Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 1-50 Ban một Đấng Phù Trợ

Thứ hai - 15/05/2017 10:14
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 1-50 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 1-50 Hứa ban một Đấng Phù Trợ

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 1-50 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
PS6-A1: VỊ THIÊN CHÚA BỊ LÃNG QUÊN.. 2
PS6-A2: SỰ SỐNG MỚI: NTĐY/210. 4
PS6-A3: CS/69- GIỮ GIỚI RĂN.. 5
PS6-A4: CSTM/121- MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI 6
PS6-A5: PVCNVLT/240- TIỄN BIỆT.. 8
PS6-A6: Suy Niệm của Lm. VIKINI: ANH EM Ở TRONG THẦY.. 9
PS6-A7: Suy Niệm của Lm. Trọng Hương. 11
PS6-A8: THẦN TÌNH YÊU VÀ CHÂN LÝ.. 12
PS6-A9: THẦY SẼ XIN CHA VÀ NGƯỜI SẼ BAN CHO CÁC CON.. 14
PS6-A10: Thần Chân Lý ban Sự Sống - Cao Tấn Tĩnh, BVL. 16
PS6-A11: CHÚA THÁNH THẦN - Lm. Minh Vận, CMC.. 20
PS6-A12: Đấng Bảo Trợ - Br. Hoàng Hiệp Nghĩa, CMC.. 23
PS6-A13: LỀ LUẬT YÊU THƯƠNG.. 24
PS6-A14: HỨA BAN THÁNH THẦN.. 26
PS6-A15: CUỘC SỐNG MỚI CỦA TÍN  HỮU.. 27
PS6-A16: LÒNG ANH EM ĐỪNG XAO XUYẾN …... 30
PS6-A17: ƠN RỬA TỘI CÒN SÓNG ĐỘNG?. 34
PS6-A18: TÌNH YÊU VÂNG LỜI 35
PS6-A19: THẦY SẼ XIN ĐẤNG AN ỦI ĐẾN.. 38
PS6-A20: THẦY SẼ KHÔNG BỎ CÁC CON MỒ CÔI 40
PS6-A21: Dưới tác động Thánh Thần. 43
PS6-A22: Luật Yêu Mến. 45
PS6-A23: Thần Khí Sự Thật= * THE SPIRIT OF TRUTH *. 48
PS6-A24: SLC – Mồ côi 50
PS6-A25: SLCTTY/174- Tuân giữ. 51
PS6-A26: SLCTTY/174 - Tuân giữ. 54
PS6-A27: CSTM/113 – Yêu mến Chúa. 55
PS6-A28: Cái Chết Là Cái Chết! 56
PS6-A29: Anh Em Cũng Sẽ Sống. 58
PS6-A30: Xin tỏ cho con thấy Chúa Cha - Nhóm Đồng Hành. 59
PS6-A31: LỜI DI CHÚC TRONG GIÂY PHÚT TIỄN BIỆT.. 60
PS6-A32: YÊU CHÚA, HÃY TUÂN GIỮ LỜI CHÚA.. 63
PS6-A33: BA TRONG MỘT ! 65
PS6-A34: DỌN LÒNG ĐÓN NHẬN THÁNH THẦN - Lm. Jude Siciliano, OP. 67
PS6-A35: Giữ lời Thầy - Lm Francis Lý Văn Ca. 71
PS6-A36: Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi Phù Trợ chúng ta. 72
PS6-A37: TIN VÀO LỜI CHÚA HỨA BAN THÁNH THẦN.. 73
PS6-A38: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 75
PS6-A39: Hứa ban Thần Khí 79
PS6-A40: Sự sống mới – ĐTGM. Ngô quang Kiệt 82
PS6-A41: Một cuộc đàm thoại liên hệ đến chúng ta. 84
PS6-A42: Suy niệm của JKN.. 85
PS6-A43: Hãy vì Chúa mà yêu mến tha nhân – Lm. Trần Ngà. 88
PS6-A44: Điều răn Chúa dạy. 90
PS6-A45: Khi Chúng Ta Yếu Đuối Là Lúc Chúng Ta Mạnh Mẽ. 91
PS6-A46: CHỦ NHẬT VI PHỤC SINH.. 93
PS6-A47: Sức mạnh của Đức Tin. 95
PS6-A48: Hãy Trở Thành “Người Bảo Vệ – Paraclete” cho Tha Nhân. 96
PS6-A49: Đức Giêsu tỏ mình ra cho ai yêu mến Người 98
PS6-A50: SỰ SỐNG MỚI 100



 

PS6-A1: VỊ THIÊN CHÚA BỊ LÃNG QUÊN

Như chúng ta đã biết : người Do thái không có liên hệ gì với người Samaria. Giữa hai dân tộc: PS6-A1

Như chúng ta đã biết : người Do thái không có liên hệ gì với người Samaria. Giữa hai dân tộc này đã có một hố sâu ngăn cách. Từ những khác biết về tôn giáo, về phong tục… Họ đã nhìn nhau bằng ánh mắt hận thù.
Thế nhưng, bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã nói với người đàn bà xứ Samaria :
- Giờ đã đến và đã đến thật rồi, con người phải thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý.
Việc thờ phượng này không phải chỉ giới hạn nơi một dân tộc hay nơi một dòng giống, trái lại phải được trải rộng tới mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Kết luận về câu chuyện người đàn bà , tác giả sách Tin mừng đã ghi nhận : sau khi nghe Chúa Giêsu giảng dạy, nhiều người xứ Samaria đã tin Ngài là Đấng Messia, Đấng cứu độ trần gian.
Sách Công vụ Tông đồ cũng cho thấy : số các tín hữu  ngày một gia tăng. Philipphê được sai đến một thành xứ Samaria để rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng lắng nghe những lời giảng dạy vì họ cũng đã được biết và được chứng kiến những phép lạ Philipphê đã làm. Họ cảm thấy hân hoan vui sướng.
Các tông đồ ở Giêrusalem, khi hay tin dân Samaria đón nhận lời Chúa, liền cử Phêrô và Gioan đến với họ. Cuộc thăm viếng này đã trở nên như một dấu chỉ cho sự hiệp nhất vào thời buổi lúc bấy giờ.
Đúng thế, lúc bấy giờ có nhiều khuynh hướng khác biệt giữa người Do Thái và người Samaria, giữa những người tin và không tin vào Đức Kitô. Việc sai phái hai vị tông đồ này đã làm cho bức tường ngăn cách bị sụp đổ, chấm dứt óc bè phái và những tranh cãi trong dĩ vãng. Phêrô và Gioan chỉ có một ý tưởng, đó là làm cho những tân tòng trở nên những Kitô hữu trưởng thành.
Tất cả những người Samaria này mới chỉ được rửa tội nhân danh Đức Kitô. Vì thế, hai vị tông đồ đã đặt tay trên họ và họ được lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Những kẻ thù ngày hôm qua thì ngày hôm nay đã thực sự là những người anh em trong Đức Kitô.
Được Chúa Thánh Thần soi sáng và thêm sức, họ cảm thấy như mọi thù ghét và oán hận đều tiêu tan. Giờ đây, tất cả chỉ còn là một : một Thiên Chúa, một Đức Kitô, một phép rửa, một Chúa Thánh Thần và một dân tộc. Các tông đồ không hề phân biệt các tân tòng và những người Do Thái đồng hương với mình.
Đây chính là sự hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần mà công đồng Vaticanô II đã mong muốn. Thực vậy, Giáo hội luôn kêu mời chúng ta cầu nguyện cho sự hiệp nhất  giữa các Kitô hữu, giữa những người công giáo với những anh em ly khai cũng giữa những người công giáo như với những anh ngoài Kitô giáo.
Chúng ta biết rằng : dưới tác động của Chúa Thánh Thần, những người Samaira đã trở nên những tín hữu trưởng thành. Chúa Thánh Thần chính là Đấng Đức Kitô đã hứa sai đến để đổi mới khuôn mặt địa cầu.
Chính Chúa Giêsu, trước khi về trời, đã phán hứa với các môn đệ :
- Nếu các con yêu mến Thày, thì hãy tuân giữ những điều Thày truyền dạy. Thày sẽ xin với Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Phù trợ mới. Ngài là thần chân lý và sẻ ở cùng các con luôn mãi.
Nếu chúng ta cố gắng bước đi dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, thì chắc chắn Ngài sẽ đưa  chúng ta tới tình yêu thương và hiệp nhất.
Thế nhưng, có bao giờ chúng ta đã cầu nguyện với Ngài khigặp phải những gian thử  thách trên đường đời ?
Chúng ta thường băn khoăn lo lắng : làm thế nào để có thể sống đạo giữa biết bao nhiêu khó khăn và thử thách trong cuộc đời?
Vậy tại sao chúng ta lại không kêu xin Chúa Thánh Thần ban xuống cho chúng ta sức mạnh và ánh sáng ?
Phải chăng Chúa Thánh Thần mãi mãi vẫn là vị Thiên Chúa bị quên lãng nhiều nhất trong cuộc sống của chúng ta ?

 

PS6-A2: SỰ SỐNG MỚI: NTĐY/210

Câu lạc bộ “Bạn giúp bạn” hình thành tại Sài gòn năm 1996, do bác sĩ Nguyễn Bửu Hiền điều: PS6-A2

Câu lạc bộ “Bạn giúp bạn” hình thành tại Sài gòn năm 1996, do bác sĩ Nguyễn Bửu Hiền điều hành với sáu thành viên đều đã nhiễm HIV. Những “người bạn” này tự nghĩ : Cuộc đời mình dù đã tới dấu chấm hết, nhưng vẫn còn có thể có ích cho xã hội, họ đã dấn thân phục vụ bằng những việc đơn giản như an ủi, động viên và chăm sóc các bệnh nhân khác để chính họ cũng sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời.
Hiện nay, câu lạc bộ “Bạn giúp Bạn” đã có khoảng 500 thành viên tỏa mạng lưới ở khắp quận huyện. Ban điều hành gồm 12 người, trong đó có ba người Công giáo, riêng nữ tu Trần thị Kim Loan, dòng Da minh Tam Hiệp là phó chủ nhiệm phụ trách hoạt động xã hội và tham vấn cho người nhiễm HIV. Trụ sở đặt tại 43 đường Lam Sơn, quận Bình Thạnh.
Chị Kim Loan kể lại một kỷ niệm về một nhạc sĩ mất vào tháng 8 năm 1998. Trước đó, anh đã xin được chịu Bí tích Thánh tẩy với một đức tin mạnh mẽ :”Mỗi lần cùng với tôi ra vào bệnh viện Nhiệt Đới ở Chợ Quán, khi ngang qua tượng đài Đức Mẹ, anh thường đề nghị dừng lại cầu nguyện. Khi trước, mỗi đêm chơi nhạc, được bao nhiêu tiền anh đều phung phí hết. Bây giờ, anh đưa hết cho tôi vì muốn góp  một phần khiêm tốn cho những bệnh nhân nghèo. Chính việc này đã giúp anh tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời còn lại, và anh đã ra đi bình an trong tình yêu của Chúa”.
Đứng trước căn bệnh thế kỷ đầy nghiệt ngã, người nhạc sĩ này vẫn mang  một phong thái an nhiên tự tại, chính là vì anh đã biết thoát ra khỏi nỗi đau của mình để hôn lên nỗi đau của kẻ khác. Anh dường như đã chết đi mà nay được sống lại, chỉ vì anh không còn loay hoay với nỗi bận tâm về mình, nhưng lại biết chia sẻ với nỗi đau của những con người bất hạnh hơn anh.
Kitô hữu là người tin vào Đấng đã chết và đã sống lại. Đấng đang sống sự sống tràn đầy sung mãn của Thiên Chúa, và Người mời gọi các tín hữu hãy ở lại trong Người cũng là ở trong Cha, và Thầy ở trong anh em”. Chính khi hiện diện một cách thâm sâu trong cung lòng của Thiên Chúa mà người tín hữu nhận được sự sống mãnh liệt phong phú của Đấng Phục sinh :”Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống”. Thánh Phaolô đã cảm nghiệm rất sâu sắc về sự sống mới này khi người viết :”Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”.
Sức sống dồi dào ấy chỉ có thể phát huy và tăng trưởng đến mức sung mãn, là khi người tín hữu dám bước ra khỏi cuộc sống co cụm, ích kỷ của mình, để ôm lấy bao nỗi khốn khổ bất hạnh của anh em. Có yêu thương là có Chúa tỏ mình, có Chúa tỏ mình là có sức sống mới sẽ bùng lên, tuôn trào :”Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”.
Nếu con người ngày nay muốn kéo dài sự sống, thì người tín hữu phải cho họ thấy đời sống trường thọ chỉ có ý nghĩa khi người ta biết sống đời phục vụ trong yêu thương.
Nếu con người ngày nay thích tiện nghi sung túc, thì người tín hữu hãy chứng minh cho họ rằng cuộc sống càng bớt hưởng thụ thì đời sống càng lành mạnh, thanh thoát.
Nếu con người ngày nay lo bảo đảm cho cuộc sống, thì người tín hữu hãy giới thiệu cho họ cái bảo hiểm an toàn nhất là sự sống nước trời.
Lạy Chúa xin tỏ mình ra cho chúng con, để chúng con được kiên vững giữa sóng gió cuộc đời. Xin ban sự sống Chúa cho chúng con, để cây đời chúng con mãi xanh tươi. Xin ban Thánh Thần Chúa cho chúng con, để cuộc đời chúng con bùng lên sự sống mới.

 

PS6-A3: CS/69- GIỮ GIỚI RĂN

Điều Chúa Giêsu dạy ta hôm nay là :”Nếu anh em yêu mến Thầy thì sẽ giữ các giới răn của: PS6-A3

Điều Chúa Giêsu dạy ta hôm nay là :”Nếu anh em yêu mến Thầy thì sẽ giữ các giới răn của Thầy”. Lời dạy xem ra nghe không êm tai mấy, bởi vì giữa tình yêu và lề luật có vẻ như xung khắc với nhau. Tình yêu gợi cho ta cảm giác êm đềm, dịu ngọt, tình yêu làm cho đời ta vui tươi thoải mái, trong khi đó các giới răn, các luật lệ lại gây cho ta một cảm giác gò bó, trói buộc và mất tự do. Thánh Augustinô cũng đã nói :”Hãy yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. Nói như thế có nghĩa là trong tình yêu thì không cần lề luật gì nữa. Vậy mà Chúa Giêsu lại ghép việc tuân giữ giới răn vào chuyện yêu thương như một điều kiện không thể thiếu. Điều này xem ra không ổn.
Tuy nhiên, nếu suy nghĩ kỹ ta lại thấy lời dạy của Chúa Giêsu rất hợp tình hợp lý và không có gì là không ổn cả. Có thể nói : Yêu mến và việc tuân giữ các lề luật chỉ là một dòng chảy duy nhất và rất tự nhiên. Tuân giữ các giới răn là sự thể hiện ra bên ngoài tình yêu ở bên trong. Chẳng hạn :
- Vâng phục cha mẹ là cách diễn tả rất tự nhiên của lòng hiếu thảo và yêu mến mà con cái dành cho cha mẹ.
- Chấp nhận mưa nắng dãi dầu để kiếm cơm áo cho con cái, chấp nhận gian khổ để chu toàn trách nhiệm trong gia đình là một tỏ bày tình yêu con cái của những bậc làm cha mẹ.
- Không ngoại tình, không phản bội là một đòi hỏi đương nhiên của tình yêu vợ chồng.
- Chính Chúa Giêsu cũng đã thể hiện tình yêu đối với Chúa Cha qua việc thi hành mọi sự theo ý muốn của Cha.
Và mọi mối liên hệ yêu thương khác cũng thế. Chỉ yêu trong lòng mà thôi thì chưa đủ, nếu không muốn nói đó chưa phải là yêu mến thật sự.
Do đó, lòng yêu mến Chúa thực đòi ta giữ giới răn của Người. Điều đó rất tự nhiên. Bởi khi yêu nhau, người ta sẵn sàng chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh vì nhau. Người ta cũng sẵn sàng làm theo ý của nhau nếu đó là những ý muốn chính đáng. Điều cần nói ở đây là việc ta tuân giữ giới răn của Thiên Chúa chẳng đem lại lợi lộc gì cho Người, nhưng đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Bởi lẽ, lề luật của Chúa là một hàng rào cần thiết để bảo vệ ta được an toàn và khỏi rơi xuống vực thẳm tội lỗi. Đồng thời chúng cũng là những bảng chỉ đường giúp ta đi đúng con đường dẫn đến sự sống, đến hạnh phúc. Biết như vậy nhưng dường như ta vẫn cảm thấy khó khăn và ngại ngùng khi phải tuân giữ, phải thực thi các giới răn của Người. Phải chăng chủ trương đạo tại tâm lại chẳng phản ảnh việc chối từ thực thi giới răn của Thiên Chúa đó sao?
Chúa Giêsu cũng biết những khó khăn và ngại ngùng ấy của ta. Chính vì vậy, Người đã hứa ban cho ta Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ở với chúng ta, sẽ trợ lực, sẽ ban sức mạnh để giúp ta sống và thực thi những điều Người đã dạy ta. Chúa Thánh Thần đã đến với ta ngày ta lãnh nhận bí tích Rửa tội và đặc biệt qua bí tích Thêm sức. Người vẫn còn ở với ta để hướng dẫn và nâng đỡ ta trong suốt cuộc đời. Chỉ có điều là ta có đón nhận sự hiện diện, sự nâng đỡ, có lắng nghe sự hướng dẫn của Người hay không mà thôi.

 

PS6-A4: CSTM/121- MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Thánh Phanxicô Atsidi có lòng mến Chúa và yêu người rất sâu xa. Một hôm, ngài gặp một người: PS6-A4

Thánh Phanxicô Atsidi có lòng mến Chúa và yêu người rất sâu xa. Một hôm, ngài gặp một người bạn, người này nói với ngài rằng ông ta không thể nào yêu mến Thiên Chúa được. Đang khi hai người đi đường thì gặp một người hành khất vừa mù vừa què ngồi bên lề đường. Ngài dừng lại hỏi người hành khất :”Này anh, nếu tôi chữa cho anh thấy được và đi được thì anh có yêu mến tôi không?”. Người hành khất trả lời :”Dạ thưa ngài, không những tôi yêu mến ngài, mà tôi còn xin dâng hiến trọn phần còn lại của đời tôi để phục vụ ngài”. Nghe câu trả lời của người hành khất xong, thánh Phanxicô quay sang nói với người bạn :”Đấy anh thấy không, người hành khất này chỉ thấy được, đi được mà còn hứa với tôi như thế huống hồ là anh, anh không những được Chúa dựng nên với chân tay mắt mũi lành lặn, Ngài còn chịu chết để cứu chuộc anh nữa, đang khi đáng lý ra anh phải chết vì tội của anh, vậy mà anh lại không yêu mến Chúa sao?”.
Yêu Chúa, đó là bổn phận của mỗi người chúng ta, nhưng như thế nào là yêu Chúa? Bài Tin mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu trả lời cho chúng ta :”Ai giữ các giới răn của Chúa là yêu mến Chúa”. Như vậy, yêu mến Chúa là giữ các giới răn của Chúa. Giữ ở đây không thể hiểu theo nghĩa thụ động, nghĩa là đem chôn giấu, nhưng phải hiểu theo nghĩa tích cực, nghĩa là có sáng kiến đem các giới răn của Chúa ra thực hành trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.Nhưng đâu là các giới răn của Chúa? Ai mà không biết đạo Chúa có mười giới răn. Nhưng điều đặc biệt là mười giới răn ấy được tóm rất gọn trong một tiếng thôi, đó là tiếng “Yêu” : Yêu Chúa với tình yêu của một người con hiếu thảo, và yêu người với tình yêu như Chúa yêu ta. Ngắn gọn hơn nữa, chính Chúa còn cho chúng ta biết : chỉ cần xét xem chúng ta có yêu người không là đủ, nghĩa là muốn biết chúng ta có yêu Chúa không và yêu Chúa như thế nào, thì chỉ cần xét xem chúng ta có yêu người không và yêu người ra sao.Tình yêu phải được thể hiện bằng việc làm, chứ không căn cứ trên lời nói suông mà thôi. Bởi vì ngôn ngữ của tình yêu là những hành động cụ thể. Ánh mắt trìu mến và âu yếm vuốt ve của người mẹ đối với đứa con có giá trị hơn bất cứ một quyển sách biên khảo nào về tình yêu. Những mồ hôi nước mắt, những hi sinh từng ngày của người cha giúp cho con cái hiểu được thế nào là yêu thương, hơn bất cứ lời dẫn giải nào về tình yêu. Và có lẽ cũng dư thừa để bảo rằng khi hai người yêu nhau, thì sự thinh lặng và cử chỉ âu yếm có sức hùng hồn hơn là những lời nói hoa mỹ nhưng trống rỗng.Thiên Chúa là tình yêu, Ngài tỏ tình, Ngài bộc lộ tình yêu với con người, không chỉ bằng lời nói suông mà bằng cả một lịch sử : Những can thiệp, những thể hiện cụ thể. Một tình yêu không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể đối với tha nhân là một tình yêu thiếu sức thuyết phục, nếu không nói là giả hình, giả dối. Đạo Kitô của chúng ta là đạo của tình yêu, không viết lên hai chữ tình yêu bằng những hành động cụ thể đối với tha nhân, người đó chỉ là một người Kitô giả hiệu. Một đức tin không việc làm là một đức tin chết, thì một lòng mến không được thể hiện bằng hoa trái của lòng mến là một lòng mến giả tạo.Như mẹ Têrêxa đã nói : Tình yêu thương ấy cần được thể hiện với những người gần gũi với chúng ta hơn, từ những người trong gia đình chúng ta trước hết. Những người chỉ biết mơ mộng thực hiện những việc anh hùng nơi chân trời xa xăm nào đó, trong khi đó lại lãng quên những cơ hội ngay trước mắt, đó hẳn là thứ tình yêu thiếu thực tế biết bao. Nếu chúng ta thực sự yêu mến Chúa, hãy chiếu giãi tình yêu đó trong gia đình và cho những người chung quanh, hãy dùng tình yêu nồng thắm trong trái tim chúng ta để sưởi ấm cho cha mẹ, anh chị em trong gia đình và những người chung quanh.Trong một xã hội đầy những ích kỷ, hai chữ tình yêu vẫn còn rất mù mờ trong nhiều người. Sứ mệnh của người Kitô chúng ta  chính là viết lên một cách rõ ràng hai chữ tình yêu. Chúng ta không chỉ viết lên bằng những lời nói suông mà bằng những cử chỉ cụ thể của lòng bác ái. Những dòng chữ được viết lên bằng mồ hôi nước mắt, bằng quên mình chia sẻ... có giá trị hơn bất cứ một quyển sách nào, cho dù quyển sách đó in bằng bạc bằng vàng. Thiên Chúa thắp lên trong tâm hồn chúng ta tình yêu của Ngài và Ngài mong muốn chúng ta chiếu tỏa tình yêu ấy đến với mọi người, như bài hát chúng ta vẫn hát :”Thắp sáng lên trong con tình yêu Chúa. Thắp sáng lên trong con tình tuyệt vời. Để con hân hoan đem tin yêu đi về muôn lối, tựa như mưa tuôn mưa hồng ân Chúa trên trần đời”.

 

PS6-A5: PVCNVLT/240- TIỄN BIỆT

Sự chia tay với bạn bè không bao giờ là điều dễ dàng. Nhưng có một một số trường hợp chia tay: PS6-A5

Sự chia tay với bạn bè không bao giờ là điều dễ dàng. Nhưng có một số trường hợp chia tay ray rứt hơn, so với những trường hợp khác. Cảnh chia ly đau thương nhất vượt lên trên tất cả xảy ra khi có một người nào đó qua đời. Chính tính chất cuối cùng làm cho cảnh chia ly này khác biệt hẳn so với tất cả những cảnh khác.
Đó là đêm trước ngày Đức Giêsu chịu chết. Có vài lần, Người đã nói bóng gió cho các tông đồ về cái chết của Người. Bây giờ, Người nói thẳng cho họ biết về điều đó. Người không nói về cái chết theo cách thức mà chúng ta có khuynh hướng hay nói đến – nói theo ý nghĩa chia ly là sự kết thúc cuộc sống. Đức Giêsu nói về cái chết của Người như là một cách ra đi, “đến với Cha”. Nhưng tất cả các tông đồ đều nghe sự kiện này như thể Người đang lìa bỏ họ. Quả thật là Người đang xa rời họ. Nhưng có nhiều mức độ rời xa.
Có cảnh rời xa ám chỉ sự bỏ rơi. Thật đáng buồn, hiện nay, nhiều lần chúng ta vẫn đọc trên báo chí cảnh những hài nhi bị bỏ rơi ngay từ khi vừa mới ra đời. Bị bỏ rơi là một điều đau thương và gây tác hại nhất có thể xảy ra cho bất cứ ai, đặc biệt trong những trường hợp của trẻ nhỏ và người già. Trong Tin mừng, chúng ta không gặp cảnh đó. Đức Giêsu không hề bỏ rơi các tông đồ.
Có cảnh rời xa ám chỉ sự khước từ. Chẳng hạn, một thiếu nữ hy vọng vào ngày hôn lễ, nhưng hôn phu của cô gái này đã đột ngột bỏ rơi cô, để đến với một người khác. Thiếu nữ ấy cảm thấy mình bị khước từ. Cảm giác này có thể cực kỳ đau khổ. Ở đây, chúng ta không gặp cảnh đó. Đức Giêsu không hề khước từ các tông đồ.
Có cảnh rời xa là một điều cần thiết, vì ích lợi của người đang bị rời xa. Chẳng hạn, một người đang xa gia đình, hoặc ra đi để làm một công việc tốt hơn ở một nơi khác. Điều này chắc chắn là sự thật ở đây. Sự rời xa của Đức Giêsu là vì ích lợi của riêng Người. Người đang trở về với Cha. Trở về với Cha chính là trở về với mái nhà của Người. Đây là sự đi đến với danh dự và vinh quang.
Cuối cùng, có cảnh rời xa không chỉ tốt đẹp cho bản thân của người đang ra đi, mà còn là tốt đẹp cả cho những người còn ở lại sau nữa. Điều này chắc chắn là sự thật trọn vẹn của sự kiện đang xảy ra ở đây. Sự rời xa của Đức Giêsu cũng là, hoặc cũng sẽ là vì ích lợi của các tông đồ nữa, bởi vì Người sẽ cử Chúa Thánh Thần  đến với họ. Sự ra đi của Người không để lại cho họ cảnh không được nâng đỡ và không được hướng dẫn như họ đã e sợ. Người nói “Ta sẽ không để anh em mồ côi đâu”.
Nhưng có một điều khác, sẽ là một nguồn an ủi to lớn đối với các tông đồ, vào thời điểm u buồn và đau khổ này. Ngay cả khi nói về việc phải rời xa họ, Đức Giêsu vẫn nói về việc Người sẽ trở lại với họ. Người sẽ đến với họ thông qua Chúa Thánh Thần, và Người sẽ đến với họ thông qua chính bản thân Người nữa. Họ đã gặp gỡ Người sau khi Người sống lại. Và thậm chí sau khi Đức Giêsu lên trời, họ sẽ không được nhìn thấy Người nữa, Người vẫn trấn an họ rằng Người vẫn ở với họ, vâng, và ở lại cho đến tận thế.
Đức Giêsu đã không để cho các môn đệ của Người bị mồ côi và cô độc. Nhờ đức tin, họ có khả năng “nhìn thấy" Người, và thông qua sự vâng phục các huấn lệnh của Người, họ được mời gọi đi vào trong tương quan tình yêu với Người.
Đức Giêsu không để cho chúng ta bị mồ côi. Chúng ta có cùng một cách để đi tới sự hiện diện của Người, và đi đến nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, giống như các Kitô hữu tiên khởi đã từng được như vậy. Đức Giêsu không hiện diện như là một ký ức mơ hồ của một người đã sống từ lâu đời trước đây, nhưng chính là một sự hiện diện đích thực, đem đến sự sống làm biến đổi chúng ta.
Không ở đâu chúng ta cảm thấy được gần gũi với Đức Giêsu, cho bằng khi chúng ta đón nhận Người trong phép Thánh Thể. Khi đón nhận phép Thánh Thể, chúng ta không chỉ có tương quan với Người, mà là được kết hiệp với Người – một sự kết hiệp thánh thiêng. Qua phép Thánh Thể, Đức Giêsu nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta bằng tình yêu của Người. Lương thực mà phép Thánh Thể ban cho chúng ta chính là sức mạnh để thực hiện lời của Đức Giêsu, và để sống tư cách là những môn đệ của Người.

 

PS6-A6: Suy Niệm của Lm. VIKINI: ANH EM Ở TRONG THẦY

Trong đoạn Tin mừng ngắn gọn này chất chứa những lời chỉ hành động: yêu mến, ban cho, đến: PS6-A6

Trong đoạn Tin mừng ngắn gọn này chất chứa những lời chỉ hành động : yêu mến, ban cho, đến ở với, ở lại với, ở trong, được sống, được ở trong Thầy, được Cha yêu mến, được thấy, được tỏ cho biết. Những hành động đó diễn tả tâm tình gắn bó khăng khít, liên kết chặt chẽ, hiệp thông thâm sâu, hiệp nhất mật thiết nên một trọn vẹn giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần với các môn đệ, với ai yêu mến Thầy, với ai giữ lời Thầy. Sự gắn bó này loại trừ cảnh mồ côi, cô độc, loại trừ mọi xa cách, chia rẽ, vô tri, bất lực, chết chóc.
Sự gắn bó với nhau là một định luật, một nhu cầu khẩn thiết cho đời sống. Trái đất gắn bó với mặt trời theo một định luật bắt nó phải xoay quanh mặt trời 365 ngày 48 phút 46 giây để hoàn thành một vòng tròn bầu dục, lúc nào cũng như lúc nào, không trệch một li, để cho muôn vật trên trái đất sinh sống. Mỗi vật sinh ra, muốn sống, muốn tồn tại, đều phải gắn bó với bố mẹ nó, với nhau, với môi trường, với thiên nhiên...
Muôn vật chỉ cần sống là đủ, nhưng con người sống thôi chưa đủ. Con người sống còn rất cần phải phát triển sự sống. Tình cảm và hiểu biết là hai yếu tố đặc biệt thiết yếu giúp phát triển sự sống con người. Thiếu tình cảm, con người không còn mong muốn, khát khao, mơ ước cao đẹp. Tình cảm là nguồn động lực thúc đẩy con người hành động, phấn chấn, con người hăng hái, say sưa làm việc. Nó làm cho con người vui mừng phấn khởi. Thiếu tình cảm, con người sống buồn tẻ, chán đời, chán chường, vô vọng và tuyệt vọng.
Yếu tố thứ hai giúp phát triển sự sống con người là hiểu biết. Thiếu hiểu biết, con người không còn biết cái gì là hay, là phải, là tốt, là đúng. Tất nhiên sẽ dẫn đến sai lầm, hư hỏng : “mù dắt mù xuống hố”, “nhân bất học, bất tri lý”. Sự hiểu biết giúp con người biết thông cảm, thương mến, tiến bộ, cởi mở đón nhận muôn vàn chân thiện mỹ, muôn vàn giá trị cao đẹp để phát triển cuộc sống mình phong phú đến vô tận.
Không lạ gì trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu đã trình bầy hết sức tỉ mỉ, cặn kẽ, từng li, từng tí về sự sống vô cùng tuyệt vời của Thiên Chúa. Sự sống tuyệt vời của Thiên Chúa không phải như mặt trời, mặt trăng, trái đất hấp dẫn, lôi cuốn nhau, quay cuồng mù quáng bên ngoài, nhưng là một sự hiệp nhất nội tại, nội tâm, nên một với nhau trọn vẹn trong tình yêu mến thông suốt sinh động tràn lan trên hết thảy vũ trụ vạn vật. Vì thế vũ trụ vạn vật được sống trong nguồn yêu thương sung mãn của Thiên Chúa.
Chúa Con đã thông ban sự sống phong phú đó cho các môn đệ. Các ông đã được sống hiệp thông lạ lùng với Thiên Chúa, ở trong Thiên Chúa, ở lại với Thiên Chúa. Một cuộc sống trong tình thân thiết với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Nhờ đó anh em được Thiên Chúa yêu mến và yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết trí khôn, hết linh hồn. Chỉ có sự sống như vậy mới phát triển sự sống con người đến vô tận.
Bài đọc một cho thấy sự sống của Thiên Chúa, sau bao nhiêu ngàn năm, bị ứ đọng trong dân Do thái, nay đã tràn bờ lan tỏa khắp chư dân. Họ được biết về Chúa Kitô, được thoát khỏi tà thần, được chữa lành tàng tật tê bại. Họ được sức sống mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần biến họ thành dân thánh, thành con cái Chúa Cha, chứ không còn dân ngoại ô uế thù địch nữa.
Bài đọc hai còn cho thấy sự sống của Thiên Chúa là sức mạnh hiền hòa, ngay thẳng, khả ái, kính trọng cả những kẻ chất vấn, phỉ báng. Sức sống đó làm cho kẻ vu khống phải xấu hổ, làm cho ta sẵn sàng chịu khổ vì làm việc lành, làm cho ta theo chân Đức Kitô hy sinh chịu chết cứu kẻ tội lỗi, làm cho ta, dù bị chết, cũng được sống lại cùng với Đức Kitô.
Lạy Thầy Kitô chí nhân chí thánh, Thầy chẳng bao giờ để chúng con mồ côi, cô độc, cứng đọng, Thầy đã cho chúng con được sống yêu mến thân mật, gắn bó trọn vẹn trong Thầy và trong Cha Thầy. Xin cho muôn dân được sống trong tình yêu của Thầy để họ khỏi chia rẽ, hận thù, nhưng được sống thương mến nhau, hiệp thông với Thầy như Cha ở trong Thầy và Thầy ở trong Cha, Amen.

 

PS6-A7: Suy Niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...
 

Đoạn Tin Mừng này là một phần của diễn từ giả biệt Chúa Giêsu nói với các môn đệ Ngài trước: PS6-A7

Đoạn Tin Mừng này là một phần của diễn từ giả biệt Chúa Giêsu nói với các môn đệ Ngài trước khi ra đi chịu chết, gồm 2 ý chính :
- Nếu anh em yêu mến Thầy thì hãy tuân giữ các điều răn của Thầy.
- Thầy không để anh em mồ côi, nhưng Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đó là Thần khí Sự thật.
B. ... nẩy mầm.
1. Khi hứa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã bảo : “Đó là Thần khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận”.
Chúa Thánh Thần vẫn là Đấng Bảo trợ luôn ở bên cạnh chúng ta, nhưng nếu ta đối xử với Người như “thế gian” thì ta không thể đón nhận người. Còn nếu muốn nhận được Người thì ta phải cư xử như “môn đệ”. Ở những chỗ khác trong Tin Mừng Ga, Chúa Giêsu đã dạy rõ cách cư xử ấy. Muốn được đón nhận sự bảo trợ của Chúa Thánh Thần, ta phải :
- Ôn đi ôn lại những lời Chúa Giêsu dạy, bởi vì CTT là Đấng giúp chúng ta hiểu sự thật toàn vẹn của những lời Chúa Giêsu đã dạy (x Ga 16,12-15.26).
- Có thiện chí đi tìm sự thật chứ không phải chỉ đi tìm những gì mình thích, bởi vì CTT chính là Thần khí Sự thật.
- CTT được ban cho Giáo Hội, do đó phải tìm Ngài trong Giáo Hội, nghĩa là trong nếp sống hiệp nhất cộng đoàn, bằng sống chung, chia xẻ, tương thân tương trợ… dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội.
2. “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (c 21).
Có một huyền thoại kể rằng ngày kia một vị thiên thần rảo khắp đường phố, một tay cầm một ngọn đuốc còn tay kia xách một thùng nước. Người đi đường lấy làm lạ hỏi thì thiên thần giải thích : “Với ngọn đuốc này, ta sẽ thiêu rụi hết những toà nhà trên thiên đàng ; còn với thùng nước này, ta sẽ dập tắt hết mọi đám lửa dưới hoả ngục”. Người ta càng ngạc nhiên hơn nữa và hỏi tại sao. Thiên thần giải thích : nhờ đó mà Thiên Chúa sẽ biết những ai yêu mến Ngài thật, chứ không phải chỉ sống tốt vì hàm phần thưởng thiên đàng hoặc vì sợ hình phạt hoả ngục.
3. “Bàn tay không thể mở ra để nhận điều gì mà con tim không ước muốn” (Tục ngữ Đức).

 

PS6-A8: THẦN TÌNH YÊU VÀ CHÂN LÝ

Suy Niệm của Lm. Bùi Quang Tuấn, CSsR.
 

Henry Manning vốn là một mục sư Anh giáo, nổi tiếng về giảng thuyết. Ngài xuất bản một cuốn: PS6-A8

Henry Manning vốn là một mục sư Anh giáo, nổi tiếng về giảng thuyết. Ngài xuất bản một cuốn sách về các bài giảng và được dân chúng hưởng ứng nồng nhiệt.
Một hôm, có người bạn thân ghé thăm và bình luận về tác phẩm mới phát hành của Henry. Trong câu chuyện, người bạn đề cập đến việc tác giả đã không có một lời nói nào về Chúa Thánh Thần trong cuốn sách rất "giá trị" của mình.
Đây là một sự thiếu sót ngoài ý muốn của Henry. Ngài cám ơn ý kiến chân tình của người bạn. Thế rồi suốt hai năm tiếp theo, người ta thấy mục sư Henry Manning miệt mài học hỏi về Chúa Thánh Thần. Ngài đọc và nghiên cứu tất cả những cuốn sách liên quan đến đề tài Chúa Thánh Thần. Kết quả của sự học hỏi chân thành này là việc khám pha Ánh sáng do Thần Chân lý mang lại. Henry đã trở về với Giáo hội Công giáo vào năm 1851. Hai tháng sau ngài được phong chức linh mục. Năm 1865 ngài trở thành Tổng giám mục Giáo phận Westminter, Anh quốc.
Tại Công đồng Vaticanô I (1869-1870), Giám mục Henry Manning nổi bật trong vai trò bảo vệ vững chắc tính chất Vô ngộ của Đức giáo hoàng. Năm 1875, ngài được tấn phong Hồng y. Từ khi trở lại Công giáo cho đến lúc qua đời năm 1892, Đức Hồng y Manning luôn có lòng yêu mến Chúa Thánh Thần cách đặc biệt.
"Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Bào Chữa khác để ở cùng các con luôn mãi. Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì nó không thấy cũng không biết Ngài; còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và trong các con" (Gn 14:16-17).
Đó là lời hứa mà Chúa Giêsu, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, đã trao lại cho các môn đệ như một lời an ủi thân tình.
Chúa Thánh Thần là Đấng Bào Chữa. Ngài là luật sư biện hộ cho những tín hữu khi phải đương đầu với những mưu mẹo ác độc của thế gian. Ngài đem đến tất cả sự thật và làm chứng về Đức Kitô. Dưới ánh sáng và sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, con người sẽ tìm thấy chân lý toàn vẹn trong Chúa Giêsu.
Chúa Thánh Thần là Tình yêu liên kết. Ngài cũng là Thần Chân lý, Đấng dạy người ta yêu thương trong sự thật. Tình yêu trong chân lý mới là tình yêu toàn vẹn, vì được tác động và dẫn lối của Thiên Chúa Ngôi Ba.
Thánh Thần mà Chúa Giêsu hứa ban sẽ dẫn đưa con người bước đi trong yêu thương và sự thật. Không phải cứ hễ yêu nhau là cái gì cũng có thể trao ban hay lấy đi. Những quan hệ bất chính, những kiếm tìm bất công, những đam mê bất hợp pháp đều là những nẻo đường đưa đến bất hạnh. Bởi vì thiếu chân lý là thiếu tự do và hạnh phúc. "Chân lý sẽ giải thoát con người," Đức Giêsu đã nói với Philatô như thế.
Yêu thương phải song hành với sự thật. Để sống yêu thương trong sự thật, lắm khi người ta phải dám chấp nhận hy sinh rất nhiều.
Cha Flor McCarthy, một linh mục Dòng Don Boscô có kể lại rằng:
Steve, cậu bé 12 tuổi, đã bị teo hai chân sau một cơn sốt tê liệt. Steve có đứa em 10 tuổi tên Mark. Như bao đứa trẻ khác Steve và Mark cũng hay cãi nhau, đánh nhau, và đôi khi Steve còn cảm thấy ghen tị với đôi chân khoẻ mạnh của em mình.
Một đêm kia Steve mơ thấy mình đi lạc vào một khu rừng vắng. Cậu bắt gặp một chiếc hang. Bị thúc đẩy bởi lòng mạo hiểm và tính tò mò, Steve tiến sâu vào bên trong. Bất ngờ một ông già xuất hiện. Ông ta tự xưng là phù thủy, và để thưởng cho ai đầu tiên khám phá ra chiếc hang, ông sẽ ban cho người đó được những gì họ mong ước, nhưng chỉ một lần thôi.
Không cần suy nghĩ, Steve xin ngay cho đôi chân được khoẻ mạnh như xưa. Lão phù thủy liền tung chiếc áo choàng lên và trong nháy mắt Steve thấy mình đang nằm trên giường, bên cạnh Mark đang ngủ say như chết.
Lão phù thủy mở tấm mền che đôi chân của Mark ra. Steve thấy vậy thì ngạc nhiên hỏi:
- "Ông làm gì thế?"
- "Ta phải giải phẫu để thay cho ngươi đôi chân tốt."
- "Thế ông tính thay đôi chân của Mark cho tôi à?" Steve ngạc nhiên hỏi lại.
Ông già đáp:
- "Vậy chứ ngươi tưởng ta lấy nó từ trong không khí ra à? Nhưng không sao đâu. Chẳng ai biết chuyện gì xảy ra đâu. Mọi người sẽ coi như đã xảy ra từ lúc mới sinh vậy."
Steve cảm thấy sửng sốt. Nó đâu ngờ là ông già phải lấy đôi chân của Mark để đổi cho nó. Cậu bé nghĩ đến giây phút mình chạy nhảy với đôi chân tốt, trong khi Mark em cậu sẽ lê lết với đôi chân bại liệt. Như thế là không thể được! Rồi Steve hét lớn: "Tôi không muốn như vậy đâu."Nghe thế lão phù thủy bực mình bỏ đi.
Sáng hôm sau, thức dậy nhìn qua em mình, nhớ lại những gì thấy được trong giấc mơ đêm qua, Steve đã nở một nụ cười rất vui.
Điều tôi đọc được trong nụ cười của Steve là một tình yêu song hành với chân lý. Từ trong tiềm thức cậu đã không muốn làm điều xấu, dù rằng phần lợi sẽ về mình và dù rằng không ai biết. Nhưng chấp nhận cuộc sống trong một tình yêu chân thành, Steve đã không những không hủy diệt sự sống của người khác, nhưng còn làm phát sinh trong tim mình bình an và niềm vui thẳm sâu.

 

PS6-A9: THẦY SẼ XIN CHA VÀ NGƯỜI SẼ BAN CHO CÁC CON

ĐẤNG PHÙ TRỢ KHÁC - LM Thu Băng, CMC
 

Hôm nay Chúa Nhật thứ 6 sau lễ Phục Sinh,  Giáo Hội chọn bài Tin Mừng theo Thánh Gioan nói: PS6-A9

Hôm nay Chúa Nhật thứ 6 sau lễ Phục Sinh,  Giáo Hội chọn bài Tin Mừng theo Thánh Gioan nói về lời trăng trối của Chúa Giêsu trước khi Ngài về trời.  Ngài đã trối lại cho Giáo Hội Chúa Thánh Thần  "Thầy sẽ xin Cha ban cho các con một Đấng Phù Trợ,  để Ngài ở với các con mãi mãi.  Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không đón nhận".
Có nhiều danh hiệu để kể về Chúa Thánh Thần : Như Đấng Phù Trợ,  Thần Chân Lý,  Chúa Thánh Linh,  Ngôi Ba Thiên Chúa,  Đấng An Ủi.... Tuy danh hiệu khác nhau nhưng cũng cùng một ngôi vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa,  Đấng mà Chúa Giêsu xin Đức Chúa Cha phái xuống trần gian,  mà hôm nay mặc nhiên Chúa Giêsu tuyên bố.  Đấng đó là Ngôi Ba Thiên Chúa,  là Đấng Thánh Hóa vạn vật,  là Đấng mà hàng ngày các tín hữu đã xưng tụng trong khi làm dấu Thánh Giá.
Câu chuyện xẩy ra trong trại tù ở Liên Sô là một thí dụ : Một buổi chiều kia,  một cô gái trẻ bị giam với chúng tôi đã kề miệng vào tai tôi hỏi khẽ :"Chị có biết hôm nay là ngày gì không ?"  Rồi không đợi tôi trả lời,  cô nói tiếp :"Hôm nay là ngày lễ Phục Sinh - ngày tuyên xưng đức tin".  Nghe thê tôi tự hỏi :"Lễ Phục Sinh đã đến rồi sao ?   Lễ của niềm vui,  của hy vọng,  nhưng trong tù niềm vui của chúng tôi đã héo úa,  đã khô cằn,  còn niềm hy vọng thì để trong lòng không dám tưởng nghĩ đến."
Bỗng một tiếng vang lên phá bầu không khí nặng nề :"Đức Kitô sống lại",  tôi quay lại nhìn mặt cô gái vừa cất tiếng tuyên xưng đức tin và bắt gặp ánh mắt lung linh huyền diệu của cô.  Cùng lúc ấy,  từ mọi phía phòng giam vang lên câu trả lời: "Ngài đã sống lại thật".   Quá sửng sốt,  các nhân viên trại giam đứng bất động vì giận dữ,  lên án một diễn tiến chưa bao giờ xẩy ra tại đây.  Sau đó,  tôi nghe thấy tiếng giầy nặng nề đến phòng giam của tôi.  Cửa phòng bị mở tung và hùng hổ túm lấy cô gái lôi sền sệt ra khỏi phòng.
Một tuần lễ sau được trả về phòng giam,  mặt cô xanh xao,  người cô gầy hẳn đi.  Qua tuần lễ Phục Sinh,  người ta biệt giam cô vào phòng lạnh và cho nhịn ăn.  Họ xử vậy vì cho là bọn cuồng tín.  Sau khi nằm yên tại góc phòng,  cô thều thào :"Dù sao tôi cũng đã tuyên xưng niềm tin vào sự Phục Sinh trong trại giam,  những cái khác không quan trọng".  Xong,  cô cố gắng mỉm cười và tôi thấy ánh mắt cô vẫn sáng lên như dạo nào.
Mặc dù các tông đồ đã được học hiểu biết về Chúa (sau 3 năm giảng dạy),  nhưng các ngài vẫn còn là con người trần thế,  mặc đủ tính khí nhút nhát,  sợ sệt, nhát đảm....  Nhưng sau ngày lễ ngũ tuần, Chúa Thánh Thần được sai đến,  Ngài biến đổi các tông đồ thành những con người khôn ngoan, linh lợi,  hoạt bát trong lời ăn tiếng nói,  thành người can đảm,  bạo dạn,  và hăng hái trong việc rao giảng về Chúa,  nói tiếng lạ, làm nhiều sự lạ và sẵn sàng chết cho việc truyền đạt sự thật.
Chúa Thánh Thần cũng mở lòng,  soi trí cho những người thành tâm biết lắng nghe tin mừng và sẵn sàng đón nhận Phép Rửa,  đến nỗi có ngày tới 3000 người trở lại. Chúa Thánh Thần giữ phần quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển trong Giáo Hội từ nguyên khởi và còn kéo dài cho tới tận thế mà "dù cửa hoả ngục cũng không làm gì được".
Trái qua hơn 20 thế kỷ,  Giáo Hội vẫn mỗi ngày một lan rộng và Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong lòng Giáo Hội,  trong lòng mọi tín hữu, cho dù thánh Phêrô,  thánh Phaolô,  Thánh Giacôbê,  các thánh Tông Đồ và trăm ngàn các chứng nhân anh dũng khác đã chết đi dưới chân thập tự,  thì hạt giống đức tin vẫn triển nở trong mọi thời đại.
Câu chuyện anh dũng tuyên xưng đức tin trong trại cải tạo và trăm ngàn cuộc tuyên xưng đức tin khác là một chứng minh hùng hồn về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong lòng Giáo Hội.
Trong Thánh Kinh đã có hơn 300 lần đề cập đến địa vị của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội.  Giáo Hội là Mẹ chúng ta luôn luôn nhắc nhở chúng ta cầu nguyện cho mọi tín hữu được lãnh nhận bảy nguồn ơn của Chúa Thánh Thần,  để luôn được Thánh Thần thúc đẩy chúng ta can đảm tuyên xưng đức tin và làm cho Giáo Hội được vinh thắng trên hoàn vũ.
Lạy Chúa,  xin cho chúng con biết noi gương Đức Mẹ,  các thánh Tông Đồ và các vị chứng nhân anh dũng của Chúa,  biết kết hợp và cầu nguyện với Chúa Thánh Thần,  để Ngài làm cho danh Chúa được lan rộng khắp hoàn cầu và làm cho chúng con được hợp nhất với Giáo Hội (2002).

 

PS6-A10: Thần Chân Lý ban Sự Sống - Cao Tấn Tĩnh, BVL

“Thần Chân Lý … ở với các con và ở trong các con”
 

Bài Phúc Âm Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh hôm nay tiếp tục chủ đề“Thày là sự sống” như: PS6-A10

Bài Phúc Âm Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh hôm nay tiếp tục chủ đề “Thày là sự sống” như hai Chúa Nhật Phục Sinh IV và V trước đây, cũng như Chúa Nhật Phục Sinh VII tới đây. Nếu chủ đề “Thày là sự sống” của Chúa Nhật IV Phục Sinh liên quan đến tác giả sự sống là “chủ chiên”, và của Chúa Nhật V Phục Sinh liên quan đến tác động sự sống là “tin”, thì của Chúa Nhật VI tuần này liên quan đến tác nhân sự sống là Thánh Thần. Thật vậy, nếu “Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống”, như Kinh Tin Kính tuyên xưng, thì quả thực, không có Ngài là “mạch nước vọt lên sự sống đời đời” (Jn 4:14; x 7:37-39), không ai có thể “được sự sống và là một sự sống viên mãn hơn” (Jn 10:10). Mà “sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Giêsu Kitô” (Jn 17:3), nên “Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống” tức Ngài là Đấng làm cho con người “tin vào Thiên Chúa và tin ở nơi Thày” (Jn 14:1), làm cho họ “tin rằng Thày ở trong Cha và Cha ở trong Thày” (Jn 14:11). 
Đó là lý do, trong bài Phúc Âm hôm nay, Lời Nhập Thể đã gọi Thánh Thần là “Thần Chân Lý”, “Đấng thấu suốt mọi sự, kể cả thâm tâm Thiên Chúa” (1Cor 2:10). Như Ngài chỉ “là Đấng ban sự sống” chứ không phải là chính “sự sống” giống Lời Nhập Thể (Jn 14:6, 11:25; x 1Jn 5:11-12) thế nào, Ngài cũng không phải là “chân lý” như Lời Nhập Thể, “hiện thân đích thực của bản thể Cha” (Heb 1:3), mà chỉ là “Thần Chân Lý”, Vị Thần Linh của cả Cha lẫn Con, như Con Mắt Thần Linh nơi Nội Tâm Thiên Chúa, hay chính là Ý Thức Thần Linh nơi Thiên Chúa, khiến Cha biết Con và Con biết Cha. Tâm linh nơi con người “được dựng nên giống như và tương tự Thiên Chúa” (Gen 1:26) là ý thức của con người về bản thân mình thế nào, như Adong ý thức được bản thân mình nơi Evà (x Gen 2:23), thì Thần Linh hay Thánh Linh nơi Thiên Chúa cũng là chính Ý Thức Thiên Chúa biết mình như vậy. 
Phải chăng Thần Linh hay Thánh Linh nơi Thiên Chúa cũng là chính Ý Thức Thiên Chúa biết mình như vậy mà Giáo Hội Chính Thống Đông Phương chỉ chấp nhận công thức Thánh Thần duy “bởi Cha mà ra”? Còn việc Giáo Hội Công Giáo Rôma lại thêm cả “bởi Con mà ra”, cũng không phải là hoàn toàn vô lý, sai tín lý thần học, vì Lời Nhập Thể là Chúa Giêsu Kitô, khi “tỏ Cha ra” (Jn 1:18) không phải là Người đã cho thấy Ý Thức Thần Linh của Người về Cha hay sao? Bởi thế, công thức tuyên xưng Chúa Thánh Thần của Giáo Hội Công Giáo là “Người bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra” hoàn toàn đúng với mạc khải: “Không ai biết Con trừ ra Cha (‘Người bởi Chúa Cha’) và cũng không ai biết Cha trừ ra Con (‘và Chúa Con mà ra’)” (Lk 10:22): “Cha Tôi biết Tôi (‘Người bởi Chúa Cha’) và Tôi biết Cha Tôi (‘và Chúa Con mà ra’)” (Jn 10:15) là như thế. “Tất cả mọi sự Cha có đều là của Con” (Jn 16:15) ở đây chẳng những cho thấy Lời Nhập Thể “là hiện thân sống động của bản thể Cha” (Heb 1:3), mà còn cho thấy cả thực tại Cha và Con cũng chỉ có cùng một Ý Thức Thần Linh.  
Thần Chân Lý từ Lời Nhập Thể
Chính vì Con có cùng một Ý Thức Thần Linh với Cha như thế mà khi “hóa thành nhục thể” (Jn 1:14), nhân tính của Lời Nhập Thể mới “đầy ân sủng và chân lý” (Jn 1:14), và Người mới chính là Đấng “rửa trong Thánh Linh” (Jn 1:33), tức là Đấng làm cho nhân loại nói chung và Nhiệm Thể Giáo Hội nói riêng không còn sống “trong tối tăm và bóng sự chết” (Lk 1:79), song “được ánh sáng sự sống” (Jn 8:12) là được có cùng một Ý Thức Thần Linh như Người và như Cha. Đó là ý nghĩa sâu xa của lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ trong bài Phúc Âm hôm nay: “Vào ngày ấy các con mới biết rằng Thày ở trong Cha Thày, các con ở trong Thày và Thày ở trong các con”.  Cũng bởi Ý Thức Thần Linh này, một Ý Thức cũng chính là Thực Tại Hiệp Thông Thần Linh nơi chính Nội Tâm Thiên Chúa, mà các môn đệ của Lời Nhập Thể mới có thể được ở trong một tình trạng liên lỉ Thần Hiệp, như Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay đã cho các vị biết ngay trước đó, là “Một ít lâu nữa thôi thế gian sẽ không còn thấy Thày đâu cả, nhưng các con lại thấy Thày như một Đấng có sự sống và các con cũng có sự sống”. 
Và Lời Nhập Thể đã thông ban Ý Thức Thần Linh của Người cho chung nhân loại nơi nhân tính của Người cũng như cho riêng Giáo Hội là Nhiệm Thể của Người thế nào, nếu không phải bằng Cuộc Tử Giá của Người, tức bằng việc Người “ra đi dọn chỗ cho các con”, như Người nói đến trong bài Phúc Âm tuần trước. Và kết quả của việc Người “ra đi dọn chỗ cho các con” đó là, như Người tiết lộ tiếp trong cùng bài Phúc Âm tuần trước, việc “Thày sẽ trở lại mang các con đi với Thày, để Thày ở đâu các con cũng ở đó”, nghĩa là các con cũng có cùng một Ý Thức Thần Linh “với Thày”, tức được Hiệp Thông Thần Linh, “như Thày ở trong Cha, các con ở trong Thày và Thày ở trong các con”. Đúng thế, Lời Nhập Thể, sau khi sống lại từ trong kẻ chết, “vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần” (Jn 20:19), đã chẳng “trở lại” hay sao, khi “đến đứng giữa các môn đệ” (Jn 20:19), và cũng đã không “mang các con đi với Thày” hay sao, ở chỗ “tỏ cho các vị thấy đôi tay và cạnh sườn của Người” (Jn 20:20), “để Thày ở đâu các con cũng ở đó” hay sao, ở chỗ “Người thở hơi trên các vị mà nói: ‘Các con hãy nhận lấy Thánh Thần’” (Jn 20:22)? “Thày không để các con mồ côi; Thày sẽ trở lại với các con” là thế, đúng như lời Người hứa trong bài Phúc Âm hôm nay. Thế nhưng, Lời Nhập Thể đã trở lại với các môn đệ của Người không phải theo hình thức như trước Cuộc Tử Giá nữa, không phải bằng sự hiện diện thể lý nữa, mà là bằng sự Hiện Diện Thần Linh, sự hiện diện của “một Đấng Cố Vấn khác”, Đấng Người nói đến ở bài Phúc Âm hôm nay, “đó là Thần Chân Lý”, Đấng “ở với các con và ở trong các con”. 
Thần Chân Lý nơi các Môn Đệ
Phần các môn đệ, nếu không có “Thần Chân Lý … ở với và ở trong” là Ý Thức Thần Linh được Đấng Tử Giá Phục Sinh ban cho này, các vị không thể nào mở miệng tuyên xưng như tông đồ Tôma “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi” (Jn 1:28), nghĩa là không thể “tin vào Thiên Chúa và tin ở nơi Thày”, như Chúa Giêsu đã kêu gọi các vị trong bài Phúc Âm tuần trước. Đó là lý do, theo Phúc Âm Thánh Luca, đoạn Phúc Âm cũng thuật lại việc Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với các tông đồ vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần như ở Phúc Âm Thánh Gioan, các môn đệ chỉ thực sự nhìn nhận Thày mình đã phục sinh sau khi Người ban cho các vị Ý Thức Thần Linh của Người mà thôi: “Thế rồi Người đã mở tâm trí họ ra để hiểu được những lời Sách Thánh” (Lk 24:45). Như thế, phải chăng thông hiểu Thánh Kinh là dấu chứng tỏ con người thực sự có Ý Thức Thần Linh, có “Thần Chân Lý ở với và ở trong”? Vì Thánh Kinh là những gì liên quan đến Mạc Khải Thần Linh về Mầu Nhiệm Tỏ Mình của Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, hay Con Ý Thức Cha và Cha Ý Thức Con, một Ý Thức cũng là Thánh Thần được Thiên Chúa tỏ ý muốn thông ban cho con người, để con người có thể Ý Thức Thần Linh hay Hiệp Thông Thần Linh (x 1Jn 1:3). Bằng không, Giáo Hội làm sao có thể biết được bản văn nào thực sự được Thiên Chúa linh ứng để chọn và lập thành sổ bộ Thánh Kinh như hiện nay, và làm sao Giáo Hội có thể “đi rao giảng tin mừng cứu độ cho tất cả mọi tạo vật” (x Mk 16:15)? Đúng thế, nếu thực sự con người có Ý Thức Thần Linh, có “Thần Chân Lý ở với và ở trong”, họ mới có thể hiểu thấu những gì Lời Nhập Thể cần phải nói hơn nữa (x Jn 16:12), hay mới có thể hiểu được chính xác những gì Lời Nhập Thể muốn nói, muốn con người hiểu, nhờ đó, họ được Hiệp Thông Thần Linh: “Các con ở trong Thày và Thày ở trong các con”. 
Bởi vậy, bất cứ kiến thức đức tin hay hiểu biết thần học nào, dù có dựa vào Mạc Khải Thánh Kinh, nhưng lại đưa thành phần kinh sư này, thành phần thần học gia này, dù có lỗi lạc đến mấy đi nữa, tới chỗ bất tuân phục Giáo Hội, đến chỗ giảng dạy những gì phản với giáo huấn tông truyền của Giáo Hội, thì không phải bởi “Thần Chân Lý”, mà là do bởi tinh thần “phản kitô… không tin Chúa Kitô đến trong xác thịt” (1Jn 22-23; 2Jn 7), thứ tinh thần của một “thế gian không thể chấp nhận Thần Chân Lý, vì họ không thấy cũng chẳng nhận biết Ngài”, như Chúa Kitô nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay. Satan cũng đã không thông thuộc và dựa vào những lời Thánh Kinh theo tinh thần “phản kitô” hay sao, như những đoạn Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại ở biến cố Chúa Giêsu bị cám dỗ trong hoang địa cho thấy? Bởi vậy, thành phần thực sự có Ý Thức Thần Linh phải là thành phần được Chúa Giêsu nhắc đến khi Người thân thưa cùng Cha Người như sau: “Lạy Cha là Chúa trời đất, con chúc tụng Cha, vì những gì Cha đã giấu thành phần thức giả và tinh khôn thì Cha lại tỏ cho những con trẻ bé mọn nhất biết” (Mt 11:25), tức là thành phần được Chúa Giêsu nói đến ở phần mở và kết bài Phúc Âm hôm nay: “vâng giữ các mệnh lệnh Thày truyền” hay “vâng giữ các lệnh truyền đã lãnh nhận từ Thày”. 
Vấn đề thực hành sống đạo: 
Theo nguyên tắc “vô tri bất mộ”, nghĩa là trước khi nghe lời ai, tuân giữ mệnh lệnh hay lệnh truyền của ai thì phải biết người đó, phải mộ mến người đó đã. Mà, theo Mạc Khải Phúc Âm được phân tích trên đây, con người cần phải có Ý Thức Thần Linh, có “Thần Chân Lý… ở với và ở trong” đã mới có thể nhận biết Lời Nhập Thể, nhờ đó và sau đó mới có thể “vâng giữ các mệnh lệnh Thày truyền” hay “vâng giữ các lệnh truyền đã lãnh nhận từ Thày”. Vậy mà sao, cũng trong chính bài Phúc Âm hôm nay, “Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: ‘Nếu các con yêu mến Thày và vâng giữ các mệnh lệnh Thày truyền cho các con, Thày sẽ xin Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Cố Vấn khác để ở cùng các con luôn mãi, đó là Thần Chân Lý…”; “Ai yêu mến Thày sẽ được Cha Thày yêu. Cả Thày cũng yêu họ nữa và tỏ mình ra cho họ”. Như thế phải chăng việc con người tuân giữ mệnh lệnh của Chúa Giêsu Kitô chính là việc làm phát sinh ra Ý Thức Thần Linh, tức là việc làm con người có được “một Đấng Cố Vấn khác là Thần Chân Lý”? 
Chúng ta nên nhớ một điều ở đây là, trước hết, không phải ai cũng có thể “vâng giữ” hay muốn “vâng giữ” hoặc “vâng giữ” được “các lệnh truyền” hay “các mệnh lệnh” của Chúa Giêsu Kitô. Vậy kẻ nào “vâng giữ” được các mệnh lệnh hay các lệnh truyền của Chúa Kitô, thì người đó phải là người đã biết lấy gậy Đức Tin đập vào tảng đá Lời Chúa để từ tảng đá, từ Lời Chúa, vọt ra Mạch Nước Thần Linh (x Ex 17:6; Num 20:11). Bởi vì, tự mình, Lời Nhập Thể vốn “đầy ân sủng và chân lý” nơi nhân tính của Người, một Tảng Đá đầy Nước Thần Linh, chỉ cần đến với Người, “đập” vào Người, chạm vào Người, đụng vào Người, sờ vào Người (x 1Jn 1:1), qua tác động “chấp nhận Người” (Jn 1:12), được thể hiện bằng việc cụ thể là “vâng giữ các mệnh lệnh Thày truyền”, như người đàn bà loạn huyết “sờ đến gấu áo Người” (Mk 5:28-30) liền được sức mạnh từ Người thoát ra chữa lành. Như thế, nếu Ý Thức Thần Linh được trực tiếp phát sinh từ Tảng Đá Lời Chúa, từ Lời Nhập Thể, từ “Tảng Đá bị thợ nề loại ra đã trở thành Tảng Đá Góc Tường” (Acts 4:11), thì “việc vâng giữ các mệnh lệnh Thày truyền” chỉ là việc con người tỏ ra về phần mình muốn “ở trong Thày”, nghĩa là muốn “được sự sống”, nhờ đó để được “Thày ở trong họ”, nghĩa là muốn “được sự sống viên mãn hơn” (Jn 10:10).

 

PS6-A11: CHÚA THÁNH THẦN - Lm. Minh Vận, CMC

Bài sách Tông Đồ Công Vụ thuật lại việc Thánh Phêrô và Gioan đến với người xứ Samaria: PS6-A11

Bài sách Tông Đồ Công Vụ thuật lại việc Thánh Phêrô và Gioan đến với người xứ Samaria, ban Bí Tích Thêm Sức cho họ, để họ được lãnh nhận Chúa Thánh Thần qua việc đặt tay và lời cầu nguyện của các ngài. Bài đọc II Thánh Phêrô viết: "Chúa Kitô đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta, chết thay cho chúng ta, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa; thực ra, Người đã chết theo thể xác, nhưng đã phục sinh nhờ Thánh Thần". Rồi qua bài Tin Mừng, chính Chúa Kitô trước khi lìa trần gian mà về Thiên Quốc, Người đã quả quyết với chúng ta: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn của Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha ban cho các con Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi".
I. CHÚA THÁNH THẦN ĐƯỢC NHẬN BIẾT
Chúa Thánh Thần được nhận biết và tuyên xưng là Đấng Phù Trợ, Thần Chân Lý, Chúa Thánh Linh, Đấng Thánh Hóa, Ngôi Ba Thiên Chúa; đó là những danh hiệu khác nhau nhưng cùng chỉ về một Ngôi Vị là Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng mà Chúa Kitô đã hứa xin Chúa Cha sai xuống trần gian, để ngự giữa chúng ta, trong lòng Giáo Hội, trong tâm hồn chúng ta và ở với chúng ta luôn mãi.
Ngài là chính Đấng chúng ta đã được lãnh nhận khi chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, lúc chúng ta chịu Bí Tích Thánh Tẩy, và đặc biệt khi chúng ta lãnh Bí Tích Thêm Sức. Đấng chúng ta hằng tuyên xưng khi chúng ta làm dấu Thánh Giá: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.  
Vậy Chúa Thánh Thần đã được Thánh Kinh mặc khải cho chúng ta nhận biết trong những trường hợp nào?
1. Lúc Chúa Giêsu sau khi đã chịu Phép Rửa trong sông Gióc Đan, qua hình Chim Bồ Câu ngự xuống trên đầu Ngài và qua tiếng Đức Chúa Cha phán dạy.
2. Lúc Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê, Thánh Thần Chúa cũng hiện ra trong đám mây sáng láng.
3. Trong ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần hiện xuống trên Đức Mẹ và các Tông Đồ dưới hình lưỡi lửa và ban sức mạnh cho các ngài.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy hơn 300 lần Thánh Kinh để cập đến Chúa Thánh Thần, qua các công việc và những phép lạ kỳ diệu Ngài thực hiện trong suốt dòng Lịch Sử Ơn Cứu Độ.
II. TÁC ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN
Chúa Thánh Thần giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống Giáo Hội và nơi mỗi tâm hồn chúng ta. Người hằng hướng dẫn, điều khiển và thánh hóa Giáo Hội; Người luôn hoạt động nơi tâm hồn các Thánh, tác tạo cho Giáo Hội Chúa các Thánh Nhân; Người luôn ẩn ngự trong tâm hồn mỗi người chúng ta, để trở nên Đấng an ủi khi chúng ta buồn sầu, tăng sinh lực khi chúng ta yếu đuối, giúp can đảm khi chúng ta bị suy nhược, ban sức mạnh giúp chúng ta chỗi dậy khi đã trót sa ngã phạm tội và phục sinh khi chúng ta phải chết về phần linh hồn, nếu chúng ta biết nương tựa ở Người.
Ông Nguyễn Văn Hinh, một người đã từng bị giam tù suốt 15 năm, mới tới được vùng đất tự do và đã thuật lại một câu truyện thật sống động về một người bạn tù của ông, để nói lên lòng dũng cảm, hiên ngang thà phải chết hơn bỏ tuyên xưng danh Chúa Ba Ngôi. Nhờ lòng sốt sắng kính mến Chúa, Thánh Linh đã biến đổi anh bạn tù đó thành một người có ý chí gang thép không hề khiếp sợ trước bất cứ quyền lực nào, đến nỗi người ta đã tôn trọng anh như là một vị Tử Đạo. Người bạn tù đáng khâm phục đó tên là Nguyễn Văn Hiệt, thuộc xứ Chân Phước Khang, Tam Hà, Thủ Đức, bị giam tù tại Phú Thọ, Bắc Việt Năm 1965. Anh bị chết rũ tù sau 10 ngày bị bỏ đói. Lý do đơn sơ là anh không chịu bỏ làm Dấu Thánh Giá trước mỗi bữa ăn như bọn họ đòi hỏi. Anh đã chết trong lúc hai chân đang bị cùm và trên vách tường chỗ anh nằm còn ghi hàng chữ quí báu này: "GIÊSU MARIA GIUSE, CON MẾN YÊU" viết bằng chính máu của anh.
Ngày nay, Chúa Thánh Thần, Đấng Phù Trợ vẫn còn đang hoạt động mạnh mẽ trong nhiều tâm hồn của biết bao nhiêu nhà truyền giáo, ở các nơi man di mọi rợ nghèo túng, của biết bao vị anh hùng nơi các nhà giam cực khổ vì danh Chúa, của biết bao tâm hồn đang hy sinh tự hiến vì phần rỗi các linh hồn nơi các trại phong cùi, trại cải huấn, cơ quan từ thiện... với biết bao thanh niên nam nữ đã tự nguyện hiến dâng tất cả cuộc đời để làm vinh danh Chúa và mưu phần rỗi các linh hồn. Đặc biệt hơn nữa, Chúa Thánh Thần đang hoạt động rất mãnh liệt nơi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Đấng Đại Diện tối cao của Chúa Kitô trên trần gian, để Ngài được đủ khôn ngoan điều khiển hướng dẫn Giáo Hội Chúa trong giai đoạn cực kỳ khó khăn; được sức mạnh và lòng can đảm để có thể đương đầu với biết bao kẻ thù, biết bao triết thuyết lầm lạc; được lòng sốt mến và sự thánh thiện để ngài phấn khích Giáo Hội và nên gương mẫu cho Đoàn Chiên mà Chúa Kitô đã ký thác cho Ngài.
II. NGHĨA VỤ KHẨN THIẾT CỦA CHÚNG TA 
Được diễm phúc có Chúa Thánh Linh ngự trong tâm hồn, cần thiết chúng ta phải luôn làm hài lòng Chúa, giữ tâm hồn trong sạch, không vướng mắc tội lỗi, bằng cách thực thi mấy nghĩa vụ sau đây:
1. Luôn ngoan ngoãn sống theo sự soi sáng hướng dẫn của Chúa, vì thánh ý Chúa được tỏ ra qua tiếng lương tâm chân chính, qua Thánh Kinh, luật pháp và giáo huấn của Giáo Hội.
2. Luôn cộng tác với ơn Chúa ban, để cố gắng thánh hóa các việc bổn phận to nhỏ hằng ngày, biến đổi mọi hành vi thông thường đó trở thành những lời ca khen, cảm tạ, tri ân dâng lên Chúa, hầu làm cho Chúa được hài lòng; tất cả đều trở nên những tác động yêu mến, làm vinh danh Chúa, thánh hóa bản thân và cứu rỗi các linh hồn.
3. Luôn tận tâm làm tông đồ cho vinh danh Chúa, bằng tất cả những gì có thể, tùy theo địa vị, khả năng và chức vụ của mỗi người chúng ta. 
Kết Luận
Quyết tâm không làm điều gì trái lương tâm, ngược lại thánh ý Chúa được tỏ hiện cách minh nhiên nơi luật pháp và các giáo huấn của Giáo Hội, hoặc cách mặc nhiên nơi sự quan phòng khôn ngoan của Chúa.
Luôn tuyên xưng Chúa qua việc làm "Dấu Thánh Giá", vinh dự vì được tỏ mình là con cái Chúa, là phần tử của Giáo Hội Công Giáo.
Can đảm và hãnh diện truyền bá danh Chúa, thích nói về Chúa để chinh phục các linh hồn về với Chúa, qua lời nói, việc làm, cách cư xử và cuộc sống chứng nhân gương mẫu thánh thiện hằng ngày.

 

PS6-A12: Đấng Bảo Trợ - Br. Hoàng Hiệp Nghĩa, CMC

Trước khi rời bỏ thế gian, Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại, và thầy trò thỏ thẻ những lời: PS6-A12

Trước khi rời bỏ thế gian, Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ lại, và thầy trò thỏ thẻ những lời tâm huyết trong một căn phòng bé nhỏ.  Ngài đã loan báo và hứa xin với Chúa Cha cho các môn đệ một "Đấng Bảo Trợ" khác mà Ngài gọi là "Thần Chân Lý".  Thần Chân Lý theo tiếng HyLạp, Parakletos, có nghĩa là Đấng Trạng Sư, Biện Hộ, Cố Vấn, Cầu Bầu, Bảo Trợ, và là Đấng Chuyển Cầu.  Những danh từ này chỉ tìm thấy trong Phúc Âm Thánh Gioan, và có năm đoạn trong lời đàm thoại chia tay liên quan tới - Đấng Bảo Trợ - Chúa Thánh Thần.  Lần thứ nhất ở Jn 14:16-17, Chúa Giêsu hứa "Đấng Phù Trợ" khác sẽ đến và ở với các môn đệ luôn mãi.  Lần thứ hai ở Jn 14:26, "Đấng Phù Trợ" là Thánh Thần, chính Người sẽ dạy các môn đệ mọi điều và sẽ nhắc nhở cho các ông tất cả những gì Chúa đã nói với các ông.  "Đấng Phù Trợ" được nhắc đến lần thứ ba trong Jn 15:26-27, "Đấng Phù Trợ" sẽ đến; Người là Thần Chân Lý, sẽ làm chứng về Chúa.  Lần thứ tư ở Jn 16:7-11, "... vì nếu Thầy không đi, Đấng Phù Trợ" sẽ không đến với các con."  Lần sau cùng ở Jn 16:13-15, "Thần Chân Lý" đến và sẽ dạy các môn đệ tất cả sự thật.
Nhìn thấy nét mặt của các môn đệ không vui, Chúa đã hứa không để các ông  mồ côi, "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con" (Gn 14:18), và Chúa còn hứa xin với Chúa Cha ban Đấng Phù Trợ khác cho các ông.  Chúng ta thử hỏi tại sao Chúa Giêsu lại hứa xin Chúa Cha ban Đấng Bảo Trợ khác cho các môn đệ?  Phải chăng các ông bối rối vì sự ra đi của Chúa?   Hay có phải các ông đau buồn vì cảnh thầy trò phân ly?  Cũng vì lòng thương yêu mà Chúa đã trấn an các môn đệ bằng những lời êm dịu, "Lòng các con đừng xao xuyến.  Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Gn 14:1-2).  Vì không muốn thấy các môn đệ bơ vơ, hoảng sợ, nên Chúa đã hứa xin "Đấng Bảo Trợ" khác cho các ông.  Đấng Bảo Trợ Chúa Giêsu hứa ban chính là Chúa Thánh Thần; Ngài sẽ đến để giúp đỡ các môn đệ như lúc Chúa Giêsu còn sinh thời.  Chúa Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ mọi điều và sẽ làm cho các ông nhớ lại tất cả những gì mà Chúa Giêsu đã nói với các ông.  Ngài sẽ làm cho thành sự thật những gì mà các môn đệ đã "mắt thấy tai nghe" tồn tại mãi trong Giáo Hội.  Chúa Thánh Thần đến sau Chúa Giêsu để tiếp tục chương trình cứu chuộc mà Chúa Cha đã an bài.  Quả thật, lời hứa của Chúa Giêsu đã thành sự thật.  Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống để khai mạc những trang sử đầu của Giáo Hội.  Ngài chính là nguồn sinh lực của Giáo Hội và của mỗi người chúng ta; chính Ngài thánh hóa và ban mọi ơn cho chúng ta.  Chúa Thánh Thần còn là nguyên lý cho mọi sinh hoạt của Giáo Hội và mỗi người chúng ta; hay nói cách khác, Ngài ban sự sống cho tất cả ngay từ tạo thiên lập địa cho đến ngày sau hết.  Ngài hiện diện cách vô hình, và Ngài vẫn còn tiếp tục phù giúp, ban ơn, và thánh hóa mỗi người chúng ta.
Thường thường ta hay cầu nguyện và tập trung mọi chú ý tới Chúa Giêsu và công trình cứu chuộc của Ngài, mà quên rằng Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu, và Chúa Cha gắn liền mật thiết với nhau.  Chính Chúa Thánh Thần tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con.  Thật đáng tiếc và đáng trách biết bao khi chúng ta lãng quên, chưa biết, hoặc biết rất ít về Ngài.  Chúng ta hãy xét lại đâu là căn nguyên làm cho chúng ta quên "Đấng Bảo Trợ" của mình?  Đâu là nguyên nhân làm cho chúng ta ít nhớ tới hoặc ít cầu nguyện với Chúa Thánh Thần?  Có thể trong đời sống của chúng ta vì bận bịu mà ta quên Ngài?  Phải chăng vì sống giữa một thế giới xô bồ, đầy nhộn nhịp, đầy vật chất làm chúng ta quên Ngài?  Hãy nhớ lại Chúa Giêsu đã hứa gì cho các môn đệ và cũng là cho mỗi người chúng ta.  Trong Mùa Phục Sinh này, chúng ta hãy năng nhớ tới Đấng Bảo Trợ và van xin Ngài ban cho chúng ta được ơn yêu mến Chúa.  Hãy xin Ngài ơn khôn ngoan và ơn can đảm để chúng ta dám loan truyền và làm nhân chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh.  Hãy xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta chu toàn sứ điệp mà Chúa đã trao cho mỗi người trong nhiệm vụ làm cha mẹ, hoặc con cái trong gia đình.  Và nhất là chúng ta hãy xin cho có một tâm tình yêu mến và trái tim luôn luôn mở rộng để đón mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống sắp tới.

 

PS6-A13: LỀ LUẬT YÊU THƯƠNG

Fort Hancock ở đầu xa nhất của miền đất Sandyhock chạy dài tới bờ biển New Jersey. Trong: PS6-A13

Fort Hancock ở đầu xa nhất của miền đất Sandyhock chạy dài tới bờ biển New Jersey. Trong thời kỳ thế chiến thứ hai, nơi này là trung tâm huấn luyện quân đội. Tại khu vực này, có một thường dân rất hăng say đem Tin Mừng Chúa Kitô cho hàng ngàn thanh niên đóng ở đó, nhưng các Vị chỉ huy quân đội không cho phép người đó vào gặp các thanh niên. Anh liền nghĩ  ra một phương pháp truyền giáo thực hay: anh đặt một hãng chuyên môn về những hàng mới, làm cho anh vài ngàn tấm gương soi, có đường kính chừng 8 centimet. Ở mặt sau tấm gương, người đó in những lời Tin Mừng theo thánh Gioan 3, 16: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Bên dưới những lời này, người đó chỉ dẫn: “Nếu bạn muốn nhìn người mà Thiên Chúa yêu thì hãy nhìn ở mặt kia”. Thật là ý nghĩa tuyệt vời, mỗi quân nhân nhìn ngắm mình là họ nhìn thấy người mà Thiên Chúa yêu.
Trên tấm gương soi đó, ta có thể in Mười giới răn như là bằng chứng Thiên Chúa yêu chúng ta. Chúa Giêsu vừa nói với chúng ta: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn thầy”. Chúng ta minh chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với Thiên Chúa bằng sự tuân giữ giới răn của Người. Lề luật Thiên Chúa là những chỉ dẫn yêu thương tốt hảo nhất cho chúng ta. Chúng nói cho chúng ta biết những gì Thiên Chúa muốn và không muốn. Điều đó quan trọng nhất ! Nhưng chúng cũng nói cho chúng ta biết những gì là tốt hảo nhất cho cá nhân chúng ta và cả gia đình nhân loại.
Bạn hãy coi giới răn thứ nhất. Người ta sẽ tự làm hại mình như thế nào, khi họ không thờ phượng Thiên Chúa chân thật duy nhất. Rồi người ta tôn thờ thứ gì đó không những chỉ ở dưới Thiên Chúa mà còn ở dưới cả con người – mặt trời, con vật, như con bò, con khỉ. Người ta tôn thờ tiền bạc, cái xe quần áo, đồ ăn thức uống. Để bảo vệ chúng ta khỏi các thần kỳ dị đó, Đấng tối cao truyền cho chúng ta tôn thờ một mình Ngài mà thôi.
Điều gì xảy ra khi người ta kêu danh Chúa vô cớ ? Vụ Watergate là do những người thề “Không nói gì ngoài sự thật, để Thiên Chúa giúp tôi”, và rằng: lừa dối. Sự thề ẩu như thế ngày nay thường có, làm cho không thể đạt được công lý.
 Ngươi sẽ không giết người. Người ta sẽ tránh được những tai họa nào khi tuân giữ lề luật yêu thương đó ? Chiến tranh, tàn sát, phá thai, giết người, là bệnh không chữa được, say rượu, lạm dụng ma túy, lái xe  liều lĩnh. Vì tình yêu, Thiên Chúa ban luật này để bảo vệ sức khỏe và đời sống của chính chúng ta, cũng như sức khỏe và đời sống của người khác.
Tình yêu nào trong đó giới răn thứ sáu, một lề luật quá thường bị phá thủng do tình yêu sai lầm ? Gia đình khổ cực, ly dị, con cái bất hạnh, giết người, bệnh hoa liễu – đó chỉ là vài tai họa mà Thiên Chúa muốn tránh cho chúng ta bằng cách ban cho chúng ta giới răn chống lại ngoại tình, dâm ô.
Ngươi sẽ không trộm cắp, hoặc sẽ không làm chứng gian, ngươi sẽ không ham muốn nhà cửa của đồng lọai. Không mê muốn vợ của đồng loại. Đây là những qui luật tốt nhất cho mọi người.
Khi người mẹ bảo con, “Đừng chơi ở đường phố”. Thì có nghĩa là bà mẹ có yêu con. Thiên Chúa cũng thế.
Khi chúng ta làm mới lại sự chết của Chúa Kitô do chúng ta bất tuân giữ lề luật của Thiên Chúa, ước gì chúng ta nhận thức được rằng Thiên Chúa ban cho chúng ta những lề luật này – vì tình yêu.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.

 

PS6-A14: HỨA BAN THÁNH THẦN

Bài Tin Mừng ta vừa nghe, trích trong Phúc Âm Thánh Gioan: Chúa hứa sẽ ban Thánh Thần: PS6-A14

Bài Tin Mừng ta vừa nghe, trích trong Phúc Âm Thánh Gioan: Chúa hứa sẽ ban Thánh Thần cho những ai yêu mến Chúa, tuân giữ giới răn Chúa. Thánh thần sẽ giúp chúng ta đón nhận mọi đau khổ, kể cả các cực hình và hy sinh chịu chết vì Chúa.
Một tháng trong tù, nhiều lần Thánh Phêrô Tuần (tử đạo ngày 15-7-1838, 72 tuổi) và Thánh Hiền bị đưa ra tòa đối chấp. Tướng Lê Văn Đức đứng ra hỏi cung hai cha. Thấy cha Tuần đã già, ông nói: “Lão già quá, không chịu nổi các hình khổ đau”. Cha Tuần trả lời: “Quả thực tôi ốm yếu lại già nua, nhưng Thiên Chúa sẽ cho tôi sức mạnh để đón nhận mọi cực hình và cả cái chết vì người”. Lần khác, quan cho một tín hữu đã bỏ đạo ra đạp lên Thánh giá và bảo cha làm theo, cha liền nói: “Sao tôi lại phải bắt chước kẻ bội giáo?” 
Lính dẫn hai cha đến thị xã Ninh Bình, cha Hiền bị nhốt trong cũi bằng tre, cha Tuần mang gông nặng.
Thấy không thể làm hai cha Hiền và Tuần bỏ đạo, đạp lên Thánh giá, các quan họp nhau và lên án trảm quyết hai vị. Bản án của cha Hiền và cha Tuần được vua Minh Mạng châu phê, tới Nam Định ngày 18 tháng 7.
Nhưng cha Phêrô Tuần vì tuổi già sức yếu, đã chết trong tù trước đó 3 ngày. Giáo hữu rước thi hài cha về an táng tại nhà Ngọc Đồng. Tới năm 1954 thi hài được đặt tôn kính trong nhà thờ giáo xứ Lạc An (Phú Cường).
Thánh Simon Hòa (tử đạo ngày 11-12-1840, 66 tuổi) bị đánh đập bằng kìm kẹp và tra tấn dã man cho tới khi Ngài gục ngã không gượng dậy nổi. Ví Chúa, Thánh nhân đã cam chịu mọi hình khổ. Hơn thề nữa, Ngài hiến dâng mạng sống mình để làm chứng về đạo, dù phải hy sinh những người thân yêu nhấtt đời.
Khi các con đến thăm, Ngài khuyên: “Cha yêu thương các con và hằng chm sóc các con. Nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy bằng lòng vâng ý Chúa, đừng buốn sầu vì cha. Từ đây cha không thể lo cho các con được nữa, Chúa muốn cha chịu khổ, cha xin vâng ý người cho trọn”.
Đêm 13-4-1840 thuyền của ông trùm Hòa chở cha Delamotte đến làng Hòa Ninh, bị các quan phát hiện và cho lính theo đuổi. Quân lính bắt được hai cha con dẫn đến huyện Dương Xuân, rồi gửi về thị trấn Quảng Trị, giam hai tháng, cuối cùng đưa ra Huế.
Suốt thời gian bị giam, lương y Hòa không những đã giúp đỡ anh em bạn tù bằng việc bốc thuốc chữa bệnh, ông còn khuyến khích họ sống dũng cảm làm chứng cho Tin Mừng . Cùng chịu khổ như mọi tù nhân, có phần còn hơn nữa, nhưng ông Simon vẫn trung thành với danh Chúa. Những trận đòn gây thương tích không làm ông nản chí, trái lại ông còn lấy đó làm hạnh phúc vì được hiệp thông với Đức Kitô chịu đóng đinh.
Ông Simon bị tra khảo đến 20 lần, có lẽ vì các quan tưởng dùng bạo lực, ông phải cung khai tung tích về các thừa sai, các ông đã không đạt được mục đích, lại còn phải nghe ông giảng thuyết về đạo.
Vua Minh Mạng châu phê án xử trảm ông Simon Hòa, bêu đầu ba ngày.
Ngày 11-12-1840 khi điệu ông Simon đi xử, các quan còn cố bắt ông khóa quá, dụ dỗ ông bỏ đạo, hay ít là cầm lấy ảnh Thánh quăng đi, để tha ông. Nhưng ông vẫn một lòng trung kiên tuyên xưng Chúa. Ông đã vượt qua những thử thách cuối cùng và đã toàn thắng trong việc tín thác vào Thiên Chúa. Ông bị chém gần chợ An Hòa, kinh thành Huế. Thi hài vị chứng nhân ban đầu được chôn táng ngay tại nơi xử, đến sau được cải lên gởi sang chủng viện Thừa sai Paris.

 

PS6-A15: CUỘC SỐNG MỚI CỦA TÍN  HỮU

TRONG CHÚA THÁNH THẦN
Sợi chỉ đỏ
1. Đức tin luôn bị xử án
 

Bài đọc 2 hôm nay trích từ thư thứ nhất của Thánh Phêrô gởi các tín hữu để an ủi và khuyến: PS6-A15

Bài đọc 2 hôm nay trích từ thư thứ nhất của Thánh Phêrô gởi các tín hữu để an ủi và khuyến khích họ giữ vững đức tin trong hoàn cảnh bị nghi kỵ; thù ghét và bách hại. Tại sao hôm nay Giáo Hội muốn cho chúng ta nghe lại đoạn thư ấy?
Thưa vì sự bách hại, dưới hình thức này hay hình thức khác là điều tín hữu không thể tránh nếu họ thực sự sống Tin Mừng. Ta còn có thể nói: chịu bách hại là một thành phần của việc sống đức tin. Lịch sử đã cho thấy rằng khi Giáo Hội gặp bách hại thì đức tin của tín hữu mạnh thêm; còn khi Giáo Hội bình an thì đức tin yếu đi.
Bởi thế, trước tiên là Đức Giêsu, và kế đó là Thánh Phêrô trong đoạn thư hôm nay, không coi bách hại là một tai họa, nhưng trái lại là một mối phúc: "Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét khai trừ sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xứ như thế”  (Lc 6,22-23).
Đức tin luôn bị xét xử! Vì thế, khi đứng trước tòa án của dư luận, trước sự chỉ trích của những người chung quanh, người tín hữu đừng buồn và đừng sợ, nhưng hãy coi đây là dịp tốt để làm chứng về niềm hy vọng sống động của mình.
Nhưng để có thể bình thản và lạc quan như thế, chúng ta hãy nhọ lời Đức Giêsu nói hôm nay: "Thầy không để anh em mồ côi đâu... Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bào Chữa khác đến với anh em luôn mãi... Ngài ở lại với anh em và trong anh em .
2. Chúa Thánh Thần giúp ta trở thành Kitô hữu
Ngày xưa khi các tín hữu bị bách hại ở Giêrusalem phải trốn sang Antiôkhia, họ bị dân chúng miền này mỉa mai gọi họ là "Kitô hữu, ngụ ý đó là những kẻ khờ dại sống theo giáo lý của một tên Giêsu nào đó xưng mình là Kitô. Nhưng không ngờ cái tên "Kitô hữu” ấy lại diễn đạt rất đúng tính cách của người tín hữu. Đúng vậy, tín hữu của Đức Giêsu là người muốn bắt chước Đức Kitô đến nỗi trở thành một Kitô khác.
Nhưng làm thế nào để được như vậy? Thưa nhờ Chúa Thánh Thần:
-Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng, giúp ta ngày càng hiểu rõ Đức Kitô và những lời dạy của Ngài hơn.
-Chúa Thánh Thần là Đấng Phù trợ: Ngài ban sức mạnh giúp chúng ta sống. Sống một cách phi thường trong cuộc đời bình thường; sống bình thản và lạc quan trong những lúc khó khăn; sống quảng đại đang khi vác thập giá...
-Chúa Thánh Thần còn là nguồn tình yêu. Nhờ tình yêu mà Chúa Thánh Thần đổ tràn vào lòng chúng ta, cuộc sống chúng ta luôn là một màu hồng, cho dù khi thất bại, khi bị phụ bạc vô ơn, khi chịu đựng những tấn công của kẻ đố kị...  giống như Đức Kitô ngày xưa trong cuộc chịu nạn.
3. Tình yêu thể hiện bằng hành động:
Yêu không chỉ là cảm xúc mà còn là sống, cho nên yêu thì tất nhiên thể hiện ra bằng hành động: hành động trước mặt người mình yêu để người ấy vui lòng; và hành động theo ý người mình yêu ngay cả khi người ấy không có mặt.
Bởi thế Đức Giêsu nói với các môn đệ: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các giới răn của Thầy".
4. "Chẳng bao lâu nữa thế gian sẽ không còn thấy Thầy"
Có nhiều cuộc ra đi nhưng mang những ý nghĩa khác nhau:
-Có khi ra đi là bỏ lại, như một cha từ trần ra đi bỏ lại đám con côi cút. Hôm nay Đức Giêsu ra đi không có nghĩa là ngài bỏ chúng ta mồ côi . "Thầy sẽ không để chúng con phải mồ côi".
-Có khi ra đi là dứt bỏ, như một tên sở khanh bỏ mặc cô gái bị hắn lường gạt mà "quất ngựa truy phong". Hôm nay Đức Giêsu ra đi cũng không có nghĩa đó.
-Có khi ra đi là cần thiết cho lợi ích của kẻ ra đi, như một người thất nghiệp đi đến nơi khác để có việc làm. Cuộc ra đi hôm nay của Đức Giêsu là như thế, Ngài ra đi để trở về nhà Cha mình. Cuộc ra đi này rất tốt cho Ngài.
-Có khi ra đi vừa tốt cho kẻ ra đi vừa tốt cho kẻ ở lại, như một người đi làm ăn rồi một thời gian sau trở lại đem tiền về cho gia đình. Thí dụ này càng đúng hơn nữa đối với Đức Giêsu. Hôm nay Ngài ra đi để được về với Cha mình nhưng cũng để "dọn chỗ" cho các môn đệ, rồi sau đó Ngài sẽ trở lại rước các môn đệ cùng Ngài đến chỗ mới đó.
Đức Giêsu không bao giờ bỏ chúng ta ở lại trong cảnh mồ côi thiếu thốn. Ngài để lại cho chúng ta hai trợ lực rất hữu hiệu, một là Phép Thánh Thể mà chúng ta có thể đến hằng ngày, hai là Chúa Thánh Thần vẫn luôn ở bên cạnh để hỗ trợ chúng ta từng giây từng phút.
5. Loài chim biển 
Một ngày lộng gió, tôi đứng trên bờ biển với cảm giác ớn lạnh.
Nhưng tôi thấy những con chim biển chẳng chút sợ gì những đợt gió mạnh ấy, trái lại còn thích thú nữa.
Có lúc chúng lướt theo gió, có lúc chúng bay ngược chiều gió, chúng lao vút lên trời, rồi chúng đâm nhào xuống đất. Nhưng lúc nào chúng cũng biết vận dụng sức gió, và có thể nói sức mạnh của chúng chính là sức mạnh của gió.
Rồi tôi chợt hiểu câu nói của Đức Giêsu: “Thầy không để chúng con mồ côi. Thầy sẽ ban cho chúng con một Đấng Phù Trợ khác, đó là Chúa Thánh Thần".

 

PS6-A16: LÒNG ANH EM ĐỪNG XAO XUYẾN …

Trước khi rời khỏi thế gian nay để về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu nói với các môn đệ:"Lòng: PS6-A16

Trước khi rời khỏi thế gian nay để về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu nói với các môn đệ:"Lòng anh em đừng xao xuyến...".
Trong Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương: Đức Giêsu vừa loan báo sự phản bội của Giuđa và y đã đi ra khỏi căn phòng vào đêm tối bên ngoài (Gioan 13,21-30).. rồi Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Gioan 13,31-36)... sau cùng, đầy nỗi lo sợ, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Người  "ba lần”, trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Gioan 13,37-38). Như thế, người ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng  đang xiết chặt mọi tâm hồn vô tư tưởng các môn đệ trong đời sống của chúng ta cũng thế có những giờ phút sự sợ hãi kinh hoàng ập xuống trên chúng ta một tương lai bấp bênh, một thiệt hại không vượt qua được, những suy sụp của tuổi già, một căn bệnh không thể chữa khỏi. Và còn có những sợ hãi  tập thể: sự thất nghiệp, bạo lực, nạn nhân mãn, nạn đời sự ô nhiễm của môi  trường, những nguy cơ của nguyên tử. Và trong bối cảnh khủng hoảng ấy, những câu hỏi nghiêm trọng mà mọi tín hữu chân chính phải đặt ra. Những giá trị cao cả của con người chẳng phải đang bị xóa nhòa Đó sao? Nhân loại ngày mai sẽ tin vào điều gì? Và một ngọn gió hoảng sợ cũng xâm chiếm những tín hữu mạnh mẽ nhất và người ta lẩm bẩm rằng trong Giáo Hội cũng không có gì là ổn cả.
Chính trong bối cảnh nhân loại như thế mà tính lạc quan không gì thắng nỗi của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối! Chỉ còn mấy giờ nữa Người phải lên thập  giá thế mà Người đã cố sức vực dậy tinh thần của các bạn hữu của Người: "Lòng anh em đừng xao xuyến!" chúng ta hãy đắng nghe những lý do Người sẽ đưa ra để chúng ta không  bao giờ còn sợ nữa. . . về bất cứ điều gì.   
“Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”
Đức Giêsu yêu cầu các bạn hữu đang xao xuyến của người hướng cái nhìn về một hướng duy nhất: đức tin, sự bình an sâu xa của Đức Giêsu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi, không dựa trên sức  người, nhưng dựa trên Thiên Chúa. Tất cả, không chừa một ai đều có thể suy sụp, chỉ có Đức Giêsu nắm giữ sự trợ giúp siêu nhiên nằm bên ngoài ảnh hưởng của mọi sức  mạnh phá hoại cái chết cũng không thể phá hủy sự bình an của Người: Sự bình an của Người không do sức con người mà do Thiên Chúa! Vả lại, chúng ta nhận thấy rằng Đức Giêsu đòi hỏi đối với bản thân Người một thái độ đức tin mà người ta có thể có đối với Thiên Chúa. Tính duy lý của con người vỡ tung như một nhân nguyên tử dưới sức ép khó quan niệm nổi của cái vô cùng thánh thiêng: Làm thế nào mà Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một Đấng khác mình? Và điều Đó mang lại công thức làm ngạc nhiên: "Hãy tin vào THIÊN CHÚA... Hãy tin vào THẦY...". Vậy thì Người là ai để nói như thế?  
"Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã  nói  với anh em  rồi, vì  Thầy đi dọn chỗ cho anh em" .   
" Phải, Đó là mầu nhiệm không thể hiểu thấu của Nhập Thể. Đức Giêsu với tư cách con người, phân biệt không ngừng với Thiên Chúa! Người nói về Thiên Chúa như thể Đó là một Đấng Khác (Tha Thể Tuyệt Đối) người  nói về Chúa Cha. Không bao giờ Đức Giêsu hướng cái nhìn của con người về chính mình. Không bao giờ Đức Giêsu lôi kéo sự tôn kính hay thờ phụng về bản thân Người: Người hoàn toàn hướng về một Đấng khác...và Người muốn xoay hướng chúng ta về Đấng khác ấy, Đấng hoàn toàn khác, Đấng mà chưa có ai đã từng trông thấy, tức là Chúa Cha.
Như thế Đức Giêsu đối diện với cái chết của Ngài, sự ra đi khỏi thế gian này, như một sự trở về nhà mình: Người sẽ tìm lại nơi Đó một Đấng mà Người yêu mến và mến yêu Người. Đức Giêsu biết mình được yêu.
Sau những lời làm vỡ tung lý trí, giờ đây là những lời hoàn toàn thân mật, những lời thường nói mỗi ngày: nhà, chỗ ở, dọn chỗ...
“Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy”
Đây là những lời dịu dàng không tả nổi: "Đem về với Thầy... trở lại..." Thiên Chúa tất nhiên là Đấng hoàn toàn khác không thể đạt đến được nhưng cũng là Đấng rất gần, thân thiết chúng ta không có một Thiên Chúa dửng dưng và lãnh đạm, nhưng là một người Cha đầy tình âu yếm, một người Anh để cho những nổi lo  sợ của chúng ta làm thương tổn và Người nói với chúng ta những lời an ủi và thân ái.
“Hễ Thầy ở đâu, anh em cũng ở Đó”.
 Chúng ta chớ lướt qua nhanh quá trên những lời xem ra có vẻ đơn giản và thân mật một cách ngây thơ. Có cả một thần học được diễn tả xuyên qua mạc khải ấy. Khi dám nói rằng: “Thầy ở đâu, anh em cũng ở Đó". Đức Giêsu mở ra cho nhân loại  một viễn cảnh có âm vang vô tận, siêu nhân, siêu nhiên: Chính "đời sống thánh thiêng" được ban cho chúng ta mục đích của con người không còn ở trong con người, mà ở trong Thiên Chúa! Nhân loại đi về hướng có Đức Giêsu ở Đó con người đã được lập trình để trở thành “như Thiên Chúa" người ta hiểu được lời Người nói : "Lòng anh em đừng xao xuyến!"
“Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi” Ông Tôma nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?"
Đây là một điệp khúc: "Thầy đi...” “chúng con không biết Thầy đi đâu...". Đó là câu hỏi nền tảng của nhân loại mà Tôma dũng cảm đặt ra nhân danh chúng ta. Chúng ta sẽ đi về đâu? Ý nghĩa, mục đích sau cùng của đời sống là gì ? Có cái gì sau khi chết?.
Đức Giêsu đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống: Không ai đến  với  Chúa Cha mà không qua Thầy".
Đối với Đức Giêsu, chân trời không bao giờ bị ngăn chặn, gây ra sự tuyệt vọng.
Đối với người tin, ai chấp nhận lời Đức Giêsu, lịch sử sẽ có một ý nghĩa, đời sống sẽ không còn phi lý nữa Đức Giêsu là "người mở đường", Người đã mở ra một lối thoát cho cái hữu hạn và cho đặc tính phải chết của con người. Không có Đức Kitô con người bị giam hãm trong những giới hạn của mình. Với Người, và chỉ với Người, như Người khẳng định có một con đường không dẫn tới cái hố đen của nấm mộ, nhưng về "nhà của Chúa Cha".
Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng sẽ biết Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người" . 
Câu này của Thánh Gioan là một câu làm hiện ra tính không thể diễn tả của Thiên Chúa, sự "mạc khải" này vẫn còn một phần "không thể quan niệm được": ánh sáng.. nhưng vẫn còn một thứ ánh sáng của đêm tối... ánh sáng của đức tin.  
Thật vậy, câu này gồm hai khẳng định bề ngoài trái ngược nhau: Anh em cũng (sẽ) biết Cha của Thầy (ở thì tương lai).. bây giờ, anh em biết: Người (thì hiện tại).
Rõ ràng là Thiên Chúa không hiển nhiên và thật ra, chúng ta không biết Người. Người ta cũng có thể nói rằng chúng ta hiểu được Người! Rõ ràng có một thứ hồ nghi, không chắc chắn đã xuất hiện trong câu hỏi của Tôma: “chúng con không biết...”. Tình cảnh của chúng ta hiện nay đúng là như thế có thể  một ngày nào Đó, chúng  ta sẽ biết Thiên Chúa. Sự vô tri về Thiên Chúa hôm nay, sẽ biến đổi thành trí thức, như lời Đức Gìêsu nói: Anh em sẽ biết Người! Vả lại trong Đức Giêsu, sự hiện diện vô tri của  Thiên Chúa chịu một "cú sốc của tương lai" đến độ những thực tại phải đến đã trở thành hiện tại:  “Ngay từ bây giờ, anh em biết Thiên Chúa và đã thấy Người!". Có thể nói rằng, bằng một cảm thức siêu nhiên, tương lai được tiên cảm trong hiện tại đối với những người tin Đức Giêsu: "Thời sau hết đã ở Đó, mặc dù chưa hoàn tất. Giáo Hội, nơi cư ngụ của các tín hữu đã trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa ở giữa con người" (Khải Huyền 21,3). Một ngày nào Đó, chúng ta sẽ có một sự hiểu biết nào Đó về Chúa Cha, còn bây giờ chúng ta đã hiểu biết Chúa Cha qua bức màn của đức tin. Đó là điều mà các nhà thần học gọi là cánh chung: Tương lai được cảm nghiệm trước trong lòng của các tín hữu, trong Đức Giêsu Kitô.
Ông Philípphê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện". Đức Giêsu trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?". 
Mới rồi, chúng ta vừa nghe Đức Giêsu phân biệt Người với Chúa Cha. Giờ đây dường như Người đồng hóa với Chúa Cha. Đức Giêsu đi về với Chúa Cha, Người là con đường dẫn đến Chúa Cha và đồng thời Người ở trong Chúa Cha và ai “thấy Đức Giêsu là thấy Chúa Cha". Đức Giêsu là một con người, nhưng một con người "chứa đầy Thiên Chúa", một con người Thiên Chúa! Chúng ta phải để những từ có vẻ đơn giản ấy thấm nhuần chúng ta: "Thầy ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong Thầy...Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy...”
 Phải, đã có một con người là Giêsu Nadarét, sống cách nay hai ngàn năm trong một tổng nhỏ ít người biết đến của Đế quốc La Mã, một con người bằng xương bằng thịt đã đứng trên đôi chần của mình và trên một miền đất xác định, đất Israen, một con người có những bạn hữu, một con người ăn uống như mọi người.. một người sắp chết như mọi người... và con người này lúc này đây hiệp thông với Thiên Chúa và đồng nhất với Thiên Chúa và hoàn toàn không là một kẻ điên một con người quân bình tột bậc, khiêm tốn, không tham vọng và kiêu ngạo: một con người vừa mới quỳ gối trước các bạn hữu để rửa chân cho họ như một tôi tớ bình thường vào thời Đó.. đồng thời giao nộp thân thể tan nát, và đã đổ máu ra vì họ.
"Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy chính  người làm những việc của mình: Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì chính các việc kia vậy thật Thầy bảo thật anh em ai tin vào Thầy, thì người Đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người Đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha".
 Thiên đàng không phải là một sự chạy trốn vào một giấc mơ của tương lai hoang tưởng. Thiên đàng không phải là một miếng đường được hứa ban cho sau này để bỏ qua sự chua cay hiện tại Thiên Chúa không phải là một thứ thuốc phiện dùng để ru ngủ những đau khổ cho một cuộc sống đời đời.
Một thiên đàng để bắt đầu và được cảm nghiệm bởi những người "làm những việc Đức Giêsu làm": Có một cách nào Đó để suy nghĩ, để chọn lựa, để gặp gỡ Thiên Chúa và con người, một cách sống nào Đó cũng chính là cách sống của Đức Giêsu.

 

PS6-A17: ƠN RỬA TỘI CÒN SÓNG ĐỘNG?

“Thầy không để chúng con mồ côi”
 

Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa phán: "Nếu các con yêu mến Thầy thì sẽ giữ giới răn của: PS6-A17

Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa phán: "Nếu các con yêu mến Thầy thì sẽ giữ giới răn của Thầy”.  Đó là điều kiện Chúa đòi hỏi chúng ta, người Kitô hữu. Đó là lời tạ từ trong giờ Chúa ly biệt.
Giữ giới răn Chúa là gì ? Giữ giới răn của Chúa, nói nôm na là giữ đạo là sống đạo, sống nhân đức tin mà Chúa ban cho chúng ta ngày chịu phép rửa tội. Chúa nhắc lại đến hai lần: “Nếu chúng con yêu mến Thầy chúng con s chăm chỉ giữ các giới dụ của Thầy”, và sau đó Ngài thêm: "Chúng con là bạn hữu của Thầy nếu chúng con thực hành những điều Thầy triền dạy”.
Qua Lời của Chúa, chúng ta thấy rằng chúng ta giữ giới răn, sống đạo, có chế có hai tâm trạng và hai thái độ: một là giữ đạo vì vụ lợi, giữ cho có lệ gọi là có. Hai là giữ đạo vì yêu mến Chúa. “Nếu các con yêu mến Thầy thì giữ giới răn của Thầy”.
Trước tiên chúng ta là người tín hữu, là người có Đức Tin, chúng ta không thể hững hờ giữ đạo gọi là có lệ. Thánh Anphong nói: "Trong đời, Chúa ban cho chúng ta  ơn  cả, mộc đầu đời và một cuối đời, là ơn được Rửa tội và ơn bền đỗ đến cùng”.
Người tín hữu là người đã được gặp gỡ Chúa, đã chấp nhận, đã đặt Chúa vào trong đời sống của mình. Phaolô, trên đường Đamas, đi lùng bắt giáo dân, đã được gặp gỡ Chúa, “được Chúa tỏ mình ra  và hoán cải từ một kẻ thù sống chết trở nên một người bạn chí thiết. Mỗi một cuộc “trở lại" là một cuộc gặp gỡ như vậy.
Tại Hàn Lâm Viện Pháp hiện có một vị Hàn Lẫm danh tiếnglà ông André Froissard, ông viết mỗi ngày trên báo Figaro, trong mục Cavalier Seul. Trước đây ông là người chưa biết Chúa. Hơn nữa, thân phụ ông là Tổng thư ký đảng cộng sản Pháp. Để con khỏi bị tiêm nhiễm về đạo, ông già đặt vào trong phòng con tất cả các sách của Karl Marx và Lenine. ông nhồi vào sọ con rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội là một "đạo giáo có thể chấp nhận được".
Dầu vậy trong tâm hồn khép kín ấy, Chúa đã vào. ông được ơn trở lại và ông đã kể lại sự kiện trong một cuốn sách thời danh:
“Có Thiên Chúa là tôi đã gặp Ngài". Nay vị Hàn Lâm ấy là một  chứng nhân. Ông nói: “Chỉ có Thiên Chúa là không làm cho tôi thấtn vọng, từ ngày hôm ấy, một buổi sáng năm 1935, trong một ngôi thánh đường ở Paris”.
Vậy chúng ta đã được Đức Tin thì phải sống Đức Tin, được biết đạo thì phải sống đạo vì yêu mến: "Nếu các con yêu mến Thầy thì hãy giữ giới răn của Thầy”.
Chúng ta hãy tự vấn lương tâm. Ơn rửa tội còn sống động trong chúng ta không? Hay là chúng ta coi việc giữ đạo là một cái “mốt”thời trang, nếu không phải vì những mục tiêu vụ lợi khác. Theo cuốn Chân tướng của giáo sư Cao Thế Dung thì ông tên gọi địa phương ở Nghệ An là "Cuông", đã chịu phép rửa tội tên Thánh là Gioan Baotixita. Ông làm con nuôi của vị Thừa sai Pháp tên là Galliard, nên được che chở để đi Pháp, làm cách mạng vô sản, đi vào lịch sử đau thương của đất nước.     Người ta có thể trở nên một người có đạo nhưng không phải là người sống đạo, một người Công giáo vỏn vẹn chỉ có  tên.
Đoạn Phúc âm này ghi chép lại những lời tạ từ của Chúa trước khi lên đường tử nạn. Các Tông đồ vào Thầy và vào Đấng Thầy sẽ gửi đến, “Thầy không để chúng con mồ côi, Thầy sẽ trở lại với chúng con”. Kẻ vâng giữ Lời Ngài, “sẽ nhìn thấy Ngài hằng sống và sẽ được sống nơi Ngài mãi mãi” trong đức Tin.

 

PS6-A18: TÌNH YÊU VÂNG LỜI

Với thánh Gioan, chỉ có một cách để trắc nghiệm tình yêu thương là sự vâng lời. Chúa Giêsu: PS6-A18

Với thánh Gioan, chỉ có một cách để trắc nghiệm tình yêu thương là sự vâng lời. Chúa Giêsu đã chứng minh Ngài yêu Chúa Cha bằng sự vâng lời. "Thánh Gioan chẳng bao giờ cho phép biến tình yêu thành một thứ cảm xúc. Tình yêu được bộc lộ dưới tính cách đạo đức, bày tỏ ra bằng sự vâng lời." (Barett). Chúng ta biết có nhiều người chỉ yêu thương qua đầu môi chót lưỡi, đồng thời lại làm cho những người họ yêu phải đau đớn, khổ tâm. Có những thanh thiếu niên bảo chúng yêu thương cha mẹ, nhưng lại gây buồn khổ, lo âu cho cha mẹ. Có những ông chồng bảo yêu vợ, có những bà vợ bảo yêu chồng, nhưng lại hay cộc cằn, gắt gỏng, thô lỗ, nhỏ nhen, vô tâm vô tình, làm cho chồng hay vợ mình phải đau khổ. Với Chúa Giêsu , tình yêu thương chân thật không phải là điều dễ dàng, tình yêu chân thật chỉ có thể chứng minh bằng sự vâng lời chân thật.
Nhưng Chúa Giêsu đã không bỏ mặc chúng ta chiến đấu một mình trong đời sống theo Ngài. Ngài sẽ sai một Đấng Giúp Đỡ đến. Bản Việt ngữ gọi là Đấng An Ủi. Khi khảo sát từ ngữ Paracletos này thật kỹ, chúng ta mới lãnh hội được phần nào tính cách phong phú về giáo lý về Chúa Thánh Thần .
Parakletos có nghĩa là một người được gọi đến, chính lý do tại sao, người đó được gọi đến khiến từ ngữ đó có ý nghĩa thật độc đáo. Người Hi lạp thường dùng chữ này theo nhiều nghĩa khác nhau. Có thể là một nhân chứng được tòa mời đến bênh vực cho người nào đó. Có thể là một trạng sư được gọi đến để biện hộ cho bị cáo nặng tội. Có thể là một chuyên viên được gọi đến để cho ý kiến về một trường hợp khó khăn. Chẳng hạn khi một đạo quân xuống tinh thần, người ấy được gọi đến để làm cho đội quân lên tinh thần, lấy lại can đảm. Paracletos luôn luôn là người được gọi đến để giúp đỡ trong lúc khó khăn, lúc cần. Có một thời dịch là Đấng An Ủi, từ này do nguyên ngữ La tinh fortis có nghĩa là dũng cảm : người yên ủi là người khiến kẻ mất tinh thần trở thành dũng cảm. Ngày nay, chữ yên ủi hầu như chỉ còn có nghĩa là làm cho khỏi đau buồn, người an ủi là người thông cảm khi ta có chuyện buồn khổ. Chắc chắn Chúa Thánh Thần đã làm công tác đó, nhưng giới hạn công tác của Ngài vào nhiệm vụ đó thôi, quả là đánh giá Ngài quá thấp một cách đáng buồn. Chúng ta vẫn thường nói đến khả năng đối phó với mọi hoàn cảnh. Đó đúng là công tác của Chúa Thánh Thần , Ngài đến với chúng ta, cất đi mọi khuyết điểm, bất năng của chúng ta, giúp chúng ta đủ sức đối phó với cuộc sống. Chúa Thánh Thần thay thế đời sống thất bại của chúng ta bằng cuộc đời đắc thắng.
Vậy, Chúa Giêsu có ý nói : "Ta giao cho các ngươi một nhiệm vụ nặng nề, Ta sai các ngươi đi thi hành một công tác hết sức khó khăn, nhưng Ta cũng phái theo các ngươi một Đấng Paracletos để hướng dẫn các ngươi biết phải làm gì và giúp các ngươi thực hiện công tác ấy !"
Chúa Giêsu tiếp tục cho biết thế gian không nhận biết Thánh Thần. Chữ "thế gian" ở đây chỉ về những ai sống như không hề có Thiên Chúa . Điểm Chúa Giêsu muốn nói : chúng ta chỉ có thể thấy được điều mà chúng ta có khả năng nhìn thấy. Nhà thiên văn nhìn lên bầu trời sẽ thấy được nhiều điều hơn người thường. Nhìn vào bờ rào, nhà thảo mộc học tìm thấy những khác lạ của cỏ cây hơn một người chẳng biết tý gì về khoa thực vật. Bác sĩ nhìn con người thì khám phá được nhiều hơn một người không chuyên môn. Người am hiểu nghệ thuật nhìn vào bức tranh sẽ chiêm ngưỡng được nhiều hơn về đường nét tuyệt diệu. Người biết chút ít về âm nhạc nghe một bản giao hưởng sẽ thích thú hơn người chẳng biết âm nhạc. Những gì chúng ta trông thấy và từng trải luôn tùy thuộc vào nhãn quan và kinh nghiệm của chúng ta. Vậy người nào đã loại trừ Thiên Chúa sẽ chẳng có giây phút nào trong ngày để trông đợi được nghe Ngài. Người ấy sẽ nghĩ rằng dùng thời giờ như vậy là phí phạm. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ nhận được Chúa Thánh Thần đến nếu không yên lặng chờ đợi, cầu nguyện , trông mong Ngài đến với mình. Người thế gian rất bận rộn đến nỗi không dành một cơ hội nào để Chúa Thánh Thần có thể đến với họ. Thánh Thần chẳng phá cửa lòng ai bao giờ, Ngài chờ đợi để được tiếp rước. Vậy, suy nghĩ đến những điều kỳ diệu Chúa Thánh Thần đang làm và đem đến cho đời sống, chắc chắn chúng ta sẽ dành nhiều thời giờ hơn giữa đời sống bon chen này, để yên lặng chờ đợi Ngài đến với quyền năng trọn vẹn của Ngài.
Lúc này, chắc các môn đệ đã cảm nhận được những việc sắp xảy ra. Hẳn họ đã cảm nghiệm được chuyện bi thảm đang tới gần. Nhưng Chúa Giêsu phán : "Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu". Từ ngữ "Mồ côi" dùng ở đây có nghĩa là không có cha, từ ngữ này cũng được dùng để chỉ đám môn sinh, đám học trò bị mất thầy, mất đi những lời dạy bảo của người thầy thân yêu. Lúc Socrates chết, Plato nói về các môn sinh của Socrates rằng : "Họ nghĩ họ sẽ phải sống mồ côi suốt quãng đời còn lại như những đứa con mất cha, và họ chẳng biết phải làm gì". Nhưng Chúa Giêsu bảo các môn đệ rằng, trường hợp của họ thì không như thế, Ngài phán : "Ta sẽ trở lại".
Ngài nói về sự phục sinh và việc Ngài luôn luôn có mặt bên họ sau khi phục sinh. Họ sẽ thấy Ngài vì Ngài sẽ sống, và vì chính họ cũng sẽ sống. Chúa muốn nói là họ sẽ sống thuộc linh. Lúc này họ bối rối và tê liệt bởi thảm cảnh đang tới gần, nhưng sẽ có ngày mắt họ sẽ mở ra, tâm trí họ hiểu được, lòng họ bừng sáng, chừng đó họ sẽ thật sự nhìn thấy Ngài. Đó đúng là điều đã xảy ra sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại. Sự phục sinh của Ngài biến thất vọng thành hi vọng, khi đó họ mới biết rõ không chút nghi ngờ rằng Ngài là Con Thiên Chúa .
Qua những lời này, Gioan đề cập đến những ý tưởng chẳng bao giờ rời xa tâm trí ông :
1. Trước nhất và trên hết: có tình yêu thương. Với tông đồ Gioan, tình yêu thương là căn bản của mọi sự. Thiên Chúa yêu thương Chúa Giêsu , Chúa Giêsu yêu thương Thiên Chúa, Thiên Chúa yêu thương loài người, Chúa Giêsu yêu thương loài người, loài người yêu thương Thiên Chúa qua Chúa Giêsu , loài người yêu thương nhau. Trời với đất, con người với Thiên Chúa , và con người với con người, tất cả đều buộc chặt vào nhau bằng sợi dây yêu thương.
2. Một lần nữa, Gioan lại nhấn mạnh sự cần thiết của việc vâng lời. vâng lời là bằng chứng duy nhất của tình yêu thương. Khi Chúa Giêsu sống lại, Ngài đã hiện ra cho những người Ngài yêu mến, chứ không cho các đạo sĩ, các thầy thông giáo hay những người Do thái thù ghét Ngài.
3. Tình yêu vâng lời và tin cậy sẽ đưa đến hai điều. Một là sự an toàn tuyệt đối. Vào ngày toàn thắng khải hoàn của Chúa Cứu Thế , những người yêu thương vâng lời Ngài sẽ được an toàn giữa một thế gian tan nát. Hai là nhận được mạc khải ngày càng đầy đủ hơn. Sự mạc khải của Thiên Chúa là điều đắt giá. Bao giờ cũng có một căn bản đạo đức trong sự mạc khải. Chúa Giêsu chỉ bày tỏ Ngài cho những người vâng giữ các giới răn của Ngài. Chẳng hề có kẻ ác nào nhận được mạc khải của Thiên Chúa . Kẻ ác có thể được Thiên Chúa xử dụng, nhưng chẳng bao giờ được thông công với Ngài. Thiên Chúa tự mạc khải, tự tỏ ra cho người tìm kiếm Ngài. Chỉ có những người dù thất bại mà vẫn biết vươn lên, mới được Thiên Chúa cúi xuống để tiếp xúc. Sự tương thông với Thiên Chúa  và sự mạc khải của Thiên Chúa tùy thuộc vào tình yêu thương, và tình yêu thương tùy thuộc vào sự vâng lời. Càng vâng lời Thiên Chúa chúng ta càng hiểu biết Ngài, và người nào đi trong đường lối của Thiên Chúa nhất định là đang  được cùng đi với Thiên Chúa

 

PS6-A19: THẦY SẼ XIN ĐẤNG AN ỦI ĐẾN

Anh chị em thân mến!
 

Cuốn phim có tựa đề: "Đời Vẫn Đẹp" do Roberto đạo diễn và thủ diễn đã xứng dáng tham dự: PS6-A19

Cuốn phim có tựa đề: "Đời Vẫn Đẹp" do Roberto đạo diễn và thủ diễn đã xứng dáng tham dự giải Oscar. Cuốn phim đã nêu lên câu chuyện của một người Do Thái cùng với vợ và đứca con trai nhỏ đã bị Đứca Quốc Xã đưa vào trại. Nhờ lài khôi hài, ông đã giữ vững tinh thần của đứca con khi quân đội đồng Mtnh đến giải thoát.
Cuốn phim hẳn gợi lại kinh nghiệm của một bác sĩ trong ba năm lưu đầy lại Ba tan và nhiều trại tập trung khác của Đức Quốc xã đã giúp cho vị bác sĩ chuyên gia tâm lý này khám phá được một chân lý quan trọng trong cuộc sống của con người. Chân lý đó là trong những hoàn cảnh nghiệt ngã đau thương nhất của con người vẫn có thể tồn lại, nếu họ có niềm tin và tìm được ý nghĩa của cuộc sống.
Bác sĩ đã quan sát những phản ứng khác nhau của các bạn tù của ông, có những người trước khi vào tù được mọi người trọng vọng ngưỡng mộ, thế nhưng bỗng chốc lộ nguyên hình là những kẻ hèn hạ có thể bán đứng anh em vì một chút lợi lộc nhỏ mọn. Một số khác thoạt tiên thể hiện bản lĩnh của những nhà lãnh đạo thế nhưng liền sau đó thất vọng và ngã gục chỉ trong vài ngày. Trái lại, cũng không thiếu những người ít được mọi người chú ý đến, âm thầm chịu đựng cho đến cùng và còn sống.
Tìm hiểu sự khác biệt giữa các hạng người trên đây, bác sĩ khám phá ra rằng, chính mục đích và ý nghĩa của cuộc sống là sức mạnh làm cho con người tồn lại trong những điều kiện tột cùng khốn khổ của cuộc sống. Trong kinh nghiệm bản thân, bác sĩ cho biết chính tình yêu đối với vợ ông đã giúp cho ông tiếp tục tìm thấy ý nghĩa và lẽ sống trong tận đáy của hoả ngục. Mặc dù không biết vợ mình bị giam giữ ở đâu, còn sống hay đã chết rồi, bác sĩ đã chia sẻ kinh nghiệm như sau:
Không có gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu, khỏi những ý nghĩ và hình ảnh người vợ yêu dấu của tôi. Cho dẫu người ta có báo tin rằng vợ tôi đã chết thì tôi sẽ không bao giờ ngưng chiêm ngắm hình ảnh của  nàng, hay ngưng thôi không chuyện vãn với nàng nữa. Càng lúc tôi càng cảm nghiệm được hình ảnh của vợ tôi vẫn luôn ở bên cạnh tôi, thì chính tình yêu đối với vợ đã mang lại hy vọng và sức mạnh giúp cho bác sĩ chịu đựng mọi nghịch cảnh và tồn lại cho đến ngày được giải cứu khỏi trại tập trung. Khám phá được ý nghĩa của cuộc sống, đây hẳn không phải là một điều xa xỉ hay phụ thuộc trong cuộc sống con người, mà là một nhu cầu còn quan trọng hơn cả cái ăn thức uống của con ngài.
Anh chị em thân mến!
Y nghĩa lẽ sống người Kitô chúng ta chính là Chúa Kitô. Đây là một điều mà một tần nữa Giáo Hội muốn nhắc nhớ chúng ta: Kitô giáo chúng ta không phải là một ý thức hệ, cũng không phải là một hệ thống luân lý chỉ gồm những điều phải tuân giữ, lại càng không phải là một xã hội thuộc thể chế chính trị nào đó.
Kitô giáo thiết yếu là một Con Người, Con Người đó hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Con Người đó luôn luôn hiện diện trong Giáo Hội và trong cuộc sống của mỗi người chúng ta, đó chính là Đứca Giêsu Kitô, Ngài là sức sống của mỗi người chúng ta.
Một vị thánh hiền, một bậc vĩ nhân qua đi trong lịch sử nhân loại và để lại sự nghiệp của mình; nhưng với Chúa Kitô lại khác, Ngài không hiện diện với một xác chết được tẩm liệm, Ngài cũng không hiện diện qua những di tích Ngài để lại, Ngài cũng chẳng để lại sự nghiệp nào, Ngài đã chết và Ngài đã sống lại và chính vì đã sống lại cho nên Ngài vẫn có đó. Ngài hiện diện một cách sống động nơi đây trong giây phútnày đây. Đó là niềm tin, là sức sống, là lịch sử của Giáo Hội từ hơn 2000 năm qua, và đó cũng là lẽ sống của không biết bao nhiêu người tín hữu đã đi trước chúng ta. Trong Ngài, Họ đã tìm thấy cuộc sống để có thể vui sống và nhất là kiên trì cho đến cùng giữa những thử thách và bách hại.
Tất cả đều đã sống niềm tin của thánh Phaolô như Ngài đã viết trong thư gởi giáo đoàn Rôma như sau: "Ai có thể tách tôi ra khỏi tình yêu Chúa Kitô? Phải chăng là gian truân, khắc khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo...".
Thưa anh chị em! Đây là một niềm xác tín mà Giáo Hội mời gọi chúng ta hâm nóng lại khi cho chúng ta tắng nghe Tin Mừng của Chúa Nhật VI Phục Sinh hôm nay. Trong bài diễn văn từ biệt các môn đệ trước khi đi vào cuộc Tử Nạn và Phục Sinh, Chúa Giêsu, mời gọi họ chuẩn bị tinh thần để đón nhận cách thế hiện diện mới của Ngài.
Ngài nói với các ông: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Thầy sẽ đến với các con". Quả thật, sau khi đón nhận Chúa Thánh Thần, các môn đệ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu. Từ những con người quê mùa dốt nát và nhát đảm, các môn đệ được Chúa Thánh Thần biến đổi thành những nhà rao giảng không biết mệt mỏi, và nhất là các ngài đã dùng chính cái chết của mình để làm chứng cho sự hiện diện ấy của Chúa Giêsu Phục Sinh.
Hơn 2000 năm qua sức sống được Thánh Thần thông ban cho các môn đệ đã tràn ngập thế giới, đã trở thành lẽ sống cho biết bao nhiêu người trên trần gian này. Chính nhờ sức sống ấy mà các tín hữu Kitô tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và sống đúng ơn gọi làm người của mình. Sống công bình, sống bác ái, sống phục vụ, sống quên mình không phải là độc quyền của người Kitô giáo, và tôn giáo nào cũng đã đề cao những giá trị ấy. Giới răn yêu thương cũng không phải là giới răn riêng của các tín hữu Kitô chúng ta. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã ban bố giới răn ấy như một giới răn mới mẻ và là của riêng Ngài. Bởi vì Ngài ban chính sức sống và tình yêu của Ngài cho các tín hữu, để họ yêu thương bằng chính tình yêu của Ngài. Chúa Giêsu chính là tình yêu, Chúa Giêsu chính là sức sống của các tín hữu. Chúng ta họp nhau trong Thánh lễ của mỗi Chúa Nhật để cầu xin Chúa Kitô bổ sức cho chúng ta, giúp chúng ta tiếp tục sống, để cho mọi người thấy rằng, Ngài thật sự là Đấng đang hiện diện và tác động trong chúng ta. Ngài chính là lẽ sống mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta. Ngài là sức mạnh để chúng ta tiếp tục chiến đấu, Ngài là niềm hy vọng để chúng ta tiếp tục tiến bước.

 

PS6-A20: THẦY SẼ KHÔNG BỎ CÁC CON MỒ CÔI

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Lời hứa sẽ hiện diện giữa các môn đệ.
 

Đoạn tin mừng chúa nhật trước kết thúc với lòi loan báo rằng sứ mệnh của Đức Giêsu sẽ sinh: PS6-A20

Đoạn tin mừng chúa nhật trước kết thúc với lòi loan báo rằng sứ mệnh của Đức Giêsu sẽ sinh hoa kết quả trong thời gian và không gian qua việc làm của các tín hữu "ai tin vào Thầy sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm  những việc lớn hơn nữa vì Thầy đến cùng Chúa Cha".
- Trước tiên. câu 16 và 17 là lời hứa ban Chúa Thánh Thần : "Thầy, Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến  ở với anh em luôn mãi : đó là Thần Khí sự thật "
Thánh Thần được Chúa Cha ban xuống nhờ sự can thiệp của Chúa Con. Nhiệm vụ của Ngài là: "ở với anh em luôn mãi". Đây cũng chính là ý nghĩa của tên Ngài. vì thế, đây là môt sự hiện diện thường xuyên, "luôn mãi", sự hiện diện như bóng với hình bên người tín hữu và ở với họ  "với anh em...bên cạnh anh em...trong anh em."
- Ngài được gọi là Đấng Bảo Trợ. Ngài sẽ là trạng sư của các môn đệ Chúa và là đấng bào chữa cho họ. Ngài sẽ phụ lực và giúp đỡ họ trong vụ kiện sống còn mà "thế gian" theo đuổi để chống lại Đức Giêsu và các môn đệ Ngài.
- Ngài được gọi là Thần Khí sự thật : Ngài sẽ đào sâu đức tin cho họ, làm cho họ hiểu biết "tận đáy lòng” cuộc sống Đức Giêsu và sứ điệp của Ngài (xem Gioan 14,25;16,12-15) Ngài sẽ soi rọi những hoàn cảnh mới và bất ngờ mà các môn đệ sẽ phải đương đầu.
- Tiếp theo sau, các câu 18-20 là lời hứa ban một kiểu Hiện Diện khác của Đức Giêsu : "Chẳng bao lâu  nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy, Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy vì Thầy sống và anh em cũng sẽ đuợc sống."
Lời hứa về sự hiện diện hoàn toàn mới mẻ này sẽ trờ thành hiện thực vào chính ngày lễ Phục sinh :các môn đệ sẽ thấy Đấng Phục sinh (Gioan 20, 20-25)nhưng những cuộc hiện ra trong dịp phục sinh không phải là kết thúc. Chúng mở màn cho một Sự Hiện Diện kéo dài, một sự Hiện Diện dành riêng cho con mắt đức tin. Cuộc "đăng trình" của Đức Giêsu khơi nguồn một kỉ nguyên mới "khởi đầu với vinh quang phục sinh của Chúa và kéo dài trong thời gian với Giáo-Hội . trong suốt cuộc sống chúng ta, Chúa đến, chúng ta nhìn thấy người. đây không còn phải là thị kiến của các môn đệ trước Đấng Phục Sinh nữa  mà là một thị kiến của niềm tin giúp ta ý thức về sự hiện diện và hiệp thông đời sống" (Assemblées du Seigneur số 27,p.42)
2. Cuộc sống vĩnh hằng đã khởi đầu.
Trong thời đại của Giáo-Hội, Đức Giêsu hiện diện cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Tiếp sau sự hiện diện lịch sử của Ngài là một kiểu hiện diện mới mang lại cho chúng ta một nếp sống mới, hợp nhất với Đức Giêsu và Chúa Cha dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Như vậy, với các môn đệ, đời sống vĩnh cửu đã bắt đầu. cuộc sống họ "ngay trên trần gian này đã tương đương với cuộc sống của Đấng Phục Sinh, đã thông phần với cuộc sống của chính Thiên-Chúa , với cuộc sống của Chúa Ba Ngôi. cuộc sống họ là một sự hiệp thông, trong tình yêu, với từng ngôi Thiên-Chúa  đang ở trong họ." (M.E.Boismard và A. Lamouille, "tin mừng thánh Gioan" Cerf,p.360) "Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy, Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống, Đức Giêsu hứa như vậy. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em."
II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một cuộc sống mới: (G. Bessière, trong "Thiên-Chúa thật gần.năm A”. Desclĩe de Brouwer, 1992, tr.64-65).
Rõ ràng, điều quan trọng ở đây là có được mối tương liên cá biệt với Đức Giêsu hay đúng hơn, được "yêu mến Ngài". Các Phúc Âm Mt., Mc., Lc. mời gọi ta tiến vào nước Trời. Phúc âm Gio-an, xuất hiện trễ hơn, không đề cập đến nước Trời ấy nữa mà tập trung vào Đức Giêsu và qui kết về Ngài.
Hình ảnh cây nho và cành nho biểu hiện rõ rệt về điều đó : mỗi môn đệ đều kết hợp trực tiếp với Đức Kitô . Người ta đã có thể nói về "tính đồng đẳng" của thánh Gioan : theo Ngài, mọi người phải sống với Đức Giêsu bằng mối dây tình yêu. trong lòng cộng đoàn tín hữu, mỗi Kitô hữu trực tiếp trao đổi với Ngài.
Tình yêu này không hàm hồ. Nó không phải là một thúc đẩy cảm tính về một hình ảnh mơ hồ qua đó người ta có thể dự phóng những giấc mơ của mình. "nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của thầy."  Đây là một tình yêu với những việc làm cụ thể. toàn bộ phúc âm là một bằng chứng về cuộc sống mới đã khởi đầu nơi Đức Giêsu: Phải tái sinh, phải mở mắt, phải uống nước vọt lên từ nguồn suối, phải ăn bánh hằng sống, phải để Đức Giêsu rửa chân và chúng ta phải làm đầy tớ cho nhau.. một cuộc sống khác đã khai mở, cuộc sống của chính Thiên-Chúa, đúc kết nơi Đức Giêsu.
Tin mừng của thánh Gioan diễn ra trong bầu khí căng thẳng. Sự cắt đứt với với do thái giáo đã chín mùi, và sự đối đầu thật gay go. Tác giả tin mừng thứ tư hết sức cứng rắn với người do thái. Ngài nhấn mạnh đến thần tính của Đức Giêsu, Đấng từ trời xuống. từ nay, ngoài Ngài ra, không còn con đường nào khác. các môn đệ sẽ không ngừng đón nhận sự tự do của Ngài và cùng khám phá với Ngài cuộc sống yêu thương.
Nhưng làm sao có thể sống thân thương được với một người mà kỉ niệm đã xa mờ trong quá vãng ? Khi tin mừng thánh Gioan được soạn thảo xong, thế hệ những chứng nhân bằng xương bằng thịt đã qua đời. chỉ còn lại những bản văn, những lời chứng, những mẩu chuyện và những lời nói uyên thâm cho phép ta không ngừng gặp gỡ Đấng vĩnh hằng. song còn hơn thế nữa: còn có một Đấng luôn ở cạnh bên, như một trạng sư hay một Đấng Bảo Trợ, đó là Thần Khí sự thật.
Nhờ Ngài. công việc của Đức Giêsu sẽ luôn hiện thực trước những hoàn cảnh mới. Thánh Thần sẽ không lập lại những lời nói cũ mòn nhưng Ngài cách tân chúng theo dòng đời luôn luôn đổi mới.
  Chính trong Ngài mà mối tương giao dấu ái với Đức Giêsu sẽ không ngừng nối kết những con người qua các thế kỉ. nó hệt như một ngọn lửa luôn chiếu sáng và sưởi ấm cõi lòng.
2. Một Đấng Bảo trợ khác: H. Denis, trong "100 từ ngữ nói lên niềm tin" Desclee de Brouwer, 1993, tr.161-162.
Đấng Bảo Trợ, là từ Hi Lạp, thoạt đầu, theo nghĩa luật pháp, tức là trạng sư, người trợ lí, người bảo vệ. Về sau, từ này được dùng theo nghĩa rộng để chỉ người an ủi và người can thiệp giúp. Có điều lạ là từ này được áp dụng cho Đức Giêsu (trong thư thứ nhất của thánh Gioan, 2,1) : "Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha đó là Đức Giêsu Kitô , Đấng Công Chính" còn hầu hết thì chỉ Chúa Thánh Thần. vì thế, nếu gán cho Chúa Thánh Thần mọi phẩm tính trên, ta sẽ thấy, nếu chỉ có một mình,người ta sẽ khó sống trung thành với Đức Kitô tới mức nào.
Nhưng đây cũng chính là sứ điệp của Đức Giêsu: các con sẽ không mồ côi, một mình. Đức Kitô vô hình nhường chỗ cho Đấng Bảo Trợ các tín hữu, mang đến cho họ những kháng độc tố cần thiết cho cuộc sống công chính theo tin mừng giữa muôn vàn thử thách. Tốt đẹp biết bao khi tin rằng- từ khi Đức Giêsu ra đi trong ngày Ngài lên trời- tất cả những gì được Đức Kitô  thực hiện trên trần gian này một cách hữu hình đều do những người nam và người con đã mạo hiểm với niềm tin dũng cảm, đôi khi phải trả giá bằng chính cái chết của mình.
Chính vì họ không đơn độc. Vị đạo diễn vĩ đại, hợp nhất toàn cả vũ trụ, hợp nhất  Giáo-Hội chính là Đấng Bảo Trợ vô hình, Người ân ban sức mạnh tràn trề cho những người yếu đuối nhất và lòng can đảm cho những kẻ nhát đảm nhất. Niềm ủi an của Chúa Thánh Thần sẽ như ngọn lửa lan truyền giữa các tín hữu từ đời này cho tới đời kia.

 

PS6-A21: Dưới tác động Thánh Thần

Suốt các Chúa Nhật Phục Sinh, các bài đọc 1 được trích trong sách Công Vụ Tông Đồ. Một nhà: PS6-A21:

Suốt các Chúa Nhật Phục Sinh, các bài đọc 1 được trích trong sách Công Vụ Tông Đồ. Một nhà chú giải Thánh Kinh đã gợi hứng đổi Công Vụ Tông Đồ thành Công Vụ của Chúa Thánh Thần. Bốn sách Tin Mừng là Phúc Âm của Chúa Giê-su, còn Công Vụ Tông Đồ chính là Phúc Âm của Chúa Thánh Thần.

Sách Công Vụ Tông Đồ là một trong những tài liệu lịch sử quý giá nhất của Thánh Kinh. Đó là lịch sử hiện hữu duy nhất của Ki-tô giáo được viết ra trước thế kỷ thứ III. Nhờ đó chúng ta biết rõ sự lớn dậy của Ki-tô giáo ở Palestina hay về công cuộc Truyền Giáo tại Syria, Tiểu Á, Hy-lạp và Rô-ma. Bình minh của một kỷ nguyên mới bắt đầu ló dạng.

Giáo Hội đã sống tuổi thanh xuân của mình giữa lòng Đế quốc Rô-ma, phải đối diện với ba thách đố lớn là Do-thái giáo, chính trị Rô-ma và triết học Hy-lạp. Giáo Hội phải bung ra khỏi Do-thái giáo, hội nhập vào triết học Hy-lạp để lan rộng trên toàn đế quốc Rô-ma. Chỉ với những người dân chài Ga-li-lê ít học, chỉ với một Phao-lô nhiệt thành, thế mà Giáo Hội lớn mạnh không ngừng trước bao thử thách thời đại.

Chính Chúa Thánh Thần đã không ngừng dẫn dắt Giáo Hội. Đúng như lời Thánh I-rê-nê đã nói: " đâu có Thánh Linh của Đức Ki-tô ở đó có Hội Thánh. Ở đâu có Hội Thánh đó có Thánh linh và ân sủng".

Sách Công Vụ Tông Đồ trình bày lịch sử dưới ánh sáng đức tin. Sau khi Phó tế Stê-pha-nô bị ném đá thì khởi đầu cuộc bắt bớ rộng lớn chống Giáo Hội ở Giê-ru-sa-lem. Cộng đoàn Ki-tô hữu ở đây bị phân tán, nhiều tín hữu thoát khỏi đô thị đi tìm nơi ẩn náu. Họ đi tới đâu là rao giảng Tin Mừng tại đó. Chính đây là lúc câu nói thời danh của văn hào Tertuliano được ứng nghiệm "Máu các Thánh Tử Đạo là hạt giống làm nảy sinh các Ki-tô hữu".

Các cộng đoàn Diaspora được thành lập. Họ hội nhập vào văn hoá địa phương để rao giảng Tin Mừng. Đoạn sách Công Vụ Tông Đồ của Chúa Nhật hôm nay kể lại vị sứ giả đầu tiên đã mang Tin Mừng đến cho người ngoại giáo, đó là người Do-thái nói tiếng Hy-lạp, phó tế Phi-lip-phê. Ngài tới thủ đô Sa-ma-ri rao giảng làm phép lạ, chữa lành nhiều bệnh tật. Người ta vui mừng đón nhận và xin theo Đạo ( Cv 8, 5 - 8 ). Sau khi xứ Sa-ma-ri được đón nhận Tin Mừng, các Tông Đồ đã cử Phê-rô và Gio-an đến cũng cố Niềm Tin cho các tân tòng ( Cv 8, 14 - 24 ).

Kinh nghiệm sống đức tin của cộng đoàn tín hữu sơ khai là bài học quý giá cho chúng ta. Họ bị nhận chìm trong gian truân thử thách, nhưng chính lúc ấy họ cảm nhận sự hiện diện và hoạt động mãnh liệt của Chúa Thánh Thần. Như ngọn gió cuốn bay những hạt giống để rồi hạt giống lại gieo mầm sống mới ở nơi khác, ngọn gió Chúa Thánh Thần qua những cơn bách hại cũng mang lại những hiệu qủa lạ lùng. Chúa Thánh Thần là linh hồn của Giáo Hội, càng bị bách hại Giáo Hội càng lớn mạnh không ngừng.

Đọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, sau sắc dụ cấm đạo của vua Cảnh Thịnh, các cuộc bắt đạo gay gắt khiến cho những người tín hữu các vùng Quảng Trị, Cổ Vưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa chạy vào rừng núi La Vang để trốn tránh. Đức Mẹ đã hiện ra an ủi, trợ giúp. La Vang đã trở thành trung tâm hành hương của Giáo Hội Việt Nam. Các chỉ dụ cấm đạo dưới thời vua Minh Mạng, Tự Đức đã phân tán các cộng đoàn Ki-tô hữu. Họ xuôi vào Nam trốn tránh, đến vùng đất mới, rừng thiêng nước độc, họ khai khẩn điền địa và lập nên những cộng đoàn mới. Nhờ đó, khi các vị Thừa Sai đến Truyền Giáo, hạt giống Đức Tin được nảy mầm và phát triển nhanh chóng.

Như hạt giống gieo xuống đất và chờ đợi, những cơn mưa đầu mùa tuôn đổ, hạt giống âm thầm đón nhận sức sống, nảy mầm, bén rễ, lớn nhanh, những cộng đoàn tín hữu đang sống đức tin thầm lặng đã gặp được các chủ chăn nên lớn mạnh và nhiều giáo xứ đã được thành lập. Chỉ trong nhãn giới đức tin, chúng ta mới nhận ra sức tác động mãnh liệt Chúa Thánh Thần, trong mọi thử thách Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần nâng đỡ, trong mọi biến cố đau thương luôn có Chúa Thánh Thần an ủi dẫn dắt. Mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời đều là lời mời gọi, lời nhắn nhũ, lời cảnh báo. Đi tìm Thánh Ý Chúa, con người cần biết giải mã các biến cố ấy trong ánh sáng đức tin.
Ngày nay, có lẽ không còn những cơn bắt bớ và bách hại như xưa, thế nhưng những gian nan, những thử thách vẫn không thiếu trong đời sống đức tin. Thời đại hôm nay là thời đại xẻ núi lấp sông, vượt trùng dương, chinh phục không gian, bùng nổ thông tin, toàn cầu hoá... Nhưng xã hội hôm nay đang bị tục hoá với muôn ngàn cám dỗ ngọt ngào tinh vi của ma quỹ, xã hội đang đánh mất chiều kích siêu hình, không còn cảm thức về tội lỗi. Giáo Hội phải đối diện với một xã hội mà như triết gia hiện sinh Jean Paul Sartre đã nói: "Thiên Chúa phải chết để cho con người được tự do".

Người ta đang xây dựng một xã hội không có Thiên Chúa, tôn giáo bị tách ra khỏi xã hội. Con người mãi mê chạy theo lối sống hưởng thụ thực dụng, cá nhân chủ nghĩa. Như thế người Ki-tô hữu phải sống và diễn tả niềm tin của mình như thế nào đây ? Bài Phúc Âm chiếu ánh sáng soi đường. Chúa Giê-su đã loan báo: "Đấng Phù Trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con" ( Ga 14, 26 ).

Khi người tín hữu chúng ta được Chúa Thánh Thần đổ tràn ơn thiêng trong đời, chúng ta sẽ yêu mến Chúa, được Chúa Cha và Chúa Giê-su ngự đến trong tâm hồn ( Ga 14, 21 ), được Chúa ban sự bình an tuyệt vời, bình an không như thế gian ban tặng ( Ga, 14, 27 ). Chúa Thánh Thần chính là chìa khoá mở ra cuộc sống mới trong Đức Ki-tô. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, người tín hữu làm được mọi sự trong ân sủng Đức Ki-tô. Chúa Thánh Thần giúp chúng ta sống Tin Mừng, vượt qua các thách đố thời đại như cộng đoàn tín hữu sơ khai đã vượt qua mọi trở ngại để loan báo và mở rộng Nước Chúa.

Ở đâu có Thần Khí là ở đó bừng lên niềm vui. Mùa xuân làm cho vạn vật bừng dậy màu xanh sự sống, Thần Khí làm cho mọi tâm hồn tràn đầy sức sống mới. Gio-an Tẩy Giả "nhảy mừng trong lòng mẹ", Đức Ma-ri-a hát lên bài ca Magnificat. Các Mục đồng hớn hở đi Bê-lem. CácTông Đồ trở nên những con người mới. Các Thánh Tử Đạo hiên ngang tiến ra pháp trường. Và chúng ta cũng được trở nên con cái Thiên Chúa, sống chứng nhân cho tình yêu, can đảm loan báo Tin Mừng Phục Sinh trên mọi nẻo đường phục vụ.
Lm Giu-se Nguyễn Hữu An


 

PS6-A22: Luật Yêu Mến

1. Các điều răn của Chúa Giê-su:
 

Bất cứ người Ki-tô hữu nào cũng đều biết "kính Chúa yêu người" là điều răn quan trọng và cơ: PS6-A22

Bất cứ người Ki-tô hữu nào cũng đều biết "kính Chúa yêu người" là điều răn quan trọng và cơ bản nhất của Ki-tô giáo. Kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Yêu thương người như chính mính. Tất cả mọi luật lệ, mọi sự trọn lành đều qui về hai-giới-răn-đã-trở-thành-một-ấy ( Mt 22, 37 - 40 ). Chúa Giê-su đã gọi 'yêu thương' là điều răn mới, là điều răn riêng của Người, là dấu chứng của người môn đệ. Và Người đã nâng tiêu chuẩn cho tình yêu thương ấy lên mức rất cao "yêu tha nhân như chính Người đã yêu" ( Ga 14, 34 - 35 ).

2. Nếu giữ các điều răn của Chúa Giê-su, chúng ta sẽ được gì ?

Câu hỏi này không phải chỉ chúng ta là những con người thực dụng mới đặt ra với Chúa Giê-su mà cả các tông đồ và môn đệ của Chúa Giê-su cũng đã nêu lên với Người cách đây hai ngàn năm. Thật vậy chính Phê-rô, Tông Đồ Trưởng, đã có lần hỏi Chúa Giê-su một cách chẳng mấy tế nhị: "Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì ?" ( Mt 19, 27 ).

Chúa Giê-su thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của con người, nên đã không ngại trả lời thẳng vào sự trông đợi âm thầm nhưng mãnh liệt của chúng ta: Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, (1) Anh em sẽ mãi mãi nhận được Đấng Bảo Trợ Mới; (2) Anh em sẽ không sống mồ côi, đơn độc mà sẽ luôn có Thầy ở bên cạnh, ở trong tâm hồn anh em; (3) Anh em sẽ thấy được mối tương quan sâu sắc giữa Chúa Cha và Thầy; (4) Anh em sẽ được Cha Thầy yêu mến và tỏ mình ra cho anh em.

Đó là 4 ơn huệ mà dù có suy gẫm ngày này qua ngày khác trong suốt cuộc đời lữ khách, chúng ta cũng không sao hiểu nổi tầm vóc lớn lao trọng đại của những ơn ấy. Và nếu Chúa Giê-su có ban những ơn ấy cho chúng ta, thì chỉ vì Người yêu thương chúng ta nên mới chia sẻ sự giầu sang thần linh của Người cho những người Chúa thương yêu. Chúng ta đừng mắc sai lầm mà nghĩ rằng Chúa ban cho chúng ta những ơn trọng đại ấy là vì chúng ta đã hy sinh, cố gắng và lập công !

3. Để giữ các điều răn của Chúa Giê-su, cụ thể chúng ta phải:

Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn

Yêu mến Thiên Chúa như thế nghĩa là chọn Thiên Chúa làm đối tượng ưu tiên số một, và đặt Thánh Ý và Thánh Danh Chúa lên trên hết và trước hết trong mọi hoạt động của chúng ta. Nói cách khác là chúng ta tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người trước hết và trên hết.

Nói thì rất dễ nhưng thực hiện mới khó, vì trong đời thường chúng ta dễ bị cuốn hút bởi những lợi ích cụ thể và trước mắt cũng như chúng ta dễ bị tác động bởi các động lực vật chất, danh vọng chóng qua mà bẵng quên ưu tiên số 1 của chúng ta phải là Thiên Chúa và Thánh Ý của Người.

Yêu tha nhân như chính mình

Yêu tha nhân một chút đã là khó. Huống hồ yêu tha nhân như chính mình thì lại càng khó hơn. Vì để yêu tha nhân như chính mình, chúng ta phải có một tình yêu vô vị lợi và lớn lao cao cả lắm mới có thể yêu như thế.

Yêu tha nhân như chính mình thì cũng dễ nói thôi, nhưng không dễ chút nào trong việc thực hiện tình yêu ấy, vì trong đời thường chúng ta thường lấy mình làm trung tâm mọi phục vụ, mọi sở hữu. Muốn yêu tha nhân như chính mình trước hết chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ: không lấy mình mà lấy người khác làm trung tâm mọi lo toan của mình. Câu hỏi có thể giúp chúng ta thực hiện tình yêu thương ấy là: hôm nay, tuần lễ này tôi đã làm được gì cho tha nhân, cho người chung quanh ?

Yêu tha nhân như chính Chúa Giê-su đã yêu họ và yêu ta

Chúa Giê-su không chỉ mời chúng ta yêu tha nhân như chính mình, mà còn đòi chúng ta yêu tha nhân như chính Chúa đã yêu. Chúng ta đều biết Chúa Giê-su đã yêu như thế nào: Người đã yêu đến nỗi đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ; Người đã yêu đến nỗi đã hóa mình thành bánh, thành rượu, thành lương thực nuôi sống những kẻ người yêu; Người đã yêu đến nỗi đã cam lòng chịu chết và chết trên thập gía để cứu chuộc mọi tội nhân trong loài người, trong đó có chúng ta.

Yêu tha nhân như chính mình đã là khó. Yêu tha nhân như chính Chúa Giê-su đã yêu thì khó hơn bội phần. Tự mình, chúng ta không thể yêu tha nhân cách ấy. Chúng ta chỉ có thể yêu tha nhân ở mức độ ấy khi chúng ta đã hoàn toàn nên giống Chúa Giê-su, có những tâm tình và hành động như Người.

Muốn thế, mỗi ngày và mỗi lúc cầu nguyện, chúng ta phải cầu xin Chúa Giê-su giúp chúng ta luôn biết lấy Người làm gương mẫu cho chúng ta noi theo, bắt chước. Và trong tất cả mọi sinh hoạt đời thường, chúng ta phải nỗ lực họa lại chân dung của Chúa Giê-su và bộc lộ tâm tình của Người bằng lời nói việc làm cụ thể của chúng ta.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, xin Chúa giúp chúng con luôn biết tuân giữ các điều răn của Chúa. Xin Chúa dạy chúng con biết yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn chúng con. Xin Chúa giúp chúng con biết yêu thương tha nhân như chính bản thân mình. Và xin Chúa giúp chúng con biết yêu thương tha nhân như chính Chúa đã yêu thương và hiến mạng sống cho những người Chúa yêu thương.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, chúng con biết rõ rằng không có Ơn thánh Chúa và Sức mạnh của Người, chúng con không thể kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như Lời Chúa dạy. Xin Chúa ban Ơn thánh và Sức mạnh của Chúa cho chúng con.

Lạy Chúa Thánh Thần là Sức Mạnh biến đổi các tâm hồn và bộ mặt trái đất, xin Chúa đổi mới chúng con, biến làm cho chúng con trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con. Amen !
Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội


 

PS6-A23: Thần Khí Sự Thật= * THE SPIRIT OF TRUTH *

Bài đọc 1: C.vụ 8,5-8; 14-17= Đón nhận Chúa Thánh Thần / Reception the Holy Spirit
Bài đọc 2: 1Phêrô 3, 15-18= Hãy giữ lương tâm ngay thẳng / Keep your conscience clear
Tin Mừng: Gioan 14,15-21= Ngài sẽ cho anh em Đấng Bảo Trợ khác / Another Paraclete

A- Tôi cảm nghiệm Sống và chia sẻ 3 bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

 

Đức Giêsu nói với tôi hôm nay: "Thầy sẽ xin Chúa Cha ban cho anh một Đấng bảo trợ khác: PS6-A23

1/ Đức Giêsu nói với tôi hôm nay: "Thầy sẽ xin Chúa Cha ban cho anh một Đấng bảo trợ khác." Chúa Thánh Thần vẫn đến với tôi, Ngài sửa dạy và đang canh tân gia đình, giáo xứ và Gíáo hội.Tôi cảm nhận được Ngài như thế nào? Bấy lâu nay Chúa Thánh Thần đã làm gì cho tôi?
I will ask the Father and He will give you another Paraclete ( Helper ) ( Gioan 14, 16 )

2/ Đức Giêsu nói thêm: "Đó là Thần Khí Sự Thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận". Cuộc sống hôm nay đủ thứ bon chen, giành giật, gian tham và ích kỷ. . . Làm sao họ có thể tiếp nhận Chúa?. Bạn cần làm gì để đón Ngài vào đời sống? Những gì đã cản trở bạn đến với tha nhân?
The Spirit of Truth, whom the world cannot accept… ( Gioan 14, 17 )

3/ Ngaỳ xưa, Các tông đồ đã cầu nguyện và đặt tay trên các tín hữu để họ nhận được Thánh Thần. Ngày nay Giáo hội vẫn dùng cách này trong các lễ nghi mà bạn thường thấy ở nhiều nơi. Tôi đã thực hành cách này với một tâm tình nào? Sống cách nào để tôi tiếp nhận được Ngài?
Prayed…imposed hands on them and they received the Holy Spirit. ( C.vụ 8, 15-17 )

4/ Thánh Phêrô mời gọi: "Hãy trả lời hiền hòa kính trọng; hãy giữ lương tâm ngay thẳng…Trong lúc tiếp xúc với anh em, cử chỉ và cách sống là điều cần thiết của bạn để người ta thấy Chúa hiện diện. Thái độ và nói năng của bạn thế nào? Tai sao người ta không muốn nghe bạn ?
But speak gently and respectfully. Keep you conscience clear.. . ( 1 Ph. 3, 16 )

B- Câu Kinh Thánh tôi chọn để làm Châm ngôn Sống: ( The Best God's Word )

* THẦN KHÍ SỰ THẬT…NGƯỜI LUÔN Ở GIỮA ANH EM VÀ Ở TRONG ANH EM * ( Ga.14, 17 )
· The Spirit of Truth… He remain with you and will be within you *

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì để Sống Lời Chúa: ( So what am I doing / For action )

Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành
Hoặc: Cầu nguyện trong mọi lúc - Lắng nghe và để ý Chúa đến - Giữ tâm hồn ngay thẳng . . ..

D- Tôi cầu nguyện và Sống lời tôi cầu nguyện: ( I pray and practice/ Prayer in action )

1- Lạy Chúa, Đức Kitô đã nói: Thầy sẽ xin Chúa Cha ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác.
Xin giúp con biết cầu nguyện và lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần răn bảo trong mọi lúc.
2- Thánh Phêrô đã khuyên: Anh em hãy nói năng hiền hòa và kính trọng với một lương tâm ngay thẳng. Xin dạy cho con có một tâm tình, cử chỉ, phản ứng và hành động giống Chúa.


 

PS6-A24: SLC – Mồ côi

Mỗi khi đi tham dự đám tang của một người cha, hay của một người mẹ trẻ vừa mới nằm xưống: PS6-A24

Mỗi khi đi tham dự đám tang của một người cha, hay của một người mẹ trẻ vừa mới nằm xưống, nhìn giải khăn xô buộc hờ hững trên mái đầu xanh, chúng ta cảm động như muốn khóc lên được. Đứa bé ngây thơ nhìn những nắm đất được ném xuống lòng huyệt lạnh. Nó chẳng hiểu gì cả. Nó đâu có biết rằng chết là ra đi vĩnh viễn, hai bờ bến ngàn trùng xa cách. Nó tưởng rằng ba nó hay mẹ nó đi thăm ông bà nội ngoại, mai mốt sẽ về và cho nó thật nhiều quà. Người khác nhìn vào sẽ cảm thấy chua xót và khóc thầm cho cuộc đời của nó. Ngày mai nó sẽ ra sao ?  Lớn lên, nó mới hiểu được rằng : mất cha, mất mẹ là một nỗi bất hạnh quá lớn không thể lalm cho vơi giảm, là một mất mát quá to không thể nào bù đắp.
Vì thế, người Âu châu có một ngày lễ rất đẹp vào Chúa nhật thứ hai trong tháng năm, đó là là ngày lễ của những người mẹ. Ngày lễ này được tổ chức để ghi nhớ công ơn mẹ hiền. Và những ai còn mẹ, khi đi ra ngoài đường sẽ được cài một bông hồng trên áo, để nói lên rằng người ấy thật hạnh phúc vì còn được sống bên người mẹ của mình.
Nếu có dịp ghé thăm một cô nhi viện, chúng ta sẽ thấy những em bé mồ côi quấn quít bên chúng ta, mong muốn được nói chuyện với chúng ta vì các em thiếu vắng một tình yêu thương chăm sóc.
Từ những kinh nghiệm cụ thể ấy, chúng ta dễ dàng hiểu được lời Chúa phán :
- Thầy không bỏ các con mồ côi.
Thực vậy. Trước khi từ giã các môn đệ, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho các ông, đã căn dặn các ông những điều cuối cùng và nhất là đã trăn trối cho các ông bổn phận phải yêu thương nhau. Ngài đã phác họa cho các ông thấy cả một tương lai đen tối :
- Họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ các con.
Tuy nhiên, để các ông được yên tâm, không hoảng sợ, không thất vọng, Ngài đã hứa ban Chúa Thánh Thần cho các ông và nhất là đã hứa ở với các ông một cách mầu nhiệm :
- Thầy không bỏ các con mồ côi.
Bây giờ, chúng ta đi vào lãnh vực cá nhân của mỗi người. Thực vậy, đời sống giống như một mặt biển đầy bão táp. Vậy bão táp ấy là gì ? Đó là những tội lỗi, những khuynh hướng xấu xa, những lo lắng về tiền bạc vật chất… Tất cả là như những con sóng mốn nhận chìm con người bé bỏng chúng ta. Thế nhưng, người Kitô hữu không hề hoảng sợ và thất vọng, bởi vì chúng ta không chiến đấu đơn độc một mình, nhưng chúng ta chiến đấu bên cạnh những người anh em khác và nhất là chúng ta chiến đấu cùng với Chúa Giêsu. Ngài luôn ở bên chúng ta. Có Ngài, chúng ta sẽ làm được tất cả. Có Ngài, chúng ta sẽ vượt qua được mọi gian nan thử thách. Có Ngài, chúng ta sẽ chiến thắng vẻ vang. Chúng ta không phải là những đứa trẻ mồ côi, lạc lõng giữa chợ đời, nhưng chúng ta bước đi trong tình thương của Chúa, một người Cha nhân từ và giàu lòng xót thương.
Người ta kể lại rằng : Sau nghi lễ đăng quang,  Đức Piô XI đã trở về phòng riêng, ngồi vào chiếc ghế vị tiền nhiệm là Đức Bênêdictô XV, tự nhiên một nỗi lo âu xâm chiếm. Ngài nhìn thấy con đường trước mặt thật tăm tối : Một Giáo hội bị tấn công về mọi mặt. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất vừa chấm dứt, nhưng chiếc ngòi nổ vẫn còn âm ỉ. Trong lúc chán nản, ngài đã làm công việc duy nhất mà một người lo âu có thể làm, đó là quì xuống cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện như thế, tay ngài đưa ra và chạm vào một bức ảnh còn lại trên bàn giấy của đức Bênêdictô. Ngài cầm bức ảnh ấy lên xem và bổng nỗi lo sợ tan dần. Tâm hồn ngài tràn ngập an bình. Đó là bức ảnh Chúa Giêsu đang truyền cho sóng gió yên lặng. Từ đó, ngài luôn để bức ảnh ấy trên bàn và mỗi khi lo âu chuyện gì, ngài liền nhìn vào và nhớ lại rằng : Chúa Giêsu chỉ cần phán một lời là sóng yên biển lặng.
Chúa Giêsu ở trong chúng ta và Ngài đã mang lại sự bình an cho tâm hồn. Bởi đó, giữa những cơn sóng gió của cuộc đời, chúng ta hãy bắt chước các môn đệ, chạy đến với Ngài và nài xin : Lạy Chúa, xin cứu chúng con, kẻo chúng con chết mất. Chắc chắn Chúa sẽ không để chúng ta mồ côi, nhưng Ngài sẽ nâng đỡ để chúng ta vượt thắng được những gian nan thử thách và luôn trung thành phụng sự Ngài.

 

PS6-A25: SLCTTY/174- Tuân giữ

Có lần đi shopping sắm đồ, tôi quan sát được câu chuyện về một bà mẹ và đứa bé trai của bà: PS6-A25

Có lần đi shopping sắm đồ, tôi quan sát được câu chuyện về một bà mẹ và đứa bé trai của bà trong cửa tiệm tạp hóa. Bé trai theo mẹ đi chọn lựa hàng hóa, gặp thấy bất kỳ món đồ nào, nó cũng với lên lấy xuống, lôi ra khỏi kệ, làm rơi rớt tung tóe. Lúc đầu, người mẹ cầm chặt tay đứa bé lại, rồi nhẹ nhàng nói : “Đừng làm như thế nghe con !” Nó ngoan ngoãn đáp lại : “Dạ vâng”
Nhưng được một lúc, nó lại nghịch. Người mẹ vẫn kiên nhẫn dạy con : “Đừng làm như thế nữa nghe con !” Nó lại hứa : “Dạ vâng !” Sau đó một lúc, nó lại làm y như thế. Bà mẹ cầm chặt lấy tay nó, nhìn thẳng vào mặt, dùng ngón tay trỏ chỉ vào giữa trán, và nói bằng một giọng nghiêm khắc : “Đừng làm như thế nữa nghe chưa ?” Em bé biết rằng không thể tiếp tục làm như vậy được nữa. Nó nhìn thẳng vào mẹ với cái miệng mếu mếu và những giọt nước mắt lưng tròng : “Mẹ, con thương mẹ mà”. Bà mẹ mỉm cười rồi nói “Nếu con thương mẹ, tại sao con không nghe lời mẹ ?” Em bé im lặng, chẳng nói tiếng nào.
Sự liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa cũng giống như sự vâng lời của con cái đối với cha mẹ. Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ : “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy”.
Nói đến bản chất của tình yêu đích thực làm tôi nhớ đến chàng thanh niên tôi đã gặp khi vừa thụ phong linh mục. Anh có một người vợ rất dễ thương, ba đứa con thật ngộ nghĩnh. Mới gặp họ ở cuối nhà thờ sau thánh lễ tạ ơn, tôi cứ tưởng họ là một gia đình hạnh phúc với nếp sống đạo đức. Tôi cảm thấy rất thoải mái chuyện trò với họ. Rồi họ mời tôi ghé thăm gia đình vài lần. Một bữa nọ, một mình người chồng đến gặp tôi và nói : “Cha ơi ! Con đang tính bỏ vợ con”.
Vừa nghe những lời đó, tôi hoảng hốt, hỏi anh lý do tại sao muốn bỏ vợ : Có đánh nhau không ? Vợ hay chồng có người yêu khác ? Vấn đề tiền bạc ? Vấn đề sinh lý ? Chuyện gia đình cha mẹ hai bên ? Nghiện ngập thuốc phiện, xì ke, nhậu nhẹt, bài bạc casino… hay vấn đề gì ?
Người chồng trả lời “Không có vấn đề gì cả !” “Thế tại sao muốn bỏ vợ ?” Tôi hỏi. “Con cũng chẳng biết nữa”, anh đáp “con chỉ đoán là con không còn cảm thấy yêu thương vợ con như khi xưa !”
Vào thập niên 70, xã hội Tây phương bắt đầu tiếp nhận một quan niệm cho rằng nếu phải làm một điều gì mà không cảm thấy thích hay muốn làm, đều là giả hình. Cảm giác thích thú và sự ước muốn là động lực cho mọi hành động. “Nếu cảm thấy vui vẻ, thoải mái, cứ làm”. Những câu hỏi : “How are you ? How do you feel ?” “Bạn cảm thấy thế nào ?” đã trở nên khuôn mẫu trong cuộc đàm thoại hằng ngày.
Cách suy nghĩ theo cảm giác bắt nguồn từ triết gia người Đức, Nietzsche, người đã coi “Ước muốn” là căn bản tối thượng của thực tại. Năm 1973, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ hợp pháp hóa việc phá thai có thể được hiểu trong quan niệm này. Họ lý luận rằng ngay cả việc giết chết một em bé chưa sinh ra cũng được phép miễn là người mẹ lựa chọn một cách tự do theo ý muốn của mình!
Tôi không muốn lý sự với anh bạn này. Tốt hơn, tôi hỏi anh : “Anh có nghĩ rằng một ngày nào đó anh sẽ không còn yêu thương con cái của anh nữa không ?” Bàng hoàng, anh trả lời ngay : “Không. Không bao giờ có chuyện đó. Con sẽ luôn luôn yêu thương con cái của con, bất kể trong hoàn cảnh nào”. Rồi tôi hứa sẽ cầu nguyện cho anh, cho vợ anh và gia đình.
Hai năm sau, tôi gặp lại gia đình anh. Dĩ nhiên là họ vẫn còn chung sống với nhau. Tôi không biết họ có thật sự hạnh phúc không, nhưng tôi biết rõ họ lại có thêm một người con nữa !
Đọc Thánh Kinh, tôi thấy rất rõ ràng rằng tình yêu mà Chúa Giêsu đề cập đến không phải là một cảm tính, hay một cảm xúc nhất thời, nhưng là một hành động, một quyết định. Frederick Buechner đề cập đến vấn đề này trong một bài viết của ông như sau :
“Theo quan điểm Kitô giáo, tình yêu không phải là một cảm xúc lúc ban đầu, nhưng là một hành động của ý chí. Khi Chúa Giêsu dạy chúng ta yêu thương những người hàng xóm của mình, Người không nói chúng ta phải yêu thương họ trong ý nghĩa của một tình cảm đầy xúc động và ấm áp… Trái lại, Người nói với chúng ta phải yêu thương tha nhân trong nỗ lực làm việc vì ích lợi của họ, ngay cả việc phải hy sinh lợi ích của chính mình cho họ. Do đó, trong mạch văn của Chúa Giêsu, chúng ta có thể yêu những người hàng xóm mà không cần thiết phải có cảm giác thích họ. Quả vậy, thích họ bằng cảm tính có thể làm cản trở cho việc yêu thương thực sự bằng cách làm cho chúng ta trở nên những con người quá ủy mị về tình cảm thay vì là những người bạn thành thật và hợp lý”.
Ca dao Việt Nam có câu : “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Mẹ và bà quá chiều con cháu theo tình cảm tự nhiên, không sửa phạt đúng cách, thấy con cháu có lỗi chỉ la rầy sơ sơ, sửa phạt nhè nhẹ, không giảng dạy và sửa phạt đúng cách theo lý trí. Đã thế khi con cháu bị người cha sửa phạt, mẹ và bà lại tìm cách van xin, che giấu bớt lỗi lầm. Do đó, con cháu đã hư lại càng hư thêm. Yêu thương theo cảm tình đã không phải là sự yêu thương đích thực và mang lại ích lợi cho con cái.
Khi Chúa Giêsu sửa dạy những người biệt phái, Người đã không nói : “Được ! Mọi sự đều tốt đẹp !” Nhưng đã nặng lời quở trách : “Loài rắn độc kia, xấu như các người, thì làm sao nói điều tốt được ?” Chúa nặng lời chỉ trích họ vì Người yêu thương họ.
Điều này không có nghĩa là cảm giác ưa thích không phải là một phần của hành vi yêu thương, tôi chỉ muốn nói nó không bắt buộc phải có. Đôi khi cảm giác yêu thích sẽ theo đến, sau khi đã có những sửa phạt và sự chữa lành của tình yêu đích thực.

 

PS6-A26: SLCTTY/174 - Tuân giữ

Câu chuyện kể về một cha sở mới, khi về nhận nhiệm sở, với bài giảng đầu tiên làm cho họ đạo: PS6-A26

Câu chuyện kể về một cha sở mới, khi về nhận nhiệm sở, với bài giảng đầu tiên làm cho họ đạo hồi hộp và thích thú. Chúa nhật tuần sau, bổn đạo đi lễ mong chờ cha sở mới giảng dạy thêm những điều khác, ai ngờ ngài lại nói y như bài giảng tuần trước. Vào tuần lễ thứ ba, rồi Chúa nhật thứ tư, ngài cũng đã giảng y như vậy, bổn đạo hết sức buồn bã. Sau cùng, một buổi họp hội đồng giáo xứ đã được triệu tập để xin cha sở cắt nghĩa về thái độ lạ lùng của ngài. Giáo dân hỏi : “Bộ cha chỉ có một bài giảng đó thôi sao ?” Ngài trả lời : “Không. Tôi có vài bài giảng, và tôi cũng còn đang soạn thêm. Nhưng vì quí ông bà vẫn chưa thi hành điều nào trong bài thứ nhất cả, nên tôi vẫn phải nhắc lại cho đến khi những lời giảng đó được thi hành”.
Bài Phúc âm hôm nay, gồm những câu trích từ bài giã biệt dài của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi Người bị bắt và chịu chết. Người hứa : “Nếu các con nhân danh Thầy mà xin điều gì, chính Thầy sẽ làm điều đó”. Với điều kiện : “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy”. Đang khi dạy về luật yêu thương, Chúa Giêsu đã chứng tỏ hành vi tối thượng của tình yêu : ban chính mình Người một cách hoàn toàn, tất cả và vô điều kiện cho nhân loại. Và Người cũng ra lệnh cho mỗi người : “Hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Tình yêu này phải được chứng tỏ bằng hành động, phải thật sự hiến thân để đi theo Người. Bởi Người đã trở thành khuôn mẫu của sự thánh thiện của chúng ta.
Cách đây không lâu, một bác sĩ giải phẫu người Mỹ đã vâng theo tiếng gọi của Chúa Giêsu, yêu thương tha nhân bằng cách ban tặng chính bản thân mình cho họ. Ông đã trở nên một nhà truyền giáo phục vụ trong ngành y khoa. Từ bỏ quê hương, ông đi tới một hòn đảo xa xôi trên biển Thái Bình dương, nơi dân chúng sống nghèo khổ, bệnh tật vì thiếu thuốc. Sau một thời gian, để tạo sự bất ngờ cho bác sĩ, vị mục sư ở Mỹ đã đến thăm ông mà không báo trước. Khi mục sư đến, ông bác sĩ đang sửa soạn giải phẫu cặp mắt của một em bé gái 8 tuổi. Vị mục sư đã quan sát cuộc giải phải xảy ra qua cái cửa sổ của một căn chòi nhỏ. Sau ba giờ đồng hồ, bác sĩ đi ra khỏi phòng mổ và nói : “Đôi mắt của cô bé rất tốt. Em sẽ mau khỏi bệnh”. Rồi ông đi ra gặp mục sư của mình. Khi bàn về cuộc giải phẫu vừa mới xảy ra, mục sư hỏi : “Ông sẽ được trả bao nhiêu tiền cho cuộc giải phẫu đó nếu ông giải phẫu ở Mỹ ?” “Chừng 3000 đô la, tôi đoán như vậy”, bác sĩ trả lời. “Vậy ở đây người ta trả ông bao nhiêu ?” mục sư hỏi. “Tôi không biết nữa, chỉ vài xu và nụ cười của Thiên Chúa” ông bác sĩ nói. Rồi đặt tay lên vai mục sư, ông lay nhẹ và nói, “Nhưng lạy Chúa, cuộc sống ở đây thật tuyệt vời !”
Món quà tình yêu của Thiên Chúa ban nhưng không cho ta qua Đức Giêsu Kitô, mặc dù là vô giá, nhưng không phải là không có điều kiện. Giống như tất cả các loại tình yêu, Tình Yêu Thiên Chúa cũng có những đòi hỏi. Và một trong những đòi hỏi nặng nề nhất của Người, một đòi hỏi thường xuyên, đó là chia sẻ tình yêu thương đó cho tha nhân. Khi chúng ta đáp lại lời mời gọi : “Hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu thương các con”, chúng ta sẽ có được cái cảm giác hoan lạc giống như vị bác sĩ : “Nhưng lạy Chúa, cuộc sống ở đây thật tuyệt vời !”.

 

PS6-A27: CSTM/113 – Yêu mến Chúa

Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho biết mối liên hệ giữa lòng yêu mến Chúa và việc tuân: PS6-A27

Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho biết mối liên hệ giữa lòng yêu mến Chúa và việc tuân giữ các điều răn của Chúa : “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”, “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy”. Như vậy, yêu mến Chúa thì giữ các điều răn, và ngược lại, giữ các điều răn là yêu mến Chúa.
Các điều răn Chúa nói gì ? Và giữ các điều răn thế nào để chứng tỏ chúng ta yêu mến Chúa ? Hiểu theo nghĩa chật, đó là bản giao ước được ghi vào bia đá. Bản giao ước đó chính là Mười Điều răn, mà dân Do thái gọi là “Những lời của giao ước” hoặc “Mười Lời”. Hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những điều Thiên Chúa truyền dạy. Ngày nay, đạo của chúng ta cũng dạy rất nhiều điều : nào là Tin Mừng, nào là mười điều răn Đức Chúa Trời, sáu điều răn Hội Thánh, nào là luật Giáo Hội. Trong tất cả những luật ấy, chúng ta không biết điều nào là chính điều nào là phụ, sự phân vân thắc mắc đó, ngay từ xưa chính Chúa Giêsu đã giải đáp : điều chính, điều quan trọng nhất, tóm tắt tất cả những gì mọi Kitô hữu phải giữ và thực hành, đó là điều răn yêu mến “ Mến Chúa, yêu người. Ai giữ hai điều này thì kể là giữ tất cả những điều khác, trái lại, ai giữ tất cả những điều khác mà không thực hành lòng mến Chúa yêu người thì kể như không giữ gì cả.
Tóm lại, người Kitô có nhiều cách để biểu lộ lòng yêu mến của mình đối với Chúa, nhưng cụ thể nhất là giữ các điều răn Chúa dạy, cách riêng là điều răn mến Chúa yêu người. Hơn nữa, chỉ cần xét xem chúng ta có yêu người không là đủ. Nghĩa là muốn biết chúng ta yêu Chúa thế nào thì chỉ cần xét xem chúng ta đã yêu người ra sao. Và tình yêu đó phải được thể hiện bằng những việc làm, những hành động cụ thể.
Truyện cổ tích Ả Rập kể rằng : Có một người bán thịt nướng rất keo kiệt và khó tính, vì tính khí khó chịu của anh ta nên cửa hàng luôn bị ế ẩm, anh đã làm đủ mọi cách để câu khách nhưng chẳng ai thèm mua. Có một người ăn xin ngồi bên lề đường, thèm thuồng nhìn những miếng thịt nướng treo lủng lẳng, rồi ông móc trong bị ra một khúc bánh mì, lẳng lặng đem hơ nóng trên khói, hy vọng khói thịt sẽ ướp vào miếng bánh. Sau đó, ông ngồi ăn miếng bánh cách ngon lành. Anh chàng bán thịt nhìn thấy, chạy ra túm áo người ăn xin đòi tiền. Người ăn xin phân trần : “Tôi đâu có mua thịt của anh, khói thịt đâu có phải là thịt”. Anh bán thịt quát lên : “Khói thịt cũng thuộc về miếng thịt, ông phải trả tiền cho tôi”. Hai người cãi nhau, không ai chịu ai và đưa nhau đến quan tòa xét xử. Vị quan tòa truyền cho người ăn xin móc ra một đồng tiền cắc và ném xuống nền nhà phát ra tiếng kêu, ông nói : “Đây là giải pháp công bằng nhất, người ăn xin hưởng khói thịt của anh ta, và anh thì hưởng âm thanh đồng tiền của ông ta. Thế là công bằng nhé”.
Nghe qua câu chuyện trên, có thể chúng ta sẽ cười chê thái độ ích kỷ, keo kiệt, vớ vẩn của người bán thịt, thế nhưng rất nhiều khi trong cuộc sống chúng ta đã cư xử với tha nhân như thế. Việt Nam chúng ta có câu chuyện về một người cha tham ăn đang nướng mấy con cá, người mẹ dỗ dành vỗ về đứa con nhỏ khóc đòi ăn : “Nín đi, để xem có con nào nhỏ rồi ba cho”. Anh chồng quát lên : “Cho cái gì ? Không có con nào nhỏ cả, con nào cũng bằng nhau”.
Tình thương không chia sẻ, không liên đới là tình thương không mạnh đủ hay là tình thương không có thật. Trước những nhu cầu bức thiết của người anh em, nhiều người đã tránh né, chạy trốn bằng những câu trả lời : “Chừng nào tôi đủ ăn, dư mặc tôi sẽ cho”. Hay “Để lúc khác, bây giờ tôi không có thời giờ”. Và cái lúc khác sẽ không bao giờ đến, vì người ta có trăm ngàn lý do để biện minh cho thái độ thiếu lòng thông cảm, thiếu tình thương của mình.
Người Kitô hữu có nhiều cách để biểu lộ lòng yêu mến của mình đối với Chúa, nhưng cụ thể nhất là giữ các điều răn Chúa dạy, cách riêng là điều răn yêu người, nghĩa là muốn biết chúng ta yêu Chúa thế nào thì chỉ cần xét xem chúng ta đã yêu người ra sao. Như vậy, qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta biết một bằng chứng, một dấu hiệu để chứng tỏ chúng ta yêu mến Chúa là tuân giữ các điều răn của Chúa, nhất là điều răn yêu người. Chúng ta hãy sống thế nào để lòng yêu mến Chúa không chỉ giới hạn trong việc thờ phượng hay trong những sinh hoạt tôn giáo, mà phải được thể hiện bằng cả cuộc sống yêu thương của chúng ta. Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta luôn xác tín rằng : chỉ bằng cuộc sống yêu thương chúng ta mới thực sự làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu.

 

PS6-A28: Cái Chết Là Cái Chết!

(Death is Death)
 

Một người cha có một cô con gái duy nhất 17 tuổi. Cô gái trẻ tuổi này đang là chuẩn bị vào đại: PS6-A28

Một người cha có một cô con gái duy nhất 17 tuổi. Cô gái trẻ tuổi này đang là chuẩn bị vào đại học. Hai cha con họ rất thân tình với nhau, và họ bắt đầu cảm thấy sự đau đớn khi sắp phải chia lìa nhau. Người cha nhận thấy rằng ông không còn có thể tiếp tục ở bên cạnh người con yêu dấu của ông để khuyên bảo, nâng đỡ, và bảo vệ cho cô. Bất ngờ, con ông bước vào giai đoạn cuối của cuộc đời. Đối với ông, cái chết của người con ông là một chuyện "khó có thể chấp nhận". Sau khi người con gái của ông đã qua đi, ông ta khóc rất nhiều. Thế nhưng, trong sự đau khổ tột độ đó, người cha đó đã biết dùng đức tin của mình để thắng vượt. Ông nói rằng khi ông sống với niềm tin Kitô giáo, thì ông có thể sống tích cực hơn, và ông còn nhận ra một điều quan trọng nữa là nhờ đức tin soi dẫn, sự chết không phải là hết, nhưng nó là cánh cửa dẫn đến sự sống.
Câu truyện trên là một điển hình diễn tả điều mà Chúa Giêsu nói cho chúng ta trong bài Phúc Âm theo Thánh Gioan hôm nay. Phúc Âm của Thánh Gioan được chia ra làm hai phần. Phần đầu bắt đầu với câu truyện Tiệc Cưới Cana. Thánh Gioan đã kể cho chúng ta một loạt những phép lạ Phục Sinh vĩ đại mà Chúa Giêsu đã làm. Qua phép lạ Chúa Giêsu biến nước thành rượu tại Cana, Chúa Giêsu nói cho chúng ta rằng Thiên Chúa đang biển đổi: nước thành rượu, sự chết thành sự sống, đau khổ thành vinh quang, bệnh tật thành khỏe mạnh. Phép lạ cả thể sau cùng là Chúa Giêsu đã cho Lazarô sống lại. Ngài đã phán, "Ta là sự sống lại và là Sự Sống." Còn phần thứ hai của Phúc Âm Thánh Gioan thì nhấn mạnh về tình thương của Chúa qua cái chết và sự Phục sinh của Chúa Kitô.
Chúa Giêsu kêu mời chúng ta hãy nhìn vào thế giới thiên nhiên chung quanh chúng ta. Chúng ta nhìn thấy gì? Chúng ta nhìn thấy bàn tay Thiên Chúa vẫn còn hoạt động trong sự chết và sự sống. Có rất nhiều triết thuyết về sự sống. Theo như thuyết Tiến Hoá, thì con người mỗi ngày đi dần đến chỗ tốt hơn. Còn theo triết Đông Phương, thì con người phải đầu thai cho đến khi nào đạt tới niết bàn. Còn theo triết thuyết của Chúa Giêsu thì thế giới thiên nhiên, lịch sử, trái đất, mỗi một con người, thì đang trong một tiến trình chết đi và sống lại. Thiên Chúa hiện diện trong mỗi cái chết, thế nhưng Ngài cũng không ngừng biến đổi chết thành cái sống.
Chúng ta thường thấy những bài thơ ca tụng những nhân vật kết thúc cuộc đời của họ cách vui vẻ. Tuy nhiên, theo cả bốn Phúc Âm, Chúa Giêsu đã không chết một cách vui vẻ. Ngài đã nói đến mỗi đau khổ trong tâm hồn của Ngài trong vườn Gethsemane. Ngài đã chịu bị bỏ rơi và phản bội. Ngài đã chịu bị đóng đinh... Bởi thế, chúng ta cần phải thâm tín một điều theo như Tân Ước nói đó là sự chết là sự chết: sự đau khổ, lo sợ, lo lắng... tất cả là sự thật. Tuy nhiên, Tân Ước cũng nói với chúng ta hãy ca tụng Chúa bởi vì quyền năng phục sinh của Ngài đang hiện diện trong mỗi một cái chết. Hãy ca tụng Chúa bởi vì mỗi lần chúng ta phải đương đầu với đau khổ thì chúng ta càng gần Thiên Chúa hơn nữa. Thiên Chúa đang yêu thương bạn, và Ngài đang mở ra cho bạn cuộc sống mới. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta là "Thầy sẽ không bỏ chúng con mồ côi. Thầy đến cùng các con. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các con, các con sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống" (Jn 14:18-19).

 

PS6-A29: Anh Em Cũng Sẽ Sống

Suy Niệm
 

Marina Picasso là cháu của họa sĩ nổi tiếng Pablo Picasso. Từ năm 73-75, bà phải chịu nhiều: PS6-A29

Marina Picasso là cháu của họa sĩ nổi tiếng Pablo Picasso. Từ năm 73-75, bà phải chịu nhiều cái tang lớn: ông nội mất, anh ruột tự tử, cha đột ngột qua đời. Đây thật là những mất mát không sao bù đắp, dù bà năm trong tay một gia sản khổng lồ.
Năm 1990, bà nhận các em bé Việt Nam làm con nuôi, và giúp cho các trẻ mồ côi được có nơi ăn học. Từ lúc ấy, bà thấy một sự thay đổi nơi nội tâm: "Nhờ giúp đỡ con em của nước này mà tôi đã tìm lại được chính mình. Giờ đây tôi cảm thấy mình như sống lại, và tôi muốn phân phát sự sống đó cho các em."
Hẳn có những Kitô hữu đã trải qua kinh nghiệm của Marina, kinh nghiệm thấy mình được sống lại nhờ biết ra khỏi nỗi đau của mình để cúi xuống trên nỗi đau của người khác. Kinh nghiệm tìm lại được chính mình trong bình an, khi không còn bận tâm lo cho mình nữa, kinh nghiệm thấy sự sống được nhân lên gấp bội khi được đem chia sẻ tận tình.
Kitô giáo là tôn giáo của Đấng đã sống lại, Đấng đang sống sự sống tràn trề của Thiên Chúa.
Đức Giêsu phục sinh không chỉ hiện ra một đôi lần, Ngài muốn ở mãi bên chúng ta cho đến tận thế. Một sự hiện diện hai chiều, thâm sâu và mới mẻ: "Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em" (c.20) Một sự hiện diện đem lại sức sống dồi dào: "Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống" (c.19).
Kitô hữu tự bản chất là người đã được phục sinh, nhờ thông hiệp với Đấng đang sống là Đức Kitô. "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20).
Mùa Phục sinh nhắc ta nhìn lại sự sống nơi mình.
Lắm khi tôi sống èo uột, chỉ vì không dám yêu thương. Bắt đầu yêu thương là bắt đầu thấy Chúa tỏ mình, thấy sự sống Chúa bùng lên mạnh mẽ.
Thế giới hôm nay cố làm cho cuộc sống được bảo đảm hơn, tiện nghi hơn và kéo dài hơn. Nhưng thế giới hôm nay vẫn đầy nguy hiểm. Mạng sống bi đe dọa bởi chiến tranh, tội ác, đói nghèo... Cuộc sống bị héo úa vì không tìm thấy ý nghĩa. Thế giới đói khát sự sống đích thực.
Nếu chúng ta thật sự là người đang sống trong Đức Kitô, chúng ta có thể trao cho thế giới sự sống đó qua việc phục vụ trong yêu thương.
Gợi Ý Chia Sẻ
1. Để cảm nghiệm được Thiên Chúa, cần phải can đảm sống theo lời Ngài dạy, dù phải từ bỏ và chịu thua thiệt trước mắt.  Có khi nào bạn thấy Chúa thật gần gũi, vì bạn đã dám sống cho tha nhân không?
2. Khi tinh thần bạn sa sút vì những nỗi đau riêng tư, bạn thường làm gì để ra khỏisự sa sút đó?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

 

PS6-A30: Xin tỏ cho con thấy Chúa Cha - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Đoạn Phúc Âm này là phần kết luận khi Đức Giêsu trả lời câu hỏi của Philiphê: "Xin tỏ cho: PS6-A30

Đoạn Phúc Âm này là phần kết luận khi Đức Giêsu trả lời câu hỏi của Philiphê: "Xin tỏ cho con thấy Chúa Cha." Câu đầu (c.15) "yêu mến Thầy, giữ điều răn của Thầy" và câu cuối (c.21) "giữ điều răn của Thầy, yêu mến Thầy" lập lại cùng một ý nhưng lời đảo ngược.
Đấng Bảo Trợ (c.16) còn có nghĩa là đấng an ủi, đấng hòa giải, đấng chuyển cầu, đấng giúp đỡ, người bào chữa, người bênh vực. Ở đây, một Đấng Bảo Trợ khác và vĩnh viễn tương phản với sự ra đi của Đức Giêsu. Đấng Bảo Trợ tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu ở thế gian qua các môn đệ.
Thần Khí Sự Thật (c.17) là sức mạnh của luân lý mà Chúa đã ban cho mỗi người, trái ngược với sự gian dối (Gioan 8:44).
"Thầy sống và anh em cũng được sống" (c.19) nói lên sự cùng sống với Chúa Giêsu liên kết qua phép Thánh Thể (Gioan 6:56).
"Ngày đó" (c.20) ám chỉ cả thời gian sau khi Chúa sống lại.
Một Điểm Chính
Đức Giêsu hứa cùng những kẻ tin là Ngưòi sẽ tiếp tục hiện diện qua Đấng Bảo Trợ, qua Thần Khí Sự Thật và trong Thánh Thần (c. 26 kế tiếp). Thế gian sẽ không nhận biết món quà này và sẽ chống lại sự hiện hữu của nó. Phần thưởng chỉ dành cho những ai yêu Chúa và giữ giới răn của Người là thương yêu lẫn nhau.
Suy Niệm
Có khi nào tôi cảm nhận được Chúa sống thật trong tôi không? Làm thế nào tôi nhận ra sự sống ấy và phản ứng của tôi lúc ấy ra sao?
Lý do gì làm tôi tiếp tục gian dối thay vì luôn luôn nói sự thật?
Nếu tôi mồ côi, tôi cảm thấy thế nào? Lúc ấy tôi cần gì nhất? Và tôi phải làm gì?

 

PS6-A31: LỜI DI CHÚC TRONG GIÂY PHÚT TIỄN BIỆT

"Totus Tuus ego sum" ( "Con hoàn toàn ở trong tay Người" ) Trong danh Ba Ngôi cực Thánh, Amen.
 

Hãy tỉnh thức vì ngươi không biết giờ nào Chúa đến” ( Mt 24, 42 ) Những lời này nhắc: PS6-A31

“Hãy tỉnh thức vì ngươi không biết giờ nào Chúa đến” ( Mt 24, 42 ) Những lời này nhắc nhở tôi về tiếng gọi sau cùng, sẽ đến vào thời gian Chúa chọn. Tôi ao ước được theo Ngài, và ước mong tất cả mọi phần trong đời sống dương thế của tôi sẽ chuẩn bị cho tôi vào giây phút này. Tôi không biết bao giờ giây phút này sẽ đến, thế nhưng cũng như mọi điều khác, tôi đặt giây phút này trong đôi bàn tay Người Mẹ của Chủ tôi: Totus Tuus ( mọi sự dâng về Mẹ ). Cũng cùng đôi tay Từ Mẫu của Mẹ, tôi xin đặt tất cả những người liên hệ gắn bó với đời sống và với ơn gọi của tôi. Trong Đôi Tay này, tôi để lại trên hết tất cả là Giáo Hội, cũng như đất nước tôi và mọi dân tộc.
Tôi tạ ơn tất cả mọi người. Xin mọi người tha thứ cho tôi. Và tôi xin mọi người cầu nguyện để xin lòng thương xót của Thiên Chúa rộng lớn bao la hơn là các yếu đuối và bất xứng của tôi.
Trong những buổi tĩnh tâm, tôi suy niệm dựa trên chúc thư của Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI. Từ sự học hỏi này đã dẫn tôi viết ra những lời di chúc hiện tại.
Tôi chẳng để lại tài sản đáng giá nào để chia cả. Những đồ vật sử dụng hằngngày tôi để lại và chia cho nhau đúng nghĩa. Những bản văn viết tay xin đốt hết. Tôi xin cha Don Stanislaw Stanislao Dziwisz điều hành việc này ( thư ký riêng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Dziwisz ), tôi cám ơn ngài về sự cộng tác và giúp đỡ kéo dài suốt nhiều năm qua và quá hiểu nhau. Tất cả những lời tri ân khác, thay vào đó, tôi đặt vào trái tim tôi mang tới trước chính Thiên Chúa, bởi vì khó diễn tả những điều đó được.
Còn về Tang Lễ, tôi lập lại cùng cách thức đã được Đức Thanh Cha Phaolô VI đề ra là chôn dưới lòng đất, không phải trong hòm đá ( chi tiết này được bổ túc vào ngày 13.3.1992 ).
"Totus Tuus ego sum" ( Tiếng La-tinh "Con hoàn toàn ở trong tay Người" ). Gioan Phaolô II.
Đức Gioan Phaolô II vị cha chung đáng kính và quý mến của chúng ta đã biểu lộ tình yêu sâu sắc của ngài đối với Đức Kitô và tất cả mọi người qua lời di chúc trên đây của ngài. Dẫu biết rằng, hễ mang lấy thân phận con người là chúng ta chấp nhận sự sinh ly tử biệt, người còn kẻ mất và đây là con đường mà tất cả chúng ta đều phải bước qua người trước kẻ sau. Sự chia tay với bạn bè không bao giờ là điều dễ dàng. Nhưng có một số trường hợp chia tay ray rứt hơn, so với những trường hợp khác: Cảnh chia lyđau thương nhất vượt lên trên tất cả xảy ra khi có một người nào đó qua đời. Chính tính chất cuối cùng làm cảnh chia ly này khác biệt hẳn so với tất cả những cảnh khác.
Bối cảnh của bài Tin Mừng hôm nay cũng diễn tả nỗi niềm đó của Chúa Giêsu khi Ngài biết rằng thời gian xa cách các môn đệ đã gần kề và nhiều lần Ngài đã nói bóng gió cho các Tông Đồ về cái chết của Người. Bấy giờ, Ngài nói thẳng cho các ông biết về cái chết của Ngài như là một cách ra đi, “đến với Chúa Cha”. Nhưng tất cả các Tông Đồ đều nghe sự kiện này như thể Người đang lìa bỏ họ.
Quả thật là Người đang xa rời họ. Nhưng có nhiều cấp độ khác nhau:
1. Cảm thấy bị bỏ rơi: Thật đáng buồn, nếu Chúa Giêsu thật sự bỏ rơi họ như ngày nay có nhiều người cha người mẹ vô trách nhiệm quen lối sống hưởng thụ bỏ rơi con mình nơi phố chợ hay trước cổng Nhà Thờ hoặc nơi bệnh viện hay nhà tế bần, nơi hội chăm sóc người già và trẻ em không nơi nương tựa. Nhưng trong Tin Mừng chúng ta không gặp cảnh đó. Đức Giêsu không hề bỏ rơi các Tông Đồ mà Ngài còn cầu nguyện cho các ông.
2. Cảm thấy bị khước từ chối bỏ: Thật đáng buồn nếu như Chúa Giêsu bỏ rơi các Tông Đồ như đem con bỏ chợ làm cho các ngài cảm thấy lạc lỏng giữa chợ đời. Nhưng trong Tin Mừng, chúng ta cũng không gặp thấy cảnh này. Đức Giêsu không hề khước từ chối bỏ các Tông Đồ.
3. Cảm thấy rời xa để các Tông Đồ trưởng thành: Ngài chấp nhận sự thất bại của các Tông Đồ để các Ngài có thể trưởng thành trong Đức Tin, chấp nhận nét bạo phát bạo tàn của Phêrô, vừa mới được khen ngợi khi tuyên xưng Đức Tin nhưng liền sau đó liền bị mắng là “Xa-tan, hãy tránh ra xa ta” và thậm chí lại chối Thầy đến ba lần. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu không bỏ các Tông Đồ mồ côi một mình mà Ngài lại còn đến ở với họ mỗi ngày thông qua Chúa Thánh Thần và chính bản thân Ngài qua Bí Tích Thánh Thể.
Trước giây phút cuối cùng trong cuộc đời của Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ngài không hề bỏ rơi con thuyền Giáo Hội giữa biển đời mênh mong của hận thù, chiến tranh, tục hóa... mà ngài dâng tất cả lời nguyện xin được đặt vào trong trái tim ngài mang tới trước Nhan Thánh Thiên Chúa. Noi gương vị Thầy Chí Thánh của ngài là Đức Giêsu Kitô, Chúa không để chúng ta mồ côi. Chúng ta có cùng một cách để đi tới sự hiện diện của Người và đi đến nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, giống như các Kitô hữu tiên khởi đã từng được như vậy. Đức Giêsu không hiện diện như một ký ức mơ hồ của một người đã sống từ lâu đời trước đây, nhưng chính là sự hiện diện đích thực, đem đến Sự Sống nhằm làm biến đổi chúng ta.
Không ở đâu chúng ta cảm thấy được gần gũi với Đức Giêsu cho bằng khi chúng ta đón nhận Ngài trong Bí Tích Thánh Thể. Khi đón nhận Phép Thánh Thể, chúng ta không chỉ có tương quan với Người, mà là được kết hiệp mật thiết với Ngài, một sự kết hợp Thánh Thiêng. Qua Bí Tích Thánh Thể, Đức Giêsu nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta bằng tình yêu của Người. Lương thực mà Phép Thánh Thể ban cho chúng ta chính là sức mạnh để thực hiện Lời của Đức Giêsu, và để sống tư cách là những môn đệ của Người. Amen.
Lm. HỒNG ANH KIỆT, Giáo Phận Vĩnh Long

 

PS6-A32: YÊU CHÚA, HÃY TUÂN GIỮ LỜI CHÚA

Hình ảnh của người con khi phải đi xa nhà, vắng cha mẹ lâu ngày hay người chồng, người vợ: PS6-A32

Hình ảnh của người con khi phải đi xa nhà, vắng cha mẹ lâu ngày hay người chồng, người vợ ngăn cách nhau thời gian lâu sẽ cho ta cảm tưởng có những sự lưu luyến, bịn rịn và một trong những tâm tình đầu tiên là lời nhắn nhủ của cha mẹ đối với con khi tiễn biệt xa cách: con hãy ngoan ngoãn, giữ lời cha mẹ chỉ bảo, dặn dò, cố gắng học hành, cố gắng làm ăn để có một tương lai tốt đẹp, không làm hổ danh cha mẹ, không phụ công lao của cha mẹ v.v... Còn đối với vợ, với chồng khi phải xa nhau, họ sẽ có những lời dặn dò đầy tâm huyết: "Hãy trung thành và nhớ tới nhau".
Chúa Giêsu cũng vậy, trước khi đi thật xa, về cùng Cha của Ngài, Ngài đã chuẩn bị tư thế, chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ. Ngài đã dặn dò, khuyên nhủ các môn đệ nhiều lần, Ngài đã nói với các môn đệ với hết tâm tình, hết con tim của mình: "Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con" ( Ga 15, 12 ). Lời này Chúa Giêsu cũng nhắn nhủ chung cho Giáo Hội của Ngài, một Hội Thánh mà Ngài là Tảng Đá người thợ xây loại bỏ, đã trở nên tảng đá góc tường, một Giáo Hội đã được xây dựng trên nền tảng là các Tông Đồ.
Hôm nay, trước lúc về trời, như lời tâm huyết sâu xa nhất, Chúa Phục Sinh đã hứa sẽ ban Thánh Thần, Đấng Phù Trợ đến để nâng đỡ các Tông Đồ, rồi Ngài khuyên các môn đệ phải có lòng tôn trọng yêu thương nhau và các môn đệ cũng phải có lòng yêu mến đối với Ngài: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn c3 Thầy“ ( Ga 14, 15 ).
I. LỜI DI CHÚC CỦA CHÚA GIÊSU TRƯỚC KHI VỀ TRỜI:
Trước khi về Trời, Chúa Phục Sinh không muốn để các môn đệ u buồn sầu não mãi mãi, Ngài muốn cho các môn đệ hiểu rõ rằng Ngài sẽ không bỏ rơi các ông, Ngài trấn tĩnh, ủi an các ông: "Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" ( Ga 14, 1 ). Chúa hứa với các ông: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi, Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho tới tận thế" ( Ga 14, 18 ).
Nhưng để mãi sống trong sự liên kết với Chúa như Chúa đang nói với các ông, Chúa khuyên răn và nhắn nhủ các ông: "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy" ( Ga 14, 21 ).
Chúa Giêsu Phục Sinh đã liên kết với Cha của Ngài bằng một tình yêu sâu thẳm, vì yêu mến, kính trọng Cha, Chúa Giêsu đã luôn làm theo ý của Cha Ngài: "Lạy Cha nếu có thể được thì xin cất khỏi con chén này, nhưng đừng theo ý con mà theo ý của Cha".
Vậy, yêu mến Chúa Giêsu, các môn đệ và mọi người phải tuân giữ mọi điều Chúa dặn, Chúa nhắn bảo cũng như Ngài đã tuân theo ý Cha Ngài thế nào, thì các môn đệ và nhân loại, Giáo Hội cũng phải tuân theo và thực hiện lời của Chúa. Đức Giêsu đã yêu mến Cha Ngài đến nỗi Ngài đã thực hiện tuân giữ Lời Của Chúa Cha và chỉ làm mọi sự theo ý Cha để tất cả cho vinh danh của Cha. Chính vì lòng yêu mến tột bực của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha đã làm cho Ngài và Cha Ngài nên một. "Ta và Cha Ta là một" ( Ga 10, 30 ).
Như thế, lời truyền lệnh cho các môn đệ trước khi Chúa Giêsu về Trời không chỉ là lời nói suông cho qua lệ, lời nói trên đầu môi chóp lưỡi mà chính là một lời tâm huyết, một lời di chúc phải thực hiện để chứng tỏ lòng yêu mến, hiếu thảo và tôn kính của môn đệ và mọi thế hệ kế thừa sau này. Chúa Giêsu đã để lại gương tuyệt hảo cho các môn đệ và mọi thế hệ noi theo, đó là Ngài luôn làm mọi sự theo ý Cha và chỉ làm mọi việc theo ý Cha của Ngài vạch ra, hướng dẫn. Ta có thể nói mà không sợ quá lời là cuộc sống của Chúa Giêsu là cuộc sống của Cha, hành động, lời nói, cử chỉ, thái độ của Chúa Giê -su là của Cha.
II. HỘI THÁNH VÀ MỌI NGƯỜI MUÔN THẾ HỆ PHẢI NOI GƯƠNG BẮT CHƯỚC CHÚA:
Là môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta và Giáo Hội của Ngài không thể đi đường lối nào ngoài con đường mà Chúa Giêsu đã đi, đã chỉ dẫn và vạch cho con người bước theo: tuân giữ và thực thi Lời của Chúa. Có tuân giữ và thực thi Lời của Chúa, Giáo Hội và nhân loại mới sống trong tình liên đới yêu thương. Yêu thương mà Chúa Giêsu đã thực hiện và trối lại cho nhân loại là phục vụ và tự hiến.
Phục vụ trong khiêm nhường, vô vị lợi và bao dung như gương Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ và yêu thương cho tới cùng: "Không có tình yêu nào cao vời cho bằng Tình Yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu" ( Ga 15, 13 ). Yêu thương của Chúa là "Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai Ta" ( Ga 4, 32 ) hoặc như Thánh Phaolô đã viết: "Này con xin đến, như trong cuốn sách đã viết về con, để thi hành ý Cha" ( Dt 10, 4 – 7 ) và như thế, yêu thương tự hiến là "Người đã hạ mình xuống, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá" ( Pl 2, 8 ).
Chúa Giêsu đã sống, đã thực hiện tận cùng cuộc đời của mình bằng cái thật hoàn toàn tự hiến, tự nguyện và hoàn toàn theo ý của Cha. Giáo Hội và muôn thế hệ sẽ sống thật với mình, sẽ nêu gương cho mọi người, khi biết giữ Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong cuộc sống.
Thánh Phao-lô nói: "Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết". Lời nói không đi đôi với hành động là lời nó isuông, lời nói không có giá trị nào cả. Chúa Giêsu đã từng nói: "Không phải những ai cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa mà được cứu rỗi, mà chỉ những ai giữ Lời và tuân theo Lời Chúa...“ hoặc "những ai nói rằng mình yêu mến Chúa mà không yêu anh em mình là những người ở bên, ở trước mặt, ở sau mình là những kẻ nói dối".
Lời trăn trối và lời hứa của Chúa sẽ muôn đời tồn tại: "...Thầy ra đi thì ích lợi hơn cho các con, vì nếu Thầy không ra đi thì Đấng bầu chữa không đến với các con. Còn nếu Thầy ra đi thì Thầy sẽ sai Người đến với các con" ( Ga 16, 6 – 7 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con luôn biết noi gương bắt chước Chúa: tuân giữ và thực thi Lời Chúa để chúng con được sống trong tình yêu sung mãn của Chúa và Chúa Cha. Xin giúp chúng con luôn biết nói lời xin vâng làm theo ý Chúa.
Lm. NGUYỄN HƯNG LỢI, DCCT, Giáo Điểm Fyan

 

PS6-A33: BA TRONG MỘT !

Để hấp dẫn được thiên hạ, trong thời gian vừa qua, một số hãng mỹ phẩm, công ty thực phẩm, v.v... đã: PS6-A33

Đ hấp dẫn được thiên hạ, trong thời gian vừa qua, một số hãng mỹ phẩm, công ty thực phẩm, v.v... đã đua nhau quảng cáo các món hàng “hai trong một”, rồi “ba trong một” ( Two in One, Three in One ). Nhưng đến mấy trong một thì cũng chỉ nhắm hốt bạc nhờ ở sự nhẹ dạ cả tin của người tiêu dùng. Bài học tiếp thị từ khởi thủy, khi Xa-tan đã nhắm đúng đối tượng là Bà E-và để kích thích tính tò mò và nông nổi, đã được dân kinh doanh ngày nay bắt chước áp dụng triệt để ! Nhưng đó là chuyện chiến lược chiến thuật của thế gian để cốt thu lợi nhuận vật chất.
Với Chúa Giêsu, với chuyện Nước Trời thì khác hẳn. Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đưa ra một công thức “Ba Trong Một” ( mà cũng có thể nói là “Một Trong Ba” ! ), không phải để làm các môn đệ rối tinh rối mù, nhưng chính là để củng cố niềm tin cho các Ngài: ”Ngày đó, anh em sẽ biết rằng: Thầy ở trong Cha Thầy; anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” ( Ga 14, 20 ). Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, các môn đệ mới hiểu sức mạnh của chính sự “gắn kết” này sẽ mãi mãi là Linh Đạo cho Giáo Hội và cho mỗi Kitô hữu.
Trong thời chiến tranh, bộ đội có “tổ tam tam”, tức là cứ ba người trong một tổ kèm lẫn nhau, cả giúp đỡ lẫn kiểm soát nhau, nhất cử nhất động của một người đều có bốn cặp mắt của hai người còn lại theo dõi. Mỗi đội lại có ba tổ, vừa hỗ trợ nhau vừa kiểm tra nhau, có muốn ươn lười, xả hơi, lỗi kỷ luật một chút cũng chẳng dám, kể cả khi ba anh cùng một tổ ăn ý với nhau để “xé rào” !
Giáo Hội không bao giờ là một tổ chức có mảy may ý định hoặc cách làm ép buộc và xâm phạm tự do con người, cho dẫu vì thế mà con người có thể có những quyết định và lựa chọn sai lầm, rồi đâm ra hư hỏng ! Nhưng mặt khác, Giáo Hội cũng dùng giáo huấn để dạy con cái ý thức về sự liên kết mật thiết “Ba trong Một”, giữa Đầu Giáo Hội là Chúa Giêsu, với Thân Thể là Giáo Hội và chúng ta là các chi thể; đồng thời khi đã đón nhận Bí Tích Thanh Tẩy, thì đủ ý thức để tuân giữ Lời Chúa và những điều răn dạy của Giáo Hội. Tất cả hoàn toàn do tự nguyện, bởi chính sự tự nguyện đó mới là điều thánh hoá con người.
Thế nhưng không phải thời Thập Tự Chinh hoặc Toà An Dị Giáo mà Giáo Hội mới phạm sai lầm về hành động, ngay cả thời nay, Giáo Hội vẫn nhiều khi như thể xơ cứng trong suy nghĩ và ứng xử, từ đó mất dần sự linh hoạt cần có để đối phó với nhiều vấn đề trong thế giới hôm nay, cả về chính trị, kinh tế và xã hội. Trong khi các phương tiện truyền thông đại chúng tận dụng tối đa lợi thế, để khai thác và nếu cần thì bóp méo hoặc xuyên tạc các vấn đề trong Giáo Hội, nhằm đưa những tin giật gân, chưa kể phần lớn tin tức, bình luận có chủ ý công kích, phá hoại theo ý đồ của những kẻ chống Giáo Hội, thì Giáo Hội không biết “tiếp thị” kịp thời hình ảnh và Lời dạy Chúa Thầy Chí Thánh, điều mà từ chuyên môn quen gọi là “Truyền Giáo”: Giáo Hội có vẻ như đang ở thế thủ, không còn năng động và sáng tạo trong việc rao giảng Tin Mừng.
Nhưng Giáo Hội cũng lại là chính chúng ta ! Mỗi Kitô hữu phải là hình ảnh của Giáo Hội. Sự phát triển của Giáo Hội và Nước Trời tùy thuộc vào đời sống Đức Tin, thể hiện qua hành vi, ứng xử trong đời thường. Có thể nói: chúng ta phải biết “tiếp thị” cho Giáo Hội và cho Nước Trời. Những “Tổ Tam Tam” tạo sức mạnh tinh thần hoàn toàn không thể xem thường trong khâu “tiếp thị Ba Trong Một” này. Đó là sự gắn kết mật thiết để tạo nên sức mạnh chứng nhân Tin Mừng giữa Cá Nhân – Gia Đình – Giáo Xứ với Thánh Thể và Thánh Lễ là trung tâm mọi sinh hoạt. Một khi “Tổ Tam Tam” tinh thần, hay nôm na là “Ba Trong Một” ấy được củng cố vững chắc, thì một “Tổ Tam Tam” hoặc “Ba Trong Một” khác cũng sẽ có nhiều thuận lợi để phát triển. Đó là Giáo Xứ – Giáo Phận – Giáo Hội ( được hiểu là Giáo Hội toàn cầu và Toà Thánh ).
Cha ông Việt Nam rất khôn ngoan khi tạo ra kiềng chỉ có ba chân, thay vì bốn chân: dù ai nói ngã nói nghiêng, thì ta vẫn vững như kiềng ba chân ! Ba chân mới có thể đứng vững ở trên bất cứ địa hình nào, mà không lung lay, rung chuyển, có khả năng làm suy yếu những “chân” khác còn lại. Cha ông Việt Nam còn dạy sự khôn ngoan trong làm việc chung: thuyền tam bộ nhị ! Đức cố Giáo Hoàng kêu gọi mọi tín hữu rủ bỏ sự ù lì, thói ỷ lại hoặc ngại ngần hy sinh, để “Ra Khơi” – Duc in Altum ! Ra khơi, thuyền lại phải có “bộ ba” ( tam ). Gia đình cũng ví được như con thuyền ra khơi, vì phải ra giữa khơi cuộc đời, thế gian, dù biết sẽ gặp bao bất trắc, sóng gió, nhưng muốn tồn tại, thì không thể nằm bẹp dí trong bờ. Lúc ấy, ngoài sức mạnh “Ba Trong Một là Vợ – Chồng – Con Cái”, thì ta nhớ lại lời Chúa Giêsu hôm nay: ”Thầy ở trong Cha Thầy; anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” ( Ga 14, 20 ).
     CVK62 NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 98

 

PS6-A34: DỌN LÒNG ĐÓN NHẬN THÁNH THẦN - Lm. Jude Siciliano, OP

(Ga 14, 15-21)

Thưa quý vị,

 

Sách Tông đồ Công vụ là cuốn Kinh thánh kể lại hoạt động của các Tông đồ sau khi Chúa Giê-su lên: PS6-A34

Sách Tông đồ Công vụ là cuốn Kinh thánh kể lại hoạt động của các Tông đồ sau khi Chúa Giê-su lên trời. Bài đọc I hôm nay cho thấy các hoạt động của Phi-líp-phê, Phê-rô và Gioan tại niềm đất Samaria, ngoài ranh giới Giêrusalem và Giuđêa. Như vậy, rõ ràng cuốn sách mang đúng tên người ta đặt cho. Việc rao giảng Chúa sống lại ở Samaria có phần khác với trong đất thuần Do thái, bởi Samaria vẫn bị người Do thái chính thống coi là không bao giờ được dự phần vào ơn cứu rỗi. Nhưng ba nhà truyền giáo Phi-líp-phê, Phê-rô và Gioan đã chia sẻ với họ ơn Chúa sống lại. Bằng lời nói và hành động, các ông đã làm chứng Chúa Giê-su vẫn còn đang sống và hoạt động cùng với các ông. Thực tế, họ đang làm công việc mà Chúa đã thực hiện trước khi Người chịu đóng đinh. Đó là chữa lành các bệnh tật, cho kẻ chết sống lại, kẻ què đi được, người mù thấy được, xua trừ thần ô uế, cho những kẻ phong cùi được sạch. Tóm lại, các ông thi ân giáng phúc cho những ai bất hạnh trong xã hội như Chúa Giê-su đã từng làm khi Người còn đi lại trên đất Palestin. Bài đọc cố tình bỏ qua chi tiết ông Simon phù thuỷ vì lý do phụng vụ. Chi tiết này quan trọng bởi nó cho thấy tính ngay thẳng, bất vụ lợi trong việc phục vụ Thiên Chúa : “Tiền bạc của anh tiêu tan luôn với anh cho rồi, vì anh tưởng có thể lấy tiền bạc mà mua ân huệ của Thiên Chúa chăng ?”(8, 29) Liệu ngày nay chúng ta có được tinh thần thẳng thắn như Phêrô không ? Hay cũng huờ theo thói tục thế gian, bắt chước Simon phù thuỷ mà cầu cạnh ân huệ Thiên Chúa bằng bổng lộc tiền tài ? Nếu vậy, xin cũng noi gương Simon mà ăn năn sám hối : “Xin hai ông cầu cùng Chúa cho tôi, để không điều nào trong những điều các ông đã nói giáng xuống trên tôi.”

Tuy nhiên, cuốn sách không nguyên tập trung vào các Tông đồ. Chủ tâm chính yếu của thánh Lu-ca là bày tỏ sự hiện diện năng động của Chúa Thánh Thần qua sinh hoạt của các môn đệ Chúa Giê-su. Chúa Thánh Linh làm tăng trưởng Giáo hội một cách ngoạn mục qua các Tông đồ. Vì vậy, thánh nhân luôn lưu tâm ghi nhớ số lượng tín hữu mà Hội thánh gặt hái trong quá trình rao giảng khắp nơi. Sự trở lại của cư dân Samaria chứng tỏ tính phổ quát của Giáo hội Chúa và sứ vụ mà Ngài trao cho Tông đồ đang được thực hiện tốt đẹp. Sứ vụ này kéo dài mãi đến hôm nay và tiếp tục tới tận cùng thời gian. Nó không thuộc về tính quốc gia, dân tộc, màu da, ngôn ngữ hay cấp bậc xã hội. ngược lại, bài đọc cho thấy, bất cứ người nào lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa đều là thành phần của Giáo hội, họ sẽ được Thần khí Chúa Giê-su chấp nhận qua bí tích Rửa tội và Thêm sức. Họ là thành viên đầy đủ của cộng đoàn mới, dân tư tế của Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Vậy thì, chúng ta hãnh diện và được an ủi khi tham dự các buổi phụng vụ. Vì chúng ta ôm ấp những thứ mà trên thế giới là nhân tố chia rẽ : Cấp bậc xã hội, kỳ thị màu da tiếng nói, giàu nghèo sang hèn, giới tính, tuổi tác, bệnh tật, tài năng, tiếng tăm,.. . Cho nên, chúng ta tự hỏi tình hình thực tế địa phương chúng ta nói lên điều chi ? Có đúng Thần khí Chúa đang tụ họp tín hữu như thời các Tông đồ không ? Câu trả lời là tính cực, khi nhìn vào tính đại đồng của cộng đoàn và những bí tích chúng ta nhận lãnh hằng ngày : Rửa tội, Thêm sức, Chữa lành bệnh nhân, rao giảng, Thánh thể,.. . Như vậy, sách Tông đồ công vụ là phúc âm của Chúa Thánh Thần và mỗi tín hữu chân chính là một sách Tin mừng mở ra, nhờ vào các hoạt động Ngài thực hiện nơi chúng ta. Dân ngoại sẽ nhận biết công việc của Ngài do đời sống Chúa Giê-su được trình bày nơi các tín hữu nhiệt thành. Họ sẽ được chào đón, nhập vào cộng đoàn những “kẻ được rửa tội nhân danh Đức Giê-su Ki-tô.” Nếu không hoặc cảm thấy như thành viên hạng hai thì lúc ấy, chúng ta đã rõ ràng thất bại, không hoạt động với Chúa Thánh Thần giống như Ngài đã thúc đẩy các Tông đồ rao giảng trên đất Samaria. Chúng ta xấu hổ, có lỗi với Hội thánh toàn cầu, phải thật lòng thống hối vì không làm tròn phận sự.

Thơ Phêrô được viết để an ủi giáo dân đang chịu bách hại khủng khiếp thời hoàng đế Domitian. (Thực ra, thánh Phêrô đã lãnh phúc tử đạo ở Rôma năm 64, thơ này viết khoảng năm 80-90 chỉ lấy danh hiệu và uy tín của ngài mà thôi). Nội dung thơ cho hay, đây không phải là cuộc bách hại tổng quát, nhưng chỉ có tính địa phương, do lòng thù ghét riêng tư; nói cách khác, do nếp sống thánh thiện của những kẻ tin vào Chúa Ki-tô, mà thiên hạ ganh ghét họ, đưa ra đàm tiếu và loại trừ. Xin nhớ lời hộ giáo của các thánh giáo phụ : “Nếu mang danh Ki-tô hữu là một tội, thì họ lấy chứng cớ nào mà bắt bớ các tín hữu ?” Hay nói như tác giả thư thánh Phêrô : “Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ngay thẳng trong Chúa Ki-tô thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống ?” Mới đây, tôi có mặt trong một nhóm học hỏi Kinh thánh. Chúng tôi suy tư về đoạn Kinh thánh hôm nay, một thành viên buột miệng phát biểu về chữ “chịu khổ”. Anh nói thao thao bất tận về những thánh giá Chúa gửi cho chúng ta. Trong khi nghe, tôi trộm nghĩ : “Thiên Chúa ghê gớm thật, giáng hoạ trên con người, bắt con người phải chịu khổ.” Có phải đó là những thánh giá mà Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta gánh vác không ? Thơ thánh Phêrô trả lời : “Chúng ta chịu khổ vì việc lành.” Đấy là thứ thánh giá các tín hữu vác hằng ngày để theo Chúa Giê-su. Mến Chúa yêu người, chúng ta phải trả giá. Những ai từ chối thánh giá, tìm kiếm sung sướng xác thịt không chứng minh được mình yêu mến Thiên Chúa. Họ giữ đạo bằng miệng lưỡi và là kẻ giả hình. Chúa chịu thương khó, bởi vì mang trong thận phận mình “gánh tội trần gian”. Nói cách khác, là thành phần nhân loại nên theo pháp lý, Ngài là tội nhân trước mặt Chúa Cha, do đó phải chịu hình phạt của pháp luật. Trái lại, chúng ta tìm cách trốn tránh gian khổ thì làm thế nào xứng đáng làm môn đệ Chúa Giê-su ?

Cho nên, chúng ta chịu khổ vì việc lành, cũng như Chúa Giê-su chịu nạn vì tội lỗi nhân loại. Chúng ta phải sẵn sàng trả lẽ cho hy vọng của mình. Thay vì đối đầu với những sự dữ kẻ thù gây nên, chúng ta dồn tâm lực vào Chúa Giê-su, (Hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong linh hồn anh em) và giãi bày đức tin của mình hiền hoà cung kính, ngõ hầu thiên hạ nhận ra đức tin đó không phải của loài người mà là một ân huệ từ trời cao. Thời buổi ngày nay, các tranh cãi về tôn giáo dễ đưa đến những đổ vỡ, bên trong cũng như bên ngoài, nhiều khi là bạo lực, chiến tranh. Xem bản đồ thế giới, người ta phải rùng mình vì chia rẽ tôn giáo. Có lúc, những người cùng ngồi ghế nhà thờ lại là các đối thủ không đội trời chung vì ý kiến luân lý, đạo đức. Tuy nhiên, thư thánh Phêrô nhắc nhở : “Đấng công chính đã chết cho kẻ bất lương, hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.” Kẻ bất lương đó chính là nhân loại. Cho nên, chúng ta được hưởng ân huệ hoà giải với Thiên Chúa là do Đức Giê-su Ki-tô.

Hôm nay, chúng ta mừng sự kiện hoà giải trong bí tích Thánh thể. Bí tích đem lại ơn lành đích thực qua hoạt động phá vỡ mọi bức tường ngăn cách của Chúa Thánh Thần. Vừa qua, tôi hân hạnh được một cha xứ lân cận mời giảng tĩnh tâm cho các giáo dân, nhân dịp mùa chay. Khi chờ đợi, tôi đứng nói chuyện với một người đàn ông ở phòng mặc áo. Chúng tôi đứng gần một giỏ đựng rác. Trong giỏ, đầy những tờ rơi dư thừa. Chúng bàn về mọi đề tài tôn giáo và nhiều ít liên quan đến đức tin. Thí dụ, ngừa thai, phá thai, nghiên cứu tế bào gốc, bệnh Alzheimer, đồng tính luyến ái, chết êm dịu, án tử hình, v. v. Chúng tôi bàn bạc sơ qua một vài đề tài. Người đàn ông bốc ra một nắm giấy, đưa tôi xem và nói : “Thưa cha, thời con còn học ở trung học cơ sở làm chi có những chuyện như thế này.” Đúng vậy, nhưng bây giờ, chúng ta phải đối mặt với chúng trong cuộc sống hằng ngày. Người tín hữu không thể tránh né. Ngược lại, nên chấp nhận và bàn bạc với những người khác, bất cứ ai, để làm cho vấn đề được sáng tỏ, nhân loại có một tương lai nhân bản hơn, tươi sáng hơn. Dĩ nhiên, đôi khi có những bế tắc vì bất đồng ý kiến, thí dụ : tránh thai, ngừa thai nhân tạo. Lúc ấy, chúng ta cảm thấy cô đơn vì niềm tin của mình.

Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống đã gần kề. Quý vị có thể đoan chắc như vậy, bởi vì các bài đọc Kinh thánh năng nhắc đến Thần khí Đức Ki-tô và các công việc của Ngài giữa lòng Giáo hội. Tức những việc lạ lùng vượt quá khả năng con người có thể thực hiện. Bài đọc Phúc âm cho chúng ta hay nỗi lo lắng của Chúa Giê-su về số phận của các môn đệ. Liệu sau khi Ngài ra đi, họ còn thương yêu đoàn kết với nhau hay không ? Họ còn can đảm sống những điều Chúa truyền dạy hay không ? Giống như các bậc cha mẹ tốt lành, Ngài thu xếp để họ ý thức sự hiện diện thể lý của Ngài không phải là tối quan trọng. Trái lại, sự có mặt tinh thần, bên trong mỗi tâm hồn, còn quý giá hơn nhiều. Sống thời Tin mừng là điều may mắn, biết Chúa Giê-su theo phần xác thịt là điều hạnh phúc. Nhưng sống thân mật với Chúa Giê-su trong tinh thần còn hệ trọng hơn. Thánh Phaolô cũng phát biểu tương tự : “Vì thế, từ đây chúng tôi không còn biết một ai theo quan điểm loài người. Và cho dù, chúng tôi được biết Đức Ki-tô theo quan điểm loài người, thì giờ đây, chúng tôi không còn biết Người như vậy nữa.”(2 Cr 5, 16) Cho nên, Chúa Giê-su hứa ban Thánh thần xuống trên họ : “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.” Nhưng điều kiện để họ nhận được Thánh thần là tuân giữ lời Ngài : “Nếu anh em yêu mến Thầy thì anh em tuân giữ các điều răn của Thầy.” Không hiểu ngày nay còn người tín hữu nào, kể cả tu sĩ, giáo sĩ lưu tâm đến điều kiện của Chúa Giê-su để nhận được Thánh linh ? Người ta năng nói đến Thánh linh, những hành động của Ngài một cách độc lập với lệnh truyền của Chúa Giê-su. Đúng là một sai lầm. Thánh linh chỉ được ban, nếu chúng ta tuân giữ lời Chúa Giê-su. Ngoài ra là một thứ Thánh linh tưởng tượng. Cộng đoàn chúng ta muốn nhận được nhiều Thánh linh, thì điều kiện tiên quyết là tuân giữ giới răn Chúa cho cặn kẽ. Buông lỏng kỷ luật, buông lỏng lệnh Chúa truyền mà mong ước được nhiều Thánh linh là điều vô lý. Điểm thứ hai cần lưu tâm là Chúa Giê-su huấn thị cho các môn đệ tuân giữ “các giới răn của Thầy” chứ không phải của người khác hay giới răn chung chung. Bởi lẽ, trong Do thái giáo, đã có mười điều răn hướng dẫn con cái Israel ăn ở phụng thờ Thiên Chúa. Nhưng lúc này, họ đã trở thành môn đệ Chúa Giê-su, tâm trí họ phải hoàn toàn thuộc về Ngài. Ngài làm chủ tâm trí họ, tức toàn thể con người, cho nên, Ngài đặt một điều kiện : Nếu anh em yêu mến Thầy. Các môn đệ sẽ minh chứng tình yêu đối với Chúa Giê-su bằng một đời sống tuân theo những gì Ngài truyền dạy. Tức sống như Ngài đã sống : yêu thương kẻ thù, làm ơn cho những người ghen ghét, chữa lành bệnh nhân, nâng đờ người nghèo khổ, đón nhận anh em ngoại giáo như bài đọc 1 nói về Phi-líp-phê, Phê-rô và Gioan đón nhận dân cư Samaria, rửa chân và tha thứ cho nhau. Trước tình hình thế giới ngày nay, vấn đề trở nên nhiêu khê, bởi nhân loại không còn đơn sơ, mông muội như trước nữa. Chúng ta không chỉ làm điều thiện nhân danh Chúa Giê-su, mà còn phải với ý chí sắt đá, tinh thần luôn canh tân thì mới có khả năng bền vững trong các giới răn của ngài. Sự sa sút luân lý trên thế giới đòi hỏi nỗ lực vượt bậc để có thể kiên trì trong đường lối của Thiên Chúa. Nếp sống tục hoá trong các giáo xứ, tu hội, tu viện cần một lực đối kháng mạnh mẽ để có thể trở về nguồn, về tinh thần khắc khổ của Chúa Giê-su, vác thánh giá hằng ngày mà theo Chúa.

Cho nên, chúng ta cần Thánh linh giúp đỡ để sống trung thành với Chúa Giê-su. Không ai tự nhận sống sai trệnh đường lối Chúa, nhưng thực tế đa phần tín hữu sống xa hoa, lãng phí, chạy theo những tiện nghi vật chất của thế gian. Rất ít người giữ được tinh thần từ bỏ. Chúa Giê-su gọi Thánh linh là Đấng bảo trợ khác. Cũng như Chúa Giê-su là Đấng bảo trợ thứ nhất, Chúa Thánh Thần sẽ là trạng sư nâng đỡ, ủi an, ban phát công nghiệp của Đấng cứu thế cho toàn thể nhân loại, đặc biệt cho Hội thánh và các môn đệ. Mười năm trước đây, nhiều thanh niên trên đất Hoa kỳ yêu thích đeo băng tay có chữ WWJD = What would Jesus do ? = Ở hoàn cảnh này, Chúa Giê-su sẽ làm gì ? Chúng ta chẳng thể sống lại thời các Tông đồ, cũng không cần nuối tiếc những kỷ niệm họ được cùng Chúa đi lại và hoạt động trên đất Palestine. Chúng ta sẽ được toại nguyện nếu thực thi nội dung băng chữ WWJD gợi ý. Chúng ta sẽ là môn đệ đích thực của Chúa. Ngài chẳng để chúng ta mồ côi : Ngài sẽ sai Thánh thần đến với chúng ta, dạy dỗ, an ủi chúng ta. Vì vậy, xin hãy dọn lòng sốt sắng đón nhận điều chân thật Chúa hứa trong ngày Lễ ngũ tuần. Lúc ấy, chúng ta sẽ thấy rõ : “Thầy ở trong Cha, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Thầy sẽ tỏ mình ra cho anh em.” Như vậy, niềm vui Phục sinh của chúng ta thật trọn vẹn. Amen. Alleluia.


 

PS6-A35: Giữ lời Thầy - Lm Francis Lý Văn Ca

Chủ Nhật Thứ 6 Sau Phục Sinh. 1.5.2005.

"Nếu con yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy…” (Jn 14:15)

 

Lời trăn trối của người sắp đi xa hay sắp lìa đời bao giờ cũng ngập tràn ý nghĩa và sâu đậm tâm tình.: PS6-A35

Lời trăn trối của người sắp đi xa hay sắp lìa đời bao giờ cũng ngập tràn ý nghĩa và sâu đậm tâm tình. Chúa Giêsu cũng đã một lần trối trăn trước khi giã từ các môn đệ và ước mong các ngài ân cần tuân giữ các lệnh truyền.

Như chúng ta đều biết, giới răn của Chúa không chỉ là một lệnh truyền đơn độc, đặc thù, nhưng bao gồm, ôm ấp cả cuộc sống con người, làm cho con người mỗi ngày nên hoàn thiện như Thiên Chúa là Đấng Toàn Thiện. Chính vì thế, thời gian là yếu tố rất cần thiết để Thiên Chúa huấn luyện các tông đồ.

Tình yêu mà Chúa Giêsu đã nhận lãnh bởi Chúa Cha giờ đây Ngài trao lại cho chúng ta như là một giới luật: Ngài muốn chúng ta ở trong tình yêu của Ngài bằng sự yêu thương nhau như chính Ngài đã biểu lộ trong sự vâng lời Thiên Chúa Cha cho đến chết trên thập giá. Giới răn Chúa truyền cho chúng ta không giống như những giới răn trong Cựu Ước nặng trĩu mệnh lệnh cứng rắn, nhưng là những điều có tính cách mời gọi và ấp ủ tình thương.

Càng sống lời Chúa trối, chúng ta càng khám phá ra nét mặt dịu hiền của Chúa, tình thương, sự quan phòng và định mệnh Chúa đã an bài chúng ta trong vũ trụ. Nắm giữ giáo lý và lệnh truyền của Chúa tâm hồn chúng ta sẽ được sự bình an đích thực vì nhận ra ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời: Đó là tình thương của Thiên Chúa dành cho con người không biên giới.

Tiình yêu Chúa muốn dạy chúng ta là tình yêu có thể thực hành được và ai ai cũng cảm thấy cần thiết, đó là đức bác ái. Đây là giới răn trọng nhất. Cuộc sống của người Kitô chỉ có đọc kinh xem lễ mà thôi thì chưa đủ, chúng ta còn phải giữ lệnh truyền của Chúa là phục vụ Chúa trong tha nhân nữa. Vì chính trong tình thương yêu cụ thể nầy mà Thiên Chúa sẽ được tỏ hiện, qua Thánh Thần Thiên Chúa trao ban cho con người sẽ làm cho chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa Ba Ngôi, đồng thời, giới thiệu Chúa Kitô cho người khác. Nếu cuộc sống đích thực của mỗi người Kitô hữu biểu lộ được tình yêu của Chúa giữa anh chị em cách chân thành sâu xa và cụ thể thì chúng ta đã thể hiện hoàn hảo lời Di Trối của Chúa hôm nay.

Lời Nguyện:

Lạy Chúa, chỉ có tình yêu mới liên kết tình liên đới của chúng con với người khác. Trong mùa Phục Sinh, chúng con đã suy niệm về sự phục sinh của Chúa. Trong những tuần lễ kế tiếp, chúng con sẽ suy niệm về vai trò của Chúa Thánh Thần, mà Đức Kitô hứa sẽ sai đến với các tông đồ. Thánh Thần là nguồn an ủi và cậy trông của các tông đồ và Giáo Hội thời sơ khai. Hôm nay, chúng con cầu xin Chúa ban cho đức tin của mỗi người chúng con luôn được nuôi dưỡng bằng các nhiệm tích trong Giáo Hội.


 

PS6-A36: Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi Phù Trợ chúng ta

VietCatholic News (30/04/2005) LM Anphong Trần đức Phương
 

Cuối tuần này chúng ta mừng Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh, và Chúa Nhật tới, chúng ta mừng Đại Lễ: PS6-A36

Cuối tuần này chúng ta mừng Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh, và Chúa Nhật tới, chúng ta mừng Đại Lễ Chúa Giêsu Lên Trời (thay vì ngày Thứ Năm), và Chúa Nhật tiếp theo, chúng ta mừng Đại Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống,

Ngay từ ngày Chúa Nhật này, các Bài Đọc và Bài Tin Mừng đã hướng chúng ta về Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi Phù Trợ chúng ta, và giúp chúng ta ý thức được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Giáo Hội và nơi mỗi người chúng ta. Chúa Thánh Thần cũng đốt lên trong chúng ta lòng nhiệt thành đem Tin Mừng tình thương của Chúa đến cho mọi người, và kiên vững giữa bao thử thách, giữa bao gian khổ trong cuộc hành trình Đức Tin giữa cuộc sống trần gian.

Từ Chúa Nhật này, chúng ta cũng bắt đầu bước vào tháng Năm là tháng kính Đức Mẹ Maria. Cùng với những bông hoa tươi muôn màu, muôn sắc, chúng ta hãy dâng lên Mẹ cả cuộc đời chúng ta cùng với mọi niềm vui, mọi nỗi âu lo, mọi khó khăn, xin Mẹ luôn nâng đỡ, giúp sức cho chúng ta, cho gia đình chúng ta, cũng như cho toàn thể Giáo Hội.

Cùng với toàn thể Giáo Hội và Thế Giới, chúng ta đã ngậm ngùi, thương tiếc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào ngày thứ Bảy 02-04-2005; nhưng chúng ta cũng vui mừng tạ ơn Chúa đã cho Ngài sống một cuộc đời thật thánh thiện và đầy nhiệt huyết để phục vụ Chúa, Giáo Hội và toàn thể nhân loại; vì thế, các vị lãnh đạo các quốc gia, cũng như bao người thuộc các tôn giáo khác nhau đã ca tụng Ngài như một “VĨ NHÂN, một THÁNH NHÂN của thời đại chúng ta.”

Cùng với toàn thể Giáo Hội và Thế Giới, chúng ta cùng cảm tạ Chúa và tiếp tục cầu nguyện cho Đức Thánh Cha BÊNÊDICTÔ XVI thân yêu của chúng ta mới được Chúa chọn làm Đấng Đại Diện của Chúa để dẫn dắt Đoàn chiên của Chúa nơi trần gian. Hợp cùng Mẹ Maria, chúng ta cũng cầu nguyện chung cho nhau để chúng ta luôn sống hòa hợp yêu thương, sống xứng đáng những người con ngoan trong Đoàn chiên của Chúa dưới sự chăn dắt của Đức Thánh Cha và các vị chủ chăn trong Giáo Hội.


 

PS6-A37: TIN VÀO LỜI CHÚA HỨA BAN THÁNH THẦN

LM. Trần Bình Trọng
Chúa Nhật 6 Phục Sinh, Năm A

Cv 8:5-8,14-17; 1Pr 3:15-18; Ga 14:15-21

 

Khi còn tại thế, Chúa Giêsu hiện diện với các Tông Ðồ bằng thân xác, ngũ quan của Người. Khi Chúa. PS6-A37

Khi còn tại thế, Chúa Giêsu hiện diện với các Tông Ðồ bằng thân xác, ngũ quan của Người. Khi Chúa về trời thì một sự hiện diện mới cần phải được thiết lập như lời Người hứa: Thày sẽ xin Chúa Cha ban cho chúng con một Ðấng Phù Trợ khác đ Ngài lại với các con luôn mãi'(Ga 14:16). Chúa Giêsu biết chẳng còn bao lâu nữa các tông đồ sẽ thấy họ phải tự lập ở thế gian; họ sẽ bị thế gian ghét bỏ, bách hại, tù đầy và bị kết án tử hình. Lời hứa ban Ðấng Phù Trợ là Thần Chân lý phải là lời an ủi, khích lệ cho các Tông Ðồ. Ðó cũng là hứa để sửa soạn cho các ông đón nhận ơn Chúa Thánh Thần trong ngày lễ Hiện Xuống.

Lời Chúa hứa ban Thánh Thần hay Thần Khí của Thiên Chúa phải là một lời bảo đảm vì Chúa không bao giờ lỗi lời giao ước. Do đó lời hứa ban Thánh Thần còn được áp dụng và thực hiện nơi người tín hữu thời Giáo hội sơ khai. Theo sách Tông đồ Công vụ, hai ông Phêrô và Gioan được các Tông Ðồ ở Giêrusalem sai đến với dân miền Samaria đã đón nhận lời Chúa. Trong Sách có ghi lại: Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, đ họ nhận được Thánh thần. Vì Thánh thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần (Cv 8:15-17). Người tín hữu sau này nhận ơn Chúa Thánh Thần khi họ lãnh nhận Bí tích Thêm sức. Khi chịu Phép Rửa tội, người tín hữu đã lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần. Còn khi chịu phép Thêm sức, người tín hữu nhận ơn Chúa Thánh thần một cách dồi dào và sung mãn hơn.

Thiên Chúa đến với ta bằng Thần Khí và ở lại với ta cũng bằng Thần Khí. Thần Khí là cách thế của việc Chúa hiện diện trong Giáo Hội cũng như trong mỗi người tín hữu. Nhìn bằng con mắt thế gian, ta không thấy được Thần Khí. Ðể có thể cảm nghiệm được Thần Khí của Thiên Chúa, người tín hữu phải dùng con mắt đức tin. Ðức tin được chiếu sáng bởi ơn Chúa Thánh Thần, sẽ giúp ta nhìn thấy một thực tại khác cái thực tại của thế gian bởi lẽ ơn thánh không tuỳ thuộc vào ứng nghiệm. Ơn thánh cũng không cảm thấy được bằng giác quan. Khi ta nhìn thấy những hiện tượng lạ, đó có thể là do tác động của Chúa Thánh Thần, hoặc do ma quỉ bày đặt, hay do ảo thuật của loài người tạo ra. Vì thế ta cần dùng con mắt đức tin để phân biệt hiện tượng nào là do quyền phép Chúa Thánh Thần, hiện tượng nào là do ma quỉ bày đặt, hay do ảo thuật của loài người. Nói như vậy không có nghĩa là ngày nay không còn phép lạ xẩy ra hay không còn những công việc lạ lùng do quyền phép Chúa làm. Nếu nhìn bằng con mắt đức tin, ta sẽ thấy vô số phép lạ xẩy ra xung quanh ta và trong đời sống hàng ngày.

Ðọc thánh kinh, nhất là sách Công Vụ Tông Ðồ, ta thấy ơn Chúa Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ nơi các Tông Ðồ, cũng như thời Giáo hội sơ khai. Sức mạnh Chúa Thánh Thần đã biến đổi các Tông Ðồ thành những người hăng say và nhiệt thành trong việc rao giảng Tin mừng Cứu độ. Ơn Chúa Thánh Thần cũng đã tác động tâm hồn người nghe, khiến họ sẵn sàng đón nhận đức tin vào Chúa và hoạt động tông đồ cho nước Chúa. So với cách sống và những hoạt động của giáo hữu thời Giáo hội sơ khai thì có những người cho rằng thời đại ta đang sống không phải là thời đại Chúa Thánh Thần, bởi vì họ không thấy những công việc vĩ đại Chúa làm. Họ không cảm thấy ơn Chúa tác động trong đời sống cá nhân. Họ không cảm thấy lửa yêu mến Chúa bừng cháy trong tâm hồn. Họ không cảm thấy sốt sắng trong lời cầu nguyện và việc thờ phượng. Họ không cảm thấy nhiệt tâm trong việc tông đồ. Họ vẫn cảm thấy tâm hồn khô khan, nguội lạnh, trễ nải và làm biếng việc lành.

Nếu nói rằng thời đại ta đang sống không phải là thời đại Chúa Thánh Thần thì như vậy có nghĩa là lời Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần là lời hứa hão huyền hay sao? Hoặc giả có nghĩa là Chúa Thánh Thần đến viếng thăm chốc lát, rồi lại đi, lâu lâu mới trở lại chăng? Thánh Kinh dạy ta biết Thiên Chúa luôn trung thành với lời giao ước với loài người. Khi ta thấy ơn Chúa Thánh Thần không tác động trong đời sống là vì ta không yêu mến Chúa và tuân giữ các giới răn của Người. Ta đặt những chướng ngại vật trong tâm hồn bằng tính lười biếng, tham lam, ích kỷ, bằng những lo toan thái quá, hay bằng cách sa phạm tội. Do đó ơn Chúa Thánh thần bị tắc nghẽn trong tâm hồn và hoạt động của Chúa Thánh thần bị giảm thiểu hoặc đình trệ trong đời sống. Thêm vào đó người công giáo lại thường hay quên lãng Ngôi Ba trong bản tính Thiên Chúa. Ta thường quen thuộc với những hình ảnh cụ thể. Ta thấy tượng Chúa Giêsu làm người với vẻ uy nghi, quyền thế; tượng Mẹ Maria với vẻ dịu hiền trìu mến. Nhưng ta không thấy tượng Chúa Thánh Thần dưới hình loài người, mà chỉ thấy hình chim bồ câu, hoặc hình lưỡi lửa. Vì thế ta khó hình dung ra Chúa Thánh Thần vì ta không quen đối chất với những gì là trừu tượng.

Hôm nay mỗi người phải xác tín lại rằng thời đại nào cũng là thời đại Chúa thánh thần, miễn là ta biết mở rộng tâm hồn đón nhận Thần Khí của Thiên Chúa, và cộng tác với ơn Chúa bằng cách đáp lại tiếng Chúa mời gọi hằng ngày trong nếp sống đều đặn của cuộc sống.

Lời nguyện xin ơn Chúa Thánh thần đến:

Lạy Ðức Kitô phục sinh, con xin tạ ơn Chúa đã bày tỏ cho chúng con biết
về ngôi Ba Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần.
Xin
Chúa thực hiện lời hứa mà ban Thánh Thần đến với chúng con.
Xin
cho con biết yêu mến Chúa bằng việc tuân giữ giới răn Chúa,
bằng
cách loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn
đ ơn Thánh Thần có thể tác động trong tâm hồn và đời sống con.
V
à xin giúp con nhận ra đâu là Thần Khí của Chúa. Amen.

Lm Trần Bình Trọng


 

PS6-A38: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ga 14,1-12
Trước khi rời khỏi thế gian nay để về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu nói với các môn đệ:"Lòng anh em đừng xao xuyến...".
 

Trong Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng: PS6-A38

Trong Tin Mừng ngày hôm nay viết về ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương: Đức Giêsu vừa loan báo sự phản bội của Giuđa và y đã đi ra khỏi căn phòng vào đêm tối bên ngoài (Gioan 13,21-30).. rồi Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Gioan 13,31-36)... sau cùng, đầy nỗi lo sợ, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Người  "ba lần”, trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Gioan 13,37-38). Như thế, người ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng  đang xiết chặt mọi tâm hồn vô tư tưởng các môn đệ trong đời sống của chúng ta cũng thế có những giờ phút sự sợ hãi kinh hoàng ập xuống trên chúng ta một tương lai bấp bênh, một thiệt hại không vượt qua được, những suy sụp của tuổi già, một căn bệnh không thể chữa khỏi. Và còn có những sợ hãi  tập thể: sự thất nghiệp, bạo lực, nạn nhân mãn, nạn đời sự ô nhiễm của môi  trường, những nguy cơ của nguyên tử. Và trong bối cảnh khủng hoảng ấy, những câu hỏi nghiêm trọng mà mọi tín hữu chân chính phải đặt ra. Những giá trị cao cả của con người chẳng phải đang bị xóa nhòa Đó sao? Nhân loại ngày mai sẽ tin vào điều gì? Và một ngọn gió hoảng sợ cũng xâm chiếm những tín hữu mạnh mẽ nhất và người ta lẩm bẩm rằng trong Giáo Hội cũng không có gì là ổn cả.
Chính trong bối cảnh nhân loại như thế mà tính lạc quan không gì thắng nỗi của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối! Chỉ còn mấy giờ nữa Người phải lên thập  giá thế mà Người đã cố sức vực dậy tinh thần của các bạn hữu của Người: "Lòng anh em đừng xao xuyến!" chúng ta hãy đắng nghe những lý do Người sẽ đưa ra để chúng ta không  bao giờ còn sợ nữa. . . về bất cứ điều gì.    
“Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”
Đức Giêsu yêu cầu các bạn hữu đang xao xuyến của người hướng cái nhìn về một hướng duy nhất: đức tin, sự bình an sâu xa của Đức Giêsu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi, không dựa trên sức  người, nhưng dựa trên Thiên Chúa. Tất cả, không chừa một ai đều có thể suy sụp, chỉ có Đức Giêsu nắm giữ sự trợ giúp siêu nhiên nằm bên ngoài ảnh hưởng của mọi sức  mạnh phá hoại cái chết cũng không thể phá hủy sự bình an của Người: Sự bình an của Người không do sức con người mà do Thiên Chúa! Vả lại, chúng ta nhận thấy rằng Đức Giêsu đòi hỏi đối với bản thân Người một thái độ đức tin mà người ta có thể có đối với Thiên Chúa. Tính duy lý của con người vỡ tung như một nhân nguyên tử dưới sức ép khó quan niệm nổi của cái vô cùng thánh thiêng: Làm thế nào mà Đức Giêsu vốn là Thiên Chúa lại có thể nói về Thiên Chúa như một Đấng khác mình? Và điều Đó mang lại công thức làm ngạc nhiên: "Hãy tin vào THIÊN CHÚA... Hãy tin vào THẦY...". Vậy thì Người là ai để nói như thế?   
"Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã  nói  với anh em  rồi, vì  Thầy đi dọn chỗ cho anh em" .    
" Phải, Đó là mầu nhiệm không thể hiểu thấu của Nhập Thể. Đức Giêsu với tư cách con người, phân biệt không ngừng với Thiên Chúa! Người nói về Thiên Chúa như thể Đó là một Đấng Khác (Tha Thể Tuyệt Đối) người  nói về Chúa Cha. Không bao giờ Đức Giêsu hướng cái nhìn của con người về chính mình. Không bao giờ Đức Giêsu lôi kéo sự tôn kính hay thờ phụng về bản thân Người: Người hoàn toàn hướng về một Đấng khác...và Người muốn xoay hướng chúng ta về Đấng khác ấy, Đấng hoàn toàn khác, Đấng mà chưa có ai đã từng trông thấy, tức là Chúa Cha.
Như thế Đức Giêsu đối diện với cái chết của Ngài, sự ra đi khỏi thế gian này, như một sự trở về nhà mình: Người sẽ tìm lại nơi Đó một Đấng mà Người yêu mến và mến yêu Người. Đức Giêsu biết mình được yêu.
Sau những lời làm vỡ tung lý trí, giờ đây là những lời hoàn toàn thân mật, những lời thường nói mỗi ngày: nhà, chỗ ở, dọn chỗ...
“Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy”
Đây là những lời dịu dàng không tả nổi: "Đem về với Thầy... trở lại..." Thiên Chúa tất nhiên là Đấng hoàn toàn khác không thể đạt đến được nhưng cũng là Đấng rất gần, thân thiết chúng ta không có một Thiên Chúa dửng dưng và lãnh đạm, nhưng là một người Cha đầy tình âu yếm, một người Anh để cho những nổi lo  sợ của chúng ta làm thương tổn và Người nói với chúng ta những lời an ủi và thân ái.
“Hễ Thầy ở đâu, anh em cũng ở Đó”.
 Chúng ta chớ lướt qua nhanh quá trên những lời xem ra có vẻ đơn giản và thân mật một cách ngây thơ. Có cả một thần học được diễn tả xuyên qua mạc khải ấy. Khi dám nói rằng: “Thầy ở đâu, anh em cũng ở Đó". Đức Giêsu mở ra cho nhân loại  một viễn cảnh có âm vang vô tận, siêu nhân, siêu nhiên: Chính "đời sống thánh thiêng" được ban cho chúng ta mục đích của con người không còn ở trong con người, mà ở trong Thiên Chúa! Nhân loại đi về hướng có Đức Giêsu ở Đó con người đã được lập trình để trở thành “như Thiên Chúa" người ta hiểu được lời Người nói : "Lòng anh em đừng xao xuyến!"
“Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi” Ông Tôma nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?"
Đây là một điệp khúc: "Thầy đi...” “chúng con không biết Thầy đi đâu...". Đó là câu hỏi nền tảng của nhân loại mà Tôma dũng cảm đặt ra nhân danh chúng ta. Chúng ta sẽ đi về đâu? Ý nghĩa, mục đích sau cùng của đời sống là gì ? Có cái gì sau khi chết?.
Đức Giêsu đáp: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống: Không ai đến  với  Chúa Cha mà không qua Thầy".
Đối với Đức Giêsu, chân trời không bao giờ bị ngăn chặn, gây ra sự tuyệt vọng.
Đối với người tin, ai chấp nhận lời Đức Giêsu, lịch sử sẽ có một ý nghĩa, đời sống sẽ không còn phi lý nữa Đức Giêsu là "người mở đường", Người đã mở ra một lối thoát cho cái hữu hạn và cho đặc tính phải chết của con người. Không có Đức Kitô con người bị giam hãm trong những giới hạn của mình. Với Người, và chỉ với Người, như Người khẳng định có một con đường không dẫn tới cái hố đen của nấm mộ, nhưng về "nhà của Chúa Cha".
Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng sẽ biết Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người"
Câu này của Thánh Gioan là một câu làm hiện ra tính không thể diễn tả của Thiên Chúa, sự "mạc khải" này vẫn còn một phần "không thể quan niệm được": ánh sáng.. nhưng vẫn còn một thứ ánh sáng của đêm tối... ánh sáng của đức tin.  
Thật vậy, câu này gồm hai khẳng định bề ngoài trái ngược nhau: Anh em cũng (sẽ) biết Cha của Thầy (ở thì tương lai).. bây giờ, anh em biết: Người (thì hiện tại).
Rõ ràng là Thiên Chúa không hiển nhiên và thật ra, chúng ta không biết Người. Người ta cũng có thể nói rằng chúng ta hiểu được Người! Rõ ràng có một thứ hồ nghi, không chắc chắn đã xuất hiện trong câu hỏi của Tôma: “chúng con không biết...”. Tình cảnh của chúng ta hiện nay đúng là như thế có thể  một ngày nào Đó, chúng  ta sẽ biết Thiên Chúa. Sự vô tri về Thiên Chúa hôm nay, sẽ biến đổi thành trí thức, như lời Đức Gìêsu nói: Anh em sẽ biết Người! Vả lại trong Đức Giêsu, sự hiện diện vô tri của  Thiên Chúa chịu một "cú sốc của tương lai" đến độ những thực tại phải đến đã trở thành hiện tại:  “Ngay từ bây giờ, anh em biết Thiên Chúa và đã thấy Người!". Có thể nói rằng, bằng một cảm thức siêu nhiên, tương lai được tiên cảm trong hiện tại đối với những người tin Đức Giêsu: "Thời sau hết đã ở Đó, mặc dù chưa hoàn tất. Giáo Hội, nơi cư ngụ của các tín hữu đã trở thành nơi cư ngụ của Thiên Chúa ở giữa con người" (Khải Huyền 21,3). Một ngày nào Đó, chúng ta sẽ có một sự hiểu biết nào Đó về Chúa Cha, còn bây giờ chúng ta đã hiểu biết Chúa Cha qua bức màn của đức tin. Đó là điều mà các nhà thần học gọi là cánh chung: Tương lai được cảm nghiệm trước trong lòng của các tín hữu, trong Đức Giêsu Kitô.
Ông Philípphê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện". Đức Giêsu trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?". 
Mới rồi, chúng ta vừa nghe Đức Giêsu phân biệt Người với Chúa Cha. Giờ đây dường như Người đồng hóa với Chúa Cha. Đức Giêsu đi về với Chúa Cha, Người là con đường dẫn đến Chúa Cha và đồng thời Người ở trong Chúa Cha và ai “thấy Đức Giêsu là thấy Chúa Cha". Đức Giêsu là một con người, nhưng một con người "chứa đầy Thiên Chúa", một con người Thiên Chúa! Chúng ta phải để những từ có vẻ đơn giản ấy thấm nhuần chúng ta: "Thầy ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong Thầy...Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy...”
 Phải, đã có một con người là Giêsu Nadarét, sống cách nay hai ngàn năm trong một tổng nhỏ ít người biết đến của Đế quốc La Mã, một con người bằng xương bằng thịt đã đứng trên đôi chần của mình và trên một miền đất xác định, đất Israen, một con người có những bạn hữu, một con người ăn uống như mọi người.. một người sắp chết như mọi người... và con người này lúc này đây hiệp thông với Thiên Chúa và đồng nhất với Thiên Chúa và hoàn toàn không là một kẻ điên một con người quân bình tột bậc, khiêm tốn, không tham vọng và kiêu ngạo: một con người vừa mới quỳ gối trước các bạn hữu để rửa chân cho họ như một tôi tớ bình thường vào thời Đó.. đồng thời giao nộp thân thể tan nát, và đã đổ máu ra vì họ.
"Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy chính  người làm những việc của mình: Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì chính các việc kia vậy thật Thầy bảo thật anh em ai tin vào Thầy, thì người Đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người Đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha".
 Thiên đàng không phải là một sự chạy trốn vào một giấc mơ của tương lai hoang tưởng. Thiên đàng không phải là một miếng đường được hứa ban cho sau này để bỏ qua sự chua cay hiện tại Thiên Chúa không phải là một thứ thuốc phiện dùng để ru ngủ những đau khổ cho một cuộc sống đời đời.
Một thiên đàng để bắt đầu và được cảm nghiệm bởi những người "làm những việc Đức Giêsu làm": Có một cách nào Đó để suy nghĩ, để chọn lựa, để gặp gỡ Thiên Chúa và con người, một cách sống nào Đó cũng chính là cách sống của Đức Giêsu.

 

PS6-A39: Hứa ban Thần Khí

Chú giải chi tiết
“Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các lệnh truyền Ta”.
 

Gioan không bao giờ cho phép tình yêu thoái hóa thành tình cảm suông hay xúc động thuần:PS6-A39

Gioan không bao giờ cho phép tình yêu thoái hóa thành tình cảm suông hay xúc động thuần túy. Tình yêu được biểu lộ trong sự vâng phục. Điều này cũng đúng cho tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha (x. 15, 10).
“Đấng Bầu chữa khác": Được vay mượn tư ngữ văn.g pháp luật tiếng Paraklêtos chỉ người được mời tới bên cạnh bị cáo đ giúp đ và bênh vực cho đương sự: thành thử nghĩa đầu tiên là trạng sư, người biện hộ. Từ đó, ta thấy xuất hiện nghĩaấng An ủi hãy Đấng chuyển cầu. Nơi Gioan thì ý nghĩa pháp lý thắng thế. Thần Khí giúp đ các môn đ trong vụ án vĩ đại mà thế gian đeo đuổi chống lại họ, nhưng những tiểu dị vừa nêu trên có thể áp dụng và nhấn mạnh tùy trường hợp. Theo nghĩa Chuyển cầu, thì Chúa Giêsu cũng là Paraklêtos như Thần Khí. Vậy nếu chỉ có một trung gian duy nhất là Chúa Giêsu (1Tm 2, 5), thì vẫn có hai Đấng bầu chữa: Chúa Giêsu, "luôn sống đ cầu bầu cho chúng ta" (Dt 7,23) và Thần Khí, "Đấng chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8, 26).
Và Ngài trong các con". Nhiều chỉ cảo và thủ sao có giá trị dùng động từ này thì tương lai: Ngài sẽ . Người ta có thể đưa ra nhiều lập luận vững chắc đ bênh vực cho cả hai lập trường. Tuy nhiên, phần lớn các nhà chú giải gần đây xem ra thích cách đọc: Ngài hơn.
Ta sẽ không bỏ các con mồ côi Tiếng orphanos cũng được dùng cho các môn đ không có thầy: xem Platon, Phédon 116a, trong đó các bạn hữu của Socrate được gọi là những orphanoi khi ông chết, và xem Lucien, De morte Peregrini 6.
Ai yêu mến Ta, sẽ được Cha Ta vêu mến. Gioan không muốn nói riêng tình yêu của Thiên Chúa bị lệ thuộc vào sự vâng phục của con người, điều ấy sẽ mâu thuẫn với 3, 16; 13, 34; 15, 9. 12; 17, 23. Tư tưởng của ông, trong lúc này, tập trung vào mối liên hệ hỗ tương giữa Chúa Cha, Chúa Con và các tín hữu -xem 13, 34. Bởi vì các môn đ yêu thương lẫn nhau, nên dưới mắt người đời họ là những thành phần của gia đình Thiên Chúa; tình yêu của họ đối với Chúa Giêsu và sự hiệp nhất giữa họ với Người chứng tỏ là Chúa Cha yêu thương họ trong Người. Trước đó, xét như là thụ tạo, họ đã được Chúa Cha yêu mến rồi (1Ga 4, 10); nay với tư cách là Kitô hữu, họ còn hơn là một sự ngoại trưng của mầu nhiệm Nhập thể; họ là ngoại trưng của nhân cách tập thể của Đầu Nhiệm Thể.
KẾT LUẬN
Trong thời gian của Giáo Hội, thời gian chúng ta đang sống, Chúa Giêsu vẫn hiện diện với Cha Người và với Thần Khí. Sự hiện diện ấy được thể hiện cho tất cả những ai mở lòng đón nhận Ba Ngôi Thiên Chúa. Nó là sự thông giao, thông hiệp, vì không phải là một hiện diện trừu tượng, "vô tính" nhưng hiện diện hỗ tương, hiện diện theo nghĩa mạnh của hạn từ. Sự hiện diện của Chúa Giêsu đối với chúng ta bây giờ gần gũi hơn, thắm thiết hơn, hữu hiệu hơn là khi Người còn tại thế, bởi vì nay Người hiện diện như Đấng được tôn vinh, như Chúa cánh chung hằng ban cho chúng ta Thần Khí và làm cho chúng ta đi vào. trong sự thông hiệp đời sống với Chúa Cha. Vì vậy chúng ta phải nói đến một sự hiện diện trong khiếm diện. Nối tiếp cách hiện diện lịch sử của Chúa Giêsu, có một cách hiện diện mới là hiệp nhất với Chúa Giêsu và Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Trong bài Tin Mừng của phụng vụ hôm nay, Chúa Giêsu hứa sai một Đấng Bầu Chữa. Danh xưng lạ lùng này, vốn không có trong cách dùng thông thường của ngôn ngữ chúng ta, là chữ phiên dịch từ một kiểu nói Hy Lạp có nghĩa ‘được kêu tới bên cạnh…’; các tiếng đồng nghĩa với nó có thể là: người trợ giúp, trạng sư, kẻ nâng đỡ ... Khi Chúa Giêsu nói đến một vị Bầu chữa khác, ta có thể nghĩ rằng chính Người là Đấng Bầu chữa đầu tiên là Vị rồi đây được sai đến với các sứ đồ sẽ làm cho họ hiểu hơn về Người; Ngài sẽ là kẻ mặc khải, bảo vệ Chúa Kitô trong tâm hồn người tín hữu chống lại các cơn cám dỗ và bách hại của thế gian.
2) Thần Khí ... mà thế gian không thể lãnh nhận. Tiếngthế gian" đây phải hiểu là toàn bộ các quyền lực phản nghịch với Thiên Chúa và Đấng Kitô của ngài Thần Khí của thế gian này thiết yếu là một não trạng bất nhất, một bầu khí thiêng liêng nhiễm độc do nhiều sai lầm và ngu đại, do óc kiêu căng cố chấp và tự mãn ngớ ngẩn, một thái đ tâm lý và luân lý đóng kín con người lại. Thế gian ấy không tin cả đến sự khả hữu thần tính của Chúa Kitô và bởi thế cũng chẳng tin việc Thần Khí ngự đến. chỗ khác, Chúa Giêsu có nói là Người sẽ cầu xin Chúa Cha che chở các môn đ người, tức chúng ta hôm nay, cho khỏi thế gian tội lỗi này.
3) Ai yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu mến. Chúng ta gặp lại đây, dưới hình thức rõ ràng và đánh động hơn, một trong những chân lý cơ bản thường năng được trình bày trong Tân Ước. Tương quan giữa chúng ta với Chúa Giêsu cấu tạo nên tương quan với Chúa Cha. Vâng giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu là vâng phục Chúa Cha; cầu nguyện với Chúa Giêsu là cầu nguyện với Chúa Cha; ca tụng Chúa Giêsu, tức nhìn nhận thực thể của Người trong niềm thán phục và vui mừng, là phó thác vào Chúa Cha."Các con sẽ phải khốn quẫn, nhưng hãy vững lòng! Ta đã thắng thế gian" (Ga 16, 33).
4) Sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu không phải là tất cả. Sự hiện diện của Người trong nội tâm còn quý trọng hơn. Như thánh Phaolô, chúng ta không nên tiếc vì đã chẳng sống vào thời của Tin Mừng. Thật là nguy hiểm khi chỉ biết Chúa Giêsu qua những vẻ bên ngoài theo xác thịt, mà không sống mật thiết với Người trong Thần Khí.
5) Thánh Thần là hồng ân được ban cho chúng ta như hoa quả mà Chúa Kitô thâu lượm được nhờ cuộc Tử nạn của Người. Chính khi làm cho chúng ta đồng hóa với Chúa Kitô mà Thánh Thần đặt trong chúng ta tâm tình con thảo mà Chúa Cha mong đợi nơi chúng ta. Như thánh Phêrô nói: “Tất cả những ai được Thần Khí tác sinh, đều là con cái Thiên Chúa”. Quả thế, không phải anh em đã nhận lấy Thần Khí của hàng nô lệ để mà phải sợ hãi; nhưng anh em đã nhận lấy Thần Khí của hàng nghĩa tử làm cho chúng ta thốt lên: Abba, Cha! Chính Thần Khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa (Rm 8, 14- 16). "Ta sẽ không để các con mồ côi. Ta sẽ trở lại với các con". Chúa Giêsu đã đến làm cho chúng ta thành nghĩa tử của Cha Người. Người đã đến bằng con đường nhập thể để thực hiện kế hoạch tình yêu đó.

 

PS6-A40: Sự sống mới – ĐTGM. Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Ga. 14, 15-21
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
 

Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốc Thiên Chúa, thì Tin:PS6-A40 FB

Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốc Thiên Chúa, thì Tin Mừng Gioan mời gọi ta vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan là người sống sau cùng. Sau khi đã nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu Chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.
Tình yêu đó không phải là thứ tình yêu mơ mộng lãng mạn nhưng là một tình yêu sáng suốt của lý trí. Tình yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.
Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi Người giã từ các ông để đi vào thế giới đức tin. Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và tình yêu.
Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nhìn thấy những sự thực siêu nhiên. Người không tin và không yêu sẽ không nhìn thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: “Thầy ban cho anh em Thần Chân Lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được vì thế gian không thấy và không biết Người”. Cũng như kiến thức y khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc của nhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rõ đặc tính của những loài cây cỏ, Tin và Yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nhìn thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.
Tin và Yêu, như vậy, là con đường dẫn đưa ta tới gặp gỡ Thiên Chúa.
Với đức tin và tình yêu, người môn đệ Chúa không còn thấy Thiên Chúa là một Đấng xa vời, mơ hồ, nhưng là một Đấng gần gũi, rất thật. Với đức tin và tình yêu ta sẽ gặp được Đức Chúa Cha, Đấng thương yêu, luôn chăm sóc cho ta, luôn mời gọi ta, luôn muốn ấp ủ ta, luôn muốn tha thứ cho ta.
Với đức tin và tình yêu, ta sẽ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, trong Sách Thánh, trong những lời giáo huấn của Giáo hội và trong những anh em sống quanh ta.
Với đức tin và tình yêu, ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khi Người đốt lên trong tim ta ngọn lửa yêu mến, khi Người thúc đẩy ta dẫn thân phục vụ, khi Người soi sáng cho ta những sáng kiến trong những hoạt động mới.
Nhưng quan trọng nhất là: Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như lời Chúa Giêsu nói: “Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến”.
Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta. Ở trong người nào tức là được người ấy yêu thương. Hiệp thông trong yêu thương là một thái độ cởi mở: mở tâm hồn ra để cho đi và nhận lãnh sự sống. Nhờ Tin và Yêu, ta mở lòng ra đón nhận Thiên Chúa, sự sống mới, sự sống sung mãn, sự sống vĩnh cửu.
Đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi”. Ai nhắm mắt đức tin, sẽ không nhìn thấy Chúa, sẽ trở thành mồ côi. Ai đóng cửa tình yêu, sẽ không gặp được Chúa, sẽ sống trong cô độc. Nhưng người môn đệ Chúa, nhờ có đức tin và tình yêu sẽ gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi. Và như thế việc ra đi của Chúa Giêsu không những không thiệt hại mà còn ích lợi cho ta. Sự ra đi của Người dẫn ta đi đến kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong sự sung mãn, sự sống dồi dào.
Nhưng để đạt tới điều Chúa Giêsu đã hứa, ta hãy nhớ lại một lần nữa lời Người căn dặn: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các giới răn của Thầy”. Đức tin được thể hiện bằng tình yêu. Tình yêu được chứng minh qua hành động. Đó là chìa khoá của đời sống Kitô hữu.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Theo bạn, tình yêu mến Chúa là những tình cảm bồng bột hay những việc làm cụ thể theo lý trí?
2) Có bao giờ bạn cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống không?
3) Bạn có cố gắng làm chứng cho người khác về sự hiện diện của Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện và bác ái của bạn không?

 

PS6-A41: Một cuộc đàm thoại liên hệ đến chúng ta

Bài đọc này được trích từ một đoạn dài Phúc Âm theo thánh Gioan chương 13 đến 17, được:PS6-A41

Bài đọc này được trích từ một đoạn dài Phúc Âm theo thánh Gioan chương 13 đến 17, được gọi là diễn từ trong bữa tiệc ly. Thánh Gioan thuật lại cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ trong khoảng một vài giờ trước khi chịu nạn. Một không khí thân ái mật thiết ở cường độ phi thường đã khiến đoạn Phúc Âm này thành một trong những bài văn tuyệt mỹ. Điều khiến chúng ta lưu ý hơn hết là giá trị, một sứ điệp liên quan đến chúng ta, vì chúng ta quả hiện diện trong tâm tưởng Chúa Giêsu khi Ngài nói chuyện với các môn đệ. Những điều Ngài nói về sự liên kết giữa các ông với Ngài, về sự liên kết giữa họ với nhau, về việc gặp gỡ Chúa Cha, về việc Chúa Thánh Thần đến, tất cả trực tiếp liên hệ đến chúng ta và bắt chúng ta tỏ thái độ. Mỗi câu đều đáng dừng lại suy niệm. Hãy để mỗi người tìm ra câu đáp ứng nguyện vọng và ơn nhận được.
Ở đây, chúng ta ghi nhận các ý sau:
1) “Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các giới răn Ta”
Mạch văn toàn thể Phúc Âm thánh Gioan cho chúng ta biết hai giới răn (mà thực chỉ là một) là kính mến Thiên Chúa như Cha và yêu mến mọi người như anh em. Chính vì muốn các môn đệ là môn đệ của tình yêu nên Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha để họ được nhận lãnh Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần được gọi là Đấng bầu chữa, vị trạng sư, Đấng trợ lực. Chúa Giêsu đã báo cho các môn đệ hay Ngài sẽ không còn hiện diện với các ông trong hình thể khả giác và vật lý như những ngày chung sống. Nhưng Ngài sẽ không bỏ các ông, Ngài sẽ hiện diện bằng một cách sâu kín hơn trước đặc biệt bằng Thần Khí của Ngài. Thần Khí sẽ bảo vệ, trợ lực, gìn giữ họ. Cả với chúng ta là những kẻ không được biết Chúa Giêsu trong lịch sử, hôm nay chúng ta cũng được nghe dạy rằng, Chúa Thánh Thần trợ lực và gìn giữ chúng ta. Chúng ta có nghĩ rằng lời Chúa phán ở một thời nhất định có giá trị sống động hiện thời đối với chúng ta hay không?
2) “Thánh Thần … mà thế gian không thể lãnh nhận”
Chữ ‘thế gian’ ở đây phải hiểu theo nghĩa chung các quyền lực phản nghịch Thiên Chúa và Đấng Kitô của Ngài. Tinh thần thế gian này chính yếu là một tâm trạng bất ổn, một bầu không khí nhiễm độc vì sai lầm và ngu dại vì kiêu ngạo thâm căn và tự mãn ngây ngô, một khuynh hướng tâm lý và tinh thần khép kín con người lại chính mình. Thế gian ấy không tin được cả đến việc có thể có thần tính của Đức Kitô, và do đó khó có thể tin được việc Chúa Thánh Thần đến. Đàng khác, Chúa Giêsu nói ‘Ngài cầu xin Cha Ngài gìn giữ các môn đệ khỏi thế gian’, nghĩa là gìn giữ chúng ta hôm nay đây.
3) “Ai yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu mến”
Chúng ta gặp lại ở đây một trong những chân lý căn bản thường được diễn tả trong Tân Ước nhất, trình bày một cách dễ lưu ý: tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu, cấu tạo tương quan của chúng ta với Chúa Cha. Tuân theo các giới răn của Chúa Giêsu, tức là tuân theo Chúa Cha, cầu khẩn với Chúa Giêsu là cầu khẩn với Chúa Cha; ca tụng tôn vinh Chúa Giêsu, nhìn nhận trong thán phục và vui mừng địa vị của Ngài tức là ca tụng tôn vinh Thiên Chúa; tin tưởng Chúa Giêsu là tin tưởng Chúa Cha: các con sẽ chịu gian nan, nhưng hãy vững lòng, Ta đã thắng thế gian (Ga 16,33).

 

PS6-A42: Suy niệm của JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Đức Giêsu nói: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy". "Các:PS6-A42

1. Đức Giêsu nói: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy". "Các điều răn của Thầy" ở đây là những điều răn cụ thể nào? Hãy lấy Kinh Thánh chứng tỏ điều ấy.
2. Đức Giêsu có đưa ra một tiêu chuẩn nào để dựa vào đó ta có thể biết ai là người yêu mến Thiên Chúa đích thực, là môn đệ đích thực của Ngài không?
3. Đức Giêsu hứa ban Thánh Thần cho những ai? Bạn quan niệm thế nào về Thánh Thần? Và muốn lãnh nhận Thánh Thần ta phải làm gì?
Suy tư gợi ý:
1. "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy"
Người Kitô hữu, theo định nghĩa, là người có Đức Kitô nhờ theo Ngài và yêu mến Ngài. Người không yêu mến Ngài, không theo Ngài, thì không có Ngài, nên không phải là Kitô hữu đích thực. Khi yêu mến Ngài, thì ta sống trong tình trạng: "Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em". Thật vậy, người ta chỉ sống trong nhau, vì nhau, cho nhau, khi người ta yêu thương nhau thật sự. Vì thế, chúng ta chỉ sống trong Đức Kitô, và được Đức Kitô sống trong ta, khi ta yêu mến Ngài.
Nhưng làm sao yêu mến Ngài được, khi mà một cách hữu hình ta không hề thấy Ngài, nghe Ngài nói, động chạm đến Ngài? Ngài cho chúng ta một tiêu chuẩn để dựa vào đó mà biết mình có yêu Ngài hay không: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy". Nhưng điều răn của Ngài là gì? Có phải là đi lễ, đọc kinh hay cầu nguyện hằng ngày? Điều ấy chắc chắn là đúng, nhưng có thể chưa phải là điều cốt yếu. Điều cốt yếu trong giới răn của Ngài đã được chính Ngài xác định rõ ràng như sau: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau" (Ga 12,34). Ngài cũng xác định luôn cả mức độ yêu: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (nt). Như vậy, câu nói của Ngài "nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" có nghĩa là "nếu anh em yêu mến Thầy, thì anh em phải yêu thương nhau". Nói khác đi, ai yêu thương những người lân cận hay những người chung quanh mình mới là người thật sự yêu mến Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Nói cách khác nữa, ai không yêu những người gần gũi mình, những người mình gặp gỡ hằng ngày, người ấy không thật sự yêu mến Thiên Chúa. Thánh Gio-an đã diễn giải điều này rõ hơn nữa: "Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" (Ga 4,20).
2. Làm sao phân biệt Kitô hữu đích thực và không đích thực?
Đức Giêsu còn đưa ra một tiêu chuẩn để nhận ra ai là môn đệ đích thật của Ngài: "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 12,35). Đọc lời Kinh Thánh trên, tôi nghĩ ngay đến những tiêu chuẩn mà tôi thường dùng để phân biệt hàng hoá nào là thật, hàng nào là giả mạo. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều hàng giả mạo, thậm chí tiền cũng bị giả mạo nữa. Nhưng những người có kinh nghiệm nghề nghiệp vẫn luôn luôn có những tiêu chuẩn để phân biệt, nhờ vậy họ ít khi bị lầm. Chẳng hạn tôi đã có dịp so sánh hai loại tiền 50.000đ thật và giả. Loại giả thì giấy mỏng hơn, không cứng và dai bằng loại thật, màu sắc cũng không tươi nhuận bằng. Nhờ tiêu chuẩn ấy, cứ nhìn và cầm tiền giả trong tay là tôi biết ngay.
Cũng vậy, Đức Giêsu đã đưa ra một tiêu chuẩn để mọi người có thể nhận ra ai là môn đệ đích thực của Ngài và ai là người chỉ mang danh hiệu môn đệ Ngài mà thôi. Đó là dựa trên tình yêu của người ấy đối với đồng loại, cụ thể là những người gần gũi sống chung quanh họ. Tình yêu cụ thể đối với đồng loại là tính chất đặc trưng nhất của những người theo Đức Giêsu. Hễ thấy ai có đặc trưng ấy, ta biết người ấy là môn đệ Đức Giêsu. Ai không có đặc trưng ấy, thì dù có mang danh là môn đệ Ngài, họ cũng chỉ là thứ môn đệ "hữu danh vô thực", giả hiệu mà thôi.
Thánh Phao-lô nói: "Người Do-thái chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài, phép cắt bì chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài, nơi thân xác. Nhưng người Do-thái chính hiệu là người Do-thái tận đáy lòng, phép cắt bì chính hiệu là phép cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật" (Rm 2,28-29). Nếu đúng như vậy, thì một cách tương tự, không thể căn cứ vào danh hiệu Kitô hữu, vào việc có rửa tội hay không để xác định người ấy có phải là Kitô hữu đích thực hay không, mà phải căn cứ vào việc người ấy có tình yêu đối với tha nhân hay không.
3. "Thầy sẽ xin … cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác"
Đức Giêsu hứa ban Thánh Thần cho những ai giữ các điều răn của Ngài là yêu thương tha nhân: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em". Như vậy, phần thưởng lớn nhất mà Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến Đức Giêsu, được thể hiện cụ thể bằng việc yêu thương tha nhân, chính là được Ngài ban Thánh Thần cho. Nhưng Thánh Thần là ai? Được ban Thánh Thần thì có gì đặc biệt?
Trước hết, theo Đức Giêsu, Thánh Thần là "một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi". Theo tinh thần của câu này, thì Đức Giêsu là một Đấng Bảo Trợ đến trước, còn Thánh Thần là "một Đấng Bảo Trợ khác" đến sau Ngài. Thánh Thần là "Thần Khí sự thật". Ai yêu sự thật, muốn biết rõ sự thật, ắt hẳn sẽ thấy "Thần Khí sự thật" này rất cần thiết cho mình và xã hội, hay thế giới. Nhưng vì thế gian không yêu sự chân thật, nên Đức Giêsu mới nói Thánh Thần là "Đấng mà thế gian không thể đón nhận".
Thánh Thần hay Thần Khí của Thiên Chúa là một thực tại được nói đến rất nhiều trong Thánh Kinh, nhất là Tân Ước. Có thể nói Thánh Thần là sức sống, là tình yêu, sức mạnh, là sự khôn ngoan, thánh thiện của Thiên Chúa. Và Thiên Chúa đã ban Thánh Thần của Ngài cho Giáo Hội, cho chúng ta, nhất là cho những ai yêu mến Thiên Chúa hay Đức Giêsu, được thể hiện qua việc yêu thương tha nhân.
Đọc sách Tông đồ Công vụ, ta nhận thấy mọi hoạt động trong Giáo Hội thời ấy đều do Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn, thúc đẩy. Ngài tác động trực tiếp trên tâm trí người này người kia. Và những người được tràn đầy Thánh Thần qua việc đặt tay của các tông đồ để được biến đổi một cách kỳ diệu: họ trở nên yêu mến Thiên Chúa, Giáo Hội và sẵn sàng hy sinh cho tha nhân một cách hăng say, trở nên mạnh mẽ, can đảm, không sợ khó khăn, nguy hiểm, hay cả cái chết, trở nên khôn ngoan, sáng suốt phi thường, có thể làm nên những phép lạ. Đặc biệt họ trở nên bình an, hạnh phúc bất chấp những hoàn cảnh khó khăn bên ngoài như bị bách hại, ghen ghét. Tư cách của những người được tràn đầy Thánh Thần hết sức phi thường. Thánh Phao-lô đã diễn tả những đức tính mà những người đã lãnh nhận Thánh Thần có được như sau: "Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ" (Gl 5,22-23).
Theo lời Đức Giêsu hứa, nếu ta tuân giữ các giới răn của Ngài, cụ thể là yêu thương tha nhân như chính Ngài đã yêu thương ta và yêu thương họ, thì ta sẽ nhận được Thánh Thần. Nhờ đó, đời sống của ta sẽ được biến đổi một cách kỳ diệu và phi thường. Và chắc chắn ta sẽ đạt được sự sống vĩnh cửu, vì "kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời" (Gl 6:8). Vậy muốn được tràn đầy Thánh Thần, ta phải yêu thương tha nhân.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, qua bài Tin Mừng trên, con nhận ra một cách rất hữu hiệu để được Cha và Đức Giêsu yêu mến, tỏ mình ra cho, đồng thời được ban tràn đầy Thánh Thần, đó là tuân giữ giới răn yêu thương của Đức Giêsu. Xin cho con xác tín rằng tình yêu của con đối với Cha hay Đức Giêsu phải được thể hiện ra bằng việc yêu thương tha nhân, cụ thể là yêu những người trong gia đình con, những người cùng làm việc với con trong xưởng thợ, những người hàng xóm, những bạn bè con gặp hằng ngày. Xin giúp con yêu họ cụ thể bằng sự quan tâm đến những niềm vui hay nỗi đau khổ của họ, đồng thời sẵn sàng hy sinh để giúp họ hạnh phúc hơn.

 

PS6-A43: Hãy vì Chúa mà yêu mến tha nhân – Lm. Trần Ngà.

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’)
 

Người mẹ đang thoi thóp nhìn năm đứa con khóc thút thít quanh giường, mắt bà nhoà lệ. Cha: PS6-A43

Người mẹ đang thoi thóp nhìn năm đứa con khóc thút thít quanh giường, mắt bà nhoà lệ. Cha của chúng đã lìa thế từ lâu, để lại cho bà gánh nặng một mình tần tảo nuôi năm đứa con thơ. Giờ đây lại đến lượt bà nối gót chồng ra đi, vĩnh viễn xa lìa đàn con nheo nhóc. Bà không an tâm chút nào khi thấy lâu nay các con hay kình cãi, tranh chấp nhau từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn, từ việc chia cá, chia cơm trong mỗi bữa ăn cho đến việc tranh nhau tấm áo manh quần. Đứa nào cũng ích kỷ chỉ nghĩ đến mình mà quên tình anh em ruột thịt. Đứa nào cũng mong chiếm cho được phần hơn mà không màng gì đến quyền lợi các em. Mai đây bà ra đi, ai sẽ là nhịp cầu nối kết chúng lại với nhau trong tình huynh đệ? Ai sẽ là trọng tài phân xử những tranh chấp bất hoà thường xuyên nổ ra giữa chúng?
Tuy nhiên, điều an ủi lớn lao cho bà là mặc dù chúng không thương nhau, nhưng đứa nào cũng thương mẹ; tuy chúng không hề biết hy sinh cho nhau, nhưng nếu vì mẹ thì chúng sẵn sàng hy sinh và làm cho mẹ bất cứ chuyện gì.
Thế nên, cậy dựa vào tình thương chúng dành cho mình, bà lấy chút hơi tàn thều thào mấy lời trăn trối: “Các con yêu của mẹ, mẹ rất buồn, rất khổ tâm khi thấy các con bất hoà bất thuận với nhau. Chốc lát nữa, mẹ sẽ vĩnh viễn xa lìa các con. Nếu mỗi người trong các con còn thương mẹ thì hãy vì mẹ mà thương yêu các anh em mình!”
Nói xong, bà ra hiệu cho từng đứa cúi xuống cho bà hôn lên trán rồi lịm vào giấc ngủ ngàn thu.
* * *
Chính Chúa Giêsu cũng có cùng tâm trạng đó. Ngài đến thế gian để nhen lửa yêu thương trên mặt đất và Ngài mong mỏi ngày đêm cho lửa ấy cháy lên. Ngài đã truyền cho các môn đệ điều răn mới là hãy yêu thương nhau như Ngài đã hết lòng yêu mến họ. Nhưng ngọn lửa yêu thương Ngài đã nhọc công nhen lên lại hắt hiu như đèn trước gió, dễ dàng bị lòng tham lam ích kỷ hận thù dập tắt đi.
Thế nên, khi sắp lìa bỏ thế gian và các môn đệ là đoàn con thân tín để về cùng Chúa Cha, Ngài nhắn nhủ họ những lời tâm huyết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở lại với anh em một ít lâu nữa thôi.... Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Gioan 13, 33-35)
Biết rằng xây dựng, vun đắp tình thương giữa người với người là điều rất khó; anh em ruột thịt trong nhà chưa dễ thương nhau, huống là yêu thương người ngoài hay thù địch. May ra vì lòng yêu mến Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng, yêu thương và hiến mình chết thay cho họ, họ mới có thể đền đáp tình thương cao vời của Chúa bằng cách vâng lời Chúa và vì Chúa mà yêu mến tha nhân. Cần phải nại đến lòng yêu mến Thiên Chúa của con người để khuyến dụ con người vì Chúa mà yêu thương nhau.
Trong tâm tình đó, Ngài tiếp: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ điều răn Thầy truyền... là hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em.
Kế đó, sợ các môn đệ chưa chú tâm đến những lời tâm huyết của mình, Chúa Giêsu lặp lại nội dung trên theo hình thức đảo ngữ: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.”
Qua những lời trên, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh với chúng ta rằng nếu chúng ta thực tình yêu mến Chúa thì hãy giữ điều Chúa truyền dạy là yêu mến tha nhân; chỉ những ai giữ luật yêu thương tha nhân mới thực sự là kẻ yêu mến Ngài. Cho dù chúng ta không thể yêu mến người khác vì họ khó thương, thì chúng ta cũng hãy vì lòng yêu thương Chúa mà đón nhận tha nhân như lệnh Chúa truyền.
Đó cũng là tâm tình mà chúng ta thường bày tỏ với Thiên Chúa qua kinh kính mến, xin hãy cùng khấn nguyện với nhau:
“Lạy Chúa, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng; lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy. Amen.

 

PS6-A44: Điều răn Chúa dạy

Ai yêu mến Thầy, thì tuân giữ những điều răn của Thầy. Bên cạnh trung tâm huấn luyện của: PS6-A44

Ai yêu mến Thầy, thì tuân giữ những điều răn của Thầy. Bên cạnh trung tâm huấn luyện của quân đội, có một người giáo dân rất hăng say với việc tông đồ. Anh muốn giới thiệu Tin Mừng Đức Kitô cho hàng ngàn tân binh quân dịch. Thế nhưng các vị chỉ huy lại không cho phép anh được ra vào trung tâm. Bởi đó, anh đã nghĩ ra một sáng kiến truyền giáo thật hay. Anh đặt làm hàng ngàn chiếc gương nhỏ với một giá rẻ. Mặt sau chiếc gương, thay vì hình một cô gái hay một bông hoa, anh cho in những lời Chúa phán trong Phúc Âm. Chẳng hạn: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài, để những ai tin vào Con của Ngài thì sẽ không phải chết”. Bên dưới lời Chúa là hàng chữ chỉ dẫn như sau: “Nếu bạn muốn biết người được Chúa yêu, thì hãy nhìn ở mặt kia”. Thật là tuyệt vời, mỗi quân nhân khi nhìn ngắm mình trong gương, họ sẽ thấy chính bản thân họ là người được Chúa yêu thương.
Mặt sau chiếc gương khác, có in lời Chúa phán quan đoạn Tin Mừng hôm nay: “Ai yêu mến thầy, thì tuân giữ những điều răn của Thầy”. Và khi soi gương, những quân nhân sẽ tự hỏi: “Mình đã tuân giữ những giới răn của Chúa để được Chúa yêu thương hay chưa?”
Thực vậy, chúng ta chứng minh tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa bằng sự tuân giữ những điều răn của Ngài bởi vì lề luật của Ngài là những chỉ dẫn yêu thương tuyệt hảo nhất. Chúng nói cho chúng ta biết những gì Thiên Chúa muốn và không muốn. Nhưng đồng thời cũng chỉ cho chúng ta hay đâu là điều tốt lành nhất cho bản thân, gia đình và xã hội.
Chẳng hạn điều răn thứ I: “Thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự”, sẽ giúp chúng ta chu toàn những bổn phận đối với Đấng Tối Cao đã đành, mà còn giúp chúng ta tránh đi được những mê tín dị đoan và những sự thờ phượng nhảm nhí làm giảm giá trị con người, như thờ con bò, con rắn, thờ tiền tài, danh vọng, lạc thú.
Chẳng hạn điều răn thứ IV: “Hãy hảo kính cha mẹ”, sẽ giúp chúng ta chu toàn những bổn phận đối với cha mẹ, là những người đã có công sinh thành dưỡng dục chúng ta đã đành, mà còn nhờ đó đem lại cho gia đình chúng ta một bầu khí hoà thuận, cảm thông và hạnh phúc.
Chẳng hạn điều răn thứ V: “Tôn trọng thân xác và mạng sống của mình cũng như của người khác”. Rồi điều răn thứ VII và thứ X: “Tôn trọng đức công bằng, không được lấy hay giữ của người ta một cách trái phép”. Tất cả những điều răn này không phải chỉ đem lại cho cá nhân một sự bảo đảm an toàn, mà hơn thế nữa còn đem lại cho xã hội một sự ổn định và trật tự.
Và như chúng ta đã nói, bên trên những lợi ích cá nhân, gia đình và xã hội, việc tuân giữ những điều răn của Chúa sẽ là một phương thế giúp chúng ta biểu lộ tình yêu mến và gắn bó của chúng ta đối với Chúa, vì tình yêu mà không có việc làm thì chỉ là một tình yêu chết mà thôi. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã phán dạy chúng ta: Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ những điều răn của Thầy.

 

PS6-A45: Khi Chúng Ta Yếu Đuối Là Lúc Chúng Ta Mạnh Mẽ

Chúa Nhật 6 Thường Niên-năm A
Sir 15: 15-20/ I Cor 2:6-10/ Mt 5: 17-37
 

Các ông bà mới nghỉ hưu thường phải đương đầu với tình trạng vướng víu bên nhau quá nhiều: PS6-A45

Các ông bà mới nghỉ hưu thường phải đương đầu với tình trạng vướng víu bên nhau quá nhiều. Sau nhiều năm phải đi làm ở ngoài, mỗi tuần ít là năm ngày, và một nửa quãng thời gian sau khi thức giấc, họ sống riêng biệt, giờ đây hai người ở suốt ngày bên nhau - và điều này trở nên một gánh nặng. Có người gọi đó là hiện tượng "Tôi và Cái Bóng Của Tôi," có nghĩa là chồng và vợ cứ phải ở rịt bên nhau. Họ phải giải thích cho nhau từng phút từng giờ. Tại sao lại phải làm tội cho nhau như vậy?
Câu chuyện "Sống Bên Nhau" dưới đây được đăng trên tờ Chicago Daily News. Nó được viết bởi một phụ nữ khốn khổ vì hiện tượng "Tôi và Cái Bóng của Tôi."
Tôi đã từng nghe nói về những vấn đề mà các đức ông chồng mới về hưu và những bà vợ của họ phải đương đầu vì phải sống thường xuyên bên nhau, và tôi thấy tức cười khi nghĩ tới hai người thường gây căng thẳng cho nhau. Tôi chẳng bao giờ nghĩ mình cũng sẽ lâm vào một hoàn cảnh như vậy, thế mà đã hai tháng nay, tình hình phải nói là tồi tệ. Từ ngày thứ Hai đầu tiên, tôi đã không thể nhẫn nại được nữa, hai người, ở kè kè bên nhau. Dave cứ lẽo đẽo theo tôi, hỏi han những việc tôi vẫn làm thường ngày. Tôi cố gắng êm ái, nhưng bản tính bẳn gắt đã nổi lên khi ông ấy hỏi, "Tại sao mình không hút bụi dưới gầm giường?" Tôi đã gắng sức chiều chuộng hết mình, thế nhưng hầu như chẳng được gì. Tuy biết ở vào độ tuổi về hưu, người ta hầu như không thể tìm được công việc, nhưng tôi vẫn nói với nhà tôi, "Mình phải có một công việc mới được." Tôi lấy ngày hôm qua làm ví dụ. Dave và tôi ở suốt buổi sáng bên nhau, giống như hôm nay. Ông ấy ngồi thừ thẫn, nhìn ra cửa sổ, chốc chốc lại thở dài. Rồi ông ấy xuống bếp và hỏi, "Bao giờ mình mới ăn trưa nhỉ?" Lúc đó mới 8:30 sáng! Hai người, kẻ trước người sau, đi vào phòng ngủ, và ông ấy hỏi, "Bây giờ mình làm gì nhỉ?" Tôi gầm gừ, "Móc dao ra mà đánh tay đôi với tôi!"
Cho dù những phiền sầu của người vợ trong câu chuyện trên đây có khủng khiếp thế nào đi nữa, chúng ta vẫn dám nói rằng: Chúng chẳng thể sánh nổi với những đau đớn khổ sở mà Thánh Phaolô tông đồ đã mô tả trong thư thứ hai của ngài gửi cho giáo đoàn Corinthô. Thánh nhân liệt kê những khốn đốn đến khó tin của ngài. Nào bị đánh đòn, bị giam ngục, phải đối mặt với cái chết, những lần bị ném đá, bị chìm tàu, những đêm dài thức trắng, đói khát và trần trụi. Thánh nhân đề cập đến những nguy hiểm do lụt lội, do trộm cướp, do đồng bào phản bội, những nguy hiểm trong thành phố, ngoài sa mạc, giữa biển khơi. Có lẽ chưa đủ, thánh nhân còn đề cập đến, "Nỗi ưu tư thường ngày dành cho tất cả các giáo đoàn" (II Cor 11:23-29). Và hình như vẫn chưa đủ, Thánh Phaolô đã phải nói thêm đến chiếc dằm trong thân xác của ngài (II Cor 12:7).
Vấn đề là thánh nhân đã thực sự đau đớn. Vì thế, ngài đã ba lần van xin Thiên Chúa cất cái dằm cho khỏi. Nhưng không được. Lời cầu xin của Thánh Phaolô đã không được nhậm lời. Và đó là dấu chỉ rõ ràng Thánh Phaolô và tất cả các thánh ký Tân Ước đều phải chịu một cái dằm trong thân xác... đau đớn và khổ sở.
Chúa đã trấn an Thánh Phaolô, "Ân sủng, sức mạnh phục sinh, tình yêu, sự hiện diện của Ta đầy đủ cho ngươi. Không có đau khổ nào lớn đến độ không thể cứu chữa." Thánh Phaolô còn nhận ra "Sức mạnh được biểu lộ rõ nhất trong sự yếu đuối." Như vậy, tức là, "Hỡi Phaolô, khi con đau khổ nhất, cảm nhận mình yếu đuối nhất - thì sức mạnh của Ta sẽ tràn đầy nhất cho con. Khi con yếu đuối nhất, con sẽ cảm nhận được tình yêu của Ta mãnh liệt nhất" (II Cor 12:10).
Bài học Phúc Âm hôm nay trích từ "Bài Giảng Trên Núi," trong đó, Chúa Giêsu phán, "Ta bảo thật các con, nếu các con không công chính hơn các ký lục và Biệt phái, các con sẽ không được vào Nước Thiên Chúa." Nhưng chúng ta không thể trở nên công chính, không thể trở thành những con người viên mãn thánh thiện như mục đích của Thiên Chúa dành cho chúng ta, trừ phi chúng ta nghiệm được tình yêu thương dạt dào của Người trào đổ xuống khi chúng ta đau khổ. Đó là độc đạo đưa chúng ta đến chỗ học biết cách yêu thương lẫn nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta.
Nhà tự nhiên học nổi tiếng Alfred Russell Wallace kể rằng một lần kia ông nhìn thấy những chiếc kén sắp nở. Một con sâu bướm đã lớn, vùng vẫy suốt nhiều giờ một cách tuyệt vọng đôi cánh non yếu còn vướng trong chiếc kén. Wallace thấy thương hại nên dùng một chiếc dao sắc và rạch chiếc kén, giải thoát cho con sâu bướm. Những ngày sau đó, nhà bác học vẫn tiếp tục quan sát và nhận ra con bướm này không thể phát triển bình thường. Đôi cánh của nó bạc thếch và sự phát triển ngưng lại, teo quắt. -t ngày sau, con bướm chết - sớm hơn tuổi thọ thông thường của nó. Wallace nhận ra nỗ lực tự thân của con sâu bướm vượt qua chiếc kén, mà ông đã chặn đứng, là cách thức đạt tới sức mạnh và phát triển của đôi cánh con bướm.
Chúng ta nhìn bức tranh Chúa Kitô quằn quại trong vườn Gethsemane, mồ hôi ướt đẫm toàn thân và Người kêu lên, "Cha ơi, xin cất chén này cho con." Chúng ta cũng nhìn vào bức tranh Thánh Phaolô chiến đấu và nài xin cất đi chiếc gai nhọn cắm vào da thịt của ngài. Và chúng ta cũng nhìn vào cuộc chiến đấu tuyệt vọng của chính mình, vào những thời điểm tăm tối trong cuộc sống, chúng ta biết Thiên Chúa, với tấm lòng nhân lành của Người, đang tìm cách tăng thêm sức sống cho chúng ta qua cuộc chiến đấu; tìm cách làm cho chúng ta nhạy cảm hơn trước nỗi đau khổ của tha nhân; tìm cách giải thoát chúng ta khỏi cảnh cô đơn và tuyệt vọng; tìm cách đưa chúng ta vào vương quốc tình yêu của Người.
Trong đau khổ, nếu bám chắc vào tình yêu Thiên Chúa, chúng ta sẽ nhận ra "Không có đau khổ nào lớn lao đến độ không thể cứu chữa." Chúng ta nhận ra khi chúng ta yếu đuối nhất, là lúc chúng ta cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa mãnh liệt nhất.
Rồi sẽ có những lúc hoàn cảnh cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên khốn khổ. Đó là những khi, trong cuộc chiến ở đời, nếu biết rộng mở cõi lòng, chúng ta sẽ cảm nhận được tình yêu thương tràn đầy của Thiên Chúa.
trích dịch "The Sunday Sermons Collection, Voicings Publications, Ventor, NJ".

 

PS6-A46: CHỦ NHẬT VI PHỤC SINH

Tin mừng: Ga 14, 15-21

“Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác.”

Bạn thân mến,

 

Cái mốt của thời nay là nhận người bảo trợ: bảo trợ đi du học, bảo trợ việc làm, bảo trợ cho đi tu,:PS6-A46

Cái mốt của thời nay là nhận người bảo trợ: bảo trợ đi du học, bảo trợ việc làm, bảo trợ cho đi tu, bảo trợ cho cuộc sống.v.v...và nhiều thứ bảo trợ khác nữa. Người ta tìm kiếm người có lòng hảo tâm để bảo trợ những học sinh nghèo, hoặc chơi ngon hơn, tự mình đi tìm kiếm người bảo trợ cho mình, như một số nữ sinh viên đi kiếm các đại gia để bảo trợ cho mình ăn học...

Nhưng, tất cả những người bảo trợ ấy đều không dám bảo trợ cho phần rỗi linh hồn của bạn và của tôi; tất cả những người bảo trợ ấy, có những lúc –không dám nhắc nhở cho người được bảo trợ về đời sống tâm linh, tức là về bổn phận của người Ki-tô hữu, bởi vì chính họ cũng không dám bảo đảm cho đời sống mai sau của mình.

Chúa Giê-su hứa ban Đấng Bảo Trợ đến cho các môn đệ của mình, Đấng Bảo Trợ mà Chúa Giê-su hứa ban chính là Chúa Thánh Thần, là Ngôi Ba Thiên Chúa, Ngài chính là vị bảo trợ cách đặc biệt cho những ai thành tâm kêu cầu Ngài, bởi vì Ngài được phái đến trần gian là bởi Chúa Giê-su cầu xin Chúa Cha, cho nên, chỉ những ai thành tâm tin yêu và đón nhận Chúa Giê-su là Đấng cứu độ thì mới được Đấng Bảo Trợ.

Chúa Thánh Thần sẽ giúp bạn hiểu được lời dạy của Chúa Giê-su, mà đôi lúc bạn mù tịt giữa những học thuyết của loài người; Ngài sẽ hướng dẫn bạn làm thế nào để đi theo con đường của Chúa Giê-su –con đường khổ nạn đưa đến sự sống đời đời- bởi vì con đường bằng phẳng của thế gian thì đưa đến sự chết; và chính Ngài cũng sẽ trở thành nguồn an ủi và hạnh phúc của bạn, nếu bạn thành tâm muốn đón nhận Ngài.

Bạn thân mến,

Mặc dù Chúa Thánh Thần đã cư ngụ ngay trong lòng bạn từ ngày bạn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, nhưng Ngài chẳng làm gì cả khi trí khôn của bạn chưa đủ, chỉ khi nào bạn đã biết Ngài là ai, và qua lời cầu khẩn của Giáo Hội- thì Chúa Thánh Thần sẽ được ban cho bạn, để Ngài luôn là người đồng hành và hướng dẫn bạn đi đúng con đường mà Chúa Giê-su đã chỉ cho bạn: con đường trọn lành, tức là con đường nên thánh ở trần gian này.

Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ chúng ta, chứ không phải người giàu có lắm tiền nhiều của cải ở thế gian này, Ngài là Đấng được Chúa Cha phái đến nhờ lời cầu xin của Chúa Giê-su, vậy thì còn ai là người bảo trợ xứng đáng hơn Ngài chứ !

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
------------------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://360.yahoo.com/jmtaiby
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 

PS6-A47: Sức mạnh của Đức Tin

Chúa nhật VI phục sinh
 

Trong Thánh lễ Rửa chân tối thứ Năm tuần thánh, chúng ta đã được suy ngắm cử chỉ và nhương lời: PS6-A47

Trong Thánh lễ Rửa chân tối thứ Năm tuần thánh, chúng ta đã được suy ngắm cử chỉ và nhương lời dạy vô cùng thân thương của Chúa. Bởi đó là cử chỉ và những lời dạy cuối cùng trước khi Chúa bước vào cuộc khổ nạn. Tuy nhiên, cử chỉ và những lời vàng ngọc đó không thể kín múc hết được ý nghĩa và bài học quý giá trong một thời gian ngắn, Giáo hội khôn ngoan đạo dành trọn 3 Chúa nhật: V, VI và VII phục sinh để giúp chúng ta có thời gian suy ngắm kỹ hơn những lời dạy này. Đó là lý do Chúa nhật V và VI, chúng ta được suy ngắm gần như trọn chương 14 Phúc âm theo Thánh Gioan và Chúa nhật tới (VII), chúng ta sẽ suy ngắm phần đầu của chương 17.

Trong chương 14, chúng ta có thể dễ nhận ra lời dạy của Chúa gồm hai phần: phần dạy về đức tin (chúng ta đã suy ngắm tuần trước) và phần dạy về đức mến (chúng ta suy ngắm trong tuần này). Tin và Yêu là đề tài chính trong lời dạy của Chúa ở chương 14 Phúc âm thánh Gioan.

Với đức tin, Chúa giúp các Tông đồ và cả chúng ta vượt qua lãnh vực trần thế để bước vào một thế giới khác, thế giới thần linh. Với đức tin, chúng ta có thể vượt qua cuộc sống hữu hạn để bước vào cuộc sống vô hạn. Với đức tin, con người khám phá ra ơn gọi đích thực của ḿnh, đó là ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa, là ơn gọi được sống và sống viên mãn.

Đức tin giúp con người ta thoát khỏi sự tù túng nghèo nàn của thế giới trần thế này bao nhiêu, thì đức mến lại giúp con người tiến sâu hơn vào thế giới thần linh bấy nhiêu. Tin là ngưỡng cửa, mến là cuộc sống. Trong suốt các Chúa nhật: Chúa nhật Phục sinh, Chúa nhật II và III Phục sinh, Giáo hội liên tục cho chúng ta sống lại kinh nghiệm của Giáo hội sơ khai về sự hiện diện của Chúa phục sinh đang đồng hành với ḿnh. Giáo hội muốn làm sống lại niềm tin nền tảng ấy nơi mỗi người chúng ta. Nhưng không chỉ sống lại một niềm tin, Giáo hội còn muốn moăi người chúng ta đồng hành bên Chúa, sống với Chúa, để con tim của đập cùng nḥip với con tim của Người. Bởi thế, theo Đạo đâu phải là theo một mớ lý thuyết trừu tượng hay một hệ thống lý luận tôn giáo, nhưng là theo và sống với một Người, là gắn bó mật thiết với một Người. Đó chính là Đức Giêsu Kitô.

Lm Giuse Dương Hữu Tình

 

PS6-A48: Hãy Trở Thành “Người Bảo Vệ – Paraclete” cho Tha Nhân

ROMA (Zenith.org) –
Chú giải Tin Mừng Chúa Nhật 6 Phục Sinh của Cha Raniero Cantalamessa, OFM Cap, chuyển ngữ: Phaolô Phạm Xuân Khôi

lm Raniero Cantalamessa, OFM
 

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu dùng từ “Đáng Bảo Vệ” để nói với các môn đệ về Đức Chúa Thánh : PS6-A48

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu dùng từ “Đáng Bảo Vệ” để nói với các môn đệ về Đức Chúa Thánh Thần.

Trong một số văn cảnh từ này có nghĩa là “Đấng An Ủi,” trong văn cảnh khác nó lại có nghĩa là “Đấng Bảo Vệ,” và đôi khi có cả hai nghĩa. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa là Đấng An Ủi cao cả cho Dân Chúa. “Thiên Chúa Đấng An Ủi” này (Rom 15:4), đã “nhập thể” trong Đức Chúa Giêsu Kitô, là Đấng có tên là Đấng An Ủi hay Đấng Bảo Vệ thứ nhất (x. Ga 14:15).

Đức Chúa Thánh Thần, là Đấng tiếp tục công trình của Đức Kitô và làm cho công trình chung của Thiên Chúa Ba Ngôi được hoàn thành, cho nên cũng được gọi là “Đấng An Ủi”: “Đấng An Ủi sẽ ở với các con cho đến muôn đời” như Chúa Giêsu nói.

Sau Phục Sinh, toàn thể Hội Thánh đã có một kinh nghiệm sống động và hùng hồn về Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi, Bảo Vệ, đồng minh, trong những khó khăn nội bộ cũng như từ bên ngoài, trong những cuộc bách hại, trong những thử thách, và trong đời sống thường nhật. Trong sách Tông Đồ Công Vụ chúng ta đọc: “Hội Thánh lớn mạnh và sống trong sự kính sợ Chúa, được đầy an ủi (“paraclesis”) của Chúa Thánh Thần” (TĐCV 9:31).

Giờ đây chúng ta phải từ điều này đưa ra một kết luận cụ thể cho đời sống chúng ta. Chính chúng ta cũng phải trở thành Người Bảo Vệs! Nếu đúng là mỗi Kitô hữu phải trở thành một “Kitô khác”, thì người Kitô hữu ấy cũng phải trở thành một “Người Bảo Vệ” khác.

Chúa Thánh Thần không những chỉ an ủi chúng ta, mà Ngài còn làm cho chúng ta có thể an ủi người khác khi đến lượt chúng ta. Niềm an ủi thật đến từ Thiên Chúa là “Cha của mọi an ủi.” An ủi này đến với những người đau khổ, nhưng không ngừng lại ở họ; cùng đích của an ủi này được đạt đến khi những người đã cảm nghiệm được nó cũng ra đi an ủi người khác bằng cùng một niềm an ủi mà Thiên Chúa đã dùng để an ủi họ.

Họ không được tự mãn vì chỉ dùng lời nói xuông mà an ủi người khác (“Can đảm lên, đừng lo sợ -- rồi bạn sẽ thấy mọi sự trở lại bình thường!”), nhưng phải mang đến cho họ niềm an ủi thật sự “niềm an ủi đến từ Thánh Kinh” là niềm an ủi “nuôi sống niềm hy vọng của họ” (x. Rom 15:4). Đó là cách chúng ta giải thích những phép lạ mà một lời nói hay một cử chỉ đơn thành đem lại, tạo ra một bầu khí cầu nguyện, bên giường một người bệnh. Đó chính là Thiên Chúa an ủi người ấy qua bạn.

Theo một nghĩa nào đó, Chúa Thánh Thần cần chúng ta để trở thành Người Bảo Vệ. Ngài muốn an ủi, bảo vệ, khuyên bảo; nhưng Ngài không có miệng, tay và mắt để cho sự an ủi của Ngài “một thân xác.” Nói đúng hơn, Ngài có tay, có mắt và miệng chúng ta.

Nếu theo sát nghĩa văn tự của điều Thánh Phaolô bảo tín hữu thành Thessalônica – “anh em hãy an ủi nhau” (1 Thes 5:11) – thì chúng ta phải hiểu rằng Ngài nói: “Anh em hãy trở nên Người Bảo Vệs cho nhau. Nếu chúng ta muốn ích kỷ khư khư giữ lại cho mình niềm an ủi mà chúng ta nhận được từ Chúa Thánh Thần mà không chuyền cho người khác, thì niềm an ủi này sẽ tan biến đi.” Đó là lý do tại sao một kinh nguyện tuyệt mỹ được gán cho Thánh Phanxicô, viết rằng: “Xin cho con tìm an ủi người hơn được người ủi an; tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.”

Dựa theo những gì tôi vừa nói, thật không khó gì để thấy ai là Người Bảo Vệs chung quanh chúng ta hôm nay. Họ là những người đang chăm sóc cho những người đau nặng, cho những người bị bệnh AIDS. Họ là những người tìm cách làm giảm bớt sự cô đơn của người già, những người thiện nguyện bỏ giờ ra thăm viếng các nhà thương. Họ là những người đang tận tâm phục vụ các trẻ em nạn nhân đủ loại lạm dụng, cả trong lẫn ngoài gia đình các em.

Chúng ta hãy kết luận bài suy niệm này bằng những câu đầu tiên của Ca Tiếp Liên Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, kêu cầu Chúa Thánh Thần như “Đấng An Ủi Tuyệt Vời”:

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến,
và tự trời toả ánh quang minh của Ngài ra!
Lạy Cha kẻ cơ bần, xin Ngài ngự đến;
Đấng ban ân huệ, Đấng soi sáng tâm hồn, xin ngự đến!
Lạy Đấng an ủi tuyệt vời,
là khách trọ hiền lương của tâm hồn,
là Đấng uỷ lạo dịu dàng.
Chúa là sự nghỉ ngơi trong cảnh lầm than,
là niềm an ủi trong lúc lệ rơi.


 

PS6-A49: Đức Giêsu tỏ mình ra cho ai yêu mến Người

Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh/A

(Ga 14,15-21)

 

Ðức Giêsu tỏ mình ra cho những ai yêu mến Người. Ðó là câu kết của bài Tin Mừng ngày Chúa Nhật: PS6-A49

Ðức Giêsu tỏ mình ra cho những ai yêu mến Người. Ðó là câu kết của bài Tin Mừng ngày Chúa Nhật hôm nay mà chúng ta vừa nghe. «Ai yêu mến Thầy thì Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy!» (Ga 14,21). Ðây chính là trọng tâm đức tin Kitô giáo của chúng ta.

Trong cuốn tiểu thuyết thời danh «Cô gái của Hoàng Tử tí hon» của tác giả Antoine de St. Exupéry, có một câu nòng cốt rất được biết đến, một điều bí mật mà con cáo đã tâm sự với chú Hoàng Tử, là: «Với con tim, người ta nhìn thấy rõ hơn. Vì đôi mắt không thể nhìn thấy được điều chính yếu!»

Sự thật của câu nói đó mỗi người trong chúng ta đều đã hơn một lần cảm nhận được. Ai muốn tìm hiểu một người từ xa, sẽ dễ bị lầm lẫn. Chỉ ai thật lòng tiếp cận với những người khác, cảm nghiệm được những tư duy và tình cảm, những lo lắng và những hy vọng, điều buồn khổ và niềm vui, cũng như quá khứ và tương lai của họ, thì người đó mới có thể hòa mình một cách thực sự vào cuộc sống của những người khác được. Vì những người thật tình thương yêu nhau, rất dễ lắng nghe nhau và rất dễ thông cảm với nhau. Vâng, khi người ta thích một người nào đó, thì người ta rất dễ cảm thông với người đó hơn. Ðó cũng chính là ý nghĩa của lời Ðức Giêsu đã nói với chúng ta: Người tỏ mình ra cho ai yêu mến Người.

Vì thế, ai muốn nhận biết Ðức Giêsu, cần phải tìm kiếm Người với cả con tim. Vì chỉ với trí năng mà thôi, người ta chỉ có thể thu tập được những chứng tích lịch sử về Người và tổng hợp được những hiểu biết về thần học. Bao lâu chính trái tim mình còn khép kín, con người sẽ không thể hiểu thấu được «Thánh Tâm Chúa Giêsu », sẽ không thể cảm nhận được những gì đã đưa đẩy Con Thiên Chúa đến trong thế gian, những gì đã khiến Người phải suốt ngày lang thang đây đó trên khắp mọi nẻo đường và trái tim Người khi bị treo trên thập giá đã bị đâm nát ra vì ai! Ở đâu người ta chỉ dạy giáo lý, chỉ trau dồi môn khoa học về tôn giáo, chứ không được kèm theo những kinh nghiệm sống đức tin cụ thể của mình với cả con tim, thì ở đó khó lòng truyền bá đức tin cho người khác được.

Ði tìm kiếm con tim với cả con tim. Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là trong vấn đề đức tin, chúng ta tìm cách loại bỏ trí năng ra. Chúng ta không muốn ngụp lặn trong một thứ đạo đức tình cảm ướt át qua thời, một thứ đạo đức hoàn toàn bằng lòng với những cảm xúc thánh thiện thiếu cơ sở lý trí, như những trào lưu tôn giáo tân thời nặng màu sắc tình cảm hiện đang tuyên truyền quảng cáo rầm rộ. Những gì được giới thiệu trong những học thuyết về hiện tượng tái sinh, về chiêm tinh bói toán, về tướng số, v.v… đều không phải là những điều thuộc về đức tin Kitô giáo. Những gì mà người Kitô hữu chúng ta tin kính, không phải là một sở thích lông bông, vô căn cứ, nhưng là Một-ai-đó, tức Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã sống ở giữa chúng ta với đầy đủ xương thịt, hoàn toàn như một phàm nhân, ngoại trừ tội lỗi. Chính Người là Con Một Chúa Cha và đã được sai đến trong trần gian.

Nếu lãnh vực tôn giáo thần thiêng vượt khỏi khả năng hiểu biết nhân loại, thì điều đó không có nghĩa là chúng ta chỉ nhắm mắt đưa chân, tự giao mình cách mù quáng cho một quyền lực vô ngã nào đó, nhưng là đứng đối diện với một Ngôi Vị, với một Thiên Chúa làm người, có một con tim hằng đập những nhịp đập cho chúng ta.

Nhưng đức tin của chúng ta còn cần phải rõ ràng và cụ thể hơn nữa. Vì trong xã hội, Ðức Giêsu còn có những người anh chị em khác sống giữa chúng ta. Và bằng cớ để chứng minh chúng ta yêu mến Thiên Chúa và Ðức Giêsu thực sự hay không, là qua thái độ chúng ta đối với những người anh chị em của Người như thế nào: tốt hay xấu, yêu thương hay hận thù ghen ghét! Vì «nếu ai nói: tôi yêu mến Thiên Chúa, nhưng lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì làm sao lại có thể yêu mến Thiên Chúa là Ðấng họ không trông thấy được» (1Ga 4,20).

Nhiều người trên đường tìm kiếm Thiên Chúa đã tự hỏi: Làm thế nào để tôi có thể tìm gặp được Thiên Chúa? Một điều chắc chắn là đa số những con đường dẫn tới Thiên Chúa đều băng qua những anh em đồng loại của chúng ta. Bởi vì, ai có lòng đối với cận nhân mình, ai biết yêu thương đồng loại, thì cánh cửa cũng luôn rộng mở cho cho người đó nơi Ðấng đã trở thành người Anh Cả của cả nhân loại. Vâng, Người tỏ mình ra cho những ai yêu mến Người trong những người anh chị em của Người. Trong lời tiễn biệt trước khi chịu chết, Ðức Giêsu đã nói lên những lời đầy tâm huyết như sau: «Thầy ban cho chúng con một giới răn mới: Chúng con hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương chúng con. Các con hãy thương nhau để thế gian nhận biết rằng chúng con là môn đệ của Thầy!» (Ga 13,34-35; 15,12).

Lm Nguyễn Hữu Thy

 

PS6-A50: SỰ SỐNG MỚI

Chúa nhật 6 Phục sinh

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA (Ga 14, 15-21)

 

Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người: PS6-A50

Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy."

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Nếu các Tin mừng Matthêu, Marcô và Luca mời gọi ta vào Vương quốcThiên Chúa, thì Tin Mừng Gioan mời gọi ta vào tình yêu Chúa Giêsu Kitô. Thánh Gioan là người sống sau cùng. Sau khi đã nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, thánh nhân nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đệ là tình yêu Chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô, là sống sự sống của Thiên Chúa.

Tình yêu đó không phải là thứ tình yêu mơ mộng lãng mạn nhưng là một tình yêu sáng suốt của lý trí. Tình yêu đó không phải là chuyện đuổi bướm, hái hoa, rung động, xúc cảm, nhưng là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy.

Đó chính là bí quyết Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ, trước khi người giã từ các ông để đi vào thế giới đức tin. Từ nay để gặp gỡ Người, để yêu mến Người, để sống với Người, cần phải có đức tin và tình yêu.

Tin và Yêu là đôi mắt giúp ta nhìn thấy những sự thực siêu nhiên. Người không tin và không yêu sẽ không nhìn thấy như lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay: "Thầy ban cho anh em Thần chân lý, Đấng mà thế gian không thể đón nhận được vì thế gian không thấy và không biết Người". Cũng như kiến thức y khoa là khả năng chuyên môn giúp người bác sĩ nhận dạng được các loại vi trùng, định đúng được bệnh trạng của bệnh nhân; hoặc như kiến thức về thảo mộc của nhà thực vật học giúp họ nhận dạng phân loại và biết rõ đặc tính của những loài cây cỏ, tin và yêu cũng phải là khả năng chuyên môn giúp người môn đệ Chúa nhận ra những sự thực siêu nhiên, nhìn thấy, nhận biết và đón nhận Thiên Chúa.

Tin và Yêu, như vậy, là con đường dẫn đưa ta tới gặp gỡ Thiên Chúa.

Với đức tin và tình yêu, người môn đệ Chúa không còn thấy Thiên Chúa là một Đấng xa vời, mơ hồ, nhưng là một Đấng gần gũi, rất thật. Với đức tin và tình yêu ta sẽ gặp được Đức Chúa Cha, Đấng thương yêu, luôn chăm sóc cho ta, luôn mời gọi ta, luôn muốn ấp ủ ta, luôn muốn tha thứ cho ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ gặp được Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, trong Sách Thánh, trong những lời giáo huấn của Giáo hội và trong những anh em sống quanh ta.

Với đức tin và tình yêu, ta sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khi Người đốt lên trong tim ta ngọn lửa yêu mến, khi Người thúc đẩy ta dẫn thân phục vụ, khi Người soi sáng cho ta những sáng kiến trong những hoạt động mới.

Nhưng quan trọng nhất là: Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như như lời Chúa Giêsu nói: " Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến".

Chúa Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha, ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiện của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến ở trong ta Ở trong người nào tức là ở trong trái tim của người ấy. Ở trong trái tim của ai tức là được người ấy yêu thương. Hiệp thông trong yêu thương là một thái độ cởi mở: mở tâm hồn ra để cho đi và nhận lãnh sự sống. Nhờ Tin và Yêu, ta mở lòng ra đón nhận Thiên Chúa, sự sống mới, sự sống sung mãn, sự sống vĩnh cửu.

Đúng như lời Chúa Giêsu nói: "Thầy sẽ không để anh em mồ côi". Ai nhắm mắt đức tin, sẽ không nhìn thấy Chúa, sẽ trở thành mồ côi. Ai đóng cửa tình yêu, sẽ không gặp được Chúa, sẽ sống trong cô độc. Nhưng người môn đệ Chúa, nhờ có đức tin và tình yêu sẽ gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi, sẽ được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Và như thế việc ra đi của Chúa Giêsu không những không thiệt hại mà còn ích lợi cho ta. Sự ra đi của Người đem đến cho ta Chúa Thánh Thần an ủi. Sự ra đi của Người dẫn ta đi đến kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi trong sự sống sung mãn, sự sống dồi dào.

Nhưng để đạt tới điều Chúa Giêsu đã hứa, ta hãy nhớ lại một lần nữa lời Người căn dặn: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các giới răn của Thầy". Đức tin được thể hiện bằng tình yêu. Tình yêu được chứng minh qua hành động. Đó chính là chìa khoá của đời sống Kitô hữu.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU

1- Theo bạn, tình yêu mến Chúa là những tình cảm bồng bột hay những việc làm cụ thể theo lý trí ?
2- Có bao giờ bạn cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống không?
3- Bạn có cố gắng làm chứng cho người khác về sự hiện diện của Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện và bác ái của bạn không?

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây