Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 201-250 Lòng thương xót

Thứ tư - 04/04/2018 22:54
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 201-250 Lòng thương xót Chúa & Tôma
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 201-250 Lòng thương xót Chúa & Tôma
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2 PS ABC Bài 201-250 Lòng thương xót Chúa & Tôma
PS2-201: CHỦ NHẬT 2 PHỤC SINH.. 2
PS2-202: CHỦ NHẬT II PHỤC SINH.. 6
PS2-203: DẤU CHỨNG PHỤC SINH.. 7
PS2-204: NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY THẦY CŨNG SAI ANH EM... 9
PS2-205: KINH NGHIỆM GẶP GỠ CHÚA PHỤC SINH.. 11
PS2-206: HOÀI NGHI VÀ XÁC TÍN.. 16
PS2-207: HỐI LỘ.. 18
PS2-208: KẺ CÓ PHÚC.. 20
PS2-209: TRÁI TIM CHÚA MÀU HỒNG.. 22
PS2-210: NÓI THẬT: TÔI SẼ KHÔNG TIN, NẾU…... 24
PS2-211: Tôma. 25
PS2-212: Cuộc sáng tạo mới – Lm Ignatiô Trần Ngà. 26
PS2-213: Lòng Chúa xót thương – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền. 28
PS2-214: CHÚNG TÔI ĐÃ XEM THẤY CHÚA.. 30
PS2-215: BIỂU LỘ NIỀM TIN.. 31
PS2-216: LÒNG MẾN HỖ TRỢ ÐỨC TIN.. 33
PS2-217: Nếu Ngài không hiện diện, Tôma đã thắng rồi ! 34
PS2-218: ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ 38
PS2-219: HÃY TIN.. 40
PS2-220: TIN - NGƯỜI CÓ PHÚC.. 41
PS2-221: CHO NIỀM TIN QUAY VỀ.. 43
PS2-222: ĐỨC TIN.. 44
PS2-223: NẾU TÔI KHÔNG XỎ NGÓN TAY VÀO LỖ ĐINH.. 47
PS2-224: ĐỨC GIÊSU, VỊ LƯƠNG Y GIỎI CỦA TÂM HỒN.. 48
PS2-225: PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN.. 51
PS2-226: BÌNH AN.. 52
PS2-227: LỬA THỬ VÀNG, GIAN NAN THANH LUYỆN NIỀM TIN.. 55
PS2-228: CHÚA NHẬT II PHỤC SINH.. 57
PS2-229: CHÚA KITÔ VINH QUANG VÀ CỘNG ĐOÀN GIAO ƯỚC MỚI 60
PS2-230: TIN ĐỂ ĐƯỢC THƯƠNG XÓT.. 65
PS2-231: ĐỂ ĐƯỢC CHÚA XÓT THƯƠNG.. 71
PS2-232: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA ĐỐI VỚI THẾ GIỚI 73
PS2-233: TÔMA, VỊ TÔNG ĐỒ ĐA NGHI 76
PS2-234: Đức tin giữa lòng Giáo Hội 83
PS2-235: Sai đi 85
PS2-236: Ý nghĩa các vết sẹo – Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 86
PS2-237: Tôma, con người đa nghi. 91
PS2-238: Hơi thở của Chúa – Peter Feldmeier 92
PS2-239: VÀO TRONG VINH QUANG NGANG QUA THẬP GIÁ.. 95
PS2-240: Đừng Vội Trách Tôma. 99
PS2-241: Lòng từ bi Chúa tồn tại đến muôn đời 103
PS2-242: CHÚA NHẬT VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA.. 106
PS2-243: Bình an và sức mạnh của Chúa Phục Sinh. 108
PS2-244: Hội Thánh Của Chúa Sống Lại 110
PS2-245: ĐỨC KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT, 116
PS2-246: Tôma. 124
PS2-247: Đã thấy, đã không thấy. 125
PS2-248: Niềm tin có tính toán cẩn thận. 129
PS2-249: Lòng từ bi – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 130
PS2-250: Suy niệm của Lm Giuse Phạm Ngọc Khuê. 134

 

PS2-201: CHỦ NHẬT 2 PHỤC SINH

22-4-2001
Nghe:
 
  • Bài đọc Cv: 5, 12-16
Cộng đoàn Giêrusalem gồm các tín hữu và các tông đồ. Các tín hữu rất đoàn kết và thương yêu nhau. Họ thường hội họp tại hành lang Salômôn và không một ai khác dám nhập đoàn với họ. Họ cầu nguyện và chia sẻ của cải vật chất cho nhau. Còn các tông đồ vừa rao giảng Tin Mừng cho muôn dân vừa làm phép lạ. Phép lạ chứng thực rằng chính Thiên Chúa hoạt động qua bàn tay các Ngài. Do đó ngày càng có nhiều người tin theo Chúa Giêsu Kitô.
Bài đọc 2: Kh 1, 9-11a. 12-13. 17-19
Đức Giêsu truyền lệnh cho Gio-an hãy viết những gì mà ông được thị kiến về Ngài. Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, là Đấng hằng sống, đã chết và đã sống lại thật cho đến muôn đời. Đức Giêsu đó vừa là ngôn sứ, vừa là tư tế, vừa là quân vương. Ngài giữ chìa khoá của tử thần và âm phủ nghĩa là Ngài đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.
* Tin Mừng: Ga 20,19-31: Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ.
Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói:" Chúc anh em được bình an!" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông:" Chúc anh em được bình an! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo:" Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."
Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Didymô, không ở với các ông khi Đức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông:" Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Oâng Tôma đáp:" Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói:" Chúc anh em được bình an." Rồi Người bảo ông Tôma:" Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Oâng Tôma thưa Người:" Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giêsu bảo:" Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!"
 
Ngẫm:
Câu hỏi gợi ý:
 

Tầm quan trọng của hai chữ BÌNH AN.  2. Điều kiện để có được Bình An.  3. Tình trạng Bình An: PS2-201

Tầm quan trọng của hai chữ BÌNH AN.
Điều kiện để có được Bình An.
3. Tình trạng Bình An của Oâng Tôma.
4. Một kinh nghiệm sống Bình An cho các thành viên Khôi Bình.

* Suy tư gợi ý:
1. Tầm quan trọng của hai chữ BÌNH AN.
Nếu xét về mặt văn phong thì đoạn Tin Mừng này sẽ đạt được điểm rất thấp. Vì với một đoạn văn ngắn như thế mà đã có đến ba câu:"Chúc anh em được bình an!". Ngay lần gặp lại đầu tiên sau Phục Sinh, Chúa Giêsu đã chúc hai lần Bình An cho các môn đệ của Ngài. Như vậy sự lập đi lập lại hai chữ Bình An ắt hẳn phải chứa đựng ý đồ của tác giả. Vậy Bình an là gì? Và tầm quan trọng của nó như thế nào?
BÌNH: bằng phẳng. AN: Yên ổn . Bình An là một tình trạng thư thái an nhàn, tự tin, không âu lo, không sầu thảm, không gây sóng kích gió, không ồn ào náo loạn. Bình an là điều kiện tiên quyết để đạt được một thứ hạnh phúc nào đó. Và bình an chính là HẠNH PHÚC theo nghĩa chung nhất. Chính vì vậy mọi người đều khao khát bình an, ra sức tìm kiếm bình an. Ý thức được khát vọng của con người, khi Ngôi Hai Thiên Chúa xuống trần, Ngài đã mang theo lời chúc:" Bình an dưới thế cho người thiện tâm!". Trong thánh lễ mỗi ngày, vị chủ tế lập lại lời Chúa Giêsu đã nói với các Tông đồ:" Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con." Trên bình diện xã hội, Liên Hiệp Quốc được lập ra để kiếm tìm và duy trì sự bình an cho thế giới. Về phương diện đạo giáo, Toà Thánh cũng đã lập ra Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hoà Bình. Châm ngôn Việt Nam cũng có câu:" An cư, lạc nghiệp". Trong cuộc sống thường nhật, khi một thành viên trong gia đình có việc phải đi xa, nếu có dịp điện thoại về tổ ấm của mình, thường hỏi câu đầu tiên:" Ở nhà có bình an không?". Qua những sự kiện trên đây, ta thấy được tầm quan trọng của sự bình an. Nhưng để đạt được bình an, ta cần có những điều kiện gì ?
2. Điều kiện để có được bình an.
Muốn được bình an, điều kiện khách quan là mọi nhu cầu về tinh thần lẫn vật chất phải được thoả mãn. Điều kiện này hàm ý rằng ta phải được giàu có, ăn sung mặc sướng, muốn gì có nấy, không bị đe doạ trước bất cứ một rủi ro hay tai nạn gì. Về tinh thần, ta luôn luôn cảm thấy yêu và được yêu, hoàn toàn vắng bóng sự thất bại và chán nản, vắng bóng luôn cả sự khát khao trở nên hoàn hảo vì mình đã hoàn hảo rồi. Hơn nữa, sự khát khao nào lại không đi kèm với sự khắc khoải. Mà đãø khắc khoải thì làm gì có bình an. Hoá ra điều kiện khách quan xem ra không tưởng, vì làm gì có được sự hoàn hảo tuyệt đối ở trần gian này được? Nó hoàn toàn mâu thuẩn với thực tại cụ thể trong cuộc sống con người. Người giàu muốn giàu hơn. Người trí thức vẫn muốn được học nữa và học mãi. Người đã được yêu, muốn được yêu nhiều hơn. Như vậy, điều kiện khách quan tuy rất cần nhưng không đủ để đem đến sự bình an đích thực cho con người, nó chỉ có giá trị bổ túc cho điều kiện chủ quan.
Điều kiện chủ quan để được bình an là chính ta phải thấy đủ với những điều kiện vật chất và tinh thần mà Thiên Chúa đang ban tặng cho ta. Về vật chất, trong Kinh Lạy Cha, ta chỉ xin Chúa ban cho ta được hằng ngày dùng đủ. Nguyễn Công Trứ cũng đã từng nói:" Tri túc tiện túc! Đãi túc hà thời túc? (Biết đủ thì sẽ đủ. Đợi cho dủ thì không biết đến khi nào mới đủ?). Biết đủ rồi thì " Đêm mới an giấc gáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ." Về tinh thần, Chúa dạy ta thực hành giới răn yêu thương, Yêu Chúa và yêu người. Càng yêu thương thật sự ta càng cảm thấy được bình an. Muốn được bình an, ta cần phải chấp nhận ngay cả sự bất toàn mà Thiên Chúa gửi đến cho mỗi người chúng ta. Đôi khi chúng ta tự hỏi tại sao người anh em của ta được Chúa ban cho tính tình quảng đại, dễ thương người và cũng dễ dàng được người thương. Còn ta sao khá lãnh đạm với tha nhân và cũng khá khó khăn khi muốn gây thiện cảm với người khác. Sự bằng lòng chấp nhận thực tại, hoàn tòan không mâu thuẩn với óc cầu tiến của ta. " Quẳng gánh lo đi và vui sống" của Dales Carnegie không có ý ru ngủ ta trong sự lười biếng chễnh mãng. Nghĩa là ta hãy tận dụng mọi khả năng mà Thiên Chúa ban tặng cho ta để làm giàu của cải vật chất cũng như làm phong phú thêm khả năng tinh thần của mỗi người. Còn những gì ngoài tầm tay của ta, ta xin phó thác cho Thiên Chúa định liệu. Làm được như vậy, sự bình an ắt sẽ đến với chúng ta. Đến đây ta có thể tự hỏi liệu Oâng Tôma xưa có được bình an khi chưa trông thấy được Chúa nhãn tiền không?
3. Tình trạng bình an của Oâng Tôma
Từ xưa đến giờ có rất nhiều người trách Tôma cứng lòng tin. Một cách nào đó chúng ta được quyền hiểu là Tôma không có được sự bình an khi chưa được tận mắt chứng kiến Chúa Kitô Phục sinh. Phần đông cho rằng chỉ có Tôma mới bị Chúa quở trách:" Vì đã thấy Thầy nên anh tin." Bình tĩnh mà xét, nếu các môn đệ khác cũng không được xem thấy Chúa như Toma thì liệu có mấy người trong họ đã tin? Và có bao nhiêu người nữa có thể bị Chúa quở trách? Không lẽ các môn đệ khác có nhiều sự bình an hơn Tôma? Sự kiện này dạy ta một điều, tình trạng bình an của mỗi người khó được xét đoán một cách khách quan. Với tính tình "Thẳng ruột ngựa " , với vốn tri thức hạn hẹp mà Thiên Chúa ban cho Oâng, thì phản ứng xem ra có tính chất võ biền đó mới thật sự biểu lộ một tâm hồn bình an . Biết đâu chính nhờ phản ứng của ông mà những môn đệ khác lại được gặp Chúa hiện ra lần thứ hai tám ngày sau đó. Phần chúng ta, những thành viên Khôi Bình, có được kinh nghiệm sống nào để đạt được sự bình an đích thực?
4. Một kinh nghiệm sống bình an cho các thành viên Khôi Bình.
Để có được cuộc sống bình an đích thực, ta cần có "THIỆN TÂM". Thiện tâm chính là lòng tốt, là nhân bản. Nói khác đi, chúng ta chu toàn mọi bổn phận, trách vụ khác nhau của mình, dù nhỏ hay lớn, với một tình yêu quảng đại đối với Chúa và tha nhân. Tình yêu dĩ nhiên rất dị ứng với sự phản bội là tội lỗi. Chúng ta hãy tận dụng mọi khả năng Chúa ban để sinh lợi phần hồn phần xác. Và chúng ta luôn bằng lòng với mọi kết quả Chúa gửi đến cho ta sau khi ta đã cố gắng hết sức mình. Phần còn lại, chúng ta xin đặt vào bàn tay Quan phòng của Thiên Chúa. Ngài có thể biến cái xấu thánh cái tốt, biến sự xáo trộn tạm thời thành sự bình an sâu xa. Cũng như Ngài đã biến sự cứng tin của Tôma thành một dịp để củng cố lòng tin của bao người khác, dẫu rằng những người này không thể gặp được Ngài bằng xương bằng thịt như Tôma: " Phúc thay những người không thấy mà tin."
Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, ngồi trò chuyện trước mặt Chúa con cảm thấy được bình an vô cùng. Tạm thời con đã quên được những trái ngang của cuộc đời đang vây bủa xung quanh con. Nhưng bước ra ngoài xã hội, bao nhiêu bất công đang đe doạ con. Họ chỉ muốn giải quyết những bất đồng bằng cơ bắp, bằng quyền lực hoặc bằng kim ngân. Xin Chúa cho con biết cộng tác với Chúa trong việc kiến tạo những điều kiện khách quan cho sự bình an triển nở và cho con luôn giữ tâm hồn sạch tội để làm nền tảng cho sự bình an của riêng con. Amen.
Anrê Nguyễn Hữu Nghĩa.

 

PS2-202: CHỦ NHẬT II PHỤC SINH

(22-4-2001)
 

Bài Tin Mừng hôm nay liên quan tới Tôma là người không tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại và tự mạc: PS2-202

"Phúc cho ai không thấy mà tin" (Yn 20,29). Bài Tin Mừng hôm nay liên quan tới Tôma là người không tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại và tự mạc khải cho các môn đệ. Vị Tông đồ này được biết đến nhiều qua tên "Tôma kém lòng tin". Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu tại sao Tôma không tin!
 
Khi nghe bài Tin Mừng này, chúng ta đã thấy thái độ của các môn đệ khi Chúa Giêsu mới hiện ra với họ. Họ ở với nhau trong phòng đóng kín vì sợ người Do Thái. Nếu đúng thực như thế thì việc họ nói về Chúa Giêsu sống lại và hiện ra với họ quả có làm Tôma nghi ngờ là phải! Có Thầy ở đó thì việc gì phải sợ hãi nhất là Thầy có quyền năng sống lại từ cõi chết. Đáng lý họ phải mạnh dạn và mở toang phòng hội vì có Đấng uy quyền bên họ mới phải! Nói như thế thì Tôma chẳng phải là kẻ duy nhất trong nhóm họ "kém lòng tin"!
 
Là người Kitô hữu, chúng ta được kêu gọi nên nhân chứng cho Đấng đang ngự giữa chúng ta là Chúa Giêsu Kitô Phục sinh. "Những điều này được viết để chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, và chúng ta được sống nhờ Danh Ngài" . Để trắc nghiệm lại chiều sâu và sự vững mạnh của niềm tin chúng ta vào Đức Kitô, chúng ta cần tự hỏi rằng "liệu cuộc đời chúng ta đang sống có nên gương mẫu cho người khác để khi nhìn vào họ thấy có Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa ở đó không? Hay chúng ta cũng khoá kín Ngài trong chúng ta vì sợ người khác nhận ra sự hiện diện của Ngài!". Chúa Giêsu ao ước đến và đem sự bình an cho chúng ta. Ngài muốn thổi hơi sự sống cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta sống nhờ Danh Ngài vì thế mọi cửa ngõ phải mở toang để mọi người trông thấy Ngài trong cuộc đời chúng ta.
 
Trong bài đọc Sách Tông Đồ Công Vụ hôm nay, chúng ta được nhắc nhớ rằng các Tông Đồ đã được biến đổi trong đức tin. "Các Ngài đã làm nhiều phép lạ và nhiều việc phi thường trong dân" (Cv 5, 12). Họ đã nhận được món quà quyền năng và cuộc sống được chúc phúc với Đức Kitô đang chờ đón họ. Nhưng tặng ân đã không được ban để họ cất dấu trong căn phòng khóa kín mà là ban để họ đem Chúa Giêsu đến cho mọi người. Đó là tặng ân của Chúa Thánh Thần. Chính tặng ân này đã khiến họ có thể làm nhiều phép lạ và các việc phi thường. Tuy nhiên để làm tất cả những điều kỳ diệu đó, họ phải mở toang mọi cửa ngõ và long trọng công bố Tin Mừng của Đức Kitô.
 
Trong mùa Phục sinh này, chúng ta hãy chú tâm sát hạch lại chính mình để Tin Mừng của Đức Kitô không bị cửa đóng then cài trong ta. Hãy tìm đến Chúa Thánh Thần để Ngài trợ lực chúng ta sống cuộc sống Tin Mừng và nên chứng tá đích thực của Đức Kitô. "Yavê là sức mạnh và lời ca nơi miệng tôi, Ngài đã nên nguồn tế độ cho tôi!" (Tv 118, 14)
.
 

PS2-203: DẤU CHỨNG PHỤC SINH

(Trích trong 'Niềm Vui Chia Sẻ')
 

Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài.... Đó là thách thức của tông đồ Tôma. Đó cũng là đòi hỏi: PS2-203

"Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi chẳng có tin". Đó là thách thức của tông đồ Tôma. Đó cũng là đòi hỏi của con người khoa học thực nghiệm ngày nay: phải thấy, phải đụng chạm, phải kiểm nghiệm được mới tin.
Ngày 23 thánh 9 năm 1968, cha Piô, linh mục nổi tiếng dòng Capucinô đã qua đời trong một tu viện tại Italia. Suốt 50 năm cha Piô mang năm dấu thánh, nghĩa là trên hai tay, hai chân và ngực ngài được in năm vết thương của Chúa Giêsu. Những vết thương mà Chúa Phục Sinh đã tỏ cho ông Tôma tông đồ trong Tin Mừng hôm nay. Nhiều người trên khắp thế giới đã đến xưng tội với vị linh mục thánh thiện này và tham dự thánh lễ cha cử hành. Khi cha Piô dâng lễ, cả ngài và dân chúng đều nhận thức rõ ràng ngài mang trên thân thể ngài những dấu thương tích mà Chúa đã chịu trên thập giá, những vết thương làm cha đau đớn khôn tả. Thỉnh thoảng những giọt máu rỉ ra trên tay của cha, hai tay chỉ để trần khi dâng lễ. Lúc khác, hai tay ngài được bao lại trong đôi gang tay màu nâu. Khi dâng lễ, ngài thường gồng như một người vác thập giá. Ngài thường khóc khi nhìn thánh Thể, mặt ngài như thiên thần, nhưng người có mặt cảm thấy bình an.
Với một số người, câu chuyện của cha Piô coi như chuyện đạo đức giả tưởng ở thời Trung cổ. Nhưng thực ra đây là một con người của Chúa sống trong thế kỷ của chúng ta. Hằng trăm ngàn người thuộc đủ mọi tín ngưỡng hay không tín ngưỡng đã thấy tận mắt, đã đến thăm viếng ngài. Ngài cũng chịu đủ mọi khám nghiệm y khoa cũng như khoa học. Tất cả đều chứng minh rằng không có lối giải thích tự nhiên nào đối với các vết thương trên cơ thể ngài. Và cũng không có cách nào chữa trị được.
Chúa chọn vị linh mục thánh thiện này để chia sẻ nỗi khổ thể xác của Con Chúa. Để làm cho sự chia sẻ này hiển nhiên hơn, xúc động hơn, Chúa đã để cho xuất hiện những vết thương trên thân xác cha Piô. Và trong lịch sử đã có hàng trăm người khác cũng đã được in dấu thánh, đặc biệt là cha Thánh Phanxicô thành Assisi, để họ trở nên những nhân chứng sống động cho cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Đức Ktô.
Chúa Kitô Phục Sinh là một Tin Mừng, nhưng là một Tin Mừng không dễ tin, đặc biệt đối với những người theo Chúa, như các tông đồ. Nguyên sự kiện ngôi mồ trống không đủ bằng chứng để họ tin. Cần phải có những lần hiện ra của Chúa Giêsu mới củng cố được lòng tin của các ông. Thánh Gioan đã ghi lại câu chuyện Chúa hiện ra cho các tông đồ và cho Tôma là để chúng ta tin. Thế nhưng, trong những lần hiện ra đó, cái gì đã giúp cho những người thân của Chúa Giêsu nhận ra Ngài? Có thể là một tiếng gọi (với Maria), một cử chỉ bẻ bánh (với hai môn đệ Emmau) hoặc cũng có thể là một phép lạ xẩy ra theo lệnh truyền của Chúa (như mẻ cá đầy ở biển hồ Tibêria), nhưng đặc biệt là những thương tích nơi tay chân và cạnh sườn của Ngài. Ông Tôma đã thưa cùng với Chúa: "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con" khi Chúa Giêsu cho ông thấy những dấu đinh của cuộc khổ nạn trên thân thể Ngài và nói với ông những lời không thể ngờ được: "Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin!".
Như thế, dấu chỉ để người nhận ra Chúa Phục Sinh không phải là vinh quang chói lọi hay cái gì khác, mà là chính dấu đinh. Nếu chính Đứng Phục Sinh vinh hiển đã không muốn dùng vinh quang và sức mạnh chiến thắng của mình mà khuất phục thế gian, thì phương chi là chúng ta. và nếu Chúa đã muốn dùng những dấu đinh nơi chân tay và cạnh sườn làm những dấu chứng phục sinh, thì mỗi người chúng ta cũng không có dấu chỉ nào ý nghĩa hơn là những vết thương của các cuộc khổ nạn mà chúng ta có thể đã, đang và sẽ còn chia sẻ với Chúa. Chính với những dấu chỉ này mà chúng ta có thể làm chứng cho Chuá Phục Sinh một cách sống động nhất. Từ hơn 2000 năm nay, Thánh giá mới thực sự là biểu hiện vinh quang, và dấu đinh mới là dấu chỉ của Chúa Phục Sinh. Hãy nhận ra Chúa nơi năm dấu thánh, chứ không phải trong ánh hào quang. Chúa Kitô thực sự là "người" khi "đầu đội vòng gai, mình mặc áo đỏ" (Ga 19,5) nghĩa là khi Ngài bị đánh đập sỉ vả; Ngài thực sự là "Chúa" khi bị đóng đinh trên thập giá. Ngày nay Ngài cũng vẫn đang hiện diện giữa chúng ta như là "người" và là "Chúa" trong những người anh em bị đau khổ, bị ngược đãi, sỉ nhục, bị tù đày, tra tấn, bị đói khát, trần truồng, bị chối bỏ, bị giết vì tình yêu Thiên Chúa và tình yêu nhân loại.
Nhưng thưa anh chị em,
Giáo hội nói chung và mỗi người tín hữu chúng ta nói riêng có sẵn sàng mang dấu tích của Chúa Phục Sinh, có sẵn sàng trở nên khí cụ bình an của Chúa hay không? Nói khác đi, chúng ta có sẵn sàng chịu đau khổ, chịu đóng đinh để làm chứng cho Chúa Phục Sinh không? Có sẵn sàng hoà giải nhân loại với Chúa, hoà giải nhân loại với nhau, bằng những hy sinh và cả giá máu mà chúng ta phải sẵn sàng đổ ra hay không?
Con người ngày nay không dễ tin. Họ cũng đòi hỏi như ông Tôma, phải được trông thấy, phải được kiểm nghiệm, phải có dấu chứng khả giác mới chịu tin. Chúng ta có nghiệm vụ trình bày cho họ thấy rõ khuôn mặt thật của Chúa Phục Sinh. Làm sao họ có thể nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu, nếu họ không nhìn thấy những vết thương, những chứng tích của Chúa Kitô đóng đinh nơi tay chân, nơi thân xác, nơi cuộc sống cuả người Kitô hữu? Làm sao họ có thể tin được, nếu họ không thấy chứng tích của những bàn tay chai cứng vì lao động, của những khuôn mặt đẫm mồ hôi vì phục vụ, của những cuộc đời xả thân hy sinh cho tha nhân? Làm sao có thể tin được, nếu họ không thấy dấu chứng của cộng đoàn Kitô hữu tương tự như cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi ở Giêrusalem sau ngày Chúa Phục Sinh theo sách Công vụ mô tả: "Những kẻ tin, muôn người như một, chuyện cần với lời giảng dạy của các tông đồ, hiệp nhất và cùng chung lo cho người nghèo khó bằng cách để chung tiền của, họ đồng tâm nhất trí chia sẻ bánh thánh và cầu nguyện". Đời sống chứng tá đó đã thu hút những người không tin, nên "số những người tin Chúa mỗi ngày càng thêm đông" (X. Cv 4,32-35; 2,42-47). Đó chính là chứng tích của tình yêu. Con người ngày nay cũng đang đòi kiểm nghiệm những chứng tích tình yêu của cộng đoàn Kitô hữu chúng ta. Đạo của anh là đạo tình yêu ư? Xin đừng nói nhiều, hãy cho tôi xem những chững chứng tích tình yêu của anh đi!
Ước gì mỗi người chúng ta đều mang những chứng tích tình yêu của Chúa Kitô đóng đinh trên tay chân, trên thân xác, trong cuộc sống... để chia sẻ với Chúa Giêsu những vết thương của các cuộc khổ nạn đang diễn ra trên thế giới ngày nay, nhờ đó chúng ta mới có thể làm chứng cho chiến thắng vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh.

 

PS2-204: NHƯ CHA ĐÃ SAI THẦY THẦY CŨNG SAI ANH EM

Đức Giêsu đã phục sinh. Nhưng điều này đâu có quan hệ gì đến tôi, nếu Đức Giêsu cũng tương tự: PS2-204

Đức Giêsu đã phục sinh. Nhưng điều này đâu có quan hệ gì đến tôi, nếu Đức Giêsu cũng tương tự như bao người khác, cũng chỉ là một người như bao người khác: họ được nhưng đâu có nghĩa rằng tôi được? Đức Giêsu Phục Sinh chỉ ảnh hưởng tuyệt đối đến tôi, nếu Ngài là Thiên Chúa.
Qua các tông đồ Thiên Chúa của Đức Giêsu Phục Sinh hiện diện
Sau khi Đức Giêsu phục sinh, với sự trợ giúp của Thánh Thần, các tông đồ đã nhận biết Đức Giêsu là Thiên Chúa. Và dưới tác động của Thánh Thần các tông đồ đã can đảm tuyên xưng, rao giảng Đức Giêsu bị đóng đinh đã sống lại. Và hôm nay sách tông đồ công vụ cho thấy những người tin vào Đức Giêsu đã trở thành một nhóm đặc biệt, trở thành dấu chỉ của Đức Giêsu Phục Sinh cho con người thời đó.
Thánh Phêrô trở thành khí cụ Thiên Chúa dùng để ban ơn cho con người. Bóng của Ngài ngả xuống trên bệnh nhân nào thì người đó được khoẻ lại. Có người nghĩ: không chừng các tông đồ còn làm được những điều lớn lao hơn cả Đức Giêsu. Chính Đức Giêsu cũng nói: "Kẻ tin vào Ta, thì các việc Ta làm người ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa, vì Ta về cùng Cha" (Ga.14, 12).
Ngày xưa khi Chúa về trời, các tông đồ đã thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện; và ngày nay qua Hội Thánh nơi các tín hữu, Thiên Chúa cũng hiện diện với con người hôm nay.
Đức Giêsu Phục Sinh là Thiên Chúa
Đức Giêsu khi còn tại thế, Ngài đã nói những lời người Do Thái không thể chấp nhận được, như Ngài nhận Ngài có quyền tha tội (Mc.2,7), Ngài có trước Abraham (Ga.8, 58), Ngài là một với Thiên Chúa Cha (Ga.10, 30), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa Cha (Mc.14, 62). Người Do Thái không thể chấp nhận những lời đó, nên đã lấy đá định ném chết Ngài. Nếu Ngài không là Thiên Chúa, quả thật Ngài phạm tội "phạm thượng": là người phàm mà dám nhận mình ngang hàng với Thiên Chúa.
Ngài đã sống lại, nghĩa là, những điều Ngài nói là thật, vì nếu Ngài nói dối, Thiên Chúa đâu có phục sinh Ngài! Như vậy, Ngài có quyền tha tội (mà chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội), Ngài ngang hàng với Thiên Chúa, Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa thật.
Ngài là Thiên Chúa thật, nghĩa là Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Và do đó, người ta biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, vì nếu không yêu con người, tại sao Thiên Chúa nhập thể làm người? Tại sao Ngài phải chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá? Tại sao Ngài mãi mãi là người? Chính vì tình yêu, vì yêu con người, mà Thiên Chúa trở thành một người như bao người. Thiên Chúa làm tất cả cho con người.
Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con
Khi hiện ra với các tông đồ vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu nói với các tông đồ: "như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Như vậy, các tông đồ, và sau đó là các Kitô hữu, có cùng sứ mạng với Đức Giêsu.
Sứ mạng của Đức Giêsu, của Ngôi Lời nhập thể, là làm sao để con người nhận biết và tin vào tình yêu Thiên Chúa! Để làm được điều này, Lời Thiên Chúa đã nhập thể, đã sống như một người hoàn toàn, đã hiến mình làm của ăn cho con người, đã chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá vì yêu con người, đã yêu con người đến chết.
Sứ mạng của các tông đồ, của Hội Thánh ngày nay, của mỗi người tín hữu, là làm chứng cho tình yêu, làm cho thế gian biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ vô cùng. Để làm được điều này, cũng đòi tín hữu phải hy sinh, phải yêu thương con người ngày nay đến độ quên mình như Đức Giêsu. Thập giá minh chứng tình yêu. Lửa thử vàng, gian nan thử tình yêu. Tình yêu cải biến, chinh phục lòng người.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Theo bạn, do đâu các tông đồ tin Đức Giêsu là Thiên Chúa?
2. Các tông đồ tin Đức Giêsu là Thiên Chúa khi nào? Tại sao bạn biết vậy?
3. Sứ mạng của các Kitô hữu hôm nay là gì?

 

PS2-205: KINH NGHIỆM GẶP GỠ CHÚA PHỤC SINH

Trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước, chúng ta gặp khía cạnh tiêu cực trong kinh nghiệm: PS2-205

Trong bài Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước, chúng ta gặp khía cạnh tiêu cực trong kinh nghiệm của các môn đệ Đức Kitô về mầu nhiệm Phục Sinh ( câu chuyện ngôi mộ trống ). Bài Tin Mừng hôm nay nói về khía cạnh tích cực của kinh nghiệm ấy. Đức Kitô Phục Sinh hiện ra với các môn đệ, cho họ trải nghiệm một cách cụ thể và đích thực sự hiện diện tràn đầy tình yêu, quyền năng và chiến thắng của Người. Chính trong trải nghiệm tích cực đó mà họ được Đức Kitô trao phó sứ mạng thừa sai, được đón nhận Thánh Thần và quyền tha tội, và được bình an vui mừng. Bài Tin Mừng hôm nay, vì thế, là một câu chuyện đặc biệt về cộng đoàn Hội Thánh.
Trong bài suy niệm này, chúng ta sẽ dừng lại ở phần đầu của câu chuyện ( cc. 19 – 23 ).
1. Kinh nghiệm gặp gỡ Đức Chúa Phục Sinh của các môn đệ ( cc. 19 – 21 )
Cho đến chiều ngày thứ nhất trong tuần, tình cảnh của các môn đệ vẫn thật bi đát: “Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái” ( c. 19a ). Các ông đang ở trong một hoàn cảnh thù nghịch và đang phải mang nặng một nỗi sợ hãi vì không được an ninh. Trong Gioan, kiểu nói “vì sợ người Do Thái” đã từng xuất hiện hai lần: trong 7, 13 khi không ai dám nói công khai về Đức Giêsu “vì sợ người Do Thái”, và trong 19, 38 khi nói về việc ông Giuse Arimathê là một môn đệ Đức Giêsu nhưng là môn đệ cách kín đáo “vì sợ người Do Thái”.
Vậy khi nói các môn đệ đóng kín cửa “vì sợ người Do Thái”, tác giả Gioan cho chúng ta thấy tình cảnh của các ông lúc bấy giờ: sợ hãi, trốn tránh, không đủ can đảm công khai chứng tỏ mình có liên hệ với Đức Giêsu, không dám công khai nói về vị Thầy đã bị kết án bất công. Các ông sợ, vì chưa gặp Đấng Phục Sinh. Cho dù bà Maria Magđala đã nói với các ông rằng “Tôi đã thấy Chúa” và kể cho các ông điều mà Chúa đã nói với bà ( 20, 18 ), nhưng sứ điệp đó của bà Maria Magđala vẫn không thể làm cho các ông khỏi sợ hãi.
Nói cách khác: biết rằng Chúa Giêsu đã phục sinh thì chưa đủ; chính sự hiện diện thật sự của Đức Chúa Phục Sinh mới có thể đem lại cho các môn đệ niềm vui và bình an, giải thoát họ hoàn toàn khỏi nỗi sợ hãi đối với người Do Thái.
“Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em !” ( c. 19b ). Đức Giêsu đã từng hứa với các môn đệ: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy sẽ đến với anh em” ( 14, 18 ). Hôm ấy, trước cuộc khổ nạn, Người đã nói với các ông rằng “Một ít nữa thôi, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” ( 14, 19 ). Bây giờ, lời hứa và lời tuyên bố ấy được thực hiện, khi Đức Kitô Phục Sinh đến đứng giữa cộng đoàn các môn đệ đang đóng chặt cửa vì sợ người Do Thái.
Đấng Phục Sinh “đứng giữa các ông”, tức là Người hiện diện giữa công đoàn, làm trung tâm của cộng đoàn. Chính Người là nguồn sống, là trung tâm hiệp nhất toàn thể cộng đoàn đang tan tác vì sợ hãi, là cây nho mà các đồ đệ là cành, là Đấng hiện diện giữa những người Chúa Cha đã ban cho Người để cho họ được thấy vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Người vì Chúa Cha đã yêu mến Người từ trước khi thế gian được tạo thành ( x. 17, 24; 1, 14 ).
Người chào các môn đệ: “Bình an cho anh em !” Lời chào này có giá trị bắt đầu cuộc gặp gỡ, nhưng không phải là một lời chào theo công thức sáo rỗng. Thực sự đây là một lời hữu hiệu, vì là lời của Đấng Phục Sinh. Trước khi đi vào Giờ vượt qua của Người, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy cho anh em bình an của Thầy… Anh em đã nghe Thầy nói: ‘Thầy ra đi và Thầy trở lại với anh em…” ( 14, 27 – 28 ). Sự bình an đó được đặt cơ sở trên chiến thắng của Đức Giêsu đối với thế gian: “Trong Thầy, anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ gặp gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” ( 16, 33 ). Như thế, lời chào bình an của Đấng Phục Sinh cũng đồng thời là lời khẳng định chiến thắng của Người trên thế gian và vì thế, là lời ban bình an thật sự.
“Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người” ( c. 20a ). Trước đây, trong một đêm biển động mạnh, khi các môn đệ đang hoảng sợ giữa Biển Hồ, Đức Giêsu đến với các ông và nói: “Chính Thầy đây, đừng sợ !” ( 6, 20 ). Việc Người cho các ông xem tay và cạnh sườn hôm nay tương ứng với lời “Chính Thầy đây !” trong biến cố đó. Vậy cho xem tay và cạnh sườn ở đây trước hết chính là cách Đức Giêsu làm cho các môn đệ nhận biết Người đang hiện diện giữa họ.
Tay và cạnh sườn mang những dấu tích của cuộc hành hình thập giá cho biết Đấng Phục Sinh đang hiện diện giữa họ đây cũng chính là Đấng đã chết trên thập giá. Và điều này là bảo đảm chắc chắn cho tính xác thực và hữu hiệu của ơn bình an mà Người ban cho họ khi nói “Bình an cho anh em”. Họ sợ người Do Thái vì người Do thái có thể đẩy họ đến cái chết như đã xảy ra với Đức Giêsu. Nhưng bây giờ chính Đức Giêsu đã bị treo trên thập giá ấy đang hiện diện giữa họ, nghĩa là không quyền lực trần gian nào có thể tước mất sự sống của Đức Giêsu. Quả đúng như lời Người đã nói với họ: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” ( 10, 18 ).
Cho các môn đệ xem những dấu tích của cuộc khổ nạn nơi mình, Đức Giêsu Phục Sinh tỏ mình là Con Chiên lễ Vượt Qua mới đã bị tế sát. Sự tồn tại mãi những dấu tích của cuộc khổ nạn trên thân thể phục sinh của Chúa chứng tỏ sự vĩnh cửu của tình yêu mà Người thi thố cho thế gian trong cuộc Vượt Qua của Người. Chúa Phục sinh, Đức Giêsu Kitô, sẽ vĩnh viễn là Đấng Mêsia chịu đóng đinh, từ nơi Người, trào vọt máu và nước ( 19, 34: “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra” ).
Điểm đặc biệt là trước đây, trong trình thuật về cuộc đóng đinh Đức Giêsu, tác giả Ga không hề đề cập gì đến tay của Người. Trái lại, ông nhiều lần khẳng định rằng Chúa Cha đã trao mọi sự trong tay Đức Giêsu ( 3, 35: “Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người”; 13, 3: “Đức Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người” ) và rằng không ai có thể cướp khỏi tay Người những con chiên mà Chúa Cha đã trao cho Người ( x. 10, 20 ). Vậy đôi tay được đưa ra cho các môn đệ xem hôm nay là đôi tay ban cho các ông sự bình an đích thực. Đó là đôi tay tự do và nắm trọn quyền bính và sức mạnh. Cho các ông xem tay tức là Đức Giêsu cho các ông đụng chạm đến chính quyền năng vĩ đại mà Người có để bảo vệ các ông.
Cạnh sườn lại diễn tả một thực tại khác. Cạnh sườn đã bị lưỡi đòng đâm thâu đó chính là bằng chứng hùng hồn của tình yêu vô biên mà Người đã thi thố trong cuộc tử nạn của Người. Cho các đồ đệ xem cạnh sườn ấy tức là Đức Giêsu cho các ông trải nghiệm tình yêu vô biên của Người. tình yêu vô biên đó sẽ được thực hiện nhờ cánh tay quyền năng của Người.
Nói tóm lại, bằng việc cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn, Đức Kitô Phục Sinh chứng tỏ cho các ông thấy tình yêu, quyền bính và chiến thắng của Người.
Vì vậy, “các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” ( c. 20b ). Niềm vui này là sự thực hiện lời Đức Giêsu đã từng nói với các môn đệ: “Anh em sẽ ưu phiền, nhưng nỗi ưu phiền của anh em sẽ biến thành niềm vui” ( 16, 20 ). “Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được” ( 16, 22 ). Đó là niềm vui vì một thực tại mới, một sức sống mới đã bắt đầu ùa vào trần gian: “Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. Anh em cũng vậy” ( 16, 21 – 22a ).
“Đức Giêsu lại nói với các môn đệ: "Bình an cho anh em !” ( 20, 21 ). Đức Giêsu lặp lại lời chúc bình an cho các môn đệ, nhưng chức năng của lời chúc bình an này có thay đổi so với lời chúc thứ nhất. Nếu lần thứ nhất là ơn bình an cho hiện tại, giải thoát các môn đệ khỏi nỗi sợ hãi lớn lao đang đè nặng tâm hồn và cuộc sống của họ, thì ơn bình an mà Người ban cho họ bây giờ là ơn dành cho tương lai, vì Người sắp trao cho họ sứ mạng quan trọng.
Sau lời chúc bình an, Đức Giêsu trao sứ mạng cho các môn đệ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” ( 20, 21 ). Đức Giêsu đã chọn các môn đệ vì sứ mạng này, như Người đã từng nói: “Chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại” ( 15, 16 ). Đó là sứ mạng Chúa Cha đã trao phó cho Đức Giêsu, tức là sứ mạng cứu độ thế gian. Như Đức Giêsu, các môn đệ được sai vào giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian.
Đức Giêsu đã từng thưa với Chúa Cha về sứ mạng này của các môn đệ: “Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian” ( 17, 18 ); “Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian” ( 17, 16 ). Mục đích của sứ mạng đó cũng đã từng được Đức Giêsu xác định một cách tường minh trước mặt ông Philatô: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật” ( 18, 37 ). Và cũng như Đức Giêsu, các môn đệ phải hoàn thành sứ mạng được trao phó: “Tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gioan: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi” ( 5, 36 ).
2. Đức Chúa Phục Sinh ban Thánh Thần cho các môn đệ ( cc. 22 – 23 )
Sau khi ban bình an cho các môn đồ và trao sứ mạng cho họ, Đức Kitô Phục Sinh “thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” ( 20, 22 – 23 ).
Trong Cựu Ước, Thiên Chúa ban sinh khí và sự sống cho con người khi thổi hơi vào con người mà Người đã tạo nên ( x. St 2, 7 ). Đức Kitô Phục Sinh thổi hơi của Người vào các môn đệ để ban Thánh Thần và sự sống mới cho các ông. Thánh Thần mà Chúa Kitô ban sẽ tạo nên nơi các ông một thực tại mới mẻ, làm cho các ông trở thành những con người được sinh ra bởi Thần Khí và do đó, là “thần khí”: “bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí” ( 3, 6 ). Nhờ đó, họ sẽ sống theo ân sủng và sự thật ( x. 1, 17 ). Họ “được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” ( 1, 13 ) và được quyền trở nên con Thiên Chúa ( 1, 12 ). Như thế, con người sẽ vượt quá được thân phận “xác thịt” ( 3, 6 ), vượt quá thân phận yếu đuối, mong manh và hay thay đổi, và có thể thông truyền cho những ai đón nhận sứ mạng của họ chính quyền năng tác sinh của Thánh Thần mà họ đã lãnh nhận từ Chúa Kitô Phục Sinh.
Đồng thời với việc ban Thánh Thần, Đức Kitô Phục Sinh ban cho các môn đệ quyền tha tội: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” ( 20, 23 ). Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian ( 1, 29 ). Các môn đệ tiếp nối sứ mạng cứu độ của Đức Giêsu, nên cũng tiếp nối sứ mạng ban ơn tha tội của Người: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha”.
Và cũng giống Chúa Giêsu, cộng đoàn các môn đệ, tức là Hội Thánh, không có nhiệm vụ lên án thế gian. “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” ( 3, 17 ).
Chính Đức Giêsu đã tuyên bố: “Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian” ( 12, 47 ). “Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống” ( 5, 24 ); “Ai tin vào Con Một Thiên Chúa, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa” ( 3, 18 – 22 ).
Phán quyết của Hội Thánh, như thế, không là gì khác hơn sự thừa nhận điều mà thế gian tự gây ra cho mình. Đó chính là ý nghĩa của sự “cầm giữ” trong lời “anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.
Suy niệm
Cộng đoàn Kitô hữu quy tụ chung quanh Đức Kitô là Đấng đang sống và hiện diện giữa cộng đoàn, Đấng đã chịu đóng đinh và đã phục sinh. Người là trung tâm của cộng đoàn. Người hiện diện ở trung tâm của cộng đoàn. Người làm cho các môn đệ của Người được bình an và vững tin khi cho họ xem những dấu hiệu chiến thắng của Người trên sự chết. Người hiện diện một cách tích cực và hữu hiệu trong cộng đoàn Hội Thánh, trao phó cho Hội Thánh sứ mạng loan báo Tin Mừng, và ban Thánh Thần và quyền tha tội để Hội Thánh thực thi sứ mạng cứu độ đó. Điều làm cho nhóm các đồ đệ trở thành cộng đoàn Hội Thánh, như thế, là chính sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. Thiếu yếu tố cốt tử đó, không có Hội Thánh đích thực.
Lm. Giuse NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT

 

PS2-206: HOÀI NGHI VÀ XÁC TÍN

Trong công ty, doanh nghiệp, mỗi sán phẩm chế tạo hoàn tất đều qua khâu kiểm soát cuối cùng, trước: PS2-206

Trong công ty, doanh nghiệp, mỗi sán phẩm chế tạo hoàn tất đều qua khâu kiểm soát cuối cùng, trước khi được đóng gói xuất xưởng, chuyển giao cho các đại lý, phân phối ra thị trường tiêu thụ. Đó là nhiệm vụ của KCS, viết tắt của các từ “Kiểm tra Chất lượng Sản phẩm.” Bộ phận KCS có nhiệm vụ kiểm tra việc tuân thủ quy trình công nghệ, kỹ thuật và chất lượng sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Do vậy, khâu KCS vô cùng quan trọng trong việc gầy dựng, bảo vệ và phát huy uy tín doanh ngiệp, công ty với thị trường.
Bài Tin Mừng theo Thánh Gioan hôm nay, có thể nói Tông Đồ Tôma đã tình nguyện làm nhân viên… KCS, trước khi chứng nhận một sự kiện vô tiền khoáng hậu: Chúa Giêsu Phục Sinh.
Hoài Nghi
Khi Ladarô chết được bốn ngày, Chúa Giêsu muốn về Giuđêa để hồi sinh Ladarô, nhưng ở đó các người Do Thái đang tìm cách giết Chúa Giêsu. Người mời gọi các môn đệ dấn thân:”Nào chúng ta cùng trở lại miền Giuđê” ( Ga 11, 7 ). Đáp lại, các môn đệ không mau mắn nghe theo, mà phân vân, lo lắng. Hơn nữa, còn can gián: “Thưa Thầy, mới đây người Do Thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao ?” ( Ga 11, 8 ).
Nhưng chỉ duy nhất một mình ông Tôma mạnh dạn, can đảm thuyết phục các Tông Đồ: ”Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy” ( Ga 11, 16 ). Như thế ông quyết tâm đồng hành cùng Chúa, mặc dù sự dữ đang đe dọa tính mạng của cả Thầy trò.
Rồi sau khi Chúa Phục Sinh, nghe bà Maria Magđala nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin ( x. Mc 16, 11 ). Thậm chí các ông còn cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin. ( Lc 24, 11 ). Tin Mừng theo Thánh Mátthêu cũng công khai khẳng định: “Nhưng có mấy ông lại hoài nghi” ( Mt 28, 17 ).
“Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, các môn đệ sợ hãi, kỹ lưỡng cửa đóng then gài, đột nhiên Chúa Phục Sinh hiện ra chúc bình an. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng, vì được thấy Chúa” ( Ga 20, 20 )
Thánh Luca còn kể rõ hơn nữa: Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em !” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ mà xem, ma đâu có xương có thịt như thấy Thầy có đây” ( Lc 24, 37 – 40 ).
Không may, ông Tôma vắng mặt, nghe kể lại Chúa hiện ra, ông không tin. Tâm trạng nghi hoặc của ông Tôma cũng giống như các môn đệ khác, trước khi được tận mắt chứng kiến chân tay, còn loang lỗ dấu đinh của Chúa Giêsu.
Như vậy, đâu chỉ có duy nhất ông Tôma hoài nghi Chúa Phục Sinh. Mà hầu hết các môn đệ đều cứng lòng như ông vậy. Điều đặc biệt là ông Tôma dám thẳng thắn bộc lộ sự nghi hoặc của mình, khiếm khuyết, sai lầm, tội lỗi xúc phạm đến Chúa Phục Sinh, mà không hề giấu giếm, giả vờ tin như kẻ giả hình. Ông Tôma vốn bộc trực, nhiệt thành, trung tín, như trước đây đã mạnh dạn công khai tuyên xưng Đức Mến, khi quyết tâm đi Bêtania, sẵn sàng cùng chịu chết với Chúa.
Tôi cũng hay nghi ngờ những điều tốt lành, những thiện chí của tha nhân. Nhất là đối với những người có quá khứ không mấy hay ho. Tôi khó xóa nhòa vết hoen ố của họ. Dần dần tôi trở thành quan tòa gay gắt, cay nghiệt lúc nào chẳng hay, dù công luận đã rộng lượng tha thứ lỗi lầm. Tôi thích ném đá hay bôi đen, hơn là chạy đến ôm họ vào lòng an ủi, khuyến khích hướng thiện.
Sự hoài nghi đã nhiễm vào lục phủ ngũ tạng, máu xương của tôi quá nặng nề. Khiến tôi không còn phân biệt đâu là ảo thực, phúc tội. Nhìn đời qua cặp kính màu đen, tồi chẳng thấy gì sáng sủa chung quanh, làm sao tôi nhận ra hình ảnh đáng kính, đáng yêu của Chúa nơi anh em tôi ?
Chứng Nhân
Trong Bữa Tiệc Ly, ông Tôma đã thẳng thắn cương quyết theo Chúa đến cùng: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?" Chúa Giêsu đáp: “Chính Thầy là con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người” ( Ga 14, 5 – 6 ).
Sau khi được thấy Chúa Phục Sinh tỏ tường, như nguyện ước, ông Tôma thân thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” ( Ga 20, 28 ). Đó là lời tuyên xưng duy nhất trong các sách Tin Mừng lưu danh thiên cổ. Phải chăng Chúa Giêsu đã thương yêu, biến khiếm khuyết hoài nghi của ông Tôma chuyển thành một điểm son trong Đức Tin. Người luôn hào phóng mở rộng vòng tay, đón đứa con hoang đáng trở về.
Quả nhiên, sau lễ Ngũ Tuần, được tràn đầy hồng ân Đức Chúa Thánh Thần, ông Tôma đã nhiệt thành vâng theo lệnh truyền của Chúa sống lại: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần...” ( Mt 28, 19 ). Ông Tôma, đã hăng say đi rao giảng Tin Mừng ở Patia, Ba Tư, Ấn Độ và sẵn sàng theo bước chân của Thầy để chết vì yêu.
Từ hoài nghi sang xác tín, ông Tôma lột xác hoàn toàn, trở nên chứng nhân tích cực của Chúa Giêsu. Nhờ lòng thương xót vô biên của Chúa, ông Tôma mới được thánh hóa qua lời tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !”
Lạy Chúa Giêsu toàn năng, xin củng cố lòng tin của con, ban cho con sức mạnh để như Thánh Tôma, Tông Đồ, tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa của con.
Lạy Mẹ Maria, xin ân ban cho cho con Đức Tin, Cậy, Mến vững vàng, để con luôn trở nên chứng nhân đích thực của Chúa Giêsu. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

PS2-207: HỐI LỘ

Mùa Phục Sinh mà nói chuyện hối lộ, có “lạc quẻ” không ? Thưa là “không”, vì việc người ta hối: PS2-207

Mùa Phục Sinh mà nói chuyện hối lộ, có “lạc quẻ” không ? Thưa là “không”, vì việc người ta hối lộ có liên quan “chuyện nhà đạo”, vì họ muốn ngăn cản Tin Mừng về Đức Kitô Phục Sinh của chúng ta.
Thời nào cũng vậy, luôn có người tốt và kẻ xấu. Kẻ xấu là những kẻ cơ hội, tìm tư lợi bằng mọi cách, thậm chí dù có thể phải chà đạp lên nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền của người khác, miễn sao mình có lợi.
Hối lộ là động thái mua chuộc người khác để làm điều ám muội. Theo dân gian, hối lộ được gọi là “đút lót”, là hành vi đưa tiền hoặc vật phẩm có giá trị, hoặc những thứ khác, khiến cho người nhận cảm thấy “hài lòng”, mong muốn người nhận giúp mình thực hiện hành vi trái pháp luật, hoặc làm hại đến người khác. Đặc điểm chung là người được nhận thường là những người có khả năng ảnh hưởng hoặc chi phối đến người hay công việc khác – như người có chức vụ, quyền hạn, người giàu có, và đôi khi là người giỏi võ, có thể trừng trị người khác thay cho kẻ đưa hối lộ.
Hối lộ vật chất thì dễ hiểu, vì ngày nay là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng cũng có loại hối lộ khó nhận thấy, đó là hối lộ phi vật chất: Hối lộ thông tin, hối lộ thành tích, hối lộ học tập, hối lộ tình dục…
Nạn hối lộ có mặt không chỉ ở mức cá nhân mà cả ở tầng lớp công ty cổ phần và cơ quan công quyền. Trong một cuộc khảo sát 3.000 giám đốc kinh doanh tại 28 quốc gia hồi năm 2011, nhóm Transparency International ( Minh Bạch Quốc Tế ) cho biết rằng Hòa Lan và Thụy Sĩ đứng đầu bảng ( đồng hạng ) về thanh liêm, còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Liên Bang Nga “đội sổ” về chuyện nhân viên có thẩm quyền sẵn sàng đút lót để đoạt thầu.
Hối lộ là gian lận, quỷ quyệt, xảo trá, mánh khóe… Đó là vi phạm đạo đức, là phạm pháp, phải bị lên án gắt gao và cảnh giác cao độ.
Thiên Chúa là Đấng chí công, Ngài không bao giờ chấp nhận chuyện hối lộ: “Thiên Chúa của anh em là Thần các thần, là Chúa các chúa, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả uý, là Đấng không thiên vị ai và không nhận quà hối lộ” ( Đnl 10, 17 ).
Kinh Thánh cũng nói nhiều tới việc hối lộ, với mệnh lệnh: “Anh em không được làm sai lệch công lý, không được thiên vị ai không được nhận quà hối lộ, vì quà hối lộ làm cho những kẻ khôn ngoan hoá ra đui mù và làm hỏng việc của những người công chính” ( Đnl 16, 19 ).
Sách Xuất Hành cũng có luật tương tự: “Ngươi không được nhận quà hối lộ, vì quà hối lộ làm cho những kẻ sáng mắt hoá ra đui mù và làm hỏng việc của những người công chính” ( Xh 23. 8 ). Một trong 12 lời nguyền rủa mà các thầy Lêvi cất giọng và lớn tiếng nói với mọi người Ítraen là: “Đáng nguyền rủa thay kẻ nhận quà hối lộ để giết người vô tội !” ( Đnl 27, 25 ).
Khi ông Samuel già nua, con cái của ông đã “qua mặt” ông mà phạm pháp: “Các con trai ông không đi theo đường lối của ông, chúng ngả theo lợi lộc, nhận quà hối lộlàm sai lệch công lý” ( 1Sm 8, 3 ).
Sách Sử Biên Niên có luật này: “Phải một lòng kính sợ Đức Chúa mà nắm vững và thi hành công lý, vì Thiên Chúa chúng ta không dung tha chuyện thiên vị bất công, chuyện nhận quà hối lộ” ( 2 Sbn 19, 7 ). Còn sách Châm Ngôn phân tích và so sánh: “Kẻ hám lợi làm tan hoang nhà cửa, người khinh chê quà hối lộ sẽ được sống lâu” ( Cn 15, 27 ).
Ngôn Sứ Êdêkien cũng nói về sự bất công và độc ác của kẻ xấu: “Ở giữa ngươi, người ta nhận quà hối lộ nhằm gây đổ máu; ngươi cho vay để ăn lời, để lấy lãi quá nặng, bóc lột người đồng chủng nhằm trục lợi; còn Ta thì ngươi lại lãng quên” ( Ed 22, 12 ). Ngôn Sứ Amốt nói lời của Chúa: “Bởi Ta biết: tội ác các ngươi nhiều vô kể, tội lỗi các ngươi nặng tầy trời: nào áp bức người công chính, lại đòi quà hối lộ, nào ức hiếp kẻ nghèo hèn tại cửa công” ( Am 5, 12 ).
Và Ngôn Sứ Mikha cũng phải lên tiếng: “Bàn tay chúng thạo làm điều ác: thủ lãnh chuyên phiền hà, thẩm phán quen đòi quà hối lộ, bậc trưởng thượng buông lời độc ác, luân thường đạo lý bị ngửa nghiêng” ( Mk 7, 3 ).
Hối lộ là điều xấu, ai hối lộ sẽ không được cư ngụ trong Nhà Chúa. Vậy ai được vào ngụ trong Nhà Chúa, được ở trên Núi Thánh của Ngài ? Tác giả Thánh Vịnh trả lời rạch ròi: “Là kẻ sống vẹn toàn, luôn làm điều ngay thẳng, bụng nghĩ sao nói vậy, miệng lưỡi chẳng vu oan, không làm hại người nào, chẳng làm ai nhục nhã, cho vay không đặt lãi, chẳng nhận quà hối lộ mà hại đến người ngay” ( Tv 15, 2 – 5 ).
Và rồi, khi Chúa Giêsu sống lại, người ta cũng hối lộ mà mua chuộc người khác để ngăn cản Tin Mừng Đức Kitô Phục Sinh. Thánh Mátthêu cho biết: Có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, và bảo: “Các anh hãy nói như thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự” ( Mt 28, 13 – 14 ).
Và rồi Thánh Mátthêu cho biết: “Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy, và câu chuyện này được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay” ( Mt 28, 15 ). Thật tồi tệ ! Thế nhưng sự thật vẫn là sự thật: Đức Kitô đã chiến thắng tử thần, chiến thắng bóng đêm, chiến thắng điều ác, chiến thắng tội lỗi, chiến thắng ma quỷ. Quả thật, Chúa Giêsu đã phục sinh khải hoàn ! Alleluia ! Không ai có thể bóp méo chân lý ấy, dù người ta cố tình không tin và làm trái lương tâm.
Hãy cảnh giác, luôn can đảm và đứt khoát: Không bao giờ hối lộ, dù hối lộ vật chất hoặc phi vật chất !
TRẦM THIÊN THU, Tuần Bát Nhật Phục Sinh 2013

 

PS2-208: KẺ CÓ PHÚC

Án mạng kinh hoàng của Đức Giêsu dường như còn bao trùm khắp nơi. Đặc biệt là những Tông Đồ,: PS2-208

Án mạng kinh hoàng của Đức Giêsu dường như còn bao trùm khắp nơi. Đặc biệt là những Tông Đồ, những người thân cận với Ngài luôn phải lẩn trốn vì khiếp đảm sự lùng sục của người Do Thái. Giữa cơn hoảng loạn ấy, Đức Giêsu đã xuất hiện, Ngài hiện ra với thân xác phục sinh, trỗi dậy từ cõi chết. Ngài đã đến để trao bình an cho các Tông Đồ, bình an tâm hồn chứ không phải thân xác: “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” ( Ga 20, 21 ).
Khi Thiên Chúa tạo dựng con người, Ngài đã thổi hơi trao ban cho họ Sự Sống. Giờ đây, khi dẫn họ bước vào Sự Sống mới, Sự Sống được cứu độ bằng giá máu của Đức Kitô, Ngài lại hà hơi thổi Thần Khí Ngài là sức mạnh Thánh Thần xuống trên nhân loại. Từ đây, triều đại Ngôi Ba Thiên Chúa được mở ra, khi Đức Kitô đã hoàn tất sứ mạng cứu chuộc, Thánh Thần Chúa tiếp tục thánh hóa và điều khiển Hội Thánh cho tới thời viên mãn.
Mọi đau khổ đã qua đi, cái ách của tội cũng đã được Đức Giêsu tháo cởi, gánh trên vai mình mà chết thay cho nhân loại. Con người từ nay sẽ không còn lo sợ món nợ phản nghĩa với Thiên Chúa Cha, qua giao ước của vị tổ tông. Nhưng từ nay, Đức Giêsu đã đưa nhân loại vào một cuộc sống mới trong Chúa Thánh Thần, kiện toàn và làm cho Hội Thánh ngày càng lan rộng và phát triển.
Sự kiện Phục Sinh là bằng chứng hùng hồn về quyền năng Thiên Chúa, Ngài đã toàn thắng tội lỗi và sự chết. Bóng tối của sự dữ đã bị đẩy lùi, ánh sáng Phục Sinh đã bùng lên, khơi dậy ngọn lửa Đức Tin trong lòng các Tông Đồ cũng như mọi tín hữu. Người ta đã tin vào một Thiên Chúa thật, đã chết và đã sống lại. Người ta sẽ tin vào một con đường có Sự Sống vĩnh cửu, đó là con đường thờ phượng Thiên Chúa và yêu mến tha nhân.
Thế nhưng, niềm tin lại là một ân ban, không phải là thứ con người muốn là có thể thủ đắc. Hơn nữa, đây là niềm tin tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo. Để có thể tin vào Đấng siêu việt mà nhân loại tôn thờ, đòi hỏi phải có được ân ban từ Ngài cùng với lòng đáp trả tự do, quảng đại của họ. Tin Thiên Chúa đã chết thì dễ, bởi chưng lịch sử đã đóng dấu. Tuy nhiên, tin Ngài đã sống lại và đang sống không đơn giản chút nào. Nhất là trong thời đại văn minh, tự do này, khi cuộc sống nhân loại đã được nâng cấp với vòng xoáy tiến bộ hiện đại vượt bậc. Con người thời đại là những cá thể chỉ muốn tin vào bản thân mình và ưa chuộng tự do hưởng thụ cuộc sống. Người ta không còn muốn bước vào con đường khổ nạn, con đường thập giá hằng ngày, theo chân Chúa để cùng chịu khổ hình để được sống lại vinh quang. Người ta chỉ đi tìm vinh quang, chứ không muốn đón nhận đau khổ thập giá. Thế nên, Thiên Chúa thời đại dường như đã chết.
Không chỉ riêng nhân loại, mà  ngay cả Tôma, vị Tông Đồ được diễm phúc kề cận hằng ngày bên Chúa, cùng ăn, cùng sống, cùng làm việc với Ngài… vẫn không thể tin và chấp nhận việc Ngài đã sống lại. Ông đòi hỏi được tận mắt chứng kiến, được tận tay sờ vào thân thể thực của Đức Giêsu, ông mới tin. Và Thiên Chúa đã cho ông được toại nguyện. Ông bật thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” ( Ga 20, 28 ).
Niềm tin của Tôma, chính là kiểu mẫu, để rồi từ đây, tất cả những ai, vượt qua được sự hoài nghi ngờ vực mà tìm được ánh sáng Đức Tin cho mình, thì đều trở thành kẻ có phúc: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” ( Ga 20, 29 ).
Thế giới không muốn trở thành kẻ có phúc. Nhân loại chối từ làm người diễm phúc. Thế nên, chẳng còn mấy ai tin vào Thiên Chúa. Họ đã bỏ quên cuộc thương khó đau đớn cũng như sự sống lại vinh quang của Đức Giêsu. Phải chăng vì thực tế cuộc sống chỉ toàn là bất công, đắng cay và đau khổ ? Con người phải đối diện với quá nhiều bóng tối và sự dữ, nỗi kinh hoàng thập giá đã che khuất ánh sáng Phục Sinh.
Nhân loại chỉ nhớ đến những nỗi đắng cay khó nhọc như là thập giá nặng trịch lúc nào cũng đè trĩu đôi vai của họ, mà đánh mất niềm tin và hy vọng vào sự toàn thắng của Đức Kitô Phục Sinh. Tất cả cũng chỉ bởi vì niềm tin vào Thánh Thần Chúa, vào Hội Thánh của Ngài đã tắt ngấm. Thế giới quên đi sự hiện diện của Chúa Thánh Thần cũng như triều đại của Ngài. Đức Kitô đã chết và đã sống lại, như thể khép lại vĩnh viễn về một thế giới thiên đàng mà Ngài đã rao truyền. Họ quên mất rằng, thế giới đó đã khởi sự ngay từ lúc này khi con người biết đón nhận thập giá mà bước vào vinh quang Phục Sinh.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống lại, Ngài đã phục sinh vinh hiển và trao ban sứ mạng rao truyền sứ mạng loan báo Tin Mừng cho nhân loại. Vậy mà bao nhiêu ngàn năm qua rồi kể từ cái chết đau thương ấy, thế giới vẫn không mấy người tin vào Thiên Chúa. Người thì bàng quan, kẻ thì khinh miệt, kẻ khác thì ngại phải bỏ mình, hy sinh… Tin vào Chúa Phục Sinh thì dễ nhưng bước theo Ngài khó quá. Đối diện với những thách đố cuộc sống, mới thấy bóng mờ thập giá con đã khiếp đảm, không chỉ cơm áo gạo tiền nhưng còn là bệnh tật, chết chóc, mất mát…
Nhưng không có thập giá, làm sao có được vinh quang Phục Sinh ? Có lẽ bóng thập giá cuộc đời lớn quá, khiến con mờ mắt vì đau khổ, khiếp đảm. Xin Ngài giúp con trở thành kẻ có phúc, không phải vì may mắn, giàu có, sung túc, nhưng vì đã tin vào Thiên Chúa Phục Sinh và sống niềm tin Phục Sinh ấy trong đời...
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

PS2-209: TRÁI TIM CHÚA MÀU HỒNG

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
Ga 20,19-31
 

Không biết vì quên hay ngại ngùng xấu hổ, mà Thánh Gioan đã viết: “Nơi các môn đệ ở các cửa: PS2-209

          Không biết vì quên hay ngại ngùng xấu hổ, mà Thánh Gioan đã viết: “Nơi các môn đệ ở các cửa đều đóng kín; vì các ông sợ người Do Thái”. Dĩ nhiên giờ phút ấy, các ông sợ người Do Thái lắm rồi. Chúa chết: Sư phụ chết, rắn đã mất đầu, điểm tựa cuộc đời đã gãy đổ sau lưng. Sợ là phải thôi. Bọn chúng mà lùng bắt, mà hỏi tội, thì biết đỡ đàng nào. Cho nên phải đóng chặt hết các cửa lại.
          Nhưng còn một yếu tố sợ hãi nữa của các ông, đó là sợ Chúa. Vô lí, sao lại sợ Chúa? Sao không sợ, bởi các ông vừa nghe có mấy bạn nói rằng: Thầy đã sống lại. Từ bé đến bây giờ, đã có lần nào được gặp gỡ với người chết sống lại đâu. Chết rồi, sống lại, hiện ra, thì như thế là ma chứ đâu phải là người. Cho nên, trong lòng các ông vừa muốn gặp Chúa, nhưng cũng vừa sợ hãi, không muốn gặp.
          Và còn nỗi sợ hãi  to lớn nữa, cũng không dám nói ra: là sợ Chúa hỏi tội. Từ sau lúc ở trong vườn Cây Dầu, chứng kiến sự bắt bớ của Thầy, các ông đều lẩn trốn hết. Có người mạnh bạo hơn một tí là Phêrô, dám can đảm đi theo Thầy xa xa; thì lại là người đã phản bội tình yêu, đã ba lần chối Thầy. Sợ lắm, nếu lỡ gặp lại Thầy. Chính trong nỗi sợ hãi đang chất chứa ấy. Chúa đã hiện ra: “Bình an cho các con”.
          Lời nói ngọt ngào quá! Nội dung yêu thương quá! Chúa đã tha thứ tất cả, bao dung tất cả. Ngài chẳng thèm chấp chi đến tội đời yếu đuối. Nói rồi, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài. Ngài thật đấy, đừng sợ. Thầy đây chứ đâu phải ma quái gì?
          Ngài muốn đánh thức dậy, tình yêu Thầy trò gần gũi những năm qua. Dù các ông, có lỗi lầm thế nào, thì tình yêu của Thầy dành cho các ông, vẫn cứ mãi luôn nồng nàn. Không một lời trách móc, không một lời phũ phàng; chỉ nhẹ nhàng cho các môn đệ xem những vết tử thương. Dù có nỗi đau thế nào, Thầy vẫn cứ một lòng yêu thương các con. Ngài chia sẻ cho các ông những nỗi bi thương của Ngài, như một gần gũi, như một thắm thiết tình thân.
          Và rồi, sau đó, Ngài còn đưa các ông bước tới sâu hơn vào tình thương của Ngài: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha, cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. Ngài trao cho các môn đệ lòng thương xót trời biển của Ngài. Bí tích giải tội Ngài lập ở đây, là hình ảnh minh họa đậm nét, về lòng thương xót của Ngài. Một lòng thương xót vô bờ, vô bến. Các con hãy lãnh nhận lấy lòng thương xót vô biên ấy, mà trao ban cho nhau.
          Sợ rằng con người tội lỗi, ngại ngần và sợ hãi khi đến gần Thiên Chúa. Cho nên Ngài đã trao gia tài quý báu lòng thương xót ấy, cho những con người được tuyển chọn trong Giáo Hội, để những con người ấy, cũng là kiếp người phù du, cũng là những tội nhân, có thể dễ gần gũi hơn, với đồng loại yếu đuối của mình, và có nhiều điều kiện tốt, để trao ban lòng thương xót vô biên ấy cho hết mọi người.
Gợi ý suy niệm:
1- Nếu đêm nay Chúa hiện ra với bạn, bạn có sợ hãi không?
2- Trong mùa Phục Sinh này, bạn đã đón nhận bí tích Giải tội, bí tích của lòng thương xót chưa?
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

PS2-210: NÓI THẬT: TÔI SẼ KHÔNG TIN, NẾU…

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
Ga 20, 19-31
 

 Bằng đôi mắt thịt, tôi chưa một lần nhìn thấy Thiên Chúa. Nhưng bằng đôi mắt trái tim nhiều lần: PS2-210

          Bằng đôi mắt thịt, tôi chưa một lần nhìn thấy Thiên Chúa. Nhưng bằng đôi mắt trái tim nhiều lần tôi đã cảm nghiệm được sự ngọt ngào của tình yêu Thiên Chúa. Hơn nữa, với đôi mắt của trí tuệ, cũng đã nhiều lần, tôi đã thấy rõ, sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống quanh tôi, và ở ngay giữa cuộc đời tôi. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây, thì tôi cũng mới chỉ là người thực nghiệm, duy thực hay duy thực tế.
          Đa số con người chỉ dừng lại ở chỗ này. Đặc biệt là đối với những người đi theo chủ nghĩa duy vật: Tôi chỉ tin những điều tôi thấy. Thực ra thế giới ngày nay, hầu hết đang bị cuốn vào chủ nghĩa này. Chủ nghĩa này chia làm hai loại: Một là chủ nghĩa duy vật lý thuyết, hai là chủ nghĩa duy vật thực hành.
          Những người chủ trương rằng: tôi chỉ chấp nhận những gì là vật chất. Những gì khoa học kiểm chứng và lý giải được: Đó là duy vật lý thuyết. Còn với những người không chủ trương gì, nhưng trong cách sống, lao mình vào những gì mà vật chất có thể mang lại. Họ sống buông thả, bất cần suy nghĩ. Tận hưởng tối đa những cảm xúc mà cuộc sống mang lại; một cuộc sống lao theo hưởng thụ chẳng hề biết nghĩ gì đến tương lai xa hơn cái chết. Đó là những người duy vật thực hành.
          Tông đồ Tôma hôm nay, là một con người rất gần với những người sống trong xã hội chủ nghĩa: Tôi thấy, tôi mới tin. “Nếu tôi không xỏ ngón tay, không đặt bàn tay vào cạnh sườn, thủng lỗ, thì tôi không tin”. Quá đúng, phải không nào? Một người sáng suốt và thực tế đúng không. Đúng rồi! Tôma ông có lý.
          Nhưng tám ngày sau, Đức Kitô hiện đến, lần này thì Tôma cũng có mặt. Cơ hội ngàn vàng may mắn. Ông có thể kiểm chứng rồi. Đức Kitô mời mọc: “Tôma, con hãy xỏ ngón tay, hãy đặt bàn tay vào lỗ đinh và cạnh suờn Thầy”. Tôma chùn người và kêu lên ú ớ: “Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con”. Chối từ, không dám. Phúc cho ai không thấy mà tin. Đức Giêsu nói tiếp với Tôma như thế.
          Một chân lý mới mở ra. Ngoài ba đôi mắt trên kia còn có một đôi mắt nữa cao hơn. Đó là đôi mắt của đức tin. Đôi mắt này, giúp ta thấy được những chân lý cao cả nhưng hệ trọng. Những chân lý hữu hiệu đích thực nhưng khoa học không thể vươn tới. Người không có đôi mắt đức tin thì dù có cắt nghĩa đến gãy lưỡi, cũng không thể hiểu được. Cũng như một người bị mù từ nhỏ có cắt nghĩa, diễn tả đến hết hơi, cũng không bao giờ người ấy, có thể hiểu được màu đỏ là thế nào. Có đôi mắt đức tin, người ta sẽ thấy được khuôn mặt đích thực của sự thật, và vì thế, người ta sẽ được sống trong sự bình an sâu thẳm từ trời.
          Gợi ý suy niệm:
1- Bạn là người theo chủ nghĩa gì?
2- Sự dư thừa về của cải, có làm bạn sống bình an và hạnh phúc không?
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

PS2-211: Tôma

Một phần nào đó, tất cả chúng ta đều giống Tôma. Thực vậy, chúng ta chỉ tin một khi đã thấy: PS2-211

Một phần nào đó, tất cả chúng ta đều giống Tôma. Thực vậy, chúng ta chỉ tin một khi đã thấy. Tinh thần khoa học ngày nay làm cho chúng ta đặt lại tất tất cả các vấn đề. Chúng ta phê bình, chúng ta phân tích, chúng ta thí nghiệm, chúng ta kiểm chứng trước khi ưng thuận.
Rồi từ đó chúng ta bước sang lãnh vực đức tin. Chúng ta đòi hỏi đức tin phải có những lý lẽ hợp lý, xác thực như những sự kiện của khoa học. Vì thế, những chân lý mạc khải, đối với chúng ta thật khó mà chấp nhận.
Tuy nhiên, để khỏi lầm lẫn tai hại, chúng ta cần phải xác định: đối tượng của đức tin không phải là đối tượng của khoa học. Phạm vi của khoa học là vật chất, cho nên nó đòi hỏi những sự vật cụ thể, khả dĩ có thể thực nghiệm được. Còn phạm vi của đức tin là siêu nhiên, cho nên nó đòi hỏi những chân lý khả dĩ đem lại cho con người sự giải thoát. Và những chân lý ấy phải được dựa trên uy quyền và lời chứng của Đức Kitô. Khoa học chỉ có thể biến đổi cái thế giới vật chất bên ngoài, nhưng đức tin sẽ biến đổi cái thế giới tâm linh bên trong của mỗi người chúng ta.
Chúng ta thấy khi Chúa hiện đến, Tôma liền nhận ra Ngài và quỳ gối xuống tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”. Tất cả mọi nghi ngờ đều tan biến. Tôma chấp nhận toàn bộ thực tế và nhìn nhận Đức Kitô, người đã chết mà nay lại đang sống. Ông không cần sờ vào vết thương của Ngài, chỉ sự hiện diện của Ngài, một sự hiện diện đầy yêu thương và uy quyền đã củng cố niềm tin và thay đổi hẳn con người Tôma.
Và như thế, chúng ta sẽ rút ra được một bài học quý giá, đó là trong phạm vi đức tin, chúng ta cần tìm tòi, cần đào sâu để có được một đức tin kiên vững. Đó mới chỉ là bước thứ nhất. Bởi vì có đức tin mà thôi chưa đủ, điều quan trọng hơn là phải sống đức tin. Hay nói một cách khác liệu đức tin có đủ mạnh để làm chuyển biến cuộc đời, cũng như đổi thay chính con người chúng ta hay không?
Muốn được như thế, không gì hơn là hãy sống gắn bó và tiếp xúc thân mật với Đức Kitô. Sự tiếp xúc này, ngày xưa đã biến đổi các môn đệ từ những người u mê dốt nát, hèn nhát và sợ sệt trở thành những người thông suốt giáo lý Tin Mừng và nhất là can đảm loan truyền và làm chứng cho Tin Mừng đó. Lạy Đức Kitô phục sinh, xin hãy biến đổi và uốn nắn con người chúng con.

 

PS2-212: Cuộc sáng tạo mới – Lm Ignatiô Trần Ngà

Ngày thứ nhất của nhân loại cũ
 

Từ khởi thuỷ, sau khi dựng nên trời đất muôn vật, Thiên Chúa lấy bùn đất dựng nên Ađam. Mới: PS2-212

Từ khởi thuỷ, sau khi dựng nên trời đất muôn vật, Thiên Chúa lấy bùn đất dựng nên Ađam. Mới đầu thân thể ông chỉ là một khối đất bất động, không hề có dấu hiệu của sự sống.
Thế rồi, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam (St 2,7), tức thì Ađam bắt đầu mở mắt, cựa mình và vươn vai chỗi dậy thành một con người đầy sức sống và được trở thành thuỷ tổ loài người đông đảo trên khắp trái đất.
Đó là ngày thứ nhất của lịch sử loài người, ngày khai sinh nhân loại cũ, khởi đi từ con người đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, thông ban sự sống và những phẩm tính cao đẹp của Ngài.
Tiếc thay, con người tuyệt vời được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài lại lâm vào vòng sa đoạ, đánh mất phẩm chất cao đẹp mà Thiên Chúa đã phú cho và phải mang lấy án phạt đời đời nên Thiên Chúa phải thực hiện kế hoạch kiến tạo một nhân loại mới.
Ngày thứ nhất của nhân loại mới
Thế rồi, "vào ngày thứ nhất trong tuần - và cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử nhân loại mới - nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Dothái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an!" (Ga 20, 19-22)
Kế đó, như thời khởi thuỷ, Thiên Chúa thổi hơi vào lỗ mũi Ađam để thông truyền sự sống cho ông, thì nay Chúa Giêsu cũng thổi hơi trên các tông đồ đang co cụm như những xác không hồn để thông ban Chúa Thánh Thần cho họ: "Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20, 22)
Thế là từ đây, các tông đồ bắt đầu đón nhận sức sống mới, các ông được hồi sinh, được trở nên can đảm mạnh mẽ, thoát ra khỏi căn phòng đóng kín như hầm mộ u tối chôn vùi các ông suốt mấy tuần qua để ra đi khắp các nẻo đường, hô vang Tin Mừng cứu độ.
Đó là ngày thứ nhất trong tuần đồng thời cũng là ngày thứ nhất trong lịch sử của nhân loại mới.
Ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ
Vậy mà cho đến hôm nay, sau hơn hai ngàn năm Chúa Giêsu khai sinh nhân loại mới, vẫn còn trong ta sự ương ngạnh của Ađam, muốn sống theo dục vọng của mình bất chấp lời giáo huấn của Thiên Chúa. Vẫn còn trong ta tính ù lì khiếp nhược của các tông đồ sau biến cố Thầy Giêsu thụ nạn, tự giam mình trong phòng kín như mộ địa tối tăm. Vẫn còn trong ta con người ích kỷ chỉ biết sống cho mình, cho gia đình mình mà chưa mở ra với tha nhân và lối xóm.
Thế nên, hơn lúc nào hết, chúng ta cần Chúa Giêsu hiện đến thổi hơi truyền ban Thần Khí cho chúng ta như Ngài đã thực hiện cho các tông đồ xưa, để chúng ta được hồi sinh, được vượt ra khỏi ngục tù do lòng tham lam ích kỷ dựng nên, thoát ra khỏi mộ địa do chính sự hèn yếu của chúng ta vây bọc.
Và nhờ đó, ngày thứ nhất trong cuộc đời người môn đệ được khai mở trong ta.

 

PS2-213: Lòng Chúa xót thương – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Nếu tình yêu là bản tính của Thiên Chúa thì lòng thương xót là cách thức Chúa bày tỏ tình yêu, là: PS2-213

Nếu tình yêu là bản tính của Thiên Chúa thì lòng thương xót là cách thức Chúa bày tỏ tình yêu, là dấu chỉ cho tình yêu vững bền của Ngài. Lòng thương xót nhìn kẻ tội lỗi, không oán giận, không trả thù bằng sự giận dữ hay chừng phạt, nhưng xót xa vì họ lầm đường lạc lối, xót xa vì họ đang đi đến hố diệt vong. Lòng thương xót tựa như ánh mắt của tình yêu, giúp người ta nhận ra nhu cầu của tha nhân để chia sẻ, cảm thông, nâng đỡ, xoa dịu hay chữa lành. Chúng ta có thể cảm nghiệm lòng thương xót của Chúa qua dọc dài lịch sử cứu độ.
Khởi từ tội lỗi của Adam, Chúa không đoạn nghĩa dứt tình với Adam. Chúa vẫn thương Adam và xót xa dường nào khi thấy Adam tủi hổ lẩn trốn trong vườn địa đàng. Adam là kẻ phản bội làm sao dám vác mặt gặp Chúa. Tội lỗi làm cho người ta mặc cảm, xấu hổ và lo sợ khi phải đối diện với sự thật. Thế nhưng Adam phần nào đã bớt đi sự sợ hãi, bớt đi áp lực tâm lý khi nghe tiếng gọi: "Adam, Adam ngươi đang ở đâu?". Âm thanh của tiếng gọi không mang âm sắc của giận dữ hay quở mắng, nhưng tiếng gọi vẫn thân thương dịu ngọt, có điều pha trộn chút âm điệu xót xa. "Phải chăng ngưoi đã ăn trái cây trong vườn mà ta đã cấm?".
Tội có thể được tha, nhưng hình phạt vẫn phải chịu. Nhưng ai là người phải chịu phạt thay cho tội Adam. Thiên Chúa không suy tính thiệt hơn. Không đắn đo suy xét. Ngay tức thời, lời hứa cứu độ đã được ban ra. Chính Ngôi Hai Thiên Chúa sẽ gánh lấy tội Adam và đền thay cho tội lỗi Adam. Có thể nói, lòng thương xót của Chúa được tỏ bầy cụ thể và rõ nét trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Cả cuộc đời luôn sống vì người khác, luôn đi đến mọi hang cùng ngõ hẻm để thi ân giáng phúc. Cả trong những lúc đau khổ nhất của cuộc đời, Ngài vẫn không nghĩ đến mình: Ngài xót thương các bà mẹ thành Giêrusalem "đừng than khóc Ta nhưng hãy than khóc con cháu các người; Ngài xót thương những kẻ đã làm hại mình, vì "họ không biết việc họ làm"; Đỉnh cao của lòng thương xót đó là ơn tha tội và ban thưởng hạnh phúc trường sinh. Đó là đặc ân mà anh trộm lành được diễm phúc đón nhận đầu tiên từ cây thập giá: "ngay đêm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta".
Chính điểm này mà trong dịp giảng tĩnh tâm Giáo triều Rôma, Đức cố hồngY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận đã nêu ra 10 điểm khiếm khuyết của Chúa Giêsu trong đó có sự hay quên: chỉ 1 câu nói thành thật với chính mình của tên trộm lành mà Chúa đã quên cả quá khứ tội lỗi của anh. Chỉ cần thấy bóng dáng thằng con trời đánh bỏ nhà đi hoang nay thất thểu trở về là người cha đã quên hết quá khứ đi hoang của người con. Lòng thương xót của Thiên Chúa là vậy. Một vì Thiên Chúa chậm bất bình và rất mực khoan dung mà vua Đavít đã từng nói lên rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai đứng vững. Tình yêu Chúa cao hơn tội lỗi chúng ta, đến nỗi có thể phủ lấp muôn vàn tội lỗi chúng ta.
Tác giả Ron Lee đã viết một câu chuyện trong cuốn "Một Thiên Chúa Tha thứ trong một thế giới không tha thứ" như sau:
Có một vị linh mục là một người rất yêu mến Chúa, nhưng ông luôn bị ám ảnh bởi một tội mà ông đã phạm trong quá khứ. Ngài đã ăn năn sám hối nhưng vẫn không bình an tâm hồn. Cho tới một hôm nghe nói có một phụ nữ trong giáo xứ hay được tiếp xúc và nói chuyện với Chúa trong giấc mơ. Vị linh mục không tin, nên muốn thử bà ta và nói: lần sau bà có nói chuyện với Chúa thì hỏi xem, tôi đã phạm tội gì? Thế là mấy ngày sau gặp lại, vị linh mục đã hỏi bà là Chúa đã nói gì? Bà trả lời: Chúa nói rằng: Ta chẳng còn nhớ gì nữa!
Bài Phúc âm hôm nay cũng cho chúng ta thấy khi hiện ra với các tông đồ, Chúa Giêsu không hề nhắc tới những chuyện đáng tiếc đã xảy ra: nơi Phêrô kẻ chối Chúa ba lần; nơi các tông đồ hèn nhát bỏ chạy nơi vườn Giệtsêmani; nơi Tôma kẻ bi quan, cố chấp luôn đòi sự kiểm chứng minh nhiên và cụ thể. Dường như Chúa đã quên hết và còn ban bình an cho các ông.
Hôm nay kính nhớ lòng thương xót của Chúa, Giáo hội mời gọi chúng ta nhận ra mình là một tội nhân đã được Chúa cứu chuộc bằng giá máu cực thánh, chúng ta hãy biết đền đáp tình yêu Chúa bằng sự hoàn thiện con người của mình như Cha chúng ta ở trên trời. Đồng thời chúng ta cũng dâng hy sinh, lời cầu nguyện cho các tội nhân được ơn trở về với Chúa.
Có lẽ đây là vấn đề mà những người Kitô hữu phải lo lắng quan tâm. Vì qua báo chí và các phương tiện truyền hình truyền thanh chúng ta không khỏi đau xót khi nhìn thấy một thế hệ trẻ sa đoạ, cuồng loạn và lạc mất hướng đi của đời người. Con số thống kê về sì ke, ma túy, mại dâm, phá thai, bệnh nhân nhiễm HIV hay Aid mỗi ngày một tăng theo cấp số nhân, mà một ai đó đã nói một cách mỉa mai rằng: những điều tốt thì không thấy tăng, nhưng tội phạm thì năm nào cũng được nghe câu nói quen thuộc: "năm nay cao hơn năm trước".
Có lẽ Chúa cũng đang cần những con người thanh sạch như như ông Lót trong thành Sôdôma. Ông đã bị dày vò bởi những cảnh đồi bại luân lý diễn ra hằng ngày quanh mình. Ông cố thuyết phục dân thành ăn năn hầu tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, nhưng không ai nghe ông. Rồi Abaraham cũng nài xin Chúa tha thứ nhưng lại không kiếm được 10 người công chính, thế là cả thành bị tiêu diệt.
Và hôm nay, Chúa đang cần có nhiều người như thánh nữ Faustina, biết dâng những hy sinh đau khổ của mình như lễ vật tôn thờ Thiên Chúa và cứu thế gian khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Biết phó dâng bản thân, gia đình và nhân loại cho lòng thương xót của Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta hãy sám hối về lỗi phạm của mình và hãy dâng những hy sinh và lời cầu nguyện cho kẻ có tội được ơn trở về với Chúa. Nguyện xin Chúa là Đấng giầu long xót thương tha thứ và ban bình an cho mỗi người chúng ta. Amen.

 

 PS2-214: CHÚNG TÔI ĐÃ XEM THẤY CHÚA

Ga 20, 19 - 31
Anh chị em thân mến,
 

Còn niềm vui nào lớn hơn khi tìm lại được người thân, nhất là khi ta tưởng rằng họ đã chết vĩnh viễn: PS2-214

Còn niềm vui nào lớn hơn khi tìm lại được người thân, nhất là khi ta tưởng rằng họ đã chết vĩnh viễn. Thử tưởng tượng: sau trận sập cầu Cần Thơ, ta may mắn vô cùng vì tìm lại được người thân mà họ vẫn còn sống... hay trong trận bão số 5 ngày 02 tháng 11 năm 1997, giữa bao nhiêu ghe tàu bị mất tích, bao nhiêu người mất chồng, mất con, còn ta, ta lại may mắn trong gang tấc tìm được người thân trở về. Những hoàn cảnh nêu trên vô cùng giống với câu chuyện Chúa phục sinh của các tông đồ; họ tưởng rằng đã mất Chúa vĩnh viễn, nhưng bất ngờ sau đó đúng ba ngày, sáng Chúa Nhật, mấy bà nói Chúa đã sống lại. Rồi trong câu chuyện bài Tin mừng hôm nay đây, vào chiều tối Chúa Nhật, chính họ được xem thấy Chúa...Niềm vui nào diễn tả được đây? Trên môi miệng họ chỉ có một câu duy nhất: Chúng tôi đã xem thấy Chúa.... Xin mời anh chị em cùng suy niệm....
a/. Có một vài điều chúng ta cần lưu ý:
Khung cảnh câu chuyện của bài Tin Mừng hôm nay: diễn ra ở ba khoảng thời gian rõ rệt.- Thứ 1. Vào chiều ngày Chúa nhật phục sinh; có nghĩa: buổi sáng các bà đi ra mộ và thấy mộ trống; cũng có mấy bà nói đã được xem thấy Chúa sống lại. Chiều tối lại, chính hôm đó, Chúa hiện ra trong nhà Tiệc ly với hết mọi người, không có Tôma.- Thứ 2. Vào một ngày trong tuần đó, Tôma, đi đâu đó và trở về, họ bèn thuật lại cho ông nghe. Ông không tin.- Thứ 3. vào Chúa Nhật sau Chúa Nhật Phục Sinh, có thể cũng vào ban đêm, Chúa lại hiện ra với họ, có cả Tôma nữa. Chính Chúa đã sửa lòng cứng tin của Tôma...
b/. Lời Chúa nói với chúng ta ngày hôm nay cũng chính là lời các tông đồ truyền lại bằng câu này: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa.."
Bây giờ chúng ta thử tưởng tượng, như đang ngồi trong căn phòng lớn của một hội đường do thái, và đang nghe một vị tông đồ giảng về câu chuyện Chúa Giêsu vừa phục sinh... Vị tông đồ có thể nói thế này: "Thật vậy, Chúa Kitô đã sống lại. Chúng tôi đã thấy Chúa. Chúng tôi xin làm chứng về điều này.Trong chúng tôi, cả những người bị coi là cứng tin nhất như Tôma , cũng đã thấy và đã tin, đã nhìn nhận Chúa là Thiên Chúa, đã tin rằng người đã sống lại. Lời truyền này của chúng tôi cho các bạn hôm nay, không chỉ là lời truyền trên môi miệng, mà còn truyền bằng cả cuộc sống của chúng tôi nữa. Chính niềm vui phục sinh đã biến đổi chúng tôi, từ những con người tham sống, sợ chết, thành những chứng nhân trung kiên cho Chúa Kitô. Hiện nay, trong chính anh em chúng tôi, như Stêphanô, như Giacôbê, đã dám đổ máu đào mình ra, không hề sợ chết, sẵn sàng làm chứng Đức Kitô đã chết, và nay đã sống lại vì chúng ta....Các bạn cũng thế, hãy vui lên, đừng buồn rầu nữa, vì Đức Kitô đã sống lại. Người anh em chúng tôi là Phaolô, tông đồ dân ngoại, đã nói một câu rất chí lý: Nếu Đức Kitô đã chết mà không sống lại, thì niềm tin của anh em thật vô ích...
Dù sao, chúng tôi là các tông đồ, những người xưa kia khi Chúa còn sống, đã cùng ăn cùng ngủ với Chúa, chúng tôi trong vui mừng và hi vọng, xin hết lòng làm chứng cho anh em rằng, Đức Kitô đã sống lại. Anh em hãy vui lên. Anh em đã theo Chúa trên đường Khổ giá, đừng dừng lại ở đồi Golgôtha, mà hãy tiến thẳng lên núi Tabor, nơi Chúa phục sinh vinh hiển....
Câu chuyện trên đây được coi là bài giảng của các tông đồ sau khi Chúa phục sinh, hay sau ngày lễ Ngũ Tuần cũng được. Thực ra, đó không hẳn là bài giảng, mà phải nói đó là những lời chứng hùng hồn, đanh thép, đầy xác tín, đầy niềm vui và hi vọng, vì họ đã thấy Chúa sống lại. Rõ ràng họ muốn trao cho người nghe không phải là những lời nói mà thôi mà cả niềm tin, xác tín..... đúng hơn họ muốn trao niềm vui phục sinh cho hết mọi người....
c/. Gợi ý sống và chia sẻ:
Các môn đệ vui mừng vì được xem thấy Chúa; điều đó các ông gọi là niềm vui phục sinh. Còn chúng ta ngày hôm nay, khi mừng lễ Chúa phục sinh, có phải đó cũng là niềm vui của chúng ta không? Trong bài Phúc âm này ghi, khi Chúa hiện ra, đến với các môn đệ, Chúa đều chúc bình an, và thực sự đã mang lại bình an cho họ. chúng ta có luôn là niềm vui và bình an cho những người chúng ta gặp gở không?

 

PS2-215: BIỂU LỘ NIỀM TIN

Ga 20, 19 - 31
Anh chị em thân mến.
 

Trong một đoàn xiếc, có những diễn viên bước ra sân khấu người ta vẫn không biết người đó sẽ biểu: PS2-215

Trong một đoàn xiếc, có những diễn viên bước ra sân khấu người ta vẫn không biết người đó sẽ biểu diễn trò gì. Nhưng có một người vừa bước ra, thì không ai bảo ai, mọi người đều vui mừng vì họ sẽ được những giây phút thư giãn, được những trận cười thoã thích. Nhìn vào anh hề, người ta biết anh ta sẽ mang đến cho họ một sứ điệp vui mừng. Từng cử chỉ, từng điệu bộ, những lời nói, tất cả mọi hành động đều mang sứ điệp của niềm vui.
Nếu một người nào khác, làm nhiệm vụ thay thế cho anh hề, thì họ cũng phải có phong cách như thế nào để mọi người nhận ra được phong cách vui mừng mà họ thay thế. Nếu không làm được như thế thì họ sẽ khó được mọi người chấp nhận.
Vừa nghe qua bài phúc âm, có lẽ cảm giác đầu tiên đến với mọi người là Chúa Giêsu khó chịu vì Tôma quá cứng tin, không chịu nghe những gì các tông đồ chứng kiến và thông báo lại cho ông. Không phải thế. Chúng ta bình tâm nghe lại lời Chúa Giêsu, một lời nhẹ nhàn thân mật, một lời khiến cho Tôma cảm động và giật mình, một lời đi vào tận cõi riêng tư của ông mà ông cảm nhận được, lời khiến ông không thể nào đứng yên được mà phải quỳ gối xuống để tuyên xưng niềm tin của mình. Những gì Tôma suy tưởng, những gì ông nói, những gì ông làm, Chúa đều biết cả. Ông cảm nhận được đều đó. Cảm động hơn nữa là Chúa Giêsu còn nhớ đến ông đặc biệt hơn những người khác, đáp ứng nhu cầu của ông. Nhận ra như thế ông liền biểu lộ niềm tin của mình.
Còn các tông đồ cũng báo tin cho Tôma: các ông bảo rằng đã nhìn thấy Chúa sống lại, chúc bình an cho các ông, Chúa sai các ông đi rao giảng Tin Mừng. Làm sao Tôma có thể tin được các ông ấy khi các ông vẫn ngồi yên bất động trước lệnh truyền của Đấng đã sống lại. Các ông vẫn hèn nhát, vẫn trốn tránh mọi người, vẫn ưu sầu phiền muộn, vẫn không có gì đổi mới. Làm sao Tôma có có thể tin được những người lãnh sứ mệnh loan báo Tin Mừng, nhưng không có một chút nào là vui mừng. Làm sao Tôma có thể tin được nơi những người không có một chút niềm tin nào trong cuộc sống để cho ông nhìn thấy.
Chỉ cần nhìn thấy Chúa Giêsu, Tôma biểu lộ niềm tin của mình ngay: ông không thể ngồi yên bất động, ông quỳ xuống và tuyên xưng "Lạy Chúa Tôi, lạy Thiên Chúa của tôi".
Trong cuộc sống đời người, mỗi người mang lấy một sứ điệp mà Thiên Chúa trao ban, để đem Tin Mừng của Chúa đến cho người khác. Mọi người nhìn vào nơi chúng ta và có nhận ra được rằng chúng ta mang đến cho họ sứ điệp như thế nào không? Làm sao người khác nhận được niềm vui nơi gương mặt không có nụ cười, làm sao có được niềm vui nơi một gương mặt giận dữ và những lời nói nặng nề biều lộ sự nóng nãy, giận hờn với những lời chua cay khó chịu. Cũng thế, làm sao có được niềm vui nơi những người chỉ biết trốn chạy, với những lời nói khô khan. Như thế mọi người làm sao có thể tin vào Chúa Kitô được với những sứ giả Tin Mừng như thế.
Mọi người nhìn vào trong chúng ta và họ nhận ra được Tin Mừng, khi họ nhìn thấy được một con người biết đổi mới cuộc sống mình tốt hơn. Mọi người chỉ nhận được Tin Mừng nơi những người sống Tin Mừng thật sự.
Nếu chúng ta vượt qua được những ưu sầu phiền muộn của cuộc sống, với sự bình tâm chấp nhận mà vẫn có được niềm vui khi đón nhận người khác. Nếu chúng ta nhận ra được Chúa Phục Sinh và lắng nghe mệnh lệnh của Ngài để thi hành trong hoàn cảnh sống, để biết đến và giúp đở mọi người khi cần thiết, biết nói những lời động viên an ủi, biết giằng lại một chút nóng giận để có thể cho đi một nụ cười, biết nhẫn nhịn khi bi thiệt thòi chút ít, biết chấp nhận để nâng đỡ người khác làm cho đời sống được nhẹ nhàng hơn. Nếu chúng ta biết quỳ gối cảm tạ Chúa, vì nhận ra hồng ân lạ lùng của Chúa ban cho mình, thì thật là hạnh phúc cho chúng ta. Khi đó chúng ta không cần phải dùng lời nói mà loan báo Tin Mừng, nhưng chúng ta đã thi hành mệnh lệnh Chúa bằng hành động thật sự. Khi đó chúng ta đáng được lời Chúc phúc của Chúa Giêsu "Phúc cho những ai không thấy mà Tin".
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa ban đức tin cho mỗi người, để biết sống đức tin bằng chính đời sống hằng ngày, và biết đem Tin Mừng cho những người chung quanh.

 

PS2-216: LÒNG MẾN HỖ TRỢ ÐỨC TIN

Ga 20, 19 - 31
 

Chúng ta đang sống trong một thế giới có nền khoa học phát triển vượt bậc. Ngày nay, người ta: PS2-216

Chúng ta đang sống trong một thế giới có nền khoa học phát triển vượt bậc. Ngày nay, người ta đã phát minh ra được nhiều thứ rất tinh vi và hiện đại. Người ta có thể đi lên cung trăng hay xuống lòng biển một cách dễ dàng như đi chợ... Trước tình trạng đó, dường như người ta tưởng là con người có thể kiểm nghiệm được tất cả mọi sự trong thế giới này. Rồi những gì họ thấy được, nghe được, sờ được... nói chung là những gì kiểm chứng được giác quan thì họ mới tin.
Thế là, con người nói chung và cách riêng với người Kitô hữu lại áp dụng điều trên cho cả niềm tin tôn giáo. Cách riêng là họ áp dụng điều ấy vào cho đức tin vào Chúa Giêsu phục sinh. Ðiều này đã có từ thời các Tông đồ. Khi nghe các bạn báo tin Thầy Giêsu sống lại, Thánh Tôma đã tuyên bố: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin".
Do đâu mà Thánh Tôma cũng như con người chúng ta lại thường hay muốn đòi kiểm chứng như vậy? Thưa vì chúng ta chưa thật sự mến Chúa hết lòng. Khi thật sự mến Chúa thì có lẽ chúng ta sẽ tin vào Người cách dễ dàng. Ngay cả, chúng ta sẽ cho là xúc phạm khi nghi ngờ Chúa. Và khi ấy chúng ta mới thật sự được hạnh phúc và bình an.
Thật vậy, một đứa con trong gia đình khi đã yêu mến cha mẹ thật lòng thì nó sẽ biết tin và làm theo những điều cha mẹ khuyên dạy. Lúc ấy, chắc chắn nó sẽ được cha mẹ yêu thương và chăm sóc cho nhiều hơn nữa. Cũng vậy, vợ chồng khi đã yêu nhau thì sẽ tin nhau chứ không nghi ngờ nhau. Bao lâu họ còn yêu và tin nhau thì bấy lâu gia đình họ sẽ còn hạnh phúc và đầm ấm.
Như vậy, lòng mến hổ trợ rất nhiều cho đức tin. Nó cũng sẽ là một trong những điều quan trọng làm nên sự hạnh phúc cho chúng ta đời này lẫn đời sau. Chúa Giêsu đã nói: "Phúc thay những người không thấy mà tin!". Hơn nữa, tin vào Chúa Giêsu phục sinh không phải là điều hão huyền. Vì nếu đây là chuyện phù phiếm thì chắc là niềm tin ấy đã tan rã từ lâu rồi.
Chúng ta đã theo Chúa từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chúng ta đã long trọng mừng lễ Chúa Giêsu phục sinh cách đây đúng một tuần. Thử hỏi chúng ta có thật sự mến Chúa và thật sự tin vào Người chưa. Hay là chúng ta vẫn còn nghi ngờ như Thánh Tôma. Chúng ta hãy luôn nhớ bao lâu còn sống trong tâm trạng nghi ngờ thì bấy lâu đời sống của ta sẽ còn luôn bất ổn.
Như chúng ta biết, đoạn Tin mừng này được Giáo hội chọn đọc trong cả 3 năm Phụng vụ của Chúa nhật cuối tuần bát nhật hôm nay. Dĩ nhiên là có lý do. Ðó là Giáo hội muốn cũng cố lòng tin và lòng mến vào Chúa Giêsu Phục sinh của mỗi người chúng ta ngày càng trở nên chắc chắn hơn. Hãy xin Chúa Giêsu tiếp tục ban thêm lòng tin và lòng mến cho mỗi người chúng ta.

 

PS2-217: Nếu Ngài không hiện diện, Tôma đã thắng rồi !

Dẫn nhập đầu lễ: Kính thưa ông bà anh chị em,
 

Sự sống lại của Ịức Kitô làm phát sinh một cộng đoàn huynh đệ, khởi đầu cho một Hội: PS2-217:

Sự sống lại của Đức Kitô làm phát sinh một cộng đoàn huynh đệ, khởi đầu cho một Hội Thánh, một dân tộc, một đoàn Dân mới hiệp nhất trong bác ái yêu thương, duy nhất trong niềm tin, trong một Lời chứng, một giáo lý để rao giảng và tuyên xưng, một đại gia đình của tình hiệp thông yêu thương. Cộng đoàn đó, dưới sự tác động và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần đang tiếp tục làm cho Đức Kitô phục sinh hiện diện và làm cho công trình cứu độ của Ngài được đơm hoa kết trái.

Mỗi người chúng ta được thuộc về cộng đoàn đó. Đặc biệt các anh chị em Tân tòng trên khắp thế giới vừa mới được thuộc về cộng đoàn nầy trong Đêm vọng Phục Sinh qua bí tích Thánh tẩy, và hôm nay hân hoan cùng với mọi thành phần Dân Chúa dâng lời tạ ơn để cảm tạ “lòng Chúa xót thương” vì hồng ân vĩ đại được trở nên con cái Thiên Chúa.

Giờ đây, để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh và nhớ lại hồng ân Thánh Tẩy, chúng ta hãy rảy Nước Thánh trên mình trong tâm tình trti ân cảm tạ và sám hối ăn năn.

Giảng Lễ:

1. Chìa khóa của mầu nhiệm phục sinh: sự hiện diện của Đấng sống lại

Không phải chỉ Tông Đồ Tôma ngày xưa đã thách thức: “Làm sao tôi có thể tin được Người sống lại nếu tôi không xỏ tay vào lỗ đinh…”. Kể từ sau cái “buổi sáng tinh mơ Ngày Thứ Nhất trong tuần” với cái tin động trời của Bà Maria Mađalêna: “Chúa đã sống lại”, thế giới luôn đầy dẫy những con người, những luận thuyết, những triết lý, những cuốn tiểu thuyết “best seller” hay bao loại phương tiện truyền thông khác…giơ tay phủ nhận cách thẳng thừng hay lập lừng chối bỏ với thái độ hoài nghi sự kiện Đức Kitô phục sinh từ trong cõi chết.

Quả thật, nếu câu chuyện của “Chúa sống lại” rốt cuộc cũng chỉ là một “bản tin giật gân suông của mấy mụ đàn bà hoang tưởng” để rồi sau đó khép lại như bao câu chuyện của đời thường, tuyệt nhiên không có gì xảy ra sau đó, thì thử hỏi trên thế giới nầy liệu có được mấy người tin ? Mà dẫu cho thế giới có sai lầm và mù quáng suốt 2000 năm nay chăng nữa, thì ở giữa thời đại văn minh như hôm nay, liệu có tồn tại không một tôn giáo dựa trên một lời bịa đặt dối trá?

Trong cuộc thách đố của 2000 năm trước, quả thật, nếu Đức Kitô không hiện diện, Tôma đã thắng rồi !Thế nhưng mọi sự đã không như thế. Tôma cứng tin và đòi trãi nghiệm đã vội vã phũ phục trong thái độ tín ngưỡng nghiêm cấn sâu xa: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con !”. Chìa khóa để mở cánh cửa của niềm tin là ở đó: Khi lý trí con người “giơ tay đầu hàng” thì Thiên Chúa đã đến. Liền sau những lời có vẻ nhát gừng của các tông đồ: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”, thì lập tức Chúa hiện ra giữa các ông với lời chúc:”Bình an cho anh em”. Kế tiếp bản tin giật gân của các bà phụ nữ là một loạt những lần hiện ra của Đấng phục sinh để ấn chứng. Chính sự hiện diện tỏ tường nầy đã xoay hẳn 180 độ niềm tin của các tông đồ. Từ những con người hoang mang lo sợ trốn chui trốn nhủi như những tội nhân đang bị truy nã các ông đã mở tung cửa ra khỏi nhà mạnh dạn đi khắp nơi công bố về Tin Mừng Chúa sống lại. Cho dù bì cấm đoán, bị đòn vọt và sau nầy bị bắt, bị kết án nhục hình cở nào mặc ý, các ông vẫn hiên ngang “lấy mạng sống để làm chứng cho sự thật phục sinh”.

Chỉ có sức mạnh của Thiên Chúa, chỉ có sức tác động của Chúa Thánh Linh mới làm nên việc kỳ diệu như thế, như thánh Gioan tông đồ đã khẳng định trong BĐ 2 hôm nay: “Chính Thần khí là chứng nhân và Thần Khí là sự thật”. Chính vì thế, trong suốt những ngày phụng vụ nầy, Hội Thánh vẫn thường ca lên: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ”.

Chính vì thế, chúng ta có thể phát biểu một cách xác tín rằng: mầu nhiệm phục sinh đó là “mầu nhiệm Đức Kitô đang hiện diện”, một sự hiện diện làm nên kitô giáo, một sự hiện diện làm nên lâu đài đức tin, một sự hiện diện làm nền tảng của mọi giáo lý, một sự hiện diện làm trung tâm điểm của mọi cử hành phụng vụ, một sự hiện diện làm kim chỉ nam cho mọi qui luật luân lý và tu đức, một sự hiện diện làm nên chính lương thực trường sinh và sức mạnh thiêng liêng cho cuộc đời tại thế, một sự hiện diện làm lôi kéo con người tiến bước trong niềm hy vọng hạnh phúc vĩnh hằng, một sự hiện diện làm bật rễ những tâm hồn tăm tối tội lỗi để vươn mình chỗi dậy bước vào ánh sáng tình yêu và ân sủng…

Chính vì thế, niềm tin của người kitô hữu, cuộc sống đích thực của người Kitô hữu chính là sống “sự hiện diện nầy”, như lời định nghĩa của Thánh Phaolô: “Tôi sống đây không phải là tôi sống mà chính Đức Kitô sống trong tôi”.

2. Đức Kitô phục sinh hiện diện qua cộng đoàn Hội Thánh:

Nhưng chúng ta cũng biết rằng: sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Kitô chỉ hiện diện cách hữu hình võn vẹn có 40 ngày. Sau đó “Ngài lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa”, nhường chỗ cho một sự ”hiện diện mới”, một Đức kitô phục sinh vô hình mà theo ngôn ngữ thần học của Thánh Phaolô, đó chính là Hội Thánh, Thân Thể huyền nhiệm của Ngài.

Quả thật ngôn ngữ phụng vụ hôm nay cho dù âm vang những tên gọi khác nhau như “cộng đoàn”, “tông đồ”, “tín hữu, “nhóm Mười Hai”…thì tất cả đều qui chiếu về một điều duy nhất: “một cộng đoàn đang làm chứng về sự hiện diện của Đấng Phục Sinh”.

- Đó là cộng đoàn quây quần chúng quanh các tông đồ để của cải làm của chúng, hiệp nhất một lòng một ý. (BĐ 1, sách Cv)

- Đó là cộng đoàn thực thi Lời Chúa và sống bác ái yêu thương (BĐ 2, thư Thánh Gioan)

- Đó là cộng đoàn qui tụ với nhau trong bí tích Thánh Thể để gặp gỡ Đấng phục sinh hiện đến trong hình bánh rượu để trao ban lương thực thần linh.

- Đó là cộng đoàn mạnh mẽ làm chứng về Đấng Phục Sinh bằng việc loan báo Tin Mừng và thuyết phục mọi người trở về trong niềm tin vào Đấng sống lại.

- Đó là cộng đoàn sống mầu nhiệm thánh tẩy bằng thái độ dấn thân lên đường để hoàn toàn phó thác vận mệnh cho “lòng xót thương của Thiên Chúa”.

Một cộng đoàn Hội Thánh nào không phản ảnh hay phản lại những giá trị trên, những đặc tính nền tảng trên sẽ không bao giờ có Đức Kitô phục sinh hiện diện. Chính vì thế, những bài học căn bản mà Hội Thánh phải học triền miên đó chính là hiệp nhất, yêu thương, sẻ chia, Thánh Thể, phục vụ, truyền giáo…

Khi nào người kitô hữu lìa xa Hội Thánh, tách rời cộng đoàn để “xé lẽ ăn riêng” sẽ rơi vào nguy cơ “cứng lòng, vô tín như Tôma”.

Khi nào cộng đoàn hội Thánh vẫn còn sống trong sự nhát sợ, cục bộ, ích kỷ “đóng cửa kín bưng” để xa rời anh em đồng loại, sẽ có nguy cơ làm xơ cứng cũ mòn lời chứng về sự phục sinh và sẽ không thuyết phục nổi con người hôm nay tin vào việc Chúa sống lại.

Chính vì thế, sống sứ điệp phục sinh hôm nay cũng có nghĩa là chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau như lời nguyện sau đây:


Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
Lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt,
Xin hãy gọi tên chúng con
Như Chúa đã gọi tên
Chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.
Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc,
Xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài.
Như Chúa đã đi với hai môn đệ emmau.
Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hải,
Xin hãy đến và đứng giữa chúng con
Như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.
Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em,
Xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con
Như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.
Lúc chúng con vất vả suốt đêm mà không được gì,
Xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn,
Như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
Xin tỏ mình ra
Cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày,
Đẻ chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến,
Và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.

LM. Giuse Trương Đình Hiền

 

PS2-218: ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ

Ga 20, 19 - 31
 

Sự kiện Chúa Giêsu Phục sinh không những là chuyện khó tin, khó hiểu đối với người thời đại nhưng: PS2-218

Sự kiện Chúa Giêsu Phục sinh không những là chuyện khó tin, khó hiểu đối với người thời đại nhưng nó vẫn luôn là một thách thức cho niềm tin của mọi Kitô hữu và ngay cả các tông đồ là những người sống cùng thời với Chúa. Mà đại biểu cho niềm tin yếu kém ấy chính là tông đồ Tôma.
Chúng ta phải công nhận rằng, dù sống cách chúng ta hằng 20 thế kỷ nhưng Tôma có tâm trạng và lối suy nghĩ giống với suy nghĩ của con người sống trong thời đại khoa học hôm nay. Ông thuộc mẫu người có đầu óc thực tế. Ông chỉ xác nhận những gì là chân lý khi được kiểm chứng bằng giác quan. Tuy nhiên, ông quên một điều quan trong là không phải tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống là tuyệt đối và chắc chắn, điều có thể kiểm chứng bằng giác quan, nhất là trong lãnh vực tinh thần. Khổng Tử có nói: "những gì mắt thấy, tai nghe chưa hẳn là sự thật".
Qua thật, kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta thấy, có quá nhiều vấn đề mà chúng ta không thể giải quyết với kiến thức khoa học. Khoa học không phải là tất cả và sự hiểu biết của con người vẫn luôn là giới hạn. Khoa học không thể cho chúng ta thấy được ý nghĩa của cuộc sống này, cũng như không thể cất đi những đau khổ mà con người đang phải đương đầu gánh chịu. Nhưng câu hỏi: Con người từ đâu tới? Rồi sẽ đi về đâu? Đằng sau cuộc sống đầy những nuớc mắt và hạnh phúc là gì...? Vẫn luôn là một dâu chấm hỏi thách thức các nhà khoa học.
Chúng ta tưởng rằng khi khoa học phát triển đến một cạnh giới rực rỡ thì chúng có có thể xóa hết mọi đau khổ của kiếp người. Nhưng thực tế cuộc sống hôm nay cho chúng ta câu trả lời chính xác: có qua nhiều chiến tranh, quá nhiều bệnh tật, quá nhiều vũ khí giết người tối tân do con người tạo ra...một sự thật là con người có nguy cơ là nạn nhân của khoa học: vũ khí hạt nhân, bom nguyên tử... Đương nhiên chúng ta không phủ nhận những giá trị và những cống hiến của khoa học cho công ích con người nhưng nếu khoa học không được đặt trên nền tảng ý nghĩa của cuộc sống con người thì nó trở thành thảm họa cho nhân loại.
Với cách suy nghĩ cá nhân và với đầu óc khoa học của mình, Tôma có quyền đặt nghi vấn cho sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu do các Tông đồ thuật lại. Ông đòi được thấy và chạm vào Chúa. Và rồi Chúa đã hiện ra, có mặt Tôma. Chúa chê ông cứng lòng tin trước những lời chứng của anh em. Nhưng Ngài cũng đáp ứng khát vọng của ông. Đểø rồi ông cũng đượcthấy và tin như anh em.
Xung quanh chúng ta hôm nay, cũng có nhiều người như Tôma, thậm chí còn cứng lòng hơn Tôma. Họ đòi được thấy và chạm đến những thực tại vô hình như: Thiên Chúa, linh hồn, đời sau... rồi mới tin. Nhưng liệu khi thấy và chạm đến thì đức tin có còn cần thiết và có ý nghĩa gì nữa không?
Thật ra đức tin và lý trí không mâu thuẫn nhau. Nhưng bổ túc cho nhau: chính đức tin làm cho chúng ta hiểu biết sâu rộng hơn và cũng chính nhờ lý trí mà niềm tin của chúng ta thêm vững chắc.
Trước những tực tại vô hình thì sự tuân phục của đức tin vẫn luôn cần thiết. Chính nhờ sự tuân phục của đức tin mà những người phụ nữ viếng mồ Chúa nhận ra Chúa Giêsu phục sinh và trở thành nhân chứng cho Người. Các Tông đồ cũng thế. Cách nào đó họ có diễm phúc hơn chúng ta. Nhưng đức tin của họ cũng không được trang bị hơn chúng ta bao nhiêu khi đứng trước sự kiện Chúa Giêsu sống lại và hiện ra. Sự khác biệt giữa Tôma và các Tông đồ khác chính là sự tuân phục của đức tin. Phép lạ chính yếu không phải là một việc phi thường mà trước tiêm là một gặp gở trong đức tin. Chỉ có trong đức tin con người mới nhận ra phép lạ, và cũng chỉ trong đức tin chúng ta mới có thể gặp được Đức Kitô phục sinh.
Đức tin của chúng ta hôm nay dựa trên đức tin của những người đã thấy và đã tin, đã dám hy sinh mạng sống để nói lên rằng Chúa đã sống lại. Vì thế, chúng ta cũng phải giúp người khác thấy và chạm đến Chúa. Muốn thế, chúng ta cần phải sống như người đang thấy Chúa. Thấy Chúa phục sinh khi sống thanh thoát, không bám díu vào những danh lợi thấp hèn. Tin Chúa phục sinh khi nhận ra ý nghĩa của thập giá đau khổ chỉ là chặng đường tiến đến sự sống vĩnh cữu. Tin vào Chúa Phục sinh là dám hiến thân vì hạnh phúc nhân loại. Vì nếu tin vào Chúa phục sinh mà con tha thiết với cuộc sống trần thế đến nỗi sợ thiệt thân, ngại hy sinh... thì đó là niềm tin giã tạo.
Lạy Chúa Kitô phục sinh, xin cho ánh sáng của Chúa hướng dẫn tâm trí, suy nghĩ và hành động của chúng con, để trong tất cả mọi sự chúng con luôn sống theo thánh ý Chúa. Xin cho chúng con nhận ra được giới hạn của lý trí và sự yếu kém của đức tin để cần được Chúa gia tăng đức tin và mở mang trí hiểu. Ước gì sự hiểu biết của con không làm cho con rời xa Chúa mà kéo chúng con đến gần Ngài hơn để chúng con nhận ra tình thương của Chúa hiện diện quanh con trong từng phút giây của cuộc sống.

 

PS2-219: HÃY TIN

Ga 20, 19 - 31
 

Khi bị quân dữ bắt và tra tấn, mọi Tông đồ đều bỏ và chối Chúa, chỉ trừ một mình thánh Gioan. Trên: PS2-219

Khi bị quân dữ bắt và tra tấn, mọi Tông đồ đều bỏ và chối Chúa, chỉ trừ một mình thánh Gioan. Trên cây Thánh Giá Chúa cũng chỉ nhìn thấy một Thánh Gioan bên cạnh và mẹ Người. Khi Chúa sống lại thì các tông đồ lại không tin, dù những người phụ nữ ra mồ trông thấy và đã nói một cách khẳng định cho họ, nhưng họ vẫn không tin. Nhưng Chúa vẫn không hề bực tức hay khó chịu, còn tỏ ra khoan hồng đến nỗi hiện ra với họ, để cho họ trông thấy mà không còn nghi ngờ nữa. Và hơn thế, khi nói chuyện, Người không một lời la rầy, mắng nhiếc cũng không, và nhất là không nhắc đến sự hèn nhát, bội phản và yếu tin của họ. Chắc chắn lần hiện ra này không phải chỉ có Đức Giêsu Phục Sinh, mà tất cả mọi người chúng ta ai cũng nghĩ tất cả các Tông đồ không còn ai dám nghi ngờ hay yếu tin nữa. Nhưng không phải thế! Chúa hiện ra và ban cho các Tông đồ ơn huệ được "mắt thấy" , "tai nghe". Má những ân huệ đó chúng ta chỉ có thể cảm nghiệm được khi chúng ta có đức tin.
Than ôi! đức tin là cái mà con người ta thường không có. Phúc âm hôm nay kể lại sự cứng lòng tin của Thánh Tôma. Khuýnh hướng đó cũng chính là khuynh hướng của những con người đang sống trong thời đại hôm nay. Ai ai cũng muốn sống bằng thực nghiệm bằng kiểm chứng, chỉ muốn tin cái gì mắt mình trông thấy, trí mình hiểu được. Còn cái gì mà người khác thuật lại, phải nhờ người khác cho biết thì khó tin, và cho là nhảm nhí. Vì thế, sự thật mà nói ai ai trong chúng ta cũng muốn được xỏ ngón tay vào lỗ đinh và bàn tay vào cạnh nương long Chúa thì mới tin ở Người.
Người cứng tin nhất chắc chắn là Tôma và người được may mắn nhất chắc cũng là ông, được thỏa tính tò mò, được đặt tay vào lỗ đinh và bàn tay vào cạnh nương long Chúa. Vì chính ông đã đòi hỏi đích thân động đến Chúa thì ông mới tin, nên Chúa đã phán với ông: "Vì đã thấy nên con tin. Phúc thay những người không thấy mà tin". Do đó, Chúa muốn đòi mỗi người chúng ta hãy rút ra bài học kinh nghiệm từ Tôma. Khi thấy thì mới tin thì chẳng còn gì lạ, mà hãy tin khi chưa thấy. Đó mới là đức tin Chúa cần nơi mỗi người.
Thật ra tin chính là chấp nhận có một cái gì đó mà ta chưa thấy, nhưng phải phó thác vào một người thật đáng tin cậy. Như thế, đức tin của chúng ta là phó thác vào sự chân thật của Thiên Chúa để mà chấp nhận những chân lý đã được Người truyền dạy. Mặc dù lúc đó ngũ quan ta không cảm thấy và trí khôn ta không hiểu được. Nhưng cũng đừng hiểu lầm tin như thế là mù quáng, nhưng mù quáng sao được khi ta tin vào một người rất đáng tin cậy, vì thế lòng tin của ta thật có lý.
Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng đã phải tin nhiều điều chúng ta không thấy rồi. Như ông bà ổ tiên, chúng ta cũng đâu thấy các ngài, cũng đâu sờ được các ngài, cũng đâu trò chuyện được với các ngài, nhưng chúng ta vẫn tin trong quá khứ vẫn có các ngài. vậy ai có thể quả quyết chỉ tin những điều mình trông thấy, và coi tất cả những người nói cho mình biết điều mình không trông thấy là dối trá, thì người ấy không thể sống trong xã hội loài người được. Vì trong xã hội loài người mối tương thân tương trợ, chỉ bảo, nương tựa tin tưởng lẫn nhau là điều cần thiết. Ngược lại, người không tin tưởng vào bất cứ ai, chứng tỏ họ không có một nhân cách thật sự, chỉ biết cố thủ trong ốc đảo ích kỷ nghi ngờ, nhìn người khác với cặp mắt giả dối, vì chỉ có người dối trá mới không tin vào lời người khác nói là sự thật, chỉ có người hà tiện mới không tin người rộng rãi. Một người không dám đặt niềm tin vào ai, chứng tỏ mình thiếu hẳn các đức tin của một con người. Đó là nhìn vào phạm vi tự nhiên. Trong phạm vi siêu nhiên sự lệ thuộc của ta vào Thiên Chúa còn sâu xa hơn sự lệ thuộc của ta vào xã hội nhiều. Vì thế đức tin không những cần thiết mà còn đánh giá sự thánh thiện của mỗi người, vì người thánh thiện chắc chắn phải có một đức tin chuyển được núi, vì người ấy nhận biết Thiên chúa toàn năng và đặt cả niềm cậy trông của mình vào Người.
Lạy chúa, chúng con không được may mắn như các tông đồ, được trông thấy Chúa, sờ đến Chúa, nói cùng Chúa và ăn uống với Người. Nhưng chúng con lại được may mắn chứng kiến rất nhiều người đã sống cho Chúa và chết cho chúa. Vì chỉ có Chúa Phục Sinh thật sự mới là động lực như thế. Xin cho con biết vững tin. Amen.

 

PS2-220: TIN - NGƯỜI CÓ PHÚC

Ga 20, 19 - 31
 

Chuyện kể rằng: Một môn đệ của Khổng Tử hỏi sư phụ: "Thưa thầy, đâu là yếu tố cơ bản của một chính: PS2-220

Chuyện kể rằng: Một môn đệ của Khổng Tử hỏi sư phụ: "Thưa thầy, đâu là yếu tố cơ bản của một chính quyền vững chắc?". Sư phụ đáp: "Đủ lương thực, binh khí và lòng tin của dân". "Nhưng giả sử thầy phải cắt giảm một trong ba thứ đó, thầy sẽ bỏ cái nào?". "Binh khí". "Giả sử chỉ chọn một trong hai thứ còn lại, thầy sẽ bỏ cái nào?". "Lương thực. Chết là phần số của mọi người. Nhưng dân tộc không còn lòng tin vào lãnh đạo, dân tộc ấy sẽ tan rã!".
Vâng, không chỉ trong cộng việc lãnh đạo đất nước, mà bất cứ mối quan hệ nào cũng cần phải có lòng tin. Vợ chồng tin nhau, trò tin thầy, bạn bè tin tưởng nhau, tin tưởng đối tác làm ăn... Nếu mất niềm tin lẫn nhau, chẳng thể giao tế gì với nhau được nữa. Do đó, mỗi người phải tạo uy tín cho mình nơi người khác dựa trên sự thật.
Tin mừng về "Đức Kitô đã bị giết đi và Thiên Chúa đã cho Người sống lại" (x. Cv 2,23-24) không phải là tin đồn nhảm. Đây cũng không phải là chuyện bịa đặt lừa dối thiên hạ. Chính các Tông đồ đã thấy và đã làm chứng. Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại biến cố Đức Giêsu hiện ra với các Tông đồ, cho các ông tận mắt xem thấy thân xác sống lại của Người và sai các ông đi loan báo cho mọi người, để mọi người "nhờ tin mà được sống nhờ danh Người" (Gn 20,31).
Đức Giêsu không bao giờ lừa dối chúng ta. Hơn nữa, việc nầy chẳng mang lại cho Người ích lợi gì. Nhưng vì phần rỗi của chúng ta, Người đã hiện ra với các Tông đồ, những người bảo tồn và loan báo niềm tin Phục Sinh. Như vậy, niềm tin của chúng ta không đơn độc, không mù quáng. Chưa có một bằng chứng nào cho thấy tin vào Đức Kitô Phục Sinh là chuyện hoang đường, phù phiếm. Có hay chăng chỉ là những suy nghĩ thiếu đức tin mà thôi. Thử hỏi những kẻ chối bỏ niềm tin Phục Sinh giờ ở đâu? Tất cả đã qua đi với thời gian. Đức Kitô Phục Sinh vẫn ngời sáng từ lúc bước ra khỏi huyệt mộ cho đến ngày nay. Điều đó được minh chứng bằng Tin Mừng Phục Sinh của Người, Tin mừng ấy đã - đang và sẽ vang mãi cho đến tận cùng thời gian.
"Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin" (Gn 20,25). Sự cứng lòng của Tôma phản ánh lại thử thách đức tin mà mỗi người chúng ta thường gặp phải. Rất nhiều lúc chúng ta rơi vào tình cảnh của Tôma, "không thấy, không tin", một đòi hỏi về tính chắc chắn. Nhưng nếu đã thấy rồi thì chỉ chấp nhận sự thật thôi, khi đó không cần đến lòng tin nữa. Như thế, tin là chấp nhận những điều mình không thấy; và tin như thế mới thật là có phúc (x. Gn 20,29).
"Vì đã thấy Thầy nên anh tin, phúc cho những ai không thấy mà tin" (Gn 20,29). Lời phê bình nhắm vào sự bướng bỉnh của Tôma, lại là lời khích lệ đối với chúng ta, là những người được đòi hỏi phải tin vào Đức Kitô Phục Sinh, mặc dù không có khả năng nhìn thấy hoặc đụng chạm vào Người. Người ta nói: "Muốn xem thấy cầu vồng, phải biết chịu đựng cơn mưa". Thiên Chúa để chúng ta gặp thử thách trong đời sống đức tin là vì yêu ta và để ta chứng tỏ tình yêu dành cho Ngài. Giữa những thử thách mà ta vẫn giữ được lòng tin của mình thì ta càng xứng đáng hơn với tình yêu Chúa dành cho ta.

 

PS2-221: CHO NIỀM TIN QUAY VỀ

Ga 20, 19 - 31
 

Sau cái chết của Thầy Giêsu, thì kể như mọi hy vọng và kế hoạch âm thầm nơi các môn đệ của Ngài: PS2-221

Sau cái chết của Thầy Giêsu, thì kể như mọi hy vọng và kế hoạch âm thầm nơi các môn đệ của Ngài cũng tan thành mây khói. Giờ đây, ngẫm nghĩ "sự đời", chắc các ông hơi nuối tiếc và hối hận vì đã chọn lựa sai lầm khi bước theo một người thầy có tên gọi Giêsu! Giờ đây, các ông phải sống trong căn phòng đóng kín vì sợ người Do thái; sợ họ làm khó dễ một phần, nhưng chắc cũng sợ miệng đời thị phi! Tôma, người hay vắng mặt nơi cộng đoàn bé nhỏ này chắc cũng vì đang mang tâm trạng buồn chán và thất vọng ấy. Tôma ra đi kéo theo cả niềm tin đã tắt lịm hay đã lệch hướng theo mình.
Nhưng rồi mọi sự đã thay đổi trong chớp mắt, vượt quá sức mong đợi hay nghĩ tưởng của các môn đệ Đức Giêsu. Ngài đã hiện đến với các ông mang theo niềm vui, hy vọng và bình an tràn đầy tâm hồn các ông. Aùnh sáng đã bừng lên giữa màn đêm tăm tối. Cộng đoàn bé nhỏ ấy đã bừng lên ánh sáng tin yêu và hy vọng. Nhưng niềm vui của các ông cũng còn chút gì đó chưa trọn vẹn bởi còn một thành viên đang vắng mặt. Rồi Tôma trở về, về thăm anh em mình nhưng cũng trong tâm trạng buồn hiu và thất vọng của ngày nào. Niềm tin của ông vẫn còn tắt lịm hay đang lạc lối nơi nao. Nghe các anh em bạn mình nói là đã thấy Thầy hiện ra và Thầy vẫn đang sống, ông cho đó là chuyện đùa của trẻ con. Niềm tin tắt lịm đã không cho ông tin nhận điều đó. Ông đã phủ nhận những gì các anh em mình nói lại bằng những lời đầy thách thức: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin" (Ga 20, 25).
Rồi 8 ngày sau đó, Tôma đã chứng kiến được điều ông đã liều lĩnh nói trong lúc chán nản vì thiếu vắng niềm tin. Và khi đã tận mắt nhìn thấy Chúa Giêsu, ông đã thốt lên rằng: "Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi". Lời nói của một con người tuyệt đối tin tưởng được thốt ra. Niềm tin của Tôma giờ đây đã sống lại, đã quay về với ông cách mãnh liệt nhất. Tôma là môn đệ cuối cùng tin vào Chúa Giêsu Phục sinh, nhưng ông đã tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu cách mãnh liệt nhất và cao độ nhất. Phải chăng, có lạc lối thì khi trở lại mới thấy mình hạnh phúc; có sai lầm thì khi hồi tâm mới nhận ra trọn vẹn ý nghĩa của tình yêu! Cho nên điều quan trọng không phải là tôi phạm tội, nhưng là tôi biết nhận ra tội lỗi để tôi hồi tâm quay về và cố gắng hết mình để sửa chữa. Cũng vậy, điều quan trọng không phải là lạc lối, nhưng biết mình lạc lối và can đảm quay về mới là quan trọng trước mặt Thiên Chúa.
Dù các môn đệ đã nhận ra sự thật là Thầy Giêsu của mình đã Phục sinh và không ai còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng niềm tin của các ông vẫn còn là niềm tin của những con người tin ở cấp độ thấp: thấy mới tin. Niềm tin đòi có dấu hiệu để kiểm chứng là niềm tin còn yếu kém và ở mức độ thấp. Đức Giêsu muốn nâng đức tin và tâm hồn của các ông lên một mức độ cao hơn "Phúc cho những ai không thấy mà tin" Và lời chúc phúc này là dành cho chính chúng ta đó. Đức tin không cần kiểm chứng mới thật là đức tin trọn hảo và vững mạnh.
Chúa Giêsu Phục sinh đang sống và đang hiện diện với từng người chúng ta trong cách thức siêu nhiên. Ngài không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian nữa. Cũng như Đức Giêsu đã đến với các môn đệ đang họp nhau trong căn nhà tiệc ly đang đóng kín sau ngày Ngài Phục sinh, thì hôm nay, Ngài cũng vượt qua các bức tường và rào cản trong hay ngoài chúng ta để đến với chúng ta, để hiện diện với chúng ta bằng nhiều cách thức khác nhau.
"Phúc cho những ai không thấy mà tin". Lời hứa này của Chúa Giêsu đảm bảo với chúng ta rằng: Không một thế hệ nào sẽ bị kém ưu ái hơn so với các môn đệ ngày xưa. Chúng ta hãy thắp lửa tin yêu lên trong lòng chúng ta để cho niềm tin của chúng ta quay về. Vì rất có thể, với những quyến rũ của trần gian, niềm tin vào Đức Giêsu Phục sinh của chúng ta đã tắt lịm hay còn lạc lối ở phương trời xa xôi nào đó. Sống đạo đích thực là làm cho niềm tin quay về trong ta và làm cho niềm tin đó bừng sáng lên trong ta mỗi ngày, để trong mọi hoàn cảnh, chúng ta vẫn hiên ngang tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa của chúng ta. Amen.

 

PS2-222: ĐỨC TIN

Ga 20, 19 - 31
Lm Trần Thanh Sơn

 

Bài Tin mừng này thuật lại hai lần hiện ra của Đấng Phục Sinh với các tông đồ sau khi Ngài sống: PS2-222

Bài Tin mừng này thuật lại hai lần hiện ra của Đấng Phục Sinh với các tông đồ sau khi Ngài sống lại. Lần đầu tiên không có sự hiện diện của tông đồ Tôma. Rồi sau đó tám ngày, lúc "các tông đồ họp nhau lại trong nhà, và có Tôma ở với các ông", thì Đấng Phục Sinh lại hiện ra với họ một lần nữa. Khi nghe đọc đoạn Tin mừng này, chắc có lẽ trong tâm trí mỗi người chúng ta đều nghĩ tới sự cứng tin của tông đồ Tôma. Mặt khác, kết thúc đoạn Tin mừng này, thánh sử Gioan cũng viết: "Những điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng: Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người".

Như thế, đức tin chính là chủ đề quan trọng của phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay. Để thấy rõ hơn điều này, chúng ta cùng xem lại các bài đọc Kinh thánh mà chúng ta vừa nghe.

1. Đức tin, ân ban của Thiên Chúa:
Khởi đầu bài Tin mừng, thánh Gioan thuật lại: "Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kính, vì sợ người Do-thái". "Ngày thứ nhất trong tuần", nghĩa là ngày thứ ba kể từ khi Đức Giêsu chịu chết trên cây thập giá, ngày mà Đức Giêsu đã ba lần báo trước cho các môn đệ là Người sẽ Phục Sinh (x. Mt 16, 21-23; 17, 22-23; 20, 17-19). Vậy mà các ông vẫn ở trong nhà "cửa đóng kín vì sợ người Do-thái". Điều đó cho thấy: mặc dù đã đi theo Đức Giêsu, cùng ăn, cùng ở với Ngài suốt ba năm, đã nghe Đức Giêsu giảng dạy chung với dân chúng, cũng như nhiều lần tâm sự riêng với Ngài. Thế nhưng, các tông đồ vẫn chưa thật sự xác tín vào Đức Giêsu. Họ còn nghi ngờ, không biết lời Ngài nói có thật không. Tâm hồn họ đang hoang mang, xao xuyến.

Thế rồi ngay giữa lúc họ đang bối rối, băn khoăn như thế, Đấng Phục Sinh đã đến với họ. Ngài đã đi ngang qua "cửa nhà còn đóng kín" để đến với họ. Vừa gặp họ, Ngài liền nói: "Bình an cho các con". Đức Giêsu Phục Sinh đã đến và ban cho các tông đồ sự bình an, nghĩa là Ngài đến để ban và củng cố niềm tin của các ông, giúp các hiểu thấu tất cả những gì Ngài đã nói, đã thực hiện. Thậm chí, Ngài còn chiều lòng để hiện ra lần nữa với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin".

Như thế, chúng ta có thể thấy được: đức tin trước hết là một ân ban của Thiên Chúa. Ngay sau khi Phục Sinh, vào ngày thứ nhất trong tuần, chính Đức Giêsu đã chủ động đến với các tông đồ để củng cố niềm tin cho các ông. Rồi sau đó, Ngài còn hiện ra lần nữa để củng cố lòng tin cho tông đồ Tôma, và qua Tôma, Ngài cũng muốn ban ơn đức tin cho mỗi người chúng ta.

Các tông đồ là những người đã chứng kiến tận mắt, sờ tận tay, nghe tận tai lời của Đấng Phục Sinh (1 Ga 1, 1-2). Các ngài chính là những chứng nhân sống động cho sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Mặt khác, nhận được ơn đức tin, các tông đồ cũng không giữ cho riêng mình, theo lệnh của Đấng Phục Sinh, các ngài đã ra đi khắp nơi, loan báo cho muôn dân về Tin mừng Phục Sinh của Đức Giêsu. Như thế, đức tin của mỗi người chúng ta hôm nay, trước hết là một ân ban của Thiên Chúa, kế đến đức tin đó còn được đặt nền tảng trên các tông đồ là những thị chứng nhân đầu tiên của Đấng Phục Sinh.

Tuy nhiên, để đức tin này dù sao, cũng chỉ là một khởi đầu, để đức tin đó thực sự sống động, mỗi người chúng ta cũng cần đóng góp phần mình để mầm đức tin đó ngày càng được phát triển một cách sung mãn hơn.

2. Phương thế phát huy đức tin:
Sách Công vụ tông đồ thuật lại: "Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các tông đồ, việc hiệp thông huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện...Họ bán tài sản tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người". Nhờ đó, "Hằng ngày, Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi".

Dựa vào đó, chúng ta có thể nói rằng: đức tin của của các tín hữu ban đầu đã được nuôi dưỡng, và phát triển nhờ việc họ thường xuyên kết hợp với Chúa và chia sẻ với anh chị em.

Trước hết là việc kết hợp với Đấng Phục Sinh. Đây là điều hết sức quan trọng và cần thiết, nếu chúng ta muốn đời sống đức tin của mỗi người chúng ta ngày càng lớn mạnh và vững chắc, chúng ta cần thường xuyên kết hợp với Đấng Phục Sinh, bởi lẽ Ngài chính là Đấng ban ơn đức tin cho chúng ta. Các tín hữu thuở ban đầu đã kết hợp với Chúa bằng cách "bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các tông đồ, việc bẻ bánh và cầu nguyện chung với nhau". Lúc đó, chưa có Thánh Lễ như chúng ta hôm nay, nhưng họ vẫn thường xuyên tụ họp với nhau để nghe lời giáo huấn của các tông đồ, rồi sau đó, họ đã cùng tham dự việc "bẻ bánh", nghĩa là các tín hữu đã cùng tham dự sốt sắng bàn tiệc Lời Chúa, lẫn bàn tiệc Thánh Thể. Lời Chúa và Thánh Thể chính là lương thực không thể thiếu trong đời sống đức tin của mỗi người tín hữu. Chính vì thế trong tông thư "Mane nobiscum Domine!" về Năm Thánh Thể, Đức Thánh Cha Gioan - Phaolô II đã mời gọi chúng ta: "Hãy cử hành Thánh Lễ Chúa Nhật một cách trọng thể, biến ngày đó thành ngày của Chúa và ngày của Giáo Hội" (Sđd, số 23).

Và rồi cũng giống như hai môn đệ trên đường Emmaus, sau khi đã đón nhận được lời Chúa và Thánh Thể làm lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh, các tín hữu thuở ban đầu đã nhiệt thành "bán tài sản tài sản gia nghiệp, rồi phân phát cho mọi người tuỳ nhu cầu từng người. Hằng ngày, họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau". Nhờ đó, "Hằng ngày, Chúa cho gia tăng số người được cứu rỗi". Như thế, đời sống bác ái chia sẻ, cùng với sự hiệp nhất yêu thương của mỗi người chúng ta từ trong gia đình cho đến cộng đoàn giáo xứ trong cuộc sống thường ngày, sẽ là một dấu chứng sống động cho thấy mức độ kết hợp của chúng ta với Đấng Phục Sinh. Cũng trong Tông thư nói trên, lấy lại lời của thánh Phaolô, Đức Thánh Cha Gioan - Phaolô II đã nói tiếp: "Việc cử hành Thánh Thể sẽ thiếu sót nếu không thực thi việc chia cơm, sẻ áo cho những người túng nghèo" (Sđd, số 28).

Cuối cùng, theo cái nhìn của thánh Phêrô trong bài đọc hai, đức tin của chúng ta còn được phát triển nhờ chính những thử thách, gian truân trong cuộc sống mỗi ngày của chúng ta. Những khó khăn trong cuộc sống của chúng ta chính là "ngọn lửa" Thiên Chúa gởi đến để tôi luyện đức tin của chúng ta, để nhờ đó chúng ta "được ngợi khen, vinh quang và danh dự".

Từ ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, chúng ta đã được nhận lãnh hồng ân đức tin. Giờ đây, noi gương các tín hữu thuở ban đầu, chớ gì từng người trong giáo xứ chúng ta cũng nhiệt thành, sốt sắng hiệp dâng Thánh Lễ và hiệp lễ mỗi ngày, nhất là ngày Chúa Nhật, để nhờ đó, đức tin của chúng ta ngày càng vững chắc hơn. Đồng thời, khi rời ngôi Thánh Đường này trở về nhà, chúng ta hãy sống yêu thương, hiệp nhất với nhau, như là một cách thế cụ thể nhất để biểu lộ niềm tin của chúng ta. Amen.


 

PS2-223: NẾU TÔI KHÔNG XỎ NGÓN TAY VÀO LỖ ĐINH

Ga 20, 19 - 31
Lm Cosma Hoàng Văn Đạt, SJ

 

Có thể nói thánh Tôma là một người rất hiện đại. Ngài đòi hỏi phải thấy, phải chạm vào, phải: PS2-223

Có thể nói thánh Tôma là một người rất hiện đại. Ngài đòi hỏi phải thấy, phải chạm vào, phải chứng nghiệm được mới tin. Đó chính là não trạng khoa học đang rất phổ biến trong thế giới ngày nay.

Tất nhiên không phải ai cũng như vậy. Thánh Gioan chỉ cần thấy ngôi mộ trống thì hiểu Thánh Kinh và tin Chúa Giêsu đã phục sinh. Các môn đệ khác hầu hết nhờ thấy Chúa Giêsu phục sinh nên tin. Có những người chỉ cần lời chứng của các tông đồ cũng đủ để tin. Ngày nay hầu hết chúng ta không thấy Chúa Giêsu hiện ra cho xem chân tay và ăn cá nướng để chúng ta tin. Lời chứng của các tông đồ và của cả Hội Thánh trong 20 thế kỷ qua được chúng ta coi là đủ để tin. Đó là những người Chúa Giêsu gọi là "không thấy mà tin".

Nhưng thời nay cũng như thời xưa, vẫn có những người đòi hỏi như thánh Tôma. Chúa Giêsu đã từng đáp ứng những đòi hỏi xem ra quá quắt ấy của thánh Tôma ngày xưa. Còn những "thánh Tôma" ngày nay thì sao? Họ chờ mong được xỏ ngón tay vào lỗ đinh và thọc bàn tay vào vết giáo trên cạnh sườn nơi thân thể Đức Kitô phục sinh là Hội Thánh. Đã từng có những chi thể của Đức Kitô mang thương tích vì yêu mến tha nhân, thương tích trên chân tay hay trong trái tim. Và ngay ở đầu thế kỷ XXI này, những thương tích ấy vẫn khá rõ ràng.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã "cho thánh Tôma xem năm dấu mình", nay xin cũng cho các môn đệ Chúa biết yêu mến đến phải mang thương tích để thỏa mãn những người đòi hỏi phải thấy bằng chứng yêu thương qua những dấu tích nơi Hội Thánh và từng môn đệ Chúa.


 

PS2-224: ĐỨC GIÊSU, VỊ LƯƠNG Y GIỎI CỦA TÂM HỒN

Ga 20, 19 - 31
Phạm Yên Thịnh, SVD

 

Phương pháp chữa bệnh của Đức Giêsu: 1. Tiếp xúc - đồng hành 2. Lắng nghe. 3. Hồi đáp - phân: PS2-224

Phương pháp chữa bệnh của Đức Giêsu:
 
  • 1. Tiếp xúc - đồng hành
  • 2. Lắng nghe.
  • 3. Hồi đáp - phân tích
  • 4. Gợi ý một lối thoát (một hướng giải quyết)
  • 5. Để người được chữa trị tự quyết định lối đi (đứng dậy, tiếp tục cuộc hành trình)
Câu chuyện hai môn đệ đi đường Emmau là một câu chuyện hết sức nổi tiếng, và thông thường khi đề cập đến câu chuyện này chúng ta thường nhấn mạnh đến vai trò truyền giáo trong Giáo hội, hay nói cách khác là tinh thần sẵn sang trở về Giêrusalem với anh em mình để loan báo tin vui Phục sinh của hai môn đệ sau khi được chính mắt gặp Đức Giêsu. Còn ở đây, nếu đứng về khía cạnh tâm lý hay đứng về khía cạnh chữa trị nội thương thì ta thấy Chúa Giêsu quả là một chuyên gia chữa trị vết thương lòng hết sức tài tình.

Khi biết 2 môn đệ buồn phiền rời bỏ Giêrusalem đi về nhà, với bước chân nặng nề uể oải, thì Chúa Giêsu liền xuất hiện giữa họ. Thông thường người gặp chuyện buồn ít có sẵn sàng để ý đến người khác, không dám để ý đến người xung quanh mà âm thầm chịu đựng mặc dầu trong thâm tâm của họ rất cần đến người khác quan tâm. Biết được tâm tình của họ lúc này, biết được sự thất vọng của họ khi niềm hy vọng về vị ngôn sứ Giêsu không giống như ý họ muốn, thấy được đôi chân nặng nề của họ thì Đức Giêsu đã chủ động "đến với họ, Ngài đồng hành với họ" (Ga 20: 15). Đây là hành động rất cần thiết đầu tiên của người bác sỹ tâm lý, khi muốn giúp người đang gặp chuyện buồn, thì việc cần thiết trước hết là tạo được mối tương quan thân thiện, làm sao để họ thấy mình sẵn sàng chia sẻ nỗi buồn với họ.

Bước tiếp theo Đức Giêsu đã thực hiện, đó là giúp họ nói ra được vấn đề họ đang gặp khó khăn, giúp họ chia sẻ nỗi đau trong cõi lòng của mình. Lúc này một chuyên gia giỏi sẽ là người biết gợi ý cho họ nói, nhưng đồng thời chuyên gia đó lại là người cần biết lắng nghe. Nhiều lúc vai trò của họ như là một "chiếc máy ghi âm biết phân tích". Điều này Đức Giêsu thật là một chuyên gia, chỉ cần một câu hỏi "các anh đang bàn tán với nhau chuyện gì thế?" đã khiến họ có chút lý do để đi vào câu chuyện. Mặc dầu ban đầu 2 môn đệ có một chút kháng cự: "họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu (Ga 20: 15). Thông thường đó là phản ứng của những người "bệnh", vì tự nhiên có người muốn xâm nhập vào thế giới đau khổ của họ, nhưng đó cũng là lúc họ bắt đầu tỏ lộ, nếu chuyên gia chữa trị biết cách xử lý thích hợp và khéo léo. Và quả thật, trước phản ứng đó Đức Giêsu rất bình tĩnh, im lặng trong chốc lát, để họ mở miệng ra mà hỏi lại Ngài. Như thế cũng là để con bệnh có cơ hội để nhận biết kẻ muốn nói chuyện với mình là ai, có đáng tin cậy hay không. Quả thật, Chúa hiểu điều họ muốn nói nhưng Ngài vẫn để cho họ tự nói ra, vì thế Ngài muốn hỏi lại: "Chuyện gì vậy?" Và thế là một câu chuyện dài về nỗi đau của họ bắt đầu. Có nhiều chuyên gia biết đại khái vấn đề của người bệnh, nhưng họ vẫn để cho con bệnh của mình tự miệng nói ra tất cả, bác sĩ không bao giờ dùng kinh nghiệm của mình để đoán về diễn biến tâm lý và tinh thần của người gặp khó khăn.

Bởi thế, Đức Giêsu đã hết sức chú tâm lắng nghe họ nói, Ngài không hề cắt đứt, không hề xen kẽ vào câu chuyện của họ. Điều quan trọng trong công tác điều trị vết thương lòng của bệnh nhân ở đây là nếu để họ nói ra thì là lúc họ giải toả được những sức ép, những cảm giác buồn phiền bị dồn nén trong lòng. Khi họ nói chúng ta cũng cần lắng nghe như thế mới hiểu được vấn đề của họ ở đây là gì, với lại mỗi người gặp khó đều có lý do và diễn biến nhiêu khi không giống nhau.

Như thế vấn đề của 2 môn đệ ở đây, cũng có thể nói điều khiến họ đau lòng ở đây là nỗi thất vọng về vị ngôn sứ Giêsu, cũng là Thầy của họ, là một người có uy thế trước mặt người đời và trước mặt Thiên Chúa, họ đã sẵn sàng theo Người để làm môn đệ của Người nhưng các thượng tế đã kết án sử cho Người, Người đã chết được 3 ngày và hôm nay có mấy bà trong nhóm họ ra thăm mộ thì không thấy xác Người nữa.

Như thế trong khi họ nói ra câu chuyện thì Đức Giêsu thấy được vấn đề lớn của họ là hiểu sai về Đức Giêsu. Trước mắt họ Đức Giêsu chỉ là người sẽ là Đấng cứu chuộc Israel, là người lãnh đạo dân kiến tạo lại Vương Quốc Israel đã bị tàn phá. Như vậy, bước tiếp theo của Đức Giêsu là giúp họ nhìn nhận đúng vấn đề, giúp họ giải thoát được sự đau khổ và nỗi thất vọng trong lòng và giúp họ lấy lại được niềm tin và sự vui mừng về Đức Giêsu phục sinh.

Thông thường, khi người ta gặp chuyện buồn, hay nội tâm bị thương hại thì người ta khó nhận ra được sự thật của vấn đề, người ta hay có chiều hướng suy nghĩ tiêu cực, trước mắt họ điều xảy ra với mình chính là những điều tồi tệ, chống lại họ. Khi biết được vấn đề này của bệnh nhân, khi nghe biết mọi chuyện liên quan đến căn bệnh của họ, thì đây là lúc người chữa trị cần có những lời phúc đáp thích hợp, chính xác. Trước tiên Đức Giêsu phân tích cho họ về sự thật vấn đề, về hiện tượng Đức Giêsu, người mà họ cho là một ngôn sứ đã bị giết chết, và nay đã mất hết tăm tích. Các môn đệ chỉ dùng bằng con mắt của người đời hay cụ thể hơn là của người Do thái lúc đó để nhìn về Đức Giêsu, vơi họ, Đức Giêsu chỉ là một vị ngôn sự bình thường, kẻ không chỉ không hồi phục được đất nước Israel mà chỉ là người thất bại, lúc này chình là người mang lại sự thất vọng cho người đời. Rồi Đức Giêsu giúp họ thay đổi một cái nhìn, Ngài dùng lời Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa để giúp họ thấy Đức Giêsu không phải là nhân vật như họ muốn, mà là Con Thiên Chúa, Người được sai đến để cứu muôn dân ra khỏi vòng tội lỗi, Đức Giêsu là "Người phải chịu khổ hình, rồi mới vào trong vinh quang của Thiên Chúa" (Ga 20: 26".

Thực ra trong công tác trị liệu này, khi chúng ta cho những người bệnh những lời phân tích không có nghĩa là họ hiểu ngay được vấn đề, chúng ta không thể giải quyết ngay vấn đề cho họ được. Chúa Giêsu dạy cho chúng ta một cách thức mà sau đó khiến hai môn đệ đã nhận ra "ánh sáng", đó là Người đưa họ trở về với cuộc sống thường nhật. Người chữa trị vết thương cho người khác cũng cần đưa ra tình huống bình thường trong cuộc sống, để họ không thất vọng về cuộc sống của họ mà cho họ thấy được nét dễ thương, ý nghĩa của những việc mà họ thường làm. Điều này cũng giúp họ thấy những việc họ làm đều có ích, bản thân họ đóng vai trò quan trọng trong những công việc thường nhật đó. Chúa Giêsu đã dùng chính nghi thức bẻ bánh, dùng chính bữa ăn để giúp các môn đệ nhận ra Người. (xem Ga 20: 30).

Sau khi đồng hành với "bệnh nhân", sau khi nghe họ "hàn huyên", sau khi "hồi âm", phân tích hay lý giải vấn đề và ngay cả đã gợi ý cho họ một lối ra, người bác sĩ không phải là người quyết định một lối giải quyết. Hay nói cách khác người chữa trị không nên đưa ra những lời khuyên phải làm thế này thế kia mà cần phải để cho người ta tự quyết định: "Đức Giêsu lập tức biến mất" (Ga 20: 31) cũng đã nói lên điều này. Khi các môn đệ đã nhận ra đường ánh sáng bên kia đường hầm, khi họ nhận ra người mà họ vừa đồng hành, vừa đồng bàn chính là Thầy mình, người mà họ từng thất vọng đã Phục sinh thật rồi, sự kiện đã mang lại cho họ một niềm vui hết sức lớn lao. Họ biết ngay việc gì họ phải làm. Họ biết tâm hồn họ lúc đó đang rạo rực, hân hoan, vì thế không ai ngăn cản, họ tức tốc chạy trở lại Giêrusalem để báo tin cho anh em mình.


 

PS2-225: PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN

Ga 20, 19 - 31
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT " LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA " (Đức thánh Cha Phanxicô phong thánh cho hai Chân phước Gioan XXIII và Gioan-Phaolô II).
 

Cuộc thương khó của Chúa Giêsu đã biểu lộ hoàn toàn tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại: PS2-225

Cuộc thương khó của Chúa Giêsu đã biểu lộ hoàn toàn tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, đối với con người. Việc Chúa sống lại đã củng cố lòng tin cho nhiều người. Các tông đồ sau khi được Chúa Phục sinh hiện ra, đặc biệt khi các Ngài lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đức tin của các Ngài lúc đó mới rực rỡ, sáng tỏ. Đức tin ấy là bằng chứng không bao giờ mất của những con người suốt đời dấn thân theo Chúa. Hôm nay, khi Chú hiện ra, không có mặt của tông đồ Tôma, do đó, Ông đã nói với các tông đồ bạn:" Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người , nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi chẳng tin ".

Chúa Giêsu Phục sinh đã minh chứng rõ ràng lời của Ngài loan báo trước. Các người phụ nữ, mồ trống và bằng chứng của các tông đồ đã nói lên tất cả sự thật về Chúa sống lại. Tôma muốn có chứng cớ: được sờ vào vết thương và thọc bàn tay vào cạnh sườn Chúa Phục sinh. Đó là lý luận bình thường của tất cả mọi con người bình thường bởi vì ai cũng muốn được thực nghiệm, ai cũng muốn thấy rồi mới tin. Chúa sống lại bất ngờ hiện ra và ban bình an cho các tông đồ, bình an của Chúa Phục sinh là niềm hạnh phúc, niềm vui của những ai có đức tin. Chúa ban bình an và nói:" Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em ". Rồi Chúa trao cho các môn đệ quyền tha tội bằng một lời nói và bằng hơi thở của Ngài:" Ngài thổi hơi trên họ và nói: Hãy chịu lấy Thánh Thần.Các con tha tội cho ai thì tội họ được tha; các con cầm tội ai thì tội họ bị cầm lại ". Thổi hơi là sinh khí, là thần khí Thiên Chúa đã ban cho nguyên tổ Adam...hơi thở ấy thần khí Chúa, là hoa quả của sự bình an, Chúa sống lại trao ban cho các môn đệ của Ngài.

Trong nhà đóng kín, hôm nay Chúa Phục sinh hiện đến có cả Tôma và các tông đồ. Chúa nhắc lại cho Tôma về điều kiện, khúc mắc mà Tôma đặt ra để có thể tin vào Chúa Phục sinh. Đứng trước Chúa sống lại, Tôma chỉ có một thái độ, một hành động duy nhất là phủ mình trước mặt Chúa không dám nói gì. Tôma cũng không dám xỏ tay vào lỗ đinh nơi chân tay của Chúa Phục sinh hay dám cả gan thọc bàn tay vào cạnh sườn của Chúa sống lại. Tôma chỉ có thể thốt lên:" Lạy Chúa là Chúa trời tôi ". Đó là đức tin, lời tuyên xưng thật trong sáng mà Tôma đã bầy tỏ với Chúa Phục sinh. Jean-Claude Dunand viết:" Lòng ngờ vực mà ông Tôma nói lên thật ra là chính đáng.Chúng ta thử ở chỗ của ông xem ! Người ta kể cho ông rằng một người đã chết nay hãy còn sống ! Đó là điều làm sao tin được chứ ! Xét theo lẽ thường thì không thể được. Thầy Giêsu mà người ta đã thấy chết trên một cây thập giá, đã đặt trong một ngôi mộ, đóng lại với một tảng đá lớn, giờ lại là một người sống sao ? Làm sao tin được một chuyện như thế ?...Đức tin không liên hệ với một điều mắt thấy hay cảm nhận với giác quan, cũng không liên hệ với những gì người ta hiểu.Tin là đặt tin tưởng...Được tin dựa
trên lòng tin tưởng vào một lời nói, một lời được nghe một cách trung thành và đều đặn".

Vâng, đức tin là đặc ân Thiên Chúa trao ban cho con người. Không có đức tin, con người sẽ chẳng nhận ra được điều gì cả ! Chúa Giêsu đã sống lại, Ngài đã trở về với Chúa Cha, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha để cùng hiển trị với Chúa Cha.Chúa Phục sinh đã ban cho chúng ta một mối phúc, mối phúc mà chúng ta tuy ở xa Ngài hơn các tông đồ, nhưng lại rất gần gũi Ngài vì chúng ta không thấy Ngài như các tông đồ nhưng chúng ta vẫn tin:" Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin.Phúc cho ai đã không thấy mà tin " (Ga 20, 29).

Chúa nhật hôm nay là Chúa nhật "Lòng thương xót Chúa ". Đức Thánh Cha Phanxicô phong thánh cho hai Chân phước Gioan XXIII và Chân phước Gioan-Phaolô II. Đây là hai vị thánh sống rất gần gũi chúng ta. Một Vị thánh đã triệu tập Công đồng Vaticanô II khi tuổi đã già, nhưng lại là một Vị thánh đã làm tái diễn lại ngày Lễ Hiện Xuống mới. Thánh Gioan XXIII là Vị thánh đã làm cho Công đồng Vaticanô II trở nên Công đồng của Lễ Ngũ Tuần mới.Còn thánh Gioan-Phaolô II là thánh của giới trẻ. Cả hai Vị thánh Gioan XXIII và Gioan-Phaolô II đều là những Vị thánh hết sức đặc biệt nói lên Lòng thương xót của Chúa. Thánh Gioan-Phaolô II đã chọn Chúa nhật II Phục sinh để kính " Lòng Thương Xót Chúa ".Chúng ta tạ ơn Chúa vì hôm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nâng hai Chân phước Gioan XXIII và Gioan-Phaolô II nên bậc hiển thánh để tất cả Giáo Hội hoàn vũ tôn kính các Ngài...

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã sống lại khải hoàn và chiến thắng sự chết vinh quang, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tin vào Chúa sống lại.

Xin cho chúng con luôn biết noi gương hai thánh Gioan XXIII và Gioan-Phaolô II yêu mến và tôn sùng " Lòng Thương Xót Chúa ". Amen.


 

PS2-226: BÌNH AN

Ga 20, 19 - 31
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Chứng kiến cảnh mồ trống, thánh Gioan đã thấy và đã tin. Gioan cùng với Đức Maria và một số: PS2-226

Chứng kiến cảnh mồ trống, thánh Gioan đã thấy và đã tin. Gioan cùng với Đức Maria và một số Tông đồ tiếp tục họp nhau cầu nguyện. Sau khi Chúa Giêsu chết, lúc còn tranh tối tranh sáng, những người đi theo Chúa tản mát, tâm trạng mỗi người phản ứng một cách khác nhau. Có người bỏ về quê, có người muốn quay lại nghề cũ, có người rơi vào sự hoài nghi và có những vị nhiệt thành tín trung và âm thầm dõi theo. Khi sống lại, Chúa Giêsu không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Ngài có thể hiện diện với bất cứ ai và bất cứ nơi đâu mà Ngài muốn. Ngài cũng hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau, khi thì giống như người làm vườn, lúc thì giống như khách bộ hành, khi thì giống người chài lưới và có lúc là hình ảnh Chúa với chân tay còn dấu tích. Hôm nay Chúa đến với các Tông đồ một cách rất bất ngờ, vì cửa còn đóng kín. Chúa chúc bình an cho các ông và Chúa chứng thực chính mình: Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa (Ga 20, 20). Niềm vui vỡ òa hân hoan, các Tông đồ được gặp lại Thầy của mình trong sự sống vinh quang.

Chi tiết câu truyện của ông Tôma giúp chúng ta hiểu rõ hơn và tin hơn. Tuy Tôma có thái độ hoài nghi, nhưng ông rất thực nghiệm. Sự đòi hỏi của Tôma, đôi khi cũng là sự đòi hỏi của mỗi người chúng ta. Tôma muốn được diện kiến, được đụng chạm và sờ mó vào các vết thương của Chúa. Chúa thấu tỏ lòng tin của Tôma, Chúa cho ông được toại nguyện: Đoạn Chúa với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây và hãy xem tay Thầy, hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng nhưng hãy tin (Ga 20, 27). Hiện diện trước mắt các Tông đồ, Tôma đã tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kito Phục Sinh. Chúa Giêsu chúc phúc cho những ai không thấy mà tin. Qua các sự kiện đã xảy ra với các Tông đồ, Chúa Phục Sinh đã củng cố lòng tin của các ông bằng nhiều cách. Các ông đã từ từ xác tín niềm tin và bắt đầu xả thân để làm chứng nhân cho Chúa Kitô sống lại.

Các Tông đồ bắt tay thực hành ngay sứ mệnh được trao phó, khởi đầu là qui tụ các tín hữu, tụ họp các gia đình và gầy dựng các nhóm nhỏ cầu nguyện, nâng đỡ nhau và làm nghi thức bẻ bánh. Nghi thức Bẻ bánh là trọng tâm, mang một ý nghĩa rất quan trọng. Các Tông đồ nhớ lời Thầy: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Ngay từ buổi sơ khai, Giáo Hội đã hình thành qua những nhóm nhỏ thông hiệp trong tình liên đới: Khi ấy, các anh em bền bỉ tham dự những buổi giáo lý của các Tông đồ, việc thông hiệp huynh đệ, việc bẻ bánh và cầu nguyện (Tđcv 2, 42). Các tín hữu sơ khai hoàn toàn được tự do chọn lựa sống theo giáo lý mới và tin vào Chúa Giêsu Kitô. Các nhóm nhỏ tiên khởi là rường cột thông truyền các lời giảng dậy của Chúa và của các Tông đồ. Họ là những nhân chứng sống động mắt thấy, tai nghe và chứng kiến các biến cố đã xảy ra trong đời. Họ đã thấy và đã tin.

Các Kitô hữu thời sơ khai đã phải đối diện với sự thay đổi cuộc sống về các truyền thống và việc tôn thờ. Họ từ từ tách ra khỏi cách thế hành đạo của Do-thái Giáo. Giáo hội tiên khởi xây dựng một tổ chức riêng thờ phượng Thiên Chúa trong ngày Thứ Nhất trong tuần. Ngày Chúa Kitô Phục Sinh từ cõi chết. Họ đồng tâm hiệp ý trong đức tin, đức cậy và đức mến: Hằng ngày họ hợp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền thờ, bẻ bánh ở nhà, họ dùng bữa cách vui vẻ đơn sơ (Tđcv 2, 46). Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: Con là đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy. Sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Kitô đã thổi hơi trao quyền cầm giữ và tháo cởi cho các Tông đồ để các ngài xây dựng và cai quản Hội Thánh. Các ngài đã ra đi làm nhân chứng rao truyền Tin mừng và tìm kiếm các con chiên lạc Israel để qui về một mối.

Với lòng thương xót vô bờ, Chúa Giêsu cư xử rất nhẹ nhàng và cảm thông sự yếu đuối và chậm chạp của các Tông đồ. Chúa đã chọn gọi họ trong khả năng và tính khí riêng biệt. Chúa Giêsu kiên nhẫn dẫn dắt các Tông đồ từng bước đi vào sứ mạng mới. Chúa loan báo trước với các Tông đồ là sẽ phải đối diện với nhiều sự gian nan, khốn khó, bắt bớ và tù đầy. Muốn làm môn đệ của Chúa là vác thánh giá hằng ngày mà đi theo Chúa. Cánh đồng lúa chín thì nhiều và sứ mạng truyền giáo thì bao la, các tông đồ đã can đảm dấn thân ra đi như chiên vào giữa bầy sói. Từng vị, từng vị đã lần lượt hiến thân mình đổ máu đào để làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh. Cái chết của các ngài là hạt giống sinh mầm đức tin.

Tất cả sứ mệnh rao giảng đều qui về Chúa Kitô Phục Sinh. Nhờ Đức Giêsu Kitô, chúng ta tôn thờ Thiên Chúa Cha: Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại. Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống (1Petr 1, 3). Qua Bí tích Rửa Tội, chúng ta được tái sinh làm con cái Chúa trong niềm hy vọng cuộc sống đời đời. Chúa Kitô sống lại vinh hiển đã mở cửa nước trời cho những ai đặt niềm tin tưởng nơi Ngài. Chúa Nhật thứ hai mùa Phục Sinh, đặc biệt dành để kính nhớ Lòng Thương Xót của Chúa Giêsu. Chúa rất giầu lòng từ bi thương xót với mọi kẻ khốn cùng, tội lỗi và xa lạc muốn trở về. Vì Chúa đến là để kêu gọi và chữa lành những tâm hồn bị đau thương và dập nát tâm can.

Truyện kể: Một người đàn ông đang đi thăm viếng Đất Thánh. Vào một đêm nọ, ông một mình vào trong vườn Gethsemani. Đêm tối rất đẹp, bầu trời đầy trăng sao tinh tú và khung cảnh thật thanh tịnh. Suy gẫm về cơn hấp hối của Chúa trong vườn Cây Dầu, ông cảm thấy bị xúc động mạnh và bắt đầu khóc. Ông quỳ gối xuống và cầu nguyện: Lậy Chúa, xin đừng để con bao giờ phạm tội phản nghịch cùng Chúa nữa. Lắng nghe một giọng nói từ đáy lòng: Hỡi con, con xin Cha đừng bao giờ để con phạm tội nữa. Nếu Cha ban điều con xin đó cho tất cả các con cái của Cha, làm thế nào Cha có thể tỏ bày lòng thương xót của Cha cho chúng sinh?

Lòng Chúa Xót Thương là cửa ngõ dẫn đưa chúng ta vào vòng tay yêu thương tha thứ. Chúa Giêsu dậy chúng ta hãy thương xót, thì sẽ được xót thương. Trái tim thương xót là không kết án, nhưng tha thứ và quên lãng lỗi lầm, bởi vì Chúa đã tha thứ và quên đi tội lỗi của chúng ta. Chúng ta đều là tội nhân. Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta cầu nguyện rằng xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Nếu chúng ta không tha cho anh chị em, chúng ta bị tách ra khỏi cuộc chơi (out of the game). Sự tha thứ cần đến lòng khoan dung độ lượng và trái tim nhân hậu. Sự khiêm tốn chân thật sẽ giúp chúng ta nhận biết thân phận yếu đuối và tội lỗi của mình để nài xin lòng Chúa xót thương.

Trong thơ, thánh Phêrô khuyến khích các tín hữu đặt niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh. Phúc cho ai không thấy mà tin: Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả (1Petr 1, 8). Các Tông đồ ra đi rao giảng Tin mừng với hành trang là niềm phó thác cậy trông và uy quyền chữa lành mọi bệnh họan tật nguyền. Trong khi đi giảng đạo, người ta xin thánh Phêrô bố thí, Phêrô chẳng có qùa bánh gì để cho họ, nhưng với danh nghĩa Đức Kitô sống lại, ngài đã truyền cho nhiều người được ơn khỏi bệnh.

Lạy Chúa, Chúa giầu lòng thương xót nhưng chậm bất bình. Xin Chúa xót thương chúng con là những kẻ tội lỗi đang dõi đường tìm về bên Chúa. Xin cho niềm vui của Chúa Kitô Phục Sinh tràn đổ sự bình an trong tâm hồn chúng con. Alleluia!


 

PS2-227: LỬA THỬ VÀNG, GIAN NAN THANH LUYỆN NIỀM TIN

Ga 20, 19 - 31
Sr. Margareta Maria Hiền

 

Thời đó, Arthur Jones được gọi nhập ngũ phục vụ trong không lực hoàng gia và sống trong một trại: PS2-227

Thời đó, Arthur Jones được gọi nhập ngũ phục vụ trong không lực hoàng gia và sống trong một trại lính cùng với 30 binh sĩ khác. Ngay đêm đầu tiên, anh đã phải cân nhắc về một quyết định quan trọng:
Thời đó, Arthur Jones được gọi nhập ngũ phục vụ trong không lực hoàng gia và sống trong một trại lính cùng với 30 binh sĩ khác. Ngay đêm đầu tiên, anh đã phải cân nhắc về một quyết định quan trọng: trước đây anh vẫn luôn quỳ gối đọc kinh, liệu bây giờ vào quân ngũ rồi còn có tiếp tục quỳ gối không?

Lúc đầu anh cảm thấy ngượng nhưng rồi anh tự nhủ: "Tại sao chỉ vì sợ những kẻ khác dòm ngó mà mình lại thay đổi cách sống? Bộ mình vừa khởi đầu cuộc sống xa nhà là để cho thiên hạ sai bảo phải nên làm và không nên làm điều này điều nọ sao?"

Nghĩ thế anh liền quyết định cứ tiếp tục thói quen quỳ gối xuống đọc kinh. Khi vừa đọc kinh xong, lập tức anh nhận ra mọi người đang để ý anh, và khi làm dấu thánh giá, anh chợt nhận ra lúc ấy họ mới biết anh là một người Công giáo. Và xẩy ra là trong toàn trại lính chỉ có một mình anh là người Công giáo. Tuy nhiên, hằng đêm, anh vẫn quỳ gối cầu nguyện. Anh nói rằng mười phút cầu nguyện ấy thường dẫn đến nhưng cuộc tranh cãi kéo dài hàng giờ với các bạn khác.

Vào ngày cuối cùng của khóa huấn luyện, có người đến nói với anh:
- Anh là người kitô hữu tốt nhất mà tôi gặp.
Anh đáp lại:
- Có thể tôi là người Kitô hữu dám công khai biểu lộ đức tin của mình, nhưng tôi không cho rằng tôi là người Kitô hữu tốt nhất đâu. Dầu vậy tôi cũng cảm ơn bạn về điều bạn vừa nói. (Tuyển tập chuyện hay- Phương Tây)

Trong cuộc sống đức tin hằng ngày chúng ta phải đương đầu, phải chiến đấu với bao nhiêu thử thách nơi chính bản thân cũng như nhưng ngoại cảnh. Chính vì thế có nhưng lúc chúng ta đi mò mẫm trong đường hầm tăm tối; chúng ta hoài nghi niềm tin của mình.

Sống trong một thế giới hưởng thụ, vật chất dồi dào, tiện nghi đầy đủ, khoa học đang trên đà tiến triển mạnh mẽ, con người đòi hỏi mọi cái phải được chứng minh rõ ràng như 2+2=1 rồi mới tin. Cũng như thánh Tôma trong bài Tin mừng hôm nay đã nói với các môn đệ: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Cũng như người thời đại ngày nay ông muốn những gì các môn đệ nói với ông về sự sống lại của Chúa Kitô thì chính mắt ông phải nhìn thấy, tay ông phải sờ vào vết thương của Ngài thì ông mới tin. Có nghĩa là niềm tin phải được chứng minh. Sau đó Chúa đã hiện ra với ông để củng cố lòng tin của ông, ông đã được toại nguyện, lúc đó ông mới vội vã thưa: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con." Nhưng Chúa đã bảo: "Vì anh đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" Vậy chúng ta là những người được Chúa chúc phúc vì chúng ta phải làm sao đức tin đó luôn sống động nơi chúng ta sống, môi trường chúng ta hoạt động. Xin Chúa ban sức mạnh cho chúng ta vẫn trung kiên; những khi phải tuyên xưng đức tin của mình chúng ta không e ngại nhưng phải can đảm và cương quyết như Arthur Jones trong truyện và cũng có lúc chúng ta kiên tâm cầu xin Chúa tỏ một tia sáng niềm tin đến trong đời sống để chúng ta nhận ra Ngài như Ngài đã đến với thánh Tôma xưa. ??


 

PS2-228: CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

Ga 20, 19 - 31
John Nguyễn

1. Tôma là một mẫu người có tính thực nghiệm.
 

Khi chưa đích thực gặp lại thân xác đã sống lại của Đức Giêsu, thì ngoài Tô-ma ra, các tông đồ khác: PS2-228

Khi chưa đích thực gặp lại thân xác đã sống lại của Đức Giêsu, thì ngoài Tô-ma ra, các tông đồ khác dường như không cảm thấy có vấn đề gì trong việc tin Ngài đã sống lại. Các ông đã tỏ ra tương đối dễ tin. Nhưng riêng Tôma, ông không tin dễ dàng như thế, vì từ xưa đến nay, ông chưa hề nghe nói có một ai tự mình sống lại từ cõi chết bao giờ. Cứ bình thường mà xét, phải nói rằng Tôma khôn ngoan và thận trọng hơn các tông đồ khác.

Đối với người như Tôma, Đức Giêsu đã không phiền trách gì về sự cứng lòng tin của ông. Ngài chỉ nói một câu rất nhẹ nhàng để bổ túc cho sự cứng tin hợp lý ấy: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" Và Đức Giêsu đã cho phép Tô-ma được xỏ tay vào lỗ đinh ở tay và lỗ đòng đâm ở cạnh sườn Ngài. Nhưng có lẽ chính nhờ như thế mà Tô-ma sẽ tin chắc vào sự sống lại của Ngài hơn ai hết. Người cứng tin mà đã tin thì sẽ tin rất vững. Còn kẻ quá dễ tin thì cũng sẽ dễ dàng mất niềm tin, hoặc cũng sẽ dễ dàng tin những điều khác dù chưa đủ nền tảng để tin.

2. Con người thời nay và nhất là những thế hệ sau sẽ càng ngày càng có tính thực nghiệm giống như Tôma.
Ngày nay, con người đã bước vào kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật, nên con người chịu ảnh hưởng của tinh thần khoa học thực nghiệm rất nhiều. Tinh thần khoa học thực nghiệm chính là tinh thần của Descartes (1596-1650): "Chỉ tin sau khi đã chứng minh". Và tinh thần ấy được thể hiện thành chủ trương "nghi ngờ có phương pháp và phổ quát" (doute méthodique et universel) của ông. Nghi ngờ để tìm tòi hầu đi đến kết luận chắc chắn. Tinh thần khoa học thực nghiệm ấy đòi hỏi con người trước khi đi đến một kết luận, cần phải trải qua ba giai đoạn: nhận xét, đưa ra giả thuyết, và thí nghiệm kiểm chứng như đòi hỏi của Claude Bernard (1813-1873).

Tinh thần ấy chính là tinh thần của Tô-ma, chính vì thế, các nhà khoa học Công giáo đã nhận thánh Tô-ma làm bổn mạng của các nhà khoa học. Riêng bản thân tôi, người viết bài này, cũng rất thích sự cứng tin của Tô-ma, và coi đó như một đức tính rất cần thiết để sự phán đoán và lời nói của mình có giá trị, đáng tin. Sự đáng tin không chỉ đòi hỏi đức tính chân thật, mà còn đòi hỏi sự phán đoán chính xác và chắc chắn. Một người hết sức thật thà không bao giờ muốn lừa dối ai, nhưng lại dễ tin và hay bị lường gạt, thì phán đoán và lời nói của người ấy không còn đáng tin nữa. Thiết tưởng những người rao giảng chân lý, ngoài đức tính chân thật, cần phải có sự chững chạc trong cách phán đoán để trở nên đáng tin trước mặt mọi người.

3. Đối tượng phúc âm hóa trong tương lai là những thế hệ có đầu óc khoa học thực nghiệm như Tôma.
Những nhà truyền giáo hiện nay tại Việt Nam thường thuộc lứa tuổi giao thời giữa hai thời đại: thời khoa học chưa ảnh hưởng mạnh và thời khoa học ảnh hưởng rất mạnh trên lề lối suy nghĩ của con người. Thời trước, người ta dễ tin những ai có uy tín (như các giám mục, linh mục, tu sĩ, hoặc ông bà cha mẹ, cô dì chú bác). Trẻ con dễ tin vào những điều người lớn nói, không đặt vấn đề điều đó đáng tin tới mức nào. Nhưng thời nay và nhất là những thế hệ mai sau, người ta không dễ tin như thế nữa. Họ thường đòi hỏi "nói có sách, mách có chứng". Muốn họ tin thì phải có bằng chứng. Nếu không chứng minh bằng sự kiện thì ít nhất phải chứng minh được sự khả tín của điều mình nói. Ngoài ra, lập luận phải vững chắc, trình bày rõ ràng. Vì thế, việc rao giảng Tin Mừng hay sứ điệp Ki-tô giáo không thể theo phương cách cũ mang nặng tính giáo điều được.

Ngày xưa, tại Việt Nam, trình độ văn hóa giữa linh mục và giáo dân có sự chênh lệch rất cao. Ngày nay, sự chênh lệch ấy giảm đi rất nhiều, thậm chí không còn nữa. Rất nhiều giáo dân có trình độ văn hóa cao hơn những linh mục bình thường. Tuy nhiên các linh mục vẫn thường hơn giáo dân trong những kiến thức về thần học, giáo lý, v.v... vì người giáo dân hiện nay không được quan tâm đào tạo về mặt này, hoặc không có điều kiện để quan tâm. Vì thế, các linh mục thường đảm trách việc loan báo và rao giảng Tin Mừng cho giáo dân và người ngoại. Nhưng vì trình độ văn hóa của người bình thường ngày càng cao hơn, nên việc rao giảng Tin Mừng không còn dễ dàng như ngày xưa. Điều ấy đòi hỏi những người rao giảng Tin Mừng cũng phải có một tinh thần khoa học thực nghiệm trong cách rao giảng, cần chú trọng đến những bằng chứng xác thực, những lý luận chặt chẽ, cho dù đức tin không phải đến từ những thứ ấy. Nhưng nếu không chú trọng đến những thứ ấy, lời rao giảng sẽ bị từ chối ngay từ đầu.

4. Hội nhập văn hóa theo chiều dọc.
Tại châu Á, Giáo Hội đã thành công rất khiêm nhường trong việc truyền giáo, không thành công rực rỡ như ở châu Âu. Một phần khá lớn là do thiếu hội nhập văn hóa, vì trước đây, có sự khác biệt về văn hóa giữa dân tộc truyền giáo với dân tộc được truyền giáo. Ngày nay, với việc toàn cầu hóa, sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc bị giảm thiểu rất nhiều, nên việc hội nhập văn hóa theo chiều ngang không còn cần thiết và quan trọng như xưa. Trái lại, sự khác biệt về văn hóa giữa thế hệ trước với thế hệ sau ngày càng gia tăng. Lề lối suy nghĩ của các thế hệ sau càng ngày càng thấm nhuần tinh thần khoa học thực nghiệm hơn. Vì thế, nếu không có sự thích ứng khôn ngoan của thế hệ phúc âm hóa (thế hệ trước) với thế hệ được phúc âm hóa (thế hệ sau) trong việc diễn tả sứ điệp, chắc chắn việc phúc âm hóa sẽ thất bại. Do đó, hiện nay việc hội nhập văn hóa theo chiều dọc cần được Giáo Hội quan tâm và thực hiện nhiều hơn là hội nhập văn hóa theo chiều ngang.

5. Rao giảng bằng việc làm đi đôi với rao giảng bằng lời nói .
Tinh thần khoa học thực nghiệm của con người thời đại đòi hỏi những dấu chứng cụ thể mới tin được. Do đó, những xác quyết trong rao giảng cần được chứng tỏ bằng thực tế đời sống. Thật vậy, ai mà tin được cái Tin mà chúng ta rao giảng là Tin Mừng khi chúng ta rao giảng nó với bộ mặt buồn so, ảo não? Ai mà tin được Tin Mừng này là Tin Mừng Giải Phóng khi mà người rao giảng nó vẫn sẵn sàng khom lưng làm nô lệ cho người, cho vật, cho sự này sự khác, hoặc cho chính bản thân? Ai mà tin được Tin Mừng này là Tin Mừng Cứu Độ khi mà nó không làm cho người người rao giảng nó hoặc theo nó sống tốt hơn, có tình có nghĩa hơn, và hạnh phúc hơn những người bình thường khác?

Thiết tưởng đã tới lúc chúng ta - những ai còn tha thiết với tiền đồ của Ki-tô giáo - cần đặt lại vấn đề sống đạo một cách nghiêm túc hơn và hãy thành thật với chính lòng mình. Nếu ta cảm thấy Ki-tô giáo trong thực tế đã không đem lại một thứ hạnh phúc tự tại cho chúng ta, không tạo được một động lực đủ mạnh để thúc đẩy ta sống tốt đẹp hơn người ngoài, mà ta vẫn cứ mạnh miệng rao giảng như là một tôn giáo tốt nhất, hữu hiệu nhất, thì việc rao giảng của chúng ta đúng là một sự lừa dối có hệ thống. Nếu như thế chúng ta phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa về sự lừa dối ấy. Chúng ta tưởng mình có đức tin, nhưng trong thực tế, đức tin ấy đã chết hay mất đi từ lâu mà ta tưởng là ta vẫn còn đức tin. Vì đức tin không phải là một chấp nhận xuông, hay chỉ là hành động tuyên xưng ngoài miệng, mà là một cái gì tự nhiên ảnh hưởng rất sâu xa vào đời sống, khiến ta thay đổi cách suy nghĩ và hành động nên tốt đẹp hơn, và đời sống ta hạnh phúc hơn rất nhiều. Nếu không được như thế, "đức tin" mà ta tưởng rằng ta có, không phải là đức tin đích thực.

CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, rất nhiều khi con chê trách Tô-ma là quá cứng tin, và tự hào mình dễ tin hơn nhiều. Nhưng trong thực tế, đức tin của con chẳng ảnh hưởng gì trên cuộc sống con bao nhiêu, nó chẳng làm con hạnh phúc hơn người không đức tin, chẳng làm con sống tốt đẹp và yêu thương hơn họ. Xin cho con nhận ra đức tin ấy chưa phải là đức tin đích thật. Xin Cha hãy ban cho con đức tin đích thực có khả năng thay đổi con người của con, làm con nên thật sự tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Amen.


 

PS2-229: CHÚA KITÔ VINH QUANG VÀ CỘNG ĐOÀN GIAO ƯỚC MỚI

Mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh là hai thì của một mầu nhiệm: Chúa Giêsu được tôn vinh: PS2-229

Mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh là hai thì của một mầu nhiệm: Chúa Giêsu được tôn vinh: thì thứ nhất là tôn vinh trên thập giá, thì thứ hai là Chúa tỏ Vinh Quang cho cộng đoàn của Giao Ước Mới.
Trong thì thứ nhất, chúng ta đã thấy cả Lịch Sử Cứu Độ trong Cựu Ước được làm mới: Tạo Dựng mới, Ixaac mới, Xuất Hành mới, Giao Ước mới và Điều Răn mới, Đền Thờ mới, Đất Hứa mới… tất cả trong Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu: Khởi Đầu Mới ( Phụng Vụ Vọng Phục Sinh có các bài đọc Cựu Ước tương ứng với các chủ đề trên: tạo dựng, Ixaac, Xuất Hành, Giao Ước, Giao Ước mới ).
Không có sách Tin Mừng nào kể việc Chúa sống lại, vì đâu có ai ở trong mộ mà thấy ! Tất cả bốn sách Tin Mừng và lời rao giảng của các Tông Đồ chỉ kể lại kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu phục sinh. Gioan kể những cuộc gặp tại Giêrusalem ( chương 20 ) và tại Biển Hồ ( chương 21 ). Chúng ta sẽ lần lượt đọc hai chương này.
Trước hết nên chú ý tới lối viết của Gioan, rất giống nghệ thuật điện ảnh hiện đại, vì điện ảnh là kể chuyện bằng hình ảnh, kể chuyện thì dùng lời. Điện ảnh thì người xem phải “nối” các hình hoặc chuỗi hình với nhau. Nghe kể chuyện thì phải để cho lời kể vào qua lỗ tai, tác động trên trí tưởng tượng và tình cảm của mình. Con nít nghe kể chuyện thì thấy như mọi sự đang xảy ra trước mắt, và phản ứng bằng vui, buồn, lo, sợ… Tin Mừng theo Thánh Gioan không chỉ súc tích, nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách qui chiếu với Cựu Ước như chúng ta đã thấy trong cuộc Thương Khó; nhưng còn là bậc thầy trong nghệ thuật kể chuyện. Ta cần nghe với tâm tình và thái độ trẻ thơ.
Ngày thứ nhất trong tuần tức là Chúa Nhật của chúng ta bây giờ. Người Do Thái nghỉ ngày thứ bảy để tham dự vào sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa ( Xh 20, 11 ) và để nhớ Chúa đã giải thoát khói ách khổ sai bên Ai Cập ( Đnl 5, 14 – 15 ). Ngày thứ nhất bắt đầu khi mặt trời lặn buổi chiều ngày thứ bảy. Ngày thứ nhất là ngày Thiên Chúa bắt đầu tạo dựng. “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm” ( St 1, 1 – 2 ).
“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” ( Ga 20, 1 – 2 ).
 Tôi xin phép đọc đoạn mở đầu này như xem một đoạn phim để giúp bạn đọc làm quen với cách đọc này. Câu mở đầu của Gioan 20 và câu mở đầu của sách Sáng Thế có nhiều yêu tố giống nhau: trời còn tối thì đâu đã thấy được hình dạng rõ ràng, cửa mộ mở toang như vực thẳm. Cái chưa có hình dạng và bóng tối xâm nhập tâm trí bà Maria Macđala. Chúng ta nghe tiếng động đầu tiên: bước chân phụ nữ chạy. Tiếng gõ cửa. Hai người đàn ông thò đầu ra. Giọng phụ nữ hốt hoảng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”: người ta là ai ? Bà đã vô mộ đâu mà biết người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ? Dĩ nhiên làm sao biết họ để Người ở đâu ! Bà lại gọi Người là “Chúa” nữa ! Là Chúa thì ai mà đem đi được ? Trong cái hoang vu của ngôi mộ mở toang giữa bóng đêm, tất cả đều hoang mang. Nhưng câu thứ hai của bà gợi lại câu hỏi đầu tiên của hai môn đệ: “Rabbi, Thầy ở đâu ?” ( Ga 1, 38 ). Maria Macđala trong bối cảnh này cũng gợi lại hình ảnh và lời các bà đỡ chống chế với Pharaô về việc để cho con trai Hipri sống: “Chúng tôi đến chưa kịp thì họ đã sanh rồi”. “Ađam mới” nằm trong mộ như bào thai trong lòng mẹ, bà đỡ tới thì đã ra rồi và “Họ đã đem đi rồi”.
Tuy nhiên bà “phản” đạo diễn, vì đạo diễn ra lệnh cho trên màn hình cho thấy chỉ có mình bà đi ra mộ, thế mà bà lại nói “Chúng tôi không biết”. Chúng tôi là những ai ? Tại sao “đạo diễn” lại cho thấy một mình bà Maria Macđala ? Chúng ta sẽ phải chú ý đặc biệt tới nhân vật này. Xin nhớ lại cảnh đứng gần thập giá, ta chỉ thấy thân mẫu, Dì Maria và bà Maria Macđala, cho tới khi máy quay phim đưa hình từ tầm mắt của Chúa Giêsu chúng ta mới thấy người môn đệ Chúa Giêsu thương mến đứng bên thân mẫu. Bây giờ thì chúng ta thấy hai người đàn ông, Simon Phêrô ( đã biến khỏi màn hình từ lúc gà gáy cái đêm trong dinh thượng tế ) và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến đã “đón Đức Mẹ về nhà mình” từ trên Núi Sọ, sau khi được “sinh làm con” của thân mẫu Chúa Giêsu, có Dì Maria và bà Maria Macđala chứng kiến. Chúng ta chờ Dì Maria tới gọi, nhưng không phải. “Bà đỡ” tới báo tin vui: “Sanh rồi, mà không biết họ để ở đâu”.
Bây giờ thì hai người đàn ông vọt ra khỏi cửa, chạy đi xác minh và làm chứng. Một người “nhà”: “người môn đệ Chúa Giêsu thương mến”, đứa “con mới” của thân mẫu đã trở thành Evà mới; và một người đã trở thành “xa lạ” vì ba lần chối không biết, không có liên hệ gì với Chúa Giêsu. Tiếng bước chân hai người đàn ông cùng chạy. Người môn đệ kia nhanh chân hơn, tới trước. Ông không vào, chỉ cúi nhìn vào, thấy các băng vải còn đó… Ông Phêrô tới sau, chạy thẳng vào bên trong và thấy rõ hơn: khăn che đầu cuốn riêng ra một nơi, không để lẫn với các băng vải. Người tới trước vào theo, và cũng thấy như vậy. “Ông đã thấy và ông đã tin”. Thế là hai nhân chứng kiểm tra đúng phương pháp: người tới trước đứng chờ, nhìn vào đã thấy, tuy chưa hoàn toàn rõ. Ông chứng kiến ông Phêrô đi vào, rồi ông vào sau. Như vậy không ai làm xáo trộn hiện trường, và hai người thấy như nhau. Ông “người nhà” thấy và tin, nhưng không nói tin cái gì. “Thực ra, trước đó hai ông chưa hiểu rằng theo lời Kinh Thánh thì Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết”; vậy nếu như đã hiểu Kinh Thánh thì khỏi cần chạy ra mộ kiểm chứng ! Rồi cả hai ông lững thững ra về.
Nhìn hai ông quay lưng đi, ta bỗng nghe tiếng phụ nữ thút thít. Bà Maria Macđala trở lại từ hồi nào và đang khóc bên mộ. Trở lại cảnh bà Maria Macđala một mình ra mộ lúc trời còn tối rồi chạy về la hoảng, ta lại nhớ sách Diễm Ca, đã được gợi lên từ chuyện xức dầu ở Bêtania.
“Suốt đêm trên giường ngủ, tôi tìm người lòng tôi yêu dấu, tôi đi tìm chàng mà đâu có gặp. Vậy tôi sẽ đứng lên, đi rảo quanh khắp thành, nơi đầu đường cuối phố, để tìm người yêu dấu của lòng tôi… Bọn lính gác gặp tôi, tôi hỏi họ: “Các anh có thấy chăng người lòng tôi yêu dấu ?” Vừa rời họ, tôi đã gặp người lòng tôi yêu dấu. Tôi vội níu lấy chàng và chẳng chịu buông ra cho đến khi đưa vào nhà thân mẫu, tới khuê phòng người đã cưu mang tôi” ( Dc 3, 1 – 4 ).
Ở chương 5, người yêu gõ cửa giữa đêm khuya, nàng không chịu mở. Đến khi nghĩ lại và mở thì người yêu đã bỏ đi rồi. “Chàng đi rồi hồn tôi như đã mất, tôi đi tìm chàng mà đâu có gặp, tôi mãi gọi chàng, không một tiếng đáp… Bọn lính gác gặp tôi, chúng đánh tôi đến mang thương tích. Này thiếu nữ Giêrusalem, tôi van nài các bạn: gặp người tôi yêu dấu các bạn sẽ nói gì ? Xin cho nhắn rằng: tôi đang ốm tương tư” ( 5, 4 – 8 ). Cuối cùng nàng cũng biết người yêu đang ở đâu: “Người tôi yêu đã xuống vườn nhà” ( 6, 2 ).
Sách Diễm Ca nói về những giai đoạn khác nhau trong Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân. Cuộc tìm kiếm thứ nhất gợi lại biến cố Xuất Hành và vào Đất Hứa, cuộc tìm kiếm thứ hai gợi lại biến cố lưu đầy và trở về.
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Phục Sinh với Maria Macđala được diễn tả bằng nhiều lời và hình ảnh gợi lại hai lần mất, tìm và gặp trong sách Diễm Ca. Maria đi ra mộ lúc trời còn tối. Sau khi la hoảng, hoang mang, lại thơ thẩn đứng khóc bên mộ Chúa. Hai người đàn ông chạy ra mộ, vào kiểm tra rồi đi về, gợi hình ảnh lính canh đi tuần. Bà cúi nhìn vào như tìm lại trong mộ lần nữa thì lại thấy hai thiên thần canh giữ hai đầu nơi Chúa đã nằm. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu. Đức Giêsu hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để người ở đâu, tôi sẽ đem người về". Đức Giêsu gọi bà: "Maria !" Bà quay lại và nói bằng tiếng Hipri: "Rapbuni !", nghĩa là "Lạy Thầy !" Đức Giêsu bảo: "Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha, nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: "Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của anh em, cùng Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em".
Thế là vừa rời bọn lính gác, tôi đã gặp người lòng tôi yêu dấu ! Câu hỏi của thiên thần tạo dịp cho bà nói lên nỗi lòng. Chúa Giêsu hỏi cùng một câu, nhưng thêm: "Bà tìm ai ?"; chúng ta nghe gợi lại câu hỏi đầu tiên Chúa đặt cho hai môn đệ ( 1, 38 ). Hai lần trả lời bà lặp lại cùng một nội dung bà đã báo động cho hai môn đệ. Thấy Chúa Giêsu bà lại tưởng ông làm vườn; gợi lời trong Diễm Ca: "người yêu tôi đã xuống vườn nhà". Chúa gọi tên bà; gợi lại lời Chúa nói về mình như mục tử: "Anh gọi tên từng con chiên" ( Ga 10, 3 ) và Diễm Ca: "Xin đặt em như chiếc ấn trên trái tim anh, như chiếc ấn trên cánh tay anh" ( 8, 6 ).
Ta giật mình vì không thấy nói bà níu lấy Chúa, nhưng đã nghe Chúa bảo: "Thôi, đừng giữ Thầy lại…" Có bản dịch là "đừng chạm đến Thầy", nhưng cách dùng động từ trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là bảo người kia ngưng việc gì đã bắt đầu rồi. Diễm Ca: "Tôi vội níu lấy chàng và chẳng chịu buông ra cho đến khi đưa vào nhà thân mẫu". Khi Ixaac cưới Rebecca, dù bà Sara không còn nữa nhưng "cậu Ixaac đưa Rebecca vào lều của bà Sara, mẹ cậu. Cậu lấy cô làm vợ" ( St 21, 67 ). Lý do Chúa Giêsu bảo Maria đừng níu Người lại là “vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha”. Giao ước Chúa Giêsu đã lập là cho chúng ta được đến với Chúa Cha, nên Chúa Giêsu đóng vai chủ động: chờ Thầy lên cùng Chúa Cha đã ! Nhưng trong khi chờ đợi thì Maria nhận được nhiệm vụ phải thi hành ngay: “nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ”.
Chúng ta lại ngạc nhiên vì Chúa sai bà Maria "đi tìm gặp anh em của Thầy" chứ không phải "các môn đệ của Thầy" ! Sau tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu đi xuống Capharnaum cùng với thân mẫu, anh em của Chúa và các môn đệ. Đến chương thứ bảy thì Chúa tách khỏi anh em: “Thời của tôi chưa đến, nhưng thời của các anh lúc nào cũng thuận tiện. Thế gian không thể ghét các anh, nhưng tôi thì nó ghét… Các anh cứ lên dự lễ đi.” ( 7, 6 – 8 ). Từ trên thập giá Chúa cho người môn đệ yêu dấu thành con của thân mẫu, tức là em của mình. Như đã giải thích, người môn đệ ấy tiêu biểu cho tất cả các môn đệ: “Ai đón nhận, tức là tin vào Người thì Người cho họ trở nên con Thiên Chúa, sinh ra do bởi Thiên Chúa” ( Ga 1, 12 ). Bây giờ không còn môn đệ, chỉ còn anh em, những người anh em sinh trên Núi Sọ.
Tại sao Chúa lại sai bà Maria đi tìm anh em ? Bà Maria đã đóng vai "bà đỡ” trên Núi Sọ và sáng sớm nay hốt hoảng đi báo tin “sanh rồi” ! “Bà đỡ” thì biết anh em mới sanh của Chúa ! Bản tin nhắn bà phải đem là: ”Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của anh em, cùng Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em”. Bà đỡ cho biết ai là Cha của những người anh em. Với tin nhắn này thì Chúa công bố là Giao Ước đã thành tựu: Cha của Thầy cũng là Cha của anh em; Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em.
Bà nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa” hoàn chỉnh những lời tuyên xưng của họ từ ban đầu; Anrê: “Chúng tôi đã thấy Đấng Kitô”, Nathanaen: “Thầy là Con Thiên Chúa, là vua Itraen”. Từ lúc hoàn tất mọi sự trên thập giá thì vinh quang Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu đã biểu lộ trọn vẹn: Đức Giêsu đã được tôn vinh là Chúa; Đức Giêsu nằm trong mộ với tư cách là Chúa. Trong cái hoang mang giữa đêm tối, bà Maria còn lẫn lộn nên nói “người ta đã đem Chúa đi khỏi mồ”, nhưng về mặt khác thì lại đúng, chính là Chúa Cha đã tôn vinh Con, đem Con đi khỏi mộ, như Chúa Giêsu đã cầu xin.
Trước khi đi xa hơn, cần nói riêng về nhân vật Maria Macđala này vì có những sự lẫn lộn trong hình ảnh quen thuộc về bà. Trong ba sách Phúc Âm Nhất Lãm bà đều đứng đầu danh sách các bà đứng xa xa nhìn Chúa Giêsu trên thập giá và đi ra mộ ( Mt 27, 55 – 56 và 28, 1 // Mc 15, 40 và 16, 1 // Lc 24, 10 ). Riêng Luca cho danh sách các bà đi theo Chúa Giêsu từ Galilê ( 8, 2 ) thì cũng kể tên bà đầu tiên; và cũng chỉ có Luca cho biết thêm: “Bà Maria gọi là Maria Macđala, là người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ”. Khi kể về các bà đứng xa xa nhìn Chúa Giêsu trên thập giá thì Luca chỉ nói “tất cả những người quen biết Đức Giêsu cũng như những phụ nữ đã theo Người từ Galilê”.
Trong câu chuyện thông thường và có khi cả trong các bài giảng, người ta hay đồng hóa bà với người phụ nữ tội lỗi vào xức dầu cho Chúa khi Chúa đang ăn ở nhà một người Pharisêu ( Lc 7, 36 – 50 ). Chẳng có gì cho phép đồng hóa hai nhân vật này.
Trong Tin Mừng theo Thánh Gioan thì ta thấy bà xuất hiện trên Núi Sọ, tên bà đứng sau thân mẫu Chúa Giêsu và Dì Maria, rồi bà là người đi ra mộ, cũng chẳng đem theo dầu thơm như trong Luca 23, 56 – 24, 1. Vậy ta hãy tôn trọng các “thông tin” của mỗi sách Tin Mừng, đừng “xào chung” các nhân vật hay các sách tin Mừng, vì sẽ gây lẫn lộn và không hiểu được ý nghĩa. Đừng “vẽ rắn thêm chân”. Tin Mừng theo Thánh Gioan không cho thêm thông tin riêng về bà Maria Macđala ngoài cái tên và vị trí của bà trên Núi Sọ: sau thân mẫu và Dì Maria thôi, và hai lần bà ra mộ một mình.
Như vậy có nghĩa là trong Tin Mừng thứ tư, về phía phụ nữ ngoài họ hàng của Chúa Giêsu thì bà Maria Macđala là người gần Chúa Giêsu nhất. Phía đàn ông thì Người Môn Đệ yêu dấu trong bản văn không có tên gọi, trở thành biểu tượng của mọi người được Chúa yêu mến và thí mạng cho. Maria Macđala thì có tên riêng, là người ngoài gia đình ruột thịt của Chúa Giêsu, trở thành hình ảnh của cộng đoàn Dân của Giao Ước mới đi tìm Chúa của mình. [ Những suy diễn ngoại đạo và phạm thượng về tương quan giữa nhân vật này với Chúa Giêsu trong các tiểu thuyết từ cổ chí kim, không đáng chúng ta quan tâm, ví đó chỉ là suy diễn của kẻ không hiểu gì về Lời Chúa mà chỉ biết những chuyện phàm tục, chỉ đáng chúng ta xóa bỏ tức thì như bao nhiêu cái nhảm nhí chui vào hộp thư điện tử mỗi ngày ].
Gợi hình ảnh của sự đi tìm và gặp được người yêu trong sách Diễm Ca để nói về việc cộng đoàn của Giao Ước mới đi tìm Chúa của mình quả là tuyệt vời. Cả lịch sử Hội Thánh, cộng đoàn của Giao Ước mới cũng như đời sống của mỗi Kitô hữu là một lịch sử xoay vần theo bốn thì: có, mất, tìm và gặp Chúa, cũng giống như Dân Chúa trong Cựu Ước. Vì thế mà Chúa Giêsu bảo “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa” ( Lc 12, 31 ). Chừng nào được ở với Chúa Giêsu tại nơi Chúa ở ( x. Ga 17, 24 ), tức là trong lòng Chúa Cha thì mới hết phải đi tìm, vì lúc đó “tôi thuộc trọn về người tôi yêu và người tôi yêu thuộc trọn về chàng” ( Dc 8, 3 ).
 Trong Diễm Ca, nàng là thửa vườn của chàng: “Gió bấc nổi lên đi và gió nam hãy ùa tới, thổi mát vườn của tôi cho hương thơm lan tỏa ! Người tôi yêu cứ vào vườn của chàng mà thưởng thức hoa thơm trái ngọt. Này em gái của anh, người yêu anh sắp cưới, vườn của anh, anh đã vào rồi, đã hái mộc dược, hái cỏ thơm…” ( Dc 4, 26 – 5, 1 ).
Khi Maria Macđala tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn thì hóa ra là đúng rồi. Chúa Giêsu vừa là người yêu trong sách Diễm Ca vừa là Ađam mới. Sách Sáng Thế chép: "Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Eđen để cầy cấy và canh giữ đất đai" ( St 2, 15 ). Chúa chết nằm ở mộ trong vườn, Chúa sống lại cũng xuất hiện trước tiên trong vườn. Hội Thánh là thửa vườn của Chúa. Mỗi người là thửa vườn của Chúa. Maria đóng vai "nàng" trong sách Diễm Ca tượng trưng cho Hội Thánh, trong khi người môn đệ yêu dấu tượng trưng cho mỗi người đã tin vào Chúa để lãnh Ơn Cứu Độ và được tái sinh làm con Thiên Chúa.
Trên bình diện Hội Thánh thì ông Phêrô và người môn đệ yêu dấu lại tượng trưng cho hai khía cạnh không thể tách rời: cơ cấu và lòng tin yêu. Những trình thuật tiếp theo trong hai chương 20 – 21 sẽ diễn tả hai khía cạnh này. Tôi sẽ viết tiếp, xin đón đọc phần tiếp theo.
Mừng Chúa Phục Sinh, Halleluia !
Lm. NGUYỄN CÔNG ĐOAN, Dòng Tên
Giêrusalem, Thứ Bảy Tuần Thánh 2014


 

PS2-230: TIN ĐỂ ĐƯỢC THƯƠNG XÓT

Chúa Nhật II Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, ngày nay gọi là Đại Lễ kính Lòng Chúa: PS2-230

Chúa Nhật II Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, ngày nay gọi là Đại Lễ kính Lòng Chúa Thương Xót, được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chính thức thiết lập vào ngày 30.4.2000, ngày tuyên Thánh Nữ tu Faustina Kowalska ( 1905 – 1938 ).
Tuy là hai cách gọi nhưng vẫn chỉ là một. Tương tự, Tình Yêu Chúa, Thánh Tâm Chúa, và Lòng Chúa Thương Xót tuy ba mà một. Chính Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Faustina, vị Tông Đồ tiên khởi của Lòng Chúa Thương Xót, về ước muốn của Ngài: “Ta muốn một tấm hình được làm phép trọng thể vào Chúa Nhật sau Đại lễ Phục Sinh, và Ta muốn tấm hình đó được tôn kính công khai để mỗi linh hồn đều biết đến tấm hình đó” ( Nhật Ký, số 341 ).
Chúa Giêsu hứa: “Ta muốn ban ơn tha thứ hoàn toàn cho các linh hồn nào xưng tội và rước lễ trong ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Ta” ( Nhật Ký, số 1109 ). Ơn tha thứ hoàn toàn đó là Ơn Toàn Xá mà Người Trộm Lành Dimas đã được lãnh nhận ngay trước khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, lúc 3 giờ chiều ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày 3 tháng 4 năm 33. Cũng từ Giờ Cứu Độ đó, Nguồn Mạch Lòng Thương Xót của Thiên Chúa đã tuôn trào chan hòa mãi đến muôn đời cho mọi người, chỉ với một điều kiện đơn giản là thật lòng SÁM HỐI và TIN TƯỞNG vào Lòng Chúa Thương Xót.
Quả thật, Đức Tin rất quan trọng. Thánh Phaolô nói: “Người ta được nên công chính vì tin, chứ  không phải vì làm những gì Luật dạy” ( Rm 3, 28 ). Ngoài Tám Mối Phúc, còn có Mối Phúc đặc biệt liên quan Đức Tin, có thể gọi là “mối phúc thứ chín”, do chính Chúa Giêsu xác nhận: “Phúc thay những người không thấy mà tin !” ( Ga 20, 29 ). Và chắc chắn rằng bất kỳ ai tín thác vào Ngài, Đức-Kitô-làm-người-chịu-chết-và-phục-sinh, sẽ không phải thất vọng” ( x. Rm 10, 11; 1 Pr 2, 16 ).
Nói tới Đức Tin trong ngày lễ kính Lòng Chúa Thương Xót, xin “mở ngoặc” nhỏ: Thấy có những người hằng ngày tới Nhà Thờ lần Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót với cộng đoàn, nhìn bề ngoài thấy là người đạo đức lắm, thế nhưng họ vẫn tin vào tử vi. Họ lý luận rằng đó là khoa học, không có tội ( sic ). Lạy Chúa, thật “khó hiểu” quá !
Tử vi ( * ) là gì ? Tử vi cũng gọi là “tử vi đẩu số”, một hình thức bói toán để biết trước vận mệnh con người được xây dựng trên cơ sở triết lý Kinh Dịch với các thuyết âm dương, ngũ hành, can và chi… Người ta lập lá số tử vi với Thiên bàn, Địa bàn và các Cung sao – gọi là “chấm tử vi”. Căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính để lý giải những diễn biến xảy ra trong đời người. Vậy không phải là dị đoan ư ? Miệng leo lẻo nói tin Chúa mà lòng có tin chưa ? Tương lai chúng ta phó thác trong tay Chúa hay tử vi ? Như vậy không phải là “tin bằng môi miệng” ư ?
Ngoài ra cũng thấy có những người vẫn còn “chạy đua” theo những “sự lạ” trong khi lại không để ý các phép lạ hằng ngày: Thánh Thể và không khí. Phải chăng như vậy cũng chỉ là “lẻo mép”, chúng ta đến với Lòng Chúa Thương Xót mà chưa thực sự vì yêu mến ? Thiết nghĩ, cách thể hiện Đức Tin như vậy cũng nên “xét lại” lắm !
Người Việt nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Đúng vậy, cái “phẩm” quan trọng hơn cái “lượng”. Rễ càng sâu thì cây càng vững, loại cây nào có rễ ăn nổi thì dễ đổ khi gặp mưa gió. Thực tế minh nhiên. Vấn đề Đức Tin cũng vậy, nếu không có chiều sâu thì chỉ là Đức Tin trống rỗng, hào nhoáng bề ngoài mà thôi !
Thánh Faustina nói về việc sống Đức Tin: “Tôi đã thấy rõ thánh ý Chúa đang và sẽ được thực hiện đến từng chi tiết cuối cùng. Những nỗ lực điên cuồng của kẻ thù không thể cản trở chi tiết nhỏ nhặt nhất trong những điều Chúa đã tiền định. Chẳng hề gì nếu có những lần công cuộc dường như hoàn toàn bị tiêu tan; vì chính khi ấy, công cuộc lại càng được củng cố hơn nữa” ( Nhật Ký, số 1659 ).
Tác giả Thánh Vịnh luôn vững tin: “Dẫu cho hồn xác suy tàn, thì nơi ẩn náu, kỷ phần lòng con, muôn đời là Chúa cao tôn” ( Tv 73, 26 ). Chỉ người nào có Đức Tin son sắt như vậy mới có thể nói như Thánh Phaolô: “Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” ( Rm 8, 39 ). Tin vào Chúa là tin vào Tình Yêu của Ngài, là tín thác vào Lòng Thương Xót của Ngài.
Trình thuật Cv 2, 42 – 47 cho biết: “Ngày xưa, các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”.
Một đoạn văn ngắn gọn nhưng cho thấy rõ nét của một xã hội đại đồng, một cộng đoàn lý tưởng, luôn đầy ắp tình yêu thương, tình liên đới và sự hiệp nhất. Sống trong tình yêu thương như vậy là sống trong lòng thương xót, ai cũng thể hiện lòng thương xót với nhau ở mọi góc độ và mọi cấp độ, không chi li, không so đo, tính toán, không phe cánh, không vụ lợi, biết quên mình vì người khác... Những ai sống đúng lòng thương xót như vậy thì chắc chắn được Thiên Chúa cứu độ.
Trước sau như một, Thiên Chúa mãi là Đấng giàu lòng thương xót: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” ( Tv 118, 2 – 3 ). Thật vậy, Thiên Chúa muốn mọi người đều được hưởng Ơn Cứu Độ. Chúng ta có nhiệm vụ phải loan báo Lòng Chúa Thương Xót, chứng tỏ cho mọi người biết Ngài, và tuyên xưng: “Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” ( Tv 118, 14 ).
Chúa Giêsu là “tảng đá thợ xây nhà loại bỏ” nhưng lại “trở nên đá tảng góc tường” ( Tv 118, 22 ). Thật là kỳ công vô song của Thiên Chúa ! Vì thế, chúng ta hãy đồng thanh: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ !” ( Tv 118, 24 ).
Trong tâm tình hân hoan đó, Thánh Phêrô nói: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại, để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai. Gia tài này dành ở trên Trời cho anh em, là những người, nhờ lòng tin, được Thiên Chúa quyền năng gìn giữ, hầu được hưởng Ơn Cứu Độ Người đã dành sẵn, và sẽ bày tỏ ra trong thời sau hết” ( 1 Pr 1, 3 – 5 ). Đó là lời chứng của người đã trải nghiệm các cung bậc sống, thực sự là lời chứng đáng tin vì hoàn toàn chính xác.
Thánh Phêrô nhắn nhủ thêm để động viên chúng ta: “Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện Đức Tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, vàng là của phù vân mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giêsu Kitô tỏ hiện, Đức Tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự” ( 1 Pr 1, 6 – 7 ).
Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Qua gian khổ mà vẫn trung tín thì mới chứng tỏ Đức Tin sắt son, không nao núng trước mọi cám dỗ. “Không thấy mà tin” là một Mối Phúc là vậy, chứ miệng nói tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót, thế mà lại tin vào tử vi thì hoàn toàn bất xứng. Việc lặp đi lặp lại “lời tín thác” cũng chỉ như niệm thần chú, đọc như con vẹt, chứ trong lòng chưa thực sự tin tưởng. Vô ích !
Thật vậy, Chúa Giêsu đã nói chắc chắn: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa ! lạy Chúa !’ là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” ( Mt 7, 21 ).
Về Mối Phúc “không thấy mà tin”, Thánh Phêrô giải thích rạch ròi: “Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả của Đức Tin, là Ơn Cứu Độ con người” ( 1 Pr 1, 8 – 9 ).
Trình thuật Ga 20, 19 – 31 là đoạn Tin Mừng quen thuộc nói về việc cứng lòng tin của Tông Đồ Tôma. Trong một bộ phim hoặc cuốn truyện, nhân vật phản diện thường không được người ta có cảm tình. Thế nhưng chúng ta quên rằng, nhân vật phản diện đó lại làm “nền” để nhân vật chính diện được nổi bật. Có lẽ Thánh Tôma cũng là “đích nhắm” của chúng ta mỗi khi nói tới Đức Tin, nhất là trong Mùa Phục Sinh.
Có lẽ Tông Đồ Tôma là người thực tế nên cần cụ thể, rõ ràng. Chúng ta cứ chê ông cứng lòng, nhưng chúng ta cũng vẫn cứng lòng đó thôi, bằng chứng là chúng ta chưa tin vào Kinh Thánh và các chứng cớ của Giáo Hội, thế nên Đức Tin của chúng ta vẫn bị “lung lay” mỗi khi gặp gian khổ, và chúng ta vẫn “chạy đua” về các “sự lạ” ở chỗ này hoặc chỗ nọ vì “máu” tò mò hoặc hiếu kỳ hơn là “máu” Đức Tin. Như vậy không gọi là cứng lòng tin thì gọi là gì ?
Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Giêsu phục sinh, các môn đệ ở trong phòng đóng kín cửa vì họ sợ người Do Thái, trong “khoảng sợ hãi” đó có thể có phần họ “ớn” vì biết đâu họ cũng bị lôi cổ ra hành hình nếu bị phát hiện. Nếu vậy thì cũng lạnh xương sống lắm chứ ! Nhưng bất ngờ Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em !” Nói xong, Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được gặp lại Thầy thật rồi. Rồi Ngài lại nói với các ông:  “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Ngài thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ”.
Nhưng chiều hôm đó không có mặt Tông Đồ Tôma, cũng gọi là Điđymô. Sau đó, các môn đệ khác nói với ông về thấy Chúa nhãn tiền, nhưng ông Tôma nói chắc nịch: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”. Coi bộ “căng” dữ nghen !
Tám ngày sau, các ông lại quy tụ và có cả ông Tôma. Các cửa cũng vẫn đóng kín. Đức Giêsu lại hiện đến, đứng giữa và chúc bình an cho họ. Rồi Ngài bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. Ngại hết sức ! Biết rồi còn nói, Thầy kỳ ghê đi ! Ngại thì ngại lắm, ông Tôma chỉ còn biết vội sụp lạy và thưa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” Đó là một dạng thú tội. Ngài ôn tồn: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !” ( Ga 20, 29 ).
Sau khi sống lại, hai lần đầu tiên Chúa Giêsu hiện ra đều vào “ngày thứ nhất trong tuần”, khi các Tông Đồ đang tụ họp nhau. Điều đó cho thấy việc thờ phượng Chúa ngày Chúa Nhật là việc quan trọng trong đời sống tâm linh của các Kitô hữu, đó cũng là ngày nhận phúc lành bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh.
Thánh sử Gioan cho biết: Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép lại. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em TIN rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Ngài. Về Đức Tin, Thánh Giacôbê cũng có cách nói tương tự: “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa và có Ngài làm chỗ nương thân” ( Gr 17, 7 ).
Chúa Giêsu là Thiên Chúa tình yêu, là Đấng giàu lòng thương xót, và đã yêu thương chúng ta đến cùng ( Ga 13, 1 ). Chính vết thương nơi Thánh Tâm Ngài là ấn tín của tình yêu vô biên và vô điều kiện, là nơi tuôn trào Máu và Nước trường sinh, là Nguồn Mạch Lòng Thương Xót, chính Máu và Nước đó đã làm cho viên đội trưởng Longinô sáng mắt ( 2 ), và rồi ông này đã phải thú nhận ngay tại chân Thập Giá vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa, là người công chính !” ( Mt 27, 59; Mc 15, 39; Lc 23, 47 ).
TIN để được Thiên Chúa thương xót là hệ lụy liên kết chặt chẽ, không thể tách rời. Chúa Giêsu được Chúa Cha trao trọn quyền, thế nên không ai có thể đến với Chúa Cha nếu không qua Đức Kitô: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).
Trong niềm vui tưng bừng của Tin Mừng Phục Sinh, chúng ta cùng nhớ lại lời Thầy Giêsu đã nói trước khi Ngài chịu chết và sống lại: “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” ( Ga 14, 1 – 3 ).
Lời này là lực đẩy mạnh mẽ để chúng ta tiếp tục cuộc lữ hành trần gian cho đến khi hoàn tất cuộc đời, cũng là lúc chúng ta được gặp và sống với Đức Kitô Phục Sinh mãi mãi.
Lạy Thiên Chúa hằng hữu và giàu lòng thương xót, xin giúp chúng con biết thật lòng và chỉ tín thác vào Con Chúa, Đấng đã chịu tử nạn vì thương xót chúng con và đã phục sinh để chúng con được sống dồi dào.
Xin Chúa thương xót chúng con và toàn thế giới. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Đấng đã yêu thương chúng con đến cùng, và là Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
( 1 ) Tử vi là tên một loài hoa tím – TỬ là tím, VI là huyền diệu. Khoa Chiêm tinh Tướng mệnh Đông phương dùng loại hoa tím này để chiêm bốc.
( 2 ) Đội trưởng Longinus ( cổ ngữ Hy Lạp: Λογγνος, Longĩnos ) kém thị lực, khi ông cầm ngọn giáo đâm vào Trái Tim Chúa Giêsu, Máu và Nước chảy theo ngọn giáo xuống tay, ông lấy tay dụi mắt và được sáng mắt, ông đã thật lòng tin Đức Kitô là Con Thiên Chúa và ông đã nên thánh, Giáo Hội có đặt tượng Thánh Longinô ở Đền Thờ Thánh Phêrô ( Rôma ).

 

PS2-231: ĐỂ ĐƯỢC CHÚA XÓT THƯƠNG

Tokichi Ishi-I, một tên giết người không gớm tay, đã đạt được kỷ lục hạ sát nhiều nạn nhân nhất,: PS2-231

Tokichi Ishi-I, một tên giết người không gớm tay, đã đạt được kỷ lục hạ sát nhiều nạn nhân nhất, bằng những phương thế dã man không thể tưởng tượng nối. Hắn tàn nhẫn hạ sát đàn ông, phụ nữ, kể cả trẻ con. Với bàn tay khát máu, hắn đã thủ tiêu bất cứ người nào tình cờ hắn gặp và muốn giết. Nhưng cuối cùng, hắn cũng bị bắt và kết án tử hình.
Lúc ở nhà tù chờ ngày hành quyết, hai phụ nữ công tác tông đồ thử khuyên nhủ hắn. Nhưng tất cả những câu hỏi han, trò chuyện của họ không làm cho hắn mảy may động tâm. Trái lại, hắn nhìn thẳng vào họ với cặp mắt dữ tợn như hung thú.
Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn, hai phụ nữ ra về. Họ chỉ để lại cho hắn quyển Tân Ước, với hy vọng mong manh là hắn sẽ đọc và Lời Chúa sẽ hoạt động nơi tiếng nói con người trở nên hoàn toàn bất lực. Nềm hy vọng của họ đã trở thành sự thật. Ishi-I đã đọc và những câu chuyện trong Tân Ước hình  như có sự thu hút mãnh liệt, khiến hắn cứ tiếp tục đọc, đọc mãi và cuối cùng hắn đọc đến câu chuyện diễn tả cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Câu Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha trên thập giá: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm,” đã thắng sự chống trả cuối cùng trong tâm hồn của hắn. Sau đó anh thuật lại: “Đọc đến câu này tôi mới dừng lại. Con tim tôi hình như bị đánh động, bị đâm thâu bằng một con dao dài. Tôi có thể gọi đó là tình yêu của ông Giêsu, hay tôi phải gọi đó là lòng thương xót của Ngài ? Tôi không biết, nhưng điều duy nhất tôi biết là sự hung dữ, tàn bạo nơi tôi đã tan biến và tôi đã tin.”
Nhân viên trại giam vô cùng ngạc nhiên, khi dẫn độ Ishi-I đi hành quyết. Họ đã không gặp một tên sát nhân hung bạo như họ chờ đợi, nhưng là một người hòa nhã, lễ độ. Ishi-I, tên sát nhân đã được Lời Chúa tái sinh ( Lẽ Sống ).
Nhờ biết tận dụng những ngày tháng cưối cùng, tín thác vào Đức Giêsu, người tử tội Ishi-I đã nhận được Lòng Chúa Thương Xót hải hà. Hôm nay, Giáo Hội long trọng mừng lễ Lòng Chúa Thương Xót, vậy làm sao để được Chúa xót thương ? Tín hữu Đức Kitô cùng noi gương người phụ nữ tội lỗi khóc lóc, sám hối tại nhà ông Simon, tông đồ Phêrô tuôn lệ sầu ân hận, cùng người gian phi hoán cải muộn màng mà kịp thời.
Thoát khỏi bóng tối
“Sau khi ăn miếng bánh, Giuđa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối” ( Ga 13, 30 ). Ngay trong bữa Tiệc Ly, trong khi tất cả các môn đệ đang cùng chia sẻ với Đức Giêsu hào quang Thánh Thể, ánh sáng sự sống, thì người môn đệ Giuđa lại tự tách mình khỏi cộng đoàn thánh thiện, mà đi ra ngoài, lao vào bóng tối phản bội chết chóc.
Để nhận được Lòng Chúa Thương Xót, cần thoát ra khỏi bóng tối cuộc đời, như người con hoang đàng. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói. Thôi ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.” Thế là anh ta đứng lên, đi về cùng cha. ( Lc 15, 17 – 20 )
Tước tiên, dám dứt khoát, bạo dạn thoát ra khỏi cái bóng tối của chính mình, khỏi đam mê dục vọng, khỏi tham lam, ganh ghét, đố kỵ, khỏi cám dỗ vị kỷ, bất nhân, mới có thể đi tìm và thấy được ánh sáng công chính. Bao lâu còn say mê, chìm đắm trong khoái lạc nhục dục, cậy dựa vào tấm thân mỹ miều khêu gợi, quyến rũ, thì người phụ nữ kia làm sao dám thân hành đến nhà ông Simon. Rồi chị khép nép, “đứng đàng sau, sát chân Đức Giêsu mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.” ( Lc 7, 37 – 38 )
Một khi thoát ra khỏi bóng tối môi trường xã hội duy vật, cơ hội, bon chen, đấu đá, tranh giành, đua nhau khấu đầu, tôn thờ con bò vàng, tôn vinh của cải, danh vọng, với biết bao trò tiểu xảo lừa đảo, thủ đoạn ma mãnh, âm mưu quỷ quyệt, mới tha thiết cần đến Lòng Chúa Thương Xót, để được bình an, hoan lạc và sống viên mãn.
Thành khẩn hạ mình
Tuy nhiên, biết bao người hiện nay, từ lâu đã đánh mất đi ý thức tội lỗi, vẫn công khai khẳng định chắc nịch như đinh đóng cột rằng, mình vô tội, chẳng thiết tha đến tòa cáo giải, thì họ cần chi đến Chúa xót thương ? Hay là chờ đến khi trút hơi thở cuối cùng mới thấy cần kíp ? Liệu có kịp hối, hay kịp kêu xin, khi tai ương hoạn nạn bất ngờ, khi đột tử vì nhồi máu cơ tim, hay đột quỵ tai biến mạch máu não ?
“Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” ( Lc 18, 13 ) Thái độ khiêm tốn, hạ mình, cúi đầu, đấm ngực, thừa nhận mình bê tha, xấu xa, tội lỗi, mới xứng đáng cho Chúa xót thương cứu giúp. Bởi vì Đức Giêsu từng phán:“Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi. ( Mc 2, 17 )
Ăn năn thống hối
Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần.” Và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết ( Lc 22, 61 – 62 ).
Những giọt lệ thống hối nóng hổi lã chã trên khuôn mặt người phụ nữ lầm lỡ, trên khuôn mặt ông Phêrô rắn rỏi và già dặn, đã xóa đi bao tội lỗi xấu xa, đê hèn, bất tín, bất trung, bất nghĩa.
Hoặc lời hoán cải rất nhiệt thành của người gian phi: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái !” Rồi anh ta thưa với Đức Giêsu: “Khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !” ( Lc 23, 41 – 42 ).
Người trộm lành đã hạnh phúc, vì hy vọng ở Tình Yêu Chúa. Giuđa đã khốn nạn vì thất vọng. ( Đường Hy Vọng, số 53 ).
Lạy Chúa, Lòng Thương Xót Chúa luôn mở rộng đón chờ chúng con đi hoang trở về mọi nơi, mọi lúc, xin giải thoát chúng con khỏi bóng tối tội lỗi, chết chóc, khỏi thân xác ươn hèn, để chúng con biết khiêm cung hối cải, xứng đáng lãnh nhận ơn cứu độ.
Lạy Mẹ Maria từ bi nhân hậu, biết bao lần Mẹ đã hiện ra khuyên nhủ chúng con hồi tâm trở về với Chúa. Kính xin Mẹ luôn nhắc nhở chúng con Lòng Chúa Thương Xót vô biên, vẫn luôn rộng tay đón chờ chúng con sám hối trở về. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

PS2-232: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA ĐỐI VỚI THẾ GIỚI

LÀ VÔ CÙNG VÔ HẠN
 

Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa được tiếp liền sau Đại Lễ Phục Sinh, Phụng Vụ Giáo Hội: PS2-232

Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa được tiếp liền sau Đại Lễ Phục Sinh, Phụng Vụ Giáo Hội  mời gọi chúng ta cách đặc biệt, kể từ ngày 22.4.2001 là sùng kính Lòng Thương Xót Chúa. Chính Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, hôm nay Giáo Hội tôn phong lên bậc hiển Thánh muốn đáp lại ý muốn của Thiên Chúa cách minh nhiên được truyền lại cho vị Thánh đồng hương của mình là Faustina Kowalska sứ điệp về lòng thương xót Chúa đối với thế giới là vô cùng vô hạn. Chúng ta cùng nhau thực hành lời khuyên của Chúa, để nhận được ơn tha thứ tội lỗi và mọi hình phạt, do đó, trong lời Ca nhập lễ hôm nay: " Như những trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa thiêng liêng tinh khiết, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ. Allêluia".
Tin Mừng chung cho cả ba Năm Phụng Vụ A, B, C được trích từ Tin Mừng theo Thánh Gioan ( 20, 19 – 31 ), tường thuật lại sự kiện Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra gặp gỡ các Tông Đồ thật là cảm động. Cử chỉ trao ban bình an của Chúa cho các môn đệ, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" ( Ga 20, 21 – 23 ).
Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân "tha thứ các tội lỗi" diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi Phục Sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa: "Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài" ( Ga 3, 16 ). Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới.
Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi, tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng . Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới ngày nay cần thiết biết bao lòng thương xót của Thiên Chúa !
Hôm nay, Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa chúng ta cùng nhau lặp lại câu Thánh Vịnh mà suốt cả tuần Bát Nhật Phục Sinh toàn thế giới ca vang: "Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thủa" ( Tv 117, 1 ). Quả thật: "Tình thương Chúa tồn tại muôn đời !" Cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô đã thay đổi tận căn số phận của nhân loại nói chung và mỗi người chúng ta nói riêng. Ðây là điều kỳ diệu trong đó được thể hiện trọn vẹn tình yêu thương xót của Thiên Chúa Cha, một tình yêu không ai hiểu thấu, Ðấng vì phần rỗi chúng ta, và để cứu chúng ta, Chúa đã nộp chính Con yêu.
 Chúa Giêsu Kitô bị hành hạ và chịu đau khổ vì xót thương chúng ta, thật quá mọi mức độ có thể tưởng nghĩ được. Cả sau biến cố Phục Sinh của Con Thiên Chúa, Thập Giá nói lên và không ngừng nói về Thiên Chúa là Cha, Ðấng tuyệt đối trung thành với tình thương muôn đời của Ngài đối với con nguời. Tin vào tình thương này có nghĩa là tin vào lòng nhân từ của Thiên Chúa" ( Dives in misericordia, số 7 ).
Hãy cảm tạ Chúa vì Chúa hảo tâm, một tình thương mạnh hơn sự chết và tội lỗi. Giờ đây, nhân loại vẫn đang tiếp tục được thừa hưởng tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa đổ ra từ những vết thương vinh hiển và từ trái tim của Chúa, nguồn mạch không bao giờ cạn.
Trái Tim của Chúa Kitô đã trao ban tất cả cho con người: sự cứu chuộc, ơn cứu rỗi, sự thánh hóa. Từ Trái Tim Chúa tuôn tràn sự dịu dàng, Thánh nữ Faustina Kowalska thấy xuất phát ra hai tia sáng chiếu tỏa thế gian. Theo lời Chúa giải thích cho Thánh nữ, "Hai tia sáng nầy tượng trưng cho máu và nước". Máu nhắc lại hy tế trên đồi Golgotha và mầu nhiệm Thánh Thể; còn nước, theo hình ảnh phong phú của Thánh Gioan, làm cho ta nghĩ đến Bí Tích Rửa Tội và hồng ân Chúa Thánh Thần ( x. Ga 3, 5; 4, 14 ), cũng như khi người lính lấy lưỡi đòng đâm sâu vào lồng ngực Chúa Giêsu đã sinh thì trên Thập Giá, "tức thì nước cùng máu chảy ra !"
Lời kinh chúng ta vẫn đọc: "Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa", diễn tả đúng thái độ mà chúng ta muốn có, để chúng ta đặt niềm tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào tay Thiên Chúa, Ðấng cứu rỗi duy nhất của chúng ta ! Những tia sáng của lòng nhân từ Chúa ban lại niềm hy vọng, một cách đặc biệt, cho những ai cảm thấy mình bị đè bẹp dưới gánh nặng của tội lỗi.
Chúa Nhật Kính Lòng Chúa Thương Xót do chính Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết lập. Ngài mất vào đúng vọng ngày Kính Lòng Chúa Thương Xót năm 2005, và ngài lại được tuyên phong hiển Thánh đúng Đại Lễ năm nay, ngài quả là vị Thánh Giáo Hoàng của lòng xót thương. Cùng với Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII nhân hậu hay tỏ lòng thương xót đối với mọi người, phần nào diễn tả thái độ nội tâm của ngài trước Thiên Chúa giàu lòng nhân hậu và hay thương xót.
Lạy Chúa, nhờ sự chết và sự sống lại của Chúa, Chúa đã mạc khải tình yêu của Thiên Chúa Cha cho chúng con, chúng con tin thác vào Chúa, chúng con lặp lại ngày lúc này với xác tín rằng: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa, xin thương xót chúng con và thế giới.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ hay thương xót, xin giúp chúng con là con cái Mẹ duy trì lòng tin vào Con Mẹ, Ðấng cứu chuộc chúng con. Lạy Thánh Gioan XXIII, Thánh Gioan Phaolô II hôm nay hiển thánh và Thánh nữ Faustina chúng con nhớ đến với hết lòng mộ mến, xin cũng trợ giúp chúng con. Xin cho chúng con được cùng với các thánh, hướng nhìn về Ðấng Cứu Chuộc, và lặp lại lời nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa". Bây giờ và mãi mãi. Amen.
Lm. Antôn NGUYỄN VĂN ĐỘ

 

PS2-233: TÔMA, VỊ TÔNG ĐỒ ĐA NGHI

( Ga 20, 24 – 29 )
 

Khỏi cần phải nói, đây là vị Tông Đồ bi quan nhất. Con người luôn luôn buồn rầu, sầu thảm, và: PS2-233

Khỏi cần phải nói, đây là vị Tông Đồ bi quan nhất.
Con người luôn luôn buồn rầu, sầu thảm,
và hình như không thể tin điều gì mà ông không thấy.
Ông thực tế nhìn vào bề trái của vấn đề,
Ông nhìn thế gian, đời sống, khổ đau qua cặp kính màu đen.
Gọi ông là vị Tông Đồ đa nghi hình như chưa đủ,
Phải gọi ông là vị Tông Đồ nhăn nhó,
sầu thảm, cằn nhằn, càu nhàu...
Ông đã làm gì với tư cách Tông Đồ Chúa Giêsu ?
Vì sao ông được chọn ?
Câu trả lời chân thành nhất là tôi không biết.
Phải chăng Chúa muốn khuyến khích tất cả mọi người,
dù người đó khó tính, càu nhàu, bi quan, và trong lòng chỉ biết nghi ngờ ?
Dù sao, trong sự nghi ngờ chính đáng,
vẫn có nhiều Đức Tin hơn một niềm tin nửa vời.
Chúng ta gặp Tôma lần đầu tiên khi nghe tin Ladarô chết. Lúc bấy giờ Chúa đang ở ngoài vùng Giuđê. Người muốn tránh mặt một thời gian vì ở Giuđê, Người đã tranh luận với người Do Thái và nói những lời mà họ cho là phạm thượng. Hai lần họ đã muốn ném đá và bắt giữ Người. Người đã lánh đi, bỏ qua bên kia bờ sông Giođan ( Ga 10, 29 – 40 ). Bây giờ, Chúa Giêsu muốn trở lại Giuđê. Tôma thấy sự nguy hiểm, nhưng ông không tìm cách ngăn cản. Ông biết rằng Chúa can đảm và dám đối diện với tất cả.
Nhưng dù sao thì người Do Thái cũng có thể giết Chúa. Tôma bíết rõ như thế. Vả lại, Người cũng đã từng nói đến cuộc Thương Khó sắp tới của Người ( Mc 10, 33 ). Khi Chúa Giêsu nói rằng Người sẽ về Giuđê sang Bêtania, Tôma quay lại nói với các Tông Đồ: "Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng hãy cùng qua để chết với Người." ( Ga 11, 10 )
Đây là một câu nói tận hiến nhưng đồng thời cũng là tiếng nói u sầu buồn thảm của một người mà đầu óc lúc nào cũng đầy những ý tưởng bi quan, yếm thế. Ông không để ý rằng Chúa đi cứu sống Ladarô, ông chỉ nghĩ rằng mình đi chịu chết. Cách nói của ông có vẻ như không có một tí gì là hy vọng. Ông cam chịu định mệnh, tai ông nghe văng vẳng câu nói Cựu Ước: "Ngày ngươi chết thì tốt hơn ngày ngươi sinh ra, tốt hơn là đi đến một nhà tang chế hơn là một nhà mừng tiệc, vì đấy là bước cùng của mỗi người..." ( Giảng viên 7, 1 – 2 ).
Giọng nói của ông như thế đấy ! Ý nghĩ của ông như thế đấy: "Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng hãy cùng đi để chết với Người".
Chúng ta lại gặp Tôma bên bàn Tiệc Ly. Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ, họ yên lặng ngồi nghe: "Lòng anh em chớ xao xuyến, hãy tin vào Thầy. Trong Nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở... Và Thầy đã dọn chỗ cho anh em, ắt Thầy sẽ đến lại mà đem anh em theo Thầy. Để Thầy ở đâu thì anh em cũng sẽ ở đó, Và Thầy đi đâu thì anh em cũng biết rõ đường rồi.” ( Ga 14, 1 – 4 ).
Tôma thấy khó hiểu. Vấn đề này có vẻ lạ. Ông biết rằng Chúa sẽ chết và ông theo để cùng chết. Nhưng bây giờ thì Người lại nói đến chỗ ở, đến nhà cửa, đến sự sống. Tôma là người bi quan, ông chỉ nghĩ đến đêm tối chứ không bao giờ nghĩ đến mặt trời. Ông không hề biết rằng có con đường đó, thế mà Chúa lại bảo: “Anh em biết rõ đường rồi..." Tôma không thể im lặng nữa. Vị Tông Đồ sầu thảm bi quan đó đã hỏi lại Chúa: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?" Và Chúa Giêsu trả lời: "Thầy là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống, không ai đến được với Cha Thầy mà không qua Thầy" ( Ga 14, 5 – 6 )
Anh không biết đường sao ? Hỡi Tôma, “Thầy là Đường đây..."
Anh là người bi quan, anh nghĩ nhiều đến điều sai lầm, "Thầy là Sự Thật...”
Anh chỉ nghĩ đến cái chết, “Thầy là Sự Sống...”
Anh không biết Nhà Cha,
thì hãy đi qua Thầy...
Tôma được trả lời nhiều hơn ông hỏi.
Nhưng con người thực tế, bi quan đó khó mà hiểu được ngay.
Bằng chứng ?
Bằng chứng là ngày Chúa sống lại, ông cũng chưa kịp hiểu.
Ta gặp lại ông vào ngày thứ nhất trong tuần Phục Sinh.
Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết,
Người hiện ra cho Maria Mácđala,
Người hiện ra cho các Tông Đồ, cho tất cả mọi Tông Đồ,
chỉ trừ Giuđa, vì Giuđa đã chết,
chỉ trừ Tôma, vì Tôma vắng mặt.
Tại sao Tôma lại không gặp Chúa ? Lại hụt mất cơ hội ?
Tôma buồn rầu, bi quan, choáng váng
đến độ không muốn gặp các thân hữu,
Ông đóng cửa ở nhà một mình.
Ông luôn ôm ấp sự bất mãn, thất vọng, buồn phiền...
Thế là Tôma vắng mặt khi Chúa hiện đến với các Tông Đồ.
Thử nghĩ xem:
Tôma đánh mất cơ hội gặp Chúa Kitô Phục Sinh,
Tôma mất dịp thấy Sự Thật và Sự Sống,
Tôma mất dây liên lạc của cộng đoàn tín hữu.
Trên con đường ngắn ngủi của cuộc đời này,
Chúng ta đánh mất quá nhiều cơ hội.
Chúng ta bỏ lỡ mất cơ hội để tin, để hy vọng, để lớn lên trong Chúa.
Chúng ta bỏ lỡ sự hiện diện của Chúa, ơn tha thứ của Chúa,
lòng can đảm để chịu thử thách, niềm hy vọng tỏa lên từ những khổ đau,
sự thu hút khiến ta không thất vọng, và sự chiến thắng vinh quang trên cái chết...
Phải chăng vì bỏ lỡ những cơ hội như thế
mà Đức Tin của chúng ta bị già nua, tuổi tác, cằn cỗi, khô gầy,
thay vì một Đức Tin tươi trẻ và sống động ?
Vì Tôma đã vắng mặt,
Nên ông không tin những gì mà các bạn ông chia sẻ.
Họ nói với ông rằng:
Họ đã gặp Chúa Giêsu Phục Sinh, Người vẫn hằng sống !
Tôma không thể tin được,
Ông biết rằng các bạn ông là những người đáng tin cậy,
nhưng trước một việc như thế thì ông không tin.
Ông biết rằng họ là những người đáng trọng,
nhưng lời nói của họ thì không thể trọng trong vụ này.
Ông đã quá quen với những tin tức đen tối.
Nếu họ nói cho ông những tin tức buồn nản đau đớn,
hoặc bị bách hại, thì ông sẽ tin ngay.
Nhưng với tin tức đầy lạc quan kia, ông đâm ra nghi ngờ.
Không phải vì họ không đáng tin,
Nhưng vì con người của ông không cho phép ông tin.
"Nếu tôi không thấy dấu đinh nơi tay Người,
                             và tra tay tôi vào lỗ đinh và cạnh sườn Người, tôi sẽ không tin
..." ( Ga 20, 25 )

Đây không phải là một người yếu Đức Tin,
Đây là một người không có một chút Đức Tin nào cả.
Không phải là một Tôma đa nghi nữa,
mà là một Tôma đóng cửa, bịt tai và cứng lòng.
Câu nói của ông xúc phạm đến Đức Kitô quá !
Tuy nhiên, ông nói "nếu" tức là ông còn cho Chúa một điều kiện.
Chúa đã chấp nhận điều kiện ấy.
Chúa đã chấp nhận một lời thỉnh cầu,
Dù cho lời thỉnh cầu ấy xúc phạm đến đâu, miễn là chân thành.
Một tuần trôi qua…
Mỗi ngày, các bạn ông đều thuyết phục ông.
Vô ích, ông không nghe gì cả.
Thế nhưng, sự nhiệt thành của nhóm môn đệ
                             đã kêu gọi Tôma đến cầu nguyện với họ tám ngày sau đó.

Và Chúa Giêsu lại hiện đến.
Người chịu thua sự cứng lòng của kẻ đa nghi,
Người hạ mình trước một kẻ nghi ngờ và bi quan,
Người hiện đến với câu nói hôm trước của Tôma,
Người lập lại: "Tôma, hãy đặt ngón tay anh vào đây,
Hãy nhìn xem tay Thầy, hãy đưa ngón tay anh tra vào cạnh sườn Thầy,
Và đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy Tin" ( Ga 20, 27 ).
Đây là một việc quá sức tưởng tượng của Tôma,
Trong khoảnh khắc, Tôma biến đổi
từ một kẻ thờ ơ thành một người bạn,
từ một kẻ chối Chúa thành một kẻ tuyên xưng Chúa,
từ một kẻ hoài nghi  thành một người đầy tin tưởng.
Hơn thế nữa, ông còn qua mặt tất cả các bạn khi ông tuyên xưng:
"Lạy Chúa của con và là Thiên Chúa của con..." ( Ga 20, 28 )
Từ một người tối đen, ông trở nên một kẻ tin ngời sáng...
Ông đã không thực hiện điều ông đòi hỏi trước đây.
Ông không tự đặt tay mình vào các vết thương,
Không còn cần thiết nữa rồi...
Dù cho đường ông đi tràn đầy nghi ngờ và sợ hãi,
Ông đã đến được vùng ánh sáng.
Bây giờ, tất cả đối với ông là chắc chắn, tất cả những gì mà trước đây ông đã nghi ngờ... Truyền thống cho thấy rằng ông đã đến rao giảng ở Ấn Độ và chịu tử đạo ở đây. Vâng, trong sự nghi ngờ chính đáng vẫn có nhiều Đức Tin hơn là một niềm tin nửa vời...
Chúa còn nói thêm với Tôma,
câu Người nói với kẻ nghi ngờ giờ đây đã trở nên thành tín:
"Bởi thấy Thầy, anh đã tin,
Phúc cho những ai không thấy mà vẫn tin" ( Ga 20, 29 ).
Nếu tìm ý nghĩa cho câu nói ấy, thì ta phải hiểu rằng:
Không phải các Tông Đồ may mắn, còn chúng ta thì thiệt thòi.
Chúng ta không có quyền nói: "Như vậy là thiếu công bình...
Các Tông Đồ đã thấy Người, còn chúng ta thì không được thấy.
Nếu chúng ta không thấy được Người
Thì làm sao Người lại có thể chờ đợi lòng tin ở chúng ta ?”
Thế thì, Đức Tin là gì ?
Tin có nghĩa là hiểu biết điều mình không trông thấy.
Và quả thật, phúc cho những ai Tin vì họ sẽ thấy.
Ta để ý chỉ có Gioan mới nhắc tới Tôma, nhắc tới ba lần.
Lý do là vì Gioan viết Phúc Âm cốt để nhấn mạnh về Đức Tin.
Một người như Tôma sẽ cho chúng ta một bài học, một niềm hy vọng.
Tôma thực tế đến như thế...
Tôma bi quan đến thế,
Tôma thực tế đến thế,
Tôma nghi ngờ đến thế,
Vậy mà cuối cùng,
Tôma đã tin mà không cần phải thử nữa...
Điều này nói lên rằng:
Chúng ta không thể nào sống mãi trong bóng tối,
                             nếu chúng ta vẫn còn thắc mắc một cách chính đáng,
                             trong khi vẫn một lòng sánh bước với Đức Kitô...

Nếu ngày nay chúng ta có đi đến Thánh Địa, chúng ta sẽ thấy nơi Chúa đã đến, đường Chúa đã đi qua, nhưng chúng ta không thể chứng kiến Chúa chữa bệnh, không thể nghe tận tai Lời Chúa giảng, không thể chiêm ngưỡng Chúa Kitô Phục Sinh. Chúng ta chỉ thấy núi non, sông biển, sa mạc. Nhưng Chúa Giêsu thì chúng ta không thể gặp. Vậy, có đến đó hay ở nơi đây cũng chẳng khác gì...
"Phúc thay ai không thấy mà tin".
Nếu chúng ta thật sự thắc mắc,
                             thì chúng ta có thể tìm đến Chúa Kitô Phục Sinh qua Đức Tin.

Ngay cả Tôma, khi ông nói: "Lạy Chúa của con..."
                            
thì ông đã nói bằng kinh nghiệm,

Nhưng khi ông nói thêm: "...và là Thiên Chúa của con"
                            
thì ông đã nói bằng Đức Tin.

Cái gì mắt thấy tai nghe đã cho phép ông kết luận rằng:
Thầy của ông là Thiên Chúa Hằng Sống ?
"Tin là cách chiếm hữu những điều còn trong hy vọng,
Tin là cách nhận thức những thực tại không trông thấy,
Còn không có Đức Tin thì vô phương làm đẹp lòng Thiên Chúa,
Vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là Người hiện hữu,
Và Người sẽ thưởng công những ai tìm kiếm Người" ( Dt 11, 1 – 6 ).
Chúa Giêsu đã sống lại:
Người đã hiện ra cho các Tông Đồ,
Người đã hiện ra cho Tôma.
Đó là sự kiện không thể phủ nhận.
Vậy mà, điều đó chúng ta lại không có đủ chứng cứ.
Kitô giáo đặt nền tảng là Chúa Kitô Phục Sinh.
Vì thế, vấn đề của chúng ta là chọn lựa:
Chọn tin Người hay là phủ nhận Người mà thôi.
Nhưng, dù ta tin hay là ta phủ nhận thì ...
Người vẫn còn đó: Con Thiên Chúa,
Người đã sống lại và Người hằng sống, Người ở giữa chúng ta...
"Ở giữa các ông có một Người mà các ông không biết" ( Ga 1, 26 )
Người ở đó, trước mặt chúng ta, Tay Người đưa ra, vết thương còn rướm máu,
Người bảo chúng ta: "Hãy tra tay vào đây, hãy nhìn rõ tay Thầy,
Hãy đặt tay vào cạnh sườn Thầy, đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy Tin..."
Quả thật, “Phúc cho những ai không thấy mà tin..."
FX. TRẦN DUY NHIÊN, Trích "13 người đã thay đổi thế giới

 

PS2-234: Đức tin giữa lòng Giáo Hội

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 20:19-31)
 

Nếu không xét đến toàn diện bối cảnh, có lẽ chúng ta cũng sẽ “lên án” Tông đồ Tô-ma là người: PS2-234

Nếu không xét đến toàn diện bối cảnh, có lẽ chúng ta cũng sẽ “lên án” Tông đồ Tô-ma là người cứng lòng tin, như Chúa đã trách ông.  Lần thứ nhất Chúa hiện ra, ông Tô-ma vắng mặt, nên khi trở về và nghe kể lại thì ông không tin.  Nhưng tám ngày sau, Chúa lại hiện ra và ông Tô-ma cũng có mặt nên ông đã tin.  Sự khác biệt này đưa chúng ta tới một nhận xét:  chính trong bối cảnh nơi các môn đệ ở, đức tin đã được củng cố, nói khác đi, giữa lòng Giáo Hội là nơi đức tin của mỗi Ki-tô hữu được thêm vững mạnh.
                             Sau khi Chúa Giê-su chết trên thập giá, các môn đệ Người rút lui về một ngôi nhà với “các cửa đều đóng kín vì các ông sợ người Do-thái”.  Người Do-thái là từ ngữ ám chỉ các kẻ thù của Chúa Giê-su.  Tuy nhiên cũng chính trong căn nhà này mà đức tin yếu ớt của các môn đệ Chúa đã được hồi sinh và lớn mạnh.  Đó là nhờ Chúa đã hiện ra, chúc bình an, rồi lại cho các ông xem tay và cạnh sườn Người.  Quan trọng hơn nữa là Người đã “thổi hơi” vào các ông để ban cho các ông được Thánh Thần.  Nói tóm lại, trong căn nhà ấy, có sự hiện của Chúa Phục Sinh, sức mạnh Chúa Thánh Thần, bình an của Chúa Giê-su và các dấu tích chiến thắng thần chết, niềm vui của các môn đệ vì được thấy Chúa .  Tất cả những yếu tố này đã tạo nên một môi trường thuận lợi để đức tin Ki-tô được khôi phục và phát triển.
                             Vậy mà thật đáng tiếc, ông Tô-ma lại vắng mặt trong bối cảnh ấy, nên ông có trở nên “cứng lòng tin” thì cũng không lạ gì!  Trong khi mọi người được gặp gỡ Chúa Phục Sinh mà không cần phải đặt tay vào cạnh sườn Chúa hoặc xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nên họ đã tin, thì ông Tô-ma không có diễm phúc ấy.  Chúa Phục Sinh trở lại cùng căn nhà ấy tám ngày sau, và lần này có mặt ông Tô-ma.  Chúa muốn thỏa mãn mọi đòi hỏi của Tô-ma, miễn là ông có lòng tin.  Chúa không tự ý đưa tay và cạnh sườn cho ông xem như lần trước Người đã làm cho các môn đệ.  Nhưng Người mời gọi Tô-ma, dĩ nhiên không phải chỉ “chứng nghiệm” sự sống lại của Người, mà còn là tin vào Người nữa.  Đáp lại, ông Tô-ma nhận biết Chúa sống lại, hơn thế nữa, ông còn hăng hái tuyên xưng Người là Chúa và là Thiên Chúa của ông, một đức tin mang chiều kích hết sức cá nhân.  Quả thực, trong căn nhà các môn đệ ở đầy ắp đức tin ấy, ông Tô-ma không còn “cứng lòng tin” nữa, nhưng đã trở nên một mẫu gương tuyên xưng đức tin không kém gì lời tuyên xưng của ông Phê-rô năm xưa (Mát-thêu 16:16)!
                             Căn nhà giúp nảy sinh, phục hồi và củng cố đức tin vào Chúa Ki-tô Phục Sinh của những tín hữu tiên khởi khác nào tòa nhà Giáo Hội hôm nay.  Đúng vậy, nếu giữa lòng Giáo Hội chúng ta đã được tái sinh và hạt giống đức tin nảy mầm thành cây lớn mạnh, thì cũng chính trong Giáo Hội, đức tin của chúng ta sẽ được phục hồi khi chúng ta vấp ngã, được củng cố khi chúng ta yếu đuối, được nâng đỡ khi chúng ta gặp khủng hoảng.  Giáo Hội là môi trường phát triển đức tin!
Sống sứ điệp Tin Mừng
                             Sau khi kể lại câu chuyện bên trong căn nhà đóng kín cửa, thánh Gio-an đã nhấn mạnh rằng mục đích câu chuyện là “để anh em tin  rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người”.  Đoạn Công Vụ Tông Đồ 2:42-47 cho chúng ta một hình ảnh đẹp của Giáo Hội sơ khai, nơi “Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”.  Còn thư 1 Phê-rô thì nói Giáo Hội là nơi Thiên Chúa cho chúng ta được tái sinh và chuẩn bị cho chúng ta được hưởng gia tài vĩnh cửu trên trời.  Trong Giáo Hội ấy, Chúa Phục Sinh không hiện ra với chúng ta như đã hiện ra với các môn đệ.  Nhưng như lời thánh Phê-rô, “tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin”.  Giáo Hội không chỉ là những tòa nhà, những tổ chức, những cơ cấu, nhưng Giáo Hội còn là môi trường để mỗi người Ki-tô hữu sống và tuyên xưng đức tin, chung sức với đức tin của Phê-rô, tảng đá trên đó Chúa xây Giáo Hội Người, để giúp cho đức tin của mọi người vào Chúa Ki-tô Phục Sinh được mỗi ngày một lớn mạnh.  Ước gì ngày nào đó, mọi người sẽ cùng với ông Tô-ma tuyên xưng:  “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”
               Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

PS2-235: Sai đi

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ, không phải chỉ để an ủi và củng cố niềm: PS2-235

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ, không phải chỉ để an ủi và củng cố niềm tin của các ông sau những giây phút kinh hoàng của cuộc thương khó, mà còn trao ban cho các ông một quà tặng và một sứ mạng. Vậy quà tặng ấy là gì? Sứ mạng ấy là gì?
Quà tặng ấy trước hết là niềm vui. Đây không phải là một niềm vui dễ dãi, hời hợt, nhưng là một niềm vui sâu sắc, đằm thắm mà người ta chỉ có thể đạt được, sau khi đã vất vả khó nhọc làm một điều tốt. Nó giống như niềm vui của một người trồng lúa khi mùa gặt đến, niềm vui của một bà mẹ lúc sinh con.
Tiếp đến quà tặng ấy là sự bình an. Đây chính là kết quả của một cuộc chiến đầy cam go với tội ác, để rồi sau cùng đã được hoà giải với Thiên Chúa, cũng như với anh em.
Sau hết quà tặng ấy còn là chính Chúa Thánh Thần như lời Ngài đã phán: Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Thế nhưng, các ông nhận lấy Chúa Thánh Thần cũng như một số quyền hành khác nữa, không phải để hưởng thụ một mình, mà còn phải chia sẻ với anh em hầu chu toàn sứ mạng đã được trao phó đó là sai đi.
Đúng thế, các tông đồ ngày xưa cũng như Giáo Hội ngày nay đã nhận được sứ mạng đi tới với con người để cứu vớt họ. Trải qua dòng thời gian, các tông đồ cũng như Giáo Hội không ngừng khi khắp thế giới, gặp gỡ con người thuộc mọi chủng tộc, thuộc mọi ngôn ngữ, thuộc mọi nền văn minh cũng như thuộc mọi thể chế chính trị, để minh chứng rằng Đức Kitô đã phục sinh. Ngài đang sống và Ngài là Đấng cứu độ. Giáo Hội cố gắng xoá bỏ khoảng cách giữa Phúc Âm và nhân loại, giữa Đức Kitô và con người, đồng thời cố gắng hiện diện với mọi người, để qua hành động của mình, người ta sẽ cảm thấy có Đức Kitô hiện diện với họ.
Do đó một câu hỏi quan trọng cần phải được đặt ra cho mỗi người chúng ta, đó là: Qua đời sống, cũng như qua hành động, liệu chúng ta có ra sức làm cho Đức Kitô hiện diện với những người đang cùng sống chung với chúng ta hay không? Liệu chúng ta có đem tinh thần của Ngài vào trong môi trường chúng ta đang sống và trong những sinh hoạt chúng ta đang thực hiện hay không? Vậy chúng ta rao giảng Đức Kitô phục sinh bằng những cách nào? Dĩ nhiên không phải chỉ bằng lời nói, mà hơn thế nữa, cách hữu hiệu hơn cả đó là làm chứng bằng chính cuộc sống và hành động. Bởi vì gương sáng và việc làm của cuộc sống bao giờ cũng có tính cách hấp dẫn và lôi cuốn đối với những người xunh quanh.
Và để kết luật tôi xin gợi lại nơi đây tư tưởng của Đức Thánh Cha Phaolô VI trong Tông huấn về việc Loan báo Tin Mừng, ngài viết như sau: Đối với Giáo Hội, phương thế Phúc Âm hoá thứ nhất vẫn là làm chứng bằng một đời sống Kitô hữu đích thực, tức là sống phó thác cho Thiên Chúa, đồng thời cũng là hiến thân cho anh em bằng một lòng nhiệt thành không giới hạn.

 

PS2-236: Ý nghĩa các vết sẹo – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Trong mùa Phục Sinh, các bài đọc sách Tin Mừng và Công vụ Tông đồ thuật lại: mỗi lần Chúa: PS2-236

Trong mùa Phục Sinh, các bài đọc sách Tin Mừng và Công vụ Tông đồ thuật lại: mỗi lần Chúa Giêsu hiện đến với các môn đệ, Ngài đều trao ban bình an: “bình an cho các con” và “cho các ông xem tay chân và cạnh sườn” là những vết thương cuộc khổ nạn của Ngài.
Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn. Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo.Tôma muốn sờ đến để biết chắc Thầy đã sống lại.Khi Chúa Phục Sinh mời gọi Tôma: “hãy đặt ngón tay vào lỗ đinh và hãy đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn”, chắc hẳn Tôma đã nhìn thật lâu những dấu đinh. Khi ấy, Tôma khám phá thật sâu một Tình Yêu.Tình yêu hy sinh mạng sống và đủ mạnh để lấy lại.Tình yêu khiêm hạ cúi xuống để chinh phục ông.Các vết sẹo của Thầy đã chữa lành vết thương hoài nghi của Tôma. Lòng ông tràn ngập niềm cảm mến tri ân.  Ông thoát ra khỏi sự cứng cỏi, khép kín, tự cô lập, để bước vào thế giới của lòng tin. Tôma đã tin vượt quá điều ông thấy. Ông chỉ thấy và chạm đến các vết sẹo của Thầy, nhưng ông tin Thầy là Chúa, là Thiên Chúa của ông.
Tại sao thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang các thương tích của cuộc khổ nạn? Các vết sẹo ấy có ý nghĩa gì đối với chúng ta?
1.  Những vết sẹo giúp các môn đệ nhận ra Chúa
Chúa Giêsu phục sinh giúp các môn đệ nhận ra Ngài nhờ những vết sẹo. Ngài cho họ xem những vết sẹo ở tay và cạnh sườn. Những vết sẹo nói lên một điều quan trọng: Thầy chính là Đấng đã bị đóng đinh và đâm thâu; Thầy đã chết nhưng Thầy đã thắng được tử thần.Các môn đệ mặc dầu được tiên báo trước về cuộc Phục sinh (Mt 18,31-34), nhưng những tang tóc và lo sợ xâm chiếm hết tâm hồn họ lúc này. Cho nên để họ được an tâm và bình an hơn, Chúa nói: “hãy xem chân tay Thầy đây...”. Thân xác phục sinh của Chúa bây giờ vẫn còn mang những dấu vết của cuộc thụ nạn như các dấu đinh, lằn roi... Chúa bảo họ cứ sờ vào đó để khỏi còn phải nghi ngờ về bóng ma hay thần linh nào khác “Chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương thịt như anh em thấy Thầy có đây” (Lc 24,39); “Người đưa tay chân ra cho các ông xem” (Lc 24,40). Bàn tay mang dấu đinh là bàn tay nhen lửa và nướng cá bên biển hồ Tibêria. Bàn tay trao tấm bánh đời mình trong bữa Tiệc Ly bây giờ trao tấm bánh mình mới nướng cho môn đệ.(x.Ga 21,1-14).
Các Tông đồ đã thấy được thân xác vinh quang phục sinh của Chúa.
Thân xác Chúa phục sinh cũng là thân xác trước khổ nạn, nhưng nay không còn bị lệ thuộc vào không gian vào thời gian như thân xác trước nữa. Chúa ra khỏi mồ (Lc 24,3), Chúa vào giữa nhà các Tông đồ đang cửa đóng then cài (Ga 20,19), Chúa đi trên biển (Ga 21,7). Vì thế, thánh Phaolô gọi thân xác phục sinh của Chúa là thân xác thiêng liêng, chí thiện (1Cr 15,40). Thánh Thần tràn ngập trong thân xác ấy.Thân xác Chúa Kitô Phục Sinh được Kinh Thánh gọi là: bất tử (1Cor 15,53), bất diệt, linh thiêng (1Cor 15,44), bất khả thực (Kh 7,16), huyền diệu (Mt 28,1; Ga 20,19). Lanh lẹ (Lc 24,26). Chúa Kitô Phục Sinh đã cởi bỏ tất cả những yếu hèn của nhân loại như đói khát, mệt mỏi. Dù Chúa có ăn uống chút ít, song đó không phải là nhu cầu tự nhiên. Nhưng Chúa làm như vậy để các Tông đồ xác tín hơn rằng Ngài đã sống lại thật với cùng một thân xác trước kia.
2.  Những vết sẹo là chứng tích của tình yêu cao cả
Thương tích trên thân thể phục sinh của Chúa Giêsu là một nhắc nhở rằng, Ngài là Thiên Chúa nhưng cũng là một con người như chúng ta, và Ngài đã chịu đau khổ để thông cảm với mọi đau khổ của loài người và để làm gương cho chúng ta.
Khi nhìn đến Chúa Giêsu với các thương tích của cuộc khổ nạn, chúng ta sẽ cảm thấy an ủi hơn, gần gũi hơn với Thiên Chúa và cố gắng vươn lên, không chìm đắm trong buồn sầu cay đắng, không tầm thường hóa cuộc đời trong tội lỗi và vững tin rằng, sự sống lại vinh hiển có giá trị hơn đời này gấp bao lần mà chính Chúa Giêsu đã mở đường đi về sự sống mới.
Qua cuộc khổ nạn mà các vết sẹo vẫn còn lưu lại trên thân thể, Chúa Giêsu Phục Sinh muốn nói với chúng ta rằng sự đau khổ, trong ý nghĩa tích cực là những hy sinh có giá trị cứu độ. Với các vết sẹo ấy, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng, đau khổ không là một bất hạnh cần phải lẫn tránh, mà tội lỗi gây ra đau khổ mới là điều xấu xa cần phải tránh xa.
Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại đến nỗi ban chính Người Con Một; và Người Con Một đã yêu cho đến cùng, đã chịu khổ nạn với trái tim bị đâm thâu khi tự hiến trên thánh giá. Chúng ta cũng phải đáp trả sao cho cân xứng với tình yêu ấy.
Có câu chuyện “Trái tim có nhiều vết sẹo” diễn tả tình yêu chia sẽ trao ban qua những thương tích cuộc đời.
Một buổi chiều trong công viên, có một chàng trai đang chăm chú vẽ một trái tim. Trên khung giấy trắng dần dần hiện ra một trái tim thật đẹp, thật hoàn hảo khiến mọi người đứng xem đều trầm trồ khen ngợi.
Bỗng một ông lão đi đến. Ông trầm tư ngắm nghía bức tranh của chàng trai một hồi lâu, rồi lặng lẽ mượn bút vẽ một hình thoạt nhìn rất lạ, nhìn thật kỹ mới nhận ra đó là hình một trái tim…
Chàng trai ngac nhiên nhìn trái tim ông lão vừa vẽ, nó bị chắp vá chằng chịt, nhưng rõ ràng vẫn là một trái tim. Trên trái tim ấy, có chỗ như bị khuyết lõm, có chỗ như bị cắt đi và được ghép nối bởi những mảnh to nhỏ khác nhau. Mọi người bắt đầu bàn tán và lắc đầu tỏ ý không hiểu ý nghĩa hình vẽ trái tim của ông lão.
Chàng trai thắc mắc:
- Cụ ơi! Cháu không hiểu vì sao ông lại vẽ trái tim như vậy? Làm sao trái tim lại mang nhiều vết sẹo và ráp nối như thế?
Ông cụ mỉm cười rồi nói:
- Đúng! Trái tim của ta có thể không hoàn hảo, nhưng nó là một trái tim thật sự. Đấy chỉ là do trái tim này đã có thời gian sống và trải nghiệm nhiều hơn trái tim của cậu. Hãy nhìn những dấu vết này! Tuy có nhiều thương tích nhưng tôi luôn tự hào về nó. Cậu biết không, khi tôi trao một mảnh tim của tôi cho một người thân, cha mẹ, anh chị, bạn bè và cả những người mà tôi tình cờ gặp được… thì ngược lại, họ cũng trao cho tôi một mảnh tim của họ để đắp vào chỗ trống ấy. Những mảnh tim này không hoàn toàn giống nhau: phần trái tim mà cha mẹ trao cho tôi bao giờ cũng lớn hơn phần tôi trao lại; con gái tôi dành cho tôi phần trái tim trong trẻo nhất; bạn đời tôi tặng cho tôi phần trái tim đẹp nhất và chung thủy nhất… Những mảnh tim ấy đã ghép vàp nhau và tạo thành những vết chắp vá của trái tim tôi. Chính điều này luôn nhắc tôi nhớ về những người tôi yêu dấu, những tình yêu mà tôi đã được chia sẻ trong đời…
Ông lão nói tiếp:
- Còn những vết lõm này là phần trái tim tôi trao đi mà chưa được nhận lại. Cậu biết đấy, tình yêu trao đi chẳng cần đến sự đền đáp. Dù những khoảng trống này nhiều lúc làm tôi đau đớn, nhưng cũng chính nhờ chúng mà tôi có động lực để khao khát được sống, và có niềm tin vào một ngày mai tốt đẹp hơn. Chàng trai ạ, nhờ những mảnh chắp vá này mà trái tim của tôi có sức sống mãnh liệt, trưởng thành và cảm nhận cuộc sống trọn vẹn, sâu sắc hơn.
Đám đông im lặng, còn chàng trai không giấu được nỗi xúc động đang dâng trào trong lòng. Anh tự hào cầm bút cắt đi một mảnh trong trái tim hoàn hảo của mình và đắp vào một phần khuyết của trái tim ông lão. Đáp lại, ông lão cũng tặng anh một mảnh trái tim ông.
Giờ đây, trái tim của chàng trai đã có một vết sẹo. Tuy không còn hoàn hảo nữa, nhưng chàng trai cảm thấy trái tim mình đầy sức sống hơn bao giờ hết. Anh nhận ra sức mạnh và vẻ đẹp của trái tim không phải ở chỗ nó được giữ kỹ để không có một vết tích, tổn thương nào của cuộc đời mà trái lại, càng hòa nhập và biết chia sẻ, dám yêu, dám sống và sẵn sàng cho đi, trái tim của con người càng trở nên nhạy cảm, sâu sắc và đập mạnh mẽ hơn...
3. Những vết sẹo là dấu chứng của phục sinh
Thân xác Chúa Phục Sinh mang những vết sẹo cuộc khổ nạn. Những cái sẹo ấy sẽ ở mãi với Ngài trên thiên quốc. Những cái sẹo gợi lên những kỷ niệm buồn phiền, thất bại, đớn đau. Nhưng nếu không có những cái sẹo thì cũng chẳng có phục sinh.Chúa Giêsu vượt thắng sự chết, đập tan quyền lực của tử thần, Ngài phục sinh và bước vào một cuộc sống mới viên mãn hơn, vững bền hơn. Dẫu rằng vẫn còn đó những dấu vết của thương đau, những vết sẹo của bạo lực bất công, nhưng giờ đây Ngài đã khởi sự một sự sống bất diệt, vượt trên vòng lao lý của khổ đau, của giới hạn kiếp người, Ngài đã bước vào thế giới của niềm vui, của Tình Yêu!
Con người chúng ta, ai cũng thường mang những vết sẹo trên thân xác. Có những vết sẹo gợi lại cả một vùng trời kỷ niệm. Sống chiều kích Phục Sinh trong ý nghĩa trao ban và tận hiến chính là sống ý nghĩa “trái tim có nhiều vết sẹo”.
Nếu hiểu cuộc phục sinh của Chúa Giêsu là sự vượt qua nghịch cảnh để bước vào đời sống mới, thì mỗi khi một cá nhân, một gia đình hoặc một tập thể vượt qua được những nghịch cảnh của đời mình thì cũng có thể gọi đó là sự phục sinh!
Tony Melendez là một người Nicaragua, sinh năm 1962 và bị mất cả hai tay vì ảnh hưởng tai hại của một loại thuốc cảm cúm mà bà mẹ đã uống khi không biết là bà đang mang thai. Sau khi Tony được 1 tuổi, cả gia đình được ông ngoại bảo lãnh sang Los Angeles Hoa Kỳ, ở đây Tony học sử dụng mọi thứ bằng đôi chân, kể cả học đánh đàn ghita. Đến năm 16 tuổi, với cây đàn ghita, anh thường hát dạo ở một góc phố Laguna Beach để kiếm tiền cho gia đình. Anh cũng rất chán nản với tương lai đi ăn xin như vậy, và anh tự hỏi, "chẳng lẽ cuộc đời mình chỉ đi ăn xin như thế thôi hay sao?".
Rồi một ngày kia anh nhận được lá thư mời đến trình diễn cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong ngày Đại Hội Giới Trẻ vào tháng 9 năm 1987 ở Los Angeles. Trong cuộc họp mặt đó có trên 6.000 người trẻ từ khắp nơi đến tham dự.
Anh đã nhận lời trình diễn và cũng kể từ đó cuộc đời anh thay đổi. Sau khi trình diễn một bài do anh sáng tác, cả hội trường đứng dậy hoan hô anh, ngay cả Đức Giáo Hoàng cũng đứng dậy và đi đến tận bục trình diễn để hôn anh, và điều quan trọng là câu nói của Đức Gioan Phaolô II. Ngài nói, "Tony, con là một người thực sự can đảm. Con đang đem lại hy vọng cho mọi người ở đây. Cha ao ước con sẽ tiếp tục đem hy vọng cho tất cả mọi người".
Từ lúc đó trở đi, anh được mời đi lưu diễn ở nhiều nơi trong nước, và bất cứ ai trông thấy một thanh niên cụt hai tay nhưng vui vẻ dùng đôi chân đánh đàn và say sưa cất tiếng hát với những lời lẽ không than van, không cay đắng, không oán hờn thì tất cả mọi người đều ngập tràn hy vọng. Chính Tony, anh chia sẻ như thế này: "Có lúc tôi thực sự tin rằng tôi phải có đầy đủ chân tay, mắt mũi để yêu thương, để phục vụ, để lo lắng cho người khác. Tôi nghĩ là tôi cần những điều đó. Dĩ nhiên, có đôi tay thì giúp đỡ người khác dễ dàng hơn. Nhưng tình yêu thì không cần đôi tay. Để yêu thương ai đó, tất cả những gì bạn cần là con tim và để ý đến họ."
Với thân thể tật nguyền, Tony Melendez đã đem lại hy vọng cho những người thấy anh trình diễn. Đó là chứng từ của một hành trình phục sinh.

 

PS2-237: Tôma, con người đa nghi.

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Chúng ta gặp Tôma đầu tiên trong câu chuyện của Lagiarô chết. Lúc bấy giờ Chúa và các môn đệ: PS2-237

Chúng ta gặp Tôma đầu tiên trong câu chuyện của Lagiarô chết. Lúc bấy giờ Chúa và các môn đệ đang ở ngoài vùng Giuđê là nơi mà người Do Thái quá khích tranh luận, đã hai lần ở vùng này đòi bắt giữ và ném đá Chúa, nhưng Chúa Giêsu đều lánh đi sang bên kia bờ sông Giordan. Bây giờ Chúa muốn trở lại Giuđêa để phục sinh La-gia-rô. Tôma thấy ngay sự nguy hiểm đang rình chờ. Ông liền quay lại nói với các tông đồ: “Nào cả chúng ta nữa, hãy đi qua đó để chết với Ngài” (Jn 11,16). Câu nói xem ra có tính cách nhiệt thành nhưng cũng tỏ lộ một nội tâm bi quan, buồn thảm nhìn vấn đề dưới khía cạnh mặt trái, đen tối thất bại... Tại sao ông không nghĩ đến Thiên Chúa uy quyền có thể biến giông tố im lặng, có thể tự cứu mình, mà lại nghĩ đến cái chết thất bại phải nhờ đến sự hỗ trợ của các tông đồ? Tại sao lại tắt đi hy vọng, cam chịu một định mệnh là bị dân chúng dồn vào chân tường?
Lần thứ hai chúng ta gặp Tôma bên bàn tiệc ly. Mọi người yên lặng vào nghe Chúa dạy: “Lòng các con đừng xao xuyến, hãy vững tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở và Thầy đã dọn sẵn cho các con rồi, Thầy sẽ đến đem các con đi. Thầy ở đâu các con ở đó. Thầy đi đâu các con biết đường đi rồi” (Jn 14, 1–4).
Tôma thấy khó hiểu, vấn đề nghe lạ tai. Một đàng Chúa tiên báo cái chết, một đàng lại nói đến chỗ ở, đường đi, sự sống... Tôma không thể im lặng được nữa nên phát biểu: “Lạy Thầy, chúng con nào biết đi đâu, thì làm sao biết được đường đi lối về” (Jn 14, 5–6). Một câu nói mang dáng dấp của đêm đen giăng kín, đến mức độ chẳng biết đường đi!
Lần thứ 3 là dịp Chúa Phục Sinh. Phúc âm kể rằng: mọi người đều ngồi nói chuyện với nhau về những lần Chúa hiện ra. Mọi người đều vui mừng vì Thầy đã sống lại. Tại sao chỉ một mình Tô-ma lại không tin. Ông không tin vì Chúa không hiện ra với ông? Ông không tin vì ông bỏ cộng đoàn? Sống một mình trong thất vọng, u sầu? Có lẽ đúng. Tôma đã bỏ cộng đoàn! Tôma có lẽ đã nghe cả thành xôn xao về sự kiện Chúa đã sống lại, nhưng lòng ông quá thất vọng nên không thể đón nhận niềm vui Chúa phục sinh. Có lẽ ông đã mang tâm trạng thất vọng, nên bỏ lỡ cơ hội nhận ra Chúa như hai môn đệ Emmau đã từng không nhận ra Chúa đang đồng hành với mình.
Phúc âm ghi lại: Chúa phục sinh đã hiện ra với các tông đồ, trừ Tô-ma. Tô-ma đã vắng mặt ngày hôm đó. Không rõ lý do tại sao vắng mặt, nhưng nếu có thể đoán với tính tình mau nản dễ bỏ cuộc của ông. Ông đã tách lìa công đoàn. Ông đã quá quen với những tin tức đen tối u buồn, cho nên những tin tức nào có tính cách đau thương, thất bại, bách hại thì ông mới tin. Ông không đủ lạc quan để tin vào niềm vui Chúa sống lại. Do đó, các tông đồ là những người xưa nay ông vốn kính trọng, vốn tín nhiệm, nay đưa tin Chúa Giêsu phục sinh, thì ông không tin được vì ông chưa thấy trong nhân loại có chuyện phục sinh bao giờ. Đức tin của ông đòi sự kiểm chứng. Ông đã hùng hồn tuyên bố: nếu tôi không xỏ ngón tay vào cạnh sườn, vào lỗ đinh ở tay, chân Chúa thì tôi không bao giờ tin. Rồi một tuần sau đó, cũng tại căn nhà tiệc ly. Tôma đã nấc nghẹn từng lời để thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”.
Cuộc đời chúng ta đôi khi cũng đánh mất đi quá nhiều cơ hội, bỏ lỡ nhiều dịp may để hy vọng, để tin, để sống... Chúng ta bỏ lỡ đi sự hiện diện, cứu giúp của Chúa, ơn tha thứ của Chúa. Thế nên, cuộc đời chúng ta vẫn chìm đắm trong đau khổ và thất vọng. Có một điều chúng ta phải học nơi Tôma là ông dám làm lại cuộc đời sau khi gặp được Chúa. Sau khi Chúa bảo Tôma “hãy tra tay sờ vào các lỗ đinh cạnh sườn...” Từ đó con người Tôma biến đổi hơn. Từ một con người thờ ơ lãnh đạm, nghi ngờ yếu đuối, ông trở thành một người tuyên xưng đức tin hùng mạnh: “Lạy Chúa, lạy Chúa tôi”.
Tôma chính là mẫu gương cho đời sống đức tin của chúng ta. Có những lúc chúng ta bước đi trong đêm tối của cuộc đời. Muốn buông xuôi. Muốn bỏ cuộc. Có những lúc chúng ta thất vọng muốn xa rời cộng đoàn, chẳng dám tin ai. Tô-ma đã từng xa lìa cộng đoàn. Sống trong cô đơn, thất vọng. Nhưng ông đã trở về với cộng đoàn. Ông bám vào cộng đoàn, nhờ đó mà ông tìm được niềm vui Chúa phục sinh.
Nguyện xin Chúa Phục sinh ban cho chúng ta ơn bình an và lòng tin mạnh mẽ để có thể tuyên xưng Chúa trong mọi biến cố vui buồn trong đời. Xin cho chúng ta đừng bao giờ rời xa cộng đoàn, nhưng luôn hiệp nhất với nhau trong một đức tin, đức cậy, đức mến nồng nàn. Amen.

 

PS2-238: Hơi thở của Chúa – Peter Feldmeier

(Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)
“Bình an cho anh em” (Ga 20,9).
 

Hồi còn là sinh viên, tôi bắt đầu thích thú tìm hiểu các chân lý Kitô giáo, khởi đầu qua một sự kiện: PS2-238

Hồi còn là sinh viên, tôi bắt đầu thích thú tìm hiểu các chân lý Kitô giáo, khởi đầu qua một sự kiện. Trong lớp học hôm đó, một bạn sinh viên trong lớp thách thức một thần học gia và khẳng định rằng những gì không được kiểm chứng cụ thể thì không phải là chân lý đáng để chúng ta tin theo. Tôi rất tâm đắc lời khẳng quyết này. Là một Kitô hữu, tôi cũng đã từng có kinh nghiệm khá nhiều về tình yêu của Thiên Chúa phủ ngập trong cuộc đời tôi. Nhưng phải thú thật, chỉ những Kitô hữu tốt lành và thánh thiện mà tôi đã gặp, mới là những chứng nhân và gương sáng rất cụ thể, đã đánh động và kiện cường đức tin nơi bản thân tôi. Thái độ và cách sống của họ biểu tỏ cho thấy họ đã trải nghiệm thực sự bình an của Chúa nơi tâm hồn, và được biểu thị rõ ràng qua cuộc sống của họ, một cuộc sống được đổi mới trong Thần khí. Trong bài đọc thứ hai của phụng vụ hôm nay, Thánh Gioan tông đồ cũng khẳng quyết “Mọi kẻ được Thiên Chúa sinh ra, đều thắng được thế gian” (1Ga 5,4). Như thế, những người được tái sinh bởi Thần khí sẽ không còn lý do gì để phải sợ hãi. Họ có được an bình trong tâm hồn, giống như những Kitô tốt lành mà tôi đã gặp gỡ.
Trong trình thuật Tin mừng hôm nay, Thánh Gioan cho ta thấy các tông đồ cũng được tái tạo, được đổi mới nhờ hơi thở linh thánh của Đấng Phục Sinh. Đây chính là hơi thở mà ngay từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã thổi vào để tác sinh con người. Sách Sáng thế viết “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (St 2,7). Vào buổi chiều ngày Phục sinh, các tông đồ sợ sệt, ngồi co rúm lại với nhau trong một căn phòng đóng kín. Họ đã trải nghiệm niềm vui tột cùng khi được gặp gỡ Đấng Phục sinh, người Thầy đáng kính của họ. Đức Giêsu đến, đứng ở giữa họ và nói “Bình an cho anh em”. Khi nói xong, Ngài thổi hơi trên họ và nói “Anh em hãy lãnh nhận Thánh Thần”.
Các Ngài đã lãnh nhận hơi thở thần thiêng, đã được sinh ra “từ trên cao”, tức là các Ngài đã được đổi mới hoàn toàn, bởi vì “những gì sinh ra bởi xác thịt là xác thịt, và những gì sinh bởi thần khí chính là thần khí (Ga 3,6.7). Rồi sau đó Đức Giêsu ủy trao sức mạnh thần thiêng cho các tông đồ. Họ đã nhận lãnh quyền năng từ chính Đấng Phục sinh “Anh em tha tội cho ai, người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, người đó bị cầm giữ”. Tôi không nghĩ rằng, lúc đó Đức Giêsu có ý ám thị về bí tích tha thứ nơi tòa giải tội, cho dù sau này, Giáo hội vẫn hiểu như thế, và chắc chắn Đức Giêsu đã trao ban năng quyền bính tha tội cho các thừa tác viên nơi tòa cáo giải. Nhưng thiết tưởng, động thái của Đức Giêsu thổi thần khí vào các tông đồ, là nhằm tái sinh các ông, ban cho các ông một sự sống mới, để họ được thông dự vào sức sống và quyền năng của Đấng Phục sinh từ sâu tận trong tâm hồn các ngài. Đức Giêsu thổi hơi thở của Ngài, hơi thở của Thần khí trên các tông đồ. Đây là sinh khí và sức sống biểu thị sứ mạng cứu thế và quyền năng của Đấng Sống lại. Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, tác giả sách tông đồ công vụ cũng cho thấy, các tông đồ đã có đầy quyền năng (mega dynamis), một năng động lực với uy quyền để làm chứng cho Đấng Sống Lại.
Tuy nhiên, Tôma không có mặt, không gặp được Chúa buổi chiều ngày hôm đó. Tôma đã không tin, chính xác hơn là ông chưa tin. Tuần sau, Ngài lại hiện đến, với sự hiện diện của Tôma. Vị tông đồ này không chỉ tin, nhưng còn mạnh mẽ thốt lên “Lạy Chúa, Thiên Chúa của con”. Hành vi tuyên tín của Tôma giống như một động thái mang tính tiên tri, đã mở toang cánh cửa của căn phòng đóng kín, và khai mở sứ vụ rao giảng Tin mừng nơi toàn thể Hội thánh. Trọng tâm của Tin mừng là sứ vụ công bố cho thế giới “Lời” và “Ánh Sáng thật” (Ga 1,1-4) , là chính mầu nhiệm Đức Giêsu, Đấng đã chết và đã sống lại. Được ơn soi sáng, Tôma đã can đảm nói lên lời xưng thú và dũng cảm tuyên xưng đức tin. Hành vi tuyên tín của ông có vẻ như đầy kịch tính, nhưng mở ra cho giáo hội một viễn ảnh mới để công bố và làm chứng cho Tin mừng Phục sinh.
Có lẽ, chúng ta dễ nghĩ tưởng rằng Thomas đã tự dàn dựng một khung cảnh để bào chữa cho mình. Ngài đã được các tông đồ khác thuật lại câu chuyện tiếp cận trực tiếp với Đấng Sống Lại, và họ cũng kỳ vọng Thomas sẽ tin mà không cần kiểm chứng hoặc hỏi han điều gì. Khi tôi nghe một ai thuật lại một câu truyện về kinh nghiệm thiêng liêng của họ, ví dụ họ đã được thị kiến gặp thấy Chúa, tôi luôn đặt vấn đề, xem có thực sự đó là một ơn ngoại thường Chúa ban riêng cho họ, hay chỉ là một sự bịa đặt hoang tưởng. Thái độ của Thomas cũng phản ánh những suy nghĩ mang tính loại suy như của các Kitô hữu sau này, bởi vì họ cũng không gặp trực tiếp Đức Giêsu Phục sinh. Chúng ta nghe Chúa Giêsu nói với ông “Có phải vì anh đã thấy Thầy nên anh tin? Phúc cho những ai không thấy mà tin”.
Câu nói của Đức Giêsu ngỏ trao cho Tôma cũng là sự nhắc nhở Chúa gởi đến mỗi người chúng ta hôm nay. Liệu có phải chúng ta cần những chứng cứ cụ thể để tin, hay chúng ta muốn trở nên những người được Thiên Chúa chúc phúc vì đã tin cho dù không thấy? Vấn đề ở đây, không phải là Tôma cần những bằng chứng cụ thể, và càng không phải là một con người cố chấp, cứng lòng, không tin. Điều quan trọng, là ông đã cảm nghiệm thực sự và bị cột trói vào những gì rất rõ ràng mà ông cảm nhận được. Ông đã tận mắt thấy sự biến đổi sâu xa nơi các bạn đồng nghiệp. Họ đã được đổi mới hoàn toàn. Từ những con người tuyệt vọng và nhát đảm, họ đã trở nên những con người can đảm và tràn đầy hy vọng. Từ những con người ẩn nấp trong bóng tối nơi căn phòng khép kín, các ông đã mở toang cánh cửa, cánh cửa của ngôi nhà chật chội đóng khép, cũng như cánh cửa của ngôi nhà mù tối nơi tâm hồn họ. Giờ đây, các ông ngập tràn niềm tin và được phú trao quyền năng mạnh mẽ. Các ông đã có được quyền năng siêu phàm của Đấng Phục sinh để diễn bày tình thương tha thứ đến cho mọi người. Nhưng trên hết, sự sợ hãi và bất an nơi các học trò Đức Giêsu đã được thay thế bằng sự an bình trong Thần khí mà Đức Giêsu đem lại. Đó chính là quà tặng vô giá. Bởi vì, quà tặng bình an là món quà lớn nhất mà họ đã sở đắc được. Đây là chứng từ mạnh mẽ mà Tôma đã thấy. Ông đã tận mắt mục kích và cảm nghiệm một sức sống mới, tuôn trào mãnh liệt từ sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Đó quả là một cuộc tái tạo trong chính Thần khí của Đức Kitô, Đấng Phục sinh. Tôma đã trở nên như một hình mẫu đức tin cho chúng ta.

 

PS2-239: VÀO TRONG VINH QUANG NGANG QUA THẬP GIÁ

http://www.giaophanvinhlong.net/Hiep-Song-Tin-Mung-Chua-Nhat-2-Phuc-Sinh-Nam-B.html
Hiệp Sống Tin Mừng - Chúa Nhật 2 Phục Sinh - Năm B
Cv 4.32-35 ; 1 Ga 5,1-6 ; Ga 20,19-31
1. LỜI CHÚA: Rồi Người bảo Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa nhưng hãy tin”. Ông Tô-ma thưa Người: “”Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,27-28). 
2. CÂU CHUYỆN: ĐỨC KI-TÔ PHỤC SINH PHẢI TRẢI QUA ĐAU KHỔ THẬP GIÁ
 

Một hôm do muốn cám dỗ thánh Martinô phạm tội, nên quỷ đã hiện hình thành một ông vua oai phong: PS2-239 VL

Một hôm do muốn cám dỗ thánh Martinô phạm tội, nên quỷ đã hiện hình thành một ông vua oai phong và phán rằng “Hỡi Martinô, Ta cám ơn con đã tin vào Ta, và Ta mong rằng từ nay con sẽ luôn ở bên Ta và vâng nghe lời Ta truyền dạy”.
Martinô chăm chú nhìn ông vua giàu sang kia và hỏi: “Nhưng thưa ngài, ngài là ai vậy?”. Vua liền trà lời: “Ta là Vua Kitô đây !”
    Martinô lại hỏi:  “Vậy những vết thương ở tay chân của Đức Kitô đã biến đi đâu cả rồi ?” Vua liền đáp “Ta từ trời xuống, nên không cần đến các vết thương đó nữa !”
       Bấy giờ Martinô nói: “Tôi sẽ không bao giờ tin vào một Đức Kitô không chịu khổ nạn và tay chân không mang thương tích!” Tên vua quỷ nghe vậy liền biến mất.
 3. SUY NIỆM:
1) Từ thái độ bán tín bán nghi đến đức tin vững chắc vào mầu nhiệm Phục Sinh:
Các môn đệ của Chúa Giê-su không phải là những con người dễ tin. Đức tin của các ông đã trải qua một quá trình được các sách Tin Mừng ghi nhận như sau:
- Vào sáng ngày Thứ Nhất trong tuần, khi nghe bà Ma-ri-a báo tin xác Thầy biến mất, hai môn đệ Phê-rô và Gio-an đã chạy đến mộ để xác định thực hư. Gio-an đã đạt tới đức tin trước các anh em nhờ nhìn thấy những khăn liệm xác và các dây băng được xếp gọn để lại trong mộ và nhất là nhờ lòng mến đặc biệt dành cho Thầy Giê-su. Như vậy Gio-an “đã thấy và đã tin” nhờ đã quan sát những sự kiện thực tế và nhờ sự trực giác do lòng mến Chúa (x Ga 20,1-8).
- Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đã gặp Chúa phục sinh nhưng không nhận ra Người mà bà nghĩ là ông giữ vườn. Bà chỉ tin nhận Chúa Phục Sinh khi nghe Người gọi đích danh tên của bà: “Ma-ri-a !” (Ga 20,16). Như vậy một người sẽ chỉ đạt tới đức tin sau khi đã cảm nghiệm được tình Chúa yêu thương qua lời nói việc làm yêu thương phục vụ của các tín hữu.
- Hai môn đệ làng Em-mau đã được gặp Chúa phục sinh và đã nghe Người nói chuyện suốt cuộc hành trình, nhưng các ông vẫn nghĩ Người là một người dân ở Giê-ru-sa-lem. Các ông chỉ nhận ra Chúa khi lòng các ông đã nóng lên lòng mến khi nghe Người giải thích Kinh Thánh. Nhất là khi được tham dự lễ nghi Bẻ Bánh mà Đức Giê-su đã từng làm trước đó (x Lc 24,13-31). Như vậy đức tin chỉ có được qua một tiến trình như sau: Một là phải nghe Lời Chúa giáo huấn qua Hội Thánh để thêm lòng tin yêu và hai là phải năng dự thánh lễ với cộng đoàn.
- Bảy môn đệ cùng đi đánh cá tại biển hồ Ga-li-lê cũng chỉ tin Chúa Phục Sinh sau khi đã vâng lời Chúa “thả lưới bên phải mạn thuyền” và đã bắt được mẻ cá lạ lùng (x Ga 21,1-14). Như vậy các dấu lạ bắt nguồn từ việc thực thi Lời Chúa cũng giúp người ta nhận biết Chúa.
-Tuy nhiên đức tin của các môn đệ nói trên cũng chỉ ở một mức độ giới hạn. Các ông chỉ đạt tới một đức tin trọn vẹn sau khi đã tĩnh tâm cầu nguyện kết hiệp với Đức Ma-ri-a và các anh em Chúa trong Nhà Tiệc Ly suốt 10 ngày, và đã đón nhận được đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần trong lễ Ngũ Tuần (x Cv 2,1-12); Nhờ đó, các ông đã hăng say chu toàn lệnh truyền loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Chúa: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19-20) và “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
2) Về đức tin thực nghiệm của ông Tô-ma (x Ga 20,19-29):
Tin Mừng Gio-an hôm nay tường thuật hai lần Đức Giê-su hiện ra với các Tông đồ sau khi Người từ cõi chết sống lại. Cả hai lần Chúa đều hiện ra vào buổi chiều Ngày Thứ Nhất trong tuần nhưng cách nhau một tuần lễ. Lần thứ nhất khi Chúa đến thì Tô-ma vắng mặt. Khi nghe anh em thuật lại sự kiện Thầy đã phục sinh và hiện ra, ông Tô-ma đã khẳng định lập trường mang tính khoa học thực nghiệm là: ông chỉ tin Thầy thực sự sống lại khi được “mắt thấy tay sờ”. Do đó, trong lần hiện ra lần thứ hai sau một tuần lễ, Chúa Phục Sinh đã thỏa mãn đòi hỏi của Tôma bằng việc chỉ cho ông xem các lỗ đinh ở hai bàn tay và vết sẹo do lưỡi đòng đâm thâu ở cạnh sườn Người. Bấy giờ Tôma đã đạt tới đức tin trọn vẹn khi miệng ông thốt ra lời cầu với Chúa như sau: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28).
Trước đây người ta thường coi Tô-ma tượng trưng cho những người cứng lòng tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa. Nhưng hiện nay người ta lại nhìn thái độ ấy với con mắt cảm thông và theo hướng tích cực. Vì nhờ không vội tin của Tô-ma, mà các tín hữu hôm nay mới có thêm những bằng chứng cụ thể chứng minh mầu nhiệm phục sinh của Chúa. Cũng vì các môn đệ Chúa không dễ tin mà đòi hỏi phải dựa trên cơ sở vững chắc, nên một khi các ngài đã tin thì niềm tin ấy sẽ có giá trị trở thành chỗ dựa vững chắc cho niềm tin của chúng ta hôm nay.
3) Phúc thay những người không thấy mà tin:
Điều Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay là: Chúa đã chọn đi con đường theo thánh ý Chúa Cha là: “Phải qua đau khổ để vào trong vinh quang”, thể hiện qua việc Người đã thỏa mãn đòi hỏi của Tô-ma khi cho ông được nhìn xem những lỗ đinh ở bàn tay và kiểm tra vết thương ở cạnh sườn Người. Qua đó Người đã nhắn nhủ Tô-ma và qua ông nhắn nhủ các tín hữu chúng ta hôm nay: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20,29).
Ngày nay để tin Chúa phục sinh, chắc chắn chúng ta sẽ không có cơ hội “mắt thấy tay sờ” như ông Tô-ma xưa, nhưng chúng ta vẫn cần chấp nhận đi con đường của Chúa Giê-su đã chọn theo ý Chúa Cha là: “Qua đau khổ để vào vinh quang”, phải cùng chịu chết và được an táng với Chúa Giê-su để cùng được sống lại với Người. Mỗi ngày chúng ta phải biết “bỏ mình đi”, nghĩa là loại bỏ ý riêng để vâng theo ý Chúa qua lề luật và các lời giáo huấn của Hội Thánh. Mỗi ngày các  tín hữu chúng ta phải quyết tâm loại trừ mối tội đầu của mình bằng việc tập luyện nhân đức đối lập như trong kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức” đã dạy. Mỗi ngày chúng ta còn phải chấp nhận vác thập giá là vui lòng chịu đựng các tai ương bệnh tật và những điều trái ý cực lòng do hoàn cảnh hay do người chung quanh gây ra để bước theo chân Chúa trên đường thánh giá.
4) Loan báo Tin Mừng hôm nay là thể hiện Lòng Chúa Thương Xót:
Giống như Tôma xưa, con người ngày nay cũng không dễ tin: họ luôn đòi phải được “mắt thấy tay sờ”, phải thấy được bằng chứng đáng tin. Do đó, các tín hữu cần trình bày khuôn mặt của Chúa Phục Sinh cho người khác thấy và tin.
Thực vậy: Làm sao họ có thể tin vào Chúa Phục Sinh, nếu không được xem những vết chai cứng nơi bàn tay lao động, những khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi vì phục vụ những người nghèo khổ của các tín hữu chúng ta?
Làm sao họ tin Chúa đã yêu thương chịu chết đền tội thay và sống lại để ban sự sống đời đời cho loài người, nếu họ không nhìn thấy những dấu chỉ yêu thương quên mình phục vụ trong cộng đòan tín hữu hay các hội đòan công giáo tiến hành gần nhà…
Chúng ta phải noi gương yêu thương hiệp thông và bác ái chia sẻ của cộng đòan thời Hội Thánh sơ khai tại Giêrusalem đã được sách Công vụ Tông đồ ghi nhận như sau: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng. Mọi người đều kính sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điềm thiêng dấu lạ. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải , lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ Bẻ Bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ,. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được tòan dân thương mến. Và Chúa cho cộng đòan mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,42-47). Có thể nói cộng đoàn Hội Thánh Sơ Khai đã trở thành dấu hiệu đích thực của người môn đệ Đức Giê-su như Người đã dạy: “Ở điểm này , mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng yệu thương nhau” (Ga 13,35).
Cũng vậy, con người ngày nay luôn đòi phải thấy những chứng tích tình yêu như thế nơi các tín hữu. Do đó, Hội Thánh đã chọn Chúa Nhật II Phục Sinh làm ngày kính nhớ Lòng Chúa Thương Xót, để mời gọi mọi người chúng ta quan tâm tới tha nhân bên cạnh và thể hiện tình thương của Chúa cho họ. Cần tránh những lời nói, thái độ vụ luật bất nhân của bọn Biệt Phái và Kinh Sư Do thái khi xưa đã bị Chúa nặng lời quở trách, nhờ đó anh em lương dân mới dễ dàng đón nhận đức tin vào Chúa.
 4. LỜI CẦU:
 Lạy Chúa Giê-su Phục Sinh.
Khi chúng con đi tìm kiếm Chúa trong nước mắt đau thương, xin hãy âu yếm gọi tên chúng con, như Chúa đã gọi tên bà Ma-ri-a đang khóc bên mộ Chúa khi xưa.
Khi chúng con chán nản muốn bỏ Chúa,  xin hãy đi với chúng con trên những đọan đường dài, như Chúa đã đồng hành với hai môn đệ trên đường về làng Em-mau.
   Khi chúng con đang đóng cửa lòng không muốn giao tiếp vì sợ hãi, xin hãy ban bình an cho chúng con, như Chúa đã đến ban bình an cho các môn đệ vào chiều ngày phục sinh.
        Khi chúng con đang hòai nghi bất tín, xin hãy tỏ lòng thương xót và khoan dung tha thứ tội lỗi chúng con, như Chúa đã tỏ lòng thương xót khoan dung trước sự cứng lòng của Tôma.
        Khi chúng con gặp phải thất bại trong cuộc sống, xin hãy đến nâng đỡ ủi an chúng con, như Chúa đã đến trao ban và phục vụ bữa sáng gồm bánh và cá nướng cho bảy môn đệ trên bờ biển hồ Ga-li-lê xưa.
        Lạy Chúa Giê-su Phục Sinh, xin hãy tỏ mình ra cho chúng con thấy Chúa đang hiện thân nơi những người đau khổ cả về thể xác cũng như tâm hồn, để mời gọi chúng con hãy thể hiện lòng thương xót bằng viẹc quảng đại chia sẻ cơm bánh vật chất và nhiệt tình phục vụ họ như phục vụ chính Chúa, hầu sau này chúng con sẽ được Chúa liệt vào hàng các chiên ngoan trong đàn chiên Chúa.- Amen.
LM ĐAN VINH - HHTM

 

PS2-240: Đừng Vội Trách Tôma

Cv 4, 32-35; 1 Ga 5, 1-6; Ga 20, 19-31
 

Khi bước vào cửa một ngôi thánh đường nào đó, đập vào mắt chúng ta đó là tượng Chúa Giêsu Phục: PS2-240

Khi bước vào cửa một ngôi thánh đường nào đó, đập vào mắt chúng ta đó là tượng Chúa Giêsu Phục Sinh, bàn thờ, hoa, nến ... Tượng, hoa, nến ... cũng còn xa với con mắt chúng ta. Gần hơn cả đó là những hàng ghế ... có thể ngồi được, có thể sờ được và cảm nhận được và xác tín rằng đó là ghế, làm bằng gỗ, được đánh vécni màu nâu ...
                             Nhờ vào những giác quan của con người mà chúng ta có thể xác nhận được đó là ghế và ghế là dùng để ngồi.
                             Thế nhưng, trong cuộc sống chúng ta, ngoài những cái chúng ta có thể sờ được, thấy được, ngửi được thì có những cái không thể sờ được. Ví dụ như tình yêu và niềm tin. Rõ ràng là con yêu cha yêu mẹ bao nhiêu ta không thấy, ta không cân đo đong đếm được tình yêu nhưng ai yêu nhau có thể cảm nhận được. Và, bên cạnh tình yêu còn có niềm tin. Ta có thể tin người này và không tin người kia. Niềm tin cũng chẳng thể nào kiểm chứng bằng cách sờ, ngửi, nắm được nhưng trong lòng ta xác tín và ta tuyên xưng.
                             Nói như thế, con người, ai ai cũng thích và cũng mong kiểm chứng được những gì trước khi ta nói là ta tin. Đó cũng là tính cách hết sức bình thường của con người.
                             Hôm nay, ta nghe lại câu chuyện cũng hết sức bình thường, hết sức đời thường của con người,
                             Nhiều người vội trách Tôma. Xin đừng trách Tôma.
                             Thử quay lại hình ảnh của Tôma. Hết sức bình thường bởi lẽ Tôma muốn kiểm chứng thầy mình đã Phục sinh như thế nào. Tám ngày sau, có Tôma ở đó và Tôma đã thưa với Thầy: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!"
                             Khuất phục và tin !
                             Và sau đó, Chúa Giêsu nói: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!"
                             Vâng ! Vẫn là một lời mời gọi cho con người.
                             Dừng lại một chút để nhìn lại dòng chảy lịch sử cứu độ. Thiên Chúa vẫn can thiệp, Thiên Chúa vẫn cứu độ con người từng ngày từng phút từng giây ... thế nhưng liệu rằng con người có tin hay không mà thôi. Niềm tin vẫn là điều gì đó mời gọi, bỏ ngõ cho con người.
                             Dừng lại để nhìn thấy một chút sự hiện diện của Thiên Chúa
                             Một người già khằng cú đế được chọn để làm cha cha dân của mình. Ai ? Xin thưa đó là Abraham. Chẳng ai có thể tin được Abraham được chọn, được gọi để làm cha đẻ của lòng tin. Ở cái tuổi không còn làm được gì nhưng Thiên Chúa đã làm. Thiên Chúa bày tỏ tình thương của Ngài trên cuộc đời của Abraham. Tin không ?
                             Một anh chàng vừa nhút nhát, vừa có cái tật nói ngọng lại được Thiên Chúa mời gọi để phát ngôn cho mình. Chẳng ai có thể tin được điều này nhưng rồi Thiên Chúa vẫn bày tỏ quyền năng của Ngài trên con người ngọng nghệu mang tên Môsê.
                             Một cậu thanh niên nhỏ nhất, yếu nhất trong nhà đã được Thiên Chúa chọn, Thiên Chúa dùng để làm thủ lãnh hướng dẫn dân của mình. Ai ? Xin thưa đó là anh chạng Đavit nhỏ bé có mái tóc hoe. Đavit đã đứng lên để làm người hướng dẫn dân Thiên Chúa.
                             Một anh chàng ngư phủ chối đạo và chối Thầy bây bẩy lại được Thiên Chúa chọn và gọi để làm cột trụ cho Giáo Hội, cho nhà của mình. Ai ? Phêrô đã làm cột trụ vững chắc cho Giáo Hội. Ai có thể tin được không ? Thiên Chúa đã làm như thế.
                             Để diễn tả tình yêu của mình cho nhân loại. Tưởng chọn khuôn mặt tai to mặt lớn, thế nhưng Chúa lại chọn Maria Mađalêna. Một khuôn mặt thế nào thì ít nhiều ta hiểu. Thế nhưng, Thiên Chúa đã dùng khuôn mặt này. Ai chấp nhận và ai tin. Thiên Chúa chấp nhận, tin và chọn lựa.
                             Một chứng nhân để hô lên sứ điệp của Thiên Chúa. Ai đây ? Thiên Chúa lại chọn một người chuyên bắt đạo: Saolô gốc thành Tác-xô.
                             Cái nhìn của Thiên Chúa hoàn toàn ngược cái nhìn con người.
                             Và, đó là quá khứ ! Còn hiện tại thì sao ?
                             Cách đây không lâu, còn mới và còn mới lắm.
                             Kỷ niệm đáng nhớ với Giáo Hội Hoàn Vũ trước thông tin Đức Thánh Cha Benedic 16 từ chức vì tuổi già sức yếu.
                             Lời xin từ chức đã để lại bao nhiêu lời đồn đãi cho cả và thiên hạ. Nào là thời này là thời cuối, nào là đây là ngày cùng tận … và giáo hoàng do ma quỷ đưa lên … Và rồi trước bao nhiêu lời đồn đãi thì vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, cả Giáo Hội và thế giới nữa đã sửng sốt trước tin Đức Phanxicô đắc cử.
                             Ngày hôm nay, khi nhìn lại lịch sử con người và nhất là lịch sử cứu độ, chúng ta thấy một Thiên Chúa vẫn sống, vẫn hoạt động và vẫn yêu thương con người theo cách của Ngài.
                             Với một Bênêđic quá sáng về sự khôn ngoan, biệt tài thì Phanxicô lại tỏa sáng bằng đời sống khiêm hạ và khó nghèo.
                             Nói ít nhưng đã sống và đã sống thật một cuộc đời đơn sơ và khiêm hạ.
                             Từ năm 1998, ngài là tổng giám mục của Buenos Aires, nơi tác phong của ngài khá khiêm nhường và gần gũi dân. Ngài sử dụng xe buýt, thăm viếng người nghèo, sống trong một căn hộ đơn giản và tự nấu lấy các bữa ăn. Với nhiều người tại Buenos Aires, ngài đơn giản chỉ là “Cha Jorge”. 
                             Đức Thánh Cha đã chọn một chiếc xe đơn giản khi đi viếng Đức Mẹ và ngài cũng hạn chế tối đa số lượng người tháp tùng. Ngài mang đến một lẵng hoa đơn sơ để dâng kính Đức Mẹ và quì xuống cầu nguyện trong âm thầm. Trước khi rời Đền thánh, ngài đã chào và bắt tay các nhân viên phục vụ Đền thánh, và trên đường ra xe ngài cũng đã chào thăm mọi người đi đường. Nhận xét về buổi sáng đầu tiên của Đức Thánh Cha, cha Lombardi nhận xét: dọc lộ trình đi thăm viếng Đức Mẹ và ghé thu dọn đồ đạc ở nhà trọ, Đức Thánh Cha đã gây ngạc nhiên cho nhiều người bằng cử chỉ đơn sơ và tình cảm. Từ nhân viên Đền thánh, nhà trọ, cho đến những em học sinh đang đi học khi bất ngờ gặp Đức Thánh Cha trên đường đều cảm nhận được sự ân cần và thân thiện của Đức Thánh Cha.
                             Đức Giáo Hoàng muốn giải thích rõ tại sao Ngài chọn tên Phanxicô. Ngài nói rằng trong lúc cuộc kiểm phiếu cho thấy Ngài gần được bầu làm Giáo Hoàng, một người bạn của Ngài là Hồng y Claudio Hummes của Brazil ôm Ngài và nói với Ngài là đừng quên người nghèo. Tân Giáo Hoàng cho biết câu nói đó làm Ngài nghĩ tới Thánh Phanxicô thành Assisi, là người tận tụy phục vụ người nghèo suốt đời và là biểu tượng của hòa bình và khổ hạnh, và đó là lý do tại sao Ngài chọn tên Phanxicô. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói Thánh Phanxicô “muốn một giáo hội cho người nghèo,” và đó cũng là điều Ngài muốn.
                             Hết sức tuyệt vời khi một xã hội, một thế giới quay cuồng với địa vị, với vật chất, với hưởng thụ ... Đức Thánh Cha Phanxicô đã sống nghèo thật sự, đi theo con đường nghèo của Chúa Giêsu đã đi.
                             Thiên Chúa đã làm những điều mà con người không bao giờ nghĩ tới.
                             Tin hay không tin đó là chuyện của con người.
                             Trở về với bản thân chúng ta, cuộc đời chúng ta.
                             Chúa Giêsu Phục Sinh đã, đang và mãi mãi ở trong cuộc đời chúng ta đó thôi. Thế nhưng mà chúng ta đâu có nhận ra Ngài. Không chỉ Tôma, các môn đệ mà biết bao nhiêu chứng nhân của Giáo Hội đã tuyên xưng niềm tin Phục Sinh.
                             Phần chúng ta ? Niềm tin vào Chúa Phục sinh nay đang ở đâu ? Lòng chúng ta còn chỗ cho Chúa Phục Sinh hay không hay là chúa nào đó đã lấp đầy ?
                             Nhìn lên, thật sự thì chúng ta không bằng ai, không bằng nhiều người thật nhưng thật sự khi nhìn xuống, chúng ta hạnh phúc, chúng ta may mắn hơn nhiều người.
                             Mới đây vài hôm, có việc vào bệnh viện Tai Mũi Họng và thấy nhiều và nhiều người nghèo đau bệnh lê lết ở trong bệnh viện. Giữa những cơn nóng gắt chảy mồ hôi dù mới chớm vào hạ đã đủ làm cho con người mệt mỏi cộng thêm với bệnh hoạn nữa thì quả là cay đắng.
Có trẻ mới lên 3 lên 5 thôi nhưng 2 tai của bé đều không nghe được. Cha mẹ của cháu đã cố gắng chạy chữa để gắn máy nghe cho cháu ở phía bên trong của lỗ tai với cái giá cao ngất ngưỡng.
Có trẻ vừa mới lớn đã ung thư vòm họng và điếc hoàn toàn.
                             Chúng ta quá may mắn, chúng ta hạnh phúc hơn nhiều người. Dù bệnh đi chăng nữa nhưng chúng ta vẫn có một mái ấm, vẫn còn có chỗ tựa nương và người này người kia chăm sóc. Những bệnh nhân ở quê nghèo dắt díu vào bệnh viện sao mà thương quá ! Quần áo cũng chẳng có chỗ mà phơi, cơm cháo bữa no bữa đói.
                             Mới vài hôm thôi, vào viện Nhi Đồng thăm con của người bạn bị đau. Xa xa cánh cổng bệnh viện thấy người ta xúm lại xung quanh một thùng cháo. Hỏi ra mới biết đây là lòng thơm thảo của một gia đình kia, bữa thì cơm, bữa thì cháo, ngày nào đến thì có 250 phần cho người nghèo. Bảo vệ của bệnh viện không cho phát ở cổng bệnh viện nữa nay nhóm thiện nguyện bèn phải đi ra xa một chút để không bị … đuổi.
                             Chắc có lẽ chúng ta may mắn chưa phải xếp hàng trong số 250 người chờ lãnh phần cháo ở trước cổng bệnh viện Nhi Đồng như thế.
                             Hay là chúng ta chưa phải lê lết ở trong trung tâm ung bướu để chờ chữa bệnh hay cũng chờ những xuất cơm từ thiện.
                             Chúa thương chúng ta nhiều, Chúa ban cho chúng ta quá nhiều ơn và Chúa bao bọc cả cuộc đời của ta nhưng ta có thấy Chúa trong đời ta đâu. Một lớp tiền, một lớp danh vọng, một lớp quyền lực dày đặt nó đã bao phủ con mắt chúng ta, phủ lấp cả cuộc đời chúng ta để rồi làm sao chúng ta có thể thấy Chúa Phục Sinh đến trong đời ta được.
                             Đáng tiếc thay của đời, quyền lực và danh vọng tất cả cũng chỉ là phù vân giả tạo mà thôi.
                             Chúa đã sống và vẫn sống trong đời ta nhưng liệu rằng ta có nhận ra Ngài hay không mà thôi
                             Niềm tin vào Chúa Phục Sinh vẫn bỏ ngõ, vẫn mở ngõ trong cuộc đời của ta.
                             Ta đừng vội trách niềm tin của Tôma nhưng ta hãy cúi mình lặng lẽ nhìn lại niềm tin của ta. Ta đã tin vào Chúa được bao nhiêu và ta đã tín thác vào lòng thương xót Chúa được mức nào.
                             Hôm nay, Giáo Hội kính lòng thương xót Chúa như nhắc nhớ ta về lòng thương xót bao la mà Chúa đã tuôn đổ trên đời ta. Ý thức như vậy để ta trân trọng tình thương của Chúa dành cho ta và ta cũng chia sẻ lòng thương xót Chúa cho anh chị em đồng loại sống quanh ta.

 

PS2-241: Lòng từ bi Chúa tồn tại đến muôn đời

http://www.simonhoadalat.com/Suyniem/chunhat/NamB/NamB.html
 SUY NIỆM CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
(Ga 20, 19-31)
 

Nhân dịp phong thánh cho nữ tu Maria Faustina Kowalska, ngày 30/4 năm 2000, thánh Giáo hoàng: PS2-241 Dalat

Nhân dịp phong thánh cho nữ tu Maria Faustina Kowalska, ngày 30/4 năm 2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đặt tên cho Chúa nhật tiếp liền sau Đại Lễ  Phục Sinh là Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa, kính nhớ việc Chúa Kitô tỏ cho thánh Tôma thấy cạnh sườn, nơi trào ra nước và máu, suối nguồn ân sủng. Truyền thống Giáo hội đã coi đây như là nguồn gốc của bí tích hòa giải, nơi mà con người cảm nhận được sự tha thứ do lòng thương xót Chúa.
Bài Tin mừng theo thánh Gioan (20,19-31) hôm nay chung cho cả ba năm Phụng vụ A,B,C nói nhiều đến lòng thương xót và lân tuất của Chúa. Cử chỉ trao ban bình an của Chúa cho các môn đệ, biến các ông từ những người đang lo sợ và kinh ngạc, trở nên những tác viên của Lòng Chúa Thương Xót. Chúa đưa đôi tay và cạnh sườn còn in những dấu tích của cuộc thương khó và nói với các ông: " Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" ( Ga 20, 21- 23). Chúa Giêsu trao phó cho các ông hồng ân "tha thứ các tội lỗi" diễn tả lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa đối với nhân loại, hồng ân này phát sinh từ những vết thương của đôi tay, đôi chân và nhất là của cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua. Đó là những vết thương hằn in trên cơ thể của Người lúc còn sống, ngay cả sau khi phục sinh. Những vết thương vinh quang, mà Tôma đã tận mắt chứng kiến tám ngày sau, thật không thể nào hiểu nổi và tin được lòng thương xót của Thiên Chúa. Từ đó, một làn sóng tình thương nhân từ đổ xuống trên toàn thế giới.
Chúa Kitô Phục Sinh đã ban tặng cho nhân loại hồng ân tha thứ, những con người lầm lạc đang bị thống trị bởi quyền lực sự dữ, của ích kỷ và sợ hãi, tình yêu của Thiên Chúa tha thứ tất cả, hòa giải tất cả và tái tạo tâm hồn, mang lại cho chúng nhân niềm hy vọng . Đó là tình yêu có sức biến đổi con tim và ban tặng bình an. Thế giới ngày nay đầy những thương tích về thể lý, tâm lý và luân lý cần thiết biết bao lòng thương xót của Thiên Chúa!
Chúa nhật Lòng Thương Xót Chúa, Giáo hội lặp lại câu Thánh Vịnh mà suốt cả tuần Bát Nhật Phục Sinh toàn thế giới ca vang: "Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thủa" (Tv 117, 1). Lòng từ bi mạnh hơn tội lỗi và sự chết, ngày nay, nhân loại vẫn đang tiếp tục thừa hưởng lòng từ bi tuôn trào từ những vết thương vinh hiển và từ trái tim của Chúa, nguồn mạch không bao giờ cạn.
Trái Tim của Chúa Kitô đã trao ban tất cả cho con người: sự cứu chuộc, ơn cứu rỗi và ơn thánh hóa. Từ Trái Tim Chúa xuất phát ra hai tia sáng chiếu tỏa thế gian mà theo lời Chúa giải thích cho thánh nữ, "hai tia sáng này tượng trưng cho máu và nước". Máu nhắc lại hy tế trên đồi Golgotha và mầu nhiệm Thánh Thể; còn nước, theo hình ảnh phong phú của thánh sử Gioan, làm cho ta nghĩ đến bí tích Rửa Tội và hồng ân Chúa Thánh Thần  (x. Ga 3, 5; 4, 14).
Lời kinh chúng ta vẫn đọc: "Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa", diễn tả đúng thái độ mà chúng ta muốn có, để chúng ta đặt niềm tin tưởng, phó thác tuyệt đối vào tay Thiên Chúa, Ðấng cứu độ duy nhất của chúng ta ! Những tia sáng của lòng từ bi Chúa mang lại niềm hy vọng cho những ai cảm thấy mình bị đè bẹp dưới gánh nặng của tội lỗi. Chúa Giêsu Kitô là tình yêu thương của Thiên Chúa nhập thể, là Lòng Thương Xót nhập thể. Vậy, chúng ta hãy luôn tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa, là Ðấng luôn chờ đợi và yêu thương chúng ta, đừng bao giờ đánh mất sự tin tưởng nơi lòng thương xót nhẫn nại của Thiên Chúa, là Ðấng luôn luôn yêu thương, dịu hiền, chờ đợi và tha thứ cho chúng ta. Cả khi chúng ta xa rời, Thiên Chúa vẫn luôn gần gũi và sẵn sàng giang tay ra ôm ấp chúng ta vào lòng, nếu chúng ta trở về với Chúa.
Ngày nay, Lòng thương xót là một chủ đề Đức Thánh Cha Phanxicô rất thường nói đến, như được thể hiện trong châm ngôn giám mục ngài đã chọn: “miserando atque eligendo” (Được thương xót và được chọn).
Trong buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên sau khi được bầu làm giáo hoàng, ngài đã nói: “Dung mạo của Thiên Chúa là dung mạo của một người Cha đầy lòng thương xót, đầy nhẫn nại với chúng ta. Người thấu hiểu chúng ta, chờ đợi chúng ta và luôn tha thứ cho chúng ta mà không bao giờ mệt mỏi, nếu chúng ta chạy đến với Người với tâm hồn sám hối… Lòng thương xót sẽ biến đổi thế giới. Một chút lòng thương xót thôi cũng làm cho thế giới bớt lạnh lẽo và thêm công chính” (Kinh Truyền Tin, 17-03-2013).
Gần đây nhất, trong buổi đọc kinh Truyền Tin ngày 11-01-2015, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Ngày nay chúng ta rất cần đến lòng thương xót, Điều quan trọng là các tín hữu sống lòng thương xót ấy và đem vào các môi trường xã hội khác nhau”. Sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha cũng bày tỏ: “Tôi mong muốn biết bao rằng nơi nào Giáo hội hiện diện, đặc biệt là các giáo xứ và các cộng đoàn của chúng ta, nơi ấy sẽ trở thành những hải đảo thương xót giữa lòng đại dương vô cảm!”
Ngài xác tín rằng, cốt lõi của Phúc Âm là tình thương, (x. Huấn từ 28-3-2014). Vì thế, theo nguyên tắc, tất cả mọi cơ cấu, nguyên tắc, luật lệ và tổ chức của Giáo Hội đều phải làm sao để hướng về và đạt đến đích điểm là tình thương (x. Niềm vui Phúc Âm,26-43). Bởi vậy, trong thực hành, Giáo Hội cần phải là một bệnh viện lưu động để chữa lành, chứ không phải chỉ mở cửa đón nhận tội nhân và nạn nhân trở về mà thôi (x. trả lời Phỏng Vấn 04-12-2014). Ngài muốn Giáo Hội phải đi đến tận rìa mép của xã hội để tìm kiếm các con chiên lạc đáng thương, thậm chí Giáo Hội phải ăn uống với thành phần đàng điếm và thu thuế tội lỗi (Huấn từ bế mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới  ngày 18-10-2014).
Lạy Mẹ maria, Mẹ của lòng nhân từ hay thương xót, xin giúp chúng con là con cái Mẹ duy trì lòng tin vào Con Mẹ, Ðấng cứu chuộc chúng con. Lạy thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, thánh nữ Faustina, xin trợ giúp chúng con, xin cho chúng con được cùng với các thánh, hướng nhìn về Ðấng Cứu Chuộc, và lặp lại lời nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa", bây giờ và mãi mãi. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

PS2-242: CHÚA NHẬT VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH, năm B
Cv 4,32-35   1Ga 5,1-6   Ga 20, 19-31
 

Thiên Chúa là tình yêu như lời thánh Gioan viết. Bởi vì yêu, con người dù có phản nghịch, dù có: PS2-242

Thiên Chúa là tình yêu như lời thánh Gioan viết. Bởi vì yêu, con người dù có phản nghịch, dù có tội lỗi, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người, Ngài luôn quan tâm và luôn yêu thương con người. Tình yêu Thiên Chúa được thể hiện cụ thể qua việc Ngài sai Con Một của Ngài là Chúa Giêsu xuống thế gian để sống với, sống vì, sống cho con người, ngoại trừ tội lỗi. Chúa nhật II Phục Sinh được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chọn để kính nhớ lòng thương xót Chúa. Chúng ta hãy cám ơn Thánh Gioan Phaolô II đã truyền bá lòng thương xót của Thiên Chúa cho toàn thể Giáo Hội hoàn vũ…
 LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA VÔ BỜ: các dụ ngôn trong Tin Mừng như: Người Cha nhân hậu, Chúa chăn chiên lành, Người phụ nữ ngoại tình,
Đồng bạc đánh mất vv…đều nói lên tình thương và lòng nhân từ của Thiên Chúa Cha. Xuyên suốt Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng của thánh Gioan, các tác giả Tin Mừng đã cho chúng thấy tình thương vô biên của Thiên Chúa. Các dụ ngôn, những phép lạ, những giáo huấn của Chúa nói cho cùng đều diễn tả và làm nổi bật lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu xuống trần gian, sống ở Nazarét 30 năm để làm gương cho nhân loại về tình yêu thương gia đình, lòng tôn kính, hiếu thảo đối với mẹ cha và làm gương về đời sống yêu thương cần cù lao động để làm ra tiền của, lương thực nuôi sống bản thân và gia đình. Những năm ở trần thế, Chúa Giêsu  đã hăng say rao giảng và làm chứng cho nhân loại, cho mọi người biết: Thiên Chúa luôn yêu thương và tin tưởng vào Con Một Chúa. Sau cùng, Chúa Giêsu đã vâng lời Thiên Chúa Cha, chấp nhận cái chết nhục hình, bị đóng đinh trên thập giá, được mai táng trong mồ và ba ngày sau đã vinh quang sống lại, để đem lại ơn cứu độ cho nhân loại, cho con người, cho loài người.
Thần cho các môn đệ.Chính Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ hiểu tất cả về Chúa Giêsu Phục Sinh và hiểu tất cả những điều Ngài đã dạy các môn đệ lúc Người còn sống. Chính Chúa Thánh Thần sẽ tháp nhập các môn đệ với Chúa Giêsu và các ngài sẽ tiếp nối sứ mạng rao giảng, sứ mạng cứu rỗi của Chúa dưới trần gian Chúa phục sinh đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, đã ban bình an và Thánh Thần cho các môn đệ. Sự an bình của Chúa phục sinh là sự bình an rất cần thiết mà mỗi người cần phải lãnh nhận.
 Linh mục Christophe Husson đã viết:” Sự bình an mà Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông đồ đúng là biểu tượng của lòng Thương Xót Chúa đối với chúng ta. Sự bình an của tâm hồn, mà cũng là sự bình an của lương tâm chúng ta.Bình an của toàn thể con người chúng ta là để cho Thần Khí của Đức Kitô bao phủ chúng ta bằng tình yêu cứu chuộc của Người. Bình an và hiệp nhất là điều để chúng ta khám phá và tái khám phá trong suốt cuộc đời. Chúng ta có thể tìm thấytrong các bài đọc của ngày Chúa nhật này, Chúa Nhật của Lòng Chúa Thương Xót, một lời mời đến với sự bình an thanh thản đó. Chúng ta chỉ cần quan sát bài đọc của Sách Công vụ Tông Đồ. Đây là tinh thần huynh đệ đang ngự trị trong cộng đồng của các tông đồ và đang ở thế mạnh nhất.Không ai làm việc gì một mình,mỗi người đều liên quan đến với nhau; sự chia rẽ coi như không có.Sự hiệp thông gương mẫu này chứng minh tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta.
 Quả vậy, Chúa không làm gì mà không có chúng ta, và ngay cả đôi lần chúng ta cảm thấy mình quá yếu đuối, vẫn chọn sự mỏng dòn này để thiết lập ngôi nhà của Người:” Hòn đá các thợ xây loại bỏ, lại là hòn đá góc tường !”. Đây là bài ca của người đã trải nghiệm trong cuộc đời, rằng mình được Chúa yêu vì cái mà mình đang là…Đó có phải là niềm tin chăng ? Một niềm tin đã được thanh tẩy với thời gian để nhận ra Thiên Chúa là Đấng luôn trong tình trạng trông đợi con người “.
 CHÚNG TA PHẢI CÓ THÁI ĐỘ NÀO ĐỐI VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA:
 Chúa Giêsu đã nhiều lần hiện ra với thánh nữ Faustina, người Ba Lan để xin thánh nữ loan truyền Lòng Thương xót Chúa và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn Chúa nhật II Phục Sinh để tôn kính Lòng Thương Xót Chúa. Ngài đã dạy: “ Giáo Hội có quyền và nghĩa vụ phải tôn kính, loan báo, và thực hành kêu cầu lớn tiếng kêu van khóc lóc Thiên Chúa của Lòng Thương Xót Chúa…”. Mỗi người chúng ta hãy thực hành đức yêu thương bác ái như Chúa đã dạy trong Tin Mừng:” Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương “ ( Ga 15, 12 ). Hãy tín thác đời mình cho Chúa:” Lạy Chúa Giêsu, con xin tín thác vào Chúa “.
 Chúng ta phải năng chạy tới với Chúa Giêsu và tín thác đời mình cho Chúa.Chúng ta phải luôn tôn kính Lòng Thương Xót Chúa.
 Thực hiện được những điều vừa nêu trên, thì chắc chắn cuộc đời chúng ta sẽ hạnh phúc vì:” Chúa Giêsu nói rằng Ta đến với con trong giờ lâm chung không với tư cách Quan tòa để xét xử công minh mà đến với con như Vị Cứu Tinh nhân hậu giàu Lòng Thương Xót ‘.
Lạy Chúa Giêsu giàu Lòng Nhân Từ Thương Xót xin ban cho nhân loại ơn hiểu biết để tất cả mau mắn nhận ra Lòng Thương Xót Chúa và biết tín thác vào Chúa. Amen.
 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
1.Tại sao lại gọi Chúa Giêsu đầy lòng nhân hậu ?
2.Chúa đã hiện ra với nữ thánh nào và Người đã tỏ ra Người là Thiên Chúa nào ?
3.Thánh Giáo Hoàng nào đã phong thánh cho nữ tu Faustina ?
4.Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chọn ngày Chúa Nhật nào để tôn kính Lòng Thương Xót Chúa ?
5.Nữ tu Faustina người nước nào ?

 

PS2-243: Bình an và sức mạnh của Chúa Phục Sinh

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 20:19-31)
 

Thánh sử Gio-an dành nguyên một chương để thuật lại những gì đã xảy ra trong “ngày thứ nhất trong: PS2-243

Thánh sử Gio-an dành nguyên một chương để thuật lại những gì đã xảy ra trong “ngày thứ nhất trong tuần” sau khi Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết.  Buổi sáng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la tới mộ thật sớm và thấy tảng đá chắn cửa đã lăn khỏi mộ, nên chạy về báo tin cho các môn đệ Chúa là “người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”.  Lập tức hai ông Phê-rô và người môn đệ Chúa Giê-su thương mến chạy đến mộ và chứng kiến những khăn liệm để đó, nhưng không thấy xác Chúa.  Sau đó, Chúa hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la khi bà đang “đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc”.  Rồi bà về nhà, báo cho các môn đệ Chúa biết là bà đã thấy Chúa và kể lại những điều Chúa nói với bà.  Còn câu chuyện bài Tin Mừng hôm nay thì kể lại việc xảy ra “vào chiều ngày thứ nhất trong tuần” khi Chúa hiện ra với các môn đệ đang tụ họp trong nhà đóng kín cửa.
                             Thử đặt mình trong nhóm môn đệ đang tụ họp trong căn nhà đóng kín và khóa cửa sau cái chết của Chúa, chúng ta mới hiểu được tâm trạng sợ hãi, chán nản và không biết phải làm gì của họ.  Kẻ thì sợ bị “vạ lây” bởi là môn đệ của Chúa.  Người thì vỡ mộng vì cái chết thê thảm của Thầy.  Rồi tương lai sẽ ra sao?  Tóm lại, tâm trạng của họ lúc này là thiếu sự bình an và mất lý tưởng.  Họ cần được an ủi, củng cố và hướng dẫn.  Đó chính là lý do Chúa Phục Sinh hiện ra với họ.  Sự hiện diện của Người trong lúc này quả thực là cần thiết để họ bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc đời người môn đệ. 
                             Ngay khi hiện ra với các môn đệ, lời đầu tiên Chúa nói với họ là lời chào bình an:  “Bình an cho anh em!”  Đây không chỉ là lời chào xã giao người ta nói với nhau hằng ngày, nhưng là lời có sức mạnh làm tan biến mọi sợ hãi, lời đem đến thứ bình an chỉ Chúa Giê-su mới có, chứ thế gian không thể ban.  Kèm theo lời chúc bình an, Chúa Giê-su còn chứng tỏ sự hiện diện đích thực của Người bằng cách “cho các ông xem tay và cạnh sườn”.  Dĩ nhiên đó là những dấu vết chứng minh là đúng Chúa Giê-su chứ không phải ai khác, nhưng tay và cạnh sườn hay trái tim còn biểu tượng cho sức mạnh và tình yêu của Chúa Giê-su che chở và củng cố các môn đệ Người “cho đến ngày tận thế”.  Kết quả là “các môn đệ vui mừng, vì được thấy Chúa”.
                             Lấy thuốc “bình an” chữa bệnh sợ hãi cho các môn đệ rồi, Chúa Giê-su mở ra cho họ một cuộc sống mới đặt dưới sức mạnh và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.  Đúng vậy, cũng như xưa Người đã lên đường thi hành sứ mệnh do Thánh Thần “đẩy” Người vào hoang địa để chịu cám dỗ, rồi xức dầu tấn phong cho Người và sai Người đi rao giảng Tin Mừng, hôm nay các môn đệ cũng phải “nhận lấy Thánh Thần” và được sai đi để loại trừ ảnh hưởng của tội lỗi và tiếp tục công cuộc xây dựng vương quốc Chúa trên trần gian.  Chúa Giê-su đã chiến thắng tội lỗi bằng sự Phục Sinh của Người.  Giờ đây đến lượt các môn đệ Người tiếp nối cuộc chiến thắng ấy bằng cách lấy sức mạnh của Thánh Thần để tha tội cho người ta.  “Tha tội” cho người ta là cách nói ám chỉ sứ mệnh tiêu diệt ảnh hưởng của tội lỗi và ma quỷ, đồng thời mở mang Nước Chúa trên trần gian.  Đó chính là hướng đi mới Chúa Giê-su mở ra cho các môn đệ.  Rồi Người sẽ chính thức sai họ đi trước khi Người lên trời ngự bên hữu Chúa Cha:  “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mát-thêu 28:19).
Sống sứ điệp Tin Mừng
                             Bình an và sức mạnh của Thánh Thần là những ân huệ Chúa Phục Sinh ban cho các môn đệ Người, để họ sẵn sàng lên đường thi hành sứ mệnh truyền giáo.  Chúng ta đang được mời gọi dấn thân cho công cuộc Tân Truyền giáo, đem Chúa đến không những cho những người chưa biết Chúa, mà chủ yếu là cho những người đã được rửa tội, nhưng không sống đức tin Công giáo.  Ảnh hưởng của thế gian và tội lỗi đã lôi kéo nhiều Ki-tô hữu rời bỏ đức tin và xa Chúa.  Nhiều khi chính một số người thân trong gia đình chúng ta cũng đang sống trong tình trạng ấy. Vì thế, mối trăn trở của người thi hành sứ mệnh Tân Truyền giáo có khi phải bắt đầu từ chính gia đình của mình.  Vậy đáp lời kêu gọi của Giáo Hội, chúng ta hãy đem bình an và sức mạnh của Chúa Phục Sinh đến với họ, những người sống chung quanh chúng ta.       
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

PS2-244: Hội Thánh Của Chúa Sống Lại

Chúa Nhật 2 Phục Sinh Năm B
 (Cv 4,32-37; 1Yn 5,1-6; Yn 20,19-31)
 Phúc Âm: Yn 20, 19-31
"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".
 

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người: PS2-244

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: "Bình an cho các con". Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: "Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Bấy giờ trong Mười hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđymô, không cùng ở với các ông, khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin".
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Ðoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".
Chúa Giêsu còn làm nhiều phép lạ khác trước mặt các môn đệ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đã được ghi chép để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.
 Suy Niệm:
Chúa Nhật 2 Phục Sinh Năm B
Cv 4,32-37; 1Yn 5,1-6; Yn 20,19-31
Sau khi sống lại, Chúa Yêsu, Chúa Yêsu không còn hiện diện hữu hình ở trần gian nữa. Người còn hiện ra nhiều lần cho môn đệ xem thấy mà tin. Nhưng đó chỉ là những lúc họa hiếm và mau qua. Từ nay cách thức hiện diện thường xuyên của Người với chúng ta là Thánh Thể và Hội Thánh. Ðó là hai bí tích hiểu theo nghĩa rộng để Người ở với chúng ta hằng ngày. Hội Thánh được gọi là Thân Thể của Chúa Kitô và Thánh Thể chính là thịt máu Người. Thế nên sau lễ Phục sinh, Phụng vụ kéo mắt chúng ta nhìn vào Hội Thánh, nơi chúng ta có thể gặp gỡ Chúa để hiểu biết, yêu mến, bắt chước Người nhiều hơn. Và cũng trong Hội Thánh, chúng ta được tiếp xúc với Thánh Thể để nhận lấy sức sống Chúa muốn ban cho chúng ta. Như vậy, suy nghĩ về Hội Thánh phải là thao thức của chúng ta trong mùa Phục sinh này. Và người ta có thể suy nghĩ từ ngoài đi vào hoặc từ trong đi ra. Hôm nay chúng ta hãy theo thứ tự các bài đọc Kinh Thánh trong Thánh lễ để tìm hiểu Hội Thánh từ ngoài vào trong, từ hiện tượng khả giác vào tới mầu nhiệm thâm sâu. Và chúng ta sẽ thấy giáo xứ và giáo phận chúng ta còn thiếu sót nhiều quá để xứng đáng là Hội Thánh của Chúa Kitô Phục sinh.
 1. Một Hội Thánh Sống Xã Hội
Bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay họa lại cho chúng ta một hình ảnh về Hội Thánh thời các tông đồ ở Yêrusalem. Ðây chỉ là một trong mấy bức họa hiếm hoi về Hội Thánh ấy. Còn 2, 3 bức họa nữa cũng ở trong sách Công vụ Tông đồ này. Và nếu được phép căn cứ vào câu đầu tiên của sách này mô tả đời sống của Hội Thánh ở thời bấy giờ: chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ, sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện (2,42) thì bức họa của đoạn sách Công vụ hôm nay là bức họa thứ hai, nói về sự hiệp thông của cộng đoàn dân Chúa.
Quả vậy, chính câu đầu tiên đã nói lên chủ đề: " Ðoàn lũ những kẻ tin chỉ có một tấm lòng, một linh hồn". Ðể mô tả sự hiệp thông thắm thiết giữa mọi người giữa mọi người nên một ấy, đoạn sách hôm nay nói rằng: "Không một người nào nói là mình có của gì riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung".
Nhiều người đã vịn vào câu văn này để khẳng định Hội Thánh thời bấy giờ thi hành điều mà bây giờ thi hành điều mà bây giờ người ta gọi là "cộng sản", và Hội Thánh đã cộng sản trước cộng sản. Thiết tưởng không nên có những lời nói như vậy vì những lời nói thế chẳng đẹp lòng ai cả và chỉ tỏ ra đọc sách Công vụ rất hời hợt.
Hôm nay chúng ta cứ thử về nhà đọc lại đoạn sách này. Thánh Luca không cho chúng ta nhiều yếu tố để quả quyết gì về tổ chức xã hội của cộng đoàn dân Chúa thời bấy giờ. Người chỉ cho chúng ta một cái nhìn đạo đức về thái độ của các tín hữu đối với nhau. Nếu được phép tưởng tượng thì chúng ta có thể nghĩ rằng: thời ấy tín hữu của Chúa sống như mọi người về mặt xã hội kinh tế. Họ không hề có ý tưởng làm thành "một quốc gia ở trong một quốc gia", nghĩa là tổ chức với nhau một hệ thống sản xuất hay kinh tế riêng biệt. Họ chỉ khác đồng bào chung quanh ở chỗ là tin Chúa. Và vì chưa biết Chúa đủ, nên họ chuyên cần đến nghe lời của các Tông đồ trong các buổi họp chung. Ở đó họ được dẫn giải thêm về đạo lý, được cầu nguyện chung, được bẻ bánh chung, khiến họ được mật thiết kết hợp với Chúa và cùng Người làm nên một thân thể. Rồi chính khi ấy họ đã nhận ra mình là chi thể của nhau, là anh em con một Cha, một Chúa. Thế là một đức tin, một Thánh Thể để kết họ nên một với nhau trong tình mến. Họ thấy không được phép để cho ai trong anh em thiếu thốn nữa, nếu đang khi ấy họ có nhiều của cải hơn. Thế là như Barnaba, họ đem bán của riêng, đem huê lợi đến cho các tông đồ để chia sẻ cho anh em tùy theo nhu cầu.
Tất cả như vậy đã xảy ra từ một động lực bên trong. Việc hiệp thông với Chúa đã dẫn sang ý thức phải hiệp thông với nhau; và không thể hiệp thông chân thật với anh em khi có của mà để anh em túng thiếu. Ðó hoàn toàn là đạo đức chứ không phải cộng sản gì! Nhưng là đạo đức chân thật, biết và dám thi hành những đòi hỏi của niềm tin và lòng mến. Kẻ không đạo đức được như vậy cũng không thể có những hành động như thế.
Sách Công vụ ngay sau đoạn văn hôm nay đã kể chuyện vợ chồng Ananya và Saphyra. Hai người cùng bàn nhau đem bán một thửa đất riêng, rồi đem một phần tiền đến nói với thánh Phêrô: đó là tất cả số tiền bán được. Họ tưởng lừa được Phêrô. Nhưng họ quên Thánh Thần bấy giờ ở với Phêrô một cách rất đặc biệt. Phêrô bảo hai người: cớ sao đồng tình và đồng lõa ăn gian nói dối? Ai bắt phải bán đất đi? Và ai buộc phải đem lại tất cả số tiền?
Rồi câu chuyện thế nào, mọi người đã rõ. Ở đây chúng ta chỉ cần lưu ý: mấy lời của Phêrô làm cho chúng ta hiểu việc các tín hữu buổi đầu "không nói là mình có của gì riêng, nhưng đối với họ mọi sự đều là của chung". Ý nghĩa như thế nào? Ðó là một sự tự nguyện, phát xuất từ tinh thần hiệp thông xây trên một niềm tin chung; chứ không phải là một tổ chức xã hội có tính cách hành chánh.
Sự tự nguyện này vẫn còn tồn tại trong Hội Thánh ở nơi các cộng đoàn tu sĩ... Nó còn là đòi hỏi của Tin Mừng mà nhiều khi chúng ta không dám nghĩ tới. Vẫn biết hoàn cảnh đã thay đổi; xã hội đã biến chuyển; con cái Chúa không bao giờ "làm thành một Nước ở trong một Nước" để có nếp sống xã hội riêng; nhưng đang khi sống tốt thể chế xã hội của Nước mình, họ luôn phải nhớ đòi hỏi của Tin Mừng buộc họ phải sống hiệp thông với anh em. Và như vậy họ không được để anh em túng thiếu khi họ đang có của. Ðó là ý nghĩa cụ thể của đạo Bác ái. Và đó cũng là một trong những lý do của việc dâng tiền trong thánh lễ. Cử chỉ này không thể nào không gợi lên nếp sống hiệp thông chia sẻ mà bài sách Công vụ hôm nay nói về Hội Thánh thời các Tông đồ.
Thiết tưởng, lương tâm chúng ta còn bị chất vấn nhiều về vấn đề này. Nhưng nếu chúng ta muốn có thiện chí làm tốt hơn thì chúng ta phải đào sâu đức tin hơn, vì như đã nói, nếp sống hiệp thông kia đã phát xuất từ niềm tin mới mẻ. Bài thư Yoan có nhiều yếu tố quý báu giúp chúng ta làm công việc này.
 2. Một Hội Thánh Sống Ðức Tin
Chúng ta có thể nghĩ đoạn thư này rời rạc và thiếu chặt chẽ. Nhưng nếu nắm được ý của thánh Yoan, chúng ta sẽ thấy đây là những tư tưởng rất quan trọng. Người muốn nói với những kẻ có đức tin để xác định niềm tin của họ phải như thế nào và có những hệ luận nào trong đời sống cụ thể.
Sánh với bài sách Công vụ trên đây, chúng ta có thể nói thánh Yoan đã đi từ trong ra đến ngoài đang khi thánh Luca đi từ ngoài vào trong. Tác giả sách Công vụ mô tả nếp sống xã hội của cộng đoàn dân Chúa; còn tác giả bài thư tìm hiểu động lực của nếp sống này.
Ðó là niềm tin mới, chưa gặp thấy nơi một xã hội loài người nào. Người tín hữu khác mọi người ở chỗ tin Yêsu là Ðức Kitô. Muốn thấy tính cách mới mẻ của niềm tin này, chúng ta phải trở về thời các tông đồ, hay phải nhìn sang lương dân. Ngoài các tín hữu ra, ai có thể có một ý tưởng như thế? Tin Yêsu là Ðức Kitô có nghĩa là tin Thiên Chúa đã thi hành kế hoạch cứu nhân độ thế của Người nơi con người và đời sống của Yêsu người thành Nadarét. Là tin Thiên Chúa yêu thương loài người đến độ đang khi chúng ta còn là tội nhân thù nghịch đã ban Con Một Người làm hy lễ đền tội chúng ta. Mà không phải chỉ đền và tha tội, nhưng còn nhờ cuộc Tử nạn Phục sinh của Ðức Kitô, cho chúng ta được tái sinh bởi Thiên Chúa để làm con cái Người. Một niềm tin như vậy đã ám tàng công nhận Ðức Yêsu là Con Thiên Chúa, vì nếu không, Yêsu sẽ chỉ là một sứ giả, một dụng cụ đặc biệt của Thiên Chúa, khiến niềm tin của chúng ta sẽ chẳng mới mẻ gì, vì đã thiếu gì người tự xưng là tiên tri của thượng đế sai đến với loài người.
Ðức tin của chúng ta thì khác. Nó mới sánh với mọi suy nghĩ và tin tưởng của loài người, vì nó khẳng định Yêsu là Con Thiên Chúa đã đến cứu loài người khiến ai tin thì được sinh lại bởi Thiên Chúa và được làm con cái Chúa. Ðó là nội dung đức tin mới.
Nó chân thật vì có nền tảng vững vàng. Ai chối bỏ được việc Ðức Yêsu Kitô đã đến? Không những Người đã đến nhờ Nước và Máu, mà có Thánh Thần làm chứng. Không những Người đã đến nhờ nước sống Yorđan khi chịu Yoan rửa, mà còn nhờ đến máu chảy ra trên Thập giá. Nhất là khi ở trên cây gỗ này, Người đã để Máu và Nước chảy ra từ cạnh sườn để từ nay Hội Thánh có Nước Rửa tội và có Máu Thánh Thể ban ơn tha thứ tội lỗi và sự sống thần linh mới cho loài người. Nhưng tất cả cuộc đời của Ðức Kitô từ khi nhận nước rửa ở sông Yorđan đến khi chảy máu ra trên Thập giá, cũng như tất cả các bí tích Thánh tẩy và Thánh Thể trong Hội Thánh làm cho người ta được ơn tha thứ và có sự sống mới, tất cả những điều ấy có giá trị chân thật đáng tin là vì cuối cùng có Chúa Thánh Thần đã đến làm chứng cho sự nghiệp của Ðức Kitô và sức sống của Hội Thánh. Ðức tin của chúng ta đi từ cơ sở các việc đã xảy ra trong cuộc đời của Ðức Kitô và của Hội Thánh mà đã được Thánh Thần làm chứng, nên là đức tin chân thật và vững vàng, khiến chúng ta thật là những người có phúc.
Thánh Yoan, trong đoạn thư này, nói đến cái phúc của người tín hữu là họ đã thắng được thế gian. Họ là những người tin vào ơn cứu độ của Thiên Chúa nơi Ðức Yêsu Kitô thì họ được sinh làm con cái Thiên Chúa. Và như vậy họ không thuộc về thế gian nữa. Họ đã được giải thoát ra khỏi ách thống trị của thế gian tức là của sức mạnh thù nghịch với Thiên Chúa và con người. Họ được nên giống như Ðức Yêsu Kitô giờ đây đã sống lại, không còn gì có thể cầm giữ được nữa, kể cả tử thần là kẻ thù cuối cùng của con người. Nói cách khác, tín hữu nhờ đức tin bây giờ tuy còn sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian và lệ thuộc thế gian nữa. Họ đã chiến thắng thế gian nhờ đức tin. Họ đã thuộc về Chúa và trở nên con cái Chúa.
Như vậy họ phải sống sự sống của Người, phải giữ lệnh truyền của Người, vì lệnh truyền của Người chỉ là đòi hỏi của sự sống của Người. Yoan đã định nghĩa Thiên Chúa là tình yêu: Tình yêu là sự sống của Thiên Chúa; thì chính Yoan cũng nói lệnh truyền của Người là chúng ta hãy yêu mến nhau. Ðó là điều mà trong đoạn thư hôm nay Yoan đã viết: phàm ai yêu mến đấng sinh thành, tức là Thiên Chúa, tất phải yêu mến kẻ bởi Chúa mà sinh ra, tức là các con cái Thiên Chúa. Và lệnh truyền đó không nặng nề, vì như Augustinô nói: "Khi người ta yêu thì hoặc không thấy gì nặng nề, hoặc có thấy thì cũng yêu sự nặng nề ấy khiến nó không còn nặng nề nữa". Do đó nền tảng và động lực của nếp sống hiệp thông trong Hội Thánh là niềm tin và lòng mến, mà bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta biết đã phát xuất từ đâu.
 3. Một Hội Thánh Của Chúa Sống Lại
Chúng ta biết bài Tin Mừng này đến nỗi chỉ cần nghe nhắc tới tên Tôma là chúng ta có thể thuật lại rành rẽ. Nhưng có lẽ chúng ta đã đồng hóa nội dung của nó với lòng cứng tin của Tôma, làm như thế, bài Tin Mừng hôm nay chỉ muốn nói xấu vị Tông đồ này. Không thể như vậy, vì nếu như vậy thì đoạn văn này không còn phải là Tin Mừng nữa.
Yoan đã ghi lại câu chuyện Chúa hiện ra cho các tông đồ và Tôma là để chúng ta tin và bởi tin thì chúng ta được sống, tức là được hạnh phúc. Người muốn nói đến nguồn gốc đức tin của chúng ta. Người đi sâu và đi vào trong hơn bài Thánh Thư và bài sách Công vụ.
Chẳng riêng gì Tôma, mọi môn đồ khi ấy đều chưa tin. Vì thế họ mới đóng cửa nhà, vì sợ người Dothái. Nhưng Ðức Yêsu bổng dưng đã đến đứng giữa họ, bất chấp cửa đóng then cài. Người phải ban bình an trấn tỉnh họ. Rồi Người cho họ thấy các thương tích của Người. Họ liền mừng rỡ vì thấy ngay là Thầy mình đã sống lại. Chính sự sống lại của Người khiến họ được vui mừng. Chính mầu nhiệm Phục sinh là Tin Mừng. Và Tin Mừng này, chính Ðức Yêsu đã mang đến khi hiện ra và cho họ thấy các thương tích của Người. Người thật là đấng khơi nguồn và viên thành đức tin của Hội Thánh.
Tôma là một trong các tông đồ và sẽ là một trong các cột trụ để Hội Thánh vươn lên. Ông có quyền đòi hỏi được như các bạn đồng nghiệp, và chúng ta cũng buộc Tôma phải được như vậy để đức tin của chúng ta có cơ sở vững vàng. Do đó thật là vì chúng ta mà Yoan thuật lại câu chuyện về Tôma để minh chứng rõ ràng đức tin của chúng ta bắt nguồn từ việc các Tông đồ được thấy Chúa hiện ra với thương tích của Người, hầu mọi người biết Ðấng chịu nạn đã sống lại thật. Ðó là Tin Mừng cho mọi người; vì như vậy là bằng chứng "thế gian", tức là sức mạnh thù nghịch Thiên Chúa và con người đã bị đánh bại, để từ nay ai tin vào Ðức Kitô Phục sinh sẽ chiến thắng thế gian, sẽ được ơn tha tội và có sự sống mới. Và những người như vậy sẽ tạo nên một nét mới mẻ trong đời sống xã hội con người.
Sách Công vụ hôm nay đề cao nét sống mới mẻ này khi mô tả việc hiệp thông ở trong Hội Thánh. Thư Yoan tìm hiểu động lực của hiện tượng đó nơi đức tin, và bài Tin Mừng cho thấy Ðấng khơi nguồn đức tin ấy là Ðức Yêsu sống lại đã hiện ra với các môn đồ.
Chúng ta giờ đây nhờ đức tin các tông đồ truyền cho sắp được tiếp xúc với Ðức Kitô sống lại, trong mầu nhiệm bàn thờ. Chúng ta hãy có lòng tin và lòng mến của Tôma để kêu lên: "Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi". Lòng tin và mến ấy chỉ chân thật nếu chúng ta nêu gương các tín hữu tiên khởi mà sống hiệp thông với nhau trong việc cầu nguyện, bẻ bánh, nhưng cũng phải có trong đời sống xã hội nữa. Chỉ khi đó chúng ta mới làm cho giáo xứ và giáo phận chúng ta được nên giống Hội Thánh của các Tông đồ, tức là Hội Thánh của chính Ðức Yêsu Kitô đã sống lại.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

PS2-245: ĐỨC KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT,

Lm Giuse Đinh Lập Liễm
 

Nơi Tôma, có cái gì rất đáng yêu, đáng ngưỡng mộ. Với Tôma, có đức tin không phải là chuyện dễ: PS2-245

Nơi Tôma, có cái gì rất đáng yêu, đáng ngưỡng mộ. Với Tôma, có đức tin không phải là chuyện dễ, ông không bao giờ sẵn sàng vâng lời ngay. Tôma là người muốn biết chắc chắn, ông tính thật kỹ giá phải trả.
A. DẪN NHẬP.
          Tuần trước chúng ta đã long trọng mừng lễ Chúa sống lại, một biến cố trọng đại đối với Hội thánh và niềm tin của chúng ta. Biến cố vô tiền khoáng hậu  này đã được ghi trong các sách Tin mừng và trong sinh hoạt của Giáo hội, nhưng có nhiều người còn chưa tin, họ đưa ra những lý lẽ để bác bỏ việc Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.  Ngày nay không thiếu gì những người còn đòi bằng chứng việc phục sinh của Đức Giêsu, giống như trường hợp ông Tôma ngày xưa.
          Trong đời sống hằng ngày, chúng ta có thể có được tri thức là do kinh nghiệm, do suy luận và do người khác chỉ bảo cho. Nhưng tri thức của chúng ta phần lớn là do người khác chỉ bảo cho, có thể đến 80%. Chúng ta vẫn tin họ, nếu không thì cuộc sống sẽ không tiến bộ được.
          Trong đời sống tôn giáo hay đời sống thiêng liêng, chúng ta không thể tự sức mình tìm ra được những chân lý cao sâu, tất cả phải do Chúa mạc khải và do Hội thánh truyền lại.  Đức tin không phải là chấp nhận suông  một số chân lý hay một giáo thuyết, mà là dấn thân tin theo Đức Kitô là “đường, là sự thật và là sự sống”(Ga 14,6). Đức tin ấy còn phải được trui rèn, thử thách và phải được diễn tả ra bằng việc làm, nhất là trong việc tuân theo thánh ý Chúa.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
          +  Bài đọc 1: Cv 4,32-35.
          Trong sách Công vụ Tông đồ, thánh Luca nêu lên một điểm sáng ngời trong cộng đoàn Kitô hữu  tiên khởi tại Giêrusalem: Tinh thần chia sẻ ! Mọi người đoàn kết thương yêu nhau, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt. Họ chỉ có một lòng một ý đến nỗi để mọi sự làm của chung.
          Đây là một việc làm tự nguyện chứ không có tính cách bắt buộc. Việc  làm đặc biệt này khiến cho người ngoại giáo hết sức ngạc nhiên và thán phục. Các tín hữu bán những bất động sản như ruộng đất, nhà cửa rồi đem tiền giao cho Hội thánh giữ. Hội thánh phân phối lại cho các tín hữu theo nhu cầu của từng người. Họ không phân bì ghen tị nhau vì có người góp nhiều mà hưởng ít, và cũng có người góp ít mà hưởng nhiều. Do đó, không ai trong cộng đoàn phải thiếu thốn.
          Nhưng điều thánh Luca muốn làm nổi bật lên, đó là tình liên đới sâu đậm giữa các Kitô hữu tiên khởi rập theo tinh thần Tin mừng, hợp với thánh vịnh mà họ cùng ca lên:
                                      Anh em xum họp một nhà,
                                      Bao là tốt đẹp, bao là thú vui.
                                                (Tv 133,1)
          +  Bài đọc 2: 1Ga 5,1-6.
          Thánh Gioan viết bức thư này có ý nói lên cái cốt lõi của đời sống Kitô hữu, đó là phải tin yêu: tin vào Đức Kitô sẽ thắng được thế gian. Kẻ tin vào Đức Kitô hằng sống sẽ được thông phần vào sự chiến thắng sự dữ của Đấng chịu đóng đinh. Tín hữu là người đã tin rằng Đức Giêsu là Kitô. Mà tin vào Đức Giêsu Kitô thì cũng phải yêu mến Đấng đã sinh ra Đức Giêsu Kitô, tức là Thiên Chúa.
          Có đức tin chưa đủ, còn phải yêu mến điều mình tin, tức là yêu mến Thiên Chúa. Nhưng làm sao để biết mình yêu mến Thiên Chúa ? Thánh Gioan trả lời cho chúng ta: đó là thực hành các giới răn của Ngài.  Đối với người Kitô hữu, các giới răn của Thiên Chúa không còn là những luật buộc nặng nề, chúng chỉ là lời đáp trả theo tiếng gọi của tình yêu.
          +  Bài Tin mừng: Ga 20,119-30.
          Đoạn kết Tin mừng của thánh Gioan (chương 21 được thêm vào sau này) là một mời gọi cuối cùng để hiểu đúng qui chế của đức tin. Đức Giêsu Phục sinh hiện ra với các môn đệ để nhằm hướng họ về tương lai và chứng tỏ giờ đây Ngài hiện diện bởi Thánh Thần trong sự phát triển công cuộc truyền giáo của Hội thánh.
          Bài Tin mừng hôm nay thuật lại hai lần Chúa Phục sinh hiện ra với các Tông đồ tại nhà Tiệc ly: lần thứ nhất vào chiều phục sinh, ông Tôma vắng mặt; lần thứ hai vào 8 ngày sau và lần này có mặt ông Tôma. Sự cứng lòng tin của ông Tôma tạo cơ hội cho Ngài trình bầy cho các môn đệ thế nào là tin: phải hoàn toàn tín nhiệm vào Lời Ngài mà không đòi hỏi những dấu chứng cụ thể.
          Tin vào Đấng Phục sinh và vào cách hiện diện của Ngài không thuộc lãnh vực thị giác: điều thánh Gioan muốn nhấn mạnh khi kể lại chuyện Tôma, là để tạo cơ hội đặt vào miệng Đức Giêsu những lời này:”Phúc thay những người không thấy mà tin”(Ga 20,29). Các dấu chỉ dành cho đức tin thì nhiều, nhưng chúng không hề là bằng chứng mà là để nói với chính đức tin. Và khi nói với người không là Kitô hữu, ta còn phải quan tâm để cho những dấu chỉ ấy nói lên.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                          Nên tin hay chối bỏ ?
I. CÂU CHUYỆN VỀ ÔNG TÔMA.
          1. Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ.
          Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Gioan thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với các Tông đồ hai lần cách nhau một tuần. Một lần hiện ra ngay chính chiều ngày sống lại, mà không có mặt ông Tôma, còn lần sau thì có mặt ông Tôma. Mục đích Ngài hiện ra là làm cho các môn đệ tin rằng Ngài đã sống lại thật và chính các ông là những chứng nhân, để sau này củng cố đức tin cho những người khác. Ngài hiện ra với toàn thể con người phục sinh của Ngài, cho các ông xem thấy tay chân và cạnh sườn, ăn uống trước mặt các ông.
          Rất tiếc trong khi Chúa Giêsu hiện ra lần thứ nhất không có mặt ông Tôma. Các ông thuật lại cho Tôma việc Chúa đã hiện ra và quả quyết rằng:”Chúng tôi đã xem thấy Chúa rồi”. Nhưng Tôma, con người đa nghi và thực nghiệm, trả lời:”Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Ngài, nếu tôi không thọc vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào  cạnh sườn Ngài thì tôi không tin”.
          Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra với các ông, có mặt ông Tôma, để tiếp tục củng cố lòng tin cho các ông, đặc biệt với ông Tôma. Đức Giêsu âu yếm nhìn Tôma và nói:”Hãy xỏ ngón tay con vào đây, và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy, chớ cứng lòng nhưng hãy tin”.  Tôma xúc động thưa với Chúa trong hối hận:”Lạy Chúa con, Lạy Thiên Chúa của con”.  Tôma đã tin và ông trở thành chứng nhân sống động cho Chúa Phục sinh, củng cố niềm tin cho chúng ta.
          2. Nói về con người của ông Tôma.
          a) Con người cô đơn.
          Tôma là con người rất yêu Đức Giêsu. Ông yêu Ngài đủ để sẵn sàng cùng đi với Ngài lên Giêrusalem, sẵn sàng để chết với Ngài trong khi các môn đệ khác phân vân, sợ hãi. Nhưng khi Đức Giêsu chịu chết rồi, ông tỏ ra bi quan, rơi vào tình trạng cô đơn. Ông đã rút lui khỏi các cuộc họp mặt hiệp thông của các môn đệ. Ông tìm sự cô đơn  hơn là họp nhau lại.
          Vì thế, khi Đức Giêsu trở lại với các môn đệ thì ông không có mặt. Mặc dầu các tông đồ nói với ông là đã xem thấy Chúa. Với tâm trạng phân vân do bản tính bi quan, ông tuyên bố chẳng bao giờ ông tin Đức Giêsu sống lại từ cõi chết cho đến khi thấy tận mắt, đặt ngón tay vào lỗ đinh và cạnh sườn Ngài. Đức Giêsu đã hiểu rõ tâm trạng của ông nên đã hiện ra và giải quyết những thách thức và đòi hỏi của ông. Lúc đó, Tôma chỉ biết dào dạt tình thương mến trong lời nghẹn ngào:”Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”.
          b) Con người thực nghiệm.
          Tôma là con người có đầu óc cụ thể, thích tìm hiểu, thích kiểm nghiệm, giống như những nhà khoa học  thực nghiệm hôm nay: những gì thấy và hiểu được thì mới tin. Chủ trương của ông hoàn toàn giống thuyết Tân sinh lý. Ông chỉ tin ở tai nghe mắt thấy, chân tay sờ mó được.  Nói cách khác, điều làm cho ông tin phải có bằng chứng. Việc Chúa sống lại chưa có bằng chứng đối với ông, chỉ khi nào mắt thấy tai nghe Chúa sống lại thì ông mới tin. Ông muốn biết chắc mọi sự, và thái độ này của ông, xét theo phương diện tự nhiên, thì không sai.  Nhưng trong lãnh vực siêu nhiên thì không đúng.
          c) Con người can đảm.
          Khi Đức Giêsu hiện ra  và giải quyết những thách thức và đòi hỏi của ông, ông đã lấy lại được niềm tin và là một niềm tin sâu sắc bù lại những nghi ngờ trước kia. Lúc này thực sự ông muốn đi Giêrusalem để cùng chết với Chúa.  Theo truyền thuyết, Ông Tôma đã đi truyền giáo ở Ấn độ, gặp nhiều gian nan thử thách, nhưng vẫn trung kiên rao giảng Đấng Phục sinh mà chính mắt ông đã thấy. Sau cùng ông là Tông đồ đầu tiên đã nhận lấy cái chết để theo gương Thầy mình.
          Nơi Tôma, có cái gì rất đáng yêu, đáng ngưỡng mộ. Với Tôma, có đức tin không phải là chuyện dễ, ông không bao giờ sẵn sàng vâng lời ngay. Tôma là người muốn biết chắc chắn, ông tính  thật kỹ giá phải trả.  Một khi đã biết chắc, ông nhất quyết tin và vâng phục cho đến cùng. Đức tin như Tôma tốt hơn loại đức tin bằng đầu môi chót lưỡi dễ dàng, để rồi sau đó rút lại điều mình đã hứa.
II. CÂU CHUYỆN CỦA CHÚNG TA.
          1. Tin trong đời thường.
          Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta cần có sự hiểu biết về nhiều vấn đề.  Sự hiểu biết của chúng ta có thể do kinh nghiệm, do suy luận và do sự chỉ bảo của người khác. Kinh nghiệm là sự hiểu biết cá nhân do đã trừng trải, đã kinh qua nhiều sự việc do tai nghe mắt thấy. Nhưng kinh nghiệm bản thân thì quá ít ỏi trước sự hiểu biết bao la của muôn sự vật và con người.
          Hầu hết chúng ta biết được điều này điều kia là do chúng ta tin vào  những gì người khác nói với chúng ta. Có nhà chuyên môn ước lượng rằng  80% những kiến thức của chúng ta  là do tin tưởng vào người khác mà có. Chẳng hạn, trong chúng ta ít có ai được may mắn du hành quanh thế giới. Cách duy nhất để chúng ta biết về phần lớn các quốc gia trên thế giới  là do người khác nói cho chúng ta biết. Nói cách  khác, chúng ta tin vào những người đã từng đến những nơi ấy. Nếu họ kể cho chúng ta rằng có một xứ sở nọ tên là Trung hoa, và dân chúng ở đó thế này thế kia, chúng ta sẽ tin họ.
          Phương cách để chúng ta có được những tri thức thông thường còn chân thực như thế, thì cách thức để chúng ta có được những tri thức tôn giáo càng chân thực hơn nữa. Phần lớn tri thức tôn giáo mà chúng ta có là do chúng ta tin vào những gì Kinh thánh kể lại cho chúng ta. Nói cách khác, phần lớn tri thức tôn giáo của chúng ta là do niềm tin.
                             (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm B, tr 118)
          Chúng ta đều không được đặt tay vào cạnh sườn Đức Giêsu như thánh Tôma, để trực tiếp cảm nghiệm được Đức Giêsu Phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên, chúng ta có thể tin vào chứng cớ của Thánh kinh. Chúng ta cũng có thể làm hơn thế nữa. Chúng ta có thể xử dụng tặng phẩm Chúa ban là lý trí để xác quyết thêm điều Kinh thánh đã truyền cho chúng ta. Và rồi, chúng ta cũng có thể  qùy gối xuống như thánh Tôma đã làm và thưa với Đức Giêsu:”Lạy Chúa con, Lạy Thiên Chúa của con”. Đáp lại, Đức Giêsu sẽ nói với chúng ta:”Hạnh phúc biết bao  cho kẻ chẳng thấy mà vẫn tin”.
          2. Tin có cần thấy và hiểu không ?
          Có nhiều người tỏ ra là những người hiểu biết, những người học thức, làm gì cũng phải hợp lý, không sống theo dư luận hay vào hùa với người khác. Họ chủ trương rằng: chỉ những gì họ THẤY và HIỂU được thì mới tin, nếu không thì sự tin đó là thái độ của con trẻ hay của những người còn non kém về tri thức. Nhưng thực tế thì thế nào ? Có những thực tế trái ngược hẳn với chủ trương của họ, khiến họ phải câm miệng.
Truyện: Có hiểu mới tin
          Một vị trạng sư tự phụ rêu rao trước mặt đám đông rằng: mình chỉ tin cái gì mình hiểu thôi. Trong đám đông có một thằng nhỏ đã được nghe cha xứ giảng, đứng lên hỏi:
          - Thưa ông, nếu vậy ông không tin những gì ông không hiểu ư ?
          - Dĩ nhiên thế.
          - Thưa ông, vậy xin ông cho cháu biết: tại sao ông cử động được ngón tay ?
          - Tại vì ta muốn, chỉ có thế thôi.
          - Ông muốn, vậy sao ông không cử động được hai tai ?
          Vị trạng sự bí lối không biết trả lời bằng cách nào, bèn mắng:
          - Thằng nhỏ này muốn giảng cho ta phải không ?
          Nghe vậy, mọi người đều cười.
                    (Trần công Hoán, Tìm hiểu ít thắc mắc, tr 50)
          Chúng ta hãy tạm đồng ý với chủ trương của họ, và sẽ xem cái chủ trương “thấy và hiểu” của họ  có áp dụng vào thực tế hay không.  Bạn hãy cầm lấy ly nước. Ly nước ấy chẳng là gì khác mà chỉ là ocxy và hytrô thôi. Mắt ta không trông thấy ocxy và hytrô nhưng ta vẫn tin rằng ly nước ấy chứa toàn hai chất ấy thôi nếu ta đem nó ra điện giải. Như vậy, nguyên tắc THẤY mới tin không còn đúng nữa, vì không thấy ocxy và hytrô mà vẫn tin nó có đấy.
          Ta chưa bao giờ được thấy tận mắt một phi thuyền không gian, ta cũng chẳng hiểu nổi những nguyên tắc cũng như các kỹ thuật tân kỳ của các nhà bác học, nhưng ta vẫn tin là các nhà bác học đã sáng chế ra các phi thuyền không gian, và phi thuyền Apollô 11 đã lên nguyệt cầu. Trong chúng ta, ai dám nói là mình đã hiểu các nguyên tắc chế tạo phi thuyền của các nhà khoa học, tại sao ta lại vẫn tin ? Phải chăng chúng ta đã tự mâu thẫn với nguyên tắc của chúng ta.
          Thực sự trong đời sống hằng ngày, ta dùng đến lòng tin rất nhiều, vì nếu không thế, đời sống sẽ không có thể được. Ở gia đình,  cha mẹ dạy ta nhiều điều mà ta vẫn tin. Ở trường học, thầy cô truyền đạt cho chúng ta biết bao nhiêu kiến thức, ta chưa hề biết, có khi không hiểu nữa, thế mà ta vẫn tin, không thắc mắc gì. Nếu ta không tin vào những sự kiện lịch sử thì làm sao ta có thể học được môn đó. Dĩ nhiên lòng tin của ta  chỉ có tính cách tương đối thôi bởi vì những cái đó có thể sai lầm được.
          Đứng trong phương diện thiêng liêng, lòng tin của chúng ta  không phải là cái gì phi lý hay là thái độ của những người thiếu hiểu biết, nhưng trái lại, ta phải nói rằng: tin là thái độ của con người hiểu biết, là thái độ của con người biết dấn thân, biết quyết tuyển.  Chúng ta không tin viển vông nhưng tin vào sự chân thật của Chúa qua sự mạc khải của Ngài. Chúng ta sẽ tin những điều chúng ta không thấy và không hiểu, nhưng những điều ấy không bao giờ mâu thuẫn với lý trí con người, vì những cái ấy vượt trên tầm hiểu biết của trí khôn con người. Vì thế người ta mới có chữ SUPERNATUREL: vượt lên trên cái tự nhiên, đó là siêu nhiên.
          3. Đức tin còn đòi thử thách.
          Có một niềm tin thì dễ, tin suông càng dễ hơn, nhưng có được đức tin là chuyện khó. Vì đức tin bao giờ cũng đòi thử thách và cần phải có ơn Chúa thì mới đứng vững được.
          Chúng ta hãy xem cách hành động của tổ phụ Abraham để làm gương. Khi nghe tiếng Thiên Chúa, Abraham kể ra có nhiều cớ để từ chối đề nghị của Thiên Chúa.  Người ta thường dễ phiêu lưu, mạo hiểm khi còn trẻ tuổi, chưa bị gắn buộc bởi nghĩa vụ gia đình, hoặc chưa gây được sự nghiệp. Abraham đã cao niên, tuổi quá thất tuần (St 12,4), lại đã lập gia thất (St 11,29), còn cơ nghiệp thì dư dật, bộ hạ đông đúc, lục súc không ít. Lời Thiên Chúa mời gọi xem như chẳng đem thêm gì đến cho tổ phụ...
          Người ta lại cũng dễ thay đổi môi trường sinh hoạt khi có môi trường phong phú hơn đem đến cho mình cơ hội sống an toàn, sung mãn, với đủ tiện nghi: nhưng khi ấy Abraham đang sống tại Hâran, một thị xã miền Mésopotamia mà lịch sử công nhận là văn minh, phồn thịnh. Bỏ Hâran đã chắc gì tìm thấy một vị trí khá hơn ? Nơi Thiên Chúa ấn định là nơi xa lạ, chẳng hiểu đến, rồi làm ăn có nổi không . Đành rằng Chúa cũng hứa nơi ấy sau này sẽ phì nhiêu cho con cháu Abraham(St 12,2-3): nhưng tổ phụ làm gì có con cái để mà hy vọng cho hậu thế (St 18,11-12)?
          Vậy mà lời Chúa vang lên, Abraham đáp liền, rời cảnh an ninh, nếp sống nhàn hạ, lên đường để khởi xướng một giai đoạn lang thang, long đong, chật vật, hết nếm mùi đói kém lại chịu cảnh khói lửa chiến tranh (St 12,10 ; 14,13-14). Abraham đã gỡ mọi dây luyến ái để gia nhập đất khách quê người: mà tổ phụ đã làm như thế CHỈ VÌ THIÊN CHÚA ĐÃ GỌI, CHỈ VÌ ABRAHAM ĐÃ TIN.
          Đức tin bao giờ cũng là một cuộc VĨNH BIỆT, CHIA LY, vĩnh biệt cái lòng tự phụ làm mình đinh ninh là có thể giải quyết mọi vấn đề, đối phó với các trở ngại bởi duy sức riêng mình, chẳng cần nhờ đến sự can thiệp bên ngoài, bên trên.  Vĩnh biệt để chấp nhận một trật tự khác: trật tự siêu nhiên của Thiên Chúa.
                             (Nguyễn huy Lịch, báo Nhà Chúa, số 3, 1968, tr 6-7)
          4. Phải sống niềm tin của mình.
          Chúng ta ai cũng có đức tin hoặc mạnh hoặc yếu , nhưng có đức tin chưa đủ, còn phải sống đức tin nữa, nghĩa là đức tin phải được thể hiện ra bằng việc làm như thánh Giacôbê nói:”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Chúng ta phải kiểm chứng xem chúng ta đã sống đức tin như thế nào:    
          1. Mọi người và nhất là người trẻ hôm nay có bao giờ bắt gặp mình đang cầu nguyện, và ý thức mình cầu nguyện với ai, cầu nguyện như thế nào ? Người trẻ hôm nay khi bước vào nhà thờ, có thực sự tìm kiếm, có ý thức rằng mình đến với Chúa, và nếu có, thì cảm nhận được sự hiện diện của Ngài như thế nào ? Và nhất là khi tham dự bàn tiệc Lời Chúa, người trẻ hôm nay có bao giờ tìm hiểu ý nghĩa của việc tham dự ấy, và có thực sự hiệp thông với Đức Kitô chăng ?
          2. Giới trẻ tin vào những điều người ta nói về Chúa, còn chính Chúa thì họ không tin. Nếu tin thì sao đi lễ họ ngồi trên xe honda ở ngoài nhà thờ, vừa xem lễ vừa nhai kẹo, truyện trò, hoặc xem lễ “vọng”?
          Người Pharisêu tỏ ra “thông đạo”, hiểu biết nhiều về đạo, về luật, mà lại không nhìn ra Chúa ; còn người mù từ mới sinh không học hành gì thế mà có thể nhận ra Đức Giêsu là con loài người, và tin vào người sau một cuộc đối thoại ngắn ngủi:
          - Anh có tin vào con loài người không ?
          - Thưa ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin.
          - Anh đã thấy Người, chính người đang nói với anh đây.
- Thưa Ngài, tôi tin (Ga 9,35-38)
Đức tin bao giờ cũng là sự gặp gỡ, một cuộc đối thoại trực tiếp cá nhân với Đức Giêsu, chứ không phải là sự chấp nhận một giáo lý trên bình diện một học thuyết, như kiểu người ta nhìn nhận một chân lý khoa học hay toán học.
      (Thiện Cẩm, Trái chín đầu mùa, tr 202)
Đức cha Matagrin, tổng giám mục Grenoble, đã đưa ra nhận xét này: trong Giáo hội Việt nam, còn nhiều người tin Chúa, nhưng ít người là Kitô hữu.
Kitô hữu là người có Đức Kitô trong mình, là gắn bó với Đức Kitô, là gắn bó với giáo lý của Ngài. Đức Kitô là trung tâm điểm của đời mình ; nhiều người tin Chúa, nhưng ít người là Kitô hữu. Đó là sự sơ suất đáng buồn và đã gây tai hại trong việc truyền giáo và sống đạo .
                          (Đc Bùi Tuần, Nói với giáo dân, 1991, tr 9)
Truyện: Tuyên xưng đức tin.
Bên Nhật bản, tại một học đường ở Nagasaki, có tất cả chừng 150 học sinh, nhưng duy có một em là người Công giáo.
          Em ở nội trú, nhưng mỗi bữa ăn, em vẫn thản nhiên hiên ngang chắp tay cầu nguyện trước và sau bữa ăn. Nhiều trò khác chế diễu và thưa với thầy giáo.
          Ngày kia thầy kêu trò lại hỏi:
          - Tại sao trò lại làm như thế ?
          - Thưa thầy, con là Kitô hữu nên phải cầu nguyện Chúa luôn, con không được vô phép lãnh thực phẩm của Chúa ban mà không cảm tạ Chúa.
          Liền đó, thầy úp mặt xuống bàn viết khóc và nói một cách hổ thẹn:
          - Trò ơi, ta đây là người tin Chúa song ta chẳng dám tỏ ra cho ai biết. Từ đây sắp tới, nhờ ơn Chúa, ta sẽ rán làm phận sự một tín đồ.
          Ta phải hiên ngang xưng Chúa ra mọi nơi, trong lời nói cũng như hành động. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 nói:” Ta phải truyền giảng Phúc âm bằng lối mới. Vậy thế nào là lối cũ ? Lối cũ là chú trọng vào việc thành lập các ủy ban, cơ quan, hội đoàn rồi sinh hoạt. Lối ấy nay không thích hợp. Ngày nay phải truyền giảng Phúc âm bằng đường lối mới . Điều đó không có nghĩa là có Phúc âm mới: Phúc âm luôn thế, nhưng lối truyền giảng phải mới nghĩa là sống đời chứng tá, diễn tả Phúc âm bằng lối sống hiện tại của mình”.

 

PS2-246: Tôma

Phúc cho những ai không thấy mà tin.
 

Với đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người thường phán đoán dựa vào những gì họ thấy tận PS2-246

Với đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người thường phán đoán dựa vào những gì họ thấy tận mắt, sờ tận tay, những gì họ cân đo đong đếm, và kiểm chứng được, thì mới chấp nhận. Tôma có lẽ thuộc týp người này. Tuy nhiên có những sự con người tiếp xúc thường xuyên, mà vẫn không hiểu, chẳng hạn như cây cỏ, vạn vật trên hoàn vũ, hoặc một cảnh đẹp, một bông hoa thơm, một trái ngọt... Con người thưởng thức, nhưng vẫn không biết được nguồn gốc sâu xa của chúng.
Đứng trước ngôi mộ rỗng, chúng ta ghi nhận hai thái độ khác nhau: Phêrô thấy mồ rỗng nhưng không tin, còn Gioan đã thấy và đã tin. Trực giác của Gioan cho ta hiểu rằng: Muốn tin, thì thấy mà thôi chưa đủ, còn phải có tình yêu. Như thế, người ta không phải chỉ thấy bằng lý trí, không chỉ thấy bằng đôi mắt, mà còn phải thấy bằng tâm hồn, bằng con tim, như một câu danh ngôn đã bảo: Con tim có những lý lẽ mà lý trí không thể giải thích.
Xét về một phương diện nào đó, chúng ta có thể nói đức tin có những lý lẽ mà lý trí không thể nào giải thích. Đức tin có những lý lẽ mà những ai không tin không thể hiểu được. Chúng ta hiểu được thế giới chung quanh và con người không chỉ bằng lý trí, bằng khoa học, mà còn cả bằng đức tin nữa. Sự kiện Tôma cũng cho chúng ta hiểu được rằng: Đức tin đúng nghĩa trước tiên là do ơn Chúa ban, rồi kế đó, mỗi người phải biến đức tin trở thành một xác tín cá nhân, phải được củng cố bằng chính trải nghiệm bản thân của từng người.
Nói cách khác, người có đức tin đích thực là người đã có một kinh nghiệm bản thân trong mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, là kinh nghiệm cá nhân của riêng mình, do mình xác tín, chứ không phải dựa vào ai khác.
Chính nhờ Tôma, chúng ta được có lời Chúa chúc phúc đầy khích lệ và đầy thuyết phục: Phúc cho những ai không thấy mà tin. Chính vì chúng ta, vì con người ở mọi nơi và trong mọi lúc, mà sự kiện Tôma được ghi lại trong Phúc Âm, để củng cố niềm xác tín của chúng ta vào việc Chúa phục sinh. Cùng với Tôma, chúng ta hãy tuyên xưng rằng: Chúa đã sống lại thật. Alleluia.

 

PS2-247: Đã thấy, đã không thấy

(Suy niệm của Lm Trịnh Ngọc Danh)
 

Sau khi sống lại, vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giêsu đã hiện ra lần thứ nhất với các tông đồ, PS2-247

Sau khi sống lại, vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giêsu đã hiện ra lần thứ nhất với các tông đồ, nhưng vắng mặt ông Tôma. Ngài đã chúc bình an và cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài. Các môn đệ vui mừng vì đã được xem thấy Chúa, và họ đã cho ông Tôma biết: “Chúng tôi đã xem thấy Chúa”; nhưng ông này cương quyết: “ Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin.”
Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà; lần này có mặt ông Tôma. Chúa Giêsu lại hiện ra lần thứ hai cùng các ông. Sau khi chúc bình an, Ngài đã cho ông Tôma xem những dấu đanh nơi bàn tay và vết thương nơi cạnh sườn Ngài và đã khiển trách ông: “ Chớ cứng lòng, nhưng hãy tin”. Và ông Tôma chỉ còn biết kêu lên: “ Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi”. Và Ngài nói tiếp với ông: “ Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.
Đã xem thấy, đã tin
Cũng như các môn đệ khác, ông Tôma cũng đã từng được nghe những giáo huấn của Chúa, đã được xem thấy những việc kỳ lạ Ngài đã làm, và cũng được nghe Ngài tiên báo về cái chết và sự phục sinh của Ngài...; nhưng ông vẫn còn bán tín bán nghi về việc chết đi sống lại của Thầy mình; vì, Chúa quyền năng có thể làm cho người chết sống lại như trường hợp ông Lagiarô thì còn hiểu được; nhưng đàng này, chính Chúa lại phải chết và lại tự cho mình sống lại thì thật là một việc quá sức tưởng tượng của ông: Làm sao lại có thể có chuyện ấy được! Và đức tin của ông đã bị chao đảo! Ông nghi ngờ đòi cho được tận mắt thấy những dấu đanh nên thân thể Chúa mới tin cũng phải thôi, vì ông đã một lần thất vọng khi thấy Thầy, một Đấng quyền phép mà ông đã tin, lại phải chịu nhục hình cho đến chết trên thập giá. Cũng còn may là ông còn lui tới với cộng đoàn, không như hai môn đệ trên đường Êmau, sau khi Thầy chết, đã thất vọng, sợ hãi tìm đường trốn chạy. Điều đó cho thấy ông vẫn còn tin tưởng vào Thiên Chúa, vẫn còn muốn đạt đến một đức tin viên mãn để được cứu độ.
Tuy bị Thầy khiển trách là cứng lòng tin, nhưng qua đó, ông đã thấy và ông đã tin. Đức tin của ông đã được củng cố cho vững mạnh hơn bao giờ hết đến nỗi ông đã kêu lên: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi”.
Cũng không phải chỉ có ông Tôma mới nghi ngờ sự sống lại của Thầy mình, mà ngay chính những người được tận mắt thấy ngôi mộ trống cũng bán tín bán nghi.
Ngày thứ nhất trong tuần, từ sáng tinh mơ, các bà mang theo thuốc thơm đã chuẩn bị sẵn. Thấy hòn đá đã lăn ra khỏi mồ, bước vào trong, không thấy xác Chúa, bà Maria Mađalêna đã hốt hỏang chạy về báo: “ Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu” ( Ga 20: 2); và đang khi còn ngơ ngác, vào trong mồ, thì thấy một thanh niên ngồi bên phải, mặc áo dài trắng, nên các bà khiếp sợ. Nhưng người đó bảo các bà: “ Các bà đừng sợ. Các bà đi tìm Chúa Giêsu Nagiareth chịu đóng đinh, nhưng người đã sống lại…”. Các bà chạy ra và trốn khỏi mồ, vì các bà run rẩy bàng hoàng. Các bà không nói gì với ai, vì các bà sợ hãi... (Mc. 16, 6-8)
Trở về nhà, các bà thuật lại cho các tông đồ; “nhưng những lời đó, các ông cho là truyện vớ vẩn, nên các ông không tin” (Lc. 24,11)
Vì không thấy, nên ông Tôma chỉ đòi hỏi thấy mới tin, nhưng các bà và các tông đồ đã thấy, đã nghe nói về việc ngôi mộ trống, về việc Chúa đã sống lại, thế mà các bà thì sợ hãi cho là ma, còn các ông thì cho đó là truyện vớ vẩn. Ai là người kém lòng tin hơn ai?
Hơn nữa, đứng về phương diện đức tin, thì có thể ông Tôma là người cứng lòng tin, nhưng đứng về phương diện khoa học, thì sự nghi ngờ của ông lại là điều cần thiết để tìm ra sự thật. Nếu khoa học kiểm chứng được những gì chúng ta phải tin, thì những điều chúng ta tin mà khoa học khám phá, chứng minh được, thì cũng chẳng còn gì là siêu việt đối với trí óc của con người.
Ông Tôma cứng lòng tin, vì ông muốn lấy lý trí để củng cố cho lòng tin của ông. Có thể ông đã nghĩ rằng: Nghe người ta nói Chúa đã phục sinh chưa đủ, tôi còn phải tận mắt nhìn thấy Ngài, và phải được tiếp cận thân thể đầy thương tích của Ngài, thì tôi mới tin.Và cuối cùng, Tôma đã thấy và ông đã tin: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi”.
Việc ông Tôma đòi hỏi được nhìn, được sờ, được kiểm chứng Đấng Phục sinh không chỉ là một đòi hỏi cho riêng ông, nhưng cũng là một chứng tích cho chúng ta hôm nay.
Đã không thấy mà tin
Và sau khi nhân định về lòng tin của ông Tôma: Vì con đã thấy và con đã tin; Chúa lại đưa ra một mẫu lòng tin khác được chúc phúc; đó là: Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.
Qua sự việc của ông Tôma, Chúa đã gián tiếp nói với chúng ta là những người sinh ra “hậu Phục sinh”, những người đã không thấy Chúa sống, chết và phục sinh, nhưng chúng ta tin. Chúng ta chỉ được đọc, được nghe về Thiên Chúa, về Người Con Duy Nhất của Thiên Chúa xuống thế làm người vì yêu thương con người, để rồi chịu chết và đã phục sinh…; nhưng chúng ta không được may mắn như dân Chúa xưa kia hay gần gũi hơn là các môn đệ đã thấy và đã tin.
Cám ơn các tông đồ và đặc biệt cám ơn ông Tôma đã giúp chúng ta xác tín mạnh mẽ hơn về việc Chúa sống lại, về lòng tin của mình.
Từ ngàn xưa, con người nói chung và con cái Thiên Chúa nói riêng đã thấy, đã tin, nhưng vẫn còn vô số người đã thấy, nhưng vẫn chối từ, vẫn không tin. Đã không thấy mà tin là một đòi hỏi rất khó đối với đức tin, đồng thời cũng là một yếu tố xác định mức độ lòng tin của chúng ta.
Đức tin và bình an
Trong cuộc hành trình đức tin, những người đã không thấy mà tin và ngay cả những người đã thấy và đã tin vẫn luôn gặp những trở ngại, nghi ngờ, lo lắng, bất an.
Các môn đệ, sau cuộc “bức tử” của Thầy Giêsu, họ đã hoang mang, lo lắng, sợ sệt, bất an: số phận của họ rồi sẽ ra sao? Ai sẽ là người hướng dẫn để tiếp tục công việc của Thầy?... Tụ lại với nhau, nhưng cửa đóng then cài.
Và những người đã không thấy mà tin thì sao? Đức tin của chúng ta ở mức độ nào? Chúng ta tin, nhưng đã sống và chết vì đức tin như thế nào?
Đức tin chưa đủ mạnh, chưa quyết liệt, chưa xác tín..thì luôn gặp những bất an. Thử thách, gian nan, khổ cực là thước đo đức tin, là những bất an trong tâm hồn.
Hiểu được tâm trạng lo lắng, sợ sệt, bất an của các môn đệ, nên qua hai lần hiện ra với các ông sau khi sống lại, lời trấn an đầu tiên mà Chúa gửi đến các ông là: “Bình an cho các con” và Ngài hứa sẽ sai Thánh Thần xuống để cùng đồng hành với họ. Như thế là họ sẽ được bình an, được an tâm để lên đường tiếp tục công việc của Thầy, không còn phải lo lắng, hoang mang.
Và cũng hiểu được tâm trạng bất an của chúng ta ngày nay, Chúa cũng đã chúc bình an và hứa với chúng ta rằng: “Thầy sẽ xin Cha Thầy, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác để Ngài ở với các con luôn mãi”. (Ga. 14,15). Cũng như các môn đệ họp nhau vào ngày thứ nhất trong tuần, Chúa đã hiện ra và chúc bình an cho họ, ngày Chúa nhật họp nhau tham dự Thánh Lễ, chúng ta cũng đón nhận bình an của Thiên Chúa và chúc cho nhau bình an của Ngài để rồi lại ra đi trong bình an của Ngài đến với anh em. Bình an ấy là kết qủa của đức tin.
Chúng ta là những người “đã không thấy mà tin”, và đã được Chúa chúc phúc; vì, như Thánh Gioan Tồng đồ đã viết trong thư thứ nhất của ngài: “Ai tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, thì kẻ ấy sinh bởi Thiên Chúa, và ai yêu mến Đấng sinh thành, thì cũng yêu mến kẻ sinh ra bởi Đấng ấy. Cứ dấu này chúng ta nhận biết rằng chúng ta yêu mến con cái thiên Chúa, là khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thực hành các giới răn Người…, và giới răn Người không nặng nề. Vì những gì sinh bởi Thiên Chúa đều chiến thắng thế gian, và đây là cuộc thắng trận thế gian, là chính đức tin của chúng ta. Ai là người chiến thắng thế gian nếu không phải là người tin rằng Chúa Giêsu là Con Chiên Chúa? (1Ga. 5,1-6)
Đức tin đem lại cho chúng ta bình an của Thiên Chúa. Không những chúng ta phải tuyên xưng đức tin mà còn phải sống đức tin: “Một thân xác không hơi thở là một xác chết; cũng vậy, đức tin không có hành động là đức tin chết.” (Gc. 2,26)

 

PS2-248: Niềm tin có tính toán cẩn thận

 (Barbara E. Reid, O.P – Nữ Tu Đaminh thuộc cộng đoàn Đaminh ở Grand Rapids, Michigan, Giáo sư môn Tân Ước tại Đại Học Công Giáo ở Chicago, Illinois, và là phó trưởng khoa tại Đại Học này. - Văn Hào, SDB chuyển ngữ)
“Ngài thổi hơi vào các ông và nói với họ: Hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,22)
 

Để xác định một người đã chết, ngày xưa người ta thường đặt một tấm gương dưới hai lỗ mũi PS2-248

Để xác định một người đã chết, ngày xưa người ta thường đặt một tấm gương dưới hai lỗ mũi của thi hài người chết để xem người đó còn thở hay không. Ngày nay, với phương pháp đo điện tâm đồ và kiểm tra hoạt động của phổi, người ta sẽ kết luận một người đã chết thực sự khi họ ngưng thở hoàn toàn. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Kitô Phục Sinh đã “thổi hơi sự sống” vào buồng phổi nhỏ bé của cộng đoàn những người tin, giải thoát họ khỏi sợ hãi, làm cho họ được lưu thông huyết mạch đức tin để họ có thể cùng nhau “thở” và sống cách sung mãn cho sứ mệnh được gửi trao.
Các môn đệ đầy sợ sệt đang co rúm lại với nhau trong căn phòng đóng kín cửa vì “sợ người Do Thái”. Sau khi Đức Giêsu bị hành quyết, nỗi khiếp sợ này cũng dễ hiểu, vì họ sợ sẽ đến lượt mình. Trong Tin Mừng của Thánh Gioan, từ ngữ “Người Do Thái” đồng nghĩa với những con người không tin vào Đức Giêsu, và chống đối Ngài, cho dầu chính Đức Giêsu và những học trò đầu tiên của Ngài cũng là người Do Thái. Đối tượng sự sợ hãi nơi các môn đệ, chính là những người cũng giống họ về người gốc dân tộc, nhưng khác họ ở niềm tin vào Đức Giêsu.
Đôi khi, điều làm chúng ta khiếp sợ nhất là phải trực diện những gì chúng ta không muốn xảy ra cho mình như đã từng xảy ra cho người khác. Giữa lúc sợ hãi cao điểm như thế nơi các tông đồ, Chúa Giêsu đã hiện ra và đến với họ, mời gọi họ đón nhận sự bình an mà Ngài mong muốn đem đến cho họ. Đó không phải là sự bình an cất giấu đi sự tàn bạo hằn sâu nơi thân thể Ngài, khi Ngài vạch mở cho họ thấy những vết thương lồ lộ vẫn còn nguyên trạng nơi xác thân Ngài. Nhưng đó là sự bình an với nhận thức đầy đủ về sự khủng khiếp đối với những gì đã xảy ra nơi cái chết của Chúa, nhưng bình an sẽ đến trong tiến trình chữa lành những vết thương đó, trong tinh thần tha thứ và hoà giải chứ không phải là bạo lực hay oán thù. Ngắm nhìn những vết tích nơi thân thể Chúa, phải có một cái nhìn khác. Không phải là một cái nhìn mang tính hận thù, nhưng là một cái nhìn được Chúa Kitô khởi dẫn để chữa lành, với tinh thần và bình an của Ngài, để giúp các môn đệ thoát vượt sợ hãi, vươn tới niềm vui thực sự.
Kết quả, chính là sự hồi sinh của cộng đoàn. Cũng giống như Đấng Tạo Hoá ban đầu đã thổi hơi vào lỗ mũi của nguyên tổ để trao ban sinh khí (St 2,7), Đức Kitô Phục Sinh cũng đem lại sự sống cho cộng đoàn những kẻ theo Ngài, đang trong cơn khiếp sợ. Đây không phải là một tiến trình dễ dàng, không gây nhức nhối.
Tôi có một người bạn bị viêm phổi nặng, sự đau đớn ghê gớm mà người bạn đó đã kinh qua khi buồng phổi đang bị tàn phá khủng khiếp, làm tôi liên tưởng gần sát với những khó khăn mà những học trò của Đức Giêsu đã trải qua trong tiến trình biến đổi đức tin. Trước khi thụ nạn, Đức Giêsu đã nói với họ về những thống khổ như là nỗi đau quặn của một phụ nữ khi sinh nở, để sau đó có được niềm vui khi một mầm sống mới được khai sinh (Ga 16, 20-22).
Đối với vài người trong nhóm họ, sự tái sinh này xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần sau khi Đức Kitô Phục Sinh. Nhưng không phải tất cả đã hiện diện ngày hôm ấy và đã cảm nghiệm được giai điệu huyền nhiệm này. Tuần sau, vài người trong họ vẫn còn sợ và đóng kín cửa. Họ vẫn đưa ra những điều kiện dường như bất khả thi để có thể tin. Tôma đã lên tiếng bộc lộ sự nghi ngại “Tôi cần phải thấy tận mắt, sờ tận tay, mới tin.” Đây không phải là một sự phản kháng ngoan cố trước những gì các bạn hữu khác đã trải nghiệm và truyền đạt lại, nhưng thực sự Tôma muốn nói lên rằng mọi người và từng mỗi người cần được tiếp cận trực tiếp với Đức Kitô để có thể tin.
Ở đây, không có chuyện Tôma đã thể hiện một thứ đức tin hạng hai. Chứng tá của các bạn khác dẫn ông đến với Đức Giêsu, nhưng không thay thế cho kinh nghiệm của chính bản thân ông để có thể thấy được nhãn tiền, khi ông cần phải gặp gỡ Đức Giêsu một cách trực tiếp, cũng như từng người một trong nhóm họ. Tin Mừng cho phép người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau để có được đức tin. Một vài người có thể thủ đắc đức tin bằng việc nhìn thấy, những người khác có thể không cần. Cả hai thái độ này đều tốt và được Chúa chúc lành. Cách thức đến với đức tin, điều đó không quan trọng, trong một cộng đoàn mà đức tin luôn được toan tính cẩn thận, nhưng trong đó mọi người cùng “thở” chung với nhau bằng hơi thở của Thần Khí, Đấng sẽ đẩy lùi mọi sợ hãi bằng khí cụ của bình an, của sự tha thứ và của sự giao hoà.

 

PS2-249: Lòng từ bi – Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

Truyện kể: Một võ sĩ đã trở lại đạo. Ngày kia, người bạn của anh gặp mặt và hỏi: Tôi nghe anh PS2-249

Truyện kể: Một võ sĩ đã trở lại đạo. Ngày kia, người bạn của anh gặp mặt và hỏi: Tôi nghe anh mới tòng giáo, thật tức cười. Võ sĩ nói: Sao lại tức cười, đó là điều tốt mà anh. Người bạn nói thêm: Nếu vậy, liệu anh xoá nổi chân tướng du côn cao bồi trước chăng? Những vết sẹo trên mặt anh sẽ tố cáo tung tích của anh. Võ sĩ trả lời: Tôi không ngại chi về điều đó. Những vết sẹo kia, nay trở thành cửa sổ cho ơn Chúa chảy vào hồn tôi. Cũng vậy, những tội của chúng ta đã được tha, tuy còn dấu vết, nhưng là dấu vết của tình thương Chúa vậy.
Đôi khi chúng ta tự hỏi: Tại sao Chúa Giêsu còn giữ những vết sẹo trên lòng bàn tay, bàn chân và cạnh sườn từ khi bị đóng đinh thập giá? Vì khi Chúa Phục Sinh, Chúa có thể chọn bất cứ hình hài và thân xác hoàn hảo như các thiên thần. Khi xuất hiện, Chúa đã giữ nguyên những vết sẹo để các môn đệ có thể thấy và có thể sờ chạm. Tông đồ Tôma tỏ ra nghi ngờ, đã được Chúa mở lòng: Rồi Người bảo ông Tôma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." (Ga 20,27). Sự kiện Chúa Kitô Phục Sinh sẽ không hoàn toàn thuyết phục, nếu không có những vết sẹo trên tay, chân và cạnh sườn của Chúa. Chúng ta biết khi con người mơ ước, ai trong chúng ta cũng ước mong có khuôn mặt tươi tắn, hàm răng đẹp, làn da mịn màng và thân hình thon đẹp. Chúng ta mong ước một thân xác hoàn hảo không vết nhăn. Nhưng Chúa Kitô Phục Sinh đã xuất hiện một cách ngoại thường, trên thân mình vẫn mang những vết sẹo hằn sâu để nhắc nhớ chúng ta sự hy sinh đau khổ để cứu chuộc nhân loại.
Chúng ta đặt niềm hy vọng vào những vết sẹo nơi thân xác Chúa Kitô. Trong các nhà thờ Công giáo, nơi gian cực thánh, treo hình tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá với mạo gai trên đầu, chân tay và mình mẩy đầy thương tích loang máu đào. Vết sẹo nơi cạnh sườn như còn rướm máu. Giáo Hội không lùi bước chỉ nhìn vào đau khổ và chết chóc, nhưng Giáo Hội muốn mọi tín hữu cùng chia sẻ, cảm thông và lãnh nhận ân sủng cứu độ qua giá máu châu báu của Chúa. Sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Kitô đã trao ban sứ mệnh cho các Tông đồ: Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." (Ga 20,21). Các Tông đồ là những nhân chứng sống động và chân thành. Với ơn trợ giúp và quyền năng của Chúa Thánh Thần, các ngài đã can đảm ra đi truyền rao ơn cứu độ. Ra đi với hai bàn tay trắng, các tông đồ không có tiền bạc, địa vị, học vị hay cơ sở vật chất. Các ngài đã lãnh nhận nhưng không và giờ đây cũng đem Tin Mừng biếu không: Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay các Tông đồ (Cv 5,12).
Chúa Kitô Phục Sinh hiện diện với các Tông đồ qua quyền năng của Ngài. Chúa trao cho các ngài uy quyền chữa lành tất cả các bệnh hoạn tật nguyền và xua trừ ma quỷ. Rất nhiều người đã tuôn đến xin ơn lạ và lãnh nhận ơn cải đổi tâm hồn: Nhiều người từ các thành chung quanh Giêrusalem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành (Cv 5,16). Hạt giống đức tin được gieo vào lòng người. Từng tâm hồn hối cải trở về với Chúa. Họ đã được lãnh nhận ơn sủng chữa lành phần xác và tô điểm tâm hồn. Họ là những tín hữu nồng cốt xây dựng Hội Thánh sơ khai trên trần thế. Giáo Hội bắt đầu nẩy mầm và phát triển sinh hoa kết trái: Càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa: cả đàn ông đàn bà rất đông (Cv 5,14).
Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia. Điều vô cùng quan trọng là Chúa Giêsu trao ban quyền tháo cởi và cầm giữ cho các tông đồ. Các tông đồ nhận lãnh ơn chữa lành và thực hành các phép lạ để đặt nền móng cho Giáo Hội sơ khai. Nhưng chìa khoá của sự tháo cởi và cầm buộc tinh thần được lưu truyền qua ngàn muôn thế hệ. Thánh Gioan diễn tả rằng Chúa Giêsu trực tiếp ban ơn: Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." (Ga 20,22-23). Chúa Giêsu thấu tỏ sự ương ngạnh cứng cỏi cũng như sự yếu đuối thấp hèn và tội lỗi của con người. Chúa đã lập Bí tích Hoà Giải để mọi người có cơ hội hối lỗi trở về với lòng nhân từ của Chúa. Chúa tin tưởng vào quyền tài phán của các tông đồ và những người kế vị. Chúa đã trao quyền cho Giáo Hội qua biểu tượng của chiếc chìa khoá Thánh Phêrô. Biết rằng trao chìa khoá cho ai là đặt niềm tin tưởng nơi người đó.
Trong Sách Khải Huyền, Gioan đã được thị kiến sự lạ lùng vượt trên lòng trí, Chúa Kitô đã mạc khải: Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời; Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ (Kh 1,18). Sau khi phục sinh từ cõi chết, Chúa Kitô là chủ của sự sống và không còn chết nữa. Chúa đã chiến thắng tử thần và tội lỗi. Ngài về trời ngự bên hữu Chúa Cha và mọi đầu gối sẽ quỳ phục dưới chân Ngài. Chúa Kitô có uy quyền trên hết mọi loài, mọi vật, sự sống và sự chết. Niềm tin vào Chúa Kitô sống lại là niềm hy vọng vào sự sống viên mãn đời đời. Thánh Gioan được linh hứng để viết sách Khải Huyền: Vậy ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này (Kh 1,19). Khải Huyền là cuốn sách cuối cùng của bộ Tân Ước. Có rất nhiều chi tiết cao siêu như trên các tầng trời, chúng ta chẳng thể hiếu thấu. Chúng ta chỉ có thể nhận diện được phần nào những điều đã qua hoặc đang diễn ra trong cuộc sống mà thôi. Tương lai ngày mai phó thác trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nhắc nhở các Tông đồ: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" (Ga 20,29). Các Tông đồ đã được diễm phúc nhìn thấy Chúa Phục Sinh nhãn tiền. Các ngài được gặp gỡ, ngồi chung bàn bẻ bánh, đàm thoại, ăn uống và được Chúa ban bình an chúc lành. Các Tông đồ sẵn sàng ra đi làm nhân chứng. Làm nhân chứng là phải đối diện với sự sống sự chết. Tất cả mười một vị Tông đồ đã đổ máu đào chứng minh niềm tin sắt son vào Chúa Kitô Phục Sinh. Thánh Gioan là nhân chứng sống động cho tình yêu Chúa. Mọi lời rao giảng dạy dỗ của Thánh Gioan đều quy về tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Các Tông đồ đã can đảm sống cho tình yêu và chết cho tình yêu.
Chúa Giêsu chúc phúc cho những ai không thấy mà tin. Mỗi ngày chúng ta tuyên xưng Chúa Kitô qua việc ghi dấu thánh giá trên mình. Chúng ta tuyên xưng Chúa là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ, là Thầy và là Chúa. Tin vào Chúa là lắng nghe và thực hành lời Chúa. Chúa đã mở cửa rộng rãi đón nhận và chúc phúc cho mọi người: Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành (Lc 8,21). Nước Chúa rộng mở đón nhận mọi thành phần, nhưng điều quan trọng là chúng ta cần tin tưởng vào tình yêu của Chúa và tuân giữ lời Ngài. Vì đức tin không có thực hành thì đức tin chỉ là những triết thuyết viển vông và trống rỗng.
Mỗi lần tham dự Thánh lễ, chúng ta cử hành mầu nhiệm sự chết và sống lại của Chúa Kitô. Chúng ta sẽ loan truyền ơn cứu độ cho tới khi Chúa lại đến. Lạy Chúa, những vết sẹo nơi thân mình đã nhắc nhở chúng con về lòng thương xót vô bờ của Chúa. Xin nguồn bình an và ân sủng của Chúa Kitô Phục Sinh tràn đổ trên tâm hồn mỗi người chúng con. Amen.
 
 
 

PS2-250: Suy niệm của Lm Giuse Phạm Ngọc Khuê

CON ĐƯỜNG TIẾP NHẬN CHÚA QUA VIỆC NGÀI HIỆN RA
 

Niềm tin vào Chúa Phục Sinh khởi đi từ sự kiện mồ trống. Trong ngày thứ nhất trong tuần, các bà PS2-250

Niềm tin vào Chúa Phục Sinh khởi đi từ sự kiện mồ trống. Trong ngày thứ nhất trong tuần, các bà đạo đức phát hiện thấy mồ trống nên chạy về báo tin cho các môn đệ Chúa Giêsu về những điều xẩy ra xung quanh ngôi mộ. Hai môn đệ Gioan và Phêrô cùng chạy ra mộ Chúa. Phêrô đi vào trong mộ và chứng kiến những tấm khăn liệm và dây băng cuốn xác Chúa được gấp cuộn hẳn hoi. Chứng kiến sự kiện này, thánh Gioan thuật lại niềm tin của các môn đệ: Các ông đã thấy và đã tin rằng Chúa đã sống lại.
Tuy nhiên, tin Chúa phục sinh nơi các môn đệ không dừng lại nơi sự kiện mồ trống, Chúa còn cho họ gặp Ngài nhiều lần bằng việc hiện ra với họ.
Chúa Nhật II PS nhấn mạnh khía cạnh khác của đức tin: đó là con đường tiếp nhận Chúa qua việc Ngài hiện ra. Như vậy, đức tin vào Chúa Phục Sinh vừa được xây dựng trên sự kiện lịch sử (mồ trống), vừa trên sự gặp gỡ tiêp xúc siêu nhiên. Chúa hiện ra hôm nay hoàn toàn thần thiên, vì cửa đóng then cài mà Ngài vẫn xuất hiện giữa các ông. Sau khi từ cõi chết sống lại, Chúa Giêsu đi vào trong cõi thần thiên, Ngài không còn bị lệ thuộc thời gian và không gian nữa.
Thánh Gioan cho biết, Chúa hiện ra vào ngày thứ nhất trong tuần và lại hiện ra vào “Tám” ngày sau, và đều hiện ra vào lúc các môn đệ đang hội họp. Các môn đệ hội họp vào ngày thứ nhất trong tuần, chính là ngày chúa nhật, ngày Giáo Hội mừng ngày Chúa Phục Sinh. Việc các môn đệ hội họp trong ngày ấy, chính là cử hành bí tích thánh thể.
Cử hành bí tích thánh thể là cách cụ thể hiện tại hóa của tử nạn và phục sinh của Chúa, nên các môn đệ được tiếp xúc với chính Chúa. Các dấu đinh ở tay, chân và cạnh sườn, chính là lời tuyên xưng của Giáo Hội vào mầu nhiệm thánh thể. Qua cử hành thánh thể, Chúa Giêsu thực hiện cuộc thương khó và phục sinh của Người các bí tích trên bàn thờ.
Trong việc cử hành thánh thể, các tông đồ gặp gỡ đấng phục sinh và nhờ đó đức tin các ngài được củng cố và gia tăng.
Ngày nay, cũng một thể thức ấy, Giáo Hội cử hành thánh thể nhằm tái diễn cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa. Giáo Hội tin rằng Chúa hiện diện cách đích thực trong bí tích thánh thể và chính tại nơi đây Ngài ban thêm đức tin cho chúng ta.
Nghe Lời Chúa và cử hành mầu nhiệm thánh thể hằng ngày của cộng đoàn chúng ta là cách tích cực nhất để gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh, nhờ đó đức tin của mỗi người chúng ta mạnh mẽ thêm.
Ước gì mỗi người chúng ta luôn ý thức sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu nơi bí tích thánh thể, mà siêng năng cử hành và rước mình máu thánh Ngài để mỗi ngày chúng ta được lớn lên đạt tầm vóc viên mãn của Đức Kitô, nhờ đó chúng ta luôn được ơn an bình của Chúa Phục Sinh, đồng thời có nhiệt huyết tông đồ lên đường làm chứng cho Chúa trước mặt mọi người, để cả thế giới được hương ơn phục sinh của Chúa.
Xin được chọn câu Lời Chúa: Phúc cho những ai đã không thấy mà tin, làm châm ngôn cho ngày sống hôm nay để luôn ý thức sự hiện diện của Chúa nhờ đó đức tin của chúng ta mỗi ngày được mạnh mẽ và sốt sáng hơn. Amen.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây