Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 51-100 Ban một Đấng Phù Tr

Thứ hai - 15/05/2017 10:31
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 51-100 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 51-100 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-A Bài 51-100 Hứa ban một Đấng Phù Trợ
PS6-A51: NỖI NIỀM YÊU CỦA NGƯỜI RA ĐI 2
PS6-A52: Thần Khí sự thật đến. 5
PS6-A53: YÊU MẾN THẦY THÌ GIỮ ỊIỀU RĂN CỦA THẦY.. 10
PS6-A54: NGÔI LỜI BÀY TỎ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA.. 11
PS6-A55: Câu trả lời hay nhất 14
PS6-A56: Thiên Chúa Ở Cùng. 19
PS6-A57: Trở nên hình ảnh Chúa Giêsu. 21
PS6-A58: Mối tình Châu Long. 23
PS6-A59: Chúa Giêsu không để các đồ đệ mồ côi 25
PS6-A60: Tuân giữ các điều răn của Thầy. 28
PS6-A61: HÃY SẴN SÀNG ĐÓN NHẬN THÁNH THẦN.. 33
PS6-A62: ĐẤNG BẢO HỘ TÌNH YÊU BẤT DIỆT.. 36
PS6-A63: LỜI DẶN DÒ CỦA CHÚA.. 39
PS6-A64: MỘT LẦN – CHỈ MỘT LẦN THÔI ! 41
PS6-A65: YÊU MẾN THẦY, THÌ HÃY GIỮ GIỚI RĂN THẦY.. 43
PS6-A66: NỤ CƯỜI CỦA CHÚA.. 45
PS6-A67: YÊU LÀ CHU TOÀN LỀ LUẬT.. 46
PS6-A68: YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU.. 48
PS6-A69: ĐỜI KHÔNG ĐƠN CÔI 49
PS6-A70: YÊU THƯƠNG VÀ VÂNG PHỤC.. 50
PS6-A71: GIỮ GIỚI RĂN VÌ YÊU MẾN.. 52
PS6-A72: THUỘC VỀ CHÚA.. 53
PS6-A73: HOA QUẢ CỦA TÌNH YÊU.. 55
PS6-A74: YÊU CHO TRỌN.. 56
PS6-A75: NẾU NÓI YÊU THẦY MÀ KHÔNG GIỮ LỜI THẦY.. 58
PS6-A76: TUÂN GIỮ GIỚI RĂN LÀ MẾN CHÚA THỰC SỰ.. 62
PS6-A77: YÊU MẾN THẦY THÌ GIỮ GIỚI RĂN THẦY.. 66
PS6-A78: CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH.. 67
PS6-A79: CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH.. 69
PS6-A80: LỆNH TRUYỀN VÀ LỜI HỨA.. 71
PS6-A81: ĐỨC GIÊSU, NIỀM VUI HY VỌNG.. 73
PS6-A82: TÌNH YÊU VÀ GIỚI LUẬT.. 75
PS6-A83: YÊU MẾN CHÚA.. 77
PS6-A84: YÊU MẾN CHÚA.. 78
PS6-A85: TUÂN GIỮ GIỚI RĂN LÀ MẾN CHÚA THỰC SỰ.. 80
PS6-A86: Nhờ Thánh Thần, Thiên Chúa ở lại với chúng ta. 86
PS6-A87: Hội Thánh Có Thánh Thần Ở Luôn. 87
PS6-A88: Yêu là điều kiện để lời hứa được thực hiện. 92
PS6-A89: Nếu Anh Em Yêu Mến Tôi 93
PS6-A90: CHỨNG TỪ HI VỌNG.. 96
PS6-A91: SỨC MẠNH CỦA CHÚA THÁNH THẦN.. 99
PS6-A92: Chúa Nhật VI Phục Sinh. 101
PS6-A93: Chúa Nhật thứ 6 Phục Sinh. 104
PS6-A94: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 108
PS6-A95: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH 2002. 111
PS6-A96: Con mắt của trái tim.. 112
PS6-A97: Giữ lời Chúa truyền. 114
PS6-A98: Tình yêu và Thánh Thần. 115
PS6-A99: Đấng Bảo Trợ – R. Veritas. 118
PS6-A100: Thần Khí hướng dẫn – Lm. Jos. Quốc Phong. 120

 

PS6-A51: NỖI NIỀM YÊU CỦA NGƯỜI RA ĐI

 (CN 6PS – Ga 14, 15-21)
 

Cách nay không lâu, sau khi được diễn đàn thân quen đưa tin về Ya’ Angela, tức nữ tu Y Bluih, người dân: PS6-A51

Cách nay không lâu, sau khi được diễn đàn thân quen đưa tin về Ya’ Angela, tức nữ tu Y Bluih, người dân tộc Bahna phụ trách Mái Ấm Vinh Sơn, thuộc giáo phận Kontum, đang bị bệnh “sơ gan cổ chướng” và đang được điều trị tại bệnh viện Thống Nhất, Saigòn, tôi cảm thấy có điều gì gắn bó mật thiết đến tâm hồn rung cảm của mình. Và khi biết tin không vui này cũng là lúc tôi lại nhận được một tin vui khác. Đó là một người thân quen từ Pháp gửi về cho tôi 2 tượng ĐM Lộ Đức rất nhỏ bằng nhựa, trong đó có chứa nước suối. Đây là món quà vô cùng quí giá đối với tôi, vì tôi là một bệnh nhân đã trường kỳ kháng chiến suốt gần 40 năm ròng rã.
Khi nhận được món quà chứa nguồn nước ban sinh lực dành cho những người có lòng tin, tôi liền ghé thăm Ya’ (theo người Kinh gọi là Sơ) Angela, nữ tu dòng Ảnh Vảy, một hội dòng dành cho người dân tộc trên miền đất truyền giáo cao nguyên Kontum. Dù chưa hề gặp mặt Ya’ và cũng chẳng biết gì hơn ngoài sự hăng say dấn thân phục vụ các trẻ mồ côi, khuyết tật cùng những người bệnh phong và nghèo khổ khác trong Mái Ấm mà Ya’ đã và đang tận tụy hy sinh cuộc đời nơi đây.
Với chiếc xe máy ba bánh dành cho người liệt 2 chân, tôi không được anh bảo vệ đồng ý cho vào bên trong khu vực nội trú của bệnh viện. Thế nhưng, với lòng khao khát được thăm viếng sẻ chia, cùng hòa quyện vào niềm tin tưởng nơi sự chở che của Mẹ trong tâm hồn đơn sơ phó thác, cũng như quyết tâm xuống nước năn nỉ ỉ ôi, cuối cùng tôi cũng được anh bảo vệ chiếu cố cho phép vượt qua qui định. Tôi tiến lên phía trước vừa thầm cảm ơn Chúa và Mẹ đã mở lòng người xa lạ để anh ta nhận ra nhu cầu thiết tha chính đáng của tôi, vừa cảm nhận được niềm vui bình an  vì có Thần Khí Chúa cùng đồng hành.
Lần mò mãi tôi cũng đến được phòng bệnh nhân. Khi đối diện với người ốm yếu gầy gò xanh xao, Ya’ bỡ ngỡ trước sự xuất hiện của một bệnh nhân thích di chuyển như tôi. Nhưng rồi với 3 chữ “CVK” (viết tắt từ 3 chữ “Chùng Viện Kontum”) mà tôi tự giới thiệu, Ya’ cũng tỏ ra vui mừng không kém như gặp được người thân quen lâu ngày xa cách. Tôi chẳng có gì ngoài món quà của Mẹ Lộ Đức và cùng với Ya’ hiệp thông lời cầu nguyện xin Mẹ chuyển ban cho Ya’ cũng như cho cả hai sẵn sàng đón nhận hồng ân “Xin Vâng” như Mẹ. Trong giây phút thinh lặng linh thiêng ấy, tôi nhìn lên đôi mắt đã hoắm sâu của Ya’. Long lanh. Và rồi từ nơi 2 khóe mắt là 2 giọt nước nóng bỏng tuôn trào. Trước sự bồi hồi xao xuyến của Ya’, tôi cảm nhận được tình yêu của Ya’ đang hướng về những đứa con côi cút nghèo khổ và những người là hiện thân của Đức Kitô Phục Sinh mà Ya’ đã vỗ về, bồng ẵm, đã chăm bẵm và lắng nghe họ thở than cũng như cười đùa. Những giọt nước mắt bộc lộ nỗi niềm yêu của người sắp sửa ra đi...
Khi hồi tưởng êm đềm về những giọt nước mắt nóng cháy yêu thương của Ya’ Angela, tôi mới thấm thía được rằng lời Chúa Giêsu đã thấm sâu vào trái tim tâm hồn của Ya’, vì tôi tin rằng Ya’ đã sống với tất cả những gì mà Ya’ đã lắng nghe rồi lãnh nhận, rồi trao ban. Lời Người đã như lửa bừng cháy sang cho tôi:
Ai có và giữ các điều răn của Thầy,
người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.
Mà ai yêu mến Thầy,
thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến,
Thầy sẽ yêu mến người ấy
Và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (Ga 14, 21)
Ya’ Angela đã có Thần Khí Đức Kitô trong tim, trong lắng đọng tâm hồn và cũng đã sống hết mình vì “mến Chúa yêu người”. Ya’ đã dõi bước theo chân Người không phải vì sức riêng của mình mà chính vì tin rằng Thần Khí tình yêu của Người ban tặng như Người đã mặc khải:
Thầy sẽ xin Chúa Cha
và Người sẽ ban cho anh em
một Đấng Bảo Trợ khác
đến ở với anh em luôn mãi.” (Ga 14, 16)
Lời cuồn cuộn yêu thương trên của Chúa Giêsu đã được thánh sử Gioan suy diễn và xác tín:
Đức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bây giờ họ chưa nhận được Thần Khí vì Đức Kitô chưa được tôn vinh.” (Ga 7, 39)
Với cảm nghiệm của tôi, không lời cầu xin nào linh thánh cho bằng chính cái chết trên Thập Giá vì yêu thương; không lời nguyện nào linh nghiệm cho bằng có Thần Khí trong tim qua sự kết hợp liên lỉ cầu nguyện và thể hiện ra bằng việc làm. Lòng mến ắt có và đủ khi “lòng có đầy miệng mới nói ra”. Người có lòng mến như thế “mới” thực sự là kẻ yêu mến Đức Kitô.
Hôm nay, khi nghĩ tới đây, tôi mới thấm thía ý nghĩa đích thực của từ “mới” ở trong câu văn này. Và cũng nhờ đó mà tôi càng phải dấn thân hơn nữa bằng vào việc cầu nguyện Lời Chúa, trước Thánh Thể Chúa. Nói và suy niệm qua bài chia sẻ vẫn chưa phải là đủ, mà phải sống, phải dấn thân, phải nhập thể, phải cho đi và phải đón nhận mọi gian truân đau khổ khác nữa. Chính thánh Phaolô đã trải nghiệm bằng cuộc đời rao giảng của mình, khi ngài tự hào xác tín:
Chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” (Rm 5, 3-5)
Qua đó, tôi rút ra được một bài học quí báu. Nghĩa là không phải yêu mến Chúa là loại trừ được khổ đau, là được sung túc mọi bề; nhưng là được Chúa tỏ mình biến đổi luôn mãi bình an trong tâm hồn như Người trước lúc ra đi chịu khổ hình chết trên Thập Giá. Thánh Phaolô chiêm niệm thật mãnh liệt khi ngài nói: “Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người.” (1Cr 6, 17) Nghĩa là có trải qua đau khổ vì “mến Chúa yêu người” mới được vào trong Vinh Quang Thiên Chúa.
Chính vì vậy mà tôi thích thú tin tưởng cậy trông, khi Chúa Giêsu khẳng định:
Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy
vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống.” (Ga 14, 19)
Với niềm xác tín vào Lời Hằng Sống, tôi tha thiết dâng lên lời nguyện:
Lạy Chúa là Cha của chúng con,
Chúng con cảm tạ Cha đã cho chúng con những nhân chứng thể hiện tình yêu vô bờ bến của Cha. Những người đã có Thần Khí Đức Kitô, Con Một Cha và luôn luôn dâng lên Cha bằng của lễ sống động là chính thân xác của họ để, với sức mạnh của Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần, chúng con sẽ sống đích thực là những người con ngoan hiền của Cha, như thánh Phaolô truyền dậy: “phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn là con cái Thiên Chúa”. (Rm 8, 14).
Lạy Cha,
Xin đổ tràn Thần Khí trên chúng con, Amen.

Chúa Nhật 6PS, 27/04/2008
Phêrô Vũ văn Quí CVK64

Email: peterquivu@gmail.com

 

PS6-A52: Thần Khí sự thật đến

 (Gioan 14,15-21 – CN VI PS - ALm PX Vũ Phan Long, ofm
1.- Ngữ cảnh
 

Bản văn chúng ta đọc hôm nay cũng thuộc về Phần II của TM IV (“Sách Vinh quang”) và ở trong : PS6-A52

Bản văn chúng ta đọc hôm nay cũng thuộc về Phần II của TM IV (“Sách Vinh quang”) và ở trong “Diễn từ cáo biệt thứ nhất” (13,31–14,31). Bài diễn từ này có hình thức là một cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ, được triển khai thành năm điểm (13,31-36a; 13,36b-38; 14,2-6; 14,7-14; 14,15-24), điểm này bổ túc cho điểm kia và mỗi điểm gồm ba thì. Mỗi lần, Đức Giêsu bắt đầu bằng một lời khẳng định huyền bí diễn tả bằng những từ ngữ có hai nghĩa khiến các môn đệ không hiểu; họ liền đặt câu hỏi. Câu hỏi này cung cấp cho Đức Giêsu cơ hội để tái khẳng định và xác định tư tưởng của Người bằng cách nâng các môn đệ lên  bình diện  mầu nhiệm bản thân Người và mầu nhiệm công trình Người. Đây là cách viết tiêu biểu các tác giả Gioan, nhằm nói rằng: bỏ mặc cho sức riêng, chúng ta không thể hiểu được ý nghĩa của các biến cố và mầu nhiệm Đức Giêsu.
Bản văn này thuộc về điểm thứ năm của bài Diễn từ trong đó Đức Giêsu hứa tỏ mình ra cho những ai yêu mến Người.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Thần Khí sự thật đến (14,15-17);
2) Đức Giêsu đến (trở lại) (14,18-21).
Mở đầu và kết luận là hai câu nói về tình yêu đối với Đức Giêsu và sự cần thiết phải đi theo các giới răn của Người (c. 15 và c. 21).
3.- Vài điểm chú giải
- giữ các điều răn (15): có nghĩa là “chu toàn”, “thực hành”. Ở đây và ở c. 21, Đức Giêsu nói đến “các điều răn” (số phức, ngữ pháp), ngược lại với “điều răn mới” (số đơn) ở 13,34 (x. 15,10.12). Các điều răn của Người không phải chỉ là những giáo huấn về luân lý, mà là cả một lối sống trong tình hiệp thông yêu thương với Người.
- Người sẽ ban cho (16): Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, điều  này được diễn tả bằng hai kiểu nói: “Chúa Cha sẽ sai đến” (14,26) và “Thầy sẽ sai đến” (15,26; 16,7). Động từ “(ban) cho” (to give) thường được Tân Ước nối kết với Chúa Thánh Thần (x. Rm 5,5), do đó “ân huệ” (gift) đã trở thành một tên gọi của Thánh Thần (“ân ban Thánh Thần” = Thánh Thần là một ơn: x. Cv 2,38; 8,20; 10,45; 11,17).
- một Đấng Bảo Trợ khác (16): Tuy bản văn Hy-lạp có thể dịch là “một Đấng khác, một Đấng Bảo Trợ”, nhưng truyền thống chấp nhận kiểu dịch “một Đấng Bảo Trợ khác”. Vậy, Đức Giêsu là Đấng Bảo Trợ đầu tiên. Thư 1 Gioan (2,1) giới thiệu Đức Giêsu như là Đấng Bảo Trợ có vai trò chuyển cầu trước nhan Chúa Cha sau khi sống lại, nhưng Gioan cũng hàm ý Đức Giêsu đã là một Đấng Bảo Trợ khi Người thi hành sứ vụ trên mặt đất. Thần Khí sự thật là một Đấng Bảo Trợ chính là vì Ngài hoàn tất công trình của Đức Giêsu. 
- Thần Khí sự thật (to pneuma tês alêtheias, 17): Trong cụm từ to pneuma tês alêtheias, alêtheias là thuộc-cách chỉ đối tượng (objective genitive): Thần Khí thông ban sự thật (x. 16,13). Nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa thuộc-cách đồng-chức-ngữ (appositive genitive): Thần Khí là sự thật (1 Ga 5,6[7]). Đây không phải là một mô tả về yếu tính của Thần Khí.
- Người luôn ở giữa anh em (17): Có Thánh Thần ở với và nhận biết Ngài, hai điều này là một ân huệ duy nhất.
- mồ côi (18): Kiểu nói này không xa lạ với người đương thời: người ta quen nói là môn đệ của các kinh sư bị mồ côi khi các vị này qua đời. Kiểu nói này phù hợp với ngôn ngữ của Đức Giêsu trong Diễn từ cáo biệt, vì Người gọi các môn đệ là “những người con bé nhỏ của Thầy” (13,33).
- chẳng bao lâu nữa (19): Công thức này không cho biết gì về quãng thời gian dài ngắn cả, vì nó được dùng cả ở 7,33 để nói rằng Đức Giêsu còn sống sáu tháng, lẫn ở đây khi mà Đức Giêsu chỉ còn sống có vài giờ. Đây là một công thức của Cựu Ước được các ngôn sứ dùng để diễn tả niềm lạc quan khi thấy rằng chẳng còn bao lâu nữa rồi ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ đến (x. Is 10,25; Gr 51,33).
- Ngày đó (20): Công thức này xuất hiện 3 lần trong TM Ga (ở đây, và 16,23.26). Mặc dù trong Cựu Ước, “ngày đó” là một công thức truyền thống để mô tả lúc Thiên Chúa can thiệp lần cuối cùng, trong TM Ga, thành ngữ này dường như được áp dụng cho cuộc sống của người Kitô hữu đã đạt được nhờ “giờ” (= cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh) của Đức Giêsu. 
- Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống (19): Được thấy Đức Giêsu Phục Sinh và được sống, hai điều này là một ân huệ duy nhất.
- (Trong) Ngày đó (20): Công thức này được Ga dùng 3 lần (ở đây; 16,23.26). Mặc dù trong Cựu Ước, “ngày đó” là công thức truyền thống dùng để mô tả thời gian Thiên Chúa can thiệp chung cuộc (x. Mc 13,32), ở đây dường như công thức này được áp dụng cho thời gian cuộc sống Kitô hữu có thể có được nhờ “giờ” của Đức Giêsu.
- Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến (21): Trong cách trình bày nhị nguyên của Ga, bởi vì tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người được diễn tả bằng việc ban tặng Con của Ngài, nếu người ta quay lưng lại với Người Con, người ta không có tình yêu của Thiên Chúa.  
4.- Ýnghĩa của bản văn
          Các môn đệ bị đau lòng bởi sự chia ly. Các ông tự hỏi là tình hình sẽ ra sao sau khi Đức Giêsu ra đi. Đức Giêsu cho thấy rằng Người không bỏ rơi các môn đệ. Người loan báo có một sự trợ giúp khác sẽ đến, đó là Thần Khí sự thạt (14,15-17) và chính Người cũng sẽ đến (14,18-21). Người tuyên bố rằng tất cả những giáo huấn Người đã ban cho các ông từ trước đến nay sẽ không bị lỗi thời, nhưng vẫn có giá trị mãi mãi. Chỉ người nào gắn bó với các giới răn của Người mới có thể nhận được Thần Khí và mở ra với tình yêu của Đức Giêsu và của Chúa Cha.
* Thần Khí sự thật đến (15-17)
Ở chỗ khởi đầu (c. 15) và ở cuối bản văn này (c. 21), Đức Giêsu nói đến tình yêu đối với Người và sự cần thiết phải tuân giữ các điều răn của Người. Trong nỗi đau đớn các môn đệ cảm thấy khi phải xa cách Thầy, các ông đã tỏ lộ tình yêu thương đối với Đức Giêsu. Nay các ông được biết là các ông phải chứng tỏ là các ông chân thành ước muốn có Đức Giêsu hiện diện và được hiệp thông với Người, bằng cách tuân giữ các điều răn của Người. Chỉ có lời khuyên yêu thương nhau được minh nhiên gọi là điều răn (x. 13,34). Nhưng cả những gì Đức Giêsu làm, trong lời nói và hành động, là lời nhắc và lời khuyên cho loài người chúng ta. “Tuân giữ các điều răn” có nghĩa là lấy đức tin mà đón nhận toàn bộ Lời Người (x. 14,23-24), bằng cách ký thác bản thân cho Người dẫn dắt. Đức Giêsu luôn hiện diện trong Lời Người và trong lời nhắc về Người. Ai gắn bó với Đức Giêsu như thế, Thiên Chúa sẽ ban theo lòi Đức Giêsu thỉnh cầu mà ban Chúa Thánh Thần cho họ như là một người trợ lực mới. 
Các câu 16-17 là đoạn đầu trong năm đoạn nói về Đấng Bảo Trợ trong Diễn từ cáo biệt. Cho tới nay, Đức Giêsu đã là Đấng trợ giúp các môn đệ, săn sóc họ, hướng dẫn, khuyến khích họ, ban sức mạnh cho họ. Nay cho dù Đức Giêsu ra đi, các ông vẫn không bị bỏ mặc một mình, bởi vì Chúa Cha sẽ ban Thánh Thần cho các ông, để Ngài ở luôn mãi với các ông, ở bên cạnh và ở trong các ông. Thánh Thần-Đấng Bảo Trợ khác Đức Giêsu-Đấng Bảo Trợ ở chỗ người ta không thể thấy Thánh Thần theo cách thể lý và Ngài chỉ hiện diện bằng cách cư ngụ trong các môn đệ mà thôi. Đề tài “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Emmanuel của Is 7,14) nay được thể hiện nơi Đấng Bảo Trợ-Thánh Thần, Đấng ở lại mãi mãi với các môn đệ.
Thánh Thần này được xác định như là “Thần Khí sự thật”, sẽ giữ các môn đệ ở lại trong sự thật đã được Đức Giêsu truyền đạt và sẽ che chở các ông khỏi các vị thầy gian tà và khỏi những chọn lựa sai lầm. Thế gian, vì khép kín lại với Đức Giêsu, thì không thể đón nhận Ngài. Chỉ khi tin vào Đức Giêsu và giữ kỹ các điều răn của Người, chúng ta mới mở ra với Chúa Thánh Thần và có thể nhận ra Ngài và có kinh nghiệm về hoạt động của Ngài.
* Đức Giêsu đến (trở lại) (18-21)
Bây giờ, Đức Giêsu đảm bảo với các môn đệ là các ông sẽ không phải mồ côi, như khi cha mẹ chết thì họ vĩnh viễn mất cha mẹ. Đức Giêsu bỏ họ lại mà đi đến cái chết, nhưng rồi sẽ trở lại với họ. Người báo trước rằng họ sẽ gặp lại nhau, khi họ được gặp Người như là Đức Chúa Phục Sinh. Đức Giêsu chết, nhưng không biến mất trong cái chết. Người sẽ trở lại với các môn đệ, như Đấng vẫn sống, như là Đấng Phục Sinh, và họ sẽ được thông phần vào sự sống của Người. Điều kiện là các ông phải “có và tuân giữ các điều răn” của Đức Giêsu.
Có một sự song đối giữa phần này với phần trên:
(1) Những điều kiện cần thiết: yêu mến Đức Giêsu; giữ các điều răn Người:15//21
(2) Ban Đấng Bảo Trợ; Đức Giêsu trở lại:                                                  16//18
(3) Thế gian không thấy Đấng Bảo Trợ hoặc Đức Giêsu:                          17//19
(4) Các môn đệ sẽ nhận biết Đấng Bảo Trợ và thấy Đức Giêsu:                         17//19 
(5) Đấng Bảo Trợ và Đức Giêsu sẽ ở trong các môn đệ:                             17//20.
Đấy là cách tác giả Gioan dùng để nói rằng sự hiện diện của Đức Giêsu sau khi Người trở về với Chúa Cha được thực hiện trong và qua Đấng Bảo Trợ. Đây không phải là hai sự hiện diện nhưng chỉ là một sự hiện diện duy nhất.  
+ Kết luận
          Đức Giêsu loan báo cho các môn đệ rằng chỉ sau khi Người sống lại, các môn đệ mới thật sự hiểu sự hiệp thông của Người với Chúa Cha và với các ông. Qua sự Phục Sinh, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa ở bên cạnh Đức Giêsu với tất cả tình yêu và quyền lực của Ngài, và xác nhận giá trị các lời Người đã nói và các việc Người đã làm. Nhưng sự Phục Sinh cũng cho thấy rõ ràng dây liên kết đặc biệt giữa Đức Giêsu và các môn đệ: khi đó Người chỉ tỏ mình ra với các ông và được các ông nhận biết như là Đấng đang sống. Để đạt tới sự hiệp thông với Người, Đức Giêsu nhắc các môn đệ, cũng như nhắc toàn thể nhân loại mọi thời: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (c. 21). Luôn luôn có giá trị việc đi tìm liên kết với Đức Giêsu mà dựa trên sự nhận biết các điều răn của Người và để cho các điều răn ấy tác động trên cuộc sống chúng ta. Nếu chúng tasống như thế, chúng ta sẽ gặp được tình yêu của Chúa Cha và Chúa Cha sẽ đón tiếp chúng ta. Chúng ta cũng sẽ gặp được tình yêu của Đức Giêsu, vì Người sẽ tỏ mình ra cho chúng ta để chúng ta nhận biết Người một rõ ràng hơn và sâu sắc hơn, để rồi chúng ta được liên kết với Người ngày càng bền chặt và sống động.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Các môn đệ phải chứng tỏ rằng họ chân thành ao ước có Đức Giêsu hiện diện và được hiệp thông với Người qua việc giữ các điều răn của Người. “Tuân giữ các điều răn” có nghĩa là tin tưởng đón nhận toàn bộ các lời nói của Đức Giêsu (x. 14,23-24), bằng cách để cho Người hướng dẫn. Tình yêu không hệ tại các lời nói, các tình cảm hoặc các kỷ niệm, nhưng được chứng minh bằng việc lắng nghe, tin tưởng và bước theo.
2. Thánh Thần là “Thần Khí sự thật”, tức là Thần Khí thông ban sự thật và cũng là chính sự thật, sẽ giúp các môn đệ ở lại trong sự thật mà Đức Giêsu đã truyền đạt và bảo vệ họ khỏi những vị thầy xấu và những chọn lựa sai lạc. Nhưng để nhận được Thần Khí này, chúng ta phải mở ra với Đức Giêsu, tin vào Người và tuân giữ các điều răn của Người.
3. Với cái chết của Người, Đức Giêsu đã mãi mãi biến mất đối với thế gian: thế gian chỉ biết rằng Người đã chết trên thập giá. Thế gian chỉ biết cái chết chứ không biết sự sống. Đức Giêsu sẽ chỉ trở lại với các môn đệ và cho các ông thấy Người là Đấng (đang) Sống. Khi đó, các môn đệ sẽ hiểu rõ những lời Đức Giêsu đã nói và những hành vi Người đã làm trước đây.
4. Chỉ Đức Giêsu mới là con đường dẫn đến với Chúa Cha. Mạc khải và các lời kêu gọi mà Người đã bày tỏ khi Người còn sống ở trần gian sẽ mãi mãi là con đường đưa tới Chúa Cha. Chỉ khi chúng ta gắn bó với những điều ấy và để cho những điều ấy hướng dẫn, chúng ta mới được nối kết với Đức Giêsu và mới sẵn sàng đón nhận ân huệ Thánh Thần và được hiêp thông trọn vẹn trong tình yêu với Chúa Con và Chúa Cha.

 

PS6-A53: YÊU MẾN THẦY THÌ GIỮ ỊIỀU RĂN CỦA THẦY

 - (Trích từ  R. Veritas)
 

Truyện cổ tích Ả Rập kể rằng: Có một người bán thịt nướng rất keo kiệt và khó tính, vì tính:PS6-A53

Truyện cổ tích Ả Rập kể rằng: Có một người bán thịt nướng rất keo kiệt và khó tính, vì tính tình keo kiệt khó chịu của anh ta nên cửa hàng luôn bị ế ẩm, anh đã làm đủ mọi cách để câu khách nhưng chẳng ai đến tiệm của anh để mua.  Có một người ăn xin ngồi bên lề đường, thèm thuồng nhìn những miếng thịt nướng treo lủng lẳng, rồi ông móc trong bị ra một khúc bánh mì, lẳng lặng đem hơ nóng trên khói, hy vọng khói thịt sẽ ướp vào miếng bánh.  Sau đó, ông ngồi ăn miếng bánh một cách ngon lành.  Anh chàng bán thịt nhìn thấy, chạy ra túm lấy áo người ăn xin đòi tiền. Người ăn xin phân trần: 'Tôi đâu có mua thịt của anh mà bắt tôi trả tiền, khói thịt đâu có phải là thịt'.  Anh bán thịt quát lên: 'Khói thịt cũng thuộc về miếng thịt, ông phải trả tiền cho tôi'.  Hai người cãi nhau, không ai chịu ai và cuối cùng đã đưa nhau đến quan tòa nhờ xét xử. Vị quan toà truyền cho người ăn xin móc ra một đồng tiền cắc và ném xuống nền nhà phát ra tiếng kêu leng keng, ông nói với người bán thịt: 'Đây là giải pháp công bằng nhất, người ăn xin hưởng khói thịt của anh, còn anh thì được đền bù bằng âm thanh leng keng phát ra từ đồng tiền của ông ta. Thế là công bằng nhé'.
*****
Bạn thân mến! Nghe qua câu chuyện trên, có thể chúng ta sẽ cười chê thái độ thiếu tình yêu thương của người bán thịt.  Thế nhưng rất nhiều lúc trong cuộc sống chúng ta đã cư xử với tha nhân như thế.
Trong bài Tin Mừng Chúa nhật  hôm nay Chúa Giêsu cũng mời gọi mỗi người chúng ta tuân giữ giới luật yêu thương là đầu mối của các giới răn mà Ngài đã truyền dạy: 'Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy' (Ga.14:15).
Người Kitô có nhiều cách để biểu lộ lòng yêu mến của mình đối với Thiên Chúa, nhưng cụ thể nhất là giữ các điều răn Chúa dạy, đặc biệt là điều răn quan trọng nhất là 'Mến Chúa Yêu Người'.  Muốn biết chúng ta yêu mến Thiên Chúa ra sao thì chỉ cần xét xem chúng ta đã yêu người ra sao. Và tình yêu đó phải được thể hiện bằng những việc làm, những hành động cụ thể.  Vì tình thương không chia sẻ là tình thương không có thật. Trước những nhu cầu bức thiết của người anh em, nhiều người đã tránh né, chạy trốn bằng những câu trả lời biện minh cho hành động của mình: 'Chừng nào tôi đủ ăn, đủ mặc tôi sẽ cho', hay 'Để lúc khác, bây giờ tôi không có thời giờ'. Và cái lúc khác sẽ không bao giờ đến,  cái đủ ăn đủ mặc đã không bao giờ xảy ra… vì người ta có trăm ngàn lý do để biện minh cho thái độ thiếu lòng thông cảm, thiếu tình yêu thương của mình.
Trong bài Tin Mừng Chúa nhật  hôm nay, chúng ta cũng được nghe Chúa Giêsu hứa với các môn đệ xưa kia và với mỗi người chúng ta hôm nay là Ngài không để chúng ta mồ côi vì 'Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.' (Ga.14:16).  Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Thiên Chúa, Ngài là Thần Khí, là nguồn ơn sức mạnh và là người hướng dẫn, dạy dỗ chúng ta mọi điều.
Ở đâu có Thần Khí là ở đó bừng lên niềm vui. Thần khí là mùa xuân làm cho vạn vật bừng dậy màu xanh sự sống, Thần Khí làm cho mọi tâm hồn tràn đầy sức sống mới: Như Gio-an Tẩy Giả 'nhảy mừng trong lòng mẹ', như Đức Ma-ri-a hát lên bài ca Magnificat.  Như các Mục đồng hớn hở đi Bê-lem. Như các Tông Đồ trở nên những con người mới đầy sốt mến và can trường . Như các Thánh Tử Đạo hiên ngang tiến ra pháp trường.

*****
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh!  xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn rạng rỡ
Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con. Amen


 

PS6-A54: NGÔI LỜI BÀY TỎ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 Phục Sinh (Ga 14,15-21) -  Pm. Cao Huy Hoàng
 

Chung quanh chúng ta và ngay trong chúng ta, còn có rất nhiều người không tin có Thiên Chúa: PS6-A54

Chung quanh chúng ta và ngay trong chúng ta, còn có rất nhiều người không tin có Thiên Chúa, nhưng họ tin có Tình Yêu. Họ cũng đang yêu, đang khát khao được yêu. Họ  đang sống nhờ tình yêu vợ chồng , cha mẹ, anh em, bạn hữu, và cả tình yêu tha nhân cộng đồng. Họ không thể thiếu tình yêu, nhưng họ chưa nhận ra Thiên Chúa vì họ  vẫn cho rằng tình yêu trong mỗi con người là một khả năng tự nhiên, một nhu cầu tự nhiên. Họ không hiểu được cội nguồn siêu nhiên của tình yêu là Thiên Chúa, và có thể, họ đã thể hiện cách yêu tự nhiên ở một cấp độ dưới bản tính con người.
Kitô hữu công giáo được Chúa Giêsu mạc khải cho biết cội nguồn của tình yêu là Thiên Chúa và  thật là diemx phúc khi được tuyên tín mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm trung tâm của các mầu nhiệm khác. Lý trí con người không thể hiểu thấu mầu nhiệm, vì mầu nhiệm chỉ được hiểu thấu khi con người chấp nhận để chính mình tan hòa trong mầu nhiệm ấy: Hòa Tan Trong Tình Yêu Ba Ngôi.
Bài tin mừng hôm nay-trong diễn từ từ biệt của Chúa Giêsu, trước lúc vào cuộc thương khó- được Mẹ Giáo Hội đưa vào tin mừng phụng vụ chuẩn bị cho việc Chúa Giêsu về trời, cho thấy sự viên mãn của tình yêu Ba Ngôi đến mức tuyệt hảo. Nội dung bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đưa ra cho các tông đồ lời mời gọi tan hòa vào mầu nhiệm Ba Ngôi hơn là giải thích để hiểu được mầu nhiệm ấy. Đời sống và bản chất nội tại của Thiên Chúa Ba Ngôi được Chúa Giêsu ân cần bày tỏ trong lúc chuẩn bị rời bỏ các tông đồ, để các ông được tháp nhập vào mầu nhiệm của chính Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Thiên Chúa: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các giới răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến với anh em luôn mãi”(Ga 14,15-16). Lời tình tha thiết Chúa Giêsu muốn dặn dò các tông đồ là yêu mến và tuân giữ giới răn Người, để được Chúa Cha yêu thương và ban cho Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần sẽ làm cho Lời Chúa Kitô tồn tại trong thế gian, và trong mỗi tâm hồn; sẽ làm cho Lời Chúa Kitô trở nên nguồn sống dồi dào và sống động cho giáo hội và cách riêng cho mỗi tâm hồn sẵn sàng đón nhận Ngài như Đấng Bảo Trợ cho ơn cứu rỗi của mình; sẽ làm cho chúng ta khi đón nhận Ngài, trở nên can đảm sống Lời Chúa Kitô và hiên ngang làm chứng cho Thiên Chúa. Vì  “Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn giữa anh em và ở trong anh em”(Ga 14,17).  Ôi! Còn hạnh phúc nào bằng khi được sống trong tình yêu vô biên của Ba Ngôi Thiên Chúa: yêu như Chúa Giêsu yêu, dưới ánh sáng của Thánh Thần, để dìm mình trong tình yêu Thiên Chúa Cha. Còn hạnh phúc nào bằng khi tình yêu của Chúa Giêsu vẫn luôn liên tục, không gián đoạn, mà còn dồi dào hơn và kéo dài cho đến ngày Người lại đến:  “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy trong Cha Thầy, anh em trong Thầy, và Thầy trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy"(Ga 14,20-21).
Tình yêu của Chúa Giêsu trong mầu nhiệm Thiên Chúa  thật tha thiết và  Ngài tỏ bày tình yêu ấy cách trọn vẹn chu đáo cho các tông đồ, cùng là cho mỗi chúng ta hôm nay. Mỗi người được mời gọi tháp nhập vào mầu nhiệm Thiên Chúa qua việc Yêu mến Chúa Giêsu và tuân giữ điều răn Người.
Nếu yêu mến Chúa Giêsu mà không tuân giữ điều răn của Người, thì không thể đón nhận thần khí, càng không thể đi vào huyền nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Cha.
Yêu mến Chúa Giêsu và tuân giữ điều răn Người là yêu như Người đã yêu: Yêu thương người khác để người khác được sống và được sống lại
Nếu tình yêu của chúng ta là động lực để người khác sống được chỉ ở đời nầy mà thôi, thì ấy chưa phải là tình yêu của Chúa Giêsu. Việc bác ái đối với tha nhân nếu chỉ dừng lại ở việc xây cái nhà tình nghĩa, giúp đồng vốn vượt khó, giúp xóa nợ lâu năm… thì có thể nói, cũng chưa phải là việc bác ái Kitô giáo đúng nghĩa. Tình yêu Chúa Giêsu đòi hỏi vượt xa hơn thế nữa: yêu người để người được sống và được phục sinh. Vì thế, làm cho người khác có một cuộc sống mới, cuộc sống bình an thánh thiện, cuộc sống phục sinh ngay đời nầy là tiêu chuẩn của tình yêu và việc bác ái mà Chúa Giêsu muốn chúng ta thực hiện. Rất tiếc, ở những đất nước  đang sống trong một nền giáo dục không Thiên Chúa, con người cũng có tình yêu, tình yêu cũng được giáo dục, nhưng là loại tình yêu  tự nhiên dừng lại ở những gì cho nhau ở đời nầy, và hầu như không màng đến cái chung cuộc ở đời sau. Thế hệ trẻ được giáo dục yêu nhau như người lớn đã yêu, và đã chết, không cần biết đi về đâu, miễn là đã yêu và đã sống trong cuộc đời nầy thoải mái. Tình yêu ấy, cách yêu ấy không phải là cách yêu của Chúa Giêsu,  vì không bắt nguồn từ Thiên Chúa và  càng không thể nào dẫn đến sự tan hòa trong cội nguồn tình yêu là ba ngôi Thiên Chúa để tình yêu ấy sống, và sống  mãi muôn đời.
Để gia đình được sống trong tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, vợ chồng không chỉ yêu thương tôn trọng chung thủy và lo lắng cho nhau sống hạnh phúc đời nầy; cha mẹ không chỉ hy sinh lo cho con cái có cái ăn, cái mặc, cái chữ…mà còn lo cả nhà  sum họp trên nước trời, về với tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Yêu như Chúa Giêsu là làm cho người khác sống và sống lại. Giữa xã hội tôn thờ vật chất ngày nay, đây là một thách thức không nhỏ. Giữa nền giáo dục loại trừ Thiên Chúa ra khỏi lòng trí con người, đây là một thách thức không nhỏ. Nhận định của ban giáo lý GP. Qui nhơn: Không còn trường Công Giáo. Xuất thân từ trường nhà nước, các bạn trẻ từ 40 tuổi trở xuống đã được trang bị những cái nhìn về Thiên Chúa, về con người, về vũ trụ, về lịch sử, về xã hội và về cuộc sống rất khác với cái nhìn Kitô giáolàm cho những người làm cha mẹ phải nghĩ đến vế thứ hai của tình yêu Chúa Giêsu “yêu làm cho người khác phục sinh”. Người khác ấy chính là người bạn đời, con cái mình, trước tiên. Không chỉ người trẻ, mà có cả người lớn, cũng cần nhìn lại thực trạng đau lòng nầy: người ta cũng đang yêu, nhưng là tình yêu đưa nhau vào hố thẳm của tội lỗi, của sự chết ngàn thu; nhưng là tình yêu vun quén cho chính mình, cho tập đoàn mình, cho những người đồng tình, đồng phe, đồng đảng với mình những mối lợi mối mọt có thể gặm nhấm, những kho tàng không có sức phục sinh; nhưng là tình yêu thỏa mãn những thú tính….   Tình yêu phải là hoa quả của việc kết hiệp bản thân với Thiên Chúa, tiến đến việc giúp nhau nên thánh thiện nhờ việc tuân giữ toàn bộ Lời Chúa Giêsu trong tin mừng , để được chiếm hữu tình yêu ba ngôi Thiên Chúa, để được sum họp với nhau một nhà ở đời sau, ấy mới là tình yêu của một nền giáo dục Kitô Giáo, tình yêu mà Chúa Giêsu tha thiết dặn dò trên trang Tin Mừng hôm nay.
Trở lại với trào lưu có tình yêu mà không tin có Thiên Chúa, và qua những suy tư trên đây, chúng ta có thể thấy được một âm mưu của thế lực chống lại Thiên Chúa dùng chính tình yêu làm nhản hiệu cho một công cuộc thoái hóa, hoặc chống lại tình yêu đích thực. Sự rạn nứt nội tại nơi tâm hồn các tín hữu bắt nguồn từ tình yêu dành cho thế gian, vật chất nhiều hơn dành cho Thiên Chúa và dần dần lề luật của Thiên Chúa, lời dạy của Tin Mừng, bóng dáng của Thiên Chúa cũng mờ dần trong tâm trí họ-mờ dần rồi biến mất lúc nào không hay biết.
Vì thế, việc chân thành khao khát sống kết hiệp với Chúa Giêsu, giữ Lời Chúa dạy trong Tin Mừng làm mực thước, rước lấy Thánh Thể Chúa làm sức sống thiêng liêng mới là bảo đảm cho phần rỗi chúng ta và bảo đảm cho việc thực hiện các điều răn Chúa dạy, nhất là đức ái. Nói một cách khác, trước khi yêu người như Chúa muốn, hẳn chúng ta phải yêu Chúa để sống và yêu được như Chúa yêu, thì tình yêu cho đi, thì việc thực hiện các điều răn của Chúa mới thực mang lại cho chúng ta một giá trị cao cả: sống trong mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Yêu mến Chúa Giêsu để nên thánh: chiếm hữu được Thiên Chúa – đúng ra là: Được Thiên Chúa chiếm hữu.  Tuân giữ điều răn Chúa: giúp cho người khác nên thánh, giúp cho người khác chiếm hữu được Thiên Chúa – nói cách khác: giúp cho người khác nhận ra mình Được Thiên Chúa chiếm hữu Nếu không, hãy coi chừng tình yêu và việc bác ái của ta lại rơi vào kế hoạch của những giả dối, dẫn đến cái vô ích cho mình và cho tha nhân.
Lạy Chúa, chúng con thật diễm phúc được Chúa Giêsu dạy cho chúng con cách sống yêu, để cuộc đời chúng con nên một chuỗi ngày hạnh phúc vì khi sống yêu, là chúng con sống trong mầu nhiệm tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa chí ái. Xin cho chúng con biết yêu mến Chúa Giêsu và tuân giữ điều răn Người dạy để LỜI MẠC KHẢI, LỜI TỎ TÌNH THIÊN CHÚA của Người không trở nên uổng phí cho phần rỗi chúng con. A men.

 

PS6-A55: Câu trả lời hay nhất

VietCatholic News (Thứ Bảy 26/04/2008 15:32)
Chúa Nhật VI Phục Sinh (A.2008): Câu trả lời hay nhất
Dẫn nhập đầu thánh lễ: Kính thưa ông bà và anh chị em,

 

Có thể nói được, sứ điệp phụng vụ hôm nay tập chú vào bí tích Thêm Sức và mầu nhiệm Chúa:PS6-A55

Có thể nói được, sứ điệp phụng vụ hôm nay tập chú vào bí tích Thêm Sức và mầu nhiệm Chúa Thánh Thần. Việc Đức Kitô long trọng hứa ban Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ, đến với các tông đồ, và việc các Tông Đồ đặt tay ban Thánh Thần cho các tín hữu tân tòng Samari đã cho thấy vai trò của bí tích Thêm Sức và sự tác động của Chúa Thánh trên những ai tin nhận Đức Kitô, và trên cộng đoàn Hội Thánh. Mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay, nhờ bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, cũng được trao ban Thần Khí của Đấng Phục Sinh là chính Thánh Thần Thiên Chúa, để chúng ta tiếp nối sứ mệnh của các Tông đồ ra đi làm chứng và loan báo Chúa Kitô trên mọi nẽo đường cuộc sống.

Chúng ta cầu nguyện cho nhau, đặc biệt cho những anh chị em vừa lãnh nhận bí tích Rửa tội và Thêm Sức trong dịp Phục Sinh vừa qua được sống tích cực - phong phú ơn goi Kitô hữu, làm chứng đức tin cách mạnh mẽ và đầy thuyết phục trước mọi chất vấn của nhiều người hôm nay.

Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh Lễ, chúng ta hãy khiêm hạ đón nhận Nước Thánh với tâm tình thống hối chân thật.

Giảng Lời Chúa:

Gần 4 thế kỷ trước đây, trên quê hương Việt nam, đã có một một lời chứng tuyệt vời “về niềm hy vọng của người Kitô hữu”: Chàng giáo lý viên trẻ tuổi Anrê Phú Yên, vào buổi chiều ngày 26.07.1644, trên con đường từ Dinh Chiêm đến Gò Xử ở Quảng Nam để chịu tử hình, miệng không ngớt động viên mọi người “lấy tình yêu đáp trả tình yêu, đem mạng sống báo đền mạng sống”, hân hoan đi chịu chết như người chiến thắng đi lãnh phần thưởng vinh quang !

Để diển tả lời chứng đặc biệt nầy, cha Cosma Hoàng Văn Đạt, dong Tên, đã có những nhận xét:

“Tôi nhớ đến anh, một người trẻ vui khi bị bắt, vui khi bị hành hình. Anh không phải là một triết gia lạnh lùng trước sự sống và cái chết. Anh có một niềm hy vọng. Khi theo đạo, anh bước theo Đức Giêsu. Khi nhập Hội Thầy Giảng, anh muốn trở thành cộng sự viên của Chúa. Khi tử đạo, anh hân hoan thấy mình nên giống Chúa trên thánh giá. Đức Kitô đã phục sinh: đó là hy vọng duy nhất của anh. Anh vui vì tìm được niềm hy vọng. Anh vui hơn vì dấn thân với niềm hy vọng. Anh vui nhất khi đạt được niềm hy vọng. Anh trở thành chứng nhân của niềm hy vọng. Những lời cuối cùng từ miệng anh, từ lòng anh, là Chúa Giêsu. Tôi hiểu hết. Đó là trái tim của anh.

Nhìn mọi sự nhạt nhòa đi, tôi thấy anh nổi bật, ít là trong lòng tôi, giữa những người trẻ đã bước theo Đức Giêsu đến cùng: Tôma Thiện, Anrê Trông, Giuse Tuân... Và cả những Luy Gonzaga, những Têrêsa Hài Đồng nữa.”

Phải chăng đó là câu trả lời “chính xác và đầy thuyết phục” cho những ai muốn chất vấn về niềm hy vọng của người Kitô hữu. Chính qua cái chết anh hùng đó, qua thái độ thanh thản vui tươi đón nhận cực hình vì niềm tin vào cuộc phục sinh trong cõi vĩnh hằng đó, Anrê Phú Yên và bao nhiêu chứng nhân anh hùng tử đạo đã thay mặt cho Hội Thánh muôn nơi muôn thuở, thay mặt cho muôn thế hệ Kitô hữu trả lời cho con người hôm qua, hôm nay về niềm hy vọng của mình, về cùng đích và ý nghĩa cuối cùng của sự lựa chọn Đức Kitô và Tin Mừng do Ngài mang tới.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay đang mời gọi chúng ta tiếp nối những lời chứng như thế qua chính lời nhắn gởi của Thánh Phêrô trong BĐ 2: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em”.

Nhưng để có được “lời chứng như thế” trước những chất vấn đầy tính bách hại của thế gian, chúng ta cần những yếu tố nầy:

a/. Tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy:

Trước khi rời khỏi thế gian nay để về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu nói với các môn đệ:"Lòng anh em đừng xao xuyến...".

Trích đoạn Tin Mừng ngày hôm nay trình bày bối cảnh ngày thứ Năm Tuần Thánh vào cuối bữa ăn sau cùng của Đức Giêsu và các tông đồ. Quả thật bầu khí của nhóm các môn đệ thật bi thương: Đức Giêsu vừa loan báo sự phản bội của Giuđa và y đã đi ra khỏi căn phòng trong bóng đêm vừa đổ xuống (Gioan 13,21-30)..; rồi Đức Giêsu bảo rằng Người sẽ ra đi và nơi Người đi, các bạn hữu Người không thể theo được (Gioan 13,31-36)... Sau cùng, đầy nỗi lo sợ, Đức Giêsu báo trước cho Phêrô rằng ông sẽ chối Người "ba lần” trong đêm hôm ấy trước khi gà gáy (Gioan 13,37-38). Qua đó, Tin mừng cho chúng ta biết được sự xao xuyến kinh hoàng đang vây bọc tâm hồn và tư tưởng các môn đệ.

Trong đời sống của chúng ta cũng thế có những giờ phút sự sợ hãi xuyến xao ập xuống trên chúng ta: một tương lai bấp bênh, một tai nạn không thể vượt qua, những suy sụp của tuổi già, một căn bệnh nan y không thể chữa khỏi… Và còn có những sợ hãi mang tính tập thể: nạn khủng bố, chiến tranh, bạo lực, ô nhiễm môi trường, chết đói, thất nghiệp, những nguy cơ của vũ khí giết người hàng loạt, những căn bệnh thế kỷ: Siđa, Sars, cúm gia cầm... Đứng trước những thách đố nầy, cả những Kitô hữu trưởng thành và “dạn dày sương gió “nhất cũng lắm lúc phải “xuyến xao”. (Trong những ngày cuối tháng 4 nầy, khi nhìn lại những kỷ niệm về cuộc chiến của 33 năm trước, chắc chắn có rất nhiều người trong chúng ta đã có cái kinh nghiệm thất vọng não nề, chán chường tê tái đó khi chế độ VNCH sụp đổ !).

Chính trong bối cảnh đen tối và thê lương đó, ánh sáng hy vọng của Đức Giêsu bùng lên như một ngọn lửa nồng nàn, cháy sáng trong đêm tối! Bởi vì, ngay trước “ngưỡng cửa thập giá, Đức Kitô đa long trọng củng cố niềm tin của các môn sinh: "Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy".

Đức Giêsu yêu cầu các bạn hữu đang xao xuyến của người quay tầm nhìn về một hướng duy nhất: Đức tin – Tin vào Thiên Chúa. Sự bình an sâu xa của Đức Giêsu vượt qua mọi nỗi sợ hãi. Niềm tin đó không dựa trên sức người, nhưng dựa trên chính sự hiện diện và quyền năng yêu thương của Thiên Chúa: "Hãy tin vào THIÊN CHÚA” được biểu lộ cụ thể qua Con Một Ngài, Đấng đã đến, đã sống, đã chết và sống lại: “Hãy tin vào THẦY...".

Năm 1787, để lập hiến pháp đầu tiên cho Hợp Chủng Quốc, là nước Mỹ bây giờ, các đại biểu họp nhau lại để bàn luận. Trong dịp nầy, đại biểu Franklin đứng lên nói một câu rất cảm động:

- “Thưa các bạn, chúng ta hãy nguyện kinh trước đã. Sống lâu năm, và càng sống thêm, tôi càng nhận rõ điều nầy là: có Thiên Chúa điều khiển mọi sự. Nếu một con chim sẻ không rớt xuống đất khi Thiên Chúa không cho phép, thì một quốc gia được thành lập thế nào được khi không có Ngài nâng đỡ?”

“Tin vào Thiên Chúa – Tin vào Đức Kitô”: phải chăng đó cũng chính là chủ đề trọng tâm mà Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chọn cho cuộc tông du mục vụ thành công vang dội tại Mỹ vừa qua: “Đức Kitô niềm hy vọng của chúng ta”. Trong suốt 6 ngày, tại nhiều nơi của hai thành phố lớn W.DC và New York, với nhiều cuộc gặp gỡ, cử hành phụng vụ hay tiếp xúc, chia sẻ hay đọc diễn từ...Đức Thánh Cha đã chinh phục hàng triệu con tim của nước Mỹ không phải bằng cái dáng vẽ ồn ào náo động của các ca sĩ nhạc Rock, cũng không phải bằng cơ bắp của các võ sĩ quyền anh nhà nghề hay bằng đôi chân điêu luyện của các siêu sao bóng đá...mà đơn giản, Ngài hiện diện và làm chứng về Thiên Chúa, về Tin Mừng Đức Kitô phục sinh chẳng khác nào Phêrô ngày xưa đã làm chứng tại Giêrusalem như lời nhận xét thâm thúy của Linh mục Thomas Rosica, CSB/ Zenit News Agency:

Phêrô tuần trước đã ở Mỹ, nơi Sân cỏ phía nam tòa Bạch ốc, nơi trường Đại học Công giáo Hoa kỳ. Nụ cuời rộng mở và khuôn mặt thanh thản rõ rệt của Phêrô, đã thắp sáng một quốc gia, một giáo hội và một đại lục bằng niềm hy vọng giữa không gian hoài nghi và tuyệt vọng, giữa khi nhiều người có lẽ mong muốn cái chết đến mau cho một giáo hội còn đang sống động và trẻ trung.

Những lời Phêrô nói với đại diện của hơn 190 nước thành viên LHQ về nhân quyền, phẩm giá, đối thoại và hòa bình trong một thế giới đang có chiến tranh ở nhiều nơi. Sự im lặng, lời nguyện cầu và các cử chỉ hùng hồn tại Ground Zero của Phêrô đã mang lại ủi an và an bình cho các nạn nhân những cuộc tấn công khủng bố vào cả một quốc gia hôm 11 tháng 9 năm 2001.

Nhưng để có thể có được niềm tin như thế, để có thể bình thản và lạc quan như thế, để có được những hạt mầm hy vọng vươn lên trên những mảnh đất đời như thế, chúng ta hãy nhớ lời Đức Giêsu nói với chúng ta hôm nay: "Thầy không để anh em mồ côi đâu... Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”.

b/. Chúa Thánh Thần Đấng Bảo Trợ chúng ta:

Kể từ sau biến cố “Ngày Thứ nhất trong tuần khi nhận được hơi thở Thần linh của Đấng Phục Sinh”, nhất là khi chính thức nhận được những “hình lưởi như lửa đổ xuống trên mình vào dịp đại lễ Ngũ Tuần”, quả thật cuộc đời của các anh dân chài xứ Galilê đã đổi thay tận căn: Không còn “ngồi im đóng cửa ở trong nhà vì sợ người Do Thái”, mà đã tung cửa ra đi khắp bốn phương trời, bất chấp mọi gian nguy thử thách, ngục hình, tù tội và cả cái chết; không còn thất vọng nản lòng quay về nương cũ vườn xưa như hai môn đệ Emmau, nhưng đã hân hoan chạy nhanh về Giêrusalem bất kể đường khuya giá lạnh để thông báo tin vui; hay không còn thối chí trở lại nghề xưa với thuyền với lưới mà đã một lần dứt bỏ ra đi để theo Thầy, nhưng can đảm “chèo thuyền ra tận chỗ nước sâu để buông lưới bắt người”...

Một khi Chúa Thánh Thần đã hành động thì mọi sự được sửa lại từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới.

-Chúa Thánh Thần là Đấng soi sáng, giúp ta ngày càng hiểu rõ Đức Kitô và những lời dạy của Ngài hơn.

-Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ: Ngài ban sức mạnh giúp chúng ta sống, sống một cách phi thường trong cuộc đời bình thường; sống bình thản và lạc quan trong những lúc khó khăn; sống quảng đại và yêu thương đang khi vác thập giá...

-Chúa Thánh Thần còn là nguồn tình yêu. Nhờ tình yêu mà Chúa Thánh Thần đổ tràn vào lòng chúng ta biến cuộc sống chúng ta luôn giữ được gam màu hồng của tin yêu, gam màu xanh của hy vọng, trong muôn vạn gam màu tối của gian truân và thử thách, của thất bại đắng cay, của vô ơn bội nghĩa, của đố kỵ bất công...Chính Đức Kitô đã biến “nổi ô nhục thập giá thành phương thế cứu rỗi con người”, và hôm nay, Thánh Thần cũng sẽ làm cho phương cách ấy của Đức Kitô được tái diễn nơi thập giá cuộc đời của các Kitô hữu, để, như chứng từ bất diệt ngày nào của Thánh Phanxicô khó khăn:

Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.

Và khi có được ngọn lửa Thánh Thần rực sáng trong tim, thì mỗi người Kitô hữu sẽ đủ can đảm và nghị lực, tình yêu và lòng quảng đại để:

Tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu...

Phải chăng đó chính là một trong những “câu trả lời hay nhất và chính xác nhất về niềm hy vọng của chúng ta”, nếu chúng ta bị chất vấn về niềm tin, về hy vọng của mình; mà dù không có ai chất vấn đi nữa, thì cuộc sống đức tin của người Kitô hữu phải luôn là một “thuyết minh sinh động” về Tin Mừng của Đức Kitô, về những “hoa trái của Chúa Thánh Thần”, như hàng hàng lớp những bài thuyết minh tuyệt vời trong suốt 2000 năm lịch sử của Hội Thánh từ các thế hệ đầu tiên như Phêrô, Gacôbê, Philipphê, Phaolô...cho đến những bài thuyết minh mới nhất như Đức cố GH Gioan-Phaolô II, Mẹ Têrêsa Calcutta, Đức cố Hồng y F.X. Nguyễn Văn Thuận, chị Chiara Lubich...Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau được đứng chung trong hàng ngũ của những người đó để viết tiếp câu trả lời về niềm hy vọng Kitô hữu, tiếp tục lời chứng sống động về tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Amen.

LM. Giuse Trương Đình Hiền

 

PS6-A56: Thiên Chúa Ở Cùng

Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Qua giòng thời gian, chúng ta thấy Thiên Chúa đã thực hiện điều: PS6-A56

Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Qua giòng thời gian, chúng ta thấy Thiên Chúa đã thực hiện điều Ngài đã phán hứa là ở cùng nhân loại chúng ta.
Thực vậy, với ông Giôsuê, Ngài phán: Đừng sợ, vì Thiên Chúa ở cùng ngươi. Với Ghiđêon, Ngài bảo: Hỡi người dững cảm, Thiên Chúa ở cùng ngươi. Với Maisen, Ngài nói: Ta luôn ở với ngươi. Với Mẹ Maria, thiên thần loan báo: Thiên Chúa ở cùng bà, bà có phúc lạ hơn mọi phụ nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Và ngày hôm nay, với các môn đệ, Ngài đã hứa: Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.
Còn chúng ta thì sao? Có lẽ nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta đã than phiền: Nếu Thiên Chúa thực sự hiện diện, thì Ngài ở đâu bây giờ? Tại sao Ngài lại xa cách và dường như lại còn đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ trước những nhu cầu cần thiết của chúng ta?
Cũng như hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa ở bên cạnh chúng ta, nhưng chúng ta lại chẳng nhận ra Ngài. Nhất là trong những giây phút buồn sầu và thất vọng, chúng ta cảm thấy Thiên Chúa dường như vắng bóng và chẳng đoái hoài đến những lời chúng ta kêu xin. Nhưng thật ra, đó lại là những giây phút Ngài ở gần chúng ta hơn bao giờ hết.
Sau khi đã thoát khỏi một cơn cám dỗ nặng nề, và được Chúa hiện ra, thánh nữ Catarina đã thân thưa với Chúa: Lạy Chúa, giữa lúc con đang phải chiến đấu, thì Chúa đâu? Và Chúa đã trả lời: Cha trong trái tim con, vì nếu cha không bên con để giúp đỡ, thì con đã sa ngã, đã vấp phạm từ lâu.
Sở dĩ chúng ta không nhận ra Ngài là vì chúng ta đã không nhớ đến Ngài. Ngài đứng đó, giơ bàn tay nâng đỡ, mà chúng ta lại cho rằng không và chẳng chạy đến xin Ngài phú trợ. Chúng ta nên nhớ rằng: Ngài đã trao ban cho chúng ta sự tự do, nên Ngài sẽ không bao giờ bắt ép chúng ta, ngay cả với ơn cứu độ, nếu như chính bản thân chúng ta lại không muốn. Có lẽ con mắt đức tin của chúng ta đã khép lại, đề rồi chúng ta không còn nhận ra Ngài.
Nhiều lúc chúng ta quá chú trọng đến bản thân và những nhu cầu của mình, nên khi gặp phải khổ đau và thử thách, chúng ta thường than thân trách phận.
Chúng ta hãy nhớ lại những hậu quả kỳ diệu của ơn Chúa trợ giúp. Các tông đồ đánh cá ở biển hồ Tibêriade, suốt đêm vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào, nhưng vâng lời Chúa, các ông đã thả lưới và lập tức các ông có được một mẻ cá ngoài sự mong muốn của mình. Khi gặp phải sóng gió, nhưng với uy quyền của Chúa, thì lập tức sóng liền yên và biển liền lặng. Giữa tiệc cưới tại Cana, mọi người đang lúng túng vì thiếu rượu, Chúa Giêsu đã làm phép lại cho nước lã biến thành rượu ngon. Giữa hoang địa cằn cỗi, Ngài đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều, để nuôi sống đám đông dân chúng đang đói mệt. Bà góa thành Naim, cũng như hai chị em Martha và Maria, đang than khóc tuyệt vọng vì người thân yêu của mình không còn nữa, nhưng Chúa đã làm phép lạ cho người đã chết được sống lại, hầu xoa dịu nỗi đớn đau tang tóc.
Chúng ta hôm nay là những người đã bước theo Chúa trên một chặng đường đời, nhưng con đường sắp tới chắc chắn sẽ có những chông gai, những khúc quanh, những triền dốc, chúng ta nên nhớ rằng: Điều đó không quan trọng cho bằng việc ý thức Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta. Và một khi đã có Chúa cùng đi, chắc chắn thuyền đời chúng ta sẽ cặp bến hạnh phúc. Có Chúa cùng đi, chúng ta sẽ tìm ra được sức mạnh và ánh sáng, để vượt thắng mọi trở ngại, bởi vì như lời Ngài đã phán: Không có Thầy, các con chẳng làm được gì. Hay như lời Thánh Vịnh: Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cùng là uổng công.

 

PS6-A57: Trở nên hình ảnh Chúa Giêsu

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’ – Lm Ignatiô Trần Ngà)
 

Nhiều lần Chúa Giêsu nói về Chúa Cha khiến các môn đệ đâm ra tò mò. Chúa Cha là Ai? Ngài ở : PS6-A57

Nhiều lần Chúa Giêsu nói về Chúa Cha khiến các môn đệ đâm ra tò mò. Chúa Cha là Ai? Ngài ở đâu? Ngài là Đấng thế nào?
Thế nên Philípphê mới đề nghị với Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện."
Dùng ngôn ngữ vốn rất hạn hẹp của con người để diễn tả mầu nhiệm cao vời về Chúa Cha thì khác chi lấy gang tay đo chín tầng trời. Vì vậy, thay vì dùng lời để diễn giải, Chúa Giêsu dùng phương pháp trực quan. Ngài chỉ cho Phi-líp-phê cũng như các môn đệ xem chân dung, xem hình ảnh đích thực của Thiên Chúa Cha. Chân dung đó, hình ảnh đó chính là Ngài: "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha".
Tiếp theo, Chúa Giêsu cũng tỏ cho các môn đệ biết giữa Ngài và Chúa Cha có một mối hiệp thông hết sức mật thiết. Những lời Chúa Giêsu nói chính là những lời của Chúa Cha được phát ra qua môi miệng Chúa Giêsu: "Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14,10). Những gì Chúa Giêsu thực hiện trong cuộc đời đều cũng là những hành động của Chúa Cha...
Thế là Chúa Cha tự tỏ mình qua Chúa Giêsu. Nhìn vào Chúa Giêsu, nhân loại sẽ biết được Thiên Chúa Cha.
* * *
Thánh Athanasiô đã diễn tả chân lý nầy như sau: "Chúa Cha được bày tỏ qua Chúa Con và Chúa Con được bày tỏ qua Giáo Hội." Nói khác đi, Chúa Con là hình ảnh trung thực của Chúa Cha, còn Giáo Hội là hình ảnh trung thực của Chúa Con, và chúng ta, vì là thành phần của Giáo Hội, nên cũng phải là hình ảnh trung thực của Chúa Giêsu.
Theo nhật báo Chứng Nhân kitô hữu (Témoignage Chrétien), vào năm 1941 có một vị linh mục bị Đức Quốc Xã giam trong trại tập trung dành cho người gốc Do thái. Như bao tù nhân khác, ngài cũng bị hành hạ và ngược đãi thậm tệ. Tuy nhiên ngài vẫn vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ anh em đồng cảnh ngộ đang lâm vào tình trạng khủng hoảng và tuyệt vọng.
Trong cảnh tù đày đói khát, một vụn bánh còn quý hơn vàng, vậy mà ngài dám chia sớt phần ăn ít ỏi của mình cho những bạn tù yếu sức hơn.
Những lúc trời rét buốt xương, tấm áo len được xem là kho tàng vô giá, thế mà có lần ngài tặng không chiếc áo len đang mặc cho bạn tù đang lâm trọng bệnh nằm run cầm cập trong xó nhà.
Ngài là nhịp cầu yêu thương giữa những kẻ bất hoà, đem sự khích lệ tinh thần cho những tâm hồn sầu muộn... Ngài đã cứu được mấy bạn tù tuyệt vọng khỏi tự huỷ mình nhờ những khuyên lơn an ủi... Vì thế, các tù nhân trong trại rất yêu quý và xem ngài như người cha thứ hai. Họ đều gọi ngài cách thân thương là... Bố.
Trong trại tù còn có một thanh niên bụi đời, lớn lên nơi đầu đường xó chợ, căm hờn mọi người, không ngần ngại phạm bất kỳ tội ác nào.
Vị linh mục khả ái từng bước tiếp cận, trò chuyện, giúp đỡ, khuyên răn, và cuối cùng đã cảm hoá được chàng thanh niên chai đá và tưởng chừng như vô phương cứu chữa nầy. Ngài cũng mong ước dần dần dẫn dắt cậu về với đạo thánh Chúa.
Thế rồi, một hôm, có lệnh chuyển cha sang trại Ao-sơ-vích (Auschwitz), một trại tập trung mà chỉ mới nghe danh xưng, mọi trại viên đều phải kinh hoàng. Đó là lò hủy diệt con người bằng những hầm hơi ngạt và lò thiêu xác.
Trước khi chia tay với các bạn tù và đặc biệt với cậu thanh niên mới hoàn lương, ngài quyết định phải giới thiệu đôi nét về Chúa Giêsu cho cậu với hy vọng cậu sẽ trở thành người con Chúa.
Ngài vỗ vai cậu và ôn tồn nói "Này, con yêu của Bố, đã từ lâu Bố rất mong con nhận biết và trở thành môn đệ Chúa Giêsu ."
Cậu thanh niên thưa lại: "Nhưng con chưa biết gì về Chúa Giêsu cả. Bố có thể kể sơ lược về Ngài cho con biết được không?"
Biết mình không còn thời gian để giới thiệu dông dài vì giờ chuyển trại sắp đến, vị linh mục già thinh lặng cúi đầu, cầu nguyện giây lát, rồi ngài ngẩng lên khiêm tốn đáp: "Chúa Giêsu mà Bố muốn cho con tin và yêu mến, Ngài giống như Bố đây!"
Bấy giờ cậu thanh niên nhìn thẳng vào mắt ngài cách trìu mến và chân thành đáp lại: "Nếu Chúa Giêsu mà giống Bố thì có thể một ngày nào đó, con sẽ tin và yêu mến Chúa Giêsu!"
Sau thế chiến thứ hai, người ta không còn gặp lại vị linh mục nầy nữa. Còn cậu thanh niên thì được sống sót qua các trại tập trung trở về với gia đình và đã thuật lại câu chuyện trên đây về một mục tử đã thực sự trở thành hình ảnh trung thực của Chúa Cứu Thế. Cũng chính nhờ hình ảnh Chúa Giêsu ngời sáng lên nơi con người và cuộc đời của vị mục tử tốt lành nầy, chàng thanh niên được cảm hoá và trở thành người con Chúa.
Lạy Chúa Giêsu,
Đã bao lần chúng con làm cho khuôn mặt Chúa trở méo mó, biến dạng và có thể là rất khó thương vì đời sống không đẹp của chúng con.
Xin cho chúng con biết nhìn lên Chúa như một khuôn mẫu tuyệt vời để đào tạo bản thân mình thành con người mới, có phẩm chất cao đẹp, có đạo đức và văn hoá để nhờ đó, chúng con trở thành hình ảnh trung thực về Chúa cho thế giới hôm nay.

 

PS6-A58: Mối tình Châu Long

(Trích trong ‘Cùng Nhau Suy Niệm’ – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Chuyện cổ tích Việt Nam kể rằng: Có đôi bạn chí thân là Lưu Bình và Dương Lễ. Lưu Bình cùng họ : PS6-A58

Chuyện cổ tích Việt Nam kể rằng: Có đôi bạn chí thân là Lưu Bình và Dương Lễ. Lưu Bình cùng họ với Lưu Linh. Ham chơi hơn ham học. Dòng dõi giầu sang phú quý nhưng lêu lổng ăn chơi trác táng. Dương Lễ nhà nghèo nhưng ham học. Lấy đèn sách làm thú vui. Nhờ chí thú học hành mà Dương Lễ đã đỗ trạng nguyên làm quan lớn triều đình. Ngược lại, Lưu Bình vì ham chơi nên công không thành và danh thì bại. Thân xác tiều tuỵ và đói khổ bần hàn. Dương Lễ nhìn cảnh bạn sa cơ thất thế nên động lòng trắc ẩn. Dầu vậy, bên ngoài ông vẫn làm như không nhìn nhận tình bạn. Ông đã ngầm cho vợ là Châu Long giả dạng là người con gái đến giúp Lưu Bình làm lại cuộc đời. Châu Long đã theo lời chồng đến với Lưu Bình để động viên, giúp đỡ Lưu Bình. Nhờ đó mà Lưu Bình đã cố gắng ăn học và sau này cũng thành tài. Về phần Châu Long tuy sống với Lưu Bình nhưng lại không thuộc về Lưu Bình. Nàng vẫn thuộc về Dương Lễ. Nàng vẫn phải trung thành tuyệt đối với Dương Lễ. Cho dù Lưu Bình đã nhiều lần đề nghị nàng kết mối duyên tình, nhưng nàng đã khéo léo từ chối. Nàng khuyên nhủ Lưu Bình hãy chuyên chăm học hành để công thành danh toại mới tính đến chuyện trăm năm. Cho đến khi Lưu Bình thi đỗ mới vỡ lẽ ra: Châu Long chính là vợ của bạn được gởi đến để giúp đỡ mình.
Cuộc đời ky-tô hữu chúng ta cũng giống như nàng Châu Long. Sống giữa thế gian để canh tân đổi mới thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Sống giữa thế gian nhưng phải trung thành với thầy Chí Thánh Giêsu. Không để lòng mình buông theo những cám dỗ tội lỗi, những thói đời điêu ngoa, những đam mê thấp hèn. Trong kinh lạy Cha, Chúa Giêsu cũng dạy chúng ta: Hãy xin cùng Chúa Cha gìn giữ chúng ta khỏi sa chước cám dỗ và gìn giữ chúng ta khỏi mọi sự dữ. Chúa không bảo chúng ta xin cùng Chúa Cha cất nhắc chúng ta ra khỏi thế gian, nhưng vẫn ở giữa thế gian, đồng thời vẫn phải trung tín với Chúa. Như Châu Long sống với Lưu Bình để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Dương Lễ đã trao.
Có thể nói, Châu Long phải có một tình yêu thật cao cả, thật thuỷ chung lắm mới có thể sống với Lưu Bình mà vẫn giữ trọn giao ước với Dương Lễ. Người ky-tô hữu cũng phải có một tình yêu thật thâm sâu với Thiên Chúa mới có thể tuân giữ giới răn Chúa khi sống giữa thế gian đầy mời mọc hấp dẫn luôn lôi kéo con người bất trung, phản bội với Chúa. Vâng, chúng ta đang ở giữa một thế gian đầy gian tà, một thế gian sa đoạ, tội lỗi, người ky-tô hữu phải có một tình yêu sắt son trung kiên mới có thể giữ lòng thanh khiết như đoá sen "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Lời Chúa hôm nay cũng căn dặn chúng ta: "Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hãy giữ lời Thầy". Như thế, tuân giữ giới răn Chúa là dấu chỉ cho lòng yêu mến Chúa. Tuân giữ giới răn Chúa còn là dấu chỉ sự trung tín và chu toàn bổn phận của Chúa giữa thế gian. Không thể nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại không dám thực thi lời Chúa. Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không dám sống đạo và giữ đạo, đó chỉ là sự giả tạo vì Chúa đã từng trách rằng: "Dân này chỉ thờ Ta bằng môi bằng miệng mà lòng chúng lại xa cách Ta". Tuân hứa giới răn Chúa không chỉ dừng lại trên môi miệng mà còn là một dấn thân để ý Chúa được thể diện trong cuộc đời chúng ta. Như Chúa Giêsu, ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự. Người ky-tô hữu cũng phải vâng phục theo giáo huấn của Chúa, cho dẫu có phải chịu thiệt thòi, mất mát hay phải hy sinh cả tính mạng vì lòng yêu mến Chúa.
Nhìn vào thế gian hôm nay với bao nhiêu cám dỗ mời mọc, bao nhiêu cạm bẫy rình chờ, khiến đức tin của chúng ta đã nhiều lần chao đảo, muốn buông xuôi theo cám dỗ của tiền tài, danh vọng và thú vui thể xác. Giữa một thế giới có quá nhiều cám dỗ hưởng thụ, làm sao chúng ta có thể trung thành với Chúa? Có lẽ vì nguyên nhân đó, mà Chúa Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta, đồng thời, ngài còn ban Thần Khí đến cho chúng ta. Ngài sẽ an ủi khi chúng ta gặp u buồn. Ngài sẽ soi sáng khi lòng trí chúng ta gặp hoang mang, lo lắng. Ngài sẽ nâng đỡ khi bước đường chúng ta gặp gian nan. Ngài sẽ ban sức mạnh khi chúng ta cần sức mạnh để vượt qua cám dỗ tội lỗi và làm lại cuộc đời. Ngài sẽ ban cho chúng ta những ơn cần thiết để chúng ta hoàn thành sứ mạng cuộc đời như một tôi tớ trung tín và khôn ngoan, vì Chúa đã hứa hằng: "Ơn Ta đủ cho người và quyền năng Ta hiển trị nơi sự yếu hèn của con".
Nguyện xin Chúa Kytô Phục sinh luôn đồng hành với chúng ta và chúc lành cho cuộc đời chúng ta luôn bình an để chúng ta mãi trung thành với Chúa. Amen.

 

PS6-A59: Chúa Giêsu không để các đồ đệ mồ côi

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện)
 

Bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước (Ga 14, 1-12) nói về cộng đoàn các đồ đệ của Đức Giêsu trong : PS6-A59

Bài Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước (Ga 14, 1-12) nói về cộng đoàn các đồ đệ của Đức Giêsu trong hành trình đi đến cùng Chúa Cha. Bài Tin Mừng hôm nay (Ga 14, 15-21) sẽ nói về sự gắn bó nên một của cộng đoàn và của từng thành viên trong cộng đoàn với Thiên Chúa.
1. Thần Khí sự thật luôn giữa cộng đoàn (cc.15-17)
Sự hiện diện thể lý và thế tạm của Đức Giêsu giữa cộng đoàn các đồ đệ sẽ chấm dứt. Nhưng Thần Khí sự thật sẽ được Chúa Cha sai đến, để Người ở mãi với các đồ đệ, ở bên cạnh và ở trong các đồ đệ.
Trước khi nói đến việc Thần Khí sự thật đến, Đức Giêsu nói đến tình yêu của các đồ đệ đối với Người, và về sự cần thiết phải tuân giữ các điều răn của Người: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (c.15). Tình yêu đối với Đức Giêsu là điều kiện để giữ các điều răn của Người (nếu A thì B), và đàng khác, việc thực hiện những lệnh truyền của Đức Giêsu sẽ là bằng chứng của tình yêu đối với Người (c. 21: Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy).
Đây là lần đầu tiên Đức Giêsu nói về tình yêu của các đồ đệ đối với Người. Lòng tin vào Chúa Giêsu đạt đến đỉnh cao trong sự gắn bó thiết thân và đầy tình yêu mến đối với Người. Sự gắn bó ấy được thể hiện trong việc thực hiện những điều răn của Người. Ở 13,34 Đức Giêsu nói về điều răn mới của Người, và bây giờ, Người nói về “các điều răn” của Người (14,15.21; 15,10). Điều răn mới (“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”) là mẫu gộp tóm tất cả mọi điều răn khác. Và tuân giữ các điều răn là đón nhận trong lòng tin toàn bộ Lời của Đức Giêsu và ký thác bản thân cho Người (x. 14, 23-24).
Với các đồ đệ yêu mến Đức Giêsu như thế, Người hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (cc.16-17a). Đức Giêsu thực hiện vai trò trung gian bên Chúa Cha để Chúa Cha ban Thánh Thần cho những kẻ thuộc về Người, và cộng đoàn những kẻ thuộc về Đức Giêsu sẽ lãnh nhận được Thánh Thần nhờ Người.
Thánh Thần được gọi là Đấng Bảo Trợ. Người sẽ thực hiện một vai trò kép: trong cộng đoàn đồ đệ và trong cuộc đối diện của cộng đoàn với thế gian. Bên trong cộng đoàn, Người dạy dỗ các đồ đệ mọi điều và làm cho các đồ đệ nhớ lại mọi điều Đức Giêsu đã truyền dạy (14,26). Người dẫn họ đến sự thật toàn vẹn (16,13). Người làm chứng về Đức Giêsu trước các đồ đệ (15,26). Người tôn vinh Đức Giêsu và loan báo cho các đồ đệ những gì là của Đức Giêsu (16,14). Còn trong cuộc đối diện của cộng đoàn với thế gian, Người soi sáng hướng dẫn các đồ đệ và làm cho các đồ đệ biết rằng thế gian sai lầm (16,9-11).
Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác. Khi còn ở với các đồ đệ, Đức Giêsu gìn giữ, bảo vệ và dạy dỗ họ (17,12). Từ nay, Thánh Thần sẽ đảm nhận vai trò đó.
Người là Thần Khí sự thật. Có hai cách hiểu danh ngữ “Thần Khí sự thật” (to pneuma tês alêtheias): (1) Thần Khí là sự thật; và (2) Thần Khí thông ban sự thật. Cũng có thể hiểu theo nghĩa Thần Khí là sự thật, thông ban sự thật và làm cho sống trong sự thật. Trong tư cách là Thần Khí sự thật, Người cũng là Thần Khí giải thoát, vì sự thật đem đến sự giải thoát (8,31-32).
Thế gian không biết Thần Khí sự thật. Người là “Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người” (c.17b). Hạn từ “thế gian” ở đây được sử dụng theo nghĩa xấu, chỉ trật tự bất chính, đối nghịch với Thiên Chúa. Thế gian này tin tưởng vào sự dối trá và kềm hãm con người trong bóng tối của sự dối trá. Nó phục tùng ma quỷ. “Ngay từ đầu, ma quỷ đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (8,44). Vì vậy, thế gian không thể biết Thần Khí sự thật và càng không thể đón nhận Thần Khí sự thật.
“Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (c.17c). Các đồ đệ biết Thần Khí sự thật là nhờ sự hiện diện của Đức Giêsu, Đấng ở trong Chúa Cha (14,10). Một khi được Đức Giêsu sai đến (7,39), Thần Khí sẽ luôn ở giữa các đồ đệ và ở trong mỗi đồ đệ.
2. Chúa Giêsu trở lại và cộng đoàn được Chúa Cha yêu mến (cc.18-21)
Đứng trước sự ra đi của Đức Giêsu, các đồ đệ xao xuyến (x. 14,1). Vì thế, khi chuẩn bị cho các đồ đệ đối diện với thực tại là sự vắng mặt của Người, Đức Giêsu muốn giúp các ông tránh khỏi sự xao xuyến ấy. Người tuyên bố: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (cc.18-19).
Đức Giêsu sẽ không bỏ các đồ đệ mồ côi. Hạn từ “mồ côi” mang một sắc thái nghĩa khá đặc biệt trong Cựu Ước. Kẻ mồ côi được hình dung như là một dạng điển hình cho những người không có ai bảo vệ và luôn phải đối diện với nguy cơ bị đối xử một cách bất công (x. Is 1,17-23; 10,2; Gr 5,28; 7,6; 22,3; Ed 22,7; Hs 14,4). Đức Giêsu hứa rằng Người sẽ không để các đồ đệ rơi vào tình trạng bi đát đó.
Đức Giêsu đang đi đến cái chết. Nhưng sự vắng mặt của Người sẽ không phải là một tình trạng vĩnh viễn. Người hứa sẽ đến cùng các đồ đệ. Có lẽ nên hiểu cặp đối lập “thấy – không thấy” ở đây trong liên kết với cắp “tỏ mình ra – không tỏ mình ra” trong 14, 21-22. Thế gian sẽ không còn được thấy Đức Giêsu sau khi Người đi vào cõi chết là bởi vì Người không tỏ mình ra cho thế gian. Nhưng các đồ đệ sẽ được thấy Người, vì Người yêu mến họ và tỏ mình cho họ, như lời Người sẽ nói ở cuối bài Tin MỪng: “Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (c.21c).
Thực tại “thấy” Đức Giêsu lại được miêu tả như là sự hiệp thông sự sống với Người. “Anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (c.19). “Thấy” ở đây, như thế, là tham dự vào sự sống của chính Đức Giêsu.
“Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha của Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (c.20). Đó là kết quả của sự tình các độ đệ được tham dự vào sự sống của Đức Giêsu. Đó cũng chính là hiệu quả của việc Đức Giêsu ban Thần Khí cho các đồ đệ. Thần Khí, Đấng phát xuất từ Chúa Cha và làm chứng về Chúa Giêsu (15,26) sẽ làm cho các đồ đệ biết rằng Đức Giêsu và Chúa Cha là một (10,30), tức là biết rằng “Thầy ở trong Cha của Thầy”. Và các đồ đệ, trong Thần Khí sự thật, sẽ nên một với Đức Giêsu. Khi ấy, “anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em”.
Sự gắn bó nên một như thế với Chúa Giêsu chính là điều kiện để các đồ đệ tuân giữ các điều răn của Người, như đã được khẳng định từ câu đầu tiên của bài Tin Mừng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (c.15). Và đàng khác, “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (c.21a). Tình yêu đối với Đức Giêsu hệ tại ở chỗ người đồ đệ sống chính những giá trị của Đức Giêsu và hành xử như chính Người đã hành xử.
Khi ấy, chính người đồ đệ sẽ được Chúa Cha yêu mến: “Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến” (c.21b). Chúa Cha yêu mến họ bằng chính tình yêu mà Ngài yêu mến Đức Giêsu. Trong lời cầu nguyện ở Ga 17, Đức Giêsu thưa với Chúa Cha như sau về các đồ đệ của Người: “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (17,23).
Gợi ý suy niệm và chia sẻ
1. Tình yêu đích thực đối với Đức Giêsu hệ tại ở sự thi hành ý muốn của Đức Giêsu. Ý muốn ấy được thể hiện trong Lời của Người và trong các điều răn của Người. Ai yêu mến Đức Giêsu thì thực hiện các lệnh truyền của Người (x. c.21). Và đàng khác, chính trong lòng yêu mến đối với Đức Giêsu mà chúng ta mới có thể sống chính những giá trị của Đức Giêsu và hành xử như chính Người đã hành xử (x.c.15). Hai yếu tố “yêu mến Đức Giêsu” và “tuân giữ lời Đức Giêsu” có mối tương quan biện chứng.
2. Thần Khí sự thật được Chúa Cha ban cho các đồ đệ yêu mến Chúa Giêsu. Người là sự thật và Người thông ban sự thật, giúp các đồ đệ sống trong sự thật của Chúa Giêsu. Người là Đấng Bảo Trợ, sẽ dạy dỗ, bảo vệ, hướng dẫn… các đồ đệ của Chúa Giêsu.
3. Chúa Giêsu hứa không để các đồ đệ mồ côi. Ở giữa thế gian, họ có thể sẽ phải hiện diện như là đối tượng của những cách hành xử bất công, bạo tàn. Nhưng Chúa Giêsu luôn đến với họ và cho họ được hiệp thông với chính sự sống thần linh của Người. Chính nhờ đức tin mà các đồ đệ sẽ cảm nghiệm sâu xa sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh và sẽ được hưởng sự sống của Người.

 

PS6-A60: Tuân giữ các điều răn của Thầy

(Suy niệm của Lm. FX. Vũ Phan Long)
 

Tình yêu không hệ tại các lời nói, các tình cảm hoặc các kỷ niệm, nhưng được chứng minh bằng việc: PS6-A60

Tình yêu không hệ tại các lời nói, các tình cảm hoặc các kỷ niệm, nhưng được chứng minh bằng việc lắng nghe, tin tưởng và bước theo.
1.- Ngữ cảnh
Bản văn chúng ta đọc hôm nay cũng thuộc về Phần II của TM IV (“Sách về Giờ của Đức Giêsu”) và ở trong “Diễn từ cáo biệt thứ nhất” (Ga 13,31–14,31), tại điểm c triển khai thứ năm (Ga 14,15-24; xem bốn điểm trước: 13,31-36a; 13,36b-38; 14,2-6; 14,7-14).
Trong bản văn hôm nay, Đức Giêsu hứa tỏ mình ra cho những ai yêu mến Người.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Thần Khí sự thật đến (14,15-17);
2) Đức Giêsu đến (trở lại) (14,18-21).
Mở đầu và kết luận là hai câu nói về tình yêu đối với Đức Giêsu và sự cần thiết phải đi theo các giới răn của Người (c. 15 và c. 21).
3.- Vài điểm chú giải
- giữ các điều răn (15): “Giữ” (têreô) có nghĩa là “chu toàn”, “thực hành”. Ở đây và ở c. 21, Đức Giêsu nói đến “các điều răn” (số phức), ngược lại với “điều răn mới” (số đơn) ở 13,34 (x. 15,10.12). Các điều răn của Người không phải chỉ là những giáo huấn về luân lý, mà là cả một lối sống trong tình hiệp thông yêu thương với Người. Ở đây chúng ta ghi nhận có một tiếng vọng của “điều răn lớn” của Dnl 6,4tt ở đây: các từ ngữ của đoạn văn này dựa vững chắc trên sách Đnl. Chúng ta đã thấy điểm giáo lý này trong Ga 5,41-44 và 8,41t: những ai yêu mến vì Thiên Chúa duy nhất chân thật, thì cũng yêu mến Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến; còn nếu họ từ chối cả hai tình yêu ấy, thì họ vẫn là những kẻ không tin (“con hoang”). Ở Ga 14,15tt, cũng vẫn một chiều hướng giáo lý như thế.
- Người sẽ ban cho (16): Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, điều này được diễn tả bằng hai kiểu nói: “Chúa Cha sẽ sai đến” (14,26) và “Thầy sẽ sai đến” (15,26; 16,7). Động từ “(ban) cho” (didômi) thường được Tân Ước nối kết với Chúa Thánh Thần (x.Rm 5,5), do đó “ân huệ” (dôrea, gift) đã trở thành một tên gọi của Thánh Thần (“ân ban Thánh Thần” = Thánh Thần là một ơn: x. Cv 2,38; 8,20; 10,45; 11,17).
- một Đấng Bảo Trợ khác (16): “Vị bảo trợ” (paraklêtos) là từ ngữ được dùng tại tòa án, có nghĩa là người đứng bên cạnh bị cáo, bên cạnh người đang gặp khó khăn. TM IV trình bày vụ kiện giữa ánh sáng và bóng tối, giữa Đức Giêsu và những kẻ chống đối Người, giữa thế gian và các môn đệ, nhưng Đấng Bảo Trợ soi sáng hướng dẫn các môn đệ khi các ông ra trước tòa thế gian, chứ Người không đối đầu trực tiếp với thế gian. Những công việc của Người là “ở lại”, “ở với” và “ở trong” các môn đệ (14,16-17). Người dạy các ông mọi điều và giúp các ông nhớ lại mọi điều Đức Giêsu đã nói (14,26). Người làm chứng cho Đức Giêsu trước các môn đệ (15,26). Người làm cho các môn đệ biết rằng thế gian sai lầm (16,9-11). Người dẫn các môn đệ đi trong chân lý toàn vẹn (16,13). Người tôn vinh Đức Giêsu và loan báo cho các ông những gì là của Đức Giêsu (16,14).
Tuy bản văn Hy-lạp allon paraklêton có thể dịch là “một Đấng khác, một Đấng Bảo Trợ” [LÊ MINH THÔNG đề nghị chuyển ngữ là “Đấng Pa-rác-lê”, vì dịch sang tiếng Việt không diễn tả hết ý nghĩa (Tin Mừng thứ tư song ngữ Hy-lạp – Việt [2008] 15)], nhưng truyền thống chấp nhận kiểu dịch “một Đấng Bảo Trợ khác”. Vậy, Đức Giêsu là Đấng Bảo Trợ đầu tiên. Thư 1 Ga (2,1) giới thiệu Đức Giêsu như là Đấng Bảo Trợ có vai trò chuyển cầu trước nhan Chúa Cha sau khi sống lại, nhưng Ga cũng hàm ý Đức Giêsu đã là một Đấng Bảo Trợ khi Người thi hành sứ vụ trên mặt đất. Thần Khí sự thật là một Đấng Bảo Trợ chính là vì Người hoàn tất công trình của Đức Giêsu.
- Thần Khí sự thật (17): Trong cụm từ to pneuma tês alêtheias, alêtheias là thuộc-cách chỉ đối tượng (objective genitive): Thần Khí thông ban sự thật (x. 16,13). Nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa thuộc-cách đồng-chức-ngữ (appositive genitive): Thần Khí là sự thật (1 Ga5,6[7]). Đây không phải là một mô tả về yếu tính của Thần Khí.
- Người luôn giữa anh em (17): Có Thánh Thần ở với và nhận biết Người, hai điều này là một ân huệ duy nhất.
- mồ côi (18): Kiểu nói này không xa lạ với người đương thời: người ta quen nói là môn đệ của các kinh sư bị mồ côi khi các vị này qua đời. Kiểu nói này phù hợp với ngôn ngữ của Đức Giêsu trong Diễn từ cáo biệt, vì Người gọi các môn đệ là “những người con bé nhỏ của Thầy” (13,33).
- chẳng bao lâu nữa (19): Công thức này không cho biết gì về quãng thời gian dài ngắn cả, vì nó được dùng cả ở 7,33 để nói rằng Đức Giêsu còn sống sáu tháng, lẫn ở đây khi mà Đức Giêsu chỉ còn sống có vài giờ. Đây là một công thức của Cựu Ước được các ngôn sứ dùng để diễn tả niềm lạc quan khi thấy rằng chẳng còn bao lâu nữa rồi ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ đến (x. Is 10,25; Gr 51,33).
- Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống (19): Được thấy Đức Giêsu Phục Sinh và được sống, hai điều này là một ân huệ duy nhất.
- Ngày đó (20): Công thức này xuất hiện 3 lần trong TM Ga (ở đây, và 16,23.26). Mặc dù trong Cựu Ước, “ngày đó” là một công thức truyền thống để mô tả lúc Thiên Chúa can thiệp lần cuối cùng (x. Mc 13,32), trong TM Ga, thành ngữ này dường như được áp dụng cho cuộc sống của người Kitô hữu đã đạt được nhờ “giờ” (= cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh) của Đức Giêsu.
- Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến (21): Trong cách trình bày nhị nguyên của Ga, bởi vì tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người được diễn tả bằng việc ban tặng Con của Ngài, nếu người ta quay lưng lại với Người Con, người ta không có tình yêu của Thiên Chúa.
4.- Ýnghĩa của bản văn
Các môn đệ cảm thấy đau lòng bởi cuộc chia ly. Các ông tự hỏi là làm thế nào các ông có thể tiếp tục sống với Đức Giêsu nếu Người ra đi. Đức Giêsu hứa là Người sẽ không bỏ các môn đệ một mình, không người che chở, không ai hướng dẫn. Người loan báo có một sự trợ giúp khác sẽ đến, đó là Thần Khí sự thạt (14,15-17) và chính Người cũng sẽ đến (14,18-21). Người tuyên bố rằng tất cả những giáo huấn Người đã ban cho các ông từ trước đến nay sẽ không bị lỗi thời, nhưng vẫn có giá trị mãi mãi. Chỉ người nào gắn bó với các giới răn của Người mới có thể nhận được Thần Khí và mở ra với tình yêu của Đức Giêsu và của Chúa Cha.
* Thần Khí sự thật đến (15-17)
Ở chỗ khởi đầu (c. 15) và ở cuối bản văn này (c. 21), Đức Giêsu nói đến tình yêu đối với Người và sự cần thiết phải tuân giữ các điều răn của Người. Trong nỗi đau đớn các môn đệ cảm thấy khi phải xa cách Thầy, các ông đã tỏ lộ tình yêu thương đối với Đức Giêsu. Nay các ông được biết là các ông phải chứng tỏ là các ông chân thành ước muốn có Đức Giêsu hiện diện và được hiệp thông với Người, bằng cách tuân giữ các điều răn của Người. Chỉ có lời khuyên yêu thương nhau được minh nhiên gọi là điều răn (x. 13,34). Nhưng cả những gì Đức Giêsu làm, trong lời nói và hành động, là lời nhắc và lời khuyên cho loài người chúng ta. “Tuân giữ các điều răn” có nghĩa là lấy đức tin mà đón nhận toàn bộ Lời Người (x. 14,23-24), bằng cách ký thác bản thân cho Người dẫn dắt. Đức Giêsu luôn hiện diện trong Lời Người và trong lời nhắc về Người. Ai gắn bó với Đức Giêsu như thế, Thiên Chúa sẽ theo lời Đức Giêsu thỉnh cầu mà ban Chúa Thánh Thần cho họ như là một Đấng trợ lực mới.
Các câu 16-17 là đoạn đầu trong năm đoạn nói về Đấng Bảo Trợ trong Diễn từ cáo biệt. Cho tới nay, Đức Giêsu đã là Đấng trợ giúp các môn đệ, săn sóc họ, hướng dẫn, khuyến khích họ, ban sức mạnh cho họ. Nay cho dù Đức Giêsu ra đi, các ông vẫn không bị bỏ mặc một mình, bởi vì Chúa Cha sẽ ban Thánh Thần cho các ông, để Người ở luôn mãi với các ông, ở bên cạnh và ở trong các ông. Thánh Thần/Đấng Bảo Trợ khác Đức Giêsu Đấng Bảo Trợ ở chỗ người ta không thể thấy Thánh Thần theo cách thể lý và Người chỉ hiện diện bằng cách cư ngụ trong các môn đệ mà thôi. Đề tài “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (immanuel của Is 7,14) nay được thể hiện nơi Đấng Bảo Trợ/Thánh Thần, Đấng ở lại mãi mãi với các môn đệ, để che chở các ông trong những lúc gặp khó khăn.
Thánh Thần này được xác định như là “Thần Khí sự thật”. “Sự thật” đối với tác giả Ga luôn luôn có nghĩa là chính Thiên Chúa, Đấng tỏ mình ra qua Đức Giêsu. Thánh Thần sẽ đưa vào trong “sự thật”, nghĩa là hoạt động trong tim chúng ta để chúng ta có thể chấp nhận mạc khải của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi Đức Giêsu. Ngài sẽ giữ các môn đệ ở lại trong sự thật đã được Đức Giêsu truyền đạt và sẽ che chở các ông khỏi các ông thầy gian tà và khỏi những chọn lựa sai lầm. Thế gian, vì khép kín lại với Đức Giêsu, thì không thể đón nhận Người. Chỉ khi tin vào Đức Giêsu và giữ kỹ các điều răn của Người, chúng ta mới mở ra với Chúa Thánh Thần và có thể nhận ra Người và có kinh nghiệm về hoạt động của Người. “Thế gian” đây là tất cả những ai đang còn nuôi thù hận, mưu toan trả thù; nhưng “thế gian” cũng chính là phần của trái tim chúng ta đang còn có những tâm tình gian ác đó. Thế gian có tinh thần của nó (x. 1 Cr 2,12), tinh thần này thúc bách chúng ta làm điều dữ, sống ích kỷ. Còn Thánh Thần Thiên Chúa thì thúc bách chúng ta yêu thương, quảng đại, phục vụ kẻ khác. Thế gian không thể đón nhận Thánh Thần này.
* Đức Giêsu đến (trở lại) (18-21)
Bây giờ, Đức Giêsu đảm bảo với các môn đệ là các ông sẽ không phải mồ côi, như khi cha mẹ chết thì họ vĩnh viễn mất cha mẹ. Đức Giêsu bỏ họ lại mà đi đến cái chết, nhưng rồi sẽ trở lại với họ. Người báo trước rằng họ sẽ gặp lại nhau, khi họ được gặp Người như là Đức Chúa Phục Sinh. Đức Giêsu chết, nhưng không biến mất trong cái chết. Người sẽ trở lại với các môn đệ, như Đấng vẫn sống, như là Đấng Phục Sinh, và họ sẽ được thông phần vào sự sống của Người. Điều kiện là các ông phải “có và tuân giữ các điều răn” của Đức Giêsu.
Có một sự song đối giữa phần này với phần trên:
(1) Những điều kiện cần thiết: yêu mến Đức Giêsu; giữ các điều răn Người:   15//21
(2) Ban Đấng Bảo Trợ; Đức Giêsu trở lại:                16//18
(3) Thế gian không thấy Đấng Bảo Trợ hoặc Đức Giêsu:          17//19
(4) Các môn đệ sẽ nhận biết Đấng Bảo Trợ và thấy Đức Giêsu:       17//19
(5) Đấng Bảo Trợ và Đức Giêsu sẽ ở trong các môn đệ:          17//20.
Đấy là cách tác giả Ga dùng để nói rằng sự hiện diện của Đức Giêsu sau khi Người trở về với Chúa Cha được thực hiện trong và qua Đấng Bảo Trợ. Đây không phải là hai sự hiện diện nhưng chỉ là một sự hiện diện duy nhất.
+ Kết luận
Đức Giêsu loan báo cho các môn đệ rằng chỉ sau khi Người sống lại, các môn đệ mới thật sự hiểu sự hiệp thông của Người với Chúa Cha và với các ông. Qua sự Phục Sinh, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa ở bên cạnh Đức Giêsu với tất cả tình yêu và quyền lực của Thiên Chúa, và xác nhận giá trị các lời Người đã nói và các việc Người đã làm. Nhưng sự Phục Sinh cũng cho thấy rõ ràng dây liên kết đặc biệt giữa Đức Giêsu và các môn đệ: khi đó Người chỉ tỏ mình ra với các ông và được các ông nhận biết như là Đấng đang sống. Để đạt tới sự hiệp thông với Người, Đức Giêsu nhắc các môn đệ, cũng như nhắc toàn thể nhân loại mọi thời: “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (c. 21). Luôn luôn có giá trị việc đi tìm liên kết với Đức Giêsu mà dựa trên sự nhận biết các điều răn của Người và để cho các điều răn ấy tác động trên cuộc sống chúng ta. Nếu chúng ta sống như thế, chúng ta sẽ gặp được tình yêu của Chúa Cha và Chúa Cha sẽ đón tiếp chúng ta. Chúng ta cũng sẽ gặp được tình yêu của Đức Giêsu, vì Người sẽ tỏ mình ra cho chúng ta để chúng ta nhận biết Người một rõ ràng hơn và sâu sắc hơn, để rồi chúng ta được liên kết với Người ngày càng bền chặt và sống động.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Các môn đệ phải chứng tỏ rằng họ chân thành ao ước có Đức Giêsu hiện diện và được hiệp thông với Người qua việc giữ các điều răn của Người. “Tuân giữ các điều răn” có nghĩa là tin tưởng đón nhận toàn bộ các lời nói của Đức Giêsu (x. 14,23-24), bằng cách để cho Người hướng dẫn. Tình yêu không hệ tại các lời nói, các tình cảm hoặc các kỷ niệm, nhưng được chứng minh bằng việc lắng nghe, tin tưởng và bước theo.
2. Thánh Thần là “Thần Khí sự thật”, tức là Thần Khí của Thiên Chúa, Thần Khí thông ban sự thật và cũng là chính sự thật, sẽ giúp các môn đệ ở lại trong sự thật mà Đức Giêsu đã truyền đạt và bảo vệ họ khỏi những thầy xấu và những chọn lựa sai lạc. Nhưng để nhận được Thần Khí này, chúng ta phải mở ra với Đức Giêsu, tin vào Người và tuân giữ các điều răn của Người.
3. Bằng cớ cho thấy Thánh Thần chân lý đang hiện diện trong Hội Thánh, đó là dọc theo các thời đại, đã có những linh mục, giám mục và thậm chí Đức giáo hoàng cư xử không đúng đắn, nhưng không một vị nào có thể làm cho Tin Mừng trở nên không đáng tin nữa. Thánh Thần không chỉ ngăn ngừa sai lầm trong việc truyền đạt sứ điệp của Đức Giêsu, Người còn đưa các môn đệ vào trong chân lý toàn vẹn.
4. Với cái chết của Người, Đức Giêsu đã mãi mãi biến mất đối với thế gian: thế gian chỉ biết rằng Người đã chết trên thập giá. Thế gian chỉ biết cái chết chứ không biết sự sống. Đức Giêsu sẽ chỉ trở lại với các môn đệ và cho các ông thấy Người là Đấng (đang) Sống. Khi đó, các môn đệ sẽ hiểu rõ những lời Đức Giêsu đã nói và những hành vi Người đã làm trước đây.
5. Chỉ Đức Giêsu mới là con đường dẫn đến với Chúa Cha. Mạc khải và các lời kêu gọi mà Người đã bày tỏ khi Người còn sống ở trần gian sẽ mãi mãi là con đường đưa tới Chúa Cha. Chỉ khi chúng ta gắn bó với những điều ấy và để cho những điều ấy hướng dẫn, chúng ta mới được nối kết với Đức Giêsu và mới sẵn sàng đón nhận ân huệ Thánh Thần và được hiêp thông trọn vẹn trong tình yêu với Chúa Con và Chúa Cha.

 

PS6-A61: HÃY SẴN SÀNG ĐÓN NHẬN THÁNH THẦN

CỦA ĐẤNG PHỤC SINH
Lm. Phêrô Lê Văn Chính
 

Tiếp nối những lời từ giã của Chúa Giêsu với các môn đệ trước giờ khổ nạn mà chúng ta đã nghe: PS6-A61

Tiếp nối những lời từ giã của Chúa Giêsu với các môn đệ trước giờ khổ nạn mà chúng ta đã nghe trong tuần trước, Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ hãy giữ vững các giới răn của  người: Đây là những lời nhắc nhở rất ân cần và được Chúa Giêsu nhấn mạnh để như là điều kiện để  Người sẽ thực hiện cho các môn đệ một điều trọng đại hơn nữa là xin Cha ban Thánh Thần cho các môn đệ: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ các giới răn của Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha, và người sẽ ban cho các con Đấng Phù trợ khác là Thánh Thần Chân lý để ở với các con luôn mãi”.
Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ về Thánh Thần mà Người sẽ xin Cha ban cho các ông để ở với các ông. Thánh Thần là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, là đời sống ân sủng và là sức mạnh nơi Thiên Chúa, mà Chúa Giêsu vẫn hằng trao đổi và hiệp thông với Cha, giờ đây được ban cho các môn đệ nhờ lời chuyển cầu của Chúa Giêsu để đưa các môn đệ đến sự hiệp thông với Thiên Chúa. Nơi Thiên Chúa vốn có sự hiệp thông sâu xa giữa Cha, Con và Thánh Thần mà Chúa Giêsu vẫn hằng sống sự hiệp thông này với sức mạnh Thánh Thần từ Cha. Vì thế Thánh Thần là Đấng mà chính Chúa Giêsu sẽ xin Cha, và Cha sẽ ban cho các môn đệ, để Thánh Thần ở với các môn đệ như đã ở với Chúa Giêsu. Nhờ Chúa Giêsu các môn đệ được dẫn đưa tới tham dự trọn vẹn vào đời sống của Thiên Chúa, được đón nhận hồng ân Thánh Thần vốn là sự sống nơi Thiên Chúa, vì các môn đệ được huấn luyện bởi lời của Chúa Giêsu và hằng tuân giữ những giới răn của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ưu tư nhắc nhở các môn đệ hằng phải biết giữ các giới răn của người khi mà người không còn hiện diện hữu hình với các ông  để các môn đệ xứng đáng  nhận Thánh Thần chân lý sẽ dẫn đưa các môn đệ đến chân lý toàn vẹn. Có một mối liên hệ mật thiết giữa việc giữ các giới răn và việc đón nhận Thánh Thần; bởi vì khi giữ các giới răn của thầy Giêsu, tâm hồn các môn đệ lần hồi được biến đổi trở nên giống thầy Giêsu để có thể đủ khả năng đón nhận Thánh Thần chân lý. Điều này cũng chính là kinh nghiệm mà Đức Giêsu vẫn thực hành trong đời mình, như chính người vẫn xác định người vẫn giữ lời của Cha và vì thế người ở trong tình yêu của Cha. Chúa Giêsu còn cho các môn đệ biết là chỉ các môn đệ mới nhận được Thánh Thần Chân lý, trong khi thế gian không thể nhận được Thánh Thần vì thế gian không đủ khả năng hay điều kiện để nhận Thánh Thần, thế gian không thấy cũng như không biết Thánh Thần.  
Sự hiệp thông sự sống nơi Thiên Chúa mạnh mẽ đến độ không cản trở nào dù là sự chết có thể chiến thắng được. Chúa Giêsu bảo đảm với các môn đệ, người không để các môn đệ mồ côi, người sẽ trở lại với các môn đệ. Sự vắng mặt mà các môn đệ sẽ cảm nghiệm trong một thời gian nữa chỉ là sự vắng mặt ngắn ngủi tạm thời, bởi vì Chúa Giêsu vẫn luôn xác tín người hằng sống và các môn đệ cũng sẽ được sống. Chắc hẳn Chúa Giêsu muốn báo trước về cuộc khổ nạn và cái chết cũng như sự Phục sinh vinh quang của người. Bởi vì sự sống nơi Thiên Chúa là sự sống sinh động nên không một cản trở nào, dù là sự chết có thể chia lìa hay cản trở sự sống này mà Chúa Giêsu hằng tham dự. Và Chúa Giêsu chia sẻ cho các môn đệ sự sống thần linh này, bởi vì Người xác tín là Người luôn ở trong Cha và Cha ở trong người và với người, thì cũng thế, các môn đệ do được gắn bó với thầy Giêsu, nên cũng được ở trong thầy và với thầy, và như thế họ được ở với Cha: “Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha thầy, và các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con”. Đời sống nội tại sung mãn nơi Thiên Chúa không chỉ dừng lại khép kín nơi Thiên Chúa mà được tuôn trào và trao ban cho các môn đệ. Các môn đệ cần phải thực hành các giới răn của thầy Giêsu để họ đón nhận được đời sống thần linh này qua việc đón nhận Thánh Thần và ở trong thầy Giêsu.
Những lời nhắn nhủ của Đức Giêsu trước giờ người ra đi chịu khổ nạn làm cho người môn đệ nhận thức rằng tình yêu đối với thầy Giêsu không chỉ là một tình cảm mông lung không xác định. Tình yêu này mời gọi và thúc đẩy người môn đệ sống cách cụ thể bằng việc cố gắng sống Lời Chúa và giữ các giới răn tình yêu của thầy Giêsu. Mặt khác, người môn đệ cũng phải hiểu rằng, tự sức riêng mình không thể yêu mến thầy Giêsu cũng như yêu mến Thiên Chúa trọn vẹn được, nên cần đến sự bảo đảm của Đức Giêsu cho họ Thánh Thần của Chúa Cha mà Con sẽ ban tặng cho người môn đệ để giúp họ yêu mến và thực hành các giới răn của thầy Giêsu. Người môn đệ cũng được mời gọi theo lời nhắn nhủ của thánh Phêrô, hãy luôn sống niềm tin của mình cách mạnh mẽ và sáng suốt, bởi vì người môn đệ không nhận được Thánh Thần của Đức Giêsu để rồi chỉ sống cho mình hay khép kín lạc lõng, nhưng họ phải sẵn sàng để làm chứng cho Đức Giêsu trước những người khác,  sẵn sàng trả lời cho những kẻ đặt vấn nạn về lý do của niềm hy vọng của họ với một thái độ hiền từ kính cẩn và một lương tâm ngay thẳng.
Thánh Thần mà Chúa Giêsu báo trước cuộc tử nạn đã hoạt động cách mạnh mẽ trong Giáo hội. Thánh Thần không chỉ hoạt động nơi các tông đồ mà còn ngự xuống trên những người tin vào lời rao giảng của các tông đồ. Sách Công vụ tông đồ thuật lại những hoạt động rất hiệu quả của phó tế Philipphê ở miền Samaria, rao giảng Tin mừng Chúa Giêsu và làm nhiều phép lạ chữa lành nhiều bệnh tật và xua trừ ma quỉ. Dân chúng ở Samaria rất vui mừng và nhiều người đón nhận đức tin đến độ những tin tức tốt đẹp truyền về Giêrusalem và Phêrô và Gioan được gửi đến với họ. Khi các ngài tới, các ngài đã cầu nguyện và đặt tay cho những người này và các ngài đã ngạc nhiên ghi nhận là Thánh Thần cũng được ban cho mọi người tin như đã được ban cho các tông đồ. Mỗi khi người tín hữu kính cẩn thực hành lời Chúa Giêsu và các giới răn của người, họ lần hồi được huấn luyện trở nên giống Đức Giêsu và vì thế họ sẽ đón nhận được Thánh Thần của Đức Giêsu để làm cho họ luôn hiệp thông sự sống sung mãn của Thiên Chúa.

 

PS6-A62: ĐẤNG BẢO HỘ TÌNH YÊU BẤT DIỆT

Lm. Gioan Maria Nguyễn Văn Thích ( 1891 – 1978 ) làm giáo sư lâu năm, dạy đại học nhiều: PS6-A62

Lm. Gioan Maria Nguyễn Văn Thích ( 1891 – 1978 ) làm giáo sư lâu năm, dạy đại học nhiều nơi, với lương bổng rất cao, nhưng ngài không giữ lại chút gì cho mình. Khi nhắm mắt lìa đời, ngài chỉ có vài bộ áo đã sờn cũ. Viện Dục Anh nuôi trẻ mồ côi ở Huế luôn được cha quan tâm và trao nhiều tiền bạc cho các nữ tu phụ trách. Cha còn là Tuyên Úy Pèllerin và Viện Bài Lao. Cha thường đến bệnh viện dâng Thánh Lễ, luôn đem tiền và quà đến cho bệnh nhân.
Bao nhiêu năm làm giáo sư, cha vẫn đi một chiếc xe đạp duy nhất. Một hôm, cha đạp xe đạp nhà xứ Kim Long đến dạy học tại Đại Chủng Viện Kim Long, tình cờ bắt gặp một người đàn ông áo quần xơ xác đang chặt trộm buồng chuối của Chủng Viện. Thấy cha, ông ấy hoảng hốt toan bỏ chạy. Cha ôn tồn gọi người đó lại, móc túi đưa thêm ít tiền rồi nói: Bác có muốn ăn chuối non nầy thì phải thêm cái gì đ nấu ăn chứ. Bác cầm lấy chút tiền nầy mua tôm tép gì thêm vào cho đ vị”. Vừa nói, cha vừa đưa tiền rồi đi vào dạy học.
Một chuyện xảy ra làm rúng động thành phố Huế: Năm 1950, một bác sĩ tổ chức hội chợ từ thiện, với sự cộng tác của cha Thích. Giữa mấy gian hàng trò chơi lại có một sòng bạc thu hút nhiều khách. Cha Thích phản đối: “Cờ bạc không thể đi đôi với việc từ thiện”. Trưởng ban tổ chức không chịu nghe, cha Thích liền lấy micro khuyến cáo dẹp sòng bạc đó. Bác sĩ tổ chức giật micro trong tay cha. Trong lúc giằng co, bác sĩ tát vào má cha. Hồn nhiên và khiêm tốn, cha liền đưa má kia và nói: “Còn má này nữa, xin ngài hãy đánh cho đỡ giận.” Mọi người vây quanh đều sửng sốt ngỡ ngàng. Có người đã thốt lên: “Phải là một đấng thánh mới làm được như vậy !” Cuối cùng, ông trưởng ban tổ chức đã cúi đầu xin lỗi cha. ( WHĐ, Chân dung Linh Mục Việt Nam ).
Chắc hẳn lòng mến của Lm. Gioan Maria Nguyễn Văn Thích hẳn quá nồng thắm, nên ngài mới sống đúng các điều răn của Đức Giêsu. Tin Mừng Chúa Nhật VI Phục Sinh hôm nay với lời tâm huyết của Đức Giêsu khi sắp từ giã các môn đệ, tựa lời trăn trối sau cùng, khiến từng Kitô hữu phải nhìn lại cuộc sống đạo lâu nay. Có đúng đắn, trung thành, chính xác theo nguyện ước của Đấng Cứu Thế, hay lại trái ngược, đối nghịch với di chúc bất hủ này ?
Tình Yêu bất diệt
“Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.” Tình Yêu mà Đức Giêsu nói đến không chút phù phiếm, tạm bợ, nhất thời như tình yêu nam nữ phổ biến, thông thường. Thánh Vianney luận về tình yêu trần tục, thế gian mau tàn úa, chán chường, thất vọng vì vị kỷ, hưởng thụ cá nhân: Người ta yêu bản thân họ với một tình yêu vị kỷ và hướng về thế giới trần tục, về những thân xác hơn là tìm kiếm Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao người ta chẳng bao giờ được thoả mãn, chẳng bao giờ được bình an trong tâm hồn, họ luôn thấy bồn chồn bực bội, luôn luôn bị phiền lụy, bực mình.” ( Thánh Gioan Maria Vianney, Yêu Chúa ).
Thánh Gioan giải nghĩa Tình Yêu Thiên Chúa siêu việt: “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu... Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến, làm của lễ đền tội cho chúng ta. ( 1Ga 4, 8 – 10 ).
Yêu mến Chúa, thì tuân giữ các giới răn của Người. Vậy là những điều nào quan trọng nhất ? “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa, Đức Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” ( Mt 22, 37 – 40 ).
Trước khi bước vào cuộc tử nạn ly biệt, Đức Giêsu trăn trối điều răn mới nhất và sau cùng: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” ( Ga 13, 34 ).
Sau đó, không những Người còn tha thiết lập lại, nhấn mạnh và mở rộng hơn nữa, Tình Yêu tự hiến: “Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình yêu nào cao cả, hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” ( Ga 15, 12 – 13 ).
Nếu sống theo đúng các điều răn Đức Giêsu răn dạy để yêu quý Người, thì chẳng khác chi trân trọng mời đón Người sống trong chính bản thân mình, để Người toàn quyền định đoạt mọi sự trong cuộc đời mình, như Thánh Phaolô nhắn nhủ với tín hữu thành Galát: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi.” ( Gl 2, 20 ). Như vậy, “Dù ăn, dù sống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa… Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô.” ( 1Cr 10, 31 và 11, 1 ).
Một khi có Đức Giêsu ở trong lòng tín hữu Kitô, cũng như tín hữu được vinh dự ở trong Người, mới đích thực là một Tình Yêu bất diệt: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái,vì không có Thầy, anh em chẳng làm được gì.” ( Ga 15, 5 ).
Đấng Bảo Hộ Tình Yêu
“Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác sẽ đến ở với anh em luôn mãi.” Đức Giêsu sắp chia tay với các môn đệ với cuộc sống trần thế, không muốn để các ngài bơ vơ, lạc lõng, côi cút, nên hứa ban Đấng Bảo Trợ đến chăm sóc.
Vào ngày lễ Ngũ Tuần, sau khi Chúa Giêsu đã thăng thiên, Thần Khí Sự Thật, Đức Chúa Thánh Linh hiện xuống dưới hình lưỡi lửa đậu trên đầu các Tông Đồ, đã thực sự biến đổi, canh tân, khai tâm và ban sức mạnh cho các ngài. Trong tâm tình đó, Thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Êphêxô: “Anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thật sự sống công chính và thánh thiện” ( Ep 4, 24 ).
Tại sao thế ? Bởi vì: “Anh em hãy sống theo Thần Khí, và như vậy anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược tính xác thịt” ( Gl 5, 16 – 17 ).
Vì sao Thần Khí Sự Thật, “Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người” ? Bởi chưng “con người sống theo tính tự nhiên, thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ, họ không thể biết được, bới vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán" ( 1Cr 2, 14 ).
“Đừng để tháng ngày làm cho quả tim già nua. Hãy yêu thương với một tình yêu ngày càng mãnh liệt, mới mẻ, trong trắng hơn: Tình Yêu Chúa đổ vào quả tim con” ( Đường Hy Vọng, số 178 ).
Lạy Chúa Giêsu, yêu Người, chúng con bỏ mình, vác thánh giá đi theo con đường chông gai, khổ ải, thức thách, đã quá khó khăn. Thế mà tuân giữ các điều răn mến Chúa, yêu người còn khó khăn gấp bội, nhất là yêu thương những người thù ghét, áp bức, bắt bớ, hãm hại chúng con. Kính xin Chúa ban Thần Khí Sự Thật cho chúng con, hầu đổi mới, canh tân và khai hóa, cũng như ban thêm sức mạnh cho chúng con chiến đấu với ba thù.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ đốt lửa mến cháy bừng trong lòng chúng con, để bất cứ lúc nào chúng con cũng luôn biết lấy Tình Yêu bất diệt mà cư xử với tha nhân thân thiết và xa lạ. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

PS6-A63: LỜI DẶN DÒ CỦA CHÚA

Khi xa nhau, người ta thường quyến luyến, bịn rịn. Con cái phải xa nhà đi học đi làm, vợ chồng: PS6-A63

Khi xa nhau, người ta thường quyến luyến, bịn rịn. Con cái phải xa nhà đi học đi làm, vợ chồng xa nhau vì công việc. Lời nhắn nhủ của cha mẹ thường là: con hãy ngoan ngoãn, giữ lời cha mẹ chỉ bảo, cố gắng học hành, nỗ lực làm việc để có một tương lai tốt đẹp, đừng làm mất mặt, chớ phụ lòng hy vọng của cha mẹ nghe con. Vợ chồng sẽ có những lời dặn dò tâm huyết: hãy trung thành và nhớ tới nhau luôn…
Chúa Giêsu cũng vậy, trước khi đi thật xa về cùng Chúa Cha, Ngài đã chuẩn bị tinh thần cho các môn đệ. Ngài đã dặn dò, khuyên nhủ các môn đệ nhiều lần. Ngài đã nói với các môn đệ với hết tâm tình, hết con tim của mình: "Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" ( Ga 15, 12 ); "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" ( Ga 14, 15 ); "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy" ( Ga 14, 21 ).
1. "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy"
Người Kitô hữu là người có Đức Kitô nhờ theo Ngài và yêu mến Ngài. Ai không yêu mến Ngài, không theo Ngài, thì không có Ngài, nên họ không phải là Kitô hữu đích thực. Khi yêu mến Ngài, ta sống trong Ngài: "Anh em trong Thầy, và Thầy trong anh em". Người ta chỉ sống trong nhau vì nhau cho nhau khi người ta yêu thương nhau thật sự. Vì thế, chúng ta chỉ sống trong Đức Kitô và được Đức Kitô sống trong ta khi ta yêu mến Ngài. Yêu mến là giữ lời Ngài: "Nếu các con giữ lệnh truyền của Ta thì các con sẽ lưu lại trong lòng mến của Ta" ( Ga 15, 10 ).
Nhưng làm sao yêu mến Ngài được khi mà ta không hề thấy Ngài cách hữu hình, không nghe Ngài nói trực tiếp, không động chạm đến Ngài ? Chúa cho chúng ta một tiêu chuẩn đ dựa vào đó mà biết mình có yêu Ngài hay không: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy". Điều răn của Chúa là gì ? Chúa xác định rõ ràng điều răn cốt yếu: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau" ( Ga 12, 34 ).
Chúa cũng xác định luôn cả mức đ yêu: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Như vậy, câu nói "nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" có nghĩa là "nếu anh em yêu mến Thầy, thì anh em phải yêu thương nhau". Ai yêu thương những người lân cận hay những người chung quanh mình mới là người thật sự yêu mến Thiên Chúa. Nói cách khác, ai không yêu những người gần gũi mình, những người mình gặp gỡ hằng ngày, người ấy không thật sự yêu mến Thiên Chúa.
Thánh Gioan đã diễn giải điều này: "Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy" ( Ga 4, 20 ).
2. “Anh em có lòng yêu thương nhau
Chúa Giêsu còn đưa ra một tiêu chuẩn đ nhận ra ai là môn đ đích thật của Ngài: "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đ của Thầy điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" ( Ga 12, 35 ). Tiêu chuẩn này dựa trên tình yêu của người ấy đối với đồng loại, cụ thể là những người gần gũi sống chung quanh họ. Tình yêu cụ thể đối với đồng loại là tính chất đặc trưng nhất của những người theo Chúa Giêsu. Hễ thấy ai có đặc trưng ấy, ta biết người ấy là môn đ Chúa Giêsu. Ai không có đặc trưng ấy, thì dù có mang danh là môn đ Ngài, họ cũng chỉ là thứ môn đ "hữu danh vô thực", giả hiệu mà thôi.
Thánh Gioan sau khi nghiền ngẫm tất cả cuộc đời và những lời giảng dạy của Thầy Chí Thánh đã nghiệm ra cái cốt lõi của cuộc sống người môn đ là tình yêu Chúa Giêsu Kitô, là kết hiệp với Ngài, là sống sự sống của Ngài.Tình yêu đó là một tình yêu sáng suốt của lý trí. Tình yêu đó là một tình yêu với những việc làm cụ thể. Việc làm cụ thể đó là tuân giữ những điều Chúa Giêsu truyền dạy, là yêu thương nhau.
Từ nay đ gặp gỡ Chúa, đ yêu mến Chúa, đ sống với Chúa, cần phải có Đức Tin và Tình Yêu. Tin và Yêu là hai cánh cửa mở vào sự sống thần linh. Tin và Yêu không chỉ cho ta nhìn thấy Chúa, gặp gỡ Chúa mà còn cho ta được tham dự vào sự sống của Chúa. Sự sống đó là hiệp thông, như Chúa Cha trong Chúa Con và như Chúa Con trong Chúa Cha, ta sẽ được trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi và thật kỳ diệu, Ba Ngôi đến trong ta như lời Chúa Giêsu nói: "Ngày đó, anh em sẽ biết Thầy trong Cha Thầy, Thầy trong anh em và anh em trong Thầy. Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ cho người ấy biết Thầy".
Những người yêu mến Chúa là những người biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành. Trong truyện Thánh Tử Đạo Martinô Thọ có chép: "Ông Thọ là người rất đạo đức. Vì được tín nhiệm, ông làm việc thu thuế trong một thời gian rồi xin nghỉ vì thấy có nhiều cheo leo khó công minh luôn mãi được. Ông khuyên các con cứ đúng luật Chúa mà làm chứ đừng phạm tội vì muốn đẹp lòng người khác... Ông làm việc rất siêng năng và cũng rất rộng rãi với người nghèo khó: không bao giờ ông để họ ra về mà không cho của gì ăn. Nếu con cái đi vắng, ông mời người ăn xin cùng ngồi ăn cơm chung, nếu con cái ở nhà, ông bắt chúng xẻ cơm cho họ".
Thánh Martinô Thọ đã tuân giữ giới răn Chúa dạy là mến Chúa yêu người, sống công bằng bác ái. Thánh nhân là người yêu mến Chúa thật và xứng đáng được Chúa trọng thưởng hạnh phúc đời đời. Chỉ tình yêu biết trao đi mới đem lại niềm vui chân thật và lâu bền. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy ! Hãy tuân giữ các lệnh truyền của Thầy ! Lệnh truyền lớn nhất là yêu thương như Thầy đã yêu. Chúng ta sẽ nếm được thứ niềm vui khôn tả của thiên quốc ngay trong cuộc sống ở đời này.
Lạy Chúa, con nhận ra một cách rất hữu hiệu đ được Chúa yêu mến là con tuân giữ giới răn yêu thương của Chúa.
Xin cho con xác tín rằng tình yêu của con đối với Chúa phải được thể hiện ra bằng việc yêu thương tha nhân, cụ thể là yêu những người trong gia đình con, những người cùng làm việc với con trong xí nghiệp công ty, những người hàng xóm, những bạn bè con gặp gỡ hằng ngày.
Xin giúp con yêu họ cụ thể bằng sự quan tâm đến những niềm vui hay nỗi đau khổ của họ, đồng thời sẵn sàng hy sinh đ giúp họ hạnh phúc hơn. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

PS6-A64: MỘT LẦN – CHỈ MỘT LẦN THÔI !

Đã có rất nhiều bài viết nói về tình yêu. Những câu ca bất hủ, những vần thơ sống mãi với thời đại : PS6-A64

Đã có rất nhiều bài viết nói về tình yêu. Những câu ca bất hủ, những vần thơ sống mãi với thời đại cũng đều bắt nguồn từ tình yêu. Trong nhân loại, có lẽ không gì quí trọng bằng tình yêu và cũng không gì bất tử bằng chính nó. Tình yêu là gì vậy mà có sức mạnh tuyệt vời như thế ?
Thiên Chúa là Tình Yêu ( 1Ga 4, 16 ). Chính bởi tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa cho nên tình yêu bất tử và mầu nhiệm như vậy. Có rất nhiều loại tình yêu, cho dù là tình yêu gì đi nữa, cũng đều có một mẫu số chung là “yêu thương”. Và ẩn số duy nhất của nó chính là sự hy sinh, cho đi vô vị lợi. Tình yêu nào không mang ẩn số đó là tình yêu giả tạo, tình yêu chiếm hữu và không còn là tình yêu nữa.
Có nhiều cách thức diễn tả tình yêu, nhưng không gì thuyết phục mạnh mẽ cho bằng hành động yêu. Nói yêu thì nhiều, diễn tả yêu thì dễ, nhưng hành động yêu mới khó vô cùng. Bởi bản chất của tình yêu là cho đi không tính toán, vô điều kiện. Chỉ có ai yêu Thiên Chúa hơn cả bản thân mình và yêu tha nhân như chính họ, ấy mới là người biết yêu thực sự.
Hành động yêu làm nên tình yêu. Vì vậy mà hôm nay Đức Giêsu đã khẳng định cho các môn đệ biết chân lý về tình yêu. Dấu hiệu nhận biết tình yêu chân thực là: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” ( Ga 14, 15 ).
Yêu ai là có thể chết cho người ấy và sống vì người ấy. Nếu chúng ta yêu mến Đức Giêsu thật, chúng ta sẽ tuân giữ các giới răn của Ngài, đó là những giới luật dạy chúng ta nên thánh, giúp ta sống ân tình với Thiên Chúa. Giới răn trong ngôn ngữ tình yêu lúc này không còn là sự ràng buộc mang tính luật lệ nữa nhưng thực sự đã trở thành giao ước của tình yêu đ giúp ta sống thân tình với Đấng mình yêu thương mà thôi.
 “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy ( Ga 14, 21 ). Lời khẳng định của Đức Giêsu xem chừng cương quyết quá, không còn gì để bàn cãi, không có gì để tranh luận. Vì giới răn, điều răn cũng chỉ là những giới luật được đặt ra để giúp con người sống trung thành với Thiên Chúa mà thôi. Làm sao có thể nói chúng ta yêu mến Thiên Chúa trong khi sống rời xa giới luật, rời xa giao ước đã ký kết với Ngài ?
Có rất nhiều tình yêu: yêu tiền, yêu bạc, yêu tình, yêu đam mê, yêu dục vọng… nhưng đâu mới là tình yêu thật cho ta hạnh phúc ? Tình yêu nào khiến bạn được bình an, tình yêu nào cho bạn sức mạnh, tình yêu nào cho bạn niềm tin, tình yêu nào cho bạn sự sống vĩnh cửu, đó chính là tình yêu thật. Một khi có được tình yêu ấy, bạn không còn lệ thuộc một tình yêu nào khác hơn.
Lạy Chúa, tình yêu đẹp thật đấy, nó khiến nhân loại ra điên đảo. Yêu gì cũng tốt, miễn sao đừng hận thù ghen ghét, chiến tranh. Thế nhưng, yêu và chỉ yêu thôi chưa đ, dừng tại đó, nó sẽ khiến con người sa lầy vào chốn diệt vong. Yêu như Đức Giêsu đã yêu, đến nỗi hy sinh cả mạng sống vì người khác, đó mới là tình yêu thực.
Trao ban tình yêu vô vị lợi, Ngài chỉ muốn con tuân giữ giao ước với Ngài. Giao ước ấy chính là mối dây thắt chặt tình con với Chúa và tha nhân. Khẳng định mình yêu Chúa, con đây sao dám, bởi đã bao giờ con biết tuân giữ giới luật Ngài cho trọn vẹn đâu. Thế nhưng trả lời rằng không thì con đây lại là kẻ nói dối, nói yêu thì chưa đúng mà không yêu thì chả sai chút nào, chỉ bởi thái đ níu kéo, dung túng, chưa dám bỏ mình thực thụ mà thôi.
Xin giúp con biết yêu thật, chỉ một lần, một lần thôi cũng được. Nếu có phải chết vì Đấng mình yêu thương, thì còn hạnh phúc nào trọn vẹn hơn thế nữa !
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

PS6-A65: YÊU MẾN THẦY, THÌ HÃY GIỮ GIỚI RĂN THẦY

Khi đến "giờ Chúa Giêsu qua khỏi thế gian này để về cùng Đức Chúa Cha" ( Ga 13, 1 ) . Người: PS6-A65

Khi đến "giờ Chúa Giêsu qua khỏi thế gian này để về cùng Đức Chúa Cha" ( Ga 13, 1 ) . Người đã dành cho các môn đệ những lời tâm huyết đầy tình Thầy trò. "Tối hôm trước ngày chịu khổ hình". Chúng ta dễ hình dung ra thái độ nội tâm và đoán được sự lo lắng của các môn đệ trước giờ Thầy đi chịu chết.
Thực ra, nguyên những lời của Chúa Giêsu đã thể hiện mối lo sợ rồi. Người nói sẽ không đ các môn đ mồ côi, rõ ràng Người gợi lên nỗi buồn Thầy trò phải chia ly.
Câu hỏi đặt ra: ở trung tâm của Mùa Phục Sinh thật là vui, sao lại gợi lên những giờ đen tối chất chứa nỗi buồn ? Trước ngày Lễ Ngũ Tuần, nghĩa là trước khi loan báo Tin Mừng cho Muôn Dân, tại sao lại cho chúng ta chứng kiến sự sợ hãi của các môn đệ ? Có lẽ vì bản văn giới thiệu Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Vấn nạn vẫn còn đó. Chúng ta hãy cố gắng từng bước theo di ngôn của Chúa Giêsu.
"Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy" ( Ga 14, 15 ). Lời di chúc này thật không đơn giản, có ý nói: các con yêu mến Thầy thế là đủ, vì nếu yêu mến tức khắc giới răn của Thầy sẽ được tuân giữ, có nghĩa là: khi yêu mến Chúa Giêsu, người ta sẽ tuân giữ các giới răn Chúa để lại là yêu mến Người. Có thế hiểu cách khác: nếu các con yêu mến Thầy, điều đó chứng tỏ rằng các con tôn trọng các giới răn Thầy truyền. Tôn trọng các giới răn là thể hiện lòng mến nên tuân giữ.
Lời của Chúa Giêsu nêu lên tương quan giữa các giới răn với tình yêu dành cho mình, nên Người kết luận: "Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy" ( Ga 14, 21 ). Và Người cam kết: "Thầy sẽ xin Cha". Nói thế là Người chịu trách nhiệp về những việc Người làm. Một cách chắc chắn và bảo đảm là; nếu Chúa Giêsu bênh đỡ chúng ta, chúng ta còn sợ hãi gì ?
Chúa Giêsu xin Cha điều gì ? Người xin Cha "ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác" ( Ga 14, 16 ). Khi nói Đấng Phù Trợ khác, Chúa Giêsu chứng tỏ sự lo lắng bảo vệ các môn đệ, và cho thấy Người là một Đấng Phù Trợ. Đó là lý do tại sao Người nói đến một "Đấng Phù Trợ khác". Lời cầu xin của Chúa Giêsu còn ngụ ý nói rằng vụ án của Chúa qua đi sẽ tiếp đến một vụ án khác là chính các môn đệ bị kết án vì niềm tin của họ vào Chúa Giêsu bị đóng đinh và sống lại.
Chúng ta hãy để ý đến thuật ngữ Đấng Bầu Chữa, Trạng Sư, hay Đấng An Ủi. Trong ngành tư pháp Do Thái, vị luật sư hỗ trợ thân chủ của mình và tư vấn, vì khi bào chữa cho thân chủ là lúc luật sư cố gắng bảo vệ chính mình. Điều này ám chỉ về Chúa Thánh Thần. Ngài nâng đỡ các môn đệ trong hành động cũng như lời nói, "Chúa Thánh Thần sẽ dạy các con mọi sự" ( Ga 14, 26 ).
Nhưng làm thế nào để biết được Ngài, đón nhận Ngài hay đơn giản là để thấy được Thần Chân Lý ? Khỏi phải lo, vì "thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài" ( Ga 14, 17 ). Chúa Giêsu thêm "còn các con, các con biết Ngài" ( Ga 14, 17 ). Vậy là chúng ta an tâm. Nhưng điều đó có giúp chúng ta bám chặt vào Chúa Thánh Thần hơn không ? Chưa chắc. Chúng ta biết Ngài là Đấng Phù Trợ và cũng biết rõ Ngài chưa được đón nhận, vì Chúa Giêsu nói về tương lai là sẽ xin Cha: "Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi" ( Ga 14, 16 ).
Tuy nhiên, Chúa Thánh Thần đã được biết đến: "Còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con" ( Ga 14, 17 ). Ngài không chỉ được Chúa Cha ban cho chúng ta, mà Ngài còn ở trong chúng ta. Rõ ràng Chúa Giêsu không tự mâu thuẫn và không nói những gì là không thể. Thậm chí còn rất thú vị khi cầu nguyện cùng Cha để xin Cha ban Thánh Thần của Ngài xuống. Ngày Lễ Ngũ Tuần sắp tới sẽ là ngày Chúa Thánh Thần từ Đức Chúa Cha do Chúa Con xin mà đến và chúng ta lãnh nhận qua Chúa Con, lần nữa và một lần nữa.
Các môn đệ sợ bị bỏ rơi, tức là mồ côi. Chúa Giêsu tìm cách giúp các ông an tâm khi nói: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi, Thầy sẽ đến với các con". Chúa Giêsu không đến với họ trong tư cách là Cha, vì Người là Con trong mối quan hệ với Cha. Trước lúc chia tay, nỗi lo sợ bao trùm lên các môn đệ, vì họ không biết sống như những người con; họ biết mình mỏng giòn yếu đuối hay lo sợ về bí ẩn của cuộc đời. Nên Chúa Giêsu hứa ban Thần Chân Lý, Đấng làm cho cho họ trở nên những người con. "Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con" ( Ga 14, 18 ). Trong ngày đó, là ngày Chúa Thánh Thần xuống trên các ông, ở với và trong các ôn mãi mãi, bằng sự hiện diện vô hình, sự sống làm con được phục hồi. Họ sẽ đón nhận hoa quả ơn cứu độ là Chúa Thánh Thần và họ sẽ nếm trước niềm vui cứu rỗi là làm con Thiên Chúa.
Chúa Giêsu kết luận: "Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó" ( Ga 14, 21 ). Chỉ sợ hãi khi tách mình ra khỏi Chúa con và không nhận biết tình yêu của Chúa Cha. Vậy, khi tuân giữ giới răn và lệnh Chúa truyền, các môn đệ được tham dự vào tình nghĩa tử với Chúa Cha. Chính Chúa Cha đến với con người trong Đức Giêsu và khi sai Thánh Thần xuống. Vai trò của Chúa Thánh Thần là giúp các môn đệ trở nên những chứng nhân cho lời Chúa Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, chúng con nài xin Chúa xin Chúa Cha cử Chúa Thánh Thần đến với chúng con, và ở trên chúng con như đã ở với các môn đệ Chúa, những người sống nhờ Thánh Thần Chúa và vui mừng nhận biết chỉ có Chúa là ơn cứu độ chúng con: chúng con hướng về Chúa Cha và thưa rằng "Abba, Lạy Cha". Amen.
Lm. Antôn NGUYỄN VĂN ĐỘ

 

PS6-A66: NỤ CƯỜI CỦA CHÚA

Ga 14, 15 - 21
 

Trên đời này, khi người ta yêu thương nhau, người ta sẽ sẵn sàng sống cho nhau, làm hài lòng nhau: PS6-A66

Trên đời này, khi người ta yêu thương nhau, người ta sẽ sẵn sàng sống cho nhau, làm hài lòng nhau, làm theo ý của nhau...Vợ chồng thực sự yêu thương nhau, sẽ cố gắng làm vui lòng nhau. Con cái yêu thương cha mẹ, sẽ cố gắng vâng nghe lời cha mẹ. Học trò yêu mến thầy, sẽ cố gắng giữ lời thầy dạy....Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng dạy cho đồ đệ mình, một chân lý tương tợ như thế: "nếu anh em yêu mến Thầy, hãy nghe lời Thầy, nghĩa là hãy giữ giới răn Thầy truyền dạy..." (Ga 14, 17). Đây chính là chủ đề của ngày chúa nhật hôm nay. Kính mời anh chị em cùng suy niệm....
a/. Có một vài câu chúng ta cần lưu ý tìm hiểu:
Nếu anh em yêu mến Thầy, hãy giữ giới răn của Thầy: Chúa biết các môn đệ yêu mến Ngài, nhưng lòng yêu mến đó không phải là thứ tình cảm suông, mà phải được thể hiện bằng việc làm cụ thể, là vâng theo thánh ý Chúa, và tuân giữ luật Chúa bằng việc yêu mến Chúa và yêu thương tha nhân. Đó là giới răn yêu mến (Mt 22, 40).
Ai yêu mến Thầy, sẽ được Cha Thầy yêu mến và Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ ra cho người ấy biết Thầy: Thiên Chúa yêu thương con người trước; nhưng khi con người sẵn sàng tuân giữ luật Chúa, điều đó chứng tỏ họ trân trọng và muốn phát triển tình yêu của Thiên Chúa nơi bản thân họ. Nói cách khác, tình yêu của Thiên Chúa nơi họ có kết quả, và vì họ trung kiên trong tình yêu mến đó, nên họ cảm được, hiểu được, thấm được nhiều điều Thiên Chúa mạc khải cho họ...
Ca dao, châm ngôn VN nói về qui luật của tình yêu và qui luật của người được yêu, rất chí lý :
* Yêu nhau muôn sự chẳng nề, một trăm chổ lệch cũng kê cho bằng.
* Yêu nhau trái ấu cũng tròn ...
* Yêu nhau cau bảy bổ ba, ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười...

b/. Câu chuyện minh họa : Một bác sĩ giải phẩu người Mỹ, đã vâng theo tiếng gọi của Chúa: "nếu anh em yêu mến Thầy, hãy giữ các giớí răn của Thầy...". Vì thế ông đã bỏ mọi sự, tới một hòn đảo xa xăm trên Thái Bình dương, một nơi dân chúng rất nghèo khổ, thiếu thốn đủ mọi thứ. Một vị mục sư là bạn thân của bác sĩ, một hôm chuẩn bị đến thăm ông. Vì muốn để cho bác sĩ bị bất ngờ, nên ông mục sư đã không báo trước... Vừa tới nơi, ông thấy bác sĩ vừa giải phẩu đôi mắt cho một em bé gái 8 tuổi. Bác sĩ đi ra, vui mừng vì ca giải phẩu thành công. Ông mục sư hỏi: nếu ở Mỹ, ông được trả bao nhiêu? - chắc chắn không dưới 3000 đô. - Còn ở đây, bao nhiêu? Bác sĩ trả lời: Tôi không biết, có lẻ vài xu cộng với nụ cười của Thiên Chúa.
Qua câu chuyện này, chúng ta thấy ông bác sĩ đã chọn một việc là: đi tìm kiếm nụ cười của Thiên Chúa hơn là tìm kiếm tiền của vật chất. Chắc chắn là như thế, vì nếu muốn tìm kiếm tiền của, ông bác sĩ đã không bỏ quê hương nước Mỹ êm ấm của mình, để đến sống một nơi nghèo khổ, thiếu thốn như thế này....
c/. Gợi ý sống và chia sẻ:
Yêu mến Thiên Chúa không phải chỉ là tình cảm suông mà còn phải vâng giữ luật của Thiên Chúa nữa. Ít có người công giáo nói mình là không yêu mến Chúa; nhưng thực tế lại có nhiều người không sẵn sàng tuân giữ giới răn Chúa. Ta là hạng người nào trong số đó? Ta có luôn đổ thừa tại vì mình yếu đuối, nên chưa đủ sức sẵn sàng giữ luật Chúa như Chúa mong muốn?

 

PS6-A67: YÊU LÀ CHU TOÀN LỀ LUẬT

Ga 14, 15 - 21
 

Tiếp tục trong diễn từ chia tay của Chúa Giêsu với các môn đệ, sau khi Chúa Giêsu mời gọi các: PS6-A67

Tiếp tục trong diễn từ chia tay của Chúa Giêsu với các môn đệ, sau khi Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của mình đi trên Con Đường là chính Ngài để đến với Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu lại mời gọi các ông hãy đi trên con đường đó với một lòng yêu mến chân thật. "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" (G14,15).
Trong thực tế của cuộc sống, đặc biệt nơi người Việt Nam , chúng ta dể dàng nhận ra nguyên tắc song hành này trong đời sống con người, "yêu ai thì muốn làm đẹp lòng người đó". Trong cuộc sống đức tin, việc chúng ta tuân giữ các giới răn của Chúa, các luật của Giáo hội có phải là một đòi hỏi quá đáng không và con người có thể tuân giữ các giới luật đó không?
Đôi khi trong cách sống đạo của người Kitô hữu đã làm cho những người ngoài Công giáo hiểu rằng: Đạo Công giáo là một tôn giáo với vô số các luật lệ, cấm đoán, làm cái gì cũng tội, cái gì cũng không được phép làm....và như thế những người giữ đạo Công giáo quả là tội nghiệp vì đạo đã làm cho họ mất tự do. Nhưng thật sự có phải như thế không? Cái gì làm cho con người mất tự do?
Trở lại với những trang đầu tiên của Sách Sáng Thế, Thiên Chúa dựng nên con người và ban cho họ được sống trong ân sủng của Thiên Chúa theo như kiểu nói của "Sách Giáo Lý hỏi thưa" là họ không phải đau khổ và không phải chết. Lý do nào mà Sách giáo lý nói như thế? Có phải họ không phải lao động, có phải họ không phải dấn thân cho nhau?... Chắc hẳn là không phải như thế, bởi chính trong Sách Sáng Thế đã nói: Thiên Chúa đặt con người vào trong vườn cho họ canh tác và giữ vườn. Canh tác là gì nếu không là lao động, canh tác là gì nếu không phải là cộng tác với Chúa làm cho công trình tạo dựng của Chúa ngày một tốt đẹp hơn. Sách giáo lý khi nói họ (nguyên tổ loài người) không phải đau khổ và không phải chết là có ý nói rằng họ sống trong tình yêu tròn đầy với Đấng Tạo Hóa và với nhau nên những gì họ thể hiện với Đấng Tạo Hóa cũng như đối với nhau đều là những hạnh phúc được dấn thân, hạnh phúc gì đã làm đẹp lòng "Người Yêu" và họ muốn dấn thân để được thể hiện tất cả trong tình yêu.
Cũng vậy trong đời sống gia đình người ta không thể nào thấy được tình yêu mà người nam và người nữ trao hiến cho nhau nhưng qua hành động hy sinh cho nhau, phục vụ nhau người ta có thể nhận định được tình yêu hai người trao cho nhau lớn lao như thế nào. Cũng vậy, trong đời sống đức tin, tôi không thể nào thấy được đức tin của tôi to lớn như thế nào, nhưng tôi hoàn toàn có thể biết được tôi có tin Chúa hay không qua việc tôi có hạnh phúc khi tuân giữ các giới răn của Chúa hay không. Khi tôi yêu mến Chúa thật sự thì tôi mới mong ước được đáp lại tình yêu của Ngài bằng việc tuân giữ lời Ngài.
Mà thật ra, việc tuân giữ các giới răn của Chúa không làm cho con người mất tự do nhưng lại làm cho con người có tự do và hạnh phúc thực sự. Bởi bản chất con người là siêu nhiên, con người từ nơi Thiên Chúa và sẽ trở về với Thiên Chúa nên khi tuân giữ luật Chúa là con người tháp nhập mình với chính nguồn cội của mình là Thiên Chúa và khi đó con người được hạnh phúc trọn vẹn.
Trong thâm tâm mỗi người Kitô hữu chúng ta, ai cũng muốn yêu mến Chúa cách trọn vẹn. Nhưng cuộc sống đôi khi làm cho chúng ta lu mờ đi khát vọng yêu mến này. Nhớ lời dạy của Chúa Giêsu "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ các điều răn của Thầy"(xGa14,15) để mỗi người chúng ta biết để tâm thi hành lời dạy của Chúa trong cuộc sống mình, để chúng ta biết yêu mến Chúa nhiều hơn và để chúng ta tìm được hạnh phúc chân thật trong tình yêu của Chúa.

 

PS6-A68: YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU

Ga 14, 15 - 21
 

Một bà mẹ trẻ đưa con vào bệnh viện với sự lo âu hiện rỏ trên nét mặt. Có lẽ đã nhiều ngày bà không : PS6-A68

Một bà mẹ trẻ đưa con vào bệnh viện với sự lo âu hiện rỏ trên nét mặt. Có lẽ đã nhiều ngày bà không an tâm với tình trạng của con mình. Cũng có lẽ bà đã mang con đi rất nhiều nơi nhưng không kết quả. Bà dường như van xin các y tá và bác sĩ, bà không còn nhận ra những người chung quanh là ai, cũng không còn biết mình là ai. Bà khóc lóc van xin mọi người làm sao cứu lấy con bà, cho nó được sống. Các bác sĩ lúc đầu dường như có vẻ hơi trách móc bà vì sao đưa con đến bệnh viện quá trễ. Nhưng nhìn thái độ của bà như thế, họ không còn trách móc nữa mà chú tâm lo cho đứa trẻ. Một lúc sau có người bao tin cho bà biết, con bà đã ổn rồi, không phải lo gì nữa. Khi đó bà dường như không còn chút sức lực nào nữa, bà quỳ xuống và cám ơn rối rít.
Tôi chợt suy nghĩ, tại sao bà mẹ trẻ có thể bất chấp đám đông, không còn chút e ngại, làm những cử chỉ mà bình thường, bà không thể nào làm được giữa nơi đông người như thế. Thưa đó là Tình Yêu, thật thế, chỉ có tình yêu mới có sức mạnh như thế, chỉ có tình yêu mới làm cho bà mẹ trẻ vượt qua sức lực yếu đuối của chính mình mà mang con đi đến những nơi cần thiết. Cũng chỉ có tình yêu mới làm cho con bà được sống. Sức mạnh của Tình Yêu vượt lên trên tất cả.
"Nếu anh em yêu mến Thầy, thì sẽ giữ Lời Thầy. Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng phù trợ khác để ở với anh em luôn mãi". Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài về sức mạnh của Tình Yêu. Nếu tình yêu còn hiện diện thì còn sự sống, mà sống trong tình yêu thì không còn lo âu sợ hãi điều gì nữa. Tình yêu mách bảo cho biết phải làm gì để chứng tỏ lòng yêu thương thật sự, và khi sống cho tình yêu thì trong mọi công việc, như có chính người yêu hiện diện trong cuộc sống mà không phải lo lắng gì nữa.
Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ Ngài sức mạnh để các ông sống và chu toàn trách nhiệm mà Ngài trao phó cho các ông. Sức mạnh mà các Tông đồ lãnh nhận và đã sống, các ông cũng đã truyền lại cho những ai tin theo lời rao giảng của các Ngài.
Mỗi người trong chúng ta cũng nhận được sức mạnh tình yêu đó, một sức sống mãnh liệt mà các Tông Đồ truyền lại cho những kẻ tin. Một người còn biết yêu thương là còn đang sống, khi không còn biết yêu thương, thì cho dù người đó đang sống, xem như họ đã chết. Chúng ta nhìn xem, hiện tại mình đang sống hay đã chết.
Nếu trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta nhìn thấy được những công việc phải làm, cho dù vất vả, cho dù khó nhọc đến đâu, nhưng chúng ta vẫn can đảm vượt qua, để khi nhìn lại, đôi khi chúng ta cũng ngỡ ngàng không biết làm sao mình có thể sống được đến ngày hôm nay. Đó là vì chúng ta biết yêu thương, nên sức mạnh của Tình Yêu giúp chúng ta vượt qua.
Nếu trong cuộc sống hằng ngày, chúng biết lắng nghe, cho dù đó là những lời chói tai, những lời làm cho mình phải đau đớn, hay những lời nói làm cho mình phải bị mất mát thiệt thòi, nhưng nhờ những lời nói đó làm cho con tim chúng ta rung động để phải làm những việc nên làm. Đó là chúng ta đang sống trong tình yêu.
Nếu trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta không thể ngồi yên khi có việc cần đến mình, để luôn hành động khi biết đó là một việc tốt, có khi công việc đó chiếm thời giờ và công sức không ít, nhưng vẫn không ngần ngại. Đó cũng là nhờ sức mạnh của Tình Yêu.
Nhưng nếu chúng ta so đo và tính toán thiệt hơn, chỉ mong muốn lợi lộc về cho mình, còng người khác thì "sống chết mặc bây". Khi đó con tim chúng ta đã chay lì khô cứng, nó đã chết từ thuở nào. Khi đó làm sao chúng ta có cái cảm giác yêu thương như bà mẹ trẻ, khi biết con mình được cứu sống. Như thế làm sao chúng biết được cuộc sống có ý nghĩa như thế nào, nếu không biết yêu thương. Hơn nữa, là một người Công Giáo, là Môn Đệ Chúa Giêsu, làm sao chúng ta có thể chu toàn lề luật của Ngài được, nếu không biết Yêu Thương.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa ban thêm sức mạnh và can đảm cho chúng ta, để chúng ta biết yêu thương như Ngài đã yêu thương.

 

PS6-A69: ĐỜI KHÔNG ĐƠN CÔI

Ga 14, 15 - 21
 

Trước khi bước vào con đường tử nạn và phục sinh vinh quang, Chúa Giêsu đã để lại di huấn cho : PS6-A69

Trước khi bước vào con đường tử nạn và phục sinh vinh quang, Chúa Giêsu đã để lại di huấn cho các tông đồ: Ngài ra đi, nhưng Ngài không bỏ các ông mồ côi (x. Ga 14,18). Ngài cũng đảm bảo với các ông, trước khi về trời, khi sai các ông đi loan báo tin mừng cứu độ cho muôn dân: "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20). Đồng thời, để củng cố niềm tin của các ông, Chúa Giêsu còn hứa ban cho các ông một Đấng Bảo Trợ khác, đó là Chúa Thánh Thần.
Thật ra chính Chúa Giêsu cũng là Đấng Bàu Chữa cho tội nhân bên cạnh Chúa Cha (x.1ga 2,1), nhưng khi Ngài phục sinh vinh quang, không còn hiện diện hữu hình bên cạnh các tông đồ nữa, thì Thánh Thần được Chúa Cha sai đến giúp chúng ta sống tâm tình nghĩa tử, mà chính Chúa Giêsu, qua công cuộc nhập thể của người đã mang lại thân phận ấy cho chúng ta. Là Thần Khí Sự Thật (x.ga 14,17), Chúa Thánh Thần giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về mầu nhiệm Chúa Giêsu, cử chỉ, lời nói, cách sống của ngài, để giúp chúng ta can đảm sống đức tin trong hoàn cảnh hiện tại của mỗi người. như vậy, dù chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất là Chúa Giêsu Kitô (1tm 2,5), nhưng có hai Đấng Bàu Chữa: Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần.
Chúa Giêsu về trời, nhưng không bỏ các tông đồ mồ côi. Ngài đã xa cách các ông về mặt thể lý, khiến các ông không còn sờ đụng, xem thấy hoặc nghe tiếng nói từ chính miệng Ngài nữa, nhưng thực ra Ngài vẫn hiện diện bên các ông, trong các ông. Bởi vì thân xác Chúa phục sinh đã được biến đổi trở nên thiêng liêng, không còn bị lệ thuộc bởi vật chất, không gian và thời gian, nên giờ đây, Ngài hiện diện một cách sâu xa hơn, gần gủi, gắn bó hơn trong Hội Thánh, nơi nhà tạm, trong tâm hồn mọi tín hữu có ơn thánh hoá và ở khắp mọi nơi .
Là Kitô hữu, chúng ta có Chúa Giêsu trong tâm hồn. mà ở đâu có Chúa Giêsu thì ở đó có Chúa Ba Ngôi và chính Chúa Thánh Thần, Đấng Bàu Chữa sẽ chứng thực, soi sáng, làm cho chúng ta nhận ra sự kết hiệp mật thiết nầy. Như vậy, đường đời các tông đồ và chúng ta, những kẻ tin vào Chúa Giêsu Kitô đâu có đơn côi!
Chúa Giêsu vừa là Chúa Cứu Độ, vừa là Thầy, vừa là bạn đồng hành của những kẻ tin vào người. được Chúa yêu thương ban ơn cứu rỗi, được Thầy dẫn dắt trên nẻo đường đời gian nan bất trắc, được có bạn đường chung thủy không bao giờ bỏ rơi chúng ta, ngay cả lúc chết... như thế còn hạnh phúc nào lớn hơn cho chúng ta! đời Kitô hữu chính là sống trong niềm hy vọng, phó thác, buông mình vào tay Thiên Chúa tình thương, không chỉ một lần, mà là sự chọn lựa hằng ngày của mỗi người.
Đâu đó vang lên bài thánh ca: "Đường đi có Chúa gian nguy con có lo chi..."

 

PS6-A70: YÊU THƯƠNG VÀ VÂNG PHỤC

Ga 14, 15 - 21
 

Tin Mừng hôm nay ghi lại những lời Chúa Giêsu giáo huấn cho các môn đệ trong bữa tiệc ly. Trong: PS6-A70

Tin Mừng hôm nay ghi lại những lời Chúa Giêsu giáo huấn cho các môn đệ trong bữa tiệc ly. Trong những giờ phút sau cùng này, Ngài đã nói với các môn đệ những lời căn bản nhất. Những điều ấy như là những chỉ dẫn thiết yếu cho các môn đệ trong tương lai, và đó cũng chính là những gì Ngài muốn họ sống trong khi không có Ngài hiện diện bên cạnh cách hữu hình. Một trong những điều ấy là: "nếu các con yêu mến Thầy , các con hãy giữ các giới răn của Thầy".
Chúa không nói với chúng ta đến việc tuân giữ các giới răn một cách lý thuyết mà nói bằng chính cuộc sống của Ngài. Điều gì thật sự có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và chứng tỏ chúng ta là Kitô hữu? Không thể gọi chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu cách đúng nghĩa, nếu chúng ta không lắng nghe và cố gắng thực hiện lời của Ngài. Chúng ta càng không là Kitô hữu nếu chúng ta không nỗ lực sống những gì Chúa Giêsu dạy.
Nhưng chúng ta cần phải xác tín một điều. Chúng ta không phải giữ giới răn của Chúa để được Ngài yêu mến, mà chúng ta giữ giới răn Chúa bởi gì Ngài đã yêu mến ta trước. Trong suốt bữa tiệc ly, Chúa Giêsu không ngừng nhắc nhở: "hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương". Điều đó cho chúng ta thấy, chính Ngài đã yêu thương chúng ta trước, và yêu thương chúng ta cách nhưng không, vô điều kiện.
Một sự thật quan trọng chúng ta cần phải nhận ra là chúng ta đã được yêu thương cách nhưng không. Nhiều khi chính chúng ta cũng không tin rằng tại sao chúng ta lại được Chúa yêu thương như thế. Vì chúng thường nghĩ, hay để ý: Chúa chỉ yêu thương chúng ta khi chúng ta tốt. Nhưng thật ra Chúa không thương yêu chúng ta vì chúng ta tốt lành, thánh thiện nhưng bởi vì Chúa tốt lành, thánh thiện. Vì ngay cả sự hiện hữu của chúng ta trên đời đã là dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chính tình yêu nhưng không mà Thiên Chúa dành cho chúng ta là Tin Mừng cho nhân loại. Bổn phận của chúng ta là nỗ lực, cố gắng đáp lại tình yêu ấy.
Chúa Giêsu biết rằng, Chúa Cha đã yêu thương Ngài và Ngài đã đáp lại bằng cách yêu thương Chúa Cha. Và Ngài đã chứng tỏ tình yêu đối với Chúa Cha qua thái độ vâng phục, thậm chí vâng phục đến nỗi dâng hiến cả cuộc sống mình. Cũng chính nhờ sự vâng phục mà chúng ta chứng tỏ tình yêu của mình đối với Chúa Giêsu. Như thế có ý nghĩa là gì? Nghĩa là chúng ta phải biết lắng nghe lời Ngài và mang ra thực hành trong cuộc sống. Yêu thương là vâng phục, và vâng phục là yêu thương.
Có nhiều người chỉ biết tuyên bố yêu Chúa Giêsu trong lời nói, nhưng lại chối bỏ Ngài trong đời sống họ. Tình yêu thật sự phải được minh chứng bằng việc làm cụ thể. Người ta chỉ biết chúng ta qua hành động chứ không phải bằng những lời nói ngoài môi miệng.
Nhưng thật sự không phải dễ sống như người môn đệ của Chúa Giêsu trong thế giới hiện đại hôm nay. Đó cũng chính là lý do mà Chúa Giêsu đã ban Thánh Thần cho chúng ta. Để khi chúng ta yếu đuối, chúng ta cầu nguyện với Ngài. Chính Thánh Thần sẽ an ủi khi ta buồn, soi sáng lúc ta lâm vào tăm tối và làm cho chúng ta trở nên mạnh mẽ, dũng cảm khi chúng ta yếu đuối.
Danh từ mà Chúa Giêsu gọi Thánh Thần là "Đấng An Ủi", Ngài chính là Đấng nâng đỡ, bào chữa khi chúng ta gặp thử thách gian nan. Chính Ngài đã ban sức mạnh để nâng đỡ các môn đệ trong lúc gặp thử thách. Cũng chính nhờ Người mà các môn đệ Chúa Giêsu có thể đón nhận những đau khổ như thập giá phát sinh ơn cứu độ. Như thánh Phêrô tông đồ nhắc nhỡ trong bài đọc II: "thà chịu đau khổ vì làm những việc lành còn hơn là làm điều dữ". Chính khi thi hành điều thiện mà gặp đau khổ thì đời sống đức tin chúng ta sẽ lớn lên và mạnh mẽ hơn. Bên cạnh đó, chúng ta còn có một gương mẫu là Đức Kitô, Đấng dù vô tội nhưng vẫn chịu đau khỗ và chết vì tội lỗi chúng ta.
Các tông đồ biết rằng chính Chúa Giêsu yêu thương họ. Và chúng ta biết Ngài cũng yêu thương chúng ta. Không có một tình yêu nào lại mang bóng dáng của sự lầm lỗi, vì đã là tình yêu thì không phải là tội lỗi. Bạn chỉ có thể cảm nhận điều này ngay trong trái tim bạn. Nó như một ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn bạn, thêm sức mạnh để bạn có thể vượt qua những giây phút tăm tối trong cuộc đời. Tình yêu làm cho chúng ta gắn bó, hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và nối kết chúng ta lại với nhau. Đời sống người Kitô hữu chỉ có thể lớn lên khi được nuôi dưỡng trong môi trường, bầu khí yêu thương, thánh thiện.
"Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Điều đó đã thâu tóm lại tất cả những gì lề luật dạy.

 

PS6-A71: GIỮ GIỚI RĂN VÌ YÊU MẾN

Ga 14, 15 - 21
 

Làm bất cứ điều gì nếu ta thực hiện với cả tấm lòng và nhất là khi ta đặt vào đó tình yêu thì cho: PS6-A71

Làm bất cứ điều gì nếu ta thực hiện với cả tấm lòng và nhất là khi ta đặt vào đó tình yêu thì cho dù vất vả cách mấy cũng trở nên nhẹ nhàng, thoải mái. Hơn thế, hiệu quả đem lại có giá trị cao và phi thường. Một anh thanh niên và một cô thiếu nữ thật lòng yêu thương nhau sẽ tự cam kết sống với nhau cho đến răng long đầu bạc. Mặc dù trước cam kết đó sẽ là không biết bao nhiêu vất vả, khó khăn. Cha mẹ dầm sương dãi nắng, đổ mồ hôi sôi nước mắt hay bán mặt cho đất bán lưng cho trời chỉ vì yêu thương lo cho con cái mình. Cho dù điều đó không ai buộc họ phải làm. Cũng thế, hôm nay Chúa Giêsu mời gọi ta tuân giữ giới răn của Người vì yêu mến.
Mở đầu đoạn Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu nói: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ tuân giữ các điều răn của Thầy" (Ga, 14, 15). Thông thường khi được kêu gọi tuân giữ điều gì ta hay tự hỏi nó sẽ đem lại lợi ích gì cho tôi. Chẳng hạn khi được kêu gọi đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông thì tôi được an toàn hơn nếu lỡ có xảy ra tai nạn. Tôi được kêu gọi ăn chín uống sôi, ăn sạch uống sạch để bảo vệ khỏi mắc bệnh tiêu chảy cấp nguy hiểm đến tính mạng... Do đó, có lẽ chúng ta cũng sẽ tự hỏi tuân giữ giới răn Chúa tôi sẽ được gì. Chắc chắn có lợi ích nên Người mới mời gọi ta. "Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi" (Ga 14, 16) ; "Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em" (Ga 14, 18) và "...sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy." (Ga 14, 21). Thật là những lợi ích hết sức thiêng liêng quý giá. Chỉ trong cái nhìn đức tin chúng ta mới có thể cảm nhận được những lợi ích đó.
Hơn thế nữa, tuân giữ những giới răn của Chúa vì để đáp đền tình yêu Thiên Chúa sẽ lý do cao cả và quý nhất. Ðiều răn quan trọng nhất mà Chúa Giêsu đã có lần nói chính là mến Chúa yêu người (Mc 12, 24 - 38)
Làm sao ta có thể mến Chúa yêu người nếu như ta chưa thật sự cảm nhận được tình yêu mà Chúa dành cho mình. Ðược sinh ra làm người và được làm con Chúa đó là ơn ban nhưng không mà Thiên Chúa đã ban cho ta. Vì thương mà Thiên Chúa đã chẳng tiếc gì kể cả Con Một của Ngài. Bấy nhiêu cũng quá đủ để ta thấy Thiên Chúa yêu thương ta như thế nào. Ðặc biệt, những ngày trong mùa Phục sinh này càng làm cho tưởng nhớ tình thương Chúa dành cho ta. Chúa Giêsu đã được phục sinh vinh quang sau khi đi trọn con đường trần thế này. Ðó là điều bảo đảm nhất để ta thêm nghị lực mà tuân giữ giới răn của Người.
Xin bình an và tình yêu của Chúa Giêsu phục sinh cho ta tiếp tục cảm nhận được nhiều hơn tình yêu bao la Chúa dành cho mình. Ðể rồi vì đền đáp tình yêu Chúa mà ta tuân giữ giới răn mà Người truyền dạy.

 

PS6-A72: THUỘC VỀ CHÚA

Ga 14, 15 - 21
 

Kitô giáo là tôn giáo của Đấng đã sống lại, Đấng đang sống sự sống tràn trề của Thiên Chúa. Có lẽ : PS6-A72

Kitô giáo là tôn giáo của Đấng đã sống lại, Đấng đang sống sự sống tràn trề của Thiên Chúa. Có lẽ, hơn ai hết, Thánh Phaolô đã cảm nếm hương vị tuyệt vời về biến cố sống lại của Đức Giêsu Kitô. Thánh Phaolô đã bị cuốn hút bởi Đấng Phục sinh sau biến cố lạ lùng xảy ra với ông trên con đường Đamas. Rồi sau khi được Đấng Phục sinh chinh phục, ông cảm thấy được Ngài là tất cả của ông. Không còn gì đáng mơ ước hơn nữa nếu đã có được Ngài ở bên và được thuộc về Ngài. Thánh Phaolô đã dùng bao nhiêu là từ ngữ và lời nói phát xuất từ con tim của Ngài để nói lên hạnh phúc được thuộc về Chúa: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô". Đó là tâm tình và sức sống của một kẻ cảm nghiệm mình được yêu và đang yêu.
Tất cả niềm hạnh phúc và sức mạnh dấn thân của Phaolô được khởi đi từ cảm nghiệm Đức Giêsu Kitô đang sống và đang đồng hành với ông trong cuộc đời này. Thánh Phaolô đã thốt lên: " Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng . . . Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người. Nhưng không phải thế! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu" (1Cr 15,14.19-20), để từ đây, ai thuộc về Đức Giêsu Kitô là thuộc về thế giới của sự sống, của kẻ sống và sống vĩnh cửu.
Trong cuộc đời này, có những khi ta cảm tưởng mình như đang bước đi trong bóng đêm dày đặc, đang rơi xuống vực thẳm đen tối khi bao nhiêu những dự định hay những mối quan hệ tình cảm bỗng nhiên bị đổ vỡ và tan biến. Đó phải chăng là một cuộc chết đi cho những dự tính nông cạn, thiển cận của con người được mời gọi tham dự vào cuộc sống mới, cuộc sống của Đấng Phục sinh.
Marian Picasso là cháu của hoạ sĩ Picasso. Từ năm 1973 đến năm 1975, bà phải chịu nhiều cái tang lớn: ông nội mất, anh ruột tự tử, cha của bà đột ngột qua đời. Đây thật là những mất mát không sao bù đắp được, dù bà nắm trong tay một gia sản khổng lồ. Năm 1990, bà đến Việt Nam và nhận các bé mồ côi hay bị bỏ rơi về làm con nuôi và giúp các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nơi ăn học. Từ lúc ấy, bà cảm nhận được một sự thay đổi nơi nội tâm "nhờ giúp đỡ những trẻ em này, tôi tìm lại được chính mình. Giờ đây, tôi cảm thấy mình như sống lại, và tôi muốn phân phát sự sống đó cho các em".
Hẳn đã có những người Kitô hữu đã trải qua kinh nghiệm của Marina , kinh nghiệm thấy mình được sống lại nhờ biết ra khỏi nổi đau của mình để chia sẻ niềm hạnh phúc cho những ai đang cần đến chúng ta. Kinh nghiệm tìm lại được chính mình bình an khi không còn bận tâm lo cho mình nữa. Kinh nghiệm thấy sự sống được nhân lên gấp bội khi biết chia sẻ tận tình.
Thuộc về Chúa Giêsu Kitô là sống theo gương mẫu của Ngài và sống như Ngài đã sống. "hy sinh mạng sống của mình vì người mình yêu". Sống thật là biết cho đi. Khi biết trao ban tận tình là thuộc về Đấng hằng sống. Đức Giêsu Phục sinh không chỉ hiện ra một vài lần nhưng Ngài muốn ở mãi bên chúng ta cho đến tận thế, một sự hiện diện 2 chiều, mới mẻ và thâm sâu "anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em", một sự hiện diện tràn đầy sức sống "Thầy sống và anh em cũng sống". Nhờ qua Bí tích Rửa tội, người Kitô hữu tự bản chất đã được Phục sinh và sự Phục sinh ấy không ngừng lớn mạnh nhờ thông hiệp với Đấng đang sống là Đức Giêsu Kitô.
Mùa Phục sinh là mùa nhắc chúng ta nhìn lại sự sống nơi mình. Lắm khi chúng ta sống èo uột chỉ vì không dám yêu thương, không dám hy sinh và không dám cho đi. Bắt đầu ra khỏi chính mình để sống yêu thương là bắt đầu thấy Chúa tỏ mình, thấy sự sống của Thiên Chúa bùng lên mạnh mẽ nơi chúng ta. Thế giới hôm nay đang cố làm cho cuộc sống được đảm bảo hơn, tiện nghi hơn và kéo dài hơn, nhưng con người vẫn sống trong lo sợ, nguy hiểm và may rủi rất cao do chiến tranh, khủng bố, tội ác, đói nghèo . . . cuộc sống bị héo úa vì không tìm thấy ý nghĩa. Thế giới đang đói khát sự sống đích thực. Nếu chúng ta thật sự là người đang sống trong Đức Giêsu Kitô, chúng ta có thể trao ban cho thế giới sự sống đó qua việc phục vụ trong tình yêu.

 

PS6-A73: HOA QUẢ CỦA TÌNH YÊU

Ga 14, 15 - 21
 

Trong bữa tiệc ly Chúa Giêsu tuyên bố Ngài sẽ ra đi, nhưng Ngài sẽ cho anh em một "Đấng Bảo Trợ": PS6-A73

Trong bữa tiệc ly Chúa Giêsu tuyên bố Ngài sẽ ra đi, nhưng Ngài sẽ cho anh em một "Đấng Bảo Trợ" và "không để anh em mồ côi" và "Ngài ở trong các con" . Hơn nữa là sẽ được "Cha Ta yêu mến". Để được điều đó đòi hỏi phải có hai điều kiện cần là "yêu mến" và "tuân giữ" các điều răn của Thầy. Hôm nay ta lại thấy rõ đặc điểm trong Tin Mừng Gioan mời gọi con người đi vào tình yêu của Chúa Kitô, tình yêu trọn hảo làm phát sinh hiệu quả:
1. Nhờ tình yêu mà con người được Đấng Bào Chữa.
Danh từ "Đấng Bầu Chữa", do tiếng Hy Lạp là "Paracletos" chỉ người được mời đến bên cạnh bị cáo, để giúp đỡ và bênh vực cho đương sự, giống như trạng sư được mời đến để bầu chữa. Khi Chúa Giêsu nói đến "Đấng Bầu Chữa khác", nghĩa là sẽ có hai Đấng Phù Trợ luôn nâng đỡ và không bao giờ để cho chúng ta mồ côi. Nhất là khi gặp những người buồn phiền lo sợ thử thách trong cuộc sống, chúng ta không bao giờ cô đơn, vì có Chúa Thánh Thần hằng hướng dẫn và ban sức mạnh cho ta.
2. Nhờ tình yêu con người không bị mồ côi.
Đức Giêsu đã quả quyết với các tông đồ trước khi ra đi "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi". Câu nói đó ngầm hiểu sẽ có Ngài ở bên khi không có Ngài. Nghĩa là người sẽ trở lại không phải trong thân xác này, nhưng là thân xác sau khi Phục Sinh. Chắc chắc lúc đó các tông đồ không thể hiểu được lời Đức Giêsu, chỉ khi được ánh sáng Phục Sinh chiếu soi thì họ mới hiểu rõ: Thầy mình đã đi thật, thế gian không còn thấy Người nữa, vì Người đã chết theo xác thịt; nhưng Người đã trở lại với các môn đệ trong những lần tỏ mình ra. Và nhất là sau khi được lãnh nhận Thần Khí, họ cảm thấy như Người đang ở gần họ, Hơn thế, ta thấy thời Giáo Hội sơ khai đã trải qua bao bắt bớ thử thách, phải sống trong gông cùm xiềng xích, sống trong cảnh đầu rơi máu chảy dưới tay bạo chúa. Nhưng "Thân thể Chúa Kitô" vẫn sống và phát triển mạnh mẽ, vì luôn có "Đầu" là Đức Kitô bên cạnh. Điều này giúp ta luôn xác tín Ngài luôn ở với ta, và trong ta cả khi ta không thấy Ngài.
3. Nhờ tình yêu con người được tình yêu.
Chúng ta có thể định nghĩa hạnh phúc của một người là biết yêu và được yêu . Qua câu nói của Đức Giêsu như kết quả của tình yêu cao cả "Ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến,và Thầy sẽ yêu nó và sẽ tỏ mình ra cho nó". Nhưng một sai lầm thường gặp của con người là cứ ngỡ mình được Chúa yêu đó là công trạng của mình, nhưng thực ra không phải. Vì khi ta chưa yêu Ngài hay thậm chí khi còn mang tội thì Ngài đã đã yêu ta và yêu từ ngàn xưa rồi. Chúng ta biết yêu chính là nhờ ơn ban như không của Ngài. Một tình yêu có sự liên đới hiệp thông như Chúa Cha đã yêu Chúa Con thế nào thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau như vậy, vì tình yêu Chúa Ban Ngôi hiện diện trong ta, trong gia đình và trong cộng đoàn của ta, lòng ta sẽ cảm thấy hoan lạc và bình an can đảm dấn thân mang tình yêu Ba Ngôi ấy mà trao tặng cho nhau. Chỉ khi nào mang có tình yêu Ba Ngôi, khi ấy lòng ta mới không còn nổi loạn, không còn nghi nan, không còn ích kỷ, không còn để bụng giận hờn ghen ghét... Chỉ khi nào tất cả mọi người đều được lãnh nhận tình yêu Ba Ngôi khi đó cộng đoàn, gia đình mới có tình yêu Chúa Kitô, chỉ khi nào cộng đoàn gia đình có tình yêu Chúa Kitô thì cộng đoàn gia đình mới là cộng đoàn đúng nghĩa; sinh động đầy sức sống và hiệp thông, vì cộng đoàn đó biết yêu như chính Chúa đã yêu.
Lạy chúa, chỉ có tình yêu mới giúp cho con người xoá bỏ được hận thù, chỉ có tình yêu mới làm cho đất nước được hoà bình, con người được ấm no, và có tình yêu đó mới làm cho con người được hiệp thông với Chúa Ba Ngôi, vì Chúa là tình yêu . Amen

 

PS6-A74: YÊU CHO TRỌN

Ga 14, 15 - 21
 

Tình yêu nam nữ là đề tài tốn nhiều giấy mực lẫn thời gian nhất trong các đề tài. Từ cổ chí kim: PS6-A74

Tình yêu nam nữ là đề tài tốn nhiều giấy mực lẫn thời gian nhất trong các đề tài. Từ cổ chí kim, từ người ít học đến bậc vĩ nhân, từ làng quê heo hút đến phố thị rộn ràng... không nơi đâu hay người nào lại không biết đến hay một lần nói về tình yêu, một thứ tình cảm tuyệt hảo nhưng không kém những hệ lụy. Euripide từng thốt lên: "Tình yêu là cái gì êm đẹp nhất và cay đắng nhất". Thế nhưng, hầu như ít ai chịu đứng ngoài cuộc của những hệ lụy đó, như ai đó đã nói đùa: "Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ; thà chịu khổ chứ không chịu lỗ". Nhưng theo chủ quan của tôi, sở dĩ yêu thì khổ là do chưa yêu thật lòng và không nắm bắt được quy luật của tình yêu. Bởi vì "yêu không phải là nhìn nhau, nhưng cùng nhau nhìn về một hướng" (Saint - Exupéry).
Từ tình yêu nam nữ tôi nghĩ về tình yêu của tôi với Thiên Chúa. Thần học Kitô giáo cũng đã không ngại hao tốn giấy mực để cố gắng diễn đạt mẫu tình yêu rất thiêng liêng này. Nhưng cũng có nhiều người ngày nay cảm thấy mệt mỏi, chán chường bởi đã "lỡ giữ" Đạo Chúa; hay nói khác hơn, họ không muốn giữ đạo nữa, bởi giữ đạo cực quá, Giáo Hội có nhiều luật lệ quá.
Không phải như vậy đâu bạn ơi! Việc bạn chẳng còn thấy Chúa hấp dẫn với bạn hay bạn thấy luật lệ trở thành gánh nặng cho bạn vì bạn đã không yêu Chúa và muốn Chúa đến với bạn nữa. "Khi yêu trái ấu cũng tròn" phải không? Ở đây, tôi nhấn mạnh đến một lý do khác, đó là bạn muốn biến Thiên Chúa theo cách thế của riêng bạn, và lúc đó bạn mới chịu đến với Ngài. Bạn đặt ra những tiêu chuẩn cho Thiên Chúa và Giáo Hội của Ngài. Tất nhiên, những tiêu chuẩn nầy hợp "gu" với bạn; nhưng thực tế, Thiên Chúa không là một thỏi vàng cho bạn đúc lên một chiếc nhẫn vừa tay bạn. Vậy bạn yêu Chúa hay yêu bản thân mình?
Tình yêu Thiên Chúa đi đôi với việc chu toàn lề luật của Ngài, "yêu thương là chu toàn lề luật" (Rm 13,8-10), "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" (Gn 14,15). Mà điều răn của Chúa là gì? Là "hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương" (Gn 15,12). Cũng đâu có gì vượt xa cái tự nhiên của con người đâu. Chẳng phải là mọi người đang rầm rộ kêu gọi hãy sống trong hòa bình, hợp tác, chia sẻ, yêu thương đó sao? Có khác là người Kitô hữu thương yêu tha nhân trong tình yêu của Đức Kitô, nhân danh tình yêu Ngài để hành động.
Ngày nay, người ta thường có khuynh hướng nhận lãnh tình yêu mà không nghĩ đến việc cho đi tình yêu, muốn được yêu nhưng ngại hy sinh cho tình yêu, muốn nhận Thiên Chúa là Chủ đời mình nhưng từ chối vâng phục Ngài. Thực ra, nếu chúng ta có hay không giữ các giới răn của Chúa, cũng không đem lại lợi ích gì cho Ngài (kinh Nguyện Thánh Thể), nhưng chắc chắn là có lợi cho chúng ta. "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy; mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy" (Gn 14,21).
Nói yêu thì dễ, nhưng hành động vì yêu thì không dễ. Bạn tuyên xưng mình là Kitô hữu, vậy bạn đã có hành động thiết thực nào để minh chứng cho niềm tin của mình chưa?

 

PS6-A75: NẾU NÓI YÊU THẦY MÀ KHÔNG GIỮ LỜI THẦY

LÀ MÂU THUẪN
Ga 14, 15 - 21
Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

Khi nói đến tình yêu, ai cũng biết nó là một khái niệm trừu tượng, vô hình, không thể nhìn thấy: PS6-A75:

Khi nói đến tình yêu, ai cũng biết nó là một khái niệm trừu tượng, vô hình, không thể nhìn thấy bằng giác quan. Tuy nhiên, nó lại hiện diện trong những gì là hữu hình. Nếu không chấp nhận sự hiện hữu của nó qua hành động thì tình yêu không còn chỗ đứng đúng nghĩa. Cũng thế, tôi không thể yêu một cái gì đó, như bông hoa, con chim... mà trước đó tôi không hề biết gì về nó hay không hề có một khái niệm nào về chúng. Còn khi nói về tình yêu giữa người với người, chúng ta không thể nói tôi yêu người này, người kia mà tôi lại chưa một lần nghe kể, giáp mặt với người đó! Yêu nhau, chẳng lẽ lại bảo tôi yêu trong tư tưởng, tôi yêu trong khái niệm...??? Khi nói về tình yêu, chúng ta không có một định nghĩa nào mang tính chuẩn mực cho mọi tình huống, nhưng chỉ có một điều cụ thể: tình yêu là tổng hợp của cả hồn lẫn xác.
Hôm nay, bài Tin Mừng cho thấy, Đức Giêsu làm một cuộc trắc nghiệm và cũng như một điều kiện để biết được tình yêu của các môn đệ và cũng là của mỗi chúng ta với Ngài đang ở trong tình trạng như thế nào?.
1.      Yêu mến và giữ Lời Chúa
"Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" (Ga 14, 15). Lời nhắn nhủ này mang đượm tình nghĩa Thầy trò và có giá trị thiêng liêng khi mà tình cảnh chia ly sắp xảy ra với Đức Giêsu và các môn sinh trên bình diện tự nhiên để chuyển dần sang khía cạnh siêu nhiên.
Kẻ đi, người ở, biết bao là luyến tiếc, nhớ thương! Tuy nhiên, để hình ảnh của Thầy không bị lu mờ; tinh thần của Thầy không rơi vào quên lãng thì việc làm cho lời của Thầy sống động trong cuộc đời qua hành vi của mình là điều quan trọng. Chính vì thế, Đức Giêsu nói: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" (Ga 14, 15).
Yêu, giữ và thực hành lời của ai, thì cho dù người đó không còn hiện hữu trên bình diện tự nhiên, thì khí cạnh siêu nhiên họ vẫn sống qua cuộc đời và nơi hành vi của người yêu còn sống. Cũng vậy, khi các môn đệ yêu mến và giữ lời Đức Giêsu truyền dạy, thì các môn đệ trở nên hiện thân của chính vị Thầy mà mình là những người đang tiếp bước.
Quả thật, như một hệ luận, khi lắng nghe và giữ lời của Đức Giêsu, ấy là lúc các môn đệ được đi vào trong trung tâm của tình yêu. Được trở nên những người công chính và Thiên Chúa sẽ công chính hóa những ai yêu mến Lời của Đức Giêsu cách trung thành và đầy lòng mến.
2.      Yêu và hành động
Yêu mến.... thì sẽ thực thi.... phải luôn gắn liền với nhau. Yêu mến Đức Giêsu thì hẳn phải thực thi lệnh truyền của Ngài, mà lệnh truyền đó đã được Đức Giêsu gói trọn trong hai giới răn: "Mến Chúa và yêu người". Yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em đồng loại là hai mặt của một tình yêu. Thánh Gioan đã nói rất rõ: "Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối" (1 Ga 2, 4).
Đức Giêsu không chấp nhận một tình yêu trên bình diện lý thuyết, từ chương, hay một thứ tình yêu "cưỡi mây về gió"; hoặc"mông lung". Vì thế, đã có nhiều lần Đức Giêsu phản đối những kinh sư và người Phrisêu: "Dân này Kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta" (Mt 15, 8); hay khi nói về tình yêu giả tạo, hào nhoáng, hình thức, Ngài nói: "Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Phrisêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế" (Mt 23, 27), bởi vì họ là những người "ngôn hành bất tất".
Như vậy, Đức Giêsu căn dặn các môn đệ là phải yêu và thực hành tình yêu đó cách chân thật, vô vị lợi, dán chấp nhận hy sinh vì người mình yêu. Tình yêu đó được chính Đức Giêsu đã hành động, đi qua và Ngài đưa ra lời mời gọi: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13, 34). Yêu như chính thầy là gì, nếu không phải là một tình yêu tự hủy, khiêm tốn, phục vụ và hiến dâng mạng sống vì người mình yêu.
Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu của người Tôi Trung với Thiên Chúa Cha và chiếu tỏa trên tha nhân trong vai trò là Đấng Cứu Chuộc.
Cùng một con đường, chung cách thể hiện, Đức Giêsu cũng mời gọi các môn đệ tiếp bước trên con đường mà Ngài đã đi, để tình yêu đó được nối dài, sống động và phong phú chứ không phải thứ tình yêu đóng khung, cứng ngắc.
Khi yêu như thế, các môn đệ đi vào trong một quỹ đạo của một tình yêu lớn hơn, được sống trong đó và tận hưởng tình yêu một cách sung mãn: "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ ra cho người ấy biết Thầy" (Ga 14,21). 
Như vậy, chữ "nếu" không có nghĩa rộng là thích thì làm, không làm cũng chẳng sao. Nhưng chữ "nếu " mà Đức Giêsu muốn nói ở đây phải hiểu theo nghĩa hẹp, tức là điều kiện thiết yếu, không có không được. Chữ "nếu" ở đây liên kết hai mặt của một tình yêu, nó đóng vai trò trung gian duy nhất để như một điều kiện cần phải có: "yêu Chúa" và "giữ lời Ngài" để từ đó phát sinh hệ luận là "yêu tha nhân như chính Thầy" (x. Ga 13, 34).
Như vậy, Đức Giêsu xác định thật rõ rằng: tình yêu chân chính thì phải được biểu lộ qua hành động. Không thể yêu cách vu vơ, chung chung...
3.      Sống lời dạy của Đức Giêsu trong đời sống kitô hữu
Thánh Giacôbê đã nói: "Đức tin không có hành động là đức tin chết" (Gc 2, 26). Tin Chúa, đi theo Chúa và yêu mến Chúa thì phải giữ lời và thi hành những gì Ngài truyền dạy. Đây là một điều khó khăn, không dễ. Nó đòi hỏi con người phải cố gắng, phải từ bỏ và phải yêu mến lời thực sự: "Gặp được lời Chúa, con đã nuốt vào, Lời Ngài làm cho con hoan hỷ, làm vui thoả lòng con, vì con được mang danh Ngài" (Gr 15,16).
Sống trong thời buổi ngày nay, chúng ta cần phải trung thành với lời Chúa và can đảm thực thi Lời ấy trong cuộc sống, làm cho lời Chúa trở nên thực sự sống động qua cuộc đời chứng tá của mỗi chúng ta. 
Ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta thuộc về Đức Kitô. Trở thành môn đệ của Ngài. Như thế, điều mà Đức Giêsu muốn các môn đệ khi xưa cũng là điều mà Ngài muốn mỗi người chúng ta thi hành.
Thật vậy, chúng ta không thể nói yêu Chúa trên đầu môi chóp lưỡi. Yêu như thế là tình yêu giả tạo. Yêu như thế là chúng ta đang xúc phạm đến bản chất của tình yêu giữa ta với Đức Giêsu. Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu:  
"Thương thương nhớ nhớ thương thương,
Nước kia muốn chảy mà mương chẳng đào". (Ca dao)
Nói yêu, nhưng không khai thông tình yêu đó bằng hành động thì chỉ như là một thứ tình yêu đất đá mà thôi.
Tuy nhiên, trái tim trai cứng, vô cảm này lại quá nhiều trong thời đại chúng ta. Nếu có ai đặt một câu hỏi: "Ông, bà anh chị em có yêu và tin Chúa không?" Có lẽ nhiều người trả lời là "có", nhưng cũng không ít người khinh thường người hỏi, vì cho rằng câu hỏi đó vớ vẩn! Có đạo mà lại không yêu Chúa thì phải chăng là người dở hơi! Nhưng nếu hỏi tiếp: "Vậy ông bà, anh chị em, giữ đạo hay sống đạo?" Tới đây, chúng ta bắt đầu khựng lại và có lẽ cảm thấy xấu hổ vì nhiều khi niềm tin của chúng ta ở trong chứng minh thư, trong sổ rửa tội, còn ở trong tâm, được thể hiện qua hành động thì ít lắm.
Một Giáo xứ toàn tòng Công Giáo, tức là 100% người theo đạo, nhưng nếu giữ đạo được khoảng 60% là tốt lắm rồi, con sống đạo đúng nghĩa, có lẽ đếm trên đầu ngón tay!
Đây là một thực trạng thật tại Việt Nam chúng ta.
Đến đây, xin được kể một câu chuyện có thật của một vị linh mục đã trọng tuổi, ngài sống ở Mỹ. Sau 50 năm, ngài mới trở về Việt Nam lần đầu, và nhân dịp gặp gỡ chúng tôi, ngài kể: "Cách đây 50 năm, tại đất nước Mỹ, người ta có lòng sùng đạo. Nhà thờ được xây cất rất nhiều, các cuộc rước linh đình, lòng sùng đạo rất tốt. Nhìn chung, tình hình giữ đạo rất giống Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên, vào thời điểm này, sau 50 năm, nhiều nhà thờ đã không còn có người đi lễ nữa. Nhiều dòng tu cũng vắng dần các ơn gọi trẻ. Đã có những nhà thờ và dòng tu phải bán đi vì không có tiền đóng thuế. Các linh mục phải đi theo họ đến những nơi du lịch để giải tội và dâng lễ. Nhiều Chủng Viện gom lại thành một, mà số lượng chủng sinh vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nếu có ai siêng đi lễ thì đôi khi nhận được những lời dè bửu và cho là bất thường. Những người được coi bình thường là cả đời người ta đến nhà thờ 3 lần: một lần Rửa Tội; lần khác là lễ cưới; và lần cuối cùng là chết. Trong ba lần đó, hai lần thụ động, tức là lúc Rửa Tội và lúc chết, còn một lần chủ động là lễ cưới. Điều đáng nói là dân Mỹ coi đây như là một thủ tục phải có trong đời mà thôi, và họ cho rằng mình thuộc thành phần bình thường".
Sau đó, ngài đưa ra nhận xét: "Nếu Giáo Hội Việt Nam không coi đó là kinh nghiệm cho chính mình, không tập trú vào việc đào tạo lương tâm, không có những hoạt động phù hợp... nhằm giúp cho con cái mình sống đạo chứ không chỉ giữ đạo, thì tình trạng của Giáo Hội Mỹ cũng là hình ảnh, thực trạng của Giáo Hội chúng ta trong tương lai???".
Đến đây, xin để lại nơi bạn và tôi câu hỏi: "Bấy lâu nay, chúng ta đã thực sự sống đạo hay chỉ là giữ đạo vì sợ tội, sợ mất linh hồn, sợ mất danh dự, sợ bị mang tiếng...?"; "Phải chăng chúng ta đã, đang an tâm với những thành quả về số lượng, mà quên đi, hay không cú tâm đến chất lượng tâm linh?". Tưởng cũng nên nói thêm: giữ đạo là điều tốt, nhưng sống đạo mới là người trưởng thành.
Mong sao mỗi chúng ta cố gắng đan kết giữa việc giữ và sống đạo trong đời sống, để:"Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ" (Thánh Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 1).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một đức tin mạnh mẽ và một lòng mến dồi dào. Khi chúng con nói được rằng chúng con tin vào Chúa và thực thi giới răn của Ngài, thì chúng con biết sống những điều đó bằng một đời sống cụ thể. Ðể cuộc sống của chúng con là một chứng từ sống động cho mọi người nhận biết Chúa. Amen.

 

PS6-A76: TUÂN GIỮ GIỚI RĂN LÀ MẾN CHÚA THỰC SỰ

Ga 14, 15 - 21
1. LỜI CHÚA: "Nếu anh em yêu mến Thầy, thì sẽ giữ các điều răn của Thầy" (Ga 14,15).
2. CÂU CHUYỆN: TẤM GƯƠNG YÊU THƯƠNG CHẾT THAY CHO NGƯỜI KHÁC:
 

Một buổi sáng tháng 7 năm 1941, trong trại tập trung OS-WIC-CIM của Đức quốc xã tại nước: PS6-A76

Một buổi sáng tháng 7 năm 1941, trong trại tập trung OS-WIC-CIM của Đức quốc xã tại nước Ba-lan, lính canh phát hiện có một tù nhân đã vượt ngục trong đêm. Theo thông lệ: mười tù nhân khác phải chịu chết thay cho kẻ đào thoát. Bấy giờ tên trưởng trại lần lượt kêu tên mười tù nhân xếp hàng vào hầm chết đói. Khi nghe đọc tên, từng người run rẩy sợ hãi bước ra khỏi hàng tiến ra phía trước. Bỗng nhiên một người trong bọn nghe kêu tên đã bật khóc và la to lên: "Ối vợ con tôi ơi ! Thế là từ nay tôi không bao giờ được đoàn tụ với vợ con rồi".
Hàng ngàn tù nhân đứng xếp hàng đều hồi hộp nín thở và mừng thầm vì mình được thoát chết. Đột nhiên có một tù nhân dáng người gầy yếu đang từ trong hàng ngũ tù nhân bên trái tách ra tiến đến gần viên trưởng trại. Bấy giờ tên này liền rút súng lục đeo bên người ra chĩa nòng súng về phía người tù kia hỏi:
- Thằng kia, đứng lại ngay ! Mày muốn gì ?
- Tôi muốn chết thay cho một người trong nhóm mười người sắp bị trừng phạt kia.
Viên trưởng trại tỏ vẻ sửng sốt tưởng mình nghe lầm và hỏi:
- Tậi sao mày lại làm điều khờ dại ngu ngốc như thế ?
-Tôi là một linh mục công giáo không có gia đình, nên tôi xin chịu chết thay cho người có vợ con kia.
Cuối cùng, viên trưởng trại đã đồng ý theo lời yêu cầu và cho kẻ tình nguyện chết  nhập vào hàng người tiến đến hầm chết đói. Tù nhân nói trên không ai khác hơn là cha MA-XI-MI-LI-EN KÔN-BÊ.  Qua việc tình nguyện hy sinh tính mạng cho một người không quen biết, cha đã biểu lộ tấm lòng mến Chúa một cách rõ nét nhất. Hành động của cha khiến cho nhiều người từ cai ngục đến các tù nhân hiện diện đều nể phục và nhờ đó họ đã tin vào lòng Chúa thương xót. Về sau vào ngày 10/10/1982 tại Roma Đức thánh Cha Gioan-Phaolô II đã phong cha Kôn-bê lên bậc hiển thánh để nêu gương thánh thiện thực sự cho các tín hữu chúng ta.
3. SUY NIỆM:
Nội dung Tin Mừng hôm nay ghi lại lời Đức Giê-su nhắn nhủ các môn đệ trước khi ra đi chịu khổ nạn như sau: "Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" (Ga 14,15). Đức Giê-su không đòi các môn đệ phải yêu mến Người bằng thứ tình yêu cảm tính, dù tình cảm ấy cũng có giá trị thúc bách các ông hăng say phục vụ như lời thánh Phao-lô đã dạy : "Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi" (2 Cr 5,14).
1) HAI LOẠI TÌNH YÊU:
Người ta thường phân chia tình yêu thành hai loại là tình yêu ích kỷ hoặc vị tha: 
* Tình yêu ích kỷ: Là thứ tình yêu giả dối, vì đối tượng không phải là tha nhân, nhưng là chính mình. Nói cách khác: người có loại tình yêu này chỉ coi người yêu như phương thế giúp họ tìm kiếm lợi ích bản thân.
* Tình yêu vị tha: Là thứ tình yêu đích thực, thể hiện qua việc quên mình để nghĩ đến người yêu và tìm làm những điều mang lại lợi ích thực sự cho họ. 
2) BA CẤP SỐNG ĐẠO: Dựa theo tiêu chuẩn tuân giữ lời Chúa mà người tín hữu được phân làm ba cấp như sau: 
* Một là người có đạo: Là những kẻ đã chịu phép thánh tẩy, nhưng không quan tâm học biết Chúa. Loai người này thường có thái độ vô tâm vô cảm, luôn làm ngơ trước những nhu cầu của tha nhân như dụ ngôn ông phú hộ làm ngơ trước anh La-da-rô nghèo khó bệnh tật đang nằm trước cổng nhà mình (x. Lc 16,19-21).
* Cấp hai là giữ đạo: Là những tín hữu có lối giữ đạo hình thức lễ nghi bề ngoài, không quan tâm sống theo Lời Chúa, và luôn chiều theo ý riêng của mình. 
* Cấp ba là sống đạo: Là những người vừa chu toàn luật đạo, lại vừa sống đức Tin cụ thể bằng việc thực hành đức Cậy là siêng năng đọc kinh dự lễ, và thi hành đức Mến là quan tâm phục vụ tha nhân như lời Chúa Giê-su phán: "Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,16).
3) HÃY YÊU THƯƠNG BẰNG VIỆC LÀM: 
a) Thánh Gio-an dạy lòng mến Chúa phải thể hiện qua đức yêu người như sau: "Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng họ không trông thấy được" (1 Ga 4,20). Khi yêu thương phục vụ những kẻ đói khát, bệnh tật và bị bỏ rơi là chúng ta đang yêu thương và phục vụ chính Đức Giê-su (x. Mt 25,40).
b) Tình yêu phải biểu lộ qua một số hành động cụ thể như sau:
- Năng nghĩ đến và ước muốn gặp gỡ để tâm sự với người yêu lâu giờ.
- Luôn sãn sàng quên mình phục vụ tha nhân và làm cho họ được hạnh phúc.
- Quảng đại cho đi những món quà tình cảm mà không mong được báo đền. Yêu nhiều thì sẽ quảng đại cho nhiều mà không tính toán thiệt hơn.
- Không chấp nhất những sai lỗi nhỏ mọn về lời nói, những lối ứng xử vụng về... và  sẵn sàng chịu đựng cả những lầm lỗi khuyết điểm của họ.
- Hy sinh chịu thiệt thòi vì người yêu:  nếu cần người ta sẽ sẵn sàng chịu thiệt thòi về danh vọng, chức quyền, tiền bạc, của cải... để người yêu được hạnh phúc.
- Tình yêu sẽ lên đến tột đỉnh khi một người biết hy sinh tính mạng, như lời Chúa: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13).  
4) CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?:
a) Điều quan trọng hiện nay là phải biết thể hiện lòng mến Chúa bằng việc tuân giữ các giới răn như sau: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy". Nhưng giới răn ấy là gì? Giới răn quan trọng nhất là thương yêu anh em: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 12,34). "Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy (Ga 4,20).
b) Hiện nay nhiều người trong chúng ta đã thể hiện tình yêu bằng lời nói hơn là hành động: Có những đứa con lười biếng làm việc nhà, ăn nói dối trá, thích gây gỗ và đánh lộn với chúng bạn... gây phiền não cho cha mẹ và thầy cô. Có những ông chồng thường đi chơi tại những hộp đêm sang trọng, chơi bài bạc cá độ thua sạch tiền khiến vợ con lâm cảnh đói khát. Có những bà vợ ỷ mình có tiền nên ăn nói thô lỗ cộc cằn, ghen bóng ghen gió hoặc chấp vặt khiến chồng con phiền lòng...
4. THẢO LUẬN:
1) Yêu thương bằng việc làm là biết nghĩ đến người khác, xét đoán ý tốt và ước muốn điều tốt cho người mình không ưa, là sẵn sàng chịu đựng và khoan dung tha thứ những sự xúc phạm của kẻ khác đối với mình, là quảng đại cho đi hơn là nhận lãnh, là năng thăm viếng an ủi những người đau khổ và giúp đỡ những người cô đơn, là săn sóc phục vụ những người yếu đuối bệnh tật... Bạn đã thực hành được điều nào trong các điều này rồi ?
2) Trong những ngày sắp tới, bạn quyết tâm sẽ làm gì để sống tình yêu thương cụ thể đối với tha nhân ?
5. LỜI CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH. Xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, sự sống làm cho cuộc đời chúng con mãi mãi xanh tươi. Xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa, bình an làm cho chúng con vững tâm khi gặp phải các cơn sóng gió giữa biển đời. Xin ban cho chúng con niềm vui của Chúa, niềm vui làm cho khuôn mặt chúng con luôn tươi vui rạng rỡ. Xin ban cho chúng con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần sẽ biến đổi cuộc đời chúng con ngày một nên giống Chúa Cha trên trời.
- LẠY CHÚA. Qua Tin Mừng hôm nay, chúng con hiểu rằng Chúa muốn chúng con tuân giữ các huấn lệnh vì lòng yêu mến Chúa, hơn là để được ban thưởng hạnh phúc thiên đàng, và không dám phạm tội trọng chỉ vì sợ bị Chúa phạt xuống hỏa ngục đời đời. Xin giúp chúng con biết mến Chúa bằng việc thực hành giới răn yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con biết noi gương Me Ma-ri-a: Luôn lắng nghe lời Chúa và mau mắn thưa xin vâng. Cho chúng con biết quan tâm tìm hiểu nhu cầu của tha nhân và sẵn sàng đáp ứng. Cho chúng con luôn nghĩ đến những người bệnh tật, nghèo khổ và bất hạnh, để chân thành phục vụ họ như phục vụ chính Chúa. Nhờ đó, chúng con sẽ chứng tỏ lòng mến Chúa thực sự và xứng đáng được liệt vào số các môn đệ trung thành với Chúa đến cùng.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

PS6-A77: YÊU MẾN THẦY THÌ GIỮ GIỚI RĂN THẦY

Ga 14, 15-21
Lm Raymond Châu Diên, CMC

 

Hội Y học Mỹ có mở một cuộc thăm dò hàng ngàn bác sĩ chuyên môn. Họ hỏi các bác sĩ: PS6-A77

Hội Y học Mỹ có mở một cuộc thăm dò hàng ngàn bác sĩ chuyên môn. Họ hỏi các bác sĩ: "Trong một tuần lễ, có bao nhiêu phần trăm bệnh nhân mà y khoa đã chữa được?" Các câu trả lời khiến chúng ta sửng sốt. Các bác sĩ cho rằng dùng thuốc men, họ chỉ điều trị được 10 phần trăm, 90 phần trăm còn lại, các bác sĩ cho rằng những bệnh nhân này thực sự có đau đớn, nhưng vấn đề của họ không thuộc lãnh vực hóa học hay vật lý mà tâm lý. Nói cách khác, đó là vấn đề cuộc sống. Những nguyên nhân thực sự của nỗi đau nơi họ là những cảm xúc tiêu cực như lo sợ, cô đơn. Buồn chán, lo sợ, cô đơn là cơn bệnh nổi tiếng của thời đại chúng ta.

Sau khi Chúa nói với các môn đệ, Chúa sắp xa các ông, các ông lo buồn. Chúa thông cảm yên ủi họ. Chúa nói với các môn đệ: "Các con đừng bối rối cũng đừng sợ hãi" (Ga 14,27). Hơn nữa, Chúa đã chỉ dạy các ông một cách sống, đã đưa các ông đến một chiều kích mới, cao cả hơn. Chúa dạy: "Nếu các con yêu mến Thầy, hãy giữ giới răn Thầy. Thầy sẽ xin Cha sai Đấng phù trợ đến với các con."

Trước tiên, Chúa Giêsu đưa các môn đệ tới chiều kích thiêng liêng. Chúa Thánh Thần là Đấng phù trợ sẽ đến với các môn đệ, ngự nơi tâm hồn họ để họ có thể gặp Chúa mọi lúc. Chúa Thánh Thần là bằng chứng tình Chúa yêu họ, Ngài sẽ yên ủi, giúp đỡ họ trong mọi sự.

Henry Drummond suy luận như sau: Giả sử Chúa Giêsu không rời các môn đệ; giả sử Ngài còn ở thế gian bây giờ. Giả sử Ngài còn ở Thánh Địa, ở Giêrusalem. Mọi chuyến tàu, mọi chuyến bay đổ dồn về Trung Đông để gặp Chúa Giêsu. Mọi kiện thơ gồm toàn những lá thư của những người gặp khó khăn, thử thách. Giả sử anh hay chị đáp chuyến bay có ý đến gặp Chúa Giêsu. Xuống phi trường, anh hay chị nhập vào đám đông triệu triệu người chờ đến lượt mình. Vì quá đông nên anh hay chị chờ hoài mà chẳng bao giờ thấy bóng Chúa Giêsu.

Đời chúng ta nhiều lúc gặp đau khổ, lo buồn, nhưng chúng ta tin chúng ta luôn luôn có Chúa ở với chúng ta, yêu thương nâng đỡ chúng ta. Chúa biết mỗi người chúng ta đều có nhu cầu căn bản là ban phát và nhận lãnh tình yêu. Chúng ta luôn yêu và đón nhận tình yêu từ tha nhân, nhất là từ Thiên Chúa, nguồn mọi tình yêu. Yêu Chúa và Chúa yêu chúng ta hết lo buồn cô đơn.

Sau nữa, Chúa Giêsu dạy các môn đệ cuộc sông thực tế. Ngài nói: " Nếu các con yêu mến Thầy, hãy giữ giới răn Thầy. Thầy sẽ xin Cha sai Đấng phù trợ đến với các con" (Ga 14,15.21).

Giới răn của Chúa là gì? Chính Chúa Giêsu nhắc lại Cựu Ước : "Ngươi hãy yêu Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn, hết sức ngươi; và yêu tha nhân như chính ngươi" (Mc 12,30-31). Chúa còn nói rõ hơn: "Thầy ban cho các con điều răn mới là các con hãy yêu nhau như Thầy yêu các con." Chúa muốn chúng ta, để chứng tỏ chúng ta yêu Chúa, chúng ta hãy yêu tha nhân. Chúng ta không phải làm gì lẫy lừng nhưng hãy yêu thương những người chung quanh.

Khi chúng ta yêu thương giúp đỡ người khác, Chúa sẽ làm chúng ta hết lo buồn và sẽ ban ơn cho chúng ta. Mục sư King Duncun nói với những người buồn khổ là họ hãy tìm giúp đỡ những người đang buồn khổ thì tự nhiên mình sẽ thấy tươi vui. Ông thường nói: "Có 10 cách để thoát khỏi buồn khổ. Thứ nhất là giúp người khác, và tiếp tục làm như vậy chín lần." Mẹ Têrêsa Calcuta đã chứng kiến nhiều về lòng người của những người đau khổ. Một lần Mẹ đem cho một gia đình đã nhịn đói mấy ngày 5 ký gạo. Vừa nhận được gạo, người đàn bà đó chia làm đôi và mang đi khỏi nhà và một lát sau trở lại tay không. Mẹ Têrêsa hỏi thì bà trả lời: "Gia đình bên cạnh đây cũng không có gì ăn mấy hôm nay, nên con chia cho họ một nửa." Chúng ta hãy yêu thương, quan tâm đến tha nhân vì Chúa muốn chúng ta làm vậy. Chúa dạy chúng ta yêu tha nhân như Chúa đã yêu chúng ta.

Chúng ta hãy xem huấn lệnh của Chúa Giêsu như lời mời gọi yêu thương. Để chứng tỏ chúng ta yêu Chúa, chúng ta hãy yêu thương anh chị em chúng ta. Nếu chúng ta yêu Chúa và chu toàn giới răn yêu thương, Chúa Thánh Thần sẽ luôn ở với chúng ta, chúng ta không còn mồ côi, buồn khổ.


 

PS6-A78: CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH

Ga 14, 15 - 21
Lm Nguyễn Bình An

 

Như vô tình Chúa gặp gỡ và gõ cửa lòng người thiếu phụ Samaria bên bờ giếng. Coi thường thành: PS6-A78

Như vô tình Chúa gặp gỡ và gõ cửa lòng người thiếu phụ Samaria bên bờ giếng. Coi thường thành kiến và dị nghị, Chúa lưu lại vài ngày để truyền rao ơn giải phóng và hình thành tiểu tổ tín hữu đầu tiên tại Samaria. Khi Philipphê xuất hiện, họ niềm nở đón tiếp, lắng nghe và tin tưởng. Qua Phêrô và Gioan họ lãnh nhận Thánh Linh. Từ đó, Samaria không còn là vùng đất kiêng kị và cần xa lánh, nhưng là tiểu tổ đáng yêu của nhiệm thể Chúa Kitô. Ơn Chúa Thánh linh tác động thật tài tình và không ai hiểu thấu!

Thánh Linh qui tụ nhân loại vào một mối, không phân biệt phong tục, tiếng nói, mầu da và văn hóa. Thánh Linh kết thân mọi dân nước, xoá bỏ hiềm thù và tạo cảm thông. Thánh Linh thôi thúc mọi lứa tuổi sống đức tin và hoạt động trong những phạm vi đặc thù. Thánh Linh khơi dậy những nguồn sống mới thích nghi với mỗi thời. Thánh Linh canh tân, biến đổi và sửa sai Giáo hội theo tinh thần trách nhiệm và tạo cho Giáo hội một bộ mặt mĩ miều. Thánh Linh chính là Nội tướng của mỗi tâm hồn, đưa chúng ta ra khỏi tình trạng thỏ đế, vững tin bước vào đời và sống chứng nhân giữa đời.

Bước đầu chúng ta nhát sợ, luống cuống vì thiếu niềm tin, mặc cảm yếu hèn, lẻ loi và cô độc. Lúc ấy chúng ta như một em bé ngày đầu tiên lên trường một mình. Bước ra khỏi nhà mà mắt còn rướm lệ vì "con đã lớn rồi! mẹ không thể dẫn con đi hằng ngày." Tại ngã tư chúng ta còn ngoái cổ lại nhìn ngôi nhà thân thương, và chợt thấy mẹ vẫn đứng trông theo sau bức rèm. Mẹ như thầm nhủ rằng "can đảm lên con! mẹ vẫn âm thầm theo dõi và ngó chừng con!"

Chúa Kitô đã chuẩn bị ngày ra dàn của các tín hữu tương tự như thế. Sau những chuỗi ngày cùng sống, cùng chơi, cùng học, cùng tôn thờ và củng cố đức tin trong vô tư và vô trách nhiệm, Chúa sai chúng ta vào đời trong tư thế là người chồng, người vợ, người cha, người mẹ, chủ chăn và thầy dạy. Tinh thần tự tin dần dần phát triển. Năng khiếu, tài quán xuyến và chỉ huy bộc phát. Tâm tình cậy nhờ và nương bóng đã biến mất. Chúng ta đủ nghị lực phấn đấu, sinh tồn, hoạch định và phát triển. Đồng thời chúng ta lưu giữ tinh thần "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" quay về yêu thương, giúp đỡ và chăm sóc cái cội nguồn mà từ đó chúng ta phát sinh, trưởng thành và vào đời.

Chúa Kitô ân cần căn dặn và chuẫn bị chúng ta đương đầu với nghịch cảnh, lo sợ và khổ đau. "Thế gian sẽ giét các con, hãy nhớ là họ đã ghét Ta trước" (Jn15,18). "Các con sẽ khóc, sẽ than khi thế gian mừng rỡ. Các con sẽ ưu phiền, nhưng ưu phiền sẽ thành niềm vui" (Jn 16,20). Thấy được tâm tình bất an và khiếp đảm nơi các môn đệ, Chúa Kitô nhấn mạnh "Ta đi thì tốt hơn cho các con... vì Đấng Phù Trợ sẽ đến... Ta không bao giờ để các con mồ côi đâu" (Jn 14,15-17). Giáo hội đã, đang và sẽ phải trải qua và chấp nhận những giai đoạn bất ổn và đau thương này. Giáo hội đã kiên cường sống đức tin, cảm hóa nhân loại bằng yêu thương và đang chiêu hồi những hổ mang, rắn lục, gấu beo... bằng nhân nghĩa và tình thương. Khi nào không còn hận thù, ghét ghen, bất công, bất nhân... trên mặt đất thì bấy giờ sứ mạng của Giáo hội mới hoàn tát và viên mãn.

Chúa dùng các môi trường khác nhau để chúng ta thi thố tài năng, biểu lộ đức tin, tự lực cánh sinh và hành trình về nước trời. Chúa tôn trọng quyền sống, quyền lựa chọn và quyền sáng kiến của mỗi tín hữu. Bởi vậy nhân sinh đa dạng là sắc thái trăm hoa đua nở trong vườn hoa thánh, luôn được khích lệ theo ơn Chúa Thánh Linh. Bao lâu nguyên tắc căn bản "nếu các con thương mến Ta, hãy cẩn trọng thực thi giới lệnh Ta trao là các con hãy thương yêu nhau" (Jn 14,15) được thực thi thì bấy lâu lộ chúng ta hành hương là nẻo thanh quang và chính trực. Và chính Ngài, sau rèm đang nâng đỡ và dõi theo, là nguyên nhân và động lực thánh dẫn độ chúng ta.


 

PS6-A79: CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH

Ga 14, 15 - 21
Lm Phêrô Phạm Ngọc Lê

 

Chúa nhật cuối của Mùa phục sinh chuẩn bị cho Lễ Hiện Xuống. Phụng vụ trình bày Đức Giêsu hứa: PS6-A79

Chúa nhật cuối của Mùa phục sinh chuẩn bị cho Lễ Hiện Xuống. Phụng vụ trình bày Đức Giêsu hứa ban Thánh Thần, Đấng đã làm cho Ngài sống lại, Đấng mà Các Tông Đồ, nhân danh Đức Giêsu thông ban cho những người Samaria khi lãnh nhận phép rửa."Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Phù Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi", Đức Giêsu hứa như thế trong bài tin Mừng. Trong thư thứ nhất, Thánh Phêrô nói: "Đức Kitô đã chết một lần vì tội lỗi...nhưng nhờ Thần Khí Người đã được phục sinh" (Bài đọc 2). Và Thánh Luca trong bài sách công vụ tông đồ, thuật lại việc Phêrô và Gioan "cầu nguyện cho những người dân Samaria để họ nhận được Thánh Thần" (bài đọc 1).

Sứ Điệp Niềm Tin
Trong lịch sử cứu độ, có sự diễn tiến hài hòa các biến cố biểu hiện tác động của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhằm cứu độ con người. Chúa Cha là nguồn mạch mọi chương trình cứu độ. Vì tình yêu đối với nhân loại, Ngài đã sai Con của Ngài đến để cứu độ con người và phục hồi lại địa vị làm con. Một khi Chúa Con hoàn tất sứ mạng của Ngài trên trần gian, Thánh Thần được gởi đến để đồng hành với con người trong cuộc lữ hành trần gian tiến về Chúa Cha. Phụng vụ hôm nay trình bày Đức Giêsu hứa với các môn đệ rằng Ngài sẽ gởi Thánh Thần đến, để Ngài ở với họ luôn mãi. Vì sao Đức Giêsu Kitô hứa với họ như thế? Để các ông không cảm thấy mồ côi, vì Đức Giêsu sắp phải chết và trở về nhà Chúa Cha. Đức Giêsu bảo họ: "Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy sẽ đến cùng anh em" (tin Mừng) không phải bằng chính con người của Ngài, nhưng nhờ Thánh Thần. Thánh Thần mà Đức Giêsu hứa, trước tiên là Đấng Bảo Trợ, nghĩa là Đấng an ủi, trạng sư, đấng ban sự sống, Đấng sáng soi. Các môn đệ và các kitô hữu tiên khởi đã có kinh nghiệm đặc biệt về sự hiện diện quyền năng và soi sáng của Thánh Thần vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Ngài cũng là Thần chân lý, mạc khải Thiên Chúa cho con nguời, nhờ Ngài Thiên Chúa soi sáng cho mọi người biết được ý nghĩa đích thực của đời mình và lý do hiện hữu của mình. Chân lý này được các môn đệ chấp nhận, công bố và tuyên xưng, bảo vệ chống lại sự dối trá của thế gian. Hơn nữa, Ngài còn là Thần Khí ban sự sống, Đấng đã phục sinh Đức Giêsu (bài đọc 2) và soi sáng trí lòng các kitô hữu tin nhận Tin Mừng, như trường hợp các người dân Samaria (Bài đọc 2). Thần Khí sự sống của Thiên Chúa là chính sự sống, mà Ong Môsê đã thấy nơi bụi gai bốc cháy nơi chân núi Sinai, vẫn tiếp tục bùng cháy lên không bao giờ tàn lụi. Sau cùng, Thánh Thần là Đấng thúc đẩy việc rao giảng tin Mừng, cả cho người do thái lẫn dân Samaria, dân ngoại. Vì thế, các nhà chú giải sách Công Vụ nói đến ba lễ Hiện Xuống, hiện xuống của người do thái tại Giêrusalem (Cv 2) hiện xuống của người dân Samaria (Cv 8) và hiện xuống của dân ngoại (Cv 10). Cùng với việc nhận lãnh Thánh Thần, việc rao giảng Tin Mừng thu lượm nhiều kết quả và càng ngày càng có nhiều người tin vào Đức Kitô. Bằng cách này, Thần Khí đã làm những lời của Đức Giêsu trở thành hiện thực: "Ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình cho người ấy".

Gợi Ý Mục Vụ
Những ai sống thánh đều hiểu và kinh nghiệm rằng Thiên Chúa luôn thực thi lời Ngài hứa. Đối với các kitô hữu tiên khởi, đây là một sự thật không thể chối cãi được. Tuy nhiên lời hứa của Thiên Chúa vẫn còn tiếp tục được thực hiện giữa nhân loại ngay cả hôm nay. Dĩ nhiên, ta cần phải ý thức rằng Thiên Chúa không hứa ban thứ hạnh phúc như kiểu trần gian.

Ngài không hứa một "Giáo Hội" không có vấn đề hoặc không có những bất đồng, không có những anh chị em sai lỗi, luôn tử tế và nhã nhặn. Ngài không hứa giải thoát chúng ta khỏi mọi vu khống, bách hại, thờ ơ, khỏi cách cư xử xấu và ngay cả tử đạo. Ngài chỉ hứa ban Thánh Thần, Thần Khí của Ngài để cho ta có thể hạnh phúc một cách mới mẻ, khác với tâm thức của người trần gian.

Ngài ban cho ta một cái nhìn mới về thế giới và về Giáo Hội với lòng tin, lạc quan, bình an và lòng mến. Ngài ban cho ta một trái tim quảng đại để rộng mở đón nhận các anh chị em trong lòng tin cùng với những nỗi yếu đuối khổ đau của họ, cùng với những phẩm tính và nhân đức của họ, cùng với lòng tin chân thực, lòng cậy trông và lòng mến của họ. Ngài ban cho ta ơn tìm kiếm tự do đích thực, tự do nội tâm và từ đó có thể giúp giải thoát mọi người khác khỏi thế lực xấu của thế gian.

Bởi vì Thiên Chúa luôn thực hiện lời Ngài hứa, cộng đoàn chúng ta phải hân hoan và kiên vững trong lòng tin. Thay vì muốn nhắm mắt trước những sự dữ đang xảy ra, lời Chúa hứa luôn tiếp tục được hiện thực giữa cộng đoàn chúng ta. Nếu ta không nhận ra, có lẽ vì đức tin ta còn yếu kém hoặc có khi bệnh hoạn chăng?

Trái lại, khi lưu tâm đến những nghi hoặc những rắc rối của các kitô hữu trong việc hiểu và sống đức tin của họ, sự hiện diện của Thần Chân lý sẽ làm cộng đoàn kitô hữu vững mạnh và xây dựng một lòng tin mạnh mẽ. Niềm tin của ta không cậy dựa nơi loài người, cho dù có tương đắc đi chăng nữa, cũng không cậy dựa nơi các thiên sứ, nhưng chỉ cậy dựa vào Thần Khí Chúa, Thần Chân Lý, Đấng là Thầy dạy tâm hồn, chứng thực mạc khải của Thiên Chúa và thúc đẩy sự đáp trả lòng tin của con người.


 

PS6-A80: LỆNH TRUYỀN VÀ LỜI HỨA

Ga 14,15-21
Sr Mai An Linh, OP

 

Chu đề lớn của phụng vụ Lời Chúa tuần này là : Hãy tuân giữ những lệnh truyền của Chúa Giêsu để được nhận: PS6-A80

Chu đề lớn của phụng vụ Lời Chúa tuần này là : Hãy tuân giữ những lệnh truyền của Chúa Giêsu để được nhận lãnh Thánh Thần. Các tín hữu tiên khởi đã giữ lương tâm ngay thẳng, ăn ở hiền hòa dù có phải chịu đau khổ, nhưng giữ được điều Thiên Chúa muốn (x. 1Pr.3,16-17) và chính vì cách sống ấy đã lôi kéo nhiều người trở lại với Chúa nên vị tông đồ trưởng phải đến Samari cầu nguyện cho họ để họ lãnh nhận Chúa Thánh Thần như lời Chúa Giêsu đã hứa.(x. Cv.8,14-15). Tuy nhiên muốn được Đấng Bảo Trợ đến thì các tín hữu phải yêu mến Chúa bằng cách giữ các điều răn của Ngài (x.Jn.14,15-16).

Tình yêu và lệnh truyền :Tình yêu và lệnh truyền liên hệ với nhau rất mật thiết. Giữ lệnh truyền không phải là hậu qủa, mà là bản chất của tình yêu đối với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không bao giờ cho phép tình yêu thóai hóa thành tình cảm suông hay xúc động thuần túy. Tình yêu phải được biểu lộ trong sự tuân phục, như Đức Giêsu tuân pbục Thánh Ý của Thiên Chúa Cha vì Ngài yêu Cha. (x. Jn.15,10). Vì thế, chúng ta cũng phải yêu như Chúa yêu " yêu thương nhau như Thầy yêu chúng con" (Jn13,34...). Lệnh truyền còn hệ tại lòng tin vào Đức Giêsu như là Đấng được Cha sai đến (x.Jn.16,27). Đó không phải là hai lệnh truyền tách rời nhau : tình yêu huynh đệ dựa trên lòng tin vào Đức Giêsu, Đấng được sai đến để mạc khải và thực hiện tình yêu cứu độ của Chúa Cha cho hết mọi người. Nên trong 1Jn.3,23 đức tin và tình huynh đệ liên kết với nhau dưới một danh xưng lệnh truyền. Thành ra chúng ta phải yêu thương nhau như Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta, có nghĩa là theo gương Người và còn hơn thế nữa, do bởi tình yêu của Người.

Khi chúng ta yêu mến Chúa Giêsu thì sẽ được Thiên Chúa Cha yêu mến và tỏ mình...(x.Jn14,21b), điều này không có nghĩa là tình yêu của ta có trước, trái lại Thiên Chúa yêu ta trước (x.1Jn4,10.19). yêu mến Đức Giêsu tất yếu yêu thương anh em mình. Tóm lại là tin vào tình yêu Thiên Chúa, là lãnh nhận tình yêu ấy, là đi vào sức năng động của nó và lưu lại trong đó : " Như Cha đã yêu mến Ta, Ta cũng yêu mến các con, hãy lưu lại trong lòng mến của Ta"(Jn 15,9-10a). Đối với các môn đệ, tiếp nhận tình yêu của Cha mà Đức Giêsu mạc khải, yêu mến anh em mình bằng tình yêu mà Đức Giêsu yêu mến họ, là yêu mến Đức Giêsu và Chúa Cha. Vì thế, trong tình yêu này, sự hiện diện của Đức Giêsu và của Chúa Cha được thể hiện : " Chúng ta sẽ đến với kẻ ấy và sẽ đặt chỗ nơi mình họ" (c.23). Đây chính là một sự hiện diện hỗ tương : các môn đệ lưu lại trong tình yêu Thiên Chúa, và Chúa Cha cùng Đức Giêsu đặt chỗ trong mình họ.Ban Thánh Thần

Thánh Thần có nhiệm vụ dậy dỗ để chúng ta hiểu những lời Chúa Giêsu nói. Ngài sẽ đào sâu đức tin cho chúng ta bằng cách làm cho chúng ta hiểu từ bên trong, cuộc đời và sứ điệp của Chúa Giêsu. Ngài củng cố đức tin của chúng ta cách vững vàng trước sự tấn công của trần gian và thúc đẩy chúng ta làm chứng những gì chúng ta đã biết (x. Jn.15,26-27). Ngài sẽ làm cho thế gian đã bất công khước từ Đức Giêsu phải bẽ mặt (x.Jn.16,7-11). Chính trong viễn tượng này mà Thánh Thần do Đức Giêsu hứa ban là Thần Khí sự thật. Ngài sẽ đem mạc khải của Đức Giêsu vào trong các tâm hồn, sẽ ban trí thông hiểu sâu sắc hơn về mầu nhiệm Đức Giêsu, về đời sống, cử chỉ, lời nói của Người; như thế, Ngài sẽ soi sáng cho chúng ta biết cách đương đầu với hòan cảnh mới.

Ngài cũng là Đấng Bầu Chữa, vì Ngài sẽ nâng đỡ các kẻ tin, tiếp tục công việc của Đức Giêsu, Đấng khi còn sống ở thế gian đã phù trợ các kẻ thuộc về Ngài (x.Jn.17,12). Đấng Bầu Chữa sẽ biện hộ cho tội nhân bên cạnh Chúa Cha. Cũng vậy, để đứng vững trước những biến cố đau thương, các môn đệ cần có một sự nâng đỡ, một người hướng dẫn, một vị Bảo Trợ, cho đến bây giờ, Đức Giêsu đã phù trợ họ, duy trì họ hiệp nhất với nhau và giữ gìn họ cho Chúa Cha. Nhưng bây giờ chủ chăn ra đi, nên họ cần một vị trợ giúp khác. Vì thế, Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến nhân danh Đức Giêsu (x.Jn.14,26) như Đấng thay thế Đức Giêsu để tiếp tục công việc của Người qua trung gian các môn đệ.

Nhưng để có thể nhận lãnh được Thánh Thần mỗi người chúng ta phải cầu xin với niềm tin tuyệt đối, Người sẽ ban Thánh Thần cho và phải cảm nhận thấy Ngài, biết Ngài, nhận ra sự hiện diện và sức tác động của Ngài nơi chúng ta cũng như nơi người khác và nơi thế giới. Chúng ta đang sống trong thời đại của Chúa Thánh Thần. Chúng ta phải lắng tai nghe tiếng Ngài dậy bảo và trung thành vâng giữ các lời khuyên dậy của Chúa qua các vị chủ chăn, để tình mến Chúa ngày càng triển nở nơi chúng ta, và đạt tới sự sống viên mãn của Chúa Kitô Phục Sinh.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống hiệp nhất với Chúa, thực thi ý Chúa bằng việc tuân giữ giới răn Chúa, nhất là giới luật yêu thương. Nhờ đó, qua chúng con mọi người nhận biết, tôn thờ và yêu mến Chúa. Xin Thánh Thần đổ tràn vào tâm hồn chúng con ngọn lửa yêu mến để chúng con can đảm làm chứng cho Chúa trong mọi biến cố của cuộc đời.


 

PS6-A81: ĐỨC GIÊSU, NIỀM VUI HY VỌNG

Ga 14, 15 - 21
Lm Trần Thanh Sơn

 

Trong những ngày vừa qua, trên thế giới có lẽ không ai được nhắc đến nhiều như Đức Cố Giáo: PS6-A81

Trong những ngày vừa qua, trên thế giới có lẽ không ai được nhắc đến nhiều như Đức Cố Giáo Hoàng Gioan - Phaolô II. Sự ra đi của Đức Thánh Cha đã để lại một niềm thương tiếc vô hạn cho cả thế giới. Không chỉ là các tín hữu Công giáo mà cả các anh em thuộc các Giáo Hội Kitô khác, rồi Phật Giáo, Hồi Giáo và cả những người tự nhận là không có niềm tin tôn giáo cũng đến nghiêng mình kính viếng trước linh cửu của Đức Thánh Cha. Có thể có nhiều lý do và động lực khác nhau, nhưng tựu trung, mọi người đến với Đức Thánh Cha, vì ngưỡng mộ một nhân cách tuyệt vời, và đời sống thánh thiện của Đức Thánh Cha. Giữa một thế giới tục hoá, một thế giới dựa vào sức mạnh của đồng tiền, chỉ tin tưởng vào sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, Đức Thánh Cha đã trở nên một chứng nhân không mệt mỏi cho niềm tin vào Thiên Chúa.

Đức Cố Giáo Hoàng Gioan - Phaolô II đã sống trong niềm tin và ra đi trong niềm hy vọng vào Đấng Phục Sinh. Và không chỉ là Đức Thánh Cha, Lời Chúa hôm nay cũng mời gọi từng người chúng ta sẵn sàng dùng chính cuộc sống của mình để "trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi chúng ta".

1. Đức Giêsu, nguồn hy vọng:

Niềm hy vọng là một trong những đặc tính quan trọng nhất của con người. Nhờ có niềm hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn mà con người có thể vượt qua những đau khổ, thử thách mà họ gặp trong cuộc sống hiện tại. Do đó, không phải chỉ có ngày hôm nay, nhưng con người thuộc mọi thời đại vẫn luôn thao thức tìm kiếm cho mình một lẽ sống, một mục đích cao đẹp để hướng về đó như một niềm hy vọng cho cuộc đời mình. Tuỳ theo quan niệm sống, mỗi người có thể có một niềm hy vọng khác nhau. Đối với một số người niềm hy vọng của họ có thể là sự giàu có, danh vọng, chức quyền, hay một sự hưởng thụ vật chất nào đó.

Tuy nhiên, đối với các Kitô hữu thời sơ khai, thì Đức Kitô Phục Sinh chính là niềm hy vọng duy nhất của họ. Cho dù giờ đây, Đức Giêsu không còn hiện diện cách hữu hình bên cạnh họ, nhưng họ vẫn tin vào lời hứa của Ngài: "Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con". Và hơn nữa, chính Đức Giêsu còn hứa: "Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi". Và quả thật, nhờ Thánh Thần, Đức Giêsu vẫn tiếp tục hiện diện, để nâng đỡ niềm hy vọng của Giáo Hội trong hơn 2000 năm qua. Chúa Thánh Thần chính là Đấng Phù Trợ mới, được Chúa Cha sai đến để nâng đỡ niềm hy vọng của chúng ta hôm nay.

Chính Chúa Thánh Thần đã ban ơn giúp các tín hữu thuở ban đầu đứng vững trước mọi cơn thử thách, bách hại. Ngài ban sức mạnh giúp họ mạnh dạn rao giảng về Đức Kitô ngay khi đang phải trốn chạy cơn bách hại. Sách Công vụ Tông đồ thuật lại: "Trong những ngày ấy, Philipphê đi xuống một thành xứ Samaria, rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến lời Philipphê rao giảng... Quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại, què quặt được chữa lành. Bởi đó cả thành được vui mừng khôn tả". Phó tế Philipphê cũng như Giáo Hội thời sơ khai hoàn toàn xác tín vào sức mạnh của Đức Giêsu Phục sinh, nhân danh Ngài, phó tế Philipphê đã trục xuất nhiều quỷ ô uế, đem lại cho dân "niềm vui mừng khôn tả", một niềm vui trong hy vọng nhờ cuộc sống trong sạch, tinh tuyền.

2. Lời mời gọi làm chứng về niềm hy vọng:

Không chỉ là Giáo Hội thời sơ khai, thánh Phêrô trong bài đọc hai cũng đang mời gọi toàn thể Giáo Hội, cụ thể là từng người chúng ta hôm nay: "Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em" trong thế giới hôm nay. Được mời gọi "trả lẽ về niềm hy vọng", cũng có nghĩa là mỗi người chúng ta đang được mời gọi trả lời cho mọi người về chính niềm tin của chúng ta.

Có lẽ trước khi trả lời cho mọi người, chúng ta cần tự trả lời trước cho chính bản thân mình. Chúng ta đang tin vào ai? Tin cái gì? Tại sao chúng ta tin? Và đức tin đó đem lại cho chúng ta lợi ích gì? Chỉ khi nào chúng ta xác tín được điều chúng ta tin, thì khi đó, chúng ta mới có thể mạnh dạn làm chứng cho mọi người về đức tin của chúng ta. Hay nói cách khác, chỉ khi chúng ta sống trọn vẹn niềm tin của mình, thì chúng ta mới có thể làm chứng cho mọi người về niềm hy vọng của chúng ta.

Câu trả lời của chúng ta không phải là các cuộc tranh luận xem ai đúng, ai sai. Nhưng chúng ta cần dùng chính cuộc sống của chúng ta để trả lời, thánh Phêrô lưu ý chúng ta: "Phải làm cách hiền từ, kính cẩn, hãy có lương tâm ngay chính, để những kẻ lăng mạ đời sống đạo dức của anh em trong Đức Kitô, phải hổ thẹn về điều họ gièm pha anh em". Chúng ta cần sống những điều mà chúng ta tuyên xưng khi chúng ta tham dự phụng vụ nơi nhà thờ này. Nếu như trong phụng vụ, tất cả chúng ta cùng hiệp lễ, nghĩa là lãnh nhận cùng một tấm bánh bẻ ra, thì khi trở về nhà, chúng ta cũng phải sống hiệp nhất nên một với nhau như vậy. Đời sống hiệp nhất đòi mỗi người chúng ta loại bỏ khỏi cuộc sống mình thói quen nói hành, nói xấu, đặt điều, dèm pha tha nhân.

Mặt khác, tình yêu mà chúng ta nhận được từ Đấng Phục Sinh nơi bí tích Thánh Thể còn đòi chúng ta nhìn ra sự hiện diện của Chúa ở nơi anh chị em đang sống chung quanh chúng ta, để đến lượt mình, chúng ta cũng có thể yêu mến anh chị em mình, như Chúa đã yêu thương chúng ta. Trước đây, khi Tin mừng mới được loan báo trên đất nước Việt Nam thân yêu này, thì cha ông chúng ta đã dùng chính cuộc sống yêu thương, tha thứ của mình để trả lời cho mọi người về niềm tin của các ngài. Mọi người lúc đó đã nhìn vào cuộc sống của cha ông chúng ta để gọi tên đạo chúng ta là "Đạo yêu nhau". Ngày hôm nay, nếu nhìn vào cuộc sống hàng ngày của tôi và quý OBACE, người ta sẽ gọi tên đạo của chúng ta là gì? "Đạo giận nhau? Đạo ghét nhau? Đạo đánh nhau? Hay Đạo nói xấu nhau?...". Và nếu là như vậy, thì chúng ta chưa thực sự "sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do về niềm hy vọng" của chúng ta. Chắc chắn sống yêu thương tha thứ cho anh chị em không phải là chuyện dễ, nhưng đó lại là cách tốt nhất để chúng ta "trả lẽ cho mọi người về niềm hy vọng của chúng ta".

Đồng thời, khi quên mình để sống yêu thương, tha thứ như thế, đó cũng là cơ hội để chúng ta được thông phần vào thập giá của Đức Kitô, Đấng đã hiến mạng sống vì yêu thương chúng ta như lời thánh Phêrô: "Vì nếu Thiên Chúa muốn, thì thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác. Vì Đức Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta, Người là Đấng công chính thay cho kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa".

Hơn nữa, việc chúng ta sống đúng theo lời dạy của Đức Kitô còn là dấu chỉ mức độ chúng ta yêu mến Ngài, đồng thời, đó cũng là cơ hội để chúng ta chứng tỏ cho mọi người biết rằng: Thiên Chúa đang ở trong chúng ta, như lời khẳng định của Đức Kitô trong bài Tin mừng: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". Amen.

 

PS6-A82: TÌNH YÊU VÀ GIỚI LUẬT

Ga 14,15-21
Lm. Nguyễn Hữu Lượng

 

Thiên Chúa thường nói với con người trong cách thế họ có thể lãnh hội được. Thời gian là yếu: PS6-A82

Thiên Chúa thường nói với con người trong cách thế họ có thể lãnh hội được. Thời gian là yếu tố thật cần thiết để Chúa Kitô huấn luyện các Tông đồ của Ngài. Trường huấn luyện của Chúa lại ở ngay trên bước truyền giáo, nên Chúa thường chờ đợi lúc thuận tiện để huấn luyện môn đệ, cơ hội thuận tiện sẽ giúp các Tông đồ dễ lãnh nhận hội giáo lý của Chúa hơn. Và một khi giáo lý đó đã thấm sâu vào tâm trí họ, thì họ sẽ dễ thực hành việc rao truyền cho người khác.

Khi Chúa dạy các Tông đồ: "Ai có các lệnh truyền của Ta và giữ lấy, người ấy mới là kẻ yêu mến Ta, mà ai yêu mến Ta thì được Cha Ta yêu mến, và Ta sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ mình ra cho nó", Chúa muốn các Tông đồ hiểu mối tương quan giữa Ngài và môn đệ như mối thân tình giữa cha và con, thày và trò. Ngài không chấp nhận một lòng yêu mến hời hợi, căn cứ vào một vài hình thức, lễ nghi, giống như người học trò yêu mến thày, nhớ đến thày ngày giỗ, Tết, vài cánh thư, một vài món quà tặng nhau ngày kỷ niệm. Sự quan trọng của lòng yêu mến mà Chúa muốn thấy ở nơi môn đệ của Ngài: "Ai yêu mến Ta, sẽ giữ lời Ta."Sống lời Chúa, làm theo lời Chúa chỉ dẫn để nên giống Chúa, đó mới là lý tưởng của người công giáo.

Người thày chân chính bao giờ cũng muốn truyền thông cho học trò cái tinh túy nhất của giáo lý của mình. Và còn hơn nữa họ mong chờ môn đệ ngoan ngoãn là người trọn đời cố gắng sức thực hành giáo huấn của thày.

Chúa đã đến trong trần gian, đem giáo lý từ trời xuống cho con người. Để thực hiện giấc mơ truyền bá giáo lý nhiệm mầu của mình, Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta mỗi người một sứ mệnh phải chu toàn, để người đời có thể nhìn thấy giáo lý của Chúa được thực hành trong đời sống của chúng ta mà nhận ra chính Thiên Chúa thượng trí là nguồn phát sinh giáo lý đó. Đây chính là giấc mơ Chúa ôm ấp kỳ vọng ở mỗi môn đệ, ở mỗi người tín hữu theo Chúa.

Càng sống Lời Chúa, chúng ta càng khám phá ra nét mặt dịu hiền của Chúa, tình thương, sự quan phòng và định mệnh mà Chúa an bài cho chúng ta. Nắm giữ giáo lý của Chúa tức là nắm giữ một tâm hồn bình an đích thực Chúa muốn để lại cho chúng ta qua Phúc âm hôm nay. Vì thế, sống lời Chúa là sống sự bình an của Chúa.

Chúa săn sóc và âu yếm những kẻ tin vào Ngài. Nhưng Ngài còn yêu thương những ai trọn đời chăm chuyên tuân giữ giới luật của Ngài.


 

PS6-A83: YÊU MẾN CHÚA

Ga 14, 15-21
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Có một nghịch lý rất chặt chẽ và hợp lý: " yêu mến Chúa là giữ điều răn của Chúa ", ngược lại ": PS6-A83

Có một nghịch lý rất chặt chẽ và hợp lý: " yêu mến Chúa là giữ điều răn của Chúa ", ngược lại " giữ các điều răn của Chúa là yêu mến Chúa ". Bài Tin mừng Chúa nhật VI Phục sinh, năm A, thánh Gioan cho chúng ta biết mối liên hệ giữa lòng yêu mến Chúa và việc giữ các giới răn, những điều luật của Chúa. Do đó, không ai có thể nói mình yêu mến Chúa mà lại không tuân giữ các giới răn, các điều luật của Chúa. Và đã giữ những Lời Chúa dạy, thì người ấy đồng thời cũng yêu mến Chúa.

Xét cho cùng giữ giới răn của Chúa là tuân giữ mười điều luật của Giao Ước. Đây là chính giới răn Thiên Chúa đã khắc ghi vào bia đá và trao cho Môsê để Ông Môsê truyền cho dân tuân giữ. Đạo Công Giáo từ Cựu Ước cho tới thời Tân Ước luôn dạy con người phải tuân giữ mười điều răn của Chúa và những Lời Thiên Chúa dạy bảo. Ngày nay, Đạo Công Giáo nói tới Phúc âm, Tin mừng, nói tới mười giới luật, sáu luật Hội Thánh buộc, Tám Mối Phúc, Giáo luật vv...Đứng trước rất nhiều điều như thế, nhiều khi người Kitô hữu không hiểu đâu là điều chính đâu là điều phụ thuộc, những thắc mắc, phân vân ấy Chúa Giêsu đã giải đáp từ xưa: " Điều quan trọng, điều chính yếu là lòng yêu mến, mến Thiên Chúa và yêu tha nhân ". Yêu người sẽ gặp Chúa và tôn kính mến Chúa sẽ gặp người.

Người Kitô hữu thực tế có rất nhiều cách để biểu tỏ lòng yêu mến Chúa. Tuy nhiên, điều cụ thể nhất vẫn là tuân giữ những điều Chúa đã truyền, cách riêng là lòng mến Chúa và yêu người. Quả thực, nếu theo Chúa, người môn đệ không yêu mến anh chị em thì làm sao họ có thể mến Chúa, Đấng mà họ không được thấy nhãn tiền.

Đối diện với một thế giới đang vươn tiến, đang chạy đua về kỹ thuật, đứng trước một số rất đông người chỉ ham mê danh lợi, của cải vật chất và tìm kiếm danh vọng, tìm kiếm lợi nhuận...người môn đệ Chúa phải có thái độ nào đối với những người xung quanh, đặc biệt những người nghèo khổ ? Người môn đệ Chúa phải sống sự sung mãn của Chúa sống lại: " Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em " ( Ga 4, 20 ) " Vì Thầy sống và anh em cũng sẽ sống " ( Ga 14, 19 ). Người Kitô hữu phải cảm nghiệm sâu xa lời thánh Phaolô viết cho tín hữu Galát: " Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà là Đức kitô sống trong tôi " ( Gl 2, 20 ). Thánh Gioan đã viết: " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy " ( Ga 14, 21 ).

Vâng, người Kitô hữu chỉ có thể kéo dài sự sống khi họ sống yêu thương và chia sẻ. Sự sống kéo dài không phải là đời sống tạm bợ ở trần gian mà là sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa. Trước một thế giới mà nhiều người hầu như đánh mất căn tính con người của mình, người Kitô là người sống sự sống của Chúa, người Kitô hữu sống tình thương chia sẻ, sống bác ái và sống bằng những nghĩa cử tốt đẹp, tỏa sáng. Người Kitô hữu có rất nhiều cách để biểu lộ lòng mến của mình đối với Chúa, nhưng cụ thể nhất là yêu mến anh chị em, đặc biệt những người khó nghèo, những người thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần. Chúa dạy nhân loại, Chúa dạy chúng ta hãy mến Chúa, hãy yêu người. Kính Chúa và yêu người là giới răn quan trọng để biểu lộ chúng ta là con Chúa. Chúa đã truyền dạy: " Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con " và " Cứ dấu này người ta sẽ nhận ra anh em là môn đệ của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau ".

Kính Chúa không chỉ bằng việc thờ phượng Ngài trong nhà thờ, trong thâm tâm mà nó còn phải được biểu lộ ra bên ngoài bằng việc yêu mến anh em. Bởi vì, Đạo Công Giáo là Đạo Tình Thương. Đạo Công Giáo không chỉ nói yêu thương bằng môi miệng nhưng còn phải biểu lộ ra bên ngoài bằng những nghĩa cử bác ái yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn sống Đạo Yêu Thương bằng chính cuộc sống yêu thương của chúng con. Amen.


 

PS6-A84: YÊU MẾN CHÚA

Ga 14, 15-21
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Đây vẫn là những lời nhắn nhủ, động viên, khích lệ của Chúa Giêsu đối với các môn đệ trước khi Chúa: PS6-A84

Đây vẫn là những lời nhắn nhủ, động viên, khích lệ của Chúa Giêsu đối với các môn đệ trước khi Chúa về Trời với Chúa Cha. Bài Tin Mừng hôm nay cũng nằm trong bài ' những lời từ biệt ' của Chúa Giêsu với các môn đệ trong đêm mừng lễ Vượt Qua với hai ý tưởng chính :" Hãy tuân giữ lệnh Chúa và Chúa sẽ xin Chúa Cha sai Đấng phù trợ đến ". Tuân giữ những lời Chúa dạy và rồi Chúa Cha sẽ gửi Đấng phù trợ ( Ga 14, 16 ) đến trợ giúp các môn đệ khi Chúa không còn hiện diện hữu hình bên họ nữa.

Mặc dầu Chúa biết các môn đệ yêu mến Chúa thật, nhưng Ngài vẫn nhắc nhở, khuyên bảo các môn đệ :" Yêu mến Ngài thì phải tuân giữ những điều Ngài đã dạy các ông. Bởi vì yêu mến Chúa không chỉ là tình cảm suông, không chỉ là những tâm tình thoáng qua, hời hợt, nhưng phải được thể hiện ra bằng việc làm cụ thể là tuân phục lời Chúa dạy, vâng theo thánh ý Chúa được tỏ ra qua lề luật, giới răn của Ngài, giới răn đó là mến Chúa và yêu người. Chúa Giêsu hứa với các môn đệ sẽ xin Chúa Cha ban cho các Ngài một Đấng phù trợ, Đấng đến để an ủi, trợ giúp, cầu bầu và bảo vệ các môn đệ, các tín hữu của Chúa. Thánh Gioan cũng cho thấy thế gian là thế giới kẻ thù của Thiên Chúa. Thế gian được đồng hóa với Satan, với ma quỷ vv...Chúa Giêsu nói rằng thế gian không còn thấy Ngài vì Ngài đi về với Chúa Cha, còn các môn đệ nhờ đức tin, nhận ra rằng Chúa vẫn sống.Các môn đệ được chia sẻ sự phục sinh của Chúa, nên các Ngài có được sự sống mới. Chúa yêu mến các môn đệ vì các môn đệ yêu mến Chúa, tuân giữ lời Chúa dạy, nên được Chúa Cha yêu mến.

Chúa Giêsu nói :" Ai yêu mến Thày sẽ được Cha Thày yêu mến và Thày cũng yêu mến và tỏ ra cho người ấy biết Thày " ( Ga 14, 21 ).

Thiên Chúa luôn đi bước trước, yêu thương con người trước và khi con người tuân giữ luật Chúa, họ chứng tỏ họ đã đón nhận, muốn triển nở tình yêu, thăng hoa tình yêu nơi bản thân của mình và trân trọng tình yêu ấy, do đó, họ tuân giữ những điều Chúa dạy để tình yêu của Chúa không bị ứ đọng mà tình yêu của Chúa được lan tỏa đến với mọi người. Chúa Giêsu hiểu giá trị của Lời Ngài, Lời ban sự sống, cứu độ và dẫn đưa con người tới hạnh phúc. Tuy nhiên, Lời của Chúa không thể sinh hoa kết quả nếu con người chỉ nói trên đầu môi chóp lưỡi, nói cách suông, ơ hờ, hời hợt, nhưng những điều Chúa nói cần phải đem ra thực hành với lòng yêu mến. Xưa, Chúa đã trấn an các môn đệ :" Đừng xao xuyến, đừng lo âu ". Ngài ra đi về cùng Chúa Cha nhưng ngài sẽ xin Chúa Cha sai Đấng phù trợ đến. Thánh Thần sẽ hiện diện để hướng dẫn, soi đường chỉ lối cho các môn đệ, cho mọi người. Ngày nay, Chúa cũng nhắc nhở chúng ta :" Nếu chúng ta yêu mến Chúa thì phải tuân giữ giới răn của Chúa ". Tất cả lề luật chỉ tóm gọn trong hai điều :" mến Chúa và yêu tha nhân " ( Mt 22, 40 ). Đây là điều chính yếu. Bởi vì đó là chân lý. Chúa đã xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến để gìn giữ Giáo Hội đi trong sự thật. Chỉ khi nào chúng ta tuân giữ giới răn Chúa, thực hành những điều Ngài dạy với lòng yêu mến.Chúng ta mới được hưởng dồi dào ân sủng, bình an và sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi tâm hồn và nơi cuộc sống trần thế này.

Jean-Pierre Manigne viết :" Tin mừng hôm nay, một cách đơn sơ mà tuyệt vời, nhắc đến Thiên Chúa Ba Ngôi : Cha, Con, Thánh Thần. Ba Ngôi ! trái ngược với một Thiên Chúa phiêu diêu trên mây gió, trái ngược với một ý tưởng, một thứ gì trừu tượng.Mà là vị Thiên Chúa như chúng ta đã cảm nghiệm, Đấng nhận chúng ta làm nghĩa tử, gia nghiệp chúng ta được thừa hưởng.
Phải làm gì để gia nhập gia nghiệp ấy, để thoát khỏi cảnh mồ côi lạc loài trong thế giới lạnh lẽo này ? Phải ao ước được làm nghĩa tử, ao ước hết sức mình.Suốt đời mình ".

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa củng cố đức tin cho chúng con để chúng con luôn nhận ra rằng Chúa luôn yêu thương chúng con.Chúa luôn hiện diện với chúng con và Chúa đã xin Chúa Cha sai Thánh Thần đến để biến đổi chúng con, làm cho chúng con luôn biết " yêu mến Chúa và yêu mến đồng loại ". Amen.


 

PS6-A85: TUÂN GIỮ GIỚI RĂN LÀ MẾN CHÚA THỰC SỰ

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH A
Cv 8,5-8.14-17; 1 Pr 3,15-18; Ga 14,15-21
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 14,15-21
(15) Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. (16) Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. (17) Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận. Vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. (18) Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. (19) Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. (20) Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. (21) Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Chúa Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến Người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”.
2. Ý CHÍNH:
 

Tin Mừng hôm nay trích trong bài diễn từ giã biệt của Đức Giê-su trước cuộc khổ nạn phục sinh và lên: PS6-A85

Tin Mừng hôm nay trích trong bài diễn từ giã biệt của Đức Giê-su trước cuộc khổ nạn phục sinh và lên trời với Chúa Cha. Trong thời gian vắng mặt, Đức Giê-su hứa sẽ ban cho các môn đệ một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần để ở với các ông luôn mãi. Người cũng hứa sẽ không bỏ mặc các ông mồ côi, nhưng sẽ hiện diện bên các ông cách thiêng liêng. Những ai thực sự yêu mến Người thì phải tuân giữ các giới răn của Người. Ai làm như vậy thì sẽ được Chúa Cha yêu mến và bày tỏ sự thật về Ngài cho họ biết.
3. CHÚ THÍCH:
- C 15-17: + Nếu anh em yêu mến Thầy…: Đối với Đức Giê-su, tình yêu không chỉ dừng lại ở tình cảm dạt dào hay ở xúc động thể xác, mà phải được biểu lộ trong hành động vâng phục là sự tuân giữ các giới răn của Người, cũng như Người đã yêu mến Chúa Cha và tuân giữ các lệnh truyền của Chúa Cha (x. Ga 15,10). + Đấng Bảo Trợ khác: Bảo Trợ tiếng Hy Lạp là Pa-ra-cle-tos, ám chỉ một người được mời đến để làm trạng sư bênh vực và bầu chữa cho bị cáo khi tòa án xét xử. Ở đây Thánh Thần sẽ bầu chữa cho các môn đệ trong vụ kiện thế gian trước tòa án của Thiên Chúa. Như vậy chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Chúa Giê-su (x. 1 Tm 2,5), nhưng lại có hai Đấng Bảo Trợ: Một là “Đức Giê-su Ki-tô là Đấng công chính” (x. 1 Ga 2,1), cũng là “Đấng hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta” (x. Dt 7,25); Hai là Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác (x. Ga 14,16) là “chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả” (x. Rm 8,26). + Đến ở với anh em luôn mãi: Sứ mạng cứu thế của Đức Giê-su sẽ hoàn tất khi Người được Chúa Cha tôn vinh (x. Ga 7,39), nghĩa là khi Người tắt thở trên cây thập giá (x. Ga 19,30). Từ đó Người trao ban Thần Khí là Chúa Thánh Thần cho nhân loại để thực hiện một cuộc tạo thành mới. Thời kỳ của Chúa Thánh Thần sẽ kéo dài mãi đến ngày tận thế. + Thần Chân Lý: là Thánh Thần, phát xuất từ Đức Giê-su là chân lý (x. Ga 14,6), Đấng luôn nói sự thật của Chúa Cha (x. Ga 12,49) và sau khi phục sinh đã thổi hơi ban Thần Khí cho các tông đồ (x. Ga 20,22). Thần Chân Lý đối lập với ma quỷ là cha của sự dối trá (x. Ga 8,44). + Đấng mà thế gian không thể đón nhận: Vì Thánh Thần là Thần Khí thiêng liêng, nên thế gian không xem thấy và không thể đón nhận Người. Thế gian ở đây là các đầu mục dân Do thái, những kẻ có lòng kiêu căng, ích kỷ, thù hận, không tin Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai. Họ không biết và không muốn đón nhận Thánh Thần của Đức Giê-su nên sẽ bị chết trong tội của mình (x. Ga 8,22-24). + Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em: Các tông đồ nhờ đức tin sẽ đón nhận Thánh Thần, nên sẽ được Người hiện diện ở giữa và dạy dỗ họ về sự thật toàn vẹn.
- C 18-19: + Thầy sẽ không để anh em mồ côi…: Mồ côi là tình trạng con cái bị mất cha mẹ nên không được ai chăm sóc nuôi dưỡng, học trò bị mất thầy nên không được ai dạy dỗ hướng dẫn. Ở đây Đức Giê-su muốn nói: sau khi từ cõi chết sống lại, dù Người không còn ở với các môn đệ như lúc này, nhưng Người sẽ vẫn luôn ở cùng các ông nhờ đức tin và ơn thánh. + Chẳng bao lâu nữa: Người hứa sẽ mau trở lại (x. Ga 16,19.22). + Thế gian sẽ không còn thấy Thầy: Đức Giê-su sắp chịu chết và người đời sẽ không còn thấy Người sau khi Người sống lại, vì từ nay Người không còn hiện diện bằng thân xác vật chất nữa. + Anh em được thấy Thầy: Chữ thấy ở đây là thấy bằng đức tin, nghĩa là tin Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa. Nhờ tin, các ông sẽ được tham dự vào sự sống siêu nhiên và được kết hiệp mật thiết với Người.
- C 20-21: + Ngày đó: là kiểu nói thường dùng trong Cựu Ước để chỉ ngày Chúa lại đến, tức là ngày cánh chung hay tận thế (x. Is 2,17; 4,1). + Thầy ở trong Cha Thầy và Thầy ở trong anh em: Nhờ vào sự thấy được bằng đức tin như vậy, các môn đệ sẽ khám phá ra đời sống kết hiệp thâm sâu giữa Chúa Cha và Chúa Con (x. Ga 14,11), đồng thời cũng cảm nghiệm được sự liên kết mật thiết giữa họ với Chúa Giê-su Phục Sinh bằng đức tin và ân sủng. + Ai có và giữ các điều răn của Thầy…: Lòng mến Chúa không phải chỉ dừng lại ở tình cảm và lời nói, nhưng phải được thể hiện qua hành động tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa, nhất là sống giới răn yêu thương của Chúa Giê-su (x. Ga 13,34). + Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến…: Câu này không có nghĩa là Thiên Chúa chỉ yêu mến những ai yêu mến Chúa Giê-su, vì Thiên Chúa yêu hết mọi người và yêu họ trước (x. 1 Ga 4,10). Nhưng những ai yêu mến và vâng lời Đức Giê-su thì càng được Thiên Chúa yêu mến hơn, với danh nghĩa họ là nghĩa tử của Người và là chi thể của Đầu Nhiệm Thể là chính Người.
4. CÂU HỎI:
1) Đức Giê-su đòi người ta phải thể hiện tình yêu đối với Người thế nào ? 2) Bảo trợ nghĩa là gì ? Loài người chúng ta chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất là ai ? Nhưng chúng ta lại có hai Đấng Bảo Trợ là những Vị nào ? 3) Sứ mạng cứu thế của Đức Giê-su chấm dứt khi nào ? Đấng nào khác sẽ tiếp tục sứ mạng cứu độ ấy cho đến tận thế ? 4) Thần Chân Lý là ai ? Phát xuất từ Đấng nào ? Đối lập với ai ? 5) Tại sao thế gian không thể đón nhận được Thần Chân Lý ? Các tông đồ phải làm gì để đón nhận được Ngài ?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Nếu anh em yêu mến Thầy, thì sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15).
2. CÂU CHUYỆN: TẤM GƯƠNG YÊU THƯƠNG CHẾT THAY CHO NGƯỜI KHÁC:
      Một buổi sáng tháng 7 năm 1941, trong trại tập trung OS-WIC-CIM của Đức quốc xã tại nước Ba-lan, lính canh phát hiện có một tù nhân đã vượt ngục trong đêm. Theo thông lệ: mười tù nhân khác phải chịu chết thay cho kẻ đào thoát. Bấy giờ tên trưởng trại lần lượt kêu tên mười tù nhân xếp hàng vào hầm chết đói. Khi nghe đọc tên, từng người run rẩy sợ hãi bước ra khỏi hàng tiến ra phía trước. Bỗng nhiên một người trong bọn nghe kêu tên đã bật khóc và la to lên: “Ối vợ con tôi ơi ! Thế là từ nay tôi không bao giờ được đoàn tụ với vợ con rồi”.
      Hàng ngàn tù nhân đứng xếp hàng đều hồi hộp nín thở và mừng thầm vì mình được thoát chết. Đột nhiên có một tù nhân dáng người gầy yếu đang từ trong hàng ngũ tù nhân bên trái tách ra tiến đến gần viên trưởng trại. Bấy giờ tên này liền rút súng lục đeo bên người ra chĩa nòng súng về phía người tù kia hỏi:
          - Thằng kia, đứng lại ngay ! Mày muốn gì ?
          - Tôi muốn chết thay cho một người trong nhóm mười người sắp bị trừng phạt kia.
     Viên trưởng trại tỏ vẻ sửng sốt tưởng mình nghe lầm và hỏi:
- Tậi sao mày lại làm điều khờ dại ngu ngốc như thế ?
-Tôi là một linh mục công giáo không có gia đình, nên tôi xin chịu chết thay cho người có vợ con kia.
Cuối cùng, viên trưởng trại đã đồng ý theo lời yêu cầu và cho kẻ tình nguyện chết  nhập vào hàng người tiến đến hầm chết đói. Tù nhân nói trên không ai khác hơn là cha MA-XI-MI-LI-EN KÔN-BÊ.  Qua việc tình nguyện hy sinh tính mạng cho một người không quen biết, cha đã biểu lộ tấm lòng mến Chúa một cách rõ nét nhất. Hành động của cha khiến cho nhiều người từ cai ngục đến các tù nhân hiện diện đều nể phục và nhờ đó họ đã tin vào lòng Chúa thương xót. Về sau vào ngày 10/10/1982 tại Roma Đức thánh Cha Gioan-Phaolô II đã phong cha Kôn-bê lên bậc hiển thánh để nêu gương thánh thiện thực sự cho các tín hữu chúng ta.
3. SUY NIỆM:
Nội dung Tin Mừng hôm nay ghi lại lời Đức Giê-su nhắn nhủ các môn đệ trước khi ra đi chịu khổ nạn như sau: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15). Đức Giê-su không đòi các môn đệ phải yêu mến Người bằng thứ tình yêu cảm tính, dù tình cảm ấy cũng có giá trị thúc bách các ông hăng say phục vụ như lời thánh Phao-lô đã dạy : “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5,14).
1) HAI LOẠI TÌNH YÊU:
Người ta thường phân chia tình yêu thành hai loại là tình yêu ích kỷ hoặc vị tha: 
* Tình yêu ích kỷ: Là thứ tình yêu giả dối, vì đối tượng không phải là tha nhân, nhưng là chính mình. Nói cách khác: người có loại tình yêu này chỉ coi người yêu như phương thế giúp họ tìm kiếm lợi ích bản thân.
* Tình yêu vị tha: Là thứ tình yêu đích thực, thể hiện qua việc quên mình để nghĩ đến người yêu và tìm làm những điều mang lại lợi ích thực sự cho họ. 
2) BA CẤP SỐNG ĐẠO: Dựa theo tiêu chuẩn tuân giữ lời Chúa mà người tín hữu được phân làm ba cấp như sau: 
          * Một là người có đạo: Là những kẻ đã chịu phép thánh tẩy, nhưng không quan tâm học biết Chúa. Loai người này thường có thái độ vô tâm vô cảm, luôn làm ngơ trước những nhu cầu của tha nhân như dụ ngôn ông phú hộ làm ngơ trước anh La-da-rô nghèo khó bệnh tật đang nằm trước cổng nhà mình (x. Lc 16,19-21).
          * Cấp hai là giữ đạo: Là những tín hữu có lối giữ đạo hình thức lễ nghi bề ngoài, không quan tâm sống theo Lời Chúa, và luôn chiều theo ý riêng của mình. 
* Cấp ba là sống đạo: Là những người vừa chu toàn luật đạo, lại vừa sống đức Tin cụ thể bằng việc thực hành đức Cậy là siêng năng đọc kinh dự lễ, và thi hành đức Mến là quan tâm phục vụ tha nhân như lời Chúa Giê-su phán: ”Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
3) HÃY YÊU THƯƠNG BẰNG VIỆC LÀM: 
a) Thánh Gio-an dạy lòng mến Chúa phải thể hiện qua đức yêu người như sau: "Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng họ không trông thấy được" (1 Ga 4,20). Khi yêu thương phục vụ những kẻ đói khát, bệnh tật và bị bỏ rơi là chúng ta đang yêu thương và phục vụ chính Đức Giê-su (x. Mt 25,40).
b) Tình yêu phải biểu lộ qua một số hành động cụ thể như sau:
- Năng nghĩ đến và ước muốn gặp gỡ để tâm sự với người yêu lâu giờ.
- Luôn sãn sàng quên mình phục vụ tha nhân và làm cho họ được hạnh phúc.
- Quảng đại cho đi những món quà tình cảm mà không mong được báo đền. Yêu nhiều thì sẽ quảng đại cho nhiều mà không tính toán thiệt hơn.
- Không chấp nhất những sai lỗi nhỏ mọn về lời nói, những lối ứng xử vụng về… và  sẵn sàng chịu đựng cả những lầm lỗi khuyết điểm của họ.
- Hy sinh chịu thiệt thòi vì người yêu:  nếu cần người ta sẽ sẵn sàng chịu thiệt thòi về danh vọng, chức quyền, tiền bạc, của cải… để người yêu được hạnh phúc.
- Tình yêu sẽ lên đến tột đỉnh khi một người biết hy sinh tính mạng, như lời Chúa: ”Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).  
4) CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?:
 a) Điều quan trọng hiện nay là phải biết thể hiện lòng mến Chúa bằng việc tuân giữ các giới răn như sau: Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”. Nhưng giới răn ấy là gì? Giới răn quan trọng nhất là thương yêu anh em: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 12,34). “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy (Ga 4,20).
b) Hiện nay nhiều người trong chúng ta đã thể hiện tình yêu bằng lời nói hơn là hành động: Có những đứa con lười biếng làm việc nhà, ăn nói dối trá, thích gây gỗ và đánh lộn với chúng bạn… gây phiền não cho cha mẹ và thầy cô. Có những ông chồng thường đi chơi tại những hộp đêm sang trọng, chơi bài bạc cá độ thua sạch tiền khiến vợ con lâm cảnh đói khát. Có những bà vợ ỷ mình có tiền nên ăn nói thô lỗ cộc cằn, ghen bóng ghen gió hoặc chấp vặt khiến chồng con phiền lòng…
4. THẢO LUẬN:
1) Yêu thương bằng việc làm là biết nghĩ đến người khác, xét đoán ý tốt và ước muốn điều tốt cho người mình không ưa, là sẵn sàng chịu đựng và khoan dung tha thứ những sự xúc phạm của kẻ khác đối với mình, là quảng đại cho đi hơn là nhận lãnh, là năng thăm viếng an ủi những người đau khổ và giúp đỡ những người cô đơn, là săn sóc phục vụ những người yếu đuối bệnh tật… Bạn đã thực hành được điều nào trong các điều này rồi ? 2) Trong những ngày sắp tới, bạn quyết tâm sẽ làm gì để sống tình yêu thương cụ thể đối với tha nhân ?
5. LỜI CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH. Xin ban cho chúng con sự sống của Chúa, sự sống làm cho cuộc đời chúng con mãi mãi xanh tươi. Xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa, bình an làm cho chúng con vững tâm khi gặp phải các cơn sóng gió giữa biển đời. Xin ban cho chúng con niềm vui của Chúa, niềm vui làm cho khuôn mặt chúng con luôn tươi vui rạng rỡ. Xin ban cho chúng con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần sẽ biến đổi cuộc đời chúng con ngày một nên giống Chúa Cha trên trời.
- LẠY CHÚA. Qua Tin Mừng hôm nay, chúng con hiểu rằng Chúa muốn chúng con tuân giữ các huấn lệnh vì lòng yêu mến Chúa, hơn là để được ban thưởng hạnh phúc thiên đàng, và không dám phạm tội trọng chỉ vì sợ bị Chúa phạt xuống hỏa ngục đời đời. Xin giúp chúng con biết mến Chúa bằng việc thực hành giới răn yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con biết noi gương Me Ma-ri-a: Luôn lắng nghe lời Chúa và mau mắn thưa xin vâng. Cho chúng con biết quan tâm tìm hiểu nhu cầu của tha nhân và sẵn sàng đáp ứng. Cho chúng con luôn nghĩ đến những người bệnh tật, nghèo khổ và bất hạnh, để chân thành phục vụ họ như phục vụ chính Chúa. Nhờ đó, chúng con sẽ chứng tỏ lòng mến Chúa thực sự và xứng đáng được liệt vào số các môn đệ trung thành với Chúa đến cùng.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

PS6-A86: Nhờ Thánh Thần, Thiên Chúa ở lại với chúng ta

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 14:15-21)
 

Phụng vụ chuẩn bị cho chúng ta bước sang một giai đoạn mới của chương trình cứu độ:  thời đại : PS6-A86

Phụng vụ chuẩn bị cho chúng ta bước sang một giai đoạn mới của chương trình cứu độ:  thời đại của Thánh Thần.  Các bài đọc hôm nay bắt đầu nói về Chúa Thánh Thần.  Đặc biệt nhất, đó là lời Chúa Giê-su hứa:  “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”.  Để thực thi ý muốn “ở lại” với chúng ta, Thiên Chúa đã mặc lấy xác phàm để làm Đấng Em-ma-nu-en (Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-tôi).  Tiếp đến, chính Con Một Thiên Chúa cũng quả quyết:  “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mát-thêu 28:20).  Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su cho chúng ta biết Người và Chúa Cha sẽ ở lại với chúng ta qua Chúa Thánh Thần như thế nào. 
          Dựng nên chúng ta, Thiên Chúa chỉ muốn điều tốt cho chúng ta và ước vọng trên hết của Người là chúng ta được sống vĩnh viễn với Người.  Sau khi “ở lại” với nhân loại qua lời Người được truyền đạt nhờ các ngôn sứ (Do-thái 1:1), Thiên Chúa tiến một bước xa hơn nữa, là ở lại với chúng ta nhờ Ngôi Lời nhập thể.  Qua Chúa Giê-su, Thiên Chúa “nói” những lời rao giảng Tin Mừng và ơn sám hối (mầu nhiệm Sự Sáng thứ ba kinh Mân Côi) và Thiên Chúa “hành động” qua những phép lạ Chúa Giê-su làm để biểu lộ lòng thương xót của Cha Người.  Tuy nhiên hành động cuối cùng và cao cả nhất, đó là cái chết của Con Một Thiên Chúa trên thập giá để thay đổi căn tính của con người và mở ra một hành trình mới cho họ đi về nhà Cha.  Thiên Chúa đã ở giữa chúng ta một cách quá cụ thể đến nỗi dân thành Na-da-rét phải đặt câu hỏi:  “Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Gio-xê, Giu-đa và Si-mon sao?” (xem Mác-cô 6:1-6).  Rồi thậm chí các tông đồ cũng không thể tin là mình “thấy” Chúa Cha, khi ông Phi-líp-phê xin Chúa Giê-su tỏ cho các ông thấy Chúa Cha.  Chúa Giê-su đã trả lời:  “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Gio-an 14:9).  Nói tóm lại, Thiên Chúa đã “ở lại” với chúng ta nhờ Chúa Giê-su, để nói cho chúng ta biết rằng Người rất yêu thương chúng ta (Gio-an 3:16).
          Trước khi Chúa Giê-su hoàn tất công cuộc cứu độ ở trần gian và về trời, Người không để chúng ta “mồ côi”, nhưng Người và Chúa Cha sẽ “ở lại” với chúng ta bằng một cách mới, đó là qua sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, “Đấng Bảo Trợ” cho chúng ta.  Chúa Thánh Thần tiếp nối sứ mệnh của Chúa Giê-su, là “ở lại” với chúng ta.  Chúa Giê-su đã chết trên thập giá để làm chứng cho sự thật là “Thiên Chúa yêu thương thế gian”, thì giờ đây Thánh Thần sẽ tiếp tục là “Thần Khí sự thật” cho những ai mở lòng đón nhận tình yêu Thiên Chúa.  Nguyện vọng của Chúa Giê-su là “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”.  Nên giờ đây Chúa Thánh Thần “ở trong” chúng ta sẽ soi sáng và thúc giục chúng ta đáp lại nguyện vọng của Chúa Giê-su.  Hơn thế nữa, Người còn “dạy” chúng ta và giúp chúng ta “nhớ lại mọi điều” Chúa Giê-su đã nói với chúng ta qua Tin Mừng được rao giảng.  Hoạt động của Chúa Thánh Thần quả thực là làm cho giấc mơ tình yêu của Thiên Chúa được thực hiện, tức là dẫn dắt chúng ta trên đường “quy về một mối” trong Ba Ngôi Thiên Chúa (Gio-an 17:22-23).
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Qua những lời tâm sự với các tông đồ, đâu là điều Chúa Giê-su thao thức nhất?  Nói đi nói lại thì cũng vẫn là “giữ các điều răn của Thầy”!  Đó là lý tưởng của Ki-tô hữu, lý tưởng mà Chúa Giê-su đã phải trả bằng cái giá mạng sống của chính Người.  Chúng ta thử nghĩ Người sẽ thất vọng như thế nào nếu chúng ta phản bội và coi thường sự hy sinh vô giá Người đã dành cho chúng ta?  Cho nên để giúp chúng ta mạnh mẽ và kiên trì thực hiện lý tưởng ấy, Chúa Giê-su đã xin Chúa Cha ban cho chúng ta Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần.
          Nhận biết Chúa Thánh Thần “ở trong” chúng ta không dễ!  Chúa Giê-su đã bảo ông Ni-cô-đê-mô:  “Gió muốn thổi đâu thì thổi;  ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu.  Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Gio-an 3:8).  Còn chúng ta, chúng ta biết Thánh Thần từ đâu đến và mang sứ mệnh gì.  Vậy chúng ta hãy để cho “Thánh Thần ở trong chúng ta” giúp chúng ta giữ các điều răn của Chúa!
          Lm. Đa-minh Trần đình Nhi   

 

PS6-A87: Hội Thánh Có Thánh Thần Ở Luôn

Chúa Nhật 6 Mùa Phục Sinh Năm A
 (Cv 8,5-8.14-17; 1P 3,15-18; Yn 14,15-21)
 Phúc Âm: Yn 14, 15-21
"Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác".
 

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy: PS6-A87

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi. Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài; còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con. Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con. Một ít nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các con, các con thấy Thầy vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống. Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con. Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó".
 
Suy Niệm:
Chúa Nhật VI Phục Sinh
Cv 8,5-8.14-17; 1P 3,15-18; Yn 14,15-21
Xét về nhiều mặt, Chúa nhật hôm nay muốn tiếp nối tư tưởng của Chúa nhật trước. Bài sách Công vụ các Tông đồ Chúa nhật trước nói đến việc thiết lập các Phó tế, trong số đó có Philip. Hôm nay cũng sách ấy cho ta thấy hoạt động của ông. Chúa nhật trước, thư thánh Phêrô phân biệt kẻ tin và những người không tin. Vừa giờ chúng ta lại nghe thánh nhân khuyên nhủ những kẻ tin phải sống thế nào với những người không tin. Sau cùng bài Tin Mừng hôm nay rõ rệt tiếp theo bài Tin Mừng Chúa nhật trước và nói đến những việc Chúa Yêsu làm cho chúng ta nơi Cha Người. Vậy nếu quan niệm duy nhất đã có thể nối kết các tư tưởng của Chúa nhật trước, thì hôm nay đào sâu thêm quan niệm ấy, chúng ta sẽ thấy cả ba bài Kinh Thánh đều quy về Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, Chúa nhật trước đã để chúng ta thấy Chúa Yêsu chịu chết và sống lại là Ðá sống xây nên Hội Thánh, thì hôm nay chúng ta sẽ được chứng kiến Hội Thánh mạnh mẽ như thế nào.
 
A. Hội Thánh Ðầy Sức Mạnh Thánh Thần
Những chương đầu trong sách Công vụ các Tông đồ đã cho chúng ta thấy sức mạnh của Hội Thánh ở Yêrusalem. Số các tín hữu gia tăng, uy tín các Tông đồ sâu rộng, cộng đoàn được toàn dân mến phục. Sức sống mạnh mẽ ấy tất nhiên muốn làm nổ tung những giới hạn chật hẹp. Nhưng xác thịt con người nhiều khi nặng nề, chậm chạp. Mối căng thẳng rõ rệt đầu tiên đã hiện ra nơi tương quan giữa Dothái và Hylạp. Các Tông đồ đã sáng suốt đặt tay trên bảy người Hylạp nổi tiếng, đầy Thánh Thần và khôn ngoan. Họ tỏ ra thật xứng đáng. Stêphanô khiến cả thành chấn động vì lời lẽ và thái độ tuyên xưng đức tin của ông. Philip lợi dụng ngay hoàn cảnh phải phân tán vì bắt bớ để đi truyền giáo ở Samari.
Chúng ta để ý: cả hai người đều đã bắt đầu hoạt động nơi lương dân, rao giảng Tin Mừng cứu độ cho những người không phải là Dothái. Công việc của họ không phải chỉ là phục vụ bàn ăn, như thoạt đầu chúng ta tưởng. Nói đúng hơn thấy họ hoạt động như vậy, chúng ta phải tự hỏi công thức "phục vụ bàn ăn" nghĩa là gì? Cả Stêphanô và Philip đều rao giảng Tin Mừng. Philip còn làm phép Rửa nữa. Thành ra khi Phêrô nói: "Còn (các Tông đồ) chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa", chúng ta phải hiểu như thế nào? Thiết tưởng thật là sai lầm khi phân biệt phận vụ các Tông đồ là cầu nguyện và giảng Lời Chúa, còn trách nhiệm các "Phó tế" là phục vụ bàn ăn. Chúng ta đã có lần thấy không được hạn chế sinh hoạt Giáo hội trong phụng vụ. Thế thì cũng không nên giới hạn quá mức phận vụ của các Thừa tác viên. Rõ ràng các Phó tế mới cũng đã giảng Tin Mừng, làm phép Rửa và làm nhiều phép lạ nữa. Hoạt động của họ có khác với công việc của các Tông đồ bao nhiêu? Hay là chúng ta chỉ nên hiểu kiểu nói "chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa" áp dụng cho các Tông đồ chỉ có nghĩa là quyền chủ trì các cộng đồng phụng vụ và tổ chức việc rao giảng Tin Mừng, thuộc về các ngài. Công việc của những người khác cần đến các ngài một cách nào đó mới được hoàn toàn. Dường như chính bài sách Công vụ hôm nay khiến ta hiểu như vậy. Vì cho dù Philip đã truyền giáo ở Samari y như một Tông đồ, tín hữu ở đó phải đợi Phêrô và Yoan đến mới được lãnh nhận Thánh Thần.
Suy nghĩ trên đây không vô ích cho đời sống hiện nay của chúng ta. Nhiều khi chúng ta quá tách rời các phận vụ giáo dân dửng dưng với công việc của Linh mục và Linh mục cũng hầu như không muốn biết tới công việc của giáo dân Chúng ta quên mọi người trong Giáo hội đều đã lãnh nhận Thánh Thần; và ơn Thánh Thần phong phú mạnh mẽ hơn chúng ta tưởng. Chuyện Stêphanô và Philip cho thấy rõ: Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ nơi những con người gốc Hylạp ấy. Họ đã làm việc hầu như các Tông đồ. Chỉ có điều họ đã lựa chọn môi trường dân ngoại, hợp hơn với họ và họ vẫn công nhận quyền các Tông đồ. Nói đúng hơn, Thánh Thần đã dùng họ để đi vào những lãnh vực mới, khiến việc truyền giáo cho lương dân đã khởi sự với chính những người gốc lương dân. Và giáo đoàn Yêrusalem, giáo đoàn mẹ đã mau mắn đến tiếp sức cho các cộng đoàn mới. Các Tông đồ đã gửi ngay Phêrô và Yoan tới, Hai người đã ban Thánh Thần, hoàn tất công việc của Philip, khiến một lần nữa, chúng ta lại thấy chính Thánh Thần là dây bác ái xây dựng và bảo toàn sự duy nhất trong Giáo hội. Chính điều đó đem lại hân hoan vui mừng không những cho Samari mà cả Yêrusalem, tức là cho toàn thể Hội Thánh.
Nhưng đời sống không luôn luôn như vậy. Hội Thánh đã bị bắt bớ ở Yêrusalem trong câu chuyện Stêphanô. Hội Thánh còn có thể gặp khó khăn ở mọi thời. Khi ấy Thánh Thần sẽ làm việc thế nào trong Hội Thánh? Chúng ta hãy đọc đoạn thư Phêrô.
 
B. Hội Thánh Ðược Tái Sinh Về Thần Khí
Nhìn thấy Giáo hội đang bị bắt bớ ở nhiều nơi, vị Tông đồ trưởng đã không ngần ngại căn dặn tín hữu những thái độ cụ thể. Ngài nói: "Anh em hãy hiểu biết Ðức Kitô là Chúa nơi lòng anh em". Ðó là thái độ căn bản. Hơn bao giờ hết, trong những hoàn cảnh khó khăn, tín hữu phải tôn vinh Ðức Kitô ở trong lòng. Phải hiểu biết Người là Chúa, tức là phải nhận thức Người đã sống lại. Không nắm vững niềm tin đó, đức tin của chúng ta sẽ trở nên vô ích. Ngược lại khi tin vững vàng Người sống lại, thì như trước đây thư Phêrô đã nói, người ta tất không bị hổ thẹn (2,6).
Và một khi đã tin vững vàng, bức thư nói tiếp: "Anh em hãy luôn sẵn sàng đáp lời với mọi người hỏi lẽ anh em... với một lòng hiền từ, kính nể". Phêrô biết, và Chúa Yêsu cũng đã báo trước, "có ngày người ta lôi chúng con đến pháp đình". Tín hữu sẽ bị hỏi. Phải trả lời, vì đó là chuyện có hệ đến "mối hy vọng có nơi anh em", tức là Tin Mừng cứu độ chúng ta mang ở trong mình. Nhưng phải ăn nói hiền từ, kính nể. Lời rao giảng Tin Mừng không được tựa vào sự khôn ngoan thế gian và sức mạnh tu từ của loài người. "Lúc đó, không phải chúng con nói, nhưng là Thần trí nói cho chúng con". Lời ấy mang đầy sức mạnh của Thiên Chúa; nhưng Thiên Chúa hành động mạnh mẽ mà lại dịu dàng (fortiter et suaviter). Chính việc nắm bắt chân lý khiến lời nói khoan thai. Vậy nếu "chúng ta đã hiểu biết Ðức Kitô là Chúa ở trong lòng chúng ta rồi", thì không có lý nào lời nói của chúng ta lại không hiền từ kính nể.
Ðàng khác, như vậy không phải chỉ là suy diễn mà còn là bắt chước. Tín hữu luôn phải dõi theo vết chân Chúa Cứu Thế. Thế mà Người đã đi qua đau khổ làm sao? Phêrô không cần dài dòng nhắc lại nữa. Ngài chỉ tóm tắt trong một câu rất súc tích: "Ngài, Ðức Yêsu Kitô Chúa chúng ta, đã bị giết chết về xác thịt, nhưng đã được tái sinh về Thần khí. Ước gì khi Giáo hội bị bắt bớ, lúc chúng ta phải đau khổ, bề ngoài xác thịt có như chết thì tinh thần cũng hãy sống động. Ðúng hơn nữa, ước gì Thần khí của Chúa tỏ ra mạnh mẽ nơi thân xác yếu hèn của chúng ta!
Như vậy, dù trong hoàn cảnh nào, thuận cũng như nghịch, sức mạnh của Hội Thánh và của chúng ta vẫn là Thánh Thần. Ðiều cần duy nhất là phải có Thánh Thần. Thế mà đó lại là ơn Chúa Yêsu hằng ban cho chúng ta, theo bài Tin Mừng hôm nay.
 
C. Hội Thánh Có Thánh Thần Ở Luôn
Nói với môn đệ trong bữa Tiệc ly, Chúa Yêsu tuyên bố: Người sẽ ra đi, nhưng không để họ mồ côi. Người sẽ trở lại với họ, không phải trong thân xác như hiện nay, nhưng "sẽ tỏ mình ra cho họ". Thế gian sẽ không còn thấy Người, nhưng họ thấy vì Người vẫn sống.
Chắc chắn Lời Chúa chỉ sáng sủa, dễ hiểu sau khi có ánh sáng Phục sinh. Lúc đó môn đệ mới rõ: Ðức Yêsu đã đi thật; thế gian không còn thấy Người nữa vì Người đã chết theo xác thịt; nhưng Người đã trở lại với môn đệ, trong những lần tỏ mình ra. Và nhất là nhận được Thần Khí Người thổi cho, họ cảm thấy gần Người hơn bao giờ hết. Rõ ràng Người vẫn sống và họ cũng sống. Họ sống ở trong Người và Người sống ở trong họ. Ý thức ấy minh chứng được vì "do tay các Tông đồ, lắm dấu lạ điềm thiêng đã xảy ra trong dân", từ sau ngày Thánh Thần hiện xuống. Thế nên câu Chúa nói: "Không để họ mồ côi" đã được hiểu như là Thần trí của Người đã được ban cho họ để lưu lại nơi họ và ở trong họ (c.15-16).
Như vậy, họ cũng ý thức hơn về mệnh lệnh Chúa truyền như là điều kiện để không bị bỏ mồ côi. Ðó là giữ Lời Người.
Chắc chắn Hội Thánh lúc ban đầu đã chuyên cần với việc này. Các tín hữu kiên trì với giáo huấn của các Tông đồ. Các vị này chuyên lo phục vụ Lời Chúa. Chính nhờ nhiệt tình như vậy mà đức tin tăng trưởng, Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, cả thành đều vui mừng và có ai bị bắt bớ thì cũng hân hoan vì đã thấy mình đáng được chịu sỉ nhục vì Danh Người.
Ðời sống của Hội Thánh luôn luôn như vậy. Lúc thuận cũng như lúc nghịch, Hội Thánh chỉ mạnh mẽ nhờ Thánh Thần. Chính Người là sức mạnh của Hội Thánh vì là Thần trí của Ðức Kitô đã được ban cho Hội Thánh sau khi Chúa Cứu Thế đã về cùng Cha qua mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh. Thánh Thần hoạt động nơi mọi thành phần trong Dân Chúa, không phân biệt Dothái hay Hylạp, Tông đồ hay Phó tế. Người phân phối phận vụ nhưng đồng thời hằng xây dựng, thắt chặt tình liên đới để xứ mẹ xứ con cũng chỉ là một Hội Thánh. Chúng ta cầu xin Người đến trong chúng ta và trong các giáo đoàn của chúng ta. Thật ra, Người vẫn đến vì có bao giờ Ðức Kitô bỏ chúng ta mồ côi. Mỗi lần Giáo Hội cử hành Thánh lễ, mầu nhiệm Vượt qua của Chúa lại được tái hiện. Mầu nhiệm Chúa về cùng Cha ban Thánh Thần xuống lại được cử hành. Tất cả tùy ở chúng ta và cộng đoàn chúng ta có đón nhận và để Thánh Thần hoạt động nơi mình và qua mình hay không?
Ước gì Thánh lễ này ban cho chúng ta được đầy Thánh Thần. Và cũng ước gì lãnh nhận ơn Thánh Thần rồi, mỗi người sẽ như Stêphanô và Philip, tỏ ra hăng say trong môi trường của mình, thi hành sứ mệnh Tông đồ, làm cho nhiều người tin Ðức Yêsu là Chúa để xã hội thêm hân hoan trong tình liên đới nhiệt thành xây dựng hạnh phúc chung mỗi ngày mỗi lan rộng. Có như vậy mới có Mùa Phục sinh trong đời sống chúng ta và mới đáng ngưỡng vọng mầu nhiệm Chúa lên trời và ban Thánh Thần xuống, những mầu nhiệm mà chúng ta sẽ kính nhớ cách đặc biệt trong các Chúa nhật tới.
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

PS6-A88: Yêu là điều kiện để lời hứa được thực hiện

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 14:15-21)
 

Chúng ta thường nghe các bà mẹ hứa với con cái:  Nếu con thương mẹ và ngoan ngoãn, mẹ sẽ làm: PS6-A88

Chúng ta thường nghe các bà mẹ hứa với con cái:  Nếu con thương mẹ và ngoan ngoãn, mẹ sẽ làm cho con điều này điều kia.  Tình yêu trở thành điều kiện để lời hứa được thực hiện.  Hôm nay trong cuộc tâm sự tại phòng Tiệc Ly, Chúa Giê-su đã hứa với các môn đệ món quà đặc biệt nếu họ thực lòng yêu mến Người:  “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi”.
          Tình yêu nói lên ý nghĩa đích thực của việc cho và nhận một món quà.  Thiên Chúa Cha ban cho chúng ta biết bao ân huệ là vì yêu thương, nhất là khi Người ban chính Con Một là Chúa Giê-su.  Đáp lại, chúng ta tuân giữ lề luật của Chúa cũng là vì lòng yêu mến.  Lần này đến lượt Chúa Giê-su hứa ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần là ân huệ mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết.  Chúng ta có nhìn thấy điểm giống nhau giữa ân huệ Chúa Cha ban cho chúng ta và ân huệ Chúa Giê-su ban cho chúng ta không?  Ân huệ Chúa Cha ban là Chúa Giê-su, tức là sự thật nói lên tình Thiên Chúa yêu nhân loại;  còn ân huệ Chúa Giê-su ban là Thần Khí sự thật, tức là tinh thần và lối sống mới để chúng ta nhận biết và đáp lại tình yêu của Thiên Chúa.  Như thế, vai trò của Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ và Thần Khí sự thật là giúp chúng ta thấy và biết được những gì?
          Trước hết, Chúa Thánh Thần giúp chúng ta thấy và biết là Thầy sẽ không để anh em mồ côi.  Chúa Giê-su sắp lìa bỏ trần gian để về cùng Chúa Cha.  Người bảo môn đệ:  “Chẳng bao lâu nữa thế gian sẽ không còn thấy Thầy.  Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy”.  Chúng ta cũng sống trong thế gian như bao người, vậy mà chúng ta lại được thấy Chúa trong khi nhiều người khác không thấy.  Điều gì giúp chúng ta “thấy” và “biết” Chúa?  Chính là Thánh Thần!  Nếu chúng ta thấy và biết được Thiên Chúa là Cha và Chúa Giê-su là anh em trong cõi đời này, thì làm sao chúng ta trở nên “mồ côi” được!  Đã có lần Chúa Giê-su quan tâm tới sự “mồ côi” của chúng ta khi Người “thấy đám đông liền chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mát-thêu 9:36).  Cho nên Người hứa ban cho chúng ta Thánh Thần, Thần Khí sự thật, để Người mở con mắt tâm hồn cho chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi chúng ta và những anh chị em.  Chúa Thánh Thần giúp chúng ta ý thức mình đang sống trong một gia đình đông đủ cha mẹ và anh chị em, gia đình của Thiên Chúa.
          Hơn cả điều chúng ta thấy và biết, Chúa Thánh Thần còn giúp chúng ta sống những gì chúng ta thấy và biết.  Chúng ta đã được thấy Chúa, nhưng không phải chỉ như một tấm hình bất động treo trên vách hoặc pho tượng trong nhà thờ, mà là một Chúa Giê-su sống động trong cuộc đời chúng ta.  Chúa Giê-su hứa:  Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống.  Vai trò của Chúa Thánh Thần là thực hiện lời hứa trên của Chúa Giê-su.  Thánh Thần biến đổi cuộc sống chúng ta trở nên cuộc sống của Chúa Giê-su.  Người làm cho chúng ta được đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su. Người giúp chúng ta cầu nguyện, suy niệm Kinh Thánh, quan tâm giúp đỡ anh chị em… để qua tất cả những sinh hoạt đó, chúng ta làm cho mối tương quan giữa chúng ta với Chúa được phát triển mỗi ngày một hơn.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Tất cả những món quà Thiên Chúa Cha và Chúa Giê-su ban cho chúng ta đều lấy tình yêu làm đầu mối.  Các Ngài chỉ đòi hỏi nơi chúng ta một điều:  Nếu anh em yêu mến.  Để thực thi điều kiện phải yêu mến Chúa, Chúa Giê-su trả lời chúng ta:  Thì anh em hãy giữ các điều răn của Thầy.  Thánh Thần đã hướng dẫn Chúa Giê-su chu toàn sứ mệnh vì lòng yêu mến Thiên Chúa và nhân loại.  Cũng Thánh Thần ấy sẽ dẫn dắt chúng ta sống như người con ngoan của Thiên Chúa và người anh chị em đích thực của Chúa Ki-tô.  Một tinh thần thực mạnh mẽ, một động lực thực lớn lao là Chúa Thánh Thần đang chuyển động trong mối tương quan giữa Chúa Cha, Chúa Giê-su và chúng ta, để tạo nên một cuộc sống tình yêu tuyệt hảo và tròn đầy, vậy mà chúng ta không nhận ra sự hiện diện của Người hay sao?
                                      Lm. Đa-minh Trần đình Nhi 

 

PS6-A89: Nếu Anh Em Yêu Mến Tôi

Chúa nhật VI Phục Sinh A
Gio 14:15-21: 15 "Nếu các ngươi yêu mến Ta, các ngươi sẽ giữ các lịnh truyền của Ta, 16 Và Ta sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các ngươi một Ðấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các ngươi luôn mãi, 17 Thần khí sự thật, thế gian không thể lĩnh nhận, vì nó không thấy cũng không biết Ngài, Còn các ngươi biết Ngài, vì Ngài lưu lại nơi các ngươi và ở trong các ngươi. 18 Ta sẽ không bỏ các ngươi mồ côi, Ta sẽ đến với các ngươi. 19 Còn ít nữa thế gian không còn thấy Ta. Phần các ngươi, các ngươi thấy Ta, vì Ta sống và các ngươi cũng sẽ sống. 20 Trong ngày ấy, các ngươi sẽ biết được là Ta ở trong Cha Ta, và các ngươi ở trong Ta, và Ta ở trong các ngươi. 21 Ai có các lịnh truyền của Ta và giữ lấy, người ấy mới là kẻ yêu mến Ta, mà ai yêu mến Ta, thì được Cha Ta yêu mến, và Ta sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ mình ra cho nó".
 

Đoạn 14:15-24 nầy thuộc về phần hai của chương 14, bàn về việc Chúa Giêsu sẽ trở lại và các môn : PS6-A89

Đoạn 14:15-24 nầy thuộc về phần hai của chương 14, bàn về việc Chúa Giêsu sẽ trở lại và các môn đệ kết hiệp với Người trong tình yêu (Xem dẫn nhập bài chú giải Chúa Nhật V Phục Sinh A). Đoạn 14:15-24 gồm hai phần chính: 14:15-21 và 14:22-24. Đoạn 14:15-21, được đóng khung bởi hai “câu góc” (cc. 15.21, và 23), và có thể phân chia thành hai đoạn nhỏ: - Đấng Phù Trợ sẽ đến (cc. 15-17); - Chúa Giêsu sẽ lại đến (cc. 18-21). Trong hai đoạn nầy, ý tưởng về việc đến và ở lại của Đấng Phù Trợ và Chúa Giêsu được trình bày cách song song: - Yêu mến - tuân giữ các giới răn (cc. 15 và 21); - Ban Đấng Phù Trợ - Chúa Giêsu lại đến (cc. 16 và 18); - Thế gian không thấy Đấng Phù Trợ - không thấy Chúa Giêsu (cc. 17 và 19); - Các môn đệ nhận biết Đấng Phù Trợ - thấy Chúa Giêsu (cc. 17 và 19); - Đấng Phù Trợ - Chúa Giêsu ở trong các môn đệ (cc. 17 và 20).
Mạch văn nói về việc Chúa Giêsu sẽ ra đi. Tuy nhiên, Người hứa vẫn ở lại với các môn đệ của Người và họ được ở với Người nếu họ yêu mến Người và tuân giữ giới răn của Người. Điều kiện nầy liên quan trực tiếp đến việc ban Đấng Phù Trợ để ở với họ (cc. 16.17c), cũng như được thấy Chúa Giêsu và được Người ở với họ (cc. 19.20). Chúng ta tìm cách hiểu những liên hệ nầy.
Đấng Phù Trợ sẽ đến (cc. 15-17). Câu 15 mở đầu với đòi hỏi yêu mến Chúa Giêsu (c. 15). Động từ agapē, “yêu mến” có đối tượng là Chúa Giêsu (cc. 15.21). Trong câu 21, người yêu mến Chúa Giêsu sẽ được Người yêu mến và cả Chúa Cha nữa (c. 21). Yêu mến gắn liền với việc tuân các giữ giới răn của Người, như là cách diễn tả cụ thể của lòng mến (c. 15.21; 1 Gio 5:2). Cần chú ý đến tính từ sở hữu “các giới răn của tôi” (c. 15. 21; 15:10). Câu 13:34 và 15:12 nói đến giới răn (số ít) của Chúa Giêsu, “Anh em yêu thương nhau như Tôi yêu thương anh em”. Các giới răn có nghĩa là gì?
 Trong hai câu góc 14:23 và 4, “các giới răn”, entolas, được thay thế bằng “lời”, logos, số ít (c. 23) và số nhiều (c. 24; 1Gio 2:5). Vậy có sự đồng hoá giữa “giới răn” và “lời”. Có thể nói “tuân giữ giới răn/các giới răn” của Chúa Giêsu là “tuân giữ lời/các lời” của Người (17:6). Thế mà lời của Chúa Giêsu không phải là lời của Người, mà là lời Người nhận từ Chúa Cha. Người chỉ nói những gì Người nghe từ Cha của Người. Nếu hiểu giới răn chính là lời của Chúa là đúng, thật hợp lý để nói Thần Chân lý được sai đến để nhắc nhở những điều các môn đệ đã nghe từ Chúa Giêsu (14:26), dẫn họ vào trong sự thật (16:13), và để thánh hoá họ trong đó (17:17), nghĩa là tuân giữ các giới răn của Người.
Điều kiện cần thiết “yêu thương và tuân giữ các giới răn” kéo theo những hệ luận là được ban Đấng Phù Trợ và Chúa Giêsu lại đến, được thấy và nhận biết Đấng Phù Trợ và Chúa Giêsu, và được ở với.
Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha ban Đấng Phù Trợ cho các môn đệ. Việc nầy trở nên một bằng chứng cho việc Người kêu gọi các môn đệ cầu xin “nhân danh” Người, như một bảo đảm để được nhậm lời (14:13-14; 15:16). Việc ban Đấng Phù Trợ “nhân danh của Tôi” được nói cách rõ ràng trong câu 14:26. Động từ erōtaō, “nài xin” được dùng riêng cho Chúa Giêsu, chỉ hành vi cầu xin cùng Chúa Cha (14:16; 16:26; 17:9.15.20). Tuy nhiên, những chỗ khác trong tin mừng Gioan nói là Chúa Giêsu sẽ sai Thánh Thần đến khi Người ra đi (15:26; 16:7), hoặc ban Thánh Thần (20:22). Làm sao có thể hiểu một đàng Người cầu xin Chúa Cha ban Thánh Thần xuống; đàng khác, chính Người ban Thánh Thần? Có thể giải thích như sau: trong nhân tính Chúa Giêsu cầu xin với Chúa Cha ban Đấng Phù Trợ;  trong thiên tính, Chúa Giêsu cùng với Chúa Cha ban Đấng Phù Trợ (x. Cirillo di Alexandria và  Theodore di Mopsuestia).
Paraklētos, do động từ parakaleō, nghĩa là “người được gọi đến bên cạnh mình”, đặc biệt được gọi đến để trợ giúp. Việc trợ giúp nầy mang nhiều ý nghĩa: - Người bàu chữa cho ai đó trước mặt quan toà, người trợ lý luật pháp, người biện hộ, luật sư; - Người nói giùm, người can thiệp giúp; - Theo nghĩa rộng hơn là người trợ giúp, người giúp đỡ. Chữ paraklētos chỉ xuất hiện trong các sách viết của Gioan. Tính từ trong “một Đấng Phù Trợ khác” gây chú ý, và phải hiểu ngay Đấng ấy không phải là Chúa Giêsu. Trong 1 Gio 2:1, Chúa Giêsu được gọi là paraklētos. Với tư cách là người Công Chính đã được vinh hiển, Chúa Giêsu đóng vai trò người biện hộ cho các tội nhân trước mặt Chúa Cha; nên có thể gọi Người là Đấng Bàu Chữa. Trong khi đó, allos paraklētos được xác định ngay là “Thần Chân Lý” đầu câu kế tiếp (c. 17). Vai trò của Thần Chân lý là “ở với” (c. 17), “nhắc nhở” những gì Chúa đã nói (14:26), “dẫn vào sự thật” (16:13), “thánh hoá các môn đệ trong sự thật” (17:17), và “làm chứng cho Chúa Giêsu” (15:26). Dựa vào các hoạt động nầy có thể gọi allos paraklētos là “Đấng Phù Trợ khác”.
Câu 17 nói về hai tình trạng đối nghịch liên quan đến Thần Chân lý giữa thế gian và các môn đệ: Thần Chân lý thế gian không đón nhận, không thấy, không biết - các môn đệ biết, Thần Chân lý lưu lại và ở trong các ông. Thế gian không đón nhận nên không thấy và không nhận biết. Ngược lại, các môn đệ đón nhận nên Người lưu lại và họ nhận biết Người. Thế gian không thấy Thần Chân lý (c. 17), cũng không thấy Chúa Giêsu (c. 19); trong khi các môn đệ thấy Chúa Giêsu (c. 19) và Gioan không nói đến việc các môn đệ thấy Thần Chân lý. “Thấy” trong Gioan không chỉ là một hành vi cụ thể của thị giác, bắt gặp một đối tượng hữu hình bên ngoài. Hành vi “thấy”, theōreō, thường chỉ sự bắt gặp một thực tại của Thiên Chúa bên kia điều thấy trước mắt; do đó hành vi “thấy” thường dẫn đến hành vi “tin” (6:40; 20:8). Dân chúng nhìn thấy những dấu lạ và tin vào Chúa Giêsu (2:23); người phụ nữ gọi Chúa Giêsu là một ngôn sứ (4:19); nhìn Chúa Giêsu và thấy Đấng sai Người đến (12:45).
Sở dĩ Gioan nói rằng thế gian không “thấy” Chúa Giêsu, vì họ không nhận ra Người là Con Thiên Chúa và không tin vào Người. Các môn đệ thì thấy và tin vào Người. “Không thấy” Chúa Giêsu kéo theo hệ quả là không thấy Thần Chân lý và không nhận biết Người, vì Thần Chân lý gắn liền với bản thân Chúa Giêsu - Sự Thật (14:6) và với lời của Người. Cả hai con người Chúa Giêsu và lời của Người đã làm người, nghĩa là nên hữu hình để được thấy và tin vào.
Đón nhận Thần Chân lý là để Người ở với và dẫn mình vào các giới răn/lời của Chúa Giêsu. Qua đó, người ấy sẽ nhận biết Chúa Giêsu, yêu mến Người và có sự sống của Người. Trên hết là họ sẽ được quyền làm con Thiên Chúa (1:12) và được Thiên Chúa yêu thương (14:21).
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

PS6-A90: CHỨNG TỪ HI VỌNG

Chúa Nhật 6A Phục sinh
 

Hơn lúc nào thế giới cần đến niềm hi vọng.   Nhưng ai có thể đem lại niềm hi vọng cho nhân loại ? : PS6-A90

Hơn lúc nào thế giới cần đến niềm hi vọng.   Nhưng ai có thể đem lại niềm hi vọng cho nhân loại ?  Câu trả lời sẽ được tìm thấy trong lời Chúa hôm nay.
TẠI SAO HI VỌNG ?
Giữa những bấp bênh của cuộc sống hôm nay, con người trải qua nhiều nỗi thất vọng khác nhau.  Càng thất vọng, con người càng không tìm được lẽ sống và không biết bám víu vào đâu.   Hôm nay, Đức Giêsu mạc khải lẽ sống chính là sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa trong tâm hồn tín hữu.   Đó là câu “trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hi vọng của anh em.” (1 Pr 3:15)    Rất huyền nhiệm và rất xác thực !
Thật vậy, sở dĩ thế gian đầy dẫy những con người thất vọng vì không có con đường giải thoát.   Khắp nơi tràn ngập những gian trá, lừa đảo.  Thế gian : gian là thế !   Chính vì thế, “Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người.” (Ga 14:17)   Thế gian sống trong ảo vọng.  Không thể tìm thấy niềm hi vọng trong những mớ ảo vọng đó.  
Trái lại, niềm hi vọng của người Kitô hữu vững chắc như chính Thần Khí sự thật.   Niềm hi vọng đó vô cùng lớn lao, “vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.” (Ga 14:17)  Người luôn hiện diện giữa cộng đoàn và trong tâm hồn các tín hữu để bảo vệ họ khỏi nanh vuốt Satan là cha mọi sự dối trá.  Bè lũ chúng đang âm mưu kéo sập các cộng đoàn Dân Chúa và cô lập hóa các Kitô hữu.
Nhưng Đức Giêsu đã hứa : “Thầy sẽ không để anh em mồ côi.” (Ga 14:18)     Cho dù kéo bè kéo cánh, kẻ thù vẫn không thể áp đảo các Kitô hữu.   Dù bị hất hủi hay phản đối, họ vẫn không cô đơn, vì niềm tin đã khơi lên niềm hi vọng lớn lao trong tâm hồn và cuộc đời họ.   Chính những lúc đau khổ và trống vắng nhất là những lúc họ đầy ắp ân sủng. Với nguồn ân sủng lớn lao, “Thầy sẽ đến cùng anh em” (Ga 14:18) để đối phó kịp thời với những âm mưu đen tối.   Chính tình yêu đã thúc đẩy bước chân Người đến với chúng ta.   
Chính con mắt đức tin làm cho “anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em sẽ sống” (Ga 14:19) với tất cả niềm vui và tràn đầy hi vọng.   Người môn đệ không thể thể sống mà không có Thầy.   Sự sống Thầy bảo đảm cho tín hữu không phải rơi vào hố diệt vong.   Ai có thể cất mạng sống Thầy ?   Ai có thể thể tách lìa họ khỏi Thầy ?   Còn sống là còn hi vọng.   Đó là lý do tại sao họ vẫn giữ được niềm hi vọng dù phải sống giữa những hoàn cảnh tuyệt vọng.   Các thánh tử đạo là một bằng chứng hùng hồn.  Không một lý do tự nhiên nào có thể giải thích nổi những hành vi gan dạ đó.    Không phải nhờ ý chí vững mạnh hơn người.   Cũng không phải vì cuồng tín.   Trái lại, từ cảm nghiệm sâu xa của niềm tin, “anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.” (Ga 14:20)   Thế chân vạc đó đủ bảo đảm cho tín hữu sống vững mạnh giữa những chao đảo trong cuộc sống.  
Lọt vào tương quan ba chiều đó, người tín hữu sẽ vô cùng bình an và hạnh phúc.  Từ nguồn mạch tình yêu đó, “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.” (Ga 14:16)    Như thế, dưới sự phù trợ của Thánh Linh, người tín hữu sẽ lao mình vào cuộc chiến để dành phần thắng cho Nước Chúa.   Đó là lý do tại sao các môn đệ có thể mạnh mẽ “rao giảng Đức Kitô” (Cv 8:5) khắp thế giới, bất chấp mọi hiểm nguy.  
Nhưng làm sao có thể rao giảng “Đức Kitô Giêsu, niềm hi vọng của chúng ta” (1 Tm 1:1), nếu người môn đệ không được mạc khải về Người ?  Làm sao được mạc khải nếu không đi vào tương quan sâu xa với Ba Ngôi ?   Thật vậy, “ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến, Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” (Ga 14:21)   Có cảm nghiệm sâu xa về tình yêu Thiên Chúa như thế, mới có thể rao giảng Tin Mừng của niềm hi vọng cho muôn dân.   Khả năng rao giảng bắt nguồn từ chính nỗ lực liên kết với Thầy trong tình yêu.  Thật vậy, “ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.” (Ga 14:21)  Điều răn là mối giây ràng buộc môn đệ với Thầy chí thánh và là chiếc cầu đến với nhân loại.  Chính “Thầy đã giữ điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người.” (Ga 15:10)  Chính vì thế, “thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khi, Người đã được phục sinh” (1 Pr 3:18) để đem niềm hi vọng cho toàn thể nhân loại và “để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.” (Ga 15:11)  Niềm vui chính là dấu chỉ niềm hi vọng tràn ngập tâm hồn.   Đó là lý do tại sao người môn đệ có thể đặt hết niềm tin tưởng và tình yêu nơi Đức Giêsu Kitô.   Quả thực, “lòng tin và lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên trời, niềm trông cậy anh em đã được nghe loan báo khi lời chân lý là Tin Mừng đến với anh em” (Cl 1:5-6a) như một sức mạnh giải thoát. 
NIỀM HI VỌNG HÔM NAY.
Nhân loại đang cần sức mạnh giải thoát đó, vì cơn thất vọng đã tràn ngập khắp nơi.   Giáo Hội cũng có trách nhiệm một phần về cơn thất vọng đó, vì đã tạo ra những gương mù cho nhân loại, nhất là cho giới trẻ.   Việc Giáo Hội xin lỗi nhân loại đã chứng minh trách nhiệm đó.  Vấn đề hôm nay không chỉ dừng lại ở đó.  Nhưng Giáo Hội phải đi xa hơn để đem lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại bù đắp lại những lỗi lầm và mở ra một vận hội mới cho hạnh phúc nhân loại.
Vận hội mới chỉ  đến khi “Giáo Hội hết sức góp phần vào việc làm cho gia đình và lịch sử nhân loại ngày càng nhân bản hơn.”  (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 30/04/02)   Muốn thế, Giáo Hội không thể rời xa niềm tin vào Đức Giêsu như niềm hi vọng duy nhất của nhân loại và địa vị con người.   Quả thực, “rõ ràng vì con người được ban cho một địa vị khác thường, nên không thể giản lược cuộc sống vào những điều kiện xã hội, kinh tế, văn hóa hay chính trị thiếu nhân bản.” (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 30/04/02)    Nhân loại càng lâm vào cơn thất vọng bao nhiêu, Giáo Hội càng cần xác tín sứ mệnh “không những truyền thông sự sống Thiên Chúa cho dân chúng, nhưng một cách nào đó còn chiếu giãi ánh sáng phản chiếu đời sống đó trên toàn thể trái đất.” (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 30/04/02)  Đem lại sự sống đó là trả lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại.
Giáo Hội phải là niềm hi vọng giữa những người mất niêm hi vọng.  Giáo Hội “trở nên tiếng nói của những người không tiếng nói, đồng thời phải cho mọi người thấy rằng nhân phẩm luôn phải ở trung tâm mọi chương trình địa phương, quốc gia và quốc tế.” (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 30/04/02)     Tiếng nói của Giáo Hội phải là tiếng nói của niềm hi vọng, phát xuất từ tâm hồn đầy ắp tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi  và từ “những cộng đoàn Kitô hữu đang sống tình liên đới nhân loại cách sâu xa và chân thành, giàu tính hiệp thông và tình bằng hữu.” (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 30/04/02)    Nhưng “thật đáng tiếc, thay vì nhìn Giáo Hội như một nơi tự nhiên có thể gặp gỡ Đức Kitô, nhiều bạn trẻ thấy Giáo Hội như một thực thể xa lạ, không đáng tin lắm và không có khả năng nói truyện với người thời đại.” (Hội Nghị các giám mục Aâu Châu : Zenit 30/04/02)   Muốn cải tiến, Giáo Hội phải gấp rút “coi các bạn trẻ Kitô hữu không phải chỉ như một lãnh vực hay đối tượng đặc biệt của mục vụ, nhưng phải được nhìn nhận và đón nhận như một hồng ân Đức Kitô ban cho Giáo Hội trong tất cả các sứ mệnh đang thực hiện.” (Hội Nghị các giám mục Aâu Châu : Zenit 30/04/02)
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

PS6-A91: SỨC MẠNH CỦA CHÚA THÁNH THẦN

CHÚA NHẬT THỨ VI PHỤC SINH, năm A
Ga 14, 15-21
 

Công việc cứu thế của Chúa Giêsu không chấm dứt khi Ngài về trời nhưng Chúa muốn công việc: PS6-A91

Công việc cứu thế của Chúa Giêsu không chấm dứt khi Ngài về trời nhưng Chúa muốn công việc ấy luôn có những người tiếp nối,do đó,trong bữa ăn sau hết, Chúa đã hứa với các môn đệ một lời rất quan trọng:” Ta sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các ngươi một Đấng Bàu Chữa khác, để Người ở với các ngươi luôn mãi, Thần Khí sự thật “. Chúa Giêsu biết rõ các môn đệ sẽ rao giảng Tin Mừng sau khi Ngài rời khỏi thế gian này, các môn đệ sẽ rao giảng Tin Mừng của Chúa nơi Giáo Hội và, Người biết các môn đệ cũng như Giáo Hội luôn cần đến sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
CHÚA GIÊSU KHÍCH LỆ VÀ CĂN DẶN CÁC TÔNG ĐỒ VỀ CHÚA THÁNH THẦN : “ Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng”.Điều này đã xẩy ra thực sự khi Chúa Phục Sinh về trời và đúng mười ngày sau đó, các tông đồ đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Các tông đồ đã thay đổi hoàn toàn vào ngày lễ Ngũ Tuần, bởi vì trước kia các ông kém hiểu biết, lờ mờ,ham danh, cầu lợi, tranh dành địa vị. Chúa Thánh Thần đã biến đổi các ông trở thành những chứng nhân hiên ngang, can trường, không hề sợ nguy hiểm ngay đến cả mạng sống của mình các ông cũng coi thường. Các tông đồ đã hăng say ra đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng và chinh phục mọi người cho Hội Thánh. Chúa Thánh Thần đã dạy cho các môn đệ biết tất cả sự thật. Các ông đã hiểu được mầu nhiệm Đức Giêsu, tức là hiểu giáo huấn, các việc làm, các phép lạ, sự nghiệp và chính bản thân của Chúa Giêsu. Các tông đồ đã hiểu về nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã từng giới thiệu khi Chúa còn sống giữa họ, rồi các 
Ông hiểu con đường Chúa đã vạch ra,về sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Ngài. Chúa Thánh Thần làm cho các tông đồ hiểu được những lời Cựu Ước tiên báo về Đấng Cứu Thế, nhận ra chính Chúa Giêsu đã thực hiện ý của Thiên Chúa Cha, nhờ đó việc cứu thế được thực hiện, hoàn thành nơi Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần làm cho các tông đồ hiểu Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa làm người:”Ngài là đường, là sự thật, la sự sống của nhân loại, của mỗi người”  Chúa Thánh Thần giúp cho các tông đồ hiểu sâu xa, hiểu rõ ràng những điều trước đây các Ngài chưa hiểu hay còn hiểu một cách thật lờ mờ, u tối vv…Rồi, Chúa Thánh Thần tạo nên trong tâm trí các tông đồ một xác tín mới, xác tín sâu xa, thẩm sâu, khiến không những các Ngài tin mà còn khuyến khích, thuyết phục, thúc giục nhiềi người tin vào Chúa Phục Sinh.
TỪ MỘT NHÓM NHỎ, HỘI THÁNH CÓ MẶT KHẮP NƠI : Từ nhóm nhỏ tức nhóm 12 và các tông đồ đi theo nhóm 12, đã tiếp tục sứ mạng cứu độ của Chúa Giêsu. Danh Chúa được vang lên khắp mọi nơi khiến Giáo Hội đâu đâu cũng có mặt,. Bởi vì nơi đâu có người công giáo nơi đó Hội Thánh Chúa hiện diện và nơi đó chính các người Kitô hữu là chứng nhân cho Chúa Phục Sinh. Giáo Hội khởi đầu lan tràn từ Giêrusalem ra khắp vùng Galilêa và Samaria và cho đến tận cùng thế giới. Đúng như lời Đức Giêsu nói :” Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”( Mt 28, 19-20 ). Hội Thánh Chúa ngày nay đã có mặt khắp thế giới và đâu đâu cũng có những người làm chứng cho Tin Mừng cứu độ, giới thiệu Đức Giêsu Kitô. Chính Chúa Thánh Thần qua sức mạnh, qua tác động của Người đã làm nên công việc kỳ diệu này. Tông đồ Philipphê đã rao giảng Tin Mừng đầu tiên ở Samaria, Ngài đã rửa tội cho nhiều người, Hội Thánh Chúa có mặt ngay vùng đất dân ngoại này đến nỗi khi thánh Phêrô và Gioan đến Samaria, các Ngài thấy những người này đã hiệp thông đầy đủ với Giáo Hội công giáo, nên hai Ngài đã cầu nguyện cho họ và đặt tay trên họ để họ được nhận lãnh Chúa Thánh Thần.
ĐỐI VỚI MỌI NGƯỜI CHÚNG TA HÔM NAY : Qua bí tích rửa tội, đặc biệt qua bí tích thêm sức, chúng ta được lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần do lời cầu nguyện, đặt tay và xức dầu Chrisma, chúng ta lãnh nhận sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Nhờ bí tích thêm sức chúng ta trở thành những người Kitô hữu năng nổ, đầy sức mạnh của Chúa Thánh Thần hầu làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Trong cuộc lữ hành trần thế, hành trình đức tin, chúng ta luôn cần đến sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần không hiện diện, không có mặt như Chúa đã có mặt giữa các tông đồ. Chúa Thánh Thần ở trong tâm hồn chúng ta, để Ngài thực hiện nơi chúng ta những gì ngài đã thực hiện nơi các tông đồ xưa. Chúa Thánh Thần soi sáng trí lòng, sưởi ấm tâm hồn, thúc giục con người, thúc giục chúng ta làm điều lành, tránh điều xấu, tránh điều dữ. Chúa Thánh Thần luôn ở với con người như hình với bóng. Do đó, khi gặp điều gì khó khăn, éo le, khó xử, lo âu, sợ hãi, xao xuyến, chúng ta hãy mau mắn cầu khẩn Chúa Thánh Thần để xin Người giúp chúng ta hoàn thành công việc của mình theo ý của Chúa. Thánh Phêrô trong bài đọc 2 hôm nay cảnh báo mọi người rằng:” Hãy sẵn sàng trả lời cho mọi người, làm chứng đức tin cho mọi người biết chúng ta là người Kitô hữu qua cung cách chúng ta sống đích thực là người công giáo, cung cách chúng ta tôn thờ Đức Kitô. Sức mạnh của Chúa Thánh Thần vô hình không sao thấy được, sức mạnh ấy như dòng điện ta không thấy nhưng khi dòng điện được dây điện dẫn tới bóng làm cho bóng điện rực sáng lên.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban lòng tin cho chúng con để chúng con luôn yêu mến Chúa Thánh Thần và luôn cần đến sự trợ giúp và sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
 

PS6-A92: Chúa Nhật VI Phục Sinh

 Phụng vụ Lời Chúa tuần trước đã mở đầu phần suy niệm về Mầu nhiệm Giáo Hội, với Chúa Giê-su: PS6-A92

          Phụng vụ Lời Chúa tuần trước đã mở đầu phần suy niệm về Mầu nhiệm Giáo Hội, với Chúa Giê-su là đường dẫn ta về Nhà Cha và ta hết thảy là những viên đá sống động Chúa dùng đ xây dựng Giáo HộiLời Chúa hôm nay giới thiệu cho ta biết Chúa Thánh Thần là linh hồn của Giáo Hội, là sự sống và tình yêu kết hợp Chúa Giê-su với Chúa Cha, kết hợp ta với Chúa Giê-su và trong Chúa Giê-su ta được kết hợp với Thiên Chúa.
1.  Thánh Thần, sức sống truyền giáo của Giáo Hội (bài trích sách Công vụ Tông ĐCv 8:5-8.14-17)
          Sau khi lãnh nhận Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ tuần, từ Giê-ru-sa-lem các Tông đ lao mình vào công cuộc rao giảng Tin MừngBắt đầu tại Giê-ru-sa-lem, bài giảng của ông Phê-rô đã lôi cuốn ba ngàn người trở lại và xin chịu phép rửa.  Đạo Chúa phát triển mạnh mẽ, nhưng bách hại cũng bắt đầu và các Ki-tô hữu bị loại ra khỏi những sinh hoạt tại Đền Thờ và hội đường (Ga 16:2).  Họ xa khỏi những vùng bị bách hại và đi tới đâu là giúp đạo Chúa lan tràn tới đó.  Các Tông đ cũng mỗi người một ngả, đem Tin Mừng đến cho những người ngoài Do-tháiTông đ Phi-líp-phê tới miền Sa-ma-ri rao giảng Tin Mừng.
          Sa-ma-ri bị coi như phần đất dân ngoại và dân Do-thái khinh miệt người dân Sa-ma-riNhưng Thánh Thần đã dẫn đưa ông Phi-líp-phê đến đây đ đem Tin Mừng xóa bỏ ranh giới ngăn cách giữa người Do-thái và Sa-ma-ri.  Ơn cứu đ của Thiên Chúa không phân biệt chủng tộc hoặc giai cấpBất cứ ai đón nhận Tin Mừng và được lãnh phép rửa thì đều trở nên con cái Chúa, làm môn đ Đức Ki-tô.  Thánh Thần không chỉ tác động trên những vị rao giảng Tin Mừng, nhưng còn thay đổi cả những người đón nhận Tin Mừng nữa.  “Thật thế, tất cả chúng ta, là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí đ trở nên một thân thểTất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12:13).  Dân một thành tại Sa-ma-ri đã được nghe ông Phi-líp-phê giảng, được chứng kiến những phép lạ chữa lành và được rửa tộiNhững điều này đã làm thay đổi bộ mặt của thành phố và dân chúngThánh sử Lu-ca tóm tắt tình huống ấy trong một câu:  “Trong thành, người ta rất vui mừng”.  Vui mừng vì giờ đây mọi người là anh chị em chung một niềm tin vào Đức Ki-tô và cùng nhận ra nhân phẩm của nhau cũng như ơn cứu đ Chúa ban choQuả thực vai trò của Thánh Thần là canh tân bộ mặt trái đất!
          Một điều hiển nhiên nữa về hoạt động của Thánh Thần, là Người liên kết mọi hoạt động truyền giáo của Giáo HộiSau khi nghe biết hoạt động rao giảng Tin Mừng của ông Phi-líp-phê, từ Giê-ru-sa-lem, ông Phê-rô và Gio-an đã xuống Sa-ma-ri gặp gỡ các tín hữu, cầu nguyện và đặt tay đ Thánh Thần xuống trên họThánh Thần đã kết nối việc truyền giáo tại Sa-ma-ri với Giáo Hội mẹ tại Giê-ru-sa-lem và củng cố tính duy nhất của Giáo Hội toàn cầu.   
2.  Thánh Thần liên kết Chúa Giê-su và mọi Ki-tô hữu với nhau (bài Tin MừngGa 14:15-21)
          Giáo Hội không chỉ là những tòa nhà và thánh đường lớn nhỏ bên Rô-ma hoặc khắp nơi trên thế giới, nhưng chủ yếu là sức sống và sự liên kết giữa Chúa Giê-su với các phần tử trong Giáo Hội, như Đầu liên kết với các chi thểTrong cuộc đàm thoại bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su đã nói về sức sống và sự liên kết này của Giáo Hội.
          Trước hết Chúa Giê-su cảm thấy bịn rịn và quyến luyến với các môn đ hơn lúc nào hết, vì sắp sửa đến lúc phải xa nhauBao nhiêu kỷ niệm chia sẻ với nhau trên đường truyền giáo, những vui buồn khi được người ta tiếp nhận cũng như lúc bị chối từ, những giáo lý mới mẻ về Thiên Chúa và Nước Trời qua những dụ ngôn dễ hiểu, tình thầy trò khắng khít và những bài học về cầu nguyện, về yêu thương và tha thứ…  Làm sao tiếp tục duy trì mối quan hệ giữa Chúa Giê-su và các môn đLàm sao Chúa Giê-su không đ cho các môn đ phải sống cảnhmồ côi”?    Đó chính là vai trò của Chúa Thánh Thần. Thân xác Chúa Giê-su ra đi, nhưng tâm hồn và tinh thần Người lại với các môn đNgười xin Chúa Cha thực hiện việc lạinày bằng cáchsẽ ban cho họ một Đấng Bảo Trợ khác đến với họ luôn mãi”.  Đấng Bảo Trợ ấy là Chúa Thánh Thần.
          lại với nhau trong thân xác là điều quan trọng, vì xa mặt có thể cách lòngNhưng quan trọng hơn vẫn là lại với nhau trong tâm hồn, vì có khi bên nhau nhưng lòng lại rất xa nhauGiờ đây Chúa Giê-su nhấn mạnh đến việc lại trong cõi lòng, trong tinh thần, tức là bản chất của Giáo HộiCõi lòng của Chúa Giê-su chính là “Thần Khí sự thật”, một cõi lòng bị thế gian chối từ.  “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1:11).  Trái lại, các môn đ đã đón nhận cõi lòng yêu thương của Chúa Giê-su, họ đã mặc lấy tinh thần hoặc Thần Khí của Người, đã tập sống theo tinh thần điều răn mới về yêu thương của NgườiDo đó, tuy Người không có mặt thể xác, nhưng sự hiện diện tinh thần của Người lại càng rõ ràng hơn nếu các môn đ biết sống yêu thương (Ga 13:35).  Vậy trong thời gian chờ đợi Chúa Giê-su lại đến trong ngày cánh chung, các môn đ càng phải làm cho mọi người nhận ra được sự hiện diện của Người giữa họ qua việc họ sống các điều răn của Người.
          Sau khi nói về sự hiện diện bằng Thần Khí của Người trong các môn đ trên trần gian, Chúa Giê-su chỉ cho họ tương lai “được sốngvĩnh viễn với nhauNgày ấy, “anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng được sống”.  Cuộc hành trình sống những điều răn của Chúa Giê-su và theo tinh thần của Người sẽ đưa ta tới đích điểm cuộc đời, tức là khi nhận ra đượcThầy trong Cha Thầy, anh em trong Thầy, và Thầy trong anh em”.  Tất cả được trongnhau là nhờ Thánh Thần, Tình Yêu liên kết Chúa Cha, Chúa Giê-su và các môn đ của Chúa Giê-su.
3.  “Đức Ki-tô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em(bài Thánh Thư – 1 Pr 3:15-18)
          Khi ta được rửa tội là ta tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi và hứa từ bỏ tinh thần của ma quỷ thế gian đ sống theo tinh thần của ChúaTuy nhiên, vì hậu quả của tội nguyên tổ, ta vẫn bị lôi kéo giữa hai thứ tinh thầntinh thần của Chúa và tinh thần của ma quỷ tội lỗiMà tinh thần của ma quỷ xem ra lại dữ dằn, “vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8).  Đứng trước nguy hiểm ấy, thánh Phê-rô khuyên tahãy tôn Đức Ki-tô làm Chúa ngự trị trong lòng ta”.  Tôn Đức Ki-tô làm Chúa ngự trị lòng ta có nghĩa là ta hãy đ cho Thần Khí của Người đ xuống đầy ắp tâm hồn ta, đ Thần Khí ấy dẫn dắt ta như đã dẫn dắt Chúa Giê-su và các Tông đ trên đường truyền giáoTa hãy đ cho Thánh Thần luôn ngự trong ta, đ Người giúp ta chống lại sức lôi cuốn của tà thần ma quỷ, giúp tasống tiết đ và tỉnh thứctrước tấn công của ma quỷThánh Phê-rô cũng chỉ vẽ cho ta sống thế nào đ suy tôn Đức Ki-tô là ChúaTrước hết là ta phảisẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của ta”.  Người chung quanh sẽ hỏi tabạn hy vọng điều gì?  Ta sẽ trả lờichúng tôi hy vọng Chúa sẽ quang lâm, sẽ trở lại đ đưa mọi kẻ thuộc về Người về Nhà ChaTuy nhiên không phải là câu trả lời thuộc lòng và lý thuyết, mà phải là câu trả lời biểu lộ qua những việc làmNhững việc làm là “ăn ngay lành trong Đức Ki-tô, giữ lương tâm ngay thẳng, thà chịu khổ vì làm việc lành hơn là vì làm điều ác”.  Đúng là sống theo tinh thần của Chúa Ki-tô, vì khi sống tại thế, Người là mẫu gương ăn ngay lành, lương tâm ngay thẳng và chịu khổ chết nhục vì phần rỗi của taMuốn suy tôn Người, ta hãy đ cho tinh thần Người sống động trong ta và nói theo thánh Phao-lô, “với tôi, sống là Đức Ki-tô” (Pl 1:21).  Chúa Ki-tô đã sống như “Đấng Thánh”, vì Người tràn đầy Thần Khí của Thiên ChúaCũng vậy, ta sẽ là những “đấng thánhnếu ta sống theo lời dạy của Chúa Giê-su và có Ba Ngôi Thiên Chúa lạivới ta.
4.  Sống Lời Chúa
          Thánh Thần mà Chúa Cha sai đến đ lại với ta sẽ tiếp nối công việc của Chúa Giê-su đã khởi sự trên trần gianGiáo Hội là bí tích được thiết lập với linh hồn cũng như sức sống là Chúa Thánh Thần, đ giúp cho kế hoạch cứu đ của Thiên Chúa được tiếp tụcTin Mừng của Chúa Giê-su và cái chết của Người đã cho ta căn tính làm con cái Chúa, nhưng Thánh Thần sẽ hướng dẫn ta sống thế nào cho đúng danh nghĩa ấyKhi ta sống đời sống mới trong Thần Khí Chúa Ki-tô là ta biểu lộ được việc lạicủa Ba Ngôi trong ta, cho người khác thấy được sức sống của các chi thể Giáo Hội, đồng thời tham dự vào việc truyền giáo mà Thánh Thần đang thúc giục nơi ta.
Suy nghĩ:  Thánh Phê-rô khuyên ta hãy tôn Đức Ki-tô làm Chúa ngự trị trong tâm hồn taAi hoặc điều gì đang chiếm ngự tâm hồn tôi lúc nàyTiền bạc, danh vọng, đam mê?  Tôi có đ cho tình yêu của Chúa và Lời Người biến đổi con người tôi từ tư tưởng tới hành động không?
Cầu nguyệnLạy Thiên Chúa toàn năng, trong những ngày vui này, xin cho tất cả chúng con biết đem lòng sốt sắng mừng Đức Ki-tô phục sinh, đ Người hiện diện trong cuộc đời chúng con và làm cho chúng con được đổi mớiNgười là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đờiA-men(Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật VI Phục Sinh)  
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

PS6-A93: Chúa Nhật thứ 6 Phục Sinh

(1-5-2005)
Dù đã lên trời, nhưng Đức Giêsu vẫn ở với chúng ta
ĐỌC LỜI CHÚA
·   Cv 8,5-8.14-17:  (15) Hai ông (Phêrô và Gioan) cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần. (17) Hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.
·   1 Pr 3,15-18: (15) Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em.
 ·   TIN MỪNG : Ga 14,15-21
Đức Giêsu hứa Đấng Bảo Trợ khác
(Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ:) (15) «Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. (16) Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. (17) Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. (18) Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. (19) Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. (20) Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. (21) Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý :
 

Đấng Bảo Trợ mà Đức Giêsu hứa sẽ đến sau khi Ngài về trời là ai? Có phải là một ai đó khác với Ngài : PS6-A93

1.   Đấng Bảo Trợ mà Đức Giêsu hứa sẽ đến sau khi Ngài về trời là ai? Có phải là một ai đó khác với Ngài không? Hay vẫn là chính Ngài nhưng trong một cách hiện hữu khác?
2.   Bạn hiểu những câu sau đây của Đức Giêsu thế nào: «Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế» (Mt 28,20); «Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em» (Ga 14,18); «Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em» (Ga 14,20)?
3.   Bạn có thật sự tin và hành động đúng như mình tin về sự hiện diện của Đức Giêsu ở trong bạn không? Bạn có cảm nghiệm được sự hiện diện ấy không?
Suy tư gợi ý :
1. Đấng Bảo Trợ mà Đức Giêsu hứa
Đã đến lúc Đức Giêsu phải từ giã các môn đệ để về với Chúa Cha, vì sứ mạng hiện diện cách hữu hình ở trần gian của Ngài đã hết. Ngài ra đi thì lợi cho các môn đệ và con người hơn ở lại. Ngài nói: «Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em» (Ga 16,7). Thật vậy, nếu Đức Giêsu ở lại trần gian cách hữu hình, thì sự hiện diện của Ngài sẽ chẳng khác gì sự hiện diện của một vị giáo hoàng hay một vị vua ở tận đâu đâu, nên số người gặp được Ngài chỉ là một tỷ lệ vô cùng nhỏ so với cả nhân loại. Như thế, Ngài không thể trực tiếp tiếp xúc với mọi người và từng người để phục vụ, cứu giúp, ban ơn, thêm sự sống và sức mạnh cho họ. Vì thế, để mỗi người có thể tiếp xúc với Ngài dễ dàng và nhanh chóng, trong bao lâu và thường xuyên tới đâu cũng được, Ngài đã quyết định ở lại với con người một cách vô hình, bằng Thần Khí của Ngài là Thánh Thần, ở ngay trong tâm hồn mỗi người. Bằng cách này, Ngài tuy vô hình nhưng luôn thật sự hiện diện cách sống động trong tâm hồn mỗi người. Và ai cũng có thể gặp được Ngài trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kỳ ở đâu, vào giờ nào. Đúng như Ngài nói: «Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế» (Mt 28,20).
Đấng Bảo Trợ mà Ngài hứa sẽ đến chính là Thánh Thần. Và Thánh Thần chính là sự sống, là sự hiện diện vô hình của Thiên Chúa, của Đức Giêsu trong tâm hồn mỗi người. Chỉ cần ý thức Ngài đang hiện diện tuy vô hình nhưng thật sự trong bản thân ta, là ta có thể nói với Ngài bất kỳ điều gì. Và nếu ta lắng nghe Ngài, ta cũng sẽ thấy Ngài nói với ta. Thông thường, khi cầu nguyện, ta chỉ nói chứ không mấy khi lắng nghe, chỉ quan tâm xin xỏ chứ không hề quan tâm đến những gì Ngài muốn ta thực hiện để điều ta xin hoặc mong muốn thành tựu. Đúng ra, điều tối quan trọng trong đời sống tâm linh là ta phải tập lắng nghe tiếng Ngài nói trong tâm hồn. Chúng ta chỉ có thể cầu nguyện đích thực khi chúng ta biết lắng nghe Ngài nói. Nếu không, cầu nguyện chỉ là độc thoại, thường không đem lại hiệu quả tâm linh bao nhiêu. Vì tất cả những gì ta nói thì Ngài đã biết, thậm chí trước khi ta có ý tưởng để nói. Vậy ta cần nghe Ngài nói hơn là nói với Ngài, và cần hơn rất nhiều.
2. Đừng tìm Thánh Thần hay Thiên Chúa ở bên ngoài ta
Đức Giêsu giới thiệu về Đấng Bảo Trợ: «Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người» (Ga 14,17). Vì là «Thần Khí sự thật», nên muốn thờ phượng và tiếp xúc với Ngài, phải thờ phượng và tiếp xúc «trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24), nghĩa là chủ yếu bằng tâm linh bên trong, chứ không phải chỉ bằng hình thức bên ngoài. Những gì xuất phát từ bên trong, vì dồi dào mới tràn ra thành hình thức bên ngoài, thì đó mới chính là sự thật. Nếu một điều gì không có ở bên trong mà vẫn có hình thức bên ngoài, hoặc hình thức bên ngoài không phù hợp với những gì có bên trong, thì đó là giả dối. Một người thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối sẽ chẳng nhận được sức mạnh đích thực từ nơi ngài. Khi chúng ta quá đặt nặng hình thức bên ngoài thì điều đó chứng tỏ ta thiếu cái cốt yếu bên trong. Nghĩa là ta không nhận ra và đón nhận được «Thần Khí sự thật», vì cũng như thế gian, ta «không thấy và cũng chẳng biết Người». Tại sao ta không thấy và không biết Ngài? Vì ta quá chú tâm vào những nghi thức tôn giáo bên ngoài, mà không quan tâm gì đến sự hiện diện của Ngài trong chính bản thân ta. Ta cứ mải tìm Ngài ở bên ngoài ta, nên ta không thấy. Cũng như thánh Âu-Tinh xưa đã than: «Lạy Chúa, con đã hoài công tìm Chúa ở bên ngoài con, đang khi Chúa lại ở ngay trong con». Thật vậy, ta thường tìm Thiên Chúa ở đâu đâu bên ngoài ta, đang khi chính Đức Giêsu xác nhận: «Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em» (Ga 14,17). Thánh Phaolô cũng quả quyết: «Anh em không biết thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Thánh Thần đang ngự trong anh em chính là Thánh Thần mà Thiên Chúa đã ban cho anh em» (1Cr 6,19; x. 1Cr 3,17; 2Cr 6,16).
Thiên Chúa muốn trực tiếp tiếp xúc và ban ơn, ban sức cho ta, nên Ngài đã phải chọn hiện hữu bằng Thánh Thần của Ngài ở ngay bản thân ta. Nhưng ta lại tìm Ngài ở bên ngoài, và cầu cạnh ơn của Ngài qua trung gian người này người nọ, chứ không trực tiếp tiếp xúc với Ngài, trực tiếp nhận ơn và sức mạnh của Ngài ngay trong chính bản thân ta. Ngài nói: «Thầy sẽ không để anh em mồ côi» (Ga 14,18), và muốn thật gần gũi với ta: «Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em» (Ga 14,20). Nhưng ta sống y như thể Ngài để ta mồ côi, nên cứ phải cậy dựa vào người khác chứ không phải vào Ngài, và hành xử như thể Ngài ở tận đâu đâu, hoàn toàn ở bên ngoài bản thân ta. Không ai gần gũi với ta hơn chính ta, ngoại trừ Thiên Chúa. Thánh Âu-Tinh nói: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn cả chính bản thân tôi (thân mật với tôi)» (Deus intimior intimo meo). Chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ lại muốn ta phải tiếp xúc và nhận của ơn Ngài qua trung gian một ai, khi mà chính Ngài đang ở ngay trong bản thân ta, và ta cũng đã biết Ngài đang ở trong ta.
3. Thái độ cần có đối với Thánh Thần hay Thiên Chúa
Là người Kitô hữu, đáng lẽ ta phải ngạc nhiên, thậm chí rất ngạc nhiên, khi nhận ra rằng: ta theo Đức Kitô biết bao năm, nhưng ta đã không thánh thiện, không được bình an, hạnh phúc, không dồi dào sức mạnh hơn những kẻ không theo Ngài. Một đằng ta xác tín Kitô giáo là đạo thật, rằng ơn Chúa rất mạnh mẽ và hữu hiệu; một đằng ta không thấy mình khá hơn những người ngoài, thế mà ta không hề ngạc nhiên hay đặt vấn đề gì cả! Thái độ không hề ngạc nhiên của ta quả cũng đáng ngạc nhiên! Vì không ngạc nhiên, nên ta thấy không cần thay đổi gì cả. Vậy, cần nghiêm túc đặt lại vấn đề: tại sao ta theo Chúa biết bao năm mà chẳng thay đổi bao nhiêu?
Biết bao năm qua, thái độ của chúng ta đối với Thiên Chúa, cũng như với Đức Giêsu, đó là coi Ngài như một thần tượng để thờ phượng, để tôn sùng, để đề cao, hơn là đối tượng để sống với, để làm bạn, để thân thiết, gần gũi, để yêu mến, để đồng hóa, để lắng nghe, để bắt chước, để vâng theo, để kín múc sức mạnh… Thái độ trước đưa Ngài lên quá cao và quá xa, tách rời Ngài ra khỏi chúng ta. Cao và xa đến nỗi chúng ta không dám trực tiếp gặp Ngài, không thể nhận lãnh trực tiếp ân sủng và sức mạnh từ Ngài, mà cứ luôn luôn phải qua những trung gian này nọ, và phải lệ thuộc vào những trung gian ấy. Ngay cả những trung gian này nhiều khi cũng không trực tiếp gặp và nhận được sức mạnh từ nơi Ngài! Với thái độ như thế đối với Ngài, làm sao ta có tràn đầy sức mạnh, dồi dào ân sủng từ Ngài được?
Đức Giêsu không nói: «Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy thờ phượng và suy tôn Thầy». Nhưng Ngài nói: «Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em hãy giữ các điều răn của Thầy» (Ga 14,15); «Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy» (Ga 14,21). Đương nhiên thờ phượng và suy tôn Thiên Chúa và Đức Giêsu là điều phải lẽ, nhưng không phải là điều chính yếu. Cũng không phải là điều Ngài mong muốn nơi ta: Ngài không vị kỷ và thích được đề cao như tâm lý chung của con người. Điều chính yếu nhất ta phải làm, cũng là điều Ngài mong muốn ta thực hiện, chính là vâng phục Ngài, tuân theo thánh ý Ngài. Đức Giêsu nhấn mạnh đến điều chính yếu này không biết bao nhiêu lần, nhưng ta dường như không thèm để ý: «Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào (Nước Trời) mà thôi» (Mt 7,21); «Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành» (Lc 8,21); v.v… (x. Mt 7,24; Ga 4,34; 5,30b; 6,38; Dt 10,9; Mt 26,39b). Nếu chúng ta quan tâm đến điều chính yếu này, thì đời sống tâm linh của chúng ta đã tiến bộ từ lâu. Và nhất là nếu ta nhận ra Ngài chính là nguồn mạch sự sống, sức mạnh, trí tuệ và tình yêu ở ngay trong bản thân ta, thì ta đã biết cách nhận được mọi sự từ nguồn mạch phong phú ấy. Nhưng dường như ta chỉ biết điều này trên lý thuyết, chứ không hề tìm cách đem ra thử nghiệm, nên chưa hề kinh nghiệm được chân lý này! Đáng tiếc thay!
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Thần Khí của Cha, của Đức Giêsu ở ngay trong bản thân con, nhưng con lại không nhận ra. Con cứ tìm Cha, tìm nguồn sức mạnh, tìm nguồn hạnh phúc ở tận đâu đâu bên ngoài con, nên con chẳng tìm ra. Con giống y như một nhà kia có cả một kho tàng vĩ đại chôn trong nhà mà không biết, nên suốt đời đành cam phận nghèo nàn của một kẻ ăn xin. Xin cho con nhận ra Thần Khí của Cha chính là kho tàng vĩ đại ấy ở trong con. Và cho con biết khai thác kho tàng ấy để sống dồi dào và hạnh phúc.
Joan Nguyễn Chính Kết

 

PS6-A94: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:       1 Phê-rô 3: 15-18
 

Khích lệ tín hữu trong cơn bách hại là mục đích chính của thư 2 Phê-rô gửi cho các giáo hội tại Á-châu: PS6-A94

Khích lệ tín hữu trong cơn bách hại là mục đích chính của thư 2 Phê-rô gửi cho các giáo hội tại Á-châu. Trong phần thứ ba của Thư, thánh Phê-rô nói thẳng đến vấn đề đau khổ do bách hại gây ra và mời gọi tín hữu nhìn lên Ðức Ki-tô, Ðấng đã chịu bách hại, chịu chết và đã sống lại.
          a) Mầu nhiệm sự chết và sống lại của Ðức Ki-tô trả lời cho vấn đề đau khổ.
          Câu trả lời của Ki-tô giáo về đau khổ được tìm gặp nơi con người Ðức Giê-su, vị Thiên Chúa đã "trút bỏ vinh quang" để trở nên người phàm như chúng ta, vâng phục cho đến chết vì chúng ta. Thánh Phê-rô lấy gương Chúa Ki-tô để giải thích đau khổ và khích lệ tín hữu hãy vững tin và sống tốt lành. Với bản chất tự nhiên loài người, khi phải bênh vực niềm tin, chúng ta thường có thái độ hung hăng. Nhưng Phê-rô lại biện chứng cho một phương thức hòa bình. Ngay từ lúc đầu, Ki-tô hữu đã bị những người chung quanh tấn công và bị tố cáo là thực hành những nghi lễ kỳ cục và che đậy. Trong một thế giới đầy pháp thuật và mê tín thời ấy, thật cũng dễ hiểu tại sao niềm tin mới của Ki-tô giáo bị người ta hiểu lầm. Ðể đối phó với những hiểu lầm tai hại này, Phê-rô khuyên tín hữu cứ "hiền hòa và với sự kính trọng, cùng lương tâm ngay thẳng" mà giải thích cho người ta. Những tố cáo có tính cách phỉ báng sẽ tự hóa giải khi những người bị tố cáo vẫn "ăn ở ngay thẳng." Do đó, nếu Chúa muốn tín hữu còn phải chịu đau khổ do bách hại, thì tốt nhất là họ cứ tiếp tục sống tốt lành, chứ đừng vì thế mà bỏ cuộc và sống buông thả. Chính điều này Ðức Ki-tô đã thực hiện trong cuộc sống của Người. Người đã thực hiện được vì Người đã được Thánh Thần ban sức mạnh. Cũng vậy, theo nội dung sách Công Vụ Tông Ðồ và Tin Mừng Gio-an, chúng ta cần được ban sức mạnh của Chúa Thánh Thần và cần được tiếp tục củng cố do sức mạnh ấy để đối phó với đau khổ và bách hại. Không phải tự sức riêng mà chúng ta có thể sống Tin Mừng của Chúa Ki-tô. Nhưng chúng ta hiểu và sống niềm tin vào Chúa Ki-tô, đó là nhờ Thánh Thần đang sống động trong chúng ta.
          b) Tôn vinh Ðức Ki-tô làm Chúa ngự trị trong lòng anh em.
          Tuy nhiên, ý của thánh Phê-rô không phải chỉ là bàn đến những đau khổ tín hữu phải chịu vì bách hại. Nhưng qua việc kiên nhẫn chịu đựng gian truân, ngài muốn đưa chúng ta đi vào những chủ đề nền tảng của mùa Phục Sinh, đó là mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Ðức Ki-tô đối với cuộc sống chúng ta, và sự đối lập giữa những kẻ không tin mầu nhiệm Ki-tô với những người được thánh hiến do bửu huyết Chúa Ki-tô.
          Tâm hồn chúng ta phải được đầy tràn những gì của Ðức Ki-tô. Lòng chúng ta không phải là một nơi chốn thụ động, nhưng là một môi trường tiếp nhận những ảnh hưởng, giá trị và lối sống của chính Ðức Ki-tô. Nói theo từ ngữ của Phao-lô, là "chúng ta hãy mặc lấy Chúa Ki-tô."
          Phương thức lý tưởng nhất để tôn Ðức Ki-tô làm Chúa trong lòng chúng ta, đó là theo gương Người mà sống nhờ Thần Khí. Thánh Thần đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời Ðức Ki-tô như thế nào? Từ đầu tới cuối, Ðức Ki-tô đã để cho Thần Khí Thiên Chúa thúc đẩy, dẫn dắt. Người đã được thụ thai trong lòng Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a là do: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh" (Lc 2:35; xem 1 Pr 3:15). Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Người đã hành động mọi sự dưới sức mạnh và hướng dẫn của Thánh Thần. Cuối cùng, trong giây phút lìa đời, "Người gục đầu xuống và trao Thần Khí" (Ga 19:30), thở vào nhân loại một sinh khí mới để khởi đầu cho một công cuộc tạo dựng mới của Thiên Chúa.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Ðối với những người phê bình chỉ trích tôi vì tôi thực sự sống niềm tin vào Chúa Ki-tô, tôi đã phản ứng như thế nào?
          Tôi đã và đang làm gì để "tôn Ðức Ki-tô làm Chúa" trong lòng tôi?
          Vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời sống của tôi thế nào? Tôi có luôn luôn nhận định thần khí nào của Thiên Chúa và thần khí nào của ma quỷ thúc giục tôi trong mọi công việc và trong mọi quyết định không? Tôi học nhận định thần khí thế nào?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp, hoặc đọc kinh sau đây:
          Lạy Chúa Giê-su phục sinh
          Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa,
xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,
Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ. Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống. Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã. Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu. Vượt qua những khắc khoải của niềm tin. Vượt qua những thành kiến con có về người khác...
Chính vì Chúa đã phục sinh nên con vui sướng và can đảm vượt qua, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng, tin tưởng và niềm vui.
Ước gì ai gặp con cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.
                             (Kinh nguyện trích từ RABBOUNI, lời nguyện 83)
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

 

PS6-A95: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH 2002

Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em" Lời khuyến dụ: PS6-A95

          "Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em" Lời khuyến dụ của Thánh Phêrô dành cho mọi Kitô hữu đang phải đối diện với những thách thức của thời đại luôn luôn có tính hiện sinh trong đời sống những kẻ tin. Mỗi thời đại Kitô giáo là một thời đại khẳng định được sự sẵn sàng câu trả lời chính xác và có hiệu lực cho những vấn đề của thời đại mình. Và chúng ta có lý do để tin tưởng và cám tạ Thiên Chúa, vì trong thực tế Giáo Hội đã luôn hoàn thành sứ vụ đó trong rất nhiều Chứng Nhân Ðức Tin của mình xuyên suốt lịch sử.
          Chúng ta có thể đọc thấy trong chính cái đen tối đang bao trùm một phần quan trọng của Giáo Hội hôm nay một "Dấu Chỉ Thời Ðại" : Con người hôm nay thực sự đang khao khát "Tình Yêu Cứu Ðộ", "Tình Yêu ban Sự Sống". Họ thực sự cảm thấy ghê sợ và kinh tởm tình yêu thụ hưởng và khoái lạc. Ðây là thời điểm thuận lợi để loan báo "Ðấng mà thế gian không thể đón nhận" "Ðấng luôn giữa anh em và ở trong anh em" "Ðó là Thánh Thần chân lý". Con người hôm nay hơn khi nào hết rất tâm đắc với lời dạy của thánh Phêrô "Hãy giữ lương tâm ngay thẳng... ngay thẳng trong Ðức Kitô..." đặc biệt trong lãnh vực Tình Cảm.
          Người môn đệ như trong tường thuật của sách Công Vụ Tông Ðồ là người được ủy thác để "đặt tay" để con người "nhận được Thánh Thần". Chính "Thánh Thần" như lời Ðức Giêsu là Ðấng làm cho người môn đệ cảm nhận và xác tín "Thầy ở trong Cha, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em", nói khác đi, Thánh Thần là tình yêu trong lòng người môn đệ, Tình Yêu ấy chính là dấu chỉ của Triều Ðại Thiên Chúa. Ngay giữa một dân tộc vĩ đại có nhiều truyền thống tôn giáo như Ấn Ðộ, nhưng mọi người đều có thể đọc được dấu chỉ thật rõ ràng nơi một con người nhỏ bé và khiêm hạ như Mẹ Têrêxa thành Calcutta. Người nữ đơn sơ nghèo khó ấy, có trái tim ngập tràn Thánh Thần Yêu Thương đã có thể mở ra chung quanh Người một thế giới tràn ngập hy vọng ngay giữa lòng một thế giới đen tối nhất.
          Những điều lạ lùng mà phó tế Philiphê đã làm được, một cách nào đó, con người hôm nay có thể làm được nhiều hơn thế, làm sững sờ bao con mắt đồng loại, thế nhưng "Thánh Thần Tình yêu" "Thần chân lý" "Thần Sự Sống" thì theo Ðức Giêsu chỉ có "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ ra cho người ấy."Và đó chính là "những môn đệ" chân chính của "Thầy". Người ta thường phàn nàn về tình trạng cô đơn, không việc làm của linh mục trong thế giới công nghiệp hóa, chỉ vì Nhà Thờ trở nên trống rỗng, nhà xứ không ai lai vãng. Thực ra đấy cũng là dấu chỉ cho thấy con người hôm nay đang bị nghiền tán trong giây chuyền máy móc vô cảm và vô tri để khỏi phải phản tỉnh về thân phận thiếu "Tình Yêu, Sự Thật và Sự Sống". Một phản tỉnh như vậy sẽ đe dọa "trật tự thế giới", sẽ châm ngòi "nổ ra những cuộc cách mạng"... Như thế phải nói rằng được làm linh mục "Nhân Chứng của Tình Yêu, của Chân Lý, của Sự Sống" trong thời đại này thật là một Hồng Ân quá nhiều ý nghĩa đáng khát vọng. Làm linh mục thời đại hôm nay đúng là một giá trị mang tính nhân bản tuyệt vời, nếu như người linh mục luôn ghi khắc và hành xử theo mẫu gương các Tông Ðồ, luôn luôn trong mọi sự gắn bó không thể tách lìa với Thánh Thần. (Cv 15,28). Ðúng như Marcô làm chứng trong Tin Mừng của Người "Còn các Tông Ðồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông..."
          Do đó vấn đề sự khủng hoảng trong lối sống của linh mục trong thế giới hôm nay, là sự khủng hoảng về niềm tin vào căn tính của mình. Nó đến từ những lối sống và suy nghĩ quá tự mãn với những thành quả của nền văn minh hiện đại. Người ta không thể hoàn toàn quy kết mọi trách nhiệm cho những cá nhân, mà xã hội vẫn thường kiêu hãnh coi như là con đẻ của tài năng, và của trí tuệ mình. Giữa lòng một xã hội như vậy, để giữ được căn tính linh mục là nhân chứng của Tình Yêu, Chân Lý và Sự Sống thì phải lội ngược giòng. Quả thực nó đòi hỏi một sự can đảm phi thường, và nhất là Nguồn Ân Sủng phong phú biết bao. Những linh mục đã chìm trôi theo giòng thác lũ thực ra chỉ nói lên một sự thật không thể phủ nhận : Tình Yêu, Chân Lý và Sự Sống không thể tìm thấy trong lối sống và suy nghĩ của con người, mà chỉ có thể tìm thấy nơi Con Người Ðức Giêsu Kitô.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

PS6-A96: Con mắt của trái tim

Một ít nữa thế gian sẽ không còn thấy Thầy, phần các con, các con thấy Thầy.
 

Chúng ta cảm thấy dường như có một cái gì mâu thuẫn trong lời tuyên bố của Chúa Giêsu. Cùng  PS6-A96 Luong

Chúng ta cảm thấy dường như có một cái gì mâu thuẫn trong lời tuyên bố của Chúa Giêsu. Cùng một sự hiện diện mà người thì thấy còn kẻ khác lại không thấy. Cùng một Chúa Giêsu, mà có người thì xác tín Người vẫn hiện diện, trong khi kẻ khác lại nói: Người thuộc về dĩ vãng và đã qua rồi. Ngay trong cuộc sống hiện tại, chúng ta cũng có thể bắt gặp những trường hợp tương tự. Chẳng hạn một người đã ra đi hay đã chết, nhưng những kẻ còn lại vẫn cảm thấy người ấy đang còn ở đâu đây, thật gần gũi. Một bà mẹ có thể nhìn thấy đứa con bà mới chôn cất nơi từng sự vật, nơi từng căn phòng, nơi từng lối đi. Vậy thì đâu là nguyên nhân tạo nên cái tình cảm tuy xa mà lại gần như thế?
Tôi xin thưa chính tình yêu thương đã tạo nên cái điều lạ lùng ấy. Giữa những người thân thiết, cái chết nơi thân xác không phải là điều quyết định tạo nên sự chia cách, sự vắng mặt. Cái thấy mà Chúa Giêsu muốn nói ở đây, không còn là cái thấy bằng cặp mắt của thân xác vốn có những giới hạn của nó, mà là cái thấy bằng con tim, bằng yêu thương, bằng cảm thông. Chính vì thế, mà qua đoạn Tin Mừng ngắn ngủi chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu luôn nhắc đi nhắc lại hai chữ yêu mến. Đồng thời hai chữ yêu mến đã trở thành mối quan hệ giữa môn đệ và Thầy mình, cũng như giữa người môn đệ và Thiên Chúa Cha.
Ngoài ra cũng chính tình yêu mến ấy đã đưa tới sự hoà nhập: Các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Chính việc thấy bằng cặp mắt của con tim này sẽ giúp chúng ta thấy được cái ý nghĩa, cái vai trò và mối quan hệ mật thiết giữa sự hiện diện của Chúa Giêsu với cuộc đời của người Kitô hữu, điều mà con mắt của thân xác không thể nào nhìn thấy.
Lòng yêu mến không thể không dẫn tới hành động. Người môn đệ yêu mến Thầy cũng có nghĩa là người môn đệ tuân giữ các giới răn, các lệnh truyền của Thầy. Thế nhưng các giới răn và lệnh truyền của Chúa Giêsu không phải là những giới răn, những lệnh truyền cũ của Cựu Ước, cho dù đã được diễn tả bằng những công thức mới, nhưng là chính con người của Người.
Đúng thế, chính Chúa Giêsu và cuộc sống của Người đã trở thành những khuôn mẫu tuyệt vời nhất cho cuộc sống người tín hữu noi theo và bắt chước. Rất nhiều khi chúng ta chỉ dừng lạ nơi những giới răn và những lệnh truyền. Đồng thời những giới răn và những lệnh truyền cũng thường dừng lại ở những cái tối thiểu. Vì thế, việc sống đạo trở thành một bài toán khô khan và nghèo nàn. Người Kitô hữu đích thực phải sống đạo bằng con tim, bằng tình yêu mến. Bởi vì chính tình yêu mến này sẽ giúp chúng ta nhận ra sự hiện diện thật gần gũi của Chúa Giêsu trong lòng cuộc sống chúng ta.

 

PS6-A97: Giữ lời Chúa truyền

Yêu và được yêu là khát vọng thiết yếu của con người. Một ai đó đã từng nói: "không ai có thể sống PS6-A97

Yêu và được yêu là khát vọng thiết yếu của con người. Một ai đó đã từng nói: "không ai có thể sống mà không yêu". Như thế sống yêu thương là yếu tố hàng đầu và cần thiết của con người. Thầy Giêsu muốn các môn đệ yêu mến Thầy. yêu mến Thầy thì phải giữ Lời Thầy, thực hiện theo ý muốn của Thầy. Mà ý muốn của Thầy là làm theo Đấng đã sai Thầy. Người Kitô hữu được mời gọi giữ Lời Chúa Kitô truyền, thực thi ý muốn của Người.
Thật thế, Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu Kitô là hình ảnh hữu hình của tình yêu ấy. Tình yêu đã thúc bách Đức Giêsu Kitô mang thân phận con người, sống như con người và chết tủi nhục vì con người nhăm mang lại cho con người sự sống và tình yêu cứu độ như Thiên Chúa đã dựng nên thuở ban đầu.
Con người được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, sống cho và sống vì Thiên Chúa. Con người hiện hữu trong vũ trụ do Thiên Chúa yêu thương và được mời gọi để sống yêu thương cho Thiên Chúa tình yêu. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết sức lực, hết linh hồn và hết trí khôn và cũng yêu tha nhân như chính mình là điều đẹp lòng Thiên Chúa nhất. Đó là giới răn quan trọng nhất. Yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân là bổn phận của con người, đặc biệt nó làm nên yếu tính của người Kitô hữu, những người tin và bước theo Chúa Giêsu trên con đường sống đạo. Giữ lời Chúa Kitô nghĩa là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân phải là kim chỉ nam cho người Kitô hữu. Đó còn phải là lẽ sống, là linh hồn của mọi hoạt động của con người. Yêu mến Thiên Chúa là tìm được nguồn sống đích thực. Yêu thương tha nhân chính là sống giây phút hạnh phúc ở thì hiện tại. Và như thế, giữ Chúa truyền là thướt đo lòng mến của người môn đệ, là dấu chỉ nhận biết môn đệ đích thực của Thầy Giêsu.
Khi người ta đã hết lòng yêu thương ai thì họ sẽ sống như chính mình đang sống với chính người mình yêu. Dù cho người được yêu vắng mặt nhưng khuôn mặt, lời nói, cử chỉ, ước muốn của người yêu vẫn luôn hiện diện canh cánh bên lòng người yêu. Từng cử chỉ, thái độ và ước muốn của lý trí, ý chí và con tim cũng được thể hiện rõ nét trong người yêu. Như thế, tình yêu không chỉ diễn tả bằng việc thấy, nghe, biết mà còn là hiểu bằng con tim và còn là thể hiện bằng những hành động cụ thể trong đời sống của mình. Do đó, dù có "xa mặt nhưng không thể cách lòng". Dù có xa cách thể lý nhưng vẫn hiện diện trong sự gần gũi tấm lòng và của toàn diện con người đang yêu bằng việc giữ lời của người yêu muốn.
Con người được hiện hữu vì yêu thương nên tình yêu là động lực, là ánh sáng chỉ đường, là phương thế để con người thực thi sự yêu thương ấy. Con người còn có có bản chỉ đường là tiếng nói lương tâm yêu mến Chân, Thiện, Mỹ hay chính lương tâm làm lành lánh dữ, lương tâm sống bác ái vô vị lợi. Hơn nữa, người Kitô hữu còn có tiếng nói của Lời Chúa, giáo huấn của Giáo Hội, giới răn của Thiên Chúa... để làm tiêu chuẩn, để con người có thể dựa vào đó mà kiểm điểm mỗi khi sai lệch phương hướng và là con đường để tiến bước trong an bình theo Chúa Kitô.
Chính vì muốn thực thi Lời Chúa, giữ Lời Chúa truyền, muốn sống yêu thương mà biết bao người trẻ hiến thân cho nhau để sống gương mẫu trong bậc gia đình, để làm tăng thêm người yêu thương trong Đạo Thánh Chúa. Cũng chính vì muốn giữ lời Chúa truyền mà hằng ngày, hằng giờ có biết bao tâm hồn của người trẻ thiện chí lắng nghe tiếng gọi để đáp lại tình yêu tận hiến cho Chúa Giêsu yêu dấu, họ đã tự nguyện tham gia trong bậc sống tu trì, giáo sĩ và tu sĩ... và còn nhiều tâm hồn thành tâm thiện chí khác đang sống an bình trong yêu thương tuân giữ luật Chúa truyền dù phải vất vả sống cho tình yêu mà mình được mời gọi, sống yêu mến Thiên Chúa và sống yêu thương, tha thứ, chia sẻ bác ái cho than nhân.
Như thế, giữ Lời Chúa truyền là điều thiết yếu đối với người Kitô hữu chúng ta. Yêu thương giúp người ta nhận biết ta là môn đệ Thầy Giêsu. Yêu thương là cánh cửa dẫn đến sự sống: sống cho, sống vì và sống với, sự sống ấy chính là sự sống Thiên Đàng, là hạnh phúc và an bình mà con người đã, đang và sẽ đạt tới.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết giữ giới răn Chúa truyền là thực thi điều Chúa muốn đó là sống yêu thương như Chúa đã làm gương và mời gọi. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như chính mình. Amen.

 

PS6-A98: Tình yêu và Thánh Thần

(Suy niệm của Daniel J. Harrington – Văn Hào, SDB chuyển ngữ)
“Nếu anh em yêu mến Thầy, hãy giữ các giới răn của Thầy (Ga 14,15).
 

Lưu giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu thật sống động và tiếp nối những công việc Ngài đã khởi sự, PS6-A98

Lưu giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu thật sống động và tiếp nối những công việc Ngài đã khởi sự, là hai công việc chủ yếu đối với mọi Kitô hữu. Các bài đọc Lời Chúa của phụng vụ hôm nay, Chủ nhật 6 Phục sinh, mô tả cách thế giúp chúng ta, cá nhân cũng như cả Hội Thánh, thực hiện những bổn phận quan hệ và cao quý này. Bài diễn từ biệt ly của Chúa Giêsu được thánh Gioan ghi lại (Ga,14) mà chúng ta nghe trong phụng vụ, đề cập đến cả 2 công việc đó. Việc thứ nhất liên quan đến tình yêu, và việc thứ hai đề cập đến Thánh Thần, đồng thời cũng liên đới với tình yêu. Cả hai phạm trù này gắn kết chặt chẽ với nhau và không thể tách rời nhau.
Những ai yêu mến Đức Giêsu sẽ tuân giữ giới răn Ngài. Các giới răn của đức Giêsu dường như không phải là 613 điều luật của cựu ước được tóm kết trong thập giới. Nhưng những giới lệnh Đức Giêsu đã ban bố thì giản đơn hơn, đồng thời mang tính thách đố cao hơn. Tất cả mọi điều răn Ngài gửi trao cho các môn đệ, xoay quanh việc tin vào Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu, đấng khải thị về Chúa Cha, đồng thời cũng nói về việc yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Đức Giêsu và yêu thương nhau. Nếu chúng ta tin và yêu mến, chúng ta sẽ đắc thủ được các nhân đức khác, và các việc lành thánh sẽ nảy sinh. Vì vậy, chúng ta phải đặt mình vào trong chuỗi dây tình yêu liên hoàn, trải rộng từ Chúa Cha đến Chúa Con và đến những kẻ tin. Cũng tương tự, những ai biết yêu thương nhau, họ cũng sẽ yêu mến Chúa Cha và Chúa Con.
Cộng đoàn đức tin do Chúa Giêsu hình thành đã xác tín rằng sức mạnh của tình yêu sẽ luôn trổi vượt và phá đổ sức mạnh của hận thù. Họ hiến thân cho lý tưởng của tình yêu, như một năng động lực vĩ đại, vươn tới cả những kẻ thù của mình. Họ phục vụ cho lý tưởng tự hiến, yêu thương, với một trái tim vị tha, bởi lẽ đây chính là mô thức căn bản của tình yêu mà Đức Giêsu đã vạch dẫn, mời gọi thực hiện. Trong thơ thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô (1 Cor 13), Thánh Phaolô đã mô tả tình yêu đó như sau:“Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả”.
Những lý tưởng cao cả này vượt xa khả năng giới hạn nơi con người mỏng dòn chúng ta. Vì vậy, Đức Giêsu trước lúc ra đi, đã hứa gửi ban sự trợ giúp linh thánh cho các học trò mình qua dạng thức “ một Đấng Bào Chữa” khác. Đó chính là Thánh Thần. Hạn từ Hy Lạp Parakletos (Đấng Bào Chữa) hàm ngậm ý nghĩa về một người nào đó sẽ nâng đỡ và ủi an những ai cần trợ giúp. Từ ngữ này cũng ám chỉ về một vị luật sư nơi tòa án, sẽ đứng ra bảo vệ thân chủ và đấu tranh cho quyền lợi của họ, là chính chúng ta. Khi nói Chúa Thánh Thần là Đấng Bầu Chữa, Đức Giêsu muốn minh định rằng Thánh Thần sẽ thực hiện phần vụ của Ngài giống như Đức Giêsu đã thi hành khi Người còn tại thế.
Tình yêu và hoạt động của Thánh Thần là hai phương cách giúp cho những kỷ niệm về Đức Giêsu được lưu giữ cách sống động, và để những hoạt động mà Người đã khởi sự được tiếp nối. Chúng ta cần phải luôn gợi nhớ rằng Thiên Chúa là đấng khởi xướng, Thiên Chúa là đấng đã tuôn đổ tình yêu của Ngài xuống trên chúng ta qua Đức Giêsu, và qua những giáo huấn cũng như gương mẫu của Người, chúng ta sẽ học được cách yêu thương lẫn nhau. Thánh Thần của Thiên Chúa được trao ban cho ta qua phép rửa, chúng ta cần phải cộng tác với Ngài, mở lòng cho những sức mạnh thần thiêng đang tác động trong chúng ta và giữa chúng ta.
Sách Công Vụ Tông Đồ đã mô tả sức mạnh Thần khí được tỏ hiện thế nào qua việc trải rộng đức tin Kitô giáo xuyên suốt thế giới địa trung hải thời cổ đại. Những vị tông đồ kiệt xuất như Phêrô và Phaolô và những vị khác, chẳng hạn Philiphê, cũng góp phần lớn lao trong sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh đến với muôn dân. Bài đọc trong sách Công vụ chương 8 hôm nay cho thấy, sứ điệp Tin Mừng đã được truyền tải, khởi đầu từ Giêsusalem, đến Juđêa và đến cả địa hạt Samaria. Ở đó Philip đã làm những công việc mà Đức Giêsu khi còn tại thế đã làm. Vị tông đồ cũng đã dạy dỗ dân chúng, cũng thực hiện những phép lạ để chữa lành. Sự thành công đó được tiếp nối với những tông đồ ở Giêsusalem, tức Phêrô và Gioan. Hai ông đã đến vùng Samaria, cử hành phép rửa ban Thần khí cho dân chúng vùng này.
Trong khi hai vị tông đồ lớn đã đảm nhận vai trò quan trọng trong việc lưu giữ những kỷ niệm về đức Giêsu được sống động và trải rộng những công việc đi khắp nơi, thì những tín hữu khác, những con người rất bình thường, mà ngày nay chúng ta gọi là những tín hữu buổi sơ khai, cũng có nhiều đóng góp đáng kể. Thơ thứ nhất của Thánh Phêrô nói về họ. Họ là những Kitô hữu gốc dân ngoại, có lẽ là những lao động di dân, và có thể là những khách lạ hay người ngoại quốc trong bối cảnh văn hóa xã hội bấy giờ. Họ tìm đường đến với Giáo hội qua gương sáng của các anh em Kitô hữu khác. Bài đọc hôm nay, trong 1P 3, Thánh Phêrô khuyên mời họ hãy chia sẻ những công việc tốt lành và hãy có một nhãn quan thần học dựa trên khuôn mẫu của Đức Giêsu. Ngài khởi xướng cho họ một kế hoạch truyền giáo, quảng diễn đức tin bằng việc sẵn sàng chia sẻ, bằng thái độ ân cần và kính phục đối với nhau, tôn trọng lẫn nhau, can đảm chấp nhận những chống đối, ngay cả có thể bị hành quyết, tất cả để theo gương Đức Giêsu. Phương sách truyền giáo như thế, luôn luôn là cách thế hữu hiệu nhất để lưu giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu được sống động, và để những công việc Đức Giêsu đã khởi sự được tiếp nối thực hiện.
 
 
 

PS6-A99: Đấng Bảo Trợ – R. Veritas

(Trích trong ‘Sống Tin Mừng’)
 

Cuốn phim có tựa đề: “Đời Vẫn Đẹp” do Roberto đạo diễn và thủ diễn. Cuốn phim đã nêu lên câu PS6-A99

Cuốn phim có tựa đề: “Đời Vẫn Đẹp” do Roberto đạo diễn và thủ diễn. Cuốn phim đã nêu lên câu truyện của người Do Thái cùng với vợ và đứa con trai nhỏ bị Đức Quốc Xã đưa vào trại. Nhờ tài khôi hài, ông đã giữ vững được tinh thần của đứa con khi quân đội đồng minh đến giải thoát.
Cuốn phim hẳn gợi lại kinh nghiệm của bác sĩ Victo Rey, ba năm lưu đày tại Ba-Lan và nhiều trại tập trung khác của Đức Quốc Xã, đã giúp cho vị bác sĩ chuyên gia tâm lý này khám phá được một chân lý quan trọng trong cuộc sống của con người, chân lý đó là, trong những hoàn cảnh nghiệt ngã đau thương nhất con người vẫn có thể tồn tại nếu họ có niềm tin và tìm được ý nghĩa của cuộc sống.
Bác sĩ Brand đã quan sát những phản ứng khác nhau của các bạn tù của ông, có những người trước khi vào tù thì được mọi người trọng vọng, ngưỡng mộ, thế nhưng bỗng chốc lộ nguyên hình của những kẻ hèn hạ có thể bán đứng anh em vì một chút lợi lộc nhỏ mọn. Một số khác thoạt tiên thể hiện bản lĩnh của những nhà lãnh đạo, thế nhưng liền sau đó thất vọng và ngã gục chỉ trong vài ngày. Trái lại, cũng không thiếu những người rất ít được mọi người chú ý đến, họ đã âm thầm chịu đựng cho đến cùng và được sống còn.
Tìm hiểu sự khác biệt giữa những hạng người trên đây, bác sĩ Brand khám phá ra rằng, chính mục đích và ý nghĩa của cuộc sống là sức mạnh làm cho con người tồn tại trong những điều kiện tột cùng khốn khổ của cuộc sống. Trong kinh nghiệm bản thân, bác sĩ Brand cho biết, chính tình yêu đối với vợ ông đã giúp cho ông tiếp tục tìm thấy ý nghĩa và lẽ sống trong tận đáy của hỏa ngục. Mặc dù không biết vợ mình bị giam giữ ở đâu, còn sống hay đã chết, bác sĩ Brand đã chia sẻ kinh nghiệm như sau:
Không có gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu, những ý nghĩ và hình ảnh người vợ yêu dấu của tôi, cho dẫu người ta có báo tin rằng vợ tôi đã chết thì tôi sẽ không bao giờ ngưng chiêm ngắm hình ảnh của nàng và thôi không chuyện vãn với nàng nữa. Càng lúc tôi càng cảm nghiệm được hình ảnh của vợ tôi; vợ tôi vẫn luôn ở bên cạnh tôi. Chính tình yêu đối với vợ đã mang lại hy vọng và sức mạnh giúp cho bác sĩ Brand chịu đựng mọi nghịch cảnh và tồn tại cho đến ngày được giải cứu khỏi các trại tập trung. Khám phá được ý nghĩa của cuộc sống, đây hẳn không phải là một điều xa xỉ hay phụ thuộc trong cuộc sống con người, mà là một nhu cầu hiện sinh còn quan trọng hơn cả các ăn thức uống của con người.
Ý nghĩa lẽ sống của người Kitô chúng ta chính là Chúa Giêsu Kitô, đây là điều một lần nữa hôm nay Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta. Kitô giáo chúng ta không phải là một ý thức hệ; cũng không phải là một hệ thống luân lý chỉ gồm những điều luật phải tuân giữ; lại càng không phải là một xã hội theo thể chế chính trị nào đó. Kitô giáo thiết yếu là một con Người, con Người đó hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một, Ngài đã hiện diện trong giáo hội và trong cuộc sống của mỗi người chúng ta, Ngài là sức sống của mỗi người Kitô chúng ta. Thường thì một vị thánh hiền, một bậc vĩ nhân đi qua trong lịch sử nhân loại và để lại sự nghiệp của mình, nhưng với Chúa Kitô lại khác, Ngài không hiện diện như một xác chết được tẩm liệm, Ngài cũng chẳng hiện diện qua những di tích Ngài để lại, Ngài cũng chẳng để lại sự nghiệp nào, Ngài đã chết và Ngài đã sống lại, chính vì đã sống lại cho nên Ngài vẫn có đó, Ngài hiện diện một cách sống động nơi đây, trong giây phút này đây, đó là niềm tin, là sức sống, là lịch sử của Giáo Hội từ hơn 2,000 năm qua, đó cũng là lẽ sống của không biết bao nhiêu người tín hữu đã đi trước chúng ta, trong Ngài họ đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và để có thể vui sống, nhất là kiên trì cho đến cùng giữa những thử thách và bách hại, tất cả đều sống niềm xác tín của thánh Phaolô như ngài đã viết trong thư gởi cho giáo đoàn Rôma: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Chúa Kitô, phải chăng là gian truân, khắc khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?”
Đây là niềm xác tín mà Giáo Hội mời gọi chúng ta hâm nóng lại khi cho chúng ta lắng nghe Tin Mừng hôm nay. Trong bài diễn văn tự thuật với các môn đệ trước khi đi vào cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, họ được mời gọi để chuẩn bị tinh thần đón nhận cách thế hiện diện mới của Ngài, Ngài nói với các ông: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi, Thầy sẽ đến với các con.” Quả thật, sau khi đón nhận Chúa Thánh Thần, các môn đệ đã cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu, từ những con người quê mùa, dốt nát và nhát đảm, các môn đệ đã được Chúa Thánh Thần biến thành những nhà rao giảng không biết mỏi mệt và nhất là dùng chính cái chết của mình để làm chứng cho sự hiện diện ấy của Chúa Giêsu.
Hơn hai ngàn năm qua, sức sống được Chúa Thánh Thần thông ban cho các môn đệ đã tràn ngập thế giới, đã trở thành lẽ sống của không biết bao nhiêu người. Chính nhờ sức sống ấy mà các tín hữu Kitô tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và sống đúng ơn gọi làm người của mình. Sống công bình, sống bác ái, sống phục vụ, sống quên mình không phải là độc quyền của người Kitô giáo. Tôn giáo nào cũng đề cao những giá trị ấy; giới răn yêu thương cũng không phải là giới răn riêng của các tín hữu Kitô chúng ta. Thế nhưng Chúa Giêsu đã ban bố giới răn ấy như một giới răn mới mẻ và là riêng của Ngài, bởi vì Ngài ban chính sức sống và tình yêu của Ngài cho các tín hữu để họ yêu thương bằng chính tình yêu của Ngài.
Chúa Giêsu chính là tình yêu, Chúa Giêsu chính là sức sống của các tín hữu. Chúng ta họp nhau cử hành thánh lễ của mỗi ngày Chúa Nhật để xin Chúa Kitô bổ sức cho chúng ta, để chúng ta tiếp tục sống, để cho mọi người thấy rằng, Ngài thật sự là Đấng đang hiện diện và tác động trong chúng ta, Ngài chính là lẽ sống mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta, Ngài là sức mạnh để chúng ta tiếp tục chiến đấu, Ngài là niềm hy vọng để chúng ta tiếp tục tiến bước.

 

PS6-A100: Thần Khí hướng dẫn – Lm. Jos. Quốc Phong

“Người đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại
 

Tất cả mọi người chúng ta hẳn đã có kinh nghiệm ít nhiều về cuộc sống, và mỗi người trong chúng PS6-A100

Tất cả mọi người chúng ta hẳn đã có kinh nghiệm ít nhiều về cuộc sống, và mỗi người trong chúng ta đều có kinh nghiệm và sự đau khổ và mất mát. Sự đau khổ có thể đến từ nhiều con đường khác nhau: có thể từ gia đình, trường học, sở làm việc, và có thể đến từ chính nội tâm chúng ta. Tất cả những sự đau khổ và cùng cực đó làm cho trái tim chúng ta đau đớn, làm cho cuộc sống chúng ta cảm thấy bất hạnh, làm cho tương lai của chúng ta mù mịt, khiến những bước đi trong hiện tại trở nên nặng nề, và đôi khi trái tim đau đến nghẹn thở… nó làm chúng ta cảm thấy sợ hãi và căng thẳng, lo lắng và bất an…
Có một anh chàng cử nhân nọ, sau khi tốt nghiệp và cầm trên tay một mảnh bằng ngon lành với một chút tự hào và hạnh phúc. Anh càng tự hào hơn khi anh nghĩ rằng mình từ bỏ danh vọng để dấn thân đi theo Chúa trên con đường thánh hiến. Cuộc sống ơn gọi của anh trong những năm đầu rất thuận lợi, tất cả dường như đi theo đúng kế hoạch và chỉ tiêu do anh ta suy nghĩ và phác thảo, như thể sự vận hành của một cỗ máy cho ra sản phẩm đúng như bản vẽ. Nhưng một ngày nào đó, một số vấn đề đã xảy ra, những kế hoạch bị đảo lộn, và không còn vận hành theo ý của anh được nữa, thậm chí anh đã thất bại, và thất bại rất thảm hại. Và đã có lúc anh đã muốn bỏ cuộc vì không thể chấp nhận nổi chính mình. Tất cả các chương trình và kế hoạch của anh ta dường như tan tành theo mây khói, không có chi cứu nổi. Anh tự suy nghĩ phương pháp để sửa chữa thì nó càng sai lầm và bế tắc. Anh đã vô cùng đau khổ và khủng hoảng
Sau đó anh cầu nguyện và cầu nguyện thật nhiều, ngày này sang ngày kia, tháng này qua tháng nọ, ròng rã trong suốt 2 năm trời … anh mới nhận ra được một chút ánh sáng. Một trong những sai lầm của anh là đã dựa vào mình quá nhiều, đã tin tưởng vào khả năng của mình, vào những kế hoạch do ý muốn của riêng mình. Đời sống cầu nguyện của anh đó là gần gũi với Chúa để xin Chúa chúc lành và giúp đỡ để kế hoạch của anh ta được toại nguyện, “kế hoạch nên thánh” của anh. Sau khi bị khủng hoảng, anh mới hiểu ra rằng, anh phải thay đổi lại cách thế suy nghĩ, và nhất là thay đổi lại tương quan với Thiên Chúa. Anh phải lắng nghe và nhận ra được kế hoạch mà Chúa muốn mời gọi anh, và việc anh phải làm là dấn thân vào kế hoạch của Ngài: “Xin cho Ý của Cha được nên trọn”. Sau khi đã chết đi cho chính mình, chết đi cho một tinh thần cũ, anh đã được phục sinh, bắt đầu lại một cuộc sống mới, một bước đường mới với một ánh sáng mới “xin cho Ý của Cha được thể hiện”.
Lương thực thật sự làm cho chúng ta sống và sống dồi dào, không phải là một đời sống vật chất sung túc, cũng không phải là một đầu óc thông minh sáng tạo có khả năng chế tạo hay phát minh ra những điều mới mẻ, cũng không phải là một sự tổ chức, quản lý chặt chẽ, …lương thực thật sự có khả năng làm cho chúng ta sống hạnh phúc, mang lại cho chúng ta một đại dương của sự bình an đó chính là được đụng chạm đến “Thiên Chúa”, được ở lại trong Ngài và Ngài ở lại trong chúng ta.
Hôm nay Chúa Giêsu đã phán rằng: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn của Thầy. Và thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi”. Điều kiện mà Chúa Gesu đã đưa ra là “hãy giữ giới răn của Thầy” thì Thầy sẽ ở người ấy, Thầy sẽ yêu người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy. Giới răn của Thầy chính là “các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Hãy sống yêu thương trong sự thật, sống trong Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta sẽ đụng chạm và ở lại trong tình thương của Ngài. Trích sách tông đồ công vụ, thánh Philipphê đầy tràn Thánh Thần đi xuống sứ Samaria để rao giảng Đức Kitô và làm nhiều phép lạ. Có Thần Khí ở cùng, thánh Phipipphê đã thực sự sống và sống sung mãn. Chính sức sống mãnh liệt đó làm cho ngài có khả năng lướt thắng hết mọi thách đố và khó khăn, để rao giảng một niềm vui to lớn đến nỗi không thể nào không loan truyền cho mọi người. Trong bài đọc hai, Đức Kitô đã chết một lần cho tội lỗi của chúng ta, Ngài đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại. Thần Khí của Thiên Chúa là nguồn mạnh của sự sống, Đấng làm cho chúng ta sống và sống dồi dào.
Thiên Chúa chính là nguồn mạch của sự sống và sự sống đời đời. Chỉ có ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong chúng ta, thì chúng ta mới có được sự sống thật sự. Những gì thế gian chào mời chúng ta bằng những sự quảng cáo đủ màu sắc và nhiều lời hứa ngon ngọt, không có khả năng đem lại cho chúng ta một sự sống thật sự trong chân lý và trong an bình. Những gì của thế gian chỉ có thể đáp ứng để thỏa mãn những cơn đói bên ngoài. Hãy xin Thiên Chúa ban cho chúng ta sự can đảm để chúng ta có đủ sức mạnh lột bỏ hết các tất cả các mặt nạ, các bức tường đã ngăn cản và che đi “khuôn mặt thật” của chúng ta, đó là khuôn mặt giống Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa là Chân Lý Vĩnh Cửu mới có khả năng thỏa mãn cơn đói tinh thần, cơn đói linh hồn vĩnh cửu của chúng ta, vì Ngài chính là Đấng Tạo Hóa, là Nguồn Mạch Bình An vĩnh cửu.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây