Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 251-300: Mầu Nhiệm

Thứ hai - 21/05/2018 10:12
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 251-300: Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 251-300: Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy niệm Tin Mừng lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 251-300 Mầu Nhiệm Tình Yêu
BaNgôi-251: TÁN DƯƠNG BA NGÔI MỘT CHÚA.. 2
BaNgôi-252: Huyền nhiệm tình yêu – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền. 3
BaNgôi-253: BA NGÔI 5
BaNgôi-254: THIÊN CHÚA BA NGÔI 8
BaNgôi-255: CON ĐƯỜNG SỐNG.. 10
BaNgôi-256: TÌNH YÊU BA NGÔI 13
BaNgôi-257: HUYỀN NHIỆM TÌNH YÊU.. 14
BaNgôi-258: TÌNH CHÚA - TÌNH NGƯỜI 16
BaNgôi-259: MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG.. 18
BaNgôi-260: BA NGÔI GIÁO DỤC BẰNG TÌNH YÊU.. 20
BaNgôi-261: MỘT THIÊN CHÚA CỦA TÌNH YÊU.. 21
BaNgôi-262: HIỆP THÔNG CHIA SẺ NOI GƯƠNG CHÚA BA NGÔI 23
BaNgôi-263: MỘT CHÚA BA NGÔI 26
BaNgôi-264: SỐNG MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA BA NGÔI 28
BaNgôi-265: MỘT ĐÔI DẤU CHÂN TRÊN BỜ CÁT PHẲNG.. 32
BaNgôi-266: CHÚA BA NGÔI: CHA, CON và THÁNH THẦN.. 36
BaNgôi-267: NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN.. 38
BaNgôi-268: LỄ CHÚA BA NGÔI 40
BaNgôi-269: MỘT TÌNH YÊU KHÔNG THỂ TIN ĐƯỢC.. 43
BaNgôi-270: SỐNG YÊU THƯƠNG.. 49
BaNgôi-271: HIỆP THÔNG CHIA SẺ NOI GƯƠNG CHÚA BA NGÔI 52
BaNgôi-272: Thiên Chúa Ba Ngôi Nhân Ái 60
BaNgôi-273: Yêu là sinh hoạt của Ba Ngôi 65
BaNgôi-274: Thiên Chúa Yêu Thương Thế Gian. 67
BaNgôi-275: GIAO ƯỚC TÌNH THƯƠNG.. 69
BaNgôi-276: Lễ Chúa Ba Ngôi 72
BaNgôi-277: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. 75
BaNgôi-278: SUY NIỆM CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI 2002. 77
BaNgôi-279: LỄ THIÊN CHÚA BA NGÔI 79
BaNgôi-280: BA NGÔI - MẦU NHIỆM TÌNH YÊU.. 81
BaNgôi-281: TÌNH YÊU THIÊN GIỚI 84
BaNgôi-282: TÌNH YÊU BỊ ĐÁNH CẮP. 87
BaNgôi-283: DẤU THÁNH NHIỆM MẦU.. 89
BaNgôi-284:  Chúa Ba Ngôi 94
BaNgôi-285:  Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. 95
BaNgôi-286: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. 98
BaNgôi-287:  Bài Giảng Lễ Chúa Ba Ngôi 101
BaNgôi-288: Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi 104
BaNgôi-289: SỐNG MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI 107
BaNgôi-290: YÊU THƯƠNG VÀ HIỆP NHẤT.. 108
BaNgôi-291: TÌNH YÊU BA NGÔI 110
BaNgôi-292: SỐNG NIỀM TIN.. 112
BaNgôi-293: THEO GƯƠNG BA NGÔI 113
BaNgôi-294: CHÚA BA NGÔI: CHÚA CHA, CHÚA CON.. 114
BaNgôi-295: SỐNG NIỀM TIN VÀO THIÊN CHÚA BA NGÔI 116
BaNgôi-296: SỐNG, YÊU và HIỆP NHẤT NHƯ BA NGÔI 118
BaNgôi-297: NHÂN DANH CHA và CON và THÁNH THẦN.. 121
BaNgôi-298: NHÂN DANH CHA và CON và THÁNH THẦN.. 122
BaNgôi-299: MỘT GIAVÊ ĐỘC NHẤT VÀ UY QUYỀN.. 124
BaNgôi-300: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI 126

 

BaNgôi-251: TÁN DƯƠNG BA NGÔI MỘT CHÚA

LỄ CHÚA BA NGÔI
Ga 16,12-15
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

Mừng lễ Chúa Ba Ngôi là ta được đưa đời mình về với tuyêt đối. Tuyệt đối của tất cả chân lý. Ở: BaNgôi-251

          Mừng lễ Chúa Ba Ngôi là ta được đưa đời mình về với tuyêt đối. Tuyệt đối của tất cả chân lý. Ở nơi đó ta hiểu được tận cùng của tình yêu. Ở nơi đó ta khám phá ra được tất cả sự có mặt của mọi hữu thể. Chữ hữu thể này, phải được hiểu từ hữu thể nhỏ nhất, cho đến hữu thể to lớn nhất, từ hữu thể không có sự sống, vô tri cho đến hữu thể có sự sống. Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm lớn nhất của mọi mầu nhiệm, thì trí óc ta đã chịu bó tay không thể nào hiểu được rồi, tuy dù đó là những sự có thật. Huống hồ đây còn là mầu nhiệm lớn nhất của mọi mầu nhiệm. Vì thế ai mà bảo rằng có thể cắt nghĩa được mầu nhiệm này, một cách rõ ràng, minh bạch, tôi xin chết liền. Tuy nhiên dựa vào những mặc khải của Chúa Giêsu ta cũng có thể hiểu được đôi chút về mầu nhiệm này.
          1- Chúa Ba Ngôi là nguồn cội của tình yêu. “Ta và Cha Ta là một”.Nhưng chữ Ta ở đây là ai? Thưa là Chúa Giêsu. Đó là Ngôi Lời của Thiên Chúa, và thánh Gioan viết: “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Vì thế, chữ Lời ở đây viết hoa. Đó chính là những ý tưởng, những suy nghĩ của Thiên Chúa. Ý tưởng của một người làm thành một người không thể tách rời. Và những ý tưởng ấy, đã có liền một lúc với một người. Thiên Chúa có từ đời đời, và vì thế Ngôi Lời cũng có từ đời đời, và Thiên Chúa yêu thương những ý định, những ý tưởng của mình. Tình yêu ấy là tình yêu cũng có từ đời đời. Đó chính là Chúa Thánh Thần, không thể nào tách riêng tình yêu, hay ý tưởng của một người ra khỏi một người. Và đó là cội nguồn, cho tất cả tình yêu hiện hữu trong vũ trụ. Một tình yêu mà các động vật có, và ở cấp cao là con người, đều là được nhận lãnh, được chia sẻ và được chung phần từ cội nguồn của tình yêu là nơi Thiên Chúa.Vì thế, trọn vẹn sứ điệp mà Chúa Giêsu đem đến để cứu vớt con người, hầu con người có thể hưởng hạnh phúc ở đời này, và bước vào cõi vĩnh phúc ngàn thu, đó là phải sống trọn vẹn chữ yêu thương.
          2- Chúa Ba Ngôi, là cội nguồn về sự hiện hữu của mình. Cách đây độ một tỷ năm tất cả còn là hư không, và hoàn toàn tăm tối. Và rồi một hôm, vũ trụ được có mặt, dĩ nhiên, vũ trụ là vật chất, nên không thể tự mình mà có được. Vậy bởi ai mà vũ trụ được tạo thành? Và để làm gì?Thưa: Bởi vì tình yêu của Thiên Chúa.Ngài muốn tạo nên một vũ trụ, nhưng trung tâm của nó là trái đất. Trên trái đất có vô vàn sự diệu kỳ. Và sự diệu kỳ lớn nhất, để cai quản trái đất, Chúa dựng nên và trao ban cho một giống loại gọi là con người.Con người trở thành đặc biệt, bởi vì một nửa thuộc về động vật nửa kia được giống Thần Linh một chút. Vì con người lúc dựng nên được mang hình ảnh của Thiên Chúa. Chính vì vậy mà con người dễ mắc phải tính kiêu ngạo, dễ lầm tưởng, mình có thể trở thành thần linh, và cũng có khi, ngang bằng với Thiên Chúa. Lịch sử từ ngày tạo dựng, dọc dài qua dòng thời gian, đã làm chứng điều đó. Và đó cũng chính là con đường đi vào cõi chết không kịp gỡ.Tách rời mình ra khỏi Thiên Chúa, là tự cắt bỏ sợi dây oxy dính liền sự sống, và thế là con người sẽ phải hủy diệt, đó là điều tất nhiên.
          Gợi ý suy niệm:
1- Bạn có mối liên hệ gì với Thiên Chúa?
2- Là tác phẩm của Thiên Chúa, Bạn có bao giờ nghĩ rằng: Mình phải có bổn phận phải làm ngời sáng lên khuôn mặt của Thiên Chúa, nơi cuộc sống của bạn không?
Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 
 

BaNgôi-252: Huyền nhiệm tình yêu – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Thiên Chúa là tình yêu. Đó là chân lý, là lời khẳng định của thánh Gioan Tông đồ được ghi lại: BaNgôi-252

Thiên Chúa là tình yêu. Đó là chân lý, là lời khẳng định của thánh Gioan Tông đồ được ghi lại trong sách Tin Mừng. Thực vậy, sách Tin mừng được xem là lá thư mà Thiên Chúa đã tỏ tình với con người qua suốt dọc dài lịch sử của ơn cứu độ. Tình yêu đó được tỏ bày qua từng biến cố của dòng đời để dần dà với thời gian con người mới khám phá ra tình yêu của một vì Thiên Chúa nhưng được thực hiện qua 3 cách thức khác nhau. Ngài đã tỏ mình là một vì Thiên Chúa là Cha qua công trình sáng tạo vũ trụ vạn vật và Ngài còn tiếp tục thi thố tình thương đó qua sự quan phòng đầy kỳ diệu của quyền năng Thiên Chúa. Ngài đã tỏ tình yêu của mình qua Ngôi Hai Thiên Chúa mang lấy thân phận con người để có thể cùng chia sẻ những thăng trầm nổi trôi của cuộc sống con người. Ngôi Hai Thiên Chúa đã ghi dấu tình yêu vĩnh cửu của mình qua cái chết thập tự giá để nói lên một tình yêu vô bờ bến mà Ngài dành cho con người. Vì "không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người dám thí mạng sống vì người mình yêu". Với Ngôi Ba Thiên Chúa, tình yêu của Ngài luôn đầy tràn trong cuộc đời các tín hữu để thánh hoá con người làm con cái Thiên Chúa và trở thành đền thờ cho Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trị.
Mừng lễ Chúa Ba Ngôi, là dịp để chúng ta tạ ơn tình thương của Chúa vẫn luôn bao phủ trên cuộc đời chúng ta. Chúa cho chúng ta được sinh ra làm người và làm con cái Thiên Chúa. Chúa luôn quan phòng gìn giữ chở che cuộc đời chúng ta "như con ngươi trong mắt Ngài". Chúa biết rõ từng cuộc đời chúng ta như mục tử biết từng con chiên. Chúa vẫn ngàn đời tín trung với tình yêu ban đầu, vì cho dầu "như người cha người mẹ có bỏ con cái, còn Ta cũng không bao giờ bỏ các ngươi". Tình thương đó Chúa muốn mời gọi chúng ta đón nhận với lòng tri ân và cũng biết trao lại tình yêu đó cho tha nhân. Vâng, có lẽ, điều Chúa muốn nơi chúng ta chính là hãy hoạ lại chân dung tình yêu của Chúa cho anh em. Vì con người là "hoạ ảnh của Chúa", nên con người phải biết sống yêu thương. Yêu thương sẽ làm chúng ta giống Chúa hơn. Yêu thương sẽ giúp chúng ta sống hoàn thiện con người mình hơn. Chính tình yêu phục vụ tha nhân sẽ là cách chúng ta đáp đền tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta.
Người ta kể rằng: Ngày kia, tại một ngôi làng nhỏ ở Miền Nam Trung Quốc, một em bé gái tiều tụy, đói rách và mang bệnh phong hủi bị dân làng dùng gậy gộc và gạch đá xua đuổi ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của em.
Giữa cảnh hỗn loạn ấy, một nhà truyền giáo xông ra ẵm em bé trên tay để bảo vệ em khỏi những trận đòn và những viên gạch đá ném bừa bãi vào tấm thân bé bỏng của em.
Thấy có người mang em bé đi, dân làng mới chịu rút lui, nhưng miệng vẫn còn gào thét: "Phong hủi! Phong hủi!"
Với những giọt nước mắt lăn tròn trên đôi má, lần này là những giọt nước mắt vui mừng chứ không phải là những giọt lệ sầu đau, em bé hỏi vị cứu tinh của mình:
- Tại sao ông lại lo lắng cho con?
Nhà truyền giáo đáp:
- Vì Ông Trời đã tạo dựng nên cả hai chúng ta. Và cũng vì thế em sẽ là em bé gái của ta và ta sẽ là người anh lớn của em bé.
Suy nghĩ hồi lâu, em bé cất tiếng hỏi:
- Con có thể làm gì để tỏ lòng biết ơn sự cứu giúp của ông?
Nhà truyền giáo mỉm cười đáp:
- Con hãy trao tặng cho những người khác tình yêu của con, càng nhiều càng tốt.
Kể từ ngày ấy cho đến ba năm sau, khi em bé gái tắt hơi thở cuối cùng, em đã vui vẻ băng bó các vết thương cho những bệnh nhân khác, ân cần đút cơm cho họ, nhất là em luôn tỏ ra dễ thương và yêu mến tất cả mọi người trong trại.
Lúc từ giã cõi đời, em bé chỉ mới tròn mười một tuổi. Các bệnh nhân đã từng chung sống với em kháo láo với nhau rằng:
- "Bầu trời nhỏ bé của chúng ta đã về trời!"
Vâng, con hãy trao tặng cho người khác tình yêu của con phải chăng cũng là sứ điệp mà lễ Chúa Ba Ngôi mời gọi chúng ta? Hãy sống cho tha nhân. Hãy trao tặng cho nhau một nụ cười cảm thông. Một cái bắt tay thân mật. Một nghĩa cử bác ái đầy tình người. Hãy sống cho anh em của mình một cách quảng đại. Hãy là chứng nhân cho tình yêu của Chúa giữa một thế giới mà con người đang xa dần nhau vì quyền lợi bản thân, vì bon chen và hưởng thụ. Hãy giới thiệu cho nhân thế một tình yêu tinh ròng không bị hoen ố bởi những toan tính ích kỷ, tầm thường. Hãy giới thiệu cho thế giới một tình yêu hy sinh đến quên cả chính mình cho người mình yêu được hạnh phúc.
Nguyện xin Chúa Ba Ngôi là suối nguồn tình yêu dẫn chúng ta đi sâu vào huyền nhiệm tình yêu của Chúa để chính chúng ta cũng biết thở ra hơi ấm tình thương cho anh em của mình. Amen.
 
 

BaNgôi-253: BA NGÔI

(Xh 34, 4b-6. 8-9; 2 Cor 13, 11-13; Ga 3, 16-18)
 

Lễ trọng kính Chúa Ba Ngôi bắt đầu được cử hành vào thế kỷ thứ 9 và được đưa vào lịch phụng: BaNgôi-253

Lễ trọng kính Chúa Ba Ngôi bắt đầu được cử hành vào thế kỷ thứ 9 và được đưa vào lịch phụng vụ của Giáo Hội Rôma vào thế kỷ thứ 14 bởi Đức Giáo Hoàng Gioan 22. Lễ Chúa Ba Ngôi được nhìn nhận như là lòng thành kính tri ân của Giáo Hội qua các ân sủng của mùa Giáng Sinh và Phục Sinh. Vì mầu nhiệm này là sự kết hợp của lễ Giáng Sinh, lễ Hiển Linh, lễ Phục Sinh, lễ Thăng Thiên và lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Lễ Chúa Ba Ngôi được cử hành vào Chúa Nhật sau Lễ Chúa Thánh Thần, nhắc nhở chúng ta rằng mỗi Chúa Nhật đều được thánh hiến để sùng kính Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha đã tạo dựng và quan phòng. Chúa Con đã cứu chuộc chúng ta. Chúa Nhật là ngày của Chúa, tưởng nhớ Chúa Kitô sống lại từ cõi chết. Chúa Thánh Thần thánh hóa tâm hồn, làm cho chúng ta trở nên đền thờ của Ngài.
Khi làm dấu thánh giá, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm tối thượng của niềm tin trong đời sống người Kitô hữu. Đây là nguồn cội của tất cả các mầu nhiệm đức tin. Giáo Hội dạy rằng chỉ có một Thiên Chúa, nhưng có ba ngôi riêng biệt. Chúa Cha là Thiên Chúa. Chúa Con là Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa. Ba Ngôi cùng một bản tính và hiện hữu như nhau. Chúng ta có thể nhận biết được mầu nhiệm cao siêu này là do chính Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta. Trước khi lên trời, Chúa Giêsu nói với các tông đồ: Các con hãy đi giảng dậy muôn dân và làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (Mt 28, 19).
Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi Vị nhưng chỉ là Một Chúa duy nhất. Phân biệt Ba Ngôi: Chúa Cha là Đấng tự hữu. Chúa Con sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời và được sinh ra mà không phải được tạo thành. Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Chúa Cha sáng tạo mọi loài. Chúa Con như là sự khôn ngoan của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần thánh hóa. Tín điều về Chúa Ba Ngôi và Ngôi Lời Nhập Thể là nền tảng của đời sống đức tin và sự thờ phượng của các Kitô hữu. Ngôi Con đã hạ thân làm người để chia sẻ sự sống của Chúa Ba Ngôi cho chúng ta. Qua ân sủng, chúng ta được kết hợp mật thiết trong tình yêu và sự sống của Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Sự chia sẻ đời sống của Chúa Ba Ngôi sẽ đạt tới cùng đích trên quê trời, nơi chúng ta sẽ được diện kiến và liên kết với Chúa trong tình yêu vô tận.
Khi nói về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, các vị giảng thuyết thường dùng một vài thí dụ cụ thể để diễn giải về mầu nhiệm cao siêu này. Thí dụ: Thánh Patriciô dùng lá Shamrock có ba nhánh để nói về Chúa Ba Ngôi. Dùng toán học, lấy 1 lũy thừa 3: 1x1x1=1. Quan sát nước H2O, khi ở thể rắn là nước đá, thể lỏng là nước và bốc hơi là thể khí, cả ba đều là nước. Nhìn ánh sáng mặt trời dưới ba dạng: Ánh sáng, sức nóng và tia hồng ngoại. Dùng hình tam giác có ba cạnh bằng nhau. Trong âm nhạc, hợp âm của ba nốt nhạc chồng lên nhau làm thành một hợp âm. Những tỉ dụ này chỉ nói lên một chút xíu sự tương tự. Vì trí khôn con người bị giới hạn vào sự hữu hạn của thời gian và không gian, nên không thể nào suy thấu.
Ngay từ những ngày đầu của thời Giáo Hội sơ khai, thánh Phaolô tông đồ đã dùng công thức chào đón bằng lời cầu nguyện trong Chúa Ba Ngôi: Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta và tình yêu của Chúa cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em. Amen (2Cor 13, 13). Đây là sự tuyên xưng rõ rệt nhất về sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Giáo Hội đã dùng công thức này trong tất cả các lời cầu nguyện chính thức để tôn vinh, chúc tụng và ngợi khen Thiên Chúa. Với tâm tình tri ân, chúng ta hãy đến phục bái tôn thờ Thiên Chúa. Vì khi chúng ta càng yêu nhiều, sẽ càng hiểu nhiều hơn. Thiên Chúa yêu thương chúng ta với tình yêu bao la tuyệt vời và vô điều kiện: Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất nhưng được sống đời đời (Ga 3, 16). Tình yêu đáp trả tình yêu. Chúng ta hãy dục lòng tin, cậy, mến để thờ phượng Thiên Chúa với hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn.
Tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa là đầu mối của tất cả linh đạo dẫn đến Thiên Chúa tình yêu. Chúa Giêsu sẽ tiến dẫn chúng ta tới Chúa Cha và ban Thánh Thần giúp chúng ta thấu hiểu mọi điều Ngài đã truyền dạy. Chúa Con đã mạc khải cho chúng ta về con đường dẫn tới sự sống vĩnh cửu. Thiên Chúa không còn xa lạ, cách biệt và không tưởng, nhưng là Thiên Chúa yêu thương và cảm thông thân phận phàm hèn của con người. Thánh Gioan đã mời gọi chúng ta: Ai tin Người Con ấy, thì không bị luật phạt. Ai không tin, thì đã bị luật phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa (Ga 3, 18). Thiên Chúa không áp đặt lòng trí của con người. Ơn Cứu Độ là ơn sủng nhưng không mà Chúa trao ban, chúng ta phải tự mở cửa lòng đón nhận.
Khi nhìn xem trời đất muôn vật và sự trật tự lạ lùng trong vũ trụ, chúng ta nhận biết có Đấng Thượng Trí vô cùng đã sáng tạo và quan phòng. Chúng ta gọi Đấng đó là Thượng Đế hay Thiên Chúa. Thiên Chúa vô hình đã muốn chia sẻ tình yêu với thụ tạo, nhất là loài người. Trong chương trình cứu độ, Thiên Chúa từng bước đã chọn gọi con người cộng tác vào chương trình cứu độ của Người. Thiên Chúa đã mạc khải cho ông Môisen về Người: Môisen đứng trước mặt Chúa và kêu cầu danh Chúa (Xh 34, 6). Ông Môisen hết mực tôn kính, mến yêu và phụng thờ Thiên Chúa: Đoạn ông vội vã sấp mình xuống đất thờ lạy (Xh 34, 8). Dù không được nhìn thấy Thiên Chúa cách nhãn tiền, nhưng ông Môisen đã nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa qua các dấu chỉ của bụi gai cháy mà không bị thiêu rụi, qua sấm sét, cột mây cột lửa, qua các phép lạ cả thể Chúa đã thực hiện với Pharaon nơi xứ Ai-cập và suốt hành trình dân Do-thái đi về miền Đất Hứa.
Ông Môisen đã có một sự liên hệ mật thiết với Thiên Chúa. Trong niềm tin kiên vững tuyệt đối, ông bước đi trong sự phó thác và quan phòng của Chúa. Ông cậy dựa vào lòng từ bi và hay thương xót của Chúa để dẫn dắt dân Chúa. Ông thưa rằng: Lạy Chúa, nếu tôi có ơn nghĩa trước thánh nhan Chúa, thì xin Chúa hãy đi cùng chúng tôi, vì dân này là dân cứng đầu, xin xóa mọi gian ác và tội lỗi chúng tôi, xin nhận chúng tôi làm cơ nghiệp của Chúa (Xh 34, 9). Trước nhan thánh Chúa, con người chúng ta chỉ là loài thụ tạo mỏng dòn, yếu đuối, tội lỗi và ương ngạnh. Thiên Chúa đã dùng nhiều cách thế để đánh thức, canh tân và đổi mới trái tim gỗ đá của con người. Qua mọi thời, hình như tâm hồn con người luôn hướng chiều về đàng dữ, xấu xa và rơi vào chứng nào tật đó, khó thay đổi.
Lạy Chúa, chúng con tin nhận và phủ phục tôn thờ Thiên Chúa trong Ba Ngôi. Càng suy thấu, chúng con càng cảm nhận tình yêu vô biên của Chúa. Chúng con chỉ là tro bụi và một ngày nào đó, sẽ trở về bụi tro. Thiên Chúa đã yêu thương cất nhắc chúng con lên làm con cái của Chúa và ban cho chúng con sự sống đời này và đời sau. Chúng con cảm tạ tình yêu Chúa đến muôn muôn ngàn đời.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York
 
 

BaNgôi-254: THIÊN CHÚA BA NGÔI

Ga 3, 16 - 18
 

Hôm nay là lễ Chúa Ba Ngôi. Bài Phúc Âm hôm nay cũng nói cho chúng ta biết về hoạt động của Chúa: BaNgôi-254

Hôm nay là lễ Chúa Ba Ngôi. Bài Phúc Âm hôm nay cũng nói cho chúng ta biết về hoạt động của Chúa Ba Ngôi. Qua đó, chúng ta biết gì về Chúa Ba Ngôi ?  Và chúng ta có thể diễn tả về Chúa Ba Ngôi như thế nào?
Trong cùng một đơn vị, một tổ chức hay một cơ chế của con người, thì chức vị cao cấp nhất như tổng thống, tổng thư ký, quốc vương, chủ tịch nước... chỉ dành cho một người duy nhất đương nhiệm mà thôi.
Còn xét trong toàn thể vũ trụ, toàn thể sự sống hữu hình và vô hình, thì Đấng có quyền trên hết, chỉ là một mà thôi. Chúng ta gọi Đấng ấy là Thiên Chúa. Người Do thái gọi Đấng ấy là Giavê. Người Hồi giáo gọi Đấng ấy là Alla. Người Trung quốc gọi Đấng ấy là Hoàng Thiên. Người bình dân Việt Nam gọi Đấng ấy là Ông trời. Và Đấng ấy được hiểu như là một "người", một đấng, một cá thể, một ngôi vị đơn độc duy nhất.
Đó là cách hiểu của loài người. Bất kỳ người có trí khôn bình thường nào cũng có thể hiểu và chấp nhận được. Tuy nhiên, trí khôn con người chỉ có thể hiểu có bấy nhiêu về một ngôi vị Thiên Chúa mà thôi.
Thế nhưng, chính Thiên Chúa thì lại không muốn chúng ta chỉ biết có bấy nhiêu về Ngài. Ngài nói cho chúng ta biết, Ngài không phải là Thiên Chúa một ngôi vị đơn độc. Ngài vẫn là Một Thiên Chúa duy nhất, nhưng Thiên Chúa duy nhất ấy có tới Ba Ngôi Vị, hiệp nhất với nhau trong một bản tính và không thể tách rời nhau được.
Nếu chúng ta tiếp cận được với Ngôi Thứ Nhất, thì chúng ta cũng gặp được Ngôi Thứ Hai và Ngôi Thứ Ba. Nếu chúng ta tiếp cận được với Ngôi Thứ Hai, thì chúng ta cũng gặp được Ngôi Thứ  Nhất và Ngôi Thứ Ba. Nếu chúng ta tiếp cận được Ngôi Thứ Ba, chì chúng ta cũng gặp được Ngôi Thứ Nhất và Ngôi Thứ Hai. Ba Ngôi tuy riêng biệt trong tương quan với nhau, nhưng chỉ là một trong bản tính.
Chúng ta gọi Ngôi Vị Thứ Nhất  ấy là Chúa Cha, Ngôi Vị Thứ Hai là Chúa Con hay Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Vị Thứ Ba là Chúa Thánh Thần.
Chính Ngôi Thứ Hai Chúa Con đã nói cho chúng ta biết rằng Chúa Cha rất yêu thương chúng ta. Chúa Con nói cho chúng ta biết về tình thương của Chúa Cha dành cho chúng ta không phải bằng lý thuyết suông, nhưng Ngài đã diễn tả ra bằng hành động, bằng chính cuộc sống đầy yêu thương của Ngài, đến nỗi phải trả giá bằng máu, bằng chính mạng sống của Ngài. Ngài diễn tả tình thương của Chúa Cha bằng chính tình thương của Ngài một cách đầy đủ và sung mãn đến nỗi, nếu chúng ta biết được Ngài yêu thương chúng ta như thế nào, thì chúng ta cũng biết được Chúa Cha cũng yêu thương chúng ta như thế ấy.
Nhưng chỉ dựa vào trí khôn và sức lực của riêng mình thì chúng ta không có khả năng để biết được tình yêu mà Chúa Giêsu và Chúa Cha đã dành cho chúng ta. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng đã làm cho chúng ta biết được. Cũng vậy, cái biết mà Chúa Thánh Thần đã giúp chúng ta biết về tình thương của Chúa Con và Chúa Cha không phải là một cái biết được diễn tả trong lời nói suông, nhưng là cái biết được diễn tả ra trong hành động, trong cuộc sống của mình. Đó là khi chúng ta sống theo Lời Chúa dạy, nghĩa là chúng ta sống đạo và hành đạo trong tinh thần và tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con.
Trong ngày lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, chúng ta nên nhớ rằng, Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là Mầu nhiệm Tình Yêu.
Vì quá yêu thương chúng ta nên Chúa Cha mới sai Chúa Con đến nói cho chúng ta biết về Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi bằng chính cuộc sống đầy yêu thương của Chúa Con. Và chính Chúa Con đã ban Chúa Thánh Thần cho chúng ta để Chúa Thánh Thần giúp chúng ta nhận biết Tình Yêu ấy.
Cái biết về Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con mà Chúa Thánh Thần đã giúp chúng ta biết, không phải là cái biết suông trên phương diện lý thuyết mà là cái biết được diễn tả ra trong cuộc sống đầy yêu thương của chúng ta, đặc biệt là đối với những người đang sống cùng chúng ta.
Xin Chúa cho chúng ta luôn biết sống yêu thương người khác vì đó là cách diễn tả hay nhất về Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, là Mầu Nhiệm cao cả nhất trong Đạo của chúng ta.
 
 

BaNgôi-255: CON ĐƯỜNG SỐNG

Ga 3, 16 - 18
 

Chính Chúa Giêsu Kitô đã nhiều lần trong dạy chúng ta biết có Một Chúa Ba Ngôi như khi Ngài: BaNgôi-255

Chính Chúa Giêsu Kitô đã nhiều lần trong dạy chúng ta biết có Một Chúa Ba Ngôi như khi Ngài nói: "Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha,chính Người đã tỏ cho chúng ta biết" (Ga 1,18). Và về Chúa Thánh Thần: "Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy" (Ga 15,26).
Mọi giáo huấn về Thiên Chúa đều chứa đựng nơi con người của Đức Giêsu Kitô, vì thế, tin vào Chúa Kitô cũng có nghĩa là tin vào Chúa Ba Ngôi. Ai đến với Chúa Kitô thì cũng đến với Chúa Cha, nhờ ơn Chúa Thánh Thần. Thật vậy, kẻ nào tin vào Đức Giêsu Kitô thì gắn bó cuộc đời mình với Người, là chia sẻ số phận tử nạn và phục sinh của Người, là bước vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Là Kitô hữu, chúng ta chỉ có một con đường để chọn lựa: tin hoặc không tin. Tin chính là đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa trong yêu thương. Trong khi mỗi người chúng ta không có khả năng tin Thiên Chúa, nếu Chúa Cha không lôi kéo chúng ta đến với Đức Giêsu Kitô, qua ơn trợ lực của Chúa Thánh Thần. Cần luôn cầu xin Chúa Thánh Thần ban ơn giúp sức cho chúng ta, trong mỗi quyết định được lập đi lập lại hằng ngày trong cuộc đời, vì sự yếu đuối của chúng ta. Quyết định nào cũng đòi hỏi phải có tự do mà đây chính là một sự chọn lựa sống còn của mỗi người. Và hệ luận của của sự chọn lựa nầy dẫn đến hạnh phúc hay án phạt muôn đời . Bởi vì Chúa Giêsu nói: "Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa" (Ga 3,18). Tin vào Chúa Giêsu Kitô, qua Hội Thánh của Người, đó chính là con đường sống cho mỗi người chúng ta.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta được ngoan ngùy theo ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, để chọn cho mình con đường sống, là tin vào Đức Giêsu Kitô, sống gắn bó với Người, để được kết hợp bây giờ và mãi mãi với Chúa Ba Ngôi là Tình Yêu, là Nguồn Sống, là Bình an đích thực cho cuộc đời chúng ta. Amen
NGUỒN TÌNH YÊU
Ga 3, 16 - 18
Từ tấm bé, chúng ta đã được cha mẹ dạy làm Dấu Thánh Giá: "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Lớn lên, chúng ta lại được học những bài giáo lý về Chúa Ba Ngôi. Tuy nhiên, bài học về Chúa Ba Ngôi thật là khô khan và khó hiểu, chỉ có thể dùng một vài hình ảnh tương tự để cắt nghĩa cho dễ hiểu như: một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau, ba dạng của nước là rắn - lỏng - khí, bật quẹt thì cùng lúc phát sinh ra ngọn lửa - ánh sáng và sức nóng... 
Mầu nhiệm về Chúa Ba Ngôi thật cao cả, lý trí loài người khó mà hiểu cho tường tận được. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một hình ảnh sống động về Chúa Ba Ngôi mà không cần lý luận, không cần hình ảnh so sánh: "Thiên Chúa yêu thương thế gian" (Gn 3,16). Như thế, tìm hiểu Chúa Ba Ngôi là như thế nào không hệ trọng cho bằng nhận biết Chúa Ba Ngôi là gì, và Lời Chúa đã cho ta lời giải đáp: "Thiên Chúa là tình yêu" (1Gn 4,16).
Vì yêu, Thiên Chúa đã bỏ qua mọi lỗi lầm của dân Do thái. Khi Môsê lên núi nhận Bia Giao ước, dân Do thái dưới chân núi đã tạc tượng bò vàng mà thờ lạy. Đây là một sự xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa vô hình. Ngài đã chỉ cho Môsê thấy, rồi nói sẽ tiêu diệt dân và đặt Môsê làm tổ phụ một dân tộc khác biết vâng lời hơn. Nhưng Môsê đã sấp mình van xin cho dân. Thiên Chúa ghét tội nhưng luôn thương kẻ có tội. Ngài sẵn lòng bỏ qua tất cả, tha thứ tất cả nếu con người biết quay trở lại đường ngay nẻo chính (Bài đọc 1).
Vì yêu, Thiên Chúa đã gìn giữ ba thanh niên Do thái trước hiểm nguy. Thời dân Do thái bị ách thống trị của vua Nabucôđônôzor, vua sai chọn lọc trong dân Do thái bị lưu đày một số đứa trẻ để đem vào triều dạy dỗ. Trong số những thanh niên được dạy dỗ từ bé đó, có ba thanh niên, nhờ bạn là Đaniel giúp đỡ, được cất nhắc. Bọn gian tà Canđê thấy ba chàng được cất nhắc thì ghen tức nên tìm cách hãm hại. Họ tố cái ba chàng đã chống lệnh vua không chịu lạy tượng thần. Vì thế, vua cho bỏ ba chàng vào lò lửa, nhưng Thiên Chúa đã gìn giữ ba thanh niên vững tin nầy. Do đó, ba chàng đã cất lời ca tụng tình yêu Chúa mà chúng ta nghe ở bài đáp ca.
Vì yêu, Thiên Chúa đã "ban Con Một để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời" (Gn 3,16). Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu tột cùng của Ngài, bằng cách trao ban cho con người món quà vô giá là Con Một của Ngài. Tình yêu Thiên Chúa, qua Ngôi Con nhập thể, dưới tác động của Thánh Thần, đã phát sinh nguồn ơn cứu độ cho những ai đặt niềm tin vào công trình sáng tạo mới nầy.
Như thế, các bài đọc hôm nay cùng đưa ra một thông điệp: Thiên Chúa là Chúa của tình yêu. Đó cũng là điều trên hết và trước hết mỗi người cần nhận ra khi nghĩ về Chúa Ba Ngôi: Chúng ta nghĩ đến Thiên Chúa như một người Cha hằng yêu thương ta bằng tình yêu tín trung, nồng cháy. Chúng ta nghĩ đến Chúa Giêsu như một người Anh đã hiến tặng cho chúng ta chính cuộc đời của Người. Và chúng ta nghĩ đến Chúa Thánh Thần như một người Bạn đồng hành, để trợ giúp chúng ta sống theo gương Đức Giêsu và liên kết chúng ta với nhau trong cùng một lòng tin, một tình yêu.
Mỗi người, qua Bí tích Rửa tội, đã được dẫn đưa vào sống trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa yêu thương ta, không phải vì ta tốt lành, nhưng vì Thiên Chúa là Đấng nhân hậu và từ bi. Chính sự hiện hữu của chúng ta đã là dấu hiệu rõ nét về tình yêu Chúa. Do đó, sự đáp trả của chúng ta chỉ có thể là tin tưởng vào tình yêu Chúa và sống yêu thương nhau mà thôi. Mỗi ngày sống, chúng ta cần ý thức tuyên xưng Chúa Ba Ngôi bằng chính hành động đậm nét yêu thương của mình. Điều mà Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu thành Côrintô cũng là lời khuyên cho chúng ta: "Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em" (2Cr 13,11).
 
 

BaNgôi-256: TÌNH YÊU BA NGÔI

Ga 3, 16 - 18
 

Tôi nhớ lại cách đây không lâu, khi học học về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, tôi và những người bạn: BaNgôi-256

Tôi nhớ lại cách đây không lâu, khi học học về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, tôi và những người bạn cùng lớp ai cũng ngao ngán khi nghe nói đến từ "Mầu nhiệm", vì với sức con người không thể hiểu tận tường mà phải nhờ đến mạc khải. Vì thế, đã thật sự là mầu nhiệm thì trí khôn loài người hiểu sao được. Nhưng chính Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta mầu nhiệm này, để chúng ta hiểu một phần nào tình thương vô bờ bến của Chúa Ba Ngôi đối với con người:
1. Thiên Chúa là Đấng tạo dựng.
Hàng ngày chúng ta vẫn tuyên xưng đức tin: "Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất", không những thế Ngài còn gìn giữ, cai trị. Đặc biệt là con người, Ngài đã ban cho ơn làm con Chúa, được nâng lên đời sống siêu nhiên, được tự do. Nhưng con người vì lạm dụng tự do đã phản bội, nhưng Ngài không ghét bỏ mà lại yêu thương "đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời". Khi Chúa Cứu Thế đến, đem sự sáng, đem ân sủng đến cho loài người, nhắc nhủ họ nhớ đến tình thương của Chúa là Cha, thì loài người lại không chịu nhận biết và nghe lời Người; Một hành động cố chấp được xem như Chúa Thánh Thần sẽ phải lãnh hậu quả do chính mình chọn lấy là "bị lên án". Trong cuốc sống với nhiều lo toan dễ làm cho chúng ta quên hẳn Thiên Chúa là Cha, là Đấng dựng nên và ban cho chúng ta sự sống, là Đấng lúc nào chúng ta cũng có thể trông cậy.
2. Chúa là Đấng Cứu Chuộc.
Vì tình yêu mà Thiên Chúa là Cha đã "sai Con Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ". Chúng ta không thể nào hiểu được tình thương vô cùng của Ngôi Hai, Ngài đã mặc lấy thân thể loài người, như con người và đã chấp nhận chịu cho con người được sống. Nhưng khốn thay, con người được Chúa ban cho tự do lại dùng chính tự do này để từ chối Chúa. Dĩ nhiên sự cứu rỗi của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô không phải như một món quà vật chất nuôi sống con người trong lúc khốn cùng, hay một cái gì vượt thời gian, nhưng là một công trình tình yêu của Ba Ngôi, một lời mời gọi, một sự cứu vớt mà chúng ta sẽ được sống qua niềm tin vào Đức Kitô. Vì "Ai tin vào Con Một của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời".
3. Chúa là Đấng Thánh Hoá.
Có một điều cần lưu ý là đoạn Tin Mừng hôm nay được phụng vụ chọn vào lễ Chúa Ba Ngôi, lại không trực tiếp nói đến Chúa Thánh Thần, nhưng nhờ những chỗ khác, ta biết rằng Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu cứu rỗi trần gian bằng cách ban Thánh Thần cho trần gian. Hơn nữa, đoạn Tin Mừng này nối tiếp câu chuyện đối thoại giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô về ơn tái sinh, mà ơn tái sinh này lại do Chúa Thánh Thần "không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí".(Ga 3,5-6). Vì thế, qua ý nghĩa của đoạn Tin Mừng này, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa sai con một Người đến thế gian để cứu rỗi thế gian bằng cách thông ban Thánh Thần. Ngài là ngôi Ba đã thánh hoá, soi sáng mở đường cho chúng ta biết đường ngay nẻo chính, biết làm điều lành tránh điều dữ. Tuy nhiên trong con người chúng ta vẫn luôn có hai khuynh hướng lối kéo. Một là Thánh Thần, hai là tà thần. Nhưng thân xác yếu hèn của ta lại dễ bị sự quyến rũ cám dỗ của tà thần. Vì vậy, chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần soi sáng, để ta biết chọn Ngài và đi theo sự hướng dẫn của Ngài.
Lạy Chúa Ba Ngôi, xin biến đổi chúng con để chúng con ngày một sống xứng đáng hơn với tình yêu mà Thiên Chúa Ba Ngôi đã dành cho chúng con. Amen.
 
 

BaNgôi-257: HUYỀN NHIỆM TÌNH YÊU

Ga 3, 16 - 18
 

Người ta thường hiểu một cách tiêu cực về chữ "mầu nhiệm". Bất cứ điều gì người ta không hiểu: BaNgôi-257

Người ta thường hiểu một cách tiêu cực về chữ "mầu nhiệm". Bất cứ điều gì người ta không hiểu, không vươn tới được thì cho rằng đó là mầu nhiệm. Thật ra điều đó cũng đúng được phần nào đó, nhưng đúng ra đó chỉ là hiện tượng của Mầu nhiệm. Chúng ta nên có cái nhìn và cách hiểu tích cực hơn về 2 chữ mầu nhiệm này nhân dịp chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi, một mầu nhiệm lớn lao và vĩ đại nhất đối với con người.
Mầu nhiệm được hiểu là một thực tại thuộc về Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì cao siêu vượt trên con người, nên con người không thể nào hiểu được hay nắm bắt được về Thiên Chúa. Nhưng chính Chúa Thánh Thần đến giúp cho con người phá vỡ hạn hẹp của mình và nâng cấp con người lên để họ có thể hiểu biết và tiếp cận cách nào đó với Thiên Chúa theo khả năng mà Chúa Thánh Thần ban cho họ.
Khi nói về mầu nhiệm về Chúa Ba Ngôi, người ta thường nhắc về một giai thoại của thánh Augustinô khi ngài cố gắng tìm hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chuyện kể rằng: Khi thánh Augustinô đi dọc theo một bờ biển để suy nghĩ và tìm hiểu về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì ngài gặp một em bé đang lấy vỏ sò múc nước biển đổ vào một cái hang trên bờ biển. Thánh nhân hỏi em bé rằng: "Em làm gì thế?" Em bé thản nhiên trả lời rằng:"Em đang múc hết nước biển đổ vào trong cái hang này!" Thánh nhân cười nhạo và nói với em bé rằng: "Em không bị tâm thần chứ ? Làm sao em có thể dùng cái vỏ sò này để múc được hết nước biển chứ?". Em bé trả lời: "có lẽ chuyện tôi làm sẽ dễ dàng hơn chuyện ông đang cố hiểu về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đó ông ạ". Thánh nhân liền được giác ngộ.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi tuy rất cao sâu nhưng cũng rất gần gũi với cuộc sống con người, cuộc sống của từng người chúng ta. Nói cách khác, Thiên Chúa Ba Ngôi chính là cuộc sống của con người. Bất cứ hoạt động nào của con người cũng chính là hoạt động của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa Ba Ngôi luôn là nguyên nhân tác thành chính yếu trong mọi hành vi, mọi cử động, mọi suy tư của con người. 
Linh mục Maurice Zundel đã nói về Thiên Chúa như sau: "Thiên Chúa là khi bạn tốt". Như thế bất cứ khi nào chúng ta hành động ngay chính và thể hiện tình bác ái yêu thương thì lúc đó chúng ta trở thành phản ảnh trong suốt về Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúng ta có thể nói rằng: một vị Thiên Chúa đích thực chỉ có thể và phải là một Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Gioan tông đồ đã định nghĩa: "Thiên Chúa là Tình yêu". Một tình yêu trọn hảo và tròn đầy khi tình yêu đó hướng về người khác, trao ban trọn vẹn cho người khác . . . Thiên Chúa là Tình yêu vì Ngài là Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha yêu Chúa Con, hướng về Chúa Con và trao ban trọn vẹn cho Chúa Con; Chúa Thánh Thần chính là nụ hôn tình yêu bền chặt và trọn hảo đó.
Trong cuộc sống hằng ngày, có một điều luôn khiến các bạn trẻ băn khoăn, đó là làm sao để không bị choá mắt bởi những ảo ảnh của tình yêu, làm cách nào để khỏi bị lừa dối bởi những ngọt ngào giả tạo để rồi phải vỡ mộng ôm lấy thương đau trong trường tình? Bài Tin mừng hôm nay sẽ gợi lên chúng ta một số tiêu chuẩn khi về những điều đó khi chúng ta cùng nhau ngắm nhìn vào tình yêu của Thiên Chúa.
1. Tình yêu đích thực là tình yêu hiến trao:
Thánh Gioan đã viết: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một của Ngài". Đây không phải chỉ là việc trao tặng một món quà hay một cái gì đó ở ngoài mình, nhưng là việc cho đi một điều thiết thân và quí báu. Điều quí báu nhất của Thiên Chúa Cha chính là Người Con Một của Ngài, là Đức Giêsu Kitô. Khi trao ban cho chúng ta Đấng bị treo trên Thập giá là Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta chính bản thân của Ngài. Ngài chấp nhận cho Ngài chịu chết để cho nhân loại được sống. Tình yêu chân thật chẳng hề biết giữ lại điều gì cho mình, nhưng là chia sẻ, là cho đi , là mong muốn cho người mình yêu được hạnh phúc.
2. Tình yêu đích thực làm phát sinh và khơi mào sự sống:
"Bất cứ ai tin vào Người Con ấy thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời". Sự sống đời đời đã bắt đầu ngay ở đời này. Con người đã được Thiên Chúa tình yêu đưa vào thế giới thần linh khi con người tháp nhập vào Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người. Con người được chia sẻ hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa không muốn cho bất cứ ai phải hư mất hay bị trầm luân đời đời. Chính Chúa đã phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống" (Ed 33,11). Nhưng nếu có ai phải chết hay bị hư mất thì không phải là vì Thiên Chúa độc ác hay không muốn cứu sống họ nhưng vì họ đã dùng tự do của Thiên Chúa ban cho họ mà từ chối Thiên Chúa là nguồn sống muôn đời. Con người có thể dùng tự do của mình để mở ra hay khép lại trước sự sống được trao ban từ Thiên Chúa tình yêu.
3. Tình yêu đích thực còn phải là tình yêu chia sẻ:
"Thiên Chúa là Tình yêu", một tình yêu chia sẻ chan hoà giữa Ba Ngôi Thiên Chúa: Cha trao tất cả cho Con, Con dâng tất cả cho Cha và chỉ sống vì Cha, Thánh Thần là sự hiệp thông giữa Cha và Con. Tình yêu ấy đã tràn ngập khắp cả vũ trụ nhân loại này. Thiên Chúa cũng chính là tình yêu sáng tạo khi Ngài dựng nên con người theo hình ảnh Ngài. Ngài là tình yêu cứu độ khi Ngài tha thứ tất cả cho chúng ta qua Đức Giêsu Kitô. Ngài cũng chính là tình yêu thánh hoá khi Ngài muốn ban cho chúng ta sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Chúng ta sẽ mãi mãi xa lạ với Thiên Chúa nếu chúng ta xa lạ với tình yêu và khép chặt lòng mình trước tình yêu của Thiên Chúa. "Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa" (1 Ga 4,8), và ai không ở lại trong tình yêu thì cũng không ở lại trong Thiên Chúa (x. Ga 4,16).
Ước gì cuộc đời của chúng ta được tới gội bởi tình yêu để mọi chúng ta làm đều bắt nguồn từ tình yêu và qui hướng về Tình yêu. Ước gì chúng ta làm chứng về Thiên Chúa tình yêu bằng một đời sống trao ban và chia sẻ. Amen.
 
 

BaNgôi-258: TÌNH CHÚA - TÌNH NGƯỜI

Ga 3, 16 - 18
 

Mầu nhiệm là điều vượt trên khả năng suy biết và ngôn từ của loài người. Mầu nhiệm Một: BaNgôi-258

Mầu nhiệm là điều vượt trên khả năng suy biết và ngôn từ của loài người. Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đạo Kitô giáo cũng không thể diễn tả hết  bằng ngôn ngữ loài người. Nhưng nếu chúng ta tìm hiểu và suy niệm về mầu nhiệm này, chúng ta sẽ nhận ra đây là Mầu nhiệm tình yêu, trong tương quan giữa Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha trao ban tất cả cho Con, Con dâng tất cả cho Cha, Thiên  Chúa  là duy nhất nhưng  không  cô độc vì có sự tương  giao  giữa  Ba Ngôi, giống như trong một gia đình, mọi cái đều là của chung nhưng nơi mỗi người là duy nhất sánh với  kẻ khác. Đối với tương quan của Ba Ngôi, tình thương của Cha luôn hướng về Con cũng như Con luôn hướng  về Cha trong hơi thở của Thánh Thần, Ba Ngôi hướng về nhau, thông chuyển trọn vẹn và vĩnh viễn chứ không hướng về mình trong  sự ngây ngất ích kỷ. Chúa Ba Ngôi là  duy nhất nhưng không cô đơn mà thông hiệp yêu thương.
Ngôi vị con người bắt nguồn từ Ngôi vị Thiên Chúa. Vì được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi nên con người biết  yêu thương, biết dâng hiến và  biết đón nhận sự trợ giúp của người khác. Con người chỉ hạnh phúc khi biết cho đi, biết chia sẻ, biết đón nhận tình thương của người khác. Đó có lẽ là lý do con người thích sống cộng đoàn, vì  "con người là  một con vật xã hội". Ai qui về mình, ích kỷ thì dần dần sẽ lụn bại, chán nản vì không thấy được ý nghĩa của cuộc sống và không  tìm được hạnh phúc đích thực. Con người cần được sống trong cộng đoàn. Cộng đoàn cơ bản nhất là gia đình, trong đó cha mẹ hy  sinh cho con cái, vợ chồng hy sinh cho nhau, con cái  vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ lúc về già. Cộng đoàn gia đình lớn hơn là Hội thánh: mọi người thờ phượng Chúa và  giúp đỡ nhau: người biết nhiều, có khả năng sẽ dạy cho người chưa  biết, mọi người biết  lắng nghe nhau trong tình bác  ái, chứ không cô độc một  mình.
Thiên Chúa là Đấng giàu  sang  vô cùng nhưng  cũng là Đấng khó nghèo đích thực vì Cha trao hết cho Con, Con  dâng hết cho Cha, không để lại gì cho  riêng  mình. Thiên tính tồn tại trong  tình trạng tương giao, Cha  và  Con hướng về Thánh  Linh và Thánh Linh hướng về Cha và Con, Ba Ngôi không ngừng hiến trao  vô tận, cho đi tất cả.  Nếu chúng ta không bắt chước trao ban như Thiên Chúa thì chúng ta  sẽ mất tất cả: ai  yêu quí  mạng  sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất  mạng  sống mình vì Chúa và  vì Tin Mừng  thì sẽ tìm lại được  mạng  sống  ấy. Chúa Giêsu mang tình yêu của Ba Ngôi đến trần gian để sống quên mình, để dạy cho  con người biết quên mình, trao  ban, phục vụ. Chúng ta hãy đón nhận lời dạy yêu thương của Ngài và thực hành trong  cuộc sống để mỗi ngày  một nên giống Chúa Ba ngôi hơn.
Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm tình yêu không thể diễn tả hết  bằng ngôn từ vì  ngôn ngữ có giới  hạn. Nếu bảo một đứa  bé họa hình cha mẹ nó, nó sẽ họa không đúng được nhưng nó biết  cảm nhận cha mẹ nó là thế nào trong con tim của nó. Chúng ta muốn hiểu biết Thiên Chúa thì phải bước vào chiều kích thần bí, vào cuộc gặp gỡ của con tim với con tim, vượt trên những khái niệm của thế giới vật chất hữu hạn này.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi là nguồn mạch yêu thương và hiệp nhất, xin dạy chúng con biết yêu thương, biết cho đi, biết phục vụ theo gương Đức Giêsu Kitô là hình ảnh rõ nét nhất của Người và thể hiện lòng mến Chúa qua việc hiệp thông với mọi người xung quanh.
 
 

BaNgôi-259: MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG

Ga 3, 16 - 18
 

Hôm nay chúng ta mừng kính một mầu nhiệm cao cả, cũng là một mầu nhiệm thách đố trí tuệ loài: BaNgôi-259

Hôm nay chúng ta mừng kính một mầu nhiệm cao cả, cũng là một mầu nhiệm thách đố trí tuệ loài người. Chúng ta biết rằng mầu nhiệm là một điều con người không thể đạt thấu bằng trí tuệ, nhưng lại có thể cảm nghiệm bằng đức tin, bằng lòng mến, bằng sự hiệp thông chân thành yêu mến với Thiên Chúa, nhất là khi Chúa muốn ban cho ta hồng ân đó. Xin được chia sẻ một vài suy niệm hết sức thô thiển, nhân ngày đại lễ hôm nay. Kính mời cùng suy niệm....
a/. Câu hỏi ta sẽ nêu trước hết, Thiên Chúa Ba Ngôi là gì? Thưa đó chính là một mầu nhiệm; vì thế qua bao thế kỷ, đây vẫn còn là một câu hỏi thách thức trí tuệ con người; và cho đến ngày tận thế cũng vẫn luôn là một dấu hỏi lớn. Dù vậy con người biết chắc rằng mình đang sống trong mầu nhiệm đó. Ai cũng sống trong dòng đời, nhưng mấy ai hiểu rõ được dòng đời? Ai cũng cảm nghe được điệu nhạc, nhưng không thể lấy ra cho người ta xem được. Con cá đang sống trong nước, nếu bắt nó ra khỏi nước, nó sẽ chết. Tách biệt con người khỏi dòng đời, con người sẽ không tìm thấy hạnh phúc. Mỗi nốt nhạc khi đánh lên riêng rẻ, chỉ là một âm thanh trơ trọi,  không thành bài ca. Một ca khúc sống động chính là một sự kết hợp các nốt nhạc trôi chảy, nhịp nhàng. Mầu nhiệm Thiên Chúa không phải là một vấn đề để con người nghiên cứu, cân đo bằng trí tuệ giới hạn. Nếu ta chỉ học về Thiên Chúa để làm giàu thêm kiến thức, thì Thiên Chúa vẫn luôn là một vị thần xa lạ. Nếu niềm tin của ta chỉ dựa vào những công thức máy móc, những cách cầu nguyện vô hồn, Thiên Chúa vẫn luôn xa lạ với con người chúng ta. Mầu nhiệm Ba Ngôi chính là lời mời gọi hiệp thông trong tình yêu, là tham dự vào sức sống thần linh của Thiên Chúa. Hiểu được điều này, có làm cho chúng ta kinh ngạc không?
b/. Ba Ngôi Thiên Chúa có phải là một mầu nhiệm tình yêu, và luôn muốn đồng hành với con người không? Thưa phải. Ngay từ khi tạo dựng con người, Thiên Chúa luôn yêu thương, vẫn ở bên họ, luôn muốn đồng hành với họ. Kinh thánh thuật lại: chiều chiều Thiên Chúa đi dạo trong vườn và đàm đạo với Adam, Evà. Thiên Chúa cũng ban cho con người quyền làm chủ cá biển chim trời, vì Chúa luôn muốn con người được hạnh phúc như Chúa....Khi Môisen dẫn dân Do Thái ra khỏi đất Ai cập, Thiên Chúa vẫn luôn ở với họ: ban ngày là cột mây, ban đêm là cột lữa trên đầu họ...Sau đó, bao nhiêu lần dân chúng phản bội, bị phạt; rồi họ ăn năn chạy tới cầu khẩn Môisen, cầu khẩn Chúa, Chúa vẫn luôn tỏ ra dung mạo Người là Đấng đầy lòng yêu thương, luôn đồng hành với họ...Dù vậy, những bí ẩn muôn đời của Thiên Chúa chỉ được bày tỏ trọn vẹn qua Con Người và cuộc đời của Đức Kitô làm người. Với Đức Kitô, Ba Ngôi Thiên Chúa được gọi là Tình Yêu, Đấng luôn yêu thương và muốn đồng hành với con người. Với Đức Kitô, mầu nhiệm sâu thẳm về Ba Ngôi không còn là bức tường thành kiên cố, bất khả xâm phạm, nhưng lại là nhịp cầu nối liền trời với đất. Mấu nhiệm Ba Ngôi khi xưa là Thiên Chúa vô hình, nay trở nên bằng xương bằng thịt, nay trở nên là Đấng Cứu thế đầy lòng yêu thương, luôn cảm thông và đồng hành với con người, sẵn sàng cùng vui với tiệc cưới Cana, cảm thấy đau xót trước bệnh tật, trước nạn ma quỉ ám ảnh của dân chúng, và cũng khóc thương với Ladarô bạn thân, vì anh này đã chết. Với Đức Kitô, Thiên Chúa đó sẵn sàng cảm thông ngay cả tội lỗi, yếu đuối của con người, đã dang rộng cánh tay trên thánh giá để mở rộng cửa trời, ôm ấp cả nhân loại về cho Thiên Chúa .
c/. Mầu nhiệm của Ba Ngôi có phải còn là lời mời gọi hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người? Có phải cũng là lời mời gọi con người sống bằng sức sống của Thiên Chúa sáng tạo và đổi mới không? Thưa phải. Đức Kitô đã nói: "Thầy là cây nho, chúng con là cành, là nhánh.." Người Kitô hữu khi được tham dự vào sự hiệp thông, vào sức sống của Thiên Chúa, họ phải sẵn sàng bỏ qua tính ganh tị, tính loại trừ, chia rẻ nhau để xây dựng tình huynh đệ trong Thiên Chúa, y như hình ảnh nhánh nho, muốn được tháp chặt vào Thân Nho, nó phải loại bỏ nhựa của chính mình, để chỉ hút nhựa từ Thân Nho mà thôi. Ngược lại, nhánh nào không hút nhựa từ Thân Nho, nó phải khô héo và phải chết...
Người đời có nói:  "đừng phàn nàn cà phê đắng, có thể tại vì đường của bạn chưa đủ ngọt". Nếu đường chúng ta đã đủ ngọt và cà phê không còn đắng nữa, đó là lúc ta khám phá ra dung mạo rạng ngời của Ba Ngôi Thiên Chúa , cũng là lúc Thiên Chúa ban cho ta được tham dự vào sự hiệp thông thần thánh, đầy yêu thương, cũng là lúc ta sống bằng chính sức sống của Thiên Chúa Ba Ngôi sáng tạo và đổi mới trong một nền văn minh tình thương.
d/. Gợi ý sống và chia sẻ: nhân ngày mừng kính Thiên Chúa Ba Ngôi, ta có nhận ra rằng: lời mời gọi sống hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa, thúc bách chúng ta mở rộng tâm hồn mình ra với thế giới và với mọi người chung quanh, để cố gắng xây dựng xã hội, gia đình chúng ta hôm nay, thành nền Văn minh Tình thương như ý Ba Ngôi mong muốn không?
 
 

BaNgôi-260: BA NGÔI GIÁO DỤC BẰNG TÌNH YÊU

Ga 3, 16 - 18
 

Chúng ta đang sống trong giai đoạn hai của mùa Thường niên năm Phụng vụ 2008. Hôm nay, cùng: BaNgôi-260

Chúng ta đang sống trong giai đoạn hai của mùa Thường niên năm Phụng vụ 2008. Hôm nay, cùng với Giáo hội chúng ta mừng kính trọng thể lễ Chúa Ba Ngôi. Đây là một trong ba mầu nhiệm chính trong đạo Công giáo. Mầu nhiệm Ba Ngôi cũng là mầu nhiệm đặc trưng của đạo chúng ta. Dù rằng với mầu nhiệm này, trí khôn giới hạn của con người chúng ta sẽ khó mà hiểu thấu. Vì thế, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm mầu nhiệm ấy với tất cả lòng tin.
Nhưng phải nhìn nhận rằng: càng chiêm ngắm chúng ta càng cảm nhận được nhiều sự ngọt ngào thiêng liêng. Đặc biệt, chúng ta học được nhiều bài học bổ ích nơi mầu nhiệm cao cả này. Trong khung cảnh năm giáo dục và dưới ánh sáng của đoạn Tin mừng hôm nay chúng ta cùng nhau chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
Từ khi tổ tông chúng ta đi lầm đường lạc lối thì Thiên Chúa vẫn không nản lòng. Người dư khả năng để dựng nên một giống người khác ngoan ngoãn và biết vâng lời hơn. Hay là Thiên Chúa không tiếp tục ban cho họ quyền tự do nữa. Nhất nhất con người phải vâng phục Người. Thế nhưng, Thiên Chúa không làm thế. Thiên Chúa dùng mọi cách để cứu con người. Cuối cùng: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời". (Ga 3, 16)
Chúa Giêsu xuống thế làm người theo thánh ý Chúa Cha. Mọi việc Người làm và mọi lời Người nói đều do Chúa Thánh Thần tác động. Do đó, chúng ta thấy Thiên Chúa tuy Ba Ngôi nhưng cùng một bản tính và cùng một ý hướng. Ý hướng ấy là dùng tình yêu để giáo dục con người. Bởi thế, Chúa Giêsu đã nói: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15, 13).
Như vậy, Thiên Chúa Ba Ngôi đã giáo dục và cảm hoá con người chúng ta bằng chính tình yêu của Người. Tình yêu ấy được thể hiện nơi Chúa Giêsu "Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha" (Ga 13, 9b). Chính Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng để chúng ta nhận ra điều ấy. Nhờ tình yêu đó mà bao nhiêu người lầm lỡ được trở lại đường ngay nẻo chính.
Là tín hữu Công giáo, chúng ta hãy hãnh diện vì luôn được được chính tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa giáo dục để trở thành người tốt, được hướng tới sự sống vĩnh cửu. Đồng thời, chúng ta cũng hãy noi gương Chúa mà dùng tình yêu mà giáo dục lẫn nhau.
 
 

BaNgôi-261: MỘT THIÊN CHÚA CỦA TÌNH YÊU

Ga 3, 16 - 18
 

Ngày nọ, có hai người đàn ông trí thức đi dạo trên bãi biển. Họ vừa đi vừa thảo luận với nhau về: BaNgôi-261

Ngày nọ, có hai người đàn ông trí thức đi dạo trên bãi biển. Họ vừa đi vừa thảo luận với nhau về mầu nhiệm Thiên Chúa. Tuy nhiên, cuộc thảo luận của họ vẫn không có gì tiến triển. Thình lình, họ thấy một trẻ nhỏ đang chơi trên bờ biển. Nó đào một cái lỗ trên cát và chạy xuống biển lấy cái thùng đồ chơi trẻ em, lấy nước biển, chạy lên đổ vào cái lỗ nó đã đào.
Hai nhà trí thức thấy nó chạy lên chạy xuống nhiều lần lấy nước biển và đổ vào cái lỗ. Họ thấy cảnh buồn cười. Bèn đến gần thằng bé để hỏi xem nó tại sao nó lại làm chuyện ngốc nghếch như vậy. Họ hoàn toàn ngạc nhiên khi nghe nó nói, nó muốn tát cạn đại dương với cái lỗ nó đào trên cát.
Hai người đàn ông trí thức mỉm cười, bỏ đi và tiếp tục thảo luận về mầu nhiệm Thiên Chúa. Sau một lúc, một trong hai người dừng lại và nói với người kia: "anh có biết không, việc làm của chúng ta thật đáng buồn cười như chuyện thằng bé nói, nó muốn tát cạn đại dương vào một cái lỗ trên cát vậy đó". Chuyện chúng ta đang thảo luận về Thiên Chúa cũng giống như thế. Chúng ta thật không thể hiểu hết được mầu nhiệm của Thiên Chúa cũng như đứa bé không thể dồn hết nước của đại dương vào một cái lỗ. Trí khôn của chúng ta quá nhỏ như cái lổ trên cát, còn Thiên Chúa như là đại dương mêng mông, làm sao có thể đặt vào được.
Câu chuyện trên muốn nói với chúng ta rằng: Thật khó có thể hiểu hết về Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa là mầu nhiệm. Nhưng mầu nhiệm ấy không phải là cái gì không thể hoàn toàn không thể hiểu được gì hết. Mầu nhiệm Thiên Chúa là một cái gì đó chứa đầy ý nghĩa, cho dù cố gắng đến đâu, con người cũng không thể hiểu thấu đến ngọn nguồn. Tuy nhiên, câu chuyện trên không nhằm bào chữa cho sự lười biếng hoặc cho sự nông cạn của chúng ta không cố gắng để hiểu một chút gì đó về mầu nhiệm Thiên Chúa.
Cũng như chúng ta hoàn toàn có thể biết được sự hiện hữu của Thiên Chúa bằng lý trí của mình. Ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, một người có thể biết được mọi vật không phải tự nó mà có, vì chỉ có một mình Chúa mới là Đấng tự hữu .
Nhưng chúng ta sẽ biết rất ít về Thiên Chúa nếu như chúng ta không được Ngài mạc khải. Đặc biệt qua Thánh Kinh, chúng ta có thể biết về Thiên Chúa cách rõ ràng nhất. Và cũng từ Thánh Kinh, chúng ta biết được Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần.
Và cũng nhờ Thánh Kinh, chúng ta học biết được Thiên Chúa là Đấng như thế nào. Như qua bài đọc I, chúng ta biết được Thiên Chúa là Đấng quảng đại, hay thương xót, chậm giận và giàu lòng tình thương và trung tín. Còn Tin Mừng thì nói cho chúng ta biết: "Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, đền nỗi đã ban Con Một Ngài cho thế gian để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ".
Tất cả các bài Thánh Kinh hôm nay đều có chung một sứ điệp: "Thiên Chúa là Thiên Chúa của tình yêu". Đây là một trong những điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể biết được về Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương chúng ta không phải vì chúng ta tốt lành nhưng vì Ngài tốt lành. Sự hiên diện của chúng ta trong cuộc đời này là một dấu chỉ về tình yêu của Thiên Chúa. Và điều mà chúng ta gọi làTin Mừng chính là tình yêu không điều kiện mà Chúa đã dành cho chúng ta.
Và điều chúng ta có thể đáp trả với Ngài chính là biết đặt niềm tin vào Ngài và yêu thương anh em. Do đó, những gì mà thánh Phaolô đã nhắn nhủ với Tín hữu thành Côrintô cũng vẫn còn ý nghĩa đối với chúng ta hôm nay: "Hãy giúp đỡ nhau, hiệp nhất với nhau, hãy sống trong bình an. Vì như thế, tình yêu và sự bình an của Thiên Chúa sẽ luôn ở cùng bạn".
 
 

BaNgôi-262: HIỆP THÔNG CHIA SẺ NOI GƯƠNG CHÚA BA NGÔI

Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi năm 2014
Ga 3, 16 - 18
1. LỜI CHÚA: "Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4,7-8).
2. CÂU CHUYỆN:
 

Trong tác phẩm "Anh phải sống", nhà văn Nhất Linh đã kể lại một câu chuyện cảm động, nói lên tình: BaNgôi-262

Trong tác phẩm "Anh phải sống", nhà văn Nhất Linh đã kể lại một câu chuyện cảm động, nói lên tình nghĩa phu thê và tình mẫu tử bao la như sau: Có hai vợ chồng tiều phu nghèo khó, sống bên một dòng sông. Hằng ngày, ngay từ sáng sớm, hai vợ chồng đã thức dậy cùng nhau bơi thuyền vào rừng, chặt củi cột thành từng bó, rồi chất lên thuyền mang ra chợ bán lấy tiền nuôi hai đứa con còn thơ. Rồi một ngày nọ, đang lúc chèo thuyền từ rừng về thì trời đột nhiên nổi cơn giông bão, chiếc ghe đầy củi của họ không thể chịu nổi cơn sóng to gió lớn nên đã bị lật úp giữa dòng sông nước chảy cuồn cuộn. Cũng may là họ đã ôm được một khúc cây to và dìu nhau bơi vào bờ. Nhưng khi gặp chỗ nước sóay, cả hai bị nước cuốn trôi mất khúc cây. Bấy giờ anh chồng một tay ôm vợ, tay kia tiếp tục bơi. Thấy chồng dần dần kiệt sức và cả hai sắp bị chết chìm, chị vợ nghĩ đến hai đứa con thơ nên đã thều thào nói với chồng: "Anh phải sống để nuôi con anh nhé !", rồi chị âm thầm buông tay chồng, tự nguyện chịu chết để anh đủ sức bơi vào bờ. Chị đã vì yêu thương nên sẵn sàng chịu chết để chồng con mình được sống.
3. SUY NIỆM:
Ngày nay để thực thi tình yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi người chúng ta cần thực hành giới răn "mến Chúa yêu người" cách cụ thể như sau:
1. YÊU MẾN CHÚA BA NGÔI: Phải làm sao để Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Một phương cách dễ dàng thực hiện nhất đó là mỗi ngày hãy dành ra ba phút để cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi trước khi đi ngủ như sau: Đầu tiên làm dấu thánh giá để tuyên xưng đức tin vào mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Tiếp đến sẽ dành ra 3 phút để càu nguyện với từng Ngôi một như sau:
+ Phút thứ nhất cầu nguyện với Chúa Cha: Hãy nghĩ đến những ơn lành Thiên Chúa đã ban cho ta từ sáng đến giờ như: cho ta được nhận biết tin thờ Chúa, giúp ta giải quyết được nỗi khó khăn đang gặp phải, giúp ta làm chủ được cơn giận trước những lời khích bác vu khống của kẻ thù ghét mình... Rồi dâng một lời cầu để chúc tụng và tạ ơn Chúa Cha.
+ Phút thứ hai: Tìm ra những điều ta đã sai lỗi trong ngày qua, như đã tỏ ra dửng dưng khi thấy một người không quen gặp phải tai nạn và đang cần được trợ giúp..., rồi dâng một lời cầu nguyện để xin Chúa Giê-su tha tội thiếu sót bổn phận trợ giúp tha nhân.
+ Phút thứ ba: Nhớ đến những sự khó khăn ta đang gặp phải cả về tinh thần cũng như vật chất. Chẳng hạn như đứa con của chúng ta trốn học đi chơi. Hoặc khi ta bị một món nợ sắp đến hạn thanh toán mà chưa có tiền trả... Rồi dâng một lời cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng giúp chúng ta tìm ra phương cách hữu hiệu để hóa giải, đồng thời sẵn sàng chấp nhận những trái ý để vâng theo ý Chúa Cha như Chúa Giê-su trong vườn cây dầu (x. Mt 26,42).
Việc cầu nguyện này bao gồm cả bốn phương diện là ca tụng, tạ ơn, sám hối và xin ơn và giúp chúng ta sống mầu nhiệm Ba Ngôi trong tư tưởng, lời nói đến việc làm.
2. YÊU THƯƠNG THA NHÂN: Càn phải sống tình yêu thương thực sự. Tin Mừng hôm nay cho biết tình yêu thực sự phải mang các đặc tính của tình yêu nơi Thiên Chúa như sau:
+ Tình yêu hiệp nhất: Noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi tuy khác biệt nhau nhưng hiệp nhất trong cùng một bản thể, chúng ta cũng cần vượt qua sự khác biệt nhau để sống hòa hợp, cùng tồn tại và phát triển theo ý Chúa muốn. Chính nhờ có sự khác biệt này mà con người mới trở nên phong phú đa dạng hơn, với  điều kiện phải yêu thương nhau noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhờ tình yêu Chúa thôi thúc, chúng ta sẽ biết chấp nhận sự khác biệt và đối thoại để hòa hợp và cộng tác với nhau để phát triển, thay vì tranh cãi hơn thua và loại trừ nhau. Bạn có chấp nhận sự hiệp nhất trong đa dạng noi gương Chúa Ba Ngôi không ?
+ Tình yêu vị tha: tình yêu thực sự đòi ta phải năng nghĩ đến người mình yêu và mong họ được hạnh phúc như lời Chúa Giê-su: "Mục tử tốt lành sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (Ga 10,11). Tình yêu chân chính sẽ tìm làm cho người yêu vui vẻ hạnh phúc noi gương Chúa Giê-su yêu thương đoàn chiên: "Thầy đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" (Ga 10,10). Bạn có yêu cha mẹ và những người thân của bạn như vậy không ?
+ Tình yêu dâng hiến: Tình yêu thực sự đòi phải hy sinh cho người mình yêu noi gương Thiên Chúa như lời Chúa dạy: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài". Đức Giê-su được sai xuống trần gian để "hy sinh mạng sống cho đoàn chiên" (Ga 3,16a; 10,11). Chính Người đã dạy: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13). Vậy bạn có dám hy sinh chịu thiệt về tiền bạc và sức khỏe để người mình yêu được khỏe mạnh và hạnh phúc không ?
+ Một tình yêu cao cả: Thánh Gio-an viết: Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta đáng yêu, nhưng "Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những tội nhân" (Rm 5,8). Cũng vậy, chúng ta phải yêu hết mọi người kể cả những người không đáng yêu, những người tàn tật, tội lỗi, những kẻ đang thù ghét nói xấu và làm hại chúng ta  (x. Lc 6,27-42). Tình yêu của bạn có cao cả noi gương Thiên Chúa không, hay chúng ta chỉ yêu những người đẹp tốt đáng yêu và yêu những ai yêu mình mà thôi ?
+ Một tình yêu tôn trọng: Tình yêu của Thiên Chúa không chiếm hữu hay cầm tù người yêu nhưng luôn tôn trọng tự do của lòai người. Người chỉ nêu nguyên tắc chung: "Ai tin thì được sống đời đời. Còn kẻ không tin thì đã bị kết án". Thánh Phao-lô cũng viết: "Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả" (1 Cr 13,7). Tình yêu của bạn dành cho tha nhân có tự nguyện không ? Bạn có ghen tuông khi cấm cản người yêu gặp gỡ tiếp xúc với người khác không ? Bạn có tin tưởng và tôn trọng người yêu của bạn không ?
TÓM LẠI: chúng ta sẽ xa lạ với Thiên Chúa nếu chúng ta xa lạ với tình yêu thực sự như thánh Gio-an đã viết: "Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4,8). Ước gì cuộc đời chúng ta sẽ thấm đượm tình yêu, để mọi việc chúng ta làm đều bắt nguồn từ tình yêu và đều qui hướng về tình yêu Thiên Chúa, khi chúng ta biết luôn nghĩ đến tha nhân, sẵn sàng chia sẻ và khiêm nhường phục vụ mọi người, nhất là phục vụ những người nghèo khổ bất hạnh và đang bị bỏ rơi...
4. THẢO LUẬN:
1) Hãy cho biết những hình ảnh nào được dùng để diễn tả mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi và bạn thích hình ảnh nào nhất ? Tại sao ?
2) Bạn sẽ làm gì để sống kết hiệp với Chúa Ba Ngôi và sống yêu thương phục vụ mọi người ?
5. CẦU NGUYỆN:
- LẠY CHÚA BA NGÔI LÀ TÌNH YÊU. Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi lộc vật chất, xin dạy con biết phục vụ trong khiêm tốn và vô vụ lợi. Giữa một thế giới muốn thống trị và ham hưởng thụ, xin dạy con biết yêu thương cách quảng đại và biết khiêm nhường tự hiến. Giữa một thế giới có nhiều phe phái chia rẽ nhau, xin dạy con luôn sống hiệp thông và có tinh thần trách nhiệm cao. Giữa một thế giới đầy thành kiến và kỳ thị giai cấp, màu da, phái tính... xin dạy con biết nhìn mọi người đều là anh chị em và chân thành yêu thương họ.
- LẠY CHÚA BA NGÔI CHÍ THÁNH. Chúa là mẫu gương của một tình yêu hoàn hảo. Xin hãy biến đổi trái tim sơ cứng như đá của chúng con nên trái tim bằng thịt biết yêu thương. Xin dạy chúng con yêu thương hết mọi người, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh. Xin cho chúng con luôn thấy Chúa Giê-su đang hiện diện trong chúng con và trong mọi người. Nhờ tình yêu Chúa thôi thúc, chúng con hy vọng sẽ ngày một trở nên con hiếu thảo của Chúa Cha và nên anh chị em của mọi người.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH -  HHTM
 
 

BaNgôi-263: MỘT CHÚA BA NGÔI

Ga 3, 16 - 18
Lm Nguyễn Khoa Toàn
 

Nếu có ai đó trong chúng ta không hiểu thấu đáo về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, thì xin cũng đừng: BaNgôi-263

Nếu có ai đó trong chúng ta không hiểu thấu đáo về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, thì xin cũng đừng lo lắng lắm, vì chẳng có ai đã có thể hiểu thấu đáo được. Ngay cả Thánh Tôma Aquinô- một thần học gia xuất chúng nhất cổ kim, đã gọi mầu nhiệm này là 'sự khốn cùng của ngôn ngữ.'
Hay như thánh Augustine. Một ngày kia, khi đang dạo trên một bờ biển nọ, lòng trí rối như tơ vò vì miên man suy nghĩ về mầu nhiệm này, thánh nhân tình cờ găp một em bé đang đào một lổ nhỏ trên cát rồi dùng một vỏ sò múc nước biển đổ vào lổ ấy.
Vừa tò mò vừa kinh ngạc, Augustine hỏi thì được trả lời là đang muốn múc cạn cả đại dương. "Mày có điên không hử?" Augustine vừa cười vừa chế diễu. Chú bé từ tốn ngước lên và nói: "Nhưng cũng chẳng có thể điên hơn điều mà ông đang nặn óc nghĩ suy!!!"
Thiên Chúa Ba Ngôi -một mầu nhiệm vĩ đại nhất trong tất cả các mầu nhiệm. Và mầu nhiệm, tự bản chất, đã vượt quá khả năng hiểu biết của con người. Này nhé: Chúa Cha là Chúa, Chúa Con là Chúa và Chúa Thánh Thần cũng là Chúa. Nhưng không phải là BA Chúa, nhưng là MỘT Chúa BA Ngôi...
Tuy không thể nào thẩm thấu siêu nhiệm này, chúng ta vẫn có thể hiểu được, dẫu không trọn vẹn, đời sống nội tâm của Ba Ngôi Thiên Chúa. Tuy là ba, nhưng Ba Ngôi không bao giờ riêng rẽ tách rời nhau. Và mỗi Ngôi lại có những nét độc nhất đặc trưng, mà những Ngôi kia không có.
Mỗi năm, Giáo Hội, qua siêu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, muốn nhắc nhở rằng Thiên Chúa không bao giờ hiện hữu đơn độc, hoặc nói một cách nôm na, sống đơn độc. "Esse ist co-esse: to be is to be with: Sống là sống cùng, sống với."
Thiên Chúa, vì thế, là một gia đình nhỏ với những liện hệ mật thiết gắn bó keo sơn. Và qua đời sống gia đình, chúng ta có thể phần nào hiểu được là một hôn nhân hạnh phúc vẹn tròn là khi vợ chồng luôn liên kết, tương ứng tuơng đồng: "Đồng vợ đồng chồng tát bể Đông cũng cạn."
Hãy lấy một thí dụ. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: "Tôi tin Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, và là Đấng Ban Sự Sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra." Tôi gạch dưới và in đậm chữ 'va' vì nếu Đức Chúa Thánh Thần được sinh bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, thì con cái là biểu hiện một tình yêu hỗ tương giữa cha và mẹ. Nói một cách khác, Chúa Cha là cha, Chúa Con là mẹ, và Chúa Thánh Thần là con cái.
Lấy một ví dụ khác: Đức Giám Mục, Linh Mục và Giáo Dân. Cả ba khác nhau về chức vụ, trách nhiệm và cá tính. Nhưng một giáo xứ, cộng đoàn, địa phận chu toàn sứ vụ trọn vẹn nhất khi cả ba CÙNG làm việc với nhau như MỘT.
Nhưng có lẽ đây là ví dụ thực tế nhất: Chúa Cha là không khí. Khi hít vào là Chúa Con, nhưng khi thở ra là Chúa Thánh Thần. Có lần kể chuyện này, một bà cụ Uc bảo tôi: "Nhưng mà không đúng với chồng con tí nào cả. Khi ông ấy hít vào là Chúa Con, nhưng khi thở ra thì chỉ toàn là ... Johnny Walker." Thật tuyệt vời!!!
Cách duy nhất để phần nào thẩm thấu MỘT CHÚA BA NGÔI là sống trung thực siêu nhiệm này trong đời sống hằng ngày. Và thánh Augustine gọi đó là 'capax Dei': một khả năng cho Thiên Chúa. Và khả năng này chỉ và chỉ có thể hiện hữu trong những chứng nhân thành tín của Một Chúa Ba Ngôi.
 
 

BaNgôi-264: SỐNG MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA BA NGÔI

Ga 3, 16 - 18
Pm. Cao Huy Hoàng
Tình yêu con người
 

Tình Cha yêu con, tình Mẹ yêu con... thiêng liêng và cao quí lắm. Nhưng việc cho con, bán con: BaNgôi-264

Tình Cha yêu con, tình Mẹ yêu con... thiêng liêng và cao quí lắm. Nhưng việc cho con, bán con, bỏ con, giết con... đang là một chuyện thường ngày mang tính thời sự cao ở những nước nghèo tiền bạc, nghèo học thức, nghèo luân lý, nghèo ánh sáng Tin Mừng, nghèo tình người. Người ta "cho con mình" cho người khác, vì không nuôi con nỗi, hoặc để giải quyết chuyện riêng của mình: "cho con đi" để rảnh rang mà lấy chồng khác, "cho con riêng" vì mâu thuẫn trong nhà quá lớn, chẳng hạn.
Năm 1980, có vợ chồng người ở Giáo xứ bên cạnh đến nhờ tôi làm thông dịch viên cho vợ chồng ông bà người Pháp đang đến nhà, vì vợ chồng ấy muốn cho họ hai đứa con: 3 tuổi và một tuổi. Tôi tần ngần mãi, nhưng rồi đồng ý, may ra mình có chút tiền để mua gạo. Đến nhà, các giấy tờ phía người cho đã xong, chỉ còn thiếu cái test của viện Pasteur. Họ yêu cầu tôi đưa họ ra Sở Tư pháp tỉnh. Đến Phan Thiết, họ bảo tôi đưa họ đến Bưu điện. Cả hai vợ chồng người Pháp vào chung một buồng điện thoại. Họ gọi cho Viện Pasteur. Và họ ôm nhau khóc nức nở, vì kết quả test của hai em là siêu vi gan dương tính. Họ bước ra, đưa giấy tờ cho tôi, nhờ tôi mang về. Còn họ, cho tôi hai mươi ngàn, rồi ra bến xe về Sài gòn. Tôi mừng lắm, và tạ ơn Chúa- không vì hai mươi ngàn, nhưng vì như thế là hai đứa con của ông bà kia được sống với Cha Mẹ nó, và tôi khỏi mang tội tiếp tay.
Một chuyện khác ở xóm nghèo chúng tôi: Bà B và con gái 13 tuổi, trưa hôm ấy vui hẳn lên, chuẩn bị cơm trưa ngon hơn thường lệ, vì chỉ một lý do thôi là đợi chống về để báo một tin vui: " Anh à, con gái mình mới gặp được chú kia người ở Sài gòn. Chú ấy hứa sẽ nuôi con mình ăn học đến nơi đến chốn, ít là hết Đại học. Em mừng quá". Ông B đi cưa về, vào dùng cơm, nghe vậy, ông bỏ đủa nói: "Bà có biết: con gì mà người ta nuôi, thì trước sau người ta cũng "thịt" không?". Cha nuôi thịt con gái mình, đầy trong báo kìa... người ta bỏ tiền ra nuôi để thịt".
Chuyện bán con cho người thành phố, người nước ngoài để lấy tiền nuôi sống nhà mình đang nghèo khổ nợ nần ở dưới quê, hoặc tự nó đi bán mình lấy tiền nuôi cha mẹ... đã phổ biến đến nỗi có vùng không còn đứa con gái nào ở nhà để đi cấy, chỉ còn toàn bà già. Chuyện bỏ con đỏ hon hỏn trên đường phố, trước khách sạn, trước nhà Dòng ...cũng không hiếm. Và nhất là chuyện giết con mình từ trong trứng nước thì vào loại nhất nhì thế giới rồi, không ai phủ nhận được, vì đó là chủ trương.
Như vậy, "cho con" đã là mất con, huống nữa là bán con, bỏ con hay giết con. Chỉ có con người mất nhân tính mới có cách yêu thương như thế: Không có tình yêu, chỉ là sự ích kỷ vô-không yêu con, chỉ yêu mình. Đối với những con người ý thức rằng mình được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa thì không thể làm thế được. Phải noi gương tình yêu của Thiên Chúa.

Còn Thiên Chúa, thì sao?
Thiên Chúa trao ban Con Một của mình cho nhân loại, vì yêu thương nhân loại. Chính Ngài là Tình Yêu- Tình Yêu tinh tuyền, Tình Yêu đích thực, Tình Yêu đúng nghĩa "cho đi" để nhân loại "nhận được" sự sống đời đời.
"Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Con Một Người sẽ không phải chết, mà được sống đời đời "(Ga 3,16).
Không có lý trí nào có thể hiểu nỗi mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mà nhất là hiểu được Thiên Chúa Cha, và Tình Cha của Thiên chúa. Không một phép so sánh nào giữa "một có ba", "ba trong một" có thể dùng để so sánh với Thiên Chúa Ba ngôi mà giảng giải cho đúng. Thiết nghĩ, cách giải thích mầu nhiệm ba ngôi như ba tính chất của một ngọn lửa hoặc một vài hình tượng khác không còn phù hợp lắm. Hoặc trường hợp thánh Ignatio Loyola trong một lần cầu nguyện, nhận ra Ba Ngôi dưới hình dạng ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất, cũng chỉ là một cảm nghiệm cá nhân, không thể toát hết được đời sống nội tại của Ba ngôi Thiên Chúa.. Ước ao giải thích rốt ráo là căn bệnh của những Giáo lý viên tích cực, nhiệt thành. Coi chừng, không những lệch lạc mà còn sai lầm khi đem những thực tại hữu hình so sánh với Thiên Chúa vô hình nhằm giáo huấn dân Chúa theo cái suy nghĩ rất riêng của mình. Đừng quên rằng, đối với những mầu nhiệm, thì ta nên tin và sống với mầu nhiệm ấy hơn là muốn thỏa mãn cuộc tìm kiếm mang tính lý trí mong đào sâu, múc cạn mầu nhiệm Thiên Chúa, như trường hợp của Thánh Augustino.
Như vậy, điều quan trọng là tin và sống với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm trung tâm của Ki-tô giáo công giáo. Chắc chắn rằng: mỗi tín hữu sẽ tự giải thích cho mình bằng chính cảm nghiệm của mình đi qua cả một cuộc đời Ki-tô hữu công giáo: sống khao khát, tìm kiếm và kết hiệp với Ba ngôi Thiên Chúa qua Người Con. Vì "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Con Một Người sẽ không phải chết mà được sống đời đời"(Ga 3,16).
Nói cách khác, các tín hữu có thể hiểu Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi bằng cảm nghiệm sâu sắc của chính mình và của cộng đoàn khi thực hành Lời Chúa, và kết hiệp mật thiết với Thánh Thể Chúa Giêsu.
Khi thực hành Lời Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày, các tín hữu luôn được đặt trước những chọn lựa dứt khoát cho Thiên Chúa hay dứt khoát cho những cuốn hút của thế gian. Và khi họ dứt khoát cho Thiên Chúa, chấp nhận sống theo tinh thần của Tin Mừng, họ không chỉ sống với Ngôi Con, mà còn lôi kéo cả Ngôi Cha và Ngôi Thánh Thần xuống đồng hành với cuộc đời họ. Họ có thể cảm nghiệm được tình yêu, lòng khoan dung, sự quan phòng cả trong lúc cuộc đời tưởng như là đen tối. Niềm tin yêu, và hy vọng của Đức Cố Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận chắc chắn phải bắt nguồn từ việc kết hiệp với Đức Kitô tử nạn phục sinh đang cùng ngồi tù với Ngài, và Ngài nhận ra cả Ba Ngôi Thiên Chúa đang có mặt nơi bị bức bách. Chúa Giêsu trở thành ngưỡng cửa của niềm hy vọng tiến vào bên trong nội thất Thiên Chúa. Còn những cảm nghiệm tương tự của các linh mục tuyên úy thời kỳ hậu chiến, của những giáo dân như chiên lạc đàn mà sức sống của Thiên Chúa, tình yêu của Thiên Chúa vẫn dồi dào như xuân trai trẻ cho dù của nhà thờ đóng lại. Ấy là sức Xuân của Ba ngôi Thiên Chúa nơi Lời Chúa Ki-tô vẫn tồn tại và vẫn luôn đem lại cho mỗi chúng ta sức sống dồi dào của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Còn nỗi sướng vui ngây ngất nào bằng được giao hòa với Ba ngôi Thiên Chúa nhờ lòng khoan dung tha thứ và giá chuộc của Chúa Giêsu qua lời xá tội của Linh mục nơi tòa cáo giải. Rồi cảm nghiệm về Chúa Ba Ngôi lên đến tột đỉnh hạnh phúc khi có Chúa Giêsu Thánh Thể ngự trong lòng, vì lúc ấy, hơn lúc nào hết, mỗi tín hữu "ngộ"ra cái hạnh phúc vô biên mà Giáo lý đã dạy: "được làm con cái Thiên Chúa là Cha, được là chi thể của Chúa Con, và là Đền thờ Chúa Thánh Thần". Giáo lý dạy cho người ta hiểu và sống điều đã hiểu, nhưng về Chúa Ba Ngôi, giáo lý dạy người ta tin, sống với Chúa Ba Ngôi rồi hiểu được tình yêu của Chúa Ba Ngôi qua muôn ơn của Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Thế thì, đây là tình yêu của Thiên Chúa:Đức Giêsu cho biết tình yêu của Thiên Chúa Cha của mình bằng một sự "cho đi" người Con để nhân loại "nhận được" sự sống và sống dồi dào, sống muôn đời. Ngài đã cho đi vì yêu thương nhân loại. Ngài đã không cho đi vì mưu lợi cho vinh quang của Ngài. Tất cả cho nhân loại. Vì thế, nơi người Con Chí Ái, các tín hữu chỉ có thể hiểu được nội tâm của Thiên Chúa Cha, có thể khám phá ra một Thiên Chúa Ba Ngôi với tình Phụ tử yêu thương và công minh chính trực, với tình Mẫu tử có lòng thương xót, khoan dung, nhân hậu vô biên, với tình huynh đệ chí cốt của Chúa Giêsu hy sinh đến cùng, và tình thông hiệp toàn vẹn trong chỉ một Thánh Thần chân lý duy nhất là: Thiên Chúa duy nhất, giáo hội duy nhất, Thiên Chúa thánh thiện, giáo hội thánh thiện...

Con ước ao kết hiệp cùng Chúa Giêsu
Để kết mấy dòng suy tư, tôi xin chia sẻ chút tâm tình của anh bạn tôi, anh HXT, gọi điện cho tôi lúc 4g chiều hôm nay,15-5-2008, sau giờ kinh Lòng Thương xót của anh:
"Hoàng ơi, nếu ngày xưa anh đã tội lỗi ghê gớm lắm, và đã từng thách thức Chúa rằng: "Ông làm gì tui thì làm đi", thì ngày nay anh đã nhản tiền việc Ngài đang làm cho anh đây, là: Ngài đã làm cho anh muốn chết lịm trong tình thương yêu quá sức diệu kỳ của Ba Ngôi Thiên Chúa. Mấy hôm nay anh vẫn hát câu nầy " Con ước ao kết hiệp cùng Chúa Giêsu như giọt nước trong rượu nho, khăng khít nên một với Người, sống trong Người, trong nguồn ơn Chúa xuống cho" mà quên mất nguyên bài hát nầy là thế nào. Vì chỉ có kết hiệp với Chúa Giêsu anh mới thấy tận cùng cái tồi tệ của mình, và tình thương của Thiên Chúa Ba Ngôi len lõi vào mọi ngỏ ngách tội tệ nhất ấy, trong sâu thẳm lòng anh. Việc kết hiệp với Chúa Giêsu cũng liên kết anh với Đức Viện Phụ, với Cha Khánh, Cha Bản, với em và với mọi người đang kết hiệp với Ngài. Hôm nay, Chúa còn cho anh liên kết với mọi người đang tổ chức lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc kia, và gần 70 triệu người Việt nam đang chưa nhận biết Chúa. Và anh đã cầu xin cho họ thành tâm tìm về với Thiên Chúa là Cha, là Anh, là Hơi Thở Thần Linh của cuộc sống nầy. Em cầu nguyện với anh nhé..... Khi nào tìm được cái bài hát tuyệt vời kia, nhớ phone cho anh với.... Anh cúp máy đây."
Mười phút sau. Tôi đã gọi lại cho anh và hát nguyên bài hát ấy cho anh nghe:
"Con kính dâng Cha cùng bánh và rượu nho
Hồn con đây với xác con đây, đền vì bao tội lỗi xưa nay
Con dám trông mong thành áng trầm thơm tho
Bay tới trước dung nhan thánh Người,
cám mến Cha lành,
tự tình khúc nôi.
Con ước ao kết hiệp cùng Chúa Giêsu,
như giọt nước trong rượu nho.
Khăng khít nên một với Người,
sống trong Người,
trong nguồn ơn Chúa xuống cho"
 
 

BaNgôi-265: MỘT ĐÔI DẤU CHÂN TRÊN BỜ CÁT PHẲNG

Ga 3, 16 - 18
LM Giuse Trương Đình Hiền
1. Chân lý Thiên Chúa Ba Ngôi qua tiến trình mặc khải:
 

Cho dẫu trong niềm tin cao ngất khi họp nhau thờ phụng Đấng Tối Cao nơi thánh điện dành cho: BaNgôi-265

Cho dẫu trong niềm tin cao ngất khi họp nhau thờ phụng Đấng Tối Cao nơi thánh điện dành cho Người, thi "Dân riêng của Chúa" vẫn khắc khoải, hoài nghi, tự hỏi Thiên Chúa là ai, như những lời sau của thánh vịnh 23:
Hỡi cửa đến, hãy cất cao lên,
Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
Để Đức Vua vinh hiển ngự vào.
Đức Vua vinh hiển đó là ai ?
Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng
Đức Chúa oai hùng khi xuuất trận.
Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên,
Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
Để Đức Vua vinh hiển ngự vào.
Đức Vua vinh hiển đó là ai?
Là Chúa Tể càn khôn:
Chính Người là Đức Vua vinh hiển...
Trong khi đó, tâm thức muôn nơi muôn thở của con người vẫn muốn thấy, muốn nắm bắt, muốn tôn thờ, phũ phục, muốn quan hệ tiếp giao với một Thượng Đế gần gũi, cụ thể, không cần phải thánh thiện cao sang, không cần phải uy quyền choáng ngợp gì hết, miển sao mắt thấy, tai nghe, tay rờ, chân đụng là được, như "sự cố Sinai năm nào", khi dân Ít-ra-en với sự đồng thuận của tư tế Aharon, quyết định "đúc hình bò làm thượng đế", trong buổi dân Ít-ra-en xuất hành về Đất hứa. (Xh 32,1-6).
Và Thiên Chúa đã thịnh nộ trước cái tội "mê tín dị đoan" nầy. Suýt nữa toàn dân Ít-ra-en bị xóa tên, nếu không có lãnh tụ Mô-sê ra công cầu khẩn. Và qua biến cố nầy, nhân loại lại được chính Thiên Chúa dạy cho biết thêm rằng: "Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì..." (Xh 34,5-8).
Khi đọc lại trích đoạn sách Xuất Hành trên trong thánh lễ kính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, phải chăng Phụng vụ muốn ngụ ý rằng: TÌNH YÊU chính là bản chất sâu thẳm của huyền nhiệm Thiên Chúa, một tình yêu sẽ được dần dần vén mở để con người có thể trực tiếp khám phá, tiếp cận, gặp gỡ và kính yêu mà không cần phải qua một trung gian nào hết.
Con đường đó, sự mặc khải tối hậu đó, phần nào đã được "giải mả" trong chính cuộc đàm thoại giữa một người trí thức đầy mình là luật sĩ Nicôđêmô và vị tiên tri áo vải đến từ Na-da-rét mà trích đoạn Tin Mừng Thánh Gioan hôm nay thuật lại qua mệnh đề ngắn gọn như một lời tục ngữ:
"Thiên Chúa yêu thế gian đến nổi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3,16)
Và cũng từ môi miệng của Vị Thiên Chúa làm người ấy, khi sắp sửa lìa xa các môn sinh để dấn thân vào cuộc khổ nạn, đã long trọng hứa ban một Ngôi vị Thiên Chúa khác:
"Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy" (Ga 15,26)
Thì ra, theo chính chứng từ của "Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha" (Ga 1,18), của Đấng được mệnh danh là "Emmanuel", Thiên Chúa không phải chỉ là một "Ngôi vị cô độc một mình", một Thượng Đế "tròn trịa, viên mãn trong cái khối đầy đặn, khép kín..." mà là một "Thiên Chúa sẻ chia và tương giao ngôi vị" giữa Cha, Con và Thánh Thần.
Mà có phải chỉ bằng lời nói suông thôi đâu ! Để ấn chứng và hỗ trợ cho chân lý mặc khải tối hậu mà Ngài sẽ công bố trong những ngày công khai truyền giảng Tin Mừng, chính Thiên Chúa đã đạo diễn một cuộc "thần hiển" hoành tráng bên bờ sông Giođan khi Chúa Giêsu Con Một Ngài chịu phép rửa: "Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng; "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con". (Mc 1,10-11)
Như vậy, chúng ta có thể nói được rằng, cùng với Đức Giêsu người Na-da-rét, Kitô giáo đã hình thành trên một nền tảng giáo lý mới về Thiên Chúa: Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính trên nền tảng cốt yếu nầy, Đức Kitô đã phát lệnh cho các môn sinh cử hành nhiệm tích Thánh Tẩy nhân danh Ba Ngôi để tái sinh tất cả những ai gia nhập đoàn Dân mới như được ghi lại trong Tin Mừng Matthêô đoạn 28, câu 19: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần".
Và cũng từ niềm tin cốt lõi đó, Thánh Phaolô trong thư của Ngài gởi giáo đoàn Côrintô đã dùng lời chào chúc nhân danh Chúa Ba Ngôi để tạm biệt cộng đoàn, một câu chúc đã được chọn làm lời khai mạc Phụng vụ Thánh lễ: "Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần..." (2 Cr 13,13).
Trong khi đó, niềm tin của Dân Chúa vào mầu nhiệm Ba Ngôi suốt hai mươi thế kỷ qua vẫn xuyên suốt tín trung với hai bản Tuyên Xưng đức tin nền tảng được gọi là Hai Kinh Tin Kính: Kinh Tin Kính Các Tông Đồ và Kinh Tin Kính Nicêa-Constantinopoli. Và rồi, qua kinh nguyện và Phụng vụ được thể hiện từng giây phút trên mọi miền thế giới, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi như nhịp đập của trái tim, không ngừng mang sức sống cho Nhiệm thể Chúa Kitô, cho mỗi một thành viên được ghi dấu ấn Ba Ngôi trên cuộc đời nhờ bí tích Rửa tội.
Quả thật, cái chân lý nhiệm mầu cao cả tưởng đâu cứ "xa tắp trên chín tầng mây" đó lại là một "sự sống đang bao trùm mọi sự sống", là một tình yêu đang đốt nóng mọi trái tim, là một hiện hữu đang đồng hành và sánh bước với mọi thân phận người trên mọi nẽo đường trần thế. Vâng, đó chính là dung mạo Thiên Chúa của Người Kitô hữu, Thiên Chúa được Đức Kitô mạc khải cho nhân loại, Thiên Chúa Ba Ngôi, Cha, Con, Thánh Thần.

2. Thiên Chúa Ba Ngôi: Thiên Chúa của yêu thương
Không phải đợi cho đến Thánh Gioan Tông Đồ phát biểu: "Thiên Chúa là tình yêu", mà hàng ngàn năm trước, các tổ phụ, các sứ ngôn cũng đã từng tuyên bố: "Có người mẹ nào không thương con dạ nó mang ? Nhưng nếu có người mẹ nào như thế đi nữa, thì riêng Ta, Ta không bao giờ quên ngươi. Thiên chúa toàn năng đã phán như thế." (Isaia). Và hôm nay, trích đoạn ngắn ngủi sách Xuất hành vừa được công bố, Thiên Chúa cũng đã bộc lộ một thoáng "lý lịch trích ngang" của chính mình: Đức Chúa đi qua trước mặt Môsê và xướng: "Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu ân nghĩa và thành tín" (BĐ 1). Và nếu phải học sống với Thiên Chúa làm sao, ứng xử với Thiên Chúa thế nào, thì lời thoại thân mật với Thiên Chúa của Môsê năm nào trên núi Sinai luôn là một gợi ý đầy thâm thúy và hiện sinh: "Xin Ngài đi với chúng con...Xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi chúng con..."
Vâng, tin vào một Chúa Ba Ngôi có nghĩa là tin vào một Đấng đang đồng hành với chúng ta trên mọi nẽo đường cuộc sống, tin vào một Đấng có thể cảm thông sự yếu hèn của phận người để khoan dung tha thứ, tin vào một Đấng sẵn sàng biết chia sẻ và cho đi, sẵn sàng trở nên nghèo hèn và yếu đuối, sẵn sàng bị đóng đinh để chết vì yêu thương. Tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi đó chính là tin một Thiên Chúa "không nỡ bẻ gãy cây lau bị dập", một Thiên Chúa quan phòng chăm sóc từng con chim sẻ trên cây, từng cây huệ ngoài đồng. Thiên Chúa ba Ngôi, đó cũng là "Người Cha già nhớ thương đứa con trai hoang đàng, chiều chiều ra ngõ vắng đón đợi, là Vị Mục tử sẵn sàng bỏ chín mươi chín con chiên trong đàn để đi tìm một con chiên lac. Thiên Chúa Ba Ngôi, cũng là "Cha chúng con ở trên trời sẵn sàng ban cho lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con"... Đó cũng chính là Thiên Chúa mà Tin mừng Gioan hôm nay đã nói với chúng ta: "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nổi đã ban Con Một Người, ngõ hầu ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được sống đời đời.".
Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có được niềm tin như thế. Rất nhiều khi, chúng ta bị cám dỗ rơi vào một khoảng hồ nghi mà ở đó, Chúa như trốn biệt đâu mất. Thiên Chúa không "trốn đi đâu cả". (Như tiếng Ngài thỏ thẻ trong câu chuyện "dấu chân trên cát": "Nếu trên bờ cát phẳng chỉ còn lại một đôi dấu chân, thì đó không phải là của con đâu, mà là của chính Ta đó. Dễ hiểu thôi, vì con đang được ta bồng ẳm" !

3. Thiên Chúa Ba Ngôi: Thiên Chúa của hiệp nhất
Hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi luôn gợi lên một cộng đoàn, một gia đình. Gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa: Cha Con Thánh Thần. Mà không phải chỉ gợi lên, đó chính là căn tính, là bản chất của sự sống bên trong Thiên Chúa. Bởi vì, nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì Thiên Chúa phải là sự hiệp nhất. Tình yêu luôn đòi sự nối kết. Và Thiên Chúa Ba Ngôi chính là sự nối kết tuyệt vời nhất, cao sâu nhất, bền vững nhất. Đức Kitô đã bộc lộ sự hiệp nhất đặc biệt nầy trong "lời nguyện tế hiến" trong bữa tiệc ly trước khi đi vào cuộc khổ nạn: "Xin Cha cho chúng được nên một như chúng ta là một".
Chúng ta tuyên xưng và sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không phải chỉ dừng lại nơi những công thức tín điều hay loay hoay đi tìm những biểu tượng, những ảnh hình, những diễn ngữ để cắt nghĩa một cách trừu tượng và xa rời cuộc sống; nhưng chính là sống tình hiệp nhất yêu thương theo "mô hình Ba Ngôi" trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Ước gì mỗi một gia đình Kitô hữu là một cộng đoàn phản ảnh dung mạo Ba Ngôi. Cha Mẹ Con Cái hiệp nhất với nhau trong tình yêu Thiên Chúa và nhờ tình yêu Thiên Chúa thánh hóa và thăng tiến mỗi ngày.
Một khi dung mạo tình yêu và hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi tỏa sáng trong mọi gia đình Kitô hữu, nơi mọi hội đoàn tông đồ, mọi cộng đoàn Giáo Hội địa phương...thì chắc chắn bộ mặt của thế giới sẽ biến đổi: yêu thương sẽ thay oán thù, thứ tha sẽ thay lăng nhục, an hòa sẽ thế chỗ tranh chấp, chân lý sẽ đẩy lùi lầm lạc...
Như thế, Thiên Chúa Ba Ngôi không còn là một "tín điều khó hiểu" để tranh luận hay biện phân lý thuyết, mà là một gọi mời để mở lối yêu thương và xây dựng thuận hòa; cũng chẳng còn là một chân lý khô khan trừu tượng để chỉ biết học thuộc lòng như một sáo ngữ, mà là một dấn thân ra đi gieo rắc niềm vui và gieo trồng hoàn thiện, như lời hiệu triệu của Thánh Phaolô trong cuối bức thư gởi giáo đoàn Côrintô được chọn đọc hôm nay: "Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa. Như vầy, Thiên Chúa là nguồn mạch yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em".
 
 

BaNgôi-266: CHÚA BA NGÔI: CHA, CON và THÁNH THẦN

Ga 3, 16 - 18
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Mỗi năm Giáo Hội đều dùng ngày Chúa nhật VIII thường niên để kính mừng lễ Chúa Ba Ngôi: BaNgôi-266

Mỗi năm Giáo Hội đều dùng ngày Chúa nhật VIII thường niên để kính mừng lễ Chúa Ba Ngôi. Khi mừng lễ Chúa Ba Ngôi chắc chắn mỗi người chúng ta đều có những suy nghĩ, những cảm nghiệm, những xác tín về Chúa Ba Ngôi. Thực tế mà nói khi đề cập về Chúa Ba Ngôi không phải ai cũng dễ chấp nhận, cũng dễ im lặng nếu không được Chúa Thánh Thần soi sáng, nếu không có lòng tin thì quả thực Chúa Ba Ngôi xem ra lạ lùng, khó hiểu. Thế nên, lòng tin và Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta dễ dàng hiểu về một mầu nhiệm cao sâu trong đạo là Chúa Ba Ngôi.
Dấu thánh giá mỗi ngày chúng ta ghi trên trán: " Nhân danh Cha, va Con và Thánh Thần " hoặc kinh sáng danh " Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần " nói lên cho chúng ta về Chúa Ba Ngôi. Thánh Phaolô thường mở đầu và kết thúc các thư của Ngài viết cho các giáo đoàn như sau: " Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em ". Dấu thánh giá là tuyên xưng niềm tin và tôn vinh Chúa Ba Ngôi. Kinh Thánh cũng dạy chúng ta: " Dù ăn, dù uống, dù làm việc gì, anh em hãy làm mọi sự để tôn vinh Thiên Chúa ". Thiên Chúa là Tình Yêu như lời thánh Gioan tông đồ đã viết. Thiên Chúa đã dựng nên loài người, dựng nên con người, Ngài yêu thương con người, nhưng con người đã phản bội lại Ngài. Bị con người ngỗ nghịch phản bội, Thiên Chúa đã không bỏ rơi loài người, Ngài đã sai Con của Ngài là Chúa Giêsu xuống trần để cứu chuộc con người. Thiên Chúa lại sai Chúa Thánh Thần đến thánh hóa con người, làm cho con người nên mới hầu dẫn con người về hưởng vinh quang Nước Trời. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao cả, thâm sâu con người dùng trí loài người không thể hiểu nổi. Nhưng trong đức tin và trong tình yêu, chúng ta dễ dàng nhận biết Chúa Ba Ngôi. Để rõ hơn về Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy nghe câu trả lời của thánh Phêrô: " Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống ". Chúa Giêsu khen ngợi thánh Phêrô " Simon, con ông Giona, con có phúc, không phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con biết những điều đó, nhưng là Cha Thầy trên trời đã mạc khải cho biết những điều ấy " ( Mt 16, 16 ). Thiên Chúa Cha cũng đã mạc khải về Chúa Giêsu: " Đây là Con Ta yêu dấu " ( Mt 3, 17 ) hoặc " Cha và Ta là một ".
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi dạy ta rằng: " Ngôi thứ nhất là Chúa Cha, Đấng đã sinh ra Chúa Con; Ngôi Hai Thiên Chúa từ đời đời. Ngôi Cha và Ngôi Con liên kết với nhau bằng một tình yêu muôn đời là Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba. Ba Ngôi đều là Thiên Chúa và liên kết với nhau. Thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Roma: " Những người Thiên Chúa đã biết trước thì Người cũng đã tiền định cho họ trở nên đồng hình đồng dạng với hình ảnh của Con Người, để Người Con có thể trở thành trưởng tử của một đàn em đông đúc " ( Rm 8, 29 ). Khi chúng ta lãnh phép rửa tội, chúng ta được trở thành những đứa con của gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi.
Trở về lịch sử Dân Chúa, chúng ta càng hiểu rõ chính Thiên Chúa đã cứu Dân của Ngài ra khỏi đất Ai Cập và dẫn đưa Dân vào Đất Hứa. Rồi Thiên Chúa đã mạc khải qua Môisen rằng: " Ngài là một Thiên Chúa rất nhân từ và hay tha thứ, chậm bất bình và rất mực khoan dung ". Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa cũng đã xác nhận: " Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi và các ngươi sẽ là dân của Ta ". Nhìn vào khía cạnh thâm sâu và đầy lòng tin, chúng ta có thể nói được rằng Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần thật sự là một gia đình.
Chúng ta phải tôn thờ, yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi vì Chúa ba Ngôi luôn gần gũi với chúng ta.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con càng ngày càng yêu mến Chúa. Amen.
 
 

BaNgôi-267: NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN

Ga 3, 16 - 18
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Dấu Thánh Giá mỗi lần chúng ta làm tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi: nhân danh Cha và Con: BaNgôi-267

Dấu Thánh Giá mỗi lần chúng ta làm tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi làm sao chúng ta có thể hiểu được cho tường.Vậy, ai đã giúp chúng ta nhận biết Thiên Chúa Ba Ngôi ? Ai dẫn đưa chúng ta gặp được Thiên Chúa Ba Ngôi ? Chính Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể đã vén mở mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra một Thiên Chúa duy nhất trong ba Ngôi Vị: Cha, Con, Thánh Thần. Ba Ngôi khác nhau nhưng chỉ là một Thiên Chúa.
Đây là mầu nhiệm cao cả của Đạo Công Giáo bởi vì nếu Chúa Giêsu không mạc khải, không tỏ lộ, không vén mở thì mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi quả thực không thể nào chúng ta có thể hiểu nổi, đến như thánh Augustinô mà đã phải thốt lên, tìm hiểu mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi giống như một người ngồi trên bãi biển đào một hố, lấy vỏ sò múc nước biển đổ vào làm sao cho biển cạn được! Vâng, nếu không có Chúa Giêsu mạc khải mầu nhiệm này, nhân loại, con người không bao giờ có thể thấu hiểu được Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính Chúa Phục Sinh đã nói:" Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được trao cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, giảng dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con " ( Mt 28, 18-19 ).
Bài Tin Mừng trong thánh lễ Chúa Ba Ngôi, năm A của thánh Gioan là một cuộc đàm đạo giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô vào ban đêm. Trong đoạn ngắn gọn này, một câu nói của Chúa Giêsu đánh động tâm hồn mọi người chúng ta:" Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời ". Rõ ràng Thiên Chúa Cha đời đời không phải chỉ là Một Ngôi Vị đơn độc ở trên thăm thẳm trời mây xa tít mù khơi. Nhưng từ đời đời Thiên Chúa Cha với lòng chạnh thương nhân hậu, đã thương loài người, đến nỗi đã sai Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô xuống trần gian trong " cung lòng của Đức Trinh Nữ Maria " để cứu chuộc loài người và ban sự sống đời đời cho con người, cho trần gian vv...Cuộc đàm đạo ngắn ngủi này xem ra Thánh Thần không được nhắc đến. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã cho Nicôđêmô và mọi người chúng ta thấy Chúa Thánh Thần khi Ngài nói:" Quả thật, tôi bảo ông, ai không sinh ra bởi Nước và Thánh Thần thì không được vào Nước Thiên Chúa ".
Thiên Chúa là Tình Yêu . " Ta và Cha Ta là một " ( Ga 14, 10 ). " Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta " ( Ga 14, 10 ) và " Mọi sự của Cha đều là của Con " ( Ga 16, 15 ). Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm hiệp thông, mầu nhiệm chia sẻ và đặc biệt là mầu nhiệm tình yêu: " ai ở trong Tình Yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy " ( 1 Ga 4, 16).
Xin dùng lời của Brigitte Rigo để giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bài suy niệm này, Rigo viết: " Sau khi đã đảm nhận thân phận làm người của chúng ta đến tận cùng cái chết, Đức Giêsu Phục Sinh đã được vĩnh viễn thu nạp vào Sự Sống của Thiên Chúa.Đây là tiền ảnh của thân phận tối hậu-là phần phúc-của mỗi người chúng ta. Trong khi chúng ta còn chờ đạt tới thời điểm ấy, có hai công việc chúng ta phải làm: trước hết là trở thành môn đệ, bằng cách để cho Lời Chúa Giêsu cày xới chúng ta và dám lấy Tin Mừng làm lễ sống ; tiếp đến là làm tông đồ, mỗi người theo đặc sủng của minh. Sứ mạng bao gồm hai thì bất khả phân ly: thời kỳ mở lòng đón nhận Thần Khí ( cầu nguyện ), từ đó chúng ta nhận được bình an, niềm vui, hợp nhất ; thời kỳ làm chứng ( hành động ).Người làm chứng thì " làm vinh danh Chúa Cha ": họ quan tâm đến việc tỏ ra bằng cả cuộc đời mình, rằng chính Thiên Chúa là ánh sáng và giá trị cho đời họ. Họ biết mình được sai đi để chia sẻ bình an, niềm vui, tình yêu mà họ đã nhận được, nhất là nhờ những lần tha thứ cho nhau. Nghệ thuật sống làm môn đệ và tông đồ như thế sẽ đưa chúng ta gia nhập ngày càng sâu đậm hơn vào mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mầu nhiệm Ba Ngôi: Vị Thiên Chúa duy nhất -Cha, Con và Thánh Thần-là Tình Yêu và sự Hiện Diện kín đáo trong cuộc đời chúng ta.Chúng ta hãy học tập cách để cho Người chạm đến và nắm lấy chúng ta ".
Mỗi ngày chúng ta làm dấu thánh giá: nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần. Xin cho mỗi người chúng ta biết để cho Chúa Ba Ngôi xâm chiếm tâm hồn chúng ta và rồi lệnh truyền của Chúa phục sinh:" ...Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em.Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế " ( Mt 28, 19-20 ) sẽ là lời thúc bách mỗi người chúng ta lên đường làm chứng cho Chúa.Amen.
 
 

BaNgôi-268: LỄ CHÚA BA NGÔI

Ga 3, 16 - 18
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta long trọng cử hành lễ: BaNgôi-268

Sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta long trọng cử hành lễ Thiên Chúa Ba Ngôi Rất Thánh, giúp chúng ta nhận biết và tôn thờ Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể và uy quyền bằng nhau. Chúa Cha là Thiên Chúa độc nhất. Chúa Con sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con tự đời đời như một Nguyên lý duy nhất, Ba Ngôi nhưng là Một Thiên Chúa.
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần hòa quyện vào nhau một cách hoàn hảo trong Tình Yêu và hành động, cùng tác động trên thế giới. Đây là Một trong những mầu nhiệm cao cả nhất của đức tin chúng ta. Mục đích của Giáo hội muốn rằng, sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống chúng ta phải đi loan báo Thiên Chúa thật cho mọi người, không kể là Do thái hay dân ngoại, cho họ biết Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa Ba Ngôi hiệp nhất trong Tình Yêu và ca lên: « Chúc tụng Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, vì Người hằng thương xót chúng ta » ( Ca nhập lễ).
Một trong những mầu nhiệm người tín hữu phải tin cho được rỗi linh hồn là mầu nhiệm Một Đức Chúa Trời có Ba Ngôi. Nhưng làm sao chúng ta có thể diễn tả hay thấu hiểu về Thiên Chúa Ba Ngôi này. Ai có thể giúp ta thấy được khuôn mặt thực của Thiên Chúa? Ai sẽ chỉ cho ta con đường để gặp gỡ Ngài? Tự sức trí khôn con người là không thể. Phải nại đến Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, qua Ngài mầu nhiệm Thiên Chúa được vén mở, nhờ Người mà chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị là Cha, Con và Thánh Thần.
Thánh Augustinô viết: « Thiên Chúa là một mầu nhiệm mà con người không thể nào thấu hiểu được ».
Đúng, Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm vĩ đại, sâu thẳm, chúng ta không thể nào diễn tả được. Trí tuệ và miệng lưỡi con người không tài nào giải thích được những mối tương quan giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; tuy nhiên các giáo phụ đã tìm cách diễn tả nội dung chính yếu này và một trong những cách đó là Dấu Thánh Giá: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Thường ngày, chúng ta làm Dấu Thánh Giá rất nhiều lần, khởi đầu ngày mới cho đến khi đi ngủ, bước vào nhà thờ cho đến lúc nhận lãnh phép lành, trước và sau khi ăn, khi đi ngang qua Thánh Giá, vườn thánh, trước cơn cám dỗ nguy hiểm ... Như vậy, Dấu Thánh Giá bao trùm toàn thể xác và linh hồn; tất cả con người ta được thánh hiến nhân danh Một Chúa Ba Ngôi. Vì thế, Dấu Thánh Giá gói ghém lời tuyên xưng đức tin và nền tảng cầu nguyện của chúng ta.

Dấu Thánh Giá là dấu kẻ có Đạo.
Đức Giêsu đến trần gian nhằm cứu chuộc chúng ta, Người đã chết trên Thánh Giá để trao ban sự sống cho chúng ta. Chính nhờ hy tế của Người trên Thánh Giá mà chúng ta là những người « kitô hữu », nghĩa là thuộc về Đức Kitô. Dấu Thánh Giá là dấu chỉ người kitô hữu. Chính nhờ dấu này mà chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, đã đến thế gian để cứu chuộc chúng ta.
Trong năm Phụng vụ, có hai thời điểm giúp người kitô hữu ý thức về giá trị của Dấu Thánh Giá.
- Mùa Phục Sinh chỉ cho ra rằng chúng ta được cứu chuộc nhờ cây Thánh Giá.
- Lễ Chúa Ba Ngôi, giúp chúng ta tuyên xưng Một Chúa Ba Ngôi.
Dấu Thánh Giá là dấu của người chịu phép Rửa tội, người thuộc về Chúa. Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta được « vẽ » và « ghi » dấu Thánh Giá. Dấu này bề ngoài không thể thấy được, nhưng in trong tâm hồn người kitô hữu. Đồng thời cũng là hành động Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.

Hành động Đức Tin
Dấu Thánh Giá tóm lược Ba Mầu Nhiệm Cả trong Đạo Công giáo.
1 - Chúng ta vẽ Dấu Thánh Giá trên mình, vì Chúa Giêsu đã mặc lấy thân xác người phàm đến để cứu chuộc ta. Đây là mầu nhiệm Nhập Thể.
2 - Dấu Thánh Giá nhắc lại rằng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã chết trên Thánh Giá để cứu chuộc chúng ta. Đây là mầu nhiệm Cứu Chuộc. Thánh Giá là chiến thắng của Đức Giêsu trên sự dữ và ma quỉ. Chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa nhờ hy tế của Chúa Giêsu trên Thánh.
3 - Dấu mà chúng ta vẽ trên mình kèm theo lời đọc: « Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần ». Chúng ta khẳng định mầu định Thiên Chúa Ba Ngôi.
Hiểu như thế sẽ giúp chúng ta làm dấu Thánh giá nghiêm túc hơn.

Hành động của Đức Cậy.
Niềm hy vọng của chúng ta là về Trời như các thánh đã ái mộ những sự trên Trời. Chính vì Đức Giêsu đã đến trần gian để cứu độ chúng ta, nên chúng ta có thể về Trời. Khi vẽ trên mình Dấu Thánh Giá, chúng ta nhớ đến cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá để cứu chúng ta, Ngài đã mở cửa Trời cho chúng ta.
Vậy, chúng ta khẳng định với nhau rằng, cuộc sống lữ hành của chúng ta là đi về Trời nơi chúng ta hy vọng sẽ tới sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế.

Hành động Đức Mến.
Thánh Giá gốm hai thanh gỗ ngang và dọc. Thanh dọc trình bầy tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa, thanh ngang diễn tả tình yêu của chúng ta đối với « tha nhân ».
Cần phải ghi nhận rằng khi được đưa lên khỏi đất, thanh dọc của cây Thánh Giá đỡ lấy thanh ngang: ngụ ý nói rằng tình yêu của chúng ta đối với tha nhân được « nâng đỡ » bởi tình yêu Thiên Chúa.
Nếu thanh dọc của cây Thánh Giá thiếu (tình yêu Thiên Chúa), thanh ngang bị bỏ nằm trên đất, không thể đưa lên khỏi đất. Ý muốn nói, trong hành động của đức Ái: « yêu tha nhân là yêu chính Chúa ».
Nhưng nếu có thanh dọc mà không có thanh ngang, (yêu tha nhân), hỏi rằng có còn là cây Thánh Giá nữa hay không ?
Hai điều cần thiết: là mến Chúa và yêu người ». Mỗi ngày chúng ta làm dấu trên mình nhiều lần: "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Ước gì chúng ta cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi, Thiên Chúa Tình Yêu trong cuộc đời ta, để chúng ta không ngừng kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Amen.
Nguồn vietcatholic.org
 
 

BaNgôi-269: MỘT TÌNH YÊU KHÔNG THỂ TIN ĐƯỢC

 (Gioan 3,14-21 – Chúa Ba Ngôi - A)
1.- Ngữ cảnh và Bố cục
 

Sách các Dấu lạ của TM IV (2,1–12,50) nói về các dấu lạ lồng vào một cái khung thời gian nhằm: BaNgôi-269

Sách các Dấu lạ của TM IV (2,1–12,50) nói về các dấu lạ lồng vào một cái khung thời gian nhằm giới thiệu chân tính của Đức Giêsu, là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu với Nicôđêmô (3,1-21) nằm trong phần đầu (2,1–4,54), phần này có bố cục như sau:
A (2,1-11.12): Khởi đầu các dấu lạ tại Cana miền Galilê: biến nước thành rượu (c. 12 là câu chuyển tiếp [nói về thời gian và không gian]sang đoạn sau).
B (2,13-22.23-25 +): Thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem và đối thoại với người Do-thái về Đền Thờ mới (cc. 23-25 là những câu “làm cầu” nối 2,13-22 với 3,1-21).
C (2,23-25; 3,1-21): Đối thoại với Nicôđêmô về việc sinh bởi trên cao và diễn từ về việc có sự sống vĩnh cửu.
C’(3,22-36; 4,1-3 +): Đối thoại của Gioan Tẩy Giả với các môn đệ ông về chú rể đến từ trên cao và diễn từ về sự sống (Đoạn 3,22-24 là dẫn nhập chuyển tiếp. Đoạn 4,1-3 là những câu “làm cầu” nối [vì kết] 3,22-36 với [vì chuẩn bị cho] 4,4-42; đoạn này minh nhiên quy chiếu về 3,22-23 và hướng tới 4,43-45).
B’(4,1-3.4-42): Đối thoại với người phụ nữ Samari về việc có nước hằng sống và việc phụng tự đích thật.
A’(4,43-45.46-54): Dấu lạ thứ hai tại Cana miền Galilê: chữa con trai một quan chức nhà vua (cc. 43-45 là đoạn chuyển tiếp [nói về thời gian và không gian] từ 4,4-42 sang 4,46-54).
          Chúng ta thử xác định cấu trúc của phân đoạn 3,1-21 (nhờ đó, có thể biết vị trí của cc. 14-21). Về hình thức bản văn, chúng ta ghi nhận rằng Nicôđêmô có nói ba lần ở cc. 2, 4 và 9. Đáp lại ba câu nói của ông, Đức Giêsu trả lời bằng công thức long trọng, “Thật, tôi bảo thật ông” (cc. 3, 5 và 11; đi trước c. 11 là một nhận xét đối-thủ-luận [ad hominem]). Ba câu trả lời của Đức Giêsu cứ mỗi lần mỗi dài hơn. Về phương diện tư tưởng, có những liên hệ đến Ba Ngôi: các lời Đức Giêsu nói ở cc. 3-8 liên hệ đến vai trò của Thần Khí; những lời ở cc. 11-15 liên hệ đến Con Người; những lời ở cc. 16-21 liên hệ đến Thiên Chúa Cha. Nếu tổng hợp hai phương diện hình thức và tư tưởng, chúng ta có thể xác định bố cục của 3,1-21 như sau:
* Câu 3,1: Dẫn nhập cho toàn bài (nối 2,23-25 với ch. 3).
1. Phân đoạn 1 (cc. 2-8): Sinh ra bởi trên cao nhờ bởi Thần Khí là điều cần thiết để được đi vào trong Nước Thiên Chúa; sinh ra bởi tự nhiên thì không đủ.
          (a) cc. 2-3: Câu hỏi và câu trả lời đầu tiên: sự kiện sinh ra bởi trên cao.
(b) cc. 4-8: Câu hỏi và câu trả lời thứ hai: cách thức sinh ra – nhờ bởi Thần Khí.
2. Phân đoạn 2 (cc. 9-21): Tất cả những điều này chỉ có thể có được khi Con đã lên cùng Cha, và điều này chỉ được ban cho những ai tin vào Đức Giêsu.
          - cc. 9-10: Câu hỏi và câu trả lời thứ ba dẫn nhập vào toàn phân đoạn.
          (a) cc. 11-15: Con phải lên cùng Cha (để ban Thần Khí).
(b) cc. 16-21: Tin vào Đức Giêsu là điều cần thiết để được hưởng nhờ ân huệ này.
         Theo R.E. Brown, tác giả TM IV đã để lại một vài dấu chỉ giúp khám phá ra lược đồ ngài theo để tổ chức bản văn.
Phân đoạn 1 bắt đầu với lời khẳng định của Nicôđêmô: “Chúng tôi biết Thầy là một vị tôn sư” (c. 2); câu này được đặt trong thế cân bằng với mở đầu của Phân đoạn 2 với lời Đức Giêsu, “Ông là bậc thầy (tôn sư) trong dân Israel, … chúng tôi nói những điều chúng tôi biết” (cc. 10-11).
Ngoài cách bố cục thành hai phân đoạn, dường như toàn bài được viết theo kỹ thuật đóng khung (bằng các ý tưởng cùng một trường ngữ nghĩa):
(a) Bản văn bắt đầu với việc Nicôđêmô đến với Đức Giêsu ban đêm; bản văn kết thúc với  đề tài người ta phải bỏ bóng tối để đến với ánh sáng.
(b) Nicôđêmô mở đầu cuộc đối thoại bằng cách chào Đức Giêsu là vị tôn sư từ Thiên Chúa mà đến; phần cuối của bản văn cho thấy rằng Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa (c. 16) mà Thiên Chúa đã sai đi vào trong thế gian (c. 17) như là ánh sáng cho thế gian (c. 19).
(c) Nếu chúng ta coi 2,23-25 như là phần mở đưa vào “xen” Nicôđêmô, chúng ta lại có một bản văn đóng khung khác: ở 2,23, chúng ta đã nghe nói đến những người “đã tin vào danh Người”, nhưng niềm tin của họ không thỏa đáng vì họ không đến để thấy Người là ai; ở 3,18, chúng ta thấy lời Đức Giêsu nhấn mạnh rằng ơn cứu độ chỉ được ban cho những ai “tin vào danh của Con Một Thiên Chúa”.
        
2.- Vài điểm chú giải
- Như ông Môsê đã giương cao con rắn (14): Câu này nhắc đến Ds 21,9tt.
- ai tin vào Người thì được sống muôn đời (15): Câu này tương ứng với Ds 21,8: “Ai nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống”.  
- Thiên Chúa yêu thế gian (16): Động từ agapaô ở thì quá khứ aorist (êgapêsen) nhắm diễn tả hành vi yêu thương tuyệt đỉnh của Thiên Chúa. Có thể nói ở đây chúng ta có một ví dụ tuyệt hảo về động từ agapaô được diễn tả ra thành hành động, bởi vì c. 16 nói đến tình yêu Thiên Chúa được bày tỏ ra trong cuộc Nhập Thể và cái chết của Chúa Con.
- đã ban (16): Đông từ didomi không chỉ nhắm đến cuộc Nhập thể (Thiên Chúa gửi Con vào trần gian; c. 17), nhưng nhắm đến cả cuộc đóng đinh (trao nộp cho chết: “giương cao” trong cc. 14-15). Như thế, động từ này tương tự với paradidomi, “trao nộp”, ở Rm 8,32; Gl 2,20; và didomi ở Gl 1,4.
- Thiên Chúa sai Con (17): Động từ apostellô này song song với “ban” (didomi) ở c. 16. Khi nói về Đấng Bảo Trợ, cũng có cặp động từ này, “sai” và “ban” ở 14,16.26. Gioan dùng hai động từ có nghĩa là “sai phái” có vẻ không phân biệt: pempô (26 lần) và apostelô (18 lần).
- Con (17): Từ “Con” ở dạng tuyệt đối (không có túc từ đi theo) trong Ga thì hầu như song song với  cụm từ “Con Người” theo truyền thống Nhất Lãm.
- không phải để lên án thế gian (17): Câu này xác định mục tiêu của sứ mạng Chúa Con đảm nhận khi được gửi vào trần gian: không phải để lên án, nhưng để cứu độ (x. Ga 4,42; 1 Ga 4,14). Thế nhưng ở 9,39, Đức Giêsu lại khẳng định: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử”. Điều duy nhất Thiên Chúa muốn, đó là cứu độ thế gian; nhưng biến cố Con của Ngài đến cũng nhất thiết đưa loài người đến chỗ phải lấy quyết định; quyết định trọng yếu nhất của đời người, là gắn bó với Con Một Thiên Chúa (c. 18) bằng đức tin, hoặc ngược lại, từ chối tin vào Người.
- được cứu độ (17): So sánh với c. 16, ta hiểu “được cứu độ” ở đây có nghĩa là “được sống muôn đời” (x. 1 Ga 4,14; Ga 12,47).
- vì đã không tin (18): Mê pepisteuken ở thì hoàn thành (perfect) có nghĩa là “đã và vẫn không tin”, một thái độ cứng lòng tin kéo dài.
- tin vào danh (18): “Danh” chính là bản thân Đức Giêsu.
- làm điều ác (20): Kiểu dùng động từ “làm” với “điều tốt”, “sự thật”, hoặc “điều xấu” (xem cc. 20.21) là một kiểu nói Sê-mít.   

3.- Ý nghĩa của bản văn
* Con phải lên cùng Cha (11-15)
Qua những lời đối thoại giữa Đức Giêsu và Nicôđêmô, ta biết rằng để được tham dự vào Nước Thiên Chúa, phải có một khởi đầu hoàn toàn mới, do Thiên Chúa ban trong bí tích Rửa Tội, nhờ quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa. Ở trong khởi đầu mới này, chúng ta không được thụ động, trái lại phải tin vào Con Thiên Chúa (x. 1 Ga 5,1). Thế nhưng đức tin chẳng phải là chuyện của con người. Đức Giêsu cho thấy rằng đức tin phải dựa trên bằng chứng tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta khi sai phái Con của Ngài đến. Cuộc tái sinh bởi Thiên Chúa và lòng tin vào Con Thiên Chúa đưa chúng ta đạt tới ý nghĩa và sự viên mãn của cuộc sống chúng ta, đưa đến sự sống đích thực không qua đi. Không có hai điều này, chúng ta sẽ sai lầm về ý nghĩa của chính bản thân chúng ta.
Làm thế nào để tránh khỏi cái chết thảm thương và bảo đảm cho cuộc sống chúng ta? Israel đã đứng trước những câu hỏi này khi mà trên đường băng qua sa mạc, họ bị rắn độc đe dọa (x. Ds 21,4-9). Thiên Chúa đã ra tay cứu trợ Dân Ngài. Ngài đã bảo Môsê đúc một con rắn đồng và treo vào cán cờ; ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng ấy thì được sống. Thiên Chúa vẫn trợ giúp chúng ta. Khi con người phạm tội, Thiên Chúa đã đặt định rằng Đấng Chịu Đóng Đinh là biểu tượng của ơn cứu độ, là nguồn mạch đưa tới sự sống. Đàng sau Đấng Chịu Đóng Đinh là chính Thiên Chúa. Ngài đã ban và sai Con của Ngài đến vì yêu thương toàn thể nhân loại, để họ được cứu độ. Tình yêu của Thiên Chúa có một cường độ và một chiều kích to lớn đến nỗi, nếu có thể, hẳn ta phải nói: Thiên Chúa yêu thương thế gian, yêu thương chúng ta, hơn chính Con của Ngài. Ngài không bỏ mặc thế gian, mà lại còn ban cho chúng ta món quà là Người Con vẫn sống trong một tương quan duy nhất với Ngài.

* Tin vào Đức Giêsu là điều cần thiết (16-21)
Thiên Chúa bày tỏ một sự ân cần lạ lùng đối với loài người chúng ta, Ngài quan tâm giúp chúng ta thành công trong cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta vẫn ở trong tình trạng bấp bênh: Thiên Chúa không cung cấp ơn cứu độ không cần chúng ta, hoặc là ngược lại với ý muốn của chúng ta. Chúng ta phải mở ra với sự ân cần của Thiên Chúa, phải trân trọng tình yêu lạ lùng ấy, phải tin vào Con Thiên Chúa chịu đóng đinh. Chỉ khi chúng ta xác tín rằng Đấng chịu đóng đinh là Con Một, Con yêu dấu của Thiên Chúa, thì quyền năng của tình yêu này của Thiên Chúa mới có thể thực sự đến với chúng ta và chúng ta mới có thể hoàn toàn mở ra với ánh sáng và sức nóng của Người. Đời sống chúng ta tùy thuộc đức tin của chúng ta.
Điều cần thiết này có vẻ hiển nhiên. Tuy thế, có một hiện tượng lạ lùng, đó là loài người lại ưa thích bóng tối hơn ánh sáng (c. 19). Có những lý do để trốn tránh ánh sáng và tìm lá chắn là bóng tối; những lý do này nằm nơi lối sống của con người. Ai làm điều ác thì tự nhiên tránh ánh sáng; ai làm điều thiện thì mới dám ra trước ánh sáng, người ấy không có gì phải che giấu. Chúng ta không thể coi nhẹ tầm quan trọng của hành động để bày tỏ đức tin. “Điều thiện”, đó là những gì chúng ta làm theo ý Thiên Chúa (c. 21), bằng cách lắng nghe Ngài, chân thành tìm cách thi hành ý muốn của Ngài. “Điều ác” là những gì chúng ta làm không theo các tiêu chí đó, khi chúng ta không tìm Thiên Chúa, nhưng ích kỷ tìm cách thực hiện các chương trình và ý muốn của riêng mình, thậm chí ngược lại với ý Thiên Chúa. Ai chỉ tìm chính mình, thì khép lại với Thiên Chúa và gặp nguy cơ là cũng cứ khép lại không nhận được mạc khải xán lạn về tình yêu của Ngài. Không nghiêm túc quan tâm đến ý muốn của Thiên Chúa, làm sao có thể tin vào tình yêu của Ngài? Chính tình yêu ấy lại càng đưa người ấy xa rời khuynh hướng ích kỷ và làm cho người ấy càng cảm nhận rằng mình hoàn toàn lệ thuộc Thiên Chúa! Ai luôn duy trì một dây liên kết với Thiên Chúa, thì mở ra với ánh sáng của tình yêu Ngài.

+ Kết luận
          Chỉ trong mấy câu Ga 3,14-21, tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi đối với loài người được khẳng định với sự tha thiết lạ lùng và điều kiện phải theo để được hưởng nhờ tình yêu đó cũng được xác nhận hết sức rõ ràng. Đứng trước mạc khải vĩ đại và trực tiếp này về Thiên Chúa, chúng ta không còn có thể tránh né mà nói rằng Thiên Chúa chỉ là một sức mạnh mơ hồ và xa cách với chúng ta. Đức Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh, cũng không phải chỉ là một tư tưởng hay một lý thuyết, một giả thuyết hoặc một chuyện hão huyền trên mây trên gió, mà là một thực tại lịch sử đích thực. Do đó, tình yêu của Thiên Chúa rất thực hữu!       

4.- Gợi ý suy niệm
1. Nói đến tình yêu là nói đến sự quan tâm, sự thông dự, sự ân cần, chăm sóc, nỗ lực, vận dụng mọi sự. Tình yêu muốn điều hay điều tốt cho người mình thương. Người ấy không dửng dưng với con đường và định mệnh của người yêu, nhưng ra sức làm cho người kia được sống trong niềm vui và sự viên mãn. Đối với Thiên Chúa thì sao? Phải chăng Ngài đã tạo thành thế giới rồi bỏ mặc nó? Ngài có quan tâm đến chúng ta và đến định mệnh chúng ta không, Ngài có để ý xem chúng ta thế nào và chúng ta đi đến đâu không? Thiên Chúa đã tạo thành chúng ta, đã quan tâm đến số phận của chúng ta, đã ban Người Con Một để chúng ta được sống viên mãn ngay từ bây giờ. Chúng ta có giá đối với Thiên Chúa đến mức Ngài sẵn sàng hy sinh Con vì chúng ta (x. Rm 8,32).
2. Sau cuộc tạo dựng, sau Lề Luật, các Ngôn sứ và tất cả những hình thái ân cần săn sóc khác, Chúa Con là tiếng nói cuối cùng và ân huệ có giá trị tối cao được Thiên Chúa ban cho chúng ta. Người Con sẽ quan tâm đến chúng ta riêng tư từng người, sẽ chỉ cho từng người biết con đường đưa tới ơn cứu độ, sẽ đưa ta đến chỗ hiệp thông với Người và đi đến cuộc sống muôn đời. Đức Giêsu, Đấng Chịu Đóng Đinh, không phải là một tư tưởng hay là một lý thuyết, một giả thuyết hay một chuyện tưởng tượng, nhưng là một thực tại lịch sử đích thực. Từ đó, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng tình yêu của Thiên Chúa cũng hết sức hiện thực.
3. Thiên Chúa, “một” (độc thần) mà cũng là “ba” (ngôi), là một mầu nhiệm rất lớn lao, mà chúng ta chẳng bao giờ ngờ tới, nếu chính Thiên Chúa không mạc khải cho chúng ta nhờ trung gian Đức Kitô. Chúng ta phải tuyên xưng các dữ kiện của mầu nhiệm này, và tiếp cận bằng những bước rất giới hạn và phiến diện, đồng thời tin tưởng tuyệt đối vào giáo huấn của Đức Giêsu Kitô.
4. Bản văn không nói trực tiếp đến Chúa Thánh Thần, nhưng chúng ta đã được mạc khải rằng Thiên Chúa và Đức Giêsu cứu độ chúng ta bằng cách ban Thánh Thần cho chúng ta (Ga 7,37-39; x. Gl 4,4-7). Dù sao mẩu đối thoại với Nicôđêmô cũng đã cho thấy những cái mốc: não trạng thiêng liêng do Thánh Thần ban cho. Thánh Thần đối nghịch lại với xác thịt (Ga 3,6), với những cái nhìn trần tục (3,12). Thiên Chúa Cha gửi Con Một của Ngài đến với chúng ta, để Người Con cứu chúng ta bằng cách thông ban Thần Khí. Và chính Thần Khí giúp ta đi lên với Chúa Cha nhờ trung gian Đức Kitô (x. Gl 4,4-7; Rm 8,15-17).
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 
 

BaNgôi-270: SỐNG YÊU THƯƠNG

THEO KHUÔN MẪU CHÚA BA NGÔI
(Lễ Chúa Ba Ngôi, năm A)
Jos. Vinc. Ngọc Biển
 

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm quan trọng nhất trong các mầu nhiệm của Đạo: BaNgôi-270

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm quan trọng nhất trong các mầu nhiệm của Đạo Công Giáo. Bởi vì mầu nhiệm này là mẹ sinh ra các mầu nhiệm khác, nói cách khác, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm nguồn của mọi mầu nhiệm.
Khi nói đến mầu nhiệm, người ta cảm thấy không thể lý giải được theo sự hiểu biết tự nhiên, vì thế, nó đã trở nên rào cản và cớ vấp ngã cho những ai mong thỏa mãn sự hiếu tri và đang cố gắng đi tìm cho được lời giả đáp “Ba Ngôi Một Chúa”; hay “Một Chúa Ba Ngôi”. Nhưng với những người có niềm tin, qua ánh sáng mặc khải soi chiếu, và luôn khao khát đi tìm ý nghĩa của nó, thì mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không xa lạ, nhưng lại rất gần gũi, mặc dù cao siêu và vượt quá sức tưởng của con người. Qua mầu nhiệm này, chúng ta khám phá được sự hiệp nhất, yêu thương nơi Thiên Chúa, và mỗi lần Giáo Hội cử hành mầu nhiệm này, Giáo Hội luôn mời gọi con cái mình yêu thương nhau theo khuôn mẫu của Ba Ngôi Thiên Chúa để được cứu độ.

    Bản chất Thiên Chúa là “Tình Yêu”
Khi nhắc đến Thiên Chúa, hẳn mỗi chúng ta đều có một định nghĩa riêng về Người, tuy nhiên, thánh Gioan đã cho chúng ta biết một mặc khải rất quan trọng khi nói về Thiên Chúa, đó là: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8).
Khi nói đến tình yêu, chúng ta ai cũng hiểu rằng tình yêu thì không “đơn phương độc mã”, không ích kỷ cũng chẳng bon chen; không quy chiếu về mình mà luôn hướng tha.
Muốn có được tình yêu, ắt phải đón nhận. Khi có cả hai chiều cho và nhận, thì tình yêu mới thực sự triển nở và ý nghĩa. Như vậy, tình yêu phải có điểm xuất phát, điểm hội tụ và mức độ lan tỏa.
Khi diễn tả ý tưởng trên, thánh Âutinh đã ví: “Nguồn mạch chính là Chúa Cha, Người chính là điểm xuất phát tình yêu; Chúa Con chính là điểm hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu; và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu và làm cho tình yêu được tỏa sáng”.
Trong lối diễn tả của thánh Âutinh cho thấy tình yêu được khởi đi từ Thiên Chúa Cha, đến với Chúa Con và qua Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa Cha vì yêu nên đã trao ban tất cả, ngay cả Người Con duy nhất của mình cho nhân loại. Chúa Con đã hoàn toàn vâng phục Chúa Cha trọn vẹn đến nỗi bằng lòng chết trên thập giá để thực hiện ý định yêu thương của Chúa Cha cho nhân loại. Chúa Thánh Thần là mối dây liên lạc, thông hiệp giữa Chúa Cha và Chúa Con nhờ tình yêu.
Như vậy, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu hướng ra để làm cho lan tỏa.
Thiên Chúa không để dành tình yêu cho chính mình, cho riêng Cha, Con và Thánh Thần, nhưng chính là cho chúng ta, những tạo vật được dựng nên theo hình ảnh của Người, bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8);  "... nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Như vậy, Thiên Chúa là tình yêu.

    Thiên Chúa “yêu” đến cùng
Tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua hành vi tự hiến của Thiên Chúa Cha: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một...” (Ga 3,16a). Từ “đến nỗi” ở đây cho thấy Thiên Chúa yêu đến tột cùng, yêu “đến nỗi” không còn gì để diễn tả, để trao ban hơn được nữa, vì thế chỉ còn cách duy nhất là trao ban chính Con của mình đến để diễn tả tình yêu cho nhân loại bằng chính cái chết mà thôi.
Tại sao Thiên Chúa lại trao ban Con Một? Thưa! “...để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16b). Như vậy, Tình yêu chân chính là mong sao người mình yêu được hạnh phúc hơn cả bản thân mình. Thật vậy, Thiên Chúa yêu thế gian cách tuyệt đối và mong sao cho chúng ta được hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đối là được vào ở trong tình yêu của Thiên Chúa. Bởi vì: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” Ga 3,17).

    Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mời gọi ta sống yêu thương
Qua mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi người chúng ta được mời gọi sống yêu thương, hiệp nhất như Thiên Chúa là tình yêu.  Không yêu thương nhau, chúng ta vẫn mãi là người xa lạ với mầu nhiệm này, bởi vì mầu nhiệm này là mầu nhiệm tình yêu, muốn hiểu được thì phải yêu. Nói như thánh Gioan: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8), nên  “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8).
Vì thế, trong đời sống gia đình, mỗi người hãy yêu thương nhau. Chồng phải yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh, và như Hội Thánh phục tùng Đức Kitô thế nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình trong mọi sự như vậy. Sự xuất hiện của người con trong đời sống hôn nhân chính là kết quả của tình yêu giữa vợ và chồng, vì thế, như một điều kiện cần để được hạnh phúc, con cái hãy yêu mến cha mẹ mình và tỏ lòng thảo hiếu với cha mẹ để đáng được hưởng sự chúc lành của Thiên Chúa.
Tình yêu ấy lại không chỉ dừng lại với chính người thân của mình, mà còn phải hướng ra xa, rộng lớn hơn tới hết mọi người, kể cả yêu kẻ thù của mình nữa.
Như vậy, để tình yêu có giá trị, cần phải có sự hy sinh, quên mình và phục vụ lẫn nhau. Yêu nhau mà không chấp nhận hy sinh, gian khổ vì nhau và với nhau, thì chưa phải là tình yêu thật sự.
Khi yêu như thế, tình yêu của vợ chồng và con cái cũng như với tha nhân đang phỏng chiếu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống thực tại của mình.
Muốn giữ được tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa nơi mình, người kitô hữu phải luôn ý thức mình thuộc về Thiên Chúa, khi thuộc về Người, thì ta cũng sẽ trở nên những người có: “... lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau” Cl 3,12-13).
Mong sao, mỗi khi chúng ta đặt tay lên trán, trên ngực và ngang vai, để tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì cũng là lúc chúng ta nhớ đến bản chất của mầu nhiệm này là tình yêu; đồng thời, chúng ta cũng xin Chúa ban cho chúng ta được sống trong tình yêu đó của Thiên Chúa để “... đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13,13), hầu chúng ta cùng mạnh dạn tuyên xưng: “Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen”.
 
 

BaNgôi-271: HIỆP THÔNG CHIA SẺ NOI GƯƠNG CHÚA BA NGÔI

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI A
Xh 34,4b-6.8-9 ; 2 Cr 13,11-13 ; Ga 3,16-18
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Ga 3,16-18
(16) Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (17) Quả vậy, Thiên Chúa sai Con Một của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ. (18) Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án, nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.
2. Ý CHÍNH:
 

Tin Mừng lễ Chúa Ba Ngôi trích trong cuộc đàm thoại ban đêm giữa Đức Giê-su với ông Ni-cô-đê-mô: BaNgôi-271

Tin Mừng lễ Chúa Ba Ngôi trích trong cuộc đàm thoại ban đêm giữa Đức Giê-su với ông Ni-cô-đê-mô về ơn tái sinh để được vào Nước Trời mà Người muốn thiết lập. Sau khi cho ông này biết điều kiện để đón nhận ơn cứu độ là phải được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, Đức Giê-su đã mặc khải cho ông về tình yêu của Thiên Chúa: Thiên Chúa đã cứu độ thế gian bằng cách sai Con Một của Người xuống trần để chịu chết đền tội thay cho thế gian (14-16). Ai tin vào Người Con ấy thì mới được hưởng hồng ân cứu độ của Người (17-18).
3. CHÚ THÍCH:
- C 16: + Thiên Chúa đã yêu thế gian: Thế gian ám chỉ toàn thể vũ trụ mà trong đó nhân loại là thành phần quan trọng nhất (x. Ga 3,16), nhưng ở chỗ khác, thế gian lại ám chỉ bọn đầu mục Do thái là những kẻ luôn để tâm thù ghét và chống đối Đức Giê-su (x. Ga 12,31; 1 Ga 2,16-17). Câu này diễn tả một sự thật mới mẻ, vì truyền thống Do thái trước đó chỉ đề cập đến việc Thiên Chúa yêu thương Ít-ra-en là con dân của Người. + Con Một của Người: Trong kinh tin kính, Giáo Hội dạy: “Tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng ta. Như vậy Đức Giê-su có hai bản tính: Một là bản tính Thiên Chúa và hai là bản tính loài người, nhưng Người chỉ có một Ngôi là Ngôi Con hay Ngôi Lời. Việc Chúa Cha ban Con Một để cứu chuộc thế gian là một dấu chứng rõ ràng biểu lộ tình yêu tột đỉnh của Ngài đối với thế gian (x. 1 Ga 4,9-10). + Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết: Niềm tin vào Ngôi Con là điều kiện để được hưởng ơn cứu độ của Chúa Giê-su và được sống muôn đời.
- C 17: + Không phải để lên án thế gian: Sứ mạng của Con Thiên Chúa đến thế gian không phải để kết án thế gian nhưng để cứu chuộc họ (x. 1 Ga 4,14). + Tại sao nơi khác Đức Giê-su lại phán: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử, cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù” (Ga 9,39) ?: Thực ra điều Thiên Chúa muốn là sai Con Một đến để ban ơn cứu độ cho thế gian. Nhưng thế gian có nhận được ơn cứu độ đó hay không là tùy theo thái độ đáp trả của họ là tin nhận hay từ chối Người. Chính sự lựa chọn này làm nên việc xét xử: Tin nhận Chúa Giê-su thì được cứu, nghĩa là được hưởng ơn tha tội, được giao hòa với Chúa Cha và được tham phần vào sống muôn đời với Người, giống như một người bị mù vốn không nhìn thấy, nhưng giờ đây lại được xem thấy. Còn ai từ chối Chúa Giê-su là tự lên án mình, tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ của Người. Các đầu mục dân Do thái tuy sáng mắt nhưng vì cứng lòng tin, không nhận Người là Đấng Thiên Sai, nên họ đã trở thành mù tối.
- C 18: + Ai tin vào Con của Người thì không bị kết án: Tin ở đây không phải chỉ bằng lời nói “Lạy Chúa, Lạy Chúa !”, nhưng bằng việc làm theo thánh ý Thiên Chúa, biểu lộ qua sự thực hành lời Chúa Giê-su dạy” (x. Mt 7,21.24). Thánh Phao-lô cũng nói: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được ơn cứu độ. Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; Có xưng ra ngoài miệng mới được ơn cứu độ… Vì tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát” (x. Rm 10,9-10.13). + Nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi: Sứ mạng của Đức Giê-su là ban sự sống, ban ơn cứu độ cho những ai tin Người. Ai cố tình không chấp nhận Ngôi Lời Nhập Thể, nghĩa là không tin vào Danh Con Một Thiên Chúa (x Ga 6,64), là đã tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ, đồng nghĩa với việc đã tự kết án chính mình. + Vì đã không tin vào Danh của Con Một Thiên Chúa: Danh Con Một Thiên Chúa là chính Chúa Giê-su (x. Ga 2,23; 1 Ga 3,23). Chỉ những ai tin và liên kết với Chúa Giê-su, nhìn nhận và kêu cầu quyền năng của Người mới được ơn cứu độ (x. Pl 2,9-11; Cv 10,43).
4. HỎI ĐÁP:
- HỎI 1) Chúa Giê-su đã dạy gì về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi?
ĐÁP:
Trong Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su đã nói nhiều về mối liên hệ mật thiết giữa Người với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần vào cuối bữa tiệc Vượt Qua (x. Ga 14.15.16.17). Tin Mừng Mát-thêu ghi lại lời Đức Giê-su mặc khải về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi trước khi lên trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (x. Mt 28,19). Mát-thêu cũng ghi lại cuộc thần hiện tại sông Gio-đan như sau: “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì kìa các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và kìa có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16-17). Tiếng phán từ trời, Đức Giê-su và hình chim bồ câu là biểu tượng của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Phao-lô cũng dạy về mầu nhiệm Ba Ngôi trong lời nguyện chúc: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. Amen” (2 Cr 13,13). Tin Mừng Lu-ca và sách Công Vụ Tông Đồ lại trình bày lịch sử cứu độ theo chiều kích Ba Ngôi: Thời kỳ Cựu Ước là kỷ nguyên của Chúa Cha, thời kỳ cứu thế rao giảng Tin Mừng là kỷ nguyên của Chúa Con, và thời kỳ Giáo Hội được khai sinh và phát triển đến “tận cùng thế giới” hay thủ đô Rô-ma là kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.
- HỎI 2) Thánh Kinh trình bày mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi như mầu nhiệm Tình Yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa thế nào ?
ĐÁP:
- Chúa Cha luôn hiện hữu và sinh ra Chúa Con từ trước khi có thời gian (x. Tv 2,7).
- Chúa Cha yêu mến Chúa Con và ban cho Chúa Con mọi quyền xét xử (x. Ga 5,20.22).
- Chúa Con chính là hình ảnh của Chúa Cha (x. Ga 14,9-10),
- “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11)
- “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30).
- Chúa Giê-su luôn vâng phục và làm theo thánh ý Chúa Cha (x. Ga 5,19).
- Tình yêu hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con nhiệm xuất ra Chúa Thánh Thần (x. Ga 15,26).
- HỎI 3) Ta có thể dùng những hình ảnh nào để minh họa mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi ?:
ĐÁP:
- Nhà thần học PHĂNG SÍT (Frank Sheed) đã dùng hình ảnh mưa rơi để giúp người ta hiểu phần nào về mầu nhiệm đơn nhất và đa dạng của Chúa Ba Ngôi như sau: “Nước đang mưa thực sự là nước, nhưng có thể xuất hiện bằng ba dạng khác nhau là: dạng hơi nước, dạng băng đá và dạng nước mưa như ta thấy”.
- Thánh I-nha-xi-ô lần kia khi đang cầu nguyện chợt nghĩ ra “ba nốt nhạc có thể làm thành một hợp âm duy nhất” cũng giống như Ba Ngôi hiệp nhất trong một bản thể duy nhất.
- Thánh Pa-tríck thường dùng hình ảnh lá cây tam diệp thảo do ba lá nhỏ ghép lại thành một lá lớn.
- Có người khác lại dùng một hình tam giác đều có ba cạnh ba góc bằng nhau để diễn tả mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi này.
- Ngòai ra chúng ta cũng có thể dùng một hình ảnh đời thường để minh họa phần nào về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi như sau: Một người đàn ông lấy vợ và có con thì tuy anh ta chỉ là một người, nhưng lại có ba vai trò khác nhau: Làm “cha” nên được con gọi: “Ba ơi”; Làm “con” nên được bố đẻ gọi: “Con ơi”; Làm “chồng” nên được vợ gọi: “Anh ơi”.
- HỎI 4) Vai trò của mỗi Ngôi Thiên Chúa đối với loài người chúng ta như thế nào ?
ĐÁP:
- Ngôi Cha dựng nên ta: Thiên Chúa Cha (Ngôi thứ Nhất) đã sáng tạo nên vũ trụ vạn vật. Đặc biệt loài người, được Thiên Chúa tạo thành theo hình ảnh của Người, nghĩa là có linh hồn thiêng liêng bất tử và có tình yêu thương (x. St 1,37).
- Ngôi Con cứu chuộc ta: Khi nguyên tổ loài người nghe theo ma quỷ cám dỗ phạm tội bất phục tùng và phải chết, thì Thiên Chúa Cha đã hứa ban Chúa Con (Ngôi thứ Hai) xuống thế để cứu chuộc loài người là Chúa Giê-su. Chúa Giê-su đã thi hành sứ mạng cứu chuộc ấy bằng việc mở ra một con đường về trời gọi là “đạo Công giáo”. Người đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời trong thời gian gần 3 năm để dạy loài người nhận biết tôn thờ và sống hiếu thảo với Thiên Chúa Cha. Vào lúc cuối đời, Người đã sẵn sàng vâng theo ý Chúa Cha để đi con đường "Qua đau khổ vào vinh quang", sẵn sàng chịu chết trên thập giá để đền tội thay loài người và sống lại để ban ơn cứu độ loài người.
- Ngôi Thánh Thần thánh hóa ta: Sau khi sống lại, Chúa Giê-su Phục Sinh đã thổi hơn ban Chúa Thánh Thần (Ngôi thứ Ba) cho các Tông đồ. Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ khác, là Thần Chân Lý, do Chúa Cha sai đến để thay Chúa Giê-su tiếp tục dạy dỗ các môn đệ (x. Ga 14,16). Trong thời Cưu Ước, Thánh Thần đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy loài người. Đến thời Tân Ước, Thánh Thần đã như chim bồ câu ngự xuống trên Đức Giê-su sau khi chịu phép Rửa tại sông Gio-đan, để tấn phong Người làm Đấng Thiên Sai (x Mt 3,16-17). Sau đó, Thánh Thần hướng dẫn Đức Giê-su vào sa mạc để chịu ma quỷ thử thách cám dỗ (x Mt 4,1-11), và sau đó đi khắp nơi rao giảng Tin mừng Nước Trời (x Mt 4,17). Thánh Thần cũng làm cho Đức Giê-su từ cõi chết sống lại. Vào buổi chiều ngày phục sinh, Chúa Giê-su đã hiện ra sai các Tông đồ tiếp tục sứ mạng của Người. Rồi thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông kèm theo quyền tha tội (x Ga 20,20-23). Vào lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần lại hiện xuống trên Hội Thánh Sơ Khai dưới dạng một cơn gió mạnh ào vào nhà nơi các Tông đồ đang cầu nguyện và làm xuất hiện trên đầu mỗi vị một hình lưỡi lửa (x Cv 2,1-4). Từ đây Thánh Thần luôn hiện diện trong Hội Thánh để thánh hóa các tín hữu qua các phép bí tích, giúp các vị Mục Tử chu toàn sứ mạng chăm sóc đoàn chiên Hội Thánh và làm chứng nhân cho Chúa Giê-su đến tận cùng thế giới (x. Ga 15,26).
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,7-8).
2. CÂU CHUYỆN:
Trong tác phẩm “Anh phải sống”, nhà văn Nhất Linh đã kể lại một câu chuyện cảm động, nói lên tình nghĩa phu thê và tình mẫu tử bao la như sau: Có hai vợ chồng tiều phu nghèo khó, sống bên một dòng sông. Hằng ngày, ngay từ sáng sớm, hai vợ chồng đã thức dậy cùng nhau bơi thuyền vào rừng, chặt củi cột thành từng bó, rồi chất lên thuyền mang ra chợ bán lấy tiền nuôi hai đứa con còn thơ. Rồi một ngày nọ, đang lúc chèo thuyền từ rừng về thì trời đột nhiên nổi cơn giông bão, chiếc ghe đầy củi của họ không thể chịu nổi cơn sóng to gió lớn nên đã bị lật úp giữa dòng sông nước chảy cuồn cuộn. Cũng may là họ đã ôm được một khúc cây to và dìu nhau bơi vào bờ. Nhưng khi gặp chỗ nước sóay, cả hai bị nước cuốn trôi mất khúc cây. Bấy giờ anh chồng một tay ôm vợ, tay kia tiếp tục bơi. Thấy chồng dần dần kiệt sức và cả hai sắp bị chết chìm, chị vợ nghĩ đến hai đứa con thơ nên đã thều thào nói với chồng: “Anh phải sống để nuôi con anh nhé !”, rồi chị âm thầm buông tay chồng, tự nguyện chịu chết để anh đủ sức bơi vào bờ. Chị đã vì yêu thương nên sẵn sàng chịu chết để chồng con mình được sống.
3. SUY NIỆM:
Ngày nay để thực thi tình yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi, mỗi người chúng ta cần thực hành giới răn “mến Chúa yêu người” cách cụ thể như sau:
1. YÊU MẾN CHÚA BA NGÔI: Phải làm sao để Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Một phương cách dễ dàng thực hiện nhất đó là mỗi ngày hãy dành ra ba phút để cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi trước khi đi ngủ như sau: Đầu tiên làm dấu thánh giá để tuyên xưng đức tin vào mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Tiếp đến sẽ dành ra 3 phút để càu nguyện với từng Ngôi một như sau:
+ Phút thứ nhất cầu nguyện với Chúa Cha: Hãy nghĩ đến những ơn lành Thiên Chúa đã ban cho ta từ sáng đến giờ như: cho ta được nhận biết tin thờ Chúa, giúp ta giải quyết được nỗi khó khăn đang gặp phải, giúp ta làm chủ được cơn giận trước những lời khích bác vu khống của kẻ thù ghét mình… Rồi dâng một lời cầu để chúc tụng và tạ ơn Chúa Cha.
+ Phút thứ hai: Tìm ra những điều ta đã sai lỗi trong ngày qua, như đã tỏ ra dửng dưng khi thấy một người không quen gặp phải tai nạn và đang cần được trợ giúp…, rồi dâng một lời cầu nguyện để xin Chúa Giê-su tha tội thiếu sót bổn phận trợ giúp tha nhân.
+ Phút thứ ba: Nhớ đến những sự khó khăn ta đang gặp phải cả về tinh thần cũng như vật chất. Chẳng hạn như đứa con của chúng ta trốn học đi chơi. Hoặc khi ta bị một món nợ sắp đến hạn thanh toán mà chưa có tiền trả… Rồi dâng một lời cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng giúp chúng ta tìm ra phương cách hữu hiệu để hóa giải, đồng thời sẵn sàng chấp nhận những trái ý để vâng theo ý Chúa Cha như Chúa Giê-su trong vườn cây dầu (x. Mt 26,42).
Việc cầu nguyện này bao gồm cả bốn phương diện là ca tụng, tạ ơn, sám hối và xin ơn và giúp chúng ta sống mầu nhiệm Ba Ngôi trong tư tưởng, lời nói đến việc làm.
2. YÊU THƯƠNG THA NHÂN: Càn phải sống tình yêu thương thực sự. Tin Mừng hôm nay cho biết tình yêu thực sự phải mang các đặc tính của tình yêu nơi Thiên Chúa như sau:
+ Tình yêu hiệp nhất: Noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi tuy khác biệt nhau nhưng hiệp nhất trong cùng một bản thể, chúng ta cũng cần vượt qua sự khác biệt nhau để sống hòa hợp, cùng tồn tại và phát triển theo ý Chúa muốn. Chính nhờ có sự khác biệt này mà con người mới trở nên phong phú đa dạng hơn, với  điều kiện phải yêu thương nhau noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhờ tình yêu Chúa thôi thúc, chúng ta sẽ biết chấp nhận sự khác biệt và đối thoại để hòa hợp và cộng tác với nhau để phát triển, thay vì tranh cãi hơn thua và loại trừ nhau. Bạn có chấp nhận sự hiệp nhất trong đa dạng noi gương Chúa Ba Ngôi không ?
+ Tình yêu vị tha: tình yêu thực sự đòi ta phải năng nghĩ đến người mình yêu và mong họ được hạnh phúc như lời Chúa Giê-su: “Mục tử tốt lành sẵn sàng hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Tình yêu chân chính sẽ tìm làm cho người yêu vui vẻ hạnh phúc noi gương Chúa Giê-su yêu thương đoàn chiên: “Thầy đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Bạn có yêu cha mẹ và những người thân của bạn như vậy không ?
+ Tình yêu dâng hiến: Tình yêu thực sự đòi phải hy sinh cho người mình yêu noi gương Thiên Chúa như lời Chúa dạy: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài”. Đức Giê-su được sai xuống trần gian để “hy sinh mạng sống cho đoàn chiên” (Ga 3,16a; 10,11). Chính Người đã dạy: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Vậy bạn có dám hy sinh chịu thiệt về tiền bạc và sức khỏe để người mình yêu được khỏe mạnh và hạnh phúc không ?
+ Một tình yêu cao cả: Thánh Gio-an viết: Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta đáng yêu, nhưng “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những tội nhân” (Rm 5,8). Cũng vậy, chúng ta phải yêu hết mọi người kể cả những người không đáng yêu, những người tàn tật, tội lỗi, những kẻ đang thù ghét nói xấu và làm hại chúng ta  (x. Lc 6,27-42). Tình yêu của bạn có cao cả noi gương Thiên Chúa không, hay chúng ta chỉ yêu những người đẹp tốt đáng yêu và yêu những ai yêu mình mà thôi ?
+ Một tình yêu tôn trọng: Tình yêu của Thiên Chúa không chiếm hữu hay cầm tù người yêu nhưng luôn tôn trọng tự do của lòai người. Người chỉ nêu nguyên tắc chung: “Ai tin thì được sống đời đời. Còn kẻ không tin thì đã bị kết án”. Thánh Phao-lô cũng viết: “Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7). Tình yêu của bạn dành cho tha nhân có tự nguyện không ? Bạn có ghen tuông khi cấm cản người yêu gặp gỡ tiếp xúc với người khác không ? Bạn có tin tưởng và tôn trọng người yêu của bạn không ?
TÓM LẠI: chúng ta sẽ xa lạ với Thiên Chúa nếu chúng ta xa lạ với tình yêu thực sự như thánh Gio-an đã viết: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Ước gì cuộc đời chúng ta sẽ thấm đượm tình yêu, để mọi việc chúng ta làm đều bắt nguồn từ tình yêu và đều qui hướng về tình yêu Thiên Chúa, khi chúng ta biết luôn nghĩ đến tha nhân, sẵn sàng chia sẻ và khiêm nhường phục vụ mọi người, nhất là phục vụ những người nghèo khổ bất hạnh và đang bị bỏ rơi…
4. THẢO LUẬN:
1) Hãy cho biết những hình ảnh nào được dùng để diễn tả mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi và bạn thích hình ảnh nào nhất ? Tại sao ? 2) Bạn sẽ làm gì để sống kết hiệp với Chúa Ba Ngôi và sống yêu thương phục vụ mọi người ?
5. CẦU NGUYỆN:
- LẠY CHÚA BA NGÔI LÀ TÌNH YÊU. Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi lộc vật chất, xin dạy con biết phục vụ trong khiêm tốn và vô vụ lợi. Giữa một thế giới muốn thống trị và ham hưởng thụ, xin dạy con biết yêu thương cách quảng đại và biết khiêm nhường tự hiến. Giữa một thế giới có nhiều phe phái chia rẽ nhau, xin dạy con luôn sống hiệp thông và có tinh thần trách nhiệm cao. Giữa một thế giới đầy thành kiến và kỳ thị giai cấp, màu da, phái tính… xin dạy con biết nhìn mọi người đều là anh chị em và chân thành yêu thương họ.
- LẠY CHÚA BA NGÔI CHÍ THÁNH. Chúa là mẫu gương của một tình yêu hoàn hảo. Xin hãy biến đổi trái tim sơ cứng như đá của chúng con nên trái tim bằng thịt biết yêu thương. Xin dạy chúng con yêu thương hết mọi người, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh. Xin cho chúng con luôn thấy Chúa Giê-su đang hiện diện trong chúng con và trong mọi người. Nhờ tình yêu Chúa thôi thúc, chúng con hy vọng sẽ ngày một trở nên con hiếu thảo của Chúa Cha và nên anh chị em của mọi người.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH -  HHTM
 
 

BaNgôi-272: Thiên Chúa Ba Ngôi Nhân Ái

Chúa Nhật Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi Năm A
(Xh 34,4-6.8-9; 2C 13,11-13; Yn 3,16-18)
 Phúc Âm: Yn 3, 16-18
"Thiên Chúa đã sai Chúa Con đến để thế gian nhờ Người mà được cứu độ".
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy, thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa".
 
Suy Niệm:
Chúa Nhật Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi
Xh 34,4-6.8-9; 2C 13,11-13; Yn 3,16-18
 

Sau khi đã cử hành hết các mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa Cứu Thế, từ khi Người sinh ra cho đến: BaNgôi-272

Sau khi đã cử hành hết các mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa Cứu Thế, từ khi Người sinh ra cho đến khi Người chịu chết-sống lại-lên trời; và nhất là sau khi đã được đầy Thánh Thần đến soi sáng, dạy bảo, nâng đỡ và hướng dẫn, hôm nay Giáo hội cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong niềm hân hoan trìu mến. Có thể nói được rằng khi chưa hiểu rõ Ðức Yêsu Kitô và khi chưa được Thần linh hóa nhờ việc đón nhận Thánh Thần, người ta chưa "biết" được Thiên Chúa. Thế nên lễ Thiên Chúa Ba Ngôi cử hành hôm nay đã được chuẩn bị bằng các lễ cử hành trước đây. Và mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm cao cả nhất, mà Ðức Yêsu Kitô không những đã phải để cả cuộc đời trần gian của Người mà còn đã phải chết, sống lại, lên trời và sai Thánh Thần xuống mới mạc khải hết được cho chúng ta biết về mầu nhiệm sâu xa nơi Thiên Chúa.
Do đó, muốn am hiểu, yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi chúng ta không thể cậy vào sức suy nghĩ của loài người, nhưng phải tựa vào mạc khải của Ðức Kitô và ơn soi sáng của Thánh Thần. Chúng ta sẽ thấy thật không có dân nào có Chúa mình ở gần như Thiên Chúa chúng ta rất gần gũi với Dân Người. Và điều này chúng ta thấy đã được mạc khải ngay từ thời Cựu Ước.
 
A. Thời Cựu Ước
Bài sách Xuất hành hôm nay cho ta thấy từ sáng sớm, Môsê đã chỗi dậy và lên núi Sinai. Chúng ta phải cảm phục ông. Một mình ông có những tư tưởng thâm thúy về Thiên Chúa. Những đoạn sách Xuất hành trước cho biết toàn thể con cái Israel đã suy nghĩ vớ vẩn về Ðấng mà họ muốn tôn thờ. Ngay cả Aharôn, người phát ngôn viên của Môsê, cũng không cưỡng lại được những ý nghĩ sai lầm của thời đại về Thiên Chúa. Ðang khi một mình Môsê ở trên núi, toàn thể con cái Israel đã phạm tội, đã "đánh đĩ", nếu chúng ta muốn dùng danh từ chuyên môn trong khoa học về các tôn giáo thời xa xưa. Họ quên Ðấng Thiên Chúa Vô hình đã dẫn đưa họ ra khỏi Aicập. Họ muốn có Chúa của họ một cách cụ thể, mà mắt có thể thấy và tay có thể rờ. Nói một cách cụ thể, họ đòi Thiên Chúa phải ở trong tầm tay của họ, để theo lời họ nói "đi trước họ", mở lối đi thẳng tắp khiến đường đời của họ được trơn tru và không cần phấn đấu. Họ muốn có một mảnh bùa hộ mạng trên đường đời đầy nguy hiểm. Nên họ xin Aharôn đúc cho một tượng bò. Rồi họ nhảy nhót mừng rỡ khánh thành tượng bò ấy.
Ở trên núi xuống, Môsê thấy toàn dân đang quay cuồng. Ông phẫn nộ. Và sẵn hai bia đá trong tay, ông liệng thẳng vào tượng bò. Toàn dân kinh hoàng. Nhưng rồi họ cũng hiểu cơn giận của ông. Ông quảng đại. Ông tha thứ. Nhưng còn đâu hai bia đá với lệnh truyền của Chúa? Phải thưa lại với Người làm sau bây giờ? Run sợ, nhưng tin tưởng và tín thác, Môsê đã tiến lên gặp Chúa. Ông đã gặp được tình thương nơi Ðấng Công chính và Thánh thiện. Ngài không bớt đòi hỏi, vì mọi đòi hỏi của Ngài chỉ xây dựng hạnh phúc của con người mà thôi. Nhưng Ðấng rất đòi hỏi , Ðấng đã tự xưng là "Chúa hay ghen", cũng là Ðấng đầy tình thương. Ngài hứa với Môsê, hôm sau ông trở lại lên núi, Ngài sẽ viết cho hai bia đá khác. Chính vì vậy mà hôm nay ngay từ sáng sớm, Môsê đã chỗi dậy và lên núi, mang theo hai bia đá.
Và sách Xuất hành kể tiếp: Yavê đã xuống với Môsê, hô Danh Ngài cho ông biết: Yavê là Thiên Chúa chạnh thương, huệ ái, bao dung và đầy nhân nghĩa, tín thành. Giữ nghĩa cho đến ngàn đời, chịu đựng lỗi lầm, quá phạm và tội khiên nhưng không coi tội dường thể vô can.
Bằng những lời như thế, tác giả sách Xuất hành tỏ ra đã hiểu rõ lòng Chúa trong Cựu Ước, nếu không phải là chính Chúa đã để cho loài người được biết Ngài là Ðấng nào. Ngài thánh thiện, công minh tuyệt đối, "không coi tội dường thể vô can". Nhưng đối với loài người tội lỗi, Ngài lại "chạnh thương, huệ ái, bao dung, đầy nhân nghĩa chịu đựng lỗi lầm, quá phạm và tội khiên".
Hiểu rõ Thiên Chúa như vậy, bao thế hệ người công chính sống giữa dân tội lỗi "cứng đầu" vẫn một mực tin ở Ngài và chắc chắn Ngài chẳng bỏ rơi cơ nghiệp Ngài đã chọn. Ðối với họ, Thiên Chúa là Ðấng ngàn trùng chí thánh, không coi tội dường như thể vô can; nhưng đồng thời lại là Ðấng đầy lòng nhân nghĩa, không muốn tội nhân phải chết, một muốn họ trở lại mà được sống. Thế nên họ chờ mong ơn cứu chuộc. Họ trông chờ Ðấng Cứu Thế, vì Chúa đã mạc khải cho họ biết Ngài là Ðấng như vậy và Ngài vẫn tự xưng là Ðấng Thánh của Israel. Ngài thánh thiện nhưng vẫn thương Israel tội lỗi. Ngài phải thi hành một kế hoạch nào đó giải quyết mối căng thẳng giữa thánh thiện và tình thương, giữa công chính và nhân nghĩa, giữa Thiên Chúa và con người. Và giải pháp ấy đã có, khi Ðức Kitô xuất hiện và như lời Người nói với Nicôđêmô hôm nay.
 
B. Thời Tân Ước
Luật sĩ này tìm đến thăm Người vào lúc ban đêm. Ông ở trong đêm tối và đi đường tối tăm để đến gặp Chúa. Sách Tin Mừng Yoan thích nói đến u tối và ánh sáng, nên chúng ta phải để ý đến chi tiết này hầu hiểu được ý của tác giả. Nicôđêmô có thể nói, tượng trưng cho con người Dothái sống bám vào Luật pháp. Ông là luật sĩ. Ông chỉ biết có luật. Nên sánh với Ðức Yêsu là "ánh sáng đến trong thế gian", ông còn ở trong đêm tối và còn đi trong bóng tối.
Tuy nhiên ông biết Luật pháp. Và Luật pháp cùng với Tiên tri đều nói về Con Người. Ta phải giả thiết rằng ông biết sách Xuất hành, biết tư tưởng của sách ấy về Thiên Chúa, biết Ngài là Ðấng Thánh của Israel như chúng ta vừa trình bày, tức là biết Thiên Chúa rất công chính nhưng đầy lòng nhân nghĩa muốn thi thố ơn cứu chuộc loài người tội lỗi. Thì nay Ðức Yêsu mạc khải cho ông tiếp diễn kế hoạch của Thiên Chúa. Người nói: "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để... ai tin... thì được sống đời đời".
Ðó là mạc khải mới mẻ. Trước đây, dân Israel chỉ biết "một" Thiên Chúa. Cũng có lần họ thưa Ngài là Cha, nhưng nghĩ chỉ là Cha của họ, Cha đối với tạo vật đã sinh ra chúng. Và khi xưng với Ngài là con, họ cũng chỉ hiểu theo tương quan Tạo hóa-tạo vật. Cùng lắm họ đã nghĩ đến tương quan Giao ước và tưởng Thiên Chúa là Cha theo nghĩa Ngài đã tuyển chọn Dân, tức là đã sinh ra Dân.
Nhưng hôm nay, Ðức Yêsu tuyên bố với Nicôđêmô một điều mới hẳn: Thiên Chúa yêu thương loài người nên sai Con Một Người xuống thế. Như vậy, Thiên Chúa là Cha ngay nơi bản tính của mình, ngay trong lòng mình vì Người có một người Con. Và như thế, Người là Cha theo một nghĩa rất đặc biệt. Vì có gì ở nơi Thiên Chúa mà lại không đặc biệt, nghĩa là khác với mọi quan niệm chúng ta thường dùng! Chẳng vậy mà có lần Ðức Yêsu nói: các ngươi là những người xấu còn biết cho con cái mình những điều tốt lành, huống nữa là Cha trên trời. Và câu ấy đã không làm ai bực mình vì mọi người đều công nhận Thiên Chúa vô cùng tốt lành, tốt lành quá sức chúng ta tưởng tượng; do đó Người cũng là Cha ngoài quan niệm thông thường của chúng ta, vì Người có Con Một cùng một bản tính với mình. Và Người Con ấy, nay Người gửi xuống với loài người vì yêu thương chúng ta.
Chắc chắn hôm ấy Nicôđêmô đã không hiểu gì; nếu không, ông đã phải quỳ mọp xuống thờ lạy Con Một Thiên Chúa sinh ra làm người. Ông không tin người đang nói với mình đây là Con Thiên Chúa, nên ông không được sự sống đời đời. Và ông đã ra về trong đêm tối. Ông vẫn là Luật sĩ của đạo cũ; tiếp tục suy nghĩ và đi trong đường lối của Luật pháp, mặc dầu Ðức Yêsu đã mạc khải hết cho ông.
Không những Người nói cho ông biết Thiên Chúa là Cha, đã ban Con Một Ngài để ai tin ở Con của Ngài thì được sống đời đời; Người còn nói cho ông hiểu bản chất của Chúa Con cũng y hệt bản chất của Chúa Cha. Nếu Luật pháp và Tiên tri đã dạy Thiên Chúa là Ðấng Thánh của Israel, vừa chí công vừa chí ái, và chỉ muốn cứu độ trần gian, thì Ngài cũng không sai Con của Ngài xuống thế để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Ngài mà được cứu độ. Cựu Ước đã nhiều lần tuyên xưng Thiên Chúa là Cứu Chúa vì lẽ Ngài luôn luôn cứu dân và chỉ muốn cứu dân, thì nay Con của Ngài xuống thế cũng chỉ muốn ôm ấp một mục đích ấy, là cứu dân khỏi tội, là thể hiện tình nhân nghĩa của Thiên Chúa, để nhân loại được thánh như Thiên Chúa là Ðấng Thánh.
Thế nên khi được biết Thiên Chúa là Cha theo nghĩa đặc biệt là Ngài có một người Con Một cùng bản tính với Ngài, nhân loại không thấy mất mát gì, cho dù sẽ phải dè dặt hơn khi xưng Ngài là Cha. Nhân loại còn được hân hoan vinh dự bội phần, vì được Thiên Chúa thương yêu dường ấy, ban cả Con Một Ngài làm ân ban cho chúng ta để nhờ người Con này mà chúng ta được sống đời đời. Việc Con Một Thiên Chúa đến với chúng ta và ở giữa chúng ta chứng tỏ tình thương lạ lùng của Thiên Chúa đối với loài người. Không những chúng ta có thể nói: nhìn thấy Con Thiên Chúa là nhìn thấy tình nhân nghĩa của Thiên Chúa. Hơn nữa chúng ta còn phải tin: Người là một với Thiên Chúa Cha vì Người đến không phải để luận phạt mà để cứu chuộc. Tuy nhiên cũng giống nơi Chúa Cha, không phải chỉ có nhân nghĩa mà còn có công chính, Chúa Con đến để cứu sống những ai tin; còn kẻ không tin vào Danh Người thì đã tự luận phạt mình.
Hiểu về Chúa Cha và Chúa Con như vậy; Phụng vụ hôm nay rất đồng ý với Thánh Phaolô và mượn mấy lời thư của người mà khuyên bảo chúng ta.
 
C. Hãy Vui Lên
Chúng ta đã quá quen với những lời khuyên này. Nhưng đây là tâm tình của một Phaolô thông hiểu các mầu nhiệm thần học và không biết gì khác ngoài Ðức Yêsu Kitô chịu đóng đinh. Phaolô gặp Người lần đầu tiên trên con đường Ðama. Và ơn đầu tiên Người ban cho Phaolô là "được thấy và được đầy Thánh Thần" (Cv 9,17). Trước đây, ông chỉ biết Cựu Ước hay nói đến Thần trí. Và ông tin rằng Thần trí đã xuống trên Môsê và các tiên tri. Nhưng bản thân ông thì chưa kinh nghiệm. Nay sau khi được Hananya đặt tay, ông đã thấy và kinh nghiệm thật sự Thần trí đã xuống trên ông, thay đổi ông hoàn toàn, khiến lập tức ông đã rao giảng trong các hội đường về Ðức Yêsu; chính Người là Con Thiên Chúa. Từ đó, càng làm việc, ông càng thấy rõ hiệu năng của việc đặt tay. Thánh Thần đổi mới con người ta khiến họ từ bỏ những công việc xấu xa của nếp sống cũ và có nhiều thể hiện của nếp sống mới là: mến yêu, vui mừng, bình an, bao dung, khoan hậu, nhân lành, tín nghĩa, hiền từ, tiết độ, mà Phaolô gọi là hoa quả của Thánh Thần. Ðặc biệt ông thấy trong các giáo đoàn đều có rất nhiều đặc sủng: người thì được quyền làm phép lạ, kẻ khác được ơn nói tiên tri, kẻ khác lại được ơn biện biệt các Thần khí, người thì được nói các thứ ngôn ngữ, người lại được ơn diễn giải các ngôn ngữ. Hết mọi điều đó, Phaolô thấy, cũng chỉ một Thần khí độc nhất tác thành ra cả, phân chia cho mỗi người tùy theo ý Ngài.
Phải nhớ như trên mới hiểu được những lời súc tích của thư Phaolô hôm nay, đặc biệt là câu kết. Tác giả viết: Nguyện xin ân sủng Ðức Yêsu Kitô Chúa chúng ta và tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em. Tác giả không nói đến Chúa Cha trước, nhưng bắt đầu nài xin ân sủng của Ðức Yêsu Kitô, vì lẽ chúng ta phải nhờ Ngài mà đến cùng Chúa Cha và được ơn Chúa Thánh Thần. Chính Phaolô đã được ơn của Ðức Yêsu Kitô trước. Và mọi tín hữu đều phải bắt đầu tin và chịu phép Rửa nhân Danh Ðức Kitô. Có đi qua sự chết và sự sống lại của Ngài, người ta mới ra khỏi thế hệ tà vạy, trở thành người được ân sủng đẹp mắt Thiên Chúa. Lúc ấy được ơn của Ðức Yêsu Kitô cứu chuộc và được sát nhập vào Thân Thể của Ngài, người ta mới trở nên nghĩa tử, được tình yêu của Chúa Cha, được Thiên Chúa là Cha theo một ý nghĩa đặc biệt. Mọi căng thẳng trước đây giữa sự công chính và nhân nghĩa trong tương quan giữa Thiên Chúa và loài người không còn nữa, vì người ta đã được cứu chuộc nhờ ân sủng của Ðức Yêsu Kitô. Thế nên rất nhiều khi Phaolô không nói tình yêu của Chúa Cha, nhưng dùng chữ bình an của Chúa Cha. Họa hiếm người mới dùng cả hai chữ bình an và tình yêu để nói về Chúa Cha như trong thư này, mục đích để nhấn mạnh đến mối tình giao hòa giữa Thiên Chúa và loài người do ân sủng của Ðức Yêsu Kitô mang lại. Còn Chúa Thánh Thần là ân ban dư dật, phân phối mọi hoa quả của ơn Cứu Ðộ, nên Phaolô cầu xin cho mọi người được ơn thông hiệp của Ngài, tức là được Ngài thông ban cho các sự phong phú tốt lành. Thế nên Phaolô khuyên bảo mọi người hãy vui lên vì Thiên Chúa là Thiên Chúa Ba Ngôi và cả Ba Ngôi đều nhân nghĩa. Chúa Cha thương yêu loài người đến nỗi đã ban Con Một Ngài; Chúa Con đã chết cho chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân; và Chúa Thánh Thần đã đến để tác thành mọi sự trong mọi người. Nhìn Ba Ngôi thương yêu chúng ta dường ấy, làm sao chúng ta không cố gắng nên trọn lành và hòa thuận với nhau? Bởi lẽ chúng ta hết thảy đã được gọi trở thành các chi thể trong một Thân Thể Ðức Kitô, để ở trong Ngài chúng ta được có Thánh Thần và được kêu Abba, Lạy Cha!
Thánh lễ này thực hiện những điều ấy để chúng ta thấy Thiên Chúa Ba Ngôi nhân ái, hầu khi dự lễ rồi, mọi người sẽ chia sẻ lòng nhân ái để tương thân tương ái trong đời sống.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
 
 

BaNgôi-273: Yêu là sinh hoạt của Ba Ngôi

CHÚA NHẬT LỄ KÍNH CHÚA BA NGÔI
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 3:16-18)
 

Nói về Ba Ngôi, chúng ta thường nghĩ đến những điều phải tin thuộc về một mầu nhiệm.  Nhưng: BaNgôi-273

Nói về Ba Ngôi, chúng ta thường nghĩ đến những điều phải tin thuộc về một mầu nhiệm.  Nhưng bài Tin Mừng hôm nay, qua cuộc đàm thoại giữa Chúa Giê-su và ông Ni-cô-đê-mô, lại cho chúng ta một cơ hội để suy niệm về mầu nhiệm này theo ngôn ngữ hoàn toàn của con người, đó là việc yêu thương:  Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…
          Thiên Chúa là Tình Yêu.  Định nghĩa này của thánh Gio-an nhiều khi đã trở nên quá quen thuộc đến độ chúng ta không còn để ý suy nghĩ xem Thiên Chúa yêu tới mức nào.  Chúa Giê-su trả lời:  Yêu đến nỗi đã ban Con Một cho thế gian.  Để giúp chúng ta nhận ra mức độ yêu thương ấy, thánh Phao-lô đã cầu xin:  “Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn;  xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Ki-tô , là tình thương vượt quá sự hiểu biết” (Ê-phê-xô 3:17-18).
          Đúng vậy, Chúa Giê-su thể hiện tình yêu của Thiên Chúa, cho nên qua con người và sứ mệnh của Người, chúng ta hiểu được sinh hoạt yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Chúng ta thử nhìn Ba Ngôi yêu thế gian, hay nói đúng hơn, yêu chúng ta như thế nào.  Trước hết là tình yêu phải đến từ Thiên Chúa trước.  Nó đã được biểu lộ qua việc Người dựng nên chúng ta.  Nó còn được biểu lộ mạnh mẽ hơn khi Chúa Cha quyết định cứu độ chúng ta.  Chúa Thánh Thần thực hiện việc Nhập Thể, để Tình Yêu không còn là một ý tưởng trừu tượng, nhưng là một tình yêu bằng xương thịt sống giữa chúng ta (Gio-an 1:14).  Chúa Giê-su biểu lộ tình yêu Thiên Chúa bằng tất cả cuộc sống của Người:  rao giảng Tin Mừng, chữa lành bệnh tật, tha thứ tội lỗi, nhất là lấy chính mạng sống mình để đền bù cho tội lỗi của toàn thể nhân loại và đưa họ trở về sống trong tình phụ tử của Thiên Chúa.
          Tuy là đã hết mình với nhân loại, nhưng Thiên Chúa vẫn để cho nhân loại tự do đáp trả, vì trong tình yêu đích thực không có ép buộc.  Thiên Chúa rất rõ ràng trong vấn đề yêu thương.  Người thẳng thắn đặt vấn đề mục đích của việc Người yêu thương chúng ta:  là để chúng ta được cứu độ.  Quả là một tình yêu vô vị lợi và vô điều kiện!  Phương thức đáp trả tình yêu Thiên Chúa không có gì là khó khăn, nhưng gói ghém trong một động từ là TIN vào Con của Người, hay nói khác đi là tin vào Tình Yêu Nhập Thể của Thiên Chúa.  Chúng ta đều có kinh nghiệm thế nào là tin khi chúng ta yêu.  Cho nên chúng ta chỉ cần sử dụng chính khả năng tin yêu để đáp lại tình yêu Thiên Chúa.  Khả năng ấy là bẩm sinh nơi chúng ta.  Nếu chúng ta sử dụng khả năng ấy trong mối tương quan con người với nhau thì chúng ta cũng có thể sử dụng nó trong tương quan với Thiên Chúa.  Tới đây, vấn đề mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không còn là thiên khảo luận thần học tín lý cao siêu, mà là một lẽ sống được thể hiện ngay trong cuộc đời chúng ta bằng cách sống với Chúa Giê-su, sống để nói lên sinh hoạt của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chiêm ngưỡng Ba Ngôi Thiên Chúa dưới lăng kính sinh hoạt tình yêu nhân loại không có nghĩa là làm cho mầu nhiệm Thiên Chúa trở nên tầm thường.  Trái lại nó giúp chúng ta cảm nghiệm được mức độ tình yêu đích thực của Thiên Chúa và mở ra cho chúng ta một lối sống xứng đáng làm con cái Chúa.  Có khi nào Thiên Chúa sinh ra chúng ta trong tình yêu lại đành lòng nhìn chúng ta sống trong hận thù ghen ghét?  Thiên Chúa Cha yêu thương đến nỗi sai Con Một.  Thiên Chúa Con yêu thương đến nỗi chết vì chúng ta.  Thiên Chúa Thánh Thần yêu thương đến nỗi sẵn sàng ở lại với chúng ta trong Giáo Hội cho đến ngày tận thế.
          Vậy thì chúng ta phải yêu thương đến mực độ nào đây?  Những hy sinh chúng ta chịu vì yêu thương không thể so sánh với những gì Chúa Giê-su đã chịu vì chúng ta.  Nhưng đó là những dấu chỉ rõ ràng nói lên rằng chúng ta đang tham dự vào sinh hoạt của tình yêu Thiên Chúa và đang giúp cho sinh hoạt ấy thể hiện qua cuộc sống chúng ta.
        Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 
 

BaNgôi-274: Thiên Chúa Yêu Thương Thế Gian

Lễ Chúa Ba Ngôi A
Gio 3:16-18: 16 Quả vì Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế (đó), đến đỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời. 17 Vì Thiên Chúa không sai Con đến trong thế gian, để xử án thế gian, nhưng để nhờ Ngài mà thế gian được cứu. 18 Kẻ tin vào Ngài thì sẽ không bị án xử, kẻ không tin thì đã bị án xử rồi.
 

Tin mừng của lễ Chúa Ba Ngôi năm A nằm trong đoạn 3:13-21, phần thứ hai của đoạn thuật lại: BaNgôi-274

Tin mừng của lễ Chúa Ba Ngôi năm A nằm trong đoạn 3:13-21, phần thứ hai của đoạn thuật lại cuộc đối thoại của Chúa Giêsu và Nicôđêmô (3:1-21). Cuộc đối thoại nầy chia làm hai phần. Câu 3:9 là câu hỏi cuối cùng của Nicôđêmô, và câu trả lời của Chúa Giêsu chấm dứt ở câu 12, trong đó ngôi thứ hai số nhiều được dùng lần cuối cùng. Bắt đầu câu 13 diễn từ của Chúa Giêsu đổi thành độc thoại cho đến câu 21. Đoạn 3:13-21 có thể chia thành hai phần: - Giáo lý về Con Người (3:13-17); - Những hệ quả về tin và phán xét (3:18-21).
 Giáo lý về Con Người (3:13-16). Đoạn nầy trình bày việc Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc thế gian. Các từ ngữ chính là “Người Con” trong đó “Con Người (cc. 13.14) và “Người Con duy nhất” (cc. 16.17 và 18); “có sự sống đời đời” (cc. 15.16); “tin” (cc. 15.16 và 18), “phán xét” (cc. 17 và 18). Trong hai câu 13 và 14 Chúa Giêsu nói về mình với danh hiệu “Con Người”. Người Con nầy từ trời xuống. Ở đây gặp thấy hai động từ đối nghĩa nhau là anabainō “đi lên” và katabainō “đi xuống”. Câu nầy nhấn mạnh là Con Người là đấng duy nhất đã từ trời xuống. Người được Chúa Cha sai đến thế gian (c. 17) và là tình yêu của Chúa Cha đối với họ (c. 16).
Mục đích của việc xuống thế gian là “phải được treo lên” (c. 14). “Dei”, “phải” chỉ việc phải thực hiện do ý định của Thiên Chúa. Con Người được ví như “con rắn đồng treo lên trong sa mạc” (x. Ds 21:8). Hypsoō, “đưa lên cao” gắn liền với tước hiệu “Con Người, luôn ở thể thụ động chỉ tác nhân là Thiên Chúa (3:14; 12:32.34), ngoại trừ 8:28 chỉ những kẻ treo Người lên. Gioan dùng từ hypsoō nầy theo nghĩa là treo trên thập giá. Như Môsê treo con rắn đồng lên trong sa mạc để cứu sống những ai bị rắn cắn, cũng thế Con Người được treo lên để ai tin “có sự sống đời đời” (c. 15).
Hai câu 16 và 17 có thể làm thành một đơn vị. Ở đây nói đến căn tính của Con Người và vai trò của Người trong chương trình của Thiên Chúa yêu thương và cứu độ nhân loại. Con Người trên được gọi là “Người Con duy nhất” (c. 16), và Con của Thiên Chúa (x. 1:14.18). Thiên Chúa ban Người Con nầy cho thế gian, vì Thiên Chúa yêu thương thế gian; Người cũng ban Thánh Thần (x. 14:16). Hiểu như thế nào về ân huệ Người Con? Theo mạch văn có thể nghĩ là Người Con “phải bị treo trên thập giá” (c.14). Chính bởi hành vi cứu chuộc nầy mà “sự sống đời đời” (x. 1:14: ân sủng và chân lý) được ban cho những ai tin vào Người Con nầy. Vậy, thập giá và cái chết của Người Con là bằng chứng mạnh mẽ nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với thế gian: làm cho thế gian được sống đời đời nhờ cái chết của Con mình. Tư tưởng trên được diễn tả lại dưới hình thức phủ định trong câu 17, trong đó “được cứu độ” tương ứng với “có sự sống đời đời”, và đối nghĩa với “phán xét”.
          Những hệ quả (cc. 18-21). Nếu đoạn trước mô tả hành vi yêu thương của Thiên Chúa là ban Con Một, đoạn nầy trình bày sự phán xét của Người. Những ai không đón nhận và không tin vào Con của Người sẽ bị Thiên Chúa “phán xét”; động từ ở thể thụ động (c.18 [2x]). Đoạn nầy nối kết với đoạn trước qua các từ ngữ “Tin vào Người Con duy nhất của Thiên Chúa”, “phán xét” (c. 18).
          Một nguyên tắc tuyệt đối được đưa ra: “Ai tin vào Người thì không bị phán xét. Ai không tin thì đã bị phán xét rồi” (c. 19). Sự phán xét được thực hiện dựa trên việc làm, ergon. Động từ erkhomai, “đến” (cc. 19.20.21) có ba chủ ngữ khác nhau và diễn tả ba hành động khác nhau. Phía Thiên Chúa: ánh sáng đến thế gian (c. 19); phía con người: người làm điều xấu thì không đến với ánh sáng (c. 20). Ngược lại, người làm sự thật thì đến với ánh sáng (c. 21). Thái độ của thế gian đối nghịch với thái độ của Thiên Chúa: họ không yêu mến ánh sáng cũng có nghĩa là không Người Con mà vì yêu thương Thiên Chúa đã ban cho thế gian (c. 16). Việc yêu thích bóng tối đã được trình bày trong Lời Tựa (1:4-5.9-11).
Chúa Giêsu là món quà tình yêu của Thiên Chúa cho thế gian. Tùy theo thái độ tin hay không tin được diễn tả qua hành động, mà được sự sống đời đời hay mất mạng sống.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
 
 

BaNgôi-275: GIAO ƯỚC TÌNH THƯƠNG

Chúa Nhật A Lễ Chúa Ba Ngôi
 

Thế giới đang cần đến tình thương hơn bao giờ.  Đức Giêsu mạc khải cho mọi người biết tình yêu: BaNgôi-275

Thế giới đang cần đến tình thương hơn bao giờ.  Đức Giêsu mạc khải cho mọi người biết tình yêu Thiên Chúa vượt mọi biên giới đến với nhân loại.
KHI TÌNH YÊU LÊN NGÔI.
Đức Giêsu đã nói hết sự thật nơi cung lòng Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thế gian.” (Ga 3:16)   Lời xác quyết đó vượt ngoài tưởng tượng !   Quả thực, thế gian là gì mà xứng đáng làm đối tượng của tình yêu lớn lao đó ?   Chỉ một mình Đức Giêsu mới xứng đáng với tình yêu Chúa Cha mà thôi.  Nhưng “Thiên Chúa là nguồn yêu thương” (2 Cr 13:11) đã không ngần ngại “ban Con Một” (Ga 3:16) cho thế gian.   Không thể tìm thấy một tình yêu nào lớn hơn !  Khi nhìn vào bản chất Thiên Chúa như thế, con người mới giác ngộ “Thiên Chúa là tình yêu,” (1 Ga 4:8) một tình yêu vô cùng cần thiết cho nhân loại.    Chính vì thế, thánh Phaolô cầu chúc cho giáo dân tiên khởi “đầy tình thương của Thiên Chúa,” (2 Cr 13:13) để có thể đứng vững giữa bao bách hại.
Chính nhờ “đầy tình thương của Thiên Chúa,” Đức Giêsu đã vượt qua mọi thách đố và đạt tới mục đích cuộc đời.   Xuống cõi hồng trần này, Người mang trên vai một sứ mệnh trọng đại.  “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.” (Ga 3:17)   Thực tế rấtø trái ngược !   Không những từ chối ơn cứu độ, thế gian còn tìm mọi cách lên án tử hình Đức Giêsu trên thập giá.
Phải có con mắt đức tin sâu sắc mới có thể thấy Đức Giêsu đã hoàn thành sứ mệnh Chúa Cha nơi cái chết đó.   Thật là khắc nghiệt !   Không những thế, nhân loại còn thờ ơ trước sứ mệnh trọng đại đó, mặc dù Thiên Chúa đã tìm mọi cách để chứng tỏ tất cả tình yêu nồng ấm đối với họ.   Chính Đức Giêsu là hiện thân của tình yêu đó.  Nhờ cái chết, Người đã trở thành nguồn ân sủng cho toàn thể nhân loại. Đó là lý do tại sao thánh Phaolô “cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô.” (2 Cr 13:13)   Không có nguồn ân sủng này, chắc chắn không ai có thể làm gì được. Chính Đức Giêsu đã xác quyết: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.”(Ga 15:5)   Ngược lại, nếu tràn đầy ân sủng, mọi công trình sẽ nở rộ vì “ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái.” (Ga 15:5)
Nhưng hoa trái đó không thể tồn tại và phát triển, nếu thiếu “ơn hiệp thông của Thánh Thần.” (2 Cr 13:13)   Chính vì thiếu vắng Thánh Linh trong nhiều lãnh vực, nên Giáo Hội bị tê liệt và nhiều tổ chức tan rã.  Thiếu hiệp thông không thể làm nên trò trống gì !   Nói khác, không có Thánh Linh, không thể “đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa,”(2 Cr 13:11) điều kiện cần thiết để phát triển Giáo Hội.  Chính nhờ Thánh Linh, Thiên Chúa trở thành “nguồn yêu thương và bình an” (2 Cr 13:11) cho nhân loại.   Đó là lý do tại sao thế giới hôm nay cần phải cầu xin Thánh Linh ngự đến đổi mới bộ mặt trái đất.
Hơn lúc nào, nhân loại đang cần đến Thánh Linh để có thể khai thông nhiều bế tắc trong cuộc hiệp thông cần thiết cho nền hòa bình thế giới.   Người chính là nguyên ủy hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con.   Chẳng lẽ Người không thể tạo nổi sự hiệp thông giữa người với người ?   Thực tế, Thánh Linh đã từng “liên kết mọi ngôn ngữ khác biệt lại, để họ tuyên xưng cùng một đức tin” (Kinh Tiền Tụng Chúa Nhật Hiện Xuống) trong Giáo Hội.   Lý do vì “lòng mỗi người, chính Chúa dựng nên, việc họ làm, Chúa thông suốt cả.” (Tv 33:15)   Bởi thế, Thánh Linh là lời giải đáp cuối cùng cho những ai đang gặp bế tắc trong những lãnh vực giáo dục, hòa giải, chính trị  …
Tất cả đều bắt nguồn từ mầu nhiệm Ba Ngôi.   Nhưng thực tế còn đi xa hơn nữa.   Quả thực, Cựu ước chỉ mới nhận thấy “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.” (Xh 34:77)   Trong khi đó, Tân Ước đã mạc khải về cái giá mắc nhất Thiên Chúa phải trả cho sự sống đích thực của con người.   Không phải cho sự sống chóng qua này, nhưng “để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời,” (Ga 3:16) Thiên Chúa phải hi sinh chính Con Một  Cuộc sống vĩnh cửu mới đáng sống, vì hạnh phúc toàn vẹn chỉ tìm thấy nơi Thiên Chúa.   “Sự sống vĩnh cửu là sự sống Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Giêsu bảo đảm cho tất cả các tín hữu hôm nay rằng họ sẽ sống muôn đời.   Hay đón nhận sự sống mới này và hãy bắt đầu đánh giá mọi sự dưới nhãn quan vĩnh cửu này.” (Life Application Study 1991:1878)     Nhãn quan này không phủ màu đen trên tất cả những hoạt động hôm nay.   Trái lại, nhờ tin vào Đức Giêsu, chúng ta sẽ tìm thấy lời hằng sống và một sức mạnh thay đổi tất cả.
TÌM MỘT CON ĐƯỜNG.
Con đường hôm nay đang mở ra trước mắt mọi người tìm về sự sống đích thực là Đức Giêsu Kitô.   Chúa Thánh Linh đang khơi dậy nơi tâm hồn các bạn trẻ sức mạnh đạp đổ mọi hàng rào, để làm thành các cộng đồng tình yêu, rập khuôn cộng đồng Ba Ngôi Thiên Chúa, một cộng đồng đầy năng lực sáng tạo và hồng ân cứu độ.   Năng lực đó có lẽ chỉ tìm thấy nơi tuổi trẻ mà thôi.    Thực vậy, giữa bao nhiêu tranh chấp hôm nay, Chúa nhật này “9,000 bạn trẻ Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo sẽ tụ họp tại Quảng trường Roma để xác quyết rằng “có thể thực hiện được một nền hòa bình trong tương lai, bất chấp những gì đang xảy ra.” (Zenit 21/05/2002)   Đó là cuộc tuần hành của các bạn trẻ, từ 12 đến 17 tuổi, đến từ 87 quốc gia, do phong trào Focolare tổ chức.   “Tuần hành Chúa nhật này là phái đoàn Do thái đến từ Roma, Ba tây, và Do thái; các bạn Hồi giáo từ Trung Đông, Hoa kỳ, và Pakistan; Phật giáo từ Nhật bản và Thái Lan; Aán độ giáo và đạo Sikhs, và Zoroastrians từ Aán độ, và những người theo các tôn giáo truyền thống Phi châu” (Zenit 21/05/2002)   Đó là dấu chỉ niềm hi vọng vẫn lớn mạnh trong cộng đồng nhân loại, vì sức sống luôn tuôn trào từ nguồn mạch là chính Ba Ngôi Thiên Chúa.
Nhân loại chỉ là một, mặc dù có nhiều khác biệt về chủng tộc và văn hóa.    Quả thực, từ cung lòng Chúa Cha, Đức Giêsu đã được sai đến như niềm hi vọng duy nhất qui tụ muôn dân.   Thực tế, “chắc chắn bắt nguồn từ niềm tin nơi Đức Giêsu, Đấng Cứu độ duy nhất của nhân loại, Giáo Hội coi những hình thức đa diện từ những cảm nhận và truyền thống khác nhau như một nguồn tài sản lớn lao có thể diễn tả một sứ điệp duy nhất của Tin Mừng và Giáo Hội.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 20/05/2002)   Lý do vì nơi các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau, con người có thể bắt gặp sự sống phong phú của Ba Ngôi Thiên Chúa, một sự sống được mạc khải trọn vẹn và dứt khoát nơi Đức Giêsu Kitô.   “Quần chúng có quyền biết đến những sự phong phú trong mầu nhiệm Đức Kitô, sự phong phú mà toàn thể nhân loại có thể tìm thấy trọn vẹn tất cả những gì liên quan đến Thiên Chúa, con người và định mệnh, sự sống và sự chết, và sự thật mà họ đang phải mò mẫm kiếm tìm.”(ĐGH Gioan Phaolô II:Zenit 30/04/2002) 
Để đáp ứng nhu cầu lớn lao đó, Giáo Hội không ngừng nỗ lực Phúc âm hóa thế giới.    “Khi theo đuổi mục đích cứu độ, Giáo Hội không những thông truyền sự sống Thiên Chúa cho muôn dân, nhưng còn tìm cách chiếu tỏa ánh sáng phản chiếu sự sống đó trên toàn thể trái đất, bằng cách chữa lành và nâng cao ảnh hưởng trên phẩm giá nhân loại.” (ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 30/04/2002)
Lm. Đỗ Vân Lực, OP
 
 

BaNgôi-276: Lễ Chúa Ba Ngôi

Hình ảnh Thiên Chúa là đề tài quan trọng trong tu đức học.  Mối quan hệ giữa ta với Chúa luôn: BaNgôi-276

          Hình ảnh Thiên Chúa là đề tài quan trọng trong tu đức học.  Mối quan hệ giữa ta với Chúa luôn cho ta một hình ảnh độc đáo về Người.  Thiên Chúa có thể giống như một người cha nghiêm nghị đối với người này, nhưng lại có thể như một người mẹ âu yếm đầy tình thương đối với người kia.  Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho ta một vài hình ảnh thật đẹp và thật cảm động về Thiên Chúa.
 
  1.   Hình ảnh Thiên Chúa của ông Mô-sê:  Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín (bài đọc Cựu Ước – Xh 34:4b-6.8-9)
          Ông Mô-sê được Thiên Chúa trao cho sứ mệnh đưa dân Ít-ra-en ra khỏi đất Ai-cập và đến Đất hứa.  Là người trung gian giữa Thiên Chúa và dân Người, ông Mô-sê biết Chúa hơn ai hết.  Trong Lều Hội Ngộ, ông thường gặp gỡ Thiên Chúa.  “Đức Chúa đàm đạo với ông Mô-sê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33:11).  Một đàng là sứ mệnh Thiên Chúa trao, một đàng dân Ít-ra-en là “một dân cứng đầu cứng cổ”.  Làm sao ông có thể răn bảo và thuyết phục dân Chúa phải luôn trung thành với Người, đừng chạy theo lối sống của dân ngoại và chỉ nhận Người làm Thiên Chúa duy nhất của họ.  Nỗi ưu tư lo lắng của Mô-sê là có thể Thiên Chúa sẽ không còn chịu nổi sự bướng bỉnh và tội lỗi của dân Ít-ra-en nữa, nên Người sẽ để mặc cho họ bị tiêu diệt.  Nhưng Thiên Chúa đã “ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông”.  Người mặc khải cho ông biết Người là Đấng nào đối với dân Ít-ra-en, Người phán với ông:  “Đức Chúa!  Đức Chúa!  Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín”.
          Đó là những nét chính của hình ảnh Thiên Chúa trong quan hệ giữa Người với dân Ít-ra-en.  Mặc dù Ít-ra-en phạm nhiều lỗi lầm làm mất lòng Chúa và đáng bị Người loại bỏ.  Tội lớn nhất của họ là đã đúc con bê bằng vàng và tôn nó làm thần đã đưa họ ra khỏi Ai-cập (Xh 32:1-6).  Nhưng qua lời chuyển cầu của ông Mô-sê, Chúa vẫn tỏ lòng nhân hậu từ bi với Ít-ra-en và không chấp tội họ.  Nhờ lời van nài của ông Mô-sê, Chúa đã “nén giận” và không tiêu diệt họ như họ đáng bị tiêu diệt.  Chúa sống có tình có nghĩa với dân Người, không vì lỗi lầm của họ mà Người rút lại lời hứa với tổ tiên họ, là cho dân họ được làm dân của Người.  Cách cư xử của Thiên Chúa tựu trung là cách cư xử của một Thiên Chúa đầy tràn yêu thương, hình ảnh Thiên Chúa sẽ được quảng diễn trong Tân Ước, nhất là Tin Mừng Gio-an.
 
  1.   Hình ảnh Thiên Chúa trong Tân Ước (bài Tin Mừng – Ga 3:16-18 và bài đọc Tân Ước – 2 Cr 13:11-13)
          Qua lời giảng và việc làm của Chúa Giê-su, ta được mặc khải rất nhiều hình ảnh về Thiên Chúa.  Quả thực là một bước tiến vĩ đại của mặc khải Thiên Chúa.  Những hình ảnh Thiên Chúa trong Cựu Ước đôi khi còn chịu ảnh hưởng của những tôn giáo trước thời Thiên Chúa tuyển chọn ông Áp-ra-ham thì nay đã được thay thế bằng những hình ảnh sống động và nói lên được bản chất Thiên Chúa một cách đầy đủ.
Trước hết, những bài giảng của Chúa Giê-su về Thiên Chúa, đặc biệt trong các sách Tin Mừng Nhất lãm, tất cả đều nhắm mục đích tỏ cho ta thấy Thiên Chúa là Đấng nào và Người đã quan hệ mật thiết với nhân loại như thế nào.  Tuy nhiên, để trình bày hình ảnh Thiên Chúa cụ thể hơn, Chúa Giê-su đã dùng chính những hành động của Người để cho người ta thấy đó là những hành động của chính Thiên Chúa.  Khi Chúa Giê-su tiếp đón những người thu thuế và tội lỗi là chính Thiên Chúa tiếp đón.  Khi Chúa Giê-su tha tội cho người ta tức là chính Thiên Chúa thứ tha (Lc 5:17-26).  Hình ảnh Thiên Chúa yêu thương đã được nói đến trong Cựu Ước thì nay được biểu lộ rõ ràng hoàn toàn trong Tân Ước (Ga 3:16).  Còn gì rõ hơn về một Thiên Chúa yêu thương qua những hành động yêu thương của Chúa Giê-su dành cho nhân loại?  Không còn mặc khải “qua các ngôn sứ” nữa, nhưng là “qua Thánh Tử” (Dt 1:1).  Chúa Giê-su đã cho ta thấy hình ảnh “Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an”, vì Người là Tình Yêu nhập thể và Người là sự hòa giải an bình giữa Thiên Chúa và nhân loại.  Ông Mô-sê khẩn cầu Thiên Chúa ở lại với ông để giúp ông lãnh đạo Ít-ra-en (Xh 34:8).  Còn Chúa Giê-su thì được Chúa Cha sai đến với nhân loại và Người tự ý muốn ở lại với họ cho đến cùng (2 Cr 13:11; Mt 1:23; 28:20).
Còn một mặc khải nữa vô cùng quan trọng về Thiên Chúa, đó là Thiên Chúa Ba Ngôi.  Cựu Ước chỉ nói qua đến Thánh Thần như Thần Khí Thiên Chúa và những lời tiên tri về Con Thiên Chúa.  Nhưng ý niệm Thiên Chúa Ba Ngôi chỉ rõ ràng trong Tân Ước.  Lời cầu chúc của thánh Phao-lô Tông đồ là một tuyên xưng về Thiên Chúa Ba Ngôi.  “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần” (2 Cr 13:13).  Đúng vậy, Chúa Giê-su Ngôi Hai Thiên Chúa là Ân Sủng, tức ân sủng toàn vẹn hoặc là nguồn để ta được “hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1:14.16).  Thiên Chúa Ngôi Cha “yêu thế gian đến nỗi ban Con Một” (Ga 3:16) và Thánh Thần Ngôi Ba là tình yêu hiệp thông, kết hợp mọi tín hữu với nhau và với Thiên Chúa.
 
  1.   Thiên Chúa đồng hành với ta
          Hình ảnh Thiên Chúa không chỉ để ta nhận ra Thiên Chúa là Đấng nào và Người làm gì cho ta.  Tuy nhiên các bài đọc hôm nay còn cho ta một hình ảnh Thiên Chúa rất đặc biệt:  Thiên Chúa ở với ta và đồng hành với ta.
          Trước hết là lời khẩn cầu của ông Mô-sê với Chúa:  “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con” (Xh 34:9).  Thực ra thì Thiên Chúa đã cùng đi với dân Người ra khỏi Ai-cập và qua ông Mô-sê đã dẫn dắt dân Người qua sa mạc trên đường về Đất hứa.  Nhưng vì dân Ít-ra-en đã bất trung với Người, đúc bê bằng vàng để tôn thờ thay vì tôn thờ Người.  Ông Mô-sê lo sợ Thiên Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en, không cùng đi với họ nữa.  Nhờ lời chuyển cầu của ông Mô-sê, Thiên Chúa đã nhận lời tiếp tục đi với dân Người.  Hơn thế nữa, Người còn thiết lập giao ước với họ và hứa sẽ giúp họ chiến thắng tất cả những dân tộc họ phải giao chiến trên đường về Đất hứa.
          Thánh Phao-lô nhìn việc Thiên Chúa đồng hành với ta theo khía cạnh khác.  Theo ngài, nếu ta “gắng nên hoàn thiện” thì Thiên Chúa sẽ ở cùng ta (2 Cr 13:11).  Điều ấy có nghĩa là Chúa luôn đồng hành với ta để giúp ta trở nên con cái Người mỗi ngày một xứng đáng hơn.  Không những Chúa đồng hành với từng cá nhân, mà Người còn đồng hành với ta như một cộng đồng tín hữu.  Thánh Tông đồ còn nêu lên một thí dụ cụ thể cho thấy Thiên Chúa sẽ ở với ta nếu ta biết “khuyến khích nhau, đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa”.
          Tuy nhiên, phương thức Thiên Chúa đồng hành với ta cách sống động và cụ thể nhất, đó là việc Người “sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ”.  Thiên Chúa và loài người cách biệt nhau.  Người là Đấng thiêng liêng và siêu việt, còn nhân loại chỉ là thụ tạo được dựng nên từ bụi tro.  Để nối kết khoảng cách vô biên ấy, Thiên Chúa đã có cách để đồng hành với nhân loại như một người bằng xương bằng thịt, nói ngôn ngữ của loài người, cư xử theo cách sống của con người… Người sai Ngôi Hai xuống thế làm người để “ở cùng chúng ta”, nói với ta những gì Người muốn dạy bảo và chia sẻ với tất cả những nỗi khổ đau của ta, kể cả cái chết nữa.  Người muốn làm bạn đồng hành đích thực của ta để dẫn ta đến đích điểm cuộc đời tức là được cứu độ.
          Suy niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi không đòi hỏi ta phải nghĩ đến những điều cao siêu thần học, nhưng là một Thiên Chúa gắn liền với cuộc đời ta, với những hồng ân thể chất cũng như thiêng liêng và những chăm sóc Người dành cho ta.  Trong cuộc đồng hành với Thiên Chúa qua Chúa Ki-tô, ta có cơ hội nhận biết và yêu mến Thiên Chúa mỗi ngày một hơn.  Càng ở với Chúa, ta càng có những hình ảnh tuyệt vời về Thiên Chúa.  Tuy nhiên muốn thực hiện được điều ấy, ta chỉ có một cách duy nhất là kết thân với Chúa Giê-su, bạn đồng hành của ta.  Người đã quả quyết:  “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9).  Người cùng đi với hai môn đệ trên đường Em-mau (Lc 24:13-35).  Hôm nay Người cũng nói với ta những lời Người đã nói với ông Tô-ma và Người cũng đi bên cạnh ta trong mọi lúc như Người đã đi với hai môn đệ Người.
 
  1.   Sống Lời Chúa
          Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, nhưng nhất thiết không phải để ta hiểu biết, mà để sống và cảm nghiệm được sự hiện diện của Người trong chính cuộc sống ta.  Khi ta lầm lỗi và phạm tội mất lòng Chúa, ta đừng quên Người là Đấng nhân hậu và từ bi.  Khi ta cố gắng “trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện”, ta biết có Chúa Giê-su đang giúp ta thực hiện điều ấy.  Khi ta ý thức mình sống trong Giáo Hội, trong cộng đoàn giáo xứ…, ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng liên kết ta với các chi thể khác trong Nhiệm Thể Chúa Ki-tô và giúp ta được thánh hóa mỗi ngày trở nên giống Chúa Ki-tô hơn.
Suy nghĩ:  Thánh Phao-lô nói với tín hữu Cô-rin-tô:  “Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa”.  Tôi có khích lệ anh chị em sống như những Ki-tô hữu xứng đáng không?  Tôi hòa mình với đời sống cộng đoàn và hăng say xây dựng, hay là tôi thường phê bình chỉ trích hoặc nói xấu nói hành anh chị em?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Chúa đã sai Con Một là Lời chân lý và sai Thánh Thần, Đấng thánh hóa muôn loài đến trần gian mặc khải cho chúng con biết mầu nhiệm cao vời của Chúa.  Xin cho chúng con hằng tuyên xưng đức tin chân thật là nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa Ba Ngôi uy quyền vinh hiển.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, lễ Chúa Ba Ngôi)  
Lm Đaminh Trần Đình Nhi
ngày 16-8-2008
 
 

BaNgôi-277: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần

LỄ CHÚA BA NGÔI, NĂM A
Xh 34,4b-6.8-9; 2 Cr 13,11-13; Ga 3,16-18
 

Có lẽ không có ngày nào trôi qua mà chúng ta không đôi lần làm dấu Thánh Giá: Buổi sáng thức: BaNgôi-277

      Có lẽ không có ngày nào trôi qua mà chúng ta không đôi lần làm dấu Thánh Giá: Buổi sáng thức dậy và tối đến; khi bắt đầu các giờ kinh và kết thúc với lời chúc lành; trước và sau khi dùng bữa, ... Chúng ta làm dấu chỉ này bởi vì chúng ta được rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Khi đọc Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha là Đấng tác tạo nên chúng ta; Chúa Con là Đấng cứu chuộc chúng ta; Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hoá chúng ta. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm căn bản trong đời sống đức tin, được tóm gọn khi chúng ta làm dấu Thánh Giá. Thoạt nhìn có vẻ đơn giản nhưng ai có thể trả lời cho chúng ta: Thiên Chúa - Ngài là ai?
      Ngay từ ngàn xưa con người đã đặt ra câu hỏi này. Trong lịch sử đã có không biết bao nhiêu triết gia và thần học gia lỗi lạc suốt đời tìm tòi truy cứu nhưng không ai có thể đưa ra một giải đáp thoả đáng. Thiên Chúa siêu việt hơn những gì chúng ta nghĩ ra và có thể hiểu được. Nếu như con người có thể nói được Thiên Chúa là ai thì Thiên Chúa chẳng còn là Thiên Chúa nữa. Ngài cũng hữu hạn như con người chúng ta. Như vậy, chỉ có Thiên Chúa mới có thể nói Ngài là ai. Con người chỉ có thể lần theo dấu vết và dùng hình ảnh để diễn tả. Con người khám phá ra hình ảnh của Thiên Chúa khi biết nhìn vào bản thân mình và nhìn nhận: Tôi chỉ là một thụ tạo, không có thể tự mình hiện hữu. Tôi là kẻ đã tiếp nhận sự sống từ Thiên Chúa. Trong một thế giới hỗn độn nhưng cũng chứa đầy vẻ lộng lẫy huy hoàng tôi có thể khám phá dấu vết của Đấng sáng tạo và không ngừng phải khấu đầu bái phục.
      Lẽ ra, con người là ánh sáng của ngọn hải đăng, là hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa. Nhưng ngay từ nguyên thủy, con người đã tự tìm cách thoát ra ngoài vòng tay đầy yêu thương quan phòng của Thiên Chúa. Họ không muốn dựa dẫm, sống nương tựa vào tình kẻ khác. Họ muốn chính mình trở nên giống Thiên Chúa. Tuy nhiên, thay vì sống thoải mái, thong dong tự tại, con người tự lún sâu vào trong sợ hãi, dối trá và bạo lực. Nỗi sợ hãi khi phải đối diện với Thiên Chúa dần dần xâm lấn, thấm vào tận xương tuỷ. Họ tự trốn chạy và tìm chỗ ẩn nấp trước Đấng hằng yêu thương họ, mặc dầu họ trót lỡ lầm! Một thảm trạng khó bề diễn tả! Không những thế, mối quan hệ giữa con người với nhau cũng bị rạn lứt, rối loạn và từ đây luôn mang dấu tích của nghi kỵ, oán thù!
      Thiên Chúa sẽ phản ứng ra sao khi con người ngoảnh mặt làm ngơ trước tình thương mà Ngài dành cho họ? Phải chăng Ngài bỏ mặc con người, không thèm điếm xỉa đến, chỉ đóng kín trong vòng quan hệ tình yêu riêng tư của Ngài? Bài Phúc Âm ngày hôm nay nói với chúng ta rằng, sư thật không phải như thế: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Lời này có sức đánh động con tim chúng ta, giúp chúng ta đưa mắt nhìn qua bức màn huyền nhiệm của mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa không muốn thành kẻ xa lạ, ngoài tầm tay với! Tội lỗi và sự chối từ của con người không có sức làm cho tình yêu của Ngài nên hạn hẹp, đóng kín hay trở nên sát phạt vì giận dữ. Hoàn toàn ngược lại! Bởi vì muốn đưa con người trở về sống trong tình thương, Thiên Chúa đã bước ra ngoài vòng huyền nhiệm, dùng chính ngôn ngữ của con người để mặc khải cho chúng ta biết, Ngài là ai.
      Trong biến cố Giáng sinh Ngài trở nên hữu hình, có thể sờ mó, cảm nhận, hiểu được và nghe được. Đức Giêsu đã trở nên phàm nhân, là một người sống giữa chúng ta. Ngài là hình ảnh cụ thể của tình yêu Thiên Chúa. Trong cuộc khổ nạn và sự chết Ngài đã đón nhận sự sợ hãi, nghi kỵ và ác ý của con người vào bản thân mình. Trong biến cố Phục sinh Ngài biến đổi đau khổ và sự chết thành lời chúc lành và ban tặng cho chúng ta cuộc sống mới. Một tạo vật mới sống dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Ở Sternberg, Thuỵ sĩ, có một mô hình có thể mô tả mầu nhiệm lòng thương xót của Chúa Ba Ngôi. Hình ảnh này giúp tôi sống cuộc đời linh mục. Ở chính giữa là một con người sức lực hầu như kiệt quệ. Chúa Cha xốc đôi vai kẻ đó lên. Chúa Con đỡ đôi chân và Chúa Thánh Thần đổ tràn nguồn sinh lực qua ngọn lửa tình yêu.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức
 
 

BaNgôi-278: SUY NIỆM CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI 2002

Những câu vắn gọn của bài Tin Mừng trong Thánh Lễ hôm nay là một trình bày thật sinh động niềm tin: BaNgôi-278

                Những câu vắn gọn của bài Tin Mừng trong Thánh Lễ hôm nay là một trình bày thật sinh động niềm tin của người Kitô hữu chúng ta, đồng thời cũng nói lên cái cốt lõi của đời sống ấy. Hai bài đọc còn lại thì muốn diễn giải từ một góc nhìn khác của cùng một thực tại đức tin. Và những hiểu biết hay cảm nhận chúng ta có được về Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi đều đã đi từ nền tảng mà Lời Chúa mạc khải cho ta ở đây.
          "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một... Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ." đấy là tất cả niềm hy vọng, đức tin và lẽ sống của Người Kitô hữu . Lời công bố, lời rao giảng ấy làm thành cốt lõi của sứ điệp Kitô giáo. Trong đó chúng ta thấy điểm xuất phát là từ "Thiên Chúa yêu thế gian". Và Tình Yêu ấy được thực hiện bằng việc "Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian" với một sứ mạng là "cứu độ thế gian". Việc cứu độ ở đây là làm cho thế gian "tin vào danh của Con Một Thiên Chúa". Như thế chúng ta, những người Kitô hữu, hẳn là người đã phải đặt hết niềm tin của mình vào "Danh Con Một Thiên Chúa"?
          Chúng ta có thể cùng thánh Phaolô để nói về Danh Con Một Thiên Chúa chính là "đầy tràn ân sủng", "là đầy tình thương của Thiên Chúa", "là ơn thông hiệp của Thánh Thần" ? đó cũng chính là điều đức Giêsu muốn nói với Nicôđêmô khi Người đề cập đến phép rửa tái sinh mà người Kitô hữu lãnh nhận. Như thế, "Danh Con Một Thiên Chúa" không bời "xác thịt" mà "bởi Thần Linh", là "đấng từ trời xuống". Nơi Người, người ta có thể "thấy Cha" và "thấy ngón tay của Thiên Chúa"(Lc,11,20). Và mầu nhiệm "Danh Con Một Thiên Chúa" chính là mạc khải trọn vẹn Mầu Nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì vậy, khi muốn trình bày mầu nhiệm Giáo Hội cách trung thực, công đồng Vaticanô II, đã phải trở về nguồn mạc khải, để trình bày Giáo Hội và mọi yếu tố cấu thành Giáo Hội dưới ánh sáng Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi. Và theo đó đời sống Kitô hữu dù họ là ai phải quy chiếu về đó. Nếu Mô sê chỉ dám khẩn cầu "Xin Người cùng đi với chúng con", thì ở đây, trong mỗi người Kitô hữu là "Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta". Vấn đề là Kitô hữu chính là một cuộc sống biểu thị "thông hiệp Thần Linh" này.
          Theo đó, tuy vẫn hiện diện trong trần gian, vẫn đảm nhận mọi trách nhiệm giữa lòng thế giới, nhưng người Kitô hữu lại có cuộc sống "không thuộc về thế gian". Nếu như người thế gian chỉ quan tâm làm ra của cải vật chất, làm ra nếp sống văn hóa vật chất, thì người Kitô lại quan tâm làm cho mỗi một và tất cả mọi thực tại trần gian trở thành vinh quang của Danh Con Một Thiên Chúa: "là ân sủng, là tình thương, là ơn thông hiệp".
          Qua những suy nghĩ ấy, chúng ta có thể hiểu vấn đề ở đây không có chút gì liên quan đến những phạm trù: "lên án" "luận tội" "xét xử". Bởi vì mầu nhiệm Danh Con Một Thiên Chúa, và do đó mầu nhiệm Kitô hữu là việc đem "ân sủng, tình thương và ơn thông hiệp của Thiên Chúa" vào muôn loài, muôn vật, để như Phaolô nói "Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người". Như thế tự bản thân sứ vụ cứu độ chỉ là một đề nghị, và mỗi người có toàn quyền tự do đón nhận hay khước từ.
          Qua những biến động không ngừng của thế giới, rõ ràng lời đề nghị của Kitô giáo xem ra còn qúa yếu ớt. Ngày lễ hôm nay nhắc nhở cho chúng ta phải tăng cường thêm nỗ lực, phải tăng thêm lời cầu nguyện, và nhất là phải làm sáng tỏ chân tính "Thần Linh" nơi chúng ta.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên
 
 

BaNgôi-279: LỄ THIÊN CHÚA BA NGÔI

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
Kinh Thánh:        2 Cô-rin-tô 13:11-13
 

Ba câu của bài đọc hôm nay là lời chào kết luận thư 2 Cô-rin-tô. Thư được viết trong cuộc hành: BaNgôi-279

Ba câu của bài đọc hôm nay là lời chào kết luận thư 2 Cô-rin-tô. Thư được viết trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ ba, năm 53-58, có lẽ từ Ê-phê-xô. Có nhiều người cho rằng bốn chương cuối của thư 2 Cô-rin-tô đã được "viết trong nước mắt" vì cao điểm thái độ chống đối của tín hữu Cô-rin-tô đối với thánh Phao-lô. Tuy nhiên ở phần kết thư, ngài lại tỏ ra hết sức nhân từ, khẩn khoản xin họ hãy sống hiệp nhất, thuận hòa và lành thánh. Lời cầu chúc cuối thư đã được Giáo Hội sử dụng làm lời chào tín hữu khi bắt đầu Thánh lễ ngày nay. Tuy nhiên trong lời cầu chúc ngắn gọn ấy lại chứa đựng một giáo lý phong phú về Mầu nhiệm Ba Ngôi, cô đọng trong ba hình ảnh: Tình thương của Thiên Chúa Cha, ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô và ơn hiệp thông của Thánh Thần.
                a) Tình thương của Chúa Cha: Do tình thương này, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta từ hư vô, ban cho chúng ta một giá trị vượt trên mọi thụ tạo trên mặt đất. Trước tình yêu tạo dựng này, con người nhận thức được chỗ đứng của mình trong tương quan với các tạo vật khác và nhất là với Ðấng Tạo dựng (Tv 8 và 139). Tình yêu trung thành và vĩnh cửu đã không bỏ mặc con người khi họ muốn tự ý rời xa Thiên Chúa. Nhưng tình yêu ấy đã từ trời cao cúi xuống đỡ con người dậy và dìu về với mình trong một kế hoạch cứu chuộc. Kế hoạch ấy là "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3:16).
                b) Ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô: Thiên Chúa trao ban cho nhân loại tình yêu của Người qua việc "ban Con Một". Chúa Ki-tô trở thành một quà tặng, nói khác đi, Ngài là một Ân sủng. Do đó, có lẽ chúng ta nên nói "Ân Sủng Giê-su Ki-tô" thay vì nói ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô. Kế hoạch cứu chuộc được thể hiện nơi Chúa Giê-su Ki-tô, nên Ngài vừa là Ðấng Cứu Thế, vừa là chính sự Cứu độ. Tư tưởng Thiên Chúa là Ðấng Cứu độ trong Cựu Ước và Ðức Ki-tô là Ðấng Cứu độ trong Tân Ước đã hòa nhập với nhau để nói lên cùng một chân lý: Vì yêu thương chúng ta, Thiên Chúa đã cứu chuộc chúng ta. Nhìn Chúa Giê-su Ki-tô như là Ân sủng của Thiên Chúa giúp chúng ta dễ dàng khám phá ra chiều kích cứu độ của tình yêu Thiên Chúa và lời mời gọi tiếp nhận sự Cứu độ.
                c) Ơn hiệp thông của Thánh Thần: Kế hoạch cứu chuộc đã phát xuất từ tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, được thể hiện qua Chúa Giê-su Ki-tô và được tiếp tục do Thánh Thần. Công việc của Thánh Thần là tiếp tục hiệp nhất loài người trong Chúa Giê-su Ki-tô để đem về với Thiên Chúa. Thánh Thần thúc giục chúng ta nhìn nhận tình yêu vô điều kiện của Chúa Cha được biểu lộ qua Chúa Giê-su Ki-tô. Thánh Thần cũng mở lòng chúng ta tiếp nhận Ân sủng là Chúa Giê-su Ki-tô. Nếu chúng ta đáp lại, nghĩa là nhận thức Chúa yêu chúng ta và bước theo lối sống gương mẫu của Chúa Giê-su, thì đó là chúng ta đang ở trong tiến trình hiệp thông của Thánh Thần để trở về với Tình Yêu Vĩnh Cửu.
                Lời cầu chúc của thánh Phao-lô không đòi chúng ta phải học hỏi những suy tư thần học cao sâu về Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng nó đề cao những nét độc đáo của Tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu tạo dựng, cứu độ và dẫn đưa nhân loại về sống trong sự hiệp nhất vĩnh cửu. Lời cầu chúc cho thấy Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hoạt động hài hòa với nhau để thực hiện kế hoạch cứu chuộc như thế nào. Ðồng thời nó cũng nhắc nhở chúng ta phải có thái độ nào trước tình yêu vô điều kiện ấy. Như vậy, khi mừng kính Ba Ngôi Thiên Chúa với tất cả ý thức ấy, chúng ta sẽ có được những tâm tình thích hợp như tạ ơn, hạnh phúc, hy vọng, quyết tâm sống xứng đáng..., nhất là những gì thánh Phao-lô mong ước gặp được nơi tín hữu Cô-rin-tô: sống hiệp nhất, thuận hòa và nên trọn lành.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
                Khi suy niệm về Ba Ngôi Thiên Chúa, tôi thường có khuynh hướng suy nghĩ về giáo lý hay về những gì cụ thể Ba Ngôi làm cho chúng ta? Ðề tài cầu nguyện "Ba Ngôi Thiên Chúa tạo dựng và cứu độ tôi" sẽ giúp tôi thấy rõ hơn mối quan hệ giữa tôi với Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào?
                Chúa Giê-su biểu lộ tình yêu Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần giúp chúng ta tiếp nhận tình yêu Thiên Chúa. Vậy tôi đã nhận ra và đáp lại tình yêu ấy như thế nào?
                Làm dấu Thánh giá, lắng nghe lời chào của chủ tế lúc đầu Thánh lễ... có thực sự là những dịp để tôi "cầu nguyện" về Thiên Chúa Ba Ngôi không?
                Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ được sống trong đời sống của tôi như thế nào?
Cầu nguyện kết thúc
                Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm hát một bài thích hợp, hoặc cùng đọc kinh sau đây:
                Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận,
xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
                Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,
xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
                Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,
                xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
                Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,
                xin dạy con biết coi mọi người như anh em.
                Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng,
xin cho các kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.
                Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.
                Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.
               (Lời nguyện 32, trích trong RABBOUNI, 120 lời nguyện của bạn trẻ)
Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi
 
 

BaNgôi-280: BA NGÔI - MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.  Amen.
 

Mỗi ngày, chúng ta làm dấu rất nhiều lần trên mình và nó trở nên quen thuộc với mọi người chúng: BaNgôi-280

Mỗi ngày, chúng ta làm dấu rất nhiều lần trên mình và nó trở nên quen thuộc với mọi người chúng ta. Vì khi làm dấu thánh giá là lúc chúng ta tuyên xưng Chúa Cha - Con và Thánh Thần.  Đồng thời, khi ta vẽ trên mình hình thánh giá thì cử chỉ đó có mối liên hệ giữa việc làm dấu thánh giá với lời tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, chính là mầu nhiệm tình yêu.
Theo cách nhìn của con người, chúng ta thường diễn tả hình ảnh Thiên Chúa Cha giống như một "Ông già" có râu dài, bên hữu là Chúa Giê-su và ở giữa là hình chim bồ câu chỉ về Chúa Thánh Thần.  Tôi thiết nghĩ, đó chỉ là hình ảnh biểu trưng về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Hình ảnh đó có thể giúp chúng ta dễ dàng hiểu về mầu nhiệm Thiên Chúa.  Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta vẫn cảm thấy khó hiểu từ ngữ thần học về tín điều Một Chúa có Ba Ngôi.  Ba Ngôi có Một Chúa.  Thật vậy, chúng ta không thấy Kinh Thánh định nghĩa Thiên Chúa có Ba Ngôi vị, bởi vì, mầu nhiệm Thiên Chúa không mạc khải bằng hình thức theo con số, nhưng là do các sự kiện đã xẩy ra để diễn tả về Thiên Chúa.  Người Do Thái nhận biết "Thiên Chúa là Đấng duy nhất" (Đnl.6, 4).  Ngài là Người Cha và là Chúa của dân tộc Israel ( Tv 67,6 ; Is 63, 16).  Cựu ước đã không mạc khải cách minh nhiên Ba Ngôi trong Thiên Chúa.
Tuy nhiên, trong các sách Tin mừng, chúng ta nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa được tỏ hiện nơi Đức Giê-su, chính Ngài đã mạc khải cho chúng ta về mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. "Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy; Thần Khí sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em" (Ga 16, 15).  Thiên Chúa Đấng Siêu Việt vượt ra khỏi trí hiểu của con người, và là Đấng vượt trên tất cả.  Isaac Newton là một nhà toán học và khoa học vĩ đại.  Khi về cuối đời, ông ta viết: "Tôi không biết tôi xuất hiện với thế giới như thế nào, nhưng đối với tôi, tôi giống như một cậu bé chơi đàn trên bãi biển và thỉnh thoảng thích thú tìm thấy một viên sỏi bóng loáng hay một vỏ sò xinh đẹp hơn tôi thường gặp, trong khi đó, cả một đại dương bao la của chân lý, tôi vẫn chưa khám phá và đang trải ra trước mắt tôi."  Khi chúng ta nghĩ rằng, chúng ta hiểu được mầu nhiệm Thiên Chúa, thì chúng ta chỉ mới bắt đầu. Chúng ta vẫn chỉ là những đứa bé chơi đùa trên bãi biển.
Như vậy, chúng ta có thể nói với nhau rằng, ngôn từ là phương tiện để diễn tả về chân lý mà Thiên Chúa muốn mạc khải cho con người, mà các nhà thần học gọi là tình yêu nhiệm xuất.  Có nghĩa là Cha sinh ra Con, và Thánh Thần xuất từ Cha và Con.  Như người mẹ sinh ra đứa con, thì người mẹ cũng cần phải chấp nhận để đứa con ra khỏi mình, bà mẹ phải đau đớn, nhưng trong nỗi đau ấy thì có một niềm vui lớn hơn vì có một đứa con ra đời.  Một đứa con là niềm vui lớn lao cho người mẹ trong cõi đời.  Từ hình ảnh đó có thể giúp cho chúng ta hiểu được mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa được gắn liền với cây thập giá.  Đó là niềm vui sáng tạo trong ơn cứu độ.  Sứ mạng của Chúa Giê-su là làm theo thánh ý của Chúa Cha.  Ngài nói: " Xin đừng theo ý con mà vâng theo ý Cha."  Ngài phó thác sự sống trong tay Chúa Cha:  "Con phó thác sự sống trong tay Cha" và kêu lên rằng: "Abba".  Trong nỗi đau tột cùng, Ngài cũng phải thốt lên rằng "Cha ơi! Sao Cha nỡ bỏ con."  Đến khi trút hơi thở cuối cùng, Ngài hoàn toàn phó thác sự sống trong tay Chúa Cha, và trong hơi thở và sự sống ấy, Chúa Giê-su trao lại cho Giáo hội và cho nhân loại hôm nay.
Mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa được tỏ lộ nơi chính Người Con yêu của Ngài là Đức Giê-su đã xuống thế làm người và chết cho nhân loại, nhờ đó con người được phát sinh sự sống mới, chính là hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội hôm nay.  Cho nên, khi chúng ta làm dấu và vẽ hình thánh giá là chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.  Bởi vì, nơi cây thánh giá là mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi vị được tỏ ra trọn vẹn nhất.  Nói theo ngôn ngữ thần học, chúng ta không biết đời sống nội tại của Thiên Chúa là gì, nhưng chúng ta biết được Thiên Chúa là vì, Ngài tỏ ra bằng hành động cứu độ bên ngoài, chính cây thánh giá là đỉnh cao của sự tỏ ra bên ngoài ấy cho chúng ta. Cho nên, chúng ta xác tín rằng, với mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Giáo hội cho chúng ta thấy Chúa Cha là tình yêu cứu chuộc, Chúa Con là tình yêu chịu đóng đinh và Chúa Thánh Thần là sức mạnh trên cây thập giá.
Mỗi khi làm dấu thánh giá, chúng ta nhân danh tình yêu Chúa Ba Ngôi với tình yêu như thế, thì nó sẽ không còn là dấu ấn của hận thù, ghen ghét, ích kỷ nữa mà là trở nên dấu ấn của tình yêu, khoan dung và tha thứ.  Cho nên, dấu thánh giá được gắn liền với cuộc sống hằng ngày và làm cả đời.  Đồng thời, khi ta làm dấu thánh giá trên mình, nhắc nhớ rằng, chúng ta không thoát khỏi thập giá của đời mình. Nó không phải là cây thánh giá bằng gỗ mà là thập giá đau khổ của đời sống nội tâm, của kiếp người mang đầy vết tích của tội lỗi, mà chúng ta cần dứt ra khỏi mình để đến với người khác.  Khi dứt bỏ tham vọng, đam mê tội lỗi và cái tôi chật hẹp ích kỷ là một hành trình rất đau đớn, nhưng đằng sau sự đau đớn đó thì tâm hồn được Chúa chữa lành và giải thoát, nhờ đó, chúng ta nhận được sức mạnh tình yêu Thiên Chúa thật là tuyệt vời.
Khi suy niệm về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, như là một mầu nhiệm, thì không phải là trò chơi của lý trí, nhưng là để tìm ra ánh sáng cho đời sống đức tin của chúng ta.  Ánh sáng ấy thấm đượm tình yêu cứu thoát nơi cây thập giá, và chúng ta nhận được tình yêu đó trong đời sống đức tin của mình đối với tha nhân trong tình yêu Chúa Ba Ngôi.
Lạy Chúa, mỗi lần con làm dấu, xin Chúa ngự đến trong tâm hồn con, mỗi khi con cầu nguyện xin hãy biến đổi tâm hồn con.  Và mỗi khi con làm dấu thánh, xin tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trong trái tim của con. Amen!
LM John Nguyễn, Utica, New York
 
 

BaNgôi-281: TÌNH YÊU THIÊN GIỚI

Tommasella Manferrari là một nữ nha sĩ 39 tuổi, con gái duy nhất của một gia đình khá giả tại: BaNgôi-281

Tommasella Manferrari là một nữ nha sĩ 39 tuổi, con gái duy nhất của một gia đình khá giả tại miền Reggio Emilia, bắc Italia. Chị tốt nghiệp Nha Khoa hồi năm 1985 với điểm tối ưu và sau hai năm tu nghiệp, về làm việc tại Trung Tâm Nhi Đồng Thành Phố cùng và có phòng mạch riêng. Tommasella rất yêu nghề và yêu đời, và không chút bận tâm vì chưa gặp được bạn đời. Năm 1995, sự tình cờ giúp chị gặp gỡ anh Gianni Bianchini, một kiến trúc sư đảm nhận việc trùng tu căn hộ của Tommasella. Hai người tiến tới hôn nhân sau đó ít lâu và hạnh phúc ngự trị tràn đầy trong gia đình mới này.
Đầu năm 1998, Tommasella vui mừng khôn tả khi được biết là có thai đứa con đầu lòng. Vì là con một nên chị rất mong muốn có cả một đàn con đông đảo.
Nhưng những tháng đầu tiên mang thai đã làm cho Tommasella mệt mỏi lạ thường. Linh tính của một bác sĩ báo trước cho chị biết điều chẳng lành: quả thật, các cuộc thử nghiệm sau đó cho biết là Tommasella mắc phải chứng bệnh ung thư dưới hình thức hiểm nghèo và độc hại nhất. Để mong chữa trị và ngăn chặn căn bệnh này, Tommasella phải chạy chữa bằng những phương thức trị liệu mạnh mẽ và có thể gây nguy hại cho bào thai đang mang trong lòng. Trước và sau khi biết rõ kết quả các cuộc thử nghiệm, Tommasella đã cương quyết khẳng định trước mặt chồng và cha mẹ cùng các bác sĩ là muốn bảo vệ Sự Sống trong cung lòng mình và sẵn sàng từ chối mọi cách thức điều trị có thể cứu sống mạng mình nhưng đe dọa bào thai mỏng manh trứng nước của giọt máu trong bụng.
Tháng 10 năm 1998, Tommasella sinh hạ một bé gái. Đứa con vừa chào đời như mang lại nguồn sinh lực mới cho Tommasella. Theo quyết định của các bác sĩ điều trị, Tommasella khởi đầu những phương thức trị liệu hóa học rất mạnh và một thời gian sau, chị cảm thấy khỏe khoắn hơn nhiều.
Nhưng thật đáng buồn, Tommasella chỉ khỏe hơn được vài tháng rồi cơn bệnh lại lan nhanh. Nhưng cơn mệt mỏi làm tay chân bà rời rã, không bồng bế nổi đứa con yêu. Đêm thứ hai 17.5.1999, Tommasella nhắm mắt đầu hàng cơn bệnh, bỏ lại đứa con bé bỏng mới 8 tháng. ( La Nazione 22.5.1999 ).
Tấm gương cô Tommasella hy sinh mạng sống để cứu con gái được sống, có thể nhắc nhở Kitô hữu nhớ đến Chúa Cứu Thế, Đấng chịu hiến tế để cho cả nhân loại được sống. Tất cả đều chỉ vì Tình Yêu cao vời, tuyệt đỉnh của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Tình Yêu trao ban
Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa ( St 1, 27 ). Ngài mến tặng, trao ban cho mỗi người thân xác và sự sống qua Thần Khí. Nhưng Adam và Eva cùng con cái sau này đã phạm tội, bất hiếu, bất nghĩa, bất trung với Ngài, làm hỏng cuộc sống hạnh phúc Địa Đàng. Nhưng Ngài vẫn yêu thương, mạc khải cho ông Môsê biết: “Thiên Chúa nói Ngài là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu ân nghĩa và thành tín” ( Xh 34, 6 ). Ngài hứa sẽ trao ban cho nhân loại Đấng Cứu Chuộc.
Nhưng khi Thiên Chúa trao ban Đấng Cứu Thế, Con Một Chúa, thì thế gian lại phũ phàng từ chối. “Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, chính Người cũng đã làm chứng cho tôi. Các người đã không bao giờ thấy tôn nhan Người. Các ông không giữ lời Người ở lại trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến” ( Ga 5, 37 – 38 ).
Tình Yêu thăng tiến
Mặc dù thế, Đức Giêsu vẫn long trọng công bố cho toàn thể nhân loại biết Tình Yêu vô hạn, không bến bờ: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” ( Ga 3, 16 ). Hơn thế nữa, con người còn được sống tốt, sống đẹp và sống thanh thỏa, hạnh phúc nếu vâng theo Lời Người và giới răn yêu thương: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” ( Ga 10, 10 ).
Tình Yêu tha thứ
Khi đến nhà ông Dakêu, Trưởng chi cục thuế, bị mọi người xầm xì chế giễu, Đức Giêsu công khai bày tỏ Tình Yêu tha thứ chân tình: “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” ( Lc 19, 10 ).
Đức Giêsu còn mạc khải cho ông Nicôđêmô, một thủ lãnh Pharisiêu, trong đêm khuya như lời bộc bạch tâm sự: “Quả vậy, Thiên Chúa sai Con Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ” ( Ga 3, 17 ).
Cao điểm là khi cận kề cái chết sau cuộc khổ nạn, Đức Giêsu còn khẩn khoản cầu nguyện, nài xin Đức Chúa Cha tha thứ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” ( Lc 23, 34 ).
Tình Yêu hy hiến
“Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta” ( Mc 8, 34 ). Điều kiện tiên quyết yêu Chúa là từ bỏ bản thân, từ bỏ tánh xác thịt, như chính Đức Giêsu đã làm gương sáng. Người sinh ra nghèo khó, sống bằng sức lao động, tận tụy rao giảng, không có cơ sở, dinh thự, chẳng có hành trang rườm rà. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” ( Mt 8, 20 ).
Người nêu gương xả kỷ vị tha. Phục vụ chính môn đệ của mình. “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" ( Mc 10, 45 ).
“Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con” ( Dt 10, 7 ). Hoàn toàn vâng lời Đức Chúa Cha, Đức Giêsu sẵn sàng uống chén đắng theo Thánh Ý Cha, chỉ vì Tình Yêu tuyệt đỉnh vô song. ”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu.” ( Ga 15, 13 ).
Tình Yêu hiệp nhất
Thiên Chúa là Tình Yêu hiệp nhất. Ba Ngôi kết hợp hài hòa thắm thiết nên một Thiên Chúa duy nhất. Khi Đức Giê su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì kìa các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người.Và kìa có tiếng từ trời phán rằng: ”Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người” ( Mt 3, 16 – 17 ).
Con người yêu mến Thiên Chúa thì cũng được hiệp nhất với Ba Ngôi Thiên Chúa. “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” ( Ga 14, 23 ).
Nhưng con người vốn hay chia rẽ, đố kỵ, ganh ghét nhau, vị kỷ, vì cơm áo, địa vị, quyền lợi, tham, sân, si, chịu cám dỗ mọi bề, nên Đức Giêsu đã tha thiết khẩn cầu cùng Đức Chúa Cha, xin cho đoàn chiên hiệp nhất: "Lạy Cha, xin cho chúng nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha" ( Ga 17, 21 ).
“Chúa muốn tất cả lòng con, Chúa không chấp nhận chia sẻ với ai” ( Đường Hy Vọng, số 186 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con tràn đầy hồng ân Đức Chúa Thánh Thần, đốt lửa Tin Cậy Mến trong lòng chúng con, đổi mới đời sống, biết yêu thương và hiệp nhất với nhau, làm chứng nhân Tình Yêu.
Lạy Mẹ Maria, kính xin Mẹ dìu dắt chúng con sống trung thành với Tình Yêu của Thiên Chúa, biết cho đi, dấn thân, hy sinh, phục vụ và hiệp nhất với cộng đoàn, với Giáo Hội, với Ba Ngôi Thiên Chúa. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN
 
 

BaNgôi-282: TÌNH YÊU BỊ ĐÁNH CẮP

Có rất nhiều tình yêu, nhưng có một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Đó chính là tình yêu bất: BaNgôi-282

Có rất nhiều tình yêu, nhưng có một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Đó chính là tình yêu bất diệt. Tình yêu không biết bởi đâu mà đến, nhưng chỉ biết do Thiên Chúa mà sinh ra, Thiên Chúa chính là tình yêu.
Tình yêu có từ bao giờ ? Câu hỏi đó mầu nhiệm như chính Thiên Chúa vậy. Từ thuở rất xa xưa, xa hơn cả trái đất này, từ rất rất lâu, thật lâu rồi đã có một tình yêu bất diệt. Tình yêu giữa Ngôi Cha, Ngôi Con và kết tinh là Chúa Thánh Thần, cũng là Ngôi Ba Thiên Chúa. Ba Ngôi hoàn toàn khác biệt nhưng lại chỉ Một Thiên Chúa. Mỗi ngôi vị một chức vụ nhưng hoàn toàn hiệp nhất trong Một Thiên Chúa mà thôi.
          Chúa Cha tạo dựng, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hóa. Ba Ngôi Thiên Chúa chỉ có một tình yêu duy nhất và mục đích cao cả là yêu thương tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa con người !
          Cho dù bạn là ai, thuộc tôn giáo, quốc gia hay chủng tộc nào, chỉ cần bạn tin rằng có một thần linh tồn tại trong thế giới này cũng đủ. Bởi Đấng ấy không ai khác ngoài Thiên Chúa. Thật ra, không cá thế nào tồn tại trong thế giới này phủ nhận dc điều ấy. Ở một góc khuất nào đó trong cuộc đời, trực tiếp hay gián tiếp, họ đều tin rằng có một Đấng nào đó, một Đấng thần linh hiện diện trong thế giới này. Chỉ cần nhìn vạn vật vũ trụ tồn tại và vận hành xung quanh bạn, cũng đủ minh chứng rằng thế giới này thuộc về Đấng ấy. Nhân loại cho dù tài giỏi đến đâu cũng hoàn toàn không thể có khả năng tạo dựng hay làm tan biến thế giới này được.
Có nhiều con đường giúp bạn tìm hiểu Đấng thần linh tuyệt đối mà nhân loại sùng kính, nhưng không con đường nào hoàn hảo, trọn vẹn cho bằng con đường của Đức Giêsu. Đức Giêsu chính là Đường đưa nhân loại về với Thiên Chúa Cha. Ngài đã dùng chính mạng sống và cái chết của mình để minh chứng mầu nhiệm Nước Trời.
 Khi nhân loại được Thiên Chúa yêu thương tạo dựng giống hình ảnh Ngài và được phú bẩm cho ý chí, lý trí, tình cảm, lương tâm và tự do. Trong đó, tự do là phẩm tính tuyệt đối của Thiên Chúa lại bị con người lạm dụng để rồi bất tuân, phản nghịch với ân nghĩa của Thiên Chúa. Yêu thương tạo dựng con người, đau đớn nhìn thấy con người phản nghịch, Chúa Cha không đành lòng bỏ rơi họ, nhưng đã ban chính Con Một của mình đến cứu chuộc, mặc khải cho họ biết Tình Yêu Thiên Chúa, và đưa họ trở về với nơi mình phát xuất ra để được sống muôn đời: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” ( Ga 3, 16 ).
          Không ai nói về Trời hơn Đấng từ Trời mà đến. Đức Giêsu chính mặc khải trọn vẹn về Thiên Chúa Cha, Ngài còn là ơn cứu độ của chúng ta. Nhờ Ngôi Hai Thiên Chúa, nhờ tin vào Lời của Ngài mà chúng ta được Ơn Cứu Độ. Sau khi đã hoàn tất sứ vụ của mình, Đức Giêsu về Trời với Thiên Chúa Cha và trao ban Thánh Thần cho nhân loại, để Ngài tiếp tục kiện toàn và thánh hóa Hội Thánh. Chỉ cần Đức Giêsu chết thay cho chúng ta một lần là đủ, đó là ơn cứu chuộc vĩnh cửu cho chúng ta rồi.
Thế giới ngày nay có còn tin Thiên Chúa không ? Có còn loại trừ Đức Giêsu - nhân vật lịch sử thật hay chối bỏ luôn cả Chúa Thánh Thần ? Câu trả lời rõ mồn một trên đời sống của từng cá vị. Chỉ biết rằng tin một Thiên Chúa đã khó, để tin rằng Một Chúa Ba Ngôi lại càng khó hơn. Tuy nhiên “Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian không phải lên án thế gian nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án, nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi” ( Ga 3, 17 – 18 ).
Lạy Chúa, tình yêu Ngài ban cho nhân loại cao cả quá. Dường như tình yêu ấy bao dung quá cho nên nhân loại không nhận ra giá trị vĩnh cửu nó mang lại để rồi thế giới ngày ngày vẫn sống trong hận thù, chiến tranh, bạo lực… Thế giới một khi vắng bóng tình yêu Ba Ngôi thì hạnh phúc cũng vụt tắt và bất hạnh không ngừng xảy ra.
Xin Ba Ngôi Thiên Chúa ở mãi trong con, mặc dầu tâm hồn con nhơ nhuốc vì tội lỗi yếu hèn nhưng đó là nguồn Tình yêu mà con không thể nào đánh mất. Thời gian qua con đã để cho đam mê, dục vọng cướp mất nguồn sự sống cho nên con đã mất tất cả.
Xin trở lại, cho con một chỗ nhỏ trong cung lòng Ba Ngôi Thiên Chúa, và đừng để cho ác thù nào có thể đánh mất Tình Yêu vĩnh cửu của con.
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG
 
 

BaNgôi-283: DẤU THÁNH NHIỆM MẦU

Ca khúc “Làm Dấu” với giai điệu nhẹ nhàng mang tâm tình cầu nguyện, lời ca tuyên xưng niềm: BaNgôi-283

Ca khúc “Làm Dấu” với giai điệu nhẹ nhàng mang tâm tình cầu nguyện, lời ca tuyên xưng niềm tin Ba Ngôi Thiên Chúa mỗi khi làm dấu thánh giá. Có lẽ nhiều người thuộc lòng và ngân nga bài ca này hàng ngày.
Con đặt tay lên trán tôn vinh Chúa Cha toàn năng.
Con đưa tay xuống ngực chúc tụng Chúa Con tình yêu.
Đưa tay sang trái phải, vinh danh Chúa Thánh Thần nguồn ơn thánh thiên hồng phúc đời con.
Mỗi lần làm dấu thánh xin ngự đến trong tâm hồn con,
mỗi khi con cầu nguyện xin hãy biến đổi tâm hồn con,
xin cho con giống Ngài trong lời nói việc làm,
ước mong đời con nên dấu chỉ yêu thương của Ngài giữa đời.
Con làm dấu hằng ngày, con làm dấu một đời,
khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con.
Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu nhắc nhở con luôn hướng lòng lên Chúa.
Con làm dấu hằng ngày, con làm dấu một đời,
khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con.
Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu Chúa mãi ở trong con con ở trong Chúa.
Bao lần con quên Chúa khi vô ý hay khi thờ ơ.
Bao phen con ngại ngần lúc làm dấu tuyên xưng niềm tin.
Đã có lúc yếu hèn, không làm dấu giữa đời, Ngài ơi giúp con bừng cháy niềm tin.
Giữa hiểm nguy khốn khó con làm dấu xin ơn bình an,
trong an vui ngập tràn con làm dấu hân hoan tạ ơn.
Khi cô đơn thất vọng, khi mệt mỏi chán chường,
Chúa ơi ở bên con nhé vì con đây luôn cần tới Ngài.
Làm dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng Đức Tin, tôn vinh Chúa Ba Ngôi của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác.
Mùa Phục Sinh kết thúc với đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Giáo hội nhìn lại chương trình cứu độ được Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử nhân loại và nhận ra rằng: nguồn ơn cứu độ chính là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, chúng ta hiểu tại sao ngày Chúa nhật mùa Thường niên tiếp ngay sau lễ Hiện Xuống, luôn luôn được Giáo hội mừng kính và suy niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Giáo Hội là công trình của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài, Giáo Hội sinh ra; nhờ Ngài, Giáo Hội hoạt động; và hướng tới Ngài, Giáo Hội dấn bước. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nắn đúc nên Giáo Hội theo lòng Ngài mong ước ( Thư Chung 2011, Số 19 ).
Giáo hội được Chúa Cha tập hợp chung quanh Chúa Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Là dân tộc lữ hành, Giáo hội phát xuất từ Chúa Cha, sẽ trở về với Chúa Cha, nhờ trung gian của Chúa Kitô, dưới hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính từ mầu nhiệm Ba Ngôi mà Giáo hội được sinh ra và cũng từ Thiên Chúa mà Giáo hội lãnh nhận sứ mạng để tất cả nhân loại làm thành một Dân Thiên Chúa, tập họp thành Thân Thể Chúa Kitô, được xây dựng thành Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Giáo hội như là hình ảnh của mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thần Linh và Giáo hội là dấu chỉ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại ( x. GH1; GLCG số 772 ). Ba Ngôi là cội nguồn và là cùng đích của Giáo hội. Giáo hội là công trình của Ba Ngôi. Giáo hội nuôi sống con cái mình bằng thần lương Ba Ngôi ban tặng qua các Bí Tích.
 
  1.        Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của Đức Tin Kitô giáo
Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người, ngay cả óc tưởng tượng của con người, cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một vấn đề, càng không phải là một vấn đề toán học. Mầu nhiệm không phải là vấn đề hay bài toán: 3 là 3; 1 là 1. Không tính với bài toán nào mà 1 là 3 hay 3 thành 1 được. Thiên Chúa không phải là những con số. Không thể làm trò ảo thuật hay lý luận đưa ngón tay ba đốt hay hình tam giác mà ví von được.
Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này ? Chính Chúa Giêsu Kitô. Nếu Chúa không dạy bảo thì loài người không thể nào biết được. Cho tới trước khi Chúa Kitô đến, loài người không có một ý niệm nào. Dân Do thái, dân riêng của Chúa, cũng không biết gì về mầu nhiệm Ba Ngôi. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần. Ngài đã từng bước vén lên bức màn của mầu nhiệm Ba Ngôi.
Ngài cho biết: Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, cùng bản tính với Chúa Cha. Ngài cũng là Thiên Chúa. Ngài với Chúa Cha là một Thiên Chúa.
Ngài cũng cho biết: Chúa Thánh Thần là Đấng mà Chúa Cha sai đến, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau chứ không phải là ba Chúa.
 
  1.        Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm Tình Yêu
Tại sao Chúa Giêsu lại mạc khải cho chúng ta một mầu nhiệm quá cao siêu như thế ? Chắc chắn không phải là để thử thách thiện chí của con người, hoặc để xây lên bức tường chặn đứng suy luận và óc tưởng tượng của con người. Nhưng vì Chúa muốn chúng ta hiểu biết đời sống nội tại của Thiên Chúa, đó là tình yêu. Thiên Chúa là Tình yêu. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nói lên điều đó.
Thiên Chúa là Tình yêu. Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một công thức khác để nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, ban cho con người được hạnh phúc như Chúa. Nhưng con người đã phạm tội phản nghịch đánh mất hạnh phúc. Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban Con Một yêu dấu để cứu chuộc. Và vì yêu thương con người, Đức Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian thực hiện sứ mệnh yêu thương đó. Và khi hoàn tất, Ngài về trời. Chúa Thánh Thần đến để tiếp tục công việc của Ngài, công việc yêu thương. Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được bày tỏ mãi cho tới chúng ta hôm nay và mãi về sau nữa.
Vì thế, khi mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Như tình yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa đã trào tràn trên mọi thụ tạo, thì tình yêu thương của người Kitô hữu cũng vậy, phải mở ra cho hết mọi người. Sống yêu thương là cách diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa; đồng thời cũng diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi: yêu thương và hiệp nhất.
3. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm gần gũi nhất trong đời sống đạo
Mầu nhiệm Ba Ngôi thật cao cả và cũng thật gần gũi. Thánh Augustinô đã nói: “Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Chúa Ba Ngôi”. Tình yêu gắn liền với đời sống con người.
Chúng ta có thấy tình yêu không, và thấy như thế nào ? Tình yêu được nhìn thấy qua những hành vi yêu thương.
- Yêu thương là ban tặng: khi yêu người ta trái tim của mình cho người yêu. Yêu thương sâu đậm là cho đi điều quý báu nhất cho người mình yêu, như trường hợp của Chúa Cha mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin Mừng theo Thánh Gioan: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian” ( Ga 3, 16 ). Hay chính trường hợp của Chúa Giêsu: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người dám thí mạng sống vì bạn hữu” ( Ga 15, 13 ). Yêu thương là cho đi chính mình, là tự hiến chính mình. Vợ chồng yêu thương nhau, dâng hiến bản thân cho nhau, kể cả thân xác mà không chút e dè, trái lại còn hạnh phúc nữa. Cha mẹ và con cái yêu thương nhau có thể hy sinh mạng sống mình cho nhau.
- Yêu thương là chia sẻ: yêu nhiều, người ta chia sẻ cho nhau nhiều, yêu nhau hết mức thì người ta chia sẻ cho nhau tất cả. Vợ chồng yêu nhau chia sẻ cho nhau tất cả, từ của cải vật chất đến gia sản tinh thần, đến cả tình gia đình. Ông bà cha mẹ của chồng trở thành ông bà cha mẹ của vợ và ngược lại. Trong Thiên Chúa cũng thế, Ba Ngôi Thiên Chúa chia sẻ cùng một sự sống thần linh. Và chính sự sống thần linh duy nhất làm cho Ba Ngôi là một. Chúa Cha đã sai Chúa Con mang sự sống thần linh ấy xuống trần gian chia sẻ cho nhân loại. Sự sống ấy là Bánh bởi Trời mà chúng ta nhận lãnh trong Bí Tích Thánh Thể.
- Yêu nhau là đón nhận nhau. Đón nhận tình yêu và ý muốn của người mình yêu, đón nhận tất cả, đón nhận chính bản thân của người yêu. Người được yêu có vị trí quan trọng trong trái tim của người yêu. Suy nghĩ về tình yêu giữa Chúa Con và Chúa Cha, chúng ta sẽ thấy ở trần gian này, không có sự đón nhận nào trọn vẹn như thế. Chúa Con đón nhận tất cả từ Chúa Cha: giáo lý, ý muốn, lời nói, hành động. Chúa Con đón nhận chính bản thân Chúa Cha làm bản thân của mình, vì vậy mà đồng bản thể với Chúa Cha.
- Yêu nhau còn là gắn bó với nhau. Càng yêu nhau càng gắn bó mật thiết đến nỗi là một với nhau. Hai vợ chồng yêu nhau ở mức độ cao nhất thì trở nên một: một xương thịt, một thân mình. Bấy giờ tình yêu vợ chồng không những là dấu chỉ hữu hình của tình yêu Chúa Giêsu đối với Giáo Hội, mà còn là dấu chỉ của tình yêu Ba Ngôi. Ba Ngôi gắn bó với nhau đến nỗi là Một với nhau. Và chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, Thiên Chúa là Tình Yêu nguồn suối, mẫu mực cho mọi tình yêu của con người ( Tgm. Phaolô Bùi Văn Đọc ).
Hôm nay chúng ta mừng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Gọi là mầu nhiệm vì đó là điều vượt quá trí hiểu của loài người. Tuy không thể hiểu thấu mầu nhiệm đó, nhưng may thay qua Chúa Giêsu, chúng  ta thấy được biểu hiện của mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm của tình yêu.
Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương. Chúng ta chỉ được hạnh phúc khi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng tội lỗi làm cho chúng ta xa lìa tình yêu của Chúa. Sự ghen ghét hận thù làm cho khuôn mặt chúng ta lem luốc méo mó, không còn giống khuôn mặt Thiên Chúa.
Hôm nay ta hãy biết sống theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi. Biết sống hiệp nhất với nhau. Biết dâng hiến bản thân mình, biết cho đi, biết chia sẻ, biết sống chan hoà tình bác ái. Để thực hiện những điều ấy, ta phải biết bỏ mình, bỏ sở thích riêng, bỏ của cải và nhất là phải biết bỏ ý riêng, hoàn toàn sống theo thánh ý Thiên Chúa. Khi biết bỏ mình như thế, ta sẽ nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Khi hoàn toàn quên mình để sống cho tình yêu ta sẽ được kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là hạnh phúc thiên đàng. Đó chính là đích điểm của đời chúng ta.
Trước khi dùng cơm, phần lớn trong chúng ta đều làm dấu thánh giá và đọc nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Khi đọc kinh trong nhà thờ hay tại nhà, chúng ta đều bắt đầu bằng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Có những người có thói quen tốt là trước khi làm bất cứ việc gì, họ đều làm dấu thánh giá. Qua đài truyền hình, thỉnh thoảng chúng ta thấy, có những cầu thủ bóng đá quốc tế làm dấu Thánh Giá sau khi đá lọt lưới đối phương, hoặc trước khi đá phạt đền.
Làm dấu trên trán, chúng ta tuyên xưng Chúa Cha là Đấng tạo dựng trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Làm dấu trên ngực, chúng ta tuyên Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và đã làm người. Làm dấu trên hai vai chúng ta tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Chúa và Đấng ban sự sống, Người bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Dấu chữ thập mà chúng ta làm chỉ Thánh Giá của Chúa Giêsu, nơi mạc khải trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với nhân loại.
Dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng Đức Tin vắn tắt nhất của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác. Lời kinh nhân danh Cha và Con và Thánh Thần tóm tắt Đức Tin mà chúng ta đã nhận lãnh khi chịu phép rửa tội, mà nội dung là ba điều khoản lớn của Đức Tin công giáo, điều khoản thứ nhất tuyên xưng Chúa Cha, điều khoản thứ hai tuyên xưng Chúa Con, điều khoản thứ ba tuyên xưng Chúa Thánh Thần và Hội Thánh.
Dấu Thánh Giá là một công thức ngắn gọn nhất, nhưng lại đầy đủ nhất về Đức Tin vào Một Thiên Chúa Ba Ngôi. Như vậy cách thực tế và đơn giản nhất để tôn vinh Chúa Ba Ngôi là chúng ta hãy làm dấu Thánh Giá cách sốt sắng và ý thức, với tất cả lòng yêu mến và kính trọng.
Lạy Chúa, khi làm dấu Thánh Giá, xin cho con biết khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con. Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu, Chúa mãi ở trong con, con ở trong Chúa. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN
 
 

BaNgôi-284:  Chúa Ba Ngôi

Kinh Thánh đã nói gì về Chúa Ba Ngôi. Có lẽ câu văn nổi tiếng nhất bàn về Chúa Ba Ngôi được tìm: BaNgôi-284

Kinh Thánh đã nói gì về Chúa Ba Ngôi. Có lẽ câu văn nổi tiếng nhất bàn về Chúa Ba Ngôi được tìm thấy trong Phúc Âm thánh Matthêu, khi Chúa Giêsu truyền dạy các môn đệ: Các con hãy đi giảng dạy muôn dân và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Tuy nhiên hình ảnh đặc trưng nhất về Chúa Ba Ngôi là hình ảnh khi Chúa Giêsu chịu phép rửa. Lúc đó, Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu ngự xuống trên Ngài, rồi từ trời có tiếng nói: Này là con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng. Tiếng nói, chim bồ câu và Chúa Giêsu, ba hình ảnh này tạo nên một chân dung sống động về Chúa Ba Ngôi.
Thánh Phaolô cũng bàn về Chúa Ba Ngôi khi viết: Ân sủng của Đức Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em.
Còn thánh Luca trong sách Tông đồ Công vụ, cũng như trong Phúc Âm, đã nhìn nhận lịch sử cứu độ mang chiều kích của Chúa Ba Ngôi. Thời Cựu Ước là thời của Chúa Cha. Thời rao giảng Phúc Âm là thời của Chúa Con và thời hiện nay là thời của Chúa Thánh Thần. Kinh Tín Kính chúng ta đọc trong thánh lễ cũng đã tuyên xưng: Chúa Cha là Đấng sáng tạo. Chúa Con là Đấng cứu độ và Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hoá, trao ban nguồn sống.
Tuy nhiên chúng ta đừng bao giờ quên rằng: Chúa Cha ở đâu, thì Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng ở đó. Ba Ngôi luôn luôn là mầu nhiệm thâm sâu, vừa đơn nhất lại vừa đa dạng.
Tuy nhiên có cách nào giúp chúng ta sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong cuộc đời chúng ta hay không. Tôi xin giới thiệu một phương pháp vừa đơn giản lại vừa hữu ích đó là trong giờ cầu nguyện ban tối trước khi đi ngủ chúng ta hãy dành ba phút để hồi tâm.
Phút thứ nhất, chúng ta hãy rút ra những việc tốt trong ngày, chẳng hạn như giữ được sự bình tĩnh khi bị vu khống. Và chúng ta hãy thưa lên cùng Chúa Cha và cảm tạ Ngài về những điều tốt đẹp ấy.
Phút thứ hai, chúng ta hãy rút ra những việc làm sai trái, chẳng hạn như đã dửng dưng, không giúp đỡ cho một người khổ đau. Và chúng ta hãy thưa lên cùng Chúa Con, để xin Ngài tha thứ.
Phút thứ ba, hãy nhìn đến một ngày sắp tới với những khó khăn phải đương đầu và chúng ta hãy thưa lên cùng Chúa Thánh Thần, cầu xin Ngài ơn khôn ngoan và lòng can đảm để xử lý cho thích đáng. Và như vậy, cuộc đời chúng ta là một sự gắn bó mật thiết với Chúa Ba Ngôi trong mọi cảnh huống gặp phải.

 

BaNgôi-285:  Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần

(Suy niệm của ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm)
 

Với người công giáo, còn gì gần gũi thân quen cho bằng làm dấu thánh giá trên mình cùng với lời đọc: BaNgôi-285

Với người công giáo, còn gì gần gũi thân quen cho bằng làm dấu thánh giá trên mình cùng với lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Ấy thế mà mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi dường như lại thật xa lạ và trừu tượng. Có chăng những từ ngữ "ngôi vị" và "bản tính", vốn rất cần thiết để minh định tín điều, lại là bước cản cho sự gặp gỡ Đấng Thiên Chúa sống động? Có chăng những suy tư thần học về Ba Ngôi thật phong phú về tư duy nhưng lại thiếu tiếp cận mục vụ và linh đạo? Từ góc độ thực hành của đời sống đức tin, xin gợi ý về lời đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" như một cảm nghiệm gặp gỡ Đấng Thiên Chúa duy nhất và là Đấng ở trên, ở với và ở trong con người cũng như lịch sử.
Đấng Thiên Chúa ở trên, ở với và ở trong
Cảm nghiệm đầu tiên của con người về Thiên Chúa: Ngài là Đấng "ở trên", "Ông Trời", "Ông Thiên". Thánh Phaolô tuyên xưng chỉ mình Thiên Chúa là "Đấng trường sinh bất tử, ngự trị trong ánh sáng siêu phàm, Đấng không một người nào đã thấy hay có thể thấy" (1Tim 6,16). Vì Thiên Chúa vượt lên trên vũ trụ và nhân loại nên "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi" (Mt 16,23). Nếu ai nói rằng mình hiểu được Thiên Chúa thì chắc chắn vị Thiên Chúa ấy không còn là Thiên Chúa đích thực nữa.
Những khám phá khoa học ngày nay không những không làm tiêu hao niềm tin vào Thiên Chúa mà trái lại, càng làm cho chúng ta cảm nhận rõ hơn tính bất khả đạt thấu của Thiên Chúa. Ngân hà mà trái đất chúng ta là một thành phần đã là vĩ đại rồi, nhưng nó chìm nghỉm trong hằng tỉ giải ngân hà của vũ trụ. Chính sự vĩ đại ấy của vũ trụ lại càng làm nổi bật tính vô biên và bất khả đạt thấu nơi Thiên Chúa: "Chúng ta không thể khám phá Thiên Chúa đang điều khiển thế giới cách ngây ngô như trước. Chúng ta không thể làm thế, không phải vì Thiên Chúa đã chết, nhưng vì Ngài là Đấng vĩ đại hơn nhiều, Đấng không thể gọi tên, Đấng bất khả đạt thấu, Đấng là nền tảng mọi sự" (Karl Rahner, Science as a Confession, 389).
Cảm thức về tính bất khả đạt thấu nơi Thiên Chúa giúp các Kitô hữu tránh được nguy cơ rơi vào tình trạng mà một nhà tư tưởng phê phán: "Không phải Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nhưng chính con người đã làm nên Thiên Chúa theo hình ảnh của mình". Một trong những điều răn đầu tiên Thiên Chúa ban bố là: "Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ" (Xh 20,4). Dân Chúa trong thời Cựu Ước lại chẳng rơi vào tình trạng đó sao khi họ lấy vàng đúc thành con bê rồi sụp lạy tung hô: "Đây là vị thần đã đưa chúng ta ra khỏi đất Ai Cập" (Xh 32,7)? Và cơn cám dỗ ấy vẫn không ngừng tái diễn trong lịch sử dưới nhiều hình thức khác nhau.
Thiên Chúa là Đấng "ở trên" nhưng đồng thời lại là Đấng "ở với" loài người. Đây là mạc khải trung tâm và độc đáo của Kitô giáo. Kinh Thánh tràn ngập cụm từ "ở với". Hầu như khi sai bất cứ ai đi thi hành sứ mạng, Thiên Chúa cũng chỉ hứa điều quan trọng nhất là: "Ta ở với ngươi". Từ Môsê đến Đức Maria đều thế cả (Xh 3,12; Lc 1,28). Cho đến thời của Hội Thánh, lời hứa của Chúa Kitô Phục sinh dành cho các môn đệ vẫn là: "Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20).
Danh thánh Thiên Chúa mạc khải cho Môsê (Xh 3,14) được dịch nhiều cách: "Ta là Đấng hằng hữu", "Ta là Đấng hiện hữu", "Ta là Đấng Ta là". Nhưng cũng có một cách dịch khác mang tính hiện sinh hơn: "Ta là Đấng hằng ở với anh em" (trong mọi hoàn cảnh, mọi bước đường, mọi biến cố). Lời hứa "ở với" ấy đã vươn đến cao điểm trong Đức Giêsu Kitô, Đấng được gọi là Emmanuel, Thiên Chúa-ở-với-chúng ta (Mt 1,23). Thiên Chúa ở với loài người không những bằng sự hiện diện mà còn chia sẻ phận người, kể cả những trạng huống bi thảm nhất, để trong mọi hoàn cảnh, kể cả sự chết, ta có thể cảm nhận được tiếng nói: Cha ở với con.
Ratzinger có trang sách đẹp về trải nghiệm sự chết khởi đi từ hình ảnh đứa bé bị lạc lối trong rừng sâu và màn đêm buông xuống. Cùng với bóng tối vây bủa chung quanh là nỗi hoang mang sợ hãi tràn ngập tâm hồn. Trong giây phút ấy, điều mà cậu bé mong chờ nhất không phải là bài học địa lý về cánh rừng hoặc bài hướng dẫn khoa học tìm tọa độ. Điều mong chờ nhất chỉ là có một bàn tay chạm lấy và tiếng nói bên tai: "Cha đây, nào chúng ta đi". Không có giây phút nào con người cảm nhận nỗi cô đơn tột cùng cho bằng khi đối diện với sự chết. Kể cả những người thương yêu ta nhất cũng không thể đồng hành. Mọi lý thuyết về thế giới mai sau dường như vô nghĩa. Điều mong đợi duy nhất là sự hiện diện và đồng hành của một ai đó trên con đường tăm tối. Và Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng đã kinh qua sự chết và đã sống lại, chính là Đấng duy nhất đáp trả nỗi ước mong sâu thẳm về một bàn tay nắm lấy và tiếng nói bên tai "Ta đây, nào chúng ta cùng đi". Thiên Chúa ở với.
Thiên Chúa không chỉ ở với con người mà còn ở trong họ. Theo quan điểm công giáo, lương tâm là "tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa, và tiếng nói của Ngài vang dội trong lòng họ" (Hiến chế Vui Mừng và Hi Vọng, số 16).
Tin Mừng Gioan, Tin Mừng của đời sống chiêm niệm, tràn ngập cụm từ "ở trong": "Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình yêu của Ngài" (15,9-10); "Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí Sự Thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Ngài. Còn anh em biết Ngài vì Ngài luôn ở giữa anh em và ở trong anh em" (14,16-17).
Có chuyện kể về một guru đánh mất chìa khóa vào nhà và quanh quẩn đi tìm chìa khóa ở bãi cỏ trước nhà. Đám học trò thấy thế bèn hỏi, "Thưa thầy, thầy tìm gì vậy?" "Thầy mất chìa khóa vào nhà rồi". "Để chúng con tìm giúp". Thế là ai nấy hăng hái bới từng gốc cây, lật từng ngọn cỏ để tìm. Tìm mãi không thấy, một học trò sốt ruột hỏi: "Thầy có nhớ loáng thoáng là đánh rơi ở đâu không?" "Có chứ, thầy nhớ rõ là mình để quên ở trong phòng rồi sập cửa lại". Đám học trò la lên: "Trời ơi, sao bây giờ mới nói, mất chìa khóa trong nhà mà lại tìm ở ngoài này, làm sao thấy được!" Ông thầy có dịp cho học trò một bài học để đời: chúng ta đánh mất chìa khóa của ngôi nhà hạnh phúc. Chìa khóa ấy ở trong tâm hồn nhưng chúng ta lại mải tìm ở ngoài. Tìm đủ thứ, chiếm hữu đủ thứ, hưởng thụ đủ thứ... mà hạnh phúc vẫn biệt tăm. Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc, ở thâm sâu lòng người, nhưng chúng ta mải tìm ở thế giới bên ngoài.
Đúng là "Chúa ở trong con sâu hơn chính con" và "Con đi tìm Chúa bên ngoài mà quên mất rằng Chúa ở trong con". Không chỉ là cảm nghiệm của các nhà thần bí mà còn là trải nghiệm của mỗi người nếu chân thành nhìn lại chính mình.
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần
Hội Thánh có sứ vụ giới thiệu và loan báo cho con người Đấng Thiên Chúa ở trên, ở với và ở trong con người cũng như lịch sử. Nghĩa là phải loan báo Thiên Chúa trong tính toàn thể. Xem ra không dễ dàng giữ được sự quân bình và tính toàn thể ấy. Có khi người Kitô hữu nhấn mạnh đến Thiên Chúa ở trên (chiều kích siêu việt) và ở trong (chiều kích nội tại) mà không quan tâm đến Thiên Chúa ở với phận người, nên bị người ta chê trách là lãng quên những thực tại trần thế. Lại có khi nhấn mạnh đến Thiên Chúa ở với (chiều kích dấn thân xã hội) mà quên Thiên Chúa ở trên và ở trong, nên biến Hội Thánh thành cộng đoàn xã hội thuần túy với chân trời và đường lối hành động không khác gì những tập thể xã hội khác. Làm thế nào để giữ được sự quân bình và tính toàn thể của mầu nhiệm Thiên Chúa, để có thể "ở trong thế gian mà không thuộc về thế gian" (Ga 17,14-16), để là "muối cho đời và ánh sáng cho trần gian" (Mt 5,13-16). Sẽ mãi là một thách đố, nhưng ít ra ý thức được điều ấy cũng đã là lời nhắc nhở cần thiết cho sứ vụ, lời nhắc nhớ mỗi ngày khi làm dấu thánh giá trên mình và đọc "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".

 

BaNgôi-286: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần

(Suy niệm của Lm. HK)
 

Tại Melbourne, nước Úc, Mẹ Têrêxa đi thăm một người già chẳng ai quan tâm để ý đến. Nhìn thấy: BaNgôi-286 Lượng

Tại Melbourne, nước Úc, Mẹ Têrêxa đi thăm một người già chẳng ai quan tâm để ý đến. Nhìn thấy căn phòng của ông tồi tệ và dơ bẩn, Mẹ muốn lau chùi và quét dọn cho ông, nhưng ông cản lại:
- Tôi còn khoẻ mạnh.
Trong căn phòng của ông có một cây đèn tuyệt đẹp nhưng phủ đầy bụi bặm. Mẹ Têrêxa hỏi ông:
- Tại sao ông không thắp đèn cho sáng?
- Tôi thắp đèn cho ai đây? Chẳng có ai đến thăm tôi cả, còn tôi, tôi chẳng cần phải thắp đèn.
- Ông có thắp đèn không nếu như có các sơ đến thăm ông?
- Có chứ, nếu tôi nghe thấy một tiếng người, tôi sẽ thắp đèn lên.
Sau đó một thời gian, Mẹ Têrêxa nhận được một lá thư ngắn gọn của ông với dòng chữ sau: “Xin hãy nói với các bạn hữu của tôi rằng ngọn đèn bà thắp sáng trong đời tôi sẽ còn cháy sáng luôn mãi”
Mẹ Têrêxa rồi cũng trở về Ấn độ, nhưng ngày nào ngọn đèn của ông lão còn cháy sáng ngày ấy Mẹ như vẫn còn đó trong nhà ông.
Trước khi gặp Mẹ Têrêxa, ông lão chỉ sống trơ ra đó như là không hề hiện hữu trên đời, như người ta nói đùa là ông phải sống vì chưa tìm ra lý do để chết. Nay ông có lại được “sự sống”, ngọn đèn đã được thắp lên.
Descartes, một triết gia Pháp nổi tiếng, đã có một luận đề triết được nhiều người thán phục: “Tôi suy tư nên tôi hiện hữu” (Cogito sum), người ta biết mình hiện hữu khi biết mình đang suy tư; còn câu truyện trên như mang lại cho ta một luận đề khác: “Tôi yêu nên tôi hiện hữu”, người ta cảm nhận sự hiện hữu của mình khi yêu thương.
Hai cách hiện hữu trên được diễn tả trong văn hoá Á Đông với hai chữ trí và tâm. Con người có trí, có tâm. Trong cuộc sống, tâm và trí có sự sống riêng, hiện diện độc lập bên nhau, không thể thiếu vắng trong sự sống của con người toàn thể, đã phản ánh được phần nào sự sống và hiện hữu của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Thánh Augustinô cũng cho thấy sự giống nhau giữa hai tiến trình hoạt động trong bản tính Thiên Chúa so với hoạt động của tư tưởng và ý chí nơi linh hồn con người (De Trin., IX, iii, 3; X, xi, 17) mà Ngôi Lời là tư tưởng - sự khôn ngoan của Thiên Chúa, và Thần Khí là ý chí - tình yêu của Thiên Chúa.
Được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa nên sự sống của con người không chỉ phản ánh phần nào mà còn có thể được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa. Sự sống Thiên Chúa được thông ban cho con người qua Đức Kitô, Sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa: “đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1, 24), và qua Thần Khí, Tình yêu của Thiên Chúa: “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5).
Bởi đó, có thể nói được là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mạc khải về sự cao trọng của ơn gọi làm người: Đích nhắm sau cùng của ơn gọi làm người là chính sự sống của Thiên Chúa: “Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48); và cuộc sống tại thế hôm nay là để chuẩn bị cho sự sống vinh hiển được xếp đặt từ đời đời cho nhân loại: “chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển” (1Cr 2,7)
Valencia mồ côi cha lúc mới lên 5, phải ở với mẹ tại một khu lao động nghèo khổ. Sau Thánh lễ hằng ngày, cậu vào các tiệm ăn đánh giầy cho khách. Mỗi khi nhận tiền công, cậu đều làm dấu thánh giá tạ ơn Chúa.
Tụi bạn trông thấy to nhỏ với nhau: “Gạo không lo mà lo giữ đạo!” Valencia vẫn cứ hiên ngang giữ hình thức cầu nguyện đơn sơ ấy.
Năm 17 tuổi, cậu được ban văn nghệ mượn đóng vai thằng quỉ. Màn đầu vừa dứt, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Sang màn thứ hai, trời đột nhiên đổ mưa, sấm sét nổi lên ầm ầm. Nghe sét đánh, “thằng quỉ” quên mất mình đang đóng kịch, vội quì gối làm dấu thánh giá. Khán giả cười rộ lên, tưởng thằng quỉ làm hề, không ngờ Valencia cầu nguyện thật!
Sau đêm ấy, mọi người trong khu xóm hiểu được hoàn cảnh của cậu, họ chung nhau quyên tiền để giúp Valencia ăn học. Đến sau, Valencia đỗ tiến sĩ lúc vừa mới 30 tuổi … nhờ dấu thánh giá!
Mỗi ngày và cả đời tôi được bắt đầu với dấu thánh giá: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” để nhắc tôi nhớ rằng Chúa là con đường và thành đạt thực của đời tôi.“Thật vậy, tất cả các dân đều bước đi nhân danh thần của mình; còn chúng ta, chúng ta tiến bước nhân danh Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng ta, đến muôn thuở muôn đời” (Mk 4,5).

 

BaNgôi-287:  Bài Giảng Lễ Chúa Ba Ngôi

(Msgr. Edward Peter Browne)
 

 Tôi tin là hầu hết qúi vị đã tham dự Thánh Lễ Phục Sinh. Thường thì rất đông người tham dự trong: BaNgôi-287

Tôi tin là hầu hết qúi vị đã tham dự Thánh Lễ Phục Sinh. Thường thì rất đông người tham dự trong ngày Lễ Phục Sinh. Lễ Giáng Sinh cũng đông như vậy. Tất cả những người Công Giáo bề ngoài hay nghĩ mình là người Công Giáo thì đi dự lễ Giáng Sinh và Phục Sinh. Quí vị đã có mặt ở đây trong ngày Chúa Nhật Phục Sinh và nếu qúi vị nhớ lại, trong Thánh Lễ ngay sau bài giảng, quí vị đã được yêu cầu canh tân lại những lời hứa của Bí Tích Thanh Tẩy. Tôi hỏi, “Anh chị em có từ bỏ Satan không?” “Thưa có.” “Và từ bỏ tất cả những công việc và các lời hứa của qủi Satan không?” “Thưa có.”
Tuyên Xưng Đức Tin
Có một lời tuyên xưng đức tin nữa và tôi sẽ hỏi anh chị em một trong những câu hỏi trong lời tuyên xưng đức tin này. Tôi sẽ hỏi để anh chị em trả lời. Câu hỏi sẽ là: “Anh chị em có tin Thiên Chúa, là Cha Toàn Năng, Đấng Tạo Dựng nên trời đất không?” và câu trả lời của anh chị em sẽ là, “Thưa có.” Bây giờ chúng ta sẽ thử bắt đầu, “Anh chị em có tin Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Đấng Tạo Dựng trời đất không?” “Thưa có.” Tôi nghi là nếu tôi hắt xì hơi khi anh chị em đang trả lời, không ai sẽ nghe thấy câu trả lời của anh chị em bởi vì người ta trả lời theo kiểu máy móc. “Có, tôi tin.” Anh chị em đang tuyên xưng sự thật là, “Thưa có, tôi tin vào Thiên Chúa!” Hôm nay là ngày lễ kính Chúa Ba Ngôi và chúng ta công bố sự thật là: TÔI TIN VÀO THIÊN CHÚA LÀ CHA TOÀN NĂNG, TÔI TIN VÀO CON MỘT THIÊN CHÚA, TÔI TIN VÀO CHÚA THÁNH THẦN. Tôi vững vàng tin tưởng. Anh chị em phải trả lời, “TÔI TIN, TÔI VỮNG VÀNG TIN! TÔI THỰC SỰ TIN! Nhưng đa số người ta nói cách nhỏ nhẹ, “Tôi tin, tôi vững vàng tin, tôi thực sự tin.”
Chúng ta sẽ không giải thích về Chúa Ba Ngôi bởi vì tôi không thể giải thích được. Đó là một mầu nhiệm. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã tạo dựng nên trời đất, chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ. Chúng ta biết Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa. Chúng ta biết Chúa Thánh Thần ngự trên chúng ta mỗi khi chúng ta lãnh nhận các Bí Tích và Thánh Thần ngự trong chúng ta. Chúng ta tin như thế, hay ít nhất chúng ta nói là chúng ta tin như thế.
Trong bài đọc thứ nhất của Thánh Lễ hôm nay, Mai-sen nói rằng Đây là lý do tại sao các ngươì phải biết lúc này và ghi khắc vào lòng rằng Chúa là Thiên Chúa trên trời và dưới đất và không có Chúa nào khác. Các người phải tuân giữ các lề luật và các giới răn ta nói với các người hôm nay, các người và con cháu các người sẽ thịnh vượng, các người sẽ sống trường thọ trong miền đất mà Chúa là Thiên Chúa của các người, ban cho các người mãi mãi. Anh chị em phải ghi tạc vào lòng của anh chị em: “Tôi phải tin và tuân giữ các lề luật và giới răn.” Anh chị em nói là anh chị em yêu mến Thiên Chúa, anh chị em nói là anh chị em tin vào Thiên Chúa. Cách mà anh chị em tuyên xưng đức tin của anh chị em nơi Thiên Chúa là anh chị em ghi tạc trong lòng của anh chị em rằng Chúa là Thiên Chúa trên trời, trên đất và dưới lòng đất. Rồi anh chị em tuân giữ lề luật và các giới răn. Đây chính là cách anh chị em tuyên xưng đức tin nơi Thiên Chúa.
Tin Giữ Giới Răn
Nếu chúng ta đọc lại qua các giới răn, nhiều người sẽ nghĩ rằng các giới răn thật là tiêu cực. Nhưng thực sự các giới răn là những lời công bố tích cực.Thí dụ, giới răn Thứ Nhất nói anh chị em phải thờ lạy một Thiên Chúa duy nhất. Ta là Chúa, các ngươi không được tôn thờ bất cứ chúa nào khác. Đó không phải là lời tiêu cực. Ngài nói với anh chị em là hãy có đức tin, “tin tưởng vào ta.”
Các ngươi không được xúc phạm đến danh thánh của Thiên Chúa, các ngươi phải tôn kính danh ta. Các ngươi phải sống nhân danh ta. Các ngươi phải tuyên xưng danh ta suốt đời. Đó là niềm tin nơi Thiên Chúa. Đó không phải là điều tiêu cực nhưng là tích cực.
Khi giới luật Thứ Ba nói là các anh chị em phải nhớ giữ ngày Chúa Nhật, đó là vì anh chị em tin vào Đức Giêsu Kitô Đấng là Con Thiên Chúa. Anh chị em tin là Chúa Giêsu Kitô hiện diện nơi bàn thánh. Anh chị em tin, hay ít nhất anh chị em nói là anh chị em tin rằng đây là Bí Tích Thánh Thể thật tuyệt diệu. Tuy thế, có người lại đến ăn mặc cách bê bối, vào trễ ra sớm. Anh chị em có thật tin không? Anh chị em nói là có, anh chị em tin, nhưng anh chị em lại qúa bận rộn để đến tham dự, qúa bận rộn để đến chia sẻ bí bích bởi vì anh chị em có việc khác phải làm. Anh chị em có tin không? Có chứ, anh chị em tin, nhưng anh chị em lại không thực hành niềm tin. Đức tin không thực hành thì có ích lợi gì?
Giới Luật Thứ Tư nói là anh chị em phải thảo kính cha mẹ nhờ đó anh chị em có thể sống trường thọ ở đời này. Anh chị em có thảo kính cha mẹ vì anh chị em tin tưởng vào Thiên Chúa không? Hay bởi vì đó chỉ là điều tiện lợi? Hay bởi vì chúng ta luôn làm như thế, đó là điều đáng làm. Nó phải được thi hành vì tôn kính đối với Thiên Chúa. Chúng ta phải tôn kính Thiên Chúa Cha của chúng ta và cha mẹ chúng ta là bậc đại diện của Thiên Chúa. Chúng ta phải tôi kính các ngài giống như tôn kính Thiên Chúa Cha.
Chúng ta có Giới Luật thứ Năm dạy rằng, “Các ngươi không được giết người.” Tại sao? Bởi vì Thiên Chúa đã tạo dựng nên ta. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống. Thiên Chúa đã ban cho chúng tất cả các tạo vật. Ngài đã đặt hàng triệu các vì sao trên giải ngân hà. Ngài ban cho chúng ta sự sống. Ngài truyền hãy tôn trọng sự sống đó bởi vì đó là sự sống của Thiên Chúa nơi chúng ta. Tuy thế, nhiều người mẹ lại giết con mình. Có những trẻ em giết các trẻ em khác. Và anh chị em lại nói, có tôi tin nơi Thiên Chúa. Điều đó không nói lên là anh chị em tin.
Chúng ta có Giới Răn Thứ Sáu: “Các ngươi không được phạm tội tà dâm ngoại tình, không được xúc phạm đến sự sống ta đã ban cho các ngươi.” Đó không phải là điều tiêu cực mà là vấn đề dâng lại cho Thiên Chúa sự tôn trọng đời sống của anh chị em. Ngài đòi anh chị em phải thi hành sự trong sạch thanh khiết, bởi vì đây là những món qùa vô giá được Thiên Chúa ban cho chúng ta và chúng ta không muốn phá hủy đi, chúng ta không muốn phung phí, chúng ta không muốn gây trở ngại, chúng ta muốn bảo vệ niềm tin của chúng ta nơi Thiên Chúa. Tuy vậy, hãy nhìn vào xã hội ngày nay. Chẳng ai thực sự tin những điều này là qùa tặng của Thiên Chúa. Chúng chỉ là những thứ đồ chơi. Người ta nói có đấy, họ tin vào Thiên Chúa.
Các giới răn truyền rằng “Các ngươi không được lấy của người khác.” Điều đó có nghĩa là thi hành tinh thần công bình. Đó không phải là điều tiêu cực mà là điều tích cực. Tôi sẽ sống công bình. Tôi sẽ trao cho người khác cái thuộc về họ. Tuy thế người ta lại lấy của Thiên Chúa, không phải chỉ lấy của tha nhân, họ lấy trộm của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói, “Hãy dâng lại cho ta một số những cái Ta đã ban cho các ngươi.” Có bao nhiêu người dâng lại cho Thiên Chúa? Bao nhiêu người đóng góp? Có bao nhiêu người dâng hơn một phần trăm lợi tức của họ cho Thiên Chúa? Anh chị em nói có, anh chị em tin tưởng vào Thiên Chúa, anh chị em tin sự hiện diện của Chúa Kitô trong đời sống. Anh chị em tin. Anh chi em nói anh chị em tin, nhưng anh chị em làm điều gì? Anh chị em có tuân giữ các lề luật và các giới răn mà “Ta đã trao cho các ngươi hôm nay”?
Người ta nói dối, làm chứng dối, phá hại người láng giềng, đổ lỗi không đúng sự thật cho người khác, và họ nói họ tin nơi Thiên Chúa nhưng họ lại phá hại người hàng xóm của họ. Họ không tôn trọng đời sống của người khác. Tất cả những điều này là sự bày tỏ niềm tin của chúng ta. Chúng ta bày tỏ niềm tin của chúng ta bằng cách chúng ta hành động. Nếu anh chị em nói là anh chị em tin vào Thiên Chúa, thì hãy hành động như anh chị tin nơi Thiên Chúa. Hãy tuân giữ các giới răn và các lề luật. Hãy trung tín với Thiên Chúa, tin tưởng nơi Thiên Chúa, tôn kính Ngài. Hãy đến với các Bí Tich cách tôn kính và mong mỏi Chúa Giêsu Kitô đến với mình trong Bí Tích Thánh Thể. Tôi phải cung kính trong cách đón nhận Ngài vào trong đời sống của tôi. Tôi có tin như thế không? Nếu tôi tin, thì tôi sẽ thực hành.
Thực Hành Điều Mình Tin
Chỉ đơn giản nói, “Lạy Chúa, lạy Chúa,” sẽ không đưa anh chị em vào nước trời. Chỉ có một điều là nếu tôi tin thì tôi thực hành. Nếu anh chị em tin rằng anh chị em đã có sự thành công trên đời, có thể nuôi nấng gia đình, lo cho sức khỏe của mình, đó chính là vì anh chị em đã phải làm một số điều. Nếu anh chị em tin nơi Thiên Chúa thì anh chị em cũng phải làm một số điều. Đây chính là lý do tại sao anh chị em biết và ghi tạc trong lòng rằng Chúa là Thiên Chúa trên trời và dưới đất, và không có chúa nào khác. Các ngươi phải tuân giữ các huấn lệnh và giới răn mà Ta ban cho các ngươi hôm nay để nhờ đó các ngươi được trường thọ trong đất mà Chúa là Thiên Chúa của các ngươi đã ban cho các ngươi. Đất mà Thiên Chúa ban cho anh chị em vĩnh viễn là ơn cứu độ muôn đời. Anh chị em có tin như thế không? Anh chị em có thực lòng tin rằng chỉ có một Thiên Chúa Ba Ngôi không? Có tin Thiên Chúa đó đến để cứu chuộc anh chị em không? Nếu anh chị em tin như thế thì anh chị em sẽ tuân giữ các huấn lệnh và các giới răn của Ngài.
Ngay khi tôi giảng giải xong, chúng ta sẽ đứng lên để cùng đọc kinh Tin Kính. Chúng ta tin vào một Thiên Chúa duy nhất, chúng ta tin vào Bí Tích Thánh Thể. Chúng ta tin điều này, tin điều kia, chúng ta tin vào nhiều điều khác, nhưng anh chị em có sống niềm tin đó không? Hay đó chỉ là cách chúng ta trả lời, “Có” khi được hỏi “Anh chị em có tin vào Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Đấng Tạo Thành trời đất không?” Đó có phải là cách mà anh chị em bày tỏ lòng tin của mình không?
Đây chính là điều chúng ta được mời gọi để thực hiện. TÔI TIN VÀO THIÊN CHÚA Và bởi vì tôi tin vào Thiên Chúa, tôi tin như là người con nhỏ của Thiên Chúa nhờ đó sự sống viên mãn của thiên Chúa có thể trở thành của tôi và dành cho tôi mãi mãi! Xin Thiên Chúa chúc lành cho các bạn.

 

BaNgôi-288: Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi

(Suy niệm của Lm. Anphong Trần Đức Phương)
 

Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi được mừng vào Chúa Nhật sau Chúa Nhật Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện: BaNgôi-288

Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi được mừng vào Chúa Nhật sau Chúa Nhật Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Các Bài Đọc chu kỳ Năm B: Bài Đọc I (Đệ Nhị Luật 4: 32-34, 39-40): Ông Môsê nói với Dân Chúa: Thiên Chúa là Chúa duy nhất trên trời dưới đất; chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa, không có Chúa nào khác. Bài Đọc II (Thơ Rôma 8:14-17): Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta , nhờ ơn Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta được làm con cái Chúa và có thể xưng với Chúa là Cha. Bài Phúc Âm (Matthêu 28:16-20): Chúa Giêsu nói với các Tông Đồ: “Hãy đi giảng dạy muôn dân và ban phép Thánh Tẩy cho họ “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.”
Thiên Chúa Ba Ngôi là một Mầu Nhiệm, nghĩa là một Tín Điều mà chúng ta không thể nào cắt nghĩa được bằng lý trí; nhưng chúng ta tin và lãnh nhận do Chúa Giêsu đã giảng dạy, và nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng (Gioan 16:12) để nhận biết: Chỉ có một Thiên Chúa mà Ngài có Ba Ngôi: Ngôi Nhất là Cha, Ngôi Hai là Con, Ngôi Ba là Thánh Thần; Ba Ngôi cùng một bản thể, cùng là một Thiên Chúa duy nhất.
Người ta nói khi Thánh Patrick giảng dạy về Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngài đã dùng một lá có ba nhánh để làm thí dụ. Giáo sư Tiến sĩ Phan Văn Ngọc, sau khi tìm hiểu Thánh Kinh kỹ càng và được ơn Chúa soi sáng, đã tin nhận Thiên Chúa và chịu phép Thánh Tẩy. Khi tìm hiểu giáo lý, ông cảm thấy điều khó hiểu nhất là về Thiên Chúa Ba Ngôi; nhưng sau cùng, ông suy nghĩ: dù chỉ là nước, nhưng vẫn có thể ở thể lỏng, thể rắn (nước đá) hay thể hơi (hơi nước).
Tuy nhiên, tất cả những so sánh, những biểu tượng bề ngoài chỉ để tạm thời giải thích Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi; vì ‘Mầu Nhiệm’ là điều vượt quá mọi sự suy nghĩ của lý trí con người. Con người dù thông minh thế nào, cũng không thể hiểu hết được những ‘bí ẩn’ trong vũ trụ, huống chi làm sao hiểu được hết mọi điều siêu việt của Thiên Chúa. Thánh Augustinô (354-430) là một nhà Thần Học và Triết Gia, Ngài luôn muốn cắt nghĩa mọi sự theo lý trí, kể cả Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Một ngày kia, Ngài đi đi lại lại trên bờ biển để vừa cầu nguyện vừa cố suy nghĩ trong tâm trí xem có cách nào để hiểu và cắt nghĩa được tường tận mọi điều về Thiên Chúa Ba Ngôi. Đang lúc vừa đi đi, lại lại trên bờ biển, vừa suy nghĩ mung lung, chợt ông thấy có một em bé trông rất khôi ngô và thông minh, đang dùng một vỏ sò múc nước biển đổ vào một lỗ nhỏ trên bờ biển. Thánh Augustinô liền dừng lại hỏi em đang muốn làm gì vậy. Em bé mỉm cười trả lời: “Cháu đang muốn múc hết nước đại dương để đổ vào cái lỗ nhỏ này.” Thánh Augustinô liền cười và nói: “Sao cháu làm một việc vô ích như vậy… Làm sao cháu có thể múc nước cả đại dương này để đổ hết được vào cái lỗ nhỏ như thế?” Em bé liền cười nói: “Việc của cháu đang làm có vẻ khờ dại thật, nhưng việc bác đang suy nghĩ còn khờ dại hơn…”
Thiên Chúa là cả một đại đương mênh mông, tâm trí con người chỉ là một giới hạn nhỏ bé, làm sao có thể thông hiểu tường tận hết mọi điều về Thiên Chúa. Chỉ với đức tin và tâm hồn khiêm nhường và sự kết hiệp với Chúa qua lời cầu nguyện, chúng ta mới có thể được Ơn Chúa soi sáng và tin nhận được các Mầu Nhiệm về Thiên Chúa, nhất là Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, chứ không phải qua suy nghĩ của lý trí hạn hẹp của chúng ta.
Như vậy, Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một điều ‘huyền nhiệm’ chỉ các nhà Thần Học mới hiểu được. Một nhà Thần Học thế kỷ 19, ông Thomas Hancock nói: “Một người đàn ông hay một người phụ nữ dù quê mùa không thể lý luận về Thịên Chúa Ba Ngôi, nhưng vẫn có thể nhận thức được về Thiên Chúa Ba Ngôi một cách hoàn hảo hơn một nhà Thần Học uyên bác, thông hiểu các tác phẩm của Thánh Athanasius hay Thánh Augustinô và tất cả những tranh luận của sáu thế kỷ đầu của Giáo Hội!” (trích trong Preaching the Lectionary, Reginald H. Fuller). Thánh Phaolô cũng nói với chúng ta: “Đức tin của chúng ta không dựa vào những lý lẽ khôn ngoan của con người…nhưng nhờ mạc khải của Thiên Chúa qua sự soi sáng của Chúa Thánh Thần (Xin xem 1 Cr, chương 2; hoặc Ga 14,26). Trong một lần cầu nguyện, Chúa Giêsu đã nói: “Con cảm tạ Cha vì Cha đã không soi sáng cho những kẻ khôn ngoan thế gian biết những điều ấy, nhưng cho những người đơn sơ, hèn mọn!” (Lc 10,21; Mt 11,25). Chính vì vậy, Pascal, một nhà tư tưởng lớn trong thế kỷ 17, đã luôn cầu xin cho mình được có một Đức Tin mạnh mẽ của một bà nhà quê ở xứ Bretagne!
Chúng ta tuyên xưng Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi khi đọc kinh Tin Kính. Mỗi khi chúng ta đọc kinh: “Sáng Danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần”, chúng ta cúi đầu để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi khi làm Dấu Thánh Giá là chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba ngôi: “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.” Chúng ta được chịu phép Thánh Tẩy để gia nhập Gia Đình Hội Thánh Chúa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi trong công thức: “Cha rửa con, nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.”
Hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta long trọng kính mừng Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy cầu xin cho chúng ta luôn được ơn Chúa soi sáng để chúng ta có thể có một đức tin sáng suốt và mạnh mẽ, không phải chỉ dựa vào lý trí, nhưng bằng chính đời sống thực hành đức tin hàng ngày của chúng ta qua đức Bác Ái.
Với lời cầu nguyện của Thánh Phaolô, chúng ta hãy cùng “nguyện xin Ân Sủng của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Tình Yêu của Chúa Cha, và Ơn Thông Hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng mỗi người, mỗi gia đình chúng ta!” (2 Cr 13,13).
 
 

BaNgôi-289: SỐNG MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI

Mt 28, 16 - 20
 

Một nhà truyền giáo Phi Châu về nghỉ hè tại quê hương là Anh quốc. Trên đường về, ông thấy chiếc: BaNgôi-289

Một nhà truyền giáo Phi Châu về nghỉ hè tại quê hương là Anh quốc. Trên đường về, ông thấy chiếc đồng hồ mặt trời thật đẹp. Ông tự nhủ: chiếc đồng hồ này thật lý tưởng cho dân làng nơi mình truyền giáo. Mình có thể dùng nó để giúp cho họ cách tính giờ hàng ngày. Thế là ông mua chiếc đồng hồ đó và mang về Phi châu. Mọi người thấy thích quá, đạt ngay giữa làng. Và để tỏ lòng quý chuộng, họ xây một mái che trên chiếc đồng hồ, đang khi nó cần ánh sáng mặt trời mới hoạt động được. Thế là chiếc đồng hồ quý giá đó trở nên vô dụng! (x. LMTV, Minh Họa Lời Chúa, Tập 1, Tr. 417)
Câu chuyện gợi cho chúng ta hiểu về việc sống mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi của chúng ta hiện nay. Chúa Giêsu mạc khải mầu nhiệm này để chúng ta hiểu về tình yêu Chúa và sống theo gương yêu thương hiệp nhất của Chúa Ba Ngôi. Thế nhưng, kitô hữu chúng ta nhiều khi chỉ ý thức mầu nhiệm này vào lễ Chúa Ba Ngôi mà thôi!
Mầu nhiệm Ba ngôi là mầu nhiệm chính yếu, nhưng vì là thực tại vượt trên khả năng hiểu biết và kinh nghiệm của con người, nên con người không thể giải thích tường tận bằng những kinh nghiệm, quan niệm có sẵn và từ ngữ của con người. Đối với mầu nhiệm Thiên Chúa, chúng ta không thể dùng lý luận để chứng minh mà phải đi từ đời sống nội tâm để bước vào mầu nhiệm Thiên Chúa. Điều chính yếu là chúng ta sống Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi bằng hành động yêu thương và biết kết hiệp với Chúa và anh em mình theo gương Chúa Ba Ngôi.
Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương nhau bằng một tình yêu vô biên. Chúa Cha trao ban tất cả cho Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Chúa Con dâng lại tất cả cho Cha và Chúa Thánh Thần trao lại tất cả cho Cha và Con. Chúa Cha không qui về mình nhưng luôn hướng về hai Ngôi kia, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần cũng vậy. Tình yêu này được biểu hiện cụ thể trong trần gian nơi Ngôi Hai Nhập Thể. Chúa Giêsu vâng lời Chúa Cha và trao hiến thân mình làm của lễ toàn thiêu dâng lên Cha để cứu chuộc nhân loại. Chúa Con cao sang, quyền năng vô cùng nhưng vì loài người mà trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận mỏng dòn của con người để cho chúng ta được làm con Chúa. Ngài đã hy sinh chính mình cho nhân loại được thông phần vào Thiên tính của Ngài. Chúng ta chỉ có thể hiểu được mức độ cao sâu của tình yêu và sự hy sinh của Chúa Giêsu khi biết chìm sâu trong Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi đầy tràn tình yêu.
Như Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban tất cả cho nhau, như Chúa Giêsu trao ban đến giọt máu cuối cùng cho loài người. Chúng ta cần biết đáp trả tương xứng tình yêu ấy bằng cách yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức mình và yêu tha nhân như chính mình. Khi chúng ta biết quan tâm phục vụ người khác là chúng ta nên giống Chúa. Khi người chồng quên mình vì vợ con, vợ quên mình vì chồng con, cha mẹ quên mình vì con cái, con cái quên mình vì cha mẹ, lúc đó gia đình trở nên một, hài hoà trong tình thương và hạnh phúc tuyệt diệu. Vì không ai độc chiếm ích kỷ nhưng biết sống trong tình trạng thông giao, từ bỏ bản thân để hướng về người khác và tất cả trở nên một trong Chúa.
Khi chúng ta kính Chúa yêu người là chúng ta đang sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, trở nên con cái Chúa theo hình ảnh Thiên Chúa.
Hôm nay, chúng ta cùng nhau ý thức về tình yêu của Chúa Ba Ngôi, biết chia sẻ trong yêu thương để cuộc sống trở nên phong phú, thánh thiện và mỗi ngày được biến đổi trở nên giống Chúa hơn.
 
 

BaNgôi-290: YÊU THƯƠNG VÀ HIỆP NHẤT

Mt 28, 16 - 20
 

Gần đây, sau khi bản Nghi Thức Thánh Lễ mới được HĐGMVN công bố cho thi hành trên toàn quốc: BaNgôi-290

Gần đây, sau khi bản Nghi Thức Thánh Lễ mới được HĐGMVN công bố cho thi hành trên toàn quốc, nhiều ý kiến khác nhau đã được bày tỏ liên quan đến nội dung dịch thuật và một số từ ngữ thần học và phụng vụ được sử dụng trong Bản Nghi Thức mới này. Trước hết là phần mở đầu Thánh Lễ, chủ tế làm dấu Thánh Giá với công thức “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Công thức này đã được dùng lại từ bản nghi thức cũ xuất bản năm 1969, nhưng khác với công thức của Bản thứ hai năm 1992 như sau: “Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
Lý do thay đổi được đưa ra là để tránh sự lầm lẫn về “Ba Chúa” có thể gây ra trong công thức của bản 1992, tức là muốn nhấn mạnh đến sự kiện chỉ có Một Thiên Chúa với Ba Ngôi Vị “đồng một bản thể và uy quyền” như Giáo Hội tuyên xưng trong kinh Tin Kính của Công đồng Nicene. Chi tiết quan trọng này rất thích hợp để chúng ta suy niệm về Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi trong Chúa Nhật hôm nay.
Có thể nói: Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm lớn nhất của đạo Công Giáo được Chúa Giêsu thiết lập cách nay trên 2000 năm. Xưa kia, các Thánh Giáo Phụ, đặc biệt là Thánh Augustinô đã suy niệm nhiều về mầu nhiệm này nhưng đã không thể nào tìm ra được lời giải đáp nào ngoài xác tín đó là mầu nhiệm phải tin mà thôi.
Trước hết, mầu nhiệm này đã không được mặc khải trong Kinh Thánh Cựu Ước, có lẽ để tránh bối rối cho dân Do Thái vốn quen với não trạng “độc thần”, cho phép họ chỉ tôn thờ một Thiên Chúa Giavê là Cha của các tổ phụ Abraham, Isaac và Giacóp, và cũng là Thiên Chúa đã giải phóng họ qua bàn tay ông Môisen khỏi ách thống khổ bên Ai Cập để trở về quê hương an toàn.
Trong bài đọc 1 hôm nay, Môisen đã nhắc lại cho dân Do Thái ghi nhớ và suy niệm rằng: “Trên trời cao cũng như dưới đất thấp, chính Đức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa. Anh em phải giữ các thánh chỉ và mệnh lệnh của Người, mà hôm nay tôi truyền cho anh em; như vậy, anh em và con cháu anh em sau này sẽ được hạnh phúc và anh em sẽ được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, vĩnh viễn ban cho anh em” (Đnl 4, 39-40).
Ngược lại trong Kinh Thánh Tân Ước, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi đã được mặc khải rõ ràng cho nhân loại lần đầu tiên qua trình thuật Chúa Giêsu nhận phép rửa của Thánh Gioan Tẩy Giả ở sông Giođan, nơi đây “Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu” và tiếng nói của Chúa Cha lần đầu được nghe từ trời cao phán ra: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (x. Mt 3, 13-17; Mc 1, 9-11; Lc 3, 21-22).
Tiếng Chúa Cha lại được nghe thêm một lần nữa khi Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor trước mắt ba Tông Đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê: “Đây là Con Ta yêu dấu hằng đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người” (Mt 17, 5). Đặc biệt trong bài Tin Mừng Matthêu hôm nay, Chúa Giêsu đã minh nhiên nói đến Ba Ngôi Thiên Chúa khi Người truyền cho các Tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cứu độ và rửa tội cho muôn dân “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Những lời này của Chúa Giêsu đã vén mở cho chúng ta biết về Ba Ngôi đồng bản thể trong một Thiên Chúa duy nhất mà Giáo Hội long trọng mừng lễ hôm nay.
Ba Ngôi Vị nhưng cùng một Thiên Chúa duy nhất, thánh thiện, uy quyền và đầy yêu thương. Mặt khác, mầu nhiệm Ba trong Một cũng diễn tả cách siêu hình cho chúng ta biết về bản chất của Giáo Hội là tuy có nhiều thành phần khác nhau: về dân tộc, địa vị, tuổi tác, phái tính... nhưng chỉ quy kết về một đích điểm, đó là cùng một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên và cứu chuộc con người chỉ vì yêu thương và tha thứ. Do đó, khi chúng ta tuyên xưng và sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi thì đòi hỏi chúng ta cũng phải mạnh mẽ san bằng mọi dị biệt, mọi bất đồng, mọi chia rẽ và mọi trở ngại để trở nên một trong yêu thương và an hòa với nhau như Ba Ngôi trong Một Thiên Chúa tình thương và hiệp nhất.
Thành thử ra, khi cử hành mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi hôm nay, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Do đó, đi vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy sống với, sống vì và sống cho người khác. Nói cách khác, Giáo Hội kêu gọi chúng ta hãy sống hiến thân cho tha nhân, đừng sống ích kỷ cho riêng mình, cũng đừng có những thái độ chia rẽ nhau, nhưng hãy yêu thương và tôn trọng những khác biệt của nhau. Có như vậy, chúng ta mới diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa, đồng thời cũng diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi: yêu thương và hiệp nhất.
Chính vì thế, trong Thánh Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta luôn biết sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, bằng cách sống yêu thương và hiệp nhất với nhau trong cộng đoàn họ đạo, trong gia đình của mỗi chúng ta. Và sống yêu thương nhau cũng là cách thế tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong đời sống của mình. Amen
 
 

BaNgôi-291: TÌNH YÊU BA NGÔI

Mt 28, 16 – 20
 

Truyện kể rằng, một hôm ông thánh Augustinô đang đi dạo trên bãi biển thì gặp một em bé nhỏ lấy vỏ: BaNgôi-291 VĨnh Long

Truyện kể rằng, một hôm ông thánh Augustinô đang đi dạo trên bãi biển thì gặp một em bé nhỏ lấy vỏ của một con sò múc nước biển đổ vào một cái hố nhỏ trên bải biển. Thánh Augustinô đến hỏi em bé: Em định múc nước làm gì vậy? – Em bé trả lời: Con muốn múc cạn hết nước biển này. Ông thánh Augustinô chỉ cười và nói: Chuyện em làm không thể nào thực hiện đâu, vì nước biển so với cái vỏ sò thì quả là lớn lao không thể nào so sánh được. Đó chỉ là mơ tưởng mà thôi. Em bé mới trả lời nếu vậy sao ngài lại muốn dùng trí hiểu của con người để hiểu về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Lúc đó thánh Augustinô mới vỡ lẽ ra em bé đó chính là Thiên Thần, đến nhắc cho mình biết về giới hạn của con người so với Thiên Chúa.
Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi là một huyền nhiệm lớn lao đối với con người. Đi tìm câu trả lời cho huyền nhiệm ấy, con người cố gắng làm một việc vượt trên sức hiểu biết của mình. Bởi thế, những hình ảnh mà con người cố gắng suy nghĩ để giải thích, dù có hay đến mấy, vẫn chỉ là một cố gắng còn rất nhiều khiếm khuyết và còn rất nhiều thiếu xót mà thôi.
Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này ? Chính Chúa Giê-su Ki-tô. Nếu Chúa không dạy bảo thì loài người không thể nào biết được. Cho tới trước khi Chúa Ki-tô đến, loài người không có một ý niệm nào, dân Do thái, dân riêng của Chúa, cũng không biết gì về mầu nhiệm này. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần, tức là Ngài đã dần dần vén lên bức màn của mầu nhiệm này.Chúa Cha là Thiên Chúa, còn ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, nghĩa là Ngài cùng bản tính với Chúa Cha, Ngài cũng là Thiên Chúa. Ngài cũng cho biết: Chúa Thánh Thần là Đấng được nhiệm xuất từ Chúa Cha và Chúa Con, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau chứ không phải là ba Chúa.
Điều hay nhất chúng ta cần làm, có lẽ không phải là khám phá tới cùng mầu nhiệm Thiên Chúa, cho bằng quay về với chính mình, để sống làm sao cho xứng đáng với tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Trước tiên là trong gia đình, nhất là năm nay là năm giáo dục Kitô giáo trong gia đình lại càng thúc đẩy tình yêu này cao hơn nữa, vì gia đình là một cộng đồng tình yêu, một cộng đồng phản chiếu tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa.Vậy nếu Ba Ngôi là kiểu mẫu của gia đình thì mọi thành viên trong gia đình cũng phải yêu thương nhau bằng tình yêu trao ban, tình yêu hiến thân, tình yêu mở ra đối với người mà mình yêu. Tình yêu gia đình đòi hỏi có nhau, cho nhau và vì nhau. Gia đình cũng gồm những thành viên khác biệt nhau như Ngôi Cha là Đấng tạo dựng vũ trụ, Ngôi Con là Đấng cứu chuộc loài người và Ngôi Thánh Thần là Đấng thánh hóa loài người. Tuy khác biệt nhau nhưng Ba Ngôi không đối nghịch nhau, trái lại hoàn toàn hợp nhất với nhau. Do đó, Yêu thương thì phải chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của nhau, không được đối nghịch xung khắc với nhau, mà phải hòa hợp với nhau, có như thế mới phản ảnh được tình yêu của Thiên Chúa nơi gia đình chúng ta.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn biết sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi trong cuộc sông, bằng cách thể hiện tình yêu trong mọi môi trường cụ thể. Amen

 

BaNgôi-292: SỐNG NIỀM TIN

Mt 28, 16 – 20
“Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ. Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt, 28,19).
 

Một thanh niên làm việc trong nhà máy thuộc da. Các đồng nghiệp của anh đều ngoài Công giáo. Cứ: BaNgôi-292

Một thanh niên làm việc trong nhà máy thuộc da. Các đồng nghiệp của anh đều ngoài Công giáo. Cứ đến ngày thứ sáu, anh lại đem trứng, cá và bánh sandwich kẹp phomat để ăn trưa, họ gọi anh anh lá “thằng ăn cá”, lại còn đặt miếng sandwich kẹp thịt của họ trước mặt anh. Tất nhiên đó chỉ là trò đùa trẻ con.
Nhiều năm sau anh bạn thuộc da gặp lại bạn đồng nghiệp cũ vừa ra khỏi một nhà thờ Công giáo; nghe người ta nói người bạn ấy là linh mục. Hai người nhận ra nhau và cùng ôn lại ký ức xưa. Cuối cùng vị linh mục nói: “Chính nhờ gương của anh đã làm tôi có thiện cảm với đạo Công giáo. Tôi nghĩ giữa những chế nhạo của đám đông mà người ta vẫn còn tự hào về niềm tin của mình, thì hẳn phải cò điều gì đó lạ lùng lắm trong niềm tin này. Chuyện ấy đã dẫn tôi tới tìm hiểu đạo công giáo. Hôm nay, tôi vừa dâng lễ mở tay”. (Trích “Dụ ngôn đời thường” -Drinkwater kể).
Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Ba Ngôi - một mầu nhiệm thật sự vượt quá trí hiểu của loài người. Người ta dùng nhiều hình ảnh trong tự nhiên để giải thích về mầu nhiệm này như lá tam điệp, ba trạng thái của nước, ba đốt trong một ngón tay, hay ba nốt nhạc. Tất cả là những cố gắng của con người để có thể “với được Đấng Vô hình”. Chuyện con người theo khả năng của mình cố gắng tìm hiểu biết về Thiên Chúa là chuyện đáng hoan nghênh. Tuy vậy, nếu tìm hiểu chỉ để hiểu thì thật “phí của trời”. Điều này không khác chuyện nhiều sinh viên ròng rã bỏ thời giờ, công sức, tiền bạc… nghiên cứu tìm hiểu hàng mấy năm trời trên Đại học. Cuối cùng chỉ để lấy tấm bằng tốt nghiệp về treo giàn khói mà không áp dụng được một điều gì vào thực tế cuộc sống. Ngược lại nếu chúng ta hiểu ít thôi nhưng biết vận dụng điều mình hiểu đó thì có vẫn lợi hơn.
Thiên Chúa không ngần ngại cho Con Của Mình xuống thế trần để “bật mí” những “bí mật” về chính mình cho con người. Nếu chịu khó lần mở lại Thánh Kinh thì không phải là không có nói về Chúa Ba Ngôi nếu không nói là hơn một lần. Nhưng bởi con người không tin, không chấp nhận nên mới dài hơi, mỏi cổ biện luận, giải thích, chứng minh… nhằm làm sáng tỏ về Ngài. Ở đây loại trừ trí khôn con người hạn chế, nhưng nếu biết vậy thì còn “bới” lên thêm làm gì cho rối rắm? Trong khi chính bản thân của mình đôi khi còn không hiểu hết được. Tất nhiên, tìm hiểu để niềm tin vững vàng hơn là cần nhưng cũng phải biết giới hạn của mình để đừng đau khổ vì không hiểu được hay quá tự cao vì sao tôi không hiểu. Trong khi đó, điểm quan trọng là sống niềm tin vào Chúa Ba Ngôi thế nào thì lại lảng quên.
Hằng ngày, người Công giáo chúng ta phải đối mặt với biết bao những khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Có bao giờ bạn dám tuyên xưng niềm niềm tin của mình bằng một việc cụ thể? Bạn có dám làm Dấu Thánh Giá trong một tiệm ăn không? Bạn có dám ghi vào lý lịch của mình là người Công Giáo không? Bạn có nghĩ rằng người mà bạn đang dự định kết hôn không đồng ý theo đạo là do bởi đời sống đức tin của bạn không hấp dẫn được người ấy? bạn đau buồn hồi hôn. điều này dũng cảm thật. Nhưng thử hỏi có bao giờ bạn giới thiệu Chúa cho người ta biết chưa?
Nếu bạn có làm những điều trên thì bạn đã hiểu về Chúa Ba Ngôi nhiều lắm rồi.
Chúng ta không cần phải mò mẫm để giải thích điều kính nhiệm về Thiên Chúa nữa bởi đã có quá nhiều những công bố như vậy. Nhưng điều cần làm là sống với chính niềm tin của mình. Điều Thiên Chúa muốn là hãy làm sáng tỏ những chân lý về Ngài bằng đời sống của chúng ta. “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.
 
 

BaNgôi-293: THEO GƯƠNG BA NGÔI

Mt 28, 16 – 20
 

Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn” Hay “Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp: BaNgôi-293

“Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn”
Hay “Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”
Đây là hai trong những câu thành ngữ nói lên sự yêu thương nhau trong một gia đình. Vợ chồng yêu thương nhau thì nên một với nhau từ trong thân xác đến trong tâm hồn. Dù vậy người vợ hay chồng vẫn không mất đi nét độc đáo riêng của mình.
Hình ảnh phần nào minh hoạ cho chúng ta về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi mà cùng với toàn thể Giáo hội long trọng mừng hôm nay.
Một Chúa Ba Ngôi là một trong ba mầu nhiệm chính trong đạo Công Giáo của chúng ta. Một Thiên Chúa duy nhất mà Người có Ba Ngôi. Nếu muốn hiểu bằng trí khôn giới hạn của mình chắc chắn chúng ta sẽ rất dễ thất vọng. Thế nhưng dựa vào mạc khải của Chúa Giêsu cũng như dựa vào kinh nghiệm tình yêu nhất là kinh nghiệm tình yêu gia đình, chúng ta sẽ phần nào cảm nhận được sự thiêng liêng và ngọt ngào của mầu nhiệm cao quý này.
Thánh Gioan đã nói trong bức thư của Người rằng Thiên Chúa là tình yêu. Đã là tình yêu thì không thể nào là đơn độc lẻ loi. Do đó, Thiên Chúa là duy nhất nhưng trong Ba Ngôi vị. Ba Ngôi yêu thương nhau và cùng nhau hướng về một mục đích chung là đem đến cho con người ơn cứu rỗi. Chúa Cha tạo dựng, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hoá.
Trong đoạn Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng mời gọi các Tông đồ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Chúa Giêsu mong muốn cho mọi người được sống trong tình yêu của Ba Ngôi.
Đồng thời, Người cũng muốn mọi người cũng hãy noi gương Ba Ngôi mà sống yêu thương nhau. Một gia đình thật sự hạnh phúc khi mọi thành viên trong gia đình cùng hướng về mục đích chung. Mục đích ấy là làm sao cho gia đình luôn giữ được sự đầm ấm và hạnh phúc. Muốn thế, mọi thành viên trong gia đình được kêu gọi từ bỏ ý riêng mà hướng về mục đích chung đó.
Cách riêng, cha mẹ cũng hãy cùng nhau dạy dỗ cho con cái trở nên những con người có ích lợi cho Giáo hội cũng như xã hội. Không thể nào có cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Nghĩa là cha mẹ cùng thống nhất nhau trong cách giáo dục con cái của mình.
Nguyện xin tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi luôn ngự trị trong từng người chúng ta. Đó chính là nguồn lực giúp chúng ta sống mầu nhiệm Ba Ngôi trong cuộc sống đời thường.
 
 

BaNgôi-294: CHÚA BA NGÔI: CHÚA CHA, CHÚA CON

 VÀ CHÚA THÁNH THẦN
Mt 28,16-20
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

Nói về Chúa Ba Ngôi là một việc không phải là dễ ! Bởi vì, người ta chỉ có thể hiểu được Chúa Ba: BaNgôi-294

Nói về Chúa Ba Ngôi là một việc không phải là dễ ! Bởi vì, người ta chỉ có thể hiểu được Chúa Ba Ngôi nhờ đức tin. Tôi vẫn còn nhớ khi còn nhỏ tham dự các lớp giáo lý:các Sơ, các Thầy và các Giáo lý viên hay dung ngón tay có ba đốt để ví von về Chúa Ba Ngôi. Có người dùng trái trứng gà, trứng vịt hoặc trứng ngỗng để cắt nghĩa Chúa Ba Ngôi. Càng lớn lên, càng suy niệm, học hỏi, tôi càng cả thấy những cách diễn tả ấy không ổn mấy! Phải có đức tin, suy niệm, lắng đọng thẳm sâu tâm hồn, với đức tin, người ta mới nhận ra Chúa Ba Ngôi như Chúa Giêsu dạy:” …Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần…” ( Mt 28, 20 ).
Thực tế, khi nói về Chúa Ba Ngôi, chúng ta chỉ có thể nhận ra Ngài khi chính Thiên Chúa mặc khải, Đấng ấy là Chúa Giêsu, Con Một duy nhất của Thiên Chúa, chính Ngài sẽ cho chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi khác nhau nhưng chỉ là một Thiên Chúa. Đây là mầu nhiệm về Chúa Ba Ngôi. Thánh Gioan định nghĩa:” Thiên Chúa là Tình Yêu “. Thiên Chúa duy nhất nhưng không hề lẻ loi, đơn độc, không bao giờ cô đơn . Nhiều lần Chúa Giêsu đã xác định:” Ta và Cha Ta là một “ “ Lạy Cha xin hãy cho mọi người hiệp nhất nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha “.Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giorđăng, chúng ta nhận thấy Ba Ngôi Thiên Chúa xuất hiện một lúc “ Trên trời có tiếng phán: Đây là Con Ta yêu dấu, Con làm đẹp lỏng Ta. Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, Chim bồ câu tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa “. Có lần Chúa Giêsu nói:” Cha Ta làm việc liên lỉ. Ta cũng làm việc liên lỉ. Chúa Giêsu cũng nhiều lần nói tới Chúa Thánh Thần:” Cha sẽ ban cho anh em Một Đấng Phù Trợ khác để Ngài ở với anh em luôn mãi “ ( Ga 14, 16 ). Ba Ngôi Thiên Chúa luôn khăng khít với nhau để dẫn đưa con người, dẫn dắt Giáo Hội. Con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa. Do đó, Chúa Ba Ngôi luôn hiện diện trong con người chúng ta. Thiên Chúa luôn cần cù làm việc để tô đẹp vũ trụ, gìn giữ vũ trụ, loài người, con người. Chúa Giêsu, nghĩa là Chúa Con, Ngôi Hai Thiên Chúa hy sinh mạng sống cứu đời, làm cho con người, loài người được hạnh phúc, được thoát vòng tội lỗi. Chúa Thánh Thần, Đấng tác sinh, thánh hóa, soi dẫn con người, dẫn dắt Giáo Hội.
Mầu nhiệm Ba Ngôi đưa chúng ta vào sự thật vì chính Chúa Giêsu đưa chúng ta kết hiệp, hiệp nhất với Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi đưa chúng ta sống hiệp thông, chia sẻ và yêu thương bởi vì “ Ai ở trong Tình Yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy “ ( 1 Ga 4, 16 ).
Mỗi lần chúng ta đọc Kinh Tin Kính là chúng ta tuyên xưng một Chúa Ba Ngôi. Mỗi lần chúng ta đọc Kinh Sáng Danh là mỗi lần chúng ta ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi. Đặc biệt, mỗi lần chúng ta vì dấu Thánh Giá là mỗi lần chúng ta in dấu Thánh Giá trên con người chúng ta. Chúng ta đã được lãnh nhận Chúa Ba Ngôi ngày chúng ta được chịu phép rửa.Chúa Ba Ngôi luôn đi theo chúng ta trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta.
Cha Francois-Xavie Amherdt viết:” …Hãy rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hãy dìm họ vào trong tình yêu đã kết hợp Thầy với Chúa Cha và được gọi là Thánh Thần. Hãy hít thở bằng sự hiện diện của Thầy. Hãy để cho Thần Khí của Thầy cư ngụ trong các con, hãy hiệp thông với Người và chuyển giao Người cho đồng loại “.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn tôn kính, mến yêu Chúa Ba Ngôi. Amen.

 

BaNgôi-295: SỐNG NIỀM TIN VÀO THIÊN CHÚA BA NGÔI

Mt 28, 16 - 20
Lm. Giuse Nguyễn Thành Long
 

Mầu nhiệm Ba Ngôi là “mầu nhiệm nguồn” của mọi mầu nhiệm. Con người biết được mầu nhiệm Ba: BaNgôi-295

Mầu nhiệm Ba Ngôi là “mầu nhiệm nguồn” của mọi mầu nhiệm. Con người biết được mầu nhiệm Ba Ngôi là nhờ Chúa Giêsu mạc khải, chứ không phải do nổ lực suy lý của mình. (Xin được mở ngoặc một chút ở đây là Chúa Giêsu không bao giờ trình bày mầu nhiệm lớn lao này bằng khái niệm “kỷ thuật số”: 3 ngôi. Ngài chỉ nói Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần). Mầu nhiệm một Chúa Ba ngôi là mầu nhiệm lớn lao nhưng cũng là mầu nhiệm mà chúng ta tuyên xưng mỗi ngày, qua Dấu Thánh Giá, kinh Sáng Danh, kinh Tin Kính…. Tuy nhiên, đó không phải là mầu nhiệm để tuyên xưng hay để hiểu mà thôi, nhưng còn là để sống. Nói cách khác, tuyên xưng niềm tin vào Mầu nhiệm Ba Ngôi thì phải sống niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Cụ thể sống niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi là sống thế nào?
- Sống niềm tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa trước hết là sống tâm tình cảm mến tri ân:
Cảm mến tri ân vì Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta biết mầu nhiệm quá đổi lớn lao này. Cảm mến tri ân vì Ba Ngôi mà lại chỉ một Chúa. Đây là nguyên lý của sự hiệp nhất và bền vững của thế giới tạo thành. Có người thắc mắc tại sao không hiểu Ba Ngôi là ba Chúa cho đơn giản mà lại dạy Ba Ngôi một Chúa cho phức tạp, khó hiểu, mệt cái đầu ? Thiết nghĩ nếu Ba Ngôi mà ba Chúa có lẽ số phận của con người và vũ trụ này sẽ bất hạnh biết chừng nào, bởi vì cứ tưởng tượng một nhà ba chủ, một nước ba vua, một giáo hội ba giáo hoàng,.. thì sẽ ra sao chúng ta biết rồi.
- Sống niềm tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa còn là sống hiệp nhất yêu thương:
Tự bản tính, Thiên Chúa là tình yêu, tình yêu hiệp nhất Cha Con và Thánh thần. Chỉ trong tương quan tình yêu, chúng ta mới có thể hiểu phần nào Ba Ngôi mà lại một Chúa: “Ta và Cha Ta là một, Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta”.
Mọi hình thức chia rẽ, hận thù, ly giáo, đoạn tuyệt… đều đi ngược với thánh ý Thiên Chúa, đi ngược với niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi.
- Sống niềm tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa sau nữa còn là sống phục vụ hy sinh:
Ba Ngôi Thiên Chúa không giữ lại tình yêu cho riêng mình mà chia sẻ tình yêu ấy cho mọi thụ tạo, đặc biệt là con người qua tình yêu tạo dựng, cứu chuộc và thánh hoá. Ba Ngôi Thiên Chúa đã đi vào lịch sử con người qua mầu nhiệm nhập thể để phục vụ và hiến dâng mạng sống để con người được sống và sống dồi dào. Do vậy không thể tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi mà lại sống ích kỷ hẹp hòi, chỉ biết đến mình, lo cho mình mà thôi.
Người ta kể rằng Christophe Colomb, người đã khám phá ra châu Mỹ vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ 15, có lòng sùng kính Chúa Ba Ngôi cách rất đặc biệt. Trước mọi hoạt động, ông đều kêu cầu Chúa Ba Ngôi, cũng như ông luôn khởi đầu những gì mình viết bằng dòng chữ: “Nhân danh Chúa Ba Ngôi cực thánh”. Trong cuộc khởi hành thứ 3 của ông năm 1498, Christophe Colomb đã thề hứa sẽ dâng cho Chúa Ba Ngôi phần đất nào ông khám phá đầu tiên. Vì thế hòn đảo ông đặt chân đến đầu tiên trong cuộc hành trình thám hiểm tân thế giới ấy cho đến nay vẫn được gọi là “Trinidad”, tức là Chúa Ba Ngôi.
Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta khi mừng lễ trọng kính Chúa Ba Ngôi, hay mỗi khi tuyên xưng mầu mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi cũng biết đưa mầu nhiệm ấy vào trong cuộc hằng ngày, bằng việc hết lòng yêu mến Chúa Ba Ngôi như Christophe Colomb đã từng yêu mến. Đồng thời biết hết tình hiệp nhất yêu thương và hết mình hy sinh phục vụ anh chị mình ngay trong gia đình mình, cộng đoàn mình theo mẫu gương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Amen.
 
 

BaNgôi-296: SỐNG, YÊU và HIỆP NHẤT NHƯ BA NGÔI

Mt 28, 16 - 20
Anmai, CSsR
 

Một cây làm chẳng nên non.  Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Câu ca dao mộc mạc của người: BaNgôi-296

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Câu ca dao mộc mạc của người Việt Nam tự bao đời nay để lại bài học quý báu cho con người về sự hiệp nhất, sự cộng tác với nhau. Một vườn hoa mà chỉ có một cây hoa và một cây hoa mà chỉ có một bông hoa nhìn vào thấy lẻ loi, đơn độc. Một cây hoa có nhiều bông hoa, một vườn hoa có nhiều cây hoa nhìn vào nó khác hẳn.
Hình ảnh đơn giản nhất trong cuộc sống của chúng ta, người ta vẫn thường dùng một cụm từ đơn giản « vững như kiềng 3 chân » để nói lên một cái gì đó nếu đặt trên một cái kiềng mà có 3 chân thì sẽ vững chãi.
Hình ảnh vững chãi ấy làm ta có thể liên tưởng đến một Thiên Chúa Ba Ngôi. Thật là mầu nhiệm khi nói một Thiên Chúa mà lại có Ba Ngôi và từng Ngôi một trong Ba Ngôi ấy lại bằng nhau, không hơn không kém. Với trí hiểu của con người thì quả thật đó là điều quá khó hiểu, điều mà con người không thể dùng lý trí của mình để lý giải nhưng chỉ có thể lý giải được với và trong lòng tin.
Câu chuyện Thánh Augustinô suy tư về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được kể lại bằng câu chuyện hết sức đơn sơ mà khi đi học giáo lý thường được các cha, các thầy, các anh chị giáo lý viên kể lại. Thánh Augustinô bận tâm với mầu nhiệm Ba Ngôi, Ngài đi dọc bãi biển và suy tư. Chuyện kể lại là khi ấy có một em bé đang ngồi ở bãi biển Ngài đang đi tới đi lui ấy đang múc nước đổ vào vỏ sò. Với cái suy nghĩ hết sức tự nhiên, với cái lý trí bình thường của con người, Thánh nhân đã nói với em bé rằng em bé làm cái chuyện mà không thể nào làm được vì làm sao mà cái vỏ sò ấy lại chứa được nước của đại dương mênh mông như công việc em đang làm ! Ngược lại, em bé lại nhìn Thánh nhân và nói cho Thánh nhân điều mà Ngài đang suy nghĩ cũng chẳng thể nào mà giải thích được theo cái nghĩ của con người, theo sự hiểu biết của con người.
Ba Ngôi vẫn là mầu nhiệm để rồi mầu nhiệm ấy mời gọi lòng tin của con người.
Đơn giản, qua các trình thuật của Thánh Kinh cũng như Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, chúng ta biết được Ba Ngôi là gì, nhiệm vụ của từng Ngôi là gì ? Chuyện quan trọng mà chúng ta cần suy nghĩ, cần chiêm ngắm đó chính là Tình yêu trong Ba Ngôi cũng như từng Ngôi một dành cho hai Ngôi còn lại. Cần chiêm ngắm nữa đó là sự hiệp nhất của từng Ngôi một với nhau để làm thành Ba Ngôi vững chãi.
Qua Thánh Kinh, chúng ta thấy được Thiên Chúa Cha đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, người con duy nhất của Ngài xuống trần gian này để cứu đi cái nhân loại hư mất. Tình yêu giữa Cha và Con thắm thiết đến nỗi đã phát sinh Thánh Thần và Thánh Thần chính là nguồn Tình yêu của Ba Ngôi, của nhân loại.
Nhìn lại cuộc đời của Chúa Giêsu, làm bất cứ việc gì, Chúa Giêsu hướng về Cha và cầu nguyện cùng Cha. Và Cha cũng thế, lúc nào Cha cũng hướng về Con để ban quyền năng trên Con.
Ngay từ biến cố Nhập Thể, chúng ta thấy đó, Thiên Chúa yêu thế gian, yêu con người đã ban Chúa Giêsu nhập thể nơi cung lòng của Đức Trinh Nữ Maria bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu chịu Phép Rửa ở sông Giođan. Thiên Chúa Cha thì phán rằng: « Đây là Con Ta Yêu Dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng ». Còn Thánh Thần thì sao ? Thánh Thần thì ngự xuống trên Chúa Giêsu dưới hình chim bồ câu. Thế đấy ! Cha, Con và Thánh Thần liên kết với nhau trong từng giây từng phút của cuộc đời Chúa Giêsu.
Trong các hoạt động loan báo Tin mừng cũng vậy, Chúa Giêsu luôn luôn kết hợp với Cha và với Thánh Thần.
Đặc biệt, trong vườn Giêtsêmani, Chúa Giêsu đã đau khổ đến chết được để thân thưa, để thỏ thẻ với Cha mình chén đắng mà mình phải chịu. Tin mừng lúc ấy tuy không nói, không nhắc đến Chúa Thánh Thần nhưng chúng ta thấy đó, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã thưa với Cha rằng: « Lạy Cha, xin đừng theo ý con nhưng là theo ý của Cha mọi đàng ». Chúa Giêsu can đảm bước chân lên Bàn Thờ Thập Tự là nhờ ơn Chúa Thánh Thần để rồi trong giây phút cuối trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu lại phó thác trong tay Cha nhờ Thần Khí.
Chỉ điểm lại một chút về cuộc đời, hoạt động của Chúa Giêsu, chúng ta thấy tương quan giữa Ba Ngôi là như thế nào.
Hôm nay, mừng kính Thiên Chúa Ba Ngôi, không phải chỉ là tưởng nhớ lại, hồi tưởng lại, hồi ức lại hay là kính nhớ một biểu tượng của Tình Yêu, của Hiệp Nhất nhưng chúng ta kiểm điểm lại cuộc đời chúng ta. Là con cái của Chúa, là môn đệ của Chúa, chúng ta có sống Tình Yêu, Hiệp Nhất mà Ba Ngôi đã sống, đã dành cho nhau không ?
Gia đình Ba Ngôi luôn hướng về nhau, chung chia với nhau niềm vui, nỗi buồn, nỗi âu lo và hạnh phúc trong cuộc sống. Gia đình của chúng ta thì sao ? Gia đình của chúng ta có yêu thương, có hiệp nhất như gia đình của Ba Ngôi hay không ?
Là Cha, là mẹ, là con cái trong gia đình, chúng ta còn dành cho nhau được bao nhiêu tình cảm, bao nhiêu thời gian ? Chúng ta vẫn thường đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho cuộc đời rằng bận rộn quá sức. Cha bận rộn theo kiểu của cha, mẹ bận rộn theo kiểu của mẹ, con cái thì vùi đầu vào công việc học hành. Đành biết là cuộc sống này ai cũng phải lao động, học tập tùy theo khả năng, tùy hoàn cảnh của mình nhất là khi phải đương đầu với xã hội hiện đại này. Biết bao nhiêu khó khăn vất vả đến với gia đình mà mỗi thành viên trong gia đình phải đương đầu và gánh vác. Thế nhưng, không được lấy những khó khăn vất vả của cuộc sống để biện hộ cho tình yêu, cho sự hiệp nhất trong gia đình.
Chúng ta vẫn thừa biết một gia đình giàu có, một gia đình sung túc đi chăng nữa nhưng thiếu tình yêu, thiếu sự hiệp nhất thì gia đình ấy là một mái lạnh chứ không còn là mái ấm như người ta vẫn thường nói nữa. Và chúng ta thừa biết, nếu gia đình yêu thương và hiệp nhất sẽ sinh ra những hoa quả tốt đẹp trong cuộc đời.
Chúng ta vẫn đứng trước những thách đố của đời sống gia đình, chúng ta vẫn đứng trước sự lựa chọn của tình yêu và hiệp nhất. Mỗi thành viên trong gia đình là Hội Thánh thu nhỏ ấy phải trả lời trước lương tâm, trước mặt Thiên Chúa về lối sống, sự cộng tác của mỗi thành viên trong gia đình.
Trang Tin mừng mà chúng ta vừa nghe thánh Matthêu thuật lại cho chúng ta hết sức ngắn gọn, trang Tin mừng ấy mời gọi mỗi người chúng ta lên đường loan báo Tin mừng tình thương nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Muốn thực hiện trọn vẹn lời mời gọi ấy của Chúa Giêsu, muốn thực thi lệnh truyền của Chúa Giêsu không có con đường nào khác là phải sống theo con đường yêu thương và hiệp nhất mà từng ngôi trong gia đình Ba Ngôi đã sống, đã yêu thương. Và gần gụi nhất chính là gia đình của mỗi người chúng ta đang sống, muốn loan báo Tin mừng Tình thương mà Chúa mời gọi chúng ta phải làm cho chính gia đình chúng ta đầy ắp niềm vui, đầy ắp tiếng cười. Khi và chỉ khi ta sống và ta yêu như Ba Ngôi Thiên Chúa đã sống, đã yêu, đã hiệp nhất thì khi ấy chúng ta mới góp phần loan báo Tin mừng, thực thi lệnh truyền của Chúa thật.
Nguyện xin Chúa Ba Ngôi là nguồn mạch của Tình Yêu, nguồn mạch của sự Hiệp Nhất đến và ở lại với mỗi người chúng ta. Xin Ba Ngôi ban thêm tình yêu, hiệp nhất xuống trên từng người trong gia đình, trong cộng đoàn để gia đình, cộng đoàn chúng ta luôn đầy ắp niềm vui, luôn đầy ắp tiếng cười.
Đừng nói gì đến Thiên Đàng mai sau, ngay cái cái cõi tạm này, nếu chúng ta biết sống yêu thương và hiệp nhất, chúng ta sẽ nếm thử được hạnh phúc Nước Trời vì lẽ Nước Trời là nơi mà mỗi thành viên đều sống sung mãn tình yêu và sự hiệp nhất xung quanh Tình yêu, Hiệp Nhất của Ba Ngôi Tuyệt Diệu.
 
 

BaNgôi-297: NHÂN DANH CHA và CON và THÁNH THẦN

Mt 28, 16 - 20
Sr Mai An Linh OP
 

Phụng vụ Lời Chúa trong Chúa Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, Mẹ Hội Thánh muốn cho con cái mình ý: BaNgôi-297

Phụng vụ Lời Chúa trong Chúa Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, Mẹ Hội Thánh muốn cho con cái mình ý thức về tình yêu Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa vừa quyền uy vừa yêu thương (Đnl.4,32-34…) Ngài yêu thương những con người tuân giữ giới luật như bài đáp ca chúng ta vừa nghe(Tv.32). Đồng thời phải loan truyền tình yêu Thiên Chúa cho muôn dân biết (Mt.28,16-20) và nhờ Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Có như thế con người mới sống đúng thân phận làm con như Đức Kitô (Rm.8,14-17).
Thật vậy, Thiên Chúa yêu thương nên khi tạo dựng con người, Thiên Chúa cũng đã trao đổi với nhau “ chúng ta hãy làm nên con người giống hình ảnh chúng ta”( St.1,26 )và lấy khuôn mẫu của tình yêu Ba Ngôi mà “ dựng nên con người có nam có nữ”(St.1,27). Thiên Chúa Ba Ngôi là mẫu mực cho mọi tình yêu, Thiên Chúa không chỉ có một ngôi để tự yêu mình, nhưng Thiên Chúa có Ba Ngôi để yêu thương nhau, và yêu là cho đi, là chấp nhận và tôn trọng những khác biệt nhưng vẫn hòa hợp.
Vì thế, Thiên Chúa yêu thương nên dù con người có làm mất đi hạnh phúc ban đầu, thì Thiên Chúa đã sai Con Một đến để phục hồi hạnh phúc ấy “ Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để tất cả những ai tin vào Người Con ấy thì được sống đời đời” ( Jn.3,16). Và khi Ngôi Hai về trời Ngài cũng không để con người mồ côi mà sai Chúa Thánh Thần đến để đồng hành, để ban ơn soi sáng. Chính vì vậy mà Thánh Luca đã nhìn lịch sử Cứu Độ như một viễn cảnh mang chiều kích Ba Ngôi: Thời Cựu Ước là kỷ nguyên của Chúa Cha, thời loan báo Tin Mừng là kỷ nguyên của Chúa Con và thời hậu Tin Mừng mà sách Công Vụ ghi lại là kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.
Một tình yêu mà chúng ta không thể nói bằng lời, không thể diễn tả bằng mực… Chúng ta chỉ có thể chiêm ngắm mà cảm tạ, đồng thời để đáp trả tình yêu ấy, chúng ta phải thực hiện điều Thiên Chúa muốn, đó là ra đi loan báo tình yêu của Thiên Chúa cho mọi loài thụ tạo…và tin chắc rằng Ngài vẫn ở bên chúng ta như khi căn dặn các Tông Đồ: các con hãy đi, Thầy không để các con mồ côi, Chúa Thánh Thần sẽ ở với các con, sẽ dạy mọi điều mà các con nghe từ Thầy.
Các Tông Đồ ý thức được điều ấy nên can đảm ra đi và sức mạnh Chúa Thánh Thần ở cùng, giúp các ông dám đương đầu với mọi khó khăn, và đạt được những thành quả vô cùng lớn lao mà ngày nay chúng ta đang được thừa hưởng gia tài cao quí ấy.. Chúa cũng vẫn luôn ở cùng chúng ta nên hãy can đảm để đối diện với thế giới và dám đương đầu với những nghịch cảnh, Ngài luôn che chở nên đừng thất vọng. Có điều Chúa luôn ở cùng nhưng chúng ta lại không luôn ở cùng Chúa vì những bận rộn trong cuộc sống đã cắt đứt liên hệ với Ngài.
Ý thức có Chúa ở cùng để mạnh dạn loan báo Tin Mừng, nhưng đừng quan niệm truyền giáo là chỉ Rửa Tội, mà nên nhớ rằng truyền giáo là truyền bá và làm thấm nhuần những giá trị Tin Mừng vào môi trường mình sống, vào xã hội đương thời và vào thế giới hôm nay. Trong tâm tình tôn kính và biết ơn Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi và chúng ta dựa vào thế giá của Chúa Giêsu, Người là sự thật, chẳng lừa dối ai, đồng thời tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi là chúng ta sống hiệp thông chia sẻ và yêu thương vì “ ai ở trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Jn. 4,16). Cuối cùng tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi là chúng ta tuyên xưng Người mỗi khi chúng ta làm dấu Thánh Giá trên mình, chúng ta in dấu Chúa Ba Ngôi trên cuộc đời mình và họa lại hình ảnh Ba Ngôi trong tâm hồn tha nhân.
Lạy Chúa, xin cho chúng con mỗi khi làm dấu Thánh Giá tuyên xưng Chúa Ba Ngôi, chúng con biết ý thức bổn phận phải sống mầu nhiệm yêu thương và hiệp nhất. Nhờ đó, mỗi người chúng con xứng đáng hưởng tình yêu vô cùng sung mãn của Chúa Ba Ngôi đã dành cho chúng con.
 
 

BaNgôi-298: NHÂN DANH CHA và CON và THÁNH THẦN

Mt 28, 16 - 20
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
 

Kết thúc Tin mừng, thánh sử Mátthêu cho chúng ta thấy những công việc sau hết của Chúa Phục Sinh.: BaNgôi-298

Kết thúc Tin mừng, thánh sử Mátthêu cho chúng ta thấy những công việc sau hết của Chúa Phục Sinh. Sau khi Phục Sinh, Chúa hiện ra với các phụ nữ vẫn hằng đi theo Chúa trước đây và sai các bà đi báo tin cho các môn đệ đến Galilê để gặp Người. Vấn đề là tại sao Chúa lại chọn Galilê chứ không phải là Giêrusalem để gặp các môn đệ của mình như trong Tin mừng Luca? Sở dĩ như vậy là vì Galilê vốn được xem là vùng đất của dân ngoại; đồng thời còn là nơi Chúa khai mở sứ vụ của Người (x. Mt 4, 12-17). Chính tại đây, Chúa muốn các môn đệ khai mở công cuộc rao giảng Tin mừng. Cũng chính tại miền đất ngoại giáo, miền đất bị khinh miệt này, Chúa mời gọi các môn đệ lên đường rao giảng Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. Như thế, công việc rao giảng Tin mừng không còn co cụm trong một dân tộc mà được mở rộng trên khắp thế giới.
Tại Galilê, nơi một ngọn núi, khi các môn đệ đã tập trung đông đủ, Chúa Giêsu bắt đầu mạc khải cho các môn đệ mầu nhiệm ơn cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta tự hỏi, tại sao Chúa Giêsu phải mạc khải trên núi mà không phải là đồng bằng, sa mạc hay một nơi nào khác? Chúng ta biết, trong Tin mừng Mátthêu, núi được xem là nơi Thiên Chúa mạc khải các mầu nhiệm cứu độ của Người. Chính Chúa Giêsu cũng đã công bố bản “Hiến chương Nước trời” trên núi (Mt 5, 1); tỏ vinh quang của Đấng Mêsia trên núi (Mt 17, 1-8) và bây giờ cũng chính trên núi, Người sai các môn đệ ra đi, tiếp tục công việc rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa.
Khi mạc khải các mầu nhiệm nước Thiên Chúa cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã minh thị mạc khải mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi khi trao sứ mệnh của Ngài cho Giáo hội mà đại diện là các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Như thế, rửa tội nhân danh Ba Ngôi là thánh hóa thụ nhân bằng chính quyền năng và ân sủng của Chúa Ba Ngôi; đồng thời đó còn là việc hiến dâng thụ nhân cho Chúa Ba Ngôi. Qua phép rửa, chính Chúa Ba Ngôi ban ơn tha tội và đổi mới thụ nhân trở thành Con cái Chúa Ba Ngôi.
Như thế, phải chăng Chúa Ba Ngôi chỉ hiện diện trong bí tích rửa tội mà thôi? Thưa không. Chúa Ba Ngôi còn hiện diện trong tất cả các bí tích. Chúa Ba Ngôi đến gặp gỡ ta trong bí tích, ban ơn cho ta qua bí tích. Ngoài ra, Chúa Ba Ngôi cũng còn hiện diện khi ta cầu nguyện, khi làm những việc tốt lành thánh thiện như khi ta làm dấu Thánh giá chẳng hạn,… Như thế, Chúa Ba Ngôi thực sự hiện diện trong toàn bộ đời sống Giáo hội nói chung và đời sống của mỗi tín hữu nói riêng. Sức mạnh của Ba Ngôi Thiên Chúa chính là tình yêu. Chúng ta có thể thấy điều này trong tác phẩm của thánh Gioan, khi người nhắc đến một phẩm tính ưu việt của Thiên Chúa làm chủ đạo cho tác phẩm của mình: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4, 8). Tình yêu đó, nay được Chúa Giêsu trao lại cho các môn đệ để các ông ra đi loan báo Tin mừng và, những ai muốn ở lại trong tình yêu ấy, muốn kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, không gì khác hơn là đón nhận bí tích thánh tẩy trong Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần để nhờ đó, tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ cư ngụ cách trọn vẹn trong tâm hồn thụ nhân.
Các môn đệ vâng lệnh truyền của Thầy Chí Thánh ra đi. Toàn thể Giáo hội trong hơn hai ngàn năm qua đã, đang và sẽ tiếp tục ra đi loan báo Tin mừng cứu rỗi. Sở dĩ các môn đệ và các thế hệ sau này luôn tràn đầy nhiệt huyết rao giảng Tin mừng, bởi công việc này không phải do ngẫu hứng, tự phát cá nhân, hay chạy theo phong trào mà là công việc của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện trong lòng Giáo hội như là bảo chứng của tình yêu để rồi thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, không ngừng vinh danh và tụng ca tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa cho thế giới này. Mặt khác, đó còn là sự hiện hiện cách đặc biệt của Chúa Kytô Phục Sinh như Người đã hứa.“Thầy sẽ ở cùng anh em cho đến ngày tận thế”. Lời hứa đó đảm bảo một sự hiện diện mãi mãi của Chúa trong lòng Giáo hội, hỗ trợ đắc lực cho Giáo hội, giúp Giáo hội chu toàn sứ vụ được trao ban cho đến tận thế.
Mừng lễ Chúa Ba Ngôi là dịp để mỗi người chúng ta ôn lại tình Chúa thương ta, cảm nghiệm sự hiện hiện của Chúa trong lòng Giáo hội, trong gia đình và trong tâm hồn mỗi người. Xin Chúa Ba Ngôi tiếp tục ở cùng và thánh hoá Giáo hội, giúp Giáo hội nói chung và mỗi Kytô hữu nói riêng, luôn tràn đầy tình yêu Thiên Chúa, luôn thao thức với công cuộc rao giảng mầu nhiệm Ba Ngôi của Giáo hội, để nhờ đó, mầu nhiệm tình yêu này được nhiều người tìm đến chiêm ngưỡng và đưa vào cuộc sống, biến thế giới hôm nay – vốn khô khan nguội lạnh, trở thành một thế giới an bình, đầy tình Chúa tình người.
 
 

BaNgôi-299: MỘT GIAVÊ ĐỘC NHẤT VÀ UY QUYỀN

Mt 28, 16 - 20
Phan Hữu Lộc
 

Thời kỳ Cựu Ước, dân Chúa sống giữa những dân tộc đa thần, thờ nhiều vị thần, như Thần Mặt: BaNgôi-299

Thời kỳ Cựu Ước, dân Chúa sống giữa những dân tộc đa thần, thờ nhiều vị thần, như Thần Mặt Trời, Mặt Trăng..., trong khi đó thì Thiên Chúa đã cố gắng đưa dân mình đến ý tưởng và có lòng tin vào một mình Giavê Thiên Chúa. Đó không phải là điều dễ dàng. Bao lời răn dạy, trừng phạt hay phép lạ cũng là để chứng minh một Thiên Chúa là Thiên Chúa của dân Israel. Người là Đấng trên hết và điều khiển tất cả những vị thần khác. Vì thế khi Sáng thế nói Chúa dựng ra mặt trời, mặt trăng rồi ngày đêm, tức là gián tiếp cho thấy Thiên Chúa của Israel là Chúa tạo dựng muôn loài, các vị thần dân ngoại thờ cũng chỉ là loài thọ sinh, do Giavê tạo nên.
Một Thiên Chúa luôn trung thành, giữ lời hứa và sẽ che chở đùm bọc cho dân mình, nếu dân mình biết tôn thờ và chỉ tôn thờ có một mình Ngài...
Một Thiên Chúa Ba Ngôi tràn yêu thương
Nhưng một khi Đức Giêsu Kitô đến, không những Người cho ta thấy chỉ có một Thiên Chúa, một Thiên Chúa uy quyền, thưởng phạt; nhưng Thiên Chúa đó lại có Ba Ngôi và Ba Ngôi đầy tình yêu thương!
Ba Ngôi muôn đời hỗ tương, thông chia tình yêu siêu vời khôn sánh trong ba Vị. Chúa Cha sung mãn tình thương của Đấng tự hữu nên sinh Chúa Con. Tình yêu muôn đời của Chúa Cha và Chúa Con đã sinh ra Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi yêu thương, thông truyền tình yêu tình mến, vì thế Ba Ngôi muôn đời hạnh phúc. Nếu ta phải lấy một ví dụ trần gian để hiểu phần nào (làm sao hiểu thấu được!) thì ta có thể lấy tình yêu giữa người cha với người mẹ nồng nàn đến nỗi sinh ra đứa con. Và cả ba người, vợ chồng con cái yêu thương quấn quít lẫn nhau trong tình thương hữu hạn của đời trần thế. Còn trong Ba Ngôi mỗi tình thương của mỗi Vị đều là tình thương của Thiên Chúa nên muôn đời hăng nồng, chân thật, tuyệt mỹ và vô cùng hạnh phúc. Hạnh phúc không một chút gợn mây và bất diệt!
Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi không phải mầu nhiệm một Thiên Chúa khô cằn như người ta thường ví như ba đốt ngón tay, nhưng cũng một ngón tay. Không, Ba Ngôi là một sự sống sung mãn, muôn đời, tràn ngập hạnh phúc trao đổi luôn dồi dào qua muôn thế hệ... Tình yêu siêu thánh và sung mãn muôn đời đến nỗi tình yêu Ba Ngôi ấy đã trào ra để đón nhận con người, đem con người, hình ảnh của chính Mình, trở về tham dự sự sống hạnh phúc sung mãn và muôn đời! Tình yêu chân chính đòi chia sẻ, thì Ba Ngôi đã đi bước trước để mở lòng ra đón nhận con người vào thông chia hạnh phúc sung mãn muôn đời, vì con người đã trở nên nghĩa tử. (Rm 8,14-17)
Đức Giêsu xuống thế cũng để tỏ bày cho nhân loại thấy Thiên Chúa là Cha, là Tình yêu chia sẻ, kêu mời mọi dân mọi nước vào hưởng hạnh phúc vô song đã có từ thuở đời đời. Người kêu gọi muôn dân, chứ không chỉ có 144.000 người như có kẻ thường xuyên rao giảng, thu hẹp lòng dạ vô biên của một Thiên Chúa tràn đầy sung mãn! Cho nên, trước khi về lại trong cung lòng đầy tình thương vô song của Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần, Người truyền cho các môn đệ hãy đi rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho muôn dân nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, tức là nhân danh Chúa Ba Ngôi. (Mt 28,16-20) Để không một người nào lại không có thể về hưởng hạnh phúc Người đã dọn cho từ thuở đời đời!
Còn Tình Thương nào rộng lớn hơn, sung mãn hơn, bất diệt hơn tình thương mà Chúa Ba Ngôi đang chờ đón mỗi người. Còn sứ mạng truyền giáo nào thiết thực, cấp bách và cao trọng hơn đối với Giáo Hội, giáo sĩ và giáo dân!!!
Nguồn vietcatholic.org
 
 

BaNgôi-300: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI

Được rửa tội và sống bí tích Rửa tội
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 28:16-20)
 

 Chúng ta ai ai đều đã được rửa tội để trở thành môn đệ Chúa.  Hơn nữa chúng ta cũng đều biết là: BaNgôi-300 Đalat

Chúng ta ai ai đều đã được rửa tội để trở thành môn đệ Chúa.  Hơn nữa chúng ta cũng đều biết là mình đã được rửa tội nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.  Nhưng ý nghĩa của việc rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi thì ít khi nào chúng ta để ý tới, có khi còn không hiểu rõ nữa.  Đoạn Tin Mừng Mát-thêu hôm nay đã nhắc lại điều này để giúp chúng ta ý thức cuộc sống Ki-tô hữu phải gắn liền với đời sống của ba Ngôi.
          Mệnh lệnh Chúa Giê-su ban cho các tông đồ là:  “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”.  Chúng ta cũng có thể hiểu mệnh lệnh của Chúa như sau:  Anh em hãy đi và làm cho mọi người trở thành môn đệ của Ta, bằng cách làm phép rửa cho họ nhân danh ba Ngôi Thiên Chúa và dạy họ tuân giữ giáo lý của Ta.  Chúa Giê-su cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa phép rửa của Người và phép rửa của ông Gio-an Tẩy Giả là ở điểm nhân danh ba Ngôi Thiên Chúa.  Nhân danh không chỉ có nghĩa là lấy danh nghĩa của ba Ngôi, nhưng còn hơn thế nữa, đó là nhờ quyền năng của ba Ngôi, người lãnh nhận phép rửa được hoàn toàn biến đổi thân phận và căn tính.  Họ thực sự được trở thành con cái Chúa và được sống đầy đủ địa vị này.
          Nhờ quyền năng ngôi Cha, chúng ta được làm dưỡng tử của Thiên Chúa và gọi Thiên Chúa là Cha.  Chúng ta cũng được Người quan phòng che chở còn hơn cả một đứa con được cha nó bảo vệ nâng niu trên trần gian này.  Nhờ hiệu quả chiến thắng tội lỗi và sự chết mà Chúa Giê-su đem lại, chúng ta được cứu chuộc và giải thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi, được giao hòa với Thiên Chúa và được cùng với Chúa Con thừa hưởng gia nghiệp Chúa Cha dành sẵn cho chúng ta.  Cuối cùng, nhờ sức mạnh và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể tiếp tục sống đời sống mới mà Chúa Giê-su đã mua lại cho chúng ta bằng giá máu Người đã đổ ra trên thập giá.  Chỉ có phép rửa nhân danh ba Ngôi Thiên Chúa mới có thể biến đổi thân phận tội lỗi và thù nghịch của chúng ta và khởi đầu một cuộc sống mới nơi chúng ta.
          Tuy nhiên chỉ lãnh nhận phép rửa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi thì chưa đủ, mà còn phải “tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền” nữa!  Chúa Giê-su không bảo các tông đồ chỉ làm cho người ta trở thành môn đệ Người mà thôi, nhưng còn phải “dạy dỗ người ta tuân giữ mọi điều” Người đã truyền.  Vì thế, làm cho chúng ta thành con cái Thiên Chúa là công việc của ba Ngôi, còn sống chức phận con cái Thiên Chúa là trách nhiệm của mỗi Ki-tô hữu chúng ta.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Mỗi lần làm dấu Thánh giá, chúng ta đã làm theo thói quen nên ít để ý tới ý nghĩa sâu xa và mối liên hệ mật thiết giữa chúng ta với Chúa.  Có rất nhiều người chỉ mang cái danh Ki-tô hữu, nhưng cuộc sống của họ dường như không dính dáng gì với Thiên Chúa Ba Ngôi cả.  Họ không biết mình đã được diễm phúc làm con Chúa và thể hiện vinh dự ấy.  Trong bài đọc thứ hai hôm nay, thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta về vai trò của Chúa Thánh Thần chứng thực chúng ta là con cái Thiên Chúa.  Vậy chúng ta có dám thành thực thưa với Chúa Thánh Thần:  “Lạy Chúa, xin Chúa cho con biết hiện giờ con có xứng đáng gọi Thiên Chúa là ‘Áp-ba! Cha ơi!’ không?”  Chúng ta có dám thưa với Chúa Giê-su:  “Lạy Chúa Con, liệu con có xứng đáng được cùng với Chúa thừa kế gia nghiệp Chúa Cha ban cho chúng ta hay không?”
          Quyền năng, tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa Ba Ngôi bao bọc chúng ta.  Chính Chúa Giê-su đã hứa với chúng ta:  “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.  Đúng vậy, không phải Thiên Chúa Ba Ngôi chỉ can thiệp vào cuộc sống chúng ta khi chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa tội, nhưng các Ngài vẫn tiếp tục sống trong chúng ta, để dần dần biến đổi chúng ta “nên hoàn thiện như Cha anh em ở trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mát-thêu 5:48).  Vậy chúng ta đừng đánh mất căn tính con Thiên Chúa của mình và hãy để Thánh Thần luôn nhắc nhở chúng ta là dưỡng tử của Thiên Chúa!                 
 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây