đây là lời chào truyền thống của người Do thái, nhưng chẳng bao giờ kém thường tình cả. Đức Giê-su đem sự bình an của Ngài, sự bình an mà Ngài đã hứa, đến cho những người nầy, những người đã bỏ rơi Ngài vì thất vọng, Ngài đem đến sự bình an bằng sự hiện diện và sự tha thứ của Ngài: không một lời quở trách, không một ám chỉ đến sự bất toàn của họ, nỗi cô độc mà họ đã bỏ Ngài một mình.      
Để cho họ nhận ra Ngài, Đức Giê-su cho họ thấy những vết thương ở tay và cạnh sườn Ngài như những chiến tích và chính thức hóa sự đồng nhất của thân xác phục sinh của Ngài với thân xác chịu đóng đinh của Ngài.      
Ở đây, chúng ta cân nhắc tầm quan trọng của việc khám phá ngôi mộ trống: một mặt, không một thân xác bị phân hủy trong ngôi mộ, và mặt khác, cũng không bóng ma hiện ra cho các môn đệ: chỉ có một thân xác đang sống, có thể đụng chạm, mang lấy những vết thương của cuộc khổ nạn. Lúc đó "các môn đệ thật sự tràn ngập niềm vui".      
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Gioan nêu lên những vết thương ở tay và cạnh sườn, trong khi thánh Lu-ca trong bài tường thuật song song viết: "Người đưa tay chân ra cho các ông xem" (Lc 24: 40). Thánh Gioan là thánh ký duy nhất tường thuật tình tiết người lính Rô-ma lấy lưỡi đòng của mình mà đâm thâu cạnh sườn của Đức Giê-su. Thánh ký đã chứng kiến máu cùng nước chảy ra, ân ban tột cùng của Đức Ki tô đã chết. Thánh ký đã thấu hiểu ở đây dấu chỉ biểu tượng: dấu chỉ cuộc sinh hạ Giáo Hội trong và bởi phép Rửa và Bí Tích Thánh Thể; thánh nhân nhấn mạnh ở đây thêm một lần nữa. Chính xác Giáo Hội sắp chào đời vào buổi chiều Phục Sinh nầy, dưới hơi thở của Thần Khí và bởi việc sai các Tông Đồ đi thi hành sứ vụ.      
Sự tương phản đáng ngạc nhiên: với những con người giam mình giữa bốn bức tường, trong căn phòng cửa khóa then cài, Đức Giê-su ra lệnh lên đường, ra đi gặp gỡ con người, "hết tất cả mọi người" không phân biệt một ai.      
Nhằm sứ vụ nầy, Đức Giê-su tái tạo họ, chúng ta có thể nói như vậy, bằng cách thổi Thần Khí của Ngài trên họ và cho họ quyền tha thứ anh em mình… như Ngài đã hứa với họ: máu Ngài đã bị đổ ra để tha thứ tội lỗi. Đó là sự phong nhiêu của cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài.      
3. Tô-ma cứng tin.      
Thánh Tô-ma chắc chắn gắn bó rất mật thiết với Đức Ki tô; thánh nhân đã yêu mến Ngài và tin vào Ngài; vào lúc lên Giê-ru-sa-lem sau cùng, ông đã hăm hở nói với các bạn: "Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Người" (Ga 11: 16). Nhưng ông không ngờ một cái chết ô nhục trên thập giá; cái chết nầy đã làm giấc mơ của ông thành mây khói. Niềm thất vọng lẫn buồn phiền khiến ông tách biệt khỏi các bạn đồng môn khác. Chúng ta biết được nhân cách của Tô-ma chỉ nhờ Tin Mừng thứ tư. Tin Mừng nầy ba lần đặt ông vào hoạt cảnh.       
Với một tinh thần cụ thể, trước đây ông đã nêu lên cho Đức Giê-su một câu hỏi thực tiển và thẳng thắn: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?" (Ga 14: 4-5); vì thế, ông từ chối tin vào biến cố Phục Sinh nếu không có bằng chứng do chính ông kiểm chứng. Trong mỗi người chúng ta ẩn hiện một dáng dấp nào đó của thánh Tô-ma: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin".
      Đức Giê-su động lòng thương người môn đệ có tâm hồn bốc lửa nầy đang đắm chìm trong nỗi phiền muộn, trong khi các môn đệ khác đang hớn hở vui mừng; vì thế, Ngài bằng lòng đáp ứng những đòi hỏi của ông.      
"Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy…" Bản văn không nói cho chúng ta biết thánh Tô-ma có thực sự làm đúng như Thầy bảo, nhưng đúng hơn ông lập lại điều mà thánh Gioan đã nói về người môn đệ Chúa yêu đi vào trong ngôi mộ: "Ông đã thấy và ông đã tin". Thánh Tô-ma có được bằng chứng của biến cố Phục Sinh. Ngay lập tức ông tuyên xưng đức tin của mình: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !"      
Đây là lần đầu tiên trong các sách Tin Mừng mà tước hiệu "Thiên Chúa" được ban cho "Đức Giê-su". Nhưng còn dấu chỉ nào về Thần Tính của Ngài chói sáng hơn biến cố Phục Sinh ? Tiếng kêu cá nhân của Tô-ma diễn tả tâm tình biết ơn của ông vì Đức Giê-su đã quan tâm đặc biệt đến ông.      
Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy nên anh mới tin", đoạn, nghĩ đến tất cả những ai đã không được diễm phúc như ông, Đức Giê-su nhắn gởi đến đám đông bao la của các tín hữu của mọi thời đại: "Phúc thay những người không thấy mà tin !".       
Đây là một mối phúc duy nhất của Tin Mừng Gioan. Trước hết, mối phúc nầy chính xác tựa trên lời chứng của nhóm Mười Một, mà lời chứng của thánh Tô-ma là thấm thía nhất.
Lm. Ignatiô Hồ Thông

 

PS2-103. XIN CHÚA THƯƠNG XÓT CHÚNG CON

Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

Trong Chúa Nhật II mùa Phục Sinh, bài Phúc Âm trong cả ba chu kỳ năm A, B, C đều trích : PS2-103 - LÒNGCHÚATHƯƠNGXÓT

Trong Chúa Nhật II mùa Phục Sinh, bài Phúc Âm trong cả ba chu kỳ năm A, B, C đều trích từ Phúc Âm theo Thánh Gioan (20, 19-31). Đoạn Phúc Âm này ghi lại lần Chúa Giêsu Phục Sinh đã hiện ra với các Tông đồ, cho các ông “xem tay và cạnh sườn Chúa,” chúc bình an và nâng đỡ tinh thần cho các ông “đang đóng cửa chặt vì sợ người Do Thái!”, sai các ông đi rao giảng và ban ơn Chúa Thánh Thần cho các ông; đồng thời thông ban cho các ông quyền “tha tội cho ai thì người ấy được tha.” Đặc biệt, đoạn Phúc Âm này cũng ghi lại việc Thánh Tôma đã được Chúa thương củng cố đức tin yếu kém của ông và ông đã cảm động xưng lên “Lạy Chúa Con! Lạy Thiên Chúa của con!” Rồi Chúa Giêsu nói: “Tôma, vì con đã thấy, nên con mới tin, nhưng phúc cho ai không thấy mà tin!”
  Chúng ta để ý Bài Đọc I các ngày Chúa Nhật thường được trích từ các sách Cựu Ước, nhưng trong mùa Phục Sinh thường được trích trong sách Công Vụ Tông Đồ, là cuốn sách ghi lại các công việc truyền giáo, các sinh hoạt đạo đức sốt sáng nhiệt thành và đoàn kết yêu thương của các Tông đồ và các Tín hữu trong Giáo Hội thưở sơ khai… Bài Đọc I hôm nay  (Cv. 4, 32-35) ghi: “Mọi người đều sống hòa hợp, yêu thương và coi mọi sự là của chung… Mọi người đều sốt sáng dâng lời ca ngợi Chúa!...”
  Trong Bài Đọc II (1 Gioan 5, 1-6), Thánh Gioan  mời gọi chúng ta “hãy giữ vững đức tin , hãy hết lòng kính mến Chúa và thực hành các giới răn của Chúa.”
  Vào năm 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn Chúa Nhật II Phục Sinh là Chúa Nhật Tình Chúa Thương Xót” (cũng như Chúa Nhật IV Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành). Trước hết, chúng ta hãy luôn dâng lời tạ ơn Chúa đã thương xót chúng ta và cho chúng ta là những người được diễm phúc “không thấy mà tin”. Chúng ta cũng xin Chúa thương cho đức tin của chúng ta, qua muôn gian truân thử thách, luôn cháy sáng để chiếu soi cho mọi người chung quanh. Xin Chúa cho chúng ta biết noi gương Tình Thương Xót của Chúa để biết yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khó, những người bệnh hoạn, những người đang gặp những khổ đau trong cuộc sống.
  Chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện “Xin tình Chúa Thương Xót”cứu vớt thế giới chúng ta hôm nay vẫn còn nhiều tranh chấp, khủng bố, những phong trào sống thác loạn tràn lan mà lại được một số nhà lãnh đạo các quốc gia, và cả một số “giáo phái” nâng đỡ và thực hành, như: tự do luyến ái, tự do ly dị, phá thai, ‘nam lấy nam, nữ lấy nữ mà lại thành vợ thành chồng!’ Tất cả đều gây nên bao sự dữ cho thế giới chúng ta hôm nay. Rồi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay lại gây nên những khủng hoảng càng ngày càng trầm trọng cho gia đình và xã hội.
  Khi nói về Lòng Chúa Thương Xót cần thiết cho thời đại chúng ta, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết:
  “Lời tuyên xưng hết lòng tin tưởng nơi Tình Thương Xót của Chúa toàn năng đặc biệt cần thiết cho thời đại chúng ta, một thời đại mà nhân loại đang phải trải qua những hoảng sợ trước bao nhiêu sự dữ xuất hiện! Kêu cầu Lòng Chúa Thương Xót rất cần thiết, để từ đáy tâm hồn khổ đau, lo lắng và bất ổn của chúng ta, luôn nói lên một nguồn cậy trông vững chắc…”
  “Ngày nay hơn lúc nào hết, thế giới càng cần Lòng Chúa Thương Xót. Ở mọi lục địa, từ sâu thẳm của những khổ đau của nhân loại, lời kêu xin Lòng Chúa Thương Xót hằng vọng lên khắp nơi. Nơi nào ghen ghét và lòng khát vọng trả thù ngự trị, nơi đó chiến tranh lại đem đến đau khổ và chết chóc cho những người vô tội; và nơi đó Lòng Chúa Thương Xót càng cần thiết để đem lại sự ổn định cho tâm hồn và con tim nhân loại, và đem lại an bình. Nơi nào thiếu tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, nơi đó càng cần Lòng Chúa Thương Xót, vì trong ánh sáng của Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta nhận ra giá trị tuyệt vời của mỗi con người…”
“Tình Thương Xót Chúa rất cần thiết để những bất công trên thế giới được chấm dứt và Ánh Sáng Chân Lý được ngời sáng…”
  Trong những ngày vừa qua, nhiều nơi đã làm “Tuần Chín Ngày” kính Lòng Chúa Thương Xót. Chúng ta cùng chung lời cầu nguyện cho thế giới chúng ta, cho mỗi gia đình chúng ta: Xin Lòng Chúa Thương Xót phá tan mọi sự dữ, đem lại lương tâm và lý trí sáng suốt cho các nhà lãnh đạo các quốc gia, các nhà lãnh đạo các tôn giáo. Xin cho tất cả biết chung tay xây dựng giá trị gia đình và xã hội, xây dựng sự ổn định và nền hoà bình hạnh phúc ở khắp nơi.
  Sau hết, chúng ta hãy chung lời cầu nguyện cho chính mỗi người chúng ta, để chúng ta biết sống Tình Chúa Thương Xót trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta hãy năng đọc “Lời Cầu Xin Hàng Ngày trong Tuần Chín Ngày kính Lòng Chúa Thương Xót”:
  “Lạy Chúa, xin cho mắt con biết thương xót, để con không bao giờ nghi ngờ hay xét đoán tha nhân theo bề ngoài, nhưng biết nhận ra vẻ đẹp trong tâm hồn họ để giúp đỡ họ.
  “Xin cho tai con biết thương xót, để con biết lắng nghe những nhu cầu của tha nhân và không dửng dưng trước những đau đớn và than van của họ.
  “Xin cho lưỡi con biết thương xót, để con không bao giờ nói tiêu cực về tha nhân, nhưng biết nói lời an ủi và tha thứ cho mọi người.
  “Xin cho tay con biết thương xót và làm việc lành, để con chỉ làm điều tốt cho tha nhân và dám nhận những công việc khó khăn và vất vả hơn.
  “Xin cho chân con biết thương xót, để con mau mắn đến giúp tha nhân và vượt thắng cơn mệt mỏi chán nản, để nơi con an nghỉ thật sự là việc phục vụ tha nhân.
  “Lay Chúa, xin cho con tim của con biết thương xót, để con cảm nhận được nỗi đau khổ của tha nhân, để con không từ khước yêu thương bất cứ ai, để con chân thành ngay cả với kẻ lạm dụng lòng tốt của con. Xin cho con đặt trái tim con trong trái tim vô cùng thương xót của Chúa Giêsu, để con biết giữ sự khổ đau của con trong thinh lặng.
  “Nguyện xin Lòng Chúa Thương Xót ở cùng con luôn mãi. Amen.”

 

PS2-104. ĐỨC KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT - Lm Giuse Đinh lập Liễm

I. CÂU CHUYỆN VỀ ÔNG TÔMA.
1. Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ.
 

Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Gioan thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu Phục sinh: PS2-104

Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Gioan thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các Tông đồ hai lần cách nhau một tuần. Một lần hiện ra ngay chính chiều ngày sống lại, mà không có mặt ông Tôma, còn lần sau thì có mặt ông Tôma. Mục đích Ngài hiện ra là làm cho các môn đệ tin rằng Ngài đã sống lại thật và chính các ông là những chứng nhân, để sau này củng cố đức tin cho những người khác. Ngài hiện ra với toàn thể con người phục sinh của Ngài, cho các ông xem thấy tay chân và cạnh sườn, ăn uống trước mặt các ông.
Rất tiếc trong khi Chúa Giêsu hiện ra lần thứ nhất không có mặt ông Tôma. Các ông thuật lại cho Tôma việc Chúa đã hiện ra và quả quyết rằng:”Chúng tôi đã xem thấy Chúa rồi”. Nhưng Tôma, con người đa nghi và thực nghiệm, trả lời:”Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh tay Ngài, nếu tôi không thọc vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào  cạnh sườn Ngài thì tôi không tin”.
 Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với các ông, có mặt ông Tôma, để tiếp tục củng cố lòng tin cho các ông, đặc biệt với ông Tôma. Đức Giêsu âu yếm nhìn Tôma và nói:”Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy, chớ cứng lòng nhưng hãy tin”.  Tôma xúc động thưa với Chúa trong hối hận:”Lạy Chúa con, Lạy Thiên Chúa của con”.  Tôma đã tin và ông trở thành chứng nhân sống động cho Chúa Phục sinh, củng cố niềm tin cho chúng ta.
 2. Nói về con người của ông Tôma.
a) Con người cô đơn.
Tôma là con người rất yêu Đức Giêsu. Ông yêu Ngài đủ để sẵn sàng cùng đi với Ngài lên Giêrusalem, sẵn sàng để chết với Ngài trong khi các môn đệ khác phân vân, sợ hãi. Nhưng khi Đức Giêsu chịu chết rồi, ông tỏ ra bi quan, rơi vào tình trạng cô đơn. Ông đã rút lui khỏi các cuộc họp mặt hiệp thông của các môn đệ. Ông tìm sự cô đơn  hơn là họp nhau lại.
 Vì thế, khi Đức Giêsu trở lại với các môn đệ thì ông không có mặt. Mặc dầu các tông đồ nói với ông là đã xem thấy Chúa. Với tâm trạng phân vân do bản tính bi quan, ông tuyên bố chẳng bao giờ ông tin Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cho đến khi thấy tận mắt, đặt ngón tay vào lỗ đinh và cạnh sườn Ngài. Đức Giêsu đã hiểu rõ tâm trạng của ông nên đã hiện ra và giải quyết những thách thức và đòi hỏi của ông. Lúc đó, Tôma chỉ biết dào dạt tình thương mến trong lời nghẹn ngào:”Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”.
 b) Con người thực nghiệm.
Tôma là con người có đầu óc cụ thể, thích tìm hiểu, thích kiểm nghiệm, giống như những nhà khoa học  thực nghiệm hôm nay : những gì thấy và hiểu được thì mới tin. Chủ trương của ông hoàn toàn giống thuyết Tân sinh lý. Ông chỉ tin ở tai nghe mắt thấy, chân tay sờ mó được.  Nói cách khác, điều làm cho ông tin phải có bằng chứng. Việc Chúa sống lại chưa có bằng chứng đối với ông, chỉ khi nào mắt thấy tai nghe Chúa sống lại thì ông mới tin. Ông muốn biết chắc mọi sự, và thái độ này của ông, xét theo phương diện tự nhiên, thì không sai.  Nhưng trong lãnh vực siêu nhiên thì không đúng.
 c) Con người can đảm.
Khi Đức Giêsu hiện ra  và giải quyết những thách thức và đòi hỏi của ông, ông đã lấy lại được niềm tin và là một niềm tin sâu sắc bù lại những nghi ngờ trước kia. Lúc này thực sự ông muốn đi Giêrusalem để cùng chết với Chúa.  Theo truyền thuyết, Ông Tôma đã đi truyền giáo ở Ấn độ, gặp nhiều gian nan thử thách, nhưng vẫn trung kiên rao giảng Đấng Phục sinh mà chính mắt ông đã thấy. Sau cùng ông là Tông đồ đầu tiên đã nhận lấy cái chết để theo gương Thầy mình.
 Nơi Tôma, có cái gì rất đáng yêu, đáng ngưỡng mộ. Với Tôma, có đức tin không phải là chuyện dễ, ông không bao giờ sẵn sàng vâng lời ngay. Tôma là người muốn biết chắc chắn, ông tính  thật kỹ giá phải trả.  Một khi đã biết chắc, ông nhất quyết tin và vâng phục cho đến cùng. Đức tin như Tôma tốt hơn loại đức tin bằng đầu môi chót lưỡi dễ dàng, để rồi sau đó rút lại điều mình đã hứa.
 II. CÂU CHUYỆN CỦA CHÚNG TA.
 1. Tin trong đời thường.
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cần có sự hiểu biết về nhiều vấn đề.  Sự hiểu biết của chúng ta có thể do kinh nghiệm, do suy luận và do sự chỉ bảo của người khác. Kinh nghiệm là sự hiểu biết cá nhân do đã trừng trải, đã kinh qua nhiều sự việc do tai nghe mắt thấy. Nhưng kinh nghiệm bản thân thì quá ít ỏi trước sự hiểu biết bao la của muôn sự vật và con người.
 Hầu hết chúng ta biết được điều này điều kia là do chúng ta tin vào  những gì người khác nói với chúng ta. Có nhà chuyên môn ước lượng rằng  80% những kiến thức của chúng ta  là do tin tưởng vào người khác mà có. Chẳng hạn, trong chúng ta ít có ai được may mắn du hành quanh thế giới. Cách duy nhất để chúng ta biết về phần lớn các quốc gia trên thế giới  là do người khác nói cho chúng ta biết. Nói cách  khác, chúng ta tin vào những người đã từng đến những nơi ấy. Nếu họ kể cho chúng ta rằng có một xứ sở nọ tên là Trung hoa, và dân chúng ở đó thế này thế kia, chúng ta sẽ tin họ.
 Phương cách để chúng ta có được những tri thức thông thường còn chân thực như thế, thì cách thức để chúng ta có được những tri thức tôn giáo càng chân thực hơn nữa. Phần lớn tri thức tôn giáo mà chúng ta có là do chúng ta tin vào những gì Kinh thánh kể lại cho chúng ta. Nói cách khác, phần lớn tri thức tôn giáo của chúng ta là do niềm tin.
(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm B, tr 118)
 Chúng ta đều không được đặt tay vào cạnh sườn Đức Giêsu như thánh Tôma, để trực tiếp cảm nghiệm được Đức Giêsu Phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên, chúng ta có thể tin vào chứng cớ của Thánh kinh. Chúng ta cũng có thể làm hơn thế nữa. Chúng ta có thể xử dụng tặng phẩm Chúa ban là lý trí để xác quyết thêm điều Kinh thánh đã truyền cho chúng ta. Và rồi, chúng ta cũng có thể  qùy gối xuống như thánh Tôma đã làm và thưa với Đức Giêsu:”Lạy Chúa con, Lạy Thiên Chúa của con”. Đáp lại, Đức Giêsu sẽ nói với chúng ta:”Hạnh phúc biết bao  cho kẻ chẳng thấy mà vẫn tin”.
 2. Tin có cần thấy và hiểu không ?
Có nhiều người tỏ ra là những người hiểu biết, những người học thức, làm gì cũng phải hợp lý, không sống theo dư luận hay vào hùa với người khác. Họ chủ trương rằng : chỉ những gì họ THẤY và HIỂU được thì mới tin, nếu không thì sự tin đó là thái độ của con trẻ hay của những người còn non kém về tri thức. Nhưng thực tế thì thế nào ? Có những thực tế trái ngược hẳn với chủ trương của họ, khiến họ phải câm miệng.
 Truyện : Có hiểu mới tin
Một vị trạng sư tự phụ rêu rao trước mặt đám đông rằng : mình chỉ tin cái gì mình hiểu thôi. Trong đám đông có một thằng nhỏ đã được nghe cha xứ giảng, đứng lên hỏi :
     - Thưa ông, nếu vậy ông không tin những gì ông không hiểu ư ?
     - Dĩ nhiên thế.
     - Thưa ông, vậy xin ông cho cháu biết : tại sao ông cử động được ngón tay ?
     - Tại vì ta muốn, chỉ có thế thôi.
     - Ông muốn, vậy sao ông không cử động được hai tai ?
Vị trạng sự bí lối không biết trả lời bằng cách nào, bèn mắng:
     - Thằng nhỏ này muốn giảng cho ta phải không ?
 Nghe vậy, mọi người đều cười.
  (Trần công Hoán, Tìm hiểu ít thắc mắc, tr 50)
 Chúng ta hãy tạm đồng ý với chủ trương của họ, và sẽ xem cái chủ trương “thấy và hiểu” của họ  có áp dụng vào thực tế hay không.  Bạn hãy cầm lấy ly nước. Ly nước ấy chẳng là gì khác mà chỉ là ocxy và hytrô thôi. Mắt ta không trông thấy ocxy và hytrô nhưng ta vẫn tin rằng ly nước ấy chứa toàn hai chất ấy thôi nếu ta đem nó ra điện giải. Như vậy, nguyên tắc THẤY mới tin không còn đúng nữa, vì không thấy ocxy và hytrô mà vẫn tin nó có đấy.
 Ta chưa bao giờ được thấy tận mắt một phi thuyền không gian, ta cũng chẳng hiểu nổi những nguyên tắc cũng như các kỹ thuật tân kỳ của các nhà bác học, nhưng ta vẫn tin là các nhà bác học đã sáng chế ra các phi thuyền không gian, và phi thuyền Apollô 11 đã lên nguyệt cầu. Trong chúng ta, ai dám nói là mình đã hiểu các nguyên tắc chế tạo phi thuyền của các nhà khoa học, tại sao ta lại vẫn tin ? Phải chăng chúng ta đã tự mâu thẫn với nguyên tắc của chúng ta.
 Thực sự trong đời sống hằng ngày, ta dùng đến lòng tin rất nhiều, vì nếu không thế, đời sống sẽ không có thể được. Ở gia đình,  cha mẹ dạy ta nhiều điều mà ta vẫn tin. Ở trường học, thầy cô truyền đạt cho chúng ta biết bao nhiêu kiến thức, ta chưa hề biết, có khi không hiểu nữa, thế mà ta vẫn tin, không thắc mắc gì. Nếu ta không tin vào những sự kiện lịch sử thì làm sao ta có thể học được môn đó. Dĩ nhiên lòng tin của ta  chỉ có tính cách tương đối thôi bởi vì những cái đó có thể sai lầm được.
 Đứng trong phương diện thiêng liêng, lòng tin của chúng ta  không phải là cái gì phi lý hay là thái độ của những người thiếu hiểu biết, nhưng trái lại, ta phải nói rằng : tin là thái độ của con người hiểu biết, là thái độ của con người biết dấn thân, biết quyết tuyển.  Chúng ta không tin viển vông nhưng tin vào sự chân thật của Chúa qua sự mạc khải của Ngài. Chúng ta sẽ tin những điều chúng ta không thấy và không hiểu, nhưng những điều ấy không bao giờ mâu thuẫn với lý trí con người, vì những cái ấy vượt trên tầm hiểu biết của trí khôn con người. Vi thế người ta mới có chữ SUPERNATUREL : vượt lên trên cái tự nhiên, đó là siêu nhiên.
  3. Đức tin còn đòi thử thách.
Có một niềm tin thì dễ, tin suông càng dễ hơn, nhưng có được đức tin là chuyện khó. Vì đức tin bao giờ cũng đòi thử thách và cần phải có ơn Chúa thì mới đứng vững được.
 Chúng ta hãy xem cách hành động của tổ phụ Abraham để làm gương. Khi nghe tiếng Thiên Chúa, Abraham kể ra có nhiều cớ để từ chối đề nghị của Thiên Chúa.  Người ta thường dễ phiêu lưu, mạo hiểm khi còn trẻ tuổi, chưa bị gắn buộc bởi nghĩa vụ gia đình, hoặc chưa gây được sự nghiệp. Abraham đã cao niên, tuổi quá thất tuần (St 12,4), lại đã lập gia thất (St 11,29), còn cơ nghiệp thì dư dật, bộ hạ đông đúc, lục súc không ít. Lời Thiên Chúa mời gọi xem như chẳng đem thêm gì đến cho tổ phụ...
 Người ta lại cũng dễ thay đổi môi trường sinh hoạt khi có môi trường phong phú hơn đem đến cho mình cơ hội sống an toàn, sung mãn, với đủ tiện nghi : nhưng khi ấy Abraham đang sống tại Hâran, một thị xã miền Mésopotamia mà lịch sử công nhận là văn minh, phồn thịnh. Bỏ Hâran đã chắc gì tìm thấy một vị trí khá hơn ? Nơi Thiên Chúa ấn định là nơi xa lạ, chẳng hiểu đến, rồi làm ăn có nổi không . Đành rằng Chúa cũng hứa nơi ấy sau này sẽ phì nhiêu cho con cháu Abraham(St 12,2-3) : nhưng tổ phụ làm gì có con cái để mà hy vọng cho hậu thế (St 18,11-12)?
 Vậy mà lời Chúa vang lên, Abraham đáp liền, rời cảnh an ninh, nếp sống nhàn hạ, lên đường để khởi xướng một giai đoạn lang thang, long đong, chật vật, hết nếm mùi đói kém lại chịu cảnh khói lửa chiến tranh (St 12,10 ; 14,13-14). Abraham đã gỡ mọi dây luyến ái để gia nhập đất khách quê người : mà tổ phụ đã làm như thế CHỈ VÌ THIÊN CHÚA ĐÃ GỌI, CHỈ VÌ ABRAHAM ĐÃ TIN.
 Đức tin bao giờ cũng là một cuộc VĨNH BIỆT, CHIA LY, vĩnh biệt cái lòng tự phụ làm mình đinh ninh là có thể giải quyết mọi vấn đề, đối phó với các trở ngại bởi duy sức riêng mình, chẳng cần nhờ đến sự can thiệp bên ngoài, bên trên.  Vĩnh biệt để chấp nhận một trật tự khác : trật tự siêu nhiên của Thiên Chúa.
(Nguyễn huy Lịch, báo Nhà Chúa, số 3, 1968, tr 6-7)
 4. Phải sống niềm tin của mình.
Chúng ta ai cũng có đức tin hoặc mạnh hoặc yếu , nhưng có đức tin chưa đủ, còn phải sống đức tin nữa, nghĩa là đức tin phải được thể hiện ra bằng việc làm như thánh Giacôbê nói:”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Chúng ta phải kiểm chứng xem chúng ta đã sống đức tin như thế nào
          Mọi người và nhất là người trẻ hôm nay có bao giờ bắt gặp mình đang cầu nguyện, và ý thức mình cầu nguyện với ai, cầu nguyện như thế nào ? Người trẻ hôm nay khi bước vào nhà thờ, có thực sự tìm kiếm, có ý thức rằng mình đến với Chúa, và nếu có, thì cảm nhận được sự hiện diện của Ngài như thế nào ? Và nhất là khi tham dự bàn tiệc Lời Chúa, người trẻ hôm nay có bao giờ tìm hiểu ý nghĩa của việc tham dự ấy, và có thực sự hiệp thông với Đức Kitô chăng ?
 
  1. Giới trẻ tin vào những điều người ta nói về Chúa, còn chính Chúa thì họ không tin. Nếu tin thì sao đi lễ họ ngồi trên xe honda ở ngoài nhà thờ, vừa xem lễ vừa nhai kẹo, truyện trò, hoặc xem lễ “vọng” ?
Người Pharisêu tỏ ra “thông đạo”, hiểu biết nhiều về đạo, về luật, mà lại không nhìn ra Chúa ; còn người mù từ mới sinh không học hành gì thế mà có thể nhận ra Đức Giêsu là con loài người, và tin vào người sau một cuộc đối thoại ngắn ngủi :
          - Anh có tin vào con loài người không ?
          - Thưa ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin.
          - Anh đã thấy Người, chính người đang nói với anh đây.
          - Thưa Ngài, tôi tin (Ga 9,35-38)
Đức tin bao giờ cũng là sự gặp gỡ, một cuộc đối thoại trực tiếp cá nhân với Đức Giêsu, chứ không phải là sự chấp nhận một giáo lý trên bình diện một học thuyết, như kiểu người ta nhìn nhận một chân lý khoa học hay toán học.
(Thiện Cẩm, Trái chín đầu mùa, tr 202)
 Đức cha Matagrin, tổng giám mục Grenoble, đã đưa ra nhận xét này : trong Giáo hội Việt nam, còn nhiều người tin Chúa, nhưng ít người là Kitô hữu.
Kitô hữu là người có Đức Kitô trong mình, là gắn bó với Đức Kitô, là gắn bó với giáo lý của Ngài. Đức Kitô là trung tâm điểm của đời mình ; nhiều người tin Chúa, nhưng ít người là Kitô hữu. Đó là sự sơ suất đáng buồn và đã gây tai hại trong việc truyền giáo và sống đạo .
 (Đc Bùi Tuần, Nói với giáo dân, 1991, tr 9)
 Truyện : Tuyên xưng đức tin.
Bên Nhật bản, tại một học đường ở Nagasaki, có tất cả chừng 150 học sinh, nhưng duy có một em là người Công giáo. Em ở nội trú, nhưng mỗi bữa ăn, em vẫn thản nhiên hiên ngang chắp tay cầu nguyện trước và sau bữa ăn. Nhiều trò khác chế diễu và thưa với thầy giáo.
Ngày kia thầy kêu trò lại hỏi :
         - Tại sao trò lại làm như thế ?
         - Thưa thầy, con là Kitô hữu nên phải cầu nguyện Chúa luôn, con không được vô phép lãnh thực phẩm của Chúa ban mà không cảm tạ Chúa.
Liền đó, thầy úp mặt xuống bàn viết khóc và nói một cách hổ thẹn :
         - Trò ơi, ta đây là người tin Chúa song ta chẳng dám tỏ ra cho ai biết. Từ đây sắp tới, nhờ ơn Chúa, ta sẽ rán làm phận sự một tín đồ.
 Ta phải hiên ngang xưng Chúa ra mọi nơi, trong lời nói cũng như hành động. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 nói :” Ta phải truyền giảng Phúc âm bằng lối mới. Vậy thế nào là lối cũ ? Lối cũ là chú trọng vào việc thành lập các ủy ban, cơ quan, hội đoàn rồi sinh hoạt. Lối ấy nay không thích hợp. Ngày nay phải truyền giảng Phúc âm bằng đường lối mới . Điều đó không có nghĩa là có Phúc âm mới : Phúc âm luôn thế, nhưng lối truyền giảng phải mới nghĩa là sống đời chứng tá, diễn tả Phúc âm bằng lối sống hiện tại của mình”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm

 

PS2-105. HỒ HỞI VUI MỪNG VÌ THẤY CHÚA

  Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,CSsR
 

Niềm vui và Tin Mừng Phục Sinh vẫn vang lên mãi mãi trong lịch sử cứu độ, trong lịch sử dân: S2-105

Niềm vui và Tin Mừng Phục Sinh vẫn vang lên mãi mãi trong lịch sử cứu độ, trong lịch sử dân Chúa. Các môn đệ quả thực đã sống những giây phút như nín thở bởi vì thầy Giêsu đã chết và họ chưa hiểu ra sao! Nhưng, sự ưu phiền, ảo não, lo âu ấy đã bị biến tan mau chóng khi bất ngờ các môn đệ thấy Chúa phục sinh hiện đến đứng giữa họ, thật gần gũi. “ Chúng tôi đã được thấy Chúa “. Các môn đệ đã vui mừng, niềm vui vỡ òa bởi Chúa sống lại đã hiện đến với các ông.
 THẤY CHÚA NHƯNG CHƯA DỄ NHẬN RA NGÀI :
Đọc đoạn Tin Mừng của thánh Gioan Ga 20, 19-31 dùng tới sáu động từ thấy. Ở đây, thánh Gioan nhấn mạnh cho chúng ta về các môn đệ đã xem thấy Chúa. Thấy Chúa vẫn như thuở xưa, thấy Chúa với những lỗ đinh và vết đâm của tên lính ở cạnh sườn. Tuy nhiên, Chúa Giêsu phục sinh lại khác xưa nên, các môn đệ không thể dễ nhận ra Ngài ngay. Bởi vì Chúa sống lại với một thân xác khác, thân xác phục sinh và đó là cái kỳ diệu,sự mầu nhiệm của sự sống lại. Maria Mađalêna cứ ngỡ thầy mình là người làm vườn, các môn đệ lại ngạc nhiên đến ngỡ ngàng : “ à ra là Thầy “. Muốn thấy, muốn nhận ra Chúa phục sinh, điều kiện tiên quyết nhất là phải có đức tin. Người nào tin mới thấy được và thấy rồi sẽ tin hơn. Chúa phục sinh dù rằng suốt chặng đường ở với các môn đệ, Ngài đã dùng lời nói và việc làm để loan báo trước về cái chết và sự sống lại của Ngài, nhưng các môn đệ đâu có phải thấy Chúa phục sinh là nhận ra Chúa ngay đâu. Các Ngài còn phải hồi tỉnh và nhờ vào lòng tin mới nhận ra được Chúa sống lại.
 PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN :
Trên trần gian này có nhiều điều, chúng ta không thấy nhưng vẫn tin. Người trẻ lớn lên vẫn tin vào tình yêu, dù họ không biết định nghĩa tình yêu là gì.Họ vẫn tin vào tình bạn. Các đôi vợ chồng luôn tin vào sự chung thủy của nhau dù họ cũng không thể nào đọc hết được lòng dạ của nhau.Chẳng ai thấy cái sâu thẳm của tâm hồn nhưng con người vẫn tin vào tình làng nghĩa xóm, tin vào sự gắn bó yêu thương vv…Người ta cũng không thể cho rằng tin là mù quáng, là phi lý, là không thể chấp nhận được. Tin không hề làm giảm giá trị của con người. Bởi vì, chỉ có con người mới biết tin, mới dám tin.Tin là chấp nhận bấp bênh, có thể bị cả lừa dối, người Kitô hữu là người không thấy Chúa nhưng vẫn tin. Người Kitô hữu không thấy Chúa bằng mắt thịt nhưng họ thấy Chúa bằng con mắt đức tin. Người Kitô hữu không thấy Chúa bằng giác quan, nhưng thấy Chúa bằng con tim nhạy cảm. Họ thấy Chúa là Cha yêu thương, giúp đỡ con người và cứu độ con người, và thấy mọi người là anh em với nhau. Cha Michel Quoist viết một câu thật chí lý và ấn tượng :” Tin Chúa, không phải là hướng mắt về Người để chiêm ngưỡng, nhưng đồng thời cũng là nhìn vào trần gian với ánh mắt của Đức Kitô “. Cái đẹp, cái huyền diệu, cái mầu nhiệm của người Kitô hữu là tin bằng con mắt đức tin, tin bằng tất cả con tim của mình.
ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :
Trên thế giới ngày nay đang xẩy ra một cuộc khủng hoảng lớn về niềm tin. Tuy nhiên, Giáo Hội luôn mời gọi con cái giữ vững niềm tin. Hội Thánh chỉ ra rằng con cái phải tin vào Thiên Chúa và tin vào con người. Tin vào thế giới và tất cả mọi công trình do Người tạo nên. Tin vào tất cả những gì mà Người gửi đến cho con người. Bởi vì nếu cái gì con người cũng đòi hỏi phải có bằng chứng mới tin thì đức tin đã trở thành khoa học mất rồi. Người Kitô hữu quả thực rất hạnh phúc vì họ không thấy nhưng vẫn tin .
 Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm niềm tin cho chúng con để chúng con luôn nhận ra Chúa đang hiện diện trong cuộc đời của chúng con và trong mọi người anh em của chúng con. Amen.
 Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,CSsR

 

PS2-106. CỘNG ĐOÀN KHÀ TÍN- Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Có phải ngẫu nhiên hay chăng khi mà Phụng Vụ Lời Chúa ngày Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh năm nào: PS2-106

Có phải ngẫu nhiên hay chăng khi mà Phụng Vụ Lời Chúa ngày Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh năm nào ta cũng nghe đọc bài Tin Mừng về chuyện “Tôma cứng lòng tin”. Hẳn chủ ý của Mẹ Hội Thánh là muốn nhấn mạnh đến vai trò của đức tin trong việc tiếp nhận mầu nhiệm Phục Sinh? Quả thật, “người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giêsu” (Rm 3,22). Nghi thức cử hành Bí tích Thánh Tẩy cho người lớn được khởi đầu như sau: Anh chị em xin gì cùng Hội Thánh? – Thưa con xin Đức Tin. Đức tin sinh ơn ích gì cho anh chị em? – Thưa đức tin đem lại cho con sự sống đời đời. Là Kitô hữu, chúng ta vốn chân nhận tầm quan trọng của đức tin. Tin không nguyên chỉ là nhìn nhận một sự gì đó, một ai đó mà còn dấn thân trọn vẹn cả cuộc sống theo điều mình nhận, theo người mình tin. Dù rằng đức tin là một sự đáp trả của mỗi người trong sự hiểu biết và tự do cá nhân, tuy nhiên đức tin còn có tính cách cộng đoàn vì ta đón nhận và sống đức tin nhờ cộng đoàn đồng thời ta còn có nhiệm vụ thông truyền đức tin cho mọi nguời (x. GLCG số 180-181).
VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐOÀN ĐỐI VỚI ĐỨC TIN
Nghe bài Tin Mừng kể chuyện về Tông Đồ Tôma ta dễ nghiêng chiều về tính cách cá nhân của đức tin là cần được kiểm chứng cách tự thân. Ai lại không thích tận mắt mình thấy, tận tay mình sờ chính Đấng Phục Sinh. Thế nhưng dẫu cho các Tông Đồ đã được cái diễm phúc ấy thì vai trò của đức tin vẫn còn đó. Sự xuất hiện của Chúa Phục Sinh luôn có cái ẩn tàng để các ngài phải vượt qua. Bởi chưng những lần hiện ra của Chúa Phục Sinh không minh nhiên cách rõ ràng để các ngài được diện đối diện như sau này ở trên trời (x. 1 Cr 13,12; 2 Cr 5,7). Hình dáng bên ngoài của Chúa Phục Sinh đã có đổi thay nào đó so với trước đây khiến cho Mađalêna, hai môn đệ đi làng Emmau cũng như các Tông Đồ khó nhận ra Chúa. Và rồi các Tông Đồ mãi cần phải thấy một điều, và nhận một điều khác.
Tuy nhiên điều chúng ta muốn đề cập ở đây chính là tính cách cộng đoàn của đức tin. Trước hết chúng ta cần nhìn nhận rằng thái độ “cứng lòng tin” của Tôma vừa có nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Về phía chủ quan thì có lẽ hành vi rời bỏ cộng đoàn của Tôma minh chứng cho điều này. Sau khi Chúa chịu khổ nạn thì các Tông Đồ đã tụ họp nhau lại ở nhà Tiệc Ly. Còn Tôma thì không biết ngài “đi đi mô?”. Cũng có thể vì sợ hãi, cũng có thể vì một lý do cá nhân nào đó, nhưng trong cái hoàn cảnh này, một hoàn cảnh xem ra bi đát, vô vọng của cả tập thể mà tự ý bỏ đi một mình thì xem ra không được ổn. Thật khó mà biện minh cho sự thiếu “đồng cam cộng khổ” của ngài “đi đi mô”.
Tách rời tập thể, tách lìa cộng đoàn thường là một trong những nguyên nhân khiến đức tin của ta ra nguội lạnh và có khi hoá khô cằn. Thực tế cho chúng ta sự thật này. Một Kitô hữu, một gia đình con cái Chúa tự ý sống tách lìa với cộng đoàn, với giáo xứ của mình thì đời sống đạo khó mà giữ được sự nhiệt thành. Ở đây, chỉ dám nhận xét bên ngoài vì chỉ có Chúa mới thấu suốt mọi tâm can bí ẩn lòng người. Tuy nhiên, ta có thể căn cứ vào số thống kê để chân nhận điều này: trong số các thiếu nhi, thiếu niên xem ra “hư hỏng” thì đa phần là không tham gia vào các lớp giáo lý hay các sinh hoạt chung của cộng đoàn. Trong các gia đình có vẻ như “nguội lạnh” đức tin thì cũng đa phần là không có gắn bó với tập thể, nếu không muốn nói là tự ý sống cô lập một mình. Kinh nghiệm nơi cả hàng tu sĩ hay linh mục cũng thế. Một cá nhân nào đó sống khép kín, bỏ cộng đoàn thì dường như đã hay đang có vấn đề và dĩ nhiên là vấn đề không được hay, không được tốt. Chính vì thế, Mẹ Hội Thánh luôn đề cao tính cộng đoàn trong việc sống đức tin của đoàn con cái. Đó là tình huynh đệ của linh mục đoàn, tính cộng đoàn của các tập thể Dòng Tu, sự liên đới trong các giáo xứ. Mục vụ cho người “di dân”, cho những người rời quê hương vì sinh kế, vì chuyện học hành…đang là một trong những nổi băn khoăn lớn của Hội Thánh nói chung và Hội Thánh Việt Nam nói riêng.
Cộng đoàn có ảnh hưởng một cách nào đó trên đức tin của chúng ta. Mặc dù ta vẫn phải tuyên xưng với công thức “tôi tin” nghĩa là đức tin luôn là một quyết định có ý thức và tự do của bản thân, thế nhưng ta đừng quên đức tin của ta được hình thành, nuôi dưỡng và củng cố trong và nhờ cộng đoàn. Cộng đoàn có ảnh hưởng tích cực trên đức tin của ta và cũng có khi lại ảnh hưởng cách tiêu cực.
Thái độ cứng lòng tin của Tôma phải chăng có nguyên cớ nơi tập thể nhóm Tông Đồ, môn đệ? “Chúng tôi đã được thấy Chúa”. Chúng tôi đã được thấy Chúa, thế mà tám ngày sau các ngài vẫn đóng kín các cửa căn phòng, dĩ nhiên là vì sợ người Do Thái (x. Ga 20,19-26). Một lời tuyên xưng từ miệng những người mà chân tay mãi run cầm cập thì khả tín làm sao được! Thật khó trở nên dấu chỉ gợi mở lòng tin, thật khó trở thành nguồn củng cố đức tin cho một ai đó, khi mà cộng đoàn đức tin không thực sự phản ánh những gì được tin nhận. Chúng ta hẳn không quên trường hợp “vị thánh sống” của người Ấn Độ, Gandhi. Mặc dù rất cảm mến Tin Mừng nhưng ông đã không đón nhận đức tin trong Hội Thánh chỉ vì sự kỳ thị sắc tộc của một cộng đoàn bấy giờ. Mẹ Hội Thánh chúng ta cũng đã từng đấm ngực thú nhận rằng chính mình là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng vô thần trên thế giới hiện nay. Phải, chính đời sống phản chứng, phản Tin Mừng của con cái Chúa đã làm nhiều người “cứng lòng tin” (x. MV số 19).
DẤU CHỈ KHẢ TÍN CỦA CỘNG ĐOÀN KITÔ HỮU TIÊN KHỞI:
“Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung… Trong công đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy đem phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu” (Cv 4,32-35).
Những dòng Thánh Kinh thật đẹp, thật lý tưởng. Ngày nay ít có ai dám mơ tưởng chuyện như thế sẽ lại hiện thực. Mỗi thời mỗi khác. Mỗi giai đoạn phát triển sẽ có những hình thức tồn tại thích hợp khác nhau. Chắc hẳn không thể bê nguyên cái hình thức của cái thưở ban đầu “đáng mơ” ấy để áp dụng cho thời đại hôm nay. Thế nhưng cái bầu khí, cái tinh thần khả tín ấy cần được thể hiện trong các cộng đoàn con cái Chúa mọi thời, mọi nơi.
Giả như các gia đình khá giả tự nguyện đem những gì không phải là “hằng ngày dùng đủ” đặt dưới chân ông cha xứ để chia sẻ cho những gia đình đang không có “cái dùng đủ hằng ngày” thì thật đáng ước mơ. Thật đẹp thay khi các giáo xứ tương đối có “của tiêu của dùng” bớt đi chút tiêu và chút dùng cho tổ chức này nọ và đem đặt dưới chân Giám mục để ngài chia cho các xứ chưa có nơi thờ tự hoặc dân chúng ở đó đang sống ngang hay dưới mức nghèo khó. Thật lý tưởng khi các linh mục hàng tháng đem đặt dưới chân Giám mục một phần thu nhập để ngài phân phối lại cho những vị đáng được đỡ nâng. Thật đáng ước mơ khi mà Hội Dòng này không chỉ nâng đỡ Hội Dòng kia về linh đạo, về nhân sự mà còn cả về nguồn lực vật chất. Nhiều, nhiều cái thật lý tưởng và đáng ước mơ tương tự nếu được hiện thực thì sẽ là một trong những dấu chỉ khả tín có sức khơi gợi niềm tin nơi nhiều người. “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung… Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.” (Cv 2,42-47).
Đức Bênêđictô XVI trong thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” đã khẳng định bản chất của Hội Thánh được thể hiện qua ba tác vụ: Rao giảng Lời Chúa (kerygma-martyria), cử hành các Bí tích (leiturgia) và phục vụ bác ái (diakonia). Ba tác vụ này không thể tách rời nhau được. Việc phục vụ bác ái không phải là một hoạt động phụ thêm nhưng là một phần của bản chất của Hội Thánh (x. số 25). Công đồng Vatican II dạy ta rằng một trong những phương thuốc đặc hiệu chữa trị tình trạng vô thần đó là “đức ái huynh đệ của các tín hữu” (MV số 21).
MỘT VÀI CÂU HỎI TỰ KIỂM
Vì đâu tinh thần liên đới của các Kitô hữu sơ khai bị mai một dần? Có thể đổ lỗi cho hoàn cảnh đổi thay chăng? Hay là do lòng người hôm nay quá ích kỷ, chỉ lo hưởng thụ cá nhân và đoàn tín hữu Kitô cũng đang ở trong vòng lốc xoáy ấy? Dẫu sao đi nữa thì ta cũng khó lòng biện minh cho việc hàng giáo sĩ quá lo cho tương lai, lo cho tuổi già về hưu. Thử hỏi đã có mấy linh mục hay giám mục chết vì thiếu thốn các điều kiện vật chất hay là ngược lại như thực tế đã cho ta thấy?
Vì đâu mà thuyết Mác-xít muốn nỗ lực xây dựng một thế giới đại đồng huynh đệ dựa trên việc tái lập đức công bằng mặc dù có nhiều điểm sai lệch, đặc biệt nơi biện pháp thực thi? (x. tđ Thiên Chúa là Tình Yêu số 26). Phải chăng chúng ta, cộng đoàn tín hữu Kitô một nơi nào đó, một giai đoạn nào đó đã từng khép kín lòng mình trước người anh em đồng loại? Ngay hôm nay, bản thân tôi cũng dễ bị cám dỗ sống “hai phần ba” bản chất của Hội Thánh. Thú thực, là linh mục, dường như tôi tự hài lòng với việc rao giảng Lời Chúa và cử hành các Bí tích. Hai phần ba xem ra là khá lắm rồi chứ. Thế nhưng khi thiếu cái phần ba còn lại thì chẳng có gì cả. Không có đức ái thì tất cả chỉ là “phèng la, não bạt”( x.1Cor 13 ). Và chắc chắn đời sống của tôi đang thiếu tính khả tín.
Vì đâu mà cộng đoàn tín hữu thời sơ khai sống được đức ái cách triệt để như thế? Dĩ nhiên trên hết là nhờ ơn Chúa. Và chắc chắn có sự khả tín nơi đời sống các Tông Đồ, các môn đệ, những người đang hướng dẫn họ. Giả như các Tông Đồ sống thiếu tình bác ái hoặc các ngài sử dụng của cải không phân minh thì có lẽ tình hình Hội Thánh sơ khai khó bề được như vậy. Phận người bất toàn khó tránh được thiếu sót, sai lầm. Các ngài đã nhận ra điều này nên đã chọn thêm bảy phó tế để phụ giúp (x Cv 6,1-6). “Mạnh ở tướng chứ mạnh gì quân”. Câu nói của người xưa hẳn có phần đúng và đáng cho ta phải xét mình.
Để cộng đoàn chúng ta trở thành dấu chỉ khơi gợi đức tin, trở thành nơi xây dựng đức tin, củng cố và làm tăng trưởng đức tin, có nhiều phương thế nhưng trên hết, trước hết chúng ta phải là một cộng đoàn khả tín bằng tình bác ái huynh đệ.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

PS2-107. SHALOM VÀ RA ĐI - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, bà Maria Mađalêna sau khi đi ra mộ và được Chúa Phục: PS2-107

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, bà Maria Mađalêna sau khi đi ra mộ và được Chúa Phục Sinh hiện ra trao cho sứ vụ loan báo tin vui Phục sinh cho các môn đệ. Các môn đệ bán tín bán nghi về sự sống lại của Chúa như tin mừng Nhất lãm tường thuật (x. Mt 28,17; Mc 16,11.13.14; Lc 24, 37-41). Đồng thời các ông thêm phần lo sợ vì trong dân Do thái lúc bấy giờ phao tin các ông đã đánh cắp xác Chúa, như thông tin của các binh lính về việc Chúa sống lại và kế hoạch lừa đảo của các Thượng tế và kỳ mục (x. Mt 28, 11-15). Vì thế, các ông sợ hãi và đóng kín cửa. Chính trong hoàn cảnh khủng hoảng và lo sợ đó, Chúa Phục Sinh đích thân hiện đến cùng các môn đệ, cho các ông biết Người là ai, đồng thời trao ban cho các ông sứ mệnh loan truyền Tin mừng Phục sinh cho muôn dân.
Trước hết chúng ta nhận thấy, Chúa Kytô Phục sinh đích thân đến cùng và đứng giữa các môn đệ của Người. đây quả là sáng kiến riêng của Chúa Giêsu. Vì nếu Người không “đi bước trước”, các môn đệ khó có thể tin rằng Thầy của các ông đã sống lại. Chúng ta còn nhớ Chúa Giêsu trong “diễn từ ly biệt” đã hứa với các môn đệ rằng Người sẽ không để các ông mồ côi và Người sẽ “đến cùng” các ông (x. Ga 14, 18). Giờ đây Người đã đến để chứng thực rằng Người không chỉ thực hiện lời đã hứa mà còn là một bằng chứng cho thấy Người đã chỗi dậy từ cõi chết.
Khi hiện ra với các môn đệ, lời đầu tiên của Chúa Phục Sinh gửi đến cho các ông- bấy giờ đang sống trong tâm trạng lo sợ, là lời chúc bình an. “Bình an cho anh em” (Shalom). Người Dothái mỗi khi gặp nhau dù thân hay sơ đều dùng câu nói này để xã giao. Chúa Giêsu không chỉ dùng câu xã giao này như một công cụ giao tiếp thường nhật mà còn mặc cho nó một ý nghĩa mang tính tôn giáo. Vâng, Bình an mà Chúa Giêsu Phục sinh trao ban cho các môn đệ là sự Bình an đích thực, không phải đầu môi chót lưỡi, một sự Bình an “không như thế gian ban tặng” như Người đã nói (x. Ga 14 27).
Nhận lãnh sự Bình an đích thực từ chính Đấng Phục sinh, thế nhưng dường như tâm trí các môn đệ vẫn chưa được an bình. Lý do có lẽ do quá ngỡ ngàng, quá bất ngờ và xúc động cũng như có cả sự hoài nghi ngờ vực nữa. Chính vì thế Chúa Giêsu Phục sinh đã kiện toàn niềm tin cho các ông khi chính Người cho các ông xem những dấu đinh ở tay chân và cạnh sườn. Nhận được lời chúc Bình an, xem các dấu đinh như là bằng chứng xác thực nhất về việc Thầy các ông đã chết nay đang sống và hiện diện trước mặt các ông, các môn đệ giờ đây không còn hoài nghi nữa, các ông xác tín mạnh mẽ và tràn đầy niềm vui trong Chúa. Tuy thế, vẫn ngoại trừ một người, đó là Tôma.
Tôma được biết đến như là “ông tổ của thuyết duy thực nghiệm” : cái gì chỉ được xem là chân lý khi nó được kiểm nghiệm, cân đong, đo, đếm chính xác. Khi được các bạn đồng môn báo tin rằng họ đã được thấy Chúa, Tôma liền áp dụng ngay lý thuyết thực nghiệm của mình : “Nếu tôi không… tôi chả tin”. Đó cũng là lý do cho lần hiện ra thứ hai của Chúa Phục Sinh. Vẫn là câu chúc Bình an của Đấng Phục Sinh rồi sau đó là việc Chúa đồng ý cho Tôma kiểm nghiệm “học thuyết” của mình để truy tìm chân lý : Hãy đặt. Hãy nhìn. Hãy đưa tay đặt cạnh sườn.
Không biết Tôma có dám kiểm nghiệm không, tác giả Tin mừng không nói nhưng đổi lại là phản ứng tức thời của Tôma là thay đổi hẳn thái độ hoài nghi, thay vào đó là một lời tuyên xưng niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa. Lời tuyên xưng danh hiệu Thiên Chúa của Chúa Giêsu- một danh hiệu độc nhất vô nhị trong Tin mừng lại được dành cho Tôma - kẻ hoài nghi: “Lạy Chúa của con! Lạy Thiên Chúa của con!”.
Chúa Phục Sinh thông ban Thần khí để các môn đệ cũng được hiệp thông với Chúa trong việc loan báo sứ mạng tha thứ và hoà giải giữa Thiên Chúa với con người. Từ nay, chính các ông chứ không ai khác sẽ là những chứng nhân Tin mừng Phục sinh cho toàn cõi địa cầu. Chúa Giêsu đảm bảo sự hiện diện với các ông cho đến giờ tận cùng.
Chúa Phục Sinh kết thúc bằng một lời hứa “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Đây chính là lời hứa cho các môn đệ tương lai trong đó có chúng ta. Như thế, bước theo Chúa Kytô Phục Sinh, loan báo tin mừng Phục Sinh cho hết mọi người, đó còn là sứ mệnh của tất cả chúng ta - những người “không thấy mà tin”. Một sự bước đi trong niềm tin, trong lời hứa của Chúa Phục sinh đã được thánh Phêrô diễn tả rất tuyệt vời : “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang” (1 Pr 1, 8). Chúng ta còn sợ gì để ngại bước dấn thân?
Xin Chúa Kytô Phục sinh giúp mỗi người chúng ta cảm nếm được niềm vui Phục sinh để, như các môn đệ xưa, hăng hái ra đi rao giảng tin vui Phục sinh cho khắp nhân trần ngõ hầu toàn thể trái đất này chung lời ngợi khen và cảm tạ tình Chúa yêu thương trong ánh sáng huy hoàng của niềm vui sống lại mai sau.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

 

PS2-108. PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN - Lm. An Phong, OP

Ga 20,19-31
 

Tin mừng hôm nay thuật lại chuyện ông Tôma cứng lòng tin; ông không chấp nhận lời chứng: PS2-108

Tin mừng hôm nay thuật lại chuyện ông Tôma cứng lòng tin; ông không chấp nhận lời chứng của các môn đệ khác và chỉ tin khi được "nhìn tận mắt, sờ tận tay"; đòi hỏi của Tôma cũng được chấp nhận, và ông đã thốt lên "Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa tôi !".
Trong đời thường, hẳn không thiếu những người như ông Tôma, tức là những người không dễ dàng chấp nhận điều mình chưa kiểm nghiệm. Xét cho cùng, điều đó cũng đúng thôi; vì đây không phải là chuyện vui chơi, đùa cợt, nhưng là điều có thể thay đổi tất cả cuộc đời mình.
Nhưng điều "đáng trách" của Tôma là ông đã "không có mặt" cùng các bạn hữu của mình trong những ngày "khó khăn" này. Khi người ta không "ở cùng nhau" thì chẳng những điều không hợp lý mà cả điều hiển nhiên rõ ràng cũng không dễ làm cho người ta chấp nhận.
Thái độ của Tôma có lẽ cũng "hợp lý", vì cuộc đời này còn quá nhiễu nhương, vì trong cuộc sống con người còn quá nhiều mưu mô lừa đảo.
Nhưng nếu như đối với một sản phẩm, một đồ vật, người ta có thể kiểm nghiệm được chất lượng một cách khá chắc chắn; thì trong mối tương quan con người với nhau, điều đó lại không bao giờ có thể thực hiện được. Thật tình với một người bạn, lựa chọn người bạn đời, sinh một đứa con… tất cả đều là một cuộc phiêu lưu mà không ai có thể nắm chắc được tương lai. Muốn có bạn, muốn có vợ (chồng), muốn có con, người ta phải chấp nhận tin bằng "con tim" của mình, chứ không thể "kiểm nghiệm chất lượng" một cách hoàn toàn chắc chắn. Ðó là ý nghĩa điều Ðức Giêsu đã nói : "Ai không thấy mà Tin mới là người có phúc".
Dầu vậy, Chúa Giêsu không bỏ rơi Tôma cũng như không bỏ rơi những người giống như Tôma sau này. Ngài lựa chọn một lần khác, khi mà "có mặt ông Tôma" cùng với các môn đệ khác của Chúa Giêsu để cho ông được "nhìn tận mắt, sờ tận tay"; để lời chứng của Tôma sẽ là một lời chứng rõ ràng hơn với chúng ta, những người sống trong một xã hội có đầy dẫy những điều điên đảo…; để "anh em tin rằng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa; và để anh em tin mà được sự sống nhờ Danh Người".
Lạy Chúa Giêsu,
Xin cho chúng con biết sống cuộc đời này,
không những bằng lý trí suy xét khôn ngoan,
nhưng còn bằng con tim tràn đầy yêu thương nữa.
Ðể chúng con có thể nhận ra anh chị em,
và nhận ra Chúa vẫn đang ở giữa chúng con.
Lm. An Phong, OP

 

PS2-109. CHÚNG TÔI ĐÃ THẤY CHÚA

Cả bốn Tin mừng đều thuật lại những lần hiện ra của Chúa Phục Sinh với những cá nhân: PS2-109

Cả bốn Tin mừng đều thuật lại những lần hiện ra của Chúa Phục Sinh với những cá nhân ( Ga 20, 14 – 17; Mt 27, 5 – 7; Lc 24, 25 – 31; Mc 16, 9 – 13 ) và những nhóm môn đ khác nhau ( Mt 28, 16 – 20; Lc 24, 36 – 49; Ga 21, 1 – 23 ). Nhưng tường thuật Chúa Phục Sinh đến với Nhóm Mười Hai vào ngày thứ nhất trong tuần có một tầm quan trọng đặc biệt. Nhóm Mười Hai trở thành nền tảng của cộng đoàn Phục Sinh, thành những chứng nhân mắt thấy tai nghe về Chúa Phục Sinh, đ loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người ( x. Cv 4, 20 ).
Khi Chúa đến với Nhóm Mười Hai lần đầu tiên vào chiều ngày thứ nhất trong tuần thì Tôma vắng mặt. Các Tông Đ đã nói với ông:”Chúng tôi đã được thấy Chúa” ( Ga 20, 25 ). Đây vừa là lời tuyên xưng Đức Tin vừa là lời làm chứng về Chúa Phục Sinh. Những lời này có tác dụng chuẩn bị và khơi dậy Đức Tin đã phai lạt nơi Tôma.
Tám ngày sau, cũng trong cộng đoàn đó, Tôma tìm lại được Đức Tin của mình. Chính cộng đoàn đã thắp sáng lên niềm tin cho người anh em. Bởi đó, khi Chúa Phục Sinh với lời mời gọi yêu thương:” Tôma, hãy xỏ ngón tay con vào lỗ đinh, hãy đặt bàn tay con vào cạnh sườn Thầy.Chớ cứng lòng nhưng hãy tinthì lập tức Tôma được biến đổi từ bóng tối nghi nan sang ngời sáng niềm tinLạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).
Một trong những khuyết điểm lớn nhất của Tôma là tự tách rời khỏi anh em Tông Đ, xa cách đời sống cộng đoàn. Trong sự choáng váng bởi thất vọng ; trong buồn phiền vì chán nản ; trong tâm trạng hoài nghi do mất mát, Tôma đã tự nhốt mình trong cô đơn lẽ loi. Tôma xa lánh anh em. Tôma tìm quên lãng trong sự phiền muộn. Vì thế, Tôma đánh mất cơ hội gặp Chúa Phục sinh. Thế rồi cho đến khi trở lại với cộng đoàn, Tôma mới gặp gỡ Chúa đang giữa anh em. Nhờ đó Tôma đã tìm lại được lòng tin mạnh mẽ, kiên trung. Truyền thống Giáo Hội kể lại, Tông Đ Tôma qua Ấn đ truyền giáo và chịu tử đạo đó.
Đức Tin của người tín hữu được trao ban và nhận lãnh nơi cộng đoàn Phục Sinh, cộng đoàn Giáo Xứ. Nơi cộng đoàn này, người tín hữu được nuôi dưỡng và lớn lên trong Đức Tin, hoặc tìm lại được niềm tin của mình.
Đức Tin Kitô giáo vừa có chiều kích cộng đoàn vừa có chiều kích cá nhân. Đức Tin cá nhân được cộng đoàn nuôi dưỡng và làm thành Đức Tin cộng đoàn. Cộng đoàn vững mạnh và phát triển là nhờ Đức Tin cá nhân. Cộng đoàn làm cho Đức Tin cá nhân phong phú và độc đáo.
Lời Chúa được công bố giữa cộng đoàn Thánh Thể chính là Lời Phục Sinh. Mỗi người tín hữu lắng nghe và chấp nhận cho riêng mình. Mỗi người, nhờ lòng tin và lòng mến mà Lời Chúa sẽ sinh hoa kết quả trong tâm hồn.
Mình Máu Chúa được trao ban cho mọi tín hữu trong cộng đoàn Thánh Thể. Mỗi cá nhân tín hữu lại đón nhận với mức đ Đức Tin khác nhau. Người tín hữu phải đ Đức Tin khi rước Thánh Thể của Đấng đã chết và sống lại. Không chỉ ăn uống Mình Máu Chúa mà còn là gặp gỡ riêng tư với Chúa Phục Sinh như Tôma vậy.Trong cuộc gặp gỡ riêng tư này, người tín hữu được đón nhận sự sống dồi dào vào tâm hồn mình.
Đời sống cộng đoàn thật quan trọng cho niềm tin người tín hữu. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Tông Huấn Người Kitô hữu giáo dânđã đưa ra bốn hình ảnh về Giáo Xứ, cộng đoàn Phục Sinh, cộng đoàn Thánh Thể.
Giáo Xứ là một gia đình của Thiên Chúa chan hoà tình bác ái huynh đ. Mọi người được đón tiếp chân thành, được sống trong bầu khí bác ái, được cảm thấy mình được kính trọng, được yêu thương che chở. Ai cũng cảm thấy mình thuộc về Giáo Xứ là một vinh dự.
Giáo Xứ là một cộng đoàn nuôi dưỡng Đức Tin. Mọi người được bồi dưỡng Đức Tin, được kêu gọi sống Đức Tin, được giúp hiểu biết các vấn đ Đức Tin. Các Thánh Lễ, các giờ Giáo Lý, các buổi cầu nguyện luôn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Lời Chúa và lời Giáo Hội soi sáng mà người tín hữu hiểu biết về những biến cố cuộc đời.
Giáo Xứ là một cộng đoàn có tổ chức. Mọi người được sắp xếp trong một hệ thống trật tự, có phân công, có trách nhiệm.Tất cả liên hệ với nhau trong tinh thần hiệp thông, cộng tác, trách nhiệm đ xây dựng Giáo Xứ tốt đẹp.
Giáo Xứ là một cộng đoàn truyền giáo. Đây là hình ảnh mà Công Đồng Vatian II đ cao nhất, hình ảnh cộng đoàn truyền giáo. Mọi người được nuôi dưỡng Đức Tin, được sống tình bác ái đ ra đi truyền giáo, loan báo Tin Mừng Phục Sinh, rao truyền niềm vui, niềm hy vọng như cộng đoàn Nhóm Mười Hai đã ra đi đến với muôn dân.
Cộng đoàn Phụng Vụ Chúa Nhật là điểm hẹn chính thức và thường xuyên của Chúa Phục Sinh với các tín hữu. Không nên lỗi hẹn với Chúa trong các cuộc họp cộng đoàn ( x. Dt 10, 25 ). Rất cần thiết phải chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh. Chúa luôn có mặt đ giải thích Kinh Thánh đồng thời mở lòng mở trí cho các tín hữu hiểu Lời Người ( x. Lc 24, 32.45 ) và hiến ban chính mình đ nuôi sống người tín hữu chúng ta.
Tôma đã nhờ cộng đoàn yêu thương nâng đ mà tìm lại được niềm tin. Nơi Tôma có cái gì đáng yêu, đáng ngưỡng mộ. Tuy Tôma có cứng lòng tin nhưng lại dễ dàng khiêm nhường đón nhận những góp ý chân thành của cộng đoàn.
Nhờ Tôma mà ta có được mối phúc thứ chín: Phúc cho ai không thấy mà tin( Ga 20, 29 ). Mối phúc này nghe như có lời dặn dò: muốn thấy điều mình tin, hãy bắt đầu bằng cách tin điều mình không thấy và chừng như cũng có lời ước hẹn: tin điều mình không thấy sẽ thấy điều mình tin.
Mỗi tín hữu vững tin sẽ thấy điều mình tin đ nói được rằng:”Tôi đã thấy Chúa” ( Ga 20, 18 ), nhờ đó cả cộng đoàn cũng đều nói lên: ”Chúng tôi đã thấy Chúa” ( Ga 20, 25 ).
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

PS2-110. NHÂN CHỨNG PHỤC SINH - Lm. Giuse Đỗ Văn Lực, OP

Ga 20,19-31
 

Trong tòa giải tội mấy ngày tuần thánh đông nghẹt. Trong tòa chúng ta nghe gì, nếu không: PS2-110

Trong tòa giải tội mấy ngày tuần thánh đông nghẹt. Trong tòa chúng ta nghe gì, nếu không phải là sự nổi loạn và mất bình an trong tâm hồn nhiều người. Ðức Giêsu muốn trả lại sự bình an cho con người. Phục sinh chính là sự bình an Thiên Chúa ban cho con người. Hơn lúc nào, nhân loại vẫn khao khát sự bình an. Bình an là một ân sủng lớn lao. Bình an là món quà tuyệt vời Thiên Chúa ban cho loài người.
CHỨNG TỪ SỐNG ÐỘNG
Các môn đệ đã vui mừng hết sức khi gặp lại Thày chí thánh trong hình dạng nguyên tuyền. Có những dấu chỉ chắc chắn xác quyết Thày vẫn là Thày ngày trước. Từ tình trạng "sợ người Do thái" (Ga 20:19), các ông đã chuyển sang tâm trạng "vui mừng vì được thấy Chúa" (Ga 20:20). Niềm vui ấy bắt nguồn từ sự bình an tràn ngập từ dung nhan Ðức Giêsu. Mỗi lần xuất hiện, Người đều nói: "Bình an cho anh em !" (Ga 20:19, 21) Người chính là nguồn bình an đích thực cho những người mong đợi Người đến trong vinh quang. Ðể xác tín vào vinh quang đó, các môn đệ cần một kinh nghiệm. Không phải chỉ một mình Thomas mới cần đến bằng chứng. Thực tế, trước khi làm chứng cho Thomas, "Người cho các ông xem tay và cạnh sườn." (Ga 20:20)
Chắc chắn những dấu đinh nơi bàn tay và cạnh sườn đã đập thẳng vào mắt các ông. Từ cảm nghiệm hết sức cụ thể đó, các ông mới thấy được tất cả sự thật về Người. Người đóng vai Thiên Chúa để trao sứ vụ và thổi Thần khí cho các môn đệ. Chính Người nói với các ông : "Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." (Ga 20:21) Thật vinh dự cho các môn đệ khi cùng được chia sẻ một sứ mạng cao cả với Thày chí thánh. Sứ mạng đó nhằm cứu độ trần gian. Sứ mạng đó chỉ được thực hiện bằng cây khổ giá và trong uy quyền. Vừa tủi nhục vừa cao cả. Tất cả sẽ được bảo đảm bằng Thần Khí. "Người thổi hơi vào các môn đệ và bảo : 'Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (Ga 20:22-23) Mục đích quyền bính cũng chỉ để hòa giải và trả lại bình an cho tâm hồn.
Nhưng quyền bính ấy chỉ được thực hiện trong Thánh Linh. Không Thánh Linh, các chứng nhân không thể thi hành sứ mạng làm chứng cho Ðức Giêsu Kitô. "Thánh Linh nói lên việc Thiên Chúa đang cư ngụ 'trong anh em' (Ga 14:17) và Người phát xuất từ Ðức Giêsu được tôn vinh như nguồn mạch phát sinh sự sống vĩnh hằng." (Ga 7:39) (The New Jerome Biblical Commentary 1990:984) Thánh Linh đã xuất hiện để củng cố quyền lực Ðức Giêsu và để mạc khải về quyền bính Thiên Chúa nơi Người. Ðó là điểm tựa vững chắc cho mọi Kitô hữu trên bước đường làm chứng cho Ðức Giêsu Phục sinh. Chính Thánh Linh bảo đảm Phục Sinh là một sự kiện có thật cho niềm tin Kitô giáo. Không có Thánh Linh, chính các tông đồ cũng cảm thấy khó khăn và lúng túng trong việc tin vào sự kiện Phục Sinh. Chính thánh Thomas khẳng quyết : "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (Ga 20:25) Thế nhưng, nhờ Thánh Linh, ông đã có thể tuyên xưng một sự thật vượt quá những gì ông quan sát : "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !" (Ga 20:28) Hơn nữa ông còn trở thành nhân chứng cho Ðức Giêsu Phục Sinh, không thua kém bất cứ Tông Ðồ nào.
Niềm tin Phục Sinh không dừng lại nơi cộng đoàn các Tông Ðồ. Trái lại phải được truyền bá sâu rộng cho muôn vàn thế hệ. Làm sao có thể chuyển đạt niềm tin đó đúng như lời Ðức Giêsu nói : "Phúc thay những người không thấy mà tin !" (Ga 20:29) Bí quyết nằm trong tay các chứng nhân. Bí quyết đó chính là Thánh Linh, sức mạnh tạo lập và củng cố niềm xác tín Phục Sinh, bắt đầu từ chứng nhân tới những ai đáng được hưởng mối phúc Ðức Giêsu đã loan báo. "Dù không xem thấy, nhưng tất cả các Kitô hữu đều có niềm tin không khác niềm tin các môn đệ đầu tiên. Ðức tin của họ dựa trên sự hiện hiện của Chúa nhờ Thánh Linh." (The New Jerome Biblical Commentary 1990:984) Nhờ ánh sáng Phục Sinh, bản chất Thiên Chúa nơi Ðức Giêsu được mạc khải rõ ràng nhất. Tất cả đều nhờ ngón tay thần kỳ của Ngôi Ba Thiên Chúa đang hoạt động mãnh liệt nơi các chứng nhân. Hoạt động đó nhằm tái lập trật tự trong trời đất và mối giao hòa giữa Thiên Chúa và thụ tạo. Ðó là hiệu quả tỏ tường của sức sống Phục Sinh bắt nguồn từ Thánh Linh. Nói khác, nhờ Thánh Linh, thân xác Phục Sinh của Ðức Giêsu đã trở thành trung tâm nối kết đất trời và sức mạnh ổn định trật tự vũ trụ. Bình an đã lên ngôi nơi đỉnh cao Phục Sinh. Nguồn phát sinh bình an chính là tình yêu.
CHỨNG NHÂN HÔM NAY
Tình yêu cũng chính là chứng từ sống động nhất có thể tìm thấy ngay nơi thân xác Ðức Giêsu Phục Sinh tức là cộng đoàn dân Chúa (Cl 1:18). Ngay từ thời sơ khai, "các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung." (Cv 4:32) Nỗ lực lớn lao đó có thể tạo một chứng từ mãnh liệt nhất cho niềm tin vào Ðức Giêsu Phục Sinh. Nói khác, không có niềm tin Phục Sinh, không thể có chứng từ tốt đẹp như vậy ! Các môn đệ đã được Thiên Chúa tuyển chọn như những chứng nhân Phục Sinh vì họ "đã cùng ăn uống với Chúa sau khi Người sống lại từ cõi chết." (Cv 10:41) Tiêu chuẩn chọn người thay thế Giuđa cũng dựa trên chứng từ Phục Sinh (Cv 1:22).
Không dễ gì nói cho mọi người biết và tin vào Ðức Giêsu Phục Sinh. Tin vào Thiên Chúa tương đối dễ hơn. Biến cố Phục Sinh quá vĩ đại và khác thường vượt quá tầm thức nhân loại. Thế nhưng chính Thánh Linh đã dùng tình yêu để chinh phục mọi người. Tình yêu đã trở thành sức mạnh thuyết phục. Thật vậy, "trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Ðồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tùy theo nhu cầu." (Cv 4:34-35) Mọi người phải kinh ngạc vì thấy lý tưởng của dân Do thái trong sách Ðệ Nhị Luật (Ðnl 15:4) đã được chứng nghiệm rõ ràng. Các chứng nhân đầu tiên cảm thấy có trách nhiệm với nhau, không phải do huyết nhục, nhưng do tình liên đới trong Ðức Giêsu Phục Sinh vì "chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người." (Ep 5:30) Ðúng hơn, nhờ sống trong ý thức "mỗi người là phần thân thể của nhau," (Ep 4:25) người giàu tự nhận có trách nhiệm đối với người nghèo. Một chiều kích lớn lao vượt trên những ranh giới bình thường giữa giàu nghèo, chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, vì tất cả liên kết với "đầu của Hội Thánh" (Cl 1:18) tức là Ðức Giêsu phục sinh.
Chứng từ Phục Sinh không bao giờ chấm dứt. Qua muôn thế hệ, các Kitô hữu vẫn thi nhau làm chứng : "Ðức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Ðức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại." (Cv 2:22-24) Chính vì thế, đến lượt mình, Kitô hữu cũng phải cho mọi người thấy chứng từ tình yêu Phục Sinh nơi chính những thập giá hôm nay trên bước đường tranh đấu chống lại bất công, hận thù. Nói khác, mầu nhiệm Phục Sinh luôn thúc đẩy "toàn thể dân Chúa gieo rắc chứng từ sống bằng một cuộc sống nhiệt tình đầy nhân đức siêu nhiên." (Latourelle 1995:1050)
Chỉ có chứng từ kiên trì và mãnh liệt đó mới dẫn mọi người bước vào con đường cứu độ và mới làm cho Kitô hữu hoàn thành sứ mạng. Quả thực, "người tín hữu . . . được kêu gọi làm cho nét mới mẻ và sức mạnh Tin Mừng chiếu sáng hằng ngày trong đời sống gia đình và xã hội." (Chistifideles Laici 14) Suốt 13 năm tù đầy, Ðức Hồng Y Nguyễn văn Thuận đã sống chứng từ tình yêu Phục Sinh giữa một rừng người hận thù. Sau cùng, người đã cảm phục được người cai tù, đã biến thù thành bạn. Tình yêu vượt trên tất cả (1 Cr 13:1) và là một ngôn ngữ quốc tế và phổ quát. Nhờ sức mạnh Thánh Linh, Kitô hữu có thể viết lên thông điệp cứu độ bằng ngôn ngữ đó vào tận con tim nhân loại. Thiên Chúa đang phục sinh nhân loại nhờ chính ngọn lửa Thánh Linh nung nấu tình yêu trong lòng Kitô hữu hôm nay. Tình yêu làm cho Tin Mừng và cuộc đời hòa nhịp với nhau. Và đó là chứng từ Phục Sinh cho một nhân loại đang dãy chết.
Lm. Giuse Đổ Vân Lực, OP

PS2-111. PHỤC SINH KHÔNG PHẢTU7O ĐIỀU TƯỞNG TƯỢNG
 Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP
Ga 20,19-31
Chúng tôi đã thấy Chúa và vui mừng
 

Chỉ sau khi được gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, các môn đệ của Đức Giêsu mới tin rằng Người: PS2-111

Chỉ sau khi được gặp gỡ với Ðấng Phục Sinh, các môn đệ của Ðức Giêsu mới tin rằng Người đã sống lại thật. Có thể nói, sau cái chết đau thương của Ðức Giêsu, tất cả các ông đều sợ ; các ông tụ họp nhau và đóng kín cửa. Trong bối cảnh đó, các ông cảm thấy tràn ngập vui mừng vì gặp lại Ðức Giêsu vẫn đang sống, đang hiện diện giữa các ông. Các ông nhận ra Ðức Giêsu bằng xương bằng thịt, chứ không phải là ma, cũng không phải do ảo giác. Các ông đã nhận ra Ðức Giêsu với những thương tích trên mình : Người đã chết thật, nhưng đã sống lại. Các vết thương làm chứng Người đã chết ; nhưng con người đang chịu những vết thương ấy bây giờ đang sống giữa họ đây. Người đã sống lại thật. Các môn đệ tin như thế.
Tin Mừng Phục Sinh quả là Tin Mừng đúng nghĩa, Tin Mừng lớn lao nhất. Có lẽ các môn đệ chưa hiểu được tất cả ý nghĩa sâu xa của biến cố này, nhưng ít ra trong lúc này, các ông cũng hiểu lờ mờ về những điều Ðức Giêsu đã nói trước với các ông : Ðức Kitô phải chịu đau khổ. "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi ..." (Ga 12,24). Những điều ấy nay đã được thực hiện cách trọn vẹn.
Các môn đệ vui mừng vì cảm nhận được sức mạnh của Lời Chúa : thế lực thù nghịch Thiên Chúa và con người đã bị đánh bại ; sự sống đã chiến thắng sự chết, tình yêu đã vượt lên trên hận thù, đem lại ơn tha thứ và sự sống mới. Nhờ cảm nhận được sức mạnh này, các ông sẽ can đảm dấn mình vào công trình cứu độ của Ðức Giêsu, và làm cho công trình ấy nảy sinh kết quả nơi nhiều người.
 Ngoài ra, các môn đệ vui mừng vì các ông được biến đổi để thành con người mới. Các ông đón nhận từ Ðấng Phục Sinh một luồng khí mới, một luồng khí làm cho các ông trở thành những con người can đảm và hăng say làm chứng về Ðấng Phục Sinh tại khắp mọi nơi trên thế giới.
Như thế, nhờ cuộc gặp gỡ với Ðấng Phục Sinh, các môn đệ bắt đầu một hành trình mới của lòng tin. Các ông sẽ dần dần gắn bó sâu xa hơn với Ðức Giêsu : các ông tin Người là Chúa bởi vì Người đã chiến thắng sự chết, đồng thời sẵn sàng chia sẻ thân phận của Người. Các ông biết chắc rằng, sau khi đã cùng bước đi với Ðức Giêsu trên con đường thập giá, các ông sẽ được tham dự vào cuộc chiến thắng của Người. Nói cách khác, các ông hiểu rằng chính mình cũng sẽ được phục sinh như Ðức Kitô nếu như các ông chu toàn trách vụ được giao phó, dù có những gian truân, dù phải hy sinh mạng sống.
"Tôi chỉ tin ... nếu ..."
Niềm vui của các môn đệ, bằng chứng các ông đưa ra không thể thuyết phục ông Tôma, người môn đệ vắng mặt khi Ðấng Phục Sinh hiện đến.
Thật ra, thái độ của ông Tôma cũng dễ hiểu. Tự nhiên ông cảm thấy mình thiệt thòi và thua kém. Trước đây, chính ông đã từng lên tiếng thúc giục các môn đệ : "Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy" (Ga 11,16). Ông nghĩ mình có quyền được xem thấy Ðấng Phục Sinh, ít ra như mọi anh em, thế nên ông đã đưa ra điều kiện : "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người ... tôi chẳng có tin." Ông quả là một người chính trực và thẳng thắn.
Nhìn từ một góc cạnh khác, thái độ không dễ tin của ông Tôma lại là một cơ hội để mầu nhiệm Phục Sinh được chứng thực một cách rõ ràng hơn. Biết đâu các anh em muốn đùa với ông một chút, hay là câu chuyện các anh em kể lại chỉ là một thứ ảo giác tập thể. Vậy thì tốt hơn hết là khôn ngoan. Và nhờ vậy, người ta có dịp kiểm chứng về lời loan báo của các môn đệ.
Ðàng khác, có lẽ ông Tôma là người duy nhất nghĩ đến việc tổ chức lại sinh hoạt cá nhân cũng như cộng đoàn sau khi Ðức Giêsu chịu chết. Ông đã đi ra ngoài vì ông không sợ. Ông phản ứng dường như Ðức Kitô đã rời bỏ trần gian và chỉ trở lại vào ngày cuối cùng. Trong khoảng thời gian này, ông nghĩ rằng cần phải sống điều được gọi là sự vắng mặt của Thiên Chúa. Do đó ông đã ra ngoài, đi đâu đó, và không có mặt cùng với các môn đệ trong căn phòng.
Cuối cùng, ông Tôma đã được gặp gỡ với Ðức Kitô Phục Sinh và đang sống. Tám ngày sau, Người hiện đến và đáp ứng những yêu cầu của ông : "Ðặt ngón tay ... và hãy nhìn xem ... Ðừng cứng lòng tin nữa, nhưng hãy tin." Ông Tôma hẳn là cảm thấy mình kỳ cục khi Ðức Giêsu sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi của ông. Ông chỉ còn biết lắp bắp thưa : "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con."
Trước chứng cớ rõ ràng, mọi nghi ngờ của ông đều tan biến, ông chỉ có thể bày tỏ sự thần phục của mình. Lời tuyên xưng phát xuất từ đáy lòng cho thấy tất cả niềm tin của ông vào Ðấng Phục Sinh. Ông đã đi xa hơn các môn đệ khác về những bằng chứng làm nền tảng cho lòng tin, nhưng có lẽ ông cũng đã vượt lên trên thái độ vui mừng của các môn đệ, để đi đến một lòng tin sâu sắc : "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con."
Lời tuyên xưng của ông đã trở thành khuôn mẫu, là tiêu biểu cho cộng đoàn Kitô hữu thời sơ khai cũng như sau này. Mọi người, mọi thế hệ cũng đều thưa lên như thế để bày tỏ niềm tin sống động vào Ðấng Phục Sinh.
Như vậy, xét cho cùng, thái độ của ông Tôma chẳng có gì là đáng trách : ông có lý do để nghi ngờ, nhưng một khi đã được mặc khải, ông sẵn sàng tin và tin đến cùng.
Lòng tin bắt đầu từ cộng đoàn
Ngày nay, có khá đông tín hữu chấp nhận thái độ như ông Tôma. Họ thích lặp lại câu nói : Chúng tôi chỉ tin điều chúng tôi thấy. Hơn thế, người ta còn hành động như thể là đời sống trần gian này chỉ tuỳ thuộc vào con người mà thôi. Người ta vẫn quả quyết rằng Ðức Giêsu Kitô đang sống, mỗi người vẫn đang tìm kiếm khuôn mặt của Người trong cuộc sống, trong cuộc gặp gỡ với người khác. Thế nhưng, khi hành động, người ta lại làm khác đi và từ tận đáy lòng vẫn vang lên câu hỏi : "Thiên Chúa của bạn ở đâu ?"
Thật ra, những người này nên nhớ rằng cuộc gặp gỡ riêng tư giữa Ðức Giêsu và ông Tôma, trong đó ông Tôma tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa, đã diễn ra trong một cộng đoàn, khi các môn đệ đang tụ họp với nhau. Xưa cũng như nay, không khi nào Ðức Kitô hiện diện mà không có chứng tá của những cộng đoàn làm nên Giáo Hội. Có Ðức Kitô là phải có Giáo Hội.
Nhưng tại sao họ lại không tin vào lời chứng của cộng đoàn tín hữu ?
Trong niềm tin vào Ðức Giêsu Kitô, đây là một đòi hỏi luôn có tính thời sự. Tin vào Ðức Kitô Phục Sinh và đang sống là một hành vi riêng tư chiếm lĩnh toàn bộ con người. Tuy thế, hành vi này phải dựa trên lòng tin và chứng tá của một cộng đoàn tín hữu. Hơn nữa, hành vi này chỉ thực sự có ý nghĩa một khi nó được diễn tả qua việc loan báo Tin Mừng, vượt ra khỏi căn phòng đóng kín cửa. Vì vậy, nguy cơ lớn của thời đại hôm nay là người tín hữu muốn coi kinh nghiệm về Ðức Giêsu là của riêng mình và muốn giữ riêng cho mình, đóng kín tâm hồn.
Tin vào Ðức Kitô Phục Sinh là một niềm vui, đồng thời cũng là một cuộc phiêu lưu. Ðó là người ta có thể tin vào điều không thể và đem hết nỗ lực làm cho điều ấy được thực hiện.
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

PS2-112. VUI MỪNG VÌ THẤY CHÚA - Manna
Chúa Nhật Lòng Nhân Hậu Chúa
LỜi Chúa: Ga 20, 19-31
19 Chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Dothái. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an!" 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông: "Chúc anh em được bình an! như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em". 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ".
24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. 25 các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nêu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin".
26 Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an" 27 Rồi Người bảo Tôma: "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". 28 Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" 29 Ðức Giêsu bảo:"Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!"
30 Ðức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.
  Suy NiỆm
 

Chúng tôi đã được thấy Chúa" Đó là tiếng reo vui ngây ngất của các môn đệ. Thầy Giêsu,: PS2-112

"Chúng tôi đã được thấy Chúa" Ðó là tiếng reo vui ngây ngất của các môn đệ. Thầy Giêsu, người đã bị đóng đinh, chết và chôn cất, nay bất ngờ hiện đến, đứng giữa họ thật gần gũi. Ðộng từ "thấy" được nhắc đến 6 lần trong bài Tin Mừng này. Thấy Thầy vẫn như xưa, với những dấu đinh và vết đâm. Nhưng Thầy cũng khác xưa, nên không dễ nhận ra ngay. Maria Macđala cứ tưởng Thầy là người làm vườn. Ðể thấy được Chúa phục sinh, cần có đức tin. Ai tin mới thấy, và thấy để rồi tin hơn.
"Phúc cho ai không thấy mà tin" Chúng ta vẫn tin bao điều mình không thấy. Các bạn trẻ vẫn tin vào tình yêu, tình bạn. Các đôi vợ chồng vẫn tin vào sự chung thủy của nhau, dù chẳng ai thấy rõ hết lòng dạ con người. Tin không phải là một hành vi mù quáng, phi lý. Tin chẳng hề làm hạ giá con người. Trái lại, chỉ con người mới biết tin và dám tin. Nhờ tin, tôi không còn bị giam trong thế giới chật hẹp của cân đo đong đếm, của vật chất khả giác, nhưng được đưa vào một thế giới phong phú hơn nhiều: thế giới của những ngôi vị tự do, của chính Thiên Chúa. Tin là chấp nhận bấp bênh, là có thể bị lừa. Nhưng nếu không tin thì không thể sống được.
Vấn đề là tôi phải biết tôi đã tin vào ai.

Khủng hoảng lớn nhất là khủng hoảng niềm tin: niềm tin vào Thiên Chúa và niềm tin vào con người. Cả hai niềm tin nâng đỡ nhau và cho tôi hạnh phúc. Ông Tôma không tin vào lời chứng của các bạn, nên ông chậm tin vào việc Chúa phục sinh. Khi Chúa giúp ông lấy lại niềm tin vào Chúa, ông sẽ gắn bó hơn nhiều với cả tập thể.
Chúng ta là những kẻ không thấy mà tin. Không thấy bằng mắt thường, nhưng vẫn thấy bằng con mắt đức tin. Tin là một cách thấy nghiêm túc. Người tin là người thấy bằng trái tim. Họ thấy được Ðấng Vô Hình rõ hơn cả cái hữu hình. Kitô hữu là người tin Chúa, nên cũng là người thấy Chúa. Thấy Thiên Chúa hiện diện như người Cha nhân từ. Thấy Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người trên trái đất, sống chết chỉ vì say mê Cha và say mê con người và đã sống lại để cho cuộc đời một ý nghĩa mới. Thấy mọi người là con cái Cha và là anh em của nhau.
Dù những điều chúng ta tin thật là mầu nhiệm, nhưng đó không phải là chuyện mơ hồ, viễn vông. Thế giới hôm nay chỉ tin vào những người đã thấy. Ước gì chúng ta dám mạnh dạn tin Chúa hơn, để có thể thấy Chúa tỏ tường hơn
và giúp người khác thấy điều mình đã thấy.

  GỢi Ý Chia SẺ
 
  • Nhiều khi chúng ta không thấy Chúa chỉ vì chúng ta không dám liều lĩnh tin vào Ngài. Có khi nào bạn gặp được Chúa, vì đã dám quên mình để sống cho tha nhân không?
  • Có khi nào bạn gặp khủng hoảng đức tin chưa (mất lòng tin vào Thiên Chúa và vào con người)? Ðâu là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng? Ðâu là cách bạn giải quyết?
  CẦu NguyỆn
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt, xin hãy gọi tên chúng con như Chúa đã gọi tên chị Maria đứng khóc lóc bên mộ. Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc, xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.
Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi, xin hãy đến và đứng giữa chúng con như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ. Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em, xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.
Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì, xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn, như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.
 Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin tỏ mình ra cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày, để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến, và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.
Manna 

 

PS2-113. HỘI THÁNH CỦA CHÚA SỐNG LẠI

 Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
Cv 4,32-37; 1Ga 5,1-6; Ga 20,19-31
Phúc Âm: Ga 20, 19-31
"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".
Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđymô, không cùng ở với các ông, khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Ðoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".
Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.
 Suy NiỆm:
 

Sau khi sống lại, Chúa Yêsu, Chúa Yêsu không còn hiện diện hữu hình ở trần gian nữa. Người: PS2-113

Sau khi sống lại, Chúa Yêsu, Chúa Yêsu không còn hiện diện hữu hình ở trần gian nữa. Người còn hiện ra nhiều lần cho môn đệ xem thấy mà tin. Nhưng đó chỉ là những lúc họa hiếm và mau qua. Từ nay cách thức hiện diện thường xuyên của Người với chúng ta là Thánh Thể và Hội Thánh. Ðó là hai bí tích hiểu theo nghĩa rộng để Người ở với chúng ta hằng ngày. Hội Thánh được gọi là Thân Thể của Chúa Kitô và Thánh Thể chính là thịt máu Người. Thế nên sau lễ Phục sinh, Phụng vụ kéo mắt chúng ta nhìn vào Hội Thánh, nơi chúng ta có thể gặp gỡ Chúa để hiểu biết, yêu mến, bắt chước Người nhiều hơn. Và cũng trong Hội Thánh, chúng ta được tiếp xúc với Thánh Thể để nhận lấy sức sống Chúa muốn ban cho chúng ta. Như vậy, suy nghĩ về Hội Thánh phải là thao thức của chúng ta trong mùa Phục sinh này. Và người ta có thể suy nghĩ từ ngoài đi vào hoặc từ trong đi ra. Hôm nay chúng ta hãy theo thứ tự các bài đọc Kinh Thánh trong Thánh lễ để tìm hiểu Hội Thánh từ ngoài vào trong, từ hiện tượng khả giác vào tới mầu nhiệm thâm sâu. Và chúng ta sẽ thấy giáo xứ và giáo phận chúng ta còn thiếu sót nhiều quá để xứng đáng là Hội Thánh của Chúa Kitô Phục sinh.
 1. Một Hội Thánh Sống Xã Hội
Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay họa lại cho chúng ta một hình ảnh về Hội Thánh thời các tông đồ ở Yêrusalem. Ðây chỉ là một trong mấy bức họa hiếm hoi về Hội Thánh ấy. Còn 2, 3 bức họa nữa cũng ở trong sách Công vụ Tông đồ này. Và nếu được phép căn cứ vào câu đầu tiên của sách này mô tả đời sống của Hội Thánh ở thời bấy giờ: chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ, sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện (2,42) thì bức họa của đoạn sách Công vụ hôm nay là bức họa thứ hai, nói về sự hiệp thông của cộng đoàn dân Chúa.
Quả vậy, chính câu đầu tiên đã nói lên chủ đề: " Ðoàn lũ những kẻ tin chỉ có một tấm lòng, một linh hồn". Ðể mô tả sự hiệp thông thắm thiết giữa mọi người giữa mọi người nên một ấy, đoạn sách hôm nay nói rằng: "Không một người nào nói là mình có của gì riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung".
Nhiều người đã vịn vào câu văn này để khẳng định Hội Thánh thời bấy giờ thi hành điều mà bây giờ thi hành điều mà bây giờ người ta gọi là "cộng sản", và Hội Thánh đã cộng sản trước cộng sản. Thiết tưởng không nên có những lời nói như vậy vì những lời nói thế chẳng đẹp lòng ai cả và chỉ tỏ ra đọc sách Công vụ rất hời hợt.
Hôm nay chúng ta cứ thử về nhà đọc lại đoạn sách này. Thánh Luca không cho chúng ta nhiều yếu tố để quả quyết gì về tổ chức xã hội của cộng đoàn dân Chúa thời bấy giờ. Người chỉ cho chúng ta một cái nhìn đạo đức về thái độ của các tín hữu đối với nhau. Nếu được phép tưởng tượng thì chúng ta có thể nghĩ rằng: thời ấy tín hữu của Chúa sống như mọi người về mặt xã hội kinh tế. Họ không hề có ý tưởng làm thành "một quốc gia ở trong một quốc gia", nghĩa là tổ chức với nhau một hệ thống sản xuất hay kinh tế riêng biệt. Họ chỉ khác đồng bào chung quanh ở chỗ là tin Chúa. Và vì chưa biết Chúa đủ, nên họ chuyên cần đến nghe lời của các Tông đồ trong các buổi họp chung. Ở đó họ được dẫn giải thêm về đạo lý, được cầu nguyện chung, được bẻ bánh chung, khiến họ được mật thiết kết hợp với Chúa và cùng Người làm nên một thân thể. Rồi chính khi ấy họ đã nhận ra mình là chi thể của nhau, là anh em con một Cha, một Chúa. Thế là một đức tin, một Thánh Thể để kết họ nên một với nhau trong tình mến. Họ thấy không được phép để cho ai trong anh em thiếu thốn nữa, nếu đang khi ấy họ có nhiều của cải hơn. Thế là như Barnaba, họ đem bán của riêng, đem huê lợi đến cho các tông đồ để chia sẻ cho anh em tùy theo nhu cầu.
Tất cả như vậy đã xảy ra từ một động lực bên trong. Việc hiệp thông với Chúa đã dẫn sang ý thức phải hiệp thông với nhau; và không thể hiệp thông chân thật với anh em khi có của mà để anh em túng thiếu. Ðó hoàn toàn là đạo đức chứ không phải cộng sản gì! Nhưng là đạo đức chân thật, biết và dám thi hành những đòi hỏi của niềm tin và lòng mến. Kẻ không đạo đức được như vậy cũng không thể có những hành động như thế.
Sách Công vụ ngay sau đoạn văn hôm nay đã kể chuyện vợ chồng Ananya và Saphyra. Hai người cùng bàn nhau đem bán một thửa đất riêng, rồi đem một phần tiền đến nói với thánh Phêrô: đó là tất cả số tiền bán được. Họ tưởng lừa được Phêrô. Nhưng họ quên Thánh Thần bấy giờ ở với Phêrô một cách rất đặc biệt. Phêrô bảo hai người: cớ sao đồng tình và đồng lõa ăn gian nói dối? Ai bắt phải bán đất đi? Và ai buộc phải đem lại tất cả số tiền?
Rồi câu chuyện thế nào, mọi người đã rõ. Ở đây chúng ta chỉ cần lưu ý: mấy lời của Phêrô làm cho chúng ta hiểu việc các tín hữu buổi đầu "không nói là mình có của gì riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung". Ý nghĩa như thế nào? Ðó là một sự tự nguyện, phát xuất từ tinh thần hiệp thông xây trên một niềm tin chung; chứ không phải là một tổ chức xã hội có tính cách hành chánh.
Sự tự nguyện này vẫn còn tồn tại trong Hội Thánh ở nơi các cộng đoàn tu sĩ... Nó còn là đòi hỏi của Tin Mừng mà nhiều khi chúng ta không dám nghĩ tới. Vẫn biết hoàn cảnh đã thay đổi; xã hội đã biến chuyển; con cái Chúa không bao giờ "làm thành một Nước ở trong một Nước" để có nếp sống xã hội riêng; nhưng đang khi sống tốt thể chế xã hội của Nước mình, họ luôn phải nhớ đòi hỏi của Tin Mừng buộc họ phải sống hiệp thông với anh em. Và như vậy họ không được để anh em túng thiếu khi họ đang có của. Ðó là ý nghĩa cụ thể của đạo Bác ái. Và đó cũng là một trong những lý do của việc dâng tiền trong thánh lễ. Cử chỉ này không thể nào không gợi lên nếp sống hiệp thông chia sẻ mà bài sách Công vụ hôm nay nói về Hội Thánh thời các Tông đồ.
Thiết tưởng, lương tâm chúng ta còn bị chất vấn nhiều về vấn đề này. Nhưng nếu chúng ta muốn có thiện chí làm tốt hơn thì chúng ta phải đào sâu đức tin hơn, vì như đã nói, nếp sống hiệp thông kia đã phát xuất từ niềm tin mới mẻ. Bài thư Yoan có nhiều yếu tố quý báu giúp chúng ta làm công việc này.
 2. Một Hội Thánh Sống Ðức Tin
Chúng ta có thể nghĩ đoạn thư này rời rạc và thiếu chặt chẽ. Nhưng nếu nắm được ý của thánh Yoan, chúng ta sẽ thấy đây là những tư tưởng rất quan trọng. Người muốn nói với những kẻ có đức tin để xác định niềm tin của họ phải như thế nào và có những hệ luận nào trong đời sống cụ thể.
Sánh với bài sách Công vụ trên đây, chúng ta có thể nói thánh Yoan đã đi từ trong ra đến ngoài đang khi thánh Luca đi từ ngoài vào trong. Tác giả sách Công vụ mô tả nếp sống xã hội của cộng đoàn dân Chúa; còn tác giả bài thư tìm hiểu động lực của nếp sống này.
Ðó là niềm tin mới, chưa gặp thấy nơi một xã hội loài người nào. Người tín hữu khác mọi người ở chỗ tin Yêsu là Ðức Kitô. Muốn thấy tính cách mới mẻ của niềm tin này, chúng ta phải trở về thời các tông đồ, hay phải nhìn sang lương dân. Ngoài các tín hữu ra, ai có thể có một ý tưởng như thế? Tin Yêsu là Ðức Kitô có nghĩa là tin Thiên Chúa đã thi hành kế hoạch cứu nhân độ thế của Người nơi con người và đời sống của Yêsu người thành Nadarét. Là tin Thiên Chúa yêu thương loài người đến độ đang khi chúng ta còn là tội nhân thù nghịch đã ban Con Một Người làm hy lễ đền tội chúng ta. Mà không phải chỉ đền và tha tội, nhưng còn nhờ cuộc Tử nạn Phục sinh của Ðức Kitô, cho chúng ta được tái sinh bởi Thiên Chúa để làm con cái Người. Một niềm tin như vậy đã ám tàng công nhận Ðức Yêsu là Con Thiên Chúa, vì nếu không, Yêsu sẽ chỉ là một sứ giả, một dụng cụ đặc biệt của Thiên Chúa, khiến niềm tin của chúng ta sẽ chẳng mới mẻ gì, vì đã thiếu gì người tự xưng là tiên tri của thượng đế sai đến với loài người.
Ðức tin của chúng ta thì khác. Nó mới sánh với mọi suy nghĩ và tin tưởng của loài người, vì nó khẳng định Yêsu là Con Thiên Chúa đã đến cứu loài người khiến ai tin thì được sinh lại bởi Thiên Chúa và được làm con cái Chúa. Ðó là nội dung đức tin mới.
Nó chân thật vì có nền tảng vững vàng. Ai chối bỏ được việc Ðức Yêsu Kitô đã đến? Không những Người đã đến nhờ Nước và Máu, mà có Thánh Thần làm chứng. Không những Người đã đến nhờ nước sống Yorđan khi chịu Yoan rửa, mà còn nhờ đến máu chảy ra trên Thập giá. Nhất là khi ở trên cây gỗ này, Người đã để Máu và Nước chảy ra từ cạnh sườn để từ nay Hội Thánh có Nước Rửa tội và có Máu Thánh Thể ban ơn tha thứ tội lỗi và sự sống thần linh mới cho loài người. Nhưng tất cả cuộc đời của Ðức Kitô từ khi nhận nước rửa ở sông Yorđan đến khi chảy máu ra trên Thập giá, cũng như tất cả các bí tích Thánh tẩy và Thánh Thể trong Hội Thánh làm cho người ta được ơn tha thứ và có sự sống mới, tất cả những điều ấy có giá trị chân thật đáng tin là vì cuối cùng có Chúa Thánh Thần đã đến làm chứng cho sự nghiệp của Ðức Kitô và sức sống của Hội Thánh. Ðức tin của chúng ta đi từ cơ sở các việc đã xảy ra trong cuộc đời của Ðức Kitô và của Hội Thánh mà đã được Thánh Thần làm chứng, nên là đức tin chân thật và vững vàng, khiến chúng ta thật là những người có phúc.
Thánh Yoan, trong đoạn thư này, nói đến cái phúc của người tín hữu là họ đã thắng được thế gian. Họ là những người tin vào ơn cứu độ của Thiên Chúa nơi Ðức Yêsu Kitô thì họ được sinh làm con cái Thiên Chúa. Và như vậy họ không thuộc về thế gian nữa. Họ đã được giải thoát ra khỏi ách thống trị của thế gian tức là của sức mạnh thù nghịch với Thiên Chúa và con người. Họ được nên giống như Ðức Yêsu Kitô giờ đây đã sống lại, không còn gì có thể cầm giữ được nữa, kể cả tử thần là kẻ thù cuối cùng của con người. Nói cách khác, tín hữu nhờ đức tin bây giờ tuy còn sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian và lệ thuộc thế gian nữa. Họ đã chiến thắng thế gian nhờ đức tin. Họ đã thuộc về Chúa và trở nên con cái Chúa.
Như vậy họ phải sống sự sống của Người, phải giữ lệnh truyền của Người, vì lệnh truyền của Người chỉ là đòi hỏi của sự sống của Người. Yoan đã định nghĩa Thiên Chúa là tình yêu: Tình yêu là sự sống của Thiên Chúa; thì chính Yoan cũng nói lệnh truyền của Người là chúng ta hãy yêu mến nhau. Ðó là điều mà trong đoạn thư hôm nay Yoan đã viết: phàm ai yêu mến đấng sinh thành, tức là Thiên Chúa, tất phải yêu mến kẻ bởi Chúa mà sinh ra, tức là các con cái Thiên Chúa. Và lệnh truyền đó không nặng nề, vì như Augustinô nói: "Khi người ta yêu thì hoặc không thấy gì nặng nề, hoặc có thấy thì cũng yêu sự nặng nề ấy khiến nó không còn nặng nề nữa". Do đó nền tảng và động lực của nếp sống hiệp thông trong Hội Thánh là niềm tin và lòng mến, mà bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết đã phát xuất từ đâu.
 3. Một Hội Thánh Của Chúa Sống Lại
Chúng ta biết bài Tin Mừng này đến nỗi chỉ cần nghe nhắc tới tên Tôma là chúng ta có thể thuật lại rành rẽ. Nhưng có lẽ chúng ta đã đồng hóa nội dung của nó với lòng cứng tin của Tôma, làm như thế, bài Tin Mừng hôm nay chỉ muốn nói xấu vị Tông đồ này. Không thể như vậy, vì nếu như vậy thì đoạn văn này không còn phải là Tin Mừng nữa.
Yoan đã ghi lại câu chuyện Chúa hiện ra cho các tông đồ và Tôma là để chúng ta tin và bởi tin thì chúng ta được sống, tức là được hạnh phúc. Người muốn nói đến nguồn gốc đức tin của chúng ta. Người đi sâu và đi vào trong hơn bài Thánh Thư và bài sách Công vụ.
Chẳng riêng gì Tôma, mọi môn đồ khi ấy đều chưa tin. Vì thế họ mới đóng cửa nhà, vì sợ người Dothái. Nhưng Ðức Yêsu bổng dưng đã đến đứng giữa họ, bất chấp cửa đóng then cài. Người phải ban bình an trấn tỉnh họ. Rồi Người cho họ thấy các thương tích của Người. Họ liền mừng rỡ vì thấy ngay là Thầy mình đã sống lại. Chính sự sống lại của Người khiến họ được vui mừng. Chính mầu nhiệm Phục sinh là Tin Mừng. Và Tin Mừng này, chính Ðức Yêsu đã mang đến khi hiện ra và cho họ thấy các thương tích của Người. Người thật là đấng khơi nguồn và viên thành đức tin của Hội Thánh.
Tôma là một trong các tông đồ và sẽ là một trong các cột trụ để Hội Thánh vươn lên. Ông có quyền đòi hỏi được như các bạn đồng nghiệp, và chúng ta cũng buộc Tôma phải được như vậy để đức tin của chúng ta có cơ sở vững vàng. Do đó thật là vì chúng ta mà Yoan thuật lại câu chuyện về Tôma để minh chứng rõ ràng đức tin của chúng ta bắt nguồn từ việc các Tông đồ được thấy Chúa hiện ra với thương tích của Người, hầu mọi người biết Ðấng chịu nạn đã sống lại thật. Ðó là Tin Mừng cho mọi người; vì như vậy là bằng chứng "thế gian", tức là sức mạnh thù nghịch Thiên Chúa và con người đã bị đánh bại, để từ nay ai tin vào Ðức Kitô Phục sinh sẽ chiến thắng thế gian, sẽ được ơn tha tội và có sự sống mới. Và những người như vậy sẽ tạo nên một nét mới mẻ trong đời sống xã hội con người.
Sách Công vụ hôm nay đề cao nét sống mới mẻ này khi mô tả việc hiệp thông ở trong Hội Thánh. Thư Yoan tìm hiểu động lực của hiện tượng đó nơi đức tin, và bài Tin Mừng cho thấy Ðấng khơi nguồn đức tin ấy là Ðức Yêsu sống lại đã hiện ra với các môn đồ.
Chúng ta giờ đây nhờ đức tin các tông đồ truyền cho sắp được tiếp xúc với Ðức Kitô sống lại, trong mầu nhiệm bàn thờ. Chúng ta hãy có lòng tin và lòng mến của Tôma để kêu lên: "Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi". Lòng tin và mến ấy chỉ chân thật nếu chúng ta nêu gương các tín hữu tiên khởi mà sống hiệp thông với nhau trong việc cầu nguyện, bẻ bánh, nhưng cũng phải có trong đời sống xã hội nữa. Chỉ khi đó chúng ta mới làm cho giáo xứ và giáo phận chúng ta được nên giống Hội Thánh của các Tông đồ, tức là Hội Thánh của chính Ðức Yêsu Kitô đã sống lại.
Gm. Bartơlơmơ Nguyễn Sơn Lm

 

PS2-114. CẢM TẠ CHÚA XÓT THƯƠNG

+ GB. BÙI TUẦN
TỪ THÂN PHẬN YẾU HÈN
 

Trong Năm Thánh Việt Nam hiện nay, nhiều gương sáng về thánh thiện đã được nêu lên. Gương: PS2-114 - LÒNGCHÚATHƯƠNGXÓT

Trong Năm Thánh Việt Nam hiện nay, nhiều gương sáng về thánh thiện đã được nêu lên. Gương sáng về đức tin, gương sáng về bác ái. Tất cả những gương sáng ấy đều được nhìn nhận là những tấm lòng dũng cảm làm chứng cho Thiên Chúa. Họ được tôn vinh trên bệ cao lộng lẫy oai hùng.
Bên cạnh những chứng nhận cao sang rực sáng đó, còn có những chứng nhân loại khác. Họ bé nhỏ, thầm lặng, nhiều khi sống chôn vùi. Họ cũng làm chứng cho Chúa, nhưng một cách khác. Không ở pháp trường, không ở chiến trường, nhưng ở đời thường, ngay trong thân phận yếu hèn của họ.
Dưới đây là vài chi tiết, họ xin được nói ra.
1/ Mình yếu đuối, mà vẫn được Chúa hoà nhập vào đời mình
Sự hoà nhập này của Chúa Kitô được thực hiện một cách hết sức quảng đại. Chúa hoà nhập vào đời người tội lỗi, để nhắc nhở họ hãy muốn điều lành và làm điều lành. Thực hiện nhắc nhớ đó là là chuyện khó khăn. Họ phải chiến đấu. Họ chiến đấu, Người cũng chiến đấu với họ.
Đôi lúc, sự hoà nhập như thế của Chúa đã gây tai tiếng cho Người. Nhưng Người đành chịu tai tiếng, để gần gũi thân phận con người tội lỗi. Tai tiếng đến nỗi Người bị coi như hiện thân của tội lỗi. Thánh Phaolô nói: "Đấng chẳng hề biết tội lỗi là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta được nên công chính trong Người" (2 Cr 5,21).
Hơn nữa, do sự hoà mình quảng đại của Người, Người đành chịu bị nguyền rủa, để chúng ta khỏi bị nguyền rủa. Thánh Phaolô quả quyết: "Đức Kitô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa" (Gl 3,13).
Như thế, Chúa Giêsu không tách rời khỏi họ, cho dù họ rất tội lỗi. Người hoà mình, Người mang vào mình những yếu đuối của người tội lỗi.
Kinh nghiệm trên đây đã làm cho họ tin tưởng vào Chúa và gắn bó với Chúa.
Họ càng tin và gắn bó với Chúa, khi họ thấy Chúa ở bên họ, để cảm thương những yếu hèn của họ.
2/ Mình yếu hèn, mà được Chúa cảm thương
Rất nhiều người đã trải qua một cuộc đời yếu đuối. Từ sai sót này đến lỗi lầm khác. Họ thấy mình đáng khinh, đáng trách. Nhưng chính những lúc tối tăm đó, họ cảm thấy Chúa Giêsu ở bên họ. Họ đang trong vực thẳm dơ bẩn, nhưng Chúa vẫn đến bên họ. Chúa chia sẻ những mệt mỏi ưu phiền của họ, đồng thời ban cho họ niềm hy vọng và can đảm để họ tích cực hợp tác vào ơn Chúa.
Họ nhận được sự cảm thương kín đáo ấy. Họ nhận ra lời Chúa dưới đây được thực hiện nơi họ: "Vị thượng tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta. Vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như chúng ta, nhưng không phạm tội" (Dt 4,15).
Sự cảm thương của Chúa dành cho họ không làm cho họ ỷ lại, nhưng giúp họ nhìn rõ hơn thân phận yếu hèn của mình với một thái độ khiêm tốn. Nhất là khiêm tốn nhận ra ở sự cảm thương của Chúa một Đấng Cứu độ đầy tình xót thương. Tất cả đều là hồng ân Chúa. Hồng ân này dẫn tới một hồng ân khác, đó là đón nhận được sự Chúa thứ tha cứu độ.
3/ Mình sa ngã, nhưng được Chúa thứ tha cứu độ
Kinh nghiệm về thân phận yếu hèn được Chúa yêu thương sẽ như dòng nước thiêng tràn lên niềm vui chan chứa, khi người tội lỗi cảm thấy mình được Chúa thứ tha cứu độ.
Đáng lẽ họ phải bị trừng phạt, khai trừ, nhưng Chúa tha thứ cho họ, giải cứu họ, hơn nữa còn chia sẻ sự sống của Người cho họ và đổi mới họ.
Họ vui sướng, nhớ lại lời thánh Phaolô xưa: "Bẩm sinh chúng ta là những kẻ đáng phải chịu cơn thịnh nộ của Chúa, như những người khác. Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu thương chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ" (Ep 2,3-6).
"Do ân sủng Chúa" mà con người sa ngã của họ được chỗi dậy. Với lòng biết ơn, họ đón nhận ân sủng ấy. Họ cộng tác vào ân sủng đó.
Từ kinh nghiệm bản thân về lòng Chúa xót thương, họ sẽ dấn thân yêu thương phục vụ mọi người, như Chúa đã yêu thương họ.
4/ Mình nghèo hèn, nhưng vẫn được Chúa dùng để yêu thương phục vụ kẻ khác
Đời của họ là một chuỗi dài những kinh nghiệm về tình yêu thương xót Chúa. Từ đó, họ được Chúa sai đi, để yêu thương phục vụ kẻ khác, như Chúa đã yêu thương họ. "Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34).
Họ biết mình không thể tự mình thực hiện được lời Chúa truyền dạy trên đây, nên họ gắn bó với Chúa, để nhờ vậy, mà yêu thương phục vụ của họ có thể sinh được kết quả tốt. "Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sẽ sinh được nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5).
Nhờ gắn bó mật thiết với Chúa, họ có thể đi xa trên đường yêu thương phục vụ như lời Chúa khuyên: "Nếu ai bị vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa. Nếu ai kiện anh em để lấy áo trong của anh em, thì hãy để cho họ lấy cả áo ngoài nữa" (Mt 5,39). Với lời Chúa dạy trên đây, họ hiểu yêu thương phục vụ theo gương Chúa đòi hỏi một sự từ bỏ mình quyết liệt.
ù
Chia sẻ trên đây là chia sẻ về kinh nghiệm bản thân. Những người chia sẻ là những con người yếu đuối. Xin cảm tạ Chúa đã xót thương họ một cách đặc biệt.
Rất mong, ngày Chúa nhật mừng lễ Chúa giàu lòng thương xót, nhiều nhân chứng về lòng thương xót sẽ góp phần nhỏ vào Năm Thánh Việt Nam.
Chứng từ của họ sẽ là những kinh nghiệm sống động mang tính cách thời sự.
Tình yêu Chúa rực sáng nơi các người thánh thiện tinh tuyền và cũng sáng rực nơi bao người yếu đuối tội lỗi. Đó là một an ủi lớn lao tuyệt diệu.
Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

 

PS2-115. KÊ CAO GỐI NGỦ NGON

ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI
TIN MỪNG CHÚA NHẬT LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG (Năm C)
Ga 20, 19 – 31
 

Những người lần đầu đến sinh sống dọc hai bên đường xe lửa, đã phải hết sức khó chịu và mất ngủ: PS2-115

Những người lần đầu đến sinh sống dọc hai bên đường xe lửa, đã phải hết sức khó chịu và mất ngủ vì tiếng rầm rập không ngơi nghỉ của những đoàn tàu qua lại, nhưng dần dà những âm thanh ấy không thể thiếu trong sinh hoạt và cả trong giấc ngủ của họ. Những người ngoài Công giáo sống chung quanh các giáo đường, ban đầu cũng rất bị đánh động bởi tiếng cầu kinh,tiếng đàn hát : Kẻ thấy “hay hay”, người tỏ ra khó chịu,nhưng khi quen rồi, chẳng còn mấy ai quan tâm. Chẳng mấy ai nhờ thế mà trở lại đạo.Rất nhiều Kitô hữu giữ đạo tối thiểu nhất – có mặt được chăng hay chớ ngày lễ Chúa Nhật và các lễ trọng - giảm thiểu các việc đạo đức với bản thân, gia đình và cộng đoàn được chừng nào hay chừng nấy. Họ như những “dead man walking”,như những “hoạt tử nhân”.
Phần nhiều các phụ đề Việt-ngữ của các phim nước ngoài đều lấy ý chủ đạo của nội dung phim và dùng những từ ngữ giật gân,đánh động lòng hiếu kỳ, nhằm lôi kéo người xem. Bộ phim ‘Dead Man Walking” cũng không là ngoại lệ,khi mang phụ đề “Trước Ngày Đền Tội”. Trong kiếm hiệp ‘Tàu’, có một cụm từ lột tả và tóm tắt đầy đủ nhất về ‘Dead Man Walking’ : hoạt tử nhân. Đó là những người bị biến thành những ‘hình nhân’, có ăn, có thở,có cử động,song vô hồn, vô cảm, vô tâm, nghe theo mệnh lệnh người đã biến họ ra loại người ‘chết còn sống’ hoặc ‘sống mà như đã chết’! Những người nguội lạnh thờ ơ! Những người đã bị ‘đơ’, không còn phản ứng trước những thay đổi bắt buộc và cần thiết. Đây cũng là loại người mà Thánh Nữ Faustina cho biết Chúa Giêsu đã nói với Thánh Nữ : " Các linh hồn nầy làm cho Ta chịu đau khổ hơn bất kỳ linh hồn nào khác. Chính từ những linh hồn như thế mà linh hồn Ta đã cảm thấy kinh hãi nhất trong Vườn Cây Dầu. Chính về họ mà Ta đã nói : ‘ Lạy Cha,nếu có thể được, thì xin cất cho Con chén nầy’. Hy vọng cuối cùng để họ được cứu rỗi là chạy đến Lòng Thương Xót của Ta".
Khi đến ngày phải đền tội cận kề, tên tử tội Matthew Poncelet khẩn cầu sự giúp đỡ của sơ Helen Prejean, người cầm đầu phong trào đòi hủy bỏ án tử hình của giáo xứ Thánh Tôma (New Orleans, Bang Louisiana). Trong quá trình vận động giảm án cho tên tử tù, vị nữ tu đã khám phá được nhiều ngóc ngách sâu kín trong cuộc đời hắn. Bất chấp những thành kiến của bạn bè, người thân và dư luận, Soeur Helen Prejean tìm mọi cách để cứu mạng sống của y. Bà thuê luật sư giỏi để bào chữa cho Matthew, tập hợp chữ ký những người ủng hộ giảm án cho hắn, gửi đơn xin ân xá lên tòa án tối cao và thống đốc bang. Bất chấp nỗ lực của nữ tu sĩ nhân hậu, bản án vẫn không được thay đổi.Nhưng trong ngày cuối cùng của Matthew, bằng lòng yêu thương con người và nhân cách cao cả, Soeur Helen đã cảm hoá được y và đánh thức được phần lương thiện còn sót lại trong cuộc đời đen tối của tên tử tù. Thay vì gào thét, y bỗng cảm thấy ân hận vì những tội ác,mà y đã gây ra trong đời và bình thản đón nhận cái chết. Những thời khắc cuối cùng trong đời là lúc Matthew thức tỉnh, rũ bỏ hoàn toàn phần ác trong tâm hồn tội lỗi. Hãy nghe lời kết bài hát phần nhạc phim do Byrd đặt trên môi người tử tù nầy : “Vậy hãy sống cuộc sống của bạn cho thật tròn đầy vẹn vẽ ,nhưng hãy nhớ là đừng để vấp ngã. Một lỗi lầm phạm phải thôi, thì bạn sẽ là hàng xóm của tôi. Và chẳng có ai nơi đây là giàu sang cả đâu!”.
Nếu đọc hết ‘danh sách’ những nhóm người,mà Thánh Tâm hay Thương Xót của Chúa Giêsu muốn Thánh Nữ Faustina mang cho Người trong Tuần Cửu Nhật chuẩn bị cho Ngày Lễ Lòng Chúa Xót Thương hôm nay, thì không có loại người nào bị bỏ sót, từ người lành thánh, từ những kẻ trung thành phục vụ Chúa, cho đến những người tội lỗi,nhưng kẻ xa lìa Chúa và Giáo Hội Công giáo : tất cả đều được Chúa Cha yêu thương vô biên và được bao bọc trong Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không muốn để cái giá đắt đỏ Người đã phải trải qua Cuộc Khổ Nạn đắng cay, ra vô ích đối với bất cứ loại người nào. Nhưng với những tâm hồn khô khan nguội lạnh, mặc dù được Máu Thánh nung nấu, mặc cho Thánh Tâm Yêu Thương Vô Biên của Chúa ấp ủ, mà vẫn không mảy may rung động, cảm mến và quay về ‘nơi Thánh Tâm Rất Thương Xót” của Chúa, mà vẫn “ơ hờ khinh dễ”, thì chẳng ai cứu được họ,khi họ không muốn tự cứu mình. Aide toi,le ciel t’aidera : hãy tự giúp mình, rồi trời sẽ giúp. Với Chúa Giêsu, căn bệnh ‘thờ ơ, lãnh đạm”, trơ lì trước ân sủng ngập tràn vô biên, từ Cuộc Khổ Nạn cay đắng của người, không chỉ là sự vô ơn, mà còn là sự phản bội.
Hiện nay ở Châu Âu,FIFA và UEFA vẫn tiếp tục điều tra và bắt giữ những người có dính líu vào hàng trăm vụ dàn xếp tỷ số trong thời gian qua. Một thời gian dài, bóng đá Việt Nam cũng ngập chìm trong nạn mua bán độ, khiến không chỉ làm người hâm mộ mất hết niềm tin, những trận cầu vắng khán giả, mà còn làm cho tinh thần các cầu thủ rệu rã, chia rẽ,nghi kỵ. “Đội bóng” các tông đồ nay chỉ còn đúng số mười một cầu thủ, không có dự bị, có nghĩa là trong khi chờ đợi đào tạo lớp kế thừa, giữa lúc tâm trạng các “cầu thủ” đang hoang mang sợ hãi, thì điều cần thiết nhất là tinh thần đoàn kết và niềm tin vững vàng. Đẳng cấp và phong độ là hai yếu tố làm nên chiến thắng của một đội bóng trong mỗi trận cầu. Đẳng cấp có cao đến đâu, dàn cầu thủ có đắt giá đến đâu, mà lâm trận với tinh thần bạc nhược, vô hồn, ‘dead man walking’ trên sân cỏ, thì nắm chắc phần thua. Một ‘đội hình’ như hiện nay của mười một môn đệ còn lại, “sợ người Do Thái” (Ga 20,19b), ngượng ngùng vì đã bỏ Thầy chạy trốn trong lúc hữu sự, chối bỏ Thầy, bán Thầy, thì không có gì đáng lạc quan cả về đẳng cấp lẫn phong độ. Trong lần hiện ra thứ nhất,Chúa Giêsu Phục Sinh đã xốc lại niềm tin nơi các môn đệ, nhưng niềm tin ấy chưa vững vàng gì. Và sự vắng mặt của Tôma trong lần hiện ra thứ nhất ấy,cũng như sự hiện diện của ông ở lần thứ hai nầy, không chỉ là một thách đố, mà được Chúa Giêsu dùng để củng cố niềm tin cho các môn đệ. Khi muốn đăng ký truy cập Internet,sau khi đã ghi “password”,khách hàng mới thường được yêu cầu xác nhận (confirm) mật mã ấy lần nữa. Hôm nay,Tôma đã làm công việc không hề thừa chút nào ấy, - xác nhận “mật mã Phục Sinh” - nhờ đó mà đức tin của Kitô hữu mọi thời được nên vững vàng: ”phúc cho những người không thấy mà tin” (Ga 20,31). Người ta gọi đó là bước “trưởng thành trong đức tin”.
Phản ứng của Thánh Tôma là cần thiết trong đời sống của Giáo Hội và của mỗi Kitô hữu. Êm ả, thanh bình, an nhàn khiến cho người ta quên cảnh giác và tự bằng lòng với cái tối thiểu nhất, cũng như dễ dàng chấp nhận những thiếu sót,khuyết điểm, sai lầm nhỏ. Cái quên đáng sợ nhất, ấy là quên rằng Satan và những thế lực xấu xa do y điều khiển, vẫn kiên trì mai phục “chờ đợi thời cơ” (Lc 4,13) để tung ra những đòn trí mạng. Có thể Sandro Magister quá lời khi ông nói rằng Giáo Triều La Mã chẳng giúp gì được nhiều cho Đức Thánh Cha, mà thỉnh thoảng còn làm hại Người (x. www.chiesa số 17.02.2010). Nhưng những gì xảy ra trong thời gian nầy cũng chứng minh phần nào cho nhận định của Ông : Những vụ giáo sĩ lạm dụng tình dục, sau khi thổi bùng ở Hoa Kỳ,tưởng rằng đã lắng dịu và không ít các đấng bậc trong Hội Thánh cho là có thể tạ ơn Chúa và kê gối ngủ yên, thì đã bùng nổ lại với việc các phương tiện truyền thông nhất loạt tấn công vào Đức Thánh Cha, ngay chính từ các vụ việc, mà nhiều vị giám mục đã “kê cao gối ngủ yên”. Satan và các thế lực xấu xa áp dụng chiến thuật “bắt tướng”, dù ai cũng rõ mười mươi ý đồ xấu xa và những vu cáo,xuyên tạc bẩn thỉu đối với Vị Chủ Chăn hoàn vũ. “Được vạ thì má đã sưng” : một thời gian coi được là dài ở thời đại công nghệ thông tin nầy, các giám mục trên thế giới dường như mới tỉnh ngủ, nhận thức được tình hình nghiêm trọng không chỉ trong Giáo Hội hoan vũ,mà ngay cả chính trong nhiều Giáo Hội địa phương (Hoa Kỳ,Ái Nhĩ Lan, Đức, Thụy Sĩ, Úc, …và không ai bảo đảm là Giáo Hội Việt Nam được miển nhiễm), và mới phản ứng lại. Nhiều khi những cách xử lý, những lời tuyên bố lại hoảng hốt, vụng về, lại làm khổ cho Vị Cha Chung. Đó là chưa kể những “con cái - kẻ thù” thừa cơ “tát nước theo mưa” , hả hê tiếp tay cho Satan làm hại Cha mình và Giáo Hội của họ.
Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi! Nhưng vì ngươi hâm hẩm chẳng nóng chẳng lạnh,nên ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng ta” (Kh 3, 15 – 16). Lời cảnh cáo của Chúa không thể coi thường :Những bài học đắng cay cho Giáo Hội đang diễn ra (và chưa biết khi nào mới thật sự kết thúc) phải thấm vào xương tủy mãi mãi trong ký ức và lịch sử Giáo Hội. Sai phạm của một số linh mục bất xứng đã làm cho Giáo Hội phải trả cái giá quá đắt, dường như vẫn bị coi thường, vì đây đó vẫn còn những linh mục,tu sĩ hoặc “điếc không sợ súng”, hoặc coi thường giới răn Chúa, phẩm giá con người và phẩm giá cao trọng chức linh mục và thách thức Giáo Hội. Người ta trông đợi nơi Chúa và cho rằng Chúa đã và sẽ “phải” bảo vệ Con Thuyền Giáo Hội, cho nên nều có lắc lư,thậm chí khốn đốn, thì cũng chỉ là tạm thời, vì “cửa hoả ngục sẽ không thắng được” (Mt 16,18).
Và cứ thế, như một định luật (bỉ cực thái lai) bất thành văn, người ta kê cao gối ngủ ngon.
ĐƯỜNG TÌNH CHÚA DẪN CON ĐI 44

 

PS2-116. NHỮNG VẾT SẸO

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã... Có : PS2-116

Thân xác chúng ta thường mang những vết sẹo, hậu quả của những lần bị trầy trụa, té ngã... Có những vết sẹo gợi lại cả một khung trời thời kỷ niệm, nhắc nhở cả một thời mến yêu. Dù vui hay buồn thì cũng là chuyện đã qua. Hôm nay vết sẹo làm thân thể ta kém đẹp, nhưng không làm ta đau như xưa kia.
***
Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay thuật lại rằng: Khi Đức Giêsu phục sinh hiện ra thăm các môn đệ, Ngài giúp họ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo. Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn. Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng: “Thầy chính là Đấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được cái chết. “
Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Chúa phục sinh có sẹo, dù điều đó chẳng đẹp gì. Ngài không ngượng mà cho các môn đệ xem. Những cái sẹo sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc. Những vết sẹo gợi lên những kỷ niệm và dấu tích trên thân xác của con người, của thất bại đớn đau. Nhưng nếu không có những vết sẹo thì cũng chẳng có sự chết và sự phục sinh.
Sống ở đời sao tránh khỏi những dập gẫy, thương tích. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành. Có những vết thương tưởng chẳng thể nào thành sẹo. Chúng ta có dám cho người khác thấy sẹo của mình không?
Cuộc khổ nạn của Thầy đã làm các môn đệ bị thương. Các vết sẹo của Thầy sẽ chữa lành những vết thương đó. Chắc hẳn Tôma đã nhìn thật lâu vào những vết sẹo của Thầy. Chính lúc đó ông khám phá ra tình yêu sâu thẳm của Thầy.
Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thoả mãn những đòi hỏi quá quắt của mình. Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân. Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin. Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy. Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông. Tin bao giờ cũng đòi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.
Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu Tôma, nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu khác. Cần tập thấy Chúa để rồi tin. Có khi phải tập nhìn lại những vết sẹo của mình, của Hội Thánh, của cả thế giới, để rồi tin rằng Chúa phục sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau. "Phúc cho những ai không thấy mà tin", và phúc cho những ai biết thấy nên tin.
***
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh ! Như Tôma xưa kia, có nhiều lúc con cũng nghi ngờ, kém tin tưởng vào Chúa . Xin củng cố niềm tin cho con. Xin ban cho con niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, vì chúa là đường, là chân lý và là cùng đích của cuộc đời con. Amen
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1: Acts 5:12-16 - BĐII: Rev1:9-13,17-19 - PÂ: Gioan 20:19-31)

 

PS2-117. Tôma

Cái chết của Chúa Giêsu đã làm cho các môn đệ hết sức dao động. Các ông buồn phiền, hoang : PS2-117

Cái chết của Chúa Giêsu đã làm cho các môn đệ hết sức dao động. Các ông buồn phiền, hoang mang và thất vọng. Mộng ước các ông theo đuổi từ ba năm nay, bỗng dưng tan theo mây khói. Ngày mai rồi sẽ làm gì? Trở về làng cũ và nghề xưa với ghe thuyền và chài lưới trước những cặp mắt chế diễu của bà con lối xóm ư?
Vì thế, chúng ta không mấy ngạc nhiên khi thấy lời nói đầu tiên của Đức Kitô Phục sinh khi hiện ra với các môn đệ là lời chào chúc: Bình an cho các con. Từ những kẻ lo âu và dao động về cái chết của Thầy mình, các ông đã được Ngài biến thành những người được sai đi, để làm chứng rằng Ngài vẫn sống và đang ở giữa chúng ta: Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.
Thế nhưng, mọi sự xem ra không được xuôi chảy. Trong số các tông đồ được diễm phúc gặp gỡ Đức Kitô Phục sinh, vắng bóng một người. Và người đó chính là Tôma. Ông quả là một con người thiếu may mắn. Những gì xảy ra với ông do sự vắng mặt này, đã khiến ông trở thành một con người cứng lòng tin trong sử sách.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải công bằng mà đặt câu hỏi: Trong thực tế, Tôma có thực sự là một kẻ cứng lòng tin hay không? Có lẽ không hẳn là thế, bởi vì chính ông đã từng chứng tỏ sự hăng hái của mình khi quyết định đi lên Giêrusalem: Nào chúng ta hãy cùng đi để được chết với Ngài.
Thế nhưng, trường hợp của Tôma đã đưa chúng ta đi sâu vào việc tìm hiểu nền tảng của niềm tin nơi Đức Kitô Phục sinh, bởi vì niềm tin này không phải là một chuyện bình thường, một chuyện tự nhiên. Sự sống lại của Đức Kitô vốn là một hòn đá tảng, đặt nền móng cho niềm tin Kitô hữu của chúng ta. Thánh Phaolô đã từng khẳng định như thế và đó cũng chính là nội dung số một của việc rao giảng nơi các tông đồ.
Sự vắng mặt của Tôma trong lần thứ nhất Chúa Giêsu hiện ra được đền đáp một cách khá dồi dào trong lần Ngài hiện ra sau đó tám ngày. Trong lần hiện ra này, Chúa Giêsu đã cho Tôma được xỏ ngón tay vào lỗi đinh cũng như lỗ đòng trên thân thể Ngài. Và Tôma cũng đã trở thành một con người mới với niềm vui mừng và xác tín mới.
Không phải vì đã có được những chứng cớ nơi các lỗ đinh làm nền tảng cho niềm tin, nhưng chính là được hoà tan trong Đức Kitô, với những khổ đau của Ngài, là dấu chứng cho một tình thương dạt dào Ngài đã thực hiện cứu chuộc chúng ta.
Thực vậy, Thiên Chúa chỉ có thể được làm chứng bằng những hành động yêu thương, vì Ngài vốn được gọi là Tình yêu. Đức Kitô Phục sinh trong niềm tin của Tôma chính là Đấng đã từng trải qua những đau khổ của thập giá cùng với cái chết ê chề và tủi nhục. Vì thế, chúng ta không thể tách rời sự sống lại của Ngài với những đau khổ và cái chết. Đồng thời, cũng không thể chỉ thấy cái chết và những đau khổ mà không thấy việc Ngài sống lại.
Và hơn thế nữa, sự chết và sự sống lại được gắn liền với tình thương của Thiên Chúa. Thực vậy, sở dĩ Đức Kitô đã chết và đã sống lại là để thực hiện chương trình cứu độ mà Thiên Chúa muốn dành để chuộc con người chúng ta.

 

PS2-118.  Lạy Chúa là Thiên Chúa con

Trong tạp chí Guidepots, bác sĩ Scott Harrison, một chuyên viên phẫu thuật bàn tay có viết rằng: PS2-118

Trong tạp chí Guidepots, bác sĩ Scott Harrison, một chuyên viên phẫu thuật bàn tay có viết rằng: lần nào giải phẫu ông cũng đều kêu lên vào một lúc nào đó: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con!”. Ông có thói quen lạ lùng nầy từ hồi ông còn ở Việt Nam. Một đêm nọ, vừa mới rời trường Y, ông được kêu đi gắp một viên đạn bị kẹt trong tay một người lính. Đã vậy, ông còn phải giải phẫu dưới ánh sáng của ngọn đèn pin. Cuộc giải phẫu ấy khiến ông cảm xúc sâu xa đến nỗi sau khi cuộc chiến kết thúc, ông đã quyết định đi chuyên ngành giải phẫu bàn tay. Nhờ đi sâu vào lãnh vực chuyên môn nầy, ông đã thẩm định được cách sâu sắc cơn đau khủng khiếp do một vật gây ra, chẳng hạn như một viên đạn, khi vật ấy xuyên thủng lớp xương, lớp gân và những sợi dây thần kinh nơi bàn tay con người. Nhà phẫu thuật ấy kể rằng ông thường giật thót người mỗi lần nghĩ đến cơn đau kinh khiếp Chúa Giêsu phải chịu khi đôi tay Ngài bị đóng đinh vào thập giá.
Khi chia sẻ bài Tin Mừng hôm nay, ông nói rằng theo ông, tiếng kêu “lạy Chúa là Thiên Chúa của con” của Thánh Tôma không chỉ là một lời tuyên xưng đức tin, mà còn là tiếng kêu đầy rung động khi vị tông đồ nhìn thấy dấu vết của đôi bàn tay bị xé toạc ra của Chúa Giêsu. Chỉ đến lúc đó, Tôma mới hoàn toàn nhận thức được cơn đau đớn Chúa Giêsu đã phải chịu trên thập giá. Theo nhận định của nhà phẫu thuật, khám phá nầy hầu như vượt quá mức chịu đựng của Tôma. Và ông đã kết thúc bản văn đầy cảm động đó với lời chứng sau đây: “Mỗi lần giải phẫu mà nhìn phía dưới làn da của bàn tay con người, tôi luôn nhớ tới Chúa Kitô đã hy sinh đôi tay toàn hảo của Ngài cho tôi, và cũng như Tôma, tôi thốt lên: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con”.
Thưa anh chị em,
Câu chuyện trên làm nổi bật một điểm thuộc về đức tin mà chúng ta rất thường hay quên. Đó là mỗi người chúng ta phải tiếp xúc trực tiếp với Chúa Giêsu qua đức tin. Không phải vì cha mẹ, họ hàng, bạn hữu chúng ta tin nên chúng ta tin theo. Đức tin của họ giúp ích cho chúng ta rất nhiều, nhưng chỉ như thế mà thôi thì chưa đủ. Chúng ta phải tự tiếp xúc trực tiếp bằng đức tin với Chúa Giêsu giống như nhà phẫu thuật trong câu chuyện hoặc giống như Thánh Tôma trong Tin Mừng hôm nay. Ông nghĩ mình có quyền được xem thấy Chúa sống lại tí là như các anh em khác. Các tông đồ kia lúc đầu cũng chẳng ai tin Chúa đã sống lại. Các ông chỉ tin sau khi được tiếp cận với Chúa Giêsu, được sờ đến thân xác Ngài, được ăn uống với Ngài. Vì thế, Tôma thấy mình thiệt thòi và thua kém. Cho nên ông cương quyết không chịu tin lời anh em kể lại và ông đòi phải được sờ vào những dấu đinh ở tay Ngài.
Ông Robert Cleath, một tác giả viết sách đã trở lại với đức tin khi ông suy niệm về sự biến đổi kỳ diệu đã đến với các môn đệ Chúa Giêsu vào dịp lễ Phục Sinh. Trước biến cố nầy, họ là đám người thất vọng thảm bại, thế mà sau biến cố nầy, họ đã được biến đổi kỳ diệu và còn có năng lực làm phép lạ nữa. Ông nói: “Không có cách giải thích nào hữu lý về sự biến đổi của họ hơn là sự giải thích của chính họ: đó là vì họ đã nhìn thấy Chúa Giêsu hiện đang sống”.
Blaise Pascal, nhà thiên tài toán học, được hấp dẫn đến với đức tin khi ông suy niệm về sự kiện không có sự đe doạ giết chóc nào có thể ngăn cản các môn đệ Chúa Giêsu nói thật to cho thế giới biết rằng Chúa đã sống lại. Pascal nói ông tin chắc chắn vào kẻ nào dám sẵn sàng chịu “chém đầu” vì lời rao giảng của mình.
Trong cuốn sách mang tựa đề “Ngang qua thung lũng sông Kwai”, Ernest Gordon đã kể lại câu chuyện đám tù binh hai ngàn tù binh đã bị chết vì bệnh tật và vì bị đối xử tàn tệ. Thế nhưng, họ được lôi cuốn đến với đức tin qua cảm nghiệm riêng tư về quyền năng Chúa Giêsu đang hoạt động trong cuộc sống của họ. Chúng ta hãy nhớ lại đám tù binh nầy từng lao động đầu trần chân đất dưới cơn nóng cháy da miền nhiệt đới. Trong chỉ vài tuần lễ, từ những người đàn ông lực lưỡng, họ đã biến thành những bộ xương biết đi. Tinh thần họ bị xuống đến mức tệ nhất. Người ta lo sợ sắp có điều gì xảy ra. Thế nhưng vào ngay thời điểm ấy, hai tù nhân đã đứng lên tổ chức đám tù còn lại thành những nhóm tìm hiểu Kinh Thánh. Nhờ suy tư tìm hiểu Kinh Thánh, các tù nhân đã học biết rằng Chúa Giêsu Phục Sinh đang ở giữa họ. Họ chỉ việc tiếp xúc với Ngài. Và sau khi tiếp xúc với Ngài, đám tù đã được biến đổi kỳ diệu trong cuộc sống từng người. Chính cảm nghiệm thiêng liêng nầy khiến họ quỳ gối xuống thưa Chúa Giêsu “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con”.
Anh chị em thân mến,
Chúng ta cũng phải biểu lộ niềm tin trực tiếp vào Chúa Giêsu như thế. Chúng ta cũng phải tìm được lý do riêng tư thôi thúc chúng ta quỳ gối xuống thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con!”. Dĩ nhiên chúng ta không thể leo lên cỗ máy thời gian bay ngược dòng lịch sử cách đây 2000 năm để dự lễ Phục Sinh đầu tiên. Chúng ta cũng không thể đặt ngón tay vào lỗ đinh nơi tay Chúa Giêsu giống như Thánh Tôma. Vậy thì chúng ta có thể làm gì?
Chúng ta có thể làm như đám tù nhân ở bờ sông Kwai. Chúng ta có thể tin vào Tin Mừng, có thể tiếp xúc với Chúa Giêsu bằng đức tin, có thể tự cảm nghiệm được Chúa Giêsu Phục sinh đang ngự giữa chúng ta: Ngài sẵn sàng giúp đỡ chúng ta như Ngài từng giúp đỡ đám tù binh nọ. Đây là lời mời gọi mà Tin Mừng hôm nay dành cho chúng ta. Đây là lời mời gọi Chúa Giêsu ngỏ với chúng ta như Ngài nói với Thánh Tôma: “Tôma, vì con đã thấy nên con mới tin, nhưng phúc cho kẻ nào không thấy mà tin”.
Thưa anh chị em,
Khi Chúa Giêsu nói với Thánh Tôma: “Phúc cho ai không thấy mà tin” là Ngài đang ngỏ lời với chính chúng ta cũng như với triệu triệu Kitô hữu trong suốt dòng lịch sử. Phúc cho chúng ta nếu chúng ta tin vào Tin Mừng. Phúc cho chúng ta nếu chúng ta tiếp xúc với Chúa Giêsu bằng đức tin. Thật vậy, phúc cho chúng ta, vì cũng như các tù binh nọ, chúng ta sẽ khám phá được Chúa Giêsu đã sống lại và hiện đang sống ngay lúc nầy đây giữa chúng ta và luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng ta.
Cuối cùng, đức tin còn phải được nuôi dưỡng bằng những dấu hiệu, dấu chỉ. Không có các bí tích, không có Thánh Thể, chúng ta sẽ tìm đâu ra cơ hội để gặp thấy sự hiện diện của Đức Kitô Phục Sinh? Một khi đức tin của chúng ta đã được các dấu hiệu, các bí tích nầy thức tỉnh rồi, thì mọi sự sẽ có thể trở thành dấu hiệu về sự hiện diện của Chúa Kitô: các biến cố, các hoàn cảnh, tha nhân… Mỗi giây phút đưa chúng ta đến với một cuộc gặp gỡ và chúng ta lại có thể tuyên xưng như Thánh Tôma tông đồ: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con”.

 

PS2-119. Tôma đa nghi - McCarthy

Suy Niệm . HỌC HỎI TỪ TÔMA
 

Thật dễ sai lầm khi cho rằng những ai đã nhìn thấy Đức Giêsu, thì dễ có lòng tin hơn so với : PS2-119

Thật dễ sai lầm khi cho rằng những ai đã nhìn thấy Đức Giêsu, thì dễ có lòng tin hơn so với chúng ta. Tin Mừng chứng tỏ rằng có nhiều người đã được nhìn thấy Đức Giêsu, nhưng vẫn không có lòng tin nơi Người. Nhìn thấy không nhất thiết là tin. Động tác tin tưởng lôi kéo theo một quyết định tin tưởng.
Trên thực tế, Tin Mừng còn cho thấy rằng ngay cả các Tông đồ mà còn có vấn đề về lòng tin. Tôma không phải là người Tông đồ duy nhất nghi ngờ về sự sống lại. Tất cả các Tông đồ đều như vậy cả. Thánh Maccô kể cho chúng ta nghe rằng khi Đức Giêsu hiện ra với họ vào buổi tối Phục sinh, “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người chỗi dậy”. (Mc 16: 14).
Chúng ta có thể thông cảm cho các Tông đồ. Cảnh Đức Giêsu bị đóng đinh đã làm cho họ bị tuyệt vọng. Họ đã dành cho Đức Giêsu một tầm quan trọng lớn lao. Họ đã bỏ hết công việc của mình, và để lại mọi sự để đi theo Người. Thế mà Người lại đột ngột ra đi. Càng nghe nói thật về cái chết của Người, thì sự mất mát của họ càng trở nên lớn lao hơn. Giá trị và ý nghĩa của tất cả mọi sự đều bị đe doạ: tình bạn đồng hành, lòng tin và toàn bộ cuộc sống của họ.
Và rồi một điều không thể tin nổi đã xảy ra – một lần nữa, Người lại đứng giữa họ. Việc đầu tiên mà Người làm, là chỉ cho các ông nhìn thấy những vết thương của Người. Tại sao Người lại làm như vậy? Trước hết, bởi và những vết thương này giúp cho các ông nhận ra Người chính là Đấng đã bị đóng đinh. Thứ hai, những vết thương này là bằng chứng tình yêu của Người đối với họ. Tình yêu phải được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể. Sau đó, Người còn mời gọi các ông “nhìn xem và sờ tay vào”.
Trường hợp của Tôma đặc biệt soi sáng chúng ta. Ông đã chứng tỏ một sự chân thành thật thú vị. Ông không hề cố gắng che đậy những nghi ngờ của mình. Người ta thường nhìn sự hoài nghi như là một dấu hiệu của sự yếu đuối. Chúng ta thường hay mang mặc cảm tội lỗi, vì đã có những hoài nghi. Nhưng hoài nghi có thể là một điểm nói lên sự đang phát triển, là một hòn đá bước lên để đi vào sự hiểu biết sâu xa hơn. Đây là điều chắc chắn đối với Tôma, bởi vì trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, ông đã tiến tới việc diễn tả lời tuyên xưng cao cả nhất về lòng tin nơi Đức Giêsu: “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con”.
Ở nơi đây, trên trái đất này, người ta không thể tuyệt đối biết chắc chắn về những điều thiêng liêng. Nếu biết chắc chắn, thì không còn cần đến lòng tin nữa. Sự tuyệt đối chắc chắn có thể đưa đến thói kiêu ngạo, không khoan dung và sự ngu xuẩn. “Kẻ tin nào không bao giờ tỏ ra hoài nghi, thì không phải là kẻ tin nữa” (Thomas Merton).
Một cộng đoàn đều có thể rút được kinh nghiệm từ một nhân vật như Tôma, nghĩa là một người có can đảm đặt ra những câu hỏi mà không một người nào khác dám hỏi. Đó là người chân thành, người như vậy cũng giúp cho những người khác giữ được chân thành. Họ làm cho những kẻ tin tức giận, khi bày tỏ sự mỏng dòn nơi lòng tin của họ; họ làm cho những kẻ hoài nghi tức giận, khi làm cho những người này cảm thấy sự dằn vặt của nỗi trống rỗng trong tâm hồn.
Sau khi chế ngự được khủng hoảng lòng tin của mình, Thánh Tôma đã tiếp tục can đảm làm chứng cho Đức Giêsu, và trở thành một trong những nhà truyền giáo vĩ đại nhất của Giáo Hội tiên khởi. Theo truyền thống, ngài đưa Tin Mừng tới tận Ba Tư, Syria và Ấn Độ, là nơi ngài chịu tử đạo. Thánh Tôma là người Tông đồ đầu tiên chịu chết vì đức tin.
Đức Giêsu mời gọi chúng ta tiếp cận với Người trong lòng tin, và nhìn vào những vết thương của Người. Mặc dù chúng ta không được đụng chạm vào Người về mặt thể lý, nhưng chúng ta vẫn có thể tiến lại gần Người về mặt thiêng liêng. Và chúng ta cũng được kêu gọi mang lời chứng đến cho những người khác. Công việc của Chúng ta là làm cho Đức Giêsu trở thành “nhìn thấy được” trên thế giới. Các môn đệ đầu tiên đã làm theo cách này. Một khi đã được nhìn thấy Đức Kitô, họ cảm thấy bắt buộc phải làm cho người khác nhận biết người.
Thế giới ngày nay đầy rẫy những kẻ hoài nghi và không tin tưởng. Cách thức duy nhất khiến cho họ được biến đổi trong lòng tin, đó là làm như thể họ “nhìn thấy” Đức Giêsu và “đụng chạm” vào Người thông qua những kẻ đi theo Người. Nhưng kẻ đi theo Người lại không hề có vết thương tình yêu để bày tỏ ra cho họ, vì thế, chưa chắc có thể thuyết phục được những kẻ không tin.
Xin cho chúng ta xứng đáng được kể và số những người mà Đức Giêsu chúc phúc, nghĩa là “những kẻ không thấy mà tin”

 

PS2-120. Chú giải của Noel Quesson

Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần... các môn đệ đang tụ họp." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà....
 

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại cho ta hai lần hiện ra của Đức Giêsu Phục sinh, trong vòng: PS2-120

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại cho ta hai lần hiện ra của Đức Giêsu Phục sinh, trong vòng tám ngày. Tự nhiên, chúng ta thích để ý đến cuộc hiện ra lần thứ hai, cuộc hiện ra dành “cho Tôma"; bởi vì chúng ta thường đồng hoá với ông, để thấy trên thực tế mình cũng gần với một kẻ nghi ngờ, "một kẻ yếu tin" và có thể tìm gặp nơi ông một thứ biện minh cho thái độ thiếu lòng tin của ta.
Nhưng thái độ đồng hoá với Tôma không thể ngăn cản chúng ta đọc toàn bộ bản văn.
Trước hết, chúng ta cần ghi nhận, việc Đức Giêsu sống động hiện ra vào "Chúa nhật", ngày thứ nhất trong tuần có phải vì ngẫu nhiên không? Như chúng ta quá biết, các Kitô hữu tiên khởi không phải ngày nào cũng quy tụ. Họ còn phải lo đời sống riêng hằng ngày. Họ không thể lúc nào cũng cùng nhau hiện diện được. Vì thế, Đức Giêsu Phục sinh đã hiện đến trong khung cảnh buổi họp mặt hàng tuần của họ. Có thể chúng ta mắc sai lầm khi coi đức tin như một việc hoàn toàn có tính riêng tư thuộc phạm vi cá nhân mỗi người. Thực sự, việc Đức Kitô phục sinh hiện diện được nhận biết, cảm nghiệm trong khuôn khổ một cuộc gặp gỡ tập thể. Họ "cùng nhau” hiện diện, tụ họp, trong Giáo hội.
Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông.
Lúc thánh Gioan viết trình thuật trên cũng là thời gian Giáo hội gặp sợ hãi vì bách hại. Các môn đệ của Đức Giêsu có thói quen tụ họp nay ở nhà này, mai ở nhà khác. Họ tiếp đón nhau, cùng nhau kiểm điểm: Có bao nhiêu cuộc rút lui, có bao nhiêu người bỏ đức tin, bỏ nhóm. Họ cũng sợ hãi. Họ đóng cửa, cài then. Nhưng vào mỗi Chúa nhật, thì "Chúa nhật thứ nhất" này, dấu chỉ của phòng Tiệc ly lại được đổi mới: Đức Kitô sẽ lướt qua cách mầu nhiệm giữa các người thuộc về Ngài, nơi họ đang ở; tại Ê-phê-xô, Cô-rin-tô, Giêrusalem, Rôma. Phải, mỗi Chúa nhật, là ngày phục sinh! Lạy Chúa, Chúa đang hiện diện ngay giữa cuộc đời chúng con. Chính Chúa làm cho chúng con được sống. Cho dù không thấy Chúa, chúng con vẫn tin. Lạy Chúa, ngày nay, vì sợ hãi chúng con cũng thích đóng kín cửa. Chớ gì, khi Thần Khí thổi đến, mọi bức tường vây hãm chúng con sẽ sụp xuống và lại đến thời chúng con ca vang? Nào chúng ta hãy mở cửa cho Đức Kitô Phục sinh.
Trước khi suy niệm sâu xa hơn Đoạn Tin Mừng trên, chúng ta hãy tự hỏi, Đức Kitô muốn giải phóng và Phục sinh chúng ta khỏi tình trạng bế tắc nào, khỏi tình trạng sợ hãi nào, khỏi tình trạng đóng cửa cài then nào, khỏi tình trạng "chết chóc" nào. Đó có thể là tội lỗi, thử thách về sức khoẻ, những điều gây khổ đau và tuyệt vọng, khó khăn về gia đình, nghề nghiệp... Đó là nơi họ ở đều đóng kín cửa!"
Đức Giêsu nói: "Chúc anh em được bình an!”. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Chúc anh em được bình an".
Niềm vui Phục sinh, niềm vui Kitô hữu, không thể là niềm vui dễ dàng, niềm vui tự phát, niềm vui đột nhiên nâng cao chúng ta, khi mọi sự đều khả quan, sức khoẻ tốt, tuổi trẻ đầy sinh lực, kinh doanh thành đạt, quan hệ bạn hữu và gia đình thoải mái. Thực sự, niềm vui sống lại là niềm vui chỉ đến "sau” sợ hãi! Đó là niềm vui và sự bình an phát sinh từ một tình trạng hoàn toàn tuyệt vọng (cái chết của một kẻ bị đóng đinh) và kể từ nay trở đi không gì có thể cướp đi khỏi họ: Đó là niềm vui và sự bình an nhờ lòng tin nơi Đức Giêsu.
Mỗi buổi họp mừng Chúa nhật. như hôm nay, Đức Giêsu lại chúc bình an cho ta qua tiếng nói của linh mục: "Bình an của Chúa ở cùng anh chị em". Và Công đồng Vatican II lập lại nghi thức "chào chúc bình an" của truyền thống xa xưa: các Kitô hữu được mời gọi trao bình an cho nhau, nhân danh Đức Kitô. Bắt tay, ôm hôn, mỉm cười với nhau, trong khi miệng trao đổi: "Bình an của Đức Kitô!". Đó không phải là cử chỉ tầm thường nhưng là thái độ "trở nên Đức Kitô”đối với người bên cạnh “khi nhiều người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa họ”.
Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.
Đó! Chúng ta đâu có ngờ rằng Chúa đã phát biểu như thế! Chính Đức Giêsu đang tuyên bố lại với chúng ta những lời trên. Dù tôi có là một người tồi tàn đáng thương, nhưng tôi vẫn là Đức Giêsu được sai đến với anh chị em tôi y như "Người" đã được Chúa Cha sai. Chúng ta không nên lướt nhanh những lời trên, đừng quá vội liên hệ với Tôma, kẻ nghi ngờ. Nhưng hãy để ý đến lời của Đức Giêsu trên đây. Hãy tìm hiểu trách nhiệm cao cả mà Người trao phó cho ta: "sứ vụ của Đức Kitô được uỷ thác cho Giáo hội, cho chính tôi. Tôi là kẻ được Đức Giêsu sai đi như Người đã được Chúa Cha sai đến: Tôi cần phải khám phá ra ý nghĩa của hai từ Latinh và Hy Lạp, rất tiếc "không được dịch ra": "sứ vụ” có nghĩa "sai gửi" (do từ Latinh là missub) và từ "tông đồ" có nghĩa là "kẻ được sai đi" (do từ HyLạp là apostolos), khi tôi gặp một người nào đó, cùng làm việc với tôi, hay trong môi trường sống hằng ngày, tôi không chỉ hiện diện với họ nhân danh tôi hay theo ý tôi nhưng tôi được Đức Kitô sai đến với họ, nhân danh Người và theo ý Người, như thế Chúa Cha đã sai Đức Giêsu như thế! Tôi cần phải loan báo cho bạn một sứ điệp của Đức Giêsu: chính Người sẽ nói với bạn điều tôi sắp nói với bạn. Người đang sống trong tôi. Tôi là môi miệng, là thân thể của Người, đang kề cận với bạn, để mạc khải cho bạn tình yêu của Chúa Cha.
Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần".
Đó là ân huệ của Thần Khí, là "cuộc tạo dựng mới". Thần Khí của Đức Giêsu được thông truyền cho các môn đệ của Người. Đức Giêsu đã chết, đã trở về với Chúa Cha. Đến lượt các Kitô hữu tiếp tục công việc của Người! Họ là những người mang hơi thở sống động, mang Thần Khí của Người. Họ sắp tiếp nối công trình của Người. Thánh Phaolô nói: "Anh em là Thân thể của Đức Kitô. Anh em là Đền thần của Thánh Thần". Còn thánh Gioan minh chứng cho ta, Đức Giêsu tiếp tục cử chỉ của Creator Spiritus. Lạy Thần Khí tác tạo, xin hãy đến!”.
Theo thánh Gioan, Lễ Hiện xuống, đó là buổi chiều Ngày Phục sinh: cốt yếu mọi hoạt động của Đức Giêsu sau khi Người chiến thắng tử thần, đó là ân huệ của "Thần khí đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ trong cõi chết" (Rm 8,11). Trong kinh Tin kính, ta tuyên xưng về Thần Khí: Ngài là Đức Chúa, là Đấng ban sự sống". Thần Khí được trao ban cho con người vào buổi chiều Phục sinh, sẽ tỏ hiện cách công khai rực rỡ năm mươi ngày sau đó vào Lễ Hiện xuống. Đó là thần khí của Thiên Chúa vừa biểu lộ quyền năng của mình, để lôi kéo Đức Giêsu ra khỏi quyền lực của tử thần và mạc khải Người là Con Thiên Chúa nhờ biến cố Phục Sinh. Xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa" (Rm 1,4).
Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha.
"Thắt buộc" và "tháo cởi"; "Tha giải" và "cầm giữ" tội lỗi. Đó chỉ là hình thức ngữ pháp theo kiểu nói A-ra-mên: Theo đó, người ta dùng hai từ nghịch nghĩa nhau để xác định mạnh hơn một thực tại, và nhấn mạnh đến từ mang tính tích cực. Như thế, trong khi trao ban Thần Khí của mình, Đức Giêsu cũng thông truyền cho các môn đệ quyền "tháo cởi con người khỏi sự ác". Từ nay, ngay tại trần gian này, họ đã là người mang "lòng thương xót của Thiên Chúa" nhờ Đức Giêsu là hiện thân? "Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.". Các Kitô hữu được trao uỷ cho chính sứ vụ mà Đức Giêsu tự nhận là của mình, lúc Ngài hiện diện tại Hội đường Nadarét, khởi đầu tác vụ: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố một năm hồng ân Chúa, trả lại tự do cho người bị áp bức (Lc 4, 18- 19). Tôi có là người mang Thần Khí đó, Thần Khí giải phóng, Thần Khí ban sự sống, Thần Khí yêu thương và tha thứ nhân danh Đức Giêsu không? Tha thứ là một ân huệ Phục sinh.
Một người trong nhóm Mười Hai, tên là Tôma, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến... Ông ta nói với họ: "Nếu tôi không thấy... tôi chẳng có tin".
Đó là một "kẻ đến chậm". Ông đến sau buổi gặp gỡ.
Trong Tin Mừng, Tôma luôn tỏ ra là một người chỉ tin vào lương tri của mình. Ông thực sự nghi ngờ cả thái độ dấn thân liều mạng của Đức Giêsu. "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu' (Ga 14,5). Khi Đức Giêsu nói đến sự phục sinh cho Ladarô, thì Tôma chỉ thấy hiện lên sự chết (Ga 11,15-16).
Tám ngày sau... Đức Giêsu lại đến và nói: Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đừng cứng lòng nữa...".
Dù đã Phục sinh, Đức Giêsu vẫn tỏ ra khôi hài! Trong suốt một tuần lễ, Người đã để cho Tôma bề ngoài xem ra có lý lắm. Nhưng lúc này tôi thấy như Đức Giêsu vừa mỉm cười khiêu khích, vừa nói với Tôma. Người có vẻ đang nói với ông: Này anh bạn đáng thương của tôi ơi, anh cứ tưởng tôi đã chết và hết hiện hữu, khi anh quả quyết với các bạn hữu rằng anh chẳng có tin đâu... nhưng chính lúc đó, tôi vẫn hiện diện cách vô hình, chứng kiến các anh đàm luận. Tuy nhiên, tôi đã không tỏ mình ra cho anh, ngay lúc đó. Ôi Thiên Chúa thật là kiên nhẫn, Người làm chủ thời gian của Người.
Ông Tôma thưa với Người: "Lạy Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của con".
Đó là tiếng kêu biểu lộ lòng tin của một người không cần đến "sờ chạm" nữa. Ông đã hiểu rằng, Đức Giêsu, dù bề ngoài không thấy, vẫn hiện diện đó? Người có mặt ngay cả vào giờ phút họ nghi ngờ xao xuyến.
Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.
Một mối phúc, mối phúc cuối cùng. Người ta không thể "thấy" được những thực tại siêu việt nhất của Thiên Chúa. Chỉ có "đức tin" mới dẫn chúng ta vào những thực tại đó. Và đó là hạnh phúc đích thực.

 

PS2-121. Chú giải của Fiches Dominicales

TỪ NHẬN BIẾT ĐẾN RAO GIẢNG TIN MỪNG
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
I. TỪ CHÚA NHẬT …
 

Chúng ta đang ở vào thời điểm sau cái chết của Đức Giêsu, vào chiều ngày thứ nhất của một tuần: PS2-121

Chúng ta đang ở vào thời điểm sau cái chết của Đức Giêsu, vào chiều ngày thứ nhất của một tuần lễ, ngày tụ họp của các Kitô hữu đầu tiên, thời gian ưu tiên cho sự hiện diện của Chúa Phục sinh giữa cộng đồng mà Người triệu tập để chia sẻ cho họ Lời và Bánh và sai họ vào thế giới.
Trong trình thuật này, chúng ta gặp ba thời điểm đặc biệt của tiến trình Vượt qua:
 
  • Đấng phục sinh chủ động đến.
  • Nhận ra Đức Giêsu đang sống sau khi biết rõ người đã chết.
  • Tiếp nhận sứ mệnh của Đấng Phục sinh.
1/ Đấng Phục sinh chủ động đến.
Các môn đệ tụ họp trong một căn phòng đóng kín cửa. Họ sợ người Do Thái, đúng hơn, sợ các vị chức sắc trong giáo quyền Giêrusalem. Với chi tiết này, có lẽ tác giả muốn các độc giả Tin Mừng của mình liên tưởng đến các cuộc bách hại mà tới lúc này đã lan rộng. Bị trục xuất khỏi hội đường vì dám tin nhận Chúa Giêsu là Đức Kitô (người mù bẩm sinh bị đuổi khỏi hội đường: Ga 9.34). Họ như dần dần được chỉ dẫn đức tụ họp ở một nói riêng tránh sự dòm ngó của những kẻ bách hại họ.
Họ tụ tập. Đức Giêsu đến trước mặt họ. Lời đầu tiên Người nói là lời cầu chúc bình an: Bình an cho anh em (Shalom). Không chỉ là lời chào xã giao, nhưng là một xác nhận ân huệ phát sinh: vui mừng, bình an.
2/ Nhận ra Đức Giêsu đang sống sau khi biết rõ người đã chết.
Đức Giêsu chỉ cho họ thấy tay và cạnh sườn Ngươi (liên tưởng tới lưỡi giáo đâm: Ga 19,34). Alain Marchadour chú giải rằng: Dù thuật lại những lần hiện ra lạ lùng của Đức Giêsu, thì những vết đinh đóng và cạnh sườn bị đâm thủng chứng tỏ rằng thánh sử không muốn độc giả lầm tưởng đó là bóng ma, nghĩa là, một ai khác chứ không phải Đấng chịu đóng đinh. Đúng ra, sự hiện diện thể lý thông thường đã chấm dứt, nhưng Đấng đã hiện diện trước mặt họ đây, chính là Đức Giêsu họ biết là yêu mến, từ nay đã thăng hoa bởi sự phục sinh. Không sợ hãi nữa, các tông đồ trở nên vui mừng" ("L'evangile de Jean, Centurion". trg 246).
3/ Tiếp nhận sứ mệnh Đấng Phục sinh trao.
Đấng Phục sinh hiện đến, không phải chỉ là một chuyến ngao du, nhưng còn để trao một sứ mệnh. Sai họ đi với sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Để đem Tin Mừng ơn Tha Thứ của Thiên Chúa đến cho mọi người.
II. ĐẾN CHÚA NHẬT SAU
Lần Chúa đến chiều Chúa nhật trước, Tôma đi vắng. Nhờ đó mà có bản tường thuật thú vị Chúa nhật này. Điển hình của sự cứng lòng tin, Tôma không đón nhận điều mà các anh em kể lại; chắc gì đã là Đức Giêsu phục sinh? ông chủ trương: Phải thấy tận mắt, sờ tận tay mời đáng tin. Thế là Đức Giêsu lại đến. Cùng một cung cách tường thuật. Đức Giêsu đến khi các cửa cài chặt. Người lặp lại lời chào phục sinh: "Bình an cho anh em". người lại chỉ cho các ông thấy tay và cạnh sườn. Với Tôma, Người nhấn mạnh đến sự liên tục và đồng nhất giữa Đấng chịu đóng đinh và Đấng đang vinh hiển: "Xỏ ngón tay vào đây và nhìn cho kỹ bàn tay Thầy. Hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy mà coi". Gerard Bessière tự hỏi: "Đến như thế thì vị Tông đồ cứng, lòng còn biết làm gì bây giờ! Người ta đã tranh luận nhiều. Các bức hoạ thường trình bàn Tôma chỉ giơ tay hướng về các vết thương nơi tay hoặc cạnh sườn Chúa. Điều quan trọng là lời: "Thôi! Đừng cứng lòng nữa, hãy tin". ("Dieu si proche", DDB, trg 53-54).
Thế là Tôma tuyên xưng lòng tin. Một cách tuyên xưng đức tin độc đáo của Tân ước. Một tuyên xưng mà chúng ta nghe vang vọng nơi các kinh Tin Kính của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Chúng ta cũng tuyên xưng như thế mà. Các định tín sau này cũng không vượt qua lời tuyên xưa ấy: “Lạy Chúa tôi lạy Chúa Trời tôi ".
Quang cảnh kết thúc bằng một mối phúc: "Vì con đã thấy Thầy nên con tin. Phúc thay kẻ đã không thấy mà tin”. Mối phúc sau cùng của Tin Mừng đấy. Mối phúc của người tín hữu. A. Marchadour ghi tiếp: "Đó là kết luận của toàn bộ Tin mừng, một điệp khúc của luận đề quan trọng trong Do Thái giáo: giữa thấy và tin, hình ảnh và lời thoại, hiện tượng và ngôn từ. Vế thứ hai trong các cặp luận đề vừa nêu làm nên điều kiện bình thường và lý tưởng của lòng tin. Ngay cả kẻ đã thấy thì cũng còn phải vượt qua những gì mình thấy để mà tin. Ngôi Lời, từ khi trở nên xác phàm, đã để cho các môn đệ phần xác thể, phần nhân loại. Nhưng họ phải "thấy Thiên Chúa tỏ hiện trong vinh quang”. Là những kẻ thừa hưởng Tin Mừng, chúng ta thật diễm phúc. Chúng ta không thấy. Chúng ta chỉ nhờ vào chứng từ của các Tông đồ mà gắn kết với Đức Kitô trở thành tín hữu. (Sđd, trg 248).
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Tôma, một vị tiền hô
(“Célébrer", tạp chí của Trung tâm Quốc gia về mục vụ phụng vụ, số 2348, trg 18).
Nhân vật có tên Tôma và sự cứng lòng tin của ông vẫn luôn gây chú ý. Cần cả một bài giảng mới đề cập đủ về nhân vật này. Xin gợi lại điều mà thánh Gioan nói về ông: nhiệt tình vô lối (11,16), hoang mang (14,5). Bản tính thế nào thì phản ứng như vậy, nên trong trường hợp này, cũng dễ thông cảm với ông. Ông là loại người muốn đi tới cùng nhưng lại không đặt tin tưởng vào một ai.
Đức Giêsu chấp nhận vào cuộc (chỉ cho ông các vết thương) và đã khơi gợi nơi ông cửa ngỏ của lòng tin: đó là lòng cậy trông sâu thẳm nơi ân huệ nhưng không. Và Tôma đang trên con đường biến đổi: từ lòng tin và những lần đón Chúa xuất hiện đến niềm tin của Giáo Hội khuất dạng Đấng Phục sinh. Tại sao lại không nhận ra điều này: Tôma không phải một kẻ cản trở lòng tin. mà là vị tiền hô của lòng tin như Gioan Baotixita? Theo thánh Gioan, kẻ sau hết tin vào Đấng Phục Sinh hiện diện lại là kẻ trước tiên không còn cần thấy và chạm đến Chúa để được kêu lên "Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi”. Ngài dám đặt ra câu hỏi làm cớ cho chúng ta nhận được câu trả lời cứu độ của Đức Giêsu Kitô.
2. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin.
"Phúc cho những ai đã không thấy mà tin". Cần nhấn mạnh tới lời Đức Giêsu nói đây, những lời ấy hé cho thấy sự ưu tư của Đức Giêsu, của các môn đệ ghi chép Tin Mừng. Sự ưu tư của những ai không gặp Chúa khi Người đến trần gian. Họ hiểu ra rằng: tình cảnh của họ không cam go hơn tình cảnh các Tông đồ, những chứng nhân tiên khởi. Nói những lời ấy, Đức Giêsu nghĩ tới chúng ta, 20 thế kỷ sau các Tông đồ, chúng ta cũng nhận được cùng một ánh sáng rọi chiếu như các ngài. Nếu chỉ quan tâm tới không gì mắt thấy, có lẽ các Tông đồ diễm phúc hơn chúng ta, nhưng nếu xác tín rằng Đức Tin là một ân huệ của Thiên Chúa, thì chúng ta cũng được xếp vào cùng hàng ngũ với các Tông đồ là những kẻ cũng phải có cùng một xác tín. Cùng với các vị đặt nền móng cho Giáo Hội, chúng ta dâng lên Chúa lời cảm tạ vì ân huệ đã nhận.được. Năng lực chúng ta có cũng sẽ tương xứng như thế. Đến lượt mình, chúng ta cũng có thể là những người đặt nền móng cho các Giáo Hội đang được thành lập vào lúc khởi đầu của thiên niên kỷ mới này.
Giáo Hội thuộc mọi thời đều qui tụ trong ân huệ duy nhất của Chúa, trong niềm vui duy nhất của Chúa. Như tôm, sự chậm tin của chúng ta sẽ giúp chúng ta cảm thông và hiểu biết sâu xa đối với những tất cả những ai chưa được đón nhận ân huệ đó.

 

PS2-122. Chúa Giêsu sống lại: một sáng tạo mới!

06.04.2010 09:54
 

50 ngày từ hôm nay đến ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội mừng kính Tin: PS2-122

50 ngày từ hôm nay đến ngày lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, Giáo Hội mừng kính Tin Mừng mầu nhiệm đêm phục sinh. Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh chết trên thánh giá, được chôn táng trong mồ dưới lòng đất, Ngài đã không nằm yên cho bị tan xương nát thịt thành tro bụi trong đó. Nhưng Thiên Chúa đã làm phép lạ cho Ngài sức mạnh quyền năng chiến thắng thần chết tội lỗi, chỗi dậy ra khỏi nấm mồ.
Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã sống lại từ cõi chết âm u. Sự sống lại của Người đem lại cho con người sự sống mới. Đây là mầu nhiệm ơn cứu độ, mà trong suốt mùa phục sinh 50 ngày, được đọc nhắc nhớ lại qua các bài tường thuật trong  Phúc âm.
Trong ngày Chúa nhật lễ mừng kính mầu nhiệm Phục sinh Chú sống lại, Phúc âm thuật lại quang cảnh Bà Maria Madalena gặp Chúa Giêsu sống lại nơi nấm mồ lúc tảng sáng tinh sương. Nhưng Maria Madalena lại nghĩ tưởng Chúa Giêsu là ngưòi thợ làm vườn.
Sự hồ nghi hay nghĩ tưởng của Maria Madalena không là điều sai lạc Trái lại có thể giúp ta suy nghĩ sâu xa hơn về ý nghĩa Chúa Giêsu phục sinh.
Theo Phúc âm thuật lại, Maria Madaena nhìn nấm mồ thấy mồ chôn Chúa đã trống không. Rồi chị ta nghĩ ngay người đang đứng nói chuyện với mình là người làm vườn đã thu dọn cỏ cây trong vườn, và có thể biết kẻ đã chết ở đây bị đưa đi đâu rồi, nên mồ mới trống rỗng như thế này!
Các Thánh Giáo Phụ đã có suy niệm về hình ảnh ngưòi thợ làm vườn này là hình ảnh nói Thiên Chúa. Thiên Chúa cũng là người thợ làm vườn trong khu vườn sáng tạo. Khi Ngài sáng tạo trời đất đã lập nên khu vườn địa đàng thuở ban đầu, như trong sách sáng thế ký thuật lại.
Trong khu vườn địa đàng, Thiên Chúa cho con người đầu tiên Adong và Evà có đời sống bằng an hài hòa với thiên nhiên, với Thiên Chúa. Khu vườn địa đàng là ngôi nhà của con người như ý Thiên Chúa muốn cho họ.
Nấm mộ chôn Chúa Giêsu trong một khu vườn giờ đây đã trống không, vì Ngài đã sống lại, như Phúc âm thuật lại, cũng ăn khớp vói hình ảnh khu vườn địa đàng sự sống ngày xưa. Và bây giờ là khu vườn sáng tạo sự sống mới. Nhờ sự chết và sống lại của Chúa Giêsu, sự sáng tạo mới cho một trang sử sự sống mới được tạo dựng mở ra cho con người.
Khu vườn nào cũng có hoa thơm cỏ đẹp, cây cối xanh tươi tốt. Khu vườn nào cũng được dọn dẹp sạch sẽ có hàng rào, có đường lối đi lại, có luống đất thành hàng trồng cây và cây cối được chăm sóc bón phân tưới nước đều đặn.
Khu vườn có thể nói là hình ảnh công sức tình yêu của người làm vườn đầu tư gieo trồng vào nơi đó. Người làm vườn bỏ công sức mồ hôi thời giờ, và nhất là ý thích tình yêu cho khu vườn. Và người làm vườn cũng nhận lại được phần thưởng là sự phát triển sinh hoa kết trái từ khu vườn. Điều này mang đến cho người làm vườn cùng cho người đến thăm khu vườn hay cho người sống trong đó sự thư thái bình an hạnh phúc.
Mầu nhiệm Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết là khởi đầu sự trở về khu vườn địa đàng mới. Không phải sự chết là tiếng nói cuối cùng đời con người. Nhưng Thiên Chúa, Đấng sáng tạo nên đời sống con muốn con người sống.
Sự sống sáng tạo mới Thiên Chúa đã gieo trồng khởi sự từ ngày chúng ta lãnh nhận làn nước bí tích rửa tội trong tâm hồn đời sống con người. Và ngày sau cùng đời sống Ngài sẽ làm cho hoàn thành trong nước Chúa.
Đó là cùng được sống lại với Chúa Giêsu phục sinh.

 

PS2-123. MỐI PHÚC THỨ CHÍN

Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Có lẽ đây là mối phúc thứ chín mà Ðức Giêsu dành: PS2-123

“Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Có lẽ đây là mối phúc thứ chín mà Ðức Giêsu dành cho những ai tin vào sự phục sinh của Ngài. Ðức Giêsu Phục Sinh là một sự kiện được chứng thực bằng nhiều lần hiện ra với các môn đệ, và nhất là được chứng thực bằng chính cộng đoàn kitô hữu tiên khởi.  Cộng đoàn này "đã thấy", "đã tin" và "đã nhận được".
Họ "đã thấy" Chúa đến viếng thăm khi cửa nhà họ vẫn im ỉm đóng kín.
Họ "đã tin" khi Ðấng Phục Sinh hiện diện giữa họ, thân ái và dịu hiền.
Họ "đã nhận được" bình an và hoan lạc từ Đấn Phục Sinh.
Khi Ðấng Phục sinh giải thoát họ khỏi nỗi sợ hãi, bất an.
Nhưng có một người đã chưa thấy, đã chưa tin và đã chưa nhận được… đó là Tôma. Ông là người môn đệ không ở với cộng đoàn khi Ðức Giêsu đến, và ông đã không chấp nhận lời chứng của các môn đệ bạn bè. Tôma đã tạo nên một khoảng cách với cộng đoàn, và hơn nữa, ông đã tự tách lìa với niềm tin của cộng đoàn. Chính việc đó đã đẩy ông tới chỗ ngờ vực và đa nghi.
Hình ảnh Tôma được xem là biểu tượng cho những người kém lòng tin; ông không ở với cộng đoàn Giáo hội nên ông đã không thấy; ông không thông hiệp với cộng đoàn Giáo hội nên đã không tin. Ông tự hào với những nhận định của riêng mình nên đã không nhận được hồng ân của niềm tin.
Nhưng tình yêu thương của Ðức Giêsu đã biến đổi ông.  Ngài đã hiện đến vào tám ngày sau khi Toma đang ở với cộng đoàn. Một chút bối rối, rồi một chút bất an… và sau đó, mọi sự vụt tan biến. Tôma đã mở miệng thốt lên với thầy mình: "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!".  Ông đâu dám mong Thầy sẽ đích thân hiện đến để thỏa mãn những đòi hỏi quá quắt của mình. Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân. Ông ra khỏi được sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin.
Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy. Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông. Tin bao giờ cũng đòi hỏi một bước nhảy vọt khỏi cái thấy.
Chúng ta không được phúc thấy Chúa theo kiểu của Tôma, nhưng chúng ta vẫn được thấy Chúa theo những kiểu cách khác. Cần tập thấy Chúa trong cuộc sống của ta để rồi tin, tin rằng Chúa Phục Sinh vẫn đang có mặt giữa những trăn trở và vấp váp, thất bại và khổ đau trên đường đời.
"Phúc cho những ai không thấy mà tin", và “phúc cho những ai biết thấy nên tin”.
***
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt, xin hãy gọi tên chúng con như Chúa đã gọi tên chị Maria đứng than khóc bên mộ.
Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc, xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài, như Chúa đã đi với hai môn đệ trên đường Emmau.
Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi, xin hãy đến và đứng giữa chúng con, như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.
Lúc chúng con cứng lòng cố chấp và xa cách anh em, xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con, như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.
Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì, xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn, như Chúa đã nướng bánh và cá cho các môn đệ bên bờ hồ năm xưa.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin ban cho chúng con “con mắt đức tin” để được nhìn thấy Ngài, để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến, và đang ở thật gần bên chúng con mỗi ngày. Amen.
Tổng hợp từ R. Veritas
 (BĐ1: I: Cv 2, 42-47 – BĐ2 : 1 Pr 1, 3-9 – PÂ: Ga 20, 19-31)

 

PS2-124. Tin vào Chúa sống lại

Đoạn Tin Mừng hôm nay kể lại hai lần Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra cách nhau vừa đúng: PS2-124

Đoạn Tin Mừng hôm nay kể lại hai lần Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra cách nhau vừa đúng một tuần.
Lần thứ nhất Ngài hiện ra với nhóm các môn đệ đang run sợ trong một căn phòng đóng kín. Ngài đã cầu chúc bình an, còn các ông thì vui mừng khi gặp lại Ngài. Chúa Giêsu hiện ra không phải chỉ để đem lại cho các ông niềm vui mừng và an ủi sau những giờ phút kinh hoàng của cuộc thương khó. Nhưng hơn thế nữa, Ngài còn muốn mời gọi các ông tham dự vào sự biến đổi sâu xa nơi bản thân Ngài. Hay nói cách khác, Ngài muốn đưa các ông đi vào mối quan hệ với chính Ngài. Các ông đã biết Ngài trong cuộc sống thân xác, nhưng cuộc sống ấy đã qua bởi vì Ngài đã sống lại, đã được đổi mới trong Thánh Thần cho một cuộc sống mới, trong một cuộc sáng tạo mới.
Đúng thế, khi tạo dựng Adong nguyên tổ loài người, Thiên Chúa đã hà hơi ban sinh khí thì nay vào ngày đầu tiên của công cuộc tạo dựng mới, Đức Kitô Phục sinh cũng đã hà hơi trên các môn đệ đang như chết cóng vì hợ hãi, để ban cho các ông sinh khí mới là Thánh thần. Chính nguồn sinh khí mới này sẽ đem lại cho các ông quyền tha tội, mà trước đây chỉ dành cho một mình Chúa Giêsu. Các con hãy chịu lấy Chúa Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha. Như thế, chúng ta thấy: Chúa Thánh Thần và quyền tha tội được nối kết chặt chẽ với nhau, vì mục đích chính yếu của Chúa Thánh Thần là tẩy luyện, là đổi mới. Tiếp đến các ông được Chúa sai đi, hầu tham dự vào công cuộc tẩy luyện và đổi mới trần gian. Trước kia, khi Chúa Giêsu còn ở với các ông, các ông có thể sống ỷ lại và tầm thường, nhưng giờ đây thì không được nữa, bởi vì các ông đã lãnh nhận một sứ mạng lớn lao: Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. VÌ thế các ông tiếp nối chính sứ mạng được sai đi của Chúa Giêsu. Các ông sẽ lên đường và làm chứng về Ngài cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Lần thứ hai Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, trong đó có cả Tôma một người vốn cứng lòng. Và chúng ta thấy Tôma đã tuyên xưng đức tin của mình sau khi đã nhìn thấy những vết thương nơi tay chân và trái tim của Chúa. Từ đó, Ngài mời gọi các ông hãy có lấy một lòng tin mới. Từ nay lòng tin sẽ không còn đặt nền tảng trên giác quan, mà là trên chứng từ của những người đã thấy. Chính với lòng tin này mà người Kitô hữu được kết hiệp mật thiết với Đức Kitô Phục sinh.
Ngày nay, Giáo Hội nói chung và mỗi người tín hữu nói riêng cũng sẽ tiếp nối sứ mạng được sai đi mà ngày xưa Ngài đã trao cho các môn đệ. Chúng ta được sai đi để rao tỉang sự sống lại, để xây dựng một quan hệ mới giữa con người với con người. Con người tội lỗi, thuộc thế giới cũ, bị đặt dưới quyền lực của sự chết và bị coi như thù địch. Trong khi đó, con người phục sinh với cuộc sống mới, phải đối xử với nhau như anh em phải yêu thương và đùm bọc lấy nhau. Thực hiện được sứ mạng sai đi như thế, là chúng ta đã chu toàn được điều Đức Kitô Phục sinh nhắn gởi đến mỗi người chúng ta.

 

PS2-125. Một sự thăng cấp lạ lùng – Achille Degeest.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)
 

Cảnh tượng thuật lại ở đây diễn tả ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô ban cho các môn đệ khi: PS2-125

Cảnh tượng thuật lại ở đây diễn tả ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô ban cho các môn đệ khi Ngài chưa lên cùng Cha Ngài. Ơn Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô ban cho các môn đệ khi Ngài chưa lên cùng Cha Ngài. Ơn Chúa Thánh Thần có mục đích làm cho hàng giáo phẩm nên môi giới trong việc tha thứ tội lỗi và ban phát Chúa Thánh Thần. Đoạn Tin Mừng này là một trong những đoạn đánh dấu sự chuyển tiếp giữa thời kỳ Chúa Kitô trong những ngày còn trong thể xác và thời kỳ Giáo Hội tức là thời kỳ Chúa Kitô theo Thần Linh. Đoạn này loan báo những liên hệ mới nối kết con người với Thiên Chúa. Giáo Hội ngày nay đang sống trong một sự hiện diện của Chúa Kitô khác với sự hiện diện của những ngày kế tiếp Chúa sống lại, nhưng là một sự hiện diện thể hiện lời hứa không để các môn đệ mồ côi. Đâu là những liên hệ hiện nay của người Kitô hữu với Chúa Kitô, với Chúa Cha và với Chúa Thánh Thần.
1) Với Chúa Kitô. Chúa Kitô trong giai đoạn lịch sử của Ngài trong sự chết sống lại và vinh hiển, là đối tượng của đức tin. Chúng ta tin Chúa Giêsu Kitô là Đấng thực hiện sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta và nơi chúng ta. Thiên Chúa là Đấng cao xa đã nhờ Chúa Kitô, trở thành một sự hiện diện gần gũi với con người. Niềm xác tín mạnh mẽ rằng Chúa Kitô sống lại và hằng sống vẫn hiện diện với chúng ta ngày hôm nay, là một ơn huệ kỳ diệu của Phục Sinh. Việc Chúa sống lại không làm cho Ngài hiện diện cách thể lý như khi còn ở Galilêa, nhưng nó tạo điều kiện cho một sự kết hợp mới, về thiêng liêng thâm sâu hơn với Ngài nhờ đức tin và các bí tích. Hơn nữa, Chúa Kitô hoạt động trong chúng ta và qua chúng ta.
2) Với Chúa Cha. Xuyên qua hành động tin kính Chúa Kitô, chúng ta đến được với Chúa Cha. Nhìn ngắm Chúa Kitô trong một cái nhìn đức tin, tức là nhìn thấy Chúa Cha. Ngược lại, Chúa Cha khi nhận ra chúng ta là môn đệ Chúa Con, sẽ có một cái nhìn trìu mến mà Ngài hằng có đối với Chúa Giêsu. Lời nguyện cầu của chúng ta với tư cách là môn đệ Chúa Giêsu bắt gặp sự lắng nghe mà Chúa Cha luôn có đối với Chúa Con; lời cầu nguyện này luôn được chấp nhận. Hơn nữa toàn thể môn đệ họp thành Giáo Hội hôm nay, làm được những công việc mà Chúa Giêsu đã làm trong quãng đời ngắn ngủi của Ngài ở trần gian. Việc Phúc Âm hoá thế giới là một thí dụ. Trên tất cả mọi sự, nhờ ơn cứu độ, chúng ta được nên con của Thiên Chúa trong Chúa Con. Trở nên con cái Thiên Chúa: ôi, một sự thăng cấp kỳ diệu!
3) Với Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần khơi dậy trong chúng ta những cơ cấu nội tâm làm phát sinh những hành động đức tin. Chính Ngài tạo ra trong chúng ta một tương quan mới liên kết chúng ta với Thiên Chúa. Ngài sáng soi, khuyên nhủ và củng cố chúng ta. Cần nhấn mạnh điều mà thánh Gioan nói về Thần Linh mà Chúa Giêsu ban cho các môn đệ. Các môn đệ ngày nay tức là Hàng giáo phẩm. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến một sự phản kháng chống đối Hàng giáo phẩm nhân danh cái mà người ta có thể tóm tắt bằng từ ngữ dễ chịu là “tiếng nói tiên tri”. Những tác phẩm mới đây đã chứng tỏ rằng có một thứ tiên tri sai lầm, tách lìa khỏi Hàng giáo phẩm hay đối nghịch bằng một sự đối nghịch tự căn bản đối với giáo quyền, vùng vẫy trong những xung đột mâu thuẫn và chắc chắn không thể xuất phát từ Chúa Thánh Thần được. Thế thì do thần linh nào đây? Hãy coi, một tiên tri như thánh Phanxicô thành Assisi ngày xưa và nhiều vị Tông đồ lớn ngày nay, họ luôn tỏ ra rất lưu tâm đến việc hiệp thông với Phêrô và các môn đệ. Có lẽ thái độ của họ bắt nguồn từ cái họ không coi tình cảm cá nhân mình là cái gì tuyệt đối. Thật quá dễ mà chụp mũ từ ngữ Thần linh vào những “tiếng kêu la” của một thứ nhạy cảm độc địa hoặc những lời sấm của một thứ kiêu ngạo vô thức. Nhưng ai có được bảo đảm sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần nếu không phải là Phêrô và các Tông đồ.

 

PS2-126. Tôma.

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta thấy Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong: PS2-126

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta thấy Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ trong một căn phòng đóng kín vì sợ người Do Thái. Thân xác vinh quang của Ngài tựa hồ như một luồng ánh sáng chiếu qua những khung cửa kính. Để củng cố niềm tin, Ngài cho các ông xem những vết thương trên tay chân Ngài khiến cho các ông hết sức vui mừng. Rồi Ngài nói với các ông: Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Điều đó có nghĩa là: Chúa Cha đã sai Ngài đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, thì Ngài cũng sai các ông đi để đem lại ánh sáng và sức mạnh của Tin Mừng cứu rỗi cho muôn dân.
Ngài thổi hơi để thông ban thần khí cho các ông và nói: Các con hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Các con tha tội ai thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm lại. Với tác động của Chúa Thánh Thần, Ngài đã trao ban cho các ông một uy quyền thiêng liêng, đó là quyền tháo cởi. Quyền tha thứ và cầm buộc nếu như tội nhân chưa được xứng đáng.
Thế nhưng ngày hôm đó Tôma lại vắng mặt, ông đã tỏ ra cứng lòng khi nghe các môn đệ kể lại sự việc. Chúng ta có thể nghĩ rằng sự cứng lòng của Tôma là một sai lỗi, là một khuyết điểm may mắn, vì nhờ đó mà chúng ta có được một bằng chứng về sự sống lại của Đức Kitô, bởi vì các môn đệ không phải là những người cả tin, dễ nghe theo những lời đồn thổi, nhưng các ông đã đòi phải có những chứng cớ hiển nhiên.
Cũng chính nhờ sai lỗi và khuyết điểm này chúng ta mới có được những lời lẽ đầy an ủi của Chúa Giêsu: Vì con đã thấy nên con mới tin, nhưng phúc cho ai không thấy mà tin. Khi phán những lời ấy, có lẽ Chúa Giêsu đã nghĩ tới hàng triệu triệu người qua dòng thời gian luôn tin tưởng nơi Ngài, mặc dù đã không một lần nhìn thấy Ngài trên mặt đất này. Và cũng thật hạnh phúc cho chúng ta, bởi vì chúng ta chưa được nhìn thấy Ngài, chưa được sờ tới gấu áo Ngài, chưa được nghe Ngài nói, chưa được chứng kiến những phép lạ Ngài làm, cũng như chưa được ăn và uống với Ngài. Nhưng chúng ta đã tin tưởng nơi Ngài dựa vào những chứng cớ của các tông đồ, là những người đã dám chết để làm chứng cho sự phục sinh của Đức Kitô.
Thánh Gioan đã viết trong sách Phúc Âm như sau: Sở dĩ một số các phép lạ được kể lại là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng cứu thế, đồng thời nhờ niềm tin tưởng này mà anh em có được sự sống, dĩ nhiên đó phải là sự sống vĩnh cửu mà chính Ngài muốn đem đến cho thế gian.
Chúng ta hãy Chúa xin củng cố niềm tin của chúng ta, để một khi đã xác tín việc Chúa sống lại, chúng ta cũng sẽ mạnh dạn làm chứng cho Chúa như các môn đệ ngày xưa.

 

PS2-127. TOMA CHỚ CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN !

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH, năm A:  (CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA)
Ga 20, 19 – 31
 

Có một điều xem ra rất kỳ diệu, ngộ nghĩnh, khó chịu một chút, nhưng cũng lại thật dễ: PS2-127

Có một điều xem ra rất kỳ diệu, ngộ nghĩnh, khó chịu một chút, nhưng cũng lại thật dễ thương nơi con người của thánh Tôma tông đồ. Bởi vì, các môn đệ đồng môn, các người phụ nữ loan tin rằng :” Chúa đã sống lại rồi “. Tôma vẫn cứng đầu muốn kiểm chứng những lời bạn bè, đám đông đang ồn ào kháo láo và loan truyền về Thầy Giêsu đã sống lại có thật hay không, có đúng hay không và những điều các tông đồ khác nói chúng tôi đã thấy, chúng tôi đã gặp Chúa Phục Sinh đúng như thế nào ?
Trước thái độ của Tôma, Chúa đã nói :” Phúc cho những ai không thấy mà tin “. Do đó, đức tin đòi khiêm nhường. Chỉ có sự khiêm hạ thẩm sâu, lòng tín thác tuyệt vời nơi Thiên Chúa, người ta mới dễ dàng chấp nhận. Thánh Gioan đã thấy mồ trống, các băng vải, khăn liệm, Ngài đã tin. Thánh Gioan đã tin Chúa sống lại như lời chúa nói trước và Kinh Thánh đã dạy. Maria Mácđala và maria khác tuy chưa thấy rõ nhưng các bà đã nhận ra dấu chỉ Chúa sống lại, nhất là khi Chúa gọi tên Maria, bà đã thưa “ Rabboni “ ( lạy Thầy ). Tôma một cách nào đó muốn nhõng nhẽo với Chúa Phục Sinh, nên Ngài cứ khăng khăng phải gặp được Chúa sống lại và ngón tay của mình phải xỏ vào lỗ đinh nơi tay, nơi chân Chúa và bàn tay của mình phải thọc vào cạnh sườn Chúa thì Ngài mới tin. Thái độ của Toma hoàn toàn khác với những người Pharisêu và những người khác. Chúa khiển trách Toma cách dịu dàng, chỉ bảo. Toma không cố chấp để rồi chối từ tin, nhưng là để thấy rõ hơn và rồi tin mãnh liệt hơn.
Đức tin là tiếng kêu. Nó phát xuất từ cõi sâu thẳm của trái tim, của cõi lòng con người. Tôma đòi điều kiện nhưng khi đứng trước mặt Chúa Phục Sinh, Toma sợ run, đó chính là nét dễ thương của Tôma và Tôma kêu lên : “ Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con “. Tin Mừng cho chúng ta thấy khi Chúa hỏi các môn đệ nghĩ sao về Chúa ? Phêrô đã thưa : “ Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống “. Chúa đã lập tức nói với Phêrô :” Phêrô, con có phúc, vì không phải xác thịt hay máu huyết tỏ cho con biết điều đó, nhưng là Cha Ta ở trên trời “. Chúa xác định đó là tiếng nói của đức tin. Các môn đệ khi thấy đám đông bỏ đi vì Chúa Giêsu nói tới Bánh trường sinh, các Ngài vẫn một mực thưa với Chúa qua tiếng của Phêrô : “ Chúng con sẽ theo ai, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời “. Mácta cũng một lần tuyên xưng nơi Chúa :” Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian “.
Đức tin là tiếng phát xuất từ đáy lòng và rồi con người nhận biết Chúa và nhất quyết sống niềm tin ấy qua đời sống hằng ngày. Người Kitô chỉ có thể sống niềm tin ấy khi họ thể hiện đức tin qua những việc làm cụ thể hằng ngày. Tình thương, đức bác ái và những cử chỉ tốt đẹp sẽ là những ánh lửa thắp sáng niềm tin, minh chứng cho bộ mặt đầy yêu thương của Chúa Kitô.
Như một vận động viên cầm ngọn đuốc Olympic chuyền qua tay vận động này tới vận động viên khác cho tới lúc anh châm ngọn đuốc sáng vào nơi để lửa Olympic chính thức đốt cháy suốt thời gian tranh tài...Đức tin phục sinh của mỗi Kitô hữu cũng phải được chuyền đi như ngọn đuốc Olympic...
Chúa Nhật II Phục Sinh được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chọn là Chúa Nhật kính nhớ lòng thương xót của Chúa. Chúa luôn yêu thương nhân loại, yêu thương mỗi người, Ngài đã đổ máu của mình trên Thập giá để cứu độ con người. Ngài đã nói : “ Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ) “ Khi nào Ta bị treo lên cao, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta “. Tình thương của Chúa được thể hiện trọn hảo nơi chính cái chết tự nguyện của Chúa trên Thập giá. Nữ tu Faustina đã được Chúa hiện ra và mạc khải : “ Lòng Thương xót của Chúa “.
Cử hành thánh lễ Chúa nhật II Phục Sinh, chúng con luôn tín thác nơi Chúa và luôn tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn một lòng tin tưởng vào Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Toma có phải là người kém tin không ?
2.Tại sao Toma lại đòi kiểm chứng những lời các tông đồ nói đã thấy Chúa Phục Sinh?
3.Đức tin tại sao lại cần việc làm ?
4.Đức tin là gì ?
5.Chúa nhật II Phục Sinh còn gọi là Chúa nhật gì ?
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

PS2-128. Cộng đoàn tin vào Chúa Phục sinh

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 20:19-31)
 

Đức tin vào Chúa Phục sinh không chỉ là đức tin cá nhân, như người môn đệ bạn ông Phê-rô: PS2-128

          Đức tin vào Chúa Phục sinh không chỉ là đức tin cá nhân, như người môn đệ bạn ông Phê-rô đã bày tỏ:  “Ông đã thấy và đã tin” (Gio-an 20:8), nhưng còn là đức tin cộng đoàn như câu chuyện Tin Mừng hôm nay kể lại.  Câu chuyện ông Tô-ma nói lên một khía cạnh của đức tin là “phúc thay những người không thấy mà tin”.  Tuy nhiên cũng trong câu chuyện này, sự vắng mặt của ông Tô-ma chiều ngày thứ nhất trong tuần và sự có mặt của ông tám ngày sau trong cả hai lần Chúa hiện ra lại giúp chúng ta nhìn đức tin theo chiều kích mới, là liên hệ giữa đức tin cá nhân với cộng đoàn.
          Trước hết trong lần hiện ra ngày thứ nhất trong tuần, hình ảnh Chúa Giê-su “đứng giữa” các môn đệ, chúc bình an và ban Thánh Thần cho họ diễn tả một cộng đoàn đức tin, trong đó có Chúa Phục sinh là tâm điểm, với sức sống và quyền bính là Chúa Thánh Thần.  Cộng đoàn đức tin ấy có sứ mệnh hòa giải thế gian với Thiên Chúa (tha tội và cầm giữ) để tiếp nối công trình cứu độ của Thiên Chúa.  Nhưng cộng đoàn đức tin ấy lại thiếu vắng Tô-ma, một người muốn chủ trương một đức tin duy thực nghiệm.  Trả lời cho các anh em môn đệ muốn chia sẻ đức tin với ông, ông Tô-ma nói: “Nếu tôi không thấy…, nếu tôi không xỏ ngón tay… và nếu tôi không đặt bàn tay, thì tôi không tin”.  Nói khác đi, theo Tô-ma, đức tin phải chủ động và phát sinh từ người tin chứ không phải từ Đấng được tin.  Ông chưa hiểu được rằng đức tin đích thực xuất phát từ tình yêu, uy tín và quyền năng của Thiên Chúa và mời gọi con người đáp lại tình yêu và những phẩm chất ấy của Thiên Chúa.  Tô-ma biểu tượng cho những phần tử không sống trong sự liên kết với cộng đoàn đức tin.  Hậu quả của việc thiếu liên kết này là “cứng lòng” hoặc “nghi ngờ”.
          Nhưng Chúa Phục sinh không chịu “chào thua” sự cứng lòng của Tô-ma đâu!  Tám ngày sau, Người trở lại.  Chúng ta có cảm tưởng như lần hiện ra này là vì Tô-ma và dành riêng cho Tô-ma thôi!  Ngay sau lời chào hỏi chúc bình an tất cả, Chúa Giê-su đến với Tô-ma.  Người không lập tức trách mắng Tô-ma, nhưng Người muốn chữa lành ông bằng lời mời gọi:  “Hãy xỏ ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy.  Hãy đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.  Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.  Thật là một lời mời gọi tha thiết.  Chúa bảo Tô-ma đặt tay vào cạnh sườn Người để ông có thể “cảm nghiệm” được cả Tình yêu của Người.  Đây là trái tim Thiên Chúa yêu nhân loại đến đổ ra giọt máu cuối cùng!  Đức tin không loại bỏ những căn bản dựa trên giác quan hoặc dừng lại ở đó, nhưng đức tin đưa chúng ta sang một lãnh vực mới, đó là lãnh vực của tình yêu.
          Trong vấn đề đức tin, cá nhân có thể “cứng lòng” hoặc “nghi ngờ”, nhưng cộng đoàn thì không.  Họ là những người được mời gọi “để tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người”.  Ở trong cộng đoàn ấy, Chúa Ki-tô luôn luôn “đứng giữa” chúng ta, mời gọi chúng ta như đã mời gọi Tô-ma, để đức tin của chúng ta cũng được vững mạnh mà tuyên xưng:  “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Có nhiều người chủ trương đạo tại tâm, hoặc tin Chúa là vấn đề cá nhân, không cần thiết phải dự vào cộng đoàn.  Có thể đức tin ấy có khuynh hướng lý thuyết hoặc sách vở.  Trái lại, đức tin cộng đoàn biểu lộ rõ rệt qua những thực hành đức tin, nhất là những sinh hoạt phụng vụ.  Hình ảnh sống đức tin cộng đoàn ấy đã được sách Công Vụ Tông Đồ mô tả trong bài đọc thứ nhất hôm nay:  các Ki-tô hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng, hiệp thông, tham sự Thánh lễ, cầu nguyện, chia sẻ cho nhau của cải vật chất họ có… Quả thực là một đức tin sống động!
          Chúng ta cho rằng lý tưởng ấy ngày nay không thể thực hiện được hay sao?  Câu trả lời chắc chắn là có thể thực hiện được.  Nhưng điều có thể ấy lại hoàn toàn tùy thuộc mỗi Ki-tô hữu chúng ta.  Không nhất thiết lý tưởng ấy phải thực hiện được ngay hôm nay và trên toàn thế giới, nhưng ít ra nó phải được khởi đầu lúc này và ở gia đình chúng ta!      
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi         

 

PS2-129. Bình An Cho Các Con

Chúa Nhật II Phục Sinh ABC
Gio 20:19-31: 19 Vào lúc xế chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi ở của các môn đồ các cửa đều đóng kín, vì sợ người Do Thái; Đức Yêsu đã đến, đứng giữa họ, và Ngài nói: "Bình an cho các ngươi!" 20 Nói thế rồi, Ngài cho họ thấy tay chân và cạnh sườn Ngài. Các môn đồ mừng rỡ, vì được thấy Chúa. 21 Một lần nữa, Ngài nói với họ: "Bình an cho các ngươi! Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi " 22 Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: "Hãy chịu lấy Thánh Thần. 23 Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ!"
24 Thôma, nghĩa là "sinh đôi", là một người trong nhóm Mười hai, không ở với họ khi Đức Yêsu đến. 25 Các môn đồ khác nói với ông: "Chúng tôi đã thấy Chúa!" Ông nói với họ: "Nếu nơi tay Ngài, tôi không thấy các đấu đinh, và tra tay tôi vào lỗ đinh, cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, tôi sẽ không tin!" 26 Tám ngày sau, các môn đồ ở trong (nhà), có Thôma ở với họ, Đức Yêsu đến, đang lúc các cửa đều đóng kín; Ngài đứng giữa họ và nói: "Bình an cho các ngươi!" 27 Đoạn Ngài nói với Thôma: "Hãy đem ngón tay ngươi đặt đây, này tay Ta; hãy đem tay ngươi tra vào cạnh sườn Ta và đừng ở như người cứng tin, mà là như người thành tín!" 28 Thôma đáp lại và nói với Ngài: "Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi!" 29 Đức Yêsu nói với ông: "Bởi thấy Ta, ngươi đã tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin!"
30 Đức Yêsu đã làm trước mặt các môn đồ của Ngài nhiều dấu khác lạ nữa, không viết lại trong sách này. 31 Các điều đã viết đây, là để anh em tin rằng: Đức Yêsu chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa; và bởi tin thì anh em được có sự sống nhờ Danh Ngài.
 Đoạn 20:19-23
 

Đó là buổi chiều cùng ngày Phêrô và Gioan chạy ra mồ Chúa (20:1-10). Chúa hiện ra cho: PS2-129

 Đó là buổi chiều cùng ngày Phêrô và Gioan chạy ra mồ Chúa (20:1-10). Chúa hiện ra cho các môn đệ sau khi Maria tin cho họ biết là cô đã thấy Người. Có thể phân đoạn nầy thành hai dựa trên lời Chúa nói: “Bình an cho các con” (20:19.21). Một hành động được kèm theo sau mỗi lời nầy: Chúa cho các ông xem tay và cạnh sườn (20:20a), Người sai các ông đi và ban Thánh Thần (20:21b-22). Theo sau hành động của Chúa là thái độ của các môn đệ: vui mừng vì thấy Chúa (20:20b) và lãnh nhận quyền tháo gỡ tội lỗi (20:23).
Chúa cho xem tay và cạnh sườn của Ngài (20:20a)
Chúa Giêsu ban bình an lần thứ nhất để chứng tỏ Người đã sống lại. Vì sợ người do thái mà các môn đệ đã mất bình an. Dấu hiệu bên ngoài của điều nầy là họ đóng chặt mọi cánh cửa. Họ lo sợ người do thái vì người do thái đóng vai trò chủ chốt trong việc bắt và đóng đinh Người (18:12). Nhiều người khác cũng đã phải sợ quyền lực nầy, nhất là trong những chuyện liên quan đến Người (7:13; 9:22; 19:38). Hơn nữa, trước những sự kiện Phêrô và Maria Mađalêna đã thuật lại, họ càng xao xuyến thêm. Phải tin vào ai? Chúa Giêsu đã báo cho họ trước là đừng để tâm hồn xao động, cả khi bị bắt bớ vì Người đã ban cho họ sự bình an của Người (14:27; 16:33). Lần nầy rất ý nghĩa, việc ban bình an của Người kèm theo việc cho các môn đệ thấy vết thương ở tay và cạnh sườn. Đó là những dấu vết của cuộc thương khó mà Người đã chịu bởi tay người do thái (19:34). Nhưng Người đã sống lại. Người đã chiến thắng sự chết mà được xem như là biện pháp cuối cùng và hiệu quả nhất người do thái đã nghĩ đến để tiêu diệt Người. Do đó, không còn lý do gì để phải sợ hãi nữa những người ấy chỉ giết được thân xác. Ngược lại, họ vui mừng vì đã thấy và gặp lại Người. Nỗi vui mừng ấy từ nay không ai lấy mất được (16:22; 20:20).
 Người sai các môn đệ đi và ban Thánh Thần (20:21b-22)
Chúa Giêsu ban bình an lần thứ hai để sai các môn đệ đi và mở ra giai đoạn mới. Để thực hiện, Chúa Giêsu đã làm cho các môn đệ những điều mà Chúa Cha đã làm cho Người: ban sứ mạng và Thánh Thần. Người sai họ đi như Chúa Cha đã sai Người vào trần gian (17:18). Họ lãnh nhận cùng một sứ mạng như Người đã lãnh nhận. Người ban cho họ Thánh Thần mà Người đã lãnh nhận trong ngày khởi đầu sứ vụ (1:33). Bây giờ Người đã được tôn vinh, nên Người có thể ban Thánh Thần ấy lại cho các môn đệ của Người (x. 7:39). Hơn nữa, trong lời ban bình an (cc. 19.21) Người bảo đảm cho họ cả  sự hiện diện luôn mãi của Người.
Quyền tháo gỡ tội lỗi (20:23)
Với quyền tháo gỡ tội lỗi được ban cho các môn đệ (c. 23), Chúa Giêsu muốn họ chuẩn bị tâm hồn con người để đón nhận tin mừng về sự phục sinh của Người; việc mà Người đã làm khi khởi đầu việc rao giảng (x. Mk 1:14-15). Tuy nhiên, lúc nầy vì Người đã hoàn tất công trình cứu chuộc và đã biểu lộ cách rõ ràng Người là Con Thiên Chúa đã sống lại trong vinh quang phục sinh, nên lời mời gọi tin vào tin mừng (x. Mk 1:15) sẽ đồng nghĩa với một chọn lựa: tin vào Chúa Kitô sống lại thì được cứu độ, không tin vào Người thì bị kết án (x. 3:18). Đó là lý do tại sao Người ban cho các môn đệ quyền tháo gỡ tội lỗi dựa trên phán đoán ai tin hay không tin vào Chúa Giêsu sống lại.
Chúa Giêsu sống lại ban sự bình an không sợ hãi sự chết cho những ai tin vào Người. Sự bình an ấy ban cho họ sức mạnh để loan báo tin mừng Người đã phục sinh.
II. Đoạn 20:24-29
Không gian vẫn là tại căn phòng nơi các tông đồ đang tụ họp (20:19); thời gian là “tám ngày sau” (20:26). Bố cục của đoạn có thể phân chia như sau: - Tôma, người vắng mặt trong lần hiện ra trước (20:24); - Lời chứng của các tông đồ và Tôma không tin (20:25); - Đối thoại của Chúa Giêsu và Tôma (20:26-28); - Kết luận của Chúa Giêsu (20:29).
Tôma, người vắng mặt trong lần hiện ra trước (20:24)
Tôma không có mặt với các tông đồ khác trong lần Chúa Giêsu hiện ra trước (20:19-23). Lời chứng của các tông đồ: “Chúng tôi đã thấy Chúa” (20:25a) giống như lời của Maria Mađala (20:18). Tương quan giữa “thấy” và “tin” rất được nhấn mạnh (1:50; 3:36; 4:48; 19:35), và đặc biệt trong trình thuật về sự sống lại. Gioan “đã thấy và đã tin” (20:8), Maria Mađala đã thấy Chúa (20:18), các tông đồ cũng đã thấy (20:20.25). Phần Tôma, thấy để có thể tin không đủ; ông muốn có thêm kinh nghiệm “đụng chạm” nữa. Ông đặt điều kiện “nếu tôi không… thì tôi không”, nghĩa là nếu Chúa không thực hiện những điều kiện của ông, thì không vẫn từ chối tin vào lời chứng của các tông đồ khác (x. 20: 25b). Maria Mađala muốn giữ thân xác Chúa Giêsu lại (x. 20:17), còn Tôma muốn đụng chạm đến các vết thương ở tay, chân và cạnh sườn Người. Các vết thương nơi tay và chân do bị đóng đinh (19:18), và nhất là vết thương ở cạnh sườn do một người lính đâm thủng (19:34) là những yếu tố rất cần thiết giúp cho các tông đồ tin. Chúng giúp cho các tông đồ tin là Đấng Sống Lại cũng chính là Đấng Đã Bị Đóng Đinh, và đã có một chứng nhân giữa họ thấy Người bị đâm ở cạnh sườn (x. 19:34). Bởi đó, Người đã cho các tông đồ thấy “tay và cạnh sườn” (20:20). Họ thấy và họ đã tin. Còn Tôma, không chỉ thấy, mà còn muốn đụng tay vào những vết thương ấy. Vậy, ông đặt cho Chúa Giêsu một điều kiện phải thực hiện để ông có thể tin.
Đối thoại của Chúa Giêsu và Tôma (20:26-28)
Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra giữa các tông đồ lúc cửa đang đóng, và lời chào như lần trước: “Bình an cho các con” (20:19.21.26). Điều nầy cho thấy sự liên hệ với đoạn trước (20:19-23). Hơn nữa, chỉ dẫn về thời gian “sau tám ngày” đối chiếu với “ngày thứ nhất” (20:1) “cùng ngày hôm ấy” (20:19) cho thấy các lần hiện ra Chúa Giêsu cố ý thực hiện trong ngày của Chúa. Lần nầy, có Tôma hiện diện, và Chúa Giêsu có cơ hội thực hiện những điều kiện của ông. Người ra những mệnh lệnh cho ông: “Hãy xỏ ngón tay vào” “Hãy đặt tay vào” các vết thương của Người (20:27); đồng thời, “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (20:27c). Người cho ông thực hiện kinh nghiệm cách thể lý điều kiện ông đã đặt ra. Rồi Người mời gọi ông vượt qua bên kia lòng tin có điều kiện ấy, để chỉ tin vào Người. Điều kiện cần thấy mới tin, hoặc có thêm kinh nghiệm đụng chạm, không phải là điều Chúa Giêsu ưa chuộng (x. 3:36). Vì có nhiều Người thấy mà vẫn không tin (x. 6:30.36). Tôma đã chấp nhận thách đố của Người, và đã tuyên xưng: “Lạy Chúa của tôi, lạy Thiên Chúa của tôi” (20:28). Martha cũng tuyên xưng tương tự như thế vào Chúa Giêsu trong biến cố Lazarô được làm cho sống lại (x. 11:27), sau khi Chúa Giêsu tự xưng chính Người là sự sống lại và sự sống (11:25). Như thế, lời tuyên xưng nầy cho thấy Tôma tin là Chúa Giêsu đã sống lại; đồng thời qua đó, ông bước vào niềm tin của các tông đồ khác và của Maria Mađala vào Chúa Sống Lại khi họ nói là họ đã thấy “Chúa” (x. 20:8.18.20.25.28; 21:7.12). Vậy, từ niềm tin có điều kiện, Tôma đã nhận biết Đấng Sống Lại và hết cứng lòng tin.
Phúc cho những ai không thấy mà tin (20:29)
Tin mừng về Đấng Sống Lại phải được loan báo theo lệnh truyền. Maria Mađala nhận lệnh đi báo lại cho các tông đồ  (20:17); các tông đồ loan báo cho Tôma (20:25). Và dĩ nhiên, tin mừng nầy còn được loan truyền cho các thế hệ tiếp nối theo sau. Đấng Sống Lại sẽ ra đi. Không thể tất cả có thể làm kinh nghiệm như Tôma và các tông đồ. Bởi đó, mối phúc “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (20:29) cho thấy lời loan báo “Chúng tôi đã thấy Chúa” (20:18.25) của những chứng nhân đầu tiên là quan trọng hơn cả và đầy đủ rồi để có thể tin là Chúa Giêsu đã sống lại (20:18.25; 1Gio 1:1) và không cần mỗi người phải có một kinh nghiệm thấy Người và đụng chạm Người cách thể lý.
Chúa Giêsu Sống Lại không còn ở trong điều kiện xác phàm như lúc Người đến trần gian, nên việc thấy Người bằng mắt xác phàm cũng không cần thiết nữa. Chỉ tin vào lời chứng của các tông đồ về Chúa Sống Lại là đủ.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

PS2-130. MỘT CHIỀU KÍCH LẠ LÙNG

Chúa Nhật 2A Phục sinh
 

Còn gì vui hơn đối với một nhà khoa học khi thấy thành quả sau nhiều năm nghiên cứu ?!: PS2-130

Còn gì vui hơn đối với một nhà khoa học khi thấy thành quả sau nhiều năm nghiên cứu ?!   Đức Giêsu sẽ chứng minh niềm vui phát xuất từ niềm tin còn lao hơn nhiều.
NHỮNG NẺO ĐƯỜNG.
Niềm tin Phục sinh đã đến với các tông đồ rất dễ dàng khi “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói : ‘Bình an cho anh em !’” (Ga 20:19)   Nhìn thấy tận mắt Đức Giêsu Phục sinh, các môn đệ tràn ngập niềm vui.   Đó là dấu chứng đầu tiên và hiển nhiên  nhất từ ánh sáng Phục sinh.    Thực ra, niềm tin đó không phát xuất từ giác quan.  Nếu không, chắc chắn ông Tôma đã bị thuyết phục khi các ông chứng minh: “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” (Ga 20:25)   Chính niềm tin Phục sinh đã cho ông xác tín giới hạn của giác quan và sức mạnh vô biên của niềm tin.   Thực vậy, làm sao giác quan có thể khiến ông Tôma mở miệng tuyện xưng : “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” (Ga 20:28) ?   Nhưng giác quan chỉ trợ lực, chứ không thể thay thế mạc khải.  Chính vì thế, Đức Giêsu đã từng nói với ông Phêrô : “Không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 16:17)
Kinh nghiệm về Đấng Phục sinh phải vượt lên trên mọi giới hạn giác quan.  Chính Đức Giêsu đã quả quyết : “Phúc thay người không thấy mà tin.” (Ga 20:29)   Ông Phêrô đã nói lên cảm nghiệm về một thực tại rất chính xác nơi cộng đoàn tín hữu : “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin.” (1 Pr 1:8)   Đó là một điều bí hiểm hay ngớ ngẩn đối với những người không tin.   Nhưng trái lại, đối với những người tin, đó lại là tất cả nguồn hi vọng.  Thực thế, chính vì tin vào Đức Giêsu Phục sinh, “anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.” (1 Pr 1:8b-9)  
Giác quan không thể thay thế niềm tin. Đức Giêsu không có ý phủ nhận hạnh phúc của những người vừa thấy vừa tin nơi Người. Bằng chứng, mặc dù xác quyết “chúng tôi đã được thấy Thầy” (Ga 20:25), các tông đồ vẫn không giảm bớt hạnh phúc chút nào ! Thực vậy, “các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.” (Ga 20:20)    Niềm vui phát xuất từ sự bình an của Đấng Phục sinh.  Bình an đồng nghĩa với ơn cứu độ.  Ơn cứu độ trước tiên phải đến với các tông đồ, trong tư cách cá nhân hay cộng đồng.  
Phải có cuộc gặp gỡ đích thân giữa Đức Giêsu và ông Tôma, chúng ta mới có thể xác định đâu là tầm quan trọng cá nhân trong công cuộc cứu độ.   Không gặp gỡ cá nhân với Đấng Phục sinh, con người không thể xác tín sâu xa và vững mạnh đến thế !  Chiều kích cá nhân không thể bị lãng quên trong công cuộc cứu độ.    Chính vì thế, vì “không ở với các ông khi Đức Giêsu đến”, ông Tôma đã khẳng quyết : “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” (Ga 20:26)   Không phải ông Tôma tin tưởng vào giác quan hơn chứng từ các tông đồ.   Trái lại, “ông Tôma yêu cầu được nhận chứng cứ hiển nhiên Chúa phục sinh và Đức Giêsu chịu đóng đinh cũng là một.” (Encycyclopedia of Catholicism 1995:1109)   Nếu cá nhân không quan trọng, Đức Giêsu đã không thỏa mãn đòi hỏi của ông Tôma làm chi !
Khi nhận được ơn cứu độ đó, các tông đồ không thể khư khư giữ lấy cho mình hay cộng đoàn mình.    Nhưng họ phải chia sẻ cho người khác.   Nhưng làm sao chia sẻ cho người khác, nếu họ không được sai đi ?   Bởi thế, “Thầy lại nói với các ông : ‘Bình an cho anh em !   Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” (Ga 20:21)  Ơn cứu độ chỉ được ban cho nhân loại khi Đức Giêsu Phục sinh từ cõi chết.    Sứ mệnh cứu độ đã hoàn thành trên thập giá, nhưng phải được tiếp nối nơi các môn đệ.   Sứ mệnh cứu độ đồng nghĩa với việc tha thứ tội lỗi cho muôn dân.  Nhưng không thể tha thứ nếu không có quyền lực Thánh Linh.   Bởi thế, Đức Giêsu mới “thổi hơi vào các ông và bảo : ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.   Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha.’” (Ga 20:22-23)  
PHỤC SINH THẾ GIỚI.
Thánh Thần là quyền năng Thiên Chúa vừa để tha tội vừa để phục sinh thân xác Đức Giêsu.   Nói khác, tha tội chính là phục sinh con người từ khỏi quyền lực tử thần và tội lỗi.   Nhờ thế, con người bước vào một đời sống mới.   Thực thế, tôi chỉ có thể sống và lớn lên theo đúng kích thước sung mãn trong thân xác Đức Giêsu phục sinh.   Ơn cứu độ cũng chỉ được thực hiện trong nhiệm thể Đức Giêsu mà thôi.   Ngoài Đức Giêsu không có ơn cứu độ !
Làm sao người môn đệ có thể làm chứng cho mọi người nhận ra chân lý đó ?   Giống như Tôma, nhiều người cũng đang khao khát có một cảm nghiệm về Đức Giêsu phục sinh.  Chính các môn đệ tin rằng Thánh Thần chính là tình yêu nối kết Chúa Cha và Chúa Con.   Nói khác, chính tình yêu đã phục sinh thân xác Đức Giêsu. Nhân loại hôm nay đau khổ chỉ vì không đủ sức mạnh tình yêu phục sinh.  Sứ mệnh làm chứng là sứ mệnh đem tình yêu phục sinh nhân loại.   Người môn đệ có thể làm được chuyện đó không ?
Thực tế, các Kitô hữu thời kỳ Giáo Hội sơ khai đã làm được chuyện đó.   Bằng chứng, “Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.” (Cv 2:47)   Đó là một hồng ân, nhưng cũng là kết quả nỗ lực của cộng đoàn.   Quả thế, “tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung.” (Cv 2:44)  Đời sống là cả một chuỗi ngày dài làm chứng.   Bầu khí thật hồ hởi.  “Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ.   Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ.” (Cv 2:46)  Cộng đoàn đã có một sức hút rất mạnh vì “được toàn dân thương mến.” (Cv 2:47)   Không thể phủ nhận chiều kích cộng đoàn trong việc làm chứng  cho Đức Giêsu phục sinh.  
Cộng đoàn tiên khởi đã mạnh dạn làm chứng.  Chứng từ đó được củng cố bằng lời cầu nguyện, học hỏi lời Chúa và sống hiệp thông.   Quả thực, “thời bấy giờ, các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy. Luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng.” (Cv 2:42)   Mọi người đều hãnh diện vì được làm con Thiên Chúa do hồng ân Đức Giêsu phục sinh.  Họ tin rằng “cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới.” (Rm 6:4)   Trong đời sống mới, họ có thể phục sinh toàn thể nhân loại nhờ quyền năng Thiên Chúa tức là Thánh Linh, Đấng đã phục sinh Đức Giêsu từ cõi chết.   Nếu Thần Khí đã phục sinh thân xác Đức Giêsu, chắc chắn Kitô hữu cũng có thể biến cải nhân loại nhờ sức mạnh Thần Khí.   Thực vậy, “Thần Khí Thiên Chúa có quyền làm cho con người trở thành những người đồng sáng tạo sự sống mới trong vương quốc Thiên Chúa ở mỗi giai đoạn lịch sử hiện tại.” (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:826)   
 Hiện tại thế giới đang chìm ngập trong đau khổ vì bất công.  Nếu thực sự phục sinh với Đức Giêsu, chúng ta phải cam kết tranh đấu cho người nghèo và những người đau khổ.   Đã phục sinh với Chúa, không đứng ngoài lề cuộc vận hành của Đấng phục sinh trong cuộc biến cải thế giới thành vương quốc Thiên Chúa, tràn ngập “sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.” (Rm 14:17)

 

PS2-131. Chúa Nhật II Phục Sinh

Chúa Ki-tô Phục Sinh đem lại cho ta cuộc sống mới, cuộc sống mới cho cá nhân, đồng thời: PS2-131

          Chúa Ki-tô Phục Sinh đem lại cho ta cuộc sống mới, cuộc sống mới cho cá nhân, đồng thời cũng mới cho cả cộng đồng nữa.  Hành trình đức tin của Ki-tô hữu cũng như cộng đoàn có những lúc hết sức mạnh mẽ, nhưng cũng có những ngày tháng mò mẫm trong hoài nghi tuyệt vọng tựa như Tông đồ Tô-ma giữa anh em vậy.  Những bài đọc hôm nay sẽ cho ta một cái nhìn tuyệt vời về cộng đoàn đức tin và khẳng định sự hiện diện của Chúa Phục Sinh bên cạnh ta.
1.  Cộng đồng đức tin trong sự sống mới (bài trích sách Công vụ Tông Đồ – Cv 2:42-47)
          Cộng đoàn “những người con bé nhỏ của Thầy” (Ga 13:33) đã bắt đầu lớn mạnh và phát triển, không phải chỉ về số lượng mà nhất là về phẩm chất nữa.  Tuy nhỏ bé giữa cộng đồng Do-thái lớn lao, cộng đoàn Ki-tô hữu sơ khai lại vươn lên với những nét tuyệt vời, phản ảnh đạo lý mới của Đấng mang sự sống mới cho trần gian.  Bài trích sách Công vụ Tông Đồ ghi lại một số nét chính của đời sống cộng đoàn ấy.  Về những sinh hoạt đạo giáo, “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng”.  Thực là một hình ảnh sống động:  tín hữu nghe các Tông Đồ giảng dạy về lối sống mới bắt nguồn từ Thánh Thần và sự Phục Sinh của Chúa Ki-tô, rồi đem ra thực hành trong cuộc sống đời cũng như đạo.  Sống đời là luôn luôn thông hiệp với nhau trong tình huynh đệ, tình anh chị em trong Chúa Ki-tô.  Tín hữu còn muốn thể hiện sự hiệp thông tới mức độ lý tưởng, tức là thành tâm chia sẻ với nhau tất cả những gì mình có để không còn ai đói khổ thiếu thốn. Còn sống đạo là sốt sắng tham sự Thánh lễ và cầu nguyện chung cũng như riêng.  Tuy các tín hữu vẫn còn chia sẻ những sinh hoạt tại Đền Thờ chung với những anh chị em Do-thái giáo, nhưng không hề gây khó khăn phiền nhiễu cho đến khi họ bị đuổi ra khỏi Đền Thờ.  Dù thế nào đi nữa, cộng đoàn đức tin Ki-tô vẫn “được toàn dân thương mến”.
          Vậy động lực nào đã thay đổi được lối sống của nhóm người này nếu không phải là chính sức sống mới đầy tràn Thánh Thần, Đấng đã ngự đến để biến đổi bộ mặt trái đất.  Ta thử tưởng tượng coi, nhóm người gốc Do-thái giáo này đã thấm nhuần truyền thống Lề Luật và cơ chế xã hội Do-thái từ bao đời.  Thế mà chỉ một thời gian ngắn, họ đã biến thành những Ki-tô hữu năng động, phản ảnh được tất cả những gì Chúa Ki-tô đã giảng dạy khi còn sinh thời.  Chính đức tin mạnh mẽ của họ vào sự Phục Sinh của Chúa Ki-tô đã đem lại sức sống mới thay đổi con người họ cũng như cộng đoàn của họ.  Thánh Phê-rô Tông đồ, vị thủ lãnh của cộng đồng Ki-tô mới mẻ này sẽ nói cho ta biết về động lực khiến Ki-tô hữu hăng say sống đời sống mới.
2.  Sống trong hy vọng chắc chắn được cứu độ (bài Thánh thư – 1 Pr 1:3-9)
Sự Phục Sinh của Chúa đã định hướng cuộc đời ta.  Nếu ta biết được đích điểm cuộc đời, ta sẽ sống tích cực và sống vui.  Không biết đời mình đi về đâu và không thắng vượt được những yếu đuối của con người minh, ta sẽ phải kêu lên như thánh Phao-lô đã than thở:  “Tôi thật là một người khốn nạn!  Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác hay chết này?”  Và câu trả lời:  “Là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!  Tạ ơn Chúa!” (Rm 7:24-25).  Kế hoạch giải thoát ta khỏi sự chết và đưa ta vào đời sống mới đã được Thiên Chúa Cha thực hiện trong Chúa Ki-tô, đó là kế hoạch tình thương cứu độ.  Thiên Chúa không muốn gia tài trên trời của ta bị mất đi vì tội lỗi (Ep 1:9), cho nên Người đã lập kế hoạch diệt trừ đi sức mạnh tàn phá của tội lỗi.  Dĩ độc trị độc.  Nếu loài người bị tội lỗi làm cho phải chết thì Thiên Chúa lại dùng cái chết để chiến thắng tội lỗi.  Cái chết của Chúa Ki-tô là phương tiện để chiến thắng cái chết do ma quỷ và tội lỗi gây ra.  Sự Phục Sinh theo sau cái chết của Chúa đã khuất phục tội lỗi và cái chết nó gây nên.  Nếu không có kế hoạch tình thương này, con người sẽ phải sống trong tuyệt vọng.  Chiến thắng Phục Sinh đã giúp ta “được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động” (1 Pr 1:3) là được vĩnh viễn chia phần gia tài của Thiên Chúa.  Niềm hy vọng sống động ấy đã thành lẽ sống của ta, hoặc nói khác đi nó đã tạo nên trong ta đức tin vào lượng hải hà của Thiên Chúa.  Từ nay ta có đức tin và cộng đồng Ki-tô hữu là cộng đồng của những kẻ tin.
Tuy nhiên Thiên Chúa không một mình hoàn thành kế hoạch từ đầu tới cuối.  Người dành phần cho ta cộng tác vào kế hoạch để ta tạo công nghiệp cho đời sống mai sau.  Thời gian để ta cộng tác vào kế hoạch của Người là những tháng năm ta sống trên trần  gian này.  Sống đức tin mà Chúa Ki-tô đã đem lại cho ta.  Sống đức tin bằng cách biểu lộ qua việc làm cụ thể.  Nhưng đức tin ấy không phải là một cái gì bất biến, có sao thì cứ như vậy.  Trái lại, đức tin phải lớn lên qua những thử thách, những nghi ngờ và nhiều khi cả những thất bại nữa.  Chiến đấu để giữ gìn đức tin, sống ngược với dòng đời thế gian và theo những dẫn dắt của Tin Mừng làm cho ta mệt mỏi phiền muộn, đôi khi muốn buông xuôi.  Thánh Phê-rô diễn tả một tư thế sống đức tin thật đơn sơ dễ thương.  Ngài bảo:  “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin” (1 Pr 1:8).  Lòng yêu mến đích thực không có giới hạn.  Lòng kính tin nguyên vẹn không lệ thuộc khoảng cách.  Đâu hẳn phải nhìn thấy thì mới yêu mến, còn xa mặt thì cách lòng.  Đâu hẳn phải gặp gỡ thường xuyên thì mới kính tin, còn không gặp thì coi thường.  Điều quan trọng là phải xác tín “thành quả của đức tin, tức là ơn cứu độ con người”.  Thành quả ấy ta sẽ đạt được qua niềm tin vững vàng vào Chúa Ki-tô và chiến thắng Phục Sinh của Người.
3.  Tông đồ Tô-ma, một thử thách về đức tin (bài Tin Mừng – Ga 20:19-31)
          Thử thách cần thiết để tinh luyện đức tin, như thánh Phê-rô đã nói ở trên.  Câu truyện Tin Mừng cho ta một thí dụ cụ thể về lòng tin bị thử thách.  Khi Chúa Giê-su Phục Sinh hiện ra với các môn đệ lần thứ nhất, ông Tô-ma vắng mặt.  Lúc ông trở về, các môn đệ khác nói với ông là Chúa đã hiện ra với họ.  Ông không tin việc đó và đòi phải có một dấu chỉ.  Dĩ nhiên ta không nghĩ rằng ông Tô-ma là người thiếu lòng tin.  Ngược lại, ông có lòng tin mạnh mẽ vào Chúa.  Khi các bạn can gián Chúa lên Giê-ru-sa-lem vì sợ người Do-thái thì ông Tô-ma đã mạnh dạn nói với họ:  “Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy” (Ga 11:16).  Tin vào Thầy, ông mới dám sẵn sàng cùng chết với Thầy.  Vậy mà giờ đây, ông không dám tin là Thầy đã sống lại từ cõi chết!  Ông đòi chứng lý cụ thể và khoa học.  Nhưng lòng tin đâu có căn cứ vào chứng lý.  Dấu chỉ không hẳn lúc nào cũng là chứng lý.  Lòng tin dựa trên cơ sở con tim và ý chí.  Do đó, lòng tin của Tô-ma đang bị thử thách vì muốn đòi phải có chứng lý.  Khi ta muốn bước vào lãnh vực lý trí, khi ấy lòng tin của ta dễ dàng bị thử thách.  Lòng tin càng mạnh, thử thách càng lớn.  Như thế ta có thể có cái nhìn khoan dung đối với ông Tô-ma và hiểu lòng tin lớn lao của ông đang bị thử thách.  Ta cũng không lấy làm lạ vì sau khi vượt qua được thử thách rồi, ông lại biểu lộ lòng tin ấy còn lớn lao hơn nữa.  Ông kêu lên trong tâm tình đầy mến yêu và khiêm nhượng:  “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28).
          Trường hợp của ông Tô-ma điển hình cho biết bao trường hợp đức tin bị thử thách của ta.  Sống giữa thế giới nặng chủ nghĩa thực nghiệm và duy vật, ta dễ dàng bị lôi cuốn vào lối suy nghĩ của trần gian để dần dần đi tới nghi ngờ đủ chuyện.  Ta nghi ngờ thẩm quyền của Giáo Hội.  Các lời giảng dạy của những người có bổn phận rao giảng giáo lý của Chúa và Giáo Hội không đủ sức thuyết phục ta, vì không dựa trên những luận lý của khôn ngoan trần thế.  Ngay cả Lời Chúa ta cũng muốn đem mổ xẻ theo luận lý khoa học, để rồi phi bác tất cả những gì Chúa muốn nói với ta bằng con tim yêu thương của Người.  Khi đức tin của ta không được biểu lộ bằng việc làm, đức tin ấy chỉ là mớ tư tưởng cứng ngắc, không đủ sức lay động cuộc sống ta.  Hoặc nói như thánh Gia-cô-bê Tông đồ, “Đó là đức tin đã chết” (Gc 2:17).  Vì đức tin là một thực tại của quan hệ giữa ta với Chúa, cho nên thử thách đối với một mối tình đa diện như thế nào thì thử thách đối với đức tin cũng  phức tạp như vậy.  Cách tốt nhất để chiến thắng thử thách đức tin, đó là lập lại thái độ của ông Tô-ma khi ông kêu lên “lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”  Phải là Chúa và Thiên Chúa của ta, chứ không phải Chúa và Thiên Chúa trong sách vở hoặc của người khác!  Khi Chúa thuộc về ta và ta thuộc về Người là không sợ bất cứ thủ thách đức tin nào.  Hơn nữa, lời Chúa nói với Tô-ma cũng cho ta một bài học:  “Phúc thay những người không thấy mà tin!”  Bằng con mắt thịt, ta không thấy Chúa nơi anh chị em và những biến cố chung quanh ta, nhưng với con mắt đức tin, ta sẽ nhận ra sự hiện diện của Người.
4.  Sống Lời Chúa
          Sống đức tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh là ý nghĩa trọn vẹn của cuộc đời Ki-tô hữu.  Dĩ nhiên hình ảnh Giáo Hội sơ khai là một lý tưởng phải đạt tới, nhưng nếu đức tin ấy không sống động nơi ta trước thì việc xây dựng một cộng đoàn đức tin lý tưởng chỉ là giấc mơ.  Thánh Phê-rô xác tín về số phận may mắn được Chúa thương của ta, từ những kẻ sống tuyệt vọng được trở thành người tràn đầy hy vọng.  Hy vọng là hướng đến những thực tại mắt ta không thấy được, nhưng biết chắc là có.  Gia tài Thiên Chúa dành cho ta, ta chưa thấy bây giờ và ở đây, nhưng lời hứa của Chúa không thể sai và tin là xác tín rằng Chúa luôn trung thành giữ lời hứa.
Suy nghĩ:    Hình ảnh Giáo Hội sơ khai có nhiều nét đẹp và là lý tưởng xây dựng một cộng đoàn đức tin hôm nay.  Vậy tôi có thể làm gì để đóng góp vào việc xây dựng cộng đoàn giáo xứ của tôi?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, hằng năm Chúa dùng ngọn lửa Phục Sinh để khơi lại niềm tin trong lòng dân thánh, cúi xin Chúa gia tăng ân sủng để chúng con hiểu rằng:  chính Chúa Ki-tô đã thanh tẩy chúng con bằng phép rửa, đã tái sinh chúng con bằng Thánh Thần và cứu chuộc chúng con bằng Máu Thánh.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II Phục Sinh)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS2-132. Hãy chứng nghiệm Thánh Thần trong cuộc sống của mình

Chúa Nhật thứ 2 Phục Sinh
 (3-4-2005)
 ĐỌC LỜI CHÚA
·  Cv 2,42-47: (47) Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.
·  1Pr 1,3-9: (9) Anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc.
 
·  TIN MỪNG: Ga 20,19-31
Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ
(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: «Bình an cho anh em!» (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: «Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em». (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: «Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ».
(24) Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Điđymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. (25) Các môn đệ khác nói với ông: «Chúng tôi đã được thấy Chúa!» Ông Tôma đáp: «Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin». (26) Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: «Bình an cho anh em». (27) Rồi Người bảo ông Tôma: «Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin». (28) Ông Tôma thưa Người: «Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!» (29) Đức Giêsu bảo: «Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!»
(30) Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.
CHIA SẺ 
Câu hỏi gợi ý:
 

Tại sao vừa gặp các tông đồ sau khi sống lại, Đức Giêsu đã yêu cầu các ông: «Anh em hãy: PS2-132

1.      Tại sao vừa gặp các tông đồ sau khi sống lại, Đức Giêsu đã yêu cầu các ông: «Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần»? Thánh Thần có cần thiết cho đời sống tâm linh của ta không? Cần đến mức độ nào?
2.      Nếu các tông đồ không hề gặp được Đức Giêsu sống lại thì các ông có dám mạnh bạo rao giảng về sự sống lại của Ngài không? Đức tin có cần những chứng nghiệm thực tế mới có thể vững mạnh không?
3.      Ta có thể chứng nghiệm được Thánh Thần trong đời sống mình không? Việc chứng nghiệm ấy có thể thực hiện được không? Có cần thiết không?
Suy tư gợi ý:
1. Vai trò quan trọng của Thánh Thần trong đời sống tâm linh
Lần đầu tiên gặp lại các môn đệ sau khi sống lại, Đức Giêsu đã «thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần» (Ga 20,22). Thánh Thần là một yếu tố vô cùng cần thiết cho đời sống tâm linh, siêu nhiên. Đời sống tâm linh của ta có tồn tại và phát triển hay không là do Thánh Thần. Thánh Thần chính là thần khí của Thiên Chúa, mà tâm linh của ta cũng là thần khí. Vì thế, điều làm cho ta «giống Thiên Chúa» (St 1,26) và là «hình ảnh của Thiên Chúa» (St 1,27) chính là ta có tâm linh, có thần khí. Thánh Thần chính là sự sống, sức mạnh, trí tuệ, tình yêu của tâm linh ta. Thánh Thần làm cho thần khí ta hoạt động và phát triển. Không một hoạt động nào của tâm linh ta, của Giáo Hội mà lại không do Thánh Thần tác động. Nhưng dường như đối với ta, Thánh Thần chỉ là một ý niệm trừu tượng, một thực tại mà ta thường không hiểu, không cảm nghiệm được. Vì thế, đời sống tâm linh của ta không phát triển, và ta không được biến đổi nên «con người mới», là con người sống theo thần khí.
Tại sao vậy? Vì chúng ta quá dễ dàng chấp nhận một thứ đức tin hình thức không nội dung, một thứ đức tin tương tự như một kiến thức không ăn nhập gì với cuộc sống thực tế. Đức tin hình thức là thái độ sẵn sàng chấp nhận và tuyên xưng ngoài miệng tất cả những gì Giáo Hội truyền dạy, mà không hề xác tín từ bên trong để có thể thật sự sống theo đức tin ấy. Đức tin kiểu này khiến chúng ta có ảo tưởng rằng mình có đức tin. Nhưng khi đụng chuyện – chẳng hạn khi gặp khó khăn, thử thách, khi hoàn cảnh đòi buộc ta phải dấn thân cho Thiên Chúa, cho tha nhân, cho chân lý, công lý và tình thương – bấy giờ ta mới nhận ra: thì ra ta đã thật sự tin bao giờ đâu!? Vì trong những hoàn cảnh ấy, ta hành xử chẳng khác gì những người không tin. Đúng ra, người có đức tin đích thực sẽ hành xử rất khác với những người không có đức tin. Một đức tin thật sự phải là một đức tin sống động, được xây dựng trên những kinh nghiệm thực tế của đời sống.
2.      Đức tin thực nghiệm của Tôma
Nếu các tông đồ không được gặp Đức Giêsu phục sinh bằng xương bằng thịt sau khi Ngài chết, mà chỉ được nghe Ngài tiên báo rằng Ngài sẽ sống lại sau khi chết 3 ngày, chắc chắn các ông sẽ không tin và không thể mạnh dạn rao giảng sự sống lại của Ngài. Vì thế, việc Tôma đòi hỏi phải «xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người» thì mới tin, là một đòi hỏi chính đáng. Và chỉ sau khi đã chứng kiến Đức Giêsu sống lại thật sự, các ông mới vững tin rao giảng. Có lẽ chính vì chúng ta sẵn sàng tin mà không hề đòi hỏi một chứng nghiệm nào của đức tin, nên đức tin của chúng ta chỉ là một thứ đức tin kiểu «ngọn đèn trước gió», khi gặp khó khăn, thử thách là đức tin của ta bị lung lay ngay. Và vì thế, đức tin yếu ớt ấy chẳng ảnh hưởng bao nhiêu lên cuộc sống của ta, chẳng làm ta sống mạnh mẽ, hạnh phúc, tích cực hơn những kẻ không có đức tin. Tệ hơn nữa, nhiều khi miệng ta mạnh mẽ tuyên xưng một đằng, mà đời sống và hành động của ta có vẻ như tuyên xưng ngược lại, một cách mạnh mẽ không kém.
3.      Cần tăng triển đức tin một cách có phương pháp
Muốn có một đức tin sống động, chúng ta cần phải chứng nghiệm bằng cuộc sống những gì chúng ta tin. Chẳng hạn, muốn củng cố đức tin để ngày càng tin vững mạnh vào quyền năng của Thiên Chúa, chúng ta phải thật sự chứng nghiệm quyền năng ấy. Trong những thử thách nho nhỏ, chúng ta hãy tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, tin rằng Ngài sẽ giúp chúng ta vượt qua thử thách ấy. Nếu chúng ta thật sự tin, ta sẽ thấy quyền năng Thiên Chúa thật sự biểu lộ trong trường hợp ấy. Nhờ có kinh nghiệm nho nhỏ ấy, chúng ta sẽ dám tin tưởng vào quyền năng của Ngài hơn khi gặp những thử thách lớn hơn. Và đức tin của ta vào quyền năng Thiên Chúa sẽ càng ngày càng lớn mạnh, khiến chúng ta có thể rất vững tin khi gặp những thử thách vô cùng lớn lao.
Trên con đường thăng tiến đức tin, phương pháp sư phạm đòi hỏi chúng ta phải thăng tiến từng bước một, không được đốt giai đoạn. Con đường thăng tiến đức tin tương tự như việc lên cầu thang, phải đứng trên bậc một và lấy bậc một làm nền tảng để bước lên bậc hai, và lấy bậc hai làm nền tảng để bước lên bậc ba. Một khi ta đã có kinh nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa trong những thử thách nhỏ, Thiên Chúa sẽ tạo nên những thử thách lớn hơn một chút đòi hỏi ta phải tin mạnh hơn một chút mới có thể vượt qua thử thách ấy cách tốt đẹp. Nếu ta dám dựa vào những chứng nghiệm về đức tin trong quá khứ như nền tảng để dấn thân cao hơn, sâu hơn trong đức tin, thì ta sẽ có được những chứng nghiệm đức tin cao hơn. Và cứ thế đức tin ta sẽ ngày lớn mạnh. Đức tin có lớn mạnh, đời sống tâm linh của ta mới phát triển.
Đó là phương pháp sư phạm của Thiên Chúa trong việc huấn luyện đức tin chúng ta. Chẳng hạn, để giúp các tông đồ tin vào việc sống lại của mình, Đức Giêsu đã phải chuẩn bị cho các tông đồ từ mấy năm trước. Bước đầu, Ngài cho các ông chứng kiến nhiều lần việc Ngài làm người chết sống lại: trường hợp con trai bà góa thành Nain (x. Lc 7,11-15), con gái một ông trưởng hội đường (x. Mt 9,18-26), v.v… Và mấy ngày ngay trước khi bước vào cuộc tử nạn, Ngài đã làm cho Ladarô – đã chết 4 ngày và đã có mùi – sống lại trước mắt các ông (x. Ga 11,34-45). Nhờ những kinh nghiệm ấy, các ông mới có cơ sở để tin vào khả năng sống lại từ cõi chết của Ngài.
4.      Phải chứng nghiệm Thánh Thần trong cuộc sống
Thánh Thần – hay Thần Khí của Thiên Chúa – là một thực tại vô hình, không ai thấy được bằng con mắt xác thịt, nhưng những biểu hiện của Thánh Thần thì rất cụ thể. Tương tự như dòng điện: không ai thấy được dòng điện, nhưng người ta có thể biết chắc chắn trong nhà hay trong phòng có điện hay không, nhờ những biểu hiện của dòng điện. Thật vậy, khi thấy đèn trong phòng sáng lên, quạt máy quay tít, bàn ủi nóng lên, ta có thể quả quyết có dòng điện đang chạy vào những dụng cụ ấy. Và đó chính là kinh nghiệm của chúng ta về dòng điện. Cũng vậy, khi ta thấy mình được thúc đẩy làm một điều gì tốt, như yêu thương và hy sinh cho người khác, tha thứ những lầm lỗi cho họ, hay khi ta cảm thấy muốn cầu nguyện với Thiên Chúa… ta biết ngay và biết chắc chắn rằng Thánh Thần đang hoạt động trong ta, thúc đẩy ta làm những việc ấy. Vì không có một việc gì tốt đẹp khởi lên trong lòng ta mà không phải do Thánh Thần. «Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa» (1Cr 2,11b); «Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó» (1Cr 12,11); «Hoa quả của Thần Khí là, bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ» (Gl 5,22-23a).
Thánh Thần tràn ngập trong cuộc sống của ta, nhưng ta lại không ý thức và hiểu gì về Thánh Thần cả. Ta giống như một con cá, vì sống trong môi trường nước từ khi lọt lòng mẹ, nên không có một ý thức gì về nước cả. Nghe ai nói về nước ở chung quanh mình thì nó lấy làm lạ, và bắt đầu đi tìm nước. Tìm khắp ao hồ mà chẳng thấy nước nên nó cho rằng nước chỉ là một ý niệm mà người ta tưởng tượng ra. Khi ta ý thức về Thánh Thần, chứng nghiệm được những hoạt động của Thánh Thần trong bản thân ta, trong đời sống của ta, đồng thời ngày càng vững tin vào quyền năng của Thánh Thần, thì đời sống tâm linh và siêu nhiên của ta sẽ phát triển mạnh mẽ. Vậy chúng ta hãy theo tinh thần của Tôma, đòi hỏi mình phải kinh nghiệm thật sự về Thánh Thần, về quyền năng của Thánh Thần. Nhờ đó ta sẽ có kinh nghiệm về Thánh Thần thật sự, vì «ai tìm thì sẽ thấy» (Mt 7,8). Đức tin về Thánh Thần và quyền năng của Thánh Thần được xây dựng trên những chứng nghiệm thật sự mới chắc chắn và có tác dụng thật sự trong đời sống.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Thánh Kinh nói rất nhiều đến sự hiện diện của Thánh Thần trong đời sống Đức Giêsu, các tông đồ và Giáo Hội sơ khai. Nhưng Thánh Thần lại bị con lãng quên như thể không hề hiện diện trong đời sống của con. Chính vì thế, Ngài khó có thể tác động hữu hiệu để biến con thành một «con người mới sống theo Thần Khí». Khiến con suốt bao năm vẫn cứ mãi mãi là một «con người cũ sống theo xác thịt», không hề được đổi mới. Xin giúp con chứng nghiệm được sự hiện diện của Thánh Thần trong đời sống của con, để nhờ đó con sẽ được đổi mới.
 Joan Nguyễn Chính Kết

 

PS2-133. CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

(Gio-an 20: 19-31)
 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay và Chúa Nhật tới vẫn tiếp tục trình bày những lần Chúa Giê-su: PS2-133

          Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay và Chúa Nhật tới vẫn tiếp tục trình bày những lần Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ sau khi Người sống lại.  Sự sống lại của Chúa Giê-su không chỉ mang lại hoa trái là sự vinh hiển cho chính Người, nhưng chủ yếu là cho ta, cho tương lai của nhân loại.  Ta đã nghe câu truyện Chúa hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần.  Bây giờ là câu truyện xảy ra vào buổi chiều khi Chúa đến với các môn đệ.  Bài Tin Mừng gồm ba đoạn riêng biệt (Chúa hiện ra với môn đệ khi ông Tô-ma vắng mặt;  tám ngày sau, Chúa lại hiện ra và có mặt ông Tô-ma;  lời kết sách Tin Mừng) và ta có thể suy niệm tất cả.  Nhưng để dễ cô đọng ý tưởng hơn, ta thử chọn đoạn thứ nhất (20:19-23) và lắng nghe những lời Chúa Giê-su nói với các môn đệ yêu dấu của Người, từ đó ta sẽ nhận ra được những hoa trái đầu mùa của Phục Sinh.
 a)  Bình an và niềm vui là hoa trái của Phục Sinh
          Cứ mường tượng những bộ mặt đầy lo âu, sợ hãi, không biết tương lai đi về đâu của các môn đệ Chúa bên trong căn nhà với cửa đóng then cài, ta sẽ thấy được họ cần gì nhất trong lúc này nếu không phải là bình an và niềm vui.  Chúa Giê-su nổi bật trong Tin Mừng Gio-an qua hình ảnh vị Mục tử Nhân lành. 
Đang khi còn thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng, vị Mục tử ấy đã cảm thương đám dân chúng đói khát đi theo Người để nghe giảng nên Người đã nuôi dưỡng họ với phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều (Ga 6).  Người chữa bệnh tật nhiều người, như Mục tử băng bó vết thương và chữa lành chiên mình.  Người đưa những kẻ tội lỗi trở về, như Mục tử đi tìm con chiên lạc (Ga 8:1-11).  Người bênh đỡ kẻ cô thế và yếu đuối, như Mục tử bảo vệ chiên khỏi bị sói rừng vồ xé.  Những việc làm ấy còn biểu lộ một chiều kích khác của tâm hồn vị Mục tử Nhân lành, đó là chăm sóc cho tình trạng tinh thần và thiêng liêng của con chiên.  Ưu tư của Chúa Giê-su là làm sao đem lại bình an và niềm vui cho ta.  Điều này ta thấy rõ trong cách Chúa đối xử với môn đệ sau khi Người sống lại.
Hình ảnh bà Ma-ri-a Mác-đa-la cũng là một hình ảnh ưu phiền lo lắng.  Sau khi thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, bà hoảng hốt.  Bà chạy đi chạy về quãng đường từ nhà đến mộ, bà khóc nức nở.  Nhưng Chúa Giê-su không bỏ mặc bà trong nỗi u sầu.  Với giọng yêu thương của Mục tử Nhân lành, Người lên tiếng gọi con chiên sầu khổ của Người.  Dĩ nhiên bà nhận ra ngay tiếng của Người, vì bà thuộc về đàn chiên của Người.  Bà tìm lại được bình an và niềm vui, tràn đầy đến nỗi bà không thể nói nên lời ngoài tâm tình đáp trả tiếng gọi thân mến của Chúa.  “Lạy Thầy!”  Bà chỉ nói lên được một lời thôi, một lời đầy ý nghĩa và bà nói với tất cả tâm hồn, giống hệt như tám ngày sau ông Tô-ma cũng chỉ nghẹn ngào thốt lên một lời ngắn ngủi khi Chúa trở lại với ông:  “Lạy Chúa của con!  Lạy Thiên Chúa của con!”
Khi hiện ra với các môn đệ trong nhà cửa còn khóa kỹ, Chúa Giê-su biết họ cần điều gì trước nhất.  Lời đầu tiên của Chúa sau khi sống lại là:  “Chúc anh em được bình an!”  Sự bình an ấy như một hoa trái dây chuyền, nghĩa là nó sẽ nảy sinh niềm vui (Ga 20:20), vì đó là sự bình an không ai và không gì trên thế gian có thể cho ta được ngoài Chúa ra (Ga 14:27).  Càng sợ hãi lo lắng thì càng cần đến bình an.  Cho nên Chúa Giê-su lập lại một lần nữa:  “Chúc anh em được bình an!”
 b)  “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” – Thánh Thần là hoa trái chính của Phục Sinh
          Thánh Thần là sự sống của Thiên Chúa.  Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào con người để con người được sống.  Trong biến cố Tử nạn, từ trên thập giá Chúa Giê-su “trao Thần Khí”. Thần Khí ấy bay lượn trên một nhân loại đã bị mất đi hình dạng và đầy bóng tối do tội lỗi gây nên, để tạo dựng một nhân loại mới.  Chúa Giê-su Phục sinh khởi đầu một cuộc tạo dựng mới.  Như Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào A-đam, Chúa Giê-su cũng thổi Thần Khí vào các môn đệ Người, để đến lượt các ông sẽ được sai đi và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28:19).
          Để lãnh nhận sự sống mới, người ta phải tin vào Chúa Giê-su và sứ mệnh cứu thế của Người.  Chúa Giê-su đã rao giảng và bày tỏ cho người ta biết tình yêu của Thiên Chúa.  Giờ đây, Người trao lại sứ mệnh ấy cho môn đệ.  Bởi thế, lý do các môn đệ được sai đi là để tiếp nối sứ mệnh của Người.  Trước kia, Thánh Thần đã đầy tràn trên Chúa Giê-su và hướng dẫn Người trong suốt cuộc đời dương thế.  Người không làm gì mà không “được Thánh Thần thúc đẩy.”  Cho nên các môn đệ cũng phải đi cùng một con đường của Thầy mình, nghĩa là họ cũng phải được tràn đầy Thánh Thần và hoạt động trong Thánh Thần.  Hoạt động của họ là gây sự sống mới trong một cuộc tạo dựng mới.  Họ sẽ rao giảng về Đấng là sự sống lại và là sự sống (Ga 11:25).  Họ sẽ làm phép rửa, giúp người ta sống lại để sống đời sống mới, tựa như thi hành quyền “tháo cởi và cầm giữ”.  Đúng như lời ông Phê-rô đã trả lời cho đám dân chúng tại Giê-ru-sa-lem ngày lễ Ngũ Tuần:  “Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô để được ơn tha tội;  và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2:38).
 c)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Phụng vụ Lời Chúa mời gọi tôi chiêm ngưỡng Chúa Giê-su Phục Sinh qua cách Người đối xử với các môn đệ.  Vậy tôi đã có hình ảnh nào về Người?  Người gọi tên tôi như gọi bà Ma-ri-a Mác-đa-la hoặc chúc bình an cho tôi như chúc cho các môn đệ, thì tôi cảm thấy thế nào?
          Đâu là bình an và niềm vui đích thực của tôi?  Đã bao giờ tôi có được chưa?  Hoặc tại sao tôi chưa tìm được?
          Tôi có để cho ân huệ của Phục Sinh là Thánh Thần được sống động trong tôi không? 
          Tôi có nhận ra sự liên tục sứ mệnh của Chúa Giê-su, nghĩa là từ Chúa Cha được trao cho Chúa Giê-su, và từ Chúa Giê-su được trao cho các môn đệ không?  Tôi có từ chối hoặc lừng khừng trong sứ mệnh ấy không?
 Cầu nguyện:
          “Lạy Chúa Giê-su phục sinh
          xin ban cho con sự sống của Chúa,
          sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
          Xin ban cho con bình an của Chúa,
          bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
          Xin ban cho con niềm vui của Chúa,
          niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
          Xin ban cho con hy vọng của Chúa,
          hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
          Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa,
          Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.”
  (Trích RABBOUNI, lời nguyện 85)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS2-134. CHÚA NHẬT  II  PHỤC SINH

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       1 Phê-rô 1: 3-9
 

Thư thứ nhất của thánh Phê-rô thường được coi như do chính ngài viết từ Rô-ma mà ngài gọi: PS2-134

          Thư thứ nhất của thánh Phê-rô thường được coi như do chính ngài viết từ Rô-ma mà ngài gọi là "Ba-by-lon", trước năm 67. Thư mang hình thức một thư luân lưu gửi cho những giáo hội tại miền Tiểu Á. Mục đích thư nhắm gợi lại cho tín hữu tân tòng những điểm giáo lý căn bản của Ki-tô giáo và khích lệ họ hãy kiên trì chịu đựng bách hại, nhờ đó sự trung thành giữ vững đức tin của họ sẽ gây ảnh hưởng tốt nơi Dân ngoại hoặc những anh em Do-thái lân cận.
          Chúng ta vừa mừng Chúa sống lại, nên những lời của thánh Phê-rô hôm nay là cốt ý nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của biến cố Phục Sinh.
          Trước khi trình bày ý nghĩa của biến cố Phục Sinh, không gì thích hợp hơn là dâng lời chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa Cha, Đấng đã thực hiện kế hoạch cứu rỗi chúng ta nhờ Con Một Người là Đức Giê-su Ki-tô. Có lẽ lời chúc tụng này là một câu trong bài thánh ca khi cử hành việc rửa tội ngày xưa. Nhưng ít ra nó cũng nhắc nhớ chúng ta hướng về nguồn cội ơn cứu rỗi, phát xuất từ trái tim Thiên Chúa qua một kế hoạch được thực hiện nhờ Đức Ki-tô và cao điểm của kế hoạch là sự Phục Sinh của Đức Ki-tô.
          a)  Kế hoạch của "lượng hải hà" Thiên Chúa là gì?
Thánh Phê-rô diễn tả như sau:
"Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh
          Để nhận lãnh niềm hy vọng sống động
          Nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại,
          Để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai."
Thánh Phê-rô thật ngắn gọn và rõ ràng. Phải chăng đó cũng là đặc nét của ngài, một thợ đánh cá vốn liếng văn hóa không là bao, nhưng được triệu gọi làm "kẻ lưới người"! Thiên Chúa Cha đã vạch sẵn con đường để chúng ta bước theo kế hoạch của Người. Trước hết Người "cho chúng ta được tái sinh", nghĩa là được sinh lại, được sự sống mới bởi Thần Khí. Vai trò của Thần Khí trong đời sống mới này là làm phát sinh trong chúng ta "niềm hy vọng sống động", hy vọng được hưởng gia tài vĩnh cửu Thiên Chúa muốn dành cho chúng ta. Kể từ ngày nguyên tổ phạm tội, niềm hy vọng này đã mất đi và vô phương phục hồi. Sống không có niềm hy vọng đích thực thì cũng như chết rồi vậy! Nhưng nay, chính nhờ sự Phục Sinh của Đức Ki-tô, chúng ta được tái sinh, được sống lại, và do đó niềm hy vọng của chúng ta được "sống động" trở lại.
          Nhưng điểm quan trọng nhất trong kế hoạch này là nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã từ cõi chết sống lại. Nếu không có Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì chúng ta không được tái sinh, không có niềm hy vọng sống động và cũng sẽ chẳng bao giờ được hưởng gia tài vĩnh cửu của Thiên Chúa cả! Vai trò của sự Phục Sinh vô cùng quan trọng đối với số phận của chúng ta. Nó khởi đầu cho cuộc sống mới của chúng ta, đi theo suốt hành trình sống niềm hy vọng sống động của chúng ta, tức hành trình đức tin vào Chúa Ki-tô và sứ mệnh cứu thế của Người, và kết thúc hành trình ấy ở trên trời. Thời gian của hành trình đức tin ấy thánh Phê-rô gọi là "trong thời sau hết."
          b) Trong thời sau hết, chúng ta phải sống tinh thần Phục Sinh như thế nào?
          Trước hết, thánh Phê-rô mời gọi chúng ta sống với thái độ "hân hoan vui mừng" giữa muôn vàn thử thách. Bị thử thách, chúng ta thường đi đến thất vọng chán nản, buồn bã và bi quan, từ đó có cái nhìn sai lạc về ý nghĩa của thử thách. Nhưng nếu sống "niềm hy vọng sống động" mà Thần Khí ban cho chúng ta, chúng ta sẽ không còn thấy thử thách là "hình phạt" nữa, mà là để "tinh luyện đức tin" của chúng ta. Niềm hy vọng sống động và đức tin được tinh luyện ấy sẽ giúp chúng ta tuy không thấy Đức Ki-tô nhưng vẫn yêu mến Người, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin (c. 8).
          Tiếp đến, ngài mong chúng ta sống trong niềm chờ mong Chúa Ki-tô quang lâm. Đang khi chờ đợi Chúa lại đến, như chúng ta tuyên xưng sau lúc Truyền Phép trong Thánh lễ, chúng ta hãy luôn một lòng yêu mến và kính tin. Chúng ta phát triển lòng yêu mến Chúa qua đời sống cầu nguyện, suy niệm Tin Mừng và gắn bó với lối sống của Đức Ki-tô. Chúng ta giữ vững lòng kính tin Chúa qua việc chấp nhận lời rao giảng của các Tông đồ và Giáo Hội. Chính lòng yêu mến và kính tin ấy sẽ mang lại cho chúng ta một đời sống lạc quan, "chan chứa niềm vui khôn tả" là ơn cứu độ chúng ta đã bắt đầu cảm nghiệm ngay những ngày còn sống tại trần gian này.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
Cách trình bày đơn sơ của thánh Phê-rô về vai trò của sự Phục Sinh có giúp cho niềm tin của tôi vào Đức Ki-tô mang sắc thái mới mẻ như thế nào không?
Lượng hải hà của Thiên Chúa Cha được biểu lộ trọn vẹn trong cái chết và sự sống lại của Đức Ki-tô. Tôi suy chiêm điều này như thế nào và có thể chia sẻ gì với anh chị em trong nhóm?
Trước đây tôi đã có cái nhìn thế nào về những gian nan thử thách trong cuộc đời tôi? Cái nhìn mới sẽ giúp tôi đối phó với chúng như thế nào?
Nếu tôi đã học được thái độ sống niềm hy vọng sống động và lạc quan, tôi sẽ làm gì để giúp những người chung quanh sống như vậy?
Cầu nguyện kết thúc
Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc kinh sau đây:
Lạy Chúa Giê-su phục sinh, xin ban cho con sự sống của Chúa,
sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin ban cho con bình an của Chúa,
bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin ban cho con niềm vui của Chúa,
niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
Xin ban cho con hy vọng của Chúa,
hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa,
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.
 (Trích RABBOUNI, lời nguyện 85)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS2-135. CHÚA NHẬT II PHỤC SINH (A)

(07/04/2002)
NGHE
 
  • ·        Bài đọc 1 (Cv 2, 42-47): Cộng đoàn tín hữu đầu tiên
(42) Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. (43) Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. (44) Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. (45) Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. (46) Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. (47) Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ.
 
  • ·        Bài đọc 2 (1Pr 1, 3-9): Gia tài Thiên Chúa ban
(3) .. Người cho chúng ta được tái sinh để lãnh nhận niềm hy vọng sống động, .. được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên trời cho anh em.
Tình thương và lòng trung tín với Đức Ki-tô
(6) Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. (7) Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội.. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, (8).. anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, (9) bởi đã nhận được thành quả đức tin, là ơn cứu độ con người.
 
  • ·        Bài Tin Mừng (Ga 20, 19-31): Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ
(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông mà nói: "Bình an cho anh em!" (20) Nói xong Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ ."
(24) Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. (25) Các môn đệ khác nói với các ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." (26) Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đếu đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng Giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em." (27) Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin." (28) Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (29) Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!"
(30) Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được ghi chép vào đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.
NGẪM
 
  1.     Câu hỏi gợi ý:

Việc Đức Giê-su sống lại và hiện ra nhiều lần có ý nghĩa gì đối với các Tông Đồ ?: PS2-135

  1. 1.    Việc Đức Giê-su sống lại và hiện ra nhiều lần có ý nghĩa gì đối với các Tông Đồ ?
  2. 2.    Sự sống lại của Đức Giê-su là bảo chứng cho phần rỗi chúng ta.
  3. 3.    Sự sống lại của Đức Giê-su mở cho chúng ta một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.
  1.      Suy tư gợi ý:
  1. 1.    Sau khi sống lại Đức Chúa Giê-su đã hiện ra nhiều lần
Mặc dầu đã được Kinh Thánh cũng như chính Đức Giê-su báo trước về Ngài, các môn đệ vẫn tỏ ra bàng hoàng sợ hãi khi chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giê-su. Ông Phê-rô thì chối Chúa, các môn đệ hầu hết đã bỏ trốn chỉ còn một số ít theo Người xa xa. Bao nhiêu mộng ước của các ông dường như đã tiêu tan cùng với cái chết của Thầy mình. Khi được báo tin Chúa sống lại, các ông vẫn còn bán tín bán nghi. Đức Giê-su đã phải hiện ra nhiều lần để trấn an, giải thích và củng cố niềm tin cho các ông.
Tin Mừng Thánh Gio-an (Ga20,19-31) hôm nay thuật lại hai lần hiện ra của Đức Giê-su với các môn đệ trong phòng cửa đóng kín và lời đầu tiên của Ngài là lời chúc bình an cho các ông. Trong cả hai lần gặp gỡ, Đức Giê-su đã lập lại lời chúc này tới ba lần. Ngài đã cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài, các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa, nhưng lần hiện ra này vắng mặt ông Tô-ma. Tám ngày sau các môn đệ lại tụ họp trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó nữa. Trong khi các cửa đều đóng kín, Đức Giê-su đến đứng giữa các ông, và sau lời chúc bình an Ngài bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem Thày. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thày. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." (Ga20,27) Xem ra Chúa có ý trách ông Tô-ma vì sự cứng lòng của ông, nhưng chính nhờ đó mà các môn đệ và các thế hệ sau này là chúng ta có thêm một bằng chứng mạnh mẽ về việc Chúa sống lại. Ở những lần hiện ra khác, Đức Giê-su cũng tỏ ra ân cần và thân mật khi gặp gỡ, giải thích Kinh Thánh hoặc cùng ăn uống với các ông.
2. Đức Giê-su sống lại : bảo chứng cho phần rỗi chúng ta.
Quả vậy, Thánh Phao-lô, trong thư gởi các tin hữu Cô-rin-tô, có viết: ".nếu Đức Ki-tô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng, .lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em" (1Cr15,14-17). Việc Đức Giê-su sống lại cho chúng ta một bảo đảm chắc chắn chúng ta cũng sẽ được sống lại như Người. Thư thứ nhất của Thánh Phê-rô hôm nay giới thiệu cho chúng ta một "gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài đó chính là ơn cứu độ Người đã dành sẵn và sẽ bày tỏ trong thời sau hết" (1Pr1,3-9). Nhưng không nhất thiết phải đợi lâu như thế, vì nhờ đức tin, chúng ta có thể nếm trước được niềm vui ơn cứu độ và có được sức mạnh để kiên trì trong thử thách. Và ngược lại chính những thử thách đó tinh luyện, làm cho đức tin của chúng ta nên tinh ròng hơn: Vàng là của phù vân, mà còn phải thử lửa, huống hồ là đức tin là thứ quí giá hơn vàng gấp bội (1Pr1,7)
3. Đức Giê-su sống lại : khởi đầu cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.
Đức Giê-su, sau khi sống lại, Ngài đã gặp gỡ các môn đệ và tiếp tục sai các ông đi rao giảng Tin Mừng. Ngài đã ban cho các ông Chúa Thánh Thần: "Anh em hay nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; Anh em cầm giữ ai thì, người ấy bị cầm giữ." (Ga20,22). Từ đây, khởi đầu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần, Đấng áp dụng ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.
Chúa Thánh Thần, với bảy ơn của Ngài, đã biến đổi các Tông Đồ từ những người nhút nhát trở nên can đảm, từ những người thuyền chài ít học thành những nhà thuyết giảng hùng hồn (Cv2,14-41). Các ông đã can đảm, sẵn sàng chịu mọi thử thách gian lao, đem Tin Mừng của Chúa đến với mọi người, không phân biệt Do Thái hay dân ngoại. Chúa Thánh Thần cũng hoạt động trong Hội Thánh: Đoạn sách Công Vụ hôm nay cho chúng ta thấy những ân huệ của Ngài sinh hoa kết trái nơi cộng đồng Ki-tô hữu đầu tiên : "Họ chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng. Họ để mọi sự làm của chung. bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí. và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ (Cv2,42-47). Thật là một hình ảnh tuyệt vời về một xã công bằng và đầy tình nhân ái, hình ảnh của Nước Trời.
NGUYỆN
Lạy Cha, nhờ sự chết và phục sinh vinh hiển của Đức Giê-su Con Cha, Cha đã ban cho chúng con một gia tài vô cùng quí giá là được trở nên con của Cha, được sống cuộc sống vĩnh cửu chan chứa niềm vui. Xin cho chúng con luôn ý thức ơn huệ cao cả này và luôn biết ca ngợi tình yêu bao la Cha đã dành cho chúng con.
P.Đamiano Đinh ngọc Thiệu

 

PS2-136. TÔN VINH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Con xin tôn vinh lòng thương xót Chúa thật lớn lao, lớn hơn muôn ngàn tội lỗi của con và: PS2-136 LÒNGCHÚATHƯƠNGXÓT

Con xin tôn vinh lòng thương xót Chúa thật lớn lao, lớn hơn muôn ngàn tội lỗi của con và nhân loại. Con xin tín thác lòng thương xót Chúa mãi muôn đời. Con xin tín thác, lạy Chúa Giêsu Chúa con ơi”. Kitô hữu Công Giáo khắp vũ hoàn hân hoan mừng Chúa Phục Sinh, vì mầu nhiệm Phục Sinh đã làm chứng rằng Tình Yêu của Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết và khai mở một niềm hy vọng mới cho nhân loại.
Không ai thấy được Thiên Chúa. Cũng không ai nhìn thấy tình yêu. Nhưng nơi Người Con Chí Ái, Hình ảnh và Tình Yêu của Thiên Chúa được tỏ hiện. Chân dung một Đức Giêsu đến và chung phần đau khổ với người trần thế đã bộc bạch tấm lòng của Thiên Chúa Cha cho nhân loại. "Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để cứu vớt những tội nhân hối cải trở về" ( Mt 9, 13 ). Và lòng yêu thương, ước muốn cứu rỗi những con người tội lỗi đã làm kim chỉ nam cho hành trình dương thế của Ngài dẫn tới quyết định chọn cái chết đau thương nhất để đền thay tội lỗi nhân loại. Chỉ có cái chết mới thỏa lòng yêu của Thiên Chúa Cha. Chỉ có cái chết mới đúng giá cứu chuộc. Quả vậy, tội lỗi nhân loại thật nặng nề, kinh khủng, nhưng Tình Yêu của Thiên Chúa mãnh liệt hơn.
Tình Yêu ấy tuôn trào từ Lòng Chúa Cha, và thể hiện nơi trái tim của Người Con: “Ôi Máu và Nước, từ trái tim Chúa Giêsu như mạch nguồn tình thương tuôn trào ra cho chúng con. Này con tin tưởng nơi Chúa, con tin tưởng nơi Ngài” ( Lời nguyện Lòng Thương Xót Chúa – Lời ca bài hát Lòng Thương Xót Chúa của nhạc sĩ Nguyễn Chánh ).
Tình yêu ấy là tình yêu cứu độ. Máu và Nước ấy là nguồn suối cứu độ: “Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra. Halleluya. Và nước ấy chảy đến những ai thì tất cả đều được cứu rỗi và reo lên. Halleluya. Halleluya”
Đáp lại tình yêu vô cùng của Thiên Chúa cách cân xứng phải là một Đức Tin tuyệt đối vào Đức Giêsu. Tin tưởng và phó thác vào Ngài. Thánh Tôma không tin vào lời chứng của những người đã gặp Chúa Giêsu sống lại. Ông đòi cho được tận mắt xem thấy nơi nguồn nước cứu độ chảy ra, tận tay sờ vào những dấu đinh của người tử nạn. Và ông được thỏa mãn. Đúng là Chúa đã sống lại thật.
Tôi nhớ ở chỗ tôi, những năm 1985, có trung tá Dương Văn Bình – quen gọi là Bình Cụt – cải tạo về làm lò rèn nuôi vợ nuôi con. Mọi người rất thương ông, vì ông đã hy sinh hai chân mình. Ông thường nói: “Đây không phải là vết sẹo của chiến tranh đâu nghe mấy chú, nhưng là vết sẹo của tình yêu quê hương đất nước đấy !” Và còn những vết sẹo trên thân cha, trong người mẹ, của người thân… Những vết sẹo do phẩu thuật, do tai nạn lao động trên rừng, trên rẫy…trong cuộc đời cũng không hiếm là những vết sẹo của tình yêu, của hy sinh đấy chứ !
Nhưng, thiết tưởng không có vết sẹo nào kinh hoàng cho bằng những lỗ đinh và vết đòng nơi thân người Chúa Giêsu. Và còn đặc biệt hơn nữa, lỗ đinh và vết đòng ấy làm chứng một tình yêu hiến thân đã chiến thắng sự chết – Tình Yêu Phục Sinh. Vì yêu đã chết, và vì yêu đã sống lại, để người mình yêu cũng được sống lại và tràn đầy hạnh phúc tình yêu không bao giờ phai tàn.
 Cảm ơn Thánh Tôma đại diện cho một thế hệ thực dụng để nhờ đó, những con người thực dụng thời nay có được một chân lý “phúc cho ai không thấy mà tin”. Cứ nhìn ngắm Chúa Giêsu trên Thánh Giá và nhớ rằng Ngài đã sống lại mà vẫn còn mang những dấu vết của cuộc tử nạn, sẽ không còn lý do gì để ngờ vực về tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Tình yêu ấy là “lòng thương xót”- tên gọi dành cho tội nhân. Ai không cảm thấy mình là người có tội, ai mất cảm thức về tội, sẽ không hiểu thấu lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa. Có lẽ bạn và tôi, chúng ta, không ai dám nói mình vô tội ! Vậy thì, hãy đến với lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu Thương Khó và Phục Sinh.
 Không chỉ ở bên Mỹ, mà bên Việt Nam ngày nay, nhiều nơi nhiều người đã “Tôn vinh lòng thương xót Chúa” qua việc thực hiện Tuần Cửu Nhật Thương Xót, lần Chuỗi Thương Xót, đọc kinh 3 giờ chiều… là tín hiệu thật đáng mừng để công trình thương xót của Thiên Chúa không trở nên vô ích.
Những anh em Phan Sinh yêu mến Thánh Phụ, theo linh đạo của Thánh Phụ đã từng được gọi là Thánh Phanxicô 5 dấu đã sớm đón nhận chương trình Tôn Vinh Lòng Thương Xót Chúa và nhận được muôn vàn hồng ân từ việc tín thác hoàn toàn vào Chúa Giêsu. Tôi vẫn nghe anh em hát và sống điều mình hát cách hồn nhiên lắm: “Chúa ôi, xin cho lòng con luôn khao khát, được thuộc về Chúa khi còn sống trên đời này. Vì ngoài Chúa ra, có nơi nào hạnh phúc ? Vì ngoài Chúa ra, có nơi nào bình yên ?”.
Một số anh em bệnh tật và đau khổ vì những bất hạnh trong gia đình, đã kết hiệp những đau khổ của mình với Chúa Giêsu lòng thương xót “máu nước tuôn trào” và đã tìm được bình an, hạnh phúc thật trong lòng.
Các gia trưởng, các bà mẹ đã bắt đầu những giờ kinh lòng thương xót. Và quả thật, lòng thương xót Chúa đã biến đổi đời sống Đức Tin các gia đình đến mức không ngờ !
3 giờ chiều thứ bảy Tuần Thánh tôi nhận được một message: “Đêm qua, đông người quá, em không hôn chân Chúa được. Bây giờ, em xuống Nhà Thờ hôn chân Chúa và đọc kinh Lòng Thương Xót Chúa dưới chân Chúa luôn. Xin Chúa thương xót chúng con và toàn thế giới.”
Lạy Chúa, xin cho 3 giờ chiều mỗi ngày trở nên giờ hẹn của những người cần đến lòng Chúa thương xót. A men.
          Pm. CAO HUY HOÀNG

 

PS2-137. TRÁI TIM NGƯỜI THẦY, TRÁI TIM HỌC TRÒ

Anh Chị em thân mến,
 

Thiên Chúa là tình yêu, một khi đã yêu, Ngài yêu cho đến cùng. Thật ý nghĩa khi chúng ta: PS2-137 LÒNGCHÚATHƯƠNGXÓT

Thiên Chúa là tình yêu, một khi đã yêu, Ngài yêu cho đến cùng. Thật ý nghĩa khi chúng ta chiêm ngắm hình ảnh Đấng Phục Sinh tỏ mình cho các môn đệ nhân Chúa Nhật “LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA”. Trong vài phút, chúng ta thử quan sát Trái Tim Giêsu, trái tim người Thầy; đồng thời cũng thoáng qua trái tim Tôma, trái tim học trò; nhờ đó, có thể hiểu được đôi chút lòng Chúa, đôi chút lòng ta.Trái Tim Giêsu, một trái tim chan chứa yêu thương mà Tin Mừng không ngừng lặp đi lặp lại đã bao lần “Ngài chạnh lòng thương” trước cảnh cùng khốn của con người: Thấy dân chúng tất tưởi bơ vơ như chiên không người chăn, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy người ta khiêng đi chôn con trai duy nhất của một bà goá, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy những người phong cùi tiến đến từ xa, “Ngài chạnh lòng thương”; thấy hai người mù đang dò dẫm lại gần, “Ngài chạnh lòng thương”... Và chắc hẳn các tông đồ, kể cả Tôma, cũng đã ít nhiều cảm nhận cái thổn thức “chạnh thương” đó nơi Thầy mình. Cũng trái tim đó, bởi đã chạnh thương cho đến cùng nên bị đâm thâu, để giọt máu sau hết và chút nước cuối cùng nhỏ xuống mà có lẽ Tôma đã chứng kiến xa xa hay ít nữa đã nghe thuật lại chiều ngày thứ Sáu hôm ấy vì ông không dám lại gần.Trái Tim Tôma, một trái tim nhát đảm và ngờ vực. Thầy mất, không ai biết vì lý do gì, “Đi Đi Mô” rời bỏ cộng đoàn. Phải chăng trái tim Tôma đang tan nát vì thương tích, vì những vết đau dù không nhìn thấy nhưng là những thương tích có thật và đau thật. Một trái tim ngờ vực khủng hoảng đến tội nghiệp, “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài thì tôi không tin”. Ôi, còn đâu bao lời tiên báo và giáo huấn của người Thầy khả ái? Còn đâu những cảm nghiệm đầy thán phục khi chứng kiến bao phép lạ của Con Đức Chúa Trời?Thật là mỉa mai, thật là chua xót cho người môn sinh tuyệt vọng. Thật là thất đoạt, thật là vô ích cho người Thầy luống công. Sự ngã lòng của Tôma xúc phạm đến Thầy đâu kém việc bán Thầy hay chối Thầy của hai bạn đồng môn! Có khi còn tệ hơn; bởi lẽ, Giuđa và Phêrô tránh né liên luỵ đến một người sắp từ giã cõi sống trong khi Tôma lại đan tâm chối nhận một Đấng vừa trở về từ cõi chết.Vì thế, cũng bởi “chạnh thương” nên tám ngày sau, Vị Thầy lại phải hiện ra một lần nữa và trái tim đã yêu dấu loài người quá bội đó đã biết lựa lời khôn khéo nhẹ nhàng trách yêu người học trò. Ngài dỗ dành chứ không mắng mỏ, chìu chuộng chứ không phỉ báng, “Hãy đặt ngón tay con vào đây, hãy nhìn xem tay Thầy, đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Thôi, đừng cứng lòng nhưng hãy tin”.Lạ thay, Tin Mừng không nói đến việc Tôma có sấn tới thọc tay vào lỗ đinh Thầy, đặt tay vào cạnh sườn Thầy mà trong đó cũng có một trái tim hay không. Nhưng chúng ta có thể đoan chắc, chính Đức Giêsu Phục Sinh đã một lần nữa “chạnh thương chạm đến” và băng bó trái tim thương tích của người môn sinh.
Tim đụng tim, lòng chạm lòng! Nhờ đó, bình an lại đến với tâm hồn người môn đệ; và thay vì reo lên Magnificat, Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, cách nào đó, Tôma đã phải cất cao Credo, Tôi tin! Bởi lẽ, trước tiên là phải tin, sau đó mới có thể ca khen Đấng mình tuyên xưng.Vậy là tim chữa lành tim, lòng cảm mến lòng. Tim Thầy chữa lành tim trò, lòng Thầy khoả lấp lòng môn đệ. Nhờ lòng Thầy chạnh thương mà từ đây, lòng người môn đệ xác tín thay cho ngờ vực; yêu mến thay cho hững hờ; chứng tá, thay cho trốn chạy; và bình an thay cho bất an.
Hơn lúc nào hết, có lẽ mỗi người trong chúng ta hôm nay, dù ở đấng bậc nào, cũng đều cảm thấy cần đến lòng Chúa xót thương hơn bất kỳ ai. Vì chỉ có Chúa mới là Đấng xót thật và thương thật; chỉ có Chúa mới biết được mỗi người cần đến lòng Ngài xót thương biết bao; chỉ có Chúa là Đấng có thể chữa lành, có thể hàn gắn, có thể băng bó, có thể đem về và trao tặng bình an, một sự bình an không ai lấy mất. Vì bình an của Chúa là chính Chúa. Mừng kính Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, chúng ta không quên cầu nguyện cách riêng cho các mục tử của mình và cho cả đoàn chiên được Chúa trao phó cho các ngài. Vì nhiều lúc, cả đoàn chiên lẫn chủ chiên cũng đang “đi đi mô”, bất an vì ngờ vực, hững hờ vì thiếu lòng mến, trốn chạy vì nhát đảm.
“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.
“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.
“Vì sự đau khổ của Chúa Giêsu Kitô,
xin Cha thương xót chúng con và các Linh mục”.
Lm. Minh Anh (Gp. Huế).

 

PS2-138. Lòng Thương Xót (Chúa Nhật 2 Phục Sinh B)

 (Tđcv 4, 32-35; 1Ga 5, 1-6; Ga 20, 19-31)
 Lm. Giuse Trần Việt Hùng
 

Giáo Hội dành Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh để kính nhớ Lòng Thương Xót của Chúa Giêsu: PS2-138 LÒNGCHÚATHƯƠNGXÓT

Giáo Hội dành Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh để kính nhớ Lòng Thương Xót của Chúa Giêsu. Sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các môn đệ và nói rằng: Bình an cho các con (Ga 20,19). Bình an là món qùa vô giá. Sự bình an sẽ xóa bỏ mọi nỗi lo âu, sợ hãi, áy náy, buồn phiền và chán nản. Chúa đã ban cho các tông đồ một sự bình an nội tâm. Sự bình an đích thực trong tâm hồn. Chúa Giêsu sống lại đã mở con đường cứu rỗi trong ánh sáng chan hòa. Chúa đã tiêu diệt bóng tối sự chết và sự dữ. Chúng ta không còn sợ hãi con đường cụt hay vực thẳm của cõi nhân sinh. Chúa Kitô chính là niềm hy vọng và là đường dẫn chúng ta đến sự sống thật. Chúa Giêsu đã hứa: Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em (Ga 14,2).
 Chúa Phục Sinh đã từng bước củng cố lại lòng tin yêu nơi các tông đồ. Ngài cảm thông sự yếu đuối, nỗi đau đớn và sợ hãi của các ông. Với lòng nhân hậu và khoan dung, Chúa không trách cứ về sự nghi ngờ và cứng lòng tin của các tông đồ. Tôma đòi hỏi được thọc ngón tay vào bàn tay Chúa, Chúa cho ông toại nguyện: Rồi Người bảo ông Tôma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin."(Ga 20,27). Đức tin là nhân đức đối thần. Gọi là đức tin vì cần xác tín trong sự phó thác hoàn toàn. Các tông đồ đã nhìn thấy Chúa tận mắt, sờ tận tay và đối thoại trực tiếp với Chúa. Đây sự sự thật rõ ràng. Chúa Giêsu nói với Tôma rằng: Vì con đã xem thấy thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin. Các tông đồ đón nhận tin vui với niềm hân hoan vui sướng có Chúa ở cùng.
 Khi hiện ra với các tông đồ, Chúa không kể lại sự thống khổ mà Chúa đã phải trải qua. Chúa hiện đến với các tông đồ và chúc bình an. Với lòng khoan dung nhân hậu, Chúa khởi lại từ đầu để qui tụ các tông đồ đang tản mác, an ủi khích lệ, củng cố niềm tin và sai các ông ra đi làm nhân chứng Chúa Kitô sống lại. Chúa không muốn khơi dậy sự yếu đuối hay hèn nhát của các ông. Chúa muốn các tông đồ hướng về phía trước và ra đi làm nhân chứng cho tình yêu. Lòng thương xót của Chúa vượt qua mọi biên giới tính toán hạn hẹp và ích kỷ của con người. Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót nhân loại trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Chúa đã xóa sạch mọi vết nhơ tội lỗi, lầm lạc và yếu hèn của mọi người.
 Vào ngày 30 tháng 4 năm 2000, trong dịp lễ phong thánh cho Dì Maria Faustina Kowalska, Tông đồ Lòng Thương Xót (1905-1938), Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã loan báo rằng Chúa Nhật sau Lễ Phục Sinh sẽ được gọi là Chúa Nhật Kính Lòng Thương Xót Chúa (Divine Mercy Sunday). Lòng thương xót của Chúa trải rộng từ đời này tới đời kia. Mỗi một lời nói, hành động và ý muốn của Chúa đều diễn tả tình yêu nhân lành và lòng xót thương. Sự tôn sùng Lòng Chúa Thương Xót được mọi người đón nhận một cách rộng rãi chân thành. Chương trình cứu độ của Chúa là một giao ước của tình yêu. Đây là tình yêu trao ban, tình yêu hiến thân và tình yêu vô điều kiện. Không mấy ai có thể đáp trả tình yêu thương xót của Chúa cho cân xứng. Chúa chính là nguồn tình yêu tuôn đổ trong tâm hồn con người. Mọi người được ngụp lặn trong tình yêu lòng thương xót của Chúa.
 Những tâm tình và lời cầu nguyện được gồm tóm trong lời kinh:  Lạy Cha hằng hữu, con xin dâng lên Cha Mình và Máu, Linh hồn và Thần tính của Đức Giêsu Kitô, Con yêu dấu Cha, Chúa chúng con. Để đền vì tội lỗi chúng con và toàn thế giới. Chuỗi hạt Lòng Thương Xót: Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô. Xin Cha thương xót chúng con và toàn thế giới. Kết thúc: Lạy Đấng Chí Thánh, là Thiên Chúa Toàn Năng Hằng Hữu. Xin thương xót chúng con và toàn thế giới.
 Có nhiều người say mê cầu nguyện và tôn sùng Lòng Chúa Thương Xót mỗi ngày. Những lời kinh đọc và những sự suy gẫm mang lại phần ích lợi cho tâm hồn chúng ta. Chúng ta cảm nhận được tình Chúa yêu thương. Trái tim bị đâm thâu luôn đầy ắp yêu thương, chúng ta chẳng cộng thêm điều gì cho Chúa. Điều quan trọng là chúng ta hãy sống những tâm tình từ bi, nhân hậu như Chúa đã đối xử đại lượng với chúng ta. Học nơi lòng thương xót của Chúa, chúng ta cũng phải trải rộng lòng xót thương của ta tới những người chung quanh. Chúng ta không chỉ ngồi chiêm ngắm, ca hát, suy gẫm, cảm thông, khóc than về cuộc khổ nạn đau thương và chịu chết của Chúa nhưng chúng ta hãy sống tinh thần xót thương. Chúa Giêsu đã dậy: Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương (Mt 5,7).
 Chúa Giêsu chúc phúc cho ai biết xót thương người. Xót thương là biết cảm thông những nhu cầu cần thiết cả về tâm linh lẫn thể chất của người khác. Xót thương là muốn đem yêu thương hòa giải vào những nơi tranh chấp, oán ghét và hận thù. Xót thương là cùng chia xẻ cơm áo gạo tiền cho người đói khổ cùng khốn. Xót thương là sống thứ tha và rộng lòng quảng đại. Việc tốt luôn luôn là một hạt giống tốt. Thực hành một việc tốt, dù nhỏ mọn cũng sẽ sinh nhiều bông hạt tốt lành. Lòng xót thương cứ thế mà nhân lên và sinh xôi nẩy nở. Hãy nhớ việc bác ái cần có thái độ: Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh (Mt 6,3). Điều hạnh phúc nhất là chúng ta sẽ được Chúa xót thương.
 Tôn sùng Lòng Chúa Thương Xót, chúng ta tuyên xưng: Lạy Chúa, chúng con tín thác nơi Chúa (Lord Jesus, I trust in you). Tin tưởng và phó thác cuộc đời trong tay Chúa, chúng ta không còn sợ bị cô đơn hay bị sai lầm lạc lối. Chỉ nơi Chúa Giêsu Kitô, chúng ta sẽ tìm ra lẽ sống và cùng đích của cuộc đời. Con đường Chúa đã mở ra cho chúng ta rất rõ ràng minh bạch. Chúa đã khuyên dạy chúng ta về bổn phận đối với Thiên Chúa, cách đối xử với tha nhân và thái độ sống nội tâm cầu nguyện, bác ái, tha thứ, chân thật và yêu thương. Lời Chúa là tin mừng và là lời hằng sống cho mọi người trong mọi thời. Hãy chú tâm học hỏi, suy gẫm và đem lời Chúa ra thực hành trong đời sống, chúng ta sẽ cảm nghiệm được lòng Chúa xót thương là dường nào.
 Chưa từng có ai chạy đến xin ơn Chúa, mà Chúa chối từ. Thánh Matthêô diễn tả: Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền: những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt và Người đã chữa họ (Mt 4,24). Chúa Giêsu đã chữa lành cho từng người và từng tâm hồn. Chúa động chạm đến vết thương sâu kín riêng tư của họ. Chúa quan tâm đến đời sống tâm linh và nội tâm của từng người. Chúa chữa họ qua quyền năng của ý muốn, lời nói và cử chỉ hành động. Chỉ cần họ có lòng tin vào Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dậy: Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho (Mt 7,7). Chúng ta hãy cầu xin Chúa với lòng chân thành và tin tưởng. Chúa sẽ xót thương.
 Chúng ta cùng cầu xin cho được ơn an bình, theo lời cầu của linh mục trong phần Hiệp Lễ:  Chúa đã nói với các Tông đồ rằng: "Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con". Xin đừng chấp tội chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa; xin đoái thương ban cho Hội Thánh được bình an và hợp nhất theo thánh ý Chúa. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con và xin nhậm lời chúng con khẩn nguyện.
 Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York

 

PS2-139. CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH

Chủ Đề: "Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa"
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh chị em thân mến
 

Các môn đệ đang sợ hãi giam mình trong phòng kín, nhưng khi gặp thấy Chúa Giêsu phục sinh: PS2-139

Các môn đệ đang sợ hãi giam mình trong phòng kín, nhưng khi gặp thấy Chúa Giêsu phục sinh thì các ông vui mừng. Chúa Giêsu phục sinh cũng đang ở giữa chúng ta. Vậy chúng ta hãy vui mừng cùng Ngài dâng lễ tạ ơn lên Thiên Chúa là Cha toàn năng của chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
·        Chúa Giêsu phục sinh là bảo đảm cho chiến thắng của sự thiện trên sự ác. Nhưng chúng ta chưa xác tín điều ấy nên chưa tích cực chiến đấu chống lại sự ác.
·        Chúa Giêsu phục sinh luôn hiện diện bên cạnh chúng ta. Nhưng chúng ta thường quên điều đó nên sống và làm việc như không có Ngài bên cạnh.
·        Chúa Giêsu phục sinh là nguồn gốc và nền tảng của vui mừng và bình an. Nhưng chúng ta thường để mình bị giao động bởi những buồn phiền lo lắng thế tục.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I   Cv 5,12-16
Trích đoạn này từ sách Công vụ cho thấy hai tác động lớn của việc Chúa Giêsu phục sinh trên các tông đồ: (1) Chúa đã thông ban cho các ngài quyền năng đến nỗi có thể làm nhiều phép lạ; (2) Chúa làm cho uy tín các ngài tăng cao trước các tín hữu và cả những người lương.
2. Bài đọc II   Kh 1,9-13.17-19
Thị kiến đầu tiên trong sách Khải huyền:
-        Hoàn cảnh của người được thấy thị kiến: Thánh Gioan Tông đồ đang sống trong cảnh gian truân vì bị bắt bớ: "Tôi cùng chia xẻ nỗi gian truân... cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Chúa Giêsu. Lúc ấy tôi đang ở đảo gọi là Pátmô vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Chúa Giêsu".
-        Thị kiến nhằm an ủi và khích lệ kẻ đang bị bắt bớ: "Đừng sợ... Ta là Đấng hằng sống. Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ"
3. Tin Mừng   Ga 20,19-31
Hai lần hiện ra cách nhau 8 ngày này nhằm những mục tiêu sau:
·        Chúa Giêsu nâng đức tin của các một đệ lên một bậc: từ mức độ thấp là tin dựa vào bằng chứng mà giác quan kiểm nghiệm được (câu 20 "Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài"; câu 25, Tôma đòi điều kiện "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài...) lên mức độ cao là tin chỉ vì nghe bởi vì mình đã an tâm về uy tín của người nói cho mình nghe (câu 29: "Phúc cho những ai không thấy mà tin")
·        Chúa Giêsu ban bình an cho các môn đệ để rồi các ông lại ban bình an cho người khác qua việc tha tội. Sự bình an này là hoa trái của Thánh Thần, và đặt nền tảng trên việc tin vào Chúa Giêsu phục sinh.
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Đấng chữa lành vẫn còn mang thương tích
Khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh vẫn còn mang những thương tích của cuộc thụ nạn. Điều này có ý nghĩa gì? Câu chuyện sau đây có thể cung cấp vài tiêu điểm giúp chúng ta tìm hiểu.
Chuyện kể về một góa phụ lao động ở thành phố New York. Trong khoảng thời gian 6 năm, bà đã chứng kiến cảnh 3 đứa con của mình bị bắn chết, đứa nhỏ nhất bị bắn ngay trước cửa nhà bà. Những cảnh ấy đã để lại một vết thương sâu đậm trong lòng bà, và vết thương ấy cứ như sống lại làm bà nhức nhối mỗi lần bà nghe tin có một ai đó bị giết chết. Tuy nhiên bà không để mình bị trói buộc trong nỗi sợ hãi. Trái lại bà tìm cách đến với người khác. Bà đi diễn thuyết khắp nơi và trở thành một nhà hùng biện tranh đấu cho việc kiểm soát vũ khí. Bà lập một hiệp hội gồm những phụ nữ cùng hoàn cảnh với Bà. Mỗi khi có một đứa con bị giết chết, bà đến thăm và an ủi cha mẹ chúng. Bà cho biết ban đầu bà ước sao cho những đứa trẻ vô tội ấy đừng sinh ra còn hơn. Nhưng bây giờ thì bà nói: "Hẳn nhiên trong cái chết của chúng có một nỗi buồn phiền, thế nhưng cũng có một niềm vui không thể tin được. Nếu tôi đã không có 3 đứa con bị giết thì tôi đã không là một con người như hôm nay. Chúng giúp tôi mạnh mẽ, chúng giúp tôi sống không ích kỷ". Khung cửa nhà bà vẫn còn lại những vết đạn đã bắn chết đứa con út của bà. Tuy nhiên bà không cho sửa lại khung cửa ấy. Tại sao? Bà nói "Tôi muốn những lỗ đạn ấy còn mãi ở đấy để nhắc cho mọi người nhớ là có người đã bị giết chết ngay chỗ ấy. Nếu sửa lại thì người ta sẽ quên".
"Khi sửa lại thì người ta sẽ quên". Có lẽ đó là lý do tại sao Chúa Giêsu phục sinh vẫn giữ lại những vết thương của cuộc chịu nạn. Trước hết, những vết thương ấy giúp các môn đệ nhận ra Ngài: Đấng hôm nay chiến thắng sự dữ vẫn là một với Đấng hôm trước đã chịu nạn chịu chết để nhờ đó Thiên Chúa chiến thắng cái chết. Thứ hai, những vết thương ấy là bằng chứng tình yêu của Ngài. Chúa Giêsu không chỉ nói suông về tình yêu, Ngài đã chịu đau khổ để làm chứng cho tình yêu. Đó là những thương tích mà Người mục tử chịu đựng để bảo vệ đàn chiên yêu quý của mình.
Chúa Giêsu không dấu những thương tích. Ngài cho Tôma thấy và mời ông chạm vào. Khi Tôma chạm vào đấy, nỗi hoài nghi của ông tan biến và đức tin của ông sống lại.
Những thương tích thánh thiện của Chúa Giêsu là nguồn an ủi, nguồn can đảm và nguồn hy vọng của chúng ta. Chúng giúp ta chịu đựng đến cùng những thương tích của chúng ta. Chúng bảo ta đừng sống ích kỷ. Nhờ những thương tích của Ngài, chúng ta được chữa lành khỏi chứng bệnh tự thương xót mình và mặc cảm là nạn nhân.
Người ta có khuynh hướng che giấu những thương tích vì nghĩ rằng người khác mà thấy được sự yếu ớt của mình thì sẽ không còn kính trọng mình. Tuy nhiên những kẻ dám cho người khác biết những cuộc chiến đấu của mình thì sẽ là một nguồn an ủi cho người khác. (FM)
2. Tần số tình yêu
Người cha dắt đứa con nhỏ đi dạo ngang qua một đài phát thanh của thành phố. Đứa bé chỉ ngọn tháp cao vút hỏi người cha:
-        Ba ơi! Cái tháp đó để làm gì vậy?
Người cha giải thích:
-        Con ạ! Đó là ăng-ten của đài phát thanh, hàng giây hàng phút nó phát đi những tin tức, âm nhạc và các chương trình hữu ích cho đại chúng.
Nhưng thưa ba, con có nghe thấy gì đâu!
-  Muốn nghe được những thông tin và các chương trình bổ ích đó, con chỉ cần có một cái máy thu thanh thật tốt, mở đúng tần số là con sẽ nghe rõ ràng, như cha con mình đang nói chuyện với nhau đây!
Chiều Phục Sinh đầu tiên, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ, vắng mặt Tôma, một con người thực tế, muốn kiểm chứng bằng mắt thấy, tai nghe, tay sờ thì mới tin. Tám ngày sau, Đấng Phục Sinh lại hiện ra với các ông, có cả Tôma. Người gọi đích danh ông: "Tôma, hãy nhìn xem tay Thầy, hãy đặt ngón tay vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin" (Ga 20,27). Ông chỉ còn biết run sợ mà thưa với Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con" (Ga 20,28).
Tại sao Gioan chỉ cần nhìn thấy ngôi mộ trống và tấm khăn liệm xếp gọn gàng là ông đã tin Thầy sống lại, còn Tôma đã được các môn đệ làm chứng Thầy đã phục sinh mà ông lại không tin. Vậy điều khác nhau cơ bản giữa Gioan và Tôma chính là chiếc máy thu thanh của Tôma không mở đúng tần số. Đó là tần số tình yêu, tần số của con tim. Tôma đòi phải xỏ tay vào lỗ đinh ở chân tay Thầy ông mới tin; còn Gioan, không cần thấy Thầy bằng con mắt thịt nhưng bằng con mắt đức tin, con mắt tình yêu. Chính tình yêu đã khiến Gioan chạy đến mộ Thầy nhanh hơn Phêrô, chính tình yêu đã mở mắt cho Gioan nhận ra Thầy đầu tiên trên bờ biển Galilê, chính tình yêu đã làm cho ông trở nên "người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" (Ga 21,7).
Tại sao Phêrô và Gioan đều thấy ngôi mộ trống và khăn liệm, mà Phêrô thì "rất đỗi ngạc nhiên" còn Gioan thì "ông đã thấy và ông đã tin"? (Ga 20,8). Vì thế, Phêrô phải cố gắng vượt qua những dấu chỉ khả giác để đến với niềm tin, và Tôma cũng phải vượt qua cái nhìn của giác quan để đến với cái thấy của đức tin. Nhưng Chúa Giêsu đã nói: "Phúc thay những người không thấy mà tin!" (Ga 20,29). Đó cũng chính là phần thưởng của đức tin.
Sở dĩ Gioan nhận ra sự kiện ngôi mộ trống và khăn liệm như dấu chỉ của sự phục sinh, là vì ông đã nhớ lại lời Kinh Thánh: "Ngày thứ ba, (Người) sẽ cho chúng ta chỗi dậy" (Hs 6,2) và phép lạ "ông Giôna ở trong bụng cá ba ngày ba đêm" (Ga 2,1). Vâng, chính Kinh Thánh sẽ soi sáng, hướng dẫn chúng ta nhận ra những dấu chỉ của Thiên Chúa trong mỗi biến cố hằng ngày.
Niềm tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta hôm nay không phải là một niềm tin mơ hồ, mà là một niềm xác tín vào lời chứng chắc chắn của các Tông đồ qua Kinh Thánh. Trong bài giảng đầu tiên của ngày lễ Ngũ Tuần; Phêrô đứng chung vớt mười một Tông đồ lớn tiếng tuyên bố rằng: "Chính Chúa Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại, về điều nầy, tất cả chúng tôi xin làm chứng" (Cv 2,32). Vâng, chính sự phục sinh của Chúa Giêsu đã bảo đảm cho niềm tin của chúng ta. Thánh Phaolô viết: "Nếu Đức Ki tô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình" (1Cr 15,17).
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con tình yêu nhiều hơn nữa, để chúng con tin Chúa mãnh liệt hơn. Xin dạy chúng con biết siêng năng suy niệm Lời Chúa, để Lời Chúa mãi là đèn soi cho chúng con bước, là ánh sáng chỉ đường chúng con đi. Amen. (TP)
3. Bình an
Sau khi sống lại, mỗi lần hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đều chào các ông "Bình an cho các con". Đây là lời chào thông thường của người Do thái "Shalom". Giáo hội cũng bắt chước lối chào đó, trong Thánh lễ, Chủ tế chào giáo dân "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em", và giáo dân chào lại "Và ở cùng Cha", nghĩa là "Và cũng xin bình an của Chúa hằng ở cùng Cha". Xét ra lời chào này hơi lạ so với những kiểu chào mà chúng ta quen biết, nhưng có ý nghĩa nhiều hơn. Quả thực. Bình an là điều quý nhất mà chúng ta cần có và cũng là điều tốt nhất mà chúng ta cầu chúc cho nhau. Nhưng bình an là gì mà quý như vậy? và làm thế nào để có được bình an? Đó là điều mà chúng ta sẽ đưa vào bài Tin Mừng hôm nay để tìm hiểu.
Khi ấy các môn đệ đang sợ: Thầy đã bị bắt và bị giết chết rồi. Rất có thể tới phiên các ông cũng sẽ bị bắt và bị giết như vậy. Cho nên họ sợ, và họ trốn trong nhà đóng kín cửa lại. Rồi Chúa Giêsu hiện đến ở với họ, trò chuyện với họ, cho họ xem các vết thương, ăn uống với họ, khích lệ họ... Thế là họ không còn sợ nữa. Họ được bình an. Nhưng do đâu mà họ được bình an? Có phải là vì nguy hiểm đã qua đi rồi chăng? Thưa không, nguy hiểm vẫn còn đó, kẻ thù vẫn còn vẫn đang tìm cách hãm hại các ông. Nhưng nay họ không sợ nữa là vì họ biết đã có Chúa ở bên cạnh họ. Có Chúa bên cạnh thì mọi nguy hiểm không còn làm họ nao núng nữa. Thực ra họ chưa hoàn toàn bình an đâu. Sau khi Chúa Giêsu biến đi thì họ lại sợ, lại đóng cửa trốn. Có lần họ cũng đánh bạo cùng nhau đi đánh cá. Nhưng mới thấy có một cái bóng đen tiến đến là họ lại sợ, họ tưởng là ma. Và khi biết đó là Chúa thì họ lại hết sợ. Mãi tới khi Chúa Giêsu nói với họ trước khi về trời rằng: "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế", thì họ mới hết sợ hoàn toàn, họ mới hoàn toàn được bình an. Kể từ đó trở đi, các môn đệ mạnh dạn ra đi rao giảng. Người ta bắt, họ cũng không sợ, người ta tra tấn, họ không sợ mà còn vui mừng vì được chịu khổ vì Thầy; người ta xử tử, họ vẫn bình an vui sướng vì được giống như Thầy.
Như vậy, Bình an tức là một sức mạnh, một nơi nương tựa, một nguồn an ủi khiến ta không nao núng sợ sệt dù phải đứng trước bất cứ gian truân nguy hiểm nào. Bình an ấy có được khi ta ý thức có Chúa vẫn ở bên cạnh mình.
Giống như một em bé. Em đang chơi vui vẻ thì trời đổ mưa lớn. Sấm chớp ầm ầm, em hoảng sợ khóc thật lâu. Nhưng mẹ em đã đến, bế em vào lòng, em cuộn mình trong lòng mẹ và ngủ thiếp đi. Sau đó dù mưa vẫn cứ rơi, sấm chớp vẫn cứ ầm ầm, nhưng em vẫn ngủ yên vì em đang ở trong vòng tay che chở của mẹ. Đó là một hình ảnh rất đẹp giúp ta hiểu thế nào là sự bình an.
Phần chúng ta, nếu chúng ta luôn ý thức có Chúa ở bên cạnh mình, và ta luôn nương tựa vào Chúa như em bé nương tựa vào mẹ nó thì chúng ta cũng sẽ luôn được bình an.
Có một gia đình nọ, nhà nghèo, lao động thật là vất vả, tính toán làm ăn rất là lo âu. Nhưng chiều về, vợ chồng con cái đều quây quần trước bàn thờ gia đình và cùng đọc kinh tối chung. Họ dâng lên Chúa những lao nhọc trong ngày, họ xin Chúa thứ tha những vấp váp lỗi lầm đã phạm, họ phó dâng cuộc sống cùng tất cả mọi âu lo cho Chúa. Sau đó họ lên giường ngủ. Bình an! Biết bao gia đình khác cũng lao động vất vả như họ, cũng lo âu toan tính như họ, nhưng các gia đình đó không có được một giấc ngủ bình an. Chỗ khác nhau là một bên có Chúa và biết sống với Chúa, còn một bên thì không.
Hay như một cụ già kia đang hấp hối, cái chết gần kề mà vẫn bình thản sẵn sàng buông tay nhắm mắt ra đi không hề sợ sệt, vì cụ già ấy biết rằng mình ra đi là ra đi trong tay Chúa. Trong khi có biết bao nhiêu người khác đối diện với cái chết mà lòng hoang mang sợ hãi, họ sợ không dám ra đi, vì họ không biết đi về đâu, họ không có Chúa cùng đi với họ.
Kinh nghiệm mà các môn đệ đã trải qua là một bài học quý giá cho chúng ta. Sau khi Chúa Giêsu bị quân thù bắt giết đi, các ông đã sợ hãi trốn kín trong phòng đóng cửa lại, sợ vì cảm thấy cô thế không có Thầy nâng đỡ. Nhiều lần chúng ta gặp cảnh túng thiếu, gian truân, hiểm nguy, chúng ta cũng sợ hãi như thế, chúng ta muốn rút lui trốn tránh, chúng ta muốn ngã lòng, là vì chúng ta không có Chúa ở với mình. Nhưng khi các môn đệ đã biết có Chúa ở bên cạnh họ, cho dù Chúa chỉ hiện diện một cách vô hình sau khi Chúa đã về trời, các ông không còn sợ nữa mà lòng luôn bình an dù phải đối diện với bất cứ hiểm nguy nào. Thì chúng ta cũng thế: Chúa hằng ở bên cạnh chúng ta nếu chúng ta ý thức được điều đó, nếu chúng ta biết tin yêu phó thác vào Chúa và làm việc gì chúng ta cũng nghĩ là có Chúa cùng làm với chúng ta thì chúng ta cũng sẽ luôn được bình an.
Nguyện chúc bình an của Chúa hằng ở cùng chúng ta luôn mãi. Amen.
4. Bài học từ Tôma
Thật là sai lầm khi tưởng rằng tin là chuyện dễ dàng đối với những kẻ may mắn được thấy Chúa Giêsu hơn là đối với chúng ta ngày nay. Tin Mừng đã cho thấy có nhiều người đã được thấy Chúa Giêsu nhưng họ vẫn không tin. Vậy "thấy" không nhất thiết sẽ dẫn tới "tin". Muốn tin thì phải có một quyết định.
Thực thế, các sách Tin Mừng đã kể rằng ngay cả các tông đồ mà cũng gặp khó khăn trong việc tin. Tôma không phải là người duy nhất đã hồ nghi về việc Chúa Giêsu sống lại, mọi tông đồ khác cũng thế. Tin Mừng Thánh Mác cô kể rằng khi Chúa Giêsu hiện ra với họ vào buổi chiều ngày phục sinh thì Ngài đã "trách họ vì sự không tin và cứng lòng bởi họ đã không tin theo lời của những người đã từng thấy Ngài sau khi Ngài sống lại" (Mc 16,14)
Chúng ta có thể thông cảm với các tông đồ. Việc Chúa Giêsu bị đóng đinh quả là một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt họ. Họ đã đầu tư rất nhiều vào Ngài. Họ đã bỏ nghề nghiệp và bỏ hết mọi sự để theo Ngài. Rồi bỗng nhiên Ngài bị giết chết. Thực tế về cái chết của Ngài càng rõ ràng bao nhiêu thì họ càng cảm thấy mất mát bấy nhiêu. Giá trị và ý nghĩa của mọi thứ đều bị đe dọa: tình thân với Ngài, niềm tin vào Ngài, và cả cuộc đời của họ nữa.
Đang lúc đó thì một chuyện không thể tin được xảy ra: đột nhiên họ nhìn thấy Ngài đang đứng ở giữa họ. Việc đầu tiên Ngài làm là chỉ cho họ thấy các vết thương của Ngài. Tại sao Ngài làm thế? Thứ nhất là vì những vết thương ấy giúp họ nhận dạng được Ngài, xác định Ngài vẫn là người trước đó đã bị đóng đinh. Thứ hai là những thương ấy là bằng chứng rằng Ngài yêu thương họ, một tình yêu chứng tỏ bằng hành động. Kế đó Chúa Giêsu mời họ hãy xem và hãy sờ vào những vết thương ấy.
Thái độ của Tôma rất đáng làm gương cho chúng ta. Đó là một thái độ thẳng thắn vì không dấu diếm nỗi hồ nghi của mình. Hồ nghi thường là dấu chỉ của sự yếu kém. Khi chúng ta hồ nghi ai thì đồng thời chúng ta cảm thấy như mình có lỗi với người ấy. Tuy nhiên hồ nghi cũng có thể là một bước khởi đầu tốt, dẫn tới một sự hiểu rõ hơn và sâu hơn. Đây là trường hợp của Tôma: nhờ hồ nghi nên sau đó Tôma đã đạt tới một lời tuyên xưng đức tin cao nhất trong sách Tin Mừng "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con".
Ở thế gian này, chẳng có gì là tuyệt đối chắc chắn về những sự thiêng liêng, vì nếu có thì đâu cần tới đức tin nữa. Những sự tuyệt đối chắc chắn có thể dẫn tới thái độ ngạo mạn, bất khoan dung và ngu xuẩn. "Người có đức tin mà không bao giờ cảm thấy hồ nghi thì thực ra không phải là người có đức tin" (Thomas Merton)
Mỗi cộng đoàn đều cần có một con người như Tôma, tức là con người dám đặt ra những câu hỏi mà không ái khác dám đặt ra. Người như thế là người đáng tin, người như thế còn giúp những khác trở thành những kẻ đáng tin, bởi vì người như thế giúp cho những người đang tin nhận ra đức tin của họ còn yếu kém lắm, và đồng thời cũng làm cho những kẻ hồ nghi cảm nhận được nỗi ray rứt khi không có niềm tin.
Sau khi vượt qua cơn khủng hoảng đức tin, Tôma đã mạnh dạn làm chứng cho Chúa Giêsu và trở thành một trong những vị thừa sai vĩ đại nhất của Giáo Hội sơ khai. Theo thánh truyền, ngài đã mang Tin Mừng đến các xứ Ba Tư, Syria và Ấn Độ, nơi ngài chịu tử đạo. Tôma là vị tông đồ đầu tiên chết vì đức tin.
Chúa Giêsu mời chúng ta đến gần Ngài trong đức tin và chạm vào các vết thương của Ngài. Mặc dù chúng ta không thể chạm tới Ngài một cách thể lý, nhưng chúng ta có thể đến gần Ngài một cách thiêng liêng. Chúa Giêsu cũng mời chúng ta làm chứng cho Ngài trước mặt những người khác. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho Chúa Giêsu trở thành hữu hình trong thế giới hôm nay. Đó cũng là nhiệm vụ của các tông đồ ngày xưa. Ngày xưa khi các tông đồ đã nhìn thấy Chúa rồi thì các ông cảm thấy được thúc đẩy phải làm cho nhiều người khác cũng biết và tin vào Ngài.
Thế giới hôm nay đầy dẫy những hoài nghi và những người không tin. Cách duy nhất khiến họ tin là làm sao cho họ "thấy" được Ngài, "chạm" được Ngài nơi những môn đệ của Ngài. Thế nhưng, nếu các môn đệ của Chúa Giêsu không có những vết thương để chỉ cho người ta thấy và cho người ta chạm vào thì làm sao mà người ta tin được!
Ước gì chúng ta được ở trong số những người được Chúa Giêsu công khai chúc phúc "Phúc cho những ai tuy không thấy mà vẫn tin" (FM)
5. Khủng hoảng đức tin
Khủng hoảng đức tin là chuyện thường gặp. Tôma đã gặp, và Tolstoy cũng đã gặp, như câu chuyện sau đây:
Năm 1879, Tolstoy 51 tuổi. Khi đó ông có đầy đủ mọi lý do để thỏa mãn về đời mình. Ông đã viết nhiều tác phẩm, đặc biệt hai bộ "Chiến tranh và Hòa bình", và "Anna Kerenina". Những tác phẩm ấy đã khiến ông nổi tiếng và bảo đảm cho ông một vị trí nổi bật trong lịch sử văn chương thế giới. Ai cũng công nhận ông là người có thiên tài và đầy óc sáng tạo. Lẽ ra Tolstoy phải rất hạnh phúc. Thế nhưng ông lại cảm thấy bất hạnh. Ông thấy đời mình thật vô nghĩa lý. Một câu hỏi luôn ám ảnh ông: "Liệu trong dời mình có cái gì có ý nghĩa mà không bị sự chết hủy diệt đi không?". Khoảng thời gian ấy thật khủng khiếp đối với Tolstoy, đến nỗi ông đã tính đến việc tự tử. Ông đi tìm câu trả lời trong mọi lãnh vực kiến thức loài người. Ông tìm kiếm suốt ngày suốt đêm, giống như một người sắp chết đi tìm đường sống. Nhưng tìm mãi mà ông chẳng gặp gì cả.
Thế rồi ông tìm nơi những niềm tin Kitô giáo. Thực ra ông đã được sinh ra và lớn lên trong đức tin Kitô giáo nhưng ông cũng đã bỏ nó từ lâu, lý do là ông thấy nó quá vô nghĩa trong môi miệng những người sống ngược hẳn với đức tin của họ. Tuy nhiên cũng chính đức tin ấy lại thu hút ông khi ông nhìn những tín hữu sống đức tin ấy. Ông viết: "Tôi đã nghĩ rằng chẳng có sự thật chắc chắn nào trong đời. Nhưng rồi tôi đã tìm thấy một nguồn sáng chắc chắn, ấy là Tin Mừng. Tôi đã loá mắt vì sự sáng ngời của Tin Mừng. Những lời dạy của Chúa Giêsu quả thực là một giáo huấn tinh tuyền nhất và trọn vẹn nhất cho đời sống. Từ 2000 năm nay, những lời dạy cao quý ấy đã tác động lên biết bao người một cách tuyệt vời không thể tìm được nơi bất cứ ở nào khác. Từ đó một ánh sáng đã bừng chiếu trong tôi và quanh tôi, và ánh sáng ấy không bao giờ rời xa tôi nữa".
Có nhiều người được sinh ra trong đức tin, và trải qua bao năm tháng đức tin ấy vẫn cứ vững mạnh. Thật là một ơn ban vô cùng quý giá. Nhưng cũng có nhiều người mà đức tin luôn là một cuộc chiến đấu liên lỉ. Họ phải trải qua những cơn khủng hoảng đức tin rồi mới có được một đức tin sâu sắc và xác tín.
Nói cách lý thuyết, chỉ có đức tin mới trả lời được cho những câu hỏi sâu xa về cuộc đời. Nhưng trên thực tế, chúng ta không nên hy vọng rằng đức tin sẽ giải quyết hết mọi vấn đề của chúng ta. Không phải chỉ vì chúng ta tin mà chúng ta có được mọi câu trả lời. Tuy nhiên chúng ta đâu cần biết hết mọi câu trả lời, vì tin là tín nhiệm chứ không phải là chắc chắn.
Câu chuyện của văn hào Tolstoy giúp chúng ta nhận thức rằng đức tin được chứa đựng trong một chiếc bình dễ vỡ như thế nào. Nó cũng giúp ta hiểu thêm rằng đức tin kitô giáo chủ yếu không phải là tin vào một mớ giáo điều, mà là tin vào một Đấng đã yêu thương chúng ta - những thương tích của Ngài chứng tỏ điều đó. Hơn nữa, Thánh Kinh còn cho ta biết điều quan trọng không phải là niềm tin chúng ta đặt vào Thiên Chúa mà là niềm tin mà Thiên Chúa đặt vào chúng ta. (FM)
6. Chuyện minh họa
Có một vị hoàng đế kia trị vì một đất nước giàu có hùng mạnh. Nhưng tâm hồn ông không thoải mái an vui vì ông luôn bị ray rứt bởi những tội lỗi tàn bạo đã phạm trong thời quá khứ. Một hôm ông bỏ hoàng cung đi vào rừng, cất một túp lều đơn sơ. Trong rừng có một vị ẩn sĩ. Nhà vua tìm đến và nói: "Thưa Ngài, tôi muốn từ bỏ kinh thành ồn ào náo nhiệt vào đây để tìm được một sự bình an như Ngài đang hưởng". Ẩn sĩ đáp: "Tâu đức vua, ở đây cũng không hơn gì nơi khác, vì bình an phải ở trong lòng người". Nhà vua trở về lều mình. Khi thì quỳ gối tha thiết đọc kinh, khi thì thơ thẩn trong rừng, chỉ ăn lương khô và uống nước lã. Chiều đến nhà vua mệt lả ngả mình xuống đất có trả một mớ lá khô. Nhưng suốt đêm cứ trằn trọc không ngủ được. Sáng hôm sau ông tìm đến vị ẩn sĩ: "Thưa ngài, lương tâm tôi cắn rứt làm tôi không ngủ được. Xin ngài nghe lời thú tội của tôi". Ẩn sĩ đáp: "Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội thôi". Nhà vua cãi: "Nhưng tôi không nghe được tiếng Chúa". Ẩn sĩ trả lời: "Tiếng Chúa chỉ nghe được trong thinh lặng, mà thinh lặng chỉ có ngay trong lòng ta. Người nào chỉ biết kêu cầu than rên rỉ mãi mà không biết thinh lặng lắng nghe thì sẽ không nghe được tiếng Chúa". Nhà vua trở về. Vài hôm sau ông đến chào vị ẩn sĩ: "Tôi đã nghe lời ngài, tôi không kêu than rên rỉ nữa mà tập thinh lặng lắng nghe, và tôi đã được nghe tiếng Chúa. Nhưng đó không như tiếng loài người, tôi chỉ nhận thấy như một cảm xúc êm dịu là lỗi lầm của tôi đã được tha thứ. Xin cám ơn ngài, hôm nay tôi sẽ trở về triều đình".
Vài năm sau nhà vua lại trở vào rừng, và cũng tìm đến vị ẩn sĩ: "Thưa ngài không bao giờ tôi quên được tâm trạng an bình khi sống trong rừng này. Hôm nay tôi muốn trở lại đây ít lâu để cầu xin Chúa cất bớt những gánh nặng mà hằng ngày tôi phải vác". Ẩn sĩ đáp: "Tâu Bệ Hạ, khi chúng ta phàn nàn với Chúa về các gánh nặng của mình thì cách đáp ứng tốt nhất của Chúa là không phải cất những gánh nặng đó đi, nhưng là tăng cường đôi vai của ta để ta có thể vác nổi những gánh nặng đó". Nhà vua thắc mắc: "Nhưng làm sao biết được Chúa đang tăng cường sức mạnh cho ta?" Ẩn sĩ: "Bao lâu ta còn dãy dụa chiến đấu thì ta chưa nhận biết được điều đó. Cần phải thinh lặng, ngưng chiến đấu mà chờ đợi sự trợ giúp của Chúa thì khi đó ta mới cảm thấy được bàn tay uy quyền của Chúa đang giúp sức cho ta". Nhà vua cám ơn lui về. Vài ngày sau trở lại chào biệt vị ẩn sĩ: "Thưa ngài tôi đã cảm nghiệm rằng Đấng đã làm cho cỏ cây xanh tốt và nuôi nấng chim trời cũng đang dang tay tăng sức mạnh cho đôi vai tôi. Xin cám ơn ngài và chào ngài".
Thế là nhà vua trở về triều đình. Mấy năm sau ông lâm trọng bệnh, sai người đi mời vị ẩn sĩ đến. Khi ẩn sĩ đến, nhà vua nói: "Thưa ngài đã hai lần ngài giúp tôi tìm thấy bình an. Bây giờ là lần thứ ba mà cũng là lần chót, vì tôi sắp từ giã cõi đời này". Ẩn sĩ hỏi: "Bệ Hạ có còn nhớ cái ngày mà cơn khủng khiếp đầu tiên rời xa Bệ Hạ?" Vua đáp: "Không bao giờ tôi quên, đó là ngày tôi biết lắng nghe tiếng Chúa trong thâm tâm". Ân sĩ hỏi tiếp: "Bệ hạ còn nhớ cái ngày mà cơn khủng khiếp thứ hai rời xa Bệ Hạ không?" Nhà vua đáp: "Cũng không bao giờ quên, đó là ngày tôi biết chờ đợi trong thinh lặng ơn Chúa đến tăng sức cho tôi". Ẩn sĩ bây giờ cao giọng: "Tâu Bệ Hạ, Bệ Hạ đã được nghe tiếng Chúa, Bệ Hạ đã được thấy bàn tay Chúa tăng sức cho Bệ Hạ. Bây giờ Bệ Hạ sắp được chiêm ngưỡng Chúa". Nhà vua sung sướng như đang mơ: "A, tôi sẽ được chiêm ngưỡng Chúa. Nhưng làm sao được?" Ẩn sĩ giải thích: "Chỉ khi ở trong yên lặng tuyệt đối, khi cái nhìn của chúng ta không còn nhìn vào cõi đời đầy những sầu thương tang tóc, không còn ngó nhìn về những tương lai với những ước mơ hay sợ sệt, không còn ngó vào bên trong mình để ngắm chính cuộc đời mình, mà chỉ nhìn về hướng duy nhất là Chúa thôi, thì khi ấy chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa". Nhà vua thì thầm: "Yên lặng tuyệt đối. Người ta có thể yên lặng tuyệt đối không?" Ẩn sĩ đáp: "Ở đời này thì không. Nhưng trong sự chết thì được". Nhà vua sung sướng thì thầm: "Thế thì tôi muốn chết". Và ông sai sứ giả đi khắp nơi trong nước ra lệnh cho thần dân đừng cầu nguyện cho ông khỏi chết nữa. Còn trong phòng của nhà vua thì cả ngày hôm đó rất yên tĩnh. Khi bình minh ló rạng thì nhà vua ra đi an bình. Cái nhìn của ông như chìm vào một cõi xa xăm, một nụ cười tươi sáng rạng ngời trên gương mặt của nhà vua. Ông đã chiếm hữu được sự an bình vĩnh cửu (Vị Ẩn sĩ)
7. Thơ Tagore
"Vào hôm thần chết đến gõ cửa, anh sẽ lấy gì biếu hắn hở anh? Ồ, tôi sẽ đặt trước mặt khách cốc rượu đời mình tràn đầy, tôi sẽ chẳng chịu để khách ra đi tay không.
Lúc năm tháng đời tôi khép lại, khi thần chết đến gõ cửa mời đi, tôi sẽ đặt trước hắn tất cả trái nho thơm dịu của những ngày mùa thu, những đêm mùa hè, những gì kiếm được, những gì chắt chiu trong suốt cuộc đời cực nhọc.
Ôi thần chết, ngươi làm cuộc đời tràn đầy lần cuối. Thần chết của ta ơi, hãy lại và thì thầm cùng ta chứ (...)
Tôi biết ngày ấy thế nào cũng đến, lúc tôi nhắm mắt thôi không nhìn trái đất này, rồi cuộc đời sẽ thầm lặng ra đi, kéo manh che kín mắt tôi lần cuối (...)
Khi tôi nghĩ đến phút giây cuối cùng ấy (...) nhờ ánh sáng lâm chung tôi thấy thế giới Ngài trần trề châu ngọc. Ở đó, chỗ nương thân tầm thường nhất cũng thú vị, ở đó cuộc đời hèn mọn nhất cũng thơm tho (...)
Tôi đã được phép giã từ. Chúc tôi ra đi may mắn nhé, anh em! Tôi cúi đầu chào tất cả trước khi lên đường!"
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Đức Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta hãy tôn vinh Người và dâng lời cầu xin:
1. Chúa luôn hiện diện trong Hội thánh cho đến ngày tận thế / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các giám mục / linh mục / phó tế / biết luôn chu toàn sứ mạng dẫn dắt Dân Chúa trên con đường lữ thứ trần gian.
2. Khát vọng sâu xa nhất của hết thảy mọi người trên trái đất này / là được sống trong hòa bình và thịnh vượng / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho thế giới được bình an / và mọi người thoát được cảnh đói nghèo.
3. Khi sống lại từ cõi chết / Chúa đem niềm hy vọng đến cho những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Người thương nâng đỡ những kẻ tật nguyền đau yếu / cho họ mau bình phục / để họ sống mạnh khỏe an vui.
4. Lạy Chúa / Lạy Thiên Chúa của con / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / cũng biết noi gương thánh Tôma mà tuyên xưng niềm tin của mình / bằng đời sống mến Chúa yêu người.
Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, sau khi Phục sinh vinh hiển, Chúa đã hiện ra cho các tông đồ được thấy tỏ tường. Xin củng cố niềm tin còn quá yếu kém của chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái

 

PS2-140:  Sứ mệnh làm chứng nhân đức tin

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 20:19-31)
 

Đức tin đối với mầu nhiệm Phục Sinh là đề tài được suy niệm theo những chiều kích khác nhau: PS2-140

Đức tin đối với mầu nhiệm Phục Sinh là đề tài được suy niệm theo những chiều kích khác nhau trong suốt mùa Phục Sinh.  Với bối cảnh cộng đồng đức tin gương mẫu của các Ki-tô hữu tiên khởi (bài đọc 1), cùng với lời nhắn nhủ của thánh Gio-an về việc tôi luyện đức tin (bài đọc 2), chúng ta thấy rõ ràng ý nghĩa của những lần Chúa Phục Sinh hiện ra với các môn đệ là để củng cố đức tin của họ.  Tuy nhiên đức tin không giữ cho riêng mình, mà phải được gieo rắc mọi nơi, để mọi người “tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người”.
          Chúng ta có thể tưởng tượng khung cảnh Chúa hiện ra với các môn đệ đang diễn ra trước mắt.  Sau khi được “xem tay và cạnh sườn Chúa, các môn đệ vui mừng vì được thấy Người”.  Rồi Chúa Giê-su chúc bình an và ban Thánh Thần cho họ.  Nhưng quan trọng nhất, Người trao cho họ một sứ mệnh, sứ mệnh “tha tội cho ai thì người ấy được tha, cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ”.  Chúa Giê-su đã hoàn tất công cuộc cứu độ bằng cái chết trên thập giá và sống lại từ kẻ chết, để mở đầu thời đại “tha tội” cho nhân loại và làm hòa họ với Thiên Chúa.  Người sắp về với Chúa Cha, nên giờ đây Người trao lại sứ mệnh tha thứ và giải hòa ấy cho các môn đệ tiếp tục.  Do đó muốn được tha tội và được sống đời đời, nhân loại phải chấp nhận điều kiện “tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa”.  Nhưng làm sao kêu gọi người ta tin vào Chúa Giê-su nếu các môn đệ là những người rao giảng không có đức tin ấy trước?
          Câu chuyện Tông Đồ Tô-ma trong bài Tin Mừng hôm nay là một lời kêu gọi các môn đệ hãy tin vào Chúa Phục Sinh.  Quả thực ông Tô-ma không đáng trách, nhưng chỉ đáng tiếc là ông không có mặt lần Chúa hiện ra đầu tiên, để cùng các bạn “xem tay và cạnh sườn” Chúa thôi!  Câu chuyện ông Tô-ma cũng không nhằm nói về “người cứng lòng tin”, mà chỉ là dịp để Chúa Giê-su cho chúng ta biết thêm một mối phúc nữa ngoài Tám mối phúc, đó là “Phúc thay những người không thấy mà tin”.  Không thấy mà tin hoặc không hiểu mà tin, thực sự là một định nghĩa đơn giản nhưng sâu xa về đức tin.  Khi chúng ta không thấy hoặc không hiểu mà tin, điều này có nghĩa là chúng ta đã đề cao giá trị tuyệt đối của Đấng mặc khải cho chúng ta những điều Người muốn.  Chúng ta tin Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô và là Con Thiên Chúa, không phải vì chúng ta đã thấy Người và nghe Người giảng, nhưng là vì chúng ta nhìn nhận việc Người làm và lời Người giảng là việc làm và giáo lý của chính Thiên Chúa.  Nói tóm lại, tin nghĩa là chúng ta khiêm nhượng nhận biết và chấp nhận uy quyền của Chúa Giê-su và từ đó xây dựng mối tương quan với Người.  Khi ông Tô-ma tuyên xưng đức tin, ông không chỉ nhận Chúa Giê-su là Chúa và Thiên Chúa mà thôi, nhưng còn là Chúa của con và Thiên Chúa của con, nghĩa là Chúa và Thiên Chúa trong tương quan với cá nhân Tô-ma nữa!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Cũng như các môn đệ Chúa ngày xưa, chúng ta là chứng nhân đức tin hôm nay.  Chúng ta làm chứng cho đức tin Ki-tô trên hai phương diện:  cộng đoàn và cá nhân.  Là phần tử của Giáo Hội, chúng ta bắt chước những Ki-tô hữu tiên khởi cộng đoàn Giê-ru-sa-lem.  Đức tin vào Chúa Ki-tô đã giúp họ “một lòng một ý” trong đời sống cầu nguyện cho tới đời sống xã hội.  Đức tin sống động của họ đã đưa họ tới việc làm cụ thể, là chăm sóc cho nhau và nhất là quan tâm tới những anh chị em nghèo đói hoặc thiếu thốn.  Về phương diện cá nhân là một Ki-tô hữu, chúng ta lấy đức tin của mình để làm chứng rằng chúng ta “đã được Thiên Chúa sinh ra”, nên cụ thể chúng ta phải sống yêu thương.  Có sống yêu thương giống như Thiên Chúa, chúng ta mới đủ tư cách như thánh Tô-ma, gọi Chúa Giê-su là “Chúa của con” và Chúa Cha là “Thiên Chúa của con”.  Mối phúc thứ chín thật cần thiết cho đời sống chúng ta, để tất cả những gì chúng ta không thể thấy bằng mắt, hiểu bằng trí óc, thì chúng ta có thể thấy bằng con mắt đức tin và hiểu bằng tất cả trái tim.  Sứ mệnh làm chứng nhân đức tin thật là cao cả!
         Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

PS2-141:  ĐỨC TIN CỦA TÔMA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH, năm B
Ga 20,19-31
 

Thường mỗi lần đọc câu chuyện của thánh Tôma khi sống trong những ngày Phục Sinh, chúng: PS2-141

Thường mỗi lần đọc câu chuyện của thánh Tôma khi sống trong những ngày Phục Sinh, chúng ta vẫn có nhiều phản ứng khác nhau. Kẻ chê thì cho là Tôma yếu đức tin, Tôma nhát đảm không mạnh mẽ đủ để làm chứng cho Thầy mình. Kẻ khen thì cho là thánh Tôma thực tế, dân dã, nghĩ sao nói vậy, tin phải có kiểm chứng chứ đâu cứ nhắm mắt mà tin bừa đâu.câu chuyện của Tôma sẽ cho chúng ta hiểu thế nào là đức tin ? Thế nào là tuyên xưng nơi Đức Kitô.
Tin Mừng về Đức Giêsu Phục Sinh luôn dựa trên những chứng nhân, dựa trên những điều mà những người phụ nữ và những tông đồ đã thấy, đã nghe và đã gặp để rồi họ loan truyền cho những người khác về những điều họ đã cảm nghiệm, đã thấy, và đã nghe. Chính đức tin của những người phụ nữ, của các tông đồ đã làm thay đổi cục diện lịch sử nhân loại.Bởi vì, không một lời giải thích nào có thể cho chúng ta thấy họ đã biến đổi như thế, ngoại trừ chính họ giải thích :họ đã thấy Đức Giêsu hiện còn sống.Đức Kitô phục sinh đang hiện diện và Ngài nói :” Bình an cho các con “. Chúa Giêsu đang tiếp tục nói với chúng ta, nói với nhân loại :” Ta là sự sống lại và là sự sống “.Đây là lời Đức Giêsu đã nói với cô Matta để củng cố đức tin cho cô, bởi vì chính quyền năng của Ngài có thể phục sinh em trai của cô là Lagiarô đã chết chôn bốn ngày trong mộ. Tuy nhiên, chính vào buổi chiều Phục Sinh, Chúa Giêsu nói :” Hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, thì tội kẻ đó được tha,các con cầm tội ai thì tội kẻ đó bị cầm lại “.
Những người phụ nữ và các môn đệ đã theo chân Chúa từ ba năm nay, dù họ không có học thức bao nhiêu, chắc chắn họ đã không dám làm chứng gian, chứng láo bởi vì thế nào trong bọn họ cũng có người sẽ phải nói ra sự thật vì sẽ không chịu nổi sự bách hại và chết chóc. Vâng, họ đã làm chứng thật, lời chứng của họ về Đức Giêsu Kitô Phục Sinh không bị lay chuyển chút nào cả. Các môn đệ và những người phụ nữ như bà Maria Mađalêna, và những bà Maria khác đều cảm nghiệm sâu xa về Đấng Phục Sinh. Sự biến đổi không thể nào giải thích được nơi các môn đệ về Chúa Phục Sinh khiến cho nhiều người nói rằng chính lý trí cũng minh chứng Đức Giêsu Kitô đã Phục Sinh.
Thánh Tôma đã muốn Chúa Phục Sinh minh chứng Ngài đã sống lại. Chúa Phục Sinh đã nói với Tôma :’ Hãy xỏ tay vào cạnh sườn Ngài và hãy thọc ngón tay vào lỗ đinh trên tay bị đóng đinh của Chúa Giêsu “. Tôma không dám làm điều đó dù rằng ttước khi gặp Chúa Phục Sinh, Ông đã cương quyết làm việc đó. Chúa Phục Sinh nói :” Phúc cho ai không thấy mà tin “ ( Ga 20, 28 ). Ngày nay chúng ta, những Kitô hữu không thấy Chúa Phục Sinh như các tông đồ, như các người phụ nữ xưa, nhưng họ vẫn tin Chúa Phục Sinh nhờ đức tin. Người Kitô hữu không thấy Chúa bằng xương bằng thịt, bằng giác quan nhưng bằng trái tim nhạy cảm của mình. Cha Michel Quoist viết thế này :” Tin Chúa, không phải là hướng mắt về Người để chiêm ngưỡng, nhưng đồng thời cũng là nhìn vào trần gian với ánh mắt của Đức Kitô “. Người Kitô hữu có thể dùng tặng phẩm tuyệt vời Chúa ban là lý trí để xác quyết điều Kinh Thánh đã truyền dạy. Rồi, người Kitô hữu cũng có thể quì gối xuống như thánh Tôma đã làm và thưa với Chúa Phục Sinh :” Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con “. Và chắc chắn Chúa Phục Sinh sẽ đáp lại :” Phúc cho những ai không thấy mà tin “.
Henry Fable, nhà sinh vật người Pháp sau bao nhiêu năm nghiên cứu khoa học, khảo sát và suy tư đã phải thốt lên :’ …Tôi đã trông thấy Chúa “.
Lạy Chúa Giêsu, xin tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con nhận ra Chúa đang hiện diện sống động trong cuộc đời chúng con và trong những người anh em mà chúng con gặp. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Các môn đệ có tin Chúa Phục Sinh ngay không ?
2.Tại sao Gioan vào mồ, Ông đã thấy sự việc và Ông đã tin ?
3.Rabboni nghĩa là gì ?
4.Lý trí có thể giúp chúng ta nhận ra Chúa Phục Sinh hay không ?
5.Ai đã giúp các tông đồ nhận ra Chúa Phục Sinh ?
6.Phúc cho những ai không thấy mà tin nghĩa là làm sao ?

 

PS2-142: Bình An Cho Các Con

Chúa Nhật II Phục Sinh B
Gioan 20:19-23: 19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! "20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.21 Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em."22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."
 

Bối cảnh của đoạn 20:19-23 là buổi chiều cùng ngày Phêrô và Gioan chạy ra mồ Chúa (20:1-10): PS2-142

Bối cảnh của đoạn 20:19-23 là buổi chiều cùng ngày Phêrô và Gioan chạy ra mồ Chúa (20:1-10). Chúa hiện ra cho các môn đệ sau khi Maria tin cho họ biết là cô đã thấy Người. Có thể phân đoạn nầy thành hai dựa trên lời Chúa nói: “Bình an cho các con” (20:19.21). Một hành động được kèm theo sau mỗi lời nầy: Chúa cho các ông xem tay và cạnh sườn (20:20a), Người sai các ông đi và ban Thánh Thần (20:21b-22). Theo sau hành động của Chúa là thái độ của các môn đệ: vui mừng vì thấy Chúa (20:20b) và lãnh nhận quyền tháo gỡ tội lỗi (20:23).
Chúa Giêsu ban bình an lần thứ nhất để chứng tỏ Người đã sống lại. Vì sợ người do thái mà các môn đệ đã mất bình an. Dấu hiệu bên ngoài của điều nầy là họ đóng chặt mọi cánh cửa. Họ lo sợ người do thái vì người do thái đóng vai trò chủ chốt trong việc bắt và đóng đinh Người (18:12). Nhiều người khác cũng đã phải sợ quyền lực nầy, nhất là trong những chuyện liên quan đến Người (7:13; 9:22; 19:38). Hơn nữa, trước những sự kiện Phêrô và Maria Mađalêna đã thuật lại, họ càng xao xuyến thêm. Phải tin vào ai? Chúa Giêsu đã báo cho họ trước là đừng để tâm hồn xao động, cả khi bị bắt bớ vì Người đã ban cho họ sự bình an của Người (14:27; 16:33). Lần nầy rất ý nghĩa, việc ban bình an của Người kèm theo việc cho các môn đệ thấy vết thương ở tay và cạnh sườn. Đó là những dấu vết của cuộc thương khó mà Người đã chịu bởi tay người do thái (19:34). Nhưng Người đã sống lại. Người đã chiến thắng sự chết mà được xem như là biện pháp cuối cùng và hiệu quả nhất người do thái đã nghĩ đến để tiêu diệt Người. Do đó, không còn lý do gì để phải sợ hãi nữa những người ấy chỉ giết được thân xác. Ngược lại, họ vui mừng vì đã thấy và gặp lại Người. Nỗi vui mừng ấy từ nay không ai lấy mất được (16:22; 20:20).
 Chúa Giêsu ban bình an lần thứ hai để sai các môn đệ đi và mở ra giai đoạn mới. Để thực hiện, Chúa Giêsu đã làm cho các môn đệ những điều mà Chúa Cha đã làm cho Người: ban sứ mạng và Thánh Thần. Người sai họ đi như Chúa Cha đã sai Người vào trần gian (17:18). Họ lãnh nhận cùng một sứ mạng như Người đã lãnh nhận. Người ban cho họ Thánh Thần mà Người đã lãnh nhận trong ngày khởi đầu sứ vụ (1:33). Bây giờ Người đã được tôn vinh, nên Người có thể ban Thánh Thần ấy lại cho các môn đệ của Người (x. 7:39). Hơn nữa, trong lời ban bình an (cc. 19.21) Người bảo đảm cho họ cả  sự hiện diện luôn mãi của Người.
Với quyền tháo gỡ tội lỗi được ban cho các môn đệ (c. 23), Chúa Giêsu muốn họ chuẩn bị tâm hồn con người để đón nhận tin mừng về sự phục sinh của Người; việc mà Người đã làm khi khởi đầu việc rao giảng (x. Mk 1:14-15). Tuy nhiên, lúc nầy vì Người đã hoàn tất công trình cứu chuộc và đã biểu lộ cách rõ ràng Người là Con Thiên Chúa đã sống lại trong vinh quang phục sinh, nên lời mời gọi tin vào tin mừng (x. Mk 1:15) sẽ đồng nghĩa với một chọn lựa: tin vào Chúa Kitô sống lại thì được cứu độ, không tin vào Người thì bị kết án (x. 3:18). Đó là lý do tại sao Người ban cho các môn đệ quyền tháo gỡ tội lỗi dựa trên phán đoán ai tin hay không tin vào Chúa Giêsu sống lại.
Chúa Giêsu sống lại ban sự bình an không sợ hãi sự chết cho những ai tin vào Người. Sự bình an ấy ban cho họ sức mạnh để loan báo tin mừng Người đã phục sinh.
Lm. Đặng Quang Tiến

 

PS2-143: Chúa Nhật II Phục Sinh

Năm B (2009)   
 

Niềm tin vào Chúa Ki-tô Phục Sinh là là nền tảng xây dựng cộng đồng tín hữu.  Phụng vụ: PS2-143

Niềm tin vào Chúa Ki-tô Phục Sinh là là nền tảng xây dựng cộng đồng tín hữu.  Phụng vụ Chúa Nhật Phục Sinh đã đề cao niềm tin ấy qua những người đi tìm Chúa Ki-tô sống lại từ cõi chết.  Bước sang Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh, Phụng vụ Lời Chúa trình bày cộng đồng ấy qua những đường nét khác nhau, mô tả Giáo Hội Chúa Ki-tô với những khía cạnh tiêu cực cũng như tích cực, vừa trần thế nhưng cũng vừa thánh thiêng.  Quan trọng là người tín hữu hết thảy đều phải thắng vượt khó khăn để giữ vững đức tin, vì “điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (1 Ga 5:4).
1.  Các Tông đồ và môn đệ của Chúa là nhóm đức tin tiên khởi (bài Tin Mừng – Ga 20:19-31)
          Niềm tin vào Chúa Ki-tô Phục Sinh không đơn độc, nhưng truyền lan từ người này sang người khác.  Câu truyện Tin Mừng hôm nay cho ta một bức họa thật sống động về niềm tin ấy.  Sau khi sống lại, Chúa Giê-su đến với Nhóm Mười Hai và môn đệ Người.  Người đến để đức tin của họ được củng cố.  Thời gian Người hiện diện với họ lúc này rất cần thiết, để dần dần cho dù họ không còn thấy Người nữa, nhưng họ sẽ tin vững vàng hơn.  Chúa Giê-su đã nhấn mạnh đến điều này khi Người nói với Tô-ma:  “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.  Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29).
          Tin Mừng Phục Sinh đã được loan báo, nhưng tiếp nhận tùy theo cách của mỗi người.  Chiều ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giê-su đến đem bình an cho các môn đệ, sự bình an đã khiến họ hết sức vui mừng và quên đi mọi đau buồn.  Sau đó Chúa ban cho họ Thánh Thần và quyền tha thứ tội lỗi.  Tất cả những người hiện diện dịp này đều “đã thấy nên đã tin”.  Tuy nhiên Chúa muốn họ phải từ cấp độ thấp nhất này tiến lên một cấp độ cao hơn, đó là “không thấy mà tin”.  Câu truyện ông Tô-ma vắng mặt khi Chúa hiện ra và ông không tin cho ta thấy ông cần phải bước lên cấp độ thấp nhất ấy.  Nhưng câu truyện ông Tô-ma cũng là dịp để Chúa cho thấy cấp độ cao hơn của đức tin vào Chúa Phục Sinh:  “Phúc thay những người không thấy mà tin!”
          Ta hãy xem cách Chúa Giê-su dẫn Tô-ma tiến lên từ cấp độ đức tin thấp nhất đến cấp độ cao nhất như thế nào.  Khi Chúa hiện đến và dĩ nhiên có mặt cả ông Tô-ma nữa, Người đi vào vấn đề ngay sau lời chào bình an.  Ta có cảm tưởng như lần hiện ra này là chỉ vì ông Tô-ma thôi.  Người không đề cập tới chuyện gì khác ngoài chuyện người Tông đồ cứng lòng tin.  Thánh sử Gio-an kể:  “Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói:  “Bình an cho anh em”.  Rồi người bảo ông Tô-ma:  “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem.  Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy.  Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20:26-27).  Quả thực, ta không thể ngờ Chúa “tấn công” Tô-ma quá mạnh và không để cho ông chống đỡ được!  Người thách thức ông vận dụng mọi giác quan để mà kiểm chứng sự hiện diện của Người.  Người đang chỉ vào vết thương trái tim của Người và “dồn” ông Tô-ma.  Một ngón tay chưa đủ đâu, phải nhìn xem nữa!  Cuối cùng, cần phải đưa cả tay ra mà đặt vào nơi trái tim của Người!  Như thế, có lẽ Chúa Giê-su không chỉ nhắc nhở Tô-ma về vết thương thể xác, nhưng là vết thương lòng của Người.  Việc cứng lòng tin của Tô-ma và của nhiều người khác đúng là đã gây nên vết thương lòng cho Chúa Giê-su rồi vậy.  Đứng trước tấn công vũ bão của tình yêu Thiên Chúa, con người Tô-ma chịu khuất phục nhanh chóng.  Ông “đầu hàng” một cách thảm bại, nhưng cũng vô cùng đáng yêu.  Ông chỉ còn biết kêu lên:  “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20:28).  Tới đây, bài học đã rõ ràng:  đức tin cần phải tiến lên, từ đức tin có bằng chứng đến đức tin không bằng chứng, từ đức tin do thuyết phục bằng lý lẽ đến đức tin được nảy nở bằng tình yêu, từ đức tin đại chúng đến đức tin cá nhân.  Ông Tô-ma là biểu trưng cho đức tin cá nhân, riêng tư đối với Chúa, khi ông nhận Chúa là của riêng mình:  Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!
2.  Cộng đoàn Giê-ru-sa-lem là một cộng đoàn đức tin (bài đọc Tân Ước – Cv 4:32-35)
          Niềm tin Phục Sinh đã được củng cố và trưởng thành nơi Nhóm Mười Hai và các môn đệ Chúa như ta thấy trong bài Tin Mừng.  Niềm tin ấy đã được họ rao giảng và là cơ sở để cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi được xây dựng và phát triển.  Chỉ trong bốn câu, đoạn Công vụ Tông Đồ đã mô tả đầy đủ hình ảnh của một cộng đoàn đức tin lý tưởng và sống động, từ giáo dân cho đến các vị chủ chăn, ai ai cũng biểu lộ đức tin qua hành động.
          Trước hết, tín hữu có tinh thần hiệp nhất thật tốt đẹp và không một chút chia rẽ.  Quả thực đức tin phá bỏ mọi hàng rào ngăn cách để mọi người trở nên một theo lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong bữa Tiệc ly (Ga 17:22), hoặc như suy tư của thánh Phao-lô:  “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí…, cùng một niềm hy vọng.  Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa.  Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người” (Ep 4:4-6).  Sự hiệp nhất đã đạt tới cao độ, đến nỗi “Không ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4:32).
Về phần các Tông đồ, các ngài nhiệt thành với sứ vụ rao giảng và làm chứng cho Chúa Giê-su, đặc biệt về chân lý Chúa Ki-tô đã sống lại từ cõi chết.  Các ngài đã thi hành sứ vụ trong quyền năng và ân sủng của Thiên Chúa.
Tuy nhiên đức tin không chỉ dừng lại trong lãnh vực đạo đức, mà còn lan tràn qua khuôn mặt xã hội của cộng đoàn.  Không thể có đức tin mạnh khi thấy kẻ nghèo khổ mà không giúp đỡ.  Ý thức đức tin phải biểu lộ qua hành động cụ thể, cộng đoàn đã đặc biệt thực thi bác ái đối với những thành phần thiếu thốn và cần sự giúp đỡ.  Do đó, đức tin không chỉ bằng lòng với cảnh “xóa đói giảm nghèo”, mà còn biến cộng đoàn thành cộng đoàn trong đó “không ai phải thiếu thốn”.
Đấy là hình ảnh cộng đoàn Giê-ru-sa-lem, một hình ảnh lý tưởng luôn có thể thực hiện được nếu người ta thực sự có và sống đức tin Phục Sinh.  Sách Công vụ Tông Đồ không bày ra một ảo tưởng ru ngủ, nhưng là một thực tại đến nỗi nhưng người ngoại giáo phải thành thực ca ngợi và yêu mến (Cv 2:46).  Thấy người lại nghĩ đến ta!  Không biết khi nào cộng đoàn xứ đạo của ta mới có thể là cộng đoàn Giê-ru-salem thứ hai?
3.  Mục đích cuối cùng của cộng đoàn đức tin là phải “thắng được thế gian” (bài đọc Tân Ước – 1 Ga 5:1-6)
          Đức tin biểu lộ qua việc làm là điều đã được thể hiện ngay tại cộng đoàn tín hữu tiên khởi Giê-ru-sa-lem.  Nói đến việc làm của đức tin thì không bao giờ kể hết.  Tuy nhiên thánh Gio-an, vị Tông đồ của tình yêu đã đề nghị với ta một cách biểu lộ cụ thể:  yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương chúng ta.  Gio-an đã thấm nhuần được giáo lý tình yêu Chúa Giê-su đã dạy khi Người còn tại thế.  Giờ đây ngài đem áp dụng giáo lý này vào việc sống đức tin Phục Sinh và ngài gọi việc sống đức tin này là cuộc chiến đấu để “thắng được thế gian”.
          Đúng vậy, ta cứ nhìn vào thế gian để thấy sức mạnh của nó.  Không phải là bác ái yêu thương, nhưng là hận thù ghen ghét.  Thế gian muốn biến trái đất này thành nơi hận thù ghen ghét, còn tín hữu là “những kẻ được Thiên Chúa sinh ra” phải làm cho trái đất này chan chứa yêu thương và nhân ái.  Cuộc chiến thật rõ ràng.  Nhưng làm sao cộng đoàn tín hữu thắng được thế gian?  Đâu là khí giới của họ?  Thánh Gio-an cho ta một câu trả lời vừa ý nghĩa sâu xa, vừa đầy thách thức:  “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa?” (1 Ga 5:5).  Chỉ niềm tin như vậy thôi mà có thể thắng được thế gian sao?  Phải, đúng như vậy.  Vì tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa có nghĩa là nhìn nhận sự dạy dỗ của Người và thực hành giới răn yêu thương Người đã dạy không những bằng lời giảng mà còn bằng cái chết minh chứng tình yêu trên thập giá nữa.  Ở đây, ta thấy rõ ông già Gio-an 120 tuổi không lẩn thẩn, “biết rồi khổ lắm nói mãi”, nhưng ngài lý giải rất sâu sắc và thực tế.  Nếu quả thực ta đã được tái sinh trong Bí tích Rửa tội để làm con Thiên Chúa đầy yêu thương, thì cũng phải sống yêu thương như Đức Giê-su đã dạy.  Chính Người đã lấy tình yêu của Thiên Chúa để làm vũ khí thắng được thế gian và sống lại vinh hiển thì ta cũng phải noi gương Người mà sử dụng vũ khí là tình yêu để biến thế gian hận thù thành nơi đầy tràn tình yêu.  “Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp” là lời kinh đẹp nhất mà thành Phan-xi-cô At-xi-xi đã để lại cho ta vậy.
4.  Sống Lời Chúa
          Chủ đề sống đức tin vào Chúa Phục Sinh tuần này thật là phong phú.  Từ cá nhân cho đến cộng đoàn, nếu ta có đức tin đích thực thì ta phải thực thi qua việc làm.  Các Tông đồ, môn đệ Chúa cho đến hãng ngũ tín hữu Giê-ru-sa-lem đã cho ta những tấm gương sống động qua đời sống tin yêu của họ.  Thêm vào đó là suy niệm thực hành của thánh Gio-an đã mở cho ta thấy đâu là đích tới của việc sống đức tin vào Chúa Phục Sinh.  Tuy nhiên vấn đề cốt lõi vẫn là làm thế nào mỗi ngày sống của ta phải là một nấc thang tiến đến một đức tin trưởng thành.
Suy nghĩ:  Nếu phải đem áp dụng câu truyện ông Tô-ma vào cuộc đời của tôi, thì kết cục sẽ ra thế nào?  Đâu là những dấu chỉ cứng lòng tin nơi tôi?  Chúa nói gì với tôi trong tình trạng ấy?  Và tôi sẽ thưa với Chúa thế nào?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, hằng năm Chúa dùng ngọn lửa phục sinh để khơi lại niềm tin trong lòng dân thánh, cúi xin Chúa gia tăng ân sủng để chúng con hiểu rằng:  chính Chúa Ki-tô đã thanh tẩy chúng con bằng phép rửa, đã tái sinh chúng con bằng Thánh Thần và cứu chuộc chúng con bằng Máu Thánh.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật II Phục Sinh).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS2-144: TÁM NGÀY SAU

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH, năm B
Ga 20, 19-31
 

Chúa phục sinh đã hiện ra với các môn đệ vào ngày thứ nhất trong tuần khi các môn đệ còn: PS2-144

Chúa phục sinh đã hiện ra với các môn đệ vào ngày thứ nhất trong tuần khi các môn đệ còn đang hoang mang, sợ hãi và mệt mỏi vì biến cố Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá. Chúa hiện ra để thánh hoá ngày thứ nhất là ngày Chúa nhật, ngày của Thiên Chúa. Lần hiện ra này không có Tôma. Tám ngày sau, Chúa sống lại  hiện ra với các môn đệ. Hôm nay có cả Tôma. Chúa thánh hoá ngày hôm đó. Và cả hai lần Chúa phục sinh đều ban bình an cho các môn đệ.Sự bình an này làm các môn đệ bình tĩnh và hân hoan…
CHÚA PHỤC SINH CỦNG CỐ NIỀM TIN CỦA CÁC MÔN ĐỆ: Đọc lại Tin Mừng,
Chúng ta hiểu ngay các môn đệ lúc đó đang hết sức sợ sệt, âu lo vì Thầy của mình đã chết. Họ cứ tưởng Thầy mình không còn nữa. Do đó, các môn đệ mỗi lúc mỗi cảm thấy đau khổ. Giữa lúc đó, Chúa phục sinh xuất hiện để củng cố niềm tin cho cácmôn
đệ về việc Chúa sống lại. Lần thứ nhất, Chúa chúc bình an cho các môn đệ, rồi cho các ông xem các dấu đinh ở chân tay, ở cạnh sườn của Người ( Ga 20, 20 ) và các môn đệ hết sức vui mừng khi được xem thấy Chúa ( Ga 20, 20 ).Chúa sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng. Chúa ban Thánh Thần cho các ông để các ông tha tội cho mọi người. Đây là quyền “cầm buộc và tháo cởi” đã được Chúa Giêsu ban cho Phêrô (Mt
16, 19 ) và nhóm mười hai ( Mt 18, 18 ). Chúa củng cố niềm tin cho cộng đoàn các môn đệ. Sở dĩ, Chúa phục sinh hiện ra liên tiếp hai Chúa nhật liền là để minh chứng cho các môn đệ Ngài đã sống lại thật theo như lời Kinh Thánh viết:” Cứ phá hủy đền thờ nội ba ngày Ta sẽ xây dựng lại “. Chúa sống lại vừa củng cố niềm tin, vừa han gắn những chia rẽ nội bộ của các môn đệ và Ngài gầy dựng Giáo Hội của Ngài ở dưới trần gian này. Giáo Hội là Chúa Giêsu và Giáo Hội cũng là chính các tông đồ.” Chúng tôi đã nhìn thấy Ngài “. Cái trớ trêu nằm ở chỗ lần Chúa hiện ra thứ nhất không có môn đệ Tôma. Nhưng rồi tám ngày sau, cái ngày Tôma cứ khăng khăng nói ” Nếu tôi không thấy Ngài, nếu tôi không được xỏ ngón tay vào lỗ đinh nơi chân tay, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin”…Đây là thái độ rất thực tế của Tôma. Nếu ông không nhìn thấy Thầy Giêsu, tay ông không sờ đụng được vào con người của Chúa phục sinh. Ông nhất mực không tin. Hôm nay, Chúa phục sinh lại hiện ra với các môn đệ khi cửa các ông vẫn cài kín vì sợ người Do Thái. Chúa
xuất hiện trước mặt các ông và ban bình an cho các ông. Đặc biệt, hiểu rõ tấm lòng của Tôma, Chúa lưu tâm tới ông ngay. Ngài thỏa mãn những ước vọng của Tôma như
cho ông được nhìn thấy Chúa và có thể sờ đụng vào Chúa. Đứng trước mặt Chúa phục sinh, Tôma quên hết, Tôma không dám nghi ngờ, Tôma không dám đòi thọc ngón tay vào các lỗ đinh và thọc bàn tay vào cạnh sườn của Chúa. Tôma như thấy mình được mạnh mẽ, đức tin của ông bật sáng và ông tuyên xưng:” Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ).  Đây là lời tuyên tín cao cả nhất của Tôma. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, với sự phục sinh của Ngài, Ngài đã được tôn vinh bên cạnh Chúa Cha:”
Khi các ngươi treo Ta lên, các ngươi mới biết Ta là ai”( Ga 8, 28 ) . “ Ta là Thiên Chúa thật và là sự sống đời đời”( 1 Ga 5, 20 ).
NHÂN LOẠI HẠNH PHÚC VÌ KHÔNG THẤY CHÚA MÀ TIN: Nhân loại sống cách Chúa 2006 năm nhưng qua Tôma Chúa Giêsu như muốn nhắn gửi tới mọi người:” Vì đã thấy Thầy, nên con tin. Phúc cho những người đã không thấy mà tin”
( Ga 20, 29 ). Thực tế, chúng ta rất hạnh phúc vì chúng ta không được diễm phúc như các môn đệ nhìn thấy Chúa sống lại, nghe lời Chúa, cùng ăn cùng sinh hoạt với Chúa và ân cần ghi nhận những tâm sự, những nhắn nhủ của Chúa. Lời tuyên xưng của Tôma vẫn là gương mẫu cho mọi người có lòng tin:” Lạy Chúa của con. Lạy Thiên Chúa của con”. Lời tuyên tín của Tôma củng cố đức tin cho mỗi người chúng ta vì chúng ta sống cách Chúa quá xa, nhưng chúng ta tin vào lời chứng của các môn đệ, của Tôma, của sách Thánh, của Giáo Hội. Tuy, mắt xác thịt chúng ta không thấy được Chúa, nhưng đức tin của chúng ta trở nên trọn vẹn, trở nên hoàn hảo như Tôma. Tôma hiểu chậm về Chúa, nhưng khi Ông đã hiểu, Ông tin một cách trọn vẹn. Và đây là tuyệt điểm của Tin Mừng Gioan. Sự phủ phục của Tôma trước sự kiện hiển nhiên Chúa đang hiện diện sau khi sống lại trước mặt ông là bằng chứng hùng hồn về lòng tin cao độ của Tôma. Đúng là Tôma không biết làm gì hơn là xác nhận lời tuyên xưng về Chúa Giêsu như Phêrô đã tuyên xưng:” Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”( Mt 16, 16 ). Vâng, Giáo Hội của Chúa Kitô là một cuộc hành trình đức tin. Mỗi thành phần dân Chúa phải sống Lời Chúa, phải học hỏi Lời Chúa và một khi tin, người Kitô hữu phải làm chứng cho Chúa phục sinh như các môn đệ và các tông đồ khi xưa.
Lạy Chúa Giêsu, xin củng cố lòng tin cho chúng con để chúng con mạnh mẽ tuyên xưng Chúa và làm chứng cho Chúa như các môn đệ trung kiên của Chúa.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
4/4/2006

 

PS2-145: CHÚA NHẬT  2  PHỤC SINH

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:      1 Gio-an 5: 1-6
 

Bài đọc Tân Ước được sử dụng trong mùa Phục Sinh (Chúa Nhật 2 đến 7 Phục Sinh) là những: PS2-145

Bài đọc Tân Ước được sử dụng trong mùa Phục Sinh (Chúa Nhật 2 đến 7 Phục Sinh) là những suy niệm về Mầu nhiệm Phục sinh, lấy từ Thư 1 Phê-rô (năm A), Thư 1 Gio-an (năm B) và sách Khải Huyền (năm C).  Lễ Phục Sinh tiếp tục được cử hành trong suốt bảy tuần lễ, nên các bài đọc Tân Ước là những suy niệm sâu sắc về biến cố Phục sinh và những áp dụng thực tế vào cuộc sống Ki-tô hữu.
          Tại sao Phụng vụ Lời Chúa sử dụng Thư 1 Gio-an?  Thư 1 Ga giống như một thông điệp gửi cho các giáo hội tại Tiểu Á khoảng giữa năm 90 và 100 sau công nguyên, đang khi phái lạc giáo Ngộ đạo thuyết lung lạc đức tin Ki-tô giáo.  Những người theo Ngộ đạo thuyết chủ trương thân thể Đức Ki-tô chỉ có bề ngoài mà không có thực, thân thể ấy không thể phục sinh, chỉ có linh hồn Người mới bay thẳng lên thiên đàng.  Họ không chấp nhận thiên tính của Đức Ki-tô.  Họ không nhìn nhận giới răn bác ái huynh đệ.  Do đó trong thư này, thánh Gio-an khuyên tín hữu hãy tiếp tục nhận biết và yêu mến Thiên Chúa bằng cách giữ giới răn của Người mà yêu thương anh chị em.  Ngài lý luận đanh thép:  “Nếu ai nói:  ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối;  vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20).  Vậy Thư 1 Ga được sử dụng để giúp chúng ta nhận ra đời sống mới trong đức tin mà sự Phục Sinh của Chúa Ki-tô đã đem lại cho chúng ta.  Được sống lại cùng với Chúa Ki-tô trong con người mới, Ki-tô hữu phải sống yêu thương như những người con cái của Thiên Chúa.  Đoạn thư hôm nay nói về căn tính làm con cái Thiên Chúa của chúng ta.
 a)  Chúng ta là con cùng một Cha
          Trước khi nói đến bổn phận phải yêu thương anh chị em, thánh Gio-an thấy cần phải nhắc nhở chúng ta về căn tính đích thực của chúng ta.  Nhờ tin vào Chúa Ki-tô là Con Thiên Chúa, chúng ta đã được Thiên Chúa cho sinh lại trong đời sống mới.  Khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội, Thánh Thần đã cho chúng ta khả năng được gọi Thiên Chúa là “Áp-ba!  Cha ơi!” (Rm 8:15).  Vinh dự được làm con cái Thiên Chúa đưa chúng ta tới bổn phận đối với Người, đó là phải “yêu mến Đấng sinh thành.”  Nhưng từ bổn phận cốt yếu này, thánh Gio-an lý luận đưa chúng ta tới một hệ luận khác, tức là “Ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu thương kẻ được Đấng ấy sinh ra.”  Khi nói “kẻ được Đấng ấy sinh ra,” thánh Gio-an hẳn không ám chỉ Chúa Giê-su, nhưng ám chỉ tất cả chúng ta là những người đã được Thiên Chúa cho sinh lại trong Bí tích Rửa tội.
 b)  Yêu mến Thiên Chúa và tuân giữ điều răn của Người là dấu chỉ nói lên chúng ta là con cái Người
          Trong sách Tin Mừng, thánh Gio-an ghi lại lời nhắn nhủ của Chúa Giê-su:  “Căn cứ vào điều này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, đó là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35).  Ở đây, ngài theo cùng một phương thức diễn tả để nhấn mạnh đến bổn phận yêu thương anh chị em:  “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình yêu thương con cái Thiên Chúa, đó là chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành các điều răn của Người.”  Nếu chúng ta muốn làm môn đệ Chúa, thì chúng ta phải yêu thương nhau.  Nếu chúng ta muốn yêu thương nhau, thì chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa và giữ điều răn của Người.  Hay nói khác đi, lòng yêu mến đối với Thiên Chúa và việc tuân giữ các điều răn của Người là tiêu chuẩn chắc chắn bảo đảm cho lòng yêu thương đối với anh chị em.
 c)  Con cái Thiên Chúa là những kẻ chiến thắng thế gian
          Một dấu chỉ hết sức đặc biệt nói lên chúng ta là con cái Chúa, đó là chúng ta là những người chiến thắng thế gian nhờ lời Thiên Chúa ở lại trong chúng ta (2:14) và nhờ đức tin của chúng ta vào Đức Ki-tô (5:4-5).  Là Con Thiên Chúa, Đức Ki-tô đã chiến thắng thế gian nhờ sự vâng phục thập toàn của Người, đến nỗi Người vui lòng chết trên thập giá.  Chiến thắng ấy đã được khởi đầu nơi Đấng “là khởi nguyên, là Trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại” (Cl 1:18) và sẽ được tiếp tục nơi các em của Người, tức là tất cả chúng ta.  Ở đây chúng ta cũng có thể theo cùng một lý luận của thánh Gio-an mà nói rằng:  giống như lòng yêu mến Chúa là tiêu chuẩn bảo đảm cho lòng yêu thương anh chị em, thì cũng thế, chiến thắng của Đức Ki-tô là tiêu chuẩn bảo đảm cho chiến thắng của chúng ta đối với thế gian.
 d)  Hành trình của con cái Thiên Chúa
          Tất cả những trình bày của thánh Gio-an giúp chúng ta tổng hợp lại thành một thực tại duy nhất, đó là hành trình của kẻ làm con Thiên Chúa.  Hành trình ấy khởi đầu với đức tin vào Chúa Ki-tô là Con Thiên Chúa để chúng ta nhận lãnh căn tính mới làm Ki-tô hữu và được mời gọi sống đời sống mới.  Cốt lõi của đời sống mới trong Thần Khí Đức Ki-tô là hãy yêu mến Thiên Chúa và tuân giữ điều răn của Người, yêu thương anh chị em và thẳng tiến trên đường chiến thắng thế gian để được cùng chia sẻ gia nghiệp với Chúa Ki-tô.
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Có bao giờ tôi suy nghĩ sâu xa hơn về căn tính Ki-tô hữu và làm con Thiên Chúa của mình không?  Những khẳng định của thánh Gio-an soi sáng thêm sự hiểu biết của tôi như thế nào?
          Tôi có thuộc hạng người nói “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà vẫn chứ yêu thương anh chị em không?  Suy nghĩ về một vài trường hợp cho thấy tôi là “kẻ nói dối.”
          Qua bài đọc này, Giáo Hội muốn dẫn tín hữu theo một lối sống yêu thương, mến Chúa yêu người.  Tôi sẽ cố gắng theo dõi tư tưởng của thư thứ nhất thánh Gio-an trong mùa Phục Sinh.  Vậy tôi sẽ bắt đầu hoạch định một chương trình sống như thế nào cho riêng tôi, nhấn mạnh đến lòng mến Chúa yêu người?
 Lời nguyện kết thúc
Sau nhưng lời nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc lời nguyện sau đây:
          Lạy Thầy Giê-su, Thầy không gọi chúng con là tôi tớ, Thầy cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ.  Thầy còn coi chúng con như bạn hữu của Thầy, vì Thầy đã thổ lộ cho chúng con những điều riêng tư thầm kín nhất trong tương quan giữa Thầy với Cha.
          Hơn nữa, sau phục sinh, Thầy đã gọi các môn đệ là anh em.  Mặc nhiên Thầy tự nhận mình là Anh Trưởng đứng đầu một đoàn em đông đúc.
          Xin cho chúng con luôn thi hành ý muốn của Cha, để trở nên những người em cùng huyết nhục với Thầy...
          Xin cho chúng con hiểu được tấm lòng của Thầy và sống yêu thương mọi người như anh em.  A-men.  
(Trích RABBOUNI, lời nguyện 33)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS2-146: ĐỨC GIÊSU ĐÃ THỰC SỰ SỐNG LẠI

CHÚA NHẬT THỨ II PHỤC SINH
Ga 20, 19-31
 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Ơn bình an mà Chúa Giêsu phục sinh đem đến cho các môn đệ hôm nay muốn chứng tỏ rằng: PS2-146

Ơn bình an mà Chúa Giêsu phục sinh đem đến cho các môn đệ hôm nay muốn chứng tỏ rằng Ngài yêu thương họ, lưu tâm đến họ, sẵn sàng phục vụ họ. Chúa phục sinh muốn các môn đệ của Ngài cũng được hưởng nếm sự vinh quang của Ngài khi Ngài đã kinh qua sự chết và sống lại. Sự bình an, Chúa sống lại trao ban cho các môn đệ vì  họ đã được ơn tha thứ do cái chết của Ngài. Chúa phục sinh muốn cho mọi môn đệ theo Ngài cũng nối gót Ngài chia sẻ theo cách của mình sự đau khổ, cái chết và sự sống lại của Ngài.
 CHÚA GIÊSU BAN BÌNH AN
 Chúa sống lại ngay từ ngày thứ nhất trong tuần đã hiện ra với các môn đệ và ban bình an cho các ông. Lời đầu tiên của Chúa sống lại:” Chúc anh em được bình an”. Sự an bình Chúa phục sinh mang đến cho các môn đệ trong những giờ phút các ông còn hoang mang sợ sệt, lo âu đến nỗi cửa nhà các ông vẫn cứ đóng kín. Chúa phục sinh đã cho các ông xem tay và cạnh sườn của Người( Ga 19, 20 ). Điều kỳ diệu ở đây theo Tin Mừng Gioan thuật lại là các môn đệ đều hớn hở, vui mừng vì xem thấy Chúa. Nhìn thấy Chúa sống lại sau những ngày đau khổ, mất mát đến cùng tận, Chúa phục sinh lại chúc bình an và sai các ông đi rao giảng, đi làm chứng:” Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”( Ga 19, 21 ). Nói xong, Chúa thổi hơi, ban Thánh Thần và quyền tha tội cho các ông:” Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ “( Ga 20, 22-23 ). Rõ ràng, Chúa phục sinh đã ban bình an cho các môn đệ, sự bình an này thật cần thiết vì chính các tông đồ đã lãnh nhận sự tha thứ của Chúa: Chúa đã thứ tha tội bội phản, tội nhát đảm và sợ chết của các ông. Chúa đã cứu độ các môn đệ và nhân loại này nghĩa là Chúa đã ban bình an cho các môn đệ cũng như nhân loại, nhưng đồng thời Chúa cứu độ có nghĩa là Chúa ban bình an, đem lại sự thanh thản, hòa bình cho các ông và mọi người. Tuy nhiên, trong đoạn Tin Mừng này của thánh Gioan, một điểm khiến ta càng phải lưu tâm, chú ý đó là tám ngày sau cũng vào ngày thứ nhất trong tuần Chúa phục sinh lại đến với các môn đệ lúc đó có cả thánh Tôma tông đồ mà nhân loại từ bao thời nay đã cho rằng Tôma yếu tin, Tôma cứng lòng… Lời đầu tiên của Chúa vẫn là chào mừng bình an cho các môn đệ( Ga 20, 26 ). Rồi, Ngài lại nói với Tôma :” đặt ngón tay vào lỗ đinh tay chân và đặt bàn tay vào cạnh sườn của Chúa”( Ga 20, 27 )
 Thánh Tôma như người bị điện giật đã nơm nớp hồi hộp, lo âu mà thưa với Chúa:” Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ). Rõ ràng, Chúa phục sinh muốn cho các môn đệ thấy sự an bình thực sự, một niềm bình an chỉ có thể có được khi tâm con người được thanh thản, không gì khúc mắc, không gì vương vấn khó khăn. Chúa sống lại muốn đẹm lại cho các môn đệ sự an bình vĩnh cửu, sự hòa bình mà  các thiên thần đã loan báo ngày Chúa đản sinh nơi hang đá Bêlem:” Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”( Lc 2, 14 ). Đức Giêsu bảo Tôma:” Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin”( Ga 20, 29 ). Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ lần này là lần thứ hai, Ngài chỉ ra rằng điều quan trọng là hạnh phúc thật, sự sống thật Chúa trao ban cho những kẻ tin. Thánh Gioan đã cho nhân loại thấy rõ Chúa là nguồn sự sống cho nhân loại ( Ga 1, 3 ) và ngay trong Ga 20, 31, thánh sử đã viết rất rõ:” Còn những điều chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người “. Chúa phục sinh qua lời nói của Gioan cũng cho thấy khi Ngài thổi hơi cho các môn đệ, ban Thánh Thần cho các ông làm ta liên tưởng ngay tới những trang đầu của sách khởi nguyên: thần khí Chúa bay là là trên mặt nước, Chúa thổi hơi vào con người mà Ngài tạo thành vv…Chúa ban sự sống mới vĩnh cửu cho các môn đệ và nhân loại.
 THẦN KHÍ SẼ GIÚP CÁC MÔN ĐỆ VÀ NHÂN LOẠI LÀM CHỨNG
 Khi Chúa phục sinh chưa hiện đến, chưa thổi hơi và trao ban Thánh Thần, các môn đệ cứ áy nay, lo âu, sợ bị bắt, sợ bị giết vv…Nhưng được lãnh nhận Thánh Thần các môn đệ đã nhất nhất làm chứng cho Chúa dẫu có phải hy sinh mạng sống( xem  sách tông đồ công vụ ). Quả thực, khi thổi hơi, trao ban Thánh Thần , Chúa ban sự sống thần linh cho các tông đồ, thần khí mới làm cho sống( Ga 6, 63 ). Thần khí, Chúa phục sinh ban cho nhân loại, đang ở trong con người và nhân loại ( Ga 14,17). Thần khí giúp làm chứng về Đức Giêsu Kitô( Ga 15, 26 ) và dẫn đưa nhân loại tới chân lý toàn diện( Ga 16, 13 ). Chính Thánh Thần của Chúa Kitô sẽ làm cho các môn đệ và nhân loại vững mạnh, can đảm để mọi người sẽ nhất loạt tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa . Nhờ sống trong Chúa phục sinh, các môn đệ và nhân loại được hưởng vui mừng và bình an. Đó là hoa quả của thần khí. Vâng, các môn đệ nhờ tác động biến đổi của Thánh Thần đã luôn trung kiên làm chứng cho
 Chúa phục sinh. Các Ngài đã có một năng lực diệu kỳ, một sức mạnh, một sức sống mới minh chứng cho mọi người Chúa Giêsu từ trong cõi chết đã phục sinh và lý chứng của các Ngài sẽ luôn tồn tại, có giá trị vững bền. Còn nhân loại dựa trên lời chứng của các tông đồ và nhờ Thánh Thần giúp đỡ, tác động cũng được mời gọi làm chứng cho Chúa sống lại.
 Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con và nhân loại hiểu biết rằng xác thịt thì hư nát, thần khí mới tác sinh( Ga 6, 63 ). Xin cho chúng con mạnh mẽ tuyên xưng:” Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”( Ga 20, 28 ). 

 

PS2-147: THIÊN CHÚA TÌNH THƯƠNG

Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:8). Nhưng dường như tình yêu của Ngài – chính Ngài: PS2-147

“Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:8). Nhưng dường như tình yêu của Ngài – chính Ngài – không đủ sức thu hút và hấp dẫn con người. Điều này được chứng minh bằng chính những gì đang xẩy ra chung quanh cuộc sống, trong sinh hoạt xã hội, và Giáo Hội.
SINH HOẠT XÃ HỘI:
Đành rằng những tệ đoan xã hội luôn có đó và xẩy ra trong mọi sinh hoạt của xã hội và của mọi nền văn hóa. Trộm cướp, giết người, đĩ điếm, gian dối, lường gạt, thù hận... là những sinh hoạt mặt trái của xã hội. Sinh hoạt của xã hội đen, của những người mà sự công bằng xã hội, đạo đức xã hội không thích hợp với những suy tư và lối sống của họ.
Nhưng những tệ đoan xã hội ngày nay mang nhiều sắc thái khác thường hơn, ảnh hưởng do những trào lưu tư tưởng, tâm lý sống và những đổi mới của xã hội. Ngoài những lỗi phạm thường thấy như vừa nêu trên, con người ngày nay đang phạm vào những lỗi lầm hết sức trầm trọng có khả năng làm sụp đổ nền móng xã hội. Nó biến xã hội thành một nơi mà sự an toàn, và nền luân lý, đạo đức bị đảo lộn tận gốc rễ. Những tệ đoan ấy bao gồm: Ly dị, phá thai, đồng tính, và hôn nhân đồng tính. Có thể nói đây là 4 căn bệnh xã hội của thời đại chúng ta, có tác dụng nguy hiểm và tàn phá hơn bom nguyên tử, bệnh AIDS, hoặc những chứng ung thư.
Lực đối kháng này còn trở thành mạnh mẽ đến nỗi nhận chìm tiếng nói lương tri của nhiều người. Những cuộc biểu tình, những cuộc xuống đường rầm rộ đây đó nhằm đòi quyền ly dị, quyền tự do phá thai, quyền hôn nhân đồng tính không những thu hút được nhiều người, mà trong số đó có cả những giáo phẩm, giáo sỹ, những chính trị gia tham dự nữa. Một hình thức nào đó, con người ngày nay đang chính-trị-hoá, tôn-giáo-hoá hành động ly dị, phá thai, đồng tính và hôn nhân đồng tính.
SINH HOẠT GIÁO HỘI:
Giáo Hội đã làm gì và đã có những biện pháp hữu hiệu nào nhằm giúp con người đứng vững trước sức mạnh công phá của những căn bệnh xã hội như vừa nêu trên.
Trước hết chúng ta phải thâm tín rằng Giáo Hội luôn luôn thánh thiện, tuy nhiên sự thánh thiện ấy cũng phần nào bị lu mờ và bị tổn thương do những hành động của một số thành phần trong Giáo Hội.
Thực tế cho thấy Giáo Hội một mặt cố giúp giải quyết những tệ trạng xã hội nhằm đem lại cho con người niềm tin để sống. Nhưng mặt khác, nhiều phần tử của Giáo Hội lại tiếp tay với Satan và đồ đệ của hắn làm méo mó bộ mặt của Giáo Hội, khiến Giáo Hội mất đi sức thu hút, và vẻ thánh thiện.
Giáo Hội Hoa Kỳ cho đến nay vẫn đang gồng mình trả hàng tỷ đô-la cho những trường hợp lạm dụng tình dục của một số giáo phẩm và linh mục.
Giáo Hội Ba Lan đang phải trả lời với các tín hữu mình và cả thế giới về 10% tổng số các linh mục hoạt động cho Cộng Sản trong thời gian Cộng Sản nắm chính quyền tại quốc gia này.
Quyền lực và dục vọng đã làm cho nhiều giáo phẩm và giáo sỹ mất đi tính linh thánh của ơn gọi mình, và trở thành thù địch của Tin Mừng mà chính họ rao giảng.
Riêng Giáo Hội Việt Nam qua những tiếng đồn đãi, than van, xem như cũng đang dính dấp vào cả 2 những lỗi lầm mà Giáo Hội Hoa Kỳ và Giáo Hội Ba Lan đã và đang vấp phải.
THẾ GIỚI HÔM NAY:
Đi vào những sinh hoạt chính trị của các quốc gia trên thế giới, chúng ta cũng thấy rằng, thế giới mà chúng ta đang sống thực sự không còn là nơi đem lại cho con người hạnh phúc, an toàn, và là phần đất hứa nữa. Ngược lại, thế giới này đang bị đe dọa, tấn công về mọi mặt.
Ô nhiễm môi trường. Nhân quyền bị lạm dụng, chà đạp, và khống chế. Xuống đường, biểu tình, chống đối, và khủng bố, bạo loạn khắp nơi.
Tất cả hệ quả trên đã cho thấy sự vắng bóng của Tình Yêu Thiên Chúa. Vì sự thiếu vắng tình yêu, mà tình yêu chỉ được trao ban từ nơi Thiên Chúa: “Thiên Chúa là tình yêu”. Đấng đã đổ đến giọt máu cuối cùng vì yêu thương nhân loại. Đấng mà “dù có người mẹ nào quên con mình,” thì Ngài “cũng không quên con người và từng người” chúng ta được. Và cũng là Đấng đã dám nói và dám làm: “Không ai có tình yêu cao quí hơn kẻ thí mạng mình vì bạn hữu mình” (Gioan 15:13).
TÌNH YÊU THIÊN CHÚA:
Vậy đã đến lúc nhân loại phải tôn kính tình yêu của Thiên Chúa. Phải đón nhận và đặt đời mình và mọi sinh hoạt của mình trong tình yêu thương ấy.
Tình yêu Thiên Chúa như thế nào thì các Kitô hữu và những ai chăm chỉ đọc và suy niệm Thánh Kinh đều nhận thấy rõ điều này. Đó là một tình yêu tuy rất cao vời, khôn ví, nhưng cũng lại rất gần gũi và thấm nhập vào đời sống của con người. Và vì thế, tuy gọi là tình yêu Thiên Chúa nhưng nó lại rất dễ cảm, dễ hiểu và dễ chấp nhận nếu như chúng ta không dùng trí óc của mình để phân tích tình yêu này, mà dùng con tim của mình để cảm nhận.
1. Quan tâm đến tình yêu Thiên Chúa: Tuy vẫn biết Thiên Chúa yêu mình, nhưng dường như con người vẫn thờ ơ và xa dời tình yêu ấy. Thật vậy, trong sinh hoạt thường ngày của con người, và ngay cả sinh hoạt tôn giáo, chúng ta ít khi đề cao giá trị tình yêu của Thiên Chúa trong tâm tình tôn thờ, yêu mến, và cảm ơn.
Dường như hầu hết những lần chúng ta đến với Ngài, ngay cả trong các thánh lễ Chúa Nhật cũng là đến với thái độ bắt buộc và miễn cưỡng. Sợ không tham dự thánh lễ sẽ có tội. Mà có tội thì phải sa địa ngục. Và vì thế, những hành động tôn giáo của chúng ta mang nhiều hình thức lễ nghi, bên ngoài, hoặc chú trọng vào việc đề cao uy quyền của Thiên Chúa, hơn là dẫn dắt con người tìm về và nhìn vào tâm tình của một Thiên Chúa đầy tình yêu, người cha nhân lành để yêu mến. Chúng ta thấy nào là Giáo Luật, nào là luân lý thần học, nào là tu đức học, nào là lễ nghi. Tất cả như rào đón, như răn đe, hoặc như cảnh cáo. Ngay cả việc suy diễn và cảm nhận Thánh Kinh, nhiều khi chúng ta cũng vẫn được nghe nói về bộ mặt công thẳng, uy nghiêm, và phẫn nộ của Thiên Chúa, hơn là sự thu hút và hấp dẫn yêu thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã bị hiểu lầm. Tình yêu Ngài đã bị cắt nghĩa lệch lạc, và hướng dẫn sai lầm.
Có lẽ vì vậy, nên Đức Bênêđíctô XVI, đương kim giáo hoàng đã bắt đầu thông điệp đầu tiên của giáo triều mình bằng phản ảnh tình yêu Thiên Chúa, thông điệp “Deus Caritas est” Thiên Chúa là tình yêu – và qua đó, ngài đã dẫn giải cách đầy đủ, thấm thía tình yêu Thiên Chúa. Một tình yêu vô bờ bến, yêu đến chết, và ngay trước khi chết vẫn còn xin tha cho những kẻ thù của mình: “Lậy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm” (Luca 23:34). Hơn ai hết, Đức Giáo Hoàng cảm thấy rằng nhân loại ngày nay đang xa dần nhau, và trở thành kình chống nhau không tạo được cuộc sống hoà bình, hạnh phúc, vì nhân loại đã bỏ xa tình yêu Thiên Chúa. Hoặc lợi dụng Thiên Chúa để tạo sự thù hận và chia rẽ.
2. Đặt tình yêu Thiên Chúa làm trung tâm đời mình: Bởi đó, chúng ta cần phải đặt tình yêu Thiên Chúa làm tâm điểm của đời mình. Chỉ khi nào chúng ta nhìn đón nhận tình yêu ấy thì chúng ta mới thấy mình hạnh phúc. Chỉ khi nào nhân loại nhìn nhận tình yêu ấy, nhân loại mới hạnh phúc.
Tại sao con người ngày nay đau khổ và khủng hoảng đến thế? Mặc dầu sống trong những tiện nghi và khám phá của khoa học, nhưng nhân loại hôm nay vẫn không thoát khỏi những bàng hoàng sợ hãi. Chiến tranh và bạo loạn. Khủng bố và độc tài. Những tranh chấp ngấm ngầm giữa các quốc gia trên thế giới vẫn như nồi nước sục sôi có thể xì hơi bất cứ lúc nào.
Bệnh tật thay nhau hoành hành mặc dù con người hôm nay có đầy đủ phương tiện phòng ngừa và chữa trị với những khám phá mới mẻ về y khoa và dược phòng.
Nhiều nơi trên thế giới nhiều người thiếu ăn và chết đói. Vẫn có nhiều người đau khổ. Và vẫn có nhiều người tự kết liễu đời mình bằng cách này hay cách khác, vì sự bất an, căng thẳng, và sợ hãi. Tâm con người bất ổn. Trí con người không ngừng hoang mang, mất niềm tin vào chính mình và những người quanh mình. Một hình thức khủng hoảng và tra tấn tâm hồn do Satan và những tay sai của hắn khuấy động và đem vào cuộc sống của con người.
Tất cả vì thiếu vắng tình yêu. Thiếu vắng bóng dáng của Thiên Chúa trong cuộc đời. Trong khi Thiên Chúa yêu thương con người, lo lắng cho con người đến nỗi không nỡ để một con sẻ rơi xuống vì đói ăn, và đến nỗi nếu “có người mẹ nào đó quên con mình” thì Ngài “cũng không quên ta được”, thì nhân loại lại cố tình chối bỏ. Ngược lại, rước Satan, đồ đệ hắn vào ngự trị trong tâm hồn, trong gia đình, và trong cuộc đời mình.
3. Sống với tình yêu Thiên Chúa: Một điều không thể phủ nhận là nhân loại ngày nay đang sống trong một tâm trạng trống vắng và thiếu thốn tình yêu. Một tâm trạng dẫn đến hoang mang, lo lắng, và bấn loạn.
Và một điều xem như vô nghĩa, đó là Thiên Chúa tình yêu đáng yêu mến, tôn thờ như Thiên Chúa chúng ta đang có, lại ít được người nhận biết và yêu mến. Ngược lại Satan và những đồng bọn là kẻ cầm đầu gây ra sự dữ, bất công, đau khổ và chết chóc thì lại được con người chạy theo tôn làm chúa tể. Chính ở điểm này mà Thánh Gioan đã cho biết Thiên Chúa – sự sáng – đã đến trong thế gian nhưng thế gian yêu thích Satan - tối tăm- hơn sự sáng. Và đó cũng là điều mà những ai được phúc đón nhận tình yêu Thiên Chúa – tin nhận Chúa – là một hạnh phúc lớn lao mà không phải ai muốn cũng được.
Nhưng phải chăng đón nhận tình yêu Thiên Chúa, đặt trọng tâm đời mình vào sự nhận biết, yêu mến và phổ biến tình yêu ấy là một việc làm đòi hỏi hy sinh và thử thách. Đúng vậy, chính Chúa Giêsu để làm cho tình yêu Thiên Chúa được con người nhận biết, ngài cũng đã phải chấp nhận mọi thách đố, và sự thách đố cuối cùng là sự chết. Ngài là người đã ra tiêu chuẩn của cuộc chơi “tình yêu” này, và ngài đã theo đúng qui luật của cuộc chơi: “Không ai có tình yêu lớn lao hơn người thí mạng vì bạn hữu mình” (Gioan 15:13). Ngài đã nói và đã làm. Bí Tích Thánh Thể là một nối dài của tình yêu Núi Sọ vẫn còn đó như một chứng minh tình yêu không biết mỏi mệt của Thiên Chúa. Phần con người, để đáp ứng tình yêu ấy thì phải làm gì?
Cũng không ngoài những gì mà Thiên Chúa đã làm, là hy sinh và chấp nhận thử thách. Nhưng có lẽ sự hy sinh lớn lao nhất là thứ tha cho người làm mất lòng mình, cho người xúc phạm đến mình. Và sau cùng là thí mạng mình vì những người anh chị em mình, tức là chấp nhận vì tình yêu Thiên Chúa đành thí bỏ, hy sinh con người tự ái để duy trì và làm sáng tỏ đức ái của Thiên Chúa. Vì không thể nói đến yêu thương mà lại quên không nói đến tha thứ, hy sinh và chấp nhận.
Tóm lại, việc ca ngợi, tôn vinh và đón nhận tình yêu Thiên Chúa không những là việc làm cần thiết và chính đáng của Kitô hữu chúng ta, mà còn là phương thuốc tâm linh chữa lành những thương tật tâm hồn, và những khủng hoảng, suy đồi, và mất hạnh phúc của thế giới chúng ta đang sống. Vì như Thánh Gioan đã nói: “Những ai nói mình yêu Thiên Chúa mà lại thù ghét anh chị em mình là kẻ nói láo” (1 Gioan 4:20). Và kết quả là “Đâu có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời”, có thiên đàng, và có bình an.
Trần Mỹ Duyệt

 

 PS2-148: Thời điểm THẤY LUỒNG ÁNH SÁNG LẠ

Trong đêm đen vật vã, nhiều người bỗng nhận được sức biến đổi thật lạ lùng, không do sức: PS2-148

Trong đêm đen vật vã, nhiều người bỗng nhận được sức biến đổi thật lạ lùng, không do sức riêng của mình nữa, mà do luồng áng sáng từ trên. Nhà thơ Hàn Mặc Tử là một người Công Giáo, đã chứng nghiệm được sức đột biến kỳ lạ này do nguồn ánh sáng: từ cơn bệnh cùi ghê rợn đến nhãn quan mới về cuộc đời, thấy được mọi sự đều là mùa xuân ân sủng:
Tứ thời xuân, tứ thời xuân non nước
Phút thiêng liêng nhuần gội áng thiều quang.

Đối với Hàn Mặc Tử, "áng thiều quang" này không phải là một luồng ánh sáng vô vi, nhưng là chính Thiên Chúa "Tình Yêu rung động lớp hào quang", như ông làm chứng:
Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u ám như cõi lòng ma quỉ
Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp u linh.

TÌNH YÊU RUNG ĐỘNG LỚP HÀO QUANG
Sau khi Chúa Giêsu bị giết chết, các môn đệ phải trốn ẩn trong một phòng đóng kín vì sợ người Do Thái, Trong những phút giây đen tối hãi hùng này, Chúa Giêsu đã sống lại và hiện ra đứng giữa các ông, tỏa luồng ánh sáng phục sinh và thổi hơi sinh khí mới vào các môn đệ mà nói: "Bình an cho các con, hãy nhận lấy Thần Sinh Khí". Thế là các môn đệ đã phục hồi sinh lực với một sức đột biến kỳ lạ.
Hiện nay ở Mỹ có một phong trào rất mạnh cổ võ "Ánh Sáng Tình Thương" này, và mừng lễ hằng năm vào Chúa Nhật thứ hai mùa Phục Sinh, vì là ngày hội thánh phong chân phước cho thánh Faustina vào năm 1993.
Thánh Faustina là người Ba-Lan, được Chúa cho thấy nhiều thị kiến về luồng ánh sáng tình thương của Chúa và yêu cầu thánh nữ làm tông đồ loan truyền sứ điệp này cho thế giới đang khát vọng tình thương ngày nay. Thánh nữ qua đời năm 1938 lúc 33 tuổi. Những thị kiến và sứ điệp được chính thánh Faustina ghi lại trong nhật ký (có ghi số).
Khi hiện ra vào năm 1931, Chúa đã cho thánh Faustina thấy Ngài mặc áo trắng dài, tay phải giơ lên ban phép lành, tay trái chỉ vào tim, nơi chiếu ra hai luồng sáng: một luồng đỏ và một luồng trắng. Thánh Faustina thật kinh ngạc và sung sướng khi thấy thị kiến này. Rồi Chúa Giêsu nói với thánh nữ:
 
  • Con hãy vẽ lại hình ảnh này như con đang thấy, với câu ghi chú “Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa” (Jesus, I trust in You).
  • Cha hứa rằng linh hồn nào tôn kính hình ảnh này sẽ không hư mất. Cha cũng hứa một cuộc chiến thắng kẻ thù đã xuất hiện trên mặt đất, nhất là trong giờ chết. Chính Cha sẽ bảo vệ vì đó là vinh dự của Cha (47, 48). Khi lần chuỗi này bên cạnh người đang hấp hối, Cha sẽ đứng giữa Đức Chúa Cha và người hấp hối, không như là quan án mà là Chúa Cứu Chuộc từ bi (1541).
  • Các linh mục sẽ giới thiệu cho các tội nhân như là hy vọng cuối cùng để được cứu rỗi. Ngay cả những tội nhân cứng lòng, nếu chỉ đọc chuỗi này một lần thì cũng được lãnh ơn thương xót vô biên của Cha (687).
  • Cha sẽ ban ơn dồi dào cho những ai tin tưởng vào tình thương xót của Cha (687). Cha ban cho con người một cái thùng để đến hấng lấy ơn từ nguồn tình thương. Cái thùng đây là hình này với hàng chữ “Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa (327).
Do sự yêu cầu của cha linh hướng, thánh Faustina đã xin Chúa cho hiểu ý nghĩa của hai luồng sáng trong hình, thì được nghe Chúa nói:
“Hai luồng ánh sáng là Máu và Nước. Luồng trắng là nước rửa sạch các linh hồn. Luồng đỏ là chính Máu Chúa, là sức sống cho các linh hồn. Hai luồng sáng này chiếu ra từ thẳm sâu tình thương dịu hiền của Cha khi Tim Cha trong cơn hấp hối trên Thánh Giá bị một lưỡi đòng đâm thủng. Phúc cho ai tìm đến ẩn dưới luồng ánh sáng này, vì tay công thẳng của Thiên Chúa sẽ không động tới ho (299). Qua hình ảnh này, Cha sẽ ban ơn cho các linh hồn, và cũng nhắc nhớ về đòi hỏi của tình thương: đức tin không có việc làm là đức tin chết” (742).
Thánh Faustina lo lắng không biết có thề vẽ lại giống hình ảnh xem thấy không, thì được Chúa xác nhận: “Đừng lo làm sao có thể vẽ nổi hình ảnh cao cả này theo đúng màu sắc, mà phải là do ơn Cha ban”.
THÙNG KÍN MÚC TÌNH THƯƠNG
Niềm tin tưởng nơi Chúa Giêsu là then chốt để lãnh nhận tình thương. Khi đi kín nước ở giếng, chúng ta cần thùng đựng nước. Thùng nhỏ thì chỉ đưa về được ít nước. Thùng lớn thì mang về được nhiều. Ai có thùng đều có thể kín được nước từ giếng. Nước luôn sẵn đó, không ai bị loại trừ. Chỉ cần có thùng thôi. Đó là hình ảnh về tình Chúa xót thương. Trong nhiều lần thị kiến, Chúa đã nói rõ cho thánh Faustina rằng giếng nước là Thánh Tâm của Ngài, nước là tình thương xót, và thùng là niềm tin tưởng.
“Cha đã mở tim Cha như giếng nước tình thương hằng sống. Hãy để mọi linh hồn đến được biển tình này với niềm tin tưởng (1520). Trên Thánh Giá, nguồn nước tình thương đã được lưỡi đòng mở rộng cho mọi linh hồn, không ai bị loại trừ (1182). Cha ban cho mọi người một cái thùng để đến mà kín nước ân sủng từ nguồn nưóc tình thương. Cái thùng chính là tấm hình với hàng chữ: 'Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa' (327). Ân sủng tình thương chỉ được kín bằng thùng này, đó là lòng tin tưởng. Càng tin tưởng thì càng nhận lãnh được nhiều" (1578).
Tin tưởng Chúa vì chỉ một mình Chúa mới là niềm tin tưởng: Hơn thế nữa, tin tưởng là nhận ra quyền năng của Chúa, để cho Chúa đúng là Chúa chứ đừng biến mình thành Chúa giống như A-Đam, nghĩa là để cho ý định và chương trình Chúa được thực hiện nơi cuộc sống chứ không phải là những ý định riêng của mình: nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời.
“Cha là chính tình yêu và lòng thương xót (1074). Đừng để ai sợ hãi không dám đến gần Cha dù tội lỗi đầy hoen ố (699). Lòng Cha thương xót lớn hơn tội con và tội toàn thể nhân loại (1485). Cha đã để Thánh Tâm Cha bị lưỡi đòng đâm thủng để mở rộng nguồn nước tình thương cho con. Vậy con hãy đến với lòng tin tưởng mà kín lấy nước ân sủng nơi giếng nước này. Cha không bao giời từ khước tâm hồn thống hối (1485). Dù mà trời đất có biến thành hư không chứ lòng Cha thương xót sẽ không bao giờ quên ấp ủ tâm hồn tin tưởng" (1777).
CÁCH KÍN NƯỚC TÌNH THƯƠNG
Năm 1935, trong một thị kiến, thánh Faustina được Chúa chỉ cách kín múc được nước ân sủng tình thương xót bằng lời kinh tin tưởng:
“Lạy Chúa Cha hằng hữu, con dâng lên Chúa: Mình, Máu, Hồn và Thiên Tính của Con yêu dấu Chúa, là Đức Giêsu Kitô, để đền tội chúng con và toàn thể nhân loại. Nhờ cuộc tử nạn cực hình của Chúa Giêsu, xin Chúa thương xót chúng con và toàn thể nhân loại” (436).
1. Nhận nguồn ánh sáng qua thánh lễ
Hình ảnh hai luồng sáng được nhận ra rõ nhất qua mỗi thánh lễ. Trong nhật ký, nhiều lần thánh Faustina kể lại đã trông thấy hai luồng ánh sáng đỏ và trắng không phải từ hình Chúa, mà từ Mình Thánh Chúa; và một lần lúc linh mục đang ban phép lành chầu Mình Thánh, thánh Faustina thấy luồng sáng từ hình ảnh Tình Chúa Xót Thương xuyên qua Mình Thánh và tỏa ra khắp thế giới (441).
Quả thực, Mình Thánh Chúa là thác nước ân sủng tuôn trào. Và với con mắt đức tin, chúng ta thấy được chính Chúa Giêsu tỏa luồng sáng từ nguồn tình thương trong Mình Thánh, như hiến chế về phụng vụ của công đồng Vatican II: “Đặc biệt từ Thánh Thể, ân sủng ban như mạch nước tuôn trào xuống chúng ta” (#10).
Vì thế, thánh Faustina đã cảm nghiệm: “Mạch nước này tuôn trào với đầy ngon ngọt và sức mạnh” (914); “Mọi tốt lành trong tôi đều do việc rước lễ” (1392). “Ở đây là nguồn tất cả bí mật sự thánh thiện” (1489).
2. Cách kín nước bằng chuỗi Tình Chúa Xót Thương
Để thiết thực hơn, Chúa đã chỉ cách lần chuỗi Tình Chúa Thương Xót. Có thể đọc bất cứ lúc nào, nhưng nhất là sau khi rước lễ; vì là lúc cảm nghiệm hy tế tạ ơn.
 
  1. Đọc kinh mở đầu: một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng, một kinh Tin Kính.
  2. Kinh “Lạy Chúa Cha hằng hữu, con dâng lên Chúa: Mình, Máu, Hồn và Thiên Tính của Con yêu dấu Chúa, là Đức Giêsu Kitô, để đền tội chúng con và toàn thể nhân loại. Nhờ cuộc tử nạn cực hình của Chúa Giêsu, xin Chúa thương xót chúng con và toàn thể nhân loại” (436) (kinh này được lặp lại sau mỗi chục).
  3. Mỗi chục, thay vì đọc kinh Kính Mừng như lần chuỗi kính Đức Mẹ, thì đọc một chục kinh:
    (bè 1) Nhờ cuộc tử nạn cực hình của Chúa Giêsu;
    (bè 2) Xin Chúa thương xót chúng con và toàn thể nhân loại.
  4. Sau năm chục thì kết bằng kinh: Lạy Chúa rất thánh, lạy Chúa toàn năng, lạy Chúa hằng hữu. Xin Chúa thương xót chúng con và toàn thể nhân loại.
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

 

PS2-149: KÍNH CHÚA TÌNH THƯƠNG

Chúa Nhật thứ hai sau Lễ Phục Sinh được mệnh danh là Lễ Kính Chúa Tình Thương, vì theo: PS2-149

Chúa Nhật thứ hai sau Lễ Phục Sinh được mệnh danh là Lễ Kính Chúa Tình Thương, vì theo nguồn mạc khải cho Thánh Nữ Faustina, thì Chúa đã hiện ra với Chị Thánh, bày tỏ lòng Chúa khát khao được lập Lễ Kính Tình Thương Chúa vào Chúa Nhật thứ hai trong Mùa Phục Sinh. Tuy lễ này chưa được Giáo Hội chính thức thành lập, nhưng có nhiều Hội Dòng và cộng đồng đã đáp lại lòng Chúa khát mong, dùng ngày Chúa Nhật này để dâng Thánh Lễ biệt kính Tình Thương Chúa.
I. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU THƯƠNG
Thánh Sử Gioan, một vị Tông Đồ được Chúa yêu thương, ngài đã được Chúa cho cảm nghiệm và xác tín Tình Yêu Thương của Chúa, nên Ngài đã quả quyết rất đúng khi nói với chúng ta rằng: "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1 Jn 4:16). Vì thế, Thánh Nhân đã khuyên chúng ta: "Hỡi các con yêu dấu, nếu Thiên Chúa thương yêu chúng ta như vậy, thì chúng ta cũng phải thương yêu lẫn nhau. Chẳng ai đã được xem thấy Thiên Chúa, nhưng nếu chúng ta thương yêu nhau thì Thiên Chúa ở cùng chúng ta và tình yêu thương của Người được nên hoàn hảo nơi chúng ta" (1 Jn 4:11-12).
Tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế, từ khi nhập thể làm người trong lòng Mẹ, sinh ra trên trần gian và sống một cuộc sống như mọi người chúng ta, để cùng chia sẻ thân phận con người, cảm thông mọi yếu đuối, đồng chung lao lực vất vả của kiếp sống nhân sinh như chúng ta. Rồi trong ba năm công khai rao giảng Tin Mừng, Chúa đã chỉ biết thi thố tình yêu thương, ban ơn giáng phúc cho nhân loại với bao nhiêu phép lạ, để cứu chữa vô số bệnh nhân, an ủi những người sầu khổ, xoa dịu vết thương đau của muôn người; nhất là Chúa đã dùng lời giảng dạy để mạc khải giáo lý Tình Thương của Chúa, chỉ cho chúng ta con đường đưa tới Ơn Cứu Độ và hạnh phúc vĩnh cửu. Hơn nữa, Chúa còn bày tỏ tình Chúa yêu thương chúng ta bằng cách tự nguyện lãnh nhận cuộc khổ nạn và cái chết đẫm máu vì yêu chúng ta.
II. NHỮNG DỤ NGÔN TỎ BÀY TÌNH THƯƠNG
Trong ba năm công khai rao giảng Tin Mừng, Chúa đã dùng nhiều dụ ngôn để minh xác cho những kẻ kiêu căng luôn rình mò, bắt bẻ, hạch xách Chúa thấy rõ lập trường của Người; đồng thời, bày tỏ cho nhân loại biết tin tưởng vào tình thương yêu của Chúa dành cho họ: Khi thì Chúa nói tới dụ ngôn con chiên lạc, với thái độ yêu thương săn sóc và vui mừng tìm được, âu yếm vác lên vai đem về nhà. Lúc khác, Chúa lại nói tới niềm vui của người thiếu phụ tìm lại được đồng bạc kỷ niệm qúi giá đã bị mất. Lần khác nữa, Chúa lại đề cập đến dụ ngôn người con hoang đàng, sau khi phung phá hết gia tài, ăn chơi trụy lạc, hồi tỉnh trở về, đã được Cha Hiền thương yêu tha thứ, mở tiệc ăn mừng... Tất cả đều tỏ cho chúng ta thấy lòng Chúa yêu thương chúng ta. Dù chúng ta có tội lỗi, ngỗ nghịch, vô ơn bội nghĩa đến đâu, Chúa cũng vốn sẵn lòng yêu thương tha thứ, nếu chúng ta biết sám hối trở về Chúa.
Ai trong chúng ta dám tự hào chúng ta là những người trong sạch thánh thiện; mà trái lại, tất cả chúng ta đều phải thú nhận mình là tội nhân, đã bao lần sa ngã, yếu đuối; đã bao lần bội phản, vô ơn bất nghĩa với Chúa, nhưng Chúa vốn luôn yêu thương tha thứ. Chúng ta cần xác tín rằng: Chúng ta càng khốn nạn tội lỗi, Chúa càng có cơ hội để thi thố tình thương yêu tha thứ. Mục đích Chúa xuống trần gian cũng là để cứu chuộc chúng ta, để bày tỏ lòng nhân từ thương yêu chúng ta. Chính Chúa đã quả quyết: "Cha không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để cứu vớt những tội nhân hối cải trở về" (Mt 9:13). Chúa còn phán với những người Pharisieu là những kẻ kiêu căng luôn chống đối Chúa lời này: "Các ông hãy đi học cho biết ý nghĩa lời này: Ta muốn lòng nhân từ chứ không muốn hy lễ" (Mt 9:13).
III. NHIỆM TÍCH TÌNH YÊU THƯƠNG
Sau khi cứu chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và quyền thống trị hỏa ngục, phục hồi cho chúng ta quyền làm con cái Chúa, qua ơn chúng ta được khi lãnh nhận Nhiệm Tích Thánh Tẩy, nhờ công nghiệp Cuộc Tử Nạn và sự chết đẫm máu của Chúa trên Thập Giá.
Chúa quá biết bản tính nhân loại chúng ta yếu đuối hay sa đi ngã lại, không thể đứng vững mãi trong tình trạng ơn thánh, có nghĩa với Chúa, nên Tình Thương Chúa đã sáng nghĩ ra một phương thế thần diệu, đó là Nhiệm Tích Xá Giải. Mỗi khi chúng ta sa ngã phạm tội phản nghịch Chúa, nếu chúng ta biết hối lỗi ăn năn, trở về làm hòa với Chúa, Chúa sẵn sàng tha thứ và quên đi tất cả mọi lỗi lầm, dường như chúng ta chưa bao giờ xúc phạm đến Chúa. Mỗi khi chúng ta phạm tội trọng là chúng ta đã chết phần linh hồn, trở nên kẻ nô lệ tội lỗi và chịu quyền thống trị của quỉ dữ hỏa ngục, thì nhờ Nhiệm Tích Xá Giải linh hồn chúng ta được phục sinh trong ơn thánh Chúa, chúng ta lại được phục hồi ơn làm con cái Chúa.
Nhiệm Tích Xá Giải là Nhiệm Tích Tình Thương của Chúa. Chúa chờ đợi chúng ta nơi đây, đón tiếp chúng ta trở lại giao hòa với Chúa, để được hưởng tình yêu thương lòng nhân từ của Chúa. Nơi Tòa Xá Giải, Chúa ẩn thân nơi vị đại diện Ngài, để:
Như Người Cha Nhân Từ, hằng khát khao chờ đợi, sẵn lòng thương yêu tha thứ, đón nhận con cái hối lỗi trở về.
Như Vị Thần Y, chữa lành mọi bệnh tật linh hồn, chỉ dẫn phương thế ngăn ngừa tội lỗi, tăng cường sinh lực, củng cố bình an tâm hồn, để con cái biết sống ngoan thảo hơn.
Như Vị Thẩm Phán, phân định tội phúc, tha thứ hay cầm buộc, nhưng không theo đức công bằng mà là theo lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa.
Vậy, như lời đáp ca chúng ta vừa lặp đi lặp lại: "Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở!" Chúng ta hãy cảm tạ tình yêu thương hải hà của Chúa đã dành cho chúng ta, để chúng ta biết sống xứng đáng ơn Chúa ban.
IV. CHIA SẺ LÒNG NHÂN TỪ CỦA CHÚA
Đứng trước một tin buồn: Jacques, cậu con trai yêu qúi vừa tử trận, nữ Bá Tước Littry vô cùng đau đớn và cảm thấy mất hết nghị lực, buồn nản đến tuyệt vọng; tuy nhiên chấn tĩnh lại, bà vẫn cố gắng tận tâm trong công việc phục vụ các bệnh nhân tại bệnh viện do chính bà sáng lập từ năm 1870, ở thung lũng Marne, xứ Epermy.
Ngày nọ, một thương binh người Đức được chở đến bệnh viện. Dù y thuộc thành phần quân đội thù nghịch, đã giết chết con trai của Bá Tước, nhưng bà vẫn tiếp nhận cách vui vẻ. Khi đến xem xét đồ đạc y phục người thương binh, bà bắt gặp chiếc ví và cái đồng hồ của cậu Jacques trong túi áo của tên lính Đức ấy. Vừa bàng hoàng vừa tức giận, bà Bá Tước chỉ biết thốt lên: "Đúng, đây là tên lính đã giết chết con trai tôi!" Nhưng rồi, một mảnh giấy trong chiếc ví của Jacques rơi xuống. Bà Littry vội cúi xuống nhặt lên đọc, một hàng chữ đã làm rung động trái tim bà: "Mẹ yêu qúi, con luôn nhớ đến mẹ và cầu nguyện cho mẹ. Nếu chẳng may con bị tử trận, xin mẹ đừng quá đau buồn, nhưng hãy can đảm, quảng đại chịu đựng đau khổ để cầu nguyện cho con..."
Sau một hồi xúc động, bà Littry cúi xuống tiếp tục săn sóc tên lính Đức cách tận tình. Trên mặt y những giọt nước mắt của bà Bá Tước rơi xuống, nóng hổi, lóng lánh như những hạt sương mai!
Kết Luận
Để đáp lại tình yêu thương của Chúa, chúng ta hãy mặc lấy, hãy thấm nhuần, hãy biến đổi con người chúng ta trở nên Hiện Thân của lòng nhân từ, yêu thương và tha thứ của Chúa đối với tha nhân... Trước hết, nơi anh em cùng lý tưởng trong Hội Dòng, các phần tử thân yêu trong gia đình, các người thuộc quyền chúng ta đang phục vụ, và mọi người chúng ta giao tiếp, để tất cả đều có thể nhận ra chúng ta đích thực là Hiện Thân Lòng Nhân Từ của Chúa Kitô, Đấng đã chết vì yêu thương chúng ta.
Xin Mẹ Maria, Mẹ đã đồng công với Chúa Kitô thể hiện tình yêu thương tha thứ đối với toàn thể nhân loại, xin Mẹ dạy chúng biết noi gương Mẹ, cộng tác với Chúa trong công cuộc cứu độ Chúa đã thực hiện.
Lm. Minh Vận, CMC

 

PS2-150: Chỉ có Trẻ Nhỏ mới có thể đi vào cốt lõi của Tin Mừng Phục Sinh

Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật thứ II sau Phục Sinh, dù khác nhau ở các bài đọc 1 và 2: PS2-150

Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật thứ II sau Phục Sinh, dù khác nhau ở các bài đọc 1 và 2, cũng có cùng bài Phúc Âm, bài Phúc Âm theo Thánh Ký Gioan, bài Phúc Âm thuật lại biến cố 8 ngày sau là chính thời điểm của Ngày Chúa Nhật Thứ Hai sau Chúa Nhật Phục Sinh này. Nếu bài Phúc Âm, nhất là ở phần thứ hai, trình thuật lại việc Chúa Kitô tám ngày sau tỏ cho riêng tông đồ Tôma thấy những dấu vết tử giá của Người nhờ đó đã làm cho vị tông đồ này tin tưởng thế nào, thì bài đọc thứ hai theo Thánh Gioan cũng nhấn mạnh đến đức tin như vậy, một đức tin vào Chúa Giêsu là Đức Kitô để được Thiên Chúa tái sinh, và là một đức tin làm cho con người nhờ đó chiến thắng thế gian, vì họ tin rằng Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã đến bởi nước và máu. Còn bài đọc thứ nhất theo Sách Tông Vụ cho thấy lòng tin tưởng vào Chúa Giêsu Kitô đây của cộng đồng Kitô hữu tiên khởi được tỏ ra nơi việc họ tin tưởng Giáo Hội, tin tưởng vào thành phần đại diện cho Giáo Hội là các vị tông đồ, bằng cách dâng hiến tất cả mọi sự của riêng mình cho các vị để các vị tùy nghi phân phối theo nhu cầu của một cộng đồng hiệp thông hoàn toàn chỉ biết “đồng tâm nhất trí” với nhau.
Tuy nhiên, Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh này, từ ngày Chị Nữ Tu Faustina được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong thánh ngày 30/4/2000, cũng là chính ngày Chúa Nhật Thứ Hai Phục Sinh, đã trở thành Ngày Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, như được Giáo Hội qua Bộ Phụng Tự Và Bí Tích chính thức tuyên bố vào ngày 5/5/2000. Đó là lý do chúng ta thấy đức tin thần linh, đức tin Kitô Giáo (faith) ở đây không phải thuần túy chỉ là một đức tin (belief) theo thần học, theo tín điều, tức chỉ tin theo những khoản được liệt kê trong Kinh Tin Kính, như tin Thiên Chúa hiện hữu, tin Ngài đã nhập thể, tử giá và phục sinh nơi Con Ngài là Đức Giêsu Kitô v.v., mà còn là và chính là tin tưởng (trust) vào lòng thương xót Chúa nữa. Nếu Kitô hữu chúng ta chỉ tin Thiên Chúa theo các khoản của Kinh Tin Kính thì ma quỉ và thành phần đã đời đời trầm luân hư đi cũng tin nhận như vậy, cũng biết có Thiên Chúa, Đấng “đã yêu thế gian đến ban Con Một Ngài để những ai tin vào Con thì không phải chết song được sự sống trường sinh” (Jn 3:16). Đó là lý do chúng ta thấy, như ý nghĩa của lời Chúa Giêsu nói với Mai Đệ Liên trong Phúc Âm Thánh Gioan về “Cha của Thày cũng là Cha của các con, Thiên Chúa của Thày cũng là Thiên Chúa của các con” (Jn 20:17), Tin Mừng Phục Sinh không phải chỉ là tin mừng về Chúa Kitô sống lại, mà còn là tin mừng con người được cứu độ, được hiệp thông với Thiên Chúa, được tái sinh trở thành con cái của Thiên Chúa. Chúng ta chấp nhận Tin Mừng Phục Sinh không phải chúng ta chỉ tin rằng Chúa Kitô đã sống lại, mà còn tin rằng Người đã sống lại vì chúng ta (x 1Cor 15:13,15-16; Rm 4:25).
Bởi thế, chấp nhận Tin Mừng Phục Sinh thực ra chính là tin tưởng vào lòng thương xót Chúa, là chấp nhận tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng chẳng những đến với con người bằng cả nước, máu và Thần Linh (x 1Jn 5:6-8): bằng nước là nhập thể, bằng máu là tử giá, nhất là bằng Thần Linh sau khi Chúa Kitô phục sinh từ trong kẻ chết, để con người có thể nhờ Thần Linh của Đấng Phục Sinh nhận biết Ngài và yêu mến Ngài, đáp lại tình yêu nhân hậu của Ngài. Đó là lý do, theo Phúc Âm Thánh Ký Gioan và Luca, tin mừng phục sinh chính là tin mừng về lòng thương xót Chúa: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai thì tội họ được tha…” (Jn 20:22-23); “Như có lời chép Đấng Thiên Sai phải chịu đau khổ và sống lại vào ngày thứ ba. Nhân danh Người, lòng thống hối để được xá tội phải được rao giảng cho tất cả mọi dân nước” (Lk 24:46-47). Đó cũng là lý do, theo tiến trình tu đức và cảm nghiệm sống đạo, Thiên Chúa luôn tỏ mình cho con người nói chung, nhất là Kitô hữu, để, với đức tin (faith) đã được lãnh nhận khi chịu phép rửa tội, họ tin tưởng (trust) vào Ngài hơn trong mọi nơi và mọi lúc, nhất là những khi gặp thử thách và trái ý, nhờ đó, họ mới có thể hoàn toàn nên giống Đức Giêsu Kitô Con Yêu Dấu đẹp lòng Ngài mọi bề (x Mt 3:17; 17:5). Và cũng chỉ khi nào con người Kitô hữu hoàn toàn tin tưởng vào tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa, họ mới thực sự và trọn vẹn hoan hưởng mối hiệp thông thần linh mà họ đã được ban cho khi họ trở nên con cái Thiên Chúa qua bí tích rửa tội, nghĩa là họ mới cảm thấy Thiên Chúa và mới được Ngài bao chiếm bằng một đức ái trọn hảo, một đức ái khiến họ dám hy sinh tận tuyệt cho tha nhân.
Nếu “Thiên Chúa là tình yêu” (1Jn 4:8,16), một cảm nhận thần linh, một xác tín thần học cũng là một lời tuyên xưng đức tin của “người môn đệ được Chúa Giêsu yêu” (Jn 13:23; 19:26; 21:20), thì tình yêu chính là bản tính của Thiên Chúa, tức nếu không phải là tình yêu thì Thiên Chúa không còn là hay không phải là Thiên Chúa nữa, mà có thể là một hung thần, một bạo chúa, một quỉ vương v.v. Bởi vì, với quyền năng tuyệt đối trong tay, vị thiên chúa không phải là tình yêu này sẽ tác hành ra sao, nếu không phải dương oai tác quái, động một tí là sát phạt liền, như thực tế cho thấy nơi trường hợp của các bạo chúa trong lịch sử loài người từ trước tới nay. Ngược lại, nếu quả thực “Thiên Chúa là tình yêu” thì Thiên Chúa chẳng những là Đấng toàn năng mà còn là Đấng toàn thiện nữa. Vì “tình yêu” bao gồm cả hai phẩm tính toàn năng và toàn thiện của Đệ Nhất Hữu Thể là Thiên Chúa. Về phẩm tính “toàn năng” của “tình yêu”, con người đã chẳng cảm nghiệm và cho rằng “tình yêu” mạnh hơn sự chết là gì. Về phẩm tính “toàn thiện” của “tình yêu”, con người cũng đã chẳng thấy rằng chỉ khi nào họ có “tình yêu” hay có đức ái trọn hảo họ mới có thể hy sinh xả kỷ và rộng lượng thứ tha hay sao, đến nỗi, họ có thể hy sinh mạng sống cho tha nhân? Nếu “toàn thiện” cho thấy một “tình yêu” có thể thắng vượt sự dữ nơi đối tượng yêu và dám chết cho đối tượng yêu như thế thì “toàn thiện” bao gồm cả phẩm tính “toàn năng”, và “toàn thiện” đây có tính cách “nhân hậu”. Vậy, nếu “Thiên Chúa là tình yêu”, một tình yêu “toàn thiện”, thì “tình yêu” “toàn thiện” này phải là và chính là “tình yêu” “nhân hậu”. Và khi Thiên Chúa tỏ mình ra, tỏ bản tính thần linh của mình ra, chính là Thiên Chúa tỏ tình yêu nhân hậu của Ngài ra cho con người hèn yếu và tội lỗi.
Đúng thế, nếu Chúa Giêsu Kitô “là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Col 1:15), và là “hiện thân đích thực của bản thể Cha” (Heb 1:3), thì Người chính là tình yêu nhân hậu Thiên Chúa muốn tỏ cho loài người. Và nếu Chúa Kitô đến là “để tỏ Cha ra” (Jn 1:18) thì Người đến là để tỏ cho con người biết tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng “đã chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta ở chỗ đang khi chúng ta còn là những tội nhân thì Chúa Kitô đã chết cho chúng ta” (Rm 5:8), tức Ngài “đã không tiếc Con Một Ngài song đã trao nộp Người vì chúng ta” (Rm 8:32). Vị Thiên Chúa Làm Người là Chúa Giêsu Kitô đã bày tỏ tình yêu nhân hậu của một Vị “Thiên Chúa là thần linh” (Jn 4:24) đến nỗi “Người đã yêu những ai thuộc về mình thì yêu cho đến cùng” (Jn 13:1), yêu đến “thí mạng sống mình vì chiên” (Jn 10:11), vì mỗi một con chiên (x Lk 15:4-7), bằng cả một tấm lòng rộng lượng bao dung tha thứ, chẳng những đối với những đứa con phung phá (x Lk 15:11-32), mà còn đối với cả thành phần ác tâm, được Người cho là vô tình, đóng đanh tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa nữa (x Lk 23:34).
Thế nhưng, đối với kẻ mạnh, với thành phần người lớn thì dấu hiệu tột đỉnh của tình yêu nhân hậu được bộc lộ nơi tử giá là một thảm bại, bởi vì, theo lý luận thuần nhân, họ không thể nào hiểu được và chấp nhận được một vị Thiên Chúa toàn năng mà lại không thể nào xuống khỏi thập giá. Bởi vậy, tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa không phải là Bí Mật Nước Trời mà chỉ có những kẻ nào bé mọn nhất mới thấu biết và cảm nhận hay sao (x Lk 10:21)?
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây