Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 51-100 Ta là Đường là Sự

Thứ sáu - 12/05/2017 10:53
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 51-100 Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 51-100 Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 5 PS-A Bài 51-100 Ta là Đường là Sự Thật là Sự Sống
PS5-A51: Điều không thể được đã có thể được trong Chúa Kitô. 2
PS5-A52: Xao xuyến. 3
PS5-A53: Trở nên hình ảnh Chúa Giêsu – Lm. Trần Ngà. 5
PS5-A54: Con đường mang tên Giêsu. 7
PS5-A55: Con đường. 9
PS5-A56: Chú giải của Noel Quession. 11
PS5-A57: Chú giải của Fiches Dominicales. 15
PS5-A58: CON ĐƯỜNG GIÊSU.. 17
PS5-A59: Đường Dẫn Tới Sự Sống. 19
PS5-A60: Con đường, sự thật và sự sống. 25
PS5-A61: NHƯ VIÊN ĐÁ XANH.. 27
PS5-A62: ĐƯỜNG CỦA CHÚA.ĐƯỜNG DẪN VỀ TRỜI 29
PS5-A63: Chúa Nhật V Phục Sinh. 31
PS5-A64: Cha của Đức Giêsu và Nhà của Ngài 34
PS5-A65: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 39
PS5-A66: CHÚA NHẬT V -PHỤC SINH 2002. 42
PS5-A67: Tôi Ở Đâu, Anh Em Cũng Ở Đó. 43
PS5-A68: CHỌN LỰA CON ĐƯỜNG.. 46
PS5-A69: CHÚA GIÊSU LÀ ÐƯỜNG DẪN ÐẾN SỰ SỐNG THẬT.. 47
PS5-A70: THẦY LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG.. 48
PS5-A71: HÃY TIN VÀO THẦY.. 50
PS5-A72: ĐƯỜNG ĐI CÓ CHÚA.. 51
PS5-A73: CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC.. 52
PS5-A74: ĐƯỜNG VỀ NHÀ CHA.. 54
PS5-A75: KHÁT VỌNG ĐỜI THƯỜNG.. 55
PS5-A76: BƯỚC VỀ NHÀ CHA.. 57
PS5-A77: TẠI SAO ĐỨC GIÊSU LẠI CĂN DẶN CÁC MÔN ĐỆ: 59
PS5-A78: CON ĐƯỜNG GIÊ-SU LÀ TIN YÊU VÀ PHỤC VỤ.. 63
PS5-A79: NHÀ CHA.. 68
PS5-A80: CON ĐƯỜNG ĐI TỚI CHÚA.. 70
PS5-A81: SỰ HIỆP THÔNG BỀN VỮNG.. 72
PS5-A82: Vững tin vào Thiên Chúa, không xao xuyến. 79
PS5-A83: CON ĐƯỜNG GIÊ-SU LÀ TIN YÊU VÀ PHỤC VỤ.. 81
PS5-A84: Chúa Giê-su, đường đến với Chúa Cha. 89
PS5-A85: NIỀM TIN VÀO ĐỜI SAU  FB.. 90
PS5-A86: Con Đường Giêsu. 92
PS5-A87: Đường Giêsu, Đường con đi 93
PS5-A88: Chúa Nhật 5 Phục Sinh. 96
PS5-A89: Đường Về Nhà Cha – Lm. Trịnh Ngọc Danh. 99
PS5-A90: Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. 102
PS5-A91: Về cùng Chúa. 104
PS5-A92: CHỖ Ở CỦA TA.. 106
PS5-A93: CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC.. 107
PS5-A94: Xao xuyến. 110
PS5-A95: Xin cho chúng con thấy Chúa Cha. 111
PS5-A96: Lưu giữ Kỷ niệm sống động về Đức Giêsu. 113
PS5-A97: Con đường sự sống. 115
PS5-A98: Tâm hồn anh em đừng xao xuyến. 118
PS5-A99: Cuộc đời là một chuyến đi 120
PS5-A100: NHỮNG LỜI CHÚA GIÊSU TÂM SỰ.. 121

 

PS5-A51: Điều không thể được đã có thể được trong Chúa Kitô

Đoạn này diễn tả cách gián tiếp điểm độc đáo và thâm sâu nhất của cuộc sống Kitô hữu, đồng:PS5-A51

Đoạn này diễn tả cách gián tiếp điểm độc đáo và thâm sâu nhất của cuộc sống Kitô hữu, đồng thời tóm tắt sứ điệp của Phúc Âm theo thánh Gioan. Nó thuộc về toàn bộ lời dạy của Chúa Giêsu nhằm cắt nghĩa về chính thân thế Ngài. Qua đó, Ngài cũng trình bày cho chúng ta rõ Ngài là gì đối với chúng ta và chúng ta phải làm gì đối với Ngài. Chúa Giêsu là người đích thật, giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi. Đồng thời Ngài thấm nhuần thực tại thần linh sống động đến mức giữa Ngài và Chúa Cha có sự duy nhất và đồng nhất về hữu thể, hiện hữu và bản tính. Đối với chúng ta, Ngài là mặc khải chính xác về Chúa Cha, tỏ bầy cá vị, lời nói, hành động của Chúa Cha. Liên kết với Chúa Giêsu là chúng ta liên kết với Chúa Cha. Đối với Ngài, chúng ta là những kẻ Chúa Cha đã ban cho và Ngài muốn rằng Ngài ở đâu chúng ta cũng được ở đấy với Ngài.
Ngài cầu nguyện và hành động để cho chúng ta được chia phần trong Ngài vào sự sống Chúa Cha thông ban. Ở đây chúng ta đứng trước một mầu nhiệm trí khôn không thấu suốt, nhưng cởi mở đón nhận sự dấn thân linh hoạt do đức tin thúc đẩy. Mọi trang của Phúc Âm thánh Gioan đều gợi ra những suy niệm bất tận. Khi đọc qua đoạn văn ngày hôm nay, chúng ta hãy dừng lại đây đó, như khi đi đường chúng ta thấy một phong cảnh mở rộng, làm cho tâm hồn chúng ta cũng như chân trời sáng ngời lên.
1) Tâm hồn các con thôi đừng bối rối. Các con tin nơi Thiên Chúa thì cũng hãy tin nơi Ta.
Điều này có nghĩa là trọng tâm của đức tin chúng ta chính là Ngài, con người Ngài, sứ điệp Ngài. Người ta có thể thắc mắc: làm sao Chúa Giêsu Kitô cũng là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một ai khác? Ở đây chúng ta chạm đến một trong những khía cạnh của mầu nhiệm Nhập Thể, nghĩa là mầu nhiệm Thiên Chúa đi vào thời gian và không gian, chịu các giới hạn nhân loại. Con Thiên Chúa, tuy vẫn còn chức phẩm mình, đã như thể tự thu hẹp theo kích thước của thực tại nhân loại. Chúa Giêsu muốn nói: Con người hữu hình của Ngài dễ cho chúng ta đặt lòng tin sống động hơn Thiên Chúa vô hình. Nhờ tin vào Ngài, Chúa Con, chúng ta có thể tin vào Chúa Cha. Mà tin vào Chúa Cha là ước nguyện thâm sâu nhất của con người bị đau khổ dày vò. Lòng tin sống động vào Chúa Giêsu Kitô và qua đó sự quy thuận Chúa Cha chẳng khiến sự bối rối xa lìa chúng ta, mang lại cho chúng ta an bình, vui mừng, sức mạnh sao?
2) Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống
Trong cuộc sống của con người vô thần, đường là một hệ thống tư tưởng hay một minh triết sự thật, là một chọn lựa trong số các ý kiến; sự sống là một hoạt động; một tình yêu mong manh, thường là một sự chịu đựng.
Đối với người theo Đức Kitô, sự dấn thân là một thông hiệp mở ra những lối bất khả. Nơi Đức Kitô, người Kitô hữu tìm thấy đường đi, lối thoát vượt qua biên giới của một thế giới khép kín vô vọng. Hơn nữa con đường ấy, chính Đức Kitô, là một lời mời gọi cất bước, tiến tới, đi lên không ngừng. Nơi Đức Kitô, người Kitô hữu khám phá được sự đáp ứng cho nhu cầu kỳ lạ của con người, là cảm thấy cần nương tựa vào một chân lý chắc chắn, nhưng còn để rộng chỗ cho việc tìm tòi. Hơn thế nữa, việc chắc chắn đã tìm thấy kích thích sự tìm tòi. Ngươi đã không tìm kiếm Ta nếu ngươi đã không gặp Ta rồi. Chân lý sống động không bao giờ là một sở hữu, nhưng cho người ta sự đảm bảo chân thực. Càng gặp Chúa Giêsu, càng tìm biết Ngài. Cần xác định, biết Đức Kitô trước hết là sống bởi Ngài. Khi sống bởi Đức Kitô, các thực tại tự nhiên của cuộc sống có thay đổi không? Không. Người Kitô hữu có một hoạt động nhân loại và thực tế như mọi người, nhưng hoạt động ấy có được một linh hồn. Có một cách suy nghĩ, chọn lựa mục đích, gặp gỡ người khác… do sự hiện diện của Đức Kitô trong cuộc sống điều khiển. Chúng ta có biết ngạc nhiên về việc trong Đức Kitô điều bất khả thi đã được biến thành điều khả thi hay không?

 

PS5-A52: Xao xuyến

Con tàu ra khơi thì gặp phải giông bão. Gió to và sóng lớn. Mọi hành khách đều hốt hoảng. Chỉ : PS5-A52

Con tàu ra khơi thì gặp phải giông bão. Gió to và sóng lớn. Mọi hành khách đều hốt hoảng. Chỉ một mình em nhỏ vẫn bình tĩnh ngồi chơi nơi xó góc. Người ta hỏi em tại sao thì em trả lời: Làm sao tôi có thể sợ hãi đang khi ba tôi là người điều khiển con tàu. Cũng thế trong một cuộc động đất, người ta thấy một bà già hăng say giúp đỡ các nạn nhân, mặc dù nhà cửa của bà cũng đã bị sụp đổ. Người ta hỏi bà tại sao lại không lo lắng sợ hãi, thì bà trả lời: Thiên Chúa quyền năng. Người làm được mọi sự và Ngài luôn lo liệu cho tôi những sự tốt đẹp nhất.
Từ hai mẩu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay với lời khuyên nhủ của Chúa: Các con đừng xao xuyến. Băn khoăn xao xuyến là một cái gì đụng đến trái tim, là phần sâu thẳm nhất của con người. Có ai trong chúng ta đã không từng bị băn khoăn, xao xuyến và lo lắng?
Các môn đệ đã xao xuyến khi các ông được nghe biết về sự phản bội của Giuđa, về sự chối bỏ của Phêrô, về cái chết gần kề của Chúa Giêsu. Những biến cố kinh hoàng này đã ảnh hưởng đến đời sống các ông, phá vỡ những gì các ông đã xây dựng, đã vun trồng. Phải xa cách Thầy, phải đương đầu với một thế gian thù nghịch, tất cả những điều ấy đã làm cho các ông lo lắng và xao xuyến.
Không phải chỉ các môn đệ mới lo lắng và xao xuyến, mà chính Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần lâm vào một hoàn cảnh như thế. Ngài đã xao xuyến khi thấy Maria và những người Do Thái khóc nức nở bên nấm mồ Lagiarô. Ngài đã xao xuyến khi thấy giờ Ngài được tôn vinh qua đau khổ và cái chết đã đến: Giờ đây, tâm hồn Thầy xao xuyến, Thầy biết nói gì. Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Ngài đã xao xuyến khi loan báo về việc phản bội của một người môn đệ.
Như thế, Chúa Giêsu không phải là một con người sắt đá, hay đã tôi luyện cho mình một thái độ vô cảm trước những nỗi đau của bản thân và của người khác. Trái lại, Ngài cũng có một trái tim như chúng ta. Và trái tim ấy cũng đã thổn thức và xót thương, cũng đã lo lắng và xao xuyến. Vì thế, Ngài rất hiểu và cảm thông với chúng ta.
Xao xuyến và băn khoăn là một tâm trạng bình thường, đó không phải là một tội, nếu nó không đưa chúng ta đến chỗ sợ hãi mà bỏ cuộc, không chu toàn thánh ý Chúa. Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu cũng đã băn khoăn lo lắng, nhưng Ngài đã vượt thắng những băn khoăn lo lắng ấy, Ngài đã can đảm chấp nhận thập giá, không lùi bước trước khổ đau và hiểm nguy.
Chúng ta không xin cho mình tránh khỏi mọi xao xuyến nhưng dạy chúng ta vượt qua những xao xuyến ấy bằng niềm tin: Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Chính niềm tin sẽ đem lại cho chúng ta sự bình an. Thực vậy, hiểm nguy vẫn còn đó, khổ đau vẫn còn đó, nhưng chúng ta luôn an tâm vì biết rằng quyền năng và tình thương của Chúa còn lớn hơn mọi sóng gió như muốn nhận chìm con người và cuộc đời chúng ta.

 

PS5-A53: Trở nên hình ảnh Chúa Giêsu – Lm. Trần Ngà.

Nhiều lần Chúa Giêsu nói về Chúa Cha khiến các môn đệ đâm ra tò mò. Chúa Cha là Ai? : PS5-A53

Nhiều lần Chúa Giêsu nói về Chúa Cha khiến các môn đệ đâm ra tò mò. Chúa Cha là Ai? Ngài ở đâu? Ngài là Đấng thế nào?
Thế nên Philípphê mới đề nghị với Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện."
Dùng ngôn ngữ vốn rất hạn hẹp của con người để diễn tả mầu nhiệm cao vời về Chúa Cha thì khác chi lấy gang tay đo chín tầng trời. Vì vậy, thay vì dùng lời để diễn giải, Chúa Giêsu dùng phương pháp trực quan. Ngài chỉ cho Philípphê cũng như các môn đệ xem chân dung, xem hình ảnh đích thực của Thiên Chúa Cha. Chân dung đó, hình ảnh đó chính là Ngài: "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha".
Tiếp theo, Chúa Giêsu cũng tỏ cho các môn đệ biết giữa Ngài và Chúa Cha có một mối hiệp thông hết sức mật thiết. Những lời Chúa Giêsu nói chính là những lời của Chúa Cha được phát ra qua môi miệng Chúa Giêsu: "Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14,10). Những gì Chúa Giêsu thực hiện trong cuộc đời đều cũng là những hành động của Chúa Cha...
Thế là Chúa Cha tự tỏ mình qua Chúa Giêsu. Nhìn vào Chúa Giêsu, nhân loại sẽ biết được Thiên Chúa Cha.
***
Thánh A-tha-na-si-ô đã diễn tả chân lý nầy như sau: "Chúa Cha được bày tỏ qua Chúa Con và Chúa Con được bày tỏ qua Giáo Hội." Nói khác đi, Chúa Con là hình ảnh trung thực của Chúa Cha, còn Giáo Hội là hình ảnh trung thực của Chúa Con, và chúng ta, vì là thành phần của Giáo Hội, nên cũng phải là hình ảnh trung thực của Chúa Giêsu.
***
Theo nhật báo Chứng Nhân kitô hữu (Témoignage Chrétien), vào năm 1941 có một vị linh mục bị Đức Quốc Xã giam trong trại tập trung dành cho người gốc Do thái. Như bao tù nhân khác, ngài cũng bị hành hạ và ngược đãi thậm tệ. Tuy nhiên ngài vẫn vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ anh em đồng cảnh ngộ đang lâm vào tình trạng khủng hoảng và tuyệt vọng.
Trong cảnh tù đày đói khát, một vụn bánh còn quý hơn vàng, vậy mà ngài dám chia sớt phần ăn ít ỏi của mình cho những bạn tù yếu sức hơn.
Những lúc trời rét buốt xương, tấm áo len được xem là kho tàng vô giá, thế mà có lần ngài tặng không chiếc áo len đang mặc cho bạn tù đang lâm trọng bệnh nằm run cầm cập trong xó nhà.
Ngài là nhịp cầu yêu thương giữa những kẻ bất hoà, đem sự khích lệ tinh thần cho những tâm hồn sầu muộn... Ngài đã cứu được mấy bạn tù tuyệt vọng khỏi tự huỷ mình nhờ những khuyên lơn an ủi... Vì thế, các tù nhân trong trại rất yêu quý và xem ngài như người cha thứ hai. Họ đều gọi ngài cách thân thương là... Bố.
Trong trại tù còn có một thanh niên bụi đời, lớn lên nơi đầu đường xó chợ, căm hờn mọi người, không ngần ngại phạm bất kỳ tội ác nào.
Vị linh mục khả ái từng bước tiếp cận, trò chuyện, giúp đỡ, khuyên răn, và cuối cùng đã cảm hoá được chàng thanh niên chai đá và tưởng chừng như vô phương cứu chữa nầy. Ngài cũng mong ước dần dần dẫn dắt cậu về với đạo thánh Chúa.
Thế rồi, một hôm, có lệnh chuyển cha sang trại Ao-sơ-vích (Auschwitz), một trại tập trung mà chỉ mới nghe danh xưng, mọi trại viên đều phải kinh hoàng. Đó là lò hủy diệt con người bằng những hầm hơi ngạt và lò thiêu xác.
Trước khi chia tay với các bạn tù và đặc biệt với cậu thanh niên mới hoàn lương, ngài quyết định phải giới thiệu đôi nét về Chúa Giêsu cho cậu với hy vọng cậu sẽ trở thành người con Chúa.
Ngài vỗ vai cậu và ôn tồn nói "Này, con yêu của Bố, đã từ lâu Bố rất mong con nhận biết và trở thành môn đệ Chúa Giêsu."
Cậu thanh niên thưa lại: "Nhưng con chưa biết gì về Chúa Giêsu cả. Bố có thể kể sơ lược về Ngài cho con biết được không?"
Biết mình không còn thời gian để giới thiệu dông dài vì giờ chuyển trại sắp đến, vị linh mục già thinh lặng cúi đầu, cầu nguyện giây lát, rồi ngài ngẩng lên khiêm tốn đáp: "Chúa Giêsu mà Bố muốn cho con tin và yêu mến, Ngài giống như Bố đây!"
Bấy giờ cậu thanh niên nhìn thẳng vào mắt ngài cách trìu mến và chân thành đáp lại: "Nếu Chúa Giêsu mà giống Bố thì có thể một ngày nào đó, con sẽ tin và yêu mến Chúa Giêsu!"
Sau thế chiến thứ hai, người ta không còn gặp lại vị linh mục nầy nữa. Còn cậu thanh niên thì được sống sót qua các trại tập trung trở về với gia đình và đã thuật lại câu chuyện trên đây về một mục tử đã thực sự trở thành hình ảnh trung thực của Chúa Cứu Thế. Cũng chính nhờ hình ảnh Chúa Giêsu ngời sáng lên nơi con người và cuộc đời của vị mục tử tốt lành nầy, chàng thanh niên được cảm hoá và trở thành người con Chúa.
Lạy Chúa Giêsu,
Đã bao lần chúng con làm cho khuôn mặt Chúa trở méo mó, biến dạng và có thể là rất khó thương vì đời sống không đẹp của chúng con.
Xin cho chúng con biết nhìn lên Chúa như một khuôn mẫu tuyệt vời để đào tạo bản thân mình thành con người mới, có phẩm chất cao đẹp, có đạo đức và văn hoá để nhờ đó, chúng con trở thành hình ảnh trung thực về Chúa cho thế giới hôm nay.

 

PS5-A54: Con đường mang tên Giêsu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Theo Báo Thanh Niên số 69 ngày thứ ba 30.4.1996, Thành phố Hồ Chí Minh đang tiến hành: PS5-A54

Theo Báo Thanh Niên số 69 ngày thứ ba 30.4.1996, Thành phố Hồ Chí Minh đang tiến hành công việc chỉnh đổi tên đường trên địa bàn toàn thành phố. Bởi vì trong hơn 1000 con đường của thành phố có khoảng 100 con đường trùng tên và hơn 300 con đường mang số. Đợt đổi tên này sẽ đặt tên mới cho các con đường trên. Ngoài ra, một số nhân vật lịch sử trước kia có tên đường, nhưng đã bị huỷ bỏ, nay có thể sẽ được phục hồi, như gần đây đã phục hồi tên đường cho Giáo sĩ Alexandre de Rhodes.
Tới đây, dự kiến sẽ có con đường mang tên Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình. Con đường TGM. Nguyễn Văn Bình sẽ thay thế đường Nguyễn Hâu, nối liền đường Hai Bà Trưng với bên hông Nhà Thờ Chính Toà và Công Xã Paris với công viên Nữ Vương Hoà Bình trước mặt tiền Vương Cung Thánh Đường Đức Bà.
Có một con đường thật danh tiếng và luôn luôn nổi tiếng, không thể thay đổi được, từ hai mươi thế kỷ nay, trong Giáo Hội chúng ta ai cũng biết, đó là con đường mang tên Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống”. Trả lời cho ông Tôma, đồng thời Chúa Giêsu để lộ cho biết từ nay chỉ có một con đường duy nhất được mở ra trong ơn Cứu Độ, và tên gọi con đường ấy chính là Ngài.
Ngài là Đường Sự Thật, bởi Ngài là Chân Lý, một chân lý sống động khả tín làm nền tảng và hướng đi cho mọi cuộc đời, một thực tại năng động đầy Thần Khí làm sức mạnh giải thoát cho mọi kẻ tin. Đường Sự Thật không phải là một hệ thống giáo điều, nhưng là toàn thể cuộc sống, lời nói và việc làm của Chúa Giêsu trong ý nghĩa cứu độ. Nhưng đâu phải ai cũng nhận ra con đường Sự Thật này. Tổng trấn Philatô, giữa phiên toà dịp lễ Vượt Qua, trước mặt Chúa Giêsu, đã hỏi một câu ngớ ngẩn: “Sự thật là gì?”. Chúa Giêsu không trả lời. Vì hỏi là đã trả lời rồi: Sự thật hiện thân chính là Ngài đang đứng đó. “Ta là Sự Thật”.
Ngài là Đường Sự Sống, bởi vì Ngài là Sự Sống thượng nguồn phát sinh các sự sống khác trong công trình sáng tạo, và là sự sống cội nguồn mà mọi sự sống khác phải tìm về trong công cuộc tái tạo của ơn Cứu Độ. Ngài thông ban sự sống cho mọi sinh linh và luôn đi bước trước để lôi kéo mọi người về với sự sống của Thiên Chúa. Ngài chịu chết để nhân loại được sống và Ngài sống lại để mãi mãi mở ra nẻo đường dẫn vào cõi sống. Mọi sự sống trần gian có thể đổi thay tan biến, nhưng sự sống Ngài là vĩnh cửu thường tồn. Ngài hằng sống hằng trị muôn đời.
Ngài là Đường dẫn tới Nhà Cha, bởi vì Ngài và Cha là một. Chúa Con ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Chúa Con. Vẫn là một từ ngàn xưa và mãi mãi là một tới ngàn sau. Chính Ngài quả quyết: “Con đường dẫn đến Chúa Cha chính là Thầy”. “Không ai đến được Cha mà không qua Thầy”. “Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Cho nên đường mang tên Giêsu tất yếu cũng là địa chỉ Nhà Cha, và ngược lại, tìm đến Nhà Cha cũng là hành trình vào đường Sự Thật và Sự Sống.
Thưa anh chị em,
Dẹp bỏ con đường cũ của thất vọng hoang mang để khai mở con đường mới, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cất bước lên đường theo Ngài. Đi trên Đường Giêsu là đi bằng cả niềm tin gắn bó hiệp thông của những con người biết mình có một lý tưởng để theo đuổi, và sẵn sàng hy sinh tất cả để đạt được lý tưởng ấy. Trút bỏ những hành trang cồng kềnh của danh lợi thú, đoạn tuyệt với những ngõ cụt lối mòn của cuộc sống khô khan, chấp nhận canh tân để có được bước đi vừa thanh thoát vừa thanh thản của đời nhân đức, chính là “hát lên khúc ca mới trên con đường mới” (Thánh Augustinô). Vì lý tưởng ấy chính là lẽ sống, cũng chính là vinh dự một đời: “Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là chủng tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa” (Bài đọc 2).
Đi trên Đường Giêsu cũng là đi bằng niềm hy vọng bền vững. “Thầy đi dọn chỗ cho các con”. Vận mệnh tương lai đã mở ra. Không còn xa xôi tít tắp, nhưng đã châm rễ từ cuộc đời này. Sống hôm nay là chuẩn bị sống ngày mai, và ngày mai tại Nhà Cha đã được định hình ngay từ hôm nay trên bước đường lữ thứ của Hội Thánh giữa lòng đời. Đi trong hy vọng là nhận ra rằng con người được tạo dựng để hướng về một cứu cánh, được tái sinh trong giới hạn nhưng không ngừng hướng về vô hạn. Thiết tưởng lời kinh của Thánh Augustinô có thể tóm kết của bước đi hy vọng đã biến thành khát vọng: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con đẻ cho Chúa, nên con mãi khắc khoải cho tới khi được nghỉ ngơi trong Ngài”.
Đi trên Đường Giêsu còn là đi bằng cả tình yêu chan hoà phục vụ. Bài đọc thứ nhất là hình ảnh đẹp về một Giáo Hội trẻ đang cựa mình vươn vai tiến tới. Có những phân công khác biệt: kẻ phục vụ Bàn Thánh, người phục vụ bàn ăn; kẻ chuyên chăm rao giảng Lời Chúa, người chuyên lo hạnh phúc anh em. Nhưng vẫn là nhịp bước đồng hành đặt chân mình trong dấu chân Chúa Giêsu. Và cũng có thể hiểu được rằng: “Con người là con đường của Giáo Hội” (Gioan Phaolô II), là đối tượng mà Giáo Hội yêu mến và phục vụ đến hơi thở cuối cùng, như Chúa Giêsu đã sống. Đó chính là tốc độ mới của tình yêu chan hoà phục vụ trên Con Đường Giêsu hôm nay.
Anh chị em thân mến,
Nếu mai ngày thành phố chúng ta có một con đường mang tên Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình bên cạnh Nhà Thờ Chính Toà thì đó là điều chính đáng. Vì Đức Tổng Giám Mục luôn đặt từng bước chân của Ngài vào đúng vết chân của Chúa Giêsu trên dòng lịch sử dân tộc và thế giới, với niềm xác tín rằng: bước theo dấu chân Ngài là sẽ gặp được niềm vui xum họp đông đủ với mọi người anh em trong Nhà Cha chúng ta trên trời.
Con Đường mang tên Giêsu hôm nay là Con Người sống động đang hiện diện ở đây, trong Thánh lễ này. Ngài lấy Lời Ngài làm ánh sáng chiếu soi Chân Lý và lấy Mình Máu Ngài làm lương thực dưỡng nuôi sự sống. Như thế, Thánh lễ phải là đỉnh cao của lời tuyên xưng: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”, đồng thời là khởi điểm cho hành trình chung bước với Chúa Giêsu trên đường yêu thương phục vụ.

 

PS5-A55: Con đường

Họa sĩ Broulette đã vẽ một loạt ba bức tranh để diễn tả điều đã nhìn thấy trong đời sống văn: PS5-A55

Họa sĩ Broulette đã vẽ một loạt ba bức tranh để diễn tả điều đã nhìn thấy trong đời sống văn minh hiện đại. Bức tranh thứ nhất vẽ một người đàn ông điên loạn đang cố gắng tìm kiếm một miếng giấy quan trọng trong căn phòng bề bộn. Tất cả những ngăn kéo đã mở toang ra, giấy tờ ném bừa bãi khắp nơi, Khăn trải giường rách nát, các bức tranh rơi xuống khỏi vách tường. Một tên quỷ đang đi theo con người điên loạn đó. Tay nó nắm giữ tờ giấy quan trọng ông đang tìm kiếm một cách tuyệt vọng.
Bức tranh này diễn tả con người thời đại đang mải miết kiếm tìm một điều thần diệu mang lại hạnh phúc cho họ trong cuộc đời. Có lẽ tờ giấy đã bị mất sẽ không bao giờ được tìm thấy, nhưng trên con đường tìm kiếm, nhiều người đã thử tìm trong men rượu, sắc dục, cờ bạc… mà chẳng bao giờ thấy hạnh phúc.
Bức tranh thứ hai diễn tả một người đàn ông xanh xao gầy còm hốc hác với một cái xuổng đang nỗ lực đào bới trong cánh đồng bát ngát. Đàng sau lưng, ông để lại vô số những cái lỗ đã tốn công đào bới. Và bên cạnh mỗi cái lỗ là một chiếc hộp mở nắp ra, bên trong hoàn toàn trống rỗng.
Bức tranh này cho thấy một con người đang đi tìm kiếm mục đích của cuộc đời, nhưng chẳng tìm thấy cái nào mang lại hạnh phúc. Con người luôn đi tìm kiếm điều gì lớn lao và tốt đẹp hơn. Tôi phải có cái này, cái kia, thì cuộc đời mới đầy đủ. Cuộc đời luôn thúc đẩy, lôi kéo con người vào một nhu cầu mới, và chẳng bao giờ có được một giây phút để tận hưởng cái mình đang có.
Bức tranh thứ ba vẽ về một người bị bịt miệng và bị trói vào một cái ghế, với đôi con mắt trợn trừng kinh khiếp nhìn đăm đăm vào một tên cướp đang thu dọn tất cả những đồ đạc có giá trị trong căn phòng của mình.
Bức tranh này chứng tỏ những nỗ lực vô ích của một người tìm kiếm hạnh phúc qua của cải vật chất trong cuộc đời. Sau cùng thần chết sẽ cướp đi tất cả mọi sự.
Bài Phúc âm hôm nay, là những lời chỉ đạo cho các tông đồ khi cuộc đời của họ bước vào một giai đoạn mới: cuộc đời sau cái chết của Chúa Giêsu với bối cảnh thù nghịch từ phía xã hội, trong tâm trạng hoang mang lo sợ của họ. Phải làm sao bây giờ? Đâu là ý nghĩa cuộc đời? Chúa Giêsu đã cho họ những hướng dẫn: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”.
Thầy là đường
“Nếu Tin Mừng là mạc khải sự thật rằng đời sống con người là cuộc lữ hành về nhà Cha, thì Tin Mừng cũng đồng thời là tiếng gọi tới đức tin cho phép ta lên đường như những lữ khách. Tin Mừng đòi ta một niềm tin của kẻ lữ hành”.
Gerhard Frost đã dùng một ví dụ như sau: “Hãy tưởng tượng bạn đi bộ ngang qua nhà hàng xóm. Cả gia đình đang chất hành lý lên xe hơi để đi nghỉ hè. Họ có ba người con đều dưới năm tuổi đang ngồi trong xe mini-van nóng lòng chờ ba má hoàn tất mọi sự để lên đường. Bạn bước tới chiếc xe mini-van, thò đầu vào trong cửa sổ và hỏi: “Các cháu sẽ đi đến đâu?” Chúng chẳng biết gì! “Các cháu sẽ lấy xa lộ nào?” “Tối nay, các cháu sẽ ăn cơm ở đâu?” Chúng cũng chẳng biết! Nhưng nếu bạn hỏi: “Các cháu sẽ đi với ai?” Các bé reo lên: “À, với ba mẹ!”
Các em bé không biết chính xác là đi đâu, không biết cả đường đi, cũng không biết sẽ ăn uống ngủ nghỉ ở đâu, nhưng biết chắc chắn rằng mình sẽ đi với ai. Niềm tin tưởng vào ba má là tất cả vấn đề. Ba má sẽ săn sóc, dẫn đưa các bé đi tới nơi tới chốn bình an.
Thiên Chúa cũng không trả lời tất cả các câu hỏi, các chi tiết hay thắc mắc về điều gì sẽ xảy ra, nhưng Người ban cho chúng ta chính Con Một của Người, Đức Giêsu Kitô, vừa là người hướng dẫn, vừa là con đường cho chúng ta đi. “Chúa Giêsu là con Thiên Chúa và cùng bản thể với Chúa Cha. Là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Ngài đã làm người để trở nên con đường dẫn ta về với Cha.

 

PS5-A56: Chú giải của Noel Quession.

Trước khi rời khỏi thế gian này để về cùng Chúa Cha. Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Lòng anh em đừng xao xuyến".

Trang Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng: PS5-A56

Trang Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương: Đức Giêsu vừa loan báo sự phải bội của Giuđa và y đã đi ra khỏi căn phòng vào đêm tối bên ngoài (Ga 13,21-30); rồi Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Ga 13,31-36). Sau cùng, đầy nỗi lo sợ, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Người "ba lần" trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Ga13,37-38). Như thế, người ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng đang xiết chặt mọi tâm hồn và tư tưởng các môn đệ. Trong đời sống của chúng ta cũng thế có chăng giờ phút sự sợ hãi kinh hoàng ập xuống trên chúng ta. Một tương lai bấp bênh, một thiệt hại không vượt qua được, những suy sụp của tuổi già, một căn bệnh không thể chữa khỏi Và còn có những sợ hãi tập thể: sự thất nghiệp. Bao lực, nạn nhân mãn, nạn đói, sự ô nhiễm môi trường những nguy cơ của nguyên tử. Và trong bối cảnh khủng hoảng ấy, những câu hỏi nghiêm trọng mà mọi tín hữu chân chính phải đặt ra: Những giá trị cao cả của con người chẳng phải đang bị xoá nhòa đó sao? Nhân loại ngày mai sẽ tin vào điều gì? Và một ngọn gió hoảng sợ cũng xâm chiếm những tín hữu mạnh mẽ nhất và người ta lẩm bẩm rằng trong Giáo Hội cũng không có gì là ổn cả.
Chính trong bối cảnh nhân loại như thế mà tính lạc quan không gì thắng nỗi của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối! Chỉ còn mấy giờ nữa Người phải lên thập giá thế mà Người đã cố sức vực dậy tinh thần của các bạn hữu của Người: "Lòng anh em đừng xao xuyến!” Chúng ta hãy lắng nghe những lý do Người sẽ đưa ra để chúng ta không bao giờ còn sợ nữa về bất cứ điều gì.
"Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy".
Đức Giêsu yêu cầu các bạn hữu đang xao xuyến của Người hướng cái nhìn về một hướng duy nhất: Đức tin thâm sâu của Đức Giêsu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi không dựa trên sức người, nhưng dựa trên Thiên Chúa. Tất cả, không chừa môt ai đều có thể suy sụp, chỉ có Đức Giêsu nắm giữ sự trợ giúp siêu nhiên nằm bên ngoài ảnh hưởng của mọi sức mạnh phá hoại. Cái chết cũng không thể phá hủy sự bình an của Người: Sự bình an của Người không do sức con người mà do Thiên Chúa! Vả lại, chúng ta nhận thấy rằng Đức Giêsu đòi hỏi đối với bản thân Người một thái độ đđc tin mâ người ta có thể có đối với Thiên Chúa. Tính duy lý của con người vỡ tung như một nhân nguyên tử, dưới sức ép khó quan niệm nổi của cái vô cùng thánh thiêng: Làm thế nào mà Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một Đấng khác mình? Và điều đó mang lại công thức làm ngạc nhiên: “Hãy tin vào THIÊN CHÚA, Hãy tin vào THẦY” Vậy thì Người là ai để nói như thế?
"Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em".
Phải, đó là mầu nhiệm không thể hiểu thấu của Nhập Thể Đức Giêsu với tư cách con người, phân biệt không ngừng với Thiên Chúa! Người nói về Thiên Chúa như thể đó là một Đấng Khác (Tha Thể Tuyệt Đối). Người nói về Chúa Cha. Không bao giờ Đức Giêsu hướng cái nhìn của con người về chính mình. Không bao giờ Đức Giêsu lôi kéo sự tôn kính hay thờ phượng về bản thân Người: Người hoàn toàn hướng về một Đấng Khác; và Người muốn xoay hướng chúng ta về Đấng Khác ấy, Đấng Hoàn Toàn Khác, Đấng mà chưa có ai đã từng trông thấy, tức là Chúa Cha. Như thế, Đức Giêsu đối diện với cái chết của Người, sự ra đi khỏi thế gian này, như một sự trở về nhà mình; Người sẽ tìm lại nơi đó một Đấng mà Người yêu mến và mến yêu Người. Đức Giêsu biết mình được yêu.
Sau những lời làm vỡ tung lý trí, giờ đây là những lời hoàn toàn thân mật, những lời thường nói mỗi ngày: nhà, chỗ ở, dọn chỗ…
Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy”.
Đây là những lời dịu đàng không tả nổi: "Đem về với Thầy, trở lại …” Thiên Chúa tất nhiên là Đấng Hoàn Toàn khác không thể đạt đến được nhưng cũng là Đấng rất thân thiết. Chúng ta không có một Thiên Chúa dửng dưng và lãnh đạm, nhưng là một người Cha đầy tình âu yếm, một người Anh để cho những nỗi lo sợ của chúng ta làm thương tổn và Người nói với chúng ta những lời an ủi và thân ái.
"Để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó".
Chúng ta chớ lướt qua nhanh quá trên những lời xem ra có vẻ đơn giản và thân mật một cách ngây thơ. Có cả một thần học được diễn tả xuyên qua mạc khải ấy. Khi dám nói rằng “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó". Đức Giêsu mở ra cho nhân loại một viễn cảnh có âm vang vô tận, siêu nhân, siêu nhiên: Chính "đời sống thánh thiêng" được ban cho chúng ta. Mục đích của con người không còn ở trong con người, mà ở trong Thiên Chúa? Nhân loại đi về hướng có Đức Giêsu ở đó. Con người đã được lập trình để trở thành "như Thiên Chúa". Người ta hiểu được lời Người nói: “Lòng anh em đừng xao xuyến!".
“Và Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi". Ông Tôma nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”.
Đây là một điệp khúc: "Thầy đi”, “chúng con không biết Thầy đi đâu...". Đó là câu hỏi nền tảng của nhân loại mà Tôma dũng cảm đặt ra nhân danh chúng ta. Chúng ta sẽ đi về đâu? ý nghĩa, mục đích sau cùng của đời sống là gì? Có cái gì sau khi chết?
Đức Giêsu đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”.
Đối với Đức Giêsu, chân trời không bao giờ bị ngăn chặn, gây ra sự tuyệt vọng.
Đối với người tin, ai chấp nhận lời Đức Giêsu, lịch sử sẽ có một ý nghĩa, đời sống sẽ không còn phi lý nữa. Đức Giêsu là "người mở đường", Người đã mở ra một lối thoát cho các hữu hạn và cho đăc tính phải chết của con người. Không có Đức Kitô con người bị giam hãm trong những giới hạn của mình. Với Người, và chỉ với Người, như Người khẳng định có một con đường không dẫn tới cái hố đen của nấm mộ, nhưng về "nhà của Chúa Cha".
“Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng sẽ biết Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người”.
Câu này của Thánh Gioan là một câu làm hiện ra tính không thể diễn tả của Thiên Chúa, sự "mạc khải” này vẫn còn một phần "không thể quan niệm được": ánh sáng... nhưng vẫn còn một thứ ánh sáng của đêm tối... ánh sáng của đức tin.
Thật vậy, câu này gồm hai khẳng định bề ngoài trái ngược nhau: Anh em cũng (sẽ) biết Cha của Thầy (ở thì tương lai)... bây giờ, anh em biết Người (thì hiện tại).
Rõ ràng là Thiên Chúa không hiển nhiên và thật ra, chúng ta không biết Người. Người ta cũng có thể nói rằng chúng ta hiểu được Người! rõ ràng có một thứ hồ nghi. Không chắc chắn đã xuất hiện trong câu hỏi của Tôma: “chúng con không biết...". Tình cảnh của chúng ta hiện nay đúng là như thế. Có thể một ngày nào dó, chúng ta sẽ biết Thiên Chúa. Sự vô tri về Thiên Chúa hôm nay, sẽ biến đổi thành tri thức, như lời Đức Giêsu nói: Anh em sẽ biết Người! Vả lại trong Đức Giêsu, sự hiện diện vô tri của Thiên Chúa chịu một "cú sốc của tương lai" đến độ những thực tại phải đến đã trở thành hiện tại: "Ngay từ bây giờ, anh em biết Thiên Chúa và đã thấy Người?". Có thể nói rằng, bằng một cảm thức siêu nhiên, tương lai được tiên cảm trong hiện tại đối với những người tin Đức Giêsu: thời sau hết đã ở đó, mặc dù chưa hoàn tất. Giáo Hội, nơi cư ngụ của các tín hữu đã trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa ở giữa con người" (Kh 21,3). Một ngày nào đó, chúng ta sẽ có một sự hiểu biết nào đó về Chúa Cha, còn bây giờ chúng ta đã hiểu biết Chúa Cha qua bức màn của đức tin. Đó là điều mà các nhà thần học gọi là cánh chung? Tương lai được cảm nghiệm trước trong lòng của các tín hữu, trong Đức Giêsu Kitô.
Ông Philípphê nói: ' Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện". Đức Giêsu trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?”.
Mới rồi, chúng ta vừa nghe Đức Giêsu phân biệt Người với Chúa Cha. Giờ đây dường như Người đồng hóa với Chúa Cha. Đức Giêsu đi về với Chúa Cha, Người là con đường dẫn đến Chúa Cha và đồng thời, Người ở trong Chúa Cha và ai thấy Đức Giêsu là thấy Chúa Cha Đức Giêsu là một con người, nhưng một con người "chứa đầy Thiên Chúa" một con người Thiên Chúa! Chúng ta phải để những từ có vẻ đơn giản ấy thấm nhuần chúng ta: "Thầy ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong Thầy... Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy...".
Phải, đâu có một con người là Giêsu Nagiarét, sống cách nay hai ngàn năm trong một tổng nhỏ ít người biết đến của Đế quốc La Mã, một con người bằng xương bằng thịt đã đứng trên đôi chân của mình và trên một miền đất xác định, đất Israel, một con người có những bạn hữu, một con người ăn uống như mọi người; một người sắp chết như mọi người; và con người này lúc này đây hiệp thông với Thiên Chúa và đồng nhất với Thiên Chúa và hoàn toàn không là một kẻ điên. Một con người quân bình tột bậc, khiêm tốn, không tham vọng và kiêu ngạo: một con người vừa mới quỳ gối trước các bạn hữu để rửa chân cho họ như một tôi tớ bình thường vào thời đó... đồng thời giao nộp thân thể tan nát, và đã đổ máu ra vì họ.
Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.
Thiên đàng không phải là môt sự chạy trốn vào một giấc mơ của tương lai hoang tưởng. Thiên đàng không phải một miếng đường được hứa ban cho sau này để bỏ qua chua cay hiện tại. Thiên Chúa không phải là một thứ thuốc phiện dùng để ru ngủ những đau khổ cho một cuộc đời.
Một thiên đàng đã bắt đầu và được cảm nghiệm bởi những người "làm những việc Đức Giêsu làm": Có một cách nào đó để suy nghĩ, để chọn lựa, để gặp gỡ Thiên Chúa và con người, một cách sống nào đó công chính là cách sống của Đức Giêsu.

 

PS5-A57: Chú giải của Fiches Dominicales.

TA LÀ ĐƯỜNG LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Đường về với Chúa.

Cũng giống như Chúa nhật tới, bài Phúc âm Chúa nhật thứ 5 Phục Sinh hôm nay trích từ: PS5-A57

Cũng giống như Chúa nhật tới, bài Phúc âm Chúa nhật thứ 5 Phục Sinh hôm nay trích từ chương 14, diễn từ sau bữa tiệc ly, với những từ như "ra đi", "đi tới", "trở lại”, “con đường”. A.Marchadour minh định chương này ("được kết cấu xung quanh cuộc trở về với Chúa Cha của Chúa Cha vai trò độc nhất của Chúa Con trong việc đưa dẫn huynh đệ của mình về với Chúa Cha. (Tin Mừng Gioan, Centurion, 1992, p. 190) những lời loan báo liên tiếp về việc Giuđa phản bội (“một trong các con sẽ phản Thầy":14,2) về cuộc ra đi dứt khoát của riêng Ngài ("Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa” 13,38) và về việc Phêrô chối thầy (trước khi gà gáy, con đã chối ta ba lần: l3,38) đã khiến các môn đệ hoang mang - Dufour nhận xét "sự hoang mang ấy không chỉ vì phải xa cách Người thực sự cần thiết cho đời họ, mà cũng còn vì nỗi thất vọng sâu xa khi lượng giá công việc của Chúa Giêsu mà họ đang trông mong kết quả" (Đọc Tin mừng theo thánh Gioan, tập 3, Seuil, 1993, tr 90). Do đó mới có lời Đức Giêsu kêu gọi: "Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy chớ gì họ cậy dựa vững vàng vào lời Ngài và vào chính Ngài. Dufour viết tiếp: "Đức Giêsu dựa trên niềm tin của người Do thái, và những người không bao giờ tự coi mình độc lập trong mối liên hệ với Thiên Chúa, Đấng ban cho thụ tạo sự kiên vững của đá tảng, Ngài cũng dựa vào niềm tin vào chính mình Ngài, nếu họ còn có thể theo Ngài, các môn đệ chỉ dựa vào Ngài, như dựa vào chính Thiên Chúa". Vì thế nếu Ngài có ra đi, thì cũng chính là để trở lại nhà Cha, nơi Ngài sẽ "dọn chỗ sẵn cho họ". Từ chủ đề "ra đi" bài diễn từ sau bữa tiệc ly bắt sang ‘đường đi’, Thầy ở đâu, anh em cũng sẽ ở đó. Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi Đức Giêsu bảo họ như vậy bấy giờ Tôma mới hỏi: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu làm sao chúng con biết được đường?" Chúa long trọng đáp "Thầy, Thầy chính là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy! Dufour đã diễn dịch câu nói ấy như sau: 'Tôma, nếu anh tin Thầy là chân lý và là sự sống, chắc chắn anh sẽ tìm thấy nơi Thầy con đường đưa về với Cha, đó là nơi Thầy đi đó là nơi Thầy ở. Đức Giêsu, trong đoạn 10,9, đã tự coi mình như là "cửa" dẫn đến sự sống, ở đây, lại nói như mình đã ở nơi mà các môn đệ muốn đến, bằng công thức vắn gọn này, Ngài thực sự công bố về tính đồng nhất sẽ còn vang vọng mãi trong nên chiêm niệm Kitô giáo" (p. 100)
2. Bày tỏ Chúa Cha.
Thấy thế, Philipphê mới lên tiếng: Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện rồi và Đức Giêsu đáp lại thấy Thầy, là thấy Chúa Cha rồi trong cuộc sống, mọi lời nói và việc làm của Đức Giêsu là một biểu hiện hoàn hảo hình ảnh của Chúa Cha vì người kết hợp mật thiết với Chúa Cha "Anh không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư?” cuộc sống của Ngài, đó là Chúa Cha thực hiện qua Ngài, lời Ngài nói đó là tư tưởng của Chúa Cha.
3. Đức Giêsu tiếp tục làm việc qua các môn đệ.
Nhắc lại lời mời gọi tin tưởng trên, Đúc Giêsu bắt đầu mạc khải cho các môn đệ biết cuộc sống mới của họ sẽ ra sao: "Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, vì Thầy đến cùng Chúa Cha”. Cho dù, hay đúng hơn Ngài về cùng Cha, mà các môn đệ sẽ sống cuộc sống Ngài không ngần ngại đồng nhất với cuộc sống chính mình. Dufour còn minh định thêm: Không phải vì cuộc sống của Ngài vẫn là gương mẫu, nhưng vì chính Ngài sẽ là tác giả đích thực của những họ thực hiện, đọc kỹ bản văn, người ta thực sự thấy rằng người tín hữu sẽ không làm những việc Đức Giêsu đã làm, nhưng là những việc Ngài đang làm và sẽ làm: Chúa Cha tiếp tục được tôn vinh nơi trần thế, từ đây, sứ mệnh Ngài đã hoàn tất phải đơm bông kết trái trong thời gian và không gian: và điều ấy được thể hiện nơi hành động của các tín hữu." (p.l07)
BÀI ĐỌC THÊM:
1. Thiên Chúa thật gần".
Khi Phúc âm thứ tư được viết ra, chắc chắn "những biến cố" đã xẩy ra hơn 60 năm, các cộng đoàn tín hữu ở Palestine, Tiểu Á, và các nơi khác đã chịu rất nhiều đau khổ. Họ phải chịu những cuộc tấn công dai dẳng trong các vùng có người Do thái. Họ đã bị chính quyền Rôma bách hại triền miên. Đặc biệt niềm tin của các Giáo Hội Tiểu Á lúc ấy đã rung động trước những luồng tư tưởng cho rằng mình khiến người ta quá tin vào trời cao mà khinh chê trần thế, chỉ để ý đến tâm hồn mà coi thường thân xác nhưng cuộc sống thề trần và sự phục sinh có đối nghịch đến độ phải khước từ cuộc sống này để sống cuộc sống kia không? Chẳng lẽ cứ phải trải qua cái chết mới được phục sinh hay sao?
Tác giả Tin Mừng nhấn mạnh: người tín hữu đã sống cuộc sống phục sinh ngay trên trần thế này. Niềm tin vào Đức Kitô hằng sống đã xóa bỏ khoảng cách giữa những sự dưới đất và trên trời. Niềm tin ấy giúp người ta sống ngay trên trần thế cuộc sống vĩnh hằng của Thiên Chúa. Chân lý thật khó hiểu và khó chấp nhận, cũng thế, Đức Giêsu nhà sư phạm đại tài, để dẫn đưa người nghe vào trong ánh sáng của Thiên Chúa, đã lợi dụng sự cứng tin của Tôma và Philipphê "Thưa Thầy chúng tôi không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con được đường?" Lầm lớn? Đây không phải con đường tính được bằng kilômét. Khoảng cách giữa cuộc sống trần thế và cuộc sống phục sinh không lớn hơn khoảng cách giữa Chúa Cha và Chúa Con: Cha ở trong Con và Con ở trong Cha. Niềm hi vọng về điều đã có và chưa có sẽ triển nở và đâm bông trong lòng người tín hữu như vậy đó.
Hoàn cảnh của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Đức Giêsu và ngày Ngài trở lại. ("Célébrer", số 258, tr.34, tháng 3.l996)
Đâu là vị trí của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Đức Giêsu và ngày Ngài trở lại?
Trước tiên, cộng đoàn tín hữu sống trong mềm hi vọng vô bờ một ngày kia sẽ được sống với Đức Giêsu rong nhà Cha Ngài: "Thầy ở đâu, anh em cũng sẽ ở đó”! Sau đó họ biết được đường đi: "Thầy là đường là sự thật và là sự sống; không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy" hơn thế nữa, họ còn biết được Chúa Cha, họ đã “thấy” Ngài: “Ai thấy Thầy, là thấy Chúa Cha" Thấy Đức Giêsu, dĩ nhiên là biết được Ngài bằng niềm tin, là "nhận ra Ngài là con duy nhất, là lời sáng tạo vĩnh hằng đến độ khi Đức Giêsu nói, tôi biết rằng Ngài nói những lời của Chúa Cha, khi Đức Giêsu hành động, chữa lành, tha tội, phó mình cho đao phủ, tôi biết rằng Ngài làm theo ý Chúa Cha và Chúa Cha đã chữa lành, tha tội, tự hiến hoàn toàn qua Ngài. Tôi biết Cha và Con là "một”!
Như vậy, cộng đoàn tín hữu đã thực sự biết Đức Giêsu bằng đức tin, đến lượt mình có thể nhận biết Chúa Cha và hoàn thành những công việc của Người được không? được, Đức Giêsu nói thế và còn hơn thế nữa, vì Thầy đến cùng Chúa Cha”. Qua những lời này, ta có thể hiểu rằng Đức Giêsu phục sinh đã mặc lại trọn vẹn sức siêu nhiên mà Ngài đã tự giới hạn khi mặc lấy thân phận tôi đòi mặc lấy nhân tính. Cũng vậy, một khi đã được mời gọi tiếp tục sự nghiệp của Chúa Giêsu trên trần gian cộng đoàn các Tông đồ, bằng đức tin của mình, thực sự thông phần với Thiên-Chúa, họ là cộng đoàn những người con trong Đức Giêsu, Thiên-Chúa Con.

 

PS5-A58: CON ĐƯỜNG GIÊSU

Ga 14, 1-12
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

Cái trớ trêu của các môn đệ Chúa là các Ngài đã sống với Chúa một thời gian đủ để nhận: PS5-A58

Cái trớ trêu của các môn đệ Chúa là các Ngài đã sống với Chúa một thời gian đủ để nhận, hiểu và biết Chúa, nhưng các Ngài vẫn tỏ ra thật ngớ ngẩn khi Chúa nói :” …Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi “. Ông Tôma nói với Đức Giêsu :” Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?”.
Đọc lại Kinh Thánh, chúng ta hiểu được rằng Lời của Chúa thường ví cuộc đời như một cuộc hành trình. Từ lúc Ađam và Evà trốn Chúa tới Nôe và cả đại gia đình của ông xuống tàu, Abraham cùng gia đình ra đi tới một vùng đất thật xa lạ, đến ngày vội vã ra đi của Mẹ Maria, thánh cả Giuse và Hài Nhi Giêsu sang đất Ai Cập, và cả một cuộc đời di chuyển rầy đây mai đó của Chúa Giêsu. Những hình ảnh này diễn tả cuộc hành trình đức tin không ngừng của người Kitô hữu. Đời con người là một cuộc hải hành, là một cuộc hành trình không ngừng. Sinh ra, lớn lên với tất cả tranh dành để sống, rồi tuổi già đến, tất cả đều cho con người thấy cuộc đời ở trần gian chỉ là tạm bợ mà thôi. Chúa Giêsu đã cho ta thấy chính Ngài đã trải qua cuộc đời này bằng biết bao nhiêu cuộc hành trình : Chúa sinh ra trong cuộc hành trình, cha mẹ Ngài trở về quê khai lại sổ nhân danh, Ngài vừa sinh ra đã được cha mẹ vội vàng đưa đi lánh nạn bên Ai Cập. Năm 12 tuổi, Chúa cũng lạc mất trong một cuộc hành trình về Giêrusalem mừng lễ. Những năm rao giảng, Ngài đi không mệt mỏi khắp vùng Palestina và các vùng phụ cân. Cuối cuộc hành trình của đời sống trần thế của Ngài là Giêrusalem và đồi Canvê. Qua cả một cuộc đời hành trình, Chúa Giêsu đã tuyên bố:” Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống “. Tuyên bố như vậy, Chúa Giêsu muốn nói lên một sự thực :’’ Ai tin vào Ngài và đi theo Ngài “ sẽ không bao giờ bị trệch hướng trong cuộc hành trình đức tin dài lâu của mình.
Chân Phước Gioan Phaolô II cũng đã từng nói về Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu, vào ngày 16.10.1978 tại Quảng Trường thánh Phêrô :” Tôi trình diện với hết thảy anh chị em để tuyên xưng đức tin chung của chúng ta, lòng trông cậy và tín thác của chúng ta nơi Đức Mẹ Chúa Kitô và nơi Giáo Hội, và cũng là để lại – khởi hành trên con đường lịch sử là con đường Công Giáo tông truyền “. Chân Phước Gioan Phaolô II đã đặt Triều Đại Giáo Hoàng của Ngài dưới lá cờ phù hộ đặc biệt của Đức Mẹ Maria. Cả triều đại của Chân Phước Gioan Phaolô là một cuộc hành trình. Bởi vì, nói cho cùng tất cuộc đời trần thế là một cuộc hành trình đức tin liên lỉ. Thánh Tôma lúc đó vẫn chưa hiểu lời của Chúa Giêsu nói. Do đó, Tôma đã thưa với Chúa : “…chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường “. Thánh Tôma làm sao biết được Chúa Giêsu tự nhận là đường. Con đường tình yêu, con đường mở ra hạnh phúc. Con đường hy vọng, con đường tin yêu, con đường cứu độ. Con đường ấy có tên Giêsu.  Chúa Giêsu là đường, là sự thật và là sự sống, bởi vì Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình. Ngài đến trần gian là để hướng dẫn con người về với Thiên Chúa Cha, đạt được hạnh phúc đích thực và được thông dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong Chúa Kitô, chúng ta tìm được con đường và được mời gọi vươn cao lên mãi, vươn lên không ngừng. Càng mặc lấy Đức Kitô, chúng ta càng cảm nghiệm sâu xa lời của thánh Phaolô tông đồ :” Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “.
Con người là con đường dẫn tới Thiên Chúa. Nên, dù chưa thấy Nhan Thánh Chúa qua Chúa Giêsu Kitô, con người vẫn có thể đi vào tương quan mật thiết với Ngài. Con người đến với Chúa bằng một tương quan thân mật Cha-Con. Chúa dạy chúng ta hãy đi theo con đường của Chúa trong suốt cuộc sống trần thế của chúng ta. Có Chúa, chúng ta sẽ hiên ngang vững bước và như thánh Phaolô trong thư Philíp đã nói :” Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi “. Có Chúa chúng ta sẽ không cô đơn vì Chúa đã hứa :” Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế “. Chính vì thế, cuộc hành trình đức tin của chúng ta sẽ không vô ích bởi vì chắc chúng ta đang tìm hạnh phúc nghĩa là tìm thông hiệp với Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ đạt được.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là ánh sáng, là đường, là sự thật, xin hướng dẫn chúng con để chúng con lúc nào cũng đi trên con đường của Chúa và sau cõi đời này, chúng con được về quê trời với Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
Thế giới có nhiều con đường không ?
Đường nổi tiếng là đường nào ?
Tại sao Chúa lại tự nhận Ngài là đường ?
Đường đây có nghĩa là gì ?
Hạng phúc chúng ta đang tìm là hạnh phúc nào ?

 

PS5-A59: Đường Dẫn Tới Sự Sống

(Cv 6,1-7; 1P 2,4-9; Yn 14,1-12)
 Phúc Âm: Yn 14, 1-12
"Thầy là đường, là sự thật và là sự sống".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi". Ông Tôma thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?" Chúa Giêsu đáp: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ các con biết và đã xem thấy Người". Philipphê thưa: "Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha, và như thế là đủ cho chúng con". Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: "Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy ư, Philipphê? Ai thấy Thầy là xem thấy Cha, sao con lại nói "Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha"? Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha".
 Suy Niệm:
Chúa Nhật V Phục Sinh
Cv 6,1-7; 1P 2,4-9; Yn 14,1-12

Chúa Nhật trước, chúng ta đã nghe thánh Phêrô khuyên nhủ hãy quay mặt về với Đấng là Mục: PS5-A59

Chúa Nhật trước, chúng ta đã nghe thánh Phêrô khuyên nhủ hãy quay mặt về với Đấng là Mục tử các linh hồn để thấy Người đã đi trước đưa chúng ta vào sự sống dồi dào. Hôm nay có thể nói chúng ta hãy đến xem cánh đồng cỏ mà Người đã dẫn chúng ta đến, cũng là đàn chiên mà Người đã đem chúng ta vào, là Hội Thánh mà chúng ta đã gia nhập nhờ đi qua mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh của Người, khác nào như qua Cửa của ràn chiên. Cả ba bài Kinh Thánh vừa nghe đọc đều cho chúng ta thấy những phương diện khác nhau của Hội Thánh.
 A. Một Cơ Quan Có Nhiều Phận Sự
Bài Công vụ các Tông đồ không đơn sơ như chúng ta tưởng sau khi nghe qua một lượt. Chúng ta nghĩ đây chỉ là chuyện thiết lập các Phó tế, chứng tỏ Hội Thánh đầy đặc sủng của Chúa Thánh Thần. Nhưng tại sao lại có việc thiết lập ấy? Việc thiết lập này đã giải quyết được những gì? Và có hệ gì đến đời sống đạo của chúng ta ngày nay không?
Những câu đầu của bản văn thật ý nghĩa. Số các môn đồ gia tăng. Hội Thánh như hạt cải đang lớn thành cây. Sự đồng tâm ý hiệp phải khó hơn. Sách nói có tiếng người Hylạp rì rầm chống đối người Dothái. Đó là triệu chứng bất hòa và xung khắc giữa bổn đạo mới và bổn đạo cũ, giữa lương dân trở lại và Dothái tòng giáo. Cả hai đều mới mẻ trong Đức Kitô. Nhưng xuất xứ, nguồn gốc và nhất là phong tục làm cho hai bên khó sống chung trong một thân thể và nhận mình là chi thể của nhau. Sự khó dung hòa này còn kéo dài lâu và đưa đến những thái độ quyết liệt như chúng ta sẽ thấy sau này.
Ở đây, nguyên nhân sự bất hòa xem ra chỉ do việc các quả phụ người Hylạp không được phục vụ tươm tất. Bản văn nói vắn tắt quá khiến chúng ta khó thẩm định được sự thật như thế nào. Nhưng ít nhất chúng ta phải nhận thức: sinh hoạt của Hội Thánh ngay từ đầu đã không hạn chế nguyên trong phạm vi phụng vụ. Giáo hội đã biểu thị sức sống bác ái của mình trong cả việc phục vụ tha nhân, đặc biệt trong các phần tử đau khổ trong xã hội. Chính Chúa đã nói với Hội Thánh, kẻ nghèo sẽ còn ở mãi với chúng ta. Và Người ngầm bảo: thế nên, chúng con phải săn sóc họ. Chắc chắn các Tông đồ đã ý thức tầm quan trọng của công việc phục vụ này nên đã muốn tự tay làm. Nhưng miễn là việc cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa không bị thiệt thòi!
Thế mà dường như sự đó đã xảy ra. Lời các Tông đồ nói khi giải quyết nỗi bất hòa khiến chúng ta có thể nghĩ như vậy. Ít ra, khi có tiếng rì rầm phàn nàn về việc phục vụ, các Tông đồ đã có dịp suy nghĩ về cách thức thi hành phận sự của mình. Các ngài tỏ ra là những người cởi mở, biết nghe nguyện vọng và chỉ trích của người dưới. Đó là những cơ hội để nhận định đúng về sứ mệnh và lề lối làm việc của mình. Nhận ra mình phải dồn sức cho những công việc quan trọng hơn, các ngài đem sáng kiến giải quyết vấn đề cho anh em suy nghĩ và kêu gọi sự cộng tác. Rõ ràng các ngài dành cho anh em nhiều phần sáng kiến để chỉ định những người có tiêu chuẩn. Người phục vụ phải đầy Thánh Thần và khôn ngoan, vì lẽ công việc của Hội Thánh là công việc của Chúa Thánh Linh và của Đức Yêsu Kitô. Việc nào trong Hội Thánh cũng mang tính cách tôn giáo. Thế mà việc thờ phượng của Đạo Mới phải thi hành trong Thần Khí và Sự Thật (Yn 4,23). Matthya đã được chọn thế chân Yuđa vì ông đã biết Chúa Yêsu và tất cả các Tông đồ phải chờ ơn Thánh Thần xuống để khởi sự hoạt động trong Giáo hội và cho Giáo hội. Vì thế việc lựa chọn những người mới theo các tiêu chuẩn trên chứng tỏ sự "một lòng một ý" giữa hàng ngũ Tông đồ và các cộng sự viên. Hội Thánh vẫn duy nhất trong cơ cấu, mặc dầu mỗi ngày càng nhiều cơ quan phục vụ. Và có lẽ đây là điểm then chốt trong bài Công vụ hôm nay. Tác giả muốn đề cao sự nhất trí sâu xa nhân dịp có những chuyện dường như muốn chia rẽ Giáo hội.
Hai nhóm trong Hội Thánh, hai khuynh hướng mới cũ, Dothái và Hylạp, tiêu biểu cho mọi mối căng thẳng, đã tìm lại được sự sống bình an. Vai trò chủ động vẫn do các Tông đồ nắm giữ, nhưng được thực thi với thái độ cởi mở, linh động và không thiếu phần cương quyết. Những người được kêu gọi hợp tác cũng ý thức phận sự của mình là tham gia vào sứ vụ của Thần Khí và Sự Thật. Kết quả dù những người được bầu lên đều mang tên Hylạp và sẽ đi giảng nơi dân ngoại như Philip sẽ đi Samari, công việc của họ đều đã được các Tông đồ đặt tay. Họ chỉ nối dài tay các ngài khiến ta thấy rồi đây Tin Mừng sẽ mau lan rộng ra lương dân. Và ngay ở Yêrusalem số môn đồ cũng tăng gấp lên, chắc chắn nhờ thái độ cởi mở của các Tông đồ và của Giáo hội, cũng như nhờ sự hợp tác và duy nhất sâu xa giữa các tín hữu.
Như vậy bài sách Công vụ hôm nay còn nói rất nhiều với chúng ta, với cộng đoàn giáo xứ, giáo phận và Giáo hội chúng ta. Hội Thánh của Chúa không được đóng khung trong Phụng vụ. Sinh hoạt của Hội Thánh phải bao hàm việc phục vụ tha nhân. Cả trong lãnh vực này, Hội Thánh vẫn phải "chỉ có một tấm lòng, một linh hồn" và điều đó đòi hỏi cố gắng của mọi người trong chúng ta. Chúng ta sẽ thấy những lý do mạnh mẽ để sống tinh thần duy nhất này khi suy nghĩ về bài Thánh Thư và bài Tin Mừng.
 B. Một Đền Thờ Do Nhiều Viên Đá Sống Động
Mở đầu bài thư, thánh Phêrô khuyên mọi người hãy đến với Tảng đá sống động mà loài người đã chê chối nhưng Thiên Chúa đã lựa chọn và tôn vinh. Rõ ràng ngài muốn nói đến Đức Yêsu Tử nạn Phục sinh. Chúa nhật trước cũng chính thánh Phêrô giới thiệu Người như là Đấng chăn dắt các linh hồn, đã hy sinh mạng sống vì chiên. Hôm nay Người được coi như Tảng đá sống động đã bị loại bỏ nhưng rồi đã được nhặt lên để xây lên một Đền Thờ lớn. Không phải thánh Phêrô đã tạo ra hình ảnh này. Chính Đức Kitô khi còn sống đã trích lời Thánh vịnh 118 nói về Viên Đá bị thải nhưng rồi trở thành Đỉnh Góc để ám chỉ cuộc Tử nạn-Phục sinh của Người (Mt 21,42). Thánh Phêrô chỉ thêm tĩnh từ "sống động" vào danh từ "Tảng Đá" để nói lên niềm tin của mình vào Đức Kitô Phục sinh hiện nay đang sống động thực sự. Và có thể nói Người sống động hơn bao giờ hết vì đang xây dựng tín hữu nên Đền Thờ mới.
Những người này cũng là những viên đá sống động vì mang trong mình sự sống của Đức Kitô phục sinh, nhờ việc đã đi qua Bí tích tái hiện việc chết đi sống lại của Chúa. Họ đã đồng hóa với Người nên cùng Người làm thành Đền Thờ mới. Nói đúng ra, thánh Phêrô không dùng danh từ Đền Thờ vì có lẽ khi ngài viết bức thư này, Giáo hội chưa có Đền thờ riêng, nhưng thường thi hành việc bẻ bánh trong các "nhà". Nhưng nhà thiêng liêng cũng là Đền thờ. Vì không phải vật liệu đá, gỗ hay các chiều cao thấp, lớn nhỏ, phân biệt nhà và Đền thờ. Chính Thánh Thần mới là yếu tố phân định. Nhà trở thành Đền thờ khi Thần Trí Chúa ập vào. Chính Thần xác Đức Kitô cũng chỉ trở thành Đền thờ thay thế Đền thờ Yêrusalem như Yn 2,19-22 đã nói, khi Người đã đi qua mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh để Thân xác Người trở thành đầy Thánh Thần. Vậy, khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, các tín hữu đã chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa, thì họ được đầy Thánh Thần, trở nên đá sống xây trên Tảng đá sống động, làm thành nhà thiêng liêng.
Và như Đức Kitô Phục sinh không phải chỉ là Đền thờ mới, mà còn là vị Thượng tế tuyệt với, các tín hữu khi làm thành nhà thiêng liêng cũng trở nên hàng tư tế thánh để dâng lễ. Không cần các lễ dâng vật chất nữa, nhưng đã có các hy tế thiêng liêng đầy Thánh Thần, là những lễ vật duy nhất đẹp lòng Thiên Chúa.
Chúng ta có thể nghĩ trong đoạn thư này thánh Phêrô nhấn mạnh đến sinh hoạt phụng vụ và vai trò dâng lễ của Hội Thánh. Nhưng chúng ta cũng có thể nói chủ ý của ngài là nói lên đặc tính duy nhất, thánh thiện của Giáo hội. Toàn thể các tín hữu được xây trên Đức Yêsu Phục sinh làm thành Ngôi nhà thiêng liêng. Và như vậy ta sẽ thấy ăn ý hơn ở đoạn sau.
Quả vậy tiếp đó, thánh Phêrô trích một lời trong Tiên tri Isaia (28,16) để làm chứng Thiên Chúa đã tiền định như vậy, để Đức Kitô "trở thành viên đá đỉnh góc quý giá và ai tin vào đó tất không bị hổ thẹn" (c.6). Và ngài nói luôn: "Vậy vinh dự cho anh em là những người tin, còn đối với những kẻ không tin, thì... đá kia chỉ là khối thạch chướng ngại". Như thế, ngài vẫn không quên Đức Kitô Phục sinh đã được đặt làm "Thẩm phán" kẻ chết và người sống. Những ai tin Người ở một bên và bên kia là những kẻ không tin. Như vậy, thánh Phêrô đã coi tín hữu như một khối. Ngài muốn nói đến sự duy nhất trong Giáo hội. Ngài coi tín hữu như những viên đá sống động nằm trong Ngôi nhà thiêng liêng. Các vinh dự mà ngài kể ra và nói đã được dành cho tín hữu toàn có tính cách tập thể, vì anh em là "dòng giống được lựa chọn, hàng tư tế hoàng vương, nước thánh thiện, dân được chọn làm sở hữu". Bao nhiêu phẩm tước của dân Giao ước cũ (Xh 43,20; 19,5) được chuyển cho Dân Giao ước mới. Đó là những vinh dự của cộng đồng chứ không phải của cá nhân. Nên ta có thể nghĩ ở đây thánh Phêrô muốn nói nhiều về Hội Thánh duy nhất.
Nếu thế thì chữ "nhà" mà tác giả dùng ở trên có thể gợi đến một đoạn Kinh Thánh quan trọng. Đavít bấy giờ muốn làm nhà cho Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa lại hứa sẽ xây cho Đavít một nhà tồn tại muôn đời. Đó là nhà vua Đavít, dòng họ của ông, là Đức Yêsu Kitô Vua muôn thuở nhờ việc Tử nạn Phục sinh, là Hội Thánh gồm những viên đá sống động làm nên nhà thiêng liêng. Nhà Đavít chỉ nắm vương quyền; nhưng Đấng Cứu Thế phải thi hành quyền tư tế, nên các tiên tri về sau vẫn loan báo một Vị Cứu Tinh vừa làm Vua vừa là Thượng tế. Và lời Thánh Kinh ấy đã ứng nghiệm nơi Đức Kitô Phục sinh. Hội Thánh, Thân thể của Người, vì thế được gọi là hàng tư tế hoàng vương.
Thánh Phêrô muốn cho chúng ta suy nghĩ những tước hiệu tập thể ấy để chúng ta rao truyền các kỳ công của Thiên Chúa trong tinh thần duy nhất, như tác giả Công vụ đã khẳng định Hội Thánh thuở ban đầu đã một lòng một ý trong việc mở mang Nước Chúa. Và đó cũng là mệnh lệnh Chúa đã để lại cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.
 C. Một Đường Dẫn Tới Sự Sống
Thánh Yoan ghi lại câu chuyện cuối cùng Chúa nói với môn đệ trước khi bị nộp. Người hướng về tương lai, nói đến những việc sẽ tới. Người đang ngồi giữa môn đệ trước khi ra đi chịu chết, nhưng lại nói như thể Người đang ở trong trạng thái phục sinh. Thế nên chúng ta có điều kiện hiểu Người dễ hơn các môn đệ lúc bấy giờ. Nói cách khác, đây đúng hơn là tâm tình của Chúa phục sinh nói với chúng ta. Và vì vậy chúng ta hãy chú ý nghe Người.
Người mở đầu: "Lòng chúng con chớ rúng động!". Người quen nói như vậy mỗi khi hiện ra sau ngày sống lại. Chính tiếng nói của Đấng Vô hình làm cho người ta sợ, nên Chúa phục sinh phải mở đầu như thế. Và thái độ đầu tiên Người đòi hỏi nơi người ta là hãy tin vào Người. Không tin Người đã sống lại thì không có đủ điều kiện để thu hoạch lời Người. Và phải tin vào Người như tin vào Thiên Chúa, vì bây giờ Người không còn như xưa nữa, khi "Người đã chẳng nghĩ phải giằng cho được chức vị đồng hàng cùng Thiên Chúa, song Người đã hủy mình ra không" (Ph 2,6-7). Nhưng bây giờ Người đã được đặt làm Chúa, nên người ta phải tin vào Người như tin vào Thiên Chúa.
Vậy chính Chúa Yêsu Phục sinh đang nói với chúng ta, qua các môn đệ của Người. Người bảo: trong nhà Cha có nhiều chỗ ở; Người sẽ đi dọn chỗ cho chúng ta; rồi Người trở lại đem chúng ta đến nơi Người ở. Đầu óc chúng ta tự nhiên muốn vẽ ra con đường lên trời và như thấy Người đang ở xa chúng ta, tận nhà của Cha Người. Nhưng không phải vậy, vì chính Người lại quả quyết: đàng dẫn đến Chúa Cha lại chính là Người. Làm sao có thể như vậy được? Đầu óc chúng ta muốn nổ tung ra mất. Nhưng này, đang tiếp chuyện "Con Người thiên thai", sao chúng ta lại cứ nghĩ như con người trần ai? Chúng ta hãy để Người giải thích, nâng tâm trí chúng ta lên bình diện Nước Trời. Lúc đó, Lời Người nói sẽ rõ rệt hơn và có thể hiểu được lắm.
Người nói: Cha với Người là một. Người ở trong Cha và Cha ở trong Người. Ai thấy Người cũng thấy Cha. Có gì cấm ta tin như vậy? Người đã phục sinh rồi. Người đã trở lên nơi vinh hiển của thuở đầu; Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa, theo kiểu nói của người Dothái; và sống lại rồi, Người cũng đang ở với Hội Thánh hàng ngày cho đến tận thế. Vậy giữa Người với Cha và với Hội Thánh không có không gian cách quãng gì cả. Chỉ có giữa Hội Thánh và Cha phải có Người là trung gian, là đàng dẫn Hội Thánh tới Cha, dẫn các linh hồn tới Thiên Chúa. Một mình Người làm được công việc này; và Người đã làm khi ra đi Tử nạn Phục sinh. Chính khi chết và sống lại, Người đã trở nên đàng cứu độ dẫn chúng ta tới Thiên Chúa. Vì thế Người cũng là sự thật và là sự sống của chúng ta để chúng ta chắc chắn được đến cùng Cha và được sống.
Như vậy bài Tin Mừng Yoan quá sâu sắc. Ít nhất chúng ta phải thấy rằng Đức Yêsu Phục sinh này là đàng dẫn ta đến Thiên Chúa. Không phải con đàng có chiều dài chiều rộng, vì Cha đang ở trong Người và Người đang ở trong Cha. Nhưng là Trung gian, là Cửa để chúng ta đến với Thiên Chúa, là Cửa ràn chiên để chúng ta ra vào tìm được sự sống. Chúng ta vào Cửa là đã gặp Thiên Chúa rồi. Chúng ta đến với Chúa Yêsu là đến với Thiên Chúa. Chỉ có một điều nên nhớ: tự sức mình chúng ta không đến với Người được. Chính Người phải đến đưa chúng ta lại. Và Người chỉ đến với chúng ta khi đã trở về với Cha qua mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh, mầu nhiệm mà chúng ta sắp tái hiện trên bàn thờ. Ở đây, Chúa Yêsu trở lại gặp chúng ta đức chúng ta vào nhà Cha, để Người ở đâu chúng ta cũng ở đó; Người ở trong Cha và Cha ở trong Người thì chúng ta cũng ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong chúng ta. Và sở dĩ được như vậy là nhờ Bí tích Thánh Thể, nhờ mầu nhiệm Vượt qua của Đức Kitô, nhờ Người là đàng, là sự thật và là sự sống.
Mầu nhiệm này không xây dựng sự hiệp nhất sao? Chính nhờ việc Người ở trong Cha, Cha ở trong Người và hai Ngài ở trong chúng ta và chúng ta ở trong các Ngài mà chúng ta mật thiết với nhau hơn các viên đá trong một Đền thờ, hơn các chi thể trong một thân thể. Sự duy nhất ấy không được chỉ thể hiện nơi nhà thờ, vì như bài Công vụ cho biết, sinh hoạt tôn giáo phải là phục vụ tha nhân nữa. Chúng ta chỉ sống đạo đầy đủ khi thể hiện sự duy nhất cả nơi xã hội, trong mọi sinh hoạt với đồng bào, khiến tuy có nhiều phận vụ khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một tấm lòng, một linh hồn. Xuất xứ, tính tình, phong tục làm chúng ta xung khắc, nhưng sức mạnh hợp nhất chúng ta lại bởi Chúa. Chính Người là đàng đưa chúng ta vào sự duy nhất của Thiên Chúa để Thánh Thần sẽ là dây bác ái kết hợp chúng ta lại với nhau ở trong Người. Và Người sắp làm việc ấy bây giờ cho chúng ta trong mầu nhiệm Thánh Thể. Chúng ta hãy cùng nhau sốt sắng tham dự.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

PS5-A60: Con đường, sự thật và sự sống

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 14:1-12)

Chúa Nhật trước, bài Tin Mừng cho chúng ta một hình ảnh tuyệt vời về Chúa Giê-su:  Vị Mục: PS5-A60

Chúa Nhật trước, bài Tin Mừng cho chúng ta một hình ảnh tuyệt vời về Chúa Giê-suVị Mục Tử Nhân LànhCòn hình ảnh Chúa Giê-su qua bài Tin Mừng hôm nay không sống động, nhưng khô khan và trừu tượngcon đường, sự thật và sự sốngNhững hình ảnh và ý niệm này tự chúng chẳng nói lên được điều gì.  Do đó, muốn hiểu ý nghĩa của con đường, sự thật và sự sống được áp dụng vào Chúa Giê-su, chúng ta phải đặt chúng trong những mối tương quan giữa Chúa Giê-su với Chúa Cha và giữa Chúa Giê-su với Ki-tô hữu chúng ta.
          Thực vậy, khi Chúa Giê-su nói Người là con đường, là sự thật và là sự sống, chúng ta cần phải biết con đường ấy đưa người ta đi đâu, sự thật ấy nói lên điều gì và sự sống ấy dành cho aiTrước hết chúng ta hãy trở lại với khung cảnh Chúa nói những lời này, đó là cuộc tâm sự giữa Thầy và trò trong bữa Tiệc lyNgười đang cho các môn đ biết mối tương quan mật thiết giữa Người với Chúa Cha, thì ông Tô-ma hỏi Người về con đường, ông Phi-líp-phê xin Người cho biết Chúa Cha là aiVậy đ trả lời những câu hỏi này, Chúa Giê-su đã phát biểu những lời nói trênDo đó chúng ta sẽ nắm bắt được ý nghĩa điều Chúa Giê-su nói trong bối cảnh tình yêu kết hiệp giữa Người với Chúa ChaNói khác đi, từ nơi Chúa Cha phát xuất con đường, sự thật và sự sống, đ được chuyển tải qua Chúa Giê-su đến với chúng ta.
          Chúa Giê-su là con đường.  So sánh thật là mộc mạc, nhưng vô cùng ý nghĩa.  Con đường nối hai điểm với nhau.  Giữa Thiên Chúa và con người là khoảng cách vô tận không thể qua lại (xem Lu-ca 16:26).  Cho nên Thiên Chúa đã làm một “con đường” bằng xương bằng thịt khi sai Ngôi Lời nhập thể  để nối kết với chúng ta.  Tầm quan trọng của con đường như thế nào chúng ta đã biết, vì nó chuyển thông mọi vấn đề, từ tình cảm, xã hội, kinh tế, văn hóa… và cả truyền giáo nữa.  Tất cả đều tìm kiếm một con đường mà đi.  Vậy chúng ta hãy thử xem con đường Ki-tô đã chuyển tải từ Thiên Chúa đến chúng ta những gì?  Ôi, làm sao kể cho hết được, là tất cả sự phong phú giàu sang của Thiên Chúa, để chúng ta “được sống và sống dồi dào” (Gio-an 10:10)!
          Khi Chúa Giê-su nói với Phi-la-tô rằng Người đến để làm chứng cho sự thật, ông ta chẳng hiểu gì cả và hỏi lại một câu thật ngớ ngẩn:  “Sự thật là gì?” (Gio-an 18:37).  Sự thật ở đây là tất cả những gì Thiên Chúa muốn tỏ ra cho nhân loại biết thì đã được thể hiện nơi Chúa Giê-su.  Thánh Gio-an đã tóm tắt tất cả trong một câu để định nghĩa sự thật.  Đó là:  “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (3:16).  Tình Thiên Chúa yêu chúng ta là một chân lý không thể chối cãi.  Bằng chứng lớn nhất và rõ ràng nhất, đó là cái chết của Chúa Giê-su!
          Chúa Giê-su là sự sống.  Ngoài sự kiện Người là nguyên lý phát sinh sự sống, vì “nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Gio-an 1:3), Chúa Giê-su còn là sự sống mới của những ai được gọi làm con Thiên Chúa (Gio-an 1:12).  Việc chuyển thông sự sống của Thiên Chúa đến với chúng ta qua Chúa Giê-su được ví như cây nho đem sự sống đến cho các cành nho (Gio-an 15:1-8).  Sự sống của Thiên Chúa sẽ biến đổi chúng ta, làm cho chúng ta đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô và nhất là sinh nhiều hoa trái.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Hiểu ý nghĩa những hình ảnh về Chúa Giê-su là điều quan trọng, nhưng quan trọng hơn là phải ý thức được sự sống động luôn có trong đó.  Đường mà không có người đi, sự thật mà chẳng ai thèm quan tâm và sự sống không phải là sự sống của chính mình, thì tất cả những thực tại đó chỉ là những bức tranh tĩnh vật thôi!  Nhưng chúng cần phải được sử dụng.  Con đường phải đưa Chúa đến với chúng ta và đưa chúng ta đến với Chúa.  Sự thật phải luôn nhắc nhở rằng Chúa yêu chúng ta và chúng ta phải đáp lại.  Sự sống phải là sống thực, nghe và nói với Chúa, ăn tiệc với Chúa, vui buồn với Chúa… Làm cho sống động những hình ảnh ấy không chỉ là công việc đơn phương của Chúa, mà cần chúng ta cộng tác nữa.
                Lm. Đa-minh Trần đình Nhi  

 

PS5-A61: NHƯ VIÊN ĐÁ XANH

Nếu khám phá ra hạnh phúc tuyệt vời của người Kitô hữu, chắc chắn người ta phải phát ghen : PS5-A61

Nếu khám phá ra hạnh phúc tuyệt vời của người Kitô hữu, chắc chắn người ta phải phát ghen lên. Nhưng chính người Kitô hữu nhiều lúc quên lãng hay coi thường hạnh phúc của mình.   Hạnh phúc đó chính là đức tin nơi Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô.
SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI
Con người hạnh phúc vì đã xây được những công trình vĩ đại trên mặt đất.  Đó là niềm hãnh diện của nhân loại.   Nhưng đó chỉ là những công trình vật chất.    Kitô hữu còn hạnh phúc biết bao khi được “Thiên Chúa dùng như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng,” (1 Pr 2:5)  không ai phá hủy nổi, vì đó là công trình của Thiên Chúa.   Chính Đức Giêsu cũng  là “viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quí giá.” (1 Pr 2:4)   Đúng hơn, đó là “đá tảng góc tường” (1 Pr 2:6) nối kết các viên đá xây nên Đền Thờ đó.
Những viên đá sống động đó đã được Thiên Chúa biến thành “hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người nhờ Đức Giêsu Kitô.” (1 Pr 2:5)   Vinh dự và cao cả biết bao được làm Kitô hữu trên trần gian ! Đó là chiều dọc trong sứ mệnh Kitô hữu.   Chiều ngang cũng quan trọng không kém.   Đó là Kitô hữu được Thiên Chúa kêu gọi “để loan truyền những kỳ công của Người.” (1 Pr 2:9)    Họ trở nên những chứng nhân vì “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa.”  (1 Pr 2:9)   Tất cả đều là công trình vĩ đại của tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.
Hồng ân cao cả Thiên Chúa đã ban tặng các Kitô hữu.   Họ được tuyển chọn do cái chết và phục sinh của Đức Giêsu Kitô.   Đó là tất cả “công việc Thầy làm” (Ga 14:11) cho nhân loại.   Chỉ cần tin vào công việc đó, họ sẽ thấy một sức mạnh vô cùng lớn lao của Đức Giêsu nơi chính mình.   Sức mạnh đó do sự hiện diện thâm sâu và hiệp nhất lạ lùng giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.   Quả thực, chính Thánh Linh mới có thể giải thích tại sao huyền nhiệm cao cả : “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy.” (Ga 14:11)   Nếu tin, Kitô hữu sẽ đi vào tương quan kỳ diệu đó vàsẽ tìm được một nơi trú ẩn vững chắc nhất giữa bao nhiêu thách đố.    Chính Đức Giêsu đã bảo đảm cho các môn đệ : “Anh em đừng xao xuyến !   Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” (Ga 14:1)  Điệp khúc này Đức Giêsu không ngừng lập lại : “Anh em hãy tin Thầy.” (Ga 14:11)
Tin vào Thầy không những tìm được nơi an toàn nhất trong cuộc đời đầy bất trắc.   Nhưng hơn nữa, tin vào Thầy sẽ làm được những công trình vĩ đại.  Quả thực, “ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm.   Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha,” (Ga 14:12) để “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20)   Nhờ đó, Thầy mới có thể hiện diện một cách sâu xa và sung mãn hơn nơi các tín hữu.   Thầy về cùng Chúa Cha để kéo mọi sự lên với Thầy (x. Ga 12:32) và để nắm mọi quyền bính trên trời dưới đất (x. Mt 28:19).    Tin tưởng tuyệt đối vào lời Thầy hứa, ngay từ đầu các môn đệ đã thực hiện những việc lớn lao hơn về mặt tổ chức, chiều kích và ảnh hưởng.   Quả thế, trong cộng đoàn tông đồ nhỏ bé, không phân biệt những người “chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.” (Cv 6:4) và những người chuyện “lo việc ăn uống” (Cv 6:2) hay “phân phát lương thực hằng ngày” (Cv 6:1) cho dân Chúa.    Trước phục sinh, “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi.” (Mt 12:24)    Nhưng sau phục sinh, Thầy sai các môn đệ : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” (Mt 28:19)  Ngày còn tại thế, Đức Giêsu là đối tương của lòng căm thù ghen tức.  Có bao giờ thấy cảnh tư tế tỏ lòng sám hối hàng loạt sau bài giảng của Đức Giêsu đâu !  Thế nhưng, sau khi biến cố phục sinh, các môn đệ đã làm cho “một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.” (Cv 6:7)  Môn đệ đã làm những việc lớn lao hơn sư phụ, nhưng vẫn không qua mặt sư phụ được.  Quả thế, nếu Thầy xác tín “Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình,” (Ga 14:10), người môn đệ cũng thâm tín rằng : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2:20) Như vậy, chính Đức Giêsu đang làm những việc vĩ đại hơn khi còn tại thế nơi Giáo Hội.    Đó là niềm tin của người môn đệ Chúa.
TOÀN CẦU HÓA NIỀM TIN.
Vì tin tưởng mãnh liệt vào sự hiện diện và hành động của Đức Giêsu trong lòng Giáo Hội, các môn đệ đã dễ dàng thực hiện mệnh lệnh toàn hầu hóa niềm tin hầu đem ơn cứu độ đến cho toàn thể nhân loại.   Ngay sau khi phục sinh, Chúa đã ban bố mệnh lệnh đó (x. Mt 28:19)   Bao nhiêu lực lượng thù nghịch bên trong cũng như bên ngoài đang nỗ lực cản trở việc toàn cầu hóa đó.
Bên trong, nhiều anh em Kitô hữu giữ mãi mối thù nghịch với Giáo Hội Công giáo. Chẳng hạn, Đức Tổng giám mục Chính thống giáo Nga Yevsevi (Savvin) đã yêu cầu Tổng thống Vlaimir Putin “đừng cho phép những kẻ thù của quê hương và quốc gia – Giáo hoàng Rôma và Công giáo – phất cờ chiến thắng trên miền Đất Thánh Pskov.” (CWNews 23/04/02)   Ông giải thích : “Chúng ta phải ý thức rằng các người Công giáo không phải là những ân nhân của chúng ta.   Họ chẳng mang lại cái gì tốt đẹp hay ích lợi cho quê hương chúng ta.  Họ đi đến đâu, hủy diệt, phân hóa và phá hoại tới đó.” (CWNews 23/04/02)   Tại sao lại có một cái nhìn hằn học như vậy ?   Có thể tìm thấy nét Tin Mừng nào trong cái nhìn đó không ?   Chẳng lẽ tình yêu đầy khoan dung thứ tha của Thiên Chúa không ảnh hưởng gì tới người an hem Kitô hữu sao ?   Nếu đúng thế, làm sao có thể thi hành mệnh lệnh toàn cầu hóa đức tin ?
Bên ngoài, kẻ thù đang tìm cách giới hạn sức mạnh toàn cầu hóa của Giáo Hội.  Tại Hoa kỳ, “cuộc khủng hoảng về linh mục lạm dụng tính dục vị thành niên không phải là do truyền thông tạo nên hay là quan tâm của công luận tại Hoa Kỳ, nhưng đây là một vấn đề rất hệ trọng làm cho sứ mạng của Giáo hội bị tê liệt.   Muốn thay đổi đòi phải tái tạo niềm tin."  (ĐHY Bernard Law : VietCatholic  23/4/2002)   Thế nhưng, đằng sau sự kiện đó kẻ thù đang nỗ lực hạ uy tín hàng giáo phẩm.  Nếu họ thành công, chắc chắn việc Phúc âm hóa sẽ bị khựng lại.   Lý do vì linh mục đóng vai chủ chốt trong mọi sinh hoạt Giáo Hội.   ĐGH Gioan Phaolô II nhắc nhớ : “Chúng ta phải xác tín rằng thời gian thử thách sẽ thanh tẩy toàn thể cộng đồng Công giáo, một sự thanh tẩy khẩn thiết nếu Giáo Hội muốn rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô với tất cả sức mạnh giải phóng nhân loại một cách hiệu quả hơn.   Giờ đây phải tin chắc rằng ở đâu tội lỗi gia tăng, ở đó ân sủng càng chan chứa (x.Rm 5:20).   Càng nhiều đau khổ, càng nhiều buồn sầu càng đưa chức linh mục, giám mục và Giáo Hội đến sự thánh thiện hơn.   Chỉ Thiên Chúa mới là nguồn sự thánh thiện.  Trên hết chúng ta phải quay về với Người để xin ơn tha thứ, để chữa lành và đón nhận ân sủng để có đủ can đảm đối đầu với thách đố một cách không khoan nhượng mà vẫn đạt mục đích” (CWNews 23/04/02) là toàn cầu hóa niềm tin theo mệnh lệnh Chúa.
Càng bị thách đố, Giáo Hội càng ý thức hơn về sức mạnh đích thực trong việc toàn cầu hóa niềm tin.   “Thách đố trước mắt làm cho chúng ta hiểu rõ những lựa chọn cải tiến tinh thần qua cuộc đối thoại giữa đức tin và văn hóa, giữa mạc khải và những vấn đề nhân loại để bảo đảm cả phẩm giá con người lẫn sự trưởng thành nhân vị” (Zenit 2/9/02) sẵn sàng cho việc toàn cầu hóa đức tin.  Thiên Chúa đang dùng biến cố hôm nay để đẩy mạnh công cuộc Phúc âm hóa đang khựng lại ở nhiều nơi chăng ?
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

PS5-A62: ĐƯỜNG CỦA CHÚA.ĐƯỜNG DẪN VỀ TRỜI

Ga 14, 1-12

Cuộc vui nào rồi cũng có lúc tàn. Những năm tháng sống với các môn đệ quả thực hạnh phúc: PS5-A62

Cuộc vui nào rồi cũng có lúc tàn. Những năm tháng sống với các môn đệ quả thực hạnh phúc, Chúa đã sống với các ông, đã huấn luyện, dạy dỗ các ông và hé mở cho các ông thấy Nước Trời. Các môn đệ cứ tưởng, Thầy của mình sẽ sống mãi, sẽ làm vua, sẽ khôi phục nước Israen và các ông sẽ tha hồ chia nhau những chức vị trong Vương Quốc của Thầy. Nhưng, đùng một cái Thầy bị bắt, bị kết án tử hình, bị treo trên Thập Giá và rồi Thầy Phục Sinh đúng như lời Thầy đã nói trước. Chúa sống lại đã hiện ra với các ông để củng cố đức tin các ông và minh chứng cho các ông Ngài đã sống lại thật. Chúa Phục Sinh không thể ở lại mãi với các môn đệ trong thân xác Phục Sinh, Ngài phải trở về với Chúa Cha và dọn chỗ cho các Ngài.
CUỘC CHIA LY NÀO CŨNG MANG LẠI LO ÂU, BUỒN PHIỀN VÀ KHỔ ĐAU : Sống trên gian trần người nào cũng có lúc phải suy nghĩ, lo âu, đau buồn vì những quyết định, về những trách nhiệm khiến họ mất ăn mất ngủ. Đặc biệt khi phải xa lìa người thân, cha mẹ, anh em vv…con người đều cảm thấy nôn nao, xao xuyến và đau buồn khôn xiết. Đối với các môn đệ, Chúa Giêsu đã ở với họ suốt 3 năm ròng, Thầy trò đã cùng nhau chia xẻ ngọt bùi, đắng cay.Nay, khi biết Chúa Giêsu không còn ở với mình nữa, các ông đâm ra hoang mang, xao xuyến tột độ. Đây là lẽ thường tình của con người, nhất là khi những người ra đi xa lại là những con người thân thiết, đã từng nếm ngọt chia cay với mình. Các môn đệ rơi vào trường hợp này.
NHƯNG CHÚA ĐÃ NÓI VỚI CÁC MÔN ĐỆ : Chia ly, xa lìa buồn và lo âu, hoang mang thiệt, nhưng Chúa cho các ông biết sự ra đi của Ngài là hoàn toàn cần thiết và hoàn toàn có lợi cho các ông. “ Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em”( Ga 14,1-3 ). Chúa Phục Sinh cho các môn đệ hay Ngài đi về với Chúa Cha và cũng cho các môn đệ hay Cha của Ngài cũng là Cha của các Ngài và Cha của mọi người. “ Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy ( Ga 14, 6 ). Rồi Chúa quả quyết: “ Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” ( Ga 14, 6 ). Chúa là sự thật bởi vì Người dẫn chúng ta từ sự lo âu đến an bình, từ sự đau khổ đến vinh quang, từ sự  chết đến sự sống, từ đời sống trần gian mau qua đến đời sống trường sinh. Đức Giêsu là sự thật. Sự thật về một Thiên Chúa hay chạnh thương và giầu lòng thương xót. Sự thật về một Thiên Chúa cứu độ và giải thoát con người. Đức Giêsu là sự sống. Sự sống vĩnh hằng, sự sống trường sinh. Sự sống ngay chính trong cung lòng Chúa Cha ban cho mọi loài được sống. Chúa là Đấng cứu độ duy nhất, Ngài muốn cứu tất cả mọi người, không trừ một ai, miễn là con người biết mở lòng ra để đón nhận ơn của Chúa.
Chúa là đường. Người đã trở nên người phàm là cốt để nơi Người, mọi người thấy được Chúa Cha. Người đã đi hết con đường của Người, con đường làm mọi người ngỡ ngàng, nhưng sau này con người đều hiểu bởi vì con đường ấy là con đường tình yêu, con đường Thập Giá và sự chết, mọi người sẽ chinh phục được sự thật của chính mình và sẽ đạt tới sự sống. Con đường của Chúa là con đường phục vụ, con đường tự hiến, con đường hẹp vì con đường rộng rãi dẫn tới hư vong. Chúa đã ngang qua Thập Giá để kéo mọi người lên cùng Chúa. Và tình yêu của Người là tình yêu cứu độ, tình yêu tự hiến và hy sinh:” Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ).
Đạo là đường. Chúa chính là đường, là cửa chuồng chiên. Ai muốn vào nước trời phải đi ngang qua cửa chuồng chiên.
Như một câu hát của Soeur Sourire:” Tất cả mọi nẻo đường của trần thếsẽ đưa ta về trời…”. Có ngang qua đau khổ, ngang qua thử thách, Thập Giá, con người mới có vinh quang, mới được sự sống đời đời. Các môn đệ từ Phêrô, Phaolô, Batolômêô, Tôma vv…tất cả đã kinh qua con đường đó vì họ đã tin nhận Chúa “ là đường, là sự thật, là sự sống” ( Ga 14, 6 ).
Lạy Chúa Phục Sinh xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tuyên xưng Chúa là đường, là sự thật, là sự sống. Xin cho chúng con biết trải qua sự đau khổ mà Chúa đã kinh qua để chúng con cùng được vinh quang với Người. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

PS5-A63: Chúa Nhật V Phục Sinh

Sách Công vụ Tông Đồ quả thực là sách lịch sử Giáo Hội sơ khai.  Sau ngày sinh nhật của Giáo: PS5-A63

Sách Công vụ Tông Đồ quả thực là sách lịch sử Giáo Hội sơ khai.  Sau ngày sinh nhật của Giáo Hội là biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống, lịch sử được đánh dấu bằng những biến cố phát triển lạ lùng:  các Tồng đồ rao giảng mầu nhiệm Ki-tô, hàng ngàn người sám hối và lãnh nhận phép rửa, họ nhận lấy Thánh Thần xuống trên họ như đã xuống trên các Tông đồ, Giáo Hội nhỏ bé từ Giê-ru-sa-lem lan rộng tới các vùng xa xôi ngoài đất Ít-ra-en.  Việc hình thành một giáo hội có tổ chức và cơ chế bắt đầu.  Đồng thời một giáo lý về Giáo Hội cũng sẽ được thánh Phao-lô khai triển.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay giới thiệu Giáo Hội lữ hành trần gian trên đường về nhà Cha, với Chúa Giê-su là đường, sự thật và sự sống, với cộng đồng dân Chúa là “giống nòi được tuyển chọn và hàng tư tế vương giả”, sau cùng với những tổ chức thực tiễn để qua việc làm biểu lộ tinh thần bác ái và phục vụ.
1.  “Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (bài Tin Mừng – Ga 14:1-12)
          Chúa Nhật trước ta đã suy gẫm về Chúa Giê-su là cửa chuồng chiên để ta được ra vào làm đoàn chiên của Chúa và được sống dồi dào, đồng thời Người cũng là Vị Mục Tử Nhân Lành dẫn ta tới đồng cỏ xanh tươi.  Đồng cỏ xanh tươi và suối nước trong lành chính là “nhà Cha” mà Người nói đến trong cuộc đàm thoại với các Tông đồ trước khi chịu cuộc Tử nạn.  Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su cho các Tông đồ biết Người sắp sửa làm một cuộc Vượt Qua, qua cái chết khổ nhục để tới phục sinh vinh quang và trở về nhà Cha, Đấng đã sai Người đến thế gian.  Người hành trình về với Chúa Cha, nhưng cũng nhắm mục đích dọn chỗ cho các môn đệ sẽ đến sau, để Thầy ở đâu thì môn đệ cũng ở đấy.  Câu hỏi của ông Tô-ma không đơn sơ như ta nghĩ, nhưng đưa ta khám phá những chân lý cao cả về sứ mệnh của Chúa Ki-tô.  “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”
          Sứ mệnh của Chúa Ki-tô là ra đi thi hành sứ mệnh Chúa Cha trao ban.  Trước hết là đi từ trời xuống đất, đi từ “địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, trút bỏ vinh quang” để xuống “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân” (Pl 2:6-7).  Chúa Cha đã sai Người đi để làm chứng “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một” (Ga 3:16).  Be-lem là điểm Người đến gặp nhân loại.  Sau thời gian sống ẩn dật tại Na-da-rét, Chúa Ki-tô được sai đi để thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng.  “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.  Người đã sai tôi đi…” (Lc 4:18).  Khắp miền đất Ít-ra-en đều mang vết chân của Người đi rao giảng Tin Mừng.  Người đi để nhân loại được “thấy Chúa Cha” là Đấng nào, vì “ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”.  Qua Chúa Giê-su, người ta “thấy” Chúa Cha chữa lành những vết thương bệnh tật thể xác lẫn tâm hồn, người ta nghe được lời khôn ngoan của Thiên Chúa, người ta nhận được ơn tha thứ tội lỗi…  Có lẽ Chúa Giê-su buồn vì người ta không “thấy” hoặc không muốn “thấy” Chúa Cha.  Người có vẻ “trách móc” ông Phi-líp-phê và nhiều người khác nữa:  “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư?  Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”.
          Tuy nhiên, mục đích Chúa Ki-tô đến với ta không chỉ là để ta “thấy” được Chúa Cha là Đấng nào, nhưng còn để ta “đến” với Chúa Cha.  Giữa Thiên Chúa và con người là khoảng cách vô biên, tự sức ta không bao giờ có thể vượt qua được.  Do đó, Thiên Chúa đã quyết định đến với ta trước qua Chúa Ki-tô, để Chúa Ki-tô dẫn đưa ta đến với Người.  Chúa Ki-tô đã chọn con đường “trút bỏ vinh quang” để đến với ta.  Người dạy ta biết về Thiên Chúa, tỏ cho ta thấy Thiên Chúa và trở thành “đạo lý” hoặc con đường để ta đến với Thiên Chúa.  Con đường của ta là con đường xa rời Thiên Chúa và dẫn ta đến hư mất.  Chỉ có con đường của Chúa Ki-tô mới dẫn ta đến Thiên Chúa.  Do đó, ta phải đổi đường, hoặc nói khác đi, phải sám hối, phải quay đầu hướng về Thiên Chúa.  “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.  Ta phải quay lưng lại tội lỗi và lắng nghe cùng thực thi Lời Chúa.
          Trước khi trở về với Chúa Cha, Chúa Ki-tô đã thiết lập Giáo Hội như một bí tích nói lên việc Người “ở lại” với nhân loại cho đến tận thế (Mt 28:20) qua sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần.  Dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, Giáo Hội thi hành sứ mệnh rao giảng về “con đường Ki-tô” cho nhân loại, để họ quay về và đi con đường ấy mà đến với Thiên Chúa.
2.  “Anh em hãy tiến lại gần Đức Ki-tô” (bài Thánh Thư – 1 Pr 2:4-9)
          Đức Ki-tô là con đường đưa ta đến với Thiên Chúa.  Nhưng con đường ấy lại ngược chiều với con đường thế gian ta thích đi, do đó ta thường ngần ngại không muốn đi theo.  Thánh Phê-rô khuyên ta đừng sợ hãi e ngại, nhưng “hãy tiến lại gần Đức Ki-tô”.  Ngài không mô tả Chúa Giê-su bằng những nét lôi cuốn của loài người, nhưng sử dụng hình ảnh quen thuộc với anh chị em Do-thái để nói về Chúa Ki-tô:  Người là viên đá quý giá được Thiên Chúa chọn lựa và đặt làm tảng đá góc tường.  Thiên Chúa muốn thiết lập Giáo Hội Người trên trần gian làm phương tiện đem ơn cứu độ đến cho nhân loại.  Người đặt Chúa Ki-tô làm đá tảng góc tường.  Vị trí quan trọng của tảng đá góc tường là để nối kết các bức tường lại với nhau và giữ cho căn nhà không sụp đổ.  Nền tảng của ngôi nhà Giáo Hội là các Tông Đồ, những người lãnh nhận, gìn giữ và giảng dạy giáo lý Tin Mừng. 
Dĩ nhiên mỗi người Ki-tô hữu cũng có phần trong công việc xây dựng ngôi nhà Giáo Hội tại trần gian.  Thánh Phê-rô nói lên tầm quan trọng của ta trong việc xây dựng ấy:  “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng”.  Viên đá nằm trong tay thợ xây.  Ông biết đặt nó ở đâu mới đúng chỗ.  Hình ảnh linh hoạt này giúp ta nhìn lại chính mình và khám phá ra những tài năng vẻ đẹp Thiên Chúa ban cho ta để ta đóng góp vào việc xây dựng Giáo Hội.
Hình ảnh thứ hai được thánh Phê-rô sử dụng để nói lên sự đóng góp xây dựng của Ki-tô hữu, đó là ta được làm dân tuyển chọn, một Ít-ra-en Mới với sứ mệnh loan truyền những kỳ công của Người.  Mà kỳ công của Người không chỉ là việc tạo dựng trời đất muôn loài, mà nhất là Người đã cứu độ ta và cho ta được bước theo Con Một Người tiến về cõi phúc muôn đời.  Chúa không những cứu độ ta như những cá nhân, nhưng còn như một tập thể.  Sự cứu độ của ta liên kết với sự cứu độ của người khác.  Nói khác đi, ta cũng có trách nhiệm đối với ơn cứu độ của người khác.  Do đó, nếu ta giúp anh chị em được cứu độ là ta làm cho ngôi nhà Giáo Hội Chúa Ki-tô được phát triển và tăng thêm rạng rỡ.
3.  “Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giê-ru-sa-lem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều” (bài trích sách Công vụ Tông Đồ – Cv 6:1-7)
          Phụng vụ Lời Chúa muốn đưa ra một gương mẫu cụ thể về việc xây dựng và phát triển Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Đó là việc thiết lập một sứ vụ mới nhắm vào công việc bác ái:  chức phó tế.  Việc xây dựng Giáo Hội tại thế cần phải được quân bình.  Ta không thể chỉ dồn mọi nỗ lực vật chất và tâm trí để lo xây những nhà thờ thật lớn, thật đẹp mà quên đi việc xây dựng một cộng đồng Ki-tô có căn tính đích thực.  Ta không thể lập cho nhiều hội đoàn để sinh hoạt xôm tụ mà coi nhẹ việc huấn luyện đời sống đạo đức nội tâm của hội viên.  Ngược lại, ta cũng không thể chỉ chú trọng đến kinh hạt, xưng tội rước lễ mà quên đi những công tác từ thiện bác ái.  Giáo Hội sơ khai cũng gặp những trở ngại mất quân bình ấy.  Các bà góa trong nhóm tín hữu gốc Do-thái theo văn hóa Hy-lạp đã bị bỏ quên trong sự thiếu thốn.  Do đó, các Tông đồ đã họp với tín hữu để tìm cách giải quyết.  Mọi người đồng ý thiết lập một sứ vụ mới chuyên lo giúp đỡ các bà góa và làm công việc bác ái, để các Tông đồ có thì giờ lo giảng dạy Lời Chúa.  Họ tuyển chọn một số người, đem đến giới thiệu với các Tông đồ và các ngài truyền chức phó tế cho họ.
          Điều đáng ghi ở đây là tinh thần cộng tác và hăng say của tín hữu và các Tông đồ.  Họ thành thực muốn xây dựng Giáo Hội và dễ dàng cảm thông với nhau.  Đồng cảm với Giáo Hội (sentire cum Ecclesia) là yếu tố căn bản để cả hàng giáo phẩm lẫn giáo dân cộng tác với nhau mà làm cho Giáo Hội được phát triển.  Giáo Hội đã kịp nhận ra sự mất quân bình và cùng nhau tìm phương cách giải quyết.  Công việc bác ái thường dễ bị quên lãng trong Giáo Hội.  Những gì đã xảy ra cho Giáo Hội sơ khai cũng có thể xảy ra tại bất cứ giáo hội địa phương nào.  Do đó, Giáo Hội hôm nay vẫn luôn luôn nhắc nhở và khuyến khích giáo dân tham gia tích cực vào những công cuộc bác ái.  Đây chính là một phương thức sống Lời Chúa thực tế nhất và giúp cho “Lời Thiên Chúa lan tràn”, đồng thời cũng giúp cho “số các môn đệ tăng thêm rất nhiều”.
4.  Sống Lời Chúa
          Từ hình ảnh Chúa Giê-su, Vị Mục Tử Nhân Lành, Phụng vụ Lời Chúa đưa ta đến suy niệm về Giáo Hội.  Người dẫn toàn thể nhân loại tiến về đoàn tụ với Thiên Chúa.  Người tiếp tục công việc dẫn dắt ấy bằng cách thiết lập Giáo Hội, bí tích phổ quát, để quy tụ mọi người muốn bước theo Người là con đường, sự thật và sự sống.  Chúa Giê-su vẫn là Đầu Giáo Hội, là đá tảng góc tường.  Do đó, khi ta tiến lại gần và liên kết với Chúa Ki-tô là ta gia nhập đoàn lữ hành của Giáo Hội do Người dẫn dắt.  Ta cũng được mời gọi sử dụng mọi tài năng Chúa ban để góp phần xây dựng Giáo Hội của Người ngay tại trần gian này.
Suy nghĩ:  Chúa Giê-su nói với ông Phi-líp-phê:  “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”.  Tôi đã thấy Chúa Giê-su ở đâu và qua những ai?  Tôi đã gặp gỡ Chúa Giê-su trong những hoàn cảnh nào?  Trong cầu nguyện?  Trong suy gẫm Kinh Thánh?  Trong tiếp xúc với người khác?  Tôi nhận ra Chúa Giê-su biểu lộ những gì về Chúa Cha?
Cầu nguyện:  Lạy Chúa là Đấng an bài mọi sự cách tuyệt vời, Chúa trải rộng vương quyền Đức Ki-tô trên khắp cùng trái đất để mọi dân được hưởng ơn cứu độ.  Xin làm cho Hội Thánh thực sự trở thành dấu chỉ ơn cứu độ cho hết thảy mọi người, đồng thời cũng trở thành nơi Chúa tỏ bày và thực hiện chương trình yêu thương của Chúa.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện nhập lễ, Lễ cầu cho Hội Thánh toàn cầu)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS5-A64: Cha của Đức Giêsu và Nhà của Ngài

ĐỌC LỜI CHÚA
·  Cv 6, 1-7:  (7) Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, cũng có rất đông các tư tế đón nhận đức tin.
·  1Pr 2, 4-9: (5) Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người.
·  TIN MỪNG: Ga 14, 1-12
Nói với các môn đệ sau tiệc ly
(1) Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. (2) Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi don chỗ cho anh em.  (3) Nếu Thầy đi don chỗ cho anh em, thì Thầy lai đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.  (4) Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi».
 (5) Ông Tôma nói với Đức Giêsu: «Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đươc đường?»  (6) Đức Giêsu đáp: «Chính Thầy là con đường, là sư thật và là sư sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.  (7) Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người».
 (8) Ông Philípphê nói: «Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện».  (9) Đức Giêsu trả lời: «Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lai nói: 'Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha'?  (10) Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tư mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.  (11) Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm.  (12) Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm đươc những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.
CHIA SẺ
 
Câu hỏi gợi ý:
 

Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa Ba Ngôi, Ba Ngôi đa dạng và khác biệt nhau, Ngài tạo dựng: PS5-A64

1.      Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa Ba Ngôi, Ba Ngôi đa dạng và khác biệt nhau, Ngài tạo dựng nên vũ trụ cũng vô cùng đa dạng và đầy khác biệt. Điều đó có ý nghĩa gì? Trong bối cảnh ấy, câu nói của Đức Giêsu: «Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở» có ý nghĩa gì?
2.      Đức Giêsu nói: «Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha». Chúa Cha vô hình, Đức Giêsu hữu hình, sao lại nói như thế được? Câu này phải hiểu thế nào?
3.      Bây giờ đâu ai thấy Đức Giêsu nữa. Vậy thì có cách gì khác để thấy Thiên Chúa? Có thể nói: «Ai thấy tha nhân là thấy Chúa Cha» không? Tại sao?
Suy tư gợi ý:
Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu nói về hai thực tại siêu hình mà không ai ở trần gian này có thể hiểu thấu hay kinh nghiệm trực tiếp được. Trước hết Ngài nói về Nhà Cha Ngài, nơi Ngài và những kẻ theo Ngài sẽ đến. Ngài đã đến đó trước để chuẩn bị cho chúng ta, những người sẽ đến sau này. Kế đó, Ngài nói đến chính Thiên Chúa, Cha của Ngài.
1. Đức Giêsu nói về Nhà Cha Ngài, hay thiên đàng
Ngài nói: «Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở». Nếu Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa với Ba Ngôi khác nhau nhưng lại bằng nhau, đã tạo dựng nên một vũ trụ hết sức đa dạng với đủ mọi giống loài khác nhau, ắt Thiên Chúa của chúng ta phải là một Thiên Chúa rất thích sự đa dạng và bình đẳng. Tất cả mọi sự Ngài dựng nên đều đa dạng, đều gồm nhiều loại khác nhau. Riêng con người, là «hình ảnh của Ngài», thì có nam có nữ, có nhiều chủng loại (da trắng, da đen, da màu), nhiều dân tộc, nhiều quốc gia, nhiều tôn giáo, nhiều nền văn hóa, nhiều tính tình, nhiều khuynh hướng khác nhau. Ngay trong cơ thể một con người thì cũng gồm nhiều cơ quan rất khác nhau. Như thế, ắt ở trên thiên đàng, Ngài cũng phải tạo lập nhiều «chỗ ở» rất khác nhau phù hợp với sự đa dạng của con người.
Thiên Chúa của chúng ta vốn đa dạng ngay từ bản tính (vì là Ba Ngôi khác nhau), và sự đa dạng ắt phải là bản chất mọi đường lối của Ngài. Thế nhưng con người – vốn được tạo dựng nên rất đa dạng – do lòng ích kỷ, tự kiêu và óc bè phái của mình, lại có khuynh hướng thích độc dạng. Họ không muốn những ai khác mình, có niềm tin, chủ trương hay đường lối khác mình… được tồn tại và phát triển. Họ chỉ muốn bè phái mình, văn hóa của mình, ý thức hệ của mình, tôn giáo của mình tồn tại và phát triển mà thôi. Vì thế, họ tìm cách thuyết phục hoặc ép buộc người khác phải giống mình, theo mình. Họ muốn thống nhất mọi sự trong sự đồng dạng hay độc dạng, và dạng mà họ muốn mọi người đều có chính là dạng của họ. Đó chính là một ước muốn đi ngược lại tự nhiên, ngược lại đường lối của Thiên Chúa. Vì thế, càng muốn thống nhất, càng không chấp nhận sự khác biệt của nhau, con người càng bị chia rẽ. Câu chuyện về tháp Baben (St 11,1-9) là một bài học điển hình mà con người suốt bao thế hệ học mãi vẫn không thuộc. Con người muốn thống nhất mọi sự: «Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất» (St 11,4). Nhưng điều đó ngược lại thánh ý Thiên Chúa, nên Ngài đã quyết định «làm xáo trộn tiếng nói của mọi người, và phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất» (St 11,9).
Trong quá khứ, Giáo Hội Công giáo cũng đã từng bị cám dỗ muốn thống nhất trong đồng dạng hơn là hiệp nhất trong đa dạng. Lịch sử cho thấy mỗi lần Giáo Hội thống nhất thêm một chi tiết về đức tin thì lại có thêm một bè rối hoặc một giáo phái ly khai. Vì thế, hiện nay sự hiệp nhất trong Giáo Hội đã bị sứt mẻ rất nhiều. Trong Tông Thư «Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba» (Tertio Millennio Adveniente), Đức Gioan-Phaolô II đã kêu gọi Giáo Hội sám hối vì trong thiên niên kỷ thứ hai, Giáo Hội một phần nào đã «phá hỏng sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn có nơi Dân Ngài» (số 34). Và hiện nay Giáo Hội đang muốn sửa chữa lại những sứt mẻ ấy. Nhưng thiết tưởng Giáo Hội chỉ có thể thành công nếu chủ trương hiệp nhất chứ không thống nhất. Hiệp nhất là tập hợp những con người hay tập thể khác nhau, có chủ trương khác nhau thành một tập thể lớn có một đường hướng chung, nhưng vẫn tôn trọng sự khác biệt của nhau. Còn thống nhất là dẹp bỏ tất cả những khác biệt để trở nên một khối đồng nhất, đồng dạng. Hiện nay, sau công đồng Vatican II, trên lý thuyết, Giáo Hội đang chủ trương hiệp nhất trong đa dạng. Ước mong chủ trương ấy đang được thực hiện.
Đang khi Đức Giêsu muốn dọn chỗ cho mọi người trên thiên đàng, thì lại có nhiều người muốn hạn chế số người được vào thiên đàng vì họ mong rằng chỉ những ai cùng tôn giáo, cùng niềm tin, cùng chủ trương với mình mới được vào đấy mà thôi. Tôi e rằng chính những người này sẽ không thích hợp với một thiên đàng «có nhiều chỗ ở», rất phong phú và đa dạng theo ý của Thiên Chúa.
2. Đức Giêsu nói về Thiên Chúa hay Cha của Ngài
Chẳng ai thấy được Thiên Chúa vì Ngài vô hình đối với mọi giác quan con người. Nhưng kinh nghiệm về Thiên Chúa thì ai cũng có thể có được. Tương tự như dòng điện chẳng ai có thể thấy được, nhưng thời nay, ai cũng có đầy ắp kinh nghiệm về điện, cho dù là trẻ con. Thật vậy, khi cả phố đang bị cúp điện mà bắt đầu có điện lại, là ta thấy đám trẻ con trong xóm la ầm lên ngay: «Có điện rồi!» Dòng điện không thể thấy được, vậy tại sao khi có điện chúng lại nhận ra ngay? Chính vì chúng thấy dòng điện biểu hiện thành đèn sáng, quạt quay, tivi có hình, v.v… Cũng vậy đối với Thiên Chúa. Tất cả những gì hiện hữu và hoạt động ở trong bản thân ta và chung quanh ta đều là những biểu hiện của Thiên Chúa. Vì không có Thiên Chúa thì không thể có tất cả những thứ ấy. Vì thế, thật là ngớ ngẩn khi Philípphê yêu cầu Đức Giêsu: «Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha». Yêu cầu ấy cũng ngớ ngẩn y như yêu cầu của một em bé đang coi tivi dưới ánh đèn sáng choang: «Bố ơi, xin cho con thấy điện là gì? ở đâu?» Bố em sẽ chỉ vào tivi đang có hình và bóng đèn đang sáng, nói: «Điện đấy con!».
Thiên Chúa không thể thấy được, nhưng biểu hiện rõ nét nhất của Ngài là Đức Giêsu, Con yêu quý của Ngài. Thánh Phaolô viết: «Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa» (Dt 1,3; x. Cl 1,15). Vì thế, Đức Giêsu mới nói với Philípphê: «Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha» (Ga 14,9), phần nào tương tự như: ai thấy đèn sáng là thấy dòng điện. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, Ngài giống Thiên Chúa Cha chắc chắn không phải ở thân xác, mà chủ yếu là ở tình yêu vô biên của Ngài đối với nhân loại và vũ trụ. Không gì biểu hiện Thiên Chúa cách trung thực cho bằng tình yêu chân thật, nhất là thứ «tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). Ai càng có nhiều tình yêu chân thật thì càng giống Thiên Chúa, vì từ bản chất, «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16), mà Đức Giêsu là người có tình yêu cao cả nhất. Vì thế, tình yêu mới chính là bản chất cốt yếu của sự thánh thiện, hơn là việc có nhiều nhân đức hay sự trong sạch. Trong sạch như thiên thần, đầy nhân đức như Đức Mẹ mà thiếu tình yêu thì cũng chỉ như một dãy số không thiếu số 1 đứng đầu.
Tuy nhiên, biểu hiện của Thiên Chúa không chỉ có Đức Giêsu, mà còn là tất cả những gì hiện hữu và hoạt động trong vũ trụ, vì không gì có thể hiện hữu hay hoạt động mà không do Thiên Chúa, hoặc không có nền tảng là Thiên Chúa. Nhưng một trong những biểu hiện rất rõ nét và cụ thể của Thiên Chúa chính là những người sống chung quanh ta, những người mà ta gặp trong cuộc đời. Họ cũng chính là hiện thân và là hình ảnh của Thiên Chúa đối với ta. Kinh Thánh đã xác nhận điều đó trong rất nhiều câu như: «Mỗi lần các ngươi làm (/không làm) điều gì cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm (/không làm) cho chính Ta» (Mt 25,40.45). Vì thế, ta không cần phải tìm gặp Thiên Chúa ở đâu xa. Lời Đức Giêsu nói với Philípphê có thể đổi lại thành: «Ai thấy tha nhân là thấy Chúa Cha». Tình yêu và cách đối xử của ta đối với tha nhân sẽ được Thiên Chúa chính thức coi là tình yêu và cách đối xử thực tế nhất với chính Ngài, hơn là những biểu lộ tình yêu đối với Ngài trong những nghi thức tôn giáo bề ngoài. Rất nhiều Kitô hữu không nắm được điều cốt yếu và cần thiết này, nên có thể họ sẽ rất ngạc nhiên khi thấy Chúa nói với họ trong ngày phán xét: «Ta không hề biết các ngươi; hỡi bọn làm điều gian ác» (Mt 7,23).
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, con cảm nghiệm về Cha cách sâu xa và dễ dàng nhất khi con cảm nghiệm về chính bản thân con. Bản thân con chính là tác phẩm của Cha với biết bao kỳ diệu hàm ẩn trong đó. Vì thế, biểu hiện cụ thể nhất, dễ cảm nghiệm nhất về sự hiện hữu của Cha đối với con chính là sự hiện hữu đầy kỳ diệu của chính bản thân con. Con cũng chính là biểu hiện của Cha. Xin Cha hãy biến con thành một biểu hiện trung thực của Cha trước mặt mọi người bằng cách đổ tràn tình yêu chân thật của Cha vào trong con, để con yêu thương mọi người như chính Đức Giêsu yêu thương con. Để qua tình yêu chân thật của con, mọi người đều nhận ra Cha ở nơi con.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

PS5-A65: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       1 Phê-rô 2: 4-9
 

Có thể nói nội dung thư 1 Phê-rô là một suy niệm sâu xa về công cuộc cứu chuộc của Chúa : PS5-A65

Có thể nói nội dung thư 1 Phê-rô là một suy niệm sâu xa về công cuộc cứu chuộc của Chúa Giê-su qua cái chết và phục sinh của Người. Máu cứu chuộc và sự sống lại của Chúa Giê-su đã biến đổi thân phạn con người chúng ta và tạo một quan hệ mới giữa chúng ta với Thiên Chúa. Một hình ảnh thật gần gũi diễn tả mối quan hệ ấy là hình ảnh đoàn chiên, để nói lên quan hệ mật thiết giữa Vị Mục Tử nhân lành với các con chiên. Cũng như trong Cựu Ước, Đức Chúa là Mục Tử của dân Ít-ra-en, thì giờ đây trong thời Tân Ước, Chúa Giê-su là Mục Tử Mới, dẫn dắt Giáo Hội Người, cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Nhưng với Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, Giáo Hội tiếp tục mời gọi chúng ta suy niệm về mối quan hệ ấy qua một hình ảnh sống động khác: Đền Thờ thiêng liêng.
          Qua hai hình ảnh trên, thánh Phê-rô muốn nói lên vai trò của Chúa Giê-su Phục Sinh. Nhờ Người, Thiên Chúa đã đưa chúng ta lên một địa vị mới: 1) làm con chiên của Đàn chiên mới để được sống và sống dồi dào (sự sống của Thiên Chúa), và 2) làm những viên đá sống động để xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng. Để bắt đầu suy niệm về Đền Thờ thiêng liêng, thánh Phê-rô theo cùng một phương thức suy niệm về hình ảnh đoàn chiên, nghĩa là trước hết ngài mời gọi chúng ta nhìn vào Chúa Giê-su, một yếu tố quan trọng nhất trong kiến trúc xây dựng Đền Thờ thiêng liêng.
          a) Anh em hãy tiến lại gần Đức Ki-tô, đá tảng góc tường.         
          Quá quen với kiến trúc tân thời, chúng ta khó mà hiểu được tầm quan trọng của đá tảng góc tường trong kiến trúc thời xưa. Đức Ki-tô là đá tảng góc tường của ngôi Đền Thờ mới, thay thế cho đá tảng Xi-on của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Trước mặt Thiên Chúa và những người tin, Đức Ki-tô là "viên đá sống động", "được Thiên Chúa chọn lựa" và "quý giá." Nhưng đối với những kẻ không tin, viên đá Ki-tô đã bị họ loại bỏ. Họ đã tẩy chay Người, phủ nhận giáo lý của Người, chống đối Người và trao Người cho kẻ dữ đóng đinh trên thập giá.
          Kế hoạch của Thiên Chúa Cha là xây dựng một Đền Thờ thiêng liêng. Người đã chọn Đức Ki-tô, viên đá sống động, làm đá tảng góc tường. Người cũng muốn dùng chúng ta như những viên đá sống động mà xây Đền Thờ ấy. Đá tảng và những viên đá của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem chỉ là những viên đá bất động, là nơi chốn để con người gặp gỡ Thiên Chúa qua phụng tự mà thôi. Nhưng với Đền Thờ mới này, sức sống là Thánh Thần tác động trên mọi phần tử, trên Đức Ki-tô và những kẻ tin vào Người, làm cho mọi người trở nên sống động, để dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa. Tuy nhiên chúng ta đừng bỏ qua một cụm từ vô cùng quan trọng, là "nhờ Đức Giê-su Ki-tô." Không có Đức Ki-tô, Đền Thờ thiêng liêng kia không bao giờ được khởi sự và sẽ chẳng bao giờ có những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa. Không có Đức Ki-tô, chúng ta sẽ không bao giờ được Thiên Chúa dùng làm những viên đá sống động. Thánh Phê-rô coi việc Thiên Chúa sử dụng chúng ta như những viên đá sống động là một "vinh dự" cho chúng ta.
          b) Anh em là hàng tư tế vương gia                  
Từ hình ảnh Đền Thờ thiêng liêng, thánh Phê-rô dẫn chúng ta tới một suy niệm sâu xa về chính chúng ta. Nhờ được kết hiệp với Chúa Ki-tô giống như những viên đá nối kết với đá tảng góc tường, thân phận của chúng ta được biến đổi. Chúng ta không phải qua trung gian của những hy lễ chiên bò nữa, nhưng vì Chúa Ki-tô là chính của lễ, nên khi chúng ta liên kết với Chúa Ki-tô là chúng ta được trở thành "những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa." Ngày xưa chỉ có một số ít người được tuyển chọn vào hàng tư tế. Ngày nay, nhờ Đức Ki-tô, tất cả chúng ta đã được Thiên Chúa tuyển chọn để làm Dân của Thiên Chúa, vì chỉ có Dân của Người mới được gọi là hàng tư tế vương giả. Việc tuyển chọn này đã cho chúng ta đủ tư cách để "loan truyền những kỳ công của Người" và "được hưởng lòng xót thương" của Người.
c) Những viên đá sống động của Đền Thờ Giáo Hội hôm nay
          Hình ảnh Chúa Ki-tô là đá tảng góc tường trở thành gương mẫu cho chúng ta. Đá tảng ấy đã được Thiên Chúa tuyển chọn. Đá tảng ấy sống động, đầy thần khí của Thiên Chúa, phân phát sự sống thiêng liêng. Nhưng đá tảng ấy cũng bị những người không tin loại bỏ. Những gì chúng ta gặp nơi Chúa Ki-tô thì chúng ta cũng gặp nơi chính chúng ta. Quan trọng là cũng như Chúa Ki-tô, chúng ta "hãy để Thiên Chúa dùng chúng ta như những viên đá sống động."
Câu hỏi gợi ý chia se
          Tham dự vào chức tư tế của Chúa Giê-su là điều ít khi chúng ta để ý tới. Đoạn thư này của thánh Phê-rô giúp tôi có cái nhìn mới như thế nào về quan hệ tư tế giữa tôi với Chúa Ki-tô và với Thiên Chúa?
          Qua kinh nghiệm thiêng liêng cá nhân, tôi diễn tả và chia sẻ với anh chị em thế nào là "những viên đá sống động"trong gia đình và trong xứ đạo?
          Thánh Phao-lô thường gọi Ki-tô hữu là "các thánh" để nói lên phẩm giá của địa vị mới chúng ta. Ở đây, thánh Phê-rô cũng gọi chúng ta là "dân thánh". Ý tưởng ấy có nhắc nhớ tôi sống đúng với địa vị của mình không? Tôi sẽ sống thế nào để người ta nhận ra tôi thuộc về Thiên Chúa như Đức Ki-tô?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc kinh sau đây:
          Lạy Chúa Giê-su, Tình Yêu của con, nếu Hội Thánh được ví như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, thì hẳn Hội Thánh không thể thiếu một chi thể cần thiết nhất và cao quý nhất. Đó là Trái Tim, một Trái Tim bừng cháy tình yêu. Chính tình yêu làm cho Hội Thánh hoạt động. Nếu Trái Tim Hội Thánh vắng bóng tình yêu, thì các tông đồ sẽ ngừng rao giảng, các vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ máu mình...
          Lạy Chúa Giê-su, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là tình yêu. Con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong Hội Thánh: nơi Trái tim Hội Thánh, con sẽ là tình yêu, và như thế con sẽ là tất cả, vì tình yêu bao trùm mọi ơn gọi trong Hội Thánh. Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con, mọi ước mơ của con được thực hiện. (dựa theo lời của thánh Tê-rê-xa)
 (Trích RABBOUNI, lời nguyện 62)
 
 
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS5-A66: CHÚA NHẬT V -PHỤC SINH 2002

 Đức Giám Mục Giáo Phận trong một Thánh Lễ Giới Trẻ tại nhà thờ Bảo Lộc
 

Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy." Có lẽ hơn khi nào hết: PS5-A66

"Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy." Có lẽ hơn khi nào hết, thời đại chúng ta đang sống có quá nhiều âu lo và bất ổn. Thời đại đang đánh mất niềm tin. Gần đây nhất, Đức Hồng Y Bernard Law của Tổng Giáo Phận Boston, nơi xuất phát ra cơn đại hồng thủy xì-căng-đan với danh sách 80 linh mục bị tố cáo vi phạm tính dục, đã phải đến Vatican để gặp Đức Thánh Cha, trong đó có việc xin từ chức, nhưng không được chấp thuận.Thời đại cần lắng nghe được lời nhắn nhủ của Đấng Mục Tử Nhân Lành trong toàn vẹn sứ điệp của nó.
"Hãy tin vào Thầy" điều đó có nghĩa gì?