Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 301-350: Mầunhiệm quantrọng nhất

Thứ ba - 22/05/2018 10:21
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 301-350: Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 301-350: Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy niệm Tin Mừng lễ Chúa Ba Ngôi ABC Bài 301-350 Mầu Nhiệm Tình Yêu
BaNgôi-301:  BA NGÔI YÊU THƯƠNG VÀ HIỆP NHẤT.. 2
BaNgôi-302: LỄ CHÚA BA NGÔI 7
BaNgôi-303:  Hy vọng đã vươn lên. 9
BaNgôi-304: Duy nhất – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 13
BaNgôi-305: Tình yêu kỳ diệu - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 16
BaNgôi-306: Sống yêu thương hiệp nhất theo khuôn mẫu Ba Ngôi 20
BaNgôi-307: Dâng lời chúc tụng Ba Ngôi 22
BaNgôi-308: Thiên Chúa là Cha – Lm Giacôbê Tạ Chúc. 24
BaNgôi-309: Thiên Chúa Tam vị nhất thể. 26
BaNgôi-310: Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Thiên Chúa. 27
BaNgôi-311: Suy Niệm Lễ Chúa Ba Ngôi 31
BaNgôi-312: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. 34
BaNgôi-313: Thần Khí Sự Thật – Lm. FX Vũ Phan Long. 37
BaNgôi-314: BA NGÔI MẦU NHIỆM TÌNH YÊU.. 43
BaNgôi-315:  Đoàn kết 48
BaNgôi-316: Con đường yêu thương. 49
BaNgôi-317: Mầu nhiệm tình yêu - Lm. Jos. Quốc Phong SDB.. 51
BaNgôi-318: Lễ Chúa Ba Ngôi - Ngày Lễ Tình Yêu. 53
BaNgôi-319: Suối nguồn tình yêu. 55
BaNgôi-320: MẦU NHIỆM TÌNH YÊU.. 57
BaNgôi-321: Lễ Chúa Ba Ngôi 59
BaNgôi-322: Nguồn tình yêu. 60
BaNgôi-323:  Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi 62
BaNgôi-324: Hành động yêu thương của Thiên Chúa. 64
BaNgôi-325: Chúa Nhật lễ Chúa Ba Ngôi 66
BaNgôi-326: TÌNH YÊU DIỆU VỜI 70
BaNgôi-327: Làm Trở Thành Môn Đệ. 75
BaNgôi-328: Dấu Thánh nhiệm mầu. 77
BaNgôi-329: Thiên Chúa Ba Ngôi: Mầu Nhiệm Tình Yêu. 82
BaNgôi-330: THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN.. 86
BaNgôi-331: TÌNH YÊU BẤT TỬ.. 88
BaNgôi-332: CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU.. 89
BaNgôi-333:  LỄ CHÚA BA NGÔI 90
BaNgôi-334: THIÊN CHÚA SAI CON CỦA NGƯỜI ĐẾN THẾ GIAN.. 91
BaNgôi-335: Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian. 93
BaNgôi-336: BÍ MẬT TẬN CÙNG.. 95
BaNgôi-337: TÌNH YÊU BA NGÔI 98
BaNgôi-338: THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN.. 100
BaNgôi-339: ĐẤNG ĐỊNH NGHĨA SIÊU NHIÊN.. 102
BaNgôi-340: TÌNH YÊU CHO ĐI – TÌNH YÊU CỨU ĐỘ.. 105
BaNgôi-341: SUY NIỆM LỄ CHÚA BA NGÔI. NĂM A.. 107
BaNgôi-342: MẦU NHIỆM PHÁT SINH MỌI MẦU NHIỆM... 110
BaNgôi-343: NGUỒN TÌNH YÊU.. 115
BaNgôi-344: TRAO BAN TẤT CẢ VÌ YÊU THƯƠNG.. 117
BaNgôi-345: MẦU NHIỆM... 119
BaNgôi-346: CĂN TÍNH ĐỨC KITÔ.. 121
BaNgôi-347: BA NGÔI THIÊN CHÚA, KHÁC BIỆT NHƯNG HIỆP NHẤT.. 122
BaNgôi-348: THIÊN CHÚA CÓ BA NGÔI 127
BaNgôi-349: MẦU NHIỆM CỦA LÒNG XÓT THƯƠNG.. 129
BaNgôi-350: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI_A.. 133
 

BaNgôi-301:  BA NGÔI YÊU THƯƠNG VÀ HIỆP NHẤT

I. MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA BA NGÔI

Đã là mầu nhiệm thì không thể hiểu thấu được, nhất là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, một mầu nhiệm lớn BaNgôi-301

Đã là mầu nhiệm thì không thể hiểu thấu được, nhất là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, một mầu nhiệm lớn trong Đạo. Câu chuyện của thánh Augustinô sẽ soi sáng thêm cho chúng ta về vấn đề này : Sau một đời ăn chơi trụy lạc và chạy theo tà thuyết, Augustinô đã tìm về với Kitô giáo. Ngài được xem là điển hình của một sự khao khát và tìm kiếm không ngừng. Điều đó được thể hiện qua một giai thoại như sau:
Augustinô thuộc khuynh hướng  của những người cho rằng với kiến thức và nỗ lực tìm kiếm, con người có thể múc cạn chân lý về Thiên Chúa. Một hôm, đi dọc theo bờ biển, đầu óc miên man nghĩ đến những bí ẩn về Thiên Chúa, tình cờ Ngài gặp một cậu bé đang ngồi chơi trên cát. Nó dùng một mảnh sò để đào một lỗ nhỏ trên cát, rồi dùng vỏ sò ấy múc nước biển đổ vào.
Nhưng dã tràng xe cát biển Đông, nó cứ đổ nước vào cái lỗ mà vẫn không bao giờ đầy. Ngạc nhiên về cử chỉ của đứa bé, thánh nhân nấn ná gợi chuyện. Ngài hỏi bé đang làm gì, bé trả lời không chút do dự: "Thưa ông, cháu đang dùng vỏ sò này để tát cho cạn nước bể đại dương." Thánh nhân lắc đầu bảo: "Cháu không thể làm được chuyện đó đâu." Đứa bé ngước lên và mỉm cười nói: "Múc cạn nước đại dương để đổ đầy cái lỗ này còn dễ hơn múc cạn mầu nhiệm về Thiên Chúa !"
Thánh Augustinô chợt hiểu được một chân lý: Thiên Chúa là một mầu nhiệm mà con người không thể nào thấu hiểu được ( D. Wahrheit, Tìm về cõi phúc, tr. 68 ).
Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm vĩ đại. Khi học giáo lý, ta đã học thuộc lòng về các mầu nhiệm, trong đó có 3 mầu nhiệm lớn nhất trong Đạo: Mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể – Mầu nhiệm Ngôi Hai cứu chuộc – Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Résultat de recherche d'images pour 'Andreï Roublev'Ta không thể biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mà hoàn toàn do Chúa Giêsu mạc khải cho trước khi Ngài về Trời, khi Ngài phán: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đều được ban cho Thầy. Vậy anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” ( Mt 28, 18-19 ).
Đây quả là một mầu nhiệm thẳm sâu, chúng ta không thể nào diễn tả được mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, nhưng trong vũ trụ thiên nhiên chúng ta có thể lấy được nhiều hình ảnh cụ thể dùng lối loại suy để hiểu về Chúa Ba Ngôi:
Khi thuyết giảng tại công viên Hyde Park, Frank Sheed đã dùng mưa rơi để cố gắng giúp người ta hiểu được sự vừa đơn nhất vừa đa dạng của Ba Ngôi. Ông thường nói: “Nước đang rơi đây thực là nuớc nhưng nó có thể hiện hữu dưới ba dạng: thể hơi, thể rắn và thể lỏng, nghĩa là dạng hơi nước, dạng băng và dạng nước mưa đang rơi đây”.
Dĩ nhiên tất cả mọi cách loại suy đều không thể nói lên tất cả thực tại, tuy nhiên chúng ta có thể thấy được chủ ý của Frank muốn nói là không phải có ba loại nước, mà chỉ có một loại nước, nhưng nó hiện hữu trong ba dạng khác nhau. Chúng ta có thể nghĩ về Thiên Chúa một cách tương tự như thế.
Một phương pháp khác giúp ta hiểu được sự vừa đơn nhất vừa đa dạng của Ba Ngôi là ví dụ mà Thánh Ignatiô Loyola thường dùng. Có lần trong lúc cầu nguyện, Ngài bỗng nhận ra Ba Ngôi dưới hình dạng ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất.
Và cuối cùng, chúng ta cũng thấy Thánh Patrick thường dùng ba cánh lá của loại xa trục thảo ( 3 lá ghép thành một ) để diễn tả ý niệm Ba Ngôi.
Làm thế nào chúng ta có thể áp dụng tất cả những điều nói trên vào hành động cụ thể ? Chúng ta có thể làm gì để Ba Ngôi sống động hơn trong cuộc sống riêng tư của chúng ta ? Có phương pháp mà một số người cho là hữu ích đó là cầu nguyện mỗi tối trước khi đi ngủ. Họ dùng ba phút để hồi tâm về một ngày vừa chấm dứt... ( M. Link. Giảng Lễ Chúa Nhật, năm A, tr  179-180 ).
II. BÀI HỌC RÚT RA TỪ CHÚA BA NGÔI
Nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi thì không bao giờ cùng. Các nhà thần học có nghiên cứu, có tìm hiểu đến đâu, có tranh luận đến khô bọt mép đi nữa thì cuối cùng cũng chỉ đi đến một kết luận chung: “TÔI TIN”, vì đây là một mầu nhiệm cao cả trong Đạo mà ! Ngay trong thế giới tâm linh của con người cũng còn có biết bao điều bí ẩn lớn lao mà không khám phá ra như ca dao vẫn nói: "Dò sông dò biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người ?"
Có ai dám tự phụ cho rằng mình hoàn toàn hiểu được chính mình không ? Khi hai người khác phái được kết hợp với nhau trong hôn nhân, tình vợ chồng dù có thâm sâu đến đâu, cũng không bao giờ con người có thể hiểu được tường tận người phối ngẫu của mình. Mãi mãi cho đến bên kia cõi chết, mỗi người vẫn là một mầu nhiệm đối với nhau.
Nếu những bí ẩn của đời sống con người còn chưa hiểu hết được, làm sao ta có thể hiểu tường tận mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi ? Ta chỉ có thể rút ra được vài bài học từ mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi để áp dụng vào cuộc sống của ta.
1. Bài học về yêu thương
Thánh Gioan Tông Đồ đã khẳng định: “Thiên Chúa là Tình thương” ( 1Ga 4, 8 ). Thánh Grêgôriô Cả nói: “Để giữ vững cương vị thì tình thương phải lan tràn sang người khác”. Nói khác đi, tình thương phải bắt nguồn nơi mình và phải kết thúc nơi người khác, chẳng vậy nó chỉ còn là ích kỷ chứ không còn là tình thương nữa.
Bài Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng câu: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Con Một Người sẽ không phải chết mà còn được sống đời đời" ( Ga 3, 16 ). Yếu tính của tình thương là CHO ĐI và KẾT HỢP. Yêu tức là CHO tất cả. Thiên Chúa yêu thương loài người và đã cho loài người tất cả: trời đất, núi non, sông biển cùng với muôn vàn tạo vật. Thiên Chúa còn cho loài người sự sống – một thứ chỉ có Người mới cho được. Thiên Chúa cho loài người một linh hồn – một thứ làm cho loài người nên giống Thiên Chúa ( Rm 8, 17 ).
Thiên Chúa đã ban cho loài người tất cả rồi. Còn một điều cao qúi nhất mà Thiên Chúa cũng ban, đó là ban chính Con Một Người: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một Người cho thế gian”.
Chúng ta biết do đức tin: Thiên Chúa là Đấng duy nhất nghĩa là chỉ có một bản thể, trong bản thể ấy lại có Ba Ngôi – Ba Ngôi đúc lại thành một Thiên Chúa duy nhất. Thiên Chúa yêu thương thế gian cho nên đã phó Con Một Người cho thế gian, nghĩa là đã ban trót mình cho thế gian. Không những ban Chúa Con là ngôi thứ Hai mà là ban chính mình, trong đó gồm cả bản tính Thiên Chúa ở trong Ba Ngôi, cho nên ban Con Một Người tức là đã ban tất cả Thiên Chúa – tất cả mình – và chính mình cho thế gian. Và như vậy là Thiên Chúa đã THƯƠNG thế gian, và đã giữ đúng nghĩa chữ THƯƠNG là cho TẤT CẢ ( Lm. Nguyễn Duy Tôn, Lời Chúa, năm A, t. II, tr. 9 ).
Ngày 20.6.1980, chị Brown, một người mẹ trẻ vừa từ trần vì chứng bệnh ung thư khi mới 25 tuổi. Các bác sĩ đề nghị chữa trị bằng quang tuyến, nhưng vì chị muốn cho bào thai đang mang trong bụng không bị nhiễm chất phóng xạ, nên chị từ chối, thà chết còn hơn để cho bác sĩ chữa trị ung thư bằng quang tuyến.
Cuối cùng, chỉ 5 giờ trước khi chết, chị đã sinh được một cháu trai mạnh khoẻ, kháu khỉnh. Bản tin của hãng AP nói rằng: “Vào mấy ngày cuối cùng của cuộc đời, chị Brown biết mình bị tử thần đánh bại, nhưng chị vẫn tin tưởng thế nào chị cũng thành công và sinh được một đứa con không bị nhiễm phóng xạ”. Bác sĩ Ronald Lapin gọi cái chết của chị Brown là “Cái chết của tình mẫu tử, dám hy sinh mạng sống cho đứa con chưa một lần thấy mặt”.
2. Bài học về Hiệp Nhất
Theo Tân Ước, chúng ta thấy có một trường hợp hy hữu mà Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện diện và cùng hoạt động. Đó là khi Chúa Giêsu xin ông Gioan làm phép rửa cho mình: lúc Ngài ở dưới sông lên thì trời tự nhiên mở ra, và từ trên không trung có tiếng phán ra rằng: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Cùng một trật đó, thấy hiện đến và đỗ trên đầu Chúa Con một chim bồ câu. Đó là lần thứ nhất từ khi có lịch sử loài người, Ba Ngôi hiện diện và hành động trong một lúc: Trước hết là Ngôi Con chịu phép rửa, rồi Ngôi Cha từ Trời phán ra, và sau hết Ngôi Thánh Thần dưới hình chim bồ câu hiện đến.
Về niềm tin vào Chúa Ba Ngôi, Hội Thánh đã tóm tắt lại trong kinh Tin Kính của thánh Athanasiô đại khái như sau: Có một Đức Chúa Trời mà Người có Ba Ngôi: Ngôi nhất khác, Ngôi hai khác, Ngôi ba khác... Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Thánh Thần là Đức Chúa Trời, nhưng là một Đức Chúa Trời, chứ không phải là ba Đức Chúa Trời... Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng và có từ trước đời đời; Đức Chúa Con phép tắc vô cùng và có từ trước đời đời; Đức Chúa Thánh Thần phép tắc vô cùng và có từ trước đời đời... Không có Ngôi nào hơn, Ngôi nào kém, Ba Ngôi đều bằng nhau, như nhau về tất cả mọi phương diện... Đức Chúa Cha không bởi ai sinh ra, Đức Chúa Con bởi Đức Chúa Cha sinh ra. Đức Chúa Thánh Thần bởi Ngôi Cha và Ngôi Con mà ra.
Đó là tất cả những điều về Chúa Ba Ngôi do Chúa Giêsu dạy, các Tông Đồ trối lại và các Thánh Giáo Phụ lưu truyền cho chúng ta.
Trong các câu mở đầu của kinh cầu, Hội Thánh luôn xưng hô và ca tụng Ba Ngôi Thiên Chúa mà trong kinh cầu chữ ( bằng chữ Hán của ông Cử Thiện ở Bùi Chu ) được Giáo Dân đọc trong các ngày giỗ, được dịch là: “Tam vị nhất thể Thiên Chúa giả”: Ba Ngôi cũng là một Đức Chúa Trời, thương xót chúng con. Câu dịch rất vắn gọn và đúng ý nghĩa: Ba Ngôi vị chỉ có một bản tính Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật…
Hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi cùng hoạt động trong Hội Thánh và nơi từng người nói lên sự hiệp nhất bền chặt giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây là một mô hình tuyệt vời về sự hiệp nhất mà Chúa ban cho ta để ta cũng phải củng cố sự hiệp nhất trong Hội Thánh và trong cộng đoàn chúng ta. Sự hiệp nhất sẽ đem lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích trong đời sống tự nhiên và siêu nhiên.
Vào mùa thu, khi bạn thấy bầy ngỗng bay về phương Nam để tránh đông theo hình chữ V, bạn có tự hỏi những lý lẽ khoa học nào có thể rút ra từ đó. Mỗi khi một con ngỗng vỗ đôi cánh của mình, nó tạo ra một lực đẩy cho con ngỗng bay ngay sau nó. Bằng cách bay theo hình chữ V, đàn ngỗng tiết kiệm được 71% sức lực so với khi chúng bay từng con một.
Image associéeMỗi khi một con ngỗng bay lạc khỏi hình chữ V của đàn, nó nhanh chóng cảm thấy sức trì kéo và những khó khăn của việc bay một mình. Nó sẽ nhanh chóng trở lại đàn để bay theo hình chữ V như cũ, và được hưởng những ưu thế của sức mạnh từ bầy.
Khi con ngỗng đầu đàn mỏi mệt, nó sẽ chuyển sang vị trí bên cạnh và một con ngỗng khác sẽ dẫn đầu. Tiếng kêu của bầy ngỗng từ đàng sau sẽ động viên những con đi đầu giữ được tốc độ của chúng. Cuối cùng, khi một con ngỗng bị bệnh hay bị thương và rơi xuống, hai con ngỗng khác sẽ rời khỏi bầy để cùng xuống với con ngỗng bị thương và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở lại cho đến chừng nào con bị thương lại có thể bay hoặc là chết, và khi đó chúng sẽ nhập vào một đàn khác để tiếp tục bay về phương Nam.
3. Một vài thực hành
Kinh Sáng Danh:  Khi đọc kinh Nhật Tụng, mỗi khi đọc kinh Sáng Danh, ta hãy tỏ lòng cung kính, cúi đầu, để ca tụng và tôn vinh Chúa Ba Ngôi trong đời sống ta. Mỗi chục kinh Mai Khôi, chúng ta cũng đọc một kinh Sáng Danh và còn nhiều dịp khác chúng ta có thể đọc được kinh đó.
Dấu Thánh Giá: Một trong những kinh nguyện mà người Công Giáo chúng ta học, là dấu Thánh giá, thật đơn sơ và tốt đẹp. Chúng ta đưa bàn tay phải phác một hình chự Thập từ trên xuống dưới và từ trái sang phải ngay trên thân mình chúng ta và cầu nguyện: “Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”. Hành động thánh đó nhắc nhở chúng ta rằng: có Chúa Ba Ngôi trong một Thiên Chúa, và Ngôi Hai đã chết trên thập gíá vì tất cả chúng ta.
Một bà kia không biết đến sự yêu thương của đồng loại. Bà là một người không tôn giáo, nghèo khổ bị bỏ quên, bị ngược đãi, bị đối xử bất công lâu ngày đến nỗi bà thù ghét tất cả mọi người mà mọi người dường như cũng nghịch cùng bà. Một lần kia, cha sở đến gặp bà để nói về tình yêu thương của Thiên Chúa, song bà chẳng hiểu tình yêu là gì cả. Bà bảo: "Tôi không hiểu ông nói gì. Chưa hề có ai yêu thương tôi và đối với tôi, tôi cũng không hiểu yêu thương là gì cả."
Cha sở về lại nhà xứ mà lòng vẫn canh cánh ray rứt về câu chuyện với người phụ nữ nọ. Ngài cầu nguyện liền mấy ngày rồi chợt nảy ra một ý, ngài cho mời nhóm bạn trẻ Tông Đồ trong xứ lại và kể cho các bạn ấy nghe đầu đuôi sự thể. Rồi ngài đề nghị mọi người hãy giúp cho bà ấy biết được tình yêu của Chúa bằng cách mỗi người trong nhóm sẽ lần lượt từng người đến thăm bà, chân thành tỏ cho bà biết trên đời này vẫn có người yêu thương, thăm viếng, an ủi và giúp đỡ bà.
Mấy tháng  trôi qua, một ngày kia, khi cha sở lại thăm bà, bà xúc động đến rướm nước mắt: "Thưa cha, bây giờ thì tôi đã hiểu, đã biết yêu thương là gì rồi, và bây giờ tôi đã có thể xin cha cho tôi được đón nhận tình yêu của Thiên Chúa."
Lạy Cha ! Thiên Chúa của con, bây giờ con mới hiểu sâu sắc câu nói của Đức Giêsu: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho họ”. Thì ra sự công bằng vô bờ bến của Cha không cho phép Cha làm một cái gì đơn giản hơn để cứu chuộc nhân loại. Và bây giờ con mới hiểu được tình Cha yêu thương nhân loại, trong đó có con, như thế nào !
Xin cho con biết sống xứng đáng với tình yêu ấy ! Cho con biết đáp lại tình yêu vô bờ bến ấy bằng trọn tình yêu của con. Đồng thời cũng cho chúng con được biết thể hiện tình yêu ấy trong cuộc sống hằng ngày bằng cách yêu thương, phục vụ mọi người và hiệp nhất với nhau để xây dựng Hội Thánh.
Lm. Giuse ĐINH LẬP LIỄM
 

BaNgôi-302: LỄ CHÚA BA NGÔI

NGÀY 22/05/2016: CHÚA NHẬT VIII MÙA THƯỜNG NIÊN
"Tất cả những gì Cha có, đều là của Thầy; Thánh Thần sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (Ga 16, 12-15)
          Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy còn nhiều điều phải nói với các con, nhưng bây giờ các con không thể lĩnh hội được. Khi Thần Chân lý đến, Người sẽ dạy các con biết tất cả sự thật, vì Người không tự mình mà nói, nhưng Người nghe gì thì sẽ nói vậy, và Người sẽ bảo cho các con biết những việc tương lai. Người sẽ làm vinh danh Thầy, vì Người sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con. Tất cả những gì Cha có đều là của Thầy, vì thế Thầy đã nói: Người sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con". Ðó là Lời Chúa.
SUY NIỆM

Trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần, chúng ta dừng lại để suy niệm những lời BaNgôi-302

Chúa Giêsu nói hôm nay.
          Trong bối cảnh Bữa Ăn Tiệc Ly, Chúa Giêsu loan báo về Chúa Thánh Thần. Người là Thần Khí Sự Thật như lời Người nói. Chúa Thánh Thần tiếp tục hoạt động trong đời sống của Hội Thánh sơ khai và còn hoạt động cùng Hội Thánh cho đến ngày tận thế. Như Chúa Giêsu đã đến và làm chứng cho Thiên Chúa Cha thế nào, thì thời của Chúa Thánh Thần, ngài vẫn tiếp tục duy trì hoạt động của Hội Thánh trong ân sủng và dẫn đưa thế giới đến Sự Thật toàn vẹn để làm chứng cho lời rao giảng của Chúa Giêsu như vậy. Điều này gợi ý cho chúng ta về sự hiệp thông nội tại trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Giêsu là Ngôi hai đến để làm chứng cho Thiên Chúa Cha bằng sự vâng phục và yêu thương phục vụ, nơi đó, chúng ta nhận ra lòng thương xót vô biên và trên hết là sự hiện hữu của Cha. Lòng thương xót mà Đức Maria đã thốt lên là trải qua từ đời nọ đến đời kia. Vì thế mà Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ ‘ai thấy Thầy là thấy Cha’. Chúng ta không thấy Cha nhưng chúng ta nhận ra Ngài.
          Thời của Hội Thánh cũng là thời của Chúa Thánh Thần. Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần vẫn tiếp nối công cuộc loan báo Tin Mừng mà Chúa Giêsu đã khởi sự. Nguyên lý của việc rao giảng là phải khởi đi từ chân lý tin mừng: Cha nói sao thì mình phải nói lại vậy: thông đạt toàn vẹn. Nguyên lý của hoạt động là phải làm chứng cho Sự Thật. Chúa Giêsu nghe Cha nói sao thì Người giảng như thế. Chúa Thánh Thần cũng không tự mình mà nói nhưng lại nói những gì Người nghe từ Cha. Mọi hoạt động của Hội Thánh phải bắt nguồn từ nguồn suối hiệp thông, từ đó mới chảy đến những vùng ngoại vi mà vẫn còn mang giá trị tinh tuyền như nước nguồn vậy.
          Mỗi ngày chúng ta sống trong đời sống của Hội Thánh, chúng ta có ý thức rằng mình phải nên một trong Chúa Kitô, mình phải làm chứng cho sự thật tin mừng của Người? Các hoạt động tông đồ và cả lời rao giảng của chúng ta làm sao phải quy tụ về một mối: hiệp nhất và yêu thương.
          Lạy Chúa, mỗi ngày xin cho chúng con biết khám phá lại chính ơn gọi của chúng con. Trên hết mọi sự là tìm thánh ý Thiên Chúa để thi hành. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.
 

BaNgôi-303:  Hy vọng đã vươn lên

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Vân Lực)

Hy vọng là động lực sống. Hướng sống và niềm vui sẽ mất đi, nếu không còn niềm hy vọng. Nhưng BaNgôi-303 Lượng

Hy vọng là động lực sống. Hướng sống và niềm vui sẽ mất đi, nếu không còn niềm hy vọng. Nhưng làm cách nào nuôi niềm hy vọng trong tâm hồn? Đó là bí quyết của Thánh Linh. Chỉ niềm tin nào đem lại hy vọng, mới có giá trị và tồn tại.
NGUỒN HY VỌNG.
Cuộc sống luôn có những biến động. Niềm hy vọng luôn bị đe dọa khi gặp những khó khăn. Nhưng không phải bất cứ ai gặp khó khăn đều đánh mất niềm hy vọng. Niềm hy vọng cũng huyền nhiệm như niềm tin Kitô giáo. Đó là lý do tại sao phải tìm hiểu niềm hy vọng do Ba Ngôi Thiên Chúa đã dành cho chúng ta!
Trước hết, chỉ có Thiên Chúa mới đem lại và bảo đảm niềm hy vọng cho chúng ta. Vì niềm hy vọng bắt nguồn từ Thánh Linh. Quả thế, “chúng ta không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” (Rm 5:5) Tình yêu Thiên Chúa là nguồn hy vọng, vì chính trong tình yêu, Thiên Chúa đã sáng tạo và cứu độ. Không có tình yêu, chẳng có một giá trị nào hiện hữu và tồn tại. Bởi vậy, Thiên Chúa đã đặt nền tảng niềm hy vọng trên tình yêu tức là Thánh Linh. Chẳng có gì tạo nổi niềm hy vọng ngoài tình yêu Thiên Chúa! Thiên Chúa yêu thương chúng ta mãnh liệt và sâu đậm, nên niềm hy vọng của chúng ta chắc chắn phải lớn lao và bền vững hơn bất cứ thực tại nào trên trần gian.
Nhưng tình yêu chưa đủ! Thiên Chúa muốn niềm hy vọng phải đặt vào đúng chỗ. Mù quáng chỉ dẫn tới ảo tưỡng và sụp đổ. Cần phải có sự thật nữa. Bởi thế, Đức Giêsu mới hứa: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.” (Ga 16:13) Sự thật về Thiên Chúa và sự thật về con người! Không thấy được sự thật toàn vẹn, con người không thể được giải thoát. Không được giải thoát, không có tình yêu và niềm hy vọng đích thực. Thánh Linh đưa các môn đệ vào sự thật toàn vẹn của tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa vô cùng mãnh liệt và cao cả khiến các môn đệ không thể hiểu nổi. Quả thực, nếu không có Thánh Linh soi sáng, làm sao nhận ra ơn cứu độ lớn lao nơi cái chết và phục sinh của Đức Kitô?
Thần Khí chính là sự khôn ngoan, “một sự khôn ngoan soi sáng cho thấy ý nghĩa thực tại.” (Faley 1994:387) Thánh Linh “luôn hiện diện với Thiên Chúa trong toàn thể tiến trình tạo dựng.” (Faley 1994:384) Người# luôn hoạt động để tạo dựng một vũ trụ có trật tự. Cuộc tạo dựng không chỉ xảy ra trong vũ trụ, nhưng cả trong Giáo hội nữa. Thần khí không chỉ hoạt động trong thời gian viết Thánh Kinh! Nhưng Người còn hoạt động trong Giáo hội qua dòng thời gian nữa! Muốn bảo vệ sự thật toàn vẹn, Người phải làm việc trong trật tự. Cứ nhìn vũ trụ sẽ thấy công việc Thánh Linh làm trong Giáo hội, không thể theo ngẫu hứng hay tình cảm cá nhân!
Hơn nữa, Thánh linh còn đưa các môn đệ vào sự thật toàn vẹn về con người. Mục đích cuối cùng của mạc khải là giao hòa con người với Thiên Chúa và anh em. Nhưng làm sao giao hòa với Thiên Chúa và anh em, nếu con người không biết hết sự thật về chính mình và những tương quan vô cùng phong phú của mình? Không có gì khó bằng khám phá chính mình. Nhưng Thánh Linh sẽ giúp con người nhận ra sự thật khó khăn đó. Khi biết rõ chính mình, con người sẽ khiêm tốn hơn và hạnh phúc hơn. Khi biết rõ tương quan sâu xa giữa mình và Thiên Chúa cũng như tha nhân, con người sẽ thấy mình phải cố gắng tới mức nào. Vì chính trong tương quan này, con người sẽ tìm được hạnh phúc tròn đầy. Chỉ trong tương quan với anh em, con người mới trở nên hình ảnh Thiên Chúa đích thực. Vì tự bản chất, Thiên Chúa là một tương quan. Nếu không, đã chẳng có Ba Ngôi trong một Thiên Chúa. Trong các tương quan phản ánh tình yêu Thiên Chúa nhất, chúng ta phải kể đến gia đình. Chính trong gia đình, con người cảm nghiệm được tình yêu thắm thiết của Ba Ngôi. Càng chia sẻ sâu xa tình yêu gia đình, càng đi sâu vào huyền nhiệm Thiên Chúa.
Huyền nhiệm Thiên Chúa chính là sự thật toàn vẹn, đối tượng của niềm tin. Bởi vậy, được đưa vào sự thật toàn vẹn là “được nên công chính nhờ đức tin,” tức là được tham dự vào đời sống Thiên Chúa. Đời sống Thiên Chúa chan hòa bình an! Không biết được sự thật toàn vẹn đó, cuộc sống sẽ tràn ngập đau khổ. Trái lại, nhờ Thánh Linh, mọi vấn đề sẽ được giải quyết, kể cả vấn đề đau khổ. Tín hữu không những không sợ đau khổ, nhưng nhờ ân sủng của Thiên Chúa, họ “còn tự hào khi gặp gian truân.” (Rm 5:3) Tín hữu không tìm cách diệt trừ hay phủ nhận đau khổ. Vì đau khổ dính liền với thân phận làm người. Nhưng họ quan niệm đau khổ là một thử thách cần phải vượt qua. Cuộc vượt qua thử thách đó không dựa vào sự thật bình thường, nhưng vào sự thật toàn vẹn do Thánh Linh mạc khải.
Càng đi sâu vào sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa và con người, càng được giải thoát. Càng được giải thoát, càng vui tươi và bình an. Chính Thánh Linh cảm thấy được niềm vui đó khi từ sự thật Thiên Chúa mà đến. Người mạc khải: “Ngày ngày ta là niềm vui của Người, trước mặt Người, ta không ngớt vui chơi, vui chơi trên mặt đất, ta đùa vui với con cái loài người.” (Cn 8:30-31) Lối nhìn trần giới hoàn toàn khác hẳn. Khôn ngoan mang bộ mặt trang trọng, chứ không thể đi đôi với “vui chơi”. Nhưng chính niềm vui mới là dấu chỉ hy vọng lớn lao. Đó là lý do tại sao niềm vui tràn ngập tuổi trẻ đầy hy vọng. Hơn nữa, càng khôn ngoan càng chứng tỏ đã nắm được chân lý toàn vẹn. Càng nắm chắc chân lý toàn vẹn, càng đặt được nền tảng sâu xa cho niềm hy vọng và niềm vui. Do đó, có một tương quan sâu xa giữa niềm hy vọng và sự khôn ngoan, sự khôn ngoan bắt nguồn từ niềm tin nơi Thiên Chúa.
Đó là lý do tại sao niềm tin phát sinh hy vọng. Chính thánh Phaolô quả quyết: “Còn chúng tôi thì nhờ Thần khí và dựa vào đức tin mà vững lòng chờ đợi được nên công chính như chúng tôi hy vọng.” (Gl 5:5) Khi đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, con người có thể tìm được niềm hy vọng vững chắc, vì Thiên Chúa hằng hữu. Thực vậy, “vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.” (Rm 5:2) Đức tin là bảo đảm cho chúng ta đạt được niềm hy vọng ngay tự đời này dù đầy những bất trắc. Hơn nữa, đức tin còn có thể giúp con người bình an giữa cuộc đời đầy sóng gió. Thật vậy, “chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là người trung kiên, thì có quyền trông cậy.” (Rm 5:3-4) “Ngay cả những thử thách cũng góp phần giúp con người hy vọng đạt tới vinh quang, và sự chịu đựng sinh ra sức mạnh củng cố niềm hy vọng. Đó là niềm hy vọng có nền tảng, chứ không phải chỉ là ước vọng suông.” (Faley 1994:386) Niềm hy vọng là cao điểm qui tụ tất cả sức mạnh của người tín hữu. Không có hy vọng, không ai còn hứng khởi để vượt qua những thử thách muôn mặt. Khi đã vượt qua những thử thách đó, con người có thể hãnh diện và đầy hy vọng. Nhưng sức mạnh nào đã giúp họ vượt qua thử thách, nếu không phải là Thánh Linh? Có vượt qua thử thách của đức tin, chúng ta mới có thể theo Đức Giêsu vào chung hưởng ân sủng Thiên Chúa. Chính đức tin và hy vọng khiến Kitô hữu khác hẳn với mọi người. Bình thường ai cũng run sợ trước đau thương thử thách. Nhưng người Kitô hữu như tràn đầy hứng khởi và tự hào vì được trở nên giống Đức Kitô đau khổ trong sứ mệnh cứu độ. Quả thế, thập giá là “sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa.” (1 Cr 1:18) Nếu không trung kiên gắn bó với thánh ý Thiên Chúa, chắc chắn Đức Giêsu đã không thể đem lại vinh quang cho Thiên Chúa. Bởi thế, ai trung kiên mới có quyền hy vọng!
Niềm hy vọng này lại trở thành mấu cứ cho niềm tin và tình yêu. Quả thực, “lòng tin và lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên trời, niềm trông cậy anh em đã được nghe loan báo khi lời chân lý là Tin Mừng đến với anh em.” (Cl 1:5) Lời chân lý gieo niềm hy vọng cứu độ vì phát xuất từ Thiên Chúa và do chính Thánh Linh loan báo. Quả thế, Thần Khí “sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến.” (Ga 16:13) Thánh Linh loan báo một tương lai vững chắc, chắc như chính “những biến cố vào giờ Chúa Giêsu vậy.” (NIB 1995:773) Không phải Thánh Linh sẽ cho người tín hữu biết trước tương lai. Thật vậy, theo Bultmann, “người tín hữu chỉ có thể đo lường được tầm quan trọng và họ mức chịu đựng khi thực sự đụng đầu với thực tế. Họ có thể đoán trước tương lai trong niềm tin, chứ không biết trước về kiến thức.” (NIB 1995:773) Nếu thế, Lời Chúa vô cùng cần thiết để củng cố lòng tin trước bất cứ thử thách bất ngờ nào. Bởi vậy, vai trò Thánh Linh vô cùng quan trọng trong việc trao Lời Chúa cho cộng đoàn niềm tin và trong tương lai (x. NIB 1995:773) Hoàn thành trọng trách đó, Thánh Linh sẽ đem lại vinh quang cho Chúa Cha và Chúa Con. Thật vậy, “Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em.” (Ga 16:14) Loan báo Tin Mừng vừa cứu độ muôn dân vừa vinh danh Thiên Chúa.
CHIỀU HƯỚNG MỚI
Thánh Linh đã thực sự trở thành ngôi vị không thể thiếu trong công cuộc cứu độ. Điều kiện thực tế không cho phép các môn đệ hiểu tất cả những gì Chúa mạc khải trong một lúc. Cái gì cũng phải đợi thời gian mới chín mùi được! Chính Chúa đã nói rõ điều đó: “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi.” (Ga 16:12) Chúa Giêsu cũng tôn trọng trình tự thời gian. Người cũng không thể đi trước thời gian hay giẫm chân lên Chúa Thánh Thần. Tương lai thuộc về Thánh Linh. Chính Thánh Linh vừa tiếp tục công cuộc mạc khải vừa ban sức mạnh và ánh sáng để các môn đệ được nâng lên mà nắm chắc nguồn hy vọng là Lời Chúa. Không thể tiên đoán Thánh Linh đi xa tới mức nào trong tương lai Giáo hội. Công đồng Vatican II chứng tỏ Thánh Linh đã làm một cuộc “hiện xuống mới” giữa thời đại hôm nay. Cuộc hiện xuống mới bắt đầu với cánh cửa Giáo hội mở ra thế giới. Từ sau Vatican II, Giáo hội không còn tự cho mình ở trên và tách lìa trần gian. Trái lại, “Thánh Linh trong công đồng đại kết đã dẫn Giáo hội qua một tiến trình tự đánh giá sâu sắc về mình như thành phần thế giới.” (Faley 1994:388) Từ nay, Giáo hội không còn chỉ thấy Chúa hiện diện trong Thánh Kinh, truyền thống, các nghi thức phụng vụ, “nhưng cả trong các biểu tượng và nghi thức từ các văn hóa và tôn giáo khác nữa.” (Heim 1998:14) Nhờ Thánh Linh hướng dẫn, Giáo hội còn “tìm sự hiện diện Thiên Chúa trong hoàn cảnh của người nghèo và bị bách hại, trong các tôn giáo thế giới, và các giáo hội Kitô giáo khác. Có một sự khôn ngoan vô hạn trong tất cả những thực tại này, một sự khôn ngoan làm giàu cho đức tin.” (Faley 1994:388) Khi đã thoát khỏi tình trạng tự giam hãm mình trong vòng Công giáo chật hẹp, Giáo hội có nhiều ảnh hưởng và tương quan phong phú hơn. Giáo hội đã bắt gặp nhiều cách diễn tả và cảm nghiệm khác nhau về sự thật nơi các tôn giáo khác và các anh em Tin Lành. Thánh Linh đã đánh thức Giáo hội sau bao thế kỷ triền miên trong những giới hạn nhân gian.
Dĩ nhiên cuộc đối thoại với các tôn giáo và anh em Tin Lành không được xa rời nguyên tắc “trung thành với Chúa Kitô và xác tín về ơn cứu độ dành cho mọi người.” (Heim 1998:26) Phong trào đại kết đã có kinh nghiệm sâu xa về liên tôn và suy tư về “hệ thống chân lý và những khả năng hiệp nhất không dựa nhiều trền việc đồng thuận hoàn toàn về giáo lý.” (Heim 1998:13) Đó là chiều cạnh lý thuyết cần thiết cho cuộc đối thoại. Về mặt thực tế, không thể không nghĩ đến những nỗ lực của các nhà truyền giáo trong các thế kỷ qua. Kinh nghiệm Alexandre de Rhodes, Nobili, Ricci cho thấy việc hội nhập văn hóa rất cần thiết cho việc rao giảng Tin Mừng. Nói khác, “việc lột xác trong việc truyền giáo đòi phải đối thoại với các tôn giáo khác, hoặc ở mức độ thân thiện, giáo thuyết, hành động xã giao, hay kinh nghiệm tôn giáo.” (Heim 1998:14) Hơn nữa, cần phải “chú ý tới tôn giáo phổ quát, thường gồm những yếu tố giao lưu văn hóa và tôn giáo đa nguyên.” (Heim 1998:14) Chính Thánh Linh sẽ hướng dẫn Giáo hội khi mở ra chiều hướng quá sâu rộng và phong phú như thế. Thực tế, Giáo hội vẫn tin rằng “ý thức đức tin (sensus fidei) sẽ cung cấp một nền tảng luận lý để đánh giá về hình thức biểu tượng của hòa điệu đa nguyên này.” (Heim 1998:14)
Thánh Linh đang mở ra một mùa xuân tràn đầy hy vọng trong lòng Giáo hội, niềm hy vọng phát xuất tự và cũng phát sinh ra lòng tin và tình yêu. Tương quan bộ ba tin cậy mến thật là huyền nhiệm, huyền nhiệm như chính Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính tương quan đó đã mở ra cho Giáo hội những chiều hướng mới đi vào một thế giới đang ngóng chờ Thiên Chúa thực hiện lời hứa cứu độ.
 

BaNgôi-304: Duy nhất – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Sách Phương Ngôn còn gọi là Châm Ngôn (Proverb) nói về sự Khôn Ngoan. Người Do thái ví sự khôn BaNgôi-304

Sách Phương Ngôn còn gọi là Châm Ngôn (Proverb) nói về sự Khôn Ngoan. Người Do thái ví sự khôn ngoan như người phụ nữ cố gắng kiên trì dẵn dắt mọi người ra khỏi con đường gian tà và tội lỗi. Trong đoạn sách Châm Ngôn hôm nay, sự Khôn Ngoan được diễn tả như một nhân vật đã hiện diện với Thiên Chúa trước khi tạo dựng vũ trụ: "Đức Chúa đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Người, trước mọi công trình của Người từ thời xa xưa nhất." (Cn 8,22). Sự Khôn Ngoan ở cùng Thiên Chúa qua mọi công trình sáng tạo. Tiến trình lịch sử cứu độ được hé mở một cách rất tiệm tiến. Dân Dothái tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất và độc thần. Mầu nhiệm về Ngôi Ba Thiên Chúa được mạc khải từ từ từng bước. Hình bóng Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần còn được ẩn giấu. Sự Khôn Ngoan được nhân cách hoá trong cách diễn tả: "Khi chưa có các vực thẳm, khi chưa có mạch nước tràn đầy, ta đã được sinh ra." (Cn 8,24).
Nguồn Kinh Thánh mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi. Thuở xưa, Thiên Chúa đã dùng nhiều cách phán dạy cha ông qua các ngôn sứ, nay Chúa dạy chúng ta qua chính Con Một của Người. Chúa Giêsu đã mạc khải về ngôi vị Thiên Chúa: "Tôi và Chúa Cha là một." (Ga 10,30). Chúa Giêsu là hiện thân và là Ngôi Lời của Thiên Chúa, khi chúng ta biết Chúa Giêsu, là biết Chúa Cha: "Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." (Ga 14,7). Thánh Luca diễn tả hình ảnh Thiên Chúa trong ngôi vị khác nhau qua biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan: "Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con." (Lc 3,22). Chính Chúa Giêsu đã dùng cách tuyên xưng Ba Ngôi Vị Thiên Chúa khi sai các Tông đồ ra rao giảng Tin Mừng: "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần." (Mt 28,19).
Giáo Hội tin kính Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta không thể hiểu thấu mầu nhiệm vì sự giới hạn của ngôn ngữ, sự hiểu biết và trí khôn con người. Qua sự tìm hiểu và kinh nghiệm, chúng ta cũng chỉ học biết một chút về cơ cấu của các sự vật hiện hữu. Chúng ta bị giới hạn mọi thứ từ thời gian, không gian, kiến thức hẹp hòi và sự hiểu biết nông cạn. Tin vào lời Chúa. Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta đòi hỏi hiểu thấu về Thiên Chúa, tôi sợ rằng đó chỉ có thể là chúa do con người nắn nên. Dựa vào lời mạc khải, Kinh Thánh không bao giờ dùng từ Chúa Ba Ngôi. Khoảng năm 115-120, thời Giáo Hội sơ khai, một triết gia tin đạo là Tertullian đã dùng từ ‘Chúa Ba Ngôi’ (Trinity) để cố gắng tìm cách đưa đức tin vào ngôn ngữ của loài người. Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa Cha là ‘Abba’, Thánh Tôma Tông đồ khi nhận diện ra Chúa đã thưa: "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của tôi." Chúa Giêsu là Chúa và Ngài gọi Thiên Chúa là Cha.
Giáo Hội đã suy tư rất nhiều qua sự đóng góp của các Thánh Giáo phụ và các vị tiền bối như Origen, Tertullian, Arius, Thánh Basil, Thánh Gregory of Nyssa, Thánh Gregory of Nazienzen và Thánh Augustinô… Đã mất khoảng hơn 300 năm để suy tư tìm tòi, bàn cãi tranh luận và đôi khi là nguyên cớ gây tù đày, phân rẽ và hành khổ nhau. Cho tới khi các giáo phụ họp Công đồng Nicea 325 để định nghĩa về sự liên hệ giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha. Rồi chờ đợi cho tới hơn nửa thế kỷ sau, Công đồng Constantinople mới định nghĩa về Ngôi Thánh Thần. Thánh Augustinô tóm gọn ý nghĩa mầu nhiệm: Chúa Cha là Thiên Chúa. Chúa Con là Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa. Chúa Cha không phải là Chúa Con. Chúa Con không phải là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha, chỉ duy nhất có một Thiên Chúa. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là ba ngôi riêng biệt nhưng kết hợp làm một Chúa. Thiên Chúa của tình yêu.
Chúng ta nhận biết được tình yêu của Thiên Chúa dành cho loài người qua sự hy sinh của Chúa Giêsu chết trên cây Thánh giá. Mỗi lần chúng ta ghi dấu Thánh giá trên thân mình, tuyên xưng rằng: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Ba Ngôi kết hợp trong tình yêu; trao ban tình yêu và hiến mình vì tình yêu. Chúng ta không thể hiểu thấu mầu nhiệm tình yêu vì tình yêu như biển trời mênh mông có thể dung chứa mọi thứ. Chúng ta được ngụp lặn trong biển tình yêu của Thiên Chúa. Tình Chúa lan toả như khí trời. Tình Chúa bao la hơn biển cả. Mỗi tâm hồn đều được mời gọi để mở đón tình yêu, sống tình yêu và trao ban tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa không bao giờ vơi cạn.
Chúa Giêsu trao ban Thánh Thần cho các Tông đồ: Người thổi hơi vào các ông và nói: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần." (Ga 20,22). Chúa Thánh Thần là nguồn mạch sự sống. Ngài tiếp tục hoạt động canh tân Giáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập. Qua mọi thời, nguồn ơn Chúa Thánh Thần luôn tràn đổ trong tâm hồn các tín hữu. Luôn có những nhân chứng đích thực giữa dòng đời để chấn hưng, cải đổi và thắp niềm hy vọng cho mọi người trên đường lữ hành. Chúng ta đều là con cái Thiên Chúa vì được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Thánh Phaolô dạy: "Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa." (Rm 8,14).
Qua Bí tích Rửa Tội, mỗi người chúng ta được tham dự vào sứ vụ làm nhân chứng cho Chúa Kitô phục sinh. Chúng ta trở nên con cái và được tháp nhập vào Nhiệm Thể của Chúa Kitô. Chúng ta là những người được thừa kế ân sủng cứu độ: "Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người." (Rm 8,17). Mỗi người đều phải chu toàn sứ vụ Kitô hữu của mình. Chúng ta không thể sống dựa, ăn nhờ, ở bám hay tùy thuộc vào người khác. Quan sát rừng cây, chúng ta thấy có cả ngàn ngàn các loại cây chen nhau mọc trong rừng. Rừng xanh được tạo nên bởi cả rừng cây muôn loại và muôn màu sắc. Các cây cùng chen nhau mọc vươn lên trong khoảng không, nhưng mỗi cây đều phải bám rễ sâu để giữ thân mình. Mỗi cây có sự sống và có các kết cấu riêng biệt. Mỗi cây tự mình hút chất bổ để nuôi dưỡng thân mình qua những cách thế được tạo hóa phú bẩm. Cây nào không bám rễ sâu sẽ dễ bị tróc gốc khi gặp mưa to gió lớn. Chúng ta hãy bám rễ niềm tin sự sống vào Chúa Kitô Phục Sinh.
Đời sống người Kitô hữu phải gắn bó với tình yêu Chúa Kitô Thập Giá. Tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa Tình Yêu. Chúng ta đặt niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu của ơn cứu độ. Hãy trông cậy vào nguồn ân sủng hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúng ta sẽ nhận biết ý nghĩa và cùng đích của cuộc sống này. Tất cả quy về sự thật là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đã chịu chết và sống lại để chuộc tội cho nhân loại. Thánh Gioan viết: "Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến." (Ga 16,13).
Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mọi nơi và mọi lúc. Mỗi khi làm dấu thánh giá trên thân xác, xin cho chúng con ý thức và nhận biết tình yêu tuyệt vời Thiên Chúa đã dành cho loài người chúng con. Chúng con tôn thờ, ca ngợi và cảm tạ hồng ân Chúa đến muôn muôn ngàn đời.
 

BaNgôi-305: Tình yêu kỳ diệu - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Ngày 22-5-2013, Nick Vujicic, chàng trai không chân không tay tới Việt Nam. Từ ngày 22 đến 26 tháng 5, BaNgôi-305

Ngày 22-5-2013, Nick Vujicic, chàng trai không chân không tay tới Việt Nam. Từ ngày 22 đến 26 tháng 5, Nick sẽ có 8 buổi diễn thuyết (45 phút/buổi) với các đối tượng khác nhau. Anh sẽ trình bày trước 25.000 sinh viên tại sân vận động Mỹ Đình (Hà Nội) từ 18g30 – 21g30 và ngày 23-5 trước 15.000 người tại sân vận động Thống Nhất, Sài Gòn từ 18g – 21g ngày 25-5. Anh đến Việt Nam để truyền cảm hứng cho các bạn trẻ về niềm tin tình yêu và nghị lực.
Nick Vujicic sinh ngày 4-12-1982 tại Melbourne, Australia và hiện đang sống tại Mỹ. Không may mắn như những đứa trẻ khác, Nick đã ra đời với cơ thể không lành lặn, thiếu chân, thiếu tay. Bố mẹ Nick gần như ngất đi sau khi nhìn thấy đứa con bé bỏng đáng thương của mình chào đời. Thế nhưng, họ luôn cố gắng giúp con trai có một cuộc sống bình thường như bao đứa trẻ khác.
Bằng nghị lực phi thường cùng phương châm sống: "Tật nguyền lớn nhất trong đời là khi mất hy vọng. Hãy tin tôi đi, mất hy vọng còn tồi tệ hơn nhiều so với chỉ mất chân tay", Nick Vujicic đã vươn lên để trở thành nhà diễn thuyết nổi tiếng thế giới. Anh là người "kỳ diệu nhất hành tinh". Qua những bài diễn thuyết, Nick Vujicic luôn nói về niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa Tình Yêu đã cho anh nghị lực vươn lên để trở thành người có ích, sống vui tươi hạnh phúc.
Có người nông dân dạy con trai mới lớn: muốn cho mướp ra nhiều trái phải bấm ngọn.
Cậu bé hỏi: tại sao?
Người cha trả lời: vì nó tức nên nó đâm trái.
Có thể cậu bé không bằng lòng với câu trả lời của cha, nhưng sau này khi vào đại học nông nghiệp, cậu sẽ biết rõ lý do.
Một em bé đứng trước thi hài ông nội, hỏi mẹ: Mẹ ơi sao ông nội chết vậy hả mẹ?
Mẹ đáp: vì ông nội già rồi.
Bé lại hỏi: thế bà nội già rồi sao không chết? Chú Tư trẻ vậy sao lại chết.
Người mẹ vui mừng vì thấy con thông minh lý sự nhưng lúng túng không tìm ra câu trả lời thoả đáng. Khi lớn lên bé sẽ hiểu lý do.
Trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng mà trí khôn con người vẫn không bao giờ hiểu thấu. Để diễn tả các điều khó hiểu của cuộc sống, cha ông ngày xưa mới đố nhau: Đố ai biết lúa mấy cây, Biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng. Đố ai quét sạch lá rừng, Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Có lẽ trong tất cả mọi điều khó hiểu của cuộc sống con người thì tình yêu là khó hiểu nhất. Chỉ nguyên định nghĩa tình yêu thôi cũng đủ để hao tổn bao công sức và giấy mực qua các thời đại mà vẫn không có được một định nghĩa diễn tả trọn vẹn ý nghĩa. Và vì không có được một định nghĩa nên người ta mới coi tình yêu như là mầu nhiệm.
Thế nhưng, mầu nhiệm tình yêu có đáng là gì so với các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trong các mầu nhiệm của Thiên Chúa thì mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là cao cả nhất, khó hiểu nhất. Như sách giáo lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định: Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu. Bởi vì đây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa mà cũng là mầu nhiệm của Thiên Chúa "cho chúng ta".
Trước mầu nhiệm Ba Ngôi, một mầu nhiệm cao sâu, trí khôn nhỏ bé của con người không thể hiễu nổi.Tại sao Một Chúa mà Ba Ngôi? 1 là 3 và 3 là 1?.
Vậy phải hiểu và đón nhận mầu nhiệm quá cao siêu này như thế nào?
Ba Ngôi là một mầu nhiệm thuộc đời sống nội tại của Thiên Chúa, vượt quá mọi khả năng hiểu biết và suy luận của trí khôn hữu hạn con người. Qua bao thời đại, trí khôn con người dựa vào mạc khải để tìm hiểu huyền nhiệm sâu thẳm này.
Thánh kinh có bàn nhiều về mầu nhiệm Ba Ngôi.
- Mạc khải Cựu ước chủ yếu là mầu nhiệm Thiên Chúa duy nhất nhưng cũng có mầm móng về mầu nhiệm Ba Ngôi. Niềm tin độc thần là tín điều lớn nhất của Cựu ước (Đnl 6, 4-5). Điều này cần thiết cho bối cảnh đa thần giáo ở Trung đông thời bấy giờ.
- Mạc khải Tân ước dạy rõ ràng hơn về Thiên Chúa Ba Ngôi. Sứ thần Gabriel đến báo tin cho Đức Maria: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ che chở bà, vì thế Hài Nhi bà sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa". Những lời đó cho biết: Đấng Tối Cao là Chúa Cha cùng với Chúa Thánh Thần sẽ lo cho Hài Nhi sắp sinh ra là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Hình ảnh đặc trưng nhất là khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, chim bồ câu ngự xuống đậu trên Ngài (Ga1, 32-34). Tiếng Chúa Cha tuyên phán: Con là con Ta yêu dấu (Mt 1, 11). Tiếng nói, chim câu, Chúa Giêsu, ba hình ảnh này tạo nên chân dung sống động về Ba Ngôi. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu hứa với các tông đồ: "Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bàu Chữa khác, đó là Thần Khí sự thật..." Chúa Giêsu xin Chúa Cha ban Đấng Bàu Chữa là Thần Khí sự thật, nghĩa là Chúa Thánh Thần cho các môn đệ. Trong phúc âm Matthêu có câu nói nổi tiếng về Ba Ngôi "Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" (Mt 28, 19). Thánh Phaolô luôn cầu chúc: Ân sủng của Đức Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em.
Chỉ có một Thiên Chúa nhưng Thiên Chúa có Ba Ngôi và là Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần. Mỗi ngôi vị đều là Thiên Chúa, dù vậy vẫn chỉ có một Thiên Chúa mà thôi. Mỗi ngôi vị đều bằng nhau về thần tính và ưu phẩm, nhưng không có ba Thiên Chúa ngang nhau mà chỉ có một Thiên Chúa. Mỗi ngôi vị đều có trọn vẹn sự sống thần linh trong mình dù chỉ có một sự sống thần linh duy nhất. Nói theo từ ngữ của Công đồng Vatican II: Sáng kiến cứu độ là của Chúa Cha. Chúa Cha chia sẻ và bàn bạc sáng kiến ấy với Chúa Con và Chúa Thánh Thần.Việc thực hiện sáng kiến ấy giống như một bản trường ca gồm hai phần chính. Đức Kitô thực hiện phần đầu. Ngài nhập thể, mạc khải về Chúa Cha dâng lên Cha hy lễ thập giá để cứu độ. Phần hai dựa vào công trình ấy mà nâng con người lên, đưa con người về cùng Cha, đó là phần vụ của Chúa Thánh Thần. Thánh Ignatio Loyola trong một lần cầu nguyện, bổng nhiên nhận ra Ba Ngôi dưới hình dạng ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất.
Thiên Chúa duy nhất nhưng không phải là Thiên Chúa đơn độc mà là cộng đồng Ba Ngôi thương yêu nhau hướng về nhau. Ba Ngôi là một gia đình. Giáo hội là một gia đình của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha, Đức Giêsu là Trưởng Tử, mọi người là anh chị em của nhau. Đạo lý Đông phương vốn trọng chữ trung, chữ hiếu và chữ nhân, rất gần gũi với tinh thần Kitô giáo. Trung với Chúa, hiếu thảo với tổ tiên ông bà cha mẹ, nhân ái với mọi người.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và duy nhất là một mầu nhiệm vĩ đại thâm sâu mà trí tuệ con người không thể nào hiểu hết, chỉ có thể đón nhận bằng đức tin. Thực tại Ba ngôi không là một điều nghịch lý nhưng là nghịch thường và siêu lý. Mầu nhiệm Ba Ngôi là ánh sáng chói loà rực rỡ, ánh sáng ban sự sống cho những ai khiêm nhường đón nhận và sẽ là bóng tối dày đặc đầy mâu thuẫn đối với những kẻ kiêu căng muốn dùng lý trí làm thước đo siêu việt.
Nhìn lên cung thánh, ta thấy Thánh Giá, Nhà Tạm, Bàn Thờ. Đó là trung tâm niềm tin của người Kitô hữu.Trên Thánh Giá, Đức Kitô đã tự hiến làm hy lễ dâng lên Chúa Cha.Ngài tự nguyện chịu đau khổ, chịu chết trong tinh thần vâng phục và yêu mến đối với Cha, để thiết lập giao ước mới với Giáo hội trong máu của Ngài. Ngài đã phục sinh về với Cha nhưng vẫn luôn ở lại với Giáo hội qua Bí Tích Thánh Thể mà Nhà Tạm là nơi Ngài hiện diện thường trực. Bàn thờ tượng trưng cho Chúa Kitô.Khi linh mục cử hành thánh lễ là tưởng niệm hy lễ thập giá và cử hành mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô.
Ba Ngôi sống bằng một lương thực thần linh, cùng một sự sống đó là tình yêu thần linh. Chúng ta được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi khi đi vào cử hành mầu nhiệm vượt qua trong thánh lễ. Với chúng ta sự sống ấy là sự sống của Đức Kitô, Mình và Máu Đức Kitô trao ban qua thánh thể "Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời" (Ga 6, 34). Khi chia sẽ chén hiệp thông cuả Ba Ngôi, chúng ta được mời gọi hiệp thông với nhau để trở nên một như Ba Ngôi là một(Ga 17, 21).
Chúng ta đến Nhà thờ để tìm Chúa và gặp Chúa. Nói theo kiểu nói của Đức Hồng y Henry de Lubac: Con người tìm Chúa là một người bơi lội giữa đại dương. Mỗi lần tiến tới là đẩy lui một đợt sóng. Bơi lội giữa đại dương làm cho con người khiếp đảm lo sợ không tới bến. Nhưng Thiên Chúa vừa là bến bờ vừa là đại dương. Ai bơi lội trong đại dương là bơi lội trong Thiên Chúa. Hướng tới Chúa đã là ở trong Chúa, tìm Chúa gặp Chúa là hướng về Chúa. Không có sự tìm kiếm nào mà không phải phấn đấu, không gặp mâu thuẫn đau khổ. Nhưng chúng ta tin vào Thiên Chúa đang ở với chúng ta trong Đức Kitô và lôi kéo chúng ta với sức mạnh Chúa Thánh Thần.
Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong tình yêu. Mỗi ngày người tín hữu chúng ta làm dấu Thánh giá nhiều lần trên thân xác "Nhân danh Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh thần". Ước gì mỗi người cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi, hiệp thông chia sẻ trong cuộc sống hàng ngày của mình.
 

BaNgôi-306: Sống yêu thương hiệp nhất theo khuôn mẫu Ba Ngôi

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

Mầu nhiệm Ba Ngôi tuy cao siêu nhưng không viển vông xa rời thực tế. Trái lại đây là một mầu nhiệm BaNgôi-306

Mầu nhiệm Ba Ngôi tuy cao siêu nhưng không viển vông xa rời thực tế. Trái lại đây là một mầu nhiệm rất thiết thân, rất gắn bó với đời sống người tín hữu. Mầu Nhiệm nầy mời gọi các ki-tô hữu luôn sống yêu thương hiệp nhất theo khuôn mẫu ba Ngôi.
Gia đình Thiên Chúa" hiệp nhất trong yêu thương: ba Ngôi nên một.
Trước hết, chúng ta hãy chiêm ngắm "Gia đình" ba Ngôi (xin tạm dùng cụm từ ‘Gia đình’ để diễn tả sự hiệp thông rất mật thiết giữa ba Ngôi Thiên Chúa). "Gia đình" nầy có ba Vị hay ba Ngôi riêng biệt (Vị / Ngôi đồng nghĩa với nhau): Vị thứ nhất là Chúa Cha, Vị thứ hai là Chúa Con, Vị thứ ba là Chúa Thánh Thần, tuy vậy ba Vị chỉ là một Thiên Chúa. (sách bổn cũ ghi: Thiên Chúa nhất Thể tam Vị).
Chính Chúa Giêsu khẳng định chân lý nầy khi Ngài phán: "Thầy với Chúa Cha là một" (Ga 10,30). Vì thế, "ai thấy Thầy là đã xem thấy Chúa Cha" và Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra (kinh tin kính).
Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn nói rõ hơn cho chúng ta biết tình hiệp thông khắng khít giữa Người với Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần: "Tất cả những gì Cha có, đều là của Thầy" (Ga 16,15).
Ngoài ra, Chúa Giêsu còn dạy cho chúng ta biết: "Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người” (Ga 3,35). Rồi "Con yêu Cha nên Con làm mọi sự đúng như Chúa Cha đã truyền dạy" (Ga 14, 31) cho dù phải "vâng lời Chúa Cha trong mọi sự cho đến chết và chết trên thập giá" (Phi 2,8).
Như thế, trong "Gia đình" nầy, tình yêu thương đậm đà thắm thiết giữa ba Ngôi đã liên kết Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần nên một với nhau, thế nên Hội Thánh dạy rằng dù có ba Ngôi, nhưng chỉ có một Chúa.
Thiên Chúa kiến tạo các gia đình nhân loại theo khuôn mẫu ba Ngôi.
Thế rồi, Thiên Chúa đã chọn "Gia đình ba Ngôi" như một khuôn mẫu lý tưởng để dựng nên gia đình Ađam- Evà. Kinh thánh cho biết: "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ" (St 1,27) và đôi vợ chồng đầu tiên nầy tuy gồm hai ngôi vị khác nhau nhưng cũng chỉ là một.
Để trình bày tính cách 'hai mà một' nầy, kinh thánh mô tả cách thi vị như sau: Sau khi tạo dựng Ađam, Thiên Chúa khiến cho ông ngủ say rồi rút xương sườn của ông mà dựng nên E-và rồi dẫn bà đến với ông. Bấy giờ A-đam nói: "Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23). Bởi đó, “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (St 2, 24).
Qua Tin Mừng Mat-thêu, Chúa Giêsu một lần nữa khẳng định với mọi người rằng trong hôn nhân, hai vợ chồng “không còn là hai nhưng chỉ là một xương một thịt” nên không bao giờ được chia lìa. (Mt 19,6).
Thiên Chúa kiến tạo Hội Thánh theo khuôn mẫu ba Ngôi.
Tiếp theo, Thiên Chúa cũng chọn "Gia đình" Ba Ngôi làm khuôn mẫu lý tưởng để dựng nên gia đình thứ ba, rộng lớn hơn nhiều là đại Gia đình Hội Thánh.
Để thực hiện dự án nầy, Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích thánh tẩy để tháp nhập mọi tín hữu vào thân mình Người (như những cành nho được tháp vào thân nho, như bàn tay được tháp vào cơ thể.) Thánh Phao-lô dạy:"Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô. (Ga 3, 27-28). Thế là cả hàng tỉ người tin Chúa và được thanh tẩy trong Đức Giêsu Ki-tô không còn là nhiều nhưng đã hiệp thông nên một: một nhiệm thể Chúa Ki-tô.
Chúa Giêsu lại còn dùng bí tích Thánh Thể để tăng cường sự hiệp thông nầy nên mật thiết hơn. Nhờ hiệp thông với Mình Máu thánh Chúa Giêsu trong thánh lễ, các tín hữu được trở nên đồng huyết nhục với Chúa Giêsu và nên một với nhau.
Chúa Giêsu muốn rằng sự hiệp thông giữa những người con cái Chúa phải bền chặt như sự hiệp thông giữa ba Ngôi. Thế nên, trước khi lìa xa các môn đệ, Ngài thành khẩn cầu xin cùng Chúa Cha: "Lạy Cha, xin cho họ nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha".(Ga 17, 21)
* * *
Trong ngày lễ Chúa ba Ngôi hôm nay, chúng ta hãy quyết tâm chọn “Gia đình ba Ngôi Thiên Chúa” làm mô hình lý tưởng để xây dựng gia đình chúng ta, xây dựng giáo xứ chúng ta thành gia đình yêu thương và hiệp nhất bền chặt như “Gia đình Thiên Chúa ba Ngôi”, nhờ đó mỗi gia đình sẽ trở nên hình ảnh sống động về Thiên Chúa ba Ngôi như lời nhắn nhủ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong thư mục vụ gửi cộng đoàn dân Chúa năm 2002 (số 6):
“Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa ba Ngôi Thiên Chúa.”
 

BaNgôi-307: Dâng lời chúc tụng Ba Ngôi

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào)
‘Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần’ (Kh 1,8a)

Một đan sĩ nọ đã nói: “Nếu ngày xưa Moisen đã không bước vào chỗ tăm tối và mù mịt trên núi Sinai BaNgôi-307

Một đan sĩ nọ đã nói: “Nếu ngày xưa Moisen đã không bước vào chỗ tăm tối và mù mịt trên núi Sinai, ông đã không gặp thấy Chúa. Cũng vậy, nếu chúng ta không thấy mình dốt nát và mù tối khi suy hiểu về Thiên Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ nhận biết được Ngài”. Điều này rất đúng khi chúng ta suy niệm về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi mà Giáo hội hôm nay mừng kính. Đây là mầu nhiệm căn bản nhất của đức tin Công giáo, đồng thời cũng là chân trời vĩ đại và tối tăm nhất đối với đầu óc suy lý của con người. Mầu nhiệm Ba Ngôi rất khó hiểu và thực ra chúng ta không thể hiểu nổi. Khi đối diện trước các thực tại của Thiên Chúa, chúng ta không thể nhận thức bằng lý trí nhưng chỉ có thể trải nghiệm bằng đức tin. Thái độ cần thiết nơi chúng ta không phải là đứng lên cách ngạo nghễ để vắt óc tìm tòi, nhưng phải quỳ gối xuống cách khiêm tốn trong cung chiêm và thờ lạy.
Thực hành đức tin khi tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi.
Trước khi bắt đầu làm bất cứ công việc gì, người Công giáo chúng ta luôn bắt đầu bằng dấu Thánh giá với lời tuyên tín: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Thánh Phaolô thường gửi lời chào thăm đến các cộng đoàn với văn thức xưng tụng Thiên Chúa Ba Ngôi. Giáo hội cũng dùng lại văn thức này để khởi đầu Thánh lễ khi vị linh mục chào chúc cộng đoàn: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em (2 Cor 13,13; Eph 1,2). Chúng ta nhớ lại giai thoại về thánh Augustinô. Khi Ngài đi bách bộ bên bờ biển và suy tư về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Ngài gặp một em bé đang dùng cái vỏ sò để múc nước biển đổ vào một cái lỗ nhỏ tí xíu. Em bé nhắc nhở cho thánh nhân biết rằng, việc lấy một cái vỏ sò bé tí teo đong đầy nước biển xem ra khá xuẩn ngốc, nhưng việc dùng đầu óc chật chội của con người để cố nhét vào cả bầu trời bao la của mầu nhiệm Thiên Chúa còn xuẩn ngốc hơn gấp bội. Vì vậy, đi vào thế giới của mầu nhiệm, chúng ta phải hết sức khiêm tốn và nhận ra những bất toàn nơi đầu óc mình.
Các thánh giáo phụ vay mượn ý nghĩa của 3 lời khuyên phúc âm để minh họa tình yêu đối với Thiên Chúa Ba Ngôi. Sống tinh thần khó nghèo chính là thể hiện niềm tin vào Chúa Cha, đấng quan phòng và luôn yêu thương con cái mình. Đức Khiết tịnh diễn bày tinh thần từ bỏ để sống với một tình yêu thuần khiết theo gương Chúa Giêsu. Sự Vâng phục của người tu sĩ mời gọi chúng ta mở lòng cho Chúa Thánh Thần tác động. Đó chính là ân ban của Thần Khí giúp chúng ta luôn biết tìm kiếm và quy thuận thánh ý của Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng đã mặc khải cho chúng ta về Chúa Cha và về Thần khí tác sinh. Khi Ngài lãnh phép rửa tại sông Giorđan, mầu nhiệm Ba Ngôi từ từ được vén mở, qua tiếng Chúa Cha từ trời vọng xuống và Thánh Thần đậu xuống trên Ngài dưới hình chim bồ câu. Ngoài những điều mà Kinh thánh mạc khải, giáo huấn của Giáo hội cũng đầy ắp những gợi mở cho chúng ta về mầu nhiệm cao cả này. Đây là giáo lý căn bản và chúng ta vẫn thường xuyên tuyên xưng mầu nhiệm ấy mỗi khi chúng ta giơ tay làm dấu Thánh giá để cầu nguyện cùng Chúa Ba Ngôi.
Phẩm tính căn bản của mầu nhiệm Ba Ngôi chính là tình yêu.
Trong lá thư thứ nhất của Thánh Gioan, vị tông đồ đã định nghĩa về Thiên Chúa qua một hạn từ rất đơn giản và cô đọng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,16). Đức Thánh Cha Phanxicô cũng khẳng quyết rằng, ‘Lòng thương xót’ là tên gọi thứ hai của Thiên Chúa, bởi vì thương xót là cách hiển thị rõ nét về tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Khi chiêm niệm về mầu nhiệm Ba Ngôi, chúng ta hãy cảm nghiệm như Thánh Phaolô đã từng diễn tả: “Thiên Chúa đã đổ đầy tình yêu của Người vào tâm hồn chúng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho chúng ta (Rm 5, 5b). Để mặc khải về tình yêu của Chúa Cha, Đức Giêsu đã nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu trần gian đến nỗi đã ban chính con một của Ngài để ai tin vào người Con, sẽ được sống. (Ga 3,16). Vì thế khi chúng ta được rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi, chúng ta bắt đầu sống ơn gọi làm con và khởi đầu sứ vụ thực hành tình yêu như Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đã nói: “Mỗi người chúng ta được trao ban một sứ vụ để chu toàn, đó là sứ vụ của tình yêu”.
Kết luận
Một bữa nọ, Ông Voltaire, một triết gia vô thần đi bách bộ với một anh bạn trên con đường quê ven rừng. Giữa giao lộ có một cây Thánh giá phủ đầy tuyết. Voltaire đã công khai bỏ đạo từ lâu, và hoàn toàn không còn tin vào Thiên Chúa nữa. Ông còn ngạo nghễ chế diễu niềm tin của các Kitô hữu. Nhưng người bạn đang đi với ông lại có niềm tin rất sâu xa. Voltaire chỉ vào cây Thánh giá phủ đầy tuyết và nói với anh bạn: “Đây là hình ảnh của tôn giáo ngày nay. Thiên Chúa của các anh đã bị văn minh khoa học phủ kín mặt mày và niềm tin tôn giáo đã bị sự lạnh lùng băng giá của con người hôm nay che lấp. Vì vậy, Thiên Chúa của các anh không còn lý do để hiện hữu nữa”. Chợt lúc đó, có một cơn gió mạnh thổi đến hất tung chiếc mũ trên đầu Voltaire và quăng xuống đất, đồng thời cơn gió đã làm tan chảy lớp tuyết bao phủ cây Thánh giá. Gương mặt Chúa Giêsu từ từ hiện lộ một cách rõ nét. Người bạn của Voltaire lúc đó mới trả lời ông:”Này bạn, đây mới là hình ảnh đích thực của niềm tin tôn giáo ngày hôm nay. Cho dù con người vẫn lạnh lùng và chai cứng như lớp tuyết trắng che kín Thánh giá, nhưng sức mạnh của Thiên Chúa vẫn dư sức hất tung sự kiêu ngạo của con người và làm tan chảy sự lạnh lùng nơi con tim sỏi đá của mọi người. Ngài luôn hiện hữu cho dù con người vẫn đang ra sức loại trừ Ngài”.
Một nhà tu đức đã nói: “Chúng ta hãy kiếm tìm Thiên Chúa chứ đừng tìm nơi ở của Ngài”. Chúa ở khắp mọi nơi và đang ở trong tâm hồn mỗi người. Chúng ta hãy không ngừng đi kiếm tìm Ngài.
 

BaNgôi-308: Thiên Chúa là Cha – Lm Giacôbê Tạ Chúc

Tháng năm có ngày của Mẹ, tháng sáu có ngày của Cha. Cha Mẹ sinh con ra, qua bao tháng năm BaNgôi-308

Tháng năm có ngày của Mẹ, tháng sáu có ngày của Cha. Cha Mẹ sinh con ra, qua bao tháng năm nhọc nhằn nuôi con khôn lớn. Ôi tình cha nghĩa mẹ bao là thiết tha.
Người công giáo gọi Thiên Chúa là Cha, nhưng trong bóng dáng của người cha đó, vẫn đong đầy tình mẹ chứa chan. Thiên Chúa là Phụ tử và Ngài cũng là Mẫu tử. Lễ Chúa Ba Ngôi diễn tả một cách tròn đầy một Thiên Chúa duy nhất nhưng phong phú trong đa dạng: Ngài là Cha-Con-Thánh Thần. Nơi Ngài vừa là tình yêu của một người Cha, nhưng không hề thiếu vắng tấm lòng bao la của một người Mẹ.
Như ánh mặt trời cùng lúc cho vạn vật ánh sáng, sức nóng dù nó cách chúng ta đến 150 triệu cây số. Thiên Chúa Ba Ngôi hoạt động và mang lại ân sủng cho con người. Chúa Cha tác thành vạn vật, Ngài sai Người Con nhập thể để cứu vạn chúng sinh. Chúa Thánh Thần được Chúa Giê-su sai đến để soi sáng và thánh hóa con người. Thật vậy, từ đầu lịch sử của công trình sáng tạo, Ba Ngôi Thiên Chúa đã cùng hoạt động, với nhau, cho nhau và vì nhau. Mặc dù trong cựu ước, chưa có một sự quả quyết rõ ràng về Thiên Chúa Ba Ngôi, bởi lẽ, não trạng của dân Do Thái là niềm tin độc thần. Hãy tưởng tượng người nhạc sỹ sáng tác một bản nhạc, anh ta viết ở cung đô trưởng, muốn đánh hợp âm đô trưởng cùng một lúc người ta phải kết hợp một loạt ba note: đô-mi-sol. Ba note tạo thành một hợp âm đô trưởng, khi hát lên bản nhạc nghe du dương vô cùng. Niềm tin vào Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi do chính Đức Giê-su truyền dạy. Giáo Hội qua rất nhiều công đồng đã khẳng định một cách xác tín về điều này. Các Công Đồng quan trọng nhất đã định tín về chân lý này là công đồng Ni-xê-a năm 325, Công Đồng Constantinopoli năm 381, công đồng Latran IV năm 1215, công đồng Lion II năm 1274, công đồng Floren năm 1439. Dùng lý lẽ hạn hẹp của mình để đào sâu chân lý về Thiên Chúa là điều khó khả thi, nhất là những ai có ý định đem khoa học để giải thích sự hiện diện của Thiên Chúa thì quả là một điều khó hơn “ mò kim đáy biển”. Cũng giống như một người muốn ôm hết biển cả vào lòng, nhưng khi nhảy vào đại dương và bơi vào trong biển khơi thì ngày càng mịt mù ngăn cách. Chỉ trong niềm tin và tình yêu, chúng ta mới có thể thấy Thiên Chúa không đơn độc, ở Ngài tình yêu làm phát sinh muôn điều thiện hảo, và điều thiện hảo lớn lao quá đỗi là khi Thiên Chúa đã ban chính con một mình cho chúng ta. Tình yêu có Ngôi vị của Ngài là nguồn cảm hứng dạt dào để Thiên Chúa như một họa sỹ tài ba, đã vẽ nên một bức tranh tuyệt vời là vũ trụ và con người, nó không ở thể tĩnh mà luôn động. Một khi đặt con người vào trong vũ trụ, Thiên Chúa muốn bộc bạch cho con người thấy, nơi Ngài, tình yêu chính là điểm phát xuất Mầu Nhiệm Ba Ngôi.
Tuyên xưng đức tin vào Chúa Ba Ngôi là nét đẹp của hiệp nhất trong những khác biệt. Mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Nhìn mầu nhiệm Ba Ngôi từ góc cạnh của đức mến, tức là nhìn từ lăng kính của tình yêu. Người tín hữu không biết đến yêu thương thì cũng hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa. Vì “Ai không yêu thì không biết Thiên Chúa". Chỉ những ai dám sống và dám chết cho tình yêu, mới được ở lại trong Thiên Chúa. Chỉ những ai dám tự hiến và trao ban cho anh em mới là những chứng nhân của một Thiên Chúa Tình Yêu.
 

BaNgôi-309: Thiên Chúa Tam vị nhất thể

(Suy niệm của Lm Giacôbê Tạ Chúc)

Mỗi lần đọc kinh, hay đi tham dự thánh lễ, mỗi người Kitô hữu đều biết làm dấu Thánh Giá trên mình: BaNgôi-309

Mỗi lần đọc kinh, hay đi tham dự thánh lễ, mỗi người Kitô hữu đều biết làm dấu Thánh Giá trên mình: “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần, Amen”.
Cách tuyên xưng Mầu nhiệm Ba Ngôi rất đơn giản và rất hiện sinh trong đời sống bình thường khi thờ phượng một Chúa: Cha-Con-Thánh Thần, mà chúng ta đã thể hiện.
Sách Giáo lý công giáo dạy rằng: “Người Kitô hữu được rửa tội” nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Trước khi lãnh nhận Bí tích, họ phải trả lời ba lần “Tôi tin” để đáp lại những câu thẩm vấn về đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đức tin của mọi Kitô hữu đều dựa trên mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi (số 232). Trong dòng chảy của lịch sử cứu độ, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chỉ được tỏ tường trong những lời dạy của Đức Kitô: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9). Chúa Giêsu luôn khẳng định Ngài làm theo ý của Cha, và Ngài với Cha là một. Cuộc vượt qua của Chúa Giêsu không phải là một dấu kết của một bản nhạc mà là khởi đầu của một sáng tác mới trong Thần Khí của sự thật: “Thầy sẽ xin cùng Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14, 16). Rõ ràng Chúa Giêsu là một Mạc khải trọn vẹn về một Thiên Chúa duy nhất-Ba Ngôi. Chúa Cha là tình yêu, mà tình yêu thì phải có đốii tượng để trao ban, đối tượng đó chính là Chúa Giêsu. Tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con là một tình yêu trao dâng và hướng về. Tình yêu ấy đạt trọn vẹn dưới tác động của Thần Khí, hay tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con nhiệm sinh Chúa Thánh Thần. Bức Icône “Ba Ngôi” của Rubliov đạt tới mức kỳ diệu của ảnh đạo, khi ông diễn tả một khía cạnh thâm sâu của Mầu Nhiệm Ba Ngôi: Ba Ngôi hòan tòan hướng về nhau. Như thế Thiên Chúa không cô độc trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi. Từ tình yêu giữa các Ngôi vị, mà Thiên Chúa đã tác thành con người để chia sẻ tình yêu cho chúng ta. Ba Ngôi vị hướng về nhau trọn vẹn, kết hợp với nhau và là Một với nhau. Ba Ngôi vị có cùng Bản Thể với nhau nhưng không phải là một Bản Thể đóng kín, một Bản Thể cá vị, mà là một Bản Thể mở rộng. Nhờ thế mà con người được đưa vào trong chính cung lòng của Ba Ngôi Huyền Nhiệm.
Tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi không là một trạng thái Tĩnh, nhưng luôn ở dạng Động. Tham dự vào đời sống Ba Ngôi, đó là nền tảng của sự hiệp thông trọn vẹn vào đời sống của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mỗi lần cử hành mầu nhiệm vượt qua, chúng ta tiến tới cuộc khổ nạn và Phục sinh vinh hiển nhờ Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần, tiến tới Chúa Cha (per Christum in Spiritu Sancto ad Patrem).
 

BaNgôi-310: Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Thiên Chúa

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

Mùa Phục Sinh kết thúc với đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Giáo hội nhìn lại chương trình cứu BaNgôi-310

Mùa Phục Sinh kết thúc với đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Giáo hội nhìn lại chương trình cứu độ được Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử nhân loại và nhận ra rằng: nguồn ơn cứu độ chính là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, chúng ta hiểu tại sao ngày Chúa nhật mùa Thường niên tiếp ngay sau lễ Hiện Xuống, luôn luôn được Giáo hội mừng kính và suy niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Giáo Hội là công trình của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài, Giáo Hội sinh ra; nhờ Ngài, Giáo Hội hoạt động; và hướng tới Ngài, Giáo Hội dấn bước. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nắn đúc nên Giáo Hội theo lòng Ngài mong ước. (Thư Chung 2011, Số 19).
Giáo hội được Chúa Cha tập hợp chung quanh Chúa Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Là dân tộc lữ hành, Giáo hội phát xuất từ Chúa Cha, sẽ trở về với Chúa Cha, nhờ trung gian của Chúa Kitô, dưới hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính từ mầu nhiệm Ba Ngôi mà Giáo hội được sinh ra và cũng từ Thiên Chúa mà Giáo hội lãnh nhận sứ mạng để tất cả nhân loại làm thành một Dân Thiên Chúa, tập họp thành Thân Thể Chúa Kitô, được xây dựng thành Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Giáo hội như là hình ảnh của mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thần Linh và Giáo hội là dấu chỉ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại (x. GH1; GLCG số 772). Ba Ngôi là cội nguồn và là cùng đích của Giáo hội. Giáo hội là công trình của Ba Ngôi. Giáo hội nuôi sống con cái mình bằng thần lương Ba Ngôi ban tặng qua các bí tích.
1. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo.
Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người, ngay cả óc tưởng tượng của con người, cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một vấn đề, càng không phải là một vấn đề toán học. Mầu nhiệm không phải là vấn đề hay bài toán: 3 là 3; 1 là 1. Không tính với bài toán nào mà 1 là 3 hay 3 thành 1 được. Thiên Chúa không phải là những con số. Không thể làm trò ảo thuật hay lý luận đưa ngón tay ba đốt hay hình tam giác mà ví von được.
Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này? Chính Chúa Giêsu Kitô. Nếu Chúa không dạy bảo thì loài người không thể nào biết được. Cho tới trước khi Chúa Kitô đến, loài người không có một ý niệm nào. Dân Do thái, dân riêng của Chúa, cũng không biết gì về mầu nhiệm Ba Ngôi. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần. Ngài đã từng bước vén lên bức màn của mầu nhiệm Ba Ngôi.
Ngài cho biết: Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, cùng bản tính với Chúa Cha. Ngài cũng là Thiên Chúa. Ngài với Chúa Cha là một Thiên Chúa.
Ngài cũng cho biết: Chúa Thánh Thần là Đấng mà Chúa Cha sai đến, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau chứ không phải là ba Chúa.
2. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm Tình Yêu.
Tại sao Chúa Giêsu lại mạc khải cho chúng ta một mầu nhiệm quá cao siêu như thế? Chắc chắn không phải là để thử thách thiện chí của con người, hoặc để xây lên bức tường chặn đứng suy luận và óc tưởng tượng của con người. Nhưng vì Chúa muốn chúng ta hiểu biết đời sống nội tại của Thiên Chúa, đó là tình yêu. Thiên Chúa là Tình yêu. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nói lên điều đó.
Thiên Chúa là Tình yêu. Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một công thức khác để nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, ban cho con người được hạnh phúc như Chúa. Nhưng con người đã phạm tội phản nghịch đánh mất hạnh phúc. Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban Con Một yêu dấu để cứu chuộc. Và vì yêu thương con người, Đức Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian thực hiện sứ mệnh yêu thương đó. Và khi hoàn tất, Ngài về trời. Chúa Thánh Thần đến để tiếp tục công việc của Ngài, công việc yêu thương. Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được bày tỏ mãi cho tới chúng ta hôm nay và mãi về sau nữa.
Vì thế, khi mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Như tình yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa đã trào tràn trên mọi thụ tạo, thì tình yêu thương của người Kitô hữu cũng vậy, phải mở ra cho hết mọi người. Sống yêu thương là cách diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa; đồng thời cũng diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi: yêu thương và hiệp nhất.
3. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm gần gũi nhất trong đời sống đạo.
Trước khi dùng cơm, phần lớn trong chúng ta đều làm dấu thánh giá và đọc nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Khi đọc kinh trong nhà thờ hay tại nhà, chúng ta đều bắt đầu bằng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Có những người có thói quen tốt là trước khi làm bất cứ việc gì, họ đều làm dấu thánh giá. Qua đài truyền hình, thỉnh thoảng chúng ta thấy, có những cầu thủ bóng đá quốc tế làm dấu thánh giá sau khi đá lọt lưới đối phương, hoặc trước khi đá phạt đền.
Làm dấu trên trán, chúng ta tuyên xưng Chúa Cha là Đấng tạo dựng trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Làm dấu trên ngực, chúng ta tuyên Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và đã làm người. Làm dấu trên hai vai chúng ta tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Chúa và Đấng ban sự sống, Người bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Dấu chữ thập mà chúng ta làm chỉ thánh giá của Chúa Giêsu, nơi mạc khải trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với nhân loại.
Dấu thánh giá là lời tuyên xưng đức tin vắn tắt nhất của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác. Lời kinh nhân danh Cha và Con và Thánh Thần tóm tắt đức tin mà chúng ta đã nhận lãnh khi chịu phép rửa tội, mà nội dung là ba điều khoản lớn của đức tin công giáo, điều khoản thứ nhất tuyên xưng Chúa Cha, điều khoản thứ hai tuyên xưng Chúa Con, điều khoản thứ ba tuyên xưng Chúa Thánh Thần và Hội thánh. Như vậy cách thực tế và đơn giản nhất để tôn vinh Chúa Ba Ngôi là chúng ta hãy làm dấu thánh giá cách sốt sắng và ý thức, với tất cả lòng yêu mến và kính trọng.
Đi sâu hơn chút nữa, chúng ta càng thấy mầu nhiệm Ba Ngôi thật gần gũi và thật là cao cả. Thánh Augustinô đã nói: "Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Chúa Ba Ngôi".
Chúng ta có thấy tình yêu không, và thấy như thế nào? Tình yêu được nhìn thấy qua những hành vi yêu thương.
Yêu thương là ban tặng: khi yêu người ta trái tim của mình cho người yêu. Yêu thương sâu đậm là cho đi điều quý báu nhất cho người mình yêu, như trường hợp của Chúa Cha mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin mừng Gioan: " Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian" (Ga 3, 16). Hay chính trường hợp của Chúa Giêsu: " Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người dám thí mạng sống vì bạn hữu" (Ga 15, 13). Yêu thương là cho đi chính mình, là tự hiến chính mình. Vợ chồng yêu thương nhau, dâng hiến bản thân cho nhau, kể cả thân xác mà không chút e dè, trái lại còn hạnh phúc nữa. Cha mẹ và con cái yêu thương nhau có thể hy sinh mạng sống mình cho nhau.
Yêu thương là chia sẻ: yêu nhiều, người ta chia sẻ cho nhau nhiều, yêu nhau hết mức thì người ta chia sẻ cho nhau tất cả. Vợ chồng yêu nhau chia sẻ cho nhau tất cả, từ của cải vật chất đến gia sản tinh thần, đến cả tình gia đình. Ông bà cha mẹ của chồng trở thành ông bà cha mẹ của vợ và ngược lại. Trong Thiên Chúa cũng thế, Ba Ngôi Thiên Chúa chia sẻ cùng một sự sống thần linh. Và chính sự sống thần linh duy nhất làm cho Ba Ngôi là một. Chúa Cha đã sai Chúa Con mang sự sống thần linh ấy xuống trần gian chia sẻ cho nhân loại. Sự sống ấy là Bánh bởi trời mà chúng ta nhận lãnh trong bí tích Thánh Thể.
Yêu nhau là đón nhận nhau. Đón nhận tình yêu và ý muốn của người mình yêu, đón nhận tất cả, đón nhận chính bản thân của người yêu. Người được yêu có vị trí quan trọng trong trái tim của người yêu. Suy nghĩ về tình yêu giữa Chúa Con và Chúa Cha, chúng ta sẽ thấy ở trần gian này, không có sự đón nhận nào trọn vẹn như thế. Chúa Con đón nhận tất cả từ Chúa Cha: giáo lý, ý muốn, lời nói, hành động. Chúa Con đón nhận chính bản thân Chúa Cha làm bản thân của mình, vì vậy mà đồng bản thể với Chúa Cha.
Yêu nhau còn là gắn bó với nhau. Càng yêu nhau càng gắn bó mật thiết đến nỗi là một với nhau. Hai vợ chồng yêu nhau ở mức độ cao nhất thì trở nên một: một xương thịt, một thân mình. Bấy giờ tình yêu vợ chồng không những là dấu chỉ hữu hình của tình yêu Chúa Giêsu đối với Giáo Hội, mà còn là dấu chỉ của tình yêu Ba Ngôi. Ba Ngôi gắn bó với nhau đến nỗi là Một với nhau. Và chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, Thiên Chúa là Tình Yêu nguồn suối, mẫu mực cho mọi tình yêu của con người (ĐGM Bùi Văn Đọc).
Hôm nay chúng ta mừng mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi. Gọi là mầu nhiệm vì đó là điều vượt quá trí hiểu của loài người. Tuy chúng ta không thể hiểu thấu mầu nhiệm đó, nhưng may thay qua Chúa Giêsu, chúng ta thấy được biểu hiện của mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm của tình yêu.
Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương. Chúng ta chỉ được hạnh phúc khi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng tội lỗi làm cho chúng ta xa lìa tình yêu của Chúa. Sự ghen ghét hận thù làm cho khuôn mặt chúng ta lem luốc méo mó, không còn giống khuôn mặt Thiên Chúa.
Hôm nay ta hãy biết sống theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi. Biết sống hiệp nhất với nhau. Biết dâng hiến bản thân mình, biết cho đi, biết chia sẻ, biết sống chan hoà tình bác ái. Để thực hiện những điều ấy, ta phải biết bỏ mình, bỏ sở thích riêng, bỏ của cải và nhất là phải biết bỏ ý riêng, hoàn toàn sống theo thánh ý Thiên Chúa. Khi biết bỏ mình như thế, ta sẽ nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Khi hoàn toàn quên mình để sống cho tình yêu ta sẽ được kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là hạnh phúc thiên đàng. Đó chính là đích điểm của đời chúng ta.
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, xin cho chúng con biết sống yêu thương để chúng con luôn thấy Chúa hầu chúng con ngày càng trở nên giống hình ảnh của Chúa. Amen.
 

BaNgôi-311: Suy Niệm Lễ Chúa Ba Ngôi

(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)

Trong các bổn phận chính mà người Kitô hữu phải làm, việc trước tiên là tin những gì Thiên Chúa BaNgôi-311

Trong các bổn phận chính mà người Kitô hữu phải làm, việc trước tiên là tin những gì Thiên Chúa truyền và Giáo Hội thay mặt Chúa dạy. Trong những điều phải tin, quan trọng hơn cả là các sự Mầu nhiệm, trong đó có Mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng lễ hôm nay.
Trong bài suy niệm này, xin được gởi mở mấy điểm sau đây: Mầu nhiệm là gì? Nội dung Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là gì? Chính Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta biết Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi? Ta có bổn phận nào đối với Thiên Chúa Ba Ngôi?
1. Mầu nhiệm là gì?
Mầu nhiệm, là những sự thật siêu nhiên vượt quá khả năng hiểu biết của con người. Nhìn nhận có những mầu nhiệm không phải là phủ nhận trí khôn của con người, nhưng trái lại là chấp nhận trí khôn của con người thua kém sự khôn ngoan của Thiên Chúa.
Một hôm, Thánh Augustinô đi dạo trên bãi biển giữa cảnh trời đất bao la, biển rộng mênh mông suy nghĩ về Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Bỗng Ngài thấy một em bé trai đang loay hoay chạy đi chạy lại, tay cầm một cái vỏ sò chạy đi múc nước biển đổ vào một cái lỗ nhỏ trên cát.
Dừng lại quan sát em bé hồi lâu, Thánh nhân liền đến hỏi:
- Bé ơi! bé đang làm gì đó?
- Cháu muốn múc hết nước biển đổ vào cái lỗ này cho đầy.
Thánh nhân nhìn em bé mỉm cười dịu dàng nói:
- Cháu không thể làm như vậy được đâu!
- Chú bé đáp lại: Vậy mà cháu làm việc này còn dễ hơn việc ông đang nghĩ.
Nói xong, chú bé biến mất.
Lúc này thánh nhân mới bừng tỉnh và nhận ra rằng: Thiên Chúa nhắc cho biết trí khôn loài người không thể nào hiểu thấu đáo hết được Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
2. Nội dung Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là gì?
Một là trong Thiên Chúa có ba ngôi khác biệt nhau. Hai là mỗi một ngôi cũng là Thiên Chúa. Ba là ba ngôi đều bằng nhau. Bốn là ba ngôi chỉ làm thành một Thiên Chúa.
Vì là mầu nhiệm nên chúng ta không thể hiểu. Tuy không hiểu, nhưng chúng ta tin, vì Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta.
3. Chính Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta biết về Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi?
Thời Cựu Ước, khi nhân loại chưa sẵn sàng đón nhận, nên Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chưa được tỏ bày một cách rõ rệt, có chăng thì cũng chỉ tỏ bày một cách mờ nhạt. Chẳng hạn, tiên tri Isaia nghe được tiếng các Thiên thần ca tụng Thiên Chúa rằng: “Thánh, Thánh, Thánh...Chúa là Thiên Chúa các đạo binh” (x. Is 6,3). Trong sách Sáng Thế cũng tường thuật lại việc Thiên Chúa tạo dựng con người rằng: “Chúng ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh chúng ta...” (St 1,26). Cụm từ “Chúng ta” ở số nhiều, có ý chỉ về Thiên Chúa Ba Ngôi.
Sang thời Tân Ước, khi nhận thấy con người đã sẵn sàng đón nhận, nên Chúa Giêsu đã mạc khải Mầu nhiệm này một cách rõ ràng, có khi mặc khải từng ngôi vị, có khi mạc khải hai ngôi vị, có khi mạc khải cả ba ngôi vị.
Mạc khải từng ngôi một:
Hai dẫn chứng tiêu biểu sau đây, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta về Chúa Cha: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11,25-26); “Lạy Cha, sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô” (x. Ga 17,1; 3).
Chúa Giêsu cũng mạc khải cho chúng ta về Chúa Con, khi Ngài xác nhận lời tuyên xưng của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (x. Mt 16,13-18). Ngài còn tự nhận mình là Con Thiên Chúa và ngang bằng với Thiên Chúa (Ga 10, 22-39).
Chúa Giêsu cũng cho chúng ta biết có một Đấng Bảo Trợ khác đó là Chúa Thánh Thần (x. Ga 16,5-10), Ngài được sai đến để trợ giúp và thánh hoá chúng ta (x. Ga 16,13-15).
Mạc khải cả ba ngôi Thiên Chúa:
Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan: “Đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (x. Lc 3,21-22).
Ngày Chúa Giêsu lên trời, Ngài dạy các Tông đồ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19).
4. Người Kitô hữu phải có bổn phận gì đối với Thiên Chúa Ba Ngôi?
Chúa Cha đã dựng nên chúng ta, Chúa Con đã cứu chuộc chúng ta và Chúa Thánh Thần thánh hoá chúng ta. Mỗi người Kitô hữu chúng ta đều mang ơn Thiên Chúa Ba Ngôi và luôn cần đến Ngài. Vì vậy, để tỏ lòng tôn kính, chúng ta cần phải làm những việc sau đây:
Thứ nhất, luôn giục lòng tin có Chúa Ba Ngôi ngự trong linh hồn ta, luôn cầu nguyện và kết hiệp với Ngài, sống đúng với lương tâm ngay thẳng, xa tránh các tội lỗi, làm nhiều việc lành…Để xứng đáng là đền thờ Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị.
Thứ hai, hãy năng làm dấu Thánh giá, làm một cách cung kính: Làm dấu Thánh giá trước khi đi ngủ, khi vừa mới thức dậy; Làm dấu Thánh giá trước và sau khi ăn cơm, trước và sau các giờ kinh nguyện; Đặc biệt khi gặp sự khốn khó, khi bị cám dỗ về đàng trái…Hãy làm dấu thánh giá để kêu cầu Thiên Chúa Ba Ngôi phù trợ và gìn giữ chúng ta. Thánh Antôn lần kia đang cầu nguyện thì bị cám dỗ về đàng trái, Ngài lấy lòng sốt sắng vạch hình thánh giá trên nền nhà thờ, lập tức hình thánh giá in đậm trên nền nhà thờ và ma quỷ bỏ chạy, còn Ngài được thoát khỏi cơn cám dỗ.
Thứ ba, hãy bắt chước Thiên Chúa Ba Ngôi sống hiệp nhất yêu thương. Tuy Chúa Cha là Đấng Tạo Dựng, Chúa Con là Đấng Cứu Chuộc, Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hoá. Nhưng trong việc tạo dựng, cứu chuộc và thánh hoá đều có sự hiện diện của Ba Ngôi. Chúa Giêsu đã từng nói: "Thầy với Chúa Cha là một" (Ga 10,30) ; "Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy" (Ga 16,15) ; “Tất cả những gì của Con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của Con” (Ga 17,10). Trước khi về trời, Ngài khẩn thiết cầu xin Chúa Cha cho các môn đệ và những người theo Ngài được hiệp nhất nên một với nhau (x. Ga 17, 21-23). Vậy, chúng ta hãy noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi biết sống hiệp nhất yêu thương: Hiệp nhất nên một giữa vợ chồng; Hiệp nhất giữa các thành viên trong gia đình: "Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa" (Thư chung HĐGMVN 2002, số 6); Hiệp nhất giữa các thành viên trong cộng đoàn; Hiệp nhất giữa mọi thành phần trong Hội Thánh. Thánh Phaolô dạy: "Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô. Không còn chuyện phân biệt Dothái hay Hylạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3, 27-28). Trong bài giảng sáng ngày 12-5 vừa qua, tại Nguyện đường Nhà trọ Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Sự hiệp nhất của cộng đoàn Kitô, của gia đình Kitô, là một lời chứng cho sự thật rằng Chúa Cha đã gởi Con mình đến thế gian”.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, xin cho chúng con luôn biết tin kính và yêu mến Chúa. Xin cho moi thành phần trong Hội Thánh luôn biết cộng tác với nhau, sống hiệp nhất yêu thương để càng ngày càng diễn tả rõ nét hình ảnh hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi trong gia đình, trong cộng đoàn giáo xứ và Giáo Hội. Amen.
 

BaNgôi-312: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Chúa nhật tiếp theo lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta long BaNgôi-312

Chúa nhật tiếp theo lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta long trọng cử hành và tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi Rất Thánh. Giáo hội giúp chúng ta nhận biết và tôn thờ Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể và uy quyền bằng nhau. Chúa Cha là Thiên Chúa độc nhất. Chúa Con sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con tự đời đời như một Nguyên lý duy nhất, Ba Ngôi nhưng là Một Thiên Chúa. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần hòa quyện vào nhau một cách hoàn hảo trong Tình Yêu và hành động, cùng tác động trên thế giới. Đây là Một trong những mầu nhiệm cao cả nhất của đức tin chúng ta. Quả thật, Giáo hội muốn rằng, sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống chúng ta phải đi loan báo Thiên Chúa thật cho mọi người, không kể là Do thái hay dân ngoại, cho họ biết Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa Ba Ngôi hiệp nhất trong Tình Yêu và ca lên: “Chúc tụng Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, vì Người hằng thương xót chúng ta”. (Ca nhập lễ)
Một trong những mầu nhiệm người tín hữu phải tin cho được rỗi linh hồn là mầu nhiệm Một Đức Chúa Trời có Ba Ngôi. Nhưng làm sao chúng ta có thể mô tả đủ hay hiểu biết về Thiên Chúa Ba Ngôi này. Ai có thể giúp ta thấy được khuôn mặt thực của Thiên Chúa? Ai sẽ chỉ cho ta con đường để gặp gỡ Ngài? Tự sức trí khôn con người là không thể. Phải nại đến Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, qua Ngài mầu nhiệm Thiên Chúa được vén mở, nhờ Ngài mà chúng ta biết có một Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị là Cha, Con và Thánh Thần.
Thánh Augustinô viết: Thiên Chúa là một mầu nhiệm mà con người không thể nào thấu hiểu được.
Đúng, Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm vĩ đại, sâu thẳm, chúng ta không thể nào diễn tả được. Trí tuệ và miệng lưỡi con người không tài nào giải thích được những mối tương quan giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần; tuy nhiên các giáo phụ đã tìm cách diễn tả nội dung chính yếu đức tin của người kitô hữu chúng ta, một trong những cách đó là Dấu Thánh Giá: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Thường ngày, chúng ta làm Dấu Thánh Giá rất nhiều lần, khởi đầu ngày mới cho đến khi đi ngủ, bước vào nhà thờ cho đến lúc nhận lãnh phép lành, trước và sau khi ăn, khi đi ngang qua Thánh Giá, vườn thánh, trước cơn cám dỗ nguy hiểm ...Dấu Thánh Giá bao trùm toàn thân ta, thể xác và linh hồn; tất cả con người ta được thánh hiến nhân danh Một Chúa Ba Ngôi. Vì thế, Dấu Thánh Giá gói ghém lời tuyên xưng đức tin và nền tảng cầu nguyện của chúng ta.
Dấu Thánh Giá là dấu kẻ có Đạo.
Đức Giêsu đến trần gian nhằm cứu chuộc chúng ta, Người đã chết trên Thánh Giá để trao ban sự sống cho chúng ta. Chính nhờ hy tế của Người trên Thánh Giá mà chúng ta là những người “kitô hữu”, nghĩa là thuộc về Đức Kitô. Dấu Thánh Giá là dấu chỉ người kitô hữu. Chính nhờ dấu này mà chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, đã đến thế gian để cứu chuộc chúng ta.
Trong năm Phụng vụ, có hai thời khắc giúp người kitô hữu ý thức về giá trị của Dấu Thánh Giá.
- Mùa Phục Sinh chỉ cho chúng ta rằng chúng ta được cứu chuộc nhờ cây Thánh Giá.
- Chúa nhật lễ Chúa Ba Ngôi, giúp chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi khi làm Dấu Thánh Giá trên mình.
Dấu Thánh Giá là dấu của người chịu phép Rửa tội, người thuộc về Chúa. Khi chịu phép Rửa tội, chúng ta được “vẽ” và “ghi” dấu Thánh Giá. Dấu này bề ngoài không thể thấy được, nhưng in trong tâm hồn người kitô hữu. Đồng thời cũng là hành động Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.
Hành động Đức Tin
Dấu Thánh Giá là tóm lược Ba Mầu Nhiệm Cả trong Đạo Công giáo.
1 – Chúng ta vẽ Dấu Thánh Giá trên mình, vì Chúa Giêsu đã mặc lấy thân xác người phàm đến để cứu chuộc ta. Đây là mầu nhiệm Nhập Thể.
2 – Dấu Thánh Giá nhặc lại rằng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã chết trên Thánh Giá để cứu chuộc chúng ta: Đây là mầu nhiệm Cứu Chuộc. Thánh Giá là chiến thắng của Đức Giêsu trên sự dữ và ma quỉ. Chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa nhờ hy tế của Chúa Giêsu trên Thánh.
3 – Dấu mà chúng ta vẽ trên mình kèm theo lời đọc: “ Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần “. Chúng ta khẳng định mầu định Thiên Chúa Ba Ngôi.
Hiểu như thế sẽ giúp chúng ta làm dấu Thánh giá nghiêm túc hơn.
Hành động của Đức Cậy.
Niềm hy vọng của chúng ta, chính là về Trời. Như các thánh, đã ái mộ những sự trên Trời. Chính vì Đức Giêsu đã đến trần gian để cứu độ chúng ta nên chúng ta có thể về Trời. Khi vẽ trên mình Dấu Thánh Giá, chúng ta nhớ đến cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh Giá để cứu chúng ta, Ngài đã mở cửa Trời cho chúng ta.
Vậy, chúng ta khẳng định với nhau rằng, cuộc sống lữ hành của chúng ta là đi về Trời nơi chúng ta hy vọng sẽ tới sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế.
Hành động Đức Mến.
Thánh Giá gốm hai thanh gỗ ngang và dọc. Thanh dọc trình bầy tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa, thanh ngang diễn tả tình yêu của chúng ta đối với “tha nhân“.
Cần phải ghi nhận rằng khi được đưa lên khỏi đất, thanh dọc của cây Thánh Giá đỡ lấy thanh ngang: điều đó ngụ ý rằng tình yêu của chúng ta đối với tha nhân được “nâng đỡ” bởi tình yêu Thiên Chúa.
Nếu thanh dọc của cây Thánh Giá thiếu (tình yêu Thiên Chúa), thanh ngang bị bỏ nằm trên đất, không thể đưa lên khỏi đất. Chúng ta muốn nói rằng trong hành động của đức Ái: “yêu tha nhân là yêu chính Chúa“.
Nhưng nếu có thanh dọc mà không có thanh ngang, (yêu tha nhân), hỏi rằng có còn là cây Thánh Giá nữa hay không?
Hai điều cần thiết là: “mến Chúa và yêu người”. Mỗi ngày chúng ta làm dấu trên mình nhiều lần: "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Ước gì chúng ta cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi, Thiên Chúa Tình Yêu trong cuộc đời ta, để chúng ta không ngừng kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Amen.
 

BaNgôi-313: Thần Khí Sự Thật – Lm. FX Vũ Phan Long

1.- Ngữ cảnh

Sách về Giờ của Đức Giêsu” của TM Ga kéo dài từ ch. 13 đến ch. 20. “Diễn từ cáo biệt” (ch. 13–17) BaNgôi-313

“Sách về Giờ của Đức Giêsu” của TM Ga kéo dài từ ch. 13 đến ch. 20. “Diễn từ cáo biệt” (ch. 13–17) là phân đoạn đầu tiên của “Sách” này. Chúng ta có thể xác định bố cục của phân đoạn này như sau:
- Bữa ăn cuối cùng (13,1-30);
- Bài diễn từ (phần 1: 13,31–14,31):
a) Dẫn nhập (13,31-38),
b) Phân đoạn 1 (14,1-14),
c) Phân đoạn 2 (14,15-24),
d) Phân đoạn 3 (14,25-31).
- Bài diễn từ (phần 2: 15,1–16,33):
a) Phân đoạn 1 (15,1-17),
b) Phân đoạn 2 (15,18–16,4a): các môn đệ bị bách hại,
c) Phân đoạn 3:
* Đơn vị 1 (16,4b-15): Đấng Bảo Trợ [cc. 5-7; 8-11; 12-15],
* Đơn vị 2 (16,16-33).
- Bài diễn từ (phần 3: 17,1-26):
a) Phân đoạn 1 (17,1-8),
b) Phân đoạn 2 (17,9-19),
c) Phân đoạn 3 (17,20-26).
Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay nằm trong phần hai, phân đoạn 2 và đơn vị 1 của Diễn từ cáo biệt.
2.- Bố cục
Bản văn Ga 16,12-15 có thể chia thành ba phần:
1) Câu chuyển tiếp (16,12);
2) Vai trò của Thần Khí (16,13-14);
3) Tương quan giữa Thần Khí với Chúa Cha và với Đức Giêsu (16,15).
3.- Vài điểm chú giải
- không có sức chịu nổi (12): Dùng động từ Hy Lạp bastazein ở đây cũng lạ. Động từ này thường được sử dụng trong khung cảnh cuộc Thương Khó (19,17; x. Lc 11,46; 14,27; Gl 6,2.5). Bởi vì ý tưởng căn bản là các môn đệ không thể hiểu, mà bastazein lại có nghĩa là “nâng lên, mang, vác, chịu đựng”. Do đó, rất có thể câu nói muốn nói là nhờ Thánh Thần, các môn đệ hiểu biết mạc khải, nhưng cũng tham dự vào cái chết và cuộc tôn vinh của Đức Giêsu (x. 13,7.33).
- Thần Khí sự thật (13): Danh hiệu này đã xuất hiện trong đoạn văn đầu tiên nói về Đấng Bảo Trợ (14,17). Dịch sát là “Thần Khí của sự thật” (“sự thật”, alêtheia ở thuộc-cách). Trong tư tưởng Ga, thuộc-cách này chỉ đối tượng: Thần Khí truyền đạt sự thật, cho dù cũng có thể hiểu là một thuộc-cách đồng-chức-ngữ (apposition) (x. 1 Ga 5,6 [7]: “Thần Khí là sự thật”). Ở đây, câu văn không mô tả yếu tính hay hữu thể của Thần Khí.
- Người sẽ loan báo (13): Động từ anangellein, “loan báo, khai mở, tuyên bố”, xuất hiện ba lần trong các chương 13–15. Ý nghĩa chung của động từ này là “nói lại những gì đã được nói rồi” (ngoại trừ Ga 4,25), bởi vì tiếp đâu ngữ ana- có giá trị như tiếp đầu ngữ re- trong tiếng Anh (re-announce, re-proclaim). Bản LXX, đặc biệt sách Isaia, cũng dùng động từ này theo nghĩa ấy (x. Is 42,9; 44,7; 45,19; 46,10).
- tới sự thật toàn vẹn (13): Trong câu văn hodêgêsei hymas en tê alêtheia pasê, en + tặng-cách cho hiểu rằng đây không phải là đạt tới một chân lý mới, một chân lý vượt quá chân lý thuộc mạc khải của Đức Kitô. Trái lại, đây là nghĩa trọn của chân lý cũng là bản thân Đấng mạc khải.
- những điều sẽ xảy đến (13): Phải chăng sẽ có một mạc khải mới? Thật ra, dựa vào ý nghĩa của anangellein và chiều hướng cánh chung học đã thể hiện của TM IV, có thể nói rằng “loan báo những điều sẽ xảy đến” có nghĩa là giải thích cho mỗi thế hệ thấy những gì Đức Giêsu đã nói và đã làm có một ý nghĩa cho họ hôm nay.
- Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy (15): Trong thần học về Chúa Ba Ngôi, câu này đã được dùng để chứng minh rằng Chúa Con có cùng một bản tính với Chúa Cha; nhưng ở đây tác giả Ga đang nghĩ đến mạc khải được thông ban cho loài người.
4.- Ý nghĩa của bản văn
Chương 16 (cũng như ch. 14 là bản văn đầu tiên nói đến Đấng Bảo Trợ) nói đến vai trò của Đấng Bảo Trợ như là thầy dạy các môn đệ.
* Câu chuyển tiếp (12)
Câu 12 chuyển sang vai trò của Đấng Bảo Trợ là giảng dạy. Đức Giêsu muốn nói gì khi tuyên bố là Người còn nhiều điều phải nói, nhưng vào lúc này, các môn đệ không có sức chịu nổi? Phải chăng Người có ý nói là sẽ có những mạc khải mới sau khi Người chết? Tuy nhiên, Ga 15,15 dường như loại trừ những mạc khải mới: “Tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết”. Câu 12 cũng theo một chiều hướng như vậy: chỉ sau khi Đức Giêsu sống lại, các môn đệ mới hiểu được trọn vẹn những gì đã xảy ra và đã được nói trong thời gian Đức Giêsu hoạt động (x. Ga 2,22; 12,16; 13,7). Lời hứa ban cho các môn đệ hiểu sâu hơn có thể được diễn tả bằng câu “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em”, bởi vì Đức Giêsu sẽ tác động trong và qua Đấng Bảo Trợ mà thông ban sự hiểu biết này. Khó mà có thể khẳng định rằng trong TM IV, có ý tưởng về một sự mạc khải khác nữa sau hoạt đông của Đức Giêsu, bởi vì Người chính là sự mạc khải của Chúa Cha, là Lời của Thiên Chúa (1,1.14.18).
* Vai trò của Thần Khí (13-14)
Ở đây chúng ta được giới thiệu Đấng Bảo Trợ như là vị hướng dẫn các môn đệ đến sự thật toàn vẹn. Trong Cựu Ước, đã có những ý tưởng như thế về Thần Khí (x. Tv 25,4-5 [sự thật]; 143,10 [thần khí]; Is 63,14). Đôi khi người ta nêu vấn nạn là: các bản văn Cựu Ước đó chỉ liên hệ đến việc hướng dẫn luân lý, chứ không liên hệ đến việc hiểu biết mạc khải sâu xa hơn; và như thế dung mạo Đấng Bảo Trợ do Ga phác ra hoàn toàn khác: như vậy, “thần khí”, “đường lối”, “chân lý” trong TM Ga có ý nghĩa hoàn toàn khác. Thật ra đó là bối cảnh Cựu Ước và tác giả TM IV đã đi từ bối cảnh đó để viết; nhưng chắc chắn Đấng Bảo Trợ hướng dẫn trên con đường chân lý không chỉ có nghĩa là đưa đến một hiểu biết sâu sắc hơn bằng lý trí những gì Đức Giêsu đã nói, nhưng còn hàm ý là đưa đến một cách sống phù hợp với giáo huấn của Đức Giêsu. Và như vậy, tư tưởng Ga không xa tư tưởng Cựu Ước như ta tưởng. Ta cũng có thể nghĩ đến vai trò hướng dẫn của Đức Khôn Ngoan (x. Kn 9,11; 10,10); cũng như gương mặt của Đức Giêsu theo Ga được phác ra phỏng theo Đức Khôn Ngoan thần linh được nhân cách hóa, thì dung mạo của Đấng Bảo Trợ cũng được phác ra tương tự.
Đấng Bảo Trợ sẽ hướng dẫn các môn đệ tới sự thật toàn vẹn. Ở Ga 8,31-32, Đức Giêsu đã hứa: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật”. Điều này được nên trọn trong và qua Đấng Bảo Trợ. Dẫn dắt tới sự thật toàn vẹn là dẫn đưa vào mầu nhiệm của Đức Giêsu là Sự Thật (14,6). Chi tiết xác định “sự thật toàn vẹn” (x. 14,26) và điểm nhấn rằng Đấng Bảo Trợ sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng chỉ nói những gì Người nghe, dường như cũng xác nhận rằng không có mạc khải mới. Đấng Bảo Trợ sẽ giúp cho mỗi thế hệ hiểu sâu sắc những gì Đức Giêsu muốn cho chính thời đại họ.
Câu 14 càng củng cố ấn tượng là Đấng Bảo Trợ không mang đến một mạc khải mới, bởi vì Người nhận từ Đức Giêsu những gì Người phải loan báo cho các môn đệ. Tuy nhiên, “dẫn tới sự thật toàn vẹn” không phải là việc duy nhất trong công tác “làm nhớ lại” (14,26). Bởi vì Thánh Thần cũng là “Đấng tạo hóa”, việc nhớ lại Người làm ra cũng đi đôi vối việc loan báo “những điều sẽ xảy đến (erchomena)”: việc nhớ lại không làm cho các môn đệ quay lưng lại với tương lai, nhưng giúp họ nắm lấy và giải thích tương lai.
Như Đức Giêsu đã tôn vinh Chúa Cha (17,4) bằng cách mạc khải Chúa Cha cho loài người, nay Đấng Bảo Trợ “tôn vinh” Đức Giêsu bằng cách mạc khải Người cho loài người. Vinh quang hàm ý có sự tỏ hiện ra hữu hình: Đấng Bảo Trợ sẽ làm chứng và biến người ta thành chứng nhân (15,26-27) cho Đức Giêsu Phục Sinh; như thế Người sẽ giới thiệu công khai Đức Giêsu Phục Sinh đang chia sẻ vinh quang của Chúa Cha (17,5). Và đây cũng là một yếu tố thuộc cánh chung học đã thể hiện: Đối với các TMNL, Con Người sẽ đến trong vinh quang vào Ngày Cuối Cùng (Mc 13,26), còn đối với TM IV, đã có vinh quang rồi do Đức Giêsu hiện diện trong và qua Đấng Bảo Trợ.
* Tương quan giữa Thần Khí với Chúa Cha và với Đức Giêsu (15)
Câu 15 gián tiếp nhắc đến tương quan của Đấng Bảo Trợ với Chúa Cha và với Chúa Con. Ở chương 16 này, ta thấy Đức Giêsu là Đấng sai phái Đấng Bảo Trợ (16,7); nhưng ở 14,16.26, Chúa Cha lại là Đấng sai phái. Nhưng c. 15 cho thấy rằng khi viết ch. 16, tác giả cũng biết rằng cuối cùng Đấng Bảo Trợ, cũng như Đức Giêsu, là sứ giả của Chúa Cha. Khi loan báo hoặc giải thích những gì thuộc về Đức Giêsu, Đấng Bảo Trợ thực sự giới thiệu Chúa Cha cho loài người; bởi vì Chúa Cha và Đức Giêsu có mọi sự chung với nhau. Sau này các nhà thần học Đông phương và Tây phương sẽ tranh cãi trong Thần học về Ba Ngôi xem Thánh Thần nhiệm xuất từ một mình Chúa Cha hay là từ Chúa Cha và Chúa Con. Còn trong tư tưởng Ga, không thể hiểu được chuyện Đấng Bảo Trợ có điều gì nhận lấy từ Đức Giêsu mà lại không nhận lấy từ Chúa Cha, nhưng tất cả những gì Người có để cho loài người, đều nhận lấy từ Chúa Cha và từ Đức Giêsu.
+ Kết luận
Vai trò của Thánh Thần được khẳng định rõ ràng: Người đưa các thế hệ môn đệ vào trong sự thật toàn vẹn, tức là hiểu biết sâu sắc mầu nhiệm Đức Kitô, Con Thiên Chúa Nhập Thể. Như Đức Kitô luôn quy chiếu về Chúa Cha, Đấng đã sai phái Người (x. 7,17-18; 12,49; 14,10), Thánh Thần cũng quy chiếu về Chúa Con. Người sẽ là vị “gia sư” nhắc lại cho các môn đệ tất cả mạc khải của Đức Giêsu và giúp đào sâu qua các thời đại.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Qua bản văn này, chúng ta thấy Đức Giêsu nói về Chúa Cha và Thánh Thần như là những nhân vật riêng biệt, khác với chính bản thân Người. Người giới thiệu Chúa Cha như là nguồn mạch thông ban mọi sự: Chúa Cha sai phái Chúa Con và Thánh Thần; Chúa Con luôn quy chiếu về Chúa Cha để nhận Lời mà truyền đạt cho các môn đệ, cũng như để lấy các quyết định. Chúa Con công chính hóa loài người, ban cho họ sự bình an của Người và ký thác cho họ quyền lực giao hòa. Người nói về Thánh Thần như là một nhân vật mà người ta đang chờ đợi, sẽ đến để hoàn tất một sứ mạng riêng, đó là đưa các môn đệ đến chỗ hiểu kỹ càng hơn trọn vẹn mạc khải Người đã ban. Đàng khác, Người cũng cho thấy là Chúa Cha và Thánh Thần kết hợp mật thiết với Người, đến nỗi Đấng này không làm gì mà không có Đấng kia. Sự tách biệt nói lên tính tự lập, sự kết hợp nói lên sự hiệp thông trọn vẹn. Đây là mẫu mực cho đời sống của mọi tập thể trong Họi Thánh.
2. Mặc dù Đức Giêsu đã truyền đạt cho các môn đệ tất cả các bí mật của Người (Ga 15,15), các ông vẫn chưa hiểu được. Các ông cần một phương pháp thích ứng mà Thánh Thần, với khoa sư phạm riêng, sẽ cung cấp cho. Thánh Thần không phải là một vị thầy giảng dạy, nhưng là một vị “gia sư” giải thích cặn kẽ giáo huấn của vị thầy. Như vậy, Thánh Thần không có giáo thuyết riêng; Người chỉ nhắc lại mạc khải về Chúa Cha nơi Chúa Con và giúp các môn đệ hiểu (14,26). Thánh Thần cũng giúp các thế hệ môn đệ hiểu được mạc khải của Đức Kitô và chọn được các xử sự tương ứng. Đưa lại một ý nghĩa Kitô giáo cho lịch sử, giúp người ta khám phá ra trong mọi sự có dấu vết của chương trình Thiên Chúa, đó là sứ mạng của Thánh Thần nơi các môn đệ, và đó cũng là sứ mạng chứng nhân của họ.
3. Từ ngữ “sự thật” trong truyền thống Kinh Thánh hàm ý “sự vững vàng”, “sự bền bỉ”, “thực tại chắc chắn”. Sự thật của Thiên Chúa được tỏ bày nơi Đức Kitô (Ga 1,9). Vậy điểm tựa vững chắc của người tín hữu là Đức Giêsu Kitô (Ga 1,12). Thánh Thần sẽ giúp các tín hữu xác tín về vai trò này của Đức Giêsu và luôn liên kết với Người.
4. Ba Ngôi là “thẻ căn cước” của người Kitô hữu. Người môn đệ của Đức Giêsu phải phản ánh dung mạo của Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Người ta thấy được dấu ấn Ba Ngôi nơi cộng đoàn khi mọi người được chấp nhận và đón tiếp, khi niềm vui và nỗi buồn được chia sẻ, khi sự đa dạng không xóa mất sự hợp nhất, nhưng làm cho mọi người nên phong phú. Chúng ta thấy được dấu ấn của Ba Ngôi tại bất cứ nơi nào người ta tìm kiếm vinh quang chân thực: không phải là thứ vinh quang do cạnh tranh và thống trị, nhưng do khiêm nhường phục vụ những ai cần được yêu thương.
5. Hôm nay, chúng ta không cử hành một Tín điều của Giáo Hội, nhưng cử hành một mầu nhiệm sâu thẳm là chính Thiên Chúa, Đấng đã chọn cắm lều giữa chúng ta, “là người thật và cũng là Thiên Chúa thật”, đã không để chúng ta mồ côi, nhưng cho chúng ta được chia sẻ sự sống của Thiên Chúa nhờ ân sủng của Thánh Thần. Chính Thánh Thần không ngừng nối kết ta với Thiên Chúa và với tha nhân trong tình yêu. Chính niềm tin về mối tương quan này sẽ mở mắt và giúp ta ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa, như một nhà thần bí nói rằng: “Gần kề với chúng ta hơn cả chính chúng ta”. Giáo lý về Chúa Ba Ngôi nói đến chính tình yêu Thiên Chúa không ngừng đổ tràn trên thế giới này. Đây không phải là ngày để các vị giảng thuyết tìm kiếm những “giải thích hay ví dụ” về Ba Ngôi. Hôm nay không phải để nói về từ ngữ hay cấu trúc, nhưng là cử hành sự hiện diện sống động của Thiên Chúa, Đấng đang cư ngụ giữa chúng ta. Hôm nay, chúng ta ca tụng. Nếu muốn biết thêm về những mâu thuẫn liên quan đến Ba Ngôi vào thời đầu của Giáo Hội và giáo lý này tiến triển ra sao, thì ngày mai chúng ta có thể tìm trong sách vở (Siciliano).
 

BaNgôi-314: BA NGÔI MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Làm dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng Đức Tin, tôn vinh Chúa Ba Ngôi của người Kitô hữu, là BaNgôi-314 Ephata

Làm dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng Đức Tin, tôn vinh Chúa Ba Ngôi của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác.
Mùa Phục Sinh kết thúc với đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Giáo Hội nhìn lại chương trình cứu độ được Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử nhân loại và nhận ra rằng: nguồn ơn cứu độ chính là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, chúng ta hiểu tại sao ngày Chúa nhật mùa Thường niên tiếp ngay sau lễ Hiện Xuống, luôn luôn được Giáo Hội mừng kính và s  uy niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Giáo Hội là công trình của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài, Giáo Hội sinh ra; nhờ Ngài, Giáo Hội hoạt động; và hướng tới Ngài, Giáo Hội dấn bước. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nắn đúc nên Giáo Hội theo lòng Ngài mong ước. ( Thư Chung HĐGMVN 2011, số 19 ).
Giáo Hội được Chúa Cha tập hợp chung quanh Chúa Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Là dân tộc lữ hành, Giáo Hội phát xuất từ Chúa Cha, sẽ trở về với Chúa Cha, nhờ trung gian của Chúa Kitô, dưới hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính từ mầu nhiệm Ba Ngôi mà Giáo Hội được sinh ra và cũng từ Thiên Chúa mà Giáo Hội lãnh nhận sứ mạng để tất cả nhân loại làm thành một Dân Thiên Chúa, tập họp thành Thân Thể Chúa Kitô, được xây dựng thành Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Giáo Hội như là hình ảnh của mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thần Linh và Giáo Hội là dấu chỉ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại ( x. GH 1; GLCG số 772 ). Ba Ngôi là cội nguồn và là cùng đích của Giáo Hội. Giáo Hội là công trình của Ba Ngôi. Giáo Hội nuôi sống con cái mình bằng thần lương Ba Ngôi ban tặng qua các bí tích.
1. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của Đức Tin Kitô giáo
Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người, ngay cả óc tưởng tượng của con người, cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một vấn đề, càng không phải là một vấn đề toán học. Mầu nhiệm không phải là vấn đề hay bài toán: 3 là 3; 1 là 1. Không tính với bài toán nào mà 1 là 3 hay 3 thành 1 được. Thiên Chúa không phải là những con số. Không thể làm trò ảo thuật hay lý luận đưa ngón tay ba đốt hay hình tam giác mà ví von được.
Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này ? Chính Chúa Giêsu Kitô. Nếu Chúa không dạy bảo thì loài người không thể nào biết được. Cho tới trước khi Chúa Kitô đến, loài người không có một ý niệm nào. Dân Do thái, dân riêng của Chúa, cũng không biết gì về mầu nhiệm Ba Ngôi. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần. Ngài đã từng bước vén lên bức màn của mầu nhiệm Ba Ngôi.
Ngài cho biết : Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, cùng bản tính với Chúa Cha. Ngài cũng là Thiên Chúa. Ngài với Chúa Cha là một Thiên Chúa.
Ngài cũng cho biết: Chúa Thánh Thần là Đấng mà Chúa Cha sai đến, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau chứ không phải là ba Chúa.
2. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm Tình Yêu
Tại sao Chúa Giêsu lại mạc khải cho chúng ta một mầu nhiệm quá cao siêu như thế ? Chắc chắn không phải là để thử thách thiện chí của con người, hoặc để xây lên bức tường chặn đứng suy luận và óc tưởng tượng của con người. Nhưng vì Chúa muốn chúng ta hiểu biết đời sống nội tại của Thiên Chúa, đó là tình yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nói lên điều đó.
Thiên Chúa là Tình Yêu. Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một công thức khác để nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, ban cho con người được hạnh phúc như Chúa. Nhưng con người đã phạm tội phản nghịch đánh mất hạnh phúc. Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban Con Một yêu dấu để cứu chuộc. Và vì yêu thương con người, Đức Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian thực hiện sứ mệnh yêu thương đó. Và khi hoàn tất, Ngài về trời. Chúa Thánh Thần đến để tiếp tục công việc của Ngài, công việc yêu thương. Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được bày tỏ mãi cho tới chúng ta hôm nay và mãi về sau nữa.
Vì thế, khi mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Như tình yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa đã trào tràn trên mọi thụ tạo, thì tình yêu thương của người Kitô hữu cũng vậy, phải mở ra cho hết mọi người. Sống yêu thương là cách diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa; đồng thời cũng diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi: yêu thương và hiệp nhất.
3. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm gần gũi nhất trong đời sống đạo
Mầu nhiệm Ba Ngôi thật cao cả và cũng thật gần gũi. Thánh Augustinô đã nói: “Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Chúa Ba Ngôi”. Tình yêu gắn liền với đời sống con người.
Chúng ta có thấy tình yêu không, và thấy như thế nào ? Tình yêu được nhìn thấy qua những hành vi yêu thương.
- Yêu thương là ban tặng: khi yêu người ta trái tim của mình cho người yêu. Yêu thương sâu đậm là cho đi điều quý báu nhất cho người mình yêu, như trường hợp của Chúa Cha mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin Mừng theo Thánh Gioan: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian” ( Ga 3, 16 ). Hay chính trường hợp của Chúa Giêsu: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người dám thí mạng sống vì bạn hữu” ( Ga 15, 13 ). Yêu thương là cho đi chính mình, là tự hiến chính mình. Vợ chồng yêu thương nhau, dâng hiến bản thân cho nhau, kể cả thân xác mà không chút e dè, trái lại còn hạnh phúc nữa. Cha mẹ và con cái yêu thương nhau có thể hy sinh mạng sống mình cho nhau.
- Yêu thương là chia sẻ: yêu nhiều, người ta chia sẻ cho nhau nhiều, yêu nhau hết mức thì người ta chia sẻ cho nhau tất cả. Vợ chồng yêu nhau chia sẻ cho nhau tất cả, từ của cải vật chất đến gia sản tinh thần, đến cả tình gia đình. Ông bà cha mẹ của chồng trở thành ông bà cha mẹ của vợ và ngược lại. Trong Thiên Chúa cũng thế, Ba Ngôi Thiên Chúa chia sẻ cùng một sự sống thần linh. Và chính sự sống thần linh duy nhất làm cho Ba Ngôi là một. Chúa Cha đã sai Chúa Con mang sự sống thần linh ấy xuống trần gian chia sẻ cho nhân loại. Sự sống ấy là Bánh bởi trời mà chúng ta nhận lãnh trong bí tích Thánh Thể.
- Yêu nhau là đón nhận nhau. Đón nhận tình yêu và ý muốn của người mình yêu, đón nhận tất cả, đón nhận chính bản thân của người yêu. Người được yêu có vị trí quan trọng trong trái tim của người yêu. Suy nghĩ về tình yêu giữa Chúa Con và Chúa Cha, chúng ta sẽ thấy ở trần gian này, không có sự đón nhận nào trọn vẹn như thế. Chúa Con đón nhận tất cả từ Chúa Cha: giáo lý, ý muốn, lời nói, hành động. Chúa Con đón nhận chính bản thân Chúa Cha làm bản thân của mình, vì vậy mà đồng bản thể với Chúa Cha.
- Yêu nhau còn là gắn bó với nhau. Càng yêu nhau càng gắn bó mật thiết đến nỗi là một với nhau. Hai vợ chồng yêu nhau ở mức độ cao nhất thì trở nên một: một xương thịt, một thân mình. Bấy giờ tình yêu vợ chồng không những là dấu chỉ hữu hình của Tình Yêu Chúa Giêsu đối với Giáo Hội, mà còn là dấu chỉ của tình yêu Ba Ngôi. Ba Ngôi gắn bó với nhau đến nỗi là Một với nhau. Và chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, Thiên Chúa là Tình Yêu nguồn suối, mẫu mực cho mọi tình yêu của con người ( Tgm. Phaolô Bùi Văn Đọc ).
Noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta biết sống hiệp nhất yêu thương, hiệp nhất nên một giữa vợ chồng, hiệp nhất giữa các thành viên trong gia đình: "Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa" ( Thư chung HĐ.GMVN. 2002, số 6 ), hiệp nhất giữa các thành viên trong cộng đoàn, hiệp nhất giữa mọi thành phần trong Giáo Hội.
Hôm nay chúng ta mừng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Gọi là mầu nhiệm vì đó là điều vượt quá trí hiểu của loài người. Tuy không thể hiểu thấu mầu nhiệm đó, nhưng may thay qua Chúa Giêsu, chúng ta thấy được biểu hiện của mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm của tình yêu.
Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương. Chúng ta chỉ được hạnh phúc khi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng tội lỗi làm cho chúng ta xa lìa tình yêu của Chúa. Sự ghen ghét hận thù làm cho khuôn mặt chúng ta lem luốc méo mó, không còn giống khuôn mặt Thiên Chúa.
Hôm nay ta hãy biết sống theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi. Biết sống hiệp nhất với nhau. Biết dâng hiến bản thân mình, biết cho đi, biết chia sẻ, biết sống chan hoà tình bác ái. Để thực hiện những điều ấy, ta phải biết bỏ mình, bỏ sở thích riêng, bỏ của cải và nhất là phải biết bỏ ý riêng, hoàn toàn sống theo thánh ý Thiên Chúa. Khi biết bỏ mình như thế, ta sẽ nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Khi hoàn toàn quên mình để sống cho tình yêu ta sẽ được kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là hạnh phúc thiên đàng. Đó chính là đích điểm của đời chúng ta.
Trước khi dùng cơm, phần lớn trong chúng ta đều làm dấu Thánh Giá và đọc nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Khi đọc kinh trong Nhà Thờ hay tại nhà, chúng ta đều bắt đầu bằng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Có những người có thói quen tốt là trước khi làm bất cứ việc gì, họ đều làm dấu Thánh Giá. Qua đài truyền hình, thỉnh thoảng chúng ta thấy, có những cầu thủ bóng đá quốc tế làm dấu Thánh Giá sau khi vào sân hay ra sân, khi đá lọt lưới đối phương, hoặc trước khi đá quả phạt đền.
Làm dấu trên trán, chúng ta tuyên xưng Chúa Cha là Đấng tạo dựng trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Làm dấu trên ngực, chúng ta tuyên Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và đã làm người. Làm dấu trên hai vai chúng ta tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Chúa và Đấng ban sự sống, Người bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Dấu chữ thập mà chúng ta làm chỉ Thánh Giá của Chúa Giêsu, nơi mạc khải trọn vẹn tình yêu của Chúa C  ha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với nhân loại.
Dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng Đức Tin vắn tắt nhất của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác. Lời kinh nhân danh Cha và Con và Thánh Thần tóm tắt Đức Tin mà chúng ta đã nhận lãnh khi chịu Bí Tích Thánh Tẩy mà nội dung là ba điều khoản lớn của Đức Tin Công Giáo, điều khoản thứ nhất tuyên xưng Chúa Cha, điều khoản thứ hai tuyên xưng Chúa Con, điều khoản thứ ba tuyên xưng Chúa Thánh Thần và Hội Thánh.
Dấu Thánh Gía là một công thức ngắn gọn nhất, nhưng lại đầy đủ nhất về Đức Tin vào Một Thiên Chúa Ba Ngôi.
Như vậy cách thực tế và đơn giản nhất để tôn vinh Chúa Ba Ngôi là chúng ta hãy làm dấu Thánh Giá cách sốt sắng và ý thức, với tất cả lòng yêu mến và kính trọng.
Lạy Chúa, khi làm dấu Thánh Giá, xin cho con biết khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con. Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu, Chúa mãi ở trong con, con ở trong Chúa. Amen.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN
 

BaNgôi-315:  Đoàn kết

Ai trong chúng ta cũng biết: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Thế nhưng tâm lý muốn sống riêng, BaNgôi-315 Lượng

Ai trong chúng ta cũng biết: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Thế nhưng tâm lý muốn sống riêng, muốn làm riêng, muốn hưởng riêng hình như đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam. Không hiểu có phải vì 1000 năm nô lệ giặc Tàu và 100 nô lệ giặc Tây mà phát sinh ra cái tình trạng đó hay không? Quả thực, kẻ xâm lăng bao giờ cũng dùng chính sách chia để trị, để dân bị áp bức không thể đoàn kết lại mà lật đổ ách thống trị. Chiến lược tâm lý này đã chia đất nước chúng ta thành từng miền, từng tỉnh, khiến người dân Bắc Trung Nam trở nên xa lạ với nhau. Người Kinh coi thường người Thượng. Người giáo khinh miệt người lương. Tầm mắt chúng ta chỉ biết có làng xóm với lũy tre xanh bao bọc, đến nỗi phép vua còn thua cả lệ làng. Rồi làng mạc lại chia nhỏ thành từng gia đình với những căn nhà riêng biệt có rào giậu vây quanh. Mỗi nhà chỉ biết có mảnh vườn riêng trồng đủ mọi loại cây mình thích, chứ không theo một hướng chung để phát triển thành những vùng cây công nghieệp. Vì thế mà dân ta cứ nghèo, cứ khổ mãi. Chỉ khi nào chúng ta thoát ra khỏi cách làm ăn nhỏ nhen riêng lẻ ấy, thì mới có cơ may làm cho đất nước giàu mạnh hơn.
Xét về trí khôn, cá nhân người Việt Nam thì học hành rất giỏi, làm việc rất khá, vượt lên trên nhiều người ở các nước khác. Chúng ta đã nhiều lần đoạt giải nhất, giải nhì trong các cuộc thi quốc tế, nhưng những con người Việt Nam tài giỏi ấy chẳng thể làm việc chung lâu dài với nhau, nên Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc. Vì thế, hơn lúc nào hết, trong tinh thần đổi mới, chúng ta phải phát huy tinh thần đoàn kết, biết làm việc chung với nhau.
Và Chúa Ba Ngôi chính là một biểu tượng, một mẫu gương cho sự hợp nhất của chúng ta. Thực vậy, Thiên Chúa không bao giờ hoạt động riêng lẻ. Bất cứ công việc nào cũng đều có sự thông dự của cả Ba Ngôi. Trước hết, trong công trình tạo dựng vũ trụ, Chúa Cha đã dựng nên tất cả bằng Lời khôn ngoan Ngài phán từ miêng mình và nhờ Thần khí bay là là trên mặt nước như luồng gió huyền diệu. Tiếp đến trong công trình cứu độ của Chúa Con cũng thế. Chúa Cha luôn hành động trong Đức Kitô để Ngài rao giảng và làm các phép lạ. Và Chúa Thánh Thần đã cộng tác ngay từ lúc Mẹ Maria thụ thai cho đến khi Đức Kitô sống lại, thổi hơi trên các môn đệ để họ nhận lấy thần khí của Ngài. Và sau cùng trong công trình thánh hoá của Ngôi Ba cũng vậy. Các ơn Chúa Thánh Thần phân phát cho từng người đều do Chúa Cha ban cho chúng ta qua Đức Kitô. Vì thế mà trong Phúc Âm Chúa Giêsu đã xác quyết: Mọi sự Chúa Cha đều là của Thầy và Thánh Thần sẽ lấy những gì của Thầy mà ban cho các con.
Sự hiệp nhất giữa Ba ngôi nhắc cho chúng ta hiểu rằng: Con người cũng là những nhân vị, có tự do, có ý thức, có tình cảm riêng tư cần được tôn trọng. Đó không phải là sự gắn bó của những chiếc đũa vật chất, mà ta có thể dùng sức lực để bó chặt lại, rồi cưa đầu chặt đuổi cho bằng nhau. Muốn tạo sự hợp nhất thì các ngôi vị phải gặp gỡ, thông cảm và yêu thương nhau.
Để kết luận, chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem chúng ta có biết cộng tác với nhau hay chúng ta lại là đầu mối gây bất hoà và chia rẽ.
 

BaNgôi-316: Con đường yêu thương

Hôm nay chúng ta mừng lễ kính Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. BaNgôi-316

Hôm nay chúng ta mừng lễ kính Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hoạt động của Ba Ngôi tuy khác biệt nhưng luôn thể hiện trong một tình yêu thương: tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con, tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Qua bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, tôi xin chia sẻ về chủ đề: Con đường yêu thương:
1. Con đường yêu thương của Chúa Cha
Với đoạn Thánh Kinh ngắn vừa rồi, chỉ có 3 câu, Thánh Gioan đã cho chúng ta biết Thiên Chúa đã yêu thế gian như thề nào. Người đã yêu thế gian bằng một tình yêu cao vời nhất, một tình yêu trọn vẹn nhất, một tình yêu "hy sinh đến cùng tận" khi Người đã ban chính Con Một của mình để cứu thế gian và để thế gian nhờ Con Một đó mà được cứu sống. Quả là một tình yêu cao vời khôn ví mà Thiên Chúa đã dành cho nhân loại!
Mục đích Thiên Chúa đến với nhân loại qua Con Một không phải để lên án, nhưng để cứu vớt; không phải để xét xử, nhưng để mời gọi con người trở về trong tình yêu của Thiên Chúa. Con đường trở về đó chính là Đức Giêsu Kitô, đường dẫn nhân loại đến với Chúa Cha. Sứ mạng đó được Chúa Giêsu thực hiện như thế nào?
2. Con đường yêu thương của Đức Giêsu trong Chúa Thánh Thần
Thánh Phaolô đã cho chúng ta thấy điều đó qua thư gửi Philipphê:
Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập tự.
Vâng, Chúa Giêsu đã đến với nhân loại bằng con đường tự huỷ. Sự tự huỷ tột cùng nhất. Từ địa vị là Thiên Chúa lại nhập thể làm người, trở nên là một người như mọi người, sống như bao con người khác ngoại trừ tội lỗi. Đó, chúng ta thấy con đường của Chúa Giêsu là một con đường chẳng giống ai, đang ở địa vị cao sang, lại hạ mình xuống thành một người cùng khổ, và chết cách nhục nhã nhất. Con đường này chỉ có một không hai trong lịch sử nhân loại. Vâng, đó là con đường mà Chúa đã đến với nhân loại và đã dành trọn cho nhân loại.
Trong một lần tĩnh tâm, cha giảng phòng đã cho chúng tôi một cách so sánh về sự từ bỏ. Ngài nói:
Người ta thường dùng từ "đồ súc sinh" để lăng mạ nhau, để sỉ nhục nhau. Đó là điều là một sự xỉ nhục rất nặng phải không. Một con người có lý trí, có tự do và trách nhiệm, vậy mà lại bị hạ nhục bằng một con vật. Còn Thiên Chúa, Người là Chúa muôn loài, Người là Đấng tạo thành mọi sự, Người cao vời khôn ví ấy vậy mà lại hạ mình, mặc lấy thân phận con người là thụ tạo của mình, trở nên người như mọi người. Như vậy, việc Chúa xuống thế làm người đó, Người đã hạ mình xuống thấp nhơn một con vật để cứu lấy chúng ta và để nâng chúng ta lên làm con của Người.
3. Con đường yêu thương của người con Chúa
Con đường yêu thương của Chúa Giêsu là để thực hiện ý của Chúa Cha, thi hành một kế hoạch cứu độ nhiệm mầu của Thiên Chúa dành cho quý ông bà, cho quý anh chị, cho tôi, cho mọi người. Vậy chúng ta phải làm gì để đáp lại tình yêu đó, chúng ta phải làm gì để đáp lại con đường yêu thương mà Thiên Chúa đã, đang và còn tiếp tục thực hiện cho mỗi người, cho mỗi gia đình và cho giáo xứ chúng ta?
Đó là cầu hỏi mà mỗi người chúng ta phải tự trả lời.
Qua việc tự huỷ, Thiên Chúa đã tự thực hiện con đường yêu thương của Người. Vậy đến lượt chúng ta, chúng ta đáp lại tình yêu đó bằng việc hy sinh, bằng việc từ bỏ những gì là ý riêng của ta để tìm và thực hiện ý Chúa. Ý riêng của ta là gì? Thưa, đó là cái tôi của con người tôi. Cái tôi ích kỷ-hẹp hòi, cài tôi tự tôn-tự ti, cái tôi độc đoán-cục bộ... mà mỗi người đã bị chúng đóng băng mình lại và làm cho mình không có thể đến được với nhau và sống hiệp thông với nhau.
Nhìn lên Chúa Cha để học lấy tinh thần yêu thương và cho đi. Yêu thương để xoá bỏ hận thù. Yêu thương để xoá bỏ ngăn cách giữa người với người. Yêu thương để xây dựng và kiến tạo sự hiệp nhất. Yêu thương để cho đi và đón nhận. Nhìn lên Chúa Giêsu để học nơi Người việc trút bỏ tất cả những ý riêng để tìm và thực hiện ý Chúa, trút bỏ những gì đã đóng băng trong con người cũ của tôi để tôi biết mở lòng ra với mọi người và nhất là để tôi có thể đến với Chúa là cội nguồn tình yêu.
Tôi thiết nghĩ có như thế, mỗi người chúng ta mới "thiết kế" được một con đường yêu thương cho riêng mình, cho gia đình mình, cho cộng đoàn mình và cho giáo xứ chúng ta.
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa là cội nguồn yêu thương và là nguồn mạch của sự hiệp nhất, xin hoạt động trong cuộc sống của mỗi người chúng con và giúp chúng con sống con đường yêu thương như Thiên Chúa đã sống và còn tiếp tục thực hiện con đường đó trong cuộc sống của chúng con và trong giáo xứ chúng con. Amen.
 

BaNgôi-317: Mầu nhiệm tình yêu - Lm. Jos. Quốc Phong SDB

Lễ Chúa Ba Ngôi bắt đầu đưa chúng ta vào mùa Thường Niên, không phải vì mùa thường niên là BaNgôi-317

Lễ Chúa Ba Ngôi bắt đầu đưa chúng ta vào mùa Thường Niên, không phải vì mùa thường niên là mùa ít quan trọng hơn trong các mùa phụng vụ. Nhưng chúng ta có thể nói rằng Lễ Chúa Ba Ngôi bao trùm và chiếu sáng trên tất cả hành trình của con người. Quả thật mọi hành động của Chúa Cha, Chúa Con và của Chúa Thánh Thần luôn luôn hiện diện từ thời tạo dựng vũ trụ, nghĩa là trong thời khắc của sự tạo dựng, ta luôn nhìn thấy dấu ấn của sự hiệp thông giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúng ta có thể nói rằng, mỗi một thực tại con người chúng ta luôn được tạo ra bởi sự hiệp thông và cho sự hiệp thông. Sau khi sáng tạo ra con người, Thiên Chúa phán: “con người ở một mình thì không tốt”. Đúng vậy, chính Thiên Chúa không bao giờ ở một mình. Thiên Chúa không phải là một hữu thể cô độc, mà là một “Gia Đình” gồm ba nhân vị. Ba Ngôi yêu thương và hiệp thông với nhau đến mức trở nên “Một”.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm của “Tình Yêu” không bị giới hạn chỉ trong Ba Ngôi, không giữ lại cho chính mình, mà đổ tràn xuống trên con người. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến mức ban Con Một, để bất cứ ai tin vào Ngài, sẽ không phải chết, nhưng có được sự sống đời đời” (Gioan 3,16). Chúa Cha không buộc phải ban Con Một, nhưng vì yêu thương thế gian quá đỗi, nên Ngài đã ban Con Một cho thế gian, để thế gian được sống. Thiên Chúa Ba Ngôi không có gì khác hơn chính là “Mầu Nhiệm Tình Yêu” tràn đầy từ trời đổ xuống cho thế gian, vượt qua tất cả mọi rào cản, mọi ranh giới. Tình yêu ấy như là một nguồn năng lượng đầy tràn không thể hãm lại được đối với người biết mở lòng mình ra đón nhận.
“Gia Đình” của Thiên Chúa Ba Ngôi, mọi thành viên đã chọn lựa đi vào lịch sử của loài người để mời gọi tất cả chúng ta, từng người một, trở nên người nhà của Gia đình đặc biệt này, trở nên một với Ngài. Đó chính là viễn tượng cuối cùng, là mong muốn duy nhất mà Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi biểu lộ và mạc khải cho con người. Và viễn tượng này quả thật trở nên một sự “thách đố” đối với tất cả những giáo hội tin vào Chúa Kitô, đối với tất cả các tôn giáo và đối với tất cả loài người. “Sống hòa hợp trong tình yêu” quả thật là một thách đố lớn lao trong xã hội ngày hôm nay, khi mà con người ngày hôm nay đang tăng cường và cổ võ cho các chủ nghĩa ích kỷ và cá nhân. Thiên Chúa Ba Ngôi mời gọi và thúc đẩy chúng ta vượt qua tất cả các rào cản, và Ngài luôn hiện diện và nâng đỡ chúng ta vì “Ở đâu có tình yêu thương, ở đấy có Thiên Chúa”.
Thánh Augustino diễn tả mầu nhiệm Ba Ngôi bằng một ý niệm rất là thực tế, đó là ý niệm về một “Cộng Đoàn”. Ba Ngôi Thiên Chúa tạo ra giữa các Ngài một “Cộng Đoàn cuả Tình Yêu”, trong đó, chính Tình yêu là nền tảng cốt yếu của sự tương quan và của sự hiện hữu Thiên Chúa. Thiên Chúa chính là Tình Yêu, và Tình yêu này đã, đang và sẽ mãi mạc khải cho con người. Mối liên hệ tình yêu luôn luôn đòi hỏi một chủ thể yêu và một đối tượng được yêu và ngược lại. Giữa hai người, hiện diện tình yêu, và chính “tình yêu này” nối kết họ lại với nhau, cũng vậy trong Chúa Ba Ngôi, mối liên hệ này đã trở nên nhân vị. Chúa Cha yêu thương Chúa Con, và ngược lại, Chúa Con được Chúa Cha yêu thương: Tình yêu đã liên kết Cha – Con chính là Chúa Thánh Thần, và Chúa Thánh Thần được yêu từ Chúa Cha và Chúa Con.
“Cộng Đoàn Tình Yêu” là Thiên Chúa Ba Ngôi không thể được hiểu và đón nhận bởi con người chúng ta, nếu con người chúng ta không cảm thấy mình được yêu mến từ Thiên Chúa. Chính vì vậy, việc cử hành Thánh Lễ Trọng Thiên Chúa Ba Ngôi hôm nay, không chỉ là để ca ngợi và tán tụng Thiên Chúa Ba Ngôi, mà điều quan trọng đối với chúng ta đó là “Tình Yêu” của Thiên Chúa đổ trên chúng ta. Thiên Chúa Ba Ngôi thật sự trở nên “Kiểu Mẫu” cho mọi tương quan tình yêu của chúng ta trong chính cuộc sống chúng ta. Trong những mối tương quan cảm xúc, tình yêu đối với tha nhân, nếu như chúng ta không có đủ khả năng để tạo ra những mối liên hệ ngang bằng: không kỳ thị, không phân cấp trên dưới, chúng ta có đang làm chứng cho thế giới “sức mạnh” của Tình Yêu Thiên Chúa chăng? Hay trong phạm vi gia đình nhỏ bé, trong đời sống của vợ chồng, hai người yêu nhau mà lại hiện diện một sự “cao hơn” ở bên một phía chồng hay vợ, chúng ta có thật là đang thực thi tình yêu mà Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta không?
Không hiện hữu một tình yêu đích thật, đối với chúng ta là những kitô hữu, mà không phải mang hình ảnh và giống với tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi: một tình yêu không phân biệt, không cấp bậc, một tình yêu bởi sự tôn trọng sâu thẳm lẫn nhau, và tình yêu luôn rộng mở đến mỗi người và mọi người. Vì thế Thánh Lễ hôm nay giúp chúng ta nhận biết Thiên Chúa và tình yêu bao la của Ngài luôn tuôn đổ dồi dào trên chúng ta, và đặc biệt hơn là giúp chúng ta hiểu và xích lại gần nhau hơn để yêu nhau hơn, trong gia đình, trong giáo xứ, trong sở làm việc, và trong xã hội, … nhờ vào Tình Yêu mà trong Đức Kitô, qua ơn của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa đổ tràn đầy xuống trong trái tim của mỗi người chúng ta. “Ý nghĩa ở đâu, nếu chúng ta biết Thiên Chúa là ai, mà rồi chúng ta không biết yêu thương anh chị em mình”?
 

BaNgôi-318: Lễ Chúa Ba Ngôi - Ngày Lễ Tình Yêu

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi luôn là chân lý vượt quá sự hiểu biết của con người. Câu chuyện BaNgôi-318

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi luôn là chân lý vượt quá sự hiểu biết của con người. Câu chuyện của thánh Augustine với cậu bé bên bờ biển năm nào khiến không ít người trong chúng ta nghĩ rằng tín điều này sao mà khô khan khó hiểu, quanh đi quẫn lại cũng chỉ “Một - Ba”, “Ba- Một”. Thế nhưng sự thật lại không phải như vậy. Tin mừng hôm nay giúp chúng ta cảm nghiệm về một Thiên Chúa không quá khô khan, không quá khó hiểu và rắc rối như chúng ta vẫn nghĩ.
Thánh sử Gioan trong tác phẩm của mình có nhắc đến một khái niệm về Thiên Chúa khi ngài định nghĩa “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1, Ga 4, 8). Đây là một khái niệm rất rõ ràng và được cụ thể hoá trong câu đầu tiên của Tin mừng hôm nay, diễn tả Thiên Chúa tình yêu trong việc sai Con của Người xuống thế gian, làm của lễ dâng hiến hầu đem lại sự sống cho con người. “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (x. 1Ga 4, 9).
Chúng ta thấy tình yêu có sức mạnh phi thường mà hiệu quả của nó chính là việc làm cho con người khỏi phải chết và sống đời đời nếu họ tin vào Đấng là Tình yêu. Thiên Chúa yêu thương thế gian không bằng những lời nói suông, nhưng bằng hành động cụ thể. Vì yêu thương con người, muốn cho họ được hưởng tình yêu cứu độ, Chúa Cha đã không tiếc ngay cả người Con Một dấu yêu của mình. Tình yêu của Chúa Con đối với Cha cũng vậy. Vì tình yêu đối với Cha cũng như với thế gian mà Chúa Con đã vâng lời, chấp nhận thân phận con người, hoà mình trọn vẹn vào thân phận kiếp người để sẻ chia kiếp “sinh- lão- bệnh- tử” mỏng giòn của họ. Chúa Thánh Thần luôn âm thầm làm công việc hướng dẫn, thánh hoá con người để họ ngày một nên hoàn thiện trong tình yêu với Thiên Chúa.
Lẽ dĩ nhiên Thiên Chúa không tự mình vẽ hay phác hoạ ra một mô hình về tình yêu để rồi bắt chúng ta áp dụng, còn Người thì ngồi đó để đúc kết hay báo cáo thành tích. Chính Thiên Chúa Ba Ngôi đã đi bước trước, nghĩa là các Ngài đã sống, đã cảm nghiệm, đã chia sẻ cho nhau từ trước muôn đời và giờ đây các Ngài vì muốn cho con người cũng được chiêm ngưỡng, được sống và chia sẻ tình yêu ấy nên đã sai Con Một và Chúa Thánh Thần xuống thế để làm mẫu gương sống động cho con người noi theo.
Thiên Chúa là Tình yêu. Tình yêu đó chân chính và đích thực. Tình yêu đích thực đòi buộc cần phải có nhiều thành phần. Lý do là bởi vì một con người cô độc, luôn tự mãn thì không thể nào có tình yêu được, vì anh ta không có “đối tác” để yêu thương. Tình yêu đích thực cần đuợc đón nhận và trao ban qua “đối tác”, tức qua tha nhân. Chúng ta còn thấy một tình yêu trao ban thực sự khi nó loại bỏ được sự chiếm đoạt, tính ích kỷ và mưu đồ. Tình yêu trao ban đích thực chỉ xảy ra khi và chỉ khi cả hai đều hướng về nhau, cùng lãnh nhận và trao ban, cùng yêu và được yêu. Tình yêu đó không làm cho bên nào phải nghèo đi, phải mất mát nhưng nhờ thế cả hai đều thực sự phong phú và có ích cho nhau. Trong mầu nhiệm Ba Ngôi, chúng ta thấy một bản tính Thiên Chúa và Ba ngôi vị phân biệt nhau là thực sự cần thiết, bởi nhờ đó, tình yêu đích thực trao ban và lãnh nhận giữa Ba ngôi thực sự sống động, thực sự hiệu quả và phong phú mà nếu mất đi một trong ba, chỉ sẽ dẫn đến tình trạng ích kỷ, chiếm hữu và tự mãn mà thôi.
Lễ Chúa Ba Ngôi là dịp để mỗi người chúng ta chiêm ngưỡng Một Thiên Chúa tình yêu, đào sâu thêm về tình yêu giữa Ba Ngôi cũng như tình yêu mà Ba Ngôi đã trao ban cho chúng ta. Đồng thời cũng là dịp để chúng ta tự vấn lương tâm về các mối quan hệ của chúng ta giữa vợ chồng, bố mẹ con cái, gia đình, xã hội, Giáo hội cũng như những mối tương quan khác,… để xem đó có thực sự là mối quan hệ dựa trên tình yêu vô vị lợi mà Ba Ngôi Thiên Chúa đã yêu thương cũng như tình yêu mà Chúa Giêsu đã tỏ bày cách cụ thể nhất khi Người xuống thế, chịu chết và sống lại vì nhân loại.
Ước mong đây là dịp thuận lợi để chúng ta xin Ba Ngôi Thiên Chúa tiếp tục dạy dỗ và hướng dẫn ngõ hầu mỗi người chúng ta được nên hoàn thiện trong tình yêu và ân sủng của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
 

BaNgôi-319: Suối nguồn tình yêu

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Có người nói rằng: Nếu có ai nói với tôi “xin hãy cho biết Thiên Chúa là thế nào?”, tôi sẽ bảo BaNgôi-319

Có người nói rằng: Nếu có ai nói với tôi “xin hãy cho biết Thiên Chúa là thế nào?”, tôi sẽ bảo người đó: “Hãy yêu thương anh em nhiều hơn. Tình yêu sẽ nói cho bạn biết Thiên Chúa là thế nào?”
Thực vậy, Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Ngài được tỏ bày qua Ba Ngôi Vị: Ngôi Cha – Ngôi Con – Và Thánh Thần. Ba Ngôi trong một Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu ấy được tuôn chảy đến con người qua tạo dựng – cứu chuộc và thánh hóa con người. Tình yêu ấy mãi chung thủy với con người dù cho con người có yếu đuối, phản bội hay quay lưng lại với tình yêu của Ngài. Vì bản chất của Ngài là tình yêu. Bởi thế ai yêu thương thì có thể biết Thiên Chúa, có thể sống trong Nước Thiên Chúa và hưởng được hạnh phúc của Thiên Chúa. Càng yêu thương thì càng giống Thiên Chúa ; ngược lại càng ít yêu thương thì càng khác với Thiên Chúa.
Câu chuyện về thánh Maximilien Kolbe như là chứng tích cho tình yêu Thiên Chúa vẫn đang được hiện tại hóa qua các nhân chứng của Ngài.
Cha thánh Maximilien Kolbe thụ phong linh mục năm 1918 Cha bị Đức Quốc Xã bắt ngày 17.2.1941 và bị giam tại trại tập trung Auschwitz.
Đây là một nhà tù hãi hùng nhất bao gồm mọi hình phạt và kỷ luật sắt ghê gớm, độc ác dành cho các tù nhân. Mỗi tù nhân không còn được mang tên mình, thay vào đó là những con số. Cha Maximilien Kolbe mang số tù binh là 16.670. Tại nhà tù này, Đức quốc xã đưa ra một quy định hết sức oan nghiệt: Nếu có một tù nhân trốn trại, thì mười người khác phải chết thay. Rất nhiều tù nhân là nạn nhân của thứ luật lệ hãi hùng này. Cha Maximilien Kolbe cũng trở thành một trong những nạn nhân ấy.
Đó là một buổi chiều tháng 8.1941, một người tù đã vượt ngục thành công. Thế là mười người khác bị chỉ định chết thay cho anh. Trong số mười người này có anh lính Gajowniczek. Anh kêu khóc thảm thiết vì anh còn mẹ già, còn vợ, còn con thơ không ai nuôi dưỡng.
Trước thảm cảnh đó, vì lòng yêu mến Chúa, yêu thương con người, Cha Maximilien Kolbe đứng ra xin được chết thế cho anh lính tội nghiệp kia. Được chấp nhận, Cha cùng đoàn tử tù bước vào phòng hơi ngạt số 14.
Hôm sau, người ta mở cửa phòng để lôi xác ra ngoài, nhưng Cha Maximilien Kolbe còn thoi thóp, người ta chích cho Cha một mũi thuốc ân huệ. Cha tắt thở đúng vào chiều ngày áp lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 14.8.1941.
Trong buổi đại lễ, Đức Thánh Cha Phaolô VI tôn phong chân phước Maximilien Kolbe lên bậc hiển thánh, có một cụ già đáng kính trong đoàn người dâng lễ vật, được Đấng đại diện Chúa ôm hôn. Đó chính là người tù được cha thánh chết thay. Trong giây phút trang trọng ấy, toàn thể cộng đoàn sốt sắng hát vang khúc tình ca: “không có tình yêu nào trọng đại cho bằng chết vì yêu”. Đây là một chứng tích tình yêu cao vời khiến mọi người hiện diện đều xúc động và rơi lệ.
Tình yêu sẽ làm nên muôn điều kỳ diệu. Tình yêu sẽ thúc bách con người thi thố cho nhau những nghĩa cử cao thượng. Nhất là tình yêu trong Thiên Chúa sẽ giúp con người đi đến cùng của yêu thương. Vì yêu Thiên Chúa mà con người đón nhận nhau trong tôn trọng và yêu thương. Vì yêu Thiên Chúa mà con người chẳng quản ngại hy sinh để chia sẻ buồn vui với nhau, để nâng đỡ và cảm thông với nhau. Vì yêu Thiên Chúa mà con người chấp nhận chung sống hòa bình với nhau.
Chấp nhận sống trong tình yêu là con người đang họa lại chân dung tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa cho anh em. Chấp nhận để cho tình yêu Thiên Chúa dẫn dắt là con người đang sống liên kết với tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa như cành liền cây để có thể đơm hoa kết trái.
Xin Chúa giúp chúng ta sau khi đã nhận ra tình yêu cả Ba Ngôi Thiên Chúa thì cũng biết sống tình yêu ấy cho anh em trong thế giới hôm nay. Amen.
 

BaNgôi-320: MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI
Xh 34,4b-6,8-9     2Co 13,11-13   Ga 3, 16-18

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm tình yêu bởi vì qua dấu Thánh Giá, dấu chỉ Mầu nhiệm BaNgôi-320

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm tình yêu bởi vì qua dấu Thánh Giá, dấu chỉ Mầu nhiệm Ba Ngôi. Dấu Thánh Giá là biểu hiệu đức tin của người Công giáo. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá chúng ta ca ngợi, tung hô và tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi :” Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần “.
Lúc còn nhỏ khi đi học Giáo lý, các thầy cô giáo lý viên thường ví dụ Chúa Ba Ngôi giống như một ngón tay có ba đốt. Tuy có ba đốt nhưng chỉ là một ngón tay hoặc có khi Chúa Ba Ngôi được ví như một trái trứng gà vv…có lòng đỏ lòng trắng và có vỏ nhưng chỉ là một cái trứng. Những ví dụ nhằm cho các trẻ em dễ nhớ nhưng thực tế chẳng thuyết phục gì. Càng lớn lên, càng được học Giáo lý và càng cầu nguyện, chúng ta hiểu được rằng muốn cảm nghiệm về Chúa Ba Ngôi, muốn biết được Chúa Ba Ngôi, chúng ta phải dựa vào mặc khải của Chúa Giêsu, đồng thời dựa vào Kinh Thánh để tìm hiểu, gặp Chúa Ba Ngôi. Chúng ta thường gặp những bản văn qui chiếu về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nhiều nhất nơi Tin Mừng của Thánh Gioan. Phúc Âm của thánh Gioan thường cho hay Chúa Giêsu nói về Cha Ngài và cũng nói về Chúa Thánh Thân. Tuy nhiên bản văn nổi tiếng nhất vẫn là bản văn của Thánh Matthêu :” Vậy các con hãy đi khắp muôn dân, qui tụ họ thành môn đệ của Ta, hãy rửa tội cho họ nhân danh Cha và con và Thánh Thần”. Bản văn sinh động lại nằm trong Tin Mừng của thánh Máccô, khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, lập tức Chúa Thánh Thần đậu xuống trên ngài dưới hình chim bồ câu và một tiếng nói từ trời vọng xuống :” Con là Con yêu dấu của Ta “ ( Mc 1, 11 ).Tiếng nói, Chúa Con và chim bồ câu tạo thành bức tranh sinh động nói về Chúa Ba Ngôi. Thánh Luca lại diễn tả thời Cựu Ước là thời của Chúa Cha.Thời rao giảng Tin Mừng là thời kỳ hay kỷ nguyên của Chúa Con và thời kỳ sau cùng khởi đầu bằng lễ Hiện Xuống là thời kỳ của Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô cũng nói về Chúa Ba Ngôi trong các thư của Ngài. Lời chúc nổi tiếng của thánh Phaolô bàn về Chúa Ba Ngôi nằm trong thư 2 Co 13, 13 :” Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em”.
Thực tế, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm  đức tin . Chỉ có con mắt đức tin chúng ta mới nhận ra Chúa Ba Ngôi. Với trí con người không đời nào chúng ta có thể hiểu thấu được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thánh Augustinô đã cho chúng ta thấy rõ điều đó qua hình ảnh một em bé múc nước biển đổ vào lỗ đào trên bãi cát…
Vâng, tình yêu Thiên Chúa dành cho thế giới, cho nhân loại, cho con người quả quá tuyệt vời, cao sâu :” Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để ai tin vào Con của Người sẽ không phải chết, nhưng được sống muôn đời “. Chúa không muốn bất cứ ai bị hư đi, nhưng muốn cứu vớt mọi người. Tình yêu của Người là tình yêu xả kỷ, tình yêu tự hiến :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ). Thiên Chúa yêu thương con người, mỗi người đều có một chỗ trong trái tim dịu hiền của Người.
Mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng  ta ca ngợi tình thương vô biên của Chúa vì tình thương của Người bao phủ trên cuộc đời mỗi người chúng ta. Thiên Chúa đã cho chúng ta được sinh ra làm người và làm con cái của Người. Thiên Chúa lại quan phòng chở che chúng ta bằng chính tình yêu nhưng không của Người, đồng thời cho chúng ta được tiến về đất hứa, tiến về Quê Trời nhờ Chúa Thánh Thần và ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu để cùng với Người chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa Cha.
Chúng ta ca ngợi, biết ơn Thiên Chúa Ba Ngôi và mỗi lần làm dấu Thánh Giá. Đọc Kinh Sáng Danh và kInh Tin Kính là chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi : Chua Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Ai tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa Ba Ngôi ?
2.Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm gì ?
3.Dấu hiệu của người Công giáo do đâu ?
4.Chúa Thánh Thần là Đâng nào ?
 

BaNgôi-321: Lễ Chúa Ba Ngôi

Hôm nay Hội thánh Công Giáo mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Đây là mầu nhiệm quan BaNgôi-321

Hôm nay Hội thánh Công Giáo mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Đây là mầu nhiệm quan trọng của Kitô giáo. Một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi là Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần. Ba ngôi một Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Nhờ đó mà ta hưởng được vô vàn ân sủng từ suối nguồn Tình yêu này.
Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm lớn trong đạo Công Giáo chúng ta. Mầu nhiệm này rất thiết thực trong đời sống của người Kitô hữu, thiết thực và gần gũi vì hầu như mỗi ngày chúng ta đều tuyên xưng mầu nhiệm ấy. Mỗi khi chúng ta dùng công thức làm dấu thánh giá, mỗi khi đọc kinh sáng danh, hay mỗi khi chúng ta sống yêu thương như Chúa muốn thì đó chính là lúc chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Nhưng có lẽ ít khi chúng ta để ý điều đó.
Đối với mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, chúng ta không thể tìm được một hình ảnh, một ngôn từ nào để diễn tả cách chính xác, rõ ràng và đầy đủ được. Tuy nhiên chúng ta có thể tạm dùng hình ảnh một dòng sông để diễn tả ảnh hưởng của mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Con sông mang dòng nước phù sa đến cho các cánh đồng của mình, cho các vườn cây được tươi tốt và sinh hoa thơm trái ngọt. Dòng sông cũng mang sự sống đến cho con người và mọi loài. Nếu không có nước để dùng thì cuộc sống sẽ ra sao? Thiên Chúa Cha chính là cội nguồn của dòng sông, Người đổ vào dòng sông nguồn nước phù sa mầu mỡ là tình yêu và ân sủng của Người. Chúa Giêsu chính là dòng sông chứa đựng nguồn nước tình yêu và ân sủng ấy. Và Chúa Thánh Thần là sức đẩy để nguồn nước tình yêu chảy đến các tâm hồn.
Như con cá sẽ không sống được nếu nó không có nước; cây cối sẽ không thể tươi tốt nếu không có nước. Cũng vậy, con người sẽ không thể sống được nếu tách ra khỏi dòng sông tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Càng xa rời tình yêu của Thiên Chúa bao nhiêu, con người càng cằn cỗi bấy nhiêu và rồi sẽ chết khô. Bởi đó, sống mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là biết mở lòng mình ra để đón lấy nguồn nước tình yêu và ân sủng của Người, để ta có thể sống và được sống dồi dào. Đón nhận dòng nước là đón nhận Chúa Kitô và tin vào Người: "Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Mình, để những ai tin vào Người sẽ không phải chết, nhưng được sống muôn đời". Mà tin vào Chúa Kitô thì phải suy nghĩ, nói năng, hành động và cư xử giống như Người. Sống giống như Chúa Kitô là sống yêu thương. Yêu Chúa và yêu tha nhân.
Yêu Chúa và yêu tha nhân là ta đang sống mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi vậy. Thế nên, mừng lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, chúng ta không chỉ mong dùng lý trí hiểu rõ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng chúng ta hãy đi đến một thái độ cụ thể bằng một con tim yêu thương Thiên Chúa và tha nhân hết mình, sống một thái độ yêu thương chân thành đối với hết mọi người trong bất cứ hoàn cảnh nào để tất cả mọi việc làm của chúng ta đều thể hiện tình yêu Chúa Kitô như Thánh Phaolô đã nói: "Dù ăn, dù uống, dù làm việc gì, anh em hãy làm mọi sự để tôn vinh Thiên Chúa". Chúng ta thể hiện tình yêu bằng những việc đó là mình đã sống cho tình Thiên Chúa Ba Ngôi nơi chính mình.
Mừng Lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta được nhắc nhớ rằng, Thiên Chúa Cha, Con, Thánh Thần đã yêu thương chúng ta hết mình và chúng ta được mời gọi để đáp lại tình yêu thương ấy bằng một đời sống trổ sinh nhiều hoa trái tốt, xứng đáng con yêu quí của Thiên Chúa: "Chúng con hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành".
Lạy Chúa Ba Ngôi, xin đốt lên trong lòng chúng con ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa, để chúng con dám sống yêu thương, dám thể hiện mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương trong cuộc đời chúng con. Amen.
 

BaNgôi-322: Nguồn tình yêu

Từ tấm bé, chúng ta đã được cha mẹ dạy làm Dấu Thánh Giá: “Nhân danh Cha và Con và Thánh BaNgôi-322

Từ tấm bé, chúng ta đã được cha mẹ dạy làm Dấu Thánh Giá: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Lớn lên, chúng ta lại được học những bài giáo lý về Chúa Ba Ngôi. Tuy nhiên, bài học về Chúa Ba Ngôi thật là khô khan và khó hiểu, chỉ có thể dùng một vài hình ảnh tương tự để cắt nghĩa cho dễ hiểu như: một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau, ba dạng của nước là rắn - lỏng - khí, bật quẹt thì cùng lúc phát sinh ra ngọn lửa - ánh sáng và sức nóng...
Mầu nhiệm về Chúa Ba Ngôi thật cao cả, lý trí loài người khó mà hiểu cho tường tận được. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta một hình ảnh sống động về Chúa Ba Ngôi mà không cần lý luận, không cần hình ảnh so sánh: “Thiên Chúa yêu thương thế gian” (Gn 3,16). Như thế, tìm hiểu Chúa Ba Ngôi là như thế nào không hệ trọng cho bằng nhận biết Chúa Ba Ngôi là gì, và Lời Chúa đã cho ta lời giải đáp: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Gn 4,16).
Vì yêu, Thiên Chúa đã bỏ qua mọi lỗi lầm của dân Do thái. Khi Môsê lên núi nhận Bia Giao ước, dân Do thái dưới chân núi đã tạc tượng bò vàng mà thờ lạy. Đây là một sự xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa vô hình. Ngài đã chỉ cho Môsê thấy, rồi nói sẽ tiêu diệt dân và đặt Môsê làm tổ phụ một dân tộc khác biết vâng lời hơn. Nhưng Môsê đã sấp mình van xin cho dân. Thiên Chúa ghét tội nhưng luôn thương kẻ có tội. Ngài sẵn lòng bỏ qua tất cả, tha thứ tất cả nếu con người biết quay trở lại đường ngay nẻo chính (Bài đọc 1).
Vì yêu, Thiên Chúa đã gìn giữ ba thanh niên Do thái trước hiểm nguy. Thời dân Do thái bị ách thống trị của vua Nabucôđônôzor, vua sai chọn lọc trong dân Do thái bị lưu đày một số đứa trẻ để đem vào triều dạy dỗ. Trong số những thanh niên được dạy dỗ từ bé đó, có ba thanh niên, nhờ bạn là Đaniel giúp đỡ, được cất nhắc. Bọn gian tà Canđê thấy ba chàng được cất nhắc thì ghen tức nên tìm cách hãm hại. Họ tố cái ba chàng đã chống lệnh vua không chịu lạy tượng thần. Vì thế, vua cho bỏ ba chàng vào lò lửa, nhưng Thiên Chúa đã gìn giữ ba thanh niên vững tin nầy. Do đó, ba chàng đã cất lời ca tụng tình yêu Chúa mà chúng ta nghe ở bài đáp ca.
Vì yêu, Thiên Chúa đã “ban Con Một để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Gn 3,16). Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu tột cùng của Ngài, bằng cách trao ban cho con người món quà vô giá là Con Một của Ngài. Tình yêu Thiên Chúa, qua Ngôi Con nhập thể, dưới tác động của Thánh Thần, đã phát sinh nguồn ơn cứu độ cho những ai đặt niềm tin vào công trình sáng tạo mới nầy.
Như thế, các bài đọc hôm nay cùng đưa ra một thông điệp: Thiên Chúa là Chúa của tình yêu. Đó cũng là điều trên hết và trước hết mỗi người cần nhận ra khi nghĩ về Chúa Ba Ngôi: Chúng ta nghĩ đến Thiên Chúa như một người Cha hằng yêu thương ta bằng tình yêu tín trung, nồng cháy. Chúng ta nghĩ đến Chúa Giêsu như một người Anh đã hiến tặng cho chúng ta chính cuộc đời của Người. Và chúng ta nghĩ đến Chúa Thánh Thần như một người Bạn đồng hành, để trợ giúp chúng ta sống theo gương Đức Giêsu và liên kết chúng ta với nhau trong cùng một lòng tin, một tình yêu.
Mỗi người, qua Bí tích Rửa tội, đã được dẫn đưa vào sống trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa yêu thương ta, không phải vì ta tốt lành, nhưng vì Thiên Chúa là Đấng nhân hậu và từ bi. Chính sự hiện hữu của chúng ta đã là dấu hiệu rõ nét về tình yêu Chúa. Do đó, sự đáp trả của chúng ta chỉ có thể là tin tưởng vào tình yêu Chúa và sống yêu thương nhau mà thôi. Mỗi ngày sống, chúng ta cần ý thức tuyên xưng Chúa Ba Ngôi bằng chính hành động đậm nét yêu thương của mình. Điều mà Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu thành Côrintô cũng là lời khuyên cho chúng ta: “Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em” (2Cr 13,11).
 

BaNgôi-323:  Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi

(Giảng lễ thiếu nhi – Lm. Giuse Nguyễn Quốc Việt CSsR)

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Ba Ngôi, nhưng Chúa Ba BaNgôi-323

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Ba Ngôi, nhưng Chúa Ba Ngôi là sao? Ai có thể trả lời được?... Là Một Thiên Chúa có Ba Ngôi, Ngôi thứ nhất là Cha, Ngôi thứ hai là Con, Ngôi thứ ba là Thánh Thần. "Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là gì thì Chúa Cha là thế ấy, và Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy." (GLCG số 253). Vì sao có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần mà không phải là ba Thiên Chúa nhưng chỉ một Thiên Chúa? Phải giải thích thế nào đây, có bạn nào giúp cha không?...
Tèo và Tí là đôi bạn thân học chung lớp tại trường Nguyễn Trường Tộ. Tí là người Công Giáo, còn nhà Tèo thờ Phật. Có lần Tèo đến chơi ngay lúc Tí đang học bài giáo lý "Chúa Ba Ngôi", chuẩn bị cho cuộc thi "Em hiểu Lời Chúa" do cha xứ tổ chức trong trại hè năm ấy. Tèo vừa nghe liền thắc mắc hỏi Tí: "Làm sao mà một có ba, mà ba lại chỉ có một được hả Tí?" Nếu có bạn nào đó hỏi chúng con về mầu nhiện Chúa Ba Ngôi như Tèo hỏi Tí, chúng con có trả lời được không?... Tí trả lời với Tèo là "được". Tí nói: "Cũng như một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau nhưng chỉ có một tam giác thôi. Hay bạn xem ngón tay của mình nè. Một ngón có ba đốt, ba đốt nhưng chỉ có một ngón tay thôi." Tí trả lời như thế tốt lắm nhưng không cho biết gì về ý nghĩa của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm trọng tâm của đức tin Kitô giáo.
Có truyền thuyết kể rằng thánh Augustinô, một vị thánh lớn của Giáo Hội, sống vào thế kỷ thứ tư. Ngài rất thông thái, đã viết nhiều cuốn sách về Đạo, đặc biệt là cuốn "Tự Thuật". Ngài đã cố gắng suy nghĩ để tìm cách giải thích tại sao một Thiên Chúa có Ba Ngôi, mà Ba Ngôi lại chỉ có một Thiên Chúa chứ không phải là ba Thiên Chúa. Một hôm, ngài đi dạo trên bờ biển đẹp. Ngài thấy một em nhỏ đào cái lỗ trên bãi cát dài bị những cơn sóng xô lên đập xuống phẳng lì một màu trắng ngà rất xinh. Em cầm chiếc vỏ sò liên tục múc nước biển đổ vào lổ. Nước thấm nhanh xuống cát chẳng để lại dấu vết gì. Em bé cứ mãi miết làm chẳng để ý chung quanh. Có cái gì đó thúc đẩy, thánh Augustino bước tới hỏi em bé: “Con đang làm gì vậy?” Em bé ngước mặt lên nhìn thánh Augustino và nói: “Con có thể múc hết nước biển đổ vào cái lỗ này, còn ngài, ngài không thể hiểu hết về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi." Thánh Augustinô sững sờ! Tại sao một em thiếu nhi lại biết được mình đang nghĩ gì? Đến khi thánh nhân bình tĩnh trở lại thì không còn thấy em bé nữa, và người ta coi đó như là thiên thần đến nhắc nhở thánh Augustino về sự siêu vời vượt quá trí tuệ con người của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
Tìm cách giải thích mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi có cái hay, là qua đó cho thấy, niềm tin vào Mầu nhiệm không mù quáng; xét về phương diện lý trí, cuộc sống có rất nhiều hình ảnh cho chúng ta hiểu được phần nào. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là tìm cách giải thích: “Một mà Ba, Ba mà Một”, nhưng là lắng nghe Lời Chúa để biết Thiên Chúa Ba Ngôi đối với chúng ta thế nào.
Các con có nhớ bài đọc thứ nhất trích từ sách gì không?... "Sách Xuất Hành." Đúng rồi. Con giỏi lắm! Tác giả sách thánh kể, có một hôm, ông Mô-sê thức dậy lên núi Xinai theo lệnh của Đức Chúa. Chúa hiện ra với ông. Chúa nói gì?... Chúa giới thiệu về Chúa, Chúa đi qua trước mặt ông Môsê và nói to: “Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu, từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.”
Còn bài đọc hai trích từ sách nào?... "Từ thứ hai của thánh Phaolô Tông Đồ gởi tín hữu Côrintô". Con giỏi!... Trong đó, thánh Phaolô nói cho chúng ta biết như thế này: “Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em.” Khi gần kết thúc bài đọc, chúng ta nghe thánh Phaolô nói thêm: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần." Nếu trong bài đọc một, chúng ta chỉ được biết về Đức Chúa là Thiên Chúa "nhân hậu, từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” thì trong bài đọc hai, chúng ta được thấy một cách rõ ràng về Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Cha là nguồn tình thương và bình an, Chúa Giêsu là nguồn ân sủng tức là nguồn ơn cứu độ vô tận ban cho con người, Chúa Thánh Thần là ơn hiệp thông có nghĩa là nối kết chúng ta lại với nhau và với Chúa. Như thế, mỗi Ngôi mỗi cách nhưng đều chung một điểm là yêu thương ta. Do đó, trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe công bố, thánh Gioan Tông Đồ đã nói: “Thiên Chúa yêu....” Ai nhớ đọc tiếp giúp cha?... “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời."
Như vậy, cả 3 bài đọc trong Thánh lễ hôm nay đều nói cho chúng ta biết: Chúa Cha thương chúng ta, Chúa Con tức là Chúa Giêsu thương chúng ta và Chúa Thánh Thần thương chúng ta, Ba Ngôi Thiên Chúa cùng thương chúng ta. Nhưng cha hỏi thật các con nhé: các con có thấy Chúa thương mình không? Con thấy Chúa thương con thế nào?... Cha thấy Chúa thương cha, vì hồi đó cha thích đi tu mà cha cứ sợ cha tu không được. Vậy là cha cầu nguyện, cha đi, cuối cùng cha tu được. Chúa nhậm lời cha nên cha thấy Chúa thương cha. Hay như bạn Thảo chia sẻ, bạn ấy thấy Chúa thương bạn vì nhờ ơn của Chúa mà kỳ thi vừa rồi bạn được điểm cao. Bạn Tuấn thì cảm nhận Chúa thương gia đình mình khi mẹ được ơn Chúa thoát qua cơn bệnh hiểm nghèo. Tất cả những cảm nhận đó rất quí, nhưng thấy Chúa thương mình khi mình được ơn là bình thường. Độc đáo hơn làthế này: cách đây không lâu cha vào bệnh viện thăm một bệnh nhân. Người ấy kể cho cha nghe cơn đau của bệnh ung thư khủng khiếp như thế nào, đến độ cha nghe cũng cảm thấy sợ! Nhưng có điều rất lạ; người ấy vừa kể mà cứ nói cám ơn Chúa, Chúa thương cho mình sức chịu đựng. Cha khâm phục một đức tin như thế!... Tuy nhiên, đó cũng chưa phải là ơn quí nhất mà Chúa Ba Ngôi dành cho chúng ta.
Ơn quí nhất, tình thương lớn nhất mà Chúa Ba Ngôi dành cho chúng ta là gì các con biết không?... Là Ba Ngôi Thiên Chúa bao bộc cuộc sống của ta. Con người khi mới sinh bé xíu, rồi lớn lên thành người lớn, thêm tuổi nữa thì già và cuối cùng là chết. Chết là hết phải không chúng con?... Không! Chết là về với Chúa. Vậy cuộc đời của người Kitô hữu là con đường về nhà Cha trên Trời. Nói một cách chính xác thì mỗi ngày trong cuộc sống Chúa Giêsu dẫn ta về, Chúa Cha đang đứng đợi, Chúa Thánh Thần ban sức để ta đi. Đây chính là ơn quí nhất Thiên Chúa ban cho chúng ta, và đây cũng chính là ý nghĩa của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong đời sống chúng ta.
Quí ÔBACE, và các em thiếu nhi thân mến. Tạ ơn Chúa đã mạc khải cho chúng ta biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, một khi hiểu về ý nghĩa của Mầu Nhiệm dựa trên Lời Chúa thì thái độ sống của chúng ta cần thiết thế này: Vì Chúa Cha đang đợi nên em luôn cầu nguyện. Vì Chúa Giêsu dẫn đường nên phải theo Ngài sát, đừng làm gì khác với Ngài. Vì Chúa Thánh Thần ban sức nên em luôn xin Ngài sức mạnh để thực hiện lời Chúa Giêsu. Amen.
 

BaNgôi-324: Hành động yêu thương của Thiên Chúa

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 3:16-18)

Ki-tô hữu Hoa-kỳ có một lối quảng cáo ngộ nghĩnh.  Lái xe trên xa lộ, đôi khi chúng ta thấy một BaNgôi-324 Dalat

Ki-tô hữu Hoa-kỳ có một lối quảng cáo ngộ nghĩnh.  Lái xe trên xa lộ, đôi khi chúng ta thấy một bảng quảng cáo rất đơn sơ, thí dụ “70 x 7”, hoặc “Jn 3:16”.  Với bài Tin Mừng hôm nay, thánh sử Gio-an quảng cáo với chúng ta về hành động yêu thương của Thiên Chúa:  “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (3:16).  Đây là cốt lõi thần học theo thánh Gio-an, diễn tả trọn vẹn và sâu xa nhất đường lối Thiên Chúa yêu thương chúng ta.
          Người ta có nhiều cách để đo lường tình yêu, nhưng không phải bằng những con số.  Có những tình yêu rẻ mạt, đo bằng “đầu môi chót lưỡi” (1 Gio-an 1:18), hoặc đánh đổi bằng tiền bạc vật chất.  Trái với những tình yêu rẻ mạt, chúng ta có những tình yêu cao thượng, được đo lường bằng những hy sinh, những chăm sóc lo lắng cho nhau, như tình gia đình giữa vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em, bạn bè, lòng yêu thương người nghèo khổ… Tất cả những tình yêu cao thượng này của chúng ta chỉ phản ánh được một phần nào tình yêu đích thực và nguyên thủy, đó là tình yêu của Thiên Chúa.  Chúa Giê-su mặc khải cho chúng ta một tiêu chuẩn để đo lường tình yêu của Thiên Chúa:  Thiên Chúa yêu nhân loại đến mức độ ban Con Một cho họ.
          Việc Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian có tầm quan trọng như thế nào?  Như chúng ta biết, sau khi nguyên tổ loài người phạm tội bất tuân, nhân loại đã trở thành “kẻ thù” của Thiên Chúa và họ sẽ phải mất đi.  Nhưng Thiên Chúa không đành lòng để mất tạo vật Người đã dựng nên.  Nó quý giá vì mang hình ảnh của Người, nên Người yêu thương và muốn cứu họ.  Để thực hiện việc cứu độ này, dĩ nhiên Thiên Chúa có thể dùng quyền năng của Người và làm bất cứ điều gì đó một cách dễ dàng.  Nhưng Người muốn việc cứu độ phải là hành động tỏ tình yêu thương, chứ không phải là hành động biểu dương quyền năng.  Vì thế, Người đã chọn cách nào gần gũi con người nhất, dễ nhận biết nhất, làm cho con người cảm động nhiều nhất, miễn là con người có thể cảm nhận được trái tim của Thiên Chúa.  Hành động Thiên Chúa biểu lộ tình yêu qua việc sai Con Một đến trần gian có những giai đoạn khác nhau.
          Trước hết là việc Nhập Thể của Lời, tức Ngôi Hai Thiên Chúa.  Nhờ quyền năng của Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Gio-an 1:14).  Diễn trình đưa nhân loại về làm hòa với Thiên Chúa bắt đầu với sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su.  Chủ đề “Thiên Chúa yêu nhân loại” được khai triển qua lời giảng của Chúa Giê-su.  Kèm theo với lời giảng, các phép lạ Chúa Giê-su thực hiện cũng không ngoài mục đích là để biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho nhân loại.  Mục đích Chúa Giê-su được sai đến “không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ”.  Thực hiện việc cứu độ đòi hỏi phải hòa giải nhân loại với Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã trả giá cho sự hòa giải này bằng chính mạng sống của Người.  Người chết nhục trên thập giá để chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa, và để ai tin vào tình yêu ấy mà hối cải và lãnh nhận phép rửa thì được thay đổi căn tính, từ kẻ thù trở thành con cái Thiên Chúa.  Nói tóm lại, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta bằng việc làm cụ thể là sai Con Một đến cứu độ chúng ta.  Tất cả Ba Ngôi hợp tác chặt chẽ với nhau để thực hiện kế hoạch cứu độ nhân loại mà thánh Phao-lô gọi là “kế hoạch yêu thương Người (Chúa Cha) đã định từ trước trong Đức Ki-tô” (Ê-phê-xô 1:9).
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Bài Tin Mừng năm A cho chúng ta một cái nhìn độc đáo về Thiên Chúa Ba Ngôi:  Thiên Chúa cứu độ chúng ta vì Người quá yêu thương chúng ta.  Có lẽ dễ dàng để chúng ta rút ra bài học sống Tin Mừng, là chúng ta hãy cố gắng cảm nhận tình yêu của Chúa và đáp lại tình yêu ấy, hơn là bóp trán suy tư những lý thuyết cao siêu về Ba Ngôi Thiên Chúa.  Mỗi Ngôi Thiên Chúa tỏ ra lòng yêu thương chúng ta một cách:  Chúa Cha sắp đặt kế hoạch cứu độ, Chúa Con thực hiện kế hoạch và Chúa Thánh Thần tiếp tục và hoàn tất kế hoạch.  Còn chúng ta, chẳng lẽ chúng ta đứng nhìn, không màng tham dự vào kế hoạch dành cho mình?
       Lm. Đaminh Trần đình Nhi
 

BaNgôi-325: Chúa Nhật lễ Chúa Ba Ngôi

(22-5-2005)
Ba Ngôi Thiên Chúa tuy đa dạng nhưng hiệp nhất
ĐỌC LỜI CHÚA
·   Xh 34,4b-6.8-9: (6) «Đức Chúa là Thiên Chúa nhân hậu, từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín».
·   2Cr 13,11-13:  (13) Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần.
 ·   TIN MỪNG : Ga 3,16-18
Thiên Chúa yêu thương thế gian
(16) Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  (17) Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.  (18) Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý :

Ba Ngôi Thiên Chúa khác biệt nhau hay giống nhau? Nếu khác biệt, làm sao Ba Ngôi lại hiệp nhất BaNgôi-325

  1.    Ba Ngôi Thiên Chúa khác biệt nhau hay giống nhau? Nếu khác biệt, làm sao Ba Ngôi lại hiệp nhất thành một Thiên Chúa duy nhất được? Ta có thể rút ra bài học gì? Muốn hiệp nhất thì phải tôn trọng sự khác biệt hay phải dẹp bỏ sự khác biệt?
  2.    Giữa một đằng là tôn trọng sự khác biệt và đa dạng, và một đằng là dẹp bỏ mọi khác biệt để thống nhất thành một dạng duy nhất, đằng nào là hợp tự nhiên, đằng nào là phản tự nhiên? Đằng nào hợp ý Thiên Chúa, đằng nào ngược lại ý Ngài?
  3.    Sự đa dạng về tôn giáo trên thế giới có thể là ý muốn của Thiên Chúa không? Tại sao?
Suy tư gợi ý :
1. Ba Ngôi khác biệt nhưng hiệp nhất thành một Thiên Chúa
Một trong những đặc điểm khiến Kitô giáo khác với một vài tôn giáo hữu thần khác, đó là quan niệm Thiên Chúa có ba ngôi. Trong khi Hồi giáo chẳng hạn, quan niệm Thiên Chúa chỉ có một ngôi duy nhất. Ba ngôi Thiên Chúa tuy không giống nhau, nhưng hoàn toàn bằng nhau. Nói cách khác, giữa Ba Ngôi, có sự khác biệt và đa dạng, nhưng lại có sự bình đẳng tuyệt đối. Thật vậy, trong Ba Ngôi, mỗi Ngôi có một đặc tính riêng, một nhiệm vụ riêng phù hợp với bản chất riêng của mình. Ngôi Nhất là Cha: là Đấng Sáng Tạo, tạo dựng nên vũ trụ muôn loài. Ngôi Hai là Con: là Lời, là phát ngôn viên của Chúa Cha, cũng là Đấng Cứu Chuộc vũ trụ. Ngôi Ba là Thánh Thần: là tình yêu giữa Ngôi Cha và Ngôi Con, cũng là Đấng thánh hóa, đổi mới muôn loài.
Tuy khác biệt và đa dạng, nhưng Ba Ngôi luôn yêu thương nhau và hiệp nhất với nhau thành một Thiên Chúa duy nhất, chứ không phải là ba Thiên Chúa khác nhau. Vì thế, Ba Ngôi chính là một mẫu gương tuyệt vời cho nhân loại về sự hiệp nhất trong đa dạng.
2. Ba Ngôi khác biệt và đa dạng đã tạo dựng một vũ trụ cũng đầy khác biệt và đa dạng
Do khác biệt và đa dạng từ bản tính, Ba Ngôi cũng tạo dựng nên một vũ trụ mang đầy dấu ấn bản tính của mình là đa dạng và khác biệt. Thật vậy, vũ trụ có hàng tỷ tỷ tinh tú, khác nhau đủ kiểu: về tính chất, hình dạng, về cấu tạo, độ lớn… Vạn vật, chỉ riêng trên trái đất ta đang sống, đã có hàng tỷ loài khác nhau. Riêng loài người – là một trong muôn loài của vũ trụ – cũng có nhiều chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, quốc gia… khác nhau. Ngay trong cùng một chủng tộc, một tôn giáo hay một gia đình, con người cũng khác biệt nhau: «bá nhân bá tính». Thiên Chúa muốn duy trì sự khác biệt và đa dạng ấy, vì nó làm cho vũ trụ luôn phong phú, muôn màu muôn vẻ.
Ta thử tưởng tượng theo chiều ngược lại xem: nếu các loại hoa trên thế giới được thống nhất để chỉ thành một loại hoa duy nhất, theo mẫu một loại hoa đẹp nhất, diễm lệ nhất hiện nay, thì thế giới sẽ đẹp hơn, phong phú hơn, hay sẽ đơn điệu và buồn thảm hơn? Nếu các loại khác trên thế giới cũng đều được thống nhất tương tự như thế, thì thế giới sẽ ra sao? tốt hơn hay dở hơn? Xét thế để ta biết đường lối của Thiên Chúa thế nào: thích khác biệt hay thích đồng dạng? Ta phải theo hướng nào mới phù hợp với đường lối Ngài?
3. Khác biệt là để bổ túc lẫn nhau hầu cùng tồn tại và phát triển, chứ không phải để tranh đấu với nhau một mất một còn
Sách Sáng Thế viết: «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ» (St 1,27). Câu này có cấu tạo về lý luận tương tự như: «Ông A sinh ra một đứa con giống hệt ông, nó là hình ảnh của ông, nó rất trắng trẻo và đẹp trai». Đọc câu này, ai cũng có thể kết luận: như vậy là ông A cũng «rất trắng trẻo và đẹp trai», mặc dù câu trên không trực tiếp nói ông A như thế. Cũng vậy, cứ theo ngữ cảnh của câu Kinh Thánh trên, nếu hình ảnh của Thiên Chúa là con người mà có nam có nữ, thì ắt hẳn Thiên Chúa cũng có nam có nữ, mặc dù Kinh Thánh không trực tiếp nói như thế. Vì hình ảnh của Ngài – là con người – được Kinh Thánh mô tả thế nào thì chính Ngài ắt hẳn cũng tương tự như vậy. Người và ảnh ắt phải giống nhau, nếu không thì ảnh không còn là ảnh nữa. Một số nhà thần học có khuynh hướng cho rằng Ngôi Ba Thánh Thần có nhiều nữ tính, nên có thể Ngài là nữ. Đây chỉ là một tư tưởng thần học trong Giáo Hội chưa được khai thác và bàn luận nhiều: tuy chưa được Giáo Hội xác nhận, nhưng không phải là kém hợp lý.
Không chỉ con người mới có nam có nữ, các loài động vật khác cũng có đực có cái, có trống có mái, v.v… Ngay cả vật chất cũng được phân thành âm dương: nguyên tử có âm điện tử và dương điện tử, các hợp chất chẳng hạn như muối ăn (NaCl) cũng được cấu tạo bởi phần dương Na+ và phần âm Cl–. Trong vũ trụ và đời sống con người, âm dương, nam nữ… tuy khác biệt nhau, mâu thuẫn nhau, nhưng không phải là để đấu tranh đến độ một mất một còn, mà để cả hai cùng bổ túc cho nhau hầu cùng tồn tại và phát triển. Trong gia đình, vợ chồng khác biệt nhau không phải để xung đột nhau, để người mạnh ép người yếu phải nên giống mình, mà để bổ túc cho nhau, để cần lẫn nhau, và để yêu thương nhau, hiệp nhất với nhau nên một. Sự khác biệt và đa dạng trong thế giới và nhân loại quả là cần thiết và ích lợi tương tự như vậy.
4. Chiều hướng phản tự nhiên của con người
Nhưng con người – một khi nắm quyền hành trong tay – thường bị cám dỗ muốn thống nhất tất cả theo khuôn mẫu của mình, là khuôn mẫu mà mình cho là hay là đẹp nhất. Họ muốn «kéo cẳng vịt ra cho dài, thu cẳng cò lại cho ngắn», để biến tất cả thành đồng dạng. Vì thế, họ gây nên bao đau khổ cho con người. Đó là khuynh hướng chung của những chế độ độc tài, của những tôn giáo cuồng tín… Hiện nay, nhiều nhà thần học Á châu nhận ra rằng ngay cả tình trạng đa tôn giáo trên thế giới cũng có thể là chính ý muốn của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa chỉ muốn Kitô giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới, ắt Ngài đã để Đức Giêsu sinh ra trước các giáo chủ của những tôn giáo khác, để tranh thủ truyền đạo Kitô giáo trước. Vì nếu người ta đã tin và hiểu rõ sự hợp lý của một tôn giáo nào rồi, thì rất khó và rất ít khi họ theo một tôn giáo khác. Nhưng Thiên Chúa đã không làm thế, mà để Đức Giêsu xuống thế sau các vị giáo chủ khác cả hàng mấy trăm năm. Nhiều nhà thần học cũng nhận ra rằng suốt mấy thập niên qua, dân số của Kitô giáo (gồm Công giáo, Tin Lành, Chính Thống…) trên thế giới ngừng ở tỷ lệ 1/3 và tỷ lệ ấy có nguy cơ giảm đi chứ khó có thể tăng lên. Nhiều nhà tư tưởng cũng nhận ra rằng con người càng cố thống nhất mọi người, cố ép mọi người đi theo chiều hướng phe phái mình, thì càng tạo nên chia rẽ, và càng gây nên đau khổ, tai họa cho con người.
Nói chung, con người cứ muốn thống nhất mọi sự, muốn mọi sự trở nên đồng dạng giống như mình, như tập thể hay bè phái của mình, và sẵn sàng cưỡng ép mọi người theo mục đích ấy. Điều này rõ ràng ngược lại tự nhiên và phản lại đường lối của Thiên Chúa.
5. Hiệp nhất khác với thống nhất
Thiên Chúa của chúng ta có Ba Ngôi. Ba ngôi tuy khác biệt nhau, nhưng lại hiệp nhất thành một Thiên Chúa duy nhất. Sự hiệp nhất này rõ ràng không đòi hỏi phải hy sinh sự khác biệt giữa Ba Ngôi. Trái lại, chính vì tuyệt đối tôn trọng sự khác biệt và bình đẳng của nhau mà Ba Ngôi có thể hoàn toàn hiệp nhất với nhau nên một. Sự hiệp nhất trong đa dạng này khác hẳn với sự thống nhất trong đồng dạng mà con người thường hay theo đuổi.
Hiệp nhất (trong đó, chữ «hiệp» giả thiết có nhiều phần tử khác biệt nhau) là tập hợp những con người hay tập thể khác nhau, có chủ trương khác nhau thành một tập thể lớn có một đường hướng chung, nhưng vẫn tôn trọng và duy trì sự khác biệt giữa nhau. Còn thống nhất là dẹp bỏ tất cả những khác biệt để trở nên một khối đồng nhất, đồng dạng. Như vậy, hiệp nhất trong đa dạng thì tôn trọng tính tự nhiên, phù hợp với ý muốn và bản tính của Thiên Chúa, nên dễ thực hiện và tạo được sự hòa hợp. Còn thống nhất trong đồng dạng thì phản lại tự nhiên, phản lại ý muốn và bản tính của Thiên Chúa, nên thường có tính áp đặt, tạo chống đối, gây chia rẽ, và làm cho nhiều người đau khổ.
Thiết tưởng dịp lễ Chúa Ba Ngôi là dịp để mọi Kitô hữu chiêm ngắm mẫu gương hiệp nhất trong đa dạng của Ba Ngôi, để bắt chước và áp dụng gương ấy trong gia đình, Giáo Hội, xã hội và trong cả cộng đồng nhân loại. Thiên Chúa luôn luôn muốn chúng ta hiệp nhất (Ut sint unum – Ga 17,11) mà vẫn duy trì sự khác biệt và đa dạng, chứ không muốn chúng ta phải trở thành đồng dạng. Vả lại đồng dạng không hẳn đã dẫn tới hiệp nhất.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, người xưa nói: «Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa»: người quân tử vẫn có thể sống hòa hợp yêu thương nhau và thành một với nhau cho dù họ rất khác biệt nhau; còn kẻ tiểu nhân, tuy giống nhau, đồng dạng với nhau, nhưng vẫn không thể sống hòa hợp với nhau. Xin đừng để con hay bất kỳ ai trong Giáo Hội cho rằng cứ phải đòi hỏi mọi người tin giống y như nhau, chủ trương giống y như nhau, thậm chí trong từng chi tiết, thì mới hiệp nhất với nhau được. Xin cho chúng con nhận ra bí quyết của sự hiệp nhất nằm trong việc tôn trọng tính khác biệt và đa dạng chứ không nằm trong sự đồng dạng về niềm tin. Xin giúp chúng con noi gương Ba Ngôi tuy khác biệt và đa dạng nhưng vẫn yêu thương nhau và nên một với nhau.     
Joan Nguyễn Chính Kết
 

BaNgôi-326: TÌNH YÊU DIỆU VỜI

Một sinh viên vô thần nói với một vị Linh Mục: Thưa cha, tôi thấy trong Kitô giáo có một chân lý BaNgôi-326 Ephata

Một sinh viên vô thần nói với một vị Linh Mục: Thưa cha, tôi thấy trong Kitô giáo có một chân lý khó tin, lạ lùng gọi là "mầu nhiệm Ba Ngôi". Phải hiểu thế nào kiểu nói "Thiên Chúa có một bản tính nhưng ba ngôi vị” ? Một mà ba, ba mà một ! Thật khó hiểu, nếu không nói là phi lý !
Vị Linh Mục hỏi: Anh còn trẻ, chắc đang sống kinh nghiệm tình yêu ?
Ủa ! Sao cha hỏi lại thế ? Đúng là tôi đang yêu thật !
Theo anh, tình yêu trước hết đòi hỏi phải có những gì ?
Đòi hỏi phải có từ hai người trở lên ! Tự ái chỉ là ích kỷ, không thể gọi là tình yêu được !
Đúng lắm ! Nhưng tình yêu hướng đến cái gì ?
Hướng đến sự hiệp nhất ! Tất cả phải nên một ! Tình yêu nam nữ hướng đến hiệp nhất tâm hồn, thể xác và cuộc sống. Tình đồng chí, tình bằng hữu... hướng đến hiệp nhất cuộc sống và tâm hồn !
Nhưng theo anh, sự hiệp nhất này có bao giờ đạt được chăng ?
Phải nói ngay đó chỉ là ước vọng. Ví dụ, những năm đầu cuộc sống hôn nhân thì "anh nói em nghe, em nói anh nghe", nhưng năm sau thì "cả hai cùng nói, hàng xóm nghe !" Trong một tập thể nhiều người, đồng tâm nhất trí lại càng khó thực hiện.
Cái chỉ là ước vọng nơi con người, thì đã thành hiện thực nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa độc nhất, nhưng vì Ngài là Tình Yêu nên có Ba Ngôi. Ngài là Ba Ngôi, nhưng vì là Tình Yêu, nên đã hợp nhất thành một Thiên Chúa.
Cho tôi hỏi câu cuối cùng: Tại sao là ba mà không phải là hai, như trong tình yêu nam nữ ?
Sau này có gia đình, anh và vợ chỉ yêu nhau mà không muốn có con, sợ thêm hy sinh, thêm trách nhiệm, tình yêu anh chị có chân thật và bền vững không ?
Thưa không ! Tình yêu chúng tôi phải chảy tràn qua và thể hiện thành một đứa con, ít nhất một đứa; nếu không thì chỉ là tình yêu mình trong người bạn đời của mình. Ngoài ra, tình yêu ấy còn phải trải rộng cho mọi người chung quanh nữa !
Anh bạn thân mến, anh sắp hiểu được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi rồi. Nhưng đừng áp dụng quá sít sao đấy nhé !
Trong cuộc sống, có nhiều điều lạ lùng mà trí khôn con người vẫn không bao giờ hiểu thấu. Để diễn tả các điều khó hiểu của cuộc sống, cha ông ngày xưa mới đố nhau:
Đố ai biết lúa mấy cây,
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy tầng.
Đố ai quét sạch lá rừng,
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Có lẽ trong tất cả mọi điều khó hiểu của cuộc sống con người thì tình yêu là khó hiểu nhất. Chỉ nguyên định nghĩa tình yêu thôi cũng đủ để hao tổn bao công sức và giấy mực qua các thời đại mà vẫn không có được một định nghĩa diễn tả trọn vẹn ý nghĩa. Và vì không có được một định nghĩa nên người ta mới coi tình yêu như là mầu nhiệm. Thế nhưng, mầu nhiệm tình yêu có đáng là gì so với các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Trong các mầu nhiệm của Thiên Chúa thì mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là cao cả nhất, khó hiểu nhất. Như sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định: Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của Đức Tin và đời sống Kitô hữu. Bởi vì đây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa mà cũng là mầu nhiệm của Thiên Chúa “cho chúng ta”.
Kinh thánh mạc khải cho biết “Thiên Chúa là Tình Yêu” ( 1Ga 4, 8 ). Mà nếu Chúa là tình yêu, thì tình yêu không thể hiện hữu một mình. Yêu là phải cho đi, phải san sẻ; và yêu cũng phải là đón nhận. Thánh Augustinô đã ví Chúa Cha là nguồn mạch, là điểm phát xuất của Tình Yêu; Chúa Con là hội tụ, là điểm quy chiếu của tình yêu; và Chúa Thánh Thần là sự liên lạc hai chiều, là mối dây liên kết của tình yêu.
Tình yêu xuất phát từ Chúa Cha, đến với Chúa Con, qua Chúa Thánh Thần. Trong mầu nhiệm tình yêu, Cha trao tất cả cho Con; Con dâng hiến tất cả cho Cha; và Thánh Thần là sự hiệp thông của trao ban và lãnh nhận hai chiều giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Cha không hiện hữu cho chính mình, nhưng cho Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Cũng vậy, Chúa Con không hiện hữu cho mình, nhưng cho Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Và Chúa Thánh Thần cũng hiện hữu vì Chúa Cha và Chúa Con.
Résultat de recherche d'images pour 'Trinité'Qua con người và cuộc đời của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, chúng ta cảm nhận rằng Thiên Chúa là Đấng rất nhân từ, giàu lòng thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan dung. Thiên Chúa không là gì khác ngoài Tình Yêu. Ngài có thể làm tất cả vì Ngài Toàn Năng, nhưng đúng hơn, Ngài chỉ có thể làm những gì mà tình yêu có thể làm, và Ngài không thể làm những gì trái với tình yêu, vì bản chất của Ngài là yêu thương.
Không ai lý giải cặn kẽ được tình yêu nhưng vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài nên cứ nhìn vào tấm gương tình yêu phản chiếu nơi con người, ta có thể bập bẹ đôi điều về Thiên Chúa:
1. Yêu là ra khỏi mình để hướng tới người khác:
Nói đến yêu là chúng ta nói đến người thứ hai, thứ ba, là nói đến một đối tượng khác với chúng ta. Nếu Thiên Chúa là Tình Yêu mà Ngài chỉ yêu một thân mình Ngài thì đó là ích kỷ, và như vậy không phải là Thiên Chúa của tình yêu. Nếu “Thiên Chúa là Tình Yêu” thì Thiên Chúa ấy không cô độc một mình. Từ đời đời Ngài đã hướng về Chúa Con, đã yêu thương Chúa Con bằng Tình Yêu khôn tả là chính Chúa Thánh Thần.
2. Yêu là chấp nhận sự khác biệt của nhau:
Nếu chúng ta chỉ yêu cái gì giống mình, cái gì hợp với sở thích của mình, chỉ yêu những người tốt bụng thì không phải là yêu người mà chỉ là yêu mình, là chúng ta đã bóp chết tình yêu, không làm nảy nở tình yêu. Yêu thương là chấp nhận cái hay lẫn cái dở, sự giàu có lẫn sự nghèo nàn của người mình yêu vì họ khác với mình.Chúa Cha yêu Chúa Con, nghĩa là Chúa Cha khác với Chúa Con. Chúa Con phải là một Ngôi Vị khác với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần thì Thiên Chúa mới là Tình Yêu.
3. Yêu nhau là muốn nên một với nhau:
Càng yêu nhau thì càng hài hòa trong chính sự khác biệt, vì “yêu nhau củ ấu cũng tròn”. Chúng ta vẫn thường nói về tình yêu vợ chồng: “Ta với mình tuy hai mà một”. Bản chất con người là giới hạn nên sự hiệp nhất của con người không toàn vẹn, song quyền năng vô hạn của Thiên Chúa làm cho sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi là trọn vẹn tuyệt đối. Chúa Cha và Chúa Con yêu nhau hết mình, yêu đến quên mình nên đã trở nên một trong Tình Yêu là Chúa Thánh Thần.
Như thế chỉ trong tình yêu, chúng ta mới dễ hiểu: tự bản chất, Thiên Chúa không thể là một ngôi vị đơn độc; và rằng chỉ trong tình yêu ‘chín bỏ làm mười’, chúng ta mới hiểu được Thiên Chúa vừa là ba, lại vừa là một.
Chúng ta có thể quan niệm mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi như một gia đình: Gia Đình Thiên Chúa. Gia đình tuy có ba thành phần khác nhau, song luôn luôn hiệp nhất với nhau. Yếu tố nòng cốt để có sự hiệp nhất trong gia đình chính là tình yêu, và tình yêu làm nên hạnh phúc, mà bản chất của Thiên Chúa lại là Tình Yêu. Chúng ta cũng thuộc về Gia Đình Thiên Chúa khi sống yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng ta. Thực vậy, sống yêu thương là sống ở trong Thiên Chúa; và đó là Nước Trời, vì “ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa” ( 1Ga 4, 8 ). Gia đình yêu thương là làm cho hạnh phúc ngắn hạn của trần gian này được biến đổi trở thành hạnh phúc vĩnh cửu trong Gia Đình Thiên Chúa ( x.  Mầu nhiệm Ba ngôi, Giáo Lý Giáo Phận Đà Lạt ).
Thiên Chúa duy nhất nhưng không phải là Thiên Chúa đơn độc mà là cộng đồng Ba Ngôi thương yêu nhau hướng về nhau. Ba Ngôi là một gia đình. Giáo Hội là một gia đình của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha, Đức Giêsu là Trưởng Tử, mọi người là anh chị em của nhau. Đạo lý Đông phương vốn trọng chữ trung chữ hiếu và chữ nhân, rất gần gũi với tinh thần Kitô giáo. Trung với Chúa, hiếu thảo với tổ tiên ông bà cha mẹ, nhân ái với mọi người.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và duy nhất là một mầu nhiệm vĩ đại thâm sâu mà trí tuệ con người không thể nào hiểu hết, chỉ có thể đón nhận bằng Đức Tin. Thực tại Ba Ngôi không là một điều nghịch lý nhưng là nghịch thường và siêu lý. Mầu nhiệm Ba Ngôi là ánh sáng chói loà rực rỡ, ánh sáng ban sự sống cho những ai khiêm nhường đón nhận và sẽ là bóng tối dày đặc đầy mâu thuẫn đối với những kẻ kiêu căng muốn dùng lý trí làm thước đo siêu việt.
Résultat de recherche d'images pour 'Trinité'Nhìn lên cung thánh, ta thấy Thánh Giá, Nhà Tạm, Bàn Thờ. Đó là trung tâm niềm tin của người Kitô hữu. Trên Thánh Giá, Đức Kitô đã tự hiến làm hy lễ dâng lên Chúa Cha. Ngài tự nguyện chịu đau khổ, chịu chết trong tinh thần vâng phục và yêu mến đối với Cha, để thiết lập giao ước mới với Giáo hội trong máu của Ngài. Ngài đã phục sinh về với Cha nhưng vẫn luôn ở lại với Giáo Hội qua Bí Tích Thánh Thể mà Nhà Tạm là nơi Ngài hiện diện thường trực. Bàn thờ tượng trưng cho Chúa Kitô, khi Linh Mục cử hành Thánh Lễ là tưởng niệm Hy Lễ Thập Giá và cử hành mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô.
Ba Ngôi sống bằng một lương thực thần linh, cùng một sự sống, đó là tình yêu thần linh. Chúng ta được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi khi đi vào cử hành mầu nhiệm vượt qua trong Thánh Lễ. Với chúng ta, sự sống ấy là sự sống của Đức Kitô, Mình và Máu Đức Kitô trao ban qua Thánh Thể: “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời” ( Ga 6, 34 ). Khi chia sẻ chén hiệp thông của Ba Ngôi, chúng ta được mời gọi hiệp thông với nhau để trở nên một như Ba Ngôi là một ( Ga 17, 21 ).
Người tín hữu đến Nhà Thờ để tìm Chúa và gặp Chúa. Đức Hồng Y Henry de Lubac diễn tả: Con người tìm Chúa là một người bơi lội giữa đại dương. Mỗi lần tiến tới là đẩy lui một đợt sóng. Bơi lội giữa đại dương làm cho con người khiếp đảm lo sợ không tới bến. Nhưng Thiên Chúa vừa là bến bờ vừa là đại dương. Ai bơi lội trong đại dương là bơi lội trong Thiên Chúa. Hướng tới Chúa đã là ở trong Chúa, tìm Chúa gặp Chúa là hướng về Chúa. Không có sự tìm kiếm nào mà không phải phấn đấu, không gặp mâu thuẫn và đau khổ. Nhưng chúng ta tin vào Thiên Chúa đang ở với chúng ta trong Đức Kitô và lôi kéo chúng ta với sức mạnh Chúa Thánh Thần.
Qua phép rửa nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, chúng ta trở thành nghĩa tử của Chúa Cha ( x. Rm 8, 15 ), em của Chúa Con ( x. Rm 8, 29 ) và đền thờ của Thánh Thần ( x. 1Cr 6, 19 ), hợp thành Giáo Hội là "Dân Thánh được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi" ( Hiến chế GH 4 ). Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương. Chúng ta chỉ được hạnh phúc khi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong gia đình, cha mẹ, con cái yêu thương nhau thì càng hiệp nhất nên một. Tình yêu là dây liên kết mọi người nên một gia đình hạnh phúc ấm êm. Gia đình là nơi sống và diễn tả huyền nhiệm Ba Ngôi rõ nét nhất.
Sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong tình yêu. Mỗi ngày người tín hữu chúng ta làm dấu Thánh Giá nhiều lần trên thân xác “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Ước gì mỗi người cũng biết in dấu Chúa Ba Ngôi, sống tình yêu thương trong cuộc sống hàng ngày của mình.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN
 

BaNgôi-327: Làm Trở Thành Môn Đệ

Lễ Chúa Ba Ngôi (năm B)
Mt 28,16-20: 16 Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. 17 Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18 Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy khi đi anh em hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Đoạn 28:26-20 không chỉ kết thúc trình thuật thương khó - phục sinh (chương 26-28), mà cả toàn BaNgôi-327

Đoạn 28:26-20 không chỉ kết thúc trình thuật thương khó - phục sinh (chương 26-28), mà cả toàn bộ Tin mừng theo Matthêu. Cấu trúc đoạn được đề nghị như sau: 1- Ở Galilêa, các môn đệ và hành động của các ông (cc. 16-17); 2- Chúa Giêsu và tuyên bố của Người (cc. 18-20). Phần thứ hai nầy gồm 3 tiểu đọan: a- Tuyên bố về quyền hành (c. 18b); b- Sự sai đi (cc. 19b-20a); c- Một lời hứa (c. 20b); đây cũng là kết luận của đoạn. 
Lần đầu tiên Matthêu ghi nhận nhóm Mười Một thay vì Mười Hai, vì thiếu Giuđa. Điều nầy gợi lại ngay cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, trong đó Giuđa đã nhúng tay vào (27:3-10). Nhóm nầy đến Galilê theo lệnh của Chúa Giêsu qua thiên thần (26:32; 28:7.10). Galilê là xứ sở của dân ngoại (4:14-16). Từ nơi nầy Chúa Giêsu đã khởi đầu việc rao giảng của Người, cách riêng cho người Do thái (3:13; 4:12; 4:18); bây giờ cũng từ nơi nầy các tông đồ sẽ bắt đầu sứ vụ của các ngài, nhưng cho muôn dân. Hơn nữa, cụm từ “đến ngọn núi” (với mạo từ chỉ định) làm liên tưởng đến ngọn núi nơi Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ công khai của Người với Bài giảng về cách sống mới của con cái Nước Trời (5:1). Vậy cũng từ ngọn núi nầy khai mạc sứ vụ của các tông đồ.
 Quyền hành của Chúa Giêsu do Thiên Chúa “của trời đất” ban cho (11:25). Chủ yếu đó là quyền giảng dạy (7:29; 21:23) và quyền tha tội (9:6). Matthêu ghi nhận Chúa Giêsu đã ban quyền xua trừ quỉ và chữa lành bệnh tật cho các môn đệ khi Người kêu gọi các ông (10:1); còn quyền giảng dạy và tha tội chỉ ban lúc nầy, sau khi Người đã sống lại (28:19-20). Cách nói “quyền hành trên trời dưới đất” chỉ đến quyền hành trọn vẹn và tối cao trên tất cả. Việc ban các quyền hành nầy tương ứng với việc gởi các tông đồ đi khắp nơi để làm cho muôn dân trở thành môn đệ, bằng cách rửa tội và giảng dạy cho họ. Làm cho muôn dân trở thành môn đệ là làm cho họ nhận biết và nhìn nhận Chúa Giêsu là Thầy của họ (x. 23:8; 26:49), và để họ được giáo huấn bởi Người (x. Mt 13:52; 27:57; Tđcv 14:21). Công việc nầy vượt qua biên giới không gian và chủng tộc hạn hẹp của Israel (x. 10:5; 15:24). Điểm nhắm đến bây giờ là mọi dân tộc (x. 24:14; 26:13), mà các đạo sĩ (2:1-12), viên bách quản (8:5-13), và người phụ nữ Canaan (15:21-28) là những hoa quả đầu mùa.
  Được thực hiện qua phép rửa, việc tha tội đi trước việc giảng dạy. Dân chúng đã lãnh nhận phép rửa trước khi nghe Bài giảng trên núi. Cũng thế, các tông đồ cần làm cho mọi người trở về với Chúa trước khi giảng dạy cho họ về Người. Phép rửa nhân danh của Cha, Con và Thánh Thần được thực hiện như phép rửa của Chúa Giêsu (x. 3:16-17). Chữ “tên” dùng ở số ít để chỉ sự duy nhất của Ba Ngôi. Các tông đồ không giảng dạy điều gì mới mẻ, mà chỉ dạy mọi người tuân giữ giáo huấn của Chúa Giêsu mà họ đã nghe. Như thế, Giáo hội là trường dạy của Chúa Giêsu, là nơi công việc dạy dỗ của Người được tiếp tục (x. 4:23; 5:2; 7:29; 9:35; 11:1; 13:54; 26:55).
   Sau cùng, lời hứa ở với họ cho đến tận thế là âm vang của tên Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta (1:23). Lời hứa nầy cho thấy Chúa Giêsu sống lại vẫn hiện diện thật sự trong trần thế, như kinh nghiệm các tông đồ đã có, cho đến khi Người tỏ mình rỡ ràng trong ngày phán xét (x. 13:39-40. 49).
  Đấng Sống Lại cũng chính là Chúa Giêsu trần thế. Người trao lại quyền hành và hiện diện liên tục với các tông đồ để họ có thể tiếp tục sứ vụ của Người là làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người.
 Lm. Đặng Quang Tiến
3-6-2009
 

BaNgôi-328: Dấu Thánh nhiệm mầu.

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

Ca khúc “Làm Dấu” với giai điệu nhẹ nhàng mang tâm tình cầu nguyện, lời ca tuyên xưng niềm BaNgôi-328

Ca khúc “Làm Dấu” với giai điệu nhẹ nhàng mang tâm tình cầu nguyện, lời ca tuyên xưng niềm tin Ba Ngôi Thiên Chúa mỗi khi làm dấu thánh giá. Có lẽ nhiều người thuộc lòng và ngân nga bài ca này hàng ngày.
1. Con đặt tay lên trán tôn vinh Chúa Cha toàn năng.
Con đưa tay xuống ngực chúc tụng Chúa Con tình yêu.
Đưa tay sang trái phải, vinh danh Chúa Thánh Thần nguồn ơn thánh thiên hồng phúc đời con.
Mỗi lần làm dấu thánh xin ngự đến trong tâm hồn con, mỗi khi con cầu nguyện xin hãy biến đổi tâm hồn con, xin cho con giống Ngài trong lời nói việc làm, ước mong đời con nên dấu chỉ yêu thương của Ngài giữa đời.
ĐK: Con làm dấu hằng ngày. Con làm dấu một đời, khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con. Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu nhắc nhở con luôn hướng lòng lên Chúa.
Con làm dấu hằng ngày. Con làm dấu một đời, khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con. Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu Chúa mãi ở trong con con ở trong Chúa.
2. Bao lần con quên Chúa khi vô ý hay khi thờ ơ.
Bao phen con ngại ngần lúc làm dấu tuyên xưng niềm tin.
Đã có lúc yếu hèn, không làm dấu giữa đời, Ngài ơi giúp con bừng cháy niềm tin.
Giữa hiểm nguy khốn khó con làm dấu xin ơn bình an, trong an vui ngập tràn con làm dấu hân hoan tạ ơn. Khi cô đơn thất vọng, khi mệt mỏi chán chường, Chúa ơi ở bên con nhé vì con đây luôn cần tới Ngài.
Làm dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng đức tin, tôn vinh Chúa Ba Ngôi của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác.
Mùa Phục Sinh kết thúc với đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Giáo hội nhìn lại chương trình cứu độ được Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử nhân loại và nhận ra rằng: nguồn ơn cứu độ chính là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, chúng ta hiểu tại sao ngày Chúa nhật mùa Thường niên tiếp ngay sau lễ Hiện Xuống, luôn luôn được Giáo hội mừng kính và suy niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Giáo Hội là công trình của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài, Giáo Hội sinh ra; nhờ Ngài, Giáo Hội hoạt động; và hướng tới Ngài, Giáo Hội dấn bước. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nắn đúc nên Giáo Hội theo lòng Ngài mong ước. (Thư Chung 2011, Số 19).
Giáo hội được Chúa Cha tập hợp chung quanh Chúa Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Là dân tộc lữ hành, Giáo hội phát xuất từ Chúa Cha, sẽ trở về với Chúa Cha, nhờ trung gian của Chúa Kitô, dưới hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính từ mầu nhiệm Ba Ngôi mà Giáo hội được sinh ra và cũng từ Thiên Chúa mà Giáo hội lãnh nhận sứ mạng để tất cả nhân loại làm thành một Dân Thiên Chúa, tập họp thành Thân Thể Chúa Kitô, được xây dựng thành Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Giáo hội như là hình ảnh của mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thần Linh và Giáo hội là dấu chỉ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại (x.GH1; GLCG số 772). Ba Ngôi là cội nguồn và là cùng đích của Giáo hội. Giáo hội là công trình của Ba Ngôi. Giáo hội nuôi sống con cái mình bằng thần lương Ba Ngôi ban tặng qua các bí tích.
1. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo.
Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người, ngay cả óc tưởng tượng của con người, cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một vấn đề, càng không phải là một vấn đề toán học. Mầu nhiệm không phải là vấn đề hay bài toán: 3 là 3; 1 là 1. Không tính với bài toán nào mà 1 là 3 hay 3 thành 1 được. Thiên Chúa không phải là những con số. Không thể làm trò ảo thuật hay lý luận đưa ngón tay ba đốt hay hình tam giác mà ví von được.
Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này? Chính Chúa Giêsu Kitô. Nếu Chúa không dạy bảo thì loài người không thể nào biết được. Cho tới trước khi Chúa Kitô đến, loài người không có một ý niệm nào. Dân Do thái, dân riêng của Chúa, cũng không biết gì về mầu nhiệm Ba Ngôi. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần. Ngài đã từng bước vén lên bức màn của mầu nhiệm Ba Ngôi.
Ngài cho biết: Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, cùng bản tính với Chúa Cha. Ngài cũng là Thiên Chúa. Ngài với Chúa Cha là một Thiên Chúa.
Ngài cũng cho biết: Chúa Thánh Thần là Đấng mà Chúa Cha sai đến, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau chứ không phải là ba Chúa.
2. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm Tình Yêu.
Tại sao Chúa Giêsu lại mạc khải cho chúng ta một mầu nhiệm quá cao siêu như thế? Chắc chắn không phải là để thử thách thiện chí của con người, hoặc để xây lên bức tường chặn đứng suy luận và óc tưởng tượng của con người. Nhưng vì Chúa muốn chúng ta hiểu biết đời sống nội tại của Thiên Chúa, đó là tình yêu. Thiên Chúa là Tình yêu. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nói lên điều đó.
Thiên Chúa là Tình yêu. Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một công thức khác để nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, ban cho con người được hạnh phúc như Chúa. Nhưng con người đã phạm tội phản nghịch đánh mất hạnh phúc. Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban Con Một yêu dấu để cứu chuộc. Và vì yêu thương con người, Đức Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian thực hiện sứ mệnh yêu thương đó. Và khi hoàn tất, Ngài về trời. Chúa Thánh Thần đến để tiếp tục công việc của Ngài, công việc yêu thương. Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được bày tỏ mãi cho tới chúng ta hôm nay và mãi về sau nữa.
Vì thế, khi mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Như tình yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa đã trào tràn trên mọi thụ tạo, thì tình yêu thương của người Kitô hữu cũng vậy, phải mở ra cho hết mọi người. Sống yêu thương là cách diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa; đồng thời cũng diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi: yêu thương và hiệp nhất.
3. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm gần gũi nhất trong đời sống đạo.
Mầu nhiệm Ba Ngôi thật cao cả và cũng thật gần gũi. Thánh Augustinô đã nói: “Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Chúa Ba Ngôi”. Tình yêu gắn liền với đời sống con người.
Chúng ta có thấy tình yêu không, và thấy như thế nào? Tình yêu được nhìn thấy qua những hành vi yêu thương.
- Yêu thương là ban tặng: khi yêu người ta trái tim của mình cho người yêu. Yêu thương sâu đậm là cho đi điều quý báu nhất cho người mình yêu, như trường hợp của Chúa Cha mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin mừng Gioan: “ Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian” (Ga 3, 16). Hay chính trường hợp của Chúa Giêsu: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người dám thí mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15, 13). Yêu thương là cho đi chính mình, là tự hiến chính mình. Vợ chồng yêu thương nhau, dâng hiến bản thân cho nhau, kể cả thân xác mà không chút e dè, trái lại còn hạnh phúc nữa. Cha mẹ và con cái yêu thương nhau có thể hy sinh mạng sống mình cho nhau.
- Yêu thương là chia sẻ: yêu nhiều, người ta chia sẻ cho nhau nhiều, yêu nhau hết mức thì người ta chia sẻ cho nhau tất cả. Vợ chồng yêu nhau chia sẻ cho nhau tất cả, từ của cải vật chất đến gia sản tinh thần, đến cả tình gia đình. Ông bà cha mẹ của chồng trở thành ông bà cha mẹ của vợ và ngược lại. Trong Thiên Chúa cũng thế, Ba Ngôi Thiên Chúa chia sẻ cùng một sự sống thần linh. Và chính sự sống thần linh duy nhất làm cho Ba Ngôi là một. Chúa Cha đã sai Chúa Con mang sự sống thần linh ấy xuống trần gian chia sẻ cho nhân loại. Sự sống ấy là Bánh bởi trời mà chúng ta nhận lãnh trong bí tích Thánh Thể.
- Yêu nhau là đón nhận nhau. Đón nhận tình yêu và ý muốn của người mình yêu, đón nhận tất cả, đón nhận chính bản thân của người yêu. Người được yêu có vị trí quan trọng trong trái tim của người yêu. Suy nghĩ về tình yêu giữa Chúa Con và Chúa Cha, chúng ta sẽ thấy ở trần gian này, không có sự đón nhận nào trọn vẹn như thế. Chúa Con đón nhận tất cả từ Chúa Cha: giáo lý, ý muốn, lời nói, hành động. Chúa Con đón nhận chính bản thân Chúa Cha làm bản thân của mình, vì vậy mà đồng bản thể với Chúa Cha.
- Yêu nhau còn là gắn bó với nhau. Càng yêu nhau càng gắn bó mật thiết đến nỗi là một với nhau. Hai vợ chồng yêu nhau ở mức độ cao nhất thì trở nên một: một xương thịt, một thân mình. Bấy giờ tình yêu vợ chồng không những là dấu chỉ hữu hình của tình yêu Chúa Giêsu đối với Giáo Hội, mà còn là dấu chỉ của tình yêu Ba Ngôi. Ba Ngôi gắn bó với nhau đến nỗi là Một với nhau. Và chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, Thiên Chúa là Tình Yêu nguồn suối, mẫu mực cho mọi tình yêu của con người (ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).
Hôm nay chúng ta mừng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Gọi là mầu nhiệm vì đó là điều vượt quá trí hiểu của loài người. Tuy không thể hiểu thấu mầu nhiệm đó, nhưng may thay qua Chúa Giêsu, chúng ta thấy được biểu hiện của mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm của tình yêu.
Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương. Chúng ta chỉ được hạnh phúc khi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng tội lỗi làm cho chúng ta xa lìa tình yêu của Chúa. Sự ghen ghét hận thù làm cho khuôn mặt chúng ta lem luốc méo mó, không còn giống khuôn mặt Thiên Chúa.
Hôm nay ta hãy biết sống theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi. Biết sống hiệp nhất với nhau. Biết dâng hiến bản thân mình, biết cho đi, biết chia sẻ, biết sống chan hoà tình bác ái. Để thực hiện những điều ấy, ta phải biết bỏ mình, bỏ sở thích riêng, bỏ của cải và nhất là phải biết bỏ ý riêng, hoàn toàn sống theo thánh ý Thiên Chúa. Khi biết bỏ mình như thế, ta sẽ nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Khi hoàn toàn quên mình để sống cho tình yêu ta sẽ được kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là hạnh phúc thiên đàng. Đó chính là đích điểm của đời chúng ta.
Trước khi dùng cơm, phần lớn trong chúng ta đều làm dấu thánh giá và đọc nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Khi đọc kinh trong nhà thờ hay tại nhà, chúng ta đều bắt đầu bằng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Có những người có thói quen tốt là trước khi làm bất cứ việc gì, họ đều làm dấu thánh giá. Qua đài truyền hình, thỉnh thoảng chúng ta thấy, có những cầu thủ bóng đá quốc tế làm dấu thánh giá sau khi đá lọt lưới đối phương, hoặc trước khi đá phạt đền.
Làm dấu trên trán, chúng ta tuyên xưng Chúa Cha là Đấng tạo dựng trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Làm dấu trên ngực, chúng ta tuyên Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và đã làm người. Làm dấu trên hai vai chúng ta tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Chúa và Đấng ban sự sống, Người bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Dấu chữ thập mà chúng ta làm chỉ thánh giá của Chúa Giêsu, nơi mạc khải trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với nhân loại.
Dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng đức tin vắn tắt nhất của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác. Lời kinh nhân danh Cha và Con và Thánh Thần tóm tắt đức tin mà chúng ta đã nhận lãnh khi chịu phép rửa tội, mà nội dung là ba điều khoản lớn của đức tin công giáo, điều khoản thứ nhất tuyên xưng Chúa Cha, điều khoản thứ hai tuyên xưng Chúa Con, điều khoản thứ ba tuyên xưng Chúa Thánh Thần và Hội thánh.
Dấu Thánh Gía là một công thức ngắn gọn nhất, nhưng lại đầy đủ nhất về đức tin vào Một Thiên Chúa Ba Ngôi.
Như vậy cách thực tế và đơn giản nhất để tôn vinh Chúa Ba Ngôi là chúng ta hãy làm dấu Thánh Giá cách sốt sắng và ý thức, với tất cả lòng yêu mến và kính trọng.
Lạy Chúa, khi làm dấu Thánh Giá, xin cho con biết khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con. Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu, Chúa mãi ở trong con, con ở trong Chúa. Amen.
 

BaNgôi-329: Thiên Chúa Ba Ngôi: Mầu Nhiệm Tình Yêu

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
"Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín" (Xh 34,6)

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm nền tảng của Kitô giáo. Có thể nói rằng tất cả các văn BaNgôi-329

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm nền tảng của Kitô giáo. Có thể nói rằng tất cả các văn kiện trình bày các chủ đề lớn của Đức tin đều khởi đầu bằng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và kết thúc cũng thường hướng đến việc tôn vinh Ba Ngôi Thiên Chúa. Những buổi kinh nguyện hay các buổi cử hành Phụng vụ không đi ra khỏi quỷ đạo này. Khởi đầu và kết thúc bằng Dấu Thánh Giá là một cách thức tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Thế nhưng để trình bày mầu nhiệm nền tảng này cho đoàn tín hữu thì không mấy dễ dàng, nhất là với não trạng thiên duy lý của người hôm nay. Với người chưa có niềm tin hay người khác niềm tin thì vấn đề còn nan giải hơn nhiều.
Một sự thật của kiếp người: hữu hạn, đặc biệt trong lãnh vực siêu hình.
Làm sao để lý giải rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất mà là Ba Ngôi Vị riêng biệt và khác biệt là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần? Thật là ngô nghê khi quá ỷ lại vào những hình ảnh cụ thể để so sánh và diễn tả thực tại siêu linh. Một ngón tay có ba lóng; ngọn lửa tỏa ánh sáng và sức nóng; một dòng sông với đôi bờ...tất thảy đều bất cập và có khi làm biến dạng thực tại. Khôn khéo hơn như Kinh sĩ Vih khi thấy chuyện khó thuyết phục bởi công thức cộng 1+1+1=1 thì chuyển sang công thức nhân 1x1x1 =1 cũng vẫn hoài công. Câu chuyện kể vè thánh Augustinô gặp cậu bé muốn tát cạn nước biển bằng cái vỏ sò năm xưa là một minh họa cho sự bất lực của trí khôn con người trong việc tìm hiểu lý lẽ về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là tại sao một Chúa mà là Ba Ngôi; tại sao có Ba Ngôi mà chỉ là một Chúa.
Trước mầu nhiệm cao cả khôn dò là mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, thiết tưởng không gì hơn thái độ của Môsê qua bài đọc thứ nhất (Xh 34,4b-6.8-9) là phủ phục tôn thờ và dâng lời ngợi khen. Lời ngợi khen của Kitô hữu chúng ta lại ắp đầy tình cảm tạ vì Chúa Kitô Giêsu, Đấng làm người đã mạc khải cho chúng ta huyền nhiệm Chúa Ba Ngôi. Tin vào tình yêu vô bờ của Đấng đã hiến thân vì chúng ta, tin vào quyền năng của Đấng làm chủ vũ trụ thiên nhiên, làm chủ cả sự sống lẫn sự chết là Đức Giêsu Kitô, chúng ta đón nhận lời mạc khải của Người về Chúa Ba Ngôi. Dựa vào lời mạc khải, đặc biệt lời mạc khải của Chúa Giêsu, chúng ta có thể biết và diễn tả phần nào nội hàm mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và dĩ nhiên là bằng khái niệm và ngôn ngữ phàm nhân.
Thiên Chúa Ba Ngôi là Tình Yêu năng động - hướng tha.
Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,8). Tình yêu giả thiết phải có thực tại ở số nhiều đồng thời bao hàm số một là sự hiệp thông, hiệp nhất nên một. Tình yêu không đơn thuần là một trạng thái của tình cảm mà là một động thái liên lỉ hướng về một đối tượng nào đó. Chúa Cha thực sự là Chúa Cha trong tương quan với Chúa Con. Chúa Cha sinh ra Chúa Con và trao ban mọi sự cho Chúa Con (x. Ga 5,26). Chúa Con là mình khi không ngừng hướng về Chúa Cha để kín múc nguồn sống (x.Ga 4,34), để biết cách hành động (x.Ga 5,30; 10,37). Chúa Thánh Thần là Đấng phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Người luôn hướng về Chúa Cha và Chúa Con bằng việc làm vinh danh Hai Ngôi cực trọng ấy mãi đến muôn đời (x. Ga 15,26-27;16,12-15).
Tình Yêu năng động - hướng tha là sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa đã tỏa lan cho các loài thọ tạo, cách riêng cho loài người là loài được dựng nên giống hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa. Chính vì thế, các loài thọ tạo, đặc biệt loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển khi biết sống và hoạt động theo nguyên lý năng động - hướng tha của Tình Yêu Ba Ngôi Thiên Chúa là nguồn mạch và là cứu cánh của mọi hiện hữu. Thánh Phaolô tông đồ nói với tín hữu Côrintô: "Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em...Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần" (2Cor 13,11-13).
Thiên Chúa Ba Ngôi là Tình Yêu kiên vững và tín trung:
Con số ba là con số tượng trưng cho sự tròn đầy và bền vững. Đã ba mặt một lời là như hiển nhiên và không thể chối cãi hay đổi thay. Tuy nhiên niềm tin của chúng ta không hệ tại ở việc loại suy từ ý nghĩa các con số. Lời mạc khải mới là nền tảng của đức tin chúng ta. Giavê đã tỏ bày cho Môsê danh tính của Người: "Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín" (Xh 34,6). Tình yêu của Thiên Chúa vững bền như đá tảng. Dù cho có người mẹ nào có bỏ con mình đi nữa thì Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi loài người chúng ta. Dù ta phản bội, dù ta vong tình, thì Chúa mãi vẫn luôn thành tín.
Chính trên nền tảng kiên vững của tình yêu Thiên Chúa mà mọi sự mọi loài được tồn tại và phát triển. Thánh Phaolô khẳng định rằng Thiên Chúa bày tỏ sự công chính của Người bằng việc luôn tín trung với lời đã hứa (x. Rm 3,21-26). Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa của Người bằng nhập thể, nhập thế của Ngôi Hai để thực thi công trình cứu độ và bằng việc trao ban Thánh Thần để hoàn thành các kỳ công của Người. Thiên Chúa bày tỏ tình yêu kiên vững và tín trung của Người cho chúng ta bằng việc sai Con Một của Người đến thế gian chịu chết vì chúng ta vốn là những tội nhân, đồng thời đổ tràn tình yêu của Người vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (x. Rm 5,5-8).
Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là nguồn lực và là kim chỉ nam để ta tồn tại và phát triển cách hoàn hảo:
Tìm hiểu mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi như thế nào dưới ánh sáng lời mạc khải không phải là để thỏa mãn một đặc tính của trí khôn là sự hữu lý, nhưng trên hết là để ta biết nguồn gốc và căn tính của mình vốn là hình ảnh của Thiên Chúa. Biết được nguồn gốc của mình thì ta sẽ có thể biết cách thế hiện hữu, nghĩa là sống và hoạt động cách chính danh và chính hiệu. Kiên vững và tín trung trong tình yêu, một tình yêu năng động và hướng tha là động thái duy nhất hữu hiệu để con người tồn tại và phát triển cách hoàn hảo. "Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: Đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em... Đây là điều răn của Thiên Chúa: chúng ta phải tin vào danh Đức Giêsu Kitô, Con của Người và phải yêu thương nhau, theo điều răn của Người đã ban cho chúng ta. Ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta" (1 Ga 3,16.23-24).
Hãy yêu đi rồi ta sẽ hiểu:
"Sự sống đời đời là chúng nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và Đức Giêsu Kitô mà Cha sai đến" (Ga 17,3). Làm sao để nhận biết sự thật này nếu không được Thánh Thần Ngôi Ba Thiên Chúa tác động. Vì không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa nếu không được Thánh Thần thúc đẩy. Chúng ta đã được nhận làm con trong Đức Giêsu. "Vì là con, nên Thiên Chúa sai Thánh Thần của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta và kêu lên: Abba, Cha ơi!" (Gl 4,6). Thánh Thần chính là nguồn tình yêu. Vì thế chỉ những ai ở trong tình yêu mới có thể hiểu biết sự thật. Và khi hiểu biết sự thật thì chính sự thật sẽ giải thoát chúng ta và đưa chúng ta vào sự sống đời đời.
Làm sao ta có thể biết nghĩa phu thê là gì khi ta chưa sống hết tình với người phối ngẫu? Làm sao ta có thể biết được thế nào là quê hương khi ta chưa hết lòng hết tâm với vận mệnh quốc gia dân tộc? Làm sao ta có thể biết được con người trong cõi nhân sinh này khi ta chưa trãi rộng com tim với người đồng loại, với người anh chị em cận kề, nhất là với những người cô thế cô thân?...
Hãy yêu đi rồi bạn sẽ biết. Một cái lẽ biết theo nghĩa Thánh Kinh là không chỉ nhìn thấy thực tại, thấy vấn đề mà còn gắn bó thiết thân, chung lưng đấu cật, khi sầu buồn lẫn khi hoan lạc, lúc thuận lợi cũng như lúc gặp phải nghịch cảnh, gian truân.
Ngay trong cuộc sống này, có nhiều điều mà lý trí phải chào thua. Sự khôn ngoan đích thực không hệ tại ở trí óc, nhưng là ở trái tim. Có thể có trường hợp người ta đâm ra mù quáng vì yêu. Nhưng đó chỉ là thứ tình yêu vị kỷ, nghiêng chiều đam mê vụ lợi hoặc bất chính. Khi đã biết yêu với tình yêu trong sáng, quảng đại quên mình, với một tình yêu bắt nguồn từ tinh yêu Ba Ngôi Thiên Chúa thì không một ai là không ở trong ánh sáng. Và chính ánh sáng sẽ soi dẫn chúng ta đến cùng chân lý.
Là kitô hữu, không gì hơn là biết quy chiếu về Tình Yêu Thiên Chúa Ba Ngôi để rồi biết yêu thương nhau bằng:
1. Một tình yêu thúc đẩy ta không chỉ muốn mà còn biết chủ động, tích cực làm cho người mình yêu phát triển và nên hoàn thiện.
2. Một tình yêu thúc đẩy ta tìm mọi cách để cho người mình yêu nên đáng yêu và được nhiều người yêu mến.
3. Một tình yêu thúc đẩy ta nỗ lực hết mình làm cho người mình yêu có đủ khả năng và sự nhiệt tình để yêu mến kẻ khác.
 

BaNgôi-330: THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Nói đến Chúa Ba Ngôi là chúng ta nói đến đời sống nội tại của chính Thiên Chúa. Thật vậy, khi BaNgôi-330

Nói đến Chúa Ba Ngôi là chúng ta nói đến đời sống nội tại của chính Thiên Chúa. Thật vậy, khi cử hành các mầu nhiệm khác như Giáng sinh, Phục sinh, là chúng ta tôn vinh những điều Chúa đã làm vì yêu thương con người; còn khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, là chúng ta tìm hiểu và suy tư xem Chúa là ai và Ngài như thế nào. Lý trí con người hữu hạn, nên chỉ có thể suy tư về Chúa, dựa trên những kinh nghiệm trần gian. Chúng ta có thể hiểu  phần nào về Chúa Ba Ngôi, từ những lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Trong cuộc đàm đạo với ông Nicôđêmô, một thành viên của Công nghị Do Thái, Chúa Giêsu đã khẳng định sứ mạng của Người là Đấng Thiên Sai. Việc Người đến trần gian là bằng chứng về tình yêu Thiên Chúa. Quả thật, Thiên Chúa yêu thế gian. Vì thế Ngài đã tạo dựng thế gian và sai Con của Ngài đến cứu thế gian (Bài Tin Mừng).
Lòng yêu thương của Chúa cũng là một điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn của Cựu ước. Vì tình yêu thương, Ngài đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Ngài đã chăm sóc họ như một người cha. Ngài bao dung tha thứ khi họ lỗi lầm. Qua trung gian ông Môisen, Ngài còn ban cho họ lề luật để giúp họ sống theo đường ngay nẻo chính (Bài đọc I). Tất cả những gì Chúa đã làm trong lịch sử là bằng chứng tình yêu thương vô bờ của Ngài.
Lời Chúa Giêsu trong Ga 3,16 được coi như tóm lược toàn bộ nội dung của Tin Mừng Thánh Gioan. Bởi lẽ nó diễn tả chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện qua Đức Giêsu Kitô. Câu Tin Mừng này cũng diễn tả cho chúng ta đời sống phong phú nơi Ba Ngôi Thiên Chúa. Khác với giáo lý của Do Thái giáo và của Hồi giáo, cũng là hai tôn giáo độc thần, Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi mà duy nhất. Đó là sự duy nhất không đơn độc. Trong khi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu nói về Chúa Cha, là Đấng đã sai Người đến thế gian. Chúa Giêsu cũng nói về Chúa Thánh Thần, là Thần Chân Lý, sẽ đến để tiếp tục công việc Người đã khởi đầu, tức là hướng dẫn Giáo Hội để Giáo Hội loan báo giáo huấn của Chúa Giêsu. Tất cả những hoạt động của Thiên Chúa, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đều xuất phát từ tình yêu của Ngài đối với thế gian.
Khi cử hành lễ Chúa Ba Ngôi, Phụng vụ nhắc nhớ chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Tình yêu ấy thể hiện qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Phụng vụ cũng nhắc nhớ chúng ta, Thiên Chúa Ba Ngôi là đích điểm của đời sống Kitô hữu. Điều đó có nghĩa, nếu chúng ta gắn bó với Chúa Giêsu và tuân giữ lời Người, chúng ta sẽ được hòa mình vào dòng chảy hiệp thông của Chúa Ba Ngôi, ngay khi chúng ta còn sống ở đời này. Đó cũng là bảo đảm chắc chắn rằng, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa Ba Ngôi trong hạnh phúc vĩnh cửu, như lời Chúa Giêsu đã hứa.
Lời chào của thánh Phaolô đối với cộng đoàn tín hữu Côrinhtô (Bài đọc II) đã diễn tả những điều kỳ diệu thiêng liêng của Giáo Hội: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em”. Lời chào này đã trở thành công thức mở đầu thánh lễ. Là thành viên của Giáo Hội, mỗi người tín hữu đang sống trong ân sủng của Chúa Giêsu, trong tình yêu của Chúa Cha và trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Chúa Ba Ngôi. Nhờ đó, cuộc sống của chúng ta không còn buồn chán thất vọng hay lầm lạc tội lỗi. Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lý thuyết xa vời, nhưng rất cụ thể trong đời sống chúng ta, gần gũi với chúng ta như hơi thở, nước uống, khí trời và những nhu cầu khác. Thánh Phaolô cũng nói đến điều kiện để được Chúa Ba Ngôi che chở, đó là luôn đồng tâm nhất trí và hòa thuận với nhau. Một cộng đoàn được liên kết bằng mối giây yêu thương sẽ có Chúa Ba Ngôi hiện diện. Hơn nữa, chính Chúa Ba Ngôi là mối dây yêu thương này.
 “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Mỗi ngày, chúng ta làm dấu thánh giá nhiều lần, mà ít khi ý thức đây là lời tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Đây cũng là một lời cầu nguyện ngắn. Dấu thánh giá vừa nhắc cho chúng ta: Thiên Chúa yêu thương thế gian; vừa mời gọi chúng ta: hãy nhân danh Chúa Ba Ngôi trong mọi hành xử, suy nghĩ, nói năng và trọn vẹn cuộc đời. Nếu thực sự “nhân danh Chúa Ba Ngôi” trong cuộc sống, chúng ta sẽ tiến dần tới sự hoàn thiện, nhờ đó, sự thánh thiện của Chúa tỏa sáng nơi cuộc đời chúng ta.
 

BaNgôi-331: TÌNH YÊU BẤT TỬ

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Tình yêu luôn bất tử. Nó tồn tại mãi bởi tình yêu luôn đẹp về tình người, về BaNgôi-331

Tình yêu luôn bất tử. Nó tồn tại mãi bởi tình yêu luôn đẹp về tình người, về hy sinh, về dâng hiến. Tình yêu càng nhiều hy sinh thì tự bản chất nó sẽ vĩnh cửu vì người đời luôn tán dương, ca tụng. Tình yêu càng giầu về tình người càng bất diệt vì muôn thế hệ sẽ truyền tụng nhau về một tình yêu cao đẹp tuyệt vời.
Có một câu chuyện xảy ra ở một bệnh viện nhỏ ở vùng quê hẻo lánh. Ở khoa hóa trị có một phụ nữ trẻ đang trong giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư. Tuy luôn bị những cơn đau hành hạ nhưng những khi chồng cô tới thăm, mắt cô luôn rạng ngời hạnh phúc.
Hằng ngày người chồng mang đến cho cô những bó hoa tươi thắm cùng nụ cười rạng rỡ, anh đến bên giường nắm lấy tay cô và trò chuyện. Những lúc quá đau đớn, cô khóc và trở nên cáu gắt, anh ôm chặt cô vào lòng, an ủi động viên cho đến khi cơn đau dịu đi. Anh luôn bên cô mỗi khi cô cần, anh giúp cô uống từng ngụm nước và không quên vuốt nhẹ đôi chân mày của cô.
Cho đến khi căn bệnh muốn cướp lấy sinh mạng cô. Người bác sĩ bước vào phòng  thấy người  chồng vẫn ngồi bên cô mỉm cười nói: “Cho đến bây giờ món quà tuyệt vời nhất tôi dành cho cô ấy chính là tình yêu của tôi”.
Và người chồng đã cất lên bài hát “Beautiful brown eyes”. Sau đó anh đã nói với bác sĩ trong nước mắt: “Tôi đã hát bài này mỗi đêm cho cô ấy nghe kể từ ngày chúng tôi quen nhau. Mọi ngày tôi vẫn thường cố giữ cho giọng mình thật nhỏ để khỏi làm phiền bệnh nhân khác. Và tôi chắc rằng đêm nay trên thiên đường cô ấy cũng vẫn nghe tôi hát. Tôi xin lỗi đã quấy rầy mọi người. Tôi chỉ không biết sống ra sao khi thiếu vắng cô ấy, nhưng mỗi đêm tôi vẫn tiếp tục hát. Bác sĩ có nghĩ rằng cô ấy nghe thấy tiếng tôi không?”.
Tình yêu của họ trở thành bất tử khi họ cùng chăm sóc nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan. Họ nắm tay nhau khi hạnh phúc và cả khi gặp đau khổ bủa vây. Họ vẫn tiếp tục ở bên nhau dầu âm dương tách biệt.
Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu của Ngài vẫn trường tồn vượt mọi thời gian. Qua mỗi thời đại, Thiên Chúa luôn bày tỏ tình yêu của mình xuống cho nhân loại với cách thế khác nhau. Tình yếu ấy luôn thủy chung, sắt son cho dù con người có quay lưng nhưng tình yêu ngài vẫn trường tồn dành cho con người.
Hôm nay mừng lễ Chúa Ba Ngôi, là dịp để chúng ta tạ ơn tình thương của Chúa vẫn luôn bao phủ trên cuộc đời chúng ta. Chúa cho chúng ta được sinh ra làm người  và làm con cái Thiên Chúa. Chúa luôn quan phòng gìn giữ chở che cuộc đời chúng ta “như con ngươi  trong mắt Ngài”. Chúa biết rõ từng cuộc đời chúng ta như mục tử biết từng con chiên. Chúa vẫn ngàn đời tín trung với tình yêu ban đầu, vì cho dầu “như người cha người mẹ có bỏ con cái, còn Ta cũng không bao giờ bỏ các ngươi”. Tình thương đó Chúa muốn mời gọi chúng ta đón nhận với lòng tri ân và cũng biết trao lại tình yêu đó cho tha nhân. Vâng, có lẽ, điều Chúa muốn nơi chúng ta chính là hãy hoạ lại chân dung tình yêu của Chúa cho anh em. Vì con người là “hoạ ảnh của Chúa”, nên con người phải biết sống yêu thương. Yêu thương sẽ làm chúng ta giống Chúa hơn. Yêu thương sẽ giúp chúng ta sống hoàn thiện con người mình hơn. Chính tình yêu phục vụ tha nhân sẽ là cách chúng ta đáp đền tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta.
Nguyện xin Chúa Ba Ngôi là suối nguồn tình yêu dẫn chúng ta đi sâu vào huyền nhiệm tình yêu của Chúa để chính chúng ta cũng biết thở ra hơi ấm tình thương cho anh em của mình. Xin cho chúng ta biết ghi dấu ấn muôn đời nơi thế gian khi biết sống hết mình yêu thương như Chúa đã yêu. Amen.
 

BaNgôi-332: CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

Bông Hồng Nhỏ

Những cuộc gặp bí mật giữa hai người: một vị thầy vĩ đại và một người môn đệ bí mật. Những điều BaNgôi-332

Những cuộc gặp bí mật giữa hai người: một vị thầy vĩ đại và một người môn đệ bí mật. Những điều Thầy dạy làm lòng người học trò phấn chấn. Một tình yêu tuyệt đẹp mà mãi đến sau này người môn đệ ẩn mình mới cảm nghiệm và thưởng nếm được hương vị tuyệt vời của tình yêu ấy cách đầy đủ nhất.
Một tình yêu mầu nhiệm và cao vời được Đức Giêsu mặc khải cho ông Nicôđêmô. Tâm hồn ông được mở ra, được hiểu biết về tình yêu của Chúa Cha và chương trình cứu độ của Người. “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời…” Người Con ấy chính là Chúa Giêsu.
Thiên Chúa Cha đã khiêm nhường và tín trung đến cùng. Ngài đã yêu nhân loại dù cho họ nhiều lần rời xa bóng cánh của Ngài. Đến cả Người Con Một duy nhất, Thiên Chúa cũng không tiếc mà tặng ban cho nhân loại. Có người cha nào giàu lòng thương xót hơn Chúa Cha?
Tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ cách rõ ràng và cụ thể nơi Đức Giêsu. Ngài đã nhập thể, mặc lấy thân phận con người, đã vâng lời Chúa Cha cách đẹp nhất khi Ngài dang tay trên thánh giá. Ngài dạy chúng ta tiếng nói xin vâng thật tuyệt. Khi yêu như Chúa, chúng ta cũng được mời gọi sống lời xin vâng.
Vừa mới chào đời, Giêsu đã sống với một trái tim bằng thịt đầy thương yêu. Trái tim ấy vang lên bài ca yêu thương đến hơi thở cuối cùng. Tình yêu Chúa Cha và nhân loại đã hối thúc con tim Ngài cháy lửa yêu mến. Ngọn lửa nào đang cháy sáng và thiêu đốt tâm hồn chúng ta? Có phải là ngọn lửa mà Chúa Giêsu đã ném vào mặt đất, đặt vào trong tâm hồn mỗi người? Phải chăng là ngọn lửa của hận thù và ghen ghét đang tiêu tan tình yêu nơi tâm hồn chúng ta?
Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống luôn ở với, ở trong và ở giữa mọi người. Ngài hoạt động trong lòng nhân loại và trong tâm hồn mỗi tín hữu, nhờ đó họ được nhuần thắm muôn ơn. Đến với Đấng Thánh Linh, tâm hồn chúng ta sẽ được đổi mới và nên cháy lửa yêu mến.
Thiên Chúa là tình yêu. Sống trong Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi sống yêu thương theo khuôn mẫu tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi gia đình luôn được mời gọi sống yêu thương, hiệp nhất nên một.
Để được sống đời đời trong tình yêu Thiên Chúa, phúc cho những ai tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Chúng ta hãy sống niềm tin ấy cách mãnh liệt và cụ thể. Bằng những hy sinh và từ bỏ, chúng ta sẽ trở nên những chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa.
 

BaNgôi-333:  LỄ CHÚA BA NGÔI

Lm Tôma Nguyễn Hoàng Phượng

Cách đây 15 thế kỷ, Thánh Patrick từ Anh Quốc đến truyền đạo cho dân tộc Ái-Nhĩ-Lan. Một hôm, BaNgôi-333

Cách đây 15 thế kỷ, Thánh Patrick từ Anh Quốc đến truyền đạo cho dân tộc Ái-Nhĩ-Lan. Một hôm, Ngài giải thích cho các tín hữu về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Có một Thiên Chúa duy nhất, nhưng có Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Ba Ngôi vị khác biệt, nhưng cùng một bản tính duy nhất. Sau khi thao thao bất tuyệt giảng dạy. Thánh Patrick hỏi lại các tín hữu xem họ có hiểu hay không. Nhưng vốn là những nông dân đơn sơ, quê mùa, các tín hữu trả lời là: Có ba Thiên Chúa! Thánh Patrick không biết làm sao để giúp các tín hữu của Ngài hiểu phần nào Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Một hôm khi ở ngoài đồng, Ngài thấy những lá cây có ba nhánh. Ngài liền cầm lá cây đó đem về để giảii thích cho các tín hữu biết. Như chiếc lá có ba nhánh khác nhau, nhưng chỉ có một chiếc lá duy nhất. Cũng vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa khác biệt, nhưng chỉ có một Chúa duy nhất.
            Do truyện trên đây, ngày nay mỗi năm vào ngày lễ Thánh Patrick (17/03), các tín hữu đảo Ái Nhĩ Lan vãn gắn hình chiếc lá ba nhánh vào nón hoặc vào áo để kỷ niệm biến cố này.
            Nói đến Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi, có nhiều người nghĩ rằng Chúa có Ba Ngôi hay năm Ngôi; điều đó có hệ gì đến loài người chúng ta đâu!
            Tuy nhiên, nếu chúng ta tin nhận lời Kinh Thánh dạy, con người đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, thì chúng ta không thể dửng dưng đối với Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được. Vì đó là mẫu mực của cuộc sống con người. Và cuộc đời tín hữu phải phản ảnh cuộc sống và bản chất của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côrintô cũng đã bộc lộ phần nào phẩm chất của Ba Ngôi Thiên Chúa: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Thiên Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em”. Đó là những phẩm tính mà Thiên Chúa muốn thấy chúng hiện hữu trong mỗi người tín hữu, là những người đã được tạo dựng nên theo hình ảnh của Ngài.
            Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Sáng danh Thiên Chúa, Đấng đã đó, đang có và sẽ đến.
 

BaNgôi-334: THIÊN CHÚA SAI CON CỦA NGƯỜI ĐẾN THẾ GIAN

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Hôm nay, Giáo hội tuyên xưng và tôn vinh mầu nhiệm một Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa BaNgôi-334

Hôm nay, Giáo hội tuyên xưng và tôn vinh mầu nhiệm một Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm quan trọng nhất trong đạo. Phụng vụ lời Chúa trình bày tình thương của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Trong sách Xuất Hành, Thiên Chúa mạc khải cho Môisê: Ngài là Thiên Chúa giàu lòng thương xót “Thiên Chúa từ bi nhân hậu, giàu ân nghĩa và thành tín”.
Thánh Phaolô trong thư gởi Corintô đã kêu gọi người tín hữu hãy vui mừng và sống hoà thuận thương yêu nhau bởi vì họ được Thiên Chúa yêu thương và ban đầy ân sủng cho mỗi người.
Bài Tin mừng ghi lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô. Chính Chúa Giêsu đã xác nhận tình thương của Thiên Chúa đối với con người: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời”.
Thánh Gioan đã định nghĩa: “Thiên chúa là tình yêu”. Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Bài Tin mừng hôm nay đã nói lên đặc tính của Thiên Chúa tình thương.
– Yêu thương là cho, cho chính bản than, cho những gì quý báu nhất, cho tất cả: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian”.
– Yêu thương là làm cho sống và sống dồi dào, phong phú… “Để ai tin vào Con của Ngài thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Khi người ta yêu thương nhau, thì người ta làm cho nhau những điều tốt lành nhất. Thiên Chúa yêu thương con người đã sai Đức Giêsu, Con của Ngài đến để con người được hưởng ơn cứu độ.
– Yêu thương là tha thứ. Bài đọc 1 cho thấy dân Do Thái đã phản tội Thiên Chúa: thờ bò vàng nhưng Thiên Chúa vẫn yêu thương và tha thứ, bởi vì Ngài là Thiên Chúa từ bi nhân hậu, nhẫn nại, giầu ân nghĩa và thành tín.
Như thế, lời Chúa hôm nay trình bày cho chúng ta mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm của tình thương. Thiên Chúa yêu thương con người và muốn con người được hạnh phúc.
Đoạn Tin mừng về cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicôđêmô nói đến Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu con của Thiên Chúa là nguyên lý cứu độ. Chính Chúa Cha sai Chúa con đến trần gian. Tuy không đề cập tới Chúa Thánh Thần, nhưng nếu đọc tiếp cuộc đối thoại này sẽ có đoạn nói về ơn tái sinh bởi nước và thần khí, tức là Chúa Thánh Thần. Vì thế qua đoạn Tin mừng này, chúng ta nhận ra rằng Thiên Chúa sai Con Một đến trần gian, bằng cách thông ban Thánh Thần. Và Thánh thần đưa thế gian lên cùng Chúa Cha nhờ Chúa Giêsu Kitô. Tin mừng hôm nay nói lên hoạt động của ba Ngôi Thiên Chúa trong việc cứu rỗi trần gian nên được phụng vụ chọn để suy niệm vào lễ Chúa Ba Ngôi.
Mừng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là sống tâm tình cảm tạ tình thương bao la của Thiên Chúa và đối xử với tha nhân trong tình huynh đệ bác ái chân thành. Tỏ lòng yêu mến Thiên Chúa bằng cách làm dấu thánh giá một cách sốt sắng và ý thức hơn, mến Chúa hơn.
Quyết tâm sống lương thiện, trong sạch, sống đạo đức để tâm hồn chúng ta trở nên đền thờ cho Thiên Chúa Ba Ngôi ngự, để được sống trong tình thương của Thiên Chúa Ba Ngôi “Ai ở trong tình thương thì ở trong Thiên Chúa”.
Bác nông phu Donninggos ở Brasil sống bằng nghề trồng bắp. Một buổi sang sắp ra đồng làm việc, đứa con trai chạy theo nói với bố:
– Hôm nay là ngày sinh nhật của con, bố đừng quên mang 2 con chim nhỏ về làm quà cho con nhé!
– Được, cha sẽ bắt chim về tặng con.
Người Cha vốn thương con, vui vẻ nhận lời và hứa với con. Khoảng 4 giờ chiều, nhớ tới lời dặn của con, bác vào rừng và leo lên ngọn cây cao ở đây có một ổ chim rất lớn. Bác vừa với tay vào ổ chim, thì một con rắn độc cắn vào bàn tay phải của bác. Bác nông phu phải chặt bàn tay để cứu mình. Tuy nhiên, bác không quên đem 2 con chim về làm quà sinh nhật cho con. Bác Donningos đã yêu thương con, hy sinh bàn tay để giữ lời hứa và đem hạnh phúc cho cậu con trai.
Thiên Chúa Ba Ngôi cũng thế: yêu thương chúng ta hơn mọi người cha trên trần gian. Sống mầu nhiệm Ba Ngôi là sống mầu nhiệm tình thương trong gia đình, trong xã hội.
 

BaNgôi-335: Thiên Chúa sai con của Người đến thế gian

Suy niệm Tin mừng Lễ Chúa ba Ngôi, năm A của Đỗ Công Minh
(Ga 3;17)

Đọc bản văn Tin mừng hôm nay có người thắc mắc sao không thấy đề cập đến Thiên Chúa Ba BaNgôi-335

Đọc bản văn Tin mừng hôm nay có người thắc mắc sao không thấy đề cập đến Thiên Chúa Ba Ngôi. Quả vậy, qua đọan Tin Mừng này, Thánh Gioan chỉ nói đến lòng yêu thương của Thiên Chúa với nhân lọai. Ngài cũng đã từng nhấn mạnh “Thiên Chúa là Tình Yêu“ . Mừng lễ Chúa Ba Ngôi chính là mừng kính tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa đối với nhân lọai: Chúa Cha tạo dựng, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hóa. Chú giải điều này, Đức Thánh Cha Phanxicô trong buổi đọc kinh Truyền tin ngày 26 tháng 5, lễ Thiên Chúa Ba Ngôi năm 2013 đã khẳng định: ”Danh xưng Thiên Chúa là Tình yêu. Tình yêu này không phải là tình cảm hay xúc cảm cá nhân, nhưng tình yêu của Chúa Cha là nguồn sống của mọi sinh linh; tình yêu của Chúa Con, đấng chết trên thập giá và đã sống lại; Tình yêu của Chúa Thánh Thần, Đấng đổi mới con người và thế giới”. Ngài nhấn mạnh: ”Chúa Ba Ngôi không phải là thành quả của lý trí con người nhưng chính là dung mạo của Thiên Chúa mạc khải cho con người bằng cách bước xuống và bước chung với con người trong cuộc lữ hành trần thế trong suốt lịch sử, nơi cuộc xuất hành của dân Israel, và trên hết là nơi mầu nhiệm nhập thể của Đức Giêsu. Chính Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta Chúa Cha là đấng giàu lòng thương xót, chính Chúa Giêsu là đấng mang ”Lửa Tình Yêu” vào thế gian này, và ”Lửa” ấy chính là Chúa Thánh Thần”.
      Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là một huyền nhiệm con không thể suy cho thấu, nhưng dưới ánh sáng của Tin Mừng, nhờ huấn quyền của Hội Thánh, con dễ dàng nhận ra được mầu nhiệm ấy chính là Tình yêu. Một cách gần gũi nhất như Thánh Gioan diễn tả “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng đượcsống muôn đời“ . Tình yêu ấy con không thể chiếm hữu riêng cho mình mà phải có bổn phận làm cho ngọn lửa tình yêu của Cha lan tỏa đến hết mọi người.
         Lạy Chúa,
        Tin vào tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi bằng lời tuyên xưng không khó, nhưng sống niềm tin ấy trong cuộc sống hẳn không dễ chút nào. Thiên Chúa là tình yêu, tình yêu ấy có nơi con? Con có sống tình yêu ấy trong gia đình, với những người ruột thịt với con thực lòng? Tình yêu ấy có xuất hiện nơi con sinh họat, học tập, làm việc? Có ở nơi xóm ngõ con đang sống, giữa chợ đời? Chỉ khi nào con biết sống chan hòa với anh chị em,những người đang sống bên con mỗi ngày. Biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với nhau, nhất là với những người kém may mắn, khi đó con mới hãnh diện là người “tin vào Con của Người“, con sẽ đựơc tiến vào cõi sống muôn đời. AMEN.
Fx Đỗ Công Minh
 

BaNgôi-336: BÍ MẬT TẬN CÙNG

Trầm Thiên Thu
THIÊN CHÚA CHÍ LINH TAM VỊ NHẤT THỂ
CHÚNG NHÂN TÔN KÍNH MỘT CHÚA BA NGÔI

 Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi – Đấng Tam Vị Nhất Thể (La ngữ: Trinitas, Hy ngữ tương đương: Triados, BaNgôi-336

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi – Đấng Tam Vị Nhất Thể (La ngữ: Trinitas, Hy ngữ tương đương: Triados, Anh ngữ: Trinity, Pháp ngữ: Trinité) – là mầu nhiệm trung tâm của đức tin, và được mệnh danh là “bí mật tận cùng”.
Hằng ngày, từ lúc thức dậy ban sáng tới lúc đi ngủ ban đêm, nhiều lần chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi qua việc làm dấu Thánh Giá: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần”. Đó là kinh phổ biến nhất, và kinh được học từ khi còn nhỏ xíu. Mỗi khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta vừa chúc tụng vừa tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, thường quen gọi tắt là “làm dấu”, thế nhưng có điều cần lưu ý: đôi khi người ta không làm DẤU mà lại làm GIẤU – nhất là khi có “người lạ” (khác đạo) hoặc nơi công cộng (tiệc tùng, hàng quán,…). Việt ngữ độc đáo và ý vị biết bao!
Hằng ngày, ngoài việc làm dấu Thánh Giá – dấu đơn và dấu kép, chúng ta còn nhiều lần chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi khi chúng ta cầu nguyện – chung hoặc riêng: “Sáng danh Ðức Chúa Cha, và Ðức Chúa Con, và Ðức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng, và hằng có, và đời đời chẳng cùng” (Kh 1:8). Chính Chúa Giêsu cũng đã căn dặn chúng ta phải nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi khi hành động: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28:19).
Kinh Thánh cho biết rằng, vào một buổi sáng sớm, ông Môsê lên núi Sinai theo lệnh truyền của Thiên Chúa, và ông mang theo hai bia đá. Chính hai bia đá này được ông dùng để ghi khắc Thánh Luật (Thập Giới, Mười Điều Răn). Khi Thiên Chúa ngự giá trên đám mây, ông Môsê đứng trước mặt Chúa và kêu cầu danh Chúa. Ngài đi qua trước mặt ông và hô: “Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông” (Xh 34:6-7). Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót nhưng cũng rất công bình, Ngài “không bỏ qua điều gì” và “trừng phạt tam tộc”. Người Việt chúng ta cũng có câu: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Điều đó cho thấy tội lỗi có tính liên đới chứ không đơn giản như chúng ta tưởng.
Ngay khi nghe tiếng Đức Chúa, ông Môsê vội vàng phục xuống đất thờ lạy và thân thưa: “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài” (Xh 34:9). Thiên Chúa quá đỗi nhân từ, thấy dân bướng bỉnh nhưng vẫn tha thứ và trao ban cơ nghiệp. Hằng ngày không thiếu những kẻ ngang ngược mà vẫn được ung dung tự tại, còn những người tốt lành đôi khi lại chịu cảnh “họa vô đơn chí”. Mưa và nắng không riêng ai, Thiên Chúa ban cho mọi người – kẻ xấu và người lành, công chính và bất chính (x. Mt 5:45).
Thiên Chúa đã tạo dựng con người, nhưng vì thích ăn “trái cấm” và kiêu căng, vì thế mà con người mất ơn nghĩa với Ngài và bị “con rắn” quấn chặt. Đó là chiếc vòng kim cô tội lỗi. Tuy nhiên, Ngài vẫn hết mực yêu thương chúng ta nên Ngài lại “tháo gỡ” cho chúng ta bằng Bí tích Thánh tẩy và Bí tích Hòa giải, đặc biệt là cho Ngôi Hai nhập thể làm người và chịu chết để cứu độ chúng ta, khôi phục nguyên trạng cho chúng ta là lại được quyền làm con như xưa. Ngài đã sinh chúng ta hai lần – và nhiều lần khác, mỗi khi chúng ta xưng tội. Đó là đại đặc ân của lòng thương xót mà chúng ta không thể hiểu hết. Vả lại, chính Chúa Giêsu đã xác định: “Lòng thương xót của Ta lớn hơn tội lỗi của cả nhân loại” (Nhật Ký Thánh Faustina, số 1485). Do đó, chúng ta phải biết chúc tụng Chúa trong mọi hoàn cảnh. Việc chúng ta chúc tụng Chúa cũng chẳng thêm gì cho Ngài nhưng sinh ích lợi cho phần rỗi của chúng ta (Kinh Nguyện Thánh Thể).
Thuở xưa, ngay lúc ở trong lò lửa, A-da-ri-a vẫn hát vang bài thánh ca: “Lạy Chúa, chúc tụng Ngài là Thiên Chúa tổ tiên chúng con, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. Chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang, xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời. Chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng, xin dâng lời ca tụng suy tôn muôn đời. Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá mà thấu nhìn vực thẳm, xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời. Chúc tụng Chúa trên vòm trời tận chốn cao xanh, xin dâng lời ca tụng tôn vinh muôn đời” (Ðn 3:52-56).
Được hiện hữu trên cõi đời này cũng đủ để chúng ta phải dâng lời ca tụng Thiên Chúa Ba Ngôi. Đó là bổn phận, là trách nhiệm, đồng thời cũng là niềm hạnh phúc của chúng ta. Chúc tụng Thiên Chúa khi chúng ta êm ả như dòng sông hiền hòa thì không khó, nhưng thật khó nếu cuộc đời chúng ta gặp điều bất trắc mà vẫn ca tụng Ngài. Thánh Gióp là tấm gương sáng điển hình mà chúng ta cần soi vào. Vì thế, chúng ta phải cố gắng không ngừng. Dù bị trắng tay và khốn khổ cùng cực, nhưng Thánh Gióp vẫn chấp nhận và dâng lời chúc tụng Thiên Chúa: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa” (G 1:21). Ước gì mỗi chúng ta đều hành động như Thánh Gióp!
Chân thành chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi là thể hiện niềm tín thác vào Ngài, niềm tin đó còn phải được thể hiện với nhau trong cuộc sống đời thường. Đó không chỉ là điều cần thiết mà còn là bổn phận với nhau, vì mọi người đều có mối liên đới với nhau – dù chiều ngang, chiều dọc, chiều cao, chiều rộng, hoặc chiều xéo. Thánh Phaolô nói: “Thưa anh em, anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an sẽ ở cùng anh em. Anh em hãy hôn chào nhau cách thánh thiện” (2 Cr 13:11-12). Đó là ước muốn thánh thiện, phù hợp với mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Và Thánh Phaolô cầu chúc mọi người: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa và ơn hiệp thông của Thánh Thần. Amen” (2 Cr 13:11-13). Thật hạnh phúc khi chúng ta đang được sống trong lời cầu chúc đó, vì cuộc sống chúng ta luôn đầy ơn Chúa, tình Chúa và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần.
Khi đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Chúa Giêsu đã dẫn chứng minh nhiên: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16). Quả thật như vậy, và còn hơn thế nữa: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa” (Ga 3:17-18). Quá rõ ràng và cụ thể!
Là Kitô hữu, chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Đấng toàn năng, hằng hữu và hằng sinh, chúng ta luôn phải tạ ơn Ngài mọi nơi và mọi lúc. Chúng ta vui mừng tuyên xưng Đức Tin về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa mặc khải vinh quang của Ngài như vinh quang của Chúa Con và Chúa Thánh Thần: Ba Ngôi bằng nhau về uy quyền, không phân chia sự huy hoàng, nhưng chỉ là Một Thiên Chúa, được phụng thờ trong vinh quang muôn đời. Sống yêu thương nhau là giữ Thánh Luật và thực hành mệnh lệnh của Chúa Giêsu đã truyền (Ga 13:34-35), đồng thời cũng là sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Ở số 221, Giáo lý Giáo hội Công giáo dạy: “Chính bản chất của Thiên Chúa là yêu thương. Bằng cách sai Con Một và Chúa Thánh Thần Yêu thương một cách trọn vẹn, Thiên Chúa đã mạc khải bí mật tận cùng của Ngài: Chính Thiên Chúa – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – trao đổi tình yêu hằng hữu, và Ngài tiền định chúng ta cùng chia sẻ sự trao đổi đó”. Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng yêu thương, một bản thể mà có ba ngôi vị riêng biệt, và Đấng Tam Vị Nhất Thể không thể tách rời.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương, nghĩa là không thể ghét bất cứ ai – dù người đó như thế nào (về cả ngoại tại và nội tại). Thiết tưởng đây là điều đáng suy tư: “Người xấu bụng thì ưa chỉ trích người khác vì muốn chứng tỏ mình tốt lành, còn người tốt bụng thì luôn rộng lòng tha thứ cho người khác – kể cả người ghét mình”. Pharisêu luôn hẹp hòi, xét nét chi li, bởi vì họ sống giả hình, nhưng lại muốn chứng tỏ mình chân thật; còn Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương người khác, bỏ qua tất cả, thậm chí còn tha thứ cho những kẻ đã giết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34). Và rồi chính Ngài không chỉ tha thứ mà còn phong thánh cho tên cướp cùng chịu hành hình với Ngài: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Hai thái cực rõ rệt!
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi hằng hữu, chí thánh và toàn năng, xin giúp con luôn biết chúc tụng và tôn vinh ngay từ khi thức dậy, vì đó là bổn phận và trách nhiệm, đồng thời cũng là hạnh phúc của con, cả khi vui lẫn lúc buồn. Xin thương ban Thần Khí Chúa để con can đảm sống đức tin trong mọi hoàn cảnh, suốt chặng đường lữ hành trần gian. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
 

BaNgôi-337: TÌNH YÊU BA NGÔI

Anna Cỏ May

Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Đó là câu ca dao mà người xưa đã BaNgôi-337

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Đó là câu ca dao mà người xưa đã mượn hình ảnh thiên nhiên để so sánh với con người. Một cây riêng lẻ dù to lớn đến đâu, gặp một cơn bão lớn vẫn bị bẻ gãy. Trái lại ba cây chụm lại và đan xen rễ vào nhau tạo nên một sức mạnh vững chắc thì không có gì có thể làm nó ngã đổ được. Qua hình ảnh quen thuộc ấy, ca dao gợi cho chúng ta một ý nghĩa về sự gắn kết và đoàn kết mà làm nên sức mạnh tình yêu giữa anh em, mọi người và mọi dân tộc.
Hôm nay đây, Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết về sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chỉ có Một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mỗi Ngôi có phân nhiệm riêng nhưng Ba Ngôi có một tình yêu duy nhất, cùng một sự sống tình yêu là thần linh và luôn tỏ lộ tình yêu cho chúng ta.
Vậy Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ lộ tình yêu như thế nào? Như trong Sách Sáng Thế cho chúng ta biết Chúa Cha tạo dựng nên tất cả mọi sự và cho con người hưởng dùng. Nhưng con người đã bất vâng phục mà gây bao nhiêu tội lỗi. Chúa Cha đã không muốn con người phải chịu đau khổ nên đã sai Con Một của Ngài là Chúa Giêsu đến để cứu chuộc con người(x Ga 3, 16-17). Khi Chúa Giêsu hoàn tất công trình cứu chuộc, Chúa Thánh Thần được sai đến ở lại, hướng dẫn và thánh hóa con người.
Với sự hiểu và nhận biết của con người thì không thể hiểu biết được mầu nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì thế, chính Chúa Giêsu đã mạc khải cho con người biết tình yêu của Thiên Chúa và còn cho con người biết, con người không thể tự mình cứu thoát được, chỉ một mình Thiên Chúa mới cứu thoát con người mà thôi. Nhưng để được cứu thoát con người phải sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ: “Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa (x. Ga 3, 18).
Chúng ta đã được Ba Ngôi Thiên Chúa yêu thương như vậy, chúng ta phải làm gì để mọi người nhận biết Ba Ngôi Thiên Chúa đang ở cùng chúng ta? Sống mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa là sống hiệp thông và chia sẻ, là ở lại trong tình yêu. Chúng ta cứ đi tìm những việc làm hành động vĩ đại để cho mọi người nhận biết mà chúng ta không để ý những việc nhỏ bé, dễ dàng và gần gũi nhất trong cuộc sống hằng ngày như “làm Dấu Thánh”.
Trong ngày sống, chúng ta thường làm dấu Thánh trong Thánh lễ, trong giờ kinh, trước bữa ăn…Chính khi chúng ta làm dấu Thánh là lúc chúng ta tôn vinh Ba Ngôi Thiên Chúa, để chứng tỏ lòng tin của chúng ta và mọi người cũng nhận biết Thiên Chúa. Làm dấu Thánh cũng chỉ sự khiêm nhường. Chúng ta một thân phận yếu đuối, không thể làm mọi việc, chúng ta luôn cần đến tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Có rất nhiều cầu thủ trên sân trường, trong lúc thi đấu đã có cử chỉ làm dấu Thánh để xin ơn ban của Thiên Chúa và chúng ta cũng thường làm vậy. Ngoài ra chúng ta làm dấu Thánh để tỏ lòng biết ơn về mọi sự chúng ta đã được hưởng dùng của Thiên Chúa ban cho.
Nơi mà mọi người nhận biết Ba Ngôi Thiên Chúa nhất thì có một số người trong chúng ta lại ít làm chứng được như trong các buổi tiệc, nơi đông người, trong công xưởng hay trường học…Có lẽ, chúng ta vì e ngại, chưa tự tin hay vì quá vui mà quên đi việc làm dấu Thánh. Và như thế, chúng ta bỏ lỡ mất cơ hội thể hiện tình yêu và niềm tin của chúng ta vào Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong ngày lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta hãy sống và chìm đắm trong tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, hãy thực hiện lại những điều nhỏ bé để tôn vinh và sống trong Ba Ngôi Thiên Chúa mỗi ngày.
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, chúng con tri ân cảm tạ Chúa đã cho chúng con bài học về sự hợp nhất và yêu thương, cho chúng con thấy rõ tình yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa trong mỗi ngày. Xin cho chúng con hằng đón nhận và biết thể hiện, tuyên xưng tình yêu Thiên Chúa ở mọi nơi mọi lúc. Amen.
 

BaNgôi-338: THIÊN CHÚA YÊU THẾ GIAN

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Gõ vào Google chữ Holy Trinity tôi tìm thấy cả một rừng giải thích về Chúa Ba Ngôi nhưng hầu BaNgôi-338

Gõ vào Google chữ Holy Trinity tôi tìm thấy cả một rừng giải thích về Chúa Ba Ngôi nhưng hầu hết chỉ là lịch sử hình thành tín điều, vài công thức và suy tư thần học khô khan. Lời Chúa trong Ga 3:16-18 trình bày Chúa Ba Ngôi cách sinh động hơn nhiều, có cả một nội dung của cái mà ngày nay người ta quen gọi là tính hiện sinh (existentiality), vì nó chạm tới hiện hữu sống động của từng con người nhân loại: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…”
Trong những ngày này, tôi đang đọc và dịch cuốn “Heart Speaks to Heart” của tác già Windy M. Wright nói về linh đạo Sa-lê; tôi rất tâm đắc với trình bày của thánh Phan-xi-cô Sa-lê về ‘viễn ảnh một thế giới của các con tim’, đặc biệt lối diễn tả của ngài về nguồn gốc của cái thế giới đó, tuy đậm nét thần học về Chúa Ba Ngôi nhưng lại rất sinh động và đầy tính thuyết phục:
“Cho dầu trong bản chất Thiên Chúa vượt xa những gì con người có thể hình dung, ta vẫn có thể nói một cách biểu tượng rằng: Người có một Con Tim là nguồn mạch mọi thứ tình yêu. Con Tim Thiên Chúa trao ban sự sống, đó là cõi lòng. là mạch nước, là sinh lực sôi sục, nóng bỏng. Con Tim đó thở, đập nhịp và co thắt. Con Tim Thiên Chúa là Ba Ngôi vì được cấu thành bởi tình yêu hỗ tương trao ban cho nhau giữa Chúa Cha và Chúa Con ‘được thực hiện trong cùng một khát vọng duy nhất là trao hiến tình yêu cho nhau… khát vọng duy nhất đó không gì hơn là chính Thần Khí cùng được phóng ra do hai hơi thở đồng xuất ra một lúc’. Tự bản chất, yếu tính  của Thiên Chúa được mường tượng như một mối tương quan rất năng động. Trong sự sung mãn vô biên, Ba Ngôi tự bùng nổ và tuôn trào. Thực tế thì tạo vật chẳng qua chỉ là kết quả của năng lượng nội tại của Tình Yêu tuôn trào và trao ban chính mình cách dư dật; hơn thế nữa, Con Tim thần linh đó tiềm tàng trong tạo vật còn hành động trong tương quan sinh động. Trong hiến dâng, Tình yêu cũng muốn lãnh nhận và lôi cuốn về mình tất cả mọi điều Người đã dựng nên; do đó ta có thể nói: Con Tim Thiên Chúa say mê, yêu mến con tim nhân loại, và hằng mong được kết hiệp với nó” (Oeuvres, V, Traité pages 203-208).
Thật là một lối diễn tả tuyệt vời: Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu sinh động sung mãn. Và ta có thể hình dung điều gì sinh động hơn là một quả tim rung động vì yêu đương, từ đó vọt ra một sức yêu mãnh liệt, chan hòa và bất tận… để rồi Con Tim đó lại muốn thu hút, thâu tóm về mình tất cả những gì mang nét yêu thương cho dầu nhỏ mọn nhất? Tạ ơn Chúa đã dựng nên con người trên cõi đời này, cho dầu thể lý hay tinh thần của họ có thế nào đi nữa…, vì tất cả họ đều được xuất phát từ Con Tim yêu đương; và còn đáng tạ ơn hơn nữa khi Người cho phép chúng quay quanh quĩ đạo của hành tinh Mặt Trời Tình Yêu chói lọi bằng chính sự yếu hèn của mình, vì nhờ đó, chúng có khả năng đón nhận lực hấp dẫn của lòng nhân ái xót thương mạnh mẽ hơn. Mạc khải vĩ đại nhất, chân lý toàn vẹn nhất chính là nhận biết điều kỳ diệu này, không phải bằng trí óc hiểu biết hay suy luận… (như hình ảnh ‘múc cạn nước đại dương đổ vào lỗ cát’ trong câu chuyện truyền thuyết về thánh Âu Tinh), nhưng bằng con tim và cõi lòng mà mọi người chúng ta, bất kỳ ai, cũng đều có. Quả thực Chúa Ba Ngôi là chân lý sống động mà bất cứ con người nào cũng đều có thể nắm bắt được ít nhiều bằng chính con tim nhân loại của mình; tuy nhiên để thật sự khai thác để trở thành sức sống sung mãn thì cách duy nhất là đi vào trong tác động của Thần Chân Lý và Tình Yêu; “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16:13). Phải chăng đây mới chính là sự thật toàn vẹn mà Đức Giê-su đang đề cập tới: Ba Ngôi Tình Yêu là sự thật toàn vẹn vì chân lý này mang lại cho mọi người chúng ta sức sống mãnh liệt và sung mãn nhất! Chính qua và nhờ các mảnh vụn tình yêu bé nhỏ mà Thánh Thần còn tìm thấy trong tôi giữa cả một rừng những yếu đuối và tội lỗi, mà tôi được đưa vào mầu nhiệm cao quí này cách sung mãn và dồi dào nhất, được thăng hoa tới Con Tim – Lò Lửa tình yêu vĩ đại nhất là Chúa Ba Ngôi.
Như thế, Ki-tô hữu chúng ta rất đáng tự hào về ‘mầu nhiệm’ cao cả: Thiên Chúa Ba Ngôi (cho dầu bản thân tôi khi sử dụng từ ‘mầu nhiệm – mystery’ vẫn thấy không ổn thế nào ấy, vì nó cho tôi cái cảm giác mung lung, căn cứ vào những gì tôi thường được nghe giải thích: mầu nhiệm là điều không thể hiểu được!). Ki-tô hữu chúng ta quá hãnh diện về mạc khải lớn lao và quan trọng bậc nhất này, và vì thế mà chúng ta luôn khởi sự và sống niềm tin của mình luôn trong “nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”. Và còn hơn thế nữa, ta có quyền vui mừng khôn xiết vì mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi thực sự trọn vẹn bao phủ hiện hữu ta, tiếp hơi ấm cho đời, ban cho ta niềm vui và cậy trông không hề tàn lụi giữa kiếp sống thường khi phủ kín mây đen, và tiếp cho ta sức mạnh vô địch khi thân xác và tinh thần tàn rữa và yếu đuối. Chỉ khi nào Ba Ngôi Thiên Chúa trở thành tất cả cho mình và cho đời mình, tôi mới có thể quả quyết được rằng: tôi đang tuyên xưng mầu nhiệm cao cả này như một Ki-tô hữu thực thụ: “Tôi tin kính một Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha toàn năng….”
Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay phải là ngày chúng ta cảm nhận được niềm tin này cách sinh động hơn bao giờ hết!
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, con tôn thờ tình yêu vĩ đại; con ca ngợi và cảm tạ Chúa vì ơn gọi Ki-tô hữu đã cho con khả năng nhận biết Con Tim Thiên Chúa đầy yêu thương. Con ước muốn làm sao cho mọi người được cùng con cất lời cảm tạ và tôn thờ sức sống tuyệt diệu và sung mãn này. Xin cho con luôn đáp lại mệnh lệnh khẩn thiết: “Hãy đi và… làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”; nhưng trước hết xin cho con được trọn vẹn hòa tan trong Con Tim rực lửa yêu của Ba Ngôi nhiệm mầu trong chính sự hèn yếu của con. A-men.
 

BaNgôi-339: ĐẤNG ĐỊNH NGHĨA SIÊU NHIÊN

P. Trần Đình Phan Tiến

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn,Đoạn Lời Chúa Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay theo Tin Mừng Gioan là BaNgôi-339

Vâng, thưa quý vị, thưa các bạn,Đoạn Lời Chúa Lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay theo Tin Mừng Gioan là Đoạn Lời Chúa nói về “tình yêu”. Vâng, tình yêu hai chữ thật “cao siêu” bởi vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, vì “THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU”.
Vâng, tình yêu tưởng chừng đơn giản, nhưng thật không giản đơn, bởi vì chính Con Một Thiên Chúa, Đấng đã đến thế gian để “dịnh nghĩa” về tình yêu thật lớn lao, thật vất vả khó nhọc, thật phi thường và cũng thật khủng khiếp, đó là Mầu Nhiệm Tử Nạn của Đức Kitô.
Tình yêu mang chiều kích tâm linh, siêu nhiên, chứ không phải tự nhiên như người ta nghĩ, vì vậy, tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa chứ không phải từ thế gian.
Đức Kitô, Đấng đã đến từ Thiên Chúa, tức siêu nhiên, như vậy Người là Đấng định nghĩa siêu nhiên, vì tình yêu thuộc về siêu nhiên.
Lời Chúa ( Ga 3,16) đã định nghĩa điều ấy :”Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.”
Theo đó, rõ ràng, Chúa Giêsu là Đấng “định nghĩa tình yêu”, vâng, tình yêu đến từ và bắt nguồn nơi Thiên Chúa, vì vậy, tình yêu là trạng thái siêu nhiên. Vì vậy, không một ai ngoài Thiên Chúa ra có thể định nghĩa siêu nhiên được. vì, Đấng từ Trời mà đến, thì mới có thể kéo nhân loại lên được.
Lễ Chúa Ba Ngôi cho chúng ta hiểu được chiều kích đó. Khi nói về Chúa Giêsu, thì không thể chỉ có mình Người đơn độc, mà là chính Ba Ngôi ngự trị trong Người. bởi vì, Thiên Chúa là một Mầu Nhiệm hiệp thong, chứ không đơn độc, duy nhất một Thiên Chúa, nhưng là Ba Ngôi. Một sự trọn vẹn nơi bản tính của tình yêu. Vì , nếu chỉ Một Ngôi duy nhất, một Chúa Duy nhất, thì không cần có tình yêu, như vậy , tức không có sự sống, vì tình yêu mang lại sự sống. Nếu tự bản chất nơi Thiên Chúa không cần tình yêu, thì lúc ấy không còn là Thiên Chúa nữa.
Ba Ngôi Thiên Chúa ban cho nhân loại sự sống, vì tình yêu chính là sự sống viên mãn, nên chi , khi phàm nhân bất nghịch với Thiên Chúa, thì lúc đó, phàm nhân phải chết, nhưng vì bản chất là tình yêu, Thiên Chúa không bỏ mặc con người dưới quyền sự chết, bởi vì, trong Thiên Chúa là một mầu nhiệm hợp nhất yêu thương, đó là Ba Ngôi. Vì thế, Ngôi Thứ Hai ra đời cứu chuộc nhân thế. Một nền thần học căn bản cho nhân loại, đó là :Thiên Chúa Ba Ngôi.
Nếu Đấng Cứu Thế không ra đời, nhân thế không thể nhận biết mầu nhiệm  Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng đã mạc khải tình yêu từ Thiên Chúa duy nhất. Vì vậy, mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi không khó hiểu như người ta tưởng.
Ba Ngôi không phải là “Ba Chúa” mà là Một Chúa, bở vì bản chất Thiên Chúa là tình yêu, vì tình yêu là sự “trao ban”. “Thiên Chúa đã trao ban Con Một của Ngài cho thế gian”.
Như vậy, Đấng “được trao ban ban “ ấy đã “mạc khải”  Thiên Chúa có Ba Ngôi, chinh là Đức Kitô – Giêsu là Đấng đã “định nghĩa siêu nhiên” cho nhân loại nhận biết những điều siêu nhiên.
Như vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa là một Mầu Nhiệm căn bản mang đúng bản chất Thiên Chúa là Tình Yêu qua sự mạc khải của Đức Giêsu- Kitô. Đồng thời Mầu Nhiệm một Chúa Ba Ngôi biểu lộ sự toàn năng trong sự yêu thương mà ra. Tình yêu chân chính không phải chỉ là “nụ hôn”, vì “nụ hôn Giu –đa” không phải là nụ hôn tình yêu chân thật. Rõ ràng, “nụ hôn Giu-đa” là nụ hôn phản bội, bất trung, bất tín, như vậy là “ nụ hôn tội lỗi”. Vì, tình yêu chân chính là tình yêu mang lại ích lợi cho đối tượng mình yêu thương, hay nói cách khác tình yêu chân chính là ” tình yêu vô vị lợi”. Tình yêu vô vị lợi là tình yêu tự hiến như Đức Kitô, Người đã tự nguyện dâng chính mình là Hy Lễ Cứu Chuộc. Như vậy, Chúa Cha đã yêu thương thế gian và đã ban Người Con cho thế gian, để ai tin vào Người Con ấy thì sẽ được ơn Cứu Độ muôn đời. Và, Người Con ấy đã đến thế gian tự hiến mạng sống hữu hình của Người để “CỨU “ thế gian. Chúa Thánh Thần là nguồn ân sủng siêu nhiên làm cho nhân thế nhận biết mọi kỳ diệu trong vũ trụ, trong đó sự tạo dựng vũ trụ và con người, sự tái tạo con người tức ơn cứu chuộc, được diễn bày trong mầu nhiệp Nhập Thể và Nhập Thế của Đức Kitô – Giêsu.
Khởi đi từ Bài đọc I, ( Xh 34, 4b – 6 . 8-9 ) Thiên Chúa ngự xuống trên đám mây mà xưng Danh Thiên Chúa đang khi Môi-sê mang hai bia đá lên núi Sinai. Quả thật, Thiên Chúa tự mạc khải chính mình, thì nhân loại mới nhận biết, nếu không phàm nhân không thể tỏ tường.
Theo đó, Cựu Ứơc chưa mạc khải cho nhân loại, Một Chúa Ba Ngôi , mà chỉ mạc khải cho biết có một Thiên Chúa, Đấng Cực Thánh qua một phàm nhân là Môi-sê.
Bài đọc II, ( 2Cr 13, 11-13), thánh Phao-lo cho biết Thiên Chúa là ”Nguồn yêu thương và bình an” sẽ ở cùng chúng ta.
Như vậy, Mầu Nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa là một nguyên lý siêu nhiên, mà cần biểu lộ , hầu tỏ bày sự an bài cho nhân thế trong càn khôn nầy. Cho biết , Thiên Chúa là tình yêu không đơn độc như “ bá chủ” hay một Vị Vua độc tài, mà là một tình yêu trao ban và tự hiến cho nhân loại trong nguyên lý từ Thiên Chúa.
Tháng sáu là tháng Kính thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một dấu chỉ bày tỏ cách tuyệt đối tình yêu siêu nhiên từ Thiên Chúa, mà không có thụ tạo nào thể hiện được, Tình yêu tự hiến của Chúa GIsêu biểu lộ qua Thánh Tâm của Người là một sự trào tràn cho nhân nhận ra một tình yêu siêu nhiên chỉ có nơi Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, Chúa đã biểu lộ bản tính yêu thương qua cuộc khổ hình sinh ơn cứu độ của Đức Kitô, Ngơi Lời hằng sống vĩnh cửu. Xin thương ban cho chúng con nhận ra tình Chúa cao vời  mà đáp đền muôn một. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con ./. Amen.
 

BaNgôi-340: TÌNH YÊU CHO ĐI – TÌNH YÊU CỨU ĐỘ

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIOAN (Ga 3,16-18)
16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.
II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA

Trong mặc khải Thánh Kinh, có lẽ các bản văn trình bày Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chiếm BaNgôi-340

Trong mặc khải Thánh Kinh, có lẽ các bản văn trình bày Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chiếm một chỗ rất khiêm tốn. Câu văn nổi tiếng nhất nói về Thiên Chúa Ba Ngôi được tìm thấy trong Tin Mừng Mát-thêu, chương 28, câu 19: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Và phụng vụ đã không ngần ngại chọn lời chúc lành trong thư thứ hai của Thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Cô-rin-tô làm lời chào nhân danh Chúa Ba Ngôi đầu Thánh lễ: “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần…” (2 Cr 13,13).”
“Tín điều Một Chúa Ba Ngôi là cách người Ki-tô chúng ta hiểu về Mầu Nhiệm Thiên Chúa. Cũng như anh em Do-thái giáo và Hồi-giáo, chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất, chứ không phải là ba Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa này được mạc khải cho chúng ta trong quan hệ ba chiều của yêu thương giữa ngôi Cha, ngôi Con, và Thánh Thần. Ba Ngôi đồng hình đồng dạng thành một đơn vị yêu thương duy nhất, nhưng lại có sự khác biệt: Cha không phải là Con, Con không phải là Thánh Thần. Trong tương quan giữa Ba Ngôi, cả ba không phải là các cá vị đơn lẻ, nhưng là mối tương quan hài hoà – hiệp nhất trong khác biệt, đấy chính là bản thể của Thiên Chúa.”   (Trích Huyền Nhiệm Ba Ngôi của tác giả Bảo Lộc). Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng uy linh, siêu việt, vô hình, toàn năng, toàn trí và tràn đầy tình yêu trong Mối Thông Hiệp Khôn Tả.
2.2 Thiên Chúa Ba Ngôi tỏ mình ra bằng/qua Công Trình Tạo Dựng, Cứu Độ và Thánh Hóa. Nói một cách đơn giản dễ hiểu hơn là Thiên Chúa Ba Ngôi tỏ mình ra qua/bằng Tình Yêu Cho Đi, Tình Yêu Hiến Dâng, Tình Yêu Cứu Độ: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).
2.3 Các tín hữu được mời gọi đi vào Mối Hiệp Thông của Ba Ngôi Thiên Chúa và đón nhận rồi quảng bá Tình Yêu Cho Đi, Tình Yêu Hiến Dâng, Tình Yêu Cứu Độ của Người, bằng cách tin vào Đức Giê-su Ki-tô Con Một Thiên Chúa:  “Ai tin vào Con của Người thì không bị kết án” (Ga 3,18). Không chỉ là tin xuông mà là tin và hành động đi song song và hòa quyện vào nhau trong một đời sống đức tin thống nhất.
III. THỰC THI LỜI CHÚA
3.1 Nhờ gia đình và Giáo Hội, tôi đã đón nhận Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi từ thưở sơ sinh. Tôi cũng đã tin vào Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã nhập thể làm người, sinh ra và lớn lên, lao động và rao giảng Nước Trời trong các vùng đất Pa-lét-tin, chịu đóng dinh và chịu chết trên thập giá trên đồi Can-vê và đã sống lại.
3.2 Tôi thể hiện niềm tin Ki-tô trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đoàn, qua các thực hành của đời sống đức tin. Tôi cố gắng làm cho niềm tin ấy càng ngày càng sâu sắc, bằng việc cầu nguyện, lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, đọc và suy niệm Lời Chúa, phục vụ anh em và truyền giáo.  
3.3 Từ nhiều thập niên tôi quan tâm đặc biệt đến việc phục vụ một cách vô vị lợi qua các Khóa Thánh Kinh và Huấn Luyện Lãnh Đạo, các Khóa Thánh Kinh 100 Tuần, các Khóa Huấn Luyện Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, Khóa Tìm Hiểu Công Đồng Va-ti-can II và Khóa Đào Tạo người Đào Tạo (T.O.T) trong tinh thần của Tình Yêu Cho Đi, Tình Yêu Hiến Dâng.
Tôi soạn các Bài Sống Lời Chúa Hôm nay, Suy Niệm Phúc Âm Chúa Nhật, các Bài Chia Sẻ và thực hiện các số GIÁO DÂN HỢP TUYỂN cũng  trong tinh thần ấy.
IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA
Lạy Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, chúng con xin dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa uy linh, siêu việt, toàn trí, toàn năng và yêu thương!
Chúa đã mạc khải cho loài người chúng con biết được Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Chúng con cảm tạ Chúa!
Chúa đã sai Con Một Chúa đến trần gian để cứu chuộc chúng con.  Chúng con đội ơn Chúa!
Chúa đã ban Thánh Thần cho những kẻ tin là chúng con. Chúng con ngợi khen Chúa!
Chúa đã mời chúng con sống hiệp thông với Chúa.  Chúng con chúc tụng Chúa!
Chúng con xin dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa uy linh, siêu việt, toàn trí, toàn năng và yêu thương!
Xin Chúa giúp chúng con biết sống hiến dâng phục vụ và chia sẻ với những người xung quanh. Amen.

 

BaNgôi-341: SUY NIỆM LỄ CHÚA BA NGÔI. NĂM A

 Lm. Anthony Trung Thành

Thiên Chúa Ba Ngôi là một tín điều và là một trong những mầu nhiệm chính trong đạo Công giáo. BaNgôi-341

Thiên Chúa Ba Ngôi là một tín điều và là một trong những mầu nhiệm chính trong đạo Công giáo. Là mầu nhiệm nên chúng ta không thể thấu hiểu được. Là tín điều nên buộc mỗi người kitô hữu phải tin. Không hiểu nhưng chúng ta tin vì đã được Đức Giêsu mạc khải và được Giáo hội định tín. Để thêm sự xác tín và sống Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi xin được gợi ý chia sẻ một số điểm sau đây.
Trong cuộc sống hằng ngày, có những điều chúng ta không thể thấu hiểu hết nhưng chúng ta vẫn tin. Chẳng hạn, cơm cá chúng ta ăn vào làm sao lại trở nên xương thịt ta? Cùng một chất đất mà cây cối hấp thụ lấy thì làm ra sản phẩm khác nhau: cây lúa làm ra gạo, cây lạc làm ra dầu, cây mía làm ra đường…mỡ bỏ vào nồi rán lên thì chảy ra nước, trứng bỏ vào thì đông lại…Chúng ta không thấu hiểu hết vì trí khôn chúng ta có hạn, nhưng chúng ta tin vì những điều đó là có thật. Những vấn đề này thường gọi là những mầu nhiệm tự nhiên.
Trong đời sống đức tin, ngoài ba mầu nhiệm chính (Một Chúa Ba Ngôi, Ngôi Hai xuống thế làm người, Ngôi Hai chuộc tội cho nhân loại), còn có vô số các mầu nhiệm khác, đặc biệt những mầu nhiệm liên quan đến cuộc đời của Đức Giêsu, đó gọi là những mầu nhiệm siêu nhiên. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo cho biết, cả cuộc đời của Đức Giêsu là một mầu nhiệm (x. số 512-570): Mầu nhiệm Giáng sinh; những mầu nhiệm của tuổi thơ ấu như sự cắt bì, lễ Hiển linh, sự dâng Chúa Giêsu trong đền thờ, sự trốn sang Ai-cập; những mầu nhiệm của đời sống ẩn dật như sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với Đức Maria và Thánh Giuse, sự kiện tìm lại được Chúa Giêsu trong đền thờ; những mầu nhiệm liên quan đến cuộc đời công khai như việc Đức Giêsu chịu phép rửa, Ngài bị cám dỗ, sự biến hình; những mầu nhiệm liên quan đến sự chết và sống lại, lên trời…
Ngoài ra, các Bí tích cũng là những mầu nhiệm. Chúng ta thường gọi là các Bí tích hay các Nhiệm tích. Bởi vì, Bí tích hay Nhiệm tích là dấu chỉ bề ngoài Chúa Giêsu đã lập để ban ơn bề trong. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận được các Bí tích nhờ đức tin mà thôi. Cho nên, trong thánh lễ, sau khi truyền phép, linh mục đọc: “Đây là mầu nhiệm đức tin.” Và trong bài “Đây Nhiệm Tích” chúng ta hát “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì.”
Trở lại với Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, tuy chúng ta không thấu hiểu nhưng qua mạc khải chúng ta biết được đây là mầu nhiệm của tình yêu:
Từ thời Cựu Ước, dân Chúa chỉ biết có một Thiên Chúa độc nhất. Ngài là một vị Thiên Chúa yêu thương. Ngài yêu thương con người “như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh”(x. Lc 13,34). Ngài yêu thương con người đến nỗi “dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa thì Ngài vẫn không bỏ rơi con người” (x. Tv 26,10). Chúng ta thấy rõ hơn điều này nơi nội dung của bài đọc I hôm nay: Thiên Chúa là Đấng nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín. Chính Ngài đã giải thoát dân Israel ra khỏi cảnh nô lệ Ai-cập, nhưng dân Israel lại phản bội Ngài. Thay vì thờ lạy Ngài, họ đúc con bò vàng để thờ lạy. Dầu vậy, nhờ lời chuyển cầu của ông Mô-sê, Thiên Chúa không những đã tha thứ cho họ mà còn lập giao ước đối với họ nữa (x. Xh 34, 4-6.8-9).
Sang thời Tân Ước, qua Đức Giêsu nhân loại mới biết rõ ràng về một Thiên Chúa có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần: “Cả Ba Ngôi khác biệt nhau nhưng luôn hiệp nhất với nhau nên chỉ có một Thiên Chúa. Cả Ba Ngôi ngang bằng nhau: không có ngôi nào có trước, ngôi nào có sau; không có ngôi nào hơn, ngôi nào kém vì cả Ba Ngôi có tự đời đời và có cùng một bản tính thần linh.”(x. bài Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, http://www.simonhoadalat.com). Đức Giêsu đã nhiều lần nói về Chúa Cha. Ngài cũng mạc khải về Ngài là Ngôi Hai, là Chúa Con và Ngôi Ba là Chúa Thánh Thần. Vì yêu thương, Chúa Cha đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Ngài dựng nên muôn loài muôn vật cho con người hưởng dùng. Vì yêu thương, nên Chúa Cha đã sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu xuống thế làm người chuộc tội cho nhân loại. Tin mừng hôm nay cho chúng ta biết: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy, thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.” (Ga 3,16-18). Cũng vì yêu thương nhân loại nên Chúa Con đã vâng phục Chúa Cha để chấp nhận làm người như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Thánh Phaolô đã diễn tả sự vâng phục của Chúa Con rằng: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).
Vì yêu thương, và nhờ lời chuyển cầu của Đức Giêsu, Chúa Cha đã ban Thánh Thần xuống để thánh hóa nhân loại. Chúng ta thấy vai trò thánh hóa của Chúa Thánh Thần qua những thay đổi nơi các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần và trong Giáo hội sơ khai. Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục vai trò thánh hóa trong Giáo hội và nơi mỗi người Kitô hữu mãi cho tới tận thế.
Tóm lại, trong thực tế cuộc sống có nhiều vấn đề chúng ta không hiểu nhưng chúng ta vẫn chấp nhận, đó là những mầu nhiệm tự nhiên. Trong đời sống siêu nhiên, có những vấn đề vượt quá trí hiểu của chúng ta, chúng ta không thấu hiểu nhưng nhờ mạc khải mà chúng ta biết, đó là mầu nhiệm siêu nhiên. Đặc biệt, trong số các mầu nhiệm siêu nhiên đó, có mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng kính hôm nay. Vậy, sứ điệp nào mời gọi chúng ta trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi hôm nay?
Thứ nhất, luôn luôn tin kính, mến yêu và cầu nguyện với Thiên Chúa Ba Ngôi. Hãy siêng năng đọc Kinh Sáng Danh, làm dấu thánh giá một cách sốt sắng. Không chỉ cầu nguyện với Chúa Ba Ngôi cho mình, mà còn nhân danh Chúa Ba Ngôi để cầu nguyện cho người khác như lời cầu chúc của Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay: “Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em” (2Cr 13,13).
Thứ hai, Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu. Vì vậy, đời sống của chúng ta phải phản chiếu đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng ta hãy yêu thương nhau và yêu thương hết mọi người. Tình yêu đó phải có hành động cụ thể trong đời sống gia đình và xã hội: giữa vợ chồng với nhau, giữa cha mẹ và con cái, giữa mỗi thành viên trong gia đình, giáo xứ, và những người chúng ta gặp gỡ hằng ngày, nhất là những người nghèo đói, bệnh tật, cô thế cô thân. Tình yêu đó được diễn tả qua sự hy sinh mà cao điểm của sự hy sinh là “chết cho người mình yêu.” Khi chúng ta yêu thương nhau là chúng ta đang làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Khi ta thiếu bác ái yêu thương là chúng ta đang chối từ niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Thứ ba, Thiên Chúa Ba Ngôi là hiệp nhất. Hiệp nhất đến nỗi Đức Giêsu đã nói: “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy.”(x. Ga 14,7-14). Mặc dầu giáo lý phân biệt các công việc của Ba Ngôi: Chúa Cha là Đấng tạo dựng; Chúa Con là Đấng Cứu Chuộc; Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hóa. Nhưng trong thực tế thì trong việc tạo dựng vẫn có công của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong việc Cứu chuộc vẫn có công của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần và trong việc Thánh Hóa vẫn có công của Chúa Cha và Chúa Con. Nghĩa là, cả Ba Ngôi cộng tác với nhau để Tạo dựng, Cứu chuộc và Thánh hóa nhân loại. Ước mong rằng, trong mọi phương diện của đời sống mỗi thành viên trong gia đình, Giáo hội và xã hội biết phát huy tinh thần cộng tác, hiệp nhất như Chúa Ba Ngôi.
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, xin thêm lòng tin, cậy, mến cho chúng con và giúp chúng con biết sống yêu thương hiệp nhất với nhau. Amen.
 

BaNgôi-342: MẦU NHIỆM PHÁT SINH MỌI MẦU NHIỆM

 JM. Lam Thy

Đề cập tới mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 234) đã khẳng BaNgôi-342

Đề cập tới mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 234) đã khẳng định: “Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Ki-tô hữu. Ðây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa, cội nguồn phát sinh mọi mầu nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu nhiệm ấy. Ðây là giáo huấn căn bản nhất và trọng yếu nhất theo “phẩm trật các chân lý đức tin” (DCG 43). “Trọn lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử về đường lối và các phương tiện mà Thiên Chúa chân thật và duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mạc khải, để giao hòa và kết hợp với Người những ai từ bỏ tội lỗi” (DCG 47)”.
Cũng vì tính cách quan trọng hàng đầu ấy, Giáo hội quy định trong Thánh lễ hàng ngày tái hiện hy tế Thập Giá Chúa Ki-tô trên bàn thờ, với nghi thức mở đầu, vị chủ tế làm dấu thánh nhân danh Chúa Ba Ngôi (“Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”). Tiếp theo là lời cầu chúc cộng đoàn Dân Chúa tham dự Thánh lễ: “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh (chị) em.” Đây chính là lời chúc cuối Thư thứ 2 của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô (xc bài đọc 2 – 2Cr 13, 11-13). Cuối Thánh lễ, thì vị chủ tế lại xin Thiên Chúa Ba Ngôi ban phép lành cho cộng đoàn tín hữu: “Xin Thiên Chúa toàn năng, là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ban phép lành cho anh chị em”. Xin cùng suy niệm về ý nghĩa của mầu nhiệm cực thánh này:
Đó chính là lời tuyên tín của Giáo hội về đức tin trong sứ vụ độc nhất vô nhị của Hội Thánh là: sống chứng tá Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh. Lời tuyên tín đó khởi đi từ mạc khải về mầu nhiệm Ba Ngôi, là một mạc khải đặc biệt và cũng là cốt lõi của sứ mạng cứu độ: Có Một Thiên Chúa duy nhất và Người có Ba Ngôi. Trong số các mầu nhiệm đức tin thì “Một Chúa Ba Ngôi” là mầu nhiệm quan trọng nhất và là nền tảng của các mầu nhiệm khác. Vì là lời tuyên tín nên tất nhiên “Ai tin thì sẽ được cứu độ” (Mc 16, 16). Đã là mầu nhiệm thì đương nhiên khó lòng thấu hiểu được; tuy nhiên, nếu biết xin ơn Thánh Thần soi sáng, và cố gắng tìm tòi học hỏi, thì cũng có thể lãnh hội được phần nào ý nghĩa, và sẽ không thấy có gì đối nghịch giữa khoa học và đức tin tôn giáo.
Dựa vào Lời Chúa Giê-su mạc khải trong Tân Ước, Hội Thánh đã rút ra chân lý mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: “Chỉ có Một Thiên Chúa và “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 7), nhưng Người lại có Ba Ngôi: Ngôi thứ Nhất là Cha, Ngôi thứ Hai là Con, Ngôi thứ Ba là Thánh Thần (Mt 3, 16-17; 28, 19). Vì Ba Ngôi cùng trong một nhiệm thể (ở trong nhau – đồng bản thể), cùng chung một bản tính, cùng một quyền năng, nên trong Ba Ngôi, không Ngôi nào lớn hơn (Ga 14, 10-12). Vai trò của mỗi Ngôi như sau:
†  Ngôi Thứ Nhất: Chúa Cha – Đấng Sáng Tạo muôn loài: Khi sáng tạo vũ trụ, vạn vật và loài người. Thiên Chúa xuất hiện là Ngôi Thứ Nhất như một người Cha. Người dùng Lời quyền năng (Ngôi Thứ Hai) làm cho vạn vật xuất hiện từ cõi hư không (St 1, 3), và tiếp tục quan phòng gìn giữ để các tạo vật ấy tồn tại, phát triển và tiến hóa ngày một hoàn thiện hơn. Người cứu độ loài người bằng việc sai Con Một (Ngôi Thứ Hai) nhập thể cứu chuộc và ban Thánh Thần (Ngôi Thứ Ba) tiếp tục chương trình cứu độ loài người qua Hội Thánh.
†  Ngôi Thứ Hai: Chúa Con – Đấng Cứu Chuộc nhân loại: Khi tới giờ đã định, Chúa Cha (Ngôi Thứ Nhất) sai Con Một là Chúa Con (Ngôi Thứ Hai) xuống thế làm người là Đức Giê-su Ki-tô (Ga 3, 16). Người thi hành sứ mệnh Thiên Sai (từ Ngôi Cha) bằng việc đi khắp nơi công bố Tin Mừng Nước Trời, làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế, và cuối cùng tình nguyện chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho loài người và sống lại để ban ơn cứu độ loài người cho khỏi sự chết đời đời. Đức Giê-su chính là “Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16), điều này đã được chính Chúa Cha mạc khải: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3, 17). Người là phản ảnh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa (Dt 1, 3). Ai thấy Người là thấy Chúa Cha (Ga 14, 9). Người luôn hiệp nhất với Chúa Cha (Ga 17, 22).
†  Ngôi Thứ Ba: Chúa Thánh Thần – Đấng Thánh Hóa mọi sự: Thánh Thần tuôn đổ thần khí ân sủng xuống trên các Tông đồ trong lễ Ngũ Tuần, Người ban ơn soi sáng giúp lương dân gia nhập Hội Thánh (Nhiệm Thể Đức Ki-tô), đồng thời tiếp tục bảo trợ Giáo Hội chu toàn ba chức vụ của Chúa Giê-su, cũng là ba sứ vụ của Giáo Hội, của mỗi Ki-tô hữu: *1- Làm Ngôn sứ (sứ giả được sai đi rao giảng về Lời, tức loan báo Tin Mừng); *2- Làm Tư tế (dâng hiến bản thân làm của tế lễ Thiên Chúa) nhằm thánh hóa bản thân mỗi Ki-tô hữu nhờ các phép bí tích do Chúa Giê-su thiết lập; *3- Làm Vương giả (làm vua bản thân, tức là làm chủ bản thân, “thống trị mặt đất và làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” – St 1, 28), để đi tới phục vụ đoàn chiên cộng đồng (theo gương Đức Vua Phục Vụ Giê-su Ki-tô). Để thưc thi và hoàn tất sứ vụ này, người tín hữu phải tuyệt đối trông cậy vào Đấng Bảo Trợ Hội Thánh. Đấng ấy chính là Thiên Chúa Ngôi Ba, là Thánh Thần, Thánh Linh hay Thần Chân Lý.
Vì Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm, nên con người không thể dùng trí khôn bất toàn của mình mà “suy sự Đức Chúa Trời” giống như Thánh Au-gus-ti-nô đã từng làm và đã được Thiên Chúa sai sứ thần trong vai một em bé nhắc nhở (*1). Tuy nhiên, căn cứ vào ân sủng cứu độ được thực hiện bởi Ngôi Hai Thiên Chúa, Giáo Hội đã đi đến khẳng định chiều hướng mạc khải: “Chúa Cha được mạc khải qua Chúa Con; Chúa Cha và Chúa Con được mạc khải nhờ Chúa Thánh Thần” (GL/HTCG, số 238-248). Thực thế, loài người – thông qua các thánh Tông đồ và dân tộc Ít-ra-en cách đây trên 2000 năm – đã được thực mục sở thị (trông thấy nhãn tiền), được gặp gỡ trò chuyện, ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ với một trong Ba Ngôi là Ngôi Hai Thiên Chúa – một con người với bản tính người-rất-người, người 100% (không kể bản tính Thiên Chúa). Chính Con Người ấy trong mọi sinh hoạt trên đời này đều luôn minh chứng cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều tồn tại trong Ngôi Lời Nhập Thể:
Khi chịu Phép Rửa tại sông Gio-đan (“và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” – Lc 3, 22); khi ăn uống và cả những khi cầu nguyện thì luôn dâng lời chúc tụng tôn vinh Chúa Cha trên trời (“Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” – Ga 12, 28). Đặc biệt hơn cả là khi dạy dỗ, trò chuyện, giao tiếp với các môn đệ, với mọi người, “Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20, 21-23); “Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11, 13); “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9); “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28, 18-19)…
Nhiều lắm những dẫn chứng rất sinh động và thật cụ thể để minh họa, do chính các Thánh sử, các Thánh Tông đồ – những con người đã sống liền bên, ăn cùng mâm, ngồi chung chỗ, cùng trò chuyện, được dạy bảo, nhất là “đã nghe, đã thấy tận mắt, đã chiêm ngưỡng, đã chạm đến” Ngôi Hai Thiên Chúa (1Ga, 1) – ghi lại trong Thánh Kinh. Rõ ràng là cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều cùng tồn tại trong Ngôi Hai, một con người đã được tượng thai bằng xương bằng thịt và sinh hạ bởi một người phụ nữ như tất cả những con người hiện diện trên trái đất này, cách đây hơn 2000 năm. Từ đó suy ra trong Ngôi Cha cũng có Ngôi Hai và Ngôi Ba, trong Ngôi Ba cũng tồn tại Ngôi Cha và Ngôi Con. Cả 3 Ngôi đều có ở trong nhau, tồn tại trong nhau, vì thế Ba Ngôi vẫn chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, thánh thiện.
Nói 3 Ngôi ở trong nhau như một thân thể duy nhất chính là nói đến sự thông hiệp giữa Thiên Chúa Ba Ngôi, và từ cội nguồn mầu nhiệm đó, dòng suối hiệp thông tuôn tràn trên Giáo Hội phổ quát (“Sự thông hiệp này, chính là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã dùng những lời của Thánh Cy-pri-a-nô để nhắc lại: “Giáo Hội phố quát xuất hiện như một dân tộc được hợp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánk Thần”. Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được nhắc nhở ở mỗi đầu Thánh Lễ khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của Thánh Phao-lô Tông Đồ: ‘Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em’ (2Cr. 13, 13)” – T/H “Ki-tô hữu Giáo dân”, số 18).
Sự sống hiệp thông của Giáo Hội đã trở nên như một dấu chỉ về Ba Ngôi Thiên Chúa cho thế giới, đồng thời là một hấp lực thu hút mọi người tới niềm tin vào Chúa Giê-su Ki-tô qua Lời Người: “Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ trở thành một trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17, 21). Dấu chỉ ấy, sự thu hút ấy phải chăng là công cuộc truyền giáo, là sứ vụ loan báo Tin Mừng, như lời khẳng định của Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II: “Như thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo” (T/H “Ki-tô hữu Giáo dân”,  số 18).
Trên thế giới có nhiều hình ảnh cụ thể minh họa cho vấn đề tuyên tín (công bố niềm tin bằng lời thề) như một y bác sĩ tuyên thệ khi tốt nghiệp ngành Y khoa: “Nhân danh Đấng Tối Cao mà tôi tin tưởng, nhân danh Y Tổ Hippocrates, tôi xin thề…”; hoặc như một thẩm phán trước khi xét xử một vụ án cũng “Nhân danh công lý, tôi xin tuyên thệ trước tòa…”. Ấy là chưa kể vào những lễ tuyên thệ của các vị nguyên thủ quốc gia sau khi đắc cử, cũng đặt tay lên Hiến Pháp mà thề sẽ tuyệt đối trung thành với Tổ quốc “Nhân danh Quốc Tổ và Hiến Pháp nước…, tôi xin tuyên thệ…”. Người Ki-tô hữu hôm nay cảm nghiệm được mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, thì cũng là lúc ý thức được sứ vụ duy nhất của mình đã được chính Ngôi Hai Thiên Chúa trao phó: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 19-20). Khi nghe Lời truyền dạy “Làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, thì cần phải hiểu mình làm những gì (cho bản thân hay cho tha nhân) cũng đều phải làm vì danh thánh Thiên Chúa Ba Ngôi.
Vậy thì người Ki-tô hữu còn chần chờ gì nữa mà không làm dấu thánh nhân danh Chân Lý Tình Yêu (“Nhân danh † Chúa Cha, † Chúa Con  và †Chúa Thánh Thần”) trước khi thi hành sứ vụ “Đi khắp tứ phương loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (dâng Thánh lễ, làm công tác Tông đồ, bác ái), kể cả trong sinh hoạt hàng ngày (trước khi ăn, trước khi ngủ, khi đọc kinh sớm tối, trong mọi công việc…). Ôi! “Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, Chúa đã sai Con Một là Lời chân lý và sai Thánh Thần, Ðấng thánh hoá muôn loài đến trần gian,  mạc khải cho chúng con biết mầu nhiệm cao vời của Chúa. Xin cho chúng con hằng tuyên xưng đức tin chân thật là nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa Ba Ngôi uy quyền vinh hiển. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Con Cha, Chúa chúng Con, Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thủa muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Chúa Ba Ngôi).
——————————–
Chú thích: (*1)- Thánh Au-gus-ti-nô (354-430) – một nhà Thần học và Triết học – muốn hiểu thật tường tận về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Một hôm, thánh nhân đi đi lại lại trên bãi biển, vừa cầu nguyện vừa cố suy nghĩ xem có cách nào để hiểu và cắt nghĩa được tường tận mọi điều về Thiên Chúa Ba Ngôi. Đang đăm chiêu bách bộ, chợt ngài thấy có một em bé trông rất khôi ngô tuấn tú, đang dùng một vỏ sò múc nước biển đổ vào một lỗ nhỏ (hang cua, hang cáy). Ngạc nhiên, Thánh Au-gus-ti-nô liền dừng lại hỏi em đang muốn làm gì vậy. Em bé mỉm cười trả lời: “Cháu đang muốn tát cạn nước biển.” Thánh Au-gus-ti-nô phì cười: “Sao cháu làm một việc vô ích như vậy. Làm sao cháu có thể múc nước cả đại dương này để đổ hết được vào cái lỗ nhỏ như thế?” Em bé cũng cười rất tươi nói: “Thì việc cháu đang làm cũng đâu có gì khác với việc bác đang suy nghĩ?” Với sự đáp trả đầy thông minh hóm hỉnh của em nhỏ, Thánh Au-gus-ti-nô giật mình hiểu ra Thiên Chúa đã thức tỉnh ngài thông qua cậu bé (thiên sứ) này. Kể từ đó, thánh nhân không dám “suy sự Đức Chúa Trời” theo kiểu triết lý nhân sinh nữa.
 

BaNgôi-343: NGUỒN TÌNH YÊU

Lm. Jos. DĐH.

Tục ngữ có câu: có chí thì nên. Nên như thế nào, thành đạt ra sao, vẫn chỉ là khái niệm chung chung BaNgôi-343

Tục ngữ có câu: có chí thì nên. Nên như thế nào, thành đạt ra sao, vẫn chỉ là khái niệm chung chung trong xã hội, nơi những con người có đủ nghị lực một lòng sống quyết tâm của mình. Đất nước phát triển, mở ra kỷ nguyên mới cho muôn dân được an vui hạnh phúc, nhờ có tướng tài, quân giỏi. Gia đình no cơm ấm áo, vợ chồng con cháu trên thuận dưới hòa, đều hệ tại các thành viên biết sống thủy chung và tình yêu thương được sẻ chia. Từ thuở nhỏ, chúng ta đã từng nghe đọc: một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao ; chân lý ấy phủ nhận sự đơn lẻ, đề cao sức mạnh đoàn kết, thì ít nhiều chúng ta đã được nhắc đến thế nào là nên một trong tình yêu.
Người ta thường đưa hình ảnh đôi trai tài gái sắc để diễn tả tình yêu gọi là trọn vẹn, thực tế: “Thạch Sanh đức độ song toàn thật xứng với công chúa Quỳnh Nga”; “Sơn Tinh đủ tài đức để cưới được Mỵ Nương”. Trong tình nghĩa phu thê, cha ông ta có câu: yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch vẫn kê cho vừa. Chữ tình nơi anh chị em được bày tỏ hết sức trân trọng: anh nhường em nhịn, chị ngã em nâng. Tương quan yêu thương rất thiêng liêng nơi gia đình được sẻ chia thật ngọt ngào: cha là núi, mẹ là sông, các con thuận thảo muôn việc thành. Dù nên vợ thành chồng gọi là duyên phận, gia đình hạnh phúc được gọi là cơm lành canh ngọt, tình huynh đệ có tôn ti trật tự, tất cả vẫn là lời mời hãy khám phá giá trị của tình yêu có nguồn từ đâu ?
Con người có tổ có tông, như cây có cội, như nước có nguồn, dòng tộc, tổ tiên, vừa là điểm tựa, vừa là nơi chốn để con cháu thể hiện niềm tin đối với các đấng bậc: uống nước nhớ nguồn. Về phương diện tự nhiên, nhiều người cho rằng: có tiền để làm gì, có sức khỏe làm gì, có địa vị làm chi, nếu nơi cuộc sống của mình thiếu vắng tình yêu ? Xét về phương diện tâm linh, Đức Giêsu đến trần gian làm gì, nếu không phải để mạc khải cho nhân loại biết Thiên Chúa là cội nguồn tình yêu, nếu không phải để cứu độ, giới thiệu mẫu gương Ba Ngôi hiệp nhất, là chuẩn mực được ban tặng cho con người.
Thánh sử Gioan thật khéo khi đưa chúng ta vào mầu nhiệm duy nhất: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời”. Sự sống và tình yêu cứu độ, Thiên Chúa đã đặt để trong Đức Giêsu, Nguồn sống đó, khởi đầu từ việc Tin và đi trong đường lối Con của Người thì có sự sống đời đời. Tin và đón nhận niềm tin, luôn là sự tự do: có người lao vào tìm kiếm vật chất địa vị, có người chỉ lo đầu tư kiến thức, bỏ qua cơ hội đến với tình yêu gia đình, tình yêu sâu thẳm trong tâm tư.
Ngày hôm nay, tình yêu vẫn là căn bản để con người tìm thấy bình an nội tâm, gặp gỡ nguồn hạnh phúc thật, dù khái niệm và thời gian, mỗi người sử dụng cách tùy tiện: gió chiều nào theo chiều ấy. Nếu tất cả máy móc chỉ vận hành khi được cắm vào nguồn điện, tất cả những người con trưởng thành, nên người hữu ích, đều nhờ bởi ơn cha nghĩa mẹ, hẳn tình yêu thật, hạnh phúc thật, không thể không có nguồn cội. Kinh nghiệm ở trường đời cho thấy: mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn. Không ai yêu con bằng cha, cũng không ai hiểu con bằng mẹ. Yêu hay hiểu, cũng là ta đang sống trong mối dây thông hiệp giữa tình yêu nguồn cội từ Thiên Chúa, dù ý thức hay niềm tin của ta còn hời hợt.
Nhân loại vẫn mãi mãi tìm kiếm hạnh phúc, Thiên Chúa từ đời vẫn là Thiên Chúa yêu thương, Người thấu biết sự hụt hẫng của con người là cô đơn, là thiếu vắng bình an, niềm vui, và qua Đức Giêsu, nhân loại biết rõ hơn: “Thiên Chúa đã yêu thế gian”. Sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa chính là tình yêu Ba Ngôi, chúng ta được mời gọi để cảm nhận qua lời nói và hành động của Đức Giêsu. Nếu con cái thụ động theo kiểu thiên lôi chỉ đâu đánh đó, thì quả là vô vị ; nếu  bậc sinh thành chỉ nói cha mẹ yêu con, tình yêu ấy cũng nhàm chán thiếu thuyết phục. Nếu ông Nicôđêmô, nếu các môn đệ, nếu chúng ta hôm nay chỉ nghe nói và gặp Đức Giêsu hàng ngày, mà không tin, không sống giáo huấn của Đức Giêsu, thì cùng lắm chúng ta mới giống các luật sĩ biệt phái, chỉ là những con người lý thuyết mà thôi.
Bậc làm cha mẹ còn biết nuôi dạy con cả về đời sống vật chất cũng như tinh thần, đấng bậc sinh thành luôn thao thức dạy dỗ con biết bằng hành động, hiểu bằng niềm tin: cha mẹ hiền để đức cho con. Thiên Chúa qua Đức Giêsu, Người diễn tả Nguồn tình yêu trong Đức Kitô phục sinh: là Cha rất mực yêu thương, là Con đầy tình bao dung, và là Thánh Thần dồi dào sức mạnh nâng đỡ dẫn đưa tới niềm vui hạnh phúc. Vũ trụ rộng lớn bao la so với đầu óc hạn hẹp của con người, dù chúng ta có sử dụng công nghệ hiện đại nhất cũng không thể hiểu tại sao Thiên Chúa yêu thế gian, ban Con Một Người để cứu độ nhân loại ? Chúng ta có hiểu, có tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta hay không, song mầu nhiệm Ba Ngôi vẫn hiện hữu, Thiên Chúa vẫn là Nguồn cội yêu thương. Sống yêu thương, là cách thế chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm và tình yêu thương của Ba Ngôi đang hoạt động trong cuộc đời mỗi chúng ta. Amen.
 

BaNgôi-344: TRAO BAN TẤT CẢ VÌ YÊU THƯƠNG

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Sau nhiều năm trời mòn mỏi đợi trông, mãi cho đến trăm tuổi, Cụ Áp-ra-ham mới được diễm phúc BaNgôi-344

Sau nhiều năm trời mòn mỏi đợi trông, mãi cho đến trăm tuổi, Cụ Áp-ra-ham mới được diễm phúc có con nối dõi tông đường. I-xa-ác chào đời đem lại niềm vui chan hoà cho Cụ Áp-ra-ham. I-xa-ác là lẽ sống, là cây gậy chống đỡ tuổi già, là tương lai cho giống nòi và là tất cả niềm hy vọng của Cụ. (Sáng thế 22, 1-18)
Thế mà, oái oăm thay, Thiên Chúa truyền cho Cụ phải sát tế đứa con quý yêu để tế lễ cho Ngài. Trời đất như quay cuồng sụp đổ khi Cụ Áp-ra-ham nghe lệnh truyền của Thiên Chúa.
Phải tự tay sát tế đứa con một rất đỗi yêu dấu là một nỗi đau thương làm tan nát cõi lòng, thế nhưng vì tình thương và lòng thần phục đối với Thiên Chúa, Cụ Áp-ra-ham đã chấp nhận hy sinh.
Tuy nhiên, Thiên Chúa chỉ thử lòng Cụ Áp-ra-ham thôi. Ngài không nỡ để cho một người cha già phải gánh chịu một nỗi đau thương lớn lao đến thế.
Trao ban Người Con Một
Trích đoạn Tin mừng trong ngày lễ hôm nay (Gioan 3, 16-18) cũng đề cập đến một người Cha khác là Thiên Chúa, đã thực hiện một hy sinh lớn lao hơn nhiều, chỉ vì tình yêu thương.  
Vì quá yêu thương nhân loại lỗi lầm, vì không muốn cho muôn người phải lâm vào cảnh trầm luân muôn đời vì tội lỗi ngút ngàn của họ, Thiên Chúa Cha đã hiến tế Người Con Một yêu dấu của mình, cho Con Một chết thay cho nhân loại lầm than và để cho những ai tin vào Con của Ngài thì được sống muôn đời:
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài, mà được cứu độ”. (Gioan 3, 16-17)
Xưa kia, Thiên Chúa không nỡ để cho I-xa-ác phải chết dưới lưỡi dao oan nghiệt của Cụ Áp-ra-ham, không để cho thân xác của I-xa-ác phải chịu thiêu đốt trên bàn thờ để làm hy lễ cho Thiên Chúa, nhưng đến một thời, Thiên Chúa Cha lại để cho Con Một Ngài, là Ngôi Hai Thiên Chúa, phải chịu đóng đinh, chịu quằn quại đau thương và chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại và để ban cho muôn dân được sống đời đời. Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó, đến nỗi đã ban Người Con Một…
Người tôi tớ thấp hèn liều mình chết thay cho chủ nhân quyền quý, hay người dân đen cùng khốn chết cho hàng vua chúa cao sang… là điều dễ chấp nhận; đằng nầy Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất lại hiến thân chết thay cho loài người hèn mọn thì quả là điều vượt quá trí tưởng tượng con người. Chỉ vì quá đỗi yêu thương loài người, Thiên Chúa mới có thể hy sinh đến thế.
“Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng vì bạn hữu mình” (Gioan 15, 13) và không có tình yêu nào sánh ví được với tình yêu khôn vời của Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Đền đáp hồng ân
Khi được người khác biếu tặng một món quà, ai trong chúng ta cũng đều nhớ ơn ân nhân và tìm cách đền đáp lại bằng món quà tương xứng. Người nào quên đền ơn đáp nghĩa sẽ bị xem là kẻ vô ơn, là người không biết điều.
Thế thì khi được Chúa Trời ban tặng chính Con Một Ngài để cứu mạng cho chúng ta, khi được Chúa Giê-su hiến thân chịu chết để cứu ta khỏi chết muôn đời, có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc đền đáp công ơn trời biển đó chưa?
Để đền đáp phần nào tình thương bao la của Thiên Chúa Cha, Đấng đã trao ban Con Một mình cho nhân loại, để đền đáp sinh mạng của Chúa Giê-su đã trao hiến cho bạn và cho tôi, chúng ta hãy dâng cho Ngài một hiến lễ tương tự. Đó là “hiến dâng thân mình chúng ta làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rôma 12, 1). Đó cũng là nguyện ước của chân phước An-rê Phú Yên hôm xưa: “Đem cuộc sống báo đền cuộc sống; lấy tình yêu đáp trả tình yêu.”
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa,
Chúa Cha yêu thương chúng con đến nỗi hiến ban Người Con Một xuống thế cứu sống chúng con; Chúa Con đã yêu thương chúng con đến nỗi hiến dâng cả mạng sống và trao ban cho chúng con  đến giọt máu cuối cùng…
Xin cho chúng con đừng thờ ơ hững hờ, vô tâm vô cảm trước tình yêu trời bể ấy nhưng biết đền đáp tình yêu của Chúa bằng cách hiến dâng cuộc sống mình để phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.

 

BaNgôi-345: MẦU NHIỆM

 Lm. Trần Việt Hùng

Ba Ngôi một Chúa nhiệm mầu, Ai mà thấu hiểu, cao sâu tầng trời. Ngước nhìn vũ trụ tuyệt BaNgôi-345

Ba Ngôi một Chúa nhiệm mầu,
Ai mà thấu hiểu, cao sâu tầng trời.
Ngước nhìn vũ trụ tuyệt vời,
Muôn ngàn tinh tú, bầu trời bao la.
Tôn thờ Thiên Chúa, Ngôi Cha,
Tạo nên muôn vật, hải hà trùng dương.
Ngôi Hai Con Một mở đường,
Yêu thương mạc khải, tinh tường trí khôn.
Loài người có xác có hồn,
Muôn loài thụ tạo, kính tôn Chúa Trời.
Giê-su giáng thế làm người,
Ban ơn cứu độ, cho người Chúa yêu.
Ai tin nhận lãnh thiên triều,
Chối từ, luận phạt, tự kiêu phí đời.
Nhân Danh Con Một cao vời,
Trung gian giao kết, mọi người với Cha.
Tình yêu phát xuất Ngôi Ba,
Thánh Thần Phù Trợ, ngợi ca muôn đời.
Ba Ngôi mầu nhiệm cao vời,
Phụng thờ kính mến, đời đời hát khen.
Khi chúng ta làm dấu thánh giá là chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Dấu thánh giá là bảo chứng tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây là mầu nhiệm cao trọng nhất trong đạo. Chúa Giêsu đã mặc khải cho chúng ta hiểu biết về Chúa Cha nhân hậu và Chúa Thánh Thần là nguồn tình yêu.
Tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm mà con người không thể hiểu thấu. Đây là mầu nhiệm tình yêu trong gia đình Thiên Chúa. Có nhiều người thắc mắc là tại sao ba ngôi mà là một Chúa hay một Chúa mà là ba ngôi. Vậy là ba Chúa hay một Chúa.
Lại có người mạnh miệng nói rằng tôi không thể chấp nhận, nếu tôi không được giải thích tường tận. Không có ai giải thích cho tôi hiểu, tôi sẽ không tin. Rồi có một linh mục gợi ý nói rằng vậy ông bạn có tin vào mặt trời không? Ông trả lời: Có chứ! Linh mục nói những tia nắng xuyên qua cửa kính đó đến từ mặt trời, ở cách xa chúng ta 90 triệu dặm. Chúng ta cảm nhận sức nóng từ cả tia nắng và mặt trời. Ba Ngôi giống như thế. Mặt trời là Thiên Chúa Cha, sai Con của Ngài là tia nắng. Từ mặt trời và tia nắng liên kết tạo ra sức nóng như Chúa Cha và Chúa Con liên kết với Chúa Thánh Thần. Ông bạn giải thích thế nào?
Giải thích thế nào cũng chỉ là một chút vén mở về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi. Hình ảnh Chúa Ba Ngôi đậm nét trong tất cả các sinh hoạt của vũ trụ. Từ những cảnh vật vô tri, đến các loài thảo mộc và các loại động vật khác nhau hiện hữu đều phản ảnh sự hiện diện của Thiên Chúa. Mầu nhiệm cao trọng này không xa vời để chúng ta mà chiêm ngắm, nhưng là một mầu nhiệm chan hòa trong yêu thương của đời sống để cảm nghiệm. Thiên Chúa chia xẻ tình yêu của Ba Ngôi trong chính cuộc sống của mỗi người.
Mỗi người đều được chia xẻ tình yêu trong gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi. Phản ánh qua tình yêu của người cha, người mẹ và con cái trong gia đình. Càng kết hợp chặt chẽ trong tình yêu, chúng ta càng tìm thấy niềm an vui và hạnh phúc.
Trong Ba Ngôi Thiên Chúa, Chúa Cha tác tạo muôn loài muôn vật, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hóa. Xin thánh hóa chúng con trong tình yêu và chân lý. Chúng con tôn thờ Chúa, chúng con chúc tụng Chúa và chúng con cảm tạ Chúa mãi muôn đời.
 

BaNgôi-346: CĂN TÍNH ĐỨC KITÔ

Lm Vũđình Tường

Đức Kitô tự mặc khải cho nhân loại biết Ngài là Con Thiên Chúa. Bởi là Con Thiên Chúa nên Thiên BaNgôi-346

Đức Kitô tự mặc khải cho nhân loại biết Ngài là Con Thiên Chúa. Bởi là Con Thiên Chúa nên Thiên Chúa là Cha Ngài. Có sự liên hệ hết sức mật thiết, bền chặt đến độ không gì có thể tháo gỡ giữa tình Cha Con. Chính nhờ sự mật thiết này mà Kitô hữu khám phá, tìm tòi, học hỏi biết được khá nhiều về bí ẩn của một Thiên Chúa Ba Ngôi. Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và Thiên Chúa đó có Ba Ngôi riêng biệt, cùng bản tính nhưng không cùng bản thể. Ba Ngôi khác bản thể bởi có Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Ba Ngôi cùng bản tính bởi Ba Ngôi suy nghĩ như nhau, cảm nhận như nhau và chia sẻ một tình yêu duy nhất. Chính Đức Kitô xác nhận sự liên kết mật thiết trong lời nói và trong hành động
Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy Gn 5,19
Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy Gn 14,7 Ai Thấy Thầy là thấy Chúa Cha c.9 Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy c.11
Chúa Con yêu mến Chúa Cha hết tâm tình và đặt niềm tin tuyệt đối vào Chúa Cha, đồng thời trao phó mạng sống mình trong tay Chúa Cha. Chúa Con vâng lời Chúa Cha xuống thế gian vác thập giá chuộc tội cho thiên hạ. Chúa Con không phải chỉ chuộc tội một phần nhân loại mà cứu chuộc toàn thể nhân loại làm của lễ Dâng Chúa Cha. Vì thế mọi hành động bác ái yêu thương, dù nhỏ mọn của các Kitô hữu thực hiện đều được Thiên Chúa tác động biến thành hiệu quả tuyệt vời.
Đức Kitô xuống trần gian mặc lấy thân phận con người như chúng ta chỉ trừ tội lỗi. Qua Đức Kitô mặc khải chúng ta biết Chúa Cha yêu mến nhân loại như chính Đức Kitô yêu mến nhân loại. Chúa Cha yêu mến nhân loại đến nỗi sai con một là Đức Kitô xuống trần gian.
Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi dã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời Gn 3,16
Đức Kitô yêu mến nhân loại đến nỗi ban cho nhân loại chính Thánh Thần Ngài. Chính món quà thượng hảo hạng Thánh Thần Đức Kitô trao ban mà nhân loại biết Ngôi Ba Thiên Chúa là Thánh Thần. Ngôi Ba Thiên Chúa cùng đồng hành với các Kitô hữu mọi ngày cho đến tận thế như lời Đức Kitô phán hứa.
Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy Gn 15,26
Đức Kitô chính là Đường là Sự Thật và là Sự Sống Gn 14,6 và con đường đó, sự thật và sự sống đó được Thánh Thần Chúa thánh hoá làm cho trở nên thánh thiện và tinh tuyền cho những ai bước đi trên con đường đó, lắng nghe và giữ sự thật sẽ được sống muôn đời. Ngoài ra những ai bước đi trên con đường đó còn được liên kết với Ba Ngôi Thiên Chúa, không phải do sức riêng mình mà do chính Đức Kitô liên kết họ với Ba Ngôi Thiên Chúa.
Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta Gn.17,21
Lậy Cha, Con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha đã ban cho con, cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con. C.24
Nhận biết Đức Kitô và tin vào Ngài sẽ học biết về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần và mối liên hệ giữa Ba Ngôi Thiên Chúa cùng ơn cứu độ Chúa ban cho toàn nhân loại.
 

BaNgôi-347: BA NGÔI THIÊN CHÚA, KHÁC BIỆT NHƯNG HIỆP NHẤT

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Suy tư về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là khám phá nguồn gốc sâu xa nhất của chúng ta, bởi lẽ, BaNgôi-347

Suy tư về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là khám phá nguồn gốc sâu xa nhất của chúng ta, bởi lẽ, chúng ta phát xuất từ Ba Ngôi và hướng về Ba Ngôi như là cùng đích đời mình, như nước dòng sông phát xuất từ biển cả mênh mông và rồi trở về với nguồn gốc của nó.
1. Một chân lý được Chúa Giêsu mặc khải
Kinh Thánh giới thiệu với chúng ta những nguồn mạc khải về mầu nhiệm lớn lao và cao cả này. Trước hết, cần lưu ý hạn từ “Thiên Chúa” trong Tân Ước muốn nói về Thiên Chúa Cha.
“Vậy, một khi được công chính nhờ Đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta… Chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa… Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,1.5).
Ba Ngôi Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con – Đức Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần hoà nhập với nhau, mà chúng ta tôn thờ với ba nhân đức đối thần là tin, cậy, mến.
Trong Tin mừng, một lần nữa, trong diễn từ biệt ly, Chúa Giêsu nói về các Ngôi Vị Thần Linh luôn hiệp nhất với nhau: “Khi Thần Chân Lý đến, Người sẽ dẫn anh em tới chân lý toàn vẹn… Tất cả những gì Chúa Cha có thì cũng thuộc về Chúa Con: vì thế, Thầy đã nói rằng Người sẽ dùng những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,12-15).
Khi suy niệm những lời này và những bản văn khác có cùng nội dung này: Giáo Hội tin rằng Thiên Chúa duy nhất nhưng có ba Ngôi Vị. Nhiều người nhận thấy có sự khó hiểu trong giáo huấn về Ba Ngôi. Họ hỏi rằng: Ba Ngôi hiệp nhất với nhau nên một nhưng vẫn là ba có nghĩa là gì? Sao không đơn giản chỉ tin vào một Thiên Chúa duy nhất như người Do Thái và Hồi giáo tin?
Câu trả lời rất đơn giản. Giáo Hội tin vào Ba Ngôi không phải là giáo huấn do Giáo Hội làm nên, nhưng đây là chân lý được Chúa Kitô mặc khải. Không ai có thể tưởng tượng ra mầu nhiệm Ba Ngôi. Mầu nhiệm này khó hiểu vì nó vượt quá khả năng lý trí con người, nhưng nó không chống lại lý trí. Tertulianô từ xa xưa nói rằng: “Tôi tin bởi vì nó là vô lý.” Ông muốn nói rằng: “Tôi tin bởi vì điều đó vượt trên lý trí của chúng ta và nếu Thiên Chúa hiện hữu, thì quả là rất bình thường vì Người vượt trên lý trí của chúng ta.” Để có thể hiểu về Thiên Chúa, lý trí chúng ta phải mở ra với Thiên Chúa.
2- Một Thiên Chúa hiệp nhất nhưng khác biệt
Chúng ta được mặc khải cho biết rằng Thiên Chúa là duy nhất nhưng lại khác biệt. Điều này vượt trên chính ý tưởng mà chúng ta có về sự hiệp nhất. Trong Thiên Chúa, hiệp nhất và khác biệt nên một và hài hoà với nhau. Bởi vì cả hai vừa hiệp nhất và vừa khác biệt. Nơi Người, sự đa dạng không phải là sự phân chia, mà là sự phong phú.
Có một lý do khác giúp chúng ta hiểu về chân lý này. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì không thể là một Thiên Chúa đơn độc, bởi vì tình yêu không hiện hữu nếu không có hai hoặc nhiều người. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, Người hiện hữu như một Người Yêu và một người Được Yêu và Tình Yêu nối kết họ.Về điểm này, thánh Augustinô có một sự phân biệt rất sâu sắc: “Ở đây có ba ngôi: Đấng đang yêu, Đấng được yêu và Đấng là tình yêu. Nếu bạn thấy Thiên Chúa Ba Ngôi, bạn thấy tình yêu.”
(Augustinô, De Trinitate, 8,10,14; 6,5,7.) Kitô hữu cũng là những người độc thần; người tin vào một Thiên Chúa duy nhất, nhưng không phải là một Thiên Chúa đơn độc, mà là Thiên Chúa có ba ngôi vị. Theo đức tin Kitô giáo, sự hiệp nhất của Thiên Chúa rất giống với sự hiệp nhất của một gia đình, hơn là giống sự hiệp nhất của từng cá thể. Bởi lẽ, trong gia đình, sự hiệp nhất dựa trên các mối tương quan giữa các ngôi vị với nhau, như cha với con, vợ với chồng, cha mẹ với con cái; trong khi đó, sự hiệp nhất của các cá thể thì không xác định được các mối tương quan rõ ràng xây dựng sự hiệp nhất.
Nhưng tôi không muốn dài dòng với những giải thích này nữa. Tôi muốn dùng giáo huấn quan trọng nhất và phù hợp nhất về đời sống Ba Ngôi, được diễn tả trong Kinh Tiền Tụng của thánh lễ Chúa Ba Ngôi: “Khi tuyên xưng Ngài là Thiên Chúa thật và vĩnh cửu, chúng con tôn thờ Thiên Chúa có Ba Ngôi vị, hiệp nhất trong bản tính, nhưng bình đẳng với nhau trong quyền năng thần linh.” (Sách Lễ Rôma, 1992.)
“Ba ngôi và duy nhất, bình đẳng và khác biệt,” đây là hạt nhân của mầu nhiệm. Thiên Chúa Ba Ngôi được tuyên xưng là Thiên Chúa bình đẳng và khác biệt, bình đẳng về phẩm giá và khác biệt về tư cách và vai trò. Nhưng đâu là những yếu tố làm cho Ba Ngôi hiệp nhất và khác biệt?
Xin thưa, đây là những yếu tố làm cho Ba Ngôi hiệp nhất và giống nhau: cùng một bản thể Thiên Chúa, cùng ở trên một cấp bậc hữu thể, cùng chia sẻ quyền năng, vinh quang và danh dự, cùng hiệp nhất trong đời sống nội tại và cùng chia sẻ với nhau trong nhiệm cục cứu độ.
Những yếu tố làm cho Ba Ngôi khác biệt đó là: xét về tương quan, mỗi ngôi vị có một cương vị, Cha, Con, Thánh Thần. Cương vị Cha là Cha và không ai có thể thay thế, cũng thế đối với cương vị Con và Thánh Thần. Mỗi ngôi vị là duy nhất và độc đáo, phân biệt và đối lập với các ngôi vị khác. Xét nguồn gốc, mỗi ngôi đều có sự khác biệt. Cha là nguồn gốc, là nguyên lý phi nguyên lý, nên Cha tự hữu. Con được sinh ra bởi Cha từ đời đời, nên là nguyên lý của nguyên lý. Thánh Thần được nhiệm xuất từ Cha (và Con hay qua Con), là Ngôi Vị tình yêu của Cha và Con. Xét về sứ vụ, mỗi ngôi vị đều có sứ vụ đặc trưng: Cha là tạo thành, Con cứu chuộc, Thánh Thần thánh hóa. Hay trong chương trình cứu độ, Cha dự định, sắp xếp, Con thực hiện, và Thánh Thần hoàn tất. Tuy nhiên, trong bất cứ hành vi và sứ vụ nào của Thiên Chúa, các ngôi vị đều hiệp thông và hợp tác với nhau, tương tại trong nhau. Đó là vẻ đẹp của Thiên Chúa, có khác biệt nhưng không có chia rẽ, có bình đẳng và hiệp nhất nhưng không triệt tiêu tính độc đáo và tính cá vị của từng chủ thể.
Từ giáo huấn này, chúng ta học được bài học gì để sống tốt hơn trong thế giới này?
Con người có thể khác biệt về da màu, văn hoá, giới tính, chủng tộc, hay có phẩm giá bằng nhau, nhưng con người là gì xét như là những nhân vị?
Chúng ta lấy hình ảnh gia đình để giải thích giáo huấn về Ba Ngôi. Gia đình phải là sự phản chiếu ở trần gian về Ba Ngôi. Gia đình được làm nên từ những con người khác biệt về phái tính (đàn ông và đàn bà) và nhờ các thế hệ (cha mẹ và con cái), với những khác biệt về tình cảm, về đòi hỏi và sở thích. Sự thành công của một cuộc hôn nhân và một gia đình lệ thuộc ở mức độ mà sự khác biệt của mỗi người hướng tới sự hiệp nhất: hiệp nhất trong tình yêu, trong dự định, và hiệp nhất trong sứ vụ.
Sẽ là sai lầm khi một người đàn ông và đàn bà lại giống nhau về tính tình và năng khiếu; và để đi đến hoà hợp, hai người phải là năng động, hướng ngoại, theo bản năng, hoặc cả hai lại phải là hướng nội, trầm tỉnh, suy tư… Như thế sẽ làm mất sự khác biệt. Chúng ta biết những hậu quả tiêu cực của chúng có thể phát sinh cả trên bình diện thể lý. Chẳng hạn những cuộc hôn nhân thuộc cùng họ hàng, nếu họ máu quá gần sẽ gây ra những hậu quả về di truyền như có nguy cơ bệnh tật cao và yếu kém về chỉ số thông minh (IQ).
Người chồng người vợ khác biệt nhau nhưng bình đẳng với nhau, như một tấm huy chương có hai mặt, mỗi người là sự bổ túc cho người kia. Điều này giúp hiểu điều Thiên Chúa nói: “Đàn ông ở một mình thì không tốt: ta muốn tạo dựng cho nó một người trợ giúp giống nó” (St 2,18). Tuy nhiên, tất cả những điều này đòi hỏi một cố gắng để chấp nhận sự khác biệt của người khác, vì đối với chúng ta, đây là một điều khó nhất và chỉ có những người trưởng thành mới có thể đón nhận được.
3- Một vị Thiên Chúa gần gũi
Nhiều lúc, chúng ta quan niệm sai lầm rằng mầu nhiệm Ba Ngôi là một mầu nhiệm hoàn toàn tách biệt khỏi đời sống chúng ta và chỉ để cho các nhà thần học suy tư.
Trái lại, đây là một mầu nhiệm gần gũi nhất. Lý do rất đơn giản: chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi. Chúng ta mang trong mình dấu ấn hình ảnh Ba Ngôi. Như thế, chúng ta cũng được mời gọi để trở thành hoạ ảnh của sự hiệp nhất và đa dạng này.
Hoạ sĩ Andrej Rublev, người Nga, đã để lại một bức ảnh nổi tiếng về Ba Ngôi. Ông được gợi hứng từ một đoạn Kinh Thánh. Một ngày kia, khi ở gần cây sồi Mamrê, ông Abraham đón tiếp ba nhân vật huyền bí viếng thăm. Ông chào họ rằng: “Lạy Chúa tôi.” Họ là ba người nhưng cũng là một vị duy nhất (x. St 18,3). Các Giáo phụ đặc biệt nhìn nhận sự hiện ra này như là biểu tượng hoặc là sự tiên báo về Ba Ngôi.
Ba Ngôi thần linh trong Icôna giống như ba thiên thần. Mầu nhiệm Thiên Chúa “duy nhất” và “ba ngôi” được diễn tả ở đây từ ba nhân vật phân biệt nhưng lại bình đẳng với nhau.
Các khuôn mặt hướng về nhau một cách tuyệt vời tạo nên một vòng tròn, muốn nói lên sự hiệp thông giữa họ; nhưng sự vận chuyển khác nhau và sự hướng về nhau nói lên sự phân biệt giữa họ. Người ta nghĩ rằng Chúa Cha là thiên thần ở bên trái là người duy nhất có đầu đứng thẳng, trong khi đó Chúa Con – Đức Giêsu Kitô được đồng hóa với thiên thần ở giữa và Chúa Thánh Thần là thiên thần bên phải. Ca hai, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, với cái đầu cúi xuống, nói lên rằng Chúa Cha là nguồn suối và nguồn gốc của Ba Ngôi và cả hai được phát xuất từ Chúa Cha. Cả Ba đều mặc một chiếu áo màu xanh, dấu chỉ của bản tính thần linh mà các ngôi vị có chung với nhau. Nhưng ở trên hoặc ở dưới, mỗi ngôi mặc một màu sắc phân biệt với các ngôi khác: Chúa Cha mặc màu không thể định nghĩa được, như màu ánh sáng, dấu chỉ của sự vô hình và khôn tả của Người (không ai đã nhìn thấy Chúa Cha bao giờ); Chúa Con mặc một chiếc áo dài màu tối, dấu chỉ của nhân tính mà Người đảm nhận; Chúa Thánh Thần mặc chiếc áo dài màu xanh lơ, dấu chỉ của sự sống, vì Người là Đấng ban sự sống. Màu xanh là màu của sự sống.
Tất cả trong Icôna mang tính biểu tưởng. Cây màu xám ở đằng sau nhắc nhớ cây sồi ở Mamrê; hình chữ nhật đằng trước bàn thờ chỉ trái đất. Bàn thờ, trên đó có một chén hiến tế con chiên, gợi lên Bí tích Thánh Thể. Một hình thức tuyệt vời để nói về Ba Ngôi ban cho chúng ta Thánh Thể và hiến mình cho chúng ta nơi Thánh Thể. Trong Thánh Thể, chúng ta trở thành những người “dự bàn tiệc” của Ba Ngôi; chúng ta ngồi vào chỗ phía trước còn trống, để cần khép lại vòng tròn của Icôna.
Thánh Sergio là người được tôn kính trong lịch sử nước Nga vì đã có công giúp cho các nhà lãnh đạo bất hoà được hiệp nhất với nhau và như thế đã giúp cho cuộc giải phóng của nước Nga được thực hiện khỏi những người Tartati bành trướng khắp nơi. Khi đứng suy niệm lâu trước Icôna này, ngài có câu khẩu hiệu: “Khi chiêm ngắm Ba Ngôi Cực Thánh, hãy chiến thắng sự chia rẽ thù địch của thế giới này.”
Tôi nghĩ rằng đây cũng là sứ điệp lớn nhất mà mầu nhiệm Ba Ngôi ban cho thế giới hôm nay: Hãy chiêm ngắm Ba Ngôi để chiến thắng sự chia rẽ trong gia đình, trong xã hội và hãy vượt qua những sự kỳ thị dưới mọi hình thức đang làm đau khổ thế giới. Chúng ta cần lắng nghe lời mời gọi của Chúa, mỗi lần chiêm ngắm icôna này, đó là: “Anh em hãy nên một, như chúng ta là một” (x. Ga 17,11).
 

BaNgôi-348: THIÊN CHÚA CÓ BA NGÔI

Lm. Jos. Uyên Nguyên

Sau khi kết thúc mùa Phục Sinh bằng lễ CTT hiện xuống trọng đại, tiếp nối, GH mừng ba lễ trọng BaNgôi-348

Sau khi kết thúc mùa Phục Sinh bằng lễ CTT hiện xuống trọng đại, tiếp nối, GH mừng ba lễ trọng rất tâm điểm của niềm tin công giáo. GH mừng ba lễ trọng như một tổng hợp về giáo lý của ba mầu nhiệm thuộc Ba Ngôi TC được mạc khải từ CGS, Đấng cứu độ. Một trong ba lễ trọng đó, ưu tiên GH long trọng mừng lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay. Chúa Ba Ngôi là niềm tin của những người-Thiên-Chúa-Giáo, là trọng tâm đức tin công giáo, là niềm tin bất khuất. Các Thánh Tử Đạo là bằng chứng về một đức tin bất khuất này và vượt thắng mọi thâm ý xấu xa muốn hủy diệt, loại trừ qua chống đối.
Điều đáng được lưu tâm ở đây, đức tin vào Thiên Chúa của người công giáo là một TC vô hình. TC vô hình không là đối tượng thực nghiệm của khoa học. Thiên Chúa của người công giáo là TC của niềm tin, niềm tin hòa quyện đời sống, tin cùng với cảm nghiệm, tin cùng với nhận thức, vì tin không cần thấy. Tin như vậy là để sống, sống như vậy là để trao dồi thăng tiến đức tin, rập khuôn tư tưởng CGS nói “phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20,29).Vì những lẽ như thế mà giáo lý của GH công giáo, Youcat nhìn nhận: “ Vì nhận biết TC vô hình là một thách đố lớn đối với tâm trí con người, khiến cho không ít người đã tháo lui. Đàng khác, một số người không muốn biết TC, vì họ không muốn thay đổi cuộc sống” (s.5 trg 31).
          Chính ngày lễ TC Ba Ngôi, ngày con người đem hết tâm trí tôn thờ, tán dương TC ba Ngôi cả tinh thần lẫn thể xác. Tuy nhiên các bài đọc để chiêm niệm TC ba Ngôi thì chẳng thấy trình bày gì hay mô tả gì về một TC rõ nét để có chút hình dung hầu ngắm nhìn và ngưỡng mộ! Chắc cũng không phải chỉ các bài đọc hôm nay thôi, mà trong toàn bộ Kinh Thánh cũng chẳng thấy nơi nào hơn giới thiệu về TC Ba Ngôi làm mãn nguyện ước muốn con người.
          Khảo sát cụ thể ba bài đọc trong thánh lễ, cả ba nhân vật tên tuổi lỗi lạc nồng cốt, Môsê-ĐGS-Phaolô, cũng không cho thấy gì hiện sinh hơn. Với bài đọc 1 ở sách Xuất Hành Cựu Ước, Môsê giới thiệu TC cho dân ông, dân Chúa tuyển chọn riêng, chỉ nêu lên danh xưng TC là Chúa, là Đức Chúa cùng với phẩm tính của Ngài là TC từ bi, nhân hậu, giàu lòng tha thứ và trung tín. Phaolô trong bài đọc 2 chỉ cho biết TC là nguồn yêu thương và bình an. CGS trong TM Gioan cũng thế, chỉ làm rõ TC là tình yêu, tình yêu vô cùng bội hậu dành cho con người, là thí ban Con Một Ngài đến trần gian để làm cho người phàm được sống muôn đời. Ở đây xem xem, vì ‘sự sống’ của phàm nhân, mà TC đặc biệt quan tâm họ hơn Con của Ngài, cho dù mọi phàm nhân cũng rất rõ biết đó là Con dấu ái của TC là Cha.
          TC chỉ được trình bày không úp mở độc yếu tính nhất phẩm, TC là Tình Yêu. Ngay chính tình yêu thôi thì cũng rất là huyền nhiệm. Quả vậy, xưa nay có ai hình dung nỗi được tình yêu là gì? Thế mà tình yêu là động lực, là chất liệu kết nối, là sức mạnh, là chăm sóc, là giữ gìn, là đỡ nâng, là gắn bó.  Bằng chứng, tuy Con Chúa tối quan trọng, mà sự sống của những phàm nhân, thụ tạo của TC tác thành, cũng không vì thế bị hạ thấp, là kém quan trọng. Bởi lẽ, một khi thụ tạo đã chết, thì thật là một sự kinh khủng, vì đã chết mất. Vì tình yêu, Chúa Cha thí ban Con một để liên kết mọi thụ tạo phàm nhân lại trong Con yêu dấu của Ngài, là điều vô cùng lợi ích lớn lao. Ôi Mầu nhiệm của tình yêu cao cả của TC là thế, Đấng càn khôn cực cao, cực cả là thế. Về điểm này phàm nhân thì cảm thụ, nhưng không dễ có ai suy thấu.                  
          Theo đó, chính nơi Con của Ngài được sai xuống trần gian sống giữa phàm nhân là dấu chỉ lớn lao rất thời sự và lịch sử mà TC tự biểu lộ Ngài là TC Tình Yêu (viết hoa). Người Con đó là Lời TC, là dung mạo TC: “Ai thấy Ta là thấy Chúa Cha sao anh bảo: Ta tỏ cho anh Chúa Cha? (vấn đề mà CGS nói với ông Philiphê)”. Lời và hình ảnh tình yêu ấy tuy tự biểu lộ, trong nhục thể lờ mờ khó tránh khỏi sự vấp ngã trong hình ảnh Con TC trở nên người phàm. Song chính sự cứu chữa mọi người, kẻ què đi được, người câm nói được, người phong cùi được sạch, khuất phục và xua trừ quỷ, tha thứ kẻ có tội, cứu chữa kẻ chết, và sau hết, tự mình hiến mạng đền thay cho mọi người phàm trong hình ảnh ‘con rắn đồng của Môsê khi được treo lên cao’, hay‘con thỏ rừng trong bụi rậm’ nộp mình cho Abraham đổi mạng hiến tế, rồi sau đó sống lại. Tất cả làm sắc nét rạng ngời về một hình ảnh TC tình yêu. 
          Tóm lại, dù TC có tỏ mình ra như thế nào nơi Chúa Con và Chúa Ngôi Ba, nhưng những ai tuyên xưng niềm tin mình vào TC Ba Ngôi đích thực là một ân ban đến từ TC kêu gọi, niềm tin của họ là một ân huệ nhưng không của TC ban tặng.  Vì TC Ba Ngôi là TC vô-hình uy-quyền vinh-hiển, là nguồn của mọi sự hiện sinh, là Hiện Hữu vượt trên mọi hiện hữu trên trời dưới đất. TC đó lại là TC yêu thương nhân hậu, tình thương cũng như lòng thương xót nơi Ngài không hề cạn kiệt, bất biến, tồn tại bền vững song đối với bản tính hằng hữu của Ngài. TC như thế là TC hằng có, kề cận mọi sự mọi loài, quan tâm chăm sóc, gìn giữ, và kịp thời cứu chữa như lời kinh Tin Kính tuyên tín mọi điều của những người tin: “Tôi tin kính một TC Ba Ngôi! Ngôi Cha nhân từ dựng nên trời đất muôn loài”…
          Kính lạy TC Ba Ngôi mầu nhiệm, con xin chúc tụng tạ ơn Ba Ngôi. Chính Cha đã ban Con Một là Lời chân lý mạc khải cho người trần biết mầu nhiệm TC Ba Ngôi. Chính Cha đã ban Thánh Thần xuống thánh hóa canh tân muôn loài. Xin nâng đỡ niềm tin yếu kém của chúng con nên mạnh mẽ và bền vững để chúng con không ngừng tuyên xưng đức tin chân thật vào TC độc nhất Ba Ngôi uy quyền và vinh hiển.
 

BaNgôi-349: MẦU NHIỆM CỦA LÒNG XÓT THƯƠNG

Lm. Giuse Nguyễn

Có một giai thoại kể rằng: Thánh Augustino một nhà thần học nổi tiếng và cũng là một vị Giám BaNgôi-349

Có một giai thoại kể rằng: Thánh Augustino một nhà thần học nổi tiếng và cũng là một vị Giám Mục luôn suy tư về Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi mà không thể giải thích được bằng lý luận suy tư của mình. Quá thất vọng và nản lòng, thì bỗng, một hôm thánh nhân đang dạo chơi trên bờ biển, người rất ngạc nhiên khi thấy một em bé đang cặm cụi, chăm chỉ ngồi xuống trên cát dọc bờ biển, em đang dùng một vỏ sò để múc nước biển đổ vào trong những vũng nước mà tự tay em làm. Làm sao em có thể múc cạn nước biển mênh mông rộng lớn bằng chính cái vũng nước này, và câu hỏi đã nảy ra trong đầu óc thánh Augustino: “Này con, làm sao con có thể múc hết nước biển đổ vào cái vũng nhỏ xíu kia?”. Cậu bé liền trả lời: “Việc múc cạn nước biển bao la này bằng những vỏ sò thật là khó, nhưng con còn thấy dễ hơn là với một trí óc nhỏ bé bằng cái gáo dừa của con người thì làm sao hiểu được mầu nhiệm của Đấng Tuyệt Đối Cao Siêu”. Với giai thoại này, chúng ta thấy rằng đứng trước những mầu nhiệm về Thiên Chúa – Đấng vô biên, con người chỉ là một thực thể hữu hạn.
Trong sự hữu hạn đó, với ánh sáng lời Chúa, tôi cố gắng khám phá mỗi ngày sự phong phú, mới mẽ của những thực tại linh thánh, nhất là mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi cho chính bản thân tôi và cũng để chia sẻ với những người tôi có trách nhiệm.
  1.   PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

    Bài Đọc I : Xh 34, 4b-6.8-9
Đoạn sách Xuất hành này tường thuật lại việc Thiên Chúa mặc khải cho Môsê biết Ngài là “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34, 6). Đứng trước Vì Thiên Chúa đó, Môsê đã xin Ngài: “Tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp” (Xh 34, 9b)

    Tin Mừng: Ga 3, 16-18
Qua cuộc đối thoại với Nicôđêmô, Đức Giêsu đã mặc khải cho ông biết: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16). Ngài còn khẳng định, Thiên Chúa là Đấng muốn cứu độ chứ không phải trừng phạt: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3, 17).

    Bài Đọc II: 2Cr 13, 11-13
Đứng trước những mặc khải về Thiên Chúa trong sách Xuất hành và Tin mừng Gioan, thánh Phaolô nhắn gởi tín hữu thành Côrintô: “Anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hòa. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em” (2Cr 13, 11)
Qua lời Chúa hôm nay, với khả năng hạn hẹp, tôi không khám phá và cũng không hiểu biết thêm điều gì về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, nhưng tôi xác tín một điều: mọi hoạt động của Thiên Chúa đều là để cứu độ con người. Vì vậy, mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi cũng chính mầu nhiệm của Lòng Xót Thương.
  1.   HOẠT ĐỘNG CỦA BA NGÔI
 
Chúa Cha
Khi đọc Kinh Cám Ơn, tôi cảm nghiệm được Thiên Chúa Cha là Đấng giàu lòng thương xót: “Con cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời mà lại sinh ra con cho con đặng làm người cùng hằng gìn giữ con, hằng che chở con. Lại cho ngôi hai xuống thế làm người, chuộc tội chịu chết trên cây thánh giá vì con, lại cho con được đạo thánh Đức Chúa Trời cũng chịu nhiều ơn nhiều phép hội thánh nữa…”

Chúa Con
Khi chiêm ngắm cuộc đời của Đức Giêsu, càng cho tôi xác tín Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót; vì “Thiên Chúa đã làm người, để con người được làm Con Chúa” (Thánh Irênê). Quả thật, “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình.” (Ga 15, 13). Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người, chịu nạn chịu chết và sống lại để đem ơn cứu độ cho con người, nhưng ơn cứu độ đó không xa lạ, không làm cho con người sợ hãi, nhưng “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16), nghĩa là chỉ cần đi vào tình yêu, đi vào mối hiệp thông với Ngôi Hai Thiên Chúa.

Chúa Thánh Thần
Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần sau khi sống lại, Đức Giêsu đã hiện ra với các môn đệ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 23). Vì thế, ơn tha tội là hoạt động của Thánh Thần, cũng như khi Linh mục đọc lời tha tội cho hối nhân: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hoà thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội…”
Một lần nữa chúng ta xác tín hành động của Ba Ngôi Thiên Chúa là đưa con người đến ơn cứu độ. Chính vì thế chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi khi chúng ta khám phá ra lòng thương xót của Thiên Chúa.
  1.   MẦU NHIỆM CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT
 Cho những ai đón nhận
Có một thanh niên Công giáo nhưng rất bê trễ trong việc sống đạo, vì muốn thử cảm giác lạ nên đã nghiện ma túy. Gia đình đưa anh ta vào Trung tâm cai nghiện. Tại đây, qua bạn bè, qua chính bản thân, anh thấy những con người khi lên cơn nghiện “không còn hình dạng con người ta nữa”. Nhưng cũng tại đây, từ việc sợ hãi, lo lắng, anh đã tìm đến với Chúa. Anh có nhiều thời gian để cầu nguyện, anh nhờ gia đình gởi cho anh một quyển Kinh Thánh, anh đã kêu xin Chúa cứu giúp mỗi khi lên cơn nghiện… Vì thế anh đã sớm cai nghiện thành công và trở về với gia đình, với xã hội. Từ khi cai nghiện trở về anh sống đạo rất đàng hoàng tử tế, lo làm ăn phụ giúp gia đình. Với “kinh nghiệm” nghiện ma túy của mình, anh đã giúp cha sở để cảm hóa những bạn trẻ ăn chơi lêu lỏng, tụ tập quậy phá.
Câu chuyện của anh thanh niên này là một cảm nghiệm nho nhỏ giúp tôi thấy được hoạt động của Chúa Ba Ngôi là như thế. Ngài muốn con người được cứu độ, và làm mọi cách để họ đón nhận được ơn cứu độ đó. Anh đã cộng tác với Ngài để Ngài giải thoát anh khỏi cơn nghiện, từ đó anh cố gắng để tìm kiếm ơn cứu độ vĩnh cửu bằng chính đời sống của anh, vì anh biết rằng mình được Chúa xót thương.
     Cho những ai thờ ơ
Tuy nhiên còn rất nhiều người thờ ơ với lòng thương xót của Chúa. Điều đó thấy rõ nơi những người đã được rửa tội nhưng không sống đạo, không thờ phượng Chúa vì nhiều lý do. Vì xa cách Chúa nên họ đã vi phạm lề luật Chúa, làm nhiều điều sai trái. Từ mặc cảm tội lỗi đó, họ càng xa cách Chúa, trốn tránh Giáo hội.
Nhiều gia đình ngày hôm nay phải khốn khổ khi có những thành viên khô khan, nguội lành như vậy. Tôi cảm nghiệm được nỗi đau khổ của những người có người thân không sống đạo, và hơn thế nữa, lại có một đời sống bê tha, tệ hại, vì tôi là một mục tử, tôi cũng đã phải tìm kiếm những con chiên lạc.
Là người trong gia đình mà chúng ta đã phải lo lắng, vất vả đau khổ khi thấy người thân của mình từ khước ơn cứu độ, thì chắc chắn trái tim của Chúa càng phải thổn thức hơn.
Thực tế đó đòi hỏi những ai đã cảm nghiệm và đang sống lòng thương xót của Chúa phải tích cực hơn. Chúng ta tin chắc Thiên Chúa là Cha vẫn luôn tạo điều kiên, từ Trái Tim của Chúa Giêsu vẫn tuôn chảy những ơn lành, và Chúa Thánh Thần vẫn luôn luôn thúc đẩy họ. Phần chúng ta phải hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, phải thường xuyên mời gọi họ, phải gương mẫu trong đời sống. Hãy tận dụng những cơ hội khi gia đình có dịp hiếu, hỷ, hay những biến cố gì đó để mời gọi họ quay về với Chúa.
Lòng thương xót của Chúa không bao giờ muốn trừng phạt hay hủy diệt con người, “nhưng kẻ không tin thì đã bị lên án ồi, vì đã không tin vào danh cảu Con Một Thiên Chúa” (Ga 3, 18).
Mừng lễ Chúa Ba Ngôi trong Năm Gia Đình này mời gọi chúng ta hãy không ngừng chúc tụng quyền năng của Chúa đã dành cho gia đình mình chính là lòng thương xót vẫn tuôn chảy trên cuộc đời của mỗi người chúng ta. Đồng thời phải nhiệt tâm hơn trong việc giúp người khác hoán cải, quay trở về để họ cũng được đón nhận lòng thương xót, nhất là những người thân trong gia đình mình.
Lạy Ba Ngôi Thiên Chúa, xin đưa con vào tình yêu của Ngài để con được tham dự vào hạnh phúc tròn đầy, viên mãn của mầu nhiệm tình yêu. Và xin thương đến những người còn xa cách hoặc trốn tránh tình yêu đó.
 

BaNgôi-350: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI_A

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến.

 Thiên Chúa Ba Ngôi là một trong những mầu nhiệm cao trọng và là nền tảng đời sống đức tin người BaNgôi-350

Thiên Chúa Ba Ngôi là một trong những mầu nhiệm cao trọng và là nền tảng đời sống đức tin người Công giáo chúng ta. Như chúng ta đã biết Ba Ngôi là Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần.  Ngôi Cha là Thiên Chúa.  Ngôi Con là Thiên Chúa và Ngôi Thánh Thần cũng là Thiên Chúa. Tuy ba ngôi nhưng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, không phải ba Thiên Chúa.
Để có thể hiểu rõ hơn, chúng ta hình dung đến những sự kiện cụ thể như một “tông nhạc.”  Một tông nhạc là hợp âm của một số nốt nhạc có những âm điệu khác nhau.  Hay chúng ta có thể nghĩ đến nước là một thí dụ khác.  Nước tồn tại trong ba dạng khác nhau và có những công dụng khác nhau, đó là: khí để thở, đông đá để giữ tươi tốt, và nước để có sự sống. Một dạng hơi, một dạng cứng đặc, và một dạng lỏng, nhưng 3 dạng này cùng có chung một chất nước. Những diễn tả nhân tạo này giúp chúng ta hiểu phần nào về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, thế nhưng không có tính cách cao trọng của thiên tính.
Chúng ta nhận biết Kinh Thánh không cho chúng ta một định nghĩa rõ ràng về Chúa Ba Ngôi, nhưng ám chỉ cho chúng ta biết một phần nào về mầu nhiệm này.  Tin mừng của thánh Mát-thêu  mà chúng ta đã nghe 2 tuần vừa qua trong ngày Lễ Chúa Thăng Thiên nói rằng: “Anh em hãy đi rao giảng muôn dân và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”  Tin mừng thánh Lu-ca cho chúng ta thấy một hình ảnh rõ ràng của Chúa Ba Ngôi trong phép rửa của Chúa Giêsu tại sông Giodan, đoạn đó diễn tả rằng: “Đang khi Chúa Giêsu cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dạng chim bồ câu.  Lại có tiếng từ trời phán rằng: ‘Con là Con của ta, ngày hôm nay Cha sinh ra Con.’” (Lc. 3,21-22)  Tin mừng của thánh Gioan thường xuyên đề cập đến Chúa Ba Ngôi như trong đoạn Chúa Giêsu nói về Thiên Chúa Cha và Thánh Thần như sau: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.  Đó là Thần Khí sự thật.” (Ga. 14,16-17)  Trong Tin mừng của thánh Gioan, Chúa Giê-su thường gọi và xác nhận Thiên Chúa Cha là Cha của mình và đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa, điều đó đã làm cho những người Do thái tức giận và họ tìm cách diệt trừ Người. Cuối cùng, chúng ta có thể tìm được một số dữ kiện ám chỉ về Chúa Ba Ngôi trong các thánh thư của thánh Phao lô, đặc biệt là trong bài đọc 2 mà chúng ta vừa nghe.  Thánh Phao-lô nói: “Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em.”
Tất cả các câu Kinh thánh ám chỉ về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi hướng dẫn, liên kết và hiệp nhất chúng ta với Chúa Ba Ngôi trong sự cầu nguyện, trong sự tôn thờ và trong đời sống đức tin của người Ki-tô hữu.  Một chút nữa đây, chúng ta sẽ cùng tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha là Đấng Tạo Dựng trời đất; Chúa Con, Đấng Cứu Chuộc trần gian; và Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống.
Ông bà anh chị em thân mến.  Chúa Ba Ngôi không những là tín điều phải tin mà còn là một mầu nhiệm phải sống để được bình an, hạnh phúc đời này và đời sau. Thật vậy, những bài Kinh Thánh Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta có lòng xác tín, yêu mến và sống kết hợp với Chúa Ba Ngôi.  Tin mừng cho chúng ta biết chỉ vì yêu thương mà Thiên Chúa Cha đã sai Con Một Ngài xuống thế làm người để cứu chuộc chúng ta như lời Chúa Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời.”  Chúng ta thấy lòng yêu thương của Thiên Chúa cũng là một điểm quan trọng trong Cựu ước. Vì tình yêu thương, Ngài đã dẫn đưa dân Do Thái ra khỏi Ai Cập. Ngài đã chăm sóc họ như một người cha. Ngài bao dung tha thứ khi họ lỗi lầm. Qua trung gian ông Mô-sê, Ngài còn ban cho họ lề luật để giúp họ sống theo đường ngay nẻo chính và trong ân sủng của Ngài. Sau cùng, Thiên Chúa còn ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để chúng ta được kết hợp với Ngài. Tất cả những gì Thiên Chúa đã làm trong lịch sử là bằng chứng tình yêu thương vô bờ của Ngài. Vì thế khi cử hành Lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta cử hành tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại và cho mỗi người chúng ta.  Tình yêu Thiên Chúa cũng là đích điểm của đời sống Ki-tô hữu, và phải được thể hiện ra qua đời sống mỗi ngày, để chúng ta luôn được kết hợp mật thiết với Chúa Ba Ngôi.
Trong bài đọc 2, lời chào chúc của thánh Phao-lô: “Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em” diễn tả mầu nhiệm và những điều kì diệu thiêng liêng của Chúa Ba Ngôi hiện diện trong Giáo hội và trong đời sống chúng ta.  Lời chào chúc này đã được Giáo hội đưa vào việc thờ phượng, trở thành công thức mở đầu Thánh lễ mà chúng ta thường nghe.  Là thành viên của Giáo Hội và là chi thể trong Thân Thể Chúa Ki-tô, mỗi người chúng ta đang sống trong ân sủng của Chúa Giêsu, trong tình yêu của Chúa Cha và trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chúng ta được bao bọc bởi tình yêu Chúa Ba Ngôi.  Nhờ đó, cuộc sống Ki-tô hữu của chúng ta không còn buồn chán, thất vọng hay lầm lạc tội lỗi.  Chúa Ba Ngôi không chỉ là một lý thuyết xa vời, nhưng rất cụ thể, rất gần gũi với chúng ta như hơi thở, nước uống, khí trời, và những nhu cầu cần thiết khác, mà còn liên hệ mật thiết với chúng ta như liên hệ giữa vợ- chồng, cha- mẹ, con -cái.  Thánh Phaolô còn cho chúng ta biết đến những điều kiện để được Chúa Ba Ngôi che chở, đó là phải luôn sống yêu thương, đồng tâm nhất trí và hòa thuận với nhau.  Một gia đình hay một cộng đoàn giáo xứ được liên kết bằng sợi giây yêu thương hiệp nhất sẽ có Chúa Ba Ngôi hiện diện, và sẽ có vui mừng, hòa thuận và hạnh phúc.  Hơn nữa, chính Chúa Ba Ngôi là mối dây yêu thương hiệp nhất này, để chúng ta biết hy sinh phục vụ, sống bác ái và quảng đại làm sáng danh Chúa Ba Ngôi.  Xin Chúa Ba Ngôi che chở và gìn giữ chúng ta.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây