Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 101-117 Hứa ban một Đấng

Thứ ba - 19/05/2020 10:29
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 101-117 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 101-117 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 101-117 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
PS6-A101: Hội Thánh Có Thánh Thần Ở Luôn. 1
PS6-A102: Vị Thiên Chúa bị lãng quên. 6
PS6-A103: Hiện diện của kẻ vắng mặt 7
PS6-A104: Ở lại trong tình yêu - Lm Giuse Hoàng Kim Toan. 9
PS6-A105: THẦN KHÍ YÊU THƯƠNG.. 11
PS6-A106: HIỆP NHẤT TRONG TÌNH YÊU.. 16
PS6-A107:YÊU VÀ GIỮ LUẬT.. 18
PS6-A108: AI MỚI THỰC SỰ YÊU MẾN CHÚA ?. 20
PS6-A109: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 28
PS6-A110: TIN MỪNG KHÔNG BIÊN GIỚI 30
PS6-A111: Yêu và giữ lời - Huệ Minh. 32
PS6-A112: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 34
PS6-A113: Suy niệm của Lm Trầm Phúc. 37
PS6-A114: Khát khao gặp Chúa - Ioseph, Svd. 39
PS6-A115: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 6 PS A.. 40
PS6-A116: Ở với, ở bên, ở trong. 44
PS6-A117: THẦY Ở TRONG CÁC CON.. 47

 

PS6-A101: Hội Thánh Có Thánh Thần Ở Luôn

Chúa Nhật 6 Mùa Phục Sinh Năm A
 (Cv 8,5-8.14-17; 1P 3,15-18; Yn 14,15-21)
 Phúc Âm: Yn 14, 15-21
"Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi. Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài; còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con. Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con. Một ít nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các con, các con thấy Thầy vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống. Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con. Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó".
 
Suy Niệm:
Chúa Nhật VI Phục Sinh
Cv 8,5-8.14-17; 1P 3,15-18; Yn 14,15-21
 

Xét về nhiều mặt, Chúa nhật hôm nay muốn tiếp nối tư tưởng của Chúa nhật trước. Bài sách Công vụ các PS6-A101

Xét về nhiều mặt, Chúa nhật hôm nay muốn tiếp nối tư tưởng của Chúa nhật trước. Bài sách Công vụ các Tông đồ Chúa nhật trước nói đến việc thiết lập các Phó tế, trong số đó có Philip. Hôm nay cũng sách ấy cho ta thấy hoạt động của ông. Chúa nhật trước, thư thánh Phêrô phân biệt kẻ tin và những người không tin. Vừa giờ chúng ta lại nghe thánh nhân khuyên nhủ những kẻ tin phải sống thế nào với những người không tin. Sau cùng bài Tin Mừng hôm nay rõ rệt tiếp theo bài Tin Mừng Chúa nhật trước và nói đến những việc Chúa Yêsu làm cho chúng ta nơi Cha Người. Vậy nếu quan niệm duy nhất đã có thể nối kết các tư tưởng của Chúa nhật trước, thì hôm nay đào sâu thêm quan niệm ấy, chúng ta sẽ thấy cả ba bài Kinh Thánh đều quy về Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, Chúa nhật trước đã để chúng ta thấy Chúa Yêsu chịu chết và sống lại là Ðá sống xây nên Hội Thánh, thì hôm nay chúng ta sẽ được chứng kiến Hội Thánh mạnh mẽ như thế nào.
 
A. Hội Thánh Ðầy Sức Mạnh Thánh Thần
Những chương đầu trong sách Công vụ các Tông đồ đã cho chúng ta thấy sức mạnh của Hội Thánh ở Yêrusalem. Số các tín hữu gia tăng, uy tín các Tông đồ sâu rộng, cộng đoàn được toàn dân mến phục. Sức sống mạnh mẽ ấy tất nhiên muốn làm nổ tung những giới hạn chật hẹp. Nhưng xác thịt con người nhiều khi nặng nề, chậm chạp. Mối căng thẳng rõ rệt đầu tiên đã hiện ra nơi tương quan giữa Dothái và Hylạp. Các Tông đồ đã sáng suốt đặt tay trên bảy người Hylạp nổi tiếng, đầy Thánh Thần và khôn ngoan. Họ tỏ ra thật xứng đáng. Stêphanô khiến cả thành chấn động vì lời lẽ và thái độ tuyên xưng đức tin của ông. Philip lợi dụng ngay hoàn cảnh phải phân tán vì bắt bớ để đi truyền giáo ở Samari.
Chúng ta để ý: cả hai người đều đã bắt đầu hoạt động nơi lương dân, rao giảng Tin Mừng cứu độ cho những người không phải là Dothái. Công việc của họ không phải chỉ là phục vụ bàn ăn, như thoạt đầu chúng ta tưởng. Nói đúng hơn thấy họ hoạt động như vậy, chúng ta phải tự hỏi công thức "phục vụ bàn ăn" nghĩa là gì? Cả Stêphanô và Philip đều rao giảng Tin Mừng. Philip còn làm phép Rửa nữa. Thành ra khi Phêrô nói: "Còn (các Tông đồ) chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa", chúng ta phải hiểu như thế nào? Thiết tưởng thật là sai lầm khi phân biệt phận vụ các Tông đồ là cầu nguyện và giảng Lời Chúa, còn trách nhiệm các "Phó tế" là phục vụ bàn ăn. Chúng ta đã có lần thấy không được hạn chế sinh hoạt Giáo hội trong phụng vụ. Thế thì cũng không nên giới hạn quá mức phận vụ của các Thừa tác viên. Rõ ràng các Phó tế mới cũng đã giảng Tin Mừng, làm phép Rửa và làm nhiều phép lạ nữa. Hoạt động của họ có khác với công việc của các Tông đồ bao nhiêu? Hay là chúng ta chỉ nên hiểu kiểu nói "chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa" áp dụng cho các Tông đồ chỉ có nghĩa là quyền chủ trì các cộng đồng phụng vụ và tổ chức việc rao giảng Tin Mừng, thuộc về các ngài. Công việc của những người khác cần đến các ngài một cách nào đó mới được hoàn toàn. Dường như chính bài sách Công vụ hôm nay khiến ta hiểu như vậy. Vì cho dù Philip đã truyền giáo ở Samari y như một Tông đồ, tín hữu ở đó phải đợi Phêrô và Yoan đến mới được lãnh nhận Thánh Thần.
Suy nghĩ trên đây không vô ích cho đời sống hiện nay của chúng ta. Nhiều khi chúng ta quá tách rời các phận vụ giáo dân dửng dưng với công việc của Linh mục và Linh mục cũng hầu như không muốn biết tới công việc của giáo dân Chúng ta quên mọi người trong Giáo hội đều đã lãnh nhận Thánh Thần; và ơn Thánh Thần phong phú mạnh mẽ hơn chúng ta tưởng. Chuyện Stêphanô và Philip cho thấy rõ: Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ nơi những con người gốc Hylạp ấy. Họ đã làm việc hầu như các Tông đồ. Chỉ có điều họ đã lựa chọn môi trường dân ngoại, hợp hơn với họ và họ vẫn công nhận quyền các Tông đồ. Nói đúng hơn, Thánh Thần đã dùng họ để đi vào những lãnh vực mới, khiến việc truyền giáo cho lương dân đã khởi sự với chính những người gốc lương dân. Và giáo đoàn Yêrusalem, giáo đoàn mẹ đã mau mắn đến tiếp sức cho các cộng đoàn mới. Các Tông đồ đã gửi ngay Phêrô và Yoan tới, Hai người đã ban Thánh Thần, hoàn tất công việc của Philip, khiến một lần nữa, chúng ta lại thấy chính Thánh Thần là dây bác ái xây dựng và bảo toàn sự duy nhất trong Giáo hội. Chính điều đó đem lại hân hoan vui mừng không những cho Samari mà cả Yêrusalem, tức là cho toàn thể Hội Thánh.
Nhưng đời sống không luôn luôn như vậy. Hội Thánh đã bị bắt bớ ở Yêrusalem trong câu chuyện Stêphanô. Hội Thánh còn có thể gặp khó khăn ở mọi thời. Khi ấy Thánh Thần sẽ làm việc thế nào trong Hội Thánh? Chúng ta hãy đọc đoạn thư Phêrô.
 
B. Hội Thánh Ðược Tái Sinh Về Thần Khí
Nhìn thấy Giáo hội đang bị bắt bớ ở nhiều nơi, vị Tông đồ trưởng đã không ngần ngại căn dặn tín hữu những thái độ cụ thể. Ngài nói: "Anh em hãy hiểu biết Ðức Kitô là Chúa nơi lòng anh em". Ðó là thái độ căn bản. Hơn bao giờ hết, trong những hoàn cảnh khó khăn, tín hữu phải tôn vinh Ðức Kitô ở trong lòng. Phải hiểu biết Người là Chúa, tức là phải nhận thức Người đã sống lại. Không nắm vững niềm tin đó, đức tin của chúng ta sẽ trở nên vô ích. Ngược lại khi tin vững vàng Người sống lại, thì như trước đây thư Phêrô đã nói, người ta tất không bị hổ thẹn (2,6).
Và một khi đã tin vững vàng, bức thư nói tiếp: "Anh em hãy luôn sẵn sàng đáp lời với mọi người hỏi lẽ anh em... với một lòng hiền từ, kính nể". Phêrô biết, và Chúa Yêsu cũng đã báo trước, "có ngày người ta lôi chúng con đến pháp đình". Tín hữu sẽ bị hỏi. Phải trả lời, vì đó là chuyện có hệ đến "mối hy vọng có nơi anh em", tức là Tin Mừng cứu độ chúng ta mang ở trong mình. Nhưng phải ăn nói hiền từ, kính nể. Lời rao giảng Tin Mừng không được tựa vào sự khôn ngoan thế gian và sức mạnh tu từ của loài người. "Lúc đó, không phải chúng con nói, nhưng là Thần trí nói cho chúng con". Lời ấy mang đầy sức mạnh của Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa hành động mạnh mẽ mà lại dịu dàng (fortiter et suaviter). Chính việc nắm bắt chân lý khiến lời nói khoan thai. Vậy nếu "chúng ta đã hiểu biết Ðức Kitô là Chúa ở trong lòng chúng ta rồi", thì không có lý nào lời nói của chúng ta lại không hiền từ kính nể.
Ðàng khác, như vậy không phải chỉ là suy diễn mà còn là bắt chước. Tín hữu luôn phải dõi theo vết chân Chúa Cứu Thế. Thế mà Người đã đi qua đau khổ làm sao? Phêrô không cần dài dòng nhắc lại nữa. Ngài chỉ tóm tắt trong một câu rất súc tích: "Ngài, Ðức Yêsu Kitô Chúa chúng ta, đã bị giết chết về xác thịt, nhưng đã được tái sinh về Thần khí. Ước gì khi Giáo hội bị bắt bớ, lúc chúng ta phải đau khổ, bề ngoài xác thịt có như chết thì tinh thần cũng hãy sống động. Ðúng hơn nữa, ước gì Thần khí của Chúa tỏ ra mạnh mẽ nơi thân xác yếu hèn của chúng ta!
Như vậy, dù trong hoàn cảnh nào, thuận cũng như nghịch, sức mạnh của Hội Thánh và của chúng ta vẫn là Thánh Thần. Ðiều cần duy nhất là phải có Thánh Thần. Thế mà đó lại là ơn Chúa Yêsu hằng ban cho chúng ta, theo bài Tin Mừng hôm nay.
 
C. Hội Thánh Có Thánh Thần Ở Luôn
Nói với môn đệ trong bữa Tiệc ly, Chúa Yêsu tuyên bố: Người sẽ ra đi, nhưng không để họ mồ côi. Người sẽ trở lại với họ, không phải trong thân xác như hiện nay, nhưng "sẽ tỏ mình ra cho họ". Thế gian sẽ không còn thấy Người, nhưng họ thấy vì Người vẫn sống.
Chắc chắn Lời Chúa chỉ sáng sủa, dễ hiểu sau khi có ánh sáng Phục sinh. Lúc đó môn đệ mới rõ: Ðức Yêsu đã đi thật; thế gian không còn thấy Người nữa vì Người đã chết theo xác thịt; nhưng Người đã trở lại với môn đệ, trong những lần tỏ mình ra. Và nhất là nhận được Thần Khí Người thổi cho, họ cảm thấy gần Người hơn bao giờ hết. Rõ ràng Người vẫn sống và họ cũng sống. Họ sống ở trong Người và Người sống ở trong họ. Ý thức ấy minh chứng được vì "do tay các Tông đồ, lắm dấu lạ điềm thiêng đã xảy ra trong dân", từ sau ngày Thánh Thần hiện xuống. Thế nên câu Chúa nói: "Không để họ mồ côi" đã được hiểu như là Thần trí của Người đã được ban cho họ để lưu lại nơi họ và ở trong họ (c.15-16).
Như vậy, họ cũng ý thức hơn về mệnh lệnh Chúa truyền như là điều kiện để không bị bỏ mồ côi. Ðó là giữ Lời Người.
Chắc chắn Hội Thánh lúc ban đầu đã chuyên cần với việc này. Các tín hữu kiên trì với giáo huấn của các Tông đồ. Các vị này chuyên lo phục vụ Lời Chúa. Chính nhờ nhiệt tình như vậy mà đức tin tăng trưởng, Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, cả thành đều vui mừng và có ai bị bắt bớ thì cũng hân hoan vì đã thấy mình đáng được chịu sỉ nhục vì Danh Người.
Ðời sống của Hội Thánh luôn luôn như vậy. Lúc thuận cũng như lúc nghịch, Hội Thánh chỉ mạnh mẽ nhờ Thánh Thần. Chính Người là sức mạnh của Hội Thánh vì là Thần trí của Ðức Kitô đã được ban cho Hội Thánh sau khi Chúa Cứu Thế đã về cùng Cha qua mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh. Thánh Thần hoạt động nơi mọi thành phần trong Dân Chúa, không phân biệt Dothái hay Hylạp, Tông đồ hay Phó tế. Người phân phối phận vụ nhưng đồng thời hằng xây dựng, thắt chặt tình liên đới để xứ mẹ xứ con cũng chỉ là một Hội Thánh. Chúng ta cầu xin Người đến trong chúng ta và trong các giáo đoàn của chúng ta. Thật ra, Người vẫn đến vì có bao giờ Ðức Kitô bỏ chúng ta mồ côi. Mỗi lần Giáo Hội cử hành Thánh lễ, mầu nhiệm Vượt qua của Chúa lại được tái hiện. Mầu nhiệm Chúa về cùng Cha ban Thánh Thần xuống lại được cử hành. Tất cả tùy ở chúng ta và cộng đoàn chúng ta có đón nhận và để Thánh Thần hoạt động nơi mình và qua mình hay không?
Ước gì Thánh lễ này ban cho chúng ta được đầy Thánh Thần. Và cũng ước gì lãnh nhận ơn Thánh Thần rồi, mỗi người sẽ như Stêphanô và Philip, tỏ ra hăng say trong môi trường của mình, thi hành sứ mệnh Tông đồ, làm cho nhiều người tin Ðức Yêsu là Chúa để xã hội thêm hân hoan trong tình liên đới nhiệt thành xây dựng hạnh phúc chung mỗi ngày mỗi lan rộng. Có như vậy mới có Mùa Phục sinh trong đời sống chúng ta và mới đáng ngưỡng vọng mầu nhiệm Chúa lên trời và ban Thánh Thần xuống, những mầu nhiệm mà chúng ta sẽ kính nhớ cách đặc biệt trong các Chúa nhật tới.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

PS6-A102: Vị Thiên Chúa bị lãng quên

Như chúng ta đã biết: người Do thái không có liên hệ gì với người Samaria. Giữa hai dân tộc này PS6-A102

Như chúng ta đã biết: người Do thái không có liên hệ gì với người Samaria. Giữa hai dân tộc này đã có một hố sâu ngăn cách. Từ những khác biết về tôn giáo, về phong tục… Họ đã nhìn nhau bằng ánh mắt hận thù.
Thế nhưng, bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã nói với người đàn bà xứ Samaria:
- Giờ đã đến và đã đến thật rồi, con người phải thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý.
Việc thờ phượng này không phải chỉ giới hạn nơi một dân tộc hay nơi một dòng giống, trái lại phải được trải rộng tới mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Kết luận về câu chuyện người đàn bà, tác giả sách Tin mừng đã ghi nhận: sau khi nghe Chúa Giêsu giảng dạy, nhiều người xứ Samaria đã tin Ngài là Đấng Messia, Đấng cứu độ trần gian.
Sách Công vụ Tông đồ cũng cho thấy: số các tín hữu ngày một gia tăng. Philipphê được sai đến một thành xứ Samaria để rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng lắng nghe những lời giảng dạy vì họ cũng đã được biết và được chứng kiến những phép lạ Philipphê đã làm. Họ cảm thấy hân hoan vui sướng.
Các tông đồ ở Giêrusalem, khi hay tin dân Samaria đón nhận lời Chúa, liền cử Phêrô và Gioan đến với họ. Cuộc thăm viếng này đã trở nên như một dấu chỉ cho sự hiệp nhất vào thời buổi lúc bấy giờ.
Đúng thế, lúc bấy giờ có nhiều khuynh hướng khác biệt giữa người Do Thái và người Samaria, giữa những người tin và không tin vào Đức Kitô. Việc sai phái hai vị tông đồ này đã làm cho bức tường ngăn cách bị sụp đổ, chấm dứt óc bè phái và những tranh cãi trong dĩ vãng. Phêrô và Gioan chỉ có một ý tưởng, đó là làm cho những tân tòng trở nên những Kitô hữu trưởng thành.
Tất cả những người Samaria này mới chỉ được rửa tội nhân danh Đức Kitô. Vì thế, hai vị tông đồ đã đặt tay trên họ và họ được lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Những kẻ thù ngày hôm qua thì ngày hôm nay đã thực sự là những người anh em trong Đức Kitô.
Được Chúa Thánh Thần soi sáng và thêm sức, họ cảm thấy như mọi thù ghét và oán hận đều tiêu tan. Giờ đây, tất cả chỉ còn là một: một Thiên Chúa, một Đức Kitô, một phép rửa, một Chúa Thánh Thần và một dân tộc. Các tông đồ không hề phân biệt các tân tòng và những người Do Thái đồng hương với mình.
Đây chính là sự hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần mà công đồng Vaticanô II đã mong muốn. Thực vậy, Giáo hội luôn kêu mời chúng ta cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu, giữa những người công giáo với những anh em ly khai cũng giữa những người công giáo như với những anh ngoài Kitô giáo.
Chúng ta biết rằng: dưới tác động của Chúa Thánh Thần, những người Samaira đã trở nên những tín hữu trưởng thành. Chúa Thánh Thần chính là Đấng Đức Kitô đã hứa sai đến để đổi mới khuôn mặt địa cầu.
Chính Chúa Giêsu, trước khi về trời, đã phán hứa với các môn đệ:
- Nếu các con yêu mến Thày, thì hãy tuân giữ những điều Thày truyền dạy. Thày sẽ xin với Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Phù trợ mới. Ngài là thần chân lý và sẻ ở cùng các con luôn mãi.
Nếu chúng ta cố gắng bước đi dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, thì chắc chắn Ngài sẽ đưa chúng ta tới tình yêu thương và hiệp nhất.
Thế nhưng, có bao giờ chúng ta đã cầu nguyện với Ngài khigặp phải những gian thử thách trên đường đời?
Chúng ta thường băn khoăn lo lắng: làm thế nào để có thể sống đạo giữa biết bao nhiêu khó khăn và thử thách trong cuộc đời?
Vậy tại sao chúng ta lại không kêu xin Chúa Thánh Thần ban xuống cho chúng ta sức mạnh và ánh sáng?
Phải chăng Chúa Thánh Thần mãi mãi vẫn là vị Thiên Chúa bị quên lãng nhiều nhất trong cuộc sống của chúng ta?
 

PS6-A103: Hiện diện của kẻ vắng mặt

(Trích “Như Thầy Đã Yêu” của Thiên Phúc)
 

Có một nhà chuyên môn sưu tầm các loài bướm. Ngày nọ, khi bước vào một công viên, ông đã gặp PS6-A103

Có một nhà chuyên môn sưu tầm các loài bướm. Ngày nọ, khi bước vào một công viên, ông đã gặp tổ kén lạ. Ông liền bứt cành cây đem kén bướm về nhà. Ít ngày sau, ông thấy nhúc nhích bên trong kén, nhưng con bướm vẫn chưa phá kén bay ra.
Hôm sau, kén lại nhúc nhích, nhưng chẳng có gì khác lạ. Lần thứ ba, vẫn thấy như trước, ông liền lấy giao rạch kén, thế là con bướm bò ra ngoài. Tuy nhiên, bướm không tăng trưởng và chẳng bao lâu thì chết.
Sau này, ông được người bạn là nhà sinh vật học cắt nghĩa như sau: Thiên nhiên đã xếp đặt cho con bướm phải đấu tranh mới thoát ra khỏi cái kén, vì nhờ đấu tranh gian khổ mà nó có thể phát triển mạnh mẽ để sinh tồn.
Muốn làm cánh bướm bay trên ngàn hoa rực rỡ, bướm phải làm kiếp sâu lặng lẽ, cô tịch trong vỏ kén lặng lờ, khuất nẻo. Muốn là con bướm bay trong bầu trời xanh ngắt, bướm phải là con sâu đen đủi xấu xa, vặn vẹo đau đớn trong tổ kén đợi chờ.
Để trở nên những tín hữu Kitô vững mạnh, tăng triển về đường thiêng liêng, chúng ta phải trải qua một thời kỳ gian khổ để tiến triển về mặt tâm linh, chúng ta cũng phải vượt qua đấu tranh thử thách. Nhưng trong những thời điểm ấy, Thiên Chúa luôn bên cạnh chúng ta, cho dù chúng ta không nhìn thấy Người.
Lúc sắp sửa ra đi, để trấn an các tông đồ, Đức Giêsu đã hứa rằng, dù vắng mặt, nhưng Người vẫn luôn hiện diện giữa các ông và ban bình an cho các ông. Sự hiện diện của kẻ vắng mặt! Đó là cảm nghiệm mà chỉ có những kẻ yêu nhau mới nhận ra mà thôi. Từ sau biến cố Phục Sinh, Đức Giêsu đã trở nên con người của mọi thời đại.
Người hiện diện trong những kẻ yêu mến Người: “Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy” (Ga 14, 23).
Người hiện diện trong những kẻ thực hành và giữ lời Người: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy... Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy” (Ga 23, 24).
Người hiện diện không chỉ đơn độc, nhưng là hiện diện cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Cả Ba Ngôi cùng đến thăm và ở lại trong những ai yêu mến Đúc Giêsu và tuân giữ lời Người.
Nếu Chúa Cha chính là Thiên Chúa trong tình trạng vô hình, thì Đức Giêsu cũng là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng, hành động để cứu chuộc con người; và Thánh Thần cũng là Thiên Chúa, Đấng kéo dài cách thiêng liêng sự hiện diện, lời nói và hành động của Đức Giêsu và Chúa Cha.
Vì thế, Thánh Thần sẽ thông truyền trọn vẹn sự sống của Thiên Chúa cho con người, khi soi sáng dạy dỗ con người dần dần hiểu Lời Thiên Chúa, Lời đó chính là Đức Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha: “Thánh Thần sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14, 26).
Với lời hứa này, kể từ ngày lễ Hiện Xuốn đầu tiên, Thánh Thần đã soi sáng và hướng dẫn Giáo Hội hiểu thấu triệt Lời Chúa trong Kinh Thánh, để trình bày một cách sáng tỏ hơn, và để giải quyết những vấn đề mới mẻ cho từng thời đại. Vì thế mà các Cộng đồng liên tiếp được triệu tập dưới sự bảo trợ của Thánh Thần.
Lạy Chúa Ba Ngôi, xin cho chúng con nhận ra sự hiện diện của Người trong lòng chúng con, trong lòng Giáo Hội, và trong lòng thế giới:
Để chúng con luôn yêu mến và tuân giữ Lời Người.
Để chúng con được soi sáng và hướng dẫn bởi Thánh Thần.
Và để chúng con được canh tân và tái tạo mỗi ngày trong Thiên Chúa Tình Yêu. Amen.

 

PS6-A104: Ở lại trong tình yêu - Lm Giuse Hoàng Kim Toan

Tình yêu, một đề tài rất xưa và cũng là một đề tài rất mới. Rất xưa bởi vì, từ khi có con người đã có PS6-A104

Tình yêu, một đề tài rất xưa và cũng là một đề tài rất mới. Rất xưa bởi vì, từ khi có con người đã có tình yêu, rất mới cũng bởi vì tình yêu vẫn là sự sống động trong thế giới hôm nay. Rất mới và rất cũ nhưng chẳng thể nào có thể hiểu nổi được tình yêu, tình yêu có muôn mặt của thủy chung và những bội phản, sự thực và lừa dối, tinh khiết và hoen úa, ngọt lịm và cay đắng. Tình yêu là một chủ đề hao tốn giấy mực và cũng hao gầy nhiều thân phận.
“Ở lại trong Tình Yêu của Thầy” Ga 14 là một chủ đề quan trọng và cũng tìm thấy trong di chúc của Chúa Giêsu cho các môn đệ trước khi Ngài ra đi: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”. Chúng ta chỉ thực sự yêu thương khi ở lại trong Tình Yêu của Thiên Chúa.
Tình Yêu tiếng nói của Chúa Thánh Thần:
Tình yêu bao giờ cũng có những thể hiện bằng hành động: Hành động đầu tiên và trước tiên đó là sáng tạo. Tình yêu của Thiên Chúa là sự khai mở, đó là bản chất của Tình Yêu. Sáng tạo là sự khai mở của Thiên Chúa để đưa các loài được tạo thành được tham dự vào hạnh phúc của Thiên Chúa. Các loài thụ tạo của Thiên Chúa được chia sẻ vinh quang của Người. Tình yêu đúng nghĩa bao giờ cũng là tình yêu mang đến hạnh phúc cho người mình yêu. Hạnh phúc không chỉ là một lời hứa mà còn là một con đường. Thiên Chúa đã đề nghị một con đường, con đường ấy là “Thực thi ý muốn của Thiên Chúa”; qua con đường giới răn thực thi ý muốn của Thiên Chúa mở ra con đường đối thoại tình yêu. Tình yêu làm nên những cái mới, chính là tác động của Chúa Thánh Thần, “Thần Khí ban sự sống” là gió là hơi thở của sự sống. Là gió là hơi thở “Chúa hà hơi, súc vật được sáng tạo và Ngài đổi mới mặt địa cầu” (Tv 104, 30). Hơi hở thần linh làm cho mùa màng được dồi dào thuận lợi, thời tiết thuận hòa, con người được vui sống. Ở lại trong Tình yêu nghĩa là ở lại trong sự sống Thánh Thần ban tặng, sống dồi dào nhờ hít thở trong bầu khí Thần Linh.
Thần Khí mới – Trái Tim mới:
Trái tim gợi lên đời sống tình cảm, người Do Thái quan niệm trái tim như tất cả những gì thuộc về nội tâm của con người. Đông Phương gọi đó là cái Tâm, Tâm vừa đóng vai trò chính của con người vừa là nơi xuất phát mọi hành vi của con người cũng như là nơi thụ nhận tất cả những gì thế giới giác quan mang lại. Tâm còn là nơi xuất phát niềm vui và hy vọng, dự định và kết quả một hành trình. Ở lại trong Tình Yêu, một lời mời gọi mang lấy và sống trong trái tim của Thiên Chúa. Châm ngôn nhắc tới: “Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ, vì từ đó mà sự sống phát sinh.” (Cn 4, 27). Trái tim còn là sự hiểu biết khôn ngoan: “Người ban cho chúng trí khôn, lưỡi, mắt, tai, và trái tim để chúng suy nghĩ” (Hc 17, 6). Trong Thánh Thần chúng ta được sống và sự sống được hướng dẫn bằng Thần trí khôn ngoan, thông minh, thông hiểu, lo liệu, sức mạnh, dũng cảm và kính sợ. Ở lại trong Thầy mang một ý nghĩa đặc biệt trong vương quốc Thiên Chúa, những ân huệ của Chúa Thánh Thần làm nên một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hạnh phúc và thánh thiện.
Trái tim chai đá. Con người thích theo lối sống của mình, ưa thich tìm những lạc thú làm cho mỗi ngày trái tim trở nên chai cứng hơn. Trong đời sống của dân Thiên Chúa chọn cũng xảy ra tình trạng tráo trở này để ru ngủ mình trong tội lỗi bằng những phụng tự bên ngoài (Am 5, 21) với những lời lẽ sáo rỗng (Tv 78, 36) và bị lên án “dân này thờ Ta bằng môi miệng, còn tâm hồn thì xa Ta” (Is 29, 13). Con người quyến luyến trong tội lỗi, bởi chẳng cần nỗ lực để sống thánh, chẳng cần thanh lọc để trở nên tinh trong, mặc dù vẫn biệt hậu quả của tội lỗi là đau khổ là sự chết, nhưng thà rằng như thế còn hơn là liên lạc với Thiên Chúa nghĩa là “liều bỏ tấm lòng mình” (Gier 30, 21). Trái tim xơ cứng chai đá của con người đã đến lúc cần phải đập vỡ nó ra, nhưng ý muốn ấy chỉ có thể đến từ phía con người, khi con người nhận ra mình không còn đủ sức chấp nhận đau khổ, bất hạnh và sự chết.
Cần có một quả tim mới: Khao khát này xuất phát từ nơi thẳm sâu đau khổ của tội lỗi gây nên, nếu không muốn trở thành con người cam chịu số phận. Con người đọc qua lịch sử của dân Israel và lịch sử đời mình hiểu rằng tôn giáo bề ngoài là một thứ tôn giáo bào mòn lòng yêu mến. Muốn thực sự thoát ra khỏi trái tim xơ cứng cần có một thay đổi quyết liệt, “tìm kiếm Thiên Chúa với tất cả tâm hồn” (Đnl 4, 29), muốn đầy đủ sức mạnh để chiến thắng sức ì của bản thân cần “Gắn chặt tấm lòng vào Giavê” (1Sm 7, 3) để thắp lên trong trái tim ngọn lửa “yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức” (Đnl 6, 5).
Khao khát là vậy, lý tưởng là thế, nhưng vẫn chẳng thoát ra ngoài được con tim giả dối, tấm lòng bất trung từ nguyên thủy, chỉ còn có thể đến với Thiên Chúa “với tấm lòng tan nát rã rời” (Tv 51, 19) một tấm lòng tan nát khiêm cung để khấn xin Chúa “tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần con nên chung thủy” (Tv 51, 12).
Tình yêu không bao giờ là hủy diệt, Tình yêu luôn luôn là một chữa lành, rất nhiều người không biết Thiên Chúa rất lạ lẫm khi thấy những con người Kitô giáo vượt qua được thảm trạng tội lỗi của mình, mặc dầu đã biết rằng, những người ấy trước kia là một người tội lỗi, xấu xa, đê tiện. Điều rất lạ ấy xảy ra không chỉ do trái tim tan nát rã rời của hối nhân mà còn nguyên do sức mạnh từ nơi Thiên Chúa đã thực hiện cho con người khiêm nhượng “Ta sẽ thanh tẩy các ngươi và Ta sẽ ban cho các ngươi trái tim mới, đặt vào lòng trí các ngươi một thần trì mới; cất khỏi các ngươi trái tim bằng đá và ban tặng trái tim bằng thịt” (Ez 36, 25). Không có sức mạnh Thiên Chúa, thắng được chính mình chỉ là ảo tưởng và đôi khi trở nên quá khích khi diệt mất chính mình.
Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần và mời gọi ở lại trong Tình Yêu của Thầy, đó là một lời gọi đích thật để trái tim được tự do khỏi tội, để tấm lòng an vui hạnh phúc thật sự khi không còn bóng dáng tội lỗi, Chúa Giêsu chính là trái tim mới được ban cho nhân loại, và Thánh Thần là Đấng ban thần trí mới cho chúng ta.
Xin cho những bước chân đi hoang của con người chúng con vào những lúc bế tắc không nơi trọ, không nơi đón nhận, thì xin cho chúng con cũng biết khiêm cung với tấm lòng tan nát ở lại, lưu trú trong Tình Yêu của Người vì Tình Yêu của Người đón nhận, chịu đựng, hy sinh tha thứ và yêu thương tất cả.

 

PS6-A105: THẦN KHÍ YÊU THƯƠNG

Làm người, ai cũng cần một danh nghĩa nào đó, nhưng phải là danh nghĩa chính đáng: “Đã mang  PS6-A105 Ephata

Làm người, ai cũng cần một danh nghĩa nào đó, nhưng phải là danh nghĩa chính đáng: “Đã mang tiếng trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông ( chí sĩ Nguyễn Công Trứ – thi phẩm “Đi Thi Tự Vịnh” ). Có danh nghĩa để hành động, hành động vì chính nghĩa, vì công lý, chứ không để đàn áp hoặc chèn ép người yếu thế hơn mình.
Làm người và sống ở đời, đó là một Hồng Ân lớn lao. Đức và Tài đều cần để thực hiện điều tốt lành cho tha nhân. Với Đức và Tài, người ta có thể trở thành quân tử hoặc tiểu nhân, tùy vào “vị trí” của chúng: “Đức hơn Tài là quân tử, Tài hơn Đức là tiểu nhân ( Khổng Tử ). Một lằn ranh rất mong manh giữa Đức và Tài. “Chữ Tài liền với chữ Tai một vần” ( Nguyễn Du ) !
Có nhiều loại đức cần phải trau giồi hằng ngày. Riêng người Công Giáo lại càng phải trau giồi nhiều hơn. Về đối nhân có rất nhiều nhân đức ( chân thành, hòa nhã, bình dị, hòa đồng, nghiêm túc, vui vẻ… ); về đối thần có ba nhân đức: Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Đức Mến là là lòng yêu thương hoặc lòng thương xót. Đức Mến luôn lớn lao và cần thiết, thậm chí quan trọng nhất, vì trên Nước Trời cũng vẫn còn Đức Mến – không còn Đức Tin và Đức Cậy nữa ( x. 1Cr 13, 13 ).
Quả thật là như thế, cuộc đời này không có tình yêu thương thì cũng như cuộc sống không có ánh mặt trời. Vô tri bất mộ. Không biết thì không yêu mến, thậm chí còn có thể ghét, nhưng khi đã biết thì người ta cảm thấy yêu mến. Âu đó cũng là lẽ thường ở đời vậy ! Tuy nhiên, trước khi BIẾT thì phải MUỐN BIẾT và TÌM HIỂU cho thấu đáo chứ đừng hời hợt hoặc “nửa vời”. Một khi đã biết rõ rồi thì sẽ nảy sinh lòng yêu mến, và có thể say đắm – si tình. Mà đã yêu mến tức là đã thực sự tin tưởng.
Đạo Chúa mệnh danh là “đạo yêu thương”. Không yêu thương thì đừng nói là theo Chúa. Thánh Phaolô dùng cách nói nặng: Ai không yêu mến Chúa thì là đồ khốn kiếp !” ( 1Cr 16, 22 ). Nhưng mến Chúa thì phải yêu người, vì yêu người là thước đo lòng mến Chúa. Đó là hệ lụy tất yếu. Thánh Gioan phân tích: Nếu ai nói ‘tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy ( 1Ga 4, 20 ). Về vấn đề này, Thánh Sibyllina Pavia “mở rộng” thêm: Ai không yêu mến anh em thì không thể trở thành người anh dũng tử đạo.
Có tình yêu thì người ta có thể làm được mọi sự, bất kể nhỏ hay to, đúng như Thánh Augustinô nhận định: Cứ yêu thật đi rồi muốn làm gì thì làm. Chính Thánh Augustinô đã từng nuối tiếc: Con yêu Chúa quá muộn màng, ôi vẻ đẹp rất xưa mà rất mới !” ( Tự Thuật, số 10 & 27 ). Còn Mẹ Thánh Teresa Calcutta xác định: Bạn không thể thấy Chúa Giêsu trong người nghèo nếu bạn không thấy Ngài trong Thánh Thể. Ôi, chuỗi yêu thương quá đỗi kỳ diệu !
Vì yêu Chúa – và yêu Chúa qua tha nhân, người ta có thể làm được mọi thứ. Sách Công Vụ kể: “Ông Philíphê xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Kitô cho dân cư ở đó. Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Philíphê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm ( Cv 8, 5-6 ). Họ không chỉ “nghe đồn” mà còn “chứng kiến” các dấu lạ do Tông Đồ Philíphê đã làm. Vì họ đã biết nên họ không thể làm ngơ, không thể không chú ý. Thật vậy, “các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám, nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành. Trong thành, người ta rất vui mừng” ( Cv 8, 7-8 ).
Thời đó, các Tông Đ Giêrusalem nghe biết dân miền Samari đã đón nhận lời Thiên Chúa, các ông đã cử ông Phêrô và ông Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ đ họ nhận được Thánh Thần. Sách Công Vụ cho biết: Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần ( Cv 8, 16-17 ). Đó là Bí Tích Thêm Sức, loại Bí Tích làm cho chúng ta được lãnh nhận Chúa Thánh Thần viên mãn.
Xưa nay chúng ta vẫn quen với cách nói “bảy ơn Chúa Thánh Thần” – gồm các ơn: khôn ngoan, hiểu biết, lo liệu, sức mạnh, thông minh, đạo đức, và kính sợ Chúa. Tuy nhiên, nên biết rằng đó là cách nói của Kinh Thánh, vì số 7 là con số kỳ diệu của Kinh Thánh, chứ Chúa Thánh Thần không chỉ “đóng khung” trong 7 ơn đó, mà bao gồm các ơn khác. Chúng ta thật hạnh phúc vì được biết Thiên Chúa, được yêu mến Ngài, và được lãnh nhận Chúa Thánh Thần: Bình an cho anh em ( Lc 24, 36; Ga 20, 19; Ga 20, 20; Ga 20, 26 ).
Chắc chắn rằng không ai có thể trì hoãn cái sự sung sướng đó, dù chỉ một giây. Bởi vậy, Thánh Vịnh gia đã phải thốt lên: Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh !” ( Tv 66, 1-2 ). Tất cả chúng ta hòa chung niềm vui đó, và cũng hãy đồng tâm thân thưa với Thiên Chúa: Vĩ đại thay, sự nghiệp của Ngài ! Trước thần lực uy hùng, địch thù khúm núm. Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh. Đến mà xem công trình của Thiên Chúa: hành động của Người đối với phàm nhân thật đáng kinh đáng sợ !” ( Tv 66, 3-5 ). Thiên Chúa toàn năng, có Ngài thì người bình thường cũng trở nên phi thường, không có Ngài thì thiên tài cũngbó tay”, như Chúa Giêsu đã xác định: Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được( Ga 15, 5 ).
Thiên Chúa hằng hữu và toàn năng, tạo thành mọi vật, cũng chính Ngàilàm cho biển khơi hoá đất liền và dân Người đi bộ qua sông, việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ. Chúa uy dũng hiển trị muôn đời; đôi mắt Người theo dõi chư dân, quân làm phản chớ có hòng nổi dậy !” ( Tv 66, 6-7 ). Lịch sử đã và đang chứng tỏ như vậy, không một thần linh nào có thể làm được các vĩ công như Thiên Chúa của chúng ta.
Thực sự là một hồng ân lớn lao đối với chúng ta khi được biết Ngài, yêu mến Ngài và tôn thờ Ngài, tuyệt vời hơn nữa là Ngài đã yêu thương chúng ta trước ( 1Ga 4, 19 ) và yêu thương chúng ta đến cùng ( Ga 13, 1 ) – dù chúng ta chỉ là bọn bất lương, là lũ tội nhân khốn nạn. Chỉ là được hiện hữu trên đời này – dù chúng ta có thế nào – cũng đủ để chúng ta phải cảm tạ Ngài suốt cuộc đời mình. Không chỉ vậy, Chúa Cha còn vì thương xót kiếp khốn cùng của chúng ta mà Ngài đã bắt Con Một Yêu Dấu phải chết thay chúng ta, dù Người Con van xin nhưng Ngài vẫn “làm ngơ” chỉ vì Ngài muốn cứu độ chúng ta. Ơn cứu tử này quá lớn ! Thật vậy, chính Ngài chọn chúng ta từ trước khi vũ trụ được tạo thành chứ không phải chúng ta chọn Ngài ( Ep 1, 4 ).
Phàm ngôn không thể diễn tả nổi. Thật vậy, Thiên Chúa của chúng ta còn hơn cả mức tuyệt vời: Chúa ấp , Chúa lo dưỡng dục, luôn giữ gìn, chẳng khác nào con ngươi mắt Chúa ( Đnl 32, 10 ). Chính tình yêu thương đó đã được đóng ấn tín bằnglời thề độcnày: Kẻ nào động đến các ngươi là động đến con ngươi mắt Ta ( Dcr 2, 12 ). Ôi, lạy Chúa tôi ! Thực sự chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi, và cũng chẳng bao giờ hiểu được, vì Ngài yêu thương chúng ta tới cùng nên Ngài cũng bảo vệ chúng ta tới cùng ! Vì thế, chúng ta phải mau mắn và hãnh diện chia sẻ niềm vui đó với người khác: Xin chúc tụng Thiên Chúa đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng, lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình ( Tv 66, 20 ).
Được sống với và cùng chia sẻ vui buồn với Chúa Giêsu, ông Phêrô có kinh nghiệm đầy mình, thế nên ông chân thành nhắn nhủ chúng ta: “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ngay thẳng trong Đức Kitô, chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống ( 1Pr 3, 15-16 ). Tại sao phải giữ “thẳng” mà không thể du di “cong” đi một chút ? Theo cách lý giải của ông Phêrô thì thế này: Bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác. Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương – hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh ( 1Pr 3, 17-18 ). Rất rõ ràng. Thật thẳng thắn. Và chính tình yêu mến đó đã được Chúa Thánh Thần tác động.
Phải nói rằng danh từchuỗihay thật đấy. Danh từ này nói lên sự liên kết nối tiếp không ngừng. Chínhchuỗitình yêu thương là “chuỗiyêu mến, là “chuỗilòng thương xót, như Chúa Giêsu đã nói: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy ( Ga 14, 15 ). Từ hệ lụy đó lại có mối liên kết khác: Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn giữa anh em và trong anh em ( Ga 14, 16-17 ).
Biết mình sắp phải rời thế gian và xa những người thân thiết, Chúa Giêsu đã hứa: Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em ( Ga 14, 18 ). Và Ngài nói thẳng luôn: Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy trong Cha Thầy, anh em trong Thầy, và Thầy trong anh em ( Ga 14, 18-20 ). Ôi chao, “răng mà khó hiểu rứa hỉ”. Ngài nói thẳng thắn và “toạc móng heo” mà vẫn khó hiểu ghê đi ! Thế nhưng không phải vậy, đó là Ngài muốn đưa chúng ta tới đức ái trọn vẹn, nhờ biết yêu mến mà chúng ta khả dĩ lãnh nhận Chúa Thánh Thần một cách viên mãn để đủ can đảm làm chứng về Thiên Chúa, Đấng Sự Thật.
Thiên Chúa là tình yêu, trước sau gì cũng là yêu thương. Chúa Giêsu dẫn chứng vềchuỗiyêu mến: Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy ( Ga 14, 21 ). Ngài tỏ mình cho mỗi người mỗi cách, mỗi người được nhận biết theo cách riêng, không ai giống ai, nhưng vẫn là MỘT Thiên-Chúa-Ba-Ngôi duy nhất mà thôi: Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa ( Ep 4, 5 ).
Người-môn-đệ-được-Chúa-yêu định nghĩa ngắn gọn: Thiên Chúa là tình yêu ( 1Ga 4, 8 và 16 ). Vì thế, ai yêu mến Ngài thì tuân giữ Luật Ngài, luật đó là Luật Yêu, và chắc chắn là yêu Chúa thì phải yêu người. Yêu Chúa không khó bằng yêu người, chỉ cần thực hành “chuỗi yêu” trong 1Cr 13 thì cũng cảm thấy “toát mồ hôi hột” rồi, vì yêu không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động, thể hiện qua từng động thái nhỏ. Vả lại, tha nhân là huynh đệ của chúng ta và là những người có Thiên Chúa trong lòng – ngay cả những người tự xưng là vô thần. Ai sống yêu mến thì mới được lãnh nhận Thần Khí Sự Thật của Thiên Chúa – đó là Thánh Linh, là Chúa Thánh Thần, là Đấng Kiến Tạo Hòa Bình.
Kinh Thánh Cựu Ước cho biết rằng, khi Thiên Chúa tuyển chọn Bơxanên, con của Uri, con của Khua, thuộc chi tộc Giuđa, Ngài đã hứa với ông Môsê: Ta sẽ ban cho nó dồi dào Thần Khí của Thiên Chúa đ nó thành người khéo tay, giỏi giang và lành nghề mà làm mọi công việc, đ nó nghĩ ra những tác phẩm nghệ thuật làm bằng vàng, bạc hay đồng, mài ngọc đính áo, chạm gỗ và thực hiện mọi công việc ( Xh 31, 3-5 ). Điều gì Thiên Chúa đã hứa thì chắc chắn không bao giờ sai. Ước gì mỗi chúng ta cũng được lãnh nhận Thần Khí Chúa đ làm vinh danh Chúa bằng chính khả năng riêng mà chúng ta đã được lãnh nhận từ Ngài. Nhưng có một điều quan trọng: Đừng quên rằng chúng ta luôn phảihết dạ tri ân” ( Cl 3, 15 ).
Con người sai lầm nên dễ ảo tưởng, thế nên rất cần ơn phân định thần khí để không tin lầm. Thánh Gioan nhắn nhủ: Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian ( 1Ga 4, 1 ). Chúa Thánh Thần là Thần Khí Yêu Thương, là Đấng Ngôi Ba nhiệm xuất từ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Hãy cầu xin Ngài, hãy cầu nguyện liên lỉ và không ngừng !
Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, xin không ngừng đốt lửa yêu mến trong con đ con có thể yêu mến Ngài và chỉ yêu mến Ngài như Ngài hằng mong muốn. Xin ban cho con Thần Khí Yêu Thương đ con sống trọn đức ái theo Lòng Thương Xót của Ngài, và xin ban Thần Khí Sự Thật đ con thực hiện mọi lệnh truyền theo công lý của Ngài. Xin giúp con biết đại lượng với tha nhân, nhất là những người hèn mọn, vì họ là những người được tạo dựng theo hình ảnh Ngài, bình đẳng với con và cũng được hưởng Giá Máu cứu đ của Đức Giêsu Kitô, Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn đời. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

PS6-A106: HIỆP NHẤT TRONG TÌNH YÊU

Là cháu nội của Picasso, bà Marina được thừa hưởng 1/5 tài sản của nhà danh họa vào năm 20 tuổi, PS6-A106

Là cháu nội của Picasso, bà Marina được thừa hưởng 1/5 tài sản của nhà danh họa vào năm 20 tuổi, bao gồm 10.000 trong số 500.000 tác phẩm nghệ thuật đắt giá cùng căn biệt thự nổi tiếng La Californie Pháp.
Nhưng cho tới nay, khi đã vào tuổi 64, người phụ nữ này vẫn chưa hết ấm ức về những ngày thơ ấu nghèo túng, bị ông nội hắt hủi. Sự oán giận và nỗi khắc khoải đó được khắc họa ít nhiều trong cuốn hồi ký Picasso: Ông nội của tôi xuất bản năm 2001. Trong sách, bà Marina viết ông mình luôn lạnh lùng và xa cách, khiến những người gần phải rơi vào tình cảnh khốn khổ, tuyệt vọng.”
Marina kể rằng bà thậm chí chẳng có tấm hình nào chụp chung với ông nội và chưa bao giờ được chạm vào tác phẩm nào của ông cho tới khi nhận thừa kế. Cha của bà, ông Paulo, là người con đầu tiên mà danh họa Picasso có trong cuộc hôn nhân ngắn ngủi với vũ công balê người Nga Olga Khokholova. Gia đình đ vỡ, Marina và người anh trai Pablito lớn lên trong túng quẫn cùng người mẹ nghiện rượu. “Tôi ít khi thấy cha và tôi không có ông nội” – bà cay đắng.
Sự oán giận đối với ông nội càng gay gắt hơn khi bà Jacqueline Roque, người vợ thứ hai của Picasso, nhất quyết không cho Pablito tới dự lễ tang của đại danh họa vào năm 1973. Chỉ vài ngày sau, Pablito uống thuốc tẩy tự sát. Khi qua đời ở tuổi 91, Picasso không để lại di chúc, dẫn tới một cuộc tranh chấp tài sản căng thẳng trong gia đình. Marina Picasso bất ngờ có tên trong danh sách thừa kế hợp pháp.
“Mọi người nói rằng tôi nên cảm kích. Và tôi thực sự cảm kích nhưng đó là sự thừa kế lạnh lùng chẳng có chút yêu thương.” Bà Marina day dứt. Trong rất nhiều năm sau đó, Marina vẫn úp tranh của ông nội vào tường vì đối với bà, chúng là “những ký ức vô cùng đau buồn.”
Mang nỗi u uất lớn nhưng người phụ nữ gai góc này đã dành cả cuộc đời để thắp lên hy vọng cho những trẻ em thiệt thòi, cũng như những số phận bất hạnh trên thế giới. Bà có 5 người con, trong đó 3 người được nhận nuôi từ Việt Nam. Trên mảnh đất hình chữ S này, bà còn hỗ trợ kinh phí xây dựng một số phòng khám tại Sàigòn, nâng cấp một trại trẻ mồ côi ở quận Gò Vấp, đồng thời xây dựng một trại dưỡng lão... ( Ảnh chụp bà Marina và 3 bé con nuôi người Việt Nam ).
Ước tính, số tiền thu được từ lần bán tranh sắp tới của bà Marina lên tới 290 triệu USD ( hơn 6.000 tỉ đồng ) và sẽ tiếp tục đổ vào các hoạt động từ thiện do bà khởi xướng từ hơn 40 năm trước, trong đó có dự án hỗ trợ bệnh viện nhi ở Việt Nam, chăm sóc người già và trẻ em thiệt thòi ở Pháp, Thụy Điển… ( Việt Lâm, Thể thao & Văn hóa, Cháu gái Picasso và những ký ức buồn về ông nội )
Hoạ sĩ lừng danh Pablo Picasso hoàn toàn không để lại tình yêu cho những người thừa kế, mà chỉ để lại những tác phẩm giá trị và những chua cay, đau khổ. Nay người cháu Marina Picasso muốn sửa chữa lại, biến lòng oán giận thành tình yêu, chia sẻ, bác ái những người bất hạnh. Còn hơn 2.000 năm trước, Đức Giêsu để lại cho nhân loại niềm hạnh phúc viên mãn với Tình Yêu, những lời bảo chứng Tình Yêu bền bỉ, cụ thể và viên mãn, qua sự hiệp nhất với Ba Ngôi dành cho những ai tin yêu và tuân giữ Tin Mừng.
Hiệp nhất với Đức Chúa Thánh Thần
"Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi.” Ai tin yêu Đức Giêsu, thì đón nhận, nghe theo và thực hành Tin Mừng, sẽ được Người ban Đức Chúa Thánh Thần đến hộ phù. Bởi vì: “Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an… Ai không có Thần Khí của Ðức Kitô, thì không thuộc về Ðức Kitô.” ( Rm 8, 6 & 9 ).
Hơn nữa: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.” ( Rm 8, 11 ).
Hiệp nhất với Đức Chúa Cha
Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con.”  Khi môn đệ Philipphê xin được thấy Đức Chúa Cha, Đức Giêsu trả lời: “Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.” ( Ga 10, 10 ).
Trả lời cho người Do Thái cho rằng Người lộng ngôn, Đức Giêsu công khai xác nhận:  "Nếu Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm những việc đó, thì dầu các ngươi không muốn tin Ta, cũng hãy tin vào các việc đó, để các ngươi biết và tin rằng: Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha." ( Ga 10, 37-38 ).
Hiệp nhất với Đức Giêsu
“Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy.” Yêu Chúa là hiệp nhất với Đức Giêsu, vì đón nhận và thực hành Lời Chúa một cách trung thành và bền vững, mặc bao khó khăn, bao thách đố, bao chống đối của thế gian.
Vì theo Chúa, dĩ nhiên bị thế gian tẩy chay, ganh ghét và trừ khử: Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian yêu thích cái gì thuộc về nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” ( Ga 15, 19 ).
Như vậy, những ai lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa, Tin Mừng là được hồng phúc kết hiệp chặt chẽ với Ba Ngôi Thiên Chúa. Luôn có Chúa trong mình là hạnh phúc tuyệt đỉnh, viên mãn, vô biên.
“Chúa Ba Ngôi ở trong con, con trở nên đền thờ Chúa, con cũng là của lễ toàn thiêu, con là lời ngợi khen không ngừng, con là đóa hoa muôn sắc dâng lên Chúa.” ( Đường Hy Vọng, số 244 ).
Lạy Chúa Giêsu, khi chúng con nghe và thực hành Tin Mừng là chúng con vinh dự trở nên đền thờ Ba Ngôi Thiên Chúa. Kính xin Chúa cho chúng con xứng đáng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa luôn.
Khấn xin Mẹ Maria cầu bầu, giúp đỡ, biến đổi cung lòng chúng con trở nên khiêm hạ, vâng phục trong sạch và tin yêu, để có thể kính trọng đón rước Chúa Ba Ngôi đến ngự trị luôn mãi. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

PS6-A107:YÊU VÀ GIỮ LUẬT

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH, năm A
Ga 14, 15-21
 

 Ba năm đi rao giảng cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu đã dạy dỗ các môn rất nhiều điều, Ngài đã củng PS6-A107 Dalat

Ba năm đi rao giảng cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu đã dạy dỗ các môn rất nhiều điều, Ngài đã củng cố niềm tin của các Ngài bằng nhiều phép lạ, đặc biệt bằng gương sáng của chính Ngài…Hôm nay, tromg bữa ăn sau cùng, bữa tiệc ly với các môn đệ.Chúa Giêsu đã bộc bạch hết tâm sự của Ngài, và Ngài đã nói cho các môn đệ những lời tâm huyết, thâm sâu nhất. Ngài căn dặn các môn đệ :” Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy “.
Chúa căn dặn các môn đệ :” Mến Chúa yêu người “. Lời nhắn nhủ, căn dặn của Chúa Giêsu xưa với các môn đệ cũng là lời Chúa muốn mọi Kitô hữu ngày nay tuân giữ. Đạo Công giáo do Chúa thiết lập là đạo tình thương. Bởi vì, thánh Gioan định nghĩa “ Thiên Chúa là tình yêu “. Yêu thương là chu toàn lề luật. Yêu thương là họa lại chính con người của Chúa. Mục đích cuối cùng của mọi lề luật nhằm giúp con người sống bác ái, quảng đại, xả kỷ đối với nhau. Chính vì thế, càng yêu thương, chúng ta càng chu toàn lề luật. Vì lề luật là để phục vụ con người, chứ không phải con người nô lệ lề luật. Nhưng, cuộc sống không phải ai cũng hiểu được như vậy, có những người đã dùng lề luật để đàn áp con người, có những người luôn dùng lề luật làm thước đo cho người khác, họ quên rằng lề luật trên hết mọi lề luật là yêu thương…Chúng ta nhiều khi cũng rơi vào tình trạng nệ luật: có khi chúng ta giữ luật để được người khác khen, để cho người lớn khen thưởng. Không giữ luật chúng ta sợ bị phạt, sợ bị khiển trách vv…Thái độ ấy và cung cách giữ luật ấy nhiều người mắc phải. Chúa Giêsu không muốn chúng ta giữ luật như thế mà Ngài muốn chúng ta trưởng thành, vững chắc và giữ luật vì tình yêu, chứ không giữ luật không ý thức, máy móc, không trưởng thành vì sợ hãi, vì sợ khiển trách, không được khen thưởng vv…
Lời Chúa hôm nay, giúp chúng ta hiểu rất rõ bởi vì khi xưa trong bữa tiệc ly với các môn đệ, Chúa Giêsu đã trút hết bầu tâm sự của mình, Ngài muốn các môn đệ yêu mến ngài thì phải giữ đạo, thực hành đạo với đức tin trong sáng.Chúa căn dặn các môn đệ cũng đồng thời truyền cho chúng ta tuân giữ” Mến Chúa yêu người “. Chúa ban cho chúng ta đức tin qua bí tích rửa tội.Được đức tin hướng dẫn chúng ta bám chặt lấy Chúa, hoàn toàn phó thác
nơi Ngài :” Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa “ .Cuộc sống, sinh mạng của chúng ta hoàn toàn ở trong tay Chúa. Chúng ta tin Ngài, chúng ta sống đức tin. Có đức tin, chúng ta biết đạo, nên chúng ta giữ đạo, sống đạo vì yêu mến Chúa :” Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em phải giữ giới răn của Thầy”. Thực tế, trong đời làm con Chúa hằng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều mẫu gương giữ đạo, sống đạo anh hùng. Một thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống hết mình vì tình yêu :” Trong Giáo Hội, con  sẽ là Tình Yêu “. Một nữ thánh Têrêsa thành Calcutta đã sống phục vụ như Đức Giêsu, một thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã sống hết mình để củng cố “ đức tin cho Giáo Hội “ vv…Và còn biết bao nhiêu gương lành của các thánh và những Kitô hữu tốt lành.
Đoạn Tin Mừng này là những lời tạ từ của Chúa Giêsu trước khi Ngài rời bỏ các môn đệ để đi chịu nạn chịu chết. Các môn đệ tin vào Chúa Giêsu, Đấng là Thầy, là Chúa của các Ngài và tin vào Đấng phù trợ, là Thánh Thần mà Chúa Giêsu sẽ gửi đến :” Thầy không để các con mồ côi, Thầy sẽ trở lại với các con “.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tin tưởng vào tình yêu của Chúa và để chúng con luôn biết sống quảng đại phục vụ anh em.Xin Chúa cho chúng con biết tuân giữ lề luật một cách trưởng thành vì lòng yêu mến Chúa chứ không phải vì sợ phạt, sợ bị khiển trách, sợ bị trù dập. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Chúa Giêsu đã nói những lời tạ từ với các môn đệ ở đâu ?
2.Mến Chúa yêu người là gì ?
3.Giữ đạo và sống đạo khác nhau ra sao ?
4.Chúng ta nên giữ luật thế nào ?
5.Giả hình là sao ?
 
 

PS6-A108: AI MỚI THỰC SỰ YÊU MẾN CHÚA ?

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH A
Cv 8,5-8.14-17; 1 Pr 3,15-18; Ga 14,15-21
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 14,15-21
(15) Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. (16) Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. (17) Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận. Vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. (18) Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. (19) Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. (20) Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. (21) Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Chúa Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến Người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”.
2. Ý CHÍNH:
 

Bài Tin Mừng hôm nay trích trong bài diễn từ giã biệt của Đức Giê-su trước khi chịu khổ nạn, phục PS6-A108

Bài Tin Mừng hôm nay trích trong bài diễn từ giã biệt của Đức Giê-su trước khi chịu khổ nạn, phục sinh và lên trời với Chúa Cha. Trong thời gian vắng mặt, Đức Giê-su hứa sẽ ban cho các Môn đệ một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần để ở với các ông luôn mãi. Người cũng hứa sẽ không bỏ mặc các ông mồ côi, nhưng sẽ hiện diện bên các ông một cách thiêng liêng. Những ai thực sự yêu mến Người thì phải tuân giữ các giới răn của Người. Ai làm như vậy thì sẽ được Chúa Cha yêu mến và còn được Người bày tỏ sự thật của mình ra cho họ biết.
3. CHÚ THÍCH:
- C 15-17: + Nếu anh em yêu mến Thầy…: Đối với Đức Giê-su, tình yêu không chỉ dừng lại ở tình cảm tâm hồn hay cảm xúc thể xác, mà phải được biểu lộ trong hành động vâng phục là tuân giữ các giới răn của Người, cũng như Người đã yêu mến Chúa Cha và luôn tuân giữ các lệnh truyền của Chúa Cha (x. Ga 15,10). + Đấng Bảo Trợ khác: Bảo Trợ tiếng Hy Lạp là Pa-ra-cle-tos, ám chỉ một người được mời đến để làm trạng sư bênh vực và bầu chữa cho bị cáo khi tòa án xét xử. Ở đây Thánh Thần sẽ bầu chữa cho các môn đệ, trong vụ kiện đối với thế gian trước tòa án của Thiên Chúa. Qua đó cho thấy chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Chúa Giê-su (x. 1 Tm 2,5), nhưng lại có hai Đấng Bảo Trợ: Một là “Đức Giê-su Ki-tô là Đấng công chính” (x. 1 Ga 2,1), cũng là “Đấng hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta” (x. Dt 7,25); Hai là Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác (x. Ga 14,16) là “chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả” (x. Rm 8,26). + Đến ở với anh em luôn mãi: Sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su sẽ hoàn tất khi Ngài được tôn vinh (x. Ga 7,39), nghĩa là khi Người tắt thở trên cây thập giá (x. Ga 19,30). Từ đây Người trao ban Thần Khí là Chúa Thánh Thần cho nhân loại để thực hiện một cuộc tạo thành mới. Thời kỳ của Chúa Thánh Thần sẽ kéo dài mãi đến ngày tận thế. + Thần Chân Lý: là Thánh Thần, phát xuất từ Đức Giê-su là chân lý (x. Ga 14,6), Đấng luôn nói sự thật của Chúa Cha (x. Ga 12,49) và sau khi phục sinh đã thổi hơi ban Thần Khí cho các Tông đồ (x. Ga 20,22). Thần Chân Lý đối lập với ma quỷ là cha của sự dối trá (x. Ga 8,44). + Đấng mà thế gian không thể đón nhận: Vì Thánh Thần là Thần Khí thiêng liêng, nên thế gian không thể thấy và không thể đón nhận Người. Thế gian ở đây là các đầu mục của người Do thái, những kẻ kiêu căng, ích kỷ, thù hận, không tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Họ không biết và không muốn đón nhận Thánh Thần của Người nên họ sẽ bị chết trong tội của mình (x. Ga 8,22-24). + Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em: Các Tông đồ nhờ đức tin sẽ đón nhận Thánh Thần, nên sẽ được Ngài ở cùng và dạy dỗ toàn vẹn sự thật.
- C 18-19: + Thầy sẽ không để anh em mồ côi…: Mồ côi là tình trạng con cái bị mất cha mẹ nên không có người chăm sóc nuôi dưỡng, học trò bị mất thầy nên không được ai dạy dỗ hướng dẫn. Ở đây Đức Giê-su có ý nói rằng: sau khi từ cõi chết sống lại, dù Người không còn ở với các môn đệ như hiện tại, nhưng Người vẫn luôn ở cùng các ông nhờ đức tin và ơn thánh. + Chẳng bao lâu nữa: Người hứa sẽ mau trở lại (x. Ga 16,19.22). + Thế gian sẽ không còn thấy Thầy: Đức Giê-su sắp chịu chết và người đời sẽ không còn thấy Người sau khi Người sống lại, vì từ nay Người không còn hiện diện bằng thân xác nữa. + Anh em được thấy Thầy: Thấy ở đây là bằng đức tin: tin Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa. Nhờ tin, các ông sẽ được tham dự vào sự sống siêu nhiên và kết hiệp mật thiết với Người.
- C 20-21: + Ngày đó: là kiểu nói thường dùng trong Cựu Ước để chỉ ngày Chúa lại đến, tức là ngày cánh chung hay tận thế (x. Is 2,17; 4,1). + Thầy ở trong Cha Thầy và Thầy ở trong anh em: Nhờ vào sự thấy được bằng đức tin như vậy, các môn đệ sẽ khám phá ra đời sống kết hiệp thâm sâu giữa Chúa Cha và Chúa Con (x. Ga 14,11), đồng thời cũng cảm nghiệm được sự liên kết mật thiết giữa họ với Chúa Giê-su Phục Sinh bằng đức tin và ân sủng. + Ai có và giữ các điều răn của Thầy…: Lòng mến Chúa không phải chỉ dừng lại ở tình cảm và lời nói, nhưng phải được thể hiện qua hành động tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa, nhất là sống giới răn yêu thương của Chúa Giê-su (x. Ga 13,34). + Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến…: Câu này không có nghĩa là Thiên Chúa chỉ yêu mến những ai yêu mến Chúa Giê-su, vì Thiên Chúa yêu hết mọi người và yêu họ trước (x. 1 Ga 4,10). Nhưng những ai yêu mến và vâng lời Đức Giê-su thì càng được Thiên Chúa yêu mến hơn, với danh nghĩa họ là nghĩa tử của Đức Giê-su và là chi thể của Đầu Nhiệm Thể là chính Người.
4. CÂU HỎI:
1) Đức Giê-su đòi người ta thể hiện tình yêu đối với Người thế nào ? 2) Bảo trợ nghĩa là gì ? Loài người chúng ta chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất là ai ? Nhưng chúng ta lại có hai Đấng Bảo Trợ là những Vị nào ? 3) Sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su chấm dứt khi nào ? Sẽ được Đấng nào khác tiếp tục cho đến tận thế ? 4) Thần Chân Lý là ai ? Phát xuất từ Đấng nào ? Đối lập với ai ? 5) Tại sao thế gian không thể đón nhận được Thần Chân Lý ? Các Tông đồ phải làm gì để đón nhận được Ngài ?

II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).
2. CÂU CHUYỆN:
1) ĐẠO ĐỨC LÀ TIN CẬY PHÓ THÁC VÀO TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA:
Sau lễ đăng quang, Đức Piô XI trở về phòng riêng, ngồi vào chiếc ghế của vị tiền nhiệm là Đức Bê-nê-dic-tô XV thì tự nhiên ngài cảm thấy một nỗi lo âu xâm chiếm tâm hồn. Ngài nhìn thấy con đường tương lai thật tăm tối: Một Giáo hội đang bị tấn công mọi mặt. Cuộc thế chiến thứ nhất vừa chấm dứt, nhưng ngòi nổ vẫn còn đang âm ỉ chờ bùng phát lại. Trong lúc chán nản, ngài đã làm công việc duy nhất mà một người lo âu có thể làm, là quì xuống cầu nguyện. Trong lúc cầu nguyện, tay ngài vô tình chạm vào một bức ảnh trên bàn làm việc của đức Bê-nê-dic-tô. Ngài cầm bức ảnh ấy lên xem và ngài cảm thấy nỗi lo sợ trong lòng bỗng tan biến hết. Tâm hồn ngài tràn ngập an bình. Đó là bức ảnh Chúa Giêsu đang truyền cho sóng gió yên lặng. Từ đó, Đức Pi-ô XI luôn để bức ảnh ấy trên bàn và mỗi khi bi lo âu chuyện gì, ngài nhìn vào bức ảnh và cầu xin Chúa Giê-su phán một lời để được sóng yên biển lặng.
Ngày nay Chúa Giêsu luôn ở trong chúng ta và sẽ mang lại sự bình an cho tâm hồn chúng ta. Bởi đó, khi gặp sóng gió, chúng ta hãy bắt chước các môn đệ, chạy đến với Chúa Giê-su và nài xin Người: « Lạy Chúa, xin cứu chúng con, kẻo chúng con chết mất ». Chắc chắn Chúa sẽ ra tay nâng đỡ để chúng ta vượt thắng mọi gian nan và trung thành phụng sự một mình Người.
2) AI LÀ NGƯỜI THỰC SỰ YÊU MẾN THIÊN CHÚA ?:
Một người kia trong khi ngủ đã nằm mơ thấy mình gặp một thiên thần có cánh đang đi bộ xuống phố. Một tay ngài cầm bó đuốc, tay kia cầm một xô nước. Anh ta liền hỏi thiên thần rằng: “Ngài đi xuống phố kia làm chi vậy ?”. Thiên thần đáp: “Ta được sai đến để tìm xem ai là người có đức tin và có lòng mến Chúa thực sự”. Anh ta hỏi tiếp: “Sao Ngài lại phải cầm theo bó đuốc và xô nước ?” Thiên thần đáp: “Ta muốn dùng bó đuốc để thiêu hủy các tòa nhà trên thiên đàng, và dùng xô nước để dập tắt ngọn lửa dưới hỏa ngục”. Anh ta hỏi tiếp: “Nhưng tại sao Ngài lại phải làm như thế ?” Bấy giờ thiên thần trả lời: “Để biết ai thực sự có đức tin và lòng mến Chúa. Một người có đức tin thực sự thì sẽ tuân giữ các giới răn cho dù ta có phá huỷ hy vọng sau này họ sẽ lên thiên đàng và phá hủy nỗi sợ sau này sẽ bị sa hỏa ngục đi nữa”.
3) CHÍNH KHI HIẾN THÂN LÀ KHI ĐƯỢC NHẬN LÃNH:
Bà MA-RI-NA PI-CÁT-SÔ (Marina Picasso) là cháu của họa sĩ nổi tiếng PÁP-LÔ PI-CÁT-SÔ (Pablo Picasso). Trong thời gian từ năm 1973 đến 1975, bà liên tiếp phải chịu nhiều cái tang lớn: Ông nội mất, anh ruột tự tử, cha đột ngột qua đời. Đây thật là những mất mát không thể bù đắp, dù bà đã được thừa kế một gia sản lớn lao. Từ lúc ấy, thay vì ngồi gậm nhấm nỗi đau của mình thì bà dành nhiều thì giờ để chăm sóc những trẻ em mồ côi không người thân thích, những trẻ lang thang bụi đời đang sống vất vưởng ở nơi đầu đường xó chợ. Cũng từ ngày đó bà cảm thấy có sự biến đổi to lớn trong tâm hồn như bà tâm sự: “Nhờ giúp đỡ con em của nước này, mà tôi đã tìm lại được chính mình. Giờ đây tôi cảm thấy mình như sống lại, và tôi muốn phân phát sự sống mới đó cho các em”. Chính nhờ ra khỏi nỗi đau mất mát người thân của mình, để cúi xuống xoa dịu nỗi đau của tha nhân mà bà Ma-ri-na Pi-cát-sô đã như được sống lại về linh hồn. Khi không còn bận tâm lo cho mình để quan tâm chia sẻ nhu cầu của người khác, bà đã nghiệm thấy sự sống nơi bà được nhân lên nhiều lần, như lời kinh Hoa Bình của thánh Phan-xi-cô: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân… Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời…”
4) TÌNH THƯƠNG KHÔNG CÓ TRONG NHỮNG CON NGƯỜI ÍCH KỶ:
Truyện cổ tích Ả Rập kể rằng: Có một người bán thịt nướng rất keo kiệt và khó tính, vì tính khí khó chịu của anh ta nên cửa hàng luôn bị ế ẩm, anh đã làm đủ mọi cách để câu khách nhưng chẳng ai thèm mua. Có một người ăn xin ngồi bên lề đường, thèm thuồng nhìn những miếng thịt nướng treo lủng lẳng, rồi ông móc trong bị ra một khúc bánh mì, lẳng lặng đem hơ nóng trên khói, hy vọng khói thịt sẽ ướp vào miếng bánh. Sau đó, ông ngồi ăn miếng bánh cách ngon lành. Anh chàng bán thịt nhìn thấy, chạy ra túm áo người ăn xin đòi tiền. Người ăn xin phân trần: “Tôi đâu có mua thịt của anh, khói thịt đâu có phải là thịt”. Anh bán thịt quát lên: “Khói thịt cũng thuộc về miếng thịt, ông phải trả tiền cho tôi”. Hai người cãi nhau, không ai chịu ai và đưa nhau đến quan tòa xét xử. Vị quan tòa truyền cho người ăn xin móc ra một đồng tiền cắc và ném xuống nền nhà phát ra tiếng kêu, ông nói: “Đây là giải pháp công bằng nhất, người ăn xin hưởng khói thịt của anh, và anh thì hưởng âm thanh đồng tiền của ông ta. Thế là công bằng nhé”.
Việt Nam chúng ta cũng có câu chuyện về một người cha tham lam ích kỷ, thiếu tình thương con cái. Một hôm ông ta đi đánh dậm ngoài đồng và bắt được mấy con cá mang về nhà. Ông đang ngồi bên bếp than nướng số cá mới bắt được để nhắm rượu. Mùi cá nướng thơm phức khiến đứa con nhỏ thức giấc và khóc đòi được ăn cá nướng. Bà mẹ liền an ủi con: “Nín đi con, để mẹ xem có con cá nào nhỏ, mẹ sẽ xin bố cho con”. Nghe vậy, anh chồng vốn tham ăn và ích kỷ liền quát: “Cho cái gì ? Không có con nào nhỏ cả, con nào cũng đều lớn hết”.
5) LÒNG HIẾU THẢO PHẢI ĐƯỢC BIỂU LỘ QUA SỰ VÂNG LỜI:
Một bé trai theo mẹ vào siêu thị đi sắm đồ. Khi đến cửa hàng quần áo. Trong lúc mẹ đang nói chuyện với cô nhân viên bán hàng, thấy các món hàng quần áo treo trên giây, em liền leo lên lấy làm các món đồ rơi xuống tung tóe. Lúc đầu, người mẹ cầm chặt tay con lại, rồi nhẹ nhàng nói: “Đừng làm như thế nghe con!” Nó cúi đầu ngoan ngoãn đáp: “Dạ vâng, thưa mẹ!” Nhưng một lúc sau, khi mẹ đang bận chọn lựa mặt hàng thì đứa bé lại leo lên làm rơi hàng xuống. Người mẹ vẫn kiên nhẫn nhắc nhở con: “Đừng làm như thế nữa, nghe con!” Nó lại hứa: “Dạ vâng!” Rồi một lúc sau, nó lại chứng nào tật đó làm rớt món hàng xuống khiến cô nhân viên bán hàng nhíu mày tỏ vẻ khó chịu. Lần này, bà mẹ liền nắm chặt tay con, trừng mắt nhìn con, dùng ngón tay trỏ chỉ vào giữa trán nó, và nói bằng một giọng nghiêm khắc: “Đừng bao giờ làm như thế nữa nghe chưa?” Đứa bé hiểu rằng lần này thì nó phải nghe theo mệnh lệnh của mẹ là không được leo lên làm rớt đồ như vậy nữa. Nó nhìn mẹ, miệng mếu như muốn khóc với giọt nước mắt lưng tròng, nó nói: “Mẹ, con thương mẹ mà! Sao mẹ lại không thương con?”. Với nét mặt bình tĩnh, bà mẹ nói với con: “Nếu con thực sự thương mẹ, thì phải vâng lời mẹ, và không được làm trái ý mẹ nữa nghe con!”. Đứa bé liền ngừng khóc cúi đầu nhận lỗi và từ lúc đó đến khi ra khỏi siêu thị, nó không còn dám làm phiền những người chung quanh nữa.
Câu chuyện rất phù hợp với Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).- “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (Ga 14,21).
3. SUY NIỆM:
1) ĐẠO ĐỨC LÀ SỐNG TÌNH CON THẢO VỚI THIÊN CHÚA:
- Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta kiểm điểm lại động cơ khiến chúng ta giữ đạo: giữ đạo để được lên thiên đàng và khỏi bị sa hỏa ngục sau này, hay giữ đạo để trở nên con cái ngoan hiền hiếu thảo của Thiên Chúa và nên anh chị em thực sự của mọi người ? Một người giữ đạo chỉ để sau này được lên thiên đàng thường suy nghĩ tính toán như sau: Phạm tội trọng cỡ nào thì mới bị phạt sa hỏa ngục ? Ăn cắp bao nhiêu tiền thì mới là tội trọng ? Phải tha thứ cho người ta mấy lần ? Phải cho người nghèo bao nhiêu tiền để sẽ được Chúa ban thưởng hạnh phúc Thiên đàng đời sau ?…
- Đang khi đó, một người giữ đạo vì lòng yêu mến Chúa sẽ tự nguyện giữ đạo và luôn tự hỏi mình: Ngay lúc này tôi có thể làm gì để giúp đỡ một người qua cơn họan nạn ? Hiện nay ai đang cần được tôi giúp đỡ ? Tôi phải làm gì để nên con thảo với Chúa Cha trên trời ?… Về vấn đề này HE-RI I-MƠ-SÂN (Harry Emerson) đã phát biểu như sau: “Sợ hãi thì đe dọa, còn tình yêu lại gọi mời. Sợ hãi thì cầm tù, còn tình yêu lại giải phóng. Sợ hãi thì chua chát, còn tình yêu lại ngọt ngào. Sợ hãi thì gây ra thương tích, còn tình yêu lại chữa lành. Sợ hãi thì luôn lẩn tránh còn tình yêu lại hiện diện”.
2) LUÔN KẾT HIỆP MẬT THIẾT VỚI CHÚA THÁNH THẦN:
Trong bữa Tiệc Ly, trước khi từ giã các môn đệ chịu khổ nạn, Đức Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha cho các môn đệ và truyền cho các ông phải yêu thương nhau. Ngài đã phác họa cho các ông thấy tương lai đen tối đang chờ đón Thầy trò: “Họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng sẽ bắt bớ các con”. Tuy nhiên, để các ông được yên tâm, không hoang mang, không thất vọng, Ngài đã hứa sẽ ban Chúa Thánh Thần làm Đấng Bảo Trợ khác và hứa sẽ luôn ở với các môn đệ qua câu nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14,18).
Cuộc sống của mỗi người chúng ta giống như mặt biển đầy những sóng gió bão táp là những tội lỗi, những thói hư, những sự lo lắng về tiền bạc vật chất… Tất cả những cơn sóng gió này như muốn nhận chìm chúng ta xuống. Thế nhưng, chúng ta không nên hoảng sợ, vì chúng ta không chiến đấu một mình, mà có Chúa luôn ở trong chúng ta và đồng hành với chúng ta như Người đã hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14,18).-“Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
3) PHẢI BIỂU LỘ LÒNG MẾN BẰNG HÀNH ĐỘNG:
Thánh Gio-an đã khuyên các tín hữu như sau: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3,18). Lòng mến Chúa không chỉ dừng lại ở tình cảm yêu mến, hay là những việc đạo đức mang tính hình thức bề ngoài như đọc kinh, dự lễ mà thôi. Những việc đó tuy tốt, nhưng chưa đủ chứng tỏ lòng mến Chúa thực sự như lời Chúa Giê-su: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa ! Lạy Chúa !” là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21). Thánh Gio-an cũng cho biết lòng mến Chúa đích thực phải thể hiện bằng tình thương đối với tha nhân như sau: "Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng họ không trông thấy được" (1 Ga 4,20). Ai yêu thương phục vụ những người đói khát bệnh tật và đau khổ ở đời này thì sẽ được Chúa kể là đã yêu thương và phục vụ chính Người trong ngày phán xét (x. Mt 25,40).
4) LÒNG MẾN CHÚA PHẢI ĐI ĐÔI VỚI YÊU NGƯỜI:
Sau đây là một số việc cụ thể mà người có lòng mến Chúa thực sự phải thi hành:
- Luôn biết nghĩ đến người khác, chứ không ích kỷ chỉ biết nghĩ đến mình và gia đình mình như lời Chúa dạy: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12).
- Luôn xét đoán ý tốt, ước muốn và cầu nguyện điều tốt cho tha nhân như lời Chúa Giê-su dạy: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán (x. Mt 7,1).
- Khiêm tốn sửa lỗi của mình trước khi sửa lỗi cho tha nhân như Chúa dạy: “Hỡi kẻ đạo đức giả ! Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em” (x. Mt 7,4).
- Đối xử nhân hậu với những kẻ thù ghét bách hại mình, để hóa giải thù hận, biến thù thành bạn như lời Chúa phán: “”Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39). “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời. Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (x. Mt 5,44-45).
- Tha thứ không phải bảy lần mà đến bảy mươi lần bảy (x. Mt 18,21), nghĩa là phải luôn tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến mình, để đáng được Chúa tha tội cho mình: “Xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” (x. Mt 6,12).
- Quảng đại cho đi hơn nhận lãnh: “Cho thì phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).
- Năng thăm viếng để an ủi những người đau khổ bệnh tật và giúp đỡ chia sẻ cơm áo vật chất cho những người nghèo đói và cô thế cô thân, săn sóc phục vụ những người yếu đuối bệnh tật… Vì đến ngày phán xét, Chúa sẽ xét xử chúng ta tùy cách chúng ta đã đối xử với những người nghèo khổ gặp phải trong cuộc sống (x. Mt 25,34-40)…
4. THẢO LUẬN:
Yêu thương bằng việc làm là biết nghĩ đến người khác, xét đoán ý tốt và ước muốn điều tốt cho người mình không ưa, là sẵn sàng chịu đựng và khoan dung tha thứ những sự xúc phạm của kẻ khác đối với mình, là quảng đại cho đi hơn là nhận lãnh, là năng thăm viếng an ủi những người đau khổ và giúp đỡ những người cô đơn, là săn sóc phục vụ những người yếu đuối bệnh tật… Trong những ngày sắp tới bạn sẽ làm gì để thể hiện tình thương cụ thể đối với tha nhân ?
5. LỜI CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH. Xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, sự sống làm cho cuộc đời chúng con mãi mãi xanh tươi. Xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa, bình an làm cho chúng con vững tâm khi gặp phải các cơn sóng gió giữa cuộc đời. Xin ban cho chúng con niềm vui của Chúa, niềm vui làm cho khuôn mặt chúng con luôn rạng rỡ tươi vui. Xin ban cho chúng con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần sẽ biến đổi cuộc đời chúng con ngày một trở nên giống Chúa Cha trên trời hơn.
- LẠY CHÚA. Qua bài Tin Mừng hôm nay, chúng con hiểu rằng Chúa muốn chúng con tuân giữ các huấn lệnh vì lòng yêu mến Chúa, hơn là để được ban thưởng hạnh phúc thiên đàng hay không dám phạm tội trọng chỉ vì sợ bị phạt xuống hỏa ngục. Xin giúp chúng con biết mến Chúa bằng việc thực hành giới răn yêu thương tha nhân.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

PS6-A109: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Thánh Thần Giúp Ta Sống Đời Sống Yêu Thương
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Cv 8:5-8, 14-17;  1 Pr 3:15-18;  Ga 14:15-21)
 

Mặc dù còn hai tuần nữa mới đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nhưng ngay từ tuần này Phụng PS6-A109

Mặc dù còn hai tuần nữa mới đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nhưng ngay từ tuần này Phụng vụ Lời Chúa đã bắt đầu trình bày với chúng ta về vai trò của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội cũng như trong đời sống Ki-tô hữu.  Lời hứa Chúa Giê-su nói với các tông đồ trước khi Người chịu cuộc Thương Khó đã được thực hiện:  “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”.  Đúng thế, lời hứa ấy đã được thể hiện ở bất cứ nơi nào có bước chân truyền giáo của các vị tông đồ.  Cụ thể hơn nữa, lời hứa ban Thánh Thần được thể hiện ngay trong tâm hồn Ki-tô hữu, khi Người giúp họ “ăn ở ngay thẳng trong Đức Ki-tô” và “thà chịu đau khổ vì làm việc lành còn hơn là vì làm điều ác”.  Vậy trước hết chúng ta hãy lắng nghe Chúa Giê-su nói về vai trò của Chúa Thánh Thần.
          Trước khi lìa trần, người thân yêu của chúng ta thường trăn trối cho chúng ta một lời nói hay một kỷ vật quý báu nhất.  Đó cũng là điều Chúa Giê-su đã làm cho các tông đồ và hết thảy chúng ta khi Người hứa ban cho chúng ta Thánh Thần, “Đấng Bảo Trợ khác”, đến ở với chúng ta luôn mãi.  Khi còn ở với các môn đệ, Chúa Giê-su đích thực là Đấng Bảo Trợ bằng xương bằng thịt. Người sống giữa họ và trở nên như họ trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi.  Người thi hành vai trò bảo trợ bằng cách dạy dỗ họ những chân lý Chúa Cha muốn mặc khải cho họ.  Họ đã chứng kiến Đấng Bảo Trợ này hằng lo lắng chăm sóc mọi bề cho họ và dân chúng.  Người đã rao giảng Tin Mừng cứu độ và nuôi dưỡng hằng ngàn người đi theo Người để nghe Người giảng.  Người đã thực hiện những phép lạ chữa lành và xua trừ ma quỷ, để giúp người ta cảm nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa.  Đặc biệt hơn hết, Đấng Bảo Trợ xuống thế làm người đã hy sinh mạng sống mình để chứng minh chân lý Thiên Chúa yêu thương trần gian như thế nào.  Nhờ cái chết nhục hình trên thập giá, Đấng Bảo Trợ là “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi” đã chuộc chúng ta về cho Thiên Chúa, để chúng ta được gọi là con cái Thiên Chúa.
          Giờ đây sắp đến lúc Đấng Bảo Trợ bằng xương bằng thịt lìa bỏ trần gian để về với Cha Người.  Tuy nhiên Người không bỏ chúng ta mồ côi (Gio-an 14:18), nhưng sẽ xin Chúa Cha ban cho chúng ta “Đấng Bảo Trợ khác”, để Người giúp chúng ta hiểu được chân lý vẹn toàn, tức chân lý về tình yêu Thiên Chúa.  Chúa Giê-su khẳng định “một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”.  Nói khác đi, cũng vẫn là Chúa Giê-su, Con Thiên Chúa, ở lại với chúng ta, nhưng không phải bằng sự hiện diện của thân xác, mà bằng sự hiện diện của Thần Khí Người.  Như thế, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục ở lại và sinh hoạt giữa chúng ta, dưới hình thức hành động của Chúa Thánh Thần.
          Chúng ta có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa Giê-su qua Chúa Thánh Thần khi nhìn vào đời sống của Giáo Hội.  Sau khi Chúa về trời, hoạt động truyền giáo của các tông đồ phát triển mạnh mẽ chính là do sự can thiệp trực tiếp và rõ ràng của Chúa Thánh Thần.  Tại một thành miền Sa-ma-ri, các người đã được thánh Phi-líp-phê rửa tội đều lãnh nhận Thánh Thần do việc đặt tay của thánh Phê-rô và thánh Gio-an.  Ở những nơi khác, khi cuộc bách hại Ki-tô hữu bắt đầu, thánh Phê-rô đã khích lệ các tín hữu hãy để cho Đức Ki-tô, Đấng đã nhờ Thần Khí mà được sống lại, ngự trị trong lòng họ và giúp họ đối xử “cách hiền hòa và với sự kính trọng” với những kẻ bách hại và phỉ báng họ.  Đó là một số chứng cớ cho thấy vai trò hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội sơ khai cũng như sau này và nhất là trong tâm hồn các tín hữu.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Chúng ta đã nghe Chúa Giê-su diễn giải vai trò của Chúa Thánh Thần.  Tuy nhiên có một điều quan trọng nhất mà Người muốn chúng ta sống theo sự dẫn dắt của “Đấng Bảo Trợ” Chúa Cha ban cho chúng ta, đó là “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữa các điều răn của Thầy”.  Thánh Thần là tình yêu liên kết Chúa Cha và Chúa Con.  Thánh Thần cũng chính là tình yêu liên kết chúng ta với Ba Ngôi Thiên Chúa và với nhau.  Điều răn mới của Chúa là “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.  Vậy chúng ta hãy để Chúa Thánh Thần đem chúng ta lại gần Thiên Chúa và gần lại với nhau nhé!
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

PS6-A110: TIN MỪNG KHÔNG BIÊN GIỚI

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6, Phục Sinh, Năm A
 

Bất chấp những khó khăn và bách hại ngày càng gia tăng, giáo đoàn Kitô hữu tiên khởi đã ra PS6-A110

Bất chấp những khó khăn và bách hại ngày càng gia tăng, giáo đoàn Kitô hữu tiên khởi đã ra khỏi Giêrusalem để đến với muôn dân như bài sai của Đức Giêsu phục sinh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy” (Mt 28,19). Và từ nay Tin Mừng Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự và đã sống lại từ cõi chết không còn là Tin Mừng cho dân tộc Do Thái hay một miền đất, một nền văn hoá nào, nhưng là Tin Mừng không biên giới cho tất cả mọi người ở mọi thời, mọi nơi.
Thực vậy, lúc bấy giờ giáo đoàn tín hữu ở Giêrusalem bị truy lùng, bắt bớ dữ dội, điển hình là cuộc tử đạo của một trong Nhóm Bẩy Người là ông Têphanô. Nhóm này, ngoài Têphanô, còn có “các ông Philípphê, Pơrôkhôrô, Nicano, Timôn, Pácmêna và ông Nicôla” là những người “được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan” được các Tông Đồ chọn và đặt tay (Cv 6,3.5).
Ông Têphanô bị tố cáo “lộng ngôn xúc phạm đến ông Môsê và Thiên Chúa” và “không ngừng nói những lời phạm đến Nơi Thánh và Lề Luật” (Cv 6,11-12), và họ đã ném đá ông cho đến chết. “Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Saolô” (Cv 7,58). “Phần ông Saolô, ông tán thành việc giết ông Têphanô” (Cv 8,1). Và sách Công Vụ các Tông Đồ đã tóm tắt tình hình bách hại các tín hữu ở Giêrusalem buổi đầu của Giáo Hội như sau:
“Hồi ấy, Hội Thánh tại Giêrusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giuđê và Samari… Còn ông Saolô thì cứ phá hoại Hội Thánh: ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục” (Cv 8,1.3).
Chính trong thời buổi bị bách hại này mà Philípphê, một trong Nhóm Bẩy Người đã “xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Kitô cho dân cư ở đó” (Cv 8,5).
Samari là miền ngoại đạo và thù nghịch với người Do Thái, hai dân tộc ngăn cách bởi nhiều rào cản, và họ không chấp nhận nhau, đến nỗi chỉ đi ngang qua vùng Samari thôi, người Do Thái cũng không được phép. Nhưng bây giờ thì Tin Mừng vượt tuyến, vượt biên, vượt mọi chướng vật, rào cản, vượt mọi kỳ thị, thành kiến, vượt mọi phong tục, truyền thống, luật lệ để trở thành Tin Mừng không biên giới, hầu đến được với hết mọi người, không trừ ai. Sự việc hai tông đồ Phêrô và Gioan  đã đến tận Samari và đặt tay cầu nguyện cho dân cư ở đó, để họ nhận được Thánh Thần đã nói lên tinh thần hăng say với sứ vụ loan báo Tin Mừng không biên giới này, khi vượt qua mọi biên giới của chủng tộc, địa lý, lịch sử, xã hội, chính trị, văn hoá, lề luật mà Đức Giêsu đã ủy thác cho các vị, sau khi sống lại (x. Cv 8,14-17).
Thực vậy, giáo đoàn đầu tiên cũng như các tín hữu của dòng lịch sử Giáo Hội đã ý thức và xác tín: Đức Giêsu chịi đóng đinh và sống lại là Tin Mừng không biên giới của toàn thể nhân loại.
Để Tin Mừng trở thành Tin Mừng cho mọi người, Tin Mừng không biên giới, họ đã sống thuận hoà với nhau trước mặt Thiên Chúa và chia sẻ với người chung quanh niềm hy vọng trong Đức Giêsu phục sinh, như lời khuyên của thánh tông đồ trưởng Phêrô: “Tất cả anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn. Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại, hãy chúc phúc, vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc” (1 Pr 3,8-9). Chính nhờ đời sống bác ái, yêu thương, nhân hậu, như “dấu chỉ duy nhất họ là môn đệ của Đức Giêsu”, mà Tin Mừng đến được với mọi người, Đức Giêsu được tin thờ, yêu mến, khi  chứng từ của họ trở nên thuyết phục.
Và “Tin Mừng không biên giới” ấy đã được chính Đức Giêsu tuyên bố bảo đảm trong buổi tối thứ năm tuần thánh trước mặt các tông đồ, sau khi Giuđa đã bỏ bàn tiệc ra đi, khi Ngài nói về sự hiệp nhất giữa Ngài với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đồng thời giới thiệu với các ông Chúa Thánh Thần như Đấng Bảo Trợ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14,16-17).
Chính Thần Khí sự thật sẽ dẫn đưa người Kitô hữu đến với Chúa Ba Ngôi, nhờ tình yêu và lòng trung thành với Lời Thiên Chúa mà họ đã nhận được từ Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Cũng chính nhờ Thần Khí sự thật, mà các môn đệ của Đức Giêsu đã, đang và sẽ làm cho thế giới nhận ra ý muốn và hạnh phúc của Thiên Chúa là: tất cả mọi người được cứu độ và được sống.
Vâng, mục đích của Tin Mừng không biên giới, chính là không để bất cứ ai, ở bất kỳ nơi nào, thời nào mất đi cơ hội được nghe Tin Mừng “Thiên Chúa yêu thương họ”. Và mục đích ấy sẽ chỉ có thể đạt được, khi niềm vui phục sinh của người môn đệ Đức Giêsu được hiện thực hoá bằng  nhiệt huyết tông đồ, qua nỗ lực truyền giáo để Lời hằng sống, Máu và Nước từ thân xác Thiên Chúa làm người bị đóng đinh, cũng như ơn Cứu Độ và Bình An của Đức Giêsu sống lại  tuôn chảy đến  mọi người, không trừ ai, như thánh ý đời đời của Chúa Cha.
Jorathe Nắng Tím   

 

PS6-A111: Yêu và giữ lời - Huệ Minh

Mở lại những trang sách Cựu Ước, ta thấy Đức Chúa với ông Giôsuê, Ngài phán: Đừng sợ, vì PS6-A111

Mở lại những trang sách Cựu Ước, ta thấy Đức Chúa với ông Giôsuê, Ngài phán: Đừng sợ, vì Thiên Chúa ở cùng ngươi. Với Ghiđêon, Ngài bảo: Hỡi người dững cảm, Thiên Chúa ở cùng ngươi. Với Maisen, Ngài nói: Ta luôn ở với ngươi. Với Mẹ Maria, thiên thần loan báo: Thiên Chúa ở cùng bà, bà có phúc lạ hơn mọi phụ nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Và ngày hôm nay, với các môn đệ, Ngài đã hứa: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.
Đức Giêsu phục sinh không chỉ hiện ra một đôi lần, Ngài muốn ở mãi bên chúng ta cho đến tận thế. Một sự hiện diện hai chiều, thâm sâu và mới mẻ: “Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (c.20) Một sự hiện diện đem lại sức sống dồi dào: “Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” (c.19).
Hẳn ta còn nhớ khi các môn đệ đánh cá ở biển hồ Tibêriade, suốt đêm vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào, nhưng vâng lời Chúa, các ông đã thả lưới và lập tức các ông có được một mẻ cá ngoài sự mong muốn của mình. Khi gặp phải sóng gió, nhưng với uy quyền của Chúa, thì lập tức sóng liền yên và biển liền lặng. Giữa tiệc cưới tại Cana, mọi người đang lúng túng vì thiếu rượu, Chúa Giêsu đã làm phép lại cho nước lã biến thành rượu ngon. Giữa hoang địa cằn cỗi, Ngài đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều, để nuôi sống đám đông dân chúng đang đói mệt. Bà góa thành Naim, cũng như hai chị em Martha và Maria, đang than khóc tuyệt vọng vì người thân yêu của mình không còn nữa, nhưng Chúa đã làm phép lạ cho người đã chết được sống lại, hầu xoa dịu nỗi đớn đau tang tóc.
Cũng như hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa ở bên cạnh chúng ta, nhưng chúng ta lại chẳng nhận ra Ngài. Nhất là trong những giây phút buồn sầu và thất vọng, chúng ta cảm thấy Thiên Chúa dường như vắng bóng và chẳng đoái hoài đến những lời chúng ta kêu xin. Nhưng thật ra, đó lại là những giây phút Ngài ở gần chúng ta hơn bao giờ hết.
Chúa Giêsu hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (cc.16-17a). Đức Giêsu thực hiện vai trò trung gian bên Chúa Cha để Chúa Cha ban Thánh Thần cho những kẻ thuộc về Người, và cộng đoàn những kẻ thuộc về Đức Giêsu sẽ lãnh nhận được Thánh Thần nhờ Người.
Thánh Thần được gọi là Đấng Bảo Trợ. Đấng Bảo Trợ đến sẽ thực hiện một vai trò kép: trong cộng đoàn môn đệ và trong cuộc đối diện của cộng đoàn với thế gian. Bên trong cộng đoàn, Người dạy dỗ các đồ đệ mọi điều và làm cho các đồ đệ nhớ lại mọi điều Đức Giêsu đã truyền dạy (14, 26). Người dẫn họ đến sự thật toàn vẹn (16,13). Người làm chứng về Đức Giêsu trước các mô đệ (15, 26). Người tôn vinh Đức Giêsu và loan báo cho các đồ đệ những gì là của Đức Giêsu (16, 14). Và rồi trong cuộc đối diện của cộng đoàn với thế gian, Người soi sáng hướng dẫn các đồ đệ và làm cho các đồ đệ biết rằng thế gian sai lầm (16,9-11).
Trang Tin Mừng hôm nay trích trong bài diễn từ giã biệt của Chúa Giêsu trước cuộc khổ nạn phục sinh và lên trời với Chúa Cha. Trong thời gian vắng mặt, Chúa Giêsu hứa sẽ ban cho các môn đệ một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần để ở với các ông luôn mãi. Người cũng hứa sẽ không bỏ mặc các ông mồ côi, nhưng sẽ hiện diện bên các ông cách thiêng liêng.
Hơn hai ngàn năm qua, sức sống được Chúa Thánh Thần thông ban cho các môn đệ đã tràn ngập thế giới, đã trở thành lẽ sống của không biết bao nhiêu người. Chính nhờ sức sống ấy mà các tín hữu Kitô tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và sống đúng ơn gọi làm người của mình. Sống công bình, sống bác ái, sống phục vụ, sống quên mình không phải là độc quyền của người Kitô giáo. Tôn giáo nào cũng đề cao những giá trị ấy; giới răn yêu thương cũng không phải là giới răn riêng của các tín hữu Kitô chúng ta. Thế nhưng Chúa Giêsu đã ban bố giới răn ấy như một giới răn mới mẻ và là riêng của Ngài, bởi vì Ngài ban chính sức sống và tình yêu của Ngài cho các tín hữu để họ yêu thương bằng chính tình yêu của Ngài.
Lời Chúa hôm nay cũng căn dặn chúng ta: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy”. Như thế, tuân giữ giới răn Chúa là dấu chỉ cho lòng yêu mến Chúa. Tuân giữ giới răn Chúa còn là dấu chỉ sự trung tín và chu toàn bổn phận của Chúa giữa thế gian. Không thể nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại không dám thực thi lời Chúa. Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không dám sống đạo và giữ đạo, đó chỉ là sự giả tạo vì Chúa đã từng trách rằng: “Dân này chỉ thờ Ta bằng môi bằng miệng mà lòng chúng lại xa cách Ta”.
Khi sắp lìa bỏ thế gian và các môn đệ là đoàn con thân tín để về cùng Chúa Cha, Ngài nhắn nhủ họ những lời tâm huyết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở lại với anh em một ít lâu nữa thôi…. Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 33-35)
Khi yêu ai, chúng ta cảm thấy được những gì làm vui lòng người chúng ta yêu và không có gì cưỡng bức chúng ta tự nhiên làm tất cả để người yêu được vui, được hạnh phúc. Yêu mến Chúa cũng vậy. Yêu mến Chúa là sống theo ý Chúa muốn, là giữ các giới răn của Chúa, là thực thi ý Chúa muốn, là giữ các giới răn của Chúa, là thực thi ý muốn của Chúa trên cuộc sống chúng ta và trên cuộc sống của xã hội loài người.
Chúa Giêsu đã xác định: “Ai giữ các giới răn của Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến. Cha và Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ đến và ở trong người ấy”. Giữ các giới răn là ta ở với Chúa và Chúa ở với ta, là lưu lại trong tình yêu của Chúa. Kitô giáo là đạo của tình yêu: yêu Chúa và yêu người. Tình yêu sẽ chắp cho chúng ta đôi cánh để bay lên cao. Vậy mà có nhiều người lại coi Kitô giáo như những giới răn cấm kỵ và trừng phạt, như những gông cùm tròng vào cổ hay những gánh nặng đèn lên vai. Vì vậy cuộc sống đạo của họ trở thành một bài toán khô khan và nghèo nạn, nhiều khi quá máy móc. Họ bóp méo đạo yêu thương thành đạo sợ hãi. Đạo sợ hãi làm người ta mất nhiệt tình và cởi mở, mất nét vui tươi trên khuôn mặt của những người con cái Thiên Chúa.
Lòng yêu mến Chúa thực đòi ta giữ giới răn của Người. Điều đó rất tự nhiên. Bởi khi yêu nhau, người ta sẵn sàng chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh vì nhau. Người ta cũng sẵn sàng làm theo ý của nhau nếu đó là những ý muốn chính đáng. Điều cần nói ở đây là việc ta tuân giữ giới răn của Thiên Chúa chẳng đem lại lợi lộc gì cho Người, nhưng đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Bởi lẽ, lề luật của Chúa là một hàng rào cần thiết để bảo vệ ta được an toàn và khỏi rơi xuống vực thẳm tội lỗi. Đồng thời chúng cũng là những bảng chỉ đường giúp ta đi đúng con đường dẫn đến sự sống, đến hạnh phúc. Biết như vậy nhưng dường như ta vẫn cảm thấy khó khăn và ngại ngùng khi phải tuân giữ, phải thực thi các giới răn của Người.
Tuân hứa giới răn Chúa không chỉ dừng lại trên môi miệng mà còn là một dấn thân để ý Chúa được thể diện trong cuộc đời chúng ta. Như Chúa Giêsu, ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự. Người Kitô hữu cũng phải vâng phục theo giáo huấn của Chúa, cho dẫu có phải chịu thiệt thòi, mất mát hay phải hy sinh cả tính mạng vì lòng yêu mến Chúa.

 

PS6-A112: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

Vâng lời Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. Sau khi sống PS6-A112

Vâng lời Đức Chúa Cha, Đức Giêsu đã xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. Sau khi sống cuộc đời ẩn dật ở Nazareth, Ngài bắt đầu cuộc sống công khai. Sứ mạng chính của Ngài là rao giảng Tin mừng. Nhưng Ngài biết thời giờ của Ngài ở thế gian không còn được bao lâu, nên cùng lúc rao giảng Tin Mừng, Ngài đã tuyển chọn một số người mà Kinh thánh gọi là Tông đồ để trao cho họ sứ mạng của Ngài.
Ngài quan tâm số người này một cách đặc biệt. Trước khi chọn họ, Ngài đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa (x. Lc 6,12-16). Sau những giờ rao giảng cho dân chúng, Ngài thường gặp riêng họ để dặn dò, hoặc giải thích thêm những điều mà họ chưa hiểu. Ngài còn dành thời gian để dạy cho họ về những bài học cao quý của người lãnh đạo, nhất là bài học về tinh thần phục vụ. Ngài nói: “Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người” (Mc 10,42-45).
Đặc biệt, trong bữa tiệc ly, Ngài không những “dạy” mà còn “làm gương” cho các ông bằng cử chỉ rửa chân. Sau khi thực hành điều đó, Ngài nói: “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” (Ga 13,13-15).
Tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta biết, tuy Ngài sẽ về lại với Chúa Cha, nhưng “Ngài không để cho các ông mồ côi” (Ga 14,18). Thứ nhất, Ngài sẽ ban Đấng Phù Trợ đến. Đấng Phù Trợ đây là Thần Chân Lý, tức là Chúa Thánh Thần, là Thiên Chúa Ngôi Ba sẽ ở với các Tông đồ và Giáo hội. Thứ hai, tuy Ngài sẽ về với Chúa Cha, không còn hiện diện thực sự như Ngài đã từng hiện diện với các ông trong suốt ba năm qua, nhưng Ngài sẽ ở với các ông, với Giáo hội mỗi ngày cho đến tận thế bằng Lời của Ngài, bằng các Bí tích và bằng sự hiện diện một cách thiêng liêng. Điều này đã được chứng minh bằng những lần hiện ra sau khi Ngài phục sinh.
Nhưng Đức Giêsu đòi hỏi các Tông đồ là phải yêu mến Ngài. Cũng như trước khi trao sứ vụ Tông đồ trưởng cho Phêrô, Ngài đã muốn ông xác nhận về lòng yêu mến (x. Ga 21,15-19). Vì thế, lòng yêu mến hết sức quan trọng. Thánh Augustinô cũng đã từng nói: “cứ yêu rồi muốn làm gì thì làm”. Nhưng làm thế nào để chứng minh được lòng yêu mến? Đức Giêsu cho biết, lòng yêu mến được thể hiện qua việc thực hiện những lệnh truyền của Ngài, Ngài nói: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy”(Ga 14,15); “Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ yêu mến Thầy”(Ga 14,21).
Như vậy là đã rõ: Yêu mến Đức Giêsu là tuân giữ các luật của Ngài. Hay nói cách khác, kẻ giữ luật Đức Giêsu mới là kẻ yêu mến Ngài. Luật của Ngài là những giáo huấn được ghi lại trong Thánh Kinh và được lưu truyền qua Thánh truyền. Luật của Ngài được tóm lại trong mười điều răn là mến Chúa yêu người.
Các Tông đồ đã yêu mến Đức Giêsu một cách tuyệt đối và vô vị lợi.  Bởi vì, các ông đã thực hiện trọn vẹn giới răn của Đức Giêsu. Vì lòng yêu mến Chúa vô vị lợi nên các Ngài đã phục vụ tha nhân hết mình và cuối cùng các Ngài đã lấy cái chết để làm chứng cho lòng yêu mến của các Ngài vào Đức Giêsu. Các bài đọc hôm nay chứng minh cho chúng ta  phần nào.
Bài đọc 1, cho chúng ta thấy cách thức các Tông đồ và các thừa tác viên trong hội thánh sơ khai đã thực hiện giới răn của Đức Giêsu, đó là rao giảng, làm phép lạ, trừ quỷ, chữa lành bệnh tật. Sách Công Vụ tường thuật: “Trong những ngày ấy, Philipphê đi xuống một thành thuộc sứ Samaria, rao giảng Ðức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cũng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm. Quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó cả thành được vui mừng khôn tả”(Cv 8,5-8).  Đồng thời, các Tông đồ còn ban Bí tích Thêm sức cho họ: “Khi các Tông đồ ở Giêrusalem nghe tin Samaria đón nhận lời Thiên Chúa, liền gởi Phêrô và Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ngài cầu nguyện cho họ được nhận lãnh Thánh Thần: vì chưa có ai trong họ được nhận lãnh Thánh Thần, họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần”(Cv 8,14-17).
Bài đọc II cũng cho chúng ta biết, sau khi thấm nhuần giáo huấn của Thầy Chí Thánh, Thánh Phêrô gửi thư dặn dò các kitô hữu hãy sống niềm tin của mình như thế nào? Đối với Thiên Chúa, Ngài dạy: “Anh em hãy tôn thờ Thiên Chúa trong lòng anh em” (x. 1Pr 3,15). Trước mặt những người lương dân: “hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em, nhưng phải làm cách hiền từ, kính cẩn, hãy có lương tâm ngay chính, để những kẻ lăng mạ đời sống đạo đức của anh em trong Ðức Kitô, phải hổ thẹn về điều họ gièm pha anh em”(1Pr 3, 15-16). Rồi, Ngài còn nhấn mạnh: “Vì nếu Thiên Chúa muốn, thì thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác”(1Pr 3, 17).
Đó là lòng yêu mến một cách vô vị lợi qua tinh thần giữ luật Chúa của các Tông đồ. Còn đối với mỗi người chúng ta thì sao?
Chúng ta có yêu mến Chúa và yêu tha nhân một cách vô vị lợi không? Hay nói cách khác, chúng ta có tuân giữ luật Chúa, một cách vô vị lợi không? Bởi vì, tình yêu vô vị lợi là tình yêu không so đo tính toán. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu quảng đại, vị tha, cho đi, luôn muốn cho người mình yêu được hạnh phúc. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu chỉ nghĩ đến Chúa đến tha nhân chứ không nghĩ đến mình. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu đòi hỏi phải có sự hy sinh. Pierre l’Ermite đã nói: “Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật.” Đó chính là tình yêu của Đức Giêsu dành cho nhân loại mà chóp đỉnh của tình yêu này là thí mạng sống cho nhân loại. Chính Ngài đã nói: “Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của người chết cho người yêu” (Ga 15,13). Đó là tình yêu của Cha Maximiliên Kôlbê, chấp nhận chết thay cho người bạn tù vì anh ta còn vợ trẻ con thơ.
Hay chúng ta đang yêu mến Chúa, yêu thương tha nhân bằng một tình yêu vị lợi? Tức là tình yêu ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, tìm hạnh phúc cho mình chứ không nghĩ đến Chúa, đến tha nhân. Thậm chí có khi coi Chúa, coi tha nhân như là phương tiện để phục vụ cho mình. Thực tế, có rất nhiều người đi đạo nhưng không giữ đạo. Họ chỉ chạy đến với Chúa với Giáo hội khi họ cần cho họ, như khi lãnh nhận bí tích hôn phối, khi đưa xác người thân đến nhà thờ. Có nhiều người nói yêu tha nhân nhưng thực sự chỉ để lợi dụng tha nhân khi cần, vì chưa bao giờ họ muốn cho tha nhân được hạnh phúc.
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, vì trước khi về trời Chúa đã không để chúng con mồ côi nhưng đã ở lại với chúng con bằng nhiều thể nhiều cách. Xin cho chúng con luôn biết yêu mến Chúa bằng việc tuân giữ giới răn và thực hành lời của Chúa. Amen.

 

PS6-A113: Suy niệm của Lm Trầm Phúc

Chúa Giêsu sống lại đã trở thành nguồn phấn khởi và hy vọng cho chúng ta. Và để cho niềm vui PS6-A113

Chúa Giêsu sống lại đã trở thành nguồn phấn khởi và hy vọng cho chúng ta. Và để cho niềm vui đó tồn tại và sung mãn, Ngài chỉ cho chúng ta một con đường là giữ điều răn của Thầy. Và giữ điều răn của Thầy chính là yêu mến Thầy. Con đường tình yêu không chỉ là nói mà làm. Tình yêu đích thực là làm cho người yêu vừa lòng. Yêu mến Chúa cũng thế thôi. Chúa đã từng trách dân Do Thái chỉ yêu ngoài môi ngoài miệng mà lòng trí vẫn xa Ngài. Chúa Giêsu đã yêu chúng ta trước và tình yêu đã khiến Ngài hi sinh tất cả, mang lấy thân phận chúng ta, và chết cho chúng ta: “Không có tình yêu nào cao cả cho bằng dám chết cho bạn hữu”. Ngài đã chứng minh tình yêu của Ngài bằng những hành động cụ thể, không thể chối cãi. Ngài cũng yêu Chúa Cha bằng cách vâng phục ý Cha đến trọn vẹn, cho đến chết và chết trên thập giá. Con đường tình yêu chỉ có một. Chúng ta yêu Ngài cũng theo con đường duy nhất đó.
Khi yêu Ngài, giữ lời Ngài, chúng ta sẽ được gì? Ngài không hứa ban cho chúng ta những lợi lộc trần gian. Ngài cho chúng ta những gì mà thế gian không thể biết và không thể lãnh nhận là Thánh Thần của Ngài, Đấng Bảo Trợ, là Thần Khí sự thật. Đấng bảo trợ là ai? Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Đấng Bảo Trợ mang nhiều ý nghĩa: là Đấng an ủi, là người bảo vệ, là trạng sư, là người nâng đỡ… Ở đây, Chúa Thánh Thần bao gồm tất cả những nhiệm vụ đó. Trong Kinh Thánh, chúng ta thấy Ngài hoạt động từ lúc sáng thế cho đến ngày chung thẩm, không có nơi nào mà chúng ta không thấy hoạt động của Ngài. Ngài hiện diện trong mọi biến cố của dân Chúa, trong những người Chúa chọn để dạy dỗ hay cứu vớt dân Chúa. Nhất là nơi các tiên tri, và đặc biệt nhất là nơi Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu xuống thế làm người là do quyền năng Thánh Thần. Có thể nói, Chúa Giêsu hoàn toàn là một với Thánh Thần, trong mọi hoạt động, trong mọi tình huống. Trên thập giá, Chúa Giêsu đã trao phó Thánh Thần cho Giáo Hội và cho chúng ta khi Ngài tắt thở. Đến ngày lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần Chúa đã long trọng ngự xuống trên các tông đồ và dưới sự thúc đẩy của Ngài, Giáo Hội bắt đầu chinh phục thế giới.
Nơi bàn tiệc ly, Chúa Giêsu đã hứa trước và Ngài đã thực hiện lời hứa đó. Chúng ta được thanh tẩy trong Thánh Thần và nhận lãnh Thánh Thần một cách sung mãn nơi Bí tích Thêm Sức. Ngài luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. Ngài là Thần Khí sự thật, Ngài sẽ dẫn chúng ta đến sự thật vẹn toàn. Ngài sẽ giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa vì chính Thiên Chúa là sự thật. Biết Thiên Chúa là điều cốt yếu, nếu không, chúng ta dễ biến Ngài thành thần tượng, như dân Do Thái đã biến Thiên Chúa thành con bò vàng. Thiên Chúa vượt xa tất cả những gì chúng ta tưởng về Ngài. Chỉ có Thánh Thần mới giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa như Chúa muốn. Chỉ có Thánh Thần mới dạy chúng ta cầu nguyện thế nào cho phải và cho chúng ta biết gọi tiếng cha ơi với tất cả tình con thảo. Chỉ có Thánh Thần mới soi sáng cho chúng ta biết Thiên Chúa là Tình Yêu. Chỉ có Thánh Thần mới dạy chúng ta biết yêu mến Chúa hết lòng hết sức. Chúa Giêsu đã hứa là không để chúng ta mồ côi, Ngài sẽ cùng chúng ta nhờ Thánh Thần của Ngài:  Ngài ở giữa anh em và ở trong anh em. Hãy lặp đi lặp lại những lời đầy an ủi này, chúng ta sẽ thấy ấm lòng hơn. Chúng ta sẽ không đơn độc giữa thế giới đầy hận thù và gian ác này. Chúng ta sẽ không thất vọng khi mọi sự quanh ta trở thành chướng ngại, và cuộc sống trở nên gánh nặng. Chúng ta sẽ can đảm rao giảng Tin Mừng Chúa bằng cả cuộc sống cam go này.
Nhờ Thánh Thần Tình Yêu, chúng ta sẽ trở nên tình yêu: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Phải can đảm phi thường mới có thể yêu thương như Thầy. Nhưng có thể được vì chúng ta có Chúa Thánh Thần trong ta. Chính Ngài thúc đẩy mọi việc lành, mọi cố gắng của chúng ta.
Chúa Giêsu nhấn mạnh đến sự ở trong: “Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em. Thánh Thần ở giữa và ở trong anh em”. Đó mới là biểu hiện của tình yêu. Chúng ta được ẩn náu trong Chúa, và như thế chúng ta được sống trong Chúa và chính Chúa chọn tâm hồn chúng ta làm nơi cư ngụ của Ngài. Ngài không cần tỏ hiện, Ngài dùng chúng ta để tỏ hiện tình yêu của Ngài cho mọi người. Chúng ta phải sống thế nào? Phải yêu thương nhau. Đó là ước muốn cuối cùng của Chúa Giêsu. Chúng ta là con Chúa, chúng ta chỉ sống bằng tình yêu thôi. Chúng ta không thể làm gì khác. Chúng ta là hình ảnh của Chúa, vì Chúa đã tạo nên chúng ta giống hình ảnh Ngài. Vì thế, Chúa Giêsu đã dùng một phương tiện lạ lùng để sống trong chúng ta một cách cụ thể. Ngài tự hiến cho chúng ta bằng cách trở nên một tấm bánh và bảo chúng ta cầm lấy mà ăn. Như thế, Ngài thực hiện ý định tình yêu của Ngài bằng một hình thức cụ thể nhất và chúng ta sẽ không thể nào tránh né tình yêu Ngài. Phải là một với Ngài, hôm nay và mãi mãi.

 

PS6-A114: Khát khao gặp Chúa - Ioseph, Svd

Tự bản chất, con người luôn hướng lòng về Thiên Chúa và kiếm tìm Ngài. Vì Ngài là chính chân lý PS6-A114

Tự bản chất, con người luôn hướng lòng về Thiên Chúa và kiếm tìm Ngài. Vì Ngài là chính chân lý và hạnh phúc viên mãn mà con người hằng khao khát. Vì chỉ có Chúa mới có thể lấp đầy những khoảng trống khao khát trong lòng con người. Lời Chúa hôm nay như gợi mở, giải đáp cho những khúc mắc thường gặp, cho những ưu tư và trăn trở khắc khoải trong hành chính tìm Chúa của chúng ta.
“Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” Đã biết bao lần chúng ta khát mong gặp gỡ Chúa trong cầu nguyện, biết bao lần chúng ta kêu xin Chúa đến với chúng ta, cho chúng ta được gặp gỡ Ngài một cách thực sự và thâm sâu, nhưng chúng ta vẫn chưa gặp được Chúa, chưa nghe được tiếng Chúa, chưa nhận ra ý Chúa… Có thể nói hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra lời giải cho nỗi ưu tư của chúng ta. Đó cũng là chìa khóa để chúng ta mở ra cánh cửa cho Chúa đến, kiến tạo cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa cách thực sự thâm sâu. Đó là “yêu mến”. “Nếu ai yêu mến Thầy,… Thầy sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” Chúa sẽ tỏ mình, sẽ mạc khải về Ngài cho chúng ta, sẽ thực sự gặp gỡ chúng ta khi và chỉ khi chúng ta biết mến yêu Chúa chân thành, tha thiết, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn. Mến yêu Chúa cách thực sự và trọn vẹn. Đó là điều kiện để gặp được Chúa, để những mong mỏi của ta được thành tựu. Vậy tôi phải yêu mến Thầy Giêsu như thế nào cho được…?
“Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy.” Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cách yêu mến Chúa rất thiết thực: giữ lời Thầy. Giữ lời Thầy hay nói khác đi là sống lời Thầy dạy, là thực hành Lời Chúa, để cho Lời Chúa triển nở sống động trong cuộc đời chúng ta, nên hơi thở của ta, nên máu thịt của ta… Đó là khi Lời Chúa đã thực sự được “cưu mang”, được nhập thể trong ta. Như thế, từng lời nói, cử chỉ, hành động, suy nghĩ của ta đều mang dáng dấp của Chúa và chính bản thân ta phản chiếu bóng hình Chúa. Vì tất cả được thấm nhuần giáo huấn của Chúa và đời ta thực sự có Chúa hiện diện. Khi người anh em của ta nhận ra Chúa nơi con người chúng ta, thì cũng khi ấy, chúng ta gặp gỡ được Chúa, thấy được Chúa hiện diện cách tỏ tường trong chính đời sống của mình, trong chính bản thân mình. Hơn thế nữa, khi giữ Lời Chúa dạy, Chúa ở lại trong ta và ta ở trong Chúa. Chúng ta được bước vào sự hiệp thông thần linh với Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì Chúa sẽ ban Đấng Bảo Trợ đến trong ta. Vì Chúa Cha ở trong thầy và Thầy ở trong Chúa Cha. Đó là cuộc gặp gỡ đích thực, thiêng liêng và cao quý. Khi chúng ta sống được như thế, Thiên Chúa đã tỏ mình và hiện hữu cách sống động và cụ thể trong cuộc đời chúng ta. Quay trở lại những vấn đề chúng ta đặt ra ở trên, chúng ta đã có thể trả lời cho câu hỏi: tại sao chúng ta khát khao, mong ước gặp gỡ Chúa mà chưa gặp được?
Lời Chúa hôm nay vang lên vừa nhắc nhở, vừa tạo cho chúng ta cơ hội nhìn lại mối tương quan của mình đối với Chúa, nhìn lại đời sống thiêng liêng của mình. Chúng ta muốn gặp gỡ Chúa, chúng ta đã yêu Chúa hay chưa? Chúng ta yêu Chúa, chúng ta có giữ lời Chúa hay không? Chúng ta theo đạo, nhưng chúng ta có giữ đạo hay không, có thực sự sống đạo hay không?...
Xin Chúa soi sáng và ban Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ mà Ngài đã hứa cho chúng ta, để Ngài giúp chúng ta nhận ra mình đang ở đâu trong đời sống đức tin, ở đâu trong hành trình tìm kiếm và gặp gỡ Chúa, ở đâu trong cuộc lữ hành tiến về Nhà Cha, nơi có Chúa ngự trị và nơi chúng ta được ngắm nhìn vinh quang Thiên Chúa chẳng khi ngưng.
“Hãy ở lại trong Thầy.” Chúa vẫn hằng mời gọi chúng ta đến với Ngài và gặp gỡ Ngài. Hãy kiên trì cầu nguyện và hết lòng kiếm tìm Chúa trong sự yêu mến chân thành là sống Lời Chúa dạy. Chúa sẽ đến và ở lại trong ta. Chúa sẽ gặp gỡ ta và ở với chúng ta luôn mãi. Ngài sẽ không để chúng ta phải thất vọng bao giờ.

 

PS6-A115: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI - CN 6 PS A

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Chúng ta vừa nghe một đoạn Tin Mừng trong đó có những lời Chúa Giêsu nói thật khó hiểu. Chúa PS6-A115

Chúng ta vừa nghe một đoạn Tin Mừng trong đó có những lời Chúa Giêsu nói thật khó hiểu. Chúa nói làm sao?
- Chúa bảo với các môn đệ: “Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy.” (Ga14,19)
- Chúa có ý nói gì khi Chúa bảo như thế?
- Thưa Chúa muốn cho các môn đệ của Chúa biết ngày Chúa về với Chúa Cha sắp xảy ra rồi. Lúc đó thì chẳng ai có thế thấy Chúa nữa.
Nhưng Chúa lại nói tiếp:
- Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống.
Khó hiểu không chúng con? Người ta thì không được thấy, còn các môn đệ thì lại được thấy. Và Chúa giải thích lý do: Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.(Ga 14,20-21)
Chúng con có hiểu Lời Chúa vừa giải thích không?
Khó quá phải không chúng con? Đúng là khó thật. Bây giờ đến lượt cha, cha giải thích là để chúng con hiểu.
Chúng con biết, sau khi Chúa về trời rồi thì không còn ai được thấy Chúa như người ta vẫn thấy nữa. Nhưng như Chúa nói Chúa vẫn ở với loài người: Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.(Mt 28,20)
 Chúa vẫn ở với loài người nhưng làm sao để thấy được Chúa đây?
Thì đây là cách thức chính Chúa chỉ: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”(Ga 14,20-21)
Vâng...bằng cách sống Lời của Chúa, Chúa sẽ tỏ mình ra cho chúng ta. Chính Chúa sẽ tỏ mình ra cho chúng ta được thấy.
Cha kể cho chúng con câu chuyện này. Câu chuyện do nhà văn hào Lev Tolstoy, tác giả của bộ sách nổi tiếng “Chiến tranh và hòa bình” kể, một câu chuyện rất cảm động về một ông già nhà quê mà ông quen biết. Tên ông ấy là Martin Avdiéitch. Bác Martin làm nghề đóng giày trong làng. Cả làng ai cũng quí mến Bác. Bác sống một cuộc đời rất hạnh phúc bên vợ con. Nhưng thật là không may cho Bác. Ngoại trừ đứa con trai nhỏ, còn tất cả vợ con bác đã bị chết trong một tai nạn bất ngờ. Chúng ta có thể thấy được nỗi đau khổ của bác to lớn như thế nào. Tuy đau xót nhưng cũng may là còn một đứa sống sót an ủi bác. Thế nhưng như người đời thường nói: “Họa vô đơn chí”. Đứa con trai duy nhất của bác sau đó lâm bệnh và cuối cùng đã vội bước vào thế giới bên kia.
Bác Martin thất vọng...tuyệt vọng về cuộc sống. Bác trách Thiên Chúa. Bác muốn kết thúc cuộc đời của mình cho rồi. Những nỗi bất hạnh đổ xuống trên đầu của bác sao mà kinh khủng quá. Bác không muốn sống nữa.
Nhưng rất may là vào ngày lễ Chúa Thánh Thần năm đó, một người bạn thân trên đường đi hành hương ghé qua thăm bác. Bác đem câu chuyện đau buồn của gia đình ra kể. Sau khi nghe xong người bạn đã nói với bác:
- Chúng ta không có quyền xét đoán Thiên Chúa về những gì Ngài làm. Việc đó vượt quá trí khôn của con người chúng ta. Ngài đã định cho vợ con anh chết. Còn anh thì anh phải sống và như thế thì tốt hơn. Sở dĩ anh thất vọng và muốn chết như thế là bởi vì anh chỉ muốn sống cho bản thân của anh, cho hạnh phúc riêng tư của anh thôi!
- Vậy thì tại sao người ta phải sống?
+ Chính cho Thiên Chúa mà người ta phải sống. Khi anh bắt đầu sống cho Ngài, anh sẽ không còn buồn phiền và anh sẽ có sức mạnh để vượt qua tất cả một cách dễ dàng.
Martin im lặng một lúc rồi hỏi:
- Làm thế nào để sống cho Thiên Chúa?
+ À thì chính Chúa đã chỉ - Anh biết đọc chứ? Anh hãy mua một cuốn Thánh Kinh và hãy đọc ở trong đó, anh sẽ biết cách phải sống cho Thiên Chúa như thế nào. Ở đó anh sẽ tìm thấy câu trả lời cho tất cả những gì anh hỏi tôi.
Không đợi lâu, Bác đi mua ngay một cuốn Kinh Thánh Tân Ước và mỗi ngày bác đọc. Càng đọc, bác càng cảm thấy thấm thía. Bác đọc đi đọc lại những lời Chúa nói ở trong Tin Mừng.
Một buổi tối kia sau khi đọc xong, bác miên man suy nghĩ về những gì mình mới đọc. Suy nghĩ được một lúc thì tự nhiên bác cảm thấy thiu thiu muốn chợp mắt đi. Vừa thiu thiu muốn chợp mắt đi như thế thì tự nhiên bác nghe thấy như có ai gọi mình:
- Martin!
Bác giật mình đứng dậy hỏi thật lớn:
- Ai đó?
Nhìn ra ngoài bác chẳng thấy ai. Rồi bác lại tiếp tục suy nghĩ trong tình trạng như vừa ngủ vừa thức. Đột nhiên bác lại nghe thấy có tiếng bảo:
- Martin ơi! Ngày mai hãy nhìn ra đường. Ta sẽ đến thăm ngươi.
Sáng hôm sau bác dậy sớm hơn mọi ngày. Bác chuẩn bị nhà cửa gọn gàng khang trang hơn rồi vừa làm việc vừa ngó ra đường qua tấm cửa kính đã được chùi sạch.
Mãi mà không thấy ai gõ cửa, mặc dầu có rất nhiều người qua đường.
Đến khoảng 9 giờ thì bác thấy một người bạn cũ. Đó là bác Nicolai. Bác khá già. Không vợ con. Bác phải làm nghề dọn tuyết để tự nuôi sống mình. Thấy Bác mệt nhọc mà trời lại quá lạnh. Martin mời bác vào trong nhà. Chính tay Martin pha trà mời bác Nicôlai dùng. Cả hai sống với nhau những giờ phút thật ấm cúng và đầy tình thương.
Sau đó Bác từ giã rồi ra đi, còn Martin thì lại tiếp tục công việc nhưng đôi mắt không quên nhìn ra cửa.
Một người đàn bà còn trẻ, ăn mặc rách rưới ẵm con đi qua. Bác Martin nghe thấy tiếng đứa trẻ khóc và mẹ nó tìm cách dỗ nó nhưng không thành công. Bác vội vàng đứng dậy mở cửa lớn tiếng gọi:
- Bà kia! Tại sao ẵm con ở ngoài trời lạnh thế? Vào đây..Hãy lại ngồi gần lò sưởi và cho con bú.
- Thưa bác cháu không còn sữa vì từ chiều hôm qua đến giờ cháu không có gì ăn.
Bác Martin đi vào bếp, đem tất cả những gì bác có, đưa đến cho người đàn bà.
Chị kể cho bác nghe tất cả những sự vất vả mà chị phải chịu.
Sau khi đã chuẩn bị đủ đồ lạnh cho hai mẹ con. Bác tiễn hai mẹ con ra đi và không quên dúi vào tay người đàn bà một tờ giấy bạc 20 đồng để khi cần chị có thể dùng.
Chiều đến một bà già bán táo đi ngang qua. Lưng bà còn đeo theo một bó củi có lẽ bà đã kiếm được ở đâu đó. Tình cờ một thằng bé xuất hiện, lấm la lấm lét chộp lấy một quả táo và định tháo chạy nhưng không may cho nó, bà già đã nhanh tay hơn và nắm được nó. Hai người ở trong một thế phải đấu tranh.
Martin phải ra can thiệp. Cuối cùng thì ông xin bà già cho ông được trả tiền quả táo và ông trao quả táo cho thằng bé trước sự ngỡ ngàng của nó.
Trời đã tối nhưng ông cũng vẫn còn chờ.
- Bác Martin này, bác có nhận ra tôi không?
- Nhưng người là ai vậy?. Bác hỏi.
Một bóng người vụt qua mắt bác. Đó là bác Nicôlai, người dọn tuyết.

Và một tiếng khác: “và cũng chính là Ta đây”. Rồi từ góc nhà hiện ra khuôn mặt của bà mẹ và đứa con. Bà mẹ mỉm cười và đứa bé cũng mỉm cười. Rồi hình họ cũng biến mất. “Và cũng chính là ta”. Lại một tiếng nói nữa. Đó là bà già bán táo và thằng bé. Cả hai đều cười và rồi cũng biến đi.
Martin cảm thấy sung sướng. Ông làm dấu Thánh Giá, đeo kính vào và đọc tiếp đoạn Kinh Thánh ông đang đọc dở dang: “Ta đói, các người đã cho Ta ăn. Ta khát....”
Ở cuối trang ông dừng lại thật lâu ở những dòng chữ này: “Những gì các ngươi làm cho một một người bé nhỏ trong các anh em của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40).
Ông tự nghĩ trong lòng: Giấc mơ đã không đánh lừa ông. Và ông đã không lầm khi nghĩ rằng chính Chúa đã đến nhà ông và ông đã được đón tiếp Ngài. Amen.
Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

PS6-A116: Ở với, ở bên, ở trong

Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
Lời Chúa: Ga 14, 15-21
Khi ấy, Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người; còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”
Suy niệm:
 

Khi yêu nhau người ta thường muốn ở gần nhau, ở bên nhau, ở cùng nhau, ở với nhau. Được ở PS6-A116

Khi yêu nhau người ta thường muốn ở gần nhau,
ở bên nhau, ở cùng nhau, ở với nhau.
Được ở với người mình yêu là một hạnh phúc lớn.
Thiên Chúa đã muốn ở với nhân loại nơi Đức Giêsu,
Ngài là Đấng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Khi chia tay các môn đệ sau phục sinh, Đức Giêsu nói:
“Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Thật ra Ngài còn muốn ở với họ sau tận thế nữa:
“Con muốn rằng Con ở đâu
thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với Con” (Ga 17,24).
Thầy Giêsu có một ước mơ của những người yêu nhau:
“Thầy ở đâu, anh em cũng sẽ ở đó” (Ga 14,4; 12,26).
Vì yêu, Thầy Giêsu không hề muốn xa các học trò của mình.
Ngài muốn ở với họ trong nhà Cha mãi mãi.
Bài Tin Mừng Gioan còn nói đến giới từ “ở trong”.
Giới từ này nói lên tương quan mật thiết giữa Thầy và trò:
“Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Ga 14,20).
Nó cũng được dùng để nói lên tương quan giữa Cha và Thầy:
“Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11; 17,21).
Bao giờ cũng cần hai chiều để thành một tương quan trọn vẹn.
Khi các môn đệ yêu thương nhau,
họ sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy (Ga 15,10).
Khi các môn đệ lãnh nhận bí tích Thánh Thể, họ được ở lại trong Thầy:
“Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi,
Và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56).
Khi Đức Giêsu về nhà Cha qua con đường thập giá,
Ngài hứa xin Cha ban cho các môn đệ Chúa Thánh Thần,
Đấng Bảo Trợ này sẽ ở với họ mãi mãi,
ở lại bên họ và sẽ ở trong họ (Ga 14,16-17).
Ở với, ở bên, ở trong vẫn là những giới từ quen thuộc
cho thấy sự gần gũi, thân thiết giữa Đấng Bảo Trợ với các môn đệ.
Họ có thể thấy Ngài, biết Ngài,
và đón nhận Ngài vào cuộc đời họ để được Ngài dẫn đi.
Sự trống vắng do Đức Giêsu để lại khi Ngài về với Cha nay được lấp đầy.
Các môn đệ không phải là những đứa trẻ mồ côi,
nhưng họ thấy mình đầy tràn sự hiện diện của một Đấng Bảo Trợ khác,
Khi ở trong Đấng Bảo Trợ này, họ thấy mình ở trong Thầy Giêsu.
***
Bài Tin Mừng hôm nay được đọc vào gần cuối mùa Phục sinh.
Những lời Đức Giêsu nói trước khi về với Cha đã được ứng nghiệm.
“Thầy đến với anh em… Anh em sẽ được thấy Thầy,
vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống” (Ga 14,18-19).
Đức Giêsu phục sinh đã đến với các môn đệ và họ đã thấy Ngài.
Ngài đã trao cho họ Thánh Thần là hơi thở sự sống thần linh.
Chúng ta mong mình có thể nói được như thánh Phaolô:
“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi,
mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Ga 2,20).
Ước gì chúng ta là những người yêu mến Thầy, giữ lời Thầy,
nhờ đó được Cha và Thầy yêu mến (Ga 14,21).

Lời nguyện:

Lạy Chúa Kitô, xin ở với con.
Chúa Kitô ở trước con, Chúa Kitô ở sau con.
Chúa Kitô ở trong con, Chúa Kitô ở dưới con, Chúa Kitô ở trên con.

Chúa Ki tô ở bên phải con, Chúa Kitô ở bên trái con.
Chúa Kitô nơi con nằm, Chúa Kitô nơi con ngồi, Chúa Kitô nơi con đứng.

Chúa Kitô ở trong tim mọi người nghĩ về con,
Chúa Kitô ở trong mắt mọi người thấy con,
Chúa Kitô ở trong tai mọi người nghe con.

Ơn cứu độ thuộc về Chúa.
Ơn cứu độ thuộc về Chúa Kitô.
Lạy Chúa, xin ơn cứu độ của Chúa
ở mãi bên chúng con. (Thánh Patrick, 389-461)

 

PS6-A117: THẦY Ở TRONG CÁC CON

Có hai bạn trẻ chơi thân với nhau, một da đen ở miền quê nghèo nàn, một da trắng ở chốn đô PS6-A117

Có hai bạn trẻ chơi thân với nhau, một da đen ở miền quê nghèo nàn, một da trắng ở chốn đô hội xa hoa. Một hôm anh da đen lên thành phố thăm bạn. Cả hai vừa đi dạo vừa trò chuyện dưới ánh nắng chiều, bỗng anh da trắng ngạc nhiên thấy bạn mình đứng khựng lại, không nói gì nữa và trông như đang cố lắng nghe một tiếng gì ở đàng xa.
-        Cái gì thế?
-        Có tiếng chim sâu ở gần đây!
-        Làm sao thành phố mà có chim sâu được, chỉ toàn là tiếng xe cộ ồn ào.
Đi thêm một quãng, anh da đen chỉ cho bạn thấy con chim sâu đang hót trong vườn cây một khu nhà cũ. Anh da trắng khen bạn:
-     Tai anh tốt quá!
-    Không đâu, tai tôi chẳng hơn gì tai anh nhưng vì tôi ở miền quê, quen với tiếng chim và thích nghe chim hót mà thôi.
Nói đoạn anh lấy mấy đồng bạc cắc thảy xuống đường. Lập tức có mấy người đi trước quay lại, tưởng có ai đánh rơi tiền. Anh da đen nói:
-    Thính tai nhỉ! Thế mà tiếng chim hót lại chẳng mấy ai nghe thấy!
Người ta không chỉ đánh mất một nét đẹp của cuộc sống, mà mất cả cuộc sống khi không biết đến tình yêu. Với nhân loại tội lỗi, Thiên Chúa là tình yêu đã đích thân đến sống giữa thế gian, để “ban cho họ một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng họ ... lấy khỏi mình họ trái tim chai đá và ban cho họ một trái tim bằng thịt” (Ed 11,19).
Thiên Chúa không yêu bằng một tình yêu trừu tượng, xa vời, mà là một tình yêu nhập thể trong một con người cụ thể, sống động và gần gũi với cuộc sống mỗi người.
Thế nhưng: "thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người” (Ga 14,17). Chính vì muốn chiều theo những dục vọng vị kỷ mà thế gian không nhận ra Thần Khí hướng dẫn và nâng đỡ Đức Kitô. Thế gian nhắm mắt lại trước tình yêu Thiên Chúa trong con người Giêsu, để chỉ còn thấy nơi Ngài một anh thợ mộc tầm thường, một kẻ phiến loạn không giữ ngày Sabát, lại còn thêm tội ăn uống với bọn thu thuế và tội lỗi, … đáng phải xử tử!
Vâng, điều cốt yếu của ơn cứu độ không phải ở phép rửa mà ở hoạt động của Thần Khí Đức Kitô. Khi gặp một nhóm các tín hữu đã chịu phép rửa ở Giêrusalem, Phêrô và Gioan thấy “Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ: họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần” (Cv 8,16-17).
Thánh Thần làm cho đức tin trở nên sống động, và biến mọi chi tiết đời sống thành câu trả lời cho niềm tin: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1Pr 3,15).
Tắt một lời, không có giấy chứng nhận nào cho niềm tin ngoài chính cuộc sống của người tin, và câu hỏi về ơn cứu độ được trả lời trong lời xác nhận về đức mến, về sự hiện diện của Thần Khí Đức Kitô: “còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa và ở trong anh em” (Ga 14,17).
Năm thánh 2000 ghi dấu một niềm vinh hạnh cho người Việt Nam khi ĐHY Nguyễn Văn Thuận được mời giảng phòng Mùa Chay cho giáo triều Rô-ma. Những bài giảng của ngài được in thành cuốn ‘Chứng nhân hy vọng’ được nhiều người yêu thích.
ĐHY đã có một bắt đầu gây ngạc nhiên: "Tôi đã bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu, vì tôi yêu thích những khuyết điểm của Ngài".
Rồi ngài kể “các khuyết điểm của Chúa” mà ngài yêu thích, như Chúa không có trí nhớ tốt – quên hết tội người ta; làm toán kém - bỏ 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc; luận lý dở - tìm được một đồng bạc mà mở tiệc ăn mừng; có tính phiêu lưu - Chúa kêu gọi nhiều người theo Chúa đi loan báo Tin Mừng mà chẳng có gì bảo đảm cho cuộc sống của họ và của chính Chúa: "Con Người không có chỗ gối đầu" !!!
Sau khi kể ra các khuyết điểm của Chúa Giêsu, ĐHY đặt câu hỏi cho mọi người: “Nhưng chúng ta tự hỏi: tại sao Chúa Giêsu có những khuyết điểm như thế?"
Để đi đến kết luận: "Vì Ngài là Tình Yêu (Cf 1Ga 4,16). Tình yêu đích thực không lý luận, không đo lường, không dựng lên những hàng rào, không tính toán, không nhớ đến những xúc phạm và không đặt điều kiện. Nói theo kiểu thời nay: tình yêu không cân, đo, đong, đếm”.
Kết luận của ĐHY thực là một tiếng chuông gióng lên nhắc tôi chớ để có sự tương phản giữa niềm tin và cuộc sống mình khi bỏ quên Thần Khí tình yêu của Đức Kitô, để Chúa ở trong tôi, món quà quí giá nhất Chúa để lại cho mọi người.
Chúa đã kết án thế gian là không thấy và cũng chẳng biết được Thần Khí tình yêu của Chúa; nhưng những người sống gần tôi, hay ở xa hơn thì có anh em lương dân, có thấy được Thần Khí tình yêu của Chúa ở nơi tôi và ở trong tôi không?
Lm. HK

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây