Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiện Xuống ABC Bài 1-50 Đấng An Ủi

Thứ tư - 16/05/2018 10:31
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiện Xuống ABC Bài 1-50: Chúa Thánh Thấn Đấng An Ủi
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiện Xuống ABC Bài 1-50: Chúa Thánh Thấn Đấng An Ủi
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Hiện Xuống ABC Bài 1-50 Chúa Thánh Thần là Đấng An Ủi
HiệnXuống-1. NGÔN NGỮ TÌNH YÊU.. 2
HiệnXuống-2. NTĐY/216- BÌNH AN.. 4
HiệnXuống-3. CS/73- ĐỪNG SỢ.. 5
HiệnXuống-4. STM/124- BÌNH AN.. 7
HiệnXuống-5. PV/264- TINH THẦN.. 8
HiệnXuống-6. PV/268- CHỜ ĐỢI 9
HiệnXuống-7. SCĐ/226- LƯỠI LỬA.. 11
HiệnXuống-8. BÌNH AN CHO CÁC CON.. 12
HiệnXuống-9. ÂN HUỆ THÁNH THẦN.. 16
HiệnXuống-10. VÀO CHIỀU NGÀY ẤY, NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN.. 19
HiệnXuống-11. GIÁO HỘI KHAI SINH.. 23
HiệnXuống-12. Suy Niệm của Lm Trọng Hương. 24
HiệnXuống-13. “BÌNH AN CHO CÁC CON…”. 26
HiệnXuống-14. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.. 28
HiệnXuống-15. LẠY CHUÁ THÁNH THẦN, XIN NGỰ ĐẾN. 30
HiệnXuống-16. CHÚA THÁNH THẦN LÀ NGUYÊN LÝ HỢP NHẤT.. 32
HiệnXuống-17. NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA CUỘC TẠO DỰNG MỚI 37
HiệnXuống-18. HAI CÁI THÁP. 42
HiệnXuống-19. MỘT CUỘC HIỆN XUỐNG MỚI 44
HiệnXuống-20. MNMTV/272 - CẢM NGHIỆM... 46
HiệnXuống-21. MNMTV/00/370: HIỆN DIỆN.. 47
HiệnXuống-22. NMS/85 - HIỆN XUỐNG.. 48
HiệnXuống-23. NTDY/222 - KHAI SINH.. 50
HiệnXuống-24. Sr. Magdalena Oanh, MTGQN.. 52
HiệnXuống-25. CHÚA THÁNH THẦN Lm Quang Diệm, CMC.. 53
HiệnXuống-26. NGƯỜI CHA ẨN KHUẤT Br. Thiện Mỹ, CMC.. 55
HiệnXuống-27. Bài Suy Niệm của JKN.. 57
HiệnXuống-28. QUYỀN NĂNG THA TỘI/ Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR.. 61
HiệnXuống-29. LỄ NGŨ TUẦN , MỘT CUỘC BIẾN ĐỖI MỚI 63
HiệnXuống-30. CHÚA THÁNH THẦN, SỨC MẠNH NÂNG ĐỠ ĐỨC TIN.. 66
HiệnXuống-31.  Suy Niệm của JKN.. 68
HiệnXuống-32.  LỄ HIỆN XUỐNG MỚI,  Lm Augustine, S. 72
HiệnXuống-33.  VIỆC LÀM CẢN TRỞ ƠN CHÚA THÁNH THẦN.. 75
HiệnXuống-34.  NGÔN NGỮ CỦA TOÀN CẦU - Lm. Nguyễn ngọc Long. 77
HiệnXuống-35.  NGƯỜI TRỒNG CÂY SỒI 79
HiệnXuống-36.  NGÀI THỔI HƠI VÀO CÁC ÔNG.. 82
HiệnXuống-37.  " Các con hãy nhận lấy Thánh Thần…" Lm. Nguyễn văn Khảm.. 83
HiệnXuống-38.  NGÀY HỘI LỚN CỦA GIÁO HỘI 86
HiệnXuống-39.  ÂN HUỆ CHÚA THÁNH THẦN.. 89
HiệnXuống-40. LỄ HIỆN XUỐNG HÔM QUA, HÔM NAY VÀ MÃI MÃI 91
HiệnXuống-41. TÌM HIỂU ĐÔI ĐIỀU HỌC HỎI VỀ CHÚA THÁNH THẦN.. 93
HiệnXuống-42. NGÔN NGỮ TÌNH YÊU.. 97
HiệnXuống-43. CSTM/141- SỨC MẠNH.. 99
HiệnXuống-44. PV / 293- CẦU NGUYỆN.. 101
HiệnXuống-45. PV/295- HIỆN XUỐNG- YÊU THƯƠNG NHAU.. 102
HiệnXuống-46. PV/297- THAY THẾ GIUĐA.. 104
HiệnXuống-47. Hiện Hữu Mới 106
HiệnXuống-48. Suy Niệm của Lm. Lê quốc Thăng. 108
HiệnXuống-49. Sự Thật Trọn Vẹn. 110
HiệnXuống-50. Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ - JKN.. 112

 

HiệnXuống-1. NGÔN NGỮ TÌNH YÊU

Khoa học và kỹ thuật ngày nay đã tiến được những bước tiến khổng lồ. Người ta đã sáng chế ra: HiệnXuống-1

Khoa học và kỹ thuật ngày nay đã tiến được những bước tiến khổng lồ. Người ta đã sáng chế ra được những bộ óc điện tử, trong cùng một lúc có thể dịch một câu nói ra nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau. Vì thế, người ta đã trang bị những bộ óc điện tử này tại các hội trường khi tổ chức những phiên họp mang tính cách quốc tế, chẳng hạn tại Liên hiệp quốc tại Nữu ước.
Những vị đại biểu của các quốc gia khi tham dự chỉ cần gắn ông nghe vào tai, thì dù diễn giả nói bằng tiếng Congô, thì họ vẫn có thể nghe và hiểu được bằng thứ ngôn ngữ mình muốn, chẳng hạn như: Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Việt Nam…
Bộ óc điện tử sẽ tự động dịch ngay lập tức từng câu rồi được chuyển đến tai người nghe bằng một hệ thống ống nghe.
Thế nhưng, liệu chúng ta có thể sánh ví bộ óc điện tử này với phép lạ về ngôn ngữ trong ngày lễ Hiện xuống hay không ?
Chúng ta thử đặt mình vào quang cảnh của buổi sáng hôm ấy. Lúc bấy giờ các tông đồ còn đang lo âu và sợ hãi trước những gì sẽ xảy đến và trước viễn ảnh một tương lai đen tối đang chờ đón.
Vị Thày của các ông đã ra đi và để lại cho các ông một trách nhiệm nặng nề, đó là phải biến đổi toàn thể thế giới:
- Các con hãy ra đi, giảng dạy cho muôn dân.
Các ông chới với như bị cuốn trôi trên một dòng nước. Các ông hoang mang như đi vào một ngõ cụt. Các ông nghi ngờ ngay cả chính bản thân mình.
Nhưng rồi một trận gió đã nổi lên, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các ông, biến đổi các ông để các ông được can đảm và hiểu biết. Từ đó, các ông mở cửa, bước ra và bắt đầu giảng dạy cho một đám đông lên tới hàng ngàn người đang tụ tập trước nhà.
Họ là những người đến từ những vùng đất khác nhau, nói những thứ tiếng khác nhau. Họ trở về Giêrusalem để dự lễ. Khi nghe thấy tiếng động ầm ầm như gió thổi, do tính tò mò thúc đãy, họ đã tới nơi và rồi một sự kiện lạ lùng đã xảy ra: mỗi người đều nghe các tông đồ nói tiếng bản xứ của mình.
Đề tài họ nghe sáng hôm ấy là về tình thương và sự bình an. Còn Đấng thông ngôn vô hình đó chính là Chúa Thánh Thần.
Bộ óc điện tử, dù tinh vi tới đâu chăng nữa, cũng chỉ là máy móc. Điều thế giới hôm nay cần đến, đó là Chúa Thánh Thần và sự hiểu biết cảm thông lẫn nhau.
Nơi Ngài, người ta sẽ tìm thấy phương thức giải quyết cho những bất đồng và tranh cãi. Nơi Ngài, người ta sẽ không còn những kiểu sống  lãnh đạm và những con tim lạnh nhạt đối với những người chung quanh, như hai đường thẳng song song, không có điểm gặp gỡ. Nơi Ngài, người ta sẽ tìm thấy sự bình an và không còn bạo lực. Nơi Ngài, người ta sẽ được hưởng tự do và không còn nô lệ.
Thế nhưng, có kẻ lại bảo:
- Ở đâu cũng chỉ thấy những khổ đau và bất công, những oán ghét và hận thù, thì còn đâu nữa là tác động của Chúa Thánh Thần ?
Nghĩ như vậy làm lầm. Tác động của Chúa Thánh Thần không bao giờ được viết thành những bản báo cáo dài đằng đẳng, hay trở nên những phương án mang nặng tính cách trình diễn, nhưng âm thầm trong chính cõi lòng chúng ta. Ngài luôn hiện diện và hoạt động. Thực vậy, ngày nay vẫn có biết bao nhiêu người được Ngài nâng đỡ, để sẵn sàng tuyên xưng đức tin của mình. Ngày nay vẫn có biết bao nhiêu người được Ngài trợ giúp để vui lòng chấp nhận một số phận hẩm hưu vì lòng yêu mến Đức Kitô. Chính vì thế, mỗi người chúng ta cần phải biết cộng tác với Chúa Thánh Thần bằng cách mở rộng tâm hồn, mở rộng cõi lòng để Ngài ngự xuống và hoạt động trong chính bản thân chúng ta. Rồi từ đó, chúng ta hãy tiếp tay với Ngài trong công cuộc đổi mới mặt địa cầu, bắt đầu từ gia đình, lối xóm và những người chung quanh, rồi đến những phạm vi rộng lớn hơn, đó là quốc gia và xã hội. Phương thế để hoạt động đó chính là thực thi tình bác ai yêu thương. Bởi vì, bác ái yêu thương chính là thứ ngôn ngữ quốc tế, nhờ đó mọi người sẽ hiểu được nhau và xích lại gần nhau hơn.
 
 

HiệnXuống-2. NTĐY/216- BÌNH AN

Báo Tuổi trẻ Chúa nhật số ra ngày 29-4-2001 có đăng bài “Sự bình an” như sau: Một vị vua: HiệnXuống-2 FB

Báo Tuổi trẻ Chúa nhật số ra ngày 29-4-2001 có đăng bài “Sự bình an” như sau: Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình an. Nhiều họa sĩ đã cố công. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một.
Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình an thật hoàn hảo.
Bức tranh kia cũng có những ngọn núi nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình an chút nào.
Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang an nhiên đậu trên tổ của mình… Bình an thật sự.
Nhà vua công bố:”Ta chấm bức tranh này! Sự bình an không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình an có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của bình an”.
Sau khi Đức Giêsu chịu chết, các tông đồ sợ người Do thái lùng bắt, nên đã trốn vào phòng, cửa đóng then cài.
Giữa cơn bão táp phong ba, Đức Giêsu sống lại, hiện ra với các ông, như chim mẹ an nhiên đậu trên tổ canh giữ bầy con, Người mang lại cho các ông sự bình an đích thực:”Bình an cho anh em!”.
Bình an của Đấng Phục sinh không phải là thứ bình an không có sóng gió. Bình an của Người là bình an trong tâm hồn. Bình an ấy không loại trừ phải đối đầu với kẻ thù. Bình an ấy giúp ta đối diện với khổ đau và nỗi chết. Chính vì thế, mà sau khi trao bình an, Đức Giêsu đã cho các môn đệ “xem tay và cạnh sườn” Người. Đó là bằng chứng của một cuộc chiến đấu đầy gian truân mà các môn đệ sẽ phải đi tới.
“Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo:”Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Nhận được bình an, lòng tràn ngập hân hoan, các môn đệ không còn nhát sợ. Với sức mạnh của Thánh Thần, các ngài mạnh dạn tung cửa ra ngoài, hiên ngang rao giảng về Đức Giêsu, Đấng đã bị người ta giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại. Người đang hiện diện sống động giữa các ngài và đang hoạt động mãnh liệt trong các ngài.
Lễ Hiện xuống nhắc nhở người tín hữu về một Thánh Thần bình an đã hoạt động trong lòng Giáo Hội suốt hơn 2000 năm qua. Người cũng đang hiện diện trong những người đã lãnh nhận bí tích Thêm sức để sai họ đi làm chứng nhân cho Tin mừng.
Làm chứng cho Tin mừng là để Thánh Thần mở toang cánh cửa tâm hồn, không còn nhát sợ nhưng can đảm chiến đấu với thử thách, khổ đau trong cuộc sống.
Làm chứng cho Tin mừng là để Thánh Thần dẫn dắt chúng ta đến với người nghèo khổ, bất hạnh, để tận tình yêu thương và kính trọng họ cho xứng với phẩm giá con người.
Làm chứng cho Tin mừng là để Thánh Thần thúc đẩy chúng ta đến với những người chưa nhận biết Chúa bằng đời sống dấn thân phục vụ trong hân hoan.
Nếu mỗi người tín hữu biết mềm mại để Thánh Thần canh tân đổi mới, nếu mỗi chúng ta biết lắng nghe tiếng nói thầm lặng nhưng mạnh mẽ của Thánh Thần, thì mọi người sẽ thấy những biến đổi kỳ diệu trên toàn thế giới.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến như ngọn gió mát, thổi vào cuộc đời chúng con luồng sinh khí mới để cả trái đất này được thay da đổi thịt trong cùng một Thánh Thần tình yêu.
 
 

 HiệnXuống-3. CS/73- ĐỪNG SỢ

Ngày 25-01-1959, toàn thể Giáo Hội cũng như cả thế giới xôn xao khi Đức Thánh Cha Gioan 23: HiệnXuống-3.

Ngày 25-01-1959, toàn thể Giáo Hội cũng như cả thế giới xôn xao khi Đức Thánh Cha Gioan 23 tuyên bố ý định triệu tập Công đồng Vatican II. Khi người ta hỏi Đức Thánh Cha đợi chờ gì nơi Công đồng, người trả lời:”Tôi cũng chưa biết nữa”. và sau khi suy nghĩ giây lát, người đứng lên mở toang cánh cửa sổ phòng nhìn ra thành phố Rôma và nói thêm:”Tôi muốn có một làn gió mới thổi vào trong Giáo Hội”. Quả thật, Công đồng Vatican II đã được coi như cánh cửa của Giáo Hội mở ra để đón làn gió mát của Chúa Thánh Thần. Một sự đổi mới sâu rộng đã diễn ra trong Giáo Hội dưới sự tác động của Thần Khí Chúa. Từ thái độ nghi ngờ, đối kháng và đóng khung mình lại, Giáo Hội đã đi vào lòng thế giới và thái độ cởi mở, thông cảm, gần gũi và thân thiện hơn.
Sách Tông đồ Công vụ kể lại rằng: Sau khi Chúa Giêsu bị bắt và bị giết chết, các tông đồ sống trong sự kinh sợ hãi hùng. Sợ hãi như thế cũng là điều dễ hiểu, bởi nếu người ta đã giết thầy, đã treo thầy của các ông trên thập giá thì hẳn họ cũng sẽ không tha các ông. Chính vì vậy, các ông co cụm lại và chỉ dám gặp nhau một cách lén lút. Sự sợ hãi đã làm cho các ông bất an. Nó giết chết lửa nhiệt tình và mọi khả năng của các ông. Các ông sống trong thái độ thủ thế và dè chừng.
Chính trong khi mang tâm trạng như thế, Chúa Thánh Thần đã đến như một luồng gió mạnh bật tung cánh cửa phòng đóng kín, nơi các ông đang hội họp. Cùng với cánh cửa bật tung, Thánh Thần cũng đã phá vỡ nỗi sợ hãi đang đè nặng tâm hồn các ông, đồng thời đẩy các ông ra khỏi phòng và thúc bách các ông đi đến với mọi người, mặc dù sự ra đi ấy sẽ bắt các ông phải trả giá bằng máu và nước mắt của chính mình. Thánh Thần cũng cho các ông hiểu rằng: Đạo không phải là một pháo đài để mình ngồi trong đó thủ thân. Đạo cũng không phải là một thứ tài sản, dù quí báu, để mình ôm chặt cho mình. Nhưng đạo là con đường. Mà đường là để đi. Đi để gieo rắc hạt giống Nước trời, gieo rắc hạt giống Tin mừng, gieo rắc hạt giống bình an hạnh phúc.
Các tông đồ đã nhận được Thánh Thần và đã biến đổi hoàn toàn. Các ông đã ra đi như lệnh truyền của Chúa Giêsu và sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”.
Thánh Thần đã đến với các tông đồ ngày xưa thì nay cũng đã đến với chúng ta và hoạt động trong cuộc đời ta. Người đã phá vỡ nỗi sợ hãi trong lòng ta. Sợ khó, sợ khổ, sợ hy sinh, sợ bị Thiên Chúa khuấy động cuộc đời, sợ phải sống theo những đòi hỏi triệt để của Tin mừng, sợ phải từ bỏ những đam mê bất chính mà ta hằng ước mơ và ấp ủ, sợ phải giúp đỡ, phải phục vụ anh em…
Bao lâu chúng ta chưa vượt qua được những nỗi sợ hãi ấy, bấy lâu chúng ta chưa thực sự đón nhận được Chúa Thánh Thần. Chưa đón nhận được Chúa Thánh Thần không phải vì Người không đến với chúng ta mà vì chúng ta từ chối đón nhận Người. Bài Tin mừng diễn tả Chúa Thánh Thần như là hơi thở. Hơi thở cần cho thân xác, cho sự sống thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng cần thiết cho đời ta như vậy. Một thân xác không còn hơi thở chỉ là một thân xác chết. Bản thân chúng ta, cộng đoàn chúng ta nếu không có Chúa Thánh Thần thì cũng chỉ là những xác chết mà thôi.
 
 

HiệnXuống-4. STM/124- BÌNH AN

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy: các môn đệ Chúa Giêsu sợ hãi đến độ đóng kín: HiệnXuống-4

Qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy: các môn đệ Chúa Giêsu sợ hãi đến độ đóng kín cửa lại và giam mình trong nhà, thế nhưng đang lúc lo âu sợ hãi thì Chúa Giêsu đã hiện ra và  nói với các ông: bình an cho các con. Đó cũng chính là sự bình an mà Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta ngày hôm nay, bình an của Chúa Giêsu không phải là thứ bình an không có sóng gió trong cuộc sống. Ngài chính là sự bình an, nhưng là sự bình an đầy đối đầu với kẻ thù và cuối cùng đối diện với cái chết trên thập giá. Do đó, khi ban bình an cho môn đệ, Chúa Giêsu đã vạch áo cho các Tông đồ xem những vết thương của Ngài, đây là dấu chứng một cuộc chiến đấu cam go để trung thành với thánh ý của Thiên Chúa.
Khi được Chúa ban bình an, những kẻ nhát đảm đã rhấy lòng tràn ngập hân hoan, Thần Khí Chúa Giêsu đã thổi vào các môn đệ, biến đổi các ông cách lạ lùng, các ông đã mở tung các cửa nhà để hiên ngang đi rao giảng Tin Mừng của Chúa. Từ hơn 2000 năm qua, sự bình an ấy cũng đã được thổi trên tất cả mọi sinh linh, tất cả những ai đón nhận bình an ấy đều thấy lòng tràn ngập hân hoan và ra đi làm chứng cho Chúa.
Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống mà Giáo Hội cử hành hôm nay, là để nhắc nhở chúng ta về Thần Khí An Bình mà chúng ta đã lãnh nhận trong Phép Rửa tội, nếu chúng ta thật sự để thần khí bình an ấy mở tung cánh cửa tâm hồn chúng ta, chúng ta sẽ không còn là con người nhút nhát nữa, Thần Khí ấy sẽ cho chúng ta can đảm để nói không với tất cả những gì đi ngược lại với Tin Mừng và phẩm giá của con người. Thần Khí ấy thúc đẩy chúng ta sống theo thánh ý Chúa chứ không phải là thỏa hiệp với sức mạnh của tăm tối, và nhờ thần khí ấy chúng ta cùng chia sẻ với Chúa Giêsu, với các môn đệ của Ngài, chúng ta sẽ đi đến cuộc chiến đấu quyết liệt là để trung thành với Đấng đã yêu và đã chết vì chúng ta.
 
 

HiệnXuống-5. PV/264- TINH THẦN

Cái chết của Đức Kitô đã để lại trong tâm hồn các môn đệ cảm giác mất mát, buồn phiền và: HiệnXuống-5

Cái chết của Đức Kitô đã để lại trong tâm hồn các môn đệ cảm giác mất mát, buồn phiền và bị tổn thương. Sự phục sinh của Ngài đã làm sống lại niềm tin của họ nơi Đức Kitô. Nhưng họ chưa có đủ lòng can đảm và sức mạnh để đương đầu với thế gian. Họ cần đến Chúa Thánh Thần để nâng đỡ tinh thần và thổi vào họ sức sống mới.
Dân tộc Bush ở Châu phi là những cư dân đầu tiên của châu lục này. Nhưng qua nhiều thế kỷ, họ đã phải chịu đựng cảnh bị ruồng bỏ từ cả người da trắng lẫn da đen. Ngày nay, chỉ còn lại một số người còn sống sót ở Nam Phi, họ sống ở bên trong và chung quanh sa mạc Kalahari. Họ đã từng sống ở những nơi rộng rải. Hầu hết mọi người đều cảm thấy một môi trường như vậy là hầu như không thể chịu đựng nổi. Người Bush thì không như vậy. Đối với họ, đây là đặc điểm của họ.
Một lần kia, có một người đàn ông người Bush bị bỏ tù, do đã giết chết một con chim Ôtit to lớn, đây là một trọng tội, bởi vì chim Ôtit là một loài chim được bảo vệ. Khi bị nhốt kỹ trong một căn phòng giam bé nhỏ, anh ta bắt đầu héo hon, giống như một ngọn nến. Anh được cho ăn uống đầy đủ, tuy nhiên, anh vẫn tiếp tục tiều tụy.
Được báo động về tin này, và bối rối không biết làm sao, những người quản giáo đã mời một bác sĩ đến khám bệnh cho tù nhân đó, nhưng họ không thể tìm được điều gì bất ổn đối với anh ta về mặt thể lý. Khi được hỏi tại sao bị đau ốm, người đàn ông này nói rằng “Tôi không thể nào sống được, nếu không được ngắm nhìn mặt trời lặn trên khắp sa mạc Kalahari”.
Tôi không biết câu chuyện trên kết thúc ra sao, nhưng tôi hy vọng rằng những người quản giáo có thiện ý phóng thích tù nhân đó. Vấn đề của anh ấy không phải là thiếu lương thực cho cơ thể, mà là thiếu của ăn nuôi dưỡng tinh thần. Không phải là cơ thể, mà chính tinh thần của người đó đang bị chết dần chết mòn.
Bởi vì tinh thần dễ dàng bị bẻ gãy, dễ dàng bị đè bẹp, tinh thần cần được củng cố và nuôi dưỡng từng chút một, giống như đối với cơ thể vậy. Nếu được củng cố và nuôi dưỡng, thì tinh thần có rất nhiều sức mạnh phục hồi.
Vậy những thứ củng cố và nuôi dưỡng tinh thần là gì? Điều gì đem đến cho tinh thần khả năng bay cao vút lên, và điều gì là nguyên nhân khiến cho tinh thần bị đắm chìm xuống?
Nỗi buồn phiền đè nặng lên tinh thần; niềm vui nâng tinh thần lên.
Sự phê phán xói mòn tinh thần; lời khen ngợi xây dựng tinh thần.
Thất bại làm cho tinh thần bị co rút lại; thành công mở rộng tinh thần.
Thất vọng khiến tinh thần bị tàn héo; hy vọng thổi sức sống mới vào tinh thần.
Sự khước từ gây tổn thương cho tinh thần; sự đón nhận lành mạnh hóa tinh thần.
Lòng căm thù đầu độc tinh thần; tình yêu thương thanh tẩy tinh thần.
Nỗi sợ hãi làm cho tinh thần bị tê liệt; sự tĩnh mịch trấn an tinh thần; lời cầu nguyện củng cố tinh thần.
Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục thổi sự sống mới vào tinh thần của chúng ta. Như vậy, đón mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, chúng ta có thể cầu nguyện riêng như sau:”Lạy Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, xin lại đến với chúng con”.
 
 

HiệnXuống-6. PV/268- CHỜ ĐỢI

Trước khi rời xa các môn đệ, Đức Giêsu đã căn dặn họ chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến: HiệnXuống-6

Trước khi rời xa các môn đệ, Đức Giêsu đã căn dặn họ chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến tại Giêrusalem. Như vậy, từ núi Ô-Liu, họ đã quay trở lại tại một căn phòng. Họ tụ họp ở đó với Đức Maria Mẹ của Đức Giêsu, cùng các môn đệ khác, và chờ đợi Chúa Thánh Thần, Đấng mà Đức Giêsu hứa ban. Căn phòng đó đã trở nên một căn phòng chờ đợi.
Bằng cách này hay cách khác, tất cả chúng ta đều quen thuộc với căn phòng chờ đợi. Chúng ta đã từng chờ đợi người khác. Chúng ta đã từng chờ đợi máy bay, tàu lửa, xe buýt. Chúng ta đã từng ở trong những căn phòng chờ đợi bác sĩ hoặc nha sĩ tại các bệnh viện.Không có hai căn phòng chờ đợi nào giống hệt nhau. Tại một số phòng, bạn cảm thấy giống như được ở thiên đàng; tại những phòng khác, bạn cảm thấy như đang ở trong hỏa ngục. Không thể so sánh được giữa việc chờ đợi tại một căn phòng chờ đợi đầy đủ tiện nghi ở sân bay, khi bạn đang chờ đợi một chuyến bay sẽ đưa bạn đến với một cuộc hành trình đầy thú vị, và việc chờ đợi trong một căn phòng tại bệnh viện, khi bạn đang chờ đợi tin tức của một người thân yêu, với mạng sống đang bị treo trên sợi tóc.
Chúng ta đều quen thuộc với bầu khí khác thường phổ biến trong các căn phòng chờ đợi. Một bầu khí lan tràn cảm giác bất an, làm cho chúng ta bị căng thẳng và sợ hãi. Nói chung, những người mà chúng ta gặp gỡ tại các căn phòng chờ đợi đều xa lạ đối với chúng ta. Dù sao, như thế vẫn còn hơn là ở một mình. Nhưng tất nhiên là sẽ càng tốt hơn, nếu bạn có một người bạn ở bên cạnh.
Điều làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu chính là sự chờ đợi. Chờ đợi thật không dễ dàng. Điều đó có nghĩa là bạn đang ở không. Không có việc gì làm có thể là một điều không thể chịu đựng nổi, đặc biệt đối với những người năng động. Người nghèo khổ thường hay chờ đợi nhiều hơn, so với những kẻ giàu có. Người giàu sang có thể chạy ra khỏi hàng ngũ chờ đợi.
Nhưng đối với việc chờ đợi, điều khó chịu nhất vượt lên trên tất cả, đó chính là cảm giác không hề có chút quyền lực gì cả, thường đi kèm theo việc chờ đợi. Mọi sự đều vượt ra bên ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Số phận của chúng ta lại nằm trong tay của người khác. Chúng ta không thể làm được gì, chỉ biết chờ đợi mà thôi. Điều này có thể dằn vặt đối với những người ưa thích kiểm soát mọi sự.
Chúng ta muốn tìm kiếm vài thú giải trí, một việc gì đó làm, để có cảm giác thời gian qua đi nhanh chóng hơn, và để cho tâm trí chúng ta tránh nghĩ đến chuyện tương lai. Trong nhiều căn phòng chờ đợi, bạn thường thấy người ta để sẵn báo chí ở đó chính vì mục đích này. Nhưng thông thường, bạn tự cảm thấy mình không thể có khả năng tập trung được.
Nhưng mặc dù gây khó chịu, nhưng chờ đợi vẫn có thể là một điều hữu ích. Tâm hồn con người được nuôi dưỡng bằng ước muốn, cũng như bằng sự phong phú. Sự chờ đợi làm cho chúng ta cảm thấy con người lệ thuộc vào nhau ra sao. Chúng ta cần đến những người khác. Vả chăng, chờ đợi là một phần của cuộc sống. Mặt đất phải chờ đợi cơn mưa. Người nông dân phải chờ đợi mùa xuân. Sự chờ đợi là điều cần thiết để xảy ra trạng thái thay đổi, phát triển, và phục hồi.
Có một nhà tâm lý học đã nói rằng con người cần được củng cố sức mạnh – nghĩa là xác định được sức khỏe của người đó. Nhưng cũng có những lúc, có thể chúng ta cần phải trở nên yếu đuối, không có sức mạnh, dễ bị tổn thương, và cần mở ra để học hỏi kinh nghiệm. Chỉ khi nào xuất hiện một cái lỗ ở trên bức tường, thì chúng ta mới có thể nhìn ra bên ngoài được.
Phải chăng điều này cũng tương tự như đối với các tông đồ? Tôi chắc chắn rằng họ đã trải qua hầu hết những cảm xúc của chúng ta, khi họ chờ đợi trong phòng. Họ đặt niềm tin tưởng của mình nơi lời của Đức Giêsu. Nhưng điều này không có nghĩa là họ không hề sợ hãi gì đối với tương lai. Và trong khi chờ đợi, họ trở nên có ý thức về sự bất lực của bản thân. Nhưng điều đó càng giúp cho họ sẵn sàng đón nhận ân sủng của Chúa Thánh Thần.
Trong khi chờ đợi, bằng cách cầu nguyện, họ chuẩn bị tâm hồn mình để đón Chúa Thánh Thần ngự đến. Họ đã nâng đỡ nhau bằng cách đó.
Chúng ta phải cố gắng làm cho những ngày này trở thành những ngày của lời cầu nguyện. Mỗi ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống đều đổi mới lại ân sủng của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội.
 
 

HiệnXuống-7. SCĐ/226- LƯỠI LỬA

Ngày xưa ở Babel, con cháu ông Noe đang nói cùng một thứ tiếng, nghĩa là đang hiểu nhau: HiệnXuống-7

Ngày xưa ở Babel, con cháu ông Noe đang nói cùng một thứ tiếng, nghĩa là đang hiểu nhau và đoàn kết với nhau, bỗng dưng để cho tính kiêu ngạo xúi dục, muốn xây một cái tháp chọc trời để tỏ ra mình cao hơn Thiên Chúa, nên đã bị phạt khiến họ nói nhiều thứ tiếng, người này không còn hiểu người kia nữa và chia rẽ nhau.
Chuyện tháp Babel ngụ ý rằng khi con người không  còn qui tụ quanh Thiên Chúa nữa thì sẽ chia rẽ nhau, không hiểu nhau và không thông cảm với nhau.
Hôm lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần đã sửa lại sự hư hại đó: tất cả mọi người dù thuộc những dân tộc và những ngôn ngữ khác nhau, nhưng đã hiểu nhau. Nhờ   đâu ? Nhờ chính Chúa Thánh Thần, nguyên lý của đoàn kết và hiệp nhất.
Nói là một sinh hoạt  cần thiết trong cuộc sống chung: hằng ngày khi gặp người khác, chúng ta chào nhau, hỏi thăm nhau, trao đổi ý kiến với nhau, thảo luận vũng như tranh luận cùng nhau… Chính vì để phục vụ cho sinh hoạt cần thiết này mà khoa học kỹ thuật ngày nay đã phát minh ra máy khuếch âm, máy ghi âm, máy điện thoại…
Nhưng nói với nhau là một chuyện, còn hiểu nhau lại là một chuyện khác. Hai chuyện này chưa hẳn luôn đi đôi với nhau. Nói với nhau thì nhiều, nhưng hiểu nhau chắc chắn không được bao nhiêu. Dịch ngoại ngữ thì dễ hơn là hiểu được ý thật, lòng thật của người đang ở sát bên cạnh mình.
Có đặt mình trong bối cảnh như thế, chúng ta mới thấy “lưỡi lửa” mà bài sách Công vụ Tông đồ hôm nay mô tả là cần thiết thế nào cho con người hôm nay.
Ngày xưa, những người có mặt hôm lễ ngũ tuần tuy nói nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng đều hiểu nhau. Đó là hiệu quả bởi “lưỡi lửa” của Chúa Thánh Thần. Lưỡi hình lửa là tiếng nói của tình yêu, tiếng nói chân thật nhát xuất phát từ cõi lòng. Phải, tiếng nói dễ hiểu nhất, chính là tiếng nói của tình yêu.
Xin “lưỡi lửa” hiện xuống tràn đầy trong mỗi người chúng ta và trong cộng đoàn chúng ta để chúng ta biết thực sự sống tình bác ái yêu thương và hiệp thông với nhau.
 
 

HiệnXuống-8. BÌNH AN CHO CÁC CON

Anh chị em thân mến!
 

Dưỡng khí là một nhân tố vô cùng cần thiết cho mọi sinh vật. Không có dương khí trong vòng: HiệnXuống-8

Dưỡng khí là một nhân tố vô cùng cần thiết cho mọi sinh vật. Không có dương khí trong vòng 3 phút, bộ óc chúng ta sẽ bị tê liệt và nhiều cơ thể sẽ bị thương tích không chữa trị được. Thiếu dưỡng khí trong vòng 5 phút, con người sẽ thành cái xác không hồn.

Trong cuộc sống thiêng liêng, Thần Khí Thiên Chúa và các ơn thánh hoá Ngài ban cũng cần thiết cho sự sống của linh hồn chúng ta như vậy. Khi đề cập đến các đặc sủng của Chúa Thánh Thần ban cho các tín hữu, thánh Cyrilô thành Giêrusalem đã dùng một hình ảnh tuyệt đẹp cụ thể như sau: "Chỉ có một dòng nước duy nhất tưới gội cả vườn địa đàng, nó trở thành màu trắng nơi bông huệ, màu đỏ nơi hoa hồng và màu thẫm trong các loài hoa tím. Lúc ấy, không thích ứng với bản chất của mình, nhưng thích ứng với bản chất của từng loài hoa nó tưới gội". Chúa Thánh Thần cũng thế, Ngài trao ban cho chúng ta ơn thánh thích hợp với từng người chúng ta.
Chúng ta có thể nói được rằng, Chúa Thánh Thần cần thiết cho cuộc sống thiêng liêng của chúng ta như dưỡng khí và nước, nhưng ít khi chúng ta biết được sự thật đơn sơ và vô cùng trọng yếu ấy. Quả thật, các thần học gia có lý khi định nghĩa: "Chúa Thánh Thần là vị Thiên Chúa bị tãng quên ".
Anh chị em thân mến!
Qua các bài đọc Phụng vụ lễ Chúa Thánh Thần, Mẹ Giáo Hội muốn nhắc cho chúng ta sự thật quan trọng ấy và kêu mời chúng ta ý thức hơn về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Kinh Thánh cho chúng ta thấy Phụng vụ của người Do Thái lấy lại ba ngày lễ lớn để ghi dấu sinh hoạt trong năm của các dân tộc vùng Trung Đông cổ, nhưng cử hành chúng trong nhãn quan của ánh sáng và niềm tin.
Lễ Vượt Qua là lễ của dân du mục cử hành trong mùa xuân bằng cách hiến tế chiên con đầu lòng cho các thần linh để xin phúc lành trên đoàn vật, và đã trở thành lễ kỷ niệm cuộc giải phóng dân Do Thái khỏi kiếp sống nô lệ bên Ai Cập.
Lễ Lều cử hành vào ngày hái nho trong mùa thu, và trở thành lễ kỷ niệm 40 năm dân Do Thái sống trong sa mạc trước khi bước vào Đất Hứa.
Lễ Ngũ Tuần là lễ lạ ơn mùa gặt mà các nông dân cử hành bảy tuần, tức ngày thứ 50 sau khi mùa xuân bắt đầu, qua việc hiến dâng bánh Mtến bằng lúa mới và các hoa trái đầu mùa cho các thần linh. Dân Do Thái dần dần đưa vào lịch sử cứu độ và biến thành lễ kỷ niệm các giao ước lớn mà Thiên Chúa đã ký kết với dân Ngài, qua các tôi tớ Chúa như ông Noe, tổ phụ Abraham và ông Môisê.
Trong các cộng đoàn sống gần biển chết ở Mtền Nam Palestine vào thời Chúa Giêsu, thì lễ Ngũ Tuần đã trở thành lễ của giao ước mới, như ngôn sức GiêrêMta đã tiên báo trong chương 31. Vào ngày đó, Thiên Chúa sẽ đổ tràn đầy Thần Khí của Ngài trên dân Israel đã được thanh tẩy và thánh hoá. Thiên Chúa sẽ ban cho họ một con tim mới và một tinh thần mới như được diễn tả trong sách ngôn sứ Ezekiel. Lời tiên báo ấy của ngôn sức Ezekiel cũng như lời Chúa Giêsu hứa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ đã hiện thực trong ngày lễ Ngũ Tuần sau khi Chúa Giêsu sống lại.
Anh chị em thân mến!
Trình thuật Chúa Thánh Thần Hiện Xuống được ghi lại Tin Mừng và trong Tông đồ Công vụ cũng như những gì thánh Phaolô nói vôi tín hữu Côrintô chứa đựng nhiều nhân tố giúp chúng ta hiểu bản chất và sức mệnh của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống Kitô hữu.
Trước hết là các nhân tố biểu lượng cho Chúa Thánh Thần: Thần khí, trong trắng Do Thái vừa có nghĩa là khí, vừa có nghĩa là gió. Cử chỉ Chúa Giêsu Phục Sinh vừa thổi hơi trên họ, nghĩa là trao ban Thần Khí của Ngài cho các ông và nói: "Chúng con hãy nhận lấy Thánh Thần" là hình ảnh cụ thể sống động được diễn tả sự thật mà Kinh Thánh Cựu ước nêu bật nhiều tần như Thần khí của Thiên Chúa bay là là trên mặt nước trong thời tạo dựng.
Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa thở Thần Khí của Ngài vào mũi con người và con người trở thành một bản vị sống động. Nói cách khác, Thần Khí là nguyên lý của sự sống phong phú trao ban cuộc sống mới chỏ mọi sự, mọi loài trong vũ trụ cũng như con người. Chính vì thế, trong cuộc đàm đạo với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu nói: "Ai không sinh lại bởi nước và Thần Khí của Thiên Chúa, thì người ấy không được cứu rỗi ".
Cảnh Thần Khí của Thiên Chúa thổi vào cánh đồng xương khô của dân Ngài và cho họ có trở lại thịt, gân và sự sống như ngôn sức Ezêkiel mô tả trong chương 37 là hình ảnh tuyệt đẹp để diễn tả cuộc tái sinh của dân tộc Do Thái cũng như sự sống lại của con người thuộc mọi thế hệ. Khi thở Thần Khí của Ngài trên đoàn môn đệ, Chúa Giêsu trao ban cho các ông sự sống mới thần thiêng ấy, biến các ông trở thành thụ tạo mới, đồng thời là cộng sự viên của Ngài và của Chúa Thánh Thần, để thực hiện chương trình vĩ đại là kéo lôi nhân loại ra khỏi ách thống trị của tội lỗi, khỏi sự dữ và cái chết, đồng thời trao ban cuộc sống thiên linh của Ngài cho con người.
Nhân tố biểu tượng thứ hai diễn tả Thần Khí của Thiên Chúa là "lửa". Trong các trình thuật Thiên Chúa tự tỏ hiện ra trong các tác phẩm Kinh Thánh, đặc biệt là trong sách Xuất Hành thì "lửa" là một trong các nhân tố diễn tả sự hiện diện sinh động của Thiên Chúa hơn là dấu chỉ tình yêu hoặc sức mạnh hay sự thanh tẩy.
"Lửa" biểu tượng cho chính Thiên Chúa, là sự siêu việt không gì có thể kháng cự nổi. Ánh sáng và hơi ấm của lửa chiếu soi và củng cố con người, nó cần thiết cho cuộc sống và sự tiến bộ của con người. Thần Khí - Thánh Thần như thế chính là sự mạc khải của Thiên Chúa, là sức mạnh và sự hiện diện của Thiên Chúa bên cạnh con người.
Vậy, qua Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa thanh tẩy giải thoát tín hữu khỏi mọi tội lỗi và trao ban cho họ cuộc sống môi. Chúa Thánh Thần mà tín hữu nhận lãnh được trong ngày lãnh Bí tích Rửa Tội là mạch nước vọt lên sự sống vĩnh cửu. Nhờ Chúa Thánh Thần hiện diện trong Giáo Hội và nơi tâm hồn họ, tín hữu chết đi cho tội lỗi và sống lại với Đức Kitô và trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần.
Chúa Thánh Thần cũng là suối nguồn trao ban các đặc sủng cho mọi thành phần Giáo Hội. Giáo Hội trở thành thân mình mầu nhiệm của Chúa, trong đó mỗi một tín hữu là một cơ phận sống động với những phần vụ riêng biệt quan trọng khác nhau, nhưng điều cần thiết cho cả thân mình có Chúa Giêsu là Đầu.
Anh chị em thân mến!
Trong thư I Côrintô chương 12, thánh Phaolô dùng lược đồ thần học Chúa Ba Ngôi để diễn tả sự hiệp nhất đa diện ấy của thực thể Giáo Hội. Chúa Thánh Thần trao ban cho các tín hữu các đặc sủng, Chúa Giêsu Kitô trao ban cho tín hữu các thừa tác vụ khác nhau và Chúa Cha trao ban cho mọi người các năng lực như là ơn làm phép lạ và quyền xua trừ ma quỉ. Nghĩa là mỗi thành phần của Giáo Hội đều phản ánh Chúa Thánh Thần và có các đặc sủng để phục vụ thân mình mầu nhiệm của Chúa là Giáo Hội.
Ơn nói các thứ tiếng diễn tả sự hiệp nhất đa diện ấy của thực thể Giáo Hội, bao gồm các thành phần thuộc mọi dân nước, thuộc mọi nền văn hoá sống rải rác khắp nơi trên thế giới này.
Thảm cảnh của một nhân loại bị phân tách và chia rẽ của tháp Babel ngày xưa giờ đây được Chúa Thánh Thần qui tụ về một mối, nói và hiểu cùng một thứ ngôn ngữ, ngôn ngữ tình yêu của con cái Thiên Chúa. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần là nguyên lý sự hợp nhất trong Giáo Hội, bởi vì mọi đặc sủng và ơn thánh đều bắt đầu từ một Thần Khí, một Chúa là Thiên Chúa duy nhất.
Khẳng định trên đây của thánh Phaolô đặc biệt thời sự trong bối cảnh của cộng đoàn Kitô Côrintô đang gặp sự chia rẽ. Qua ơn thánh của Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể, mọi tín hữu phải ý thứ trở lại sự hiệp nhất này, sự hiệp nhất trong Chúa Giêsu Kitô, Con Người mới, Ađam mới, ông tổ của một nhân loại mới.
Anh chị em thân mến!
Như vậy, lễ Chúa Thánh Thần trình bày với chúng ta gương mặt của một Giáo Hội sống động vẹn toàn, trong đó Chúa Thánh Thần - Thần Khí của Thiên Chúa là nguồn mạch trao ban tự do vui tươi, phẩm giá, thăng tiến và hy vọng.
Mừng lễ Chúa Thánh Thần là chúng ta cử hành liên hệ sâu thẳm thân tình giữa Thiên Chúa và con người trong giao ước mới. Qua đó, Thiên Chúa hiện diện ngay trong tâm hồn con người. Mừng lễ Chúa Thánh Thần là chúng ta cử hành sự thanh tẩy, cử hành Bí tích Hoà Giải. Qua đó, chúng ta nhận được ơn tha tội và tái sinh một cuộc sống mới để trở thành một thụ tạo mới.
Mừng lễ Chúa Thánh thần là chúng ta cử hành các đặc sủng, các thừa tác vụ đa diện và các ơn thánh đã lãnh nhận và dấn thân phát triển chúng tối đa, để phục vụ và vun trồng cộng đoàn dân Chúa.
Mừng lễ Chúa Thánh Thần là chúng ta cử hành sự hiệp nhất của Giáo Hội và cử hành các Bí tích Rửa tội Thêm Sức, Thánh Thể là các Bí tích trao ban Thần Khí của Thiên Chúa cho chúng ta và dẫn đưa chúng ta vào cuộc sống làm con cái Chúa. Chúng ta có ý thức được sự thật tuyệt diệu này của lòng tin Kitô hay không? Lòng tin ấy được thể hiện một cách vững mạnh qua việc chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin của mình qua kinh Tin Kính.
 
 

HiệnXuống-9. ÂN HUỆ THÁNH THẦN

Lễ Hiện xuống trong lịch sử phụng vụ
 

Phục sinh và Hiện xuống là hai ngày lễ cổ xưa nhất trong lịch sử Hội thánh, và hai ngày lễ: HiệnXuống-9

Phục sinh và Hiện xuống là hai ngày lễ cổ xưa nhất trong lịch sử Hội thánh, và hai ngày lễ này liên hệ với nhau rất mật thiết: Với ngày lễ hôm nay, chúng ta kết thúc mùa Phục sinh, mùa quan trọng nhất trong Năm phụng vụ.
Nguyên nghĩa của từ "Ngũ tuần” trong tiếng Hi lạp là (ngày) thứ 50. Đối với người do thái ngày xưa, đó là ngày 50 sau lễ Vượt qua. Đối với người Ki tô hữu, đó là ngày thứ 50 sau lễ Phục sinh. Chính trong dịp lễ Ngũ tuần, Thiên Chúa đã ban Thánh Thần xuống trên các tông đồ của Đức Giêsu, và điều đó thật là ý nghĩa vì nhiều lý do:
* Vào dịp lễ Ngũ tuần, người do thái tưởng nhớ việc thiết lập giao ước giữa Thiên Chúa và dân Israel trong sa mạc. Thiên Chúa đã chọn chính ngày này để khai mạc giao ước mới mà đức Giêsu đã in dấu bằng chính Máu Ngài trên thập giá. Giao ước đó cũng được Thánh Thần in dấu trong tâm hồn người Kitô hữu ngày lãnh nhận bí tích Thánh tẩy.
* Vào dịp lễ Ngũ tuần, người do thái cũng cử hành việc Thiên Chúa ban bố Muời điều răn trên núi Sinai; mười điều răn đó được chính Chúa viết trên bia đá. Thiên Chúa cũng chọn ngày này để ban bố Luật mới, Luật tình yêu (x. Ga l3,34) và luật này được Thánh Thần ghi sâu trong tâm hồn ta như ngôn sứ Êzêchiel đã báo trước (36,27).
* Cuối cùng, lễ Ngũ tuần là dịp người Do thái mừng ngày hoàn tất mùa gặt. Đây cũng là ngày Thiên Chúa mang lại cho Hội thánh mùa gặt phong phú, mùa gặt các linh hồn, được thúc đẩy bởi lời rao giảng của thánh Phêrô, đã xin lãnh nhận bí tích Thánh tẩy. Tuy nhiên đây không phải là thời điểm kết thúc mà là khởi điểm cho mùa gặt mới còn kéo dài mãi cho đến khi không còn con người nào lại không được cứu độ.
So sánh trên giúp ta khám phá ý nghĩa phong phú của ngày lễ hôm nay, đồng thời thúc đẩy chúng ta đào sâu ý nghĩa đó hơn.
Thánh Thần trong đời sống Kitô hữu.
Các bài đọc hôm nay trình bầy Thánh Thần được ban xuống trên các môn đệ.
Theo thánh Gioan, Đấng Phục sinh đã ban Thánh Thần cho các môn đệ ngay chiều ngày phục sinh, trong buổi gặp gỡ đầu tiên sau khi Người sống lại từ cõi chết. Thánh Thần chính là thần khí của Chúa Giêsu, là sự sống thần linh của Ngài mà người do thái không thể hủy diệt được khi đóng đinh Ngài trên thập giá. Đối với các môn đệ, đó là kho tàng quí giá nhất, là quà tặng đuy nhất mà Chúa Giêsu dành cho họ bằng chính giá máu Ngài đổ ra, trên thập giá
Cùng với ân huệ Thánh Thần đó là những ơn ban mà Thánh Thần ban cho:
- Trước hết là ơn tha thứ tội lỗi. Khi Chúa Giêsu nói “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần", lúc đó các môn đệ được rửa trong Thánh Thần như Gioan Tẩy giả đã loan báo (Lc 3,16). Như ánh sáng xoá tan tăm tối, Thánh Thần cũng xoá tan những dấu vết tội lỗi trong linh hồn các môn đệ. Chính các ông được tha thứ trước, để các ông có thể tha thứ  tội lỗi cho người khác nhờ quyền năng mà Chúa Giêsu sắp ban cho: "Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha...".
- Cùng với ơn tha thứ tội lỗi là bình an và niềm vui, không phải là sự bình an của thế gian nhưng là "bình an của Thầy" (Ga 14,27), cũng không phải là niềm vui giả tạo và chóng qua nhưng là niềm vui của Chúa mà các ông nghiệm được trong tâm hồn.
Theo thánh Luca, Thánh Thần được ban xuống vào lễ Ngũ tuần. Ở đây không thấy sự xuất hiện của Chúa Giêsu, cũng không có tiếng phán tự trời cao. Ở đây, gió là ngôn ngữ của Thiên Chúa, và lửa là dấu chỉ sự hiện diện của Ngài. Tuy nhiên những hiệu quả mà Thánh Thần lạo nên nơi các môn đệ rất rõ ràng:
Ngài thông ban cho các ông sự khôn ngoan lạ lùng đến nỗi một người ít học như thánh Phêrô lại có thể nói năng như nhà thần học. Ngài thúc đẩy các ông loan báo về Chúa Kitô cho mọi người. Các ông không thể giữ bí mật về mầu nhiệm Phục sinh cho riêng mình nhưng phải loan báo cho mọi người. Đồng thời Ngài ban cho các ông ơn can đảm phi thường, những con người chỉ ít ngày trước đây còn run rẩy sợ hãi nay mạnh mẽ kiên cường trong lời chứng của mình.
Có thể nói việc thông ban Thánh Thần cho các môn đệ vào chiều ngày phục sinh cũng giống như khi ta chịu Phép Rửa, còn trong ngày lễ Ngũ tuần thì giống như bí tích Thêm sức. Như thế các bài đọc giúp ta thấy được sự phong phú của ân huệ Thánh Thần, và giúp ta sống ân huệ đó trong đời sống của Hội thánh.
Trước hết, Thánh Thần đòi hỏi ta phải là những chi thể lành mạnh trong Thân Mình mầu nhiệm của Chúa Kitô. Cũng như những nhánh cây khô phải bị chặt đi (Ga 15,6), những chi thể đã chết cần phải chặt đi vì ích lợi của thân thể. Bất cứ điều gì ta làm chống lại Thánh Thần - kể cả những tội thầm kín nhất - đều gây nguy hiểm cho đời sống của cộng đoàn. Chỉ nguyên sự kiện sống ươn lười cũng đã là xúc phạm đến Thánh Thần và cộng đoàn Hội thánh.
Hơn thế nữa, Thánh Thần đòi hỏi ta phải chia sẻ những ân huệ mình đã lãnh nhận, một sự chia sẻ không giới hạn:
- chia sẻ trong cộng đoàn tín hữu với nhau: chúng ta phải chia sẻ đức tin, kinh nguyện, sự hiểu biết, lời khuyến dụ , bình an và niềm vui cho nhau. Một Kitô hữu đích thực là người luôn đặt mình trong tư thế sẵn sàng phục vụ.
- chia sẻ với những anh chị em ngoài cộng đoàn Hội thánh. Hình ảnh của thánh Phêrô trong ngày lễ Hiện xuống là một tấm gương hùng hồn: ngay khi đón nhận Thánh Thần, lập tức ngài loan báo Chúa Kitô cho mọi người. Đức tin là một kho báu nhưng khác với những kho báu trần gian. Với những kho báu trần gian, càng có nhiều, người ta càng có khuynh hướng giữ thật chặt cho riêng mình; còn đối với kho báu đức tin, cần phải chia sẻ cho người khác, càng chia sẻ, đức tin càng phát triển. Nếu ta không cảm thấy bị thúc đẩy chia sẻ hồng ân đó cho người khác, cần phải xét lại xem có thực sự Thánh Thần đang hiện diện và hoạt động trong đời mình hay không.
Cuối cùng, mỗi Kitô hữu có bổn phận góp phần vào sự tăng trưởng và thiện ích của cộng đoàn.
Trong Thân Mình mầu nhiệm Chúa Ki tô, mỗi Kitô hữu là một chi thể, và đừng ai nghĩ rằng mình chỉ là một chi thể vô dụng hoặc ít giá trị. Nơi tất cả chúng ta đều hàm chứa hai sự thật căn bản này: một đàng chúng ta là tội nhân, đàng khác chúng ta lại thật quí giá trước mặt Chúa đến nỗi Người đã chuộc ta bằng chính Máu của Người (I Pet 1,18). Thiên Chúa không đo lường giá trị chúng ta theo tiêu chuẩn loài người dựa vào những công việc bên ngoài, nhưng là dựa vào sức mạnh Thần khí đang hoạt động trong ta.
Kết luận
Nói tóm lại, đời sống Kitô hữu chỉ có một trong hai nẻo đường: hoặc là góp phần mang lại ích lợi, hoặc là làm hỏng đi khuôn mặt thánh thiện của cộng đoàn Hội thánh, dù cách ý thức hay vô tình. Mỗi chúng ta đều đã lãnh nhận ân huệ Thánh Thần, và ngày lễ hôm nay là cơ hội cho mỗi người xem xét lại cách thế mình đã cộng tác với Chúa Thánh Thần trong công cuộc xây dựng Hội thánh thế nào.
 
 

HiệnXuống-10. VÀO CHIỀU NGÀY ẤY, NGÀY THỨ NHẤT TRONG TUẦN

Trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, chính vào buổi chiều của ngày Phục Sinh,  tiếp bước sự: HiệnXuống-10

Trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, chính vào buổi chiều của ngày Phục Sinh,  tiếp bước sự sống lại, Chúa Thánh Thần  được ban cho  các tông đồ, và Giáo Hội được khai sinh bởi cùng một sự thổi hơi của Đức Giêsu trong tường thuật này, có thể so sánh với bản văn của Luca trong sách Công vụ Tông đồ, Đức Giêsu dường như chiếm nhiều chỗ hơn Chúa Thánh Thần thánh Gioan đã tập cho chúng ta quen với việc tìm trong Tin Mừng một sự cô đọng cao cả về thần học dưới lớp vở bọc của các biểu tượng Kinh Thánh. 
"Ngày đầu tiên trong tuần", một thế giới mới bắt đầu, một tạo vật mới. Đó là một sự sáng thế mới. Thiên Chúa cầm lấy con người và nhào nặn lại trong một thứ đất sét hoàn toàn mới.
Và các Kitô hữu, từ ngày Đó, không ngừng tụ họp vào ngày thứ nhất trong tuần này đến Chúa nhật sau. Giáo Hội khai sinh từ sự hội họp đều đặn Đó theo dòng thời gian cho đến ngày nay vẫn còn tiếp tục cần phải có những ngày Chúa nhật để hình thành một Kitô hữu, tuần tự tiến lên.. theo nhịp điệu các lần Đức Giêsu đến giữa cộng đoàn chúng ta không sống với bổn phận tẻ nhạt phải giữ ngày Chúa nhật với khía cạnh quá pháp lý: Vấn đề là một nhu cầu sống! "Bắt buộc phải hô hấp, phải hít thở!"  Vậy không thể đi lễ ngày Chúa nhật mỗi ngày, một lần là đủ.
Nơi các môn đệ ở, các cửa đều Đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.
 Sự sợ hãi! Thế giới chúng ta luôn luôn xây dựng trên nỗi sợ hãi. Sự ngăn chặn tấn công nguyên tử cũng bằng vũ khí nguyên tử, điều  Đó gây ra sự sợ hãi.
Trước khi đi xa hơn trong kinh nguyện, tôi phải nhìn trực diện trong đời sống của tôi những nỗi sợ hãi của chính mình nơi mà Phục Sinh xuất hiện lại là nơi các môn đệ khép kín để tự vệ vì sợ hãi.
Nơi mà Thần Khí Thiên Chúa có thể xuất hiện trong đời tôi lại chính là điểm đau của vết thương nội tâm, là nơi dễ bị tổn thương, có nguy cơ và chịu nhiều đau khổ.
Tình trạng Đóng kín cửa của tôi là gì?
Trường hợp nào, tội lỗi và mối lo nào đang nhốt kín tôi, Thánh Phaolô đã có ý thức về thực tại ấy như về một thứ chết chóc: "Như thế sự chết hoạt động nơi chúng tôi...Cho nên chúng tôi không chán nản trái lại, dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi,  thì  con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện đại sẽ mang lại cho chúng ta cả một  khối vinh quang vô tận tuyệt vời".(2 Côrintô 4,12-16-17). 
Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nó: “Bình an cho anh em.."
Không phải là ngẫu nhiên mà Thánh Gioan liên kết sự sống lại của Đức Giêsu và việc ban cho Thần Khí trong Kinh Tin Kính, chúng ta khẳng định rằng Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống trước tiên, chính Đức Giêsu đã nhận được ơn sự sống ấy: Khi kéo Đức Giêsu ra khỏi quyền lực cửa cái chết, Thần Khí của Thiên Chúa vừa hoàn thành tốt đẹp một công trình của bậc thầy!
Trong hữu thể thụ tạo của chúng ta, vì chúng ta không phải là Thiên Chúa, chúng ta mang dấu ấn của sự hữu hạn tinh thần và thân xác chúng ta được liên kết vì điều tốt nhất và điều xấu nhất nhưng dù có mạnh mẽ đến đâu, tinh thần của chúng ta phải biết đến sự suy nhược. Sau cùng, không cho  phép nó giữ lại thân xác của nó: "làm người" cũng có nghĩa là phải chết! Nhưng trước vũ trụ được tạo thành ấy và do Đó phải chết, Đức Kitô không chỉ có những khả năng hạn chế của tinh thần con người mà thôi nhưng Người còn có những khả năng vô hạn thuộc về Thiên Chúa. Đứ Kitô có trong mình một Thần Khí hoàn toàn khác hẳn với thần khí (tinh thần) của con người luôn bị cái chết áp đặt:  Người có sẵn Chúa Thánh Thần như chủ tể và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống!
Đức Giêsu phá vỡ mọi rào cản. Sự xâm nhập thình lình của Người vào giữa các môn đệ Đóng kín của có nghĩa là Người không bị bất cứ trở ngại nào giữ lại để đến đứng giữa các người thân yêu của Người.
 Sáng hôm ấy, Người đã nhận một “hơi thổi” đặc biệt mới làm cho Người có một "thân thể tinh thần", một thân thể mà sự sống của Chúa Thánh Thần làm cho sống động (I Corintô 15,44). Trước khi ban Chúa Thánh Thần cho bạn hữu Người ngay sau Đó, Đức Giêsu đã được Thiên Chúa Cha làm cho sống lại, ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa (Công vụ 2,33) Chính Thánh Phêrô đã công bố sự mạc khải tuyệt vời ấy, trong ngày Hiện Xuống.
Phải, sự sống lại là một công trình của Thần Khí.
Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn.
Bạn tìm kiếm nơi sự sống lại xuất hiện chăng? Bạn thấy tìm ra sự hiện diện của Thần Khí là khó khăn? Vậy thì ngày hôm nay, bạn hãy thử khám phá ở đâu có các dấu đinh, các vết thương...có thể ở trong lòng bạn, trong đời sống cũng như trong thế giới hoặc trong Giáo Hội.
Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa người lại nói: "Bình an cho anh em!"
Các môn đệ từ nỗi sợ hãi đi qua sự bình an để đến niềm vui...
“Như Chúa Cha đã sai Thầy thì Thầy cũng sai anh em"
Họ đã tụ giam hãm trong căn phòng mà các cửa đều Đóng kín, còn giờ đây họ được sai đi...
Việc sai đi để thực hiện sứ mạng hoàn toàn không được quan niệm dưới góc độ một tổ chức nào Đó. Đó không phải là một "công việc" quảng cáo được khéo dàn dựng... và Đức Giêsu hoàn toàn không nhắm đến các phương tiện thực hành mà Giáo Hội phải tìm kiếm để trở thành "thừa sai”... Đối với Đức Giêsu, chỉ có một điều đáng kể: Nguồn gốc của sứ mạng ấy... và Đó là "mối liên hệ thân mật liên kết Đức Giêsu với Chúa Cha”. Thật ra, chỉ có một sứ mạng: Sứ mạng của Chúa Cha, cũng là sứ mạng của Đức Giêsu và trở thành sứ mạng của Giáo Hội.
Nói xong, Người thổi hơi vào các ông bà bảo:
Ở đây Gioan sử dụng một ngôn ngữ Kinh Thánh, ám chỉ đặc biệt hai bản văn nổi  tiếng: 
-Sự sáng thế đầu tiên: “Thiên Chúa thổi hơi vào mũi một luồng hơi đem lại sự sống" (Sáng Thế 2,7)
-Sự sáng thế sau cùng: "Hơi thổi trên những bộ xương khô, và họ sống lại". (Êdêkien 37,9).  
Đã có sự sáng thế của quá khứ sự sinh ra của sự sống lúc bắt đầu thời gian...sẽ có sự sáng thế của tương lai, sự sống lại lần cuối vào ngày sau hết... nhưng luôn luôn có sự sáng thế trong hiện tại. Hơi thổi của Thiên Chúa đang hoạt động hiện nay tôi tin vào Chúa Thánh  Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống! Hơi thổi ban sự sống! Các bạn không thấy là hoàn toàn tuyệt diệu khi mô tả sự Hiện diện của Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống!
Hơi thổi ban sự sống! Các bạn không  thấy là hoàn toàn tuyệt diệu khi mô tả sự hiện điện của thiên Chúa và hoạt động của Người trong trần gian bằng sự việc  phổ biến nhất và nền tảng nhất: Sự hô hấp! Mọi sinh vật, từ vi trùng cho đến loại dã thú to lớn đều cùng hít thở khí ôxy được ban cho mọi sinh vật ở xung quanh hành tinh của chúng ta... và tôi cũng hít thở hơi thở của mọi sinh vật. Đó chính là hình ảnh cảm động của Thiên Chúa duy nhất làm tất cả chúng ta được sống. Đức Giêsu cũng đã dùng hình ảnh đơn giản ấy để nói với Niôđêmô rằng gió muốn thổi đi đâu thì thổi và Đó là thần khí làm cho sống! (Gioan 3,6)
“Anh em hãy nhận lấy..."
Tôi cầu nguyện trên chỉ mỗi từ này thôi. Tâm thức hiện đại không thích "nhận": Ngày nay, người ta từ chối phụ thuộc vào người khác. Đó là tội lỗi tiêu biểu nhất: Tự mãn về mình như những thần linh nhưng điều Đó không thuộc quyền con người! Dù muốn hay không muốn, con người phải sống phụ thuộc, hoàn toàn phụ thuộc: Để sống, con người phải nhận sự sống..Tôi nhận sự sống từ cha mẹ tôi. Tôi nhận sự sống từ không khí mà tôi thở tôi nhận sự sống từ mặt trời ban cho tôi lương thực tôi phụ thuộc vào cả ngàn thu, cả ngàn con người, vào rất nhiều điều kiện...
"Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Thầy..."
Phải nhận Mình Thánh Đó thôi! 
"Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần..." Phải nhận lấy Thánh Thần ấy!
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con biết tiếp Đón, chấp nhận và nhận lấy ơn mà Chúa ban cho con.
Nhân loại phải nhận sự cộng hữu Thánh thần ở giữa Chúa Cha và Chúa Con tuy nhiều nhưng chỉ có một. Như thế chúng ta khám phá ra rằng trong sứ mạng của Giáo Hội không chỉ có Chúa Cha và Chúa Con mà Chúa Cha sai đi, nhưng là mầu  nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Công động Vaticăn II nói Giáo Hội là sự mở rộng nơi các nhân vị cộng đoàn tình yêu đã  kết hiệp Ba Ngôi Thiên Chúa.
“Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha;  anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”.
Vai trò của Giáo Hội, sứ mạng của Giáo Hội là loan báo sự tha thứ, sự cứu chuộc! Sự phát triển ý tưởng của bài đọc này trong Tin Mừng của Gioan  làm xúc động:  một cộng đoàn của những con người đã có kinh nghiệm về Đấng Phục Sinh...
-Sự sai đi truyền giáo của cộng đoàn ấy xuất phát từ kinh nghiệm nói trên.
- Sự ban cho Thần Khí sẽ làm cho sứ mạng truyền giáo trở thành có thể   
- Sự truyền giáo ấy, là truyền đạt sự Cứu chuộc, Tha thứ và Thánh Thiện...
Như thế, vai trò của Giáo Hội làm sự giải phóng! Đó là ban tặng tình yêu vô cùng của Thiên Chúa. Công thức song song, ở thể phủ định, rõ ràng  không có nghĩa là Giáo Hội có thể thực hành một thứ quyền độc đoán. Câu hỏi không bao giờ là: "Có  phải Thiên Chúa sẽ tha thứ cho tôi?" Thập giá của Đức Giêsu đã trả lời cho câu hỏi ấy nhưng than ôi, vẫn còn lại câu hỏi: "Có phải tôi sẽ "nhận lấy  sự tha thứ ấy không?"
 
 

HiệnXuống-11. GIÁO HỘI KHAI SINH

“Chúng con hãy  nhận lấy Chúa Thánh Thần”
Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
 

Năm 27, khi thánh Phaolô đến Êphêsô, ngài ặp một số giáo dân tiên khởi chưa bao giờ nghe: HiệnXuống-11

Năm 27, khi thánh Phaolô đến Êphêsô, ngài ặp một số giáo dân tiên khởi chưa bao giờ nghe nói đến Chúa Thánh Thần, “Chúng tôi không nghe nói đến Chúa Thánh Thần” (Tv 19,2). Ngày nay, chúng ta nhiều tín hữu có biết gì hơn không? Việc Chúa Thánh Thần đến hôm nay một cách huy hoàng trên các thánh Tông đồ là một biến cố vĩ đại của chương trình cứu chuộc  trong giai đoạn đầu.
Từ ngày xa xưa, trong ngày tạo dựng, Thánh Thần Chúa đã bay lượn trên sóng nước. Lịch sử nhân loại từ nguyên tổ đã được thánh linh hướng dẫn. Thánh Thần Chúa đã xâm nhập vào các tổ phụ, các tiên tri, các cua Chúa, các nhà lãnh đạo để xây dựng dân Chúa mà chóp đỉnh là Chúa Giêsu thành Nagiarét. Ngài được Cựu Ước mang bởi phép Chúa Thánh Thần, trong cung lòng trinh nữ Maria, được Thánh Linh xuống trên giòng sông Giođan và theo dòng dõi trong cả đời cho đến ngày tử nạn và vinh quang Phục sinh.
Lịch sử để cứu rỗi đó còn tiếp tục qua lịch sử nhân loại và ngày hôm nay lại khai mở một giai đoạn mới khi Chúa Thánh Thần hiện xuống cách huy hoàng vĩ đại trên một nhóm người và biến cải họ trở nên một cột trụ một tập đoàn mới là Hội Thánh. Hôm nay trong tiệc ly họ chỉ có 120 người, nhưng rồi đây sẽ lan truyền khắp thế giới, trở thành Giáo Hội hoàn vũ.
Vậy, ngày lễ Chúa hiện xuống là ngày khai sinh Giáo Hội. Giáo Hội là tập đoàn dân Chúa gồm những vị chủ chiên và đoàn chiên.
Hôm nay Chúa Thánh Thần đã thánh hóa tất cả bằng lửa, bằng gió, bằng lời. Lửa đã sáng soi nung nấu; Gió để đẩy mạnh; Lời để chinh phục, cải hóa. Từ đây Chúa Thánh Thần sẽ cảm hóa soi sáng các vị lãnh đạo Giáo Hội. Mội quyết định quan trọng đều được thể hiện bằng hai yếu tố: “Thánh Thần và chúng tôi”(Cv 15, 28).
Từ đây, Thánh Thần sẽ thánh hóa mọi chi thể Giáo Hội, sẽ hiện diện bằng các ơn đặt biệt mà Gioan mô tả trong cuộc hiển linh đầu tiên của Chúa trong buổi chiều Phục sinh. Chúa sẽ ban xuống qua Thánh Thần: Ơn bình an, gồm tóm tất cả mọi ơn huệ Đấng Messia mang đến: “Bình an cho chúng con”. Thánh Thần sẽ tiếp tục sứ mạng của Chúa: Ơn tha tội “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha. Các con cầm buộc ai, thì người ấy sẽ bị cầm buộc”. Một quyền năng kinh khủng, quyền năng đóng mở cửa nước Trời.
Đó là những ân huệ mà Chúa Giêsu để lại cho các môn đệ và cả Hội Thánh khi Ngài thổi hơi trên họ và phán: “Chúng con hãy nhận lấy Thánh Thần”. Cũng một làn hơi ấy, cũng một thánh Linh ấy ngày xưa ban lượn trên sóng nước, tạo dựng nên vũ trụ, trái đất, thì ngày nay cũng tác tạo nên một trời mới và đất mới vậy.
Trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta nhìn thấy hành động của Chúa Thánh Thần trong các nhà lãnh đạo Giáo Hội, như Ngài soi sáng cho ĐGH Gioan XXIII quyết định khai mở Công Đồng Vaticanô II vào một thời điểm mà chính Ngài cũng không nghĩ tới. Hoạt động bất ngờ của Chúa Thánh Thần cũng xảy ra đối với các phần tử Giáo Hội. Trên một chuyến tàu “chợ” tại Calcuta Ấn Độ, đang rề rề chuyển bánh trong đêm tối, giữa đám hành khách nghèo đang lắc lư ngủ gật, có một người đàn bà đang lần hạt. Đó là bà mẹ Têrêsa. Bà kể rằng như có một sức mạnh gì xâm nhập vào tôi, và tôi quyết định lập một dòng tu hiến thân cho người nghèo. Bà khởi công với ba đồng bạc Ấn Độ. Ngày nay dòng thừa sai Bác Ái của bà đã lan tràn khắp thế giới. Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong mọi thành phần Giáo Hội.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến đổi mới trong ngoài chúng con.
 
 

HiệnXuống-12. Suy Niệm của Lm Trọng Hương

A. Hạt giống...
 

Cuộc hiện ra này xảy ra ngay buổi chiều ngày Chúa Giêsu sống lại. Trước khi Chúa Giêsu đến: HiệnXuống-12

Cuộc hiện ra này xảy ra ngay buổi chiều ngày Chúa Giêsu sống lại. Trước khi Chúa Giêsu đến, các môn đệ sợ hãi, đóng cửa trốn tránh. Nhưng khi Chúa đến, Ngài chúc các ông bình an và tâm trạng họ biến đổi: “Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa”. Chúa lại thổi hơi và ban Thánh Thần cho các ông và trao cho các ông quyền tha tội.
B.... nẩy mầm.
1. Người thổi hơi vào các ông và bảo:”Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”
Nhìn vào ngôi nhà đóng kín của các môn đệ, tôi hình dung ra ngôi nhà tâm hồn của mình. Tuy nó chật hẹp, mỏng manh, nhưng tôi muốn tìm sự an toàn trong đó, vì quanh tôi thật nhiều nỗi sợ: sợ tha nhân đến làm phiền, nhờ vả ; sợ mất thời gian ; sợ Thiên Chúa đến quấy động cuộc sống của tôi, cuộc sống đã quá quen đến độ thành nếp trong suy nghĩ và hành động.
Hôm nay Thánh Thần của đấng Phục Sinh đã đến. Ngài mở ra cho các môn đệ chân trời của cuộc sống mới, khiến các ông phải mở tung cánh cửa đang khép kín.
Thánh Thần cũng cho tôi can đảm để mở rộng cõi lòng, giật tung chiếc mặt nạ để tôi có thể hồn nhiên đến với tha nhân. Ngài cho tôi sự bình an để có thể mở nụ cười, có thể giang tay nối kết với mọi người.
Và trong tôi giờ đây, một nụ hoa hé mở.
Lạy Chúa, xin cho con biết hân hoan nhận lãnh Thánh Thần của Chúa. (Epphata)
2. Khi ban Thánh Thần cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã thổi hơi trên các ông. Chúa Thánh Thần là hơi thở, một thân xác không còn hơi thở là một xác chết. Ngược lại, cũng như khi Thiên Chúa tạo dựng nguyên tổ, một khối bùn đất hình người co hơi thở thổi vào thì liền trở thành một người sống.
Cuộc sống của tôi và của cộng đoàn tôi nhiều khi giống như một cái xác lờ đờ, rất cần có hơi thở Thánh Thần để thực sự có sức sống.
3. Một hướng dẫn viên đi trong sa mạc Ả rập được ca tụng là không bao giờ lạc đường. Anh luôn ôm theo một con chim bồ câu khôn lanh, dưới chân buộc sợi dây nhỏ. Mỗi khi nghi ngờ hướng đi, anh thả chim ra và nó sẽ mau mắn chỉ đường cho anh. Nên anh được mệnh danh là ”người chim".
Thánh Linh cũng là một Bồ câu thần thiêng chỉ đường cho ta nếu ta bước theo Ngài.
4. Trong quyển “Thập giá và dao găm”, mục sư Wilkerson ghi lại những lời tự thuật của một trùm du đảng tên Joe đại ý như sau: người ta đã giảng rằng Chúa Thánh Thần là Sự An Ủi. Trước đây, tôi chỉ biết có mỗi một sự an ủi là rượu mạnh và ma tuý. Nhưng một số người nói còn có sự an ủi từ trời đến có thể khiến lòng người được thanh thản. Tôi đã cố gắng tìm… tôi kêu xin Chúa giúp… và sau cùng CTT đã được ban cho tôi. Lòng tôi thanh thản vô cùng, đến nỗi tôi không cần đến rượu mạnh và ma tuý nữa.
 
 

HiệnXuống-13. “BÌNH AN CHO CÁC CON…”

Bình an cho các con”: Lời chào này Chúa nhắc tới hai lần, cách nhau có mấy câu. Theo Tin: HiệnXuống-13

“Bình an cho các con”: Lời chào này Chúa nhắc tới hai lần, cách nhau có mấy câu. Theo Tin Mừng Thánh Gioan (12,27;16,33) trong những lời thân mật và tha thiết từ biệt các môn đệ, Chúa đã nhắc tới sự bình an, và nay Chúa đến ban thực sự.
Điều khiến ta ngạc nhiên là trong khi phần đông con người lo lắng hoặc tỏ vẻ uất ức trước bản án tử hình họ phải gánh chịu, thì trải qua hai ngàn năm lịch sử Giáo Hội, những môn đệ Chúa, những người sẵn sàng đổ máu hy sinh vì Chúa vẫn luôn tỏ thái độ bình tĩnh, biểu lộ một tâm hồn đầy bình an, trước bản án đó.
Khi nghe tin mình sắp bị chém đầu, Thánh Phêrô Đoàn Công Quý (tử đạo ngày 31-7-1857, 33tuổi) đã bình tĩnh sáng tác bài thơ sau đây gửi thân mẫu của mình (Thân phụ của cha đã qua đời), những câu thơ nói lên sự bình an vui mừng của một người sắp được chết vì Chúa.
“Dầu trăng trói, gông cùm tù rạc,
Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề,
Niềm vui, lòng cam chịu một bề
Cho trọn đạo trung thần hiếu tử
Chí non dốc đền công ơn Chúa
Dạ con hằng báo nghĩa mẹ cha.
Xin mẫu từ chớ phút phiền hà,
Một cam chịu cho danh Cha cả sáng…”
Thừa sai Định vừa đi khỏi, thì quân lính ập vào nhà ông trùm Phụng. Cha Quý ẩn nấp dưới nhà sàn. Quan ra lệnh cho ông Phụng phải nộp đạo trưởng như đã có mật báo. Ông Phụng dõng dạc trả lời không có ai là đạo trưởng người tây phương cả. Quan đe dọa nếu không tuân lệnh thì ông Phụng sẽ bị đánh đòn. Thấy lính sắp sửa đánh đòn chủ nhà, cha Quý tự ra nhận mình là đạo trưởng. Quan không tin, nói:
“Không phải mày, mày phải nộp cho Tây Dương Đạo Trưởng mới được.”
Cha Quý đáp:
“Không có đạo trưởng người Tây ở đây, tôi chính là đạo trưởng, tôi hãnh diện làm việc giảng đạo cho đồng bào muốn nghe tôi.”
Quan thấy cha Quý còn trẻ nên không tin, quay hỏi 1 em nhỏ 10 tuổi nuôi ông trùm Phụng. Em gan dạ không chịu khai báo gì. Quan quất cho em mấy roi, bắt phải khai chỗ ẩn của đạo trưởng người Tây. Đứa nhỏ chỉ vào cha Quý và nói:
“Chính ông này là đạo trưởng”
Lính liền nói cha Quý, ông Phụng và 32 giáo hữu giải vể Thị trấn Châu Đốc.
Tại phiên tòa cha hỏi cha Quý:
“Thầy là người thanh Liêm, nhân từ, đức hạnh, tại sao lại mê theo tà đạo, hãy nghe tôi mà bỏ đạo đi.”
Cha Quý trả lời:
“Dạ, bẩm quan, tôi là người giảng dạy đạo, sao lại có thể bỏ đạo được? Vả nữa, đây là chính đạo, vì chỉ dạy các điều tốt lành, chớ không phải là tà đạo, như quan hiểu lầm đâu”.
Quan ra lệnh tống giam Cha Quý và ông trùm Phụng. Sau đó dùng nhiều phương kế dụ dỗ, dọa nạt, tra tấ, để cả hai thay đổi ý định, nhưng cả hai vẫn trung kiên với Chúa Kitô. Sau cùng quan thảo bản án, trảm quyết, gửi về kinh đô.
Bảy tháng trong ngục, Cha quý động viên các bạn tù, cử hành Bí tích, nguyện gẫm và đọc kinh Mân Côi chung với họ. Trong số gíao hữu đến thăm cha, có cả Linh mục cải trang vào giải tội, và cho hai chứng nhân rước Mình Thánh Chúa.
Ngày 30 tháng 7 năm 1859, bản án trảm quyết cha Phêrô Quý được gửi về kinh đô vào đến Châu Đốc cùng với bản án xử giảo (xiết cổ) ông trùm Emmanuel Phụng. Sáng hôm sau 31 tháng 7, Linh mục Phêrô Đoàn Công Quý và ông trùm Lê Văn Phụng được dẫn ra pháp trường Chà Và. Hai vị bước đi bình thản: Cha Quý vừa đi vừa đọc kinh Mân Côi.
Hai vị Thánh tử đạo quỳ xuống cầu nguyện. Cha Quý giải tội cho ông trùm. Sau ba tiếng chiêng ngân vang, vị Linh mục bị chém đầu, còn ông trùm bị xiết cổ bằng dây thừng.
Thi hài hai vị tử đạo được an táng tại nhà thờ Năng Gù. Năm 1959 được cải táng về chủng viện Cù Lao Giêng, nhân dịp bắt chu niên cuộc tử đạo.
 
 

HiệnXuống-14. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì: HiệnXuống-14

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái . Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em !" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em !"
"Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em."  Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
Có lẽ các môn đệ vẫn tiếp tục họp lại căn phòng, nơi đã tổ chức bữa ăn mừng lễ Vượt Qua theo lệnh của Chúa. Nhưng họ đã họp mặt trong bầu không khí đầy sợ hãi. Họ kinh hoàng vì đã biết sự cay cú độc ác của dân Do thái vừa giết Chúa, và các môn đệ sợ rằng tiếp theo sẽ tới phiên họ. Họ đã họp lại trong sự sợ hãi, sợ từng tiếng chân đi ngoài hành lang, từng tiếng gõ cửa, e có tay sai của Tòa Án Tối Cao đến bắt họ. Đang lúc đó, thình lình Chúa Giêsu hiện ra giữa họ . Ngài chào họ bằng lời chào thông thường của người Đông phương: "Bình an cho các ngươi" Câu ấy mang ý nghĩa nhiều hơn là "cầu mong cho các ngươi khỏi lo lắng, bối rối". Nó có nghĩa là  "Nguyện Chúa Trời ban cho các ngươi mọi điều tốt lành". Sau đó Chúa Giêsu ban cho các môn đệ một mệnh lệnh, sự sai phái mà Hội Thánh chẳng bao giờ được quên.
1. Ngài phán rằng Thiên Chúa đã sai Ngài thế nào, Ngài cũng sai họ y như vậy. Điều ấy gồm ba ý nghĩa:
a) Chúa Giêsu cần Hội Thánh: đúng như thánh Phaolô muốn nói khi gọi Hội Thánh là "Thân thể Chúa Giêsu ". Chúa Giêsu đến trần gian với một thông điệp cho mọi người, bây giờ Ngài trở về cùng Thiên Chúa Cha. Thông điệp ấy sẽ chẳng bao giờ đến được với mọi người nếu Hội Thánh không loan truyền. Hội Thánh phải là cái miệng nói thay cho Chúa, là đôi chân đi những nơi Ngài cần đến, là đôi tay để làm công việc của Ngài. Thông điệp của Chúa Cứu Thế được đặt vào tay Hội Thánh . Vậy ý nghĩa trước nhất trong câu truyện này là Chúa Giêsu tùy thuộc vào Hội Thánh .
b) Hội Thánh cần Chúa Giêsu: một sứ giả cần phải có người phái mình đi, cần có sứ điệp để mang đi, người ấy cần có người để nhờ cậy khi nghi ngờ và gặp khó khăn. Vì thế, Hội Thánh cần Chúa Giêsu , nếu không có Ngài, Hội Thánh sẽ không có thông điệp, không có năng lực, không có ai để nương cậy khi bị chống đối, không có gì để soi sáng cho tâm trí, thêm sức cho đôi tay, khích lệ cho tấm lòng. Vậy, câu này có nghĩa là Hội Thánh lệ thuộc vào Chúa Giêsu .
c) Nhưng ở đây vẫn còn một điểm khác nữa: việc Hội Thánh được Chúa Giêsu sai phái song song với việc Ngài được Thiên Chúa sai phái. Không ai đọc ký thuật của Gioan mà không thấy tương quan giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha luôn luôn dựa trên sự vâng phục trọn vẹn và tình yêu trọn vẹn của Chúa Giêsu . Chúa Giêsu làm sứ giả của Thiên Chúa chỉ vì Ngài vâng phục và yêu thương Thiên Chúa cách trọn vẹn. Do đó, Hội Thánh cũng chỉ làm sứ giả, công cụ cho Chúa Giêsu khi Hội Thánh yêu thương và vâng lời Ngài thật trọn vẹn. Hội Thánh không thể ra đi loan thông điệp của chính mình, mà phải loan truyền thông điệp của Chúa Giêsu . Hội Thánh không thể ra đi với chính sách nhân tạo của mình, mà phải vâng theo ý muốn của Chúa Cứu Thế . Bất cứ lúc nào cố sức dựa vào sự khôn ngoan và năng lực riêng để giải quyết vấn đề mà không tìm cầu ý muốn và hướng dẫn từ nơi Chúa Giêsu , Hội Thánh sẽ thất bại.
2. Chúa Giêsu hà hơi trên các môn đệ để ban Thánh Thần. Khi nói như vậy, Gioan chắc chắn đang nhớ lại câu truyện sáng tạo con người. Tác giả xưa đã viết: "Chúa Giavê bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sinh linh" (St 2,7). Đó cũng là bức tranh mà Êzêkiel đã thấy trong thung lũng đầy hài cốt khô, ông nghe Chúa Trời phán với gió: "Hỡi hơi thở, khá đến từ gió bốn phương thở trên những người bị giết, hầu cho chúng nó sống" (37, 9). Khi Thánh Thần Chúa đến, có sự sáng tạo mới, như đánh thức sự sống từ trong cái chết. Khi Chúa Thánh Thần giáng trên Hội Thánh , Hội Thánh được đánh thức và tái tạo để thi hành nhiệm vụ của mình.
3. Chúa Giêsu phán với các môn đệ : "Các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha; các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại". Muốn hiểu đúng câu này, chúng ta phải thận trọng. Một điều vô cùng chắc chắn: người không thể tha tội cho người, nhưng có một việc khác cũng chắc chắn không kém: đặc quyền lớn lao của Hội Thánh là đưa thông điệp về sự kiện Thiên Chúa tha tội đến với mọi người. Giả sử có người đem tin đến cho chúng ta, sự đánh giá tin ấy lệ thuộc vào mức độ sứ giả có biết rõ người cho tin hay không. Nếu có người lý giải ý tưởng của một người khác cho chúng ta, giá trị của lời lý giải hoàn toàn tùy thuộc vào sự thân cận của người ấy với người kia.
Các tông đồ có thẩm quyền hơn hết để đem thông điệp của Chúa Giêsu đến cho nhân loại, vì họ biết Chúa Giêsu rõ nhất. Nếu họ biết người nào thật lòng ăn năn tội, họ có thể tuyên bố cách chắc chắn sự tha tội của Chúa cho người đó. Cũng vậy, nếu biết trong lòng người đó không thật sự ăn năn hối lỗi, hoặc lạm dụng tình yêu thương và lòng nhân từ của Thiên Chúa , các tông đồ có thể nói với người đó rằng, người đó sẽ không được tha cho đến khi lòng người đó thay đổi. Các tông đồ làm điều đó không phải nhân danh mình, nhưng nhân danh Đấng đã sai phái mình. Câu này qui định nhiệm vụ của Hội Thánh là truyền đạt sự tha tội đến những tấm lòng biết ăn năn hối lỗi, và cảnh cáo những kẻ không chịu ăn năn hối lỗi là họ đang đánh mất lòng nhân từ của Thiên Chúa . Trong công thức hòa giải, vị giải tội luôn luôn đọc: "xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho ơn tha thứ và bình an..."
 
 

HiệnXuống-15. LẠY CHUÁ THÁNH THẦN, XIN NGỰ ĐẾN.

Tommy Harmon là trung vệ nổi tiếng của đội túc cầu ở đại học Michigan trong những năm: HiệnXuống-15

Tommy Harmon là trung vệ nổi tiếng của đội túc cầu ở đại học Michigan trong những năm 1939-1940. Trong khi lái máy bay ném bom trên vùng rừng nhiệt đới Brasil trong trận thế chiến thứ hai, Harmon và ba bạn đồng hành đã bắt buộc phải nhảy dù ra khỏi máy bay. Chàng rơi xuống một  cây cổ thụ làm vỡ chai nước duy nhất. Nhờ có chiếc địa bàn, chàng di chuyển về hướng đông, hứơng về biển. Rừng nhiệt đới rậm rạp không lối đi, đầy cây leo, gai góc, những cây cổ thụ với rắn rết và thú rừng. Chàng phải lội qua những đầm lầy tới thắt lưng. Đôi chân cứng cát đá banh đã giúp chàng vững vàng trong những ngày phải cố gắng vượt bực này. Nhưng lòng tin còn giúp sức cho chàng hơn nữa. Chàng cầu nguyện liên tục .
Cuối cùng chàng phát hịên được một con đường mòn qua bụi gai dầy đặc. Harmon đi theo con đường đó, gặp một túp lều của thổ dân địa phương. Người này đã chỉ cho chàng lối về thành phố. Khi được hỏi làm thế nào mà chàng tìm ra lối thoát, trong khi những người khác thường chết đói hay bị thú dữ ăn thịt, thì Harmon đáp: “Chúa Thánh Thần ngự trong linh hồn tôi. Tôi đã được nhận dồi dào Chúa Thánh Thần trong ngày chịu bí tích Thêm sức. Tôi vẫn hằng cầu xin Chúa Thánh Thần hứơng dẫn tôi. Tôi cũng liên lỉ lần hạt Mân côi. Tôi đã đọc hàng triệu lần “Kính Mừng Maria”. Tôi tin chắc rằng Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ đã dẫn đưa tôi về bình an.
Phần đông chúng ta có thể nói như Harmon: “Chúa Thánh Thần ngự trong tôi, Ngài đã được ban dồi dào cho tôi, ngày tôi lãnh bí tích thêm sức”. Nhưng bao nhiêu người trong chúng ta có thể nói như Harmon: “Tôi vẫn hằng cầu xin Chúa Thánh Thần để Ngài hứơng dẫn tôi ?”
Hôm nay chúng ta cử hành lễ hiện xuống, khi Chúa Thánh Thần ngự xuống tràn ngập trên các tông đồ. Biến cố đó xảy ra cách đây gần 2000 năm. Còn bạn và tôi hôm nay thế nào ? Hôm nay Chúa Thánh Thần đến với chúng ta thế nào ? Đối với chúng ta, lễ Hiện Xuống là ngày chúng ta lãnh Bí tích Thêm sức, có thể cách đây một vài năm hay 50 năm. Chúng ta cần làm sống lại những hồng ân cao cả được ban cho chúng ta lúc đó. Những ơn ấy có khi chúng ta đã quên, có khi chúng ta không xử dụng, nhưng mà hôm nay chúng ta cần.
Như  Harmon, chúng ta thấy mình ở trong rừng rậm của những vấn đề - tiền bạc, sức khỏe, quyền lợi, thất nghiệp, cám dỗ. Như các tông dồ trước lễ hiện xuống, chúng ta không biết phải làm gì như họ, chúng ta không có can đảm làm gì. Nhưng lễ hiện xuống đã đến, chúng ta đã được thêm sức, chúng ta trở nên thông suốt và can đảm như các tông đồ.
Chúa Thánh Thần là ánh sáng giữa tối tăm là niềm an ủi trong lúc âu lo, là nghỉ ngơi trong lao nhọc. Là mát mẻ trong lúc nóng nực, là ấm áp trong giá lạnh. Chúa Thánh Thần chữa lành trái tim và ý chí chúng ta, hướng dẫn chúng ta đi khỏi trệch đường. Phải, Ngài ban cho chúng ta niềm vui bất tận, Ngài giao hoà chúng ta với Thiên Chúa và đồng loại. Ngài đổi mới tâm hồn chúng ta, như Ngài đã làm cho Tommy Harmon, nếu chúng ta cầu xin Ngài.
Chúng ta lãnh nhận bí tích Thêm sức đã lâu rồi. Điều đó không có nghĩa là Chúa Thánh Thần đã đến rồi bỏ đi, không có nghĩa là tất cả đã xong rồi. Không, như Tommy Harmon, chúng ta có thể nói rằng: Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta hôm nay. Giờ với chúng ta hôm nay. Ngài sẵn sàng giúp đỡ chúng ta hôm nay, Ngài ở với chúng ta trong thánh lễ này, cùng với Chúa Cha và Chúa con, sẵn sàng hướng dẫn chúng ta, nếu chúng ta cầu xin Ngài.
Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.
 
 

HiệnXuống-16. CHÚA THÁNH THẦN LÀ NGUYÊN LÝ HỢP NHẤT

 Sợi chỉ đỏ
GỢI Ý GIẢNG
1. Lưỡi lửa
 

Bài tường thuật của Sách Công vụ hôm nay là đối trọng của bài tường thuật tháp Babel thời: HiệnXuống-16

Bài tường thuật của Sách Công vụ hôm nay là đối trọng của bài tường thuật tháp Babel thời Cựu Ước.
Ngày xưa, ở Babel, con cháu ông Nôe đang nói cùng một thứ tiếng, nghĩa là đang hiểu nhau và đoàn kết với nhau, bỗng dưng để cho tính kiêu ngạo xúi dục muốn xây một cái tháp cao hơn trời để so ra mình cao hơn Thiên Chúa, nên đã bị phạt khiến họ nói nhiều thứ tiếng, người này không còn hiểu người kia nữa, và chia rẽ nhau.
Chuyện tháp Babel ngụ ý rằng khi con người không quy tụ quanh Thiên Chúa thì sẽ chia rẽ nhau, không hiểu nhau và không thông cảm cho nhau.
Hôm lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần sửa lại sự hư hại đó: tất cả mọi người dù thuộc những dân tộc và những ngôn ngữ khác nhau nhưng đã hiểu nhau. Nhờ đâu? Nhờ chính Chúa Thánh Thần, nguyên lý đoàn kết và hiệp nhất.
2. Lưỡi lửa mà con người hôm nay cần
Nói là một sinh hoạt cần thiết trong cuộc sống chung: hằng ngày khi gặp người khác, chúng ta chào nhau, hỏi thăm nhau trao đổi ý kiến với nhau, thảo luận, tranh luận v.v. Chính vì để phục vụ cho sinh hoạt cần thiết này mà khoa học mỹ thuật ngày nay đã phát minh ra máy khuếch âm, máy ghi âm, điện thoại v.v.
Nhưng nói với nhau là một chuyện, còn hiểu nhau là một chuyện khác. Hai chuyện này chưa hẳn luôn đi đôi với nhau. Nói với nhau thì nhiều nhưng hiểu nhau chắc không được bao nhiêu. Dịch một ngoại ngữ thì dễ hơn là hiểu được ý thật, lòng thật của người đang ở sát bên cạnh mình.
Có đặt mình trong bối cảnh như thế, chúng ta mới thấy được "lưỡi lửa" mà bài sách Cv hôm nay mô tả là cần thiết thế nào cho con người hôm nay. Ngày xưa, những người có mặt hôm lễ Ngũ tuần tuy nói nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng đều hiểu nhau. Đó là hiệu quả bởi "lưỡi lửa" của Chúa Thánh Thần. Lưỡi hình lửa là tiếng nói của tình yêu. Tiếng nói chân thật nhất là tiếng xuất phát tứ cõi lòng. Tiếng nói dễ hiểu nhất là tiếng của tình yêu.
Xin "lưỡi lửa" hiện xuống tràn đầy trong mỗi người chúng ta và trong cộng đoàn chúng ta.
3. Thổi hơi
Bài tường thuật tạo dựng loài người trong sách Sáng thế kể rằng sau khi Thiên Chúa đã lấy bùn đất nắn thành hình người, Ngài đã thổi hơi vào đó, và thế là con người đầu tiên xuất hiện. "Hơi thở" của Thiên Chúa chính là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là nguyên lý tạo dựng.
Nhưng con người đã phạm tội, bị đuổi khỏi vườn Địa đàng, hạnh phúc ban đầu đã bị đánh mất. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại thổi hơi trên các tông đồ. Phải chăng đây cũng là một đối ảnh của câu chuyện trong sách Sáng thế? Và nếu đúng là thế, thì hôm nay Thiên Chúa lái tạo lại con người, cũng bằng "hơi thở" là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần cũng là nguyên lý của sự tái tạo.
4. Hiệp nhất trong đa dạng
Giáo Hội ngày nay là một Giáo Hội đa dạng: đủ thứ linh đạo, đủ loại dòng tu, đủ cách làm tông đồ, quá nhiều hội nhóm, quá nhiều khuynh hướng, quá nhiều ý kiến...Có những kẻ bi quan đã cho rằng Giáo Hội đang trong thời kỳ khủng hoảng. Nhưng thực ra, sự đa dạng này thể hiện một sức sống phong phú.
Nhưng miễn là đa dạng đừng đẫn tới chia rẽ và chống đối phá hại nhau. Miễn sao đa dạng mà vẫn hiệp nhất.
Muốn được như vậy, chúng ta phải lưu ý tới những giáo huấn rất sâu sắc của Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay:
-Mỗi người, mỗi nhóm hãy ý thức rằng "đặc sủng" của mình là ơn ban của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là tài sản hay tài năng riêng của mình.
-Đừng khó chịu, trái lại hãy vui mừng khi thấy những người khác, nhóm khác cũng được ban cho những đặc sủng khác. Đó là dấu Chúa Thánh Thần. yêu thương Giáo Hội.
-Tận dụng "đặc sủng" Chúa Thánh Thần ban để góp phần mình vào việc xây dựng Giáo Hội, đồng thời ý thức rằng đó chỉ là một phần nhỏ mình góp cho Giáo Hội nên vẫn tôn trọng phần góp của người khác và hy vọng Giáo Hội được nhiều người khác góp phần xây dựng hơn nữa.
5. Chúa Thánh Thần Đấng bi quên lãng
Chúa Thánh Thần là Đấng bị quên lãng. Đúng vậy, Thiên Chúa có 3 Ngôi là Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thế nhưng thường chúng ta chỉ nhớ tới Chúa Giêsu và Chúa Cha thôi, ít khi nhớ tới Chúa Thánh Thần.
Thế nhưng CTT lại là Đấng rất kỳ diệu, Ngài mà hoạt động nơi ai thì làm phát sinh biết bao điều kỳ diệu nơi người đó. Ngài mà hoạt động nơi nào thì cũng làm phát sinh biết bao điều kỳ diệu ở nơi đó. Xin đan cử 2 bằng chứng.
-Bằng chứng thứ nhất là đoạn sách CvTđ mà chúng ta vừa nghe: CTT hoạt động nơi các tông đồ. Trước đó các tông đồ đã từng theo Chúa Giêsu 3 năm, đã từng nghe biết bao lời dạy dỗ của Chúa Giêsu, đã từng thấy biết bao phép lạ của Chúa Giêsu. Nhưng con người của các ông hầu như chẳng chịu ảnh hưởng tốt nào cả: vẫn lo tranh dành quyền lợi, vẫn sợ chết nên trốn kín trong nhà. Thế rồi CTT ngự đến trên các công và sau đó các ông được biến đổi hẳn: nhiệt thành với Tin Mừng, can đảm rao giảng Tin Mừng. Có ai ngờ một người như Phêrô đã từng run sợ chối Chúa bây bẩy trước những tên đầy tớ của vụ Thượng tế mà bây. giờ lại đứng ra trước một đám đông rao giảng hùng hồn khiến cho liền ngay sa đó có 3 ngàn người xin theo đạo.
Bằng chứng thứ hai là một bức thư rất đặc biệt. Bức thư này là của một cô gái nước ngoài gởi cho một LM. LM này trước đó có biên thư cho cô gái để trình bày những khó khăn trong bổn phận của mình. Cô gái biên thư khuyên vị LM ấy hãy can đảm, hãy cầu nguyện và mỗi ngày hãy dâng lễ sốt sắng. Cô gái còn cho biết nếp sống hằng ngày của cô: ngoài những giờ làm ăn, cô tranh thủ thời giờ đi dạy giáo lý cho 2 lớp tại một trường học, buổi tối cô tham gia cầu nguyện với một nhóm giáo dân từ 8 đến 0 giờ. Một cô gái giáo dân mới hơn 20 tuổi mà nhiệt thành làm việc tông đồ như vậy và còn nhiệt thành đến nỗi đám đưa ra những lời khuyên dạy đối với một LM! Do đâu mà cô nhiệt thành sốt sắng như vậy? Thưa vì cô đang sinh hoạt trong một nhóm giáo dân giúp nhau sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Nghe những bằng chứng trên, chắc chúng ta cũng mong muốn CTT hoạt động nơi chúng ta để làm những điều kỳ diệu nơi chúng ta. Nhưng làm sao để được như vậy? Xin đề nghị 2 điều:
 -Một là chúng ta hãy cầu nguyện cùng với CTT. Chúng ta đã cầu nguyện rất nhiều. Nhưng khi cầu nguyện chúng ta chỉ nói cho Chúa biết mình đang sống như thế nào, mình đang cần những ơn gì và xin Chúa ban ơn đó cho ta. Cầu nguyện như vậy là sai lầm, vì đâu phải nhờ chúng ta nói mà Chúa mới biết chúng ta cần gì. Chúa là Đấng biết tất cả mọi sự kia mà. Điều quan trọng nhất không phải là ta nói cho Chúa biết ta muốn gì, mà là xin Chúa cho ta biết Chúa đang muốn gì nơi ta. Do đó ta phải cầu nguyện cùng với CTT, để CTT soi sáng cho ta biết ý Chúa và giúp ta sau đó làm theo ý Chúa. Có cầu nguyện như vậy thì sau dó cuộc đời ta mới biến đổi.
-Điều thứ hai có liên quan tới việc Xưng tội. Trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, có một điểm hơi lạ. Đó là CG vừa ban CTT vừa ban quyền tha tội cho các tông đồ: "Chúng con hãy nhận lãnh Thánh Thần, chúng con tha tội cho ai..." Tại sao CG ban CTT và ban ơn tha tội chung nhau? Thưa vì 2 điều đó liên hệ chặt chẻ với nhau. Nói cách khác, nếu chúng ta muốn lãnh BTGT cho có hiệu quả tốt thì chúng ta phải Xưng tội cùng với CTT.
Ta hãy nhìn lại cách xưng tội bấy lâu nay của chúng ta. Mỗi khi xưng tội chúng ta làm 5 việc: một là xét mình xem mình có những tội gì; 2 là sau đó đọc một kinh ăn năn tội; 3 là vào toà xưng tội, kể cho kỹ hết mọi tội đừng sót tội nào; 4 là nghe cho rõ Cha giải tội dạy đọc bao nhiêu kinh; 5 là trở ra đọc cho hết bấy nhiêu kinh đó. Rồi trở về. Kết quả như thế nào? Chúng ta thấy an tâm hơn đôi chút. Nhưng cũng sống bình thường như trước, cũng phạm lại bấy nhiêu tội ấy, lần sau đi xưng tội cũngxưng bấy nhiêu tội ấy. Nghĩa là hầu như không có gì thay đổi. Xưng tội cùng với CTT nghĩa là trong phản xét mình trước khi vào toà xưng tội, chúng ta hãy xét mình cùng với CTT, xin Ngài soi sáng cho ta chẳng những thấy được mình đã phạm những tội gì mà còn tại sao mình phạm những tội đó; xin CTT soi sáng cho ta thấy những tội mà mình không thấy, Td nhiều người đâu có nghĩ rằng việc mình đang tính kế hại người là có tội, nhiều người đâu có nghĩ việc mình sống ích kỷ với nhà hàng xóm là có tội. Xưng tội cùng với Chúa Thánh Thần nghĩa là sau khi xưng tội chúng ta xin CTT soi sáng cho ta biết từ nay mình phải sửa đổi như thế nào. Có như vậy mỗi lần chúng ta đi xưng tội xong, cuộc sống của mình mới thay đổi tốt đẹp hơn.
6. Chúa Thánh Thần, Đấng biến đổi.
Bài trích sách Tông đồ Công vụ thuật lại biến cố ngày Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các tông đồ có nhiều điều rất phi thường: gió thổi ào ào như giông tố, những cục lửa có hình như cái lưỡi đậu trên đầu mỗi vị, sau đó các tông đồ nói tiếng lạ nghĩa là chỉ cần nói một thứ tiếng mà đủ mọi sắc dân khác nhau đều có thể hiểu. Những điều phi thường đó khiến cho đám đông dân chúng bở ngỡ kinh hoàng... Rồi hàng ngàn người đã xin lãnh phép Rửa Tội
Nhưng điều quan trọng không phải là những. Biến cố phi thường ngoạn mục đó, mà chính là một cuộc biến đổi bên trong các tông đồ, rất âm thầm nhưng lại rất toàn diện: các ông là những người đã từng sát cánh ngày đêm với CG; cùng ăn, cùng đi, cùng làm với CG suốt 3 năm trời, được CG dạy dỗ rất nhiều, được chứng kiến biết bao việc làm của CG... Nhưng vốn tầm thường các ông cũng vẫn còn là những kẻ tầm thường. Tầm thường đến nỗi Thầy vừa bị bắt là tất cả bỏ chạy tan hoang, trốn chui trốn nhủi trong phòng đóng kín cửa không ai dám ló đầu ra ngoài. Tại sao thế? Vì bấy lâu nay các ông đi theo Chúa với tính toán vụ lợi, các ông hiểu giáo lý của Chúa một cách phàm tục: Đi theo Chúa như đi theo một chính trị gia đang lên hương với hy vọng. Sau này tới ngày thành công sẽ được chia chác địa vị quyền lợi; Chúa dạy giáo lý về nước Trời mà các ông thì chỉ hiểu về một nước thế tục. Cái chết của CG đã làm tiêu tan mọi tham vọng chính trị, những quyền lợi các ông mong chờ cũng thành mây khói luôn, và cả sự an toàn của bản thân các ông cũng dang bị đe doạ nữa. Vì thế các ông sợ sệt, ẩn trốn.
Khi người ta theo Chúa với đầu óc vụ lợi, thì người ta tầm thường.
Chúa Thánh Thần đến làm một cuộc thay đổi toàn diện: thay đổi lối nghĩ, lối nhìn, lối hiểu, lối tính toán của các ông: Hiểu giáo lý của Chúa cách siêu nhiên hơn chứ không phàm tục như trước nữa; từ đó các ông quyết định vẫn theo Chúa nhưng không phải vì tính toán vụ lợi mà vì tình yêu hy sinh xả thân hoàn toàn. Cuộc thay đổi ấy đã giúp các ông hết tầm thường, biến các ông trở nên những kẻ trung thành, những cột trụ của Giáo Hội, đến nỗi dù đe đoạ, dù tù đày, dù tra tấn, dù gươm giáo, các ông cũng vẫn can đảm và hăng say loan truyền niềm tin vào Chúa.
Ngày nay chúng ta mừng lễ CTT hiện xuống, điều chính yếu chúng ta mong ước cũng không phai là có những hiện tượng lạ gió thổi ào ào, lưỡi lửa trên đầu và nói tiếng lạ...mà chúng ta mong chờ chính sự biến đổi sâu xa và toàn diện ấy trong tâm hồn chúng ta.
Đó cũng chính là ý tưởng của ĐGH Phaolô VI trong bài huấn dụ của Ngài hôm 29.11.1972. ngài mô tả trong Giáo Hội có nhiều người theo đạo chỉ vì óc vụ lợi và hiểu giáo lý một cách phàm tục. Chính vì thế mà theo Ngài, Giáo hội ngày nay cần có một lễ Hiện Xuống mới, để xin trích dẫn nguyên văn lời Ngài "làm cho Giáo Hội được sống động, như có một luồng gió thiêng liêng làm căng buồm con thuyền GH, là nguồn suối bên trong ban tràn đầy ánh sáng và sức mạnh cho GH..."
Chắc chúng ta cũng ở trong tình trạng của các tông đồ trước ngày được CTT Hiện xuống. Chúng ta cũng đã từng theo đạo mười mấy, hai ba chục năm trời, đã từng Rửa tội, đã bao nhiêu lần xưng tội rước lễ, đã từng lãnh bí tích Thêm sức, đã bao nhiêu lần nghe giảng dạy đủ mọi điều giáo lý, Tin mừng.. nhưng con người của chúng ta vẫn cứ mãi tầm thường. Đầu óc chúng ta còn đầy tính toán vụ lợi và tinh thần phàm tục: chúng ta theo đạo để xin Chúa ban ơn cho mình, được làm ăn thành công, được khỏi nỗi buồn khổ này, được đạt đến niềm mơ ước kia.
Rồi khi nào cầu xin không được hay cứ gặp khốn khó thì ta chán muốn bỏ đạo, khi gặp nguy hiểm thì ta trốn chui trốn nhủi, không dám đến nhà thờ như các tông đồ xưa trốn kín trong phòng không dám ló đầu ra. Chúng ta cũng cắt nghĩa giáo lý theo kiểu cách phàm tục, không muốn tin những điều siêu nhiên, mầu nhiệm về TC, về linh hồn, về thiên đàng hỏa ngục, về bí tích ; chúng ta đòi hỏi GH có những giải pháp dễ dãi cho cuộc sống và chống dối những chỉ dẫn của GH mà ta cho là khắt khe; chẳng hạn về việc vợ chồng ly dị, về các phương pháp ngừa thai v.v....Tóm lại, giữ đạo một cách vụ lợi và phàm tục như thế nên cuộc sống đạo của chúng ta nó thờ ơ, thụ động, dật dờ làm sao ấy. Ta sống đạo nhưng sống như một cái xác không hồn, không hứng khởi.
Muốn cho các xác lờ đờ này thực sự có sức sống ta được hăng hái, tích cực, phấn khởi, thì cần phải có CTT hiện xuống trên chúng ta. CTT sẽ biến đổi chúng ta toàn diện như các tông đồ ngày xưa: làm cho chúng ta hiểu giáo lý Chúa một cách siêu nhiên hơn chứ không phàm tục như trước làm cho chúng ta theo Chúa không phải vì vụ lợi muốn được điều này điều nọ mà chỉ vì chúng ta thực sự tin Chúa, yêu Chúa và sẵn sàng hy sinh tất cả vì niềm tin yêu đó.
 
 

HiệnXuống-17. NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA CUỘC TẠO DỰNG MỚI

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ Chúa nhật
 

Phần đầu của Phúc Âm Chúa nhật này - năm nào ta cũng đọc lại- đưa ta đến “Sau cái chết: HiệnXuống-17

Phần đầu của Phúc Âm Chúa nhật này - năm nào ta cũng đọc lại - đưa ta đến “Sau cái chết của Đức Giêsu” vào buổi chiều “ngày thứ nhất trong tuần”, ngày qui tụ phụng vụ của các Kitô hữu, thời gian thuận tiện để Chúa hiện diện giữa cộng đoàn mà Người qui tụ để chia sẻ Lời và Bánh, và để sai họ đi vào thế giới.
Trong trình thuật, ta gặp lại 3 thời gian đặc biệt của tiến trình phục sinh.
1. Sáng kiến của Đấng Phục Sinh “đến” thăm.
2. Nhận biết Đức Giêsu đang sống thắng vượt cái chết.
3. Sứ mệnh nhận từ Đấng Phục Sinh.
Các môn đệ hội họp ở một nơi mà các cửa “đều đóng kín... vì họ sợ người Do Thái”, tức là chức quyền tôn giáo ở Giêrusalem. Có lẽ qua việc xác định rõ ràng này, tác giả muốn nói tới cảnh bắt bớ mà những người nghe Phúc Âm phải chịu: bị loại ra khỏi Hội Đường vì họ nhận Đức Giêsu là Kitô. Dần dà, họ tìm những địa điểm họp riêng, tránh ánh mắt của những kẻ bắt bớ.
Trong lúc họ họp nhau, Đức Giêsu tới với họ “Đức Giêsu đến và ở giữa họ”. Lời đầu tiên của Người là lời chúc bình an: “Bình an cho các con” (Shalom). Ơn cứu độ không chỉ là một lời chúc lịch sự, nhưng là ơn cứu độ có hiệu quả, của niềm vui, và niềm bình an.
- Nhận Đức Giêsu sống vượt qua cái chết.
Đức Giêsu cho họ xem: “Tay và cạnh sườn Người” (đối chiếu với ngọn giáo của Gioan). Marchadour bình luận: “Dấu vết của việc đóng đinh trên tay và cạnh sườn Đức Giêsu chứng tỏ rằng, dù những điều kiện lạ lùng trong các cuộc tỏ mình ra của Đức Giêsu, tác giả Phúc Âm không muốn các độc giả lầm Chúa với một bóng ma, nghĩa là một người khác với Đấng chịu đóng đinh. Chắc chắn, sự hiện diện thể lý bình thường của Đức Giêsu không còn nữa, nhưng Đấng ngự giữa họ vẫn là Chúa Giêsu, nghĩa là cũng vẫn là Đấng mà họ đã biết và đã yêu, nhưng từ nay đã biến hình đổi dạng qua cuộc phục sinh. Sợ hãi tiêu tan, các môn đệ tràn đầy niềm vui.
- Sứ mệnh nhận từ Đấng phục sinh.
Sự hiện ra của Đấng phục sinh không có một mục đích tự thân. Nó khai mở ra một sứ mệnh: sai đi, với sức mạnh của Thánh Linh, đem cho mọi người tin mừng về ơn tha thứ của Thiên Chúa. “Như Cha đã sai Thầy thế nào, Thầy cũng sai các con như vậy”. Nói thế rồi Người thổi hơi trên các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha...”.
A. Marchadour bình luận: Đó không phải chỉ là một so sánh, đó chính là một nền tảng, một cội rễ. Các môn đệ được sai đi (nguyên ngữ là: trở thành tông đồ) để nối dài hoạt động của Đức Giêsu... Như Thiên Chúa đã thổi hơi thần khí của Người vào Ađam (St 2,7), như Thánh Thần xuống trên Đức Giêsu (1,33-34), Đức Giêsu mà Thiên Chúa đã tôn phong làm Đức Chúa, cũng thổi hơi (cùng một động từ như ở St 2,7) sức mạnh của Thánh Thần trên các tông đồ... Như Thiên Chúa, rồi như Đức Giêsu kẻ được Thiên Chúa sai đi, các môn đệ tha thứ tội lỗi, nghĩa là thanh tẩy tội lỗi trong sức mạnh của sự chết của Đức Giêsu.
2. Tới Chúa nhật
Sự vắng mặt của Tôma vào ngày thứ nhất trong tuần cho phép tác giả Phúc Âm dẫn nhập vào màn kế tiếp, “tám ngày sau”. Típ người tiêu biểu cho sự cứng lòng, ông từ chối xếp mình vào hàng ngũ chứng nhân của các tông đồ khác và ông nghi ngờ Đức Giêsu phục sinh: ông đòi “thấy” và “sờ” rồi mới “tin”.
Thế là Đức Giêsu đến một lần nữa, ngôn ngữ dùng miêu tả cũng như lần hiện ra trước. Đức Giêsu lại hiện diện, dù các cửa đều “khoá chặt”. Lại một lần nữa, người gởi lời chào phục sinh: “Bình an cho các con”. Một lần nữa, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Hơn nữa, Người nói với Tôma, nhấn mạnh đến tính cách liên tục và tính cách mạch lạc giữa tình trạng bị đóng đinh và tình trạng vinh hiển hiện tại: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, hãy xem tay Thầy, hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy”. Gérard Bessière thắc mắc: “Người tông đồ cứng lòng tin ấy có làm như thế không? Từ lâu người ta đã tranh cãi về điều ấy. Những bức hoạ thường chỉ vẽ Tôma đang giơ tay về phía những vết thương. Điều quan trọng ấy là lời nói thốt ra: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.
Và đây, tìm lại được đức tin, Tôma kẻ cứng lòng đã tặng Đức Giêsu danh hiệu lớn lao nhất của cả Phúc Âm:"Lạy Chúa là Thiên Chúa tôi”. “Một đỉnh cao mà các định nghĩa tín lý sau này không vượt qua nổi. Giữa “Ngôi Lời là Thiên Chúa” ở khởi đầu (1,1) và lời tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa và là Thiên Chúa”, không còn gì để nói thêm nữa. Càng rõ ràng hơn nữa khi kẻ làm chứng về chân lý này lại là kẻ không muốn tin vào lời chứng của các tông đồ.
3. Cho tới hôm nay:
Màn kịch kết thúc bằng một mối phúc hứa ban cho những ai sống trong thời đại vắng bóng sự hiện diện thể lý của Đức Giêsu, là chính chúng ta: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Mối phúc cuối cùng của các Phúc Âm, mối phúc của những kẻ tin. A. Marchadour nói tiếp: Đó là câu kết luận của cả cuốn Phúc Âm và nhắc lại một chủ đề lớn trong Do Thái giáo: Giữa điều thấy và điều tin, cảnh tượng và lắng nghe, sự trình bày và lời lẽ, chính từ thứ 2 tạo nên điều kiện bình thường và lý tưởng của tín hữu. Ngay cả những kẻ đã thấy cũng phải tin vượt quá điều họ thấy. Ngôi Lời, ngay từ phút giây trở thành “nhục thể” đã chỉ cho các môn đệ thấy “nhục thể”, nghĩa là nhân tính nơi lẽ ra ta phải “thấy Thiên Chúa tỏ mình ra trong vinh quang”. Chúng ta thật phúc đức, những người tiếp nhận Phúc Âm. Chúng ta không thấy, nếu, do lời chứng của các tông đồ mà ta gắn bó với Đức Kitô và trở thành tín hữu.
II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Thánh Thần sáng tạo, mọi sự khởi đầu là do Ngài” (F.Deleclos trong “Prends et manges la Parole” Cent. du Duculot 1992, p.38-40).
Sự ra đời của Giáo Hội được trình bày hai cách: một của Luca và một của Gioan.
Một bên là bão táp bên kia là trầm tư (recueillement) nhưng biến cố chỉ là một và sứ điệp cũng không khác nhau. Giáo Hội, tuy có các thành phần khác nhau, được rửa tội do cùng một Thánh Thần duy nhất để làm thành một thân thể. Trung tâm của biến cố là Thánh Thần. Một vai trò rộng lớn nhưng vô hình. Thánh Thần không có mặt nạ cũng không có khuôn mặt, nhưng Ngài ở khắp nơi. Những danh xưng về Ngài làm thành một kinh cầu dài đáng ngạc nhiên, và mỗi danh xưng gợi lên một trong những khía cạnh khác nhau do tác động của Ngài. Thánh Thần là lửa đốt cháy, than hồng ủ dưới tro. Ngài sôi lên như nước giòng thác. Ngài cũng là nguồn suối bình an. Người ta tìm thấy Ngài trong sấm sét, nhưng nhiều khi tiếng rỉ tai của Ngài chỉ là một hơi thở nhẹ. Ngài là bão tố nổi giận phá tan tất cả trên đường đi, Ngài là gió thoảng dịu dàng, luồng gió êm dịu.
Nhưng nếu mắt chúng ta không thấy được Ngài thì làm sao nhận ra sự hiện diện của Ngài? Bởi những việc làm mà Ngài linh ứng và hoa trái Ngài mang tới, người ta có thể đón nhận không sợ sai lầm.
Thánh Thần là Đấng sáng tạo: mọi sự khởi đầu là do Ngài, mọi sự mới mẻ cũng là do Ngài. Ngài là sự linh hoạt của chính Thiên Chúa, Ngài làm phát sinh và tái sinh Giáo Hội. Ngài thổi hơi sự sống và đổi mới mặt đất.
Khi virus của Babel phá tan sự hài hoà và làm phát sinh ra chống đối giữa các khác biệt, Thánh Thần đem lại sự duy nhất trong sự khác biệt, thúc giục sự hiệp thông trong sự bất đồng. Khi các rào cản dựng lên, Thánh Thần phá đổ. Có biên giới không? Ngài không biết? Bị các thói quen đe doạ chăng? Ngài rung chúng như rung một cậy mận. Ngài thích quấy rầy những gì đã được xếp đặt vững bềm và Ngài phóng đi những gì đã dừng lại.
Các minh hoạ không thiếu. Phải xem lại cuốn phim ngày lễ Ngũ Tuần. Đàn ông và đàn bà là chiến sĩ và là rường cột của Giáo Hội, đóng kín, ẩn náu dưới cánh cửa khoá chặt và tê bại bởi sợ hãi. Và này đây Thánh Thần sai họ đi mang sứ điệp tha tội, tội đã chia rẽ và làm tổn thương nhân loại. Ngài sai họ đi trong đám đông có đủ mọi hạng người, ở đó họ trà trộn và đối đầu với các ngôn ngữ và các nền văn hoá, để làm cho các ngôn ngữ, văn hoá đó tìm thấy sự hiệp thông duy nhất trong đức tin...
Nhưng sự ngần ngại luôn phải diễn dịch lại Tin Mừng mà tất cả đều hiểu, biết bao sự do dự nặng nề để đưa sứ điệp vào giữa lòng các não trạng, các môi trường, các nền văn hoá của thời đại chúng ta. Biết bao sợ hãi và từ chối khi Thánh Thần “nói với Hội Thánh!”.
2. “Với Chúa sống lại, một tạo dựng mới xuất hiện” (J.Guilleux, trong “Đức Giêsu trong đức tin của các môn đệ tiên khởi” Desclée de Brouwer, 1995, p. 235).
So sánh với khoảng trống mênh mông được mở ra nơi thánh Matthêu và Luca, cái nhìn hình như bị thu hẹp lại bằng một cử chỉ vừa quá đơn giản vừa có vẻ máy móc. Nhưng thật lạ lùng đối với một sứ mạng bề ngoài có vẻ giới hạn, Đức Giêsu lại làm một cử chỉ vừa rộng lớn, lại vừa quyết định như cử chỉ Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Bởi lẽ khi Ngài thổi hơi vào các môn đê, và nói “hãy nhận lấy Thánh Thần” (20,22) Ngài làm lại cử chỉ của Đấng Tạo hoá, thổi hơi vào lỗ mũi của con người đầu tiên và làm thành một con người sống (Ga 2,7).
Có lẽ phải hiểu với một tầm rộng lớn ý nghĩa tượng trưng của cử chỉ của Đức Giêsu cũng như tầm mức của lời Ngài, ấy là vấn đề khác hơn là một biến cố lớn nhất lịch sử chúng ta. Với Đức Giêsu sống lại, một tạo dựng mới hình thành, một trạng thái hoàn toàn mới của vũ trụ chúng ta. Dù bề ngoài có vẻ đơn sơ, sự tha thứ tội lỗi như là sự đáp trả lại do Đức Giêsu trước tội nguyên tổ. Tội đã đưa vào thế gian sự chết và sự gian dối.
Cũng như với lời sai đi vì sứ mạng, “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con đi” (Ga 20,21), phải hiểu các lời nói song song với nghĩa tròn đầy của chúng, lời nói mà trong Phúc Âm này, từ lời hứa bánh ban sự sống cho đến lời kinh vĩ đại, mở về cuộc khổ nạn, những lời luôn khẳng định rằng, giữa liên hệ duy nhất và không thể phá vỡ được, nối kết Cha với Con và liên hệ nối kết Con với các môn đệ, có một cái gì hơn cả sự kế thừa huyền diệu: một sự duy nhất đích thực và thần thiêng: “Như Cha hằng sống đã sai Thầy, và Thầy sống nhờ Cha, cũng vậy ai ăn Thầy người đó sẽ sống nhờ Thầy” (6,5) “Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, chớ gì chúng cũng nên một trong Ta” (17,21). Trong cái nhìn này, sứ mạng không phải là sự phát minh ra một khuôn mặt mới, nhưng là tình thương tràn đầy được làn rộng.
 
 

HiệnXuống-18. HAI CÁI THÁP

Một cái tháp vô tuyến truyền hình khổng lồ đứng cao chót vót trên đường chân trời của phía: HiệnXuống-18

Một cái tháp vô tuyến truyền hình khổng lồ đứng cao chót vót trên đường chân trời của phía đông thành phố Berlin. Ngay dưới cái tháp là một ngôi nhà hàng tròn xoay. Chính phủ Cộng sản đã có ý định làm nơi đây là một nơi triển lãm cho Tây phương. Thế nhưng, một sự không ngờ xảy ra làm dự định đó thành lúng túng: mỗi khi ánh nắng mặt trời dọi vào cái tháp một cách nào đó thì cái tháp hiện thành một cây thánh gía khổng lồ và lóng lánh. Chính phủ đã cố gắng sơn lại cái tháp để tẩy xoá cây thánh giá, nhưng vô hiệu.
Một sự việc tương tự xẩy ra tại thành phố Giê-ru-sa-lem sau cuộc đóng đinh Chúa Giê-su. Chính phủ đã hy vọng rằng cái chết của Chúa Giê-su trên thánh giá sẽ xoá nhoà cái phong trào Kitô giáo. Thế nhưng sự việc đã xẩy ra hoàn toàn ngược lại. Phong trào Kitô giáo bắt đầu lan rộng như một cuộc cháy rừng dữ dội. Nó lan rộng thật mãnh liệt đến nỗi tới năm 64 nó đã trở thành một lực lượng hùng hậu từ Rôma cho đến các nơi xa xăm khác. Nó trở thành thật hùng mạnh đến độ hoàng đế Rôma là Nê-rông đã vì thế mà biến nó thành một mục tiêu cho việc bách hại.
Làm sao Kitô giáo, trong 30 năm ngắn, phát triển từ một tia nho nhỏ đến một sức mạnh lớn lao? Câu truyện kinh ngạc đó được thuật lại trong sách Công vụ Tông đồ. Và điểm bắt đầu cho câu truyện kinh ngạc đó là những gì đã xẩy ra trong bài Phúc Âm hôm nay. Chúa Thánh Thần mà Chúa Giê-su đã hứa sẽ đến với các Tông đồ, hiện xuống trên họ trong ngày Ngũ Tuần và đã biến đổi các ngài. Những con người yếu đuối đã được biến đổi để trở nên những chứng nhân mà hôm nay chúng ta gọi là Hội thánh.
Thế nhưng Hội thánh không chỉ là một tập thể của các tín hữu thông phần cùng một niềm tin. Nó là thân thể Đức Ki-tô, chia sẻ cùng một sự sống. Thánh Phao-lô viết: “Hội thánh là thân thể Chúa Ki-tô” (Ep 1,23). Thánh Phao-lô cũng viết: “Chúa Ki-tô là đầu của thân thể là Hội thánh. Ngài chính là nguồn mạch sự sống của thân thể đó” (Cl 1,18). Vì thế, ngày Ngũ Tuần được gọi đúng là ngày khai sinh của Hội thánh mà thân thể phục sinh của Chúa Ki-tô được biểu lộ.
Hai điểm về ngày Ngũ Tuần cần phải được lưu ý. Điểm thứ nhất, ngày Ngũ Tuần là một đại lễ của người Do thái, một nghi thức tạ ơn, bao gồm sự ghi ơn vì giao ước Sinai. Ý nghĩa của ngày Ngũ Tuần là 50 ngày sau Lễ Vượt qua. Điều này giải thích tại sao người Do thái từ khắp nơi triệu tập về Giê-ru-sa-lem. Họ ăn mừng đại lễ của họ. Điều này cũng giải thích tại sao người Do thái nói được nhiều thứ tiếng tụ họp lại vào một lúc. Điểm thứ hai, ngày Ngũ Tuần phải được coi là một phản ảnh của câu chuyện tháp Baben trong Cựu ước. Trước khi xây cất cái tháp, tất cả đều nói cùng một thứ tiếng (St 11,1), thế nhưng khi người ta bắt đầu kiêu căng và họ bắt đầu xây cất cái tháp, Thiên Chúa “đã làm cho họ không còn hiểu được các thứ tiếng nói của nhau” và “tản mát họ trên toàn trái đất” (St 11,9).
Việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trong ngày Ngũ Tuần thay đổi hoàn cảnh này. Sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, những người thuộc các ngôn ngữ khác nhau tại Giê-ru-sa-lem hiểu được những gì các Tông đồ nói. Bài học đã rõ ràng. Những gì tội lỗi đã làm phân cách thì bây giờ được Chúa Thánh Thần nối kết. Thiên Chúa đã tái tạo thế giới và canh tân nó lại.
Về phần chúng ta, những gì Chúa Thánh Thần khởi xướng trong ngày Ngũ Tuần thì đã trao lại cho chúng ta để hoàn thành. Giống như các môn đệ của Chúa Giê-su trong Phúc Âm hôm nay, mỗi người chúng ta đã lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần một cách cá biệt qua bí tích Rửa Tội và Thêm sức. Và cũng giống như các môn đệ của Chúa Giê-su, chúng ta đã lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần cho mục đích nào đó. Chúng ta hãy ra đi và rao giảng Tin mừng cho mọi thụ tạo. Theo lời thánh Phao-lô trong bài đọc 2, chúng ta phải đưa mọi người vào “một thân thể” Chúa Ki-tô. Ở đó hết thảy chúng ta “đã được uống trong cùng một Thánh Thần”
Lời Chúa có ý nghĩa gì cho mỗi người chúng ta? Nó có nghĩa là chúng ta đóng một vai trò một cách cần mẫn trong công việc rao giảng Tin Mừng cho hết mọi người. Nó có nghĩa là chúng ta nâng đỡ công cuộc tông đồ truyền giáo của Hội thánh bằng tiền của và lời cầu nguyện. Nó cũng có nghĩa là chúng ta rao giảng Phúc Âm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Những gì chúng ta tuyên xưng trong ngày Chúa Nhật thì chúng ta phải đem ra thực hành và sống cho sáu ngày còn lại trong tuần. Nếu ai trong chúng ta cũng làm được như vậy, thì nhiều người sẽ tấp nập tới nhà thờ để cùng tham dự Thánh lễ với chúng ta.
Sau đây là một gương sống động. Những điều này được tìm thấy trong cuốn Nhật ký Nội chiến của Tổng thống Abraham Lincoln: “Trong tất cả các cách thức làm việc bác ái và từ thiện được thấy trong các nhà thương, các chị dòng Công giáo là một trong số những người thật thành công. Tôi không biết khi nào họ tới hoặc tên của nhà dòng họ là gì nhưng hình ảnh của các chị Dòng khiêm tốn làm những công việc từ thiện như đi phục vụ những người đau yếu và hấp hối thì đẹp hơn bất cứ thứ hình ảnh nào mà tôi đã thấy. Dịu hiền nhưng có sự can đảm của các chiến sĩ … họ đi từ nhà này sang nhà nọ … Các chị Dòng thật là các thiên thần của tình thương”.
Đây chính là công việc làm chứng mà Chúa Thánh Thần đã trao cho mỗi người chúng ta. Đây chính là công việc làm chứng mà chúng ta được kêu mời do bí tích Rửa tội và Thêm sức
 
 

HiệnXuống-19. MỘT CUỘC HIỆN XUỐNG MỚI

 -  Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR
Ga 20,19-23
 

Lúc nhỏ mỗi lần lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, tôi vẫn có những ấn tượng rất đẹp và rất: HiệnXuống-19

Lc nhỏ mỗi lần lễ Cha Thnh Thần Hiện Xuống, tơi vẫn cĩ những ấn tượng rất đẹp v rất mạnh bởi vì khi đọc đọan sch Cơng vụ tơng đồ 2, 1-11, tơi vẫn cảm thấy như cĩ một ci gì đĩ thật thơi thc v thc đẩy tơi sống lại biến cố Cha Gisu ban Thnh Thần cho cc tơng đồ v sai cc Ngi đi lm nhn chứng cho Cha khắp mọi nơi. Biến cố ny vẫn theo tơi từ lc cĩ trí khơn cho đến ngy nay, v chắc chắn cịn theo tơi mi mi đến muơn đời.Ngy lễ Ngũ Tuần thời xưa cũng l một cuộc hiện xuống mới hơm nay v mi mi…

NGY LỄ NGŨ TUẦN:
Dn Ít-ra-en được Thin Cha thương giải thốt khỏi ch nơ lệ Ai-cập, Cha ban cho dn mười giới luật để đĩng ấn giao ước giữa Cha v dn của Ngi. Dn Ít-ra-en đ mừng biến cố ny hết sức long trọng v hồnh trng 50 ngy sau lễ Vượt qua, nn ngy ny được gọi l lễ Ngũ Tuần.Biến cố ấn tượng v hết sức lạ lng ny được Sch Cơng vụ tơng đồ tường thuật lại một cch hết sức thuyết phục.” Cha Thnh Thần đ xuống trn cc Tơng đồ v Hội thnh mới được thnh lập “.Biến cố lễ Ngũ Tuần được Sch Cơng vụ tơng đồ diễn tả bằng những lời văn sống động gần giống cch tường thuật việc Thin Cha ban Lề Luật cho dn Cha trn ni Sinai. Với khí thế tưng bừng, no nhiệt, o ạt giĩ bo, Cha Thnh Thần trn ngập cộng đồn Hội Thnh tin khởi, gồm 11 mơn đệ Cha Gisu, Mẹ Maria, một số phụ nữ đạo đức v 120 tơng đồ ( Cv 1, 15 ). Trong ngy lễ Ngũ Tuần mọi mơn đệ, tơng đồ v những người hiện diện đều được trn đầy Thần khí v đều cất tiếng ca ngợi những kỳ cơng Cha đ lm, cao rao Lời Cha hứa ban ơn cứu độ nay đ nn thnh sự. Việc nĩi tiếng lạ l do Thần khí ban cho đ lm cho ngy lễ Ngũ Tuần rất sinh động. Cc Mơn đệ, cc Tơng đồ đ rao giảng đến nỗi ai cũng hiểu được ngơn ngữ của dn tộc mình l một điều hết sức lạ lng. Cc Ngi rao giảng sứ điệp của Cha, sứ điệp về Tin Mừng cứu độ. Hết thảy cc dn tộc nĩi ở đy l tất cả những người Do Thi bị tản mc khắp nơi trn khắp thế giới, nay trong ngy lễ Ngũ tuần qui tụ về Girusalem v họ đ nhận được Thần khí, do đĩ, họ đều ca ngợi Cha.

MỘT CUỘC HIỆN XUỐNG MỚI:
Ngy nay Thần khí Cha hiện diện khắp mọi nơi, mọi chỗ trn tồn thể thế giới. Tc động của Thần khí đảm nhận mọi nền văn hĩa ring biệt v đa dạng trong một Hội Thnh duy nhất, thnh thiện, cơng gio v tơng truyền. Sứ điệp Tin Mừng của Cha chỉ cĩ một nhưng đối với từng dn tộc thì sứ điệp ấy được rao truyền bằng ngơn ngữ của chính nước họ. Thần khí của Thin Cha cũng chỉ cĩ một nhưng ở nơi đu thần hứng được diễn tả bằng những phong tục, tập qun, văn hĩa của địa phương họ để một ngơn ngữ được diễn tả hợp với tư tưởng, suy nghĩ ph hợp với khẩu vị, truyền thống của từng dn tộc. Đĩ l việc hội nhập văn hĩa địa phương m Đức cố Gio Hồng Gioan – Phaolơ II đ viết: ” Khi đức tin chưa trở thnh văn hĩa, thì đức tin chưa được đĩn nhận trọn vẹn, chưa được suy tư đầy đủ, chưa được sống một cc trung tín”.Đức cố Gio Hồng Gioan 23, tức chn phước Gioan 23 đ mở Cơng đồng Vatican II: đy l cuộc Hiện Xuống mới. Cơng Đồng Vatican II đ ti thiết lập một cuộc hiện Xuống mới đầy thần khí trong một thế giới tưởng đang đi tới việc chối bỏ đức tin.

P DỤNG VO THỰC TẾ:
Thần khí của Thin Cha vẫn đang trn đầy khắp thế giới, nhưng mọi nước, mọi nơi cĩ biết lnh nhận Thần khí v cĩ biết ti hiện lại ngy lễ Ngũ Tuần trong Hội Thnh địa phương khơng ? Điều ny địi hỏi phải sống hội nhập văn hĩa. Bởi vì, mỗi nước, mỗi ngơn ngữ cĩ một cch diễn tả đức tin khc nhau. Mỗi ngơn ngữ đều cĩ nền văn hĩa ring biệt, người Au Chu cĩ cch diễn tả ring, người Phi Chu cĩ cch diễn tả của lục địa họ, người  Chu cĩ cch diễn tả ring của  Chu.Thần khí của Thin Cha luơn chan hịa v trn ngập thế giới ny, nhưng để đĩn nhận dược Thần khí lại l một chuyện địi hỏi con người phải biết mở lịng ra.
Hy nhìn vo thực tế, xưa cc mơn đệ Cha cũng đ được sống với Cha, được nghe Lời Cha, được chứng kiến cc php lạ Ngi lm, cc Ngi cũng đ phĩ thc cho Cha, tín nhiệm Cha, nhưng khi xẩy ra thử thch, cc mơn đệ cũng đ bấn loạn, Giuđa thì bn Cha, Phrơ thì chối bỏ Cha, cc mơn đệ khc bỏ chạy trốn. Phải đợi đến ngy Lễ Ngũ Tuần khi Cha Thnh Thần của Cha Gisu đến, cc Ngi mới thực sự được biến đổi hồn tồn.Mọi Kitơ hữu hy xin Cha Thnh Thần đến để biến đổi tm hồn mình v để ban cho mình một tri tim mới hầu mình cĩ thể lm chứng cho Cha tốt đẹp hơn.
Cch đy 2009 năm, Thần khí của Đức Kitơ phục sinh bắt đầu ngự trong tm hồn cc mơn đệ một cch đầy quyền năng. Hơm nay chng ta mừng ngy lễ ấy bởi vì Cha Kitơ phục sinh đang ở với nhn loại mọi ngy cho đến tận thế.
Lạy Cha Thnh Thần xin hy đến biến đổi tm hồn chng con. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

 

HiệnXuống-20. MNMTV/272 - CẢM NGHIỆM

Trong một tập truyện ngắn, nhà văn Hy Lạp Nikos Kazanzakis có kể lại cuộc gặp gỡ giữa một: HiệnXuống-20

Trong một tập truyện ngắn, nhà văn Hy Lạp Nikos Kazanzakis có kể lại cuộc gặp gỡ giữa một linh mục Chính thống tên là Manassê và một vị ẩn sĩ. Hai vị đàm đạo với nhau suốt ngày mà câu chuyện vẫn không chấm dứt. Vị ẩn sĩ có thói quen nhắm nghiền đôi mắt trong khi nói chuyện. Thấy thế, linh mục Manassê liền đề nghị ông hãy mở mắt ra, có mở mắt, ông mới thấy những kỳ công của Chúa, Nghe thế, vị ẩn sĩ trả lời: “Nhưng tôi nhắm mắt lại là để thấy Đấng đã thực hiện những kỳ công ấy”.
Chỉ với đôi mắt đức tin, con người mới cảm nhận và nhìn thấy Chúa Kitô Phục sinh. Đó là điều Chúa Giêsu muốn nói với  các môn đệ trong tin mừng hôm nay, được trích từ những lời giã biệt của Chúa Giêsu với các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly trước khi Ngài đi vào cuộc tử nạn. Chúa Giêsu xem cuộc tử nạn của Ngài như một cuộc ra đi trở về cùng Chúa Cha, vì sứ mệnh của Ngài đã hoàn tất. Nhưng sự ra đi của Ngài không phải là một vĩnh viễn từ giã cõi đời, mà là một hiện diện mới, và Thánh Thần chính là Đâng sẽ làm chứng về sự hiện diện mới ấy của Chúa Giêsu.
Chỉ trong Thánh Thần, nghĩa là trong đức tin, con người mới cảm nhận được sự hiện diện ấy của Chúa Giêsu, chỉ trong Thánh Thần, con người mới có thể hiểu biết về Chúa Giêsu. Đó là cảm nghiệm mà các môn đệ Chúa Giêsu có thể có được từ sau lễ Ngũ tuần. Trước đó, Chúa Giêsu Phục sinh đã nhiều lần hiện ra cho các ông, nhưng sự hiểu biết của các ông về mầu nhiệm của Ngài vẫn còn bị giới hạn. Chỉ sau khi Thánh Thần hiện xuống, các môn đệ mới cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục sinh và chân lý của Ngài mới sáng tỏ trong tâm hồn các ông. Chúa Giêsu đã khẳng định vai trò giáo dục của Chúa Thánh Thần khi Ngài nói với các môn đệ: “Khi thần chân lý đến, Ngài sẽ đưa các con vào tất cả sự thật”.
Chúa Giêsu là Lời trọn vẹn của Thiên Chúa nói với con người. Thiên Chúa đã nói với nhân loại qua người con Một của Ngài, nhưng lời ấy con người chỉ có thể đón nhận và lãnh hội trong và nhờ Thánh thần mà thôi. 2000 năm qua, Thánh Thần đã không ngừng hướng dẫn và soi sáng để Giáo Hội đào sâu giáo huấn của Chúa Giêsu. Cũng chính Thánh Thần ấy qua phép rửa ban cho môi Kitô hữu ơn hiểu biết về chân lý cứu rỗi và cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu Phục sinh.
Thánh Phaolô, tuy chưa từng được sống với Chúa Giêsu, nhưng nhờ Thánh Thần đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Đấng Phục sinh, đến nỗi đã thốt lên: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Chính do Thánh Thần tác động, con người mới cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh, cho nên thánh Phaolô khuyên chúng ta đừng dập tắt Thánh Thần. Đừng dập tắt Thánh Thần có nghĩa là luôn biết lắng nghe tiếng nói của Ngài trong đáy thẳm tâm hồn chúng ta. Là đền thờ của Thánh Thần, cho nên từ trong tâm hồn, chúng ta luôn nghe được tiếng nói của Ngài. Đừng dập tắt Thánh Thần có nghĩa là luôn mở rộng tâm hồn để đón nhận sự hiện diện và tác độn của Ngài trong mọi biến cố cuộc sống. Điều đó cũng có nghĩa là luôn nhìn vào cuộc sống bằng cái nhìn của lạc quan, tin yêu và hy vọng.
Nguyện xin Thánh Thần ban cho chúng ta một quả tim mới, một quả tim biết yêu thương và hy vọng, để cuộc sống chúng ta trở thành dấu chứng cho sự hiện diện của Đấng phục sinh.
 
 

HiệnXuống-21. MNMTV/00/370: HIỆN DIỆN

Trong cuốn sách có tựa đề: “Những bạn hữu của người phong cùi xuất bản năm 1997, cha: HiệnXuống-21

Trong cuốn sách có tựa đề: “Những bạn hữu của người phong cùi” xuất bản năm 1997, cha Rbondi đã chia sẻ kinh nghiệm như sau:
Năm đó, sau khi cơn động đất xảy ra, tôi bước ra quảng trường vốn là trung tâm của cộng đồng, tôi ngỡ ngàng khi nhận ra nhà thờ giáo xứ chỉ còn lại bốn bức tường. Tôi thốt lên: “Lạy Chúa, Chúa đang ở đâu ?” Rồi nhìn sâu vào phía đầu nhà thờ, tôi nhận ra ngọn đèn nhà tạm. Dường như có tiếng Chúa trả lời: “Ta đang ở với dân Ta dưới lòng đất”. Bỗng tôi nghe có tiếng kêu la và nói lộng ngôn của một người đàn ông đang quẳn quại trong đau đớn, dưới đống gạch vụn. Nhưng trong những giây phút cuối đời, người đó đã xin lỗi Chúa và đã tắt thở. Tôi chợt nhớ rằng chỗ của Giáo Hội là nơi nào có con người đang đau khổ và hy vọng.
Chúa Giêsu phục sinh có mặt trong cuộc sống con người mà chỉ có niềm tin mới cho phép chúng ta cảm nhận được. Đây là sự hiện diện mà Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trước cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ngài. Ngài đã nói với các môn đệ là Ngài sẽ sai Thánh Thần đến với các ông. Thánh Thần không đến để thay thế Ngài, nhưng để giúp họ cảm nhận được thế hiện diện mới mẻ của Ngài.
Quả thật, các môn đệ đã cảm nhận được sự hiện diện ấy trong những lần hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh. Ngài không đến như một người đã từng sống với các ông, nhưng dưới dáng vẻ của một người xa lạ. Xuất hiện một cách bất ngờ: khi thì như người làm vườn, lúc thì như người bộ hành hay một khách lạ trên bờ hồ. Qua cách xuất hiện như thế, Chúa Giêsu muốn thuyết phục các môn đệ Ngài đừng tìm kiếm sự hiện diện thần linh của Ngài, một sự hiện diện mà chỉ nhờ Thánh Thần và trong đức tin, con người mới cảm nhận được.
Từ hai ngàn năm qua, Giáo Hội đã có mặt như chính sự nối dài và hiện thực hóa sự hiện diện  của Chúa Giêsu. Qua và trong Giáo Hội, các Kitô hữu gặp gỡ và đón nhận sứ điệp thần linh của Chúa Giêsu. Nhưng cũng qua và trong Giáo Hội, đôi mắt đức tin của người Kitô hữu có thể mở rộng, để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong từng biến cố và gặp gỡ mỗi ngày.
Con người chỉ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh khi biết sống theo sự thúc đẩy của Thánh Thần tình yêu. Ước gì chúng ta luôn sống yêu thương để cảm mến được sự hiện diện của Ngài, và ngược lại, khi ý thức được sự hiện diện của Ngài trong tha nhân, chúng ta cũng được thúc đẩy để sống yêu thương.
 
 

HiệnXuống-22. NMS/85 - HIỆN XUỐNG

Một ông vua muốn thử tài trí thông minh của vị Tể tướng mình, bèn gởi tặng ba con búp bê: HiệnXuống-22

Một ông vua muốn thử tài trí thông minh của vị Tể tướng mình, bèn gởi tặng ba con búp bê vàng. Những con búp bê này hoàn toàn giống nhau về hình dáng, kích thước và trọng lượng. Nhưng vua truyền dạy là giá trị của chúng khác nhau: một con rẻ mạt, một con vừa phải và một con rất mắc, rồi hỏi “tại sao vậy ?”. Quan Tể tướng rất ngạc nhiên khi nhận được tặng phẩm và câu đố của vua. Ông bèn cho mời các cố vấn, bạn bè, người giỏi đến đoán xem ba con búp bê khác nhau chỗ nào, nhưng không ai giải đáp được. Dần dần tin này đồn nhanh khắp cả kinh thành, lớn bé già trẻ ai cũng biết. Trong số có một thanh niên nhà nghèo vì phạm một lỗi nhẹ mà phải ở tù, nghe tin liền nhờ trình lên Tể tướng rằng: nếu thấy tận mắt những con búp bê thì anh ta sẽ đoán ra và hễ nói đúng thì xin thả khỏi tù. Tể tướng chấp thuận, truyền dẫn chàng thanh niên đó đến trước ba con búp bê. Sau khi xem xét kỹ và nhận thấy ở tai mỗi con búp bê đều có dùi một lỗ nhỏ,
1. anh ta liền lấy một cọng rơm đút vào lỗ tai con thứ nhất thì thấy nó thò ra ở đàng mồm, đút con thứ hai thì thấy cọng rơm thò  ra tai kia, đoạn đút cọng rơm vào tai con thứ ba thì thấy xuyên vào bụng và nằm gọn trong đó. Thử nghiệm xong, anh ta mới giải thích: “Thưa Tể tướng, những con búp bê này giống hệt như người:
con thứ nhất tượng trưng cho loại người hay bộp chộp vừa nghe vừa thấy gì thì vội nói cho người khác biết. Loại người này không thể tin cậy được nên giá của nó rẻ mạt.
2. Con thứ hai giống người hay vô tâm, chểnh mảng, nghe tai này lọt tai kia. Loại người này khó tiếp thu lời của kẻ khác nên giá trị không đắt lắm.
3. Còn con thứ ba giống như người nghe gì thì để vào bụng mà suy nghĩ cân nhắc. Loại người này tốt đáng tin cậy nên giá nó đắt nhất”. Nghe xong cách giải thích hợp lý của chàng thanh niên, ai cũng khen ngợi. Riêng quan Tể tướng vừa vui mừng vì giải đáp được câu đố của nhà vua vừa khâm phục trí thông minh của chàng thanh niên nên ra lệnh tha.
Qua đó, chúng ta có thể rút ra được một kết luận quí giá cho cuộc sống là để đánh giá đúng về một người nào không chỉ căn cứ vào hình dáng, cách sống bên ngoài, mà còn phải lưu ý đặc biệt tới lối suy nghĩ, tâm tư bên trong nữa. Do đó, để biết một người khôn hay dại, tốt hay xấu, đáng tin hay không thì phải tìm cách nhận xét, đánh giá thật chính xác. Một trong những cách giúp ta nhận xét đúng là thử nghiệm về cách người ta nghe, tiếp thu như thế nào.
Thật vậy, mọi kiến thức mà con người có được phần lớn đều do việc biết nghe, biết nhìn nhận những gì xảy ra trong cuộc sống cách sáng suốt khôn ngoan. Vì thế, ai không biết nhìn, biết nghe để tiếp thu những gì tốt đẹp, hay ho thì khó mà trở thành người thông minh tiến bộ. Trái lại, kẻ nào biết chịu khó lắng nghe để học hỏi, biết khôn khéo tìm tòi để suy tư nghiền ngẫm, cân nhắc chọn lựa, rồi đem ra thực hành, chắc chắn sẽ là người thành đạt mỹ mãn.
Cũng vậy, trong con đường đạo đức, không phải bất cứ ai được lãnh nhận phép Rửa tội và các Bí tích khác, cố gắng tuân thủ các giới răn sơ sài, làm được một vài việc lành chiếu lệ là tự dưng trở thành người công giáo tốt. Thật là lầm to vì con người đâu phải là một cái máy vô tri vô giác, trái lại còn biết suy nghĩ để tự do lựa chọn; tôn giáo đâu phải chỉ là một mớ công thức, định luật cứ nhắm mắt làm là trở nên tốt và Thiên Chúa đâu phải là một cục đất sét bất động, trái lại Ngài là Đấng thấu hiểu mọi bí ẩn, biết rõ từng con người một. Dĩ nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, được Chúa thương cứu chuộc và ban cho đầy đủ mọi ơn lành, nhưng để được hạnh phúc vĩnh cửu, để trở thành thánh thiện đạo đức thì phải tự cố gắng đấu tranh, tự suy nghĩ, cân nhắc, tự sáng suốt chọn lựa giữa thiện – ác, tốt – xấu, phải – trái.
Nhưng muốn đấu tranh thành công, muốn vượt thắng được mọi xấu xa cạm bẫy, muốn chọn lựa đúng đắn, chúng ta phải biết nghe theo lời Chúa và sống theo những gì Ngài dạy. Vì Lời Chúa là chân lý, là cố vấn kỳ diệu, là khuôn vàng thước ngọc có sức đem lại cho con người sự sống đích thực, của ăn linh thiêng. Tuy nhiên, để Lời Chúa có cơ hội thuận lợi xâm nhập được vào cõi lòng, biến cải được tâm tư thì ta phải biết lắng nghe, biết say sưa nuốt lấy.
Thế mà, biết bao lần trong đời chúng ta đã nghe lời Chúa, nhưng thử hỏi được mấy ai thấm nhuần, ghi tạc và đem ra thực hành? Dĩ nhiên, không phải Lời Chúa hết linh nghiệm mà tại chúng ta là những con búp bê vô hồn. Chính vì vậy mà Chúa Giêsu, sau khi về trời, đã hứa ban Thánh Thần đến trần gian để soi sáng hướng dẫn, giúp con người biết nghe, biết sống Lời Chúa dạy.
Chúa Thánh Thần được ví như ngọn lửa để thiêu đốt mọi hư hèn, xấu xa, bẩn thỉu trong tâm hồn, để phá tan bóng tối của mù quáng lầm lạc đang bủa vây tâm trí, để sưởi ấm những trí lòng nguội lạnh đơn côi. Ngài còn được ví như ngọn gió mát xua tan mây mù tội lỗi, đem bình an đến cho ai đang đau khổ, gieo hy vọng cho những kẻ lầm than cơ cực. Ngoài ra, Ngài luôn ở bên ta bằng cách gợi cho ta sự hối hận khi phạm tội, thúc dục ta nhịn nhục chịu khó khi chu toàn trách nhiệm bổn phận, kêu mời ta mở lòng rộng lượng thứ tha khi bị xúc phạm, đốt lên trong ta ngọn lửa công bằng bác ái khi giao tế, gúp ta hướng tới sự trong sạch khi bị cám gỗ bủa vây.
Nếu mỗi người chúng ta không nhận lãnh Chúa Thánh Thần, không mau mắn mời Ngài đến viếng thăm thì chúng ta không thể nào đủ sức đương đầu thủ thách cám dỗ, đủ khôn ngoan sáng suốt lắng nghe, suy gẫm và thực thi những gì Chúa dạy. Vì như Chúa đã phán: “Không có Ta, các con chẳng làm được gì”.
 
 

HiệnXuống-23. NTDY/222 - KHAI SINH

Giải Nobel Hòa bình năm 2000 đã được trao cho tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-Jung, một: HiệnXuống-23

Giải Nobel Hòa bình năm 2000 đã được trao cho tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-Jung, một con người đã từ 30 năm nay đấu tranh không mệt mỏi cho công bằng, dân chủ và hòa bình.
Tổng thống Kim là một người công giáo, được Đức cố TGM Seoul rửa tội vào năm 1956. Trong một đất nước chỉ có 10% dân số là công giáo thì sự kiện này cũng đang nhắc nhở về sự dấn thân của Giáo Hội công giáo tại lục địa Á Châu này.
Phần thưởng này đã được các vị lãnh đạo và chức sắc tôn giáo ở Hàn Quốc hân hoan chúc mừng. Một vị Hòa thượng lãnh đạo một Tông phái Phật giáo lớn nhất ở Hàn Quốc nhận định như sau: “Tổng thống Kim Dae-Jung sẽ được ghi nhớ như một vị lãnh đạo nổi bật của thế giới”.
Lễ hiện xuống là lễ khai sinh một Giáo Hội truyền giáo. Và nỗ lực đấu tranh cho công bằng, dân chủ và hòa bình với danh nghĩa là người công giáo như Tổng thống Kim Dae-Jung chính là một công cuộc truyền giáo.
“Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. Rồi Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Các tông đồ đã nhận lãnh Thánh Thần để ra đi truyền giáo. Chính Thánh Thần đã làm cho các Ngài hoàn toàn đổi mới.
Từ chỗ không hiểu gì cả, thì nay các Ngài đã hiểu rõ tất cả.
Từ sự phát đảm run sợ, cửa đóng then cài, thì nay các Ngài mạnh dạn can đảm mở toang cửa ra.
Từ những dân chài ít học, thì nay các Ngài nói được nhiều thứ tiếng khác nhau.
Bằng chứng là Phêrô, trước đây run sợ trước câu hỏi của một cô đầy tớ, thế mà nay dám đứng lên rao giảng giữa những người đã giết chết Thầy mình, khiến cho 3000 người gia nhập Giáo Hội với chỉ một bài giảng duy nhất.
Không những các Ngài can đảm rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh, mà còn dám hy sinh cả tính mạng vì danh thánh ấy. Tất cả các Ngài đều đã chịu tử vì đạo. Và sau Phêrô, 39 vị Giáo hoàng tiên khởi đầu anh dũng chết vì đạo thánh.
Người ta tưởng các Ngài say rượu, nhưng thật sự thì các Ngài đang say Chúa.
Người ta nghĩ các Ngài điên dại, nhưng quả thật thì các Ngài đang đầy tràn Thánh Thần.
Lễ Hiện Xuống không chỉ là ngày khai sinh Giáo Hội, mà lễ Hiện Xuống vẫn còn tiếp diễn, nghĩa là Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong Giáo Hội. Người ta gọi công đồng Vatican II là một Lễ Hiện Xuống mới, một luồng gió mới đã thổi vào Giáo Hội để canh tân cho thích hợp với tốc độ chóng mặt của thế giới ngày nay.
Công đồng đã long trọng khẳng định: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Đức Gioan Phaolô II nhận định: “Đã đến lúc phải dốc toàn lực trong Giáo Hội vào một cuộc loan báo tin mừng mới và vào sứ vụ đến với muôn dân. Không một ai trong những người tin vào Đức Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả này: đó là loan báo Đức Kitô cho mọi dân tộc”.
Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ sau khi tham dự hội nghị toàn thể lần thứ bảy liên hội đồng Giám mục Á Châu đã có cảm nhận rất sâu sắc này: “Giáo Hội tại Châu Á phải là một Giáo Hội truyền giáo”. Ngài giải thích: “Vì Chúa Giêsu là người Châu Á, Giáo Hội Thiên Chúa đã được phát sinh tại Châu Á, và ý định của Thiên Chúa là cứu độ hết mọi người, thế mà hôm nay lại rất ít người Châu Á biết Chúa và tin theo Chúa’’. Quả thật, tại Châu Á, đông dân nhất năm châu mà chỉ có 3% dân số tin theo Chúa. Đó là nỗi ray rứt của mỗi người chúng ta, mà cũng là thách thức từng ngày của mỗi tín hữu Kitô.
 
 

HiệnXuống-24. Sr. Magdalena Oanh, MTGQN

Chúa Thánh Thần Hiện Xuống
 

Có một báu vật được mọi thời đại trân trọng kiếm tìm đó là Tình Yêu. Con người có thể sống: HiệnXuống-24

Có một báu vật được mọi thời đại trân trọng kiếm tìm đó là Tình Yêu. Con người có thể sống nghèo, sống vơi tật nguyền, sống phận vô danh, nhưng con người không thể sống trọn chữ "người" khi họ không cảm nhận tình yêu trao dâng, tình yêu nhận lãnh. Chính vì thê mà trước lúc rời các môn đệ trở về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu đã ân trao báu vật Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. "Ngài thở hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần" (Jn 20,22). Thật vậy, Chúa Thánh Thần là Tình Yêu vĩnh cửu Thiên Chúa hằng tuôn ban trên nhân loại, đặt biệt cho thời đại chúng ta đang sống. Thời đại được mệnh danh: thời đại của Chúa Thánh Thần. Vậy bằng cách nào chúng ta nhận ra ơn Chúa Thánh Thần soi dẫn trong từng biến cố cuộc đời?
Đọc lại Tin Mừng hôm nay, chúng ta sẽ dần khám phá ra lộ trình của Chúa Thánh Thần đến với môn đệ xưa. Khi hiện ra, Chúa Giêsu "chúc bình an" cho môn đệ. Đức Giêsu muốn chuẩn bị tâm hồn các môn đệ trước khi mời họ cùng cộng tác với Ngài tiếp nối sứ mạng cứu độ, để ngay sau đó Ngài trao ban Thần Khí cùng lời truyền dạy: "Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" (Jn 20, 23). Như vậy, để nhận được ơn Chúa Thánh Thần đòi buộc chúng ta hai điều kiện cốt lõi: tâm hồn bình an và lòng nhiệt tâm dấn thân vì nước Chúa. Tâm hồn bình an trong Đức Giêsu không dựa vào sự an ninh vật chất, điều kiện sống, sự an nhàn thư thái. Bình an của Đức Giêsu là sự tĩnh lặng sâu thẳm của một tâm hồn khiêm hạ đang sẵn sàng đón nhận ý Chúa nơi từng biến cố. Tâm hồn an bình thật loại trừ những tư kiến, tư lợi hẹp hòi, dễ dàng đón nhận thiện ý từ tha nhân, biết trọng tài năng đa dạng của những người cộng tác, như các chi thể trong cùng nhiệm thể Đức Kitô. Bên cạnh đó tâm hồn an bình thật còn tiềm ẩn khát vọng hướng thiện. Khát vọng đốt cháy trần gian bằng tình yêu tự hiến của Đức Giêsu. Khát vọng này trở thành hơi thở của Đức Giêsu Phục Sinh. Hơi thở đem lại Ngôi Ba Cực thánh, Đấng khai sinh Giáo Hội trong sự sống mới, "Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung" (1Cr 12,7). Như vậy, chính nhờ chìa khóa an bình và lòng nhiệt thành vì nước Chúa, chúng ta sẽ mở tung cách cửa tâm hồn đón nhận ánh sáng soi dẫn của Thần Khí Chúa, để Ngài đồng hành với chúng ta xuyên qua nghịch cảnh phận người cách bền bỉ, tín trung và đầy lòng yêu mến.
Lạy Chúa Thánh Thần,
Xin là ngọn lửa hồng đến tiêu hủy những thói hư, ý riêng trong con, trong cộng đoàn Giáo Xứ, trong Giáo Hội, và thắng sáng đức cậy - đức mến, để qua đó ánh sáng Đức Giêsu Phục Sinh được tỏa lan cho môi trường chúng con sống.
Xin là hơi thở Phục Sinh của Đức Giêsu đến dạy chúng con biết sống quảng đại, thuận hòa và liên đới với nhau xây dựng Giáo Hội Chúa ngày thêm thánh thiện.
Xin là cánh chim hòa bình trong lòng chúng con, trong lòng thế giới để hướng dẫn nhân loại đến chân trời công lý hòa bình đích thực. Amen.
 
 

HiệnXuống-25. CHÚA THÁNH THẦN Lm Quang Diệm, CMC

Một gia đình có đông con trai nhưng chúng đánh nhau tối ngày. Vào một ngày đẹp trời người: HiệnXuống-25

Một gia đình có đông con trai nhưng chúng đánh nhau tối ngày. Vào một ngày đẹp trời người cha qui tụ các con lại và dạy cho chúng một bài học. Ông để một bó đũa trước mặt các con và gọi từng đứa hãy bẻ gẫy bó đũa ra làm đôi. Dĩ nhiên là không đứa nào bẻ gẫy bó đũa được. Thấy vậy, người cha trao cho mỗi từng chiếc đũa và nói chúng bẻ ra làm đôi và chúng bẻ gẫy từng chiếc rất dễ dàng. Nhân cơ hội này người cha nói với các con. Nếu các con sống liên kết với nhau, các con có thể chiến thắng kẻ làm hại các con. Nếu các con không liên kết với nhau, kẻ thù sẽ dễ dàng làm hại các con.
Qua bài học này chúng ta rút ra một bài học trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hôm nay. Chúa Thánh Thần là sức mạnh trong đời sống đức tin của chúng ta. Nếu chúng ta liên kết với Ngài trong đời sống cầu nguyện, chúng ta sẽ vững vàng trong đức tin. Nếu chúng ta lơ là trong đời sống cầu nguyện, đức tin chúng ta sẽ dần dần bị bẻ gãy do tội lỗi và những cám dỗ ở đời. Thánh Phaolô nói: "Không ai có thể nói 'Chúa Giêsu là Chúa' mà do Chúa Thánh Thần ban ơn trợ giúp." Nói cách khác, chúng ta không thể làm các các việc lành phúc đức như mến Chúa yêu người nếu không do ơn Chúa Thánh Thần tác động. Có người cho rằng điều đó không đúng vì con người có thể dùng ý chí của mình để làm nhiều việc mà không cần có ơn Chúa trợ giúp. Điều ấy có vẻ đúng nhưng chưa đúng hoàn toàn. Vì tất cả những bậc vĩ nhân, hoạ sĩ, văn nhân và nghệ sĩ tài ba trên thế giới đều cảm thấy rất cần sự thúc đẩy của cảm hứng mới có thể sáng tác những bản nhạc hay và thực hiện những việc lẫy lừng. Ý chí và tài năng chưa đủ để làm nên những kỳ công nếu không có cảm hứng đi kèm.  Một văn nhân đã nói: "Để làm nên những kỳ công tuyệt mỹ, chúng ta cần có sự cảm hứng nào đó. Sự cảm hứng đó phải do từ trên cao soi sáng và thúc đẩy chứ không phải do tài năng riêng của chúng ta."
Cũng vậy, những ai muốn cố gắng sống một cuộc sống đạo đức tốt lành đều cảm thấy dường như bất lực trước những cám dỗ và sự lôi cuốn của xã hội hôm nay. Do đó, phải có ơn Chúa Thánh Thần ban ơn trợ giúp mới có thể bền vững sống đạo. Người tín hữu ngày hôm nay hơn bao giờ hết cần có sức mạnh từ trên cao mới có đủ sức vượt thắng mọi khó khăn thử thách trong cuộc hành trình đức tin hầu chiếm đạt hạnh phúc cuối cùng của đời người là Thiên Chúa.
Các tông đồ ngày xưa cảm thấy tuyệt vọng khi chứng kiến Chúa Kitô bị kết án. Đời họ hoàn toàn vô vị vì mọi hy vọng đều tiêu tan trong cái chết của Chúa. Họ như những con chiên không người chăm sóc. Cuộc thương khó của Chúa làm cho họ thấy sự giới hạn và bất lực của mình trước sự dữ. Trước kia khi có Chúa Kitô ở bên cạnh, các ông rất hiên ngang và mạnh bạo, hăng hái bước theo Chúa. Nhưng khi Chúa Kitô chết đi, các ông mới cảm thấy mình rất yếu đuối lạ thường. Vì nơi nương tựa và hy vọng tinh thần duy nhất của các ông không còn nữa.
Biết trước tình trạng suy thoái và yếu đuối của các tông đồ, Chúa Kitô khuyên các ông hãy tụ tập một nơi để cầu nguyện xin ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Vào ngày cuối cùng trong chín ngày cầu nguyện với Đức Mẹ Maria, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống với hình lưỡi lửa, tượng trưng cho sức thúc đẩy mạnh mẽ của lòng mến Chúa, các tông đồ đã can đảm hăng say rao giảng Tin Mừng và đã  lấy máu đào để tuyên xưng niềm tin của mình.
Như các thánh tông đồ xưa, mỗi người chúng ta điều cảm thấy mình bất lực trong việc sống đức tin. Không có ơn Chúa trợ giúp, chúng ta khó có thể làm các việc lành phúc đức một cách dễ dàng, nhất là khi đối diện với đau khổ và sự dữ. Khi đối diện với bệnh tật, tai nạn thiên nhiên hay do người ta gây ra, chúng ta thấy mình thật yếu đuối không đủ sức chịu đựng. Nói đến việc đọc kinh cầu nguyện thôi cũng khó có thể thực hiện được. Tất cả những bậc thánh nhân và những người đạo hạnh từ xưa đến nay đều cảm nghiệm được điều đó. Các ngài thấy mình cần phải có ơn Chúa Thánh Thần trợ giúp mới có sức chịu đựng những đau thương trong cuộc sống.
Vậy để giữ vững đức tin chúng ta cần phải có ơn Chúa Thánh Thần trợ giúp. Muốn có ơn Chúa trợ giúp chúng ta cần phải ra sức cầu nguyện. Vậy mỗi khi quyết định điều gì quan trọng hay khi gặp những khó khăn, chúng ta hãy cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh thần trợ giúp. Chúng ta đến với Đức Mẹ, xin Mẹ cầu cùng Chúa Thánh Thần ban ơn soi sáng mỗi khi lầm lạc, thúc đẩy khi nghi nan, sức mạnh khi yếu đuối. Có như vậy cuộc sống đức tin của chúng ta được vững mạnh và tinh thần chúng ta luôn đổi mới. Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự xuống canh tân cuộc sống chúng con.
 
 

HiệnXuống-26. NGƯỜI CHA ẨN KHUẤT Br. Thiện Mỹ, CMC

Nhân dịp lễ Chúa Thánh Thần, chú bé Tom được ba má dẫn về quê nội thăm ông bà bằng: HiệnXuống-26

 Nhân dịp lễ Chúa Thánh Thần, chú bé Tom được ba má dẫn về quê nội thăm ông bà bằng chiếc thuyền buồm. Hôm nay thuyền cập bến thật sớm, chú Tom lấy làm ngạc nhiên hỏi ba:
- “Ba ơi! Sao chuyến đi lần này  thuyền đến được sớm  phải không ba?”
- “Con ơi!Thời tiết đang là mùa hè, có nhiều gió, thuyền chạy nhanh, nên chúng ta tới sớm mà”. Ba trả lời.
- Nhưng mà gió ở đâu mà nhiều vậy hở ba?”. Bé ngây ngô hỏi lại.
- Ba trả lời: “Gió được tạo ra từ dòng khí nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp của bầu khí quyển bao quanh trái đất dày khoảng 904.670 mét, cung cấp cho chúng ta không khí để thở, nhờ đó sự sống mới có điều kiện nảy sinh. Nó là một hỗn hợp bao gồm nhiều thành phần khí, trong đó có khí oxy mà chúng ta hít thở hằng ngày...”.
Hôm nay phúc âm Thánh Gioan tường thuật lại việc Chúa Giêsu ban Thánh Thần cho các môn đệ bằng việc thổi hơi. Khí  thở rất cần thiết, thiếu dưỡng khí trong vòng 5 phút con người sẽ vĩnh biệt trần thế.Trong đời sống thiêng liêng, Chúa Thánh Thần và các ơn thánh của Ngài cũng cần thiết cho sự sống linh hồn chúng ta như vậy. Mọi thăng trầm trong tâm hồn chúng ta: can đảm hay nhút nhát, sáng suốt hay u mê, khôn ngoan hay dại dột, sốt sắng hay khô khan... là do bởi được nhiều hay ít ân sủng nơi Chúa Thánh Thần ban cho: “Gió muốn thổi đi đâu tùy ý.” (Ga. 3,8) và “Thánh Thần cũng hoạt động ở ngoài thân thể hữu hình của Giáo Hội.” (Công đồng Vatican II) tức là những người có lòng ngay mà ân sủng đang hoạt động cách vô hình trong lòng họ.
Thực vậy Chúa Thánh Thần làm việc ngay từ khi mới bắt đầu công việc sáng tạo trời đất: “Khởi thủy, Thiên Chúa đã dựng nên trời, đất ... và Thần Khí là là trên mặt nước” (St. 1,1). “Thiên Chúa đã nắn hình người với bụi lấy từ đất đai và Người đã hà hơi sống vào mũi nó và người đã thành mạng sống” (St. 2,7). Thánh Thần hiện diện trong công trình sáng tạo, không những  Ngài là chứng nhân tình yêu mà Ngài còn là chính tình yêu. Ngài dò thấu chiều sâu nơi Thiên Chúa trong công trình sáng tạo: con người được Thiên Chúa trao ban một ân huệ đặc biệt là dựng nên theo  hình ảnh của Chúa, có lý trí, có tự do và con người có khả năng đi vào tương quan cá vị với Thiên Chúa, có khả năng sống trong tình bạn với Ngài.
Chúa Thánh Thần như gió thổi và ân sủng Người muôn hình vạn trạng. Ngài hoạt động ở mọi không gian và thời gian với nhiều biệt hiệu: Đấng ban sự sống, Đấng thánh hóa, Đấng an ủi, Đấng sáng soi v.v Ngài không mặc xác loài người như Đức Kitô nhưng làm việc trong âm thầm vì thế loài người dễ quên lãng. Thực ra mỗi Kitô hữu đều có thể có một kinh nghiệm trực tiếp nội tâm nào đó về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, nhưng để có kinh nghiệm chính thực tràn đầy, chúng ta cùng nhau trở về với dòng lịch sử của Giáo Hội:
- Chúa Thánh Thần nói qua miệng các tiên tri: “ vì không bao giờ lời tiên tri đã do ý người phàm nào đem ra, nhưng có những người do tự Thiên Chúa và được Thánh Thần thúc đẩy đã nói ra”(2Pr 1,20-21).
- Chúa Thánh Thần là tác giả bộ kinh thánh: “Kinh thánh tất cả đã được thần hứng, và  có ích cho việc dạy dỗ, bác ái, cải thiện và đào tạo trong đường công chính”.(2 Tm 3,16).
- Chúa Thánh Thần gieo hạt giống ơn cứu chuộc qua việc đổ tràn đầy ân sủng và trang điểm dư dật cho Đức Mẹ, để Mẹ nên như một tạo vật mới trong một tương quan hết sức mật thiết với Chúa Thánh Thần. Ngài mời gọi Mẹ hoàn toàn tận hiến cho Ngài. Qua sự ưng thuận Mẹ đã sinh ra Đức Kitô do quyền năng Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần và Đức Mẹ luôn chăm sóc Chúa Giêsu trong suốt cả đời sống mà những lần Phúc Âm minh nhiên nói tới là:
Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu (Lc. 3,22). Đức Chúa Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa.(Mt. 4,1).v.v.
Đức Mẹ tìm gặp Chúa trong đền thờ (Lc. 2,48). Mẹ và Chúa Giêsu đi dự tiệc cưới.(Jn. 2,1-11). Mẹ gặp Chúa lúc Ngài giảng dạy. (Mc. 3,31). Mẹ đứng dưới chân Thập Giá.(Jn, 19,25). v.v.
- Còn trong thánh lễ hôm nay, Phúc Âm đã thuật lại việc Chúa Thánh Thần hiện xuống xảy ra vào ngày lễ Ngũ Tuần của người Do Thái. Ngày lễ Ngũ Tuần là ngày tạ ơn về mùa thu hoa lợi qua việc dâng bánh  miến bằng lúa mới và các hoa trái đầu mùa. Còn lễ Chúa Thánh Thần là mùa gặt thiêng liêng: Hạt giống ơn cứu độ mà Chúa Thánh Thần gieo vào lòng Mẹ trong ngày Mẹ nhận tin nay đã đến ngày gặt hái. Có những yếu tố gợi lên một sự song song chặt chẽ giữa việc Chúa Thánh Thần đến trên Đức Mẹ vào lúc truyền  tin và việc Ngài đến trên Giáo Hội vào ngày Hiện Xuống. Công Đồng Vatican II nối kết hai biến cố này như sau: Trong nhà tiệc ly, “Đức Mẹ  cũng tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần là Đấng đã bao phủ lấy Ngài trong ngày Truyền Tin.” Sự lạ lùng kết hợp giữa Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ và Chúa Thánh Thần đã hoá nên một căn nguyên đào tạo các giáo hữu, sinh sản các linh hồn thánh thiện. Bởi đó mùa gặt thiêng liêng tràn đầy những hoa lợi mà tin mừng diễn tả cách đặc biệt trong ngày lễ Hiện Xuống:
Vì Thánh Thần đã xuống, mọi người mới có thể hiểu đúng lời Kinh Thánh về Đức Giêsu Kitô. Sự chết và sống lại của Chúa Giêsu là mầu nhiệm Cứu Thế. Ngày xưa sự kiện tản mác vì bất đồng ngôn ngữ trong câu chuyện tháp Babel, hôm nay Chúa Thánh Thần lại yêu thương liên kết các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ đều đến nghe và hiểu được lời nói của các môn đệ. Bài giảng đầu tiên của Thánh Phêrô đã có thêm lối ba ngàn linh hồn.
Và quyền năng của Thánh Thần đã biến đổi hữu hiệu các tông đồ: từ nhát đảm trở nên mạnh dạn; từ mê muội trở thành khôn ngoan sáng suốt; đặc biệt là thay vào quan điểm trần tục bằng cái nhìn hoàn toàn siêu nhiên. Chúa Thánh Thần đã khai sinh Giáo Hội với một cộng đoàn vững chắc đầy nhiệt thành và yêu mến.
Như vậy trên bước đường theo chân Chúa Giêsu chúng ta có một người Cha âm thầm nhưng hoạt động liên tục như hơi thở, mạnh mẽ như gió thổi, đưa thuyền tâm hồn chúng ta mau chóng về Thiên Quốc.
 
 

HiệnXuống-27. Bài Suy Niệm của JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Từ xưa đến nay, bạn có quan tâm tới bình an trong tâm hồn, thứ bình an luôn tồn tại trong: HiệnXuống-27

1. Từ xưa đến nay, bạn có quan tâm tới bình an trong tâm hồn, thứ bình an luôn tồn tại trong lòng bất chấp giống tố hay thử thách trong cuộc đời không? Đã bao giờ bạn cảm thấy hạnh phúc vì nếm được sự bình an ấy chưa? Nếu chưa, bạn hãy xét xem tại sao? Vì đúng ra, đã là Ki-tô hữu thì phải có sự bình an ấy!
2. Bạn có biết sự bình an mà Đức Giê-su cầu chúc cho các môn đệ của Ngài rất cần thiết để phát triển đời sống tâm linh không? Muốn có sự bình an ấy phải làm thế nào?
3. Có bao giờ bạn nghĩ rằng tính ích kỷ, thiếu "bụng chung" của mình là nguyên nhân khiến mình không lãnh nhận được Thánh Thần không? Bạn có biết tại sao không?
Suy tư gợi ý:
1. Bình an tâm hồn, điều kiện quan trọng để phát triển tâm linh
Trong Tin Mừng, sự bình an, đặc biệt sự bình an trong tâm hồn, được coi là một giá trị hết sức quan trọng. Khi Đức Giê-su sinh ra, muôn vàn thiên thần đã hát mừng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (Lc 2,14). Điều Đức Giê-su khuyên các môn đệ làm khi vào nhà mọi người để loan báo Tin Mừng là: "Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy" (Mt 10,12; x. Lc 10,5). Sau khi chữa lành bệnh cho ai, Đức Giê-su cũng chúc bình an cho người ấy (x. Mc 5,34; Lc 8,48). Khi gặp các môn đệ, nhất là những lần sau khi phục sinh, Đức Giê-su luôn luôn cầu chúc: "Bình an cho anh em!" (Lc 24,36; Ga 20,19; 20,26). Thánh Phê-rô và Phao-lô gọi Tin Mừng mà các ngài loan báo là "Tin Mừng bình an" (Cv 10,36; Ep 2,17; 6,15).
Trong cuộc sống đời thường, bình an là một điều kiện quan trọng để sống vui tươi hạnh phúc và để phát triển; trong đời sống tâm linh cũng vậy. Sự bình an trong tâm hồn là điều kiện quan trọng để đời sống tâm linh cũng như niềm vui nội tâm phát triển. Không có bình an trong tâm hồn, đời sống tâm linh không phát triển được. Và người có đời sống tâm linh phát triển thì tâm hồn luôn luôn bình an, bất chấp những xáo trộn, bất an do ngoại cảnh. Có bình an mới có hạnh phúc. Sự bình an mà Tin Mừng nói đến, mà Đức Giê-su cầu chúc hoặc hứa ban, chủ yếu là thứ bình an trong tâm hồn hơn là thứ bình an bị lệ thuộc vào ngoại cảnh. Bình an bên ngoài thuộc thể chất hay vật lý thì người thế gian cũng có thể ban cho ta được, nhưng họ khó có thể ban được bình an trong tâm hồn. Còn Đức Giê-su chủ trương ban sự bình an ấy: "Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian" (Ga 14,27). Sự bình an cũng như niềm vui nội tâm ấy "không ai lấy mất được" (Ga 16,22). Đó là một thứ bình an và niềm vui độc lập với ngoại cảnh, không vì khó khăn hay rắc rối bên ngoài mà bị mất.
Người Ki-tô hữu cần phải đạt được sự bình an và niềm vui nội tâm ấy. Để đạt được, họ chỉ cần thật sự tin tưởng vào Tin Mừng sống tinh thần Tin Mừng, vì Tin Mừng này là "Tin Mừng bình an". Sống tinh thần Tin Mừng là: sống yêu thương thật sự, tin tưởng và phó thác vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa, luôn tha thứ không để tâm chấp nhất lỗi lầm của bất kỳ ai, nhất là sống tinh thần tự hủy, không đặt quá nặng "cái tôi" của mình, nhận ra thánh ý Thiên Chúa luôn luôn khôn ngoan và đem lại nhiều ích lợi hơn ý riêng của mình, có tinh thần siêu thoát, không quá gắn bó với những thực tại chóng qua của trần gian…
2. Bình an nội tâm, điều kiện để lãnh nhận Thánh Thần
Trong bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ không phải vô tình mà Đức Giê-su trước khi thổi hơi và ban Thánh Thần cho các tông đồ đã lập lại một lần nữa lời cầu chúc "Bình an cho anh em!". Như vậy phải chăng để nhận lãnh Thánh Thần, thì điều kiện quan trọng là phải có tâm hồn bình an? Và đồng thời bình an cũng lại là kết quả của một tâm hồn tràn đầy Thánh Thần (x. Gl 5,22)? Thực ra, điều kiện quan trọng để nhận được Thánh Thần là phải có tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, phải có tâm hồn trong sạch. Chính vì thế mà Giáo Hội buộc những ai lãnh nhận bí tích thêm sức - tức lãnh nhận Thánh Thần - phải sạch tội, nghĩa là có ân nghĩa với Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa. Mà một khi đã sạch tội, sống trong ân nghĩa với Thiên Chúa, sống theo tinh thần của Ngài thì đương nhiên sẽ có sự bình an trong tâm hồn.
Bình an này chỉ đến với hoặc ở với những ai xứng đáng với nó, tức những người sống theo tinh thần Tin Mừng là tinh thần yêu thương, tinh thần Tám Mối Phúc của Đức Giê-su (Mt 5,3-12), là lối sống siêu thoát: "Ai đáng hưởng bình an, thì bình an sẽ ở lại với người ấy" (Lc 10,6). Những người chạy theo tinh thần thế tục, coi trọng tiền bạc, danh vọng, địa vị hơn tình nghĩa, sống ích kỷ, vụ lợi, tham lam… không thể có được thứ bình an sâu xa này. Do đó, thay vì nói có ân nghĩa và tình yêu đối với Thiên Chúa là điều kiện để lãnh nhận Thánh Thần, có thể nói cách khác: bình an nội tâm là điều kiện để lãnh nhận Thánh Thần. Thánh Thần có thể được ban cho người không có bình an vật lý hay thể lý, nhưng chắc chắn không thể ban cho người không có bình an nội tâm.
Những ai đã cảm nghiệm được sự bình an và niềm vui nội tâm thật sự - nghĩa là thứ bình an lâu dài và thường xuyên - đều cảm thấy đó là một phần thưởng rất lớn và xứng đáng cho việc sống theo tinh thần Tin Mừng của mình, vì họ đã được phần nào nếm trước hạnh phúc thiên đàng ngay tại trần thế này, thứ hạnh phúc tự tại trong lòng họ, không ai lấy mất được. Đang khi những người khác cho họ là dại dột vì từ bỏ những lợi lộc và thú vui trần tục, thì họ lại cảm thấy chính những người theo đuổi những thứ chóng qua và dễ bị cướp đoạt ấy mới là dại dột. Những người này đã từ bỏ một cái gì quí giá, sâu xa và trường tồn để đổi lấy cái mau qua, dễ mất. Các tông đồ và các Ki-tô hữu tiên khởi đã suy nghĩ như thế vì thật sự cảm nghiệm được sự bình an và Thánh Thần Đấng ban bình an luôn ở với họ. Các ngài đã quí Thánh Thần và sự bình an ấy hơn cả mạng sống và mọi thứ của cải trần gian. Còn chúng ta, những kẻ đang mang danh Ki-tô hữu, thì sao?
3. Nhận lãnh Thánh Thần để được sai đi
Ngay trước khi thổi hơi để ban Thánh Thần cho các tông đồ, Đức Giê-su không chỉ chúc bình an, mà còn nói: "Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em". Như vậy, việc lãnh nhận Thánh Thần còn có một mục đích quan trọng là để làm công việc của Thiên Chúa. Trong sách Công Vụ Tông Đồ, ngay sau khi lãnh nhận Thánh Thần, các tông đồ lập tức làm việc cho Thiên Chúa: rao giảng Tin Mừng một cách mạnh dạn, không sợ sệt, và còn làm được nhiều điều kỳ diệu: các ngài nói một cách rất bình thường nhưng ai nấy đều nghe thấy các ngài nói ngôn ngữ của mình, các ngài còn có thể trừ quỉ ám hay chữa khỏi những bệnh nan y trong chốc lát…
Thánh Thần được ban xuống trên những ai xứng đáng lãnh nhận với nhiều quyền năng kèm theo, không phải để phục vụ cho lợi ích riêng của người ấy, mà vì lợi ích chung của mọi người: "Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung" (1 Cr 12,7). Vì thế, những ai được ơn đặc biệt của Thánh Thần đều phải dùng ơn ấy để phục vụ mọi người, nhất là để loan báo Tin Mừng, để thăng tiến đời sống tâm linh con người, để giúp ích cho Giáo Hội, cho xã hội và thế giới. Không ai lãnh nhận ơn Thánh Thần lại được phép dùng ơn ấy cho lợi ích riêng của mình: để được danh tiếng, được kính nể, nhờ đó được lên chức, được nắm quyền, được dồi dào tiền bạc, v.v… Những người có những ý hướng vị kỷ ấy cho dẫu có làm những công việc tốt đẹp, cũng không thể lãnh nhận Thánh Thần.
Vậy, muốn lãnh nhận Thánh Thần, chúng ta cần phải có "bụng chung", biết lo lắng cho công việc chung, của Giáo Hội hay xã hội, của tập thể hay cộng đoàn, của quê hương đất nước. Vừa tha thiết xin Thánh Thần đến với mình, vừa giữ tính ích kỷ, chỉ biết vun quén cho mình, không hề nghĩ đến người khác thì chẳng khác gì muốn thổi cơm mà lại đổ cát vào nồi. Thật là "công dã tràng", nhưng có biết bao Ki-tô hữu đang làm như vậy! Bạn có làm như vậy không? Đừng chờ đợi có ơn Thánh Thần rồi mới làm tông đồ, hãy hăng say làm tông đồ trước đi rồi tự động Thánh Thần sẽ được ban cho ta!
CẦU NGUYỆN
Tiếng Chúa nói với tôi: "Sự bình an của Cha rất quí giá, nên đã có biết bao người sẵn sàng hy sinh tất cả để có được sự bình an ấy! Họ là những người khôn ngoan. Vì chỉ có thể thứ bình an ấy mới làm cho họ hạnh phúc, thứ hạnh phúc mà thế gian không thể ban được, cũng không thể hủy hoại được. Thứ bình an ấy, Cha chỉ ban cho những người xứng đáng, những người dám thật sự sống Tin Mừng của Cha. Con chắc chắn sẽ được sự bình an ấy nếu con thật sự sống đúng những đòi hỏi của Tin Mừng. Con có dám sống như thế không? Nếu không dám thì con cũng đừng lấy làm lạ và thắc mắc tại sao Cha không ban thứ bình an ấy cho con!".
 
 

HiệnXuống-28. QUYỀN NĂNG THA TỘI/ Lm Bùi Quang Tuấn, CSsR

Trong một lần giáo huấn, Đức Giêsu đã quả quyết với các Tông đồ: "Sự gì các con cầm buộc HiệnXuống-28

Trong một lần giáo huấn, Đức Giêsu đã quả quyết với các Tông đồ: "Sự gì các con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc. Sự gì các con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở" (Mt 18,18). Và hôm nay, sau ngày phục sinh, trong một lần hiện ra với họ, Chúa Giêsu đã phán: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm lại". (Gn 19, 22-23). Khi nói lên lời đó, Ngài chính thức thiết lập Bí tích Giải tội, ủy thác cho Hội thánh quyền năng tha thứ và cầm buộc. Quyền năng nầy không chỉ được trao ban cho các Tông đồ nhưng còn thông chuyển đến các đấng kế vị là các Giám mục và những linh mục hiệp thông với các ngài.
Qua lời tuyên bố thiết lập Bí tích Giao hòa Chúa Giêsu muốn nói với các vị thừa tác viên đầu tiên và những người kế nghiệp rằng: một khi dưới đất họ đọc lên lời tha tội "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" thì lập tức trên trời Ngài sẽ chuẩn y, và dù tội con người có thẫm như máu đào cũng sẽ được biến đổi tinh trắng như bông.
Trong Tông thư Reconciliation and Penance, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định: "Khơi dậy lòng sám hối và thay đổi tâm hồn nhân thế cùng trao ban cho con người tặng phẩm giao hòa chính là sứ mạng đặc thù của Hội thánh khi tiếp nối công trình cứu độ của Đấng Sáng Lập".
Có người đặt vấn đề: Tại sao lại phải đi xưng tội với một linh mục? Tới thẳng với Chúa không được sao?
Lẽ dĩ nhiên Đức Giêsu có trăm muôn ngàn cách tha thứ tội lỗi con người, nhưng phương cách Ngài "làm người" để cứu thế và "chọn con người" để thi hành quyền năng tha tội là một ý định tỏ tường. Tuy nhiên, bên cạnh ý định của Thiên Chúa cũng có đó một số lý do khiến cho việc xưng tội với một linh mục trở nên cần thiết.
Catholicism and Life có chỉ ra những lý do như sau:
Thứ nhất, vì "có những tội được tha và có những tội bị cầm" nên hối nhân phải xưng tội mình ra thì linh mục mới có thể xác định được tội nào được tha và tội nào bị cầm.
Thứ hai, việc xưng tội với một linh mục sẽ giúp cho con người trở nên khiêm tốn. Người ta dễ chừa tội hơn khi biết rằng nếu mình phạm, mình sẽ phải xưng.
Thứ ba, chắc chắn hối nhân sẽ đón nhận được ơn thánh hóa từ bí tích Hòa giải. Nhưng trước đó, họ sẽ nhận được những lời khuyên hữu ích từ vị linh mục, giúp họ thăng tiến hơn trên đường thiêng liêng.
Thêm vào đó, có không ít khuynh hướng nhiệm nhặt hay buông thả khiến cho có người quá khắt khe, thấy điều chi cũng tội, hay có người qua lỏng lẻo đến nỗi bao tội tày trời cũng cho là chẳng có gì ghê gớm. Thậm chí có khi còn biện minh để lương tâm thấy tội nhẹ đi hay không còn tội lỗi gì nữa. Vì vậy, nếu không có sự trợ giúp của vị linh mục làm sao người ta có thể quân bình với chính mình và chân thành với Thiên Chúa được.
Cuối cùng, khi ban ơn tha tội, vị linh mục thay mặt Chúa sẽ bảo đảm ơn tha thứ cho hối nhân. Đối với người đi "xưng thẳng" với Chúa, ai sẽ đoan quyết cho điều đó? Chắc chắn không ai hết.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cảnh cáo những người cho mình không cần Bí tích Giải tội như sau: "Thật là điên rồ và kiêu căng đối với những ai tự ý coi thường phương thế trao ban ơn sủng và cứu thoát mà chính Chúa Giêsu thiết lập, nhất là đối với những kẻ cho rằng không cần đến Bí tích Giải tội để được tha tội".
Có nhiều người vì ý thức lệch lạc nên coi thường xưng tội, nhưng cũng có không ít người vì đánh mất cảm thức về tội nên không còn thấy cần đi xưng tội nữa. Thậm chí có người xấu hổ ngại ngùng khi phải thú nhận tội mình với kẻ khác. G.K. Chesterton, một nhà văn trở lại Công giáo đã viết: "Không việc gì phải xấu hổ về những dại dột của mình... Đã là con người không ai không có lỗi lầm, nhưng lỗi lầm kinh khủng nhất của con người là cho mình không có lỗi". Thánh Gioan Tông đồ viết thẳng thừng hơn: "Nếu ta nói: ta không có tội là ta tự lừa dối mình, và sự thật không có trong ta" (1 Gn 1,8). Trái lại, "Nếu ta xưng thú tội lỗi mình thì Người trung tín và công chính đủ để tha thứ tội lỗi cho ta,và tẩy ta khỏi mọi bất chính" (1 Gn 1,9).
Một điều luôn gắn liền với Bí tích Giải tội là "ấn tòa" mà tất cả mọi linh mục phải tuân giữ. Không một điều gì nghe trong toà mà cha giải tội lại được phép nói ra cho người thứ ba, dù tính mạng của mình bị đe dọa hay an ninh quốc gia được bảo toàn.
Lịch sử Giáo hội ghi nhận biết bao hình ảnh hào hùng của những con người dám lấy máu đào bảo vệ đức tin, trong đó cũng có hình ảnh của những linh mục dám lấy mạng sống bảo vệ "ấn tòa giải tội".
Cha Gioan Nepomucene là mẫu gương tiêu biểu trong thế kỷ 14. Ngài là cha giải tội của Hoàng hậu Jane, nước Bohemia. Vua Wenceslaus là người đa nghi và ghen tuông. Vì muốn biết Hoàng hậu đã làm điều chi thầm lén nên vua yêu cầu cha Gioan thuật lại những gì nàng xưng ra với Ngài.
Tưởng rằng quyền lực và uy thế của mình có thể khui được ít nhiều bí mật nơi miệng cha Gioan, nhưng vua đã lầm. Vị linh mục của Chúa nhất quyết không hé lộ bất cứ điều gì. Kết quả, ngài bị nhốt vào hầm tối, và một đêm kia, bị nhận nước cho đến chết.
Ba trăm năm sau, khi khai quật lăng mộ cha Gioan, những người hữu trách ngỡ ngàng chứng kiến thân thể ngài mục hoàn toàn, ngoại trừ chiếc lưỡi vẫn nguyên vẹn như lúc còn sống. Ngày nay, trên chỗ ngài bị giết người ta dựng lên một tượng đài, phía dưới chân có khắc dòng chữ: "Nơi đây vị chứng nhân của Ấn toà Giải tội đã nằm xuống".
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao ban cho các Tông đồ món quà vô giá là Chúa Thánh Thần và quyền năng tha tội. Sứ mạng của các ngài và những người kế vị sẽ là việc làm nảy sinh hoa trái cho toàn nhân loại. Biết khiêm tốn mở lòng đón nhận ơn tha thứ, con người sẽ tìm thấy bình an và sự sống đích thực, dù thần chết có đang hăm he rình chờ. Biết tìm đến cùng tòa cáo giải, tâm hồn sẽ được chữa lànhvà ngập tràn hân hoan.
 
 

HiệnXuống-29. LỄ NGŨ TUẦN , MỘT CUỘC BIẾN ĐỖI MỚI

 -Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
 

Như lời cầu trong lòng tin, như lời tạ ơn chân thành phát xuất từ tận đáy thẳm sâu tâm hồn: HiệnXuống-29

Như lời cầu trong lòng tin, như lời tạ ơn chân thành phát xuất từ tận đáy thẳm sâu tâm hồn dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Lời cầu gói trọn tình thương trong mầu nhiệm chết, sống lại và lên trời của Đức Giêsu Kitô. Lời khẩn nguyện chân thành với đôi mắt rộng mở, với con tim đơn hèn, với đôi tay giơ cao trong hiến lễ ban chiều. Tội lỗi của con người đã được máu Chúa Kitô tẩy xoá để xứng đáng lãnh nhận ơn làm con Chúa phục sinh. Trong hương thơm ngào ngạt của hiến lễ sáng nay, với ánh nến phục sinh rực sáng, biểu trưng cho chính Chúa Kitô phục sinh khải hoàn. Chúa đã về trời để thực hiện lời hứa ban Chúa Thánh Thần. Và hôm nay, biến cố ngày lễ Ngũ Tuần mang lại cho các tông đồ và Giáo Hội một luồng sinh khí mới, một cuộc lột xác, một cuộc đổi đời. Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng ta hãy tìm hiểu biến cố ngày lễ 50 như dấu chỉ muôn thời mở nước Thiên Chúa.
I. SỰ KIỆN CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG NHƯ MỘT CUỘC BIẾN ĐỔI MỚI:
Chúa về trời vừa làm bỡ ngỡ tất cả các tông đồ và toàn dân Galilêa khi họ cứ đăm đăm nhìn lên trời với vẻ tiếc nuối đợi chờ. Chúa về trời để thực hiện lời hứa ban Chúa Thánh Thần để củng cố niềm tin của các môn đệ và tăng cường sức cho các tông đồ để các ông có lòng quả cảm, sự dũng mạnh mà ra đi rao giảng Tin Mừng. Sự kiện Chúa phục sinh ban Thánh Thần được tường thuật cách rõ ràng, tỉ mỉ trong sách Tông đồ Công vụ đoạn 2, 1-11 như sau: “Thần khí Chúa hiện xuống vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các môn đệ tụ họp nhau đầy đủ để cầu nguyện và suy nghĩ về biến cố Giêsu kitô về trời. Lúc ấy, Thánh Thần Chúa hiện xuống và tuôn đổ trên các môn đồ” (Cv 2,1).
Những hình ảnh: “gió rào rào như cuồng phong, lưỡi lửa đậu trên mỗi người” (Cv 1, 2-3), ám chỉ Thần khí Thiên Chúa ngự xuống. Sự kiện Thánh Thần hiện xuống làm cho các môn đệ mạnh dạn và nói đủ thứ tiếng của muôn dân thiên hạ (Cv 2,4). Các môn đệ lãnh nhận thần khí, thêm can đảm, sức mạnh tăng phi thường đến nỗi họ dạn dĩ rao giảng lời Chúa, làm cho mọi người đều sửng sốt và ngạc nhiên vì “ai cũng nghe họ nói tiếng bản xứ mình” (Cv 2, 5.11). Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi cộng đoàn tín hữu corintô đoạn 12 câu 3b đã đề cập tới vai trò của thần khí như sự duy nhất của Thiên Chúa, đến nỗi ai tuyên xưng Đức Kitô là Chúa đều do Thánh Thần hướng dẫn và dù con người sống được đặc ân nào thì cũng đều do thần khí độc nhất làm nên (1Cr 12, 11). Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa, sống trong sự duy nhất của Ba Ngôi, nên sự kiện duy nhất của Thánh Thần, đánh dấu sự duy nhất của Thiên Chúa, đồng thời giúp cho các môn đệ của Chúa sức mạnh, lòng trung kiên và tình thương để rao giảng nước Thiên Chúa. Sự kiện Thánh Thần hiện xuống, còn được diễn tả cách khác trong Tin Mừng của Thánh sử Gioan 20, 19-23. Chúa hiện đến với các môn đệ khi các Ngài còn hoang mang, sợ sệt, Ngài chúc bình an cho các môn đệ và trao sứ vụ cho các Ngài, Ngài nói: “…cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi” (Ga 20,21) và Chúa Giêsu thổi hơi trên các môn đệ và nói với họ: “Hãy chịu lấy Thánh Thần, các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha. Các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ” (Ga 20, 22-23).
Lễ Hiện Xuống của Tin Mừng Thánh Gioan và của Sách Tông Đồ Công Vụ chỉ có một ý, nói lên sự duy nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Nên, thương khó, sống lại, lên trời và Thánh Thần Hiện Xuống là một mầu nhiệm phục sinh của việc tôn vinh Chúa Giêsu Kitô và của ơn cứu độ mà Ngài mang lại cho nhân loại. Chúa Thánh Thần là ân huệ cao cả nhất của phục sinh. Thánh Thần nối kết các môn đệ luôn mãi gắn chặt vào Chúa phục sinh, Ngài tái hợp nhất họ lại với nhau và chính Ngài đổi mới họ qua tác vụ tha tội cho nhân loại, cho tha nhân. Vì thế, qua biến cố Ngũ Tuần, các môn đệ nắm một sứ mạng quan trọng: “rao giảng Tin Mừng cho mọi dân, mọi nước”. Công việc loan báo Tin Mừng của các Tông đồ và Hội Thánh của Chúa (Ga 4, 38), được chính Thánh Thần hướng dẫn và thúc đẩy (Ga 1, 33 ; Cv 2, 1t).
II. Ý NGHĨA CỦA VIỆC THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG
Thánh Thần hiện xuống đem lại cho các tông đồ nguồn sinh khí mới, biến đổi cả một Giáo Hội sơ khai đang rụt rè, sợ sệt và mệt mỏi. Thánh Thần đã làm cho các môn đệ từ tình trạng hoang mang, sệ sệt trở thành những chứng nhân anh hùng của Thiên Chúa. Nhờ Thánh Thần tuôn đổ trên các môn đệ, niềm tin của các Ngài mãnh liệt hơn, sứ mạng rao giảng Tin Mừng của các Ngài có ý nghĩa tốt đẹp hơn. Các Ngài không còn sợ chết, sợ bắt bớ, tù tội, mà các Ngài đã minh chứng cách anh hùng về sự kiện Giêsu Kitô chịu chết và phục sinh. Thánh Thần ấy cũng đã tuôn đổ trên Giáo Hội Chúa, muôn thời, muôn thế hệ. Vì “chỉ có một thân thể và một thần khí… chỉ có một Chúa… một Thiên Chúa thôi” (Eph. 4, 4t). Nhờ Thánh Thần, Giáo Hội và mọi người có thể dạn dĩ tuyên xưng Giêsu Kitô là Chúa và làm vinh hiển cho Thiên Chúa Cha (Ga 12, 3) và chính trong thần khí mà chúng ta cầu xin Thiên Chúa (Rm 8, 26) và gọi Ngài bằng chính tên của Ngài ABBA “CHA”. Thánh Thần Chúa luôn tác động trong Hội Thánh, trong mỗi người chúng ta, khiến ta có thể luôn là con Chúa và luôn được Ngài nâng đỡ, hộ phù.
III. XÂY DỰNG NHIỆM THỂ CHÚA KITÔ QUA TÁC ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN
Đức Giêsu Kitô Kitô chịu đau khổ, chịu chết, sống lại, lên trời và ban Thánh Thần để nói lên sự duy nhất của Hội Thánh ở trần gian. Là chi thể của Chúa phục sinh, ta hãy sống trong tình thương và tung vãi niềm tin yêu, sự bình an hoa quả của Thánh Thần cho mọi người, để muôn người nhận ra Chúa phục sinh nơi cuộc đời, nơi thế giới:
- Chúa phục sinh hiện ra, ban an bình cho các môn đệ và ân huệ phục sinh Chúa ban cho họ là niềm vui, hạnh phúc sung mãn. An bình và niềm vui là hoa quả của Chúa Thánh Thần (Gal 5, 22).
- Là con Chúa, chúng ta cũng cố gắng chu toàn nghĩa vụ của người con thảo, trung thành với kinh nguyện hàng ngày, trung thành với các bí tích, phụng vụ hàng tuần. Ngoài ra, chúng ta còn cố gắng học hỏi Kinh Thánh, giáo lý, chăm lo đời sống đạo đức cho gia đình, cho con cái. Chu toàn đời sống kitô hữu mỗi ngày vì tất cả những điều đó là hoa trái của Chúa Thánh Thần.
Lạy Chúa Thánh Thần xin Ngài ngự đến… Xin Chúa ban cho các tín hữu, là những người tin cậy Chúa, được ơn bảy nguồn . Xin ban cho họ được huấn nghiệp nhân đức, được hạnh phúc cứu độ và được hoan hỉ đời đời.
 
 

HiệnXuống-30. CHÚA THÁNH THẦN, SỨC MẠNH NÂNG ĐỠ ĐỨC TIN

 Lm J.B. Nguyễn Minh Hùng
 

Nếu sự kiện Chúa lên trời kết thúc Phúc âm theo thánh Luca, thì chính sự kiện này lại mở: HiệnXuống-30

Nếu sự kiện Chúa lên trời kết thúc Phúc âm theo thánh Luca, thì chính sự kiện này lại mở đầu sách Công vụ Tông đồ. Không phải ngẫu nhiên ma Luca làm thế. Trong quyển Phúc âm của mình, Luca hé mở một phần suy nghĩ khi ghi lại câu nói của Chúa Giêsu ngay trước lúc Người lên trời: “Thầy sẽ gởi cho các con điều mà Cha Thầy đã hứa” (Lc 24, 49). Và trong Công vụ Tông đồ, điều mà Chúa Cha đã hứa trở nên hiệu lực: Chúa Thánh Thần đang hoạt động mạnh mẽ trong thế giới. Như vậy điều quang trọng đối với thánh Luca, có lẽ không phải kết thúc hay mở đầu một quyển sách. Trên hết, ngài muốn nói với chúng ta rằng: Chúa lên trời kết thúc một giai đoạn lịch sử mà trong đó lời hứa cứu độ đã được thực hiện và mở ra một giai đoạn lịch sử mới, bao gồm các hoạt động của Chúa Thánh Thần. Một trong các hoạt động đó là nâng đỡ đức tin chúng ta.
1. Người nâng đỡ đức tin trong chính ý thức truyền giáo nơi mỗi người
Điều này rõ ràng qua thái độ của các tông đồ. Thánh Gioan kể lại: một buổi chiều Chúa nhật, các tông đồ tụ họp và “đóng kín” cửa lại. Ở đây hai từ “đóng kín” cần được nhấn mạnh. Vì các ngài không “đóng kín” để tránh sự ồn ào, không “đóng kín” để tạm quyên đi những lo toan đời thường, không “đóng kín” vì gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng “đóng kín” vì “sợ người Do thái”. Và bởi “sợ”, nên dù “đóng kín”, các thánh tông đồ vẫn ở trong tâm trạng rối bời.
Nhưng khi Chúa Thánh Thần ngự đến, tâm trạng rối bời này bị phá vỡ. Ý thức truyền giáo phát triển từ con số không, bỗng vượt quá sức người bé bỏng của các tông đồ, và tỷ lệ thuận với lòng can đảm phát xuất từ một đức tin dũng mãnh: Tin vào Đấng phục sinh. Từ đây, chính Thánh Thần tác động, làm cho các ngài mạnh dạn loan báo Lời Chúa, dám sống, dám chết cho đức tin dũng mãng ấy.
Lẽ nào, sau khi nhận ra thái độ truyền giáo của các thánh tông đồ, chúng ta lại trở về với cuộc sống đời thường mà không có gì thay đổi? Ngay từ bây giờ, ta hãy sắm cho mình một ý thức truyền giáo bằng chính trách nhiệm hằng ngày của ta: đó là trách nhiệm của một linh mục, một người buôn bán, một người dạy học, một công nhân, một học sinh... Ta cũng có thể thể hiện tinh thần truyền giáo trong những việc làm hết sức nhỏ bé như: tha thứ cho một người mất lòng ta, dắt một cụ già qua đường, chào hỏi những người ta quen biết...
Nếu ta có một ý thức truyền giáo trong trách nhiệm và trong những việc làm từ ngày này qua ngày khác như thế, không những đức tin không bị lung lạc giữa các môi trường ta sống, mà còn vững mạnh và có sức thu hút nữa. Bởi vì Chúa Thánh Thần đang hoạt động nơi ta, làm cho nó trở thành khí cụ đưa công việc truyền giáo thầm lặng của mọi người đạt hiệu quả.
2. Chúa Thánh Thần nâng đỡ đức tin trong những hoàn cảnh khó khăn của đời sống
Ai mà không ít là một lần thấm thía nỗi đau, nỗi bất hạnh? Đó có thể là cái chết bất ngờ của một người thân, một cơn bạo bệnh, một tình yêu bị phụ bạc... Đó cũng có thể là cái nghèo, cái dốt, là đứa con chưa ngoan, vợ chồng thiếu tin tưởng nhau... Trong hoàn cảnh khó khăn như thế, đức tin bị chùn bước chăng?
Vì tính người mỏng dòn, nên đức tin cần được tôi luyện. Các thánh tông đồ cũng từng được tôi luyện như thế. Đức Giêsu, người mà Phêrô đại diện anh em mình tuyên xưng là Con Thiên Chúa; người đã từng hiển dung trước mặt Phêrô, Gioan, Giacôbê; người đã từng làm phép lạ như “Đấng có uy quyền” trước mặt các ngài, bây giờ chỉ là một người bị đánh bại thê thảm. Trong hoàn cảnh đó niềm hy vọng của các tông đồ như một tim đèn chực tắt. Đức tin đang lụn dần.
Khi Chúa Thánh Thần đến, đức tin các tông đồ trở nên mạnh mẽ. Người không chỉ nâng đỡ cách nhất thời, nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào mà các ngài gặp phải như: bị chống đối, bị sỉ nhục, bị tù đày, nhất là bị sát hại.
Ngày nay Chúa Thánh Thần vẫn ở với ta. Tôi có kinh nghiệm thế này: trong những hoàn cảnh xem ra bi đát nhất, tôi lại được ơn nâng đỡ nhiều nhất. Khi biến cố ấy qua rồi, tôi thường nhìn lại, và rất nhiều lần phải tự thốt lên: ôi tình yêu nhiệm mầu!
Tôi đồng cảm rất sâu với tư tưởng của Hội đồng Giám mục Việt Nam trong bản góp ý cho tài liệu làm việc của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu. Tư tưởng đó là: “Hội Thánh tại Á châu phải trở nên một Giáo Hội không quyền lực”. Nhìn vào Hội Thánh Việt nam, tôi thấy rất đúng! Nhưng cũng rất lạ lùng, vì một Hội Thánh như thế lại có sức sống căng tràn và đức tin vững vàng.
Cũng thế, chính tôi tận mắt hoặc nghe kể lại những cảnh đời rất bế tắc, nhưng niềm tin yêu lại sáng ngời. Có ai đã từng chứng kiến cảnh một cô gái trẻ bị bệnh ung thư sắp chết, an ủi người mẹ đang nứt nỡ chưa? Đó là một giáo lý viên. Thấy tôi đến thăm, cô nhờ tôi nói chuyện với mẹ cô để xoa dịu nỗi đau của bà. Cô hứa, trước tòa Chúa, cô sẽ cầu nguyện cho gia đình cô, cho cha sở, cho tôi và cho lớp giáo lý mà cô đang phụ trách. Trong tình cảnh đó, tôi chỉ còn biết im lặng đón nhận bài học về đức tin mà cô vừa giúp tôi nhận ra.
Bởi đâu một Giáo Hội còn trẻ trung, còn thiếu thốn nhiều mặt như Giáo Hội tại Việt Nam lại căng tràn sức sống? Bởi đâu nơi một cô gái yếu mềm lại ẩn chứa một đức tin can đảm đến thế? Chính Chúa Thánh Thần tạo nên tất cả. Đấng “Phù Trợ” mà Chúa Giêsu ban đang âm thầm nâng đỡ đức tin của Hội Thánh, của mỗi người. Chỉ cần biết mở lòng ra, chỉ cần khiêm tốn một tí, và đừng ở lỳ trong sự cứng cỏi, chúng ta sẽ khám phá ra sức mạnh của Chúa Thánh Thần đang tác động nơi niềm tin của mình. Đành rằng ai cũng sợ đối đầu với đau khổ, nhưng đau khổ lại là phương thế rèn luyện đức tin. Tin rằng Chúa Thánh Thần sẽ không để chúng ta chiến đấu một mình, Người nâng đỡ như đã từng nâng đỡ các thánh tông đồ khi xưa.
Lời của Đấng Phục sinh nói với chúng ta: “Bình an cho anh em”. Xin Ngài ban ơn bình an đó cho chúng ta, vì ơn bình an rất cần cho những người sống đời truyền giáo. Ơn bình an cũng rất cần cho những biến động, những thăng trầm của cuộc đời. Xin dâng tất cả lên Chúa Thánh Thần, Đấng là sức mạnh nâng đỡ đức tin chúng ta.
 
 

HiệnXuống-31.  Suy Niệm của JKN

Suy tư gợi ý:
1. Bình an tâm hồn, điều kiện quan trọng để phát triển tâm linh
 

Trong Tin Mừng, sự bình an, đặc biệt sự bình an trong tâm hồn, được coi là một giá trị hết: HIỆNXUỐNG-31

Trong Tin Mừng, sự bình an, đặc biệt sự bình an trong tâm hồn, được coi là một giá trị hết sức quan trọng. Khi Đức Giê-su sinh ra, muôn vàn thiên thần đã hát mừng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (Lc 2,14). Điều Đức Giê-su khuyên các môn đệ làm khi vào nhà mọi người để loan báo Tin Mừng là: "Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy" (Mt 10,12; x. Lc 10,5). Sau khi chữa lành bệnh cho ai, Đức Giê-su cũng chúc bình an cho người ấy (x. Mc 5,34; Lc 8,48). Khi gặp các môn đệ, nhất là những lần sau khi phục sinh, Đức Giê-su luôn luôn cầu chúc: "Bình an cho anh em!" (Lc 24,36; Ga 20,19; 20,26). Thánh Phê-rô và Phao-lô gọi Tin Mừng mà các ngài loan báo là "Tin Mừng bình an" (Cv 10,36; Ep 2,17; 6,15).
Trong cuộc sống đời thường, bình an là một điều kiện quan trọng để sống vui tươi hạnh phúc và để phát triển; trong đời sống tâm linh cũng vậy. Sự bình an trong tâm hồn là điều kiện quan trọng để đời sống tâm linh cũng như niềm vui nội tâm phát triển. Không có bình an trong tâm hồn, đời sống tâm linh không phát triển được. Và người có đời sống tâm linh phát triển thì tâm hồn luôn luôn bình an, bất chấp những xáo trộn, bất an do ngoại cảnh. Có bình an mới có hạnh phúc. Sự bình an mà Tin Mừng nói đến, mà Đức Giê-su cầu chúc hoặc hứa ban, chủ yếu là thứ bình an trong tâm hồn hơn là thứ bình an bị lệ thuộc vào ngoại cảnh. Bình an bên ngoài thuộc thể chất hay vật lý thì người thế gian cũng có thể ban cho ta được, nhưng họ khó có thể ban được bình an trong tâm hồn. Còn Đức Giê-su chủ trương ban sự bình an ấy: "Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian" (Ga 14,27). Sự bình an cũng như niềm vui nội tâm ấy "không ai lấy mất được" (Ga 16,22). Đó là một thứ bình an và niềm vui độc lập với ngoại cảnh, không vì khó khăn hay rắc rối bên ngoài mà bị mất.
Người Ki-tô hữu cần phải đạt được sự bình an và niềm vui nội tâm ấy. Để đạt được, họ chỉ cần thật sự tin tưởng vào Tin Mừng sống tinh thần Tin Mừng, vì Tin Mừng này là "Tin Mừng bình an". Sống tinh thần Tin Mừng là: sống yêu thương thật sự, tin tưởng và phó thác vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa, luôn tha thứ không để tâm chấp nhất lỗi lầm của bất kỳ ai, nhất là sống tinh thần tự hủy, không đặt quá nặng "cái tôi" của mình, nhận ra thánh ý Thiên Chúa luôn luôn khôn ngoan và đem lại nhiều ích lợi hơn ý riêng của mình, có tinh thần siêu thoát, không quá gắn bó với những thực tại chóng qua của trần gian…

2. Bình an nội tâm, điều kiện để lãnh nhận Thánh Thần
Trong bài Tin Mừng hôm nay, có lẽ không phải vô tình mà Đức Giê-su trước khi thổi hơi và ban Thánh Thần cho các tông đồ đã lập lại một lần nữa lời cầu chúc "Bình an cho anh em!". Như vậy phải chăng để nhận lãnh Thánh Thần, thì điều kiện quan trọng là phải có tâm hồn bình an? Và đồng thời bình an cũng lại là kết quả của một tâm hồn tràn đầy Thánh Thần (x. Gl 5,22)? Thực ra, điều kiện quan trọng để nhận được Thánh Thần là phải có tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, phải có tâm hồn trong sạch. Chính vì thế mà Giáo Hội buộc những ai lãnh nhận bí tích thêm sức - tức lãnh nhận Thánh Thần - phải sạch tội, nghĩa là có ân nghĩa với Thiên Chúa, yêu mến Thiên Chúa. Mà một khi đã sạch tội, sống trong ân nghĩa với Thiên Chúa, sống theo tinh thần của Ngài thì đương nhiên sẽ có sự bình an trong tâm hồn.
Bình an này chỉ đến với hoặc ở với những ai xứng đáng với nó, tức những người sống theo tinh thần Tin Mừng là tinh thần yêu thương, tinh thần Tám Mối Phúc của Đức Giê-su (Mt 5,3-12), là lối sống siêu thoát: "Ai đáng hưởng bình an, thì bình an sẽ ở lại với người ấy" (Lc 10,6). Những người chạy theo tinh thần thế tục, coi trọng tiền bạc, danh vọng, địa vị hơn tình nghĩa, sống ích kỷ, vụ lợi, tham lam… không thể có được thứ bình an sâu xa này. Do đó, thay vì nói có ân nghĩa và tình yêu đối với Thiên Chúa là điều kiện để lãnh nhận Thánh Thần, có thể nói cách khác: bình an nội tâm là điều kiện để lãnh nhận Thánh Thần. Thánh Thần có thể được ban cho người không có bình an vật lý hay thể lý, nhưng chắc chắn không thể ban cho người không có bình an nội tâm.
Những ai đã cảm nghiệm được sự bình an và niềm vui nội tâm thật sự - nghĩa là thứ bình an lâu dài và thường xuyên - đều cảm thấy đó là một phần thưởng rất lớn và xứng đáng cho việc sống theo tinh thần Tin Mừng của mình, vì họ đã được phần nào nếm trước hạnh phúc thiên đàng ngay tại trần thế này, thứ hạnh phúc tự tại trong lòng họ, không ai lấy mất được. Đang khi những người khác cho họ là dại dột vì từ bỏ những lợi lộc và thú vui trần tục, thì họ lại cảm thấy chính những người theo đuổi những thứ chóng qua và dễ bị cướp đoạt ấy mới là dại dột. Những người này đã từ bỏ một cái gì quí giá, sâu xa và trường tồn để đổi lấy cái mau qua, dễ mất. Các tông đồ và các Ki-tô hữu tiên khởi đã suy nghĩ như thế vì thật sự cảm nghiệm được sự bình an và Thánh Thần Đấng ban bình an luôn ở với họ. Các ngài đã quí Thánh Thần và sự bình an ấy hơn cả mạng sống và mọi thứ của cải trần gian. Còn chúng ta, những kẻ đang mang danh Ki-tô hữu, thì sao?

3. Nhận lãnh Thánh Thần để được sai đi
Ngay trước khi thổi hơi để ban Thánh Thần cho các tông đồ, Đức Giê-su không chỉ chúc bình an, mà còn nói: "Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em". Như vậy, việc lãnh nhận Thánh Thần còn có một mục đích quan trọng là để làm công việc của Thiên Chúa. Trong sách Công Vụ Tông Đồ, ngay sau khi lãnh nhận Thánh Thần, các tông đồ lập tức làm việc cho Thiên Chúa: rao giảng Tin Mừng một cách mạnh dạn, không sợ sệt, và còn làm được nhiều điều kỳ diệu: các ngài nói một cách rất bình thường nhưng ai nấy đều nghe thấy các ngài nói ngôn ngữ của mình, các ngài còn có thể trừ quỉ ám hay chữa khỏi những bệnh nan y trong chốc lát…
Thánh Thần được ban xuống trên những ai xứng đáng lãnh nhận với nhiều quyền năng kèm theo, không phải để phục vụ cho lợi ích riêng của người ấy, mà vì lợi ích chung của mọi người: "Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung" (1 Cr 12,7). Vì thế, những ai được ơn đặc biệt của Thánh Thần đều phải dùng ơn ấy để phục vụ mọi người, nhất là để loan báo Tin Mừng, để thăng tiến đời sống tâm linh con người, để giúp ích cho Giáo Hội, cho xã hội và thế giới. Không ai lãnh nhận ơn Thánh Thần lại được phép dùng ơn ấy cho lợi ích riêng của mình: để được danh tiếng, được kính nể, nhờ đó được lên chức, được nắm quyền, được dồi dào tiền bạc, v.v… Những người có những ý hướng vị kỷ ấy cho dẫu có làm những công việc tốt đẹp, cũng không thể lãnh nhận Thánh Thần.
Vậy, muốn lãnh nhận Thánh Thần, chúng ta cần phải có "bụng chung", biết lo lắng cho công việc chung, của Giáo Hội hay xã hội, của tập thể hay cộng đoàn, của quê hương đất nước. Vừa tha thiết xin Thánh Thần đến với mình, vừa giữ tính ích kỷ, chỉ biết vun quén cho mình, không hề nghĩ đến người khác thì chẳng khác gì muốn thổi cơm mà lại đổ cát vào nồi. Thật là "công dã tràng", nhưng có biết bao Ki-tô hữu đang làm như vậy! Bạn có làm như vậy không? Đừng chờ đợi có ơn Thánh Thần rồi mới làm tông đồ, hãy hăng say làm tông đồ trước đi rồi tự động Thánh Thần sẽ được ban cho ta!

CẦU NGUYỆN
Tiếng Chúa nói với tôi: "Sự bình an của Cha rất quí giá, nên đã có biết bao người sẵn sàng hy sinh tất cả để có được sự bình an ấy! Họ là những người khôn ngoan. Vì chỉ có thể thứ bình an ấy mới làm cho họ hạnh phúc, thứ hạnh phúc mà thế gian không thể ban được, cũng không thể hủy hoại được. Thứ bình an ấy, Cha chỉ ban cho những người xứng đáng, những người dám thật sự sống Tin Mừng của Cha. Con chắc chắn sẽ được sự bình an ấy nếu con thật sự sống đúng những đòi hỏi của Tin Mừng. Con có dám sống như thế không? Nếu không dám thì con cũng đừng lấy làm lạ và thắc mắc tại sao Cha không ban thứ bình an ấy cho con!".
 
 

HiệnXuống-32.  LỄ HIỆN XUỐNG MỚI,  Lm Augustine, S.

Lần đầu tiên thành viên của 56 phong trào đoàn sủng và cộng đoàn mới của Giáo Hội tập: HIỆNXUỐNG-32

Lần đầu tiên thành viên của 56 phong trào đoàn sủng và cộng đoàn mới của Giáo Hội tập họp lại theo lời mời của vị Đại Diện Chúa Kitô. Đức Gioan Phaolô II muốn cuộc tập họp khổng lồ này chứng tỏ để mọi người thấy Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục hiện xuống và đang canh tân bộ mặt trái đất.
Hôm ấy là thứ bảy 30 tháng 5, 1998, ngày áp lễ Hiện Xuống, có tới nửa triệu người đến từ khắp nơi trên thế giới. Riêng Âu Châu chừng 2,000 xe buýt chở khách tới Roma. Hàng triệu người coi truyền hình theo dõi biến cố này, qua 20 hệ thống truyền thông. Chưa bao giờ công trường Đền Thờ thánh Phêrô lại chật ních người tới mức đó, kể từ Năm Thánh 1950 đến nay.
Nhưng có phải chính Chúa Thánh Thần đã khơi dậy những phong trào đoàn sủng và những cộng đoàn mới này của Giáo Hội? Ta hãy thử coi một số trường hợp.

Cộng Đoàn Thánh Êgiđiô
CỘNG ĐOÀN THÁNH ÊGIĐIÔ là cộng đoàn từng tổ chức những buổi cầu nguyện do các vị lãnh đạo tôn giáo vì hoà bình thế giới, tại Assidi và ở nhiều nơi khác. Cộng đoàn này còn tổ chức những cuộc hoà đàm để chấm dứt chiến tranh tại Libăng, Ensavađo, Guatemala, Anbani, Acmêni, Angiêri, Etiôpi, Namibia, Môgiambic, v.v... Thế mà người khởi xướng, 30 năm trước đây, chỉ là một học sinh trung học cùng với các bạn trẻ 17-18 tuổi. Họ rắp tâm sống Tin Mừng và phục vụ người nghèo. Cậu học sinh lãnh đạo nhóm tên là Anrê Đinh Khang Đệ (Andrea Ricardi), nhưng số người nhập nhóm nay đã lên tới 15,000 người thuộc đủ mọi lứa tuổi và hiện có mặt trên 20 quốc gia. Sở dĩ họ tự xưng là Cộng Đoàn Thánh Egiđiô, vì chính tại ngôi thánh đường nhỏ này ở Rôma, họ từng hẹn nhau tới họp. Ba điểm đặc sắc cơ bản của cộng đoàn này là cầu nguyện, tình bạn và phục vụ người nghèo. Ở đâu cộng đoàn này có mặt cũng đều có những chương trình phục vụ người nghèo như, bếp nấu cháo cho người nghèo, các bà săn sóc trẻ em túng thiếu nơi xóm nghèo, chương trình kèm học sinh sau giờ học, chương trình tự nguyện săn sóc bệnh nhân tại gia hoặc tại bệnh viện.
Lý do Cộng Đoàn Thánh Egiđiô tham gia sinh hoạt liên tôn như tổ chức những buổi cầu nguyện tại Asidi, Nagasaki, v.v... hoặc tham gia sinh hoạt ngoại giao vì hoà bình thế giới, chính là để bảo vệ người nghèo mà thôi. Có thể nói, chiến tranh là mẹ đẻ ra khổ đau và chết chóc trên thế giới. Trong chiến tranh, chỉ có người giàu được hưởng lời nhờ bán vũ khí và những dụng cụ khác, còn người nghèo chỉ là nạn nhân. Thậm chí tôn giáo từng bị lạm dụng gây chết chóc tang thương cho dân nghèo. Do đó nhu cầu bảo vệ người nghèo khỏi chiến tranh bằng những sinh hoạt ngoại giao và những buổi cầu nguyện vì hoà bình thế giới.

Phong Trào FOCOLARE
Phong trào FOCOLARE khởi đi từ một kinh nghiệm thần bí. Một cô sinh viên sư phạm nhân dự đại hội Công Giáo Tiến Hành tại thành phố Loretô, miền Nam Italia, chỉ muốn vào nhà thờ cầu nguyện một chút. Cô sinh viên 19 tuổi này tuyệt nhiên không tìm cho mình một bậc sống hoặc một đường tiến thân nào. Thế mà khi bước vào căn nhà Nadarét trong lòng nhà thờ Loretô, cô Chi Lan Lưu Bích (Chiara Lubich) bỗng thấy mình như bị tràn ngập trong một mầu nhiệm lớn lao. Mầu nhiệm nào? Mầu nhiệm thánh gia thất Đức Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse. Tai cô như được nghe tiếng nói bập bẹ của cậu bé Giêsu và tiếng hát của Mẹ Maria vọng lại từ bốn bức tường. Công trình của thánh Giuse cũng hiển hiện trước mắt cô.
Thời gian đại hội kéo dài, ngày nào Chi Lan cũng một mình trở lại căn hộ Nadarét thân thương ấy với cũng một cảm xúc mạnh, cũng một ấn tượng sâu, như thể con người cô hoàn toàn ngập chìm giữa bao hồng ân từ trời cao.
Ấn tuợng nổi bật trong thánh lễ kết thúc đại hội ấy là đám đông nữ sinh viên đội lúp trắng tràn ngập nhà thờ Loretô. Cô Lưu Bích được cho biết từ nội tâm rằng đó là hình ảnh về đám đông sẽ theo lối sống của cô. Lối sống nào? Khi cha sở họ đạo nơi cô dạy học, hỏi cô về kết quả đại hội, cô liền thưa: “Con đã tìm ra lối sống cho con.” “Vậy là con sẽ lập gia đình?” “Thưa không.” “Con sẽ vào dòng tu chăng?” “Thưa không.” “Con sẽ sống độc thân giữa đời?” “Thưa không.” Cha sở hoàn toàn không hiểu gì về lối sống trinh tiết giữa đời mà lại khăng khít trong liên đới cộng đoàn, là lối sống mà Đức Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse đã sống.
Điều gây ngạc nhiên là bốn năm sau đó chẳng có gì xảy ra như hậu quả của kinh nghiệm thần bí nói trên, nhưng khi nó xảy ra thì lại ở giữa một hoàn cảnh rất bất lợi, tức là giữa những cuộc dội bom, bất kể đêm hay ngày, vào cuối thế chiến thứ hai tại Italia. Chi Lan và các bạn mỗi khi chạy đến hầm trú đã không quên mang theo sách Phúc Âm. Chính nơi hầm trú và giữa cảnh chiến tranh tàn khốc, họ được ban cho ơn nhận biết Thiên Chúa là Tình Yêu như lý tưởng duy nhất đời họ. Thâm tín ấy mãnh liệt đến nỗi đời họ được lôi kéo tham dự vào Tình Yêu của chính Thiên Chúa. Tới nay đã hơn nửa thế kỷ rồi thế mà họ vẫn sung sướng cam kết với nhau lời cam kết “Em yêu chị tới mức sẵn sàng chết vì chị” hoặc “Chị yêu em tới mức sẵn sàng chết vì em.” Cũng tình yêu ấy thúc đẩy họ phục vụ tha nhân.
Những bạn đầu tiên của cô Lưu Bích chẳng phải là những con người nổi nang, như Nga (Natalia Dallapiccola), cô gái mồ côi cha từ tuổi 16 nên phải lo vừa đi học vừa đi làm; hoặc Đỗ Thị Ri (Doriana Zamboni), cô học trò không được lên lớp nên đến với cô Lưu Bích ban đầu chỉ để được kèm mà thôi v.v... Nhưng chính qua những con người loại đó mà ngọn gió Tin Mừng do Chúa Thánh Linh thổi cách mãnh liệt. Tại hầm trú họ đọc Tin Mừng chỉ để đưa ra thực thi. Kết quả thật lạ lùng. Những người theo gương họ ùn ùn kéo đến ban đầu từ 58 thôn xã nhỏ xung quanh thành phố Tân Đô tức Trentô. Khi chiến tranh chấm dứt năm 1945, đám người ấy mà con số lên tới 500, phải tìm đến họp tại phòng họp của nhà Dòng Tên tại Tân Đô thay vì tại nhà các cha Phanxicô như trước kia họ vẫn họp.
Ban đầu họ chỉ kể mình là Kitô hữu có bổn phận thực thi Phúc Âm nhưng Chúa an bài để Focolare trở nên như một cây xum xuê hiện nay với hơn 100,000 thành viên nòng cốt và hơn 2 triệu thân hữu đang góp phần xây dựng nền văn minh tình yêu hướng tới thế giới hiệp nhất.

Rao giảng Tin Mừng và huấn luyện các Kitô hữu vững theo bề sâu
Điều xảy ra với Cộng Đoàn Thánh Egiđiô và Focolare minh họa lời Đức Gioan Phaolô II nói ngày 30 tháng 5, 1995. Ngài nhắc nhở mọi người có mặt về lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống đầu tiên có Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và các môn đệ của Người tại nhà Tiệc Ly. “Điều đã xảy ra 2000 năm trước đây tại Giêrusalem thì nay như được làm mới lại nơi công trường Đền Thờ Thánh Phêrô như tâm điểm của Kitô giáo.” Điều mà Đức Thánh Cha nhấn mạnh là cần phải nhiệt thành rao giảng Tin Mừng, đồng thời huấn luyện những Kitô hữu vững vàng theo bề sâu. Ngài nói rằng chính các phong trào và các cộng đoàn mới của Giáo Hội là một đáp trả do Chúa Thánh Thần khơi dậy để đối phó với thách đố gay cấn ở cuối thiên niên kỷ thứ hai. Vậy Đức Gioan Phaolô II hướng về phía các thành viên các phong trào và các cộng đoàn mới của Giáo Hội và nói với họ: “Chính anh chị em là một đáp trả sống động với thách đố cuối thiên niên kỷ thứ hai.” Và để kết luận, ngày nói với họ: “Hôm nay, từ công trường này, Đức Giêsu kêu gọi từng người giữa anh chị em khi tuyên bố: các con hãy đi đến với thế giới và hãy rao giảng Tin Mừng cho mọi thọ tạo (Mc 16,15). Quả thật, Chúa Giêsu tin tưởng nơi mỗi người anh chị em và Giáo Hội cùng chung một niềm tin tưởng đó.”
Vậy bài Tin Mừng hôm nay (Ga 20,19-23) nói về Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra và ban Thánh Thần xuống trên các môn đệ xưa không thể xa lạ với những điều được người kế vị tông đồ Phêrô xác chuẩn như vừa nói.
Xưa Đức Kitô sống lại đến với các môn đệ để ban cho họ ơn bình an (20,19-21) và niềm vui (20,20). Cở sở của bình an và niềm vui chính là tình yêu toàn thắng của Đức Kitô như được ghi lại nơi tay và cạnh sườn Người (c.20).
Nhưng Đức Giêsu phục sinh đến không chỉ để làm cho các môn đệ được vui và bình an. Những ơn ấy phải tràn ngập thế giới. Lý do vì các môn đệ tiếp nối cùng một cuộc sai phái khởi đi từ Đức Giêsu: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (c. 21). Sức sống mới mà các môn đệ đón nhận từ Đấng Phục Sinh là Thánh Thần mà Đức Giêsu thổi trên các ông (c.22). Xưa trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào con người (St 2,7) và ban sự sống, thì nay Đấng Phục Sinh cũng thổi Thần Khí của Người trên các môn đệ. Đó là công cuộc tạo thành mới do Đức Kitô Phục Sinh nhờ Thánh Thần và qua các môn đệ.
Các môn đệ đón nhận sự sống mới của Đấng Phục Sinh nhờ Chúa Thánh Thần nên đã làm chứng và loan Tin Mừng đó cho thế giới. Giáo Hội tiếp nối cũng công trình đó. Cho nên cuộc tập họp thành viên của 56 phong trào đoàn sủng và cộng đoàn mới của Giáo Hội ngày 30 tháng 5,1998 thực là hình ảnh của một lễ Hiện Xuống được nối dài.
 
 

HiệnXuống-33.  VIỆC LÀM CẢN TRỞ ƠN CHÚA THÁNH THẦN

 - Lm Trần Bình Trọng
SCv 2,1-11; 1 Cr 12,3b-7.12-13; Ga 20,19-23
 

Có thể nói Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống là ngày Sinh nhật của Giáo Hội và cũng là Giáo: HIỆNXUỐNG-33

Có thể nói Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống là ngày Sinh nhật của Giáo Hội và cũng là Giáo Hội chính thức lãnh sứ vụ rao giảng Tin mừng cứu độ. Trước ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ta thấy cái cảnh một môn đệ bán Thầy, môn đệ khác chối Thầy, số còn lại bỏ chạy trốn. Sau ngày Lễ Hiện Xuống, các tông đồ trở nên hăng say, làm chứng cho việc Chúa sống lại và rao giảng Tin mừng cứu độ, mà không còn sợ hãi. Vậy thì cái động lực nào đã khiến có sự thay đổi đó?
Sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại: Các tông đồ được đầy tràn Chúa Thánh Thần (Cv 2,4), và tiếp tục rao giảng Lời Chúa cách tự tin (Cv 4,31) và với quyền năng Chúa trao ban, họ làm chứng cho việc Chúa sống lại (Cv 4,33) và làm nhiều phép lạ cho người ta tin tưởng (Cv 5,12). Không những Chúa Thánh Thần biến đổi đời sống các tông đồ, mà còn biến đổi đời sống của những người nghe lời họ giảng dạy. Sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại: Tất cả mọi kẻ tin đều sống hòa hợp với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ bán tài sản gia nghiệp rồi phân phát cho mỗi người tùy theo nhu cầu từng người (Cv 2,44-45). Hằng ngày họ hiệp nhất một lòng một ý cùng nhau ở trong đền th (Cv 4,33). Mỗi ngày Chúa cho gia tăng số những người được cứu rỗi (Cv 2,47). Có ngày thêm chừng năm ngàn người gia nhập đạo Chúa (Cv 4,4).
So sánh những hoạt động của Chúa Thánh Thần thời Giáo Hội sơ khai với thời nay, nhiều người tự hỏi: Tại sao Chúa Thánh Thần không làm những việc đại thể trong thời đại ta đang sống? Rồi họ kết luận: Thời đại ta đang sống không phải là thời đại Chúa Thánh Thần. Thiết tưởng hôm nay mỗi người phải loại trừ ra khỏi đầu óc cái quan niệm cho rằng thời đại ta đang sống không phải là thời đại Chúa Thánh Thần.
Trước hết không có chuyện bỏ rằng thời đại nọ là thời đại Chúa Thánh Thần, còn thời đại kia không phải là thời đại Chúa Thánh Thần. Cái thời đại mà người ta cho rằng không phải là thời đại Chúa Thánh Thần là tại người ta chứ không phải tại Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần bao giờ cũng hiện diện trong ta hay xung quanh ta. Nếu ơn Chúa Thánh Thần không thấm nhập vào tâm hồn ta là vì ta đã đóng cửa tâm hồn, không cho Chúa vào hoặc ta làm tắc nghẽn ơn Chúa Thánh Thần ở trong ta. Ta làm cho ơn Chúa Thánh Thần bị sa lầy bằng những chướng ngại vật trong đời sống như khi ta làm việc thờ phượng đạo đức một cách máy móc cho qua lần chiếu lệ. Ta làm bế tắc ơn Chúa Thánh Thần khi ta chỉ giữ những điều kiện tối thiểu của người Công giáo, khi ta tiếc rẻ thời giờ với Chúa, bủn xỉn và mặc cả với Chúa như: Lạy Chúa, nếu con theo đạo, nếu con làm việc tông đồ, đạo đức, nếu con thế nọ thế kia thì con sẽ được hưởng lợi gì trong đời sống?
Theo kinh nghiệm của những nhà dẫn đàng thiêng liêng thì Chúa không thích lối mặc cảm đó của loài người. Ta cứ làm cho Chúa cách quãng đại, Chúa sẽ bù đắp lại. Ta làm tắc nghẽn ơn Chúa Thánh Thần khi ta phân chia trái tim thành những ngăn ơ khác nhau như một ngăn dành cho công việc làm, một ngăn dành cho việc giải trí, một ngăn dành cho việc ăn uống, một ngăn dành cho việc ngủ nghỉ. Và những ngăn đó thì ta không cho Chúa vào. Còn cái ngăn nhỏ nhất cuối cùng, ta mới dành cho Chúa, cho việc thờ phượng và cầu nguyện. Một chướng ngại vật nữa làm cản trở ơn Chúa Thánh Thần là tính lười biếng, tham lam, ích kỷ, ghen tương, giận hờn, nói hành nói xấu, bỏ vạ cáo gian, bịa đặt, vu khống, khoe khoang, tự phụ...
Vậy để ơn Chúa Thánh Thần có thể tác động trong tâm hồn và đời sống, ta cần:
- Loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn.
- Mở nắp đậy để ơn Chúa khỏi bị tắc nghẽn mà tuôn trào vào tâm hồn.
- Khuấy động ơn Chúa Thánh Thần như khuấy một ly cà phê hay sinh tố để có thể uống chất bổ béo.
Ơn Chúa Thánh Thần có thể tác động tâm hồn bất cứ ai miễn là họ biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa và cộng tác với ơn Người. Và đó là chính lúc mà ta cảm nghiệm được thời đại Chúa Thánh Thần trong đời sống. Và nếu các thành phần trong Giáo Hội cũng làm như vậy thì ta sẽ có được thời đại Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội.
 
 

HiệnXuống-34.  NGÔN NGỮ CỦA TOÀN CẦU - Lm. Nguyễn ngọc Long

Cv 2,1-11; 1 Cr 12,3b-7.12-13; Ga 20,19-23
 

Ngôn ngữ là phương cách thông tin, biểu lộ tâm tình cho nhau và dùng để liên lạc với nhau: HIỆNXUỐNG-34

Ngôn ngữ là phương cách thông tin, biểu lộ tâm tình cho nhau và dùng để liên lạc với nhau trong cuộc sống. Bất cứ dân tộc nào trên mặt đất cũng đều có ngôn ngữ cho mình. Trong niềm tin đạo giáo chúng ta dùng ngôn ngữ gì để bày tỏ tâm tư của mình với Chúa? Và Chúa dùng ngôn ngữ gì để thông tin nói với ta?
Nói với Chúa chúng ta dùng ngôn ngữ của ta, vì Ngài hiểu được hết. Còn khi Chúa nói với chúng ta, Ngài cũng dùng ngôn ngữ của chúng ta. Nhưng khi nói loan truyền lời Chúa cho các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ, ngôn ngữ gì được xử dụng để mọi người có thể nghe hiểu được?
Kinh Thánh thuật lại phép lạ ngày lễ Chúa Thánh hiện xuống như sau: Gió thổi đến và lửa chiếu dọi ánh sáng cùng mang hơi nóng trên các Tông Đồ. Đó là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, người từ nay thay Chúa Giêsu cùng đồng hành với họ và trong Hội Thánh Công Giáo. Khi Chúa Thánh Thần xuống trên các Tông Đồ, Ngài mang đến cho các Ông luồng gió mới. Luồng gió mới này làm các ông phấn khởi tung cửa đứng ra trước công chúng nói về Chúa Giêsu là con Thiên Chúa đã sinh ra, đi khắp nơi rao giảng tin mừng nước Thiên Chúa, chữa lành bệnh tật cho người đau ốm, mang niềm an ủi cho người bị bỏ rơi, bị đau khổ, sau cùng đã chết và đã sống lại. Các ông được ơn lạ nói những thứ ngôn ngữ của tất cả những người hôm đó hiện diện nghe các ông. Chúa Thánh Thần ban cho các Tông Đồ ân đức nói thứ ngôn ngữ mà tất cả mọi người cùng hiểu được, bất kể họ đến từ xứ sở nào...
Phép lạ này nói lên quyền năng của Thiên Chúa thực hiện nơi con người. Ngày xưa, con người cũng đã có lần toan tính xây cây tháp Babel chạm tới tầng trời, nhưng Thiên Chúa đã phá huỷ toan tính kiêu ngạo của họ bằng các ngôn ngữ khác nhau. Vì ngôn ngữ bất đồng, họ không thể thông hiểu nhau, nên công trình đó đã tan hoang. ( St 11, 1-9)
Máy vi tính ngày nay là phát minh mới lạ của con người. Máy cũng có một thứ ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ của máy vi tính xây dựng trên cơ sở lý luận toán học và sự chính xác. Ngôn ngữ máy vi tính giúp con người rất nhiều trong việc thông tin và trao đổi liên lạc với nhau nhanh chóng.
Trong đời sống, con người chúng ta dùng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ như Anh, Pháp, Việtnam... cho nhu cầu thông tin liên lạc với nhau. Nhưng có một thứ ngôn ngữ ngay từ thuở sơ sinh ai chúng ta cũng có, cũng biết: ngôn ngữ tình yêu, ngôn ngữ vỗ về âu yếm, ngôn ngữ sưởi ấm tâm hồn. Khi ngôn ngữ này được nói ra bằng âm thanh hay biểu lộ qua nét mặt nụ cười của ông bà cha mẹ, anh chị em, tất cả mọi người đều hiểu được cả.
Ngôn ngữ tình yêu này phát xuất từ trái tim tâm hồn, nên gọn nhẹ trong sáng và truyền đi tín hiệu nhanh chóng nhậy cảm ngay từ những giây phút đầu tiên của sự sống một con người. Qua ngôn ngữ này mối liên lạc tình người được xây dựng từ cha mẹ tới con cái còn thơ bé, con người với nhau trong đời sống, Thiên Chúa với công trình sáng tạo của Ngài trong hoàn vũ và con người với Thiên Chúa.
Ngôn ngữ này không viết bằng mẫu tự A B C hay hình vẽ biểu tượng như chữ Nho, chữ Thailan, chữ Arập... cũng không bằng những dấu hiệu chương trình lý luận toán học như ngôn ngữ của máy vi tính. Nhưng ngôn ngữ này từ bẩm sinh nằm ẩn sâu trong trái tim tâm hồn mỗi người. Mỗi người đều có chương trình ngôn ngữ này và đều có thể sử dụng được chương trình này.
Dù là tiếng mẹ để, ta cũng cần phải học, phải mài dũa, phải sửa đổi mới hoàn chỉnh trong sáng văn phạm cùng câu cú. Dù là ngôn ngữ đã được hệ thống và cài sẵn chương trình chạy trong máy vi tính, người sử dụng máy cũng vẫn phải học cách sử dụng điều khiển sao cho đúng không bị sai lầm.
Những sai lầm trong tiếng mẹ đẻ và trong ngôn ngữ máy vi tính là do con người sử dụng gây ra. Và chúng ta phải điều chỉnh lại cách sử dụng cho đúng. Trong ngôn ngữ tình yêu cũng thế, khi chương trình ngôn ngữ này chạy không đúng là do con người gây ra. Thiên Chúa ghi trong tâm hồn mỗi người chương trình ngôn ngữ này, nhưng khi sử dụng hoặc là con người không dùng đúng chương trình này hoặc là muốn sử dụng chương trình sai riêng của mình. Vì thế sinh ra sai lầm và không còn truyền đi tín hiệu thông tin, hiểu nhau được nữa.
Những sai lầm này là thiếu tình liên đới với nhau, khi chỉ chú ý đến quyền lợi riêng tư của mình. Ngôn ngữ tình yêu kêu gọi sự hiểu biết thông cảm với nhau, mang niềm vui, niềm hy vọng, sự tha thứ làm hoà và tình liên đới trong cuộc sống.
Ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm xưa, các Thánh Tông Đồ đã tìm ra được ngôn ngữ chung cho hết mọi người. Ngôn ngữ này do Chúa mang đến và ghi khắc trong tâm hồn con người. Qua ngôn ngữ này ai cũng hiểu được tin mừng ơn cứu độ của Chúa và cùng nhau tìm về với Chúa, với nhau là anh em con một Chúa: ngôn ngữ tình yêu.
Chúa Thánh Thần mang từ trời cao đến cho con người ngôn ngữ của Chúa Cha, ngôn ngữ này khác gì là "tiếng mẹ đẻ" của con người: ngôn ngữ tình yêu - ngôn ngữ của toàn cầu.
 
 

HiệnXuống-35.  NGƯỜI TRỒNG CÂY SỒI

Mark Link S.J.
Chủ đề: "Lễ Hiện Xuống thách thức chúng ta phải chuyển việc chịu phép thêm sức vào hành vi phục vụ cụ thể của Kitô giáo."
 

Vào năm 1983, trong khi Isael chiếm đóng Lebanon, thì tại Evanston thuộc tiểu bang Iilinois, có: HiệnXuống-35

Vào năm 1983, trong khi Isael chiếm đóng Lebanon, thì tại Evanston thuộc tiểu bang Iilinois, có một cậu bé 13 tuổi làm lễ Bar Mitzvah để được công nhận đã tới tuổi trưởng thành. Sau nghi lễ, cậu bé liền đọc lá thư cậu tính gởi cho Thủ tướng đương thời của Israel là Menachem Begin. Cậu giới thiệu cho các bạn về lá thư đó như sau:
“Nghi Lễ Bar Mitzvah tôi vừa lãnh nhận đánh dấu thời điểm tôi trở thành một người Do Thái trưởng thành…. Tôi có bổn phận nói lên cảm nghĩ của mình… Vì vậy tôi tính viết một lá thư gởi cho Thủ tướng Begin. Tôi xin đọc cho các bạn nghe:
“Trọng kính Thủ tướng Begin, nhân dịp cháu nhận lãnh nghi lễ Bar Mitzvah cháu cảm thấy mình có bổn phận nói lên cảm nghĩ về cuộc chiến ở Labanon….”
“Cháu hiểu được lý do khiến Ngài đã hành động, tuy nhiên cháu vẫn nghĩ rằng chiến tranh là một phương cách sai trái. Nếu điều này có xảy ra lần nữa, cháu khuyên Ngài nên là kẻ dấn thân đầu tiên vào việc tìm kiếm hoà bình…. Bằng cách đi đến từng quốc gia Ả Rập giống như Ngài Sadat đã đến Israel. Nếu Israel sống hoà bình với người Ả Rập thì PLO (Mặt trận giải phóng Palestine) sẽ không còn căn cứ để gây tổn thương và giết chóc dân Do Thái ở Israel nữa” Kết thúc lá thư, cậu bé viết: “Thay vì mua những vật trang hoàng bàn ăn, cũng như kẹo và hạt dẻ để ăn tiệc mừng lễ Bar Mitzvah của cháu, cháu đã xin gia đình gởi món tiền ấy cho bệnh viện ở Netanya tại Israel, nơi những người Do Thái bị thương trong chiến tranh hiện đang điều trị. Kính thư Peter Burgh”
Trong ngày lễ Hiện Xuống hôm nay, lá thư vào dịp lễ Bar Mitzvah cũng như món tiền Peter gởi đến bệnh viện Do Thái nói lên điều gì với chúng ta đây?
Nghi thức Do Thái Bar Mitzvah uỷ nhiệm cho thanh niên Do Thái một vai trò tích cực hơn trong cộng đồng Do Thái. Nghi thức ấy mời gọi họ vào việc phụng sự và trách nhiệm dành riêng cho người đã trưởng thành. Nghi thức Do Thái Bar Mitzvah khá giống với Bí Tích Thêm Sức Kitô giáo. Phép Thêm Sức cũng uỷ nhiệm cho thanh niên Kitô giáo vai trò tích cực hơn trong cộng đồng Kitô Giáo. Mời gọi họ vào việc phụng sự và trách nhiệm dành riêng cho người trưởng thành.
Lá thư và món tiền của Peter Burgh trình bày cho thấy nỗ lực thi hành những trách nhiệm mới mẻ dành cho người trưởng thành nơi cậu ta. Chúng trình bày cho thấy nỗ lực dấn thân ngay vào dịp nhận nghi thức Bar Mitzvah của cậu.
Đây là một trong những mục đích chúng ta mừng lễ Hiện Xuống hàng năm. Lễ Hiện Xuống tác động như một lời mời gọi chúng ta phụng sự. Lễ này nhắc nhở kitô hữu trên toàn thế giới phải dấn thân ngay sau nghi thức Thêm Sức của mình. phải chuyển nghi thức ấy thành hành động cụ thể.
Đối với một số kitô hữu, điều này có nghĩa là được mời gọi đảm nhận vai trò phụng sự thuộc cấp cao hơn, tức là làm chứng cho Phúc âm một cách rõ ràng công khai truyền hoặc giảng Phúc Am và thi hành quyền lãnh đạo công khai trong cộng đồng Kitô giáo. Còn đối với những Kitô hữu khác, việc dấn thân này lại mang ý nghĩa việc phụng sự thuộc tầng cấp thấp hơn, tức là làm chứng cho Phúc âm một cách ít rõ ràng hơn. Chẳng hạn như cầu nguyện và hy sinh cho cộng đồng kitô giáo giống trường hợp Peter Burgh đã làm đối với cộng đồng Do Thái của cậu ta.
Việc phục vụ của người kitô hữu khác biệt nhau bởi vì ân sủng thiêng liêng của người kitô hữu cũng khác nhau. Thánh Phaolô đã nêu ra điểm này trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corintô như sau: “Có nhiều loại ân sủng thiêng liêng khác nhau nhưng cũng đều do một Thần Khí ban cho. Có nhiều phương cách phục vụ khác nhau nhưng chỉ có một Đức Chúa được phụng sự. Có nhiều khả năng phụng sự khác nhau nhưng chỉ có một Thiên Chúa ban cho mỗi người một khả năng phục vụ riêng” (1 cr 12: 4-6).
Lễ Hiện Xuống mời gọi mỗi người chúng ta thực hành các ân sủng thiêng liêng mà chúng ta nhận lãnh vào dịp lễ Thêm Sức của chúng ta. Lễ Hiện Xuống mời gọi chúng ta hành động và bảo chúng ta phải dấn thân ngay sau nghi thức lãnh nhận phép Thêm Sức và chuyển biến nó thành hành động.

Tôi xin minh hoạ điều ấy bằng câu chuyện sau:
Vào thập niên 1930, có một du khách trẻ đi thám hiểm, dãy núi Alpes thuộc nước Pháp. Anh ta đi đến một dải đất trọc rộng mênh mông. Dải đất này vừa hoang vắng, vừa cấm lai vãng, lại vừa xấu xí nữa. Đúng là một nơi mà qúi bạn sẽ vội vã đi ngay.
Đột nhiên người du khách trẻ dừng sững lại trên lối đi. Ngay giữa vùng đất hoang vu mênh mông là một ông già đang khom lưng mang trên túi hạt sồi, tay cầm một khúc ống sắt dài bốn bộ (cỡ 1m2). Ong ta đang dùng ống sắt ấy đâm xuống làm thành những chiếc lỗ trong đất đoạn bốc ra từ chiếc túi những hạt sồi rồi đặt vào mỗi lỗ một hạt. Ong nói với chàng du khách; “Tôi đã trồng hơn 100 ngàn hạt sồi. Có lẽ chỉ một phần mười số hạt sẽ mọc lên”. Vợ con ông đã chết cả rồi, và ông dồn những năm cuối đời để làm việc này. Ong nói: “Tôi muốn làm một điều hữu ích.”
Hai mươi năm sau, người du khách về lại miếng đất hoang vu dạo trước. Điều trông thấy trước mắt khiến chàng sửng sốt đến nỗi chàng không thể tin vào mắt mình. mảnh đất hiện được phủ rợp bởi một cánh rừng xinh đẹp rộng hai dặm và dài năm dặm. Nơi đây có chim chóc ca hát, các loài thú nô đùa và hoa rừng ngát hương.
Người du khách đứng lặng ở đó vừa nhớ lại mảnh đất hoang vu trước đây bây giờ đã thành mảnh đất xinh đẹp. Tất cả là đều do có người chăm sóc nó.
Lễ Hiện Xuống có một lời mời gọi hành động. Lễ này mời gọi chúng ta góp phần mở rộng Nước Chúa trên traí đất. Quí vị cũng như tôi có thể thay đổi một phần của nó như ông già đã làm.
Chúng ta đã nhận lãnh túi đựng hạt sồi và khúc ống sắt khi chúng ta chịu phép Thêm Sức. Bây giờ chúng ta phải làm nên một cái gì với những vật dụng trên. Chỉ cần một ít can đảm – giống như lòng can đảm của Peter Burgh biểu lộ trong việc viết thư cho Thủ tướng Begin hoặc lòng can đảm của ông già trong việc trồng hạt sồi.
Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện.
“Xin hãy đến !
Lạy Chúa Thánh linh, xin Ngài hãy đến !
Xin hãy đến làm ánh sáng hứơng dẫn chúng con.
Xin hãy đến làm sức mạnh nâng đỡ chúng con.
Xin hãy đến, lạy Chúa Thánh linh.
Xin Ngài hãy đến !
Xin hãy giúp chúng con đổi mới bộ mặt trái đất.”.
 
 

HiệnXuống-36.  NGÀI THỔI HƠI VÀO CÁC ÔNG

Gérard Bessière- Hyacinthe Vullier
 

Chiều ngày thứ Bảy trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng, vì các ông sợ người Do: HiệnXuống-36

Chiều ngày thứ Bảy trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái.
Sự sợ hãi ở tự trong lòng mà ra. Cửa đóng then cài đều từ bên trong, vách ngăn, lô cốt đều ở trong lòng người, vì thế mà Kinh Thánh đã nhắc đến “những tấm lòng sắt đá”.
Sự sợ hãi công phá, hủy hoại từ bên trong, làm tiêu ma ý chí. Cho nên, chào thăm những con người âu lo, sợ hãi, Chúa Giêsu đã ban “bình an của Ngài” cho họ. Bình an của Chúa không phải thứ bình an tầm thường của một cuộc sống tẻ nhạt phẳng lặng. Như ta thấy, cuộc sống của ngôn sứ thành Nadarét tuy ngắn ngủi nhưng sôi nổi và đầy biến cố. Ngài nhiều lần trực diện với kẻ thù, và cuộc đối diện sau chót đã đưa Ngài đến cái chết tất tưởi trên khổ hình thập giá.
Cho nên vừa ban bình an, Chúa vừa cho các tông đồ trông thấy những vết thương của Ngài, những vết thương chứng tích của một cuộc đối đầu quyết liệt. Bình an (Shalom), của Ngài là sống hài hòa thuận thảo với thánh ý Thiên Chúa.
Khi được Chúa ban bình an, những kẻ chết nhát đã cảm thấy “lòng tràn đầy niềm vui”. Đây là một bước chuyển biến lạ lùng, từ rụt rè đến phấn khởi. Thế là các môn đồ không còn co cụm nữa, họ sẵn sàng lên đường theo lệnh truyền của Thầy.
Chúa còn thổi hơi vào các ông, như khi xưa Thiên Chúa hà hơi vào thân xác bất động của Ađam để cho ông sự sống. Hà hơi vào các môn đệ, Chúa muốn các ông thành những con người mới: Các ông đã được lãnh Thần Khí (sức sống) của Thiên Chúa.
Các tông đồ được góp phần tái tạo thế giới, sau khi bản thân các ông được tái tạo. Các ông sẽ làm mới lại khuôn mặt địa cầu, nghĩa là diệt trừ tội lỗi, sự ác, để cho thế giới tốt lành hơn, dễ thương hơn. Các môn đệ của Chúa, qua các thời đại, vinh dự được góp phần cải tạo loài người và biến đổi lịch sử nhân loại.
" Các con hãy nhận lấy Thánh Thần…"
 
 

HiệnXuống-37.  " Các con hãy nhận lấy Thánh Thần…" Lm. Nguyễn văn Khảm

Ga. 20, 19-23 - NĂM A-B-Cấm phòng 1996
 

Trong những năm gần đây phong trào canh tân đoàn sủng phát triển mạnh trong Giáo Hội: HiệnXuống-37

Trong những năm gần đây phong trào canh tân đoàn sủng phát triển mạnh trong Giáo Hội Tin Lành và trong giáo Hội công giáo, có người gọi đó là mùa xuân của Giáo Hội đang là sức sống mới. Nhưng cũng có ngừơi đang nhìn phong trào này với thái độ cảnh giác. Họ sợ rằng nó sẽ đi xa đường lối của Giáo Hội. Tôi không có ý phân tích phê phán, nhưng theo tôi phong trào có một điểm mà chúng ta có thể ghi nhận. Phong trào giúp cho ta ý thức hơn về vai trò của Chúa Thánh Thần trong đời Kitô Hữu. Một vai trò mà nhiều khi chúng ta lãng quên. Có lẽ phần nào nó cũng giống như một nhà khoa học ở trong phòng thí nghiệm. Ong ra sức nghiên cứu về không khí như là một vật thể và mô tả không khí bằng những công thức khoa học có vẻ phức tạp mà ông quên rằng từng giây từng phút mình đang được ngủ lặng trong không khí mà đôi khi mình quên hít thở. Cho nên sự sống thân xác của mình mỗi lúc mỗi tàn tạ.
Tôi xin lấy một hình tượng quen thuộc trong Kinh Thánh để diễn tả về Chúa Thánh Thần. Thánh Luca mô tả: Vào ngày lễ ngũ tuần các môn đệ tề tựu cầu nguyện. Khi ấy có những lưỡi như lưỡi lửa rải rác đậu xuống trên mỗi người. Lửa là hình tượng Kinh Thánh dùng để diễn tả về Chúa Thánh Thần trong chúng ta.
Hôm nay tôi xin nhắc lại và đào sâu hơn hình tượng Thánh Gioan Thánh giá sử dụng. Ngài là người có kinh nghiệm thần bí sâu sắc đồng thời là một nhà thơ cho nên Ngài đã vận dụng ngôn ngữ thi ca để diễn tả kinh nghiệm thần bí đó. Đó là hình ảnh của lửa, của củi.
Chúng ta thử tưởng tượng cảnh mùa đông băng giá ở Châu Au, ngoài vườn có một khúc củi nằm cô đơn giữa tiết trời băng giá. Cái lạnh làm cho làn da của nó xần xùi, xấu xí. Thế rồi nó được ông chủ nhà đem vào quăng vào lò sưởi. Hơi nóng làm khúc củi cảm thấy ấm áp, hạnh phúc. Nó cảm nhận được đầy sự an ủi không tả được.
Nhưng tiếc rằng sự sung sướng kéo dài chẳng được bao lâu. Trong khỏanh khắc ngọn lửa ôm chặt lấy nó. Sức nóng của lửa nung nấu khiến cho nhựa cây rỉ ra bên ngoài làm thành một lớp da sần sùi như da cóc. Nó tỏa ra một mùi thật khó chịu. Khúc củi quằn quại trong than hồng một thời gian. Cuối cùng nó trở nên một với lửa. Nó không còn là củi mà chỉ là lửa. Lửa đem ánh sáng, lửa đem hơi ấm cho những người trong phòng.
Gioan Thánh Giá dùng hình ảnh tuyệt vời ấy để diễn tả về tác động của Chúa Thánh Thần trong đời sống chúng ta. Hình ảnh ấy giúp chúng ta thấy được đâu là cùng đích của đời sống trong Thánh Thần. Cái cùng đích ấy là Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta được nên một với Thiên Chúa. Như Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu nói:" Ta trở thành một giọt nước hoà trong đại dương". Sự nên một ấy chỉ trở thành trong đời sống vĩnh cữu cho những người mà Chúa ban cho kinh nghiệm thần bí, những người cảm nghiệm được sự nên một hồng phúc với Thiên Chúa.
Chúng ta chưa có được kinh nghiệm huyền bí đó. Nhưng tôi nghĩ: Nếu chúng ta thực hiện đúng những bí tích mà Giáo Hội cử hành là chúng ta đã đi đúng mục đích của Giáo Hội, dẫn ta đến chỗ nên một với Thiên Chúa. Khi ta rước mình Thánh Chúa và để Máu Thánh Chúa hoà vào máu thịt ta để ta nên một với Ngài .
Sự nên một xét trên một bình diện mà người ta gọi là hữu thể học đó hoàn toàn có thật nhưng không ai thấy được. Sự nên một ấy phải diễn tả qua cuộc sống bên ngoài theo kiểu nói của thánh Phaolô."Anh em hãy mang trong anh em những tâm tư như đã có trong Chúa Giêu Kitô". Cho nên khi nào chúng ta nên một với Chúa thật thì ta sẽ suy nghĩ như Chúa Giêsu, phản ứng như Chúa Giêsu, cảm xúc, yêu thương như Chúa Giêsu. Đấy là dấu chỉ cụ thể. Đấy là cùng đích.
Nhưng để đạt được tới cùng đích nên một trong Thiên Chúa ấy thì chúng ta phải trải qua một hành trình thanh tẩy của Thánh Thần. Hành trình này khởi đầu bằng một niềm an ủi ngọt ngào. Có một số kinh nghiệm nói lên điều ấy. Có anh chị em dự tòng nói với tôi: "Thưa Cha, con xin gì Đức Mẹ cũng cho con hết". Những tu sinh hoặc những nữ tu mới chập chững bước vào đời sống tận hiến:" Thưa Cha, con cảm thấy hạnh phúc vô cùng.". Những lúc ấy ai cũng ca ngợi Chúa, cảm thấy rất ư là dễ thương. Chúa yêu ta vô cùng.
Thưa anh chị em. Đấy chỉ là giai đoạn đầu. Sớm hay muộn gì chúng ta cũng được Chúa Thánh Thần dẫn vào giai đoạn thanh tẩy, giai đoạn đau đớn, giai đoạn này sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn. Vì nó đau đớn cho nên ta không muốn bước vào, không dễ chấp nhận.
Tôi nghĩ có 2 lý do chính và cũng là 2 giai đoạn chính.
Lý do thứ nhất: Thánh Thần giúp chúng ta chấp nhận con người thật của mình. Có lẽ nhiều người sẽ ngỡ gàng khi nghe thế. Chúa Giêsu nói:" Hãy yêu tha nhân như chính mình." Nếu tôi không yêu chính mình thì tôi không thể yêu người khác được. Yêu chính mình là chấp nhận con người thật của mình. Chấp nhận hình hài mà Chúa đã ban cho mình. Anh chị em thử kiểm nghiệm lại đời sống của mình xem. Đã biết bao lần ta mơ ước những điều mà chúng ta không có. Ví dụ: Phải chi Chúa ban cho mình sóng mũi cao hơn tí nữa thì đẹp biết bao. Hay phải chi da mình được trắng như bạn mình nhỉ… Những mơ ước ấy biều lộ điều chúng ta không chấp nhận chính mình.
Những suy nghĩ ấy làm cho ta tự mình dằn vặt mình. Tự mình hành hạ mình, tự gây đau khổ cho mình bằng những tự ti mặc cảm. Phải đau đớn lắm, phải tự đấu tranh mới chấp nhận chính con người thật của mình. Chúng ta hãy kêu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta thực hiện để chúng ta tự nhủ rằng: Dù tôi thế nào đi nữa Chúa vẫn yêu tôi. Chúa tạo dựng tôi cho Chúa. Cảm nhận được như thế sẽ làm cho ta thấy bình an hạnh phúc hơn.
Lý do thứ 2: Chấp nhận được chính mình rồi thì đến giai đoạn 2 của sự thanh tẩy. Đi từ cho" tôi đang là" đến chỗ" tôi được mời gọi để trở thành…." ở đây đòi hỏi sự bỏ mình. Cuộc sống Thánh Augustinô là một điển hình. Lúc trẻ ông xa vào con đường ăn chơi, mê đắm trên con đường tình dục, biết là sai nhưng ông vẫn biện minh cho mình, không nhìn nhận sự thật của chính mình, ông bảo:"Sở dĩ tôi bê bối thế vì ông thần ác ở trong hoành hành". Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần Thánh Augutinô mới đủ can đảm nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi. Từ đấy ông đã bước vào giai đoạn 2. Ong trở thành một người sống như Chúa Giêsu, yêu thương, phục vụ, suy nghĩ như Giêsu. Một con người trong Chúa Thánh Thần.
Chúng ta phải trở thành cái mà Chúa mời gọi chúng ta. Đó là gì ? Thưa là mỗi ngày tôi trở thành người hơn. Cho dù tôi sống bậc gia đình hay tu sĩ, cho dù tôi hành động gì nhưng vẫn hàm ẩn tất cả bên trong là cái tính người, là tính Kitô Hữu. Và hành trình đó đòi chúng ta phải tự bỏ mình mỗi ngày. Công việc ấy rất khó, một mình ta không thể làm được mà phải có tác động của Chúa Thánh Thần. Hãy cầu nguyện với Chúa Thánh Thần.
Chúa Thánh Thần sống như không khí tràn ngập vũ trụ, vấn đề là tôi có hít thở không ? Chúa Thánh Thần như dòng suối tràn lan mọi nơi. Vấn đề là tôi có múc mà uống không? Chúa Thánh Thần là ngọn lửa hừng hực, vấn đề là tôi có nhóm lên hay không? Cho nên cầu nguyện là tự tạo cho mình một nội tâm thích hợp. Mở lòng ra cho gió ùa vào, làm rỗng chính mình cho dòng nước chảy vào, và nhóm ngọn lửa lên cho đời mình.
Nếu chúng ta chấp nhận trở về với chính mình trong thinh lặng, nhìn lại đời mình, ta có thể khám phá ra những gì mà Lời Chúa hướng dẫn chúng ta hôm nay.
Tôi xin kết thúc suy niệm này bằng tâm tình của Thánh Augustinô. "Lạy Chúa là vẻ đẹp ngàn đời, vẻ đẹp cổ xưa nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ. Con đã chạy tìm những cái đẹp bên ngoài vốn chỉ là phản ánh èo uột của vẻ đẹp vĩnh hằng. Chúa là vẻ đẹp vĩnh hằng ở trong con thì con lại không kiếm tìm. Vì thế, xin Chúa cho con biết trở về với chính lòng mình mỗi ngày, để ở đó con gặp được Chúa, hít thở Chúa. Con đón nhận dòng nước ân sủng và lòng con được đốt cháy ngọn lửa Thánh Thần. Amen
 
 

HiệnXuống-38.  NGÀY HỘI LỚN CỦA GIÁO HỘI

Ý nghĩa các bài đọc:
 

Các bài đọc hôm nay đều qui hướng về Chúa Thánh Thần và các ơn huệ của Ngài. Ngay sau: HiệnXuống-38

Các bài đọc hôm nay đều qui hướng về Chúa Thánh Thần và các ơn huệ của Ngài. Ngay sau khi sống lại, vào ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giê-su đã hiện ra với các Môn Đệ để thực hiện lời hứa ban Chúa Thánh Thần. Sau lời chúc bình an và cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài, Đức Giê-su đã thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy đươc tha, anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” ( Bài Tin Mừng ). Tuy vậy, không có một dấu hiệu bên ngoài nào, cũng không có sự thay đổi nào nơi các môn đệ, phải đợi đến năm mươi ngày sau, tức vào đúng ngày Lễ Ngũ Tuần, mới thấy quyền năng của Chúa Thánh Thần biểu lộ rõ nét. Có thể nói đây là ngày hôi lớn của Giáo Hội.
Ngày ấy, Chúa Thánh Thần đến ào ào như tiếng gió thổi mạnh ùa vào đầy cả nhà và xuất hiện như những hình lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng lạ khiến những người từ nhiều nơi đến nghe phải sửng sốt thán phục vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình ( Bài đọc 1 ). Sứ mạng của Chúa Thánh Thần là bày tỏ và áp dụng ơn cứu độ cho mọi người bằng cách giúp ta tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa và qua các ơn sủng khác nhau, Ngài liên kết chúng ta trong một nhiệm thể duy nhất là Giáo Hội ( Bài đọc 2 ). Ngài đã ban cho các môn đệ và các tín hữu những ơn huệ nào ?
Những ơn huệ của Chúa Thánh Thần:
Chúa Thánh Thần hiện xuống, Ngài đã đem lại cho các môn đệ ơn bình an, sự bình an của những người thiện tâm vì luôn có Chúa ở cùng. Ngài đã ban cho các ông ơn can đảm không còn phải sợ hãi hội họp cách lén lút, mà sẵn sàng ra giữa công trường để rao giảng về Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng đã được Thiên Chúa sai đến, đã bị đóng đinh, chịu chết trên thập giá. Đức Giê-su đó đã sống lại ra khỏi mồ và lên trời. Ngài chính là Thiên Chúa. Các ông đã làm chứng cho Đức Giê-su bằng lời rao giảng, bằng đời sống gương mẫu thánh thiện và sau cùng bằng chính mạng sống mình. Kèm theo những lời giảng dạy, Chúa Thánh Thần còn cho các ông làm nhiều dấu lạ điềm thiêng ( Cv 2, 43 ) khiến cho dân chúng phải kinh ngạc.
Chúa Thánh Thần đã ban ơn soi sáng giúp các ông nhớ lại và hiểu rõ hơn những gì Đức Giê-su đã dạy trong thời gian Ngài còn ở với các ông. Ngài còn ban cho các ông sự khôn ngoan đặc biệt biến các ông, vốn là những ngư phủ ít học, thành những nhà thuyết giảng hùng hồn. Sau một ngày giảng dạy Thánh Phê-rô đã đem về cho Chúa khoảng ba ngàn người. Họ đã sám hối xin gia nhập Đạo Thánh Chúa ( Cv 2,14 – 41 ).
Chúa Thánh Thần hoạt động trong cộng đoàn tín hữu làm cho đời sống đạo đức trổ sinh nhiều hoa trái tốt đẹp: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng. Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung... hưởng theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến đền thờ... Họ ca tụng Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” ( Cv 42 – 47 ). Cả một bầu khí hân hoan bao trùm cộng đoàn các tín hữu.
3. Chúng ta phải làm thế nào để đón nhận ơn Chúa Thánh Thần ?
Để có thể đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta cần phải cầu nguyện với Ngài. Chúa Thánh Thần luôn hoạt động trong Giáo Hội cũng như trong tâm hồn mỗi người chúng ta, nhưng Ngài không làm một mình, Ngài đòi chúng ta phải cộng tác với Ngài. Sự cộng tác đó biểu lộ qua lời cầu nguyện: xin Chúa đến giúp chúng ta. Đó là lý do tại sao mỗi khi đọc kinh hay khởi sự làm một công việc gì, chúng ta thường đọc kinh Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là Đấng Phù Trợ luôn kề cận để thánh hóa, nâng đỡ và uốn nắn chúng ta, nhưng chúng ta thường hay lãng quên Ngài hoặc ít hiểu biết Ngài và liên hệ với Ngài. Cầu nguyện là việc mà các Tông Đồ và cộng đồng tín hữu tiên khởi đã làm, đó là hơi thở, là sức sống của mỗi người chúng ta.
Hãy lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua Lời Chúa, lời dạy bảo của các vị bề trên, qua những biến cố cuộc đời và qua tiếng nói của lương tâm. Nhưng điều quan trọng hơn nữa là để Chúa Thánh Thần hoạt động trong ta, không ngăn cản Ngài. Những ơn huệ của Chúa Thánh Thần tuôn đổ như mưa trên mặt đất, nhưng chỉ những ai mở lòng ra mới đón nhận được mà thôi. Tội nguy hiểm nhất, không thể tha thứ được là tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tội cố tình phủ nhận sự thật.
Trong cuộc sống đời thường, rất nhiều khi sự thật đã bị chà đạp, bẻ cong hoặc không được tôn trọng đúng mức vì lợi vì danh hoặc vì những mục tiêu đen tối khác. Cùng một lời nói hay sự việc nếu phát xuất từ những bậc quyền quý thì sẽ được đông đảo quần chúng đón nhận hoan hô, nhưng cũng chính lời đó, việc đó được nói lên hay thực hiện bởi những người dân bình thường, thấp cổ bé miệng thì bị coi thường, chẳng mấy ai quan tâm. Cần phải can đảm đứng về phía sự thật, làm chứng cho sự thật vì sự thật là chính Thiên Chúa.
Lạy Chúa Thánh Thần là nguồn Tình Yêu, nguồn Sức Mạnh và Sức Sống của chúng con. Chúng con cảm tạ Chúa vì biết bao hồng ân Chúa đã đổ xuống trên chúng con. Xin cho chúng con ý thức nhiều hơn nữa sự hiện diện của Ngài trong Giáo Hội cũng như nơi mỗi người chúng con. Xin cho chúng con yêu mến Chúa hơn, cho chúng con biết lắng nghe và đem ra thực hành những gì Chúa dạy bảo chúng con. Amen.
P. Đa-mi-a-nô ĐINH NGỌC THIỆU
 
 

HiệnXuống-39.  ÂN HUỆ CHÚA THÁNH THẦN

Khi hai người quý mến nhau, hay thương yêu nhau, để biểu lộ tình yêu họ sẽ tặng cho nhau: HiệnXuống-39

Khi hai người quý mến nhau, hay thương yêu nhau, để biểu lộ tình yêu họ sẽ tặng cho nhau những món quà quý giá: một cánh hoa, một tấm thiệp, một món quà... Một tặng phẩm hay một ân huệ mà một người đem tặng cho người khác là do lòng quảng đại và nhân hậu. Quảng đại vì người tặng hoàn toàn tự nguyện. Nhân hậu vì tình thương được thể hiện qua tặng phẩm.
Sự sống, sức khoẻ, tài năng, bình an, của cải, con cái... là những ân ban của Thiên Chúa cho con người. Ân huệ lớn nhất, ơn trọng đại nhất mà Thiên Chúa ban cho nhân loại là Chúa Thánh Thần.
Chúa Thánh Thần Hiện Xuống là Ân Ban lớn lao cho Giáo Hội và cho Đức Ma-ri-a.
1. Ân huệ Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội
Đức Ki-tô là người đầu tiên đã quan niệm tình yêu một cách vị tha chưa ai từng nghe thấy: “ Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng mình vì bận hữu” ( Ga 15, 13 ). Vì yêu thương con người, Ngài đã chịu khổ nạn, đã phục sinh và trao ban sự sống mới cho nhân loại. Đó là sự sống thần linh, là Chúa Thánh Thần.
Hôm nay đây trong ngày Lễ Ngũ Tuần, các Tông Đồ đang họp nhau cầu nguyện trong nhà Tiêc Ly cùng với Đức Ma-ri-a. Chúa Thánh Thần đã Hiện Xuống dưới hình lưỡi lửa đậu trên đầu mỗi người, ban tràn đầy sức sống mới. Quyền năng Chúa Thánh Thần đến trên Giáo hội với sức lay động và chuyển thông.
Sức lay động vì Chúa Thánh Thần đã đến như thể cuồng phong thổi vang dậy đầy nhà. Ghế bàn không bay bổng, tường – mái nhà vẫn nằm yên, nhưng lòng người đã được lay động. Quyền năng Chúa Thánh Thần như gió mạnh đã làm bật tung các ổ khoá, các cửa to cửa nhỏ của ngôi nhà các Tông Đồ đang ẩn náu. Quyền năng Thánh Thần tung họ ra khỏi pháo đài để với hai bàn tay không và một trái tim đầy nhiệt huyết họ đi vào thế giới rao giàng Tin Mừng Đức Giê-su Phục Sinh.
Được sức lay động và đầy lửa Thánh Thần, các Tông Đồ cùng lên tiếng cao rao những kỳ công của Thiên Chúa. Thánh Phê-rô, lòng đầy Thánh Thần, đã hùng hồn thuyết giảng vể Chúa Giê-su Thương Khó và phục sinh. Có 3.000 người xin được Rửa Tội. Giáo Hội được khai sinh từ đó vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Thánh Thần đến, Giáo Hội khai sinh.
Tác động của Chúa Thánh Thần trên Giáo Hội thật mãnh liệt. Chỉ một nhóm Tông Đồ nhỏ bé, sợ hãi, co cụm, hoang mang, lúc nào cũng cửa đóng then cài. Thế mà giờ đây khi được tràn đầy Thánh Thần họ đã trở nên mạnh mẽ phi thường, hiên ngang, can trường làm chứng và loan báo Tin Mừng Phục Sinh. Các Ngài được trang bị bằng quyền năng Thánh Thần để bẻ gãy sức mạnh của sự dữ, tội lỗi.
Dù bị đe dọa đòn vọt, dù gông cùm tù tội, các ngài vẫn trung kiên một niềm tin vào Chúa. Các Ngài đã lấy máu đào minh chứng cho lời rao giảng. Dù bị đàn áp bách hại, Giáo Hội vẫn lớn mạnh không ngừng. Hai mươi thế kỷ qua, con thuyền Giáo Hội do người dân chài Ga-li-lê cầm lái vẫn lướt qua mọi thăng trầm của lịch sử với muôn vàn thử thách giông tố để luôn đi tới.
Vậy thì bí quyết ẩn tàng trong đó và lý do tồn tại vĩnh cửu của Giáo Hội là gì nếu không phải chính là sức mạnh là quyền năng Chúa Thánh Thần.
Ngày nay, Giáo Hội vẫn chỉ có một sức mạnh đặc biệt, đó là quyền năng Chúa Thánh Thần. Với quyền năng này Giáo Hội không bao giờ chịu đóng chặt cửa để an hưởng hay cố thủ. Nhưng luôn ra khỏi tháp ngà để rao truyền Tin Mừng, dấn thân vào cuộc sống muôn mặt của thời đại, đồng hành và thích ứng với nhân loại trong thế giới ngày nay.
Công Đồng Vatican II là một Lễ Hiện Xuống Mới của Giáo Hội. Chúa Thánh Thần vẫn luôn thổi sinh khí mới và ban cho Giáo Hội những ân huệ lớn lao. Mẹ Tê-rê-xa Calcutta, Cha Thánh Pi-ô, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II là những gương mặt vĩ đại đã và đang làm bừng lên sức sống tình thương, hoà bình của Chúa Thánh Thần trong thế giới sục sôi vì chiến tranh và hận thù này.
2. Ân huệ Thánh Thần cho Đức Ma-ri-a
Ngày Lễ Ngũ Tuần, Đức Ma-ri-a cũng tràn đầy Thánh Thần. Khi các Tông Đồ ra đi rao giảng tin mừng thì Đức Mẹ lại rút vào nơi thanh vắng, thinh lặng sống ẩn dấu với Đức Ki-tô trong Thiên Chúa ( Col 3, 3 ). Chính Đức Mẹ đã khai sáng trong Giáo Hội ơn gọi sống đời ẩn dật và cầu nguyện bên cạnh đời sống tông đồ hoạt động.
Điều đó cho chúng ta thấy, trong Giáo Hội hoạt động cho dù vì NướcTrời chưa phải là tất cả. Giáo hội còn cần đến những tâm hồn cầu nguyện để lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần trước khi dấn thân vào sứ vụ. Thư Mục Vụ năm 1999 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã xác định: “Người loan báo Tin mừng phải là một nhà chiêm niệm trong hoạt động” ( Số 14 ). Giáo Hội cần lời cầu nguyện cũng như cần hoạt động cho công cuộc Truyền Giáo. Đức Mẹ là nguyên mẫu cho đời sống cầu nguyện này. Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su suốt đời sống trong Dòng Kín, thế mà Giáo Hội đã đặt Ngài làm Bổn Mạng các xứ Truyền Giáo.
Lễ Ngũ Tuần kết thúc chu kỳ Phụng Vụ mùa Phục sinh với Ân Huệ Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội cầu nguyện và hoạt động. Mỗi người tín hữu được mời gọi sống hai chiều kích ấy mỗi ngày để hoa trái Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, hiền hoà, tiết độ... được trổ sinh trong tâm hồn và cuộc sống chúng ta ( Gl 5, 23 – 23 ).
Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết
 
 

HiệnXuống-40. LỄ HIỆN XUỐNG HÔM QUA, HÔM NAY VÀ MÃI MÃI

Trong bài đọc một ( Cv 2, 1 – 11 ) ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Lu-ca mô tả Thánh: HiệnXuống-40

Trong bài đọc một ( Cv 2, 1 – 11 ) ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Lu-ca mô tả Thánh Thần xuống trên các Tông Đồ và hiệu quả của ơn ấy nơi các ông. Trình thuật của Lu-ca tuy chỉ đề cập rất vắn tắt về thời gian và địa điểm đã diễn ra biến cố ấy nhưng rất phong phú, súc tích về nội dung: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một” ( c.1 – 3 )
Lễ Ngũ Tuần trong dân Do-thái được cử hành năm mươi ngày sau Lễ Vượt Qua, bắt nguồn từ sự tạ ơn về mùa màng gặt hái được bằng cách dâng lên Thiên Chúa những hoa trái đầu mùa. Việc người Do-thái hân hoan cử hành mùa gặt vật chất ấy, qua sự quan phòng của Thiên Chúa, đã trở nên biểu tượng cho mùa gặt tinh thần mà các Tông Đồ bắt đầu thu hoạch trong ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Gió và lửa là những yếu tố tiêu biểu đi kèm các cuộc tỏ mình của Thiên Chúa trong Cựu Ước ( x. Xh 3, 2; 13, 21; Tv 104, 3 ). Gió và tiếng động hẳn phải mạnh lắm vì “nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến” ( c.6 ). Gió có sức lay động, làm bật gốc rễ. Chúa Thánh Thần đã lay động tâm hồn các Tông Đồ, làm trốc gốc tính nhát đảm ru rú trong nhà “vì sợ người Do-thái” và các cố tật khác đã thâm căn cố đế của các ông. Lửa tượng trưng cho hoạt động của Chúa Thánh Thần: soi sáng lòng trí các Tông Đồ, giúp các ông thấu hiểu những lời giảng dạy của Đức Giê-su, đúng như lời Đức Giê-su đã hứa ban trong Bữa Tiệc Ly ( Ga 16, 4 – 14 ).
Bằng cách đốt lửa yêu mến trong lòng các ông, Chúa Thánh Thần xua trừ sự sợ hãi và củng cố các Tông Đồ trở nên mạnh mẽ, dạn dĩ đi rao giảng, ra khỏi những căn nhà cửa đóng then cài kín mít. Sau cùng lửa còn có sức thanh luyện: quyền năng của Thiên Chúa có thể gột sạch mọi vết nhơ tội lỗi, làm cho tâm hồn ta được trắng hơn tuyết.
Lễ Hiện Xuống không phải là một biến cố riêng lẻ, biệt lập trong đời sống của Hội Thánh, một biến cố đã qua và đã hết. Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II khẳng định: “Chúng tôi có quyền, có nhiệm vụ và hân hoan loan báo cùng anh chị em rằng Lễ Hiện Xuống vẫn còn đang tiếp diễn. Chúng ta hoàn toàn có lý do chính đáng để có thể nói đến “giá trị trường tồn của Lễ Hiện Xuống”. Chúng ta đều biết năm mươi ngày sau Lễ Phục Sinh, các Tông Đồ tụ tập tại Lầu Thượng, nơi đã cử hành Bí Tích Thánh Thể lần đầu tiên và cũng chính từ đây các Tông Đồ đã bước ra để gặp Đấng Sống Lại lần đầu tiên, khám phá nơi bản thân quyền năng của Chúa Thánh Thần xuống trên mình, sức mạnh của Đấng mà Chúa đã nhiều lần hứa ban như kết quả của cuộc khổ hình trên Thập Giá; và được củng cố như thế, các Tông Đồ bắt đầu hành động, nghĩa là thi hành sứ vụ của mình ( ... ) Như vậy, Hội Thánh Tông Đồ được khai sinh. Nhưng ngày hôm nay – và liên tục không đứt đoạn cho đến giây phút này – Đền Thánh Phê-rô tại Rô-ma và mọi Đền Thờ, mọi Nguyện Đường, mọi nơi các môn đệ của Chúa tụ họp, đều là sự nối dài của Lầu Thượng nguyên thuỷ” ( Bài giảng ngày 25.5.1980 của Đức Gio-an Phao-lô II ).
Thần Khí các Tông Đồ lĩnh nhận không phải là thần khí đớn hèn nhưng là Thần Khí sức mạnh. Sức mạnh ở đây là sức mạnh của Thiên Chúa. Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy Chúa Thánh Thần đến ban cho các Tông Đồ sức mạnh, can đảm và lòng yêu mến để hoàn thành sứ mạng Đức Giê-su đã giao.
Ngày hôm nay, Chúa Thánh Thần cũng xuống trên chúng ta trong Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thêm Sức. Chúa Thánh Thần không chỉ được ban cho ta trong một khoảng khắc rồi thôi, mà Người còn theo ta trong suốt cuộc hành trình dấn bước theo sau Đức Giê-su của ta. Chúa Thánh Thần ban cho ta sức mạnh để tham gia công việc của Đức Giê-su. Người là sức mạnh đỡ nâng ta lúc ta yếu đuối, dẫn dắt ta lúc ta nghi nan, an ủi ta lúc ta sầu khổ và bảo trợ, bào chữa, phù trì cho ta trong suốt cuộc hành trình Đức Tin, tiến bước về Nhà Cha.
Hãy bước đi trong lòng mến. Hãy bước đi trong Thần Khí. Ta không thể tiến bước mà không có Chúa Thánh Thần.
ĐAN QUANG TÂM, Sài-gòn
 
 

HiệnXuống-41. TÌM HIỂU ĐÔI ĐIỀU HỌC HỎI VỀ CHÚA THÁNH THẦN

Nghe đến Chúa Thánh Thần, người viết tự thấy mình, dù hằng ngày quen làm dấu Thánh Giá: HiệnXuống-41

Nghe đến Chúa Thánh Thần, người viết tự thấy mình, dù hằng ngày quen làm dấu Thánh Giá và đọc kinh Sáng Danh, nhưng lắm lúc cũng không hướng đến Ngôi Ba Thiên Chúa một cách đầy đủ nhiệt tâm, vì thế phải vội vàng đọc lại tài liệu hầu tìm hiểu và học hỏi về Chúa Thánh Thần.
Nhờ giáo huấn của Giáo Hội, việc học hỏi giúp cảm nhận phần nào Thánh Thần rất kề cận với con người như nguồn mạch cuộc sống hằng ngày và “canh tân bộ mặt thế gian”. Nhờ ơn Ngài phù trợ, người viết mạnh dạn ghi lại đôi điều cảm nhận với lòng khiêm tốn ước mong chia sẻ cùng quý giáo hữu hầu, nhờ lửa yêu mến của Thánh Linh, hiệp thông cùng toàn thể Dân Chúa mừng Lễ “một cách ý thức, linh động và hữu hiệu” ( PV 11 ).
Bài viết xin tóm lược học hỏi về Chúa Thánh Thần dựa vào nguồn gốc và ý nghĩa ngày Lễ cũng như giáo lý của Giáo Hội và giáo huấn của Công Đồng Vatican II.
NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA
Năm mươi ngày sau lễ Phục Sinh, Giáo Hội mừng Lễ Hiện Xuống, hay Lễ Ngũ Tuần bao gồm trong ý nghĩa của từ Pentecost ( Anh ) hoặc Pentecôte ( Pháp ) do gốc Hy-lạp của từ pentêkostê có nghĩa ngày thứ năm mươi. Lễ Ngũ Tuần tương tự cách gọi Lễ Các Tuần trong Do-thái giáo ( Xh 34, 22; Đnl 16, 10 ). Theo diễn giải Thánh Kinh của nhà biên khảo F.G. Holweck, khi Thánh Phao-lô cho giáo đoàn Cô-rin-tô biết “sẽ ở lại Ê-phê-sô cho đến Lễ Ngũ Tuần” ( 1 Cr 16, 8 ), người muốn nói đến ngày Lễ Các Tuần của người Do-thái.
Xét theo Phụng Vụ, vào thế kỷ thứ nhất, trong Ki-tô giáo, Lễ Hiện Xuống gọi là Chúa Nhật Trắng – Whitsunday, vì ngày đó các người dự tòng chưa được thanh tẩy vào dịp Lễ Thánh Thủy, Vọng Phục Sinh vừa qua, đều được mặc y phục trắng và chịu Phép Rửa Tội vào Thứ Bảy Lễ Vọng Hiện Xuống, với nghi thức tương tự Thứ Bảy Lễ Vọng Phục Sinh.
Ở Rô-ma xưa, Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống gọi là Chúa nhật đỏ – Pascha rossa- vì lễ phục ngày Lễ màu đỏ tượng trưng “lửa yêu mến” của Chúa Thánh Thần, hoặc màu đỏ của “những lưỡi như thể lửa xuất hiện và rải rác đậu trên từng môn đệ” khi Chúa Thánh Thần ngự đến ( CV 2, 3 ). Còn ở đảo Xi-xi-ly ( Sicily ), Lễ Hiện Xuống gọi là Pascha rosatum ( rosa là bông hồng ) vì tại một số thánh đường ở Ý, giáo hữu có thói quen trang hoàng trần nhà thờ bằng những lá cây bông hường tượng trưng hình lưỡi, nhắc lại phép lạ vào ngày lễ Ngũ Tuần, các môn đệ “thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa”. Ở Pháp, trong buổi lễ có nơi người ta thổi kèn trom-pét với âm điệu ào ào, bắt chước “tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà” ( Cv 2, 2 ).
Tóm lại, qua nghi lễ, Giáo Hội muốn nhờ các dấu chỉ bên ngoài giúp cho Phụng Vụ thêm phần linh động ( Catholic Encyclopedia, Pentecost 1, 2 )
GIÁO LÝ CỦA GIÁO HỘI
Người viết chỉ xin gọn gàng một vài điều vì đa số giáo hữu đã biết lẽ đạo về các Bí Tích.
Theo Giáo Lý, “hai hiệu quả chính của phép Rửa Tội là rửa sạch các tội lỗi và ban ơn thánh, sinh ra trong sự sống mới, được trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần” ( GL 1279 ). Trong khi “Phép Thêm Sức hoàn tất ân sủng của Phép Rửa Tội, ban Chúa Thánh Thần, làm cho chúng ta bén rễ sâu vào hồng ân làm con Thiên Chúa, sáp nhập mật thiết hơn vào Thân Thể Chúa Ki-tô, liên lạc thêm chặt chẽ với Hội Thánh, ban sức mạnh như người lính chiến của Đức Ki-tô, để làm chứng đức tin bằng lời nói và việc làm, và in một dấu ấn thiêng liêng vào linh hồn người Ki-tô hữu” ( GL 1316 – 17).
Ngoài ra, khi nói về Chúa Thánh Thần, người giáo hữu hãy nhớ đến những biểu tượng giúp chúng ta gặp gỡ mật thiết với Thánh Thần trong cuộc sống hằng ngày, như:
Nước là dấu hiệu sự sinh ra mới, như lời Thánh Phao-lô nói về người Ki-tô hữu “được rửa trong một Thần Khí duy nhất; được uống một Thần Khí duy nhất” ( 1 Cr 12, 13 );
Sự xức dầu làm cho người Ki-tô hữu trở nên một Ki-tô mới như Đức Ki-tô – Christus là “Đấng được xức dầu bởi Thánh Thần” ( GL 695 );
Lửa tượng trưng năng lực biến đổi của các hành vi Thánh Thần, như Sách Huấn ca nói về tiên tri Ê-li-a “đứng lên như một ngọn lửa và lời nói ông bốc cháy như bó đuốc” ( Hc 48, 1 )
Áng mây và ánh sáng mạc khải Thiên Chúa hằng sống và cứu độ, với sự siêu việt của vinh quang Ngài, như “Thánh Thần xuống trong áng mây che phủ Chúa Giê-su” ( Lc 1, 35 ).
Dấu ấn biểu tượng “Thiên Chúa đã đóng ấn trên Chúa Ki-tô và trên chúng ta” ( Ga 6, 27 ).
Bàn tay, như Chúa Giê-su đặt tay trên bệnh nhân để chữa lành ( Lc 21, 27 ); giơ tay chúc lành cho trẻ em ( Mc 6, 5 ). Các Tông Đồ nhân danh Đức Giê-su, đặt tay ban Thánh Thần.
Ngón tay, như trong kinh hát Veni Creator, kêu cầu Chúa Thánh Thần như “ngón tay của bàn tay mặt của Chúa Cha” – digitus paternae dexterae.
Chim bồ câu, trong Cựu Ước là hình ảnh trong cuối trận hồng thủy, chim bồ câu trở về “mỏ ngậm một cành ô-liu” ( St 8, 8 – 12 ), và trong Tân Ước, khi Chúa Giê-su chịu Phép Rửa xong và bước lên khỏi nước, “Chúa Thánh Thần, dưới hình chim bồ câu, đậu xuống trên Ngài” ( Mt 3, 16 ).
Lễ Hiện Xuống cũng là dịp giúp người tín hữu cầu xin được thấm nhuần Bảy Ơn Chúa Thánh Thần: Ơn khôn ngoan, thông hiểu, lo liệu, sức mạnh, suy biết, đạo đức và kinh sợ Chúa, như lời tiên tri I-sa-i-a loan báo trong Cựu Ước:
“Trên ngài Thần Khí Ya-vê sẽ đậu xuống,
Thần khí khôn ngoan và trí tuệ,
Thần khí mưu lược và anh dũng,
Thần khí hiểu biết và hứng thú trong sự kính sợ Gia-vê” ( Is 11, 2 – 3 ).
Hồng ân Thánh Linh trổ sinh 12 Hoa Quả Nhân đức: Bác ái, vui vẻ, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lành, hòa nhã, nết na, trung thành, kiên trì, tiết độ và trong sạch.
Xin Ngài hãy đến đầy lòng chúng con và đổi mới chúng con nên giống hình ảnh Chúa !
DƯỚI ÁNH SÁNG CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Thánh Kinh là kho tàng phong phú giúp học hỏi về Chúa Thánh Thần. Trong Mùa Phục Sinh, quý giáo hữu đã nghe sách Công Vụ Tông Đồ kể về tác động của Thánh Linh đối với các môn đệ của Chúa Giê-su và đối với cộng đoàn Dân Chúa trong Giáo Hội tiên khởi. Thay vì ghi lại một số trích dẫn, người viết gợi ý về một số đoạn Thánh Kinh tiêu biểu để quý giáo hữu nào muốn tìm hiểu thêm sẽ có thể tìm đọc chính bản Lời Chúa.
Ví dụ: Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu ( Mt 1, 18, 20; 28, 19 ), Lu-ca ( Lc 1, 35 ), Mác-cô ( Mc 3, 22 – 30 ), Gio-an ( Ga 14, 16 – 17, 23, 26; 15, 26; 16, 7, 13 – 17; 20, 22 – 23 ), thư Thánh Phao-lô ( Dt 5, 5; 8, 9, 14 – 16; 1 Cr 2, 10 – 11; 12, 3 – 11; 13, 13; 6, 11 ); nói về Mầu Nhiệm Nhập Thể của Chúa Giê-su, bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, xuống thế làm người; Chúa Giê-su kết hợp với Thánh Linh làm vinh danh Thiên Chúa Cha trong cuộc đời ở trần thế, và trước khi về trời, ngài ban “Thần Khí dẫn tới sự thật toàn vẹn”.
Một ít ví dụ từ sách Công Vụ Tông Đồ ( Cv 2, 1 – 11; 5, 3 – 4; 6, 3 – 5; 8, 29; 10, 44 – 47 ) nói về Thánh Thần đổi mới các Tông Đồ và đời sống của Dân Chúa từ Giáo Hội sơ khai.
Học hỏi về Chúa Thánh Thần còn được thêm sâu sắc nhờ giáo huấn của Công Đồng Vatican II ( 1962 – 65 ) vì theo xác tín của vị Giáo Hoàng đã mở Công Đồng, Chân Phúc Gio-an 23, “Công Đồng Vatican II là ý muốn và công việc của Chúa Thánh Thần và, dưới sự hướng dẫn của Ngài, chúng tôi – toàn thể hội nghị – quyết tìm cách canh tân chính mình để càng ngày càng nên trung thành hơn với Phúc Âm của Đức Ki-tô.”
Qua bốn hiến chế ( Phụng Vụ, Giáo Hội, Mặc Khải và Mục Vu ), cũng như các văn kiện khác, Công Đồng giúp người tín hữu hiểu biết về nguồn gốc Chúa Thánh Thần, về danh hiệu và vai trò của Ngài; về mạc khải và ân huệ của Thánh Thần; về tác động của Thánh Thần trong Phụng Vụ và trong mầu nhiệm Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Giáo Hội. Sau đây là một vài ví dụ về giáo huấn của Công Đồng về tương quan mật thiết Chúa Thánh Thần và Giáo Hội, cũng như Thánh Thần và con người:
“Chúa Thánh Thần được sai đến trong ngày Lễ Ngũ Tuần để thánh hóa Giáo Hội mãi mãi và, như thế, những ai tin sẽ được tới cùng Chúa Cha qua Chúa Ki-tô trong Giáo Hội duy nhất. Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự giữa đền thờ... Ngài xây dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân huệ khác nhau theo phẩm trật và đoàn sủng, trang bị Giáo Hội bằng hoa quả của Ngài” ( Ep 4, 11 – 12; 1 Cr 12, 4 ). Ngài làm tươi trẻ và không ngừng canh tân Giáo Hội.” ( Hiến Chế Giáo Hội – GH, 4 )
Đối với con người, “Chúa Giê-su đã “xin Thánh Thần hãy đến” để dẫn dắt con người thiện tâm đến sự viên mãn của chân lý ( Mặc Khải – MK, 20 ). Suy niệm về Chúa Thánh Thần, người tín hữu hãnh diện là người Công Giáo vì “Thiên Chúa đã cho thông dự vào Thánh Thần Người, chính Đấng duy nhất hiện hữu nơi Đầu là Đức Giê-su, cũng như trong các chi thể, làm sống động, liên kết và thúc giục toàn thân, tựa hồ tác động của linh hồn hoàn thành nơi thân xác con người” ( Hiến Chế Giáo Hội, 7 ).
Như thế, ngay khi còn sống ở đời này, chúng ta đã nhận được “những hoa trái đầu mùa của Thánh Thần” ( Dt 8, 25 ), và nhờ Thánh Thần làm “bảo chứng cho quyền thừa tự” ( Ep 1, 14 ), toàn thể con người được canh tân từ nội tâm cho tới khi “thân xác được cứu rỗi” ( Dt 8, 23 ) ( Hiến Chế Mục Vụ, MV 22 ).
Ước gì, nhân Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, một vài cảm nhận khiêm tốn từ học hỏi này sẽ góp phần giúp người tín hữu gắn bó với Thánh Thần, để quan tâm hơn trong việc tiếp nhận Lời Chúa, siêng năng tìm hiểu Thánh Kinh và giáo huấn của Công Đồng Vatican II. Ngoài ra, những ai muốn đào sâu chi tiết về Thánh Thần học, xin gợi ý có thể dùng Mục Lục Phân Tích chủ đề Công Đồng ( của Giáo Hoàng Học Viện Pi-ô 10, tr. 1297 – 1300 ) để đối chiếu vào các văn kiện của Cộng Đồng và Thánh Kinh, hầu giúp canh tân sự sống đạo theo tinh thần Tân Phúc Âm hóa.
Kỹ sư TRẦN VĂN TRÍ, Hoa Kỳ 5.2002

 

HiệnXuống-42. NGÔN NGỮ TÌNH YÊU

Tôi xin bắt đầu phần chia sẻ sáng hôm nay bằng câu chuyện về ngọn tháp Babel trong Cựu ước: HiệnXuống-42

Tôi xin bắt đầu phần chia sẻ sáng hôm nay bằng câu chuyện về ngọn tháp Babel trong Cựu ước.
Bấy giờ thiên hạ chỉ nói một thứ tiếng, sau khi định cư tại đồng bằng Senna, họ bàn luận với nhau:
- Ta hãy nung gạch và xây một ngọn tháp chọc trời, trước khi phân tán tới mọi miền trên mặt đất.
Trước ý định đầy kiêu căng và ngông cuồng này, Thiên Chúa đã khiến tiếng nói của họ trở nên lộn xộn, người này không còn hiểu được người kia. Thế là họ đành phải ngưng việc xây tháp và ra đi mỗi người một ngả.
Đây chỉ là một hình ảnh tượng trưng nói lên tính kiêu căng và tình trạng chia rẽ của con người.
Thế nhưng, nhìn vào ngày lễ hôm nay, chúng ta thấy khác hẳn. Thực vậy, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, một tình trạng mới đã được nảy sinh.
Sách Tông đồ Công vụ kể lại:
Bấy giờ các môn đệ đang tụ họp ở một nơi, bỗng dưng có tiếng từ trời đến, ào ào như gió thổi, ùa vào nhà nơi các ông đang hội. Lại thấy có hình lưỡi lửa tản ra và đỗ trên từng người. Tất cả đều được đầy tràn Chúa Thánh Thần và bắt đầu nói được nhiều thứ tiếng khác nhau.
Trong thời gian lễ Ngũ tuần, có nhiều người Do thái từ khắp các nơi trở về Giêrusalem. Nghe tiếng ồn, họ liền tuốn đến. Và ai nấy đều bỡ ngỡ vì mỗi người đều nghe các tông đồ nói tiếng của mình.
Họ ngạc nhên và bàn tán cùng nhau:
- Phải chăng chúng ta đều nghe họ dùng tiếng thổ âm  của mình mà nói đến những sự cao trọng của Thiên Chúa.
Đây chính là một cuộc tụ họp đông đảo kể từ thời ngọn tháp Babel, trong đó mọi người đều hiểu được nhau và cảm thông với nhau. Sở dĩ như vậy là do tác động của Chúa Thánh Thần.
Qua hình ảnh lưỡi lửa và ơn nói nhiều thứ tiếng nơi các tông đồ, tôi nhận thấy ngôn ngữ Chúa Thánh Thần đã dùng để liên kết và tạo lấy sự cảm thông chính là thứ ngôn ngữ của tình yêu.
Thiếu vắng Ngài, thiếu vắng tác động của Ngài, hay nói đúng hơn, thiếu vắng tình yêu, chúng ta không thể hiểu biết nhau, xích lại gần nhau và cảm thông  với nhau, để rồi hận thù sẽ bùng nổ.
Vào năm 1887, một người Ba Lan tên là Zamenhof, đã tạo ra và cổ động cho một thứ ngôn ngữ quốc tế, để mọi người có thể sử dụng một cách dễ dàng. Tuy nhiên, thứ ngôn ngữ quốc tế này đến nay vẫn giậm chân tại chỗ và thế giới vẫn còn tràn ngập những hận thù và chiến tranh. Sở dĩ như vậy vì người ta không sử dụng thứ ngôn ngữ của tình yêu và không đặt tình yêu làm nền tảng cho mọi mối liên hệ.
Tôi nghĩ  rằng tình yêu chân chính, được coi như là hoạt động của Chúa Thánh Thần, sẽ là một thứ ngôn ngữ mà ai cũng có thể hiểu được. Nó không phải chỉ được nói bằng lời, bằng tiếng, mà còn được nói bằng thái độ, bằng cử chỉ, bằng việc làm và bằng cả cuộc sống ngập tràn tình bác ái của mình.
Thực vậy, ai trong chúng ta cũng có thể hiểu được một ánh mắt thông cảm, một cử chỉ thân thiện, hay một việc làm giúp đỡ. Thứ ngôn ngữ tình yêu này không phải chỉ giúp chúng ta hiểu được nhau, mà  hơn thế nữa, còn giúp chúng ta hiểu được chính Thiên Chúa và tiến đến với Ngài. Vì Thiên Chúa là gì, nếu không phải là tình yêu như thánh Gioan đã định nghĩa.
Rất nhiều khi nhờ những hành động bác ái yêu thương mà những kẻ tội lỗi biết đường ăn năn trở về cùng Chúa.
Trong đời sống gia đình cũng như trong sinh hoạt xã hội, đừng nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ của hận thù, của đấm đá. Đừng nói với nhau bằng ngôn ngữ của chia rẽ, của nghi kị.
Nhưng hãy nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ của tình yêu, ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần. Vì ngôn ngữ của tình yêu chính là ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần, là thứ ngôn ngữ tạo được sự cảm thông và là thứ ngôn ngữ bất cứ ai cũng có thể hiểu được.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy tháp lên trong lòng chúng con ngọn lửa tình yêu Chúa.
 
 

HiệnXuống-43. CSTM/141- SỨC MẠNH

Có một câu chuyện kể rằng: Một hôm thần dữ Satan triệu tập tất cả các sứ giả của hắn lại: HiệnXuống-43

Có một câu chuyện kể rằng: Một hôm thần dữ Satan triệu tập tất cả các sứ giả của hắn lại, để sai đến trần gian với sứ mạng duy nhất là giải thích cho con người biết Thiên Chúa đã chết rồi. Các sứ giả ra đi. Nhưng không bao lâu sau tất cả trở về. Thần dữ Satan ngạc nhiên hỏi: “Tại sao các ngươi thực hiện công tác nhanh như thế, hay là có chuyện gì trục trặc ?”. Các sứ giả đồng thanh đáp: “Thưa ngài, chúng tôi không còn việc gì để làm nữa. Bởi vì tất cả những nơi chúng tôi đi qua trên trần gian, nơi nào con người cũng sống như thể Thiên Chúa đã chết thật rồi. Họ ghen ghét nhau, họ gian tham, trộm cắp, sa đọa, họ chém giết nhau... không có gì xấu mà con người không làm. Dù nhiều người vẫn còn xưng mình là kẻ tin Thiên Chúa, nhưng cách sống của họ không hề biểu lộ niềm tin này, mà ngược lại như là loan báo Thiên Chúa đã chết rồi. Như vậy chúng ta đâu cần tốn công thuyết phục con người nữa”.
Con người sống như thể Thiên Chúa đã chết. Đó là một lời cảnh tỉnh nghiêm trọng đáng cho chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu, suy nghĩ để kiểm điểm lại đời sống của mình. Vài chục năm gần đây, người ta tỏ ra lo ngại cho Giáo hội, khi thấy có một số đông Kitô hữu tại nhiều nước Au Châu dửng dưng với đạo. Đạo hầu như chẳng còn ảnh hưởng gì đối với họ; đạo hầu như đứng ngoài cuộc sống của họ. Phải chăng Kitô giáo đã qua những ngày hưng thịnh và đang đi vào giai đoạn lụi tàn ? Phong trào “thời mới”, một phong trào mang tính tôn giáo huyền bí hàm hồ, đang phát triển tại Mỹ và Au Châu xác tín rằng: kỷ nguyên Kitô giáo sắp qua đi và một kỷ nguyên mới với một tôn giáo mới đang xuất hiện.
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, đã đến trần gian để thi hành sứ mạng cứu chuộc loài người. Ngài đã sống kiếp người như chúng ta, Ngài đã giảng dạy, loan báo Tin Mừng. Cuối cùng, Ngài đã chấp nhận đau thương và chết nhục nhã trên thập giá để hoàn tất sứ mạng cứu chuộc của Ngài. Ngài đã chết thật, nhưng không phải là chết luôn, trái lại, Ngài đã sống lại và sống mãi. Ngài vẫn hiện diện trên trần gian dưới nhiều hình thức, đặc biệt là qua Chúa Thánh Thần.
Quả thực, ngay từ khi tại thế, Chúa Giêsu đã sống dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, nhưng Ngài chưa ban Thánh Thần cho các môn đệ. Chúa Giêsu phải ra đi, rồi mới cử Thánh Thần đến với họ được, nghĩa là Ngài phải được tôn vinh, mới có thể ban Thánh Thần cho họ. Vì thế, ngay buổi chiều ngày Phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra thổi hơi vào các môn đệ và ban Thánh Thần cho họ; đồng thời ban cho họ quyền tha tội. Như vậy, Chúa Giêsu đã ban Chúa Thánh Thần, và các tông đồ đã nhận được Chúa Thánh Thần ngay chiều ngày Phục sinh.
Tuy nhiên, để đánh dấu việc các tông đồ thực sự thoát khỏi tình trạng “khép kín” vì sợ hãi hay nuối tiếc quá khứ, và “mở cửa” lao mình về phía trước để công bố Tin Mừng Phục sinh cho các dân tộc, đem ơn hòa giải đến cho mọi người, hầu qui tụ mọi người vào trong đại gia đình của Thiên Chúa... Chúa Thánh Thần đã hiện xuống với các  tông đồ một cách long trọng và rõ ràng với những dấu hiệu bề ngoài như gió thổi mạnh, lưỡi lửa xuất hiện trên đầu họ. Gió và lửa là những dấu hiệu để chứng tỏ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Và liền theo đó, mọi người được tràn đầy Chúa Thánh Thần.
Như vậy, Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ, đã biến đổi họ  thành những con người mới, đã tác động nơi họ để họ trở thành những chứng nhân cho Đức Kitô và loan báo Đức Kitô cho mọi người. Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa và ngọn lửa Ngài đậu trên đầu các tông đồ không gì khác chính là ngọn lửa tình yêu. Chính ngọn lửa đó đã thúc giục các tông đồ mở toang cánh cửa đã đóng kín vì sợ hãi, để mạnh dạn ra đi loan báo Tin Mừng tình yêu. Từ đó cho đến nay, Chúa Thánh Thần vẫn không ngừng hoạt động nơi từng con người thiện chí, từng Kitô hữu, đang hăng say hoạt động để đem chân lý, bình an, yêu thương và hy vọng đến với những người chung quanh.
Mỗi người Kitô hữu hôm nay cũng đã được lãnh nhận Chúa Thánh Thần khi chịu phép Rửa tội và Thêm sức. Nhưng chúng ta đã cộng tác với Chúa Thánh Thần thế nào ? Chúng ta có để Chúa Thánh Thần gọt giũa, loại bỏ khỏi chúng ta tính ích kỷ, hẹp hòi không ? Chúng ta đã làm gì và đang làm gì cho thế giới này, cho những người sống chung quanh chúng ta được sưởi ấm bởi ngọn lửa tình yêu của Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận ? Thật là đau đớn cho Thiên Chúa và Giáo hội khi những người mang danh Kitô hữu, những môn đệ của Chúa, lại sống ích kỷ, ghen ghét nhau, cạnh tranh nhau... Nếu ngày nay biết bao người chưa biết đến tình yêu thương của Chúa, có lẽ một phần trách nhiệm là do chúng ta; có lẽ chúng ta phải đấm ngực mình mà nhận rằng: vì chúng ta chưa sống tốt, chưa làm chứng nhân, vì trong chúng ta còn nhiều ích kỷ, nhỏ nhen, hẹp hòi...
Mừng lễ Chúa Thánh Thần, Giáo hội nhắc nhở chúng ta vai trò quan trọng của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống từng người chúng ta, và mời gọi chúng ta cùng cộng tác với Chúa Thánh Thần để đổi mới chính mình, đổi mới cuộc sống của mình, để cuộc đời chúng ta trở thành chứng tá cho Thiên Chúa tình yêu. Chúng ta phải dùng chính cuộc sống tốt lành của mình để làm chứng cho Thiên Chúa hằng sống, để xác quyết rằng: Thiên Chúa đang sống và đang hành động trong trần gian.
 
 

HiệnXuống-44. PV / 293- CẦU NGUYỆN

Trong các Tin Mừng, chúng ta có được một phần trong lời cầu nguyện long trọng của Đức Giêsu: HiệnXuống-44

Trong các Tin Mừng, chúng ta có được một phần trong lời cầu nguyện long trọng của Đức Giêsu tại bữa Tiệc Ly. Ở đây, Người cầu nguyện cho các môn đệ, mà Người sắp bỏ lại, để thực hiện công trình của Người. Tương tự như Chúa Cha đã sai Đức Giêsu đi vào thế gian này, Đức Giêsu cũng sai các môn đệ đi khắp thế giới. Họ phải mang lời của Người đến với những kẻ khác. Trong suốt bữa Tiệc Ly, khi biết rằng chẳng bao lâu nữa. Người sẽ rời bỏ họ, Đức Giêsu đã cầu nguyện với Cha trên trời cho họ. Người cũng cầu nguyện cho cả chúng ta nữa. Người cầu xin những ơn gì vậy ?
Người cầu xin cho họ giữ được lòng trung thành “Xin giữ các môn đệ mà Cha đã ban cho con trong danh Cha”. Công việc của chúng ta không phải là sự thành công, nhưng chỉ cần lòng trung thành mà thôi.
Người cầu xin cho sự hiệp nhất giữa họ: “Để họ nên một như Cha và Con là một”. Sự không hiệp nhất giữa các môn đệ ảnh hưởng xấu đến việc làm chứng của họ.
Người cầu xin cho họ được thánh hiến trong sự thật: “Xin cho họ được thánh hiến trong sự thật”. Sự thật ở đây là Đức Giêsu chính là Đấng mặc khải về Thiên Chúa vô hình.
Và Người cầu xin cho họ được chiến thắng vượt lên trên sự dữ: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần”. Các môn đệ được sai đi để thách đố thế gian, để chuyển từ bóng tối đến ánh sáng. Trong việc mang lời chứng, họ phải chuẩn bị để chịu sự ghét bỏ của thế gian.
Như vậy, Người cầu xin cho lòng trung thành, hiệp nhất, sự thật và chiến thắng vượt lên trên sự dữ.
Người nhìn thấy trước rằng cuộc sống sẽ khó khăn đối với họ, nhưng Người không cầu xin cho họ được miễn phải chịu đựng thử thách và đau khổ, nhưng cầu xin cho họ giữ được lòng trung thành, bất chấp những yếu tố đó. Người không đưa ra cho họ một lối giải thoát khỏi các vấn đề, nhưng cầu xin cho họ sức mạnh để đương đầu với những vấn đề đó.
Thật sai lầm khi than phiền với Thiên Chúa về những rắc rối của chúng ta. Thiên Chúa ở với chúng ta trong những lúc chúng ta bị thử thách. Chúng ta phải hướng tới Người, trong những lúc gặp rắc rối, để được an ủi, sức mạnh, kiên nhẫn và hy vọng.
Đây là cách Mà Đức Giêsu đã cầu nguyện cho các tông đồ của Người, và cũng là cách mà chúng ta nên cầu nguyện. Chúng ta cầu xin không phải để được miễn chịu thử thách, nhưng xin Thiên Chúa giúp đỡ chúng ta đương đầu với bất cứ thử thách nào, mà cuộc đời gửi đến chúng ta.
 
 

HiệnXuống-45. PV/295- HIỆN XUỐNG- YÊU THƯƠNG NHAU 

Một người đàn ông đi đến cổng thiên đàng, tại đó, ông gặp thánh Phêrô và Kẻ Biện Hộ cho ma: HiệnXuống-45

Một người đàn ông đi đến cổng thiên đàng, tại đó, ông gặp thánh Phêrô và Kẻ Biện Hộ cho ma quỉ. Cả hai người đều xem xét bản báo cáo của ông ta.
Kẻ biện hộ cho ma quỉ nói “Ông ta không phải là một người nhiệt thành lắm. Ông ta quá lơ đễnh và vô tư. Ông ta có thể làm được nhiều điều tốt đẹp hơn cho bản thân”.
Thánh Phêrô nói “Đúng vậy. Ông ta có thể kiếm được nhiều tiền, nhưng ở đây, tôi nhận thấy rằng ông ta là một người hàng xóm tốt, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác”.
Kẻ biện hộ cho ma quỉ nói “Nếu ngài hỏi tôi, tôi sẽ nói rằng ông ta quá hào phóng về tài sản riêng của ông ta. Người ta nhìn vào ông ta như là một người quá dễ tiếp cận, thậm chí còn hơi điên rồ nữa”.
Thánh Phêrô nói “Có lẽ ông ta hơi hào phóng. Và sự thật là đôi khi, người ta lợi dụng được ông ấy. Nhưng đó không phải là một tội”.
Kẻ biện hộ cho ma quỉ vội vàng bổ sung “Ồ, ông ta cũng phạm tội nữa. Đôi khi, ông ta vẫn có thể dập tắt được cơn nóng giận của ông ta, và khi làm như vậy, ông ta vẫn có thể sử dụng một số ngôn ngữ chọn lựa chứ”.
Đến đây, thánh Phêrô trả lời “Nhưng tôi nhận thấy ông ta không hề giữ lòng hận thù hoặc bất mãn. Ông ta nhìn vào mối hận thù như là một thứ thuốc độc vậy. Đối với ông ta, bất cứ lối trả thù nào cũng đều đáng căm ghét cả”.
Kẻ biện hộ cho ma quỉ kháng cự lại “Nhưng ông ta không phải là một người đạo đức cho lắm. Không có dấu hiệu nào cho thấy ông ta được gọi là một con người thánh thiện. Và chắc chắn rằng không một người nào có thể được vào thiên đàng, mà không sống thánh thiện”.
Thánh Phêrô phản đối “Đúng vậy, nhưng sống thánh thiện có nghĩa là gì vậy ? Đối với tôi, rõ ràng chúng ta đang giải quyết cho một người không có khả năng gây đau khổ cho người khác, một con người có lòng thương xót, hết sức trung thực trong tất cả mọi hành động, tôi sẽ để cho ông ta vào”.
Kẻ biện hộ cho ma quỉ kêu lên “Xin ngài chờ một phút ! Tôi chưa nói xong. Ông ta còn một tội khác nữa, mà tôi sắp nói ra đây”
Thánh Phêrô nói cụt ngủn “Tôi không muốn nghe nói về bất cứ lỗi nào của ông ta nữa. Tôi chỉ thích một điểm duy nhất: Ông ta là một con người tử tế, một người biết yêu thương. Đó là một điều quan trọng. Và thế là đủ rồi”.
Với câu nói đó, ngài để cho người đàn ông này đi vào thiên đàng.
Thánh Gioan nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là tình yêu (Bài đọc 2). Chính Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước. Thiên Chúa không yêu thương chúng ta bởi vì chúng ta tốt lành. Và bởi vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, nên chúng ta phải yêu thương nhau. Chúng ta bày tỏ tình yêu của mình đối với Thiên Chúa, bằng cách yêu thương nhau.
Thánh Phêrô nói “Tình yêu thương che lấp được rất nhiều tội lỗi...”. Khi Phêrô chối Đức Giêsu, Người đã không hề xua đuổi ông đi. Người vẫn tiếp tục yêu thương ông. Và Người đòi hỏi Phêrô phải đáp trả lại điều gì ? “Hãy chăm sóc đàn chiên của Thầy”. Nói cách khác, Người đòi hỏi ông phải chứng tỏ lòng mến của ông, bằng cách chăm sóc những anh chị em trong cộng đoàn.
Cuộc sống của Kitô hữu không phải là sự theo đuổi các nhân đức đưa dẫn tới sự hoàn thiện của tình yêu, nhưng là một quá trình bắt đầu bằng tình yêu, và phát triển đến mức độ hoàn hảo, khởi sự từ điểm bắt đầu này. “Căn bệnh lớn nhất của thế giới ngày nay, đó là sự thiếu vắng tình yêu” (Mẹ Têrêsa). Tình yêu là tất cả mọi sự. Tình yêu đòi hỏi điều tốt đẹp nhất nơi chúng ta, và mang lại cho chúng ta điều tốt đẹp nhất.
 
 

HiệnXuống-46. PV/297- THAY THẾ GIUĐA

Tobias Wolff, một văn sĩ người Mỹ, kể lại rằng khi còn ở trong quân đội, ông có hai người: HiệnXuống-46

Tobias Wolff, một văn sĩ người Mỹ, kể lại rằng khi còn ở trong quân đội, ông có hai người bạn. Một trong hai người trở thành một kẻ cắp, và đã bị đuổi khỏi quân đội. Người kia thì bỏ trốn. Và Tobias Wolff suy nghĩ:
“L. bị đuổi khỏi quân đội, vì là một người ăn cắp. Dường như không tin được rằng điều này đã xảy ra cho anh ta. Thật là một điều không thể tin được và bất công. Anh ấy không hề tỏ ra là một tên ăn cắp. Còn H. thì không tỏ ra mình là một kẻ đào ngũ. Tôi hy vọng rằng bản thân tôi cũng không sắp đặt để trở thành con người của tôi – một con người có ý thức, tinh thần trách nhiệm, để bạn còn có thể gọi tôi là một người tốt nữa”.
Mối quan tâm của văn sĩ là chứng tỏ rằng một người xấu vẫn có cách sắp xếp, để trở thành một con người khác.
Bài đọc 1 rất quan tâm đến hai tông đồ – Phêrô và Giuđa. Cả hai người đều được Đức Giêsu chọn, tuy nhiên, số phận của họ thật khác xa nhau.
Tôi tin khá chắc chắn rằng Giuđa không hề tỏ ra là mình đã trở thành một tên ăn cắp hoặc một kẻ phản bội. Ông ta trở thành một kẻ phản bội thông qua những chọn lựa của mình. Giuđa cũng có một giấc mơ. Nhưng có một điều gì đó sai trái. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được chính xác đó là điều gì. Giống như những kẻ làm điều ác, ông ta là một con người khó hiểu. “Chúng ta không hiểu được điều gì là tốt đẹp, thì làm sao chúng ta có thể hy vọng hoặc cho là mình thấu hiểu được điều đó là xấu xa ?
Nhưng Giuđa không phải là ma quỉ. Ông ta có những phẩm chất của một con người, có thể trở thành một người khác hẳn.
Vậy thì làm thế nào, và tại thời điểm nào, mà những hạt giống đã được gieo vào lòng ông, để rồi sau này, lại làm cho ông trở thành một kẻ phản bội ? Điều duy nhất khiến chúng ta nói một cách chắc chắn rằng ông ta không đột ngột bị mất ân sủng. Hẳn là ông ta phải sa ngã từ từ, ông ta bị từ từ lu mờ ánh sáng, dần dần mất lòng tin. Rồi cho đến lúc bấy giờ, dường như bước đầu tiên thường không để lại hậu quả – chỉ một trong những “hành vi hèn nhát nhỏ bé” mà thôi, thì tất cả những điều khủng khiếp nhất trên trần gian này đều có thể sẽ bắt đầu.
Nhưng Phêrô cũng chối Chúa. Tuy nhiên, có một sự khác biệt lớn lao giữa hành động của Phêrô và Giuđa. Giuđa biết rõ điều mà ông ta đang làm. Sự phản bội của ông ta là một việc đã được lên kế hoạch, và được thực hiện một cách lạ lùng, có tính toán. Tội chối Chúa của Phêrô không phải là một tội có kế hoạch. Đó chỉ là một tội do sự thôi thúc của tình thế, và là hậu quả của sự yếu đuối, hơn là do thói quỉ quyệt. Ngoài ra, ông đã biết sám hối.
Chỉ có một ít người xấu xa, nhưng có nhiều người yếu đuối. Có người không sa ngã bởi vì yếu đuối, nhưng bởi vì người đó nghĩ rằng mình mạnh mẽ. Trước khi con người đạt được tính cách vĩ đại, thì họ phải xuống tới sự thấp hèn. Phêrô đã được gọi là một vị thánh lỡ sai lầm. Ông ta là một niềm an ủi lớn lao đối với chúng ta.
Trong việc chọn lựa một người thay thế Giuđa, cộng đoàn tín hữu nhận ra rằng họ đang chọn lựa một người nào đó sẽ trở thành một người lãnh đạo trong cộng đoàn. Họ tìm kiếm những phẩm chất nào ? Về cơ bản, người đó cần có hai phẩm chất:
Trước hết: Lòng trung thành. Người này sẽ phải là một người đã ở đó ngay từ đầu – không phải là người vừa mới “đến bất chợt”. Đây là một yếu tố từ bên ngoài, là một điều gì đó mà họ có thể   tự phán đoán được.
Thứ hai: Trái tim chính trực. Đây là một yếu tố từ bên trong, là một điều gì đó mà chỉ một mình Thiên Chúa có thể xét đoán. Do đó, họ cần phải cầu nguyện. Mát-thia chính là người mà họ chọn lựa.
Chúa kêu gọi mỗi người chúng ta trở nên một nhân chứng cho sự sống lại của Người, nghĩa là làm chứng cho thế giới bằng lối sống của chúng ta, rằng Người vẫn đang sống động. Người không chỉ sống động trong thế giới, mà còn sống động trong tâm hồn chúng ta nữa. Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta trở nên giống như Mát-thia, một con người chính trực, đi theo Chúa bất chấp mọi khó khăn.
 
 

HiệnXuống-47. Hiện Hữu Mới

Trong thời Thế Chiến II, có rất nhiều binh lính đóng đô trên những hòn đảo ngoài Thái Bình: HiệnXuống-47

Trong thời Thế Chiến II, có rất nhiều binh lính đóng đô trên những hòn đảo ngoài Thái Bình Dương. Trong thời điểm đầu của thế chiến, các binh lính phải sống trong những túp lều và ăn uống trong những dãy nhà bê bối không có tủ lạnh hay những tiện nghi.
Những chuyên viên dinh dưỡng của chính phủ muốn cho các binh sĩ này có những thức ăn như sữa và trứng. Thế nhưng, điều này không thể thực hiện, bởi vì không có tủ lạnh để chứa. Nếu những binh sĩ muốn những thức ăn như thế, thì những thức ăn này phải được biến đổi thành trạng thái khác mà không cần đến tủ lạnh.
Và như thế, một loại thức ăn mới đã được biến chế: thức ăn bột. Trứng và sữa đã được biến dạng thành bột, đóng hộp, và di chuyển đến những binh sĩ ngoài Thái Bình Dương.
Chỉ cần quậy thức ăn bột với nước lã là các binh sĩ sẽ có trứng và sữa trong một hình thể mới - một hình thể mà có thể dọn bữa hằng ngày mà không cần đến tủ lạnh.
Câu chuyện trứng sữa có liên quan gì đến Ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống chúng ta mừng kính hôm nay?
Lễ Hiện Xuống đánh dấu một thời điểm mà Thiên Chúa bắt đầu ngự trị giữa dân Ngài trong một hình thức hoàn toàn mới mẻ.
Qua 30 năm, Thiên Chúa đã ngự giữa dân Ngài bằng hình thức con người Chúa Giêsu. Thế nhưng, Chúa Giêsu thật sự là một con người, sự hiện diện của Ngài giữa dân Thiên Chúa bị giới hạn chỉ trong quãng cuộc sống nhân loại mà thôi.
Quả thật, nếu Thiên Chúa còn tiếp tục ngự trị giữa chúng ta sau quãng đời sống của Chúa Giêsu, thì sự ngự trị này phải bằng một hình thức khác với thân xác nhân loại.
Lễ Hiện Xuống đánh dấu một thời điểm khi Thiên Chúa khởi đầu ngự trị giữa chúng ta trong một hình thức hoàn toàn mới lạ, không phải qua con người thể xác của Chúa Giêsu, nhưng trong sự hiện diện thần linh của Chúa Thánh Thần.
Và như thế, câu truyện biến chế sữa và trứng cho chúng ta một khái niệm về việc biến dạng của sự hiện diện Thiên Chúa giữa chúng ta được bắt đầu vào Ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Tuy thế, Lễ Hiện Xuống còn đánh dấu sâu xa hơn cuộc biến dạng của sự hiện diện Thiên Chúa giữa chúng ta. Nó còn đánh dấu sự biến dạng của sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa chúng ta. Giờ đây Chúa Giêsu hiện diện giữa chúng ta cũng trong một hình thể khác.
Giờ đây, Ngài hiện diện giữa chúng ta không phải như là một người sống bên chúng ta, nhưng mà là một người sống trong chúng ta.
Đấy chính là những gì Chúa Giêsu có ý muốn nói khi Ngài phán dạy các môn đệ của Ngài, "Ta ra đi, thì ích lợi hơn cho các ngươi." Và lại một lần nữa, khi Ngài dạy họ, "Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu; Ta sẽ "lại" đến với các ngươi."
Và như thế, Lễ Hiện Xuống đánh dấu một thời điểm khi Thiên Chúa và Chúa Giêsu khởi đầu ngự trị giữa chúng ta trong một hình thức hoàn toàn mới lạ.
Ngoài việc là ngày khởi đầu của sự hiện diện mới của Thiên Chúa giữa từng cá nhân chúng ta, nó còn chính là ngày khởi đầu của sự hiện diện mới của Thiên Chúa giữa chúng ta nói chung. Vì chưng, Chúa Giêsu ngự trong chúng ta, chúng ta được liên kết với Ngài trong một hình thức mới. Chúa Giêsu phán với các môn đệ của Ngài trong bữa Tiệc Ly:
"Đến ngày ấy "khi Thánh Thần đến" các con sẽ nhận biết rằng Ta ở trong Cha và các con ở trong Ta cũng như Ta ở trong các con vậy."
Và qua việc liên kết mới của chúng ta với Chúa Giêsu đó, giờ đây chúng ta hiệp thành một nhiệm thể với Ngài. Thánh Thần liên kết chúng ta nên những gì mà Thánh Phaolô gọi là Thân Thể Chúa Kitô.
Quả thật, Lễ Hiện Xuống không chỉ là ngày khởi sự của sự hiện diện mới của Thiên Chúa giữa từng cá nhân chúng ta, nó còn chính là ngày khởi sự của sự hiện diện mới của Thiên Chúa giữa chúng ta nói chung.
Nó chính là ngày sinh nhật của Thân Thể Chúa Kytô, là Giáo Hội. Nó cũng chính là ngày sinh nhật của một gia đình Thiên Chúa mới.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận biết rằng mối dây liên kết mới này nói cho chúng con một trách nhiệm mới. Trách nhiệm đó là việc truyền bá Phúc Âm không chỉ trong giáo xứ chúng con nhưng còn khắp tận cùng trái đất.
 
 

HiệnXuống-48. Suy Niệm của Lm. Lê quốc Thăng

Từ Pentêkostê chỉ có 2 lần được nhắc đến trong Cựu ước (Tobia 2, 1 và ở 2 Mcb 12, 31- 32): HiệnXuống-48

Từ Pentêkostê chỉ có 2 lần được nhắc đến trong Cựu ước (Tobia 2, 1 và ở 2 Mcb 12, 31- 32). Từ này xuất xứ từ tiếng Hy-lạp, là một tính từ để chỉ thứ “50”; hiểu ngầm từ Hêmera, tức là “ngày thứ 50”. Từ này dùng để dịch từ Hipri hag schabu’ôt, tức là ngày lễ lớn của người Do-thái: Xh 23, 14- 17 ; Đnl 16, 16: “mỗi năm ba lần, tất cả đàn ông con trai của anh em phải đến trình diện Đức Chúa, ở nơi Người chọn: vào dịp lễ bánh Không Men lễ Ngũ Tuần và lễ Lều. Người ta sẽ không đến trình diện Đức Chúa hay không nhưng mỗi người sẽ đem lễ vật theo khả năng, tuỳ theo phúc lành Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, ban cho anh em.
Lề luật ban đầu còn mù mờ nhưng thường gắn bó với mùa gặt (Xh 34, 22). Theo Đnl 16, 9 người ta tính 7 tuần lễ từ ngày lưỡi liềm cắt giá lúa đầu tiên. Theo Lv 29, 15- 16 người ta tính 7 tuần lễ sau ngày dâng giá lúa đầu tiên lên Đức Chúa. Như thế lễ này là lễ Tạ ơn sau mùa gặt, hơn là dính dáng đến Lễ Vượt Qua. Điều này nhắc dân chúng về việc Đức Chúa đã ban Đất hứa, đã định cư và được mùa. Nghi thức chính yếu của nghi lễ này là dâng các của lễ Đầu Mùa: Ngươi cũng sẽ giữ tục lệ mừng lễ mùa gặt, lễ dâng của đầu mùa, do sức lao động của ngươi làm ra do công ngươi giao nắng ngoài đồng” (Xh 23, 16). “Ngươi sẽ mừng lễ các Tuần, dâng lúa mì đầu mùa” (Xh 34, 22). Sách dân số gọi ngày này là “Ngày hoa trái đầu mùa”. “Ngày hoa trái đầu mùa, khi dâng tiến Đức Chúa lễ phẩm mới vào lễ các Tuần” (Ds 28, 26). Theo sách Lêvi người ta dâng 2 bánh dậy men và nhiều lễ vật khác: “Các ngươi phải đem đến hai chiếc bánh để làm nghi thức tiến dâng, bánh làm bằng chín lít tinh bột và trộn men mà nướng: “đó là của đầu mùa dâng Đức Chúa” (Lv 23, 15- 20).
Chúng ta thấy lễ Ngũ Tuần chỉ là một lễ gắn liền với mùa gặt của dân định cư, không dính dáng gì đến lịch sử cứu độ. Nhưng sau thời lưu đày ở Babylon, nhiều địa phương đã gắn lễ này với giao ước Sinai. Tác giả quyển 2 Sử biên niên (16, 10- 15) cho thấy dân chúng lập lại lời thề trung thành với giao ước Sinai, vào tháng thứ ba dưới triều đại vua Asa. Nhóm Qumran cũng lấy lễ Ngũ Tuần làm ngày lễ lập lại lời giao ước Sinai.
Theo phụng vụ phương Tây, lễ này gắn kết với lễ Đầu Mùa: Đấng Phục sinh dâng lên Thiên Chúa Cha của lễ đầu mùa của mình trong ngày lễ Hiện xuống và mời tất cả môn-đệ của mình vào bàn Tiệc Thánh. Vì thế cho đến mãi thời Trung Cổ, lễ này là một trong ba ngày lễ buộc phải rước lễ. Chủ đề mùa gặt cũng như chủ đề về Thánh Thần như là hồng ân của ngày cánh chung được nổi bật trong thánh lễ này. Tại Rôma, thánh lễ này là thời điểm thứ hai để làm phép rửa tội cho các em bé, Giáo Hội Rôma chỉ rửa tội một lần trong đêm vọng phục sinh. Nhưng nếu có dự tòng nào bị bệnh đi xa chưa về kịp phải đền tội, phụ nữ ở cử, trọn ngày có thắng…thì rửa tội cho họ vào ngày lễ Hiện xuống.
I. Gợi Ý Bài Giảng
1. Chúa Thánh Thần Với Thế Giới: Giáo Hội luôn khẩn cầu: ‘Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến đổi mới mặt Địa cầu’ Trong Hiến Chế Gaudium et Spes số 38, Công đồng Vat. II đã minh xác: “Đức Kitô hoạt động trong lòng con người nhờ quyền năng Thánh Thần của Người không những bằng cách khơi dậy những khát vọng đời sau, nhưng còn từ những khát vọng đó cổ võ, tinh luyện và củng cố những ước vọng quảng đại thúc đẩy gia đình nhân loại biến cải cuộc sống của mình trở nên nhân đạo hơn và qui phục trái đất về cùng đích ấy. Quả thực ơn Chúa Thánh Thần tác động mỗi người một khác: có những người được gọi làm chứng nhân tỏ tường cho sự mong đợi quê trời bảo tồn chứng tích sống động trong gia đình nhân loại, một số khác được gọi để hiến thân phục vụ con người trong phạm vi thế trần, dùng sự phục vụ ấy chuẩn bị chất liệu cho nước trời. Người giải thoát tất cả, để sau khi từ bỏ lòng vị kỷ và tập trung mọi năng lực trần thế cho cuộc sống con người, tất cả hướng về ngày mai, ngày mà nhân loại trở nên của lễ đẹp lòng Thiên Chúa.” Thế giới này, với biết bao nỗ lực của nhân loại đang xây dựng những điều tốt đẹp, chắc chắn sẽ không bị phá hủy nhưng được đổi mới nhờ Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần đang hiện diện và tác động nơi những con người đang hết lòng cổ võ, xây dựng hòa bình và công lý; Chúa Thánh Thần đang hiện diện và tác động trong những gì là Chân-Thiên-Mỹ nơi các tôn giáo và các nền văn hóa.
Giáo Hội và các Kitô hữu có trọng trách làm cho ơn Chúa Thánh Thần nảy sinh những hoa trái tốt đẹp cho con người và thế giới hôm nay. Cần phải đọc ra sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần nơi các tôn giáo, các nền văn hóa, nơi những anh em ngoài tôn giáo mình để biết tôn trọng và nhiệt thành cộng tác trong công cuộc xây dựng thế giới.
2. Chúa Thánh Thần Với Giáo Hội: Giáo Hội được khai sinh vào ngày lễ Ngũ Tuần, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ. Khi Chúa Giêsu thổi hơi trên các Tông đồ và ban Chúa Thánh Thần cho thấy rằng: sức sống và hơi thở của Giáo Hội là Chúa Thánh Thần. Nhờ Chúa Thánh Thần Giáo Hội mới trường tồn, nơi Ngài Giáo Hội mới phát triển và không ngừng canh tân. Lịnh sử Giáo Hội đã minh chứng điều đó, một Công Đồng Vaticanô II thành công rực rỡ không ai có thể phủ nhận đó chính là luồng gió Chúa Thánh Thần thổi vào Giáo Hội. Mọi hoạt động của Giáo Hội đều phát xuất và được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần cũng chính là tác nhân chính thúc đẩy Giáo Hội ra khơi theo lệnh truyền của Thầy Chí Thánh. Sức sống và tình yêu của Ngài giúp cho Giáo Hội và từng người trong Giáo Hội, đặc biệt là các vị Thừa sai có khả năng hội nhập, đi vào trong từng con tim của con người, vào từng dân tộc, từng nền văn hóa khác nhau để thực sự trở nên muối men và ánh sáng cho con người và cho thế giới. Có Chúa Thánh Thần Giáo Hội sẽ không đứng bên lề thế giới nhưng sẵn sàng nhập cuộc cùng thế giới để làm cho hướng đi của nhân loại ngày càng tiến về một trời mời đất mới.
3. Chúa Thánh Thần Với Kitô Hữu: Thánh Tông đồ khẳng định: anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Là đền thờ có nghĩa là nơi cư ngụ, Chúa Thánh Thần đang ở trong mỗi người. Ngài ở trong chúng ta không phải một cách thụ động như khách tạm trú qua đường nhưng rất tích cực hoạt động nơi mỗi người. Kinh Thánh đã cho thấy sự họat động của Ngài như thế nào: hướng dẫn, ban ơn trợ lực, ban sự sống, thánh hóa, bầu chữa, an ủi … Toàn bộ cuộc sống của người Kitô hữu đều được Ngài chi phối bao bọc. Mỗi người cần phải khám phá ra sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời mình. Tôi đã thấy Ngài hiện diện ở đâu? Ngài đã và đang làm gì nơi tôi? Không chỉ khám phá sự hiện diện và các hoạt động của Ngài mà còn phải biết kiểm điểm đời sống xem đã bước theo Thần khí hay chưa? Đã bước theo như thế nào? Như  Thánh Phaolô dạy dỗ:  “Hãy sống theo Thần khí…nếu chúng ta sống nhờ Thần khí, thì cũng hãy nhờ Thần khí mà tiến bước” (Gl 5, 16. 25). Đời Kitô hữu là đời sống và làm việc theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
 
 

HiệnXuống-49. Sự Thật Trọn Vẹn

Suy Niệm
 

Ai trong chúng ta cũng muốn biết sự thật, và căm ghét sự lừa lọc dối trá. Nhưng không dễ: HiệnXuống-49

Ai trong chúng ta cũng muốn biết sự thật, và căm ghét sự lừa lọc dối trá. Nhưng không dễ gặp được sự thật nơi người khác, cũng như nơi chính mình.
Để nói lên một sự thật, cần phải trả giá. Dám nghe một sự thật nhỏ, cần một can đảm lớn!
Đời người là một cuộc ruổi dong tìm sự thật.
Sự thật vừa đáng sợ, lại vừa đáng yêu.
Khi sống ở đời, Đức Giêsu đã nói và làm nhiều điều, để cho các môn đệ thấy sự thật về mình. Ngài cho họ biết mọi điều Ngài nghe được từ Cha. Tuy vậy, Ngài vẫn còn nhiều điều phải nói với họ mà bây giờ họ không kham nổi (x. Ga 16,12).
Đức Giêsu không có thái độ bao cấp. Ngài chẳng đòi các môn đệ phải hiểu hết con người Ngài. Thánh Thần sẽ giúp họ làm điều đó sau khi Ngài phục sinh.
”Khi nào Thần Khí sự thật đến,
Người sẽ dẫn anh em tới sự thật trọn vẹn” (Ga 16,13)
Để biết sự thật trọn vẹn về Đức Giêsu, để hiểu việc làm và lời nói của Ngài, chúng ta cần có Thánh Thần làm người hướng đạo.
Đức Giêsu là một mầu nhiệm sâu thẳm khôn dò. Nhờ Thánh Thần, ta thấy Đức Giêsu luôn luôn mới. Càng đến gần, ta càng thấy Ngài siêu việt. Càng biết rõ Ngài, ta càng thấy Ngài lôi cuốn.
Nhờ Thánh Thần, Lời Chúa Giêsu luôn luôn mới. Đó không phải là những dòng chữ chết khô, nhưng là ánh sáng cho mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Nhờ Thánh Thần, Hội Thánh luôn luôn mới. Ngài là luồng gió mát lúc Hội Thánh gặp khó khăn, là luồng gió mạnh làm Hội Thánh chuyển mình thức tỉnh.
Chúa Thánh Thần không sống cho mình, nhưng cho Đấng sai mình là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 15,26). Ngài chỉ mong cho Đức Kitô được tôn vinh (x. Ga 16,14)
Chúa Thánh Thần là phát ngôn viên của Đức Kitô. Ngài chỉ nói những gì Ngài đã nghe Đức Kitô nói. Ngài không loan báo điều gì mới lạ, nhưng chỉ giúp ta nhớ lại, hiểu và sống Tin Mừng.
Chúng ta cũng là những chứng nhân của Đức Kitô như Thánh Thần. Cần làm chứng như Ngài trong thái độ khiêm nhu từ bỏ.
Dù chúng ta là Kitô hữu, là người công giáo, chúng ta vẫn trên đường tìm kiếm sự thật trọn vẹn.
Sự thật bao giờ cũng lớn hơn suy nghĩ của ta. Sự thật ở nơi người khác tôn giáo, khác quan điểm...
Đừng tìm cách làm chủ hay độc quyền sự thật.
Hãy để cho sự thật chiếm lấy mình.
Hãy mềm mại để Thánh Thần dẫn vào sự thật, sự thật về Thiên Chúa, về Đức Kitô, về tôi và tha nhân.
Có những sự thật rất thường, rất nhỏ, nhưng khó nuốt.
Chỉ khi chấp nhận chúng, tôi mới gặp được Đức Kitô.
Ngài là Sự Thật viết hoa, Sự Thật đem lại tự do (x. Ga 8,32).
Gợi Ý Chia Sẻ
Chúa Thánh Thần hoạt động ở khắp nơi. Ngài đem lại sức sống cho mọi người. Có khi nào bạn thấy Ngài hoạt động nơi những người ngoài Kitô giáo không? Có khi nào bạn thán phục vì lối sống siêu thoát của một phật tử không?
Sự thật vừa đáng sợ lại vừa đáng yêu. Bạn có sợ biết sự thật về mình không? Bạn có can đảm nói sự thật một cách đầy yêu thương không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Thánh Thần, xin ban sức sống cho chúng con. Xin cho cuộc đời Kitô hữu của chúng con đừng rơi vào sự đơn điệu nghèo nàn, vào những lối mòn quen thuộc, nhưng xin canh tân và tái tạo chúng con mỗi ngày. Xin nuôi chúng con bằng những thức ăn mới, cho chúng con khám phá ra những chiều sâu khôn dò của Đức Kitô và ý nghĩa thâm thúy của Tin Mừng.
Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống, thế giới hôm nay luôn bị đe dọa bởi bạo lực, khủng bố, chiến tranh; mạng sống con người bị coi rẻ. Xin cho chúng con biết say mê sự sống, và gieo vãi sự sống khắp nơi.
Ước gì Chúa ban cho nhân loại một lễ Hiện Xuống mới để con người có thể hiểu nhau hơn và đón nhận nhau trong yêu thương.
 
 

HiệnXuống-50. Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Bạn quan niệm thế nào về Thánh Thần? Ngài có đóng vai trò gì quan trọng trong đời sống Kitô: HiệnXuống-50

1. Bạn quan niệm thế nào về Thánh Thần? Ngài có đóng vai trò gì quan trọng trong đời sống Kitô hữu của bạn không? Cụ thể là gì?
2. Kế hoạch phát triển Giáo Hội của Thiên Chúa là «men trong bột». Nếu Thánh Thần kêu gọi bạn trở nên «men» cho mọi người, bạn có đáp lại lời mời gọi ấy không?
3. Muốn thật sự gặp gỡ Thánh Thần, phải thực hiện sự gặp gỡ ấy thế nào?
Suy tư gợi ý:
1. Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, nhưng… bị quên lãng
Từ khi Giáo Hội khai sinh, vai trò và hoạt động của Thánh Thần mới được chú ý tới nhiều, qua sự ý thức và nhấn mạnh của Giáo Hội, đặc biệt của Đức Giêsu, của các tông đồ. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã hứa ban Đấng Bảo Trợ, An Ủi cho Giáo Hội: «Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi» (Ga 14,16). Và Đấng Bảo Trợ ấy chính là Thánh Thần: «Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em» (Ga 14,26). Đức Giêsu đã ra đi để giao lại nhân loại và Giáo Hội cho Thánh Thần: «Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em» (Ga 15,26). Chính vì thế, hiện nay chúng ta đang sống trong thời hoạt động của Thánh Thần, Ngài đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và trong chính tâm hồn ta. Nhưng ta ít chú ý tới Ngài. Chúng ta thường tập trung quan tâm của mình vào Chúa Cha, nhất là Đức Giêsu. Vì thế, Thánh Thần trở thành vị Thiên Chúa bị quên lãng. Do đó, chúng ta ít hợp tác với Thánh Thần, và Thánh Thần không biến đổi ta một cách hữu hiệu được. Vì dù hoạt động mạnh mẽ thế nào, Thánh Thần vẫn luôn luôn tôn trọng tự do của con người. Thánh Thần luôn luôn mời gọi, nhưng con người vẫn luôn luôn có thể làm ngơ vì không quan tâm, hoặc từ chối lời mời gọi đó. Chính vì thế, công việc của Thánh Thần thật hết sức khó khăn.
2. Kế hoạch của Thiên Chúa
Thánh Thần là Đấng tiếp tục công trình của Đức Giêsu trong thế giới và Giáo Hội. Ngài luôn luôn thúc đẩy sự đổi mới trong Giáo Hội, để Giáo Hội ảnh hưởng tốt đến thế giới. Nhưng để được làm điều ấy, Thánh Thần luôn luôn phải hoạt động trong mỗi cá nhân. Cá nhân có thay đổi thì Giáo Hội mới thay đổi, cá nhân có nên thánh thì Giáo Hội mới thánh thiện. Tất cả mọi đều bắt đầu từ những cá nhân, và lan truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác. Kế hoạch của Thiên Chúa để xây dựng Nước Trời là chiến lược «men trong bột» (x. Mt 13,33), «muối ướp đời» (x. Mt 5,13) hay «đèn sáng cho trần gian» (x. Mt 5,14). Men là một chất có hoạt tính, có khả năng biến đổi chất bột tiếp xúc với mình trở nên giống như mình. Mất hoạt tính này, men không còn là men nữa, nó trở thành một thứ bột vô dụng. Muối hay đèn cũng có hoạt tính tương tự. Một hình ảnh khác là lửa, nhưng lửa có tác dụng lan truyền mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính vì thế, Thánh Thần khi hiện xuống trên các tông đồ đã lấy hình lưỡi lửa làm biểu trưng cho mình.
Trong quá trình phát triển từ xưa đến nay, Giáo Hội vẫn theo chiến lược «men trong bột», nhưng phải nói rằng Giáo Hội đã phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu. Nội dung lan truyền chủ yếu là danh nghĩa, hình thức tôn giáo bên ngoài, hơn là đích thực sống tinh thần Tin Mừng bên trong. Biết bao Kitô hữu chỉ giữ đạo theo tập tục (siêng năng đọc kinh, dâng lễ, chịu các bí tích), nói chung là chuộng những thực hành thấy được, và lấy đó làm đủ, mà ít sống đạo, ít đi vào chiều sâu tâm linh, ít khi thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Việc thờ phượng Thiên Chúa chưa đúng với tinh thần «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24), mà còn mang nặng tính thể lý, bên ngoài, nên còn nhiều tính giả dối, không trung thực (ngoài và trong khác nhau). Vì thế, Giáo Hội dường như không còn phát triển mạnh như những thế kỷ trước nữa, thậm chí dừng lại hoặc sút giảm về mặt tỷ lệ dân số (mặc dù số lượng vẫn tăng theo đà phát triển dân số).
Chiến lược «men trong bột» đòi hỏi phải có những cá nhân thật tốt, thật nhiệt thành. Những cá nhân tốt ấy sẽ ảnh hưởng tốt sang những cá nhân khác bằng gương sáng, bằng những hoạt động nhiệt thành và tích cực, biến họ nên tốt, nên nhiệt thành như mình. Nhờ đó, những cá nhân tốt càng ngày càng được nhân lên. Càng nhiều cá nhân tốt thì Nước Trời càng phát triển, càng lớn mạnh. Nhưng ai sẽ là men đây? Thánh Thần luôn mời gọi chúng ta trở nên «men,», không chỉ là «men» mà còn là «men tốt». Mỗi khi lắng đọng tâm hồn lại, chúng ta đều nghe thấy tiếng Ngài mời gọi.
3. Làm sao trở thành men tốt?
Trong chiến lược phát triển Nước Trời, «men trong bột» phải có một «hoạt tính» rất mạnh, nghĩa là có khả năng biến đổi người khác nên tốt và nhiệt thành giống như mình. Như vậy, chính mình phải là người tốt và nhiệt thành đã, chính mình phải thật sự sống tinh thần Tin Mừng đã. Muốn thế, ta phải tiếp xúc với Thánh Thần, nguồn phát sinh «hoạt tính» ấy. Nhưng làm sao tiếp xúc với Thánh Thần? Bằng cách kêu cầu Ngài với những kinh hay những bài ca về Thánh Thần chăng? Phải nói đó là những cách thấp nhất để tiếp xúc với Thánh Thần, thường chỉ dành cho những người chưa thể cầu nguyện tự phát hay chưa biết cách cầu nguyện. Muốn có một đời sống nội tâm thật sự, muốn tiến triển trên con đường tâm linh, ta cần phải tiếp xúc với Thánh Thần một cách thật sự và hữu hiệu.

4. Làm sao để tiếp xúc với Thánh Thần thật sự và hữu hiệu?
Muốn tiếp xúc với Ngài, trước hết phải biết Ngài ở đâu, bản chất của Ngài thế nào. Thánh Thần là thần khí (spirit = tức tinh thần), hiện diện khắp nơi, tràn đầy trong vũ trụ, trong không gian và thời gian. Chúng ta có tinh thần, và tinh thần của ta cũng là thần khí. Một cách nào đó, tinh thần của ta phần nào đồng bản chất với Ngài. Chính vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, phải gặp bằng chính thần khí hay tinh thần của ta. Đức Giêsu đã nhắc nhở: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24). Nếu ngày xưa thánh Phaolô nói: «Chúng ta, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, mới thật là những người được cắt bì» (Pl 3,3), thì ngày nay ta cũng có thể nói: chỉ những ai thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí mới là người Kitô hữu đích thực. Đó là những người thờ phượng Thiên Chúa bằng tinh thần, bằng tâm hồn, bằng ý thức và bằng tình yêu, bằng việc thật sự gặp gỡ và sống trong Thánh Thần, chứ không phải chỉ bằng những nghi thức bề ngoài, dù những nghi thức này lắm khi cũng cần thiết. Thờ phượng Thiên Chúa bên ngoài mà không có bên trong là thờ phượng trong giả dối, không phải là trong chân lý.
Thánh Thần tuy tràn lan trong vũ trụ, nhưng lại hiện diện «đặc sệt» và tràn đầy nhất trong tâm hồn ta: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3,16); «Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần mà chính Thiên Chúa đã ban cho anh em» (1Cr 6,19). Vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, không gì tốt hơn là gặp Ngài trong chính bản thân mình, bằng tinh thần của mình. Việc gặp gỡ Ngài rất dễ dàng: chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Điều quan trọng trong việc gặp gỡ Thánh Thần là những ý thức và tâm tình có thực bên trong, chứ không phải là những lời cầu nguyện phát biểu ra, dù là phát biểu trong tâm trí. Tuy nhiên, nếu những lời ấy tự nhiên bộc phát ra từ đáy lòng, thì cũng là điều rất tốt. Tuyệt đối không nên sáng tác ra bất kỳ lời nào khi không có những tâm tình đích thực bên trong, vì cầu nguyện như thế là thờ phượng trong giả dối. Lời bộc phát ra phải luôn luôn phù hợp với tâm tình có thực bên trong mới là thờ phượng trong chân lý.
5. Ý thức và tâm tình phải có khi tiếp xúc với Thánh Thần
Khi hồi tâm để tiếp xúc với Thánh Thần, ngoài việc ý thức sự hiện diện thật sự của Ngài trong tâm hồn ta, ta nên ý thức rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương của ta. Hãy giục lòng tin tưởng rằng: nếu năng tiếp xúc với Ngài thì sức mạnh và khả năng yêu thương vô biên của Ngài sẽ truyền sang ta, như năng lượng từ dòng điện truyền sang dụng cụ điện, làm dụng cụ ấy hoạt động. Thường xuyên tiếp xúc với Ngài như vậy, nội lực và tình thương của ta ngày càng tăng lên một cách cảm nghiệm được.
Ngoài ra, ta cần tan hòa trong Thánh Thần bằng tâm tình «tự hủy» (kenosis), «tự sát tế» của Đức Giêsu. Nghĩa là có sự quyết tâm muốn quên mình, xóa bỏ mình trước Thiên Chúa và tha nhân, không tự coi bản thân mình, ý riêng của mình, và những gì của mình là quan trọng. Tâm tình ta cần có là: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30), nhỏ đi chừng nào tốt chừng nấy.
Song song với tâm tình «tự hủy» cần phải có là tâm tình «vị tha». Nghĩa là có sự quyết tâm sống cho Thiên Chúa và tha nhân, đặc biệt sẵn sàng làm tất cả những gì Thánh Thần đề nghị để gieo tình thương và hạnh phúc nơi nơi, cho tất cả mọi người chung quanh ta.
Và cuối cùng là lắng nghe tiếng của Thánh Thần vang dội trong lòng mình. Tiếng của Ngài ngày càng trở nên rõ ràng và mạnh mẽ nếu ta luôn luôn quảng đại đáp lại lời mời gọi của Ngài. Tiếng của Ngài sẽ dần dần yếu đi nếu ta bỏ lơ hay không đp lại lời mời gọi ấy.
Thường xuyên gặp gỡ Ngài như thế, chắc chắn cuộc đời của ta sẽ biến đổi và trở nên men tốt, muối tốt và ánh sáng rực rỡ cho xã hội, Giáo Hội và đặc biệt cho môi trường chung quanh ta. Và đó chính là cách ta «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật».
Cầu nguyện
Lạy Cha, Cha đã ban Thánh Thần cho thế giới. Nhưng dường như sự hiện diện của Ngài trong thế giới ít được người Kitô hữu quan tâm đến trong đời sống thực tế của mình. Nếu có thì thường chỉ được nhắc đến trong phụng vụ. Xin Cha giúp con năng tiếp xúc với Thánh Thần để được tan hòa trong Ngài và nhận được tràn đầy sức mạnh và khả năng yêu thương của Ngài. Nhờ đó con trở nên muối men cho đời, cho những người chung quanh con, để biến họ nên tốt lành và hạnh phúc hơn.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây