Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 PS-A Bài 1-50 Hai môn đệ về làng Em

Thứ năm - 27/04/2017 03:25
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 PS-A Bài 1-50 Hai môn đệ về làng Emmaus
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 PS-A Bài 1-50 Hai môn đệ về làng Emmaus

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 PS-A Bài 1-50 Hai môn đệ về làng Emmaus
PS3–A1: Hai tông đồ ở E-mau không nhận ra Đức Giê-su nơi người bộ hành. 2
PS3-A2: LÒNG CHÚNG TA ĐÃ CHẲNG CẢM THẤY BỪNG NÓNG LÊN.. 5
PS3-A3: ĐAU KHỔ VÀ VINH QUANG.. 9
PS3-A4: CS/62- HY VỌNG.. 11
PS3-A5: STM/104- EMMAUS. 12
PS3-A6: CSTM/107- DỪNG CHÂN.. 14
PS3-A7: SCĐ/183- HIỆN DIỆN MỚI 15
PS3-A8: PV/ 204- CHIA SẺ.. 17
PS3-A9: PV /207- NỒNG CHÁY.. 18
PS3-A10: PV/210- NGƯỜI KỂ CHUYỆN.. 20
PS3-A11: MNMTV/279- EMMAU.. 22
PS3-A12: SNVGLMN/346- EMMAU.. 23
PS3-A13: Đồng hành với nhau và với Chúa – Lm. Hữu Độ. 24
PS3-A14: TRÊN ĐƯỜNG EMMAU Lm. VIKINI 25
PS3-A15: Suy Niệm của Lm. Trọng Hương. 26
PS3-A16: NHẬN RA CHÚA GIÊ-SU TRONG CUỘC SỐNG.. 28
PS3-A17: HAI MÔN ĐỆ TRÊN ĐƯỜNG EM-MAU.. 30
PS3-A18: ĐỨC GIÊ-SU ĐỒNG HÀNH.. 33
PS3-A19: CẢM NHẬN: MÙA PHỤC SINH.. 37
PS3-A20: QUẢ TRỨNG RỖNG - Truyện. 38
PS3-A21: Đau khổ. 39
PS3-A22: ĐƯỜNG HY VỌNG (Lc 24, 13-35)- ĐC Giuse Ngô Quang Kiệt 41
PS3-A23: SLC- Đam mê. 43
PS3-A24: SLCTTY/154- Người lữ khách. 45
PS3-A25: SLCTTY/154- Người lữ khách. 46
PS3-A26: CSLC/100- Chúa sống lại 48
PS3-A27: Sau mộng mơ đến than khóc. 50
PS3-A28: Mời Ông ở lại với chúng tôi 52
PS3-A29:  Hai môn đệ làng E-mau - JN.. 53
PS3-A30: BACK TO SORIENTO ! 56
PS3-A31: HÃY ĐÓN NHẬN ĐỨC KITÔ DỰ PHẦN VÀO CUỘC SỐNG.. 58
PS3-A32: Câu chuyện  hai môn đệ Em-mau - Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. 63
PS3-A33: EMMAU - CÂU CHUYỆN CỦA SỰ TRỞ VỀ.. 65
PS3-A34: Đồng hành - Lm Trần Thanh Sơn. 66
PS3-A35: Trên đường Emmau. 69
PS3-A36: Thiên Chúa thực hiện lời hứa. 71
PS3-A37: Loan báo Nước Trời và đổi mới con người 73
PS3-A38: Trên đường Emmau - Phó Tế Micae Khánh. 78
PS3-A39: Lời Chúa cho Hôm nay: BẠN NÊN MỞ MẮT NHÌN - Huyền Đồng. 79
PS3-A40: Nhận ra Chúa và làm cho người khác nhận ra Chúa. 81
PS3-A41: Để Nhận Ra Sự Hiện Diện Của Chúa - Lm Trần Bình Trọng. 83
PS3-A42: CHÚA NHẬT III PHỤC SINH.. 85
PS3-A43: Ánh sáng và bóng tối - Lm Augustine, S.J. 89
PS3-A44: NGÀI NHẬP CUỘC.. 92
PS3-A45: Làng kia tên là Emmau. 93
PS3-A46: CUỘC SỐNG MỚI CỦA KẺ TIN VÀO ĐỨC  GIÊSU PHỤC SINH.. 97
PS3-A47: CHÚA NHẬT III PHỤC SINH.. 100
PS3-A48: SIÊU MINH TINH VÀ ĐẤNG CỨU THẾ  SIÊU VIỆT.. 101
PS3-A49: XIN NGÀI Ở LẠI VỚI CHÚNG TÔI 103
PS3-A50: HAI MÔN ĐỆ LÀNG EMMAU.. 104



 

PS3–A1: Hai tông đồ ở E-mau không nhận ra Đức Giê-su nơi người bộ hành

JKN
Suy tư gợi ý:

1. Hai tông đồ ở E-mau không nhận ra Đức Giê-su nơi người bộ hành cùng đi với mình

 

Một điều khá kỳ thú trong bài Tin Mừng hôm nay, đó là các tông đồ đã sống với Đức Giê-su suốt: PS3-A1

Một điều khá kỳ thú trong bài Tin Mừng hôm nay, đó là các tông đồ đã sống với Đức Giê-su suốt ba năm, đã từng nghe Ngài nói, giảng dạy, thế mà nay, khi Ngài sống lại, cùng đi với các ông, giảng dạy cho các ông, các ông lại không nhận ra Ngài. Có lẽ Ngài đã mang một bộ mặt xa lạ, đã đội lốt một người bộ hành như bao bộ hành khác. Điều các ông không ngờ được là người mà các ông tưởng là một bộ hành xa lạ ấy lại chính là Đức Giê-su, Thầy mình. Các ông chỉ nhận ra Ngài khi Ngài đồng bàn với họ, chính xác là khi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Nghĩa là khi các ông thấy có sự giống nhau giữa người bộ hành này với Thầy mình. Rất may là các ông đã đối xử với người bộ hành ấy rất tốt: chăm chú nghe người ấy nói, mời ở lại dùng bữa… Nếu không thì thật đáng tiếc.

2. Coi chừng kẻo chính chúng ta cũng không nhận ra Đức Giê-su nơi những người chung quanh ta

Điều kỳ thú đó cũng xảy ra một cách tương tự biết bao lần trong đời sống chúng ta. Chúng ta sống với những người chung quanh mình, mà không bao giờ hoặc rất ít khi ta nhận ra Thiên Chúa hay Đức Giê-su ở nơi họ. Dường như đối với ta, Thiên Chúa hay Đức Giê-su là người ở đâu đâu, ở trên trời, ở trong nhà tạm của nhà thờ, hoặc ở khắp nơi một cách thiêng liêng. Ngài có vẻ là một thực tại rất trừu tượng, nếu có cụ thể thì chỉ là những ảnh vẽ, những bức tượng bất động, vô hồn. Và tình yêu của chúng ta đối với Ngài cũng rất trừu tượng, rất bí tích, chỉ được thể hiện bằng sự hướng thiện, bằng việc năng cầu nguyện, năng tham dự và lãnh nhận các bí tích.

Nhưng bài Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta một chân lý hết sức quan trọng. Thiên Chúa hay Đức Giê-su có thể chính là người bộ hành mà mình ngỡ là rất xa lạ. Nghĩa là Ngài có thể mặc lấy những bộ mặt khác nhau, hình dáng khác nhau, với những tính tình khác nhau, tư cách điệu bộ khác nhau nơi những người ta gặp trên đời, nơi những người sống chung quanh ta. Và tình yêu của chúng ta - nếu có - đối với Ngài thì phải được thể hiện cụ thể nơi những con người cụ thể ấy, chứ không phải một cách trừu tượng. Có thể nói: muốn yêu Đức Giê-su, thì cách tốt nhất, cụ thể nhất và chắc chắn nhất là yêu những người chung quanh ta, và bất kỳ người nào ta gặp trong cuộc đời. Và cũng có thể nói một cách chắc chắn: nếu ta không yêu những người ấy, thì ta không thật sự yêu Đức Giê-su hay yêu Thiên Chúa. Nếu ta tưởng rằng mình yêu Thiên Chúa, yêu Đức Giê-su bằng cách này hay cách khác, nhưng ta không hề yêu Ngài nơi những con người cụ thể chung quanh ta, thì tình yêu ấy chắc chắn chỉ là một ảo tưởng. Rất có thể ta đang yêu chính bản thân mình một cách ích kỷ, nhưng sự ích kỷ ấy lại mặc lấy một hình thức khôn khéo là yêu Thiên Chúa hay Đức Giê-su một cách trừu tượng.

3. Đức Giê-su đồng hóa chính Ngài với tha nhân của ta

Có thể nói những người chung quanh ta là những Đức Giê-su rất sống động, rất cụ thể. Hay nói một cách khác, trong một mức độ nào đó, họ chính là hiện thân của Thiên Chúa hay Đức Giê-su. Chân lý này có một nền tảng rất vững chắc trong Kinh Thánh.

a. Tha nhân là hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1,26.27; 9,6): Chúng ta không thể yêu Thiên Chúa hay Đức Giê-su mà không yêu hình ảnh hay hiện thân của Ngài. Khi hai người yêu thương nhau, họ rất quí hình ảnh của nhau, và hình ảnh đó là một biểu trưng có tính đại diện cho chính người trong ảnh. Coi thường hay xúc phạm đến hình ảnh của một người luôn luôn được coi là xúc phạm đến chính con người ấy. Hai môn đệ làng E-mau nhận ra người bộ hành là Đức Giê-su khi người ấy bẻ bánh giống như Đức Giê-su. Con người được tạo dựng "giống như" Thiên Chúa (St 1,26; 5,1), điều ấy có làm ta nhận ra Ngài nơi họ không?

b. Tha nhân là con cái Thiên Chúa (x. Lc 20,36; Ga 11,52; Rm 8,14.16.21; Gl 3,26; 1Ga 3,1.2.10; ): Tất cả chúng ta đều là con cái Thiên Chúa, đều gọi Thiên Chúa là Cha, và cùng là anh em với nhau. Con cái một cách nào đó là hiện thân của cha mẹ. Kinh nghiệm đời sống cho ta thấy: ai yêu cha mẹ tất nhiên cũng yêu thương anh chị em mình. Và ai không yêu thương anh chị em mình, chắc chắn tình yêu đối với cha mẹ cũng rất nhạt nhẽo hoặc giả tạo.

c. Từ những căn bản trên, Đức Giê-su đồng hóa chính Ngài với tha nhân của ta (x. Mt 10.40; 18,5; 25,40.45; Lc 10,16): Ta làm gì cho tha nhân của ta, trước tiên là những người gần gũi ta nhất, rồi đến những người sống chung quanh ta, những người ta thường gặp, và tất cả mọi người, chính là làm cho Ngài. Ta yêu họ chính là ta yêu Ngài, ta ghét họ chính là ta ghét Ngài, hy sinh cho họ là hy sinh cho Ngài, làm hại họ là làm hại chính Ngài.

4. Yêu tha nhân là yêu Thiên Chúa, và là chu toàn luật Chúa

Trong Cựu Ước, khi trình độ con người còn thấp, có sự phân biệt rõ rệt giữa Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, có hai điều răn quan trọng nhất là: "Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em" (Đnl 6,5) và "hãy yêu người khác như chính mình" (Lv 19,18). Đức Giê-su đã nhắc lại hai điều răn ấy như hai điều luật căn bản của Lề Luật cũ. Nhưng qua thời Tân Ước, khi trình độ của con người cao hơn, hai điều răn ấy được tóm lại thành một: hễ yêu Chúa tất nhiên phải yêu tha nhân, và hễ yêu tha nhân thật tình tất nhiên là đã yêu Chúa rồi. Thánh Gio-an viết: "Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" (1Ga 4,20). Vì thế, thánh Phao-lô viết: "Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật" (Rm 13,8.10), "Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô" (Gl 6,2). Thánh Gia-cô-bê cũng nói: "Anh em làm điều tốt nếu anh em chu toàn luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Gc 2,8).

Tóm lại, bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta chân lý quan trọng này: tha nhân chính là hình ảnh, hay một cách nào đó, là hiện thân của Thiên Chúa hay Đức Giê-su. Vì thế, chúng ta hãy tập nhìn họ là "Em-ma-nu-el" (Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta). Thiên Chúa hay Đức Giê-su đang ở giữa chúng ta, ở với chúng ta qua những người chung quanh ta.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, bài Tin Mừng hôm nay thật là tuyệt vời, nó cho con thấy và nhắc lại cho con một chân lý kỳ diệu: Những người gần gũi với con, sống chung quanh con một cách nào đó là hiện thân của Cha, của Đức Giê-su. Vì thế, yêu Cha, yêu Đức Giê-su tất nhiên phải yêu những người ấy. Và chỉ khi con yêu họ, con mới chứng tỏ được rằng con thật sự yêu Cha và yêu Đức Giê-su. Xin giúp con yêu họ thật sự bằng hành động cụ thể.


 

PS3-A2: LÒNG CHÚNG TA ĐÃ CHẲNG CẢM THẤY BỪNG NÓNG LÊN

HAY SAO? / Đom M. Cao Tấn Tĩnh
Phụng Vụ Lời Chúa chủ đề "Thày là sự sống lại"
 

Hôm nay là Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Phục Sinh. Phụng Vụ Lời Chúa của cả ba chu kỳ A, B, C : PS3-A2

Hôm nay là Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Phục Sinh. Phụng Vụ Lời Chúa của cả ba chu kỳ A, B, C vẫn còn theo chủ đề "Thày là sự sống lại". Bởi vì, Phúc Âm của cả ba chu kỳ vẫn còn thuật lại việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với thành phần môn đệ của Người. Tuy nhiên, nếu hai tuần trước, cả ba chu kỳ chỉ có một bài Phúc Âm duy nhất giống nhau theo Thánh Gioan, thì tuần này, mỗi chu kỳ thuật lại một biến cố hiện ra khác nhau của Chúa Giêsu. Ở chu kỳ Năm A, Phúc Âm theo Thánh Luca thuật lại biến cố Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ đang đi về làng Emmau. Ở chu kỳ Năm B, cũng cùng đoạn Phúc Âm Thánh Luca như trong chu kỳ Năm A, song thuật tiếp biến cố Chúa Giêsu hiện ra với chung 11 vị tông đồ sau khi hai môn đệ được Chúa hiện ra trên đường đi Emmau trở về thuật lại việc họ đã gặp Chúa. Chu kỳ Năm C lại không theo Phúc Âm Thánh Luca là Phúc Âm chính của chu kỳ của mình, chẳng hạn như một trong hai bài Phúc Âm Thánh Luca được đọc trong chu kỳ Năm A và B của chính ngày Chúa Nhật hôm nay, mà lại theo Phúc Âm Thánh Gioan, đoạn trình thuật về biến cố Chúa Giêsu hiện ra với 7 vị tông đồ trên bờ biển hồ Tibêria. Như thế chúng ta thấy Giáo Hội cố ý muốn cho con cái mình thấy được hết những lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi Người phục sinh từ trong cõi chết.

Thật ra, trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Giáo Hội đã cho đọc thứ tự những lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi Người từ trong cõi chết sống lại rồi. Ngày Thứ Hai, Phúc Âm theo Thánh Mathêu về việc Người hiện ra với các phụ nữ đang trên đường chạy về báo tin cho các tông đồ, (cũng là bài Phúc Âm cho Lễ Vọng Chúa Nhật Phục Sinh của chu kỳ Năm A). Ngày Thứ Ba, Phúc Âm theo Thánh Gioan về việc Người hiện ra với riêng Mai-Đệ-Liên đang khóc tìm Chúa ngoài mộ, (chắc chị muốn một mình ở lại ngoài mồ để tìm Chúa nên không cùng với các bà khác chạy về báo tin cho các tông đồ). Ngày Thứ Tư, Phúc Âm theo Thánh Luca về việc Người hiện ra với hai môn đệ đi về làng Emmau, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh chu kỳ Năm A). Ngày Thứ Năm, Phúc Âm theo Thánh Luca thuật tiếp về việc Chúa Giêsu hiện ra với các vị tông đồ trong khi các vị được hai môn đệ đi Emmau về thuật lại cho biết, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh chu kỳ Năm B). Ngày Thứ Sáu, Phúc Âm theo Thánh Gioan về việc Chúa Giêsu hiện ra với 7 tông đồ trên bờ biển hồ Tibêria, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh chu kỳ Năm C). Ngày Thứ Bảy, Phúc Âm theo Thánh Marcô, đoạn Phúc Âm tổng liệt kê thứ tự những lần Chúa Giêsu hiện ra (như đã được lần lượt thuật lại ở những ngày trước trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh), với Mai-Đệ-Liên, với hai môn đệ đi Emmau và với các tông đồ. Ngày Thứ Tám, Phúc Âm theo Thánh Gioan về việc Chúa Giêsu hiện ra "một tuần sau" để chứng tỏ cho tông đồ Tôma thấy rằng Người đã thực sự sống lại, như các tông đồ khác đã thấy trong lần Người hiện ra với các vị ấy vào "ngày thứ nhất trong tuần", và các vị ấy đã thuật lại cho Tôma hay, song Tôma không chịu tin, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật II Mùa Phục Sinh cho cả ba chu kỳ A, B và C).

Nếu tuần tới, Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, không còn bài Phúc Âm nào nói đến việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra nữa, mà là những bài Phúc Âm liên quan đến chủ đề "Thày là Sự Sống", thì Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật này cần phải bao gồm những bài Phúc Âm liên quan đến các lần Chúa Giêsu hiện ra còn lại, những lần hiện ra chưa được đọc trong các Chúa Nhật của Mùa Phục Sinh trước đây. Vẫn biết việc Chúa Giêsu hiện ra được thuật lại trong ba bài Phúc Âm tuần này, theo thứ tự thời gian, như trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh cho thấy, xẩy ra trước việc Chúa Giêsu hiện ra "một tuần sau" để tỏ mình cho tông đồ Tôma, trong bài Phúc Âm của Chúa Nhật II Phục Sinh tuần trước, nhưng vì bài Phúc Âm "một tuần sau" tuần trước đó lại rơi vào đúng thời điểm "một tuần sau" của mình theo thời gian phụng vụ, nên cần phải đọc trước bài Phúc Âm tuần này. Bởi thế, chúng ta cũng không thấy Giáo Hội lấy bài Phúc Âm của Thánh Gioan được mở đầu bằng câu "vào ngày thứ nhất trong tuần" cho chính ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Vì đoạn Phúc Âm "vào ngày thứ nhất trong tuần" này có liên quan hết sức mật thiết với đoạn Phúc Âm "một tuần sau", nên Giáo Hội đã cho đọc cả hai đoạn Phúc Âm dính dáng với nhau này chung trong Chúa Nhật II Phục Sinh ở cả ba chu kỳ A, B và C.

Ý Nghĩa của Dấu Hiệu Bẻ Bánh trong lần Tỏ Mình cho hai môn đệ đi Emmau

Trong trình thuật Phúc Âm của Thánh Luca về hai môn đệ về làng Emmau cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh hôm nay, chúng ta thấy dấu hiệu chính yếu Chúa Giêsu Phục Sinh sử dụng để tỏ mình ra cho các vị này là việc Người bẻ bánh. Thế nhưng, nếu việc bẻ bánh và lúc bẻ bánh là việc và là lúc tuyệt đỉnh của việc Người tỏ mình ra cho hai vị này, thì trước đó Người đã sửa soạn cho họ từ từ tiến đến điểm tuyệt đỉnh mạc khải này rồi. Ở chỗ, Người đã đến nhập cuộc với họ, đi bên họ một quãng đường, và lợi dụng quãng đường hành trình phiền muộn này để giải tỏa tâm trạng bối rối của họ. Đây là đường lối cố hữu Chúa Giêsu vẫn thường dùng để tỏ mình ra một cách tư riêng với một số người, như với người phụ nữ Samaritanô ngoại lai trong Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay Năm A, hay như với người mù từ lúc mới sinh trong bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay Năm A.

Nếu trong trường hợp của người phụ nữ Samaritanô và người mù từ lúc mới sinh, Chúa Giêsu đã lợi dụng ngay chính hoàn cảnh sống thực tế của họ để gặp gỡ họ thế nào, như việc ra giếng kín nước uống của người phụ nữ Samaritanô, hay như tình trạng bị mù lòa của người mù từ lúc mới sinh, Người cũng đã lợi dụng cuộc hành trình của hai môn đệ đi Emmau để gặp gỡ các vị như thế.

Nếu Chúa Giêsu đã tự động khai mào cho việc Người cố ý muốn gặp gỡ thành phần Người cần phải tỏ mình ra cho, bằng những gì liên quan trực tiếp đến con người của họ, như việc Người xin phụ nữ Samaritanô nước uống, hay như việc Người chữa lành chứng mù lòa cho người mù từ lúc mới sinh, thì Người cũng mở màn cho cuộc gặp gỡ giữa Người và hai vị môn đệ này bằng chính câu hỏi liên quan trực tiếp đến chính tâm trạng phiền sầu bối rối của các vị.

Nếu tác động ngay trước khi tỏ mình ra là ai, nơi trường hợp với phụ nữ Samaritanô, Chúa Giêsu đã chạm đến đời tư tội lỗi của chị phụ nữ này thế nào: "Hãy về gọi chồng chị ra đây", và nơi trường hợp với người mù từ lúc mới sinh, Người đã chạm đến chính tấm lòng rất chân thành của anh ta, bằng câu hỏi "anh có tin Con Người không?", thì nơi trường hợp hai môn đệ về Emmau, Người cũng đã lợi dụng lòng thành của họ mời Người ở lại với họ, và lợi dụng cả hoàn cảnh của một bữa tối để tỏ ra cho họ thấy Người, bằng một dấu hiệu hết sức quen thuộc với các vị, đó là "khi Người ngồi ăn với họ, Người đã cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ". Phải, sở dĩ hai môn đệ này nhận ra Thày mình ngay lúc bấy giờ, như Phúc Âm hôm nay diễn tả: "Thấy thế, mắt họ mở ra và nhận ra Người", là vì chỉ có Thày mới làm như thế, mới làm cử chỉ này mỗi lần ăn uống với các môn đệ của Người mà thôi. Đặc biệt là hai lần Người đã làm cùng một cử chỉ này trước khi hóa bánh ra nhiều để nuôi đám dân chúng chịu khó đi theo nghe Người giảng trong hoang địa (xem Mt 14:19, 15:36). Nhất là lần Người chính thức thiết lập Bí Tích Thánh Thể (xem Mt 26:26).

Đến đây chúng ta có thể đặt vấn đề là tại sao Chúa Giêsu Phục Sinh không tỏ cho hai môn đệ này thấy Dấu Vết Tử Giá của Người, ngay sau khi họ trả lời câu Người hỏi họ lúc Người mới gặp họ, mà lại phải chờ cho tới lúc ngồi ăn với họ và lại phải dùng một dấu hiệu khác như thế? Như trên đã chia sẻ, tỏ mình ra cho thành phần nào, Chúa Giêsu đều lợi dụng hoàn cảnh của họ để làm cho họ dễ nhận ra Người hơn. Vả lại, việc tỏ các Dấu Vết Tử Giá của Người ra là một dấu hiệu hết sức đặc biệt và là một việc làm hết sức trịnh trọng, phải được làm ở một nơi thân tình nhất, trang trọng nhất, như ở Nhà Tiệc Ly, chứ không thể nào lại ở trên đường đi, hay ở trong một quán ăn xa lạ. Do đó, Chúa Giêsu đã giữ lại những Dấu Hiệu Tử Giá tuyệt vời này để giành đến lúc chính thức tỏ mình ra cho chung các vị tông đồ của Người mà thôi, như bài Phúc Âm hôm nay của chu kỳ Năm B cho thấy.

Tuy nhiên, về phương diện tỏ mình ra, phương diện thần hiển (theophany), dấu hiệu nào Chúa dùng cũng đều có giá tri cao trọng, cũng đều đóng một vai trò quan trọng, và cũng đều có ý nghĩa sâu xa của nó. Như khu vực bên đường, nhờ ở chung quanh một bụi gai thần hiển bốc cháy mà không bị thiêu rụi, trong chốc lát đã nghiễm nhiên trở thành một "thánh địa" (Ex 3:5). Và chính bụi gai thần hiển bị bốc cháy mà không bị thiêu rụi có một ý nghĩa mạc khải sâu xa thế nào, thì việc Chúa Giêsu "cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ" trong bài Phúc Âm hôm nay làm nên Dấu Hiệu Phục Sinh của Người cũng có một ý nghĩa đặc biệt như vậy. Ý nghĩa đó là, như Người đã tuyên bố: "Tôi đến cho chiên được sự sống và được một sự sống viên mãn" (Jn 10:10), một sự sống Người sẽ thực sự bắt đầu thông ban cho Giáo Hội của Người, khi Người chính thức hiện ra với chung các tông đồ lần đầu tiên sau cuộc gặp gỡ hai môn đệ đi Emmau này. Đúng thế, vào lần hiện ra thứ nhất với chung các vị tông đồ, như bài Phúc Âm Thánh Luca Năm B hôm nay thuật lại, một bài Phúc Âm cũng được Thánh Gioan trình thuật về lần hiện ra "vào ngày thứ nhất trong tuần", Người đã "thở hơi trên các tông đồ mà phán: 'Các con hãy nhận lấy Thánh Linh'" (Jn 20:22). Như thế, nói chung, bài Phúc Âm theo Thánh Luca cho Chúa Nhật II Mùa Phục Sinh đã đóng vai trò chuyển tiếp, từ chủ đề "Thày là sự sống lại" của ba tuần Phục Sinh đầu, sang chủ đề "Thày là sự sống" của bốn tuần Phục Sinh còn lại vậy.

Vấn đề thực hành sống đạo:

Phụng Vụ Lời Chúa cho chu kỳ Năm A còn một điểm đặc biệt nữa là, bài đọc một tuần trước và tuần này hơi ngược nhau. Trong khi bài đọc một tuần này, Sách Tông Vụ thuật lại việc tông đồ Phêrô cùng với 11 Vị trong Tông Đồ Đoàn bắt đầu Bài Giảng Tiên Khởi, thì bài đọc một tuần trước, Sách Tông Vụ thuật lại sinh hoạt và tình trạng "đồng tâm nhất trí" của Cộng Đồng Giáo Hội tiên khởi ở Giêrusalem, một cộng đồng chỉ được hình thành sau biến cố của Bài Giảng Tiên Khởi. Tại sao có sự ngược đời này? Phải chăng Giáo Hội cố ý sắp xếp như vậy là để nói lên cho thấy hai điều nồng cốt sau đây: Thứ nhất, Giáo Hội tự mình chính là Chứng Từ Thần Linh, và thứ hai, Chứng Từ Thần Linh này phải được bắt nguồn từ Đức Ái Trọn Hảo, từ Hiệp Nhất Yêu Thương, nhờ đó Chứng Từ Giáo Hội mới thực sự là Chứng Từ Thần Linh (xem Jn 13:35), và mới có thể sinh muôn vàn hoa trái (xem Jn 15:4,16).

Bởi thế, theo chiều hướng hiệp nhất truyền giáo này, Công Đồng Chung Vaticanô II (11/10/1962-8/12/1965) mới phát động việc Đại Kết Kitô Giáo, một việc được giáo triều Đức Gioan Phaolô II (22/10/1978-?) hết sức nỗ lực đẩy mạnh, để có thể thực hiện một cách hiệu nghiệm sứ vụ Truyền Bá Phúc Âm Hóa của Giáo Hội trong thế giới tân tiến ngày nay, một Giáo Hội phải là gaudium et spes, cho một thế giới đang quay cuồng trong cơn lốc của "văn hóa tử vong". Nếu Chúa Giêsu Phục Sinh đã mang lại vui mừng và hy vọng cho hai môn đệ chán nản trên đường về Emmau ở bài Phúc Âm Năm A hôm nay thế nào, đã mang lại bình an cho những môn đệ đang lo sợ đóng cửa nhốt mình trong nhà ở bài Phúc Âm Năm B hôm nay ra sao, cũng như đã mang lại thành quả quá lòng mong ước cho 7 tông đồ chuyên nghiệp đánh cá thâu đêm mà chẳng bắt được gì trên biển hồ Tibêria ở bài Phúc Âm Năm C hôm nay thế nào, thì Kitô hữu chúng ta cũng phải "là muối đất, là ánh sáng thế gian" (Mt 5:13,14) như vậy. Bởi vì, chúng ta đã lãnh nhận Phép Rửa và đã trở thành một "tạo vật mới" (2Cor 5:17; Gal 6:15). Nhất là vì trong cuộc đời làm môn đệ theo Chúa Kitô, có những lúc Người đã âm thầm tỏ mình ra cho chúng ta trong tăm tối và tư riêng (xem Mt 10:27), khiến cho "lòng chúng ta cảm thấy bừng nóng lên" như hai môn đệ về làng Emmau trong bài Phúc Âm hôm nay, những người môn đệ đã chạy về mang "vui mừng và hy vọng" đến cho nhóm của mình.


 

PS3-A3: ĐAU KHỔ VÀ VINH QUANG

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy : hy sinh và đau khổ đã trở thành điều kiện cần thiết để thanh: PS3-A3

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy : hy sinh và đau khổ đã trở thành điều kiện cần thiết để thanh công trên bất cứ phương diện nào.
Trước hết là phương diện tự nhiên.
Một cậu học trò muốn đỗ đạt, thì phải hy sinh những ngày giờ trong chơi, phải thức khuya dậy sớm, miệt mài với sách vở. Một bác nông phu, muốn cho ruộng đồng được tốt tươi, bảo đảm một vụ mùa bội thu, đem lại chén cơm manh áo cho gia đình, thì phải cầy sâu quốc bẫm, đổ mồ hôi trên thửa đất của mình. Một người lính muốn bảo vệ quê hương đất nước thì phải dầm mưa dãi nắng, nằm gai nếm mật, vật lộn  nơi tiền tuyến, thường xuyên đối đầu với cái chết. Nếu ai cũng chỉ muốn làm lính ma lính kiêng, thì chắc chắn đất nước này sẽ không chịu đựng nổi sức tấn công của kẻ thù. Một anh lái buôn, muốn chóng giàu thì phải bôn tẩu ngược xuôi, mánh mung chỗ này chỗ khác, chấp nhận mọi gian khổ miễn sao những chuyến hàng đi về được trót lọt.
Từ những sử kiện cụ thể kể trên, chúng ta nhới tới lời tục ngữ đã  bảo :
- Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
  Sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày
Muốn thành công trên đường đời, thì phải sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, mọi gian khổ. Sự thành công là như một bông hồng…Bông hồng nào mà chẳng có gai, thành công nào mà chẳng có những hy sinh gian khổ của nó. Thế nhưng bên trên những gai nhọn, chúng ta sẽ ngắt được bông hồng, và bên trên những hy sinh gian khổ, chúng ta sẽ thu lươm được những thành công sáng chói như lời Chúa Giêsu đã nói :
- Hạt lúa gieo xuống đất, cần phải mục nát thì mới sinh nhiều bông hạt.
Tiếp đến là phương diện siêu nhiên.
Đức Kitô đã đi vào con đường thập giá để tiến tới vinh quang. Ngài đã đổ ra những giọt máu cuối cùng để cứu chuộc chúng ta, thì bây giờ đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải đổ máu, cũng phải vác thập giá, để cộng tác với Ngài và góp phần nhỏ bé của chúng ta vào công cuộc cứu độ.
Đối với bản thân, ai trong chúng ta cũng có những sai lỗi khuyết điểm như người xưa đa bảo :
- Nhân vô thập toàn.
Và kinh nghiệm cho thấy : uốn nắn sửa đổi lại những sai lỗi khuyết điểm này không phải là chuyện dễ, như Napoléon đã bảo :
- Chiến thắng được cả châu Âu còn dễ hơn chiến thắng chính bản thân mình.
Những giọt máu chúng ta đổ ra là những hy sinh, là những cố gắng không ngừng để uốn nắn sửa đổi, nhờ đó mà thăng tiến bản thân, mỗi người một trở nên tốt lành thánh thiện hơn.
Còn đối với người khác, thì như chúng ta đã thấy, bá nhân bá tánh, mỗi người đều có một tính tình riêng. Vì thế đã sống chung với nhau, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội buồn phiền.
Tôi xin đưa ra một vài thí dụ. Chẳng hạn thập giá của bà vợ có thể là chính ông chồng rượu chè cờ bạc, lại độc tài và tàn nhẫn. Còn thập giá của ông chồng rất có thể lại là chính bà vợ nhẹ dạ, bép xép hay đay nghiến và tiêu xì quá lố.
Thập giá của chúng ta còn là những nhục nhã, những khổ đau, những thất bại, những tai ương hoạn nạn, nói tóm lại tất cả những nỗi bất hạnh chúng ta gặp phải, sẽ kết thành cây thập giá cuộc đời mà mỗi người chúng ta cần phải vác lấy trên con đường bước theo Chúa.
Nếu Chúa Giêsu đã đi con đường thập giá, thì chúng ta, những người môn đệ của Ngài, cũng sẽ chẳng có một con đường nào khác để tiến tới vinh quang ngoài con đường thập giá…Như lời Ngài đã phán :
- Ai muốn theo ta phải từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà theo ta.
Bởi vì,  không đổ máu thì chẳng có ơn cứu độ, và không vác thập giá thì chẳng được vào chốn vinh quang.

 

PS3-A4: CS/62- HY VỌNG

Một người đang lâm cơn cùng quẫn đã thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa, trong lúc đời con đau: PS3-A4

Một người đang lâm cơn cùng quẫn đã thưa với Chúa rằng :
- Lạy Chúa, trong lúc đời con đau khổ thì Chúa ở đâu? Sao Chúa bỏ mặc con phải chiến đấu cực khổ một mình?
Để trả lời câu hỏi của người ấy, trong một giấc mơ, Chúa cho anh thấy một con đường dài. Trên con đường ấy có những đoạn đường có bốn dấu chân, có đoạn đường chỉ có hai dấu. Anh nhận ra con đường chính là cuộc đời đã qua của mình. Và những đoạn đường có bốn dấu chân là những lúc anh gặp may mắn hạnh phúc. Còn những đoạn đường có hai dấu chân là những lúc đau thương liên tiếp đổ xuống đời anh. Anh thưa với Chúa :
- Chúa thấy không? Khi đời con vui sướng thì Chúa đi cùng với con. Khi con khổ cực thì Chúa lại bỏ con.
Chúa trả lời cho anh :
- Con hãy đặt bàn chân con vào những dấu chân trên những đoạn đường đau khổ xem đó có phải là dấu chân của con không?
Anh đặt bàn chân của anh vào và thấy dấu chân trên đường lớn hơn bàn chân của anh. Anh thưa với Chúa :
- Dấu chân này không phải của con. Vậy nó là của ai?
- Dấu chân ấy là của Ta.
Anh thắc mắc :
- Thế thì lúc đó con đang ở đâu?
- Lúc đó con đang ở trên vai Ta. Chính trong những lúc đời con đau khổ thì Ta đã vác con trên vai mà đi.
Có thể gọi đoạn đường từ Giêrusalem tới Emmaus là con đường của hoang mang, của sợ hãi, của tuyệt vọng cực độ. Cái chết đau thương của Chúa Giêsu đã để lại một nỗi chán chường và tuyệt vọng cho những kẻ theo Người. Trong nỗi niềm tuyệt vọng ấy, hai môn đệ của Chúa Giêsu đã từ giã Giêrusalem và thất thểu trở về quê hương. Nhưng chính trong cơn tuyệt vọng ấy, Chúa Giêsu đã có mặt và cùng đi với họ. Người lắng nghe tâm sự của họ, kể cả những lời trách cứ Người. Sau đó, Người đã ôn tồn giải thích những điều làm họ phải băn khoăn. Người dẹp tan mọi nỗi lo sợ đang chế ngự họ. Người thắp lên trong lòng họ ngọn lửa hy vọng. Cuối cùng, họ đã được giải tỏa tâm tư, đã tìm gặp lại niềm hy vọng. Họ trở lại Giêrusalem và dấn thân cho công cuộc loan báo Tin mừng Phục sinh.
Dù hôm nay Đức Kitô không còn hiện diện bằng xương bằng thịt để chúng ta thấy, nhưng Người vẫn hiện diện bên ta và cùng đồng hành với ta trên mọi nẻo đường cuộc đời. Và chính trong những lúc cùng khốn bi thương nhất lại là lúc Người gần gũi ta hơn hết. Người an ủi ta, nâng đỡ ta, khích lệ ta. Người vác ta lên vai mà đi. Có bao giờ chúng ta đã cảm nhận được sự hiện diện đầy tình yêu thương của Người trong đời, nhất là trong những lúc đắng cay, khổ cực hay chưa? Có bao giờ chúng ta đã lắng nghe lời Người và thấy lòng mình bừng cháy lên như hai môn đệ đi về Emmaus không?

 

PS3-A5: STM/104- EMMAUS

Qua các báo chí, đài truyền thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông khác, có lẽ:PS3-A5

Qua các báo chí, đài truyền thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông khác, có lẽ ngày nào chúng ta cũng thấy tận mắt hình ảnh vô cùng thảm thương của những người tị nạn Kosovo, đã có trên nửa triệu người gốc Anbani bị bắt buộc phải rời bỏ quê hương mang theo không biết bao nhiêu câu chuyện, hay những hành động ngược đãi, hãm hiếp, tàn sát dã man mà Tổng thống của Nam Tư đã trút xuống trên họ. Những hành động tội ác xuất phát từ chủ trương thanh lọc chủng tộc này không thể không gợi lại cho chúng ta các trại tập trung, những lò hơi ngạt mà Hitle đã từng dựng nên để sát tế trên sáu triệu người Do thái. Chúng ta cũng không thể quên được các quần đảo Gulắc của Stalin tại Liên Xô, những nhà tù của Mao Trạch Đông tại Trung Quốc, những cánh đồng giết người của Pônpốt tại Campuchia. Dĩ nhiên, làm sao chúng ta không liên tưởng đến không biết bao nhiêu người vì chủng tộc, vì niềm tin tôn giáo, vì lương tâm, vì quan điểm chính trị mà đã phải bị kỳ thị, bị ngược đãi, bị bách hại trong các chế độ độc tài xây dựng trên các ý thức hệ độc đoán.
Ở vào thời điểm của xu thế toàn cầu hóa ngày càng mở rộng để tạo ra về các giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, tôn giáo thì chủ trương loại trừ, bách hại và tiêu diệt người khác chỉ vì chủng tộc, chỉ vì niềm tin tôn giáo, vì quan điểm chính trị, quả là một cuộc hành động lạc hậu dã man. Thế giới đã nhìn về tội ác của Hitle, Stalin, Mao Trạch Đông, Pôn-Pốt như những cơn ác mộng nhất của lịch sử nhân loại và sẽ mãi mãi lên án bất cứ chủ nghĩa nào tước đi quyền cơ bản của con người. Giờ đây nhân loại càng ý thức rằng, gặp gỡ, chia sẻ, tôn trọng những khác biệt mà điều kiện tối cần cho sự sống còn là nền hòa bình đích thực của thế giới.
Riêng các tín hữu Kitô chúng ta, ánh sáng đức tin soi dẫn chúng ta biết rằng, nền tảng những sự tôn trọng, những khác biệt nơi người khác là phẩm giá con người. Chúng ta tin rằng, một con người sinh ra trên cõi đời này đều mang lấy hình ảnh Thiên Chúa. Trong ánh sáng của việc cử hành mầu nhiệm Phục sinh, các tín hữu Kitô chúng ta còn biết rằng, con người có một phẩm giá cao trọng là bởi vì chính Chúa Kitô Phục sinh đã tự đồng hóa với mỗi người, nhất là những người nghèo hèn nhất trong xã hội. Từ nay trong ánh sáng Phục sinh, chúng ta biết rằng, con người là con đường gặp gỡ ưu việt với Chúa Kitô Phục sinh. Đây là chân lý Giáo Hội muốn nhắc nhở với chúng ta trong Tin mừng chúng ta lắng nghe trong ngày Chúa nhật hôm nay.
Chúa Giêsu đã đến với hai môn đệ đi về làng Emmaus như người khách đồng hành, đồng hành nhưng xa lạ, đây chính là cách thế hiện diện của Chúa Kitô Phục sinh trong cuộc sống của chúng ta, Ngài đến với chúng ta như một người đồng hành, Ngài luôn đi bên cạnh chúng ta, thế nhưng người đi bên cạnh ấy lại là một người xa lạ, rõ ràng là Chúa Giêsu muốn mời gọi chúng ta nhận diện Ngài trong tất cả mọi người và từng người chúng ta gặp gỡ mỗi ngày. Có biết bao nhiêu người sống bên cạnh chúng ta mà vẫn là người xa lạ hay vô danh, có biết bao nhiêu người đồng hành với chúng ta mà vẫn như vô hình vì sự dửng dưng của chúng ta, nhất là có biết bao nhiêu người đau khổ bên cạnh chúng ta mà trái tim của chúng ta vẫn khô cứng chai lì.
Hai người môn đệ không nhận ra Chúa Kitô Phục sinh khi Ngài đồng hành với họ và chuyện vãn với họ, thế nhưng khi Chúa Giêsu ngồi vào bàn ăn, lấy bánh bẻ ra trao cho hai ông thì mắt của hai ông bỗng mở ra để nhận biết Ngài. Bẻ bánh trao ban vốn là cử chỉ đặc thù và cá biệt trong dung mạo của Chúa Giêsu, cử chỉ ấy thể hiện nhân cách và sứ mệnh của Ngài, Ngài chính là tấm bánh được bẻ ra để chia sẻ cho tất cả mọi người. Hai người môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu và tâm hồn của họ tràn ngập niềm vui.
Khi thông hiệp vào sự trao ban ấy của Chúa Giêsu, cử chỉ bẻ bánh trao ban của Chúa Giêsu đã trở thành trọng tâm của đời sống Giáo Hội. Giáo Hội được qui tụ để không ngừng lập lại cử chỉ ấy của Chúa Giêsu, đồng thời cũng được mời gọi để trở thành tấm bánh được bẻ ra trao ban cho tất cả mọi người. Thế nhưng cử chỉ ấy của Chúa Giêsu chỉ có ý nghĩa và trở thành hiện thực qua chính sự bẻ bánh và trao ban của các tín hữu Kitô chúng ta mà thôi. Sự bẻ bánh hay thánh lễ mà Giáo Hội cử hành mỗi ngày sẽ trống rỗng và vô nghĩa nếu không được thực hiện bằng cuộc sống bẻ ra và trao ban của chính các tín hữu Kitô chúng ta.
Có được bẻ ra, có được vỡ ra, chúng ta mới có thể ra khỏi vỏ ốc ích kỷ, hận thù, dửng dưng của chúng ta. Có được bẻ ra mới mở ra để nhận diện được ngày đang đến trong mỗi một người anh chị em chúng ta.
Cũng chính lúc đó cùng với cử chỉ trao ban ấy, sự hiện diện của Đấng Phục sinh mà chúng ta nhận ra nơi tha nhân để mang lại cho chúng ta niềm vui đích thực.
Nguyện cho niềm vui đích thực của trao ban ấy làm tràn ngập tâm hồn chúng ta.

 

PS3-A6: CSTM/107- DỪNG CHÂN

Hôm nay chúng ta chú ý tới một sự kiện trong đoạn Tin mừng, đó là Chúa Giêsu Phục sinh đã: PS3-A6

Hôm nay chúng ta chú ý tới một sự kiện trong đoạn Tin mừng, đó là Chúa Giêsu Phục sinh đã dừng chân ở lại quán trọ làng  Emmau với hai môn đệ khi họ ngỏ ý mời Ngài.
Quả thực, đây không phải là lần đầu Chúa Giêsu dừng lại. Ngài luôn luôn dừng lại khi được yêu cầu và sẵn sàng ở lại với những ai cần đến Ngài. Các sách Tin mừng đã ghi lại cho chúng ta biết : Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Chúa Giêsu luôn luôn dừng chân và ở lại với tất cả những ai cần đến Ngài, chẳng hạn : Ngài đã dừng chân và ở lại với người phụ nữ mắc bệnh băng huyết mười hai năm, đang theo Ngài trong đám đông. Ngài đã dừng chân lại nhà ông Giakêu trong khi ông chỉ mong muốn được nhìn thấy Ngài thôi cũng đủ mãn nguyện rồi. Ngài đã dừng chân lại với các trẻ em khi chúng đến với Ngài, mặc dù các môn đệ xua đuổi chúng. Ngài đã dừng chân và ngồi ăn uống với những người tội lỗi và thu thuế. Trên đường đi Giêrusalem nhận cái chết, Ngài cũng đã dừng chân để cứu giúp một người hành khất ngồi bên lề đường. Cuối cùng, trên thập giá, trong lúc hấp hối, Ngài còn dừng lại với một tử tội cũng đang hấp hối bên Ngài để ban ơn tha thứ và hứa cho anh được ở với Ngài trong nước trời… Tóm lại, Chúa luôn luôn ở lại với những ai cần đến Ngài. Chúa luôn luôn quan tâm và thương xót tất cả mọi người.
Tuy nhiên, những chuyện xảy ra trong khi Chúa Giêsu còn sống ở trần gian, thì cũng xảy ra như vậy sau khi Ngài đã sống lại, cho đến chúng ta hôm nay. Trong đời sống của chúng ta, đã biết bao lần chúng ta cảm thấy bản thân mình chẵng được ai để ý tới và cũng chẳng ai thèm nghe mình khiến chúng ta cô đơn lại càng cô đơn hơn, đã buồn chán lại càng buồn chán hơn. Nhưng có một điều chắc chắn là không có gì có thể ngăn cản được Chúa đến với chúng ta, và cũng chẳng có gì làm cho Ngài phải từ chối để rời xa chúng ta. Ngài sẽ ở lại với chúng ta như Ngài đã ở lại với hai môn đệ trên đường Emmau, nếu chúng ta biết đến với Ngài và nhìn lên Ngài.
Nói rõ hơn, tâm sự chán nản và sầu buồn của hai môn đệ ấy cũng là tâm sự sầu buồn, chán nản mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống. Bởi vì nỗi buồn cuộc đời nào ai thiếu : chúng ta buồn vì mục đích đời mình không đạt hay chưa đạt được như ý. Chúng ta buồn vì không ai hiểu tâm tư của mình, chúng ta buồn vì người khác nghi ngờ, ghen ghét, chơi xấu mình, chúng ta buồn vì không ai nâng đỡ mình, không ai về phe với mình để một mình cô đơn… Đó là chưa kể những chuyện không may, thất bại, thua lỗ, bất hòa, đắng cay… có khi lẻ tẻ, có khi dồn dập xảy đến trong gia đình hay bản thân chúng ta… vào những giờ phút đó, chúng ta rất dễ bị cám dỗ nghi ngờ về sự có mặt của Chúa và nghi ngờ về tình thương của Ngài.
Có lẽ chúng ta cho rằng Chúa biết thì biết vậy thôi, chứ bóng dáng Ngài chả thấy đâu cả, có thấy Ngài giúp đỡ được gì đâu… nhưng suy nghĩ và lý luận như thế là chúng ta đã mắc phải cái lỗi lầm thiếu lòng tin của hai môn đệ Emmau mất rồi. Đáng lẽ những lúc như thế, chúng ta phải vận dụng đức tin để đổi buồn thành vui, thì chúng ta đã không làm mà lại để tình cảm lấn át. Ai phản ứng theo tình cảm thì sẽ bị tình cảm chi phối, che khuất, quật đổ, vùi dập. Chúng ta hãy nhớ rằng : Chúa đến với hai môn đệ kia cách rất bình thường và nhẹ nhàng như một người bạn đường tự nhiên, thì Chúa cũng sẽ đến an ủi và ở bên chúng ta cách nhẹ nhàng như thế. Có thể là một lời Kinh thánh, một lời giáo huấn giảng dạy ở nhà thờ, một lời khuyên răn của cha mẹ, một lời an ủi, động viên của bè bạn, hay cũng có thể là một sự bình an êm dịu nào đó Chúa ban trong tâm hồn… chỉ cần chúng ta mở rộng tâm hồn sẵn sàng đón nhận… Cho nên, chúng ta cần phải bình tĩnh và tỉnh thức để nhận diện ra Chúa, và đừng bao giờ vì một nỗi buồn thường tình nào đó mà quên Chúa, bỏ Chúa hay xa cách Chúa. Trái lại, càng buồn càng cầu xin Chúa, càng buồn càng neo chặt lòng tin vào Chúa hơn.

 

PS3-A7: SCĐ/183- HIỆN DIỆN MỚI

Cách viết của Luca chứa đựng một ngụ ý thần học sâu sắc : Khi hai môn đệ đang đi trên đường: PS3-A7

Cách viết của Luca chứa đựng một ngụ ý thần học sâu sắc : Khi hai môn đệ đang đi trên đường, mặc dù Đức Giêsu đang ở bên cạnh họ nhưng họ không nhận ra “Vì mắt họ còn bị ngăn cản”. Đến khi Đức Giêsu bẻ bánh thì “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài”. “Nhưng Ngài lại biến mất”.
Ngụ ý thần học của cách viết này là : Đức Giêsu Phục sinh vẫn hiện diện ngay bên cạnh ta, nhưng theo một cách mới. Chúng ta không thể nhận ra cách hiện diện mới ấy vì cặp mắt thể xác của ta như “bị ngăn cản” bởi một bức màn. Chỉ khi nào Ngài muốn và cho những ai Ngài muốn thì Ngài mới cất bức màn ấy đi và khi đó mắt chúng ta mới “mở ra” và thấy được Ngài.
Vì thế, một mặt chúng ta hãy vững tin rằng Đức Giêsu Phục sinh lúc nào cũng ở sát bên cạnh chúng ta; mặt khác hãy sử dụng những phương tiện mà Ngài đã để lại hầu có thể nhận ra Ngài, đó là Lời Chúa và thánh lễ.
Trong các tác phẩm của danh họa Rembrandt, có một bức rất ấn tượng vẽ cảnh Đức Giêsu đang ngồi cùng bàn với hai môn đệ Emmau. Điều gây ấn tượng là vẻ mặt sung sướng vô ngần của hai môn đệ lúc họ nhận ra Chúa. Bức họa nổi tiếng này được đặt trong một nhà bảo tàng, và có một chuyên viên phụ trách giải thích ý nghĩa của nó cho các khách tham quan.
Lần kia một cặp vợ chồng vừa có đứa con duy nhất bị chết vì tai nạn. Họ buồn quá không biết làm gì nên cùng nhau đến nhà bảo tàng ấy để giải khuây. Họ cũng được người hướng dẫn ấy dẫn đến bức họa này. Ban đầu, hai vợ chồng chẳng buồn để ý tới những lời giải thích. Nhưng dần dần họ bị cuốn hút vào. Và cuối cùng, khi người hướng dẫn dứt lời thì họ tâm sự với người hướng dẫn :”Chúng tôi đã nghe nói về bức họa này nhiều lần, nhưng chưa lần nào chúng tôi được nghe người nào trình bày một cách hấp dẫn như ông. Chúng tôi thực sự xúc động”.
Người hướng dẫn đáp :”Thực ra, không phải lần nào tôi cũng trình bày một cách xác tín như vậy đâu. Có lần tôi đã nói một cách rất hời hợt qua loa.” Rồi ông ta kể :”Ba năm trước, vợ tôi bị ung thư, sức khỏe cạn kiệt dần, rồi nàng chết một cách hết sức đau đớn. Tôi không thể nào chấp nhận nổi cái chết này, vì nàng là một người rất tốt, không đáng bị chết như thế. Tôi tưởng như cả thế giới sụp đổ. Tim tôi như vỡ tan. Nhưng vì bổn phận, tôi vẫn phải đến làm việc ở nhà bảo tàng này. Tôi giải thích ý nghĩa các bức họa một cách hết sức máy móc, vô hồn. Thế rồi một hôm, tôi chợt hiểu ra rằng bức họa này không chỉ liên can đến hai người môn đệ tuyệt vọng này, mà cả đến tôi nữa. Cũng như hai ông ấy, tôi đã tuyệt vọng và trở thành một người lữ hành cô đơn. Dù tôi là một người tín hữu, nhưng đối với tôi Đức Giêsu chỉ là một nhân vật mờ mịt trong những trang sách Tin mừng. Tuy nhiên hôm đó tôi cảm thấy Ngài đang hiện diện thực sự bên cạnh tôi, Ngài ở bên tôi như một người bạn hiểu rất rõ mọi nỗi khổ đau của loài người. Từ lúc đó”mắt tôi mở ra, lòng tôi cháy bừng lên” như hai môn đệ ấy. Tôi đã tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình. Bởi vậy từ đó trở đi, mỗi khi tôi kể câu chuyện Emmau là tôi kể về chính cảm nghiệm của mình”.
Cặp vợ chồng không cầm được nước mắt :”Chúng tôi cũng thế. Chúng tôi đã “mở mắt ra và thấy lòng mình cháy bừng lên”. Hôm nay chúng tôi cũng tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình, vì biết rằng Đức Giêsu Phục sinh đang thực sự ở bên cạnh chúng tôi”.

 

PS3-A8: PV/ 204- CHIA SẺ

Người ta nói rằng chúng ta có thể chịu đựng được tất cả mọi phiền muộn, nếu nói ra điều đó: PS3-A8

Người ta nói rằng chúng ta có thể chịu đựng được tất cả mọi phiền muộn, nếu nói ra điều đó. Thật vậy, hai môn đệ trên đường Emmau có một câu chuyện rất buồn phiền để nói với nhau. Cái chết của Đức Giêsu đã nhận chìm họ trong cảnh u ám. Những giấc mơ của họ về Người, như là một Đấng Mêsia mà mọi người đã mong đợi từ lâu, nay đổ vỡ tan tành. Họ vừa đi vừa nói với nhau về cái chết của Đức Giêsu. Họ nhìn vào cái chết của Người dưới từng góc cạnh có thể được, mà vẫn không thể hiểu được, dù chỉ là một ý nghĩa nhỏ bé nhất về cái chết đó. Một Đấng Mêsia bị xỉ nhục, chịu đóng đinh! Đó là một điều không thể được, thật không thể hiểu nổi.
Thế rồi Đức Giêsu đã cùng đi với họ. Người tỏ ra một sự nhạy cảm lớn lao, bằng cách cùng đi với họ như một kẻ xa lạ. Người ta càng cảm thấy dễ dàng hơn khi nói chuyện với một kẻ xa lạ. Với một câu hỏi đơn giản, trực tiếp, được hỏi bằng một cách thức tế nhị. Người đã giúp họ cởi mở tâm hồn. Và họ đã bắt đầu bộc lộ cho Người nghe về câu chuyện đáng buồn của mình. Khi họ bắt đầu nói, Người lắng nghe một cách kiên nhẫn và đầy yêu thương, sao cho tất cả những uẩn khúc mà họ vẫn kiềm chế trong tâm hồn, nay đều được trút ra hết.
Điều mà Đức Giêsu làm, đó là cùng đồng hành với họ. Ở bất cứ lứa tuổi nào, chúng ta đều cần có người nào đó cùng đi với chúng ta. Cùng đồng hành là một điều để lại một cảm giác rất dễ chịu. Dần dần, sự hiệp thông, niềm tin tưởng lẫn nhau, và lòng ao ước về sự thật được gia tăng theo thời gian. Đôi khi, con người không muốn lắng nghe sự thật, hoặc nhìn vào thực tại. Chúng ta phải chờ đợi đến thời điểm thích hợp, để giúp người khác biết chấp nhận sự thật về con người của họ.
Chỉ đến khi hai người môn đệ đó nói xong, Đức Giêsu mới bắt đầu nói. Người tiếp tục câu chuyện mà họ đang bỏ dở. Người khai mở tâm trí họ, để họ biết nhìn vào Kinh thánh bằng một cái nhìn mới. Người hướng dẫn họ về việc các ngôn sứ đã loan báo trước rằng Đấng Mêsia sẽ chịu đau khổ và chịu chết, và do đó, Người được đi vào vinh quang ra sao. Như vậy, cái chết của Đức Giêsu không còn là sự chấm dứt giấc mơ, mà chính xác là để làm trọn lời Kinh thánh.
Tuy nhiên, cho đến khi mọi sự kết thúc, thì hai môn đệ này mới hiểu được điều gì đã xảy ra cho họ trong suốt cuộc hành trình này. Nhưng phải chăng đó là cách luôn luôn xảy ra trong cuộc sống thực tế? Chúng ta sống cuộc sống của mình trước, nhưng sau đó, mới hiểu được về cuộc sống đó. Không bao giờ chúng ta nhận biết được điều gì đang xảy ra cho mình. Chúng ta không hề có viễn ảnh, không hề có sự hiểu biết. Chúng ta chỉ biết đương đầu với cuộc sống từ ngày này sang ngày kia, từ giờ này sang giờ khác. Chỉ sau đó một thời gian, có lẽ rất lâu sau đó, con mắt của chúng ta mới mở ra, và chúng ta mới bắt đầu thấu hiểu được sự kiện đó. Do đó, điều quan trọng là chúng ta phải ngẫm nghĩ về những điều đã trải qua.
Cuối cùng, đối với một sự kiện đáng buồn, thậm chí chúng ta lại được an ủi, bởi vì chúng ta được trở nên tốt đẹp hơn, do đã trải qua sự kiện này. Vì vậy, chúng ta bắt đầu hiểu được thông điệp của cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu- nghĩa là Người đã đạt được vinh quang, thông qua nỗi đau khổ.
Chúng ta không mong đợi tìm thấy Thiên Chúa trong nỗi đau khổ, nhưng chúng ta mong đợi được thấy Người trong niềm vui. Đây là một phát hiện vĩ đại, mà hai môn đệ trên đả có được trong cuộc hành trình đi đến Emmau. Phát hiện này đã đem đến cho hai ông ý nghĩa của sự đau khổ. Ý nghĩa về sự đau khổ không hề làm tan biến nó, nhưng làm thay đổi thái độ của chúng ta đối với nỗi đau khổ đó.
Và điều này đem lại cho hai môn đệ khả năng xoay chuyển được cuộc sống của mình. Họ đã rời bỏ Giêrusalem. Họ đã bị mất đức tin. Nhưng sau khi được gặp gỡ Đức Giêsu, họ liền lên đường quay trở lại Giêrusalem. Họ tụ tập các bạn cùng là môn đệ với họ, và những quan hệ của họ với cộng đồng. Cuộc gặp gỡ này không có nghĩa là tạo thuận lợi cho họ lẩn tránh trách nhiệm, mà khích lệ họ đảm nhận trách nhiệm này.
Có thể coi như cuộc sống của mỗi chúng ta là một loạt những tình tiết, được kết hợp lại với nhau theo thời gian, để tạo thành một tiểu sử. Tuy nhiên, điều đáng buồn là tất cả mọi tiểu sử của chúng ta đều kết thúc sau cái chết. Chúng ta không ưa thích những tiểu sử kết thúc kiểu đó. Chúng ta mong muốn rằng tiểu sử của mình được kết thúc một cách có hậu.
Đức Giêsu đã giúp cho hai môn đệ biết chia sẻ câu chuyện của họ, sao cho nó hòa lẫn với của Người. Người lôi kéo câu chuyện đó ra khỏi họ, và rồi soi sáng nó bằng chính câu chuyện của bản thân Người. Sự sống lại của Đức Giêsu mở ra một triển vọng cho tất cả mọi tiểu sử cuộc đời chúng ta, để chúng ta không chỉ có một kết thúc tốt đẹp, mà còn là một kết thúc vinh quang nữa. Những lời đầu tiên và kết thúc cho những tiểu sử cuộc đời của chúng ta tùy thuộc vào Thiên Chúa.

 

PS3-A9: PV /207- NỒNG CHÁY

Có một câu chuyện nhỏ về một nhà sư Phật giáo khi sắp chết, đã yêu cầu một vị linh mục Công: PS3-A9

Có một câu chuyện nhỏ về một nhà sư Phật giáo khi sắp chết, đã yêu cầu một vị linh mục Công giáo hướng dẫn ông về những chân lý đức tin. Vị linh mục này làm hết sức mình để thỏa mãn những mong ước đó của nhà sư.
Sau đó, nhà sư này cám ơn vị linh mục, nhưng ông còn nói thêm “Ông đã đem đến cho tâm trí tôi đầy những tư tưởng hay đẹp, nhưng ông vẫn để cho tâm hồn tôi còn trống rỗng” – Như vậy, tâm hồn nhà sư này vẫn còn trống rỗng – trống rỗng cái gì thế? Ông thực sự mong muốn điều gì? Tôi đặt giả thiết là ông bị trống rỗng niềm an ủi và sự an tâm. Nói tóm lại, ông bị trống rỗng tình yêu. Những tư tưởng đẹp có thể nuôi dưỡng tâm trí. Nhưng chúng không thể nuôi dưỡng tâm hồn. Chỉ có cảm nghiệm về tình yêu mới nuôi dưỡng được tâm hồn.
Câu chuyện về cuộc hành trình của hai môn đệ đi Emmau chủ yếu là một câu chuyện về tâm hồn. Trong khi hai môn đệ này lên đường trở về nhà, họ nói chuyện về Đức Giêsu. Tương tự như chúng ta không thể ngưng nói về một người mà chúng ta yêu dấu đã qua đời, cũng vậy, hai môn đệ này không thể không nói về Đức Giêsu. Người đã đem đến ý nghĩa, hy vọng và niềm vui cho cuộc sống của họ. Và bây giờ, Người đã chết, họ đã bị ám ảnh vì sự vắng mặt của Người.
Khi còn đang trên đường đi, tâm hồn họ lạnh lẽo và trống trải, nặng trĩu ưu phiền, bị thương tích vì nỗi thất vọng, và tê liệt do nỗi đau khổ. Họ tin tưởng chắc chắn rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia. Nhưng cái chết của Người, và đặc biệt là cách thức Người chết, đã làm cho niềm hy vọng nơi họ bị tan tành. Một Đấng Mêsia bị sỉ nhục, chịu đóng đinh! Đó là một điều không thể được, thật không thể hiểu nổi.
Nhưng Đức Giêsu đã cùng đi với họ, và Người mở tâm trí họ đến với ý tưởng về một Đấng Mêsia chịu đau khổ. Nhờ những lời của Đức Giêsu, ánh sáng và hơi ấm bắt đầu thấm nhập vào tinh thần tăm tối và lạnh lẽo của họ. Đến bữa ăn tối, ngay khi Người tự mặc khải chính Người, họ đã được biến đổi, và biến đổi quá nhiều, đến nỗi họ quay trở lại Giêrusalem ngay tức khắc. Ngay cả mặc dù bóng đêm tối tăm, nhưng trái tim của họ vẫn bừng sáng. Ngay cả cho dù đôi chân của họ còn nặng nề, nhưng trái tim của họ vẫn nhẹ nhỏm.
Điều gì xảy ra với họ? Đức Giêsu làm gì cho họ? Chắc chắn Người đã soi sáng tâm trí họ – không còn thắc mắc gì về điều đó nữa. Nhưng Người còn làm một điều gì đó tốt đẹp hơn nữa. Người nhóm lửa trong tâm hồn họ. “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, phải chăng tâm hồn của chúng ta không bừng cháy lên sao?”.
Đức tin liên quan đến trí tuệ, đến nỗi tác động đến các chân lý, giáo điều, học thuyết, lòng tin, giáo lý. Nhưng đức tin thậm chí còn liên quan nhiều hơn đến tâm hồn. Đức tin cốt yếu hệ tại ở tương quan tình yêu với Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước. Nếu không có tình yêu, thì đức tin giống như một lò sưởi không có lửa.
“Chúng ta sẽ không bao giờ biết tin tưởng bằng một đức tin mạnh mẽ và không hề đặt vấn đề, trừ phi Thiên Chúa tác động vào trái tim của chúng ta . Tiếng gọi của Thiên Chúa xuất phát từ chính tâm hồn con người”.
Điều chính yếu đã đến với hai môn đệ trên đường Emmau là gì? Đó là niềm tin rằng Đức Giêsu yêu thương họ. Chính niềm tin này làm cho tâm hồn họ bùng cháy lên. Câu chuyện trên chứng tỏ lòng từ ái của Thiên Chúa Đấng làm cho những ước mơ sâu thẳm nhất nơi chúng ta trở thành hiện thực, bằng một cách thức đáng kinh ngạc nhất. Và câu chuyện trên cũng cho chúng ta biết tất cả sứ vụ của Đức Giêsu Người luôn song hành với con người, hiện diện bên cạnh họ, và lắng nghe họ – đây chính là những “công trình tốt đẹp” chủ yếu của thời đại ngày nay.

 

PS3-A10: PV/210- NGƯỜI KỂ CHUYỆN

Có một bức họa của Rembrandt, một họa sĩ người Hòa Lan, vẽ lại cảnh Đức Giêsu đang ngồi: PS3-A10 o FB

Có một bức họa của Rembrandt, một họa sĩ người Hòa Lan, vẽ lại cảnh Đức Giêsu đang ngồi tại bàn, giữa hai môn đệ. Bức tranh diễn tả lại niềm sung sướng vô ngần trên nét mặt của các môn đệ, ngay lúc họ nhận ra Đức Giêsu.
Để hướng dẫn cho một số khách tham quan viện bảo tàng, trong đó có trưng bày bức tranh này, hướng dẫn viên bắt đầu bằng cách nói với họ một câu chuyện phía sau bức tranh, đó là câu chuyện mà chúng ta vừa mới được đọc trong Bài Tin mừng trên đây.
Trong nhóm khách tham quan, có một cặp vợ chồng là ông bà Browne, mà đứa con trai duy nhất của họ vừa mới bị chết trong một tai nạn xe cộ. Họ vẫn còn ở trong trạng thái bị sốc, và ngày hôm đó, họ đã đến viện bảo tàng, với hy vọng là tâm trí của họ sẽ được tạm thời thoát khỏi trạng thái ưu phiền.
Khi hướng dẫn viên bắt đầu thuyết minh, hai ông bà Browne chỉ nghe nửa vời. Tuy nhiên, với cách thức trình bày lôi cuốn, sau khi hướng dẫn viên này thuyết minh xong, đã thu hút cả hai ông bà. Sau đó, họ tiến đến gặp hướng dẫn viên và nói “Chúng tôi đã được nghe câu chuyện này nhiều lần rồi, nhưng chưa bao giờ làm cho chúng tôi cảm động cả, cho đến mãi giờ, cách nói của anh thật gây xúc động và có sức thuyết phục”.
Hướng dẫn viên đáp lại “Có một thời gian, tôi kể câu chuyện đó một cách rất dở”.
Ông bà Browne hỏi “Chuyện gì xảy ra đã thay đổi được điều đó?”.
Hướng dẫn viên bắt đầu nói “Cách đây ba năm, vợ tôi bị ung thư, và đã qua đời một cách từ từ, đầy đau đớn. Tôi có thể nhìn thấy một cách tuyệt đối rằng cái chết yểu đầy đau đớn khủng khiếp của vợ tôi không hề có ý nghĩa gì cả. Cô ấy là một người tốt, không đáng phải chịu đựng tất cả điều này. Trái tim tôi bị tan nát. Dường như thể thế giới này đã chấm dứt. Tuy nhiên, người ta thuyết phục tôi trở lại làm việc tại viện bảo tàng này. Thế là sau khi trở lại đây, tôi tự nhận thấy mình chỉ thuyết minh về câu chuyện trên một cách máy móc hơn trước mà thôi.
Rồi một ngày kia, có một điều gì đó phù hợp với tôi, và đột nhiên tôi nhận ra rằng câu chuyện đó không chỉ nói về hai người môn đệ đang bị tuyệt vọng, nhưng còn nói về chính bản thân tôi nữa. Giống như hai môn đệ, tôi cũng đang đi trên một con đường u buồn và cô độc. Tuy nhiên, thật đáng tiếc, tôi là một kẻ tin vào Đức Giêsu, với hình ảnh mờ nhạt, chỉ có ở trong những trang sách Tin mừng. Nhưng nay, Người đến với tôi thật sống động. Tôi cảm nhận được hiện diện của Người bên cạnh tôi, sự hiện diện của một người bạn thấu hiểu tất cả nỗi đau khổ của nhân loại.
Dường như thể chỉ đến lúc đó, mắt tôi mới được mở ra, và tôi đã nhìn nhận sự việc một cách khác hẳn. Trái tim của tôi bắt đầu bùng cháy trong tôi. Khi bắt đầu thuyết minh về câu chuyện trên, thì bên trong tôi, một quá trình phục hồi bắt đầu có tác dụng. Tuy vậy đôi khi, tôi vẫn còn mỏng giòn, thế là tôi khởi sự hy vọng và sống trở lại”.
Lúc đó, ông bà Browne không thể cầm được nước mắt, họ nói “Lạ thật nhưng khi nghe anh kể về câu chuyện đó, chúng tôi cũng cảm thấy trái tim mình bùng cháy nơi chúng tôi”. Sau đó, họ kể lại cho hướng dẫn viên về cái chết thảm thương của người con trai họ, cả ba người vừa nói chuyện, vừa uống cà phê với nhau.
Khi chia tay nhau, ông bà Browne nói “Cám ơn anh bạn về những gì đã làm cho chúng tôi. Anh đúng là một người thuyết minh rất hay”.
Chúng ta có thể thực sự kể một câu chuyện, khi chúng ta nhận thấy câu chuyện đó áp dụng vào trường hợp của mình ra sao. Đến lúc đó, và chỉ đến lúc đó, câu chuyện mới thực sự sống động với chúng ta.
Mặc dù chưa bao giờ chúng ta đến được miền Đất Thánh, tất cả chúng ta đều còn đang là những lữ khách trên con đường Emmau. Một số người rất quen thuộc với con đường đó. Con đường này biểu thị cho một con đường của nỗi tuyệt vọng, thất bại, buồn phiền, đau khổ, của những giấc mơ bị vỡ tan tành…
Đức Giêsu sống lại đang cùng song hành với chúng ta trên cuộc hành trình này, tuy nhiên, có thể chúng ta không nhận ra Người, Người quá gần gũi với chúng ta đến nỗi những câu chuyện của chúng ta hòa quyện với câu chuyện của Người. Chỉ có câu chuyện của Người mới đem lại ý nghĩa cho những câu chuyện của chúng ta mà thôi.
Đặc biệt khi biết chấp nhận khía cạnh tối tăm nơi câu chuyện của mình, thì chúng ta mới học hỏi được rằng ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa là gì. Tuy nhiên, khi phân tích đến tận cùng, thì chỉ có câu chuyện của Đức Kitô – nghĩa là vinh quang đạt được thông qua đau khổ và cái chết – mới giúp chúng ta biết làm sao cho những câu chuyện riêng của mình có ý nghĩa. Bất cứ điều gì khác đều không đủ đáp ứng chúng ta. Sự sống lại của Đức Giêsu mở ra triển vọng cho tất cả những câu chuyện của chúng ta, để chúng không chỉ có một kết thúc tốt đẹp, mà còn là một kết thúc vinh quang nữa.

 

PS3-A11: MNMTV/279- EMMAU

Tin mừng hôm nay ghi lại cảm nghiệm về Đấng Phục sinh của hai môn đệ đang trên đường tiến: PS3-A11

Tin mừng hôm nay ghi lại cảm nghiệm về Đấng Phục sinh của hai môn đệ đang trên đường tiến về làng Emmau. Cuộc gặp gỡ của họ với Chúa Kitô Phục sinh đã diễn ra trong lúc họ trên đường về làng cũ. Chúa Kitô đã xuất hiện không phải để chỉ mang lại giải đáp cho những câu hỏi được đặt ra, nhưng như một người nêu lên thắc mắc và giúp họ đi đến tận cùng sự tìm kiếm của mình.
Cảm nghiệm về Đấng Phục sinh của hai môn đệ cũng có thể diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Chúa Kitô Phục sinh luôn là người đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống; Ngài luôn đi bên cạnh để chuyện vãn, hỏi han, tra vấn và tham dự vào mọi sinh hoạt của chúng ta. Cuộc sống mỗi ngày chính là nơi Ngài đến gặp gỡ con người, là nơi hẹn hò của Đấng Phục sinh với con người. Bên kia niềm vui là nỗi khổ, bên kia thành công là thất bại, con người vẫn nhận ra sự vong thân và thân phận nghèo hèn của mình, để rồi từ đó nêu lên câu hỏi đâu là ý nghĩa của thân phận con người.
Chúa Kitô Phục sinh xuất hiện, nhưng không phải để mang lại câu giải đáp, mà trước hết như một người giữa chúng ta, một người cũng đã từng nêu lên câu hỏi ấy về thân phận con người. Ngài đã từng mơ ước về một nhân loại tốt đẹp hơn, Ngài đã nói với tất cả và đã làm hết sức có thể để xây dựng nhân loại ấy, và cuối cùng, với cái chết đau thương trên thập giá xem ra Ngài cũng đành bỏ cuộc. Thế nhưng, chính lúc ấy, vì đã vâng phục Chúa Cha một cách tuyệt đối để sống tận kiếp người và sống trọn vẹn cho con người, Ngài đã mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Ngài chính là kinh nghiệm mà người bạn đồng hành là Chúa Kitô Phục sinh đã chia sẻ với hai môn đệ trên đường Emmau. Tâm hồn họ nóng bừng lên khi Ngài chia sẻ kinh nghiệm của Ngài, và nhất là khi Ngài nói lên ý nghĩa cái chết của Ngài qua cử chỉ bẻ bánh và trao ban. Mắt của hai môn đệ đã mở ra để nhận ra Ngài, hiểu được các biến cố vừa xảy ra, và dĩ nhiên thấy được ý nghĩa của chính cuộc sống của họ.
Ngày nay, trong từng biến cố cuộc sống của chúng ta, chúa Kitô Phục sinh cũng đang đến. Ngài đồng hành với chúng ta trong từng sinh hoạt và gặp gỡ, Ngài có mặt trong từng niềm vui và nỗi khổ của chúng ta. Nếu chúng ta đón nhận Ngài như một người bạn đồng hành để chia sẻ và chuyện vãn, thì đôi mắt đức tin của chúng ta sẽ mở ra, và lúc đó trong ánh sáng Phục sinh của Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống.
Ước gì sự hiện diện của Đấng Phục sinh mà hai môn đệ trên đường Emmau đã cảm nhận được cũng lấp đầy tâm hồn chúng ta, để trong mọi cảnh huống của cuộc sống, chúng ta không lầm lũi bước đi trong đơn độc, nhưng hân hoan tiến bước với Ngài.

 

PS3-A12: SNVGLMN/346- EMMAU

Trên đường về làng Emmau có hai kẻ song hành. Họ âm thầm bước đi bên nhau, mỗi người một: PS3-A12

Trên đường về làng Emmau có hai kẻ song hành. Họ âm thầm bước đi bên nhau, mỗi người một suy nghĩ nhưng có cùng một mẫu số chung là tuyệt vọng. Và tuyệt vọng cũng là điều dễ hiểu vì Thầy họ, một người đầy uy quyền mà phải đầu hàng trước hội đường Do thái, phải gục ngã trước uy quyền của thần chết.
Bởi thế, dù bước đi bên nhau mà tưởng chừng như độc hành. Cùng trên đoạn đường đi ấy, một người thứ ba xuất hiện đi cùng và đối thoại trao đổi cách thân tình. Vì thế, lòng họ ấm áp lại và rồi tâm hồn họ đã hồi sinh thực sự khi Ngài bẻ bánh trao cho họ. “Trao bánh” là ban một cữ chỉ thông hiệp thân mật và là mối dây thông cảm thân tình giữa Thầy và trò.
Thế giới hôm nay cũng không thiếu những tâm hồn cô độc tuyệt vọng. Tuyệt vọng vì mất niềm tin, vì không thấy ý nghĩa cuộc đời. Tuyệt vọng vì chiến tranh bạo lực, vì những cấu xé tranh giành giữa con người cùng chung một dòng máu. Tuyệt vọng vì nghèo đói, bị khinh bỉ, bị đặt ra ngoài lề xã hội.
Giữa những cảnh tuyệt vọng ấy, bổn phận người Kitô hữu là gì nếu không phải là đốt lên ngọn lửa yêu thương để sưởi ấm tâm hồn. Bổn phận này không đòi hỏi phải có những tổ chức rộng lớn, những phương tiện tân kỳ hoặc những khả năng phi thường, nhưng chỉ cần những đối thoại trao đổi đơn sơ nhưng đầy tình Chúa và tình người cũng mang lại những giá trị của nó :”Phải chăng trong lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong khi Ngài đi đường đàm đạo và giải thích Kinh thánh cho chúng ta đó ư ?”.
Một cữ chỉ cầm tay và ngồi bên giường bệnh nhân hàng giờ của người nữ y tá chẳng là gì, nhưng nếu không có cử chỉ ấy thì giá trị của cuộc giải phẫu sẽ chẳng lường trước được.
Lạy Chúa, nếu cuộc sống đã làm cho con đau lòng tuyệt vọng thì xin Chúa cho con biết tìm về Lời Chúa và Mình Chúa để lấy lại sức mạnh cho tâm hồn. Vì lời Chúa sẽ hâm nóng tâm hồn giá lạnh của con; và bàn tiệc Thánh Thể sẽ cho con được hồi sinh. Để như hai môn đệ trên đường Emmau, một khi đã được hồi sinh, con sẽ đến với người anh em để nói cho họ về niềm tin vui Phục sinh, về tình thương của Chúa.

 

PS3-A13: Đồng hành với nhau và với Chúa – Lm. Hữu Độ

Một bà già người Đức thuật lại câu truyện mà chính bà là người trong chuyện: Khoảng năm 1942: PS3-A13 hay

Một bà già người Đức thuật lại câu truyện mà chính bà là người trong chuyện:
Khoảng năm 1942, bà và một số người Đức bị đưa đi lưu đày xa quê hương. Tất cả là người Công giáo và cùng lao động tại một nông trường, nơi ấy không có nhà thờ cũng không có linh mục. Nhưng mỗi chiều Chúa nhật, họ được phép tụ họp trong một nghĩa trang để cầu nguyện với nhau. Khi biết cách đó một ngàn cây số, có linh mục thì họ quyết định hàng tháng đóng góp một số tiền để mua vé cho một bà già đi đến nơi đó mang Mình Thánh Chúa về cho họ chịu. Mỗi Chúa nhật họ đều trung thành gặp gỡ nhau, sốt sắng cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, cuối tháng thì rước Mình thánh Chúa. Trong suốt 20 năm dài, cộng đoàn Kitô hữu đó sống đùm bọc, yêu thương nhau cho đến năm 1962 được trả tự do. Bà già thuật lại câu chuyện trên chính là người điều khiển cộng đoàn cầu nguyện mỗi chiều Chúa nhật. Sau khi kể lại câu chuyện này thì bà thêm: "Mặc dầu được thả về tự do, nhưng chúng tôi ra về với một niềm lưu luyến sâu đậm và nhớ nhung vô cùng những phút giây đoàn kết, yêu thương trong tình người và tình Chúa đó."
Câu chuyện cảm động ở trên một phần nào đã diễn tả được ý nghĩa của bài Phúc âm hôm nay. Hai môn đệ trên đường đi đến làng Emmau, một làng cách Giêrusalem 7 miles, một môn đệ tên là Cleopha, còn môn đệ kia có thể là chính thánh Luca mà các nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng vì khiêm nhường nên thánh sử giấu tên.
Hai môn đệ cùng đi với nha. "Hai người" chỉ về ý nghĩa cộng đoàn chứ không phải một người thì lẻ loi, đơn độc. Con người khi được gửi vào trần gian nầy là để sống cộng đoàn, tương trợ lẫn nhau, chứ không phải để sống đơn độc và ích kỷ. Xét về mặt xã hội thì sự tương trợ là một ích lợi cho thương mại, cho hội đoàn, cho pháp luật... Xét về mặt tôn giáo thì sự tương trợ là một điều đáng ca ngợi, chính Chúa Giêsu đã lên tiếng, "Nơi đâu có 2, 3 người họp nhau lại vì danh Ta thì Ta ở giữa họ." Thiên Chúa đứng về phe những người đoàn kết, quan tâm nhau, chứ Ngài không về phe những ai chia rẽ, ích kỷ. Ngay từ thời Giáo hội Sơ khai, sách Tông đồ công vụ kể lại các tín hữu một trí một lòng, biết quan tâm đến nhau vì thế họ được toàn dân mến chuộng và càng này Chúa càng làm gia tăng số người vào Đạo.
Ngày nay khi nói đến từ ngữ "Emmau" người ta thường nhắm đến ý nghĩa "Đồng Hành" tức : cùng đi - cùng chia sẻ - cùng hưởng nhận - cùng khích lệ - cùng giúp đỡ - cùng lo cho nhau. Đời sống "đồng hành" căn bản đến từ đời sống gia đình, dòng tu, hội đoàn, giáo xứ, rồi Giáo hội.
Tuy nhiên, nếu chỉ cậy vào sức con người thôi thì cho dù chúng ta có hợp nhau lại vẫn có nhiều vấn đề không thể giải quyết được, vì nó ở ngoài khả năng trí óc và bàn tay của chúng ta. Phúc âm nói rõ 2 môn đệ cùng đi với nhau lúc đầu thì họ buồn bã (có thể họ còn thất vọng và sợ sệt nữa), thế nhưng khi có Chúa Giêsu cùng đi với họ thì lòng họ ấm lên và hăng hái khác thường, đến nỗi ngay trong đêm đó họ quay trở lại Giêrusalem để báo tin cho 11 tông đồ. Chúng ta cũng cần có Thiên Chúa đồng hành với chúng ta để nhờ "bộ óc và bàn tay" của Ngài giải quyết các vấn đề cho chúng ta. Hơn nữa chính sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta hăng hái đi cho trọn con đường trên trần gian này.
Con đường Emmau là hình ảnh của con đường trên trrần gian này. Kinh nghiệm lịch sử và chính cảm nghiệm cá nhân dạy chúng ta biết, con người không thể sống và phát triển ở môi trường lẻ loi, đơn độc được, trái lại con người cần tương trợ, đồng hành với nhau. Quan trọng hơn nữa là có Thiên Chúa đồng hành với chúng ta để dù đường có quanh co, hiểm trở cũng đừng lo, vì Chúa là "Đường" dẫn về đích dù trên đường có tối tăm, hang hóc cũng đừng lo vì chính Chúa là "Sự Sáng", dù cuối cùng tử thần có nhào tới bên chúng ta cũng đừng lo vì chính Chúa là "Sự Sống Lại."

 

PS3-A14: TRÊN ĐƯỜNG EMMAU Lm. VIKINI

Cùng ngày Phục sinh, hai môn đệ Đức Giêsu từ Giêrusalem về làng Emmau trên con đường: PS3-A14

Cùng ngày Phục sinh, hai môn đệ Đức Giêsu từ Giêrusalem về làng Emmau trên con đường mòn dài độ 12 cây số dưới sức nóng như thiêu đốt của tháng tư. Chúng ta còn nhớ trưa ngày thứ ba tuần thánh khoảng 1-2 giờ, Đức Giêsu từ Giêrusalem về làng Bêtania, dưới nắng nóng oi bức, Người khát nước, thấy cây vả không trái, Người chúc dữ nó, hôm sau nó chết khô. Hai môn đệ trở về làng Emmau cũng chết khô như thế : bên ngoài chết khô vì nắng đốt, bên trong chết khô vì Thầy bị chết tử hình thập giá, vì mồ chôn thấy mất xác mà theo luật Rôma, ai cướp xác sẽ bị tử hình. Bao nhiêu hung tin đồn dồn dập loan ra làm các môn đệ kinh hoàng. Mấy ngày trước, các ông tràn trề hy vọng khi được dân chúng đón rước hoan hô thế nào, thì ba ngày nay các ông buồn sầu, lo sợ, tuyệt vọng thế ấy. Các ông như bánh xe căng hơi bị xẹp xuống : “Phần chúng tôi, chúng tôi đã hy vọng rằng chính Người đến giải phóng Israel, nhưng nay cơ sự thế là hết”.
May thay, cái ruột xe xẹp lép ấy đã được người lữ khách giữa đường bơm lên dần dần. Người bơm vào hai trái tim tê tái ấy “những lời Kinh thánh từ Môsê đến các tiên tri và tất cả những điều nói về Người trong toàn bộ Kinh thánh”, để các ông thấm nhuần được ý nghĩa câu : “Đức Kitô chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Ngài sao ?”. Thực ra, các ông đã nhiều lần nghe những điều đó, cũng như những câu tương tự như thế này : “Ông Giona đã ở trong bụng cá ba ngày ba đêm như thế nào thì Con Người cũng ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy”. (Mt. 12, 40). hay câu : “Thầy còn phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất” (Lc. 12, 50), cũng như câu : “Nếu hạt lúa gieo xuống đất mà không chết đi, thì chỉ trơ trọi một mình, nếu chết đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt” (Ga. 12, 24). Nghe những lời đầy thần lực ấy, lòng các ông đã hồi sinh : “Dọc đường khi Người nói truyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta chẳng bừng cháy lên sao ?”. Lòng các ông bừng cháy lên và các ông đã tha thiết van nài : “Xin mời ông ở lại với chúng tôi vì trời đã xế chiều và ngày đã sắp tàn”. Các ông nồng nhiệt đón tiếp Người và vinh hạnh được đồng bàn với Người. Lạ thay : Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng bẻ ra trao cho các ông, mắt các ông liền mở ra và các ông nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Các ông chẳng thiết gì ăn, chẳng còn sợ chi nữa. Lòng trí bừng sáng, các ông đứng dậy chạy ngay về Giêrusalem để loan báo Tin mừng cho các bạn đồng môn. Nhưng họ cũng đã thấy : “Chúa đã sống lại thật rồi !”.
Cuộc hành trình của hai môn đệ trên dường Emmau rất sát với cuộc hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Chúng ta phải tha thiết cầu xin Chúa huấn luyện bằng lời Chúa để chúng ta biết trải qua ba giai đoạn sau :
1- Giai đoạn khủng hoảng đức tin : nhiều khi như tuyệt vọng trước cuộc sống đầy đen tối. Đây là giai đoạn “mắt còn bị ngăn cản không nhận ra Người”
2- Giai đoạn cứu vãn đức tin : Muốn cứu vãn con mắt đức tin, muốn phục hồi sức sống, nhất thiết phải kiên tâm cầu nguyện xin Chúa đến dậy bảo, soi sáng bằng những lời hằng sống của Chúa, những lời Kinh thánh. Chỉ có những lời thần lực đó mới bơm sức sống dồi dào vào những con tim tê tái “để bừng cháy lên”.
3- Giai đoạn mở mắt đức tin : muốn mắt mở ra và nhận ra Người, chúng ta phải siêng năng tham dự các phép Bí tích, nhất là Thánh lễ.
Lạy Chúa Giêsu, xin Người bẻ bánh đưa cho mỗi người chúng con được sống lại và được sống dồi dào.

 

PS3-A15: Suy Niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...
 

Trong câu chuyện hai môn đệ Emmau nhận biết Chúa Giêsu phục sinh, thánh Luca chỉ kể tên: PS3-A15

Trong câu chuyện hai môn đệ Emmau nhận biết Chúa Giêsu phục sinh, thánh Luca chỉ kể tên một người là Clêôpát. Có nhà chuyên môn Thánh Kinh nói rằng Thánh Luca cũng biết tên người kia nhưng ông không kể ra, vì có ý coi người kia là đại diện cho bất cứ môn đệ nào của Chúa Giêsu. Nói cách khác, bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể có được cảm nghiệm về sự nhận biết Chúa Giêsu phục sinh như người môn đệ ấy.
Vậy nhờ đâu mà hai môn đệ này cảm nghiệm được sự hiện diện gần gũi của Chúa Giêsu phục sinh ?
- Thứ nhất là nhờ Thánh Kinh : “Khi Ngài nói chuyện và giải thích Thánh Kinh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bùng cháy lên đó sao !”.
- Thứ hai là nhờ bí tích Thánh thể : “Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, tạ ơn, bẻ ra và trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài”.
- Thứ ba là nhờ cuộc sống cộng đoàn : “Họ quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó”.
B. ... nẩy mầm.
1. Chúa Giêsu không phải là một nhân vật của quá khứ. Ngài đang sống ngay sát bên cạnh ta tuy giác quan ta không cảm thấy Ngài. Có lẽ từ trước tới nay, tôi chỉ tin điều này một cách “lý thuyết”. Nếu tôi thực sự tin và sống với Đấng phục sinh đang ở bên cạnh tôi thì cuộc đời tôi sẽ khác, và hiệu quả những hành động của tôi cũng sẽ khác rất nhiều.
2. Khi ta sốt sắng đọc Thánh Kinh, tham dự Thánh lễ và sống tình hiệp nhất cộng đoàn thì ta có thể cảm thấy sự hiện diện gần gũi của Chúa Giêsu phục sinh.
3. Nhiều người coi Chúa là ma và sợ Chúa như sợ ma. Chúa không muốn như vậy : Ngài muốn ta coi Ngài là một người sống, và hãy yêu thương phó thác vào Ngài.
4. Noreen Towers là một người làm việc phục vụ cho những người nghèo. Nhưng cô chán nản vì thấy hầu như những việc làm của mình không thành công. Một tối kia cô giật mình thức giấc và cảm thấy hình như Chúa Giêsu đang nói chuyện với cô, Ngài hỏi : “Con không thể tin vào chương trình của Thầy đã vạch sẵn cho con ư ?”. Một thoáng cảm nghiệm chóng qua ấy đã thay đổi hẳn con người cô : từ một người chán chường, cô đã trở thành một người có đức tin không thể nào lay chuyển nổi (Mark Link, Vison 2000).
5. “Chúa Giêsu Kitô có cách nào khác để đi vào lòng người nếu không phải là qua một trái tim tan nát ?” (Oscar Wilde).

 

PS3-A16: NHẬN RA CHÚA GIÊ-SU TRONG CUỘC SỐNG

1. CÁC MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊ-SU GẶP NHIỀU KHÓ KHĂN TRONG VIỆC TIN VÀO VIỆC NGƯỜI ĐÃ PHỤC SINH:
 

Đọc các bài Tin Mừng liên quan tới việc Đức Giê-su Phục Sinh, chúng ta thấy rất rõ là các môn: PS3-A16

Đọc các bài Tin Mừng liên quan tới việc Đức Giê-su Phục Sinh, chúng ta thấy rất rõ là các môn đệ của Người gặp rất nhiều khó khăn trong việc tin rằng Người đã sống lại sau khi chết trên thập giá và được mai táng trong mồ. Có nhiều lý do giải thích nỗi khó khăn lớn lao ấy của các ngài:
Việc một con người sống lại sau khi đã chết là một sự kiện hiếm có trong đời. Có lẽ vì thế mà trong khi thi hành sứ mạng rao giảng và thiết lập Nước Thiên Chúa trong dân Ít-ra-en, Đức Giê-su đã làm nhiều phép lạ làm cho kẻ chết sống lại, để chuẩn bị tâm hồn các môn đệ. Hai câu chuyện nổi bật và cảm động nhất là của anh chàng thành niên con bà góa thành Na-im và của La-da-rô làng Bê-ta-ni-a. Với phép lạ làm cho kẻ chết sống lại, Đức Giê-su xác định Người là Sự Sống và Sự Sống Lại tức là Nguồn Sống và Quyền Năng Phục Sinh.
Các môn đệ cũng như người Do-thái hiểu sai một cách trầm trọng về tính chất và cách thức thi hành sứ vụ Mê-si-a của Đức Giê-su. Khám phá ra và tin rằng Đức Giê-su là một vị ngôn sứ, là Đấng Mê-si-a mà Thánh Kinh đã loan báo thì các môn đệ không gặp mấy khó khăn. Nhưng để hiểu chính xác tính chất Mê-si-a và đồng tình với cách Đức Giê-su thực hiện sứ vụ ấy thì họ không sao vượt qua được não trạng và tâm thức của người thời bấy giờ. Theo họ thì công việc quan trọng nhất mà Đấng Mê-si-a phải thực hiện – nhân danh Thiên Chúa – là lập lại trật tự xã hội, chính trị của Nước Ít-ra-en. Mà Nước Ít-ra-en đang mất chủ quyền, vì đang bị người Rô-ma là lũ quân ngoại giáo tàn bạo thống trị.
Thế nên người Do-thái và cả 12 Tông đồ âm thầm chờ đợi Đức Giê-su thực hiện một cuộc đảo chánh chính trị lật đổ ngoại xâm, dành độc lập cho Dân riêng của Gia-vê Thiên Chúa. Đàng này Đức Giê-su cứ quanh quẩn với những hạng cùng đinh của xã hội, chữa trị bệnh hoạn tật nguyền cho họ... thì các lãnh đạo Do-thái và Nhóm 12 sốt ruột. Thậm chí họ còn tìm cách đẩy Đức Giê-su vào thế phải “ra tay”. Và khi thấy Người bị giết thì họ thất vọng. Đó chính là tâm trạng của hai môn đệ Em-mau. Nói cách vắn gọn: Người Do-thái, kể cả các môn đệ, hiểu vai trò của Đấng Mê-si-a theo nghĩa chính trị trong khi Đức Giê-su hiểu theo nghĩa tôn giáo và tâm linh: một đàng là Đấng Mê-si-a ‘vinh quang’ một đàng là Đấng Mê-si-a ‘đau khổ’.
2. ĐEM LỜI CHÚA VÀO CUỘC SỐNG, CHÚNG TA CÓ NHỮNG ỨNG DỤNG SAU ĐÂY:
Đức Giê-su không chỉ là Đấng thực hiện Lời Thánh Kinh mà còn là Đấng giải thích, cắt nghĩa Lời Thánh Kinh: Sự mê muội và cứng lòng của hai môn đệ Em-mau cũng như của các môn đệ khác chỉ được khai sáng và thay đổi khi họ nghe được chính Đức Giê-su giảng giải ngọn nguồn Thánh Kinh. Đức Giê-su không chỉ là Đấng thực hiện mà Người còn là Đấng giải thích, làm cho hiểu những bí ẩn thâm sâu của Thánh Kinh. Vì thế muốn hiểu Lời Chúa trong Thánh Kinh và trong cuộc đời, chúng ta phải biết nhờ đến Người.
Đức Giê-su chỉ tỏ mình ra cho chúng ta khi chúng ta mời Người ở lại và ngồi bàn với chúng ta: Hai môn đệ Em-mau chỉ nhận ra Đức Giê-su khi họ mời Người ở lại dùng bữa tối với họ và khi Người bẻ bánh với những lời nguyện và cử chỉ của riêng Người thì mắt họ mở ra. Nếu chúng ta muốn nhận ra Chúa Giê-su Phục Sinh và muốn gặp được Người thì chúng ta phải xác tín rằng Người luôn hiện diện ở bên cạnh và trong cuộc đời chúng ta, Người luôn đồng hành với chúng ta. Chỉ cần chúng ta tạo điều kiện cho Người xuất hiện, bằng một lời mời, một lời cầu xin chân thành và tin tưởng.
Chúng ta chỉ có thể giúp người khác nhận ra Chúa Giê-su Phục Sinh và gặp được Người khi chúng ta có những lời nói và hành động như Người và của Người: Nếu chúng ta muốn giúp người khác nhận ra Chúa Phục Sinh và gặp gỡ được Người thì chúng ta phải có những thái độ, cử chỉ, lời nói có tính khai sáng và giải phóng như Người. Không hẳn là những lời khuyên bảo xáo rỗng mà chúng ta thường “ban phát” một cách dễ dàng, nhưng là một sự quan tâm thực sự và hiện diện tích cực, là một sự chia sẻ, hiến dâng ( mà cử chỉ bẻ bánh là biểu tượng ) và là đời sống cầu nguyện gắn bó chặt chẽ với Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng Phục Sinh, xin Chúa giúp chúng con biết yêu mến Thánh Kinh và ham học hỏi tìm hiểu Thánh Kinh để rút ra những ứng dụng thực hành trong cuộc sống !
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Đấng Phục Sinh, xin Chúa giúp chúng con biết nhận ra Chúa trong cuộc sống của chúng con và biết giúp người khác nhận ra Chúa trong cuộc đời của họ! Amen !
Giê-rô-ni-mô NGUYỄN VĂN NỘI

 

PS3-A17: HAI MÔN ĐỆ TRÊN ĐƯỜNG EM-MAU

Soeur Sourire trong một bài hát có viết rằng: ”...Tất cả mọi nẻo đường của trần thế sẽ dẫn ta về: PS3-A17

Soeur Sourire trong một bài hát có viết rằng: ”...Tất cả mọi nẻo đường của trần thế sẽ dẫn ta về quê Trời“. Bài ca ấy thật đơn sơ, dễ thương, dễ đi vào lòng người. Với cây đàn ghi-ta trên tay, với giọng ca ấm, nhẹ, soeur Sourire đã đưa nhiều người đi từ thế giới thực tại tới quê hương đích thực, xa vời vợi là một thế giới linh thiêng: Nước Trời. Vâng, hàng ngày ai cũng phải đặt chân trên một con đường nào đó hoặc con đường nhựa trải rộng, thẳng tắp, ngút ngàn hay con đường mòn, nhỏ bé, ngoằn ngoèo, hoặc trên một chuyến ô tô, tầu thủy, máy bay.
Tất cả những con đường ấy đều đưa một người hay nhiều người tới một đích điểm, một bến bờ, một nơi chốn. Hai môn đệ trên đường Em-mau cách đây gần 2.000 năm, sau biến cố Thầy mình bị bắt, bị kết án tử hình, bị treo trên thập tự giá, được mai táng trong mồ, và lúc này đây họ đã được thông báo Thầy mình đã sống lại, không còn trong mồ... Biến cố Chúa chết và sống lại đang làm họ hoang mang, lo âu, sợ sệt, thất vọng vì Con người có tên là Giê-su, Đấng nổi lên như một vị có quyền năng lớn lao, đã làm những việc lớn lao kỳ diệu: chữa nhiều bệnh hoạn tật nguyền, xua trừ ma quỷ, làm cho kẻ chết sống lại và đem Tin Mừng công bố cho những kẻ nghèo khó. Họ đã hoàn toàn đặt kỳ vọng vào Ngài, họ tin tưởng Vị Cứu Tinh là Vua sẽ khôi phục lại nước Ít-ra-en và họ sẽ chia nhau ghế trong nội các của Chúa Giê-su theo cái nhìn trần tục của họ.
Thế là hết, Thầy mình đã chết, mọi hy vọng của họ đã vỡ tan tành, những hoài bão, ước mơ của họ đã hoàn toàn sụp đổ, họ chẳng còn tin gì nữa, giờ đây trước mắt họ chỉ là mầu đen u tối bao trùm. Chúa Giê-su đã chết và nay đã là ngày thứ ba...
I. VẪN LÀ CON ĐƯỜNG SÁNG:
Hai môn đệ trên đường về quê để trở lại nghề cũ, khởi lại công việc từ đầu, đã thất vọng ê chề. Họ nói chuyện với nhau về biến cố vừa qua, rồi họ bàn tính xem phải làm việc gì cho ra tiền, cho xứng danh vì đã lặn lội, từ bỏ theo Thầy mấy năm. Trở về làng cũ để ôm hận, thất bại thì quả là vô nghĩa quá ! Nỗi thất vọng càng gia tăng khi con đường Em-mau mù mịt, đầy bụi, đầy đất. Mầu đen bao phủ như mây đen vần vụ báo cơn mưa lớn vẫn đang đè nặng trên hai môn đệ.
Sự kiện mồ trống, lời loan báo của mấy người phụ nữ và việc kiểm chứng của Phê-rô, Gio-an vẫn không làm họ an lòng, không làm họ nguôi ngoai cơn buồn chán. Họ vẫn bước những bước nặng nề, mệt mỏi vì đường xa, hiu quạnh. Bỗng có người khách bộ hành xuất hiện, cùng họ sánh bước. Họ vẫn nói chuyện về biến cố vừa qua. Người khách bộ hành giả như không hay biết chuyện gì và rồi vặn hỏi họ. Họ đã trả lời cách rất tự nhiên, thành thật trước lời yêu cầu của vị khách bộ hành về tất cả nỗi thất vọng ê chề của họ khi vị Thầy khả kínỏc họ đã bị giết chết oan uổng...
 Chính lúc niềm hy vọng đã trở thành thất vọng, thì người khách đồng hành sau khi nghe họ kể lể, than van, chán nản, đã khơi trong lòng họ niềm hy vọng lớn lao. Sự an ủi được nhen nhúm trong lòng họ vì người khách ấy đã nói toạc ra với họ về sứ mạng và vai trò của Đấng Cứu Thế trong việc cứu rỗi nhân loại qua cái chết tang thương khổ giá. Người đã cắt nghĩa Kinh Thánh cho họ và dựa vào các Ngôn Sứ, Mô-sê để nói cho họ về Đấng Mê-si-a, nghĩa là chính Người: ”Đức Giê-su Ki-tô phải chịu đau khổ rồi mới được vinh hiển” ( Lc 24, 26 ).
Lòng họ bừng cháy hừng hực vì họ thấy được ủi an và họ cảm mến người lữ hành đã đốt lên ngọn lửa hy vọng trong cõi lòng họ đang tê tái, tan nát, ê chề... Con đường vẫn còn xa tít mù khơi, chiều dần buông xuống, hai môn đệ cố nài người khách vào quán trọ bên đường Em-mau với họ để nghỉ ngơi, dùng bữa và lại tiếp tục cuộc hành trình về quê. Vị lữ hành giả bộ cứ đi và trước thịnh tình của hai môn đệ, Người đã vào quán trọ dùng bữa tối với họ, chính giờ phút ngồi vào bàn họ vẫn chưa nhận ra Chúa Giê-su Phục Sinh. Hai môn đệ chỉ nhận ra Đức Giê-su khi: ”...Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” ( Lc 24, 30 ).
Và Lu-ca nói, khi mắt họ mở ra nhận ra chúa Giê-su, Người lại biến mất ( Lc 24, 31 ). Lời ca du dương, trầm bổng, có lúc cho ta có cảm tưởng cao vút trời mây của bài ca: ”Tất cả mọi nẻo đường” của Soeur Sourire đã chỉ ra rằng nhận ra Chúa trên mọi nẻo đường của đời sống là lúc ta đạt được Nước Trời như hai môn đệ trên đường Em-mau đã hạnh phúc, hết âu lo và lấy lại sự bình an tâm hồn khi mắt họ mở ra thấy được Chúa Phục Sinh.
II. CHÚA PHỤC SINH ĐANG ĐỒNG HÀNH VỚI TA TRÊN MỌI NẺO ĐƯỜNG:
Oscar Wilde có viết một câu đầy thú vị: “Xuyên qua một trái tim bị dập nát, Chúa Ki-tô có thể bước vào”. Trên cuộc hành trình đức tin, trong cuộc sống hằng ngày, có nhiều lần và rất nhiều lần chúng ta cũng có cái nhìn, suy nghĩ bi quan, yếm thế như hai môn đệ trên đường Em-mau. Khi gặp chông gai, thử thách, khó khăn, chúng ta dễ nản chán, có khi chán nản, thất vọng. Đức Tin của ta còn non yếu hay ta chưa đủ đức tin để tin nhận Chúa Giê-su sẽ giúp ta giải quyết những khó khăn, khúc mắc, những ngõ cụt của đời ta. Chúa Phục Sinh vẫn luôn đồng hành với ta trên mọi nẻo đường, ta tìm Ngài sẽ gặp được Ngà: “...Mỗi lần ta làm một việc nào tốt cho một người bé nhỏ là ta đã làm cho Chúa” ( Mt 25, 31 – 46 ) hay ta nhân danh Chúa mà cầu nguyện, mà hoạt động thì chính Chúa sẽ hoạt động trong ta.
Phê-rô đã cảm nghiệm Chúa tha thứ và hiện diện với ông làm sao khi ông nhìn vào Chúa và Chúa quay nhìn ông trong đêm Đức Giê-su bị bắt. Và kinh nghiệm của Phao-lô trên đường Đa-mát đã chứng minh ông đã gặp Chúa như thế nào và ông đã đối diện với Chúa làm sao ? Các Tông Đồ khác cũng có những cảm nghiệm như thế khi đối diện với Đấng Phục Sinh, khi họ được Chúa Thánh Thần khai mở trí cho họ. Gio-an đã thấy Chúa Phục Sinh khi Người đi trên mặt hồ và Phê-rô đã nhảy tõm xuống nước khi nghe Gio-an nói: “Chúa đó “.
Vâng, các Thánh là những người đã gặp được Chúa vì họ dám tin và dám liều mình để tin. Thánh Phan-xi-cô Khó Khăn đã nhận ra Chúa trong sự khó nghèo và Ngài đã thực hiện sự nghèo khó ấy qua cuộc sống, qua Dòng Tu Ngài để lại cho Giáo Hội, cho thế giới. Thánh An-phong, Thánh I-nha-xi-ô thành Loyola và nhiều Thánh khác đã minh chứng hùng hồn rằng họ đã gặp Chúa và để lại cho các sĩ tử trong Dòng của các mình để giới thiệu Chúa Phục Sinh cho người khác.
Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta đã nói: ”Hãy làm một cái gì tốt, cái gì đẹp cho Chúa...” Cái tốt, cái đẹp trong việc phục vụ người nghèo, người neo đơn, người hấp hối, cứu thoát các trẻ nhỏ trong bụng mẹ là những cử chỉ, những hành động đầy tình thương, đầy ấn tượng, Mẹ Tê-rê-xa Calcutta và các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ai của Mẹ đã làm vì Mẹ tin tưởng các hành động, các việc làm bác ái ấy là đang làm cho Chúa Phục Sinh.
Chúa Phục Sinh đã giải thích Thánh Kinh và thông hiệp bữa ăn với hai môn đệ trên đường Em-mau, Chúa Phục Sinh vẫn tiếp tục làm cho chúng ta những điều đó, Người đang đồng hành với ta trên mọi nẻo đường. Người hiện diện trong các giờ kinh nguyện, trong các giờ Phụng Vụ đọc Lời Chúa. Cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi mà Sách Tông Đồ Công Vụ thuật lại là bằng chứng hùng hồn nói lên sự hiện diện của chúa ( Cv 2, 42 – 46 và 4, 32 – 34 ). Chúa hiện diện trong Thánh Lễ đầu tiên sau khi Ngài sống lại với hai môn đệ ( Lc 24, 30 ). Chúa vẫn tiếp tục hiện diện với nhân loại qua mọi Thánh Lễ mà các Linh Mục cử hành hàng giây, hàng phút, hàng giờ trên thế giới này.
Chúa sống lại vẫn đang đồng hành với nhân loại trên mọi ngả đường, trên vạn nẻo đường, Người sẽ biến đổi tâm trí và cõi lòng con người như đã biến đổi hai môn đệ xưa nhận ra Ngài. Liệu đã nhiều lần Chúa Phục Sinh đồng hành với ta, ta đã nhận ra Người hay chưa ? Ta đã đi với nhiều người trên đường, trong cuộc sống, họ là hiện thân của Chúa Phục Sinh, có lẽ rất nhiều lần ta đã không nhận ra Chúa sống lại đang ở trong họ ( Mt 25, 31 – 46 ). Xuyên qua một con tim tan nát, dầy vò, chán nản, thất vọng, Chúa Phục Sinh sẽ biến đổi nó để Người ngự trị. Chúa Phục Sinh sẽ ở với ta, sẽ đồng hành với ta trên mọi ngõ ngách, trên mọi nẻo đường của cuộc đời, Ngài luôn hiện diện trong Lời của Ngài và trong Bí Tích Thánh Thể.
Hãy đọc kỹ lời này của Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta: ”Hoa trái của lòng tin là tình yêu. Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Hoa trái của phục vụ là bình an”. Có bình an trong tâm hồn và thể xác, ta mới nhận ra được sự có mặt của Chúa vì Chúa là Tình Yêu và Bình An.
 Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỢI, DCCT, Giáo Phận Đà-lạt

 

PS3-A18: ĐỨC GIÊ-SU ĐỒNG HÀNH

TAM NHÂN ĐỒNG HÀNH TẤT HỮU NGÃ SƯ YÊN
 

Ở đây người thày đó chính là Thày Chí Thánh của chúng ta. Còn hai người kia là ai? Ta hãy: PS3-A18

Ở đây người thày đó chính là Thày Chí Thánh của chúng ta. Còn hai người kia là ai? Ta hãy nghe Lu-ca thuật chuyện.
Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số ( c. 13 ). Hôm ấy là Chủ Nhật Phục Sinh. Có hai người trong nhóm môn đệ Đức Giê-su đi từ Giê-ru-sa-lem về quê là làng Em-mau. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra ( c. 14 ). Chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ ( c. 15 ).
Cựu Ước viết: “Thiên Chúa cùng đi với họ” trong vườn địa đàng. Đức Giê-su, “Con Một Thiên Chúa, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”, một lần nữa cùng đi với con người. Ở đây Ngài đi cùng con người đang khi họ thất vọng não nề, lòng tin lung lay, mộng đẹp tan vỡ. Ngài đi cùng họ trong cuộc hành trình đức tin, trên con đường lữ thứ trần gian.
Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?" Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay." Đức Giê-su hỏi: "Chuyện gì vậy ?" ( c. 17 – 19a ). Được lời như cởi tấm lòng, họ được dịp trút hết nỗi phiền muộn âu lo đang đè nặng tâm tư. Họ thưa: "Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân” ( c. 19b ).
Câu trả lời của Cơ-lê-ô-pát tóm tắt cuộc đời và sứ mạng của Đức Ki-tô. Ông kể lể về cuộc thương khó và cái chết của Ngài: “Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá“ ( c. 20 ). Ông bày tỏ nỗi thất vọng não nề của các môn đệ: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi” ( c. 21 ).
Ông thuật lại sự việc vừa mới xảy ra buổi sớm mai còn tươi rói trong tâm trí của mình: “Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy" ( c. 22 – 24 ).
Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: "Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” ( c. 25 – 27 ).
Trước đó, Đức Giê-su đã bảo người Do-thái: “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông sẽ tìm được sự sống đời đời. Mà chính Kinh Thánh lại làm chứng về tôi” ( Ga 5, 39 ). Khi tuyên bố điều ấy, Ngài chỉ cho ta một phương thế chắc chắn để nhận biết Ngài. Đức Phao-lô IV dạy ta rằng ngày nay cũng vậy, việc chuyên cần đọc Sách Thánh và tôn kính Lời Chúa là một ơn linh hứng rõ rệt của Chúa Thánh Thần. “Các tiến bộ đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu Kinh Thánh, việc phổ biến, phát hành Sách Thánh ngày càng gia tăng, và trên hết là gương mẫu của truyền thống và tác động từ bên trong của Đức Chúa Thánh Thần có chiều hướng giúp người Ki-tô hữu thời nay ngày càng sử dụng nhiều Kinh Thánh như cuốn sách kinh nguyện căn bản và kín múc, rút ra từ đấy nguồn linh hứng thực sự và các gương mẫu tuyệt vời vô song” ( Đức Phao-lô VI, Marialis Cultus, 30 ).
QUA THẬP GIÁ BƯỚC VÀO VINH QUANG
Thấy các môn đệ sa sút, xuống tinh thần, Đức Giê-su kiên nhẫn mở lòng trí cho họ hiểu ý nghĩa các đoạn Kinh Thánh nói về Đấng Mê-si-a: “Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” ( c. 26 ). Với lời này, Ngài gột rửa khỏi tâm trí các ông hình ảnh về một đấng Mê-si-a trần tục nặng về tính chính trị và tỏ bày cho các ông thấy sứ mạng của Đức Ki-tô là một sứ mạng siêu nhiên: cứu chuộc cả nhân loại.
Kinh Thánh nói tiên tri về Thiên Chúa quyết ý ban ơn cứu độ cho nhân loại qua cuộc thương khó và cái chết của Đấng Mê-si-a. Thập Giá không phải là thất bại, mà là thắng lợi vĩ đại nhất, thắng lợi của sự sống trên sự chết, của ân sủng trên tội lỗi, tình yêu chiến thắng hận thù, ánh sáng chiếu soi trên bóng đêm u tối. Mác-cô thuật cho chúng ta vào chiều thứ sáu Tuần Thánh trên đồi Can-vê, “bóng tối bao phủ khắp mặt đất” ( Mc 15, 33 ) nhưng vào buổi sáng Phục Sinh “mặt trời hé mọc” ( Mc 16, 2 ).
Phao-lô quả quyết rằng thập giá chính là con đường Thiên Chúa đã chọn cho Đức Ki-tô qua đó chiến thắng tội lỗi và sự chết: “Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” ( 1 Cr 1, 22 – 24 ).
Vinh quang Phục Sinh gắn liền với cây Thập Giá như hai mặt của cùng một tấm huy chương. Đúng như Chúa đã nói với hai môn đệ thành Em-mau: “Đức Ki-tô phải chịu khổ hình để bước vào vinh quang của Ngài” ( Lc 24, 26 ).
Cho nên nhà thần học Burno Forte đã viết một cách chí lý: “Khuôn mặt của Chúa Ki-tô được tỏ bày cách đầy đủ trong sự nối kết cái chết nhục nhã của Ngài với sự phục sinh của Ngài: Không có sự phục sinh, cây thập giá sẽ là sự thú nhận sau cùng của bất lực của con người, nhưng được rực sáng bởi sự Phục Sinh, cây thập giá đã là Thập Giá của Con Thiên Chúa, chết thay cho ta và vì ta, vì Ngài liên đới với những đau khổ của nhân loại. Còn nếu không có thập giá, sự Phục Sinh sẽ là lời công bố một chiến thắng không có kẻ thù; trái lại, liên kết với cây thập giá, sự sống lại của Đấng bị đóng đinh trên Thập Giá sẽ là lời công bố cuộc chiến thắng của Thiên Chúa trên trái đất này, trái đất của những kẻ chết và những tên đao phủ. Không có Phục Sinh, Thập Giá sẽ như mù, không có tương lai, không có hy vọng; nhưng không có thập giá, phục sinh sẽ rỗng tuếch, không có quá khứ và không có gốc rễ. Khoa Ki-tô học phải luôn giữ cả hai, Thập Giá và Phục Sinh, nếu muốn tìm kiếm khuôn mặt của Chúa Giê-su, mà không làm sai lệch hoặc không bóp mép khuôn mặt đó theo mẫu mực những chân trời nhân loại”. ( The Navarre Bible St Luke, Nhà Xuất Bản Four Courts Press, Kill Lane, Blackrock, Co. Dublin, Ireland, 1997 )
Có ai hiểu Kinh Thánh cho bằng Đức Ki-tô. Và sau Ngài, Hội Thánh được uỷ thác sứ mạng giữ gìn và giải thích kho tàng Lời Chúa: “Mọi điều liên hệ đến việc giải thích Kinh Thánh cuối cùng đều phải tuỳ thuộc vào phán quyết của Hội Thánh vì Hội Thánh được Thiên Chúa giao cho sứ mạng và chức vụ giữ gìn và giải thích Lời Chúa” ( Vatican II, Dei Verbum, 12 ).
GẶP GỠ ĐỨC KI-TÔ PHỤC SINH, NIỀM VUI VÀ BÌNH AN
Trong cuộc chuyện trò với Đức Ki-tô, hai môn đệ đang từ tâm trạng buồn chán, thất vọng chuyển sang mừng rỡ hân hoan. Họ cảm thấy an vui, phấn khởi, hy vọng trở lại. “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?" ( c. 32 )
Khi hai môn đệ bắt đầu cuộc hành trình, lòng các ông lạnh giá, ảo não nặng nề, chua chát. Họ đã chắc mẫm hai năm rõ mười rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a mà lòng họ mong đợi. Thế nhưng cái chết của Ngài đã dập tan mọi hy vọng nhen nhúm. Một Đấng Mê-si-a chịu khổ hình thập giá nhục nhã ! Thật chẳng tài nào xảy ra sự kiện đó được ! Chẳng thể tưởng tượng được!
Thế nhưng khi có Đức Giê-su đồng hành và soi lòng mở trí cho họ hiểu về Đấng Thiên Sai chịu đau khổ. Lời Ngài sáng soi và sưởi ấm cõi lòng u tối và lạnh giá của họ. Khi được Ngài mạc khải qua việc bẻ bánh, họ được biến đổi. Họ được biến đổi sâu xa đến nỗi ngay lập tức họ quày quả hăm hở trở về chính nơi họ vừa mới bỏ mà ra đi. Dù trời nhá nhem chạng vạng, lòng họ sáng. Dù đôi chân nặng nề vì cuộc hành trình mới trải qua, tâm hồn họ nhẹ nhõm lâng lâng.
Điều gì đã thực sự xảy ra ? Đức Giê-su đã mở trí cho họ. Hẳn nhiên rồi ! Nhưng còn hơn thế nữa: Ngài đốt lửa trong lòng họ khiến tim họ bừng cháy. Thánh Âu-tinh mách ta một bí quyết để gặp Chúa: “Nếu bạn muốn có sự sống, hãy làm điều các môn đệ đã làm. Họ ban tặng Ngài lòng hiếu khách. Chúa làm như thể cương quyết tiếp tục cuộc hành trình nhưng họ cố nài ép, lưu Ngài lại. Kết thúc cuộc hành trình của mình, họ nói với Ngài: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Chúa tự mạc khải qua việc bẻ bánh. Lòng hiếu khách đã phục hồi điều mà sự thiếu lòng tin đã lấy đi. Vậy, nếu bạn muốn nhận ra Đấng Cứu Thế, hãy đón nhận người lạ. Hãy tìm kiếm Chúa trong việc chia cơm sẻ bánh”.
KẾT LUẬN
Đức Ki-tô có thể đến với tôi như một người lạ tôi gặp trên đường đời, cho dù tôi chỉ gặp mỗi một lần. Lại còn phê bình tôi – mà rất đúng – “Ôi, chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí chậm tin !” Ngài còn có thể đến với tôi trong Kinh Thánh và qua tiệc Thánh Thể khi Linh Mục “bẻ bánh”, nghĩa là Ngài đến với tôi trong Hội Thánh qua Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể. Sau cùng Ngài có thể đến với tôi khi tôi ân cần tiếp đãi người khác. Cử chỉ ấy có thể bù đắp cho sự “trì độn, chậm tin” của tôi, giúp tôi được ơn gặp Chúa.
Gần suốt cuộc đời rong ruổi, bôn ba, suy gẫm lại hoá ra cái đáng quý, “sự cần duy nhất” của đời tôi là chính Đấng Phục Sinh vẫn đồng hành cùng tôi trong cuộc sống. Và rồi khẩn khoản nài xin: “Mời Ngài ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”.
Xin được kết thúc bằng lời cầu nguyện của Cha Pi-ô:
“Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần có Chúa hiện diện để con khỏi quên Chúa. Chúa thấy con dễ bỏ Chúa chừng nào.
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con yếu đuối, con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ. Không có Chúa, con đâu còn nồng nhiệt hăng say.
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn, cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến. Con cần thêm sức mạnh để khỏi dừng lại dọc đường.
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời. Con không dám xin những ơn siêu phàm, chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa và không đòi phần thưởng nào khác ngoài việc được yêu Chúa hơn. ”
Lm. ĐAN QUANG TÂM

 

PS3-A19: CẢM NHẬN: MÙA PHỤC SINH

Các sử liệu cho biết rằng, ngoài việc mừng Chúa Nhật Phục Sinh, thì người Ki-tô hữu vẫn tiếp: PS3-A19

Các sử liệu cho biết rằng, ngoài việc mừng Chúa Nhật Phục Sinh, thì người Ki-tô hữu vẫn tiếp tục mừng Mùa Phục Sinh từ ngay đầu thế kỷ thứ ba. Mùa này trở thành mùa dài nhất trong giáo hội và lâu 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh cho đến Chúa Nhật Hiện Xuống. Đây không phải là mùa để làm việc đền tội. Không được phép ăn chay và quỳ gối. Mùa này là để vui mừng vì những điều tốt lành của Chúa.
Vì sao mùa Phục Sinh lại dài đến như vậy ? Vì người Ki-tô hữu tin rằng biến cố Phục Sinh thì quá lớn lao vào quá trọng đại nên không thể mừng trong một ngày duy nhất, thậm chí trong vòng một tuần lễ mà thôi. Vì sao lại 50 ngày, chứ không phải 10 hoặc 20 ? Vì trong truyền thống Do-thái đã có sẵn một ngày lễ gọi là Ngũ Tuần ( lễ mừng Mùa Gặt ) được cử hành 50 ngày sau lễ Vượt Qua. Khi lễ Ngũ Tuần trở thành một ngày lễ mà Ki-tô giáo mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống, thi các Ki-tô hữu đã biến giai đoạn giữa lễ Vượt Qua và lễ Ngũ Tuần thành Mùa Phục Sinh.
Các thượng tế và Pha-ri-sêu nói với Phi-la-tô: “Xin ngài truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.” ( Mt 27, 67 )
Đâu là chuyện bịp đầu tiên, nghĩa là sự gian dối đầu tiên ? Những nhà lãnh đạo Do-thái, ngay từ đầu, đã nghĩ rằng Đức Giê-su là một tiên tri giả. Do đó, sự nổi danh của kẻ lừa đảo này là sự gian dối đầu tiên. Trong phần trước của Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, các ký lục và Pha-ri-sêu yêu cầu Đức Giê-su đưa ra một dấu chỉ. Ngài trả lời rằng họ chẳng được nhìn thấy dấu chỉ nào ngoài dấu chỉ của Giô-na: Cũng như Giô-na ở trong lòng cá voi ba ngày ba đêm, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.
Khi chiến đấu với Đức Tin, chúng ta đứng trước ngã ba đường:
Một là cố gắng tìm ra bằng chứng. Điều khó khăn là dường như không bao giờ ta có đủ bằng chứng bởi vì rốt cục Thiên Chúa quá vĩ đại nên không thể vừa tầm với trí óc chúng ta.
Hai là chọn con đường đã được mở ra cho ta đón nhận món quà tình yêu. Đức Tin là một điều có thực, một điều mà ta có thể cảm nghiệm, và Thiên Chúa ban cho mỗi người như một quà tặng. Chúng ta không thể chứng minh được tình yêu của một ai khác dành cho mình. Nhưng chúng ta có thể trả lời: “Khi một ai đó yêu thương tôi, thì tôi có thể nhìn thấy dấu chỉ của tình yêu của họ”. Thế thì dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc đời của tôi là gì ?
Xin hãy dành một chốc lát thinh lặng với Chúa và suy nghĩ xem...
Theo 6 minutes. JOHN PHAM gửi về. Gs. TRẦN DUY NHIÊN dịch

 

PS3-A20: QUẢ TRỨNG RỖNG - Truyện

Jeremy sinh ra với một thân hình co quắp, chậm phát triển trí tuệ kèm với một căn bệnh mãn: PS3-A20 FB

Jeremy sinh ra với một thân hình co quắp, chậm phát triển trí tuệ kèm với một căn bệnh mãn tính đang giết dần giết mòn sự sống non trẻ của em. Tuy thế, cha mẹ em cũng cố gắng tạo cho em một cuộc sống thật bình thường bằng cách gởi em đến học trường tiểu học St. Theresa.
Tuy đã 12 tuổi, Jeremy vẫn còn học ở lớp hai, và có vẻ không có khả năng học tập. Cô giáo Doris Miller thường căng thẳng vì em. Em loay hoay trên ghế ngồi, mũi dãi chảy ra và lầm bầm không rõ tiếng. Thỉnh thoảng em nói lên được một câu rõ ràng minh bạch, cứ như là một tia sáng bỗng rọi vào bóng tối của đầu óc em... Cô giáo cố hết sức để không quan tâm đến tiếng ồn và cái nhìn ngây dại của Jeremy. Nhưng một hôm em khập khiễng lê chân đi lên bàn cô. Em nói đủ lớn tiếng cho cả lớp nghe: “Thưa cô Miller, em thương cô”. Những em khác cười khúc khích, còn cô Doris thì ngượng đỏ mặt. Cô lắp bắp: “Ờ... Ờ... Tốt lắm Jeremy. Bây giờ em về chỗ nhé !”
Mùa xuân đến, và các em học sinh phấn khởi nói về Phục Sinh. Cô Doris kể cho các em nghe chuyện Chúa Giê-su, và để nhấn mạnh đến cuộc sống mới đang nảy sinh, cô đưa cho mỗi em một quả trứng lớn bằng nhựa. Cô bảo: “Này, cô muốn các em đem về và ngày mai đem trở lại sau khi đã đặt vào đó một cái gì nói lên sự sống mới. Các em hiểu không ?” “Thưa cô, hiểu !” Tất cả mọi em đều hăng hái trả lời như thế, ngoại trừ Jeremy. Em chỉ trầm ngâm lắng nghe; mắt em không hề rời mặt cô. Thậm chí em cũng không lầm bầm như mọi khi. Không biết em có hiểu những điều cô nói về Chúa Giê-su không ? Không biết em có hiểu lời cô dặn dò không ?
Sáng hôm sau, 19 em học sinh đến trường, cười cười nói nói khi đặt trứng vào một giỏ mây trên bàn cô Miller. Sau môn toán là đến lúc mở các quả trứng. Trong quả thứ nhất, cô Doris thấy một đóa hoa. Cô bảo: “Vâng phải rồi, hoa là dấu hiệu của sự sống mới. Khi cây đâm chồi ra khỏi đất thì ta biết rằng mùa xuân đã đến.” Một bé gái ở hàng đầu đưa tay lên nói to: “Trứng của em đấy, thưa cô !”. Quả kế tiếp chứa đựng một con bướm bằng nhựa, giống như thật. Cô Doris đưa lên. “Tất cả chúng ta biết rằng sâu biến thành một con bướm đẹp. Vâng, đây cũng là một sự sống mới.” Cậu bé Judy hãnh diện mỉm cười và nói: “Thưa cô, trứng đó là của em !”
Cô Doris lại mở quả trứng thứ ba. Cô chưng hửng. Quả trứng rỗng tuếch ! Chắc chắn là trứng của Jeremy – cô nghĩ thế – dĩ nhiên rồi, vì nó không hiểu lời dặn dò của cô. Bởi không muốn làm cho em lúng túng nên cô bình thản để quả trứng qua một bên và cầm lên một quả khác. Bỗng dưng Jeremy nói rõ: “Thưa cô, cô không nói gì về cái trứng của em sao ?” Cô bối rối trả lời: “Nhưng Jeremy này, trứng của em trống rỗng mà !” Nó nhìn sâu vào mắt cô và khẽ nói: “Vâng, nhưng mộ Chúa Giê-su cũng rỗng mà !”
Thời gian như dừng lại. Khi có thể mở miệng lại được, cô Doris hỏi em: “Em biết vì sao mộ lại trống không ?” Jeremy hô lên: “Thưa cô biết ! Chúa Giê-su bị giết và được đặt vào đó. Rồi Cha của Chúa cho Chúa sống lại !” Chuông ra chơi chợt reo vang. Khi các em bé ùa chạy ra sân, thì cô Doris khóc. Sự lạnh nhạt trong lòng cô đã hoàn toàn tan biến mất rồi.
Ba tháng sau, Jeremy chết. Những người đến nhà xác viếng thăm em đều ngạc nhiên khi nhìn thấy có 19 quả trứng đặt trên chiếc mũ của em... và tất cả các trứng ấy đều rỗng.
NGUYỄN HIỀN sưu tầm và gởi về. TRẦN DUY NHIÊN dịch

 

PS3-A21: Đau khổ

Đức Kitô phải chịu nhiều đau khổ trước khi được bước vào chốn vinh quang. Chúng ta thường: PS3-A21

Đức Kitô phải chịu nhiều đau khổ trước khi được bước vào chốn vinh quang. Chúng ta thường nghe nói:
- Đã là người thì ai cũng phải đau khổ, cũng như bông hồng nào mà chẳng có gai, cuộc đời nào mà chẳng có những đắng cay của nó.
Hơn thế nữa, những người đạo đức thánh thiện lại thường gặp phải nhiều gian nan và thử thách, như một câu danh ngôn đã bảo:
- Khi yêu thương ai chúng ta thường gởi tặng họ những bông hồng. Nhưng đối với Thiên Chúa thì khác, khi yêu thương ai, Ngài thường gửi tặng họ những gai nhọn.
Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện ông Gióp trong Cựu ước. Ông là một người đạo đức luôn trung thành với Chúa, nhưng rồi Chúa đã thử thách ông. Của cải thì bị mất mát. Con cái thì bị chết chóc, còn chính bản thân thì lại bị ghẻ chốc, đến nỗi ông đã phải thở than:
- Vô phúc thay cho cái ngày tôi được sinh ra.
Tiên tri Elia sau nhiều năm hăng hái bênh vực cho đường lối của Thiên Chúa nơi dân Do Thái, thế nhưng về cuối đời, ông đã bị hoàng hậu Giêdaben tìm giết, khiến ông nản chí và muốn tìm cái chết cho xong chuyện.
Tiên tri Giêrêmia cũng vậy, sau những tháng ngày chu toàn bổn phận chuyển đạt thánh ý Thiên Chúa cho dân chúng, để rồi cuối cùng ông đã bị dân chúng đánh đập, tống giam và tìm cách giết chết, khiến ông đã phải than thở:
- Tôi sinh ra mà làm gì để rồi phải chứng kiến những tang thương khổ cực và nhục nhã.
Bước sang Tân ước, chúng ta cũng sẽ ghi nhận được sự thật ấy: Ai là người thánh thiện tuyệt vời cho bằng Mẹ Maria, thế mà cuộc đời của Mẹ cũng chất đầy những hy sinh gian khổ. Nào là phải xuống Bêlem để đăng ký hộ khẩu giữa lúc đang mang thai và sắp đến ngày sinh nở. Nào là giữa đêm khuya phải lên đường chạy trốn sang Ai Cập để thoát khỏi sự lùng bắt của Hêrôđê. Nào là những hy sinh âm thầm dưới mái nhà Nagiaret. Nào là những khổ đau khi mẹ con phải chia lìa và nhất là những tê tái và tan nát khi Mẹ đứng dưới chân cây thập giá, chứng kiến cái chết ê chề của người con yêu dấu.
Ngay cả Chúa Giêsu cũng đả không miễn trừ cho mình cái định luật ấy: Phải đau khổ để được vào chốn vinh quang. Sinh ra trong nghèo túng. Lớn lên trong lao động cực nhọc. Rao giảng trong lang thang vất vưởng:
- Con cáo có hang, chim trời có tổ nhưng Con Người không có cả chỗ tựa đầu.
Và nhất là Ngài đã chết đi trong tủi nhục. Chúa chính là Đấng xuống thế để cứu chuộc nhân loại, chính là Đấng hiểu rõ giá trị của sự khổ đau hơn ai hết, thế mà đối diện với cái chết Ngài cũng đã lo sợ:
- Lạy Cha, xin cất chén đắng này cho con, nhưng không theo ý con, một théo ý Cha mà thôi.
Thế nhưng cùng với cái chết này, Ngài đã bước vào chốn vinh quang và hoàn tất công cuộc cứu độ mà Chúa Cha đã trao phó.
Một khi Chúa đã đi con đường thập giá, thì chúng ta, những người môn đệ của Ngài, cũng sẽ không có một con đường nào khác, ngoài con đường thập giá, như lời Ngài đã phán:
- Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta.
Thập giá cuộc đời chúng ta là những vất vả cực nhọc, những hy sinh gian khổ, những đớn đau buồn phiền. Thế nhưng, nếu chúng ta biết chấp nhận vì lòng yêu mến Chúa, thì thập giá sẽ là con đường dẫn chúng ta vào vinh quang.

 

PS3-A22: ĐƯỜNG HY VỌNG (Lc 24, 13-35)- ĐC Giuse Ngô Quang Kiệt

Bài Tin Mừng hôn nay thật đẹp. Đẹp vì lời văn óng ả. Đẹp vì tình tiết ly kỳ. Đẹp vì tình nghĩa: PS3-A22 FB

Bài Tin Mừng hôn nay thật đẹp. Đẹp vì lời văn óng ả. Đẹp vì tình tiết ly kỳ. Đẹp vì tình nghĩa đậm đà. Đẹp vì những tư tưởng thần học thâm sâu. Nhưng đẹp nhất là vì bài Tin Mừng chất chứa một niềm hy vọng trong sáng, xua tan mọi bóng tối thất vọng não nề.

Hai môn đệ rời Giêrusalem trở về làng cũ. Giêrusalem là trung tâm tôn giáo. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của sa sút niềm tin. Giêrusalem là trung tâm hoạt động. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của chán nản buông xuôi. Trước kia hai ông đã bỏ nhà cửa, gia đình để đi theo Đức Giêsu. Nay hai ông trở về như hai kẻ thua cuộc. Ngày ra đi ôm ấp giấc mộng thành đạt. Ngày trở về ôm nặng một mối sầu. Sầu vì đã mất Người Thầy yêu quí. Sầu vì giấc mộng không thành. Hai linh hồn sầu não, thất vọng lê bước trong ánh mặt trời chiều.

Nhưng giữa lúc buồn tủi, thất vọng ấy, Đức Giêsu đã xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực lên giữa màn đêm đen. Niềm vui rộn rã xoá tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm những trái tim lạnh giá. Vì Đức Giêsu đã đem đến cả một trời hy vọng.
Đọc trong bài Tin Mừng, ta thấy Đức Giêsu đã nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn các môn đệ Emmau bằng ba loại ánh sáng.

1- Anh sáng đức tin thắp lên niềm hy vọng.

Hai môn đệ đã chứng kiến cuộc sống và cái chết của Đức Giêsu từ đầu cho đến cuối. Các ông đã thấy biết bao nhiêu phép lạ Người làm. Các ông đã nghe biết bao lời hay ý đẹp từ miệng Người phán ra. Các ông đã công nhận Người là một "Ngôn sứ đầy uy thế xét về việc làm cũng như lời nói". Các ông đã hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel. Nhưng cuộc thương khó và cái chết của Đức Giêsu khiến các ông chán nản và thất vọng. Đến nỗi khi các phụ nữ ra mộ, gặp Thiên Thần báo tin Chúa đã phục sinh, về kể lại cho các ông mà các ông vẫn không tin.

Bấy giờ Đức Giêsu bảo các ông " Lòng trí các anh sao mà chậm tin lời các ngôn sứ vậy ". Đức Giêsu kêu gọi đức tin trở về. Đức Giêsu khơi dậy đức tin đã lụi tàn của các ông. Không có đức tin, các ông nhìn các biến cố bằng cặp mắt phàm trần và các ông không hiểu gì. Khi có đức tin, các ông sẽ hiểu tất cả. Đức tin là nguồn ánh sáng giúp ta nhìn ra ý nghĩa của các biến cố trong cuộc đời. Đức tin là đốm lửa thắp lên niềm hy vọng giữa đêm đen tuyệt vọng.

2- Anh sáng lời Chúa gieo mầm hy vọng.

Hai môn đệ đã đọc Kinh Thánh. Các ông thuộc vanh vách sách Lề Luật của Môsê, các Ngôn sứ và Thánh vịnh. Thế nhưng các ông vẫn thất vọng. Vì các ông đọc Kinh Thánh mà không hiểu Kinh Thánh. Các ông học Kinh Thánh như học một bài thuộc lòng. Các ông đọc Kinh Thánh như đọc một bản văn cổ, chỉ có những con chữ vô hồn.

Đức Giêsu phải giải thích Kinh Thánh cho các ông. Bắt đầu từ sách Lề Luật, rồi lời các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. Khi nghe Chúa nói, tim các ông rộn ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng như thể một ngọn lửa nhen nhúm trong lòng. Đức Giêsu đã dạy các ông một cách đọc Kinh Thánh mới mẻ. Phải đọc giữa những hàng chữ để thấy rõ những ý nghĩa nhiệm mầu. Phải tìm sau những hàng chữ để thấy được ý định kỳ diệu của Thiên Chúa. Phải đọc Kinh Thánh dưới sự hiện diện của Thiên Chúa. Phải thấy bóng dáng Thiên Chúa thấp thoáng suốt những trang sách. Và phải đọc Kinh Thánh với một trái tim yêu mến tha thiết.

Khi trái tim mở rộng đón nhận, lời Chúa sẽ gieo vào hồn ta những mầm mống hy vọng. Và cuộc đời sẽ thấy lại ý nghĩa, tìm được niềm vui.

3- Anh sáng Thánh Thể nuôi dưỡng niềm hy vọng

Niềm hy vọng trở thành hiện thực khi Đức Giêsu bẻ bánh. Chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các môn đệ nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không còn là hy vọng nữa, nhưng đã trở thành hiện thực. Hết còn những bán tin bán nghi. Hết còn những hoang mang lo lắng. Hết còn những thấp thỏm lo âu. Vì các ông đã gặp được chính niềm hy vọng.

Cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đã mãn nguyện. Đức Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhâp vào những xác thân mệt mỏi rã rời. Dường như dòng máu đã trở nên đỏ thắm. Dường như những tế bào đã trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đã trở nên rộn rã nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời còn sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường về lúc trời đã tối đen mà sao thấy tươi vui, gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà vì con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa mà vẫn an tâm vì con mắt đức tin đã mở ra, vì vẫn biết có Chúa ở bên.Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm tin. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.
Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, đường buồn trở nên vui. Vì nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.

Đời sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hãy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên đường Emmau : Hãy biết nhìn các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, mọi đau khổ sẽ xuất hiện với một ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc đời. Anh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hãy biết nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đừng đọc Kinh Thánh như đọc tiểu thuyết. Đừng học hỏi Kinh Thánh như học một lý thuyết. Hãy đọc với tình yêu. Hãy tìm bóng dáng Chúa xuyên qua các hàng chữ. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa. Lời Chúa sẽ như một hạt giống gieo vào lòng ta mầm hy vọng xanh tươi. Và sau cùng hãy đến với Đức Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Hãy kết hiệp với Đức Giêsu trong Thánh Thể. Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta.

Đường đời chúng ta cũng như quãng đường từ Giêrusalem đi Emmau. Khi ta không có niềm hy vọng thì con đường ta đi thật dài, thật xa, thật buồn, thật tối dù ta đi giữa ban ngày. Nhưng khi ta có niềm hy vọng, con đường sẽ trở nên gần gũi, vui tươi, và sáng sủa dù ta đi trong bóng đêm.

Lạy Đức Giêsu Phục Sinh là niềm hy vọng của con. Xin cho đường con đi trở thành đường hy vọng vì luôn có Chúa ở bên con.

Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt


 

PS3-A23: SLC- Đam mê

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta nhận thấy mặc dù Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ: PS3-A23

Qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay chúng ta nhận thấy mặc dù Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường về Emmaus, nhưng các ông đã không nhận ra Ngài. Vậy tại sao các ông lại không nhận ra Ngài ?
Nếu không lầm, thì chúng ta thấy hai môn đệ này cũng như phần đông các tông đồ và những người Do Thái khác có một quan niệm lệch lạc về Đức Kitô… Họ nghĩ rằng Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu vớt dân tộc họ phải là một người hùng mạnh như Đavid, khôn ngoan như Salomon, với binh đội hùng hậu, giải thoát họ khỏi sự kìm kẹp của đế quốc La mã và dẫn đưa dân tộc họ tới một thời đại hoàng kim.
Trong khi bước theo Chúa, hai môn đệ này, cũng như phần đông các tông đồ khác, đều ươm mơ một giấc mộng phù phiếm, nặng mùi địa vị và xôi thịt. Một mai khi Chúa thành công, thì họ sẽ được ngồi bên tả và bên hữu Chúa, nghĩa là họ sẽ được nắm giữ những vai trò, những chức vụ quan trọng trong triều đình, trong vương quốc của Chúa.
Thế rồi Chúa đã bị bắt và bị giết trên thập giá, như một tên tội phạm, như một kẻ phản loạn. Giấc mơ mà họ đã vun xới từ bấy lâu nay, bỗng dưng sụp đổ và tan theo mây khói. Giữa lúc chán nản và tuyệt vọng ấy, họ đã tính đến chuyện rã ngũ, trở về quê cũ để làm ăn, với một giấc mộng bình thường mà thôi. Chính nỗi tuyệt vọng ấy đã che lấp cặp mắt của họ, và họ đã không nhận ra Chúa, mặc dù Ngài đang đồng hành, đang sóng bước, đang cùng đi với họ.
Từ kinh nghiệm của hai môn đệ ấy, chúng ta dọi chiếu vào cuộc đời, và chúng ta cũng nhận thấy, có nhiều lúc Chúa ở thật gần với chúng ta mà chúng ta vẫn không nhận biết Ngài. Ngài cùng bước đi với chúng ta mà cõi lòng chúng ta vẫn nguội lạnh băng giá. Sở dĩ như vậy là vì có những đam mê mù quáng đã che lấp cặp mắt chúng ta.
Đam mê ấy có thể là giấc mộng vinh quang về chức tước, về địa vị xã hội, như hai môn đệ Emmaus. Chúng ta muốn có một chỗ đứng ngoài xã hội với bất cứ giá nào, mặc dù có phải bỏ quên Chúa, mặc dù có phải chà đạp lên kẻ khác. Tuy nhiên chúng ta nên nhớ, danh vọng và chức tước như của đồng lần được chuyển từ người này sang người khác, như tục ngữ đã nói :
- Quan nhất thời, dân vạn đại.
Đam mê ấy có thể là giấc mộng về tiền tài. Chúng ta vật lộn, nai lưng ra để tìm tiền kiếm bạc, cho dù có phải vùi dập bản thân, gia đình và hành động bất công với những người chung quanh. Tuy nhiên chúng ta nên nhớ, chữ tiền thường đi đôi với chữ bạc. Khi còn là một tên đầy tớ, nó sẵn sàng phục vụ chúng ta. Nhưng một khi đã lên ngôi ông chủ, nó sẵn sàng bóp nghẹt con tim chúng ta, để rồi chúng ta quên lãng Thiên Chúa, và cư xử bất công với những người anh em.
Sau cùng đam mê ấy có thể là những vui thú phần xác. Vì nó mà đời sống đạo đức của chúng ta trở nên nhếch nhác, vì nó mà chúng ta sẵn sàng bỏ ngoài tai những dư luận, những lời nhắc bảo và cảnh cáo của người khác. Phần đông giới trẻ ngày nay mất đức tin, không phải vì thiếu hiểu biết, nhưng vì đã sống một đời sống bê bối và sa đọa về luân lý.
Tất cả những đam mê ấy đã bịt chặt đôi mắt tâm hồn, để chúng ta không còn nhận  ra Chúa, và có nhận ra thì cũng chẳng có đủ can đảm bước theo Ngài.

 

PS3-A24: SLCTTY/154- Người lữ khách

Thành phố Pleiku, đồi núi chập chùng, sương mù dầy đặc. Tác giả mượn khung cảnh đó để: PS3-A24

Thành phố Pleiku, đồi núi chập chùng, sương mù dầy đặc. Tác giả mượn khung cảnh đó để vẽ lên bối cảnh của cuộc đời. “Anh Khách Lạ”. Nếu ví đời là cuộc lữ hành, thì mỗi người sẽ là người lữ khách đang rảo bước trong cuộc hành trình đó. Cảnh “đi lên đi xuống” của một thành phố trên núi tượng trưng cho sự thăng trầm của cuộc đời. “May mà có em, đời còn dễ thương”. May mà có anh, có em, có cha, có mẹ, có bạn bè và nhất là Thiên Chúa cùng đồng hành với ta để chung niềm vui : “Niềm vui góp lại, niềm vui lớn”. Và nếu có âu lo : “Nỗi lo chia sẻ, nỗi lo vơi”. Được như vậy thì may mắn quá, dù cuộc đời có ra sao cũng vẫn đẹp như thường !
Bài Phúc âm hôm nay, diễn tả câu chuyện hai môn đệ trên đường về Emmau, với những tâm trạng giống như bài hát ở trên. Theo Luca, tất cả chúng ta là những người lữ khách trên cuộc hành trình về quê trời. Trong cuộc hành trình đức tin đó có Chúa Giêsu cùng đồng hành với chúng ta. Ngài nói với chúng ta qua Thánh Kinh và Bàn tiệc Thánh Thể.
Đoạn đường từ Giêrusalem về Emmau, có lúc đã đầy hân hoan phấn khởi. Khi rời Emmau lên đường theo Chúa Giêsu, hai môn đệ ra đi với bao nhiêu hoài bão và mơ ước về tương lai. Bây giờ trở về, tâm hồn của họ chất đầy buồn phiền, chán nản và thất vọng. Cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu trên thập giá làm tiêu tan niềm hy vọng của họ. Đoạn đường thăng trầm này biểu tượng cho đời sống đức tin của người Kitô hữu, người lữ khách đang tiến bước về quê trời.
Thời xưa, ở Hy Lạp có một trường phái triết học định nghĩa cuộc đời là sự chuyển động. Bất cứ sự gì trong trạng thái tĩnh, bất động đều không tồn tại. Cuộc sống nhân sinh gồm những hoạt động về thể lý, tâm lý, tình cảm, xã hội và tinh thần luôn thay đổi và chuyển tiếp.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong cuốn sách Tiến Về Ngàn Năm Thứ Ba cũng đã nói : “Đời sống trên trái đất là một cuộc lữ hành. Chúng ta ý thức rằng mình đang qua thế giới này. Đời sống con người chắc chắn có khởi đầu và có kết thúc. Nó bắt đầu khi ta sinh ra và kéo dài cho tới lúc chết. Con người là một hữu thể chuyển tiếp
Archimandrite Kallistos Ware kể lại : “Một trong những Giáo Phụ sống ở sa mạc Ai Cập vào thế kỷ thứ 4, thánh Sarapion the Sindonite xưa kia đã đi hành hương tới Rôma. Tại đây, người ta đã kể cho ngài nghe về một nữ ẩn tu, sống trong một căn phòng nhỏ, không bao giờ bước ra ngoài. Trong khi đó thánh Sarapion lại là một người lữ hành nổi tiếng đi lang thang khắp các nơi. Bi quan về cách sống của người nữ ẩn tu, thánh Sarapion đã đến viếng thăm bà và hỏi : “Tại sao chị lại ngồi ở đây ?” Bà trả lời rằng : “Tôi không ngồi yên. Tôi đang đi trên cuộc hành trình cơ mà !”
“Tôi không ngồi yên. Tôi đang đi trên cuộc hành trình”". Mỗi người Kitô hữu có thể áp dụng những lời này cho chính mình. Là một người Kitô hữu có nghĩa là một người lữ khách. Tình trạng của chúng ta giống tình trạng của dân Do Thái bước đi trong sa mạc Sinai. Chúng ta đang hành trình đi qua khoảng không gian nội tâm của tâm hồn, một cuộc hành trình không được đo lường bởi giờ giấc của chiếc đồng hồ, hay ngày tháng của cuốn lịch, bởi vì nó là cuộc hành trình từ thời gian đi vào vĩnh cửu.

 

PS3-A25: SLCTTY/154- Người lữ khách

Sáng mai, ta sẽ mổ tim của cháu ra”, bác sĩ giải phẫu tim nói với em bé trai. Em trả lời, “Ong: PS3-A25

“Sáng mai, ta sẽ mổ tim của cháu ra”, bác sĩ giải phẫu tim nói với em bé trai. Em trả lời, “Ông sẽ tìm thấy Chúa Giêsu ở đó”. Bác sĩ ngước mặt lên nhìn, buồn bã. “Tôi sẽ mổ tim của em ra”, ông nói tiếp, “để xem xem nó đã bị bệnh gì”. “Nhưng khi ông mở tim của cháu ra”, em bé nói, “ông sẽ tìm thấy Chúa Giêsu ở đó”. Bác sĩ giải phẫu lại nhìn vào cha mẹ của em đang ngồi im lặng bên cạnh giường bệnh và nói : “Khi tôi trông thấy trái tim bị bệnh như thế nào, tôi sẽ khâu trái tim và ngực cháu lại, rồi tôi sẽ dự định phải làm gì”. Nhưng ông sẽ tìm thấy Chúa Giêsu đang ở trong trái tim của cháu”, em bé cố nhấn mạnh. “Thánh Kinh nói rằng Người ở đó mà. Tất cả những bài ca Thánh Vịnh đều nói Người sống ở đó. Ông sẽ tìm thấy Người trong trái tim của cháu”. Bác sĩ cảm thấy đã đủ, bèn lạnh lùng nói : “Ta sẽ nói cho cháu biết ta sẽ tìm thấy cái gì trong trái tim của cháu. Ta sẽ tìm thấy cơ bắp nào bị hỏng, làm cho máu chảy chậm và những động mạch nào bị yếu. Và ta sẽ tìm ra cách để làm cho cháu khỏe lại”, “Ông sẽ thấy Chúa Giêsu ở đó”, đứa bé tiếp tục nói, “Người sống ở đó mà !” Bác sĩ giải phẫu bỏ phòng bệnh nhân bước ra đi.
Sau cùng, bác sĩ đã ngồi trong văn phòng làm việc, ghi lại những chi tiết về cuộc giải phẫu, “Van tim bị hỏng, động mạch phổi bị hỏng, sự suy thoái của cơ bắp thịt trong tim lan rộng. Thay tim không hy vọng gì, cũng không mong điều trị được. Phương pháp điều trị : thuốc giảm đau và nghỉ ngơi. Tiên đoán…” Viết tới đây, ông ngừng lại suy nghĩ, “chết trong vòng một năm”. Ông ngừng bản báo cáo, nhưng cảm thấy còn có điều gì nữa để nói. Ông hỏi lớn : “Tại sao ?” Rõ ràng rằng ông đang nói chuyện với Thiên Chúa. “Tại sao Ngài đã làm như vậy ? Ngài đã mang nó tới đây ; Ngài đã đặt nó vào cơn đau đớn này ; và chính Ngài đã chúc dữ cho nó chết sớm. Tại sao ?” Những giọt nước mắt nóng hổi chảy xuống, nhưng cơn giận của ông còn nóng hơn nữa. “Ngài đã tạo dựng nên em bé, và Ngài đã làm nên trái tim đó. Nó sẽ chết trong vòng vài tháng nữa. Tại sao ?”
Cuộc đối thoại giữa ông bác sĩ giải phẫu và Thiên Chúa đã bắt đầu. Trong cuộc đối thoại đó, ông bác sĩ tuyệt vọng này đã khám phá ra sự hiểu biết mới về tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa. Rồi ông khóc. Bây giờ ông đang ngồi bên cạnh giường bệnh của em bé trai ; cha mẹ của em ngồi đối diện với ông. Bỗng chú bé thức dậy thì thầm, “Ông đã mổ trái tim của cháu ra chưa ?” “Rồi”, Bác sĩ trả lời. “Ông đã tìm thấy cái gì ?” em bé hỏi. “Tôi đã tìm thấy Chúa Giêsu ở đó”. Bác sĩ thành thật trả lời.
Trong cuộc hành trình trên trần gian, Thiên Chúa luôn hiện diện để đồng hành với con người, nhưng nhiều khi con người không nhận ra Ngài. Thánh Luca diễn tả “Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người”. Mắt họ bị ngăn cản bởi cái gì ? Có lẽ bởi sự buồn rầu và tuyệt vọng vì cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu. “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel”.
Theo sự giải thích của Wiliam Barlay, Emmau ở hướng tây của Giêrusalem. Hai môn đệ đi về Emmau vào lúc trời chiều. Anh mặt trời chiếu chói lòa vào mắt họ nên họ đã không nhận ra Chúa Giêsu. Mang tính cách biểu tượng, người Kitô hữu luôn lên đường hướng về ánh bình minh với hy vọng, không bao giờ quay trở về phía hoàng hôn với bóng tối, buồn rầu, và thất vọng! Xưa kia, dân Israel đã du hành trong hoang địa đi về phía ánh bình minh để tiến vào đất hứa.
Điểm cốt yếu của câu chuyện là việc Chúa Giêsu đã làm họ nhận ra Ngài. Ngài đã cắt nghĩa cho họ hiểu ý nghĩa của khổ nạn : “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” Và chương trình cứu độ của Thiên Chúa đã được mạc khải trong Thánh Kinh : “Bắt đầu từ Môsê và các tiên tri, Người giải thích cho hai ông tất cả lời Thánh Kinh nói về Người”. Rồi họ ngồi vào bàn tiệc : “Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông”. Sau cùng họ đã nhận ra Người. Sự hiện diện của Ngài đã làm cho cuộc đời trở nên có ý nghĩa, đêm tối trở thành ánh sáng.
“Trong khi con người cố gắng tìm biết Thiên Chúa, nhìn thấy thánh nhan Ngài, và cảm nghiệm được Ngài hiện diện thì Thiên Chúa hướng tới con người và cho con người nhận biết sự sống của Ngài. Công đồng Vatican II bàn rất rộng rãi về tầm quan trọng của việc Thiên Chúa can thiệp vào thế giới. Công đồng giải thích rằng : “Qua mạc khải, Thiên Chúa muốn tỏ mình ra và thông ban chính Mình Ngài, cũng như những điều Ngài đã muốn ấn định từ muôn thuở về phần rỗi của con người”.
Qua lời Chúa và Bàn tiệc Thánh Thể, hai môn đệ đã tìm thấy ý nghĩa của biến cố. Họ đã quay trở lại Giêrusalem nơi cuộc khổ nạn và cái chết bi đát đã xảy ra và can đảm đối diện với nó bằng đức tin và niềm hy vọng.
Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể “làm thành một hành vi phụng tự duy nhất” của Giáo Hội. Người hướng dẫn ta qua lời Chúa được ghi chép trong Kinh Thánh, và trở nên nguồn sức mạnh nuôi dưỡng linh hồn ta trong Bí tích Thánh Thể.
Vì thế, thánh Giêrônimô đã nói : “Không hiểu biết Thánh Kinh là không hiểu biết Chúa Kitô”. Và Bí tích Thánh Thể làm cho mầu nhiệm của Chúa Kitô “trở nên hiện tại” cho chúng ta, để “đặt chúng ta trong niềm hiệp thông” với Thiên Chúa, hầu giúp chúng ta “sinh nhiều hoa trái”.

 

PS3-A26: CSLC/100- Chúa sống lại

Đối với con mắt trần gian của chúng ta thì chết thật là buồn thảm, thật là chán nản, vì chết là: PS3-A26

Đối với con mắt trần gian của chúng ta thì chết thật là buồn thảm, thật là chán nản, vì chết là hết, chết thì không còn gì nữa trong trần gian này. Sự nghiệp của một người thường chấm dứt khi người ấy nhắm mắt xuôi tay. Giả như sự nghiệp của người ấy có vĩ đại, công trình của người ấy có lớn lao và quan trọng, thì may ra còn để lại ảnh hưởng nào đó cho những người kế tiếp. Nhưng khi chết như một tên trộm cướp, một tên đại gian ác, vỏn vẹn chỉ có dăm ba người thân thích dám có mặt lúc bị hành hình, thì thực không còn gì mà tin tưởng nữa. Đó là trường hợp của Chúa Giêsu. Thập giá đã kết liễu cuộc đời đầy hứa hẹn của Chúa, thập giá đã chôn vùi mọi hy vọng và tin tưởng trong lòng những người theo Chúa, mọi sự đã sụp đổ và tiêu tan hoàn toàn.
Đối với các môn đệ của Chúa Giêsu, sau khi Chúa chết, tâm trạng của các ông là như thế. Nhưng thực sự chưa hẳn thế, biết đâu Chúa đã sống lại thật như Ngài đã nhiều lần tuyên bố trước đây ? Nhất là sáng sớm hôm nay, ngày Chúa nhật đầu tiên sau khi Chúa chết, mấy người phụ nữ đến viếng mộ Chúa, họ không thấy xác Chúa, và họ quả quyết Chúa đã hiện ra với họ. Đó là những điều đang làm cho các môn đệ của Chúa băn khoăn suy nghĩ. Cụ thể là hai môn đệ mà bài Tin Mừng kể lại, hai ông không hiểu ra sao nữa, thôi đành tạm rời Giêrusalem về quê cũ, rồi sau sẽ hay, nhưng trên đường về làng Emmau, Chúa Giêsu hiện ra cùng đồng hành với hai ông và trò chuyện với hai ông.
Nhưng hai ông chưa nhận ra đó là Chúa Giêsu Phục sinh mà chỉ tưởng là một người bộ hành nào đó tình cờ gặp trên đường, nên các ông mời ghé lại quán bên đường dùng cơm và tiếp tục câu chuyện. Vào quán, khi dùng bữa, Chúa Giêsu phải dùng đến những cử chỉ quen thuộc, cầm lấy bánh, nói lời chúc tụng Thiên Chúa, bẻ ra, trao cho hai ông, lúc ấy hai ông mới nhận ra Ngài. Vừa nhận ra thì Chúa Giêsu “tàng hình” đã biến mất. Các ông vui mừng quá, quay trở lại Giêrusalem để báo cho các bạn khác biết : Chúa Giêsu đã sống lại thật rồi.
Câu chuyện hai môn đệ đi về làng Emmau cũng là câu chuyện của hết thảy chúng ta, của mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng đi theo Chúa Giêsu, cũng đã tin tưởng vào Ngài. Trong biết bao ngày tháng chúng ta đã nghe những lời Chúa giảng dạy, nhưng cũng như các môn đệ, nhiều khi chúng ta chán nản, vì điều chúng ta trông mong, điều chúng ta cầu xin, mặc dầu rất thiết thân, nhưng cầu mãi, trông hoài mà vẫn chưa được, có khi chúng ta cảm thấy thất vọng, Chúa Giêsu mà chúng ta tin tưởng, xem ra không thắng nổi cuộc thử thách : chúng ta đau, chúng ta chán, chúng ta buồn, chúng ta khổ, đủ thứ cả, thế mà nghe giảng, cầu nguyện cũng không làm cho chúng ta hy vọng gì hơn, giống như hai môn đệ nói : “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel, nhưng việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi”, hai ông đợi đến ngày thứ ba thì đâm ra thất vọng. Cũng thế, chúng ta đợi, chúng ta chờ, có khi đã hơn ba ngày, ba tuần, ba tháng, ba năm mà vẫn không thấy gì, chúng ta đâm ra thất vọng, chán nản, phàn nàn, kêu trách Chúa, thậm chí có người còn ra điều kiện với Chúa hoặc bỏ Chúa.
Nhưng thế nào chăng nữa chúng ta cũng hãy bắt chước hai môn đệ này, hai ông đã thưa với Chúa : “Xin Ngài ở lại với chúng tôi”. Dù hoàn cảnh ra sao, chúng ta cũng hãy xin Chúa : Xin Chúa luôn ở lại với chúng con trên đường đời đầy chông gai và gian khổ này. Xin Chúa ở lại với chúng con trong cái thế giới nhiều hận thù và ghen ghét, còn muốn đóng đinh Chúa nữa này. Xin Chúa lưu lại đây với chúng con, để dạy chúng con biết sống như những Kitô hữu “hồi sinh” và “biết chết” như những kẻ thừa kế của nước trời.
Chúng ta cần phải biết nhạy cảm ngạc nhiên trước mỗi bất ngờ Chúa gửi đến, để trước hết chúng ta cất tiếng ngợi khen cảm tạ Chúa, cũng như khám phá được điều Chúa muốn và rồi đến lượt chúng ta cũng trở thành những bất ngờ cho anh em, trong mục đích hướng lòng họ về với Chúa là Thiên Chúa tình yêu. Và như vậy, trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, chúng ta không bao giờ chán nản, thất vọng, buồn phiền, vì biết rằng Chúa luôn có những bất ngờ cho chúng ta, vì Thiên Chúa là Đấng toàn năng và là Cha nhân từ thương yêu chúng ta vô cùng.

 

PS3-A27: Sau mộng mơ đến than khóc

Các bạn sẽ làm gì khi một ước mơ bị tan vỡ? Con đường Emmau đã được khai mở và các khách: PS3-A27

Các bạn sẽ làm gì khi một ước mơ bị tan vỡ? Con đường Emmau đã được khai mở và các khách hành hương đến Đất Thánh ngày nay đều có thể bước đi trên cũng con đường mà hai môn đệ xưa kia đã từng sải bước trên đó như trong bài Tin Mừng hôm nay thuật lại. Hầu hết chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được sự chia sẻ kinh nghiệm sống của các môn đệ xưa kia. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ sẵn sàng nói lên là chúng ta có được sự cảm nhận trong tinh thần và thể xác mà các môn đệ xưa đã có khi họ bước đi trên con đường với cõi lòng tan vỡ giấc mộng.
Họ là những người đã từng chia sẻ giấc mộng vinh quang với các người khác cho đến lúc này; họ đã ở với Chúa Giêsu và cảm nhận tâm hồn được ấm áp khi có Ngài hiện diện bên cạnh. Tai họ đã từng được nghe lời Ngài giảng dạy, và mắt họ đã từng mục kích những phép lạ Ngài làm. Họ đã từng tin rằng những lời tiên tri xưa nay đã sắp trở thành hiện thực. Tâm hồn họ đã cảm thấy được sự chiến thắng vinh quang khi cùng với Chúa Giêsu bước vào Thành Thánh trong ngày Lễ Lá; đó là lúc tâm hồn họ tràn ngập niềm hân hoan. Tôi thiết nghĩ rằng khi các môn đệ được nghe dân chúng ca khen Chúa Giêsu thì họ đã nghĩ rằng, "Chà chà, nếu Thầy hành động đúng đắn, đừng có đả động con tầu thì đây là lúc thành công vinh quang để giải phóng dân tộc". Tuy vậy dĩ nhiên Chúa Giêsu đã lay động con tầu và "thổi bay" nó đi mất theo như kiểu nói của đám thanh niên thời nay. Có câu nói: Tên những nhân vật quan trọng trong lịch sử xưa không làm "đắm tầu" có thể được in trên phía sau của con tem. Tôi không biết điều ấy đúng hay sai, nhưng tôi biết chắc một điều là Chúa Giêsu là một người làm rung động con tầu cách tuyệt hảo. Ngài vào Đền Thờ và lật đổ bàn ghế những kẻ đổi tiền. Ngài làm cho những người nắm giữ chính quyền và những vị tôn giáo Lập Pháp phải tức giận -- và như thế giấc mơ bắt đầu bị tan vỡ. Trước ngày thứ Sáu đến không những Ngài biết chắc Ngài phải chết, tuy vậy Ngài còn muốn cuộc tử nạn của Ngài thật đau đớn trong con đường Thánh giá, đến độ chịu lấy án của một kẻ tử tội ghê tởm nhất. Nỗi đau đớn ấy quá độ đến nỗi Ngài đã phải kêu lên lúc gần chết: "Lạy Chúa Tôi! Lạy Thiên Chúa của Tôi! Sao Ngài đã bỏ tôi?" Khi mọi sự đã chấm dứt thì các môn đệ rơi vào hố sâu thất vọng. Không còn câu nào trong Thánh Kinh có thể diễn tả nỗi chua cay, buồn chán hơn được nữa như câu mà người môn đệ đã nói trong bài Tin Mừng hôm nay: "Chúng tôi đã hy vọng Ngài là Đấng phải đến để giải phóng dân Israel!"
Sau giấc mơ đến than khóc. Chúng ta than khóc về những nỗi thất vọng, ngã thua, mặc cảm tội lỗi: "Chúng tôi hy vọng Ngài là Đấng giải thoát Israel"... "Chúng tôi hy vọng cuộc sống hôn nhân của chúng tôi sẽ mỹ mãn"... "Chúng tôi hy vọng là nó sẽ học xong"... "Chúng tôi hy vọng là kết quả của nội soi sẽ tốt"... vân vân và vân vân!!! Nhưng Các bạn sẽ làm gì khi các giấc mộng bị tan vỡ?
Thường thường chúng ta mang theo cái cảm tưởng như một chú bé được ông bố khuyến khích cậu đặt câu hỏi. Vào buổi đẹp trời nọ, hai bố con đang đi dạo với nhau thì cậu bé bất ngờ hỏi bố: "Ba à, ánh sáng đến từ đâu vậy ba?" Ông bố trả lời: "À, ba không biết. Ba cũng thường thắc mắc về vấn đề đó nữa". "Vậy rađa nó như thế nào hả ba?" "Ừ, ba cũng không biết nữa". Sau một hồi hỏi qua đáp lại, chú bé biết rằng ba nó cũng chẳng biết khoảng cách giữa trái đất và hỏa tinh cũng như chiều cao của Empire State Building là bao nhiêu, nên nó nói: "Con xin lỗi ba nhá. Con nghĩ là con không nên hỏi ba nhiều như vậy". Ông bố trả lời: "Ái dà, con có lỗi gì đâu; hơn nữa, nếu như con không hỏi thì làm sao con biết thêm các điều được". Nhiều lúc trong cuộc sống chúng ta cũng đặt nhiều câu hỏi nhưng chẳng có câu trả lời, và nó làm cho chúng ta phải nhào lộn trong những cái thất vọng khó chịu, chán chường và mặc cảm; nhưng nó không dừng ở đó. Chúng ta có thể tụ họp như là những phần tử trong một cộng đoàn thờ phượng và xem mình như những môn đệ của Chúa Giêsu xưa trên con đường vỡ mộng. Chúng ta sẽ thấy rằng Thiên Chúa đã dự bị sẵn cho họ những kinh nghiệm hữu ích cho cuộc đời họ ngay trong những mộng vàng tan nát đó. Họ sẽ cảm nghiệm sự Phục Sinh! Họ sẽ tiến tới sự hiểu biết rõ ràng hơn Thiên Chúa là ai, cách thức Ngài hành động, và Ngài đã làm gì cho thế giới trong Đức Giêsu Kitô. Bấy giờ họ chưa sẵn sàng, nhưng Thiên Chúa yêu họ đến nỗi Ngài đã dùng chính nỗi thất vọng và đắng cay của họ để sửa soạn cho họ có thể lãnh nhận sự cảm nghiệm của niềm vui Phục Sinh.
Hai môn đệ trên đường Emmau chân bước mà hồn họ như lạc mất bởi sự chán chường và đau xót đến nỗi họ đã không nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài đến bên họ. Suốt đoạn đường dài bảy cây số, Chúa Giêsu cùng đàm luận thế mà họ cũng chẳng biết là Ngài, chỉ thấy là một người xa lạ. Nếu họ là những người như thế sao có thể sẵn sàng hy hiến mạng sống mình vì Tin Mừng Phúc Âm? Ở đây có một điểm rất hay trong câu truyện này, đó là hai môn đệ kia còn lại trong họ sự quan tâm đến người khác để có thể thi hành phong tục xưa của người Trung Đông là lịch sự mời mọc người xa lạ. Khi họ đã đến Emmau và sắp sửa quẹo vào con đường về nhà mình thì tự động nói với Người Khách lạ rằng: "Xin ông hãy ngụ lại nhà chúng tôi vì trời sắp tối rồi" (Lk 24:29). Ngay khi họ vừa mới làm cử chỉ tự nhiên, mỏng manh của sự lịch sự đó thì tình trạng được thay đổi. Họ đã nhận ra Chúa Giêsu tựa như ánh sáng tỏa sáng cho họ vậy. Sự Phục Sinh đã đến nhưng chỉ có ban cho họ khi họ biết mở rộng tấm lòng của họ ra đối với nhu cầu của người khác; và từ đó họ đã chỗi dậy và chạy. Câu chuyện thuật lại cho chúng ta biết rằng họ đã chạy đi suốt con đường trở lại Giêrusalem để loan báo cho các môn đệ khác. Nhưng họ vẫn không ngừng ở đó, như theo Thánh Luca người đã viết Phúc Âm này cùng với sách Tông Đồ Công Vụ, họ đã ra đi loan báo khắp vùng Địa Trung Hải, Đamascô, Antiôkia, Tiểu Á, Rôma và khắp nơi mà họ có thể để thi hành sứ vụ Chúa Kitô giao phó cho họ. Tuy vậy như đã nói trước các công việc đó, họ cần phải bị làm cho "trống rỗng" để ơn Chúa có thể vào trong tâm hồn họ.

 

PS3-A28: Mời Ông ở lại với chúng tôi

Suy Niệm
 

Dưới dáng dấp một người khách lạ, Chúa Giêsu phục sinh đến với hai môn đệ Emmau. Ngài đến: PS3-A28

Dưới dáng dấp một người khách lạ, Chúa Giêsu phục sinh đến với hai môn đệ Emmau. Ngài đến đúng lúc, đúng lúc họ đang bỏ cuộc, quay quắt và ray rứt vì chuyện đã qua. Ngài đi cùng với họ, đi gần bên họ, khiêm tốn trở thành một người bạn đồng hành. Ngài gợi chuyện, hay đúng hơn, Ngài muốn tham dự vào câu chuyện dở dang của họ.
Chúa Giêsu không nản lòng trước câu trả lời lạnh nhạt: "Chắc chỉ có ông mới không biết chuyện vừa xảy ra...". Ngài không cắt đứt cuộc đối thoại: "Chuyện gì vậy?" Ngài giả vờ không biết để họ nói cho vơi nỗi buồn. Chúa Giêsu kiên nhẫn lắng nghe lời họ tâm sự. "Trước đây, chúng tôi hy vọng rằng..." Như thế niềm hy vọng này chỉ còn là chuyện quá khứ. Cả niềm tin cũng trở nên chai lì, họ đâu có tin vào lời của các bà ra thăm mộ.
Khi lắng nghe, Chúa Giêsu nhận ra cái gút của vấn đề, những câu hỏi mà họ không tìm ra lời giải đáp. Tại sao một người của Chúa, người mà họ tin là Đức Kitô lại bị đóng đinh như một kẻ bị Thiên Chúa chúc dữ?
Chúa Giêsu vén mở ý nghĩa của mầu nhiệm đau khổ. Đau khổ là nhịp cầu mà Đức Kitô phải vượt qua để sang bờ bên kia là vinh quang bất diệt. Đau khổ không phải là chuyện xui xẻo, rủi ro, nhưng nó có chỗ đứng trong chương trình cứu độ.
Lời của Chúa Giêsu là Tin Mừng ngọt ngào, khiến nỗi đau của họ dịu đi, lòng họ như ấm lại.
Họ cố nài ép Ngài ở lại dùng bữa chiều. Và chính lúc Ngài cầm bánh bẻ ra trao cho họ thì họ nhận ra vị khách lạ chính là Thầy Giêsu.
Kinh nghiệm của hai môn đệ Emmau cũng là của chúng ta. Lúc ta tưởng Ngài vắng mặt, thì Ngài lại đang ở gần bên. Lúc ta nhận ra Ngài ở gần bên, thì Ngài lại biến mất rồi. Nhưng chính lúc Ngài biến mất, ta lại cảm nghiệm sâu hơn sự hiện diện của Ngài.
Ngài đến lúc ta không ngờ. Ngài đi mà ta không giữ lại được. Ngài ở lại với ta cả khi ta không thấy Ngài nữa.
Đấng Phục Sinh vẫn đến với ta hôm nay qua một người bạn hay một người lạ ta gặp tình cờ. Qua họ, Ngài thổi vào lòng ta niềm hy vọng tin yêu.
Ngài vẫn đến với ta qua từng thánh lễ. Ngài đích thân giảng Tin Mừng và bẻ bánh trao cho ta.
Sống như Chúa phục sinh là tập đến với tha nhân, tập đồng hành, tập gợi ý, tập lắng nghe, tập soi sáng...
Hôm nay vẫn có nhiều người bạn đang lê gót về Emmau.
Gợi Ý Chia Sẻ
1. Chán nản, bỏ cuộc, bỏ cộng đoàn, mất niềm tin và hy vọng vào Chúa, vào con người.  Bạn có gặp ai sống trong tình trạng như vậy không?  Bạn đã lãm gì để giúp họ?
2. Khi ngắm nhìn Chúa Giêsu đến với hai môn đệ Emmau, bạn tâm đắc với cử chỉ hay lời nói nào của Chúa?  Tại sao?
Cầu Nguyện
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần có Chúa hiện diện để con khỏi quên Chúa. Chúa thấy con dễ bỏ Chúa biết chừng nào.
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con yếu đuối, con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ. Không có Chúa, con đâu còn nồng nhiệt hăng say.
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn, cuộc đời qua đi, vĩnh cửu gần đến. Con cần được thêm sức mạnh để khỏi ngừng lại dọc đường.
Xin ở lại với con, lạy Chúa, vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời. Con không dám xin những ơn siêu phàm, chỉ xin ơn được Ngài hiện diện.
Xin ở lại với con vì con chỉ tìm Chúa, yêu Chúa và không đòi phần thưởng nào khác ngoài việc được yêu Chúa hơn.

 

PS3-A29:  Hai môn đệ làng E-mau - JN

Câu hỏi gợi ý:
 

Có bao giờ bạn nghĩ: rất có thể mình cũng sẽ gặp trường hợp tương tự như hai môn đệ làng E-mau: PS3-A29

1. Có bao giờ bạn nghĩ: rất có thể mình cũng sẽ gặp trường hợp tương tự như hai môn đệ làng E-mau: một người nào đó nói chuyện với mình, yêu cầu mình giúp đỡ, lại chính là Đức Giê-su không? Có thể rút ra bài học gì từ bài Tin Mừng hôm nay về sự đồng hóa giữa Đức Giê-su và tha nhân (tha nhân là Đức Giê-su, Đức Giê-su là tha nhân của ta)?
2. Có người chủ trương: yêu người chính là yêu Thiên Chúa. Chủ trương ấy có nền tảng trong Kinh Thánh không? Hãy trưng dẫn một vài câu tiêu biểu.
Suy tư gợi ý:
1. Hai tông đồ ở E-mau không nhận ra Đức Giê-su nơi người bộ hành cùng đi với mình
Một điều khá kỳ thú trong bài Tin Mừng hôm nay, đó là các tông đồ đã sống với Đức Giê-su suốt ba năm, đã từng nghe Ngài nói, giảng dạy, thế mà nay, khi Ngài sống lại, cùng đi với các ông, giảng dạy cho các ông, các ông lại không nhận ra Ngài. Có lẽ Ngài đã mang một bộ mặt xa lạ, đã đội lốt một người bộ hành như bao bộ hành khác. Điều các ông không ngờ được là người mà các ông tưởng là một bộ hành xa lạ ấy lại chính là Đức Giê-su, Thầy mình. Các ông chỉ nhận ra Ngài khi Ngài đồng bàn với họ, chính xác là khi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Nghĩa là khi các ông thấy có sự giống nhau giữa người bộ hành này với Thầy mình. Rất may là các ông đã đối xử với người bộ hành ấy rất tốt: chăm chú nghe người ấy nói, mời ở lại dùng bữa… Nếu không thì thật đáng tiếc.
2. Coi chừng kẻo chính chúng ta cũng không nhận ra Đức Giê-su nơi những người chung quanh ta
Điều kỳ thú đó cũng xảy ra một cách tương tự biết bao lần trong đời sống chúng ta. Chúng ta sống với những người chung quanh mình, mà không bao giờ hoặc rất ít khi ta nhận ra Thiên Chúa hay Đức Giê-su ở nơi họ. Dường như đối với ta, Thiên Chúa hay Đức Giê-su là người ở đâu đâu, ở trên trời, ở trong nhà tạm của nhà thờ, hoặc ở khắp nơi một cách thiêng liêng. Ngài có vẻ là một thực tại rất trừu tượng, nếu có cụ thể thì chỉ là những ảnh vẽ, những bức tượng bất động, vô hồn. Và tình yêu của chúng ta đối với Ngài cũng rất trừu tượng, rất bí tích, chỉ được thể hiện bằng sự hướng thiện, bằng việc năng cầu nguyện, năng tham dự và lãnh nhận các bí tích.
Nhưng bài Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta một chân lý hết sức quan trọng. Thiên Chúa hay Đức Giê-su có thể chính là người bộ hành mà mình ngỡ là rất xa lạ. Nghĩa là Ngài có thể mặc lấy những bộ mặt khác nhau, hình dáng khác nhau, với những tính tình khác nhau, tư cách điệu bộ khác nhau nơi những người ta gặp trên đời, nơi những người sống chung quanh ta. Và tình yêu của chúng ta - nếu có - đối với Ngài thì phải được thể hiện cụ thể nơi những con người cụ thể ấy, chứ không phải một cách trừu tượng. Có thể nói: muốn yêu Đức Giê-su, thì cách tốt nhất, cụ thể nhất và chắc chắn nhất là yêu những người chung quanh ta, và bất kỳ người nào ta gặp trong cuộc đời. Và cũng có thể nói một cách chắc chắn: nếu ta không yêu những người ấy, thì ta không thật sự yêu Đức Giê-su hay yêu Thiên Chúa. Nếu ta tưởng rằng mình yêu Thiên Chúa, yêu Đức Giê-su bằng cách này hay cách khác, nhưng ta không hề yêu Ngài nơi những con người cụ thể chung quanh ta, thì tình yêu ấy chắc chắn chỉ là một ảo tưởng. Rất có thể ta đang yêu chính bản thân mình một cách ích kỷ, nhưng sự ích kỷ ấy lại mặc lấy một hình thức khôn khéo là yêu Thiên Chúa hay Đức Giê-su một cách trừu tượng.
3. Đức Giê-su đồng hóa chính Ngài với tha nhân của ta
Có thể nói những người chung quanh ta là những Đức Giê-su rất sống động, rất cụ thể. Hay nói một cách khác, trong một mức độ nào đó, họ chính là hiện thân của Thiên Chúa hay Đức Giê-su. Chân lý này có một nền tảng rất vững chắc trong Kinh Thánh.
a. Tha nhân là hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1,26.27; 9,6): Chúng ta không thể yêu Thiên Chúa hay Đức Giê-su mà không yêu hình ảnh hay hiện thân của Ngài. Khi hai người yêu thương nhau, họ rất quí hình ảnh của nhau, và hình ảnh đó là một biểu trưng có tính đại diện cho chính người trong ảnh. Coi thường hay xúc phạm đến hình ảnh của một người luôn luôn được coi là xúc phạm đến chính con người ấy. Hai môn đệ làng E-mau nhận ra người bộ hành là Đức Giê-su khi người ấy bẻ bánh giống như Đức Giê-su. Con người được tạo dựng "giống như" Thiên Chúa (St 1,26; 5,1), điều ấy có làm ta nhận ra Ngài nơi họ không?
b. Tha nhân là con cái Thiên Chúa (x. Lc 20,36; Ga 11,52; Rm 8,14.16.21; Gl 3,26; 1Ga 3,1.2.10; ): Tất cả chúng ta đều là con cái Thiên Chúa, đều gọi Thiên Chúa là Cha, và cùng là anh em với nhau. Con cái một cách nào đó là hiện thân của cha mẹ. Kinh nghiệm đời sống cho ta thấy: ai yêu cha mẹ tất nhiên cũng yêu thương anh chị em mình. Và ai không yêu thương anh chị em mình, chắc chắn tình yêu đối với cha mẹ cũng rất nhạt nhẽo hoặc giả tạo.
c. Từ những căn bản trên, Đức Giê-su đồng hóa chính Ngài với tha nhân của ta (x. Mt 10.40; 18,5; 25,40.45; Lc 10,16): Ta làm gì cho tha nhân của ta, trước tiên là những người gần gũi ta nhất, rồi đến những người sống chung quanh ta, những người ta thường gặp, và tất cả mọi người, chính là làm cho Ngài. Ta yêu họ chính là ta yêu Ngài, ta ghét họ chính là ta ghét Ngài, hy sinh cho họ là hy sinh cho Ngài, làm hại họ là làm hại chính Ngài.
4. Yêu tha nhân là yêu Thiên Chúa, và là chu toàn luật Chúa
Trong Cựu Ước, khi trình độ con người còn thấp, có sự phân biệt rõ rệt giữa Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, có hai điều răn quan trọng nhất là: "Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em" (Đnl 6,5) và "hãy yêu người khác như chính mình" (Lv 19,18). Đức Giê-su đã nhắc lại hai điều răn ấy như hai điều luật căn bản của Lề Luật cũ. Nhưng qua thời Tân Ước, khi trình độ của con người cao hơn, hai điều răn ấy được tóm lại thành một: hễ yêu Chúa tất nhiên phải yêu tha nhân, và hễ yêu tha nhân thật tình tất nhiên là đã yêu Chúa rồi. Thánh Gio-an viết: "Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" (1Ga 4,20). Vì thế, thánh Phao-lô viết: "Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật" (Rm 13,8.10), "Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Ki-tô" (Gl 6,2). Thánh Gia-cô-bê cũng nói: "Anh em làm điều tốt nếu anh em chu toàn luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Gc 2,8).
Tóm lại, bài Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta chân lý quan trọng này: tha nhân chính là hình ảnh, hay một cách nào đó, là hiện thân của Thiên Chúa hay Đức Giê-su. Vì thế, chúng ta hãy tập nhìn họ là "Em-ma-nu-el" (Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta). Thiên Chúa hay Đức Giê-su đang ở giữa chúng ta, ở với chúng ta qua những người chung quanh ta.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, bài Tin Mừng hôm nay thật là tuyệt vời, nó cho con thấy và nhắc lại cho con một chân lý kỳ diệu: Những người gần gũi với con, sống chung quanh con một cách nào đó là hiện thân của Cha, của Đức Giê-su. Vì thế, yêu Cha, yêu Đức Giê-su tất nhiên phải yêu những người ấy. Và chỉ khi con yêu họ, con mới chứng tỏ được rằng con thật sự yêu Cha và yêu Đức Giê-su. Xin giúp con yêu họ thật sự bằng hành động cụ thể.

 

PS3-A30: BACK TO SORIENTO !

Thuở còn bé, một bài hát vui có lời: “Cày bừa ra đi mùa mất thật rầy ( rầy rà ); ra đi giúp nước: PS3-A30

Thuở còn bé, một bài hát vui có lời: “Cày bừa ra đi mùa mất thật rầy ( rầy rà ); ra đi giúp nước, chữ “nhất” chẳng hay ( biết ); ra đi buôn rau, không ai màng, chẳng ai mua; ra đi cưa cưa, cong vòng vòng ai cũng lùa ( xua đuổi ). Thôi thì cày bừa, về cày bừa, vững nghiệp hơn !” Lớn lên, mỗi khi gặp thất bại hay trục trặc trong cuộc đời, lời bài hát ấy lại văng vẳng lên trong đầu, nhưng mang một “tên” mới: “Go home !” Để cho “văn minh” hơn thì dùng nguyên cả cụm từ: “Home, sweet home”. Hoặc để mô tả tâm tình ấy thì dùng một bản nhạc ngoại rất được ưa thích đó là “Back to soriento”, nghĩa là “Trở về mái nhà xưa !” Hai Môn Đệ Em-mau hôm nay đang trong tâm trạng ấy.
Bước chân nặng nhọc làm sao ! Có lẽ chia tay với Nhóm Mười Hai từ sáng sớm, vậy mà khi trời xế chiều rồi, quãng đường 30 cây số vẫn xa xôi diệu vợi. Họ đã bỏ hết để theo Thầy Giê-su, đã tin tưởng nơi Thầy còn hơn phần đông mọi người, thậm chí kể cả một số trong nhóm 12 môn đồ. Họ vẫn tin Lời Thầy nói từ trước về cuộc khổ nạn và sự sống lại. Họ biết Thầy của họ dư sức làm những việc “tày trời” ấy. Mới đây thôi, ngay dưới mắt họ, Thầy đã chẳng cho anh La-da-rô sống lại đó sao ? Thầy đã chết, đã mai táng, nhưng Thầy sẽ sống lại. Thế rồi đến hẹn, không thấy Thầy mà chỉ nghe nói không còn thấy xác Thầy. Cả mấy Môn Đệ “to đầu” cũng không thấy Thầy ( trong khi tiếng đồn bắt đầu dậy lên rằng chính các Môn Đệ cướp xác Thầy ).
Bây giờ họ bối rối thật tình. Thầy làm phép lạ, làm cho kẻ chết sống lại, khi và chỉ khi Thầy còn sống và khoẻ mạnh kìa; còn bây giờ thì Thầy chết thật rồi ! Thầy không nói dối nhưng sự việc đã vượt quá xa. Và hai anh đồng hương bàn tính, rồi trình bày cùng các Tông Đồ và khăn gói “back to soriento”. Ngày ra đi hồ hởi phấn khởi bao nhiêu thì ngày về bước chân trĩu nặng như chì bấy nhiêu. Ngày Thầy sai đi rao giảng vớô2 uy thế lẫy lừng làm mát mày mát mặt bao nhiêu thì ngày về với nét mặt ủ rủ héo hon bấy nhiêu. Mất hết hy vọng. Con người mất hết !
Đường còn dài. Họ chỉ còn biết kể lại cho nhau để phân tích những điều mắt thấy tai nghe suốt quãng thời gian dài đi theo Thầy: Buồn có, mệt mỏi có, nhưng chỉ cần Thầy lên tiếng thì mọi ưu tư vất vả tan biến. Song, câu chuyện vẫn phải dẫn đến kết cục mà họ không thể tránh né đó là những diễn biến trong mấy ngày cuối cùng. Họ cùng nhau ôn lại cũng là cách bầu chữa và an ủi bản thân vì đã trung thành đến cùng.
Những điều họ đem ra thuật lại, bổ sung cho nhau, và phân tích với nhau ( thuật lại nguyên vẹn cho “Đức Giê-su – Đồng Hành” ) là nội dung chính xác, trọn vẹn, đầy đủ của Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh. Chỉ thiếu duy nhất một điều, một tia lửa nhỏ để có... Niềm Tin Phục Sinh. Họ đã không ở lại thêm một ngày nữa để cùng hưởng niềm vui và hạnh phúc kèm theo Tin Vui Phục Sinh do chính Thánh Thể Khải Hoàn ban cho. Nay, vì tình yêu và lòng trung thành của họ, Chúa Thánh Thể đã đến và hơn thế nữa, họ là những Môn Đệ đầu tiên chứng kiến “Thánh Lễ đầu tiên” do chính Chúa Giê-su Phục Sinh cử hành.
Khác với dụ ngôn đẹp nhất “Đứa con hoang đàng” ( Lc 15 ), đây là câu chuyện đẹp nhất trong Phúc Âm Lu-ca mà mỗi câu chữ, mỗi cảnh trí đều bố cục chặt chẽ và cảm động. Thánh Lễ đầu tiên được cử hành với 2 phần Phụng Vụ Lời Chúa và Thánh Thể. Khác với hy vọng đổi đời của đứa con trở về nhà cha vì đói khát, hai Môn Đệ rời tổ ấm về quê cũ với nỗi niềm ê chề thất vọng. Động cơ “hy vọng” ở Lu-ca 15 là vật chất; trong khi lý do thất vọng ở Lu-ca 24 lại là tinh thần: niềm tin đã mất !
Ở cả hai trường hợp, Chúa đều can thiệp. Chúa cho thấy tình thương tha thứ đối với con cái biết ăn năn bất kể động cơ của sự ăn năn trở về. Giờ đây, Chúa lập lại tình thương ấy nhưng ở một tầm mức cao hơn đó là chính Chúa tìm đến, chỉ dạy, an ủi, cảm thông và thể hiện tình thương ở mức độ cao nhất là ban Thánh Thể Người cho họ sau khi cho họ ơn nhận ra Người.
Tất cả những ơn phúc vô lượng vô biên này không phải bỗng nhiên mà có được. Chính sự kiên trung, chính lòng mộ mến, chính sự khát khao tìm hiểu những điều luôn làm cho họ nhức nhối, dằn vặt dẫn đến những chọn lựa chưa đúng, nhưng nhất là chính tâm hồn như bừng sáng lên, bốc cháy lên, sốt mến lên khi nghe nói về Kinh Thánh và được giải thích về Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh “tương tự” trường hợp của Thầy họ, đã khiến họ bịn rịn và nài nỉ “vị Đồng Hành” thông thái, khôn ngoan hãy ở lại cùng họ.
Những gì xảy ra tiếp theo còn đẹp hơn cả bài thơ, rạng rỡ đằm thắm, ngây ngất trong hạnh phúc thì ai ai cũng đã biết. Bí Tích Thánh Thể chính là Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh !
Suy gẫm đến đây, chúng ta có thể nghe vang lên những lời hát chan chứa ân tình, trìu mến và cậy tin vào Đức Trinh Nữ Ma-ri-a: “Kìa ai rong ruổi đường gió bụi, gánh sầu thương mệt mỏi hai vai. Về đây nấp bóng Sao Mai. Về đây quên lãng những ngày truân chuyên”. Mẹ Ma-ri-a đã hiện diện ở những nơi và vào những lúc cần thiết nhất như dưới chân thập giá để củng cố niềm tin, để nhận lấy trách nhiệm mà Con Mẹ ủy thác và không để con cái Chúa tan đàn sẻ nghé vì khổ đau và thất vọng. Còn chúng ta có biết nhìn về Mẹ, làm theo Mẹ, tin như Mẹ hay không ?
Xin Chúa Giê-su Phục Sinh cho chúng ta được như hai Môn Đệ Em-mau: có thể chưa hiểu, có thể khổ đau, có thể chán nản và ít nhiều thất vọng, nhưng không bao giờ vì bất kỳ nguyên nhân nào mà làm vơi đi lòng yêu mến tôn sùng !
Gs. NGUYỄN THẾ BÀI, ĐTĐSTY 95

 

PS3-A31: HÃY ĐÓN NHẬN ĐỨC KITÔ DỰ PHẦN VÀO CUỘC SỐNG

Lm. Giuse Trương Đình Hiền
Dẫn nhập đầu lễ :

Anh chị em thân mến,

 

Như chúng ta vẫn biết và vẫn tuyên xưng : Đại lễ Phục sinh hằng năm và Ngày Chúa Nhật: PS3-A31

Như chúng ta vẫn biết và vẫn tuyên xưng : Đại lễ Phục sinh hằng năm và Ngày Chúa Nhật hàng tuần chính là cuộc “tưởng-niệm-tái-diễn” mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, là cuộc tái khám phá và đào sâu mầu nhiệm nầy để đem vào hiện thực cuộc sống. Chính vì thế, sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật III Phục sinh hôm nay dẫn dắt chúng ta vào mối tương quan liên vị của người Kitô hữu với chính Đấng Phục sinh, giữa cuộc sống đời thường với mầu nhiệm tuyên xưng; đó cũng chính là cách thể hiện, sống, tuyên xưng, rao giảng của thế hệ các Tông Đồ, các cộng đoàn Kitô hữu nguyên thủy.

Giờ đây, để xứng đáng gặp gỡ Đấng Phục sinh, xứng đáng cử hành Thánh lễ, chúng ta hãy sốt sắng nhìn nhận và thống hối tội lỗi.


Giảng Lời Chúa :

Vào thời trai trẻ, có một thời, tôi cũng như bao sinh viên học sinh khác rất mê các tiểu thuyết của nhà văn Duyên Anh, nhất là những cuốn viết về cuộc sống”bụi đời”, về các nhân vật anh hùng du đảng như : ”Vết hằn trên lưng ngựa hoang”, “Luật hè phố”, “Sa mạc tuổi trẻ”…Trong số đó, tôi còn nhớ láng máng một câu chuyện đan xen giữa những câu chuyện, tình tiết của bao nhân vật khác :

Có một tên du đảng bị sa lưới và phải ngồi tù. Tháng ngày trong ngục là cả một “hỏa ngục thảm thương”, chỉ có nổi buồn và uất hận, chỉ có chà đạp và thanh toán, một thế giới chỉ có những tục tỉu nhớp nhơ, thế giới của lảng quên, đau buồn và thất vọng. Thế rồi, một ngày kia, tên du đảng nọ, tìm thấy trong ổ bánh mì thịt từ bên ngoài gởi vào một mảnh giấy nhỏ với những dòng chữ ngoằn ngoèo của một người mới tập viết. Không biết mảnh giấy ấy viết gì. Chỉ biết tên du đảng vừa đọc đã thấy mắt sáng lên, hồi hộp và sung sướng cực độ. Thế rồi ép sát mảnh giấy hồi lâu lên ngực, mắt nhắm nghiền, miệng mĩm cười hạnh phúc…Rồi sau đó, bỏ mảnh giấy vào miệng, nhai ngấu nghiến, nuốt ực..Cười một tràng sảng khoái, rồi cắn lưỡi chết luôn…như để tận hưởng, gìn giữ miên viễn cái hạnh phúc tuyệt vời nầy. Thì ra, sau nầy, có người tìm gặp người viết mảnh giấy ấy mới biết đó chính là người yêu của tên du đảng, và mấy dòng chữ trên mảnh giấy kia đại để là :”cho dù anh có thế nào, em cũng vẫn yêu và nhớ đến anh”.

Thưa ông bà và anh chị em,

Ở giữa chúng ta hôm nay, giờ phút nầy, phải chăng cũng đang có một “mảnh giấy nhỏ của Thiên Chúa” gởi cho mỗi người chúng ta rằng : “Ta vẫn yêu con, vẫn nhớ đến con”. Tôi nghĩ rằng, còn hơn thế nữa. Không chỉ “một mảnh giấy nhỏ” mà là cả một “bức thư tình dài”, và còn hơn cả một “bức thư tình dài”, một “sự hiện diện”, không phải một sự “hiện diện câm lặng, hững hờ, lãnh đạm…mà là một gặp gỡ thân thương, trìu mến.

Vâng, cuộc họp mừng Lễ Tạ Ơn hôm nay, ở khắp nơi, mọi thời, chính là cuộc gặp gỡ thân mật và đích thật nầy giữa chúng ta và Chúa chúng ta, Đức Kitô phục sinh, giữa cộng đoàn chúng ta, gia đình giáo xứ chúng ta với Đấng Phục sinh đang trở về, đang có mặt, đang ban Lời chân lý và Bánh Trường Sinh, đang ủi an và chia sẻ tình yêu, đang động viên và soi sáng để chúng ta tiến bước trên đuờng…Đó chính là niềm tin muôn nơi và muôn thuở của chúng ta, của mỗi người Kitô hữu, là ý nghĩa đích thực của cuộc họp mừng phục sinh, là nội dung cốt yếu của Tin Mừng phải được sẻ chia và làm chứng, như lời “lời chứng và chia sẻ của Thánh Phêrô” từ thuở khai sinh Giáo Hội mà BĐ 1 sách CVTĐ đã thuật lại hôm nay :

“Chính Đức Giêsu đó,Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều nầy tất cả chúng tôi xin làm chứng. Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống : đó là điều anh em đang thấy đang nghe”


1. Đức Kitô phục sinh mở cửa huyền nhiệm cuộc sống :

Quả thật nếu Đức Kitô không sống lại, thì không ai, không một ý thức hệ nào, một triết thuyết nào, một hiền nhân nào có thể giải mả được những “phi lý trong cuộc đời nầy” : phi lý như chuyện : tại sao ông Thầy Giêsu người Na-da-rét, uy tín trong lời nói việc làm, thánh thiện và công chính đến thế mà lại phải chết thảm ? Tại sao cuộc sống đang tươi đẹp hạnh phúc (như anh bạn tân tòng Giuse Lê Văn Cảnh của chúng ta) bổng dưng phải từ giã cõi đời trong một tai nạn xe thảm khốc ? Và từ giã để sau đó đi đâu, về đâu ? Hay xa hơn một chút, sâu hơn một chút trong ý nghĩa của kiếp nhân sinh : Con người sinh ra để làm cái gì ? Thế giới nầy rồi sẽ kết thúc ra sao ? Đau khổ, bất hạnh, sự dữ, cái chết…có ý nghĩa gì không hay chỉ là một thứ “định mệnh” khắc nghiệt, một thứ trò chơi của quyền lực vô minh…? Có lẽ hai tông đồ trên đường Em-mau vào buổi chiều Ngày Thứ Nhất trong tuần cách đây 2000 năm, cũng đang hoang mang về những vấn nạn như thế, những phi lý như thế về Thầy Giêsu của mình, về cuộc tử nạn thảm thương của Thầy cách đó hai ngày. Nếu Đức Kitô sau buổi chiều thê lương Thứ Sáu cứ “bặt vô âm tín”, để sau đó xác thân từ từ thối rửa trong mộ đá… thì chắc chắn cho đến mãi hôm nay, vẫn còn những chàng trai, những cô gái, những cụ già, những em thơ…trên mọi nẽo đường trần thế cứ hoang mang hoài, cứ thắc mắc hoài, trăn trở hoài về những vấn nạn của cái sống và cái chết, của hạnh phúc và khổ đau, của hôm nay và vĩnh cửu…

Và Đức Kitô phục sinh đã đến, đã đồng hành, đã thỏ thẻ chuyện trò, đã khai lòng mở dạ, đã hong lại niềm tin, đã đốt lên sức sống cho họ cũng như cho bao nhiêu thế hệ con người. Biết bao nhiêu người đã cảm nhận được điều đó như cách cảm nhận của hai môn đệ trên đường Em-mau xưa : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”


2. Hãy để Ngài tham dự vào cuộc sống :

Như vậy điều còn lại mà sứ điệp Lời Chúa gợi mở cho chúng ta hôm nay phải chăng là chúng ta hãy mở lòng mà tiếp nhận Đấng Phục Sinh, hãy còn một chút gì đó luyến lưu Ngài, nhớ đến Ngài, nhắc nhở về Ngài, như hai chàng tông đồ trên đường Em-Mau thuở nọ. Nói cách khác, chúng ta hãy :”để Ngài tham dự vào cuộc sống của chúng ta”, đồng hành với chúng ta trên mọi nẽo đường đời.

Trong tác phẩm tu đức "Nên thánh trong thời đại mới", Kilian Mc Gowan, C.P. đã nói một cách mạnh mẽ rằng : "Lãng phí lớn nhất của trí tuệ con người là sống mà không nhận biết Chúa Kitô. Thất bại thê thảm nhất của trái tim con người, nếu có, là chưa bao giờ thật sự yêu mến Chúa Kitô. Vở kịch bi thương nhất trong bất cứ cuộc đời nào là không đặt Chúa Kitô làm trung tâm của đời sống chúng ta" (Nên thánh Thời đại mới, trang 72).

Trong khi đó, như chúng ta đã biết : cả thế giới vừa nghiêng mình từ giã trong niềm tiếc thương và kính mến vô cùng Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II mới qua đời. Điều gì đã khiến “Vị Giám Mục Ba Lan, Ông Già gân 85 tuổi nầy” trở thành nhân vật vĩ đại như thế, được tán dương và ca tụng, yêu mến và ngưỡng mộ đến thế ? Chúng ta có thể nghe câu trả lời bằng chính những lời của Đức Hồng Y Josef Ratzinger, Vị niên trưởng Hồng Y đoàn, chủ trì Thánh lễ An Táng ĐTC hôm 08.04 vừa qua :

« Chính nhờ đâm rễ sâu trong Đức Kitô, Ngài đã có thể chu toàn trọng trách vượt quá sức con người : trọng trách của mục tử đoàn chiên Chúa Kitô và của Giáo Hội hoàn vũ ».« Đức Thánh Cha của chúng ta, tất cả chúng ta đều đã biết, đã chẳng khi nào muốn giữ mạng sống của riêng mình, giữ mạng sống cho riêng mình, nhưng đã muốn ban tặng một cách không hề từ nan, cho tới giây phúc cuối cùng, cho Đức Kitô và nhờ vậy cũng ban tặng cho chúng ta »

Điều đó đã được ấn chứng qua bao nhiêu di cảo Ngài để lại cho chúng ta, đặc biệt cho những người trẻ, mà có lẽ nội dung cốt lỏi vẫn là : “Anh em đừng sợ ! Hãy mở lòng đón nhận Đức Kitô, hãy gặp gỡ, hãy đối thoại…”, như trong bài chia sẻ cho giới trẻ tại Bolivie ngày 11/5/1988 với đoạn Tin Mừng “Hai môn đệ trên đường Em-Mau”, Ngài đã nói :

….”Đứng trước tình huống đó, tình huống thật sự đen tối đó, cha mời chúng con hãy quay về với Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, Con của Đức Maria, đi vào đối thoại với Người, vì hôm nay Người đang sánh bước bên ta trên con đường giống như chiều xưa, Người đã bước đi với hai người về làng Em-Mau, cho dù mắt ta có bị chìm trong bóng tối hoặc khép kín lại nên không nhận ra Người…”

“Các bạn trẻ thân mến, trên đường đời, chúng con đừng bỏ Đức Giêsu. Nếu thân phận con người yếu hèn đã khiến chúng con không chu toàn các giới răn của Thiên Chúa, chúng con hãy hướng cái nhìn về Đức Giêsu và thưa với Người : “Xin ở lại với chúng con, xin ở lại, xin đừng đi xa nữa”…


Trong khi đó, tại đại hội giới trẻ ở Buenos Aires, ĐTC đã kêu gọi : “Hãy quảng đại mở lòng ra với tình yêu của Đức Kitô, Đấng duy nhất có thể mang lại một ý nghĩa đầy đủ cho toàn thể đời sống chúng ta…”

Ngày 18/05/1988, Ngài đã ngỏ lời với các bạn trẻ Paraguay : “…chúng con hãy đến gần Thầy Chí Thánh nếu chúng con muốn tìm ra một lời đáp cho những khát vọng của con tim. Chúng con hãy tìm kiếm Đức Kitô, Đấng tuy là Thầy, là mẫu mực, là người bạn và đồng hành, lại là Con Thiên Chúa làm người, là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là Vị Thiên Chúa hằng sống, Đấng sau khi chết trên thập giá và sống lại, đã muốn ở lại bên ta để thông truyền cho ta hơi ấm của tình bạn thần linh của Người, tha thứ cho ta, đổ đầy cho ta ơn Thánh Người và làm cho ta nên giống Người. Đức Kitô là Đấng có lời ban sự sống đời đời, vì Người là chính sự sống”….

Một khi đã có Đức Kitô hiện diện trong cuộc đời thì mọi sự sẽ biến đổi từ đó. Ngài sẽ biến đổi trái tim chai đá cứng tin của Tôma nên diệu hiền khiêm hạ, con người ba phải nhút nhát của Phêrô nên mạnh mẽ can trường, cố chấp thù nghịch như Phaolô trở nên nhà truyền giáo vĩ đại… hay như một Augustinô lầm lạc trác táng trở thành Giám Mục thời danh, một Phanxicô Assisi, một Phanxicô Xavie đam mê tham vọng… đã trở nên những thừa sai loan báo Tin mừng, một Têrêsa Calcutta, người nữ tu chân yếu tay mềm, khó nghèo đơn giản đã trở nên ân nhân của hàng triệu con người bất hạnh, đã trở thành đại thánh. Vâng tất cả đều có chung một bí quyết duy nhất : gặp gỡ Đức Kitô và để Ngài tham dự vào chính cuộc đời.

Chỉ có một điều đáng lo ngại là thế giới hôm nay có quá nhiều những mời mọc, cám dỗ qua nhiều những đối tượng để chọn lựa…chẳng khác nào như một “nhà hàng buffet với hàng trăm món ăn hấp dẫn khiến chúng ta có thể không nhận ra hay cố tình lãng quên “cái phần tốt nhất để chọn lựa”, lãng quên chính sự hiện diện của Chúa Kitô trong cuộc đời, trong Kinh Thánh, trong Phụng Vụ, nhất là trong Nhiệm Tích Thánh Thể. Chính vì thế, chúng ta hãy cầu nguyện như hai tông đồ Em-Mau : “Xin Thầy ở lại với chúng tôi vì trời đã xế chiều và ngày sắp tan”, hay như lời cầu xin của Cha Piô sau đây :

Xin ở lại với con, lạy Chúa,
Vì con cần có Chúa hiện diện
Để con khỏi quên Chúa.
Chúa thấy con dễ bỏ Chúa dường nào,
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
Vì con yếu đuối,
Con cần Chúa đỡ nâng để con khỏi ngã quỵ….
Con cần được thêm sức mạnh
Để khỏi ngừng lại dọc đường.
Xin ở lại với con, lạy Chúa,
Vì con cần Chúa trong đêm tối cuộc đời….Amen


 

PS3-A32: Câu chuyện  hai môn đệ Em-mau - Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb

Tin mừng : Lc 24, 13-16.

Anh chị em thân mến,

 

Nội dung của bài Tin Mừng hôm nay chúng ta đều biết rõ, và thường nghe nhắc nhở tới : PS3-A32

Nội dung của bài Tin Mừng hôm nay chúng ta đều biết rõ, và thường nghe nhắc nhở tới trong mùa phục sinh, đó là câu chuyện của hai môn đệ trên đường đi về làng Em-mau. Cả hai ông không nhận ra Chúa Giêsu đang cùng đồng hành với mình, nhưng chỉ nhận ra Ngài khi Ngài lập lại một cử chỉ quen thuộc : bẻ bánh, và trao cho các ông ăn. Trong tâm tình “bẻ bánh” ấy, tôi xin chia sẻ tâm tình sau đây :

Bẻ bánh là dấu hiệu của bác ái

Cuộc sống của một con người có rất nhiều lần bẻ bánh, và những lần bẻ bánh ấy cũng có rất nhiều ý nghĩa :

bẻ bánh để ăn, là để nuôi mình,

bẻ bánh để phân phát cho mọi người, là để nhân rộng thêm tình bác ái.

bẻ bánh để chia sẻ với người nghèo khó, là để chia sẻ với Chúa Giêsu khổ đau,

và cũng có lúc bẻ bánh để quăng cho chó ăn hơn là cho người nghèo, đây là một hành vi bẻ bánh khinh thường Thiên Chúa và coi thường nhân phẩm của anh em.

Bẻ bánh cần phải đi đôi với một tâm tình yêu mến và phục vụ như Chúa Giêsu đã làm với các môn đệ, Ngài yêu thương các môn đệ đến cùng : rửa chân cho họ và ban Mình và Máu thánh của Ngài cho họ.

Bẻ bánh là dấu hiệu Hiệp Nhất

Có những người vừa bẻ bánh vừa chỉ trích nhau trên bàn ăn, họ coi việc ăn uống là dịp để cải cọ nhau; có người vừa bẻ bánh vừa làm áp phe buôn bán, họ coi việc bẻ bánh (ăn uống) là cơ hội để phát tài; lại có người coi việc bẻ bánh là chuyện riêng tư, nên không thấy họ cùng đồng bàn với người khác, đối với họ sự hiệp nhất chỉ là chuyện lý thuyết viễn vông.

Chúng ta tham dự thánh lễ, tức là chúng ta cùng nhau tham dự việc “bẻ bánh” của Chúa Giêsu, đó là dấu hiệu của tình thương hiệp nhất, mỗi lần chúng ta cùng nhau sắp hàng đi lên ăn tấm bánh đã được bẻ ra, nhưng nó vẫn nguyên vẹn tinh tuyền là Mình Máu Thánh của Chúa Giêsu là dấu hiệu của sự hiệp nhất trong Giáo Hội và trong mỗi một cộng đoàn của chúng ta.

Bẻ bánh là dấu hiệu để mọi người nhận ra Chúa Giêsu đang hiện diện giữa cộng đoàn và mỗi một anh chị em, bởi vì Chúa Giêsu đã hứa : Thầy ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế.

Anh chị em thân mến,

Hai môn đệ đi đàng Em-mau đã không nhận ra được Thầy mình là Chúa Giêsu đang đồng hành và trò chuyện với mình, dù cho Ngài giải thích rất cặn kẻ về việc Đấng Messia phải chịu đau khổ và phải chết rồi sống lại, nhưng hai môn đệ chỉ nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài bẻ bánh.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường tham dự thánh lễ, tức là tham dự vào việc “bẻ bánh” và ăn tấm bánh ấy, nhưng chúng ta có nhận ra Chúa Giêsu đang thật sự ở với chúng ta không, lòng chúng ta có thật sự nóng lên khi nghe đọc và giải thích Lời Chúa không.

Chúa Giêsu đã sống lại thật rồi, và Ngài vẫn còn đang hiện diện với Giáo Hội và với chúng ta trong hình bánh và rượu trên bàn thờ, đó là dấu chỉ của tình thương và hy sinh của một vị Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi....

Câu hỏi gợi ý :

1. Năm nay là năm Thánh Thể, bạn có thật thấy rõ bí tích Thánh Thể đổi mới đời bạn không ?

2. “Bẻ bánh” là tham dự tiệc Thánh Thể, bạn có nhận ra sự ích lợi cho phần hồn cũng như phần xác khi rước Chúa Giêsu vào lòng ?

3. Bạn có thấy mình giống hai môn đệ đi đường Emmau không : nhiệt tâm sau khi thấy Chúa Giêsu bẻ bánh ?

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 3 Phục Sinh tại nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu-Taiwan.


 

PS3-A33: EMMAU - CÂU CHUYỆN CỦA SỰ TRỞ VỀ

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
EMMAU - CÂU CHUYỆN CỦA SỰ TRỞ VỀ - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Lc 24, 13-35

 

Câu chuyện “Trên đường Emmau” là một trong những câu chuyện Tin mừng tuyệt tác và rất riêng: PS3-A33

Câu chuyện “Trên đường Emmau” là một trong những câu chuyện Tin mừng tuyệt tác và rất riêng của thánh sử Luca. Nó không chỉ phong phú về phương diện văn chương mà còn đặc trưng về phương diện thần học. Chúng ta tìm thấy ở đây câu chuyện của một cuộc “trở về” với niềm tin của con người mà hôm nay, hai môn đệ làng Emmau là đại diện.

Sau những gì xảy đến cho Chúa Giêsu- sự kiện làm chấn động dư luận cả trong lẫn ngoài thành Giêrusalem, hai môn đệ quyết định trở về quê nhà là làng Emmau. Bước chân mỏi mệt chán chường. Các ông rơi vào trạng thái tuyệt vọng và trở thành những con người cô đơn trên cuộc lữ hành. Vì sao các ông tuyệt vọng, chán chường và cô đơn như vậy? Tất cả cũng chỉ vì liên quan đến một người tên là Giêsu. Vâng, sự việc bắt đầu từ khi các ông chia tay bố mẹ, giả từ vợ con, tạm biệt ngôi làng thân yêu để lên đường, bước theo người mà các ông cho rằng có thể đem lại cho đất nước, cho gia đình một sự hoà bình, thoát khỏi ách thống trị của đế quốc. Ba năm ròng rã bước theo con người này cũng là ngần ấy năm các ông mong cho ngày ấy mau tới. Thế nhưng, sự việc xảy đến với người đó thật thê thảm. Các ông không thể hiểu nổi một người đầy quyền năng, đầy lòng nhân ái như Thầy lại có một kết cục quá bi đát và nhục nhã như vậy. Không còn chút hy vọng, mất hết niềm tin, cách tốt nhất là trở về quê, tiếp tục công việc thường nhật mà thôi. Vì thế, các ông lên đường, buồn bã và thất vọng ê chề…

Các ông có biết đâu, trên hành trình thất vọng và cô đơn đó, có một người vẫn hằng dõi theo từng bước đi, chú ý từng tâm sự nhỏ to của các ông. Người ấy tiến về phía các ông, trò chuyện và đồng hành với các ông mà các ông nào hay biết. Các ông không nhận ra Người mặc dù Người vẫn có đó, vẫn hiện diện và chia sẻ với các ông. Các ông nghe- thậm chí nghe rất rõ, lời trách mắng của vị khách lạ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các Ngôn sứ! Nào Đức Kytô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”. Nhưng các ông không nhận ra Người; Các ông còn được vị khách này giải thích tường tận những gì đã nói về Đấng Mêsia mà Môsê và các Ngôn sứ, tức là toàn bộ Kinh thánh, đã loan báo. Nhưng các ông vẫn không thể nhận ra Người là ai. Điều đó cho chúng ta thấy, Đấng Phục sinh vẫn có đó, vẫn hiện diện bên chúng ta. Nhưng cách hiện diện của Người là hoàn toàn mới lạ, khác với cách hiện diện thông thường, thể lý mà mắt thường có thể nhìn thấy được.

Tuy thế, chỉ đến khi được đồng bàn với Người, tận mắt chứng kiến Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, bẻ ra và trao cho, mắt các ông mới bừng sáng. Các ông hân hoan vui mừng. Tâm hồn các ông được Đấng Phục sinh chiếu dọi. Tâm trí các ông được Người khai mở. Đức Kytô, Thầy của các ông đã thực sự sống lại. Không nghi ngờ gì nữa, vị khách bộ hành- người đã giảng dạy Kinh thánh và cùng với các ông chia sẻ nghi lễ Bẻ Bánh chính là Đức Kytô Phục sinh. Niềm vui vì được gặp Chúa Phục sinh, được Người dạy dỗ và chia sẻ bàn tiệc Thánh, khiến cho các môn đệ Emmau quên hết nhọc nhằn. Các ông lập tức lên đường. Chúng ta có thể thấy bước chân vội vã cùng với niềm vui mừng của các ông khi trở về Giêrusalem thay cho bước chân chậm chạp, chán chường, cô đơn trước khi được gặp Đấng Phục sinh. Các ông ra đi không chỉ báo cho 11 môn đệ đang ở Giêrusalem mà còn muốn công bố tin mừng Phục sinh đó cho khắp cả nhân trần. Kể từ đó, Tin mừng Phục sinh theo dấu chân của các ông lan rộng khắp hoàn cầu.

Như hai môn đệ trên đường Emmau, người Kytô hôm nay cũng vui mừng và hân hoan vì tin vào Đức Kytô Phục sinh. Câu chuyện Emmau giúp mỗi người chúng ta nhận ra điều này : Bất luận chúng ta là ai, địa vị thế nào, hoàn cảnh sống ra sao; dù chúng ta có suy nghĩ thế nào, nói năng ra sao hoặc thực hiện điều gì, tất cả đều có sự hiện diện, có sự “quan sát”, có sự đồng hành của Đấng Phục sinh.

Chúa Phục sinh vẫn luôn đồng hành trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Điều đó thật hiển nhiên. Vấn đề ở chỗ, chúng ta có nhận ra sự hiện diện thực sự của Người trong đời sống của chúng ta hay không, để như hai môn đệ Emmau, chúng ta vui mừng và không ngừng ra đi loan báo Tin mừng Phục sinh cho thế giới này.


 

PS3-A34: Đồng hành - Lm Trần Thanh Sơn

Bài đọc 1: Cv 2, 14. 22-28
Bài đọc 2: 1 Pr 1, 17-21
Tin mừng: Lc 24, 13-35

Đồng hành
- Lm Trần Thanh Sơn

 

Khi xưa tại vùng Trung Đông có một vương quốc nhỏ bé, nhưng họ lại có vị vua một rất khôn ngoan: PS3-A34

Khi xưa tại vùng Trung Đông có một vương quốc nhỏ bé, nhưng họ lại có vị vua một rất khôn ngoan và dũng cảm. Ông là một vị vua anh minh, hết lòng lo lắng cho dân. Dưới triều đại của ông, đất nước phát triển có thể nói là cực thịnh, đến nỗi các đế quốc rộng lớn xung quanh dù thèm thuồng, mảnh đất xinh đẹp, cũng không dám có ý định dòm ngó. Thế nhưng, sau khi nhà vua băng hà, con cháu của ông đã không giữ được di huấn của tổ tiên. Nhà vua cũng như các quan lại triều đình thay vì lo lắng, phục vụ dân chúng, họ lại lao vào nếp sống ăn chơi, sa đoạ, tham nhũng,… rồi còn sưu cao, thuế nặng, khiến dân phải ca thán lầm than. Đất nước từ chỗ cực thịnh đi đến chỗ ngày càng suy sụp, trở nên miếng mồi ngon cho các đế quốc xung quanh đang muốn bành trướng.

Thế rồi, việc gì phải đến đã đến. Vào khoảng năm -587, vương quốc xinh đẹp này đã rơi vào tay ngoại bang. Họ đã bắt dân chúng đi lưu đày, làm nô lệ. Tiếng than van, khóc lóc, như vọng thấu trời xanh. Và rồi kể từ đó, họ như một quả bóng, nay bị đế quốc này xâm chiếm, mai lại đế quốc khác đô hộ. Thế nhưng, ngay trong hoàn cảnh cơ cực đó, dân chúng vẫn không mất niềm hy vọng. Trong dân vẫn lưu truyền một lời tiên tri về một vị cứu tinh sẽ được sinh ra để giải phóng cho dân khỏi ách nô lệ. Đất nước đó, chính là đất nước Do-thái của dân Israel.

Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu đã xuất hiện. Trước mắt của dân chúng lúc bấy giờ, Đức Giêsu “là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng”, bởi đó đã có một số người đã đi theo làm môn đệ của Ngài, với hy vọng Ngài “sẽ cứu Israel” khỏi ách nô lệ của đế quốc Roma. Thế nhưng, sự thật lại phũ phàng, Đức Giêsu đã bị chính các vị thủ lãnh của dân Do-thái bắt nộp, xử tử và đóng đinh trên thập giá. Sau khi Đức Giêsu bị bắt, các môn đệ của Ngài tan tác, trốn chạy“như đàn chiên không người chăn” (Mt 26, 31b), mỗi người mỗi ngã.Trong số đó, có hai môn đệ trở về lại làng Emmaus mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin mừng. Đức Giêsu chết, họ cảm thấy như mất đi tất cả, tương lai của dân tộc và cuộc đời của họ như đi vào ngõ cụt, không lối thoát. Họ chẳng biết làm gì hơn là lê bước trở về quê cũ trong tâm trạng nặng nề, u ám.

Thế nhưng, ngay giữa lúc họ cảm thấy hoàn toàn cô đơn, tuyệt vọng đến cùng đường như thế, thì “Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ”. Đấng Phục Sinh đã đến và đồng hành với họ, nhưng “mắt họ bị che phủ, nên không nhận ra Người”. Mắt họ, hay đúng hơn, tâm hồn họ đang bị che phủ bởi những suy nghĩ chủ quan của họ. Họ không nhận ra Đức Giêsu, bởi tâm trí họ cứ quanh quẩn với mồ mả, với những đau khổ, thử thách trước mắt của họ, mà không khám phá ra người bạn đồng hành đang cùng đi với họ, đang cùng trò chuyện với họ, chính là Đấng Phục Sinh.

Đấng Phục Sinh đã đến cùng đồng hành với họ. Ngài dùng chính Lời Chúa để sưởi ấm tâm hồn đang lạnh giá vì tuyệt vọng của họ. Ngài giúp họ khám phá và hiểu rõ chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Ngài nói với họ: “Chớ thì Đức Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vào vinh quang sao? Đoạn Người bắt đầu từ Môisen đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người”. Nghe lời Đức Giêsu giải thích Kinh Thánh, lòng các môn đệ đã “sốt sắng” lên, nhưng mắt họ chỉ thực sự mở ra khi họ được cùng đồng bàn với Đấng Phục Sinh. Trong bữa ăn này, họ đã nhận ra cử chỉ quen thuộc, thân thương của Thầy mình, khi Ngài “cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng bẻ ra và trao cho hai ông”.

Nghe được Lời Chúa, nhận được tấm bánh bẻ ra từ tay Đấng Phục Sinh, hai môn đệ này đã thực sự xác tín về sự Phục Sinh của Đức Giêsu. Và thế là “ngay lúc ấy, họ chỗi dậy trở về Giêrusalem”, để chia sẻ cho các môn đệ khác niềm vui mừng lớn lao này. Đức Giêsu đã chết thật, nhưng Ngài cũng đã thực sự Phục Sinh, đó là xác tín của hai môn đệ trên đường Emmaus, và cũng là của các tông đồ tại Giêrusalem. Chính trong niềm xác tín đó, sau ngày lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô đã mạnh mẽ tuyên bố với toàn thể đám đông dân chúng tại Giêrusalem: “Đức Giêsu Nagiarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ… Người đã bị nộp và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của chõi chết mà cho Người Phục Sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó”.

Đức Giêsu đã Phục Sinh, từ đây, sự chết không còn quyền lực gì đối với Ngài nữa. Với sự Phục Sinh của mình, Đức Giêsu trở niềm hy vọng cho tất cả những ai đang ngồi trong bóng tối của sự chết. Từ đây, Ngài trở nên người bạn đồng hành, chia vui, sẻ buồn với mỗi người chúng ta trên khắp nẻo đường đời. Hơn nữa, Đức Giêsu Phục Sinh còn hơn cả một người bạn đồng hành bình thường, bởi lẽ không chỉ đồng hành, Đức Giêsu còn giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi, đem lại cho chúng ta một sự tự do đích thực, tự do của con cái Thiên Chúa. Trong bài đọc hai, thánh Phêrô nhắc lại cho chúng ta: “Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã đựơc cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố”.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu Phục Sinh vẫn đang tiếp tục đồng hành với mỗi người chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống. Ngài vẫn bước đi bên cạnh chúng ta, thậm chí còn bồng bế chúng ta trên đôi tay Ngài để giúp chúng ta vượt qua các thử thách, gian truân trong cuộc sống. Chúng ta cần ý thức điều này, để rồi trong cuộc sống của mình, cho dù chúng ta có yếu đuối, lỗi lầm đến đâu đi chăng nữa, chúng ta cũng không được phép ngã lòng, tuyệt vọng, nhưng hãy vững tin vì chúng ta có một “Người Anh” đang hết lòng yêu thương và sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta.

Chúng ta còn học được nơi hai môn đệ tinh thần khiêm tốn, lắng nghe và học hỏi lời Chúa. Cho dù chưa biết người khách lạ là Đấng Phục Sinh, nhưng khi nghe Ngài quở trách: “Ôi kẻ khờ dại, chậm tin các điều tiên tri đã nói!”, họ vẫn không tự ái, nhưng vẫn khiêm tốn lắng nghe lời giải thích của người khách lạ. Lòng nhiệt thành, khiêm tốn học hỏi của họ còn được tỏ hiện qua việc họ cố “nài ép” người khách lạ ở lại để tiếp tục giải thích Lời Chúa cho họ và đồng bàn với họ. Theo gương hai môn đệ trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta cũng cần dẹp bỏ tính kiêu căng, tự ái, để có thể nhận ra tiếng nói của Chúa nơi những người anh chị em đang cùng sống, cùng làm việc bên cạnh chúng ta.

Và cuối cùng, theo chân các môn đệ trên đường Emmaus, chúng ta hãy siêng năng đến với bí tích Thánh Thể, bằng việc siêng năng, sốt sắng tham dự Thánh lễ và hiệp lễ mỗi ngày. Trong bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu Phục Sinh vẫn đang hiện diện và chờ đợi để được đồng hành, nâng đỡ mỗi người chúng ta mỗi ngày trong đời sống. Ngay từ bây giờ, chúng ta hãy đến đồng bàn với Đấng Phục Sinh nơi bàn tiệc Thánh Thể, để ngày sau chúng ta cũng sẽ được đồng bàn với Ngài trong nhà Cha muôn đời. Amen.


 

PS3-A35: Trên đường Emmau

Theo trình thuật của thánh Luca, Chúa hiện ra lần đầu tiên với các môn đệ trên đường đi: PS3-A35

Theo trình thuật của thánh Luca, Chúa hiện ra lần đầu tiên với các môn đệ trên đường đi Emmau, tác giả trình bày nhiều chi tiết hơn mọi lần và nêu rõ đoạn văn diễn tả nỗi buồn phiền được chuyển thành niềm vui nơi những người tưởng rằng mình bị bỏ rơi, một đoạn văn cho thấy việc Chúa phục sinh là một sự kiện tỏ tường không chỉ đối với các môn đệ trên đường Emmau mà còn với mọi Kitô hữu nữa.
1) Nếu không có Chúa.
Các môn đệ không phải là những người không tin tưởng, tức là những người không hề nghe nói về Chúa Giêsu hoặc chẳng hề nhận được sứ điệp của Ngài. Họ là những tín hữu, những người có niềm tin. Họ đã nhận Ngài ‘như một vị tiên tri, quyền năng trong việc làm và lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân’. Hơn nữa, họ còn hiểu rằng: ‘chính Ngài là Đấng sẽ giải thoát Israel’. Nhưng cuộc khổ nạn của Ngài làm cho lòng tin của họ bị lung lạc. Họ không thể hiểu nổi một vị cứu thế lại phải chịu khổ nạn. Nói cho cùng, họ chối không nhận sự kiện. Họ không hề tin vào biến cố phục sinh. Họ đã nghe các bà loan tin về biến cố ấy, nhưng họ vẫn lưỡng lự, hồ nghi. Thực tại thập giá đã khiến họ phải tháo chạy, hơn nữa họ đã phải rời bỏ Giêrusalem, và vì thất vọng họ đã để mất lòng cậy trông.
Khổ đau vẫn luôn là chướng ngại vật, là cớ vấp phạm lớn lao, khiến những người đã tin tưởng cũng dễ lung lay. Người ta khó có thể dung hoà đau khổ với lòng tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa, lòng tin từ thời ấu thơ của họ dường như trở thành ảo tưởng, hão huyền bởi sự khổ đau ấy, vì gắn bó với những chán chường do cuộc sống khắt khe gây ra nên đi đến chỗ cứng tin, chán ngán. Con đường các môn đệ đi về Emmau xa cách Giêrusalem, cũng chính là con đường mà biết bao người đang gặp phải.
2) Chúa Giêsu hiện ra
Ngài giải thích Kinh Thánh cho họ, và qua Kinh Thánh, Ngài giải thích ý nghĩa của đau khổ như điều Chúa dùng để thực hiện chương trình cứu độ. “Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói! Thế thì Đức Kitô không phải chịu khổ nạn như thế đã, rồi mới vào vinh quang của Ngài sao?” Cuộc khổ nạn và thập giá của Đấng Thiên Chúa Xức Dầu đáp lại kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa. Và suốt cả Kinh Thánh đều tỏ rõ kế hoạch ấy. “Và khởi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ những điều đã viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh”. Chắc chắn rằng, lối chú giải đích thực phải nhắm đến Đức Kitô. Ngài nhấn mạnh rõ rằng chính Môsê cũng như mọi tiên tri và ‘toàn bộ Kinh Thánh’ đều nói về Đấng Thiên Sai. Ai giải thích Cựu Ước theo nhãn quan lấy Đức Kitô làm trung tâm ắt không phải là gò áp bản văn, trái lại giải thích bản văn theo cách thức của nhà chú giải đích thực. Lối giải thích dựa trên Đức Kitô, lối chú giải Cựu Ước lấy Ngài làm trung tâm bắt nguồn từ chính Đức Kitô, và chính Ngài đã biện minh cho lối chú giải ấy. Chỉ dưới cái nhìn ấy mới hiểu được ý nghĩa đích xác của Kinh Thánh, bất cứ lối giải thích nào chỉ căn cứ vào nghĩa chữ bề ngoài, thì không hiểu được sâu xa mầu nhiệm và tinh thần sâu đậm nhất của Kinh Thánh.
Hơn nữa, Đức Giêsu mặc khải chính mình qua việc bẻ bánh “Khi ấy mắt họ mở ra và nhận biết Ngài” thêm vào những lời giải thích Kinh Thánh là mầu nhiệm bẻ bánh, cả hai sự việc ấy đều là một sự hy sinh mà nhờ đó Chúa tỏ mình ra. Con người có thể tìm hiểu, suy nghĩ, kiếm tìm và cầu nguyện để nhận ra Chúa. Nhưng dù sao, con người cũng cần được Chúa ban ơn cách riêng mới nhận ra Chúa Kitô. Nếu Chúa chẳng ban cho đặc ân ấy, con mắt ta vẫn khép kín. Và chỉ khi nào Chúa tỏ mình ra cho biết thì mới được, cũng như đã xảy ra cho các môn đệ trên đường Emmau: “mắt họ mở ra và nhận biết Ngài”. Bẻ bánh chính là dự phần vào bàn tiệc của Chúa. Chỉ ai được Chúa mời tham dự yến tiệc mới nhận ra Ngài cách đích thực.
3) Với Chúa Giêsu.
Trước khi các môn đệ thành Emmau nhận ra Ngài, thì Ngài đã ở giữa họ và đã có ảnh hưởng nơi họ rồi: “Lòng chúng ta lại đã không cháy bừng bừng lúc dọc đàng Ngài ngỏ lời với ta, và giải nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta đó sao?” Tâm hồn họ ngầm cháy. Theo nguỵ thư ghi lại: “Ta là lửa cháy, Ngài nói, ai gần Ta là gần lửa cháy”. Sự kết hợp với Chúa Kitô nung nấu các linh hồn mà nếu không có Ngài, các tâm hồn đó sẽ lạnh ngắt và chết mất.
Khi nhận ra Chúa Giêsu họ liền “chỗi dậy trở về Giêrusalem”. Đó là một kết quả trước mắt, một biến đổi tận gốc rễ đã xảy ra: họ đổi buồn thành vui, sầu tan vui đến, tuyệt vọng biến thành hy vọng, tản lạc quy tụ về, nhát sợ kinh hoàng thành tin tưởng sướng vui. Khi họ gặp được nhóm Mười Một trong phòng hội, họ hiểu rằng Chúa đã hiện ra với ông Simon. Các trình thuật khác nhau đều quả quyết sự kiện không thể chối cãi được: Chúa đã sống lại thật. Trình thuật về các môn đệ đi làng Emmau cho thấy cuộc sống khi không có Chúa, sự can thiệp của Ngài, và sức biến đổi trọn vẹn cuộc đời. Sau kinh ngạc trước ngôi mộ trống, sau sững sờ trước sứ điệp các thiên thần, giờ đây thực sự đã hoàn tất: Chúa đã sống lại thật và còn hiện ra cho những kẻ thân cận: trước nhất và đặc biệt nhất là hiện ra với ông Simon rồi với hai môn đệ thành Emmau và sau với toàn thể các môn đệ đang hội họp.

 

PS3-A36: Thiên Chúa thực hiện lời hứa

Lm Phêrô Phạm Ngọc Lê
Bài Đọc 1: Cv 2:14.22-23; Bài Đọc 2: 1 Pet 1:17-21; Tin Mừng: Lc 24:13-35

CHỦ ĐỀ CÁC BÀI ĐỌC

 

Mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô là việc Thiên Chúa thực hiện lời hứa trong Kinh thánh. Đây: PS3-A36

Mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô là việc Thiên Chúa thực hiện lời hứa trong Kinh thánh. Đây là chủ đề xuyên suốt phụng vụ của ngày Chúa Nhật 3 Phục Sinh. Đức Giêsu phục sinh, cùng đồng hành với hai môn đệ trên đường về Emmau, "bắt đầu từ Môsê và tất cả các ngôn sứ giải thích cho họ những gì liên quan đến Người trong tất cả sách thánh" (Tin Mừng)

Về phần Phêrô, trong bài giảng đầu tiên cho người do thái tại Giêrusalem đã trích những lời của ngôn sứ Gioen, tiên báo sự sống lại của Đức Kitô: "Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát (Bài đọc 1)

Sau cùng, thư thứ nhất của Thánh Phêrô cũng đề cập đến vấn đề này như là kế hoạch từ đời đời của Thiên Chúa: "Đức Kitô, Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. Nhờ người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người chỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào thiên Chúa." (Bài đọc 2)




Sứ Điệp Niềm Tin

Theo Thánh Augustinô, Tân Ước được ẩn chứa trong Cựu Ước, do đó có sự tiếp nối mạc khải của Thiên Chúa trong suốt lịch sử cứu độ. Chính Đức Giêsu cũng đã giải thích cho các môn đệ đi làng Emmau điều mà Môsê (Ngũ Kinh) và các ngôn sứ đã nói về sự phục sinh của Người. Những bản văn Thánh Kinh nào Đức Giêsu đã dùng để giải thích cho hai môn đệ đang vỡ mộng, đang mù mờ trước mầu nhiệm Đức Kitô phục sinh? Không thấy Thánh Luca đề cập đến. Tuy nhiên, đọc Cựu Ước, ta có thể kể ra một số đoạn như sau: Đnl 32,39 trong đó Thiên Chúa tự mạc khải như Đấng "cầm quyền sinh tử"; Am 9,2: "Chúng có chui xuống tận âm ty, tay Ta cũng kéo chúng lên khỏi đó"; Tv 16,10: " Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ" và nhất là lời sứ ngôn Gioen 3,1-5 mà Thánh Phêrô đã trích dẫn khi giảng cho dân cư tại Giêrusalem (Bài đọc 1).

Thêm vào đó còn một số đoạn khác bàn về việc Thiên Chúa cho hồi sinh dân Ítrean (Os 6,1; Ez 37,1-14; Is 53) Gần với Tân Ước, ta còn có lời ngôn sứ Đanien (12,2): "Trong số những kẻ an nghỉ trong bụi đất, nhiều người sẽ chỗi dậy." Sau cùng và trên hết phải kể đến những bản văn trong sách Maccabê, Thiên Chúa Đấng tạo dựng nên ta, cũng là Đấng ban lại cho ta sự sống (2Mcb 7, 9;11;22; 14,46). Cùng với tính liên tục, ta cũng cần nhấn mạnh đến sự vượt trội của Tân Ước trên Cựu ước, và bước tiến đi từ hình ảnh về sự phục sinh đến thực tế cụ thể xảy ra nơi Đức Giêsu Kitô, hoa quả đầu mùa và là bảo đảm cho sự sống lại của chúng ta. Cũng có nhiều điểm giống với những bản văn Cựu ước, tuy nhiên vẫn có những khác biệt to lớn vượt mọi điều mong chờ và mọi lời tiên báo của các ngôn sứ.

Mầu nhiệm phục sinh đã được ẩn giấu trong cung lòng Chúa Cha, Đấng trong Cựu Ước, chỉ dọi chiếu một ít tia sáng để khơi dậy và nuôi dưỡng niềm hy vọng. Còn trong Tân Ước, Chúa Cha không mạc khải lòng mình bằng lời nhưng bằng hành động làm cho Đức Giêsu Kitô chỗi dậy từ cõi chết. Mạc khải về việc Đức Kitô sống lại thật bất ngờ và đáng khâm phục vượt trên mọi suy tưởng của con người. Mầu nhiệm này thật ấn tượng, vượt mọi năng lực lý trí và vượt cả cựu ước dù vẫn có sự tiếp nối và trở thành một kỳ chướng cho người do thái và cả những kẻ không tin. Nhưng đối với ta là những kẻ tin, đó la quyền năng và ý định của Thiên Chúa (1 Cor 2, 1-5)


Gợi ý Mục Vụ

Các bài đọc ngày Chúa Nhật hôm nay là dịp giúp các tín hữu hiểu biết hơn về việc Thiên Chúa mạc khải tiệm tiến các mầu nhiệm. Mỗi mầu nhiệm kitô giáo đều có một lich sử, như bài đọc hai cho thấy, bắt nguồn ngay trước cả cuộc sáng tạo và tiếp tục qua nhiều thế kỷ chuẩn bị cho mạc khải viên mãn nơi Đức Giêsu Kitô. Đây không phải là một lịch sử trần tục điều khiển do những thế lực đen tối như kiểu các thần thoại. Và cũng chẳng phải là một sự phát triển dần dần của những khả năng lý trí và tri thức của con người vươn tới những lãnh vực siêu vượt của tri thức.

Nhưng đây là lịch sử tôn giáo, biểu lộ một khoa sư phạm tuyệt vời của Thiên Chúa đối với dân của Ngài. Đây là tình thương của Chúa Cha dành cho con cái của Ngài, một tình thương tự hạ cho ngang tầm với thân phận giới hạn và bất toàn của con người, để con người nhận ra được ánh sáng của các mầu nhiệm, đặc biệt là mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu Kitô.

Từ quan điểm này, Cựu Ước đã là bước khởi đầu mạc khải cho các mầu nhiệm kitô giáo. Đó là cơ hội thuận lợi mời gọi và cổ vũ người tín hữu đọc và suy gẫm Cựu Ước, nhưng phải luôn luôn được soi sáng nhờ mạc khải viên mãn mà Đức Giêsu mang lại. Đối với các bạn trẻ và người trưởng thành, phụng vụ trong các tuần lễ mùa Phục sinh là bài giáo lý với trọng tâm về sự sống lại, giải thích lịch sử tiệm tiến của mầu nhiệm này nhờ các bài đọc và suy tư dựa trên một ít bản văn Cựu Ước.

Đồng thời cũng là dịp rất tốt cho tín hữu đọc Cựu Ước bằng "đôi mắt kitô hữu", và suy niệm, cầu nguyện bằng "lòng trí kitô hữu" dựa trên các thánh vịnh hoặc nhiều bản văn hay khác của Kinh Thánh do thái giáo. Tất cả những điều đó mời gọi ta cảm tạ Thiên Chúa vì mạc khải tròn đầy nơi Đức Kitô về việc sống lại, và xin Ngài mở lòng trí các tín hữu do thái giáo đón nhận mạc khải viên mãn.


 

PS3-A37: Loan báo Nước Trời và đổi mới con người

Chúa Nhật 3 Mùa Phục Sinh Năm A
 (Cv 2,14.22-28; 1P 1,17-21; Lc 24,13-35)
 Phúc Âm: Lc 24, 13-35
"Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh".
 

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ: PS3-A37

Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Đang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi: "Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật, đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".
Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Đoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.
Đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Đoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Họ bảo hai ông: "Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.
 
Suy Niệm:
Chúa Nhật III Phục Sinh
Cv 2,14.22-28; 1P 1,17-21; Lc 24,13-35
Như Đức Kitô đã dùng Thánh Kinh để giải thích cho hai môn đệ tin vào mầu nhiệm Người sống lại mà hồi sinh, Phụng vụ hôm nay cũng muốn dùng các bài chúng ta vừa nghe đọc để khai sáng tâm trí ta hiểu hơn về việc Chúa phục sinh hầu được tinh thần mới và nếp sống mới.
 
A. Bài Sách Công Vụ
Trước hết chúng ta hãy để tai nghe lời thánh Phêrô. Nói đúng hơn chúng ta hãy khảo sát bài đọc I, vì diễn từ chúng ta vừa nghe là của tác giả sách Công vụ hơn là của chính thánh Phêrô.
Hôm ấy là ngày lễ Ngũ Tuần. Các môn đệ vừa được đầy Thánh Thần. Thiên hạ chen nhau tuốn đến nhà các ngài vì nghe tiếng động từ trời vang xuống nơi đó. Phêrô đứng lên cùng với 11 Tông đồ và cất tiếng nói với dân. Ông phải giải thích cho mọi người hiểu: Chính Đức Kitô phục sinh vừa gửi Thần trí của Người xuống trên các môn đệ. Điều quan trọng là phải làm chứng việc Người đã sống lại vì ơn để Thánh Thần xuống chỉ là điều tất yếu phải theo sau. Việc làm đó thật tế nhị và cũng khó; vì Phêrô phải nói với những người mà đa số cũng đã nghe đầu mục Dothái xúi giục đòi đóng đanh Đức Yêsu. Nhưng tác giả bản văn đã rất tài tình. Ông vắn tắt phác lại hình ảnh Đức Yêsu, một Đấng đã được Thiên Chúa chứng nhận bằng bao việc kỳ diệu, tức là như một tiên tri, nói đúng hơn như một Môsê; "Thế mà anh em đã giết Người", lẽ ra ông chỉ cần nói như thế. Nhưng không! Ông đã khéo léo chữa lỗi cho họ. Chính theo ý định đã vạch sẵn và sự dự tri của Thiên Chúa mà Người đã bị nộp, rồi họ mới dùng tay kẻ vô đạo mà giết Người. Nhưng đây mới là điều quan trọng: Thiên Chúa đã phục sinh Người từ kẻ chết để ứng nghiệm lời tiên tri Đavít. Quả thật, Thánh vịnh 16 có câu: Người không để Đấng Thánh của Người phải thấy mục nát.
Rõ ràng Phêrô không nại đến sự kiện mồ trống. Ông cũng không nói đến những lần Chúa sống lại hiện ra. Có thể những chuyện đó đã được đồn đãi nhiều nhưng không gây được sự nhất trí. Đó chỉ là những dấu hiệu cần được giải thích. Cũng như việc Thánh Thần hiện xuống hôm nay cũng chỉ là một dấu hiệu. Đối với Phêrô chẳng lời giải thích nào đáng tin như lời Thánh Kinh. Ông dẫn giải Thánh Kinh để soi sáng hiện tượng, để kêu gọi lòng tin. Và hôm đó ông đã thu phục được "lối ba ngàn linh hồn".
Chúng ta tưởng chính thánh Phêrô đã sáng nghĩ ra đường lối ấy sao? Đó chỉ là phương pháp Đức Yêsu đã làm khi còn tại thế và lúc đã sống lại. Cuộc đàm đạo của Người với hai môn đệ trên đường Emmau sẽ làm chứng điều đó.
 
B. Bài Tin Mừng Luca
Tác giả sách Công vụ và sách Tin Mừng Luca chỉ là một, nên bài Tin Mừng hôm nay có nhiều nét giống với bài Công vụ mà chúng ta vừa khảo sát.
Câu chuyện được kể bắt đầu xảy ra vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục sinh và kết thúc vào buổi tối. Hai môn đệ chứ không phải hai Tông đồ đi đường đến Emmau. Họ trở về nhà sau khi đã chứng kiến những sự việc xảy ra tuần rồi ở Yêrusalem? Luca kể họ đang nói với nhau những chuyện đó và buồn rầu vì thất vọng. Họ đã tưởng Đức Yêsu sẽ cứu chuộc Israel; nhưng này Người đã bị giết được ba ngày rồi. Sáng nay cũng có mấy bà ra thăm mộ đấy. Họ thấy trống trơn. Các thiên thần nói với họ rằng Người đã sống lại, nhưng mấy môn đệ ra coi thì chẳng thấy gì cả.
Người khách lạ vừa đến nói ngay với họ: Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói. Ông ta là ai mà dám nói thẳng như thế? Lời kia không giống lời Đức Yêsu nói hôm nào khi môn đệ ở trên thuyền đánh thức Người dậy lúc sóng nước làm thuyền sắp chìm sao? Hai môn đệ kia chưa nhận ra Người. Nhưng Người dẫn giải Thánh Kinh đến đâu, lòng họ nóng lên đến đó và cuối cùng họ đã nhận ra Người khi bẻ bánh.
Câu kết của câu chuyện rất quan trọng. Hai môn đệ trở về Yêrusalem tức khắc. Họ chưa kịp kể chuyện của mình thì các Tông đồ đã cho họ biết: "Thực thế, Chúa đã sống lại và đã hiện ra cho Simon". Người ta có thể đoán sau đó câu chuyện họ kể không còn hào hứng nhiều nữa vì không còn hi hữu và mới mẻ gì.
Chúng ta tiếc vì Luca đã kết thúc câu chuyện như vậy sao? Nhưng dường như đó là chủ ý cuối cùng với câu kết lại làm cho người nghe hết hào hứng. Là vì đối với ông, việc Chúa hiện ra với hai môn đệ, dù có thật và phấn khởi, vẫn chỉ là phụ thuộc. Đức tin của chúng ta về việc Chúa sống lại chỉ căn cứ vào nhân chứng của các Tông đồ mà đứng đầu là Phêrô. Câu "Chúa đã sống lại và hiện ra với Phêrô", tuy vắn tắt, khô khan, nhưng chính là đá tảng vững vàng xây lên Hội Thánh. Mọi câu chuyện khác về việc ấy chỉ là trang trí.
Và quả thật Luca đã có ý trang hoàng câu chuyện của ông hơn là ghi lại trung thực một sự kiện y như đã xảy ra. Rõ ràng ông đã có ý muốn cho có nhiều chuyện xảy ra trong ngày thứ nhất trong tuần để tô điểm ngày ấy nên ngày Phục sinh. Ông là "y sĩ" ưa nói đến lòng thương xót của Chúa, nên câu chuyện ông kể có vẻ tâm tình và khiến lòng bốc cháy. Ông chỉ là một môn đệ và mất ý thức về vai trò của các Tông đồ, nên muốn cho các chuyện của môn đồ đứng hàng thứ sánh với sự nghiệp của các Tông đồ. Nhất là ông muốn viết một tác phẩm sau khi đã sưu tra và xếp đặt cho có đầu có ngọn; do đấy câu chuyện của ông có nhiều nét chắc chắn , tức là diễn tả nhiều điểm đức tin vững vàng: nào là hình ảnh Đức Yêsu được phác họa như một tiên tri hứa hẹn nhiều hy vọng, nào là sự kiện mồ trống với lời thuật của các phụ nữ được trình bày một cách khách quan và chưa có lời giải thích. Nhất là Luca muốn nhấn mạnh: các môn đệ chậm tin lời tiên tri, chẳng hiểu gì về mầu nhiệm Thập giá và phải đọc lại Lời Thánh Kinh để thấy ánh sáng cứu độ. Khi nhắc lại lời Chúa nói ở trên biển bão táp. Luca ngầm ví việc Người chịu chết như khi Người ngủ trên thuyền; môn đồ hốt hoảng, nhưng tỉnh dậy Người đưa họ vào bến bình an. Cũng vậy, việc Người sống lại kéo họ ra khỏi vực sâu sự chết. Họ phải nhờ Thánh Kinh để nhận ra mầu nhiệm này và đức tin của họ sẽ đạt tới cao điểm trong việc bẻ bánh.
Ở đây ta cũng nên hỏi: có thật Đức Kitô đã làm lễ nghi bẻ bánh với hai môn đệ không? Suy nghĩ kỹ, ta nên kết luận: có lẽ không, vì Người đang hiện diện ở đó, không cần đến bí tích làm gì, bởi lẽ bí tích là để thay thế hiện diện. Đó có thể chỉ là bữa ăn thường, nhưng Luca đã hữu ý dùng những từ ngữ của việc bẻ bánh để mô tả (như khi kể việc Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều: 9,16), để đề ra một ẩn ý thần học: niềm tin vào việc Chúa sống lại đạt tới cao điểm trong việc bẻ bánh, tức là nơi bí tích Thánh Thể và bữa ăn này thực hiện lời hứa sẽ cho môn đệ vào dự bàn tiệc Nước Trời khi Người lên nơi vinh hiển.
Như vậy, câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau hôm nay không những hấp dẫn, nhưng nhất là sâu sắc. Nó diễn tả quan niệm của Luca về việc Chúa sống lại. Có những sự kiện dẫn tới niềm tin ấy như sự kiện mồ trống và việc Chúa hiện ra. Nhưng đức tin thật sự của ta phải căn cứ vào chứng tá của các Tông đồ mà đứng đầu là Phêrô và vào sự tìm hiểu Kinh Thánh. Đức tin ấy đạt tới mức độ đầy đủ trong việc cử hành bàn tiệc Thánh Thể loan báo Nước Trời và đổi mới con người, làm cho họ mến Chúa nồng nàn và nhiệt thành truyền giáo.
Đó cũng là những tư tưởng mà bài sách Công vụ đã thoáng thấy. Nói đúng hơn vì viết sau bài Tin Mừng, diễn từ của Phêrô là một bản văn súc tích, gồm đủ các yếu tố mà Luca đã trình bày trong bài Tin Mừng.
Phụng vụ hôm nay đọc lại cho chúng ta nghe những lời Kinh Thánh ấy để làm gì?
 
C. Bài Thư Phêrô
Tất nhiên đã có nhiều điều chúng ta có thể đem ra ứng dụng và thi hành sau khi hiểu biết các bài đọc trên. Chúng ta đã hiểu rõ hơn về niềm tin của chúng ta đối với việc Chúa sống lại. Và muốn hun đúc niềm tin ấy để đổi mới con người và cuộc đời, chúng ta cũng phải bắt chước hai môn đệ, để Thần Trí Chúa phục sinh hướng dẫn mình đọc lại Kinh Thánh và tham dự các buổi phụng vụ Thánh Thể.
Nhưng để giúp chúng ta có một thái độ cụ thể, Phụng vụ đã trích một đoạn thư Phêrô. Tác giả không nói gì mới lạ, chỉ xinh chúng ta đánh giá đúng ân sủng đã nhận được. Nhờ Đức Kitô chúng ta đã tin vào Thiên Chúa (c.21), xưng tụng Người là Cha (c.17), nhìn nhận Người là Thẩm phán chí công, thì hãy sống trong lòng kính sợ Người. Lý do là vì niềm tin của chúng ta thật là đắt giá. Nó đã được trả bằng Máu châu báu của Đức Kitô và chỉ có Máu Người mới trả được. Thế nên chúng ta phải bảo toàn niềm tin ấy, tức là hy vọng của chúng ta luôn phải hướng về Thiên Chúa (c.21), là sống trong lòng kính sợ (kẻo mất) Người.
Giờ đây chúng ta sẽ cử hành mầu nhiệm Thánh Thể, nhắc nhở việc Chúa chịu chết và sống lại, nhận thức đức tin của chúng ta đã được trả bằng Máu châu báu của Người, chúng ta hãy mở mắt tinh thần ra như hai môn đệ Emmau và như những người đã nghe bài diễn từ của Phêrô. Và lòng chúng ta hãy nồng nàn lên khi thấy Chúa hiện diện nơi Thánh Thể. Chúng ta hãy quyết tâm đổi đời như lối "ba ngàn người" nghe Phêrô nói ngày trước; và chúng ta hãy ra về trở lại với đồng bào như hai môn đệ Emmau. Chúng ta sẽ làm như họ, tin tưởng tuyệt đối vào mầu nhiệm Phục sinh, khai triển lời Kinh Thánh trong đời sống, làm chứng Đức Kitô đã sống lại đang kêu gọi mọi người hiểu biết kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa mà phấn chấn trong cuộc sống, nhiệt tình xây dựng hạnh phúc, vì này, sức mạnh của Chúa đi kèm công việc của những người đã tin Đức Yêsu Kitô sống lại từ kẻ chết.
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

PS3-A38: Trên đường Emmau - Phó Tế Micae Khánh

Trên đường Emmau - Phó Tế Micae Khánh

Lc 24,13-35

 

Cuộc đời mỗi người chúng ta là một cuộc hành trình. Mỗi hành trình là một câu truyện. Và bất cứ đó: PS3-A38

Cuộc đời mỗi người chúng ta là một cuộc hành trình. Mỗi hành trình là một câu truyện. Và bất cứ đó là câu chuyện gì, vui hay buồn, vẫn là câu chuyện đáng kể. Và ai cũng muốn câu chuyện mình kể được người đối diện chú ý lắng nghe. Tuy nhiên thực tế ít xẩy ra như thế. Không ai muốn nghe chuyện buồn. Không ai muốn đến gần người đang lúc yếm thế bi quan. Người ta bảo phù thịnh chứ ai phù suy!

Tuy nhiên qua bài Phúc âm hôm nay, chúng ta học được bài học tuyệt vời của Chúa Yêsu về việc biết lắng nghe người đối diện, biết đồng hành với người đang lâm cảnh buồn chán cô đơn.

Câu chuyện Phúc âm kể rằng: vào chiều Chúa nhật Chúa Phục Sinh, hai môn đệ buồn bã trở về làng Emmau. Họ đang nói cho nhau nghe những sự việc vừa xẩy ra trong mấy ngày qua tại Yêrusalem. Người mà họ đặt trọn niềm hy vọng đã bị tử hình. Tâm hồn họ rầu rĩ, chán nản tột độ. Họ thất vọng hoàn toàn. Ngay lúc đó Chúa Yêsu Phục sinh đến và đồng hành với họ. Ngài tế nhị không để cho họ nhận ra Ngài ngay từ ban đầu. Ngài xuất hiện như một người không quen biết, để họ tiếp tục thổ lộ tâm tình cách tự nhiên. Ngài tạo một bầu không khí để họ dễ dàng tâm sự. Ngài cho họ thấy Ngài quan tâm đến điều đang làm cho họ buồn rầu. Ngài hỏi họ đang nói chuyện gì với nhau mà tỏ vẻ buồn bã thế. Và họ đã tiếp tục nói tất cả, nói rất thực những điều trong lòng họ cho Ngài nghe.

Thế rồi Ngài làm gì nữa? Ngài bắt đầu kể câu chuyện của Ngài. Đối với hai môn đệ, cây thánh giá là chướng ngại không thể vượt qua được. Nó làm cho họ không còn tin tưởng vào Đức Kitô nữa. Nhưng giờ đây, Chúa Kitô cho họ thấy những điều tiên báo trong Sách thánh về thánh giá, về đau khổ. Ngài cho họ thấy thánh giá, đau khổ không phải như người ta thường nghĩ là biểu tượng sự tận cùng của một giấc mơ, song một cách nghịch lý rằng thánh giá là một phương thế để làm cho giấc mơ trở thành thực tại. Ngài giúp họ nhận ra ý nghĩa câu chuyện cuộc đời của họ qua việc kể cho nghe ý nghĩa câu chuyện của chính cuộc đời Ngài. Và do vậy Ngài đã thay đổi cuộc đời của họ theo hẳn một hướng khác, lạc quan hơn, vui vẻ hơn. Họ bảo nhau, "Đang lúc đi đường, Ngài nói với chúng ta và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta, trong mình chúng ta chẳng thấy nóng lên đó ư?"

Ước chi tôi biết noi gương Chúa Yêsu, mau mắn tìm đến an ủi người có chuyện buồn rầu, biết hiện diện bên cạnh người đang thất vọng cô đơn. Nhất là trong khi tôi thi hành những điều ấy, hãy minh chứng cho họ biết rằng chính Chúa Kitô đang đồng hành với họ. Ngài luôn hiện diện bên cạnh họ.

Là con người, nhất là trong lúc buồn sầu, thất vọng, mà có người khác đồng hành trong tin tưởng, biết chia sẻ nỗi ưu tư của mình, thì cảm thấy hạnh phúc biết mấy, an ủi biết mấy. Hơn nữa, tôi sẽ cảm thấy cuộc đời của tôi có ý nghĩa nhiều hơn khi tôi biết nhận ra ý nghĩa của thánh giá, của đau khổ. Như Chúa Kitô đã chia sẻ câu chuyện Ngài phải vượt qua thánh giá để Phục sinh vinh quang, thì tôi vui lòng chấp nhận đau khổ để cùng được chia sẻ hạnh phúc với Ngài như thế. Amen.


 

PS3-A39: Lời Chúa cho Hôm nay: BẠN NÊN MỞ MẮT NHÌN - Huyền Đồng

3rd Sunday of Easter

Lời Chúa cho Hôm nay: BẠN NÊN MỞ MẮT NHÌN - Huyền Đồng

* SHOULD OPEN OUR EYES*

Bài đọc 1: Công vụ 2,14. 22-28= Hãy thay đổi cách sống / Reform your lives.

Bài đọc 2: 1 Phêrô 1, 17-21= Chúng ta có đức tin và hy vọng / We have Faith and Hope..


Tin Mừng: Luca 24,13-35= Meeting the Lord Jesus / Gặp gỡ Đức Kitô.

A- Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ 3 bài đọc trên: ( Reflection, live out and share )

 

Hai môn đệ đang trò chuyện thì Đức Kitô đến gần cùng đi với họ; nhưng mắt họ còn bị ngăn cản : PS3-A39

1/ Hai môn đệ đang trò chuyện thì Đức Kitô đến gần cùng đi với họ; nhưng mắt họ còn bị ngăn cản không nhận ra Người. Những của cải vật chất, tính tự cao tự đại…đã che mắt tôi không nhận ra cách Chúa đến. Tôi cần phải thay đổi gì để dễ nhìn thấy Chúa? Ngài đang đến với tôi bằng cách nào?

…Jesus approched and began to walk with them, they were retainned from recognizng Him. ( Lc. 23, 15-16 )

2/ Khi ngồi đồng bàn Chúa bẻ bánh và trao cho, họ mới nhận ra Đức Kitô, nhưng Ngài biến mất. Trong các cuộc họp mặt Chúa vẫn hiện diện qua anh em, để nhắc nhở và gíup bạn tìm gặp Ngài. Bạn có nhận được Chúa đến với mình không? Tại sao nhiều người vẫn chưa nhận thấy Chúa đến với họ?

…He broke the bread to give them., their eyes were opened and recognized Him… ( Lc. 24, 30-31 )

3/ Thánh Phêrô quả quyết: Thiên Chúa là đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Người đời hay vị nể,tâng bốc, xét theo bề ngoài để làm những việc sai trái, mờ ám làm tôi bị sa lầy vào đường xấu. Tôi đã làm gì những cho tha nhân? Gia đình đã có những hy vọng nào về tôi ?

A Father who judges each noe justly, on the basic of His actions.. ( 1Ph.1, 17-21 )

4/ Trong Tông đồ Công vụ, thánh Phêrô lớn tiếng nói: "Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô sống lại. Nhân lọai ngày đang quằn quại trong đau khổ và sự chết, vì họ không muốn tiếp nhận sự sống của Chúa. Hằng ngày bạn đang sống lại với Chúa bằng cách nào? Đau khổ và cái chết gíup bạn điều gì?

God freed Him from death"s bitter pangs, raised Him up again… ( Cv. 2, 24 )

B- Câu Kinh Thánh tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best God"s Word )

MẮT HỌ LIỀN MỞ RA VÀ HỌ NHẬN RA NGƯỜI, NHƯNG NGƯỜI BIẾN MẤT. (Lc. 24, 31)

Their eyes were opened and recognized Him, whereupen He vanished from their sight.

C- Việc tôi cần phải làm ngay theo Lời Chúa dạy: ( So what am I doing / For action )

* Tôi chọn 1 trong 4 gợi ý Sống và chia sẻ ở phần A để thi hành.

* Không bị mờ mắt trước tiền bạc, nịnh bợ - Đối xử công bằng với mọi người - Đổi mới cái nhìn..

D- Tôi cầu nguyện và Sống thực hành lời tôi cầu nguyện: ( I pray and practice/ Pray in action )

1- Lạy Chúa, Đức Giêsu vẫn đồng hành bên con và biết rõ con đang nói năng suy nghĩ những gì.Xin cho con biết nói năng, suy nghĩ hành động như Chúa, vì Chúa sẽ xét xử theo việc con đã làm.

2- Thánh Phêrô đã mạnh mẽ rao giảng: Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, chính Người đã làm cho Đức Kitô sống lại. Xin dạy con biết làm điều công chính và sống lại với Chúa bằng đời sống mới.

Lời hay ý đẹp: GƯƠNG TRONG DÙNG ĐỂ SOI HÌNH,
VIỆC XƯA DÙNG ĐỂ BIẾT RÀNH VIỆC NAY


 

PS3-A40: Nhận ra Chúa và làm cho người khác nhận ra Chúa

Br John Quốc Toản, CMC

Lk 24, 13-35

 

Trong Ngày Thánh Mẫu 2001 vừa qua, sau một ngày thu rác dưới ánh nắng gắt, tôi cảm thấy mệt nên: PS3-A40

Trong Ngày Thánh Mẫu 2001 vừa qua, sau một ngày thu rác dưới ánh nắng gắt, tôi cảm thấy mệt nên ghé vào lều kỷ vật để nghỉ mát. Vào bước vào cửa thì từ quầy T-shirt, một cô giơ tay ra hiệu mời tôi lại. Trong lúc đang mệt mỏi và mắt mờ vì mới từ ngoài nắng vào, tôi không nhận ra cô ta là ai nên nghĩ rằng chắc cô ta gọi người khác. Nhìn qua hai bên, tôi chẳng thấy ai nên tôi ra hiệu cho cô là có phải gọi tôi không. Cô ta gật đầu. Tôi vừa bước tới gần thì một thầy hỏi tôi là biết ai đây không? Tôi nhìn kỹ một hồi rồi lắc đầu vì thật sự không biết là ai. Thấy vậy, cô ta giả vờ giận dỗi, khóc hu hu, trách tôi lơ mơ. Lúc đó tôi mới nhận ra đó là cô bạn đã hơn một năm không gặp. Chỉ hơn một năm không gặp, cô ta đã thay đổi đến nỗi tôi không thể nhận ra. May là nhờ có nụ cười, và tiếng nói the thé như mụ phù thủy nên tôi mới nhận ra được cô bạn.

Nếu để tâm quan sát ta sẽ nhận thấy con người thường dựa vào thị giác để nhận diện người và cảnh vật chung quanh. Đồng thời cũng tỏ ra những dấu chỉ đặc biệt để người khác nhận biết mình. Nhắm vào yếu điểm này, các nhà thương mại đã dùng truyền hình và báo chí để đăng tải những hình ảnh, dấu hiệu của mặt hàng để thu hút sự chú ý của mọi người. Đúng thế, khi nhìn thấy hình con ngựa trên chiếc áo ta biết đó là hiệu Polo. Khi nhìn thấy chữ "M" mầu vàng thì biết đó là tiệm McDonald... Nhưng là con người, ta cũng có tính hay quên. Trong quãng thời gian lâu nếu ta không thường gặp những dấu hiện trên ta sẽ quên. Nhưng một khi gặp lại hoặc có ai nhắc đến, ta sẽ nhớ lại ngay.

Hai môn đệ trên đường về Emmau trong Tin mừng hôm nay cũng là những con người. Các ngài cũng hay quên và cần có những dấu hiệu để nhận diện. Chúa Kitô, Thầy của họ mới chết được ba ngày, nay đã sống lại cùng điv à đàm thoại với họ. Nhưng vì quá buồn sầu việc ra đi đau thương của Thầy cùng với nỗi lo về số phận tương lai của mình nên đã không nhận ra Chúa. Chúa Kitô vì biết rõ tính con người hay quên nên trước khi chịu chết Ngài đã thiết lập Phép Thánh Thể (Nghi thức bẻ bánh) để làm dấu hiệu cho các môn đệ nhận biết Ngài. Vì thế, khi ngồi bàn ăn với hai môn đệ, Ngài đã cử hành nghi thức bẻ bánh và các môn đệ đã nhận ra Ngài: "Đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt hai ông sáng ra và nhận ra Người." (Lc 24, 30-31). Chúa không chỉ ngừng tại đó. Ngài còn truyền cho họ một giới răn yêu thương để làm dấu chỉ cho người khác nhận biết họ là môn đệ của Ngài: "Thầy ban cho các con điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau. Như Thầy đã yêu thương các con, thì các on cũng hãy yêu thương nhau. Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là các con yêu thương nhau." (Gn 13,34-35)

Trong vũ trụ có rất nhiều dấu chỉ để ta nhận ra Chúa nhưng dấu chỉ đặc biệt vẫn là việc bẻ bánh trong Bàn Tiệc Thánh Thể. Hằng ngày hoặc hàng tuần chúng ta tham dự thánh lễ và nhận ra Chúa và rước Chúa vào lòng. Sau khi nhận ra Chúa và rước Chúa vào lòng chúng ta đã làm gì?

Hai môn đệ trên đường Emmau sau khi nhận ra Chúa, liền đi báo tin mừng cho các tông đồ. Các Kitô hữu trong những thế kỷ đầu tiếp tục cử hành nghi lễ bẻ bánh để nhận ra Chúa và tình yêu thương của Ngài. Họ sống đời bác ái cộng đồng như dấu hiệu riêng. Nhờ đó nhiều người nhận biết họ là các môn đệ của Chúa và bước theo Ngài (xem Tđcv 2,42-46).

Nhiều ngươi trong chúng ta đã học được tấm gương tốt lành của các môn đệ đầu tiên. Nhiều người trong chúng ta đã học được tấm gương tốt lành của các môn đệ đầu tiên. Sau khi lãnh nhận Chúa, nhiều quí ông bà, anh chị em đã tình thương Chúa đến cho mọi người qua những cử chỉ bác ái viếng thăm các bệnh nhân già yếu, giúp đỡ tha nhân, bố thí cho những nghèo...

Nhưng phải thật sự thật là còn nhiều người trong chúng ta chưa ý thức được trách nhiệm mình phải trở nên dấu chỉ cho người khác nhận biết Chúa. Vì chưa ý thức được trách nhiệm này nên có thể vừa ra khỏi nhà thờ là tụm năm tụm ba để bàn tán đến ông nọ bà kia. Về đến nhà có thể mắng chồng, mắng vợ và la rầy con cái. Phần con cái, có thể không vâng lời cha mẹ và đi phá phách láng giềng. Chúng ta lựa chọn ở trong thành phần nào?

Nhờ tiếng nói và nụ cười tôi mới nhận ra cô bạn của tôi. Nhờ cử chỉ bẻ bánh, hai môn đệ trên đường Emmau đã nhận ra Chúa. Và các ông đã trở nên dấu chỉ cho người khác nhận biết Chúa bằng việc đi chia sẻ niềm vui yêu thương với các tông đồ.

Hằng ngày hoặc hằng tuần ta có nhiều dịp được diễm phúc nhận ra Chúa qua việc tham dự thánh lễ. Đừng để công ăn việc làm cùng với những lo toan của cuộc sống chiếm đoạt thời giờ để rồi mất đi những cơ hội quí báu đó. Một khi đã nhận ra Chúa ta hãy noi gương hai môn đệ, trở nên dấu chỉ cho người khác nhận biết mình là môn đệ của Chúa Kitô.


NS Trái Tim Đức Mẹ


 

PS3-A41: Để Nhận Ra Sự Hiện Diện Của Chúa - Lm Trần Bình Trọng

Để Nhận Ra Sự Hiện Diện Của Chúa - Lm Trần Bình Trọng

Cv 2,14.22-28; 1Pr 1,17-21; Lc 24, 13-25

 

Mặc dầu đã theo Chúa 3 năm, nghe Lời Chúa giảng dạy, và chứng kiến phép lạ Chúa làm, các tông: PS3-A41

Mặc dầu đã theo Chúa 3 năm, nghe Lời Chúa giảng dạy, và chứng kiến phép lạ Chúa làm, các tông đồ vẫn còn mang quan niệm sai lầm về Đấng Cứu Thế. Họ nuôi hy vọng là Đấng Cứu Thế sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, hùng mạnh, khả dĩ có thể đánh đuổi quân La Mã đang cai trị họ thời bấy giờ, và đưa dân tộc họ lên hàng bá chủ hoàn cầu. Cũng vì mang quan niệm đó mà bà mẹ hai Tông đồ Giacôbê và Gioan đã xin Chúa cho hai con mình được ngồi một bên tả và một bên hữu Chúa.

Cuộc tử nạn của Chúa Kitô trên thập giá đã khiến cho các môn đệ vỡ mộng, làm tiêu tan mọi mối hy vọng của các ông. Do đó hai môn đệ đã bỏ thành Giêrusalem trở về E-mau quê quán mình. Nói cách khác, họ quyết định bỏ cuộc. Mặc dầu Chúa đã tiên báo về cuộc tử nạn và phục sinh của Người, các môn đệ vẫn không hiểu.

Hai môn đệ bỏ cuộc hôm nay cố gắng tìm kiếm trong Thánh kinh những lời lẽ để cắt nghĩa về cuộc khổ nạn của Thày mình. Và dọc đường Chúa đã hiện ra với các ông, đàm đạo với các ông và nói: "Chớ thì Đức Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy thì mới được vào vinh quang sao? Đoạn Người bắt đầu từ Môisen đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh thánh chỉ về Người "(Lc 24, 26-27). Nhờ đó mắt họ được mở ra và họ nhận ra Chúa lúc Người bẻ bánh. Khi hai môn đệ nhận ra Người khách lạ, không là ai khác ngoài Thầy mình, họ liền vội vả trở về Giêrusalem để báo tin cho các tông đồ. Và họ được biết rằng, các tông đồ cũng đã xác tín về việc Chúa Phục sinh, vì Simon Phêrô đã nhìn thấy Chúa. Trong khi họ bàn luận với nhau về những sự việc mới xẩy ra, thì Chúa lại hiện ra giữa họ.

Hai môn đệ trên E-mau cùng đồng hành với Chúa, đàm đạo với Chúa mà không nhận ra Người. Sở dĩ có trạng huống đó, là vì họ đã tự đóng khung trong cái tư tưởng và quan niệm của họ về Đấng Cứu Thế. Có lẽ họ chỉ nghĩ thôi, từ nay sẽ không còn hi vọng địa vị nọ địa vị kia trong vương quốc Chúa. Họ để cho mình bị chìm đắm và chôn vùi trong cái buồn khổ của cảnh tử nạn ngày thứ Sáu Tuần thánh. Cái nỗi buồn chán thất vọng đã đè nặng trên con người họ, khiến họ không thể vươn lên trên và vượt ra ngoài cái khung của con người họ, cho tới khi họ mời người khách lạ vào nhà, vì khách cần chỗ nghỉ, họ mới nhận ra Chúa.

Ta biết Chúa hiện diện khắp mọi nơi, Chúa ở chung quanh ta, nhưng ta không nhận ra Người. Hàng ngày và xung quanh ta, đều có ghi khắc những dấu vết của Chúa, và công trình của việc Chúa tạo dựng. Tuy nhiên ít khi ta cố gắng tìm kiếm hầu có thế khám phá ra những dấu vết của Chúa, để ý thức về sự hiện diện của Người. Có lẽ bởi vì ta tự đóng khung trong cái vỏ ốc của mình. Ta để cho những phiền muộn thái quá đè nặng trên con người ta, khiến ta không vượt ra khỏi mình, làm cho tư tưởng, ý nghĩ của mình, làm cho tư tưởng, ý nghỉ và cảm tình của ta bị giới hạn trong thân xác. Thêm vào đó, những bận tâm về sự việc trần thế cũng làm cản trở cho việc đến với Chúa. Vậy để khám phá ra sự hiện diện của Chúa, để có thể cảm nghiệm được việc Chúa hiện diện quanh mình, người ta phải loại bỏ những chướng ngại vật trong đời sống: những bận tâm, lo lắng, những tham vọng hão huyền....

Các môn đệ không nhận ra người khách lạ, nếu họ không mời Chúa vào nhà. Ta cũng sẽ không nhận ra Chúa hiện diện quanh mình, nếu ta không mời Chúa vào nhà tâm hồn. Nếu ta tự đóng cửa nhà tâm hồn thì Chúa cũng đành bó tay, vì Chúa đã cho loài người tự do lựa chọn và Chúa tôn trọng tự do của loài người.

Cũng như hai môn đệ làng E-mau đã mời Chúa vào nhà, hôm nay ta cũng hãy mời Chúa vào nhà tâm hồn, và mở rộng tâm hồn đón nhận lời Chúa và ơn Chúa, để quyền năng Chúa tác động tâm hồn và đời sống.


NS Dân Chúa Mỹ Châu


 

PS3-A42: CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

Luca 24, 13-35
Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giêrusalem sáu mươi chặng. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ : "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?" Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.
Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời  : "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem  mà không hay biết những chuyện gì đã xảy ra trong thành mấy bữa nay." Đức Giê-su hỏi : "Chuyện gì vậy ?" Họ thưa : "Chuyện ông Giêsu Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hi vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Is-ra-en . Hơn nữa, những việc đó xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy."
Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : "Ôi những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ !Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông tất cả những gì đã liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.
Khi gần đến làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng : "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn."  Bấy giờ Người vào ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau : "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta nghe, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?"
Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem , gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông : "Chúa chỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon." Còn hai ông thì đã thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
 

Không một ai thấy Chúa Giêsu khi Ngài phục sinh, nhưng có nhiều người đã thấy Đấng Phục: PS3-A42

Không một ai thấy Chúa Giêsu khi Ngài phục sinh, nhưng có nhiều người đã thấy Đấng Phục Sinh. Ngài xuất hiện cho Maria Madalêna, cho Phêrô và Giacôbê, và cho mười một người, rồi cho hơn năm trăm môn đệ cùng một lúc. Nhưng trong những lần Ngài xuất hiện vào ngày sống lại, không có lần nào được ghi lại đầy sinh động và chi tiết rõ rệt như khi Luca để lại chuyện Chúa Giêsu đi với hai môn đệ về làng Êmau.
Làng này nằm về phía tây bắc Giêrusalem khoảng 10 cs. Đây là hai môn đệ trong số bảy mươi mà Chúa đã sai đi giảng đạo. Họ đến Giêrusalem dự lễ Vượt Qua, Một người tên là Cơlêôpat, còn người kia không được nêu tên (có người cho là chính tác giả Luca). Hai môn đệ này đang đi với tấm lòng chán nản, vì hi vọng của họ đã tan tành, thì Chúa Giêsu đến nhập bọn với họ. Họ trao đổi với nhau về những việc vừa mới xảy ra trong vài ngày qua. Bao nhiêu thắc mắc được nêu lên mà không tìm được một lời giải đáp. Chúa đi bên cạnh mà họ không nhận ra Ngài, có lẽ không bao giờ họ nghĩ rằng người bạn đồng hành kia là Chúa của mình, vì họ không biết Chúa đã sống lại . Ngoài ra, sau khi sống lại, thân thể của Chúa có phần thay đổi, hoặc Chúa chưa muốn họ biết Ngài trong lúc đó nên làm cho mắt họ bị che khuất. Chúa đến gần gợi chuyện để họ tâm sự cùng Ngài, mặc dầu Ngài đã biết hết rồi . Ngài muốn nghe họ nói. Đang bực bội, họ tưởng ai cũng biết như họ, nên trong câu trả lời có ý trách người đồng hành rằng những biến cố trọng đại như vậy mà không biết, họ thốt ra những lời thất vọng, chán nản Đấng mà họ hi vọng sẽ giải phóng quốc gia đã bị xử tử, mặc dầu Ngài có nói cách màu nhiệm rằng ngày thứ ba sẽ sống lại, nhưng ngày ấy đang trôi qua mà không thấy Ngài đâu, mặc dầu họ nghe có người nói thấy thiên sứ bảo người đang sống. Đó là nội dung lời họ nói, thú nhận lòng tin của họ. Họ không mong đợi Chúa làm trọn lời hứa, ngày thứ ba chưa hết thế mà họ đã thất vọng quay lưng trở về nhà. Các sứ giả trên trời loan báo tin mừng nhưng họ cũng không chịu nhận.
Chúng ta không lạ gì khi thấy Chúa quở trách họ : "Anh em thật dại dột, chậm tin lời tiên tri trong Thánh Kinh. Các tiên tri chẳng nói Chúa Cứu Thế phải chịu khổ hình, rồi mới đến ngày quang vinh sao ?" Rồi Ngài lần lượt giải nghĩa cả Kinh Thánh nói về Ngài. Nên để ý rằng Chúa không quở trách vì họ không nhận lời của Ngài hoặc của các bạn Ngài, hoặc lời của thiên sứ, họ bị trách vì đã không tin Kinh Thánh Cựu Ước . Không tin vì chậm hiểu và hiểu sai. Họ chỉ nhận có một phần, phần hợp với sở thích thành kiến của mình. Kinh Thánh chép về Đấng Cứu Thế sẽ giáng sinh, chịu chết, sống lại và lên trời. Song họ không phân biệt những giai đoạn khác nhau đó, trong một thời gian dài, mà chỉ hiểu một cách tổng quát. Họ không nhìn thấy sự việc một cách toàn diện mà chỉ thấy một cách phiến diện. Họ chỉ thấy Đấng Cứu thế được vinh hiển mà không thấy Ngài phải chịu khổ hình trước đã. Đứng xa xa mà nhìn một dãy núi, xem như chỉ có một quả núi lớn, song đến gần mới thấy rõ có nhiều quả núi khác nhau. Người Is-ra-en hiểu Đấng Cứu thế đầy vinh quang như trong Isaia ( 9, 5-6; 11, 1-9; 35, 1-10), không bao giờ tin Đấng Cứu Thế phải chịu chết cách đau đớn. Thậm chí khi Chúa Giêsu đến trần gian, ở giữa họ, trực tiếp với họ, họ cũng không tin (Mt 16,20-21). Vì chậm tin , chậm hiểu và hiểu sai nên lòng họ bối rối thất vọng.
Ngày nay cũng thế, cũng vì ngu dại, chậm tin và chậm hiểu Kinh Thánh mà thường bối rối, vấp ngã khi có những bất trắc xảy ra cho mình.
Khi Chúa Giêsu công bố luật lệ của nước Ngài, Ngài mở đầu bằng tám phúc lành và phúc thứ tám là "Phúc cho ai bị bắt bớ vì sự công chính". Ngài khai triển nước ấy bằng "Phúc cho các con khi bị người ta nhục mạ, khủng bố và vu cáo đủ điều, chỉ vì các con theo Ta. Các con nên hân hoan mừng rỡ vì sẽ được giải thưởng dành sẵn trên trời" (Mt 5, 11-12). Ngài tiếp tục kêu gọi những kẻ theo Ngài, phục vụ Ngài phải trả giá là từ bỏ mình, là hi sinh. Ngài đã đi con đường đó, nên chúng ta phải đi và đi với Ngài. Kèm theo những lời kêu gọi trên là lời hứa trọng đại và quí báu như gieo một mùa gặt gấp ba mươi, sáu mươi hoặc một trăm (Mt 13,5.9 ; 19,25 ; 24,30). Phaolô là một trong các tông đồ suốt đời theo Chúa, phục vụ Ngài, bằng lòng mất mọi quyền lợi, kể cả quyền lợi chính đáng nhất (Phl 3,7-10). Song ông chẳng có nửa lời hối tiếc, mà còn lấy làm hãnh diện khoe về tất cả các phước hạnh vô giá Chúa ban cho ông (Rm 8, 18 ; 2Cor 4,16-18 ; 2Tm 4, 6-8).
Biết như vậy, chúng ta sẽ không hề vấp ngã. Biết như vậy là biết một nguyên tắc bất di bất dịch: đau đớn phải đi trước vinh hiển mới theo sau, thập giá phải đi trước mão triều thiên mới theo sau.
Hai môn đệ cố mời Chúa ở lại với họ : đã đến làng của hai môn đệ , Chúa tỏ ra muốn đi xa hơn, nhưng khi được mời thì Chúa nhận lời. Vì Chúa muốn tỏ cho họ thêm một điều gì, làm thêm cho họ một điều gì mà chưa có cơ hội. Khi Chúa ngồi vào bàn ăn, Chúa lấy bánh tạ ơn rồi bẻ ra trao cho họ. Ngay lúc đó, như mắt họ được mở ra để nhận biết Ngài thì Ngài liền biến mất.  Cách mà Chúa làm, họ đã quen biết vì nhiều lần được dùng bữa với Ngài. Bấy giờ họ vui mừng quá, nhắc lại với nhau : "dọc đường, Chúa nói chuyện và giải nghĩa Kinh Thánh , lời Ngài nung nấu lòng dạ chúng ta biết bao !"
Họ cố nài Chúa ở lại với họ. Họ nói như Giacop : "Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi" (St 32,26), nếu không họ đã mất cơ hội quí báu là được biết Ngài đã sống lại. Chúng ta phải tha thiết mời Chúa ở lại và ở trong chúng ta luôn mãi. Chúa chỉ mong có thế, nhưng với điều kiện là chúng ta phải mời. Ngài không bao giờ phá cửa mà vào. Những giờ phút trò truyện thân mật với Chúa đã khiến lòng họ vốn lạnh như đồng, trở nên nóng như lửa, lòng đang đau buồn thất vọng trở nên vui vẻ và đầy hi vọng. Chúa sẵn sàng đến với chúng ta trong giờ phút hoang mang, dao động để thăm viếng và ủi an chúng ta. Hãy cố dành nhiều thời giờ tâm giao với Ngài thì bao nhiêu khó khăn của chúng ta sẽ được giải quyết hết.
Không thể ngồi yên. họ lật đật trở lại Giêrusalem  để thuật lại cho mọi người sự vui mừng mà họ vừa nhận được. Gặp Mười Một tông đồ đang hội với những người khác, hai bên như tranh nhau làm chứng : họ muốn nói cho các Tông đồ, nhưng các Tông đồ đã nói trước họ : "Chúa thật đã sống lại và hiện ra với Simon". Thiết tưởng là một cuộc họp vui không thể tả, nhất là liền sau đó Chúa lại hiện ra với họ.
Không có câu truyện nào cảm kích hơn có thể cho ta thấy thực sự Chúa phục sinh luôn đi bên cạnh trong cuộc lữ hành trần gian. Điều đáng buồn là vì thiếu lòng tin nên mắt chúng ta thường bị mờ không nhận biết sự hiện diện của Ngài. Chúng ta bước đi rầu rĩ, trong khi đáng lẽ ra phải hớn hở vì được đồng hành với Ngài. Có thể là đang khi Ngài cắt nghĩa Kinh Thánh  cho chúng ta, hay khi chúng ta tham dự nghi lễ bẻ bánh, sự đui mù được cất đi, để rồi cuộc hành trình chấm dứt khi ta về đến nhà, ta sẽ thấy Ngài đối diện với ta, không phải phai mờ trong màn đêm âm phủ, nhưng rực rỡ trong ánh sáng vinh quang đời đời. Để được thế, ngay lúc này ta phải tập luôn sống trong sự hiện diện của Ngài:
          Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,
          Lẩn nơi nào cho thoát được Thánh Nhan ?
          Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện,
          Đến ở nơi chân trời góc biển phương tây.
          Tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn,
          Cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.                   (Tv 138).
Phải sống mãt trong Chúa Cứu Thế , đừng bao giờ xa Ngài. Hãy duy trì mối giao hảo hạnh phúc với Chúa, để khi Ngài đến, các con đầy lòng tin tưởng, không phải hổ thẹn lúc gặp Ngài... Chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy chính Ngài.

 

PS3-A43: Ánh sáng và bóng tối - Lm Augustine, S.J

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
 

Ánh sáng và bóng tối là chuyện thường tình nơi đời sống con người. Chúa Giêsu phục sinh nhằm: PS3-A43

Ánh sáng và bóng tối là chuyện thường tình nơi đời sống con người. Chúa Giêsu phục sinh nhằm đưa con người vượt khỏi bóng tối để đạt tới ánh sáng. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy điều đó.

Hãy coi hoàn cảnh của hai môn đệ làng Emmau. Hai ông thực sự đã trải qua những ngày hết sức đen tối. Tuy không phải là thành phần nòng cốt thuộc Nhóm Mười Hai, các ông thuộc nhóm môn đệ khá gắn bó với Đức Giêsu. Bằng chứng là các ông đã không bỏ cuộc khi thấy Thầy các ông bị bắt và bị giết chết. Lý do vì các ông vẫn tin Thầy các ông chính là Đấng cứu chuộc Ít-ra-en. Mãi tới ngày thứ ba, sau khi các bà đi viếng mộ và thấy mồ trống trơn, còn chính Đức Giêsu thì chẳng ai gặp, các ông mới thất vọng và bỏ về quê ở Emmau. Tuy nhiên, chính trong giờ phút đen tối đó, Chúa Giêsu phục sinh đã hiện đến với các ông, nhưng các ông không nhận ra Người. Bằng việc cắt nghĩa Lời Kinh Thánh dọc đường, Người đã làm lòng họ bừng cháy lên; kế đó, bằng việc bẻ bánh trong quán trọ, Người đã mở mắt cho họ nhận ra Người.

Riêng hai anh chị Y-vông và Mô-ních trong câu chuyện sau đây, đã vượt khỏi bóng tối nhờ một nhóm giáo dân biết sống nâng đỡ nhau trong nhữn gcơn cùng quẫn của cuộc sống. Đó là nhóm người được qui tụ bởi Đức Tin để đem Ánh Sáng cho người khác nên đã lấy tên nhóm là “Đức Tin và Ánh Sáng”. Câu chuyện này cũng cho thấy bằng cách nào Lời Kinh Thánh và Bí Tích Thánh Thể vẫn tiếp tục biến đổi con người hôm nay.


Lòng họ đã bừng cháy lên khi Người giải thích Thánh Kinh

Đôi vợ chồng Mô-ních và Y-vông sinh sống ở thành phố Minh-sơn (Montréal), Canada. Họ tự coi cuộc hôn nhân của họ là một thất bại cay đắng, dù rằng lỗi không thuộc về người nào trong họ. Khi đi sinh hoạt sinh viên Công giáo ở tuổi đôi mươi, họ đã quen nhau, yêu nhau, rồi tin tưởng phó thác cuộc hôn nhân của họ cho Chúa. Nhưng nỗi bất hạnh đã đến với họ khi cô con gái đầu lòng, rồi cậu con thứ ra đời: cả hai đều bị khuyết tật tâm thần, suốt đời sẽ phải lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác. Mô-ních và Y-vông tự hỏi không biết đã làm gì khiến Chúa trao cho thập giá nặng nề đến thế. Nhưng rồi họ chẳng dám đẩy câu hỏi xa hơn sợ xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng Nhân Lành. Tuy vậy, gánh nặng của nỗi bất hạnh đó luôn đè nặng trong tim họ.

Vào dịp rước lễ vỡ lòng của hai người con (lúc đó đã lên 17 và 15) do nhóm “Đức Tin và Ánh Sáng” tổ chức cho người bị tâm thần, một câu trong bài Phúc Âm đã đáng động sâu xa tâm hồn của Mô-ních và Y-vông. Có lẽ niềm vui lớn lao trong ngày lễ của hai con đã khiến họ trở nên nhạy bén với câu Lời Chúa ấy: “Nếu hạt lúa mì chôn vào lòng đất mà không thối đi, thì nó sẽ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì sẽ sinh nhiều bông hạt” (Ga 12,24). Họ thầm nghĩ: hoàn cảnh họ đang sống chẳng là sự mục nát của hạt lúa đời họ đó sao; thế mà suốt 20 năm qua, họ đã để hạt lúa đó cứ hư nát uổng phí mà chẳng sinh được bộng hạt nào, vì họ đã cứ để mình bị chôn vùi trong nỗi bất hạnh của họ. Nghĩ tới đó, “lòng họ bừng cháy lên”. Kể từ đó, họ nhìn cuộc sống hiện có bằng cái nhìn mới, cố tìm gặp trong những sự việc thường ngày những dấu chỉ của tình yêu và của ân sủng Chúa. Cũng sau biến cố đó, gia đình Mô-ních và Y-vông đã tham gia sinh hoạt với nhóm “Đức Tin và Ánh Sáng” ở Minh-sơn, và đã trở thành những người điều hành của nhóm từ hơn 10 năm nay.


Họ đã nhận ra Người lúc bẻ bánh

“Đức Tin và Ánh Sáng” là một phân nhánh của phong trào “Cộng đoàn con tàu cứu nạn” do một giáo dân người Canada - Ông Giang Văn Nhiên (Jean Vanier) - sáng lập năm 1964. Cảm thương tình cảnh bị bỏ rơi của những người tàn tật, không được đối xử xứng đáng với nhân phẩm của con người và con Chúa, ông đã đón nhận những người đó và nuôi dưỡng họ trong những nhà thương, trong một bầu khí gia đình trong tinh thần huynh đệ Kitô giáo. Chẳng bao lâu sau, sáng kiến của ông đã được đón nhận khắp 5 châu và hiện nay “Con tàu cứu nạn” đã trở thành một phong trào quốc tế. Song song với phong trào này, một mạng lưới quốc tế các nhóm “Đức Tin và Ánh Sáng” (ĐTAS) cũng đã được thiết lập để nâng đỡ đức tin và tinh thần của các gia đình có con em khuyết tật, đồng thời để tạo sự tương trợ lẫn nhau giữa các gia đình đó trong đời sống cụ thể.

Đến với ĐTAS, Mô-ních và Y-vông được làm quen với nhiều gia đình khác cùng cảnh ngộ; có gia đình có tới 4 người con tàn tật. Sự nâng đỡ và các sinh hoạt của nhóm khiến họ không còn sống lẻ loi như trước. Ngoài những buổi tối chia sẻ Lời Chúa định kỳ của các phụ huynh và các cuộc viếng thăm tự phát giữa những gia đình, toàn nhóm thường tụ họp mỗi tháng một lần, trọn ngày, hầu cho các phụ huynh có thời gian rộng rãi để thông tin, trò chuyện; còn các con em khuyết tật có cơ hội gặp gỡ và vui chơi với nhau. Từ đó, một tình bạn sâu xa và một sự liên đới bền chặt đã nảy sinh giữa các gia đình. Các phụ huynh xem tất cả các con em như con cái của chính mình; họ sẵn sàng đón về nuôi dưỡng những em mà cha mẹ đau bệnh, già yếu hoặc phải đi xa. Vì thế cuộc họp hàng tháng còn là cơ hội đoàn tụ cho những gia đình phải phân tán do hoàn cảnh.

Dù được tổ chức ở đâu hay dưới hình thức nào (trong hội quán của một Giáo Xứ; một buổi dã ngoại tham quan hay trại hè) trọng tâm của các cuộc gặp gỡ của nhóm đều là Thánh Lễ, mà mọi người thông hiệp vào cuộc hy tế của Chúa Kitô và thông hiệp với nhau bằng chính những khổ đau, ưu tư, phiền muộn của họ. Cũng trong Thánh Lễ, họ cầu nguyện cho nhau, cùng nhau chia sẻ tấm bánh Thánh Thể, là lương thực giúp họ có sức thiêng tiếp tục cuộc lữ hành trong niềm tin và phó thác. Chính Thánh Lễ này và việc sống Bí Tích Thánh Thể nối dài trong cuộc sống bằng hiệp thông và chia sẻ, đã đem lại đức tin, ánh sáng và sức mạnh của Chúa phục sinh cho những thành viên của nhóm như gia đình Mô-ních và Y-vông.


Chúa Giêsu phục sinh vẫn tiếp tục hiện diện qua những bí tích

Câu chuyện hai môn đệ làng Emmau trình bày một minh họa sống động về việc Chúa phục sinh vẫn tiếp tục hiện diện với con người một cách huyền nhiệm qua bí tích; đồng thời cho thấy sức biến đổi mà bí tích mang lại. Thật vậy, qua một dấu chỉ vật chất là tấm bánh, cộng với cử chỉ bẻ bánh và dâng lời chúc tụng, Đấng phục sinh đã mở mắt cho hai môn đệ Emmau nhận ra Người. Ngay lập tức, con người hai ông được biến đổi: họ chỗi dậy, quay về Giêrusalem ngay trong đêm tối để mang ánh sáng của Tin Mừng Phục Sinh cho các anh em.

Hàng ngày Giáo Hội cũng đặt mình để Chúa Giêsu Phục Sinh đến nuôi dưỡng và củng cố niềm tin của các tín hữu trong các bí tích. Chính qua những dấu chỉ vật chất (bánh, rượu, dầu thánh...), những cử chỉ (các nghi thức) và những Lời truyền bí tích của vị chủ tế, mà Chúa Giêsu Phục Sinh đến gặp gỡ và ban những ơn siêu nhiên cho những ai biết mở lòng ra tin nhận và đón nhận Người qua những dấu chỉ bí tích đó. Hơn thế, mọi Kitô hữu, một khi đã được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và các bí tích, cũng được mời gọi trở nên những dấu chỉ bí tích, mang sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục Sinh đến cho những người chung quanh: bằng cách sống yêu thương, tha thứ, chia sẻ, huynh đệ.


Một số câu hỏi gợi ý

1. Trong kinh nghiệm của bạn, những câu Phúc Âm nào có sức biến đổi sâu xa đức tin và lối sống của bạn?

2. Bạn tâm đắc được gì nơi kinh nghiệm của ĐTAS? Liệu tinh thần và các hoạt động của nhóm ấy có thể được áp dụng ít nhiều trong môi trường của bạn không?

3. Theo bạn, những bí tích nào là cần thiết để giúp người Kitô được tăng trưởng và canh tân không ngừng trong đời sống đức tin?


 

PS3-A44: NGÀI NHẬP CUỘC

“Xin Ngài ở lại với chúng tôi"
 

Sáng hôm nay, trên con đường đi về làng Emmaus, cách Giêrusalem 1l cây số, có hai người trầm: PS3-A44

Sáng hôm nay, trên con đường đi về làng Emmaus, cách Giêrusalem 1l cây số, có hai người trầm ngâm dấn bước. Họ vừa đi vừa trò truyện với nhau với vẻ u buồn và thất vọng. Họ nói với nhau về "câu chuyện ông Giêsu", người mà bấy lâu nay họ tin tưởng như “một vị Tiên tri có quyền lực trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng”. Nhưng đã bị xử tử và đóng đinh thập giá cách đây ba ngày. Thế là hết, hy vọng họ tiêu tan. Họ bỏ cuộc đi về làng.
Hai người môn đệ ấy là hình ảnh của chúng ra hay dễ dàng ngã lòng bỏ cuộc. Trong khi đó, Chúa Giêsu, vị Chúa Chiên lành, vừa ra khỏi phần mồ huy hoàng trong ánh sáng phục sinh, đã vội vã đến với con người, với những ai thất vọng trên các nẻo đường buồn tẻ của cuộc sống.
Ngài đến nhập cuộc đi với họ. Với bao tế nhị, Ngài khai mào câu chuyện, để cho họ thố lộ tâm can, cởi mở tâm hồn. Càng bị dầy vò khắc khoải, người ta càng muốn được kẻ khác lắng nghe chia sẻ. Ngài cùng đi với họ trên đoạn đường dài.
Sau một thoáng im lặng, Ngài bắt đầu nói. Ngài “giải thích cho hai ông tất cả lời Kinh Thánh chỉ về Người”, về “vụ ông Giêsu", người lạ lắng nghe quan điểm trình bầy về vụ án, cuộc tử nạn, việc treo trên thập giá làm cho các ông xao xuyến. Nhưng, nếu biết nhìn dưới một khía cạnh khác, với cái nhìn của Moisê và các tiên tri thì thảm cảnh mang một ý nghĩa mới.
Và với một giọng bình tĩnh đầy xác tín, với một dòng lửa nội tâm như muốn trào ra, người lạ đã cho môn đệ nhai thấy ý nghĩa sâu xa của sự việc mà “họ khờ dại chậm tin”. Chớ thì Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao? “Người bắt đầu từ Moisê đến các tiên tri, giải thích cho cho hai ông tất cả Thánh Kinh chỉ về Người". Dần dần mắt các ông sáng ra, mọi nghi ngờ tan rã, lòng các ông được sưởi ấm và sốt sắng lên. Lời của Thiên Chúa có một sức mạnh huyền bí lớn lao biết chừng nào.
Emmaus chỉ còn cách đó mấy chục thước trên chục lộ xuôi về Jaffa. Hai môn đệ đã đến quê nhà, trong khi người thách lạ như muốn chia tay tiếp tục con đường còn lại. Ngươi tế nhị như không muốn làm phiền  và biến đi không để được nhận diện.
Nhưng hai môn đệ nài ép Người ở lại trong một lời kinh khẩn thiết: “Xin Ngài ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều và ngày sắp hết”. Chúa bước vào nhà và chia sẻ bữa ăn chiều với họ.
Sau khi đã chia sẻ Lời Hằng Sống, Chúa chia sẻ bánh ăn. Chính Ngài chủ sự như trước đây Ngài chủ sự trong nhà Tiệc Ly. Ngài cầm bánh, đọc lời chúc đụng, bẻ ra và trao cho họ thì mắt họ sáng ra và nhận ra Ngài. Nhưng Người không còn đó nữa.
Từ đây, mọi tiếp xúc với Người sẽ được chực hiện bằng Đức Tin như Người đã nói với Tôma và Mađalêna. Ngài sẽ hiện diện trong phép Thánh Thể, mầu nhiệm Đức Tin và trong Giáo Hội mà Phêrô là người đại diện và chứng nhân của sự sống lại. Chúng ta có làm chứng nhân cho Ngài trong đời sống không?
 Trên đường Emmaus nhiều lần ta cũng sẽ gặp Chúa nhưng không nhận ra Chúa. Vì Chúa ẩn hiện trong anh em ta, trong người nghèo khó, trong người đau khổ. Thánh VinhSơn Phaolô (1581-1660) là một vị thánh bác ái Mãi đến lúc tuổi già, nhiều đêm tuyết sa gió lạnh, ngài vẫn lang thang dai kiếm những cụ già run rẩy giữa cảnh màn trời chiếu đất, hay những trẻ thơ bị bỏ ở góc đường phố. Ngài thường nói: "Đức bái ái chân thực thì mở tay ra và nhắm mắt lại", mở bàn tay ra để đón Chúa trong thân phận người nghèo, nhắm mắt lại để chỉ nhìn thấy Chúa trong Đức Tin.

 

PS3-A45: Làng kia tên là Emmau

Lc 24,13-35
 

Cũng ngày hôm ấy, cả hai người trong nhóm  môn đệ đi đến một, làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem PS3-A45

Cũng ngày hôm ấy, cả hai người trong nhóm  môn đệ đi đến một, làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số.
Vị trí của làng Emmau vẫn còn đang tranh cãi. Một truyền thống cho rằng Emmau nằm tại Amwas, khoảng nửa đường giữa Giêrusalem và Telaviv, gần tu viện dòng Xitô Latroun. Nhưng người ta cũng nói đến El Qubeibeh Moca, Beit Misseh và nhất là Abugosh nơi các quân Thập Tự chinh đã xây một ngôi nhà thờ đẹp theo  kiến trúc Rôma bên trên một  con suối. 
Người ta đã nói: "Bạn hãy vẽ một vòng tròn cách Giêrusalem chừng mười một cây số, Emmau ở nơi nào Đó trên vòng tròn ấy". Vì người ta không thế xác định vị trí của một biến cố đầy ý nghĩa nên bất cứ nơi  nào trên thế  giới mà Người  ta gặp gỡ được Đức Kitô hằng sống, nơi Đó là Emmau!
Bạn cũng vậy, bạn đang đi trên con đường ấy;  con đường có thế dẫn bạn đến Đức Giêsu.
Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra đang lúc họ trở chuyện vaà bàn tán thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và  cùng đi với họ .
Sự việc đã xảy ra ba ngày trước Đó.. Ngày thứ sáu vừa qua, bạn họ là Đức Giêsu đã chết trong đời một con người, cái chết trước sau gì cũng xảy ra, chỗ này hay chỗ khác: một niềm hy vọng lớn bị thất bại, một cái tang hung dữ một sự thất bại chua xót, một nỗi lo âu, một vấn đề không giải quyết, một tội lỗi gây ra đau  khổ một hoàn cảnh không lối thoát! Họ trở về nhà, cúi đầu bước đi, cái, nhìn tắt lịm.  
Đức Giêsu ở Đó! Trong tình cảnh rất nặng nề mà họ đang chịu đựng Đức Giêsu đang đi với họ.
Nhưng con mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người.
Trường hợp này thường xảy ra, cả với chúng ta.
Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?”
Đức Giêsu quan tâm đến nỗi lo âu của  họ .
Lạy Chúa, Chúa biết những nỗi vất vả của chúng con và những nỗi tuyệt vọng của chúng con chúng con cần biết rằng Chúa luôn thấu hiểu mọi sự chúng con mang nặng trong lòng mình lạy Chúa Giêsu, con để cho Ngài nhìn thấy và hỏi han con.
Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu một trong hai: người tên là Cơlêôpát trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện xảy ra trong   thành mấy bữa nay" Đức Giêsu hỏi: "Chuyện gì vậy?”. Họ thưa: "Chuyện ông Giêsu Nadarét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt  Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã Đóng đinh Người  vào thập giá".
Đức Giêsu để họ trút hết bầu tâm sự. Trước khi ngỏ lời, Người lắng nghe họ thật lâu. Dĩ nhiên, Người là người đầu tiên biết điều gì đã xảy ra, Người không ngắt lời họ nói. Họ thuật lại các biến cố cho nhân vật chính Đức Giêsu lắng nghe một cách kiên nhẫn.
"Phần chúng tôi, trước dây vẫn hy vọng rằng  chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ísraen. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi".
Suy sụp chán nản, tuyệt vọng...Họ không còn trông mong gì từ nay xin chừa vậy. 
Như nhiều người, họ đã đi theo Đức Giêsu trong một  thời gian nào Đó họ đã tin vào Người đến một mức độ nào Đó. Trình độ đức tin của họ không phải hoàn toàn không có gì, chúng ta ghi nhận được điều Đó: Họ đã coi Người như một "ngôn sứ” một người phát ngôn cho Thiên Chúa. Họ đã thừa nhận đức tính của các "lời nói và hành động" của Người họ chờ đợi sự "giải phóng" của Người. Nhưng  tất cả chỉ có thế thì quá ít, mơ hồ  và chưa hoàn chỉnh. Họ chỉ nhìn bề ngoài "vụ việc Giêsu" : Những thành công lúc ban đầu và rồi vụ án, khổ nạn, cái chết!
Thật ra, cũng có  mấy người  đàn bà trong  nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy Thiên   Thần hiện ra bảo rằng: Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy".
Mọi tường thuật của Phúc âm về sự sống lại đều nhất trí về điểm này: Họ không sẵn sàng thừa nhận sự kiện họ hồ nghi... họ không trông chờ biến cố ấy để sau cùng chính biến cố bắt họ phải thừa nhận một ngôi mộ trống! Nhưng người đàn bà lo lắng! Tất cả điều Đó không đủ. Mắt họ vẫn còn bị ngăn cản cần  phải có điều gì để họ có thể nhìn thấy rõ ràng.
Bấy giờ Đức Giêsu nói với hai ông rằng : "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh chậm tin vào nói các ngôn sứ!.
Đức Giêsu kêu gọi đến đức tin người đề nghị với họ một cách giải  thích khác về "vụ việc Giêsu”. Đức Giêsu không chối bỏ các sự kiện: Sự  kết án của các thủ lãnh, đúng vậy.. cái chết trên thập giá, đúng vậy.. Nhưng nếu người ta chiếu rọi trên các sự kiện ấy một ánh sáng khác! Nếu người ta thử đưa ra một lời giải thích khác! Nếu người ta thử soi sáng mọi điều Đó bằng đức tin! Nếu như Thiên Chúa hiện diện nơi mà người ta không chờ đợi, trên thập giá thì sao?
"Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào  trong vinh quang của Người sao?".
 Phải chịu!
Mỗi lần Đức Giêsu nói về thập giá của Người, Người sử dụng ngôn ngữ Đó:  “Con Người phải chịu đau khổ nhiều” (Luca 9,22) Những chữ Đó không diễn tả bất kỳ ý tưởng nào về định mệnh mù quáng, không có nghĩa là biến cố thập giá dù có làm cho chúng ta hoang mang đến đâu Đức Giêsu vẫn coi Đó như sự hoàn thành ý định mầu nhiệm của Chúa Cha.
Đức Giêsu không chịu đựng cái chết của Người. Cái chết ấy không phải là một tai nạn, một sự thất bại.. nhưng là một phần chủ yếu trong dự án muôn đời của Thiên Chúa: Chẳng phải điều Đó đã cần phải xảy ra sao ?
 Rồi bắt đầu từ ông Môisê và tất cả các ngôn sứ Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.
Với một sự thanh thản cao cả; Đấng Khách Lạ làm cho hai người bạn nhìn lại những biến cố mà họ vừa nói đến dưới một góc độ khác.
Sách Thánh là ánh sáng cao cả để nhìn đời sống của chúng ta một cách hoàn toàn mới Đức Giêsu thực hiện một bài học về chú giải Sách Thánh: Giá mà chúng ta đã có ở Đó để lắng nghe Người đích thân giải thích các sách thánh của Isaia, Môisê, các Thánh Vịnh.. cựu ước soi sáng Tân ước. Kinh Thánh dẫn nhập vào Tin Mừng. Dự án của Thiên Chúa được theo đuổi không gián đoạn điều được thực hiện nơi Đức Giêsu thì chính Thiên Chúa đã tiên liệu từ trước muôn đời.. đã bắt đầu thực hiện trong lịch sử của dân tộc Israen tôi có thường đọc lại Kinh Thánh để thấy rõ hơn trong đời tôi, trong những lúc tôi thất vọng các thất bại các điều tôi đang, tìm kiếm?
Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi vì trời, đã xế  chiều và ngày sắp tàn". Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ.
Thế đấy! Không phải việc trình bày học thuyết Kinh Thánh, hay giảng dạy giáo lý do chính Đức Giêsu thực hiện mở được mắt họ ra cả với những lớp học dạy học thuyết, người ta cũng không đem lại đức tin  mặc dù có tất cả những lời giải thích, họ vẫn chưa nhận ra Người. Vậy, phải làm gì? Một sự cởi mở của tấm lòng bắt đầu với sự hiếu khách hoàn toàn đơn sơ của họ: "Mời ông ở lại với chúng tôi... ghé nhà chúng tôi dùng bữa...". 
Khi đồng bàn với họ, người cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất.
 Để mô tả cử chỉ cho phép thật sự nhận ra Đức Giêsu, Luca cố ý sử dụng những công thức nhắc lại sự hóa bánh ra nhiều (Luca 9,16) và bữa Tiệc Ly (Luca 22,19). Vào thời của Luca, những cử chỉ ấy được các Kitô hữu đầu tiên sử dụng trong thánh lễ của họ. Đương nhiên không phải bởi sự tình cờ.
Từ lâu rồi người  ta đã nhận thấy rằng tường thuật của hai môn đệ trên đường Emmau trình bày lại sơ đồ bình thường của các thánh lễ: Sau phần "phụng vụ Lời Chúa", chúng ta bước vào “phụng vụ bàn tiệc thánh".. Đó là hai kinh nghiệm bổ túc cho nhau để gặp gỡ Đức Giêsu hằng sống.    
Họ mới bảo nhau: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?"
Đức Giêsu đã biến mất.. Đức Giêsu sống lại ở đây.. nhưng như vắng mặt.
Bởi sự biến mất này, Đức Giêsu nhắc nhở rằng từ nay mọi tiếp xúc với Người sẽ được thực hiện trong đức tin: Người đã hiện diện với họ trên đường... khi lòng họ bừng cháy lên, cho dù họ chưa cảm nhận được Người. 
Ngay lúc ấy, họ đứng đậy, quay trở lại Giêrusalem gặp nhóm Mười một, và các bạn hữu đang tụ họp tại Đó. Những người này bảo hai ông: "Chúa trỗi dậy thật rồi,  và đã  hiện ra với Simon". Còn hai ông thì thuật lại ,  những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
Tường thuật này trên bình diện văn chương được xây dựng tuyệt vời, và cũng hoàn toàn hài hòa trên bình diện thần học: Ngày hôm nay, Đức Giêsu hằng sống vẫn luôn luôn “gây bất ngờ" và sự tiếp cận của Người mầu nhiệm, khôn lường... Đức  Giêsu thình lình biến mất và không giữ lại được bởi vì từ nay Người thuộc về thế giới của Thiên Chúa, thế giới của "chỗ khác" cho dù Người vẫn ở trên những nẻo đường mà con người đang đi, nhưng"người "ẩn giấu”...người ta chỉ có thể gặp gỡ Đức Giêsu trong việc chuyên cần đọc lại Lời Chúa, trong "Dấu chỉ của anh em" được mời gọi và phục vụ và trong "Dấu chỉ của việc bẻ bánh"... sau hết, người ta không bao giờ gặp gỡ Đức Giêsu mà không gặp gỡ cộng đoàn Giáo Hội tụ họp trong nhà Tiệc Ly nơi Đức Giêsu đã tụ họp các tông đồ để ăn bữa cuối cùng với họ... Vì thế cuộc gặp gỡ riêng tư của Đức Giêsu với hai môn đệ Emmau được trở nên chính thống nhờ sự gặp gỡ chính thức: Người đã hiện ra với Simon Phêrô.  

 

PS3-A46: CUỘC SỐNG MỚI CỦA KẺ TIN VÀO ĐỨC  GIÊSU PHỤC SINH

GỢI Ý GIẢNG
1. Làm thế nào để có được cảm nghiệm của hai môn đệ Emmau
 

Mong sao độc giả Tin Mừng hiểu được rằng câu chuyện này nhắm đế họ Đến lượt mình, họ tự: PS3-A46

Mong sao độc giả Tin Mừng hiểu được rằng câu chuyện này nhắm đế họ Đến lượt mình, họ tự hỏi làm sao thấy được Đấng phục sinh. Câu trả lờ là: mắt trần hoàn toàn vô dụng. Sự hiện diện của Đấng phục sinh khác hẳn sự hiện diện của Đức Giêsu Nadarét. Đây là một sự hiện diện mới mẻ , chỉ tỏ hiện với con mắt đức tin được nuôi bằng kinh thánh và việc chia sẻ bữa ăn với Đức Giêsu.
Nếu muốn thấy và sống sự hiện diện của Đấng phục sinh, các tín hữu phải trang bị cho mình hai điều kiện ấy vì họ luôn sẵn có trong tay Thánh Kinh và Thánh Lễ.
2. Để khỏi rơi vào sư đơn điệu của đời thường
Lễ Phục sinh đã trôi qua 5 ngày. Chúng ta dễ buông mình rơi lại vào sự đơn điệu của đời thường, trở về với những lỗi phạm quen thuộc.
Nhưng đức tin không phải chỉ để dự lễ, mà là để sống cả đời. Đức tin là một ơn gọi phải theo suốt dời.
Bởi thế, trong bài đọc 2 hôm nay, thánh Phêrô đưa ra rất nhiều chỉ dẫn để chúng ta luôn sống niềm tin vào Đức Giêsu phục sinh:
-Đừng tự ru ngủ bằng ý tưởng mình đã là con cái Thiên Chúa: “Thiên Chúa không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mà xét xử. Phải biết "sợ" Cha mình, một nỗi sợ hiếu thảo và đầy tình yêu mến.
-Hãy luôn vui mừng vì mình là những con người tự do, tự do vì "được giải phóng khỏi lối sống phù phiếm do cha ông để lại", để hướng tới sự thánh thiện. Nếu không hướng tới sự thánh thiện, chúng ta sẽ rơi lại nếp sống nô lệ cũ.
-Y thức mình đã được cứu chuộc bằng giá máu của Đức Giêsu. Ngài đã yêu thương ta đến thế, lẽ nào ta đành phụ bạc Ngài.
3. Một cách hiện diện mới
Cách viết của Luca chứa đựng một ngụ ý thần học sâu sắc: Khi hai môn đệ đang đi trên đường, mặc dù Đức Giêsu đang ở bên cạnh họ nhưng họ không nhận ra "vì mắt họ còn bị ngăn cản" (câu 6). Đến khi Đức Giêsu bẻ bánh thì "mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài" (câu 3). "Nhưng Ngài lại biến mất" (câu 3).
Ngụ ý thần học của cách viết này là: Đức Giêsu phục sinh vẫn hiện diện ngay bên cạnh ta, nhưng theo một cách mới. Chúng ta không thể nhận ra cách hiện diện mới ấy vì cặp mắt thể xác của ta như "bị ngăn cản bởi một bức màn. Chỉ khi nào Ngài muốn và cho những ai Ngài muốn thì Ngài mới cất bức màn ấy đi và khi đó mắt chúng ta mới "mở ra” và thấy được Ngài.
Vì thế một mặt chúng ta hãy vững tin rằng Đức Giêsu phục sinh lúc nào cũng ở sát bên cạnh chúng ta; mặt khác hãy xử dụng những phương tiện mà Ngài đã để lại hầu có thể nhận ra Ngài, đó là Lời Chúa và Thánh lễ.
4. Bức họa của Rembrandt.
Trong các tác phẩm của danh họa Rembrandt, có một bức rất ấn tượng vẽ cạnh Đức Giêsu đang ngồi cùng bàn với hai môn đệ Emmau. Điều gây ấn tượng là vẻ mặt sung sướng vô ngần của hai môn đệ lúc họ nhận ra Chúa. Bức họa nổi tiếng này được đặt trong một nhà bảo tàng, và có một chuyên viên phụ trách giải thích ý nghĩa của nó cho các khách tham quan.   
Lần kia một cặp vợ chồng vừa có đứa con duy nhất bị chết vì tai nạn. Họ buồn quá không biết làm gì nên cùng nhau đến nhà bảo tàng ấy để giải khuây. Họ cũng được người hướng dẫn ấy đẫn đến bức họa này. Ban đầu, hai vợ chồng chẳng buồn để ý tới những lời giải thích: Nhưng dần dần họ bị cuốn hút vào. Và cuối cùng, khi người hướng dẫn dứt lời thì họ tâm sự với người hướng dẫn: "Chúng tôi đã nghe nói về bức họa này nhiều lần, nhưng chưa lần nào chúng tôi được nghe người nào trình bày một cách hấp dẫn như ông. Chúng tôi thực sự xúc động?  
Người hướng dẫn đáp: "Thực ra, không phải lần nào tôi cũng trình bày một cách xác tín như vậy đâu. Có lần tôi đã nói một cách rất hời hợt qua loa”. Rồi ông ta kể: "Ba năm trước, vợ tôi bị ung thư, sức khoẻ cạn kiệt dần, rồi nàng chết một cách hết sức đau đớn. Tôi không thể nào chấp nhận nỗi các chết này, vì nàng là một người rất tốt, không đá ong bị chết như thế. Tôi tưởng như cả thế giới sụp đổ. Tim tôi như vỡ tan. Nhưng vì bổn phận, tôi vẫn phải đến làm việc ở nhà bảo tàng này. Tôi giải thích ý nghĩa các bức họa một cách hết sức máy móc, vô hồn. Thế rồi một hôm, tôi chợt hiểu ra rằng bức họa này không chỉ liên can đến hai người môn đệ tuyệt vọng này, mà cả đến tôi nữa. Cũng như hai ông ấy, tôi đã tuyệt vọng và trở thành một người lữ hành cô đơn. Dù tôi là một người tín hữu, nhưng đối với tôi Đức Giêsu chỉ là một nhân vật mờ mịt trong những trang sách Tin Mừng. Tuy nhiên hôm đó tôi cảm thấy Ngài đang hiện diện thực sự bên cạnh tôi, Ngài ở bên tôi như một người bạn hiểu rất rõ mọi nỗi khổ đau của loài người. Từ lúc đó "mắt tôi mở ra, lòng tôi cháy bừng lên" như hai môn đệ ấy. Tôi đã tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình. Bởi vậy từ đó trở đi, mỗi khi tôi kể câu chuyện Emmau là tôi kể về chính cảm nghiệm của mình.”
 Cặp vợ chồng không cầm được nước mắt: "Chúng tôi cũng thế. Chúng tôi đã mở mắt ra và thấy lòng mình cháy bừng lên. Hôm nay chúng tôi cũng tìm lại được hy vọng và lẽ sống cho đời mình, vì biết rằng Đức Giêsu phục  sinh đang thực sự ở bên cạnh chúng tôi".

 

PS3-A47: CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

Chúng ta vừa nghe Lời Chúa phán với hai môn đệ thành Emmaus: “Đấng Kitô phải chịu đau: PS3-A47

Chúng ta vừa nghe Lời Chúa phán với hai môn đệ thành Emmaus:
“Đấng Kitô phải chịu đau khổ rồi mới tới vinh quan”.
Thánh Luca có ghi chép: Khi có người hỏi về Chúa về người được cứu độ: Chúa đã không trả lời thẳng vào câu hỏi (cũng như Chúa không hề tiết lộ ngày giờ thế chung) mà nhân cơ hội này, Chúa nói tới điều kiện để được vào nước trời (lc 13,22…)
Điều kiện này là phải chọn lối hẹp: có nghĩa là không được sống bê tha, sa đọa, mà phải biết tự chủ, biết hy sinh, bắt mình theo đường hẹp: giữ công bằng, thi hành bác ái, biết hy sinh, chịu đựng đau khổ. Mỗi lần ta biết chống trả sự quyến rũ, các cám dỗ, mỗi lần ta biết chịu đựng người khác, mỗi lần ta vui vẻ hy sinh vất vả vì Chúa, là mỗi lần ta bắt mình theo đường hẹp. Có qua đau khổ, qua Thánh giá mới tới được ánh vinh quang (Per crucem ad lumen).
Lửa thử vàng, gian nan thử đức: chính lối hẹp nghĩa là chính lối sống hy sinh, chịu đựng mới là con đường dẫn tới hạnh phúc.
Trước khi bị chém đầu Đức Cha An (tử đạo ngày 20-7-1857, 39 tuổi) nói với viên quan chỉ huy:
“Tôi gửi quan 30 quan tiền để xin một ân huệ: Đừng chém tôi một nhát nhưng ba nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Chúa đã tạo dựng nên tôi, và dẫn tôi đến Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi. Nhát thứ ba, như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bến chí chết vì đức tin, theo gương vị chủ chăn. Và như thế họ đánh hưởng hạnh phúc cùng các Thánh trên trời”.
Khi bị giam trong ngục, Ngài có viết cho hàng giáo sĩ địa phận một bức thư rất cảm động:
“Kẻ có tội vinctus in domino (bị gông cùm vì danh Chúa) gởi lời tạm biệt các cha và Đức Cha cho tời ngày gặp mặt trên trời. Tôi xin tất cả anh em tha thứ cho những điều lầm lỗi gương xấu tôi đã làm. Gông xiềng tôi đang mang được coi là những báu vật Chúa Giêsu gửi cho tôi. Tôi vui mừng lắm và chỉ ước ao được bổ máu, máu tôi hòa với Máu Cực Trọng Chúa Giêsu rửa linh hồn tôi được sạch muôn vàn tội lỗi. Xin anh em cầu cho tôi ở vững đến cùng. Có lẽ chỉ ít ngày nữa tôi sẽ được đem đi xử, song phải ở giữa hùm báo này dầu ít ngày thôi tôi cũng lấy làm lâu dài lắm. Ước gì tù ngục trở nên lửa tẩy luyện tôi”.
“Tôi lấy que than mà viết thư này trên một tờ giấy của một cuốn sách, nên không thể viết dài được…”
Viết tại ngục Nam Định ngày 28-5-1857.
                             Jose Maria
Sau một đêm tạm giam tại phủ Xuân Trường, Đức Cha bị áp giải về thị xã Nam Định. Đức Cha phải biệt giam hai tháng; chỉ có ba lần một Linh mục địa phận vào ban Bí tích, và một lần người của Đức Cha Retord Liêu vào thăm. Tuy bị xiềng xích gông cùm, Đức Cha An luôn bình tĩnh vui vẻ chờ đón phút tử đạo. Nhiều lần các quan bắt vị Giám mục đạp Thánh giá, những người từ chối.
Ngày 20-7-1857, bản án tử hình từ kinh ra, truyền chém đầu “Tây Dương Đạo Trưởng tên An”. Trên đường ra pháp trường Bảy Mẫu, Đức Cha An  gương mặt bình thản. Đến nơi xử, quân lính vây quanh người 3 vòng: Vòng trong cầm gươm, vòng giữa cầm giáo, vòng ngoài cầm cờ, cỡi ngựa cỡi voi. Đức Cha xin mấy phút để nói đôi lời với những người có mặt.
Đức Cha vừa dứt lời, lính trói người vào cây cọc gần Thánh giá. Dân chúng òa lên khóc. Lý hình chém Đức Cha ba nhát như đã xin. Bỗng trời tối sầm lại và một cơn mưa nước trộn với máu và trút xuống. Đầu của vị tử đạo bị liệng xuống sông. Hai người lính thấm máu vị tử đạo bị tống giam. Đồ đạc, sách vở của Đức Cha đều bị tiêu hủy. Chén lễ, áo lễ thì trao cho đoàn văn nghệ sử dụng. Ba ngày sau, dân chài lưới đã vớt được thủ cấp vị tử đạo. Đức Cha Xuyên đem chôn cất tại Bùi Chu.

 

PS3-A48: SIÊU MINH TINH VÀ ĐẤNG CỨU THẾ  SIÊU VIỆT

Đức Giêsu Kitô siêu minh tinh” là tên của một cuốn phim cố gắng kể lại câu chuyện về Chúa: PS3-A48

“Đức Giêsu Kitô siêu minh tinh” là tên của một cuốn phim cố gắng kể lại câu chuyện về Chúa Kitô bằng ngôn ngữ và môi trường hiện đại. Nó khiến người ta suy nghĩ về Chúa Kitô, và đó là điều tốt. Nó nêu ra nhiều vấn nạn mà giới trẻ ngày nay đặt ra, như một đoạn “Giêsu Kitô, siêu minh tinh”, Ngài có phải là Đấng mà họ nói là Ngài hiện hữu không ?” Nhưng vấn nạn vẫn còn treo lơ lửng trên không.
Âm nhạc thường làm say mê như những lời này: “Tôi không biết yêu mến Ngài thế nào”. Nhưng cũng có những tư tưởng nhạo cười sự thánh thiện. Chẳng hạn Maria Madalena – hiện hình như một cô gái làng chơi hát rằng: “Ngài chỉ là một người đàn ông mà tôi đã biết nhiều, biết nhiều đàn ông trước đây”.
Nhưng khuyết điểm lớn nhất của phim “Đức Giêsu Kitô – siêu minh tinh” là nó loại bỏ sự phục sinh của Chúa Kitô. Nó đưa chúng ta đến cái chết của Ngài và bỏ Ngài lại đó – chết. Cuốn phim bỏ mất toàn diện mục đích và cuộc sống vinh hiển của Chúa chúng ta – sự phục sinh của Ngài, mà đó là sự minh chứng rằng Ngài là Thiên Chúa thật, và chúng ta sẽ được sống lại thật với Ngài. Đối với người công giáo chúng ta, Chúa Giêsu không chỉ là siêu minh tinh, mà Ngài còn là Đấng cứu thế siêu việt.
Tin Mừng hôm nay tường thuật hai môn để đi Emmau cũng có lầm lỗi. Họ gấp cuốn sách lại sau khi đọc chương cuối cùng. Họ rời bỏ Giêrusalem trước khi họ khám phá ra những biến cố thật sự vinh hiển của lễ phục sinh  đầu tiên đó.
Ngày nay có một số người, gọi là đi theo Chúa Kitô, cũng có cùng lầm lỗi. Họ bỏ đi vì trước sự phục sinh. Họ đặt vấn đề về lễ phục sinh đầu tiên. Họ xóa bỏ nó đi khỏi những suy tưởng và lối sống của họ. Họ nản chí, họ thất vọng, họ vỡ mộng về một điều gì đó trong Giáo hội công giáo, và thế là họ bỏ đi.
Sự đáng buồn nhất đó là họ bỏ đi khỏi chính điều sẽ giúp họ khỏi rối loạn, khỏi chán nản. Họ bỏ thánh lễ, sự điều trị chắc chắn nhất cho những bất an của họ.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ đang buồn rầu bỏ đi khỏi Giêrusalem mà ngày nay ám chỉ Giáo hội, gia đình của Thiên Chúa. Ngài đã giải thích điều Kinh thánh nói về sự đến của Ngài. Rồi Người bẻ bánh để mở mắt cho họ nhận biết Ngài.
Đó là thánh lễ. Trước hết chúng ta đọc trong Cựu ước và Tân ước tất cả những gì liên quan đến Chúa Kitô. Trong phần thứ hai của Hiến tế  chúng ta “bẻ bánh”, chúng ta đổi bánh và rượu nên Mình Máu thật của Chúa Giêsu.
Điều xảy ra ở Emmmau thì cũng xảy ra trên bàn thờ này, chính giờ này và mỗi khi thánh lễ được cử hành. Đây là nơi chúng ta gặp gỡ Chúa Kitô. Bạn cũng được hạnh phúc như hai môn đệ, lòng bạn sẽ bừng lên. Bạn sẽ không gấp sách lại trước khi đọc chương cuối cùng vê câu chuyện Chúa Kitô, như tác giả phim “siêu minh tinh” đã làm, như những người không làm sự phục sinh  nên sức sống cho suy tư cuộc sống của họ. Câu chuyện Emmau là một khích lệ lớn lao cho chúng ta, nhưng người không nghĩ đến việc bỏ tham dự thánh lễ, nếu chúng ta canh tân lòng tin của chúng ta vào thánh lễ, thì chúng ta sẽ được kết hiệp với Đấng không chỉ là siêu minh tinh, nhưng cũng là Đấng cứu thế siêu việt của cuộc đời chúng ta.
 Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

PS3-A49: XIN NGÀI Ở LẠI VỚI CHÚNG TÔI

Lc 24. 13-35
Anh chị em thân mến!
 

Bài Phúc âm hôm nay là một trong những bài hay và có nhiều ý nghĩa. Bài Tin mừng theo thánh: PS3-A49

Bài Phúc âm hôm nay là một trong những bài hay và có nhiều ý nghĩa. Bài Tin mừng theo thánh Luca hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu hiện ra cho hai đồ đệ trên đường tiến về làng Emmau. Qua đó chúng ta có thể nhìn đến khía cạnh Chúa Giêsu Phục sinh đã trở thành nhà truyền giáo đầu tiên, và hai người đồ đệ trên đường Emmau là kẻ đã nhận lệnh truyền giáo của Chúa đầu tiên. Chúa hiện đến với hai đồ đệ để giải thích Kinh Thánh cho họ, biến đổi họ trở nên những kẻ tin vào Chúa và sau đó trở thành những người làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh.
Chúa Giêsu đã thi hành sức mệnh truyền giáo của Ngài như thế nào? Trước hết, Chúa đến với hai đồ đệ, họ là những kẻ đã biết về Chúa, về những biến cố những lời dạy của Ngài đã xảy ra cho đến khi Chúa chết trên Thập giá. Nhưng có một điều là đức tin của họ chưa được trọn vẹn, họ có một chờ đợi khác về Chúa Giêsu Kitô, họ mong đợi Chúa thiết tập nước Israel, họ có một chờ đợi chính trị có thể nói được như vậy về sức mạng của Chúa.
Là nhà truyền giáo, Chúa Giêsu đến với họ không chiều theo sở thích của họ, không chiều theo ước muốn chính trị của họ, nhưng Chúa thanh lọc ý định và ước muốn của họ, biến đổi họ trở nên tin tưỏng vào Chúa hơn, hiểu rõ ý nghĩa của Kinh Thánh hơn. Do đó, Chúa đến với họ, dẫn dắt họ đọc lời Kinh Thánh theo đúng cái nhìn của Chúa, cuối cùng Ngài dẫn họ đến việc cử hành bữa tiệc thánh. Trong việc cử hành này, họ đã nhận ra Chúa, tin vào Chúa và sự hiểu biết của họ được canh tân, được tinh luyện khỏi những lệch lạc.
Vì thế, Chúa Giêsu chính là mẫu gương của tất cả chúng ta, của những nhà truyền giáo, của những người muốn làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh. Chúng ta đến với dân chúng, đến với những kẻ khác để rao giảng cho họ về Đức Giêsu Kitô, nhưng chúng ta không chiều theo những ước muốn, những sở thích, những lèo tái chính trị của những người tắng nghe Lời Chúa. Chúng ta hãy cố gắng làm sao đó để có thể hướng dẫn anh chị em xung quanh tìm hiểu và nhìn nhận ý nghĩa đích thực của Kitô giáo, đó là nhìn nhận việc Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã chết và sống lại? Đây là một vấn đề mà chúng ta cần phải đặt hết niềm tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh, Đấng đã chiến thắng khải hoàn mọi quyền lực của sự dữ và tội lỗi.
Thật thế, sau khi Chúa Giêsu cải hoá được hai môn đệ trên đường Emmau, thì họ đã trở thành những chứng nhân cho Chúa. Họ trở về nói với cộng đoàn các tông đồ đang tụ họp lại Giêrusalem, nơi đó đức tin của họ vào Đức Giêsu Phục Sinh được hoà nhập với đức tin của các tông đồ. Các tông đồ đã nói với họ: "Thật Chúa đã sống lại", và hai người đồ đệ này kể lại phép lạ đã xảy ra lúc dọc đường và hai ông đã nhận ra Chúa lúc bẻ bánh như thế nào. Họ trở về lại với cộng đoàn và kết thành một cộng đoàn duy nhất cùng một đức tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh. Đức tin của họ vào Chúa Kitô Phục Sinh được soi sáng, được kiện cường với đức tin của các tông đồ: "Thật Chúa đã sống lại và đã hiện ra với Simon".
Anh chị em thân mến!
Chúng ta hãy bắt chước thái độ truyền giáo của Chúa Giêsu và chúng ta cũng hãy bắt chước thái độ của hai môn đệ trên đường Emmau, để một khi đã nhận ra Chúa thì chúng ta tìm cách để tuyên xưng niềm tin Chúa. Cách đầu tiên là trở về với cộng đoàn của mình, sống hiệp thông với cộng đoàn của mình trong cùng một đức tin duy nhất. Hai môn đệ trên đường Emmau trở về trình với các tông đồ về biến cố và sự biến đổi thiêng liêng về đời sống đứca tin của họ. Họ không giữ riêng cho mình và không sống tách rời với các tông đồ, nhưng họ đã sống thân thiết và hợp nhất với các tông đồ. Chúng ta cũng vậy, chúng ta không thể nào loại bỏ các người kế vị các tông đồ, đó là các Đức Giáo Hoàng, các Giám mục..., loại bỏ sự hướng dẫn của các ngài ra khỏi đời sống đạo của chúng ta được.
Vậy, cuối cùng đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa, không phải vì công khó mà chúng ta đã đạt được đức tin, nhưng đó là ơn nhưng không của Thiên Chúa. Chúa đến với mỗi người chúng ta, giải thích cho mỗi người chúng ta được hiểu rõ những biến cố trong đời sống và cho chúng ta được nhìn thấy ý nghĩa sâu xa của Lời Chúa, của việc Con Thiên Chúa xuống trần rao giảng Tin Mừng, chịu nạn chịu chết và cuối cùng Phục Sinh để mở đường dẫn đưa chúng ta về với Thiên Chúa Cha.
Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta có tâm hồn đơn sơ và khiêm nhượng, sống đức tin và gìn giữ đức tin của mình trong niềm hiệp thông với tất cả anh chị em. Chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin chung vào Thiên Chúa, đức tin mà giờ đây chúng ta tuyên xưng qua kinh Tin Kinh.

 

PS3-A50: HAI MÔN ĐỆ LÀNG EMMAU

Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
"Một làng kia cách Giêrusalem sáu mươi dặm, tên là Emnmau":
 

Địa điểm này hãy còn được tranh luận. Người ta nghĩ đó là Amwas, cách Giêrusalem độ 30km: PS3-A50

Địa điểm này hãy còn được tranh luận. Người ta nghĩ đó là Amwas, cách Giêrusalem độ 30km về hướng Tây. "60 dặm" là cách đọc thông thường được chấp nhận (tương ứng với 12 km); nhưng nhiều chứng từ đáng tin cậy (như bản Sinaiticus, 5 trong các thủ sao khá nhất của bản Phổ thông và 3 thủ sao của bản syri-palestin) lại đọc 160, là điều phù hợp với địa danh Amwas.
"Ông là cư dân duy nhất ở Giêrusalem": Cách dịch này không đúng mấy vì làm ta tưởng các môn đồ xem Chúa Giêsu như là người thường trú tại Giêrusalem. Nhưng động từ Hy lạp được dùng ở đây, paroikéô, chắc hẳn có nghĩa thông thường như trong bản 70: "cư ngụ với tư cách ngoại kiều, lưu trú như người ngoại quốc". Các môn đồ coi Chúa Giêsu như khách hành hương đến Giêrusalem dịp Lễ Vượt Qua.
"Một ngôn sứ quyền năng trong việc làm": Các môn đồ cho tới bày giờ vẫn còn xem Chúa Giêsu như một ngôn sứ thôi.
"Nhưng với ngần ấy cơ sự, nay đã là ngày thứ ba rồi kể từ khi các việc ấy diễn ra": Các môn đồ đã thất vọng vì Chúa Giêsu bị nhà cầm quyền Israel tuyên án tử hình thập giá. Họ cũng thất vọng vì đã ba ngày sau vụ đóng đinh rồi mà Thiên Chúa chẳng hề can thiệp gì để cứu giúp vị ngôn sứ cả.
"Khởi từ Môisen và rảo qua hết thảm các ngôn sứ": Môisen, nghĩa là Lề luật, với các Ngôn sứ tạo thành chất liệu chủ yếu của Thánh Kinh (16, 16. 29- 31; 24, 44; Cv 24, 14; 28, 2) người ta đọc sánh các vị trong phụng tự ở Hội đường (Cv 13, 15).
"Người cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra trao cho họ”: Không chắc là bấy giờ Chúa Giêsu tái diễn bữa Tiệc ly. Nhưng Luca dùng ở đây một ngữ vựng có tính cách Thánh Thể (x 22, 19 và 9, 16) để cho độc giả cảm thấy rằng việc "bẻ bánh" (Cv 2, 42.46; 20,7.11) làm họ gặp gỡ Đấng Phục Sinh, như trường hợp các môn đồ Emmau.
"Người đã hiện ra cho Simon": Biến cố này được đề cập tới trong bản liệt kê cổ xưa của 1 Cr 15, 5, cũng như đã được loan báo ở 22, 31- 32, nơi người ta cũng gặp tên Simon.
“Lúc bẻ bánh": tiếng Hy lạp cho phép ta hiểu: lúc bẻ bánh hoặc nhờ việc bẻ bánh.
KẾT LUẬN
Sự hiện diện của Đấng Phục sinh thâm nhập vào tâm thức tôn giáo, vào trong đời sống đức tin, nhờ Thánh Kinh được giải thích theo ý nghĩa sứ điệp Vượt Qua, nhờ bữa ăn Thánh Thể nung đốt tâm hồn và giúp tâm hồn nhận ra Chúa.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Tâm trạng của các môn đồ Emmau mấy ngày sau cái chết của Chúa Giêsu không phải là đặc biệt lắm. Lúc ấy cũng như bấy giờ, có nhiều người đã đặt niềm hy vọng vào Chúa hay vào Giáo Hội và họ đã thất vọng vì diễn tiến các biến cố. Họ nghĩ Chúa Kitô phải ban cho họ niềm trông cậy và bình an, Giáo Hội phải đem đến cho họ những điều vững chắc và nhiều gương mẫu thật đáng phục; thế nhưng chẳng có gì được thực hiện. Chúa không được mọi người thành tâm thiện chí nhận ra, và Giáo Hội chẳng tai tiếng thì cũng làm nhiều kẻ nản lòng ... Dĩ nhiên, sự việc không bao giờ xảy ra như đã hứa và niềm hy vọng của chúng ta đôi khi như bị dối lừa.
2) Các môn đồ Emmau và những ai đã trông cậy vào Chúa Giêsu mà thất vọng, là vì niềm hy vọng của họ quá trần tục, dựa trên cái nhìn nhân loại về các biến cố. Để thắng nỗi ô nhục, cớ vấp phạm gây ra do sự thất bại của Chúa Giêsu, niềm hy vọng đó phải biến thành niềm hy vọng đốt thần, đặt cơ sở trên cái nhìn của Thiên Chúa về lịch sử. Vì thế, trong cuộc đàm thoại với hai môn đồ Emmau, Chúa Giêsu đã sửa đổi nhãn giới của các vị bằng cách giúp họ hiểu rằng cái chết của Người có ý nghĩa xét về quan điểm của Thiên Chúa. Quan điềm này được diễn tả trong Thánh Kinh. “Bắt đầu từ Môisen và hết thảy các ngôn sứ, Người dẫn giải cho họ các điều đã viết về Người trong toàn bộ Thánh Kinh".
Chúng ta không rõ hai môn đồ nghe gì lúc ấy, chỉ biết vài ngày sau đó họ nói vắn tắt thế này: lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên khi Ngươi trò chuyện cùng ta trên đường đi đó sao? Có lẽ Chúa Giêsu đã nhắc lại cách vắn tắt và sống động toàn bộ lịch sử của tuyển dân, với bao biến cố thăng trầm, bao phen trung thành và bội phản của họ; nhắc lại những chuỗi can thiệp của Chúa mà, mỗi thế hệ, qua mọi mọi biến cố đau thương hay hạnh phúc, đã làm dấy lên nhiều ngôn sứ với nhiệm vụ khêu lại lòng trung thành nhạt phai, đã hứa ban Đấng cứu thế mà một ngày nào đó sẽ đến tai lập tất cả trong bình an và trật tự. Ta có thể nghĩ rằng người lữ khách vô danh này đã nhắc lại cho họ các thi ca về người Tôi tớ của Isaia và các Thánh vịnh, như Phêrô đã làm trong ngày lễ Ngũ tuần trước mặt người Do thái. Tắt một lời, khi gợi lại 12 thế kỷ lịch sử này, Người cho họ thấy “Đấng Messia phải chịu đau khổ đã rồi mới vào trong Vinh quang".
Cuối cuộc chiêm niệm này, sau khi đã dấn bước đi theo, các bậc tiền tổ trong đức tin, tức là các ngôn sứ, hiền nhân, thi sĩ của Thiên Chúa toàn năng, hai môn đồ mới bắt đầu khám phá ra rằng có lẽ tất cả không đến nỗi phải thất vọng, rằng mọi sự có lẽ nằm trong trật tự, cho dù trật tự ấy khác với trật tự mà tự nhiên họ đã mong chờ. Đức tin vào Giêsu Nadarét của họ. Niềm tin của họ có lẽ đã thoát ra khỏi một thứ lý luận trần tục nào đó, thì lý luận đã giam hãm họ và đẩy họ đến chỗ thất vọng ê chề; nhưng dầu sao niềm tin ấy xem ra không phi lý nữa, mà còn có thể phù hợp với cái nhìn của Thiên Chúa về thế gian, cái nhìn đã được loan báo dần dần bởi các hiền nhân và các ngôn sứ trong suốt 1200 năm lịch sử.
3) Nhờ lại Thiên Chúa được khám phá trong Thánh Kinh, các môn đồ Emmau đã có một não trạng khác; họ đã mở rộng quan điểm, hay đúng hơn đã loại bỏ quan điểm của mình dể đi vào quan điểm của Thiên Chúa. Chỉ sau đấy họ mới nhận ra Chúa Giêsu. Muốn tin vào Chúa Kitô tử nạn, chiến bại và Phục sinh, thì phải chấp nhận ra khỏi cái kiểu lý luận thế nhân, để đặt mình trong kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch mà mọi phương hướng luôn luôn làm lý trí nhỏ bé của con người choáng ngợp, và để Ngài hướng dẫn. Bấy giờ mọi sự sẽ trở nên đơn giản, sẽ biện thành niềm vui. Như thánh Phêrô đã nói khi kết thúc một đoạn trong thư của ngài mà chúng ta vừa nghe lúc nãy: nhờ Chúa Kitô, anh em tin vào Thiên Chúa. Đấng đã cho Người sống lại từ cõi chết và đã ban vinh quang cho Người, ngõ hầu anh em đặt cả lòng tin và niềm hy vọng của anh em nơi Thiên Chúa" (1Pr 1, 21).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây