Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 1-50 Ta là Đường là Sự Thậ

Thứ sáu - 12/05/2017 09:45
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 1-50 Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 1-50 Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 1-50 Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống
PS5-A1: NIỀM TIN.. 2
PS5-A2: NTĐY/207- ĐƯỜNG TÌNH YÊU.. 4
PS5-A3: CS/66- KHUÔN MẶT THIÊN CHÚA.. 6
PS5-A4: CSTM/116- ĐƯỜNG.. 7
PS5-A5: STM/111- CHÚC THƯ.. 9
PS5-A6: PVCNVLT/228- NIỀM TIN.. 10
PS5-A7: PVCNVLT/230- MÁI NHÀ.. 11
PS5-A8: PVCNVLT/233- TRỞ VỀ.. 13
PS5-A9: Suy Niệm của Lm. VIKINI: NHÀ CHA THẦY.. 15
PS5-A10: Suy Niệm của Lm. Trọng Hương. 16
PS5-A11: NẺO ĐƯỜNG ĐÍCH THẬT.. 18
PS5-A12: Dọn chỗ - JKN.. 20
PS5-A13: CHÚA LÀ ĐƯỜNG LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG.. 23
PS5-A14: LÒNG CÁC CON ĐỪNG XAO XUYẾN - Lm Trần Nguyên. 25
PS5-A15: HÃY TIN VÀO THIÊN CHÚA - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. 27
PS5-A16: ĐƯỜNG VỀ NHÀ CHA - Sr Victoria L. 31
PS5-A17: Suy Niệm của Lm Nguyễn Bình An. 32
PS5-A18: NĂM GÃ MÙ.. 34
PS5-A19: SỐNG TRONG THỰC TẾ CỦA THẾ GIỚI - Cha Car. Hồ Bặc Xái 36
PS5-A20: CUỘC SỐNG TRẦN THẾ VÀ CUỘC SỐNG VĨNH CỬU.. 43
PS5-A21: ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG CHÚA.. 46
PS5-A22: NHÀ CHA CÓ RẤT NHIỀU CHỖ.. 48
PS5-A23: Hoàn toàn đúng. 50
PS5-A24: Xin cho chúng con thấy Chúa Cha. 52
PS5-A25: Hãy thương yêu nhau... - Nhóm Đồng Hành. 54
PS5-A26: CON HƠN CHA, NHÀ CÓ PHÚC ! 55
PS5-A27: CHÚA GIÊ-SU LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG.. 57
PS5-A28: Trong Đấng Phục Sinh, mọi sự đang được đổi mới và nâng lên. 63
PS5-A29: HÃY TÌM MỘT CHỖ TRONG TRÁI TIM CHÚA.. 68
PS5-A30: TIN VÀO CHÚA GIÊSU - Sr Mai An Linh, OP. 73
PS5-A31: Chúa Giêsu, nguồn bình an - Lm Trần Thanh Sơn. 75
PS5-A32: ANH EM HÃY TIN THẦY - Phó tế Nguyễn Định. 77
PS5-A33: CON ĐƯỜNG MANG TÊN GIÊSU.. 79
PS5-A34: CON ĐƯỜNG GIÊSU- Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP. 81
PS5-A35: THẦY LÀ CON ĐƯỜNG  -Huyền Đồng. 83
PS5-A36: THẦY ĐI TRƯỚC DỌN CHỖ CHO CHÚNG CON.. 85
PS5-A37: THẦY LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG.. 86
PS5-A38: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 88
PS5-A39: THIÊN  CHÚA GIỐNG NHƯ CÁI GÌ 90
PS5-A40: THẦY ĐI ĐỂ DỌN CHỖ CHO CÁC CON.. 91
PS5-A41: Theo Đức Kitô là Đường. 94
PS5-A42: Nhiều con đường mang tên những danh nhân. 101
PS5-A43: Đường Nào Dẫn Đến Nhà Cha Thân Yêu?. 102
PS5-A44: VẤN NẠN CỦA ĐỨC KITÔ: 105
PS5-A45: Các con đừng xao xuyến sợ hãi 108
PS5-A46: ĐỪNG XAO XUYẾN NHƯNG HÃY TIN TƯỞNG.. 110
PS5-A47: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 112
PS5-A48: Lòng anh em đừng xao xuyến... 116
PS5-A49: Đường Giêsu – ĐTGM. Ngô quang Kiệt 120
PS5-A50: Đường hy vọng. 122



 

PS5-A1: NIỀM TIN

Có năm anh mù sờ vào một con voi. Anh thứ nhất sờ vào cái bụng thì bảo con voi giống như: PS5-A1

Có năm anh mù sờ vào một con voi. Anh thứ nhất sờ vào cái bụng thì bảo con voi giống như một bức tường lớn. Anh thứ hai sờ vào chiếc ngà thì bảo con voi giống như một thanh gươm cùn. Anh thứ ba sờ vào cái vòi thì bảo  con voi giống như một con đỉa khổng lồ. Anh thứ thứ tư sờ vào cái tai thì bảo con voi giống như một chiếc quạt nan. Anh thứ năm sờ vào cái đuôi thì bảo con voi giống như một sợi dây thừng.
Câu trả lời của mỗi người đều đúng theo quan điểm riêng của mìnnh. Chỉ nhờ đối thoại chung với nhau, họ mới có được một cái nhìn sáng suốt và một hình ảnh đầy đủ để hiểu biết con voi thực sự là như thế nào mà thôi.
Đối với Thiên Chúa cũng vậy. Người Do Thái có một cách hiểu về Ngài. Người theo Hồi giáo có cách hiểu thứ hai. Người theo Phật giáo có cách hiểu thứ ba. Người theo Ấn độ giáo có cách hiểu thứ tư. Và các Kitô hữu có cách hiểu thứ năm.
Như vậy, phải nhờ đến đối thoại chung với nhau, người ta mới có thể đạt được một cái nhìn đầy đủ hơn về Thiên Chúa.
Thế nhưng, tại sao các Kitô hữu lại dám xác quyết rằng mình có một cái chính xác về Thiên Chúa hơn bất kỳ một tôn giáo nào?
Câu trả lời dĩ nhiên phải được đặt nền tảng trên đức tin. Thực vậy, Chúa Giêsu đã tuyên bố : Ngài biết Thiên Chúa bằng một cách thức tuyệt vời mà không vị lãnh đạo tôn giáo nào dám mơ tưởng đến.
Hơn thế nữa, Ngài còn đồng hóa mình với Thiên Chúa. Điều này không một nhà lãnh đạo tôn giáo nào dám làm.
Chẳng hạn qua đoạn Tin mừng hôm nay, Ngài đã xác quyết với Philipphê :
- Ai thấy Ta là thấy Cha.
Nơi khác Ngài cũng nói :
- Cha Ta và Ta là một.
Nếu quả thực đúng như vậy, thì chúng ta, những người Kitô hữu đã có được một cái nhìn thật chính xác về Thiên Chúa hơn bất kỳ một tôn giáo nào khác trên mặt đất này.
Thực vậy, chỉ mình Chúa Giêsu mới dám nói :
- Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta.
Chỉ mình Chúa Giêsu mới dám bảo :
- Ta là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Ta.
Chỉ mình Chúa Giêsu mới dám xác quyết :
- Ta là ánh sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ có ánh sáng ban sự sống…Ai theo Ta, sẽ không bao giờ phải bước đi trong tăm tối.
Chỉ mình Chúa Giêsu mới dám công bố :
- Ai tin vào Ta, sẽ không bao giờ phải chết, nhưng sẽ có sự sống đời đời… Và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết.
Vậy Đức Kitô là ai ?
Đây cũng là vấn đề mà chính Ngài đã đưa ra cho các môn đệ:
- Người ta bảo Thày là ai ?
Các ông thưa :
- Người thì bảo là Gioan tiền hô, là Elia, là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó.
Và Chúa Giêsu đã đặt một câu hỏi cân não, đòi buộc các ông phải dứt khoát lập trường và tuyên xưng đức  tin của mình :
- Còn các con, các con bảo Thày là ai ?
Thánh Phêrô đã thay mặt cho nhóm mười hai đã dứt khoát lập trường và tuyên xưng đức tin của mình :
- Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.
Và Chúa Giêsu liền tỏ cho Phêrô được hay :
- Phúc cho con, không phải do xác thịt hay máu huyết, nhưng do Cha Thày, Đấng ngự ở trên trời đã tỏ cho con biết.
Lời xác quyết này có nghĩa là  chân lý này đến với thánh Phêrô không phải từ bất cứ ai, mà từ chính Chúa Cha, Đấng đã trực tiếp mạc khải cho thánh Phêrô.
Là người Kitô hữu, là người môn đệ của Chúa, ngay từ hồi còn tấm bé, chúng ta đã xác tín Ngài là Con Thiên Chúa và chúng ta cũng đã tin vào Ngài.
Thế nhưng, điều quan trọng hơn, đó là chúng ta phải biến niềm tin thành việc làm, biến xác tín thành cuộc sống, bằng cách tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, nhờ đó chúng ta thực sự tuyên xưng Ngài trong thẳm sâu cõi lòng  cũng như làm chứng về Ngài trong lòng cuộc đời chúng ta đang sống.

 

 PS5-A2: NTĐY/207- ĐƯỜNG TÌNH YÊU

Đức Khổng Tử trong giờ phút lâm chung cho gọi thầy Tăng Tử là môn đệ mà ngài đặt nhiều: PS5-A2

Đức Khổng Tử trong giờ phút lâm chung cho gọi thầy Tăng Tử là môn đệ mà ngài đặt nhiều tin tưởng, đến bên giường bệnh và nói   :
- Này Tăng Tử con ơi! Trước giờ thầy nhắm mắt lìa đời, con có điều gì thắc mắc về những lời ta đã cùng con thảo luận?
Thầy Tăng Tử đáp :
- Bạch Thầy, thầy quả là bậc chí nhân quân tử. Những lời thầy đã chỉ dạy làm cho chúng con thấy khó mà thực hiện cho trọn vẹn.
Đức Khổng Tử mới nói :
- Này Tăng Tử, trong các điều ta đã giáo huấn có điều đúng, có điều sai. Nhưng có một cái mà ta chắc chắn không bao giờ sai đó là điều ta không biết!
Đức Khổng Tử là bậc thánh hiền, học thuyết của ông đã ảnh hưởng đến bao đời, thế mà trước lúc lâm chung, ông phải tự nhận là mình không biết gì. Khác với Khổng Tử là người chỉ đường Đức Giêsu chính là con đường. Trước khi lìa các môn đệ để về cùng Cha, Người đã khẳng định :”Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”.
Đức Giêsu chính là Đường, dẫn chúng ta đi từ nhịp cầu đau khổ đến bến bờ vinh quang, từ cõi chết trở về cõi sống, từ đời sống tạm bợ tới cuộc sống vĩnh hằng, từ trần gian tục lụy về quê hương thiên đàng.
Đức Giêsu chính là Sự thật. Sự thật tuyệt đối, sự thật về một Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc con người. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.
Đức Giêsu chính là Sự sống. Sự sống vĩnh cửu, sự sống từ cung lòng Cha ban cho mọi loài được sống. Sự sống đã giải thoát con người khỏi chết muôn đời. Người chính là Đấng cứu độ duy nhất. Cũng như “Mọi con đường đều dẫn tới Rôma”, thì mọi con đường cứu độ đều phải dẫn đến con đường Giêsu. Tất cả loài người đều được cứu độ nhờ danh của Người, kể cả những con người không biết Người, nhưng sống theo lương tâm ngay lành, đều được Người ban ơn cứu độ. Sách Công vụ Tông đồ viết :”Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời, để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ”.
Con đường của Người là đường phục vụ, đường yêu thương. Vì thế những ai muốn đi trên con đường của Người cũng phải dấn thân phục vụ anh em, và tận tình yêu thương con người.
Con đường của Người là đường thánh giá, đường đau khổ. Vì thế những ai bước đi trên con đường ấy cũng phải dám hy sinh bản thân, và sẵn lòng chịu khổ vì danh Đức Giêsu.
Hy sinh bao giờ cũng cho tâm hồn nét đẹp cao thượng. Với tình yêu, những khó khăn kia dường như nhỏ lại, những vất vả như bị xóa nhòa. Lòng chúng ta lại thấy vui hơn, cuộc đời thênh thang rộng mở.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã về với Chúa Cha trong vinh quang sau khi đã sống một đời yêu thương tự hiến. Xin cho chúng con cũng biết đi trên con đường của Chúa, là yêu thương phục vụ anh em, để cuối con đường thập giá và đau khổ chúng con được hợp hoan với Chúa trong vinh quang nước trời.

 

PS5-A3: CS/66- KHUÔN MẶT THIÊN CHÚA

Nếu gom các hình vẽ, các bức tượng Chúa lại để so sánh, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa có: PS5-A3

Nếu gom các hình vẽ, các bức tượng Chúa lại để so sánh, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa có nhiều khuôn mặt khác nhau, tùy theo sự tưởng tượng của các họa sĩ và của các nhà điêu khắc.
Từ ghi nhận này, ta có thể liên tưởng đến hình ảnh Thiên Chúa mà mỗi người khắc họa cho đời mình. Thiên Chúa chỉ có một, nhưng mỗi người lại hình dung về Người một cách khác nhau, tùy theo sự suy nghĩ và sở thích riêng của mình chứ không hẳn đã đúng như hình ảnh đích thực của Người. Đây là điều rất quan trọng, bởi chính cái nhìn của ta về Thiên Chúa sẽ chi phối và ảnh hưởng đến niềm tin cũng như cách sống đạo của ta. Ta có thể đưa ra một vài thí dụ :
- Người Do thái đã hình dung Thiên Chúa là Đấng thánh thiện tuyệt đối nên Người hoàn toàn tách biệt với những gì phàm tục và tội lỗi. Từ quan niệm này họ cũng nghĩ rằng : Nếu muốn là con cái Chúa, người cũng phải sống tách biệt như vậy. Điều này đúng, nhưng không đúng ở chỗ nhân danh Thiên Chúa toàn thiện, người ta coi khinh và loại trừ những người tội lỗi, là những người rất cần đến sự nâng đỡ của mọi người. Vả lại, Thiên Chúa dù ghét tội lỗi nhưng lại rất yêu thương các tội nhân và muốn họ được cứu thoát.
- Có những người hình dung Thiên Chúa là một ông  thẩm phán khắc nghiệt, chỉ biết dò xét tội lỗi của con người để trừng phạt. Nghĩ về Thiên Chúa như thế nên họ sống đạo, họ giữ lề luật chỉ vừa đủ để khỏi bị phạt. Và nghĩ về Thiên Chúa như thế, nên khi thấy một người gặp tai ương hoạn nạn, họ cho rằng đó là người tội lỗi. Quan niệm rằng : Tai ương, hoạn nạn là hình phạt của Thiên Chúa vẫn còn ăn sâu nơi tâm trí của nhiều người.
- Có người lại tưởng Thiên Chúa là một ông quan thích tham nhũng hối lộ. Vì thế, họ xin lễ, họ dâng cúng tiền bạc vào nhà thờ như để mua chuộc Thiên Chúa chúc lành cho những công việc của mình, kể cả những công việc mờ ám.
- Có người lại nghĩ Thiên Chúa chỉ là một ông thủ kho. Khi cần điều gì, họ đến gõ cửa xin Người mở kho để đáp ứng nhu cầu của họ. Nghĩ như thế nên đời sống đạo của những người này thu hẹp lại trong việc xin xỏ. Mà hầu hết chỉ là xin xỏ những nhu cầu vật chất. Nếu Thiên Chúa không đáp ứng điều họ yêu cầu, họ sẽ phản kháng, sẽ trách móc, thậm chí buông những lời xúc phạm đến Người.
- Có những người coi Chúa như một vị thần xa lạ, không liên hệ gì tới đời sống của họ, vì thế họ dửng dưng với Người…
Và còn rất nhiều cách nhìn khác về Thiên Chúa. Do đó, cũng có rất nhiều cách sống đạo, nhiều cách sống mối quan hệ đối với Thiên Chúa,
Ghi nhận những cách nhìn như thế về Thiên Chúa để thấy câu hỏi của ông Philipphê rất quan trọng :”Lậy Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha”. Và câu trả lời của Chúa Giêsu còn quan trọng hơn :”Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Thiên Chúa là Đấng vô hình, nhưng đã trở nên hữu hình nơi Đức Giêsu. Vì thế, cứ nhìn vào Đức Giêsu ta sẽ thấy được dung nhan đích thực của Thiên Chúa.-Nhìn Chúa Giêsu lân la với người tội lỗi để an ủi, để cứu vớt, ta sẽ biết Thiên Chúa không ruồng bỏ người có tội, nhưng yêu thương và tha thứ.
- Thấy Chúa Giêsu đến với những người nghèo khổ, những người đau ốm tật nguyền, ta biết Thiên Chúa là Đấng không vô tâm trước những nỗi thống khổ của kiếp người.
- Nhìn Chúa Giêsu thổn thức trước mộ ông Lagiarô, động lòng trắc ẩn trước cảnh người mẹ góa đi chôn xác con trai mình, thương cảm đám dân chúng bơ vơ đói khát như chiên không có người chăn, ta thấy Thiên Chúa gần gũi con người biết bao.
- Nhìn Chúa Giêsu quì xuống rửa chân cho các môn đệ, chiêm ngắm Chúa Giêsu quằn quại trên thập giá, ta biết Thiên Chúa yêu thương ta dường nào.
- Nghe Chúa Giêsu xin Chúa Cha tha thứ cho kẻ giết mình, ai dám nghĩ rằng Thiên Chúa thích báo thù và trả oán…Vì Chúa Giêsu biểu lộ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, nên nếu muốn thấy Thiên Chúa, muốn hiểu biết Thiên Chúa, thì phải gần gũi và gắn bó với Chúa Giêsu.Chỉ khi có cái nhìn đúng về Thiên Chúa ta mới có được thái độ sống phù hợp với đạo làm con.
Chớ gì chúng ta không bị Chúa Giêsu trách cứ như Người đã trách cứ ông Philipphê : Con theo đạo biết bao lâu rồi mà vẫn chưa biết Thầy, chưa biết Cha ư?

 

PS5-A4: CSTM/116- ĐƯỜNG

Nhà tu đức học nổi tiếng của Ấn độ, cha An tôn Mê-lô có làm một bài thơ, nội dung như sau: PS5-A4

Nhà tu đức học nổi tiếng của Ấn độ, cha An tôn Mê-lô có làm một bài thơ, nội dung như sau :”Một hôm lang thang trên phố, tôi thấy một cửa hiệu với hàng chữ : Tại đây có bán chân lý”. Tò mò tôi bước vào. Cô bán hàng niềm nở đón tiếp tôi và hỏi :”Ông muốn mua loại chân lý nào? Chân lý từng phần hay chân lý toàn diện?”. Tôi cho cô biết dĩ nhiên tôi đang đi tìm thứ chân lý toàn diện, thứ chân lý không pha trộn giả dối, thứ chân lý mà lý trí tôi phải đầu hàng vô điều kiện. Tôi muốn có chân lý đơn thuần và toàn diện.
Cô bán hàng nhìn tôi lắc đầu rồi chỉ sang một cửa hiệu khác, nơi có bán thứ chân lý mà tôi đang đi tìm. Người đàn ông đứng bán hàng nhìn tôi với lòng thông cảm. Ông chỉ cho tôi xem giá biểu của món hàng mà tôi muốn mua, rồi nói với tôi :”Thưa ông, giá của món hàng rất cao”. Đã cương quyết mua cho được chân lý toàn diện, tôi liền hỏi :”Giá bao nhiêu, xin cho tôi biết”. Người bán hàng trả lời :”Nếu ông muốn mua thứ chân lý này, ông phải trả bằng cả cuộc sống của ông”.
Tôi ra khỏi cửa hiệu, lòng buồn rười rượi. Tôi cứ nghĩ rằng tôi có thể mua chân lý toàn diện bằng giá rẻ. Thì ra tôi chưa sẵn sàng để đón nhận chân lý. Tôi vẫn chưa muốn cho đi cuộc sống của tôi. Tôi vẫn còn bám chặt vào những xác tín của riêng tôi”.
Bài thơ ngụ ngôn trên đây hẳn muốn nói lên thái độ của nhiều người trong chúng ta đối với Đấng tự xưng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta chưa tin tưởng đầy đủ và sống trọn vẹn cho Ngài. Vì thế, bài Tin mừng hôm nay, một lần nữa, nhắc nhở chúng ta hãy khẳng định, hãy xác tín hơn nữa vào Chúa Giêsu.
Tất cả chúng ta đều biết ý nghĩa của con đường. Dù đó là xa lộ hay con đường mòn, đều có mục đích là để đi. Đường là để đi, nghĩa là đường sẽ dẫn đến nơi nào đó, nên đường không bao giờ là nơi cư trú, mà là để dẫn đến nơi cư trú. Do đó, người nào dùng đường làm nơi cư trú thì chẳng bao giờ đến nơi cư trú của mình. Vì vậy, chúng ta phải xác định với lòng mình rằng : Cuộc sống hôm nay ở trần gian là đường đưa đến một quê hương khác. Nếu cuộc sống hôm nay không phải là cùng đích, mà chúng ta lại chọn làm nơi cư trú, tức là chúng ta không lên đường đến nơi chúng ta phải đến. Sống ở đời, ai cũng phải lên đường. Đời là cõi rộng mênh mông. Sống là đi. Nhưng đi về chốn nào? Trong cõi rộng mênh mông ấy, đâu là đường?
Bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã trả lời cho chúng ta biết : “Ta là Đường, Là Sự Thậ và là Sự Sống”.Nghĩa là đường của cuộc đời chúng ta đi là Chúa, những gì chúng ta đang thiếu thốn và lo âu đều liên quan đến hạnh phúc của chúng ta. Khi Chúa nói Chúa là Sự Sống, có nghĩa là Chúa là hạnh phúc chúng ta đang túng thiếu. Khi Chúa nói Chúa là Đường, có nghĩa là để dẫn chúng ta tới hạnh phúc đó. Như vậy, Chúa là cùng đích và cũng là phương tiện dẫn tới cùng đích. Chúa là hạnh phúc và cũng là đường dẫn tới hạnh phúc. Chúa là con đường duy nhất, nhưng mỗi người chúng ta lại đi trên đường theo cách riêng của mình, hay mỗi người chúng ta lại có riêng đường đời của mình, nghĩa là mỗi người có một cuộc sống riêng, nên không đường của ai giống đường của ai, và vì thế nỗi lòng của mỗi người cũng khác nhau. Quả thực, trên đường đi, chúng ta đã thấy có nhiều quán trọ. Có quán cho chúng ta bóng mát. Có quán bảo chúng ta đừng đi. Mệt nhọc làm chúng ta dừng nghỉ. Chống đối, hiểu lầm, ghen tị, kết án làm chúng ta muốn bỏ cuộc. Và dường như nếu chúng ta càng dừng nghỉ thì chúng ta càng ngại đi. Nếu chúng ta càng làm quen với lười biếng thì chúng ta càng ngại ngùng trở về con đường mà Chúa muốn chúng ta sống. Rồi, đường đi cứ thế mà chậm thêm.
Rồi cũng trên đường đi, sao có nhiều quãng thật xấu, gồ ghề như quãng đường Chúa đi xưa. Hình ảnh đồi Sọ làm chúng ta tính toán, lưỡng lự. Có những quãng đường sao mà tối tăm làm chúng ta hồ nghi không biết có phải là đường thật không? Đây là lúc chúng ta phân vân không biết thánh ý Chúa ở đâu. Và cũng là lúc chúng ta bị cám dỗ nghi ngờ đủ thứ. Nên Chúa đã dặn :”Đường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi”. Và những lúc như thế chúng ta vẫn nghe tiếng Chúa khuyến khích : Cứ đi đi, tuy khó khăn nhưng hứa hẹn cuối con đường là hạnh phúc. Chúa đang đợi chờ ở đó.
Đó là chân lý toàn diện chúng ta phải tìm kiếm và mua cho bằng được. Trần gian có sóng gió, đường về có dài lâu, cạm bẫy có giăng đầy, nhưng có Chúa, cùng với thiện chí của chúng ta, thì khó khăn mấy cũng vượt qua, đường dài mấy cũng phải tới, cạm bẫy thế nào cũng chẳng hề hấn gì. Cầu chúc ông bà anh chị em biết tuân nghe lời Chúa, cùng đi con đường hẹp, để rồi chúng ta sẽ lại gặp nhau ở cõi sống hạnh phúc.

 

PS5-A5: STM/111- CHÚC THƯ

Chắc chắn rằng nhiều người trong chúng ta còn nhớ rõ chuyện vui đã đọc được từ nhỏ về những: PS5-A5

Chắc chắn rằng nhiều người trong chúng ta còn nhớ rõ chuyện vui đã đọc được từ nhỏ về những người mù đi xem voi, xem xong họ kể lại và bênh vực lập trường riêng của mình về con voi như thế nào. Những người đứng bên cạnh sờ vào lưng con voi thì nhất định bảo nó giống như một bức tường. Anh mù sờ vào ngà voi thì cho con voi giống như một ngọn đao nhọn. Người sờ vào răng voi thì bảo con voi giống như một thanh kiếm ngắn. Người sờ vào chân thì bảo con voi giống như một cây cột nhà. Người sờ vào lỗ tai thì quả quyết con voi giống như cái quạt mo.
Chúng ta có thể nói rằng, không ai nói đúng trọn vẹn về con voi và ngược lại không ai có thể nói là sai hoàn toàn, mỗi anh mù đều bị giới hạn và chỉ mô tả con voi dựa theo kinh nghiệm riêng của bản thân, không thể nào nhìn thấy được trọn vẹn con voi như thế nào.
Khoảng cách giữa con người chúng ta và thực tại mầu nhiệm Thiên Chúa là hết sức trổi vượt biết bao nhiêu ngàn lần khoảng cách giữa con voi và người nó, nếu chúng ta muốn biết về Thiên Chúa như thế nào mà chỉ cậy dựa vào khả năng riêng của con người phàm trần, chắc chắn những gì chúng ta hiểu biết và nói về Thiên Chúa thì không biết bao nhiêu lần tệ hơn những lời mô tả của những anh mù xem voi. Chúng ta khao khát hướng về Thiên Chúa, muốn hiểu biết về Ngài vì chúng ta đã được tạo dựng giống hình ảnh Ngài, nhưng tự sức mình chúng ta không thể thỏa mãn được khát vọng sâu xa này, chúng ta cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta cần đến mạc khải của Thiên Chúa, chúng ta cần chính Thiên Chúa đến chỉ đường mạc khải cho chúng ta biết về Ngài, chỉ cho chúng ta biết con đường trở về với Ngài :”Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, chỉ Con Một Ngài Đấng hằng ở cùng Thiên Chúa”, chỉ Con Một Ngài mới có thể mạc khải cho chúng ta biết chắc chắn mà thôi.
Trong bài Phúc âm hôm nay, chúng ta được dịp nghe lại những lời quả quyết hết sức quan trọng của Chúa Giêsu :”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy, và ai nhìn thấy Thầy là nhìn thấy Cha Thầy, nếu các con biết Thầy thì cũng biết Cha”. Thiên Chúa đã Nhập thể, đã chấp nhận cuộc sống con người, đã dùng những hình ảnh con người, đã sử dụng những ngôn ngữ của con người có giới hạn để mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa Cha là ai và con đường nào phải đi để trở về với Ngài mà không bị lạc lối.
Chúa Giêsu Kitô đã trở thành hình ảnh của Thiên Chúa Cha cho tất cả mọi người chúng ta, Ngài đã đến để mạc khải sự thật của Thiên Chúa Cha cho chúng ta, và Ngài đến để hướng dẫn chúng ta để đưa chúng ta trở về cùng Thiên Chúa Cha, trở về với Ngài vì Ngài hằng ở cùng Cha và Ngài cũng muốn cho mỗi người chúng ta đến xin trở thành hình ảnh của Ngài cho anh em xung quanh. Chúng ta có hãnh diện về hồng ân Chúa ban cho và đồng thời khiêm tốn ý thức về trách nhiệm của mình, của mỗi người chúng ta để trở thành hình ảnh Thiên Chúa cho anh em xung quanh, trở thành có thể nói được là con đường để anh em đi về cùng Thiên Chúa, để trở thành lời mời gọi anh em trở về với Thiên Chúa.
Xin Chúa hướng dẫn và biến đổi mỗi người chúng ta mỗi ngày một trở nên hình ảnh đích thực của Thiên Chúa nhiều hơn, để giúp nhau sống đức tin về Chúa, đức tin mà chúng ta đã tuyên xưng.

 

PS5-A6: PVCNVLT/228- NIỀM TIN

Trong suốt bữa tiệc ly, khi Đức Giêsu bắt đầu nói về cái chết của Người, thì các tông đồ liền: PS5-A6

Trong suốt bữa tiệc ly, khi Đức Giêsu bắt đầu nói về cái chết của Người, thì các tông đồ liền bị rơi vào trạng thái khủng hoảng. Khi nghe tin này, tâm hồn họ xao xuyến và ngập tràn nỗi sợ hãi. Nhận biết lòng tin của các tông đồ sẽ bị thử thách nặng nề, nên Đức Giêsu đã cố gắng chuẩn bị cho họ đối đầu với cuộc thử thách này. Người nói với các ông :”Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, và cũng hãy tin tưởng vào Ta”. Bởi vì các tông đồ đã tin tưởng, nên Đức Giêsu nói với họ “Anh em phải bước đi trong niềm tin tưởng vào Thiên Chúa và vào Ta”.
Trong những lúc bị đau khổ và khủng hoảng, người ta hay nghĩ rằng Thiên Chúa ruồng bỏ họ. Nhưng Đức Giêsu đã trấn an các tông đồ rằng, mặc dù rời xa họ, nhưng Người không hề bỏ rơi họ. Nói đúng hơn, Người đang chuẩn bị một mái nhà cho họ, và sẽ trở lại đón họ vào nhà đó. Do đó, bất chấp điều gì diễn ra, bất chấp những khó khăn có thể xảy đến (và họ gặp nhiều khó khăn), họ vẫn phải tiến bước trong niềm tin tưởng, trong sự tín nhiệm vào Đức Giêsu và vào Chúa Cha. Đó là tất cả những điều họ phải làm. Tiến lên trong niềm tin tưởng, tiến lên trong sự tín nhiệm. Nói thì dễ hơn làm.
Nhưng khi gặp khủng hoảng, điều duy nhất mà chúng ta có thể làm là : Bước đi trong sự kiên quyết tín nhiệm nơi Thiên Chúa. Sự tín nhiệm là một điều vĩ đại nhất mà chúng ta có thể đem đến cho người khác. Vào thời điểm đó, chúng ta phải tin tưởng rằng bằng cách này hay bằng cách khác, mọi sự vẫn có mục đích của nó, và trong cảnh tối tăm, một tia sáng le lói sẽ xuất hiện.Lòng tin đích thực trấn an chúng ta rằng Thiên Chúa luôn ở với chúng ta trong lúc bị khủng hoảng. Chính cảm giác đó, chính niềm tin tưởng rằng chúng ta không bị cô đơn, không bị bỏ rơi, đem lại khả năng giúp chúng ta vượt qua cơn khủng hoảng.Nếu không có Thiên Chúa, chúng ta không thể hiểu nổi, và không thể chịu đựng nổi cuộc sống. Đó là lý do tại sao lòng tin vô cùng quan trọng. Khi Charlie Lansboro, một ca sĩ người Anh, trở thành người Công giáo, anh đã nói :”Tôi hoàn toàn tin tưởng. Tôi không thể tưởng tượng cuộc sống của tôi sẽ ra sao, nếu không có đức tin. Nhưng tôi phải mất nhiều thời gian, mới có được lòng tin này”.
Những ai có đức tin đều có được nguồn an ủi và niềm cảm hứng, đặc biệt khi gặp cảnh bối rối. Họ nhận biết rằng Thiên Chúa sẽ cư xử nhân hậu với họ cho đến tận cùng, cả trong thế giới này, lẫn trong thế giới mai sau. Không phải chúng ta giữ lấy đức tin, mà chính đức tin gìn giữ chúng ta.
“Người nào dù chỉ có đôi chút lòng tin nơi Thiên Chúa mà thôi, sẽ không bao giờ bị mất niềm hy vọng, bởi vì người đó tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng của chân lý”
Như vậy, khi sự việc trở nên tồi tệ, chúng ta hãy lắng nghe những lời êm dịu của Đức Giêsu “Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa, và cũng hãy tin tưởng vào Ta”.

 

PS5-A7: PVCNVLT/230- MÁI NHÀ

Thật không thể nào cường điệu về tầm quan trọng của mái nhà. Có một lần tôi được nghe một: PS5-A7

Thật không thể nào cường điệu về tầm quan trọng của mái nhà. Có một lần tôi được nghe một quản giáo trại tù nói “Nếu bạn cho các tù nhân được quyền chọn lựa giữa việc trở về nhà, và ở lại trại giam, mà được cho ăn mặc sang trọng, có đầy đủ tivi màu, phòng tắm hơi, phòng uống rượu… thì sẽ không có một tù nhân nào không chọn lựa cách trở về nhà”.
Khi mọi sự đều thất bại, khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi và cô đơn, thì chúng ta luôn luôn có một mái nhà để trở về, và có rất nhiều trường hợp, chúng ta đã được người ta nói, hoặc chính chúng ta nói những câu này :”Chúng ta hãy trở về nhà”. “Tôi muốn trở về nhà”. Mái nhà là một nơi chúng ta được an toàn. Mái nhà là một nơi của sự hiệp thông. Nếu bạn nhận biết rằng mình đang trên đường trở về nhà, thì không bao giờ bạn cảm thấy cuộc hành trình quá lâu dài hoặc quá khó khăn nữa. Chúng ta phải đi ra thế giới bên ngoài, thì mới nhận biết được mái nhà của mình đáng yêu ra sao. Bạn hãy thử tưởng tượng xem, nếu không có nhà để trở về, thì sẽ ra sao?
Nelson Mandela đã kể lại trong suốt những năm dài bị giam hãm tại đảo Robben, ông bị một cơn ác mộng lập đi lập lại ra sao. Ông nói :”Trong một giấc mơ, tôi mơ thấy mình được phóng thích khỏi nhà tù – chỉ có điều đó không phải là đảo Robben, nhưng là một nhà tù ở Johannesburg. Tôi bước ra bên ngoài cổng, rồi đi vào thành phố, và nhận ra là không có ai gặp tôi. Trên thực tế, ở đó không hề có ai, không một người nào, không có xe hơi, không có taxi. Rồi tôi đi bộ đến Soweto. Tôi đi bộ trong nhiều giờ, trước khi tới phía tây Orlando, và sau đó, tôi quẹo về hướng nhà số 8115. Cuối cùng, tôi nhìn thấy căn nhà của tôi, nhưng đó là một căn nhà trống rỗng, một căn nhà ma quái, với tất cả các cửa ra vào và cửa sổ đều mở toang, nhưng không hề có ai ở trong đó cả”.
Có một mái nhà, không nhất thiết mang ý nghĩa là phải có một căn nhà. Mà là phải có hàng loạt những mối dây ràng buộc thân thiết, với những người biết chấp nhận chúng ta vì chính con người của chúng ta, và tạo cho chúng ta cảm giác được thuộc về người đó. Nhưng bất kể tất cả những tòa cao ốc mà chúng ta đã dựng lên, và những gốc rễ mà chúng ta đã tạo ra, thì nơi đây, trên trái đất này, chúng ta vẫn không hề có được một mái nhà lâu bền. Như thánh Phaolô nói, tất cả những gì chúng ta có, chỉ là một thứ lều tạm bợ. Khi chúng ta chết đi, thì căn lều đó sẽ được gấp lại.
Do đó, chúng ta cần có một mái nhà, không chỉ ở trên trái đat này. Sau khi cái chết đã vén mở bức màn cuộc sống, chúng ta cũng cần phải có một mái nhà để trở về. Nếu không có một cuộc sống mới, ở trong một mái nhà khác, thì hành trình cuộc đời của chúng ta sẽ không đi đến đâu cả.
Trong suốt Bữa Tiệc ly, Đức Giêsu bắt đầu nói với các tông đồ về sự kiện Người sắp rời xa họ. Khi nghe biết tin đó, lòng các ông tràn ngập đau khổ. Nhưng Người đã an ủi họ bằng những lời sau đây, chắc chắn được coi là những lời nói đầy yêu thương nhất trong Tin mừng “Trong nhà của Cha Ta có nhiều chỗ. Ta sắp sửa đến đó để chuẩn bị chỗ cho anh em. Ta sẽ trở lại để đón anh em đi với Ta; sao cho Ta ở đâu, thì anh em cũng sẽ được ở đó”. Điều này có nghĩa là chúng ta có một mái nhà vĩnh cửu để trở về, là nhà của Chúa Cha.
Đối với một đứa trẻ, mái nhà không hẳn là một nơi trú ngụ, cho bằng là một tương quan của yêu thương và tin tưởng. Một đứa trẻ có thể đi khắp mọi nơi, mà vẫn không hề cảm thấy mình không có nhà, miễn là có cha mẹ của bé cùng ở đó. Đây cũng là cảm giác của những người có tương quan thân thiết với Thiên Chúa.
Chúng ta trải qua cuộc sống của mình trong sự tìm kiếm Thiên Chúa, và dò dẫm lối đi của mình hướng về Người. Chết đi có nghĩa là tìm được Thiên Chúa, gặp gỡ Người, nhìn thấy Người.
Chết đi có nghĩa là trở về với Thiên Chúa, và trở về với Thiên Chúa nghĩa là trở về mái nhà của mình.

 

PS5-A8: PVCNVLT/233- TRỞ VỀ

Một lần kia, trên một bãi biển cách Dublin khoảng 40 dặm về phía Đông Nam, tôi nhìn thấy: PS5-A8

Một lần kia, trên một bãi biển cách Dublin khoảng 40 dặm về phía Đông Nam, tôi nhìn thấy một người đàn ông lấy ra từ trong thùng xe của mình một cái sọt đựng chim bồ câu nuôi. Sau đó, ông ta mở sọt, và phóng thích chim. Chúng bay thẳng lên không trung. Tuy nhiên, thay vì quay đầu trực chỉ về hướng Dublin, là nơi ở của chúng, những con chim bồ câu lại cứ bay lòng vòng chung quanh chúng tôi. Chúng cứ thế vòng tới vòng lui. Đối với những người không hiểu điều gì sắp xảy ra, thì sự kiện này có vẻ như là ngớ ngẩn và mất thì giờ. Nhưng rõ ràng là những con chim bồ câu này đang tìm kiếm phương hướng của chúng. Một khi đã định hướng rồi, thì chúng ta sẽ bắt đầu lên đường trở về nơi ở của chúng. Ở nhiều loài chim, bản năng xác định được nơi trú ngụ là một điều kỳ lạ. Đối với một số loài, dường như đó là một bản năng gắn liền với chúng. Đối với những loài khác, chẳng hạn như chim bồ câu, thì chúng phải được huấn luyện. Yêu cầu cơ bản của việc huấn luyện là giữ cho chúng được sức khỏe tốt sao cho chúng có thể duy trì được khả năng bay. Sương mù, tuyết, mưa, và những luồng gió thổi ngược là các trở ngại mà chúng phải vượt qua.
Chúng ta cũng phải có một bản năng trở về nơi trú ngụ. Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên chúng ta vì chính Người, đã không để mặc chúng ta không có phương hướng. Người đặt để nơi chúng ta một bản năng về quê hương. Đây là một điều rất tế nhị và mỏng giòn, bởi vì Thiên Chúa sẽ không bao giờ tước đoạt sự tự do của chúng ta. Bản năng này mang hình thức thao thức và không hài lòng. Sự thao thức, không hài lòng, khát vọng này không phải là tai họa, mà là một sự chúc lành.
Bản năng xác định nơi trú ngụ không cứu thoát loài chim khỏi nhu cầu phải đấu tranh chống lại mưa gió, tương tự như vậy, đức tin không hề che chở chúng ta khỏi những va chạm đầy khó khăn của cuộc đời và cái chết. Nhưng điều mà bản năng đó đem lại cho chúng ta, đó là biết cách xác định phương hướng. Bản năng này đem đến cho chúng ta khả năng sống trong thế giới, mà không đánh mất hoặc đầu hàng sự thất vọng. Bản năng này trấn an chúng ta rằng chúng ta có một mái nhà để trở về, và chỉ cho chúng ta phương hướng, để trở về mái nhà đó.
Trong suốt Bữa Tiệc Ly, khi Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng Người sắp sửa rời xa họ, các ông đều đau khổ sâu xa. Nhưng Người đã an ủi họ bằng những lời sau đây, chắc chắn được coi là những lời nói đầy yêu thương nhất trong Tin mừng “Trong nhà của Cha Ta có nhiều chỗ. Ta sắp sửa đến đó để chuẩn bị chỗ cho anh em. Ta sẽ trở lại để đón anh em đi với Ta; sao Ta ở đâu, thì anh em cũng sẽ được ở đó”.
Điều này có nghĩa là chúng ta có một mái nhà vĩnh cửu để trở về, nơi đó chúng ta sẽ được thỏa mãn tất cả những hy vọng của mình. Nhưng vẫn còn có vấn đề là phải làm sao để đi đến đó.
Nếu bạn đang ở trong một thành phố xa lạ, và hỏi thăm đường đi, thì người ta có thể nói là “Bạn hãy đi thẳng, cho đến khi đến một chốt đèn giao thông. Quẹo phải ngay chỗ ngọn đèn đó…” Đôi khi, cách chỉ dẫn quá phức tạp, đến nỗi bạn không thể nhớ được. Nhưng có thể bạn may mắn, khi gặp một người tử tế, người đó nói với bạn “Thật khó giải thích. Bạn cứ đi theo tôi, và tôi sẽ cho bạn đường đi”.
Con đường đến với Thiên Chúa gây trở ngại và bối rối cho nhiều người. Một số người đã quá bị bối rối, đến độ mất cả niềm hy vọng; một số người khác bị lạc mất phương hướng. Khi thánh Tôma hỏi Đức Giêsu “Xin Thầy chỉ cho chúng con thấy Cha”, thì Đức Giêsu đã không đưa ra nhiều phương hướng phức tạp. Thay vào đó, Người nói “Ta là Đường”. Thật vậy, Người còn nói “Hãy theo Ta, và Ta sẽ chỉ cho anh em biết đường đi”.
Trong khi chờ đợi, với Giáo Hội, chúng ta có một mái nhà thiêng liêng, được xây dựng trên nền đá tảng của Đức kitô (xem bài đọc 2). Ở đây, chúng ta có những anh chị em cùng đồng hành với chúng ta, trên cuộc hành trình tiến về mái nhà này, đó là quê hương nước trời.
Một người phụ nữ đang trở về Ailen cùng với chồng bà, sau ba năm sinh sống ở Úc. Khi gần đến nước Anh, bà đã gọi điện thoại cho mẹ của bà ở Dublin, bà cụ này sẵn sàng đón bà ngay tại tàu ở Dun Laoghaire. Bà đã nói với mẹ “Mẹ sẽ dễ dàng nhận ra con thôi. Con sẽ mặc một cái áo khoác màu đỏ tươi”. Khi nghe đến đó, bà mẹ nói “Con đừng ngớ ngẩn. Thế con nghĩ rằng mẹ sẽ không nhận ra con gái của mẹ sao?”.
Chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa. Bạn có nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ không nhận ra chúng ta, khi chúng ta trở về mái nhà của Người, sau hành trình cuộc đời không?.
“Chỉ những người nào bay về mái nhà của Thiên Chúa, mới có thể bay bổng được”.

 

PS5-A9: Suy Niệm của Lm. VIKINI: NHÀ CHA THẦY

Trong những ngày lễ lớn, người ta thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đến nhà thờ. Họ: PS5-A9

Trong những ngày lễ lớn, người ta thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đến nhà thờ. Họ thuộc mọi thành phần : già trẻ lớn bé, không phân biệt giai cấp, chủng tộc. Họ đến nhà thờ từ muôn nẻo đường : từ xa lộ tối tân trong những nơi phồn hoa đô thị, đến những con đường mòn sỏi đá, gập ghềnh, quanh co, chạy qua những thung lũng, núi đồi hay trên những lối đi thôn dã lầy lội trơn trượt. Dù đi trên những con đường khác nhau cũng đều dẫn tới con đường duy nhất là con đường Giêsu, để về nhà Chúa Cha.
“Nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”, nhà Cha Thầy rộng lớn không biên giới, được xây trên đá tảng kiên cố, bền vững là chính Đức Giêsu Kitô Phục sinh (1Pr. 2, 4). Nhà Cha Thầy không phải là nhà Davit, không ai được chiếm hữu cho một dòng họ sang trọng nào, cho một dân riêng nào. Nhà Cha Thầy rộng mở cho mọi tầng lớp nhân dân, cho mọi dân tộc, không phân biệt giầu nghèo, sang hèn, nô lệ hay tự do, khỏe mạnh hay tàng tật. Nhà Cha Thầy không thu hẹp vào phần đất nào, ranh giới nào, dù Samari hay Giuđa, Do thái hay Hy lạp. Nhà Cha Thầy rộng dài, cao sâu, lan tràn mọi lãnh thổ, thấm tận vào lòng mọi dân tộc.
Xưa Giêrôbôam và Rôbôam đã chia rẽ nhau thống trị nhà Israel và Giuđa, chúng đã lợi dụng Thiên Chúa để củng cố ngai vàng của mình, Thiên Chúa đã phán với Giêrôbôam : “Này tế đàn của ngươi sẽ vỡ tan tành, tàn tro tế lễ của ngươi sẽ đổ xuống (1V. 13, 3). Phần nhà Giuđa, sau này Đức Giêsu cũng phải khóc thương Giêrusalem vì “đã biến nhà Cha Thầy thành chợ búa, hang trộm cướp để trục lợi” (Ga. 2, 16 ; Lc. 19, 39-46 và 21, 5).
Con người lúc nào cũng mang đầy tham vọng, lợi dụng nhà Cha Thầy để mưu cầu danh vọng cá nhân, dòng họ, xứ sở, địa phương mình. Vì thế “những kiến trúc vĩ đại hào nhoáng của loài người sẽ bị thay thế” (Mc. 13, 1-4). Đức Giêsu sẽ xây lại một Đền thờ mới cho Cha Người, đó là chính thân thể Người từ cõi chết sống lại (Ga. 2, 19-22). Từ Đền thờ mới này Êgiêkiel đã được thị kiến : “Tôi đã thấy nước từ bên phải Đền thờ chảy ra, và nước ấy chảy đến những ai thì tất cả đều được sạch và được sống” (Êz. 47, 8-9). Đó chính là “trời mới, đất mới, Giêrusalem mới, là nhà Thiên Chúa ở với dân Người, Người là Thiên Chúa ở cùng họ. Người sẽ lau sạch nước mắt chúng sinh. Chết sẽ không còn nữa, phiền muộn, kêu gào, khổ nhọc sẽ không có nữa, vì điều cũ đã qua rồi (Kh. 21, 3-4).
Nhà Cha Thầy cũng là đền thờ Chúa Thánh Thần dược xây bằng những viên đá sống động do chính Thiên Chúa tuyển chọn, là những người tin Đức Kitô. Người làm cho họ thành một dân thánh, dân tư tế dâng lên những lễ vật đẹp lòng Cha và đi loan truyền công trình vĩ đại của Cha Thầy (Bài đọc II).
Vậy nhà Cha Thầy vừa là Đền thờ sống động của Thánh Thần vừa là Thân thể Phục sinh vinh quang của Thầy có những chi thể được gắn bó, được sống lại với Thầy, vừa là trời mới đất mới của Cha Thầy ngự trị. Cho nên con đường về nhà Cha Thầy cũng chính là Thầy : “Thầy là Đường”, đường dẫn về nhà Cha Thầy, vì “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”.
Lạy Cha, Cha đã thương yêu chúng con quá bội, đã cho Con Cha là đường dẫn tới Cha, đã cử Con Cha là kiến trúc sư xây dựng nhà Cha cho chúng con, đã trao mọi quyền năng cho Con Cha, để Người dọn chỗ cho chúng con, để Người đem chúng con về với Cha hằng sống, trong tình thương yêu chúng con muôn đời.

 

PS5-A10: Suy Niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...
Bài Tin Mừng chứa hai mặc khải :
 

Chúa Giêsu là đường : Trong khung cảnh bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đang nói cho các môn đệ những: PS5-A10

1. Chúa Giêsu là đường : Trong khung cảnh bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đang nói cho các môn đệ những lời rất thân tình, tha thiết. Ngài báo cho họ biết Ngài sẽ ra đi, đi đến một nơi mà họ rất lạ. Nhưng Ngài hứa sẽ trở lại đón họ để cũng đưa họ đến nơi đó. Ông Tôma tò mò hỏi “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi ?” Chúa Giêsu đáp : “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. Nghĩa là : mục tiêu cuộc hành trình của mọi người là về với Thiên Chúa là Cha ; Chúa Giêsu chính là người dẫn đường, hơn nữa Ngài chính là con đường dẫn ta đến đó.
2. Chúa Giêsu là mặc khải của Chúa Cha : Philipphê xin : “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha, và như thế là đủ cho chúng con”. Chúa Giêsu đáp : “Ai Thấy Thầy là xem thấy Cha”
B. ... nẩy mầm.
1. “Sinh ký, tử quy”, sống là gởi, chết là về. Đời này không phải là quê hương mà chỉ là nơi chúng ta gởi thân trong một khoảng thời gian nào đó. Khi chết, chúng ta sẽ về quê hương thật. Đó là chân lý. Nhưng nhiều người quên hẳn chân lý đó, họ sống ở trần gian như là đang ở quê hương vĩnh viễn, không hề nghĩ tới lúc phải rời bỏ cái “ký túc xá” này, không hề nghĩ tới nơi mình sẽ về.
2. Một người nói chuyện với bạn là một Kitô-hữu già cả : “Tôi sợ rằng anh gần đất xa trời rồi !” Người kia nhẹ nhàng đáp : “Tôi biết chứ, nhưng nhân danh Chúa, tôi không sợ, mà tôi còn đặt hi vọng vào đó.” (Góp nhặt)
3. Sống là hành trình. Mà hành trình thì phải hướng đến một điểm tới. Trong cuộc hành trình tới một nơi tôi chưa từng biết, nếu tôi tự hướng dẫn thì dễ lạc đường ; tôi đi theo sự hướng dẫn của người khác thì có thể khá hơn ; nhưng không gì bảo đảm bằng hành trình theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu : “Không ai lên trời được ngoại trừ Con Người Đấng đã từ trời xuống” (Ga 1,13)
4. Lạy Chúa, nhiều khi con lo lắng về tương lai, không biết đời con sẽ về đâu. Chúa bảo “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Tương lai, hãy để Chúa dẫn dắt. Chúa dẫn con dần đến cái chết, không, đúng hơn là Chúa dẫn con ngày càng tới gần với Chúa Cha. Chúa dạy con hằng ngày sống như Con của Cha và như anh em của mọi người. Đó là con đường mà nếu con đi thì chắc chắn con sẽ đến Nhà Cha trên trời.
5. Một Kitô-hữu già cả sắp chết. Một người đến nói  :
- Con đọc cho cụ nghe một câu Thánh Kinh ngọt ngào nhất nhé  !
- Vâng.
- “Trong nhà Cha có nhiều chỗ... Ta đi dọn chỗ cho các con”
- Không, đó không phải là câu ngọt ngào nhất. Đọc tiếp đi
- "...Ta sẽ trở lại để Ta ở đâu các con cũng ở đó với Ta"
- Đó mới là câu ngọt ngào nhất. Điều tôi cần, không phải là một chỗ, mà là chính Chúa. (Góp nhặt)
6. Được biết Thiên Chúa và được thấy Ngài, đó là ước muốn rất chính đáng và rất sâu xa của mọi tín hữu. Chúa Giêsu đáp ứng ước vọng đó : “Ai Thấy Thầy là xem thấy Cha”. Nhìn Chúa Giêsu, ta có thể biết Chúa Cha như thế nào : nhân từ, hiền hậu, gần gũi với những người đau khổ, khoan dung với kẻ tội lỗi... Thiên Chúa mà chúng ta thờ là như thế đó.
7. “Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha”. Chúa Giêsu nói tới sức mạnh và năng lực kỳ diệu Ngài sẽ ban cho kẻ tin vào Ngài. Các vị Thánh đã tin và đã làm được những phép lạ như Chúa Giêsu. Tôi có tin không ?
8. “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy. Chính Người làm những việc của mình” (Ga 14,10)
Có một vị ẩn sĩ sống rất khiêm tốn và khó nghèo. Ngày kia, một thiên thần đến nói với Ngài : “Chúa sai tôi đến gặp ngài, ngài có thể xin bất cứ điều gì ngài muốn. Vậy, ngài có muốn được ơn chữa bệnh không ?” Vị ẩn sĩ trả lời : “Không thà để chính Chúa chữa trị thì tốt hơn”. Thiên thần lại đề nghị : “Hay ngài có muốn trở thành mẫu gương để người khác nhìn vào mà sống tốt hơn không ?” . Ẩn sĩ khiêm tốn nói : “Không, bởi như thế, tôi sẽ trở thành trung tâm của sự chú ý”
Cuối cùng thiên thần nói : “Ít nhất ngài nên xin một điều gì đó, vì Chúa muốn thế”
- “Vâng, tôi xin điều này : xin cho mọi việc thiện được thực hiện qua tôi mà tôi không hề hay biết”. Thế là lời ước của ẩn sĩ thành sự thật, Thiên Chúa ban cho cái bóng của ngài có được mọi thứ quyền năng. Nơi nào có bóng ngài đi qua người bệnh được khỏi, niềm vui thay cho sầu khổ và đất đai trở nên phì nhiêu. Nhưng ẩn sĩ không hề hay biết điều đó, vì dân chúng chỉ chú ý tới cái bóng đến độ quên hẳn ngài.
Xin cho biết sống như Thánh Gioan Tẩy Giả “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”. (Epphata)

 

PS5-A11: NẺO ĐƯỜNG ĐÍCH THẬT

Suy Niệm của Lm. Bùi Quang Tuấn, CSsR:
"Đường, Sự Thật, và Sự Sống chính là Ta. Không ai đến được với Cha mà không nhờ Ta" (Gn 14:6).
 

Bước vào trần gian để được sống kiếp con người không ai lại không khát khao và tìm kiếm: PS5-A11

Bước vào trần gian để được sống kiếp con người không ai lại không khát khao và tìm kiếm hạnh phúc. Không một lãnh tụ của đất nước nào lại không đoan quyết với nhân dân những đường lối hấp dẫn, có thể đưa họ đến với chân trời hạnh phúc. Không một chính khách hay nhà đầu tư nào lại không hứa hẹn những tương lai rực sáng cho niềm khát mong nền tảng của con người là hạnh phúc. Thế nhưng trả lời cho thật đúng câu hỏi "hạnh phúc là gì" và "đi tìm hạnh phúc nơi đâu" lại không phải là một chuyện dễ dàng?
Đối với quan niệm của nhiều người, hạnh phúc là khi có việc làm ngon lành vững chắc, hạnh phúc là có vợ đẹp con khôn, hạnh phúc là tiền bạc đầy túi, hay danh vọng quyền lực đầy mình, ăn chơi thoải mái. Thế rồi điều người ta có hứa hẹn hay kiếm tìm không gì khác hơn là làm sao cho đời mình có nhiều danh vọng, quyền lực, tiền bạc, của cải, sắc đẹp.... Cứ càng nhiều càng tốt. Càng nhiều càng thấy "hạnh phúc."
Từ quan điểm đó con người cũng sẽ dễ đi đến kết luận: ai bị nghèo túng, đau buồn, đói khổ, yếu đuối, chèn ép là bất hạnh, vô phúc.
Ấy thế mà trong Hiến Chương Nước Trời, bài giảng đầu tiên của cuộc sống công khai, Đức Giêsu lại công bố một sứ điệp hoàn toàn mới và đầy vẻ nghịch lý: phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó; phúc cho những ai đau buồn; phúc cho những ai đói khát; phúc cho những ai sống trong sạch; phúc cho những ai bị bách hại, đánh đập, khủng bố vì sự công chính.
Trong số báo Time đầu năm 2002 có nói đến Cliff Baxter, một nhân vật cao cấp trong tổ hợp kinh tài năng lượng Enron, người đang có trong nhà băng hàng triệu đôla, đang có vợ đẹp con khôn, đang có căn nhà đáng nhà 700 ngàn, thế mà tuần trước Baxter đã lái chiếc xe Mercedes mới mua 80 ngàn đôla của mình đến một con đường nhỏ, rút súng bắn vào đầu một phát để kết thúc cuộc sống mà có lẽ anh cho là không hạnh phúc bằng cái chết.
Cứ tưởng vừa giàu có sang trọng vừa được nhiều người mến mộ thì hạnh phúc lắm. Thành ra quan niệm về hạnh phúc của con người không có gì là bảo đảm chắc chắn hết.
Vậy cái gì có thể bảo đảm mang hạnh phúc cho tôi đây? Nghèo khổ, đói khát, thương đau à?
Xin thưa: Cội nguồn mang lại hạnh phúc đích thực và vững chắc cho con người chính là Thiên Chúa, và là Thiên Chúa hiện thân trong Đức Kitô. Cốt lõi của hạnh phúc không phải là cái nghèo, đói khát, khổ đau, nhưng là Nước Trời, là Thiên Chúa. Kinh Thánh nói rõ lắm: Phúc cho người có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ; phúc cho ai hiền lành vì họ sẽ được Nước Chúa làm cơ nghiệp; phúc cho ai trong sạch vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa; phúc cho ai ăn ở thuận hoà vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa...
Phải là như thế, chứ nghèo khổ hay đói khát mấy mà không có Chúa, không có Nước Trời thì đó là hoả ngục chứ phúc gì! Cho nên cần phải hiểu cho đúng giá trị của nẻo đường dẫn đến Thiên Chúa. Người nghèo khổ, đói khát, ưu phiền, trong sạch, chịu bắt bớ được gọi là có phúc vì họ rất gần Chúa, rất dễ gặp được Chúa, bởi vì Chúa đã đến trong thân phận giống như họ.
Chúa Giêsu đã đến trong thân phận của một người nghèo, và rất nghèo. Sinh ra trong chuồng súc vật, sống không có nơi gối đầu, chết trần truồng trên thập giá.
Chúa Giêsu không những nghèo mà Ngài còn hiền lành, khiêm nhường. Hiền lành khiêm nhường đến nỗi không có hạng người thấp kém hay tội lỗi đến đâu mà Ngài không tiếp nhận, ủi an, và thương xót.
Chúa Giêsu còn là một con chiên tinh tuyền, trong sạch, chịu hành hạ, bắt bớ, và chịu chết để mang lại niềm hy vọng hân hoan và sự sống phong phú, sâu xa, trường tồn cho con người.
Có điều là lắm khi con người chỉ đi tìm những sự sống nông cạn và nhất thời của thế gian mà quên đi những giá trị thiêng liêng và vĩnh hằng của Nước Trời mà Đức Giêsu mang đến. Phải chăng chính vì thế mà lắm người đã không cảm nhận được niềm hạnh phúc đích thực trong cuộc đời. Có những người đã tìm được rất nhiều tiền, đạt được nhiều danh vọng, trải qua biết bao nhiêu lần hưởng thụ xác thịt, nhưng vẫn cảm thấy cuộc đời hụt hẫng, trống vắng vô cùng. Tại sao? Phải chăng vì họ chưa kiếm tìm Thiên Chúa? Phải chăng vì họ chưa biết tựa nương vào nền tảng vững chắc duy nhất là Đức Giêsu, "Đấng là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống"?

 

PS5-A12: Dọn chỗ - JKN

SUY NIỆM

Câu hỏi gợi ý:

 

Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em". Câu này có ý nghĩa gì? Đức Giê-su đi đâu? Dọn chỗ là gì và: PS5-A12

1. "Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em". Câu này có ý nghĩa gì? Đức Giê-su đi đâu? Dọn chỗ là gì và dọn ở đâu?
2. "Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở", Câu này có ý nghĩa gì? Trên thiên đàng nơi sống đời đời hạnh phúc có dung nạp đủ mọi hạng người đầy tính đa dạng và khác biệt như ở trần gian không?
3. "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha". Có thể thấy Chúa Cha hay Đức Giê-su gần gũi và cụ thể nhất ở đâu?

Suy tư gợi ý:

1. "Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em" ở "trong nhà Cha Thầy"

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cho biết Ngài "đi là để dọn chỗ cho anh em" ở "trong nhà Cha Thầy". Đây là một trong những lời cáo biệt của Ngài với các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc khổ nạn và chết trên thật giá. Vì thế, chữ "đi" ở đây có nghĩa là đi vào đau khổ và cái chết. "Dọn chỗ cho anh em … trong nhà Cha Thầy" có nghĩa là chuẩn bị sự sống đời đời cho con người. Như vậy, Đức Giê-su đã dùng sự đau khổ và sự chết để chuẩn bị sự sống đời đời cho con người. Nói cách khác, nhờ đau khổ và cái chết, Ngài trở thành con đường dẫn tới sự sống đời đời.

Ngài đã phải đau khổ và chết mới có thể đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Phần chúng ta, để hưởng được sự sống đời đời ấy, chúng ta cũng phải góp một phần nào hy sinh và đau khổ của mình vào khi quyết tâm sống phù hợp với sự đòi hỏi của tình yêu. Tình yêu ở đây là tình yêu đối với Thiên Chúa được cụ thể hóa thành tình yêu đối với tha nhân. Tình yêu luôn đòi hỏi phải được chứng tỏ cụ thể bằng đau khổ và hy sinh. Không chấp nhận đau khổ và hy sinh cho ai hết có nghĩa là không yêu ai cả. Nhưng yêu cũng là … chấp nhận sự khác biệt của người mình yêu.

2. "Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở"

Đức Giê-su phải chịu đau khổ và chết không phải chỉ để cứu rỡi hay đem lại sự sống đời đời cho một mình ta, hay nhóm của ta, cộng đoàn của ta, Giáo Hội của ta, hoặc những người có cùng khuynh hướng với ta. Ngài muốn cứu tất cả mọi người, mọi khuynh hướng, mọi cộng đoàn, mọi tập thể… khác nhau. Thánh Phao-lô viết: "Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2,4). Điều đó đã được Đức Giê-su tỏ cho biết trong câu: "Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở". "Nhiều chỗ ở" có nghĩa là dung nạp được nhiều: nhiều người, nhiều chủng tộc, màu da, khuynh hướng (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm linh, tôn giáo…).

Nhìn trong thế giới tự nhiên này, ta thấy sự vật hết sức đa dạng, nghĩa là đủ loài đủ kiểu, rất khác biệt nhau. Thế giới sẽ trở nên đơn điệu và buồn tẻ biết bao nếu thiếu sự đa dạng và khác biệt ấy. Hãy thử tưởng tượng xem: nếu trên đời chỉ có một loài hoa duy nhất cho dù hết sức đẹp, hoa nào cũng giống y hệt hoa nào, thì chúng đâu thỏa mãn nhu cầu thích cái đẹp của con người như khi có hàng trăm ngàn loài hoa khác nhau như trong thế giới ta đang sống đây! Thế giới này sẽ ra sao nếu chỉ có một loài chim, một loại cá, hay tệ hơn, chỉ có một loài thú duy nhất?

Thế giới tuy đa dạng và đầy khác biệt, các loài các vật trong đó vẫn luôn luôn hài hòa, bổ túc cho nhau, ăn khớp với nhau. Nếu thế giới tự nhiên đầy bất toàn này mà còn phong phú đa dạng như thế, còn có sự hài hòa giữa những khác biệt như thế, thì sự sống đời đời hay thiên đàng, là một thực tại hoàn hảo, ắt nhiên phải phong phú, đa dạng và nhất là hài hòa hơn biết bao!

Vì thế, ngay ở đời này, chúng ta cũng cần trang bị cho mình một tinh thần sẵn sàng chấp nhận mọi khác biệt nơi những người chung quanh chúng ta. Chính Thiên Chúa đã dựng nên con người và vạn vật đầy khác biệt như thế. Vì thế, mọi thành viên của Thiên Đàng đều phải có khả năng chấp nhận khác biệt rất cao độ để sự hài hòa giữa những khác biệt ấy trở nên hoàn hảo. Điều ấy đòi hỏi họ phải có tình yêu và lòng bao dung cao độ. Nếu không có tình yêu và lòng bao dung, thiên đàng không còn là thiên đàng nữa, sự sống đời đời không còn là hạnh phúc nữa.

Nếu ta đang giận hờn ai, không muốn nhìn mặt ai, ghét cay ghét đắng ai, và chủ trương không thể sống chung với họ, không thể cùng đội chung một bầu trời với họ, v.v…, hãy tự hỏi: nếu cả hai gặp nhau trên thiên đàng, ta sẽ đối xử với người ấy thế nào? Người ấy cũng được Thiên Chúa và Đức Giê-su yêu thương, cứu chuộc, tha thứ như ta. Nếu lúc ấy ta không thể nhìn người ấy với tình yêu thương anh em, thì chính ta là người không xứng đáng ở thiên đàng. Với sự thù hận và ác cảm ấy, ta chỉ làm cho thiên đàng bị ô nhiễm và không còn là nơi hạnh phúc nữa. Ta đáng ở một nơi khác không phải là thiên đàng. Vì thiên đàng chỉ thích hợp với những con người tràn đầy yêu thương. Vậy, muốn là công dân của thiên đàng, thì ngay ở trần gian này, hãy tập yêu thương và sống hài hòa với những người khác biệt chúng ta. Muốn thế, ta phải nhìn thấy Thiên Chúa nơi tha nhân.

3. "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha"

Câu nói ấy của Đức Giê-su chắc hẳn đã làm cho các tông đồ hết sức ngạc nhiên. Thấy Đức Giê-su cũng chính là thấy Chúa Cha, vì Đức Giê-su chính là hiện thân, là hình ảnh trung thực của Chúa Cha. Người ta có thể thấy được tình yêu của Chúa Cha qua tình yêu của Đức Giê-su, thấy được vẻ đáng yêu của Chúa Cha qua sự đáng yêu của Đức Giê-su, v.v… Và một cách nào đó, Đức Giê-su cũng chính là Chúa Cha, vì cả hai cùng là một Thiên Chúa duy nhất. Các tông đồ có diễm phúc nhìn thấy Đức Giê-su, sống với Ngài, cảm nghiệm Ngài, nên cũng là nhìn thấy, sống với và cảm nghiệm chính Thiên Chúa Cha.

Còn chúng ta, chúng ta không có diễm phúc ấy. Tuy nhiên, nếu chúng ta có tình yêu và đức tin, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa hay Đức Giê-su nơi bất cứ người nào ta gặp trong cuộc đời. Cho dù người ấy là ai, thương ta hay ghét ta, làm lợi cho ta hay hại ta, thánh thiện hay tội lỗi, dễ thương hay dễ ghét, miễn họ là con người, thì họ đều là hình ảnh của Thiên Chúa với nhiều mức độ trung thực khác nhau. Đức Giê-su muốn ta yêu thương họ, bất kể họ thế nào, bất kể họ khác biệt ta đến mức độ nào, vì chính Ngài cũng yêu thương họ, muốn cứu chuộc họ, phục vụ họ. Ngài đã tự đồng hóa Ngài với họ đến nỗi ai làm gì cho họ thì cũng là làm cho chính Ngài, không làm cho họ thì cũng là không làm cho chính Ngài (x. Mt 10.40; 18,5; 25,40.45; Lc 10,16). Ngài cũng rất ước muốn được yêu thương họ bằng trái tim ta, nói với họ, an ủi họ bằng miệng lưỡi ta, và làm việc cho họ, phục vụ họ bằng đôi tay của ta. Ngài chỉ thực hiện được ước muốn đó nếu ta cho phép và hợp tác với Ngài. Vậy bạn có muốn Ngài dùng bạn như một khí cụ để yêu thương của Ngài không?

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, nhà Cha có rất nhiều chỗ có thể dung nạp được rất nhiều người với rất nhiều khuynh hướng khác biệt. Xin Cha cho tâm hồn con, lòng trí con cũng có nhiều chỗ để có thể dung nạp được tất cả mọi người là anh chị em con, với nhiều khuynh hướng, tính khí, chủ trương khác nhau. Xin cho con biết chấp nhận mọi người như họ đang là, để yêu thương họ bất chấp họ như thế nào. Xin cho con yêu thương họ giống như Cha đã yêu thương họ và đã yêu thương con. Amen.


 

PS5-A13: CHÚA LÀ ĐƯỜNG LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG

 -Lm Nguyễn Hưng Lợi
Ga 14, 1-12
 

Trước khi rời các môn đệ để về với Chúa Cha sau khi Chúa Giêsu Kitô từ trong kẻ chết Sống: PS5-A13

Trước khi rời các môn đệ để về với Chúa Cha sau khi Chúa Giêsu Kitô từ trong kẻ chết Sống lại . Ngài đã dặn dò, đã giới thiệu với các môn đệ và cho toàn thể nhân loại Ngài là Cửa chuồng chiên, ai không qua Ngài sẽ không vào được nước trời, sẽ không đạt đượcThiên Chúa . Ngài chính là hình ảnh của Chúa Cha nhân hậu, Ngài thật là Mục tử tốt lành . Hôm nay , Chúa Giêsu loan báo Ngài sẽ về với Cha của Ngài và Ngài Chính thức giới thiệu Chúa Cha cho các môn đệ và mọi người .
I.CHÚA GIÊSU LOAN BÁO VIỆC RA ĐI CỦA NGÀI :

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu nhiều lần đã hiện ra với các môn đệ, Ngài đã chứng tỏ cho các ông thấy Ngài đã sống lại từ cõi chết , Ngài đã cho các ông thấy các lỗ đinh ở hai bàn tay, hai bàn chân và cạnh sườn Ngài bị đâm thâu qua . Ngài đã ban bình an , đã an ủi các ông và điều chứng minh hùng hồn nhất Ngài cùng ăn , cùng bàn với các môn đệ . Qua những cử chỉ quen thuộc, qua cung cách trước khi còn sống ở trần gian, các môn đệ đã nhận ra Thầy của mình .Chúa Giêsu vẫn tiếp tục dậy dỗ các môn đệ (Cv1,3 ) Và động viên các môn đệ giữ vững niềm tin .Giờ phút này, Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài những điều thật tâm huyết vì rằng trong bữa tiệc ly trước khi Ngài chịu chịu chết, Ngài đã biết rõ Giuđa sẽ phản nộp Ngài ( Ga 18, 2-3 ), về việc Ngài sẽ ra đi dứt khoát ( Ga 13, 33 ) và về việc Phêrô chối Ngài ba lần ( Ga 13, 38 ) . Chúa Giêsu nhìn trước sự việc Ngài sẽ không còn hiện diện cách bằng xương bằng thịt với các môn đệ nữa , nên Ngài đã trấn an các môn đệ vì khi trở về với Chúa Cha, các môn đệ đang hoang mang xao xuyến đứng trước viễn cảnh mồ côi , cô đơn, lẻ loi giữa một thế giới
Đầy thù nghịch…Chúa nói : "Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy " ( Ga 14, 1 ). Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ hiểu rõ rằng Ngài ra đi về với Chúa Cha sẽ giúp các môn đệ có sự khăng khít với Ngài và với Cha của Ngài vì chính Ngài là Đường, là sự Thật và là sự Sống ( Ga 14, 6 ). Chúa Giêsu ra đi quả thực có ích cho các môn đệ của Ngài, bởi vì Ngài có trở về với Chúa Cha, Ngài dọn chỗ cho các môn đệ để :" Thầy ở đâu, các môn đệ cũng ở đó " ( Ga 14, 3 ). Chúa Giêsu nhấn mạnh với các môn đệ :" Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi " ( Ga 14, 4 ).Toma băn khoăn tự hỏi và thưa với Đức Giêsu :" Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường " ( Ga 14, 5 ). Chúa Giêsu trả lời :" Chính Thầy là con đường, là sự Thật và là sự Sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy " ( Ga 14, 6 ). Chúa Giêsu là Đường, là sự Thật và là sự Sống vì Ngài là hiện thân của Chúa Cha . Ngài được sai tới trần gian để giới thiệu cho nhân loại biết về Chúa Cha và qua Ngài, nhân loại đạt được hạnh phúc vĩnh cửu , được thông dự vào sự sống trường
Sinh của Ngài . Chúa hứa với các môn đệ :' Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi,Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho tới tận thế " ( Ga 14, 18 ).Chúa bảo đảm với các môn đệ:" Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con một Đấng phù trợ khác, để Ngài ở với các  con luôn mãi " ( Ga 14, 16 ).

II.CHÚA GIÊSU CHỈ CHO MÔN ĐỆ VÀ MỌI NGƯỜI BIẾT CHÚA CHA :

Trong đời sống phục vụ, rao giảng Tin Mừng cứu độ, Chúa Giêsu đã nhiều lần nói đến Chúa Cha: "…Con không thể tự mình làm điều gì , nhưng mọi sự đều vì đã trông thấy Cha làm " ( Ga 5, 19 ). Nơi khác , Chúa Giêsu nói :" Ta và Cha Ta là một " ( Ga 10,30 ) Còn hôm nay, tông đồ Philip khi nghe Chúa nói về Cha , đã nhanh nhảu lên tiếng:"Thưa Thầy,xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện"(Ga 14,8 ) Đức Giêsu trả lời: " Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha " ( Ga 14, 9 ). Điều này gợi cho  chúng ta thấy tại sao Môsê không dám nhìn Chúa trong bụi gai cháy đỏ ." Không ai có thể thấy Thiên Chúa mà còn sống được ". Thực tế , con người chỉ có thể diện đối diện với Thiên Chúa qua cuộc sống đời sau nghĩa là chỉ qua sự chết , bên kia cuộc sống này , con người mới thấy tỏ tường vinh quang và nhan thánh Chúa. Quả thực, đã lỗi thời
Rồi khi người ta diễn tả một Thiên Chúa hay ghen, hung dữ , hay giáng phạt hơn là chạnh lòng thương xót .Thiên Chúa mà Chúa Giêsu giới thiệu là một Thiên Chúa nhân từ , hiền lành, khiêm nhượng . Đức Giêsu là hình ảnh sống động, hoàn hảo nhất của Chúa Cha vì Ngài kết hợp mật thiết, thâm sâu với Chúa Cha, nên cuộc sống , công việc, Cử chỉ, hành vi, thái độ, lời nói của Chúa Giêsu là hình ảnh toàn vẹn nhất của Chúa Cha . " Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy " ( Ga 14, 11 ). "…Đấng Ta sẽ gởi đến từ nơi Cha, là Thần Khí sự thật, từ nơi Cha xuất phát ra, Ngài sẽ làm chứng về Ta : ( Ga 15, 26 ).

III.CHÚA GIÊSU TIẾP TỤC CÔNG VIỆC CỦA NGÀI NƠI TRẦN GIAN QUA CÁC
MÔN ĐỆ :

Khi mạc khải Chúa Cha cho các môn đệ, khi chỉ cho các ông thấy Chúa Cha, các môn đệ qua sự soi sáng của Chúa Thánh Thần đã hiểu thế nào là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần :" Các con hãy đi giảng dậy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần " ( Mt 28, 19 ). Lệnh của Chúa phục sinh đã chỉ ra Rằng :" Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một ". Chúa phục sinh đã vén mở cho các môn đệ về cuộc hành trình, cuộc sống mới của các ông sẽ ra thế nào, sẽ ra làm sao khi Chúa về với Cha Ngài . Chúa Giêsu sống lại nói :" Thật Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha " ( Ga 14, 12 ). Chúa Giêsu về trời , về với Cha của Ngài, nhưng các môn đệ vẫn tiếp tục sứ mạng cứu thế của Ngài nơi trần gian này , như thế, các Ngài tiếp tục làm công việc của Chúa đã làm vì Phục sinh không ngần ngại đồng hóa cuộc sống của mình với cuộc sống của các môn đệ ang còn tiếp tục việc cứu thế của Chúa nơi thế gian này . Cuộc sống mà Chúa Phục  Sinh đã kinh qua cũng là lời mời gọi mọi người Kitô hữu hãy đi vào để Chúa Cha được tôn vinh nơi Chúa Con ( Ga 14, 13 ).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho mọi người chúng con luôn xác tín rằng :" Chúa là Đường, là dự Thật và là sự Sống " ( Ga 14, 6 ). Xin Chúa ban cho nhân loại này biết nhận ra Chúa là khuôn mẫu lý tưởng của đời sống Mọi người . Xin cho chúng con cảm nghiệm và nhận ra ý Chúa:" Ta và Cha Ta là một ".


 

PS5-A14: LÒNG CÁC CON ĐỪNG XAO XUYẾN - Lm Trần Nguyên

LÒNG CÁC CON ĐỪNG XAO XUYẾN. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.
Cv 6,1-7; 1 Pr 2,4-9: Ga 14,1-12

 

Nhân đọc chứng từ của cụ Đỗ Duy Huỳnh về những ngày tù gian khổ của cụ và Đức H.Y. P.X: PS5-A14

Nhân đọc chứng từ của cụ Đỗ Duy Huỳnh về những ngày tù gian khổ của cụ và Đức H.Y. P.X. Nguyễn Văn Thuận ở trại giam Vĩnh Quang, tôi thấy càng thêm lòng kính trọng một nhân chứng của niềm hy vọng. Thiết nghĩ đây cũng là lẽ sống và gương sống sáng chói nhất của Đức H. Y.

Nuôi được niềm hy vọng trong cuộc sống lao tù giữa hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Trở thành nguồn hy vọng và nâng đỡ tinh thần cho người khác trong lúc chính tương lai của mình cũng bị bao phủ bằng một màn đen dầy đặc. Thiết nghĩ nếp sống và những hành động đó xuất phát từ sức mạnh tinh thần của một bậc vĩ nhân.

Gương sáng của chứng nhân niềm hy vọng này giúp tôi hiểu rõ hơn đoạn Tin mừng dành cho Chúa nhật hôm nay. Chúng ta đã mừng đại lễ Phục sinh được 5 tuần, nhưng bài Tin mừng dẫn chúng ta ngược dòng thời gian trở về khung cảnh buổi Tiệc ly để nghe những lời trăng trối của Đức Giêsu:

Đây là một trong những lời trấn an và nâng đỡ tinh thần mạnh mẽ nhất trong toàn bộ Phúc âm. Nhưng chúng ta không khỏi tự hỏi: Nghe những lời này trong hoàn cảnh chúng ta đang sống hiện nay, đó có phải là những lời trấn an quá ư là không thực tế.

Sao Đức Giêsu lại có thể bảo lòng chúng ta đừng xao xuyến:

Trong khi sau biến cố 11.9, nạn khủng bố quốc tế vẫn còn là mối đe dọa có thể dẫn đến tiến trình tiêu diệt cả một nền văn minh toàn cầu.

Trong khi đất nước Việt Nam đang điêu linh, mất đất, mất hải phận, đa số đồng bào đang phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày, đang phải chạy ăn từng bữa, các nạn bão lụt tới tấp, các quyền lợi căn bản của con ngườI đang bị chà đạp.

Trong cuộc sống cá nhân và gia đình, vớI bao khó khăn về công ăn việc làm, các vấn đề hôn nhân, giáo dục con cái, khác biệt thế hệ v.v.. và v.v...

Nhiều lúc chúng ta không khỏi nghi nan tự hỏi: Không biết Đức Giêsu có hiện diện và đồng hành với chúng ta trong cuộc sống thường nhật không? "Lòng các con đừng xao xuyến". Những lời này đôi khi xem ra có vẽ vô tình và hờ hững trước những gánh nặng đang đè nặng trên đôi vai chúng ta.

Đoạn Tin mừng hôm nay một lần nữa khẳng định với chúng ta là: Đức Giêsu biết và hiểu rất rõ các vấn đề chúng ta đang phải chạm trán, vì khi nói lên những lờI trấn an trên, chính ngài cũng đang kinh nghiệm những vầy vò của nhiều vấn đề của cuộc sống

Nhóm Biệt phái và Luật sĩ đang rình mò tìm cơ hội để thanh toán Ngài. Các môn đệ không hiểu sứ mệnh và các giáo huấn của Ngài. Giuđa đang tìm dịp bán nộp Ngài. Phêrô sẽ chối từ Ngài, và cuộc thương khó đẫm máu sẽ dẫn Ngài đến cái chết đau đớn và ngục ngã trên Thập tự.

Vâng, trong chính bối cảnh tang thương đó, Đức Giêsu đã quên những vấn đế và đau khổ của chính mình để nói lên những lời ủi an các môn đệ. Ngài dư biết là khi Ngài chết đi, họ sẽ có thể rơi xuống vực sâu của tuyệt vọng.

Trong tuần tới, chúng ta hãy lấy đôi phút mỗi ngày để đọc và thấm nhuần những lý do khiến chúng ta có thể vững tâm trong những nổi khó khăn của cuộc sống, vì thật sự:

Đức Giêsu là Đàng, là Sự Thật và là Sự Sống. Ai thấy Thầy là xem thấy Cha.

NS Dân Chúa Âu Châu


 

PS5-A15: HÃY TIN VÀO THIÊN CHÚA - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh

HÃY TIN VÀO THIÊN CHÚA và Hãy Tin ở nơi Thày

Vấn Đề của Bài Phúc Âm hôm nay

 

Nếu chủ đề của 3 tuần đầu của Mùa Phục Sinh là "sự sống lại", và chủ đề của 4 tuần cuối của: PS5-A15

Nếu chủ đề của 3 tuần đầu của Mùa Phục Sinh là "sự sống lại", và chủ đề của 4 tuần cuối của Mùa Phục Sinh là "sự sống", thì chủ đề "sự sống" của 4 tuần cuối này sẽ được Phúc Âm theo Thánh Gioan Giáo Hội chọn đọc trong chu kỳ Phụng Vụ Năm A thứ tự cho thấy các khía cạnh của chủ đề ấy như sau:

· Tác giả "Sự sống": "Tôi đến cho chiên được sự sống viên trọn" (Chúa Nhật IV)
· Tác động "Sự sống": "Hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin nơi Thày" (Chúa Nhật V)
· Tác nhân "Sự sống": "Thần Chân Lý … ở với các con và ở trong các con" (Chúa Nhật VI)
· Tác dụng "Sự sống": "Chính ở nơi họ mà Con được vinh hiển" (Chúa Nhật VII)

Như thế, vấn đề "sự sống" của Chúa Nhật V tuần này là lòng "tin". Thật vậy, như bài chia sẻ lần trước đã đặt vấn đề "sự sống" một khi đã được thông ban từ Lời Nhập Thể là Chúa Kitô, thì để thông hưởng "sự sống" này, con người cần phải "nhận biết Người" (Jn 1:11), tức phải "chấp nhận Người" (Jn 1:12), vì "sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô" (Jn 17:3). Tác động "nhận biết" hay "chấp nhận" đây là gì, nếu không phải cũng chính là tác động "tin". Đó là lý do tác động "tin" là tác động tỏ ra thực tại "sự sống" nơi chủ thể tin, như hơi thở là dấu có sự sống thể lý nơi sinh vật, hay thực tại sự sống được thể hiện qua tác động "tin", như sự sống thể lý được thể hiện qua hơi thở của sinh vật vậy. Thế nhưng, phải "tin" những gì hay đối tượng của tác động "tin" là gì? Và "tin" sẽ phát sinh những gì, hay tác dụng của tác động "tin" ra sao?

Theo bài Phúc Âm hôm nay, đối tượng của tác động "tin" đó là chính "sự sống" hiệp thông nơi Thiên Chúa: "Các con không tin rằng Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày hay sao?"; "Các con hãy tin Thày là Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày". Và tác dụng của tác động "tin" chính là Quyền Năng Thần Linh: "Thày bảo thật cho các con biết con người tin vào Thày sẽ làm được những việc Thày làm mà còn làm được hơn cả những việc ấy nữa". Nếu Quyền Năng Thần Linh là biểu hiệu cho hay là chính Thánh Thần (xem Lk 1:35), thì bài Phúc Âm hôm nay hàm chứa ý nghĩa về Sự Sống Thần Linh của Ba Ngôi Thiên Chúa được thể hiện nơi chủ thể "tin". Nghĩa là con người "tin" là con người được "sự sống", và "sự sống" này là chính "sự sống" của Chúa Ba Ngôi, và họ sống là sống chính "sự sống" của Chúa Ba Ngôi.

Đối tượng của tác động "tin" đó là chính "sự sống" hiệp thông nơi Thiên Chúa

Thật vậy, "Thiên Chúa là Thần Linh" (Jn 4:24), Ngài đã ban "sự sống đời đời là nhận biết…" cho con người bằng cách tỏ mình cho họ nơi Con Duy Nhất của Ngài là Chúa Giêsu Kitô (xem Jn 3:16), Đấng Ngài sai (xem Jn 17:3). Phần Lời Nhập Thể, Người cũng đã đến thế gian "để tỏ Cha ra" (Jn 1:18), bằng cách tỏ mình thật sự "là phản ảnh vinh quang Cha, là hiện thân đích thực của bản thể Cha" (Heb 1:3). Đến nỗi, như Chúa Kitô đã khẳng định với dân Do Thái "Cha và Tôi là một" (Jn 10:30), cũng như với các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay: "Ai thấy Thày là thấy Cha". Con người không thể nào trực tiếp thấy Cha hay biết Cha nếu không được Con Ngài, Đấng Ngài sai, tỏ ra cho biết. Bởi thế, Chúa Giêsu mới bày tỏ cảm nhận của chính mình với Cha của Người trước mặt các môn đệ rằng: "Không ai biết Con trừ Cha, cũng như không ai biết Cha trừ Con và những ai Con muốn tỏ Cha ra cho biết" (Lk 10:22).

Đó là lý do, để trả lời cho tông đồ Philiphê trong bài Phúc Âm hôm nay về lời vị tông đồ này "xin Thày hãy tỏ cho chúng con biết Cha là chúng con mãn nguyện rồi", Chúa Giêsu mới than với riêng vị tông đồ này cũng như với chung các tông đồ là: "Thày hằng ở với các con bấy lâu mà các con vẫn chưa biết Thày hay sao?" Ở đây, tông đồ Philiphê xin được "biết Cha", Chúa Kitô lại đặt vấn đề "biết Thày". Thế nhưng, để biết Chúa Kitô có thực sự là Đấng Thiên Sai hay chăng, tức là Người có thực sự ở trong Cha hay chăng, cũng trong bài Phúc Âm hôm nay, Người đã cho các tông đồ biết thêm những dấu chứng về lời Người nói và việc Người làm hoàn toàn cho thấy Người bởi Cha và từ Cha như sau: "Những lời Thày nói thì không phải tự Thày mà chính Cha là Đấng sống trong Thày hoàn tất các công việc của Ngài". Trong câu nói này, phần đầu Chúa Kitô đề cập đến "những lời Thày nói", phần sau Người lại lái sang "các công việc của Cha". Bởi thế, cũng trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Kitô đã kêu gọi các tông đồ rằng: "Hãy tin Thày là Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày, bằng không hãy tin nơi những việc Thày làm". Qua câu nói của Chúa Giêsu đây, chúng ta có thể suy ra tại sao Chúa Giêsu nói với các tông đồ về một tác động "tin" song lại có một đối tượng lưỡng diện đó là Thiên Chúa và Thày: "hãy tin vào Thiên Chúa" tức là hãy tin rằng "Cha ở trong Thày", hay tin rằng Cha là Đấng đã sai Thày, và "hãy tin ở nơi Thày" tức là hãy tin rằng "Thày ở trong Cha", hoặc tin rằng Thày được Cha sai. Tóm lại, "Hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin ở nơi Thày", nghĩa là, như Chúa Giêsu cho thấy trong Lời Nguyện Tiệc Ly dâng lên Cha của Người về sứ điệp Người đã nhận từ Cha để chuyển đạt cho thành phần thuộc về Người: "Họ biết thật rằng Con từ Cha mà đến và họ tin rằng Cha đã sai Con" (Jn 17:8).

Tác dụng của tác động "tin" chính là Quyền Năng Thần Linh

Đúng thế, có thể nói "tất cả sự thật" (Jn 16:13), tất cả Mạc Khải Thần Linh trong toàn bộ Thánh Kinh nói chung cũng như trong Tân Ước nói riêng, nhất là trong Phúc Âm, chính là ở chỗ này, chính là ở Thực Tại Thần Linh này, Thực Tại Sự Sống "Cha ở trong Con và Con ở trong Cha" (Jn 17:21). Nếu Lời Nhập Thể đến thế gian, như lời Người khẳng định với tổng trấn Philatô: "là để làm chứng cho chân lý" (Jn 18:37), thì "chân lý" đó là "Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày". "Chân lý" này chính là một Thực Tại Thần Linh, Thực Tại Thần Linh này chẳng những là một Thực Tại Sự Sống: "Cha ở trong Con và Con ở trong Cha", mà còn là một Thực Tại Ban Sự Sống nữa, vì Thực Tại Thần Linh này tỏ cho con người một Kiến Thức Thần Linh để họ có thể nhận biết Thiên Chúa như Ngài biết Ngài. Thật vậy, từ Thực Tại Thần Linh này, Thực Tại "Thiên Chúa là ánh sáng" (1Jn 1:5) này, mới chiếu tỏa ra một thứ "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Jn 1:9) đó là Lời Nhập Thể, một thứ "ánh sáng sự sống": "Ai theo Tôi sẽ được ánh sáng sự sống" (Jn 8:12). Và "ánh sáng sự sống" phát ra từ "ánh sáng thế gian" (Jn 8:12) là Chúa Giêsu Kitô đây là gì, nếu không phải là "ánh sáng", là Mạc Khải Thần Linh, làm cho con người được "sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô" (Jn 17:3)? Có thể nói, Thiên Chúa tỏ mình ra nơi Lời Nhập Thể là Ngài muốn ban cho loài người chúng ta một Kiến Thức Thần Linh, tức ban cho loài người chúng ta chính "sự sống", vì "sự sống đời đời là nhận biết (Thần Linh)" (Jn 17:3).

Một khi con người có Kiến Thức Thần Linh, tức có Sự Sống Thần Linh, một Sự Sống vô cùng viên mãn, vô cùng toàn năng, mạnh hơn sự chết, thắng vượt tất cả mọi sự dữ (x Mk 16:17-18), họ có thể, đúng như Chúa Kitô đã khẳng định với các tông đồ: "làm được hơn cả những việc Thày làm". Sở dĩ, về khốn khó "đầy tớ không hơn chủ" (Jn 15:20), nhưng về hoạt động, môn đệ lại có thể làm hơn sư phụ của mình, là vì, như Chúa Giêsu cho biết lý do trong bài Phúc Âm hôm nay, "Thày về cùng Cha". Nghĩa là Thày không đích thân làm việc nữa, mà là chính "sự sống và là sự sống viên mãn hơn" ở trong môn đệ của Người làm việc qua họ, nên môn đệ mới chẳng những làm được những việc như Thày làm mà còn hơn thế nữa. Chỗ "hơn thể nữa" ở đây tức là những việc họ làm vượt quá khả năng tự nhiên của một loài thuần nhân như họ, chẳng những chứng tỏ cho thấy sự hiện diện của Sự Sống Thần Linh, "sự sống viên mãn hơn" (Jn 10:10), nơi chính bản thân mỗi người chúng ta, mà còn làm cho Sự Sống Thần Linh này sáng tỏ trên thế gian và lan truyền trên thế gian nữa (x Jn 17:21,23). Chỗ "hơn thế nữa" ở đây tức là Thày không đích thân làm, song chỉ bằng quyền lực danh của Thày mà các môn đệ làm được những việc phi thường, như trường hợp hai tông đồ Phêrô và Gioan đã nhân danh Thày mà chữa cho một người què bẩm sinh tại Cửa Đẹp ở Giêrusalem (x Acts 3:1-26, 4:1-22). "Chính ở nơi họ mà Con được hiển vinh" (Jn 17:10) là như thế.

Thế nhưng, để đến được chỗ này, chỗ "được sự sống và là một sự sống viên mãn hơn", Chúa Kitô cần phải, như Người nói với các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay: "Thày đi để dọn chỗ cho các con". Vậy, nếu "trong nhà Cha Thày có nhiều chỗ", mà "nhà Cha" ở đây ám chỉ nội tâm của Thiên Chúa, ám chỉ Ý Thức (Thần Linh) nơi Thiên Chúa, hay ám chỉ đến Sống Hiệp Thông nơi Thiên Chúa, (đó là lý do chỉ khi nào người con phung phá trở về nhà Cha, tức trở về với Ý Thức Thần Linh, trở về Sống Hiệp Thông với Ngài, mới thật sự "như chết mà sống lại" - Lk 15:24,32; và Thiếu Nhi Chúa Giêsu năm 12 tuổi "phải ở lại nhà Cha" chính là việc Người phải sống Ý Thức Thần Linh, phải Sống Hiệp Thông với Cha Người - Lk 2:49), thì "trong nhà Cha Thày có nhiều chỗ" ở đây hàm ý về một "sự sống viên mãn hơn". Vậy việc "Thày đi để dọn chỗ cho các con" đây là Thày đi "tự hiến để họ được thánh hóa trong chân lý" (Jn 17:19), tức để "họ nhận biết là Con từ Cha mà đến, và tin rằng Cha là Đấng đã sai Con" (Jn 17:8), nghĩa là để họ biết Ý Thức Thần Linh, Sống Hiệp Thông với Thiên Chúa, hay "để họ được sự sống và là một sự sống viên mãn hơn" (Jn 10:10) cũng vậy. Đến đây, chúng ta mới thấy Cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu Kitô thực sự là việc "Thày đi để dọn chỗ cho các con", một biến cố là tuyệt đỉnh Mạc Khải Thần Linh: "Thày ở trong Cha" qua việc Tử Giá, dấu chứng tỏ Người được Cha sai; và "Cha ở trong Thày" qua việc Phục Sinh, dấu Cha chứng tỏ Chúa Kitô đúng là "Đấng Cha sai". Như thế, lời tuyên xưng "Lạy Chúa tôi! Lạy Thiên Chúa tôi!" (Jn 20:28) của tông đồ Tôma trước Đấng Tử Giá Phục Sinh quả thực đã đáp ứng đúng như lòng Chúa Kitô mong muốn và kêu gọi các môn đệ của Người là "hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin ở nơi Thày".

Vấn đề thực hành sống đạo:

Nếu tất cả Mạc Khải Thần Linh hay tuyệt đỉnh Mạc Khải Thần Linh được tỏ hiện ở Mầu Nhiệm Vượt Qua thì việc "tin vào Thiên Chúa và tin ở nơi Thày" chính là Sống Biến Cố Vượt Qua. Và Sống Biến Cố Vượt Qua là gì, nếu không phải là Sống Phụng Vụ và Sống Chứng Nhân: Sống Phụng Vụ ở chỗ Sống Mầu Nhiệm Chúa Kitô Tử Giá và Sống Chứng Nhân ở chỗ Sống Mầu Nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh?


 

PS5-A16: ĐƯỜNG VỀ NHÀ CHA - Sr Victoria L.

Jn 14, 1-12
 

Bối cảnh của bài Phúc Âm hôm nay là phần cuối của bữa Tiệc Ly giữa Chúa Giêsu và các môn: PS5-A16:

Bối cảnh của bài Phúc Âm hôm nay là phần cuối của bữa Tiệc Ly giữa Chúa Giêsu và các môn đệ. Không cần phải nói có lẽ ai trong chúng ta cũng hình dung được bầu khí ảm đạm của bữa tiệc, vì "Biệt ly nào cũng đong đầy nước mắt." Nhìn thấy nét buồn sầu và lo âu của các môn đệ, Chúa Giêsu hết lời an ủi và khuyến khích các ông phải coi sự ly biệt hôm nay là niềm vui mới phải, vì Ngài ra đi là để dọn chỗ cho các ông trong nhà của Cha Ngài chứ không phải bỏ rơi các ông. Vì thế "lòng các con đừng xao xuyến, một hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và vào Thầy." (Gn 14,1)

Cuộc đời mỗi người chúng ta là một cuộc hành trình về nhà Cha trên trời. Đây là cuộc hành trình đầy chông gai nguy hiểm, nhiều hy sinh vất vả và lắm thương đau. Vì thế, đường về nhà Cha trên trời là quãng đường chật hẹp, gồ ghề, và đòi hỏi nhiều cố gắng, kiên tâm. Tuy nhiên, ngoài con đường này ra thì không còn lối nào dẫn về nhà Cha trên trời nữa. Chính Chúa Giêsu cũng phải đi qua con đường này để về nhà Cha. Vậy để tránh đi lầm đường lạc lối, chúng ta chỉ việc men theo những dấu chân Chúa Giêsu để lại, những vết máu và mồ hôi Ngài đổ ra khi Ngài đi qua. Sở dĩ bước theo Ngài chúng ta không sợ lạc lối là vì chính Ngài "là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống." Vì thế, giữa những thăng trầm của cuộc sống chúng ta đừng ngại đặt hết niềm tin vào Ngài là vị chỉ đạo duy nhất có thể giúp chúng ta nhắm đứng hướng đi. Tuy nhiên, khi phải đối diện với thực tế của cuộc sống, con mắt đức tin của chúng ta thường bị che mờ bởi những đau khổ, trái ý, lo âu khiến chúng ta không nhận ra được Chúa Giêsu đang đứng bên ngã ba đường đời để giúp chúng ta định hướng. Do đó, khi nghe Chúa Giêsu nói "Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi," ông Tôma liền hỏi lại, "Chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao mà biết đường đi?"

Sống giữa cuộc sống xô bồ nhộn nhịp của xã hội ngày nay, thật khó mà nhận ra được tiếng Chúa kêu mời, vì tiếng Ngài không ồn ào như tiếng động cơ, không ngân nga như tiếng nhạc, không dặp dìu như lời thơ, nhưng chỉ thì thào như gió thoảng. Cho nên nếu muốn bắt được làn sóng của tiếng Chúa, chúng ta phải tự tạo cho mình một căn phòng đặc biệt trong tâm hồn nơi mà trí óc có thể trốn xa những lo toan của cuộc sống và con tim có thể tìm được những phút giây yên nghỉ yên bên Chúa. Trong căn phòng này, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống cách dễ dàng hơn để rồi sự cảm nghiệm nầy sẽ lan rộng ra mãi cho đến khi bao trùm cả không gian và thời gian của chúng ta mới thôi. Và chỉ khi nào chúng ta tập được tập quán này qua việc cầu nguyện, chúng ta mới có đủ nghị lực để nhìn quá khứ với con mắt thông cảm hiểu biết, nhìn hiện tại với tràn ngập phấn khởi, và nhìn tương lai với muôn vàn tin tưởng cậy trông. Lúc bấy giờ, chúng ta sẽ cảm nghiệm được niềm vui và bình an mà Chúa muốn chúng ta đạt được khi Ngài nói: "Lòng các con đừng xao xuyến." Như mặt hồ không thể phản chiếu được sự tròn đầy của trăng rằm cho đến khi nó hoàn toàn phẳng lặng, không ai trong chúng ta có đủ khả năng để đương đầu với những xáo trộn của cuộc sống một cách bình tĩnh nếu tâm hồn không lướt thắng được những xao xuyến lo âu. Ngài không gạt chúng ta đâu khi nói rằng "Thầy đi để dọn chỗ cho các con" (Gn 14,2). Và thật sự là như vậy, nếu không hai ông Phêrô và Gioan đã không nhìn thấy ngôi mộ trống trong ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Điều nầy có nghĩa là Ngài đã ra đi thật để dọn chỗ cho chúng ta. Và điều yêu ủi chúng ta nhất là điều kiện để được ở với Ngài trong nhà Cha trên trời: "Lòng các con đừng xao xuyến, một hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và vào Thầy."

NS Trái Tim Đức Mẹ


 

PS5-A17: Suy Niệm của Lm Nguyễn Bình An

Gn 14,1-12
 

Vì nghèo, Oanh đã phải chấp nhận nghề "buôn hương bán phấn" trong các hộp đêm và thiêu: PS5-A17

Vì nghèo, Oanh đã phải chấp nhận nghề "buôn hương bán phấn" trong các hộp đêm và thiêu thân dưới ánh đèn mầu để nuôi đàn em dại. Lối xóm đàm tiếu, cô không màng đến. Miển là các em được no đủ, thành tài và hạnh phúc như ai khác. Một tối nọ, Oanh trở về với xác thân rã rượi và tâm thần căng thẳng. Cô cùng cực đau khổ hơn khi chợt đọc lời báo cáo của nhà trường "Thu đã bỏ học." Lệ tuôn chảy và cô gào thét trong thất vọng "Thân xác này nên đồ tiêu khiển cho thiên hạ, nhưng chị chấp nhận để các em vươn lên. Chị không muốn các em rơi vào hoàn cảnh tội lỗi như chị."

Ông San say nghề đen đỏ. Ông đánh vợ khảo tiền và mặc cho cảnh vợ "nuôi đủ năm con với một chồng." Khi nghe tin đứa con lớn cao nghề hơn, ông giận dữ dí vào con "Tao hư đã đành, nhưng mày không được hư, tao giết mày!"

Hành động của cô Oanh và ông San biểu lộ nỗi đau buồn và hối hận cá nhân trong một gia đình bất ổn. Cả hai vì hoàn cảnh sinh tật, hư đốn và khó bước ra. Nhưng cả hai cùng không muốn con và em sa cảnh "đầm lầy, nước đọng" như họ.

Thiên Chúa, khi đối diện với tội nhân, Ngài có thái độ khác hẳn. Ngài không quát tháo, chẳng rầy la. Ngài tế nhị giúp tội nhân so sánh giữa hai hình ảnh thiện ác, phúc tội và thưởng phạt. Đồng thời ơn thánh Ngài hành động mãnh liệt khiến hối nhân phải tự nguyện hối cải và canh tân.

Hành động nhân ái này đã làm Adam và Evà ẩn núp và tự xa lánh Chúa vì thấy mình bất xứng và mắc cỡ. Hành động nhỏ nhẹ và thân thương này lôi kéo chúng ta vào phòng hòa giải: thú lỗi, chấp nhận hình phạt và quyết chí đổi thay.

Ma quỷ giăng hỏa mù. Thế gian tạo quyến rũ. Xác thịt bị cào cấu trong đam mê và dục vọng. Khiến chúng ta nhiều phen đã mất hướng đi và quên các nhân vị cao quí là "hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, và là dân riêng của Chúa." Tình thế khẩn trương này đã buộc Chúa phải hành động. Chúa nhập thể và đem "tình thương và thiên lộ" vào thế gian. Chúa ghi tạc chân lý "Ta là Đường, là sự thật và là sự sống" vào lương tâm con người. Chúa sắm sẵn một vương quốc vĩnh cửu và hứa "trở lại đón." Đây là lý do tại sao tâm tư con người những "thao thức, băn khoăn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa." Thánh Augustinô, sau 30 năm bị giằng co giữa thiện ác, phúc tội và sống chết đã tâm sự như thế khi hồi tâm chuyển ý.

Bình phẩm lối sống và việc làm của người vì anh chị em sống chưa đúng cái mô hình toàn hảo trong tâm chúng ta. Đưa ý xây dựng vì chúng ta muốn chương trình thành công mỹ mãn theo mỹ thuật đã được phú ban. Những ý kiến dị biệt và đa dạng đưa đến bất bình và bất cộng tác phản ảnh mức độ toàn thiện và hoàn cảnh con người được sinh ra, giáo dục và phát triển. Mỗi người bị giới hạn ở một trình độ, nên nhìn đời và phán đoán người theo quan điểm riêng. Nhưng không ai dám tự phụ rằng "Ta là Đường, là Chân lý và sự Sống" như Chúa Nhập Thể.

Đường chúng ta hành hương có 10 giới luật. Chân lý chúng ta tin và thực hiện là "mến Chúa và yêu người." Sự sống chúng ta hy vọng là vĩnh viễn được "kết hợp với Chúa." Con đường thật đơn sơ, thánh thiện và ngắn gọn. Nhưng chúng ta đã ngã lên, ngã xuống; phạm tới, phạm lui; và bất công đổ lỗi cho người. Con đường vì thế trở thành chông gai, quanh co bất tận và nhiều khổ đau. Công và tội do đó được thêm hay bớt, nặng hay nhẹ tùy theo ý hường thiện ác và tình ngay lý gian của mỗi người.

Đức Kitô đã hoàn chỉnh giáo huấn Cựu Ước và mặc khải chân lý Tân Ước rất đầy đủ. Ngài không ngừng khuyến giục chúng ta sống là chứng nhân, là ánh sáng, là muối ướp trong đời và giữa người. Ngài ao ước chúng ta luôn bước trên chính lộ và trong chân lý. Ngài đòi chúng ta phải tinh tuyền như pha lê, để Chúa được tôn vinh và được nhận diện qua chúng ta. Đây là hành động vĩ đại của đức tin, vì chúng ta giới thiệu Chúa vào đời như Đức Kitô đã thực hiện và xác tin với Philiphê "ai thấy Ta là gặp gỡ Cha" (Gn 14,11). Hay như thánh Phaolô "... không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi."


 

PS5-A18: NĂM GÃ MÙ

Bài đọc:Cv 6: 1-7 ; 1Pr 2: 4-9; Ga 14: 1-12
Mark LinK S.J.

Chủ đề: "Bởi vì Chúa Giêsu là con Thiên Chúa nên chúng ta có đặc ân thấu hiểu và đếm được với Thiên Chúa."

 

Thỉnh thoảng chúng ta nghe thấy có người nói như sau: “Kitô hữu nói Chúa thế này. Người Do: PS5-A18

Thỉnh thoảng chúng ta nghe thấy có người nói như sau:

“Kitô hữu nói Chúa thế này. Người Do Thái bảo Chúa thế kia. Người Hồi Giáo cho Ngài thế khác. Phật tử còn quan niệm Ngài khác hơn nữa. Tôi cảm thấy rối trí quá nên chẳng biết nghĩ gì và cũng chẳng biết tin ai”

Mỗi khi nghe được lời tuyên bố như thế, tôi liền nhớ lại bài thơ của John Saxe liên quan đến năm gã mù An Độ đứng vòng quanh một con voi và thắc mắc không hiểu con voi giống cái gì.

Một gã sờ vào hông voi và bảo voi giống như bức tường. Gã thứ hai rờ vào chiếc ngà voi và bảo nó giống một thanh gươm. Gã thứ ba đụng vào chiếc vòi và bảo voi giống như con rắn khổng lồ. Gã thứ tư sờ vào lỗ tai và bảo nó giống như chiếc quạt. Gã mù sau cùng sờ vào đuôi voi và bảo nó giống như sợi dây thừng. Thế thì ai trong năm gã mù này là đúng? Có lẽ câu trả lời hay nhất là cả năm gã đều đúng, mỗi gã đúng theo quan điểm riêng của mình. chỉ nhờ đối thoại chung với nhau họ mới có thể có được một cái nhìn đầy đủ và sáng suốt hơn để trả lời chú voi thực sự như thế nào.

Vài người bảo đối với trường hợp Thiên Chúa cũng thế. Họ bảo:

Người Do Thái có một lối thấu hiểu Thiên Chúa, người Hồi Giáo có một lối thứ hai để thấu hiểu Chúa, người Phật giáo lối thứ ba và các Kitô hữu lối thứ tư. Chỉ nhờ đối thoại với nhau họ mới có thể đạt được một cái nhìn đầy đủ rõ ràng hơn về Thiên Chúa. thế là lại khởi lên một vấn nạn: Làm sao tôn giáo này có thể tự bảo rằng mình gần với chân lý hơn các tôn giáo khác? Chẳng hạn, làm sao các Kitô hữu dám cho rằng mình có cái nhìn chính xác về Chúa hơn bất kỳ tôn giáo nào khác?

Câu trả lời cho vấn nạn trên dĩ nhiên được đặt vào nền tảng đức tin nơi Chúa Giêsu của người Kitô hữu.

Chúa Giêsu đã tuyên bố Ngài biết Thiên Chúa bằng một cách thức mà không vị lãnh đạo tôn giáo nào dám tuyên bố. Và hơn thế nữa, Chúa Giêsu còn đồng hoá mình với Thiên Chúa. điều này không một nhà lãnh đạo tôn giáo nào dám làm.

Chẳng hạn trong Phúc âm hôm nay, Philipphê thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con biết Chúa Cha”. Chúa Giêsu trả lời: “Ta đã ở với tất cả các con từ lâu, thế mà con vẫn chưa nhận biết Ta sao, hả Philipphê? Hễ ai thấy Ta là thấy Cha”. Chỗ khác trong Phúc âm thánh Gioan, Chúa Giêsu có nói: “Cha Ta và Ta là một” (Ga 10: 30); và Ngài cũng còn nói: “Trước khi có Abraham đã có Ta” (Ga 8: 58)… Nếu Chúa Giêsu chính là Đấng như Ngài đã từng tuyên bố, thì các Kitô hữu thực sự nhận được một cách hiểu biết về Thiên Chúa do Chúa trực tiếp mặc khải ra. Nếu Chúa Giêsu chính là Đấng như Ngài đã tuyên bố, thì các Kitô hữu quả được chúc phúc khôn lường. Nếu Chúa Giêsu chính là Đấng như Ngài đã từng tuyên bố, thì các Kitô hữu có cái nhìn về Thiên Chúa chính xác hơn bất cứ một tôn giáo nào khác.

Đức Mahomét từng nhìn nhận Ngài là kẻ có tội. Đức Phật thì bác bỏ sự tôn thờ cá nhân Ngài. Abraham và Môisê thà chết hơn là được bất cứ ai xem họ như thần linh dưới bất cứ cách thức nào. Chỉ mỗi mình Chúa Giêsu dám nói rằng: "Hãy tin vào Ta khi Ta nói rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta" ( Ga. 14, 11). Và chỉ một mình Chúa Giêsu dám nói: "Ta là bánh hằng sống từ trời xuống...Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sự sống đời đời và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết" ( Ga.6,51-54). Và chỉ một mình Chúa Giêsu dám nói: "Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta sẽ có ánh sáng ban sự sống và sẽ không bao giờ bước đi trong tối tăm" ( Ga. 8,12).

Nếu Chúa Giêsu là Đấng như Ngài nói thì các Kitô hữu có đặc ân đạt đến không chỉ như sự hiểu biết về Chúa được mặc khải một cách thân mật trực tiếp, mà còn đạt tới chính Thiên Chúa nữa. Và nếu Chúa Giêsu chính là Đấng như Ngài nói, thì mọi vị lãnh đạo tôn giáo khác ắt sẽ đồng ý với lối tuyên xưng của người Kitô hữu.

Tất cả các điều trên đều xoay quanh vấn nạn cực kỳ quan trọng mà Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ Ngài trong chương 16 Phúc Am Thánh Matthêu: "người ta bảo Con Người là ai?". Các môn đệ trả lời: "kẻ thì bảo là Gioan tẩy Gỉa, kẻ khác bảo là Elia, kẻ khác nữa bảo là Giêrêmia hay một Tiên tri nào khác". Ngài liền hỏi họ: "thế còn các con ? Các con bảo Ta là ai ?" Simon Phêrô trả lời: " Thầy là Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống". Chúa Giêsu liền đáp: "Phúc cho con, hỡi Simon con Giaon ! Vì chân lý này đã đến với con không phải từ bất cứ ai mà chính là Cha Ta trên trời trực tiếp ban cho con" ( Ga.16,14-16).

Đây là Tin Mừng chứa đựng trong bài Phúc Am hôm nay. Đây là Tin Mừng loan báo Chúa Giêsu Con Thiên Chúa đã đến trần gian để dậy chúng ta biết về Chúa Cha trên trời. Đây là Tin Mừng loan báo Chúa Giêsu đã đến sống giữa chúng ta vào thời đại của Phúc Am, như một con người có máu thịt giống hệt chúng ta, và hôm nay Ngài vẫn còn tiếp tục sống giữa chúng ta trong thân thể mầu nhiệm của Ngài, tức là Giáo Hội trên trần thế này. Đây là Tin Mừng mà chúng ta cùng nhau mừng kính trong Bí tích Thánh thể hôm nay. Và đây cũng là Tin Mừng chúng ta loan báo cho thế gian khi chúng ta nhân danh Chúa tụ họp nhau quanh bàn tiệc để cùng nhau ăn bữa tối với Chúa.


 

PS5-A19: SỐNG TRONG THỰC TẾ CỦA THẾ GIỚI - Cha Car. Hồ Bặc Xái

SỢI CHỈ ĐỎ
 
  • Bài đọc 1 : Cộng đoàn tín hữu sơ khai gặp khó khăn ; giải quyết bằng cách lập định chế phó tế ; số tín hữu gia tăng.

    - Bài đọc 2 : mỗi tín hữu là một viên đá sống động xây dựng đền thờ của Chúa Thánh Thần.

    - Bài Tin Mừng : Sống theo Đức Giêsu là Đường, sự thật và sự sống.

    Minh họa

    - Mille images 124 C

    - "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống" (Ga 14,6)

    I. Dẫn vào Thánh lễ

Có một điều chúng ta hay quên nên Thánh lễ hôm nay muốn nhắc chúng ta nhớ. Đó là chúng: PS5-A19

  • Có một điều chúng ta hay quên nên Thánh lễ hôm nay muốn nhắc chúng ta nhớ. Đó là chúng ta tuy ở giữa thế giới này nhưng lại thuộc về một "dân thánh", "dân được Thiên Chúa tuyển chọn". Đây là một vinh dự, đồng thời là một trách nhiệm. Nếu như chúng ta cảm thấy mình chưa xứng đáng với vinh dự này và chưa chu toàn trách nhiệm này, thì hãy đến với Chúa trong Thánh lễ. Ngài sẵn sàng thanh luyện chúng ta và thêm sức giúp chúng ta.

    II. Gợi ý sám hối

    - Là thành phần của một cộng đoàn được Chúa quy tụ, nhưng chúng ta hay chia rẽ nhau.

    - Là dân được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng chúng ta ít quảng đại hiến thân cho Chúa.

    - Đức Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống. Nhưng nhiều khi chúng ta không bước theo Ngài, học với Ngài và sống như Ngài.


    III. Lời Chúa

    1. Bài đọc I : Cv 6,1-7

    Bài tường thuật này mô tả nếp sống của cộng đoàn tín hữu sơ khai, một cộng đoàn không thiếu những khó khăn nội bộ, nhưng đã biết cách giải quyết thỏa đáng nên vẫn tiếp tục lớn mạnh.

    - Khó khăn phát xuất từ việc phân phối những nhu cầu đời sống, gây ra những sự kêu trách.

    - Các tông đồ đã đưa vấn đề ra tập thể, đề nghị một giải pháp theo hướng chia sẻ trách nhiệm (chọn 7 phó tế lo việc đời sống), và tập thể đã nhất trí.

    - Nhờ khéo giải quyết nên cộng đoàn lại đoàn kết yêu thương và tăng số.

    2. Đáp ca : Tv 32

    Chúng ta có gì phải sợ trên con đường dương thế ? Đã có chính Đức Giêsu đi bên cạnh chúng ta ; Ngài dẫn chúng ta về nhà Chúa Cha; Ngài nuôi chúng ta bằng tình yêu thương của Ngài ; Ngài luôn bênh vực chúng ta và cứu chúng ta thoát khỏi cái chết đời đời.

    3. Bài đọc II : 1 Pr 2,4-9

    Thánh Phêrô nhắc tín hữu nhớ đến phẩm giá cao quý và trách nhiệm của họ :

    - Phẩm giá : Tín hữu là dòng giống được Thiên Chúa tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự và là dân riêng của Thiên Chúa.

    - Trách nhiệm : Hãy để Thiên Chúa dùng mình như những viên đá sống động xây nên ngôi đền thờ của Thánh Thần ; hãy dâng những của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa ; hãy loan truyền những công trình vĩ đại của Ngài.

    4. Bài Tin Mừng : Ga 14,1-12

    Bài Tin Mừng kêu gọi tín hữu đi theo Đức Giêsu, học với Ngài và sống với Ngài, bởi vì Ngài là đường, sự thật và sự sống :

    - Đức Giêsu là đường vì Ngài dẫn tín hữu đến với Chúa Cha, nguồn hạnh phúc đích thực.

    - Đức Giêsu là sự thật vì Ngài phát xuất từ Chúa Cha là nguồn chân lý, và Ngài dạy cho chúng ta biết Chúa Cha.

    - Đức Giêsu là sự sống vì "sự sống đích thật là nhận biết Chúa Cha và Đấng Ngài sai đến" (Ga 17,3).

    IV. Gợi ý giảng

    XAO XUYẾN

    Richard P. vaughan, một chuyên gia tâm lý, đã viết như sau về tâm trạng xao xuyến.

    “Xao xuyến là điều mà chẳng ai có thể tránh khỏi… Nó có thể ở những mức độ khác nhau từ rất nhẹ đến rất nặng. Xao xuyến là một tình trạng hoang mang, ưu tư và bất an, rất gần với nỗi sợ. Nó khác với nỗi sợ vì khi xao xuyến, tâm trạng của người ta mơ hồ chứ không có đối tượng rõ ràng. Khi bạn xao xuyến, bạn đang ưu tư về một mối nguy hiểm không xác định trong tương lai. Bạn sợ rằng một điều chi đó tệ hại xảy ra nhưng bạn không biết chắc đó là điều gì” (tư vấn mục vụ, bản dịch của Marcello và Ph, Tn, trang 64. Các dịch giả không dùng từ “xao xuyến” mà dùng từ “lo âu”).

    Vì “xao xuyến” là điều mà chẳng ai có thể tránh khỏi…” nên chính Đức Giêsu cũng xao xuyến. Tin Mừng Gioan ghi nhận Đức Giêsu đã hai lần xao xuyến. Lần thứ nhất là khi Ngài đứng trước mồ người bạn thân là Ladarô (Ga 11,13: “Đức Giêsu . Thổn thức trong lòng và xao xuyến”; lần thứ hai khi Ngài nghĩ đến chết của mình (Ga 12,27); “Bây giờ tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây?) trong hai lần này, sở dĩ Đức Giêsu xao xuyến làvì Ngài đang băn khoăn về tương lai nguy hiểm. Nhưng ngay sau những phút xao xuyến lần thứ hai, Đức Giêsu đã xác định được về tương lai của mình: “Lạy Cha xin cứu con khỏi giờ này. Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến”. (Ga 12,27). Từ đó trở đi. Tin Mừng Gioan không ghi nhận Ngài phải xao xuyến lần nào nữa.

    Chẳng những thế, trong đoạn Tin Mừng này, Ngài còn bảo các môn đệ Ngài “đừng xao xuyến”.

    Tại sao lúc đó các môn đệ xao xuyến? Cũng vì băn khoăn cho tương lai. Văn mạch phía trước (Ga 13) đã ghi rằng Đức Giêsu vừa báo tin cho họ hay Ngài sắp ra đi chịu chết, Ngài cũng cho biết trước là Giuđa sẽ phản nộp Ngài và chính Phêrô sẽ chối Ngài. Quả là một tương lai rất ảm đạm: Thầy thì không còn, và anh em thì tan tác! Không biết tương lai sẽ ra sao.

    Bởi thế, để giúp các ông khỏi phải xao xuyến. Đức Giêsu đưa ra bảo đảm cho tương lai. Bảo đảm đó là đức tin : “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (c. 1).

    Đức tin ấy có những nội dung cụ thể: 1/ Tin rằng Đức Giêsu đã dọn sẵn chỗ cho họ trong Nhà Cha của Ngài (câu 2): 2/ Tin rằng họ có thể đến được chỗ đó nếu đi con đường Đức Giêsu (câu 6: “Thầy là đường là sự thật và là sự sống”); 3/ Tin rằng họ có thể thấy được Chúa Cha (câu 9: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”).

    Đức Giêsu đã từng trải qua những cơn xao xuyến. Nhưng nhờ tin vào chương trình của Chúa Cha, Ngài đã vượt qua mọi xao xuyến để bước vào con đường thập giá một cách thanh thản bình an.

    Các môn đệ của Đức Giêsu cũng xao xuyến rất nhiều khi Ngài sắp ra đi chịu nạn chịu chết. Nhưng nhờ tin vào Chúa Cha và Đức Giêsu nên các Ngài cũng vượt qua tất cả.

    Cuộc đời chúng ta không ít lần phải xao xuyến vì công ăn chuyện làm gặp trắc trở, xao xuyến trước bệnh tật, xao xuyến trước cái chết của những người thân, xao xuyến trước những bấp bênh của cuộc đời…

    Nhờ đức tin, và chỉ nhờ đức tin, chúng ta mới có thể vượt thắng những xao xuyến ấy.

    Hãy tin rằng Chúa Cha đã có sẵn cho mỗi người một chương trình và một tương lai tốt đẹp.
    Hãy tin rằng có Đức Giêsu là mục tử dẫn dắt đời ta qua khỏi mọi thử thách gian truân.
    Xin cho niềm tin phục sinh xoá tan mọi xao xuyến và khiến tâm hồn chúng ta luôn bình an.


    1. Giáo Hội vừa thánh thiện vừa tội lỗi

    Bài đọc thứ hai (thư Phêrô) trình bày vẻ thánh thiện của Giáo Hội : Giáo Hội là "giống nòi được tuyển chọn, là hoàng gia chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa". Vì thế tín hữu hãy "để Thiên Chúa dùng như những viên đá sống động xây nên ngôi đền thờ của Thánh Thần… dâng những của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa…"

    Nhưng bài đọc 1 (sách Công vụ) cho thấy trong cộng đoàn Giáo Hội vẫn có bất công, sinh ra tranh chấp và kêu ca. Thành thử "ngôi đền thờ của Thánh Thần" cũng khó mà xây dựng, những "viên đá sống động" khó mà ăn khớp với nhau, và "những của lễ thiêng liêng" khó mà đẹp lòng Thiên Chúa.

    Tuy nhiên, bài Tin Mừng khuyến khích chúng ta hãy an tâm, cứ vững tin và trung thành đi theo Đức Giêsu thì mọi sự sẽ ổn, bởi vì Ngài là đường, là sự thật và à sự sống.

    2. Xao xuyến

    Có biết bao điều làm cho con người xao xuyến : bệnh tật, khủng hoảng kinh tế, xa cách người thân v.v.

    Đức Giêsu biết tất cả những điều đó, nhưng Ngài vẫn khuyên "Lòng chúng con đừng xao xuyến", vì Ngài nhìn mọi sự từ trên cao. Từ cao nhìn xuống, cái nhìn của Ngài bao quát hơn và thấy trọn vẹn hơn : Ngài không chỉ thấy hiện tại đang bế tắc mà còn thấy tương lai xán lạn. Nhờ cái nhìn ấy nên mặc dù trong Vườn Cây Dầu Ngài thấy hình như đang đứng trước ngõ bí nhưng Ngài vẫn tiến bước nên cuối cùng đã đến ánh sáng phục sinh.

    Bởi thế, Ngài kêu gọi chúng ta : "Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy".

    Nếu tin thì không còn xao xuyến nữa.

    3. Chia sẻ công việc trong Giáo Hội

    Những công việc trong Giáo Hội rất là nhiều, nhưng số Giám mục và Linh mục lại quá thiếu. Nhìn trong phạm vi một giáo xứ cũng thế : giáo dân thì đông nhưng những người lo việc thì ít. Chỉ có Cha Xứ, vài tu sĩ và một ít thành viên Hội đồng giáo xứ. Khủng hoảng.

    Nhưng cơn khủng hoảng này đã có ngay từ hồi Giáo Hội sơ khai. Và Giáo Hội sơ khai đã giải quyết một cách khéo léo bằng cách chia sẻ trách nhiệm : các tông đồ chuyên lo rao giảng Lời Chúa, các phó tế lo cho đời sống. Có lẽ từ kinh nghiệm này mà Thánh Phêrô đã đề ra nguyên tắc mọi người tham gia vào việc chung của Giáo Hội : "Anh em hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động xây nên ngôi đền thờ Thánh Thần". Mỗi người đều là một viên đá. Người thì xây nền, người thì xây tường, người khác xây cổng v.v.

    Thực ra, một cộng đoàn mà sinh động thì tất nhiên phát sinh thêm những công việc. Và nếu các thành viên của cộng đoàn thiết tha với sức sống của cộng đoàn thì sẽ biết cách thu xếp để chu toàn mọi công việc theo hướng cùng nhau chia sẻ trách nhiệm. Và được như thế thì chắc chắn "số các môn đệ sẽ ngày càng thêm đông".

    4. Chuyện minh họa "Ta là đường, sự thật và sự sống"

    a/ Đường

    Một người đố bạn mình :

    - Đố anh trong Tin Mừng câu nào ngọt ngào nhất ?

    - Thiên Chúa là Tình yêu.

    - Không phải.

    - Vậy chứ câu nào ?

    - "Ta là đường"

    - ! ! ! ? ? ?

    b/ Sự thật : Sự thật ở đâu ?

    - Một tai nạn xe hơi xảy ra trong một thành phố nhỏ. Đám đông vây kín nạn nhân khiến một nhà báo không sao nhìn thấy được. Anh ta chợt nảy ra một ý nghĩ và kêu lên "Tôi là bố của nạn nhân đây. Tránh ra". Đám đông tránh lối cho anh ta lại gần. Khi chứng kiến cảnh tượng, anh ta mới vô cùng mắc cỡ, vì nạn nhân là một con lừa ! (Anthony de Mello, "Lời kinh của con ếch")

    - Một nhà xuất bản gởi tới tác giả của một bản thảo lời từ chối sau đây : "Chúng tôi đặc biệt thích thú đọc bản thảo của ông. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng tôi xuất bản tác phẩm của ông, chúng tôi sẽ hoàn toàn không bao giờ còn có thể xuất bản một tác phẩm nào khác ngang tầm giá trị được với nó. Và chúng tôi không thể hình dung được làm sao trong vòng một trăm năm nữa lại có một tác phẩm nào khác có thể sánh được với tác phẩm của ông. Vì thế chúng tôi rất tiếc phải buộc lòng gởi lại ông bản văn tuyệt vời này. Và ngàn lần chúng tôi xin ông tha lỗi cho vì sự thiển cận và yếu kém của chúng tôi". (Anthony de Mello, "Lời kinh của con ếch")

    c/ Sự sống

    Một bà đạo đức áy náy vì một vài tật xấu bà đã cố gắng hết sức mà vẫn không chừa được. Ban đến than thở với cha linh hướng. Ngài nói : "Con có để ý thấy không, vào mùa đông, lá sồi rụng nhiều, nhưng vẫn còn vài chiếc. Gió đông thổi mạnh cũng không làm chúng rụng xuống. Nhưng khi mùa xuân đến, chúng tự động rụng nhường chỗ cho lá non mẩy lộc. Vậy cái gì làm cho chúng rơi rụng ? Thưa đó là sự sống mới lưu chuyển trong thân cây. Với chúng ta cũng vậy, khi sự sống mới của đức Kitô nảy nở trong đời sống, ta sẽ mau thăng tiến trên đường đạo đức."

    V. Lời nguyện cho mọi người

    CT : Anh chị em thân mến

    Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Thiên Chúa mà không qua Người. Tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện.

    1- Một trong những mục tiêu Hội Thánh luôn theo đuổi / là tạo được sự hiệp nhất giữa những người cùng tin vào Đức Kitô / Chúng ta hiệp lời cầu xin / cho công trình đại kết của Hội Thánh / sớm đạt được kết quả mong muốn.

    2- Trên thế giới ngày nay / có biết bao người đang noi gương Đức Kitô / xả thân phục vụ những người nghèo khổ nhất trong xã hội / ở các trại phong / các bệnh viện tâm thần / nơi những vùng rừng thiêng nước độc đầy dẫy hiểm nguy / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / luôn gìn giữ và nâng đỡ những con người quảng đại ấy.

    3- Con người vốn bản tính yếu đuối nên rất dễ nản lòng / tuyệt vọng trước những đau khổ / những khó khăn trong đời sống thường ngày / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những anh chị em đang gặp thử thách / luôn biết tin tưởng vào tình yêu vô biên / và sự quan phòng kỳ diệu của Chúa.

    4- Ngay trong một xứ đạo / nhiều khi sự chia rẽ / mất đoàn kết / vẫn còn rất trầm trọng / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết dẹp bỏ mọi tị hiềm / để sống hiệp nhất và yêu thương nhau như Chúa đã dạy.

    CT : Lạy Chúa, thánh Phêrô đã bảo chúng con "Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những công trình vĩ đại của Người". Xin cho chúng con luôn sống xứng đáng với tình thương của Chúa và thực hiện trọn vẹn vai trò chứng nhân của mình. Chúng con cầu xin nhờ…

    VI. Trong Thánh Lễ

    - Kinh Tiền tụng : Nên dùng Kinh Tiền Tụng Phục sinh 5 vì có nói tới Đức Giêsu như của lễ, bàn thờ và tư tế.

    - Trước kinh Lạy Cha : Đang khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta hãy có những tâm tình của chính Đức Giêsu : mong cho Nước của Chúa Cha trị đến trên trần gian này, một nước đầy tình thương, công chính và bình an.

    VII. Giải tán

    Anh chị em là thành phần của một xã hội trần thế nhưng đồng thời cũng là thành phần của một dân thánh được Thiên Chúa tuyển chọn. Anh chị em hãy trở về lo xây dựng xã hội nhưng đồng thời cũng đừng quên xây dựng Nước Thiên Chúa.
 

PS5-A20: CUỘC SỐNG TRẦN THẾ VÀ CUỘC SỐNG VĨNH CỬU

CHỈ LÀ MỘT
Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người
 

Khi thánh Gioan viết Tin Mừng thứ bốn mà hôm nay chúng ta đọc đoạn trích, thì các cộng đoàn: PS5-A20

Khi thánh Gioan viết Tin Mừng thứ bốn mà hôm nay chúng ta đọc đoạn trích, thì các cộng đoàn Kitô hữu ở Palestin, ở Tiểu Á và các nơi khác đang phải chịu nhiều đau khổ. Họ bị một số người Do Thái theo dõi, tấn công liên tục. Họ bị chính quyền La mã bắt bớ. Đặt biệt là các cộng đoàn ở Tiểu Á phải trải qua những luồng tư tưởng như những làn gió độc, làm đức tin của họ lung lay chao đảo. Những tư tưởng ấy mách với họ rằng: càng khinh chê trần thế, ta càng gắn bó với cõi trời. Càng khinh chê thân xác, ta càng có dịp chăm sóc linh hồn mình. Nhưng chẳng lẽ cuộc sống đời này và cuộc sống phục sinh lại đối lập đến nỗi loại trừ lẫn nhau hay sao? Phải từ chối cuộc sống này, mới có thể sống cuộc sống kia sao? Phải qua cái chết, mới có thể sống đời phục sinh hay sao?

Không. Thánh Gioan nhắc nhở chúng ta rằng: Ngay từ đời này, người tín hữu đã sống cuộc sống phục sinh rồi. Lòng tin vào Đấng Kitô phục sinh xóa bỏ khoảng cách giữa những thực tại trần thế và những thực tại trên trời. Lòng tin ấy làm cho chúng ta, ngay từ đời này, đã được sống cuộc sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Đó là sự thật không mấy dễ hiểu. Nên Đức Giêsu đã nhân cơ hội các ông Tôma và Philipphê có những câu hỏi ngây ngô để dạy dỗ chúng ta. Ông Tôma nói: “Thưa Thầy, chúng tôi không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường Thầy đi?”.

Thực ra, con đường mà Chúa đề cập, không tính bằng cây số, nghĩa là có khoảng cách. Đối với Chúa, đường và nơi đến cũng chỉ là một. Và con đường hay khoảng cách giữa cuộc sống trần thế này và cuộc sống phục sinh, không khác gì khoảng cách giữa Cha và Con. Cha Ngài ở trong Ngài và Ngài ở cùng Cha Ngài. Chúa mời gọi chúng ta làm một cuộc hành trình nội tâm: vừa đi trong sa mạc, vừa được uống nước dừa ở ốc đảo. Chúa vừa cho chúng ta cơn khát, vừa ban nước cho chúng ta. Vì thế, trong lòng người tín hữu, ngày càng lớn lên niềm hy vọng về con đường và nơi đến, về cái chưa đến và cái đã đến, bởi trần thế và Nước Trời chỉ là một.


KHÔNG BAO GIỜ CHÚA BỎ MẶC CON VỚI NHỮNG GIỚI HẠN CỦA CON

ĐHY Phanxicô Nguyễn văn Thuận

Chúa nhân từ vô cùng, Chúa hiểu lòng con, và sự yếu hèn của con, nên Chúa không bỏ con.

Chúa công bình vô cùng, nên Ngài không đòi hỏi sự gì vượt quá sức con.

Con sung sướng vô cùng khi suy ngắm Chúa công minh vô cùng,

Và con giao phó tất cả, tất cả trong tay Chúa.

Kinh nghiệm đã cho con thấy,

Những lúc đường con đi gặp khó khăn muôn vàn,

Đêm tối, thử thách hầu như không có lối thoát.

Chúa không bỏ con, vì Chúa công minh vô cùng.

Lúc con hầu như sắp ngã quỵ dưới sức mạnh của sự dữ,

Chúa vẫn không bỏ con.

Ngài ở gần con hơn bao giờ cả.

Lúc con muốn thất vọng buông xuôi,

Vì trong ngoài gặp bao nhiêu trở ngại như vũ bão, để xuyên tạc thiện chí của con

Hoạt động của con. Chúa vẫn không bỏ con.

Vì chính những lúc ấy. Chúa Thánh Thần dạy dỗ con phải làm gì, phải nói gì.

Chúa Thánh Thần tiếp tục đổ hy vọng vào tim con đang héo hắt.

Ngài bảo đảm cho con rằng:

“không bao giờ Chúa bỏ mặc con với giới hạn của con” (Lc.12,11-12)

vì làm như thế thì Chúa không còn là Chúa nữa
Nhóm GNCD


 

PS5-A21: ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG CHÚA

Phúc Âm Thánh Gio-an chương 14 là lời tâm sự của Chúa Giê-su với các môn đệ. Nó có cấu: PS5-A21

Phúc Âm Thánh Gio-an chương 14 là lời tâm sự của Chúa Giê-su với các môn đệ. Nó có cấu trúc xoay quanh cuộc trở về với Chúa Cha của Chúa Con và vai trò độc nhất của Chúa Con trong việc đưa dẫn các môn đệ về với Chúa Cha.

Tô-ma và Phi-líp-phê đã hỏi Chúa 2 câu và Chúa đã mạc khải 2 chân lý hết sức quan trọng:

- Thầy là đường là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.
- Ai thấy Thầy là thấy Cha; Thầy trong Cha và Cha trong Thầy.

Chỉ có thể đạt tới Cha khi chúng ta đi theo Đấng tự nhận là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Và cũng không ai có thể tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa mà lại không do Thánh Thần. Hiểu biết đích thực về Cha và Con mang dấu ấn Thánh Thần. Chính trong Thánh Thần mà Thiên Chúa là Cha và Đức Giê-su là Con ( x. Gm. Bùi Văn Đọc, Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót, trang 184 ). Thiên Chúa mà mọi tín hữu tôn thờ và yêu mến hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn, chính là Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Giê-su Ki-tô "Ai thấy Thầy là thấy Cha" ( Ga 14, 9 ) vì "Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy" ( Ga 14, 10 ).

Toàn bộ Lịch Sử Cứu Độ được xây dựng trên tương quan Cha - Con " Chúa Cha yêu Chúa Con". Hai chữ Tình Yêu là cách diễn tả sâu thẳm nhất tương qua Cha- Con. Tình yêu đó được Chúa Giê-su thể hiện qua đời sống nhân hậu, bao dung vô bờ của Ngài. Lời nói việc làm của Ngài chính là lời nói việc làm của Chúa Cha ( Ga 14, 10 ). Toàn bộ cuộc đời của Ngài được Chúa Cha chiếm ngự. Ngài như tấm gương trong suốt phản chiếu khuôn mặt và trái tim Chúa Cha.

Chúa Giê-su dạy cho chúng ta biết về Chúa Cha bằng nhiều cách: bằng lời nói, bằng việc làm, nhưng nhất là chính phận làm Con. Nhiều lần và bằng nhiều cách khác nhau, Đức Giê-su đã nói với con người về Thiên Chúa là Cha, Đấng mà họ phải tin tưởng phó thác ( Mt 6, 32 ), noi gương ( Mt 5, 45 - 48 ), nguyện cầu ( Lc 11, 2 ), phải tôn thờ vì Ngài là Chúa trời đất ( Mt 10, 28 ), là Cha đầy quan tâm ân cần ( Mt 6, 25 - 32 ) và đặc biệt gần gũi với những kẻ tội lỗi ( x. sđd tr. 191 ).

Điều kỳ diệu và tuyệt vời là chính Đấng Tuyệt Đối, Đấng Toàn Năng, Cao Cả, Chí Thánh Chí Tôn và Hằng Hữu đã có thể trở thành tương đối, thấp hèn, bạn với quân thu thuế với phường tội lỗi, cuối cùng phải chết khổ hình. Nơi Đức Giê-su, sự uy nghi của Thiên Chúa tỏ hiện trong khiêm tốn và yếu đuối cách nghịch thường. Điều đó sự khôn ngoan của bậc hiền triết không lý giải được, nhưng nói như Pascal, trái tim lại hiểu được vì nó có lý lẽ riêng của nó. Thiên Chúa của Đức Giê-su không phải là Thiên Chúa ngự trên toà cao cho người ta sấp mình thờ lạy mà không dám nhìn đến tôn nhan, không dám gọi tên mà chỉ dám cầu xin với niềm sợ hải. Thiên Chúa của Đức Giê-su dễ gần, dễ thấy, dễ quen. Thiên Chúa hiện diện nơi con người Đức Giê-su khiêm hạ. Chính Ngôi Lời làm người đã chọn máng cỏ làm tổ ấm lúc chào đời, đã chọn xóm làng Na-da-rét làm nơi sinh sống, đã chọn những kẻ thấp hèn trong xã hội làm bầu bạn, đã quỳ gối rửa chân cho các Môn Đệ, rồi chọn cây thập giá làm giường khi chết cùng với hai kẻ cướp làm bạn đồng hành đi vào thế giới bên kia. Thiên Chúa làm người đã chọn nhà Da-kêu để tạm trú, chọn người thiếu phụ Sa-ma-ri để gặp gỡ đối thoại, đã chấp nhận cử chỉ biết ơn của người phụ nữ tội lỗi Ma-đa-lê-na, đã chọn kẻ trộm lành làm ứng viên đầu tiên vào Thiên Đàng, đã chọn Phao-lô kẻ bắt bớ Giáo hội làm Tông Đồ Dân Ngoại...

Quả thật Thiên Chúa của Đức Giê-su chẳng giống tí nào với Thiên Chúa các đạo binh của Ít-ra-en. Người Do-thái nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ về phe với dân Người chọn, chỉ bênh vực những người Do-thái ngoan Đạo và lên án nguyền rủa, trừng phạt các dân ngoại cùng người tội lỗi. Thiên Chúa của Đức Giê-su không về phe với kẻ cầm quyền độc ác, người giàu có ích kỷ hay người đạo đức giả. Vì thế các bậc kinh sư, tư tế, kỳ lão trong dân không chấp nhận Thiên Chúa ấy mà trái lại họ đã giết Đức Giê-su để bảo vệ Thiên Chúa của họ. Họ đã giết Đấng Thánh để bảo vệ đền thờ, đã chà đạp và xoá bỏ "hình ảnh Thiên Chúa vô hình" ( Cl 1, 15 ) để bảo vệ Thiên Chúa của lề luật.

Thiên Chúa của Đức Giê-su, Thiên Chúa của chúng ta cũng không phải là Thiên Chúa của các triết gia, không phải là Thiên Chúa của các nhà du hành vũ trụ tìm kiếm mà là Người Cha nhân hậu, từ bi, đầy lòng thương xót. Người chỉ muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế. Người không phải là Người Cha nghiêm khắc độc đoán, Người Cha dễ tính xuề xoà mà là Người Cha yêu thương, tha thứ. Một Người Cha chuẩn bị sẵn sàng quần áo, giày dép, nhẫn đeo tay và vỗ béo con bê chờ sẵn đứa con hoang đàng trở về và hơn thế nữa còn ra ngoài ngóng trông rồi vui sướng tiến về phía con đón nó vào lòng hôn lấy hôn để ( Lc 15, 11 - 32 ). Lòng nhân hậu được tỏ bày khi tha thứ. Thánh Phao-lô là người cảm nhận sâu xa lòng từ bi, nhân hậu, thứ tha ấy ( 2 Cr 3, 7 - 11 ).

"Thiên Chúa không ai thấy bao giờ, Con Một, Đấng ở nơi cung lòng Cha, chính Người đã thông tri" ( Ga 1, 18 ). Con người có thể biết Thiên Chúa qua công trình sáng tạo và lịch sử cứu độ, nhưng chưa ai thấy khuôn mặt Ngài. Chính Chúa Con tỏ bày cho nhân loại biết sự thật sâu xa của Thiên Chúa "Ai thấy Thầy là thấy Cha". Qua cuộc sống và lời giảng dạy, Chúa Giê-su đã chỉ cho nhân loại thấy Chúa Cha, một Thiên Chúa là Cha nhân hậu từ bi, đầy lòng xót thương, tha thứ và còn hơn thế nữa Chúa Giê-su là Con đường độc nhất dẫn đến Cha "Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" ( Ga 14, 6 ). Mọi con đường cứu độ đều phải đi vào Con Đường Giê-su. "Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời, để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ" ( Cv 4, 12 ). Nhân loại được cứu độ nhờ Danh Đức Giê-su.

Đức Giê-su đã về với Chúa Cha trong vinh quang Phục Sinh, sau khi đã sống một đời yêu thương tự hiến. Cuộc đời Đức Giê-su trở thành con đường cho chúng ta đi. Đọc và suy niệm Tin Mừng trong tin yêu, Chúa sẽ dạy chúng ta nghĩ gì, nói gì, làm gì. Khi đi vào con đường Chúa đã đi qua chúng ta cũng trở nên nẻo đường cho anh chị em mình, nẻo đường dẫn lối về Thiên Chúa là Cha yêu thương.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An


 

PS5-A22: NHÀ CHA CÓ RẤT NHIỀU CHỖ

1. "THẦY ĐI LÀ Đ DỌN CHỖ CHO ANH EM" "TRONG NHÀ CHA THẦY"
 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cho biết Ngài "đi là để dọn chỗ cho anh em" ở "trong: PS5-A22

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su cho biết Ngài i là để dọn chỗ cho anh em" ở "trong nhà Cha Thầy". Đây là một trong những lời cáo biệt của Ngài với các môn đệ trước khi Ngài bước vào cuộc khổ nạn và chết trên thật giá. Vì thế, chữ "đi" ở đây có nghĩa là đi vào đau khổ và cái chết. "Dọn chỗ cho anh em... trong nhà Cha Thầy" có nghĩa là chuẩn bị sự sống đời đời cho con người. Như vậy, Đức Giê-su đã dùng sự đau khổ và sự chết để chuẩn bị sự sống đời đời cho con người. Nói cách khác, nhờ đau khổ và cái chết, Ngài trở thành con đường dẫn tới sự sống đời đời.
Ngài đã phải đau khổ và chết mới có thể đem lại sự sống đời đời cho chúng ta. Phần chúng ta, để hưởng được sự sống đời đời ấy, chúng ta cũng phải góp một phần nào hy sinh và đau khổ của mình vào khi quyết tâm sống phù hợp với sự đòi hỏi của tình yêu. Tình yêu ở đây là tình yêu đối với Thiên Chúa được cụ thể hóa thành tình yêu đối với tha nhân. Tình yêu luôn đòi hỏi phải được chứng tỏ cụ thể bằng đau khổ và hy sinh. Không chấp nhận đau khổ và hy sinh cho ai hết có nghĩa là không yêu ai cả. Nhưng yêu cũng là... chấp nhận sự khác biệt của người mình yêu.
2. "TRONG NHÀ CHA THẦY, CÓ NHIỀU CHỖ "
Đức Giê-su phải chịu đau khổ và chết không phải chỉ đ cứu rỡi hay đem lại sự sống đời đời cho một mình ta, hay nhóm của ta, cộng đoàn của ta, Giáo Hội của ta, hoặc những người có cùng khuynh hướng với ta. Ngài muốn cứu tất cả mọi người, mọi khuynh hướng, mọi cộng đoàn, mọi tập thể... khác nhau. Thánh Phao-lô viết: "Thiên Chúa, Đấng cứu đ chúng ta, muốn cho mọi người được cứu đ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2, 4 ). Điều đó đã được Đức Giê-su tỏ cho biết trong câu: "Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ". "Nhiều chỗ ở" có nghĩa là dung nạp được nhiều: nhiều người, nhiều chủng tộc, màu da, khuynh hướng ( chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm linh, tôn giáo... ).
Nhìn trong thế giới tự nhiên này, ta thấy sự vật hết sức đa dạng, nghĩa là đủ loài đủ kiểu, rất khác biệt nhau. Thế giới sẽ trở nên đơn điệu và buồn tẻ biết bao nếu thiếu sự đa dạng và khác biệt ấy. Hãy thử tưởng tượng xem: nếu trên đời chỉ có một loài hoa duy nhất cho dù hết sức đẹp, hoa nào cũng giống y hệt hoa nào, thì chúng đâu thỏa mãn nhu cầu thích cái đẹp của con người như khi có hàng trăm ngàn loài hoa khác nhau như trong thế giới ta đang sống đây ! Thế giới này sẽ ra sao nếu chỉ có một loài chim, một loại cá, hay tệ hơn, chỉ có một loài thú duy nhất ?
Thế giới tuy đa dạng và đầy khác biệt, các loài các vật trong đó vẫn luôn luôn hài hòa, bổ túc cho nhau, ăn khớp với nhau. Nếu thế giới tự nhiên đầy bất toàn này mà còn phong phú đa dạng như thế, còn có sự hài hòa giữa những khác biệt như thế, thì sự sống đời đời hay Thiên Đàng, là một thực tại hoàn hảo, ắt nhiên phải phong phú, đa dạng và nhất là hài hòa hơn biết bao !
Vì thế, ngay đời này, chúng ta cũng cần trang bị cho mình một tinh thần sẵn sàng chấp nhận mọi khác biệt nơi những người chung quanh chúng ta. Chính Thiên Chúa đã dựng nên con người và vạn vật đầy khác biệt như thế. Vì thế, mọi thành viên của Thiên Đàng đều phải có khả năng chấp nhận khác biệt rất cao đ đ sự hài hòa giữa những khác biệt ấy trở nên hoàn hảo. Điều ấy đòi hỏi họ phải có tình yêu và lòng bao dung cao đ. Nếu không có tình yêu và lòng bao dung, Thiên Đàng không còn là Thiên Đàng nữa, sự sống đời đời không còn là hạnh phúc nữa.
Nếu ta đang giận hờn ai, không muốn nhìn mặt ai, ghét cay ghét đắng ai, và chủ trương không thể sống chung với họ, không thể cùng đội chung một bầu trời với họ, v.v..., hãy tự hỏi: nếu cả hai gặp nhau trên Thiên Đàng, ta sẽ đối xử với người ấy thế nào ? Người ấy cũng được Thiên Chúa và Đức Giê-su yêu thương, cứu chuộc, tha thứ như ta. Nếu lúc ấy ta không thể nhìn người ấy với tình yêu thương anh em, thì chính ta là người không xứng đáng ở Thiên Đàng.
Với sự thù hận và ác cảm ấy, ta chỉ làm cho Thiên Đàng bị ô nhiễm và không còn là nơi hạnh phúc nữa. Ta đáng ở một nơi khác không phải là Thiên Đàng. Vì Thiên Đàng chỉ thích hợp với những con người tràn đầy yêu thương. Vậy, muốn là công dân của Thiên Đàng, thì ngay ở trần gian này, hãy tập yêu thương và sống hài hòa với những người khác biệt chúng ta. Muốn thế, ta phải nhìn thấy Thiên Chúa nơi tha nhân.
3. "AI THẤY THẦY LÀ THẤY CHÚA CHA"
Câu nói ấy của Đức Giê-su chắc hẳn đã làm cho các Tông Đồ hết sức ngạc nhiên. Thấy Đức Giê-su cũng chính là thấy Chúa Cha, vì Đức Giê-su chính là hiện thân, là hình ảnh trung thực của Chúa Cha. Người ta có thể thấy được tình yêu của Chúa Cha qua tình yêu của Đức Giê-su, thấy được vẻ đáng yêu của Chúa Cha qua sự đáng yêu của Đức Giê-su, v.v... Và một cách nào đó, Đức Giê-su cũng chính là Chúa Cha, vì cả hai cùng là một Thiên Chúa duy nhất. Các Tông Đồ có diễm phúc nhìn thấy Đức Giê-su, sống với Ngài, cảm nghiệm Ngài, nên cũng là nhìn thấy, sống với và cảm nghiệm chính Thiên Chúa Cha.
Còn chúng ta, chúng ta không có diễm phúc ấy. Tuy nhiên, nếu chúng ta có tình yêu và đức tin, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa hay Đức Giê-su nơi bất cứ người nào ta gặp trong cuộc đời. Cho dù người ấy là ai, thương ta hay ghét ta, làm lợi cho ta hay hại ta, thánh thiện hay tội lỗi, dễ thương hay dễ ghét, miễn họ là con người, thì họ đều là hình ảnh của Thiên Chúa với nhiều mức độ trung thực khác nhau. Đức Giê-su muốn ta yêu thương họ, bất kể họ thế nào, bất kể họ khác biệt ta đến mức độ nào, vì chính Ngài cũng yêu thương họ, muốn cứu chuộc họ, phục vụ họ.
Ngài đã tự đồng hóa Ngài với họ đến nỗi ai làm gì cho họ thì cũng là làm cho chính Ngài, không làm cho họ thì cũng là không làm cho chính Ngài ( x. Mt 10, 40; 18, 5; 25, 40.45; Lc 10, 16 ). Ngài cũng rất ước muốn được yêu thương họ bằng trái tim ta, nói với họ, an ủi họ bằng miệng lưỡi ta, và làm việc cho họ, phục vụ họ bằng đôi tay của ta. Ngài chỉ thực hiện được ước muốn đó nếu ta cho phép và hợp tác với Ngài. Vậy bạn có muốn Ngài dùng bạn như một khí cụ để yêu thương của Ngài không ?
Lạy Cha, Nhà Cha có rất nhiều chỗ có thể dung nạp được rất nhiều người với rất nhiều khuynh hướng khác biệt. Xin Cha cho tâm hồn con, lòng trí con cũng có nhiều chỗ để có thể dung nạp được tất cả mọi người là anh chị em con, với nhiều khuynh hướng, tính khí, chủ trương khác nhau. Xin cho con biết chấp nhận mọi người như họ đang là, để yêu thương họ bất chấp họ như thế nào. Xin cho con yêu thương họ giống như Cha đã yêu thương họ và đã yêu thương con. Amen.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

 

PS5-A23: Hoàn toàn đúng

Có câu chuyện kể rằng hai người đàn ông sống trong một ngôi làng nhỏ nọ, hai người ấy đã: PS5-A23

Có câu chuyện kể rằng hai người đàn ông sống trong một ngôi làng nhỏ nọ, hai người ấy đã đấu khẩu với nhau cách kịch liệt nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề của họ; thế là họ quyết định đi hỏi ý kiến của một người có tiếng là khôn ngoan nhất làng. Người thứ nhất đến nhà người khôn ngoan đó kể hết câu chuyện của mình xong liền hỏi: "Thưa ông, ông nghĩ sao?" Người khôn ngoan trả lời: " Ông đúng hoàn toàn". Rồi người thứ hai cũng đến và kể câu chuyện xảy ra giữa họ rồi hỏi như người thứ nhất, và câu trả lời của người khôn ngoan đó cũng là: "Ông hoàn toàn đúng". Sau khi khách đã về thì bà vợ của người khôn ngoan đó mới trách chồng: "Sao ông có thể trả lời như vậy được. Hai người họ kể hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau mà ông lại nói cả hai hoàn toàn đúng. Điều ấy thật vô lý, cả hai người không thể cùng hoàn toàn đúng được!" Người khôn ngoan cũng trả lời cho bà vợ: "Bà hoàn toàn đúng!"
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói cùng các môn đệ: "Các con đừng để lòng mình bị bối rối. Hãy tin vào Thiên Chúa... và tin vào Thầy... Thầy bảo thật cùng các con, bất cứ ai tin vào Thầy thì sẽ làm được các việc Thầy đã làm" (Jn 14:1,12).
Các bạn nghĩ sao? Các bạn có tự nói với mình là Chúa Giêsu đúng hoàn toàn không? Hay các bạn chưa thật sự để tâm lắng nghe lời Ngài? Lời của Chúa có phải như gió thoảng qua tai?
"Đừng để lòng trí các con bị bối rối. Hãy tin vào Thiên Chúa... và tin vào Thầy". Điều quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời các bạn đó là sự quyết định hoàn toàn tin tưởng và phó thác thác trong Chúa Tình Yêu là Đấng đã dựng nên các bạn và muốn các bạn thuộc trọn về Ngài. Khi các bạn tới đây cùng chia sẻ tham gia việc thờ phượng của cộng đoàn này là các bạn đã tiến một bước ra khỏi chính mình. Đó chính là lý do tại sao các bạn lại tới đây. Các bạn muốn biểu lộ niềm tin và cậy trông của mình vào Thiên Chúa Chí Thánh; và đó cũng là một phần của tất cả sự tôn thờ Thiên Chúa. Nhưng khi các bạn làm một việc ra khỏi chính mình như vậy thì trước hết các bạn đã làm một việc hết sức quan trọng là đi vào chính nội tâm mình để tìm thấy Thiên Chúa Tình Yêu đang thật sự hiện diện trong tâm hồn các bạn chưa nhỉ? Một Thiên Chúa Ân Sủng thật đang hiện diện trong thẳm sâu tâm hồn các bạn ngay lúc này đây-- Ngài muốn xuất hiện qua bạn, muốn gợi lại trong bạn lời nói: "Chúa Giêsu đúng hoàn toàn!" Tôi phải tin, phải phó thác mọi sự nơi Ngài!
"Bất cứ ai tin vào Ta đều có thể làm được những việc Ta đã làm", đó chính là những lời Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong bài Tin Mừng hôm nay. Hay nói một cách khác là: "Nếu các con thật sự tin vào Thầy thì các con sẽ tín thác nơi Thầy, sẽ phó thác mạng sống con cho Thầy, và con sẽ làm tất cả những gì Thầy dạy con làm-- con sẽ làm những gì chính Thầy đã làm". Là một Kitô hữu trưởng thành thì chúng ta phải hiểu rằng Thánh Ý Chúa luôn luôn tuyệt đối đúng cho chúng ta. Ví dụ như khi Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta về thánh ý Chúa Cha trong tình thương xót và tha thứ. Thánh Phêrô hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, khi anh em xúc phạm tới con thì con phải tha cho họ bao nhiêu lần? Có phải bảy lần không?" Chúa Giêsu trả lời: "Không phải bảy lần mà là bảy mươi lần bảy" (Mt 18:21-22). Ý Chúa Giêsu muốn chúng ta phải tha thứ cho người khác không giới hạn trong việc thi hành lòng thương yêu và tha thứ. Chúa Giêsu đã giải thích cho Thánh Phêrô đó là Vương Quốc Thiên Chúa được xây trên nền tảng thương yêu và tha thứ vô giới hạn.

 

PS5-A24: Xin cho chúng con thấy Chúa Cha

Ông Philipphê xin với Thầy Giêsu: "Xin cho chúng con thấy Chúa Cha" (Ga 14,8).
 

Khao khát của ông cũng là khao khát của biết bao người, những người thiện chí không ngừng: PS5-A24

Khao khát của ông cũng là khao khát của biết bao người, những người thiện chí không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng mà họ gọi bằng những tên khác nhau: Đấng Tối Cao, Đấng Tuyệt Đối, Đấng vượt trên mọi danh...
Con người muốn bắc một nhịp cầu với Đấng siêu việt, muốn có cảm nghiệm và tương quan với Tạo Hóa.
Thiên Chúa đã đáp lại khát vọng Ngài gieo nơi lòng người khi cho Con Một Ngài làm người, ở giữa chúng ta.
Nơi Đức Giêsu Kitô, chúng ta gặp được Thiên Chúa, dễ gần, dễ thấy, dễ quen.
Thiên Chúa đâu chỉ ở nơi cao thẳm ngàn trùng, Thiên Chúa hiện diện nơi con người Đức Giêsu khiêm hạ. Giữa Ngài và Thiên Chúa Cha có một gắn bó lạ lùng đến nỗi Đức Giêsu dám nói: "Ai biết Thầy là biết Cha" (14,7) "Ai thấy Thầy là thấy Cha" (14,9) vì "Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy"(14,10).
Lời nói và việc làm của Đức Giêsu chính là lời nói và việc làm của Thiên Chúa (14,10). Toàn bộ cuộc đời Đức Giêsu được Cha chiếm ngự. Ngài như tấm gương trong suốt, phản chiếu khuôn mặt và trái tim Thiên Chúa, đầy nhân ái và bao dung với hết mọi người.
Làm Kitô hữu là làm người như Đức Giêsu Kitô, là trở nên một Giêsu khác cho con người hôm nay, là ước ao nói được rằng: "Ai biết tôi là biết Đức Kitô, ai thấy tôi là thấy Đức Kitô."
Như thế cũng là biết và thấy Thiên Chúa.
"Xin cho chúng con thấy Chúa Cha"
Xin dẫn chúng con đến gặp Thiên Chúa Cha.
Đức Giêsu không phải chỉ là người đưa đường dẫn lối; Ngài tự nhận mình là Con Đường, thậm chí là Con Đường độc nhất dẫn đến Cha: "Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (14,6). Mọi con đường cứu độ đều phải đi vào Con Đường Giêsu.
"Thiên Chúa không ban một danh nào khác dưới bầu trời,
để nhờ danh đó mà chúng ta được ơn cứu độ" (Cv 4,12).
Nhân loại được cứu độ nhờ Danh Đức Giêsu, kể cả những ai không biết Ngài - tuy không do lỗi của họ - nhưng đã sống theo những đòi hỏi của lương tâm.
Đức Giêsu đã về với Chúa Cha trong vinh quang phục sinh, sau khi đã sống một đời yêu thương tự hiến. Cuộc đời Đức Giêsu trở thành con đường cho chúng ta đi.
Khi chiêm ngắm Ngài trong Tin Mừng, chúng ta biết mình phải nghĩ gì, nói gì, làm gì.
Khi đi vào Con Đường Giêsu, chúng ta cũng trở nên nẻo đường cho con người hôm nay, nẻo đường dẫn đến Giêsu.
Gợi Ý Chia Sẻ
1. Người ta thường nói đạo nào cũng như đạo nào, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành.  Còn bạn, tại sao bạn là Kitô hữu?  Đức Giêsu có gì đặc biệt khiến bạn chọn theo?
2. Có khi nào bạn thấy mình bị lạc hướng không?  Cách sống của Đức Giêsu trong Tin Mừng có khi nào giúp bạn tìm thấy hướng giải quyết không?
Cầu Nguyện
Lạy Cha, Cha muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý, chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Đức Giêsu, Con Cha.
Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người chưa nhận biết Đức Giêsu, họ cũng là những người đã được cứu chuộc.
Xin Cha thôi thúc nơi chúng con khát vọng truyền giáo, khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc, niềm vui và bình an của mình cho tha nhân, và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới.
Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất để loan báo Tin Mừng.
Chúng con chỉ xin đến với những người bạn gần bên, giúp họ quen biết Đức Giêsu và tin vào Ngài, qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.
Chúng con cũng cầu nguyện cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.
Xin Cha cho những cố gắng của chúng con sinh nhiều hoa trái.  Amen.

 

PS5-A25: Hãy thương yêu nhau... - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Đoạn phúc âm này trích dẫn lời Chúa Giêsu trong buổi tiệc ly với mười hai tông đồ. Trước đoạn: PS5-A25

Đoạn phúc âm này trích dẫn lời Chúa Giêsu trong buổi tiệc ly với mười hai tông đồ. Trước đoạn này là việc Chúa rửa chân cho các môn đệ và Chúa răn dạy một giới răn mới là "Hãy thương yêu nhau..."
Trong buổi tiệc ly, Chúa Giêsu đã biết ai là kẻ phản bội và đã lên án người ấy. Tuy nhiên khi Chúa nói cùng các môn đệ là Người sẽ đi về nhà Chúa Cha để dọn chỗ cho các môn đệ thì Giuđa đã rời khỏi bàn tiệc.
Trong phúc âm của Thánh Gioan, Chúa Giêsu nhắc đến Chúa Cha nhiều lần như một người rất năng quyền. Nhưng chỉ trong buổi tiệc ly, các tông đồ mới thật sự hỏi Chúa Giêsu về Chúa Cha.
Một Điểm Chính
Chúa Giêsu báo trước là Người sẽ đi khỏi thế gian để dọn chỗ cho các môn đệ trong nhà Chúa Cha. Chúa Giêsu chính là đường, là sự thật và là sự sống, chỉ qua Chúa Giêsu chúng ta mới có thể nối kết được với Chúa Cha.
Suy Niệm
Hãy hình dung bạn đang dự buổi tiệc ly cùng Chúa Giêsu và các môn đệ. Khi ấy bạn sẽ nghĩ gì? Thái độ của bạn ra sao? Bạn có đặt câu hỏi là Chúa sẽ đi đâu và tại sao Người lại ra đi không?
Thánh Tôma hỏi: "Chúng con không biết Thầy đi đâu thì làm sao chúng con biết được đường đi?" Nếu Thánh Tôma hỏi tôi, tôi sẽ trả lời như thế nào?
Chúa Giêsu nói rằng Ngài đi dọn chỗ cho tôi ở nhà Chúa Cha. Vậy tôi phải chuẩn bị như thế nào để được Người tiếp đón?
Giữa Đức Chúa Cha và Chúa Giêsu, có một liên hệ đầy thương yêu, trung tín, và mật thiết. Còn liên hệ của tôi với Chúa thì sao?
Chúa Giêsu nói: "Nếu con biết Ta, con cũng biết Cha Ta." Tôi biết Chúa đến chừng nào?

 

PS5-A26: CON HƠN CHA, NHÀ CÓ PHÚC !

Trong lịch sử thế giới, kể từ khi có thể chế vua chúa hoàng đế, thì đã xuất hiện những minh quân: PS5-A26

Trong lịch sử thế giới, kể từ khi có thể chế vua chúa hoàng đế, thì đã xuất hiện những minh quân và những hôn quân: có những khi cha là minh quân, nhưng con lại chỉ là một ông vua đắm chìm tửu sắc, làm hại bá tánh, đánh mất cả giang sơn; có khi cha là bạo chúa, hôn quân, nhưng ai bảo “cha mẹ cú không thể đẻ con tiên ?”: người con lại là minh quân !
Trong văn học thế giới, để khiêu khích và thách đấu với ông bố bách chiến bách thắng của Chimène, là người yêu của mình, hầu trả thù cái nhục của cha mình đã bị cha của Chimène lăng nhục. Le Cid đã nói hai câu: ”Ông chưa bị bại, chứ không phải bất bại” ( Vous êtes invaincu; non invincible ) và “La valeur n’attend pas le nombre des années” ( Giá trị con người không cứ ở tuổi tác ). Và anh chàng đã chiến thắng, dù với giá đắt !
 Ở đời, không ai không biết định luật “tre già măng mọc”, nhưng chấp nhận nó hay không và chấp nhận ở mức độ nào, thì còn cần phải xem xét ! Thói tham quyền cố vị vẫn gặp ở khắp nơi, trong mọi lãnh vực, phạm trù, lắm khi chẳng thể do mình tự quyết, như trường hợp chúng ta đang chứng kiến những ngày này: các Vị Hồng Y bị hạn chế tuổi bầu bán; còn các Giám Mục thì buộc phải làm đơn từ chức khi đến tuổi luật định ( 75 tuổi ).
Cũng hôm nay, trong bầu khí nóng lòng chờ đợi Giáo Hội có một Đấng Đại Diện Chúa Ki-tô mới, lãnh đạo Giáo Hội kế vị Tông Đồ Phê-rô. Không ít người tự hỏi: Người sẽ như thế nào ? Có bị cái bón của Đức Gio-an Phao-lô 2 đè bẹp, lấn át ? Và cũng chẳng thiếu những tiếng thở dài se sẽ, vì dù sao cũng phải kính trọng Vị Tân Giáo Hoàng: “Làm sao bì được với Đức Gio-an Phao-lô 2 vĩ đại ?”. ”Rồi Giáo Hội sẽ ra sao” ?
Không phải ai khác, mà chính Chúa Giê-su, Hic et Nunc, đã trả lời cho chúng ta trong đoạn Tin Mừng hôm nay: “Thầy bảo thật anh em: ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” ( Ga 14, 12 ).
Và Chúa Giê-su thì không ngoa ngữ và chẳng hề dối trá hoặc dùng lời hoa mỹ dỗ ngon dỗ ngọt các môn đệ !
Ông bố tập cho con mình đi xe đạp: đến một lúc nào đó, nhắm thấy được, thì phải thả tay, để mặc đứa con xoay xở, lắc qua lắc lại và có thể té đau, nhưng nếu cứ giữ như vậy mãi, thì con ông làm sao biết đi xe đạp giỏi ? Người thầy hướng dẫn cho học trò các nguyên lý, quy tắc, rồi tự học trò phải lần mò, suy nghĩ, khám phá và tự làm ! Chúa Giê-su cũng phải để các môn đệ trầy vi tróc vẩy, miễn làm sao trung thành theo Lời Thầy dạy, không thể vì thấy rõ phong bao bão táp, có khi như muốn nhấn chìm hoặc phá nát Giáo Hội, mà cho phép họ ngồi chờ phép lạ.
Giáo Hội phải hành động, phải Duc In Altum ( Ra khơi ! ), dù phải trả giá bằng cả tính mạng, dù phạm phải không ít sai lầm, nhưng vì đó, nhờ đó, mà Giào Hội mới hoà nhập được với nhân loại, không phải để được yên thân, không phải để được ca tụng, càng không phải để trở thành một thế lực ( mặc dù ảnh hưởng to lớn mà Giáo Hội đang có đối với mọi quốc gia ), mà chính là để Tin Mừng Chúa hội nhập được với mọi nền văn hoá, thấm nhập vào được từng con người. Trong đó, vai trò cá nhân – từ vị Giáo Hoàng cho tới Giáo Dân – không thể bỏ qua: quá khứ, hiện tại, tương lai của Giáo Hội thành hay bại, là do công chung và lỗi chung, không phải giống như kiểu “cha chung ai khóc”, mà là trách nhiệm và hậu quả của tất cả hành vi của mọi thành phần trong Giáo Hội cộng lại.
Đã có những thời mà hình ảnh Giáo Hội đen đủi xấu xa, chạy theo giàu sang danh lợi, buôn thần bán thánh và tiếng tăm từ Giáo Hoàng cho tới hàng Giáo Sĩ đều bị hoen ố. Thế rồi xuất hiện một Phan-xi-cô Khó Khăn, một Đa-minh v. v..., không bằng dao to búa lớn, không với địa vị bạc vàng, mà chỉ bằng cuộc sống và gương sáng khó nghèo, đã vực dậy và canh tân toàn thể Giáo Hội !
 Không ai có thể phủ nhận sự khôn ngoan, thông thái, thánh thiện và tiếng tăm lẫy lừng của Đức Gio-an Phao-lô 2, nhưng người ta dễ quên rằng: Người cũng chỉ là một khí cụ mà độ sắc bén là do Chúa trao ban, để Chúa sử dụng cho những thời điểm vừa qua.
Nhưng Chúa đã gửi cho Người vài bài học đủ cay đắng, để dạy Đấng kế vị Tông Đồ Cả của Chúa đức khiêm nhường: nếu ngày xưa, chỉ mấy ả nô tì nhà Cai-pha hỏi vẩn vơ vài câu, đã đủ cho Phê-rô chối Chúa đến ba lần; thì ở Giải Nobel Hoà Bình năm 2003, Đức Gio-an Phao-lô đã không thể thắng phiếu một phụ nữ người Hồi Giáo ở Teheran, mới 56 tuổi, Sherin Ebadi, cho dù người ta nêu lý do này, thái độ kia của ban giám khảo !
Lại nữa, bài học Đức Gio-an 23 vẫn còn nóng hổi: sau một Đức Pi-ô 12 quá thông thái, quá khôn ngoan và xuất sắc trong ngoại giao, đương đầu với bao biến cố tàn khốc trên thế giới, ảnh hưởng cả Giáo Hội: đại chiến thứ 2, chế độ Quốc Xã và Phát-xít tàn bạo, nạn diệt chủng bài Do-Thái ( Xin lược bớt một ý ) v.v... thì khi Đức Pi-ô 12 băng hà, bầu khí chẳng khác gì bây giờ là bao, dù cách nay đã gần 50 năm ( 1958 ).
Thế rồi “cụ già Roncalli” được bầu làm Giáo Hoàng: nhiều cặp mắt thương hại, nhiều ánh mắt so sánh và cho rằng một Giáo Hoàng “chuyển tiếp” như vậy, cũng tạm chấp nhận được, bởi vì bù vào sự sắc sảo, thông thái, thì ai ai cũng công nhận nơi Đức Gio-an 23 sự nhân từ và thánh thiện, hình ảnh của người Mục Tử Nhân Lành.
Và quả là người ta không lầm ! Nhưng tất cả mọi người đều sai và đã phải chưng hửng, khi “cụ già chuyển tiếp” làm điều mà chưa có Vị Giáo Hoàng nào trước ngài và đến nay, dám nghĩ, dám làm và làm được thật xuất sắc như ngài, về cả tầm vóc và cả ảnh hưởng không chỉ là to lớn, mà chính là sự sống còn của Giáo Hội: triệu tập Thánh Công Đồng Vatican 2 ( 1962 – 1965 ).
Xét về tầm mức vĩ đại, thì Đức Gio-an 23 như ngọn hải đăng chiếu giãi Anh Sáng Thánh Linh, còn Đức Gio-an Phao-lô 2 đã nhìn ánh sáng từ ngọn hải đăng và nhờ ngọn hải đăng ấy, mà đã lèo lái thật tuyệt vời “Con Thuyền Giáo Hội” suốt hơn 26 năm dài. Nhưng đó chỉ là suy nghĩ của con người.
Với hai vị Cha Chung quá cố, Đức Gio-an 23 và Đức Gio-an Phao-lô 2, thì có một người chẳng làm gì to tát, chẳng gửi một Thông Điệp, Tông Thư, hoặc đọc một bài diễn văn nào, thậm chí muốn tìm một câu người ấy nói mà có ghi chép lại, cũng bói không ra, thế nhưng sự cao cả vĩ đại và công nhân đức, thì người thế muôn đời ca tụng không ngớt: Thánh Cả Giu-se !
“Con hơn cha, là nhà có phúc”: ước mong này đã được Chúa Giê-su biến thành sự khẳng định và Giáo Hội ngày nay, cho dù chưa làm tròn một phần di chúc của Thầy Chí Thánh, thì sự lớn mạnh về tầm vóc, về ảnh hưởng, đã chứng minh lời nói của Chúa Giê-su, nhưng chúng ta cũng hiểu rõ điều này: phải tiến bước. Vâng, hãy ra khơi ! Cho dù cái giá phải trả là thế nào đi nữa...
 CVK62 NGUYỄN THẾ BÀI ( Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 96 )

 

PS5-A27: CHÚA GIÊ-SU LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và các môn đệ trước giờ biệt: PS5-A27

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và các môn đệ trước giờ biệt ly. Chắc hẳn có nhiều môn đệ trong buổi trò chuyện này, nhưng thánh Gio-an chỉ nhắc đến hai môn đệ Tô-ma và Phi-líp-phê. Nhờ câu hỏi của hai ông, Chúa Giê-su cho ta hai mạc khải quan trọng về Ngài:
“Chính Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”
          “Ai thấy Thầy là thấy Cha. Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy”
Trước tiên, chúng ta cùng nhau suy niệm về: Chúa Giê-su là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
Chúa Giê-su khẳng định mình là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống. Các môn đệ không hiểu ý nghĩa của lời khẳng định này.
Cũng như chúng ta hôm nay, các môn đệ thời ấy cũng phải trải qua một thời gian dài mới nghiệm ra được ý nghĩa đích thực của lời khẳng định này.
 
  1. Đức Giê-su là Đường vì Ngài dẫn tín hữu đến với Chúa Cha, nguồn Hạnh Phúc đích thực:
Trong Phụng Vụ tôi thường nghe ca đoàn hát như thế này: “Chúa là Đường, đường ánh sáng, đường đưa con tới Quê Trời. Chúa là Đường, đường sáng tươi...”
Tự bản chất, con đường dùng để nối hai con người lại với nhau. Ngày nay phương tiện giao thông, truyền thông đã đạt đến đỉnh cao. Có nhiều đường để nối kết con người với nhau: đường bộ, đường thủy, đường hàng không, đường điện thọai, đường fax, đường e-mail. Các con đường loài người làm ra để có phương tiện giao tiếp với nhau, gặp gỡ nhau, ngày càng tăng và càng hiện đại. Thế nhưng chưa có ai làm ra được con đường nào dẫn đưa nhân loại về với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên họ.
Do đó, Thiên Chúa phải sai Con Một của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô xuống thế làm người, để dẫn đưa loài người về cùng Thiên Chúa là Cha của họ. Con Đường Giê-su nối trời cao với đất thấp. Đi trên Con đường Giê-su loài người sẽ nhận biết Thiên Chúa là Cha đích thực của mình, sẽ nhận ra sự thật trần trụi của kiếp người và sẽ được sống dồi dào sự sống của Thiên Chúa
Thế nhưng, đường ánh sáng Giê-su có vẻ khó đi. Để có thể đi đến đích, khách bộ hành cần có những điều tối quan trọng. Đó là tinh thần đức tin, vâng phục, khiêm hạ và yêu thương. Con đường Giê-su không rộng rãi thênh thang như xa lộ, không đầy đủ tiện nghi như khách sạn năm sao. Con đường Giê-su đầy chông gai trắc trở.
Có những đoạn gồ ghề như đường lên đỉnh Can-vê.
Có những đoạn âm thầm như đường làng Na-da-rét.
Có những đoạn rền vang âm thanh và sắc màu như đoạn đường hoa lá vào thành Giê-ru-sa-lem.
Trên những đoạn đường đó, khách bộ hành cần vận dụng Lòng Tin để khỏi ngã quị trước sức mạnh của ma quỷ; cần vâng phục thánh ý của Chúa trên cuộc đời mình; và nhất là cần khiêm hạ nhận biết mình chỉ là một khách lữ hành nơi trần gian ; để nhờ đó mà mong muốn đi đến Quê Thật, để nhờ đó mà biết yêu thương và giúp đỡ những người cùng đi trên đường lử hành như mình.
Đức tin, vâng phục, khiêm hạ và yêu thương, hành trang cần và đủ để bước đi trên con đường Giê-su, đường dẫn đến Sự Thật.
b. Đức Giê-su là Sự Thật vì Ngài phát xuất từ Chúa Cha là Nguồn Chân Lý, và Ngài dạy cho chúng ta biết Chúa Cha:
 Chúng ta đang sống trong một thế giới tràn đầy sự dối trá. Dối trá trong chính trị, dối trá trong kinh doanh mua bán, dối trá trong công tác giáo dục, dối trá trong quan hệ cư xử với nhau. Dối trá dẫn đến lòng căm thù, ghen ghét nhau, đến nỗi có ai đó đã phải kêu lên: ”Người đối xử với người còn hơn loài lang sói !” ( “Homo homini lupus” )
Thế nhưng, nếu “giết người đi thì ta ở với ai ?” ( lời trong một bài hát của nhạc sĩ Phạm Duy ). Bởi vậy những nỗ lực đi tìm sự thật để xây dựng hòa bình cho nhân loại quả là đáng quí, đáng trân trọng. Một đặc điểm của thời đại chúng ta là: người ta thích nghe điều dối trá hơn là sự thật. Thật là nghịch lý, khi lòng trí ta muốn tìm sự thật thì lổ tai ta lại chấp nhận nghe điều dối trá. Người ta chỉ có thể dối trá khi còn có kẻ thích nghe.
Chúa Giê-su đến để thống nhất con người bị phân hủy vì tội lỗi. Ngài ban cho chúng ta khả năng nhận ra sự thật. Lời Ngài là Chân Lý, là sự thật vì phát xuất từ Chúa Cha. “Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luon ở trong Thầy chính Người làm những việc của mình” ( c.10 ). Vậy ta thử tự hỏi xem mình có nghe va thực hành Lời Chúa để được sống dồi dào không ?
Trong những ngày này chúng ta nhớ đến Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 vừa nằm xuống. Ngài là một chứng nhân của Sự Thật. Ngài đã sống trọn vẹn cuộc đời yêu thương phục vụ theo gương Chúa Giê-su. Ngài là hiện thân của Đức Ki-tô Mục Tử Nhân Lành, chăm lo cho đoàn chiên trong ràn và cả những con chiên ngoài ràn nữa. Ngài là người của Thiên Chúa chỉ biết rao giảng Sự Thật, cho dù sự thật đó có phũ phàng đến đâu chăng nữa, có làm mất lòng ai đó chăng nữa, ngài vẫn cứ lên tiếng.
Chúa Giê-su là Sự Thật phát xuất từ Nguồn Sự Thật là Chúa Cha. Các lời rao giảng của Ngài là Chân Lý. Bởi vậy ai thi hành lời dạy của Ngài đều trở thành chứng nhân của Sự Thật và trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.
Có một chi tiết trong Tang Lễ Đức Thánh Cha làm tôi xúc động. Đó là Ngài được an táng trong ngôi mộ trước đây vốn là ngôi mộ của Đức Giáo Hoàng Gio-an 23. Chúa Giê-su được an táng trong ngôi mộ mới dành cho ai đó. Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 được an táng trong ngôi mộ cũ của vị tiền nhiệm. Một cách nào đó, Chúa Giê-su và Đức Gio-an Phao-lô 2 không có phần mộ dành riêng cho mình. Cả hai được chôn nhờ ở phần mộ của người khác ! Một sự giống nhau kỳ lạ !
Chúa Giê-su là Sự Thật. Đức Thánh Cha đã thi hành nhiệm vụ loan báo Sự Thật cho thế giới. Thánh Gio-an viết: “Kẻ sống theo sự thật thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa.” ( Ga 3, 21 ).
Tôi nghĩ câu này đã tỏ hiện qua Lễ Tang của Đức Thánh Cha. Chúa Giê-su Phục Sinh vẫn là một Sự Thật ngàn đời, có sức thu hút cả thế giới là những người đang đi tìm sự thật về chính số phận của mình. Hãy để Đức Giê-su là Đường Anh Sáng hướng dẫn chúng ta vào sự sống thật với Thiên Chúa. Hãy noi gương Đức Gio-an Phao-lô 2 sống và làm việc cho Chúa không phải bằng sức lực yếu đuối của con người nhưng bằng sức mạnh của Thần Khí Sự Sống.
c. Đức Giê-su là Sự Sống vì “Sự Sống đích thật là nhận biết Chúa Cha và Đấng Ngài sai đến là Đức Giê-su Ki-tô":
Đọc Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giê-su là người mang sự sống đến cho con người. Quan sát chung quanh, ta thấy con người sống theo nhiều kiểu cách khác.nhau. Có người sống nghèo nàn rách rưới nơi đầu đường xó chợ. Có người sống phung phí nơi vũ trường khách sạn. Có người sống âm thầm không tên tuổi. Có người danh nổi như cồn, ai ai cũng biết tiếng. Có người sống khoái lạc nơi bia ôm thuốc lắc. Người khác mong tìm giàu sang nơi canh bạc đỏ đen. Có người sống thanh thản trong đời tu hành. Có người tất bật trên đường danh lợi...
Làm sao kể cho hết các kiểu sống của con người. Thật là mỗi người mỗi kiểu ! Vậy thì, kiểu sống nào là kiểu sống mang lấy sự sống dồi dào của Chúa Giê-su ?
Nhìn lại cuộc đời Chúa Giê-su nơi trần thế, từ lúc sinh ra cho đến lúc tắt thở trên thập giá, ta thấy Chúa Giê-su sống như thế nào ? Thánh Phao-lô viết cho tín hữu Phi-lip-phê: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thâp tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu”. ( Pl 2, 1 – 9 )
Cuộc sống của Chúa Giê-su là một cuộc sống kết hợp trọn vẹn với Chúa Cha, yêu thương và phục vụ nhân lọai. Ngài tự hủy mình ra không để phục vụ nhân loại, để mang Sự Sống đích thực cho nhân loại. Đức Ki-tô phục vụ thế nào ? Phục vụ ai ?
Ở mái nhà Na-da-rét, Ngài phục vụ cha mẹ như người con hiếu thảo. Ở tiệc cưới Ca-na, Ngài phục vụ đám cưới bằng rượu ngon và sự hiện diện đầy thân thương và quyền năng. Ở thành Na-im, ở Bê-ta-ni-a Ngài đem lại sự sống cho người mẹ mất con, người chị mất em đem nụ cười thay cho dòng lệ.
          Trên mọi nẻo đường xứ Palestine, Ngài phục vụ những kẻ phong cùi, mù, què, câm điếc, người phụ nữ bị băng huyết, người phụ nữ bị còng lưng, người bị quỉ ám. Ngài đem lại cho họ sức khỏe và bình an để được sống như con cái trong gia đình Thiên Chúa. Ngài đã phục vụ những con người bị xã hội rẻ rúng khinh chê và loại trừ vì họ ngoại tình, vì hành nghề bất chính. Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, Gia-kêu, Mát-thêu là những con người tiêu biểu. Ngài giúp họ tin vào tình thương Thiên Chúa, giúp họ đứng dậy lấy lại phẩm giá tốt đẹp của chính mình và sống một cuộc sống mới trong Chúa.
          Trên hoang mạc, nơi núi cao, giữa hội đường, Ngài phục vụ bằng Lời Chân lý, bằng Tin Mừng giải thoát để dẫn đưa mọi người vào Ơn Cứu Độ, vào quỹ đạo yêu thương. Trong bữa Tiệc Ly, Ngài nêu gương phục vụ qua cử chỉ rửa chân cho môn đệ và lập Bí Tích Thánh Thể để nuôi sống Dân Ngài.
Trên thập giá, Ngài phục vụ bằng chính cuộc thương khó của mình, dâng lên Cha tấm thân bầm dập làm của lễ toàn thiêu để đưa nhân loại về cùng Cha.
 
  • Và hôm nay đây Ngài vẫn tiếp tục phục vụ qua Chúa Thánh Thần, qua Giáo Hội, qua các môn sinh của Ngài là mỗi một Ki-tô hữu chúng ta đây. Xác tín rằng Chúa Giê-su là Sự Sống thật và người Ki-tô hữu đã được tháp nhập vào Sự Sống này qua Bí Tích Thánh Tẩy chúng ta hãy chọn cho mình kiểu sống như Chúa Giê-su đã dạy: Sống yêu thương và phục vụ. Như thế bằng chính cuộc sống của mình, ta lan tỏa sự sống thật của Chúa cho mọi người.
Tôi có ghi lại một đoạn rất thấm thía đọc được trên báo Ephata số 60:
“Ai chỉ biết sống cho chính mình, thì không sống cho ai hết, và cũng chẳng sống cho chính mình nữa. Nếu bạn là một người ích kỷ, bạn đã giết chết tình yêu thương rồi, và sẽ phải bằng lòng với những điều bé mọn. Bạn sẽ chỉ tích chứa những giàu sang vật chất, và bạn sẽ phải bỏ của cải lại đàng sau cho những người thừa tự. Họ là những người đang chờ bạn chết đi. Nếu bạn là một kẻ lười biếng, thì lại càng tệ hại hơn nữa. Bởi vì bạn sẽ không bao giờ có gì cho chính bạn cả. Nếu bạn là một người nhàn rỗi, bạn sẽ phung phí cả thời giờ quý báu Thiên Chúa nhân lành đã ban nhưng không cho bạn.
Chỉ sống cho chính mình thật là đáng buồn và đáng thương biết bao ! Đó là một ảo tưởng liên lỉ. Bởi vì khi chỉ có một mình thì bạn cũng sẽ không thể hưởng nếm được cuộc đời. Cuộc đời của bạn khi đó sẽ chỉ là một cuộc đời vất vưởng. Tại sao bạn lại không bắt đầu nhìn quanh mình ? Chỉ cần khám phá ra vũ trụ đang vây quanh bạn, thiên nhiên đang che chở bạn, bạn tự nhiên cảm thấy nhu cầu tìm lên với Thiên Chúa. Nếu bạn khám phá ra Thiên Chúa, thì cái ích kỷ của bạn sẽ giảm xuống, sự lười biếng của bạn sẽ chuyển động. Bởi vì nhu cầu muốn đến gần Nguồn Mạch của mọi sự phong phú và Sự Sống đích thực, sẽ mạnh mẽ hơn chính bản thân bạn.
Ai chỉ biết sống cho chính mình, thì người đó không sống, mà chỉ lớn lên vất vưởng như cỏ cây. Đó là một định luật tự nhiên, không miễn trừ cho ai cả”.
Qua bài báo đó chúng ta hãy tự hỏi: Tôi đang sống cho ai đây ? Tôi đang đi trên con đường nào, Đường Giê-su dẫn đến Sự Sống dối dào hay đường danh lợi đưa đến sự chết ?
Khi đã trả lời được câu hỏi này rồi thì chính lúc đó ơn Chúa sẽ giúp ta biết mình phải làm gì để được sống hạnh phúc với Chúa và với anh em. Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa lôi kéo ta đi vào con đường đúng cần phải đi.
Lạy Chúa Giê-su là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin giúp chúng con biết chọn con đường Giê-su mà tiến bước nơi dương thế này. Vì chỉ có như thế chúng con mới sống trong sự thật và được sống dồi dào trong Chúa ở ngay đời này. Amen.
Gs. TRẦN THỊ NHAN ( Sài-gòn )
***
PHỤ THÊM: CHÚA LÀ CON ĐƯỜNG
Lạy Chúa, mỗi khi con vừa ra khỏi nhà, nổ máy xe và khởi hành, con lại nhớ đến Chúa. Chúa là Con Đường cho con đi trong cuộc lữ hành trần thế này. Con tự hỏi: con có biết đi cho đúng đường đúng hướng mà Chúa muốn con đi hay không ?
Lạy Chúa, mỗi khi con băn khoăn do dự không biết phải đi đâu, con lại nhớ Chúa: Chúa là Con Đường Quan Phòng nhưng đòi hỏi không ít Phó Thác. Con tự hỏi: con có biết bấm số máy điện thoại Cầu Nguyện để gọi Chúa, để xin Chúa chỉ dẫn hay không ?
Lạy Chúa, mỗi khi con thong dong bách bộ dạo chơi trên phố, con lại nhớ đến Chúa. Chúa là Con Đường dẫn con tới chỗ nghỉ ngơi thanh thản và ung dung. Con tự hỏi: con có biết tìm gặp Chúa như là Bến Đậu Bình An đích thực cho đời con hay không ?
Lạy Chúa, mỗi khi con căng thẳng vội vã phóng xe để lo một công việc nào đó, để hẹn gặp một người nào đó, con lại nhớ đến Chúa: Chúa là Con Đường Cứu Độ Yêu Thương. Con tự hỏi: Con có biết giải quyết công việc ấy, hay gặp người ấy bằng một thái độ và một phương thức của Tin Mừng hay không ?
Lạy Chúa, mỗi khi con bị kẹt xe, phải dừng lại hoặc nhích đi từng chút một giữa khói xe, bụi bậm, nóng bức và tiếng ồn đinh tai nhức óc, con lại nhớ đến Chúa: Chúa là Con Đường Hy Vọng. Con tự hỏi: con có biết nhẫn nại đợi chờ trong mọi lúc, mọi biến cố cuộc đời hay không ?
Lạy Chúa, mỗi khi con gặp một đoạn đường quá xấu, đầy ổ gà hoặc vũng lầy rác rưởi, con lại nhớ đến Chúa: Chúa là Con Đường hẹp đã vào Nước Trời. Con tự hỏi: con có biết can đảm chấp nhận khó nhọc hy sinh để vượt qua và chiến thắng hay không ?
Lạy Chúa, mỗi khi con bị lạc lối giữa đường ngang ngõ dọc như một mê cung của thành phố, con lại nhớ đến Chúa: Chúa là Con Đường ngắn nhất dẫn đến Chúa Cha. Con tự hỏi: con có biết quyết định chọn lấy Chính Lộ mà an tâm dấn bước hay không ?
Lạy Chúa, mỗi khi con bị tai nạn trên đường, con lại nhớ đến Chúa: Chúa là Con Đường của Thập Giá Đau Thương. Con tự hỏi: con có biết tận dụng sự rủi ro này như một cơ hội để nhận ra phần lỗi của mình và tha thứ cho người đã gây ra thiệt hại cho con hay không ?
Lạy Chúa, và mỗi khi con thở phào vì đã đến được nơi con muốn đến, con lại nhớ Chúa: Chúa là Con Đường đưa về Hạnh Phúc duy nhất. Con tự hỏi: con có biết dành ra một phút, vâng chỉ một phút thôi, để cám ơn Chúa vì đã hoàn tất được một chặng đường nhỏ, và đã gần được Nước Trời thêm một tý rồi hay không ?
LÊ QUANG UY, 28.4.2002

 

PS5-A28: Trong Đấng Phục Sinh, mọi sự đang được đổi mới và nâng lên

 LM. Giuse Trương Đình Hiền
Trong Đấng Phục Sinh, mọi sự đang được đổi mới và nâng lên - LM. Giuse Trương Đình Hiền

Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa cộng đoàn,

 

Sứ điệp phụng vụ của Chúa Nhật V PS nầy có nội dung cốt lõi đó là : Đức Kitô phục sinh chính : PS5-A28

Sứ điệp phụng vụ của Chúa Nhật V PS nầy có nội dung cốt lõi đó là : Đức Kitô phục sinh chính là “Đường, Sự Thật và Sự Sống”, là Đấng đang qui tụ chúng ta thành Dân Mới, Dân Tư Tế vương giả, để dẫn chúng ta tiến bước về với Chúa Cha. Chính trong ý nghĩa nầy, mà hôm nay, trong Thánh lễ nầy, một lần nữa chúng ta tuyên xưng : “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô” mà chúng ta tìm được con đường chính thật để bước đi trong cuộc đời, tìm thấy chân lý đúng nghĩa để chiếu rọi ý nghĩa cuối cùng vào kiếp nhân sinh, và gặp được sự sống đích thực để sống trọn vẹn ý nghĩa hôm nay và hy vọng nơi cuộc sống vĩnh hằng. Con đường ấy, chân lý ấy và sự sống thần linh ấy đang hiện thực trong chính mầu nhiệm hiệp thông của Hội Thánh, trong chính thánh lễ mà chúng ta đang cử hành. (Hôm nay, cũng là ngày chính thức Đăng Quang khai mạc sứ vụ Mục Tử trên Ngai Tòa Phêrô của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. Chúng ta hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha mới vừa đắc cử được dồi dào nghị lực và khôn ngoan, thánh thiện và trung thành để dẫn dắt Dân Chúa trên đường lữ thứ trần gian).

Để xứng đáng cử hành Thánh Lễ và đón nhận muôn ơn lành, chúng ta hãy lấy lòng sám hối đón nhận nước Thánh như là dấu chỉ của cuộc tái sinh để được gia nhập vào Đoàn Dân Thánh, Dân Tư Tế vương giả của Thiên Chúa.

Giảng Lời Chúa :

Đứng trước những tai nạn thảm khốc xảy đến hằng ngày trên thế giới; động đất, sóng thần, bảo lụt…, những chiến tranh bạo lực mang theo tàn phá và chết chóc, những dịch bệnh ùa vào trần gian để cướp đi sự sống của bao người…quả thật, có quá nhiều những khoảnh khắc, những phút giây, những ngày tháng để con người chìm trong nổi đau và thất vọng, buồn nản và khổ sầu…Thế nhưng, đó không là tất cả thế giới, không là mọi mặt của cuộc đời. Nói cách khác, đó chỉ là “mặt trái của cuộc sống”, một mặt trái mà theo định nghĩa của một câu ngạn ngữ Trung Hoa, chỉ là “một cây đổ ồn ào”, không thể sánh bằng ở bên kia ngọn đồi “một cánh rừng đang mọc”. (Một cây đổ thì ồn ào hơn là một cánh rừng đang mọc). Cũng chính trong cái nhìn đó, mà một tờ báo ở luân Đôn vào năm 1912, sau biến cố tai nạn thảm khốc của vụ đắm tàu Titanic, đã trình bay hai bức hí họa : Một bức vẽ chiếc tàu Titanic đụng phải tảng băng sơn cao ngất với hàng chữ : “Sức mạnh của thiên nhiên và sự yếu đuối của con người”. trong khi đó, bức tranh thứ hai, vẽ người đàn ông trao chiếc phao cấp cứu cho một người đàn bà đang bồng đứa con thơ, với hàng chữ : “Sức mạnh của con người và sự yếu đuối của thiên nhiên”.

Cũng y như thế. Vào buổi chiều thê lương Ngày Thứ Sáu trên ngọn đồi Núi Sọ ở Giêrusalem, trong lòng các tư tế, các Tông Đồ, các người bạn của Thầy Giêsu, tất cả chỉ là một bóng tối của sụp đổ tan tành, của nổi buồn sinh ly tử biệt, của một tương lai chìm sâu trong bóng tối mịt mù…Trong khi đó, Tin Mừng đã kể lại : người kẻ trộm bị đóng đinh bên tay phải Chúa Giêsu lại đang nhìn thấy “ở bên kia ngọn đồi thập giá” là “một cánh rừng đang mọc”, một “Vương quốc của sự sống đang mở ra, một niềm hy vọng đang dâng trào” : “Hôm nay, nếu Ngài vào Vương Quốc của Ngài xin nhớ đến tôi”.

Phải chăng sứ điệp Lời Chúa hôm nay cũng muốn khơi gợi lên trong chúng ta cái nhìn, và nhất là, sự thực hành đức tin, trong cung cách sinh động, lạc quan, tin tưởng và tràn trề hy vọng trên nẽo đường của Đấng Phục Sinh, cho dù phải đối mặt từng ngày, từng giờ với bao nổi oái ăm của cuộc sống.

1. Trong quỹ đạo của Đức Kitô mọi sự được nâng lên:

Trước khi dấn thân vào cuộc khổ nạn, Đức Kitô đã tuyên bố : “Khi Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên với Ta”. Thật ra, không đợi đến khi “Ngài bị treo lên” Ngài mới lôi kéo con người “lên với Ngài”; mà qua Tin mừng, chúng ta đã thấy, Ngài đã kéo nhân loại lên với Ngài khi Ngài vừa “nhập thể vào đời” : Ngài đã làm cho đôi chân bé bỏng của người thôn nữ Maria băng ngàn vượt suối mang Tin Mừng Nhập Thể báo cho người chị họ Isave. Người đã làm cho Gioan Tiền Hô, nhãy cửng lên vui mừng trong lòng mẹ khi được Ngài viếng thăm…Rồi Người đã kéo đám mục đồng ở Bê Lem khỏi giấc ngủ triền miên để bừng dậy trong nổi vui ngút ngàn được gặp hài Nhi Cứu Thế và đã lôi kéo Ba Vua Phương Đông lẽo đẽo qua muôn dặm đường trường để theo dấu sao lạ về chiêm bái Vua trời…Và rồi sau đó, những kẻ mù què điếc câm, những người thu thuế bị kết án khinh khi, những cô gái điếm sống vật vờ vất vưởng bên lề đời, những người phung cùi bất hạnh trong hoang mạc cách ly…tất cả đã được “Ngài kéo lên với Ngài” để mĩm cười sung sướng vì được chữa lành, vì được yêu thương, vì được hoán cải, đổi đời. Ngài đã kéo những mảnh đời tưởng đâu đã chôn sâu trong lòng đất lạnh như con trai của bà góa ở Naim, như chàng thanh niên Lagiarô ở Bêtania…đã ngẩng mặt lên rạng rỡ với bình minh cuộc sống…Trong cái nhìn của Đức Kitô, mọi hành vi tưởng chừng vụn vặt, tầm thường như Giakê thập thò trèo lên cây sung đón đợi đã trở thành cơ duyên gặp gỡ, việc xức dầu của Maria ở Bêtania đã trở thành dấu chỉ của tình yêu, những đồng xu bé nhỏ của một bà góa nghèo đã trở nên kho tàng vô giá, và những trẻ em bé bỏng dại khờ đã trở nên những”khách quí danh dự và xứng đáng đầu tiên trong bàn tiệc Nước trời”

Vì là “Đường, Sự Thật, Sự Sống”, quả thật Đức Kitô đã đem đến cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời : Kẻ nghèo hèn không phải bị bỏ đi mà là “được chúc phúc”, nước mắt khóc than không còn là bất hạnh phải tránh né mà là dấu chỉ để được phúc ủi an”…Cuộc sống lam lủ khó nghèo không còn là kiếp đọa đầy ô nhục mà đã trở thành “bài trường ca của khiêm hạ yêu thương trên giai điệu của thánh gia Nadarét”.

Đức Kitô đã kéo mọi sự lên với Ngài bởi vì “Ngài là “Đường, Sự Thật, Sự sống”. Ngài đã làm cho cuộc hành trình buồn thảm về Emmaus của hai môn đệ năm nào trở nên cuộc hội ngộ đầy tin yêu hy vọng, Ngài đã biến quán trọ Emmaus tưởng chừng vắng lạnh với hoàng hôn ly biệt đã bừng lên như bữa tiệc hoan vui, và bữa điểm tâm giản đơn trên bờ hồ Tibêriát thuở nào đã trở thành “lễ hội Phục sinh” cho những ai qui tụ xung quanh Ngài tìm được sức trẻ để ra đi buông lưới.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay cũng nói với chúng ta rằng : trong Đức Kitô phục sinh, mọi sự đã được phục hồi, cho dù đó là một “mặt trái” với đầy oái ăm bi đát. Bi đát như cuộc thương khó thập Giá của Ngài đã trở thành hy lễ tình yêu và phương thế cứu chuộc, bi đát như cuộc đời đáng tủi hổ của Maria Mađalêna, của Matthêô, của Agustinô, của … đã trở nên nhân chứng của Tin mừng. Quả thật “phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ đã trở nên viên đá góc tường” là như thế !

2. Trên con đường của Đức Kitô hôm nay :

Là những môn sinh của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi hãy can đảm nhìn thẳng vào cuộc đời và con người trong chính đôi mắt ấy, trong chính cái nhìn của Đức Kitô, của tin Mừng cứu độ. Chính vì thế, mà Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trong suốt cuộc hành trình Mục tử của Ngài đã không ngừng dạy bảo chúng ta “đừng sợ hải đón nhận Đức Kitô vào cuộc sống, đừng bỏ cuộc trong cuộc phiêu lưu tìm kiếm Đức Kitô”.

Nếu Đức Kitô thật sự là Đường dành cho tôi, thì cuộc sống của tôi, của gia đình tôi hôm nay sẽ thế nào đây ? Tham lam ích kỷ, ghen ghét hẹp hòi…hay rộng rải quảng đại khoan dung ? Nếu Đức Kitô thật sự là Đường, thì tôi có đủ can đảm dấn thân theo những đòi hỏi của Tin mừng Tám Mối, của Giới luật yêu thương hay cứ mãi rẽ sang lối khác để đi theo cái tôi tôi đầy dục vọng đam mê thấp hèn của mình ? Nếu Đức Kitô là Đường dẫn tới Chúa Cha, thì liệu tôi có còn hăm hở đọc và lắng nghe Lời Chúa, sốt sắng mỗi ngày tìm kiếm thánh ý Chúa qua kinh nguyện và hy sinh…hay đang đóng chặt cõi lòng và con tim về phía của Thiên Chúa, về phía Giáo Hội, để mở sang các kênh khác đầy hấp dẫn của hưởng thụ, bạc tiền, danh vọng và những hào nhoáng khác ?

Nếu Đức Kitô là Sự Thật, Sự Sống, thì cuộc sống của vợ chồng, con cái, của ông bà cha mẹ trong gia đình Kitô hữu hôm nay liệu có biến đổi gì không ? Là một hỏa ngục của ghen ghét hận thù, tham lam dối trá…hay là một tổ ấm, là cái nôi để mọi nhân vị được lớn lên và phát triển ? Cuộc sống trong tương quan xã hội cứ phải bon chen gian lận, mạnh được yếu thua may nhờ rủi chịu…hay mỗi ngày phải được chuyển biến để sự thiện, sự lành thay cho gian ác, để ngay chính thay cho dối gian, để bác ái yêu thương thay ghét ghen đố kỵ !

Nếu Đức kitô là Đường, Sự Thật, Sự Sống, thì thánh lễ tái diễn Hy Tế Thập Giá của Ngài được cử hành mỗi ngày có còn là một “bữa tiệc hấp dẫn tôi đến dự thường xuuyên với con tim trân trọng sốt mến, hay chỉ là một cử hành nhàm chán bất đắc dĩ phải tới tham quan ? Tòa Giải tội có còn là nơi để tôi nhận được chiếc áo mới của lòng Cha tha thứ mặc cho hay chỉ là một “của nợ” cũng đành “kéo gai qua trổ” cho khỏi bị mang tiếng là vô đạo ?...

Quả thật, trên con Đường của Đức Kitô hôm nay, chúng ta lại phải bắt đầu. Bởi vì, như lời Đức Cố Giáo Hoàng G.P.II nói với giới trẻ năm 1988 : “Khám phá Đức Kitô là một cuộc phiêu lưu đẹp nhất đời chúng con. Nhưng khám phá ra Ngài một lần mà thôi thì không đủ. Mỗi khám phá người ta có về Người lại trở thành một lời mời gọi kiếm tìm Người hơn nữa…”. Chính thái độ khao khát của Tôma, của Philipphê trong Tin Mừng hôm nay đã nhắc bảo chúng ta hãy lên đường khám phá Đức Kitô, đến gần Đức Kitô, học biết và yêu mến Đức Kitô nhiều hơn nữa : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường ?”…”Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, thì chúng con mãn nguyện”.

Và chúng ta đừng quên : sự khám phá Đức Kitô để tiếp tục tiến bước trên con đường của Ngài không phải là những chuyện “chọc trời khuấy nước”, những công trình vĩ đại lớn lao, những hy sinh hảm mình của những bậc tu trì đạt đạo, những suy niệm thần bí cao siêu… mà cốt yếu là những hành vi ứng xử bình thường trong cuộc sống mỗi ngày, những hy sinh thầm lặng, những việc phục vụ âm thầm, những chiến đấu và chiến thắng tính hư tật xấu với cái tôi, những tràng hạt mân côi, những thánh lễ…Đó chính là những”mũi chỉ đuờng kim dệt nên tấm thảm họa hình Đức Kitô” mà trong lúc nhất thời, nhìn từ mặt trái, chúng ta sẽ không nhận ra cái nét đẹp tuyệt vời của “bức tranh tổng thể”.

Nếu Đức Kitô là “hạt Lúa Mì rơi xuống mãnh đất trần gian và đã mục nát đi qua cuộc tử nạn của Ngài” thì hôm nay, nhờ cuộc phục sinh vinh hiển, Ngài đã trở thành “Mùa Lúa Mới” mà Hội Thánh chính là hiện thực. Và rồi để có được một Hội Thánh như hôm nay, một Đền thờ vĩ đại, một “Cây Tùng Vạn cổ tỏa bóng khắp địa cầu, đã có bao nhiêu máu xương và nước mắt, hy sinh và nguyện cầu, những anh chị em Kitô hữu đã chọn và đã đi trên con đường của Đức Kitô. Quả thật họ là “những viên đá sống trong Ngôi Đền thờ thiêng liêng”. Hội Thánh đó, Ngôi Đền thờ thiêng liêng đó lại đang có tôi, có chị, có anh tiếp tục được mời gọi đóng góp phần mình để mỗi ngày mỗi tráng lệ hơn, khang trang hơn, vững chắc hơn…

Chúng ta có thể kết thúc bài chia sẻ hôm nay bằng một đoàn thơ cầu nguyện của Charles Singer, (La Cathédrale de ma vie) khi ông ví cuộc đời mình chính là một “Ngôi Thánh Đường” mà ông phải cần cù đẽo gọt suốt bao năm tháng.

Lạy Chúa,

Ngôi Thánh Đường của đời con,

Không thể xong trong một sớm một chiều,

Nhưng vun đắp trải qua nhiều năm tháng,

Cùng với nhiều biến dạng của thời gian….

Thế nhưng, con mãi mãi vững tin vào sức mạnh,

Chẳng phải từ nơi con để vượt thắng giòng đời,

Mà tâm nguyện : chỉ nơi Ngài, lạy Chúa,

Ngôi Thánh Đường con sẽ tựa trung kiên,

Để trụ vững giữa đảo điên nhân thế,

Để hiên ngang đứng giữa bể dâu đời.

Lạy Chúa, con chỉ là người thợ cả,

Chính Ngài, con không quá lời đâu :

Là Thiên Chúa, là Khởi Đầu, Chung Cuộc,

Chính Ngài, Nhà Kiến Trúc của đời con.


 

PS5-A29: HÃY TÌM MỘT CHỖ TRONG TRÁI TIM CHÚA

 - Lm. Jude Siciliano, OP
HÃY TÌM MỘT CHỖ TRONG TRÁI TIM CHÚA - Lm. Jude Siciliano, OP

(Ga 14, 1-12)

Thưa quý vị,

 

Bài đọc 1 hôm nay cho chúng ta cơ hội tốt để kiểm tra lại tình hình giáo hội địa phương. Các bài: PS5-A29

Bài đọc 1 hôm nay cho chúng ta cơ hội tốt để kiểm tra lại tình hình giáo hội địa phương. Các bài đọc công vụ mùa Phục sinh gây ấn tượng Hội thánh tiên khởi có sự đoàn kết chặt chẽ và vững bền, nhờ đức tin vào Chúa Ki-tô sống lại. Nhưng thực tế chúng ta không luôn cảm nghiệm như vậy ở các Hội thánh địa phương. Thường xảy ra những tranh cãi lớn nhỏ. Trên bình diện quốc gia và quốc tế cũng vậy, luôn có đe doạ chia rẽ về nhiều vấn đề. Thí dụ, những năm cuối đời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tiếng nói đòi ngài từ chức không phải là hiếm, có những lúc tưởng như đổ vỡ. Hiện nay ở giáo phận tôi phục vụ, các trường công giáo đang là một vấn đề. Kẻ đòi đóng cửa vài trường vì không đủ kinh phí, người khác đề nghị đầu tư thêm. Cuộc tranh cãi có lúc bùng nổ lớn, lan đến các phương tiện truyền thông xã hội. Không hiểu tháng 9 tới đây (mùa khai trường) vụ việc sẽ được quyết định ra sao ? Hiện thời thì chưa ngã ngũ. Lại còn việc các giáo sỹ gây gương xấu, trách nhiệm của các vị lãnh đạo giáo phận đến đâu Ai buộc phải từ nhiệm, ai không ?

Trước sự lớn mạnh và nhiệt thành của giáo đoàn tiên khởi, hình như sách công vụ tông đồ chỉ chú ý ghi lại phần tích cực, bỏ qua những tiêu cực, cho nên chúng ta nghĩ rằng mình kém cỏi hơn các vị tiền bối trong đức tin. So sánh với Hội thánh tiên khởi, các Giáo hội hiện thời luôn phải đối mặt với nhiều sa sút, chia rẽ. Vì vậy, hình như chúng ta không được “chính thống” như các tín hữu đầu tiên. Đó là cảm nghiệm chung mọi người đều thấy được. Tuy nhiên, bài đọc 1 hôm nay không củng cố quan điểm đó, ngược lại nó cho thấy các tín hữu cũng có những “khó khăn” riêng : Số là khi cộng đồng thêm đông, các tín hữu gốc Do thái nhưng nói tiếng Hy lạp cảm thấy bị thiệt thòi vì các goá phụ của họ không được anh em đồng đạo Do thái chính gốc đối xử cộng bằng. Sách Công vụ kể : “Thời đó các môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do thái theo văn hoá Hy lạp kêu trách những tín hữu Do thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên.” Rõ ràng giáo đoàn tín hữu đã gặp sự khác biệt về sắc tộc và bất bình đẳng trong các thành phần cộng đoàn. Dấu chỉ hợp nhất chứng minh Chúa phục sinh đang hiện diện không còn chặt chẽ nữa. Tuy lúc đầu, sách công vụ kể cộng đoàn làm chứng mạnh mẽ Chúa đã phục sinh bằng dấu chỉ họ yêu thương, đoàn kết với nhau khăng khít. Nhưng bây giờ chủ nghĩa thiên tư đã để lộ chân tướng. Họ cố tình bỏ quên những kẻ thấp cổ bé miệng trong cộng đoàn. Đây cũng là thách đố của chúng ta hôm nay. Khi đọc đoạn Kinh Thánh này, chúng ta nên thành thực với ơn Chúa Thánh Thần, loại trừ khỏi tâm hồn thói giả hình giả điệu, dấu diếm những lỗi lầm, làm ra vẻ là môn đệ Chúa, nhưng thực tế lòng đầy gian tham, ghen tỵ và loại trừ lẫn nhau. Hãy noi gương giáo đoàn tiên khởi, giải quyết các khó khăn trong ơn Chúa và sự thật. Duy chỉ sự thật mới giải thoát chúng ta khỏi chia rẽ. Lấp liếm không phải là cách giải quyết tốt. Cứ như tông đồ công vụ thuật lại thì toàn bộ giáo hữu tụ họp, không thấy kể có ai vắng mặt. Họ cùng bàn bạc và nhất trí chọn ra 12 thanh niên Do thái gốc Hy lạp, đầy Thánh thần. Các tông đồ đặt tay trên họ để thành lập một nhóm riêng, có nhiệm vụ trông coi vật chất cho cộng đoàn. Chẳng bao lâu sau, người ta thấy nhóm này cũng đi rao giảng Lời Chúa như Stêphanô ở Giêrusalem, Philiphê ở Samaria. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính yếu của họ là giúp đỡ các tông đồ, phân phát nhu cầu vật chất cho những người thiếu thốn. Hôm nay trước bàn thờ thánh thể, chúng ta cùng cầu xin cho chúng ta ý thức được nhiệm vụ chính yếu của mình là rao giảng Lời Chúa, săn sóc những người thiếu thốn, yếu đau, bệnh tật và đừng tìm kiếm thanh danh, lợi lộc riêng tư.

Bài Phúc âm trích diễn từ cuối cùng của Chúa Giê-su trong bữa tiệc ly. Bối cảnh là sau biến cố rửa chân, Chúa Giê-su loan báo Giuđa phản bội. Các môn đệ nhìn nhau bối rối, rồi chuyển sang hoang mang về tương lai. Chúa Giê-su trấn an các ông : “Anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi.” Các tông đồ hoang mang vì khi Chúa ra đi rồi các ông sẽ rơi vào hoàn cảnh như rắn mất đầu, con cái không cha mẹ, đạo binh không tướng lãnh. Họ biết chống đỡ ra sao với các thế lực thù địch, nhất là với quyền bính đền thờ đang tìm cơ hội để tiêu diệt họ ? Đúng là họ sẽ gặp nhiều khó khăn nếu vắng bóng Chúa Giê-su giữa họ. Ngày nay cũng vậy, Hội thánh sẽ vô cùng lo sợ nếu Chúa không hiện diện để nâng đờ hằng ngày. Bởi kẻ thù của mình, đứng đầu là Satan, luôn chờ cơ hội để quấy phá và nếu có thể được thì tiêu diệt luôn. Đức Thánh cha, hàng giáo phẩm, những vị có trách nhiệm đều cảm thấy được như vậy. Cho nên, năm 1978, khi vừa đắc cử giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã phải tuyên bố ngay trước giáo dân tại quảng trường thánh Phêrô : “Anh chị em đừng sợ !” Một lời bảo đảm vững chắc nhưng bao hàm tình hình quá ư bấp bênh, đầy nguy hiểm. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ về thái độ của Chúa Giê-su đối với các môn đệ đang sợ sệt. Ngài nói nhiều về Chúa Cha : “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”(c 2). Ngài là đường dẫn đến Chúa Cha (c 4). Xem thấy Thầy là xem thấy Cha ( c 7). Những lời ngài giảng dạy, các việc ngài làm là của Chúa Cha (c 10). Tất cả những nội dung đó bảo đảm Ngài luôn ở với các môn đệ và Hội thánh. Ngài không để chúng ta một mình bơi qua biển đời trần gian, chống chọi với phong ba bão táp của hoả ngục. Đến đây, xin liên tưởng tới trường hợp của Phêrô đi trên biển vào ban đêm để đến với Ngài (Mt 15, 22), hay mẻ cá lạ lùng sau một đêm làm vịêc luống công (Ga 21, 3).

Lời tuyên bố của Chúa Giê-su : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” bao hàm nhiều chân lý khác nữa và đối với các môn đệ, chúng hợp thành nền tảng đức tin của họ vào Ngài. Ngài thực sự là con đường để các môn đệ đến với Chúa Cha, thay vì những tục lệ của các lãnh đạo tôn giáo áp đặt trong việc tuân thủ lề luật, thì chỉ cần tin vào Chúa Ki-tô. Ngài chính là con đường để mọi người được cứu độ. Ngoài Ngài ra không có con đường nào khác nữa. Tin vào Chúa Giê-su, chúng ta được hưởng tràn đầy thánh nhan Thiên Chúa. (Tôi và Cha tôi là một ). Ai thấy Chúa Con thì cũng thấy Chúa Cha (Ga 6, 16). Ngoài ra, Ngài là con đường yêu thương đưa đến sự sống. Cho nên, muốn học biết yêu thương thì phải học với Ngài, chứ không bày ra những tưởng tượng rồi gọi đó là yêu thương. Yêu mến Chúa Giê-su là tuân giữ các giới răn của Ngài. Yêu thương nhân loại là làm gương lành gương sáng cho họ, lôi kéo họ về với tình thương của Thiên Chúa. Như vậy, Ngài đích thực là con đường chúng ta tin cậy. Con đường duy nhất mặc khải cho chúng ta biết về bản tính Thiên Chúa. Chúng ta vững lòng tin theo khi Ngài rao giảng về lòng thương xót của Thiên Chúa, về sự tha thứ Người ban cho những linh hồn sám hồn. Nếu ai đó rêu rao về một Thiên Chúa trả thù, oán giận, hằn học, chúng ta có thể bỏ ngoài tai. Chúa Giê-su chính là chân lý về Chúa Cha. Sống theo như Ngài đã sống dẫn đưa nhân loại đến thể hiện hoàn toàn thánh ý Thiên Chúa. Do đó, nếu chúng ta mường tượng ra một lối sống khác, kỳ quặc thì đấy là lối sống của ma quỷ. Tai hại thay, thiên hạ thường cỗ võ lối sống này, rồi hô là văn minh, hợp thời đại, không bị tụt hậu, hay nói nhẹ nhàng hơn “nhân bản”. Tôi nhớ cha Bernard Pro O.P. phát biểu một câu chí lý : “Dieu seul est humain - Chỉ một mình Đức Chúa là nhân bản”, còn loài người dù sống tốt thế nào đi nữa cũng vương mùi tục luỵ. Cho nên, đừng kiêu ngạo, tự hào mình “nhân bản” hơn Thiên Chúa. Con đường của Chúa là nhân bản tối thượng.

Chúng ta không có khả năng tự thân sống theo cuộc sống của Chúa Giê-su, cũng chẳng tự sức lấy Ngài làm gương mẫu. Đúng hơn, Ngài là “sự sống” của mỗi người. Chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào ơn Ngài để có thể sống như Ngài. Đây là chân lý nền tảng của cuộc đời tinh thần. Chúng ta phải ghi nhớ luôn, kẻo sai lầm, sống theo khả năng riêng, xa rời giới răn của Chúa Giê-su. Từ đó, sinh ra tự phụ về đàng thiêng liêng. Chúa Giê-su là nguyên lý của sự sống siêu nhiên, chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Ngài để có thể sống tốt. Ngoài ơn Ngài ra là sống sai lầm. Sống buông thả theo dục vọng của mình thì thế nào gọi là có ơn Chúa hướng dẫn ? Khi Ngài tuyên bố với các môn đệ : “Thầy về cùng Thiên Chúa Cha” tức thời các môn đệ nhớ lại lời hứa của Ngài là Ngài sẽ trở lại mang họ cùng đi với Ngài : “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, Thầy đi dọn chỗ cho anh em và Thầy sẽ trở lại đem anh em về với Thầy.” Trong khi chờ đợi Chúa thực hiện chân lý đó, chúng ta cần cầu xin Thần khí của Ngài gìn giữ mình trung thành với ơn nghĩa Chúa. Lễ Ngũ tuần đã gần kề, nhớ lại biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống chan hoà trên Giáo hội tiên khởi, chúng ta cũng mong ước biến cố này còn tiếp tục xảy ra trong hội thánh ngày nay, để Thần khí Chúa thúc đẩy mỗi tín hữu, ban cho mỗi người khả năng sống thánh thiện theo đời sống Chúa Ki-tô.

Trong các trường phổ thông cơ sở công giáo, đôi khi người ta tổ chức ngày họp mặt các cựu học sinh. Thường thì vài năm một lần. Đúng là một truyền thống tốt đẹp, đáng ghi nhớ. Mỗi lớp sẽ gửi thiếp mời đến các học sinh cũ của nhà trường, chỉ định ngày giờ. Mọi người hồi hộp đợi ngày trở về tổ ấm (homecoming), gồm cả những nhân vật thành đạt trên trường đời như tổng thống, thương gia, nghĩ sĩ, nghị viện, không loại trừ vô danh tiểu tốt. Trong thánh lễ tạ ơn, người ta chọn đọc bài phúc âm hôm nay. Đó là một chọn lựa khôn ngoan, bởi lẽ Chúa Giê-su tuyên bố Ngài đi là để dọn chỗ cho các môn đệ và Ngài sẽ trở lại mang họ theo. Phải chăng đây không phải là một sự trở về tổ ấm thực sự hay sao ? Ý nghĩa thật sâu sắc ! Những học sinh đã rời nhà trường tản lạc đi khắp ngả đông tây để kiếm sống, danh vọng, địa vị, tiền tài. Bao nhiêu thời giờ, nghị lực, tham vọng đã bỏ ra cùng muôn nỗi nhớ nhung ngôi trường cũ, bạn bè xưa. Nay được trở về xum họp, đúng là cơ hội mừng vui. Những mối giàng buộc thân tình ngày xưa lại được làm cho sống lại. Ai nấy đều cảm thấy hạnh phúc, tạm thời gạt bỏ những khó nhọc vì công việc hằng ngày.

Có điều gì đó liên quan đến lời tuyên bố của Chúa Giê-su : “Ta là con đường, là sự thật và là sự sống” cho những cựu sinh viên, và cho toàn thể tín hữu, khi mà việc trở về họp mặt với Chúa Giê-su trong vương quốc ân sủng, trong hạnh phúc tuyệt vời. Bởi Ngài chính là tổ ấm của chúng ta. Những linh hồn đón nhận Ngài đều cảm nhận nơi Ngài có nhiều chỗ ở, không phải đợi tới đời sau mới được, mà ngay từ đời này. Chính cuộc sống của Ngài là địa chỉ họp mặt của tất cả chúng ta. Khi Ngài đồng bàn với các môn đệ không thấy đặt bảng hiệu chỉ rõ chỗ ngồi cho những chức sắc hay vị trí của những kẻ thân cận tri kỷ. Mọi người đều bình đẳng, không phân biệt nghèo khó, sang giàu, người thu thuế hay thợ chài lưới, Phêrô hay Gioan. Ngược lại, Ngài cung cấp chỗ nghỉ ngơi cho những ai gồng gánh nặng nề, ủi an những linh hồn đau khổ, phiền muộn. Tất cả đều được danh dự trước mặt Ngài, tìm thấy sự ấm cúng trong trái tim Ngài và được Cha Ngài yêu thương. Chẳng lạ gì mọi người dù tội lỗi đến đâu cũng được Ngài tiếp đón. Khi rao giảng Ngài luôn ban phát ơn lành cho những linh hồn gặp Ngài. Thí dụ, các phụ nữ nơi công cộng, Ngài chấp nhận họ như những môn đệ của mình, điều mà các thầy thông luật, các biệt phái từ chối. Nếu họ là những tội nhân, những người bị thần ô uế ám hại, các kẻ bị loại trừ vì lý do tôn giáo, các thân phận ngoài lề xã hội, chắc chắn họ tìm thấy nơi nương ẩn nơi lòng thương xót của Ngài, vì Ngài giải thích lề luật theo căn bản của nó, chứ không đặt thêm gánh nặng trên vai người có lỗi bằng các tập tục, các thói lệ của đời xưa, xa lìa ý định Thiên Chúa. Ngài là sự hiện diện của Thiên Chúa trước mặt các tội nhân. Vì vậy, người trộm lành được một nơi cư ngụ tốt đẹp trên thiên đàng. Chị phụ nữ ngoại tình được ơn tha thứ và bình an. Ngài ngỏ lời với tất cả các linh hồn tìm kiếm Thiên Chúa : “Chúc mừng cuộc trở về tổ ấm nhà ta.”

Đúng vậy, Chúa Giê-su cung cấp mái ấm cho những ai lắng nghe và chấp nhận lời Thiên Chúa. Nội dung được gói ghém trong tuyên bố : “Ta là con đường, là sự thật và là sự sống”. Bất cứ những ai chấp nhận Ngài như vậy đều tìm thấy nơi cư ngụ trong trái tim Thiên Chúa, không sợ bị loại bỏ ra ngoài. Hãy để những thứ phù phiếm trôi vào quá khứ. Những tội lỗi, tham vọng, gánh nặng vào hư vô. Bởi chúng ta là con Thiên Chúa, chúng ta có thể cảm nghiệm Ngài như cha mẹ và Ngài ra đi để dọn chỗ cho chúng ta. Đức tin vào Chúa Giê-su như vậy là nơi cư ngụ của nhân loại. Ngài ban khả năng cho chúng ta sống tốt, làm điều thiện hảo. Nhờ đó, những kẻ còn ở xa có thể tìm thấy nơi ở vững bền. Những người yếu kém về kinh tế, xã hội tìm được sự nâng đỡ thăng tiến. Hôm nay, trước bàn thờ Thánh thể, buổi phụng vụ của chúng ta đúng lý phải là nơi cư ngụ quen thuộc cho hết thảy mọi người, thường xuyên dự lễ hay khô khan nguội lạnh. Nhưng thực tế không được như vậy. Có những kẻ còn bị loại trừ như di dân, ly dị, đồng tính luyến ái, con hoang, xì ke, ma tuý, trộm cướp, v. v. Chúng ta cầu xin Chúa cho mọi người tìm thấy chỗ ở trong trái tim Chúa. Xin Ngài củng cố chúng ta trong các hoạt động bác ái ngõ hầu Hội thánh, thế giới này trở thành mái ấm cho mọi linh hồn, không phân biệt già trẻ, trai gái, sắc tộc, trình độ, sang hèn. Chúng ta đợi trông Chúa Thánh Thần đổi mới mọi sự để trái đất này thực sự là mái ấm cho loài người cư ngụ. Bởi vì tự thân chúng ta chẳng thể thực hiện được ước mơ đó. Amen..


 

PS5-A30: TIN VÀO CHÚA GIÊSU - Sr Mai An Linh, OP

 (Jn.14,1-12)

TIN VÀO CHÚA GIÊSU - Sr Mai An Linh, OP

 

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật thứ V Phục Sinh năm A này là Niềm Tin vào: PS5-A30

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt phụng vụ Lời Chúa của Chúa Nhật thứ V Phục Sinh năm A này là Niềm Tin vào Đức Giêsu. Thật vậy, ngay từ bài đọc I trích sách Công Vụ cho chúng ta thấy : Nhờ vào việc rao giảng của các tông đồ mà thời đó đã có “ một nhóm Tư Tế tin vào Chúa Giêsu” ( Cv.6,7) và bài đọc II lấy từ thư của Thánh Phêrô cũng diễn giải Chúa Giêsu là viên đá góc tường : “ kẻ tin vào đó sẽ không phải thất vọng” (1Pr.2,6c). Sang bài Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu qủa quyết Ngài là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống, ai tin vào Ngài thì sẽ có sự sống đời đời (x.Jn.14,6).

Trong cuộc đời mỗi người chúng ta, chắc chắn đã có những lần chúng ta cảm thấy bất lực để thực hiện một việc gì đó, nhất là trong vấn đề sinh tử, chẳng ai có thể giúp được chúng ta. Lúc ấy chúng ta mới cảm nghiệm được chỉ một mình Chúa mới cứu được mà thôi.

Đúng vậy, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là Đường là Sự Thật và là Sự Sống. Muốn có sự sống phải đến với Cha, nhưng muốn đến với Cha, muốn thấy Cha thì chỉ có mình Ngài là con đường độc đạo dẫn đến Cha “ Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”(c.6). Các môn đệ muốn thấy Cha thì Chúa Giêsu cho biết : “ Ai thấy Thầy là thấy Cha, Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”(x.c.9). Các lời Ngài nói không phải tự Ngài nói ra mà chính Cha ở trong Ngài nói ra “ Thiên Chúa không ai thấy bao giờ, Con Một, Đấng ở nơi cung lòng Cha, chính Ngài đã thông tri” (x.1Jn4,12). Cho nên, muốn biết Cha cũng không có đường nào khác ngòai Chúa Giêsu.

Philip muốn thấy Chúa Cha như một cuộc thần hiện, một sự xuất hiện cả thể của Thần Tính, giống như các lần xuất hiện của Thiên Chúa trên núi Sinai mà Moisen đã được chứng kiến (x. Xh.29,9-11) hay như Elia trên núi Horeb (x.1V.19,10-14). Philip chờ đợi một cuộc xuất hiện ngọan mục của Thiên Chúa, một nơi nào đó trên các đám mây. Nhưng không ! Thiên Chúa trong Đức Kitô đang ở trước mặt Philip, Thiên Chúa không còn tỏ hiện trong sấm sét nữa, hay trong các thị kiến nữa, mà được mạc khải trong hình hài nhân lọai của Đức Kitô, trong Đức Kitô sắp được vinh quang.

Nhìn thấy Chúa Giêsu, chiêm ngưỡng Ngài là nhìn thấy Cha nơi Ngài (x.Jn.12,24-25). Cha và Con là không thể tách biệt. Các lời Chúa Giêsu nói và các việc Ngài làm đều là Lời nói và việc làm của Cha (x.Jn.5,17-26..;7,16-17). Sự duy nhất với Cha trong hành động giả thiết sự hiệp nhất với Cha trong bản tính. Nghĩa là Chúa Giêsu là một với Thiên Chúa. Đức Giêsu chính là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã trở nên giống chúng ta. Đối với chúng ta Ngài là mạc khải của Thiên Chúa Cha.

Đến với Chúa thì biết đường mà đi tới sự thật và đi đến sự sống. Ngài đi trước dẫn lối cho chúng ta như Mục Tử đích thực, Ngài chẳng những dùng lời chỉ dẫn chúng ta. Ngài còn đi trước chúng ta, đi cạnh chúng ta để dẫn lối, để đồng hành với chúng ta. Ngài là đường duy nhất, không có con đường nào khác để đến với Chúa Cha, mà đến với với Chúa Giêsu là đến với Cha. Vì thế, chúng ta phải tin vào Ngài để Ngài hành động, chứ không phải do lòng đạo đức của chúng ta. Vì vậy, nếu chúng ta chưa làm được những việc lớn lao là vì chúng ta chưa tin vào Ngài hoặc chưa để Ngài làm. Khi tin vào Ngài, ta sẽ muốn làm điều Ngài muốn, lúc đó Thiên Chúa sẽ tự do hành động qua chúng ta.

Từ chỗ cảm nghiệm việc Chúa đang làm mà tin vào Lời Ngài. Muốn được như thế phải cầu nguyện để cảm thấy rằng chúng ta cần Chúa một cách tuyệt đối. Trong những vấn đề sinh tử của chúng ta, của nhân lọai thì không ai khác ngòai Chúa Giêsu có thể giải quyết được và việc Chúa đến trần gian cũng là để giải quyết điều đó. Chỉ trong con đường của Ngài chúng ta mới vượt qua trần gian đóng kín này để đi về cùng Thiên Chúa Cha.

Tin vào Chúa Giêsu thì sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa (x.c.12). Lời hứa này có sức mạnh làm cho các môn đệ phấn chấn. Sức mạnh ấy lớn lao đến nỗi các ngài sẽ làm những việc to lớn hơn cả những việc Chúa Giêsu đã làm. Nghĩa là các môn đệ sẽ bành trướng Nứơc Thiên Chúa còn nhỏ bé, yếu ớt trên mảnh đất Palestine thành trải rộng ra khắp nơi trên tòan thế giới. Thành công to tát này là kết qủa của việc Chúa Giêsu ra đi và trở về cùng Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu để mãi cho tới khi Ngài chết, mới hành động một cách vinh quang nhờ vào các tông đồ. Như vậy, tác vụ của các tông đồ sẽ mạc khải cho thấy sức mạnh bên trong họat động nơi các ông, và chỉ có một điều kiện duy nhất đòi hỏi các ông là tin vào con người Chúa Giêsu.

Lạy Chúa, nhân lọai chúng con là những lữ hành đang tiến về quê trời. Xin cho chúng con biết nhận định đúng con đường duy nhất là Chúa Kitô, để tin vào Ngài và nối gót theo Ngài vì Ngài là đường đi là Sự Thật và là Sự Sống. Nhờ đó, chúng con sẽ thẳng tiến đến sự sống vĩnh cửu mà không sợ lạc đường. Amen.


 

PS5-A31: Chúa Giêsu, nguồn bình an - Lm Trần Thanh Sơn

Bài đọc 1: Cv 6, 1-7 Chọn bảy Phó tế
Bài đọc 2: 1 Pr 2, 4-9 Dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế…
Tin mừng: Ga 14, 1-12 Thầy là đường, là sự thật, là sự sống

Chúa Giêsu, nguồn bình an - Lm Trần Thanh Sơn

 

Trong thời gian gần đây, theo dõi báo đài và tin tức trên truyền hình, chắc hẳn mỗi người chúng ta: PS5-A31

Trong thời gian gần đây, theo dõi báo đài và tin tức trên truyền hình, chắc hẳn mỗi người chúng ta đều nghe biết về tình hình bất ổn trên thế giới, đặc biệt là miền Trung Đông. Cả thế giới đang lo lắng và suy nghĩ tìm cách giải quyết mối căng thẳng do nạn khủng bố gây ra. Và ngay tại Việt Nam chúng ta trong những ngày vừa qua, bà con tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, lại đang hết sức lo lắng khi kết quả kiểm tra ngẫu nhiên trên đàn vịt chạy đồng cho thấy có từ 70 -80 % số mẫu cho kết quả dương tính với type H5 (Hồ Văn-Trần An, Tuổi trẻ, ngày 15/4/2005). Rồi trong những ngày cuối năm nay, các em học sinh lại cũng đang bối rối không biết nên thi và chọn trường nào để có thể tiếp tục theo học.

Và có lẽ không ai trong số chúng ta đang ngồi đây, tôi cũng như quý ông bà anh chị em không có một nỗi lo lắng riêng tư nào đó. Và không chỉ chúng ta mà tôi thiết nghĩ, tất cả mọi người ai cũng đang lo lắng, băn khoăn. Chúng ta băn khoăn về rất nhiều việc: nào là kinh tế gia đình đang gặp khó khăn, việc ăn học và dạy dỗ con cái; tương lai không biết như thế nào… và còn nhiều điều lo lắng khác nữa. Các tông đồ thời Chúa Giêsu cũng thế, đứng trước lời loan báo về cuộc khổ nạn sắp tới của Thầy mình, về những chia rẽ, phản bội trong hàng ngũ nội bộ, các ông cũng lo lắng băn khoăn. Nhưng với tình thương của người Thầy, của vị Mục tử nhân lành, Đức Giêsu đã lên tiếng trấn an các ông và cũng là với từng người chúng ta: “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Một lời nói diễn tả tấm lòng dịu dàng, thương yêu bao la của Chúa đối với từng người chúng ta.

1. Nguyên nhân sâu xa của các nỗi lo lắng:

Chúng ta lo lắng vì nhiều lý do, nhưng tựu trung có lẽ vì hai lý do chính yếu sau đây: không biết tương lai sẽ ra sao và khi gặp khó khăn, trở ngại chúng ta không biết nên làm thế nào.

Các tông đồ hoang mang lo lắng không chỉ về cuộc khổ nạn của Chúa, nhưng theo cha Xavier Léon Dufour thì họ còn lo lắng bởi từ đây, họ phải xa cách một người thực sự cần thiết cho cuộc đời của họ. Họ còn lo lắng bởi sự thất vọng sâu xa, khi nhìn cuộc khổ nạn của Chúa như là một sự bế tắc, thất bại, không còn tương lai (x. Fiches Dominicales, Năm A, trang 141).

Nỗi ưu tư của các tông đồ xưa, cũng chính là nỗi ưu tư của từng người chúng ta trước những khó khăn của cuộc sống, trước một tương lai bấp bênh, trước những trách nhiệm trong gia đình, xã hội đang đè nặng trên đôi vai của chúng ta. Đó là nỗi lo của các bậc làm cha mẹ trong việc hướng dẫn, giáo dục con cái. Đó còn là trăn trở của các bạn trẻ trước một tương lai còn mù mờ. Nó còn là những khắc khoải của từng người chúng ta trước sự im lặng của Thiên Chúa. Những khó khăn đó đôi lúc như muốn đè bẹp chúng ta. Nó khiến chúng ta bối rối, không biết phải làm gì.

Suy nghĩ kỹ, chắc hẳn mỗi người chúng ta nhận ra rằng chúng ta bối rối, vì chúng ta đang khép kín và muốn tự mình giải quyết. Chúng ta giải quyết mọi việc như là không có Thiên Chúa. Nhưng lời Đức Kitô hôm nay, kêu gọi chúng ta: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Tin vào Thiên Chúa, nghĩa là giao trọn cuộc đời mình cho Chúa, để Ngài hướng dẫn và dìu dắt. Đây không phải là một niềm tin mù quáng, nhưng là niềm tin dựa trên chính lời hứa của Đức Giêsu, Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta: “Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó”.

2. Đức Giêsu, Nguồn bình an:

Tuy nhiên, nói tin vào Thiên Chúa thì dễ, nhưng sống niềm tin này thì không dễ chút nào. Suy nghĩ hiện nay của chúng ta hiện nay, dù muốn hay không cũng bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa thực dụng. Chúng ta đánh giá mọi việc, mọi người theo giá trị kinh tế. Trong khi đó, Đức Giêsu là một con người mà chúng ta chưa từng thấy, lại bị chết treo trên thập giá, hay nói như thánh Phêrô trong bài đọc hai: Ngài là “viên đá bị thợ xây loại bỏ”. Bởi đó, tin vào Đức Kitô là dám bước một bước liều, một bước của những tâm hồn mạnh mẽ, can đảm. Tổ phụ Abraham, được gọi là cha của những kẻ tin, cũng đã minh chứng niềm tin của mình bằng một bước đi mà tác giả thư Do thái gọi là “đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 11, 8). Tuy không biết mình đi đâu, nhưng tổ phụ biết Đấng gọi mình đi rất yêu thương mình, và ông đã tin tưởng để cất bước ra đi. Nhờ đó, ông được chúc phúc. Vì thế, thánh Phêrô khẳng định với từng người chúng ta rằng, Thiên Chúa đã tuyển chọn Đức Giêsu, viên đá bị thợ xây loại bỏ ấy để tôn vinh và làm nên tảng đá góc tường, để rồi, “ai tin Người sẽ không phải hổ thẹn”.

Sở dĩ chúng ta dám tin tưởng và phó thác cuộc sống của chúng ta cho Chúa là vì nhờ phép Rửa, chúng ta đã được trở nên con cái và là người nhà của Thiên Chúa, như lời thánh Phêrô khẳng định: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện là dân riêng của Thiên Chúa.” Chúng ta được tuyển chọn và trở thành dân riêng của Thiên Chúa không phải do công trạng của chúng ta, nhưng do tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.Vâng, tình thương của Đức Giêsu dành cho chúng ta thật lớn lao. Ngài không lấy cái chết khổ giá làm đủ, Ngài còn để lại Thịt và Máu Ngài trong bí tích Thánh Thể làm của ăn hàng ngày cho chúng ta trên hành trình về quê Trời. Với Thánh Thể, Đức Kitô mãi mãi ở với chúng ta, làm bạn đồng hành với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Nhờ bí tích Thánh Thể, Ngài vẫn ở đó, hiện diện thực sự ở giữa cộng đoàn chúng ta, điều quan trọng là chúng ta có đủ xác tín để nhận ra Ngài, đến với Ngài và trải rộng lòng mình ra cho Ngài bước vào và để Ngài hướng dẫn cuộc sống của chúng ta hay không. Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể và hãy tâm sự với Ngài về tất cả những nỗi ưu tư, băn khoăn, khắc khoải của riêng mình.

Một khi chúng ta uốn mình để Ngài hành động trong và qua chúng ta, mọi việc chúng ta làm sẽ sinh một hiệu quả kỳ diệu như lời Ngài đã hứa: “Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy làm. Người ấy còn làm những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha.” Hiệu quả đó chính là sự bình an trong tâm hồn, cho dù những khó khăn và nghịch cảnh của cuộc sống vẫn còn đó. Tin vào Đức Kitô còn giúp cho chúng ta có một cái nhìn và một cách đánh giá mới đối với tất cả sự vật. Nó giúp chúng ta vượt qua những cái hữu hình trước mắt để hướng tới sự sống vĩnh cửu mà Ngài đã hứa.

Cầu chúc cho tất cả quý ông bà anh chị em cảm nhận được sự hiện diện thật sự của Đấng Phục Sinh trong lòng mỗi khi hiệp lễ. Nhờ đó, chúng ta có thêm sức mạnh và tâm hồn mãi mãi được bình an để hoàn tất cuộc hành trình về nhà Cha. Amen.


 

PS5-A32: ANH EM HÃY TIN THẦY - Phó tế Nguyễn Định

ANH EM HÃY TIN THẦY - Phó tế Nguyễn Định

- Ai tin vào Thầy, người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm" (Ga 14,12)

A- Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc sau: (Reflection and share)

Bài đọc 1: Tông đồ Công vụ (6:1-7). Nhóm Mười hai triệu tập tòan thể các môn đệ và nói: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải.” (câu 2)

 

Nếu chỉ quan tâm tới việc ăn uống và cơ sở vật chất. Bạn đã quên mất việc huấn luyện gì quan: PS5-A32

a/ Nếu chỉ quan tâm tới việc ăn uống và cơ sở vật chất. Bạn đã quên mất việc huấn luyện gì quan trọng nhất của Thánh Thần? Tại sao?

b/ Sách Tông đồ Công vụ là Tin mừng của Chúa Thánh Thần. Tôi đã thực hiện tinh thần hoà hợp tới đâu với các tôn giáo bạn?

c/ Triệu tập các môn đệ là mời các Tín hữu hiệp thông. Bạn đã gây được sự hiệp nhất, đại kết nào giữa dân Chúa theo Đức G.Ph.II?

Bài đọc 2: Thư 1 Phêrô (2:4-9). “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây lên đền thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh… (câu 5)

a/ Người Tín hữu là viên đá sống động của Thần Khí Chúa. Những việc Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong tôi hôm nay là gì?

b/ Xây đền thờ thiêng liêng là nhờ tác động của Thánh Thần. Lâu nay bạn đã ăn ở thế nào để xứng đáng là hàng tư tế thánh?

c/ Thánh Phêrô nhờ Thánh Thần mạnh dạn tuyên xưng Chúa. Tôi đã liên kết với Đức Kitô trong những đời sống chứng nhân thế nào?

Tin Mừng: Gioan (14: 1-12). “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.(c 6)

a/ Đức Kitô đã chỉ đường cho Tín hữu gặp Chúa Cha. Tôi đã lắng nghe tiếng Thánh Thần để cảm nghiệm Chúa Cha thế nào?

b/ Đức Giêsu đã mạc khải chính qua Ngài để thấy Chúa Cha. Bạn đã học hỏi Lời Ngài được bao nhiêu để được dẫn đến Thiên Chúa?

c/ Đức Giêsu là sự sống sung mãn của Chúa Cha. Tôi phải liên tục làm gì để có sự sống vĩnh cửu ấy ngay từ bây giờ?

B- Câu Kinh Thánh đánh động tôi Sống tuần này(The Best God’s Word)

AI TIN VÀO THẦY, NGƯỜI ĐÓ CŨNG SẼ LÀM NHỮNG VIỆC THẦY LÀM. - Whoever believes in Me will do the works that I do. ( Ga 14, 12)

Công Đồng dạy: Hiền Thê của ngôi Lời Nhập Thể tức Giáo hội, được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, hằng cố gắng hiểu biết Thánh Kinh ngày càng sâu rộng hơn, hầu không ngừng lấy Lời Chúa nuôi dưỡng con cái mình.

Phần các nhà chú giải Thánh Kinh Công giáo và những người chuyên về Thần Học Thánh phải ân cần lo lắng dưới sự trông nom của Quyền Giáo Huấn Thánh, và dùng những phương thế thích hợp để nghiên cứu và trình bày Thánh Kinh, để cung ứng nhiều thừa tác viên Lời Chúa hết sức có thể, hầu lương thực Thánh Kinh được dồi dào ban bố cho dân Chúa, để soi sang trí khôn, kiên trì ý chí và nung đốt lòng người yêu Chúa. (MK#23)

C- Ngay bây giờ bạn và tôi phải làm gì (So what am I doing/ For Action)

a/ Đào tạo huấn luyện chuyên viên Giáo lý Kinh Thánh tại Gíao xứ.

b/ Gặp gỡ mọi thành phần trong và ngoài Giáo xứ kể cả ngoại giáo.

c/ Bỏ đi vài tật xấu như hống hách, bè phái… để Chúa dễ làm việc.

d /Gia đình, Đoàn thể cần chia sẻ học hỏi nhiều về cách sống đạo.

D- Bạn và tôi cầu nguyện và Sống cầu nguyện (I pray and practice)

Lạy Cha, Đức Kitô đã nói: Ai tin vào Thầy, người đó cũng sẽ làm những việc Thầy làm và còn làm những việc lớn hơn nữa. Vâng, nếu con tin tưởng thì chính là Chúa Thánh Thần sẽ chỉ dẫn con làm những việc theo ý Chúa. Xin giúp con biết khiêm tốn để đem Lời Chúa đến với mọi người bằng chính đời sống lương thiện và phục vụ vô vị lợi, đễ làm chứng nhân cho Tin Mừng của Chúa.

Hoa thơm cỏ lạ: MẮT ĐỨC TIN CÓ THỂ THẤY CHÚA HÀNH ĐỘNG
Eyes of faith can see God at work

 

PS5-A33: CON ĐƯỜNG MANG TÊN GIÊSU

- Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
CON ĐƯỜNG MANG TÊN GIÊSU - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Ga 14, 1-12

 

Nằm trong bối cảnh diễn từ biệt ly, Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta đồng hành với các môn: PS5-A33

Nằm trong bối cảnh diễn từ biệt ly, Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta đồng hành với các môn đệ, cùng nhau suy chiêm những huấn từ quý giá mà Chúa Giêsu- cách nào đó, đã muốn đúc kết hoặc cắt nghĩa trọn vẹn ý nghĩa cuộc đời mà Người trải qua trên trần thế này, trước khi hoàn tất sứ vụ, trở về cùng Chúa Cha.

Đứng trước cảnh biệt ly, không ai tránh khỏi sự buồn phiền, ngậm ngùi và xao xuyến đến rơi lệ. Các môn đệ cũng trải qua trạng thái tâm lý này. Chúa Giêsu hiểu rõ tâm trạng bồn chồn, lo lắng của các ông. Chính vì thế, Người ra sức an ủi vỗ về. Người cho các ông biết rằng việc Người ra đi sẽ mang đến cho các ông nhiều mối lợi mà một trong những mối lợi đó là việc Chúa Thánh Thần sẽ đến ở cùng các ông.

Tuy thế, không phải tất cả những giáo huấn của Thầy đều được học trò tiếp thu trọn vẹn. Tin mừng Gioan nhiều lần sử dụng thuật ngữ “Technique of misunderstanding”, điều khiến cho không ít lần các môn đệ cứ hiểu theo một nghĩa khác. Ở đây cũng vậy. Khi Người nói về “đường”, Tôma lại hiểu “đường” theo nghĩa đen, tức là một con đường giao thông bình thường do con người làm ra để kết nối giữa vùng này với cùng kia. Trong khi đó, Chúa Giêsu lại nói theo nghĩa bóng.

Chúng ta biết trong Cựu ước, nhắc đến lịch sử dân tộc Israel là nhắc đến tiến trình “Xuất hành”, nghĩa là lên đường, bước trên con đường Thánh ý của Giavê Thiên Chúa. Để về đến đích là miền đất hứa, dân Israel không còn cách nào hơn là đi theo đường lối và huấn lệnh của Giavê. Phần thưởng muôn đời của họ sẽ được bảo đảm khi và chỉ khi họ bước trên con đường mà Giavê Thiên Chúa đã vạch ra.

Bên cạnh đó, lịch sử của dân tộc này cũng được xem là lịch sử luôn có mối liên hệ mật thiết với Thiên Chúa qua trung gian của một thủ lãnh vĩ đại là ông Môsê. Khi ban Luật Môsê cho dân, Thiên Chúa muốn cụ thể hoá mối tương quan với dân tộc này. Theo đó, luật Môsê chính là “đường” dẫn dân Israel đến với Giavê Thiên Chúa. Như thế, đường dẫn đến Thiên Chúa không phải do luật được ban hành mà do chính việc dân có thực thi luật đó hay không.

Ngày hôm nay, Chúa Giêsu cho biết chính Người là Đường, là trung gian duy nhất để nhân loại nhận biết Chúa Cha. Khi sánh ví mình là Đường, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy con đường mà ngày xưa dân Dothái bước đi trong sa mạc, rồi lề luật để nối kết tình thân với Giavê, nay được thay thế bằng chính sự hiện hữu của Người. Vâng, chính bằng đời sống, lời rao giảng và nhất là cái chết trên thập giá và sự Phục sinh vinh hiển của Chúa Giêsu là một minh chứng cụ thể, sống động nhất cho chân lý này.

Từ nay, sẽ không có chân lý và cũng sẽ không có sự sống nếu nhân loại không bước trên chính con người Giêsu là Đường. Lý do là vì, theo các nhà chú giải Kinh thánh, “Đường” mới là điều cốt yếu, còn “Chân lý” và “Sự sống” là yếu tố phụ thuộc, nhằm giải thích cho yếu tố đầu. Như thế, chúng ta có thể nói được rằng Chúa Giêsu là Đường bởi vì Người là Chân lý và Sự sống. Do đó, những ai bước theo Chúa Giêsu là Đường thì đương nhiên ở trong Chân lý và Sự sống và không thể khác được.

Câu hỏi của thánh Tôma, vô hình trung, mạc khải cho nhân loại được biết vũ trụ này có một con đường độc nhất vô nhị để đến với Chúa Cha, đó chính là Đức Giêsu Kytô. Vâng, con đường mang tên Giêsu từ nay sẽ là con đường mang nhân loại đến với chân lý vẹn toàn; đem nhân loại đến với sự sống vĩnh cửu; đem nhân loại đến với bình an và hy vọng; đem nhân loại đến với yêu thương và tha thứ; đem nhân loại đến với vâng phục và hiến tế; đem nhân loại đến với công lý và hoà bình; và cuối cùng, đem nhân loại đến với hoà giải và ơn cứu rỗi.

Danh Chúa Cha có tiếp tục được nhân loại tôn vinh, công việc của Chúa Giêsu có tiếp tục sinh hoa kết trái và con đường mang tên Giêsu có được mở rộng hay không, tất cả đều tuỳ thuộc vào đời sống đạo của mỗi Kytô hữu. Ước mong trên con đường ân sủng mang tên Giêsu, mỗi Kytô hữu là những cây số hướng dẫn cho khách bộ hành- những người chưa nhận biết Chúa, tìm đến bến bờ chân lý và sự sống nơi tình yêu của Chúa Cha và tình hiệp thông của Chúa Thánh Thần.


 

PS5-A34: CON ĐƯỜNG GIÊSU- Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP

CON ĐƯỜNG GIÊSU- Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP

(Ga 14,1-12)

 

Có một tác giả đã nói lên tính cách bí ẩn của cuộc sống con người bằng một câu chuyện như sau : Tại: PS5-A34

Có một tác giả đã nói lên tính cách bí ẩn của cuộc sống con người bằng một câu chuyện như sau : Tại một vùng quê nọ bên Tây Phương, một ông từ coi nhà thờ có thói quen mỗi ngày cứ 15 phút trước giờ ngọ, ông gọi điện thoại đến người phụ trách tổng đài trong vùng và hỏi giờ. Ngạc nhiên về thói quen lạ lùng ấy, người tổng đài đã hỏi lại : “Thưa ông, nếu không có gì làm phiền ông, xin ông cho biết lý do tại sao ông hỏi như thế mỗi ngày ?”. Ong từ nhà thờ giải thích : “Thưa ông, có gì đâu, tôi là người có trách nhiệm phải kéo chuông mỗi ngày vào đúng giờ ngọ. Tôi cần hỏi giờ chính xác thôi”. Người tổng đài điện thoại mới vỡ lẽ ra, ông nói với ông từ nhà thờ : “Thật là buồn cười, trong khi ông điện thoại đến hỏi giờ nơi tôi, thì chính tôi là người điều chỉnh đồng hồ của tôi theo tiếng chuông của ông”.

Tác giả của câu chuyện trên kết luận : “Cuộc sống quả là bí ẩn mà những người trong cuộc không thể nào tự mình tìm ra được câu trả lời”. Chúng ta cần có một câu giải đáp từ bên ngoài về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống, và người có thể nói với chúng ta về ý nghĩa và mục đích của cuộc sống chính là Thiên Chúa, chủ tể của sự sống. Kinh Thánh, lời của Ngài, thường ví cuộc sống như một cuộc hành trình. Từ lúc Nô-ê xuống tàu, Ap-ra-ham cất bước ra đi vào vùng đất xa lạ, đến ngày vội vã ra đi của Đức Maria, và cả cuộc đời không ngừng di động của Chúa Giêsu. Tất cả đều là những hình ảnh diễn tả cuộc hành trình trong đức tin của người Kitô hữu.

Đời người là cuộc hành trình, ra khỏi lòng mẹ là nhập cuộc và ra đi không ngừng : tuổi trẻ và thanh niên được dệt đầy những năng động để không ngừng dự phóng và sáng tác. Tuổi trung niên thành công tràn ngập, nhưng thất bại cũng giăng đầy những lối đi : có những người bạn chợt đến rồi đi, vui tươi hớn hở chớm nở, nhưng thất vọng cũng bao trùm. Rồi tuổi già đến, chúng ta nhận ra rằng : tất cả trên đời này chỉ là tạm bợ.

Đời là một hành trình, Đức Kitô đã trải qua đời trần thế bằng không biết bao nhiêu cuộc hành trình : Sinh ra trong một cuộc hành trình, và mở mắt chào đời để phải vội vã ra đi như một người tị nạn, năm 12 tuổi, lạc mất trong một cuộc hành trình, trong cuộc sống công khai, Ngài không ngừng đi lại khắp nẻo đường Pa-lét-tin, và cuối cùng Giêrusalem, đồi Can-vê là điểm đến của cuộc hành trình. Qua cuộc hành trình không ngừng nghỉ ấy, Đức Kitô đã tuyên bố : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”, nghĩa là ai tin Ngài và đi theo dấu chân của Ngài mới thực sự tìm được hướng đi cho cuộc hành trình. Ngài là con đường dẫn chúng ta về cõi phúc vinh quang.

Thực vậy, trên thế giới không thiếu những con đường nổi tiếng, nhưng có một con đường thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng. Con đường ấy mở ra bằng một tình thương và kết thúc bằng một hạnh phúc. Con đường ấy thắp sáng hy vọng để dẫn tới nhà Cha trên trời. Đó là con đường mang tên Giêsu. Đúng vậy, đối với chúng ta, chỉ có một con đường duy nhất để được cứu độ, để đạt tới cuộc sống bất diệt và hạnh phúc vĩnh cửu, tên gọi của con đường ấy là Giêsu.

Đi trên đường Giêsu là đi bằng cả niềm tin gắn bó hiệp thông của những người biết mình có một lý tưởng để theo đuổi, và sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được lý tưởng ấy. Đi trên đường Giêsu cũng là đi bằng niềm hy vọng bền vững. Sống hôm nay là chuẩn bị sống ngày mai, và ngày mai tại nhà Cha đã được định hình ngay từ bây giờ trong bước đường lữ thứ giữa lòng đời. Đi trên đường Giêsu còn là đi bằng cả tình yêu chan hòa phục vụ. Bởi vì con đường của Giêsu chính là con đường của yêu thương, sống trong phục vụ là lúc chúng ta đang đi trên con đường của Chúa.

Vì hoàn cảnh, ơn gọi mỗi người thường khác nhau, không phải ai cũng thích hợp với ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ. Nhưng một điều chắc chắn mà có lẽ ít khi chúng ta nghĩ tới, đó là tất cả chúng ta đều được Chúa kêu mời nên thánh, sống hạnh phúc trong ơn gọi làm người và làm con cái Chúa. Chúa Giêsu đã sống ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa của Ngài một cách tuyệt đối hoàn hảo và đã trở thành mẫu gương lý tưởng cho chúng ta. Vì thế, Chúa bảo chúng ta hãy đi theo con đường của Ngài trong suốt hành trình của cuộc sống. Với Chúa, chúng ta sẽ không cảm thấy cô đơn. Chúng ta sẽ mệt mỏi, nhưng không kiệt quệ. Chúng ta sẽ khổ đau, nhưng không thất vọng. Chúng ta sẽ chán nản, nhưng không bị bỏ rơi. Chúng ta kiếm tìm hạnh phúc, và chúng ta sẽ đạt được.

Xin Chúa là ánh sáng, là đường đi, là chân lý, hướng dẫn chúng ta lúc nào cũng đi trên con đường của Chúa, để sau cuộc hành trình đời này, chúng ta được về bên Chúa là cùng đích của chúng ta.

Trích Chia Sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm A


 

PS5-A35: THẦY LÀ CON ĐƯỜNG  -Huyền Đồng

5th Sunday of Easter

Lời Chúa cho hôm nay : THẦY LÀ CON ĐƯỜNG * I AM THE WAY *

Bài đọc 1: Công vụ 6,1-7=Phục vụ Lời của Thiên Chúa / The ministry of the Word.

Bài đọc 2: 1 Phêrô 2,4-9=Anh em là hàng Tư tế Vương giả/ You are a Royal Priesthood

Tin Mừng: Gioan 14,1-12=Lòng anh em đừng xao xuyến/ Do not let your hearts be troubled.

A- Tôi Cảm nghiệm Sống và chia sẻ 3 bài đọc hôm nay: ( Reflections, live out and share)

 

Đức Giêsu đãtha thiết nói với tôi: "Anh đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và vào Thầy": PS5-A35

1/ Đức Giêsu đãtha thiết nói với tôi: "Anh đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và vào Thầy". Trong cuộc sống của tôi hôm nay có rất nhiều lo âu như là con cái, nhà cửa, tiền bạc, việc làm, xe cộ…

Tôi có thấy sức mình thế nào, cần đến ai? Nếu tin vào Chúa giúp sức, tôi có thể làm những gì?

" Do not let your hearts be troubled. Have faith in God and faith in Me". ( Gioan 14, 1 )

2/ Ong Tôma cũng như tôi hôm nay hỏi Chúa: "Chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường". Đúng vậy, khi bạn thiếu niềm tin, bạn sẽ thấy lo lắng đủ thứ, chỉ thấy thất vọng và buồn chán. Bạn có thấy Chúa chỉ đường cho bạn không? Khi gặp may hay ruỉ bạn thấy thế nào?

We do not know where You are going, how can we know the way? ( Gioan 14, 5 )

3/ Thánh Phêrô tha thiết nói: "Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như ngôi Đền Thờ thiêng liêng, làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người". Nhưng rất tiếc tôi chỉ là căn nhà mục nát, với những đồ đạc ngổn ngang. Đền thờ của Chúa nơi tôi là gì? Tôi đã dâng của lễ nào cho Chúa?

…Built as an edifice of Spirit, into a Holy priesthood, offering Spiritual sacrifices… ( 1 Ph. 2, 5 )

4/ Ngày xưa, Nhóm Mười Hai đã triệu tập các môn đệ và nói: " Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải." Ngày hôm nay bạn cũng được Chúa nhắc nhở qua giáo huấn của Giáo hội để học hỏi Kinh Thánh. Bạn đã dùng ngày Chúa nhật để làm gì? Tại sao ?

"It is not right for us to neglect the Word of God in order to wait on the table." ( C.vụ 6, 2 )

B- Câu Kinh Thánh tôi chọn để làm Châm ngôn Sống hôm nay: (The Best God"s Word )



" THẦY LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG". ( Gioan 14, 6 )

· I am the Way, the Truth and the Life *

C- Tôi chọn những việc làm cụ thể để Sống Lời Chúa: ( So what am I doing / For Action )

- Tôi có thể chọn 1 trong 4 gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành.

- Năng suy niệm Lời Chúa - Thăm hỏi người ốm đau - Vui mừng và hy vọng, không lo lắng..v..v…

D- Tôi cầu nguyện luôn và Sống lời tôi cầu nguyện : ( I pray and practise/ Prayer in action)

1/ Lạy Chúa, Đức Kitô đã dạy: Chính thầy là Đường, là sự Thật và là sự Sống. Nhưng con đã đuổi theo những điều chóng qua. Xin gíup con luôn tìm đến Lời Chúa là mục đích cao qúy nhất của đời con.

2/ Thánh Phêrô đã tha thiết nhắc nhở chúng con là dân Thánh, là hàng Tư tế vương giả… Xin dạy cho con biết là những viên đá sống động, biết dâng những của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa.

Lời hay ý đẹp: KÍNH THẦN NHƯNG PHẢI LÁNH XA,

TRÁNH ĐIỀU MÊ TÍN MỚI LÀ NGƯỜI KHÔN


 

PS5-A36: THẦY ĐI TRƯỚC DỌN CHỖ CHO CHÚNG CON

 Sr Angeline Thanh Nga
THẦY ĐI TRƯỚC DỌN CHỖ CHO CHÚNG CON - Sr Angeline Thanh Nga

Ga 14, 1-12

 

Mùa Xuân năm 1990, tôi được hân hạnh sống và làm việc với các chị em Dòng Mến Thánh Giá tại: PS5-A36

Mùa Xuân năm 1990, tôi được hân hạnh sống và làm việc với các chị em Dòng Mến Thánh Giá tại trung tâm dành cho những người vô gia cư tại thành phố Los Angeles. Công việc của tôi mỗi ngày là dọn phòng và những vật dụng cá nhân cần thiết cho những người mới được nhận vào trung tâm, chào đón và chỉ dẫn cho họ các nơi trong nhà cũng như các chương trình, sinh hoạt hằng ngày, và giúp đỡ những khi họ cần đến. Hằng tuần, tôi theo các chị rảo quanh các công viên có đông dân số "homeless" (vô gia cư) để mang thức ăn cho họ, đồng thời thăm hỏi, ngỏ lời mời và đưa họ về ở với chúng tôi tại "Homeless Center". Nhiều lúc trung tâm chúng ta đầy ắp không còn đủ chỗ cho những người muốn đến sau.

Xã hội Mỹ đầy tiện nghi mà chúng ta đang sống không thiếu những người chẳng có một mái nhà để ở. Có biết bao người sống chui rúc dưới gầm cầu, trong các cống rãnh, bên những vệ đường, góc phố, hoặc một xó xỉnh nào đó. Biết bao thanh thiếu niên đã không ngần ngại lìa bỏ mái ấm gia đình để phiêu lưu đời mình vào một kiếp sống vô định không biết rồi sẽ đi về đâu? Có biết bao gia đình ngày nay vợ chồng li dị, li thân: cha mẹ con cái không hoà thuận, thiếu hiểu biết, thông cảm, tin tưởng, tôn trọng nhau, cho nên dù có mặt đó nhưng lòng vẫn như lạc lõng, xa cách... Tất cả đều là những hình ảnh vô gia cư!

Trong hành trình thiêng liêng, mỗi người chúng ta ít nhiều đã có lần nào đó cảm thấy bơ vơ, lạc lõng giống như tâm tình của các môn đệ trong Phúc âm hôm nay khi sắp phải xa cách Chúa. Trần thế rộng thênh thang nhưng đôi lúc chúng ta dường như không tìm thấy lối bước, không có chỗ dung thân! Nhưng Trái tim Chúa không bao giờ thiếu chỗ cho chúng ta. Nếu chúng ta thinh lặng và lắng đọng tâm hồn, chúng ta sẽ nghe tiếng Chúa thì thầm nhắn bảo như Ngài đã nhắn bảo các môn đệ: "Trong nhà Cha có nhiều chỗ... Thầy đi dọn chỗ cho các con... để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó (Ga 14,2-3). Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tín nhiệm Thầy" (Ga 14,1).

"Thầy đi để dọn chỗ!" Chúa Kitô đã đi trước bằng cách sống cuộc đời nhân loại của Người để từ đó trở nên con đường cho chúng ta nối tiếp theo sau. Theo gương Chúa, sống cuộc đời như Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ tới được nơi mà Chúa dọn cho mỗi người, và sẽ tìm gặp sự thật và sự sống.

Lạy Chúa, Trái Tim Chúa chính là căn nhà của con, là nơi con trở về sau những lần chiến đấu mệt mỏi, sau những giây phút vất vả lo âu trong cuộc sống để nghỉ ngơi và lấy lại sức. Khi cuộc đời không còn chỗ cho con thì Trái Tim Chúa vẫn hằng rộng mở chờ đón. Khi con người vô ơn bạc bẽo thì Trái Tim Chúa vẫn luôn ân cần sưởi ấm. Khi con không còn thấy lối đường nào để đi thì trong Trái Tim Chúa con sẽ gặp chính đường ban sự sống. Xin Trái Tim Chúa mãi mãi là căn nhà sưởi ấm tâm hồn con.


 

PS5-A37: THẦY LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG

- Lm Trần Bình Trọng
Cv 6,1-7; 1 Pr 2,1-9; Ga 14,1-12
 

Lời từ giã của Chúa trong bữa Tiệc ly với các tông đồ, để lại cho các tông đồ một nỗi đau buồn man: PS5-A37

Lời từ giã của Chúa trong bữa Tiệc ly với các tông đồ, để lại cho các tông đồ một nỗi đau buồn man mát, khiến các ông xuống tinh thần. Vì thế trong Phúc âm hôm nay Chúa dùng những lời lẽ khích lệ để an ủi các ông: Lòng các con đừng lo lắng bối rối. Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và hãy tín nhiệm nơi Thầy (Ga 14,1). Qua các tông đồ, Chúa cũng muốn ta đặt tin tưởng vào lời Chúa, phó thác vào chương trình quan phòng của Chúa. Tuy nhiên trong thực tế, ta lại tiếp tục đi theo đường lối riêng của mình. Quan sát bản thân, ta thấy tin tưởng là cái gì ta học được bằng kinh nghiệm. Ta không thể biết được rằng ta có thể tin tưởng vào người khác trong những vấn đề quan trọng, nếu ta không biết họ, và không tin họ trong những việc nhỏ. Tuy nhiên trong cái mối liên hệ với Chúa, ta chỉ tìm đến Chúa khi gặp vấn đề khó khăn, nan giải. Ta muốn tự giải quyết những vấn đề hàng ngày mà không cậy nhờ đến Chúa, không cầu xin Chúa Giúp. Ta chỉ kêu cầu đến Chúa, khi nào ta gặp thất bại, khi ta bị dồn vào thế bí, để xem ra may ra Chúa có giúp được gì không? Còn ngoài ra ta lãng quên Chúa. Ta đóng Chúa vào hộp.

Cũng như các tông đồ cảm thấy buồn khổ, xuống tinh thần, khi được biết Chúa sắp từ giã họ về Trời, có những khi ta cảm thấy như là Chúa đi sắng, hay còn hồ nghi sự hiện diện của Chúa. Có lẽ không ai đến nhà thờ hôm nay có được đời sống thanh thản không gặp khó khăn, trắc trở hay bệnh tật. Đời sống ta chồng chất những phiền muộn, lo âu, sợ hãi, chán nản. Đứng trước những vấn nạn và trắc trở của cuộc sống, ta tự hỏi tại sao Chúa để gian nguy, khốn khó xẩy đến cho bản thân và gia đình? Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ vào cuộc sống, ta sẽ thấy những cảnh gian nguy, khổ cực có thể là những thử thách mang lại ơn phúc lộc. Nhìn bằng con mắt đức tin, những khó khăn trắc trở của cuộc sống sẽ giúp ta xích lại gần Chúa trong lời cầu nguyện.

Từ giã các tông đồ về Trời, nhưng Chúa không bỏ họ, mà vẫn ở lại với các tông đồ bằng ơn thánh, bằng sức mạnh thiêng liêng. Chúa còn hứa: "Thầy sẽ trở lại đón các con về cùng Thầy, để cốt cho Thầy ở đâu, các con cũng được ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi" (Ga 14,3-4). Đến đây, thánh Tôma liền thắc mắc là Ông không biết đường. Chúa Giêsu đáp: "Thày là đường, là sự thật, và là sự sống" (Ga 14:6). Cái vấn nạn của Ông Tôma nói lên cái tính vô tư của các tông đồ. Họ đã theo Chúa ba năm, nghe lời Chúa giảng dạy, chứng kiến phép lạ Chúa làm mà họ vẫn chưa nhận thức được rằng, qua Chúa Giêsu là họ được đến với Chúa Cha. Còn thánh Philiphê thì cũng cá mè một lứa. Ông ta xin Chúa để cho Ông thấy Chúa Cha. Chúa Giêsu bảo Ông Philiphê là Ông ta đã thấy Thiên Chúa Cha bằng việc xem thấy Chúa Con rồi.

Chúa vẫn ở lại với ta, đồng hành với ta trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Nếu ta đi lầm đường lạc lối, Chúa hứa chỉ đường cho ta trở về với Chúa qua Thánh Kinh, qua Giáo Hội. Thiên Chúa là đấng hướng dẫn đời sống con người vì Người nhấn mạnh Người là đường lối.

Suốt 40 năm trong sa mạc, Maisen đã tìm đường tới đất hứa, và Ông đã lạc lõng trong sa ở Sinai. Tuy nhiên bây giờ Chúa khẳng định chính Người là đường. Trải qua bao nhiêu thế kỷ, nhiều triết gia và học giả đã cố công đi tìm sự thật.

Nhưng bây giờ Chúa phán chính Người là sự thật. Không những Người giảng dạy sự thật bằng lời nói mà còn bằng gương sáng. Chúa Giêsu còn xác nhận Người là sự sống: sự sống vĩnh cửu được chuộc bằng giá tử nạn và phục sinh của Người. Để đáp lại những khát vọng và những lời cầu xin của loài người qua nhiều thế hệ, Chúa công bố Người là hiện thân của cả ba cùng đích: là đường, là sự thật, và là sự sống.

Trong thời Trung cổ, tác giả Gương Chúa Giêsu thêm những lời lẽ sau đây vào miệng Chúa: Ta là đường mà ngươi phải bước theo, là sự thật mà ngươi phải tin tưởng, là sự sống mà ngươi hằng hi vọng.

NS Dân Chúa Mỹ Châu


 

PS5-A38: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Mở đầu bài Tin Mừng Chúa bảo chúng ta: “Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên: PS5-A38

Mở đầu bài Tin Mừng Chúa bảo chúng ta:
“Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa là tin vào thầy”.
Trong lúc ngồi tù vì đạo Chúa, khuôn mặt cha Đaminh Trạch (tử đạo ngày 18-9-1840,47 tuổi) lúc nào cũng vui vẻ, cha thường nói:
“Tôi tuy sức yêu, nhưng đã vì đạo mà bị bắt, tôi chẳng sợ gì, cũng chẳng hối tiếc chi.”
Trước tòa, lần nào cha cũng tra hỏi về Cha Vọng, vị trừa sai ngoại quốc mà quan chưa bắt được. Quan còn hứa trả tự do nếu chịu bước qua Thánh giá, song cha không chịu. Mặc dầu ốm yếu, quan cũng bắt nọc cha ra đánh hiều trận, bắt cha mang gông và nhốt trong cầu tiêu. Một lần nữa, cha ra tòa, Trịnh quang khanh chỉ vào Thánh giá đặt dưới đất, và nói: “Đây Thập Tự, một là bước qua, hai là chết”. Cha Đaminh không trả lời, tự động quỳ xuống hôn Thánh giá và thờ lạy, rồi lớn tiếng nguyện rằng: “Lạy Thánh giá là giường Chúa tôi nằm chết thay cho nhân loại, Thánh giá giá là hình ảnh đức tin đạo Công giáo mà hết mọi người phải thờ kính, nếu muốn được ơn cứu độ”. Cầu nguyện xong, cha ngẩng mặt nhìn quan: “Bẩm quan, tôi chọn cái chết để khỏi phạm tội rất nặng là bước qua ảnh Thánh”.
Ngày 11-4-1840, khi lên thăm hai Linh mục Vin và Thản ở Ngưỡng Nhân, cha bị quân lính phát hiện. Do tình trạng bệnh hoạn, sức yếu chân chậm, không chạy trốn được trên đường về Tử Liêu, cha bị bắt và dẫn về phủ Xuân Trường. Sau một thời gian tra hỏi ở đây, cha Trạch được chuyển qua ngục thất Nam Định. Sự hiện diện của cha trong ngục là niềm vui và an ủi cho nhiều phạm nhân đang bị giam ở đó. Mặc dù sức đã kiệt, cha Trạch vẫn cố gắng khuyên các giáo hữu và giải tội cho họ, đặc biệt cha đã giúp thầy Tôma Toán, sau đạp lên Thánh giá lần thứ hai, thống hối trở về với Chúa. Cha kêu mời anh em cùng cầu nguyện, nhất là đọc kinh Mân Côi.
Quan Tổng đốc biểu lính khiêng cha qua Thánh giá, nhưng cha co chân mặc cho chúng đánh đập. Các quan đồng thanh kết án xử tử cha. Ngày 18-9-1840, bản án được vua Minh Mạng châu phê ra tới Nam Định, và bản án được thi hành ngày hôm ấy. Tại pháp trường Bảy Mẫu, sau mấy phút cầu nguyện, cha cúi đầu lãnh nhát gươm tử đạo. Thi thể cha được an táng tại chỗ, năm sau các tín hữu cải lên rước về nhà chung Lục Thủy.
Trên đường ra pháp trường, Thánh Phaolô Đổng (tử đạo ngày 3-6-1862, 60 tuổi) bình tĩnh dọn mình chết và đọc kinh “Phó dâng”: “Lạy Chúa tôi, tôi xin phó dâng linh hồn và xác tay ở tay Chúa tôi… chớ gì sống chết tôi được giữ một lòng kính mến Chúa tôi. Amen.”
Chiếu chỉ ngày 5-8-1861 như sau: Mọi tín đồ Gia tô giáo phải thích tự vào hai bên má, một bên chữ “Gia tô giả đạo”, một bên tên xã huyện của tội nhân. Nhưng Thánh Đổng đã bị bắt giam và bị lính dùng sức mạnh thích bốn chữ “Gia tô tả đạo”, cụ đã gạch xóa đi chữ “tả” rồi nhờ người bạn tù viết thế vào đó chữ “hữu” quan xem thấy nổi giận ra lệnh cấm cốc và lên án tử hình, bản án được vua châu phê tức thời cụ già đó là Thánh Phaolô Đổng.
Ông bị giải về phủ Ân Thi. Tại đây, quan hứa sẽ cho nhiều tiền nếu ông bỏ đạo. Nhưng ông nhất mực từ chối và khẳng định với quan về lòng trung thành với Chúa Kitô. Do đó ông bị hành hạ, mang xiềng xích nặng. Sau đó lính được lệnh giải ông về Hưng Yên. Vừa tới cửa thành, ông Phalô Đổng thấy một Thánh giá đặt trên mặt đất, ai muốn qua phải đạp lên. Ông nhất định đứng lại và không chịu bước qua. Lính đánh đập ông tàn nhẫn, nhưng vẫn không cưỡng bức được ông. Sau cùng, họ nhốt ông vào một cái cũi chật hẹp để khiêng qua.
Gần một năm trong tù, sống cực khổ, ông Đổng ban ngày phải mang gông, đêm đến phải chịu cùm xích. Nhiều lần bị quan tra hỏi, trước sau như một, ông cương quyết giữ vững đức tin. Lính đánh đập ông nhiều lần một cách dã man, khiến thân mình ông đầy thương tích đẫm máu. Như trên, chúng ta đã biết ông Phalô Đổng khảng khái không chịu để lý hình khắc hai chữ “Tả Đạo” vào mặt, nên bị cấm cốc nhiều ngày và khi lý hình dùng sức mạnh khắc trên má ông hai chữ “Tả Đạo” ông đã can đảm rạch xóa đi, hành động của ông nói trên đã đưa ông tới án tử hình.
Ngày 3,6,1862, khi nghe tin mình bị trảm quyết ông Đổng chẳng những không tỏ vẻ lo sợ, lại vui mừng sấp mình xuống đất tạ ơn Chúa, cầu nguyện sốt sắng và đọc kinh “Ăn năn tội”. Trên đường ra pháp trường, ông Đổng dọn mình chết và đọc kinh “Phó dâng”: “Lạy Chúa tôi, tôi xin phó dâng linh hồn và xác tôi ở tay Chúa tôi… chớ gì sống chết tôi được giữ một lòng kính mến Chúa tôi…. Amen”.  
Một nhát gươm cửa đao phủ đã đưa linh hồn ông về cõi trường sinh bất diệt.

 

PS5-A39: THIÊN  CHÚA GIỐNG NHƯ CÁI GÌ

Cha phó có dáng người cao,hơn 1m8, thân hình vạm vỡ như lực sĩ. Ngài đứng ở tiền sảnh nhà: PS5-A39

Cha phó có dáng người cao,hơn 1m8, thân hình vạm vỡ như lực sĩ. Ngài đứng ở tiền sảnh nhà thờ, chào hỏi những người dự lễ xong ra về. Một em bé bước ra, em cao chưa tới 1 mét, em bé thật dễ thương. Em ngước nhìmlên vị linh mục khổng lồ và nói điều gì đó mà Ngài không nghe được. Ngài cúi xuống bảo em bé nhắc lại điều em vừa nói. Với một giọng lanh lảnh, em hỏi: “Thưa cha, mắt Thiên Chúa màu gì ?” - Do dự một lúc, vị linh mục đáp: “Xanh, như mắt con vậy”. Em bé gái tí hon được thỏa mãn nháy mắt mỉm cười, và rồi chạy đi kể cho mẹ nó.
Một số lớn chúng ta cũng giống như em bé gái đó. Có lẽ chúng ta không hỏi xem mắt Thiên Chúa màu gì, trong nhiều người lớn cũng như trẻ nhỏ muốn biết: “Thiên Chúa giống như cái gì?”
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta một manh mối khi Ngài công bố: “Ai thấy Thầy là xem thấy Cha”. Nếu chúng ta muốn có một vài ý tưởng về Thiên Chúa giống như cái gì, thì hãy ngắm nhìn Chúa Giêsu, Đấng Thiên Chúa làm người. Điều Ngài nói và việc Ngài làm tỏ cho chúng ta biết “Thiên Chúa giống như cái gì”.
Chúa Giêsu yêu thương. Bạn hãy ngắm nhìn Ngài nằm trong máng cỏ ở Belem. Hãy nhìn xem Ngài nuôi dưỡng người đói khát, yên ủi người buồn sầu, tới gần người đau yếu tàn tật. Hãy đứng bên chân thánh giá, ngắm nhìn và lắng nghe. Một người chết vì yêu thương mọi người chúng ta. Ngài nói cho chúng ta biết: “Thiên Chúa là tình yêu” theo những lời của thánh Gioan. Thiên Chúa hoàn toàn là yêu thương.
 Bạn hãy ngắm nhìn Chúa dẹp yên bão táp, chữa lành mọi thứ bệnh tật, làm cho mấy ổ bánh mì ra nhiều để nuôi hàng ngàn người. Chúa Kitô cho ta biết quyền năng của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng toàn năng.
Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại quá khứ và giải thích ý nghĩa chính xác của nó. Ngài đọc ra cái não trạng của những người chất vấn Ngài. Ngài biết có những điều họ đang suy nghĩ. Ngài biết tương lai. Người báo trước chính xác những biến cố sẽ xảy ra, như trong Tin Mừng hôm nay. Ngài báo trước những điều lạ lùng mà các tông đồ sẽ thực hiện. Thiên Chúa thấu biết mọi sự ; quá khứ, hiện tại, tương lai, Thiên Chúa là Đấng thượng trí.
Chúa Giêsu tha thứ. Bạn hãy nhớ đến Madalena, hãy nhớ đến người bất toại, hãy nhớ đến tiếng kêu của Chúa Giêsu trên thánh giá: “Lạy Cha, xin tha cho chúng !”. Thiên Chúa giống như  cái gì  ? Ngài là Đấng tha thứ cho bạn, cho tôi và cho mọi người. Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và tha thứ.
Sau khi phục sinh trong thân xác vinh hiển, Chúa Giêsu đã hiện ra với các tông dồ, dù là cửa nhà đóng kín. Thiên Chúa ở khắp nơi.
Chúa Giêsu lưu tâm tới mọi người, nhất là những người neo đơn không ai săn sóc. Thiên Chúa là người cha yêu thương săn sóc luôn từng giây phút lo cho ích lợi của con cái. Thiên Chúa là Đấng quan phòng hoàn toàn tốt lành.
Chúng ta gọi những phẩm tính này của Thiên Chúa là “Sự toàn hảo” của Ngài. Những     phẩm tính của Thiên Chúa ở mức độ hoàn hảo nhất, chúng cho ta một vài ý tưởng về Thiên Chúa giống như cái gì.
Trong kinh Vinh danh của Thánh lễ, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa hoàn toàn tốt lành, một ít phút nữa, chúng ta sẽ tuyên xưng: “Tôi tin kính Thiên Chúa toàn năng – Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần”.
Mắt Thiên Chúa xanh hay nâu, chúng ta không biết, nhưng chúng ta biết Ngài hoàn toàn tốt lành, vì Chúa Giêsu Con Ngài là Đấng hoàn toàn tốt lành. Chúng ta hãy cầu xin cho mọi người trở nên bạn hữu với người Cha hoàn toàn tốt lành của tất cả chúng ta.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

PS5-A40: THẦY ĐI ĐỂ DỌN CHỖ CHO CÁC CON

Ga 14. 1-12
Anh chị em thân mến!
 

Bài Tin Mừng hôm nay được thánh Gioan ghi lại những lời của Chúa Giêsu trước khi Ngài đi chịu: PS5-A40

Bài Tin Mừng hôm nay được thánh Gioan ghi lại những lời của Chúa Giêsu trước khi Ngài đi chịu chết, có thể nói đó là những lời cuối cùng Chúa Giêsu, hay còn gọi là "Chúc Thư" của Ngài để lại cho các tông đồ. Qua đó Chúa Giêsu cũng tiên báo về cuộc sống sau này mà các tông đồ phải làm chứng cho Chúa.
Phần mở đầu của bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã khuyên các tông đồ như sau: "Các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy". Sự lo tắng, xao xuyến, mất lòng tin vào Thiên Chúa, mất lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô phải chăng đó là đặc điểm của con người trong xã hội ngày nay.
Chính vì thế, khi khởi đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã lên tiếng mời gọi mọi người: "Đừng sợ! Đừng sợ! Hãy mở cửa tâm hồn đón nhận Chúa Kitô, đón nhận Thiên Chúa”. Lời "Đừng sợ" này đã được Đức Thánh Cha luôn luôn nhắc đi nhắc lại trong các dịp khác nhau để kêu gọi tất cả mọi đồ đệ của Chúa và tất cả mọi người có thành tâm thiện chí đang đứng trước những khó khăn thử thácho "Đừng sợ, đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy", Đó là những lời trấn an của Chúa Giêsu đối với các tông đồ. Thật thế, trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa Giêsu, các tông đồ không thể nào tránh khỏi những khó khăn thử thách xảy đến trong cuộc sống. Bởi vì, Chúa Giêsu không còn hiện diện bên cạnh một cách hữu hình với các ngài, có thể nói được là để giúp đi các ngài vượt qua được những thử thách, những khó khăn.
Về phần Chúa Giêsu, sau khi Phục Sinh, Ngài phải trở về cùng Thiên Chúa Cha. Do đó, tất cả các tông đồ cũng như tất cả các đồ đệ của Chúa, trong đó có cả chúng ta ngày nay nữa, chỉ còn bằng lòng với sự hiện diện thiêng liêng của Chúa, sự hiện diện của Ngài trong Bí tích Thánh Thể, sự hiện diện này không thể kiểm chứng được bằng giác quan.
Nhưng Chúa Giêsu, Ngài thay trước hoàn cảnh này, nên Ngài đã kêu gọi các tông đồ cũng như mỗi người chúng ta hôm nay: "Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy". Vì thế người Kitô hữu phải là người can đảm nhất, không sợ một chướng ngại gì, vì có Chúa ở cùng. Bởi thế, đức tin mạnh mẽ sẽ giúp chúng ta vượt qua những khó khăn thử thách và giúp chúng ta đi tới cùng và luôn giữ vững niềm vui không những trong tâm hồn mà được thể hiện ra bên ngoài. Đó là niềm vui của những người Kitô hữu đầu tiên trong thời sơ khai.
Vào năm 165 (sau Chúa Giáng Sinh) cuộc bách hại đạo chống lại người Kitô hữu đã bùng nổ lại Rôma, đây là cuộc bách hại tần thứ tư. Thánh Pôlycapô lúc đó là Giám mục, thủ lãnh cộng đoàn Kitô và là đồ đệ của các tông đồ nhất định không chịu tẩn trốn mà còn hiên ngang đến trình diện trước mặt quan tổng trấn. Quan bắt ngài phải thề trung thành với hoàng đế Xêsarê và nói lời xúc phạm chối Đức Kitô để được tha về. Nhưng thánh nhân đã trả lời: "Tôi đã theo phục vụ Chúa từ bao năm nay, Chúa đã không làm gì hại tôi cả, làm sao tôi có thể nói lời xúc phạm đến Ngài là Vua và là Chúa của tôi được".
Sau nhiều tần hăm dọa để bắt thánh nhân phải chối bỏ Chúa mà không được, quan ra lệnh đem lửa đến thiêu sống người. Thánh Pôlycapô vẫn không sợ và nói: "Lửa trần gian này có thể đốt tôi trong vòng một giờ rồi tắt, nhưng lửa thiêu đốt những lời nói xúc phạm đến Thiên Chúa thì sẽ không bao giờ tắt. Tôi không sợ và không chối bỏ Chúa". Quan ra lệnh thêm lửa thiêu sống Pôlycapô, nhưng lửa lại cuộn lại thành hình vòng cung bao bọc thánh nhân mà không hề xúc phạm đến thân xác người.
Trước dấu lạ như vậy quan vẫn không nao núng, nhưng vẫn ngoan cố muốn giết cho được thánh nhân. Một người trong những tên lính đứng gần đó cầm gươm đâm thẳng vào ngự thánh Pôlycapo, và ngài đã chết để làm chứng cho Chúa, ngài đã chết trong vui tươi và không lo sợ.
Anh chị em thân mến!
Mỗi người Kitô hữu chúng ta ngày nay chắc chắn không gặp trường hợp giống như trường hợp của thánh Giám mục Pôlycapô là đòi buộc phải hy sinh mạng sống mình vì Chúa. Nhưng có thể trong cuộc sống hằng ngày của mình có những hoàn cảnh, có những điều phải hy sinh, có những điều buộc ta phải chấp nhận những thiệt thòi để được trung thành với Phúc âm và trung thành với Chúa. Nhưng chúng ta sẽ vui tươi không lo sợ, vì biết rằng cuộc đời của chúng ta bắt đầu từ Chúa và cũng sẽ trớ về cùng Chúa, như lời Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: "Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ... Thầy đi để dọn chỗ cho các và khi Thầy đã dọn chỗ xong rồi thì Thầy trở lại đón tiếp các con, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó với Thầy".
Vậy vận mệnh cuối cùng của cuộc đời chúng ta là ở nơi nhà Cha, cho nên chúng ta không còn phải lo sợ trước những thử thách, trước những gian nan xảy đến, vì chúng ta biết rằng tất cả những thử thách ấy đều giúp cho mỗi người có dịp thuận tiện để hành trình trớ về nhà Cha. Do đó, người Kitô hữu phải là người luôn vui vẻ, vì Thiên Chúa là Chủ Tể mọi vật trong vũ trụ luôn ở với chúng ta và đứng về phía chúng ta. Hơn nữa, Ngài có thể dùng quyền năng của Ngài để biến đổi những thử thách, những nỗi buồn của chúng ta trở thành niềm vui và là niềm vui đời đời.
Xin Chúa củng cố mỗi người chúng ta trong đức tin, để chúng ta đừng bao giờ chúng ta lo tắng, xao xuyến trước những thử thách xảy ra. Xin Chúa cho đức tin của chúng ta được lớn lên một cách mạnh mẽ mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

 

PS5-A41: Theo Đức Kitô là Đường

A. DẪN NHẬP.
 

Mọi người đều muốn vươn tới hạnh phúc, hạnh phúc tuyệt đối và trường cửu. Hạnh phúc này chỉ:PS5-A41

Mọi người đều muốn vươn tới hạnh phúc, hạnh phúc tuyệt đối và trường cửu. Hạnh phúc này chỉ có trên nước Thiên Chúa. Vậy đâu là con đường đưa tới hạnh phúc đó ? Chúng ta biết Đức Kitô vừa là Chúa vừa là người. Ngài là trung gian hòan hảo duy nhất giữa Chúa Cha với chúng ta. Biết bao con đường mở ra trước mắt chúng ta, nhưng chỉ có Ngài mới là con đường đưa chúng ta đến cùng Chúa Cha, vì Ngài biết Chúa Cha và bởi Chúa Cha mà ra. Chúng ta hãy tin tưởng bước theo Ngài vì chính Ngài đã khẳng định với chúng ta: ”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6).

Mục đích của chúng ta phải vươn tới là nhận biết Chúa Cha, mà người ta chỉ có thể nhận biết Chúa Cha nhờ Đức Giêsu. Đức Giêsu được sai đến với lòai người để trả lời những câu hỏi đang làm họ bận tâm như Thiên Chúa là ai, bởi đâu mà có ? Không ai trả lời cho chính xác ngọai trừ Ngài, bởi chính Ngài biết rõ mối dây thân tình Cha Con. Đức Giêsu còn là chân lý, là sự sống. Vì Ngài là hình ảnh Ngôi Cha. Ngài là tiếng nói của Chúa Cha. Thiên Chúa đã phán: ”Này là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Thiên Chúa là chân lý thì tiếng nói của Ngài cũng là chân lý vậy.

Chúa nhật trước, chúng ta đã nhận Chúa Giêsu là Chúa chiên nhân lành. Mọi người tín hữu vui mừng và yên tâm vì đã có Chúa Giêsu là mục tử chăn dắt. Người yêu thương và bảo vệ đàn chiên.. Con chiên phải nghe tiếng chủ chăn và đi theo sự hướng dẫn của chủ để được sống và được sống dồi dào. Hôm nay, chúng ta hãy xác định lại lập trường của chúng ta là phải tin theo Chúa Giêsu vì Người là đường, là sự thật và là sự sống. Muốn đến cùng Chúa Cha, cần thiết phải qua Ngài. Chỉ có duy nhất Ngài là đường dẫn tới sự sống. Hãy dấn bước theo Ngài và theo Ngài là phải từ bỏ nếp sống cũ, từ bỏ tất cả những gì không hợp với đường lối của Ngài, phải đi qua cửa hẹp, tức là theo con đường khổ giá mà Ngài đã đi, chính con đường này sẽ dẫn chúng ta tới hạnh phúc chân thật.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

+ Bài đọc 1: Cv 6,11-7: Cộng đoàn tín hữu tiên khởi ở Giêrusalem mỗi ngày một thêm đông, đời sống tốt đẹp nhưng cũng không thiếu những khó khăn. Các Tông đồ phải giải quyết cách nào cho êm đẹp. Khó khăn phát xuất từ việc phân phối những nhu cầu đời sống không đồng đều: các bà góa bị lãng quên, do đó mới có những lời kêu trách. Các Tông đồ giải quyết khó khăn đó bằng việc thiết lập tác vụ phó tế để chuyên lo các công việc cứu trợ, bác ái và lương thực của cộng đoàn, để các ngài có thời giờ đi loan báo Tin Mừng. Nhờ cách giải quyết khéo léo này mà cộng đoàn lại đoàn kết thương yêu nhau và tăng số. Đây là mô hình đẹp trong việc phân chia các chức vụ và công tác cho Giáo hội ngày nay: có người chuyên lo đời sống vật chất, có người chuyên lo việc cầu nguyện và loan báo Tin Mừng.

+ Bài đọc 2: 1Pr 2,4-9: Thánh Phêrô nhắc cho các tín hữu nhớ lại phẩm giá cao qúi của mình, cũng như những trách nhiệm mà mình phải chu toàn để đáp lại tình yêu của Chúa Kitô. Phẩm giá của Kitô hữu: là dòng giống được Thiên Chúa tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo việc tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa. Trách nhiệm phải chu toàn: Đức Kitô là viên đá tảng, các Kitô là những viên đá sống động được xây lên trên để xây nên một đền thờ thiêng liêng. Cho nên họ phải công bố những việc kỳ diệu của Thiên Chúa, loan báo Tin Mừng, dâng lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Chúa, xây dựng hoà bình, công lý và tình yêu.

+. Bài Tin Mừng: Ga 14,11-12: Trong tâm tình Thầy trò trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu tiết lộ cho các môn đệ biết Ngài sẽ trở về cùng Cha. Ngài ra đi là để dọn chỗ cho các ông vì nhà Cha còn nhiều chỗ. Người khuyên các ông đừng xao xuyến vì Ngài đi dọn chỗ và sau đó sẽ quay trở lại đón các ông, để Ngài ở đâu, các ông cũng ở đó với Ngài. Có nhiều cách giải thích khác nhau về lời loan báo sự ra đi này của Đức Giêsu. Nhưng đúng hơn hết, sự ra đi này Đức Giêsu trở về với Chúa Cha ám chỉ biến cố Phục sinh. Còn đối với các tông đồ muốn biết Chúa Cha thì Đức Giêsu chỉ trả lời là ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha vì Cha ở trong Ngài và Ngài ở trong Cha. Ngài nhắc cho các ông: ”Muốn đến với Chúa Cha thì hãy tin vào Ngài, hãy theo Ngài vì Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Ngàii”(Ga 14,8).

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

I. HÃY TIN VÀO ĐỨC GIÊSU.

1. Những lời trấn an.

Đức Giêsu nhiều lần nói với các môn đệ là Ngài sắp ra đi, dù vậy họ chẳng bao giờ hiểu nổi. Những lời Đức Giêsu báo trước cho các ông: Giuđa sẽ nộp Thầy (Ga 13,21-26), Phêrô chối Thầy (Ga13,3-6), Ngài ra đi chịu tử nạn (Ga 12,32), và viễn cảnh phải xa vắng bóng Thầy giữa một thế giới thù nghịch, đã làm cho tâm trí các môn đệ tràn ngập lo âu xao xuyến (Ga 14,23; 16,6-20). Đức Giêsu trấn an các ông bằng cách tỏ cho các ông thấy Ngài ra đi sẽ làm cho các ông hiệp thông thâm trầm hơn nữa với Ngài và với Chúa Cha, và chính Thánh Linh sẽ bảo đảm cho việc phù trì che chở các ông trong cơn giông tố thiêng liêng của cuộc sống. Trọng tâm lời khuyên nhủ trấn an nằm trong câu: ”Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Câu này có nghĩa rằng: Các con đã tin vào Thiên Chúa thế nào thì cũng hãy tin vào Thầy như vậy. Theo đó, Đức Giêsu muốn kêu gọi các môn đệ tin vào thiên tính của Ngài.

2. Trả lời thắc mắc của Tôma.

Đức Giêsu nói: ”Thầy còn ở với các con ít lâu nữa, rồi Thầy đi về cùng Đấng sai Thầy”(Ga 7,33). Đức Giêsu nói Ngài sẽ về với Cha, là Đấng đã sai Ngài đến, Ngài với Cha là một, nhưng họ vẫn không hiểu. Đức Giêsu còn nói thêm: ”Thầy đi đâu các con đã biết đường rồi” (Ga 14,4). Họ không hiểu con đường Ngài sắp đi là con đường nào vì đó là đường thập tự, nên ông Tôma mới nói: ”Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi” (Ga 14,5). Thật vậy Tôma là người thật thà và cũng là con người thực nghiệm, thích sờ mó, nhìn xem và chứng kiến, không chịu thỏa mãn với những câu nói mơ hồ. Ông muốn biết chắc chắn, nên đã bộc lộ những nghi ngờ về những gì ông không hiểu: chẳng hiểu được ý nghĩa việc Chúa ra đi.

Vì thế, Đức Giêsu nói với ông Tôma: ”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Nói như vậy là Ngài có ý muốn nói gì ? Ngài có ý nói rằng Ngài là người dẫn đường, Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta, chúng ta sẽ không sợ lạc đường. Đó là việc Đức Giêsu đang làm cho chúng ta. Ngài không chỉ đưa ra những lời khuyên dạy, chỉ hướng đi mà thôi, nhưng Ngài nắm lấy bàn tay và dẫn chúng ta đi. Ngài cùng đi với chúng ta, đích thân Ngài thêm sức cho chúng ta, hướng dẫn chúng ta mỗi ngày. Không phải Ngài chỉ cho chúng ta con đường mà chính Ngài là Đường đi của chúng ta.

Chữ “Đường” trong Tin mừng hôm nay không những chỉ có nghĩa là Đức Giêsu chỉ dùng giáo huấn mà dẫn ta đến sự sống, mà chính Ngài là con đường dẫn đến Chúa Cha nữa. Vì chính Ngài là mạc khải Chúa Cha (Ga 12,45), tuy Ngài bởi Chúa Cha mà đến và về với Chúa Cha (Ga 7,29-33), nhưng Ngài lại là một với Chúa Cha (Ga 13,30) vì chính Ngài là sự thật và là sự sống (Ga 3,15).

Chúng ta có thể tóm tắt điều Đức Giêsu muốn nói: Nếu không nhờ Thầy, không ai đến được với Cha. Chỉ một mình Đức Giêsu là con đường đến với Thiên Chúa. Chỉ trong Ngài chúng ta mới thấy được Thiên Chúa như thế nào, và chỉ một mình Ngài đưa chúng ta đến với Thiên Chúa mà chúng ta không phải sợ hãi và xấu hổ.

II. TIN TƯỞNG BƯỚC THEO ĐỨC KITÔ.

1. Đức Giêsu là ai ?

Các môn đệ ở bên Chúa Giêsu ba năm mà vẫn chưa biết Đức Giêsu là ai. Sự hiểu biết của họ còn rất lơ mơ. Khi Đức Giêsu nói về Chúa Cha, Cha của Ngài, thì họ càng bỡ ngỡ, không hiểu chút nào. Vì thế, trong các môn đệ quây quần chung quanh Đức Giêsu chiều nay trong bữa tiệc ly tạ từ, có một môn đệ có một đầu óc rất thực tế. Đó là Philipphê. Đối với ông, nghe Chúa, biết Cha là một cái gì quá trừu tượng. Ông muốn được như Maisen nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa (Xh 33,18), nên, đại diện cho các bạn ông nói: ”Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”.

Với vẻ mặt buồn buồn, Đức Giêsu đã phản ứng lại mạnh mẽ: ”Philipphê ! Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy”. Sự hiểu biết Thiên Chúa không phải là sự hiểu biết trừu tượng mà là sự hiểu biết và gặp gỡ một con người. Con người ấy chính là Đức Giêsu, hình ảnh của Đức Chúa Cha. Vì thế, Chúa phán: ”Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư “? Hai nhưng là một, đồng nhất trong một bản thể với Chúa Thánh Thần: ”Ai xem thấy Thầy là xem thấy Cha. Cha Ta với Ta là một”. Trọn cuộc sống, mọi lời nói và việc làm của Đức Giêsu là một biểu hiện hoàn hảo hình ảnh của Chúa Cha vì Người kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Cuộc sống của Ngài, đó là Chúa Cha, công việc của Ngài là chính Chúa Cha thưc hiện qua Ngài, lời Ngài nói đó là tư tưởng của Chúa Cha (Cf Hồng Phúc, Suy niệm lời Chúa, năm A, tr 75).

Khi nói rằng chúng ta biết Chúa, nhưng thực sự chúng ta mới có một khái niệm về Chúa chứ chưa thể diễn tả ra thế nào cho đúng. Thỉnh thoảng chúng ta nghe thấy có người nói như sau: ”Kitô hữu nói về Chúa thế này. Người Do thái bảo Chúa thế kia. Người Hồi giáo cho Ngài thế khác. Phật tử còn quan niệm Ngài khác hơn nữa. Tôi cảm thấy rối trí quá nên chẳng biết nghĩ gì và cũng chẳng biết tin ai”.

Mỗi khi nghe được một người tuyên bố như thế, tôi liền nhớ lại bài thơ của John Saxe liên quan đến năm gã mù Ấn độ đứng vòng quanh một con voi và thắc mắc con voi giống cái gì. Một gã sờ vào hông voi và bảo nó giống như bức tường. Gã thứ hai sờ vào chiếc ngà và bảo nó giống như một thanh gươm. Gã thứ ba đụng vào chiếc vòi và bảo nó như rắn khổng lồ. Gã thứ tư sờ vào lỗ tai và bảo nó giống như chiếc quạt. Gã mù sau cùng sờ vào đuôi và bảo nó giống như sợi dây thừng. Thế thì ai trong năm gã này là đúng ? Có lẽ câu trả lời hay nhất là cả năm gã đều đúng, mỗi gã đúng theo quan điểm của mình. Chỉ nhờ đối thoại chung với nhau họ mới có thể có được một cái nhìn đầy đủ và sáng suốt hơn để trả lời chú voi thực sự như thế nào.

Vài người bảo: đối với trường hợp Thiên Chúa cũng thế. Họ bảo: Người Do thái có lối hiểu Thiên Chúa, người Hồi giáo có một lối thứ hai để thấu hiểu Chúa, người Phật giáo lối thứ ba và các Kitô hữu lối thứ tư. Chỉ nhờ đối thoại với nhau họ mới có thể đạt được một cái nhìn đầy đủ rõ ràng hơn về Thiên Chúa. Thế là lại khơi lên một vấn nạn: Làm sao tôn giáo này có thể tự hào rằng mình gần với chân lý hơn các tôn giáo khác ? Chẳng hạn, làm sao các Kitô hữu dám cho rằng mình có cái nhìn chính xác về Chúa hơn bất kỳ tôn giáo nào khác ?

Câu trả lời cho vấn nạn trên dĩ nhiên được đặt vào nền tảng đức tin nơi Đức Giêsu của người Kitô hữu. Đức Giêsu đã tuyên bố Ngài là Thiên Chúa bằng một cách thức mà không một vị lãnh đạo tôn giáo nào dám tuyên bố. Và hơn thế nữa, Đức Giêsu còn đồng hoá mình với Thiên Chúa: “Ta và Chúa Cha là một” (Ga 10,30). Từ “một”, không có tiếng trước hay sau đi kèm, có nghĩa là “đồng một bản tính”. Như vậy, Đức Giêsu tuyên bố rõ sự thực này: Ngài và Chúa Cha cùng có một quyền năng chung, tức là “đồng một bản tính”. Điều này không một vị lãnh đạo nào trên thế giới này dám làm (Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 108-109).

Từ xưa đến nay các nhà sáng lập tôn giáo, không ai dám nói: ”Cha Ta và Ta là một” (Ga 10,30), chỉ có một mình Đức Giêsu mới dám nói: ”Hãy tin vào Ta khi Ta nói rằng Ta ở trong Cha và Ta ở trong Cha” (Ga 14,11). Và chỉ một mình Đức Giêsu dám nói: ”Ta là bánh từ Trời xuống... Ai ăn thịt và uống máu Ta thì được sự sống đời và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”(Ga 6,51,54). Và chỉ một mình Đức Giêsu dám nói: ”Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ có ánh sáng ban sự sống và sẽ không bao giờ bước đi trong tăm tối” (Ga 8,12). Như vậy, chúng ta phải nói rằng Đức Giêsu là hiện thân của Chúa Cha và ai thấy Đức Giêsu là thấy Cha. Chính Chúa Giêsu là Thiên Chúa nên phải tin theo Người.

2. Bước theo Chúa Giêsu Kitô.

Đức Giêsu báo cho các tông đồ việc ra đi của Ngài là để dọn chỗ cho các ông: ”Nếu Thầy đi dọn chỗ cho các con, thì Thầy lại đến và đem các con về với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì các con biết đường rồi” (Ga 14, 3-4).

Ông Tôma thắc mắc và rất hồn nhiên chất phác hỏi: ”Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đuờng đi”. Nhân dịp này, Đức Giêsu cho biết Ngài là con đường đưa họ đến với Chúa Cha, qua Ngài họ mới có thể vào được Nước Trời nên mới nói: ”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”. Ngài là con đường duy nhất dẫn tới sự sống.

Chúng ta hãy bước theo chân Chúa Giêsu. “Theo” ở đây không phải là một ý tưởng trừu tượng, như chấp nhận một học thuyết, một tư tưởng hay chỉ đi theo sau một người, mà có một ý nghĩa sinh động hơn, nghĩa là phải chấp nhận người mình theo, nhận lậy số phận người mình theo, gắn bó khăng khít với họ như “thuyền theo lái, gái theo chồng”. Ngoài ra còn phải chia sẻ đời sống với người ấy, bất chấp những rủi ro xẩy ra, chấp nhận tất cả như cô gái nói với chàng trai:

Lên non thiếp cũng lên theo,
Tay
vịn chân trèo hái trái nuôi nhau. (Ca dao)

Đức Giêsu đã kêu gọi mọi người hãy đi theo Chúa vì chỉ mình Ngài mới có thể ban ơn cứu độ, mới có thể dẫn đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Tuy nhiên, muốn theo Chúa cũng cần phải có một số điều kiện, đòi họ phải kiên trung đến cùng, đừng để xẩy ra cảnh “giữa đường đứt gánh. Trước khi theo Chúa hãy suy nghĩ cho kỹ, giống như người định xây nhà, phải tiên liệu để hoàn thành, đừng để dở dang.

a) Từ bỏ mọi sự.

Đức Giêsu kêu gọi mọi người hãy theo Ngài, lời kêu gọi ấy có tính cách hoàn toàn tự do, muốn theo hay không theo cũng được vì Ngài chỉ dùng chữ “nếu”, không có tính cách bắt buộc. Ngài nói: ”Nếu ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16,24). Đã có trường hợp người ta không dám chấp nhận điều kiện Chúa đưa ra như trường hợp người thanh niên giầu có đến xin làm môn đệ Chúa, nhưng anh ta không thể chấp nhận được điều kiện này nên đã bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

Đức Giêsu là Thiên Chúa giầu sang vô cùng đã muốn trở nên con người nghèo khó đến tuyệt cùng để chia sẻ số phận nghèo khó của con người. Chúa đã nói: ”Con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”(Mt 8,20; Lc 9,58). Nếu yêu Chúa, muốn theo Ngài thì đòi buộc từ bỏ tất cả, từ bỏ chính con người của mình vàchấp nhận mọi rủi ro trong khi theo Chúa. Chúng ta có dám can đảm chấp nhận điều kiện ấy không ?

Trong văn chương bình dân, người ta có đưa ra một hình ảnh tương tự như thế. Đó là trường hợp một người thanh niên nghèo được một thiếu nữ yêu thương muốn theo, anh ta cho biết là mình nghèo lắm, chỉ sống nhờ sự bố thí của người ta thôi, không có gì cả; hay nói đúng hơn anh ta chỉ có cái nghề đi ăn mày thôi, có dám theo không, nên anh ta nói:

Lấy anh, anh sắm sửa cho:
Cái bị, cái bát, cái quạt mo đuổi ruồi. (Ca dao)

b) Phải qua cửa hẹp.

Theo Chúa thì đòi buộc phải hy sinh, hy sinh cả những cái được phép, có khi phải hy sinh cả thân mình và phải nhận đến cái chết. Theo Chúa là phải khép mình vào như Chúa nói: ”Hãy vào qua cửa hẹp” (Mt 7,13-14; Lc 13,24) vì”Nước Trời chỉ có thể chiếm được bằng sức mạnh”, sức mạnh đây không phải là sức mạnh thể xác nhưng là sức mạnh tinh thần, phải chiến đấu kiên cường, không chịu lùi bước theo phương châm: ”Per crucem ad lucem”.

Từ bỏ mình... Vác thập giá... là khoái khổ sao ? Không. Cần phải từ bỏ mình, thẳng thắn mà tuyên bố tiêu diệt cái “tôi” của chúng ta.. Thế nhưng không phải tiêu diệt “cái tôi” tốt lành, “cái tôi” chân thật. Đức Giêsu yêu cầu chúng ta hãy hiến cái tôi giả tạo mà chúng ta tạo nên bằng những nhu cầu vô ích và những phù phiếm trẻ con: ”Đó là cái tôi, thánh Gioan Thánh giá nói, của những thèm muốn thúc giục chúng ta trở nên bất hạnh đối với chúng ta, khô khan đối với tha nhân, nặng nhọc và biếng nhác đối với các công việc của Chúa” (A. Sève, Sương mai, tr 209).

c) Vâng ý Cha trên trời.

Theo Chúa thì không còn gì là của mình nữa vì đã phó thác trọn vẹn cho Chúa để hoàn toàn thuộc về Người. Trong mọi việc chúng ta chỉ còn biết làm theo thánh ý Chúa, ý Chúa trên hết theo như kinh Lạy Cha: ”Vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời”. Vì thế, Đức Giêsu đã khuyên nhủ những người đã theo Ngài muốn vào được Nước Trời thì phải thi hành thánh ý Chúa: ”Không phải cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa, mà được vào Nước Trời, mà chỉ có những ai thi hành ý Cha Ta ở trên trời”(Mt 7,21-23; Lc 6,46; 13,26-27).

Truyện: cậu bé đánh trống. Trận chiến giữa Pháp và hai nước liên kết Ý và Áo đầu năm 1796, kết liễu ngày 17.11.1796 như sau:

Đại tướng Bonaparte đưa quân đến một địa điểm, có cái cầu bắc qua trận tuyến địch. Trong lúc trận thế đang nguy, đại tướng Bonaparte hô tiến qua cầu. Không một ai qua ! Đại tướng xuống ngựa, giựt lá cờ quân đoàn chân bước qua cầu, miệng hô: ”Ai yêu tổ quốc thì theo ta”. Ngó lại, trên cầu chỉ có một mình mà lá cờ rách nhiều mảnh vì đạn của quân địch. Khi ấy có cậu bé mới 13 tuổi đánh trống thúc quân. Hai tay đập mạnh vào trống chân bước qua cầu theo đại tướng. Quân sĩ tràn theo qua cầu, đại tướng Bonaparte toàn thắng và cũng chấn dứt cuộc chiến tranh ấy.

Tám năm sau, Bonaparte đã là hoàng đế Napoléon trở lại chỗ cũ, có nghi lễ đón tiếp rất linh đình. Hoàng đế Napoléon muốn bắt tay cậu bé Vidal đã 20 tuổi hiện trong quân đoàn tại đó.

Hỏi đến Vidal thì cậu đã nghỉ phép để đưa đám tang mẹ. Hoàng đế Napoléon đã bãi bỏ mọi lễ nghi quân cách, đi thẳng đến làng Vidal, theo sau đám tang đến huyệt, đọc bài điếu văn. Rồi đi bộ với Vidal trở về. Vidal từ chối và mời hoàng đế lên xe. Hoàng đế Napoléon đáp: ”Tám năm trước con đã liều chết theo ta trên con đường chết, nay trên đường đau kho, con cho ta theo con cho có bạn”(Ms Lê văn Thái, Những tia sáng, tập 1, tr 5).

Đạo là đường đưa dẫn đến sự sống chính là Chúa, và không có gian lao khổ cực nào làm cho ta chối bỏ được. Những tháng năm đầu thế kỷ 20 này, nhiều người đã gặp những anh hùng vô danh còn sống sót trên đất nước Việt nam chúng ta. Đó là các cụ ông, cụ bà trước đây đã bị bắt giam cầm, bị người ta rạch mặt lấy mực tầu xâm lên trên má hai chữ “Tả dạo”, đi đâu ai cũng nhận ra là người theo tả đạo; nhưng đối với giáo dân, đây là biểu tượng của Đức tin kiên cường sáng chói. “Chúng ta hãy ca tụng những bậc vĩ nhân, những bậc tiền bối của chúng ta”(Gv 44.1), đã tin Đạo, đã sống Đạo, đã hy sinh vì Đạo, gương sáng chói cho chúng ta trên đường về Trời.

Lm Giuse Đinh Lập Liễm

 

PS5-A42: Nhiều con đường mang tên những danh nhân

Suy niệm Chúa Nhật 5 Phục sinh A Thầy là đường
 

Nhiều con đường mang tên những danh nhân, nhưng hình như không ở đâu có một con đường mang:PS5-A42

Nhiều con đường mang tên những danh nhân, nhưng hình như không ở đâu có một con đường mang tên Chúa Giêsu. Không chỉ là tên cho một con đường, chính Chúa Giêsu là con đường.

Con đường ấy khởi đầu ở máng cỏ và kết thúc ở thập giá. Con đường ấy có 30 năm lao động ở một làng quê vô danh. Con đường ấy có 3 năm nay đây mai đó để kêu gọi người ta sống như con Thiên Chúa và anh em với nhau. Con đường ấy có những giờ phút bi hùng của cuộc tử nạn do bị kết án bất công. Đó là con đường của một người nghèo, một người vô danh, nhưng muốn làm người trong ý nghĩa trọn vẹn nhất. Đó là con người trong ý hướng của Thiên Chúa khi dựng nên con người.

Con đường ấy không chỉ có một chiều dài, nhưng còn có một chiều sâu. Chúa Giêsu đã khởi sự kiếp người với một lời trong thánh vịnh: “Này con đến để thi hành thánh ý Cha.” Chúa cắt nghĩa việc Chúa có mặt ở trần gian: “Tôi từ trời xuống không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi.” Khi đối diện với cái chết trên thập giá, Chúa cầu nguyện: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha.” Chiều sâu ấy chính là Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người.

Đó là con đường không dành cho riêng ai, nhưng mở ra cho mọi người. Con đường ấy dẫn chúng ta từ bên kia máng cỏ và đến bên kia thập giá.

Lm Cosma Hoàng Văn Đạt SJ

 

PS5-A43: Đường Nào Dẫn Đến Nhà Cha Thân Yêu?

Có bạn nào không biết bản đồ là gì không nhỉ!? Hay có bạn nào mà chưa từng được nhìn cái:PS5-A43

Có bạn nào không biết bản đồ là gì không nhỉ!? Hay có bạn nào mà chưa từng được nhìn cái bản đồ ra sao nhất là trong thời buổi văn minh và hiện đại này!? Trên một chiếc xe tốt và đời mới hầu hết đều có gắn hệ thống bản đồ để giúp bạn tìm nơi mà bạn muốn đến. Bạn chỉ cần đánh vào cái địa chỉ thì lập tức hệ thống Bản Đồ sẽ hiện ra rất mạch lạc và rõ ràng cho bạn đi. Sau đó thì bạn chỉ cần đổ cho đầy bình xăng mà tiến thẳng đến nơi mà bạn muốn được đến.

Thế còn Con Đường Để Dẫn bạn và tôi tìm đến Nhà Cha Thân Thương của chúng ta ở Trên Trời thì bằng cách nào? Có ai hân hạnh có được cái bản đồ đặc biệt này không? Bởi tôi cũng đang đi tìm Con Đường Đưa Tôi Đến Nhà Cha Hạnh Phúc của chúng ta đây!

Lậy Chúa! Con đường trần thế của chúng con trên những tấm bản đồ nhìn rất rối mắt và rất chằng chịt thì hà huống gì Con Đường Tìm Lên Trời nếu không ai chỉ dẫn chắc sẽ rối rắm hơn nhiều và không cách nào mà dễ dàng gì có thể tự tìm thấy được.

Thế thì Lậy Chúa! Làm sao chúng con có thể tìm kiếm được Con Đường Hạnh Phúc Vĩnh Cửu đó?

Thuở nhỏ khi bắt đầu đến cái tuổi hiểu biết chút chút đủ để học lớp Giáo Lý "Xưng Tội Rước Lễ Lần Đầu", tôi đã được Chúa tôi dậy cho tôi hiểu rằng trong con người luôn yếu đuối và lắm tội của tôi, Chúa hứa ban cho tôi một Quân Sư luôn hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi từng li từng tý một trong suốt cuộc đời trần thế của tôi. Chúa đã dặn tôi một điều rất quan trọng là hỡi con yêu dấu của Cha! Nếu con yêu Cha và muốn sống trọn đời bên Cha thì con phải luôn luôn tuyệt đối nghe lời Quân Sư của con chỉ dậy.

Con yêu dấu của Cha! Chúa yêu con nên không muốn để con phải cô đơn và lạc loài trong một thế giới đầy sự dữ và cám dỗ, có thể lấy mất linh hồn của con mà con sẽ có thể không bao giờ gặp được Cha nữa! Nên con phải thận trọng và để ý chịu khó lắng đọng tâm hồn thì mới nghe được tiếng Ngài Quân Sư của con vì Ngài Quân Sư của con có tiếng nói rất bé. Con muốn nghe được tiếng nói của Ngài là khi con làm điều gì sai Ngài nói cho con biết là điều con làm hay sẽ làm là sai, con phải biết lắng nghe và ngoan ngoãn để nghe lời Ngài và ngưng lập tức tư tưởng và hành động xấu đó! Ngài Quân Sư con còn có một cái tên thật dịu dàng và thật dễ mến nữa là Thiên Thần Bản Mệnh và cũng là Tiếng Nói Lương Tâm của con đó! Cha sẽ ban Ngài cho con suốt cuộc đời trần thế này!

Khoảng 7 năm tiếp theo khi trí óc của tôi lớn đủ Chúa lại ban cho tiếp thụ thêm Ơn Đức Chúa Thánh Thần qua lớp Giáo Lý "Thêm Sức". Nhờ vào Ơn Đức Chúa Thánh Thần đã giúp thêm cho tôi sự hiểu biết và nhận lãnh "Lời" Của Chúa Giêsu một cách tuyên tín hơn. Càng đọc thì tôi càng hiểu được Ý của Chúa tôi hơn tuy cái hiểu của tôi rất đơn sơ và mộc mạc như Chúa đang xuống ơn giúp tôi tất cả những ý tưởng của bài viết này!

Như tôi được hiểu thì Con Đường Dẫn Đến Nhà Cha cũng không khó lắm đâu! Nếu tôi và bạn biết Kính Mến Phụng Thờ Một Thiên Chúa, Giữ Giới Luật Chúa, và yêu tha nhân như yêu chính mình. Hằng ngày làm bất cứ mọi việc như thể làm việc cho Chúa. Biến tất cả những buồn bực và phiền toái thành đóa hoa hy sinh dâng lên Ngài. Tập từ bỏ mọi sự hay tập tích lũy của cải của mình Trên Nước Trời Nơi mà mối mọt không gặm nhấm được. Nơi mà không có trộm cướp hay kẻ gian có thể xâm nhập mà vào lấy được.

Ngoài "Lời" quý báu của Chúa Giêsu và cuộc đời của Ngài là Con Một Thiên Chúa Toàn Năng đã Sinh xuống trần làm người, Chịu chết trên Cây Thánh Giá, và Phục Sinh Lên Trời Ngự Bên Hữu Đức Chúa Cha. Chúa còn ban cho ta Đấng Phù Trợ khi Ngài Về Trời cộng gương sáng của cuộc đời tất cả các Thánh khi các Ngài còn sống và nay cũng đã được Về Trời Hưởng Thánh Nhan Chúa đời đời vô cùng.

"Thầy là đường, là sự thật và là sự sống".

Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi".

Vâng, thưa Lậy Chúa! Đường của Thầy thật chúng con đã biết vì Bản Đồ Về Trời Chúa đã dậy chúng con rất rõ! Ai trong chúng con cũng biết nhưng tại sao lại có người thì được Thầy cho thấy còn có người thì dù Thầy có dùng rất nhiều Dụ Ngôn để mà dậy thì họ cũng chẳng hiểu, chẳng tin, và chẳng thấy gì cả!?

Lậy thưa Chúa! Có phải vì họ quá đam mê những Của Cải trần thế mà tận cùng đáy lòng của họ đã từ chối Ngài, Con Đường của Ngài là Sự Thật và là Sự Sống.

Đây cũng là "Con Đường" Góp Ý thật cụ thể để giúp chúng con Về Nhà Cha Thân Yêu của chúng con:

** Giúp đỡ Ơn Thiên Triệu.

** Cầu Nguyện cho các linh hồn mồ côi bằng cách xin Thánh Lễ.

** Giúp đỡ người nghèo trong mọi hoàn cảnh có nhu cầu.

** Cố gắng Đọc Kinh Mân Côi hằng ngày sẽ giúp xa lánh dịp tội.

** Hãy trở nên như trẻ thơ và sống khiêm nhường.

** Nhịn nhục và chịu đựng để được nên giống Chúa Giêsu.

** Sống như thể ngày mai ta không còn nữa và tự hỏi rồi Linh Hồn sống đời đời của mình sẽ đi về đâu.

** Kềm Hãm Tánh Kiêu Ngạo.

** Kềm Hãm cái tham Danh, Lợi, Thú trần gian.

** Luôn trông cậy vào Tình Yêu của Ngài, đừng nản lòng.

** Luôn Cầu Nguyện với Ngài và Mẹ Ngài để lắng nghe được Ý của Ngài.

** Tập sống có trách nhiệm.

** Cầu nguyện cho mình, gia đình, và toàn thể anh chị em trên toàn khắp địa cầu.

** Cầu nguyện cho Giáo Hội Chúa (Cánh Đồng Truyền Giáo) luôn Kết Hiệp, Đạo Đức, Yêu Thương, là Gương Sáng, cho Thế Giới nhìn vào để biết Chúa đang Sống và Sống mãi mãi trong từng người chúng ta.

Lậy Chúa Nhân Lành! Con Đường Dẫn Đến Nhà Cha Thân Yêu thật cũng dễ và thật cũng khó như chúng con thường nghe xưa Chúa bảo rằng: " Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn là người giầu vào Nước Thiên Đàng ". Nguyện xin Chúa ban cho chúng con biết sống từ bỏ những gì thuộc về mình mà san sẻ cho anh chị em của chúng con những ai đang sống thiếu thốn, tật bệnh, và khó nghèo, ở chung quanh chúng con và ở khắp mọi nơi.

Xin Ba Ngôi Thiên Chúa luôn Chúc Lành, ban Tình Yêu, và Bình An của Ngài trên chúng con để mỗi ngày chúng con cố gắng sống trong Trách Nhiệm và trong Yêu Thương thì Con Đường Dẫn Đến Nhà Cha chỉ là một Con Đường Duy Nhất mà chỉ có Chúa sẽ đích thân đón chúng con đi ở ngày giờ Chúa Định. Amen.

Y Tá Của Chúa,

Tuyết Mai


 

PS5-A44: VẤN NẠN CỦA ĐỨC KITÔ:

CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH
“ Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” ( Ga 14, 8 ).
 

Bắt nguồn từ DoThái giáo, niềm tin Kitô giáo cho hay rằng hạnh phúc thật là được chiêm ngưỡng:PS5-A44

Bắt nguồn từ DoThái giáo, niềm tin Kitô giáo cho hay rằng hạnh phúc thật là được chiêm ngưỡng thánh nhan Thiên Chúa. Thế mà xưa nay chưa từng có ai nhìn thấy tôn nhan Thiên Chúa mà còn sống. Ngay cả Môsê, vị ngôn sứ vĩ đại, người được ưu tuyển đàm đạo với Giavê diện đối diện mà cũng chỉ được phép nhìn thấy Thiên Chúa phía sau lưng Người ( x.Xh 33,21-23 ). Và chúng ta đừng ngạc nhiên trước lời yêu cầu của Philipphê. Tuy nhiên chúng ta cần phải ngạc nhiên với câu trả lời của Chúa Giêsu: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” ( Ga 14, 9 ). Trong thân phận con người, cái yếu tố hữu hình, một trong những yếu tố của nhân tính mà Con Thiên Chúa đón nhận khi nhập thể đã trở thành chướng ngại.

“Chúng tôi ném đá ông, không phải vì một việc tốt đẹp, nhưng vì một lời nói phạm thượng: ông là người phàm mà tự cho mình là Thiên Chúa” ( Ga 10, 33 ). Giả như Chúa Kitô nhập thể, nhập thế trong thời đại hôm nay thì số phận của Người sẽ không khác xưa. Đấng vô hình lại ở trong kiếp hữu hạn, hữu hình ư ? Đấng sáng tạo lại mang kiếp được tạo thành, mong manh sao ? Thật khó mà chấp nhận cũng như đón nhận. Ngay cả các môn đệ, các tông đồ, ở với Thầy bấy lâu nay mà vẫn chưa biết rằng Thầy với Chúa Cha là một. Dù đã tuyên xưng Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, nhưng trong tâm trí các tông đồ lúc bấy giờ thì Thầy cũng chỉ là một con người được Thiên Chúa sai đến, hay là một đại ngôn sứ mà thôi. Tâm trí các ngài còn nhiều tăm tối u mê, không thể hiểu nổi lời của Thầy cũng như căn tính của Thầy cho đến khi Thầy phục sinh từ cõi chết và Thánh Thần được trao ban ( x.Ga 16,13 ). Cho đến tận thế, với người chưa tin, Đức Kitô Giêsu dù “là viên đá bị thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường mãi vẫn là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã” ( x. 1 P 2,7-8 ). Nhập thế vào đời, Chúa Kitô là hình ảnh của Chúa Cha. Đã là hình ảnh thì tồn tại sự hạn chế của cái khả giác.

VẤN NẠN CỦA HỘI THÁNH:

Tôi tin Hội Thánh là thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô. Tôi tin Hội Thánh là Hiền Thê tinh tuyền xinh đẹp của Đức Kitô. Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền… Những lời tuyên xưng trên đây phải chăng đã được chấp nhận và đón nhận cách dễ dàng với tất cả những người tin vào Đức Kitô ( Công giáo, Chính Thống giáo, Anh giáo, Tin lành ) ? Với người khác niềm tin, khác chính kiến thì đã rõ. “ Chúa Kitô loan báo Nước Trời và Hội Thánh lại đến !” Câu nói hàm chứa sự mỉa mai lẫn sự chê bai, ngờ vực của một văn sĩ thế kỷ ánh sáng khiến chúng ta nhận ra vấn nạn luôn còn đó. Nhìn chung vấn nạn thường xoay quanh tính hữu hình của Hội thánh Chúa.

Giáo lý Công giáo nêu rõ: “Chúa Kitô thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, không hề phạm tội, chỉ đến để đền tội cho dân; còn Hội Thánh, vì ôm ấp trong lòng những kẻ tội lỗi, nên vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh luyện mình. Do đó, Hội Thánh luôn nỗ lực sám hối và canh tân. Tất cả các chi thể của Hội Thánh, kể cả các thừa tác viên, phải tự nhận là người tội lỗi…” ( GLCG chung số 827 ). Quả là một mầu nhiệm không dễ thấu đạt. Với anh em ngoài Hội Thánh thì càng khó hơn nhiều. Hội Thánh là hiện thân của Đức Kitô theo dòng thời gian. Thế mà nhiều khi chân dung Đức Kitô lại bị biến dạng do bởi một số chi thể “què quặt hay mù loà về tâm linh lẫn nhân cách” hoặc do bởi cái cơ chế đã có khi mang dáng vẻ quá trần tục của Hội Thánh. Các chướng ngại hay cớ vấp phạm xuất hiện do bởi các nguyên nhân khách quan cũng có nhiều mà do bởi các nguyên nhân chủ quan cũng không thiếu.

VƯỢT QUA CHƯỚNG NGẠI:

Vấn nạn của cái khả giác dường như là muôn thuở. Làm sao để vượt qua nó ? Chúa Kitô đã khai mở: “Nếu ta không làm các việc của Cha Ta thì các ông đừng tin Ta. Còn nếu Ta làm các việc đó thì ít ra hãy tin các việc Ta đã làm” ( Ga 10,37-38 ). Những việc của Đức Kitô thực hiện là dẫn đưa nhân loại đến cùng sự thật, đến cùng sự sống, vì Người “là đường, là sự thật và là sự sống” ( Ga 14,6 ). Người đến thế gian này “là để làm chứng cho sự thật” ( Ga 19,37 ). Chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và cho chúng ta được sống và sống dồi dào ( x.Ga 8,32; 10,10 ).

Tuy nhiên một thực tế thật khó phủ nhận vẫn tồn tại. Đó là rất nhiều người đương thời với Chúa Giêsu đã nghe lời chân lý của Người, đã chứng kiến các kỳ công vừa cao cả vừa đượm đầy tình yêu của Người, vẫn chưa hoặc không biết Người và tin nhận Người. Chúa Giêsu đã mở thêm một con đường mới, có thể nói là con đường tuyệt hảo cuối cùng, đó là chịu treo trên thập giá và tuôn ban Thánh Thần từ Trái Tim Cực Thánh của mình. Ngay đêm tiệc ly, sau khi rửa chân cho các môn đệ Chúa Giêsu đã tỏ lộ cho các ngài: “ Chính Thầy biết những người Thầy đã chọn, nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con. Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu” ( Ga 13,18-19 ). “ Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm” ( Ga 19,37 ). Và “ Khi các ông giương Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết Ta Hằng Hữu” ( Ga 8,28 ). “ Phần Ta, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” ( Ga 12,32 ). Với tình yêu được trao ban, một tình yêu không điều kiện, một tình yêu không quản ngại hiến dâng của Đức Kitô thì chúng ta mới có thể thốt lên như Tôma: Lạy Chúa, Lạy Thiên Chúa của con. Quả thật nói như lời thánh Tông Đồ dân ngoại rằng không ai có thể tuyên xưng Đức Kitô là Chúa nếu không được Thánh Thần thúc đẩy.

Trở lại với chuyện của Hội Thánh. Trò không thể hơn thầy. Để Hội Thánh ngày càng trở nên bí tích của Đức Kitô cách khả tín và hữu hiệu hơn, thiết nghĩ rằng mỗi phần tử của Hội Thánh cần can đảm đối diện với sự thật, sống trong sự thật đồng thời tích cực thực thi công lý và tình yêu. Tuy nhiên, xin đừng quên chính khi bị đâm thâu cạnh sườn, chính khi bị treo lên cao để cho tình yêu tuôn ban thì đó mới là lúc căn tính của Hội Thánh được hiển lộ cách rõ nét. Chính khi bị nguyền rủa, chúng ta vẫn chúc lành; bị bắt bớ chúng ta vẫn yêu thương; bị vu khống, chúng ta vẫn chia lời ủi an, hay nói như thánh Phanxicô Axidi là đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp…( x.1Cor 5,12-13 ), đó là lúc chúng ta làm cho tha nhân thấy rằng không phải ta sống mà là Chúa Kitô đang sống trong ta.

Đức Bênêđictô XVI tuyên bố “ cuộc đời và các hoạt động của các vị thánh đã góp phần to lớn làm nên chân dung Hội Thánh”. Ông Tertulianô khẳng định: “ máu của các thánh tử đạo là hạt giống phát sinh người tín hữu”. Đức Gioan Phaolô II trong ngày tuyên phong hiển thánh 117 vị tử đạo Việt nam đã nhấn mạnh rằng hạt giống ấy là ngoài các vị thánh tử đạo trước đây thì ngày nay là tất cả những ai đang chịu áp bức, bóc lột mà vẫn trung kiên trong niềm tin, là tất cả những ai đang tìm hiểu và sống mầu nhiệm thập giá Chúa Kitô. Thánh giá bài trừ sự gian dối, bài trừ tội ác và giúp ta sống trong bình an và tha thứ ngay tại môi trường ta đang sống.

Dù là điên dại với người Hy lạp hay là cớ vấp phạm với người DoThái thì thập giá vẫn mãi là dấu chỉ cao cả của tình yêu. Vì không có tình yêu nào cao cả cho bằng tình yêu của người hiến dâng mạng sống vì người mình yêu ( Ga 15,13 ). Và thập giá Chúa Kitô mãi là nguồn ơn cứu độ. Chính trên thập giá, Chúa Kitô đã trao ban Thánh Thần cho chúng ta từ Trái Tim bị đâm thâu của Người. Xin Thánh Thần Thiên Chúa, là Thần Chân Lý, là Nguồn Tình Yêu ở cùng chúng ta, ở cùng Hội Thánh cho đến ngày Đức Kitô quang lâm ( x. Kh 22,17 ). Nhờ Thánh Thần, chúng ta có thể tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa. Với Thánh Thần, chúng ta sẽ làm cho muôn dân nhận ra chúng ta là môn đệ của Đức Kitô và đích thực là Kitô hữu.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

 

PS5-A45: Các con đừng xao xuyến sợ hãi

Nhật V Mùa Phục Sinh/A
(Ga 14,1-12)

 

Sự kêu gọi của Ðức Giêsu: «Các con đừng xao xuyến sợ hãi!» xem ra – ít là vừa thoáng nghe qua:PS5-A45

Sự kêu gọi của Ðức Giêsu: «Các con đừng xao xuyến sợ hãi!» xem ra – ít là vừa thoáng nghe qua – là một điều không đơn giản. Bởi vì, khi chúng ta đã sợ hãi thì thật là vô ích, nếu như có ai đó lại nói với chúng ta là cứ can đảm lên, cần gì phải sợ sệt. Ðúng vậy, có những điều người ta không thể ra lệnh được. Và nếu một ai đó vẫn làm như thế, sẽ bị thiên hạ coi là một kẻ chỉ muốn đưa ra những lời an ủi lệch lạc rẻ tiền, bởi vì anh ta không có được một giải đáp thực sự cho vấn đề. «Các con đừng xao xuyến sợ hãi!» Ðó là điều dễ nói, nhưng không dễ làm.

Sự lo lắng sợ hãi hầu như có mặt trong tất cả mọi lãnh vực của cuộc sống con người: Người ta sợ mất người yêu, sợ đời bất hạnh, sợ cho tương lai, sợ bị mất danh dự, mất ảnh hưởng, hay sợ trước những thử thách trong tương lai, sợ bệnh tật, sợ già nua, v.v…và cuối cùng là sợ chết! Người ta có thể nói rằng sự lo lắng sợ hãi thuộc về đời sống con người, tương tự như mây trong bầu trời. Rất có thể bầu trời vào mùa xuân hay mùa hè sẽ có một vài ngày hoàn toàn trong xanh, không chút vợn mây, thế nhưng đa số về chiều lại xuất hiện đâu đó những làn mây mỏng, tựa hồ như chúng muốn thu lại những giọt nước mắt lo sợ rải rác khắp nơi trong suốt cả ngày. Ông Horst-Eberhard Ricchter, một nhà nghiên cứu về hiện tượng sợ hãi, đã nói: «Sự sợ hãi là một màu sắc của cuộc sống chúng ta ». Và cảm giác đó rất mạnh, đến nỗi chúng ta có thể dễ để cho nó tự bộc lộ ra. Trong tình trạng như thế, lời động viên của Ðức Giêsu là « trên trời đang có chỗ dành cho chúng ta », khó lòng giúp được gì nhiều. Ðiều hiệu quả trước tiên do những lời của Ðức Giêsu mang lại là cảm giác nhẹ nhàng, và cũng rất có thể là một sự an ủi qua loa nào đó về cuộc sống bên kia thế giới. Thế nhưng, trong «những chỗ ở hiện tại», trong cuộc sống thực tế mà chúng ta đang sống, mọi bụi bặm của sự lo lắng sợ hãi vẫn còn bám đầy khắp mình.

Và những câu hỏi của các môn đệ cũng đã nói lên nỗi lo lắng và sự bất ổn của họ: «Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu cả, thì làm sao chúng con biết được đường?» (Ga 14,5). Câu hỏi đầy khắc khoải của các môn đệ đã nói lên rằng họ còn cần tới nhiều hơn nữa, chứ không chỉ những lời nói an ủi mà thôi. Họ cần một ai đó có thể cho họ biết rõ được những chắc chắn rõ ràng. Còn sự thối thác hay kiểu nói tránh né vòng vo về sự sợ hãi không mang lại được gì cả; thái độ phủ nhận hay đè nén sự lo lắng sợ hãi chỉ làm cho con người đâm ra bệnh hoạn mà thôi.

Lời đề nghị mà Ðức Giêsu đã đưa ra để vượt lên những nỗi lo âu sợ hãi về một cuộc sống bất ổn, là một điều hoàn toàn bất ngờ. Không phải tử vi, tướng số, bói toán hay một thủ đoạn gian dối nào khác nằm trong chương mục đề nghị của Người, nhưng là chính Người tự nguyện hy sinh: Chính Người là đường; chính Người là mục đích. Người là lối đi dẫn tới Thiên Chúa, là chân lý và là sự sống. Ai đã nhìn thấy Người, thì thấy Chúa Cha, và thấy Chúa Cha «ngay từ bây giờ» (Ga 14,7b).

Nhưng ai biết lấy Thiên Chúa làm «chân lý» đời mình và ai biết xây dựng cuộc sống mình trên nền tảng đức tin vào Thiên Chúa, thì mọi lo lắng sợ hãi không còn lung lạc hay gây được ảnh hưởng trên người đó nữa. Và mặc dù những băn khoăn sợ hãi không biến khỏi cuộc đời con người như những con yêu tinh đáng ghét, nhưng chúng cũng không còn chi phối được trọng tâm của cuộc sống nữa. Chúng trở nên những hiện tượng thứ yếu. Vâng, những cảm giác sợ hãi vẫn còn đó, nhưng chúng không còn đủ khả năng làm tê liệt hay làm xáo trộn được tâm tư con người nữa. Trái lại, sự bình tĩnh, sự an hòa và lòng tin tưởng có thể thay đổi cả cuộc sống con người, và theo lời Ðức Giêsu «ngay từ bây giờ!»

Giờ đây, lời đề nghị của Ðức Giêsu - phải vượt thắng sự sợ hãi - vẫn luôn luôn mang tầm ảnh hưởng có tính cách quyết định trên cuộc sống con người: Ai nhận biết Ðức Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống, người đó sẽ làm chủ và vượt thắng được những lo lắng sợ hãi của mình. Và điều đó gần như một sự thật đương nhiên.

Nhưng lời đề nghị của Ðức Giêsu, Ðấng là đường và là mục đích, được gắn liền chặt chẽ với một đức tin mạnh mẽ vào Người. Ðây là điều kiện đã được thánh sử Gioan nhấn mạnh trong bài Tin Mừng hôm nay: Trong mười hai câu mà Ðức Giêsu đã nói tới sáu lần chữ «tin»! Ai muốn nhận biết Chúa Cha trong Ðức Giêsu, ai muốn cảm nghiệm trong Ðức Giêsu đường và mục đích để thắng vượt được những hoàn cảnh làm hoang mang sợ hãi cuộc sống, người đó chỉ có thể hiện thực được qua con đường đức tin mà thôi. Dĩ nhiên một đức tin như thế luôn đòi hỏi một sự can đảm và sự mạo hiểm «dám làm!»

Và là con người, chúng ta thường chỉ muốn trong vấn đề đức tin mọi sự phải rõ ràng, những chỉ dẫn trong các việc làm phải dứt khoát. Tất cả mọi vấn đề phải được giải thích minh bạch trước khi chúng ta chấp nhận một lời đề nghị như thế. Nhưng đó không phải là con đường đức tin. Trái lại, để bước đi trên con đường đức tin, tôi phải có một tương quan mật thiết với Ðức Giêsu Kitô, cả khi sự tương quan đó đang trong giai đoạn trắc nghiệm buổi đầu hoặc khi đã bước đi trên con đường đó rồi, người ta phải có lòng tin thực sự. Ðược như thế, bấy giờ người ta mới cảm nghiệm được rằng nhờ đức tin, cuộc sống con người mới có thể làm giảm bớt được những lo âu sợ hãi, bởi vì những điều có tính cách đe dọa trong cuộc sống hằng ngày đã được ánh sáng của Thiên Chúa soi chiếu.

Thiếu lòng can trường mạnh dạn, không thể có đức tin được. Ðó là sự can đảm mà mỗi cuộc gặp gỡ con người đều cần tới. Nhà thần học Josef Heer đã viết: «Có những cuộc gặp gỡ qua loa ngoài mặt, người ta gặp nhau - một cách đầy ấn tượng hoặc không - và sau đó người ta lại quên nhau. Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ thân thiện sâu xa, đã tạo nên tình cảm đồng chí, bạn bè hay tình yêu, và kéo dài trong một thời gian lâu hoặc đôi khi suốt cả đời. Trong mỗi cuộc gặp gỡ sâu xa như thế, các người trong cuộc luôn tìm gặp được ý nghĩa trong sự trao đổi quan điểm, những ước muốn, những động viên, những quyết định, và trong tất cả những gì mà những lời nói đơn sơ đã nói lên với tất cả lòng thành thật. Cũng tương tự như thế trong lãnh vực đức tin, trong sự tương quan cá nhân của mỗi người với Ðức Giêsu Kitô!»

Nói tóm lại, sự khẩn thiết mà Ðức Giêsu đề cập đến trong đức tin vào Người, cũng muốn nói lên rằng một đức tin như thế có thể là hành động thực sự của cuộc sống. Có lẽ người ta còn phải nói là một «công việc của đức tin». Nhưng Herman Hesse, thi sỹ người Thụy Sỹ (1877-1962), đã nói: «Người ta phải tìm gặp được giấc mơ của mình, bấy giờ con đường đi sẽ trở nên dễ dàng».

Tuy nhiên giấc mơ của chúng ta không phải là giấc mơ, nhưng là một thực tại. Và thực tại đó là chính đức tin vào Ðức Giêsu Kitô. Chỉ đức tin bền vững mới có thể chỉ cho chúng ta con đường sống một cách đúng đắn được, ngay bây giờ và sang cả bên kia cuộc sống này nữa.

Lm Nguyễn Hữu Thy

 

PS5-A46: ĐỪNG XAO XUYẾN NHƯNG HÃY TIN TƯỞNG

Trong cuộc sống trần gian này, con người khi biết mình sắp từ giã những người thân yêu để:PS5-A46

Trong cuộc sống trần gian này, con người khi biết mình sắp từ giã những người thân yêu để vĩnh viễn rời bỏ cuộc sống này, người ta thường cố tranh thủ chút thời gian vắn vỏi còn lại để căn dặn; để trăn trối cho người thân yêu những điều mà họ cho là quan trọng nhất.
Chúa Giê-su cũng thế.  Trong bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay thuật lại rằng:  Khi sắp từ giã các môn đệ để chịu khổ nạn và chịu chết, chúa Giê-su đã trao cho các môn đệ những lời tâm huyết của Ngài: "Anh em đừng xao xuyến, Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. (Ga:14.1)
Có ai trong chúng ta đã không từng bị xao xuyến? Các môn đệ xưa kia đã xao xuyến vì họ được nghe biết về sự phản bội của một người trong chính nhóm của họ (Ga 13,21-30); và cả việc người anh cả Phêrô của họ cũng sẽ chối Thầy(Ga:13,38).  Lòng các ông xao xuyến vì Thầy đã nói bóng nói gió đến cái chết gần kề (Ga:13,33). Tất cả đều là những biến cố kinh khủng, ảnh hưởng đến đời sống của họ, phá vỡ những gì họ đã mong đợi và xây dựng.  Họ phải xa cách Thầy, phải một mình đương đầu với một thế gian thù nghịch. Những điều đó làm họ xao xuyến.
"Hãy tin vào Thiên Chúa, và tin vào Thầy." Đó là lời tâm huyết của Chúa Giêsu nói với các môn đệ xưa kia và với mỗi người chúng ta hôm nay.  Đó cũng chính là niềm cậy trông tín thác vào Chúa Giêsu. Vì khi ta cậy trông tín thác vào Chúa thì dù đe dọa vẫn còn đó, khó khăn vẫn chồng chất nhưng ta vẫn an tâm tiến bước, bình an lại trở về và không còn xao xuyến nữa.
Niềm tin nhỏ bé của các môn đệ xưa kia được Chúa Giêsu củng cố thêm qua lời an ủi và nâng đỡ của Ngài: “Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em …để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.“. Phải chăng “yêu” là lo lắng cho nhau, là làm những điều tốt đẹp nhất cho nhau - Thầy đi là để dọn chỗ cho anh em - Và “yêu” là mong muốn được sống bên cạnh người mình yêu - để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.  Chúa Giêsu hằng yêu thương mỗi người chúng ta, và Ngài vẫn đang “dọn chỗ ” cho mỗi người chúng ta hôm nay để “Thầy ở đâu, chúng ta cũng được ở đó với Ngài”. Và đó cũng là cùng đích của người Kitô trong cuộc sống lữ hành trần thế này. 
Chúng ta cũng đọc được lời tâm huyết của Chúa Giêsu nói với Philippê :“Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy …Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga:14.9-11).  Còn lời nói nào rõ ràng hơn nữa về sự kết hợp mật thiết và thâm sâu trong tình “Cha Con”.  Còn lời nói nào hùng hồn và xác tín hơn nữa về sự gắn bó thân tình Ngôi Cha và Ngôi Con trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi ?
Cũng trong giây phút này, trong tâm tình từ giã với các môn đệ, Chúa Giêsu nói với Tôma: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.  Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy…”(Ga:14.6).  Lời giảng dạy chỉ bảo của Ngài được ghi lại trong Kinh Thánh là kim chỉ nam soi đường dẫn lối cho ta trong cuộc sống. Thánh thần của Ngài là hướng đạo chỉ đường dẫn lối và đưa ta về đường ngay nẻo chính.  Sự thật mà Ngài giảng dạy không phải chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động Ngài đã thực hiện trong suốt 3 năm rao giảng.  Chúa Giêsu còn xác nhận Ngài là sự sống: Đó sự sống vĩnh cửu được chuộc lại bằng giá máu tử nạn và phục sinh của Người.
Chúa Giêsu là đường, là sự thật, và là sự sống”.  Đó là cùng đích mà con người phải hướng đến trong cuộc sống lữ hành trần gian hôm nay.
*****
Lạy Chúa Giêsu,
Ngài là đường mà con phải bước theo, là sự thật mà con phải tin tưởng và là sự sống mà con hằng hy vọng.
Xin cho con dám bước ra khỏi lòng mình, ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan của con người để bước đi trên con đường của Chúa, để tin vào sự thật mà Ngài đã trao ban, để sống trọn vẹn cho cho Chúa trong cuộc sống hôm nay và để con có được sự sống của Chúa trong cuộc sống đời đời mai sau.
 Ước gì con cảm nghiệm được rằng trước khi con tập sống cho Chúa và thuộc về Chúa thì Chúa đã sống cho con và thuộc về con rồi. Amen.
(Linh Xuân Thôn)

 

PS5-A47: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

c.1:   “Lòng chúng con đừng xao xuyến”:
 

Sau lời loan báo Giuđa sẽ nộp Thầy (13,18-30), lời loan báo Phêrô sẽ chối Thầy (13,36-38):PS5-A47

Sau lời loan báo Giuđa sẽ nộp Thầy (13,18-30), lời loan báo Phêrô sẽ chối Thầy (13,36-38) và lời loan báo Đức Giêsu sẽ ra đi (13,33), lòng các môn đệ rất hoang mang bối rối. Do đó Đức Giêsu an ủi họ đừng xao xuyến.
“Cứ tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”: Động từ tin được dùng tới 6 lần trong phần này. Điều kiện để khỏi hoang mang xao xuyến là phải tin: tin vào Thiên Chúa và tin vào Ngài.
c.2-3: Đức Giêsu giải thích lý do Ngài ra đi: đi để về nhà Cha và để dọn chỗ cho các môn đệ. Xong xuôi rồi Ngài sẽ trở lại đón các môn đệ cùng đi đến nhà Cha, khi đó thầy trò sẽ sum hợp.
- “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”: Irénée, Clément d’Alexandrie và Origène dựa vào câu này để nghĩ rằng trên thiên đàng có nhiều cấp bậc hạnh phúc. Thực ra câu này chỉ đơn giản nghĩa là thiên đàng có đủ chỗ cho mọi người.
- Sau khi dọn chỗ xong thì Ngài trở lại cùng đi và thầy trò sum hợp.
- “Thầy ở đâu, chúng con cũng ở đó”: “Đức Giêsu nói với các môn đệ “Thầy sẽ trở lại đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”. Trái lại Người nói với dân Do thái: “Tôi ở đâu, các ông không thể đến được” (7,34) Thế cũng bởi vì Đức Giêsu ở đâu, kẻ phục vụ Người cũng sẽ ở đó (12,26). Mà các môn đệ chấp nhận làm môn đệ của Người, còn dân Do thái thì không. Nên đúng theo định nghĩa của người môn đệ là “người đi theo”, các môn đệ sẽ được đi theo Đức Giêsu và ở với Người” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh, sđd, trang 210)
- Như thế là Thầy trò sẽ sum hợp. Nhưng khi nào? Có người nghĩ là đến ngày Tái lâm (Parousia); kẻ khác nghĩ là ngày chết của mỗi người. Cả hai lối giải thích đều đúng.
* Nếu các môn đệ phải xa cách Thầy mãi mãi thì các ông xao xuyến là phải. Nhưng đây chỉ là xa cách tạm thời, sau đó thầy trò lại sum hợp, mà sum hợp vĩnh viễn hạnh phúc trong nhà Cha, thì có gì mà xao xuyến!
c.4-7: Câu hỏi của Tôma:
- Tôma là người đa nghi. Dù Đức Giêsu đã nói Ngài đi về nhà Cha, nhưng đối với Tôma, cái “nhà Cha” ấy còn mù mờ xa xôi quá. Ông chưa dám dấn thân vào một tương lai không chắc chắn như vậy, nên ông hỏi lại cho rõ: cụ thể Đức Giêsu sẽ đi đâu và các môn đệ sẽ dùng con đường nào để theo Ngài.
- Đức Giêsu giải đáp cả hai thắc mắc của Tôma: cứ đi theo Ngài là đúng đường và sẽ tới đích, vì Ngài là đường (Le chemin), con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha. “Đức Giêsu đã ví mình với con đường, vì “đường” là một trong những tượng trưng của Thánh Kinh. Theo Cựu Ước, nghe lời Thiên Chúa gọi là tin tưởng vào Người, dân Israel ra đi và phải trải qua một con đường dài và cực nhọc để tới Đất Hứa. Do đó “đường” là tượng trưng cho cuộc Xuất Hành (Đnl 1,3-33; 2,1-2; 8,2-10 Tv 77,20. 136). Một khi đã vào Đất hứa, dân Israel cũng còn phải ăn ở theo đường Thiên Chúa bảo mới được lãnh phần thưởng muôn đời (Đnl 32,4; Tv 25,10; 128,1; 147,19-20; Br 3,13-14.37; 4,1). Mà Thiên Chúa đã mặc khải những đường hướng ấy trong Luật Môsê. Do đó, “đường” còn là tượng trưng cho Luật Môsê. Trong Tân Ước, Thiên Chúa mặc khải những đường hướng của Người qua trung gian Đức Giêsu. Vị trung gian tuyệt đẳng và sau hết. Do đó, “đường” vẫn còn là tượng trưng. Nhưng đối tượng của tượng trưng đã thay đổi, không còn phải là đường trong sa mạc, cũng không phải là luật Môsê, mà là Đức Giêsu (Mc 8,34 Mt 16,24 Lc 9,23 Dt 10,20)” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh, sđd, trang 211)
- Sở dĩ Ngài là con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha vì Ngài là sự thật (chân lý). “Thánh Gioan thường mượn ngôn ngữ của Cựu Ước và của Do thái giáo. Trong ngôn ngữ ấy, chân lý (hay sự thật) có nghĩa là tiếng nói của thánh ý Chúa liên quan đến loài người và đời sống chân lý của loài người. Chân lý ấy, xưa kia, được truyền đạt cho loài người qua trung gian ông Môsê và các ngôn sứ; nhưng ngày nay, chân lý ấy được mặc khải qua trung gian Đức Giêsu (Ga 1,17). Một cách sâu rộng hơn, chúng ta có thể nói rằng Đức Giêsu và Chân lý mà Người mặc khải là một, vì, khác với ông Môsê và các ngôn sứ, Người là Chúa Con nhập thể và, vì thế, Người là Lời tuyệt hảo của Chúa Cha (1,1.14), là chân lý được Chúa Cha phát biểu bằng cuộc sống và lời nói của Đức Giêsu (17,8.14 1,18)” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh, sđd, trang 211). Nói cách khác, Đức Giêsu là sự thật về Chúa Cha nghĩa là: cứ nhìn vào Ngài là biết Chúa Cha. Tất cả mặc khải Cựu Ước chỉ là chuẩn bị và dọn đường cho mặc khải trọn vẹn và đích thực nằm trong bản thân Đức Giêsu.
- Và cũng vì Đức Giêsu là đường, là sự thật như thế, nên Ngài cũng là sự sống: “Muốn sống vĩnh cửu, loài người phải nghe và làm theo lời Thiên Chúa phán. Mà Thiên Chúa phán qua trung gian Đức Giêsu (12,50). Hơn nữa Đức Giêsu không phải chỉ nói lời của Thiên Chúa như ông Môsê hay các ngôn sứ. Người chính là Lời tuyệt đẳng của Thiên Chúa. Vì thế chẳng có gì lạ khi Người là “sự sống” (Lm Tanila Hoàng đắc Ánh sđd, trang 212)
c.8-10: Câu hỏi của Philipphê:
- Philipphê hơi ấu trĩ, khi nghe nói về Chúa Cha thì nghĩ đến một cảnh thần hiện theo kiểu ngày xưa Thiên Chúa hiện ra cho Môsê, Êlia, Isaia v.v… và ông muốn mình cũng được thấy cảnh đó như vậy.
- Đức Giêsu đáp “Ai thấy Thầy tức là thấy Chúa Cha rồi đấy”: Thiên Chúa không còn hiện ra trên đám mây hay trong những thị kiến. Từ nay Thiên Chúa tỏ mình cho loài người qua hình dáng nhân loại của Đức Giêsu. Đức Giêsu là hình ảnh mặc khải trọn vẹn Chúa Cha. Thực vậy Đức Giêsu chính là Lời mặc khải trở thành xác thịt và ở giữa loài người (1,14). Khi Lời đã ở giữa loài người thì tất cả những nơi xưa nay người ta thường đến để gặp Thiên Chúa như đền thờ Giêrusalem hoặc đền thờ Garizim hay bất cứ nơi nào khác cũng đều trở thành vô ích, vì nơi duy nhất để gặp Thiên Chúa chính là Đức Giêsu. Tại sao? Vì “Thầy vốn ở trong Cha và Cha ở trong Thầy”: Chúa Cha và Đức Giêsu không thể tách rời nhau, cả hai chỉ là một. Tất cả những lời Ngài nói và những việc Ngài làm đều là những lời nói và việc làm của Chúa Cha.
c.11: Đức Giêsu khuyến khích các môn đệ tin rằng Chúa Cha và Ngài luôn ở trong nhau và là một với nhau. Nếu họ chưa thể tin bằng lời của Ngài thì ít ra hãy tin vì thấy những việc Ngài làm, tức những phép lạ, những “dấu chỉ” cho thấy có Chúa Cha hoạt động trong Ngài.
c.12: “Ai tin vào Thầy thì sẽ làm được các việc Thầy làm, lại còn làm được việc to hơn nữa”: a/ Các môn đệ được Đức Giêsu thông ban quyền lực của Ngài, nhờ đó họ cũng làm được những phép lạ như Ngài; b/ Nước Trời mà Đức Giêsu lập hiện còn rất nhỏ bé, nhưng Đức Giêsu thông quyền giúp các môn đệ mở mang Nước Trời ấy “cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Không phải các ông giỏi hơn Ngài, nhưng hoạt động của các ông sẽ triển khai mầm mống đã được Ngài đặt sẵn. Điều kiện duy nhất để các ông làm được như vậy là phải tin vào Ngài.
KẾT LUẬN
Chúa Giêsu nhắn gởi lời khuyến dụ này cho các môn đồ Người thuộc mọi thời đại. Người kêu gọi họ giữ vững lòng tin vào Người trong những bước đường tối tăm và trong các cơn dông tố thiêng liêng của cuộc đời, đồng thời hãy dâng cho Người một tình yêu quảng đại và vâng phục, tình yêu sẽ đặt họ vào trong tình yêu thân mật của Ba Ngôi Thiên Chúa và sẽ làm cho họ sống trong bình an và hoan lạc của Chúa Giêsu.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Bản văn này tóm tắt sứ điệp Tin Mừng Gioan. Nó diễn tả cách gián tiếp điểm đặc trưng và sâu xa nhất của đời sống Kitô hữu. Nó là một phần trong toàn bộ các lời nói của Chúa Giêsu giải thích về chính mình Người. Cùng một trật nó trình bày cho thấy Người là gì đối với chúng ta và chúng ta phải trở nên nhất thế nào đối với Người. Chúa Giêsu là một người thật, hoàn toàn giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi, nhưng đồng thời được tràn đầy thực tại thần linh sống động đến nỗi trở nên duy nhất và đồng hóa với Chúa Cha trong hữu thể, trong bản chất và trong đời sống: Người mặc khải Chúa Cha cách đích thực, Người mặc khải chúng ta là những kẻ Cha đã ban cho Người và Người muốn rằng Người ở đâu, chúng ta cũng ở đó. Người cầu nguyện và hành động để trong Người chúng ta được thông phần vào sự sống Chúa Cha ban. Ở đây, chúng ta đứng trước một mầu nhiệm dày đặc đối với tâm trí nhưng sáng tỏ cho những ai dấn thân cách sống động nhờ đức tin.
2) “Lòng các con chớ xao xuyến. Các con tin vào Thiên Chúa, thì cũng hãy tin vào Ta". Đây là một cách Chúa bảo rằng nòng cốt đức tin của chúng ta là chính Người, bản thân của Người, sứ điệp Người. Ta có thể tự hỏi: Làm sao Chúa Giêsu Kitô, vốn là Thiên Chúa, lại có thể nói về Thiên Chúa như nói về một Đấng khác với chính Người. Ở đây chúng ta đụng đến một trong những khía cạnh của mầu nhiệm Nhập thể. Nghĩa là mầu nhiệm Thiên Chúa xâm nhập vào thời gian, vào không gian và vào trong những giới hạn của con người. Con Thiên Chúa, có thể nói, là đã tự giới hạn mình vào trong những chiều kích của thực tại nhân loại, mà vẫn không thôi là chính Người. Chúa Giêsu muốn bảo điều này: Con người hữu hình của Người dễ gần gũi với hành động đức tin của chúng ta hơn là Thiên Chúa vô hình; sự kiện lạ lùng là lòng tin của chúng ta vào Người làm cho chúng ta đụng đến Đấng không thể nào tới gần được. Khi tin vào người là Chúa Con, chúng ta có thể tin vào Chúa Cha. Mà tin vào Chúa Cha là nguyện vọng và tiếng gọi sâu xa nhất của con người vốn thường bị đau khổ làm cho xao xuyến. Niềm tin tưởng ấy làm cho sự xao xuyến tách ra khơi chúng ta và mang lại bình an, sức mạnh, niềm vui.
3) "Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống". Trong cuộc sống của người-không-có-Thiên-Chúa, dường là một hệ thống tư tưởng hay là sự khôn ngoan, sự thật là một chọn lựa giữa nhiều ý kiến, sự sống là một sinh hoạt, một tình yêu suy nhược, và thường là một sự chịu đựng. Đối với người-có-Chúa-Kitô, thì sự sống là một sự thông hiệp mà những khám phá có sức làm được điều ta tưởng là bất kham. Trong Chúa Kitô, người Kitô hữu tìm được đường đi, lối về, nhờ đó họ vượt qua những biên giới của thế gian. Mà tự bản chất là một cánh cửa đóng kín tuyệt vọng. Hơn nữa con đường này, tức là Chúa Kitô, là một lời mời gọi ra đi, tiến tới đằng trước, vươn mình lên mãi. Người Kitô hữu khám phá nơi Chúa Kitô câu trả lời cho nhu cầu bí mật mà con người cảm thấy, là phải nương tựa vào một cái gì vửng chắc để luôn có thể tìm kiếm mãi. "Con sẽ không tìm Ta, nếu con đã không gặp Ta" (Th. Augustin). Sự thật sống động không bao giờ là một cái gì hoàn toàn đạt được, nhưng nó bảo đảm với ta rằng nó xác thực. Càng gặp Chúa Giêsu, ta càng tìm kiếm để biết Người hơn. Khỏi phải nói là biết Chúa Kitô là trước tiên sống bởi Người. Khi ta sống bởi Chúa Kitô, phải chăng các thực tại tự nhiên của đời sống đ.eu thay đổi . Không? người Kitô hữu có một sinh hoạt nhân sinh và thực tế như tất cả mọi người, nhưng sinh hoạt ấy được một cái hồn. Có một cách suy nghĩ, một cách chọn lựa mục đích, một cách gặp gỡ con người ... được hướng dẫn bởi sự hiện diện của Chúa Kitô trong cuộc đời. Chúng ta có biết ngạc nhiên về điều không thể làm được lại trở nên có thể được cho chúng ta trong Chúa Kitô không?

 

PS5-A48: Lòng anh em đừng xao xuyến...

Trước khi rời khỏi thế gian này để về cùng ....... Trong Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày: “Lòng:PS5-A48

Trước khi rời khỏi thế gian này để về cùng Chúa Cha. Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Lòng anh em đừng xao xuyến...".
Trong Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương: Đức Giêsu vừa loan báo sự phải bội của Giuđa và y đã đi ra khỏi căn phòng vào đêm tối bên ngoài (Ga 13,21-30)... rồi Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Ga 13,31-36)... sau cùng, đầy nỗi lo sợ, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Người "ba lần" trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Ga 13,37-38)... Như thế, người ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng đang xiết chặt mọi tâm hồn và tư tưởng các môn đệ.
Trong đời sống của chúng ta cũng thế có chăng giờ phút sự sợ hãi kinh hoàng ập xuống trên chúng ta: một tương lai bấp bênh, một thiệt hại không vượt qua được, những suy sụp của tuổi già, một căn bệnh không thể chữa khỏi. Và còn có những sợ hãi tập thể: sự thất nghiệp, bạo lực, nạn nhân mãn, nạn đói, sự ô nhiễm môi trường, những nguy cơ của nguyên tử. Và trong bối cảnh khủng hoảng ấy, những câu hỏi nghiêm trọng mà mọi tín hữu chân chính phải đặt ra: Những giá trị cao cả của con người chẳng phải đang bị xoá nhòa đó sao? Nhân loại ngày mai sẽ tin vào điều gì? Và một ngọn gió hoảng sợ cũng xâm chiếm những tín hữu mạnh mẽ nhất và người ta lẩm bẩm rằng trong Giáo Hội cũng không có gì là ổn cả.
Chính trong bối cảnh nhân loại như thế mà tính lạc quan không gì thắng nỗi của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối! Chỉ còn mấy giờ nữa Người phải lên thập giá thế mà Người đã cố sức vực dậy tinh thần của các bạn hữu của Người: "Lòng anh em đừng xao xuyến!”. Chúng ta hãy lắng nghe những lý do Người sẽ đưa ra để chúng ta không bao giờ còn sợ nữa, về bất cứ điều gì.
"Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy".
Đức Giêsu yêu cầu các bạn hữu bang xao xuyến của Người hướng cái nhìn về một hướng duy nhất: Đức tin thâm sâu xa của Đức Giêsu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi không dựa trên sức người, nhưng dựa trên Thiên Chúa. Tất cả, không chừa môt ai đều có thể suy sụp, chỉ có Đức Giêsu nắm giữ sự trợ giúp siêu nhiên nằm bên ngoài ảnh hưởng của mọi sức mạnh phá hoại. Cái chết cũng không thể phá hủy sự bình an của Người: Sự bình an của Người không do sức con người mà do Thiên Chúa! Vả lại, chúng ta nhận thấy rằng Đức Giêsu đòi hỏi đối với bản thân một thái độ đức tin mà người ta có thể có đối với Thiên Chúa. Tính duy lý của con người vỡ tung như một nhân nguyên tử, dưới sức ép khó quan niệm nổi của cái vô cùng thánh thiêng: Làm thế nào mà Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một Đấng khác mình? Và điều đó mang lại công thức làm ngạc nhiên: “Hãy tin vào THIÊN CHÚA... Hãy tin vào THẦY…” Vậy thì Người là ai để nói như thế?
"Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em".
Phải, đó là mầu nhiệm không thể hiểu thấu của Nhập Thể Đức Giêsu với tư cách con người, phân biệt không ngừng với Thiên Chúa! Người nói về Thiên Chúa như thể đó là một Đấng Khác (Tha Thể Tuyệt Đối). Người nói về Chúa Cha. Không bao giờ Đức Giêsu hướng cái nhìn của con người về chính mình. Không bao giờ Đức Giêsu lôi kéo sự tôn kính hay thờ phượng về bản thân Người: Người hoàn toàn hướng về một Đấng Khác. .. và Người muốn xoay hướng chúng ta về Đấng Khác ấy. Đấng Hoàn Toàn Khác, Đấng mà chưa có ai đã từng trông thấy, tức là Chúa Cha. Như thế, Đức Giêsu đối diện với cái chết của Người, sự ra đi khỏi thế gian này, như một sự trở về nhà mình: Người sẽ tìm lại nơi đó một Đấng mà Người yêu mến và mến yêu Người. Đức Giêsu biết mình được yêu.
Sau những lời làm vỡ tung lý trí, giờ đây là những lời hoàn toàn thân mật, những lời thường nói mỗi ngày: nhà, chỗ ở, dọn chỗ...
Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy”.
Đây là những lời dịu đàng không tả nổi: "Đem về với Thầy... trở lại …” Thiên Chúa tất nhiên là Đấng Hoàn Toàn Khác không thể đạt đến được nhưng cũng là Đấng Rất Thân Thiết. Chúng ta không có một Thiên Chúa dửng dưng và lãnh đạm, nhưng là một người Cha đầy tình âu yếm, một người Anh để cho những nỗi lo sợ của chúng ta làm thương tổn và Người nói với chúng ta những lời an ủi và thân ái.
 "Để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó".
Chúng ta chớ lướt qua nhanh quá trên những lời xem ra có vẻ đơn giản và thân mật một cách ngây thơ. Có cả một thần học được diễn tả xuyên qua mạc khải ấy. Khi dám nói rằng “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó". Đức Giêsu mở ra cho nhân loại một viễn cảnh có âm vang vô tận, siêu nhân, siêu nhiên: Chính "đời sống thánh thiêng" được ban chúng ta. Mục đích của con người không còn ở trong con người, mà ở trong Thiên Chúa? Nhân loại đi về hướng có Đức Giêsu ở đó. Con người đã được lập trình để trở thành "như Thiên Chúa". Người ta hiểu được lời Người nói: “Lòng anh em đừng xao xuyến!".
“Và Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi". Ông Tôma nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”.
Đây là một điệp khúc: "Thầy đi "chúng con không biết Thầy đi đâu...". Đó là câu hỏi nền tảng của nhân loại mà Tôma dũng cảm đặt ra nhân danh chúng ta. Chúng ta sẽ đi về đâu? ý nghĩa, mục đích sau cùng của đời sống là gì? Có cái gì sau khi chết?
Đức Giêsu đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”.
Đối với Đức Giêsu, chân trời không bao giờ bị ngăn chặn, gây ra sự tuyệt vọng.
Đối với người tin, ai chấp nhận lời Đức Giêsu, lịch sử sẽ có một ý nghĩa, đời sống sẽ không còn phi lý nữa. Đức Giêsu là "người mở đường", Người đã mở ra một lối thoát cho các hữu hạn và cho đăc tính phải chết của con người. Không có Đức Kitô con người bị giam hãm trong những giới hạn của mình. Với Người, và chỉ với Người, như Người khẳng định có một con đường không dẫn tới cái hố đen của nấm mộ, nhưng về "nhà của Chúa Cha".
“Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng sẽ biết Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người “.
Câu này của Thánh Gioan là một câu làm hiện ra tính không thể diễn tả của Thiên Chúa, sự "mạc khải” này vẫn còn một phần "không thể quan niệm được": ánh sáng... nhưng vẫn còn một thứ ánh sáng của đêm tối... ánh sáng của đức tin.
Thật vậy, câu này gồm hai khẳng định bề ngoài trái ngược nhau: Anh em cũng (sẽ) biết Cha của Thầy (ở thì tương lai)... bây giờ, anh em biết Người (thì hiện tại).
Rõ ràng là Thiên Chúa không hiển nhiên và thật ra, chúng ta không biết Người. Người ta cũng có thể nói rằng chúng ta hiểu được Người! rõ ràng có một thứ hồ nghi. Không chắc chắn đã xuất hiện trong câu hỏi của Tôma: chúng con không biết...". Tính cảnh của chúng ta hiện nay đúng là như thế. Có thể một ngày nào dó, chúng ta sẽ biết Thiên Chúa. Sự vô tri về Thiên Chúa hôm nay, sẽ biến đổi thành tri thức, như lời Đức Giêsu nói: Anh em sẽ biết Người! Vả lại trong Đức Giêsu, sự hiện diện vô tri của Thiên Chúa chịu một "cú sốc của tương lai" đến độ những thực tại phải đến đã trở thành hiện tại: "Ngay từ bây giờ, anh em biết Thiên Chúa và đã thấy Người?". Có thể nói rằng, bằng một cảm thức siêu nhiên, tướng lai được tiên cảm trong hiện tại đối với những người tin Đức Giêsu: thời sau hết đã ở đó, mặc dù chưa hoàn tất. Giáo Hội, nơi cư ngụ của các tín hữu đã trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa ở giữa con người" (Khải Huyền 21,3). Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có một sự hiểu biết nào đó về Chúa Cha, còn bây giờ chúng ta đã hiểu biết Chúa Cha qua bức màn của đức tin. Đó là điều mà các nhà thần học gọi là cánh chung? tương lai được cảm nghiệm trước trong lòng của các tín hữu trong Đức Giêsu Kitô.
Ông Philípphê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện". Đức Giêsu trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?”.
Mới rồi, chúng ta vừa nghe Đức Giêsu phân biệt Người với Chúa Cha. Giờ đây Người đồng hóa với Chúa Cha. Đức Giêsu đi về với Chúa Cha, Người là con đường dẫn đến Chúa Cha và đồng thời, Người ở trong Chúa Cha và ai thấy Đức Giêsu là thấy Chúa Cha. Đức Giêsu là một con người, nhưng một con người "chứa đầy Thiên Chúa" một con người Thiên Chúa! Chúng ta phải để những từ có vẻ đơn giản ấy thấm nhuần chúng ta: "Thầy ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong Thầy... Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy...".
Phải, có một con người là Giêsu Nagiarét, sống cách nay hai ngàn năm trong một tổng nhỏ ít người biết đến của Đế quốc La Mã, một con người bằng xương bằng thịt đã đứng trên đôi chân của mình và trên một miền đất xác định, đất Israel, một con người có những bạn hữu, một con người ăn uống như mọi người... một người sắp chết như mọi người... và con người này lúc này đây hiệp thông với Thiên Chúa và đồng nhất với Thiên Chúa và hoàn toàn không là một kẻ điên. Một con người quân bình tột bậc, khiêm tốn, không tham vọng và kiêu ngạo: một con người vừa mới quỳ gối trước các bạn hữu để rửa chân cho họ như một tôi tớ bình thường vào thời đó... đồng thời giao nộp thân thể tan nát, và đã đổ máu ra vì họ.
"Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy, bằng không thì hãy tin vì chính các việc kia vậy. Thật Thầy bảo thật anh em ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc. Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha".
Thiên đàng không phải là môt sự chạy trốn vào một giấc mơ của tương lai hoang tưởng. Thiên đàng không phải một miếng đường được hứa ban cho sau này để bỏ qua chua cay hiện tại. Thiên Chúa không phải là một thứ thuốc phiện dùng để ru ngủ những đau khổ cho một cuộc đời đời.
Một thiên đàng đã bắt đầu và được cảm nghiệm bởi những người "làm những việc Đức Giêsu làm": Có một cách nào đó để suy nghĩ, để chọn lựa, để gặp gỡ Thiên Chúa và con người, một cách sống nào đó công chính là cách sống của Đức Giêsu.

 

PS5-A49: Đường Giêsu – ĐTGM. Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga 14,1-12
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
 

Băn khoăn về nguồn cội con người, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời, thao thức truy tìm cứu cánh:PS5-A49 FB

Băn khoăn về nguồn cội con người, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời, thao thức truy tìm cứu cánh của đời người đã tiếp nối bằng bao thế kỷ mà không có được câu trả lời thoả đáng. Con người bơ vơ giữa ngã ba không biết phải đi về đâu. Khi xuống trần, Chúa Giêsu đã cho ta biết nguồn cội của Người là Đức Chúa Cha, ý nghĩa đời Người là thi hành thánh ý Chúa Cha, và cùng đích đời Người là trở về với Chúa Cha. Muốn về với Đức Chúa Cha, ta phải theo một con đường. Đường ấy có tên là GIÊSU. Đường này chắc chắn an toàn đi đến nơi về đến chốn vì Chúa Giêsu là người mở đường. Người chính là con đường và Người là tâm điểm của đích tới.
Chúa Giêsu là người mở đường.
Đi đâu cũng cần có đường. Không con đường nào tự nhiên có. Phải có người mở đường.
Có người mở ra những con đường vật chất, nhờ có óc phiêu lưu mạo hiểm, có tầm nhìn bao quát, có óc tính toán thực tế.
Có người mở ra những con đường suy tư triết học, sáng tác nghệ thuật, nhờ trí tuệ thông minh xuất chúng, có tư duy sáng tạo, có trực giác bén nhạy, có trí tưởng tượng phong phú.
Nhưng không ai có thể mở con đường lên trời. Đường lên trời hoàn toàn vượt khả năng con người. Phải có Đấng, ấy là Chúa Giêsu, Người đã đến từ Đức Chúa Cha, nay Người trở về cùng Đức Chúa Cha. Người lại hứa dọn chỗ cho ta trong Nhà Cha. Với những thông tin như thế, Người đã cho ta biết Trời chính là Nhà Cha. Quê Trời trở thành Quê Cha. Nước Trời trở thành một cõi đi về thân thương của con người. Con đường đi về ấy, chính Chúa Giêsu đã mở.
Chúa Giêsu là đường.
Không chỉ là người mở đường. Chúa Giêsu chính là con đường. Để về Nhà Cha, ta không chỉ đi theo, đi với mà còn phải đi trong Người. Không chỉ đi trong đường lối, trong tinh thần, nhưng trong chính bản thân Người. Như cành nho gắn liền với thân nho và sống bằng sự sống của thân nho. Như bánh rượu tan hoà vào trong máu thịt trở nên thành phần của bản thân ta. Như bản tính Thiên Chúa kết hợp với bản tính loài người trong bản thân Người. Đi trong Người để ta ở trong Người như Người ở trong Chúa Cha. Đi trong Người để ta mang hình ảnh của Người, để ai thấy ta cũng như thấy Người, như “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy”.
Chúa Giêsu là đích tới của con đường.
Đi trong Chúa Giêsu là một hành trình dài. Đi suốt cả đời chưa chắc đã tới.
Để đi trong Chúa Giêsu ta phải từ bỏ hết những gì của bản thân mình, kết hiệp trọn vẹn với Người, cũng như Người đã từ bỏ ý riêng để hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha, để trở nên một với Chúa Cha.
Khi đã hoàn toàn từ bỏ hết ý riêng và trở nên một với Người cũng là lúc ta đạt tới đích điểm, là lúc ta gặp được Chúa Cha, là lúc ta ở trong Nhà Cha, là lúc ta đạt tới Quê Hương yêu dấu trên trời.
Lạy Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, xin cho con biết đi trong con đường của Người.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Bạn hãy thử tìm ra những đặc điểm của con đường Giêsu (Vd: hiền lành, khiêm nhường…)
2) Bạn còn xa hay đã gần con đường Giêsu?
3) Bạn có mong đi trọn vẹn trong con đường Giêsu không? Nếu muốn, bạn cần những điều kiện nào nữa?

 

PS5-A50: Đường hy vọng

Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu? Nếu có một câu hỏi nào thường được các môn:PS5-A50

Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu? Nếu có một câu hỏi nào thường được các môn đệ đặt ra thì đó phải là câu hỏi thuộc về nơi chốn.
Thực vậy, thuở ban đầu, lúc mới gặp Chúa, các ông đã hỏi:
- Thưa Thầy, Thầy ở đâu?
Và rồi Chúa Giêsu đã trả lời:
- Hãy đến mà xem.
Trước bữa tiệc ly, các ông muốn biết một địa chỉ, một nơi chốn chính xác để mà chuẩn bị, nên đã hỏi Chúa Giêsu:
- Thưa Thầy, Thầy muốn chúng con ăn lễ vượt qua ở đâu?
Và hôm nay trước một tương lai còn mù mờ và bấp bênh, Tôma đã hỏi Chúa:
- Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường đi.
Sở dĩ các ông bận tâm về nơi chốn là vì trong quãng đời theo Chúa, các ông luôn được dẫn vào những cuộc hành trình, nay đây mai đó, không có một địa chỉ, một nơi chốn cố định:
- Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người thì không có cả chốn để mà tựa đầu.
Còn cuộc hành trình cuối cùng lại là cuộc hành trình tiến về Giêrusalem để chứng kiến Thầy mình chịu chết trên thập giá. Các ông đã coi đây là con đường thất bại của Chúa Giêsu, đồng thời đã trở nên con đường tuyệt vọng cho các ông. Mấy năm dài miệt mài theo Chúa những mong có ngày tả hữu vinh quang, nào ngờ Ngài lại bị đóng đinh như một tên tử tội… Đúng là dã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.
Khi mọi vốn liếng hy vọng đặt cả vào canh bạc cuộc đời, rồi bỗng dưng lật ngửa trắng tay. Các ông như từ trên cao rớt xuống. Hụt hẫng, chới với, chao đảo. Ước mơ bị sụp đổ, các ông như người bị phá sản. Thế mới hay mơ ước thì to lớn, nhưng khung đời lại chật hẹp. Mơ ước thật nhiều mà thực tế chẳng được bao nhiêu, nhiều lúc còn cay đắng phũ phàng.
Thầy đi đâu? Đằng sau câu hỏi này là tâm trạng hoang mang bất ổn trước một dĩ vãng vừa mới khép lại mà tương lai thì chưa kịp mở ra. Tương lai ấy hoàn toàn đổi mới hay chỉ là một dĩ vãng được lặp lai nơi chính bản thân mình. Đã một lần vỡ mộng, các ông băn khoăn là chuyện thường tình. Giống như đứa trẻ lỡ một lần bị phỏng, hễ thấy lửa, là tự nhiên rụt tay lại. Vì thế trong câu hỏi: Thầy đi đâu? Cũng nói lên nỗi âu lo rằng mình sẽ đi đâu? Thất vọng về dĩ vãng. Hoang mang trước tương lai đó là con đường các tông đồ đã nếm trải.
Thế nhưng, mở đầu đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, Chúa Giêsu đã khuyên nhủ các ông:
- Các con đừng xao xuyến.
Đó là một lời an ủi, mở ra một con đường mới, tràn ngập hy vọng và tin yêu. Thực vậy, Chúa Giêsu nói tiếp:
- Thầy đi để dọn chỗ cho các con.
Và như thế một tương lai đã được hé mở. Tương lai ấy không còn xa xôi, nhưng đã bén rễ ngay từ cuộc đời này. Sống hiện tại là chuẩn bị cho tương lai. Ngày mai đang bặt đầu từ hôm nay. Hay nói cách khác, cuộc sống trong nước trời phải được chuẩn bị, phải được định hình ngay từ bây giờ.
Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng tới một mục đích, chứ không phải sống một cách vất vưởng, như thuyền không lái, như ngựa không cương. Và mục đích chúng ta cần phải đạt tới là chính Thiên Chúa trong niềm hạnh phúc bất tận.
Để kết luận, tôi xin mượn lời cầu nguyện của thánh Augustinô:
- Lạy Chúa, Chúa dựng nên con là để cho Chúa, nên con luôn khắc khoải, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây