Suy Niệm Tin Mừng Lễ Mình Máu Thánh Chúa ABC Bài 51-100 Mầu Nhiệm

Thứ tư - 30/05/2018 11:30
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Mình Máu Thánh Chúa ABC Bài 51-100 Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Mình Máu Thánh Chúa ABC Bài 51-100 Mầu Nhiệm Tình Yêu
Suy niệm Tin Mừng lễ Mình Máu Thanh Chúa ABC Bài 51-100 Dấu Chỉ Tình Yêu
THÁNHTHỂ-51: Thân thể ta là của ăn nuôi sống hồn xác con người 2
THÁNHTHỂ-52: Suy niệm.. 3
THÁNHTHỂ-53: Suy niệm của  - ASTY/141. 5
THÁNHTHỂ-54: Suy niệm  NMS/215. 7
THÁNHTHỂ-55: Suy niệm của  - LSII/120. 8
THÁNHTHỂ-56: TẤT CẢ ĐƯỢC NO NÊ - VIKINI 9
THÁNHTHỂ-57: ĐỨC GIÊSU GIẢI THÍCH DỤ NGÔN.. 12
THÁNHTHỂ-58: Suy niệm của  - Jkn. 14
THÁNHTHỂ-59: Suy niệm của - Lm Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường. 18
THÁNHTHỂ-60: BẺ RA ĐỂ NHÂN LÊN - Lm Augustine, SJ. 21
THÁNHTHỂ-61: Suy niệm của - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. 24
THÁNHTHỂ-62: HÃY LÀM NHƯ THẾ MÀ TƯỞNG NIỆM THẦY.. 30
THÁNHTHỂ-63: TÔN THỜ CHÚA GIÊSU KITÔ.. 33
THÁNHTHỂ-64: MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊ-SU.. 36
THÁNHTHỂ-65: HRK/353- MÌNH MÁU CHÚA.. 37
THÁNHTHỂ-66: LỜI NGUYỆN / trước MTC.. 38
THÁNHTHỂ-67: CHUYỆN CẬU BÉ GIÚP LỄ ANH HÙNG.. 39
THÁNHTHỂ-68: CHUYỆN CÓ THẬT TẠI ÁC-MÊ-NI 40
THÁNHTHỂ-69:  chuyện/ PHÉP LẠ THÀNH LANCIANO.. 42
THÁNHTHỂ-70: CÙNG TÌM HIỂU BÍ TÍCH THÁNH THỂ.. 44
THÁNHTHỂ-71: GIÁO HOÀNG CỦA THÁNH THỂ.. 48
THÁNHTHỂ-72: Bàn tiệc Huynh đệ thánh thiêng. 50
THÁNHTHỂ-73: HRK/126- MÌNH MÁU THÁNH.. 53
THÁNHTHỂ-74: CÁC PHÉP LẠ VỀ THÁNH THỂ. 55
THÁNHTHỂ-75: THÁNH THỂ.. 63
THÁNHTHỂ-76: HRK/126- BÁNH HẰNG SỐNG- Nguyễn Chính Kết 65
THÁNHTHỂ-77: PV/ 340- LƯƠNG THỰC.. 68
THÁNHTHỂ-78: SCĐ/406- NHỚ ĐẾN.. 69
THÁNHTHỂ-79: SỐNG THÁNH THỂ.. 71
THÁNHTHỂ-80: Tình thương dâng hiến- Lm. Giuse Nguyễn hưng Lợi 74
THÁNHTHỂ-81: MÌNH MÁU CHÚA KITÔ– Lm Jos. Phạm thanh Liêm.. 76
THÁNHTHỂ-82: Bánh Cho Người Đói Ăn. 78
THÁNHTHỂ-83: Để Tưởng Nhớ Thầy. 80
THÁNHTHỂ-84: BÁNH NUÔI SỐNG NHIỀU NGƯỜI 82
THÁNHTHỂ-85: BỮA TỐI TRỌNG NHẤT. 91
THÁNHTHỂ-86: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA.. 93
THÁNHTHỂ-87: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA. 94
THÁNHTHỂ-88: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA. 95
THÁNHTHỂ-89: ĐỨC GIÊSU BẺ BÁNH, PHÂN PHÁT DƯ DẬT.. 98
THÁNHTHỂ-90: GIỮ NHỮNG DỰ TRỮ CỦA MÌNH HAY TĂNG SỐ LÊN.. 103
THÁNHTHỂ-91: SLC - Thánh Thể. 105
THÁNHTHỂ-92: CHÚA NHẬT MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ.. 106
THÁNHTHỂ-93: TẠi SAO ! Mark Link S.J. 112
THÁNHTHỂ-94: Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP. 114
THÁNHTHỂ-95: Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể. 116
THÁNHTHỂ-96: Hiến lễ tạ ơn. 119
THÁNHTHỂ-97: Thánh Thể, bàn Tiệc tình yêu. 122
THÁNHTHỂ-98: Anh Em hãy liệu cho họ ăn. 125
THÁNHTHỂ-99: Thánh lễ nối dài giữa lòng nhân loại 130
THÁNHTHỂ-100: Chính Anh Em cho họ ăn. 132

 

THÁNHTHỂ-51: Thân thể ta là của ăn nuôi sống hồn xác con người

Mc 14:12-16, 22-26
 

Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.. . Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người: THÁNHTHỂ-51

“Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.. . Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.” Còn tình yêu nào cao đẹp hơn là tình yêu của người dám lấy thịt máu mình nuôi người mình yêu?! Đức Giêsu đã yêu thương loài người quá bội đến đỗi đã dùng thân thể mình làm của ăn nuôi sống hồn xác con người. Ngài đã yêu con người đến như thế vì quyền năng của Ngài vô lượng vô biên, đồng thời Ngài cũng hiểu thấu như cầu khẩn thiết của mỗi tâm hồn luôn cần sự trợ giúp đắc lực của Ngài, mới mong thoát khỏi ách khống chế của quỷ dữ. Ngài muốn nuôi mỗi tín hữu bằng chính thịt máu của Ngài, để họ nhận được sức mạnh từ Ngài, và trở nên giống Ngài trong đời sống. Còn lương thực nào thích hợp hơn và bổ dưỡng hơn cho loài người, khi Chúa lấy nguồn sống từ thân thể Ngài đem thông chia cho hết mọi người, còn tha thiết hơn là những bầu sữa mẹ cho đứa con thơ của mình!
Khi so sánh sữa của người mẹ với máu thịt của Chúa Giêsu, có một sự cách biệt xa vời vợi. Có một câu chuyện diễn tả được sự khác biệt đó: Ngày nọ ở một giáo xứ vùng quê, có chị gà và cô heo đi dạo chơi gần hội trường giáo xứ, tình cờ chúng nghe được là giáo dân đang họp bàn về việc tổ chức một bữa tiệc mừng năm mới, nhưng vì giáo xứ nghèo quá, nên họ quyết định chỉ dùng bánh ngọt nước trà thôi. Khi nghe vậy chị gà mái mới cảm thương họ và cao hứng đề nghị với cô heo: “Chị em mình cũng là người trong xứ sao không đóng góp vào bữa tiệc nhỉ? Cô heo hỏi: “em nghĩ rằng hai đứa mình có thể đóng góp được gì?” Chị gà tiếp: “em đề nghị mình góp món _bacon and eggỴ. Cô heo buồn rầu bảo: “với em chỉ là một đóng góp nhỏ, nhưng với chị lại là hy sinh cả tính mạng!”
Chúa Giêsu đã không sợ hy sinh cả tính mạng cho con người chúng ta. Ngài đã từng phán dõng dạc rằng: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.”(Ga 10:10) Đáng lẽ chúng ta phải chết đời đời, nhưng Ngài đã chấp nhận chết thay để mỗi người chúng ta được sống trong hạnh phúc tràn đầy. Và để bảo đảm việc đó xảy ra, Ngài đã dùng chính thịt máu mình làm lương thực thần linh nuôi dưỡng cả hồn xác con người. Bí tích Mình Máu Thánh Chúa là sáng tạo tuyệt vời của một Tình Yêu tràn trào không bao giờ có thể ngừng yêu, dù có phải trả giá quá đắt vẫn cứ sẵn sàng cho người mình yêu.
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 

THÁNHTHỂ-52: Suy niệm

Thật là vui mừng, nếu như đông đảo chúng ta đều đi tham dự thánh lễ ngày Chúa: THÁNHTHỂ-52

Thật là vui mừng, nếu như đông đảo chúng ta đều đi tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật cũng như ngày thường. Và còn vui mừng hơn nữa, nếu như chúng ta tham dự một cách trang nghiêm và sốt sắng.
Thiết tưởng chúng ta nên suy nghĩ một chút về lời Thánh vịnh:
- Hãy ca ngợi Chúa một khúc ca mới,
  Vì Ngài đã làm nên những việc kỳ diệu.
Những việc kỳ diệu ấy, không phải Ngài chỉ thực hiện trong suốt cuộc sống dương thế, mà hơn thế nữa, Ngài vẫn còn tiếp tục thực hiện trong ngày hôm nay. Và một trong những việc kỳ diệu nhất, đó là thánh lễ chúng ta đang cử hành.
Tuy nhiên, để được hưởng nhờ những ơn ích, thì mỗi người chúng ta cần phải tham dự một cách tích cực và sống động vào những hành vi của phụng vụ.
Trên bàn thờ, Chúa Giêsu dùng tay linh mục. Còn chúng ta, chúng ta hãy dâng lên Ngài cõi lòng chúng ta cùng với thái độ trang nghiêm và sốt sắng.
Tới đây, tôi xin kể lại một mẩu chuyện có thực, do một vị thừa sai đã ghi nhận. Câu chuyện xảy ra tại Phi châu trong một khu rừng hoang vào một ngày Chúa nhật.
Để được tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật tại nhà nguyện của các cha thừa sai, mấy em thiếu nhi đã phải vội vã lên đường từ tối hôm trước, bởi vì nhà các em ở cách đấy hơn bốn chục cây số.
Các em tới nơi, xưng tội và tham dự thánh lễ cũng như rước lễ. Nhưng các em đâu có ngờ, đó là lần rước lễ cuối cùng của các em.
Chiều hôm ấy trên đường về, các em đang vui vẻ cười nói với nhau, thì  em lớn nhất bỗng kêu lên:
- Một con cọp. Không chừng chúng ta chết mất thôi.
Nhanh như chớp, con cọp nhảy tới, vồ lấy em đi đầu. Với những móng nhọn và răng sắc, nó đã cào cấu và cắn xé em, khiến cho máy chảy lai láng…
Cảnh tượng ghê rợn ấy lại được tiếp diễn cho những em khác. Không một em nào sống sót. Mãi sáng hôm sau, một vị thừa sai mới phát giác ra sự việc đáng buồn này. Ngài nhờ một số người bản xứ chuyển thi thể các em về nhà nguyện.
Người ta đến tham dự thánh lễ an táng các em rất đông và họ coi các em là những vị tử đạo nhỏ bé vì thánh lễ.
Tại sao các em không ở lại nhà ? Tại sao các em lại can đảm chấp nhận những khó khăn và nguy hiểm ? Bộ các em không biết rằng nếu phải đi bộ hàng chục tiếng đồng hồ như thế, thì các em được miễn chuẩn hay sao ?
Thế nhưng, các em đã nghĩ rằng:
- Nếu Đức Kitô, là đầu của nhiệm thể, đã dâng mình làm của lễ trên bàn thờ, thì chúng ta, là những chi thể của Ngài, lẽ nào chúng ta lại lười biếng và chối từ những hy sinh ?
Sau khi nghe qua câu chuyện về những em nhỏ trong cánh rừng hoang, tôi nghĩ rằng:
- Thật đáng buồn vì trong giáo xứ có những người bởi lười biếng đã không đi tham dự thánh lể, kể cả thánh lễ ngày Chúa nhật. Trong hoàn cảnh của chúng ta, có lẽ khó mà tìm được những lý do để miễn chuẩn, họa chăng là đau ốm.
Trong mỗi thánh lễ, Chúa Giêsu đã vượt qua vực thẳm ngàn trùng ngăn cách giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người, để đến ở với chúng ta.
Thật là vô ơn bạc nghĩa, nếu chúng ta chối từ không đến tham dự thánh lễ khi hoàn cảnh cho phép.
Tham dự thánh lễ là điếu tốt, nhưng còn tốt hơn nữa, nếu chúng ta biết hiệp thông với của lễ cực thánh mà dâng lên cho Chúa Cha.
Phải, chúng ta hãy dâng lên cho Ngài cõi lòng chúng ta, bởi vì chúng ta chỉ là những tạo vật tầm thường và luôn thuộc về Ngài.
Thế nhưng, kể từ khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta đã trở nên con cái của Ngài. Vì thế, chúng ta cần phải gắn bó mật thiết với Ngài. Hơn nữa, khi rước lễ, chúng ta được kết hiệp cùng Chúa Giêsu và trở nên một với Ngài. Lúc bấy giờ, Chúa Cha sẽ nói với chúng ta:
- Này là con Ta yêu dấu.
Kết hiệp với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ được hưởng nhờ tình của Chúa Cha. Và nhờ cuộc trao đổi thánh thiện này, chúng ta được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa .
Bởi đó, khi tham dự thánh lễ, chúng ta hãy thân thưa cùng Chúa:
- Lạy Chúa, con chỉ là một người con nhỏ bé và hoàn toàn thuộc về Chúa, xin Chúa hãy nhận lấy tâm hồn cùng với những vất vả của con trong cuộc sống thường ngày, vì đó chính là lễ vật xuất phát lòng cuộc đời con xin dâng lên Chúa.

 

THÁNHTHỂ-53: Suy niệm của  - ASTY/141

 Con chim Hòa Bình Đang Đau Nặng”. Đó là một bài thánh ca được hát lên tại: THÁNHTHỂ-53

“Con chim Hòa Bình Đang Đau Nặng”. Đó là một bài thánh ca được hát lên tại Việt Nam khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ. Một cuộc chiến được kết thúc với hai quả bom hạt nhân, gây cảnh đổ nát tang thương cho thiên nhiên và cho sinh mạng. Đến độ cuộc chạy đua vũ trang khí giới hạt nhân trong những thập niên sau đó đã dẫn tới tư tưởng: “Con người phải chấm dứt chiến tranh, bằng không chiến tranh sẽ chấm dứt con người”.
Ngày nay trong lúc nhân loại đang tiến đến Ngàn Năm Thứ Ba thì cuộc Hội Nghị Thựơng Đỉnh về môi sinh và phát triển diễn ravào đầu tháng 6.1992 tại Barzin cũng muốn nêu lên một sứ điệp như một tiếng gào thét hầu như tuyệt vọng: “Quả địa cầu đang lâm nguy”. Vì thế con người phải ngưng lại để tìm những phương thế cứu nguy địa cầu nếu không địa cầu sẽ là nấm mồ không những chôn người đã chết mà còn chôn cả những người còn sống, cả những nước nghèo lẫn nước giầu có.
Trong Hội Nghị Thượng Đỉnh về môi sinh và phát triển thì ngoài những vấn đề có liên quan đến môi sinh và thiên nhiên, còn có những vấn đề hóc búa, hình như bị nhiều người cố ý làm giảm tầm quan trọng và cường độ khuếch đại, nhưng cũng đã được nói lên rất mạnh, đó là vấn đề chia sẻ cách bất công nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như sự phát triển kỹ thuật quá chênh lệch giữa các nước giàu có và các nước nghèo trên thế giới. Biến cố các nước nghèo phải tàn phá và sinh tồn để cung phụng cho những nước giàu.
Trong bối cảnh quả địa cầu đang lâm nguy vì bị con người khai thác bừa bãi, làm ô nhiễm trầm trọng để sản xuất, để hưởng thụ, thiết nghĩ ý nghĩa của lễ Mình và máu Thánh Chúa được cử hành có thể đóng góp vài suy tư giúp con người dừng lại suy nghĩ và hoán cải để sửa đổi thái độ và sửa đổi nếp sống.
Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của pháp Thánh Thể qua những động từ diễn tả các hành động của Chúa Giêsu thực hiện trong phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi sống nhiều người, tiên báo những cử hành sau này, khi Ngài thiết lập phép Thánh Thể. Chúa Giêsu lấy bánh tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ mà phân phát, chia sẻ để mọi người cùng ăn no nê. Đó là con đường Chúa Giêsu vạch ra phải được thực hiện từng bước nhưng liên tục để mọi người được thông phần vào dấu lạ bánh hóa ra nhiều.
Ngày nay những nước giàu mạnh và những nước giàu có ích kỉ cắt ngắn con đường Chúa Giêsu đã minh họa trên, họ lấy cái tài nguyên thiên nhiên không xem là “hoa màu ruộng đất và lao công của con người” nhưng chỉ là những vật sở hữu họ bỏ tiền ra để mua, vì thế họ không bao giờ biết tạ ơn Chúa và biết cám ơn ruộng đất, không biết ơn thiên nhiên và lao công của con người. Và khi đã chiếm hữu thì họ giữ nguyên cho mình, họ không biết bả ra và càng biết chia sẻ, vì bẻ ra đối với họ là hư hao và chia sẻ đối với họ là mất mát, vì thế họ chỉ biết dùng tài nguyên thiên nhiên để biến chết những phương tiện di chuyển, những máy móc, dụng cụ ngày càng tinh vi thì càng cao giá, họ xây dựng nhà cửa, lâu đài ngày càng nguy nga lộng lẫy để thỏa mãn cuộc sống xa hoa của mình. Và cuối cùng họ chỉ biết ăn uống vui chơi để hưởng thụ, ăn uống đối với họ mất hẳn ý nghĩa xã hội và hiệp thông.
Nhưng căn bệnh của thế giới giàu sang, ích kỷ, hưởng thụ rộng lớn trên cũng có thể là những căn bệnh của thế giới nhỏ bé trong lòng của mỗi người chúng ta. Vì thế, bài Phúc âm hôm nay nhắc lại cách thức Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, tiên báo về việc Ngài thiết lập bí tích Thánh Thể sau này mang một yé nghĩa rất quan trọng trong thời điểm lịch sử của nhân loại. Chúa Giêsu lấy bánh tạ ơn, bẻ ra, chia sẻ để mọi người cùng ăn no nê và như đã nói trên đó là động tác Chúa Giêsu làm sau này sẽ sử dụng để thiết lập phép Thánh Thể và Người mời gọi mỗi người chúng ta hãy đến, hãy tham dự, hãy cử hành lại những việc này cũng như hãy biết rước Ngài vào lòng. Hãy rước lấy Ngài vào trong cuộc đời mình để dần dần Ngài biến đổi mỗi người chúng ta và biến đổi toàn thề nhân loại, ngõ hầu mọi người đều sống, đều hành động như Ngài.
“Lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và chia sẻ để mọi người cùng ăn no nê. Lấy bánh, lấy hao màu của ruộng đất, lấy các tài nguyên thiên nhiên, lấy tài năng và lấy trọn con người mình để tạ ơn, tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn ruộng đất, tạ ơn lạo công của con người rồi bẻ ra để sản xuất, để sinh lợi và sau cùng là chia sẻ, chia sẻ kiến thức, máy móc, lợi lộc để mọi dân nước đều có cơ hội đồng đều để phát triển, nhờ đó mọi người cùng hường, cùng được thịnh vượng, cùng được hạnh phúc. Liệu đây có phải là giải đáp để mỗi người chúng ta xử dụng, để cứu nguy quả đại cầu đang bị lâm nguy chăng?

 

THÁNHTHỂ-54: Suy niệm  NMS/215

Một họa sĩ sống vào thế kỷ XVI đã có vẽ một bức họa gây nhiều tranh cãi: THÁNHTHỂ-54

Một họa sĩ sống vào thế kỷ XVI đã có vẽ một bức họa gây nhiều tranh cãi và đáng chú ý. Khi nhìn vào bức họa, người ta thấy chính giữa là hình Chúa Giêsu và ở dưới có ghi hàng chữ “Này là Mình Ta”. Bên phải là hình của ông Luthêrô với một hàng chữ “Đây chứa đựng Mình Ta”. Ở bên trái là hình của ông Calvinô cùng với hàng chữ “Đây là tiêu biểu Mình Ta”. Cuối cùng ở dưới toàn bức họa có đề câu “Ai trong ba vị này nói sự thật !”.
Đối với mỗi người chúng ta, có lẽ ai cũng biết câu trả lời như thế nào rồi, dù rằng câu trả lời đó chưa được hoàn chỉnh lắm. Tuy nhiên, câu trả lời ở đây không dựa trên những lý luận sâu sắc, những giải thích hợp lý, nhưng nó được minh chứng qua những biến cố lịch sử tôn giáo, những chứng tích sống động trải dài hằng bao thế kỷ nay, do những người thuộc mọi giai tầng xã hội, mắt thấy tai nghe, đã kể lại kinh nghiệm sống của mình về Phép Thánh Thể là Chúa Giêsu thực, bằng xương bằng thịt, chứ không phải là hình bóng hay biểu tượng như Luthêrô và Calvinô chủ trương.
Thế nhưng, có một sự kiện mẫu thuẫn đến độ khó hiểu là chúng ta không thể chấp nhận quan niệm sai lạc của Luthêrô và Calvinô về Phép Thánh Thể, nhưng cung cách cư xử của chúng ta đối với Phép Thánh Thể lại thể hiện giống chủ trương của hai nhà cải cách lầm lạc trên. Nói khác đi, cứ nhìn cách sống của chúng ta đối với Phép Thánh Thể cũng đã đủ để chứng minh chúng ta không tin hay tin rất lơ mơ Chúa Giêsu ngự thật trong Thánh Thể.
Trước hết, điều minh chứng rõ ràng nhất về đức tin của mỗi người đối với Phép Thánh Thể là khi người ta vào trong nhà thờ. Thử hỏi được mấy người khi vào nhà thờ biết thờ lạy Chúa, chào Chúa một cách cung kính sốt sắng, ? Và khi tham dự nghi thức, nhất là Thánh lễ, được mấy người đứng, quì, ngồi nghiêm trang, kính   cẩn ? Có lẽ, phần đông chúng ta coi nhà thờ như một hội trường, tệ hơn nữa như một rạp chiếu bòng, vì thái độ của chúng ta thiếu đứng đắn, nghiêm túc ; lời ăn tiếng nói của chúng ta sổ sàng, đùa cợt ; cử chỉ không vô phép thì cũng máy móc vô hồn. Với một tình trạng như thế ở trong nhà thờ, chắc chắn không thể nói đó là một con người có đức tin mạnh mẽ và sống động.
Thứ đến, nếu căn cứ vào tình trạng tham dự thánh lễ và rước lễ, người ta có thể kết luận mà không sợ sai rằng giáo dân của một xứ đạo sống đức tin mạnh hay yếu là do có yêu mến và tin nơi sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể hay không. Bởi vì, sự khô khan nguội lạnh của cá nhân hay tập thể đã lột trần bộ mặt thực sống đức tin qua việc lơ là đối với Phép Thánh Thể: biết bao người  bỏ lễ lạy, bỏ xưng tội, rước lễ nhiều năm ; biết bao người chỉ xưng tội, rước lễ một năm một lần trong mùa Phục sinh và được bao nhiêu người rước lễ hằng ngày với niêm xác tín thực sự hay chỉ vì thói quen. Nếu chúng ta thật lòng tuyên xưng Chúa Giêsu ngự thật trong Phép Thánh thể, tại sao chúng ta lại sống và cư xửa với Ngài lại khinh thường ngạo mạn như thế ?
Vì yêu chúng ta nên Chúa muốn ở lại với chúng ta hằng ngày trong Phép Thánh Thể và còn hơn thế nữa Ngài muốn trở thành của ăn của uống cho chúng ta hưởng dùng để đủ sức đi đến cuối cùng chặng đường cứu rỗi. Với tâm nguyện cao cả đó, chẳng lẽ chúng ta chưa nhận ra tình thương của Chúa hay sao mà còn dám cả gan từ chối và coi thường Chúa Thánh Thể !

 

THÁNHTHỂ-55: Suy niệm của  - LSII/120

Thứ năm ngày 3.5.1999, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cử hành: THÁNHTHỂ-55

Thứ năm ngày 3.5.1999, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cử hành thánh lễ Mình và Máu Thánh Chúa tại đền thờ thánh Gioan Lêtêranô ở Rôma. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mong ước tất cả mọi người hiệp ý với Ngài dâng lên Chúa Giêsu Thánh Thể lời nguyện cho hòa bình tại Kosovo và cho tất cả mọi người trên thế giới.
Lịch sử muốn nói đến những khát vọng ta lớn là muốn có hòa bình, nhưng cũng muốn nói đến thất vọng mà nhân loại đã phải chịu nữa là “nước mắt và máu”. Cách đây 36 năm về trước, Đức Gioan XXIII qua đời. Ngài là vị Giáo Hòng của “thông điệp hòa bình trên mặt đất”. Thông điệp này đã được mọi người đồng thanh ca tụng biết là chừng nào. Trong đó có nói lên những đường nét chính đích thực cho việc xây dựng hòa bình thế giới. Nhưng biết bao lần trong những năm qua, người ta phải chứng kiến biết bao vụ bùng nổ gây chiến, bạo lực, chiến tranh trên thế giới. Tuy nhiên, người tín hữu không đầu hàng, người tín hữu biết mình có sức cậy dựa vào sự trợ lực của Thiên Chúa. Về điểm này, những lời của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly thật là có ý nghĩa: “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy đem lại bình an không như cách thức thế gian ban cho”. Ngày hôm nay, chúng ta muốn hiểu thấu những lời này và hiểu cách sâu xa hơn nữa. Trong tinh thần, chúng ta hãy bước vào nhà Tiệc ly với Chúa Giêsu qua việc Ngài trao ban chính Mình và Máu Ngài dưới hình bánh và rượu mà Ngài đã thực hiện ở Calvariô đang được tái diễn trong nhiệm tích Thánh Thể. Chính trong cách thức này mà Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta sự bình an. Sau này Thánh Phaolô đã bình luận “Người là hòa bình của chúng ta”.
Khi trao ban chính Mình, Chúa Giêsu Kitô trao ban cho chúng ta chính sự bình an. Hòa bình của Chúa không  phải là hòa bình của thế gian, nhưng hòa bình của Chúa Kitô là kết quả sự vượt qua của Ngài, nghĩa là kết quả của hy tế trong cuộc vượt qua của Ngài. “Bánh mà Ta ban cho là Thịt Ta để cho thế gian được sống’’. Đoạn phúc âm chúng ta vưa nghe, những lời này của Chúa Giêsu làm cho chúng ta hiểu thế nào là nguồn mạch của hòa bình đích thật. Chúa Kitô là hòa bình của chúng ta, là Bánh được trao ban cho thế gian được sống. Đó là Bánh mà Thiên Chúa Cha đã chuẩn bị, ngõ hầu để nhân loại được sống và sống dồi dào “Thiên Chúa đã không tha Con Một Ngài, nhưng đã trao ban Con Một Ngài” để cứu rỗi tất cả, như là Bánh nuôi sống tất cả. Ngôn ngữ Chúa Giêsu dùng thật rõ ràng. Để được sống thì không chỉ tin Chúa mà thôi, còn cần phải sống như Chúa, sống bằng sự sống của Chúa. Vì vậy mà “Ngôi Lời đã nhập thể, chết sống lại”. Người đã ban cho ta Thánh Thần của Ngài, nhờ vậy và chúng ta biết Thánh Thể, ngõ hầu chúng ta có thể sống nhờ Ngài, như Ngài sống nhờ Chúa Cha. Bí Tích Thánh Thể là bí tích của hồng ân mà chính Chúa Kitô đã trao ban cho chúng ta, là bí tích của tình thương và hòa bình, là sức sống sung mãn “Bánh hằng sống, Bánh ban sự sống”.

 

THÁNHTHỂ-56: TẤT CẢ ĐƯỢC NO NÊ - VIKINI

Từ năm chiếc bánh và hai con cá, Đức Giêsu đã làm phép lạ cho chừng năm: THÁNHTHỂ-56

Từ năm chiếc bánh và hai con cá, Đức Giêsu đã làm phép lạ cho chừng năm nghìn đàn ông ăn, nếu kể cả đàn bà, trẻ em, có lẽ hàng chục ngàn người ăn no nê, còn dư mười hai thúng.
Thiên Chúa đã quan tâm đặc biệt ban cho con người của ăn, của uống mỹ vị thật đầy đủ, để sống và sống dồi dào.
1- Để sống đời này: Thiên Chúa đã dựng nên một vũ trụ rất phong phú cho con người hưởng dùng. Chúng ta thử xem:
¯ Về của uống: Nguồn nước trong vũ trụ hầu như vô tận, trên mặt đất cũng như dưới lòng đất và cả bầu khí quyển đầy hơi nước, cung cấp cho người hít thở, ăn uống, tắm rửa... Toàn thân con người đã có 70% là nước.
¯ Về của ăn: Thiên Chúa cũng trao cho con người thống trị và hưởng dùng tất cả một vũ trụ chất chứa đầy nguồn lợi thiên nhiên: Bao nhiêu chim trời, cá biển, cây cối, hoa mầu, bao nhiêu súc vật, quặng mỏ. Còn thứ gì cần thiết bằng hơi thở và ánh sáng, thế mà có cái gì dư thừa bằng không khí và ánh mặt trời. Theo các nhà địa chất, chỉ một túi dầu ở Kôweit, tính ra khai thác cả trăm năm cũng chưa cạn.
Chúng ta có thể nói: Thiên Chúa đã nuôi dưỡng con người như một ông hoàng phong lưu sung sướng sống trong cảnh địa đàng. Ngài đã phán: “Các ngươi hãy thống trị địa cầu, hãy làm chủ cá biển, chim trời và muôn loài trên mặt đất” (Stk. 1, 6).
Sở dĩ loài người thiếu thốn, đói khát, là tại con người như đứa con đi hoang, phá tán của cải Thiên Chúa ban: Tháng 11/ 1979. Đài BBC tiết lộ Mỹ tổn phí sáu mươi tỷ đô và hai vạn quân trong chiến tranh Việt Nam từ 1965-1969. Một phá tán kinh khủng sau thế chiến thứ II. Báo chí tính tiền đổ vào bom đạn ở miền Nam, chưa kể miền Bắc, có thể mua vàng chất đầy một đoàn xe tải đậu sát nhau dài từ Vũng Tàu tới Sài Gòn. Còn trong thế chiến thứ II, người ta tính số tiền phung phí đánh nhau, nếu lấy chia cho mỗi người trên thế giới, sẽ được một nhà lầu và một xe hơi. Ngày nay, theo phát giác của một sử gia Thụy Điển, mỗi phút trên thế giới chi phí quốc phòng là một triệu đô. Ông Mác Namara, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới mười một năm, đã cảnh giác: Mỗi năm thế giới chi phí vô ích vào vũ khí ba mươi tỷ đô với năm trăm nghìn bác học vàkỹ sư ! Trong khi hơn bốn tỷ người phải thiếu thốn khổ cực và chết đói.
Tiếng than của chính Đức Kitô đến nay vẫn còn kêu lên: “Ta thương đám dân này vì đã bị đói lả”. Đói lả phần xác, ta có thể đổ lỗi cho xã hội bất công, còn đói lả phần hồn,  không đổ lỗi cho ai, mà phải đấm ngực mình ăn năn để lo lãnh nhận của ăn đời đời.
2- Để sống đời đời: Thiên Chúa đã ban cho ta của ăn của uống vô cùng lạ lùng, vô cùng cao quý.
¯ Vô cùng lạ lùng vì đây là kỳ công của Thiên Chúa. Khi dựng nên trời đất muôn vật nuôi xác con người, Thiên Chúa chỉ làm trong sáu ngày, hay đúng hơn: Chỉ phán một lời. Nhưng khi  nuôi  hồn, Thiên Chúa đã phải làm việc thật lâu dài và cực khổ.
Lâu dài vì từ khi tổ tông Adam sa ngã, Thiên Chúa đã phải tuyển chọn hàng trăm các tổ phụ, các Vua, các tiên tri để dậy dỗ, chăm sóc, hướng dẫn, nuôi dưỡng tinh thần loài người trải qua hàng ngàn thế hệ. Thiên Chúa vẫn chưa hài lòng, Ngài còn sai Con Một yêu dấu xuống làm thân phận như tôi tớ trong ba mươi ba năm. Cũng chưa xong, Con Một Ngài vẫn tiếp tục làm việc để nuôi linh hồn người ta cho đến tận thế: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Cực khổ vì các tổ phụ, tiên tri đều phải chịu bao nhiêu gian lao, thử thách khi hướng dẫn con người. Nhưng, chưa thấm vào đâu với sự hy sinh cực khổ của Con Thiên Chúa. Đức Giêsu đã chịu khổ đến nổi đổ mồ hôi máu, phải hiến mạng sống chịu đóng đinh thập giá nhục nhã như tên trộm cướp trọng tội. Để yêu thương nhân loại hơn nữa, Người còn biến bánh và rượu thành Mình Máu Người làm của nuôi linh hồn ta được sống đời đời. Có thể nói, Thiên Chúa đã dồn hết kỳ công vào việc lập phép Thánh Thể để nuôi sống ta đời đời. Cảm nghiệm được lòng thương yêu vô cùng lạ lùng đó, Thánh Tôma đã kêu lên: “Ôi nhiệm tích vô cùng cao quý, nào chúng ta phục bái tôn thờ…”.
¯ Vô cùng cao quý: Vì của ăn, của uống đây là chính Thịt và Máu Thánh Đức Giêsu như Người đã xác nhận: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống, ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời, và bánh tôi ban chính là thịt tôi… Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” (Ga. 6, 51-54). Đối với người Do Thái, không bánh nào cao trọng bằng bánh man na vì Thiên Chúa đã ban cho tổ tiên họ ăn suốt 40 năm đi trong sa mạc để về Đất Hứa. Thế mà, Đức Giêsu bảo họ: “Tổ tiên các ông đã ăn man na và đã chết. Ai ăn bánh này khỏi phải chết” (Ga. 6, 49). Như thế, Bánh Thịt Đức Giêsu  có một giá trị đời đời vì bánh này là chính sự sống của Con Thiên Chúa. Khi chúng ta ăn bánh này, chúng ta được sống bằng chính sự sống vô cùng cao trọng của Thiên Chúa.
Còn đối với người Samaria, không một thứ nước nào bằng nước giếng tổ phụ Giacóp. Thế mà, Đức Giêsu đã tuyên bố: “Ai uống nước giếng này vẫn cón khát, ai uống nước Ta ban, sẽ không bao giờ khát nữa”. Nước Người ban chính là Máu Thánh Người.
Ngay cả bánh Đức Giêsu làm phép lạ cho năm nghìn người ăn, cũng chỉ là bánh nuôi thân xác. Họ ăn rồi, vẫn còn đói. Nên họ đã đi tìm kiếm Người để ăn nữa. Khi gặp họ, Người khuyên: “Các ông hãy ra công làm việc… để có lương thực hằng sống đem lại phúc trường sinh” (Ga. 6, 27). Lương thực hằng sống Người ban: “Trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: Này là Mình Thầy … Cùng một thể thức ấy, vào cuối bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói: “Này là chén Máu Thầy …”. Người đã nộp mình thiết lập một tế lễ mới thay cho các tế lễ cũ của loài người. Chúa chẳng yêu thích tế lễ cũ vì chúng là những thứ vô tri vô giác, là những loài vật chiên bò chỉ có tế lễ mới của Đức Giêsu: “Này con xin đến làm theo ý Cha” với lòng tan nát khiêm cung, với công lý và đức nghĩa của Người mới làm đẹp lòng Cha và được Cha chấp nhận.
Lạy Chúa, xin cho con ra công làm việc để có lương thực nuôi xác và nuôi hồn con hằng ngày. Xin cho con biết rước Mình Máu Thánh Chúa để loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, mới mong được Chúa ngự đến với con trong ngày quang lâm vinh phúc đời đời.

 

THÁNHTHỂ-57: ĐỨC GIÊSU GIẢI THÍCH DỤ NGÔN

NGƯỜI GIEO GIỐNG -Lm Trọng Hương
 

Hãy để ý đến sự rộng rãi đến nỗi như hoang phí của người gieo giống: gieo cả: THÁNHTHỂ-57

A. Hạt giống...
1. Đức Giêsu giải thích dụ ngôn người gieo giống:
- Hãy để ý đến sự rộng rãi đến nỗi như hoang phí của người gieo giống: gieo cả trên vệ đường và nhiều nơi mà hy vọng nẩy mầm rất ít.
- Cũng hãy để ý đến những loại đất xấu: a/ Đất vệ đường là người quá hời hợt, vừa nghe là quên ngay ; b/ Đất sỏi đá là người không kiên trì trong gian nan thử thách ; c/ đất đầy gai là người chất chứa trong lòng nhiều lo toan việc đời.
- Đất tốt là “những người nghe lời với tấm lòng tốt lành và thiện hảo, họ giữ lấy lời, và nhờ kiên nhẫn, họ sinh được hoa trái”
2. Sau khi giải thích dụ ngôn người gieo giống, Đức Giêsu khuyến dụ: Qua hình ảnh chiếc đèn được đặt nơi cao tỏa chiếu ánh sáng, Chúa Giêsu muốn khuyên tín hữu phải có một cuộc sống gương mẫu để chiếu sáng trước mặt người khác: Chúa Giêsu đem Tin Mừng đến trần gian, giảng dạy về Nước Trời, thành lập Giáo hội. Ngài không muốn những điều trên dành riêng cho một nhóm người nào riêng biệt, nhưng muốn thông ban cho mọi người. Riêng các Kitô hữu, họ phải sống sao cho người ta nhìn vào mà nhận ra Tin Mừng Nước Trời. Họ đã được hưởng ánh sáng Tin Mừng thì họ đừng giữ cho riêng mình, đừng dập tắt, trái lại phải tìm cách làm lan tỏa ánh sáng đó ra chung quanh.
- “Chẳng có gì bí ẩn mà không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che dấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng”: Những chữ “gì” này nói đến các mầu nhiệm Nước Chúa ấy. Trong thời kỳ của Chúa Giêsu thì chúng còn được che dấu, còn là bí ẩn. Nhưng đến thời các tông đồ và thời của Giáo Hội, chúng phải được loan truyền, tỏa lan rực rỡ như ánh sáng của ngọn đèn đặt trên nơi cao.
B. ... nẩy mầm.
1. Tôi phải học tính quảng đại và lạc quan của người gieo giống trong dụ ngôn này: không nên tiếc công gieo Lời Chúa, cũng không nản lòng khi thấy Lời Chúa không sinh kết quả nơi một số người. Cứ lạc quan hăng hái chu toàn nhiệm vụ của mình, như Thánh Phaolô: “Tôi trồng, Apollo tưới, Thiên Chúa cho mọc lên”.
2. Hãy suy gẫm kỹ những điều kiện làm cho hạt giống nẩy mầm:
- “Nghe Lời với tấm lòng tốt lành và thiện hảo”: lắng nghe với thiện chí muốn tìm ánh sáng hướng dẫn đời mình.
- “Giữ lấy Lời một cách kiên nhẫn”: không bỏ cuộc dù thời gian kéo dài, dù gian truân thử thách ; không để mình bị phân tâm vì những lo toan và đam mê việc đời.
3. Mỗi ngày Chúa dọn cho tôi hai bàn tiệc: bàn tiệc Thánh Thể và bàn tiệc Lời Chúa. Bàn tiệc Lời Chúa được dọn sẵn không phải chỉ trong Thánh lễ, mà còn lúc nguyện gẫm, lúc đọc Thánh Kinh…
4. Một ông vua nọ có thói quen mỗi ngày nghe một đoạn trong kinh Bagayad Gita. Người phụ trách việc đọc kinh này là một nhà sư đạo đức, thông thái. Cứ mỗi lần đọc xong một đoạn kinh, ông lại dùng đến kiến thức uyên bác của mình để giải thích cho vua nghe. Và ngày nào ông cũng đặt câu hỏi ”Bệ hạ có hiểu những gì thần vừa dẫn giải không ?”. Nhưng lần nào nhà vua cũng chỉ trả lời ”Khanh nên hỏi điều đó với khanh trước đã”... Ngày nọ, giữa lúc đọc kinh, ông bỗng được giác ngộ và nhận ra tất cả mọi sự đều là hão huyền. Thế là nhà sư quyết từ bỏ mọi sự và lên đường bắt đầu cuộc sống của một người hành khất. Trước khi ra đi, ông nói với nhà vua ”Tâu bệ hạ, thế là cuối cùng hạ thần đã hiểu được”... Giác ngô đích thực, hiểu biết chân lý chính là thực thi chân lý”. (Góp nhặt)
5. Lời Chúa là chiếc đèn soi sáng cho tôi và cho mọi người. Mỗi ngày ngọn đèn Lời Chúa được thắp sáng trong Thánh lễ và lúc nguyện gẫm. Để đèn trên giá cao là tôi sống Lời Chúa và nói Lời Chúa cho nhiều người khác được nghe. Lấy hũ che đèn lại hoặc đặt đèn dưới gầm giường là nghe Lời Chúa xong rồi quên đi, suốt ngày không nghĩ tới và không nói tới nữa.
6. Thực tế của các kitô hữu Việt Nam là đọc kinh, dự lễ nhiều nhưng chưa có thói quen học hỏi và sống Lời Chúa.
7. Thánh Giacôbê đã viết: “Một đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Một đức tin không được diễn đạt, không được ứng dụng trong đời sống hằng ngày phải chăng không là đức tin chết? ("Mỗi ngày một tin vui")
8. “Chẳng có gì bí ẩn mà không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che dấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng” (Lc 8,17)
Với ước mong “làm được cái gì đó” cho những người dân quê, chúng ta lên đường tham gia chiến dịch Ánh sáng văn hóa hè ở biên giới Tây Ninh. Lòng nhiệt thành hăng say của tuổi trẻ khiến chúng tôi bị hụt hẫng khi nhận ra những giới hạn của mình. Chúng tôi muốn làm một điều gì đó thật lớn lao cho họ nhưng đành bất lực.
Xin cảm tạ Cha vì Ngài đã cho con biết rằng: không phải khi nào con làm được điều gì lớn lao mới là lúc con làm vinh danh Chúa, nhưng từ những hành vi dù rất nhỏ bé của con: kể một câu chuyện, tập hát cho lũ trẻ, nghe và chia sẻ cùng thanh niên, đi làm chung với những người già… thì hình ảnh của Cha cũng sẽ ngày càng lớn lên trong mọi người (Hosanna)

 

THÁNHTHỂ-58: Suy niệm của  - Jkn

Đức Giê-su đến có phải để lo chuyện ăn uống cho dân chúng không?: THÁNHTHỂ-58

Suy niệm
Câu hỏi gợi ý:
1. Đức Giê-su đến có phải để lo chuyện ăn uống cho dân chúng không? Tại sao Ngài lại làm chuyện ấy? Động lực nào thúc đẩy Ngài làm chuyện ấy?
2. Nơi Đức Giê-su, tình yêu của Ngài đối với dân chúng hay bản tính Thiên Chúa của Ngài làm nên phép lạ?
3. Nơi bí tích Thánh Thể, chúng ta học được bài học gì?
Suy tư gợi ý:
1. Đức Giê-su quan tâm đến nhu cầu cụ thể của dân chúng
Ta thấy hoạt động của Đức Giê-su được phối hợp giữa việc rao giảng Tin Mừng và việc thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của dân chúng: «Đức Giê-su tiếp đón dân chúng, Ngài nói với họ về Nước Thiên Chúa, và chữa lành những ai cần được chữa». Điều mà Ngài rao giảng không phải là một cái gì xa vời đối với dân chúng, mà là một cái gì thiết thực, phù hợp với những khát vọng của họ. Đó là Tin Mừng về Nước Thiên Chúa, một tin vui về việc họ được giải phóng, được thoát khổ và hạnh phúc, là điều mà họ hằng mong ước. Đó là thứ Tin Mừng «cho kẻ nghèo hèn» , Tin Mừng giải phóng «cho kẻ bị giam cầm được tha, cho người mù được sáng mắt, cho kẻ bị áp bức được tự do, v. v…» (Mt 4, 18).
Việc rao giảng ấy luôn luôn đi kèm với nỗi quan tâm lo lắng của Ngài đến những nhu cầu cụ thể của dân chúng. Nhờ sự quan tâm và những hành động cụ thể ấy, dân chúng cảm thấy được Ngài yêu thương, chăm nom săn sóc. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy tình yêu nhân bản của Ngài:
Thấy trời đã tối, các môn đệ đề nghị Đức Giê-su giải tán để họ tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn. Nhưng Ngài bảo các ông: «Anh em hãy cho họ ăn». Thật là một quan tâm đầy tình người. Và sau đó Ngài đã làm một phép lạ cả thể.
2. Tình yêu có thể làm nên những phép lạ
Chúng ta đừng nghĩ rằng Ngài làm như vậy vì Ngài có khả năng làm phép lạ. Còn chúng ta, không làm phép lạ được, nên có gặp trường hợp tương tự, ta sẽ không dám làm như Đức Giê-su, là quan tâm đến nhu cầu cụ thể ấy của dân chúng. Đôi khi chúng ta phải nghĩ ngược lại, chính vì Ngài yêu thương, quan tâm thật sự đến nhu cầu của người khác và quyết tâm thỏa mãn những nhu cầu ấy với bất cứ giá nào, nên Ngài mới làm nên những phép lạ. Chúng ta không làm được những phép lạ, vì chúng ta không thật sự yêu thương và quyết tâm giải quyết những nhu cầu của anh em chúng ta. Nguyễn bá Học có nói: «Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông». Trong bối cảnh này, câu ấy có nghĩa: Đừng sợ rằng ta không thể làm được điều gì giúp anh em, mà hãy sợ rằng ta không đủ tình thương, không dám hy sinh vượt khó, không dám chấp nhận gian khổ để thỏa mãn những gì cần thiết cho anh em mình.
Tình thương thật sự có thể làm nên những phép lạ. Nhiều trường hợp trong lịch sử chứng minh điều ấy. Nếu ta thật sự yêu thương, quan tâm và nhất quyết giúp đỡ anh em mình khi họ cần, chắc chắn ta vẫn luôn luôn làm được một cái gì đó ích lợi cho họ. Nếu không đủ tình thương để làm nên phép lạ, thì hãy cố gắng làm tối đa trong khả năng của mình. Nếu không đủ tình thương để cố gắng tối đa, thì chí ít cũng nên làm những gì tối thiểu: có còn hơn không! Nếu ta hoàn toàn thờ ơ không làm gì cả trước nhu cầu thực tế của anh em, thì tình yêu của ta có hơn gì những người mà ta cho là phường tội lỗi? Trong họ, biết bao người đã tỏ ra có nhiều tình thương hơn ta (xem dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu, Lc 10,29-37).
3. Đừng chỉ quan tâm đến nhu cầu thiêng liêng của người khác, mà không quan tâm đến nhu cầu cụ thể và thiết thực của họ
Mục đích chính của Đức Giê-su khi đến trần gian là để rao giảng Nước Trời, chứ không phải là để cứu đói, chữa bệnh, trừ quỷ, hay nói chung là cứu khổ về phần xác. Nhưng Ngài đã quan tâm rất nhiều tới những việc này. Thánh Phê-rô đã nói lên điều ấy: «Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỉ kiềm chế» (Cv 10,38).
Rất nhiều Ki-tô hữu lo lắng đến những nhu cầu thiêng liêng của người khác: lo cho người ta biết Chúa, biết sống đạo đức, ăn ngay ở lành, làm lành lánh dữ, biết chăm sóc đến đời sống nội tâm, v.v… Điều ấy rất quí rất tốt, và cũng hết sức cần thiết. Tuy nhiên, trong số những Ki-tô hữu nhiệt thành ấy, có khá nhiều Ki-tô hữu chỉ quan tâm lo cho tha nhân những việc thiêng liêng ấy mà thôi, không hề nghĩ đến những nhu cầu thiết thực, cụ thể trước mắt và rất cấp bách của những người gần gũi chung quanh họ. Chính vì thế, những người được họ quan tâm lo những việc thiêng liêng, không cảm nhận được tình thương của họ một cách cụ thể. Điều ấy làm cho những cố gắng tốt đẹp của họ về mặt thiêng liêng bớt hữu hiệu.
Thiết tưởng một người được đức ái đích thực thúc đẩy, sẽ không phục vụ tha nhân theo kiểu «công chức», nghĩa là chỉ phục vụ một số đối tượng nào đó, trong một khía cạnh nào đó, trong một số giờ nào đó mà mình được chỉ định phục vụ. Vì thế, họ không quan tâm phục vụ những đối tượng khác, trong những khía cạnh khác, vào những giờ khác, cho dù có những người cần được họ chăm sóc, phục vụ, nhưng lại vượt ngoài những hạn định ấy. Người có tình yêu đích thực vẫn có thể chọn một loại đối tượng để phục vụ, trong một khía cạnh nào đó mà mình chuyên môn, v.v… Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết mà đức bác ái đòi hỏi, người ấy vẫn có thể phục vụ những đối tượng khác, trong những khía cạnh khác, vào bất kỳ giờ giấc nào. Một người có tình yêu đích thực, có đức ái đích thực, không tự giới hạn lòng yêu thương, sự phục vụ của mình, nhất là trong những trường hợp đặc biệt cần đến lòng yêu thương và sự phục vụ của mình. Một người chuyên phục vụ tha nhân về mặt tâm linh, vẫn nên quan tâm đến những nhu cầu cụ thể của họ.
4. Hãy noi gương Thánh Thể
Nói tới Thánh Thể, chúng ta thường nghĩ tới việc phải làm sao để nhận được từ Thánh Thể những ơn cần thiết cho mình. Nhưng thiết tưởng chúng ta không nên bỏ qua một bài học tuyệt vời và rất quan trọng của Thánh Thể là sự quên mình và tính vị tha. Không có gì tỏ ra quên mình và vị tha cho bằng trở nên của ăn cho người khác, hay sẵn sàng để cho người khác «ăn» mình. Thật vậy, đồ ăn hiện hữu vì người ăn nó, chứ không hiện hữu một chút xíu nào vì bản thân mình cả. Tất cả mọi sự, để trở thành đồ ăn thì đều phải chết đi mới có thể nuôi sống người ăn mình. Bản chất của đồ ăn chính là chết đi để nhờ đó người khác được sống, bị tiêu diệt để nhờ đó người khác tồn tại. Thông thường, chúng ta có khuynh hướng bắt người khác phải vì mình, biến họ thành phương tiện hay công cụ phục vụ cho mình. Biến mình thành đồ ăn thì hoàn toàn đi ngược lại khuynh hướng thông thường ấy: sẵn sàng hiện hữu vì người khác, sẵn sàng chấp nhận làm phương tiện hay công cụ vì hạnh phúc đời này hay đời sau của những người mình yêu thương. Danh ngôn Pháp có câu: «Aimer, c’est permettre d’abuser» (yêu là cho phép người mình yêu lợi dụng mình).
Cả cuộc đời Đức Giê-su là một thứ đồ ăn: Ngài hiện hữu không phải vì bản thân Ngài, mà hoàn toàn vì Thiên Chúa và vì con người. Ngài đã chết để con người được sống, đã tự hủy để con người được tồn tại, đã đau khổ để con người hạnh phúc, đã tự hạ để con người được nâng lên, đã chấp nhận bị đối xử như người tội lỗi để làm cho con người trở nên thánh thiện, v.v… Ngài hiện hữu, Ngài làm mọi sự đều vì người khác, chẳng vì mình một chút nào. Và Ngài đã biểu hiện tính chất «là của ăn» một cách cụ thể và tuyệt vời khi lập bí tích Thánh Thể. Chúng ta ăn Ngài, nhưng chúng ta đừng quên bắt chước Ngài trong tính chất ấy. Ngài đã yêu cầu chúng ta: «Anh em hãy làm như Thầy vừa làm, để tưởng nhớ đến Thầy». Tưởng nhớ ở đây không gì tốt hơn và ý nghĩa hơn là bắt chước Ngài trong tính chất ấy: Hãy trở nên đồ ăn cho những người chung quanh mình, nhất là những người sống gần mình nhất.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, xin hãy ban cho con nhiều tình yêu hơn, để con bắt chước Chúa, là trở nên của ăn cho những người chung quanh con, bằng cách quên mình đi để sống vì họ, cho họ.

 

THÁNHTHỂ-59: Suy niệm của - Lm Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường

Sơ Briege McKenna là một nữ tu dòng thánh Clara ở vùng Tampa, Floridã: THÁNHTHỂ-59

Sơ Briege McKenna là một nữ tu dòng thánh Clara ở vùng Tampa, Florida. Sơ đã từng bị chứng sưng khớp xương đau đớn đến nỗi phải đi bằng xe lăn. Vậy mà Sơ đã được ơn Chúa chữa khỏi và sai đi chữa lành nhiều thứ bệnh, kể cả bệnh ung thư, đặc biệt qua niềm tin vào Thánh Thể Chúa. Sơ vẫn thường xuyên đi giảng nhiều nơi, nhất là những đại hội về Chúa Thánh Thần, và đã từng giảng cho ngay cả các giám mục và linh mục qua các buổi tĩnh tâm, mà tôi có dịp tham dự một lần vào cuối năm 1997 tại New Orleans. Đề tài chính vẫn là: Phép lạ qua mỗi thánh lễ.
Tất cả những trường hợp được chữa khỏi cách lạ lùng này được Sơ ghi lại trong một cuốn "Phép Lạ Xảy Ra Thực" (Miracles Do Happen). Đây là bốn trường hợp điển hình:
THỜI ĐIỂM PHÉP LẠ Ở NAM MỸ
Trường hợp 1 xẩy ra ở Nam Mỹ trong một thánh lễ ngoài trời với rất đông người nghèo tham dự. Vị linh mục dùng một cái bàn cũ kỹ để làm bàn thờ. Một bé trai được khiêng tới, toàn thân bị phỏng nặng đau đớn. Bệnh quá nặng mà chẳng có bác sĩ hay thuốc men gì ở đây cả!
Đức tin của vị linh mục này rất mạnh, có sức truyền sang mọi người. Ngài bảo đặt em bé dưới bàn thờ và tiếp tục dâng lễ với tất cả lòng sốt sắng, từng cử chỉ tác động đều ý thức và có hồn. Lúc truyền phép Mình Thánh, mọi người đều quì trên đất để tôn thờ Chúa. Nét mặt của họ đều nói lên rằng họ thật sự thấy Chúa Giêsu đến và vỗ về họ: Hãy đến với Thầy, tất cả những ai nhọc nhằn. Thầy sẽ ban cho các con sự sống và đức tin.
Và Sơ McKenna ghi nhận: "Sâu xa trong tâm hồn, đây là lúc tôi nhận thức: "Lạy Chúa Giêsu, đây đúng là Chúa rồi. Dưới hình bánh và rượu, chỉ có Chúa mới nghĩ ra cách đó để gần gũi với dân của Ngài".
Sau lễ, tôi đến xem em bé được đặt dưới bàn thờ thì không thấy nữa. Tôi hỏi người bồng nó tới: "Em đâu rồi?". Bà vừa nói vừa chỉ tay vào đám trẻ con đang chơi gần đó: Nó kia kìa. Tôi nhìn và thấy em đã lành lặn, không còn một vết tích gì trên cơ thể. Tôi thảng thốt kêu lên: Chuyện gì đã xẩy ra cho em vậy? Bà nhìn tôi và nói: "Sơ muốn nói gì? Việc gì đã xẩy ra sao? Đức Chúa Giêsu không ngự đến sao?
Cùng ngày đó, vào đầu thánh lễ, tôi cũng thấy một em bé mặt bị méo mó một cách khủng khiếp. Sau lễ mẹ em bế em đến với tôi: "Sơ ơi, hãy nhìn con tôi này." Mặt em đã lành lặn.
Quả thực đức tin của đám dân này mạnh quá. Họ tìm đến với Chúa như người đàn bà trong Phúc Âm bị bệnh lọan huyết lâu ngày mà không sao chữa khỏi. Bà ta cũng chen vào đám đông vì ai ai cũng muốn đến gần Chúa Giêsu để chạm đến Ngài. Nhưng điều khác biệt là người đàn bà này chỉ có một điều trong đầu: nếu chạm được đến Ngài, mình sẽ khỏi bệnh. Bà ta đã chạm được vào Ngài. Chúa Giêsu thấy có một sức mạnh toát ra khỏi Ngài thì quay lại hỏi: "Ai đã chạm đến Thầy?".
Các tông đồ hỏi lại: "Thầy nói gì? Mọi người đều xô lấn đến Thầy!". Nhưng Chúa Giêsu biết có ai đó không chỉ chạm đến Ngài, nhưng với tâm tình chờ đợi, với một điều kiện mà tất cả phải có khi đến với Chúa Giêsu, đó là đức tin. Rồi Chúa Giêsu nhìn vào một người đàn bà đang đi ra khỏi đám đông mà nói: "Vì đức tin của con, con đã được khỏi".
Nhiều người khi đọc đoạn Tin Vui này cũng ao ước: "Giá tôi cũng được chạm đến Chúa Giêsu, gặp được Ngài thì tuyệt biết bao. Phải chi tôi được sống cùng thời với Ngài để có thể đến chạm được tới Ngài như người đàn bà kia". Vậy ra Chúa Giêsu trong Thánh Thể không phải là Chúa Giêsu thật sao?!
Đám dân ở Nam Mỹ kia chỉ khác nhiều người là thấy Chúa Giêsu thực. Họ không đến với thánh lễ để chỉ để xem linh mục cử hành hay nhận xét những gì linh mục giảng. Họ đến để gặp gỡ Chúa Giêsu của họ, chính Chúa đang đến đó với mọi quyền năng. Họ đến để dự phần với chính Chúa Giêsu trong một nghi thức tiến dâng lên Cha của Ngài. Họ trở nên một phần của lễ vật này. Và Sơ McKenna đã phát biểu: "Tôi rời vùng rừng núi đó với một sự hiểu biết hoàn toàn mới mẻ về thánh lễ.
Đó không phải chỉ là việc đem người ta đến thánh lễ để tỏ lòng cung kính và nói với Chúa Giêsu rằng họ yêu Ngài. Điều đó rất tốt, nhưng thánh lễ là những gì Chúa Giêsu có thể và muốn làm cho tất cả chúng ta, cho toàn thế giới. Không phải là Chúa Giêsu cần chúng ta đến dự thánh lễ, nhưng chúng ta cần Ngài."
ĐƯỢC CHỮA KHỎI UNG THƯ
Trường hợp thứ ba về một linh mục trẻ bị ung thư cổ họng đã hết đường chữa. Linh mục này điện thoại xin Sơ McKenna cầu nguyện thì Sơ trả lời: "Thưa Cha, con có thể cầu nguyện với cha ngay bây giờ trên điện thoại, và con sẽ làm như thế. nhưng sáng nay, Cha không gặp Chúa Giêsu sao? Cha không gặp Ngài hằng ngày sao? Mỗi ngày khi cha dâng lễ, khi cha cầm Mình thánh, khi Cha rước Chúa tức là Cha đã gặp gỡ Chúa. Người đàn bà trong Phúc Âm chỉ chạm đến vạt áo Chúa Giêsu, nhưng cha đã chạm đến chính Chúa Giêsu và đón Ngài vào trong thân thể mình. Cha có nhận thức rằng chính Chúa Giêsu thật sự đi qua cổ họng của cha không? Không ai tốt hơn để chạy đến cho bằng Chúa Giêsu. Cha hãy khấn Ngài chữa lành cho cha".
Tôi nghe ngài khóc qua điện thoại. Ngài luôn miệng nói với tôi: "Cám ơn sơ, cám ơn sơ."
Ba tuần sau vị linh mục điện thoại cho sơ cho biết không phải đi giải phẩu nữa, các bác sĩ thấy rằng bệnh ung thư đã khỏi và bây giờ ngài có một thanh quản mới.
Trường hợp thứ tư xẩy ra ở Sydney bên Úc. Một người đàn bà bị cái bướu ở bụng rất đau đớn và bị ung thư ruột đã đến lúc hết hy vọng, và bà rất sợ chết, nên tìm đến sơ McKenna. Sơ nói với bà ta: "Hãy đến gặp Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Tôi không thể nói với bất cứ ai rằng họ sẽ được khỏi như họ mong muốn, nhưng Chúa Giêsu sẽ ban cho bà sức mạnh để đối phó với bất cứ gì xẩy ra trong đời. Nếu Ngài muốn đem bà qua cánh cửa sự chết, Ngài sẽ cho bà ơn sủng để đi qua cánh cửa đó mà không sợ hãi gì. Nếu Ngài muốn bà sống, Ngài sẽ ban ơn cho bà".
Tối hôm đó khi sơ McKenna đang cầu nguyện thì bà chạy đến: Sơ ơi, phép lạ đã xẩy ra. Phép lạ đã xẩy ra! Bà ta nói: "Hãy coi tôi đây. Tôi đi dự lễ như Sơ nói. Khi lên rước lễ, tôi tự nhủ: Chỉ vài phút nữa mình sẽ gặp được Chúa Giêsu, mình sẽ ôm Ngài trong tay và xin Ngài giúp đỡ." Khi rước lễ, bà nói thầm: "Con biết Chúa đang ngự ở đây. Hôm nay Chúa sẽ ngự trong lòng con, xin cho con khỏi sợ hãi. Xin chữa con nếu Chúa muốn, nhưng xin Chúa hãy làm một điều gì đó cho con". Và bà ta nói tiếp: "Ngay khi tôi đưa Mình Thánh lên miệng và nuốt, tôi cảm thấy có một cái gì nóng ran trong cổ họng xuống tới bao tử. Tôi nhìn xuống bụng và cái bướu đã biến mất."
TIN VUI ĐƯỢC CHỮA KHỎI MÙ
Thực ra Sơ McKenna không làm phép lạ như sơ vẫn thường nhắc đi nhắc lại, mà là chính Chúa làm. Sơ chỉ giúp người ta mở mắt thấy và gặp được Chúa tác động với tất cả quyền năng như Chúa đang có mặt tại Do Thái xưa. Chính đức tin thấy được như vậy là cốt lõi của phép lạ. Thấy chính Ngài đang loan báo Tin Vui, đang "nói với dân chúng về nước Thiên Chúa và chữa lành những kẻ cần được cứu chữa", và làm phép lạ nuôi sống cả năm ngàn người với năm đồng bánh và hai con cá trong mỗi thánh lễ.
Then chốt vẫn là con mắt đức tin, bị mù mà bỗng được mở ra nhìn thấy được. Trước khi được ơn cảm nhận Chúa, Sơ McKenna cũng đã từng cảm thấy khô khan như Sơ tâm sự: "Tôi không cảm thấy tin tưởng và sức mạnh của Phúc Âm, tôi không tin rằng Chúa Giêsu sẽ chữa tôi lành bệnh. Tôi tin rằng nếu tôi đi Lộ Đức hay nơi nào khác thì sẽ được khỏi bệnh, nhưng tôi không tin rằng phép lạ có thể xẩy ra trong đời sống bình thường. Hồn tôi khao khát Thiên Chúa hằng sống, nhưng tôi không thực sự biết Ngài. Chính sự khao khát muốn biết Chúa rõ hơn mà lần đầu tiên tôi đến với một nhóm cầu nguyện... Tôi bị thu hút vì thấy người ta cầu nguyện với Chúa Giêsu như thể Ngài đang hiện diện ở đó... Tôi tự nhủ: "Phải có cái gì hơn nữa đối với người Công Giáo chứ".
PHÚT TỊNH TÂM
Đúng thế, mỗi lần đi dự lễ là một chứng kiến phép lạ Chúa hiện ra. Chả lẽ mình đi lễ mà chả thấy gì, hay chỉ thấy nhàm chán hay gò bó phải đi! Chúa vẫn có đó mà người thì thấy được người thì không. Trước kia Sơ McKenna cũng bị mù mà nay được thấy. Con cũng xin với Chúa một điều thôi, là thấy được một trời mới mở ra đầy hứng khởi, như người mù ở Giêricô: "Lạy Chúa, xin cho con được trông thấy", đặc biệt trông thấy được Chúa trong Thánh Thể.

 

THÁNHTHỂ-60: BẺ RA ĐỂ NHÂN LÊN - Lm Augustine, SJ

Trong ngày lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, Giáo Hội cho chúng ta: THÁNHTHỂ-60

Trong ngày lễ kính Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, Giáo Hội cho chúng ta nghe đoạn Tin Mừng về phép lạ bánh hoá nhiều. Đây là phép lạ duy nhất được cả bốn sách Phúc Âm thuật lại. Đây cũng là một phép lạ công khai, trước mắt một số đông người. Năm chiếc bánh và hai con cá trở thành lương thực nuôi khoảng 5000 người, mà vẫn còn dư mười hai thúng miếng vụn. Thánh Luca nhấn mạnh đến vai trò của Nhóm Mười Hai trong phép lạ này (c.12). Chính họ đã chủ động xin Đức Giêsu giải tán đám đông để những người này tìm chỗ ăn, chỗ ở, khi "ngày đã bắt đầu tàn". Đức Giêsu dường như muốn đưa ra một thách đố cho Nhóm Mười Hai: "Chính anh em hãy cho họ ăn đi." Hãy lo cho bao tử của họ sau khi họ đã được nghe giảng về Nước Thiên Chúa và được chữa lành khỏi tật bệnh. Các môn đệ thấy mình bất lực trước nhiệm vụ này, dù mới đây họ đã được sai đi rao giảng và chữa bệnh và đã thành công (Lc 9, 6). Điều duy nhất họ có trong tay là năm chiếc bánh và hai con cá. Nhưng điều ấy thì thấm vào đâu so với nhu cầu của dân. Ỡ nơi thanh vắng này, dù có tiền cũng không mua được đủ bánh. Đức Giêsu cần các môn đệ nhìn nhận sự bất lực của họ, để rồi Ngài mời gọi họ cộng tác vào việc nuôi dân. Các môn đệ, theo lệnh của Đức Giêsu đã chia đám đông thành từng nhóm nhỏ. Chính các ông đã trao bánh và cá cho Đức Giêsu, để rồi nhận lại từ tay Ngài, và trao cho đám đông. Phép lạ đã xảy ra trên bánh và cá, sau khi Ngài chúc lành và bẻ ra. Chúng ta không tưởng tượng nổi số lượng khổng lồ bánh và cá đã phát sinh từ hành vi bẻ ra này. Bẻ ra và trao đi trở thành phép lạ nhân lên không ngừng. Có thể hôm nay chúng ta cũng thấy mình đứng trước những nhu cầu lớn lao của con người. Nhân loại vẫn ở trong tình trạng đói về nhiều mặt. Hằng giờ có biết bao trẻ em chết đói trên thế giới. Trong tay chúng ta chỉ vọn vẹn vài tấm bánh nhỏ. Chúng ta lúng túng và thấy mình bất lực. Nếu chúng ta dám trao cho Chúa Giêsu tất cả những gì chúng ta có; nếu chúng ta để cho Ngài thánh hoá những cố gắng bé nhỏ của mình; nếu chúng ta chỉ coi mình là người cộng tác của Thầy Giêsu để phục vụ con người, thì phép lạ vẫn có thể xảy ra hôm nay. Chúng ta vẫn có thể nuôi cả thế giới, no nê và dư dật.
TẤM BÁNH NUÔI NHÂN LOẠI
Chúng ta nên đọc lại câu 16 của đoạn Tin Mừng trên: "Đức Giêsu cầm lấy 5 cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông." Khi kể lại cử chỉ của Đức Giêsu lúc lập bí tích Thánh Thể, thánh Mác-cô cũng sử dụng 4 động từ trên đây (Mc 14,22). Và trong truyện hai môn đệ về Emmau ta cũng thấy thánh Luca dùng lại 4 động từ này: "Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ và trao cho họ." (Lc 24,30). Cử chỉ quen thuộc này đã làm cho hai môn đệ nhận ra Thầy Giêsu. Như những người Do Thái khác, Đức Giêsu dâng lời nguyện chúc tụng Thiên Chúa trước bữa ăn; Việc cầm bánh bẻ ra, trao cho người khác cũng là cử chỉ quen thuộc của người chủ tọa bữa ăn.
Giáo Hội sơ khai hẳn đã thấy có sự liên hệ giữa phép lạ bánh hoá nhiều và bí tích Thánh Thể. Trong cả hai trường hợp, Đức Giêsu đều dùng cùng một cử chỉ mà mời người khác ăn tấm bánh Ngài trao cho. Rất có thể ý định lập bí tích Thánh Thể đã được khơi mào từ sau phép lạ bánh hóa nhiều. Những chiếc bánh vật chất chỉ làm giảm cơn đói của một số người nhất định, và trong một thời gian nhất định. Manna ngày xưa trong sa mạc cũng không cho người ta sự sống sau cái chết (Xh 16,4-36). Bữa Tiệc Ly không phải là một hành vi đột xuất, không suy nghĩ trước. Trái lại Đức Giêsu đã phải bận tâm với ước mơ nuôi cả nhân loại, nuôi họ bằng chính bản thân Ngài và ban cho họ sự sống vĩnh cửu. "Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em… Này là chén Máu Thầy, sẽ đổ ra cho anh em." Đức Giêsu mời chúng ta ăn tấm bánh và uống chén rượu đã được thánh hiến, để thông hiệp vào cái chết và sự phục sinh của Ngài, vào chính bản thân Ngài. Bí tích Thánh Thể là sáng kiến của một tình yêu biết tìm kiếm. Cựu Ước đã hứa rằng trong những ngày sắp đến, Thiên Chúa sẽ nuôi dân Người dư dật (Tv 37,19; 81,17; 132,15). Đức Giêsu đã làm trọn lời hứa đó phần nào, qua phép lạ bánh hóa nhiều. Nhưng đó cũng chỉ là hình bóng của bí tích Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập sau này. Khi thông hiệp với Chúa Giêsu phục sinh dưới dạng bánh rượu, chúng ta còn cần đến đức tin. Chúng ta mong chờ ngày được tham dự vào bữa tiệc trên trời, nơi chúng ta thông hiệp trọn vẹn với Ngài không qua bức màn đức tin nữa.
Đức Giêsu đã bẻ bánh nhiều lần trong đời Ngài. Đời Ngài được kết tinh trong hành vi bẻ bánh. Tấm bánh trong bữa Tiệc Ly đã trở thành tấm thân Ngài, được bẻ ra và trao cho con người qua cái chết thập giá. "Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy". Giáo Hội sơ khai đã không quên mệnh lệnh đó. Họ tiếp tục cử hành bí tích Thánh Thể mà họ gọi là lễ "bẻ bánh" (Cv 2,42), tại các nhà riêng của tín hữu (Cv 2,46). Bẻ bánh trở thành nét đặc trưng của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai, nghi thức này thường được cử hành vào ngày Chúa Nhật, ngày thứ nhất trong tuần (Cv 20,7)
THÁNH LỄ VÀ ĐỜI THƯỜNG
Thánh Lễ là nơi chúng ta tham dự vào bàn tiệc Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Thánh Lễ là một hy tế lặp lại hy tế Núi Sọ. Theo Công Đồng Vaticanô II, hy tế này là "nguồn cội và là chóp đỉnh của toàn bộ đời sống Kitô hữu" (LG 11). Là nguồi cội, vì tất cả đời sống Kitô hữu phát sinh từ đó; là chóp đỉnh, vì tất cả đời sống Kitô hữu phải qui về đó. Ấy thế mà một số giáo dân coi việc tham dự Thánh Lễ như chuyện miễn cưỡng phải giữ. Nhiều giáo dân cảm thấy thánh lễ không có liên quan gì đến cuộc sống của họ ngoài đời, không có ảnh hưởng gì trên đời thường của họ. Rốt cuộc thánh lễ bị họ bỏ rơi, nhà thờ ngày Chúa Nhật cũng vắng người. Đó đã là chuyện của các nước Tây phương, nhưng cũng sẽ là chuyện của chúng ta.
Thật ra người tín hữu bước vào thánh lễ mang theo thế giới mình sống như hành trang, như lễ vật, rồi bước ra thánh lễ để vào lại thế giới, để biến thế giới thành thánh lễ nối dài. Nhiều khi vì nghĩ rằng thánh lễ là chuyện của linh mục, lễ vật dâng lên là hy tế của Đức Kitô, nên có người dự lễ với hai bàn tay trắng. Thực ra, thánh lễ đòi hỏi con người nhiều nỗ lực, cả trước lẫn sau thánh lễ; những nỗ lực đụng chạm đến cuộc sống thâm sâu của con người. Tham dự thánh lễ một cách nghiêm chỉnh không dễ như ta tưởng. Càng được chuẩn bị kỹ lưỡng, thánh lễ càng sinh nhiều hiệu quả. Linh mục Teilhard de Chardin đã dùng lễ vật của trái đất để dâng lễ: "Tôi linh mục của Ngài, trên bàn thờ là toàn thể trái đất, tôi sẽ dâng lên Ngài lao động và nỗi đau thương của thế giới. Tôi sẽ đặt trên dĩa thánh mùa gặt được đợi chờ từ những cố gắng mới. Tôi sẽ rót vào chén lễ chất nước cốt của tất cả những hoa trái sẽ được nghiền nát trong ngày hôm nay. Chén thánh và dĩa thánh của tôi là những phần thâm sâu nhất của một tâm hồn được mở rộng để đón nhận tất cả mọi năng lực, trong chốc lát, sẽ dâng lên từ muôn phương của địa cầu và sẽ qui tụ về thần linh." Việc dâng lễ sẽ trở nên xa lạ, nếu thực sự bánh và rượu không tượng trưng chút đóng góp của người đến dự lễ và của thế giới. Khi được biến đổi, vật chất sẽ thành thần linh.
Công đồng Vaticanô II đã nói nhiều đến việc dâng lễ của người Kitô hữu. Lễ vật là bản thân tôi, là cuộc đời tôi, là mọi hoạt động của tôi (LG 34; SC 12). Như thế việc dâng hy tế của Đức Kitô không loại bỏ việc con người dâng hy tế đời mình. Thánh lễ đưa con người trở lại với cuộc sống. Thánh lễ dạy con người biết bẻ bánh cho nhau trong đời thường. Một số tín hữu ở Côrintô đã để cho tình trạng "mỗi người lo cho bữa ăn riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói, người lại say" (1C 11,21). Thái độ ích kỷ trên đây hoàn toàn ngược với tinh thần hiệp thông, chia sẻ của tiệc Thánh Thể. Chính việc rước lễ liên kết chúng ta nên một Thân Thể, vì "tất cả chúng ta cùng chia sẻ một tấm Bánh" (1C 10,17). Sống hiệp thông và chia sẻ với tha nhân là dấu hiệu cho thấy ta đã thực sự tham dự thánh lễ.
Thánh lễ còn giúp chúng ta đón nhận thập giá hàng ngày. Chúng ta không nên quên rằng rước lễ là đón lấy Mình Máu của Đấng đã bị nộp và bị giết, là thông hiệp vào cái chết của Đức Giêsu. Người rước lễ thường xuyên sẽ được sức mạnh để hy sinh chính mình mà sống cho người khác. Khi lãnh nhận Bánh Thánh, tôi được Chúa biến đổi tôi thành tấm Bánh bẻ ra cho anh chị em tôi. Tôi chấp nhận bị vỡ tan, bị nghiền nát, trở thành thức ăn cho con người. Đó là hy tế của tôi xin được kết hợp với hy tế của Chúa. "Các con hãy cho họ ăn đi." Tôi hiểu rằng thức ăn mà con người hôm nay cần là chính cuộc đời tôi, hiến trao với nhiều tình yêu.
Một số câu hỏi gợi ý
1. Có người nhận xét rằng người công giáo Việt Nam giữ đạo trong nhà thờ; ra tới cửa nhà thờ họ lại mang một bộ mặt hoàn toàn khác. Nhận xét này có đúng không? Nếu đúng thì làm sao phá bỏ hố sâu giữa thánh lễ và đời thường?
2. Theo bạn, một thánh lễ lý tưởng phải hội đủ những điều kiện nào? Bạn có thể góp phần ra sao cho thánh lễ đó?

 

THÁNHTHỂ-61: Suy niệm của - Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Nếu để ý chúng ta sẽ thấy, vừa mở màn cho Mùa Thường Niên Hậu Phục: THÁNHTHỂ-61

Nếu để ý chúng ta sẽ thấy, vừa mở màn cho Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh, chúng ta thấy Giáo Hội cử hành những mầu nhiệm hết sức quan trọng, những mầu nhiệm trực tiếp liên quan đến Sự Sống. Như hai tuần trước đây, Giáo Hội cử hành Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống là Đấng ban Sự Sống; đến tuần vừa rồi Giáo Hội cử hành Lễ Ba Ngôi Thiên Chúa, Thực Tại Sự Sống Thần Linh nơi Thiên Chúa và là Nguồn Mạch Sự Sống Đời Đời, và tuần này Giáo Hội cử hành Lễ Trọng Kính Mình Thánh Máu Thánh Chúa Kitô, Bánh ban Sự Sống. Kính thưa quí vị thính giả, để có thể nói lên phần nào tất cả ý nghĩa của Lễ Trọng Kính Mình Thánh Máu Thánh Chúa Kitô này, Giáo Hội đã phải dùng đến ba bài Phúc Âm khác nhau cho ba chu kỳ phụng niên A, B, C. Năm C theo Phúc Âm Thánh Luca về phép lạ bánh hóa ra nhiều; Năm A vốn theo Phúc Âm Thánh Mathêu, và tuy Phúc Âm Thánh Mathêu cũng có đoạn về việc Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể và đoạn phép lạ bánh hóa ra nhiều, song Giáo Hội lại chọn đọc cho chu kỳ năm A này bài Phúc Âm theo Thánh Gioan về Bánh hằng sống, để nói lên ý nghĩa thiêng liêng của việc bánh hóa ra nhiều ở Phúc Âm Thánh Luca năm C, và cuối cùng là Năm B theo Phúc Âm Thánh Marcô về chính việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Nếu theo thứ tự chu kỳ phụng vụ A, B, C, và theo ý nghĩa của ba bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc cho Lễ Trọng Kính Mình Thánh Máu Thánh Chúa Kitô hôm nay đây, thì chúng ta có thể hiểu được dụng ý chọn đọc và sắp xếp ba bài Phúc Âm ấy thế này: Chúa Kitô là Bánh bởi trời xuống ban sự sống cho thế gian (ý nghĩa của bài Phúc Âm năm A), qua Bí Tích Thánh Thể (ý nghĩa của bài Phúc Âm năm B), để cho những ai theo Người và nghe lời Người như chiên theo chủ chiên được sống và sống viên mãn hơn (ý nghĩa của bài Phúc Âm năm C). Theo tôi, để nắm được cốt lõi của tất cả Mầu Nhiệm Thánh Thể, chúng ta cần suy niệm câu Chúa Giêsu mạc khải về Thực Tại Thánh Thể của Người trong bài Phúc Âm theo Thánh Gioan cho phụng niên năm A sau đây: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Bánh Tôi sẽ ban cho thế gian được sự sống chính là thịt của Tôi”.
Trước hết, “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống” ở đây là gì, thưa quí vị? “Bánh hằng sống” đây, như Chúa Kitô xác định cũng trong câu này, “chính là thịt của Tôi”. Vậy “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống” tức là “Thịt Tôi là bánh từ trời xuống”, cả hai đồng nghĩa với nhau. Nếu thế thì chẳng lẽ “Thịt” của Chúa Kitô như Manna rớt xuống từ trời hay sao? Tuy nhiên, nếu “Thịt” của Chúa Kitô như Manna rớt xuống từ trời, thì “Thịt” của Người cũng chỉ là một thứ lương thực nuôi phần xác con người mà thôi, như Người khẳng định về tác dụng thể lý của Manna ở câu cuối của cùng bài Phúc Âm Thánh Gioan về Bánh hằng sống này: “Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông quí vị đã ăn manna và đã chết”. Vậy, chúng ta phải hiểu sao về ý nghĩa “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống” này? Theo tôi, Chúa Kitô “là bánh hằng sống từ trời xuống”, mà “bánh Tôi sẽ ban chính là thịt của Tôi”, nên phải hiểu là “Thịt” của Người, hay thân xác của Người nói riêng, và nhân tính của Người nói chung, đã được tạo tác trong lòng Mẹ Maria “bởi quyền phép Thánh Thần”, như lời thiên thần giải thích cho dưỡng phụ Giuse của Người trong giấc ngủ, được ghi nhận trong Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 1 câu 20, hay như lời dẫn giải của thiên sứ Gabiên trong Phúc Âm Thánh Luca, đoạn 1 câu 35. Đúng thế, chính vì “Thịt” của Chúa Kitô, hay thân xác của Chúa Kitô, “không sinh ra bởi huyết nhục, bởi ước muốn nhục dục hay bởi ý muốn con người, mà là bởi Thiên Chúa” như thế, như đường lối được Phúc Âm Thánh Gioan đề cập đến ở đoạn 1 câu 13 về thành phần tin vào Người, mà Chúa Kitô mới xác quyết về tác dụng thần linh này của “Thịt” Người, của “bánh Tôi ban” là: “ai ăn bánh này sẽ sống đời đời”.
Đúng thế, bánh Chúa Kitô nói tới đây không phải là thứ bánh thường, được Người hóa ra nhiều từ năm tấm bánh để nuôi đám dân Do Thái đi theo nghe lời Người. Bởi vì, bấy giờ thịt của Người hay thân xác của Người vẫn còn đó, chưa sống lại từ trong cõi chết, chưa trở thành linh thiêng, nghĩa là chưa trở thành, theo kiểu nói của Thánh Phaolô trong Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Côrintô ở đoạn 15 câu 45: “linh thiêng ban sự sống”. Trường hợp điển hình cho thấy thân xác phục sinh của Chúa Kitô đã thật sự “linh thiêng ban sự sống” đó là, sau khi sống lại từ trong cõi chết, Chúa Kitô Phục Sinh đã thổi hơi trên các tông đồ để các vị “nhận lấy Thánh Linh” (Jn 20:22), tức là làm cho các vị nhận biết Người đã thực sự phục sinh và tuyên xưng “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi” (Jn 20:28). Như thế, Chúa Giêsu nói: “Bánh Tôi sẽ ban” là Người có ý nói đến thân xác “linh thiêng ban sự sống” này của Người. Thế nhưng, chính nơi thân xác “linh thiêng ban sự sống” này của Người, như Người tỏ cho các tông đố thấy sau khi sống lại từ trong cõi chết, có những dấu vết tử nạn trên tay chân và cạnh sườn Người, những dấu vết cho thấy Người đã thực sự, như Người khẳng định trong Phúc Âm Thánh Mathêu đoạn 20 câu 28: “hiến mình làm giá chuộc muôn dân”, hay trong Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 10 câu 10: “hiến mạng sống cho chiên được sự sống và được sự sống viên mãn”. Bởi vậy, khi tuyên bố “Bánh Tôi sẽ ban cho thế gian được sự sống chính là thịt của Tôi”, là Chúa Kitô đồng thời cũng muốn báo trước việc Người sẽ thiết lập Bí Tích Thánh Thể, một Bí Tích được Người thiết lập trước giờ tử nạn của Người, bằng bánh và rượu nho trong Bữa Tiệc Ly, một biến cố được Thánh Phaolô nhắc lại trong Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Côrintô, qua bài đọc thứ hai năm C hôm nay: “Trong đêm bị trao nộp, Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra mà phán: ‘Các con hãy nhận lấy mà ăn, này là Mình Thày sẽ bị nộp vì các con: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thày’. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén mà phán: ‘Chén này là Tân Ước trong Máu Thày; mỗi khi uống, các con hãy làm mà nhớ đến Thày’”. Chính vì Mình Thánh Máu Thánh Chúa Kitô được hy hiến cho chúng ta liên quan đến mầu nhiệm phục sinh như thế mà, cũng trong bài đọc thứ hai năm C hôm nay, Thánh Phaolô còn nhắc nhở Kitô hữu chúng ta về ý nghĩa của việc chúng ta lãnh nhận Mình Thánh Máu Thánh Chúa là: “Mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này là anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho tới khi Chúa lại đến”. Ở đây, qua lời nhắc nhở này, Thánh Phaolô cũng cho riêng Kitô hữu chúng ta và chung những ai không tin Chúa Giêsu Thánh Thể thấy rõ, Bánh Chúa Kitô ban không phải là thứ bánh thường, mà là một thứ Bánh Thần Linh, Bánh hiện thực hóa cuộc tử nạn của Chúa Kitô với sự hiện diện thực sự của thân xác đã trở thành “linh thiêng ban sự sống” nơi tác động phụng vụ cũng như nơi người lãnh nhận. Đến nỗi, trong cùng bức thư trên, ở câu 27, Thánh nhân còn khẳng định: “Ai ăn bánh và uống chén của Chúa bất xứng là phạm đến mình máu Chúa”, nghĩa là, như Ngài quả quyết ở câu 29: “ăn và uống án phạt mình”.
Như vừa chia sẻ, Thánh Thể của Chúa Kitô là “Bánh hằng sống bởi trời xuống”, ở chỗ, Thánh Thể Người được tác tạo “bởi Chúa Thánh Thần”, và Thánh Thể của Người cũng là “Bánh sẽ ban cho thế gian được sự sống”, ở chỗ, Thánh Thể Người có thể thông ban Thánh Linh, như đã thông ban cho các tông đồ qua hơi thở từ thân xác phục sinh trở thành “linh thiêng” của Người. Chính vì thế chúng ta mới hiểu được ý nghĩa sâu xa lời Chúa Kitô nói trong bài Phúc Âm Thánh Gioan cho Lễ Mình Máu Thánh Chúa Năm A, về tác dụng thần linh nơi những ai lãnh nhận Thánh Thể Người, đó là lời: “Ai ăn thịt Tôi và uống Máu Tôi thì ở trong Tôi và Tôi ở trong kẻ ấy”. Thật vậy, người lãnh nhận Thánh Thể Chúa Kitô “ở trong” Người và Người “ở trong” họ là do Thánh Thần được ban cho họ khi họ lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, một Vị Thánh Thần mà, nếu không có Ngài, như Thánh Phaolô khẳng định trong Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Côrintô đoạn 12 câu 3: “không ai có thể tuyên xưng Đức Kitô là Chúa”, nghĩa là nhờ Thánh Thần Kitô hữu chúng ta mới có thể tiếp tục và liên lỉ tin nhận Chúa Kitô, bằng việc rước lấy Người trong Bí Tích Thánh Thể, với lời tuyên xưng “Amen” nghĩa là “tôi tin”. Để rồi, cho dù Mình Thánh không còn nơi thân xác của họ nữa, khi Hình Bánh hoàn toàn tan đi, song Chúa Kitô vẫn tiếp tục “ở trong” họ nhờ lòng tin này nơi những ai lãnh nhận Thánh Thể Người, như lời Thánh Phaolô xác nhận và huấn dụ tín hữu Êphêsô về đời sống nội tâm Kitô hữu ở đoạn 3 câu 17: “Xin Chúa Cha kiên cường nội tâm anh em bằng tác động của Thần Linh Ngài. Xin Chúa Kitô ngự trong lòng anh em nhờ đức tin và chớ gì đức ái đâm rễ sâu vào đời sống anh em”.
Trong tuần này, tuần Lễ Trọng Kính Mình Thánh Máu Thánh Chúa Kitô đây, Giáo Hội sẽ cử hành Lễ Trọng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu vào thứ sáu và Lễ Kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria vào thứ bảy ngay sau thứ sáu kính Thánh Tâm Chúa. Vậy chúng ta hãy cùng nhau ôn lại nguồn gốc lòng tôn sùng và Lễ về Hai Thánh Tâm Giêsu Maria rất khả kính khả ái này.
Vẫn biết Lễ Trọng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu được Giáo Hội chính thức thiết lập đầu tiên ở Balan từ năm 1765, và sau đó cho toàn thể Giáo Hội vào năm 1856, tuy nhiên, Thánh Lễ này lại được gợi ý từ mạc khải tư vào hạ bán thế kỷ 17. Thật vậy, Thánh Nữ Magarita Alacoc, nữ tu Dòng Thăm Viếng người Pháp đã được nhiều lần thị kiến thấy trái tim Chúa Giêsu trong khoảng thời gian từ năm 1673 đến 1675, Đấng đã kêu gọi rước lễ các Ngày Thứ Sáu Đầu Tháng, Làm Giờ Thánh vào các Ngày Thứ Năm và việc cử hành Lễ Thánh Tâm hằng năm. Tuy nhiên, không phải chỉ vì mạc khải tư mà Giáo Hội thiết lập Lễ Thánh Tâm Chúa, mà chính vì Thánh Tâm Chúa cũng như lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa có một nền tảng mạc khải trong Thánh Kinh. Trước hết, Thánh Tâm Chúa bắt nguồn từ mạc khải Thánh Kinh ở chỗ, nếu trái tim là biểu hiệu cho yêu thương, thì tình yêu Thiên Chúa được bộc lộ hết cỡ nơi việc Chúa Kitô tự hiến mạng sống mình làm giá chuộc chung nhân loại và thánh hóa riêng Giáo Hội trên thập giá của Người, bởi thế, mạc khải tình yêu vô cùng tuyệt hảo xót thương của Thiên Chúa đã được tỏ ra cho loài người thấy, khi máu cùng nước chảy ra từ cạnh sườn mở ra theo lưỡi đòng đâm vào thi thể của Chúa Giêsu tử giá (xem Jn 19:34). Thứ đến, lòng tôn sùng Thánh Tâm cũng được bắt nguồn từ Thánh Kinh nữa, ở chỗ Thánh Gioan Tông Đồ, người môn đệ được Chúa Giêsu yêu, dựa đầu vào ngực Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly để có thể nghe được những gì sâu kín nơi Người liên quan đến người môn đệ bội phản Thày (xem Jn 13:23). Giáo Hội đã tiếp tục lòng tôn sùng Thánh Tâm này, điển hình nhất là việc Đức Thánh Cha Lêô XIII đã hiến dâng toàn thể loài người cho Thánh Tâm Chúa Giêsu lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội năm 1899.
Sở dĩ Giáo Hội sắp xếp Lễ Kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria ngay sau Lễ Thánh Tâm Chúa là vì vai trò Đồng Công Cứu Chuộc của Mẹ. Đó là lý do chúng ta thấy Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại sự kiện “đừng kề bên thập giá Chúa Giêsu có mẹ Người” (19:25). Như Thánh Tâm Chúa và lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa được bắt nguồn từ Mạc Khải Thần Linh thế nào, thì Trái Tim Mẹ và lòng sùng kính Trái Tim Mẹ cũng có nền tảng trong Thánh Kinh Tân Ước như vậy. Trước hết, nếu trái tim liên quan đến Chúa Giêsu là biểu hiệu cho tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại thế nào, thì trái tim liên quan đến Mẹ Maria cũng biểu hiệu cho lòng tin của Mẹ đối với Thiên Chúa như vậy, một lòng tin có tác dụng cứu giúp loài ngưòi. Đúng thế, Thánh Luca đã hai lần nhắc đến trái tim Mẹ Maria liên quan đến lòng tin của Mẹ, một ở biến cố mục đồng đến viếng thăm hài nhi Giêsu trong máng cỏ, và một ở biến cố Mẹ tìm được thiếu nhi Giêsu Con Mẹ trong đền thờ như sau: “Maria giữ tất cả những điều ấy mà suy niệm trong lòng” (2:19, 51). Và lòng tin của Mẹ đối với Thiên Chúa đã có tác dụng cứu giúp loài người, như Thánh Gioan thuật lại biến cố nước lã hóa thành rượu ngon ở tiệc cưới Cana, qua lời Mẹ hết sức tin tưởng cầu thay nguyện giúp (2:3, 5). Về lòng tôn sùng Trái Tim Mẹ, hay việc noi gương bắt chước lòng tin của Mẹ cũng thế, chúng ta thấy gương của nhóm phục dịch trong tiệc cưới Cana, dù không biết Mẹ là ai, song đã tỏ lòng tin tưởng nơi Mẹ, ở chỗ, tin tưởng vào Chúa, bằng cách ngoan ngoãn nghe lời Mẹ nhắn nhủ để làm theo ý Chúa (2:7). Có thể nói, Chúa Kitô đã tỏ mình ra cho các môn đệ, chẳng những do lòng Mẹ tin tưởng cầu thay nguyện giúp mà còn do cả lòng tin tưởng tôn sùng của nhóm người này đối với Mẹ của Người nữa.
Đó là về nguồn gốc Trái Tim Mẹ và lòng sùng kính Trái Tim Mẹ theo Thánh Kinh. Còn về Lễ Trái Tim Mẹ, trước Công Đồng Chung Vaticanô II, lễ này được Giáo Hội kính vào ngày 22/8 hằng năm, nhưng sau Công Đồng, lễ này được chuyển vào ngay sau Lễ Thánh Tâm. Theo lịch sử phụng vụ, Lễ Trái Tim Mẹ được Thánh Gioan Êuđê từ năm 1646 đã vận động Giáo Hội để thiết lập. Tuy nhiên, sau khi hiến dâng cả loài người cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria lần đầu tiên vào ngày 31/10/1942, tức sau 25 năm Mẹ hiện ra ở Fatima, để kỷ niệm biến cố này, Đức Thánh Cha Piô XII mới thiết lập Lễ Kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria ngày 4/5/1944. Như thế, tuy Trái Tim Mẹ Maria cũng có nền tảng trong Thánh Kinh như trên vừa đề cập đến, Lễ Kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, như Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, cũng được gợi ý từ mạc khải tư, mạc khải Mẹ hiện ra ở Fatima năm 1917.
Thật vậy, Đức Mẹ đã tỏ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ ra cho 3 Thiếu Nhi Fatima thấy lần đầu tiên trong lịch sử loài người vào ngày 13/6/1917, một Trái Tim bị quấn quanh bằng một vòng gai. Thế rồi, vào ngày 13/7/1917, Đức Mẹ đã tiết lộ Bí Mật Fatima phần thứ ba cho các em biết rằng: “Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ trên thế giới”, và “Mẹ sẽ đến để xin hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ”. Đức Mẹ đã thực sự trở lại với chị Lucia ngày 13/6/1929, với lời lẽ như sau: “Đã đến lúc Thiên Chúa muốn Đức Thánh Cha hợp cùng với tất cả các giám mục trên thế giới để hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, Ngài hứa sẽ cứu Nước Nga bằng cách này”. Chính vì việc hiến dâng Nước Nga liên quan đến Đức Thánh Cha và vận mệnh thế giới, do đó, ngày 24/10/1940, chị Lucia đã phải viết một bức thư đệ trình lên Đức Thánh Cha Piô XII về ý muốn và cách thức Thiên Chúa muốn Đức Thánh Cha hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ. Thế rồi, như lịch sử cho chúng ta thấy, ý định và cách thức Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria trên thế giới vào thế kỷ 20, bằng việc Giáo Hội hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, đã hoàn toàn được thực hiện, đúng như lời Mẹ tiên báo ở đoạn kết phần thứ hai của Bí Mật Fatima, đó là “Đức Thánh Cha sẽ hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ, Nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ có một thời gian hòa bình”.
Ngày 18/5/1939, chị Lucia đã viết cho Cha Ganzalvez thế này: “Cách đây không bao lâu, con có hỏi Chúa Giêsu là tại sao Người không làm cho Nước Nga trở lại mà không cần Đức Thánh Cha phải hiến dâng như thế?”, rồi chị tiết lộ, Chúa đã thầm cho chị biết là “Vì Cha muốn toàn thể Giáo Hội nhận biết rằng việc hiến dâng này là một cuộc vinh thắng của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, nhờ đó, Giáo Hội đặt việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria bên cạnh lòng tôn sùng Thánh Tâm của Cha”. Như thế, việc Giáo Hội cử hành Lễ Trọng Kính Thánh Tâm Chúa và Lễ Kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria vào hai ngày liền nhau, Thứ Sáu và Thứ Bảy tới đây, rất hợp với cả Mạc Khải Thánh Linh và mạc khải thời đại vậy, thưa qúi vị thính giả.

 

THÁNHTHỂ-62: HÃY LÀM NHƯ THẾ MÀ TƯỞNG NIỆM THẦY

- Trần Duy Nhiên
 

Có lẽ trong suốt năm, không có ngày nào mà câu hát này thích hợp và: THÁNHTHỂ-62

"Ta là bánh hằng sống, là bánh ban xuống bởi Trời.
Ta là bánh trường sinh, ai ăn sẽ sống muôn đời."
Có lẽ trong suốt năm, không có ngày nào mà câu hát này thích hợp và sốt sắng cho bằng ngày lễ Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô. Từ ngày rước lễ vỡ lòng, chúng ta đã được dạy dỗ rằng lương thực nuôi linh hồn là Mình và Máu thánh Chúa, và vì thế Thánh Lễ là trung tâm của đời sống đạo. Chân lý này được khắc sâu vào tâm khảm của Ki-tô hữu đến độ chúng ta trở thành những người dị đoan. Ô hay, vì sao tôn vinh Mình và Máu Chúa lại là dị đoan ? Ta cùng nhau đọc một mẩu chuyện:
"Năm người ngồi xung quanh mâm cơm mà bé Thu Hà lại bới ra những sáu chén. Mình hỏi ông Hai:
- Còn thiếu một người nữa. Người ấy là ai vậy đó, ông Hai ?
- Chén cơm đó là của thằng cha con Thu Hà. Cha nó bị máy bay trực thăng bắn chết hồi năm ngoái...
Mình nhìn con bé Thu Hà. Bé Thu Hà nhìn mình, nước mắt lưng tròng... Mình xao xuyến bởi chén cơm dành cho người quá cố. Nó là một kỷ niệm sống động, một sự nhắc nhở cụ thể. Và cũng thật lãng mạn. Tình yêu gắn bó người sống với người chết. Khoảng cách là vô hình và vô biên, nhưng người ta vẫn cố gắng làm được một cái gì đó để vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên’.
Câu chuyện nghe thật dễ thương bạn nhỉ, nhất là người viết lại là một linh mục, cha Pi-ô Ngô Phúc Hậu. Một linh mục mà thông cảm đến thế đối với một phong tục dị đoan thì thật là đáng cảm động. Bạn sẽ bảo: ‘Nhưng dù sao đi nữa ‘cúng cơm’ vẫn là một hành động dị đoan. Người chết có ăn uống gì đâu mà để cơm cho họ. Thương thân nhân thì cầu nguyện cho linh hồn họ, chứ cúng cơm cúng nước cứ như thể linh hồn cũng phải ăn ư ?’
Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn: vì linh hồn thì có miệng đâu để ăn, và có bao tử đâu để mà tiêu hóa chén cơm... Thế nhưng coi chừng, chúng ta lại phạm một tội dị đoan khác lớn hơn nhiều: chúng ta tin rằng linh hồn phải ăn Thịt và uống Máu - dù đó là Thịt và Máu Chúa - để mà sống. Chẳng những dị đoan, mà chúng ta trở thành man rợ: Những kẻ ăn thịt người, hơn cả thịt người nữa, những kẻ ăn thịt Chúa. Các giáo lý viên đã từng dạy cho chúng ta biết rằng Mình Thánh là Thịt thật của Chúa, và Rượu Thánh là Máu thật của Chúa kia còn gì ? Thậm chí có nhiều vị còn kể lại những lần máu tuôn ra đỏ cả bàn thờ nữa đấy !
Lẽ dĩ nhiên lối hiểu của tôi là sai ! Thịt và Máu Chúa không còn là Thịt Máu của Đức Giê-su từng sống ở Na-da-rét, mà là Thịt Máu của một Chúa Ki-tô đã phục sinh ! Và ‘sống nhờ Máu Thịt của Chúa’ vừa là một sự thật nhiệm mầu vừa là một hình ảnh biểu trưng.
Nhiệm mầu thì không thể hiểu và giải thích được, nhưng hình ảnh thì ta có thể hiểu được. Ta thử tìm hiểu xem Giáo Hội thực sự dạy chúng ta điều gì qua Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Ki-tô. Có lẽ hình ảnh ‘lương thực’ mà cha Hậu gợi lên trong bữa cúng cơm kia dễ làm cho ta hình dung được mầu nhiệm Mình Máu Chúa: đó là Mầu Nhiệm Tình Yêu. Cha nói: "Tình yêu gắn bó người sống với người đã khuất. Khoảng cách là vô hình và vô biên, nhưng người ta vẫn cố gắng làm được một cái gì đó để vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên".
‘Làm cho vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên’, đó là điều Chúa Giê-su đã làm khi để lại cho chúng ta Mình và Máu của Người. Và để cho chúng ta hiểu được hình ảnh biểu trưng đó Giáo Hội đã chọn lại bài phúc âm ‘hóa bánh ra nhiều’ của thánh Lu-ca để đọc lại cho chúng ta nghe ngày hôm nay. Trong bài phúc âm ấy, cái phép lạ lớn nhất, không phải là 5 con cá và 2 cái bánh mà 5.000 người được ăn no và còn dư mười hai thúng. Cái phép lạ lớn nhất ấy là phép lạ của tình yêu: nơi nào có đầy đủ tình yêu, thì 5.000 người hay hơn nữa ( vì chưa tình đến phụ nữ và trẻ em ) cũng được no thỏa từ vật chất đến tinh thần.
Khi các thánh Tông Đồ đề nghị Chúa cho đám đông về để họ vào làng mạc nông trại quanh đây, tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, thì các Tông Đồ cũng nghĩ đến tha nhân, nhưng đồng thời cũng nghĩ đến bản thân mình: Dân chúng tự lo như thế thì mình đỡ phải cho họ ăn. Thế nhưng Chúa Giê-su đã bảo: ‘Anh em hãy cho họ ăn’. Thế là hết trốn, hết đường rảnh nợ. Và chỉ có tình yêu của Chúa, tình yêu của người không muốn rảnh nợ, tình yêu của Đấng quên mình, mới làm cho họ no nê.
Thái độ đó của Chúa Giê-su là thái độ trong mọi giây mọi phút của cuộc đời Người; và lúc mà Người thể hiện rõ nét nhất là trong bữa ăn cuối cùng. Thánh Gio-an đã viết về đêm hôm ấy: "Người đã yêu thương đến cùng". Vì yêu thương đến cùng nên Người cũng hiến thân đến cùng. "Này là Mình Thầy, Này là Máu Thầy, các con ăn đi, và hãy làm như thế để tưởng niệm Thầy".
Trung thành với giáo huấn, 2000 năm qua, mỗi ngày, mỗi giờ, khắp nơi trên thế giới đều có Thánh Lễ để tưởng niệm, để nhận lãnh Mình và Máu của Đấng Tình Yêu. Nhưng rồi bạn và tôi, bao năm nay, có thể chúng ta cũng dừng lại ở điểm dị đoan đó; ta tự nhủ: ‘Mình đã ăn Thịt và Uống Máu của Chúa thì linh hồn mình có sức sống rồi, đâu cần phải làm gì thêm !’ Nghĩ như thế là vô hình trung chúng ta đã biến Tình Yêu thành bữa nhậu, và biến nghi lễ Phụng Vụ linh thiêng của Giáo Hội thành một nghi thức vừa man rợ vừa dị đoan.
‘Hãy làm như thế mà tưởng niệm Thầy’ còn có nghĩa là hãy yêu thương như Thầy, hãy chia sẻ như Thầy, hãy để cho người khác ăn thịt, lạm dụng, bóc lột như Thầy.
Bạn sẽ nói: "Trước những đói khát vật chất và tinh thần của anh em tôi, tôi có thể làm gì được. Bản thân tôi còn khó khăn mọi bề kia mà ?" Có thể làm được đấy ! Chúng ta có thể lắng nghe tiếng Chúa: ‘Hãy bảo họ ngồi xuống,... đừng xua đuổi họ đi, đừng bắt họ đến với mình mà hãy đến với họ.’ Chúng ta không thể làm gì nhiều, nhưng chúng ta vẫn có thể đến với họ với 5 cái bánh và 2 con cá của mình.
Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta có lần thuật lại câu chuyện sau:
Một hôm mẹ đem đến tặng một gia đình nọ một ít gạo. Đó là một gia đình người theo Ấn Giáo, gồm một người mẹ và ba đứa con thật nhỏ. Bà nghèo thật nghèo đến độ không có gì cho con mình ăn, và chúng nó đói. Khi Mẹ Tê-rê-xa đem gạo đến, mắt các em bé sáng lên, nhưng mẹ của chúng không nấu cơm ngay, mà lấy nửa số gạo đi ra ngoài. Một lúc sau bà trở về, Mẹ Tê-rê-xa hỏi bà đi đâu. Bà cho biết rằng ở bên cạnh có một gia đình cũng đói nhiều ngày như gia đình bà, nên khi nhận gạo thì điều đầu tiên bà nghĩ là phải chia sẻ cho gia đình kia trước khi nấu ăn cho con của bà.
Trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa, hẳn Thầy Giê-su của chúng ta sẽ tủi thân lắm khi thấy môn sinh của Người là chúng ta đây cứ ở lại tưởng niệm Người trong Nhà Thờ, và bỏ mặc cho người phụ nữ đói meo kia đem chia một nửa sự sống của chị cho một người hàng xóm, khi mà chính chị chưa bao giờ được chia sẻ Máu Thịt của Thầy, như chúng ta.

 

THÁNHTHỂ-63: TÔN THỜ CHÚA GIÊSU KITÔ

TRONG HÌNH BÁNH, HÌNH RƯỢU - Lm  Nguyễn Hùng Oánh
 

Trong nhiều lớp giáo lý dành cho sinh viên, tu sĩ, chúng tôi đọc câu “Vì: THÁNHTHỂ-63

Trong nhiều lớp giáo lý dành cho sinh viên, tu sĩ, chúng tôi đọc câu “Vì thế, chúng con xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, cho chúng con được hưởng nhờ” (Kinh nguyện Thánh Thể 2) và hỏi: rước Mình Thánh Chúa là rước lấy con người Chúa Giêsu Kitô do Đức Mẹ sinh ra thân xác hay là rước lấy con người Chúa Giêsu Kitô do bánh miến biến thành con người Chúa Giêsu Kitô ?”. Hầu hết trả lời: rước lấy con người Chúa Giêsu Kitô do bánh miến biến thành.
Hiểu như vậy thì chỉ rước lấy con người Chúa Giêsu Kitô tương tự chứ không thật sự rước lấy Chúa Giêsu Kitô do Đức Mẹ sinh ra, chịu nạn, chịu chết, sống lại, lên trời vinh hiển.
Thiên Chúa dựng nên mỗi một người là một con người độc nhất vô nhị, hữu nhất vô nhị trên đời này. Hồn tôi là của riêng tôi, xác tôi là của riêng tôi, số phận tôi, trách nhiệm của tôi là của riêng tôi. Tôi là tôi. Không hồn nào thay thế cho hồn tôi được, không xác nào thay thế cho xác tôi được, không ai giữ đạo Chúa thay cho tôi. Tôi lên thiên đàng là tôi được, tôi không thể nhường cho ai.
Thiên Chúa toàn năng vô cùng nhưng khi Thiên Chúa đã cho tôi hiện hữu ở đời do cha mẹ tôi sinh ra tôi thì dầu toàn năng vô cùng, Thiên Chúa cũng không lấy một vật liệu cao quý như vàng, bạc để dựng nên tôi thay thế cho con người toàn diện của tôi do cha mẹ tôi sinh ra. Nếu Thiên Chúa dựng nên tôi từ cục vàng, cục bạc đó thì con người đó là “con người tương tự tôi” chứ không phải chính là con người tôi. Nguyên lý đồng nhất (principe d'idendité) cho biết một vật nào là chính nó, chứ không thể là vật khác: A là A, tôi là tôi.
Công đồng Triđentinô dạy: “Si quis negaverit, in Sanctissimo Eucharistiae sacramento contineri vere, realiter et substantialiter corpus et sanguinem una cum anima et divinitate Domini nostri Jesus Christi ac proinde totum Christum… A.S (Sess 12, Can I. D 883) (Nếu ai chối rằng trong Bí tích rất thánh là Thánh Thể, không có thực sự, thực thể và bản thể Mình Thánh, Máu Thánh và linh hồn cùng thiên tính Chúa Giêsu Kitô của chúng ta nghĩa là Chúa Kitô toàn diện thì bị vạ).
- Chúa Kitô toàn diện thực sự (vere) ngự trong Hình bánh, Hình rượu khác với việc Ngài hiện diện bằng dấu hiệu, dấu chỉ. Dấu hiệu (signum, signe) cho biết có một thực tại (réalité) chứ dấu hiệu không phải là thực tại. Thí dụ: cái mũ Đức Giáo Hoàng, Đức Giám Mục để trên bàn hội nghị, nhưng không có Đức Giáo Hoàng, Đức Giám Mục ở đó.
- Chúa Kitô toàn diện ngự cách thực thể (realiter) trong Hình bánh, Hình rượu khác với hình vẽ Chúa Kitô. Thí dụ: ngày giỗ ba của tôi, tôi để hình ba tôi trên bàn thờ tổ tiên. Hình ba tôi chỉ là cái bóng của ba tôi, khác với con người thực sự của ba tôi.
- Chúa Kitô toàn diện ngự một cách bản thể (substantialiter) trong Hình bánh, Hình rượu nghĩa là không những Ngài dùng quyền năng của Ngài mà còn thực sự con người toàn diện của Ngài hiện diện trong Hình bánh, Hình rượu nhưng không bị hạn chế như trong một nơi chốn, không có tùy thể (accidents).
Vậy, rước Mình Thánh Chúa, hoặc rước Máu Thánh Chúa chính là rước lấy con người Chúa Giêsu Kitô toàn diện nghĩa là Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể vào bào thai trong cung lòng Đức Mẹ và được Đức Mẹ sinh ra làm người, bây giờ, ngự trong Hình bánh, Hình rượu.
Hình bánh là tùy thể (Hình dáng, màu sắc, mùi vị…) của bánh. Hình rượu là tùy thể (lượng, màu sắc, mùi vị…) của rượu. Chúng là dấu hiệu bề ngoài của Bí tích Thánh Thể để chỉ cái thực tại là con người toàn diện của Chúa Giêsu Kitô ngự trong đó
Sở dĩ gọi là Hình bánh, Hình rượu vì sau khi truyền phép (consécration) thì bản thể (substance) bánh và rượu ngừng hiện hữu và bản thể Chúa Kitô hiện hữu.
Sự thay đổi bản thể như thế, Giáo lý của Hội thánh gọi là TRANSSUBSTANTIATIO. Ý nghĩa của thuật ngữ này đã được diễn tả bằng nhiều cách nói và rất dễ gây ra hiểu lầm. Thí dụ:
- Bánh trở nên Mình Thánh Chúa Kitô, rượu trở nên Máu Thánh Chúa Kitô (nói như vậy, người ta phải hiểu con người Chúa Kitô do chất bánh, chất rượu làm nên, chứ không phải là con người Chúa Kitô do Đức Mẹ sinh ra).
Bánh và rượu biến thành Mình và Máu Chúa Kitô (nói như vậy, người ta hiểu lầm như vừa nói trên).
Vài kinh trong Phụng vụ, người ta có thể hiểu được cách nói như trên. Thí dụ: Kinh Epiclèse trong Kinh nguyện Thánh Thể: Haec ergo dona, quaesumus, Spiritus tui rore sanctifica, ut nobis Corpus et Sanguinis fiant Domini nostri Iesu Christi (Kinh nguyện Thánh Thể 2) (Bản dịch cũ của HĐGMVN: Vì thế chúng con nài xin Chúa dùng ơn Thánh Thần Chúa, thánh hóa lễ vật này để trở nên cho chúng con Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Bản dịch mới: Vì thế, chúng con xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, cho chúng con được hưởng nhờ).
Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo 1992 lấy lại lời tuyên xưng của Công đồng Tridentinô: do bởi truyền phép bánh và rượu, sự thay đổi hoàn toàn bản thể bánh được thực hiện để thành bản thể Mình Chúa Kitô, Chúa chúng ta và sự thay đổi hoàn toàn bản thể rượu để thành bản thể Máu Chúa Kitô, Chúa chúng ta . Sự thay đổi này Giáo Hội Công Giáo gọi đúng và chính xác là transsubstantiatio. Par la consécration du pain et du vin s’opére le changement de toute la substance du pain en la substance du Corps du Christ, notre Seigneur et de toute la substance du vin en la substance de son Sang ; ce changement, L’Église catholique l’a justement et exactement appelé transsubstantiation, số 1376).
Thuật ngữ transsubstantiation hàm chứa một sự thay đổi thế này: điểm nguyên phát (terminus a quo) ngừng hiện hữu và điểm chung lại (terminus ad quem) bắt đầu hiện hữu. Khi truyền phép bánh, bản thể bánh ngừng hiện hữu và bản thể Mình Thánh Chúa Kitô hiện hữu thay thế cho bản thể bánh. Khi truyền phép rượu, bản thể rượu ngừng hiện hữu, bản thể Máu Thánh Chúa Kitô hiện hữu thay cho bản thể rượu. Như vậy, trong Hình bánh, Hình rượu (gọi là Hình bánh vì bánh mất bản thể bánh, gọi là Hình rượu vì bản thể rượu ngừng hiện hữu) có toàn thể con người Chúa Kitô nghĩa là có Ngôi Hai Thiên Chúa với hồn và xác Chúa Kitô do Đức Mẹ sinh ra hiện diện một cách bản thể.
Dầu sao thì hiểu cho đúng Giáo lý của Hội Thánh về transsubstantiatio không phải dễ dàng gì. Thần học của Chính Thống giáo không làm rõ bản tính và cách thế sự hiện diện của Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Ngay cả cách nói Mình Thánh Chúa Kitô không được hiểu là chỉ có Thịt Chúa Kitô mà phải hiểu cả con người Chúa Kitô toàn diện ngự trong Hình bánh và cách nói Máu Thánh Chúa Kitô không được hiểu là chỉ có Máu Chúa Kitô ở trong Hình rượu mà phải hiểu là cả con người Chúa Kitô toàn diện ngự trong đó là một điều không dễ dàng giải thích cho thiếu niên. Có lần chúng tôi dạy Giáo lý Hôn Nhân cho một đôi bạn trẻ, hỏi anh chồng: rước lễ anh rước lấy ai ? – Anh ta trả lời: rước lấy linh mục. Chúng tôi buột miệng nói: Vậy, Anh nuốt con người tôi vào trong bụng anh à ?
Trong Phụng vụ Thánh lễ, có Kinh gây khó hiểu hoặc hiểu sai, ví dụ: biến (Bánh rượu) thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô (cả 4 Kinh Nguyện Thánh Thể đều có Kinh Épiclèse có cách nói như vậy), tuy nhiên cũng có những kinh có cách nói dễ hiểu hơn. Thí dụ: Kinh Tiến Lễ ngày thứ hai sau Chúa Nhật thứ 3 Mùa Chay: Munus, quod tibi, Domine nostrae servitutis offerimus, tu salutare nobis perfice sacramentum. Bản dịch Tiếng Việt: Lạy Chúa, chúng con dâng những lễ vật này lên Chúa để tỏ lòng thần phục suy tôn, xin Chúa biến đổi thành Bí tích cứu độ chúng con cho chúng con hưởng nhờ. Bản tiếng Anh: Father, bless these gifts that they may become the sacrament of our salvation, bản tiếng Pháp: Ces présents que nous vous offrons comme un vassal hommage, faites-en pour nour, Seigneur, le sacrement du salut (Dominico Gaspar Lefèbre, Le Missel, 1953).
Chúng tôi dạy cho thanh thiếu nhi thế này: Linh mục cầm lấy bánh miến, đọc lời Chúa Kitô phán: này là Mình Thầy, lập tức Chúa làm phép lạ cho bánh biến đổi không còn là bánh nữa mà chỉ còn là Hình bánh và con người Chúa Giêsu Kitô toàn diện hiện diện thực sự trong đó…
Tóm lại nhờ Hội Thánh dạy chúng ta tôn thờ Chúa Giêsu Kitô toàn diện hiện diện thực sự trong Hình bánh, Hình rượu và Chúa mong chờ làm của ăn, của uống nuôi đời sống tinh thần chúng ta.

 

THÁNHTHỂ-64: MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊ-SU

 – Phép lạ & nguồn gốc lễ này.
 

Năm 1263, một Linh Mục người Đức cử hành Thánh Lễ tại Nhà Thờ kính: THÁNHTHỂ-64

Năm 1263, một Linh Mục người Đức cử hành Thánh Lễ tại Nhà Thờ kính thánh Christiana. Lúc bẻ bánh, đột nhiên cha thấy Mình Thánh Chúa không còn là hình tấm bánh trắng, mà đã biến thành Thịt và Máu thật sự ngay trước mắt cha và toàn thể giáo dân. Những giọt Máu Thánh loang ra thấm ướt tấm khăn thánh lớn trải trên bàn thờ. Cha vội nhanh tay gấp khăn lại, nhưng hễ vừa gấp tới đâu thì Máu Thánh lại thấm ra tới đó, tất cả qua 25 lần vải trắng. Vừa xúc động vừa kính sợ, cha không thể tiếp tục dâng Thánh Lễ được nữa.
Sự việc kỳ lạ này sau đó được cha đích thân xin yết kiến và tâu trình lại với Đức Giáo Hoàng Urbano. Đức Thánh Cha liền cử ngay một vị Giám Mục đến rước Mình Thánh Chúa cùng với tấm khăn đẫm Máu Thánh về Tòa Thánh, đặt ở Nhà Thờ Chính Tòa cho giáo dân đến tôn kính.
Và đến ngày 8 tháng 9 năm 1264, Đức Thánh Cha đã ra sắc dụ thiết lập Lễ Kính Mình và Máu Thánh Chúa Giê-su trong toàn Giáo Hội Công Giáo.
Trích Tuyển Tập NỐI LỬA CHO ĐỜI số 2

 

THÁNHTHỂ-65: HRK/353- MÌNH MÁU CHÚA

Hôm nay tôi bỗng chợt nhớ đến một kinh nghiệm sống trong gia đình và thường được lặp đi: THÁNHTHỂ-65

Hôm nay, tôi bỗng chợt nhớ đến một kinh nghiệm sống trong gia đình và thường được lặp đi lặp lại mãi trong thời gian tôi 57 tuổi. Cứ mỗi lần mẹ tôi làm bánh hay cha tôi tát các mương đìa quanh nhà bắt cá thì tôi thèm thuồng ngồi bên nồi bánh vừa chín hoặc tiếc nuối những rổ tôm cá. Thèm thuồng vì rổ bánh chín mà mình muốn ăn nhưng mẹ tôi lại cứ lấy đi phân chia, bảo tôi đem cho người này người nọ, hoặc hối tiếc những con tôm, con cá mà mẹ tôi bắt đem cho các gia đình hàng xóm, những người cần đến. Mỗi lần bảo tôi mang đi cho người khác thì tôi không muốn cho đi, bấy giờ mẹ tôi lại bảo: “Con ạ, mình giữ lại ăn thì hết mà cho người ta ăn thì còn mãi”. Tôi không bao giờ quên lời nói đơn sơ này đi kèm với chính hành động chia bánh, chia cá cho những người xung quanh.
Hôm nay đọc lại đoạn Tin Mừng của lễ Mình Máu Thánh Chúa, kinh nghiệm gia đình tôi đã trải qua và nhất là lời giải thích của mẹ tôi: “Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn”. Một lần nữa lại xuất hiện và giúp tôi phần nào hiểu thêm kinh nghiệm mà các tông đồ đã trải qua ngày xưa trong biến cố được kể lại trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa đọc qua. Vào thời điểm của biến cố, chắc chắn các tông đồ đã được nhìn thấy nhiều việc làm của Chúa Giêsu để thực hiện tình thương đối với con người. Những lời nhắn nhủ dạy bảo của Chúa đã đánh động các ngài là sẽ không được sống ích kỷ, không được mơ ước vinh quang, danh vọng, địa vị cho bản thân khi theo Chúa. Thế nhưng, khi phải đối diện với một nhu cầu cụ thể của muôn người đang theo Chúa mà bị đói thì các ngài có phản ứng tránh né, thoái thác, không muốn hy sinh làm một cái gì đó để giúp vào. Các ngài đã nhắc khéo Chúa cho đoàn người ra về để họ tự lo giải quyết lấy vấn đề ăn uống. Chúa Giêsu đã làm ngược lại, Ngài ra lệnh: “Các con phải cho họ ăn”. Làm đồ đệ của Chúa, nhất là trong địa vị các tông đồ thì càng không thể chối từ trước lời mời gọi của tình bác ái liên đới. Và không để các tông đồ sống trong một thái độ tiêu cực lâu hơn nữa. Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông cộng tác vào công việc cho đi của Ngài. Trước hết, bằng việc chịu cực một chút, dấn bước hơn một chút để ra khỏi cái tôi ích kỷ, để tổ chức đám đông ngồi xuống bãi cỏ thành từng nhóm cho có trật tự.
Chắc chắn, đây cũng là một công việc khá phức tạp so với phương tiện thời đó. Phức tạp hơn là việc rửa chén quét nhà, rót cho người khách một ly nước, dù chỉ là một ly nước lã, nếu phải ly nước trà lại càng phải hy sinh nhiều hơn nữa: “Con ạ, mình ăn thì hết, người ta ăn mới còn”. Không biết mẹ tôi đã học được lẽ khôn ngoan này nơi đâu ? Chắc chắn không phải nơi sách vở, vì mẹ tôi chỉ học xong tiểu học, như vậy có thể là từ Chúa. Tôi không biết. Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ cầm lấy bánh và cá mà Ngài vừa chúc phúc để đem phân phối cho dân chúng. Như mẹ tôi đã bảo tôi đem bánh, đem cá đi cho người xung quanh để họ cũng được hưởng một bữa ăn ngon như nhà tôi lúc tát đìa hoặc làm bánh. Cử chỉ Chúa Giêsu thực hiện và được mô tả trong đoạn Phúc âm của thánh Luca hôm nay loan báo cho các môn đệ là Chúa sẽ thiết lập Bí tích Thánh Thể sau này. Chắc chắn sau kinh nghiệm sống với Chúa, các tông đồ hiểu được bí quyết sâu xa của Bí tích Thánh Thể, hy sinh chính bản thân mình như Chúa để nên của ăn đem lại hạnh phúc vui mừng cho anh chị em.
Chúng ta có thể nói, mừng lễ kính Mình Máu Chúa hôm nay như là ôn lại một kinh nghiệm gia đình, kinh nghiệm đại gia đình Giáo Hội của chúng ta. Bí tích Thánh Thể là trung tâm trong đời sống của mỗi người chúng ta cũng như là trung tâm của sinh hoạt Giáo Hội. Mỗi người chúng ta cũng như toàn thể Giáo Hội đều được mời gọi ôn lại kinh nghiệm gia đình mà Chúa Giêsu đã thực hiện với các tông đồ ngày xưa, Ngài mời gọi các tông đồ hãy cộng tác với Ngài để cho đi, cho đi chính Ngài, cho đi chính bản thân của họ. Mỗi người chúng ta hôm nay cử hành lễ Mình Thánh Chúa, chúng ta cũng được mời gọi cho đi chính mình như Chúa đã cho đi. Chúng ta tôn thờ sự hiện diện của Chúa không đủ, chúng ta còn phải để cho Chúa sống trong chúng ta, để Chúa cho đi trong chúng ta và chúng ta được mời gọi cho đi như Ngài. Xin Chúa củng cố đức tin cho chúng ta, để chúng ta cho đi trong tình thương bác ái, để chúng ta được sống như Chúa và cử hành Bí tích Thánh Thể mỗi ngày như Chúa. Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

THÁNHTHỂ-66: LỜI NGUYỆN / trước MTC

Lạy Chúa con, Chúa Trời của con, mỗi ngày con đều được nuôi dưỡng: THÁNHTHỂ-66

Lạy Chúa con, Chúa Trời của con, mỗi ngày con đều được nuôi dưỡng bằng Mình Thánh Chúa, được tràn ngập Máu Cứu Độ Chúa, được giàu có bởi Linh Hồn cực thánh Chúa, được đắm chìm trong Thần Tính Chúa.
Chớ gì con chỉ yêu một mình Chúa, con chỉ ước ao một mình Chúa, con chỉ tìm kiếm một mình Chúa, con chỉ muốn một mình Chúa, con chỉ nếm hưởng một mình Chúa mà thôi.
Chớ gì trái tim con và trọn cả bản thân con khao khát và chỉ vươn về Chúa. Chớ gì con trọn vẹn là của Chúa và cũng chỉ có mình Chúa chiếm ngụ con mà thôi.
Chớ gì con ở triền miên với Chúa và trong Chúa, nên một với Chúa để được thiêu hóa trọn vẹn trong lò lửa rực cháy của Trái Tim Thần Linh Chúa, kết hiệp trong tình con thảo với Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ yếu dấu của con. Nhờ Người, con muốn tôn vinh Chúa, ca ngợi Chúa, phụng sự Chúa, vâng lời Chúa cho đến đời đời. A-men.
MARTHE ROBIN, Đấng sáng lập Foyer de Charité tại Pháp.

 

THÁNHTHỂ-67: CHUYỆN CẬU BÉ GIÚP LỄ ANH HÙNG

Vào thời Cách Mạng Pháp cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, Giáo Hội: THÁNHTHỂ-67

Vào thời Cách Mạng Pháp cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, Giáo Hội Công Giáo bị bách hại dữ dội. Một hôm, cha Brétan đã phải cải trang để đến dâng Thánh Lễ tại một gia đình đạo đức trong xứ là gia đình của cậu Belzamine. Cậu bé hết sức vui sướng, vì đây là lần đầu tiên cậu được giúp lễ.
Đến đêm, cậu theo cha xứ đi đưa Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt. Bỗng, cha Brétan nghe có tiếng giày xăng đá khua trên đường,một toán lính đang tiến về phía hai cha con. Cha sợ sẽ bị xét hỏi, vội vàng lấy Mình Thánh Chúa trao cho cậu bé Benzamine, để cậu chịu lễ ngay tức khắc cho dù tính theo tuổi thì cậu chưa được phép rước lễ lần đầu. Kế đó, cha cũng trao luôn Mặt Nhật đựng Mình Thánh Chúa cho cậu cất giữ, rồi cha con nhanh chân chia nhau mỗi người đi một hướng.
Vì còn nhỏ và sức lại yếu, cậu bé chạy chẳng được bao xa thì đã bị toán lính đuổi theo bắt được. Không lâu sau đó, cha Brétan cũng bị bắt, giải về giam chung với cậu bé Benzamine. Một tên sĩ quan tra hỏi cha xứ: "Tên linh mục già kia, nhà ngươi cất giữ Bánh Thánh ở đâu ?" Cha xứ làm thinh không trả lời.
Quá tức giận, tên sĩ quan nổ súng bắn chết cha tại chỗ. Lục soát một hồi khắp người cha, chẳng thấy chút Bánh Thánh nào, chúng quay sang nạt nộ cậu bé: "Thằng nhóc, chắc chắn mày đã giấu Bánh Thánh, đưa ngay cho bọn tao, nếu không mày cũng sẽ mất mạng như cha xứ của mày đây !" Benzamine vừa can đảm, vừa ngây thơ trả lời: "Thưa các ông, Mình Thánh Chúa tôi đang giấu ở... ở... "
Tên sĩ quan tức giận hét lên: "Dấu ở đâu ? Khai ra ngay !" Cậu bé trả lời hết sức dõng dạc: "Ở trong tâm hồn của tôi đây, các ông cứ việc mổ bụng tôi ra mà lấy !" Bọn lính nghe lời nói khẳng khái như thế thì nổi điên lên vì nghĩ cậu bé cố tình trêu gan, lập tức chúng liền nổ súng hạ sát Benzamine tại chỗ rồi đem vùi xác chung với xác của cha Brétan dưới chân một gốc cây sồi già...
Mấy năm sau, khi thời Cách Mạng đảo điên và khốc liệt ở nước Pháp đã qua đi, Giáo Hội Pháp được bình yên trở lại, trong một đêm nọ, có một cơn bão lớn ập đến, quật ngã cây sồi già, trốc cả gốc rễ lên, người ta tìm thấy hai bộ xương được chôn cạnh nhau, một người lớn và một cậu bé trên tay còn ôm chiếc Mặt Nhật sáng ngời dưới ánh nắng mặt trời vừa lên...
Ghi lại từ mạng INTERNET 1998.

 

THÁNHTHỂ-68: CHUYỆN CÓ THẬT TẠI ÁC-MÊ-NI

VỀ  BÍ TÍCH THÁNH THỂ
 

Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết,nhưng tôi muốn con tôi được sống.:”THÁNHTHỂ-68

“Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết,nhưng tôi muốn con tôi được sống.”
Đó là lời của bà Su-san-na sau khi được cứu trong trận động đất ở Ác-mê-ni vào tháng 12-1987.
Trong số hàng ngàn người bị vùi lấp dưới đống gạch, có hai mẹ con bà Su-san-na may mắn còn sống sót. Cô con gái 4 tuổi đòi uống nước. Tìm đâu ra nước, khi hai mẹ con không có lối ra? Tình mẫu tử đã gợi lên cho bà một ý nghĩ táo bạo, đó là rạch ngón tay mình chảy máu để cho con mút. Đứa bé đã đỡ khát nhờ máu người mẹ. Nó đã sống, cho đến khi cả hai mẹ con được cứu.
***
Câu chuyện trên giúp ta hiểu phần nào Bí Tích Thánh Thể.
Đức Giêsu đã chết để chúng ta được sống. Ngài chấp nhận chịu đổ máu qua cái chết thập giá, và Ngài muốn máu Ngài trở nên thức uống cho chúng ta.
Trong các nhà thờ, vào dịp lễ Giáng Sinh, thường có những người ngoài Kitô giáo đến dự lễ. Cũng có ít người tò mò lên “ăn bánh thánh”. Họ ngạc nhiên vì tấm bánh mỏng manh, nhạt nhẽo. Nhưng họ sẽ ngạc nhiên hơn nhiều, nếu chúng ta bảo họ:
“Ăn tấm bánh đó là thịt Chúa,uống chén rượu đó là uống máu chúa”.
Thật là kinh khủng, làm sao có chuyện như vậy? Đây là mầu nhiệm đức tin, không dễ giải thích cho người ngoài. Tất cả bắt nguồn từ ước muốn lạ lùng của Đức Giêsu. Ngài muốn nuôi nhân loại bằng chính con người Ngài. Ngài muốn trở thành đồ ăn thức uống cho nhân loại:
“Các con hãy cầm lấy mà ăn,vì này là Mình Thày.Các con hãy cầm lấy mà uống,vì này là máu Thày”
Mình và Máu tượng trưng toàn thể con người Đức Giêsu. Nên khi rước lễ, ta không chỉ rước thịt mình Ngài, mà rước lấy cả con người Ngài dưới dạng tấm bánh. Rước lễ chính là gắn bó với một Ngôi vị:
“Ai ăn thịt tôi và uống máu tôithì ở lại trong tôivà tôi ở lại trong người ấy” (câu 56).
Rước lễ không phải là đón nhận một xác chết, nhưng là gặp gỡ Đức Giêsu đã chết và nay đã phục sinh.
“Như tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, kẻ ăn tôi cũng sẽ sống nhờ tôi như vậy."(câu 57)
Rước lễ là đón lấy sự sống từ Đấng đang sống, cũng là sự sống duy nhất bắt nguồn từ Chúa Cha.
Hôm nay, Đức Giêsu phục sinh có một lối hiện diện mới mẻ. Ngài không hiện diện dưới dạng một con người, nhưng dưới dạng đồ ăn, đồ uống. Như thế cả vật chất bất động cũng được nâng lên, cả lao công của con người cũng được thánh hiến. Vật chất trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh. Vật chất có chỗ trong thế giới của Thiên Chúa.
Ước gì thế giới vật chất ở quanh ta cũng trở nên thánh, nhờ được chia sẽ trong yêu thương.
GỢI Ý SUY NGHĨ:
1. Bài Tin Mừng hôm nay có 10 từ “SỐNG”. Bí tích Thánh Thể là bí tích ban sự sống. Bạn có thấy thánh lễ đem lại sự sống cho bạn không? Nếu không, tại sao?
2. Bạn nghĩ gì về thái độ của bạn khi rước lễ. Đó có phải là một cuộc gặp gỡ thân tình không? Bạn có chuẩn bị gì trước khi rước lễ? Ban có dành những giây phút lặng lẽ để tâm sự với Chúa sau rước lễ không?
CẦU NGUYỆN:
Lạy Chúa Giêsu,có một ngọn đèn dầu gần Nhà Tạm,ngọn đèn đỏ mời con dừng bước chân,và nhắc con về sự hiện diện ấy loan toả khắp nơi,để đâu đâu cũng thấy những ngọn đèn đỏ.Nơi xóm nghèo mùa mưa nháp nháp,nơi lớp học tình thương lúc chiều tà,nơi những trung tâm phục hồi nhân phẩm,nơi bảo sanh viện nâng niu sự sống của trẻ thơ,nơi “khách sạn năm sao”, nơi quán bia đầu ngõ,nơi các tiệm cho mướn băng video,nơi tình yêu trong ngần của đôi bạn trẻ... Nhưng lạy Chúa, trước hết,xin cho đời con là một ngọn đèn,xin cho chúng con là những ngọn đèn màu đỏ,mời người ta dừng lại, trầm tư,và gặp được Chúa. Amen.

 

THÁNHTHỂ-69:  chuyện/ PHÉP LẠ THÀNH LANCIANO

Câu chuyện xảy ra tại Lanciano, một thành phố cổ vùng Frentani nước Ý cách nay đã/ chuyện: THÁNHTHỂ-69

Câu chuyện xảy ra tại Lanciano, một thành phố cổ vùng Frentani nước Ý cách nay đã 12 thế kỷ. Nơi đây vẫn hiện đang lưu giữ một chứng từ gần như là một trong những phép lạ liên quan đến Thánh Thể.
Vào thế kỷ thứ 8, một ngày nọ, trong ngôi Nhà Thờ bé nhỏ kính Thánh Legonziano ở Lanciano, một đan sĩ dòng Thánh Basilio, trong lúc cử hành Thánh Lễ, sau khi đọc lời truyền phép, tự nhiên cha thấy thoáng một chút hoài nghi về sự hiện diện đích thực của Mình và Máu Thánh Đức Giê-su bên trong hình bánh và rượu. Vậy là, trong phút chốc, tấm bánh trắng trong tay cha đã biến thành một miếng Thịt sống, và rượu trong chén Thánh đã trở nên Máu tươi dưới dạng 5 hòn đông đặc lớn nhỏ khác nhau. Mãi cho đến hôm nay, Mình và Máu Thánh Đức Giê-su vẫn cứ được lưu giữ trọn vẹn.
Mình Thánh lúc bình thường trong Nhà Thờ có màu nâu nhạt, khi đem ra ánh sáng trời, thì thấy hồng tươi lên. Còn Máu Thánh vón cục giờ đây đã ngả sang màu đất son pha chút vàng. Cả hai Di Tích Thánh lúc ban đầu được đặt trong một Nhà Tạm bằng ngà tuyệt đẹp. Sau đó một thời gian, Mình Thánh được đặt trong một chén Thánh quý bằng bạc, còn Máu Thánh thì cất trong một cái liễn lớn bằng pha-lê.
Từ năm 1713 cho đến nay, Mình và Máu Thánh được đặt vào trong một chiếc mặt nhật lớn bằng bạc do chính tay nghệ nhân kim hoàn Domenico Coli làm ra. Các Đan Sĩ Dòng Thánh Basilio đã chịu trách nhiệm bảo quản Phép Lạ này trong suốt 5 thế kỷ. Kế đó là các Tu Sĩ Dòng Biển-đức được phép lưu giữ theo một sắc chỉ của Đức Giáo Hoàng Alexandre 2 vào năm 1176.
Đến năm 1252, các Tu Sĩ Dòng Thánh Phan-xi-cô đã được Đức Giáo Hoàng Innocente 4 phê chuẩn cho phép lưu giữ Phép Lạ này tại Nhà Thờ Thánh Legonziano. Đến năm 1258, các tu sĩ Phan-xi-cô tái thiết thành Nhà Thờ kính Thánh Phan-xi-cô và đặt các Di Tích Thánh sang một bàn thờ phụ ở bên phải bàn thờ chính.
Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều biên bản giám định đã được tiến hành bởi các Đấng Bản Quyền trong Hội Thánh, đặc biệt, của Đức Hồng Y Rodriguez vào ngày 17.2.1574, của Đức Giám Mục Phó của Giáo Phận năm 1637, của Đức Hồng Y Gervasone năm 1770, và của Đức Hồng Y Petrarca ngày 26.10.1886.
Ngày 18.11.1970, được Đấng Bản Quyền cho phép, các Tu Sĩ Phan-xi-cô đã ủy thác Di Tích Thánh cho một nhóm các nhà khoa học cùng tiến hành phân tích, đứng đầu là giáo sư Odoardo Linoli chuyên về giải phẫu cơ thể, bệnh lý các mô, hóa học và lâm sàng. Ngoài ra còn có sự cộng tác của giáo sư Ruggero Bertelli của Trường Đại Học Sienna. Ngày 4.3.1971, ngay trong Nhà Thờ Thánh Phan-xi-cô, giáo sư Linoli đã tổ chức một hội nghị trình bày các kết quả nghiên cứu trước các vị Bề Trên Dòng cũng như chức sắc dân sự, cả các vị đại diện ngành văn hóa và y khoa. Các phân tích đã được minh họa bởi một bộ ảnh chụp bằng ống kính hiển vi. Và các kết luận sau đó đã được đăng tải trên rất nhiều tạp chí khoa học khắp thế giới như sau:
- Đây là thịt và máu thật sự.
- Cả thịt và máu đều thuộc về cùng một cơ thể con người.
- Cả thịt và máu đều thuộc vào nhóm máu AB.
- Phần máu cho thấy đây là máu của một con người hiện tại, ngay ngày hôm nay, chứ không phải là đã được lưu giữ 12 thế kỷ trước.
- Phần thịt cho thấy đây là một thớ thịt thuộc phần cơ của quả tim.
- Không hề có dấu hiệu nào cho thấy có một chút liên quan gì đến các dung dịch dùng để ướp xác.
- Các thớ thịt cho thấy không hề có một bàn tay nào đã giải phẫu và lấy ra từ một con người. Phần máu cũng không hề được rút ra từ một xác chết, nếu không, nó đã bị biến chất, phân hủy và thối rữa.
- Các hàm lượng chất prô-tê-in chứa trong máu đều bình thường.
- Một số chất đã được tìm ra trong máu gồm có: clo-rua, phốt-pho, ma-nhê, na-tri và can-xi.
- Việc bảo quản các Di Tích Thánh trong tình trạng tự nhiên trong suốt nhiều thế kỷ, mà không bị ảnh hưởng một chút gì bởi các tác nhân vật lý, khí hậu và sinh học, quả là một hiện tượng khoa học không thể nào giải thích nổi.
Tiếp sau bản bản báo cáo gây xúc động của giáo sư Linoli, đại diện Tối Cao của tổ chức Y Tế Thế Giới OMS ( Organisation Mondiale de la Santé ) của Liên Hiệp Quốc đã thành lập một hội đồng khoa học để kiểm chứng lại những kết luận nói trên. Công việc kéo dài trong 15 tháng với tất cả 500 thí nghiệm. Các kết luận đều giống nhau. Các Di Tích Thánh ở thành Lanciano không thể được coi như một thứ xác ướp. Người ta không thể giải thích tại sao và như thế nào mà các Di Tích Thánh này lại được lưu giữ trong suốt 12 thế kỷ mà không hề có một phương tiện bảo tồn khoa học nào.
Về tình trạng của mẩu Thịt, Hội Đồng đã mạnh dạn công bố rằng: đây là một thớ thịt tươi nguyên bởi nó có thể nhanh chóng đáp ứng trước mọi nghiên cứu lâm sàng như đối với những cơ phận sống của một con người.
Trích từ “Merveille de l’Amour du Christ”, cha JEAN DEROBERT

 

THÁNHTHỂ-70: CÙNG TÌM HIỂU BÍ TÍCH THÁNH THỂ

I. DẪN NHẬP TỪ ĐỜI SỐNG:
 

Ở đời, ai cũng phải ăn phải uống để sống. Những người nghèo khổ thiếu đói hoặc các tu sĩ tiết: THÁNHTHỂ-70

Ở đời, ai cũng phải ăn phải uống để sống. Những người nghèo khổ thiếu đói hoặc các tu sĩ tiết chế khổ hạnh cũng chỉ có thể nhịn ăn tối đa một tháng và nhịn uống không quá ba ngày, bởi cơ thể luôn cần có một lượng thức ăn cùng các chất dinh dưỡng tối thiểu, giúp tạo ra một nhiệt lượng gọi là ca-lo-ri ( calorie ) để con người hoạt động và tồn tại.
Với người Việt nam, lương thực chủ yếu là cơm hoặc cháo; thực phẩm thì gồm các loại rau, củ, quả và thịt, cá, tôm, cua, trứng; thức uống thường là nước lã đun sôi, có thể pha trà ( chè ), các loại sữa, khi có tiệc tùng lễ lạc thì thêm nước ngọt và các loại bia, rượu chế biến từ lúa mạch, lúa nếp hoặc từ trái nho, trái mơ... Trong ngôn ngữ Việt nam, cái ăn cái uống thiết thân đến mức người ta thường ghép động từ “ăn” với các hoạt động khác như: ăn học, ăn mặc, ăn ở, ăn tiêu, ăn nói, ăn ngủ, ăn học, ăn chơi... Ngoài ra, người ta còn quen gọi các sản phẩm văn hóa, văn nghệ như: sách, báo, ca, múa, kịch, phim ảnh và âm nhạc là các “món ăn tinh thần” đem lại sự giải trí lành mạnh vui tươi, góp phần nuôi dưỡng tri thức và đạo đức nhân bản.
Riêng với người Do-thái, thức ăn là bánh làm từ lúa mì, lúa miến xay men, có men hay không men là tùy các dịp lễ; thức uống thì không thể thiếu nước và rượu chế biến từ trái nho. Trong bối cảnh và truyền thống như thế, Đức Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể, dùng chính bánh và rrượu để làm bên Thịt và Máu của Người như của ăn thức uống hầu nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của các môn đệ, các Ki-tô hữu trong cuộc đời trần thế.
II. NỀN TẢNG LỜI CHÚA:
Chúng ta có thể tìm thấy các đoạn Lời Chúa về Bí Tích Thánh Thể trong 3 sách Tin Mừng Nhất Lãm ( Mt 26, 26 – 39; Mc 14, 22 – 25; Lc 22, 19 – 20 ) và trong một đoạn trích từ Thư thứ nhất của Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi cho cộng đoàn ở Cô-rin-tô, vốn được viết vào năm 57, rất sớm so với các sách Tin Mừng, nên được xem là một văn kiện Tân Ước tiên khởi. Vì thế ở đây, trước tiên chúng ta cần chú tâm học hỏi đoạn 1 Cr 11, 23 – 29 được trích từ lá thư quý giá này:
”Điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình”.[
Chúng ta nhận thấy bố cục đoạn thư TRÊN có 3 phần chính rõ ràng:
1. Lời khẳng định về cội nguồn Bí Tích Thánh Thể:
Thánh Phao-lô tỏ ra rất vinh dự được là người trung gian giữa Đức Giê-su và thế hệ các cộng đoàn tín hữu tiên khởi, để tường thuật lại việc Đức Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Do vậy, điều ông viết ra ở đây quả là chân truyền, là xác thực, đáng tin đáng nhận như là truyền thống chính thức của Hội Thánh.
2. Lời tường thuật việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể:
Chúng ta lưu ý 4 điểm liên quan như sau:
q Thời điểm: Đức Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng, ngay vào đêm Người sắp bị nộp cho người Do-thái và quan quân Rô-ma. Vậy, lời nói và việc làm của Đức Giê-su ở thời điểm chia tay biệt ly này có ý nghĩa như một di huấn, một di chúc thiêng liêng để lại cho hậu thế.
q Đối tượng: Những người có mặt trong bữa ăn này được Đức Giê-su gọi một cách thân tình là “anh em”. Vậy, đây chính là các môn đệ yêu dấu và gần gũi của Người, cũng là chính chúng ta, các Ki-tô hữu hôm nay.
q Nội dung: Đức Giê-su trao bánh, rồi trao chén rượu cho các môn đệ cùng ăn và cùng uống. Trong cả hai việc, Người đều căn dặn: hãy làm để tưởng nhớ đến Người. Tất cả diễn ra như truyền thống bữa ăn của người Do-thái, nhưng ở đây, lại được vị chủ tọa là Đức Giê-su gắn cho một ý nghĩa thiêng liêng tột bực: bánh đã thành Thịt, và rượu đã nên Máu của Người.
q Hiệu quả: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em” và “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới”. Những lời này khẳng định Bí Tích Thánh Thể có giá trị như một Của Lễ Cực Thánh mà chính Đức Giê-su dâng lên cho Chúa Cha hầu đem lại Ơn Cứ Độ cho chúng ta, đồng thời viết nên một bản Giao Ước Tình Yêu vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và loài người.
3. LỜI CĂN DẶN LIÊN QUAN ĐẾN BÍ TÍCH THÁNH THỂ:
Thánh Phao-lô căn dặn: cho tới ngày Đức Giê-su quang lâm, tức ngày tận thế, mỗi khi cử hành Bí Tích Thánh Thể là chúng ta loan truyền rằng: Đức Giê-su đã chịu hy sinh vì chúng ta. Do vậy, trong Thánh Lễ hiện tại, sau khi truyền phép trên bánh và rượu, cùng lập lại các lời và việc Đức Giê-su đã nói và làm, Linh Mục chủ tế sẽ long trọng công bố: “Đây là mầu nhiệm Đức Tin”, cộng đoàn sẽ cùng tung hô: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến !” Ngay lúc sắp Hiệp Lễ, Linh Mục lại đọc thầm: “Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, theo Thánh Ý Chúa Cha, và nhờ Chúa Thánh Thần hợp tác, Chúa đã chết để cho thế gian được sống. Xin Mình và Máu Thánh Chúa đây, cứu chúng con khỏi mọi tội lỗi và mọi sự dữ. Xin cho chúng con hằng tuân giữ giới răn Chúa và đừng để chúng con phải lìa xa Chúa bao giờ”.
Chúng ta còn thấy ở cuối đoạn trích thư nói trên, Thánh Phao-lô đưa ra lời một khuyến cáo khá mạnh với các tín hữu ở Cô-rin-tô, cũng là cho chính chúng ta hôm nay, đó là: Mỗi khi đón nhận Bí Tích Thánh Thể, phải tự xét mình và ý thức sâu xa rằng: mình đang trực tiếp lãnh lấy của ăn của uống là chính Mình Máu Đức Giê-su, kẻo rơi vào thái độ và tâm tình bất xứng, xúc phạm nghiêm trọng đến Thánh Thể ( nên đọc toàn văn đoạn 1 Cr 11, 17 – 34 để hiểu rõ hoàn cảnh thực tế đã đưa tới lời cảnh cáo này ).
Vì thế, gần cuối Thánh Lễ, vừa tráng chén, Linh Mục chủ tế đọc thầm ( cũng là đọc thay cho các tín hữu vừa Hiệp Lễ ): “Lạy Chúa, miệng chúng con vừa rước lấy Mình và Máu Chúa, xin cho chúng con tiếp nhận Chúa với lòng trong sạch, và ước chi ân huệ này trở nên linh dược muôn đời cho chúng con”.
III. HIỆU QUẢ CỦA BÍ TÍCH:
Chúng ta có thể rút ra được một số ý nghĩa của Bí Tích Thánh Thể:
q Quả thật, Đức Giê-su hiện diện một cách sống động trong Bí Tích Thánh Thể. Trong Thánh Lễ, cứ mỗi lần Giám Mục hoặc Linh Mục đặt tay nài xin Chúa Cha đổ ơn Chúa Thánh Thần xuống để Thánh hóa ( vạch một dấu Thánh Giá ) của lễ là bánh và rượu, và sau đó đọc lời truyền phép “Này là Mình Ta, này là Máu Ta”, thì trong mỗi hình bánh và hình rượu, dù nhỏ bé thế nào, cũng đều có toàn vẹn Đức Giê-su.
q Vì yêu thương chúng ta, Đức Giê-su đã ban tặng cho chúng ta chính Thịt và Máu của Người, tức là chính Sự Sống Thần Linh của Người:
· Để Người trực tiếp nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của chúng ta ( ví như người mẹ nuôi con bằng sữa của bản thân );
· Để Người luôn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế ( ví như hai người yêu nhau thì muốn được ở bên nhau mãi mãi ).
q Đức Giê-su truyền cho các môn đệ: “Anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy”, nghĩa là Người muốn Hội Thánh tiếp nối Người mà cử hành các Thánh Lễ mỗi ngày và ở khắp nơi, hầu nhờ đó, Người tiếp tục và luôn luôn trở nên của ăn của uống thần thiêng nuôi dưỡng các tín hữu cho đến tận thế.
q Một khi rước Đức Giê-su vào lòng là chúng ta được hiệp nhất ( nên một ) với Người, cũng là được thông dự vào mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, không chỉ về mặt thiêng liêng, mà còn cả về mặt thể xác; và vì đã nên một với Chúa, chúng ta cũng phải hiệp nhất ( nên một ) với nhau trong Lòng Mến.
IV. THỰC HÀNH BÍ TÍCH:
Bí Tích Thánh Thể luôn được cử hành trong khuôn khổ một Thánh Lễ. Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt, Bí Tích Thánh Thể có thể được trao ban ngoài khuôn khổ của một Thánh Lễ, đó là:
q Trường hợp một cộng đoàn không có Linh Mục chủ sự, hoặc Linh Mục không thể đến cử hành Thánh Lễ, Đấng Bản Quyền cho phép một Phó Tế ( hoặc một giáo dân được tuyển chọn làm thừa tác viên ) được cử hành phần Phụng Vụ Lời Chúa và nghi thức Hiệp Lễ, với bánh đã được một Linh Mục truyền phép trước.
q Trường hợp bệnh nhân đang nguy tử, Linh Mục vừa cho họ lãnh nhận các Bí Tích Hòa Giải, Xức Dầu Bệnh Nhân xong, cũng có thể cho họ Hiệp Lễ như “Của-Ăn-Đàng”. Nếu không thể có Linh Mục đến cử hành, một Phó Tế ( hoặc một giáo dân làm việc Tông Đồ ) cũng được phép trao “Của-Ăn-Đàng”.
q Trường hợp Bí Tích Thánh Tẩy cho người lớn, hoặc Bí Tích Hôn Phối không cử hành trong Thánh Lễ, Linh Mục hoặc Phó Tế có thể cho người Tân Tòng, hoặc đôi hôn nhân được Hiệp Lễ.
q Ngoài ra, một Đấng có quyền Mục Vụ sẽ tùy trường hợp định liệu vì phần ích lợi của giáo dân, có thể cho họ được Hiệp Lễ riêng trong Nhà Thờ hoặc một nơi xứng hợp khác.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT ( Soạn theo phương pháp Sư Phạm Giáo Lý Thánh Kinh )

 

THÁNHTHỂ-71: GIÁO HOÀNG CỦA THÁNH THỂ

ĐỨC PI-Ô 10 ( 1903 - 1914 ), GIÁO HOÀNG CỦA THÁNH THỂ
 

Trước khi qua đời, Đức Lê-ô 13 nói với Đức Hồng Y Sarto, rằng: “Ngài sẽ là vị Giáo Hoàng: THÁNHTHỂ-71

Trước khi qua đời, Đức Lê-ô 13 nói với Đức Hồng Y Sarto, rằng: “Ngài sẽ là vị Giáo Hoàng kế vị và sẽ làm được rất nhiều điều quan trọng cho Giáo Hội...” Đức Lê-ô đã nói đúng về cả hai điều.
Giuseppe Sarto sinh tại Riese, Italia, ngày 2 tháng 6 năm 1835, thuở bé chỉ theo học với cha xứ, hết bậc trung học thì xin gia nhập Đại Chủng Viện Padua. Ngài được thụ phong Linh Mục năm 1858, rồi về nhận chức Giám Mục ở Mantua năm 1884, được Đức Giáo Hoàng Lê-ô 13 trao mũ Hồng Y và chuyển về Venise. Ngài đắc cử Giáo Hoàng năm 1903 với danh hiệu Pi-ô 10.
Ngài không được hưởng an bình. Dưới triều ngài, nước Cộng Hoà Pháp tiến hành cuộc chiến khốc liệt với Giáo Hội: bãi bỏ các Dòng Tu, tấn công mặt giáo dục tôn giáo trong các nhà trường, và năm 1905, đơn phương tuyên bố bãi bỏ hiệp ước, tách Giáo Hội và Nhà Nước và tịch thu tất cả tài sản Giáo Hội trên đất Pháp. Khi Đức Pi-ô cấm người Công Giáo thành lập các hội theo ý chính quyền để cai quản các Nhà Thờ, thì sự việc xem chừng kịch liệt, nhưng chính quyền đã quyết định nhượng bộ một phần. Đức Pi-ô đau khổ nhìn Giáo Hội bị tấn công cả ở các nước Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha.
Nhưng sự tấn công từ bên ngoài không phải là mối nguy lớn nhất. Một số Linh Mục bị nhiễm những tư duy triết học và thần học sai lạc, đã đấu tranh để Tân Thuyết thắng thế trong Giáo Hội. Năm 1907, bằng Thông Điệp “Pascendi” và sắc lệnh “Lamentabilis”, Ngài đánh mạnh Tân Thuyết và buộc mỗi Linh Mục phải tuyên-thệ chống lại Tân Thuyết. Ngài cải tổ Thánh Nhạc, tổ chức lại Giáo Triều và các Chủng Viện tại Ý. Ngài cũng cải tổ sách Kinh Nhật Tụng và bắt đầu công việc đồ sộ là hệ thống hoá Giáo Luật.
Nhưng trên hết, ngài được nhớ đến như là vị Giáo Hoàng của Thánh Thể: Ngài muốn cho trẻ nhỏ được Rước Lễ khi đến tuổi khôn và ngài cầu xin các tín hữu hãy năng rước Mình Thánh Chúa... Đức Pi-ô 10 đã dự đoán được một cuộc chiến tranh lớn sẽ nổ ra vào năm 1914, nhưng khi điều này thật sự xảy ra, nó đã làm con tim ngài tan nát. Ngài băng hà vào ngày 20 tháng 8 năm 1914. Tháng 5 năm 1951, Đức Pi-ô 12 đã phong ngài lên hàng Chân Phước và ngày 29 tháng 5 năm 1954, đã tôn phong Hiển thánh vị Giáo Hoàng Thánh Thể vĩ đại này.
Trích TRANG LIÊN LẠC CVK số 26

 

THÁNHTHỂ-72: Bàn tiệc Huynh đệ thánh thiêng

Mc 14, 12-16
Thưa quý vị.
 

Tôi không nhớ mình đã được uống rượu từ khi nào. Hồi ấy tôi còn quá non dại. Nhưng tôi có thể: THÁNHTHỂ-72

Tôi không nhớ mình đã được uống rượu từ khi nào. Hồi ấy tôi còn quá non dại. Nhưng tôi có thể xác định rõ ràng mình đã uống ra sao. Bởi lẽ sau này, khi đã lớn, tôi có thể quan sát một ai đó trong gia đình tập cho con cháu nhỏ, lẫm chẫm biết đi, uống rượu lần đầu tiên. Ông hay bà ta chấm một miếng bánh mì vào ly rượu của mình, cho chúng mút dần rồi sau đó cho ăn cả miếng. Điều đó thường xảy ra vào những dịp lễ lớn hoặc cơ hội vui vẻ đặc biệt của gia đình, do quá cưng chiều con cháu. Trường hợp của tôi cũng vậy thôi. Khi đến mươi, mười hai tuổi, trẻ con chúng tôi được uống một muỗng canh rượu mạnh Whisky đổ vào chén nhỏ bằng hạt mít để sưởi ấm về ban đêm. Lúc đến độ tuổi “mười mấy” (teenage) mỗi bữa chúng tôi được rót cho một ly rượu đầy. Tôi nghĩ có lẽ trẻ con chúng tôi được đưa dần hội nhập vào thế giới người lớn tuỳ vào lượng rượu chúng tôi được phép uống. Điều đó cũng là dấu hiệu chúng tôi đã bước vào tuổi tập ăn, tập nghĩ và dĩ nhiên tập làm nữa. Ly rượu đầy nói với chúng tôi rằng chúng tôi phải chịu trách nhiệm về hành vi hạnh kiểm của mình trong gia đình, hàng xóm, láng giềng. Không thể sống tự do vô trách nhiệm mãi được.
Bữa ăn Thánh Thể hôm nay cũng vậy, nguyên thuỷ nó là lễ bánh không men của Cựu ước. Tôi thiết nghĩ chúng ta cũng là những đứa trẻ, quây quần quanh bàn ăn thiêng liêng, cố gắng trở nên các tâm hồn trưởng thành, tức là phần tử đúng nghĩa của một gia đình mới, gia đình Chúa Giêsu, anh chị em thực sự với nhau trong tình yêu bác ái. Chúng ta đã từng ăn bánh, uống rượu thiêng từ bao nhiêu năm qua, đã từng cố gắng nên hình nên dạng con cái Chúa chung quanh bàn tiệc này. Tuy nhiên con đường hoàn thiện còn dài và chúng ta hy vọng từng chút, từng chút một, rượu bánh thiêng sẽ biến đổi mình ngày một nên tốt lành hơn. Hy vọng đó đúng hướng, rất đáng trân trọng, khích lệ. Xin hãy can đảm gạt bỏ khỏi nhân cách những chi không xứng hợp với phẩm chất một thành viên trong đại gia đình thánh thiện. Đúng thật, bữa ăn hôm nay ám chỉ lời hứa sẽ được hoàn thành. Bởi vì ngày nào đó, con cái Thiên Chúa sẽ cùng nhau dự tiệc với Đức Ki-tô trong nền viên mãn của triều đại Ngài. Hiện nay, Nước Ngài đang hiện diện, nhưng chưa đạt tới mức tròn đầy. Bổn phận chúng ta phải thúc đẩy cho công việc này hoàn thành nhanh chóng bằng cách năng lãnh nhận Bí tích tình yêu.
Trước khi dự tiệc Bánh rượu, chúng ta nghe đọc Tin mừng và Chúa Giêsu nói với mỗi người hiện diện: Đây là Máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho muôn người. Thực ra, Chúa lập giao ước này hai lần, một lần trên bánh vào lúc khởi đầu bữa ăn, và một lần trên rượu vào cuối bữa ăn (1Cor 11, 25). Đó cũng là nghi lễ phụng vụ Thánh Thể của các giáo đoàn tiên khởi, nghi thức còn nhiều chi tiết cảm động, nhưng các thánh sử chỉ ghi lại các điều căn bản, bắt đầu từ thánh Phaolô. Ngày nay trong kinh nguyện Thánh Thể, các linh mục đọc: “Này là chén Máu Ta, máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội.” Vậy khi phán những lời này Chúa Giêsu muốn nhắm tới ai? Nhiều người hay tất cả? Đối với các môn đệ người Do thái ngồi quanh bàn Tiệc ly thì có lẽ “nhiều người” ở đây có nghĩa là các dân ngoại, không được phép hiện diện tại bàn ăn này. Tức là, Chúa muốn nói đến những người mà các lãnh đạo đền thờ gạt bỏ ra ngoài kẻo làm nhơ bẩn sự thanh khiết của Đạo. Nghi lễ tiệc ly chỉ dành cho người Do thái chính hiệu mà thôi. Như thế, lúc này Chúa muốn bao gồm luôn cả các thứ người khác nữa.
Phần chúng ta, khi tham dự Thánh lễ, “nhiều người” hay “những người khác” là ai? Nghĩa là những kẻ không được dự tiệc với chúng ta? Trong các giáo xứ quy củ “nhiều người” có thể là những gia đình thiếu thốn về tiền bạc, nói trắng ra, đó là những kẻ nghèo khó, không đủ cơm ăn áo mặc, không có lấy một bộ đồ lành lặn để đi dự Thánh lễ, những người không cùng giai cấp, địa vị với chúng ta, các khách ngoại kiều đến trú ngụ, không cùng ngôn ngữ, tập quán, giáo dục như chúng ta. Ở trong xóm đạo da trắng nghèo “nhiều người” có thể là những kẻ di dân mới đến đe doạ công ăn việc làm của mình. Ở các cộng đồng da đen, “người khác” có thể là những dân châu Mỹ La tinh. Đối với dân da vàng Á Châu, “họ” không ai khác là những người Mỹ gốc Mễ bên cạnh& Cứ thế danh sách những kẻ bị loại trừ kéo dài dễ thường đến vô tận.
Cho nên Chúa Giêsu không thể hiện diện để chúc lành cho các cộng đồng giáo xứ, khi còn mãi não trạng như vậy. Nếu như chúng ta thực sự lắng nghe lời Ngài trong các bài đọc của Thánh lễ. Thì bữa ăn thiêng liêng kế tiếp phải trở nên thách đố để bao gồm luôn kẻ “ngoài lề”, đón chào họ vào các buổi phụng vụ, vào sở làm và xã hội của mình. Trên thánh giá Chúa Giêsu giang rộng hai tay, đổ hết máu mình, để ôm ấp, tẩy sạch mọi người, thì không lẽ gì chúng ta loại trừ ai? Đúng lý, khi nâng chén rượu lên môi uống, chúng ta phải nhìn qua miệng chén, để nhìn thấy mọi người đang hiện diện với mình, gồm cả các linh hồn chúng ta đang muốn tránh né. Lúc này không phải là lúc hiềm tỵ nữa mà là Agape hoàn hảo. Chúng ta còn phải tưởng nghĩ đến cả những linh hồn khốn khổ vì tội lỗi, đang cầu khẩn xin ơn Thiên Chúa tha thứ và lớn lên về đàng thiêng liêng. Cánh tay giang rộng của Chúa Giêsu cũng nhắc nhớ chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn đã bỏ đạo, không bao giờ bước vào thánh đường nữa. Ngài đã đổ máu ra cho những kẻ lành, thì Ngài cũng dâng mình Ngài cho những kẻ dữ nữa. Chúng ta chớ để xót một ai trong khi tham dự bàn tiệc thánh. Đó là điều thánh Marcô nhắc nhở trong Tin mừng hôm nay. Chúng ta phải có cái nhìn của Chúa Giêsu. Ngày nào đó Ngài sẽ trở lại cùng chúng ta uống: “sản phẩm mới của cây nho này trong Nước Thiên Chúa”. Chúa Giêsu, thực tế, đã trông thấy trước những ai cùng tham dự bàn tiệc Thiên Quốc với Ngài. Chúng ta phải tiến triển mỗi khi ăn bánh uống rượu thánh để có được cái nhìn của Ngài.
Nói như thế không có nghĩa mọi sự sẽ đồng nhất trong bữa tiệc thánh thể. Nếu đúng phải như vậy, thì buồn chán biết bao! Khi tham dự thánh lễ, chúng ta mở lòng ra đón nhận Thiên Chúa và đồng loại. Chúng ta rước Mình Máu Chúa để lớn lên trong tình yêu. Mình Máu Chúa lôi kéo chúng ta đến với Chúa Phục sinh và anh em ruột thịt. Nhưng giáo xứ vẫn là cộng đồng nhiều thành phần. Nhóm này ưa thích bầu khí yên tĩnh, trầm lặng và nhiều kính trọng. Nhóm khác thích ồn ào, hoạt động xã hội, hoà đồng. Nhóm thích xây nhà thờ, nhóm khác lại thích trường học, nhà thương. Người thì bảo toà giảng không phải là nơi tuyên truyền chính trị, phe nhóm. Kẻ khác nói phải tích cực chống xì ke, ma tuý, tham nhũng, hối lộ. Người đi lễ Thứ bảy cho được ngắn gọn, tránh bài giảng dài. Người khác lễ chính tiệc 8 giờ, nghiêm trang sốt sắng hơn, ca đoàn hát hay& Như vậy chúng ta đến nhà thờ với nhiều tâm trạng khác nhau, nhiều khuynh hướng xã hội, chính trị, văn hoá, thần học, phụng vụ khác nhau. Không thể đồng nhất được. Đòi hỏi đồng nhất là vô lý. Chúa biết chúng ta cần ơn trợ giúp để hoà hợp với nhau. Nhưng dù thế nào đi nữa thì khi tham dự bàn tiệc Mình Máu thánh, chúng ta phải nên một với Chúa và với anh em. Bởi lẽ như thơ Do thái nói: Chúng ta chỉ có một Đấng trung gian của giao ước mới giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Giêsu Kitô (13,24). Ngài đã chết để giao hoà mọi mối bất đồng.
Khi ăn bánh và uống chén thánh, chúng ta hy vọng sẽ vượt qua hết mọi khó khăn, chia rẽ, để kết hiệp nên một thân thể mầu nhiệm Chúa. Thực sự thân thể này đã hiện hữu và đang trở nên hoàn thiện. Mọi cố gắng hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm của cộng đoàn phải nhằm đến mục tiêu đó. Chúng ta hy vọng sẽ lớn lên để trở nên các tín hữu trưởng thành trong Nước Thiên Chúa. Không tự kiêu, tự đắc, tự mãn chúng ta tiến lên bàn tiệc Mình Máu Chúa, nhận biết mình còn bất toàn, còn nhiều thiếu sót và cần đến ơn Chúa thay đổi. Chúng ta cũng muốn đổi thay cuộc đời mình và bữa ăn thiêng bảo đảm điều ấy. Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay khai mở cho nhân loại một viễn tượng hạnh phúc vĩ đại là Nước Thiên Chúa. Nó được thể hiện trong Bí tích Thánh thể, một thực tại, một triều đại đang đến, nhưng chưa hoàn thành đầy đủ. Xin mời mọi người đến tham dự, bởi lẽ mọi người đều đói khát Một Ngày cùng nhau ăn bánh, uống chén trong một triều đại hoàn toàn mới, hoàn toàn viên mãn.
Hôm nay khi trao mình thánh Chúa cho các tín hữu, linh mục thừa tác đọc: “Mình thánh Chúa Kitô, máu thánh Chúa Kitô.” Phần tôi, tôi có thói quen nhìn thẳng vào người lãnh nhận và nhủ thầm trong lòng rằng chính họ là máu thịt Đức Ki-tô, họ đến nhận sức sống của mình để ngày càng được trở nên, đồng hoá, biến đổi theo hình dạng Đức Ki-tô Giêsu. Như thế cũng có nghĩa các linh mục nói với họ: “Quí vị là thân thể Đức Ki-tô, lương thực này giúp quí vị dần dà trở nên một Đức Ki-tô mới trong thế giới.” Ngày đại lễ hôm nay cũng có những cuộc rước kiệu lớn, có khi khắp chung quanh làng xóm. Nhiều giáo xứ trên đất nước Hoa Kỳ còn giữ được thói quen tốt lành này. Nhưng cũng có nhiều giáo xứ đã bỏ. Dầu có hay không, thì ở cuối thánh lễ, mỗi người tín hữu cũng được sai đi vào thế giới để trở nên Mình và Máu Đức Ki-tô. Như vậy, hôm nay chúng ta cử hành lễ trọng kính Mình thánh Máu thánh Chúa, là cử hành chính thực tại của mình trong thế gian. Amen.
- Danh ngôn Trung Hoa: Muốn vui một ngày thì uống rượu. Một tuần: Nuôi chim. Một tháng: Cưới vợ. Trọn đời: Đi tu. Vậy thì rước lễ sẽ được vui muôn thuở.
Lm.Jude Siciliano, OP.

 

THÁNHTHỂ-73: HRK/126- MÌNH MÁU THÁNH

Một trong những lễ trọng trong mùa thường niên là lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa, lễ này: THÁNHTHỂ-73

Một trong những lễ trọng trong mùa thường niên là lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa, lễ này được cử hành vào thứ năm sau lễ Chúa Ba Ngôi, nhưng tại nơi nào lễ này không buộc thì Hội đồng Giám mục có thể dịch vào Chúa nhật tiếp sau đó với sự phê chuẩn của Tòa thánh. Hằng ngày Giáo Hội cử hành Bí tích Thánh Thể qua việc dâng hy tế Thánh Thể, đây là một nghi lễ thường xuyên kính Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu Kitô.
Trong ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Giáo Hội cho chúng ta nghe đoạn Tin Mừng về phép lạ bánh hóa nhiều. Đây là phép lạ duy nhất được cả bốn sách Phúc âm thuật lại, và đây cũng là một phép lạ công khai trước mặt một số đông người. Năm chiếc bánh và hai con cá trở thành lương thực nuôi khoảng năm ngàn người mà vẫn còn dư được mười hai thúng bánh vụn.
Thánh Luca nhấn mạnh đến vai trò của nhóm mười hai trong phép lạ này, vì chính họ đã chủ động xin Chúa Giêsu giải tán đám đông để những người này tìm chỗ ăn, chỗ ở khi ngày đã bắt đầu tàn. Chúa Giêsu dường như muốn đưa ra một thách đố cho nhóm mười hai: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi”. Hãy lo cho họ sau khi đã được nghe giảng về Nước Thiên Chúa và được chữa lành khỏi mọi tật bệnh. Các môn đệ thấy mình bất lực trước nhiệm vụ này, dù mới đây họ đã được sai đi rao giảng, chữa lành bệnh tật và đã thành công. Điều duy nhất họ có trong tay là năm chiếc bánh và hai con cá nhưng chừng ấy thấm vào đâu so với nhu cầu của dân chúng, vì ở nơi thanh vắng này dù có tiền cũng không mua được đủ bánh.
Chúa Giêsu cần các môn đệ nhìn nhận sự bất lực của họ để rồi Ngài mời gọi họ cộng tác vào việc nuôi sống dân chúng. Các môn đệ theo lệnh của Chúa Giêsu đã chia đám đông thành từng nhóm nhỏ, chính các ông đã trao bánh và cá cho Chúa Giêsu để rồi nhận lại từ tay Ngài và trao ban cho đám đông, như thế phép lạ đã xảy ra trên bánh và cá sau khi Chúa chúc lành và bẻ ra.
Chúng ta không tưởng tượng nổi số lượng khổng lồ bánh và cá phát sinh từ hành vi bẻ ra này. Bẻ ra và trao đi trở thành phép lạ nhân lên không ngừng. Có thể hôm nay chúng ta cũng thấy bất lực trước những nhu cầu của con người, và nhân loại vẫn ở trong tình trạng đói về nhiều mặt khác nhau, hằng giờ có biết bao trẻ em chết đói trên thế giới này. Trong tay chúng ta chỉ vỏn vẹn vài tấm bánh nhỏ, chúng ta lúng túng và thấy mình bất lực. Nếu chúng ta dám trao cho Chúa Giêsu tất cả những gì chúng ta có, nếu chúng ta để cho Ngài thánh hóa tất cả những cố gắng nhỏ bé của mình, nếu chúng ta chỉ coi mình là người cộng tác của Thầy Giêsu để phục vụ con người thì phép lạ vẫn có thể xảy ra hôm nay. Do đó chúng ta vẫn có thể nuôi cả thế giới no nê và dư dật, nếu chúng ta biết cộng tác với Chúa.
Chúng ta đọc lại câu 16 của đoạn Tin Mừng hôm nay: “Chúa Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông”. Khi kể lại cử chỉ Chúa Giêsu làm khi lập Bí tích Thánh Thể, thánh Marcô cũng sử dụng bốn động từ trên đây. Trong biến cố hai môn đệ trở về làng Emmau, chúng ta cũng thấy thánh Luca dùng lại bốn động từ này: “Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ”. Cử chỉ quen thuộc này đã làm cho hai môn đệ nhận ra Chúa Giêsu. Giáo Hội sơ khai hẳn đã thấy sự liên hệ giữa phép lạ bánh hóa nhiều và Bí tích Thánh Thể. Trong tất cả những trường hợp trên, Chúa Giêsu đều dùng một cữ chỉ để mời người khác ăn tấm bánh Ngài trao cho. Rất có thể ý định lập Bí tích Thánh Thể đã được khai mào từ sau phép lạ bánh hóa nhiều.
Những chiếc bánh vật chất chỉ làm giảm cơn đói của một số người nhất định và trong một thời gian nhất định. Manna ngày xưa trong sa mạc cũng không mang lại cho người ta sự sống sau cái chết. Bữa Tiệc Ly không phải là một hành vi đột xuất không suy nghĩ trước. Trái lại, Chúa Giêsu đã phải bận tâm với mơ ước nuôi cả nhân loại, nuôi họ bằng chính bản thân Ngài và ban cho họ sự sống vĩnh cửu: “Này là Mình Thày sẽ bị nộp vì anh em. Này là chén Máu Thày sẽ đổ ra cho anh em…” Chúa Giêsu mời chúng ta ăn tấm bánh và uống chén rượu đã được thánh hiến để thông hiệp vào cái chết và sự Phục sinh của Ngài, vào chính bản thân Ngài.
Bí tích Thánh Thể là sáng kiến của một tình yêu biết tìm kiếm. Cựu ước đã ghi rằng: “Trong những ngày sắp đến, Thiên Chúa sẽ nuôi dân Người dư dật”. Chúa Giêsu đã làm trọn lời hứa đó phần nào qua phép lạ bánh hóa nhiều, nhưng đó cũng chỉ là hình bóng của Bí tích Thánh Thể mà Ngài sẽ thiết lập sau này.
Khi thông hiệp với Chúa Giêsu Phục sinh dưới hình bánh và hình rượu, chúng ta còn cần đến đức tin, chúng ta mong chờ ngày được tham dự vào bữa tiệc trên trời, nơi chúng ta thông hiệp trọn vẹn với Ngài không qua bức màn đức tin nữa nhưng diện đối diện. Chúa Giêsu đã bẻ bánh nhiều lần trong cuộc đời của Ngài. Đời Ngài được kết tinh trong hành vi bẻ bánh. Tấm bánh trong nhà Tiệc Ly đã trở thành tấm thân Người được bẻ ra và trao cho con người qua cái chết trên thập giá: “Hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy”.
Giáo Hội sơ khai đã không quên mệnh lệnh đó, họ tiếp tục cử hành Bí tích Thánh Thể mà họ gọi là lễ Bẻ Bánh tại các nhà riêng của tín hữu. Bẻ Bánh trở thành nét đặc trưng của cộng đoàn Kitô sơ khai. Nghi thức này thường được cử hành vào ngày Chúa nhật, ngày thứ nhất trong tuần. Xin Chúa giúp cho chúng ta gặp Ngài trong lễ bẻ Bánh.

 

THÁNHTHỂ-74: CÁC PHÉP LẠ VỀ THÁNH THỂ.

Để cho con người tin Mình và Máu Thánh là thịt và máu thật, Chúa làm nhiều phép lạ để chúng: THÁNHTHỂ-74

Ðể cho con người tin Mình và Máu Thánh là thịt và máu thật, Chúa làm nhiều phép lạ để chúng ta tin và năng đến với Phép Thánh Thể. Có nhiều phép lạ chứng minh trong Phép Thánh Thể có thật Thịt và Máu Chúa Giêsu. (Theo Jean Carroll Cruz, trong sách Eucharistic Miracles and Eucharistic Phenomena in the Lives of the Saints. Ed. Tan, Rockford, II. 1987, tr. 305, liệt kê có 32 phép lạ. Nhưng theo Jean Ladame et Richard Duvin, trong sách Les Prodioges Eucharistiques. Ed. France-Empire, Paris, 1981, tr. 258, ghi là có 59 phép lạ).

Phép lạ có thể chia làm 6 loại:

- Chúa Giêsu hiện ra trong Bánh Thánh, như ở Douai, Ulmes (1668), ở Bordeaux (1822)

- Nhờ Mình Thánh Chúa, bệnh nhân được khỏi bệnh một cách lạ lùng: người câm ở La Rochelle (1461), Anne La Fosse (1725) và ở Lộ Đức.

- Nhờ Thánh Thể đã xảy ra nhiều hiện tượng lạ, như: dòng cuồng lưu bị chận đứng (1630), Lửa đang cháy bị dập tắt (1631).

- Nhờ Thánh Thể, nhiều tâm hồn được hoán cải: vua Abu Zeyt ở Caravaca (1232), Thánh Antôn, người rối đạo và con lừa, quận công Brunswick (1651).

- Thánh Thể giải thoát những hành động phạm thánh (La Haye, Hòa Lan, 1412)

- Bánh và rượu trở thành Thịt và Máu Thánh (Bolsene (1263), Lanciano (750)

Dưới đây xin ghi lại một số phép lạ.

1. Mình Thánh hiện hình như một em bé xinh đẹp.

Trong tiểu sử thánh Louis IX (1214-1270) vua nước Pháp có ghi: Một linh mục đang làm lễ trong nhà nguyện của hoàng gia. Bỗng cha xuất thần vào lúc truyền phép. NgườI ta thấy trên tay ngài có một em bé đẹp tuyệt trần. Người ta chạy đi báo cho vua hay. Vua trả lời: ‘‘Ta tin thật Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Ta không cần đến xem. Ta tin Ngài ở trong đó hơn ta thấy Ngài. Do đó Ta không đi xem kẻo mất công phúc đức tin của Ta.’’ (LC. số 214, 7-2000, tr. 8)

2. Máu Thánh chảy ướt bàn thờ

Tại Ý, năm 1263, thành Bolsène, trong nhà thờ Sainte Catherine, một linh mục sau khi đọc lời truyền phép đã nghi ngờ về bánh và rượu trở thành Máu và Thịt Chúa Giêsu. Tức thì Máu Thánh chảy đẫm khăn thánh và khăn bàn thờ. ĐGH nghe tin này, bèn ra lệnh đem khăn về để tạm tại nhà thờ Orviette. Sau xây nhà thờ rộng rãi để kính khăn thánh này. Ngày 8-9-1264, ĐGH Urbano IV (1262-1268) đã hành tự sắc lệnh Transiturus, thành lập lễ kính Mình Thánh Chúa Giêsu, cử hành vào sau tuần 8 ngày của lễ Hiện Xuống. Thánh Thomas Aquino đã sáng tác nhiều bài hát vào dịp lễ này: Lauda sion, Pange lingua, Adoro Te, và các kinh: Sacris Solemniis, Verbum Supernum... dịp lễ này có kiệu Mình Thánh Chúa ra đường phố. (Thiên Hương. NKĐP, số 179, 6-6-1912, tr. 338- 342)

3. Mình Thánh bay thoát khỏi tay ăn trộm

Đời vua Philippe de Hardi (1362-1404) của nước Pháp, một tên ăn trộm vào nhà thờ Saint Denis, lấy chén thánh đựng Mình Thánh Chúa định đem ra ngoài đồng trút Mình Thánh xuống rồi đem chén thánh đi bán. Nhưng Mình Thánh không rớt xuống mà lại bay chung quanh trên đầu tên ăn trộm. Thấy vậy người ta bắt nó nộp cho quan và báo cho cha sở. Cha Mattheu de Vendôme báo ngay và kêu gọi Đức Cha, các linh mục tu sỹ đến cầu kinh và hát thánh vịnh. Trước sự chứng kiến của đông người, tự nhiên Mình Thánh từ trên không từ từ hạ xuống tay cha sở họ Saint Gervais. Ngày nay, hằng năm, tại nhà thờ Saint Gervais vẫn hát lễ trọng vào Chúa nhật đầu tháng 9 để kỷ niệm phép lạ này. (Bđd)

4. Mình Thánh chảy máu khi bị xúc phạm. Thời vua Philippe le Bel cai trị nước Pháp (1285-1314), năm 1290, có một bà nghèo mà đạo đức tốt. Bà phải đem cầm chiếc áo cho một người Do Thái. Đến gần lễ Phục Sinh bà đến mượn lại chiếc áo đi dự lễ như người ta. Người chủ cho thuê đồng ý trả lại chiếc áo không lấy tiền vốn và lời với điều kiện buộc bà là chịu lễ xong phải nhả Mình Thánh ra và đem về cho anh ta. Bà bắt chước Giuđa bán Chúa Giêsu. Ép buộc nghe lời, bà nhả Mình Thánh vào khăn đem về cho tên kia. Nó để Mình Thánh trên bàn lấy dao nhọn đâm nhiều lát. Máu trong Mình Thánh chảy ra. Vợ nó cảm động nhưng nó vẫn chai đá, lấy búa và đinh đóng đinh Chúa Giêsu. Máu Chúa tiếp tục chảy lai láng. Nó đem Mình Thánh vào lửa đốt, song Mình Thánh bay lên khỏi lửa. Nó lại lấy Mình Thánh bỏ vào chảo nước sôi, nước trong chảo trở ra đỏ như máu và Mình Thánh bay lên cao biến thành hình Chúa Giêsu Chịu Nạn. Khi thấy dân chúng còn kéo nhau đến nhà thờ, thì đứa con của anh Do Thái chạy lại báo cho giáo dân hay là ‘‘ba tôi đã giết Chúa của qúi vị rồi’’. Nghe vậy, một bà giả bộ vào nhà nó xin lửa, thì bà thấy mọi sự y như vậy và thấy Ảnh Chuộc Tội còn trên không. Rồi Ảnh này biến thành bánh trắng như trước và đến ngự vào chiếc hộp nhỏ bà đang có đựng trong tay. Bà này đã đem nộp hộp có Mình Thánh cho cha sở Saint Jean en Grève để thờ kính trong nhà thờ cho tới khi chiến tranh tràn tới. Đức Giám Mục Paris gọi anh Do Thái kia lại khuyên ăn năn trở lại, nhưng nó không chịu, ngài mới trao nộp cho quan. Quan bèn cho thiêu sống. Vợ con và một số bạn bè đã trở lại. Còn khu nhà đó đã phá đi và xây một nhà thờ. (Bđd).


5. Em bé vừa chịu Mình Thánh Chúa không bị cháy.

Trước thời Thánh Giáo Hoàng Pio X, trẻ em chưa được rước lễ. Tại Constantinople, thủ đô La Mã cũ, vào thời giám mục Mennas, người ta có thói quen sau thánh lễ nếu còn dư Mình Thánh thì kêu và đem phát cho con nít, hay học trò nhỏ. Có một đứa trẻ Do Thái cũng đến rước Mình Thánh như trẻ khác. Khi em này về nhà, cha mẹ nó hỏi tại sao về trễ. Nó thật thà thưa vì ở lại rước lễ. Cha nó làm nghề nấu chế chai lọ thủy tinh, nghe vậy tức quá bèn bắt nó quăng luôn vào lò đang nấu thủy tinh. Người vợ đi đâu về nhà không hay câu chuyện, và thấy mất con, khóc lóc đi tìm con khắp nơi, suốt ba ngày mà không thấy. Em nhỏ trong lò thấy mẹ khóc thảm thiết, liền trả lời vọng ra là mình đang ở trong lò. Người ta đến cạy mở lò và đem em nhỏ ra. Nó còn sống, khỏe mạnh, tươi cười bước ra khỏi lò. Hỏi nó, nó cho hay có một bà sang trọng vào trong lò đem nước tưới lửa và đem đồ ăn nuôi nó sống. Cả thành đều hay tin này và cho đó là phép lạ. Hai mẹ con kia xin theo đạo. Nhưng người cha chấp nê không chịu hối cải, nên bị hoàng đế Justinien đóng đinh trên thập ác. (Bđd)

6. Tội bất kính với Mình Thánh.

Năm 1277, cha xứ ở Maestrich, nước Pays-Bas đem Mình Thánh cho kẻ liệt, đi ngang qua cầu sông Meuse, gặp lũ trẻ đang nô giỡn nhảy múa trên cầu, mà không có đứa nào qùi lạy hay tỏ vẻ cung kính. Khi cha vừa đi qua khỏi cầu, tự nhiên cầu lún xuống xập ngay, làm đông trẻ em trên cầu chết hết. Được biết xưa khi linh mục đem Mình Thánh cho kẻ liệt, thường có vài giáo dân đi theo, như đám rước nhỏ. Để ai thấy mà tôn kính.

7. Trong hỏa hoạn Mình Thánh không bị cháy.

Năm 1608, trong nhà dòng Faverney, tại Besançon, ngày lễ Hiện Xuống có chầu Mình Thánh Chúa trọng thể. Trên bàn thờ trưng bông hoa, đèn nến thật nhiều. Vô ý, đèn cháy lan xuống khăn bàn thờ và cả nhà tạm và bàn thờ, thành đám cháy bùng lên. Trong khi lửa bốc cháy ngùn ngụt, Mình Thánh đựng trong hào quang cứ bay lên lơ lửng, trọn một ngày một đêm, không cần vật gì đỡ cả. Qua ngày thứ ba, người ta làm một bàn thờ khác thay bàn thờ đã cháy, và trong khi thánh lễ khác được cử hành, thì hào quang từ từ đặt xuống bàn thờ. Giữa bao nhiêu người chứng kiến hát kinh chúc tụng. (Bđd)

8. Bánh rượu trở thành Thịt Máu Thánh

Đây là phép lạ cổ kính nhất, đã được Tòa Thánh cho xét nghiệm 5 lần, và ngày nay Thánh Tích vẫn còn trưng bày, được rất đông khách hành hương khắp nơi kính viếng.

Trình thuật phép lạ.

Vào năm 750, thế kỷ thứ 8, tại Lanciano, nước Ý, trong đan viện thánh Legonziano, có một linh mục dòng Basilio, nay gọi là tu viện thánh Phanxiô, đức tin lung lay không vững chắc. Ngài giỏi về khoa học, mà dốt về khoa Thiên Chúa học. Càng ngày đan sỹ càng nghi ngờ trong bánh rượu được thánh hiến có thực Mình và Máu Chúa Giêsu không. Cha này liên tục cầu xin Chúa cho mình hết nghi ngờ này. Chúa nhân từ nâng đỡ người con đang bị mây mờ che phủ. Một hôm, trong khi dâng lễ, đan sỹ còn đắm chìm trong sự sai lầm của mình, sau khi đọc lời truyền phép, cha bối rối, bàng hoàng vì phép lạ tỏ tường, cha thấy ngay trước mặt: bánh trở thành Thịt và rượu trở thành Máu. Từ sợ hãi cha đi đến hài lòng về tinh thần tỏ rõ trên đôi mắt và tâm hồn. Với nét mặt vui tươi, mắt ngấn lệ, cha quay nói với giáo dân và những người có mặt: Hỡi những người đang tham dự chung quanh đây thật có phúc. Vì Chúa đã tỏ hiện trong bí tích Cực Thánh và trở nên hữu hình ngay dưới mắt anh em, để phá vỡ sự cứng lòng chai đá của tôi. Xin anh em tiến đến gần mà chiêm ngắm. Chúa đã trở nên gần gũi với chúng ta. Đây là Thịt và Máu Chúa Giêsu yêu qúi của chúng ta.

Người ta không biết rõ tên linh mục đan sỹ này. Chỉ biết ngài là linh mục thuộc đan viện nhỏ của Thánh Basilio đến Lancino tỵ nạn, trong làn sóng di cư của các đan sỹ Đông Phương tới nước Ý, thời vua Leone III L’Isaurico. Thời này, từ năm 726 có phong trào mạnh mẽ đập phá tượng ảnh, chống lại việc tôn kính các ảnh tượng đạo. Phong trào này buộc các đan sỹ phải lưu vong ra ngoại quốc. Dân chúng ở Lanciano dành cho nhóm đan sỹ di cư này nhà thờ nhỏ Thánh Legonziano. Tại đây, trong thánh lễ bằng tiếng Latinh các đan sỹ dùng bánh lớn tròn, khác với bánh hình vuông có men của đan sỹ Hy lạp.

Bảo tồn thánh tích.

Phép lạ này được ghi chép trên tài liệu viết trên giấy da rất cổ. Nhưng vào đầu thế kỷ 15 bị hai đan sỹ dòng Basilio lấy cắp của dòng Phanxicô. Hiện nay chỉ còn tài liệu năm 1631, ghi trên giấy da bằng tiếng Hy Lạp và Latinh về tất cả chi tiết phép lạ ở Lanciano.

Các đan sỹ Basilio giữ gìn thánh tích qúi giá cho tới năm 1176. Rồi được các đan sỹ Biển Đức thay thế. Tới năm 1252, dòng Phanxicô nhận bảo quản cho tới ngày nay. Năm 1258, một đền thờ rộng lớn được xây bao trùm nhà thờ nhỏ thánh Legonziano. Và đem đặt thánh tích ở đây. Năm 1809, theo lệnh vua Napoléon I, bãi bỏ các dòng tu, dòng Phanxico phải rời đi và mãi tới năm 1953 mới trở lại sinh hoạt bình thường.


Trước hết Thánh tích được đặt trong một hòm bằng ngà voi và được đặt tại nguyện đường cạnh nhà thờ chính. Năm 1902 được lưu giữ đàng sau bàn thờ ở giữa cung nguyện. Bánh Thánh trở thành Thịt, như ngày nay người ta quan sát, được kính giữ trong hào quang bằng bạc, có kích thước như Mình Thánh lớn vẫn được các linh mục dùng trong Thánh Lễ. Thịt có màu hơi nâu và trở thành hồng nếu quan sát dưới ánh sáng trong. Rượu hóa thành Máu được kính giữ trong chén thánh bằng thủy tinh, họp thành 5 giọt to nhỏ khác nhau. Từ năm 1923, Thịt Thánh được trưng bày trong một hào quang, và những hột máu khô được đựng trong một chén lễ thủy tinh ở dưới chân hào quang. Trước nay, qua thời gian, các Thánh Tích được các tín hữu và khách hành hương rất mực tôn kính. Vào những dịp đặc biệt Thánh Tích được rước qua các đường phố trong thị trấn.

Khảo nghiệm kiểm chứng.

Để đánh tan dư luận và hồ nghi lâu đời trong dân chúng, sau công đồng Trente (1545-1563) Tòa Thánh tỏ ra nhân nhượng hơn đối với những Thánh Tích cổ kính, nên đã 5 lần cho khảo nghiệm Thánh Tích ở Lanciano, và kết như sau:

Năm 1574, chứng từ còn ghi lại để trong nhà nguyện bên tay phải gian chính nhà thờ. Sau mấy trăm năm, Thánh Tích được đựng trong hòm sắt: Thịt vẫn còn nguyên vẹn. Máu phân thành 5 phần không đều nhau. Khi thì 5 phần hiệp thành một cục khi thì tách rời ra.

Năm 1637, Đức TGM Rodriguez cho cân lại máu đã đông từ lâu, trước mặt giới hữu trách và đông người. Được thấy trọng lượng 5 cục máu cộng lại cũng bằng từng cục. Trọng lượng 5 cục là 16, 505 grames. Nếu cân riêng từng cục, thì từng cục là: 8 gr, 2,45gr, 2,85 gr, 2,05 gr và 1,15 gr. Cần thêm vào 5 gr bụi máu.

Năm 1770 và 1886, có cuộc tranh luận về sự biến thể từ bánh ruợu hóa ra Thánh Thể chất (la transsubstantiation) qua trọng lượng như cân đo ở trên. Chúa muốn chứng tỏ dấu hiệu mới sự hiện diện của Ngài trong Mầu Nhiệm Thánh Thể. Tức là trong mỗi giọt rượu và mẩu bánh được thánh hiến có sự hiện diện thực sự của toàn thể Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu.

Năm 1970, sau công đồng Vatican 2 (1962-1965) dòng Phanxico đã được phép của Tòa Thánh quyết định để cho khoa học hiện đại nghiên cứu Thánh Tích và trao công việc cho nhóm giáo sư Odoardo Linoli, thuộc đại học Siena. Ngày 18-11-1970, giáo sư Linoli lấy một phần Thánh Tích phân tích. Phúc trình nghiên cứu được công bố vào 3-1971, xác nhận: Những mảnh thịt màu nâu lấy từ hào quang Mình Thánh thực sự là thịt người, thịt cơ tim với đầy đủ yếu tố như một trái tim thực. Miếng thịt đó có hình dáng như một hốc ở giữa. Đó là hốc của sự co rút của cơ tim. Chung quanh Thánh Tích có những lỗ nhỏ như có vết đinh thâu qua. Chứng tỏ rằng quả tim bị co lại như tim người chết. Được biết ngày xưa, sau khi xảy ra phép lạ, các tu sỹ đã căng và đóng bằng đinh miếng thịt ra trên miếng gỗ, nên thịt phải co lại theo mọi hướng. Cuộc nghiên cứu này còn xác quyết: Máu vàng nâu trong chén Thánh được đóng kín thuộc nhóm AB, và có khoáng chất thường có trong tim người.

Sau khi nghiên cứu, giáo sư Linoli tuyên bố: Tôi không thể ngờ được trong những điều tôi phân tích đó có những chất hữu cơ cách đây 12 thế kỷ. Khoa học phải đầu hàng đứng trước sự kiện lạ lùng không thể giải thích nổi. Ông đã viết kèm theo hồ sơ phân tích, cho dòng Phanxico một câu ngắn: In principio erat Verbum et Verbum Caro factum est. (Từ đầu đã có Ngôi Lời và Ngơi Lời đã trở nên Thịt) (LC. Số 214, 7-2000, tr. 8-11).

Khi còn tại thế, Chúa làm phép lạ để làm vinh danh Thiên Chúa. Như Chúa đã nói khi chữa Lazarô sống lại (Ga. 11,4), người mù từ bẩm sinh được khỏi (Ga 9, 2-3). Phép lạ Thánh Thể cũng vậy. Thánh Thể là mầu nhiệm. Chỉ có con mắt đức tin mới cảm nhận được. Hành hương để có dịp chứng kiến phép lạ Thánh Thể là để xin Chúa tăng thêm đức tin với lòng mến yêu. Như Thánh Phêrô chúc ‘‘Tuy không thấy Ngài, anh em vẫn yêu mến.Tuy chưa giáp mặt mà lòng vẫn kính tin.Vi vậy, anh em được chan chứa niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, bởi đã nhận được thành quả đức tin, là ơn cứu độ con người.’’ (1Pr. 1,8)

Ít nhất một tuần một lần, chúng ta tham dự thánh lễ và chịu MìnhThánh Chúa thật sốt sắng. Để Chúa ở mãi với chúng ta, làm của nuôi cả hồn lẫn xác.

9. Không ăn vẫn sống

Thánh Nikolas de Flue có tên gọi thân mật là Bruder Klaus (1417-1487), bổn mạng nước Thụy Sỹ, trước khi qua đời 20 năm, coi như một phép lạ về Phép Thánh Thể. Trong 20 năm, Ngài đã từng sống hạnh phúc trong bậc gia đình với vợ và 10 con, giàu sang và chức quyền. Năm 1467, nghe tiếng Chúa gọi, với sự ưng thuận của vợ con, Ngài từ giã gia đình, bỏ hết mọi sự sống đời ẩn tu, nhiệm nhặt, chay tịnh, ở miền Alsace. Suốt 20 năm không ăn không uống gì cho đến khi qua đời.

Xưa và nay, nghe vậy người ta cho là khó tin ?

Thời ấy, hay tin, dân chúng đã đến bao vây hang động Ranft, một tháng, nơi ngài tu trì, xem có ai ra vào tiếp tế gì không. Sau một tháng canh giữ, không thấy gì, người ta mới cho đó không phải là chuyện bịa đặt.


Về Giáo quyền, trước những tin ngược xuôi, đã cử Đức Cha Thomas, giám mục phụ tá Konstanz, đến tận nơi gặp thánh nhân xem sao. Đức Cha đem theo bánh rượu để thử nghiệm. Sau khi tìm hiểu về ơn gọi của Nicolas, Đức Cha hỏi Nicolas: Theo Nicolas, nhân đức nào quan trọng. Nicolas thưa: đức vâng lời. Đức Cha liền lấy bánh và rượu giấu trong cặp mang theo, bẻ làm 3, đưa cho Nicolas, và bảo: hãy vâng lời, ăn đi. Nicolas cầm một miềng bánh, bẻ làm làm 3 miếng nhỏ nữa. Lâu ngày không ăn, khó khăn lắm, Nicolas mới ăn hết phần nhỏ bánh và uống chút rượu. Nhưng vừa nuốt khỏi miệng, liền ói ra ngay. Kinh ngạc Đức cha kính phục Nicolas không ăn không uống mà vẫn sống.

Chuyện lạ được loan ra khắp miền. Cha Oswald Ysner, linh hướng của Nicolas đã làm sáng tỏ sự việc và cho biết: từ đầu, cha đã hướng dẫn Nicolas về việc chay tịnh và xác quyết, mỗi khi sau khi chịu lễ, Nicolas cho biết trong người có sức chịu đựng mầu nhiệm lạ thường, sức mạnh tràn ngập, bùng lên trong người, như ngây ngất khiến mình dư sức chịu đựng không còn muốn ăn uốn gì nữa. Sau khi thánh nhân qua đời, người ta thử nghiệm một khúc xương của ngài xem xương đó của một người có bao nhiêu tuổi. Kết quả cho biết khúc xương đó của người từ 40 đến 60 tuổi. Khoa học giảo nghiệm xác định sự biến dưỡng của Nicolas ngưng vào quãng 50 tuổi. Kết quả vửa kể, bổ túc và xác nhận Thánh Nicolas trong 20 năm cuối đời sống nhờ tác động của Phép Thánh Thể.

Năm 1481, Thụy sỹ có sự tranh chấp ranh giới quyền hành, Thánh nhân đã trở về dàn xếp, đem lại hòa bình cho cả nước. Sau đó ngài lại trở về tu xá Ranft, tiếp tục tu sống thêm 6 năm nữa mới qua đời (21-3-1487), có vợ con xung quanh. Cả Thụy sỹ, Tin Lành lẫn Công giáo đều qúi mến, tôn kính.

ĐGH Pio XII tôn phong ngài lên bậc hiển thánh ngày 15-5-1947. Và chọn ngày 25-9, làm lễ kính Thánh Nicolas. (Điển Ngữ Các Thánh, Lm. Hồng Phúc, tr. 222-223. Báo TTĐM. Số 301,4-2003, tr. 30)(Giaoxuvn.org)

Thi Chương

 

THÁNHTHỂ-75: THÁNH THỂ

Nhân ngày lễ kính Mình Máu Thánh Đức Kitô hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ một vài ý: THÁNHTHỂ-75

Nhân ngày lễ kính Mình Máu Thánh Đức Kitô hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ một vài ý nghĩ đơn sơ về bí tích Thánh thể. Vậy bí tích Thánh thể là gì ?
Trước hết, bí tích Thánh thể là một bữa tiệc huynh đệ.
Thực vậy, không phải tình cờ mà Đức Kitô đã thiết lập bí tích Thánh thể trong một bữa ăn. Như chúng ta đã biết ăn uống là một việc làm sơ đẳng của con người, là một như cầu cần thiết cho sự sống. Nhưng hơn thế nữa, ăn uống còn biểu lộ một tính cách xã hội nữa.
Đúng thế, mời nhau cùng ngồi vào bàn ăn là muốn diễn tả một tâm tình gắn bó nào đó. Chẳng hạn trong gia đình, khi một người không còn muốn ngồi ăn chung cùng với những người khác,, thì lúc bấy giờ tình cảm đã bị sứt mẻ nặng nề và nghiêm trọng.
Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh thể trong một bữa ăn và như một bữa ăn, nhờ đó chúng ta được liên kết, được gắn bó muật thiết với Chúa và với nhau.
Thật là không bình thường khi người ta ngồi vào bàn ăn mà lại chẳng ăn uống gì cả. Đành rằng có khi vì một lý do nào đó chúng ta không thể ăn uống được, nhưng vẫn ngồi vào bàn với anh em bạn bè, để biểu lộ tình cảm của chúng ta. Song đó chỉ là một việc chẳng đặng thì đừng, vạn bất đắc dĩ mà thôi.
Cũng thế, bình thường khi tham dự bàn tiệc Thánh thể, chúng ta cần phải rước mình và máu thánh Đức Kitô, trừ khi có những lý do chính đáng, những ngăn trở thực sự.
Lại cũng là một chuyện không bình thường, nếu chúng ta đến tham dự cùng một bàn tiệc Thánh thể mà lại thờ ơ lãnh đạm với nhau, thậm chí còn bất hòa và chia rẽ cùng nhau.
Quả là một thiếu sót to lớn khi chúng ta đến tham dự thánh lễ mà lại không để ý, không quan tậm tới người khác, cũng như không muốn chung tiếng chung lòng với nhau để tham dự một cách tích cực và sốt sắng. Thân xác ở đây mà cõi lòng thì lại ở tận những đâu đâu, hay chỉ loay hoay cầu nguyện riêng một mình, hoặc giũ thinh lặng thừ đầu chí cuối.
Quả là không bình thường khi bàu khí thánh lễ thiếu vắng tình huynh đệ, thiếu vắng  sự hòa hợp, thiếu vắng sự vui tươi. Vậy chúng ta cần phải làm gì để thánh lễ trở nên trung tâm của mọi sinh hoạt trong giáo xứ ?
Tiếp đến Thánh thể là bí tích tưởng niệm hy tế thập giá của Đức Kitô.
Đúng thế, thánh Phaolô đã viết:
- Mỏi lần ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại cho tới khi Chúa lại đến.
Phụng vụ ngày lễ hôm nay cũng đã dựa vào những tư tưởng trên để cầu nguyện:
- Lạy Chúa, Chúa đã trối lại cho chúng con bí tích huyền diệu để kỷ niệm cuộc khổ nạn Chúa.
Bí tích Thánh thể chính là một đài tưởng niệm sống động cho cuộc thương khó. Trong phòng tiệc ly, Đức Kitô đã phó mình cho chúng ta qua hình bánh và rượu, trước khi phó mình cho chúng ta qua cái chết đẫm máu trên thập giá.
Đồng thời khi thiết lập bí tích này, Ngài đã hoàn toàn qui hướng về cái chết: Này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con… Này là chén máu Thầy, máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.
Như vậy, mỗi khi cử hành thánh lễ, Giáo hội diễn lại  sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô, diễn lại mầu nhiệm ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.
Vì thế, khi đi tham dự thánh lễ, chúng ta không phải chỉ tham dự một bữa tiệc, mà còn liên kết chặt chẽ với hy tế thập giá, đồng thời hiến mình làm của lễ dâng lên Chúa Cha.
Thế nhưng, dù dưới khía cạnh một bữa ăn, hay dưới khía cạnh một hy tế, bí tích Thánh thể vẫn mãi mãi là một bí tích của tình yêu, bởi vì hy tế thập giá chính là cao điểm của tình yêu cứu độ, như lời Đức Kitô đã phán:
- Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
Bởi đó, sống thánh lễ là phải tiêu diệt tính ích kỷ, sự chia rẽ và tất cả những gì đối nghịch với tình yêu của Đức Kitô và tình yêu của anh em đồng loại.
Sống thánh lễ là phải ràng buộc mình vào trong tình yêu, là phải làm cho đời mình trở nên phù hợp với những đòi hỏi của tình yêu, là phải sống bác ái yêu thương.
Hãy biến cuộc đời thành một thánh lễ nối dài bằng những hy sinh cho nhau và vì nhau.

 

THÁNHTHỂ-76: HRK/126- BÁNH HẰNG SỐNG- Nguyễn Chính Kết

1. «Bánh hằng sống từ trời xuống» nghĩa là gì?
 

Một trong những bản văn căn bản về bí tích Thánh Thể là lời Đức Giêsu tuyên bố: “Tôi: THÁNH THỂ-76

Một trong những bản văn căn bản về bí tích Thánh Thể là lời Đức Giêsu tuyên bố: «Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống» (Ga 6, 51). Chúng ta cần phải hiểu câu nói đó theo nghĩa nào? – Chắc chắn không thể hiểu theo nghĩa đen, nghĩa là nghĩa vật chất được.
Viết tới đây tôi nghĩ tới Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh trong truyện Tây Du Ký: nhiều yêu tinh quyết bắt ông cho bằng được để ăn thịt, vì tin rằng cứ ăn thịt ông thì sẽ trường sinh hay trường thọ. Chắc hẳn chẳng ai trong chúng ta tin rằng thịt của Đức Giêsu (hiểu theo nghĩa vật chất) là một thứ thuốc hễ ăn vào thì được sống đời đời theo kiểu các yêu tinh tin vào thịt của Đường Tam Tạng. Cũng khó mà hiểu được một cách thuần túy rằng Thịt đem lại sự sống đời đời ở đây chỉ là bánh Thánh Thể mà người ta vẫn nhận lãnh khi rước lễ. Vì quả thật không thể tin được là tất cả những ai lên rước lễ – dù là hằng ngày – thì sẽ được sống đời đời mà không cần một thái độ nội tâm nào (xin nhấn mạnh những chữ viết nghiêng này). Nếu thế thì muốn được sống đời đời quả thật quá dễ dàng! Và nếu thế thì bánh Thánh Thể quả là một thứ phù phép hay bùa chú vượt trên mọi thứ phù phép trong mọi tôn giáo! Những phù phép trong các tôn giáo nhiều lắm thì hứa hẹn một cái gì tạm thời chóng qua, chứ không hứa hạn một quyền lợi vô cùng to lớn mang tính đời đời, mà người thụ hưởng chỉ bị đòi hỏi làm một việc mang tính vật lý quá đơn giản!
Theo tôi nghĩ, chính thái độ nội tâm của ta mới là yếu tố quyết định về phía ta để Thiên Chúa ban sự sống đời đời cho ta hay không. Vì thế, việc ăn thịt và uống máu Đức Giêsu là một thái độ hay hành vi nội tâm hơn là thể lý! Không có thái độ hay hành vi nội tâm ấy, thì dù có ăn thịt thật uống máu thật của Ngài (hiểu theo nghĩa đen và thực tế nhất), dù có rước lễ hằng ngày suốt cả cuộc đời cũng chẳng thể có sự sống đời đời. Thật vậy, ai dám bảo đảm rằng những người rước lễ hằng ngày thì chắc chắn sẽ được sống đời đời? Riêng tôi, tôi tin tưởng chắc chắn 100% rằng những ai có thái độ nội tâm giống như Đức Giêsu thì tất nhiên sẽ được Ngài ban sự sống đời đời.
Thiết tưởng, câu nói của Đức Giêsu đang được bàn tới cần hiểu theo nghĩa tâm linh, huyền nhiệm hơn là nghĩa đen. Vì nói chung, trong bất kỳ tôn giáo nào, những câu Kinh Thánh có ý nghĩa quan trọng thường được hiểu theo nghĩa huyền nhiệm hơn theo nghĩa đen. Vả lại, chính Đức Giêsu đã từng dùng từ «lương thực» hay «thức ăn» theo nghĩa tâm linh: «“Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết" (Chưa biết Ngài dùng từ “lương thực” với nghĩa nào). Các môn đệ mới hỏi nhau: “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?” (Các tông đồ hiểu từ “lương thực” theo nghĩa đen) Đức Giêsu nói với các ông: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34). Rõ ràng Ngài dùng từ “lương thực” theo nghĩa tâm linh. Thiết tưởng chữ «bánh», «của ăn», «của uống» trong bài Tin Mừng hôm nay cũng nên hiểu theo nghĩa tâm linh như vậy.
 
  1.      Cuộc đời và bản thân Đức Giêsu là một «chiếc bánh bị ăn»
Một trong những đặc tính căn bản nhất của đồ ăn là nó không hiện hữu vì ích lợi của nó, mà hoàn toàn vì ích lợi của người ăn nó. Nói cách khác, đặc tính căn bản của đồ ăn là hoàn toàn vị tha, không vương một chút vị kỷ nào. Đức Giêsu cũng hiện hữu và sống hoàn toàn vì Chúa Cha và vì loài người, không hề vì bản thân mình chút nào. Ngài từng nói: «Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi»  (Ga 6, 38); «Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào»  (Ga 10, 10). Cả cuộc đời Đức Giêsu, dù xét một cách toàn thể hay theo từng chi tiết, từng hành động, ta thấy Ngài hoàn toàn vị tha, nghĩa là sống vì Chúa Cha và vì nhân loại. Không một hành vi nào chứng tỏ Ngài vị kỷ cả. Cụ thể và hùng hồn nhất là cuộc tử nạn hết sức thê thảm của Ngài: đau khổ đến tận cùng và chết thê thảm không vì ích lợi gì cho mình, mà hoàn toàn vì yêu thương Chúa Cha và nhân loại. Hãy nghe Ngài cầu nguyện hai lần với Chúa Cha trước khi chịu tử nạn: «Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha»  (Mt 26, 39; x. 26, 42). Sự vị tha ấy đã có từ nguyên thủy khi Ngôi Hai xuống thế: «Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự»  (Pl 2, 6-8).
Như vậy, cả cuộc đời Ngài là một cái «bánh bị ăn», nhờ thế Thiên Chúa được vinh danh. Con người cũng nhờ thế mà «được sống và sống dồi dào»  (Ga 10, 10), được phục hồi lại sự sống đời đời đã bị mất vì tội nguyên tổ.
 
  1.      «Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời»
Đức Giêsu nói: «Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống». Điều ấy chắc chắn là sự thật, nhưng phải hiểu theo nghĩa huyền nhiệm hơn là nghĩa đen. Vấn đề còn lại là «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu để «được sống muôn đời» là gì? Muốn «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu thì phải làm gì?
Khi tôi ăn hay uống một thức gì, thì thức ấy được tiêu hóa để trở thành thịt và máu tôi, thành các tế bào của tôi. Thức ấy mà có tính bổ dưỡng hoặc chữa bệnh thì tôi trở nên mạnh khỏe, và bệnh tôi được chữa lành. Nếu tôi ăn hay uống những thức độc hại, thì chất độc ấy cũng trở nên những tế bào độc hại trong thân thể tôi và làm cơ thể tôi suy yếu. Chắc chắn rằng tất cả các tế bào hiện nay của tôi sau mấy chục năm sống ở đời đều hoàn toàn được cấu tạo từ những thức tôi ăn hay uống vào từ bên ngoài. Chính nhờ thức ăn và thức uống mà tôi sống được. Nhưng tôi sống mạnh khỏe hay bệnh tật tùy thuộc vào thức ăn thức uống tôi đưa vào cớ thể, và cũng tùy thuộc cách thức tôi ăn uống nữa. Thức ăn hay thức uống tôi ăn vào từ từ thay thế những tế bào cũ bằng những tế bào mới trong thân thể tôi. Vì thế, nhiều thầy thuốc hay nhà sinh vật học chủ trương người ta có thể cải tạo lại sức khỏe bằng cách thay đổi đồ ăn thức uống và cả cách ăn uống nữa.
Từ thực tế trên, ta có thể hiểu được cách thức «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu. Đức Giêsu là Ngôi Lời, nên bản chất của Ngài là «Lời». Lời của Ngài cũng chính là của ăn thức uống. Đời sống và bản thân của Ngài cũng là của ăn thức uống như đã nói ở phần trên. Ăn uống Ngài chính là dùng lời của Ngài, dùng gương mẫu đời sống Ngài, để suy niệm, thực hành, bắt chước hầu thay thế dần dần «chất của ta» bằng «chất của Ngài», nghĩa là ta càng ngày càng trở nên «có chất Giêsu» hơn trong quan niệm, tư tưởng, lời nói, và hành động của ta. Nếu mỗi ngày ta thay thế 1% hay 1‰ «chất tôi» thành «chất Ngài» – ít hay nhiều tùy sự cố gắng hay quyết định của ta – thì chỉ một thời gian sau «chất tôi» đầy ích kỷ, tham lam, ghen ghét sẽ giảm đi, và «chất Ngài» đầy vị tha, đầy tình yêu sẽ tăng lên. Và tới một lúc nào đó, «chất Ngài» ở trong tôi trở thành viên mãn, nghĩa là đạt tới mức 100% (Đương nhiên thực tế không đơn sơ như vậy). Lúc ấy tôi có thể nói như Phaolô: «Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi»  (Gl 10, 20). Lúc ấy, một cách nào đấy, tôi không còn là tôi mà là Đức Kitô. Điều đó không có nghĩa là tôi bị vong thân, mà tôi trở nên một cái tôi hoàn hảo nhất, đúng với ước muốn sâu xa nhất của tôi là nên một con người hoàn hảo. Chính lúc ấy tôi mới tìm lại được bản thân tôi một cách trọn vẹn nhất.
Đấy là cách «ăn thịt uống máu» Ngài – mà tôi nghĩ theo thiển ý mình – là hợp lý và ý nghĩa nhất. Và đó cũng là cách bảo đảm nhất để có sự sống đời đời. Vậy thiết tưởng, mỗi khi dâng thánh lễ và lãnh nhận Thánh Thể, tức là «ăn thịt uống máu» Ngài một cách bí tích, ta cần có một thái độ hay hành vi nội tâm tương xứng là «ăn thịt uống máu» Ngài một cách huyền nhiệm hay tâm linh như đã nói trên. Có sự phối hợp bên trong lẫn bên ngoài như thế, việc lãnh nhận Thánh Thể sẽ đem lại cho ta sự sống và sức mạnh tâm linh bội phần.
 
  1.      Hãy trở nên «chiếc bánh bị ăn» như Đức Giêsu
Như vậy, «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu chính là suy niệm Lời và đời sống của Ngài để dần dần thay thế «chất tôi» thành «chất Ngài», biến «tôi» thành «Ngài». Nói cách khác, đó là trở nên giống Đức Giêsu hoàn toàn. Giống Đức Giêsu là giống Thiên Chúa, mà «Thiên Chúa là Tình Yêu»  (1Ga 4, 8. 16). Tình yêu ở đây là thứ tình yêu hoàn toàn vị tha, không một chút vị kỷ. Vì thế, giống Đức Giêsu là biết yêu thương mọi người bằng một tình yêu vị tha, nghĩa là sẵn sàng trở nên «chiếc bánh bị ăn» như Đức Giêsu (theo cách nói của cha Antoine Chevrier, tu hội Prado). «Bị ăn» nghĩa là chấp nhận hy sinh, đau khổ, mất mát, thiệt thòi vì tha nhân. Hãy sẵn sàng «bị ăn» bởi những người chung quanh ta, nhất là những người gần gũi ta nhất (vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh chị em, bạn bè ta). Sống như thế, hay ít nhất là cố gắng hết sức để sống như thế, chính là «ăn thịt và uống máu» Đức Giêsu, và như thế thì chắc chắn ta sẽ được sự sống đời đời.

 

THÁNHTHỂ-77: PV/ 340- LƯƠNG THỰC

Đức Giêsu có ít nhất hai lý do để Người có thể giải tán đám đông. Trước hết, Hêrôđê (người: THÁNHTHỂ-77

Đức Giêsu có ít nhất hai lý do để Người có thể giải tán đám đông. Trước hết, Hêrôđê (người đã giết chết anh họ mình là Gioan) đã lưu tâm đến Người. Vì thế, đây là lúc Người phải giữ sự kín đáo, tránh xuất hiện nhiều. Và lý do thứ hai, các tông đồ cần sự nghỉ ngơi vì mới đi làm sứ vụ trở về.
Nhưng Người đã không giải tán đám đông, Người nhìn họ với lòng trắc ẩn và thấy họ như đàn chiên không người chăn dắt. Vì thế Người đã qui tụ họ lại xung quanh Người. Hình ảnh Đức Giêsu ở giữa năm ngàn người. Họ được lôi cuốn bởi lời Người có sức hấp dẫn và nhân cách Người nồng nàn. Việc đầu tiên Người đã làm là giáo huấn họ về Nước Trời. Kế đến Người chữa lành những bệnh nhân.
Có những lúc, Người kết thúc công việc quá buổi trưa và mọi người đều đói. Các tông đồ thúc giục Người giải tán đám đông. Nhưng Người không nghe theo họ. Người đã thực hiện một phép lạ cả thể là ban lương thực cho họ ăn. Và họ sung sướng biết bao trên con đường trở về nhà mình.
Phép lạ hóa bánh ra nhiều khi chưa đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các tông đồ phân phát để nuôi sống đám đông là hình ảnh tiên báo sự dồi dào của bánh duy nhất mà Người ban cho chúng ta trong Thánh Thể.
Vào ngày thứ nhất trong tuần, ngày Đức Giêsu sống lại, các Kitô hữu tiên khởi gặp nhau và cùng bẻ bánh. Từ ngày đó cho đến nay, việc cử hành Bí tích Thánh Thể đã tiếp tục mỗi ngày, ở bất cứ nơi nào, chúng ta cũng gặp việc cử hành ấy trong Giáo Hội và cùng một cơ cấu nền tảng. Nó duy trì và ở ngay trung tâm của đời sống Giáo Hội.
Chúng ta là dân mới của Thiên Chúa. Đức Giêsu ở giữa chúng ta. Nơi đây chúng ta nghe lời Người khi lắng nghe đọc Kinh Thánh. Lời Người không phải là những lời chết. Đó là những lời hằng sống đem lại cho chúng ta những niềm cảm hứng và thách đố chúng ta.
Kế đến, nơi đây, Đức Giêsu chữa lành những thương tật của tội lỗi và chia rẽ. Người tha thứ những tội lỗi của chúng ta và chữa lành những thương tích mà tội lỗi để lại. Người cũng chữa lành chúng ta khỏi tính biệt lập. Tất cả chúng ta được chữa lành tính ích kỷ và thái độ thờ ơ đối với người khác. Thánh Thể đào tạo chúng ta giữa một cộng đoàn yêu thương.
Sau cùng, nơi đây, chúng ta được lương thực Thánh Thể nuôi dưỡng. “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình”. Vào cuối thánh lễ, chúng ta không chỉ giải tán mà được sai đi như những người đem sự sống đến cho những người khác.
Vì thế từ thánh lễ này đến thánh lễ khác, khi công bố mầu nhiệm Đức Giêsu Phục sinh cho tới khi Người lại đến, dân Thiên Chúa tiếp tục tiến lên trong cuộc hành hương dẫn đến bữa tiệc Nước Trời, khi mọi người được tuyển chọn sẽ được ngồi vào bàn tiệc Thiên quốc.
Một phụ nữ đứng tuổi người Pêru không biết đọc và không biết viết, khi được hỏi: “Thánh lễ có ý nghĩa gì với bà ?”Bà đã đáp lại rằng: “Thánh lễ nói với tôi rằng tôi là một người quan trọng”.

 

THÁNHTHỂ-78: SCĐ/406- NHỚ ĐẾN

Đôi khi chúng ta bị coi thường. Điều này thật đau buồn. Chúng ta thấy việc mình làm chẳng ai: THÁNHTHỂ-78

Đôi khi chúng ta bị coi thường. Điều này thật đau buồn. Chúng ta thấy việc mình làm chẳng ai biết tới, và ngay chính bản thân chúng ta cũng bị đối xử như chẳng có gì đáng chú ý.
Nhưng tệ hơn nữa là chúng ta bị quên lãng. Điều này còn đau buồn hơn. Người ta quên chúng ta có nghĩa là không chỉ người ta không coi trọng chúng ta mà còn coi như chúng ta không có.
Bởi vậy ai cũng cố gắng làm cho người ta nhớ tới mình. Có câu nói rằng điều đáng sợ nhất không phải là chết mà là bị bỏ quên.
Chúa Giêsu cũng thế. Ngài muốn chúng ta nhớ tới Ngài. Vì thế trong đêm trước khi chịu chết, Ngài đã ngồi xuống cùng ăn với các môn đệ, rồi cầm lấy bánh và nói: “Này là Mình Thầy được ban cho các con”. Rồi Ngài cầm lấy chén rượu và nói: “Này là chén Máu Thầy… Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.
Dĩ nhiên Chúa muốn các môn đệ nhớ đến Ngài không phải chỉ vì ích lợi cho Ngài mà vì ích lợi cho chính họ. Họ cũng cần nhớ đến Ngài nữa. Vì yêu thương họ nên Ngài đã để lại một cách đặc biệt để nhớ đến Ngài, đó là Bí tích Thánh Thể.
Mỗi lần chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể là chúng ta nhớ lại một số lời Ngài nói và một số việc Ngài làm. Chúng ta suy gẫm những điều đó và cố gắng thực hành trong đời sống.
Mỗi lần chúng ta nhớ đến Ngài bằng cách đó thì Ngài trở nên hiện diện gần gũi với chúng ta, tuy không hiện diện hữu hình nhưng là hiện diện thực sự.
Nhờ cử hành Bí tích Thánh thể, một mối dây yêu thương nối kết chúng ta lại với Ngài, kết quả là chúng ta có khả năng đi vào sự thân mật sâu đậm với Ngài, sâu đậm hơn cả khi Ngài hiện diện hữu hình. Chúng ta không chỉ thông giao với Ngài, mà còn hiệp thông với Ngài nữa, một sự hiệp thông thánh thiện.
Nhớ là một khả năng quí giá. Nó nối kết chúng ta lại với những người và những sự việc không còn nữa. Khi chúng ta nhớ đến những người thân yêu thì họ trở thành hiện diện với chúng ta. Họ không chỉ là một ký ức mà là một sự hiện diện thực sự. Khi nhớ tới họ là chúng ta tiếp tục gặt hái những hoa trái mà họ đã gieo khi còn sống với chúng ta.
Huống chi là khi chúng ta nhớ đến Chúa Giêsu, hoa trái chúng ta gặt hái còn nhiều hơn đến mức nào nữa. Nhất là nhớ đến Ngài bằng cách thức Ngài chỉ dạy, đó là cử hành Bí tích Thánh Thể.

 

THÁNHTHỂ-79: SỐNG THÁNH THỂ

TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NGÀY
“Vì mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền cáu chết của Chúa cho tới khi Chúa đến” (1 Cor 11:26).
 

Loan truyền việc Chúa chịu chết.  Cho đến khi Chúa lại đến.  Đó là 2 mục đích cho bất cứ Kitô hữu: THÁNHTHỂ-79

  • Loan truyền việc Chúa chịu chết.
  • Cho đến khi Chúa lại đến.
Đó là 2 mục đích cho bất cứ Kitô hữu nào mỗi khi nghĩ đến Thánh Thể, đến với Thánh Thể, và đón nhận Thánh Thể. Ngoài những mục đích đó ra, việc tiếp nhận Thánh Thể, theo Thánh Phaolô là một việc làm bất xứng và vô ích.
QUA VIỆC NHẬN LÃNH
Theo Thánh Phaolô thì mỗi lần tiếp nhận Thánh Thể Chúa, Kitô hữu chúng ta phải thâm tín một cách rất chắc chắn rằng, đây là Mình và Máu Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc đã đổ ra vì chúng ta trên thập tự giá. Ngài đã đánh đổi cái chết của mình để cho chúng ta được sống.
Đón nhận sức sống từ Thánh Thể để sống và để có thể loan truyền mầu nhiệm tình yêu cho đến chết của Ngài là một đòi hỏi cũng như mục đích của mỗi lần chúng ta rước Thánh Thể.
Bằng một đức tin sống động, và chỉ với đức tin sống động chúng ta, những Kitô hữu mới dám công khai lên lãnh nhận một tấm bánh nhỏ, một hớp ruợu mà chỉ sau một lời đọc rất đơn sơ của linh mục: “Đây là mình Ta. Đây là máu Ta”, chúng ta tin thật đó là Thịt và Máu Chúa.
Đức tin vững mạnh ấy, khiến chúng ta thấy mình hạnh phúc và vinh dự mỗi khi đón nhận Mình và Máu Chúa. Nhưng việc đón nhận ấy cũng chính là một thách đố lớn lao cho niềm tin của mỗi Kitô hữu. Chính vì vậy, sau khi đọc lời truyền phép, linh mục đã hô to: “Đây là mầu nhiệm đức tin”. Có nghĩa là những gì mà con mắt đang nhìn thấy kia không thể lý giải được bằng lý luận và cảm quan tự nhiên. Nó đã trở thành một mầu nhiệm, mà hơn thế nữa, là một mầu nhiệm của đức tin. Và mỗi lần như vậy, lời Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Corinthô đã được lặp lại như một lời tuyên tín trước sự bất lực của trí khôn và tầm hiểu biết của con người: “Lậy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến”.
Hành động tin tưởng này sẽ dẫn chúng ta đến việc chuẩn bị linh hồn và thân xác để xứng đáng mỗi khi ở trước mặt Thiên Chúa và đón nhận Thánh Thể. Một tâm hồn tinh tấn, trong sạch. Một thân xác được chuẩn bị sạch sẽ, kín đáo và trang điểm xứng đáng. Điều này ngược lại với hành động rước Mình Máu Thánh Chúa một cách cẩu thả và coi thường của những người khi lên đón nhận Thánh Thể mà trong lòng vẫn còn thù hằn, căm phẫn, lo ra, và đầy lo âu khắc khoải. Điều này cũng khác với lối ăn mặc, trang phục của một số người khi đón nhận Thánh Thể bằng lối ăn mặc hở hang, luộm thuộm và dơ dáy.
Do đó, việc loan truyền việc Chúa chịu chết, và tuyên xưng việc Chúa sống lại qua hành động đón nhận Thánh Thể, không thể coi là một việc làm chiếu lệ, một việc làm của thói quen. Bởi vì người ngoài tôn giáo sẽ không thể hiểu được Đấng đã chịu chết và sống lại ấy là gì khi thấy Kitô hữu chúng ta lãnh nhận Thánh Thể một cách lơ là, vô ý thức. Thánh Phaolô gọi đây là việc ăn và uống lấy án phạt: “Kẻ nào ăn và uống Mình Máu Thánh Chúa một cách bất xứng là ăn và uống lấy án phạt cho mình” (1 Cor 11:29).
QUA ĐỜI SỐNG CHỨNG NHÂN
Người Kitô hữu không chỉ tuyên xưng và loan truyền cái chết và cuộc phục sinh của Chúa qua việc đón nhận Thánh Thể, mà là phải sống và trở thành chứng nhân cho điều mình tin tưởng ấy. Việc làm khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh, thử thách, và vì thế, phải được khởi dẫn, ban ơn và khích lệ bởi Thánh Thần.
Sống chứng nhân qua những điều mình tin tưởng và tuyên xưng. Sống để những người chung quanh có thể nhận ra được điều mình đang tin ấy thoát hiện qua cuộc sống thường ngày, trong những giao tiếp thường ngày với môi trường và những người chung quanh mà mình giao tiếp.
Thật vậy, nhiều Kitô hữu không có nhiều thời giờ và hoàn cảnh để nói về Chúa, giảng giải về Chúa. Nhiều người tuy có giờ, có hoàn cảnh nhưng lại không có khả năng. Và do đó, bằng vào lối sống thực tế, chúng ta có thể vượt qua được những giới hạn kia mà làm cho những người chung quanh nhận ra được Chúa. Đây là việc tuyên xưng bằng hành động. Một việc làm khó và đòi hỏi nhiều hy sinh, cố gắng.
Trong thực tế, nhiều Kitô hữu có thể hiểu được ý nghĩa của hành động tuyên xưng qua những ý nghĩ trìu tượng, nhưng ứng dụng vào hành động những ý nghĩa của điều mình tin nhận còn khó khăn hơn việc đem vào tri thức điều mình tin nhận. Bởi vì sống đức tin là hành động tuyên xưng hai lần. Một lần tuyên xưng bằng tri thức và hiểu biết, và một lần tuyên xưng bằng việc hòa nhập sự hiểu biết ấy với cảm nhận và cuộc sống của mình.
THỊT MÁU CHÚA
Những điều kiện và cũng là mục đích mà Thánh Phaolô đã đưa ra khi nói về Thánh Thể, cuối cùng cũng chính là để chúng ta đặt trọn niềm tin mình và sống với niềm tin ấy khi đón nhận Thánh Thể. Chúa Giêsu khi nói về bí tích mà Ngài sẽ thiết lập đã nói rằng: “Vì bánh của Thiên Chúa là Đấng từ trời xuống và trao hiến mạng sống mình cho nhân loại” (Gio 6:33).
Bánh đó, Đấng đó khi tiếp nhận sẽ đem lại sự sống đời đời. Ngài nói tiếp: “Ta là bánh hằng sống. Ai đến với Ta sẽ không bao giờ đói, và ai tin Ta sẽ không bao giờ khát” (Gio 6:35). Sự sống đời đời là không bao giờ bị đói hoặc khát tình yêu của Thiên Chúa.
Đi xa hơn nữa, Chúa Giêsu còn nói với mọi người rằng: “Vì ý Chúa Cha là tất cả những gì Ngài ban cho Ta, Ta sẽ không để hư mất, nhưng sẽ làm cho sống lại trong ngày sau hết. Và đây là ý của Ngài, Đấng đã sai Ta, là những ai thấy Con và tin vào Ngài sẽ được sự sống đời đời, và Ta sẽ làm cho sống lại trong ngày sau hết” (Gio 6:39-40).
Chúa Giêsu đã xác nhận Ngài là bánh hằng sống. Đón nhận Ngài, ăn thịt và uống máu Ngài chúng ra sẽ được sống. Chính Ngài chỉ trong một mạch văn ngắn gọn, đã hai lần khẳng định sẽ làm cho những ai tiếp nhận Ngài sẽ được sống lại trong ngày sau hết. Và đây cũng là điều mà theo Thánh Phaolô, chúng ta không những phải loan truyền và tuyên xưng cái chết và sự phục sinh của Chúa, mà còn phải loan truyền và tuyên xưng cho đến khi Chúa đến.
Chúa đến với mỗi chúng ta là ngày chết, và Chúa đến với toàn thể nhân loại là ngày quang lâm của Ngài. Như vậy, tuyên xưng đến khi Chúa đến là việc làm suốt đời của mỗi Kitô hữu, cũng như đón nhận Thánh Thể là điều mà mỗi người cần phải có cho đến khi từ giã cõi đời tạm bợ này.
Tóm lại, khi chúng ta đón nhận Thánh Thể, tức là chúng ta đón nhận sức sống thần linh của Thiên Chúa để loan truyền và để tuyên xưng Chúa Giêsu là Cứu Chúa, và là Đấng sẽ đem lại cho mỗi người chúng ta cũng như những ai tin nhận nơi Ngài sự sống đời đời. Và bổn phận chứng nhân của mỗi người chúng ta là phải tuyên xưng, loan truyền và sống với niềm tin ấy cho đến khi Chúa đến mỗi lần chúng ta lên rước Mình và Máu Thánh Ngài trong Phép Thánh Thể.
 T.s. Trần Quang Huy Khanh

 

THÁNHTHỂ-80: Tình thương dâng hiến- Lm. Giuse Nguyễn hưng Lợi

Không có gì quí bằng khi bụng đang đói được người khác cho ăn: đây là điều rất thường tình: THÁNHTHỂ-80

Không có gì quí bằng khi bụng đang đói được người khác cho ăn: đây là điều rất thường tình, nhưng lại là điều rất cần thiết. Một đứa bé còn đang độ tuổi bú mớm,bụng nó chưa no, mẹ nó cho nó bú, chắc chắn đứa bé sẽ vui tươi, hạnh phúc.
Con người dù ở đấng bậc nào vẫn phải ăn, phải uống. Ăn, uống là nhu cầu không thể thiếu được đối với con người. Xét về mặt tự nhiên, không ăn, không uống, con người hay nói thấp hơn con vật không có thức ăn, nước uống cũng sẽ chết, không thể cứu vãn nổi. Chúa Giêsu không những nuôi dưỡng nhân loại, nuôi sống con người bằng lương thực bình thường, Ngài còn để lại cho mọi người chính Mình và Máu của Ngài để nuôi sống con người về mặt thiêng liêng.
CHÚA NUÔI SỐNG DÂN DO THÁI TRONG SA MẠC BẰNG MANNA VÀ CHIM CÚT:
Bài đọc I cho ta thấy, chính Thiên Chúa khi ra lệnh cho Môsê đưa dân ra khỏi đất Ai Cập, dẫn dân đi trong sa mạc. Dân Do Thái sợ chết đói, chết khát. Với lời cầu khẩn của Môsê, Chúa đã cho mưa Manna từ trời xuống và chim cút bay lan tràn. Dân Do Thái tha hồ nhặt Manna và bắt chim cút làm thịt để sống những ngày lang thang trong sa mạc khô cằn trở về đất hứa. Thiên Chúa lại còn thương dân cho Môsê giơ gậy đập vào tảng đá, nước vọt ra: dân chúng và súc vật không sợ phải chết khát. Lương thực trong sa mạc là hình bóng của lương thực cao hơn, quí hơn bởi vì Manna, chim cút, nước uống chỉ nuôi thân xác mau qua mà thôi, Thiên Chúa hướng con người tới một thứ lương thực vĩnh cửu. Ai ăn sẽ không hề đói và ai uống sẽ không hề khát.
Điều này làm ta liên tưởng đến câu chuyện của Chúa Giêsu bên bờ thành giếng Giacóp, người phụ nữ Samaria đã xin Ngài thứ nước uống vào không hề khát nữa…Nên, trong Tân Ước, chính Chúa Giêsu đã khẳng định Ngài là của ăn, của uống cho con người, Ngài là bánh trường sinh nuôi dưỡng con người, của ăn của uống là Mình và Máu Chúa Giêsu không những bảo đảm cuộc sống hiện tại mà còn đảm bảo đời sống vĩnh cửu đời sau. Bài đọc II trích từ thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côrintô đã chỉ cho ta thấy thái độ, cử chỉ yêu thương của Chúa Giêsu: Ngài đã tự hiến thân làm của ăn, của uống để nuôi dưỡng nhân loại. Do đó, ăn và uống Mình Máu Chúa là thông dự vào cái chết và phục sinh của Người. Và như thế, con người cũng được tham dự sâu xa vào chương trình và hành động cứu thế của Chúa để rồi con người đi tới hịêp thông vào sự sống mới, sự sống phục sinh của Chúa Giêsu.
CHÚA MỜI GỌI CON NGƯỜI:
Thánh Thể là một Bí Tích của sự hiện diện. Chúa Giêsu trước khi rời xa các môn đệ và rời thế gian, Ngài đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể để Ngài có mặt mãi trong tình yêu sâu vời với nhân loại, với con người, với mỗi người. Hành động yêu thương tột đỉnh của Ngài là cái chết trên thập giá và sống lại ra khỏi mồ. Do đó, Chúa Giêsu luôn hiện diện với thế gian qua mọi thời gian, không gian để ban ân sủng chứa chan cho mọi người. Thánh Thể còn là Bí Tích hiệp nhất. Chúa Giêsu đã yêu thương thế gian đến nỗi đã hy sinh đến cùng: “Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình” (Ga 15, 13). Bí Tích Thánh Thể qui tụ con người: “Ai tiếp nhận Ta chính là tiếp nhận cha Ta” và nơi bàn tiệc thánh, Chúa Giêsu qui tụ mọi người Kitô hữu bằng chính Mình và Máu của Ngài. Đó là Bí Tích tình thương: “mầu nhiệm đức tin”. Chúa luôn mời gọi con người sống yêu thương và sạch tội để lãnh nhận của ăn của uống là chính Mình và Máu của Chúa Kitô.
CHÚA BAN SỰ SỐNG:
Chúa để lại Bí Tích tình yêu để nhân loại được sống và sống dồi dào. Ngài mời gọi con người, mỗi người trong mỗi thánh lễ: “Hãy lãnh nhận mà ăn, hãy lãnh nhận mà uống…Vì này là Mình…là Máu Ta”. Đây là lời mời gọi khẩn thiết đối với con người vì rằng nhân loại đang sống trong một thế giới tục hóa, một thế giới xa lìa Thiên Chúa, một thế giới thích vật chất, thích lợi nhuận hơn là của ăn thiêng liêng. Chúa truyền lệnh cho các môn đệ trong nhà Tiệc Ly vào buổi chiều ngày thứ năm thánh: “Hãy làm việc này để nhớ tới Ta”. Chúa ban cho các môn đệ tái diễn lại hy tế thập giá. Liệu mỗi người chúng ta có đáp trả lại lời mời gọi của Chúa Giêsu hay không ? “Hãy lãnh nhận mà ăn… Hãy lãnh nhận mà uống…Vì này là Mình… là Máu Ta”.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người Kitô hữu chúng con luôn biết trân trọng và tôn kính Bí Tích Thánh Thể vì đó là lẽ sống của chúng con. Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
1. Bí Tích Thánh Thể là gì ?
2. Ai được quyền cử hành Bí Tích Thánh Thể ?
3. Tại sao lại gọi Bí Tích Thánh Thể là Bí Tích tình yêu ?

 

THÁNHTHỂ-81: MÌNH MÁU CHÚA KITÔ– Lm Jos. Phạm thanh Liêm

Đức Yêsu đã làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để thêm sức cho những người đã theo và nghe Ngài: THÁNHTHỂ-81

Đức Yêsu đã làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để thêm sức cho những người đã theo và nghe Ngài giảng dạy. Phép lạ hoá bánh ra nhiều, là dấu chỉ của bí tích Thánh Thể sau này.
Đức Yêsu như gương mẫu
Các tông đồ nhắc nhở Đức Yêsu: “xin thầy cho dân chúng về để họ tìm chỗ trọ quanh đây và kiếm thức ăn vì ngày đã tàn”. Dường như dân chúng ham mê nghe Đức Yêsu giảng, và chính Đức Yêsu cũng rất thích giảng dạy dân chúng đến quên cả thời gian.
Điều các tông đồ có thể làm được, là nhắc nhở Đức Yêsu về nhu cầu thể lý của con người. Và Đức Yêsu nói: “anh em hãy cho họ ăn”. Cho dân chúng ăn, đâu phải là nhiệm vụ của các tông đồ, và cũng vượt khả năng của chính các ông: “chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá”. Hãy bảo họ ngồi thành nhóm khoảng năm mươi người. Và Đức Yêsu đã cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời tạ ơn rồi bẻ ra trao cho các môn đệ, để họ phân phát cho dân chúng. Đức Yêsu không chỉ quan tâm đến khát vọng thiêng liêng của dân chúng, nhưng Ngài còn thông cảm và để ý đến cả nhu cầu thể xác của con người nữa.
Đức Yêsu: “cầm lấy, ngước mắt lên trời, dâng lời tạ ơn…”. Những việc bình thường hằng ngày, ngay cả như “ăn uống”, Đức Yêsu cũng vẫn làm với ý thức sâu xa về Thiên Chúa. Và cũng chính thói quen này giúp hai môn đệ Emmau nhận ra Đức Yêsu. Đây là điều mỗi người cần học nơi Đức Yêsu: đối diện với thực tại, hướng lên Thiên Chúa, chúc tụng và xin Ngài giúp để biết phải làm gì và làm như thế nào trong mọi hoàn cảnh.
Đức Yêsu nuôi dưỡng con người bằng chính Mình Máu Ngài
Đức Yêsu trong đêm Ngài bị bắt, Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: này là mình thầy, hiến tế vì anh em. Đức Yêsu đã bị trao nộp và bị giết vì tội con người, Ngài trở nên của ăn của uống cho con người của mọi thời đại.
Ngày xưa dân Do Thái đi trong hoang địa được nuôi bằng manna, người thời Đức Yêsu được Ngài hoá bánh ra nhiều để nuôi họ, còn ngày nay Ngài nuôi con người bằng chính thịt máu Ngài. Con người ngày nay còn hạnh phúc hơn cả con người ngày xưa và ngay cả con người thời Đức Yêsu nữa. Tuy vậy, mấy ai nhận ra diễm phúc này?
Qua bí tích Thánh Thể, con người nhận ra tình yêu vô cùng của chính Đức Yêsu đối với con người. Ngài sẵn sàng trở thành của nuôi con người, để được tan biến trong con người, để làm con người được thần hoá, được thông phần bản tính Thiên Chúa. Của ăn vật chất con người dùng, trở thành thịt máu con người; còn bí tích Thánh Thể con người dùng, làm con người được “trở nên thịt máu Đức Yêsu”, được “thánh hoá”, được thần hoá, được trở nên con Thiên Chúa.
Dâng hiến chính mình
Đức Yêsu đã dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa và cho con người qua cái chết trên thập giá và được thể hiện trước cách bí tích qua bí tích Thánh Thể. Và qua điều này Ngài mời gọi con người của mọi thời đại trở nên giống Ngài: yêu thương đến quên mình, đến dâng hiến chính mình cho con người.
Trong lịch sử Giáo Hội, có rất nhiều người đã anh dũng dâng hiến chính mạng sống để làm chứng cho Chúa. Ở Việt Nam đã có cả hơn một trăm ngàn người dám chết để làm chứng cho đức tin, cho Thiên Chúa. Các thánh và chân phước tử đạo là nhân chứng hùng hồn cho tình yêu Thiên Chúa và con người.
Những người dâng mình cho Chúa, cũng là những dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu con người. Ơn gọi không khởi đầu với con người và cũng không được kết thúc bởi con người. Chính Thiên Chúa là sáng kiến của mọi ơn gọi và đặc biệt của ơn gọi dâng hiến; cũng chính Thiên Chúa là Đấng bảo vệ và phát triển ơn gọi dâng hiến. Ơn gọi dâng hiến là ơn gọi của tình yêu, yêu Chúa và yêu người. Tình yêu không triển nở, sẽ bị chết. Mỗi người sống đời dâng hiến hãy luôn cầu xin, để tình yêu của họ với Thiên Chúa và con người luôn phát triển. “Xin Chúa làm cho con yêu Chúa và yêu con người”.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Bí tích và phép lạ khác nhau như thế nào?
2. Bạn có năng lãnh nhận bí tích Thánh Thể không? Tại sao?
3. Xin bạn chia sẻ tâm tình và kinh nghiệm thiêng liêng của bạn với Đức Yêsu nơi bí tích Thánh Thể.

 

THÁNHTHỂ-82: Bánh Cho Người Đói Ăn

Một bà cụ già nọ tên là Mill sống tại một căn hộ. Mỗi tối bà thường vẫn dâng lời nguyện to: THÁNHTHỂ-82

Một bà cụ già nọ tên là Mill sống tại một căn hộ. Mỗi tối bà thường vẫn dâng lời nguyện to tiếng, và những lời nguyện của bà đều được một người đàn ông vô thần ở căn hộ bên cạnh nghe thấy. Không biết vì lý do gì đó, mà mấy tháng liền bà Mill đã không nhận được một đồng tiền già nào của chính phủ. Vì thế, không những bà đã không có tiền để trả tiền nhà, mà cũng chả còn tiền để mua đồ ăn. Đến một hôm, khi bà chỉ còn có một miếng bánh mì, bà đã dâng lời nguyện to tiếng như mọi khi trước khi ăn, "Lạy Chúa, xin cho con lương thực vào ngày mai. Cho dù là chỉ có một ít bánh mì." Người đàn ông ở hộ bên cạnh nghe thấy thì mỉm cười và xách một bao bánh mì đem tới trước cửa nhà bà già kia. Sau đó ông ta bấm chuông và bỏ trốn. Bà mở cửa ra và thấy bao bánh mì thì hết sức vui mừng và to tiếng dâng lời tạ ơn Chúa, "Lạy Chúa, con tạ ơn Ngài. Con biết Ngài không bao giờ từ chối lời nguyện của con." Người đàn ông vô thần kia nghe thấy vậy thì cười mỉa. Ông đi qua căn phòng của bà Mill và bảo với bà ấy rằng túi bánh mì bà đang cầm trong tay là của ông ấy bố thí cho chứ đâu có phải Chúa. Bà Mill liền trả lời, "Chúc tụng Thiên Chúa! Ngài vẫn cứu giúp con trong những lúc cùng quẫn cho dù là Ngài có phải dùng đến một thằng quỉ để nhậm lời con."
Trong bài Phúc Âm hôm nay, sau khi Chúa Giêsu đã giảng dạy cho dân chúng, các môn đệ đã nói với Ngài, "Xin Thầy giải tán dân chúng, để họ đi vào trong các làng mạc và trại quanh đây mà trú ngụ và kiếm thức ăn, vì chúng ta đang ở nơi hoang địa" (Lk 9:12). Chúa Giêsu trả lời, "Các con hãy cho họ ăn đi." Các môn đệ bối rối đáp lại, "Chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá..." Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ hãy chia dân chúng ra từng nhóm 50 người và cho họ ngồi xuống. Sau đó Ngài đã cầm lấy bánh và cá, tạ ơn, trao cho các môn đệ đem đi phân phát cho mọi người. Tất cả đều ăn uống no nê, và còn dư thừa nữa.
Câu truyện này trong cuộc đời của Chúa Giêsu là một biến cố rất quan trọng đối với dân chúng thời đó. Đây là một câu truyện mà cả bốn thánh ký đều nhắc tới. Hơn nữa, có thánh ký còn kể đến hai lần cho dù là có chút thay đổi. Một cách minh nhiên, các Kitô hữu thời sơ khai đã nhận thấy câu truyện này thật là ích lợi mà họ muốn rằng những thế hệ sau này cũng phải biết đến.
Các thánh ký Phúc Âm đã lập đi lập lại cho chúng ta rằng Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng, yêu thương chúng ta vô cùng, và Ngài đã nuôi dưỡng chúng ta ở chính trung tâm điểm của chúng ta bằng sự hiện diện của Ngài. Thiên Chúa ở với chúng ta và chung quanh chúng ta. Khi chúng ta nhận ra điều này, thì chúng ta sẽ kết hợp với Thiên Chúa, và chúng ta được nuôi dưỡng. Thiên Chúa có nhiều cách nuôi dưỡng chúng ta, một cách đặc biệt và cao cả nhất đó là qua sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô. Nếu chúng ta được nuôi dưỡng bằng Bánh Hằng Sống, nếu chúng ta chìm đắm con người của mình trong Chúa Kitô, thì không còn cách nào tốt hơn.
Tất cả những điều này đều đã được nói rõ với chúng ta trong Phúc Âm Thánh Gioan. Sau khi kể về câu chuyện Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dưỡng cả hàng ngàn người, Thánh Gioan kể tiếp đoạn Chúa Giêsu đối diện với đám đông của hôm qua. Chúa Giêsu nói với họ, "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận. Thật Ta bảo thật các ông, không phải ông Maisen đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian" (Ga 6:26-27, 32-33).
Dân chúng đã sung sướng đáp lại, "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy." Chúa Giêsu đáp, "Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta, không hề phải đói; ai tin vào Ta, chẳng khát bao giờ!" (Ga 6:35). Một lần nữa, khi các bạn đồng hóa với Chúa Kitô, khi các bạn để cho Chúa Kitô đi vào trong cuộc sống của các bạn, khi các bạn ở trong Chúa Kitô và đón nhận Chúa Kitô trong tận đáy tâm hồn của mình, các bạn được nuôi dưỡng cách tuyệt diệu bằng chính lương thực trường sinh đời đời.
Mỗi một cá nhân chúng ta đều có những chuyện phải thi hành trong ngày hôm nay. Chẳng hạn như đọc báo chí, xem thể thao, đi đây đó, thăm bạn bè, chuẩn bị những cái cho tuần này, bài vở cần phải làm cho xong để nộp. Tuy nhiên, trong những bận rộn như thế, nếu chúng ta không biết để dành thời giờ để nuôi dưỡng bằng Bánh Hằng Sống, thì cuộc đời của chúng ta sẽ gặp những nỗi u buồn thất bại.
Đa số chúng ta đã ý thức được chuyện này trong mỗi lúc chúng ta gặp những nỗi gian truân. Khi các bạn đi gặp bác sĩ vì biết mình mắc một chứng bệnh nặng hoặc là một người thân yêu bị bệnh, lúc đó chúng ta mới biết chạy đến để ăn bánh hằng sống. Hoặc buổi sáng khi thức dậy, bạn cảm thấy bị đè nặng bởi những gánh nặng của cuộc sống mà bạn không biết xoay sở thế nào, thì lúc đó bạn mới biết chạy đến với nguồn mạch sự yên ủi. Tuy nhiên, đó là một điều không may khi các bạn chỉ biết chạy đến với Chúa trong những lúc khó khăn, thay vì bạn phải chạy đến mỗi ngày. Tôi luôn tin rằng những ai không năng rước lễ thì thường hay cảm thấy không bình an, và thay vào đó là những nỗi lo không dứt, và bị những nỗi lo sợ hoành hành. Các bạn phải đon đả chạy ngược xuôi để lo cho gia đình, tuy nhiên trong tâm hồn của bạn chỉ là sự trống rỗng, sự trống rỗng mà chỉ có Chúa Kitô mới có thể lấp đầy được.
Trong hoàn cảnh cá nhân của mỗi người, tất cả đều có những cái cần thiết, tinh thần hoặc vật chất. Thiên Chúa lúc nào cũng sẵn sàng để giúp đỡ chúng ta. Hãy chúc tụng Chúa bởi vì Ngài lúc nào cũng sẵn sàng để dùng những phương thế tuyệt diệu đáp lời nguyện của chúng ta.

 

THÁNHTHỂ-83: Để Tưởng Nhớ Thầy

Suy Niệm
 

Trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corintô, viết năm 57, thánh Phaolô cho chúng ta một chứng từ cổ: THÁNHTHỂ-83

Trong thư thứ nhất gởi tín hữu Corintô, viết năm 57, thánh Phaolô cho chúng ta một chứng từ cổ xưa về bí tích Thánh Thể mà ngài gọi là bữa ăn của Chúa. Ngài khẳng định rằng ngài chỉ là người truyền đạt lại những gì mình đã lãnh nhận từ truyền thống Giáo Hội.
Bí tích Thánh Thể là một sáng kiến của Đức Giêsu trong bữa ăn vào đêm Người bị nộp.
Tấm bánh thành Mình Thầy: hãy cầm lấy mà ăn.
Chén rượu thành Máu Thầy: hãy cầm lấy mà uống.
Đức Giêsu còn mời ta làm lại những gì Người đã làm: "Anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ Thầy."
Giáo Hội đã vâng lời từ 20 thế kỷ. Có biết bao thánh lễ đã được cử hành trên mặt đất.
Thánh lễ nào cũng là một bữa ăn do Chúa thết đãi, và cũng là một nghi thức tưởng nhớ cái chết của Chúa.
Không thể tách rời thánh lễ với cái chết của Đức Giêsu. Mình Thầy sẽ bị nộp, Máu Thầy sẽ đổ ra vì anh em.
Rước lễ là rước lấy Đấng đã chết vì loài người, như thế là hiệp thông vào cái chết thập giá.
Mỗi lần dự lễ, chúng ta loan truyền Chúa đã chịu chết.
Nhưng Đấng đã chết cũng là Đấng đã sống lại, Đấng đang ngự bên hữu Cha và sẽ đến trong vinh quang.
Rước lễ chẳng phải là rước một thi hài người chết, mà là đón lấy Đấng đang sống và đang ban sự sống.
Dự thánh lễ là dự một bữa ăn như bữa Tiệc ly, là tham dự vào hy tế năm xưa trên Núi Sọ.
Chính vì thế ta không nên dự lễ với hai bàn tay trắng.
Cần đem theo tấm bánh của mình trong ngày qua, tuần qua.
Tấm bánh làm từ lúa của đất, công của người.
Chúa Giêsu cần tấm bánh của tôi, để Người biến đổi.
Thánh Thần cần tấm bánh của tôi, để Người thánh hoá.
Chúa Kitô không từ trời cao ngự xuống tấm bánh.
Đúng hơn, Người nâng tấm bánh lên tới Người, và biến nó thành lương thực thần linh nuôi tôi. Như thế, tấm bánh thánh mong manh nhỏ bé lại là nơi hội tụ của cả Thiên, Địa, Nhân. Vũ trụ, con người và Thiên Chúa gặp nhau, hoà quyện.
Bí tích Thánh Thể góp phần biến đổi cả vũ trụ loài người.
Những gì là tự nhiên, nay được thần hoá, được biến đổi tận căn mà vẫn không đánh mất chính mình.
Lễ vật tôi dâng lên Chúa, Chúa trao lại cho tôi.
Bánh bởi trời cũng là bánh bởi đất...
Mỗi phút trên trái đất, có bao tấm bánh được trao đi.
Trong mỗi tấm bánh bình thường được bẻ ra và trao đi, chúng ta thấy có bóng dáng của tấm bánh Mình Chúa.
Chính nhờ được nuôi bằng bánh thánh tại bàn thờ, mà ta có thể chia sẻ cho tha nhân tấm bánh vật chất, và những tấm bánh tinh thần.
Hãy dâng tất cả những gì thuộc về trái đất và con người, để Đức Kitô biến đổi thành Tấm Bánh Khổng Lồ dâng lên Cha.
Gợi Ý Chia Sẻ
Theo kinh nghiệm của bạn, rước lễ đem lại lợi ích gì cho cuộc sống?
Thánh lễ trở nên nhàm vì chúng ta thường đi xem linh mục làm lễ, và chẳng mang theo một lễ vật nào. Theo bạn, thế nào là tích cực tham dự thánh lễ?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa, Chúa là thức ăn, thức uống của con.
Càng ăn, con càng đói; càng uống, con càng khát; càng sở hữu, con lại càng ước ao.
Chúa ngọt ngào trong cổ họng con hơn cả tầng mật ong, vượt quá mọi thứ ngọt ngào khác trên đời.
Lúc nào con cũng thấy đói khát và ước ao, vì con không sao múc cạn được Chúa.
Ngài nghiền nát con hay con nghiền nát Ngài? Con chẳng rõ; vì ở thẳm sâu lòng con, con cảm thấy cả hai.
Chúa đòi con nên một với Ngài, đòi hỏi đó làm cho con đau đớn, vì con không muốn từ bỏ những thói quen của con để ngủ yên trong tay Chúa.
Con chỉ biết tạ ơn Chúa, ca ngợi và tôn vinh Chúa, bởi đó là sự sống đời đời cho con.

 

THÁNHTHỂ-84: BÁNH NUÔI SỐNG NHIỀU NGƯỜI

Lc 9,11b-17
 

Phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân là một trong những cảnh quen thuộc của phúc âm. Sách: THÁNHTHỂ-84

Phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân là một trong những cảnh quen thuộc của phúc âm. Sách bài đọc mới trích dẫn 3 đoản văn: Lc 9,11b-17 cho lễ Mình Thánh Chúa năm C, Mt 14,13-31 vào chúa nhật 18 QN A và Ga 6,1-15 vào chúa nhật 17 quanh năm B. Ở đây chúng tôi chỉ khảo cứu bản văn Lc mà thôi.
Trình thuật của Lc không phải là hoàn toàn độc sáng: sự phối trí chung chung của câu chuyện khá đi sát với các nguồn nên không thể bảo là của ông được. Tuy nhiên, với một bản nhất lãm trước mắt, người ta thấy Lc có một vài thay đổi trong phần nhập đề của trình thuật (x.cc 10-11), trong phần giữa (đơn giản hóa các lời đối thoại, nhấn mạnh hành động của các môn đệ ở câu 15) và trong phần kết luận là phần đặt nổi tính cách dư dật của thức ăn mầu nhiệm hơn là con số đông đảo các thực khách.
Ông chỉ tỏ ra độc đáo hơn trong việc trình bày bối cảnh của biến cố, sau trình thuật này, Lc bỏ một đoạn dài (Mc 6,45-8,26) và ông đã tách xa Mc ngay trong các giai thoại đi trước câu chuyện này rồi (9,1-9: ông rút ngắn diễn từ sứ vụ môn đồ và ám chỉ đến Herôđê hơn là Gioan tẩy giả). Với trình thuật bánh hóa nhiều, Phêrô tuyên tín, cuộc biến hình và bốn giai thoại kế tiếp, theo Conzelmann, chúng ta được một “chu kỳ trọn vẹn” có một phận vụ thiết yếu trong cơ cấu chung của phúc âm Lc. Ở đây Lc không đứng trên cương vị một sử gia khi sửa đổi những chỉ dẫn địa dư của Mc, nhưng với cương vị nhà thần học: nhờ đi rao giảng nơi xa chưa đến, người tôi tớ trước tiên phải bước qua thập giá và sắp tiến lên Giêrusalem (x. 9,51; 24,46-47). Bởi thế Lc nhấn mạnh và làm nổi bật bối cảnh bi thảm của phép lạ bánh hóa nhiều: dứt điểm sứ vụ ở Galilê, bầu khí khủng hoảng, đòi hỏi bày tỏ lập trường, viễn tượng cuộc tử nạn đau khổ và vinh quang (c. 9,20.21tt.31.44.51).
Ờ đây, chúng tôi không liên tục chú giải bản văn, nhưng chỉ đề cập đến vài khía cạnh mà Lc nhấn mạnh trong chính trình thuật hay trong văn mạch của nó: một đàng nó là khía cạnh trực tiếp làm chúng ta tin vào con người Đức Kitô, đàng khác đó là khía cạnh có thể khai triển về phương diện giáo lý phép thánh thể, vì hôm nay là ngày lễ Mình thánh Chúa.
1. ĐẤNG ĐÁP ỨNG CÁC NHU CẦU THIẾT THỰC CỦA CON NGƯỜI ĐANG ĐỨNG ĐÓ
Từ sau lời loan báo trang trọng: “Hôm nay đã ứng nghiệm đoạn sách thánh này nơi tai các người ...” (Lc 4,21), các thính giả và độc giả phúc âm Lc đang đứng trước một biến cố hằng mong đợi: vị ngôn sứ đang đứng đó, Nước Trời đang được khơi mào, niềm trông đợi của con người đã được thỏa mãn và nhân loại sẽ được “no thỏa” nếu họ biết cởi mở đón nhận lời công bố đầy quyền năng đó. Sau thời kỳ hứa hẹn và đợi trông, này đây đã đến lúc thể hiện, đã đến thời sau hết, thời “công bố Tin mừng” (x. 16,16, câu đặc biệt của Lc).
Những từ ngữ Lc dùng ở đây đủ nói lên bối cảnh hoàn tất của thời cánh chung và đặt chúng ta trước vấn nạn chính yếu: đối với chúng ta, phải chăng Đức Kitô và lời công bố về Nước Trời đó đã thực sự làm thỏa mãn niềm trông đợi của nhân loại ?
Ngài nói cho họ về nước TC. CGS “nói” (élalei là động từ thỉnh thoảng được dùng trong TƯ, đặc biệt trong Lc, để nói lên việc TC được mạc khải qua các ngôn sứ và Con của Ngài). “Đấng mạc khải” đang đứng đó. “Lời” đã được ban tặng; sứ điệp giải phóng đã được công bố cho cho mọi người. Và trong chính việc loan báo ấy, Thực Thể mới đang đột nhập vào thế gian và bày tỏ sức sinh động khi mở ra cho chúng ta cánh cửa cứu độ nhờ lòng tin vào Ngài. Trong phép lạ được kể lại đây, chúng ta sẽ có được một dấu chỉ.
Ngài chữa lành những ai cần được cứu chữa. Ngoài các phép lạ chữa lành thể lý ở đây, Lc biết chắc rằng tất cả mọi người đều “cần” được CGS “chữa lành” (thérapeia, x.12,42 và nhất là Kh 22,2). Ít ra là tất cả những ai có lòng ước ao được cứu rỗi, tất cả những ai không khép kín trong sự công chính riêng của mình, tự cho mình “lành mạnh” (x. 5,31-32; 15,7). Vả lại, không phải chính CGS, qua lời nói và hiện diện của Ngài, đã làm cho con người ý thức rằng họ có những “nhu cầu” đích thực, khi Ngài xuất hiện như là Đấng có thể làm thỏa mãn họ sao (x.10,40-42).
Xem ra Lc đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa thiêng liêng của biến cố. Ông hoàn toàn không thể tìm cách bi thảm hóa tình thế trên bình diện các nhu cầu thể lý. Điều CGS sắp ban vượt trên mọi “nhu cầu” cấp thời và mọi cần thiết thể lý. “Của ăn” Ngài ban không chỉ làm dịu cơn đói vật chất: nó thục sự có giá trị như một dấu chỉ. Trong viễn tượng này, chúng ta có thể quảng diễn lời nhận xét của các tông đồ như sau (các vị này chưa hiểu điều CGS sắp làm cũng như điều Ngài mang đến cho con người): “Tự sức chúng tôi hoặc với tiền bạc, chúng tôi cũng không thể cho toàn dân này điều họ thực sự cần đến....”. Đó không là gì khác ngoài ơn cứu độ, sắp được tiên trưng trong của ăn mầu nhiệm, làm no thỏa và dư tràn này.
2. NGÀI ĐÓN TIẾP, QUI TỤ ĐÁM ĐÔNG VÀ SẼ BIẾN HỌ THÀNH MỘT CỘNG ĐOÀN
Đám đông đã “theo” CGS, và Ngài “đón tiếp” họ. Khi nhấn mạnh đến lòng CGS ưu ái đáp lại niềm mong chờ và tìm kiếm của con người, chắc hẳn Lc muốn đưa ra một mẫu gương cho các nhà truyền giáo mới, cho những ai, kế vị Ngài, có phận sự đem lại cho quần chúng “Lời và Bánh” (x. 9,46-48). Của ăn ấy phải luôn trao ban cho con người và càng phải trao ban hàng ngày cho giáo hội. Chắc hẳn Lc nghĩ đến giáo hội khi ông kết thúc trình thuật với việc đề cập đến thức ăn còn dư lại (c.17b)
Thay vì phân tán, đám đông qui tụ lại thành một cộng đoàn dự tiệc: sự kiện này gợi lên hình ảnh Dân mới và bữa tiệc cánh chung, nơi mà theo, lời đã hứa, “các kẻ khó nghèo sẽ được ăn no thỏa” (c.14b)
3. BÁNH ĐÍCH THỰC LÀM NO THỎA
Hai câu cuối cùng hiển nhiên là cao điểm của trình thuật. Chúng ta không chỉ nói đây chỉ là lời tường thuật của một chứng nhân mục kích tận mắt biến cố trên. Vì khi diễn tả tất cả các cử chỉ của CGS với những từ ngữ giống như lúc Ngài thiết lập Phép Thánh Thể, cộng đoàn tiên khởi chắc chắn đã truyền lại cho chúng ta câu chuyện bánh hóa nhiều theo lối giải thích riêng của họ. Lc còn nhấn mạnh giáo huấn trên khi ông cố ý mô tả các con cá không rõ bằng Mc (ở cuối câu 16 và trong câu 17, ông không còn nói đến cá nữa).
Tất cả các bài chú giải đều đặt song song trình thuật lập phép Thánh Thể với trình thuật bánh hóa nhiều. Nhưng nơi Lc, còn có một điểm song song độc đáo hơn, đó là trình thuật hai môn đệ làng Emmau (Lc 24,13-34)
Sau đây là bản so sánh tổng quát:
 
Lc 24,30 Lc 9,15b-16 Lc 22,19
(dọc đường, đức Giêsu “nói” và mạc khải chương trình của Thiên Chúa trong Kinh Thánh) (Nước Thiên Chúa đang ở đó) (c.11b) (Nước Thiên Chúa được gợi lên trong giai đoạn hoàn thành) (cc.15-16)
“và xảy ra là “…và “  
khi vào bàn với họ Họ đã cho mọi người ngã mình xuống.  
Người cầm lấy bánh Cầm lấy hai chiếc bánh và hai con cá,
Người ngẩng mặt lên trời
 
“…đọan cầm lấy bánh
Chúc tụng Chúc tụng trên bánh cá
 
Tạ ơn
Rồi bẻ ra rồi bẻ ra Người bẻ ra
Người trao cho họ Và ban tiếp cho môn đệ
Để họ thết đãi dân chúng
Và ban cho họ”
(x. “hãy làm điều này”)

Dưới khía cạnh văn chương, những điểm song song chấm dứt ở đây, nhưng chúng ta có thể ghi thêm:
 
Lc 24 Lc 9
Mắt họ mở ra Phêrô trả lời: (c.20)
Và họ nhận biết Người  (c.31) Người là đức Kitô của Thiên Chúa
…. Ngay giờ đó, họ ra đi (c.33) … không được nói với ai điều đó.
Đức Kitô phải  (c.26;x.c.32:TK) Con Người phải … (c.22)

Không cần nhấn mạnh đến các điểm tương đồng đó. Điều làm chúng ta lưu tâm nhất, trong Lc 24, chính là tiến trình của câu chuyện, tiến trình này giúp chúng ta rút ra được ý nghĩa sâu xa của nó: Thánh kinh làm chứng cho Đức Kitô, nhưng chính trong phép Thánh Thể mà con người được đặc biệt được gặp gỡ vị Chúa phục sinh hằng sống và đang hiện diện, và điều đó giúp chúng ta hiệp thông vào niềm tin của các người anh em đầu tiên của chúng ta lúc họ cử hành Thánh thể.
Đối với trình thuật bánh hóa nhiều cũng vậy: lối kết cấu của bản văn là chìa khóa để giải thích nó (x. các điểm vay mượn ở nghi thức lập phép Thánh Thể). Tất cả những gì đáp ứng niềm trông chờ của con người, những gì mà CƯ diễn tả qua niềm hy vọng vào Đấng Messia thời cánh chung, “Nước Trời” mà các phúc âm nhất lãm nói tới, tất cả các điều đó đã được ban trong phép Thánh Thể. Không có thể hiểu được điều này nếu không qui chiếu về mầu nhiệm con người CGS, “TC ở cùng chúng ta” (x. những vấn nạn trước và sau trình thuật này trong Lc 9,7-9 và 9,18-21), về cuộc tử nạn cứu chuộc và về việc Ngài phục sinh (x. những loan báo về cuộc tử nạn trong Lc 9,22tt.31.44-45.51, và cuộc gặp gỡ Herôđê trong Lc 23,8-12, đã được gợi ý trong Lc 9,9).
Vậy không được xem cử chỉ CGS làm đây như chỉ nhằm “loan báo việc thiết lập phép Thánh Thể”. Ngài đã đến giữa chúng ta, ban cho con người lời Ngài như là của ăn, cho họ no thỏa lòng ao ước nhận biết TC, cho họ những dấu chỉ và bảo chứng về điều Ngài mang đến. Ý thức sứ mệnh của nình, Ngài đưa ra những hành động để biểu trưng và đánh dấu bước đầu thực hiện sứ mệnh ấy. Các hành động này tự nhiên được hoàn tất và có ý nghĩa trong Dấu Chỉ và Ân Huệ Tuyệt Hảo là phép Thánh Thể. việc nhập thể được hoàn tất trong việc trao ban Thánh Thể. Sự kiện chúng ta tham dự phép Thánh thể giả thiết chúng ta đã tin vào mầu nhiệm Đức Kitô, “bánh hằng sống từ trời xuống”. Bài chú giải hay nhất về trình thuật này là “diễn từ bánh hằng sống” của Ga 6.
4. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC THAM DỰ VÀO BỮA “TIỆC” NÀY.
Đây là điểm cuối cùng Lc làm nổi bật. Phần tiếp nối trong trình thuật bánh hóa nhiều gần giống với “diễn từ sau tiệc ly” (so sánh 9,18-50 với 22,21-38).
Lc không chịu trích nguyên văn một vài đoạn của Mc. Lối kết cấu của ông có một chủ đích riêng. Ông đã cố ý trình bày một đàng thập giá và vinh quang của ngày phục sinh và đàng khác những lời hứa và những yêu sách để sống đời môn đệ trong hai lần ông gợi lên trung tâm điểm của đời sống Kitô hữu (phép Thánh Thể, bảo chứng đầu tiên của bữa tiệc thiên sai).
Thật thế, các biến cố sắp xảy ra ở Giêrusalem đã được minh xác rõ ràng hơn; bóng thập giá đau thương, việc vượt qua cái chết để đến vinh quang, đã hiện ra rất rõ. Được liên kết với hành động của CGS, các môn đệ phải dấn thân vào một giai đoạn mới và khó khăn trong ơn gọi của mình. Việc biến hình sẽ đưa họ đi sâu vào mầu nhiệm ấy. Các đám đông “theo” CGS (9,11) và tham dự bữa ăn Ngài ban có ý thức đầu đủ nội dung của từ ngữ “đến theo Ngài” (c.23) không ? Chính các môn đệ sẽ được dậy về điều đó.
Trong kiểu nói rất giống kiểu nói ngày thứ năm Tuần Thánh (x.22,21-38), chúng ta thấy ở đây trình bày cho “mọi người” (c.23) hay cho nhóm “môn đệ” (cc.43b.46-49) những đòi hỏi để dấn thân theo Đức Kitô: liêm kết toàn vẹn trong đức tin, phục vụ anh em trong khiêm tốn, trung thành với Chúa mỗi ngày. Cần phải đánh mất sự sống mình vì Chúa Kitô, phải vác thập giá mình mỗi ngày và theo Ngài trên con đường dẫn tới thập giá, tới vinh quang, tới nước TC.
Bản pháp ngữ của F.Prod'home,
Assemblees du Seigneur, số 32.
LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI A B C
KINH MAGNIFICAT (Lc 1,46-55)
VĂN MẠCH
Trong phúc âm Lc, kinh Magnificat kết thúc hai trình thuật truyền tin và thăm viếng. Nó được trình bày như một thánh ca tạ ơn, mà đức Maria dâng lên TC để ca tụng đặc ân được tuyển chọn làm Mẹ Đấng Thiên sai.
Thật vậy, đối tượng của sứ điệp truyền tin là: đức Maria thấy mình được gọi làm Mẹ Đấng Thiên sai, Mẹ đồng trinh nhờ sự can thiệp của Thánh Thần. Để bảo chứng cho việc can thiệp thần linh quyền năng ấy, thiên thần đã đưa ra dấu chỉ bà Elizabet được thụ thai kỳ lạ. Và trình thuật thăm viếng tiếp theo là sự xác nhận dấu lạ này. Bây giờ câu chuyện được kết thúc bằng việc đức Maria vui mừng và cảm tạ. Ngài hết lòng ca ngợi TC đã đoái thương kén chọn những kẻ hèn mọn nhất trong các tôi tớ để thực hiện ý định cứu nhân độ thế của Người.
CƠ CẤU BẢN VĂN
Xét về cơ cấu, kinh Magnificat thuộc văn thể thánh vịnh. Đàng khác, nó có nhiều kiểu nói song song với tập thánh vịnh hơn cả.
Bài ca diễn tiến một cách có tiết điệu. Nhưng khó mà chia toàn thể bản văn thành từng đoạn chính xác. Có thể tạm phân biệt ba giai đoạn diễn tiến tư tưởng như sau: sau tiếng kêu đầy vui mừng đầu tiên và rất vắn gọn (46b-47), người cầu kinh trình bày 3 lý do ca tụng của bà:
1. Lý do cá nhân: TC đã thương đoái đến phận hèn tớ nữ Người, và đã làm cho bà những việc kỳ diệu (c.48-49).
2. Phổ quát hóa lý do trên: TC hằng đoái thương những kẻ kính sợ Người, những người khiêm hạ, những kẻ túng đói, ngược lại Người biểu dương quyền lực chống lại những kẻ kiêu ngạo, quyền thế, giàu sang (c.50-53).
3. Tầm mức cánh chung của lòng thương xót TC: bây giờ mở đầu cho sự phục hồi Israel và thể hiện lới hứa (c.54-56).
NGUỒN GỐC BÀI CA VÀ Ý HƯỚNG TÁC GIẢ PHÚC ÂM
Khoa phê bình hiện nay cho rằng kinh Magnificat là một mẫu văn được ráp nối thêm. Đầu tiên nó là một bài thánh ca độc lập rồi được Lc (hay nguồn mà ông xử dụng) đem vào được văn mạch, sau khi sửa lại đôi chút.
Thật vậy, chỉ cần nhìn những câu chuyện chuyển tiếp văn mạch là đủ thấy ngay đây là một bản văn được thêm vào: ở đầu bài, câu 46a ("và Maria nói") là một câu nhập đề gượng gạo muốn đặt đâu cũng được. Cuối bài, câu 56 ("Và đức Maria ở lại với bà ta chừng lối 3 tháng") không ăn khớp chút nào với kinh Magnificat. Đại danh từ “bà ta” ở đây chỉ bà Elizabeth, kẻ mà người ta đã không còn nhắc đến, không còn nghĩ đến từ 14 câu rồi. Câu 56 đáng ra phải theo sau các câu 42-45 (lời bà Elisabet ngợi khen Maria) nếu bài Magnificat không xen vào.
Hơn nữa xét về nội dung, bài tụng ca này không liên hệ chặt chẽ với mạch văn. Nhất là nó không nói gì đến tình trạng của đức Maria (thiên chức làm Mẹ Đấng Thiên sai) hay đến những hoàn cảnh của cuộc đi thăm viếng. Phần lớn, bài ca gồm những mệnh đề rất phổ thông, trích dẫn từ thánh kinh: những kiểu nói đạo đức nhưng thông dụng, không có gì độc đáo. Trong khi đó văn mạch không nhấn mạnh tí gì đến thân phận nghèo nàn của trinh nữ và càng không nói đến sự hạ nhục bọn người tự kiêu. Và việc nhắc đến quyền năng TC trên Maria và trên những người quyền thế của trần gian hoàn toàn khác nhau.
Cuối cùng, kinh Magnificat, trong dạng thức hiện nay, không thể phát sinh do đức Maria. Người ta không nghĩ Ngài đã lặp lại (và đọc lại) cho Lc hay cho những người tâm phúc khác lời kinh đã hát ngày xưa. Người ta lại càng không thể cho rằng Lc, một Kitô hữu thuộc văn minh Hy Lạp, đã tự mình soạn ra bài tụng ca này, một bài ca hầu như được kết cấu với những công thức rút từ thánh kinh, có nhiều tính chất Do thái. Ngoài ra, kinh Magnificat tán tụng việc hoàn tất những lời hứa thiên sai. Vì thế người ta phỏng đoán nó bắt nguồn từ các Kitô hữu gốc Do thái.
Dù sao, bài ca đã được khéo léo đưa vào văn mạch hiện nay, bài ca tạ ơn và vui mừng cứu chuộc này kết thúc một cách đẹp đẽ cảnh truyền tin và Thăm viếng. Nó đáp trả lời mời gọi đầu tiên của Thiên thần: “Hãy vui lên, hỡi người được biệt đãi”. Đây là một phụ nữ đang nói và tự xưng là “nữ tì” của Chúa (c.48, cũng như ở 38), một nữ tì đáng cao rao là “diễm phúc” (c.48, cũng như ở 45), nhờ sự can thiệp của Đấng quyền năng cao cả (c.49, cũng như ở 35. 37, nhưng không phải 51-53).
Dù sao những liên hệ thành ngữ này chỉ tạo nên những chắp nối nhỏ, những chỗ sửa đổi ít oi để khỏi phản lại luận đề của đoạn văn trước. Bài thánh ca bắt nguồn từ những môi trường của giáo hội sơ khai kề cận trinh nữ, những môi trường hằng lưu tâm đến các biến cố thời thơ ấu CGS. Cũng gần như lời bà Elisabet ca ngợi đức Maria (c.42-45), bài tụng ca này truyền lại cho chúng ta dư âm lòng sùng kính của các Kitô đầu tiên đối với Mẹ CGS, và cho thấy cách thức người ta diễn tả tâm trạng Ngài trước việc khai mào ơn cứu rỗi và việc Ngài được tuyển chọn. Dưới cái nhìn của Lc (và của truyền thống ông) thì không ai có thể mang lại ý nghĩa tràn đầy cho những kiểu nói tràn đầy của lòng đạo đức Israel hơn đức Maria, cũng không ai hơn Ngài trong việc ca ngợi buổi hừng đông của ơn cứu độ.
KẾT LUẬN
Được dệt bằng những công thức CƯ rất cổ truyền, kinh Magnificat là kết tinh lòng đạo đức của dân TC xưa. Nó diễn tả một cách khéo léo các tâm tình sâu xa của mẹ đấng Thiên sai trong giây phút được TC chọn gọi: lòng khiêm nhường, sự thán phục, niềm phấn khởi, cảm tình biết ơn sâu xa và tâm hồn thờ kính.
Là tác phẩm của cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên, kinh Magnificat diễn tả thái độ của chính giáo hội trước việc Chúa Kitô nhập thế và việc khai mào ơn cứu độ. Do đó, nó cũng là lời nguyện cầu của chúng ta, liên kết mật thiết chúng ta với mẹ Chúa Kitô để muôn đời tán tụng lòng từ bi lân tuất của TC cứu chuộc.
Bản pháp ngữ của P.E.Jacquemin
Assembleés du Seigner, số 66
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Maria là cả cõi lòng đón nhận mà TC đổ đầy Thánh Thần để làm đảo lộn trật tự các giá trị của thế giới tội lỗi:
a. Cõi lòng đón nhận: “Sự gì yếu đuối trong thế gian thì chính TC lại chọn để làm xấu hổ những gì mạnh mẽ” (1Cor 1,27). Maria là một thiếu nữ nghèo của một làng quê. Cô không hề có ý nghĩ dựa vào những phương thế của mình để biến đổi thế giới. Cô đã đặt hết niềm tín nhiệm vào TC. Cô sẵn sàng vâng lời TC trong mọi sự. Cô tự trở nên như “trống rỗng” trước mặt TC.
b. TC đổ đầy: nếu Elisabet ca tụng Maria vì TC đã hành động nơi cô thì Maria lại không ca tụng mình, mà tạ ơn chúc tụng Chúa. Chính Ngài là đấng toàn năng đã thực hiện những điều vĩ đại nơi cô. Chính Người mới có tên là Thánh, chứ không phải Maria; chính sức mạnh cánh tay TC, chứ không phải công lao cá nhân Maria, đã cứu Israel qua Maria.
c. Để thay đổi trật tự mọi sự: sự sắp sẵn của Maria và ân sủng của TC gây nên một sự đảo lộn toàn diện các giá trị trong thế gian: người quyền thế bị hạ bệ và những kẻ khiêm nhường được nâng cao; người đói khát được no đầy và kẻ giàu có trở về tay trắng. Ta nghe như vọng lại dư âm tám mối phúc thật.
2. Lễ Mẹ Lên Trời nói lên sự đảo lộn các giá trị: người tự xưng là “tớ nữ của Chúa” (Lc 1,38) từ nay sẽ được gọi là “Nữ Vương các thiên thần” (kinh cầu đức Bà). Ta vui mừng khi thấy TC thực hiện nơi Mẹ các lời hứa của tám mối phúc thật; và đây là động lực khích lệ ta sống đời phúc âm.
3. Mẹ Maria đã được Chúa đưa ngay về với Người cả hồn lẫn xác, là vì suốt đời Mẹ đã chọn lựa TC từng mỗi phút giây. Tiếng “xin vâng” khi được truyền tin (c.38) và việc thừa nhận mình là “tớ nữ TC” (c.48) đủ nói lên thái độ căn bản của đời mẹ: luôn tìm thánh ý Chúa, luôn sống cho Người, luôn chấp nhận mọi nghịch cảnh vì Người. Do đó, khi bước vào vĩnh cửu, mẹ đã chọn lựa ngay TC một cách dễ dàng. Để được hạnh phúc như mẹ, chúng ta cũng hãy bắt đầu chọn Chúa ngay từ giờ phút này. Đừng có thái độ buông xuôi, lừng khừng, tự nhủ sẽ ăn năn được giờ sau hết. Việc chọn lựa TC trong giây phút sau cùng (để được hạnh phúc thiên đàng) tùy thuộc việc chọn lựa chính Ngài hôm nạy. Nếu trong đời này, chúng ta không để cho mình bị mù quáng và nô lệ bởi đam mê ích kỷ, thì được giây phút chọn lựa chung quyết chúng ta có đủ sáng suốt và tự do để chọn hạnh phúc đích thực là TC. Người làm no thỏa kẻ đói khát, ước mong, kiếm tìm Người và đuổi về tay trắng những tâm hồn đầy ngập cái tôi, ứ tràn đam mê dục vọng.
Hãy sống đời mến yêu TC như Mẹ Maria, để được thiên đàng là việc đi dần vào tình yêu TC ngay từ cuộc sống trần gian.

 

THÁNHTHỂ-85: BỮA TỐI TRỌNG NHẤT.

Trong bang Georgia, giữa công viên đại học và Fairburn có nhiều vườn cỏ với những đài kỷ niệm: THÁNHTHỂ-85

Trong bang Georgia, giữa công viên đại học và Fairburn có nhiều vườn cỏ với những đài kỷ niệm danh tiếng. Đài kỷ niệm nổi nhất là bức điêu khắc bữa tối sau cùng bằng cẩm thạch khổng lồ dài 20 feef, cao 7 feef khắc vào một tấm cẩm thạch nặng 60 tấn.
Chúa Giêsu và các tông đồ được khắc bằng cỡ người thật, nhà điêu jhắc Bern Zuckerman cố diễn tả từng chi tiết như móng tay, gân cổ của các tông đồ và thức ăn trên bàn. Ong mất ba năm để diễn tả những gì xảy ra trong chiều thứ năm Thánh đầu tiên ấy. Bức điêu khắc này lấy mẫu của Bức họa lừng danh của Leonard da Vinci Bức họa về bữa tiệc ly chúng ta thường thấy trong nhiều nhà thờ, trên tường hay trên kính cửa sổ.
Tại sao chúng ta kính nhớ bữa tiệc ly vào lúc này trong năm ? Chúng ta đã chẳng kỷ niệm thứ năm tuần thánh để nhớ bữa tiệc đó xảy ra lúc nào đó sao ? Vâng, nhưng ngày thứ năm trong tuần thánh thì trang trọng và u buồn. Gia đình Chúa muốn tôn kính biến cố rất quan trọng với một ngày lễ đặc biệt và vui mừng, vào một ngày Chúa nhật để tất cả chúng ta có thể tham dự.
Đến trước khi Chúa Giêsu chịu chết, Chúa đã nói lời này: “Đây là Mình ta, Đây là Máu Ta”, và lần đầu tiên, con người được rước lễ. Rồi sau đó Chúa Giêsu nói với các tông đồ và tất cả chúng ta rằng chính thân thể ấy sẽ bị treo trên thập giá vào ngày hôm sau, chính máu đó sẽ chảy ra từ các vết thương. Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” nói cách khác hãy làm để nhớ cái chết của ta.
Thánh Phaolô viết trong thư  Corinto I: “... Hãy  một việc này... để nhớ đến ta, nên mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan báo sự chết của Chúa cho tới khi Người đến”.
Trong thánh lễ, chúng ta, những người công giáo, làm điều Chúa Giêsu đã làm trong bữa tiệc ly, chúng ta diễn tả, chúng ta công bố sự chết của Chúa như Người đã truyền dạy, chúng ta thật sự  làm sống động bữa ăn tối sau cùng và sự chết của Chúa vào ngày kế tiếp.
Một kỷ niệm là một cái gì đó giúp ta nhớ về một người hay một biến cố nào đó. Nó có thể là một viêc làm, một đài kỷ niệm, một lưu bút... Ngày thứ Năm thọ nạn, Chúa Giêsu đã minh nhiên khởi đầu một việc làm để nhắc nhở và lưu niệm sự chết của Người qua mọi thời đại.
Đài kỷ niệm lớn nhất thế giới như ở Gheorgia, bức tranh vĩ đại nhất thế giới như của Vinci. Thật sự cũng quá nhỏ bé so với bữa tối trọng nhất mà chúng ta làm sống lại trong thánh lễ này. Đó là chân lý qúi giá chúng ta cử hành trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, vì tình yêu, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta chính Ngài, vì tình yêu chúng ta tiếp nhận Ngài
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen.

 

THÁNHTHỂ-86: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA

Có một linh mục nghèo hèn, dốt những trí thức khoa học nhưng rất giàu sự thánh thiện của: THÁNHTHỂ-86

Có một linh mục nghèo hèn, dốt những trí thức khoa học nhưng rất giàu sự thánh thiện của Chúa, đó là thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars. Cha đã khuyên một số ký giả báo chí đến tìm nhưng sự lạ giật gân nơi họ đạo nhỏ bé của cha như sau: “Nếu các ông bớt làm ồn ào trên các trang báo để có thể giúp sống yên lòng trước Nhà Tạm nhiều hơn, thì các ông có thể giúp canh tân xã hội này hữu hiệu hơn, tốt đẹp hơn biết mấy".
Lời khuyên đơn sơ của cha sở họ Asr trên, giúp chúng ta suy nghĩ nhân dịp ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa hôm nay. Hãy bớt làm ồn ào trên báo chí, bớt ăn nói ngoài môi miệng mà thường là những lời nói vô ích, nói xấu nói hành anh chị em để có thời giờ im lặng trước Nhà Tạm. Im lặng sống sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô nơi bí tích Thánh Thể, thì chúng ta có thể làm ích không những chính bản thân mình, mà còn cho anh chị em những công trình tốt đẹp mà những anh chỉ em đồ đệ thánh thiện của Chúa đang thực hiện cho kẻ khác hay đã thực hiện cho kẻ khác trong lịch sử của Giáo Hội. Lịch sử nhân loại đều đã bắt đầu từ những giây phút im lặng trước sự hiện diện của Chúa. Sự kiên trì và trung thành trong những công tác khó khăn, những hy sinh từ bỏ chính mình để phục vụ anh chị em đều được nuôi dưỡng nên kiên cường trong mạnh mẽ nhờ vào trong những giây phút im lặng trước bí tích Thánh Thể, trước Mình và Máu Thánh Chúa.
Mừng lễ Mình và Máu Thánh Chúa hôm nay, chúng ta không nhắm đến những việc rước kiệu, những lời nói hân hoan ngoại đường, nhưng hãy cố gắng nhắm đến những giây phút im lặng sống với Đức Giê sư Kitô hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Phụng vụ của Giáo Hội đặt lễ Mình Thánh Chúa sau lễ Đức Chúa Trời Ba Ngôi kết thúc chu kỳ Phục sinh, xem ra như muốn giúp chúng ta nhớ đến biến cố kỳ diệu trung tâm của buổi lễ Vượt qua của Chúa, cũng là một điểm và là tột đỉnh của lịch sử cứu rỗi từ Cựu ước đến Tân ước, đó là bí tích Thánh Thể. Là Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, máu của giao ước vĩnh cửu được đổ ra vì muôn người, để biến đổi muôn người, để giao hòa muôn người với Thiên Chúa Cha và với nhau.
Chúng ta không thể nhắc lại nơi đây trọn cả sự phong phú của bí tích Thánh Thể. Các bài đọc của phụng vụ hôm nay xem ra như nhấn mạnh đến một khía cạnh quan trọng, đó là khía cạnh hy tế của bí tích Thánh Thể, hy tế để thanh tẩy những tội lỗi của con người. Chúa Giêsu Kitô đã dâng hiến chính mình để thanh tẩy, để qui tụ chúng ta thành một trong nhiệm thể của Người. "Chúng con là ngành của một cây nho". Chúng ta sống từ nhựa sống duy nhất của Thiên Chúa, sự sống thần thiêng của Thiên Chúa.
Hãy bớt ồn ào trên các trang báo, hãy bớt ồn ào trong những lời nói khoe khoang, hãy im lặng hiện diện trước Mình và Máu Thánh Chúa. Hãy im lặng đón nhận Chúa ngự đến sống trong ta để ta sống trong Chúa, để mỗi người chúng ta được trở nên giống Chúa nhiều hơn, có sức mạnh của Chúa và phục vụ anh chị em, làm cho xã hội này càng nên tốt đẹp hơn. Hãy bớt đi những lời nói ồn ào, hãy gia tăng những giây phút im lặng trước Mình và Máu Thánh Chúa để được trung thành kiên trì luôn mãi trong đức tin.

 

THÁNHTHỂ-87: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA.

Hôm nay chúng ta cùng toàn thể Giáo Hội mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu trong bí tích: THÁNHTHỂ-87

Hôm nay chúng ta cùng toàn thể Giáo Hội mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Nói đến bí tích Thanh Thể thì điểm gai gốc nhất, vần đề mầu nhiệm nhất ]à sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu nơi hình bánh và rượu. Hay nói đúng hơn là bản thể của Bánh và Rượu không còn nữa, mà đã trở thành Mình và Máu của Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Thế. Và không phải Mình và Máu vô tri bất động là lương thực như bao nhiêu lương thực khác, mà chính là Ngôi Hai Thiên Chúa sống động và hiện hữu với trọn bản tính của Người nơi bánh và rượu. Như trong số 1374 sách giáo lý nói: “nơi bí tích Thánh Thể có Mình và Máu Chúa Kitô thật sự cùng với linh hồn và thiên tính của Người, và như vậy là có Chúa Kitô trọn vẹn". Đó là đức tin Công Giáo và đó là mầu nhiệm đức tin. Đã là đối tượng của đức tin mà còn là mầu nhiệm đức tin, thì chúng ta cũng phải hiểu không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu trong bí tích thánh Thể.
Nhưng đối với những người tin vào Thiên Chúa, tin vào quyền phép của Thiên Chúa thì như Kinh Thánh đã nhiều lần lặp đi lặp lại: "Không có mà Thiên Chúa không làm được". Chúa Giêsu muốn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế và ở dưới hình thức của an đàng, để nuôi dưỡng để ban sức sống, để cho con người được kết hiệp mật thiết cùng Thiên Chúa, nên trước khi lìa thế gian Người đã lập nên bí tích Thánh Thể.
Trong bài đọc thứ hai, thánh Phao lô viết cho tín hữu thành Côrintô như sau: “Chúa Giêsu trong đêm bị nộp cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: "Các con hãy lãnh nhận mà ăn nầy là Mình Ta sẽ bị nộp các con. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta". Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén và phán? "Chén này là Tân ước trong máu Ta, mỗỉ khi các con uống, các con hãy làm việc này mở nhớ đến Ta". Chúa Giêsu đó là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Ngôi Lời Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chua từ trước vô cùng và ngay khi Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ hư không, Ngôi Lời Thiên Chúa đã phán: “Hãy có ánh sáng và ánh sáng liền có” Và Thiên Chúa toàn năng đó đã tạo dựng tất cả mọi loài mọi vật từ hư không. Bây giờ cũng chính Ngôi Lời Thiên Chúa đó nhập thể làm người sống với chúng ta, chính Người cầm bánh và rượu, vật đã có sẵn từ hoa màu ruộng đất và lao công của con người và long trọng tuyên bố. "Đây là Mình Ta. Đây Máu Ta" và đây chúng ta hãy làm để tường nhớ đến Người cho đến khi Người lại đến trong vinh quang, thì có gì để chóng ta phải bỡ ngỡ, có gì để chúng ta lấy làm khó hiểu, khó khăn tin tưởng nơi quyền phép của Thiên Chúa?
Vậy hôm nay khi mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta hãy xin Chúa một điều là cho chúng ta tin thật sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Sự hiện diện đó do tình yêu thương của Người dùng quyền phép của Thiên Chúa để ở cùng chúng ta, để cùng với chúng ta dâng lên Thiên Chúa Cha của lễ tạ ơn, đền tội đẹp lòng Thiên Chúa nhất. Và đó là niềm vui, niềm an ủi và hy vọng của chóng ta trong những ngày còn ở thế gian này được Đấng Cứu Thế ở cùng một cách hữu hình cho đến ngày Người trở lại trong vinh quang.

 

THÁNHTHỂ-88: LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA.

Palestine là vùng đất hiện vẫn còn rất đông người gia nhập theo Hồi giáo sinh sống. Một hôm: THÁNHTHỂ-88

Palestine là vùng đất hiện vẫn còn rất đông người gia nhập theo Hồi giáo sinh sống. Một hôm nọ có một vị vua với chức lãnh tụ một cộng đoàn Hồi giáo, mời một linh mục Công giáo công khai tranh luận trước sự hiện diện của tín hữu hai bên về bí tích Thánh Thể.
Ông thầy hỏi: Làm sao mà một miếng bánh nhỏ lại có thể trở thành Đức Kitô được" Vị linh mục trả lời: "Được chứ sao lại không được. Tôi xin chứng minh cho thầy biết bằng một thí dụ đơn này, nếu thầy ăn bánh, thầy có thể biến miếng bánh ấy thành thịt của thầy, có thật thế không nào? Chớ tại sao Chúa lại không khiến tấm bánh nhỏ thành thịt của Đức Kitô được?
Vị Thầy đó lại hỏi tiếp: “làm sao Đức Giêsu to lớn như thế lại có thể ở trong miếng bánh nhỏ xíu như vậy?" Linh mục trả lời: "Thầy hãy nhìn trời, nhìn núi non và làng mạc thành thị xem. Bầu trời mênh mông bát ngát, núi non cao lớn hùng vĩ, thành thị và làng mạc rộng rãi to lớn có phải thế không? Thế mà con mắt nhô xíu của thầy có thể chứa được tất cả. Nếu con mắt của Thầy làm được chuyện đó thì làm sao Thiên Chúa lại không thể cho miếng bánh nhỏ xíu chứa đựng được Chúa Kitô ".
Vị Thầy không chịu thua lại hỏi thêm: Tại sao có thể cử hành nhiều thánh lễ cùng một lần lại nhiều nơi trên thế giới, mà một thánh lễ lại có Mình và Máu Đấng Thiên Chúa của quý vị được?" Vị linh mục đáp: “Đối với Thiên Chúa không có gì là không thể làm được". Rồi như để chứng minh cho câu trả lời này một cách cụ thể hơn, vị linh mục lấy một tấm gương ném xuống đất khiến nó bể tan thành rất nhiều mảnh nhỏ. Tiếp đến, cha giơ tay chỉ cho Thầy đang trố mắt ngạc nhiên và nói: Trước đây trong tấm gương này, thầy trông thấy gương một mình có phải không nào? Và bây giờ Thầy cũng trông thấy gương mặt mình trong nhiều mảnh kiềng nhỏ, có phải vậy không? Thế thì tại sao Thiên Chúa lại không thể hiện diện tại nhiều nơi trong cùng một lúc được? "
Cuộc tranh luận giữa vị linh mục và Thầy Hồi giáo trên đây, có thể giúp chúng ta hiểu một phần nào mầu nhiệm Mình Máu thánh Chúa mà Giáo Hội cử hành mỗi ngày trong bí tích Thánh thể, và đặc biệt trong lễ mừng kính Mình Máu Thánh Chúa. Bánh và rượu là đồ ăn thức uống thông thường của các dân tộc vong Trung Đông cổ ngày xưa. Dùng bánh và rượu để tiến dâng lên Thiên Chúa như lễ vật tạ ơn và xin ơn, cũng là một thói quen của các dân tộc vùng này như chúng ta đọc trong sách Sáng thế 14,18-20. Khi thấy Abraham chiến thắng quân của Kôđôla từng là bá chủ và làm mưa gió trong vùng Siđim gần biển chết miền Nam Palestine, thì vua Sôđôm ra nghinh đón ông và thầy cả đồng thời là vua Salem là Melkisêđê đem bánh và rượu đến tế lễ và tạ ơn Thiên Chúa, đã cho Abraham tiêu diệt được lực lượng xưa nay từng đàn áp và đe dọa họ. Đồng thời ông chúc lành cho Abraham và nài xin Thiên Chúa đổ muôn ơn lành xuống trên Abraham. Bánh rượu mà thầy cả Melkisêđê dâng lên cho Thiên Chúa tối cao như lễ tế tạ ơn, là hình ảnh, là lời tiên tri báo trước bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu sẽ thành lập sau này. Như của ăn của uống nuôi dưỡng linh hồn con người, Mình Máu Thánh Chúa thánh hóa, biến đồi và trao ban cho con người cuộc sống mời thánh thiêng của chính Thiên Chúa. Đó cũng là ý nghĩa phép lạ hóa bánh ra nhiều như tường thuật trong Phúc âm thánh Luca.
Sự kiện Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi 5000 dân đã đi theo nghe Ngài giảng dạy, không chỉ là đáp ứng một nhu cầu tự nhiên của thân xác mà còn mang ý nghĩa sâu xa hơn. Nó chứng minh cho thấy Tin Mừng mà Chúa Giêsu đem đến cho con người nhằm mưu cầu hạnh phúc trọn vẹn. Con người là Con người chỉ thật sự hạnh phúc khi các nhu cầu tinh thần và vật chất trong cuộc sống được đáp ứng đầy đủ. Chỉ cung cấp thực phẩm và thỏa mãn các nhu cầu vật chất mà không đáp ứng các nhu cầu tinh thần và thiêng liêng, là biến con người trở thành súc vật, là khiến cho cuộc sống con người trở thành tàn tật. Ngược lại, chỉ thỏa mãn các đòi hỏi tâm linh mà làm ngơ trước các nhu cầu của cuộc sống vật chất, là muốn biến con người trở thành bóng ma thú vật, mà bóng ma thì không phải là người. Làm sao con người có thể hạnh phúc khi không còn là người nữa khi phải bắt buộc trở thành quái vật?
Qua tường thuật phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều, thánh sử Luca cho thấy Chúa Giêsu là vị chủ chăn nhân hiền rất thực tế, Ngài cung hiến cho dân chúng lời của Thiên Chúa là bánh hằng sống thật thần thiêng cần thiết cho con người trước, rồi sau đó Ngài trao ban cho họ thực phẩm cần thiết cho như cảu thân xác.
Ơn cứu độ mà Chúa Giêsu trao ban cho con người là ơn cứu độ toàn vẹn, giúp con người sống hạnh phúc và sống dồi dào trong cuộc sống tinh thần và trong cuộc sống vật chất. Vì thế muốn tạo dựng hạnh phúc cho con người, cân phải loại bỏ mọi chủ trương một chiều, duy vật cũng như duy tâm, và phải lấy con người toàn vẹn là gốc mới có thể hoàn thành con người gồm cả xác lẫn hồn. Được tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, được hưởng hạnh phúc và trở nên toàn thiện giống như Thiên Chúa nếu không lấy phẩm giá và ơn gọi cao quí của con người là điểm qui chiếu và nền tảng hành động, thì sẽ không có một đường lối hay chủ trương chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo nào có thể đem lời hạnh phúc cho con người.
Đó cũng là điều thánh Phaolô khẳng định với chúng ta trong thơ thứ nhất gởi tín hưu Côrintô 11. Những gì thánh nhân kể cho tín hữu biết liên quan tới bí tích Thánh Thể, phản ánh một trong những sinh hoạt và giáo huấn nòng cốt trong Tin Mừng của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi. Thánh nhân khẳng định với các tín hữu trong: bí tích Thánh Thể hay bữa tiệc chiều là một cứ hành tưởng niệm cái chết và Phục sinh của Chúa Kitô. Theo nghĩa của ngôn ngữ Kinh Thánh có nghĩa là sống trở lại biến cố cuộc tử nạn và Phục sinh của Chúa Kitô, khiến cho Chúa Kitô tử nạn sống hiện diện trong bí tích và hiện diện trong cuộc sống hằng ngày trong cách suy tư và cách hành xử của người tín hữu. Thánh Phao lô nặng lời trách cứ tín hữu Côrintô bởi vì họ đã không hiểu tường tận ý nghĩa và các hệ lụy của việc cử hành tiệc Thánh Thể. Họ tách rời lễ nghi cử hành và các đòi buộc cụ thể của cuộc sống, họ phân chia lòng tin thành hai đoạn khác nhau trong nơi cử hành phượng tự và cuộc sống thường ngày bên ngoài. Nghĩa là họ biến cuộc sống lòng tin trở thành cái vỏ bề ngoài mà không có tủy, không có nhựa sống, không có chiều sâu bên trong. Nếu Chúa Kitô đã phải đổ máu ra và chết đi vì yêu thương để đạp đổ vào bức tường ngăn cách, để hiệp nhất mọi người trong gia đình nhân loại với nhau, để giao hòa mọi người, thì cừ hành tiệc Thánh Thể có nghĩa là dân thần sống tình yêu thương hiệp nhất và hòa giải ấy một cách cụ thể ngay trong cộng đoàn phượng tự và. Sau đó trong cuộc sống gia đình và xã hội. Do đó mọi chia rẽ bất hòa, mọi kỳ thị, mọi xung khắc lãnh đạm giữa các Kitô hữu đều là những dấu chỉ phải chứng chứng minh cho thấy Kitô hữu không hiểu ý nghĩa tiệc Thánh Thể và không cử hành bí tích Thánh Thể một cách đúng đắn. Nói cách khác, thánh Phaolô muốn nhắn nhủ mỗi người trong chúng ta điều này, tiệc Thánh Thể mà Chúa Giêsu dọn cho chúng ta trong thánh lễ là một bữa tiệc trọn vẹn, bao gồm mọi nghi thức từ ca nhập lễ cho đến phép lành và thánh ca kết lễ: Do đó mỗi thành phần cộng đoàn đều phải chuẩn bị kỹ lưỡng và tích cực tham dự trọn vẹn và hết mình theo phần vụ của mình.
Thánh lễ không phải là nơi khoe khoang thời trang, trình diễn văn nghệ, thưởng thức thánh ca hoặc biểu dương tài nghệ lực lượng. Vì thế xén đầu bớt đuôi, tham dự không trọn vẹn, biến cử hành thánh lễ thành các buổi trình diễn chỉ có ca đoàn độc tấu từ đầu đến cuối, còn cộng đoàn giáo dân thì thinh lặng là chúng ta tỏ ra không hiểu gì về ý nghĩa phụng vụ và tinh thần cộng đoàn trong việc cử hành thánh lễ. Và nếu thánh lễ là một bữa tiệc, thì vị chủ tế, vị giảng thuyết, các thừa tác viên Lời Chúa cũng phải cố gắng hết mình để Lời Chúa đừng là một món ăn thừa. Tuy nhiên khi dọn tiệc cho chúng ta, Thiên Chúa muốn chúng ta ăn no say ơn thánh của Ngài. Nhưng bởi vì bí tích Thánh Thể là tiệc thánh, nên muốn tiếp nhận Chúa Giêsu cực thánh vào lòng, linh hồn chúng ta cũng phải ở trong tình trạng ơn thánh nghĩa là sạch tội trọng. Sau cùng thánh Phaolô muốn nói với chúng ta rằng, tham dự thánh lễ cũng có nghĩa là duyệt xét mọi Lời nói, tư tường và cung cách hành xử của chúng ta, xem chúng có phù hợp với tinh thần Tin Mừng và gương sống yêu thương của Chúa Giêsu hai không? Chỉ như thế, việc tham dự tiệc Thánh Thể mới sinh ích lợi và trao ban ơn thánh cứu độ cho chúng ta. .

 

THÁNHTHỂ-89: ĐỨC GIÊSU BẺ BÁNH, PHÂN PHÁT DƯ DẬT

CHO DÂN CHÚNG TRONG HOANG ĐỊA
               (Lc 9,11-17)
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Một trình thuật được sáng tỏ nhờ nội dung bản văn.
 

Luca đã đặt trình thuật hóa bánh ra nhiều vào giữa hai câu hỏi về thân thế của Đức Giêsu: THÁNHTHỂ-89

Luca đã đặt trình thuật hóa bánh ra nhiều vào giữa hai câu hỏi về thân thế của Đức Giêsu:
+ Câu hỏi của của Hêrôđê, ông không biết nghĩ sao khi nghe những dư luận rất khác nhau về Đức Giêsu. "Có kẻ nói: Đó là ông Gioan Tẩy Giả từ cõi chết sống lại. Kẻ khác nói: ông Êlia xuất hiện đấy. Kẻ khác nữa lại nói: Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại. Còn vua Hêrôđê thì nói: Vậy thì ông này là ai ta nghe đồn những chuyện như thế? Rồi vua tìm cách thấy mặt Đức Giêsu." (9,7-9).
+ Câu hỏi của chính Đức Giêsu (9,12-20): "Đám đông nói Thầy là ai?... Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?". Và Phêrô đáp lại bằng lời tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đấng Kitô con Thiên Chúa " (Tin Mừng Chúa nhật tới).
- Luca cũng đặt trình thuật này vào bước ngoặt của sứ vụ Chúa thi hành ở Galilê, khi sứ vụ sắp kết thúc. F. Prod'hom giải thích: "Tấm thảm kịch tới hồi bi thảm, một bên là nhà cầm quyền sẽ thù nghịch, đám dông hồ hởi lúc ban đầu, nhưng rồi chán nản lòng mong mỏi một Đấng Kitô trần tục không được đáp ứng; một bên là các môn đệ Đức Giêsu thì gắng làm cho họ hiểu bản chất đích thực của sứ vụ cứu thế của Người. Ta không thể đọc trình thuật về việc hóa bánh ra chiều, mà không nghĩ đến lúc này Đức Giêsu đang bị cơn khủng hoảng: Người tự thấy mình bị một số người lìa bỏ những người đã không có thể vượt lên trên những mong mỏi trần tục của họ; cũng lúc này Phêrô và các bạn được mời gọi chứng tỏ lòng tin yêu phó thác, quyết tâm đi theo Đức Giêsu.
- Sau cùng, Luca liên kết trình thuật này với việc sai mười hai ông đi truyền giáo lần đầu các ông được sai đi "công bố vương Quốc Thiên Chúa " (9,l-2). Các ông trở về và "báo cáo cho đức Giêsu những việc các ông đã làm". Rồi Đức Giêsu dẫn các ông vào nơi vắng vẻ. Chính lúc đó thì đám đông đi theo Chúa và biến cố đã xảy ra, khi mà Mười Hai trình bày cho Thầy mình biết nhu cầu của đám đông và thú nhận sự bất lực trước tình thế cấp bách như vậy, thì Đức Giêsu truyền cho các ông phân phát cho mọi người năm chiếc bánh và hai con cá. Công cuộc truyền giáo lược kết thúc bằng việc phục vụ đám đông.
3.Một trình thuật, mô tả cảnh thiếu thốn nhường chỗ cho cảnh dư dật "Ngày đã bắt đầu tàn ". Các môn đệ hỏi nhau: Chúng ta đang ở "một nơi hoang vắng ". "Lấy gì ăn đây ? ". Bởi vì có tới năm ngàn người " mà lương thực dự trữ chỉ co "năm ổ bánh và hai con cá ". Trong khi các ông nghĩ rằng tốt nhất là giải tán ho họ về nhà, thì Đức Giêsu lại trả lời: "Chính Anh em hãy ho họ ăn đi".
Trước hết, Đức tin truyền cho các ông: "Anh em hãy bảo họ ngã mình xuống. Rồi Người cầm lấy bánh, cá, đọc lời chú tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ để các ông phân phát cho đám đông. Thức ăn dư dật đến độ còn dư thừa “12 thúng” Mỗi thúng cho một ông trong nhóm mười hai.  3. Một trình thuật viết đưới ánh sáng Phục sinh.
Mọi nhà chú giải Thánh Kinh đều đặt trình thuật việc lập Bí tích Thánh Thể đối chiếu với việc hoá bánh ra nhiều. Nhưng còn có sự đối chiếu song hành nổi bật hơn nữa, đó đối chiếu với trình thuật về hai lữ khách đi Emmaus.
-Cũng như ở Luca 24,13-35 ("Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong Sách Thánh "). Việc chia sẻ Lời Chúa ("Đức Giêsu nói với họ về Nước Thiên Chúa") xảy ra trước dấu lạ bánh được chia sẻ và được hóa ra nhiều là chóp đỉnh của trình thuật.
- Cũng như ở Luca 24,29 ("Mời Ngài ở lại với chúng tôi vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn ") thì cũng vào lúc "ngày bắt đầu tàn xảy ra việc hoá bánh ra nhiều.
-Cũng như ở Luca 24,40, thì ở Luca 22,14 cũng tả tư thế của những người- tham dự là thế nằm ("anh em hãy bảo họ ngã lưng xuống ") theo phong tục của thời đó khi ăn tiệc lớn.
-Cũng như ở Luca 24,30 thì ở Luca 22,14 chúng ta gặp thấy 4 động từ đặc điểm của việc Đấng lễ "tạ ơn": Đức Giêsu cầm lấy 5 ổ bánh... ngước mắt lên trời, Đấng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ.  "Hành động mà Đức Giêsu đã làm và những lời Người đã nói lúc ấy để làm dấu chỉ" cho sứ mệnh của Người là tái lập được Thiên Chúa, đã không được hiểu ngay lúc ấy. Nhưng sau cuộc khổ nạn và "biến cố vinh quang ", "trong ánh sáng của Thánh Linh " thì cộng đoàn tiên khởi đã làm sáng tỏ điều Người thực sự đã làm và đã dạy"
4. Một trình thuật dưới dạng dụ ngôn.
Sau hết, ta nhận thấy trình thuật này được trình bày như một dụ ngôn bằng hành động mô tả sứ mệnh của Đức Giêsu và của Hội Thánh Người như thế nào.
Trước đám đông dân chúng, mải miết đi theo Người vào chốn hoang vắng này, đến nỗi quên rằng giờ đã muộn và ai ở xa với địa điểm có thể tìm được lương thực, thì Đức Giêsu là một vị Ngôn sứ thượng thặng (vượt xa những ngôn sứ trong Cựu ước, như Êlia, vị ngôn sứ đã nuôi 100 người bằng 20 ổ bánh (2V 4,44), qui tụ và nuôi sống Dân Thiên Chúa.
Trong Người, Nước Thiên Chúa đã khai mở, sự trông ngóng của muôn người được đáp ứng ngoài mong đợi. Của ăn mà Người vừa cung cấp cho họ một cách nhưng không và dư dật tràn trề, chính là ơn cứu độ của Thiên Chúa.
- Đám đông không còn tản mát và vơ, mà đã được qui tụ được tổ chức “thành từng nhóm năm mươi người" (giống như dân Israel trong sa mạc: Xh 18,21-25; Ds 31,14; Đnl I,15) làm lành một cộng đoàn cùng nhau dự tiệc, gợi nhớ đến Dân mới là Bữa tiệc cánh chung mà, theo lời Chúa hứa, "kẻ nghèo sẽ được ăn uống no nê " .
- Còn về Nhóm Mười Hai, tác vụ tông đồ các ông thành ở đây mang một ý nghĩa biểu trưng. Đức Giêsu cho các ông hợp tác cụ thể với sự nghiệp của Người ("Các anh em hãy cho họ ăn "), chia công tác cho các ông, truyền cho các ông tổ chức dân chúng ("Anh em hãy bảo họ ngả mình từng nhóm năm mươi người... "), và phân phát bánh đã hóa nhiều cách rộng rãi. ("Đức Giêsu đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn để các ông phân phát cho mọi người ").
Khi nói đến bánh dư thừa thu gom lại được "12 thúng” thì tuy trình thuật kết thúc ở đây, nhưng vẫn mở ra cho sứ mệnh phổ quát của Hội Thánh qua không gian và thời gian.
Francois Bovon kết luận: "Nhìn theo quan điểm Giáo Hội học, Đức Giêsu mời gọi sự cộng tác của các môn đệ, dù rằng trước Phục sinh, các ông chưa hoàn toàn hiểu được điều đã xảy ra. Việc làm trung gian mà Người trao cho Nhóm Mười Hai báo trước tác vụ và trách nhiệm tương lai của các ông sự phục sinh. Như vậy đã rõ, Đức tin thiết lập tác vụ như một sự phục vụ chứ không phải như một sự thống trị. Căn nguyên của tác vụ này và những thiện ích phát sinh từ đó ra, không hệ tại bản thân thừa tác viên, nhưng hệ tại Thiên Chúa, Đấng tuy chọn và bổ nhiệm. Công việc của thừa tác viên giống như đời sống của Giáo Hội có phát triển bên ngoài (I,1-16,10a) và bên trong (9,10-17) đó là phải bung ra thế giới ngoại giáo, đồng thời phải xây dựng cộng đoàn thánh thiện.
Dân Thiên Chúa vì thế phải lên đường cả ngày lẫn đêm nơi thôn quê cũng như thành thị, và sa mạc. Chắc chắn Chúa yêu thương họ, săn sóc nuôi dưỡng họ bằng cách thế không thế ngờ. Người ban tặng họ ân huệ cao quý là dư dật, nhờ Con của Người và nhờ những môn đệ mà Con Chúa đã tuyển chọn. Ơn huệ dồi dào này không (chỉ dành riêng cho nhóm dân khác. Thông hiệp vào tình yêu của Thiên Chúa không phải là hình thức loại trừ, nhưng là sự hội nhập có tính năng động"
II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một cử chỉ làm thay đổi thực tại đời ta
Đức Giêsu đang nói với đám đông về Vương quốc Thiên Chúa. Vậy mà khi vừa mới giảng về Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu liền truyền cho đám đông ngồi xuống như để đưa ra cho họ một hình ảnh cụ thể. Thế còn cử chỉ Người làm trước mắt lọ là cử chỉ nào? Đó là việc hòa bánh ra nhiều: Vua đích thật của Vương quốc chẳng có gì kiêu kỳ cả. Người biết rất rõ đám hình giả của Người đang đói. Đám đông đói lả này tượng trưng cho cả nhân loại. Người ta nói rằng đám đông ấy đông vô kể. Phần các môn đệ, các ông nghĩ là nên giải tán để cho họ đi vào các làng lân cận mà lo kiếm của ăn. Nhưng Đức Giêsu lại nghĩ khác. Người yêu cầu cho họ ngồi xuống. Chính người sắp lo liệu cho đám dân này mà Người lại làm công việc đó một cách khiêm tốn. Người đã không coi chuyện năm chiếc bánh và hai con cá nghèo nàn mà các môn đệ nói cho biết là huyện nghiêm chỉnh chăng? Chính những ổ bánh và những con cá này mà Người hóa ra nhiều đấy.
Chúng ta cũng được biết trong trí của Đức Giêsu (việc hóa bánh ra nhiều) là dấu lạ loan báo một của ăn khác. Nếu ta vận dụng ý nghĩa của cử chỉ Chúa làm, thì ta có thể cả quyết rằng phép Thánh Thể cũng như phép lạ ta vừa chứng kiến không phải là một trò ảo thuật. Việc làm của Đức Giêsu dựa trên việc hiến dâng 5 ổ bánh và 2 con cá. Đó chính là vai trò hết sức chủ động dành cho ta trong phép Thánh Thể Đức Kitô muốn ghép hồng ân Thánh Thể vào chính bánh và cá cũng như cuộc sống của ta. Thánh Phao lô sẽ nói lên điều đó. Chúng ta là thân thể của Đức Kitô. Vì thế, trong khi cử hành bí tích Thánh Thể cũng như mọi bí tích khác, chính chúng ta cũn phải cống hiến 5 ổ bánh và 2 con cá mà ta có. Những thứ đó chẳng là gì sánh với đám đông đang đói lả ngày nay. Tuy nhiên, nếu không có những thứ đó, Bí tích Thánh Thể sẽ chỉ còn là một trò ảo thuật. Đức Giêsu, với quyền năng của  Người, Người sẽ biến đổi, sẽ hiến thánh sự nghèo nàn củ những việc ta làm và thực tại cuộc sống của ta. 
Nước Thiên Chúa sẽ hoàn tất cách tuyệt hảo những gì mà con người có can đảm cống hiến cho người nghèo đang van xin, cho người đau yếu đang rên tì, cho tù nhân đang đòi hỏi công lý, cho người cùng khổ đang đau đớn và than khó "Điều gì anh em làm cho người bé nhỏ nhất trong các anh em Ta đây, là đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40)".
2. Lễ Mình Máu Chúa Kitô
(Fête-Dieu, tạp chí “Célébrer" do CNPL, số 219, trg 42)
Đức Giêsu tiếp đón đám đông dân chúng. Cụm từ đó đi liền trước và dẫn vào trình thuật về bánh được phân phát trong Tin Mừng Luca. Bí tích Thánh Thể, chính là việc Thiên Chúa tiếp nhận chúng ta vào bàn ăn của Người, và việc Người đón tiếp thì rất cụ thể: trong khung cảnh một bữa ăn để ta có cái ăn.
Thiên Chúa tiếp đón chúng ta ở bàn tiệc sự sống của Người. Bánh và rượu được ban để làm cho sự sống của Chúa hoạt động trong ta "trong sinh hoạt thường ngày". Lễ Mình Máu Chúa Kitô còn vọng lại âm thanh của mùa Phục sinh vừa mới kết thúc, mầu nhiệm Thiên Chúa được tỏ ra trong việc Đức Giêsu chết và sống lại vì chúng ta. Lễ này cũng nhắc lại sự hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa, mà ta vừa mới cử hành Chúa nhật vừa qua trong lễ Chúa Ba Ngôi Đức Giêsu tiếp nhận ta vào sự sống của chính Thiên Chúa. Khi ăn bánh và uống chén rượu, chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là giờ phút để ta "cám ơn ", tạ ơn Thiên Chúa.
Trong lễ Mình Máu Chúa (Fête-dieu).... Thiên Chúa sẽ hoan hỉ khi mọi con cái loài người đều có chỗ ngồi và có của ăn. Và trong "sinh hoạt thường ngày", ai sẽ được trao nhiệm vụ đón tiếp đám đông để nói cho họ về Nước Thiên Chúa? “Anh em hãy cho họ ăn đi". Trọng trách được trao cho các môn đệ ân huệ kéo theo nhiệm vụ. Nếu ân huệ là cụ thể, thì nhiệm vụ cũng vậy thôi. Chúa không ngừng hướng dẫn Hội Thánh Người đến với những người đang đói.

 

THÁNHTHỂ-90: GIỮ NHỮNG DỰ TRỮ CỦA MÌNH HAY TĂNG SỐ LÊN

Đây là một tường thuật rất quen thuộc: phép lạ hóa bánh ra nhiều. Một tường thuật gây thán: THÁNHTHỂ-90

Đây là một tường thuật rất quen thuộc: phép lạ hóa bánh ra nhiều. Một tường thuật gây thán phục hoặc làm cho ta phân vân, nghi ngờ. Chúng ta hãy đi thẳng vào trọng tâm của những gì xẩy ra ngày hôm đó trên bờ hồ Tibêria, gần Caphanaum. Chúa Giêsu dạy về luật sống của Ngài. Vì vậy nên chúng ta dùng ba câu có thể đánh dấu ba phần của bài học: "ở đây người ta không làm gì được cả ", "dốc túi ra " và "hãy đi hãy tăng trưởng".
đây người ta không làm gì được cả '?
Phần thứ nhất của bài tường thuật cho thấy trước hết sự tỉnh thức và tính thực tế của các tông đồ: Trong lúc Chúa Giêsu giảng dạy, các ông thấy mặt trời xế bóng ... và bụng đói. Phản ứng của các ông vừa khôn ngoan vừa đa nghi. Dĩ nhiên nên rời xa chốn này và để mỗi người tự lo liệu. Trái lại, người ta không thể không nghĩ rằng các tông đồ muốn phủi tay một cách khéo léo. Tôi tưởng tượng các ông đang bàn tính với nhau: "Chúng ta xong việc rồi, chúng ta đã làm xong những gì chúng ta phải làm ..." Ở  đây là một nơi vắng vẻ ... Ở  đây người ta không thể làm gì được cả...".
"Ở đây ta không làm gì được cả ". Tôi nhớ đã nói câu này hoặc một câu giống như vậy: "Tôi làm việc trong nhà xứ, chứ không phải trong một văn phòng công tác xã hội. Những người làm cha mẹ cũng nói như thế theo cách của họ: "Cha mẹ đã làm hết sức cho con rồi đó, bây giờ con tự lo lấy". Bác sĩ, cô tiếp tân, nhân viên văn phòng thông tin mỗi người có cách để cho người khác thấy giới hạn của mình hoặc để tránh né vấn đề.
Đây là một lời thách thức đầu tiên phát xuất từ bài tường thuật này, và nó chất vấn sự khôn ngoan, tính thực tế, tính thận trọng của chúng ta. Trước một vấn đề lớn, trước một tình hình đòi hỏi những cố gắng mới mẻ, trước một lời mời gọi bất ngờ và quan trọng, chúng ta lại chẳng có phản xạ muốn tránh né, muốn nói rằng điều đó không liên can đến chúng ta, vượt quá thẩm quyền của chúng ta, ở ngoài khả năng của chúng ta ư ?
"Hãy dốc túi '?
Phần thứ nhì của bài tường thuật kể lại phản ứng của Chúa Giêsu, một phản ứng khá bất ngờ: các con hãy lo kiếm thức ăn cho họ". Trong Tin mưng Luca, tác giả bỏ qua câu hỏi đầu tiên: "Các con có bao nhiêu bánh ?". Tuy nhiên câu trả lời vẫn thế: "Chúng con không có đủ: chúng con chỉ có năm ổ bánh và hai con cá: và nếu Thầy cho chúng con một chút thời giờ, chúng con có thể ra phố xem sao ...".
Tôi thích lối trình bày của Tin mừng thánh Luca, rất trực tiếp, thúc bách, không để cho nghỉ ngơi: Các con hãy lo kiếm thức ăn cho họ ... đi đi, hãy dốc túi ... bao nhiêu dự trữ đem ra hết, hãy đáp ứng tình hình ngay tức khắc, với những gì các con có, theo những gì các con nghĩ ra. Chúa Giêsu muốn kiểm kê thiện chí, sự sẵn sàng, sáng kiến của các tông đồ. Thiện chí, sự sẵn sàng, sáng kiến ... những danh từ bắt chúng ta hành động, những danh từ về sự phục vụ, những danh từ gây bực bội, phiền hà. Nhưng đồng thời là những danh từ nói lên niềm tin tưởng, cậy trông, sự vươn lên. Những danh từ về sự siêu thoát, tự do, phó thác: Đó là tất cả những dự trữ của tôi, đó là tất cả những gì tôi có trong túi, đó là tất cả những gì lòng tôi chứa đựng.
"Hãy đi hãy tăng trưởng .
Phần thứ ba của tường thuật về phép lạ hóa bánh đưa chúng ta vào mầu nhiệm thực sự của Kitô giáo: Nơi đây ta gặp được mặc khải về con đường sống. Trong phần này mọi sự đều phong phú: những nhóm gồm năm chục hoặc một trăm người, mọi người đều ăn no nê và còn dư nữa.
Sự phong phú dồi dào này không tự nhiên mà cỏ được. Các tông đồ phải lựa chọn: hoặc là những của dự trữ hoặc là hiến dâng tất cả khả năng của các ông. Sự sống sung mãn bao giờ cũng xuất hiện từ sự lựa chọn này. Chúng ta sẽ thấy mình đứng trước một thứ bánh nhiệm mầu, một thứ bánh sự sống. Khi tôn thờ bánh này, khi lãnh nhận bánh này ta đừng quên rằng bánh Thánh Thể là sản phẩm có được từ sự lựa chọn của Chúa Giêsu: Ngài  đã trao tất cả những dự trữ, tất cả sự sống của Ngài để chúng ta sử dụng cho đến cùng, cho đến chết. Nhận lấy bánh này tức là cùng lựa chọn như vậy để được sống.
CAMILLE GAGNON

 

THÁNHTHỂ-91: SLC - Thánh Thể

Nói đến chuyện ăn thịt người đã là một việc ghê tởm, phương chi còn nói đến chuyện uống: THÁNHTHỂ-91

Nói đến chuyện ăn thịt người đã là một việc ghê tởm, phương chi còn nói đến chuyện uống máu người. Nhất là đối với dân Do Thái, máu được coi như là chính sự sống của con người và chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền trên máu huyết, không những của con người mà còn của mọi loài động vật. Đó chính là lý do dân Do Thái không ăn máu huyết, thậm chí còn kiêng cả thịt thú bị chết ngạt, và họ chỉ ăn những thú thịt đã làm sạch không còn tí máu nào sót lại.
Vì thế phản ứng của những người nghe Chúa Giêsu nói: Thật Tôi bảo thật các ông nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình, là một phản ứng dễ hiểu. Đúng là những lời lẽ chối tai không ai nghe nổi. Nhưng đó lại là những lời thực tế nhất, khoa học nhất bởi vì nếu Chúa Giêsu muốn trở nên sự sống của nhân loại, Ngài phải để cho thiên hạ ăn thịt của Ngài. Chúng ta không thể sống nếu không ăn. Và khi chúng ta ăn cái gì thì cái đó trở nên máu thịt chúng ta, trở nên chính chúng ta.
Cũng vậy, vì muốn cho chúng ta được sống và sống bởi chính Ngài, Chúa Giêsu đã trở nên bánh cho chúng ta ăn. Hơn thế nữa, Bí tích Thánh Thể còn là bí tích của hiệp thông, vì nhờ ăn thịt và uống máu Ngài, chúng ta trở nên Ngài và Ngài trở nên chúng ta. Nghĩa là Ngài trở nên thịt máu chúng ta và chúng ta sống thực sự bởi Ngài. Ngài có thể nói rằng thịt máu chúng ta, sự sống chúng ta là thịt máu, là sự sống của Ngài.
Thế nhưng sự hiệp thông ấy không chỉ dừng lại ở mối tương quan giữa chúng ta với Chúa Giêsu mà thôi. Thực vậy, vì không phải chỉ có một mình tôi ăn thịt và uống máu Ngài, mà cả cộng đoàn dân Chúa đều tham dự vào bàn tiệc của Đức Kitô: bởi vì chỉ có tấm bánh và tất cả chúng ta cùng chia sẻ nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.
Như thế, Bí tích Thánh Thể không phải chỉ kết hiệp chúng ta với Thiên Chúa mà còn kết hiệp chúng ta với nhau. Tuy nhiên, không thiếu gì những kẻ rước lễ trong tình trạng chiến tranh lạnh với người khác, đôi khi với cả gia đình, với cả cộng đoàn. Có những cặp vợ chồng ly thân, thậm chí ly dị nhau mà vẫn lên rước lễ. Họ đâu có hiểu rằng làm như vậy là họ đóng đinh Chúa Giêsu, là xé nát thân thể của Ngài ? Họ đâu có hiểu rằng làm như thế có nghĩa là kéo Chúa về phe mình, là cấm vận không cho Ngài đến được với đối thủ của họ ? Bởi vì làm thế nào Đức Kitô có thể hiệp nhất với chúng ta khi chính chúng ta lại chia rẽ và không chấp nhận nhau.
Nhìn vào tình trạng Giáo Hội cũng vậy, ngay trong nội bộ cộng đoàn này, sự hiệp nhất đôi khi cũng chỉ có tính cách chung chung, hình thức hay lý thuyết mà thôi. Như thế bàn tiệc Thánh Thể có ý nghĩa gì ? Người ta nói Thánh Thể làm ra Giáo Hội và Giáo Hội làm ra Thánh Thể, nghĩa là cử hành Thánh Thể. Nhưng một Giáo Hội thiếu hợp nhất thì có thể làm ra Thánh Thể được hay không ? Và Thánh Thể có làm ra Giáo Hội được hay không khi mà các tín hữu không đồng tâm nhất trí với nhau. Khi mỗi người trong một gia đình không thể ngồi quanh một bàn ăn, hay khi tấm bánh nồi cơm bị phân tán, quẳng đi mỗi chỗ một mẩu một hạt, thì liệu còn có thể gọi đó là một bữa cơm gia đình hay không ?
Hãy nhớ rằng Thánh thể không phải chỉ kết hiệp chúng ta lại với Chúa, mà còn kết hiệp chúng ta lại với nhau, để làm thành một đoàn chiên duy nhất.

 

THÁNHTHỂ-92: CHÚA NHẬT MÌNH VÀ MÁU THÁNH CHÚA KITÔ

Dẫn vào Thánh lễ và sám hối
 

Chúng ta là Dân Thiên Chúa đang trên hành trình đức tin tiến về miền đất hứa của sự sống đời: THÁNHTHỂ-92

Chúng ta là Dân Thiên Chúa đang trên hành trình đức tin tiến về miền đất hứa của sự sống đời đời. Chúng ta cần lương thực trên hành trình đó. Chúng ta đón nhận lương thực này nơi bí tích Thánh Thể. Nơi đây chúng ta được nuôi với thức ăn quý giá vượt xa manna là thứ đã cứu sống dân Israel trong hoang địa. Nơi đây Chúa Kitô nuôi ta bằng Lời Chúa và bằng Bánh Hằng Sống.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa nuôi tâm trí chúng con bằng bánh đức tin. Xin Chúa thương xót chúng con.
Chúa nuôi tinh thần chúng con bằng bánh hy vọng. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Chúa nuôi tâm hồn chúng con bằng bánh tình yêu. Xin Chúa thương xót chúng con.
Dẫn vào các bài đọc
Bài đọc 1: St 14,18-20
Menkixêđê, vua - tư tế ngoại giáo, trao tặng Ápram bánh và rượu. Theo truyền thống Kitô giáo, bánh và rượu này là tiên trưng cho bí tích Thánh Thể. 
Bài đọc 2: 1 Cr 11,23-26
Khi chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta không chỉ đơn thuần thực hiện việc Chúa Kitô hiện diện, nhưng còn tái diễn sự chết mà qua đó Người đã cứu độ chúng ta.
Tin Mừng: Lc 9,11-17
Chúa Giêsu ban bữa ăn lạ thường cho những ai đi theo Người vào nơi hoang vắng. Trong bí tích Thánh Thể, Giáo Hội tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu - giảng dạy, chữa lành và nuôi dưỡng Dân của Chúa.
Bài giảng 1
THỨC ĂN CHÚA GIÊSU BAN CHO CHÚNG TA
Ít là có hai lý do đúng đắn để Chúa Giêsu giải tán đám đông dân chúng. Lý do thứ nhất, Hêrôđê (kẻ đã từng giết Gioan Tẩy Giả, người anh em họ của Chúa Giêsu) đang để ý và tìm cách gặp mặt Chúa Giêsu. Vì thế rõ ràng đây là lúc cần kín đáo tránh sự tập trung của công chúng. Và lý do thứ hai, các tông đồ cần thời gian nghỉ ngơi, vì họ vừa mới trở về sau những ngày đi rao giảng.
 Nhưng Chúa Giêsu đã không giải tán họ, Người nhìn họ với lòng thương yêu, và thấy họ như đàn chiên không người chăn dắt. Vì thế, Người tụ tập họ lại quanh Người. Hình ảnh Chúa Giêsu được bao quanh bởi hơn năm ngàn người. Họ bị cuốn hút bởi sức hấp dẫn từ những lời của Chúa và lòng nhiệt huyết từ chính con người của Người. Điều trước tiên Người làm là giảng dạy cho họ biết về Nước Thiên Chúa. Sau đó Người chữa lành cho những ai đau yếu.
Vào lúc công việc đã xong, trời đã về chiều và mọi người cũng đã đói. Các môn đệ giục Người giải tán dân chúng. Nhưng Người đã không để cho dân chúng ra về với bụng đói. Người đã làm phép lạ để nuôi họ. Dân chúng vui sướng biết bao trên đường trở về nhà.
Phép lạ hoá bánh ra nhiều, khi Chúa cầm lấy bánh dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các tông đồ để phân phát nuôi đám đông dân chúng, là hình ảnh tiên trưng cho sự dồi dào của tấm bánh duy nhất Người ban cho chúng ta trong bí tích Thánh Thể.
Vào ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Giêsu sống lại, các Kitô hữu tiên khởi đã tham dự "nghi lễ bẻ bánh". Từ đó cho đến ngày nay, việc cử hành bí tích Thánh Thể đã được tiếp tục, để đến ngày hôm nay chúng ta gặp thấy việc cử hành này ở mọi nơi trong Giáo Hội với cùng một cấu trúc nền tảng. Bí tích Thánh Thể vẫn mãi là trung tâm của đời sống Giáo Hội.
Chúng ta là Dân mới của Thiên Chúa. Chúa Giêsu hiện diện giữa chúng ta. Đây, chúng ta nghe tiếng của Người khi Tin Mừng được đọc lên. Lời của Người không phải là những từ ngữ chết. Đó là lời sống động đem đến sự an ủi, niềm hứng khởi và đưa ra những thách thức cho ta.
Rồi thì, nơi đây Chúa Giêsu chữa lành những vết thương tội lỗi và chia rẽ. Người tha thứ tội lỗi cho ta và chữa lành những vết thương mà chúng để lại. Người cũng chữa lành chúng ta khỏi lối sống biệt lập. Tất cả chúng ta được chữa lành khỏi sự ích kỷ và thờ ơ với người khác. Bí tích Thánh Thể nối kết chúng ta thành cộng đoàn của tình yêu thương.
Cuối cùng, nơi đây chúng ta được nuôi dưỡng bằng chính của ăn là bí tích Thánh Thể. "Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53). Kết thúc Thánh lễ chúng ta không ra về một cách thường tình, nhưng chúng ta được sai đi sinh lợi cho cuộc sống nơi những người khác.
Bởi thế từ cử hành đến cử hành, khi chúng ta công bố mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu "cho tới ngày Người lại đến", đoàn lữ hành Dân Chúa tiến đến bàn tiệc Nước Trời, khi tất cả những ai được tuyển chọn sẽ ngồi vào dự bàn tiệc Nước Trời.
Người ta hỏi một cụ già Pêru không biết đọc, không biết viết rằng: “Thánh lễ có ý nghĩa gì đối với ông ?” Ông trả lời: “Thánh lễ nói với tôi rằng tôi thật quan trọng.”
Bài giảng 2
NHỚ ĐẾN THẦY
Khi này hay khi khác, chúng ta đã từng bị phớt lờ hoặc bị bỏ qua. Đây có thể là một nỗi đau. Chúng ta cảm thấy công việc của ta không được nhìn nhận, và chính bản thân ta bị đối xử xem chừng như chúng ta không được nhìn nhận đúng giá trị của mình.
Nhưng có những điều còn tệ hơn nữa cũng đã xảy đến cho ta hơn cả việc chúng ta bị phớt lờ. Chúng ta bị quên lãng. Đây mới là nỗi đau đớn thật sự. Ta bị đối xử không chỉ như kẻ có giá trị kém, mà hầu như ta không hề được đếm xỉa gì đến. Cứ như là ta chẳng hiện hữu trên đời này.
Tất cả chúng ta đều mong muốn được người khác nhớ đến ta. Người ta nói rằng con người không sợ chết nhiều cho bằng sợ bị quên lãng. Bị quên lãng là bị cư xử như là bạn đã chẳng có ý nghĩa gì, rằng bạn chẳng chút quan trọng nào đối với người khác. Cứ như là bạn đã chưa từng hiện hữu.
 Chúa Giêsu cũng muốn được nhớ đến. Vào đêm trước khi Người chịu chết,  khi ngồi đồng bàn với các bạn hữu của Người, Người cầm bánh và nói: “Đây là Mình Thầy phó nộp cho các con.” Sau đó Người cầm chén ruợu và nói: “Đây là Máu Thầy … Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.”
Dĩ nhiên, Chúa Giêsu không chỉ nghĩ đến việc "nhớ đến Người" cho riêng bản thân Người. Người đang nghĩ về các môn đệ của Người. Họ cũng cần phải nhớ đến Người. Với tình yêu mà Người dành cho các môn đệ, Người đã để lại cho họ một phương cách đặc biệt để nhớ đến Người, ấy là bí tích Thánh Thể.
Mỗi khi chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta nhắc nhớ lại một số những điều phi thường mà Chúa Giêsu đã nói và đã làm. Chúng ta suy gẫm những điều ấy và cố gắng áp dụng vào trong cuộc sống của ta. Nhưng bí tích Thánh Thể còn trỗi vượt trên cả những điều phi thường ấy.
Khi chúng ta nhớ đến Người trong khi cử hành Thánh Thể, Người hiện diện giữa chúng ta. Không phải là sự hiện diện thể lý, tuy thế vẫn là một sự hiện diện đích thật.
Qua bí tích Thánh Thể, một mối tương quan thiêng liêng được thiết lập giữa chúng ta, với hiệu quả là chúng ta có thể tiến sâu vào mối thâm tình với Chúa Giêsu hơn cả khi nếu Người hiện diện bằng thể lý giữa chứng ta. Chúng ta không chỉ đơn thuần liên lạc với Người, nhưng chúng ta còn hiệp thông với Người, một sự hiệp thông thánh thiêng.
Tưởng nhớ là một năng lực quý báu. Nó nối kết chúng ta với con người và với những sự kiện mà chúng không còn có mặt nữa. Nếu chúng ta ấp ủ những kỷ niệm về những người yêu thương, họ trở nên hiện diện sống động với ta. Họ không còn chỉ ở trong trí nhớ nhưng đã hiện diện thực sự, một sự hiện diện mà chúng ta cảm nghiệm thấy còn hơn cả khi chúng ta nhìn. Bằng việc nhớ đến họ, chúng ta tiếp tục thu hoạch vụ mùa mà chúng đã được gieo vào trong chúng ta.
Làm thế nào để sinh nhiều hoa trái, ấy là chúng ta phải nhớ đến Chúa Giêsu, đặc biệt bằng cách thức Người đã dạy chúng ta để nhớ đến Người.
 Bài giảng 3
VÀO ĐÊM NGƯỜI ĐÃ BỊ PHẢN BỘI
Đêm trước khi Chúa chịu chết, Chúa Giêsu ngồi đồng bàn với các môn đệ. Nhóm nhỏ tập họp quanh bàn ám chỉ đến sự gần gũi, thân mật, ấm áp, chân thành, yêu thương. Nhưng nếu sự phản bội xâm nhập vào trong khung cảnh này, nó sẽ gây đau đớn hơn, nó sẽ làm tổn thương nhiều hơn. Khi những vết rạn nứt xuất hiện nơi những người vốn rất thân thiết với nhau, thì khó xử trí hơn là với những người không thân thiết bằng.
Giuđa có mặt. Tại sao trong bữa Tiệc Ly, ông không biết ngượng khi ông đã sắp đặt trong đầu việc nộp Thầy Giêsu. Hầu như chắc chắn ông muốn tạo ấn tượng rằng mọi điều vẫn bình thường, và bởi thế Chúa Giêsu sẽ không nghi ngờ điều gì cả.
Bài tường thuật của thánh Phaolô về bữa Tiệc Ly là bản văn cổ nhất chúng ta có được trong Tân Ước. Ngài nói: "Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em ; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy."
Một câu nói làm chúng ta sửng sốt. Câu nói: "Trong đêm bị nộp". Vào cái đêm của mọi đêm. Thay vì tách biệt khỏi các tông đồ, Chúa Giêsu ban cho các ông dấu chỉ tình yêu của Người: Người ngồi dự bữa tiệc thân mật với họ. Sau đó Người nói: "Hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Đây là cách thức họ nhớ đến Người. Vào đêm này, khi một người trong số họ đã phản bội Người.
Chúng ta đừng nghĩ rằng Chúa Giêsu không đau khổ bởi sự phản bội của Giuđa. Người đau khổ và hết sức đau khổ về điều này. Thánh Gioan nói rằng khi Chúa Giêsu bắt đầu nói về những kẻ phản bội Người, "Người cảm thấy tâm thần xao xuyến". Và không ngạc nhiên. Người đã đích thân chọn và huấn luyện Giuđa. Giuđa đã từng nghe những điều Chúa giảng dạy và đã từng mục kích những phép lạ Người làm. Ông là một thành viên trong nhóm giật dây. Giờ đây ông định đem nộp Thầy. Sự phản bội của một người bạn gây tổn thương nhiều hơn và khó xử trí hơn sự phản bội của một kẻ thù.
Xử trí với sự phản bội quả là gay go. Tuy nhiên, những kẻ đã từng bị phản bội có thể cảm nhận được sự an ủi từ thực tế là Chúa Giêsu biết họ đã phải chịu đựng như thế nào. Họ không có tham vọng rằng sẽ không bị tác động bởi những biến cố đó. Chúa Giêsu cho thấy Người đã đau khổ đến thế nào, và Người đã phải trút cạn tâm sự với các tông đồ. Vấn đề là chúng ta phải xử lý nỗi đau ra sao. Nó có thể khiến chúng ta cay đắng và cám dỗ chúng ta tìm cách trả thù.
Mặc dù cảm thấy đau khổ, Chúa Giêsu đã không giáng trả vào Giuđa. Người từ chối ngay cả việc vạch trần ông ta trước mọi người. Nhưng bằng việc trao cho ông ta miếng bánh (một nghĩa cử của tình bạn), Người để cho ông ta biết rằng Người đã biết rõ điều ông ấy định làm. Từ chối việc chỉ thẳng vào ông, Người đã để cánh cửa mở cho ông để ông trở về với nhóm.
Giuđa cũng làm đau khổ cho các tông đồ khác. Dù sao, ông cũng là một trong số các tông đồ. Các tông đồ đã tin tưởng ông, và đã từng chia sẻ tất cả với ông. Họ nghĩ rằng họ biết ông, và rồi hoá ra ông là kẻ phản bội. Phản bội Chúa Giêsu, đồng thời ông cũng phản bội các tông đồ khác.
Chúng ta không nhớ đêm này vì việc Giuđa phản bội. Chúng ta nhớ đến món quà tặng mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta bất chấp kẻ phản bội đó. Bí tích Thánh Thể sẽ giúp chúng ta phục hồi lại từ bất cứ sự phản bội nào mà chúng ta đã từng chịu đau khổ từ nơi người khác. Và sẽ giúp ta tránh sự phản bội với bất cứ ai.
 LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta thi hành điều mà Chúa Giêsu đã truyền dạy chúng ta. Giờ đây chúng ta hãy cầu nguyện, xin những điều cần thiết cho chúng ta hầu xứng đáng trở nên những môn đệ của Người.
Xướng: Cầu nguyện cho Giáo Hội, để bí tích Thánh Thể tập họp các thành viên trong Giáo Hội thành cộng đoàn yêu thương.
Xướng: Cầu nguyện cho các quốc gia giàu có biết chia sẻ cho các nước nghèo, để không còn cảnh con cái Chúa bị đói khát.
Xướng: Cầu nguyện cho những ai đang thất vọng về những người anh chị em, những ai đang sống trong đau khổ và cay đắng.
Xướng: Cầu nguyện cho những ai đang hiện diện nơi đây, để chúng ta một khi đã cùng nhau chia sẻ một tấm bánh hằng sống được trở nên tràn đầy tình yêu như Đức Kitô.
Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa uy quyền và yêu thương, xin đổ tràn tâm hồn chúng con tình yêu của Ngài. Xin ban cho chúng con ân sủng để chỗi dậy khỏi sự yếu đuối của con người, và gìn giữ chúng con luôn trung thành với Chúa và với anh em. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 

THÁNHTHỂ-93: TẠi SAO ! Mark Link S.J.

Bài đọc: Stk 14 ; 18-20 ; 1 Cr 11 ; 23-26 ; Lc 9: 11-17
Chủ đề: Trên sườn đồi đầy những người trẻ đang đói khát mà chẳng được ai cho ăn uống…
 

Một linh mục người Mỹ được mời tham dự cuộc gặp gỡ giới trẻ tại Canada. Khoảng 700 thanh: THÁNHTHỂ-93

Một linh mục người Mỹ được mời tham dự cuộc gặp gỡ giới trẻ tại Canada. Khoảng 700 thanh niên cắm trại trong một công viên rộng lớn vào cuối tuần. Chương trình của họ bao gồm những cuộc hội thảo bàn về các chủ đề như: Gặp gỡ, luân lý tính dục, ma túy, đòi quyền bình đẳng, và vấn đề suy niệm. Ban tổ chức cứ nghĩ rằng hội thảo về vấn đề suy niệm chắc sẽ không được mấy người hưởng ứng, thế mà thật hết sức ngạc nhiên, chủ đề này lại được chú tâm nhất trong cuộc hội thảo cuối tuần. Vị linh mục ghi nhận rằng cuộc hội thảo về chủ đề này được sự hiện diện của Chúa Thánh Linh bao trùm. Ngài mời 200 người tham dự cùng cầu nguyện chung với nhau và họ đã nhiệt tình nhận lời. Về sau vị linh mục nói rằng: “Đây là một trong những Kinh nghiệm cảm động nhất trong tất cả những năm thi hành sứ vụ linh mục của tôi”. Đoạn Ngài ám chỉ hình ảnh được ghi trong bài Phúc Âm hôm nay và nói: “Trên sườn đồi nọ có một đám đông, thanh niên thèm ăn mà chẳng được ai cho ăn, muốn cầu nguyện mà chẳng ai chỉ vẽ cho”. Nhận xét trên của vị linh mục chỉ là sự mô phỏng lại điều Chúa Giêsu nhắn nhủ trong Phúc Âm Thánh Matthêu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; các ngươi hãy xin chủ ruộng sai thợ đến làm việc trong thửa ruộng của mình” (Mt 9: 37-38)
Tại sao ngày nay có ít thợ chịu đến làm việc cho mùa gặt như thế? tại sao ngày nay ít người trẻ chịu đáp lại tiếng Chúa mời gọi sống đời tu sĩ như thế? Tại sao chưa bao giờ trong lịch sử có nhiều người chịu sống độc thân như thời bây giờ, nhưng đồng thời chưa thời nào lại có ít ơn kêu gọi như hiện nay? Nhân dịp lễ Mình Thánh Chúa Kitô hôm nay, với tư cách là chi thể của Ngài, chúng ta hãy nghiêm chỉnh suy nghĩ về vấn đề nhức nhối này.
Có thể một trong những lý do thiếu ơn kêu gọi là vì chúng ta đã không biết nghe lời khuyên của Chúa Giêsu: “Các ngươi hãy cầu xin chủ ruộng sai thợ đến làm việc trong thửa ruộng mình”. Chúa Giêsu đã cho chúng ta một điều cần thiết để quy tụ thợ đến làm cho mùa gặt, thế mà không chừng chúng ta đã lơ là không biết sử dụng phương cách hữu hiệu nền tảng nhất, đó là lời cầu nguyện. Chẳng hạn, có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên cầu nguyện cho các thanh thiếu niên biết trân trọng ơn kêu gọi làm nữ tu, tu sĩ, hay làm linh mục? có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên cầu nguyện cho các bậc phụ huynh biết dấn thân tìm kiếm thợ cho mùa gặt bằng cách cầu nguyện, giúp đỡ tài chính, hoặc một hành vi hỗ trợ nào đó? cụ thể hơn, lần sau cùng chúng ta cầu xin “chủ sai thợ đến gặt” xảy ra cách đây bao lâu? Nếu cách đây hơn 2 ngày thì kể là quá lâu rồi đấy! chúng ta cần phải cầu xin điều ấy mỗi ngày mới phải.
Nhưng ngày nay còn lý do nào khiến ơn kêu gọi bị thiếu hụt nữa không? chẳng hạn như gia đình ngày nay có còn là nơi ươm hạt giống cho ơn kêu gọi như trước kia không? Nói một cách rõ hơn, cách đây bao lâu chúng ta đã bàn với con em về sự dấn thân trọn đời làm nữ tu, làm sư huynh, hoặc làm linh mục?  hay lần cuối cùng chúng ta yêu cầu con em mình cầu xin cho ơn gọi gia tăng trong Giáo hội xảy ra cách đây bao lâu? Và ngoài việc kêu gọi con cái cầu nguyện cho ơn thiên triệu, chúng ta còn phải thúc giục chúng biết quí chuộng trân trọng ơn ấy nữa.
Cuối cùng, chúng ta xét đến lý do thứ ba khiến ngày nay thiếu hụt ơn kêu gọi. Lý do này liệu chúng ta là một thanh thiếu niên, có bao giờ chúng ta có ý định dấn thân theo Chúa Giêsu sống cuộc đời tu sĩ không? Nếu không thì tại sao ? có phải giống như trường hợp chàng thanh niên giàu có trong Phúc Âm không?  Có phải chúng ta quí chuộng của cải vật chất đời này hơn hạnh phúc đời sau chăng? bản thân tôi, tôi không nghĩ rằng đa số đám thanh thiếu niên ngày nay không thích đi tu mấy là vì họ đam mê của cải vật chất đời này, trái lại tôi cho rằng họ rất quảng đại trong vấn đề vật chất của cải là khác. Tôi cho rằng nguyên nhân chính là do người lớn chúng ta. Thử hỏi bao nhiêu người lớn chúng ta đã từng mời gọi một thanh thiếu niên để ý đi theo ơn gọi? Tôi tin chắc lỗi lầm không do nơi đám trẻ mà ở nơi chính chúng ta.
Như thế nhân dịp lễ Mình Thánh Chúa Kitô hôm nay, tôi tha thiết mời gọi những anh chị em còn độc thân thuộc cộng đoàn này hãy nỗ lực làm một điều gì đó trong tuần lễ tới, chẳng hạn gia tăng thêm lời cầu xin Chúa Thánh Linh soi đường dẫn lối các bạn trong việc lựa chọn cuộc sống dấn thân trọn đời cho Chúa và tôi cũng tha thiết mời gọi các bậc cha mẹ các bạn ấy tăng lời cầu xin Chúa Thánh Linh hướng dẫn con cái họ lựa chọn cuộc sống dấn thân trọn đời phụng sự Chúa. Tôi tha thiết kêu mời tất cả mọi người cầu nguyện đặc biệt cho ơn gọi trong dịp lễ đặc biệt mừng kính Mình Thánh Chúa Kitô hôm nay.
Chúng ta hãy kết thúc với câu chuyện sau:
Khi đến những vùng xa lạ rao giảng Tin Mừng các thừa sai thường xuyên báo cáo về cho bề trên họ chẳng những diễn tiến của công việc mà còn cả toàn bộ đời sống riêng của họ nữa. Đây là một đoạn trích trong bản tường trình của thánh Phanxicô gởi cho vị bề trên Dòng Tên của Ngài: “Rất nhiều người Ấn Độ không được thành người Kitô hữu đơn giản chỉ vì chẳng có ai dạy cho họ biết. Con thường cảm thấy ước muốn đi đến các đại học ở Âu Châu… La to lên như một thằng điên cho những kẻ giàu học vấn nhưng ít thiện chí, mong họ sử dụng tài năng mình một cách thiết thực hơn… con ước rằng phải chi trong lúc nghiên cứu về các môn nhân bản, các sinh viên ấy biết rằng một ngày kia họ phải tính sổ với Chúa về tài năng Chúa đã ban cho họ! Phải chi họ biết được điều này, chắc chắn có nhiều người trong họ sẽ xúc động thốt lên: “Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con làm gì?”
Thưa qúi anh chị em, chúng ta cùng nhau nghe lại Lời Chúa Giêsu: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy các ngươi hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt hái thửa ruộng Ngài” (Mt 9: 37-38).

 

THÁNHTHỂ-94: Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP.

BÍ TÍCH THÁNH THỂ

(Ga 6,51-58)

 

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu cầm bánh trong tay và nói trước mặt các môn đệ: “Đây là: THÁNHTHỂ-94

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu cầm bánh trong tay và nói trước mặt các môn đệ: “Đây là Mình Thầy”, lập tức mọi người hiểu rằng tấm bánh kia là thân thể Chúa, nghĩa là tấm bánh kia, bên ngoài có hình thù, mầu sắc, hương vị của bánh nhưng bản thể của bánh đã biến sang bản thể của Thiên Chúa. Làm sao có thể như thế được ? Đối với Thiên Chúa thì không thành vấn đề, bởi vì Thiên Chúa đã từng làm cho có man-na đầy tràn ở trong hoang địa, và nước trở thành rượu ngon ở tiệc cưới Ca-na, thì việc biến bánh ra Mình Chúa đối với Chúa là chuyện dễ dàng, dễ dàng đến độ Ngài chỉ cần một lời nói “Đây là Mình Thầy”. Có ai trong chúng ta dám nói tôi là thế này tôi là thế nọ không ? thí dụ: “Tôi là ánh sáng”. Chúng ta chỉ có thể nói: “Tôi có ánh sáng” hay “tôi chế ra ánh sáng La-de”, chứ không ai có thể nói: “Tôi là ánh sáng”. Chỉ có Thiên Chúa, Đấng tạo dựng ra ánh sáng, mới có nền tảng mà tuyên bố “Tôi là ánh sáng”. Cho nên, khi Chúa nói: “Đây là Mình Thầy” là một câu nói quả quyết, một câu nói quả quyết sự đồng nhất.

Một số người chối bí tích Thánh Thể đã cho rằng: câu Chúa nói “Đây là Mình Thầy” chỉ có ý nghĩa tượng trưng, ám chỉ một việc khác. Chúng ta có thể trả lời như sau: Để có ý nghĩa tượng trưng, phải có một trong bốn ý sau đây: Thứ nhất, một cái gì tượng trưng rõ ràng, chẳng hạn khi chúng ta chỉ vào pho tượng thánh Giuse mà nói: “Đây là thánh Giuse”. Thứ hai, một kiểu nói dụ ngôn, chẳng hạn như hạt giống gieo là lời Chúa. Thứ ba, một ý nghĩa tượng trưng tự nó, chẳng hạn như tre trúc trượng trưng cho lòng ngay thẳng, bông huệ tượng trưng cho sự trinh khiết. Thứ tư, một bản văn ám chỉ tới một chuyện khác, chẳng hạn I-sa-ác ám chỉ Chúa Giêsu. Lời truyền phép của Chúa Giêsu không ở trong bốn trường hợp đó. Tự bản chất và công dụng của bánh không bao giờ ám chỉ đến thân thể. Chúa cũng không cắt nghĩa gì thêm, vì quá rõ ràng, đến nỗi người Do Thái lấy làm chướng tai, không nghe được và bỏ đi. Trong Cựu Ước cũng như Tân Ước không bao giờ dùng tấm bánh để ám chỉ về người ta, cho nên, câu Chúa nói “Đây là Mình Thầy” phải hiểu là một chân lý quyền năng của Chúa.

Như vậy, câu Chúa nói “Đây là Mình Thầy” là Chúa lập bí tích Thánh Thể. Đây là điều chắn chắn, là chân lý tuyệt đối, nhắc nhở chúng ta những điều quan trọng sau đây:

Thứ nhất, Chúa Kitô hiện diện thật sự trong phép Thánh Thể. Chúa Kitô ở trong phép Thánh Thể là Chúa Kitô vinh hiển, nhân tính Ngài hiện diện trong bí tích đó không còn đau khổ, buồn phiền, cô đơn nữa. Những kiểu nói Ngài cô đơn, vắng lặng trong nhà tạm chỉ là để nhắc nhở thái độ dễ vô ơn, thờ ơ và xa vắng của chúng ta đối với Chúa.

Thứ hai, Chúa Kitô hiện diện trong phép Thánh Thể là trạng thái hết sức khiêm hạ vì thương yêu loài người. Chúa âm thầm tự trở nên một tù nhân giữa loài người. Phải có một tình yêu cao độ chúng ta mới hiểu được sự ở lại trong khiêm hạ này. Cũng trong sự khiêm hạ âm thầm này mà có biết bao phạm thượng, lộng ngôn xúc phạm đến Chúa qua bao thế hệ. Đó cũng là lý do nữa nhắc nhở chúng ta thêm lòng kính mến, tôn thờ bí tích Tình yêu tột đỉnh này.

Thứ ba, Chúa Kitô với hai bản tính đều ở trong bánh và rượu. Ở mỗi hình thái đều có đủ Chúa Kitô thật. Nhưng chúng ta nên nhớ: Chúa Kitô ở trong hình thái bánh rượu không còn lệ thuộc vào không gian, thời gian hay trương độ, trọng lượng như xác thịt người phàm nữa. Ngài ngự trong hình bánh rượu, Ngài nghe, biết, thấy chúng ta cầu nguyện, không bằng con mắt xác thịt như chúng ta mà bằng thần tính của Thiên Chúa. Cho nên, chúng ta hãy siêng năng đến cầu nguyện với Chúa trong Thánh Thể.

Chúng ta hãy nhớ và thực hành hai điều sau: Thứ nhất, mỗi khi tham dự thánh lễ, chúng ta hãy cố gắng rước lễ, bởi vì chả lẽ đi dự tiệc mà lại không ăn tiệc ? Chúng ta phải chuẩn bị chu đáo để rước lễ. Nhưng cũng đừng vì một đôi khuyết điểm hay yếu đuối nhỏ mà chúng ta nghĩ rằng mình không xứng đáng rước Chúa. Thật ra khi rước lễ, tình yêu chúng ta dành cho Chúa Giêsu đủ để Ngài tha thứ những tội nhẹ và khuyết điểm của chúng ta.Thứ hai, ngoài thánh lễ, Chúa vẫn ở với chúng ta trong nhà tạm Vì thế, mỗi khi vào nhà thờ chúng ta hãy ý thức sự hiện diện của Chúa, chúng ta cúi đầu hay bái gối với một lòng biết ơn và kính trọng, rồi chúng ta bắt đầu cầu nguyện với một lòng tin sâu xa: Chúa Kitô đang hiện diện thực sự trước chúng ta, đang lắng nghe chúng ta, đang muốn ban ơn cho chúng ta.

Trích Chia Sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm A


 

THÁNHTHỂ-95: Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể

Phúc Âm kể lại: Đang khi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn,bẻ ra trao cho các môn đệ và nói:Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Rồi Người cầm lấy chén rượu và nói: Này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống.( Mt 26,26- 29; Lc, 22,14- 20 ).
 

Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể và Chúa dặn dò các môn đệ: Các con hãy làm việc này mà: THÁNHTHỂ-95

Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể và Chúa dặn dò các môn đệ: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy .Tiệc Thánh Thể này được chính Chúa Giêsu tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum, được thiết lập trong Tiệc Ly và đã được chính Chúa cử hành đầu tiên tại làng quê Emmau. Bốn khung cảnh này hòa quyện đan kết với nhau thật tuyệt đẹp trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.

Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu chúng ta.

Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau.

Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.

Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa.Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô.Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô,Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập Giá.Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.

Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần,tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần. Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội.Thánh Thể làm nên Giáo Hội.Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một bánh là thân mình Đức Kitô ( 1 Cor 10,17).

Giáo hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô. Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể.

Chính Chúa Thánh Thần Kitô hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô khi Linh mục, thừa tác viên của Giáo hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà Linh mục đọc không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như Linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của Linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa Linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép, bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa. Đã có một sự thay đổi, sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay “biến thể”. Đây là công việc của Chúa Thánh Thần chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là Linh mục. Vì ý thức điều đó, Giáo hội thiết tha khẩn cầu trước lúc Linh mục Truyền Phép:

“ Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” ( Kinh Nguyện Thánh Thể II ).

“ Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, con Cha, Chúa chúng con” ( Kinh Nguyện Thánh Thể III ).

“ Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con” ( Kinh Nguyện Thánh Thể IV).

Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau cầu nguyện ( Mt 18,20).Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh thánh, Lời Kinh thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo, vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: “ Ta đói các ngươi cho ăn,Ta khát các ngươi cho uống …” ( Mt 25,35- 36). Trái lại nơi Bí Tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài. Trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi Linh mục đọc Lời Truyền Phép. (x.Tặng phẩm Thần Linh, Đức Cha Bùi Văn Đọc)

Bí Tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến bất ngờ và kỳ diệu. Thiên Chúa đã yêu thế gian nổi ban chính Con Một ( Ga 3,16) và Con Một là Đức Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập Bí tích Thánh Thể để ở với con người luôn mãi.

Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng laị là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hàng ngày. Chúa Giêsu đã muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên thịt máu của Người.Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Đức Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh.

Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần linh của Chúa. Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta sẽ học được rất nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

THÁNHTHỂ-96: Hiến lễ tạ ơn

LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ - NĂM C

Bài đọc 1: St 14, 18-20

Bài đọc 2: 1C 11, 23-26

Tin Mừng: Lc 9, 11b-17

 

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ Mình Máu Thánh Chúa: THÁNHTHỂ-96

Hôm nay, chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Thật ra, trong bất cứ thánh lễ nào, chúng ta cũng đã suy tôn mầu nhiệm Thánh Thể. Tuy nhiên, vì muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của Thánh Thể trong đời sống của mỗi kitô hữu, nên mẹ Giáo Hội đã chọn riêng một ngày để chúng ta có thời giờ nhiều hơn trong việc tôn thờ, suy gẫm và tạ ơn tình yêu Thiên Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nếu như các bí tích nói riêng và các sinh hoạt phụng vụ nói chung là phương thế để chúng ta nhận lãnh ơn cứu độ của Đức Giêsu, thì với bí tích Thánh Thể, chúng ta được đón nhận chính Đức Giêsu là nguồn của mọi ân phúc. Chính vì thế sách Giáo lý chung của Hội Thánh Công Giáo số 1324 đã viết: “Bí tích Thánh Thể là “nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống kitô hữu”. “Những bí tích khác cũng như các thừa tác vụ và các hoạt động tông đồ đều gắn liền với bí tích Thánh Thể và qui hướng về đó…”.

Mầu nhiệm về bí tích Thánh Thể rất phong phú, chúng ta không thể nào suy cho hết được. Do đó, trong giờ này, tôi muốn được chia sẻ cùng quý OBACE. về một trong những khía cạnh của bí tích Thánh Thể, đó là nhìn bí tích Thánh Thể dưới góc độ của một hiến lễ tạ ơn.

1. HIẾN LỄ TẠ ƠN CỦA ĐỨC KITÔ

Khi nói đến hiến lễ, chúng ta không thể không nói đến lễ vật. Đức Giêsu chính là lễ vật được hiến dâng lên Thiên Chúa Cha làm của lễ đền tội cho chúng ta. Chính vì thế, khi thuật lại việc Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể, mặc dù là đang trong bữa tiệc với các môn đệ, thánh Phaolô đã nói: “Chúa Giêsu trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, nầy là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con …”. Khi nhắc đến việc Đức Giêsu sắp bị nộp, thánh Phaolô muốn chúng ta nhớ đến cuộc khổ nạn của Đức Giêsu trên thập giá. Hiến thân làm của lễ, Đức Giêsu đã thực sự trở nên tấm bánh bẻ ra cho chúng ta được sống.

Mặt khác, trong hiến lễ tạ ơn này, Đức Giêsu không chỉ là của lễ mà còn là người dâng. Đức Giêsu đã tự hiến dâng chính mình cho Chúa Cha làm của lễ đền bù tội lỗi cho chúng ta. Hơn nữa, không giống như các tư tế của Cựu ước hàng năm đều phải tiến dâng lễ vật, nhưng vẫn không xoá được tội lỗi như lời tác giả thư Do Thái: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và đang đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xoá bỏ được tội lỗi” (Dt 10, 11). Trái lại, Đức Giêsu “đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9, 12).

Nhờ sự tự hiến này của Đức Giêsu, tất cả chúng ta đã được chữa lành khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi. Chính vì thế trước khi tường thuật lại phép lạ hoá bánh ra nhiều, thánh sử Luca đã cho chúng ta biết rằng Đức Giêsu đã “chữa lành những kẻ cần được cứu chữa”. Đức Giêsu đã chữa lành những tật bệnh thân xác, như một dấu chỉ báo trước việc Ngài sẽ dùng chính Máu Ngài đổ ra trên thập giá, để chữa lành những vết thương do tội lỗi gây ra.

Như thế, Đức Giêsu chính là vị Thượng Tế đời đời theo phẩm hàm Melkisêđê. Chức tư tế của Ngài vượt trên mọi tư tế của Cựu ước, bởi lẽ các tư tế của Cựu ước đều là con cháu tổ phụ Abraham, mà tổ phụ Abraham lại phải dâng “một phần mười tất cả chiến lợi phẩm” cho Melkisêđê và nhận lời chúc phúc của ông như chúng ta vừa nghe trong bài đọc một.

Đức Giêsu đã tự hiến dâng chính mình Ngài làm của lễ đền tội và ban chính Mình và Máu Ngài làm của ăn đem lại sự sống vĩnh cửu cho tất cả chúng ta. Đồng thời, mỗi khi chúng ta tham dự tiệc Thánh Thể, là lúc chúng ta nhận được lời mời gọi tiếp tục cử hành và sống hiến lễ tạ ơn này cho đến tận thế, như lời Đức Giêsu đã phán khi lập bí tích Thánh Thể: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta; mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”.

2. SỐNG HIẾN LỄ TẠ ƠN

Mỗi khi lãnh nhận Thánh Thể là lúc chúng ta lãnh nhận được sự sống Thần Linh của Thiên Chúa. Do đó, tâm tình đầu tiên phải có của mỗi người chúng ta, đó là tâm tình tạ ơn. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì tình yêu bao la mà Ngài đã dành cho chúng ta. Nhất là chúng ta tạ ơn Đức Giêsu vì Ngài đã ban cho mỗi người chúng ta chính Mình và Máu Ngài làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế này.

Mặt khác, với kinh nghiệm của mình, chắc hẳn mỗi người chúng ta cũng nhận ra rằng: một sự tri ân đích thực không chỉ là một tâm tình bên trong, nhưng cần phải được loan báo. Thực vậy, có một niềm vui thật trong lòng, chúng ta không thể dấu kín, nhưng luôn muốn kể lại cho mọi người cùng biết. Do đó, nhận được hồng ân sự sống từ bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng có nhiệm vụ loan báo cho anh chị em của mình, để tất cả mọi người đều cất tiếng ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa. Hay nói theo cách nói của thánh Phaolô trong bài đọc hai: “Mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”.

Kế đến, lòng tri ân của chúng ta cũng không chỉ dừng lại ở một lời loan báo, nhưng cần được thể hiện bằng một hành vi cụ thể. Đức Giêsu đã tự hiến dâng thân mình Ngài, trở nên một tấm bánh bẻ ra làm của ăn cho tất cả chúng ta, đến lượt mình, chúng ta cũng phải biết tự hiến, biết cho đi bản thân mình làm của ăn cho anh chị em của chúng ta.

Trong bài Tin mừng, đứng trước nhu cầu của cả một đám đông dân chúng, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Các con hãy cho họ ăn đi”. Đức Giêsu muốn các môn đệ làm một cái gì đó thật cụ thể, với hết khả năng của họ, cho dù đó chỉ là “5 chiếc bánh và 2 con cá”, để giúp đỡ đám đông, chứ không chỉ là một lời nhận xét, một lời góp ý xuông, hay chỉ là một lời bàn làm cách nào để mình được thoải mái, nhẹ nhàng nhất: “Xin Thầy giải tán dân chúng, để họ đi vào trong các làng mạc và trại quanh đây mà trú ngụ và kiếm thức ăn”. Điều này xem ra thật quá dễ và hợp lý cho các môn đệ và Đức Giêsu, nhưng lại không phải là điều mà Đức Giêsu muốn. Điều Ngài muốn là các môn đệ bắt tay cùng cộng tác với Ngài để làm dịu cơn đói của đám đông đang theo Ngài.

Là chi thể trong Nhiệm Thể của Ngài, mỗi người chúng ta cũng hãy dâng đời sống, lời ca ngợi, kinh nguyện và cả những đau khổ do tật bệnh trên thân xác, cùng với những lo âu trong cuộc sống… kết hợp với hiến lễ của Đức Giêsu trên thập giá, để dâng lên Chúa Cha trong Thánh Lễ mỗi ngày (x. SGL 1368). Nhờ đó, ngày càng có nhiều người nhận được ơn cứu độ do bởi hiến tế của Đức Giêsu trên thập giá. Amen.

Lm Trần Thanh Sơn

 

THÁNHTHỂ-97: Thánh Thể, bàn Tiệc tình yêu

LỄ MÌNH VÀ MÁU CHÚA KITÔ
 

Ăn uống là chuyện bình thường của mọi sinh vật sống. Khi tôi ăn uống, thức ăn, thức uống trở: THÁNHTHỂ-97

Ăn uống là chuyện bình thường của mọi sinh vật sống. Khi tôi ăn uống, thức ăn, thức uống trở thành tôi. Tôi sống, tôi hoạt động, tôi lớn lên… nhờ bao nhiêu chất dinh dưỡng từ chút rau xanh, cá tươi, hoa trái…

Trừ những bữa tiệc, những độ nhậu phi nghĩa, phi đạo đức, nhằm mua quan, bán chức, hối lộ, mãi lộ, nịn hót. Hoặc những bữa tiệc, những độ nhậu mà người ta dùng như một cuộc hẹn hò làm ăn, bàn tính, thậm chí qua đó, người ta lên chương trình cho cả một hệ thống phi luân lý như cùng hợp tác với nhau giết người, cướp của, bóc lột dân lành, mánh mung, trả thù, bớt xén của công, chạy chọt để thoát sự trừng trị của pháp luật…

Trừ tất cả những bữa tiệc ấy, những bữa cơm, dù toàn những thức ăn sang giàu, hay chỉ đạm bạc, đơn giản vài trái cà gém, một chút mắm tôm của những gia đình nghèo, vẫn không bao giờ mất đi tính thiêng liêng và vẻ đẹp của nó. Nó cần nhận được sự tôn trọng của mọi người như: tránh gây gỗ, cãi vả, hiềm khích, đánh đập nhau. Câu nói nổi tiếng của ông bà từ ngàn xưa để lại cho con cháu: “Trời đánh tránh bữa ăn”, là câu nói rất hữu ích giáo dục lòng tôn trọng sự thiêng liêng và vẻ đẹp của bữa cơm. Những bữa cơm giàu tình yêu, nồng ấm tình gia đình, tràn ngập sự thành thực…, dù là những bữa cơm sang giàu hay đạm bạc đều là những bữa cơm quý phái, cần thiết cho cuộc đời.

Chúa Kitô đã nhiều lần sử dụng bữa cơm để mạc khải nhiều chân lý quý giá cho Giáo Hội. Càng suy nghĩ, ta càng nhận thấy Chúa Kitô thật là một nhà giáo dục tài ba. Vì có lúc nào tình yêu đằm thắm, lòng người tin tưởng nhau, và là nơi trổ sinh niềm vui cho bằng bữa cơm. Người đã dùng khung cảnh tốt đẹp của bữa cơm như thế để nâng hôn nhân lên hàng bí tích tại tiệc cưới Cana. Người đã đến nhà và dùng bữa tại nhà cô Maria, một phụ nữ tội lỗi, để tha tội cho chị, khi chị gục đầu khóc bên chân Người. và trong một bữa cơm, Người dạy người ta hãy ngồi vào chỗ rốt hết, vì “ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”, Người đã ăn với các môn đệ trên biển hồ sau khi sống lại để bày tỏ mầu nhiệm phục sinh… Còn nhiều, nhiều nữa những bữa cơm mạc khải như thế.

Liên quan tới bí tích Thánh Thể, Thánh Kinh cũng cho thấy nhiều bữa ăn mạc khải mầu nhiệm Thánh Thể. Chẳng hạn hai lần Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi dân trong thời gian Người giảng dạy. Hay bữa ăn cuối cùng trước khi rời xa các môn đệ. Chính trong bữa ăn này, Chúa Giêsu chính thức thành lập bí tích Mình Máu Thánh Người, qua lời truyền phép mà hôm nay thư thứ nhất của thánh Phaolô gởi giáo đoàn Côrintô đã nhắc lại: “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” và “Chén này là Tân Ước trong Máu Thầy. Mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Hôm nay, lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, Giáo hội mời gọi ta suy niệm một trong ba bữa ăn ấy. Đó chính là lần Chúa làm phép lạ từ năm chiếc bánh và hai con cá để nuôi sống năm ngàn người đàn ông, chưa kể đàn bà và trẻ con.

Chúa không làm phép lạ chỉ như một phép lạ mà thôi, càng không bao giờ làm phép lạ để khoe mẽ tài năng của mình. Nhưng phép lạ hóa bánh ra nhiều từ năm chiếc bánh và hai con cá, gọi về một phép lạ khác lớn lao hơn. Đó là phép lạ hóa nên Mình Máu của chính Chúa Kitô để nuôi dưỡng linh hồn con người, không phải năm ngàn hay mười ngàn, nhưng là lớp lớp người từ đời này sang đời khác. Hóa ra phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều là để hướng lòng ta về chính Bánh là của ăn muôn đời trường tồn, là Bánh bất tử đưa ta vào sự sống nhiệm mầu và vĩnh cửu của Thiên Chúa. Bánh ấy chính là Thịt máu Chúa Kitô.

Bữa ăn Thánh Thể do Thiên Chúa dọn cho chúng ta là một cuộc hạ sinh mới trong lòng người. Nếu đã có lần Chúa Giêsu sinh ra trong trần gian một cách thể lý, thì cuộc sinh hạ của Chúa trong lòng người ta là một cuộc sinh hạ không ngơi nghỉ. Mỗi khi ta rước Chúa Giêsu vào tâm hồn mình, là mỗi lần Chúa chấp nhận giáng sinh lại trong lòng ta. Người chấp nhận làm điều đó không nhằm lợi ích cho riêng mình, nhưng cho chính chúng ta. Vì các của ăn phàm trần, khi ăn vào, sẽ biến thành máu thịt ta, nhưng ăn Máu Thịt Chúa Giêsu, ta được “Thiên Chúa hóa” (ngôn ngữ chuyên môn của thần học gọi là “thần hóa”), nghĩa là trở nên giống Chúa hơn. Người sẽ ban cho ta sức mạnh của lòng tin, của tình mến để ta tin tưởng và yêu mến Thiên Chúa, vững vàng trước mọi cám dỗ, không sa ngã và bảo vệ đức tin của mình thành toàn. Tắt một lời, Người hạ sinh trong lòng ta qua bí tích Thánh Thể để ta ngày một nên thánh thiện như Người.

Trên mọi bữa ăn, Thánh Thể là bữa ăn của hiệp thông trong tình yêu. Cuộc hiệp thông trong tình yêu này là một cuộc hiệp thông lớn lao đến mức tuyệt vời: Thiên Chúa tìm đến viếng thăm tâm hồn người thế và con người được diễm phúc đón nhận chính Thiên Chúa vô cùng cao cả ấy. Cuộc hiệp thông ấy lớn đến mức tuyệt vời nằm ở chỗ: siêu nhiên đến với tự nhiên, Thánh ở với người, cái vô cùng ở cùng cái hữu hạn. Một cuộc hiệp thông lớn đến thế, chỉ có thể thực hiện bởi tình yêu của Thiên Chúa mà thôi. Ngoài tình yêu ấy, không còn một sự hiệp thông nào sánh ví.

Một cuộc hiệp thông cao cả như vậy, mang lại giá trị cho con người. Bởi Thiên Chúa đã không trao ban bất cứ một cái gì ngoài Người, nhưng là trao ban chính Con Một của mình cũng là Thiên Chúa của chúng ta. Vì thế, nơi cuộc hiệp thông được thực hiện trong tình yêu của Chúa, chúng ta kín múc nguồn hạnh phúc là chính Thiên Chúa, Đấng Tuyệt Đối. Có ai ngờ, nơi bí tích Thánh Thể, loài người bé nhỏ là thế, lại được gần Thiên Chúa đến nỗi nên một trong nhau. Do đó, loài người không còn chỉ là tạo vật đơn thuần, nhưng là tạo vật mang chiều kích vĩnh cửu.

Lãnh nhận tình yêu hiệp thông nơi bí tích Thánh Thể, chúng ta được mời gọi sống yêu thương và hiệp thông với anh chị em của mình. Kinh Tạ Ơn II nói lên điều đó: “Chúng con cúi xin Cha cho Thánh Thần liên kết chúng con nên một khi chúng con dự tiệc Mình và Máu Đức Kitô”. Hoặc kinh Tạ Ơn III: “Khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng, được đầy tràn Thánh Thần của Người, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô”.

Lời cầu xin ơn hiệp thông khi cử hành Thánh Thể phải được cả cộng đoàn sống và áp dụng trên từng cá nhân. Chính vì điều này ta có thể nói, để đánh giá sức sống của một cộng đoàn Thánh Thể, tiêu chuẩn đúng nhất là sự hiệp thông, duy nhất nơi cộng đoàn đó. Một cộng đoàn chia rẽ không thể nói về “một thánh lễ sốt sắng”. Cũng như mỗi thành viên trong gia đình mà chia rẻ, rạn nứt, gia đình đó, dù chuyên chăm tham dự thánh lễ, lãnh bí tích Thánh Thể đến đâu, vẫn là gia đình đánh mất ơn hiệp thông, lẽ ra phải có, nhờ Thánh Thể Chúa Kitô.

Chúng ta có những bữa cơm hằng ngày, có khi đạm bạc, có khi sang trọng. Những bữa cơm ấy là nơi gặp gỡ và nuôi dưỡng tình gia đình, tình bạn, tình lối xóm, và biết bao nhiêu thứ tình cần thiết trong cuộc sống.

Trong chiều kích thánh thiêng của tâm hồn, chúng ta tham dự tiệc Thánh Thể, để múc lấy tình yêu của Thiên Chúa. Từ đó sống với anh chị em quanh mình. Tình yêu nơi bàn tiệc Thánh Thể không đơn thuần nuôi dưỡng tình con người, nhưng đi một bước cao hơn: thánh hóa mọi tình yêu nhân loại, vĩnh cửu hóa tình yêu ấy. Tình yêu nơi bàn tiệc Thánh Thể còn thần hóa những người yêu nhau và biến họ nên đồng hình, đồng dạng với Chúa Kitô.

Vì thế, mỗi một lần rước Chúa Giêsu Thánh Thể, bạn và tôi xin Người ban cho mình được chìm ngập trong tình yêu của Người, để nên một với Thiên Chúa và với anh chị em.

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

THÁNHTHỂ-98: Anh Em hãy liệu cho họ ăn

Lc 9,11b-17

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1) Ý CHÍNH:

 

Thánh Luca thuật lại phép lạ Đức Giêsu nhân bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng. Trước nhu THÁNHTHỂ-98

Thánh Luca thuật lại phép lạ Đức Giêsu nhân bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng. Trước nhu cầu của đám đông, các môn đệ đề nghị giải tán để mỗi người tự lo liệu đồ ăn chỗ ngủ của mình. Nhưng Đức Giêsu lại truyền cho các ông: “Anh em hãy liệu cho họ ăn đi”. Sau đó, các ông chỉ kiếm được năm cái bánh và hai con cá. Nhưng Đức Giêsu đã xử dụng số lượng ít oi này để nhân ra nhiều gấp bội mà cho dân chúng được ăn no. Số bánh dư thu lại được mười hai thúng. Số người ăn hôm ấy khoảng chừng 5000 người đàn ông.

2) CHÚ THÍCH:

- Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng về Nước Thiên Chúa và chữa lành những kẻ cần được chữa. Ngày đã bắt đầu tàn. Nhóm Mười Hai đến bên Đức Giêsu thưa Người rằng: “Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn, vì nơi chúng ta đang ở đây là nơi hoang vắng” (Lc 9,11b-12):

+ Đức Giêsu nói với dân chúng về Nước Thiên Chúa: Nước Thiên Chúa hay Nước Trời là trọng tâm các bài giảng của Đức Giêsu. Luca nhắc đến bài giảng trước phép lạ nhân bánh ra nhiều là nhằm ám chỉ đến Thánh Lễ Giáo Hội cử hành sau này có hai phần chính là Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể.

+ Chữa lành những kẻ cần được chữa: Lời giảng luôn được kèm theo phép lạ chữa bệnh. Đó là đặc điểm cách thức truyền giảng Tin Mừng của Đức Giêsu và là khuôn mẫu cho Giáo Hội về phương cách truyền giáo sau này.

+ Xin Thầy cho đám đông về, để họ vào các làng mạc nông trại quanh đây tìm chỗ trọ và kiếm thức ăn: Câu nói của các môn đệ cho thấy: Tuy quan tâm đến nhu cầu ăn uống ngủ nghỉ của dân chúng, nhưng các ông không muốn lãnh trách nhiệm giúp đỡ họ cách cụ thể.

- Đức Giêsu bảo: “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Các ông đáp: “Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá. Trừ phi chính chúng con phải đi mua thức ăn cho cả đám dân này”. Quả thật có tới chừng năm ngàn đàn ông. Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy bảo họ ngả mình thành từng nhóm khoảng năm mươi người một” (Lc 9,13-14):

+ “Chính anh em hãy cho họ ăn”: Đức Giêsu trao trách nhiệm cho các môn đệ là phải lo phục vụ dân chúng cả về thể xác nữa. Đây cũng là lệnh truyền cho các tín hữu hôm nay là không những phải thương yêu về linh hồn mà còn phải thương yêu cả về thể xác nữa như kinh thương người có mười bốn mối, trong đó có thương xác bảy mối như sau: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, cho khách đỗ nhà, chuộc kẻ làm tôi, chôn xác kẻ chết.

+ “Chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá”: Bánh và cá là thức ăn thường ngày của dân chúng miền Galilê. Năm chiếc bánh và hai con cá là của một bé trai (x. Ga 6,9). Số lượng thức ăn này là quá ít so với số đông dân chúng. Điều này nói lên khả năng hữu hạn của các môn đệ. Nhưng Đức Giêsu lại muốn xử dụng sự cộng tác nhỏ bé này để làm phép lạ lớn lao.

+ Anh em hãy bảo họ ngả mình thành từng nhóm khoảng 50 người một: Có bản dịch ngả mình thành từng giường. Từ ngữ diễn tả thói quen của người xưa ở Cận Đông: người ta lấy tư thế nằm nghiêng khi ăn uống.

+ họp thành từng nhóm: Gợi lại kỷ niệm việc Môsê tổ chức dân Do thái trong sa mạc thời kỳ xuất hành. Đây được coi như cách tổ chức lý tưởng của dân Thiên Chúa (x. Xh 18,21.25). Ở đây nói lên ý Đức Giêsu muốn các môn đệ tổ chức đám đông ô hợp thành từng cộng đoàn. Các ông trở nên những “thừa tác viên” phục vụ cộng đoàn.

- Các môn đệ làm y như vậy, và bảo mọi người ngả mình xuống. Bấy giờ Đức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, để các ông dọn ra cho đám đông. Mọi người đều ăn và ai nấy được no nê. Những miếng vụn còn thừa, ngươi ta thu lại được mười hai thúng (Lc 9,15-17):

+ Các môn đệ làm y như vậy: Các môn đệ có nhân đức vâng lời: Mau mắn làm theo lời Đức Giêsu dạy, dù lúc ấy các ông chứ biết Đức Giêsu sắp làm gì.

+ Đức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá…: Theo phong tục của người Do Thái: trước bữa ăn, người gia trưởng thường đọc một kinh cảm tạ Thiên Chúa về những ơn lành Chúa đã ban. Ở đây Đức Giêsu cũng làm việc cầu nguyện này bằng các nghi lễ phụng vụ Thánh Thể: Cầm lấy bánh, ngước lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ. Những cử chỉ này giống như khi Người lập Bí Tích Thánh Thể tại phòng Tiệc Ly vào tối thứ Năm Thánh (x. Lc 22,19) và trong bữa ăn với hai môn đệ tại làng Emmau (x. Lc 24,30).

+ Trao cho các môn đệ, để các ông dọn ra cho đám đông: Ở đây các môn đệ đóng vai trò trung gian giữa Đức Giêsu và dân chúng. Ngày nay các linh mục cũng có vai trò như vậy trong các cộng đoàn và các xứ đạo.

+ Mọi người đều ăn, và ai nấy được no nê…Những miếng vụn còn thừa, người ta thu lại được mười hai thúng: no nê và miếng thừa ở đây nói lên sự dồi dào của đồ ăn. Điều này gợi lên bữa tiệc Thiên Sai mà Isaia đã báo trước: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc: tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon” (Is 25,6). 12 thúng đầy tương ứng với 12 môn đệ khi nó đang phục vụ dân chúng. Các môn đệ thu nhặt lại là để gợi ý rằng bữa ăn này sẽ được mở rộng để đón những thực khách đông đảo hơn nữa sau này.

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA:

1) LỜI CHÚA: “Bấy giờ Đức Giêsu cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho đám đông” (Lc 9,16):

2) CÂU CHUYỆN 1:Mình Thánh ở trong lòng tôi”.

Thời kỳ cách mạng Pháp, một cha xứ miền Bờ-ta-nhờ (Bretagne) đưa Mình Thánh Chúa cho một gia đình, đi theo giúp cha là một cậu bé tên là Ben-gia-min (Benjamin). Bấy giờ cha xứ bị bọn lính canh phát hiện đuổi theo. Ngài vội trao Mình Thánh đựng trong một hộp nhỏ cho cậu bé. Sau đó cha bị bắt và bị giết chết. Cậu bé Ben-gia-min vừa chạy trốn vừa mở hộp ra rước Mình Thánh Chúa. Sau đó cậu cũng bị bắt và bị tra hỏi nơi cất giấu Mình Thánh Chúa. Cậu hiên ngang chỉ tay vào người mình mà nói rằng: “Mình Thánh đang ở trong lòng tôi đây Các ông hãy mổ ra mà lấy”. Bọn lính điên tiết liền đâm chết cậu bé và chôn vùi sơ sài hai xác chết ở dưới gốc cây sồi cổ thụ. Một thời gian sau, khi cuộc cách mạng bị thất bại, một hôm một cơn lốc đã đánh đổ cây sồi kia, để lộ ra hai xác chết của cha xứ và cậu bé giúp lễ. Người ta cũng phát hiện ra Mình Thánh Chúa vẫn đang còn sáng ngời trên thân xác cậu bé.

3) CÂU CHUYỆN 2: Ngày hạnh phúc nhất là ngày Rước Lễ Lần Đầu

Khi hoàng đế Napoléon của nước Pháp, người đãtừng chinh phục cả Au châu, bị thua trận và bị đày sang đảo Xanh Hê-len (Sainte Hélène), cùng đi theo ông là một nhà chép sử. Người viết tiểu sử này luôn để ý ghi nhận mọi chi tiết xảy ra trong cuộc đời của ông vua Napoléon. Một hôm, khi biết ngày cuối cùng của Napoléon sắp đến, và vào lúc ông ta vui vẻ thoải mái nhất, người viết sử kia mới hỏi hoàng đế rằng: “Thưa ngài, xin ngài cho biết trong cuộc đời của ngài, khi nào ngài cảm thấy được hạnh phúc nhất ?”. Nghe xong câu hỏi, Napoléon không vội trả lời, ông ra đứng bên cửa sổ nhìn ra biển xanh ở xa xa một hồi lâu, rồi thở dài và quay lại nói với người viết tiểu sử rằng: “Trẫm nhớ ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời của trẫm không phải là ngày trẫm lên ngôi hoàng đế, cũng không phải là ngày trẫm dành chiến thắng trong các trận đánh ở Au châu hay Bắc Phi. Ngày ấy đã xảy ra từ khi trẫm còn bé, cách đây đã lâu lắm rồi. Đó chính là ngày trẫm được Rước lễ Lần Đầu”.

SUY NIỆM:

+ Bí tích Thánh Thể là một sáng kiến của Chúa Giêsu. Người đã thiết lập bí tích này trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ trước khi chịu khổ nạn. Tấm bánh trở thành Mình Người sau lời truyền phép: “Này là Mình Thầy…Hãy cầm lấy mà ăn”. Chén rượu trở thành chén Máu Người sau lời phán: “Này là chén Máu Thầy…Hãy cầm lấy mà uống”. Cuối cùng Người còn truyền cho các Tông đồ: “Anh em hãy làm việc này để tưởng nhớ Thầy”. Từ đó, Giáo Hội đã vâng lời Chúa cử hành Bí Tích Thánh Thể trong Thánh Lễ. Thánh lễ chính là bữa tiệc thánh với hai của ăn là Lời Chúa và Mình Thánh Chúa, và là một nghi thức để tưởng nhớ sự chết và sống lại của Người.

+ Người ta không thể tách rời Thánh Lễ với cái chết của Chúa Giêsu dựa vào lời Người: “Đây là Mình Thầy sắp bị nộp…Đây là chén Máu Thầy sắp đổ ra vì anh em”. Rước lễ là rước Đấng đã chịu chết vì loài người và là sự hiệp thông vào cái chết của Chúa Giêsu.

+ Mỗi phút giây qua đi, có biết bao tấm bánh được bẻ ra để nuôi sống thân xác con người. Trong mỗi tấm bánh ấy, chúng ta thấy có bóng dáng của tấm bánh Mình Thánh Chúa. Nếu ta siêng năng lãnh nhận bánh Mình Chúa trên bàn thờ, chúng ta sẽ dễ dàng chia sẻ tấm bánh vật chất cho tha nhân. Mỗi lần tham dự Thánh Lễ, chúng ta hãy dâng lên Chúa những sự vất vả lao nhọc, những đau khổ về thể xác cũng như tâm hồn, những người thân yêu ruột thịt và những người bệnh tật nghèo khó…như lễ vật. Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần sẽ biến những lễ vật đó trở nên Bánh Thánh nuôi dưỡng đức tin của chúng ta và đem lại ơn cứu độ muôn đời cho chúng ta.

5) THẢO LUẬN: Thánh Lễ là một bữa tiệc thánh. Vậy khi tham dự Thánh lễ, chúng ta phải ăn mặc thế nào cho xứng đáng ? Cần đến sớm hay trễ ? Cần ngồi trong nhà thờ hay đứng ngoài canh giữ xe và nói chuyện với nhau ? Khi dự lễ cần giữ thái độ nào: nghiêm trang hay hút thuốc, đùa nghịch ? Cần Rước lễ thế nào: sốt sắng hay máy móc chiếu lệ ?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU:

1) Lạy Chúa Giêsu. Chúa là đồ ăn thức uống thiêng liêng của chúng con. Chúa ngọt ngào êm ái biết bao ! Lúc nào con cũng cảm thấy khao khát đón rước Chúa đến với chúng con.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn chúng con được kết hiệp mật thiết, trở nên một với Chúa. Đòi hỏi đó làm cho chúng con khổ sở, vì lòng chúng con vẫn chưa muốn dứt bỏ những thói hư tật xấu, những đam mê tội lỗi. Xin cho chúng con dứt khoát với những gì là gian ác xấu xa, và siêng năng đón rước Chúa mỗi ngày, để chúng con được sống dồi dào trong ơn nghĩa Chúa, và ngày sau được sống hạnh phúc bên Chúa mãi mãi.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con ý thức rằng Chúa là hạnh phúc thật của chúng con. Xin cho chúng con biết noi gương Mẹ: Luôn vững tin vào Chúa, hy vọng nơi Chúa và yêu mến Chúa hết lòng. Dù khi chúng con được giàu có hay bị nghèo đói, dù được kính trọng hay bị khinh ghét, xin cho chúng con không bị nao núng. Vì hạnh phúc thật của chúng con chính là Chúa, Đá Tảng vững bền của chúng con.

Lạy Mẹ, Bí Tích Thánh Thể là bí tích của tình yêu. Xin Mẹ giúp chúng con mỗi khi tham dự Thánh lễ, biết sẵn sàng bỏ đi sự thù hận đối với những người gây đau khổ cho chúng con. Xin cho chúng con luôn sẵn lòng tha thứ những lỗi lầm của kẻ khác, để chúng con xứng đáng được Chúa thứ tha những tội lỗi lớn lao của chúng con, và để của lễ chúng con dâng được Chúa thương chấp nhận.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Trích Hiệp sống Lời Chúa

Lm. Đan Vinh

 

THÁNHTHỂ-99: Thánh lễ nối dài giữa lòng nhân loại

Lc 9,11-17
 

Trên đường về thành Bétxaiđa, đám đông dân chúng tuôn đến với Chúa Giêsu để nghe lời: THÁNHTHỂ-99

Trên đường về thành Bétxaiđa, đám đông dân chúng tuôn đến với Chúa Giêsu để nghe lời Người giảng dạy. Cùng với Chúa Giêsu, các môn đệ và đám đông, chúng ta đang ở nơi đồng vắng - nơi sẽ xảy ra phép lạ hoá bánh ra nhiều nuôi sống dân chúng. Sự kiện Chúa Giêsu hoá bánh ra nhiều không chỉ đơn thuần là một phép lạ, mà còn là một một lời loan báo cho tương lai: nhân loại sẽ được dưỡng nuôi bằng bàn tiệc Thánh Thể trong đó nhiệm thể Chúa Kytô trở nên Linh dược Thần linh nuôi sống nhân trần.

Giữa nơi hoang vắng, ngày lại sắp tàn và với một lượng người quá đông đã khiến các môn đệ lo lắng. Các ông lo lắng là phải. Bởi các ông biết rằng đối với đám đông, các ông cũng có một vai trò nhất định nào đấy. Một điều dễ hiểu là để lời Thầy được thính giả lãnh hội thì công việc của các môn đệ trong vấn đề tổ chức chẳng dễ dàng gì. Chính vì thế, giữa đồng không hiu quạnh, các ông lo cho số phận của năm ngàn con người sẽ ra sao khi đêm về mà không có gì lót dạ. Lương thực dự trữ bấy giờ chỉ vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá. Thật chẳng thấm vào đâu với số người quá đông như thế. Vì thế, theo các ông, cách tốt nhất là giải tán đám đông, cho họ về nhà, nhẹ gánh nặng, thầy trò còn có thời gian nghỉ ngơi sau một ngày mệt nhọc. Hợp lý quá đi chứ. Nhưng Chúa Giêsu không nghĩ như vậy. “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Tâm trạng của các ông có lẽ bực bội hơn là ngạc nhiên. Chúng con cho họ ăn ư? Ồ không đâu, thưa Thầy. Chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá? Chỉ còn cách là chúng con đành phải lặn lội vào nơi gần nhất để mua lương thực cho ngần ấy người mà thôi. Chúa Giêsu không để các ông phải khổ sở với suy nghĩ rất ư bình thường như vậy. Điều Chúa muốn các ông làm là hãy bảo đám đông quy tụ từng nhóm năm mươi người, nằm ngã xuống và phân phát bánh cho họ.

Khi đám đông dân chúng đã ngã mình trên đồng vắng, nghĩa là như Israel xưa trong sa mạc, họ không còn lạc lõng, bơ vơ, tản mát nữa, tất cả đều được quy tụ trở thành cộng đoàn cùng nhau dự tiệc- một hình ảnh loan báo cho một dân tộc mới được mời gọi vào dự Tiệc cánh chung của Thiên Chúa, khi đó kẻ nghèo sẽ được ăn uống thoả thuê- Chúa Giêsu mở đầu bữa tiệc này theo đúng phong tục của người Dothái, nghĩa là bằng lời chúc tụng. Một điều thú vị là nếu đối chiếu với bản văn Tin mừng hôm nay với bản văn bữa Tiệc ly và bữa tiệc Emmau, chúng ta sẽ thấy 4 động từ sau đây như là nét đặc trưng của việc dâng lễ tạ ơn. Đó là việc Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ. Có khác chăng là ở đây là lời chúc tụng, còn trong bữa Tiệc ly là lời Tạ ơn (x. Lc 22, 19;24, 30). Như thế phép lạ hoá bánh ra nhiều không chỉ cho thấy Chúa Giêsu chính là vị Ngôn sứ vượt trên mọi ngôn sứ của thời đại, như ngôn sứ Êlia xưa đã nuôi 100 người bằng 20 chiếc bánh lúa mạch (x. 2V 4, 42-44) mà còn có quyền năng trong việc quy tụ và nuôi sống dân Thiên Chúa. Chúa Giêsu còn cho chúng ta thấy chính Người là hình ảnh của Thiên Chúa đến trần gian để yêu thương con người, săn sóc và nuôi dưỡng họ bằng phương cách họ không thể ngờ. Hôm nay chính Người đã ban tặng cho họ ân huệ cao vời, đã nuôi sống họ cách dư dật.

Như ngôn sứ Êlia xưa, Chúa Giêsu hôm nay cũng dựa trên năm chiếc bánh và hai con cá của đám đông dân chúng hiến dâng để nuôi sống họ. Bí tích Thánh Thể mà chúng ta tham dự mỗi ngày cũng vậy. Chính chúng ta cũng phải dâng hiến năm chiếc bánh và hai con cá, tức là những hy sinh, những đau khổ, bình an và hạnh phúc của cuộc đời lên cho Thiên Chúa. Năm chiếc bánh và hai con cá thật chẳng đáng là gì trước một đám đông đang đói lả, nhưng đó lại chính là phương tiện cần thiết để Chúa thi ân giáng phúc. Cũng vậy, với quyền năng, Chúa Kytô sẽ biến đổi, hiến thánh sự đói nghèo của chúng ta, Người sẽ tiến dâng lên Chúa Cha cuộc sống và những việc làm dù rất nhỏ bé của chúng ta trở nên điều thiện hảo mưu ích cho muôn người.

Bí tích Thánh Thể chính là việc Thiên Chúa muốn quy tụ, mời gọi và đón nhận mỗi người chúng ta vào dự Tiệc với Người. Bữa tiệc đó rất cụ thể, rất sinh động và sinh muôn ơn ích. Bàn tiệc mà chúng ta tham dự không đơn thuần là một bữa tiệc thông thường, mà là một bữa Tiệc Sự Sống của Thiên Chúa. Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến kín múc nơi bàn tiệc Thánh Thể để toàn thể con người chúng ta qua việc lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa Kytô, chúng ta được hiệp thông cách trọn vẹn với Thiên Chúa, được sống chính đời sống Thần linh của Thiên Chúa. Bí tích Thánh Thể còn là một lời mời gọi chúng ta can đảm lên đường, đến với thế giới đang chia rẽ, đến với đồng loại đang đói nghèo, đau khổ, bệnh hoạn tù đày để liên kết, an ủi, nâng đỡ và cưu mang họ. Xin Chúa thánh hoá và biến đổi chúng ta hầu cuộc đời chúng ta mãi mãi là Thánh lễ nối dài giữa lòng nhân loại.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb


 

THÁNHTHỂ-100: Chính Anh Em cho họ ăn

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA GIÊSU: The Body and Blood of Christ

Lời Chúa cho hôm nay: CHÍNH ANH EM CHO HỌ ĂN

* Give them some food yourselves *

 

Ông Menkixêđê vua thành Salem mang bánh và ruợn ra, ông là Tư tế của Thiên Chúa tối cao: THÁNHTHỂ-100

* BÀI ĐỌC 1: Sáng thế 14, 18-20= Ông Menkixêđê vua thành Salem mang bánh và ruợn ra, ông là Tư tế của Thiên Chúa tối cao./ Melchizedek, king of Salem, brought out bread and wine, and being a Priest of God Most High.

* BÀI ĐỌC 2: 1 Cor 11, 23-26= Mỗi lần anh ăn Bánh và uống Chén này là anh nhớ loan truyền việc Chúa đã chiụ chết./ For as often as you eat this Bread and drink the Cup, you proclaim the death of the Lord until He comes.

* TIN MỪNG (Gospel): Luca 9, 11-17= Mọi người đều ăn no nê. Những miếng vụn còn thừa, người ta thu được mười hai thúng đầy./ They all ate and were satisfied, the leftover fragments were picked up,they filled twelve wicker basket.

A- Bạn và tôi cùng Cảm Nghiệm Sống và Chia sẻ ba bài đọc trên: (Reflections, live out and share )

1/ Tin mừng Luca hôm nay cho biết đám đông theo Chúa bắt đầu đói: Đức Giêsu bảo: “Chính anh em hãy cho họ ăn. Các ông đáp: “Chúng con chỉ vỏn vẹn có năm chiếc bánh và hai con cá…” (Lc 9, 13) Chúa có ý dạy tôi khi ăn uống Mình Máu Thánh Chúa phải biết chia sẻ vật chất và tinh thần cho người khác. Chỉ khi nào chia sớt những cái mình đang cần mới quý, chứ không nên cho của dư thừa (đọc Gal 5, 16) Đây cũng nói lên lòng tin của tôi để Thánh Thần hành động là tôi hãy tập lâý nết tốt, bỏ những điều dở, như vậy tôi mới cho người khác ăn Chúa được. Kể một việc tôi chia sẻ vật chất và tình thương cho tha nhân? (Hành đạo)

2/ Trong bài đọc 1 sách Sáng Thế nói: Khi ông Ápram thắng trận trở về…ông đã biếu ông Menkixêđê một phần mười tất cả chiến lợi phẩm.” (Sáng thế 14, 18-20). Trong gia đình đến ngòai xã hội hôm nay họ đang sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến lơị ích cho mình (đọc Rom 8, 13), họ không thực hành lời Chuá Giêsu nói khi lập phép Thánh Thể: “Đây là mình Thầy, hiến dâng vì anh em” hay là: “Anh em hãy làm việc naỳ để nhớ đếnThầy”. Chúa không muốn bạn chỉ nhớ đến cử hành Thánh Lễ mỗi ngày là đủ, mà cần bạn chia sẻ cho tha nhân nữa mới quan trọng. Bạn nói một việc làm bác aí ngay trong gia đình và giáo xứ? (Sùng đạo)

3/ Thư gởi Côrintô, thánh Phaolô khuyên: “Từ nay tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống chén này là anh loan truyền Chúa đã chịu chết.” Vâng, thánh Phaolô và Luca muốn tôi hãy: làm như Thầy vừa làm là điều rất quan trọng mà tôi ít lưu tâm. Tôi đã đoc lời này trong Thánh Lễ môĩ ngày như cái máy cho qua lần. Tôi rất hối hận vì chỉ kính Chúa bề ngoài mà không chịu thay đổi tâm can, sau lễ rôì lại nói hành, tham lam, hận thù, chè chén, bè phái, ganh ty, tranh chấp,ninh bợ nhau…(đọc Galat 5, 19) Tôi thiết nghĩ chỉ bỏ được các tật xấu trên Chúa mới đến được! Chia sẻ một việc làm để loan truyền tình yêu Chúa?(Sống đạo)

B- Câu Kinh Thánh đánh động tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: (The Best God’s Word)

CHÍNH ANH EM HÃY CHO HỌ ĂN (Luca 9, 13)

Give them some food yourselves

Vatican II: Dù đươc nhập hiệp vào Giáo hội, nhưng nếu họ không kiên trì Sống theo đức ái họ vẫn không được cứu rỗi. Vì tuy thể xác họ thuộc về Giáo hội, nhưng tâm hồn họ không ở trong Giáo hội. (GH#14)

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì khi nhận tiệc Thánh Thể: (So what am I doing/ For Action)

Tôi có thể chọn 1 trong 3 Gợi ý Cảm Nghiệm Sống và chia sẻ ở phầ A để áp dụng vào đời sống trong Gia đình và nơi làm việc.

D- Tôi cầu nguyện và Sống cầu nguyện: Lạy Cha, Đức Giêsu đã nói với các mộn đệ: chính anh em hãy cho họ ăn. Xin cho con thực sự nghĩ tốt, nói hay và làm điều lành cho người khác, dù người đó có công kích, nói xấu, thù ghét con.


LƯU Ý:Theo yêu cầu của một số LM, PT, TS, các bạn, các Nhóm Chia sẻ Lời Chúa và Cầu nguyện Thánh Linh…trên Net toàn cầu. Kể từ sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, bài Cảm nghiệm Sống Lời Chúa sẽ viết xoáy về đổi mới trong Thánh Thần là không theo xác thịt chi phối qua thư Rôma 8, 5- 13 và thư Galat 5, 16- 24. Vì từ cá nhân, gia đình cho đến thế giới ngày nay ít người Sống theo Thánh Thần, nhưng theo xác thịt và các tật xấu của nó, nên có nhiều sự ác đang xảy ra!!!
Ptế Nguyễn Định
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây