Suy niệm Tin Mừng lễ Mình Máu Thanh Chúa ABC Bài 351-389 Dấu Chỉ

Thứ bảy - 22/06/2019 10:55
Suy niệm Tin Mừng lễ Mình Máu Thanh Chúa ABC Bài 351-389 Dấu Chỉ Tình Yêu
Suy niệm Tin Mừng lễ Mình Máu Thanh Chúa ABC Bài 351-389 Dấu Chỉ Tình Yêu
Suy niệm Tin Mừng lễ Mình Máu Thanh Chúa ABC Bài 351-389 Dấu Chỉ Tình Yêu
THÁNHTHỂ-351: Lương thực cho loài người 2
THÁNHTHỂ-352: Mình Máu Chúa - Veritas. 12
THÁNHTHỂ-353: Bí Tích Thánh Thể. 14
THÁNHTHỂ-354: Tham dự Thánh Lễ. 15
THÁNHTHỂ-355: Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa. 17
THÁNHTHỂ-356: Thánh Thể – Lm. John Nguyễn. 19
THÁNHTHỂ-357: Bánh Hằng Sống - Lm. Minh Vận, CRM... 22
THÁNHTHỂ-358: Thánh Thể. 25
THÁNHTHỂ-359: Thánh Thể là trung tâm đời sống Kitô hữu. 27
THÁNHTHỂ-360: Nguồn Sống – Trầm Thiên Thu. 32
THÁNHTHỂ-361: Lễ Mình và Máu Thánh Chúa – Nguyễn Tro Bụi 35
THÁNHTHỂ-362: HIỆN DIỆN VÀ HIẾN THÂN.. 38
THÁNHTHỂ-363: MẦU NHIỆM TÌNH YÊU.. 39
THÁNHTHỂ-364: TẤM BÁNH CỦA MẸ.. 41
THÁNHTHỂ-365: TẤM BÁNH CHO ĐỜI 43
THÁNHTHỂ-366: MÌNH MÁU CHÚA KITÔ.. 44
THÁNHTHỂ-367: BÁNH RƯỢU GIÊSU.. 46
THÁNHTHỂ-368: ĂN LỄ VƯỢT QUA.. 47
THÁNHTHỂ-369: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ.. 50
THÁNHTHỂ-370: SUY NIỆM LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ.. 52
THÁNHTHỂ-371: HY TẾ TẠ ƠN.. 56
THÁNHTHỂ-372: CẢM NGHIỆM PHÉP LẠ THÁNH THỂ.. 60
THÁNHTHỂ-373: HIẾN TẾ TÌNH YÊU.. 63
THÁNHTHỂ-374: NÀY ĐÂY BÁNH CỦA CÁC THIÊN THẦN.. 65
THÁNHTHỂ-375: PHÚC LỘC THỌ.. 67
THÁNHTHỂ-376: HỖ TƯƠNG.. 69
THÁNHTHỂ-377: LƯƠNG THỰC BẤT TỬ.. 71
THÁNHTHỂ-378: NHỮNG CÁI CHẾT ĐEM LẠI SỰ SỐNG.. 73
THÁNHTHỂ-379: MÁU THÁNH CHÚA KITÔ: 77
THÁNHTHỂ-380: HIẾN LỄ TẠ ƠN-  Lm. Trần Thanh Sơn. 79
THÁNHTHỂ-381: ĐÂY LÀ MÌNH THẦY, ĐÂY LÀ MÁU THẦY.. 81
THÁNHTHỂ-382: HIỆP THÔNG VỚI CHÚA.. 83
THÁNHTHỂ-383: Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô Năm C.. 92
THÁNHTHỂ-384: Sức sống. 93
THÁNHTHỂ-385: Sự sống phát xuất từ việc trao ban sự sống. 94
THÁNHTHỂ-386: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ.. 100
THÁNHTHỂ-387: Giao Ước Máu. 102
THÁNHTHỂ-388: DẤU CHỈ LOAN BÁO THÁNH THỂ (*) 116
THÁNHTHỂ-389: CÁC CON HÃY CHO HỌ ĂN- Lm. Giuse Đinh lập Liễm.. 122

 

THÁNHTHỂ-351: Lương thực cho loài người

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)
I. Dẫn vào Thánh lễ
Anh chị em thân mến
 

Thánh lễ là Bàn tiệc. Rước lễ là ăn uống chính Mình và Máu Thánh Chúa, thứ lương thực tuyệt THÁNHTHỂ-351

Thánh lễ là Bàn tiệc. Rước lễ là ăn uống chính Mình và Máu Thánh Chúa, thứ lương thực tuyệt hảo nuôi sống và bổ dưỡng linh hồn chúng ta. Nếu linh hồn chúng ta yếu, Mình Máu Thánh Chúa sẽ bổ sức cho mạnh ; nếu ta đang chán nản, Chúa sẽ ban lại cho ta niềm hy vọng ; nếu chúng ta cảm thấy người khác khó thương, Ngài sẽ ban thêm cho ta lòng mến.
Chúng ta hãy sốt sắng tham dự Thánh Lễ này, nhất là sốt sắng rước Chúa vào lòng để cho Ngài nuôi dưỡng linh hồn chúng ta.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta lo tìm lương thực phần xác hơn là lương thực phần hồn.
- Chúng ta cùng tham dự một bàn tiệc Chúa, cùng ăn một thứ lương thực là Mình Máu Chúa, nhưng chúng ta không đoàn kết yêu thương nhau.
- Chúng ta được nuôi dưỡng bằng bánh bởi trời, nhưng chúng ta còn quá lo lắng trước những khó khăn trần thế.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (St 14,18-20):
Văn mạch của câu chuyện này là Abraham vừa mới chiến thắng liên minh nhiều vua trong vùng (xem St 14,1-16).
Hay tin ấy, Melkisêđê, vừa là vua vừa là tư tế thành Salem, đã đem lễ vật gồm bánh và rượu tới dâng cho Abraham để chúc mừng ông ; đồng thời Melkisêđê cũng nhân danh Thiên Chúa tối cao chúc lành cho Abraham.
Phần Abraham. mặc dù lúc ấy ông đã hùng mạnh, nhưng ông cũng bày tỏ lòng thần phục vị Tư Tế của Thiên Chúa, nên đã nộp cho vị này một phần mười tất cả các chiến lợi phẩm.
2. Đáp ca (Tv 109)
Tv 109 ca tụng Đấng Messia như một vì vua thống trị tất cả các vua trên mặt đất.
Câu đáp "Con là Thượng tế đến muôn đời theo phẩm hàm Melkisêđê" lại cho thấy Vua Messia ấy còn là Thượng tế nữa.
Cả hai tước hiệu Vua và Thượng Tế đều được áp dụng cho Chúa Giêsu.
3. Tin Mừng (Lc 9,11-17):
Phép lạ hóa bánh ra nhiều.
Cách viết của thánh Luca chứa nhiều ngụ ý:
- Ngụ ý nhắc lại phép lạ manna ngày xưa: nơi diễn ra phép lạ là "sa mạc", một đám đông dân chúng đang đói, họ đã được ban cho một thứ bánh phép lạ, dư lại 12 thúng tương đương con số các chi tộc Israel à Như thế, phép lạ này tái diễn phép lạ manna trong sa mạc ngày xưa và còn trổi vượt hơn phép lạ xưa ấy nữa.
- Ngụ ý ám chỉ bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu sẽ lập: thời điểm diễn ra là "khi đã xế chiều" (giống bữa tiệc ly), những cử chỉ của Chúa Giêsu "cầm lấy", "nhìn lên", "chúc tụng", "bẻ ra" và "chia" (giống những cử chỉ Chúa Giêsu làm khi lập phép Thánh Thể).
Tóm lại, phép lạ hóa bánh ra nhiều này nhắc lại phép lạ manna ngày xưa và là hình ảnh tiên báo về Bí tích Thánh Thể.
4. Bài đọc II (1 Cr 11,23-26):
Thời đó, tín hữu có thói quen cử hành "bữa tiệc Thánh Thể" (Cena) trong khung cảnh một "bữa ăn huynh đệ" (agape). Ý nghĩa của bữa Cena là như sau: mỗi khi họp nhau để cử hành Thánh Thể, các tín hữu đem theo của ăn thức uống góp chung lại, một phần để giúp những anh em nghèo túng, phần còn lại chia nhau dùng chung.
Nhưng ở Côrintô những người giàu đã vội vàng ngồi vào bàn và ăn uống trước không chờ những người nghèo. Tệ hơn nữa, những bữa ăn ấy lại là dịp cho họ nhậu nhẹt say sưa.
Để sửa tệ nạn ấy, Thánh Phaolô nhắc lại truyền thống bữa Tiệc ly của Chúa. Ở đây, Phaolô trích dẫn một bản văn phụng vụ về việc Chúa lập bí tích Thánh Thể. Đây là một tài liệu rất quý giá (cc 23-27). Sau đó (cc 28-34) ngài khuyến khích họ cử hành Thánh Thể một cách xứng đáng và đúng nghĩa. Tham dự cách bất xứng là tham dự Thánh Thể mà không quan tâm đến việc chia xẻ với những anh em nghèo túng, không nhận biết cộng đoàn Giáo Hội là thân mình của Đức Kitô được xây dựng trong tiệc Thánh Thể (ý nghĩa kiểu nói "phân biệt được Thân mình").
IV. GỢI Ý GIẢNG
1. Lễ Tạ Ơn
Theo nguyên ngữ, Eucharistia, Thánh lễ là một lễ Tạ ơn. Ý nghĩa này rất rõ trong các bài đọc hôm nay:
- Tư tế Melkisêđê hay tin Abraham chiến thắng thì đã "chúc tụng Thiên Chúa" (bài đọc I). Chúc tụng là một cách tạ ơn.
- Abraham nộp cho vị Tư Tế của Thiên Chúa một phần mười tất cả các chiến phẩm cũng là để bày tỏ tâm tình tạ ơn (bài đọc I).
- Khi Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể, Ngài cũng "cầm lấy bánh và tạ ơn" (bài đọc II)
- Khi Ngài làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, hình ảnh tiên báo Bí tích Thánh Thể, Ngài cũng "cầm lấy, ngước mắt nhìn lên trời và chúc tụng" (chúc tụng là tạ ơn) (bài Tin Mừng).
Nhưng ngày nay khi chúng ta dự Thánh lễ, hầu như chúng ta chỉ biết xin ơn mà quên tạ ơn.
Có biết bao điều ta có thể tạ ơn Chúa mỗi khi tham dự Thánh Lễ.
2. Những điều tầm thường trở thành phi thường
Trong các bài đọc hôm nay, chúng ta thấy nhiều điều rất tầm thường trong cuộc sống bình thường: bánh, rượu, ăn, uống, cầm, bẻ ra, chia…
Nhưng Melkisêđê đã dùng bánh và rượu ấy để làm lễ tế ; Chúa Giêsu cũng dùng bánh và rượu để biến thành Mình và Máu Ngài. Và Chúa Giêsu đã làm việc đó bằng những cử chỉ bình thường như cầm lấy, bẻ ra, trao…
Trong Thánh lễ, tất cả những điều bình thường và thậm chí tầm thường đều có thể trở thành phi thường, cao cả, thánh thiện.
Vậy mỗi khi tham dự Thánh lễ, chúng ta hãy đến với những sự tầm thường và thánh hóa chúng thành những điều phi thường. Thí dụ: mồ hôi, nước mắt, việc làm, tâm tư, nguyện ước….
3. Quen thuộc hóa
Linh mục Walter Ciszek bị quân Nga bắt trong thế chiến thứ hai. Ngài bị kết tội là "Gián điệp Vatican" và phải qua 23 năm trong tù và trong các trại lao động Sibêrica. Cuối cùng, khi ra khỏi tù, Ngài viết lại một quyển sách về những kinh nghiệm của mình và đặt tựa cho nó là: "He Liadeth me" (Ngài dẫn dắt tôi)
Một số câu chuyện cảm động trong cuốn sách nói về những hy sinh mà các tù nhân phải chịu để được nhận lãnh Mình Thánh Chúa Kitô ở trong tù. Đặc biệt có một câu chuyện đáng ghi nhớ. Trước khi chia sẻ câu chuyện này với anh chị em, tôi xin trình bày bối cảnh của câu chuyện:
Vào những ngày xảy ra thế chiến thứ hai, tức là trước Công Đồng Vatican II, giáo luật buộc kiêng ăn uống suốt 24 giờ đồng hồ trước khi rước lễ. Xin lưu ý điều này khi đọc đoạn văn sau trích từ quyển sách của Linh mục Ciszek:
"Tôi thấy các tù nhân phải bỏ bớt giấc ngủ cần thiết và thức dậy trước chuông rung để tham dự thánh lễ bí mật. Chúng tôi sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nếu bị khám phá đang hành lễ và luôn luôn lúc nào cũng có những tên chỉ điểm… Tất cả điều trên khiến cho những thánh lễ có đông tù nhân trở nên rất khó khăn, vì thế khi có thể chúng tôi thường truyền phép thêm bánh lễ để phân phối cho các tù nhân khác. Đôi khi chúng tôi thường chỉ trông thấy họ khi chúng tôi trở về trại vào ban tối trước bữa ăn. Tuy vậy, những người này thường phải thực sự nhịn đói cả ngày và phải lao động cật lực mà không dám ăn một miếng kể từ bữa ăn tối chiều hôm trứơc chỉ với mục đích là để có thể rước Thánh Thể, điều này cho thấy Bí Tích Thánh Thể có ý nghĩa với họ biết là dường nào !" (Trích từ He Leadeth me của Walter Ciszek và Daniel Fatherly, bản 1973 của Walter J. Ciszek S. J).
Nói cách khác, trường hợp các tù nhân có thể sánh hệt như vào giờ này hôm qua đến giờ này hôm nay anh chị em và tôi chẳng hề ăn uống gì cả, đồng thời chúng ta lại đang phải lao động vất vả trong thời tiết dưới không độ. Điều ấy cho thấy sự rước lễ có ý nghĩa biết bao đối với Linh Mục Ciszek và các tù nhân của Ngài.
Câu chuyện trên thật thích hợp với lễ Mình Thánh Chúa Kitô hôm nay. Hai tiếng La Tinh "Corpus Christi" có nghĩa là "Thân Thể Chúa Kitô"… Vào dịp lễ Mình Thánh Chúa Kitô này, chúng ta tôn vinh thân xác Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể.
Tại sao chúng ta dành riêng một ngày đặc biệt để tôn vinh "Mình Thánh" Chúa Kitô? Chúng ta đã chẳng tôn vinh Mình Thánh Chúa Kitô vào mỗi khi dâng Thánh lễ sao? Vậy tại sao lại có ngày dành riêng đặc biệt này?
Lý do chúng ta mừng lễ Mình Thánh Chúa Giêsu cũng chính là lý do khiến chúng ta mừng ngày dành riêng cho các bậc làm cha hôm nay. Bởi khuynh hướng con người chúng ta thường xem những tặng phẩm đặc biệt là điều dĩ nhiên, chẳng hạn như thân mình Chúa Giêsu hoặc các người bố của chúng ta.
Một trong những bi kịch lớn nhất của cuộc đời chúng ta thường đánh mất sự quí trọng đối với một vài tặng phẩm quí giá nhất mà chúng ta đang có. Tại sao vậy? Các nhà tâm lý học cho chúng ta hay là nếu chúng ta cứ phải chú ý đến từng âm thanh chúng ta nghe hoặc từng mầu sắc chúng ta thấy thì chắc chắn chúng ta sẽ phát điên lên. Vì thế để bảo vệ chúng ta khỏi sự điên khùng này, chúng ta liền thích ứng với những âm thanh và mầu sắc này, chúng ta đóng khung chúng khỏi ý thức mình. chẳng hạn, nếu chúng ta nghe ai đó đánh máy trong phòng bên cạnh thì chúng ta sẽ để cho lỗ tai làm quen với âm thanh ngay. Các nhà tâm lý học gọi tiến trình này là "Quen thuộc hoá" (habituation).
Tuy nhiên cũng có mặt trái của sự quen thuộc này. Bởi vì chúng ta thường dễ có khuynh hướng làm ngơ trước mọi sự, chẳng hạn những buổi mặt trời lặn, những bông hoa, bè bạn, các bà mẹ, các ông bố và ngay cả Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Chúng ta đánh mất sự quý chuộng và sự biết ơn về những điều ấy. Chúng ta xem đó như những điều đương nhiên.
Sự quen thuộc hoá này là một trong những lý do quan trọng khiến môn Thiền đã trở nên khá phổ biến. Mục đích của việc thiền định là giúp chúng ta tiêu trừ "sự quen thuộc hoá" này. Nó giúp chúng ta ý thức trở lại vẻ đẹp của hoàng hôn, của bông hoa, của bè bạn. Trong thiền định, người ta cố gắng tập trung chú ý vào một đối tượng thân thuộc, chẳng hạn một bông hoa, như thể lần đầu tiên người ta trông thấy nó ; hoặc tập trung vào một kẻ mình yêu mến chẳng hạn ông bố của mình như thể đây là lần sau cùng mình trông thấy ông và ao ước cho hình ảnh ông ấy trường tồn mãi trong tâm trí.
Điều này dẫn chúng ta đến với Mình Thánh Chúa Kitô. Lễ Mình Thánh Chúa Kitô đưa ra cho chúng ta lời mời gọi lẫn thách thức.
Trước hết là lời mời gọi. Mình Thánh Chúa Kitô mời gọi chúng ta tự vấn xem việc rước lễ có ý nghĩa gì với chúng ta? Chúng ta còn trân trọng việc ấy nhiều như khi chúng ta rước lễ lần đầu không? Việc rước lễ có ý nghĩa đối với chúng ta nhiều như đối với các tù nhân trong cuốn sách của Linh Mục Ciszek không?
Nếu câu trả lời của chúng ta là không thì chúng ta sẽ gặp phải một lời thách thức. Đây cũng là lời thách thức dành cho các bậc làm bố đặt ra cho chúng ta. Thách thức đó là: "Làm thế nào chúng ta có thể tìm lại được sự quí chuộng đối với phép Thánh Thể cũng như sự quí chuộng đối với bố mình? Làm thế nào chúng ta có thể phấn khích trở lại về cả hai tặng phẩm ấy?"
Một phương cách giúp chúng ta làm được điều đó là bắt chước các thiền sư. Chúng ta cố gắng suy niệm về Mình Thánh Chúa Kitô như thể lần đầu tiên chúng ta khám phá ra mầu nhiệm này.
Cách đây một ít năm, bà Emilie Griffin làm nghề quảng cáo ở Nữu Ước đã trở lại đạo Công Giáo. Bà có viết một cuốn sách hấp dẫn tựa đề Turning (Trở lại), trong đó bà bàn về lý do lôi kéo bà đến với đạo Công Giáo như sau:
"Lòng sùng mộ gia tăng đối với phép Thánh Thể và niềm tin vào việc Chúa hiện diện thực sự đã lôi kéo tôi đến nhà các nhà thờ thuộc Công giáo Rôma và trong khi lòng sùng mộ phép Thánh Thể càng gia tăng thì tôi lại càng bị lôi cuốn đến với Công giáo Rôma".
Như thế, chúng ta nên cố gắng suy niệm về bí tích Thánh Thể theo gương Emilie Griffin khi bà khám phá ra mầu nhiệm khôn dò này ngay trong lần đầu tiên.
Tôi xin được phép kết thúc bài giảng với hai gợi ý sau.
Thứ nhất, trong tuần lễ sắp tới, anh chị em hãy gia tăng lời cảm tạ Chúa Giêsu vào giờ kinh nguyện hằng ngày vì Ngài đã tặng ban Máu Thịt Ngài làm quà cho chúng ta.
Thứ đến, kể từ nay trong giờ lễ mỗi khi bước ra khỏi hàng ghế để lên nhận Mình Thánh Chúa, anh chị em hãy tập trung ý nghĩ một cách đặc biệt vào Đấng mà anh chị em sắp lãnh nhận khi thừa tác viên Bí tích Thánh Thể nâng Bánh Thánh lên nói: "Mình Máu Chúa Kitô". Bởi vì:
Anh chị em sắp lãnh nhận thân xác sống động của Chúa Kitô.
Anh chị em sắp lãnh nhận chính Chúa Giêsu đã sinh ra ở Belem.
Anh chị em sắp lãnh nhận chính Chúa Giêsu đã chết trên thập giá.
Anh chị em sắp lãnh nhận chính Chúa Giêsu phục sinh từ cõi chết.
Khi anh chị em suy nghĩ về điều này, chắc chắn anh chị em khó thể nào tin nổi vì điều ấy thật khó mà tưởng tượng được, tuy nhiên nhờ đức tin chúng ta biết rằng điều ấy quả có thực. Chỉ một mình Thiên Chúa giàu lòng yêu thương mới có thể ban cho chúng ta một quà tặng khôn tưởng như thế. (Vietcatholic)
4. Lương thực thần linh
Một số anh chị em dự tòng sau khi được học hỏi về sự cao quý, về tầm quan trọng và về sự cần thiết của thánh lễ cũng như của bí tích Thánh Thể đã đưa ra câu hỏi: Nếu thánh lễ và mầu nhiệm Thánh Thể cao quí và cần thiết cho đời sống thiêng liêng như vậy, thì tại sao nhiều người công giáo lại không đi dâng lễ, hay nếu có đi thì lại ngồi ở ngoài hút thuốc, nói chuyện, chơi giỡn và hầu như không bao giờ rước Mình Thánh Chúa?
Một câu hỏi quả là gây nhức nhối và rất đáng để những người mang danh là Kitô hữu phải suy nghĩ. Có lẽ ta khó có thể tìm được một lý do nào chính đáng để trả lời cho thắc mắc này ngoài việc nhận thực rằng: tại do yếu kém về giáo lý, do thiếu hiểu biết về Chúa, về những gì Người đã dạy và đã làm, do thiếu ý thức về những sự thánh thiêng, do thiếu trưởng thành trong đời sống đạo nên mới xảy ra những trường hợp như vậy. Vì thiếu hiểu biết nên không thấy được sự cao quí và tầm quan trọng của việc dâng lễ và việc rước Thánh Thể. Những người này coi việc đi dâng lễ ngày Chúa Nhật chỉ là một khoản luật phải giữ để khỏi có tội, để khỏi bị phạt mà thôi. Họ không ý thức rằng: thánh lễ và Thánh Thể là những điểm hẹn để họ gặp gỡ Thiên Chúa là Cha của mình. Họ cũng không biết rằng đây là cơ hội rất quý báu để có thể kín múc lấy nguồn sự sống, nguồn ân sủng cần thiết cho cuộc đời.
Thánh lễ và bí tích Thánh Thể không do Hội Thánh, không do bất cứ ai bịa đặt ra, nhưng là do chính Chúa Kitô thiết lập. Thánh lễ ngày nay tái diễn và làm sống lại thánh lễ Chúa Kitô đã dâng khi xưa trên thánh giá để tiếp tục chuyển thông ơn cứu rỗi cho mọi người, mọi thời và mọi nơi. Và thánh Thể chính là lương thực nuôi sống linh hồn ta trong hành trình làm người, cũng là hành trình đi về quê hương trên trời. Chúa Giêsu đã nói đi nói lại nhiều lần: "Thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì sẽ được sống đời đời" (Ga 6,54-55). Ngay cả khi Người biết rõ ràng rằng: Khi Người nói ra những điều ấy, người ta sẽ không tin, sẽ nhạo cười và sẽ bỏ đi, Người vẫn cứ nói. Điều đó cho thấy vấn đề Chúa Giêsu nói ra quan trọng và cần thiết như thế nào.
Con người không chỉ có thân xác nhưng còn có linh hồn. Và mục đích của đời sống làm người không chỉ là sự no đủ cơm áo phần xác mà còn là sự no đủ của đời sống tâm linh nữa: "Người ta sống không chỉ bởi bánh" (Lc 4,4).
Thiết tưởng mỗi người chúng ta đang hiện diện nơi đây đều có dư khả năng để nhận thức điều này. Vấn đề còn lại là thái độ của chúng ta đối với thánh lễ và Thánh Thể như thế nào mà thôi. (Sưu tầm)
5. Bí tích tình yêu
Trái bom nguyên tử đầu tiên đã nổ tại Hiroshima ngày 6 tháng 8, 1945. Năm giờ rưỡi sáng hôm sau, một thánh lễ được cử hành ở ngoại ô thành phố giữa những nạn nhân nằm la liệt.
Linh mục giám đốc tập viện Dòng Tên mở cửa nguyện đường đón nhận họ và tìm cách săn sóc họ. Về sau, khi đã trở nên Bề Trên Cả Dòng Tên, cha giám đốc tập viện Pedro Arrupe kể lại cảnh tượng sáng hôm đó như sau: "Nguyện đường tập viện chúng tôi phân nửa đã bị tàn phá, khi ấy tràn ngập những người bị thương do bom nguyên tử. Họ nằm la liệt bên nhau trên nền nhà, co quắp lại, bị đau khủng khiếp. Tôi khởi sự dâng thánh lễ, ráng tập trung trong một thế giới chẳng hiểu biết gì về những điều đang thực hiện trên bàn thờ. Họ là người ngoại đạo chưa hề dự một thánh lễ. Tôi không thể nào quên được cử chỉ tôi làm khi hướng về họ và nói: Chúa ở cùng anh chị em, giữa cảnh họ đang chịu đau đớn. Tôi hầu như bị tê liệt với hai tay giang ra mà tôi nghĩ tới thảm kịch con người dùng tiến bộ khoa học và kỹ thuật để tiêu diệt loài người. Đáp lại là những cặp mắt của những nạn nhân đang chờ nguồn an ủi nào đó từ bàn thờ giữa cảnh họ đang hấp hối và tuyệt vọng (...)
Sáu tháng sau, tất cả các nạn nhân được chữa trị đều trở về nhà, chỉ trừ hai người đã chết. Nhiều người trong số họ đã chịu Phép Rửa và ai thì cũng được biết thế nào là đức Ái Kitô giáo (...)
Bí Tích Thánh Thể - Dấu chỉ hữu hình của Tình Yêu siêu việt
Bí Tích Thánh Thể lại một lần nữa làm cho tôi kinh ngạc và cúi đầu thán phục trước sáng kiến vĩ đại của mầu nhiệm Nhập Thể, một sáng kiến chỉ có thể là sáng kiến của Tình Yêu. Chính để cứu chuộc con người mà Thiên Chúa đã nên một Con Người như ta. Chính để trao ban Sự Sống Đích Thực cho ta, mà Ngài đã trở nên của ăn thật sự, cụ thể cho ta. Điều kỳ diệu là sức sống thiêng liêng lại có thể ban cho ta qua Bàn Tiệc rất hữu hình và cụ thể. Ta không chỉ ăn Đức Giêsu cách biểu tượng và mầu nhiệm, mà còn một cách thực sự hữu hình và vật chất. Đó chính là sự kỳ diệu của Bí Tích vậy. Hội Thánh của Đức Giêsu được nuôi dưỡng bởi chính những dấu chỉ hữu hình đó. Thán phục trước sự kỳ diệu đó, tôi thấy mình được mời gọi yêu mến Hội Thánh, Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Giêsu hơn, với những phương tiện hữu hình, giới hạn nhưng đem lại sức sống dồi dào của Mẹ Thánh.
Đức Giêsu ban sự sống cho ta không với tư cách một người ban phát từ bên ngoài, nhưng Ngài tự nguyện trở thành của ăn cho ta. Đó là một hành vi tự nguyện tiêu tan đi, để cho kẻ khác nhờ đó mà được sống, tựa như hạt giống kia mục nát đi để đem lại sự sống cho vô số hạt khác. Một hành vi phục vụ đúng nghĩa. Tôi tự hỏi mình đã có một ước muốn phục vụ đích thực theo nghĩa là dám tự nguyện quên mình để nghĩ đến lợi ích người khác hay chưa.
Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích của sự hiệp thông. Thánh Thể hiện diện nơi Nhà Tạm là trung tâm của cộng đoàn tụ họp lại trong tình huynh đệ, dâng lên Cha hiến lễ chính Người Con. Vì Hội Thánh là Nhiệm Thể của Đức Kitô, nên khi dâng lên Cha Người Con, cộng đoàn tụ họp cũng dâng lên Cha chính mình với tư cách là Hội Thánh, Thân Mình của Đức Kitô vậy. Và khi cử hành Bàn Tiệc Thánh, cộng đoàn cũng cử hành mầu nhiệm hiệp thông vậy. Làm cho tôi được kết hợp với Đức Giêsu Phục Sinh, Bí Tích Thánh Thể còn liên kết tôi với anh chị em khác vốn cũng đang mang Đức Giêsu trong mình: bởi vì họ cũng được Ngài yêu mến, hiến thân cho. Liệu tôi có thể yêu mến Đức Giêsu đích thực không khi tôi chẳng yêu thương những người mà chính Ngài yêu thương đến nỗi hiến mạng vì họ? Nếu tôi yêu mến Thánh Thể của Đức Giêsu, thì liệu tôi có sẵn sàng quan tâm, săn sóc những thành phần đau yếu nghèo đói, bị bỏ rơi của Nhiệm Thể Ngài là Hội Thánh chăng? Còn biết bao anh chị em trong cùng Thân Thể với tôi đang rên xiết dưới sức nặng của đau khổ và cần tôi giúp đỡ và yêu mến. Chính Bí Tích Thánh Thể là nguồn sức mạnh khiến tôi có khả năng yêu mến và thể hiện Tình Yêu đó cho anh chị em tôi. (Lm Augustine, sj. Vietcatholic)
6. "Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy"
Đôi khi chúng ta bị coi thường. Điều này thật đau buồn. Chúng ta thấy việc mình làm chẳng ai biết tới, và ngay chính bản thân chúng ta cũng bị đối xử như chẳng có gì đáng chú ý.
Nhưng tệ hơn nữa là chúng ta bị quên lãng. Điều này còn đau buồn hơn. Người ta quên chúng ta có nghĩa là không chỉ người ta không coi trọng chúng ta mà còn coi như chúng ta không có.
Bởi vậy ai cũng cố gắng làm cho người ta nhớ tới mình. Có câu nói rằng điều đáng sợ nhất không phải là chết mà là bị bỏ quên.
Chúa Giêsu cũng thế. Ngài muốn chúng ta nhớ tới Ngài. Vì thế trong đêm trước khi chịu chết, Ngài đã ngồi xuống cùng ăn với các môn đệ, rồi cầm lấy bánh và nói: "Này là Mình Thầy được ban cho các con". Rồi Ngài cầm lấy chén rượu và nói: "Này là chén Máu Thầy… Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy".
Dĩ nhiên Chúa muốn các môn đệ nhớ đến Ngài không phải chỉ vì ích lợi cho Ngài mà vì ích lợi cho chính họ. Họ cũng cần nhớ đến Ngài nữa. Vì yêu thương họ nên Ngài đã để lại một cách đặc biệt để nhớ đến Ngài, đó là Bí tích Thánh Thể.
Mỗi lần chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể là chúng ta nhớ lại một số lời Ngài nói và một số việc Ngài làm. Chúng ta suy gẫm những điều đó và cố gắng thực hành trong đời sống.
Mỗi lần chúng ta nhớ đến Ngài bằng cách đó thì Ngài trở nên hiện diện gần gũi với chúng ta, tuy không hiện diện hữu hình nhưng là hiện diện thực sự.
Nhờ cử hành bí tích Thánh Thể, một mối dây yêu thương nối kết chúng ta lại với Ngài, kết quả là chúng ta có khả năng đi vào sự thân mật sâu đậm với Ngài, sâu đậm hơn cả khi Ngài hiện diện hữu hình. Chúng ta không chỉ thông giao với Ngài, mà còn hiệp thông với Ngài nữa, một sự hiệp thông thánh thiện.
Nhớ là một khả năng quý giá. Nó nối kết chúng ta lại với những người và những sự việc không còn nữa. Khi chúng ta nhớ đến những người thân yêu thì họ trở thành hiện diện với chúng ta. Họ không chỉ là một ký ức mà là một sự hiện diện thực sự. Khi nhớ tới họ là chúng ta tiếp tục gặt hái những hoa trái mà họ đã gieo khi còn sống với chúng ta.
Huống chi là khi chúng ta nhớ đến Chúa Giêsu, hoa trái chúng ta gặt hái còn nhiều hơn đến mức nào nữa. Nhất là nhớ đến Ngài bằng cách thức Ngài chỉ dạy, đó là cử hành Bí tích Thánh Thể (FM)
7. Chuyện vui
Cô giáo giảng cho các học sinh về việc Chúa Giêsu lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá nuôi cả một đám đông: "Các em phải biết là Chúa Giêsu không thực sự nuôi dân bằng vài mẩu bánh. Chuyện đó không thể làm được. Đúng ra là Ngài đã dùng lời ngon ngọt mê hoặc họ để họ không còn cảm giác đói khát và về đến nhà vẫn còn cảm thấy no nê." Chợt một bé gái đứng lên hỏi: "Thưa cô, vậy 12 thúng bánh vụn lấy đâu ra?"
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, khi cùng với các tông đồ dự bữa Tiệc Ly. Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh thể để thánh hóa và dưỡng nuôi các tín hữu trong cuộc lữ hành trần thế. Với tâm tình cảm tạ tri ân, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:
1. Bí tích Thánh thể là bí tích tình yêu / dấu chỉ hiệp nhất / mối dây bác ái / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phần Dân Chúa / khi tham dự bàn tiệc Thánh thể / được đức tin duy nhất chiếu soi / và được liên kết trong cùng một đức ái vững bền.
2 Chính Chúa Giêsu đón nhận người Kitô hữu khi họ rước Chúa vào lòng / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa dạy các tín hữu / biết niềm nở đón tiếp những ai đang tìm Người.
3. Chính Chúa Giêsu tự hiến làm của ăn của uống cho loài người trong bí tích Thánh thể / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho sức mạnh người Kitô hữu đã tìm được nơi bàn thánh / tồn tại mãi trong cuộc sống chứng nhân thường ngày.
4. Việc rước lễ thường xuyên sẽ giúp ta tránh xa tội lỗi / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta hiểu được điều này / và chuẩn bị thật tốt tâm hồn / để mỗi khi tham dự thánh lễ / đều có thể rước Chúa một cách xứng đáng và hữu hiệu.
Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, là Linh mục đích thực và vĩnh cửu, Chúa đã thiết lập hy lễ trường tồn và truyền cho chúng con cử hành mà tưởng nhớ đến Chúa. Xin cho chúng con biết tham dự thánh lễ một cách sốt sắng như Hội thánh đã dạy. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

 

THÁNHTHỂ-352: Mình Máu Chúa - Veritas

(Trích trong ‘Hãy Ra Khơi’)
 

Hôm nay, tôi bỗng chợt nhớ đến một kinh nghiệm sống trong gia đình và thường được lặp đi THÁNHTHỂ-352

Hôm nay, tôi bỗng chợt nhớ đến một kinh nghiệm sống trong gia đình và thường được lặp đi lặp lại mãi trong thời gian tôi 57 tuổi. Cứ mỗi lần mẹ tôi làm bánh hay cha tôi tát các mương đìa quanh nhà bắt cá thì tôi thèm thuồng ngồi bên nồi bánh vừa chín hoặc tiếc nuối những rổ tôm cá. Thèm thuồng vì rổ bánh chín mà mình muốn ăn nhưng mẹ tôi lại cứ lấy đi phân chia, bảo tôi đem cho người này người nọ, hoặc hối tiếc những con tôm, con cá mà mẹ tôi bắt đem cho các gia đình hàng xóm, những người cần đến. Mỗi lần bảo tôi mang đi cho người khác thì tôi không muốn cho đi, bấy giờ mẹ tôi lại bảo: “Con ạ, mình giữ lại ăn thì hết mà cho người ta ăn thì còn mãi”. Tôi không bao giờ quên lời nói đơn sơ này đi kèm với chính hành động chia bánh, chia cá cho những người xung quanh.
Hôm nay đọc lại đoạn Tin Mừng của lễ Mình Máu Thánh Chúa, kinh nghiệm gia đình tôi đã trải qua và nhất là lời giải thích của mẹ tôi: “Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn”. Một lần nữa lại xuất hiện và giúp tôi phần nào hiểu thêm kinh nghiệm mà các tông đồ đã trải qua ngày xưa trong biến cố được kể lại trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa đọc qua. Vào thời điểm của biến cố, chắc chắn các tông đồ đã được nhìn thấy nhiều việc làm của Chúa Giêsu để thực hiện tình thương đối với con người. Những lời nhắn nhủ dạy bảo của Chúa đã đánh động các ngài là sẽ không được sống ích kỷ, không được mơ ước vinh quang, danh vọng, địa vị cho bản thân khi theo Chúa. Thế nhưng, khi phải đối diện với một nhu cầu cụ thể của muôn người đang theo Chúa mà bị đói thì các ngài có phản ứng tránh né, thoái thác, không muốn hy sinh làm một cái gì đó để giúp vào. Các ngài đã nhắc khéo Chúa cho đoàn người ra về để họ tự lo giải quyết lấy vấn đề ăn uống. Chúa Giêsu đã làm ngược lại, Ngài ra lệnh: “Các con phải cho họ ăn”. Làm đồ đệ của Chúa, nhất là trong địa vị các tông đồ thì càng không thể chối từ trước lời mời gọi của tình bác ái liên đới. Và không để các tông đồ sống trong một thái độ tiêu cực lâu hơn nữa. Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông cộng tác vào công việc cho đi của Ngài. Trước hết, bằng việc chịu cực một chút, dấn bước hơn một chút để ra khỏi cái tôi ích kỷ, để tổ chức đám đông ngồi xuống bãi cỏ thành từng nhóm cho có trật tự.
Chắc chắn, đây cũng là một công việc khá phức tạp so với phương tiện thời đó. Phức tạp hơn là việc rửa chén quét nhà, rót cho người khách một ly nước, dù chỉ là một ly nước lã, nếu phải ly nước trà lại càng phải hy sinh nhiều hơn nữa: “Con ạ, mình ăn thì hết, người ta ăn mới còn”. Không biết mẹ tôi đã học được lẽ khôn ngoan này nơi đâu? Chắc chắn không phải nơi sách vở, vì mẹ tôi chỉ học xong tiểu học, như vậy có thể là từ Chúa. Tôi không biết. Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ cầm lấy bánh và cá mà Ngài vừa chúc phúc để đem phân phối cho dân chúng. Như mẹ tôi đã bảo tôi đem bánh, đem cá đi cho người xung quanh để họ cũng được hưởng một bữa ăn ngon như nhà tôi lúc tát đìa hoặc làm bánh. Cử chỉ Chúa Giêsu thực hiện và được mô tả trong đoạn Phúc âm của thánh Luca hôm nay loan báo cho các môn đệ là Chúa sẽ thiết lập Bí tích Thánh Thể sau này. Chắc chắn sau kinh nghiệm sống với Chúa, các tông đồ hiểu được bí quyết sâu xa của Bí tích Thánh Thể, hy sinh chính bản thân mình như Chúa để nên của ăn đem lại hạnh phúc vui mừng cho anh chị em.
Chúng ta có thể nói, mừng lễ kính Mình Máu Chúa hôm nay như là ôn lại một kinh nghiệm gia đình, kinh nghiệm đại gia đình Giáo Hội của chúng ta. Bí tích Thánh Thể là trung tâm trong đời sống của mỗi người chúng ta cũng như là trung tâm của sinh hoạt Giáo Hội. Mỗi người chúng ta cũng như toàn thể Giáo Hội đều được mời gọi ôn lại kinh nghiệm gia đình mà Chúa Giêsu đã thực hiện với các tông đồ ngày xưa, Ngài mời gọi các tông đồ hãy cộng tác với Ngài để cho đi, cho đi chính Ngài, cho đi chính bản thân của họ. Mỗi người chúng ta hôm nay cử hành lễ Mình Thánh Chúa, chúng ta cũng được mời gọi cho đi chính mình như Chúa đã cho đi. Chúng ta tôn thờ sự hiện diện của Chúa không đủ, chúng ta còn phải để cho Chúa sống trong chúng ta, để Chúa cho đi trong chúng ta và chúng ta được mời gọi cho đi như Ngài. Xin Chúa củng cố đức tin cho chúng ta, để chúng ta cho đi trong tình thương bác ái, để chúng ta được sống như Chúa và cử hành Bí tích Thánh Thể mỗi ngày như Chúa. Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

 

THÁNHTHỂ-353: Bí Tích Thánh Thể

Trước kia khi đọc bài Tin Mừng này thì tôi không thể nào chấp nhận được một người lại lấy THÁNHTHỂ-353

Trước kia khi đọc bài Tin Mừng này thì tôi không thể nào chấp nhận được một người lại lấy máu thịt mình cho người khác ăn được. Tôi cứ thích việc Chúa làm và xem đó như một trò ảo thuật. Nhưng đến ngày hôm nay khi hiểu được thì thật là một mầu nhiệm cao siêu đầy quyền năng của Chúa, qua việc quan tâm đến đám đông và chăm sóc họ một cách rất cụ thể.
Ngày xưa, khi nhìn bằng con mắt quan tâm. Đức Giêsu biết rất rõ đám thính giả của Người đang đói. Một hình ảnh tượng trưng cho cả nhân loại. Người ta nói rằng đám đông ấy đông vô kể. Phần các môn đệ, những người có thể nói chưa quan tâm đủ nên đã nói nên giải tán để cho họ đi vào các làng lân cận mà lo kiếm của ăn. Nhưng Đức Giêsu lại nghĩ khác. Người yêu cầu cho họ ngồi xuống. Chính Người sắp lo liệu cho đám dân này mà Người lại làm công việc đó một cách khiêm tốn. Người đã không coi chuyện năm ổ bánh và hai con cá nghèo nàn mà các môn đệ nói cho biết là chuyện nghiêm chỉnh chăng? Chính những ổ bánh và những con cá này mà Người hóa ra nhiều đấy.
Chúng ta cũng được biết trong trí của Đức Giêsu (việc hóa bánh ra nhiều) là dấu lạ loan báo một của ăn khác. Nếu ta vận dụng ý nghĩa của cử chỉ Chúa làm, thì ta có thể cả quyết rằng phép Thánh Thể cũng như phép lạ ta vừa chứng kiến, không phải là một trò ảo thuật. Việc làm của Đức Giêsu dựa trên việc hiến dâng 5 ổ bánh và 2 con cá. Đó chính là vai trò hết sức chủ động dành cho ta trong phép Thánh Thể. Đức Kitô muốn ghép hồng ân Thánh Thể vào chính bánh và cá cũng như cuộc sống của ta. Thánh Phaolô sẽ nói lên điều đó. Chúng ta là thân thể của Đức Kitô. Vì thế, trong khi cử hành bí tích Thánh Thể cũng như mọi bí tích khác, chính chúng ta cũng phải cống hiến 5 ổ bánh và 2 con cái mà ta có. Những thứ đó chẳng là gì sánh với đám đông đang đói lả ngày nay. Tuy nhiên, nếu không có những thứ đó, Bí tích Thánh Thể sẽ chỉ còn là một trò ảo thuật. Đức Giêsu, với quyền năng của Người, Người sẽ biến đổi, sẽ hiến thánh sự nghèo nàn của những việc ta làm và thực tại cuộc sống của ta.
Nước Thiên Chúa sẽ hoàn tất cách tuyệt hảo những gì mà con người có can đảm cống hiến cho người nghèo đang van xin, cho người đau yếu đang rên rỉ, cho tù nhân đang đòi hỏi công lý, cho người cùng khổ đang đau đớn và than khóc. "Điều gì anh em làm cho người bé nhỏ nhất trong các anh em Ta đây, là đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40).
Ngày nay, trong Bí tích Thánh Thể, chính là việc Thiên Chúa tiếp nhận chúng ta vào bàn ăn của Người, và việc Người đón tiếp thì rất cụ thể: trong khung cảnh một bữa ăn để ta có cái ăn.
Thiên Chúa tiếp đón chúng ta ở bàn tiệc sự sống của Người. Bánh và rượu được ban để làm cho sự sống của Chúa hoạt động trong ta "trong sinh hoạt thường ngày". Lễ Mình Máu Chúa Kitô còn vọng lại âm thanh của mùa phục sinh vừa mới kết thúc, mầu nhiệm Thiên Chúa được tỏ ra trong việc Đức Giêsu chết và sống lại vì chúng ta. Lễ này cũng nhắc lại sự hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa, mà ta vừa mới cử hành Chúa nhật vừa qua trong lễ Chúa Ba Ngôi. Đức Giêsu tiếp nhận ta vào sự sống của chính Thiên Chúa. Khi ăn bánh và uống chén rượu, chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là giờ phút để ta "cám ơn", tạ ơn Thiên Chúa.
Trong lễ Mình Máu Chúa hôm nay Thiên Chúa sẽ hoan hỉ khi mọi con cái loài người đều có chỗ ngồi và có của ăn. Và trong "sinh hoạt thường ngày", ai sẽ được trao nhiệm vụ đón tiếp đám đông để nói cho họ về Nước Thiên Chúa? "Anh em hãy cho họ ăn đi". Trọng trách được trao cho các môn đệ. Ân huệ kéo theo nhiệm vụ. Nếu ân huệ là cụ thể, thì nhiệm vụ cũng vậy thôi. Chúa không ngừng hướng dẫn Hội Thánh Người đến với những người đang đói.
Lạy Chúa, xin cho con nhận ra tầm quan trọng trong Bí Tích Thánh, để năng nhận lãnh mỗi ngày như của ăn linh hồn không thể thiếu trong cuộc sống. Amen.

 

THÁNHTHỂ-354: Tham dự Thánh Lễ

Nhân ngày lễ kính Mình và Máu thánh Đức Kitô hôm nay, tôi muốn đưa ra một câu hỏi để chúng THÁNHTHỂ-354

Nhân ngày lễ kính Mình và Máu thánh Đức Kitô hôm nay, tôi muốn đưa ra một câu hỏi để chúng ta cùng nhau suy nghĩ, đó là: Người Kitô hữu có cần phải đi tham dự Thánh lễ hay không?
Việc tham dự Thánh lễ đối với nhiều người, dù chỉ trong ngày Chúa nhật, cũng đã là một gánh nặng, một việc cực chẳng đã mới phải làm mà thôi. Dĩ nhiên hơn một tiếng đồng hồ ở trong nhà thờ chẳng ăn nhằm chi với đời sống, với những tính toán làm ăn và hưởng thụ của họ.
Nhưng nếu người Kitô hữu là người suốt tuần cảm thấy mình là phần tử của Dân Chúa và ý thức rằng thiên đàng không gì khác hơn là mọi người được hiệp nhất với Chúa và hiệp nhất với nhau, thì làm sao người đó lại không hân hoan đi về nhà Chúa, lại không cảm thấy mình cần phải có mặt trong cuộc gặp gỡ đầy tình mến thương, là Thánh lễ.
Nếu người Kitô hữu là người luôn ý thức sứ mạng của mình ở giữa lòng cuộc đời, là phải chu toàn những nghĩa vụ trần gian từ trong gia đình đến ngoài xã hội, thì làm sao người ấy lại không cảm thấy mình cần phải đến trước mặt Chúa, thú tội cùng anh chị em và xin mọi người cầu khẩn cho mình trước tôn nhan Chúa?
Nếu người Ki tô hữu là người suốt tuần muốn được ánh sáng đức tin soi cho thấy mọi sự và tìm hiểu ý Chúa trong mọi hoàn cảnh và trong mọi biến cố, thì làm sao người ấy lại không cảm thấy mình cần phải đến lắng nghe và suy gẫm lời Chúa?
Nếu người Kitô hữu là người suốt tuần không nhắm mắt và bịt tai lại, nhưng đã biết nhìn thấy những khổ đau vật chất cũng như tinh thần ở chung quanh mình, đã biết chia sẽ những niềm vui cũng như những nỗi buồn với mọi người anh em, và nếu người đó đã từng mang trong cõi lòng niềm hy vọng thúc đảy mọi người tiến đến sự giải thoát của Đức Kitô, thì làm sao người ấy lại không mang niềm hy vọng và nỗi chờ mong đó, hợp với những ý nguyện trong Thánh lễ mà dâng lên Thiên Chúa toàn năng?
Nếu người Ki tô hữu là người luôn ý thức rằng mọi sự mình có từ mảnh vườn và hạt lúa đến vợ chồng và con cái…đều do Chúa ban, còn mình thì có nhiệm vụ khai thác đất đai để giúp ích cho mọi người, thì dĩ nhiên người ấy sẽ hiểu vì sao Thánh lễ lại được gọi là lễ tạ ơn và vì sao mình phải cảm tạ Đức Kitô, Đấng phụng thờ Chúa Cha cách hoàn toàn hơn bất kỳ một người nào khác.
Nếu suốt tuần, sự lao động được quan niệm như là một việc thờ phượng Thiên Chúa, nếu những công lao khó nhọc và những nỗi đau buồn trong tuần đã được biến thành một của lễ thiêng liêng, thì chúng ta hiểu được vì sao cần phải đem tất cả những lễ vật xuất phát từ lòng cuộc đời ấy kết hiệp với của lễ tinh tuyền của Đức Kitô mà dâng lên cho Thiên Chúa.
Việc dâng lễ và rước lễ chỉ có ý nghĩa và giá trị, đồng thời trở nên niềm vui mừng và hy vọng, nếu như trước và sau khi đến nhà thờ, chúng ta cảm thấy mình chỉ có một nghĩa vụ là yêu mến Thiên Chúa trong anh em và yêu mến anh em trong Thiên Chúa, khi đó chúng ta mới cảm thấy rằng chúng ta không có cách nào hơn để sống, ngoài việc kết hiệp với Đấng đã vì yêu thương mà hiến mình trên thập giá và hiện đang sống để chuyển thông sức mạnh tình yêu ấy cho mỗi người chúng ta.
Bởi đó, hãy siêng năng tham dự thánh lễ và sốt sắng rước lễ, nhờ đó chúng ta sẽ kín múc được những lợi ích thiêng liêng cho tâm hồn, mà thánh lễ đem lại cho mỗi người chúng ta.

 

THÁNHTHỂ-355: Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa

Trong ngôn ngữ người Việt Nam chúng ta thường diễn tả các buổi chúc mừng bằng chữ "ăn' như THÁNHTHỂ-355

Trong ngôn ngữ người Việt Nam chúng ta thường diễn tả các buổi chúc mừng bằng chữ "ăn' như ăn tết, ăn cưới, ăn giỗ. Cái gì cũng phải ăn trước đã! Vì miếng ăn nhắc đến những sự chia sẻ huynh đệ, sự đoàn tụ hiệp nhất của tất cả mọi người trong gia đình. Cùng ăn chung với nhau từ một bàn ăn và cũng chia sẻ thức ăn, họ chia sẻ chung với nhau một sự sống và một tình yêu trong gia đình.
Đối với Thiên Chúa bữa ăn cũng vô cùng quan trọng, vì nó không những mang lại sự sống đời này mà còn sự sống vĩnh cửu đời sau nơi bàn tiệc của Vương quốc Thiên Chúa nữa. "Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa" (Lc 14,15).
Bài Phúc Âm của thánh Luca hôm nay (Lc 9, 11b -17) nói đến phép lạ Chúa Giêsu hoá bánh ra nhiều để nuôi hơn năm ngàn người bằng năm chiếc bánh và hai con cá. Lịch sử Dân Do Thái và những người Kitô hữu tiên khởi đã biết rất rõ ý nghĩa của phép này. Chúa Giêsu hành động cũng giống như Môi sê ngày xưa đã ra lệnh cho mỗi gia đình phải quy tụ nhau lại, ăn một bữa tiệc rất đặc biệt. Tại bữa tiệc này, họ đã nhớ lại tổ phụ Môisen, người đã hướng dẫn họ trở thành một dân tộc tự do. Bữa tiệc giải phóng khỏi cảnh nô lệ bên Ai Cập, mang lại tự do hạnh phúc. Trong Thông Điệp Ecclesia De Eucharistia ban hành ngày 17/4/2003, ở đoạn 1, ĐGH để giới thiệu về Bí Tích Thánh Thể " là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo" (Lumen Gentium đoạn 11). Bí tích Thánh Thể "tích chứa tất cả của cải thiêng liêng của Giáo Hội: Đó là chính Đức Kitô" (Presbyterorum Ordinis đoạn 5). Vì nhờ Bí Tích Thánh Thể mà lời hứa khi xưa của Chúa Giêsu được thực hiện: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:20).
Trong cuốn "Dining in the Kingdom of God" Cha Eugene LaVerdiere, một học giả thánh kinh đã cho rằng Phúc Âm của thánh Luca có một nét độc đáo. Đó là đã nhìn toàn bộ cuộc đời mục vụ của Chúa Giêsu dưới hai khía cạnh: các bữa tiệc và các cuộc hành trình, có tất cả 10 bữa tiệc chính trong phúc âm của Luca. Tất cả các biến cố quan trọng đều xoay quanh khung cảnh trước hoặc sau 10 bữa tiệc này. Bữa tiệc cao điểm chính là Bữa Tiệc Ly, Chúa lập Phép Thánh thể. Bí tích Thánh Thể được cử hành bây giờ trên trần thế alf dự gbáo cho bàn tiệc mới nơi vương quốc của Thiên Chúa ở ngày cánh chung (Mt 26, 29). Bữa tiệc đầu tiên xảy ra tại nhà Lêvi (Lc 5, 27-39). Sau đó, Chúa Giêsu thành lập 12 môn đệ (Lc 6, 12-8, 56). Sau bữa tiệc thứ hai ở nhà một người biệt phái (Lc 7, 36-50), Chúa trao sứ mệnh đi rao giảng Tin mừng cho 12 môn đệ (Lc 9, 1-50). Và tiếp theo là việc bẻ bánh tại Betxaiđa hay còn gọi là phép lạ hoá bánh ra nhiều (Lc 9, 10-17). Ba là bữa tiệc đầu tiên này là khởi điểm của của việc thành lập Giáo Hội trong bước đầu của công tác mục vụ công khai của Chúa Giêsu. Vì thế trong bài Phúc Âm hôm nay, khi các tông đồ muốn trốn tránh trách nhiệm với vai trò là những mục tử phải nuôi nấng đoàn chiên của mình: "Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng" (Lc 9, 12). Qua chỉ thị này Chúa Giêsu đã trao phó vai trò tìm kiếm thức ăn, dọn tiệc và cử hành bàn tiệc Thánh Thể cho Giáo Hội.
Chia sẻ Mình Máu Thánh Chúa Kitô và chia sẻ lương thực với nhau trong tình huynh đệ là ý nghĩa đầy đủ của bàn tiệc Thánh Thể. Qua bàn tiệc Thánh Thể con người kết hợp với Thiên Chúa và liên kết với nhau, để cuối cùng Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (Sacrosanctum Concilium đoạn 48). Vì thế, việc cử hành bàn tiệc Thánh Thể là một dấu chỉ của sự loan báo Vương Quốc Tình yêu, Bàn Tiệc Thiên Quốc (Lc 22, 16;GLCG 1344). Thể xác thần thiêng của Chúa Kitô (1Cr 15, 44) hiện đang đổi mới thân xác của các chi thể Ngài, đặc biệt qua Thánh Thể (1Cr 6, 15). Người Kitô hữu được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Chúa Kitô, đón nhận "liều thuốc trường sinh" và "hạt giống phục sinh" (Ga 6, 27. 33. 40. 54. 58) để thuộc về thân thể Người, trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Hơn nữa, khi tham dự bữa tiệc Thánh Thể ở trần gian là họ tham dự vào bữa tiệc cánh chung (Mt 26, 29) vì Mình và Máu Chúa Kitô còn nuôi dưỡng niềm hy vọng của dân Kitô cho tới khi Chúa lại đến. Như vậy, người Kitô hữu đang thuộc về Chúa Kitô, được sống lại trong Chúa Kitô trong từng giây phút hiện tại ta nên họ sẽ được sống lại với Người (1Cr 6, 14; Ep 2, 6; Cl 2, 12). Mặt khác, niềm hy vọng này không chỉ giúp người kitô hữu hoàn tất cuộc vượt qua khi đối diện với cái chết nhưng còn đón nhận gian lao trong cuộc sống trong tâm tình lạc quan, vì tin rằng sẽ được phục sinh với Chúa Kitô phục sinh trong ngày sau hết.
Nếu Chúa Giêsu đã sinh ra một lần nơi trần thế, Ngài sẽ còn sinh ra mãi. Nếu Chúa Giêsu đã một lần hoá bánh ra nhiều, Ngài sẽ còn tiếp tục hoá bánh ra nhiều mãi. Phép lạ đã xảy ra ngày xưa, vẫn tiếp tục xảy ra ngày hôm nay cho chúng ta ai tin cậy nơi Ngài. Đã có lần nào chúng ta cảm nghiệm, chính chúng ta làm phép lạ hoá bánh ra nhiều chưa? Tại góc đường của một thành phố lớn, có một người phụ nữ quần áo rách tả tơi đứng xin ăn với đứa con trai nhỏ gầy ốm xanh xao của mình. Trong số những người qua lại trên đường phố, có một ông triệu phú bước qua, không nói tiếng nào, cũng chẳng giúp đỡ gì. Nhưng khi trở về biệt thự sang trọng của mình rồi, nhìn vào bàn ăn với đủ mọi thứ cao lương mỹ vị ông liên tưởng đến thằng bé còm kĩnh và người mẹ khốn khổ của nó. Càng nghĩ về họ ông càng tức giận Thiên Chúa. Rồi ông nắm tay lại đưa quả đấm lên trời la to với Thiên Chúa: "Làm sao Ngài lại có thể để cho sự khốn khổ như thế xảy ra cho được?" "Tại sao Ngài lại không làm gì để giúp đỡ những con người bất hạnh đó?" và từ một nơi nào đó, rất sâu tự bên trong tâm hồn của ông, có tiếng Thiên Chúa trả lời: "Ta đã làm. Ta đã dựng nên ngươi". Ta đã tạo nên con để con giúp đỡ họ, để con làm phép lạ hoá bánh ra nhiều! Thế nào cũng đã có lần chúng ta chứng kiến và cảm nghiệm sự bác ái yêu thương của những người con Chúa. Mỗi lần như thế là mỗi lần bánh tình yêu được biến hoá ra nhiều.
Chúa Giêsu làm phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều cho hơn năm ngàn người. Ngài đã làm phép lạ này từ năm chíêc bánh và hai con cá của ai? Phúc Âm Ga nói rõ: "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh và hai con cá" (Ga 6, 9). Lòng quảng đại bác ái của em bé đã được gia tăng từ đó. Khi chúng ta rước Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, chúng ta cũng cử hành mầu nhiệm làm gia tăng đức bác ái thương người, hoá bánh ra nhiều (Cv 2, 42- 46; 1Ga 3, 17-18; 4, 20; 1Pr 3, 8-12). Chúa Giêsu dùng chính lễ vật chúng ta dâng hiến: tiền bạc, của cải vật chất, tài năng, công sức, lòng quảng đại, lời cầu nguyện, sự hy sinh đóng góp, để mưu ích cho toàn thể dân Chúa (Rm 12, 1-10). Ngài luôn thôi thúc và mời gọi chúng ta dâng hiến trọn vẹn, chấp nhận chia sẻ tất cả, quảng đại cho đi, thực thi công bằng, gia tăng việc bác ái yêu thương và sống hoà thuận với nhau (2Cr 8, 7; Cv 4, 32-34). Sự gia tăng những chiếc bánh tình yêu này nuôi dưỡng và bồi bổ cho nhiều người.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con siêng năng rước Chúa. Ngài chính là lương thực cần thiết, là liều thuốc trường sinh dẫn đưa chúng con về quê Trời. Không những thế, Chúa ngự trong lòng chúng con, xin Chúa cũng giúp chúng con biết yêu thương tha nhân như Chúa đã yêu thương và hiến mạng sống mình cho chúng con được sống đời đời. Amen.

 

THÁNHTHỂ-356: Thánh Thể – Lm. John Nguyễn

"Ai ăn thịt và uống máu Ta sẽ được sống đời đời" (Ga 6,59).
 

Với niềm tin của người Kitô hữu thì Mình Máu Chúa trở nên lương thực thiêng liêng và là THÁNHTHỂ-356

Với niềm tin của người Kitô hữu thì Mình Máu Chúa trở nên lương thực thiêng liêng và là nguồn sống đời đời, nhưng với những người không phải là Công giáo thì họ không thể hiểu được ý nghĩa lớn lao của Bí tích này. Cụ thể, trong Tin mừng khi Đức Giêsu tuyên bố: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống" (Ga 6,51), thì Người Do Thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?". Từ thắc mắc này gợi lên cho chúng ta suy tư về mầu nhiệm Mình Máu Chúa mừng kính hôm nay.
Với cách nhìn của con người, việc ăn thịt người thật là ghê tởm, khủng khiếp quá, người Do thái thời Chúa Giê-su, họ coi máu là sự sống của con người, và chỉ có Thiên Chúa mới có quyền trên máu huyết. Cho nên, họ không ăn thịt sống khi có máu. Ngay cả chúng ta cũng khó hiểu, vì chẳng ai ăn thịt và uống máu người bao giờ. Người Do thái có lý để tranh luận với Chúa Giê-su. Và cuộc tranh luận đó càng trở nên sôi nổi và gây gắt, vì họ chỉ hiểu theo cách nhìn của con người, theo nghĩa thông thường, họ chưa thoát khỏi bởi thế giới của xác thịt. Trong khi đó, Chúa Giê-su muốn cho họ nhận ra Người, chính là gắn bó với Người, trở nên một với Người. Đó là đồng hóa bản thân với Người ngay trong thực hữu nhân loại của Người, thực hữu đã được ban tặng cho nhân loại trong cuộc sống và trong cái chết của Người. Như lời Đức Giêsu xác quyết: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống”.
Sau trận động đất ngày 17.1.1995 tại Kobe, Nhật bản, người ta phát hiện ra người mẹ và cô con gái bốn tuổi nằm ở dưới đóng gạch vụn. Cả hai mẹ con đã bất tỉnh. Sau đó, những người cứu hộ đưa cả hai mẹ con vào phòng cấp cứu, rất may là họ đã được cứu sống. Khi tỉnh lại, bác sĩ hỏi tại sao bà lại có vết thương và máu ở tay ra? Bà mới kể lại rằng: "Khi thấy con của tôi không còn gì để uống, tôi cũng không còn sữa cho con bú, và tôi cũng không biết tìm đâu ra thức ăn và nước để cho đứa con có thể sống, nên tôi đã lấy thanh sắt, rồi rạch mạch máu ở tay để lấy máu chảy ra cho đứa con uống." Bác sĩ hỏi thêm rằng, bà có biết làm như vậy là nguy hại đến tính mạng của mình không?. Bà ta trả lời: "Lúc đó, tôi không nghĩ đến tính mạng mình nữa, tôi chỉ mong sao cho con tôi được sống". Hình ảnh người mẹ hy sinh mạng sống cho đứa con của mình xuất phát từ tình yêu sâu thẳm của tình mẫu tử. Đứa con sống được là nhờ máu của người mẹ.
Câu truyện có nhiều ý nghĩa về tình yêu dâng hiến, và nó cũng có thể minh họa cho chúng ta những điều khó hiểu về mầu nhiệm Mình Máu Chúa mà chúng ta lãnh nhận mỗi ngày. Hơn nữa, chúng ta có thể hiểu được lời Chúa Giê-su nói rõ ràng nhất, chính là qua thập giá của Ngài. Cái chết của Chúa Giê-su là bằng chứng sống động và là nguồn ơn cứu độ cho con người. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giê-su cầm bánh dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho các môn đệ và nói:" Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Thầy"; và Người cầm lấy chén rượu và đọc:" Đây là máu Thầy, máu giao ước mới sẽ đổ ra cho các con".
Cho nên, mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ là chúng ta tham dự vào hy tế của Chúa Giê-su được tái diễn lại trên bàn thờ, mà chính Chúa Giê-su đã thiết lập Bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly trước khi đi vào cuộc khổ nạn.
Cho nên, Bí tích Thánh Thể là trung tâm của đời sống Kitô hữu, và tấm bánh đó được bẻ ra để phân phát cho mọi. Điều đó được diễn tả trong Tin mừng hôm nay. Khi đám đông theo Chúa vào trong hoang địa không có gì để ăn, thì Ngài thấy họ đói thì chạnh lòng thương, và bảo các tông đồ: "Các con hãy cho họ ăn đi". Các ông trả lời: "Chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá, trừ phi chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám đông này". Số đàn ông độ năm ngàn. Người nói với các môn đệ rằng: "Hãy cho họ ngồi xuống từng nhóm độ năm mươi người". Các ông đã làm như thế, và bảo tất cả ngồi xuống. Chúa Giêsu cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, nhìn lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và phân phát cho các môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Tất cả đều ăn no nê, và người ta thu lượm được mười hai thúng miếng vụn còn dư lại. Phép lạ hóa bánh ra nhiều không chỉ cho chúng ta thấy được quyền năng của Thiên Chúa mà còn là thể hiện tính hiệp nhất, liên đới giữa Thiên Chúa với con người mà Ngài ban cho chúng ta sự sống đời đời. Chúa Giê-su nói:" Cũng như Cha, là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Đây là bánh bởi trời xuống. Không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết, ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời." ( Ga, 6,57-58)
Lạy Chúa, xin cho con biết siêng năng rước mình Thánh Chúa mỗi ngày để làm của ăn lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh của chúng con, và xin cho con trở nên tấm bánh cho những người anh chị em đang sống bên cạnh con. Chỉ có Ngài là sự sống đích thực cho con. Amen.

 

THÁNHTHỂ-357: Bánh Hằng Sống - Lm. Minh Vận, CRM

Năm 1230, tại thành Toulouse xảy ra một cuộc tranh luận kịch liệt giữa Thánh Antôn Padua và THÁNHTHỂ-357

Năm 1230, tại thành Toulouse xảy ra một cuộc tranh luận kịch liệt giữa Thánh Antôn Padua và ông Boniville thuộc bè rối Albigensê. Đề tài cuộc tranh luận là sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô trong Nhiệm Tích Thánh Thể. Thánh Antôn xác quyết theo Đức Tin Công Giáo: Chúa Kitô thực sự hiện diện cách thực tại nơi hình bánh rượu sau khi Linh Mục đọc lời truyền phép; còn ông Boniville nhất định chối từ chân lý này. Cả hai đều đưa ra nhiều chứng lý để bênh vực cho lập trường của mình. Cuộc tranh luận diễn ra trước đám đông dân chúng của hai phe. Sau cùng, một người đề nghị dùng con lừa của ông Boniville để làm một cuộc trắc nghiệm. Cả hai đều chấp nhận. Cuộc trắc nghiệm diễn tiến như sau: Con lừa phải nhốt trong chuồng, nhịn đói ba ngày không hề cho ăn uống gì. Rồi trước một đám đông dân chúng, gồm cả những người tin cũng như những người không tin đang chờ đợi sự việc sẽ xảy ra. Con lừa được dẫn tới trước mặt Thánh Antôn Padua, trong khi ngài nâng cao hào quang mang Thánh Thể Chúa Kitô trước mặt con vật; đồng lúc đó, ông Boniville cũng đem thúng lúa mạch và cỏ khô để dưới chân nó. Một sự thật ngạc nhiên vô cùng trước sự chứng kiến của đoàn lũ dân chúng đông đảo: Con lừa đã không thèm để ý gì tới đồ ăn đặt dưới chân nó; mà trái lại, nó đã quì gối xuống trước Thánh Thể Chúa, như để cung kính thờ lạy Người.
I. THÁNH THỂ, PHÉP LẠ VÔ CÙNG SIÊU VIỆT
Bài sách Các Vua hôm nay thuật lại việc Chúa làm phép lạ cho 20 chiếc bánh mạch nha và lúa mì vị tiên tri phân phát cho một trăm người ăn no mà còn dư. Còn trong bài Tin Mừng, Chúa dùng 5 chiếc bánh và 2 con cá, chúc phúc và truyền cho các Tông Đồ phân phát cho 5 ngàn người ăn no, phần còn dư thu lại được 12 thúng bánh vụn. Ấy là chưa kể đàn bà con nít, có lẽ vì đàn bà con nít ăn ít nên không nói đến.
Hai phép lạ Chúa làm cho bánh hóa nhiều chỉ là hình bóng, là biểu tượng một phép lạ vĩ đại vô cùng siêu việt Chúa sẽ thực hiện, để tỏ uy quyền và tình thương vô cùng của Chúa đối với chúng ta. Đó là Bí Tích Thánh Thể. Chúa yêu thương chúng ta đến nỗi đã trở nên như điên, như khùng, như mát, như mất trí khi tự trở nên bánh làm của ăn nuôi sống chúng ta. Hay nói đúng hơn, là Chúa đã biến bánh trở nên Chúa, để ở lại với chúng ta, nên lương thực nuôi linh hồn chúng ta, nên nguồn ơn thánh trào đổ xuống chúng ta, kết hợp nên một, hòa tan trong chúng ta, biến chúng ta nên thánh thiện như Người; lấy làm sung sướng hạnh phúc ở lại với chúng ta, như chính lời Chúa đã phán: "Hạnh phúc của Cha là ngự giữa con cái loài người mọi ngày cho đến tận thế" (xem Mt 28:20). Chúa được thỏa mãn hạnh phúc ngự vào tâm hồn chúng ta mỗi khi chúng ta đón tiếp Người.
II. THÁNH THỂ BỊ KHINH CHÊ QUÊN LÃNG
Ngày nay, biết bao anh em trong các giáo phái ly khai không nhìn nhận, không tin Chúa ngự thật trong Nhiệm Tích Thánh Thể. Họ cho đó chỉ là một kỷ niệm suông, không phải là sự hiện diện thực tại sống động của Chúa Kitô như chính Tin Mừng đã dạy.
Người ta tin Thánh Kinh, nhưng đồng thời người ta lại kết án là Chúa đã đánh lừa nhân loại khi phán: "Đây là Mình Ta! Đây là Máu Ta!" (Mt 26:26-28) Trước Thánh Thể, Đức Mẹ, toàn thể các Thần Thánh trên Thiên Quốc đều tôn thờ sùng mộ, ngợi khen, chúc tụng, tôn kính, mến yêu... Ngay cả các quỉ thần trong hỏa ngục cũng phải thất kinh bát đảo sụp lạy kính thờ.
Phép lạ bánh hóa nhiều đã làm cho dân Do Thái xưa phải thán phục trước uy quyền của Chúa Cứu Thế, đến nỗi họ đã muốn tìm cách tôn Ngài lên làm Vua... Nhưng phép lạ đó mới chỉ một là hình bóng tiên báo Nhiệm Tích Thánh Thể Chúa sẽ thiết lập. Nó cũng chỉ là phép lạ trong bậc tự nhiên thuộc phạm vi chất thể, để nuôi sống thân xác con người mà thôi; còn phép lạ Thánh Thể là một phép lạ trong bậc siêu nhiên, vượt trên mọi phép lạ Chúa đã thực hiện, để Ngài có thể ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, nên thần lương dưỡng nuôi linh hồn chúng ta, nên nguồn hạnh phúc thánh hóa chúng ta và giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Quốc.
III. NGHĨA VỤ CỦA CHÚNG TA VỚI THÁNH THỂ
Là con cái Chúa, chúng ta có nghĩa vụ nào đối với Chúa Giêsu Thánh thể? Chúng ta có nghĩa vụ phải hết sức tin tưởng, kính tôn, phụng thờ và yêu mến Chúa. Năng đến kính viếng hoặc tham dự Thánh Lễ cách sốt sắng, đón rước Chúa ngự vào linh hồn và nồng nàn kết hợp với Chúa trong tình yêu mến thiết tha. Chúng ta còn có nghĩa vụ phải làm tông đồ truyền bá lòng tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể, đề tạ những tội lỗi, những lời lộng ngôn phạm thượng, những xúc phạm bất kính phạm đến Nhiệm Tích Thánh Thể. Đặc biệt hơn nữa, chúng ta còn có nghĩa vụ phải đền bồi phạt tạ những tội lỗi của các linh hồn sống Đời Thánh Hiến, đã không cử hành Thánh Lễ và rước Chúa cách xứng đáng làm đau lòng Chúa.
Để đón rước Chúa ngự vào linh hồn cách xứng đáng, chúng ta hãy tuân theo giáo huấn của Thánh Phaolô Tông Đồ: "Trước khi anh chị em ăn Bánh và uống chén Rượu này, anh chị em hãy hồi tâm kiểm điểm xem, anh chị em có xứng đáng ăn và xứng đáng uống không, nếu không xứng đáng mà dám ăn dám uống là ăn và uống án phạt cho mình" (xem I Cor 11:28-29).
Đừng kể anh em trong các giáo phái không tin Chúa ngự thật trong Nhiệm Tích Thánh Thể, mà ngay trong hàng ngũ Công Giáo, nhiều người cũng dường như không tin tưởng gì. Họ vào Thánh Đường nhâng nhâng nháo nháo, trò truyện dức lác, coi Thánh Đường như một hội trường, như cái chợ, như nơi hẹn hò tìm bạn bốn phương, tình tình tứ tứ... Có những người miệng nhai kẹo cao xu trong suốt buổi lễ, chỉ bỏ ra khi lên rước Chúa, rồi lại nhai tiếp tục... Tệ hơn nữa, họ còn dám để tội trọng mà lên rước Chúa, vì coi việc rước Chúa chỉ là ăn miếng bánh tiến thường theo nghi lễ như thói quen cho vui. Biết bao người đã phạm sự thánh khi mắc tội trọng mà dám lên rước Chúa. Có những người chưng diện mặc diêm dúa khiêu dâm, hở hang bao nhiêu có thể, bán da bán thịt, phơi bày cái thân xác mình một cách trơ trẽn mà không biết hổ thẹn... Tất cả những thái độ bất kính, những lời lộng ngôn, những tội phạm thượng đó đã và đang vọng lên trời cao trêu cơn nghĩa nộ Thiên Chúa, kêu nài sự giáng phạt cân xứng.
Là con cái Chúa, chúng ta cần ý thức trách nhiệm phải tôn thờ, phạt tạ và yêu mến Chúa, bù lại những tội lỗi nhân loại hằng xúc phạm đến Chúa trong mọi thời đại. Thứ đến, là những bậc phụ huynh, những thầy dạy, những huynh trưởng, chúng ta nên đề phòng cho con em chúng ta khỏi nhiễm lây những thói hư tật xấu của dân ngoại, làm ô danh cho giòng họ, cho dân tộc, cho con cái Chúa.
Với tấm lòng chân thành, tôi xin đề nghị với tất quí ông bà anh chị em mấy điểm sau:
* Khi tới Thánh Đường tham dự Thánh Lễ hay tham dự bất cứ việc phượng tự nào, chúng ta nên khuyên nhủ con em chúng ta biết phục sức đứng đắn, kín đáo cách đoan trang nết na, xứng đáng với nơi tôn nghiêm, nơi thờ phượng Chúa.
* Giữ các em nhỏ khỏi làm xáo trộn, chạy lăng xăng, la hét, bất kính với Chúa và làm chia trí người khác.
* Điều quan trọng hơn hết, là chúng ta hãy tham dự Thánh Lễ một cách chủ động, với tất cả tâm tình sùng mộ tôn kính mến yêu, xứng danh một người con ngoan thảo đến tâm sự với Cha Trên Trời, một thụ tạo đến tôn thờ Đấng Tạo Hóa, một tôi trung đến phụng sự Đấng Thượng Đế của mình.
Chúng ta nên nhớ rằng: Không phải chúng ta đi xem lễ hay đi nghe hát thánh ca cách thụ động máy móc, hay cực chẳng đã, phải đi để khỏi mắc tội hoặc khỏi bị cha mẹ rầy la cách miễn cưỡng, nặng nhọc, bất đắc dĩ... nhưng là đi tham dự Thánh Lễ, cùng dâng Thánh Lễ với tất cả tâm hồn sốt mến, sung sướng hạnh phúc, cách tự tình tự nguyện. Với ất cả tâm hồn sùng mộ yêu mến, tự hiến dâng chính bản thân hợp với Lễ Hy Tế của Chúa Kitô trên bàn thờ thượng tiến Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, và cùng với Chúa Kitô biến cả đời mình thành một Thánh Lễ liên tiếp làm hài lòng Thiên Chúa cao cả và đền tạ Người, xin ơn tha thứ tội lỗi muôn dân.
Kết Luận
Lạy Mẹ, xin Mẹ chia sẻ cho chúng con tâm tình khiêm nhu sâu thẳm và lòng sốt mến phi thường của Mẹ, để chúng con được xứng đáng tế lễ Chúa, tham dự Thánh Lễ, đón rước Chúa ngự vào linh hồn chúng con, như xưa Mẹ đã được Chúa sung sướng ngự xuống cung lòng trinh khiết của Mẹ. Chớ gì chúng con được biến đổi nên Mẹ, được đồng hóa nên một với Mẹ, để Chúa cũng được sung sướng ngự vào lòng chúng con như vậy.

 

THÁNHTHỂ-358: Thánh Thể

Hôm nay, cùng với Giáo Hội chúng ta long trọng cử hành thánh lễ tôn kính Mình Máu Thánh Chúa THÁNHTHỂ-358

Hôm nay, cùng với Giáo Hội chúng ta long trọng cử hành thánh lễ tôn kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Thánh lễ này nhắc nhở cho chúng ta nhớ rằng Chúa Kitô đã và đang trao ban chính Mình Máu Ngài làm lương thực không hư nát để ban sự sống cho chúng ta, tiếp nhận chúng ta vào hiệp thông sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đồng thời thánh lễ hôm nay cũng nhắc nhớ rằng: chúng ta luôn được Thiên Chúa mời gọi hãy ra công làm việc vì của ăn không hư nát này và hãy cùng Ngài trao ban sự sống cho người khác bằng đời sống bác ái yêu thương, hy sinh phục vụ.
Chúng ta biết rằng, mọi sinh vật trong đó có con người cần thức ăn vật chất để sống, tồn tại và phát triển thân xác, con người lại còn trổi vượt hơn các loài sinh vật khác nhờ có đời sống lý trí và tinh thần. Chính đời sống lý trí và tinh thần làm cho con người ra con người và sống ngày càng ra người hơn, nhân bản hơn trong mối tương quan với người khác và vũ trụ vạn vật. Đời sống này cũng cần có lương thực phù hợp là tri thức và văn hóa. Không có tri thức và văn hóa, con người sẽ phải sống trong lạc hậu, u mê chẳng hơn con vật là mấy.
Thế nhưng, con người không chỉ có thể xác, lý trí và tinh thần, con người còn có tôn giáo, nghĩa là con người còn có đời sống niềm tin, đời sống giúp con người vươn lên những tương quan cao hơn, lớn hơn, chi phối mọi tâm tư, tình cảm và sinh hoạt đó là đời sống thông hiệp với thần minh hay Thiên Chúa. Đối với chúng ta, những người tin vào Chúa Kitô thì đời sống đức tin giúp chúng ta đi vào mầu nhiệm thông hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi, Thiên Chúa tình yêu. Chính đời sống này không những làm cho chúng ta nên hoàn thiện mà còn hoàn thiện tốt lành như Thiên Chúa là Cha Tốt Lành trên trời, và chúng ta đến đón nhận sự sống đời đời của Thiên Chúa.
Lương thực cho đời sống này chính là Đức Kitô. Ngài là bánh bởi trời ban sự sống đời đời: Ai ăn thịt và uống máu Ngài thì có sự sống đời đời. An và uống chính mình máu Ngài sẽ không còn phải đói khát.
Chúng ta cần cơm gạo để sống, cần trau dồi tri thức và văn hóa để làm người thì chúng ta cũng cần phải tiếp nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô để sống đức tin, để nên thánh.
Cũng như mọi lương thực khác, Mình Máu Thánh Chúa tuy là hồng ân Thiên Chúa ban tặng nhưng không, nhưng Ngài vẫn mời gọi sự nỗ lực cộng tác của con người tìm kiếm và tạo tác nên lương thực cho đời sống của mình.
Tin Mừng hôm nay thuật lại, phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều không phải từ không ra có, nhưng từ năm chiếc bánh và hai con cá là phần đóng góp của con người. Cũng vậy, bánh và rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa được hiến dâng trên bàn thờ chính là hoa màu ruộng đất, sản phẩm của cây nho và lao công khó nhọc của con người. Thiên Chúa không muốn làm một mình dù Ngài có thể, nhưng Ngài muốn con người chúng ta cộng tác với Ngài. Được cộng tác với Ngài chính là hồng ân, là vai trò tuy nhỏ bé nhưng hết sức cao quí và sinh hiệu quả được dành riêng cho chúng ta trong mầu nhiệm Thánh Thể. Chính từ bánh, từ cá, từ đời sống của chúng ta mà Thiên Chúa đã tháp nhận vào ơn huệ Bí tích thánh Thể, làm nên Thánh Thể Đức Kitô.
Phần đóng góp công sức của chúng ta chẳng đáng là bao so với nguồn lương thực lớn lao này, tuy nhiên, không có phần của chúng ta, Bí tích Thánh Thể sẽ chỉ là ma thuật. Đức Kitô sẽ biến đổi, thánh hiến sự đóng góp nhỏ nhoi, khiêm hạ của chúng ta thành nguồn lương thực dồi dào cho mọi người.
Vì thế, chúng ta hãy nỗ lực góp phần cộng tác với Thiên Chúa. Chúng ta đóng góp không chỉ bằng của cải vật chất, nhưng cần thiết hơn còn bằng chính đời sống lao động khó nhọc để phục vụ người khác; bằng chính việc chu toàn bổn phận hằng ngày của mỗi người và bằng chính đời sống yêu thương, chia sẻ bác ái.
Chúng ta cộng tác với Thiên Chúa không phải chỉ tìm kiếm lương thực cho riêng mình, nhưng còn cho anh em khác nữa. Thiên Chúa trao ban cho chúng ta, Ngài cũng đồng thời mời gọi chúng ta trao ban cho người khác. Đón nhận lương thực để rồi chuyển hóa thành sự sống tình yêu. Thánh Thể phải được chuyển hóa thành năng lượng tình yêu.
Thiên Chúa không làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi chỉ một mình Người có bánh hay chỉ cho các môn đệ thân tín của Ngài, nhưng là cho mọi người. Thánh Thể cũng không chỉ dành cho một ai, một số người nào đó nhưng là cho mọi tín hữu. Không phải chỉ chúng ta no đủ phần hồn phần xác mà còn phải biết chia sẻ cho anh em khác nữa. Chia sẻ ở đây không có nghĩa là đi trao Mình Chúa cho người khác, nhưng là trao chính sự sống của mình. Vì một khi đã đón nhận Thánh Thể chúng ta đón nhận chính Đức Kitô để Ngài ở trong ta và ta ở trong Ngài: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Đời sống Đức Kitô là đời sống của yêu thương và hiến mình cho người khác. Đón nhận Ngài thì cũng chỉ có một đời sống như Ngài mà thôi, đó là sống cho và vì người khác trong yêu thương và phục vụ.
Nếu chỉ biết đón nhận mà không biết trao ban, không triển nở ơn thánh thì coi chừng mắc phải chứng bệnh “béo phì ân sủng”. Ngày nay, người ta sợ hội chứng béo phì vì sẽ làm tăng mỡ máu đưa tới xơ cứng động mạch, nhồi máu cơ tim, gây khốn khổ cho cuộc đời và nguy hiểm cho sinh mạng. Cho nên, phải giảm ăn thậm chí sợ ăn và tăng cường hoạt động để tiêu bớt mỡ, giảm bớt trọng lượng.
Cũng thế, nếu bị “béo phì ân sủng”sẽ có nguy cơ đưa tới xơ cứng trái tim yêu thương khiến cho không triển nở được tình yêu và sự sống của Thiên Chúa. Và lúc đó, việc tham dự thánh lễ cũng trở nên máy móc, theo thói quen nhàm chán, thậm chí ngại và sợ thánh lễ, đôi khi còn xúc phạm vì ý chẳng ngay lành. Nếu như thế, thì thật khốn cho ai ăn và uống Mình máu Thánh Chúa cách bất xứng. Nói như thánh Phaolô: “An uống như thế là ăn uống án phạt mình”chẳng lợi gì chỉ thêm nguy hại mà thôi.
Do đó, cần phải sống như Chúa: cho đi chính mình, trao ban chính sự sống mình. Lương thực Thánh Thể, nguồn sự sống phải được chuyển hóa tiêu hao thành tình yêu, thành bác ái hy sinh để cuộc sống mỗi người và mọi người luôn được no nê ân sủng, tình yêu và sự sống của Thiên Chúa.
Hãy đón nhận Thánh Thể là nguồn lương thực của đời sống Kitô hữu, là của ăn không hư nát mang lại sự sống đời đời. Hãy lao công khó nhọc vì của ăn không hư nát này và hãy cùng nhau chia sẻ của ăn ấy trong tình bác ái huynh đệ để thực sự chúng ta được sống và sống dồi dào.

 

THÁNHTHỂ-359: Thánh Thể là trung tâm đời sống Kitô hữu

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
 

Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận đã từng nói rằng: Tôi mơ ước Tòa Thánh, cùng với tất THÁNHTHỂ-359

Đức Cố Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận đã từng nói rằng: Tôi mơ ước Tòa Thánh, cùng với tất cả các cơ quan của mình, như một bánh thánh lớn, một chiếc bánh duy nhất được dâng hiến trong hy tế thiêng liêng, giữa lòng Giáo hội như một nhà Tiệc ly rộng lớn...
Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần tôi được dịp giang tay đóng đanh chính mình vào Thập giá với Chúa Giêsu, cùng cạn chén đắng với Ngài...
“Con muốn hỏi: Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả? Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh nào, không tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên Thánh giá”
Dù thiếu tất cả, dù mất tất cả, nhưng còn Thánh Thể là còn tất cả vì con có Chúa Thiên Đàng dưới đất... (Trích Bài Thuyết Trình tại Đại Hội Thánh Thể thế giới, MEXICO 2004).
Phép Thánh Thể là trung tâm đời sống phụng vụ chung của Giáo Hội, trong đời sống toàn thể Giáo Hội và trong đời sống mỗi tín hữu Chúa Kitô.
Nhiệm Tích Thánh Thể có vị thế nào trong một ngày của bạn? trong một tuần bảy ngày của bạn? Mỗi người chúng ta đều có thể đặt cho mình câu hỏi này.
Nếu tôi tham dự Thánh Lễ hằng ngày, tôi có thành tâm cố gắng tham dự không?
Tôi có coi Thánh Lễ là thời khắc tối thượng trong ngày của tôi không? Để thờ phượng Thiên Chúa, để tôn vinh sự cao cả của Ngài, để dâng lên Ngài lời chúc tụng và tạ ơn; xin Ngài tha thứ mọi tội lỗi của tôi và của người khác không?
Tôi có coi Hy Lễ Thánh Thể là cơ hội vô cùng cao quí để hiến dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha, và học dâng hiến bản thân tôi nhờ Chúa Kitô không?
Thánh Lễ hằng ngày có được tôi coi là một biến cố sung mãn của phụng vụ mà trong đó tôi dâng lên Thiên Chúa toàn thể ngày giờ của tôi, với những vui buồn, những dự liệu, những thành công và thất vọng không?
Tôi có mong gặp Chúa Giêsu khi Hiệp Lễ không? Ngài đã mời chúng ta đến với Ngài: “Anh chị em hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở trong anh chị em, vì rời khỏi Thầy anh chị em không làm được gì cả.” Hiển nhiên Ngài muốn ở với chúng ta: “Nếu anh chị em không ăn thịt Con Người và uống máu Con Người thì anh chị em không có sự sống nơi mình.” Và Ngài bảo đảm với chúng ta: “Bất cứ người nào ăn thịt của Thầy và uống máu của Thầy thì người ấy sống trong Thầy và Thầy sống trong người ấy.” Được rước Chúa Giêsu mọi ngày suốt cuộc hành trình trần thế của chúng ta không phải là điều tuyệt vời lạ lùng sao?...
Thay vì than khóc những khó khăn của chúng ta thì chính trong Thánh Lễ là lúc chúng ta dâng những khó khăn đó lên Thiên Chúa. Chúng ta dâng lên Ngài những đau đớn và nhức nhối, những bệnh tật của mình. Chúng ta càng lớn tuổi thì những đau đớn càng nhiều. Nếu không phải là đầu gối thì vai, nếu không phải vai thì cổ, và nếu không phải cổ thì lưng. Chúng ta nhìn nhận rằng ở tuổi bảy mươi thì chúng ta không còn tráng kiện như khi chúng ta hai mươi lăm tuổi, chúng ta càng sớm nhận ra điều này càng tốt.
Chúng ta đến với Thánh Lễ và nhờ Chúa Giêsu chúng ta dâng thực tại đó lên Thiên Chúa. Cả tuổi tác, cả những khó khăn trong gia đình, những hoàn cảnh đau khổ do hành động của người khác gây ra, những đau đầu vì chính trị, vì thiếu an ninh và vắng bóng hòa bình.
Chúng ta cũng dâng lên Thiên Chúa những điều chúng ta hoạch định và hy vọng, học hỏi nghiên cứu và dự phóng tương lai, những lo lắng, những công việc nghề nghiệp, những hoạt động cho cộng đồng Giáo Hội, cả những ước mơ cải đổi thế giới này nên tốt hơn cho tất cả mọi người.
Thánh Lễ cũng là thời gian vui mừng, chúng ta dâng lên Thiên Chúa những niềm vui hân hoan, sức khỏe, gia đình thuận hòa, thành công về học hỏi nghiên cứu hoặc nghề nghiệp, đời sống gia đình hạnh phúc, bạn bè thân thuộc, và những niềm vui âm thầm khi thấy kế hoạch của chúng ta thành công, khi nhìn những nụ cười tươi trên mặt con cái và cháu chắt chúng ta.
Chúng ta dâng hết tất cả mọi điều đó lên Thiên Chúa. Cùng với bánh và rượu mà chúng ta tiến dâng trong phần Dâng Lễ, chúng ta dâng lên Thiên Chúa toàn thể bản thân chúng ta. Nhờ Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, chúng ta nài xin Thiên Chúa làm cho chúng ta trở nên của lễ đáng được chấp nhận trước mắt Ngài...
Một ngày rồi phải đến lúc tàn. Cho dù ngày đó bắt đầu với ánh bình minh rực rỡ, cũng phải tới lúc hoàng hôn. Cuộc đời chúng ta cũng vậy. Ước chi chúng ta sống tới 200 tuổi, dầu chúng ta đều biết chẳng ai muốn trường thọ như thế. Sẽ đến lúc bóng chiều cuộc đời thấp thoáng ngoài cửa. Những dấu chỉ bắt đầu tăng thêm cho thấy lúc chấm dứt cuộc sống trần thế của chúng ta không còn xa. Sức khỏe suy giảm dần. Xương cốt bắt đầu đau. Cử động mỗi ngày mỗi chậm chạp. Chúng ta cũng bắt đầu quên lãng. Một thứ bệnh tật nào đó phát hiện. Khi bệnh này khỏi thì lại nảy ra bệnh khác. Tóm lại, buổi chiều, hoàng hôn, chập choạng tối, mặt trời lặn của cuộc lữ thứ trần gian của chúng ta bắt đầu lộ diện. Suốt cuộc đời, bắt đầu từ thuở niên thiếu và trong lúc tuổi già, Phép Thánh Thể phải là trung tâm đời sống Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu ban cho chúng ta hy lễ và các nhiệm tích của Ngài. Giáo Hội rất quí trọng việc tông đồ của các linh mục tuyên úy bệnh viện, các ngài cử hành Thánh Lễ cho bệnh nhân tại bệnh viện hoặc tại gia cho các vị cao niên, và đem Mình Thánh Chúa đến cho họ. Công việc của các ngài rất quan trọng. Người bệnh hoặc cao niên tại gia cũng được an ủi qua việc rước Thánh Thể Chúa đến với họ. Những vị làm công việc tông đồ này hằng ngày thực hiện công việc hết sức cao quí. Người cận kề giờ chết rước Mình Thánh Chúa như Của Ăn Đàng để được Chúa tăng thêm sức và đồng hành trên đường về nơi vĩnh hằng, cuộc hành trình vô cùng quan trọng mà chúng ta đều phải đi. Thánh Ignatius of Antioch gọi Phép Thánh Thể là “linh dược của sự bất tử.”
Khi một Kitô hữu qua đời, điều tối quan trọng mà chúng ta có thể làm cho người đó là dâng hy tế Thánh Lễ. Việc đó quan trọng hơn, có giá trị hơn bông hoa và mộ bia, mặc dầu bông hoa và mộ bia đều không có gì sai trái. Nhưng Thánh Lễ thì quí giá vô cùng cho người quá cố. Thánh Lễ cũng là điểm chính yếu của việc cử hành tang lễ của một Kitô hữu. Và sau tang lễ, chúng ta tiếp tục dâng hy tế Thánh Thể cầu nguyện cho những thân yêu đã ly trần, để nếu các người đó còn ở nơi Luyện Ngục, thì họ sớm được hưởng ánh sáng và bình an của Chúa Kitô. Còn nếu họ đã tới thiên đàng rồi, thì Thiên Chúa ban ân phước của Thánh Lễ, chúng ta dâng để cầu cho các linh hồn đó, cho chính chúng ta hoặc cho những người khác. Vì thế chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho những người thân yêu và xin dâng Thánh Lễ cho họ cho dù chúng ta nghĩ rằng những người đó đã sống tốt lành. (Trích Bài giảng của Đức Hồng Y Francis Arinze).
Nhiệm Tích Thánh Thể là tâm điểm của đời sống Kitô hữu chúng ta. Câu hỏi là chúng ta có quí trọng và sống chân lý này cao độ hay không?
Ông Effie Cordeiro chia sẽ kinh nghiệm sống Thánh Lễ thật tuyệt vời.
Tôi, Effie Cordeiro, 46 tuổi. Gia đình tôi sống nơi vùng phụ cận thành phố ở Québec nước Canada. Mỗi ngày tôi đều đặn đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ và rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ.
Thánh Lễ trở thành nguồn ơn vô giá đối với tôi sau khi tôi được hồng phúc nghe bài giảng trong Thánh Lễ có các Em Bé rước lễ lần đầu. Thánh Lễ cử hành tại nhà thờ Thánh Luca. Vị chủ tế và giảng thuyết hôm ấy là Cha Roger Martineau. Cha đặc biệt nói với các Trẻ rước lễ lần đầu:
- Khi các con dùng bữa các con ăn thịt, rau, cá, trứng v.v. Các thức ăn sau đó trở thành máu nuôi sống các con. Cũng giống như thế, lúc các con ăn, hay nói đúng hơn, lúc các con nhận lãnh Đức Chúa GIÊSU khi các con chịu lễ, các con trở thành phần tử của Ngài. Điều này không thể minh chứng bằng khoa học, nhưng sự thật là như thế. Mỗi khi các con tham dự Thánh Lễ và rước Mình Thánh Chúa với trọn lòng tin, các con được biến đổi trong Đức Chúa GIÊSU KITÔ cho tới một ngày, Đức Chúa GIÊSU thật sự tỏ lộ qua lối cư xử của các con, qua lời các con nói và qua chính cuộc sống của các con.
Lời giải thích của Cha Roger Martineau gây xúc động sâu xa nơi tâm lòng tôi. Tôi làm theo lời khuyên của ngài. Tôi tham dự Thánh Lễ và rước lễ mỗi ngày. Kể từ đó, cuộc đời tôi hoàn toàn biến đổi. Tôi thay đổi trong lối phản ứng trước các sự việc. Tôi thay đổi trong cách thức tiếp nhận và giao tế với người khác. Tôi cũng thay đổi trong lề lối giải quyết các vấn đề. Nói tóm lại, trước mỗi khi làm việc gì, nói lời nào, giao tế với ai và giải quyết vấn đề quan trọng nào, tôi đều cầu nguyện cùng Đức Chúa GIÊSU. Tôi xin Ngài soi sáng cho tôi biết phải hành xử như thế nào cho đúng tư cách là tín hữu Công Giáo. Và Đức Chúa GIÊSU luôn luôn đáp lời tôi cầu xin. Ngài đích thật là sức mạnh, là niềm vui và là gương mẫu cuộc sống của tôi. Đức Chúa GIÊSU là Bạn Chí Thân dấu ái nhất đời tôi.
Nhờ sống kinh nghiệm sâu xa trên đây tôi cảm thấy thật hạnh phúc. Tôi được may mắn là tín hữu Công Giáo. Tôi cũng được ưu đãi vì sống gần nhà thờ Công Giáo có Linh Mục dâng Thánh Lễ mỗi ngày. Nhờ thế tôi được diễm phúc xem lễ và rước lễ mỗi ngày.
Tôi còn được may mắn dành trọn thời giờ trong ngày để phụng sự THIÊN CHÚA với tư cách là thư ký của giáo xứ. Văn phòng giáo xứ chỉ cách nhà thờ vài chục thước. Trước khi bắt tay vào việc hoặc lúc rãnh rỗi tôi ghé vào nhà thờ, đến trước Nhà Tạm và thờ lạy Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể đang ẩn mình trong Nhà Tạm. Đối với những may mắn vừa kể, tôi cảm thấy đời tôi quả nhận lãnh nhiều hồng ân. THIÊN CHÚA cư xử thật nhân hậu đối với tôi. Suốt đời tôi mãi mãi tri ân Ngài.
Còn một hồng phúc khác tôi muốn viết ra nơi đây. Đó là sự kiện tham dự Thánh Lễ mỗi ngày nối kết tất cả các tín hữu Công Giáo lại với nhau. Chúng tôi chú ý tới những người tham dự thánh lễ thường xuyên và có thói quen ngồi chỗ nhất định. Vì thế khi chỗ ngồi vắng bóng, chúng tôi liền nhớ đến và cầu nguyện cho người vắng mặt. Xin THIÊN CHÚA chúc lành và gìn giữ họ cùng gia đình họ. Hoặc khi chúng tôi nhận thấy có người đến tham dự Thánh Lễ với nét mặt âu sầu phiền não, chúng tôi đoán họ có chuyện buồn. Chúng tôi kín đáo cầu nguyện cách riêng cho họ. Và khi hoàn cảnh cho phép, chúng tôi hỏi thăm và san sẻ nỗi buồn của họ. Vâng, đúng thế. Bí tích Thánh Thể nối kết tất cả lại với nhau. Chúng tôi có cùng tâm tình vì chúng tôi cùng nhận lãnh Mình và Máu Thánh Đức Chúa GIÊSU KITÔ.
Điểm sau cùng tôi muốn bày tỏ lòng tri ân chân thành đối với THIÊN CHÚA là được hồng phúc sống trong đất nước tự do. Chúng tôi được hưởng quyền tự do tôn giáo. Chúng tôi tự do đọc Kinh Thánh. Chúng tôi tự do đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ và rước lễ mỗi ngày. Tôi cầu chúc cho mỗi tín hữu Công Giáo sống trong các nước tự do hãy sử dụng trọn vẹn quyền tự do tôn giáo của mình để sống đạo nghiêm chỉnh và chân thành. Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể chờ đợi mỗi tín hữu Công Giáo đến tham dự Thánh Lễ và rước Ngài hầu Ngài có thể tuôn đổ muôn vạn ơn lành hồng phúc xuống trên từng người.
Tôi không quên cầu nguyện cách riêng cho các tín hữu Công Giáo kém may mắn, sống trong các nước không được thực thi quyền tự do tôn giáo. Tôi xin THIÊN CHÚA cho họ mau chóng tới ngày hưởng mọi quyền tự do, dẫn đầu là tự do tôn giáo. Xin THIÊN CHÚA nhậm lời chúng con nài xin. Amen. (Sister Patricia Proctor, OSC, ”201 Inspirational Stories of The Eucharist”, Franciscan Monastery of Saint Clare, Spokane, Washington, 2004, trang 47-48).(Radio Vatican).
Bí Tích Thánh Thể là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa ban cho nhân loại. Thánh Thể là trung tâm qui tụ Dân Chúa. Thánh Lễ có sức mạnh truyền giáo. Chúng ta đón nhận Thánh Thể để có sự sống thần linh của Chúa. Xác tín rằng Thánh Lễ là trung tâm của đời sống người Công giáo, nên tôi tìm mọi dịp dâng lễ cho bà con giáo dân.
Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, bạn nên quỳ gối trước Thánh Thể, bạn sẽ học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.

 

THÁNHTHỂ-360: Nguồn Sống – Trầm Thiên Thu

Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10). Thật tuyệt THÁNHTHỂ-350

Chúa Giêsu đã xác định: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10). Thật tuyệt, nhờ Ngài mà chúng ta không chỉ ĐƯỢC SỐNG mà còn SỐNG DỒI DÀO. Chúa Giêsu đã có cách độc nhất vô nhị mà không ai có thể tưởng tượng được, đó là Ngài đã thiết lập Bí tích Thánh Thể trước khi Ngài bị kết án tử. Thánh Thể được hiểu bao gồm Thánh Huyết. Thánh Thể là Phép Lạ của các phép lạ.
Sống thì phải ăn, ăn để có sự sống. Tuy nhiên, lương thực chúng ta ăn hằng ngày không chỉ là lương thực bình thường mà đặc biệt là chính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu. Đó là Thần Lương, là Nguồn Sống cho mọi người trên đường lữ hành trần gian.
TỪ GIAO ƯỚC VĨNH CỬU…
Kinh Thánh cho biết rằng ông Menkixêđê là tư tế của Thiên Chúa Tối Cao, là vua thành Salem, và chính ông mang bánh và rượu ra. Sau đó, ông chúc phúc cho ông Áp-ram: “Xin Thiên Chúa Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất, chúc phúc cho Áp-ram! Chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao, Đấng đã trao vào tay ông những thù địch của ông!” (St 14:19-20). Về sau, Thiên Chúa thiết lập Giao ước Vĩnh cửu với Áp-ram và xác nhận: “Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Áp-ram nữa, nhưng là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc” (St 17:5).
Bài đọc I ngắn gọn nhưng có những chi tiết quan trọng. Thứ nhất, thời Cựu ước, BÁNH và RƯỢU được dùng làm lễ vật; thời Tân ước, Chúa Giêsu cũng dùng BÁNH và RƯỢU để thánh hóa thành chính Mình Máu của Ngài. Thứ nhì, có lễ vật thì cần có người dâng, đó là các tư tế, đại diện dân Chúa mà dâng lễ vật lên Thiên Chúa hằng ngày, họ được mệnh danh là những người theo phẩm trật Menkixêđê. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể, đồng thời Ngài cũng thiết lập chức linh mục. Các linh mục thừa tác tiếp tục công việc tế lễ để Chúa Giêsu hằng ngày hiện diện thật giữa chúng ta, để nhờ Mình Máu Ngài, chúng ta được sống và sống dồi dào qua từng hơi thở. Quả thật, Đại Tôn Sư Giêsu quá tuyệt vời!
Tác giả Thánh Vịnh nói về sấm ngôn của Đức Chúa ngỏ cùng Chúa Thượng: “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con” (Tv 110:1). Và từ Sion, Đức Chúa sẽ mở rộng quyền vương đế của Ngài: Giữa lòng địch quân, xin Ngài làm bá chủ. Chính Thiên Chúa đã tuyên phán: “Ngày đăng quang con nắm quyền thủ lãnh, vẻ huy hoàng rực rỡ tựa thần linh. Ngay trước lúc hừng đông xuất hiện, tự lòng Cha, Cha đã sinh ra Con” (Tv 110:3). Chúng ta chỉ là cát bụi, hoàn toàn bất xứng, nhưng lại vô cùng hạnh phúc vì được Ngài giao ước. Tuy chỉ một lần thề ước, nhưng là vĩnh viễn, Ngài sẽ chẳng rút lời: “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Menkixêđê” (Tv 110:4).
Thánh Phaolô nói rõ: “Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:23-24). Thánh Phaolô tiếp tục nhắc lại lời Chúa Giêsu: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11:25).
Phép Lạ vĩ đại hằng ngày xảy ra trên bàn thờ, nhưng mắt thường không thể nhìn thấy, cho nên sau lời truyền phép, Giáo hội xác nhận: “Đây là mầu nhiệm đức tin”. Và rồi mọi người cùng tung hô theo lời của Thánh Phaolô đã nói: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26). Quả thật, chúng ta phải dùng con-mắt-đức-tin để bù đắp cho con-mắt-trần-tục khi tôn kính Thánh Thể. Những lần hiện ra, Chúa Giêsu và Đức Mẹ vẫn luôn nhắc nhở người ta phải hết lòng tôn sùng và yêu mến Thánh Thể.
…ĐẾN PHÉP LẠ
Chúa Giêsu không bao giờ nói suông, mà rất thực tế, đồng thời cũng để củng cố lòng tin cho mọi người. Một lần nọ, có đám đông dân chúng đi theo Chúa Giêsu. Ngài tiếp đón họ, nói với họ về Nước Thiên Chúa và chữa lành những ai cần được chữa. Khi bóng đêm dần buông xuống, các môn đệ đến bên Thầy Giêsu và thưa: “Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng” (Lc 9:12). Thế nhưng Ngài liền bảo: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Lc 9:13a). Ôi chao, “căng” thật! Rồi các ông đáp: “Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá, trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám dân này” (Lc 9:13b).
Quả thật có tới chừng năm ngàn đàn ông, chưa kể phụ nữ và trẻ em. Một bữa tiệc nhỏ còn phải chuẩn bị cả tuần trước, dù chỉ vài chục thực khách chứ nói chi vài trăm người. Thế mà lúc này có tới gần chục ngàn người. Làm sao mà xoay xở đây chứ?
Thấy các ông vò đầu, bóp trán, vẻ lo lắng hiện rõ trên từng khuôn mặt của các đệ tử, Đức Giêsu nói với họ: “Anh em hãy bảo họ ngồi thành từng nhóm khoảng năm mươi người một” (Lc 9:14). Bị động và bị triệt buộc, nhưng các môn đệ được Thầy gỡ rối tơ lòng, thế nên bảo sao làm vậy, chả dám ý kiến chi cả. Các ông bảo mọi người ngồi xuống theo nhóm. Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, Đức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông.
Thánh sử Luca cho biết một sự lạ khác: “Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng” (Lc 9:17).
Trong cuộc sống, miếng ăn liên quan các vấn đề khác, không chỉ về sự sống mà còn về “quyền lợi”. Tục ngữ Việt Nam nói: “Trâu cột ghét trâu ăn”. Một thực tế buồn nhưng vừa minh nhiên vừa mặc nhiên. Thánh Phaolô nhắc nhở: “Một số cành cây ô-liu đã bị chặt đi, còn bạn là ô-liu dại đã được tháp vào đó, và cùng được hưởng sự sống dồi dào từ rễ cây ô-liu chính. Vì thế, bạn đừng có lên mặt khinh dể các cành khác” (Rm 11:17-18a). Và rồi Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Thì bạn cứ lên mặt đi! Đâu phải bạn mang rễ, mà là rễ mang bạn” (Rm 11:18b).
Quả thật, chia sẻ là điều quan trọng, cả vật chất lẫn tinh thần. Chia sẻ liên quan việc CHO và NHẬN: “Phúc cho ai CHO mà không nhớ, NHẬN mà không quên” (Elizabeth Bibesco). Thánh Phanxicô Assisi đã có nghịch-lý-thuận này: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân” (Kinh Hòa Bình). Quả thật, nếu chúng ta không chia sẻ với người khác về những thứ họ cần, đó là chúng ta đã cướp chính sự sống của họ! Giáo huấn Xã hội Công giáo cũng đề cập các vấn đề tương tự.
Lạy Thiên Chúa, chúng con cảm tạ Ngài đã ban Nguồn Sống Thánh Thể để chúng con được sống và sống dồi dào, xin giúp chúng con xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể hằng ngày để mai này cũng xứng đáng lãnh nhận sự sống đời đời. Xin Chúa giúp chúng con biết sẵn sàng và vui vẻ chia sẻ với mọi người, nhất là những người thiếu thốn – tinh thần hoặc vật chất. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

 

THÁNHTHỂ-361: Lễ Mình và Máu Thánh Chúa – Nguyễn Tro Bụi

Thánh nữ Juliana (1193 – 1258) người Bỉ, từ nhỏ đã có lòng kính mến Mình và Máu Thánh Chúa THÁNHTHỂ-361

Thánh nữ Juliana (1193 – 1258) người Bỉ, từ nhỏ đã có lòng kính mến Mình và Máu Thánh Chúa cách đặc biệt, và luôn ước ao có một ngày lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa. Juliana đã bày tỏ lòng ước ao đó với Đức cha Robert de Thorete, Giám mục Liège, và sau đó thỉnh cầu tới nhiều vị hữu trách khác trong Giáo hội. Đức Giám mục Robert rất đồng tình và thiết đặt một ngày lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa trong địa phận mình năm 1247. Năm 1264, Đức Giáo hoàng Urban IV ban hành sắc lệnh Transiturus để công bố ngày Lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa trong toàn thể Giáo hội. Đức Giáo hoàng Clement V, rồi Đức Giáo hoàng John XXII cũng góp phần phổ biến rộng rãi ngày lễ này trong Giáo hội hoàn vũ.
Lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa mời gọi chúng ta chiêm ngắm Mình Thánh Chúa Kitô qua hai biểu hiện. Một là qua Bí tích Thánh Thể, hai là qua Giáo Hội – thân thể mầu nghiệm của Người.
Bí tích Thánh Thể là chóp đỉnh của Phụng vụ và là nguồn mạch của đời sống Giáo hội. “Những Bí tích khác cũng như các thừa tác vụ và các hoạt động tông đồ đều gắn liền với Bí tích Thánh Thể và qui hướng về đó” (GLGHCG, số 1324). Bí Tích Thánh Thể là trung tâm của đời sống Hội Thánh, là tâm điểm của niềm tin, là suối nguồn của lòng mến và niềm trông cậy.
Giáo hội là nhiệm thể của Đức Kitô bởi mối dây mật thiết Người chia sẻ với các môn đệ (GLHTCG, số 787). Kinh Thánh cũng nói rõ Đức Kitô là đầu, Giáo hội là thân thể (Cl 1, 18), trong đó chúng ta là những chi thể của thân thể mầu nhiệm đó, như những cành nho gắn liền với thân nho (Ga 15, 5).
Trong Phép Thánh Thể, chúng ta được ơn xa lánh tội lỗi, tăng cường các nhân đức, linh hồn được no thỏa và dư đầy hồng ân, như đám đông được no lòng thỏa chí trong bài Tin mừng hôm nay. Không có Bí tích nào tốt lành và sinh ơn ích dư tràn hơn Phép Thánh Thể. Được thiết lập để mưu ích phần rỗi của cả và nhân loại, nên Bí tích Thánh Thể được cử hành cho cả người sống và kẻ chết, để mọi người có thể chia sẻ kho tàng cực châu báu là Mình và Máu Cực Thánh Chúa Giêsu.
Người Việt chúng ta thường có câu “đồng bàn, đồng bạn.” Bàn tiệc Thánh Thể đưa tình bạn “đồng bàn” đó lên một tầm cao mới, là kết hiệp chúng ta nên một với Đức Kitô và liên kết chúng ta với nhau. Nhờ Bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta được lãnh nhận và được tham dự vào thần tính của Chúa Kitô. Từ trời cao, Người xuống đất thấp để nâng dậy con người từ đất thấp lên tới trời cao. Con Thiên Chúa xuống thế làm người, chịu chết cho con người, ban lương thực thần linh nuôi dưỡng con người, để con người được làm con Thiên Chúa. Vinh phúc thay! Cao quý thay Máu Thịt Con Chúa Trời! Ngay tại thế gian này, chúng ta được nếm trước Bàn tiệc Thiên Quốc. “Nhờ cử hành Bí tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ chúng ta được kết hiệp với phụng vụ trên trời và tiền dự vào đời sống vĩnh cửu” (GLHTCG, số 1326). Đối với phàm nhân, còn gì cao cả hơn? Còn gì quý trọng cho bằng?
“Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22, 19). Chúa Kitô đã thiết lập Bí tích cực trọng này để hiện tại hóa mầu nhiệm tử nạn của Người. Người ước ao vô cùng chúng ta lãnh nhận Người. Người mong muốn cháy bỏng trao ban chính mình Người cho chúng ta. Người khát khao nồng cháy kết hiệp thân tình với chúng ta. Tất cả điều đó chỉ vì tình yêu vô bờ bến mà Ngài dành cho chúng ta. Vì vậy, Người đã không những trao ban chính mạng sống Người để cứu chuộc chúng ta, mà còn trao ban chính mình Người làm của dưỡng nuôi linh hồn chúng ta. Bởi vì tình yêu của Người là một tình yêu “cho đến cùng” (Ga 13,1). Mình và Máu Thánh Chúa chính là bảo chứng cho tình yêu đó. Vì yêu chúng ta, Người đã đổ tràn tình yêu của Người trên chúng ta cùng sự thiện hảo vô biên của Người.
Từ Cuộc Khổ Nạn của Người tuôn trào suối nguồn ân sủng, khai sinh các Bí tích. Nơi nào chúng ta có thể tìm thấy dạt dào tình yêu và hồng ân cho bằng Thánh Thể. Nơi nào chúng ta có thể gặp gỡ chúa Kitô sống động hơn Thánh Thể?
Với tâm tình tạ ơn, ca ngợi Thiên Chúa Cha, và tưởng niệm hy tế của Đức Kitô, Giáo hội cử hành trọng thể Lễ kính Mình và Máu Chúa Giêsu. Chúng ta được mời gọi nhìn nhận sự hiện diện thật của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Đồng thời chúng ta cũng được mời gọi yêu mến Giáo Hội và tha nhân. Khi nhận biết tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta sẽ biết yêu mến tha nhân. Vì rằng, mến Chúa và yêu người là hai mặt của một lòng mến duy nhất. Lãnh nhận cùng một thân thể Chúa Kitô, chúng ta trở thành chi thể của Người, là thành phần trong Giáo hội của Chúa, là anh em của nhau trong Đức Kitô.
Nên thánh, sống hiệp nhất thân tình với Thiên Chúa chính là ơn gọi chung cùng, là đích điểm của mỗi người chúng ta. Xin được kết thúc những tâm tình của ngày Lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa hôm nay bằng lời ca tiếp liên:
Hãy xướng lên lời ca khen ngợi,
… hãy vui mừng rạng rỡ!
Vì đây là ngày trọng thể, ngày kỷ niệm Bàn tiệc Thánh được thiết lập ra…
(Ca Tiếp liên Lễ Mình và Máu Thánh Chúa)
Câu hỏi gợi ý suy niệm:
1. Tôi có ý thức đầy đủ mỗi khi tham dự Thánh Lễ, và thực sự khát khao lãnh nhận Chúa Kitô mỗi khi tôi lên rước Mình Máu Cực Châu Báu Người?
2. Tôi có được biến đổi sau khi lãnh nhận Mình và Máu Thánh là chính Thịt và Máu Con Đức Chúa Trời? Hay tôi vẫn mãi là tôi, khi bước vào nhà thờ và bước ra sau mỗi Thánh Lễ, tôi vẫn không có gì thay đổi?
3. Ngoài việc tham dự Thánh Lễ, tôi có bao giờ dành chút thời gian yên tĩnh riêng tư trước Chúa Giêsu Thánh Thể không?
4. Lễ kính Mình Máu Chúa năm nay, Giáo hội kêu mời toàn thể con cái mình cùng cử hành giờ Chầu Thánh Thể để công khai tuyên xưng đức tin vào sự hiện diện thật sự của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, cũng như thờ lạy và chiêm ngưỡng Đấng Cứu Độ chúng ta trong Bí tích cực thánh này. Cùng Giáo hội hoàn vũ, tôi chuẩn bị gì cho tâm hồn tôi?

 

THÁNHTHỂ-362: HIỆN DIỆN VÀ HIẾN THÂN

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Cả ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều thuật lại, vào cuối bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã thiết lập THÁNHTHỂ-362

Cả ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm đều thuật lại, vào cuối bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể. Qua Bí tích này, Chúa đã để lại chính bản thân mình nơi hai loại chất liệu là bánh và rượu, như một quà tặng vô giá và vĩnh cửu của Người đối với trần gian. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện và tiếp tục hiến thân, làm của ăn của uống cho con người, nhờ đó, họ tìm được sức mạnh siêu nhiên và muôn vàn ơn sủng cho đời sống đức tin cũng như trong hành trình cuộc đời.
 “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thày!”. Theo lệnh truyền của Chúa, hai ngàn năm qua, Giáo Hội tiếp tục cử hành Thánh Thể. Mỗi ngày trên bàn thờ, với tác động của Chúa Thánh Thần và qua bàn tay của Linh mục cử hành Thánh lễ, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiện diện và hiến thân vì chúng ta.
 Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện để chia sẻ phận người với chúng ta. Giữa biết bao bon chen tính toán, giữa biết bao mánh mung xô bồ, Chúa đang ở đây giữa con người để nâng đỡ họ trong hành trình cuộc sống. Trước những vấn nạn về sự dữ, những người vô thần đã đặt câu hỏi: Vậy thì Chúa Giêsu làm gì trước đau khổ và sự dữ tồn tại và hoành hành trong cuộc sống con người? Phải chăng là Người bất lực và bó tay nhìn con người quay cuồng trong đau khổ? Đây là một huyền nhiệm của đau khổ. Bởi lẽ chính Chúa Giêsu cũng đã đau khổ, đã vác thập giá và đã chịu đóng đinh trên đó. Nhưng đó là cái chết vì yêu thương và vì ơn cứu rỗi của con người. Chúng ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời cho những vấn nạn trên đây khi nhận ra tình thương của Thiên Chúa qua cái chết của Chúa Giêsu. Đức Giêsu đã vác thập giá trên đường đến Canvê. Ngày hôm nay, Người đang tiếp tục vác thập giá với chúng ta và cho chúng ta. Ý thức có Chúa hiện diện giữa đời, cuộc sống người tín hữu sẽ bớt cô đơn nặng nhọc. Người biết phó thác đời mình vào tình thương của Chúa, sẽ cảm thấy gánh cuộc đời nhẹ nhàng hơn, hoặc ít ra, họ cũng cảm thấy trước mặt mình có một tương lai, một đích điểm.
 Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện khiêm tốn và thinh lặng. Cuộc sống hôm nay đầy những âm thanh hỗn tạp. Tiếng nói của những kẻ bạo ngôn lại hùng hồn hơn tiếng nói của người tử tế. Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy im lặng để nghe tiếng Chúa, nghe tiếng trái tim mình và nghe tiếng nói của tha nhân. Trong thâm cung của sự im lặng ấy, Chúa sẽ dạy cho ta biết đối nhân xử thế. Cũng trong thinh lặng ấy, chúng ta nhận ra mình là ai trước mặt Chúa, để sống khiêm tốn và thánh thiện. Giữa cuộc sống ồn ào này, chỉ những ai sống trong thinh lặng mới cảm nhận được Chúa đang ngỏ lời với mình, để rồi đời sống của họ được thấm đượm Lời hằng sống, nhờ đó mà cuộc đời kết trái đơm hoa.
 Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy sống vì người khác. Bạo lực, xung đột, chia ly, giết chóc… đều đến từ sự ích kỷ của con người. Chúa Giêsu hiến thân trong Thánh Thể để trở nên của ăn của uống cho con người. Người đến trần gian không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc nhiều người. Đến với Thánh Thể, con người được mời gọi sống với nhau bằng trái tim. Thế gian này rộng lắm, tranh chấp nhau làm gì vì kết cục cũng chỉ cần ba tấc đất khi nhắm mắt xuôi tay. Tiền bạc thế gian nhiều lắm, đã chắc gì bảo đảm cho chúng ta hạnh phúc. Cuộc sống này ngắn ngủi lắm, nào ai sống mãi mà ôm mối hận thù truyền kiếp với người xung quanh và ngay cả thành viên trong cùng một gia đình. Hãy noi gương Chúa, sống sẻ chia, sẽ cảm nhận được hạnh phúc và niềm vui, như Chúa dạy: cho thì có phúc hơn nhận. Cho đi sẽ được nhận lãnh, tha thứ sẽ được thứ tha.
 Thánh Thể nối kết ta với Chúa, và nối kết ta với nhau. Thánh Phaolô dạy: Chúng ta cùng ăn một Bánh và uống một Chén. Chúng ta cùng được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Đức Giêsu. Hãy sống thông điệp mà Bí tích Thánh Thể muốn nhắn nhủ, đó là tình hiệp nhất. Hãy coi chừng kẻo việc rước lễ nên án phạt cho chúng ta. Thánh Augustinô cũng khuyên các tín hữu: Bạn hãy trở nên điều mà bạn lãnh nhận. Thánh nhân muốn nói, người rước lễ hãy cố gắng để chính đời sống của mình trở thành “Thánh Thể”, tức là nên giống Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là tấm bánh bẻ ra cho muôn dân. Mỗi tín hữu cũng được mời gọi sống sứ điệp Thánh Thể bằng những cố gắng hy sinh, bao dung quảng đại, để rồi cuộc đời của chúng ta cũng là một “tấm bánh” giữa đời.
 “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thày”, đây là lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ. “Việc này” mà Chúa nói tới, không phải chỉ dừng lại ở việc cử hành một lễ nghi phụng vụ, mà còn được thực hiện qua đời sống hằng ngày, đối với những con người bằng xương bằng thịt đang sống xung quanh ta. Bí tích Thánh Thể vừa là lời tôn vinh tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho nhân loại, vừa là lời mời gọi chia sẻ để con người sống trong huynh đệ công bằng và hạnh phúc. Hiện diện và hiến thân, đó là việc Chúa Giêsu đã làm và đang làm vì yêu thương chúng ta.

 

THÁNHTHỂ-363: MẦU NHIỆM TÌNH YÊU

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi
 

Thánh Thể là Bí tích tình yêu, bí tích nuôi sống, bí tích nhiệm mầu Thiên Chúa trao ban cho nhân THÁNHTHỂ-363

Thánh Thể là Bí tích tình yêu, bí tích nuôi sống, bí tích nhiệm mầu Thiên Chúa trao ban cho nhân loại, cho con người. Chúa đã thiết lập bí tích Thánh Thể tại Nhà Tiệc Ly : “ Này là Mình Ta, các con hãy cầm lấy mà ăn…Này là Máu Ta, các con hãy cầm lấy mà uống “ ( Mc 14, 22-25 ).
Tiêc Thánh Thể, bữa tiệc Tình Yêu đã được chính Chúa Giêsu tiên báo tại tiệc cưới Cana, khi Ngài, Mẹ của Ngài là bà Maria và các môn đệ của Ngài tham dự tiệc cưới. Mẹ Maria đã nhạy cảm gợi ý để xin Chúa Giêsu làm phép lạ cho nước hóa thành rượu ngon khi gia đình nhà đám hết rượu. Tiệc Thánh Thể đã được Chúa hứa ban cho dân ở Capharnaum, đã được Ngài thiết lập ở Giêrusalem trước khi Ngài đi vào cuộc khổ nạn trong Bữa Tiệc Ly với các môn đệ, và được chính Chúa Phục Sinh cử hành long trọng trong một quán trọ ở làng quê xa xôi, hẻo lánh trước mặt hai môn đệ ở Emmaus. Thực vậy, bốn khung cảnh này đan quyện với nhau thành một bức tranh tuyệt đẹp khi chúng ta mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.  Hình ảnh chiếc nhẫn mà đám thợ lặn tìm được trên chiếc tầu của nước Tây Ban Nha được chế tạo cách đây hơn 400 năm, chiếc tầu này bị chìm sâu dưới biển khơi nước Bắc Ái Nhĩ Lan .Trong số những vật quý giá tìm được trên tầu, người thấy một chiếc nhẫn đàn ông bằng vàng, trên mặt nhẫn có chạm hình một cánh tay đang nắm một trái tim với những dòng chữa thật dễ thương sau :” Anh không thể cho em điều gì hơn thế nữa “. Thật tuyệt vời hình ảnh đầy sống động và ấn tượng này. Hình ảnh chiếc nhẫn và lời nói ghi chạm trên chiếc nhẫn có thể dùng để làm nổi bật ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa mà chúng ta cử hành hôm nay. Đây cũng chính là lời nói của Chúa Giêsu khi trao ban Mình Máu Thánh của Người làm lương thực nuôi sống con người, nuôi sống nhân loại, nuôi sống chúng ta, Người nói :” Ta đã trao ban hết con người của Ta cho các con đến nỗi Ta chẳng cho các con điều nào hay điều gì hơn thế nữa ! “.
Thánh Thể là bí tích tình yêu, bí tích nuôi sống nhân loại, nuôi sống chúng ta.
Thánh Thể nối kết Thiên Chúa với con người và con người với nhau. Do đó, Thánh Thể là trung tâm của cuộc sống con người. Thánh Thể là toàn thể con người, toàn vẹn con người của Chúa trao ban cho con người.
Thánh Thể là lương thực thiêng liêng không thể nào thiếu được đối với cuộc sống của người Công giáo.
Thánh Thể diễn tả tình yêu cao siêu, vô tiền khoáng hậu của Thiên Chúa. Yêu là cho đi. Yêu là tự hiến, là cho hết, cho cả cuộc đời của Chúa tình yêu cho nhân loại :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ).
Đức cố Hồng Y Carlo Martini đã viết :” Bí Tích Thánh Thể làm nên Giáo Hội qua việc truyền giáo.Điều này có nghĩa là Giáo Hội được sống động nhờ Bí Tích Thánh Thể, biết rằng Chúa Giêsu khao khát lôi kéo mọi người đến với Ngài, và Giáo Hội đồng hóa mình với Chúa Kitô để lôi kéo mọi người và mọi sự đến với Chúa. Giáo Hội cảm thấy mình được Chúa Kitô sai đi, để đến với mọi người, và không thể nghỉ ngơi cho đến khi Tin Mừng Phục Sinh được rao giảng ở khắp mọi nơi “.
Lạy Chúa Giêsu, mỗi lần linh mục đọc “ Đây là Mính Máu Chúa Kitô “ và chúng con lãnh nhận Mình Máu Chúa là mỗi lần chúng con lãnh nhận toàn vẹn Chúa Giêsu đã sinh ra ở Bêlem, đã lớn lên ở Nazarét, đã đi rao giảng, đã chịu chết trên thập giá và Phục sinh khải hoàn. Chúng con tuyên xưng đức tin và lãnh nhận con người toàn vẹn của Chúa đã chết và Phục sinh để nuôi sống và ban cho chúng con sự sống. Xin Chúa củng cố đức tin cho chúng con để chúng con luôn tín thác vào Chúa, vào Lòng Thương Xót vô biên của Chúa. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Chúa Giêsu Phục Sinh đã cử hành long trọng bí tích Thánh Thể ở đâu ?
2.Chúa đã lập bí tích Thánh Thế khi nào ? ở đâu ?
3.Bí tích Thánh Thể là bí tích gì ?
4.Khi lãnh nhận Mình Máu Chúa là chúng ta đón nhận ai ?
5.Tại sao lại gọi Thánh Thể là Bánh Trường Sinh ?

 

THÁNHTHỂ-364: TẤM BÁNH CỦA MẸ

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Hình ảnh tuổi thơ luôn gắn liền với những lần hồ hởi ăn vội chiếc bánh thơm ngon mẹ mang về. THÁNHTHỂ-364

Hình ảnh tuổi thơ luôn gắn liền với những lần hồ hởi ăn vội chiếc bánh thơm ngon mẹ mang về. Có lẽ tấm bánh không hoàn toàn là ngon nhưng hạnh phúc là ở trong tấm bánh chất chứa cả một tấm lòng người mẹ dành cho con.
Tôi nhớ khi xưa mẹ tôi đi đâu về cũng có bánh cho anh em tôi. Bánh không nhiều nhưng cả nhà đều vui. Tôi còn nhớ y nguyên cảm giác nôn nao đến mức vừa chơi vừa ngó ra đầu ngõ để ngóng con đường mẹ đi chợ về. Chỉ thấy dáng mẹ, tôi chạy vút ra ‘A! Mẹ đã về’. Có lần mẹ tôi nói: “tại sao các con cứ thích theo mẹ đi chợ hoặc ngóng mẹ đi chợ về. Quà bánh có gì nhiều đâu, chỉ một cái kẹo, sao mà thấp tha thấp thỏm thế!”. Có lẽ, đó là bởi vì quà của mẹ. Mẹ lúc nào cũng tuyệt vời nhất trong nghĩ suy của những đứa con.
Tấm bánh mẹ mang về là tấm bánh của yêu thương. Tấm bánh không có tình thương có thể là ngon nhưng không làm cho người ta hạnh phúc sung sướng. Lớn lên chúng ta có thể ăn nhiều cái bánh thơm ngon nhưng lại không òa lên niềm hạnh phúc như tấm bánh của mẹ. Tấm bánh của mẹ dân giã nhưng gói trọn cả tình yêu.
Hôm nay chúng ta mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa Giê-su. Chúa Giê-su cũng tỏ bày tình yêu của mình cho nhân thế qua tấm bánh tình yêu. Ngài hiểu rằng ai cũng thích bánh, ai cũng ăn bánh. Bánh được trao ban có tình yêu còn làm cho người ăn thêm niềm vui và hạnh phúc. Tấm bánh Thánh Thể của Chúa được trao ban với trọn tình yêu của Thiên Chúa. Vì tấm bánh ấy là chính Máu Thịt Ngài. Ngài muốn sức sống của Ngài thẩm thấu vào trong da thịt con người. Ngài muốn sức sống của Ngài nên một với con người. Đây là sáng kiến của tình yêu. Trong tình yêu người ta luôn làm mới tình yêu bằng muôn ngàn cách. Tình yêu của Đức Ky-tô trao ban cho con người là tình yêu tự hiến đến nỗi trở nên của ăn của uống cho con người.
 Chúa Giê-su đã chọn tấm bánh là Thánh Thể Ngài, vì tấm bánh luôn cần cho mọi người. Ai cũng cần tấm bánh. Và ai cũng có thể sở hữu tấm bánh. Tấm bánh không chọn người ăn. Ai cũng có thể ăn tấm bánh cao sang hay chỉ là tấm bánh dân giã miền quê. Tấm bánh luôn mang lại hạnh phúc cho mọi người, từ già đến trẻ. Từ giầu đến nghèo đều có thể òa lên niềm vui sướng khi được trao ban tấm bánh.
Bí tích Thánh Thể là bí tích tình yêu. Một tình yêu nên một với người mình yêu. Một tình yêu chấp nhận dâng hiến và hòa tan trong người mình yêu. Ngài trao ban chính sự sống mình để cho con người được sống sức sống của Thiên Chúa.  Ngài gói trọn tình yêu của mình qua tấm bánh đơn sơ nhưng làm cho người nhận òa lên niềm vui vì được đón nhận chính tình yêu hiến dâng của Thiên Chúa.
Xin cho chúng ta biết đón nhận tình yêu của Thiên Chúa trong niềm vui sướng và cảm tạ. Xin cho chúng ta biết mở lòng đón nhận sự sống của Chúa để được sống trong ân sủng của Thiên Chúa. Và xin cho chúng ta biết đem tình yêu ấy chia sẻ với tha nhân trong yêu thương và phục vụ như Chúa đã làm cho chúng ta. Amen.

 

THÁNHTHỂ-365: TẤM BÁNH CHO ĐỜI

Bông hồng nhỏ
 

Có nhiều cách để ta bày tỏ tình yêu dành cho một ai đó. Nếu là tình yêu ta dành cho mẹ, ta có THÁNHTHỂ-365

Có nhiều cách để ta bày tỏ tình yêu dành cho một ai đó. Nếu là tình yêu ta dành cho mẹ, ta có thể ở bên mẹ mỗi khi ta buồn vì lúc ấy ta muốn nói với mẹ rằng, chỉ có mẹ là người có thể chia sẻ cùng con. Mẹ hạnh phúc khi được nhìn thấy nụ cười tươi trên môi của ta. Ta còn thương yêu bao người và mỗi người ta lại có một cách bày tỏ tình yêu thương rất riêng.
Chúa Giêsu rất yêu thương những người con bé nhỏ, yêu thương những người môn đệ của mình. Ngài tự nguyện đi vào cuộc thương khó để bày tỏ một tình yêu tự hiến đến cùng cho nhân loại. Ngài cứu độ nhân loại bằng chính giá máu của mình. Người ta thường nói, khi yêu sẽ có nhiều sáng kiến độc đáo. Sáng kiến Chúa Giêsu chính là sẽ ở cùng nhân loại mọi ngày cho đến tận thế. Bằng cách nào? Bằng việc ban tặng chính Mình và Máu Thánh của Ngài trở nên thần lương nuôi sống nhân trần. Bí tích Thánh Thể chính là thần lương nuôi sống muôn dân. Không còn là manna từ trời rơi xuống nhưng là chính  Mình và Máu Chúa Giêsu. Lời mời gọi tha thiết của Chúa Giêsu trong Bữa tiệc Ly vẫn không ngừng hối thúc ta: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” (Mc 14, 22b). Mỗi lần đón nhận Mình Thánh Chúa Kitô là mỗi lần ta được ở trong tình yêu bao la của Ngài, là mỗi lần tâm hồn ta được thánh hóa, được gia tăng sức mạnh thiêng liêng. Chúa Giêsu đã muốn bày tỏ tình yêu đến cùng cho ta nơi Bí tích Thánh Thể, ta hãy mau mắn mở rộng tâm hồn mình để đón chờ Chúa ngự vào. Có những khi, tâm hồn ta thật bất xứng, chẳng đáng để được Chúa ngự vào, nhưng với niềm tin tưởng vào lòng Chúa xót thương, ta hãy trỗi dậy để được giao hòa cùng Chúa, vượt qua nỗi sợ hãi để chạy đến vòng tay yêu thương của Ngài. Còn nhớ, hồi còn bé, ta vẫn thường hay sai lỗi và mỗi lần như thế ta lại khóc òa lên để cha mẹ ôm ta vào lòng vỗ về và không còn nhớ đến lỗi lầm ta phạm. Cha mẹ vui lòng khi ta biết nhận lỗi và chạy đến để được tình thương cha mẹ ôm ấp vỗ về. Thiên Chúa là một người cha và Ngài sẵn lòng tha thứ cho đứa con thơ dại biết bám víu vào tình thương của Chúa. Hãy để tình thương của Chúa che lấp mọi lỗi lầm ta phạm. Thánh Phêrô đã khuyên nhủ giáo đoàn của mình rằng: “Tiên vàn, anh em hãy luôn luôn yêu thương nhau, vì tình thương che lấp muôn vàn tội lỗi. (1 Pr 4, 7). Thánh Giacôbê cũng đã quả quyết rằng: “Kẻ nào làm cho một tội nhân bỏ đường lầm lạc mà trở về, thì cứu được linh hồn ấy khỏi chết và che lấp được muôn vàn tội lỗi của mình.” (Gc 5, 20). Trước mặt Thiên Chúa, ai trong chúng ta cũng đều là tội nhân. Hãy yêu thương nhau và chính tình thương yêu mà Thiên Chúa đặt để nơi trái tim mỗi người sẽ giúp ta gặp được chính Thiên Chúa nơi tâm hồn mình và nơi những người thân cận.
Lạy Chúa! Mỗi lần được rước Mình Thánh Chúa, được Chúa ngự vào tâm hồn là mỗi lần con được mời gọi sống kết hiệp với Chúa hơn. Tình yêu Chúa dành cho con thật đậm sâu mà con chẳng có chi đáp đền. Chỉ xin Chúa nhận lấy của lễ đời con với những yêu thương con trao đi mỗi ngày, với những cố gắng và cả sự yếu hèn nơi chính con. Mỗi lần con rước Chúa, xin cho con ý thức đời con cũng sẽ là một tấm bánh bẻ ra cho muôn người. Tấm bánh ấy phải thơm ngon và luôn được cắt ra từ tấm bánh tuyệt vời là chính Chúa. Amen.

 

THÁNHTHỂ-366: MÌNH MÁU CHÚA KITÔ

Anna Cỏ May
 

Cậu bé hỏi mẹ: – Mẹ ơi! Sao các cha, các thầy và các sơ lại nói Mình Máu Chúa Kitô khi đem THÁNHTHỂ-366

Cậu bé hỏi mẹ:
        – Mẹ ơi! Sao các cha, các thầy và các sơ lại nói Mình Máu Chúa Kitô khi đem bánh cho mọi người hả mẹ?
        – Vì đó là Thịt và Máu Chúa Giêsu, là bánh đem lại sự sống đời đời.
        – Nhưng chỉ là một tấm bánh trắng thôi mà mẹ.
        – Lúc đầu chỉ là bánh, nhưng bánh trở nên Mình Máu Chúa Giêsu khi các cha truyền phép đó.
        – Vậy, tấm bánh ấy có ngọt không hả mẹ?
        – Có, nhưng sau này con lớn bằng anh hai, con mới biết bánh ngọt thế nào.
        – Dạ, thế con phải ăn thất nhiều thức ăn để lớn bằng anh hai mới được.
        – Ừ, con ngoan.
          Sau khi nghe câu truyện trên, chúng ta sẽ nghĩ rằng cậu bé biết quan sát và rất chú ý trong Thánh lễ. Nhưng câu chuyện đem lại lợi ích cho mọi người. Những câu hỏi của bé thật đơn sơ và ham học hỏi. Có lẽ, câu hỏi ấy đôi khi là câu hỏi của những người chưa nhận biết Chúa hay câu hỏi có thể thức tỉnh những người Kitô hữu khi rước Mình Máu Chúa Kitô.
         Đối với những con người thực dụng và kém tin trong xã hội này, thật khó tin khi một tấm bánh lại là Thịt Máu Chúa Kitô. Thế, một chiếc bánh bông lan hay pho mát sao lại có vị ngọt và nhân ở giữa? Chiếc bánh ấy chẳng phải được làm ra từ bàn tay con người với tất cả trái tim và lòng nhiệt huyết sao? Thì tấm bánh nhỏ cũng trở thành Mình Máu Chúa Kitô. Xưa kia, trong Bữa Tiệc Ly cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: “ Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy. Và Người cầm chén rượu dâng lời tạ ơn và nói: Đây là Máu Thầy, Máu Giao ước đổ ra vì muôn người”.(Mc 14, 22-23). Chính Ngài đã đặt sự sống, tình yêu và con người mình vào tấm bánh để sống với các môn đệ một cách cụ thể hơn. Các môn đệ được thừa hưởng cuộc sống trường sinh nơi Ngài. Cũng trong Bữa Tiệc Ly ấy, Ngài còn đưa đến một sự kết hợp mật thiết cho muôn người mãi đến ngày hôm nay.
        Ngày nay, Hội thánh lữ hành vẫn đang thực hiện tiệc ly của Chúa Giêsu truyền lại. Và tấm bánh sẽ trở nên Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, là bánh trường sinh khi cử hành Thánh lễ. Vậy để được hưởng bánh trường sinh chúng ta phải làm gì? Như chúng ta đã biết, có tin chúng ta mới đến với Chúa. Đức tin là điều rất cần thiết hơn cả. Trong Tin Mừng đã viết: “Đức tin các anh thế nào thì được như vậy”. (Mt 9,29). Nếu chúng ta tin Thánh Thể là bánh trường sinh, là Mình Máu Chúa Giêsu thì chúng ta đến với Chúa cách nhẹ nhàng và năng rước lễ hơn. Khi rước lễ, chính Đức Kitô sẽ biến đổi chúng ta trong Ngài. Ngài là Đấng chiếm hữu con người chúng ta. Càng năng rước lễ, Đức Kitô càng làm chủ tâm hồn chúng ta, càng làm phát triển sự sống Ngài nơi ta, cùng chia sẽ cho chúng ta những tư tưởng tình cảm ước mong và hoạt động của Ngài. Đời sống của chúng ta ngày qua ngày sẽ trở thành đời sống của chính Chúa Kitô. Chẳng phải như thế chúng ta có khả năng thực hiện điều thánh Phaolô viết: “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà chính Đức Kitô sống trong tôi”.(Gl 2, 20). Khi có một niềm tin, một tình yêu mạnh và ý thức đủ, chúng ta sẽ thấy vị ngọt tấm bánh ấy thế nào. Nếu chúng ta năng tham dự tiệc Thánh Thể thì mai sau chúng ta được dự tiệc Thiên Quốc. Tiệc Thánh Thể là của ăn nuôi dưỡng và khai vị cho tiệc Thiên Quốc. Vậy nên, chúng ta mau mắn năng rước lễ để hưởng phúc cho mai sau.
          Hôm nay mừng lễ Mình Máu Chúa Kitô, chúng ta hãy khơi dậy lòng khao khát, đi tìm và ở lại trong Chúa. Vì đối với Chúa không có gì là muộn màng như người tội lỗi trên cây thánh giá. Chúng ta cùng bắt đầu lại tình yêu trong Chúa Kitô mỗi ngày. Chúa luôn ở đó và chờ đợi  chúng ta.
          Lạy Chúa, Chúa đã trao ban chính Thịt và Máu Ngài để nuôi dưỡng chúng con. Xin cho mỗi thành viên chúng con luôn kết hợp với Chúa trong mọi lúc, cách riêng là năng tham dự Thánh lễ và rước lễ  mỗi ngày.Amen.

 

THÁNHTHỂ-367: BÁNH RƯỢU GIÊSU

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Tối hôm trước ngày chịu hhổ hình, sau bữa Tiệc Ly Vượt Qua , Chúa Giêsu cầm bánh trong tay THÁNHTHỂ-367

Tối hôm trước ngày chịu hhổ hình, sau bữa Tiệc Ly Vượt Qua , Chúa Giêsu cầm bánh trong tay thánh thiện khả kính, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ và nói : “Hãy cầm lấy, này là mình Ta. Đoạn, cầm lấy chén rượu nho, tạ ơn, trao cho họ và họ uống cạn chén ấy. Và Người nói : “Này là máu Ta, máu giao ước, đổ ra cho nhiều người” (Mc 14: 22-24). Toàn bộ lịch sử của Thiên Chúa với con người được tóm gọn trong những lời trên. Không chỉ là quá khứ mà đã gộp lại và giải thích, nhưng nói chung cũng được dự đoán trong tương lai : Nước Thiên Chúa đến trong thế gian này. Điều Chúa Giêsu nói đây, không đơn giản chỉ là những là lời nói. Điều Chúa Giêsu nói là một sự kiện, sự kiện trung tâm trong lịch sử thế giới và của đời sống riêng mỗi người chúng ta.
Những lời này là vô tận. Chúng ta cùng nhau suy niệm một khía cạnh duy nhất. Chúa Giêsu đã chọn bánh và rượu, như một dấu chỉ cho sự hiện diện của mình. Qua một trong hai dấu chỉ này, Người hoàn toàn tự hiến chính mình cách trọn vẹn, chứ không phải chỉ một phần. Đấng Phục Sinh không bị phân chia. Người là một, qua các dấu chỉ, Người đến gần chúng ta và liên kết với chúng ta. Nhưng những dấu chỉ, theo cách riêng của mình mà biểu lộ khía cạnh đặc biệt về mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô của Người và qua biểu hiện đăch biệt ấy, Người muốn nói với chúng ta, để chúng ta học hiểu thêm một chút về mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô. Trong khi kiệu và thờ lạy, chúng ta hướng nhìn vào Bánh Thánh đã được truyền phép, một thứ lương thực đơn giản nhất, gồm ít bột và nước. Giống như thức ăn của người nghèo, mà Thiên Chúa thích ban cho dân Chúa lần đầu tiên trong sa mạc, và Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa nhiều để nuôi dân chúng. Lời cầu nguyện trong phụng vụ Thánh lễ, phần dâng bánh cho Chúa, Giáo hội xác định bánh là sản phẩm của hoa màu ruộng đất và lao công của con người. Có được bánh này con người phải khó nhọc một nắng hai sương, bới đất, gieo hạt và thu hoạch, cuối cùng làm thành bánh.
Tất nhiên, bánh không chỉ là sản phẩm của chúng ta, dù là một thứ chúng ta làm ra; bánh còn là sản phẩm của hoa màu ruộng đất và do đó, bánh là một hồng ân. Vì thực tế đất trổ sinh hoa trái, có công lao của con người; nhưng chỉ có Đấng Tạo Hóa mới có thể trao ban khả năng sinh sản. Bánh là hoa trái của đất trời. Hàm chứa sức mạnh tổng hợp của đất và hồng ân từ trời cao là nắng mưa. Và nước cũng thế, để làm được bánh, chúng ta không thể tạo ra nước. Vào lúc người ta nói đến sa mạc là nơi cảnh tỉnh con người và súc vất có nguy cơ chết khát. Trong giai đoạn này, chúng ta thuật lại hồng ân vĩ đại là nước, chúng ta không chỉ múc nước cho chính mình, nhưng còn kín múc cho đồng loại, cỏ cây và súc vật nữa.
Chúng ta hãy để ý đến tấm bánh trắng nhỏ, bánh của người nghèo này, là một tổng hợp của sự sáng tạo giữa trời và đất, sự cộng tác giữa hoạt động thần linh và tinh thần của con người. Mầu nhiệm về sự sống và hiện hữu của con người hiện diện trước mặt chúng ta trong một vũ trụ bao la hùng vĩ. Như thế, chúng ta có thể hiểu tại sao Thiên Chúa chọn tấm bánh  nhỏ, tròn, trắng này làm dấu chỉ.
Dấu chỉ của rượu cũng một cách thế tương tự. Nếu tấm bánh đưa chúng ta về với bánh đời sống thuần túy hàng ngày, thì rượu thể hiện sự tuyệt vời của Đấng Tạo Hóa.  Lễ Mình Máu Thánh Chúa hôm nay là lễ của niềm vui mà Thiên Chúa muốn chúng ta tham dự vào. Rượu cũng nói về Cuộc Khổ Nạn : vườn nho phải lớn lên để được thanh tấy ; dưới nắng mưa nho phải chín và được ép rượu : thông qua sự gian truân này mà thành rượu quí.
Trong lễ Mình Máu Chúa, chúng ta nhìn tất cả các dấu chỉ về bánh. Điều này nhắc nhở chúng ta về cuộc hành hương của Israel trong sa mạc suốt bốn mươi năm. Thiên Chúa đã dưỡng nuôi dân Chúa xưa bằng manna, nay Chúa nuôi dưỡng chúng ta  bằng bánh bởi trời đích thực là Bánh Giêsu.
Trong khi rước kiệu, chúng ta bước theo dấu chỉ này, và vì vậy chúng ta theo chính Chúa Giêsu, vàà cầu xin Chúa hướng dẫn chúng ta trên đường đời ! Chỉ cho chúng ta đường phải đi đến với Giáo hội và các mục tử ! Nhìn vào nhân loại đau khổ, lang thang bấp bênh giữa bao nhiêu vấn nạn với cái đói về thể lý và tâm lý hành hạ ! Xin Chúa ban cho nhân loại bánh để nuôi dưỡng xác hồn ! Xin cho họ có công ăn việc làm ! Xin Chúa ban chính Chúa cho họ ! Xin tẩy rửa chúng con và thánh hóa chúng con trong mọi sự ! Xin Chúa giúp chúng con hiểu rằng  phải qua Khổ Nạn, qua lời “xin vâng” trên cây thập giá, với sự từ bỏ, thanh tẩy, chúng ta mới có thể trưởng thành và đạt được nhận thức đầy đủ. Xin qui tụ chúng con tản mác khắp nơi về cùng một mối. Xin hiệp nhất chúng con với Giáo hội của Chúa, đoàn kết chúng con với anh em bị chia rẽ ! Xin ban cho chúng con ơn cứa độ của Chúa! Amen!

 

THÁNHTHỂ-368: ĂN LỄ VƯỢT QUA

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
 

Thánh Thể là bữa tiệc Vượt Qua, điều này tôi đã được nghe nói tới nhiều lần, nhưng lại có THÁNHTHỂ-368

Thánh Thể là bữa tiệc Vượt Qua, điều này tôi đã được nghe nói tới nhiều lần, nhưng lại có quá ít dịp tìm hiểu và đào sâu nội dung đích thực của nó. Tại sao Bí Tích Thánh Thể trước hết phải là một ‘bữa tiệc’ chứ không phải là ‘bánh rượu’ trở nên ‘Mình và Máu Thánh Chúa’?
Thời điểm Đức Giê-su ăn bữa biệt ly với các môn đệ được Mác-cô xác định là ‘ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua’ (như vậy ngay cả việc xác định hôm đó là thứ năm (Tuần Thánh) cũng chỉ là một ước lệ?); ngoài ra Thánh Sử Mác-cô còn tường thuật việc chuẩn bị cho bữa tiệc này với khá nhiều chi tiết tỉ mỉ khác nữa. Nếu quả là như thế thì việc Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể trong ngày sát tế chiên Vượt Qua đâu chỉ đơn thuần là trùng hợp ngẫu nhiên về thời gian. ‘Đây là mình Thầy… đây là máu Thầy’ của Tân Ước phải có mối liên hệ rất chặt chẽ với ‘chiên Vượt Qua’ giải phóng dân riêng khỏi ách nô lệ, và với cuộc xuất hành tiến về đất hứa của Cựu Ước. Phải là người Do Thái đích thực như các môn đệ ta mới hiểu được ý nghĩa của việc ăn lễ Vượt Qua. Họ thực sự ăn lễ, chứ không chỉ ‘mừng lễ’. Mỗi gia đình ăn thịt chiên nướng với rau đắng và bánh không men, họ ‘ăn’ sự giải thoát của toàn dân, của chính mình cũng như của bạn bè thân quyến. Thịt chiên họ cùng nhau ăn, và máu chiên họ rẩy trên mình như một tập thể, lặp lại việc bôi máu trên ngưỡng cửa ngày xuất hành ra khỏi đất Ai Cập. Đối với họ, cuộc giải phóng này liên quan tới đời sống từng người, tới lịch sử của cả một dân tộc. Chính vì thế mà trải qua hàng nghìn năm, người Do Thái vẫn trang trọng ăn lễ Vượt Qua của giải phóng.
Cái chết thập giá của Đức Giê-su chính là thực hiện giao ước Xuất Hành tới mức toàn diện và hoàn hảo nhất; còn giao ước Si-nai, với việc rảy máu thú vật trên dân và đón nhận lề luật, chỉ là thể hiện được sự giải phóng trong một giới hạn nào đó (xem Xh 24:7-8). Nếu dân Do Thái ăn chiên và rảy máu chiên trên mình để tưởng nhớ và tham dự vào cuộc xuất hành giải phóng mang tính xã hội và chính trị (thoát khỏi ách thống trị của bạo chúa Pha-ra-ô), thì Ki-tô hữu ăn thịt và uống máu Chiên Vượt Qua là để tưởng niệm và thông phần vào ơn cứu độ sung mãn và dứt điểm. “Chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa”. Đức Giê-su muốn ăn lễ Vượt Qua của Người với các môn đệ thân yêu vào chính ‘ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua’ là thế. Trong cả hai cử hành Vượt Qua, ăn là công việc chủ yếu. Chỉ thị Vượt Qua của Cựu Ước xác định rất rõ ràng ai mới được ăn và ai không được ăn, đồng thời qui định tỉ mỉ phải ăn như thế nào, theo cách nào (xem Xh 12:43-51). Mác-cô, trong tường thuật về bữa tiệc ly biệt, cũng không thể bỏ qua các chi tiết ăn uống tỉ mỉ: ‘Người cầm lấy bành, rồi bẻ ra, trao cho các ông; Người cầm chén rượu…, trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này’. Đặc biệt hơn, khi triển khai đề tài ‘bữa tiệc của Chúa, bữa tiệc huynh đệ và hiệp nhất’ (xem 1 Cr 11:23-34), Phao-lô đã đặc biệt xoáy sâu vào chủ đề ‘ăn và uống’. “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm tới Mình và Máu Chúa…’ Và lệnh truyền ‘anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy’ (lặp lại hai lần) được các Ki-tô hữu tiên khởi hiểu, chắc chắn không chỉ là cử hành một nghi lễ, mà phải thực hành luôn cả việc ăn và uống, ‘mỗi khi uống’ (câu 25).
Như vậy, dứt khoát việc ‘xem lễ hay dự khán Thánh Lễ’ không thể trở thành qui định chính yếu (buộc ‘xem lễ’ ngày Chúa Nhật…); thậm chí trong Cựu Ước, để tưởng niệm Vượt Qua, ‘Toàm thể cộng đồng Ít-ra-en ăn chiên và bánh không men’. Qui định Xuất Hành xác định rõ các đối tượng không được phép ăn, và do đó cũng không được tham dự vào cuộc vượt qua của toàn dân. Cũng vậy, theo Phao-lô, vấn đề chính là phải ăn bữa tiệc của Chúa sao cho xứng đáng nhất; xứng đáng đây không hệ tại ở việc sạch hay không sạch tội, mà chính yếu hệ tại ở phân biệt được, nhận thức được hay không Thân Thể Đức Ki-tô hiến mình cho ta trong cuộc giải phóng thập giá, vì Người là Con Chiên của cuộc Vượt Qua trong giao ước mới. Rước lễ (ăn) với cõi lòng rộng mở đón nhận ơn giải phóng dứt khoát và hữu hiệu của Chúa Ki-tô – Chiên Vượt Qua mới là điều bất cứ người môn đệ nào của Đức Ki-tô cũng buộc phải thi hành, không như một luật buộc nhưng như một đòi hỏi thiết thân của việc tham dự vào hồng ân cứu độ.
Vì thế, Ki-tô hữu chúng ta cần chân thành và khiêm tốn ăn lễ Vượt Qua, ăn thịt Chiên Con bị sát tế, vì quả thật Bí Tích Thánh Thể đối với chúng ta trước hết phải là ăn và uống Minh Máu Thánh Chúa, là thông phần vào cuộc giải phóng vĩnh viễn mà Đức Giê-su đã thực hiện trên Thập Giá!
Lạy Chiên Con bị sát tế trên thập giá, Chúa đã ban cho chúng con ơn giải phóng qua hiến tế thập giá đau thương. Thế nhưng con chỉ có thể tiếp nhận ơn giải phóng này cách hữu hiệu và dứt khoát nhờ vào việc ăn và uống Thịt và Máu Con Chiên. Xin cho con, mỗi khi cử hành Thánh Thể, luôn có tâm hồn khiêm tốn biết đón nhận sự giải thoát đầy nhân hậu, qua việc cung kính rước Mình và Máu Thánh Chúa vào cõi lòng, cho dầu có bất xứng và tội lỗi, nhưng rất chân thành mong mỏi đón chờ ơn cứu độ. A-men.

 

THÁNHTHỂ-369: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam
 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều đề cập tới Giao ước. Trong bài đọc 1, sách Xuất Hành tường thuật THÁNHTHỂ-369

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều đề cập tới Giao ước. Trong bài đọc 1, sách Xuất Hành tường thuật nghi lễ ký kết giao ước giữa Thiên Chúa và dân Do Thái. Môsê cho giết bò, lấy máu của chúng rẩy một phần lên bàn thờ tượng trưng cho Thiên chúa và phần kia rẩy trên dân chúng. Máu tượng trưng cho sự sống, vì thế ý nghĩa của việc rảy máu là từ nay hai bên kết ước (Thiên Chúa và dân Do Thái) cùng một sự sống. Môsê lấy máu rảy trên dân chúng và nói: “Đây là giáo ước Đức Chúa đã lập với anh em”.Giao ước cũ ngày xưa ký kết ở núi Sinai được đóng dấu bằng máu chiên bò.
Bài đọc II, Thư Do thái xác định Đức Giêsu là Thượng tế Giao ước mới, thánh hóa nhân loại bằng chính máu của Ngài: “Người là trung gian của một giao ước, lấy cái chết của mình mà chuộc tội người ta đã phạm trong thời giáo ước cũ và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9, 14-15).
Trong bài Tin mừng, Thánh Marcô tường thuật bữa tiệc vượt qua cuối cùng của Đức Giêsu. Trong bữa tiệc ly này, Đức Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể và ký kết với toàn thể nhân loại một giao ước mới bằng chính máu của Người: “Anh em hãy cầm lấy đây là mình Thầy, và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông… Người bảo các ông: “Đây là Máu Thầy, máu giao ước đổ ra vì muôn người”.
Trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, Thiên Chúa đã ký kết một giao ước mới có tính trường tồn vĩnh viễn sẽ không bao giờ bị phá hủy và bảo đảm cho con người sự sống đời đời. Đó là bí tích Thánh Thể mà chúng ta cử hành trong thánh lễ để hiện tại hóa lễ hy sinh thập giá của Đức Giêsu hầu ban ơn cứu độ cho con người tời ngày tận thế. Thật vậy, mỗi lần cử hành thánh lễ là Giáo hội lập lại giao ước đã ký kết giữa Thiên Chúa và loài người nhờ máu của Đức Giêsu đổ ra trên thập giá.
Hôm nay lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Giáo hội nhắc nhở người Kitô hữu, những điều căn bản về bí tích Thánh Thể (Sách GLHTCG số 1322 – 1326):
– Bí tích Thánh Thể là Bí tích Tình yêu, một sáng kiến táo bạo nhất của Thiên Chúa tình yêu.
– Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống Kitô giáo, trung tâm đời sống tín hữu Kitô.
– Bí tích Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người và giữa con người với nhau.
– Bí tích Thánh Thể là món quà cao quý nhất Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại. Đó là chính Đức Kitô Giêsu.
– Bí tích Thánh Thể chính là lương thần cho cuộc sống người tín hữu và bảo đảm hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng ta: “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu ta sẽ sống đời đời”.
Mầu nhiệm tình yêu này vượt quá sự hiểu biết của con người. Đức Giêsu đã tự hiến trọn vẹn cho chúng ta, đến nỗi Người không thể cho chúng ta điều gì hơn thế nữa. yêu là cho đi, cho hết, cho cả cuộc đời.
Năm 1987 một trận động đất lớn đã xảy ra ở Acmênia thuộc khối Liên Xô cũ, giết chết hàng ngàn người. Thiệt hại to lớn về người và của cải vật chất. Trong số những người bị chôn vùi dưới đống gạch vụn có hai mẹ con bà Suzanna. Hai mẹ con may mắn nằm lọt trong một khoang trống nhỏ. Tất cả lương thực họ có chỉ là một hũ mứt nhỏ. Nhưng chẳng bao lâu hũ mứt cũng hết sạch. Lúc đó đứa con 4 tuổi kêu lên: “Mẹ ơi, con khát quá”.Bà Suzanna không biết tìm đâu ra nước cho con uống. Nhưng tình mẫu tử, vì thương con, bà đã có một sáng kiến vô cùng táo bạo: bà dùng miếng kính vỡ cắt đầu ngón tay mình cho chảy máu ra và đưa vào miệng cho con mút. Một lúc sau, người con lại kêu lên “con khát quá”. Bà lại cắt những đầu ngón tay cho con mút. Nhờ máu của người mẹ, mà cô bé sống. Cuối cùng lính cứu hộ đến cứu sống hai mẹ con. Người mẹ bất tỉnh, người con còn tỉnh táo. Hôm đó mẹ Têrêsa Calcutta cũng có mặt chứng kiến 2 mẹ con bà Suzanna được cứu sống. Người ta đưa 2 mẹ con vào nhà thương cấp cứu. Sau khi tỉnh lại, người mẹ được nhà báo hỏi:
– Lý do nào thúc đẩy bà có sáng kiến táo bạo như thế?
– Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết. Nhưng tôi muốn con tôi sống.
Câu chuyện thật cảm động. Bà Suzanna đã lấy máu của mình nuôi con vì muốn con bà sống. Bà đã hy sinh tất cả cho người con. Cũng vậy, vì yêu thương nhân loại, vì muốn nhân loại được sống, Đức Giêsu hy sinh, đã chết cho con người được sống. Trong bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu đã trở nên tấm bánh cho mọi người, chỉ vì yêu thương chúng ta.
Môn nay, lễ Mính Máu Thánh Chúa Giêsu, Giáo hội mong muốn người Kitô hữu:
– Yêu mến bí tích Thánh Thể qua việc siêng năng tham dự thánh lễ, nhất là thánh lễ Chúa nhật.
– Sống hiệp nhất và yêu thương phục vụ cho mọi người, để như Đức Giêsu Kitô, chúng ta trở nên tấm bánh cho anh em, cho mọi người.
Ước mong cuộc đời chúng ta là thánh lễ nối dài “Đem tình thương Thiên Chúa đến mọi nơi, ta sống sao để trở thành chứng nhân”. Amen.

 

THÁNHTHỂ-370: SUY NIỆM LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

Lm. Giuse Đinh Tất Quý
 

Mình Máu Thánh Chúa! Một mầu nhiệm vừa tế nhị vừa rất khó hiểu.  I. CÁI NHÌN LỊCH SỬ Cũng THÁNHTHỂ-370

Mình Máu Thánh Chúa! Một mầu nhiệm vừa tế nhị vừa rất khó hiểu.
 
  1.   CÁI NHÌN LỊCH SỬ
Cũng như Mầu nhiệm Phục sinh, mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa có liên hệ rất mật thiết với cuộc đời của mỗi người chúng ta
Để chuẩn bị cho các tông đồ đón nhận mầu nhiệm Phục sinh, Chúa đã thực hiện ba phép lạ:
1/ Cho con gái ông Giarô mới chết được sống lại.
2/ Phục sinh chàng thanh niên con bà góa thành Naim, đã chết, người ta đang khiêng đi chôn,
3/ Cuối cùng là phục sinh Lagiarô, người đã chết và đã chôn trong mộ bốn ngày.
Cũng vậy để chuẩn bị cho các tông đồ và những người tin Chúa đón nhận Màu nhiệm Thánh Thể, Chúa đã làm 2 phép lạ thật lớn: Hóa bánh ra nhiều hai lần và cộng thêm vào đó là một bài giảng rất dài và rất quyết liệt về Bánh hằng sống. Chúa nói thật rõ: “Thịt ta thật là của ăn và máu Ta thật là của uống – Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ được sống đời đời”
Lời Chúa là như thế nhưng tin vào bánh trở thành thịt và rượu trở thành máu Máu Chúa vẫn còn là một khoảng cách rất dài.
Vào thế kỷ thứ 8 tại Lucianô nước Ý, một linh mục dòng thánh Basiliô đang khi cử hành thánh lễ, sau khi truyền phép xong, bỗng đâm ra nghi ngờ sự hiện diện của Chúa dưới hình bánh ruợu thì lập tức Phép lạ đã xẩy ra ngay trong tay vị linh mục đó: Bánh trở nên thịt sống và rượu trở nên máu tươi.
Đây là phép lạ hàng đầu- và có thể coi là phép lạ lớn nhất trong số hơn 40 phép lạ Chúa đã làm trải dài qua dòng thời gian cho đến ngày hôm nay, để củng cố niềm tin của con người trước mầu nhiệm kỳ diệu này.
Phép lạ tại Lucianô còn được lưu giữ cho đến ngày hôm nay tại nhà thờ Thánh Phanxicô bên Ý. Giáo quyền đã cho phép thực hiện nhiều cuộc giảo nghiệm do giáo quyền cùng làm việc với những người chuyên môn:
Năm 1574 do Đức Cha Rodriguez.
Năm 1637 do Cha Tổng đại diện Giáo phận
Năm 1770 do Đức Cha Cervasone
Năm 1886 do Đức Cha Fetrarco
Và gần đây nhất vào thời đại của chúng ta, do nhu cầu cần phải xác minh thêm một lần nữa, giáo quyền đã cho phép thực hiện một cuộc giảo nghiệm mới, với những phương tiện mới hơn để khẳng định một cách khách quan hơn về tính cách lạ lùng của Phép lạ này.
Được giáo quyền cho phép, ngày 18/11/1970 các cha dòng Phanxicô, những người có trách nhiệm bảo lưu đã trao thánh tích cho một nhóm chuyên viên khoa học để họ làm công việc tế nhị và khó khăn này.
Nhóm này do Giáo sư Odoardo Linoli với sự cộng tác của Giáo sư Ruggero Bartelli thuộc đại học nổi tiếng Siena điều khiển.
Công việc được thực hiện một cách hết sức khoa học và nghiêm túc. Đến ngày 4/3/1971 tại nhà thờ Thánh Phanxicô chính Giáo sư Linoli chủ tọa buổi đúc kết công trình nghiên cứu trước sự hiện diện của giáo quyền, chính quyền, đại biểu giới văn học, y học. Các cuộc phân tích được minh họa bằng một loạt các hình ảnh chụp dưới kính hiển vi.
Sau đây là kết luận của công trình nghiên cứu được nhiều tạp chí khoa học trên thế giới đăng tải
Thịt này là thịt thật. Máu này đúng là máu thật.
Thịt và máu là thịt và máu của con người
Thịt và máu đều thuộc cùng nhóm A-B
Đồ hình của Máu này giống với đồ hình của máu người được trích lấy từ một cơ thể con người trong một ngày.
Thịt được làm thành từ mô cơ tim.
Thịt máu hoàn toàn giống với thịt máu củamột người sống thực sự.
Không hề tìm thấy dấu vết việc tẩm ướp mô tế bào bởi bất cứ một hóa chất nào được dùng trong kỹ thuật bảo trì bằng tẩm ướp.
Miếng thịt này được lấy ra từ phần thịt của trái tim một cách khéo léo tuyệt mỹ như do một nhà phẫu thuật tài ba thực hiện.
Hàm lượng các protéin chứa trong máu được phân phối đều đặn theo tỷ lệ y hệt như trong đồ hình protéin huyết thanh của máu tươi bình thường.
Trong máu có các chất chlorua, photspho, manhêdi, potassium, sodium và calcium.
Việc các di vật thánh này được lưu giữ một cách tự nhiên từ bao thế kỷ, bất chấp ảnh hưởng của những xúc tác vật lý, không khí. sinh vật…là một hiện tượng không sao giải thích được theo phương diện khoa học.
Như vậy chúng ta có thể nói sau khi được mời gọi để thẩm định, Khoa học đã nói lên tiếng nói khách quan của mình về phép lạ Chúa đã làm tại Lancianô.
 
  1.   CHÚA LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ ĐỂ LÀM GÌ?
a/ Trước hết để thực hiện một lời hứa: “Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế”
Thiên Chúa muốn được gần gũi với con người, tạo vật kỳ diệu nhất trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa.
Ngay từ trong Cựu Ước, ý muốn đó đã được nói lên:
* Nói lên bằng lời: “Niềm vui của Ta là được ở giữa loài người.”
* Nói lên một cách cụ thể bằng hòm bia thánh.
* Nói lên bằng một việc làm cụ thể: Đó là Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể – nói theo Cha Teilhard de Chardin –là để Chúa có thể hiện diện tràn lan trên khắp địa cầu.
b/ Để tiếp tục bày tỏ cho con người biết là Thiên Chúa luôn luôn yêu thương con người và cho con người được sống sự sống của Ngài.
Về điểm này Cha Teilhard de Chardin diễn tả rất hay: “Nhờ hiệu quả của việc Ngài dấn mình vào giữa lòng thế giới mà những dòng nước lớn của vật chất êm đềm có đầy sức sống. Nhìn bề ngoài thì chẳng có gì xao động dưới cuộc biến dạng khôn tả này. Tuy nhiên khi tiếp xúc với Lời Bản thể thì vũ trụ đã trở thành nhục thể Ngài cách kỳ diệu”.
Con người được sống chính sự sống của Thiên Chúa. Thiên Chúa chia sẻ sự sống của Chúa cho con người. Chẳng có gì hạnh phúc hơn. Chẳng có gì kỳ diệu hơn. 
c/ Cuối cùng, Chúa ở trong Bí tích Thánh Thể để giúp cho mọi người nhận ra mình là anh chị em với nhau trong Chúa.
Trong cuộc khủng hoàng con tin xẩy ra ở Pêru cách đây mấy năm. Một cuộc khủng hoảng dai dẳng, nghẹt thở kéo dài nhiều tuần lễ, người ta đã hết lời ca tụng một người. Người đó chính là cha Juan Julio Wicht. Ngài được thả vào ngày nhưng ngài tình nguyện ở lại. Việc Ngài ở lại đã làm nức lòng thủ lãnh của quân khủng bố. Ngày 18/4/1965 nhân ngày sinh nhật của Ngài, Nestor Cerpa Carlotini thũ lãnh quân khủng bố có gửi đến Ngài một điện văn như sau: “Mặc dù giữa chúng ta có những khác biệt nhưng chúng tôi muốn gửi đến cha những lời chúc tốt đẹp nhất nhân ngày sinh nhật của cha cũng như lòng kính trọng của chúng tôi với quyết định ở lại của cha”.
Sau này khi được hỏi về những ngày bị giam giữ, Cha Juan Julio Wicht đã nói: “Các du kích đã không làm gì xúc phạm đến chúng tôi trong lời nói cũng như trong việc làm”
Chính sự hiện diện của Cha đã làm cho mọi người đối xử tốt với nhau hơn.
Đây là tâm sự của Linh Mục Jacques Loew sau khi đã tìm hiểu về Bí Tích Thánh Thể: “Bây giờ tôi có thể nói như hai môn đệ Emmau: Tôi nhận ra Ngài lúc Ngài bẻ bánh. Chính lúc bẻ bánh chúng tôi mới nhận ra chúng ta là anh chị em trong Đức Kitô. Có những người mà trước đó gặp ngoài đường, chúng ta dửng dưng như người xa lạ, nhưng trên bàn tiệc thánh, chúng ta thấy gần gũi với nhau. Tôi gặp Chúa Kitô nơi họ, cũng như họ gặp Chúa Kitô nơi tôi. Bởi chúng tôi cùng tin Phúc Âm, cũng lãnh nhận một của ăn là Mình và Máu Thánh Chúa Kitô”

 

THÁNHTHỂ-371: HY TẾ TẠ ƠN

JM. Lam Thy
 

Bài Tin Mừng hôm nay (CN. IX/TN-B – Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô – Mc 14, 12-16.22-26) trình THÁNHTHỂ-371

Bài Tin Mừng hôm nay (CN. IX/TN-B – Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô – Mc 14, 12-16.22-26) trình thuật sự kiện Đức Giê-su và các môn đệ ăn tiệc Vượt Qua. Trong bữa ăn, Đức Ki-tô đã thực hiện 2 việc mang tính cách như là sự trối trăng của một người sắp từ giã cõi trần. Quả thật đây là một bữa tiệc chia ly giữa Thầy chí thánh và các môn đệ (Thầy bước vào cuộc khổ nạn: chịu chết trên thập giá), và vì thế bữa ăn này được gọi là Bữa Tiệc Ly. Hai việc Đức Ki-tô thực hiện trong bữa Tiệc Ly: * Việc thứ nhất là rửa chân cho các môn đệ nhằm dạy dỗ tinh thần phục vụ lẫn nhau và phục vụ tha nhân. * Việc thứ hai là trọng điểm của bữa Tiệc Ly: Thầy chí thánh ban “của ăn đàng” cho các môn đệ và nói chung là cho các Ki-tô hữu, cho cả nhân loại: đó là Mình và Máu thánh Đức Ki-tô (xc. Thông điệp Hội Thánh từ Thánh Thể “Ecclesia De Eucharistia”, số 11).
Ngay từ trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su Ki-tô đã giảng tại hội đường Ca-phác-na-um: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy.” (Ga 6, 53-56). Lời dạy này không chỉ làm cho đám người Do Thái sôi nổi tranh luận với nhau: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được”; mà còn khiến nhiều môn đệ của Người thốt lên: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi.” (Ga 6, 60).
Quả thật là khó nghe lọt tai được, bởi theo nghi thức Do Thái thì trong những dịp lễ lớn như lễ Vượt Qua, hy lễ toàn thiêu sẽ là chiên hay bò bị sát tế (Xh 24, 5), dùng máu rảy lên bàn thờ và trên đầu những người tham dự, còn thịt thì nướng chín để làm của ăn. Bây giờ Đức Ki-tô lại bảo ăn thịt và uống máu Người thì làm sao mà nghe cho được? Phải chờ đến đúng thời điểm, Đức Ki-tô đã cùng với các môn đệ tổ chức lễ Vượt Qua như một bữa Tiệc Ly, và nhân dịp này Người lập bí tích Thánh Thể. Khi lập bí tich Thánh Thể, Đức Giê-su dùng bánh và rượu để nói đến Thịt và Máu của Người làm hy tế toàn thiêu dâng lên Chúa Cha và cứu độ nhân loại. Tiếp liền theo đó là cuộc khổ nạn mà chính Mình Máu Thánh Chúa đã thực sự đổ ra trên thập giá. Chỉ đến lúc ấy, “Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.” (Mt 27, 54).
Điều khó tin và chướng tai đối với người Do Thái và các môn đệ đã thực sự xảy ra: Cuộc tử nạn của Đức Giê-su chính là một hy lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa Cha. để đền tội cho toàn thể nhân loại. Cuộc sát tế chính Con Thiên Chúa – thay vì chiên sát tế – mang 2 chiều kích rõ rệt: chiều kích “vì Thiên Chúa” biểu hiện tình yêu tuyệt đối trong vâng phục Thánh ý Thiên Chúa Cha + chiều kích “vì con người” biểu hiện tình yêu vô song đối với nhân loại tội lỗi, nhằm cứu vớt, giải thoát họ khỏi sự chết đời đời. Như vậy, Bí tích Thánh Thể (trên Hy tế Thập giá) chính là suối nguồn Tình Yêu đích thực: chiều doc (thẳng đứng) thể hiện tình yêu Cha con giữa Thiên Chúa với loài người (MẾN CHÚA hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực) + chiều ngang thể hiện tình yêu đồng loại (YÊU NGƯỜI như yêu chính mình).
Về bữa Tiệc Ly, sách Giáo lý HTCG (số 1323-1324) đã dạy: “Trong bữa tiệc sau hết, vào đêm bị nộp, Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã thiết lập Hy Tế Tạ Ơn bằng Mình và Máu Người, để nhờ đó, Hy Tế Khổ Giá kéo dài qua các thời đại cho tới khi Người lại đến, và cũng để ủy thác cho Hiền Thê yêu quý của Người là Hội Thánh tưởng nhớ sự chết và phục sinh của Người: đây là bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái, bữa tiệc Vượt Qua. Trong tiệc này, chúng ta nhận được Chúa Ki-tô làm của ăn, được tràn đầy ân sủng và được bảo đảm vinh quang tương lai” (SC 47). Quả thật “Bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Ki-tô hữu” (x. LG 11). “Những bí tích khác cũng như các thừa tác vụ và các hoạt động tông đồ đều gắn liền với bí tích Thánh Thể và qui hướng về đó. Thật vậy, phép Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó là chính Chúa Ki-tô, Người là mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta.” (PO 5).”
Để hiểu được Mầu nhiệm Thánh Thể, không gì bằng học trong Thông điệp Hội Thánh từ Thánh Thể “Ecclesia De Eucharistia” do Thánh GH Gioan-Phaolô II ban hành đúng vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh (17/4/2003). Mở đầu Thông điệp (số 1), Thánh GH viết: “Hội Thánh múc nguồn sự sống từ Thánh Thể. Sự thật này không chỉ đơn thuần diễn tả một kinh nghiệm thường nhật của đức tin, nhưng tóm kết cốt lõi của mầu nhiệm Hội Thánh… Hội Thánh vui hưởng sự hiện diện này với một cường độ mãnh liệt duy nhất. Kể từ ngày lễ Ngũ tuần, khi Hội Thánh, Dân của Giao ước Mới, bắt đầu cuộc hành trình đi về Quê trời, Bí tích thần thiêng tiếp tục ấn dấu trên ngày sống, bằng cách tuôn đổ trên họ niềm hi vọng tin tưởng.” Chỉ cần đọc bố cục của Thông điệp đã đủ thấy Mầu nhiệm Thánh Thể là chóp đỉnh Tình Yêu, là “nguồn gốc và tuyệt đỉnh của đời sống Ki-tô hữu”:
Chương I: MẦU NHIỆM ĐỨC TIN: Quả thật, bản chất hy tế của Thánh Thể là “Mầu nhiệm đức tin”. Việc cử hành Thánh lễ tái hiện mầu nhiệm Thánh Thể không phải là một sự lập lại lễ Vượt qua của Đức Ki-tô, hay là việc nhân lễ ấy lên nhiều lần trong những thời gian và nơi chốn khác nhau; nhưng đó là hy tế duy nhất trên Thánh Giá, được tái diễn cho đến tận thế.
Chương II: BÍ TÍCH THÁNH THỂ XÂY DỰNG HỘI THÁNH: Thánh Thể trong hình Bánh và Rượu đã truyền phép là sức mạnh sinh ra sự hiệp nhất trong Hội Thánh. Hội Thánh được kết hiệp với Chúa Cứu Thế đang ở trong Hội Thánh và xây dựng Hội Thánh. Hội Thánh tôn thờ Người không những trong Thánh Lễ, nhưng còn trong mọi thời khắc khác, gìn giữ như “kho tàng” quí báu nhất của mình.
Chương III: ĐẶC TÍNH TÔNG TRUYỀN CỦA BÍ TÍCH THÁNH THỂ VÀ CỦA HỘI THÁNH: Hội thánh đã và vẫn còn được thiết lập “trên nền móng các tông đồ” (Ep 2, 20), là những chứng nhân được chính Đức Ki-tô tuyển chọn và sai đi truyền giáo. Thánh Thể cũng đặt nền tảng trên các tông đồ, bởi vì nó được Đức Giê-su ủy thác cho các tông đồ, và được truyền lại cho chúng ta bởi các tông đồ và những người kế vị các ngài. Chính trong sự tiếp nối với hành động của các tông đồ và vâng theo lệnh truyền của Chúa mà Hội thánh cử hành Thánh Thể trong suốt các thời đại.
CHƯƠNG IV: THÁNH THỂ VÀ SỰ HIỆP THÔNG CỦA HỘI THÁNH: Trong cuộc lữ hành trên trần thế, Hội Thánh được mời gọi gìn giữ và cổ võ sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa và sự hiệp thông giữa các tín hữu. Vì mục tiêu ấy, Hội Thánh có được Lời Chúa và các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, nhờ đó, Hội Thánh “luôn sống động và tăng triển”. Bản tính Giáo Hội là hịêp thông và từ hiệp thông đã trở nên một trong số những tên gọi của bí tích cao vời này.
Chương V: PHẨM GIÁ CỦA VIỆC CỬ HÀNH THÁNH THỂ: Việc cử hành “Thánh lễ” mang những dấu bên ngoài nhằm làm nổi bật niềm vui đã quy tụ các tín hữu chung quanh quà tặng vô giá là Bí tích Thánh Thể. Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn chương và nói chung, tất cả mọi hình thức nghệ thuật chứng tỏ rằng, qua bao thế kỷ, Hội Thánh luôn tôn trọng và duy trì sự phát triển của nghệ thuật thánh và kỷ luật phụng vụ. “Đó chính là đường hướng đã được Công đồng Va-ti-ca-nô II cổ võ liên quan đến nhu cầu “hội nhập văn hoá” cách lành mạnh và thích hợp.”
Phần kết luận: “Trong dấu chỉ khiêm hạ của bánh và rượu, được biến đổi thành Mình và Máu, Đức Ki-tô đồng hành với chúng ta như một nguồn sức mạnh và của ăn đàng, và Người biến chúng ta thành những chứng nhân của niềm hy vọng cho anh chị em chúng ta. Đối diện với mầu nhiệm này, nếu trí khôn cảm thấy những giới hạn, thì trái lại, con tim, được ân sủng Chúa Thánh Thần soi sáng, biết phải có thái độ nào, đó là đắm chìm trong sự tôn thờ và tình yêu vô biên.”
Thánh Au-gus-ti-nô đã dạy:.”Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài”.  Chính vì thế, trong Sắc lệnh Truyền Giáo “Ad Gentes” (số 35), Thánh Gio-an Phao-lô II cũng dạy: “Tất cả các tin hữu vì là chi thể của Chúa Ki-tô hằng sống, được tháp nhập vào Người và nên giống Người nhờ Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể, nên họ có bổn phận phải cộng tác vào việc phát triển và bành trướng Thân Thể Người, để Thân Thể này được sung mãn càng sớm càng hay.” Vâng, mỗi Ki-tô hữu hãy nhìn lại mình để thấy được là: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.” (Gl 2, 20).
Như vậy là với cái thân xác yếu hèn, người Ki-tô hữu đã được Đức Ki-tô Phục Sinh tháp nhập vào thân thể Người để trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Vậy thì tại sao ta lại không thể toàn tâm toàn ý cộng tác với Giáo hội trong sứ vụ phát triển và bành trướng Thân Thể Người, để Thân Thể này được ngày càng sung mãn? Tóm lại, cũng vì mầu nhiệm Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Ki-tô hữu” (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội “Lumen Gentium”, số 11), đồng thời “Bí tích Thánh Thể biểu thị và thể hiện chính thực chất của Hội Thánh là hiệp thông đời sống với Thiên Chúa và hiệp nhất Dân Thiên Chúa.” (Giáo lý HTCG, số 1325), nên có rất nhiều danh xưng (Giáo lý HTCG, số 1328-1331):
Bí tích Thánh Thể được gọi là Lễ Tạ Ơn (x. Lc 22, 19; 1Cr 11, 24), là Bữa Ăn của Chúa, là Lễ Bẻ Bánh (x.Cv 2, 42.46; 20, 7.11; Mt 26, 26; 1Cr 11, 24), là Hy Lễ Thánh, là “Hy tế Thánh lễ”, “Hy lễ Ca ngợi” (x. Dt 13, 15; x. Tv 116, 13.17), Hy lễ Thiêng liêng (x. 1Pr 2, 5), Hy lễ Tinh tuyền (x. Ml 1.11). Riêng Thánh Phao-lô gọi là Đồng Bàn (Synaxis – x. 1Cr 11, 17-34), là cuộc Tưởng Niệm Chúa Giê-su chịu chết và sống lại. Bí tích Thánh Thể được gọi là Phụng vụ Thánh thiện và Thần linh, vì là tâm điểm và cách diễn tả cô đọng nhất của toàn thể Phụng vụ Hội Thánh. Cũng vì thế, bí tích Thánh Thể được gọi là Mầu Nhiệm Rất Thánh, Bí Tích Cực Thánh, vì là bí tích trên các bí tích. Bí tích Thánh Thể còn được gọi là Bí tích Hiệp Thông, vì kết hợp người tín hũu với Chúa Ki-tô, Đấng ban Mình và Máu Người để tất cả trở nên một thân thể (x. 1Cr 10, 16-17). Khi đã hiểu rõ được vấn đề, người Ki-tô hữu hãy sốt sắng tham dự Thánh Lễ, tích cực “Đồng Bàn” (Synaxis) với Hội Thánh trong bí tích Hiệp Thông, dâng lên Thiên Chúa Hy tế Tạ Ơn. Ước được như vậy.
Ôi! Lạy Chúa Cha toàn năng hằng hữu! Đức Giê-su là Thiên Chúa mà lại yêu thương con người như vậy, đang khi chúng con cùng là con người với nhau, cùng chịu đau khổ như nhau, mà chúng con lại hờ hững không thông cảm nhau, không yêu thương nhau, không quan tâm tới nhau. Chúng con quá ích kỷ, tình yêu của chúng con quá nghèo nàn. Cúi xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn yêu mến Thánh Thể và siêng năng rước Chúa vào lòng, cũng như chia sẻ cho anh em Mình Máu Chúa như một bảo đảm cho sự sống đời đời của chúng con.
Ôi! Lạy Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh! “Trong hình bánh Chúa náu thân khó hèn. Con dù không thấy luôn vững niềm tin. Đây chính Máu Thịt Con Đức Chúa Trời. Là Vua trên hết các vua trần ai. Con xin kính tin sấp mình thờ lạy Chúa, và dâng tiến lên niềm yêu mến chân thành. Từ nay con quyết sống tình yêu Chúa. Ở nơi thế gian và trên chốn Thiên đình.” (“Lòng Chúa Ái Tuất” – Nguyễn Bang Hạnh – TCCĐ). Amen.

 

THÁNHTHỂ-372: CẢM NGHIỆM PHÉP LẠ THÁNH THỂ

Lm Trần Bình Trọng
 

Trước khi về trời, Ðức Giêsu không nỡ để các môn đệ mồ côi, Chúa để lại cho các môn đệ một THÁNHTHỂ-372

Trước khi về trời, Ðức Giêsu không nỡ để các môn đệ mồ côi, Chúa để lại cho các môn đệ một kỉ vật cao quí là Mình Máu thánh Người trong Bí tích Thánh thể, để làm của ăn uống thiêng liêng cho người tín hữu, ban sức mạnh linh thiêng và niềm an ủi cho dân Người: Ðây là mình Thầy (Mc 14:22). Rồi Người cầm lấy chén rượu mà phán: Ðây là máu Thầy, máu Giao ước đổ ra cho muôn người (Mc 14:24).
Giao ước mới giữa Thiên Chúa với dân Người không phải được kí kết bằng máu hiến tế của chiên cừu, mà Môsê đã dùng trong Cựu ước (Xh 24:6-8), nhưng bằng máu Con Thiên Chúa được ghi lại trong Phúc âm hôm nay và được thánh Phaolô thuật lại trong thư gửi tín hữu Do thái (Dt 9:14). Để tiếp tục Bí tích Thánh thể, Chúa còn lập chúc linh mục. Thánh lễ misalà việc làm mới lại lễ hi sinh thánh giá. Tham dự vào bàn tiệc thánh là dấu chỉ người tín hữu chấp nhận giao ước mới với Thiên Chúa.
Nếu có ai hỏi người công giáo xem họ có tin vào sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh thể không, chắc ai cũng trả lời là có. Ðó là một trong những điểm khác biệt giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Tin lành. Người Công giáo tin có Chúa hiện diện thực sự trong Bí tích Thánh thể, do lời truyền phép của linh mục trong thánh lễ. Việc Chúa hiện diện trong Bí tích Thánh thể là một mầu nhiệm mà người ta chỉ có thể chấp nhận được bằng đức tin. Ðó là lí do tạo sao Giáo hội qua linh mục chủ tế mời gọi cộng đoàn tuyên xưng mầu nhiệm đức tin sau lời truyền phép bánh rượu.
Tuy nhiên trong số những người có đức tin vững mạnh cũng có thể có khi hồ nghi về sự hiện diện thực của Chúa trong Bí tích Mình thánh. Có khi nào ta bị lung lạc trước những tiếng cám dỗ bảo ta: điều gì không nên tin, việc gì không nên làm, vấn đề gì cần phải được xét lại không? Có bao giờ ta hồ nghi không biết bánh rượu có thực sự trở thành Mình Máu thánh Chúa hay không, sau khi khi linh mục chủ tế đọc lời truyền phép trong thánh lễ: Ðây là Mình Thầy.. Ðây là Chén Máu Thầy. Sở dĩ có câu hỏi như vậy là vì bánh rượu sau khi được truyền phép trông bề ngoài không khác biệt bánh rượu trước khi truyền phép?
Nếu quả thật bánh rượu sau khi được truyền phép không biến đổi thành Mình Máu thánh Chúa thì muôn vàn thánh lễ được cử hành trên bàn thờ trên khắp thế giới từ xưa đến nay  là giả tạo sao? Chẳng lẽ từ khi Chúa lập Bí tích Thánh thể và lập chức linh mục, có vô vàn vô số linh mục trên thế giới đã đọc lời truyền phép trên bánh rượu khi dâng lễ mà lại không tin sao? Nếu không tin, thì sao khối linh mục này có thể tự dối mình mà tiếp tục dâng thánh lễ được? Có thể giả sử rằng có những linh mục đôi khi cũng hồ nghi về sự hiện diện của Chúa trong Bí tích Thánh Thể. Hi vọng những giây phút hồ nghi đó không kéo dài bao lâu.
Vào năm 1263, một linh mục người Ðức, nổi tiếng về khôn ngoan và đạo đức, nhưng lại đa nghi: cho rằng sao bánh rượu sau khi truyền phép có thể trở thành thịt máu thánh Chúa? Vào một dịp kia khi linh mục đương sự đến thăm Bolsena, Ý Đại Lợi, xin dâng thánh lễ tại nhà thờ thánh Christina. Lúc đọc lời truyền phép, thấy bánh thánh biến thành thịt có vết máu và khăn thánh có thấm máu. Hoảng sợ, linh mục đó ngừng dâng lễ, đặt Mình Thánh với lòng kính tin và tôn thờ vào nhà trạm, ăn năn sám hối về tội hồ nghi, vội vàng đến xưng thú tội với Ðức Giáo hoàng Urbano I đang cư ngụ tại Orvieto gần Bolsena lúc bấy giờ. Ðức Giáo hoàng cho rước Mình Thánh Chúa qua phép lạ về nhà thờ chính toà Orvieto và đặt trong nhà trạm. Đó là buổi rước kiệu Thánh Thể đầu tiên trong Giáo hội. Năm sau: 1264, Ngài thiết lập lễ Mình Máu Thánh Chúa. Hằng năm vào ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa, phép lạ Thánh Thể này được trưng bầy cho dân chúng đến chiêm ngưỡng. Ngoài ra còn có những phép lạ Thánh Thể khác xẩy ra tại Ý Đại Lợi. (1)
Cứ giả sử người công giáo tin trong đầu óc rằng có Chúa hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, và khi rước lễ là rước Mình Thánh Chúa. Tuy nhiên ta có cảm nghiệm được bằng con tim có Chúa hiện diện thực sự trong Bí tích Mình Máu Thánh không, lại là chuyện khác. Ðể có thể cảm nghiệm được sự hiện diện thực sự của Chúa trong Bí tích Thánh Thể, ta đáp trả lời Chúa mời gọi: Hỡi tất cả những ai đang vất vả, mang gánh nặng nề, hãy đến với ta, ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11:28).
Ðể có được cảm nghiệm về việc cầu nguyện trước Mình Thánh Chúa, ta đến cầu nguyện và thờ lạy trước Thánh Thể Chúa, để bày tỏ nỗi lòng với Chúa, để trút những gánh nặng của cuộc sống, những nỗi khổ tâm của cõi lòng, những tủi hổ của đời mình vào lòng từ ái của Chúa. Bày tỏ tâm tình với Chúa khi đến nhà thờ dâng thánh lễ hay cầu nguyện, mà có người khác đang hiện diện, có thể khó lòng, nhất là đối với người hay mắc cở. Nếu vậy thì có thể tìm đến với Chúa vào giờ thanh vắng trong dịp tĩnh tâm, để ở một mình với Chúa, để có thể tâm sự với Chúa hay chỉ cần ngồi đó thinh lặng, cho lòng mình nói với Chúa. Ta cũng có thể đến bất cứ nhà thờ công giáo nào lúc vắng người, để ở một mình với Chúa.
Trước Thánh Thể Chúa mà cảm thấy nước mắt tự nhiên trào ra, thì cứ để cho dòng lệ tuôn chảy. Ðó có thể là nước mắt đau khổ, nước mắt thống hối, nước mắt tủi hổ, nước mắt sợ hãi, nước mắt cô đơn, thất vọng. Nước mắt trào ra cũng có thể được coi là phép lạ Thánh Thể, bởi vì có những người chỉ có thể khóc được trước Thánh Thể Chúa mà thôi. Lần kia một linh mục VN kia sống ở ngoại quốc quyết định đi cấm phòng riêng tại một tu viện nhỏ. Chiều tối linh mục đương sự vào nhà nguyện một mình, quì trước Thánh Thể Chúa ngự chỉ cách nhà trạm khoảng một mét. Trước khi nói ra lời, nước mắt linh mục đó tuôn trào đầm đìa trên hai gò má. Từ đó đời ông linh mục đó, về một vài phương diện nào đó được thay đổi.
Khi mẹ Têrêsa thành Calcutta được hỏi tại sao bà có đủ nghị lực để tiếp tục phục phụ người nghèo bên Ấn độ một cách liên tục và hăng say như vậy? Bà trả lời Chúa Thánh Thể là sức mạnh của bà và bà cầu nguyện hằng giờ trước Mình Thánh Chúa. Chúa bảo ta qua thánh Phêrô: Con lại không thức (với Thầy) được một giờ sao (Mc 14:37)? Ðể đáp lại lời Chúa mời gọi, Chúa bảo ta canh thức và cầu nguyện với Chúa một giờ trước Thánh Thể Chúa. Nếu lần đầu không cảm thấy gì, thì lần sau, rồi lần sau nữa, xem lời Chúa và Mình Thánh Chúa có sức tác động và biến đổi tâm hồn và đời sống không, xem Chúa có thực sự là sức mạnh, là nguồn vui, là niềm an ủi, là sự cậy trông và là lẽ sống của đời ta không? Giờ phút cảm nghiệm được sự thân mật với Chúa, đến với mỗi người vào những thời điểm, hoàn cảnh và trường hợp khác nhau. Không mấy ai giống ai. Đây, lời Thánh vịnh ghi lại: ‘Hãy nghiệm xem Thiên Chúa tốt lành dường bao; hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người (Tv 34:9).
Lời cầu nguyện xin cho cảm nghiệm được sự gần gũi với Chúa Thánh Thể:
Lậy Chúa Giêsu Thánh thể!
Khi nào qùi bên nhà trạm, có Thánh thể Chúa ngự,
một mình con với Chúa, trong bóng tối mập mờ,
xin Chúa làm thức tỉnh tâm hồn con,
cho con cảm nghiệm được rằng Chúa ở đó thực sự.
Và Chúa mong chờ con bày tỏ nỗi lòng với Chúa.
Xin Chúa nói thầm với con,
sao cho lòng con nghe được tiếng Chúa.
Và xin ban cho con một dấu chỉ
để con không bao giờ quên Chúa. Amen.
___________________________
Phép lạ Thánh thể ghi trong bài này được tóm tắt từ: Coggi, R. Little Catechism on the Eucharist. New Hope, Kentucky. New Hope Publications, 2005, trang 62-65. Có thể xem thêm những phép lạ Thánh thể khác, trang 56-79 hoặc xem trong bài: ‘Lời mời gọi tin và ăn bánh hằng sống’, trong tập Hằng tuần Chúa nói với Ta – Ta đáp trả lời Chúa, Năm B, Chúa nhật 20, trang 196-197 của Lm Trần Bình Trọng.

 

THÁNHTHỂ-373: HIẾN TẾ TÌNH YÊU

 Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
“Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy…
“Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.”
I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (14,12-16.22-26):
12 Hôm ấy nhằm ngày thứ nhất trong tuần Bánh không men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giê-su: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?” 13 Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó. 14 Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu? 15 Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta.” 16 Hai môn đệ ra đi. Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.
22 Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” 23 Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. 24 Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. 25 Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa.” 26 Hát thánh vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Ô-liu.
II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (14,12-16.22-26):
 

Đức Giê-su mừng Lễ Vượt Qua của người Do-thái với các tông đồ lần sau cùng, tại nhà THÁNHTHỂ-373

2.1 Đức Giê-su mừng Lễ Vượt Qua của người Do-thái với các tông đồ lần sau cùng, tại nhà một người bạn ở Giê-ru-sa-lem. Trong bữa Tiệc Vượt Qua ấy Đức Giê-su đã thực hiện một việc kỳ diệu: trao ban Mình và Máu Ngài cho các môn đệ làm của ăn của uống, làm lương thực thiêng liêng, làm giá cứu chuộc nhân loại, làm bảo chứng Tình Yêu Cứu Độ của Thiên Chúa.
2.2 Tiệc Thánh Thể gắn liển với Tiệc Vượt Qua của Cựu Ước nên Chúa Giê-su thay thế Chiên Vượt Qua và tất cả các lễ vật của Cựu ước (chiên, dê, bò..), vì những lễ vất ấy không đem lại hiệu quả mà con người cần đến là xóa tội. Trong thư gửi tín hữu Do-thái Thánh Phao-lô đã viết:
“ Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi. Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.
Trước hết, Đức Ki-tô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền.  Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.” (Dt 10,4-10).
III. THỰC THI  LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (14,12-16.22-26):
3.1 Từ ngày đựoc thành lập sau Lễ Ngũ Tuần các Cộng Đoàn Ki-tô hữu luôn trân trọng Bữa Tối của Chúa và cử hành bữa ăn ấy một cách trân trọng và thân tình. Tiệc Thánh Thể hay Lễ Tạ Ơn luôn là trọng tâm của đời sớng phụng tự của các Ki-tô hữu. Rước Mình và rước Lời luôn là hai hành động chính yếu của những người khao khát đời sống thần linh của Thiên Chúa.
3.2  Nhìn bên ngoài bằng giác quan con người, nhiều khi chúng ta thấy vô cùng khó tin sự việc diễn ra trên bàn thờ:  tấm bánh không men và ly rượu nho tinh khiết ”được truyền phép” đã trở thành Thịt và Máu Chúa Ki-tô. Thật khó tin. Nhưng không thể không tin vì những lời xác quyết của chính Đức Giê-su trong Tin Mừng. Đó đây trong dòng lịch sử của Hội Thánh đã xẩy ra nhiều Phép Lạ Thánh Thể để củng cố lòng tin của các tín hữu.
IV. CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ (14,12-16.22-26):
Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, chúng con chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Chúa
về mầu nhiệm mà Chúa đã mạc khải cho chúng con,
về hồng ân mà Chúa đã ban cho chúng con là được Mình Máu Chúa nuôi dưỡng và cứu chuộc. 
Xin Chúa ban cho chúng con một đời sống kết hợp mật thiết Chúa để chúng con tham dự vào Hiến Tế Tình Yêu của Chúa.
Chúng con cầu xin Chúa là Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn muôn đời. Amen.

 

THÁNHTHỂ-374: NÀY ĐÂY BÁNH CỦA CÁC THIÊN THẦN

Lm. Daminh Nguyễn Ngọc Long
 

Ecce panis angelorum – Này đây bánh của các thiên thần, Hằng năm có hai lễ mừng kỷ niệm THÁNHTHỂ-374

Ecce panis angelorum – Này đây bánh của các thiên thần,
Hằng năm có hai lễ mừng kỷ niệm Bí tích Thánh Thể Mình Máu Thánh Chúa Kitô: Thứ năm tuần Thánh và ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô.
Lễ trọng mừng kính Mình Máu thánh Chúa Giêsu Kitô vào ngày thứ Năm của tuần lễ thứ hai sau lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Nhưng nhiều nơi trên thế giới mừng ngày này vào Chúa Nhật.
Ngày lễ trọng được mừng kính từ 1246 ở Giáo Phận Liege bên Bỉ. Nguồn gốc lễ mừng này bắt nguồn từ thị kiến của Thánh nữ Juliana thành Liege , thuộc Dòng Augustino. Năm 1209 Thánh nữ Juliana thuật lại khi cầu nguyện ngây ngất trong một thị kiến đã xem thấy mặt trăng có một điểm đốm tối. Chúa Giêsu Kitô đã cắt nghĩ cho chị biết rằng, mặt trăng mang hình ảnh biểu tượng chu kỳ phụng vụ của Hội Thánh, và điểm đốm tối nơi đó biểu hiện sự còn thiếu ngày lễ mừng kính Bí tích bàn tiệc thánh thể.
Từ thị kiến tường thuật đó của Thánh nữ Juliana, Đức Giám Mục thành Liege đã thiết lập ngày lễ mừng Mình Máu Thánh Chúa trong giáo phận của ngài.
Năm 1264 Đức Giáo Hoàng Urban IV. đã ban hành tông hiến „Transiturus de hoc mundo“ thành lập ngày lễ mừng này trong toàn thể Hội Thánh Công Giáo.
Năm 1215 Công đồng Latarano IV. đã đưa ra tín lý về Bí Tích Thánh Thể. Hội Thánh Công Giáo tin nhận rằng, trong thánh lễ Bánh và Rượu sau lời truyền phép trở nên Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô, và Chúa Giêsu Kitô luôn hiện diện thât sự nơi Bí Tích Thánh Thể trong hình dạng Bánh và Rượu
Thánh Thomas Aquino đã trước tác lời cầu nguyện ca tụng riêng cho lễ mừng kính này: Panis angelicus, Pange lingua, Adoro te devote, Verbum supernum prodiens và bài ca tiếp liên Lauda Sion.
Bài ca tiếp liên ngày lễ trọng mừng kính có câu: Ecce panis angelorum, factus cibus viatrorum, vere panis filiorum – Đây là bánh các thiên thần biến thành lương thực của khách hành hương; thực là bánh của những người con cái.
Phải, qua nhờ ơn Chúa, chúng ta trở nên con cái Chúa. Bí tích Thánh thể là lương thực nuôi dưỡng con người. Lịch sử dân Israel ngày xưa đi trong sa mạc trở về quê hương đất Chúa hứa, đã được Chúa ban cho họ Manna làm lương thực nuôi dưỡng họ không bị đói khát.
Cũng vậy, Bí tích Thánh Thể mình máu Chúa Giêsu Kitô là lương thưc không thể thiếu cho đức tin tâm hồn mọi thế hệ tín hữu Chúa Kitô.
Lương thực thần linh này mang đến sức sống cho tâm hồn đức tin người tín hữu trên con đường sa mạc trần gian thế giới.
Trong một thế giới vì hệ thống kinh tế, ý thức hệ chính trị đưa đến những yêu cầu thách thức đòi hỏi qúa mức làm cho đời sống bị khô héo mệt mỏi hao mòn.
Trong một thế giới lý luận của sức mạnh uy quyền chiếm ưu thế thống trị, nơi mà sự phục vụ và tình yêu thương bác ái mất chỗ đứng.
Trong một thế giới nền văn hóa sức mạnh và sự tàn bạo phá hủy đưa đến sự chết chiếm lĩnh trên tay chiếm ưu thế không phải là họa hiếm, làm cho đời sống thành ra âu lo hoài nghi.
Dẫu vậy, Chúa Giêsu Kitô không bỏ rơi con người chúng ta. Nhưng Ngài đến, và trao tặng chúng ta sự an ủi tin tưởng: Ngài chính là „Bánh hằng sống“, như Ngài nói trong phúc âm: Thầy là Bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ có sự sống đời đời.
Thánh sử Marco thuật lại Chúa Giêsu làm phép lạ „ hai chiếc bánh và năm con cá“ hóa ra nhiều làm lương thực cho hằng năm ngàn người ăn no đủ dư thừa, đang lúc họ đói dọc đường ở nơi hoang vắng. ( Mc 6,30-44). Đây là hình ảnh lời tiên báo về Bí Tích Thánh Thể Chúa Giêsu thiết lập ngày thứ năm tuần thánh trước khi hy sinh chịu chết.
Ước muốn của Chúa Giêsu Kitô lập Bí Tích Thánh Thể là lương thực cho tâm hồn con người. Và Hội Thánh Công Giáo theo ý muốn đó, xưa nay luôn hằng với lòng tôn kính cao độ duy trì nếp sống Bí Tích Thánh Thể là trung tâm đời sống đức tin, như trái tim là trung tâm luân chuyển sự sống của con người. Vì thế, Thánh lễ Misa được cử hành liên tục hằng ngày khắp nơi trên thế giới.
Trong nếp sống đạo Công Giáo nhiều nơi, nhất là bên các xứ đạo Âu Châu có tập tục kiệu rước Mình Thánh Chúa ngang qua đường phố trong xứ đạo ngày lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa muốn nói lên sự tôn kính, và đồng thời cũng muốn nói lên lời cầu xin chúc phúc lành Mình Thánh Chúa cho con người đang sinh sống nơi đây được ân đức bình an, niềm vui và tình yêu thương cho đời sống.

 

THÁNHTHỂ-375: PHÚC LỘC THỌ

Lm. Jos. DĐH.
 

Đối với người học trò, kết quả mỗi kỳ thi là câu trả lời rõ nhất họ đã phấn đấu học tập thế nào THÁNHTHỂ-375

Đối với người học trò, kết quả mỗi kỳ thi là câu trả lời rõ nhất họ đã phấn đấu học tập thế nào ; nỗi niềm lớn nhất của bậc cha mẹ là thấy được sự trưởng thành và hạnh phúc nơi con cháu. Ơn cha nghĩa mẹ, hay tình thầy trò, có thể chưa biến đứa trẻ thành người lớn, không chắc gì đã giúp người đệ tử thông suốt mọi lý lẽ ở đời, tuy nhiên các ngài vẫn có quyền hy vọng điều các ngài đã đầu tư. Thông thường, người ta đi lễ, đi chùa, họ cầu phúc cầu lộc, họ chúc nhau an khang trường thọ, nhưng không phải một năm mà cả một đời người, họ mong phúc đến lộc đầy, được bách niên giai lão, vẫn không phải là thừa dư. Thực ra thì được hạnh phúc, được sự sống đời đời, luôn là một mơ ước của con người, Đức Giêsu hôm nay đã dẫn dắt các học trò đi xa hơn, sâu hơn, về việc sống thọ, sống ân phúc, sống nén bạc Chúa ban là thế nào.
Tiền nhân chúng ta đã từng nói: có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo ; một miếng lộc thánh, bằng gánh lộc trần, có đức mặc sức mà ăn, hoặc kính già, già để tuổi cho. Không mấy ai so sánh “phúc, lộc, thọ”, với “tiền tài danh vọng”, dù vậy, mỗi khi con cháu đi lễ chùa, thương nhớ và cầu phúc cho các đấng bậc đã qua đời chưa chắc đã bao nhiêu, nhưng mơ ước có được phúc đức của tổ tiên, hẳn là nhiều hơn. Mừng kính Mình Máu Chúa, người kitô hữu chúng ta không ai lầm tưởng Mình Máu Chúa là thứ bánh vật chất, không còn quan niệm “phúc, lộc, thọ”, mà Chúa Giêsu ban phát chỉ nhằm duy trì sự sống ở đời này. Trong bầu khí cử hành “tiệc vượt qua” với các học trò như luật dạy, Đức Giêsu nâng việc ăn chiên cừu và uống rượu nho, trở thành Bí tích cứu độ từ hôm đó, nhằm xác tín hơn về “phúc, lộc, thọ” Ngài ban, là đảm bảo cho sự sống đời đời.
Trong tư cách là Thầy dạy, Đức Giêsu không chỉ về kỹ thuật ăn uống, hoặc cử hành “tiệc vượt qua” như một công thức suông, Ngài đã “làm mẫu” cho các học trò cảm nhận vô cùng sống động: “Này là Mình Ta, Này là Máu Ta”. Hạnh phúc dành cho các môn đệ, ân lộc được ban cho các học trò, Bánh trường sinh nuôi người dương thế, đúng là phép lạ, là sự hiện diện, đã và đang biến đổi tâm tính mỗi người khi đến với tình yêu thương của Ngài. Lễ vượt qua của thời xa xưa được Đức Giêsu nâng lên thành Lễ Vượt Qua của Tân Ước, biến cố vượt qua không còn mừng kính như một kỷ niệm mang tính lễ nghi. Lễ Vượt qua của Đức Giêsu mãi mãi trở thành Bí tích cứu độ, còn gọi là Bí tích tình yêu, bảo đảm sự sống đời đời cho tất cả những ai tin và lãnh nhận.
Tình yêu thương của Đức Giêsu không chỉ giới hạn nơi các tông đồ, Lễ Vượt Qua mà Chúa Giêsu cử hành đã mở rộng đến toàn thể nhân loại, và được mặc nhiên gọi là Bí tích cứu độ. Phúc, lộc, thọ, từ nay không còn hiểu theo nghĩa đen, nhưng mang một ý nghĩa cao trọng: Mình Máu Chúa là thần lương nuôi linh hồn, là ơn ban, là sức mạnh giúp người tín hữu thắng vượt khó khăn, cám dỗ. Phúc, lộc, thọ, hay hạnh phúc đời đời, sẽ không còn là mơ ước, không chỉ là lý thuyết trừu tượng. Phúc, lộc, thọ, sẽ liên kết, hiệp thông, trong tình yêu Giêsu, qua đó, những ai thuộc về Đức Kitô, dù ở thiên quốc, dù còn đương lữ hành, hay đang trong tình trạng phải thanh luyện, tất cả sẽ chung hưởng duy nhất một hạnh phúc.
Mang thân phận người đầy khiếm khuyết, bất toàn, đôi khi chúng ta còn bị phúc lộc trần gian che khuất cuộc sống và tư cách người môn đệ không được phát huy đúng tầm mức, giây phút ấy, tình liên đới, và lời khẩn nguyện của giáo hội hiệp thông, hẳn rất có ý nghĩa. Đói khát cơm bánh, chúng ta cần được no thoả cơm bánh, túng thiếu tình yêu, chúng ta phải được phủ lấp bằng tình yêu, vì chưng, không ai có thể lấy cơm bánh để chia sẻ cho anh chị em mình khi mà họ đang cần tình yêu thương. Ngày hôm nay, không ai đón nhận Mình Máu Chúa với hy vọng thân xác sẽ lớn lên thay cơm bánh vật chất. Ngày hôm nay, phúc lộc quê trời, hay niềm vui bình an nước Thiên Chúa, không còn là cách hiểu quá trần tục “nơi hưởng lạc thú”.
Ngày qua ngày, chúng ta phải ăn phải uống, vì đó là nhu cầu nuôi thân xác, quan niệm sống để ăn, để hưởng thụ, không thể giống như người đang ăn để sống, để chia sẻ niềm tin và sứ mạng rất riêng của mình. Tình yêu Thánh Thể là tình yêu được Đức Giêsu trao ban cho các học trò, cho những ai tin Ngài đã tự nguyện trở nên của ăn nuôi linh hồn. Ở trong tình yêu Đức Giêsu là ở trong tình yêu Thánh Thể ; phúc, lộc, thọ, chính là bình an, là niềm vui, là hạnh phúc đời đời được Đức Giêsu biến đổi nên một tình yêu tròn đầy. Tình yêu của người quân tử bị người đời xem là dại dột, vì họ có lối sống tử tế, thật thà. Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu tự hiến, và chỉ khi có niềm tin người kitô hữu mới đủ cảm nhận, tại sao Chúa Giêsu lại biến đổi tấm bánh và chén rượu thành Mình và Máu Chúa nuôi nhân loại. Nếu như tiền nhân chúng ta nói: đời người được đo bằng tư tưởng và hành động, tuyệt đối không phải đo bằng thời gian, thì hẳn qua giáo hội, Chúa Giêsu sẽ còn nói: “này là Mình Ta, này là Máu Ta”. Xin tình yêu Chúa Giêsu tiếp tục làm cho mỗi người biết khám phá tình yêu của phúc, lộc, thọ, là thứ tình yêu bất tử mà Chúa đã ban tặng cho nhân loại. Amen.

 

THÁNHTHỂ-376: HỖ TƯƠNG

Lm Vũdình Tường
 

Cơ thể và máu huyết hỗ tương cho nhau. Nếu sống cả hai cùng sống, nếu chết cả hai cùng chết THÁNHTHỂ-376

Cơ thể và máu huyết hỗ tương cho nhau. Nếu sống cả hai cùng sống, nếu chết cả hai cùng chết. Cơ thể không có máu lưu thông là cơ thể hoặc đang trong nhà xác hoặc đang an nghỉ nơi nghĩa trang; máu ở ngoài cơ thể chỉ có thể tạm sống một thời gian trong ngân hàng máu. Cơ thể cần máu và máu cần cơ thể để cả hai cùng giúp nhau sống và sinh hoạt cách bình thường.
Cơ thể không chỉ làm nhiệm vụ bình chứa máu của con người mà cơ thể có nhiệm vụ sinh sản ra máu mới, làm mới máu và là con đường giúp máu di chuyển. Máu nuôi dưỡng cơ thể, chuyển thực phẩm đến toàn thân, sưởi ấm cơ thể, chữa lành chỗ thương tích và còn làm nhiệm vụ trong sạch máu, bởi máu di chuyển có mang theo chất thải cơ thể sản xuất ra.
Ngày lễ Mình và Máu thánh Đức Kitô thường biết đến là ngày Thánh Thể hay là Thánh Lễ, Đức Kitô dùng chính thịt và máu mình nuôi dưỡng linh hồn Kitô hữu. Đây là một trong những lễ trọng Giáo Hội hàng năm mừng cách trọng thể nói lên tâm tình tạ ơn, cảm mến Đức Kitô vì yêu quí nhân loại đã tự nguyện liên kết mật thiết với Kitô hữu bằng cách tự hiến chính Thịt và Máu mình cho nhân loại. Thánh thể là con đường dẫn Kitô hữu tiến vào tình yêu Đức Kitô. Vì yêu quí nhân loại Đức Kitô ban tặng và cho phép Kitô hữu tham gia vào Bí Tích Thánh Thể, dự bàn tiệc thánh. Đặc ân này do chính Đức Kitô sáng lập và Kitô hữu không có gì đáp trả trừ việc dâng lời tạ ơn và đón nhận Tiệc Thánh với tất cả tấm lòng yêu mến, kính trọng. Mình và Máu thánh Đức Kitô trao tặng nhân loại là món quà tình yêu cao trọng đến độ trên đời này không gì có thể mua được. Bởi Đức Kitô biết rõ không gì cao quí hơn tình yêu Ngài trao ban nên Ngài trao ban không điều kiện. Những ai thành tâm đón nhận Mình và Máu thánh Đức Kitô sẽ trở nên giống Ngài hơn về cách suy nghĩ và cách sống chung với anh em đồng loại. Mình Máu Thánh Đức Kitô nuôi dưỡng đức tin Kitô hữu lãnh nhận trong ngày nhận Bí Tích Thanh Tẩy, biến đức trở nên mạnh mẽ, trưởng thành, chân thành sống và yêu mến anh chị em trong đại gia đình Chúa. Mình và Máu Thánh liên kết Kitô hữu với Đức Kitô và với tha nhân.
Máu đổi mới và thanh tẩy thân xác, Mình và Máu Đức Kitô nuôi dưỡng, thanh tẩy, đổi mới cuộc sống tâm linh. Mình Máu Thánh ban sức mạnh chống lại cơn cám dỗ tự kiêu, tự đại và giúp chống lại cơn cám dỗ muốn độc lập, tách khỏi tình yêu Chúa. Được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Thánh, Kitô hữu cần chia sẻ những gì nhận được từ Đức Kitô cho tha nhân. Đức Kitô ban cho Kitô hữu tình yêu vô điều kiện, Kitô hữu cũng cần giúp tha nhân vô điều kiện, sẵn sàng phục vụ vì tha nhân để làm sánh Danh Chúa. Đức Kitô đổ máu đào trên thập tự, Kitô hữu cũng đổ mồ hôi và biến lao công khó nhọc của mình thành quà tặng tha nhân, cùng chung vai cộng tác mở mang nước Kitô nơi trần thế, được biết dưới danh xưng truyền giáo. Chính Đức Kitô kêu gọi Kitô hữu đóng vai trò tìm kiếm và đào luyện Kitô hữu khác (Mat 28,19). Đức Kitô trao ban tình yêu Ngài, Kitô hữu cũng cần đối xử với nhau bằng tình yêu chân thành và đáp trả lại tình yêu Chúa một cách chân tình. Siêng năng lãnh nhận Mình và Máu thánh Đức Kitô giúp cuộc sống thường nhật trở nên í nghĩa hơn, gánh nặng trở nên nhẹ nhàng hơn, hy sinh phục vụ có mục đích rõ ràng hơn và tình yêu trong sáng hơn. Nhờ thế tâm hồn thanh thản, thân xác an bình trong một thế giới ồn ào, xáo trộn.

 

THÁNHTHỂ-377: LƯƠNG THỰC BẤT TỬ

 Lm. Trịnh Ngọc Danh
 

Bài đọc thứ nhất trích trong sách Xuất hành, mô tả việc phê chuẩn giao ước trên núi SiNai giữa Thiên THÁNHTHỂ-377

Bài đọc thứ nhất trích trong sách Xuất hành, mô tả việc phê chuẩn giao ước trên núi SiNai giữa Thiên Chúa và Ítraen, dân của Ngài. Giao ước này được đánh dấu bằng máu các súc vật. Máu là biểu tượng của sự sống chỉ dành riêng thuộc về Thiên Chúa. Việc rảy máu lên dân chúng tượng trưng cho sư kiện Thiên Chúa chia sẻ sự sống của Ngài cho họ, tỏ bày mối tương quan giữa Ngài với dân Ngài
Và khi đến thời kỳ đã mãn, Thiên Chúa đã gửi Chúa Con xuống thế gian là Đấng Cứu Độ con người. Thông ua Ngài, Thiên Chúa đã thiết lập với con người một giao ước mới và kéo dài cho đến gày tận thế.  Trong bữa tiệc Vượt Qua, Đức Giêsu thông báo cho các môn đệ biết trong nhóm 12 có một người phản bội: “ Thầy bảo thật anh em, có người trong anh em sẽ nột Thầy, mà lại là gười đang cùng ăn với Thầy.” Từ chỗ chia rẽ, Đức Giêsu muốn đưa các môn đệ vào sự hiệp nhất; và sau đó, Ngài lập phép Thánh Thể: “ Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “ Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy” Và Người cầm lấy chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông : Đây là máu Thầy, máu giao ước, đổ ra vì muôn người.”
Đức Giê su đã dánh dấu giao ước này bằng màu của Ngài. Đức Giê su đã thiết lập một nghi thức mới là Phép Thánh Thể qua vai tò của linh Mục : “ Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Một nghi lễ mới đã được thiết lập, đây là một các nhắc nhở liên t5c về mối quan hệ thân mật vẫn tốn tại giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Trog pge1p Thánh Thể, Đức Giê su chia sẻ sự sống của Ngài cho chúng ta. Nhò cái chết hy sinh vì yêu của Đức Giê su, vị linh mục tối cao, Thiên Chúa đã thiết lập một giao ước mới đời đời với dân Ngài: “ Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.” Đức Ki tô đã lấy máu mình để lập giao ước mới: “ Người là trung gian của một giao ước mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vi4ng cửu Thiên Chú đã hứa.”( Dt 9-15)
Qua Bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu đã biến bánh và rượu trở nên thịt và máu Ngài để ở lại với con người và để nuôi sống phần linh hồn của con người; đồng thời, qua việc biến rượu thành máu, Đức Giêsu muốn thiết lập với con người một giao ước mới khác với giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập trên núi Sinai với dân của Ngài qua trung gian của ông Môisê. Khi Ngài cầm lấy chén rượu, Ngài muốn nhấn mạnh đế hai ý  nghĩa: chén rương trở thành máu của thân Thể ngài, đồng thời màu là bằng chứng cho giao ước mới mà Ngài ký kết với con người. V2 Ngài còn truyền cho các môn đệ: hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Chính trong bữa tiệc ly, 9u71c Giê su đã thiết lạp chức linh mục để tiếp noi công việc Ngài đã làm
Dức Giê su thiết lập một giao ước mới. Giống như giao ước cũ, giao ước được đánh dấu bằng máu, nhưng không phải bằng máu của súc vật, nhưng bằng máu của chính Ngài. Thiên Chúa luôn luông trung tín. Tình yêu của Nga2ikho6g hề thay đổi.,nhưng con người thì vẫn cứ thế đổi thay phụ bạc! Không phải lúc nào dân của Ngài vẫn trung thành với tình yêu của Ngài. Trước khi dân Ngài tiến vào đấ hứa, Thiên Chúa đã phê chuẩn ua trung gian ông Môi sệ và dân chúng cũng đã thề húa sẽ trung thành với những gì Thên Chúa phán dạy. Nhưng dân Ngài dẵ không giữ giao ước, đã phản bội bằng cảnh sùng bái ngẫu tượng. Mặc dầu vậy, Thê Chúa vẫn không bỏ roi họ.
Thánh Thể là lương thực nuôi s61ng linh hồn. Là người Ki tô hữu, chúng ta khon cần lương thực nuôi sống linh h62n sao?“ Tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. I ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho gười ấy sống lại va2onga2y sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy.” ( Ga 6:53-56)
Thánh Thể là bí tich tình yêu: Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giê su đã tìm ra một phương thế để ở l5i với các môn đệ, và qua thời gian, ở lại với tất cả hững ai tin vào Ngài. Bí tích Thánh Thể là bí tích của sự hiện diện. Dưới hình thức bánh và rượu, Đức Giê su hiện diện luôn mãi với loài người nơi trần gian. Ngài yêu thương những kẻ thuộc về thế gian và người y6u thương cho đến cùng.”( Ga 13: 1)
Thánh Thể là bí tích hiệp nhất. Trước hết, Bí tích Thánh Thể làm cho chúng ta kết hợp mật thiết với Đức Ki tô. Ngài đến đem lại cho chúng ta sự so61g bằng chính sự sống của Ngài. Chúng ta kết hợp với Đức Gie6su trong một thân thể của Đức Ki tô; đồg thời Thánh thể cũng kết hợp chúng ta lại với nhau trong một thân thể của Đức Ki tô. Chúng ta cùng qui tụ chung qunag một bàn ăn để cùng ăn một tấm bánh và cùng uống một chén rượu như Đức Giê su cầm láy ta61nm bánh, bẻ ra và chia cho các môn đệ.
Thánh Thể là bí tích chia sẻ: Phép Thánh Thể là bữa ăn mà chúng ta chia sẻ với nhau, để tương nhớ Chúa và vâng theo lời truyền dạy của Ngài. Ua Phép Thánh Thể, Đức Giê su làm cho chúng ta trở thành những người đồng hành, những người bạn bè của Ngài bằng các mơi gọi chúng  ta chia sẻ thức ăn đã được hiến thánh của phép Tha1h Thể. Va trong hki làm như vậy, chúng ta trở thành những người đồng hành và bạn bè của nhau. Chúng tahie65p thông với Đức Ki tô để có thể hiệp thông với người khác. Chúng ta là một cộng đoàn của những kẻ tin. Niềm tin chung của mọi người củng cố niềm tin của mỗi cá nhân
Trong thư gửi tín hữu Do Thái, thánh Phaolô đã nhận định như thế này: “ Nếu máu của các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm ô uế còn thánh hóa được họ, nghĩa là cho thân xác họ được trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa đến cái chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống.”( Dt 9: 13-14)
Sau khiso61ng lại và hiện ra với các mo6nn đệ tại Gali lê, Đức Giê su đã trăn trối: “ Thầy đã được trao toàn quyền trên trời và đy7ới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phep rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chú Cn và Chu1aTha1nh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đ6ay, Thầy ơ cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế,L Mt 28: 18-20)
“ Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi,chẳng khát bao giờ! ( Ga 6:35) Đ61n với Chúa và tin vào Chúa là bánh và rượu mà Chúa đã thiết lập qua Bí tích Thánh Thể.
Mình và máu Đức Giê su qua bí tích Thánh Thề là một món quà quí giá nhất mà Ngài bao tặng  cho con người, là một bằng chứng của tình yêu của Ngai đối với nhân loại, là món ăn thức uống để nuôi sống con người cho đến ngày tận thế; “ Vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống Máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy.”( Ga 6: 55-56)

 

THÁNHTHỂ-378: NHỮNG CÁI CHẾT ĐEM LẠI SỰ SỐNG

 Lm.Giuse Đỗ Đức Trí
 

Những năm gần đây càng ngày càng có nhiều người tham gia việc hiến máu nhân đạo, họ muốn THÁNHTHỂ-378

Những năm gần đây càng ngày càng có nhiều người tham gia việc hiến máu nhân đạo, họ muốn hiến một phần sự sống của mình để giúp người khác. Tại Viện Huyết Học, số người đến đăng ký hiến máu ngày càng đông. Khi được hỏi, có người trả lời: “Cuộc đời ngắn lắm, nên những việc muốn làm thì phải làm ngay lúc còn sống. Tôi cũng lớn tuổi, không biết mấy lúc nữa về với ông bà tổ tiên, ước nguyện của đời tôi là được hiến máu để cứu nhiều người và cũng để nhắc nhở con cháu không được sống ích kỷ và phải luôn luôn vì người khác”. Một phụ nữ người khác khi được hỏi chị đã chia sẻ: “Tôi không muốn cuộc sống của mình uổng phí, nhưng muốn nó đem lại lợi ích cho nhiều người, cứu sống cho nhiều người”.
Thưa quý OBACE, cách đây hơn hai ngàn năm đã có một người không chỉ hiến máu, nhưng Ngài đã hiến cả mạng sống và con người của mình để cứu sống toàn thể nhân loại. Hơn thế nữa, Ngài còn trao tặng máu thịt của mình để làm của ăn, của uống nuôi sống nhân loại. Đó chính là Đức Giêsu, Chúa chúng ta. Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội mừng kính Mình Máu Thánh Chúa; mừng lễ hôm nay, chúng ta chiêm ngắm và suy tôn tình yêu cao cả của Thiên Chúa, tôn thờ và đón nhận món quà thần linh này. Các bài đọc Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy những ý nghĩa rất phong phú về dòng máu mà Chúa Giêsu đã đổ ra vì nhân loại.
Đó là máu của giao ước: Trong lịch sử chúng ta đã từng nghe nói về những bức huyết thư (thư viết bằng máu) của những người yêu nước để bày tỏ ước nguyện của mình. Nhưng từ xa xưa Thiên Chúa còn thực hiện việc kỳ diệu để thể hiện tình yêu trung thành đối với dân Ngài qua việc ký kết giao ước bằng máu. Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã chủ động đi bước trước đến với dân Israel, ràng buộc mình với số phận của dân này. Thiên Chúa đã chủ động ký kết với họ một giao ước, qua giao ước này, Thiên Chúa thề hứa sẽ yêu thương, bảo vệ và nhận họ làm dân riêng, làm sản nghiệp. Còn dân Israel chỉ cam kết một điều, là trung thành tuân giữ giới răn lề luật của Thiên Chúa. Trong buổi lễ ký kết giao ước long trọng này, Thiên Chúa đã truyền cho Môsê lập tế đàn, ngả bò làm hy lễ cầu an, lấy máu rảy lên bàn thờ và rảy lên dân chúng như dấu hiệu của sự ký kết. Ông Môsê khi rảy máu trên dân đã tuyên bố với họ: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em”.
Nếu như tại núi Sinai, Thiên Chúa đã ký kết giao ước với dân Israel bằng máu chiên bò, thì trên ngọn đồi Calvê, Thiên Chúa đã ký kết một giao ước mới với nhân loại bằng máu của chính Con Ngài là Chúa Giêsu. Trong Giao Ước Mới này, Chúa Giêsu đã dùng máu của Ngài để tẩy rửa tội lỗi của nhân loại. Máu của Ngài có sức đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Máu đó cũng lại là của uống, của ăn nuôi sống nhân loại. Qua máu thịt trao ban cho nhân loại, Chúa Giêsu muốn trao ban cả sự sống thần linh của mình cho nhân loại. Vì thế, những ai được máu Chúa tẩy rửa, được nuôi dưỡng bằng thịt máu của Chúa, thì đón nhận được sức sống từ nơi Thiên Chúa trao ban, được thánh hóa, được thần hóa, trở nên như thần linh. Ngày xưa ma quỷ dụ dỗ Ađam Eva ăn trái cấm để trở nên như thần linh, nghe lời ma quỷ ông bà đã bị lừa, khiến họ phải chết. Nay ăn Thịt và Máu Chúa, con người chắc chắn sẽ được trở nên như thần linh, vì Thiên Chúa không lừa dối ta bao giờ.
Trong khung cảnh bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thực hiện một việc diệu kỳ là trao tặng Mình Máu Chúa cho nhân loại. Khung cảnh của tiệc Vượt Qua, nhắc mọi người Do Thái nhớ đến việc Thiên Chúa dùng bàn tay quyền lực để giải thoát dân ra khỏi Ai Cập, dẫn dắt họ suốt bốn mươi năm trong sa mạc và đưa họ vào đất hứa. Chúa Giêsu đã dùng tâm tình của ngày đại lễ này để thể hiện tình yêu đến cùng dành cho nhân loại. Đang bữa ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, trao cho các ông và bảo các ông: Đây là máu Thầy, máu Giao Ước Mới, đổ ra vì muôn người”.
Với việc làm này, Chúa Giêsu đã thực hiện việc trao tặng hoàn toàn con người, thân xác và cả sự sống cho các môn đệ và cho chúng ta. Với lời tuyên bố: “Đây là mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn”, Chúa Giêsu đã biến bánh thực sự trở nên Mình Ngài, và biến Mình Ngài thực sự trở nên của ăn, để nuôi dưỡng nhân lọai. Với sáng kiến trở nên của ăn, Chúa Giêsu muốn biến mình trở nên lương thực, đáp ứng cho nhu cầu căn  bản của mỗi người, thỏa mãn cơn đói, cung cấp năng lượng cho nhân loại trên hành trình trần thế. Hơn nữa, qua việc trở nên bánh, Chúa Giêsu muốn ở lại với nhân loại trong hình dạng gần gũi, thân thiết với con người và còn mong được con người đón nhận, ăn Ngài để Ngài không chỉ đi vào trong dạ dày, mà còn là đi vào trong tâm hồn mỗi người, nên một với từng người.
Cũng vậy, khi chấp nhận để cho máu mình đổ ra để thực hiện giao ước, Chúa Giêsu không chỉ trở nên của uống mà còn muốn dùng dòng máu của mình để nói lên tình yêu tột cùng Thiên Chúa dành cho nhân loại. Máu Chúa có sức tẩy rửa tội lỗi, là dấu hiệu, là lời minh chứng cho một tình yêu trung thành đến tận cùng. Nếu như ngày nay việc hiến máu nhân đạo cứu sống được nhiều người, thì máu của Chúa Giêsu đã trao ban trong bữa tiệc ly và đặc biệt máu đã đổ ra trên thập giá còn có sức mạnh vượt trội. Máu Chúa có khả năng cứu sống cả thế giới này từ ngày tạo dựng cho đến ngày tận thế và còn biến đổi cả vũ trụ, nhân loại nên mới.
Thư Do Thái đã trình bày về sức mạnh thanh tẩy của máu Chúa Giêsu khi diễn tả và so sánh với các hiến lễ của thời Cựu Ước. Chúa Giêsu đã thực hiện giao ước mới này trong tư cách là Thượng Tế, Đấng đem phúc lộc của Thiên Chúa đến cho thế giới. Phúc lộc đầu tiên và quan trọng nhất mà vị Thượng Tế Giêsu đem đến cho nhân loại chính là sự sống thần linh của Thiên Chúa được ban cho nhân loại. Trước đây, Môsê và các tư tế đền thờ, hàng năm đã phải giết chiên bò làm hy lễ xá tội và cầu an cho dân. Ngày nay, Đức Giêsu chính là thượng tế, Ngài cũng chính là của lễ, Ngài hiến dâng thân xác mình trên bàn thờ thập giá. Vì là Thiên Chúa, nên của lễ Chúa Giêsu dâng lên Thiên Chúa Cha, có giá trị vĩnh viễn đem lại ơn tha tội và bình an cho nhân loại.
Thưa quý OBACE, tôn vinh Mình Máu Thánh Chúa hôm nay, chúng ta tôn vinh tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Chính bởi tình yêu, Thiên Chúa đã có sáng kiến tuyệt vời khi trao tặng Chúa Giêsu, Con Ngài cho nhân loại. Đến lượt mình, Chúa Giêsu lại trao tặng cả máu thịt, mạng sống để minh chứng tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Cũng qua việc trao tặng này, Thiên Chúa chờ đợi chúng ta đón nhận Mình Máu Chúa Giêsu với thái độ tích cực.
“Hãy cầm lấy mà ăn, cầm lấy mà uống” là ước mong, là lời mời gọi của Chúa Giêsu. Hãy đáp trả lời mời gọi này bằng tình yêu mến dành cho Chúa. Yêu mến bằng cách tin tưởng đặt trọn cuộc sống mình cho Chúa. Đến với Chúa chuyên chăm hơn, tâm sự cầu nguyện với Chúa nhiều hơn và để cho Chúa chia sẻ nâng đỡ những nhọc nhằn khó khăn của cuộc sống. Ngày này, người ta có thể bỏ tiền thật nhiều để tìm thức uống tăng lực, thức ăn bổ dưỡng để kéo dài sự sống, nhưng đừng quên Mình Máu Chúa chính là thức ăn bổ dưỡng nhất cho cả hồn và xác; máu Chúa là thức uống tăng lực giúp ta đủ sức vượt qua mọi khó khăn thử thách. Nhất là đừng bao giờ quên, Mình Máu Chúa là lương thực đem đến sự trường sinh bất tử cho nhân loại chúng ta.
Các bậc cha mẹ đừng để sự bận rộn và lo toan của gia đình chiếm hết thời gian khiến ta không còn thời giờ đến lãnh nhận sự trợ giúp từ Bí Tích Mình Máu Chúa. Đừng chỉ lo tìm kiếm cơm ăn áo mặc cho gia đình, mà còn phải có trách nhiệm tìm kiếm lương thực đem đến sự sống đời đời cho cả gia đình mình qua việc làm gương sáng, tin tưởng và nhắc nhở cho con cái siêng năng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể.
Các bạn trẻ đừng cậy dựa vào sức riêng mình, nếu không có sự trợ lực của Chúa, ta không thể thành công; nếu không có Chúa, cuộc sống của ta sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Vì vậy, các bạn trẻ đừng ngại ngần, đừng tiếc thời gian để đến với Mình Máu Chúa qua Thánh Lễ mỗi ngày. Vì nơi Thánh Lễ, Chúng ta sẽ được gặp Chúa, được Chúa hướng dẫn, soi sáng giúp ta biết phải làm gì.
Khi siêng năng rước Chúa, Chúa sẽ là sức mạnh bảo vệ chúng ta khỏi những lôi kéo của ma quỷ, dục vọng và tăng sức mạnh giúp ta thành công không chỉ trong công việc, mà Chúa sẽ còn giúp ta thành công, đạt được mục đích cuối cùng của đời người là hạnh phúc đời đời. Amen.

 

THÁNHTHỂ-379: MÁU THÁNH CHÚA KITÔ:

MÁU GIAO ƯỚC MỚI VÀ CỨU ĐỘ
 Đa-minh Trần đình Nhi
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Xh 24:3-8;  Dt 9:11-15;  Mc 14:12-16, 22-26)
 

Chúng ta có thể suy niệm về Bí tích Thánh Thể dưới nhiều khía cạnh khác nhau, thí dụ Thánh Thể THÁNHTHỂ-379

Chúng ta có thể suy niệm về Bí tích Thánh Thể dưới nhiều khía cạnh khác nhau, thí dụ Thánh Thể là lương thực thiêng liêng, là biểu lộ tột đỉnh tình yêu của Thiên Chúa, là cách thức Thiên Chúa “ở lại” với loài người chúng ta… Với các bài đọc hôm nay, dường như Phụng vụ Lời Chúa muốn đề cao vai trò của Máu Thánh Chúa Ki-tô và lễ hy sinh của Người nhiều hơn.  Máu Thánh Chúa Ki-tô là giao ước mới và đổ ra một lần thay cho tất cả để cứu chuộc nhân loại cho đến ngày tận thế.  Giao ước Mới này thay thế cho giao ước Thiên Chúa đã lập với dân Ít-ra-en tại chân núi Xi-nai.  Trong cả hai giao ước, máu là dấu chỉ nói lên việc kết ước để duy trì và phát huy tương quan giữa Thiên Chúa và Ít-ra-en, nhất là tương quan giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại.  Do đó, cử hành Thánh Thể là sống giao ước mới và vĩnh cửu Thiên Chúa đã thiết lập với chúng ta.
Trước hết chúng ta hãy trở lại với khung cảnh thiết lập giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ít-ra-en sau khi ông Mô-sê từ trên núi xuống, mang theo Mười điều răn của Thiên Chúa.  Ông và dân chúng chuẩn bị cho một nghi thức tuy đơn giản, nhưng hết sức long trọng và ý nghĩa.  Để chuẩn bị xa, ông Mô-sê “thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa và mọi điều luật”.  Trong giao ước sắp ký kết này, về phía Thiên Chúa, điều kiện Người đưa ra là dân Ít-ra-en hãy tuân giữ “mọi lời và mọi điều luật” Người ban cho họ;  về phía họ, điều kiện duy nhất là thi hành điều Chúa muốn.  Vậy dân Ít-ra-en đã chấp thuận điều kiện và họ cam kết với Thiên Chúa:  “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành”.  Sau khi hai bên đã thỏa thuận, ông Mô-sê chuẩn bị cho giây phút long trọng là kết ước.  Ông chép lại mọi lời Chúa phán.  Rồi bàn thờ được dựng lên với mười hai trụ đá tượng trưng cho mười hai chi tộc Ít-ra-en.  Người ta giết bò làm lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa.  Máu bò được dùng làm dấu chỉ ký kết.  Ông Mô-sê lấy một nửa phần máu để rảy lên bàn thờ nói lên sự kết ước từ phía Thiên Chúa.  Sau khi cầm cuốn sách giao ước ông đã chép lại lời Chúa mà đọc cho dân chúng nghe và họ hứa sẽ tuân theo, thì ông rảy một nửa phần máu còn lại lên dân chúng và trịnh trọng tuyên bố:  “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên lời này”.
Ông Mô-sê đã thay mặt toàn dân dâng hy lễ lên Thiên Chúa và ký kết giao ước với Người.  Đó là giao ước cũ với nội dung là dân Ít-ra-en phải tuân giữ Mười điều răn Chúa ban cho họ.  Nhưng khi lập giao ước mới với toàn thể nhân loại, Thiên Chúa không dùng máu dê máu bò mà ký kết giao ước, mà lấy máu của Chúa Ki-tô, Con Một Người, để giao hòa nhân loại với Người.  So sánh lễ hiến tế trong Cựu Ước với lễ hiến tế của Chúa Giê-su trên thập giá, thư gửi tín hữu Do-thái đã nói lên sự khác biệt giữa máu dê máu bò và Máu Thánh Chúa Ki-tô.  Thời Cựu Ước, vị thượng tế phải vào cung thánh Đền Thờ mỗi năm một lần để sát tế lễ vật, rồi lấy máu chúng rảy lên dân để thanh tẩy và thánh hóa họ.  Máu dê máu bò chỉ đem lại hiệu quả nhất thời cho dân Ít-ra-en mà thôi.  Còn Chúa Giê-su, vị Thượng Tế “với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta”.  Máu Chúa Ki-tô không những “thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết”, mà còn “đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa”.
Khi cử hành Thánh Thể, có lẽ chúng ta nên nhớ lại Chúa Giê-su lập Bí Tích này với mục đích gì.  Chúa phán:  “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết”.  Đúng vậy, khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giê-su đã trao nộp thân mình Người và đổ máu của Người ra là để chúng ta được sống và sống muôn đời.  Nộp mình và đổ máu trong Bí tích Thánh Thể cũng chính là hành động hiến tế của Chúa Giê-su trên thập giá vậy.  Do đó, không thể tách biệt Bí tích Thánh Thể ra khỏi cuộc Thương khó của Chúa Giê-su, cũng như không thể ít lưu ý tới vai trò của Máu trong Bí tích Thánh Thể và Máu Chúa Ki-tô đổ ra trên thập giá.
Sống sứ điệp Lời Chúa
Dĩ nhiên khi chúng ta dựa vào Phụng vụ Lời Chúa hôm nay để suy niệm về vai trò của Máu Thánh Chúa Ki-tô thì không có nghĩa là chúng ta không quan tâm tới Mình Thánh Chúa Ki-tô.  Bí tích Thánh Thể là Bí tích của cả Mình lẫn Máu Chúa Ki-tô.  Chúa Giê-su đã “trao cho” chúng ta tất cả những gì Người là và Người có.  Chúng ta hãy đọc thật chậm và chiêm ngưỡng Chúa “cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông”.  Cũng giống như vậy khi Chúa “cầm lấy chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông”.  Đúng là Chúa đang hiến thân cho chúng ta, vì chúng ta.  Người “trao cho” chúng ta Mình Người và Máu Người, không giữ lại gì cả.  Trong Thánh lễ, linh mục cầm Mình Thánh và Máu Thánh “trao cho” chúng ta, việc này nhắc nhở chúng ta nhớ lại cử chỉ “trao cho” của Chúa Giê-su trong Bữa Tiệc Ly cũng như trên thập giá.  Lạy Chúa, chúng con cảm tạ tình yêu và lòng quảng đại của Chúa trong Bí tích Thánh Thể!  Cũng như các tông đồ xưa, chúng con xin cung kính lãnh nhận Chúa, để chúng con được sống và sống muôn đời!

 

THÁNHTHỂ-380: HIẾN LỄ TẠ ƠN-  Lm. Trần Thanh Sơn

LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ- NĂM C
 

Hôm nay, chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô THÁNHTHỂ-380

Hôm nay, chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Thật ra, trong bất cứ thánh lễ nào, chúng ta cũng đã suy tôn mầu nhiệm Thánh Thể. Tuy nhiên, vì muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của Thánh Thể trong đời sống của mỗi kitô hữu, nên mẹ Giáo Hội đã chọn riêng một ngày để chúng ta có thời giờ nhiều hơn trong việc tôn thờ, suy gẫm và tạ ơn tình yêu Thiên Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nếu như các bí tích nói riêng và các sinh hoạt phụng vụ nói chung là phương thế để chúng ta nhận lãnh ơn cứu độ của Đức Giêsu, thì với bí tích Thánh Thể, chúng ta được đón nhận chính Đức Giêsu là nguồn của mọi ân phúc. Chính vì thế sách Giáo lý chung của Hội Thánh Công Giáo số 1324 đã viết: “Bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống kitô hữu”. “Những bí tích khác cũng như các thừa tác vụ và các hoạt động tông đồ đều gắn liền với bí tích Thánh Thể và qui hướng về đó…”.
Mầu nhiệm về bí tích Thánh Thể rất phong phú, chúng ta không thể nào suy cho hết được. Do đó, trong giờ này, tôi muốn được chia sẻ cùng quý OBACE. về một trong những khía cạnh của bí tích Thánh Thể, đó là nhìn bí tích Thánh Thể dưới góc độ của một hiến lễ tạ ơn.

    HIẾN LỄ TẠ ƠN CỦA ĐỨC KITÔ
Khi nói đến hiến lễ, chúng ta không thể không nói đến lễ vật. Đức Giêsu chính là lễ vật được hiến dâng lên Thiên Chúa Cha làm của lễ đền tội cho chúng ta. Chính vì thế, khi thuật lại việc Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể, mặc dù là đang trong bữa tiệc với các môn đệ, thánh Phaolô đã nói: “Chúa Giêsu trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, nầy là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con …”. Khi nhắc đến việc Đức Giêsu sắp bị nộp, thánh Phaolô muốn chúng ta nhớ đến cuộc khổ nạn của Đức Giêsu trên thập giá. Hiến thân làm của lễ, Đức Giêsu đã thực sự trở nên tấm bánh bẻ ra cho chúng ta được sống.
Mặt khác, trong hiến lễ tạ ơn này, Đức Giêsu không chỉ là của lễ mà còn là người dâng. Đức Giêsu đã tự hiến dâng chính mình cho Chúa Cha làm của lễ đền bù tội lỗi cho chúng ta. Hơn nữa, không giống như các tư tế của Cựu ước hàng năm đều phải tiến dâng lễ vật, nhưng vẫn không xoá được tội lỗi như lời tác giả thư Do Thái: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và đang đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi”(Dt 10, 11). Trái lại, Đức Giêsu “đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta”(Dt 9, 12).
Nhờ sự tự hiến này của Đức Giêsu, tất cả chúng ta đã được chữa lành khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi. Chính vì thế trước khi tường thuật lại phép lạ hoá bánh ra nhiều, thánh sử Luca đã cho chúng ta biết rằng Đức Giêsu đã “chữa lành những kẻ cần được cứu chữa”. Đức Giêsu đã chữa lành những tật bệnh thân xác, như một dấu chỉ báo trước việc Ngài sẽ dùng chính Máu Ngài đổ ra trên thập giá, để chữa lành những vết thương do tội lỗi gây ra.
Như thế, Đức Giêsu chính là vị Thượng Tế đời đời theo phẩm hàm Melkisêđê. Chức tư tế của Ngài vượt trên mọi tư tế của Cựu ước, bởi lẽ các tư tế của Cựu ước đều là con cháu tổ phụ Abraham, mà tổ phụ Abraham lại phải dâng “một phần mười tất cả chiến lợi phẩm”cho Melkisêđê và nhận lời chúc phúc của ông như chúng ta vừa nghe trong bài đọc một.
Đức Giêsu đã tự hiến dâng chính mình Ngài làm của lễ đền tội và ban chính Mình và Máu Ngài làm của ăn đem lại sự sống vĩnh cửu cho tất cả chúng ta. Đồng thời, mỗi khi chúng ta tham dự tiệc Thánh Thể, là lúc chúng ta nhận được lời mời gọi tiếp tục cử hành và sống hiến lễ tạ ơn này cho đến tận thế, như lời Đức Giêsu đã phán khi lập bí tích Thánh Thể: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta; mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

    SỐNG HIẾN LỄ TẠ ƠN
Mỗi khi lãnh nhận Thánh Thể là lúc chúng ta lãnh nhận được sự sống Thần Linh của Thiên Chúa. Do đó, tâm tình đầu tiên phải có của mỗi người chúng ta, đó là tâm tình tạ ơn. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì tình yêu bao la mà Ngài đã dành cho chúng ta. Nhất là chúng ta tạ ơn Đức Giêsu vì Ngài đã ban cho mỗi người chúng ta chính Mình và Máu Ngài làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế này.
Mặt khác, với kinh nghiệm của mình, chắc hẳn mỗi người chúng ta cũng nhận ra rằng: một sự tri ân đích thực không chỉ là một tâm tình bên trong, nhưng cần phải được loan báo. Thực vậy, có một niềm vui thật trong lòng, chúng ta không thể dấu kín, nhưng luôn muốn kể lại cho mọi người cùng biết. Do đó, nhận được hồng ân sự sống từ bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng có nhiệm vụ loan báo cho anh chị em của mình, để tất cả mọi người đều cất tiếng ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa. Hay nói theo cách nói của thánh Phaolô trong bài đọc hai: “Mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”.
Kế đến, lòng tri ân của chúng ta cũng không chỉ dừng lại ở một lời loan báo, nhưng cần được thể hiện bằng một hành vi cụ thể. Đức Giêsu đã tự hiến dâng thân mình Ngài, trở nên một tấm bánh bẻ ra làm của ăn cho tất cả chúng ta, đến lượt mình, chúng ta cũng phải biết tự hiến, biết cho đi bản thân mình làm của ăn cho anh chị em của chúng ta.
Trong bài Tin mừng, đứng trước nhu cầu của cả một đám đông dân chúng, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Các con hãy cho họ ăn đi”. Đức Giêsu muốn các môn đệ làm một cái gì đó thật cụ thể, với hết khả năng của họ, cho dù đó chỉ là “5 chiếc bánh và 2 con cá”, để giúp đỡ đám đông, chứ không chỉ là một lời nhận xét, một lời góp ý xuông, hay chỉ là một lời bàn làm cách nào để mình được thoải mái, nhẹ nhàng nhất: “Xin Thầy giải tán dân chúng, để họ đi vào trong các làng mạc và trại quanh đây mà trú ngụ và kiếm thức ăn”. Điều này xem ra thật quá dễ và hợp lý cho các môn đệ và Đức Giêsu, nhưng lại không phải là điều mà Đức Giêsu muốn. Điều Ngài muốn là các môn đệ bắt tay cùng cộng tác với Ngài để làm dịu cơn đói của đám đông đang theo Ngài.
Là chi thể trong Nhiệm Thể của Ngài, mỗi người chúng ta cũng hãy dâng đời sống, lời ca ngợi, kinh nguyện và cả những đau khổ do tật bệnh trên thân xác, cùng với những lo âu trong cuộc sống… kết hợp với hiến lễ của Đức Giêsu trên thập giá, để dâng lên Chúa Cha trong Thánh Lễ mỗi ngày (x. SGL 1368). Nhờ đó, ngày càng có nhiều người nhận được ơn cứu độ do bởi hiến tế của Đức Giêsu trên thập giá. Amen.

 

THÁNHTHỂ-381: ĐÂY LÀ MÌNH THẦY, ĐÂY LÀ MÁU THẦY

Fx Đỗ Công Minh 
 

Ít năm về trước , giới văn học xôn xao về một tiểu thuyết trinh thám khoa học ký tượng có tên THÁNHTHỂ-381

Ít năm về trước , giới văn học xôn xao về một tiểu thuyết trinh thám khoa học ký tượng có tên là Mật mã DaVinci ( The Da Vinci Code ) của  Dan Brown, qua đó tác giả hư cấu một câu chuyện khi nhìn họa phẩm “ Bữa tiệc cuối cùng “ của nhà danh họa Leonardo Da Vinci. Bức họa này đã đưa họa sĩ trở thành bậc Thầy trong ngành hội họa của nhân loại. Ông đã lấy cảm hứng từ đoạn Tin mừng hôm nay, kể lại việc Chúa Giêsu đã cùng các Tông đồ ăn bữa ăn từ biệt, trước khi Người bước vào con đường khổ giá. “ Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong nước Thiên Chúa “. Đối với nhà danh họa, ông chú ý minh họa từng khuôn mặt Thầy Giêsu và các môn đồ với tâm trạng của giây phút chia ly. Nhiều người khác chú ý đến việc bàn luận ai là Gioan, ai là Giu Đa… Nhưng trong thực tế hôm ấy, theo tin mừng, giờ phút chia ly cũng là giờ phút Chúa để lại cho nhân loại, cho Hội Thánh của Người, qua các môn đồ một biểu hiện của Tình yêu. Tình yêu của một người Thầy với học trò. Tình yêu của Con Thiên Chúa dành cho nhân loại : “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng hiến mạng sống mình vì người mình yêu”.
Tin mừng Mác-Cô không thuật lại toàn bộ diễn tiến của bữa ăn, nhưng hẳn là không khí của những giờ phút ấy thật ảm đạm, bồn chồn vì các Tông đồ chưa rõ việc gì sẽ đến, mà chỉ suy đoán qua những lời Thầy mình đã từng nói trước đó. Bữa ăn cuối cùng với các học trò thân thiết không như những bữa ăn trước đó của thầy trò. Bữa “Tiệc Ly” với những tâm tình của người Thầy trước lúc đi xa. Chính trong bối cảnh ấy, sau khi đã qùi xuống rửa chân cho các Tông đồ, một hành động không ông nào ngờ được.
 Nhưng không chỉ dừng lại đó,” Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói : Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy. Và người cầm lấy chén rượu. . . Người bảo các ông : Đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra vì muôn người “(Mc 14;22-24). Một cử chỉ cao cả, tuyệt đỉnh của tình yêu thương con người. Chúa ban chính thân mình để hy sinh cho nhân loại.
        Lạy Chúa,
Ngày hôm nay con không được diễm phúc sống kề cận bên Chúa, chứng kiến việc Chúa làm, nghe được những lời Người trăn trối như các Tông đồ ngày xưa. Nhưng trong lòng tin, con xác tín lời Chúa: “ Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” .
Xin cho con mỗi lần đón nhận Bí tích Thánh Thể là con đón nhận chính Chúa, đón nhận được tình yêu Chúa trao ban. Con phải học bài học Chúa dạy, con phải “làm việc này mà nhớ đến Thầy”, đó là biết chia sẻ cuộc sống, tình yêu thương, niềm vui trong phục vụ anh chị em con. Điều đó có khó khăn, nhưng nhờ ơn Chúa con sẽ mỗi ngày bước theo Người .
Xin Chúa giúp con

 

THÁNHTHỂ-382: HIỆP THÔNG VỚI CHÚA

ĐỂ CẢM THÔNG VỚI THA NHÂN
Lm. Đan Vinh
I. HỌC LỜI CHÚA
1.TIN MỪNG: Mc 14,12-16.22-26
(12) Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giê-su: ”Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? (13) Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó”. (14) Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?” (15) Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng. Và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta. (16) Hai môn đệ ra đi, vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua. (22) Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy”. (23) Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. (24) Người bảo các ông: “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. (25) Thầy bảo thật anh em: Chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày ấy, ngày Thầy được uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa”. (26) Hát Thánh Vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra đi lên núi Ô-liu.
2.Ý CHÍNH:
 

Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc ly là tiệc Chiên Vượt Qua của đạo Do thái, trước THÁNHTHỂ-382

Đức Giê-su lập bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc ly là tiệc Chiên Vượt Qua của đạo Do thái, trước khi Người hiến thân chịu tử nạn và phục sinh, hầu thiết lập một Giao ước Mới để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa và ban ơn cứu độ cho loài người thay thế Giao ước Cũ thời Mô-sê.
3.CHÚ THÍCH:
-C 12-13: +Tuần lễ Bánh Không Men: Luật Mô-sê quy định về lễ Vượt Qua và tuần lễ Bánh Không Men như sau: Ngày 14 tháng Ni-xan (là tháng thứ nhất theo lịch Do Thái, tức vào khoảng tháng 3-4 dương lịch ngày nay), là đại lễ Vượt Qua mừng kính Đức Chúa. Vào ngày này người ta sát tế chiên vào lúc chập tối và sẽ ăn tiệc chiên Vượt Qua với bánh không men (x. Xh 12,1-14). Hôm sau, là bắt đầu tuần lễ Bánh Không Men kính Đức Chúa, kéo dài bảy ngày. Trong tuần này, người Do Thái phải ăn bánh không pha men, để nhắc nhở họ về bữa tiệc trước cuộc Xuất hành thời Mô-sê. Cũng từ ngày 15 tháng Ni-xan, họ phải họp nhau để thờ phụng Đức Chúa và kiêng việc xác. Trong 7 ngày, họ phải tiến hành dâng lễ vật hỏa tế lên Đức Chúa. Đến ngày thứ Bảy là ngày kết thúc, họ phải tập họp để thờ phượng Đức Chúa và phải kiêng các công việc lao động nặng (x. Lv 23,5-8). +Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua tại đâu?: Môn đệ hỏi Đức Giê-su như hỏi một người chủ gia đình có trách nhiệm cử hành lễ Vượt Qua. Vì là dân nhập cư từ nơi khác đến Giê-ru-sa-lem, nên Đức Giê-su và các môn đệ được quyền tổ chức ăn lễ Vượt Qua trước một ngày, tức vào lúc 6 giờ chiều ngày thứ Năm khởi đầu ngày thứ Sáu, thay vì phải mừng vào 6 giờ chiều thứ Sáu tức bắt đầu ngày thứ Bảy, mà năm ấy lễ Vượt Qua nhằm vào thứ Bảy (x. Ga 19,14.31.42). +Người sai hai môn đệ đi: Đây là Phê-rô và Gio-an (x. Lc 22,8). +Sẽ thấy một người mang vò nước…: Đức Giê-su làm chủ không gian và thời gian: Người nhìn thấy trước mọi sự việc đúng như nó sắp xảy ra, cũng như có lần Người thấy trước Na-tha-na-en lúc ông đang ngồi dưới gốc cây vả (x.Ga 1,48).
-C 14-16: + Các ông dọn tiệc Vượt Qua: Theo tục lệ cổ truyền, khi ăn thịt chiên tại nhà, mọi người phải đứng, lưng thắt gọn gàng, chân đi dép, tay cầm gậy và ăn cách vội vã (x. Xh 12,11). Nhưng đến thời Đức Giê-su, người Do Thái không còn giữ tục lệ ấy. Khi ăn tiệc, họ cũng theo cách thức ăn tiệc của văn hóa La-Hy (La-tinh Hy-Lạp) đương thời: Thực khách dự tiệc nằm trên một tấm thảm, đầu nghiêng về một bên và dựa vào cánh tay trái dùng làm gối. Còn tay mặt thì dùng lấy đồ ăn.
+ VỀ VỊ TRÍ TRONG BỮA TIỆC LY VƯỢT QUA: Người môn đệ được Đức Giê-su yêu quí là Gio-an nằm ở bên phải Đức Giê-su và có lúc đã tựa đầu vào ngực Thầy (x. Ga 13,25). Tiếp đến là Phê-rô nằm cạnh Gio-an. Chính ông Phê-rô đã làm hiệu và bảo Gio-an: “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai vậy?” (Ga 13,24). Còn Giu-đa nằm ở bên trái Đức Giê-su. Điều này giải thích tại sao Đức Giê-su trả lời cho Giu-đa mà các môn đệ khác không nghe được (x. Mt 26,25), và việc Đức Giê-su dễ dàng “chấm một miếng bánh trao cho Giu-đa” (x. Ga 13,26). Ngoài ra, về vị trí của các môn đệ khác thì khó xác định.
-C 22: +Cũng đang bữa ăn: Mác-cô tường thuật việc Đức Giê-su lập Phép Thánh Thể trong khung cảnh bữa tiệc Vượt Qua. Đức Giê-su đã theo diễn tiến bữa tiệc Chiên Vượt Qua để truyền cho bánh rượu trở nên  Mình Máu thánh của Người (x. Ga 6,51-58). +Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho các ông: Đây là những cử chỉ Đức Giê-su đã làm từ khi ra giảng đạo như: Hai lần làm cho bánh nhân ra nhiều (x. Mc 6,41; 8,6); Một lần Chúa Phục sinh làm khi ngồi ăn tối với hai môn đệ làng Em-mau (x. Lc 24,30)… Cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng là cử chỉ mà gia trưởng phải làm trong nghi lễ tiệc Chiên Vượt Qua theo luật Mô-sê, sau khi các người đồng bàn hát kinh Ha-len phần I (gồm Thánh vịnh 112-113) và uống chén rượu thứ hai. “Bẻ bánh ra và trao cho các ông” là hai cử chỉ mang ý nghĩa hiệp thông và huynh đệ cộng đoàn. + Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy: Trong niềm tin Ki-tô giáo, Đức Giê-su đã dùng quyền năng để biến đổi bản chất của tấm bánh trở nên Thân Mình của Người, chứ không phải chỉ thành biểu tượng của Mình Chúa mà thôi, như có người lầm tưởng (x. Ga 6,51-58; 1 Cr 11,23-25).
-C 23-25: +Và Người cầm chén rượu…: Chén rượu với lời tạ ơn ở đây là chén rượu thứ ba trong nghi lễ tiệc Chiên Vượt Qua. Đức Giê-su dùng chén rượu thứ ba này để thiết lập Giao ước Mới. + Đây là Máu Thầy, Máu Giao ước, đổ ra vì muôn người: Đây là Máu Giao ước Mới, khác với Giao ước Cũ thời kỳ Xuất hành, đã được ghi lại trong sách Xuất hành như sau: “Bấy giờ ông Mô-sê lấy máu rảy trên dân và nói: “Đây là máu Giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24,8). Trong nghi lễ Giao ước Xi-nai được thiết lập giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en, người ta giết bò, rồi vị tư tế lấy máu nó rảy trên bàn thờ và trên dân chúng. Máu đó là dấu chỉ mối tương quan mới và sự hiệp thông giữa Đức Chúa với dân Ít-ra-en. Trong thời Tân ước, Giao ước Mới được thiết lập bằng Máu Đức Giê-su Con Chiên Thiên Chúa, là dấu chỉ sự hiệp thông mới giữa Thiên Chúa với Hội Thánh là dân Ít-ra-en Mới. Máu sắp đổ ra vào lúc Đức Giê-su chịu khổ nạn thập giá. Cái chết của Người sẽ đền tội thay cho loài người, để ban ơn cứu độ muôn người. +Chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày ấy, ngày Thầy được uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa: Đến ngày tận thế, sau khi lịch sử nhân loại chấm dứt và Nước Thiên Chúa xuất hiện, Đức Giê-su sẽ uống rượu mới với những người được cứu độ trong bữa tiệc cánh chung. Hình ảnh này diễn tả sự hiệp thông chia sẻ trọn vẹn và chung cuộc giữa các môn đệ với Đức Giê-su và với Thiên Chúa.
4.CÂU HỎI: 1)Đức Giê-su thiết lập phép Thánh Thể ở đâu, khi nào và lập để làm gì? 2)Luật Mô-sê qui định thế nào về lễ Vượt Qua và tuần lễ Bánh Không Men? 3)Tại sao Đức Giê-su và các môn đệ lại ăn lễ Vượt Qua vào tối thứ Năm thay vì vào tối thứ Sáu là thời gian bắt đầu đại lễ Vượt Qua năm đó? 4)Hai môn đệ nào đã được Đức Giê-su sai đi dọn chỗ cho thầy trò ăn mừng lễ Vượt Qua? 5)Theo tục lệ, người Do thái phải ăn lễ Vượt Qua thế nào? Tuy nhiên Đức Giê-su và các môn đệ lại ăn tiệc Vượt Qua theo cách nào? 6)Dựa vào Tin Mừng, hãy cho biết vị trí ngồi của các ông Gio-an, Phê-rô và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt trong bàn tiệc? 7)Đức Giê-su đã lập phép Thánh Thể, truyền cho bánh rượu trở nên Mình Máu Người theo thứ tự nào? 8) Những cử chỉ Đức Giê-su làm khi truyền phép giống với các cử chỉ Người đã làm trong các hoàn cảnh nào? 9)Bạn nhận định thế nào về ý kiến cho rằng: Sau khi truyền phép, bánh đã không biến hóa thành Mình Thánh Chúa, mà chỉ là biểu tượng của Mình Thánh Chúa thôi? 10)Chén rượu được truyền phép trở thành Máu Thánh Đức Giê-su là chén rượu thứ mấy trong bữa tiệc chiên Vượt Qua của đạo Do Thái? 11)Phân biệt giá trị và hiệu quả của Máu Giao Ước Mới Đức Giê-su sắp đổ ra trong cuộc khổ nạn, khác với máu chiên bò bị sát tế trong Giao Ước Cũ thời kỳ Mô-sê ra sao? 12)Đức Giê-su hứa sẽ hiệp thông chia sẻ bằng việc uống rượu mới với các môn đệ trong Nước TC vào thời điểm nào sau này?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1.LỜI CHÚA: “Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy” (Mc 14,22):
2.CÂU CHUYỆN:
1) NGUỒN GỐC LỄ MÌNH THÁNH CHÚA         
         Vào năm 1263, một linh mục người Đức đang cử hành Thánh lễ tại một nhà thờ kinh thánh KÍT-XI-A-NA (Christiana), lúc bẻ bánh trước khi rước lễ, vị linh mục này đã trông thấy Mình thánh hình bánh thánh đã biến thành Thân Mình Đức GIÊ-SU tử nạn. Trên thân xác Chúa, máu đang rịn ra qua các vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người. Máu chảy ra làm ướt tấm khăn thánh và mấy lớp khăn phủ trên bàn thờ. Vị linh mục vội gấp các tấm khăn bàn thờ lại. Nhưng gấp tới đâu thì máu vẫn thấm ra tới đó. Cuối cùng máu thấm qua tới 25 lần vải khăn. Vừa cảm động lại vừa sợ hãi đến nỗi vị linh mục không thể tiếp tục dâng hết thánh lễ được.
           Sau đó, ngài đến xin yết kiến Đức Giáo hoàng UR-BA-NÔ và tường trình sự kiện lạ lùng ấy. Đức Giáo hoàng liền sai một phái đoàn, đứng đầu là một Giám mục đến điều tra thực hư. Sau khi xác định thực sự đó là phép lạ, vị Giám mục đã cho rước Mình Thánh Chúa cùng các khăn bàn thờ đã có thấm Máu Thánh kia về RÔ-MA, đặt tại một nhà thờ kính phép Mình Thánh, và mời gọi giáo dân đến chầu Mình Thánh Chúa liên tục 24/24. Sau đó, vào ngày mồng 8 thánh 9 năm 1264, Đức Urbanô đã ra sắc dụ truyền thiết lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa GIÊ-SU. Ngài truyền mừng trọng thể lễ Mình Thánh này trong toàn thể Hội thánh.
2) KỶ VẬT TÌNH YÊU
Có một đôi vợ chồng trẻ kia mới lấy nhau được mười năm và đã có với nhau một đứa con gái 4 tuổi. Trong thời gian đó họ đã sống rất hòa hợp hạnh phúc. Mỗi ngày trước khi rời nhà đi làm buổi sáng, và chiều tối khi về đến nhà, anh chồng không khi nào quên trao cho vợ và con gái cử chỉ âu yếm kèm theo một lời nói yêu thương. Nhờ đó tình yêu giữa hai vợ chồng và đứa con thơ ngày thêm bền chặt. Nhưng rồi hạnh phúc của họ đã bị đe dọa khi một hôm người chồng đi làm về bị trúng mưa và được đem đến bệnh viện điều trị. Sau khi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán anh đã bị bệnh ung thư màng phổi ác tính thời kỳ thứ ba. Một tuần sau thì anh qua đời. Trước khi chết, anh gọi vợ con lại gần và thều thào trăn trối: “Em và con yêu quí! Có lẽ sắp tới giờ Chúa gọi anh về. Anh đã chuẩn bị và sẵn sàng vâng theo ý Chúa. Anh chỉ tiếc một điều là không còn được sống bên em và con nữa. Trước khi đi xa, anh không có gì trối lại cho em ngoài chiếc nhẫn mà vợ chồng mình đã tặng nhau khi kết ước cách đây mười năm. Bây giờ anh xin tặng lại chiếc nhẫn kỷ vật này cho em, để mỗi lần thấy nó, em biết rằng anh vẫn luôn ở bên em và hằng cầu Chúa cho em được hạnh phúc”. Nói xong, anh tháo chiếc nhẫn đang đeo và âu yếm xỏ vào tay vợ, giống như trước đây anh đã từng làm trong lễ hôn phối. Rồi anh đã nhắm mắt lìa đời trong sự thương tiếc vô vàn của vợ con. Sau đó anh đã được an táng tại khu đất thánh gần nhà. Từ đó, mỗi ngày người ta đều thấy một phụ nữ còn rất trẻ, đầu đội khăn tang, tay cầm bó bông, dắt theo đứa con gái nhỏ dại đi vào trong nghĩa trang. Chị ta đã đứng hằng giờ trước ngôi mộ cỏ mọc chưa xanh của người chồng quá cố để cầu nguyện cho anh. Trên tay chị có đeo hai chiếc nhẫn: Một chiếc của ngày thành hôn và chiếc kia là kỷ vật của chồng trao tặng trước khi từ giã cuộc đời.
3) MẸ ĐÃ TẬN HIẾN TRỌN CẢ CUỘC ĐỜI CHO CON:
Cách đây nhiều năm, trên màn ảnh nhỏ có chiếu vở kịch Lá Sầu Riêng của đoàn kịch nói Kim Cương, qua đó nói lên tình yêu của một bà mẹ nghèo đã cảm hóa đứa con vô cảm.
Bà mẹ nghèo này đã phải trải qua nhiều nỗi khó khăn, gian khổ mới được giành được quyền nuôi đứa con trai do mình sinh ra. Trong hoàn cảnh mẹ góa con côi, bà đã phải buôn gánh bán bưng, tảo tần sớm hôm lo cho con ăn học nên người. Từ khi con còn nhỏ đến khi trưởng thành, bà mẹ vẫn cố giấu hoàn cảnh nghèo hèn của mình, không dám công khai đến thăm con giữa chúng bạn, để tránh cho nó khỏi bị mặc cảm vì có người mẹ nghèo hèn.
Con bà giờ đây trở thành bác sĩ và sắp kết hôn với một cô gái nhà giàu. Một hôm khi gánh hàng rong ngang qua nhà trọ của con, vì nhớ con quá, bà đã can đảm bước vào nhà trọ hỏi thăm mà không báo trước. Khi gặp mẹ, anh con trai ngượng nghịu không vui vì có cô bạn gái người yêu đang trong phòng. Bà chợt hiểu anh con trai do sợ mất người yêu nên ban đầu đã làm như không quen biết người mẹ đã sinh thành và hiến cả cuộc đời cho anh. Thấy vậy, mẹ anh rất buồn thốt lên: “Con ơi, mẹ nhớ lúc con còn nhỏ, mẹ đi chợ về chỉ cần cho con một cái bánh đa thôi, mà con cũng rất vui. Nhưng đến nay, mẹ đã cho con cả cuộc đời của mẹ mà con vẫn không thấy vui nghĩa là sao?” Chính lời nói đó đã đánh động lương tâm đứa con, anh ta chợt hiểu ra rằng trên đời này không gì có thể sánh được với tình thương của mẹ. Sau đó anh đã công khai thừa nhận bà mẹ nghèo hèn trước mặt cô người yêu. Cũng nhờ thái độ can đảm đó, anh không những đã không mất mẹ, mà cả cô gái người yêu kia cũng vui mừng, sẵn sàng chấp nhận anh làm chồng vì nhận thấy anh là một người có lòng nhân nghĩa và hiếu thảo.
Trong lễ kính Mình Máu Thánh Chúa, mỗi người chúng ta cũng cảm nghiệm được tình yêu vô biên của Chúa Giê-su đối với chúng ta. Trong bữa tiệc chiên Vượt Qua Đức Giê-su đã thiết lập bí tích Thánh Thể, để biến bánh rượu trở thành Thân Mình Máu Huyết của Người, sắp hiến tế trên bàn thờ thập giá, trở thành lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đức tin Hội Thánh trong cuộc lữ hành về quê trời. Rồi Người đã truyền cho Hội Thánh cử hành Thánh Thể để tưởng nhớ và chia sẻ yêu thương noi gương Người: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.
4) CHIM BỒ NÔNG LẤY THỊT MÌNH MÀ NUÔI DƯỠNG ĐÀN CON:
        Trong một số nhà thờ, nơi gian cung thánh hay trước bàn thờ có chạm trổ hình con chim bồ nông mẹ đang truyền của ăn cho các chim con. Theo truyền thuyết, trong mùa đói khát, chim bồ nông mẹ đã lấy mỏ tự mổ vào ngực để dùng máu mình mà dưỡng nuôi các con. Có một truyền thuyết khác nói rằng chim bồ nông mẹ đã dùng máu mình để tái sinh các con đã chết, nhưng rồi chính chim mẹ lại bị chết.
Qua chuyện này chúng ta dễ hiểu tại sao các tín hữu thời Hội Thánh sơ khai lại dùng hình ảnh chim bồ nông này để ám chỉ Chúa Giê-su, Đấng đã chịu chết trên cây thập giá để cứu chuộc chúng ta khỏi phải chết. Người còn thiết lập bí tích Thánh Thể để nên lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đức tin của chúng ta.
THẢO LUẬN:
1) Chúa Giê-su lập bí tích Thánh Thể khi nào và ý nghĩa của bí tích này ra sao?
2) Ta phải hiệp thông với Chúa Thánh Thể thế nào để cảm thông và chia sẻ với tha nhân, hầu góp phần kiến tạo “Trời Mới Đất Mới” theo thánh ý Chúa?
SUY NIỆM:
Hơn hai ngàn năm trước đây, Đức Giê-su đã làm một việc tương tự: Biết rằng “Giờ đã đến, Giờ Con Người phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, và Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Người đã lập phép Thánh Thể, để lại cho Hội Thánh kỷ vật là dấu hiệu của một tình yêu lớn lao tột đỉnh. Kỷ vật đó chính là Mình Máu Người dưới hình bánh rượu, làm của ăn của uống thiêng liêng để các tín hữu được hiệp thông với Người. Tin Mừng Mác-cô đã tường thuật việc Đức Giê-su lập phép Thánh Thể trong khung cảnh bữa tiệc Chiên Vượt Qua (x Mc 14,22-24), như Người đã hứa trong bài giảng về Bánh Hằng Sống tại hội đường thành Ca-phác-na-um (x. Ga 6,51-58). Vậy Đức Giê-su thiết lập phép Thánh Thể khi nào? Ý nghĩa cũa bí tích này ra sao? Ngày nay, để đạt hiệu quả cao nhất, chúng ta phải cử hành bí tích Thánh Thể như thế nào?
1) THIẾT LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ:
Đức Giê-su đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc Chiên Vượt Qua cũng là bữa ăn cuối trước khi từ biệt các môn đệ để bước vào cuộc khổ nạn, Người sử dụng bánh không men và rượu nho dùng trong bữa tiệc Vượt Qua của đạo Do thái để biến nên Thịt Máu Người, hầu ban cho những kẻ ăn Thịt uống Máu ấy sẽ được sống đời đời. Thánh Mác-cô đã thuật lại câu chuyện Đức Giê-su lập phép Thánh Thể như sau: “Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho các ông và nói: Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy. Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ứớc, đổ ra vì muôn người” (Mc 14,22-24).
2) Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH THÁNH THỂ:
Tin Mừng đã ghi nhận bốn sự kiện liên quan đến bí tích Thánh Thể như sau:
– Một là phép lạ Đức Giê-su biến nước lã thành rượu nho tại tiệc cưới thành Ca-na, tiên báo về việc biến rượu trở nên Máu Người trong bữa Tiệc Ly sau này (x Ga 2,1-11).
– Hai là phép lạ Đức Giê-su nhân bánh ra nhiều tại thành Ca-phác-na-um, sau đó Người cho biết sẽ ban Thịt Máu Người làm của ăn của uống thiêng liêng đem lại sự sống đời đời cho những ai lãnh nhận (x Ga 6,1-14.32-35.48-58).
– Ba là bữa Tiệc Ly, trong đó Người dùng bánh rượu trong tiệc Chiên Vượt Qua của Do thái giáo để thiết lập bí tích Thánh Thể của Ki-tô giáo và đã truyền cho các môn đệ: ”Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,14-19).
– Bốn là Đức Giê-su Phục Sinh cử hành nghi thức Bẻ Bánh với hai môn đệ tại làng Em-mau:  dọc đường Người đã dùng lời Thánh Kinh để nói về mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Đấng Thiên Sai khiến các ông nóng lên lòng yêu mến Chúa. Rồi trong lúc ăn tối, Người lặp lại các cử chỉ lời đọc trong bữa Tiệc Ly (x Lc 24,13-32) khiến mắt họ mở ra và nhận biết Người.
Như vậy, Mình Thánh Chúa chính là món quà quí giá nhất mà Chúa Giê-su tặng ban cho loài người. Người đã tự hiến để ban Thịt Máu Người làm của ăn thức uống nuôi dưỡng đức tin của chúng ta và để có thể ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28,20). Mặc dù trí khôn chúng ta khó lòng hiểu thấu, dù giác quan của chúng ta không cảm thấy có sự khác biệt giữa tấm bánh ly rượu trước và sau khi truyền phép, nhưng đức tin dạy chúng ta rằng: Sau lời truyền phép của linh mục chủ tế trong thánh lễ thì bánh rượu liền biến hóa nên Mình Máu Chúa Giê-su như Người đã dạy: “Vì Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,54-56). Quả thật, chỉ có trái tim của một người Cha, người Thầy yêu thương con cái và môn đệ đến cùng như Chúa Giê-su, mới nghĩ ra phương thế tuyệt hảo để tặng món quà vừa thiết thực vừa kỳ diệu như vậy!
3) NĂNG HIỆP THÔNG VỚI CHÚA THÁNH THỂ ĐỂ CHIA SẺ CHO ANH EM:
– Đức Giê-su là tấm bánh bẻ ra xây dựng một thế giới mới: Tin Mừng Gio-an có đoạn như sau : “Người đã yêu thương những kẻ thuộc về thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13, 1). Như hạt lúa được biến đổi nên tấm bánh mì, phải qua nhiều công đoạn: bị nghiền nát thành bột, nhào với nước và cho vào lò nướng rồi mới trở thành tấm bánh mì thơm ngon, thì Chúa Giê-su cũng tự nguyện trở nên bánh thánh cho nhân loại chúng ta trải qua nhiều công đoạn như: hạt lúa Giê-su đầu tiên được gieo trong lòng Đức Mẹ Đồng Trinh, đã lớn lên dưới ánh nắng mặt trời làng Na-da-rét, rồi Người đã bị gặt hái, bị nghiền nát trong cuộc tử nạn, bị nướng trong lò luyện đau khổ thập giá trước khi phục sinh rồi được bẻ ra và trao cho chúng ta hưởng dùng. Do đó, khi đón nhận Bí tích Thánh Thể, chúng ta được mời gọi trở nên giống như tấm bánh Giê-su, chịu đau khổ và được chia sẻ cho anh em để mang lại sự thật, bình an cho thế giới đang chìm trong tối tăm, gian ác, bất công, dối trá, hận thù.
– Hiệp thông với Chúa bằng việc năng dự lễ và cầu nguyện: Mỗi ngày chúng ta hãy năng tham dự Thánh lễ và dọn mình rước lễ sốt sắng, năng đến chầu Thánh Thể. Trong ngày hãy làm các việc bổn phận, các việc hãm mình, hy sinh và bác ái để dâng lên Chúa kèm theo lời nguyện tắt: “Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể. Con làm việc này như bông hoa dâng tiến Chúa, biểu lộ lòng con yêu mến Chúa. Xin Chúa vui nhận và ban cho một bệnh nhân sớm được ơn chữa lành, cho một tội nhân sớm được hồi tâm hoán cải, cho một  người lương quen biết sớm tin yêu Chúa để họ cũng được chia sẻ niềm vui và hạnh phúc Nước Trời đời đời với con.”
– Hiệp nhất với nhau trong cộng đoàn: Bàn tiệc Thánh Thể do Chúa lập ra để giúp chúng ta thể hiện tình thương hiệp nhất với nhau. Do đó, chúng ta cần tránh những hành động ích kỷ gây chia rẽ nội bộ, như Tông đồ Phao-lô đã cáo trách một số người thuộc giáo đoàn Cô-rin-thô: “Trước tiên tôi nghe rằng khi họp cộng đoàn, anh em chia rẽ nhau… Khi anh em họp nhau, thì không còn phải là ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước. Và như thế kẻ thì bị đói, người lại no say! Anh em không có nhà để ăn uống sao? Hay anh em khinh Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của?… Cho nên thưa anh em, khi họp nhau để dùng bữa, anh em hãy đợi nhau. Ai đói thì ăn ở nhà, kẻo anh em đến họp mà hóa ra để bị kết án!” (1 Cr 11,18-22.33-34). Mỗi người chúng ta hãy thể hiện tình hiệp thông khi tham dự thánh lễ bằng cách: vào trong nhà thờ dự lễ thay vì đứng ngoài, mở miệng đối đáp với chủ tế và đọc kinh ca hát chung với cộng đoàn.
– Chia sẻ tình thương của Chúa cho tha nhân: Sau khi rước lễ để đón Chúa Thánh Thể vào lòng, chúng ta hãy tâm sự với Chúa và sau lễ hãy mang Chúa đến chia sẻ với tha nhân, bằng vịệc: Chủ động bắt tay làm quen với những người có dịp tiếp xúc; Nhẫn nhịn chịu đựng và không chấp nhất những lời nói và cách ứng xử thiếu bác ái của tha nhân; không dửng dưng trước nỗi đau của người bên cạnh, nhưng quảng đại nhường cơm sẻ áo, nhường chỗ tốt cho người già cả, tật bệnh trên xe và ở nơi chung; năng xin điều lành cho những người đau khổ; Khiêm tốn trình bày về Chúa cho người muốn tìm hiểu đức tin công giáo…
5. LỜI CẦU:
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Chúng con phải sống tinh thần của bí tích Thánh Thể”, nghĩa là trở nên “tấm bánh bẻ ra cho một thế giới mới”. Xin cho chúng con ý thức rằng: Chúa luôn đồng hành với chúng con và nhờ chúng con đến với tha nhân, để an ủi động viên những người nghèo khó lao nhọc, bênh vực những kẻ cô thế cô thân, mời gọi những tội nhân mau hồi tâm sám hối, chia sẻ cơm bánh vật chất cho những kẻ đói khát, khiêm tốn phục vụ những ngừơi bất hạnh … Nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ được Chúa thương ban ơn cứu độ và đón nhận chúng con vào dự bàn tiệc Nước Trời đời đời với Chúa sau này.
X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. -Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

THÁNHTHỂ-383: Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô Năm C

Suy Niệm Tin Mừng:
Lời Chúa: Lc 9, 11b-17
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân chúng về nước Thiên Chúa và chữa lành những kẻ cần được cứu chữa. Vậy khi đã xế chiều, nhóm mười hai đến thưa Người rằng: “Xin Thầy giải tán dân chúng, để họ đi vào trong các làng mạc và trại quanh đây mà trú ngụ và kiếm thức ăn, vì chúng ta đang ở nơi hoang địa”. Nhưng Người nói với các ông: “Các con hãy cho họ ăn đi” …Số đàn ông độ năm ngàn. Người nói với các môn đệ rằng: “Hãy cho họ ngồi xuống từng nhóm độ năm mươi người”. Các ông đã làm như thế, và bảo tất cả ngồi xuống. Chúa Giêsu cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, nhìn lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và phân phát cho các môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Tất cả đều ăn no nê, và người ta thu lượm được mười hai thúng miếng vụn còn dư lại.

Suy niệm
“Tất cả đều ăn no nê”.
 

Mọi thứ thức ăn trần gian, con người không lấy làm no đủ. Người nghèo không chỉ cần cơm bánh THÁNHTHỂ-383

Mọi thứ thức ăn trần gian, con người không lấy làm no đủ. Người nghèo không chỉ cần cơm bánh, mà còn cần tình thương. Người giàu dư cơm bánh, nhưng lại cần lẽ sống. Chỉ có Chúa Giêsu mới có khả năng trao ban và lấp đầy mọi khát vọng thâm sâu nhất của con người. Người dạy dỗ Lời chân lý; Người hóa bánh ra nhiều để nuôi sống đoàn dân. Khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã ban cho nhân loại lương thực thần linh đem lại sự sống đời đời là chính Thịt Máu Người.
Mỗi khi tham dự Thánh Thể, với bàn tiệc Lời Chúa và Mình Chúa, chúng ta được chính Chúa Giêsu nuôi dưỡng. Cũng như sự sống tự nhiên, cần có lương thực để tồn tại và phát triển, sự sống siêu nhiên cũng thế. Điều cần thiết là chúng ta có ý thức để đến lãnh nhận Thánh Thể Chúa, hay chúng ta đang để linh hồn còi cọc, suy dinh dưỡng ?
Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, Mình và Máu Chúa là hồng ân vô giá. Xin cho mỗi người chúng con biết mau mắn đón nhận sự sống thần linh của Chúa bằng việc tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn. Nhờ đó, chúng con được lớn lên trong niềm tin, trong tình yêu Chúa. Amen.

 

THÁNHTHỂ-384: Sức sống

Tại Tây Ban Nha có một câu chuyện về cậu bé tên là Marcellino. Mới sinh ra cậu bị người ta quăng THÁNHTHỂ-384

Tại Tây Ban Nha có một câu chuyện về cậu bé tên là Marcellino. Mới sinh ra cậu bị người ta quăng trước cửa tu viện, và đã được các tu sĩ đem về nuôi.
Vốn tính hay nghịch ngợm, nên thày đầu bếp không cho cậu leo lên gác. Nhưng vì tò mò, một ngày kia Marcellino lén leo lên, cậu ngạc nhiên thấy một người khổng lồ bị treo trên thập giá. Nghĩ rằng người ấy chắc là đói lắm, nên đêm hôm ấy Marcellino vào bếp ăn cắp bánh mang lên cho ông. Người khổng lồ đưa tay nhận bánh và mỉm cười với cậu.
Từ đó, ngày nào cậu cũng đem bánh cho người ấy. Ngày kia, ông âu yếm ôm lấy cậu bé và hỏi:
- Con thích nhất điều gì trên trần gian này?
Cậu mau mắn thưa:
- Con muốn được gặp mẹ con.
Người ấy liền nói với cậu bé:
- Con sẽ được gặp mẹ con ngay tức khắc nếu con chấp nhận phải chết đi.
Hôm sau các thầy tìm thấy cậu nằm chết như đang ngủ say trong vòng tay thương mến của Chúa Giêsu.
Vì yêu thương mẹ, muốn được ở bên mẹ, mà Marcellino đã bằng lòng chịu chết. Vì yêu thương con người, Đức Giêsu cũng đã sẵn lòng chịu chết để cho con người được sống. Hơn nữa, Người còn có sáng kiến là hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, để được ở mãi với con người, để làm của ăn của uống, như lương thực nuôi dưỡng con người trên cuộc hành trình về quê trời. Người đã hứa: “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.
Thánh thể là Bí tích Tình Yêu. Khi mời gọi: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, Đức Giêsu muốn các Kitô hữu hãy lập lại cái chết tự hiến vì yêu thương của Người, bằng cả cuộc sống dấn thân và trao ban.
Khi lãnh nhận bánh Thánh Thể, người tín hữu ý thức mình đang lãnh nhận tình yêu Chúa. Và như dòng suối ân tình, họ lại tuôn trào tình yêu Chúa sang cho anh em đồng loại.
Khi chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể, người tín hữu cũng muốn chia sẻ cơm bánh cho tha nhân, chia sẻ hồng ân của Đức Kitô cho những kẻ đói nghèo, túng thiếu, không nơi nương tựa.
Chính khi nhận lãnh Thánh Thể để rồi chia sẻ trao ban, người tín hữu lại nhận được sự sống trường sinh và niềm vui lại tràn ngập tâm hồn.
Vì thế, sống Bí tích Thánh Thể chính là sống yêu thương, sống Bí tích Thánh Thể là sống cho và vì Đức Kitô, sống Bí tích Thánh Thể là sống như Đức Kitô đã sống và đã hiến trao cách quảng đại cho tha nhân. Người tín hữu không lãnh nhận bánh Thánh Thể để cất giữ cho riêng mình, nhưng là để biến con người mình thành lương thực nuôi dưỡng anh em.
Việc chia nhau một tấm bánh nhắc nhở chúng ta sống là phải chia sẻ và trao ban, sống là yêu thương và hy sinh cho nhau.
Trong thánh lễ bế mạc Đại hội Thánh Thể Quốc tế lần thứ 45, Đức Thánh Cha kêu gọi: “Chúng ta rước Mình Thánh Chúa Kitô mà đồng thời lại sống xa lạ với những người đang đói khát, kẻ bị bóc lột, tù đày hay đau yếu”.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, khi chúng con sống yêu thương là chúng con đang làm chứng rằng: Chúa chính là sức sống mãnh liệt của chúng con.
Xin cho chúng con khi lãnh nhận bánh Thánh Thể cũng đón nhận được sức sống mới của Chúa, để chúng con ra đi làm chứng cho tình yêu Chúa trong cuộc sống chúng con.

 

THÁNHTHỂ-385: Sự sống phát xuất từ việc trao ban sự sống

(Suy niệm của Lm. FX. Vũ Phan Long)
1.- Ngữ cảnh
 

Đoạn văn này nằm trong Phần I của TM IV (“Sách các Dấu lạ”, ch. 2–12) và thuộc bài diễn từ THÁNHTHỂ-385

Đoạn văn này nằm trong Phần I của TM IV (“Sách các Dấu lạ”, ch. 2–12) và thuộc bài diễn từ “Bánh trường sinh” (6,1-71).
Nói chính xác, bài diễn từ “Bánh trường sinh” bắt đầu từ c. 25 và được kết cấu thành năm vòng tròn, mỗi vòng bắt đầu bằng mộtcâu nói của Đức Giêsu và mộtvấn nạn của người Do Thái: a) 6,25; b) 6,28; c) 6,34; d) 6,41; e) 6,52. Cứ mộtcâu hỏi của người Do Thái lại đưa Đức Giêsu đến mộtmạc khải mới về mầu nhiệm bản thân Người; mạc khải này càng gây thắc mắc cho người Do Thái hơn. Năm vòng tròn này chuyển theo hình trôn ốc, đưa đến chọn lựa cuối cùng: bỏ rơi Đức Giêsu (6,66) hoặc tiếp tục gắn bó với Người (6,69).

2.- Bố cục
Bản văn có thể được chia thành bốn phần:
1) Đề tài được xác định lần ba (x. cc. 35 và 48): “Tôi là bánh hằng sống” (6,51);
2) Thắc mắc của người Do Thái (6,52);
3) Triển khai đề tài (6,53-56);
4) Nền tảng của đề tài (6,57-58; c. 58a nhắc lại c. 51a).
3.- Vài điểm chú giải
- từ trời xuống (51): hàm ý mầu nhiệm Nhập Thể.
- bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây (51): Chúng ta có thể tự hỏi vì sao tác giả Gioan không dùng từ ngữ “thân thể” (sôma) mà lại dùng từ “thịt” (sarx), nhất là khi mà từ sôma đã trở thành từ quen thuộc trong văn chương Tân Ước để gọi bí tích Thánh Thể (x. Mc 14,22; Mt 26,26; Lc 22,19; 1 Cr 11,24). Đồng ý là trong bữa tiệc cuối cùng, hẳn là Đức Giêsu đã sử dụng từ A-ram bơsar (Híp-ri bâsâr), và từ này, cho dù chỉ “thân thể”, vẫn được ưu tiên dịch ra bằng sarx, “thịt”, trong Bản dịch LXX. Nhưng thông thường, Ga cũng không mấy để ý đến từ Hy Lạp chính xác. Ở đây hẳn phải có lý do khác.
Sarx đúng là từ để dịch bơsar. Nhưng sarx không chỉ có nghĩa là “thịt” là còn có nghĩa là “toàn thân thể”; “toàn thể con người” [theo nghĩa là có quan hệ với người chung quanh; x. 1,14]. Để diễn tả các sắc thái này, ngôn ngữ Hy Lạp có khả năng tinh tế hơn tiếng A-ram. Nhưng trong Do Thái giáo sau này, người ta đã chọn dịch bơsar là sôma, cho dù trong Tân Ước, đôi khi người ta dùng cả hai từ. Nhưng để nói về bí tích Thánh Thể, từ sôma đã được chọn, ngoại trừ mộtvài bản văn sau thời các tông đồ, được viết dưới ảnh hưởng của Ga 6, đã dùng từ sarx (vd: thánh Inhaxiô Antiôkhia, thánh Giúttinô…). Như thế, dù trong Hội Thánh tiên khởi, đã có mộttừ nhất định để gọi bí tích Thánh Thể, nếu Ga vẫn giữ lại từ sarx, là vì sarx-thịt có trong ngôn ngữ A-ram mộtý nghĩa rộng hơn sôma-thân thể. Đàng khác, trong Ga, sôma được dùng để gọi mộtxác chết: làm thế nào một xác chết có thể ban sự sống? Ngược lại, “thịt” vừa có nghĩa là toàn thể con người vừa có nghĩa là thân thể, và “hai nghĩa trong một” này rất lý tưởng để gợi ra mộttrật cái chết trên thập giá và bí tích Thánh Thể. Bởi vì ý nghĩa căn bản và tại nguồn của “thịt mà Con Người sẽ ban” không phải là bí tích Thánh Thể, mà là “chính bản thân” Người trong cái chết trên thập giá. Vậy, khi Đức Giêsu nói về “thịt của Người để cho thế gian được sống”, Người muốn nói đến “bản thân Người” (chịu sát tế) để cho thế gian được sống”.
- làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt (52): Đại danh từ Hy Lạp “ông này” (houtos) hàm ý khinh bỉ (x. c. 42). Trong Kinh Thánh, “ăn thịt ai” là một công thức bóng bảy để diễn tả sự thù nghịch (x. Tv 27,2; Dcr 11,9). Còn việc uống máu bị coi như một việc ghê tởm bị luật Thiên Chúa cấm (St 9,4; Lv 3,17; Đnl 12,23; Cv 15,20).
- ăn... uống (53): Hai động từ Hy Lạp này (esthiein và pinein) là những hành vi rất cụ thể để nuôi dưỡng thân xác.
- thịt... máu (53): Thành ngữ Híp-ri “thịt và máu” có nghĩa là toàn thể con người. Vào thời phong trào Cải Cách (tk. xvi), người ta đã tranh luận là có cần nhận Thánh Thể dưới hai hình không. Tất cả những gì có thể rút ra từ bản văn này là: cần phải nhận trọn vẹn Đức Kitô.
- Ai ăn (54 và 57): Động từ “ăn” ở đây là trôgein (bản văn tiếng Anh dịch là feed) chứ không phải là esthiein như ở trên, để diễn tả một hành động rất cụ thể: “nhai bằng răng”. Động từ này nêu bật tính hiện thực của bí tích Thánh Thể.
- ở lại (56): Động từ menein (remain; rester) là một động từ quan trọng của TM Ga (x. chương 15: “Cây nho thật”; động từ này được dùng trong TMNL: 12 lần; Ga: 40 lần; 1-3 Ga: 27 lần; Kh: 1 lần). Tác giả Ga thích dùng động từ này để diễn tả quan hệ trường tồn giữa Chúa Cha và Chúa Con và giữa Chúa Con và các Kitô hữu. Ở trong Cựu Ước, “trường tồn” là mộtđặc điểm của Thiên Chúa và của những thứ thuộc về Thiên Chúa (x. Đn 6,26; Kn 7,27; 1 Pr 1,25), đối lại với đặc tính tạm bợ, chóng qua của con người. Tuy nhiên, TM IV còn dùng mộtcông thức là “ở trong” (menein en) để nói về tính nội tại liên kết Chúa Cha, Chúa Con và các Kitô hữu lại với nhau: như Con ở trong Cha, và Cha ở trong Con (14,10-11), thì Con cũng ở trong loài người, và loài người phải ở trong Cha và trong Con (17,21.23).
- kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống (57): Bí tích Thánh Thể thông ban cho các tín hữu sự sống mà Chúa Con nhận từ nơi Chúa Cha.
- chết (58): Đây là cái chết thể lý đối lại với sự sống thiêng liêng.

4.- Ý nghĩa của bản văn
Trong tư cách là Con Thiên Chúa được Chúa Cha sai đến, Đức Giêsu kêu gọi chúng ta hiệp thông vào sự sống với Người. Nếu chúng ta tin vào Người, chúng ta được đi vào trong sự sống với Người, trong sự sống vĩnh cửu. Ở đây Người giải thích cặn kẽ Người là bánh ban sự sống cho chúng ta như thế nào: Trong cái chết trên thập giá, Người hiến mình cho thế gian được sống và Người ban cho chúng ta thịt và máu Người làm của ăn của uống.
* Xác định đề tài (51)
Đề tài đã được xác định ở cc. 35 và 48, nay lại được nhắc lại, nhưng mang ý nghĩa phong phú hơn, bởi vì đã được triển khai hai đợt (cc. 35-47 và cc. 48-50). Khi nói “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (c. 51a), Đức Giêsu tóm ý nghĩa của dấu chỉ hóa bánh ra nhiều. Chính bản thân Người là sức sống thiên quốc và thần linh, tuyệt đối không thể cạn kiệt. Ai đi vào tương quan đúng đắn với Người thì được thông phần vào sự sống muôn đời. Trong câu “Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (c. 51b) chứa đựng những yếu tố sẽ được triển khai sau này. Cho đến nay, các lời Đức Giêsu nói chỉ giới thiệu tổng quát rằng Người là bánh ban sự sống; nhưng bây giờ Người nói rằng trong tương lai, Người sẽ ban bánh. Bánh ấy chính là thịt Người, hoặc là chính bản thân Người với trọn vẹn cuộc sống con người. Người đã đưa nhân tính của Người ra mà phục vụ sự sống của thế giới, của tất cả mọi người không loại trừ ai.
* Thắc mắc của người Do Thái (52)
Người Do Thái bị vấp phạm nặng nề vì lời khẳng định của Đức Giêsu: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?”. Với mức độ Đức Giêsu mạc khải rõ ràng hơn, sự đối kháng cũng tăng theo. Lúc đầu, còn là những xầm xì, nay đã trở thành tranh luận. Nếu cố gắng ép nghĩa, thì cũng có thể hiểu lời khẳng định của Đức Giêsu theo nghĩa ẩn dụ: ăn và uống đây chính là học hỏi Lề Luật. Nhưng dựa theo giọng điệu của Đức Giêsu, những lời Người nói, người Do Thái đã hiểu rằng phải hiểu mọi sự theo nghĩa chữ. Và theo họ, như thế là phi lý: “ăn thịt người” đã là một chuyện phi lý, lại còn “ăn thịt” một kẻ tầm thường (houtos) như ông này! Chúng ta gặp lại một hiểu lầm liên hệ đến các điểm trung tâm của Kitô học Gioan (x. 2,19-21; 7,33-36; 8,21-22; 12,32-34; 13,36-38; 14,4-6; 16,16-19).
* Triển khai đề tài (53-56)
Đức Giêsu đã dùng ngôn ngữ hiện thực, thậm chí sống sượng (“ăn”, trôgein) để diễn tả tính hiện thực của bí tích Thánh Thể. Để được thông phần vào sự sống muôn đời, cần phải ăn thịt Con Người và uống máu Người. Cùng với thịt, bây giờ còn có máu nữa: Đức Giêsu nhắc đến chính cái chết thảm khốc của Người trên thập giá, được tượng trưng bằng từ ngữ “máu”. Trong bánh, là thịt Người, và trong rượu, là máu Người, Người sẽ ban tặng chính bản thân Người như Đấng đã trao ban mạng sống trên thập giá. Các tặng phẩm Thánh Thể có nền tảng là chính cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, trong hành vi Người hiến tặng mạng sống để cho thế gian được sống, như bằng chứng tối cao về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người. Đức Giêsu, Đấng hiến mạng sống trên thập giá, cũng ban thịt Người như là của ăn và máu Người như là của uống. Thịt và máu này là mộtbằng chứng tối hậu về tình yêu của Người và là bảo chứng về tình yêu mà Người chứng tỏ khi hy sinh mạng sống.
Ai lấy đức tin mà đón nhận quà tặng này, thì cũng tuyên xưng Đấng Chịu Đóng Đinh với tình yêu của Người là nguồn mạch ban sự sống, và sẽ được thông phần vào sự sống của Người, cũng là hiệp thông với Người: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (c. 54). Một lần nữa, Đức Giêsu lại khẳng định rõ ràng rằng sự sống đời đời và hiệp thông cá nhân với Người chỉ là một. Với người nào ăn thịt và uống máu Người, Đức Giêsu hứa: “[Người ấy] được sống muôn đời (c. 54)” và “người ấy … ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (c. 56). “Ở lại trong nhau” có nghĩa là trao đổi hỗ tương trọn vẹn và kết hợp với nhau chặt chẽ nhất. Dụ ngôn Cây nho và các cành sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa này hơn nữa (x. 15,1-17).
* Nền tảng của đề tài (57-58)
Chúa Cha chính là nguồn phát xuất ra mọi sự: Ngài gửi Chúa Con đến với loài người như là “bánh ban sự sống” (6,32.44), nhưng cũng dẫn đưa loài người đến với Đức Giêsu trong tư cách là “bánh ban sự sống” (cc. 37.44.65). Thiên Chúa là Cha “hằng sống”, là chính sự sống, là sức sống viên mãn không bao giờ cạn kiệt, là Thiên Chúa hằng sống. Đức Giêsu được sai phái đi bởi Chúa Cha và có sự sống bởi Chúa Cha; Người cũng có thể thông ban sự sống thần linh. Bánh ban sự sống đến từ Chúa Cha hằng sống và nhận từ Chúa Cha tất cả sức mạnh ban sự sống. Bởi vì Người phát xuất từ Chúa Cha hằng sống, Đức Giêsu là bánh ban sự sống, là bánh từ trời xuống.

+ Kết luận
Đức Giêsu đã đến để cứu độ thế gian (Ga 3,17), Người là Đấng “Cứu độ trần gian” (4,42). Người đã hy sinh chính mạng sống, để đưa lại sự sống cho thế gian. Do đó, không ai bị loại trừ cả. Bí tích Thánh Thể là bữa tiệc Thiên Chúa đặt để thết đãi loài người. Bàn thờ dâng lễ cũng chính là bàn tiệc, nơi thịt và máu Đức Kitô được chuyển đến cho các thực khách làm thức ăn thức uống. Mọi người đều được mời gọi đến bàn tiệc này. Lương thực là chính Đức Giêsu, mà Người ban cho chúng ta, không được dùng để duy trì sự sống trần gian hoặc ngăn cản cái chết thể lý. Chính Đức Giêsu cũng đã chết, khi trao hiến thịt và máu trên thập giá. Nhưng cũng chính Người, là bánh ban sự sống, sẽ ban sự sống muôn đời, sự sống này không mai một đi trong cái chết và sẽ được viên mãn trong ngày sống lại.

5.- Gợi ý suy niệm
Nhận lấy Mình Máu thánh Đức Kitô, trước tiên là nhận biết Chúa Cha là nguồn ban cho chúng ta ơn cao trọng ấy. Đức Giêsu đã nhiều lần nói với chúng ta về Chúa Cha như về Đấng ban cho chúng ta tất cả mọi sự. Chúa Cha sai Con đến với loài người như là “bánh ban sự sống” (Ga 6,32.44), nhưng Chúa Cha cũng dẫn đưa loài người đến với Đức Giêsu, “bánh ban sự sống” (6,37.44.65). Đức Giêsu cũng nói về Chúa Cha: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (6,40). Người cũng nói rằng tất cả những gì Người ban như là ân huệ riêng, thì có nền tảng là chính Chúa Cha (6,57). Thiên Chúa là Cha hằng sống, là chính sự sống, là sinh lực viên mãn. Như thế, khi đến với Tiệc Thánh Thể, chúng ta cần nhớ rằng chính Chúa Cha đang dẫn chúng ta đến để ban cho chúng ta lương thực là chính Con Một của Ngài.
Nếu chúng ta ăn thịt và uống máu Đức Giêsu, chúng ta đón nhận các quà tặng của chính Người và tuyên xưng niềm tin rằng Người hiện diện trong bánh và rượu đã được truyền phép và chỉ nhờ Người, Đấng được giương cao và chịu đóng đinh, chúng ta mới có sự sống đời đời. Khi đó, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra rằng Thịt và Máu Người chính là bằng chứng cao cả nhất về tình yêu của Chúa Cha và của chính Người đối với nhân loại, đồng thời cũng là bảo chứng về sự sống đời mà Người muốn ban cho chúng ta.
Ăn thịt Đức Giêsu, hoặc ăn chính Đức Giêsu, trong bí tích Thánh Thể, là cách thức duy nhất giúp tránh được tình trạng suy nhược thiêng liêng và cái chết. Ăn Đức Kitô, chính là sống nhờ Đức Kitô. Nếu chúng ta hiệp thông đều đặn vào sự sống của Người, chúng ta đã được đặt để trong tình trạng ân phúc, và tình trạng này sẽ triển nở thành vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu.
Đã hiệp thông vào thịt và máu Đức Kitô, chúng ta trở thành “Đức Kitô toàn thể”. Do đó, chúng ta cũng phải trở thành “lương thực” nuôi dưỡng anh chị em chúng ta. Mãi mãi chúng ta sẽ thấy mình bất xứng, muốn co lại, khép kín trên chính mình, nên cứ phải để cho Đức Giêsu giúp biết hy sinh hầu phục vụ sự sống của anh chị em mình. “Hồng ân Chúa Kitô và Thánh Thần của Người mà chúng ta lãnh nhận trong việc hiệp lễ hoàn tất cách sung mãn tuyệt vời những ước muốn hợp nhất huynh đệ đang ngự trị trong tâm hồn con người, đồng thời nâng cao kinh nghiệm về tình huynh đệ trong việc tham dự chung vào cùng mộtbàn tiệc Thánh Thể đến một mức độ vượt hẳn kinh nghiệm đồng bàn đơn thường của con người” (Thông điệp Giáo Hội từ bí tích Thánh Thể, 24).

 

THÁNHTHỂ-386: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan 6,51-58
Khi ấy, Đức Giêsu nói với người Do Thái rằng: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống."
Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được? "Đức Giê-su nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời."

SUY NIỆM
 

Chúa Giêsu đã tuyên bố: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn THÁNHTHỂ-386

Chúa Giêsu đã tuyên bố: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi ban sẽ là thịt tôi".
Nhiều người Do Thái và có một số trong các môn đệ Chúa đã cho lời đó là ngoa ngôn, là khoác lác, mị dân nên bỏ Chúa mà đi.
Quả thật là điều khó chấp nhận khi không có đức tin soi sáng và trợ lực. Vì làm sao một người có thể lấy thịt mình mà cho người ta ăn. Người nói đó có thể là người điên nói nhảm ? Nhưng nhờ đức tin ta tin thật Đức Chúa Giêsu đã lấy máu mình để tẩy rửa ta sạch tội lỗi, và lấy thịt mình để nuôi ta. Có gì mà Thiên Chúa không làm được? Có gì mà tình yêu không dám làm? Vì quá yêu ta Chúa đã hành động như người mất trí. Chúa không mất trí nhưng chính chúng ta không thể hiểu được Chúa Giêsu yêu thương chúng ta thế nào. Thánh Giêrado dòng Chúa Cứu Thế một lần kia có việc gấp, phải đi qua bàn thờ để Mình Thánh Chúa. Người cung kính bái quỳ rồi muốn đứng dậy đi ngay, nhưng thấy lòng mình không thể không quỳ lại với Chúa, nên lại quỳ xuống, rồi lại đứng lên, rồi lại quỳ xuống... Và người nghe Chúa nói: Giêrado con điên sao? Và trong lúc ngây ngất lòng kính mến Thánh Thể, thánh nhân thưa: Lạy Chúa, Chúa điên hơn con. Vì Chúa đã quá yêu chúng con mà tự giam mình trong nhiệm tích này.
Những ai biết câu chuyện đó, trách thánh nhân nói hỗn nhưng phải nhận là một lời chí lý.
Chí lý, vì Chúa Giêsu đã chết vì ta, thay ta để ta được tái sinh, thì Chúa như một người mẹ với đứa con duy nhất của bà. Bà sống vì con và sống cho con, nên nếu cần xẻ thịt mình nuôi con, bà cũng không ngần ngại.
Chúa yêu ta, Chúa ban thịt máu mình để thông ban cho ta sự sống thần thiêng.
Vì thế, nếu chính chúng ta không tin, không nhận lấy bánh hằng sống, bánh ban sự sống là Mình Máu Thánh Chúa thì quả là chúng ta chưa đủ khôn.
Nhưng nếu chúng ta rước Mình Máu Thánh Chúa mà thiếu lòng tin cậy kính mến thì chính chúng ta làm một việc điên rồ, là đáp lại tình yêu bao la của Chúa bằng tâm tình vô ơn, vô phép và độc ác nữa, vì chúng ta nhốt Chúa vào tâm hồn tội lỗi của chúng ta.

CẦU NGUYỆN
1. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, là Bánh hằng sống từ trời ban xuống để thông ban sự sống thần thiêng cho chúng con. Chúng con thờ lạy Chúa.
*Hát: Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa không ngơi. Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa đời đời.
2. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con tin thật Bánh trường sinh là Thánh Thể Chúa do nhân tính Chúa được tạo thành và sinh ra bởi Đức Maria đồng trinh. Chúng con thờ lạy Chúa.
*Hát: Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa không ngơi. Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa đời đời.
3. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa đã hiến nhân tính Chúa làm lễ hy sinh trên khổ giá để đền thay tội lỗi chúng con. Chúng con thờ lạy và tạ ơn Chúa.
*Hát: Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa không ngơi. Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa đời đời.
4. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con chân thành thờ lạy, kính mến Mình Máu Thánh Chúa.
*Hát: Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa không ngơi. Khâm sùng thành tin, con thờ lạy Chúa, con yêu mến Chúa, mến Chúa đời đời.
Lm. Phêrô Nguyễn Châu Hải,SSS

 

THÁNHTHỂ-387: Giao Ước Máu


 Trong Bữa Tiệc Ly, chính Chúa Giêsu đã xác lập Giao Ước Máu: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22:20). Giao ước mới chứ không cũ, và được ký kết bằng máu chứ không bằng thứ gì khác, mà máu này là chính Máu của Con Thiên Chúa, chứ không là máu chiên, máu bò, máu dê,… Giao ước mới là Giao Ước Máu – Máu Thánh của chính Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa.
Giao ước (hiệp ước, thỏa ước, khế ước, minh ước) khác với hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận của đôi bên và có thời hạn. Còn giao ước vô thời hạn, vĩnh viễn, và là thành phần của cuộc sống. Hợp đồng và giao ước đều có những trách nhiệm mà đôi bên phải thực hiện.
Theo nghĩa Kinh Thánh, giao ước được thiết lập và đóng ấn bằng một lễ nghi công khai và long trọng. Theo phong tục của dân ở Đất Thánh xưa, người ta đóng ấn giao ước bằng nghi thức sát tế một con vật, rồi phân thây con vật ấy thành hai phần và đặt dưới đất. Sau đó, đại diện hai bên lần lượt đi ngang qua giữa hai phần con vật đó, ngụ ý quyết tâm thi hành giao ước và sẵn sàng chịu cùng một số phận như con vật bị giết nếu vi phạm giao ước (x. St 15:7-20; Gr 31:31; Gr 34:18-22).
Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã nhiều lần thiết lập giao ước với loài người (x. St 8:20-21; St 9:8-17; St 12:1-3). Có hai giao ước được nhắc tới trong Kinh Thánh là Giao Ước Cũ và Giao Ước Mới – Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước là giao ước được thiết lập giữa Thiên Chúa và dân Israel, được đóng ấn bằng máu con vật sát tế. Tân Ước là giao ước được thiết lập trực tiếp giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại, và được đóng ấn bằng chính Bửu Huyết của Đức Kitô, Con Một yêu dấu của Thiên Chúa.
Không gì có thể so sánh với giá máu, gọi là vô giá. Tục ngữ Việt Nam so sánh: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Quý lắm! Như chúng ta biết, máu là một tổ chức di động, được tạo thành từ thành phần hữu hình là các tế bào và huyết tương. Theo thể tích, hồng cầu chiếm khoảng 45%, bạch cầu chiếm khoảng 0,7%, và huyết tương chiếm khoảng 54,3%. Chức năng chính của máu là cung cấp các chất nuôi dưỡng và cấu tạo các tổ chức, đồng thời loại bỏ các chất thải trong quá trình chuyển hóa của cơ thể – như khí carbonic và acid lactic. Máu cũng là phương tiện vận chuyển của các tế bào (cả tế bào bảo vệ cơ thể và tế bào bệnh lý) và các chất khác nhau (các amino acid, lipid, hormone) trong các cơ phận quan trọng. Các rối loạn về thành phần cấu tạo máu hoặc sự tuần hoàn bình thường của máu đều có thể dẫn đến rối loạn chức năng của nhiều cơ quan khác. Máu chiếm 7% trọng lượng cơ thể. Người trưởng thành trung bình có khoảng 5 lít máu. Tỷ trọng máu ở vào khoảng 1060 kg/m3.
Rõ ràng máu thực sự giữ vai trò rất quan trọng trong sự sống của con người – và động vật. Cái gì liên quan máu đều đáng giá, vì liên quan sự sống còn! Thực vật có loại “máu lạnh” và không có màu đỏ, chúng ta gọi là “nhựa”.
Cuộc sống có nhiều thứ liên quan máu, có thể tốt, có thể xấu, nhưng luôn “nghiêm trọng”. Máu xấu có trong những người xấu xa, chẳng hạn một cô bé vô tội 16 tuổi ở Guatemala bị đám người xấu đánh đập dã man, rồi họ thiêu sống em (https://www.youtube.com/watch?v=FkrVxd1QQ3E). Và hàng ngày, ở đâu đó trên thế giới này – kể cả Việt Nam, còn biết bao vụ án liên quan “máu xấu” vẫn không ngừng xảy ra. Chính họ đang muốn “triệt tiêu” Thiên Chúa, làm hư Giá Máu của Đức Giêsu Kitô.
Chúa Giêsu đã nói thẳng với Sao-lê – tức là Sa-un, sau trở thành Phaolô: “Đá lại mũi nhọn thì khốn cho ngươi!” (Cv 26:14). Người có “máu xấu” cố ý làm ngơ chứ chắc chắn không phải không biết. Còn máu, còn sống; mất máu, đông máu hoặc “khô máu”, chết chắc! Đó là quy luật tự nhiên – tức là Luật Chúa. Sao-lê đã tỉnh ngộ vì cú ngã ngựa chí mạng, và rồi nhìn vào thực tế của cuộc đời nhiễu nhương này, ông đã phải thốt lên: “Mầu nhiệm của sự gian ác đang hoành hành” (2 Tx 2:7). Người ta đã và đang muốn loại bỏ Thiên Chúa, bằng chứng là xưa nay luôn xuất hiện các tà thuyết. Nhiều điều nhãn tiền mà người ta vẫn không hề biết sợ, vì quá cố chấp. Thật khủng khiếp!
Ngày xưa, ông Mô-sê xuống núi thuật lại cho dân mọi lời và mọi điều luật của Đức Chúa. Toàn dân đồng thanh đáp: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành” (Xh 24:3). Rất ngoan ngoãn. Một lời hứa rất đẹp. Ước gì họ luôn ngoan ngoãn như vậy, và chúng ta cũng luôn ngoan ngoãn như thế. Nhưng nào có được như vậy!
Ông Mô-sê chép lại mọi lời của Đức Chúa. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ít-ra-en. Rồi ông sai các thanh niên trong dân Ít-ra-en dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa. Ông Mô-sê lấy một nửa phần máu đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 24:7). Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24:8).
Giao ước cũ cũng có “dính líu” tới máu. Máu biểu hiện sự sống. Vì thế, máu rất quan trọng, vì sự sống là thứ bất khả xâm phạm. Màu máu cũng có gì đó rất khác lạ, sắc đỏ khác với mọi màu đỏ khác. Với những con người bình thường, lời thề cũng thường liên quan máu. Ngày xưa, người ta thường “uống máu ăn thề” – họ cùng cắt máu ngón tay, cho chảy chung vào một cái chén rồi chia nhau uống, thề sống chết có nhau. Các Thánh Vịnh cũng lặp đi lặp lại từ “giao ước” ít nhất 18 lần – trong 13 Thánh Vịnh.
Phàm nhân chẳng là gì, nhưng Thiên Chúa đã tha tội chết, cho quyền sống, và còn ký kết giao ước vĩnh viễn. Cảm được lòng thương xót bao la của Thiên Chúa, tác giả Thánh Vịnh đã tự nhủ: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” (Tv 116:12-13).
Thiên Chúa là Chúa của người sống, Ngài yêu thương họ tới cùng và Ngài muốn mọi người được sống dồi dào. Tác giả Thánh Vịnh tự hứa với Thiên Chúa: “Đối với Chúa thật là đắt giá, cái chết của những ai trung hiếu với Người. Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:15-16). Và quyết tâm hành động: “Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh Chúa. Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người” (Tv 116:17-18).
Thánh Phaolô cho biết: “Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Người đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. Người đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9:11-12). Như đã nói, cái gì liên quan máu đều là vấn đề nghiêm trọng. Máu động vật đã vậy, máu người còn nghiêm trọng hơn. Và còn hơn thế nữa, Máu Chúa Giêsu vô cùng quý giá, tột đỉnh quý giá, không gì có thể so sánh, vì không chỉ là Máu Thánh mà còn là Máu Cực Thánh.
Thánh Phaolô so sánh và giải thích: “Nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9:13-14). Máu động vật và máu người có thể làm chúng ta bị dơ bẩn, nhưng Máu Thánh Chúa Giêsu lại khác, không làm chúng ta dơ bẩn mà còn tẩy sạch chúng ta khỏi mọi thứ ô uế.
Thật kỳ diệu với mối liên kết giữa Cựu Ước và Tân Ước, giữa sự sống thể lý và sự sống tâm linh. Thánh Phaolô cho biết: “Người [Chúa Giêsu] là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9:15).
Ca tiếp liên “Lauda Sion” (Hỡi Sion, Hãy Ngợi Khen) có những lời cầu nguyện thâm thúy này: “Này đây bánh của các thiên thần, biến thành lương thực của khách hành hương; thật là bánh của những người con, không nên ném cho loài khuyển. Bánh này đã được báo trước bằng hình ảnh, khi người ta sát tế I-xa-ác, chiên của lễ vượt qua đã được kể ra, khi cha ông chúng ta được tặng man-na. Lạy Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, là Bánh thật, xin Người thương xót, chăn nuôi và bảo vệ chúng con; xin Người ban cho chúng con nhìn thấy những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh. Chúa là Ðấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, trên cõi cao xanh, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa, đồng thừa kế và đồng danh phận với những công dân thánh của nước trời. Amen”.
Ngày xưa, ca tiếp liên này được sử dụng trong Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi, ngày xưa thường gọi là lễ Săng-ti), không hiểu sao ngày nay không được sử dụng nữa. Thật đáng tiếc!
Thánh Mát-thêu cho biết: Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ hỏi Đức Giêsu để biết ý Thầy muốn họ dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu. Ngài sai hai môn đệ đi và dặn họ đi vào thành, gặp một người mang vò nước thì đi theo người đó. Người đó vào nhà nào thì họ hỏi chủ nhà về căn phòng dành cho Thầy ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ, người ấy sẽ chỉ cho một phòng rộng rãi trên lầu đã được chuẩn bị sẵn sàng, và họ sẽ dọn tiệc ở đó. Hai môn đệ ra, vào thành và thấy mọi sự y như Ngài đã nói. Thật kỳ lạ, chỉ có Thiên Chúa mới khả dĩ biết trước như vậy, vì Ngài thấu suốt mọi sự!
Khi đang ăn cùng các môn đệ, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy” (Mc 14:22). Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (Mc 14:24-25). Nghe Thầy nói và nhìn phong cách Thầy lúc đó, chắc hẳn họ vô cùng ngạc nhiên – dù Kinh Thánh không ghi lại chi tiết. Không lạ sao được, vì bánh mà bảo là “thịt”, rượu mà bảo là “máu”. Vâng, trí tuệ phàm nhân không thể hiểu thấu: “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì” (Đây Nhiệm Tích).
Năm 700 (sau công nguyên), tại Nhà thờ Thánh Domitian ở Lanciano (Ý), Lm Thomases (tu sĩ Dòng Basilian) đã nghi ngờ sự hiện hữu thật của Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thời đó có nhiều tà thuyết nổi lên đã làm lung lay đức tin của ông. Một buổi sáng nọ, Lm Thomases dâng Thánh lễ mà vẫn nghi ngờ. Đến phần truyền phép, có điều lạ xảy ra trên đôi tay khiến toàn thân Lm Thomases rung động: Bánh biến thành Thịt thật, Rượu biến thành Máu thật.
Lm Thomases lặng người một lúc rồi từ từ đưa lên cho mọi người thấy và nói: “Ôi chứng cớ hữu hình của Chúa để xóa bỏ sự nghi ngờ của tôi, Ngài muốn mặc khải chính Ngài trong bí tích Thánh Thể hoặc để chúng ta nhìn thấy tỏ tường. Anh chị em hãy đến chiêm ngưỡng phép lạ của Chúa. Đây là Mình Máu Thánh Đức Kitô”. Đây là phép lạ Thánh Thể đầu tiên được Giáo Hội Công giáo công nhận.
Trong Thông điệp “Ecclesia de Eucharistia” (Giáo Hội Sống Nhờ Thánh Thể, số 62), Thánh Gioan-Phaolô II đã gọi Thánh Tiến Sĩ Tôma Aquinô là “thần học gia vĩ đại nhất và là thi sĩ mãnh liệt nhất của Chúa Kitô về Bí tích Thánh Thể” (summus theologus simulque Christi Eucharistici fervidus cantor). Trong bộ “Tổng Luận Thần Học” (Summa Theologica, III, Q. 76, Art. 8), Thánh Tôma Aquinô cho biết:
   • Khách thể 1: Có vẻ như Thánh Thể Chúa Kitô không thực sự ở đó khi thịt hoặc một em bé hiện ra trong bí tích này. Vì thân thể Ngài ngừng ẩn trong bí tích này khi dạng bí tích ngừng hiện hữu (the sacramental species cease to be present). Nhưng khi thịt hoặc một em bé hiện ra, dạng bí tích ngừng hiện hữu. Do đó thân thể Chúa Kitô không thực sự ở đó.
   • Khách thể 2: Hơn nữa, dù thân thể Chúa Kitô ở đâu, dưới chính dạng đó hoặc dạng bí tích. Nhưng khi có sự hiện ra, rõ ràng là Chúa Kitô không hiện hữu trong chính dạng của Ngài, vì toàn bộ Chúa Kitô được chứa trong bí tích này, và Ngài vẫn là tổng thể dưới dạng mà Ngài lên trời: nhưng điều xuất hiện mầu nhiệm trong bí tích này đôi khi được thấy là một miếng thịt nhỏ, hoặc đôi khi là một em bé. Rõ ràng là Ngài không ở đó dưới dạng bí tích là bánh hoặc rượu. Do đó, có vẻ như thân thể Chúa Kitô không ở đó bằng bất kỳ cách nào.
   • Khách thể 3: Hơn nữa, thân thể Chúa Kitô bắt đầu ở trong bí tích này bằng việc thánh hiến và biến chuyển (consecration and conversion). Nhưng thịt và máu xuất hiện mầu nhiệm bằng phép lạ không được thánh hiến (not consecrated), cũng không được biến chuyển thành Mình Máu thật của Chúa Kitô. Vì thế, Mình Máu Chúa Kitô không ẩn dưới dạng đó.
Chúa Giêsu muốn chúng ta sống dồi dào (Ga 10:10), muốn vậy thì chúng ta phải lãnh nhận Thánh Thể. Thánh Eymard, đấng sáng lập Dòng Thánh Thể (SSS – Societas Sanctissimi Sacramenti), đã nói: “Chúng ta chỉ chuốc lấy thất bại nếu chúng ta xa rời Thánh Thể”. Một câu nhắc nhở vô cùng quan trọng, chúng ta cần ghi nhớ luôn.
Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã xác nhận rạch ròi: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6:51). Như vậy, không có gì nghi ngờ nữa – nghĩa là hoàn toàn chắc chắn!
Lạy Thiên Chúa, xin sắp đặt cuộc đời của chúng con theo đúng ý Ngài và xin ở với chúng con luôn để chúng con được sự sống viên mãn của Con Một Ngài. Xin giúp chúng con biết cầm lấy tấm-bánh-cuộc-đời của chúng con, rồi tạ ơn, bẻ ra, và trao tặng tha nhân với cả tấm lòng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ – NĂM C
DẤU CHỈ LOAN BÁO THÁNH THỂ (*)-  Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Chủ đề lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay là “bánh”, tượng trưng lương thực cần thiết để nuôi sống con người. Đó là bánh cùng với rượu mà ông Men-ki-xê-đê mầu nhiệm, vừa là vua và vừa là tư tế thành Sa-lem, dâng tiến để chúc phúc cho tổ phụ Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao. Đó cũng là bánh Đức Giê-su hóa nhiều để nuôi dân chúng ăn no nê trong hoang địa. Đó cũng là bánh mà trong đêm bị nộp, Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể để con người được sống và sống dồi dào. 

St 14: 18-20

Bài Đọc I, trích từ sách Sáng Thế, thuật lại cuộc gặp gỡ của tổ phụ Áp-ra-ham với ông Men-ki-xê-đê mầu nhiệm, vừa là tư tế vừa là vua thành Sa-lem. Ông Men-ki-xê-đê dâng tiến hiến lễ tạ ơn gồm bánh và rượu. Truyền thống Ki-tô giáo đã thấy ở nơi hiến lễ này tiên trưng hy lễ Thánh Thể.

1Cr 11: 23-26

Bài Đọc II, trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, là bài trình thuật cổ kính nhất về việc Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. 

Lc 9: 11-17

Tin Mừng thánh Lu-ca tường thuật biến cố Chúa Giê-su hóa bánh ra nhiều để nuôi dưỡng dân chúng trong hoang địa, tiên trưng  Thân Thể Chúa Ki-tô vinh quang hiện diện và hóa nhiều trong bàn tiệc Thánh Thể.
BÀI ĐỌC I (St 14: 18-20)

Trong tập truyện về tổ phụ Áp-ra-ham được ghi lại trong sách Sáng Thế từ chương 12 đến chương 25, xuất hiện một tình tiết ngắn và đặc biệt: một nhân vật mầu nhiệm, ông Men-ki-xê-đê, vua và tư tế thành Sa-lem, viếng thăm tổ phụ Áp-ra-ham.

Sau khi đã chiến thắng bốn vị vua liên minh với nhau tấn công thành Xơ-đôm và thành Gô-mô-ra và đã giải thoát gia đình ông Lót, cháu của ông, cũng như dân của hai thành, ông Áp-ra-ham đang trên đường trở về, thì ông Men-ki-xê-đê, vừa là vua vừa là tư tế thành Sa-lem, đến để chúc phúc cho ông Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa.
1.Cử chỉ của ông Men-ki-xê-đê:

Ông Men-ki-xê-đê đem bánh và rượu đến và dâng tiến hiến lễ tạ ơn. Ngay liền sau đó, bản văn  xác định chân tính của ông Men-ki-xê-đê, ông hành động với tư cách tư tế của Đấng Tối Cao; vì thế cử chỉ của ông mang giá trị tôn giáo. Ông chúc lành cho tổ phụ Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa, Đấng đã cho vị lãnh tụ Do thái này chiến thắng những kẻ thù của mình.
Việc ông Men-ki-xê-đê kêu cầu Thiên Chúa dưới danh xưng là “Đấng Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất”, đó cũng là danh xưng của Đức Chúa trong Kinh Thánh (St 24: 3; Tv 18: 14; 47: 3; 78: 35; 97: 9). Đó cũng là vị Thiên Chúa mà tổ phụ Áp-ra-ham tôn thờ, thường nhất dưới danh xưng “Đấng Toàn Năng” (St 17: 1). Quả thật, lời ông Men-ki-xê-đê chúc phúc cho ông Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao được gặp thấy tương tự trong đoạn văn sách Giu-đi-tha, theo đó, sau khi đã chiến thắng tướng Hô-lô-phéc-nê, bà Giu-đi-tha được ca ngợi: “Bà được Thiên Chúa Tối Cao ban phúc… Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa, Đấng dựng nên trời đất” (Gđt 13: 18).

Ông Men-ki-xê-đê được tác giả thánh vịnh ca ngợi là dung mạo lý tưởng của Đấng Mê-si-a vừa là vua vừa là tư tế: “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị… Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Tv 110: 1-4). Thật ra, Đấng Mê-si-a không thể là tư tế theo phẩm trật Lê-vi vì là hậu duệ của vua Đa-vít, nghĩa là Đức Giê-su thuộc bộ tộc Giu-đa chứ không thuộc bộ tộc Lê-vi. Tác giả thư gởi tín hữu Do thái sẽ khai triển lối chú giải này (Dt ch. 5 và ch. 7).

2.Cử chỉ của tổ phụ Áp-ra-ham:

Để tỏ lòng biết ơn, tổ phụ Áp-ra-ham biếu ông Men-ki-xê-đê một phần mười tất cả chiến lợi phẩm của mình. Sách Sáng Thế thường kể ra tấm lòng hào phóng và vị tha của tổ phụ Áp-ra-ham (x. những lời cầu bầu thật cảm động của ông ở St 18: 22-32). Cử chỉ của vị tổ phụ đặc biệt có ý nghĩa. Một phần mười là hiện vật mà dân Ca-na-an dâng hiến cho các thần linh của mình; đây cũng là thuế hằng năm mà các dân đóng cho các vua chúa ở miền Cận Đông. Như vậy, ông Áp-ra-ham nhận ra tính chính danh chức tư tế và vương đế của ông Men-ki-xê-đê. Ngoài ra, cử chỉ của vị tổ phụ mang tính tiên trưng, vì sau này con cái Ít-ra-en có nghĩa vụ đối với Đức Chúa, các tư tế và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem của họ bằng cách đóng thuế thập phân. Như vậy, tổ phụ Áp-ra-ham tiền thân việc dân Chúa dâng tiến cho Đức Chúa, Đấng Tối Cao, một phần mười lợi tức của mình theo luật định.
Trong Tân Ước, chúng ta đọc thấy tình tiết này trong thư gởi tín hữu Do thái, ở đó tác giả còn phóng đại mầu nhiệm bao quanh nhân vật Men-ki-xê-đê khi ban cho ông tính chất siêu việt nào đó (Dt ch. 7). Các bản văn Do thái giáo khuếch trương nhân vật huyền bí này theo cùng một ý hướng, như các bản văn được gặp thấy ở Qumran gợi lên vai trò của ông Men-ki-xê-đê, “trổi vượt trên vai trò của các thiên thần”.

Sau này, vào thế kỷ thứ ba, trong khoa chú giải Ki-tô giáo, hiến lễ bánh và rượu mà ông Men-ki-xê-đê dâng tiến để chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao được giải thích như tiên trưng bàn tiệc Thánh Thể: Đức Giê-su sẽ biến bánh và rượu thành Mình và Máu của Ngài. Lời giải thích này được chính thức chấp nhận trong Lễ Quy Rô-ma khi nhắc nhớ: “hy lễ thánh thiện và lễ vật tinh tuyền của Men-ki-xê-đê, thượng tế của Chúa”.

BÀI ĐỌC II (1Cr 11: 23-26)

Bản văn này được trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô là bài trình thuật cổ kính nhất mà chúng ta có về việc Chúa Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. Thư này chắc hẳn được viết ở Ê-phê-xô vào mùa xuân 55, gần đến lễ Vượt Qua, vì thế khoảng cách giữa bản văn này và biến cố Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể khoảng độ 20 năm.

Thánh Phao-lô yêu cầu các tín hữu Cô-rin-tô phải tôn kính cách đặc biệt “bữa ăn của Chúa”. Để làm sống lại nơi họ tâm tình tôn kính “bữa ăn của Chúa” này, thánh nhân nhắc họ nhớ lại những ngôn từ của việc thiết lập và ý nghĩa sâu xa của bữa ăn này. Như vậy, chúng ta vừa có những lời của Chúa Giê-su được lập lại trong lễ Quy, vừa có quan điểm thần học đầu tiên hướng đến mầu nhiệm lớn lao này.

    “Đây là điều Chúa Giê-su đã dạy cho tôi…”:

Thánh Phao-lô viết: “Đây là điều Chúa Giê-su đã dạy tôi, tôi xin truyền lại cho anh em” (1Cr 11: 23), như vậy thánh nhân khẳng định rằng điều này ngài đã lãnh nhận trực tiếp từ chính Chúa Giê-su chứ không “từ truyền thống đến từ Chúa”. Chúng ta không loại trừ rằng thánh nhân ám chỉ đến một mặc khải cá nhân (thánh nhân có nhiều kinh nghiệm trực tiếp từ Đức Ki-tô), nhưng dù thế nào, mặc khải cá nhân này chỉ có thể củng cố điều mà thánh nhân đã biết được từ chính các chứng nhân nhãn tiền.
2.Trong đêm bị nộp:

Mỗi khi cử hành bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta lập lại những lời này, chúng nhắc nhớ sự tương phản bi thảm giữa việc Đức Giê-su hiến dâng mạng sống mình cho nhân loại và sự đê tiện của một trong các môn đệ của Ngài, một kẻ phản bội tình bằng hữu của Ngài và nộp Ngài cho các kẻ thù của Ngài. Ác thần đã làm rối loạn công trình tạo dựng ngay từ đầu. Ác thần này lại hiện diện và xem ra có vẻ chiến thắng vào thời điểm Đức Giê-su sắp thiết lập một thế giới mới và một giao ước mới giữa Thiên Chúa và loài người. Nhưng Xa-tan bị đánh bại bởi chính các công việc của nó: chúng giúp cho ý định của Thiên Chúa được thực hiện.

    “Đây là Mình Thầy, hy sinh vì anh em…”:

Bản văn của thánh Phao-lô rất giống với bản văn của thánh Lu-ca: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc 22: 19). Hơn nữa, chỉ duy cả hai ngài truyền đạt cho chúng ta lời căn dặn của Chúa Giê-su:“Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11: 24b và Lc 22: 19).

Chúa Giê-su đã minh nhiên loan báo hồng ân lạ lùng này: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6: 51). Những lời này xem ra quá thẳng thắn đến mức khó mà tin được. Ngài cũng đã cho vài linh cảm theo cách khác qua những dấu chỉ. Ở tiệc cưới Ca-na, Ngài đã biến nước thành rượu, đây chỉ là một khúc dạo đầu; ở nơi hoang địa, Ngài đã hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông đang đói được ăn no nê, đây chỉ còn là bước khởi đầu của biểu tượng.

Hai dấu chỉ “bánh” và “rượu” có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Bánh được làm từ hạt lúa miến bị giã thành bột và được nhồi thành bánh, rượu được ép ra từ trái nho bị dẫm đạp và nghiền nát; cả hai xem ra được định sẵn cho việc chuyển đổi thành hai hình Thánh Thể. Chúa Giê-su nhấn mạnh cả giá trị hy tế lẫn ý nghĩa giao ước mà cử chỉ của Ngài mặc lấy. Nhưng thánh Phao-lô không nhấn mạnh hai khía cạnh này. Trong một chú giải ngắn của mình, thánh nhân cho thấy ý nghĩa sâu xa mà thần học của thánh nhân không ngừng được gợi hứng: mầu nhiệm Tử Nạn và mầu nhiệm Phục Sinh được tái diễn mỗi lần cộng đoàn Ki-tô hữu cử hành bàn tiệc Thánh Thể.
4.Mầu nhiệm Tử Nạn và mầu nhiệm Phục Sinh:
“Thật vậy, mỗi lần ăn bánh và uống chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết cho tới ngày Chúa đến”. Với lời nhắc nhở này, thánh Phao-lô cho chúng ta hiểu rằng hồng ân Thánh Thể quy tụ, thâu tóm tất cả mầu nhiệm cứu độ, tức mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh. Cử hành Thánh Thể là tái diễn hy tế của Đức Ki-tô trên thập giá, nhưng đây là vị Thiên Chúa hằng sống, Đấng tự hiến bản thân mình. Khi rước Mình Thánh Đức Ki-tô, người Ki-tô hữu được tháp nhập vào trong cùng một chuyển động đau khổ, chết và sống lại của Ngài. Thánh Thể là bảo chứng cho thấy ngay từ giờ Nước Thiên Chúa hiện diện giữa nhân loại và sẽ phát triển viên mãn vào ngày Đức Ki-tô trở lại trong vinh quang. Sự đảm bảo này được toàn thể cộng đoàn tuyên xưng niềm tin và niềm hy vọng của mình sau khi truyền phép: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”.

TIN MỪNG (Lc 9: 11-17)

Phép lạ bánh hóa nhiều được cả bốn tác giả Tin Mừng tường thuật, thậm chí thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô còn tường thuật thêm bánh hóa nhiều lần thứ hai. Thánh Gioan xác định phép lạ này xảy ra vài ngày trước lễ Vượt Qua. Vào thời điểm này, có rất nhiều khách hành hương từ khắp nơi quy tụ cùng nhau dọc theo biển hồ Ghên-nê-sa-rét để chuẩn bị theo từng nhóm lên đường tiến về thành thánh Giê-ru-sa-lem. Vì thế, đám đông được mô tả trong bài tường thuật này đóng một vai trò quan trọng. Khi hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông vài ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su loan báo một lễ Vượt Qua khác. Đó là lý do tại sao phụng vụ cho chúng ta đọc bài tường thuật này vào lễ Mình và Máu của Đức Ki-tô.

1.Một ngày đầy hồng ân:

Biến cố được định vị ngay sau khi nhóm Mười Hai đi truyền giáo trở về. Chúa Giê-su muốn đem riêng các Tông Đồ xuống thuyền qua bờ bên kia “đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6: 31). Tuy nhiên, đám đông hiểu ý liền theo đường bộ mà đến với Ngài.
Đức Giê-su không sống cho riêng mình; Ngài đến để hiến dâng mạng sống mình cho nhân loại. Sự hiện diện của đám đông ở nơi này cản trở dự định nghỉ ngơi của Ngài, ấy vậy Ngài ân cần tiếp đón họ. Ngài động lòng thương những nỗi khốn khổ của họ “vì họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6: 34). Để đáp ứng nỗi khốn khổ tinh thần của họ, “Ngài nói với họ về Nước Thiên Chúa”, và để bù đắp nỗi khốn khổ thể lý của họ, “Ngài chữa lành những ai cần được chữa lành”. Khi chiều xuống, Ngài hoàn tất ngày hôm đó với một cử chỉ báo trước việc Ngài hiến dâng bản thân mình còn triệt để hơn nữa.
2.Dấu chỉ loan báo cuộc Xuất Hành Mới:

Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nhấn mạnh: “Ở đây hoang vắng”. Diễn ngữ này gợi nhớ thời kỳ Xuất Hành, thời kỳ dân Do thái đã phải chịu đói chịu khát trong hoang địa Xi-nai, họ nhận được bánh man-na, “bánh từ trời xuống”, ân ban này được tiếp diễn hằng ngày cho đến lúc dân vào đất hứa Ca-na-an. Diễn ngữ này ám chỉ Đức Giê-su là Mô-sê Mới sắp cho dân Ít-ra-en Mới ăn no nê bánh kỳ diệu.

3.Dấu chỉ loan báo thời Mê-si-a:

Trước tiên, cử chỉ của Đức Giê-su mang chiều kích Mê-si-a. Với các môn đệ và đám đông dân chúng theo Ngài, Đức Giê-su muốn cho họ hiểu rằng thời kỳ Thiên Chúa viếng thăm nhân loại đã đến, tức là thời Mê-si-a, thời mà các ngôn sứ, các thánh vịnh gia và các hiền nhân đã tiên báo rằng đó sẽ là thời kỳ Thiên Chúa tuôn đổ muôn vàn ân phúc của Ngài. Chủ đề này được trình bày dưới hình ảnh một bữa ăn, “bàn tiệc thời Mê-si-a”, tiên báo bàn tiệc cánh chung mà Thiên Chúa sẽ khoản đãi những người được tuyển chọn trong Nước Thiên Chúa (Tv 132: 14-15; I s 49: 10; 55: 1-3; Am 9: 13…).

4.Dấu chỉ loan báo Giáo Hội:

Thánh Lu-ca luôn luôn nhạy bén trước khía cạnh Giáo Hội ở nơi những dấu chỉ mà Chúa Giê-su ban cho. Như tại thánh Mát-thêu, khác với thánh Mác-cô và thánh Gioan, thánh Lu-ca nêu bật nhóm Mười Hai, các ngài ý thức về hoàn cảnh và đề nghị một giải pháp: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì ở đây hoang vắng quá”. Nhưng Chúa Giê-su đáp: “Anh em hãy liệu cho họ ăn”. Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều ghi lại mệnh lệnh này. Thánh Mát-thêu còn nhấn mạnh hơn nữa: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn”(Mt 14: 16). Các ông phải mặc lấy tấm lòng của Đức Ki-tô trước nỗi khốn khổ lớn lao của đám đông này. Chính các ông chứ không ai khác phải đối mặt với vấn đề này và đáp ứng những mong ước của đám đông khốn khổ này chứ không tìm cách thoái thác để lẫn tránh trách nhiệm của mình, dù bất kỳ lý do gì.

Các môn đệ chỉ còn biết thú nhận là họ bất lực: họ chỉ có trong tầm tay vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá trước đám đông dân chúng khốn khổ bao la này. Về phương diện nhân loại, không có giải pháp nào khả dĩ. Đây là một bài học thật sự kinh khiếp: không phải Giáo Hội thường phải đối mặt với những vấn đề tưởng chừng như không thể giải quyết được nếu không có đức tin sao?
Lúc đó, Chúa Giê-su yêu cầu các môn đệ cho dân chúng ngồi thành từng nhóm, mỗi nhóm khoảng năm mươi người. Ở đây, bản văn quy chiếu đến sách Xuất Hành, theo đó ông Mô-sê quy tụ những chi tộc Ít-ra-en để làm thành một dân và đặt những người chỉ huy: điều khiển một ngàn hay một trăm, năm mươi hay mười người (Xh 18: 21-25). Cũng vậy, Đức Giê-su làm cho đám đông thành một cộng đoàn quy tụ quanh Ngài và Ngài sắp nuôi dưỡng họ từ bánh hóa nhiều. Ý nghĩa Giáo Hội thì thật rõ nét.
5.Dấu chỉ loan báo Thánh Thể:

“Ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ…”. Ở đây, các tác giả Tin Mừng đều miêu tả cử chỉ của Đức Giê-su y hệt như cử chỉ của Ngài trong Bữa Tiệc Ly (Lc 22: 19-20; 1Cr 11: 23-25) và cũng qua dấu chỉ này các môn đệ nhận ra Chúa (Lc 24: 30-31).
Việc chia sẻ bánh hóa nhiều trên đồi Ga-li-lê tiên trưng việc chia sẻ bánh hóa nhiều khác, nghĩa là chia sẻ Thân Thể Đức Ki-tô vinh quang hiện diện và hóa nhiều trong bàn tiệc Thánh Thể, không chỉ cho vài ngàn người nhưng cho hằng triệu người, mỗi giây phút và trên khắp thế giới cho đến ngày tận thế:“Đức Giê-su là tấm bánh bẻ ra cho một thế giới mới”.

 

THÁNHTHỂ-388: DẤU CHỈ LOAN BÁO THÁNH THỂ (*)

-  LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ – NĂM C
Lm. Inhaxiô Hồ Thông
 

Chủ đề lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay là “bánh”, tượng trưng lương thực cần thiết để THÁNHTHỂ-388

Chủ đề lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay là “bánh”, tượng trưng lương thực cần thiết để nuôi sống con người. Đó là bánh cùng với rượu mà ông Men-ki-xê-đê mầu nhiệm, vừa là vua và vừa là tư tế thành Sa-lem, dâng tiến để chúc phúc cho tổ phụ Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao. Đó cũng là bánh Đức Giê-su hóa nhiều để nuôi dân chúng ăn no nê trong hoang địa. Đó cũng là bánh mà trong đêm bị nộp, Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể để con người được sống và sống dồi dào. 
St 14: 18-20
Bài Đọc I, trích từ sách Sáng Thế, thuật lại cuộc gặp gỡ của tổ phụ Áp-ra-ham với ông Men-ki-xê-đê mầu nhiệm, vừa là tư tế vừa là vua thành Sa-lem. Ông Men-ki-xê-đê dâng tiến hiến lễ tạ ơn gồm bánh và rượu. Truyền thống Ki-tô giáo đã thấy ở nơi hiến lễ này tiên trưng hy lễ Thánh Thể.
1Cr 11: 23-26
Bài Đọc II, trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, là bài trình thuật cổ kính nhất về việc Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. 
Lc 9: 11-17
Tin Mừng thánh Lu-ca tường thuật biến cố Chúa Giê-su hóa bánh ra nhiều để nuôi dưỡng dân chúng trong hoang địa, tiên trưng  Thân Thể Chúa Ki-tô vinh quang hiện diện và hóa nhiều trong bàn tiệc Thánh Thể.
BÀI ĐỌC I (St 14: 18-20)
Trong tập truyện về tổ phụ Áp-ra-ham được ghi lại trong sách Sáng Thế từ chương 12 đến chương 25, xuất hiện một tình tiết ngắn và đặc biệt: một nhân vật mầu nhiệm, ông Men-ki-xê-đê, vua và tư tế thành Sa-lem, viếng thăm tổ phụ Áp-ra-ham.
Sau khi đã chiến thắng bốn vị vua liên minh với nhau tấn công thành Xơ-đôm và thành Gô-mô-ra và đã giải thoát gia đình ông Lót, cháu của ông, cũng như dân của hai thành, ông Áp-ra-ham đang trên đường trở về, thì ông Men-ki-xê-đê, vừa là vua vừa là tư tế thành Sa-lem, đến để chúc phúc cho ông Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa.
1.Cử chỉ của ông Men-ki-xê-đê:
Ông Men-ki-xê-đê đem bánh và rượu đến và dâng tiến hiến lễ tạ ơn. Ngay liền sau đó, bản văn  xác định chân tính của ông Men-ki-xê-đê, ông hành động với tư cách tư tế của Đấng Tối Cao; vì thế cử chỉ của ông mang giá trị tôn giáo. Ông chúc lành cho tổ phụ Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa, Đấng đã cho vị lãnh tụ Do thái này chiến thắng những kẻ thù của mình.
Việc ông Men-ki-xê-đê kêu cầu Thiên Chúa dưới danh xưng là “Đấng Tối Cao, Đấng dựng nên trời đất”, đó cũng là danh xưng của Đức Chúa trong Kinh Thánh (St 24: 3; Tv 18: 14; 47: 3; 78: 35; 97: 9). Đó cũng là vị Thiên Chúa mà tổ phụ Áp-ra-ham tôn thờ, thường nhất dưới danh xưng “Đấng Toàn Năng” (St 17: 1). Quả thật, lời ông Men-ki-xê-đê chúc phúc cho ông Áp-ra-ham và chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao được gặp thấy tương tự trong đoạn văn sách Giu-đi-tha, theo đó, sau khi đã chiến thắng tướng Hô-lô-phéc-nê, bà Giu-đi-tha được ca ngợi: “Bà được Thiên Chúa Tối Cao ban phúc… Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa, Đấng dựng nên trời đất” (Gđt 13: 18).
Ông Men-ki-xê-đê được tác giả thánh vịnh ca ngợi là dung mạo lý tưởng của Đấng Mê-si-a vừa là vua vừa là tư tế: “Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị… Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Tv 110: 1-4). Thật ra, Đấng Mê-si-a không thể là tư tế theo phẩm trật Lê-vi vì là hậu duệ của vua Đa-vít, nghĩa là Đức Giê-su thuộc bộ tộc Giu-đa chứ không thuộc bộ tộc Lê-vi. Tác giả thư gởi tín hữu Do thái sẽ khai triển lối chú giải này (Dt ch. 5 và ch. 7).

2.Cử chỉ của tổ phụ Áp-ra-ham:
Để tỏ lòng biết ơn, tổ phụ Áp-ra-ham biếu ông Men-ki-xê-đê một phần mười tất cả chiến lợi phẩm của mình. Sách Sáng Thế thường kể ra tấm lòng hào phóng và vị tha của tổ phụ Áp-ra-ham (x. những lời cầu bầu thật cảm động của ông ở St 18: 22-32). Cử chỉ của vị tổ phụ đặc biệt có ý nghĩa. Một phần mười là hiện vật mà dân Ca-na-an dâng hiến cho các thần linh của mình; đây cũng là thuế hằng năm mà các dân đóng cho các vua chúa ở miền Cận Đông. Như vậy, ông Áp-ra-ham nhận ra tính chính danh chức tư tế và vương đế của ông Men-ki-xê-đê. Ngoài ra, cử chỉ của vị tổ phụ mang tính tiên trưng, vì sau này con cái Ít-ra-en có nghĩa vụ đối với Đức Chúa, các tư tế và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem của họ bằng cách đóng thuế thập phân. Như vậy, tổ phụ Áp-ra-ham tiền thân việc dân Chúa dâng tiến cho Đức Chúa, Đấng Tối Cao, một phần mười lợi tức của mình theo luật định.
Trong Tân Ước, chúng ta đọc thấy tình tiết này trong thư gởi tín hữu Do thái, ở đó tác giả còn phóng đại mầu nhiệm bao quanh nhân vật Men-ki-xê-đê khi ban cho ông tính chất siêu việt nào đó (Dt ch. 7). Các bản văn Do thái giáo khuếch trương nhân vật huyền bí này theo cùng một ý hướng, như các bản văn được gặp thấy ở Qumran gợi lên vai trò của ông Men-ki-xê-đê, “trổi vượt trên vai trò của các thiên thần”.
Sau này, vào thế kỷ thứ ba, trong khoa chú giải Ki-tô giáo, hiến lễ bánh và rượu mà ông Men-ki-xê-đê dâng tiến để chúc tụng Thiên Chúa Tối Cao được giải thích như tiên trưng bàn tiệc Thánh Thể: Đức Giê-su sẽ biến bánh và rượu thành Mình và Máu của Ngài. Lời giải thích này được chính thức chấp nhận trong Lễ Quy Rô-ma khi nhắc nhớ: “hy lễ thánh thiện và lễ vật tinh tuyền của Men-ki-xê-đê, thượng tế của Chúa”.

BÀI ĐỌC II (1Cr 11: 23-26)
Bản văn này được trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô là bài trình thuật cổ kính nhất mà chúng ta có về việc Chúa Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. Thư này chắc hẳn được viết ở Ê-phê-xô vào mùa xuân 55, gần đến lễ Vượt Qua, vì thế khoảng cách giữa bản văn này và biến cố Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể khoảng độ 20 năm.
Thánh Phao-lô yêu cầu các tín hữu Cô-rin-tô phải tôn kính cách đặc biệt “bữa ăn của Chúa”. Để làm sống lại nơi họ tâm tình tôn kính “bữa ăn của Chúa” này, thánh nhân nhắc họ nhớ lại những ngôn từ của việc thiết lập và ý nghĩa sâu xa của bữa ăn này. Như vậy, chúng ta vừa có những lời của Chúa Giê-su được lập lại trong lễ Quy, vừa có quan điểm thần học đầu tiên hướng đến mầu nhiệm lớn lao này.
    “Đây là điều Chúa Giê-su đã dạy cho tôi…”:
Thánh Phao-lô viết: “Đây là điều Chúa Giê-su đã dạy tôi, tôi xin truyền lại cho anh em” (1Cr 11: 23), như vậy thánh nhân khẳng định rằng điều này ngài đã lãnh nhận trực tiếp từ chính Chúa Giê-su chứ không “từ truyền thống đến từ Chúa”. Chúng ta không loại trừ rằng thánh nhân ám chỉ đến một mặc khải cá nhân (thánh nhân có nhiều kinh nghiệm trực tiếp từ Đức Ki-tô), nhưng dù thế nào, mặc khải cá nhân này chỉ có thể củng cố điều mà thánh nhân đã biết được từ chính các chứng nhân nhãn tiền.
2.Trong đêm bị nộp:
Mỗi khi cử hành bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta lập lại những lời này, chúng nhắc nhớ sự tương phản bi thảm giữa việc Đức Giê-su hiến dâng mạng sống mình cho nhân loại và sự đê tiện của một trong các môn đệ của Ngài, một kẻ phản bội tình bằng hữu của Ngài và nộp Ngài cho các kẻ thù của Ngài. Ác thần đã làm rối loạn công trình tạo dựng ngay từ đầu. Ác thần này lại hiện diện và xem ra có vẻ chiến thắng vào thời điểm Đức Giê-su sắp thiết lập một thế giới mới và một giao ước mới giữa Thiên Chúa và loài người. Nhưng Xa-tan bị đánh bại bởi chính các công việc của nó: chúng giúp cho ý định của Thiên Chúa được thực hiện.
    “Đây là Mình Thầy, hy sinh vì anh em…”:
Bản văn của thánh Phao-lô rất giống với bản văn của thánh Lu-ca: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc 22: 19). Hơn nữa, chỉ duy cả hai ngài truyền đạt cho chúng ta lời căn dặn của Chúa Giê-su:“Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11: 24b và Lc 22: 19).
Chúa Giê-su đã minh nhiên loan báo hồng ân lạ lùng này: “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6: 51). Những lời này xem ra quá thẳng thắn đến mức khó mà tin được. Ngài cũng đã cho vài linh cảm theo cách khác qua những dấu chỉ. Ở tiệc cưới Ca-na, Ngài đã biến nước thành rượu, đây chỉ là một khúc dạo đầu; ở nơi hoang địa, Ngài đã hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông đang đói được ăn no nê, đây chỉ còn là bước khởi đầu của biểu tượng.
Hai dấu chỉ “bánh” và “rượu” có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Bánh được làm từ hạt lúa miến bị giã thành bột và được nhồi thành bánh, rượu được ép ra từ trái nho bị dẫm đạp và nghiền nát; cả hai xem ra được định sẵn cho việc chuyển đổi thành hai hình Thánh Thể. Chúa Giê-su nhấn mạnh cả giá trị hy tế lẫn ý nghĩa giao ước mà cử chỉ của Ngài mặc lấy. Nhưng thánh Phao-lô không nhấn mạnh hai khía cạnh này. Trong một chú giải ngắn của mình, thánh nhân cho thấy ý nghĩa sâu xa mà thần học của thánh nhân không ngừng được gợi hứng: mầu nhiệm Tử Nạn và mầu nhiệm Phục Sinh được tái diễn mỗi lần cộng đoàn Ki-tô hữu cử hành bàn tiệc Thánh Thể.
4.Mầu nhiệm Tử Nạn và mầu nhiệm Phục Sinh:
“Thật vậy, mỗi lần ăn bánh và uống chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết cho tới ngày Chúa đến”. Với lời nhắc nhở này, thánh Phao-lô cho chúng ta hiểu rằng hồng ân Thánh Thể quy tụ, thâu tóm tất cả mầu nhiệm cứu độ, tức mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh. Cử hành Thánh Thể là tái diễn hy tế của Đức Ki-tô trên thập giá, nhưng đây là vị Thiên Chúa hằng sống, Đấng tự hiến bản thân mình. Khi rước Mình Thánh Đức Ki-tô, người Ki-tô hữu được tháp nhập vào trong cùng một chuyển động đau khổ, chết và sống lại của Ngài. Thánh Thể là bảo chứng cho thấy ngay từ giờ Nước Thiên Chúa hiện diện giữa nhân loại và sẽ phát triển viên mãn vào ngày Đức Ki-tô trở lại trong vinh quang. Sự đảm bảo này được toàn thể cộng đoàn tuyên xưng niềm tin và niềm hy vọng của mình sau khi truyền phép: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”.

TIN MỪNG (Lc 9: 11-17)
Phép lạ bánh hóa nhiều được cả bốn tác giả Tin Mừng tường thuật, thậm chí thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô còn tường thuật thêm bánh hóa nhiều lần thứ hai. Thánh Gioan xác định phép lạ này xảy ra vài ngày trước lễ Vượt Qua. Vào thời điểm này, có rất nhiều khách hành hương từ khắp nơi quy tụ cùng nhau dọc theo biển hồ Ghên-nê-sa-rét để chuẩn bị theo từng nhóm lên đường tiến về thành thánh Giê-ru-sa-lem. Vì thế, đám đông được mô tả trong bài tường thuật này đóng một vai trò quan trọng. Khi hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông vài ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su loan báo một lễ Vượt Qua khác. Đó là lý do tại sao phụng vụ cho chúng ta đọc bài tường thuật này vào lễ Mình và Máu của Đức Ki-tô.

1.Một ngày đầy hồng ân:
Biến cố được định vị ngay sau khi nhóm Mười Hai đi truyền giáo trở về. Chúa Giê-su muốn đem riêng các Tông Đồ xuống thuyền qua bờ bên kia “đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6: 31). Tuy nhiên, đám đông hiểu ý liền theo đường bộ mà đến với Ngài.
Đức Giê-su không sống cho riêng mình; Ngài đến để hiến dâng mạng sống mình cho nhân loại. Sự hiện diện của đám đông ở nơi này cản trở dự định nghỉ ngơi của Ngài, ấy vậy Ngài ân cần tiếp đón họ. Ngài động lòng thương những nỗi khốn khổ của họ “vì họ như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6: 34). Để đáp ứng nỗi khốn khổ tinh thần của họ, “Ngài nói với họ về Nước Thiên Chúa”, và để bù đắp nỗi khốn khổ thể lý của họ, “Ngài chữa lành những ai cần được chữa lành”. Khi chiều xuống, Ngài hoàn tất ngày hôm đó với một cử chỉ báo trước việc Ngài hiến dâng bản thân mình còn triệt để hơn nữa.
2.Dấu chỉ loan báo cuộc Xuất Hành Mới:
Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều nhấn mạnh: “Ở đây hoang vắng”. Diễn ngữ này gợi nhớ thời kỳ Xuất Hành, thời kỳ dân Do thái đã phải chịu đói chịu khát trong hoang địa Xi-nai, họ nhận được bánh man-na, “bánh từ trời xuống”, ân ban này được tiếp diễn hằng ngày cho đến lúc dân vào đất hứa Ca-na-an. Diễn ngữ này ám chỉ Đức Giê-su là Mô-sê Mới sắp cho dân Ít-ra-en Mới ăn no nê bánh kỳ diệu.
3.Dấu chỉ loan báo thời Mê-si-a:
Trước tiên, cử chỉ của Đức Giê-su mang chiều kích Mê-si-a. Với các môn đệ và đám đông dân chúng theo Ngài, Đức Giê-su muốn cho họ hiểu rằng thời kỳ Thiên Chúa viếng thăm nhân loại đã đến, tức là thời Mê-si-a, thời mà các ngôn sứ, các thánh vịnh gia và các hiền nhân đã tiên báo rằng đó sẽ là thời kỳ Thiên Chúa tuôn đổ muôn vàn ân phúc của Ngài. Chủ đề này được trình bày dưới hình ảnh một bữa ăn, “bàn tiệc thời Mê-si-a”, tiên báo bàn tiệc cánh chung mà Thiên Chúa sẽ khoản đãi những người được tuyển chọn trong Nước Thiên Chúa (Tv 132: 14-15; I s 49: 10; 55: 1-3; Am 9: 13…).
4.Dấu chỉ loan báo Giáo Hội:
Thánh Lu-ca luôn luôn nhạy bén trước khía cạnh Giáo Hội ở nơi những dấu chỉ mà Chúa Giê-su ban cho. Như tại thánh Mát-thêu, khác với thánh Mác-cô và thánh Gioan, thánh Lu-ca nêu bật nhóm Mười Hai, các ngài ý thức về hoàn cảnh và đề nghị một giải pháp: “Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì ở đây hoang vắng quá”. Nhưng Chúa Giê-su đáp: “Anh em hãy liệu cho họ ăn”. Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều ghi lại mệnh lệnh này. Thánh Mát-thêu còn nhấn mạnh hơn nữa: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn”(Mt 14: 16). Các ông phải mặc lấy tấm lòng của Đức Ki-tô trước nỗi khốn khổ lớn lao của đám đông này. Chính các ông chứ không ai khác phải đối mặt với vấn đề này và đáp ứng những mong ước của đám đông khốn khổ này chứ không tìm cách thoái thác để lẫn tránh trách nhiệm của mình, dù bất kỳ lý do gì.
Các môn đệ chỉ còn biết thú nhận là họ bất lực: họ chỉ có trong tầm tay vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá trước đám đông dân chúng khốn khổ bao la này. Về phương diện nhân loại, không có giải pháp nào khả dĩ. Đây là một bài học thật sự kinh khiếp: không phải Giáo Hội thường phải đối mặt với những vấn đề tưởng chừng như không thể giải quyết được nếu không có đức tin sao?
Lúc đó, Chúa Giê-su yêu cầu các môn đệ cho dân chúng ngồi thành từng nhóm, mỗi nhóm khoảng năm mươi người. Ở đây, bản văn quy chiếu đến sách Xuất Hành, theo đó ông Mô-sê quy tụ những chi tộc Ít-ra-en để làm thành một dân và đặt những người chỉ huy: điều khiển một ngàn hay một trăm, năm mươi hay mười người (Xh 18: 21-25). Cũng vậy, Đức Giê-su làm cho đám đông thành một cộng đoàn quy tụ quanh Ngài và Ngài sắp nuôi dưỡng họ từ bánh hóa nhiều. Ý nghĩa Giáo Hội thì thật rõ nét.
5.Dấu chỉ loan báo Thánh Thể:
“Ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ…”. Ở đây, các tác giả Tin Mừng đều miêu tả cử chỉ của Đức Giê-su y hệt như cử chỉ của Ngài trong Bữa Tiệc Ly (Lc 22: 19-20; 1Cr 11: 23-25) và cũng qua dấu chỉ này các môn đệ nhận ra Chúa (Lc 24: 30-31).
Việc chia sẻ bánh hóa nhiều trên đồi Ga-li-lê tiên trưng việc chia sẻ bánh hóa nhiều khác, nghĩa là chia sẻ Thân Thể Đức Ki-tô vinh quang hiện diện và hóa nhiều trong bàn tiệc Thánh Thể, không chỉ cho vài ngàn người nhưng cho hằng triệu người, mỗi giây phút và trên khắp thế giới cho đến ngày tận thế:“Đức Giê-su là tấm bánh bẻ ra cho một thế giới mới”.

 

THÁNHTHỂ-389: CÁC CON HÃY CHO HỌ ĂN- Lm. Giuse Đinh lập Liễm

    DẪN NHẬP
 

Trong ngày thứ Năm Tuần thánh, chúng ta đã cử hành Thánh lễ Tiệc ly để kỷ niệm việc Đức Giêsu THÁNHTHỂ-389

Trong ngày thứ Năm Tuần thánh, chúng ta đã cử hành Thánh lễ Tiệc ly để kỷ niệm việc Đức Giêsu lập phép Thánh Thể và chức Linh mục. Nhưng trong dịp này, chúng ta không thể suy niệm riêng về phép Thánh Thể  mà còn phải suy niệm về những mầu nhiệm khác như việc Đức Giêsu chịu chết và sống lại. Hôm nay Giáo hội muốn dành riêng một ngày để có nhiều thời giờ suy niệm về phép Thánh Thể để khuyến khích mọi người hãy tỏ lòng tôn sung, yêu mến phép Thánh Thể, siêng năng rước lể, năng đến viếng thăm Chúa nhự trong nhà tạm…
Bí tích Thánh Thể không phải tình cờ mà có nhưng đã được tiên báo bằng những hình ảnh trong Thánh Kinh như manna trong sa mạc (Xh 16), việc hóa bánh ra nhiều (Lc 9,11b-17)… Sau cùng, trong bữa Tiệc ly, Đức Giêsu đã chính thức thiết lập Bí tích Thánh Thể để làm của ăn của uống nuôi linh hồn loài người, để con người được tham dự vào đời sống thần linh của Chúa và được sống đời đời.
Nhân dịp này chúng ta hãy suy tư về mầu nhiệm Thánh Thể dưới một số khía cạnh như Thánh Thể có liên quan tới bữa ăn, sự giao hòa, hiệp nhất, phục vụ và tạ ơn. Đồng thời chúng ta hãy cộng tác với Chúa trong việc cử hành Thánh lể để Chúa được hiện diện với loài người cho đến tận thế; ngoài ra, chúng ta cũng cần cộng tác với Chúa để đưa “bánh của Thiên Chúa” hướng tới anh chị em mình tức là “bánh của con người”, biết chia sẻ với người khác bằng chính những cái mà Chúa đã ban cho mình như tiền bạc, của cải, sức khỏe, thời giờ, viếng thăm … trong cuộc sống hằng ngày.

    TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : St 14,18-20  
Ông Abraham vừa chiến thắng trở về, ông Melkisêđê, vừa là vua vừa là tư  tế thành Salem, đã đem bánh và rượu đến  chúc mừng ông Abraham; đồng thời Melkisêđê cũng nhân danh Thiên Chúa tới chúc lành cho ông Abraham.
Truyền thống đã coi ông Melkisêđê là hình ảnh của Đức Giêsu Thượng Tế, và bánh rượu xem như là hình ảnh báo trước Thánh Thể.
+ Bài đọc 2 : 1Cr 11,23-26
Thánh Phaolô dạy giáo lý cho tín hữu Côrintô về Bí tích Thánh Thể. Ngài trích dẫn một bản văn Phụng vụ về việc Chúa lập Bí tích Thánh Thể. Theo đó, khi chúng ta cử hành Thánh lễ, chúng ta không chỉ làm cho Đức Kitô hiện diện, mà còn làm tái hiện  cái chết  mà Ngài đã dùng để cứu chuộc chúng ta.
Vì thế, phải cử hành cho xứng đáng trong sự kết hợp với Chúa  và trong sự chia sẻ rộng rãi với anh em mình.
Thánh Luca thuật lại cho chúng ta  phép lạ Đức Giêsu biến bánh ra nhiều để cho 5000 người đàn ông ăn no nê và thu lại được 12 thúng đầy miếng bánh vụn. Qua phép lạ này, thánh Luca có ngụ ý nói với chúng ta :
– Phép lạ này tái diễn phép lạ manna trong sa mạc ngày xưa và còn trổi vượt hơn phép lạ ngày xưa nữa.
– Phép lạ này ám chỉ Bí tích Thánh Thể mà Đức Giêsu sẽ thiết lập sau này.
Như vậy,  phép lạ hóa bánh ra nhiều nhắc lại phép lạ manna ngày xưa và là hình ảnh tiên báo về Bí tích Thánh Thể.

    THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Chia sẻ bàn tiệc Thánh Thể 
    ĐỨC GIÊSU LẬP BÍ TÍCH THANH THỂ
    Những hình ảnh tiên báo. 
Trong Kinh thánh có nhiều hình ảnh báo trước Bí tích Thánh Thể mà Đức Giêsu sẽ lập ra sau nay, ví dụ manna được ban cho người dân Israel trong  sa mạc (Xh 16), lời tiên báo của tiên tri Isaia (Is 25,6), phép lạ của tiên tri Eâlisê (2V 4,43-44), tiệc cưới tại Cana (Ga 2,1-11) và phép lạ hóa bánh ra nhiều trong bài Tin mừng hôm nay.
Tác giả các sách Tin mừng đều đề cập đến phép lạ này (Mt 14,18; Mc 8,1t; Ga 6,5t; Lc 9,11b-17). Phép là hóa bánh ra nhiều  để nuôi dân chúng là một trong những phép lạ quen thuộc của Tin mừng. Phụng vụ Thánh lễ đã trích đoản văn Lc 9,11b-17 dùng cho lễ Minh Máu Thánh Chúa hôm nay.
Thánh Luca cho biết : trời đã về chiều, các Tông đồ muốn Đức Giêsu giải tán dân chúng để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn vì đây là nơi hoang địa.  Bất ngờ Đức Giêsu bảo các ông hãy cho họ ăn. Các ông hoàn toàn bó tay vì làm sao kiếm đủ số bánh cho 5000 người đàn ông ăn no được, các ông chỉ vỏn vẹn có 5 chiếc bánh và 2 con cá. Nhưng Đức Giêsu bảo các ông cứ cho họ ngồi xuống từng nhóm 50 người một. Ngài cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông phân phát cho dân chúng. Tất cả đều ăn no nê và còn thu lại được 12 thúng đầy miếng bánh vụn.
Đây chỉ là phép lạ Đức Giêsu làm để thỏa mãn cơn đói khát phần xác của dân chúng. Qua phép lạ này, Ngài còn hướng dân chúng  thèm khát của ăn khác còn cao trọng hơn mà Ngài sẽ ban cho họ sau này, đó là Bí tích Thánh Thể.
    Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể.
Cả bốn sách Tin mừng đều thuật lại việc Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc ly.
Đến chiều ngày thứ năm, Đức Giêsu cùng đoàn Tông đồ tới dự tiệc mừng lễ Vượt qua, gồm những tuần rượu, những món ăn cổ truyền, xen lẫn với việc đọc các Thánh vịnh. Sau khi nhắn nhủ các môn đệ nhiều điều  xoay quanh vấn đề chính là hãy yêu thương nhau, Đức Giêsu cầm lấy bánh và nói trước mặt các môn đệ rằng :”Tất cả các con cầm lấy mà ăn, này là Minh Thầy”. Chúa trao cho các môn đệ cùng ăn. Rồi Chúa cầm lấy chén rượu và nói :”Tất cả các con cầm lấy mà uống : này là chén máu Thầy”.  Chúa trao cho các môn đệ cùng uống. Với những lời nói và những cử chỉ trịnh trọng đó, Đức Giêsu đã lập Phép Thánh Thể.
Chúa còn truyền cho các môn đệ :”Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, tức là Chúa ban quyền cho các môn đệ được làm việc cao quí này để tưởng niệm đến Ngài. Như thế, trong bữa tiệc lịch sử này và cũng là Thánh lễ đầu tiên do Đức Giêsu cử hành, Chúa đã lập Bí tích Thánh Thể và thiết lập chức linh mục cho các Tông đồ.
Sau này, để củng có đức tin của chúng ta vào bí tích kỳ diệu và cực thánh này, Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ tỏ tường  trước mặt nhiều người.
Truyện : Phép lạ ở nhà thờ thánh Christiana.Vào năm 1263, có một linh mục người Đức đang cử hành thánh lễ tại nhà thờ kính thánh Christiana, thì lúc bẻ bánh trước khi rước lễ, vị linh mục này đã trông thấy Mình thánh hình bánh đã biến thành Thân xác Đức Giêsu tử nạn.  Trên thân mình Chúa, máu đang rịn ra qua các vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người. Máu chảy ra làm ướt tấm khăn thánh và mấy lớp khăn phủ bàn thờ. Vị linh mục vội gấp các tấm khăn kia lại. Nhưng gấp tới đâu thì máu lại thấm ra tới đó. Cuối cùng máu thấm qua 25 lần vải khăn. Vừa cảm động lại vừa sợ hãi đến nỗi vị linh mục  không thể tiếp tục dâng hết Thánh lễ được.
Sau đó, vị linh mục đến xin yết kiến Đức Giáo hoàng Urbanô và tường trình sự kiện lạ lùng ấy. Đức Giáo hoàng liền sai một phái đoàn, đứng đầu là một vị Giám mục đến điều tra thực hư. Sau khi xác định là phép lạ, vị Giám mục đã cho rước Mình Thánh Chúa về Rôma và đặt tại một nhà thờ dâng kính phép Thánh Thể, và mời giáo dân đến chầu Mình Thánh liên tục. Sau đó, vào ngày mồng 8 tháng 9 năm 1264, Đức Giáo hoàng Urbanô đã ra sắc dụ truyền thiết lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa Giêsu và truyền mừng lễ trong toàn thể Hội thánh.
    SUY TƯ VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ 
    Thánh Thể và bữa tiệc.
Ai trong chúng ta cũng có dịp mời bạn bè đến tham dự một bữa tiệc để chia tay ra đi vĩnh viễn hay một thời gian… Trong bữa tiệc này nếu chúng ta có điều gì tâm huyết giữ kín từ lâu thì đây là lúc thuận lợi nhất để nói ra cho mọi người trước khi giã biệt. Hơn thế nữa, một người mẹ hiền hay một người cha trong gia đình trước khi từ giã cõi đời muốn trăn trối với con cháu những điều thật quan trọng, những điều thiết yếu nhất và các con cháu họ cũng thề hứa không bao giờ dám quên những điều tâm huyết ấy.
Đức Giêsu đã dùng bữa Tiệc ly để nhắn nhủ các môn đệ hãy thương yêu nhau, đồng thời nhắc nhở các ông :”Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Đức Giêsu muốn các môn đệ luôn tổ chức các bữa tiệc như vậy để nhớ đến Ngài, tức là dâng Thánh lễ để biến bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Kitô để Ngài hiện diện ở trần gian này cho đến tận thế. Thánh Lễ chính là bữa tiệc mà Chúa mời gọi mọi người  đến dự trong dụ ngôn ông chủ dọn tiệc và sai các đầy tớ đi mời khách đến dự tiệc hoàn toàn miễn phí (x. Lc 14,17t)
    Thánh Thể và giao hòa.
Trong bài đọc 1, Kinh thánh kể lại việc ông Maisen làm nghi lễ giao hòa bằng cách lấy máu bò tơ  tưới lên bàn thờ.  Người xưa coi máu là sự sống, cấm đổ máu người ta  là cấm hại mạng sống người ta vì mạng sống thuộc quyền của Chúa; người xưa lấy máu để tỏ tình đoàn kết giao hòa. Hai bộ lạc để tỏ tình đoàn kết thì cho hai vĩ thủ lĩnh gặp nhau, lấy dao rạch máu ở tay, và đôi bên uống máu nhau. Bằng nghi thức ấy, họ cho rằng hai bên đã uống nguồn sống của nhau và đã trở nên anh em, đã giao hòa mãi mãi với nhau. Maisen đã làm nghi lễ ấy khi lấy máu bò tơ, đại diện cho toàn dân để tưới lên bàn thờ Thiên Chúa : giữa Thiên Chúa và dân đã có một cuộc giao hòa vĩnh viễn.
Khi lập nên phép Thánh Thể, Đức Giêsu đã hoàn tất việc giao hòa ấy giữa ta với Thiên Chúa. Máu thánh của Ngài chảy trong huyết quản của ta, làm cho ta giao hòa với Thiên Chúa, Ngài ở trong ta như ta ở trong Ngài. “Này là chén máu Ta, máu tân ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội”. “Nếu các con không ăn thịt và uống máu Ta, các con không có sự sống đời đời” (Hồng Phúc,  Suy niệm Lời Chúa, năm C, tr 82).
    Thánh Thể và hiệp nhất.
Đức Giêsu truyền cho các môn đệ tổ chức dân thành từng nhóm 50 người (giống như dân Israel trong sa mạc (Xh 18,21-25; Ds 31,14; Đnl 1,15). Phân tích chữ từng nhóm. “Từng nhóm” ở đây ngoài ý nghĩa trật tự giúp cho việc phục vụ bẻ bánh được dễ dàng, còn mang ý nghĩa tình huynh đệ hiệp nhất của cộng đoàn trong bữa ăn, thay vì phân tán từng cá nhân thì qui tụ thành cộng đoàn để ăn tiệc.
Bí tích Thánh Thể là một dấu chỉ : “Dấu chỉ của sự hiệp thông”. Hiệp thông có nghĩa là nên một. Nói cách khác : bí tích Thánh Thể là dấu chỉ  của sự nên một, như Hội thánh luôn tuyên xưng và cầu nguyện rằng :”Chúng con cúi xin Cha cho Thánh Thần liên kết chúng con nên một khi chúng con dự tiệc Mình và Máu Đức Kitô”(Kinh Tạ ơn II).  Hay : “Và khi chúng con được Mình Máu Con Cha bổ dưỡng, được đầy tràn Thánh Thần của Người, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”(Kinh Tạ Ơn III). Chính Đức Giêsu đã từng nói :”Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta  thì ở trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy”(Ga 6,56). Động từ “ở trong” mà Chúa nói, diễn tả mạnh mẽ ơn hiệp thông.
Trong bí tích Thánh Thể, ta không chỉ nên một với Chúa mà thôi, nhưng còn với anh chị em của mình nữa.  Vì khi cùng chia sẻ một tấm bánh là chính thân mình Chúa Kitô, tất cả mọi người sẽ nên những chi thể của Ngài.  Thánh Phaolô đã từng nói :”Tất cả chúng ta tuy nhiều nhưng cùng chia sẻ một tấm bánh, vì thế chúng ta làm nên một thân mình. Thân mình mầu nhiệm này sẽ được sống  nhờ sức sống của Chúa Kitô là chính Thánh Thần của Chúa Kitô mà Người ban cho ta”.
    Thánh Thể và phục vụ. 
Bí tích Thánh Thể là bí tích của sự hiệp thông. Với bí tích Thánh Thể Đức Giêsu đã trao ban trọn vẹn và hoàn toàn con người của Ngài cho chúng ta, để nhờ Ngài chúng ta được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa, và được sống đời đời như lời Ngài quả quyết :”Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có sự sống đời đời, Và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”(Ga 6,54).  Ngài yêu chúng ta bằng một tình yêu hoàn toàn vị tha. Ngài yêu thương chúng ta  đến nỗi Ngài đã tự hủy mình  để trở nên tấm bánh, và ao ước được chúng ta ăn, để chúng ta được nên một với Ngài. Vì thế, trong một đoạn Tin mừng ngắn hôm nay, động từ “ăn” đã được lặp lại tới 9 lần.
Không chỉ khi hiến thân trên thập giá, trong suốt cuộc đời trần thế của mình, Đức Giêsu đã liên tục chấp nhận trở nên “tấm bánh bẻ ra” cho nhiều người. Ngài chấp nhận “tấm bánh bị ăn”, Ngài tự nguyện trở thành của ăn cho nhiều người chúng ta.  Đó là một hành vi tự nguyện  tiêu tan đi  để cho chúng ta nhờ đó mà được sống. Cuộc sống của Ngài hoàn toàn là vì chúng ta, Ngài không kể gì đến bản thân mình, đến nỗi có lần người nhà của Ngài đã muốn đến bắt Ngài về, vì nghĩ là Ngài bị mất trí (x. Mc 3,20-21).
    Thánh Thể và tạ ơn.           
Theo nguyên ngữ, Eucharistia, Thánh lễ là một lễ Tạ ơn. Trong bài 2, thánh Phaolô kể lại cho tín hữu Côrintô biết khi lập phép Thánh Thể “Đức Giêsu cầm lấy bánh “dâng lời tạ ơn”, rồi bẻ ra và nói :Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì các con”.
Và trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Luca thuật lại khi Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, hình ảnh tiên bao bí tích Thánh Thể, Ngài cũng “cầâm lấy, ngước mắt lên trời và chúc tụng”. Chúng ta có thể cho việc chúc tụng cũng là một hành vi tạ ơn.
          Nếu Thánh lễ là một hành vi tạ ơn, tại sao chúng ta không biết đi dự Thánh lễ để tạ ơn Chúa vì bao nhiêu hồng ân Chúa đã ban cho chúng ta trong cuộc sống, những ơn phần hồn cũng như phần xác. Và nhiều khi đi dự Thánh lễ, chúng ta chỉ biết xin ơn mà lại quên tạ ơn.

III. BÍ TÍCH THÁNH THỂ VÀ CHÚNG TA     
    Thánh Thể là bí tích Chúa lập ra.
Thánh lễ và bí tích Thánh Thể không do Hội thánh, không do bất cứ ai bịa ra, nhưng là do chính Chúa Kitô thiết lập. Thánh lễ ngày nay tái diễn và làm sống lại Thánh lễ Chúa Kitô đã dâng khi xưa trên thánh giá để tiếp tục chuyển ơn cứu rỗi cho mọi người, mọi thời và mọi nơi.
Và Thánh Thể chính là lương thực nuôi sống linh hồn ta  trong hành trình làm người, cũng là hành trình đi về quê hương trên trời. Chính Đức Giêsu đã nói đi nói lại nhiều lần :”Thịt Ta thật là của ăn, máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta  thì sẽ được sống đời đời”(Ga 6,54-55).  Ngay cả khi Ngài biết rõ ràng rằng : Khi Ngài nói ra những điều ấy, người ta sẽ không tin, sẽ nhạo cười và sẽ bỏ đi. Ngài vẫn cứ nói. Điều đó cho thấy vấn đề Đức Giêsu nói ra quan trọng và cần thiết như thế nào.
Ước mong rằng việc rước Mình và Máu thánh Chúa vào lòng sẽ làm cho chúng ta trở nên giống Chúa để có thể nói như thanh Phaolô :”Tôi sống nhưng không con phải là tôi, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Chúng ta hãy dâng lời nguyện xin Chúa :
“Lạy Cha, con muốn “ăn thịt và uống máu” Đức Giêsu bằng cách mỗi ngày nhìn vào đời sống của Ngài để biến một phần rất nhỏ “chất tôi” trong con thành “chất Giêsu”.  Nếu mỗi ngày con chỉ biến 1%o (một phần ngàn) “chất tôi”thành “chất Giêsu” một cách thật nghiêm túc và thành công, thì trên nguyên tắc chỉ cần 1.000 ngày sau – tức khoảng 3 năm – con đã được biến đổi hoàn toàn nên giống Đức Giêsu. Đó là tính theo kiểu toán học, thực tế không đơn sơ, dễ dàng và thành công như vậy. Xin cho con biết “ăn thịt và uống máu Ngài” theo kiểu ấy, để nhờ đó con có sự sống đời đời”(JKN).
    Hãy cử hành Thánh Thể mà nhớ đến Ngài.    
Đức Giêsu lìa bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Ngài không còn hiện diện như khi còn ở vói các môn đệ nữa, Ngài muốn chúng ta “cách mặt nhưng gần lòng”, Ngài muốn chúng ta luôn nhớ đến Ngài. Vì thế trong đêm trước khi chịu chết, Ngài đã ngồi xuống cùng ăn với các môn đệ, rồi cầm lấy bánh và 2 nói :”Này là Mình Thầy được ban cho các con”. Rồi Ngài cầm lấy chén rượu và nói :”Này là chén máu Thầy… Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.
Dĩ nhiên Chúa muốn các môn đệ nhớ đến Ngài không phải chỉ vì ích lợi cho Ngài mà vì ích lợi cho chính họ. Họ cũng cần nhớ đến Ngài nữa.  Vì yêu thương họ nên Ngài đã để lại một cách đặc biệt để nhớ đến Ngài, đó là bí tích Thánh Thể.
Nhớ là một khả năng quí giá. Nó nối kết chúng ta lại với những người và những sự việc không còn nữa. Khi chúng ta nhớ đến những người thân yêu thì họ trở thành hiện diện đối với chúng ta. Họ không chỉ là một ký ức mà là một sự hiện diện thực sự. Khi nhớ tới họ là chúng ta tiếp tục gặt hái những hoa trái mà họ đã gieo khi còn sống với chúng ta.
Huống chi là khi chúng ta nhớ đến Đức Giêsu, hoa trái của chúng ta gặt hái còn nhiều hơn đến mức nào nữa. Nhất là nhớ đến Ngài bằng cách thức Ngài chỉ dạy, đó là cử hành bí tích Thánh Thể (Theo McCarthy).
    Chúa cần chúng ta cộng tác.
Trong việc làm phép lạ cho bánh hóa nhiều, chúng ta thấy Đức Giêsu không làm một mình. Ngài muốn cho môn đệ cộng tác vào, tuy chỉ là công việc nhỏ và dễ dàng. Thực ra, những công việc làm ở đây mang một ý nghĩa biểu trưng. Chúng ta thử phân tích mấy động tác :
– Đức Giêsu cho các môn đệ cộng tác cụ thể với sự nghiệp của Ngài :”Các con hãy cho họ ăn”.
 – Chia công tác cho các ông, truyền cho các ông tổ chức dân chúng :”Các con hãy bảo họ ngồi xuống từng nhóm 50 người”.
– Phân phát bánh đã hóa nhiều cách rộng rãi :”Đức Giêsu đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ để các ông phân phát cho mọi người”
Theo đó,  Francois Bovon kết luận :”Nhìn theo quan điểm Giáo hội học, Đức Giêsu mời gọi sự cộng tác của các môn đệ, dù rằng, trước phục sinh, các ông chưa hoàn toàn hiểu được điều đang xẩy ra. Việc làm trung gian mà Ngài trao cho nhóm Mười Hai báo trước tác vụ và trách nhiệm tương lai của các ông sau phục sinh. Như vậy đã rõ, Đức tin thiết lập tác vụ như một sự phục vụ chứ không phải  như một sự thống trị.  Căn nguyên của tác vụ này và những thiện ích phát sinh từ đó ra, không hệ tại bản thân thừa tác viện, nhưng hệ tại Thiên Chúa, Đấng tuyển chọn và bổ nhiệm…”
    Từ bàn tiệc Thánh Thể đến bàn tiệc ngoài đời.
Có lẽ chúng ta cần nhận ra rằng :”Bánh của Thiên Chúa” đòi ta phải hướng tới anh em mình, tới “bánh của con người”… hoa quả và ruộng đất công lao của con người.
Chia sẻ Mình Máu Chúa Kitô và chia sẻ lương thực với nhau trong tình huynh đệ, là ý nghĩa đầy đủ của bàn tiệc Thánh Thể. Qua bàn tiệc Thánh Thể con người kết hợp với Thiên Chúa và liên kết với nhau, để cuối cùng Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người (Sacrosanctum Concilium đoạn 48). Vì thế, việc cử hành bàn tiệc Thánh Thể là một dấu chỉ của sự loan báo Vương quốc Tình yêu, Bữa Tiệc Thiên quốc (Lc 22,16; GLCG  số 1344).
Nếu Đức Giêsu đã sinh ra một lần nơi trần thế, Ngài sẽ còn sinh ra mãi. Nếu Đức Giêsu đã một lần hóa bánh ra nhiều, Ngài sẽ còn tiếp tục hóa bánh ra nhiều mãi. Phép lạ đã xẩy ra ngày xưa, vẫn tiếp tục xẩy ra hôm nay cho những ai tin cậy nơi Ngài. Đã có lần nào trong chúng ta  cảm nghiệm, chính chúng ta làm phép lạ hóa bánh ra nhiều chưa.

Truyện : Ta đã dựng nên ngươi.
Tại góc đường của một thành phố lớn, có một người đàn bà quần áo rách tả tơi đứng xa ăn xin với đứa con trai nhỏ gầy ốm xanh xao của bà. Trong số những người đi qua đường phố, có một người đàn ông triệu phú bước qua, nhìn họ không nói tiếng nào, cũng chẳng giúp đỡ gì. Nhưng khi trở về biệt thự sang trọng của mình rồi, nhìn vào bàn ăn  với đủ mọi thứ cao lương mỹ vị, ông liên tưởng đến thằng bé còm kĩnh và người mẹ khốn khổ của nó. Càng nghĩ về họ ông càng tức giận Thiên Chúa.  Rồi ông nắm tay lại đưa quả đấm lên trời la to với Thiên Chúa :”Làm sao Ngài lại có thể để cho sự khốn khổ như thế này xẩy ra cho được ? Tại sao Ngài lại không làm gì để giúp đỡ những con người bất hạnh đó” ? Và từ một nơi nào đó, rất sâu tự bên trong tâm hồn của ông, có tiếng Thiên Chúa trả lời :”Ta đã làm. Ta đã dựng nên ngươi” (Nguyễn văn Thái, Sống Lời Chúa giữa dòng đời, tr 216).
Ta đã tạo nên con để con giúp đỡ họ, để con làm phép lạ hóa bánh ra nhiều ! Thế nào cũng đã có lần chúng ta chứng kiến và cảm nghiệm sự bác ái yêu thương của những người con cái Chúa. Mỗi lần như thế là mỗi lần bánh tình yêu được biến hóa ra nhiều.
Khi chúng ta rước Mình Máu thánh Chúa, chúng ta cũng cử hành mầu nhiệm làm gia tăng đức bác ái thương người, hóa bánh ra nhiều (Cv 2,42-46; 1Ga 3,17-18). Đức Giêsu dùng chính những lễ vật chúng ta dâng hiến : tiền bạc, của cải vật chất, tài năng, công sức, lòng quảng đại, lời cầu nguyện, sự hy sinh đóng góp để mưu ích cho toàn thể dân Chúa.
Mừng lễ Mình Máu Chúa Kitô là dịp chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân cao trọng Ngài ban tặng cho loài người, vốn mỏng giòn yếu đuối và bất xứng. Hồng ân đó, Thiên Chúa vẫn hằng ngày ban tặng cho chúng ta trong bất cứ giờ cử hành Thánh lễ nào diễn ra trên toàn thế giới. Bí tích Thánh Thể mời gọi chúng ta  đến kín múc lương thực Thần linh qua việc lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô để chúng ta được kết hợp mật thiết với Ngài, đồng thời giúp chúng ta  thông phần vao đời sống vĩnh hằng của Thiên Chúa ngay tại thế này.     
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây