Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 101-150 Chúa Lên Trời

Thứ tư - 09/05/2018 06:02
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 101-150 Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 101-150 Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 101-150 Chúa Lên Trời
LênTrời-101: Vị quan tòa kỳ lạ - Phaolô Ngô Suốt 2
LênTrời-102: Trần thế là con đường về trời- Martin Lê hoàng Vũ. 4
LênTrời-103: Hạnh phúc cho những người Kitô hữu. 5
LênTrời-104: HAI CÁCH THẾ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA GIÊSU.. 7
LênTrời-105: HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG VĨNH CỬU TRÊN TRỜI 10
LênTrời-106: MỘT TÌNH YÊU LÊN NGÔI – MỘT TÌNH YÊU Ở LẠI 12
LênTrời-107: GÀ CÔNG NGHIỆP ! 15
LênTrời-108: CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ ĐƯỢC THIÊN CHÚA TÔN VINH.. 17
LênTrời-109: Không giải thích được. 21
LênTrời-110: Chúa lên trời 22
LênTrời-111: Sức mạnh từ trời cao. 23
LênTrời-112: Chia sẻ của Đức Gioan Phaolô II 25
LênTrời-113: Chứng nhân. 27
LênTrời-114: TRUYỀN THÔNG, MỘT PHƯƠNG TIỆN LOAN BÁO.. 28
LênTrời-115: Chúa về trời 31
LênTrời-116: HIỆN RA TẠI GALILÊ VÀ BAN SỨ MỆNH PHỔ QUÁT.. 33
LênTrời-117: Sự sống mới- hiện diện mới - ĐTGM. Ngô quang Kiệt 37
LênTrời-118: Ta ở với các ngươi mãi mãi 39
LênTrời-119: Lễ Chúa Thăng Thiên năm B.. 40
LênTrời-120: Lời trối thiêng liêng của Đức Giêsu! 43
LênTrời-121: THĂNG THIÊN, SỰ HƯỚNG VỀ.. 44
LênTrời-122: GIÁO HỘI THI HÀNH SỨ VỤ MỚI 48
LênTrời-123: XÂY DỰNG NƯỚC TRỜI 55
LênTrời-124: Bình An cho Anh Em.. 56
LênTrời-125: Suy niệm Lễ Chúa Thăng Thiên. 59
LênTrời-126: QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA Ở TRÊN TRỜI 61
LênTrời-127: Cùng loan Tin Mừng với Chúa Giê-su. 63
LênTrời-128: Con đang nối dài bàn tay cứu độ Chúa đến với mọi người 65
LênTrời-129: ÁI MỘ NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI - Pm. Cao Huy Hoàng. 69
LênTrời-130: THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?. 72
LênTrời-131: SỐNG LÀ CHÚA KITÔ - Trần Mỹ Duyệt 74
LênTrời-132: ĐẤT THẤP TRỜI CAO.. 77
LênTrời-133: THĂNG THIÊN - Bảo Lộc. 79
LênTrời-134: LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI THỜI NAY! 81
LênTrời-135: Chúa lên trời 84
LênTrời-136: Công giáo. 85
LênTrời-137: Nơi Chúa hẹn gặp ta. 86
LênTrời-138: Chú giải của William Barclay. 88
LênTrời-139: Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux. 89
LênTrời-140: Chú giải của Noel Quesson. 92
LênTrời-141: Chú giải của Fiches Dominicales. 95
LênTrời-142: Chúa lên trời 98
LênTrời-143: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 99
LênTrời-144: Niềm hy vọng Nước Trời - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 106
LênTrời-145: Không giải thích được - Achille Degeest 107
LênTrời-146: Chúa tin tưởng chúng ta. 108
LênTrời-147: Thời kỳ của Giáo Hội 109
LênTrời-148: NHÂN CHỨNG CHO ĐỨC KITÔ.. 111
LênTrời-149: Chú giải của Noel Quesson. 113
LênTrời-150: Suy niệm của R. Gutzwiller 116

 

LênTrời-101: Vị quan tòa kỳ lạ - Phaolô Ngô Suốt

Vào năm 1871 Charles Robert Darwin đã cho phát hành cuốn sách tựa đề “The Descent of Man: LênTrời-101

Vào năm 1871 Charles Robert Darwin đã cho phát hành cuốn sách tựa đề “The Descent of Man” (xin dịch là “Con người được sinh xuống”. Đây là học thuyết tiến hóa mà những người theo phái Duy vật biện chứng hay Xã hội chủ nghĩa tin theo. Chữ xuống (descent) có nghĩa là phải đến từ một nơi nào đó cao hơn, nó cũng có nghĩa là di truyền theo dòng giống. Tuy nhiên những điều mà Darwin muốn nói đến là dòng giống, và chính xác hơn nữa đó là con người được sinh lên (the ascent of man), con người bắt nguồn từ một động vật thấp kém, nhưng do quá trình tiến hóa; con người do một giống khỉ hay vượn cao cấp nào đó mà thành, Cùng một chữ lên (ascent), nhưng người Kitô hữu tin rằng cuối cùng mình sẽ lên với Thượng Đế; còn người vô thần, theo duy vật thì cho rằng con người đã kết thúc ở đây vì : nhân loại do súc vật lên làm người.
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa lên Trời, ngày Ngài hoàn tất sứ mạng ở trần gian mà Thiên Chúa Cha đã trao cho Ngài. Chúng ta cùng tìm hiểu về không gian và thời gian, về sự trùng hợp lạ lùng, khó hiểu cũng như ý tưởng độc đáo đàng sau bối cảnh tuyệt vời này.
Sau khi sống lại, Thiên Chúa đã ở với các Tông đồ 40 ngày, chứng tỏ rằng Ngài đã Phục Sinh thật sự, vì nếu sau khi sống lại Ngài lên Trời ngay thì sẽ gây biết bao nhiêu là nghi ngờ cho thiên hạ. Thánh Tôma Aquinô nhận xét rằng :” Chúa Giêsu ở trong mồ 40 tiếng đồng là bằng chứng Ngài chết thật sự, Bởi thế Ngài lưu lại trên thế gian 40 ngày là bằng chứng sự sống mới của Ngài”. Đọc Phúc âm chúng ta thấy rằng Núi Olivet là ngọn núi đã được chọn sẵn cho Chúa Kitô. Chính cuộc khổ nạn của Ngài bắt đầu tại đây. Chính tại nơi này, sau khi Ngài sang bên kia suối Kítrôn, bị môn đệ phản bội, nộp Ngài cho kẻ thù. Nhưng cũng chính tại núi này, hôm nay Ngài lên Trời, Ngài vinh thắng trở về với Cha Ngài. Thứ hai, bốn mươi ngày sau Chúa nhật Phục Sinh là ngày thứ năm (để tiện cho phụng vụ, cũng như muốn làm nổi bật ý nghĩa của ngày Chúa lên Trời nên Giáo Hội dời vào Chúa Nhật). Ngày Chúa bắt đầu cuộc khổ nạn cũng vào ngày thứ năm, Thứ Năm Tuần Thánh, trong vườn Olives Ngài đã toát mồ hôi máu, bị phản bội và bị bắt. Rồi cũng ngày thứ năm hôm nay, Ngài vinh hiển tiến về Thiên quốc. Cùng một thời gian và cùng một không gian nhưng hai sự việc một tốt, một xấu xảy ra. Phải chăng sự đau khổ, chết chóc phải xảy đến, rồi sự hạnh phúc, vinh quang mới đến sau. Hay nói cách khác sự thành toàn, viên mãn không thể có nếu thập giá, đau khổ không xảy ra.
Có thể nghĩ rằng : Thiên Chúa muốn dạy chúng ta một bài học “sống”, đó là hằng ngày Ngài gởi đến cho chúng ta những đau đớn, tai họa, phiền muộn tức là Ngài chuẩn bị cho chúng ta một tương lai huy hoàng, vinh phúc. Ngày mà chúng ta bị bẻ mặt, xấu hổ nhất, có thể đó là sự bắt đầu cho những tán tụng, tôn vinh; bắt đầu cho sự cứu độ. Trong số ngàn ngàn vị Thánh của Giáo Hội, xin được đơn cử một vị Thánh : Inhaxio của Loyola, vị sáng lập Dòng Tên. Ngài là một quân nhân, gần ba mươi tuổi. Một thanh niên bình thường, yêu đời và có rất nhiều tham vọng. Trong trận bị bao vây ở Pampeluna, Ngài bị thương nặng, chân phải bị những mảnh đạn đại bác phá nát. Ngài phải điều trị rất lâu, chịu nhiều đau đớn. Để giết bớt thời giờ, Ngài hỏi mượn mấy cuốn tiểu thuyết tình cảm để đọc, tiếc thay ở nhà thương Ngài đang điều trị không có những cuốn sách đó, người ta đưa cho Ngài cuốn “Cuộc đời Chúa Kitô” và “Cuộc đời của các Thánh”. Thế rồi, cuộc đời Ngài đã thay đổi hoàn toàn sau khi nghiền ngẫm những cuốn sách này. Đang là một quân nhân, Ngài muốn mình trở thành một quân nhân cho Chúa Kitô. Bất chấp mọi trở lực, Ngài đã biến mơ ước của mình thành hiện thực, Ngài lập Hội Chúa Giêsu (Society of Jesus), làm rất nhiều điều tốt lành để tôn vinh Thiên Chúa và cứu thoát các linh hồn. Ngài đã trở thành một vị Thánh lớn trên thiên đàng. (Hiện nay những phương pháp cầu nguyện Ngài đề ra được các nhóm Linh Thao sử dụng) Rõ ràng ngày Thánh Inhaxiô bị thương nặng, cũng là ngày bắt đầu cho sự thánh hóa và ơn cứu độ cho cuộc đời Ngài. Nếu Ngài không bị thương tích, đau đớn kéo dài, có lẽ Ngài vẫn là người bình thường như chúng ta. Đó cũng là lý do mà Thánh Tiến Sĩ Augustinô viết rằng :”Đau khổ là một phương thuốc, chứ không phải là một hình phạt”.
Tóm lại, hôm nay chúa vinh hiển về Trời, để tâm hồn chúng ta cũng biết hướng về đó. Và chắc chắn như lời Ngài hứa là Ngài sẽ trở lại để phán xét nhân loại. Ngài sẽ trở lại để làm Thẩm Phán cho cuộc xử chung thẩm. Chỉ khác một điều là Quan Tòa này khi xét xử không cần hỏi tội trạng bị can, không cần nghe trình bày. Ngài chỉ nhìn và đối chiếu 5 vết thương trên người bị can với năm vết thương mà thế gian đã ghi khắc vào cơ thể Ngài. Chỉ cần nhìn mà Ngài cũng biết chúng ta có biết chấp nhận những đau khổ khi xưa, và dùng nó như một phương thuốc cho sự cứu thoát linh hồn chúng ta hay không. Chỉ cần nhìn mà Ngài cũng thấy rõ là chúng ta có biết hy sinh cho tha nhân để gây ơn ích hay không. Xin mượn ý tưởng của Đức cố Tổng Giám Mục Fulton J. Sheen để kết thúc : “Khi Chúa trở lại để đón nhận và xét xử chúng ta lần cuối, Ngài sẽ nhìn xem chúng ta có mang những vết tích thập giá trên thân xác mình không. Ngài sẽ nhìn vào đôi tay của chúng ta để nhìn xem nó có bị đóng đinh, bị chai đá, thương tích vì đã hy sinh khi phải cho đi những cái mà nó làm ra không. Ngài sẽ nhìn vào đôi chân, để xem nó có tím bầm, bị gai nhọn, đinh sét đâm thủng vì đi tìm những con chiên bị lạc không. Ngài sẽ nhìn vào lồng ngực chúng ta để nhìn xem nó có từng mở rộng để đón tiếp, rồi quyện lẫn với trái tim yêu thương của Thiên Chúa Tình Yêu không”.

 
 

LênTrời-102: Trần thế là con đường về trời- Martin Lê hoàng Vũ

Hôm nay lễ Chúa Thăng Thiên, tức là Đức Giêsu về trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Ngài được: LênTrời-102

Hôm nay lễ Chúa Thăng Thiên, tức là Đức Giêsu về trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Ngài được tôn vinh là chủ tế của vũ trụ này. Nhưng thật ra Đức Giêsu đã lên trời sau khi sống lại, thời gian 40 ngày Ngài hiện ra với các tông đồ chỉ để củng cố đức tin cho các Ngài và ngày Chúa lên trời là chấm dứt những lần hiện ra của Ngài. Chúa lên trời để chỉ cho chúng ta con đường để về trời với Ngài. Con đường ấy rất thiết thân với mọi người. Đó là chúng ta sống trong trần thế có con người và biết bao điều phải yêu mến.
Trần thế cõi "hỉ, nộ, ái,cụ, ố, đục" này, chẳng tốt cũng chẳng xấu. Tốt hay xấu là còn tùy con người hành xử ra sao. Nếu chúng ta tham lam ích kỷ, hận thù trần thế này sẽ mãi mãi là nơi bất ổn. Còn nếu chúng ta sống yêu thương, giúp đỡ, và có trách nhiệm thì trần thế này sẽ trở thành thiên đường đáng sống. Chúng ta tuy không thuộc trọn về trần thế này phải sống hết mình với nó. Chúng ta dùng trái tim yêu thương mà Chúa ban để mở lòng đón nhận tất cả mọi người. Sống liên đới yêu thương và gắn bố với mọi người. Sống trong trần thế chúng ta có rất nhiều bổn phận phải chu toàn.
Đức Giêsu trong cuộc đời trần thế là mẫu gương cho các Kitô hữu. Ngài đã sống hết mình vì mọi người đến cả hy sinh mạng sống cho mọi người. Ngài thấu hiểu tâm tư khát vọng của những người Do-thái đường thời. Ngài thông cảm với những đau khổ và nỗi cơ cực của phận người. Ngài nhìn thấy thực trạng xã hội Do-thái thời đó như thế nào. Để Ngài giúp họ, làm cho đời sống của họ nên tốt hơn và phù hợp với những giá trị của Tin Mừng.
Bởi thế không bao giờ Chúa muốn chúng ta tách mình ra khỏi trần thế hay chạy trốn những nghĩa vụ trần thế. Sống như Ngài là chia sớt những khổ đau và vất va cuả tha nhân Yêu thương là hành động cho cuộc đời của họ được hạnh phúc hơn và sống xứng với phẩm giá con người. Vì trần thế này là con đường đưa chúng ta về trời.
Chúa lên trời không có nghĩa là Ngài mất nút đi vào không trung mời "thần tiên" ở Lời Chúa luôn mời gọi chúng ta đến với tha nhân để tìm được niềm hạnh phúc của người biết yêu thương. Vì ngày nay con người thường tự tạo cho mình những "thiên đường mong manh". Nơi đó chỉ đóng khung trong bốn bức tường của ngôi nhà biệt thự sang trọng. Nơi đó không có tình yêu thương gia đình mà chỉ có bổn phận và cảnh giả tạo của cuộc sống bên nhau và chính những nơi đó càng ngày con người càng xa rời Chúa và thực tại nước trời vĩnh cữu.
Ước chi chúng ta đừng chỉ đứng nhìn trời mà phải quay về cuộc sống bình thường để chẩn bị hành trang lên đường về quê trời vĩnh cữu sau này.Một hành trang gọn nhẹ vô cùng quý giá là trái tim mến Chúa và yêu người cùng với sự nỗ lực muốn làm điều tốt đẹp cho tha nhân.

 
 

LênTrời-103: Hạnh phúc cho những người Kitô hữu

CHỦ NHẬT LỄ THĂNG THIÊN

Tin Mừng : Mc 16, 15-20.

Anh chị em thân mến,

 

Sống ở đời ai cũng thích tìm hạnh phúc cho mình, nhưng chúng ta -những người Kitô hữu- đều: LênTrời-103

Sống ở đời ai cũng thích tìm hạnh phúc cho mình, nhưng chúng ta –những người Kitô hữu- đều biết rằng, hạnh phúc đích thực không phải ở tại trần gian này, mà ở trên thiên đàng, nơi có Chúa Giêsu –Đấng đã chết, đã sống lại và lên trời- đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, cùng với Mẹ Maria và các thánh nam nữ.

Trước mặt các tông đồ, Chúa Giêsu đã về trời, về nơi Ngài đã ở trước khi xuống thế làm người, về lại bên hữu Chúa Cha, để rồi sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ lành người dữ.

1. Ngước mặt nhìn trời.

Các tông đồ đang ngỡ ngàng nhìn trời như vừa mất một cái gì cao quý, các ông ngước mặt nhìn trời, nhìn mãi cho đến khi thiên thần nhắc nhở làm các ông trở về với thực tại : cuộc sống ở trần gian. Ngước mặt nhìn trời mà lòng ao ước được về trời với Thầy chí thánh, lòng các tông đồ xôn xao vui sướng vì từ nay mình còn có một nơi rất hạnh phúc, hạnh phúc và bình an, đó là được sum họp với Chúa trên cỏi trời cao kia.

Cuộc sống của chúng ta, thực tại của chúng ta là trần thế, sống trong trần thế với tất cả những gì là của trần thế, nhưng lòng của chúng ta vẫn luôn hướng về trời, hướng về trời tức là hướng về Chúa Giêsu, là nhớ lại những lời của Ngài đã nói đã dặn dò : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi loài thọ tạo”, mọi loài thọ tạo là bao gồm tất cả những gì mà Thiên Chúa đã tạo dựng, mà đối tượng quan trọng nhất chính là con người, họ chính là những người đã trở nên anh em chị em của chúng ta trong Đức Kitô.

Ngước mặt lên trời để loan báo Tin Mừng cho anh em chị em, bởi vì không ai loan báo tin vui mà cúi gầm mặt xuống đất; ngước mặt lên để hân hoan, để vui mừng, để cảm tạ, để chia sẻ những gì mà chúng ta đã cảm nghiệm, đã sống trong cuộc sống đời thường của mình, đó chính là niềm vui tha thứ, niềm vui thân thiện, niềm vui phục vụ, niềm vui cảm thông và niền vui cộng tác với nhau trong công việc bổn phận hằng ngày của chúng ta. Đó chính là việc làm tích cực để loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo vậy.

2. Ngước mắt nhìn anh em.

“Các tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi...” bằng lời nói và kèm thêm những dấu lạ, nhưng quan trọng hơn là có Chúa ở cùng các ngài.

Ngày hôm nay chúng ta rao giảng Lời Chúa qua Internet, qua truyền hình, qua truyền thanh, và qua mọi phương tiện có thể, nhưng tất cả những phương tiện ấy là chỉ để hổ trợ cho đời sống Phúc Âm của chính mỗi người chúng ta. Người ta thích nhìn xem hành động bác ái của chúng ta hơn là coi trên truyền hình, người ta thích nghe lời chính miệng của chúng ta nói hơn là đọc trên internet, bởi vì con người thời nay chỉ thích nhìn và nghe những gì thật sống động tự nơi chúng ta -người Kitô hữu- xuất phát ra.

Và chúng ta cũng vậy, khi ngước mặt nhìn trời để trông chờ Chúa đến, thì đồng thời cũng hãy ngước mắt nhìn anh em đang gặp khốn khó để giúp đỡ, ngước mắt nhìn anh em đang thất vọng để ủi an, ngước mắt nhìn anh em đang bị áp bức mà bênh vực và ngước mắt nhìn người nghèo chung quanh chúng ta, họ đang nhìn chúng ta, chờ đợi chúng ta thực hành Lời Chúa : yêu thương người thân cận như chính mình.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay lễ Chúa Thăng Thiên, và cũng là niềm hi vọng được về trời chung hưởng hạnh phúc với Chúa của chúng ta, tôi xin mời anh chị em tự xét mình, tự vấn lương tâm coi chúng ta có ao ước những sự trên trời hơn những sự của trần thế :

a. Có lúc nào tôi ngước mặt nhìn lên tượng Thánh Giá Chúa để nói : Lạy Chúa, con rất yêu mến Chúa.

b. Có lúc nào tôi ngước mắt nhìn anh em, chị em và cầu nguyện thầm : Lạy Chúa, xin ban cho họ được hạnh phúc của Chúa.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

 
 

LênTrời-104: HAI CÁCH THẾ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA GIÊSU

Trong ngày lễ Thăng Thiên hôm nay, tôi muốn chia sẻ với bạn hai vấn đề: Tìm hiểu về nhân vật: LênTrời-104

Trong ngày lễ Thăng Thiên hôm nay, tôi muốn chia sẻ với bạn hai vấn đề: 
Tìm hiểu về nhân vật có tên là Thê-ô-phi-lô. 
Tìm hiểu về hai cách thế hiện diện của Chúa Giêsu Kitô trước và sau khi Ngài về trời.

PHẦN 1: THÊ-Ô-PHI-LÔ LÀ AI?
Đọc cuốn sách Công Vụ Tông Đồ, đặc biệt là bài đọc một của phụng vụ Lời Chúa trong ngày Lễ Thăng Thiên, bạn có khi nào đặt những câu hỏi hay có những thắc mắc…ví dụ như là: 

Ai là tác giả của cuốn sách Công Vụ Tông Đồ?
“Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong quyển thứ nhất…”  Quyển thứ nhất là quyển nào vậy?
Thê-ô-phi-lô là ai? Tại sao tác giả lại nhắc đến tên đó một cách trang trọng ngay câu đầu tiên của quyển Tông Đồ Công Vụ như vậy?
Nếu bạn đã từng có những thắc mắc như trên và bạn đã tìm ra câu trả lời rồi thì cám ơn Chúa.   Còn nếu bạn chưa từng có những thắc mắc hay chưa từng đặt ra những câu hỏi như trên thì hôm nay xin bạn chịu khó cùng với tôi học hỏi và tìm ra những câu trả lời nhé! 
Ai là tác giả của cuốn sách Công Vụ Tông Đồ? Theo các nhà chú giải Kinh Thánh thì thánh Luca chính là tác giả của quyển sách Công Vụ Các Tông Đồ. *
Quyển thứ nhất là quyển nào? Đó chính là quyển Phúc Âm thứ ba mà ta thường gọi “Phúc Âm theo Thánh Luca.”  Như vậy Luca là tác giả của hai quyển Tin Mừng thứ ba và Công Vụ Tông Đồ.
Thê-ô-phi-lô là ai?  Có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng chỉ có hai giả thiết tôi thấy đáng để lưu ý:
Giả thiết thứ nhất cho rằng Thê-ô-phi-lô có thể là một viên sĩ quan hay một viên chức có thế giá người La Mã …có cảm tình đặc biệt với Giáo Hội hay có thể đã chịu phép rửa rồi.  Vì thế cho nên thánh Luca mới có kiểu xưng hô rất long trọng: “Thưa Ngài Thê-ô-phi-lô đáng kính” (Lk 1:1). **
Giả thiết thứ hai cho rằng Thê-ô-phi-lô có nghĩa là NGƯỜI YÊU MẾN THIÊN CHÚA.  Như vậy, bất cứ ai đọc quyển Phúc Âm thứ ba & quyển Công Vụ Tông Đồ cũng đều được tác giả trân trọng gọi là Thê-ô-phi-lô: Người yêu mến Thiên Chúa (Luke 1:1; Acts 1:1). ***
Bạn thấy giả thiết nào có lý hơn?  Tôi nghĩ giả thiết thứ hai rất có lý.  Tại sao vậy?  Bởi vì cả hai tác phẩm không phải chỉ viết riêng cho một nhân vật hay cho một cá nhân nào mà là viết cho mọi người, viết cho mọi thế hệ được biết và hiểu rõ: 
Về cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô từ lúc nhập thể, giáng sinh, đời sống công khai, chịu nạn, chịu chết, sống lại và lên trời (Phúc Âm Luca)
Về những hoạt động, sự hình thành của Giáo Hội thời sơ khai cùng với những gian lao, khó nhọc, thử thách cũng như thành công trong việc loan báo Tin Mừng của các tông đồ, đặc biệt là của hai thánh Phêrô và Phaolô (Công Vụ Tông Đồ).

PHẦN 2: CÁCH THẾ HIỆN DIỆN CŨ & MỚI CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ
Khi mừng lễ Chúa Giêsu lên trời, bạn và tôi phải tin chắc vào hai điều này:
 

Thân xác Phục Sinh của Đức Giêsu đã được cất lên trời trước sự chứng kiến đầy ngỡ ngàng và vui mừng của các tông đồ và trong ngày sau hết, cũng chính Ngài sẽ xuống phán xét trần gian.  “Sự lên trời của Chúa Kitô đánh dấu sự nhân tính của Ngài đã chung cuộc bước vào lãnh vực trời cao của Thiên Chúa, từ nơi đó Ngài sẽ lại đến, nhưng trong thời gian đó, sự lên trời của Đức Kitô đã che dấu Ngài khỏi mắt người ta” (Giáo Lý Công Giáo  # 665)  .
Thân xác cùng với linh hồn của tôi sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang (Cl 3:4) bởi vì “Chúa Giêsu Kitô, Đầu của Giáo Hội, đã đi trước chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha, để chúng ta, những chi thể của Thân Thể Ngài, được sống trong niềm hy vọng là một ngày nào đó mình cũng được muôn đời ở với Ngài (Giáo Lý Công Giáo # 666) .
Thế nhưng xin bạn nhớ dùm tôi điều này: Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài chấm dứt sự hiện diện với chúng ta hay là vĩnh viễn xa lìa chúng ta.  Không phải vậy! Chúa Giêsu không bao giờ để chúng mình mồ côi đâu! (Jn 14:18).   Khi Chúa Giêsu lên trời, Ngài chỉ thay đổi cách hiện diện của Ngài mà thôi!  Ngài không còn ở lại với chúng ta qua cách thế hiện diện cũ: bằng chính thân xác Phục Sinh vinh hiển của Ngài, nhưng Ngài vẫn ở lại qua cách thế hiện diện mới với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28:20)!
Cách thế hiện diện mới của Đức Giêsu là những cách thế gì?  Xin thưa những cách thế hiện diện mới của Ngài thì nhiều lắm, tôi chỉ xin nêu ra ba cách thế hiện diện đặc biệt nhất của Ngài, đó là:
 

Sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể và trong Nhà Tạm: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Jn 6:56). 
Sự hiện diện trong sự hiệp nhất: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18:20).
Sự hiện diện trong những hành vi bác ái: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).
Bạn thân mến, nếu bạn và tôi tin chắc rằng Đức Giêsu Kitô đang hiện diện trong Bí Tích Thánh Thể, trong Nhà Tạm, trong sự hiệp nhất, và trong tình yêu thương, bác ái… thì chúng mình phải có bổn phận và trách nhiệm làm cho sự hiện diện của Thiên Chúa càng ngày càng sáng tỏ hơn và phải làm mọi cách có thể để cho thiên hạ biết và tin rằng Thiên Chúa vẫn còn đang hiện diện ở giữa, ở trong, ở với và qua từng biến cố vui buồn trong cuộc đời của họ.
Làm cách nào để sự hiện diện của Thiên Chúa được tỏ bày ra cho thiên hạ thấy và tin đây?  Có rất nhiều phương cách khác nhau mà có lẽ bạn đã biết rõ hơn tôi ví dụ như: sống yêu thương, làm việc bác ái, chia sẻ của cải cho những người nghèo, tha thứ cho kẻ thù, khiêm tốn trong cách giao tiếp, vui vẻ, niềm nở, và lạc quan trong mọi hoàn cảnh…
Thế nhưng có một cách rất hay, mà nếu bạn còn có cơ hội (tức là chưa lập gia đình) thì xin mời bạn hãy mau mau thực hiện để nhiều người sẽ nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời này.  Đó là ĐI TU!  Thật đấy! Đi tu là phương cách chứng minh hùng hồn nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời này là bởi vì khi thấy những thanh niên thiếu nữ dâng mình cho Chúa, thiên hạ sẽ có một trong những thắc mắc sau đây: 

Nếu Thiên Chúa không hiện diện ở trong cuộc đời này thì tại sao lại mấy người trẻ lại tự nguyện tuyên khấn từ bỏ ba thứ hấp dẫn nhất trên đời này: thú vui xác thịt, tự do cá nhân và quyền sở hữu tài sản? 
Nếu Thiên Chúa không hiện diện ở trên trần gian này thì tại sao trong suốt hai mươi thế kỷ nay, các dòng tu, các  linh mục, tu sĩ nam nữ ở khắp mọi nơi trên thế giới không ngừng đọc kinh, nguyện ngắm, chầu Thánh Thể và tham dự thánh lễ như vậy?
Nếu Thiên Chúa không hiện diện thì làm sao Giáo Hội Công Giáo có thể tồn tại được trong suốt hai mươi thế kỷ vừa qua dưới sự lãnh đạo của hàng ngũ giáo sĩ, những con người bất toàn, yếu đuối, tội lỗi và đầy khuyết điểm như vậy? 
Có thể bạn không đồng ý với tôi rằng đi tu là một phương cách rất hay để cho thiên hạ thấy được cách thế hiện diện mới của Thiên Chúa ở trong thế giới này.  Nhưng tôi dám cam đoan với bạn rằng đi tu là cách hay nhất để thực hiện mệnh lệnh của Chúa Giêsu trước khi Ngài về trời: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28:19-20).  Bạn thấy sao?
Bạn có muốn thực hiện một cách tốt đẹp mệnh lệnh của Chúa Giêsu Phục Sinh không?  Đi tu đi!
phamtinh@yahoo.com
Phần chú thích:
* Truyền thống Hội Thánh đồng ý nhận tác giả Sách Tin Mừng thứ ba cũng là tác giả sách Công Vụ Tông Đồ …Thánh I-rê-nê, thư quy Mu-ra-to-ri, lời tựa chống Mác-xi-ô đều công nhận sách CVTĐ là của thánh Luca  (Dẫn Nhập Sách CVTĐ, Kinh Thánh Tân Ước, 1994, p. 487)
** Theo học giả Kinh Thánh Ronald L. Conte Jr., Luke's Gospel and Acts are both addressed to the same Roman official, Theophilus. Luke uses the formal term “most excellent” to address Theophilus in his Gospel (Lk 1:3). This language was commonly used in addressing Roman officials.
*** The name Theophilus means “one who loves God;” “Theo” refers to God (as in “Theology”), and “philus” is from the Greek word 'philos' meaning “to love”  http://www.catholicplanet.com/TSM/NT-Luke.htm

 
 

LênTrời-105: HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG VĨNH CỬU TRÊN TRỜI

Lễ Chúa Thăng Thiên, Năm B
Cv 1:1-15; Ep 1:17-23; Mc 16:15-20 

 

Việc Đức Giêsu lên trời xem ra đã hoàn tất sứ mệnh của Người tại thế: sinh ra, lớn lên, chết đi: LênTrời-105

Việc Ðức Giêsu lên trời xem ra đã hoàn tất sứ mệnh của Người tại thế: sinh ra, lớn lên, chết đi và sống lại, nhưng thực ra đó là cách thế hiện diện mới của Người trong Giáo hội qua Thần trí của Người. Theo Phúc âm thánh Luca, Ðức Giêsu: Ðược lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (Mk 16:10). Sách Công vụ Tông Ðồ thì ghi: Người được cất lên ngay trước mắt các ông và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa (Cv 1:9). Còn thánh Phaolô thì bảo: Ðức Kitô trỗi dậy từ cõi chết và đặt ngự bên hữu Người (Chúa Cha) trên trời Ep 1:20). Việc Chúa lên trời dạy ta nhiều bài học. Là người tín hữu, ta biết thế đứng của mình, điều gì mình phải tin, việc gì mình phải làm, tại sao ta được sinh ra ở trần gian này và phải đi về đâu, bởi vì Ðức Giêsu đã đi trước để dọn đường cho ta. Ðó là điều Giáo hội tuyên xưng trong Kinh Vinh danh: Chúa ngự bên hữu Chúa Cha, xin thương xót chúng con, và còn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: Người lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha.

Vậy thì trời là gì? Quan niệm của dân gian Việt nam coi trời là bầu trời, khoảng không gian, giống như một vòm vô biên úp trên trái đất. Trời cũng được hiểu là quyền lực siêu nhiên trên trời cao, đóng vai trò tạo dựng, điều hành và thưởng phạt. Khi hiểu theo nghĩa này, thì người mình thường thêm từ ông vào trước và gọi là Ông Trời. Ông Trời đó của dân gian Việt Nam, một phần nào cũng là Thượng Ðế và là Thiên Chúa của người Kitô giáo. Theo Thánk kinh, thì trời vừa là hiện tượng tự nhiên, vừa mang ý niệm thần học. Người Do thái thời bấy giờ coi trời là nơi ngự trị của Thiên Chúa ở bên trên bầu trời. Còn Thiên Chúa giáo coi trời hay thiên đàng hoặc thiên đường là nơi hạnh phúc, chốn an nghỉ hay trạng thái của linh hồn người công chính, đã được thanh luyện khỏi tội lỗi. Thi sĩ Nguyễn Du đã phải đọc hay nghe nói về giáo lí thiên đường của Thiên Chúa giáo, nên mới viết trong Truyện Kiều: Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu.

Việc Chúa về trời hay về thiên đàng là dấu chỉ cho cùng đích của người tín hữu. Dẫu có luyến tiếc nhà cửa, tài sản và sự nghiệp thế gian, một ngày nào đó, ta sẽ phải rời khỏi trần thế. Mặc dù loài người được coi là trung tâm điểm của vũ trụ, con người vẫn phải tìm cứu cánh cho mình để có thể trở về nguồn gốc và cội rễ của mình. Nếu không thì đời sống con người ở trần gian sẽ mất ý nghĩa và sẽ qua đi như loài vật, cỏ cây và hoa lá.

Hôm nay mỗi người cần tự hỏi: Có bao giờ ta đã hướng lòng trí về trời, về những ý tưởng cao đẹp, vị tha và bác ái chăng? Việc hướng lòng trí về trời sẽ giúp cho lòng trí ta siêu thoát dần dần khỏi những sự vật trần thế, mặc dầu ta vẫn phải sử dụng những sự vật này hằng ngày. Việc hướng lòng trí về trời sẽ giúp ta nghĩ đến việc sửa soạn thanh toán sổ sách nợ nần với Chúa và thế gian (Mt 25:19). Việc hướng lòng trí về trời phải giúp ta sửa soạn rời khỏi đời này dần dần về tâm trí để đối diện trước toà phán xét công minh. Ta cũng sửa soạn cho con cháu đối xử với nhau ra sao theo tình huynh đệ khi ta đã ra đi vĩnh viễn.

Mỗi tuần ta đã dành cho nước trời được bao nhiêu thời giờ để đến nhà thờ dâng thánh lễ, đọc kinh, cầu nguyện. Ta đã làm việc cho nước trời được bao nhiêu thời giờ trong việc phục vụ, việc từ thiện bác ái? Hay ta chỉ mải miết cặm cụi: bảy ngày một tuần với những sự việc trần thế? Có phải ta coi nước trời là quá cao siêu, xa vời về thời gian cũng như không gian như trời cao đất thấp, cho nên ta đặt cùng đích của cuộc sống vào đời này cho xong chuyện? Trong Phúc âm Chúa nhắn nhủ ta: Trước hết hãy tìm kiếm nước Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những sự khác, Người sẽ ban sau (Mt 6:33).

Khi suy gẫm về Mầu Nhiệm thứ hai Năm Sự Mừng: Ðức Chúa Giêsu lên trời trong chuỗi Mân côi: Ta xin cho được ái mộ những sự trên trời. Vậy ta có ý thức được điều mình xin hay ta chỉ đọc kinh một cách máy móc? Và nếu ý thức được điều mình xin, ta có thực hành những điều mà ta ái mộ về nước trời không? Vậy những sự trên trời là gì? Những sự trên trời là những giá trị Phúc âm: chân thật, công chính, thanh liêm, ngay thẳng, vị tha, bác ái.. Những sự trên trời là tám mối Phúc thật: Phúc cho những ai thế nọ, thế kia. . vì nước Trời là của họ. Khi thánh Mạc-tin thành Tours gần chết trên giường bệnh, ngài nhìn thẳng lên, suy niệm về đường Chúa lên trời, để cho tư tưởng hướng về trời. Việc Chúa lên trời phải là dấu hi vọng cho người tín hữu ở trần thế. Ðó là điều mà thánh Phaolô bảo tín hữu Êphêsô: Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hi vọng anh em đã nhận được (Ep 1: 18).

Ngày lễ Chúa lên trời phải nhắc nhở cho ta về quê hương vĩnh cửu của ta ở trên trời. Trước khi về trời Ðức Giêsu hứa sẽ trở lại đón ta khi Người phán: Thầy đi và dọn chỗ cho chúng con rồi, Thầy lại đến đón chúng con về cùng Thầy, cốt cho Thầy ở đâu, các con cũng được ở đó (Ga 14:2-3). Và Chúa còn cầu nguyện cho ý hướng đó: Lậy Cha, đối với những kẻ Cha đã trao phó cho con, thì con muốn rằng, hễ con ở đâu, họ cũng được ở đó với con, để họ mục kích sự vinh hiển Cha đã ban cho con (Ga 17:24).

Lời cầu nguyện: xin cho được yêu mến những sự trên trời:

Lậy Ðức Giêsu, qua việc lên trời,
Chúa dậy con quê hương vĩnh cửu,
không phải ở tại đời này,
nhưng hệ tại vào đời sau.
Xin khơi dậy trong con một tâm hồn,
biết ái mộ và tìm kiếm những sự trên trời,
để mai sau con được đón vào thiên giới. Amen.
LM. Trần Bình Trọng

 
 

LênTrời-106: MỘT TÌNH YÊU LÊN NGÔI – MỘT TÌNH YÊU Ở LẠI

 -MỘT TÌNH YÊU BIẾN ĐỔI BỘ MẶT THẾ GIỚI 
 

Chúng ta mừng lễ Chúa lên Trời. Trời ở đây không phải là trời xanh. Cái mà chúng ta thấy và: LênTrời-106

Chúng ta mừng lễ Chúa lên Trời. Trời ở đây không phải là trời xanh. Cái mà chúng ta thấy và gọi là trời xanh ấy chỉ là tầng khí quyển của trái đất mà thôi. Trời đây cũng không phải là khoảng không gian bao la ngoài trái đất mà chúng ta vẫn gọi là vũ trụ. Xác định như thế để chúng ta khỏi hiểu nhầm. Vì thực tiễn cuộc sống cho chúng ta thấy có những người rất giỏi về mặt này nhưng lại rất mơ hồ về mặt khác và từ đó có những cái nhầm đáng tiếc. Có những người rất tinh thông khoa học-kỹ thuật nhưng lại rất mê muội về tôn giáo-tâm linh. Chẳng hạn ông Gagarine, phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ, khi trở về trái đất đã phát biểu với báo chí rằng: Tôi đã bay lên Trời và tôi chẳng thấy Chúa đâu cả. Ông nói thế vì ông hiểu trời là khoảng không mênh mông kia.
Là những người tin Chúa, chúng ta không hiểu thô thiển như vậy. Trái lại, trong niềm tin tông truyền và tinh tuyền, chúng ta hiểu rằng: Chúa lên Trời là một kiểu diễn tả của Kinh Thánh, có nghĩa là từ nay Chúa không còn hiện diện bằng xương bằng thịt giữa thế giới này nữa. Chúa lên Trời là Chúa đã vượt qua thế giới vật chất giới hạn này, Người không còn bị không gian và thời gian ràng buộc nữa mà Người đã đi vào trong vinh quang và hạnh phúc vô tận và vĩnh cửu của Đức Chúa Cha. Chúa lên Trời là như lời Thánh Phao-lô nói: Ngài được đặt ngự bên hữu Đức Chúa Cha, Đức Chúa Cha tôn dương Chúa Giê-su lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị ( Ep 1, 20 – 21 ). Chúa lên Trời là Chúa đi vào một tình trạng, chứ không phải là đi về một nơi chốn. Đó là tình trạng của con người đã chiến thắng tội lỗi, chiến thắng sự chết, làm chủ được vận mạng của mình và của thế giới.
Chúa đã lên Trời, như Thánh Lu-ca mô tả trong sách tông đồ Công vu, là ra đi trong vinh quang, ra đi trong sự ngẩn ngơ, luyến tiếc của các môn đệ. Đó là một cuộc RA ĐI RẤT ĐẸP. Chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài, chúng ta cũng vẫn thấy đó là một cuộc ra đi rất đẹp. Ra đi trong vinh quang và ra đi trong sự nuối tiếc của con người. Tôi thấy trong lịch sử những vị đế vương khi lên ngôi được người ta hoan hô nhưng khi xuống lại bị người ta xách cổ lôi xuống và đôi khi bị người ta cắt cổ. Khi còn sống thì được hoan hô. Khi đã chết lại bị người ta phỉ nhổ. Ít nguời đựơc như Chúa, được ra đi trong sự luyến tiếc của con người mà cụ thể là của các môn đệ.
Chúa lên Trời. Thế là hết một cuộc chung sống mấy chục năm giữa Thiên Chúa và con người. Xem như có vẻ Chúa và người từ nay cách biệt. Xem như có vẻ cõi Trời và cõi người từ này cách biệt. “Tình nghĩa đôi ta có thế thôi”. Xem như có vẻ thế mà thực ra không phải thế. Bởi vì Chúa về Trời bây giờ là một vị Chúa đã làm người. Trong Chúa Giê-su có chất người, có tình người, có những yếu tố vật chất của trần gian, bây giờ con người Giê-su ấy trọn vẹn đi về với Thiên Chúa Cha, thế là trong Thiên Chúa Cha có chỗ của con người, thế là con người có chỗ trong thế giới của Thiên Chúa Cha, thế là ước vọng hợp nhất của con người với Chúa Trời thành hiện thực.
Thầy đi để dọn chỗ cho anh em. Ngày Chúa về Trời là ngày mỗi tình của Thiên Chúa và con người được hoàn thành, là ngày mối tình của Chúa với con người được thăng hoa. Ngày Chúa về Trời là ngày Chúa Giê-su khai thông hoàn toàn lộ trình cứu độ giữa Thiên Chúa và con người.
Chúa Giê-su lên Trời. Chúa đã lên Trời thật như các Tông Đồ làm chứng. Nhưng ngài không xa cách chúng ta. Ngài nói: Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Thầy ở CÙNG anh em. Thầy ở cùng MỌI NGÀY. Thầy ở cùng CHO ĐẾN TẬN THẾ. Chúa Giê-su ở cùng ta mãi mãi. Đúng vậy. Làm sao mà Người có thể xa chúng ta được ! Làm sao tình yêu có thể xa nhau và khiến người ta xa nhau ! Càng yêu nhau, càng sống trong tình yêu nhau, người ta càng nên một với nhau, người ta càng gần nhau.
Chúa là Tình Yêu. Chúa lên Trời là Chúa sống trọn vẹn mầu nhiệm của tình yêu ba chiều: Tình yêu giữa Chúa với Đức Chúa Cha, tình yêu giữa Chúa với con người chúng ta và tình yêu giữa chúng ta với Đức Chúa Cha. Chúa lên Trời nhưng tình yêu của ngài ở lại với chúng ta, tình yêu ấy là Chúa Thánh Thần và là Bí Tích Thánh Thể hữu hình. Chúa Thánh Thần và Bí Tích Thánh Thể giúp chúng ta nên một trong Chúa và trong nhau.
Chúa lên Trời và Chúa để lại cho chúng ta một SỨ MẠNG PHẢI THI HÀNH trong Tình Yêu: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều người đã truyền cho anh em. Có ngạc nhiên không ? Cả đời Chúa sống, Chúa chưa làm được cho dân Do Thái đón nhận Tin Mừng. Thế mà bấy giờ Chúa là bảo các môn đệ đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa. Cả đời mình, Chúa chưa đi hết vùng đất Palestine bé nhỏ, thế mà bây giờ Chúa lại bảo các Tông Đồ đi đến tận cũng trái đất.
Mà các Tông Đồ của Chúa là ai chúng ta biết rồi. Đó là nhóm 11 người còn lại. Đó là những người vốn xuất thân là dân chài lưới, là nhân viên thuế vụ, là thành viên của đảng cách mạng, vân vân. Tư cách của họ, hiểu biết của họ, tài năng của họ vốn phải nói là kém. Lạ thật ! Sao Chúa đang giao cho các môn đệ một nhiệm vụ mà chính Chúa khi còn tại thế cũng không làm được ? “Vua chèo còn chẳng ra chi, quan chèo bôi nhọ khác chi thằng hề ?” Theo cái nhìn của những người khôn ngoan thông thái, trong tính toán của những đầu óc hoạch định chiến lược, dường như lệnh truyền của Chúa cho các môn đệ đó là nhiệm vụ bất khả thi !?!
Nhiệm vụ ấy các môn đệ có dám làm và có làm được không ? Các ông ngại. Các ông do dự. Các ông cứ đứng nhìn Chúa về Trời. Người ta vốn vậy. Người ta thích nhìn vào vinh quang, ngay cả khi vinh quang ấy không thuộc về mình. Mấy người biết như nhà thơ Thanh Thảo viết trong báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật 8.5.2005 rằng: “Thế hệ chúng tôi không sống bằng kỷ niệm, không dựa dẫm vào những hào quang có sẵn”. Các Tông Đồ muốn sống với vinh quang của Chúa. Thế nhưng Chúa lại muốn các ông trở về sống với cuộc đời thường, với niềm tin và sứ mạng của mình. Phải trở về với cuộc sống và phải ra đi thi hành lệnh truyền rao giảng Tin Mừng cho muôn dân đến tận cũng trái đất.
Các Tông Đồ vâng lời và cuối cùng chúng ta thấy các ông đã hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Ít năm sau Tin Mừng đã được các ông rao giảng khắp thế giới Rô-ma và một số vùng khác trên thế giới. Rồi Tin Mừng phổ biến khắp năm châu. Ngày nay số Ki-tô hữu đã lên đến hơn 2 tỷ người, trong đó có hơn 1 tỷ là người Công Giáo. Tin Mừng đã và đang làm thay đổi bộ mặt thế giới. Các Tông Đồ đã làm cho điều Chúa nói thành hiện thực, không phải vì các ông khôn ngoan, thông thái, tài giỏi, nhưng vì các ông có niềm tin và tình yêu Chúa.
Ai tin vào thầy thì sẽ làm được những việc Thầy làm và con làm được những việc lớn lao hơn nữa ( Ga 14, 12 ). Thầy ra đi thì có lợi cho anh em hơn ( Ga 16, 7 ). Nhìn vào Giáo Hội trên thế giới cũng như tại Việt Nam tôi thấy đúng vậy. Đúng là Chúa ra đi thì có lợi cho chúng ta hơn.
Tôi thấy có cái ra đi lại là cái ở lại. Có cái xa nhau để gần nhau mãi mãi. Có cái tưởng như mất lại là được. Có cái kết thúc lại là cái bắt đầu. Biến cố Chúa về Trời là như vậy. Ngày Chúa về Trời là ngày Tình Yêu thực sự lên ngôi. Ngày Chúa về Trời là ngày Tình Yêu mãi ở lại. Ngày Chúa về Trời là ngày con người bắt đầu làm nên lịch sử của nhân loại và của thế giới này. Tôi vẫn thấy sự kiện Chúa lên Trời là một trong nhưng sự kiện đẹp nhất trong Lịch Sử Cứu Độ và lịch sử loài người.
Lm. NGUYỄN VĂN KHẢI, DCCT Thái Hà Ấp, Hà Nội

 
 

LênTrời-107: GÀ CÔNG NGHIỆP !

Những năm này dịch cúm gia cầm tái phát nhiều lần, làm nông dân điêu đứng. Nhưng theo dõi: LênTrời-107

Những năm này dịch cúm gia cầm tái phát nhiều lần, làm nông dân điêu đứng. Nhưng theo dõi các nơi có dịch bệnh, mới thấy những loại gà nuôi thả đều kháng bệnh tốt hơn loại gà công nghiệp, là thứ gà đổ sẵn cho thì ăn, bơm sẵn cho thì uống, còn nếu phải bươi rác rến để có cái ăn, thì đành thúc thủ và chịu chết đói ! Chắc chắn gà thả vườn không thể được ăn no, ăn ngon như gà công nghiệp, nếu không bươi xới vất vả. Những người cầm tinh Con Gà ( tuổi Dậu ) cũng được coi là những người có số vất vả, thức khuya dậy sớm để làm lụng mới có được miếng ăn. Chính sự vất vả,luôn đối di ện với khó khăn, đói khát, đã luyện cho gà vườn sự dẻo dai chịu đựng và tính kháng bệnh cao. Con người cũng vậy. Giáo Hội cũng vậy, đúng ra là Chúa Giê-su cũng đã dùng phương pháp sư phạm tương tự, để huấn luyện Giáo Hội.
Một người tập đi xe đạp, nhờ người giữ phía sau. Nếu người này không thả tay khi xét thấy cần, cho dù vì thế mà người tập có thể u đầu mẻ trán, mà cứ khư khư giữ rịt, thì người tập chẳng bao giờ biết đi xe đạp. Một người học bơi lội, sau khi đã nắm lý thuyết, thì phải tự sức vùng vẫy, khua chân đập tay, huấn luyện viên không thể nâng mãi được, cho dù vì thế phải “no nước”. Đã đến lúc Chúa để cho Giáo Hội tự vùng vẫy giữa ba đào thế gian. Người chỉ hứa: ”Ơn Ta đã đủ cho con”.
Trong bộ phim Hàn Quốc đang chiếu trên truyền hình “Thời Đại Anh Hùng”, ông bố giám đốc công-ty xây dựng, một người sắt thép hà khắc với chính bản thân và với mọi người, kể cả người thân và con cái, đã kể cho con trai cả Inh-Cúc một hình ảnh trong tự nhiên: khi con nó sinh ra, hổ bố đem chúng lên mỏm đá cao và ném xuống. Người con phải hiểu rõ sự nghiêm khắc lạnh lùng của người cha, để sau này nên người có chí khí, có trách nhiệm và hiểu biết công việc. Không u đầu sứt trán, đổ mồ hôi sôi nước mắt, thì làm sao có thể hiểu những khó khăn của công việc và của người khác. Nếu tập cho một người đi xedạp, mà cứ giữ khư khư phía sau, không buông tay lúc cần để người đó tự xoay xở, thì làm sao có thể đi được xe đạp, cho dù việc thả tay ấy có phải đánh đổi dăm ba vết xước, vết thẹo.
Chúa Giê-su cũng đã theo cách huấn luyện đó: người sai các môn đệ đi, có khi các ông trở về mặt ỉu xìu buồn bã “vì có thứ ma qủy không sợ chúng con”; rồi Chúa lại để các môn đệ sợ hãi bỏ cả Thầy mà trốn chạy. Chúa đẩy việc huấn luyện các môn đệ đến tột điểm: Người cho các ông thấy Người “thất bại” thảm hạ, bị bắt, bị kết án tử và chịu đóng đinh ô nhục. Những lúc ấy, các môn đệ phải tự xoay xở, có vẻ như vắng bóng Chúa. Bằng không, chẳng bao giờ các ông có thể “trưởng thành” được và mãi vẫn chỉ là một thứ “gà công nghiệp”, ỷ lại, thiếu sáng kiến, thiếu xông pha và tất nhiên sức đề kháng cũng sẽ rất yếu kém mong manh trước những cơn cuồng phong của ma quỷ.
Vì thế, giờ này Chúa cũng dặn dò đôi câu, rồi mau lẹ lên Trời, biến mất, mặc cho các môn đệ cảm thấy bơ vơ, lạc lõng. Túng thì phải tính: mằn mò mãi, đến nay đã hơn 2.000 năm, chẳng những không ngã, mà xem ra càng ngày Giáo Hội càng vững chắc, trưởng thành hơn ! Biết bao bà mẹ lo cho con thái quá, cứ sợ cậu ấm cô chiêu ra đường bị nắng táp, nhức đầu sổ mũi, cứ lo con cái vào đời phải khổ sở, cho nên giữ riệt bên mình, cưng như trứng hứng như hoa, thì làm sao rèn được nhân cách và nên người ?
Ca dao Việt Nam có câu: ”Đi cho biết đó biết đây; ở nhà với mẹ, biết ngày nào khôn”. Chúa Giê-su yêu thương các môn đệ, nhưng Người để mặc họ phải xoay xở, kế cả bộc lộ cả mặt hay lẫn mặt dở, như cái tính hay nóng nẩy hung hăng của anh em nhà ông Gio-an, hoặc như cái bộc trực can cường mà lại cũng rất mau chóng rơi vào sự nhát đảm của ông Phê-rô, v.v... Chúa Giê-su đã sửa lỗi các ông khi nhẹ nhàng lúc mạnh mẽ. Nay thì không còn Thầy để nương dựa, các ông sẽ biết phải xử sự ra sao cho đúng phép và cho hợp tình.
Có câu hỏi đặt ra: Chúa Giê-su có thể không lên Trời, được chăng ? Bởi vì sau khi Chúa Giê-su sống lại, thân xác Người biến đổi, trở nên vô hình và chỉ tỏ ra khi Người muốn cho các môn đệ hoặc một số người khác được nhìn thấy. Câu trả lời vẫn là một: cũng chỉ vì muốn cho các môn đệ, muốn cho Giáo Hội và muốn cho mỗi Ki-tô hữu được trưởng thành, dù trưởng thành giữa sự dập vùi của phong ba bão tố, dù phải trầy vi tróc vảy để rèn giũa Đức Tin và sống đời chứng tá kiên cường.
“Thầy đi thì có lợi hơn cho anh em”. Chúa có đi, thì Giáo Hội mới thực hành quyền trao ban Bí Tích, nhất là khi đọc lời truyền phép, để biến bánh rượu thành Mình Máu Chúa thật. Cái vệ tinh càng phóng lên cao, thì tầm hoạt động càng rộng và bao quát: Chúa Giê-su “thăng thiên”, để Người ở khắp mọi nơi, mà không bị giới hạn không gian và thời gian, dù rằng sự giới hạn là do tự nơi Chúa.
Chúa đã trang bị cho Giáo Hội đầy đủ và còn dự dật nữa, nhưng các môn đệ và Giáo Hội chúng ta vẫn sẽ mãi là những “cậu bé to đầu”, chẳng làm nên tích sự gì, nếu vẫn cứ ru rú nép vào bên Chúa. Cho nên CHÚA PHẢI THĂNG THIÊN. Ở lại, dây dưa tình cảm, thì chỉ làm hại các môn đệ. Ta có thể nói mà không sợ bị sai lầm rằng: việc Chúa Thăng Thiên như trong các Tin Mừng thuật lại, chỉ là hình thức dứt khoát mà Chúa Giê-su dùng, để các môn đệ tận mắt, “in visu”, thấy Chúa rờI xa, bay lên và biến mất trước mắt họ. Nếu không làm vậy, thì họ vẫn cứ ngong ngóng Chúa Giê-su hiện ra lại, như các lần vẫn “hiện ra và biến đi”, hư thực, thực hư, sau khi Người phục sinh.
Cuối cùng, câu hỏi dành cho chúng ta: Chúa Giê-su tin tưởng nơi các môn đệ, tin vào Giáo Hội non trẻ, tin vào chúng ta, để giao phó cho rất nhiều nhiệm vụ quan trọng, khó khăn, mà tự sức con người không thể làm được. Còn chúng ta, chúng ta có tin tưởng nơi chính mình chăng ? Nếu có, tại sao chúng ta một cách nào đó vẫn “ấu trĩ”, vẫn chờ đợi cho đến khi có trong tay mọi điều kiện, mọi phương tiện, mọi thuận lợi nhỏ nhất, rồi mới chịu bắt tay vào việc, vẫn cân-đong-đo-đếm và tính toán chi li lợi hại, rồi mới quyết định ?
Tất nhiên những điều ấy sẽ chẳng bao giờ có đủ cho ta và vì thế, cũng chẳng bao giờ chúng ta thực hiện được ý Chúa ! Hoá ra đối với chúng ta, Chúa vẫn chưa lên Trời, cũng có nghĩa là chúng ta sẽ sống mơ hồ, không có ước vọng nhìn lên, không bao giờ sống để lên Trời. Chúng ta vẫn thích cái kiếp “con sâu làm tổ ” không bao giờ phải thành bướm, hoặc như một loại gà công nghiệp, chực chờ mớm cho ăn, chực chờ mớm cho làm, chực chờ mớm cho sống ! Nếu thật thế thì đáng buồn thay cho chúng ta mà đáng tiếc thay cho Chúa Giê-su !
CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 154

 
 

LênTrời-108: CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ ĐƯỢC THIÊN CHÚA TÔN VINH

 [LỄ CHÚA THĂNG THIÊN NĂM C (20.05.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ 

 

Lễ Chúa Thăng Thiên hay lễ Chúa Về Trời là mắt xích cuối cùng của Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ngôi: LênTrời-108

Lễ Chúa Thăng Thiên hay lễ Chúa Về Trời là mắt xích cuối cùng của Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ngôi Hai nhập thể giáng sinh làm người, sống đời người thợ 30 năm ở Na-da-rét, rao giảng Tin Mừng khắp xứ Pa-lét-tin trong vòng 3 năm, bị  đóng đinh và chết trên thập giá, phục sinh và lên trời. Thiên Chúa chẳng những đã làm cho Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết mà còn đem Người về Trời, vì công trạng lớn lao nên Người đáng được trọng thưởng, vì bản tính Thiên Chúa nên Người được ngự bên hữu Thiên Chúa.
          Mừng Lễ Chúa Thăng Thiên chúng ta được mời gọi hãy xác tín hơn về bản tính thần linh của Chúa Giê-su; về giá trị cứu độ của công việc Người thực hiện khi sống trong trần thế, của giáo lý Người rao giảng, để chúng ta sống gắn bó mật thiết  với Người hơn nữa.   



II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Cv 1, 1-11:  Đức Giê-su được cất lên ngay trước mắt các ông.
             1 Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy, kể từ đầu 2 cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. 3 Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. 4 Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, "điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, 5 đó là: ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần."
                 6 Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không? "7 Người đáp: "Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, 8 nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất."
                  9 Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. 10 Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh 11 và nói: "Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời."
(2) Bài đọc 2: Ep 1,17-23: Thiên Chúa đã đặt Đức Ki-tô ngự bên hữu Người trên trời.
                 17 Thưa anh em, tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. 18 Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, 19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, 20 mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. 21 Như vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. 22 Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; 23 mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.
(3) Bài Tin Mừng: Lc 24,46-53: Đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời.
                 46 Khi ầy Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ và nói: "Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; 47 phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. 48 Chính anh em là chứng nhân về những điều này. 49 "Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống."
                  50 Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. 51 Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. 52 Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ, 53 và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Cv 1, 1-11) là lời mở đầu của Sách Tông Đồ Công Vụ. Thánh Lu-ca tóm tằt những sự kiện quan trọng liên quan tới Chúa Giê-su Ki-tô trong quãng đời trần thế của Người. Sự kiện cuối cùng là việc Chúa Giê-su được đưa lên trời ngay trước mắt các môn đệ.
Trong đoạn sách Cv 1,1-11 trên chúng ta nhận ra khung cảnh “thần hiện” quen thuộc của Thánh Kinh khi Chúa Giê-su được cất lên trời: cũng có đám mây, tượng trung cho sự hiện diện và bao trùm của Thiên Chúa. Cũng có sứ thần xuất hiện và tiếng nói của các ngài là phát ngôn viên của Thiên Chúa. Giống hệt như sự kiện xẩy ra khi Chúa Giê-su bước ra khỏi dòng sông Gióc-đan. Nhưng nội dung lời Thiên Chúa có khác biệt đáng kể: “Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời."
(2) Bài đọc 2 (Ep 1,17-23) là những lời giãi bày của Thánh Phao-lô về những ơn mà ngài cầu xin cùng Thiên Chúa là Chúa và là Cha của Chúa Giê-su, cho các tín hữu Ê-phê-sô. Lý do khiến Thánh Phao-lô vững tin là lời cầu nguyện của ngài sẽ được Thiên Chúa chấp nhận là những kỳ công mà Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giê-su là cho Người trỗi dậy từ cõi chết, đặt Người ngồi bên hữu, tôn vinh Người trên các thần thánh, đặt tất cả dưới chân Người.
Trong đoạn Thư Ep 1,17-23 trên, chúng ta thấy nổi bật quyền năng vô song và lòng ưu ái tột cùng của Thiên Chúa đối với Con Một Người là Chúa Giê-su.
(3) Bài Tin Mừng (Lc 24,46-53) là những lời dậy đỗ thân tình của Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh về chính Người (Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại); về sứ mạng rao giảng và làm chứng của các môn đệ (phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều ấy) và những lời hứa ngọt ngào (quyền năng của Thiên Chúa là Thánh Thần). Sau đó là sự kiện Chúa Giê-su được cất lên trời với một hình ảnh rất dễ thương: Người đang giơ tay chúc lành cho các môn đệ.
          Qua Bài Phúc Âm Lc 24,46-53 chúng ta thấy rõ tấm lòng ưu ái của Chúa Giê-su đối với các môn đệ. Chúng ta cũng thấy được Chúa Giê-su chính là Thiên Chúa khi Người được đem lên trời và các môn đệ bái lạy Người!
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được tìm thấy trong những lời này của Thư Ê-phê-sô:
          “Thiên Chúa đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn”.



III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Để sống sứ điệp Lời Chúa hôm nay, tôi được mời kiểm điểm xem: 
* Tôi có tin rằng Thiên Chúa đã tôn vinh Chúa Giê-su Ki-tô như Thánh Phao-lô viết trong thư Ê-phê-sô không?
* Tôi có hiểu tại sao Chúa Giê-su Ki-tô lại được Thiên Chúa tôn vinh như vậy không?
* Để tôn vinh Chúa Giê-su Ki-tô, tôi phải sống như thế nào?



IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
          4.1 “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người”.
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô,
Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa, vì Chúa đã nhìn nhận và tưởng thưởng công lao vĩ đại của Con Một Chúa, 
Chúng con xin Chúa ban cho chúng con biết sống theo gương mẫu và giáo huấn của Chúa Giê-su, để Người ở đâu thì chúng con cũng được ở đó!
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
          4.2 “Thiên Chúa đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị  và đã đặt tất cả dưới chân Người”.
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô,
Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa, vì Chúa đã nhìn nhận và tưởng thưởng công lao vĩ đại của Con Một Chúa, 
Chúng con xin Chúa ban cho chúng con biết nhìn nhận vương quyền và sống quy phục Chúa Giê-su Ki-tô, để chúng con xứng đáng là thần dân của Người!
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 “Thiên Chúa đã đặt Đức Ki-tô làm đầu toàn thể Hội Thánh”
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô,
Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa, vì Chúa đã đặt Chúa Giê-su Ki-tô làm đầu toàn thể Hội Thánh, 
Chúng con xin Chúa ban cho hết mọi Ki-tô hữu biết sống tư cách là môn đệ của Chúa Giê-su Ki-tô và là con cái của Hội Thánh, để chúng con tôn vinh tình thương và quyền năng của Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần.
         Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều ấy”.
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô,
Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa, vì Chúa Giê-su Ki-tô đã giao chúng con sứ mạng làm chứng cho cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Người trong xã hội con người thời nay, 
Chúng con xin Chúa ban cho hết mọi Ki-tô hữu biết sống tư cách chứng nhân trong các môi trường gia đình, giáo xứ, khu xóm, nghề nghiệp, xã hội và thế giới, để càng ngày càng có nhiều người nhận ra và tin thờ Chúa như chúng con.
         Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 
Sàigòn 10.05.2007.

 
 

LênTrời-109: Không giải thích được

Chúa Giêsu đã thuyết phục các tông đồ tin rằng Người đã sống lại, Chúa mở tâm trí cho các ông: LênTrời-109

Chúa Giêsu đã thuyết phục các tông đồ tin rằng Người đã sống lại, Chúa mở tâm trí cho các ông hiểu ý nghĩa Kinh Thánh và thấy mình đang đi vào kế hoạch liên tục của Thiên Chúa. Các ông sắp làm chứng cho Đấng được loan báo trong Kinh Thánh, Người đã thật sự sống với các ông cuộc đời dưới thế của Người và sắp tiếp tục công cuộc cứu độ qua Giáo Hội, đem lợi ích cho khắp thế giới. Các ông sẽ lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần đến hoàn tất sự hiểu biết của mình, như Chúa Giêsu đã hứa. Lúc đó sẽ thấu hiểu ý nghĩa khổ nạn và phục sinh, hơn nữa sẽ khám phá Phúc Âm được dùng vào một công cuộc có tầm mức bao la đến chừng nào. Các ông sẽ không choáng váng tê liệt, sẽ thật sự trở nên tông đồ vì mặc lấy sức mạnh từ Trên ban cho. Chúng ta không ngạc nhiên đọc câu: “Họ trở lại Giêrusalem, lòng mừng khôn xiết”. Như vậy, chứng kiến Chúa lên trời, các môn đệ tuyệt nhiên không kinh ngạc, trái lại vui mừng bắt đầu hiểu rõ bí nhiệm về sự hiện diện vô hình của Thầy. Chúng ta dừng lại để suy niệm về việc Chúa chúc lành và niềm hân hoan không giải thích được của các môn đệ.
1) Giơ tay, Chúa chúc lành cho họ.
Các môn đệ lãnh nhận chúc lành của Thầy, coi đó là cử chỉ của Thiên Chúa kết thúc một sự hoàn tất và mở màn cho một sự bắt đầu. Hoàn tất, vì thời gian Chúa sống giữa thế gian đã chấm dứt. Chúa vào vinh quang của Chúa Cha. Tác động của Chúa Giêsu hiện diện hữu hình không còn nữa, sắp chuyển sang một thể thức tác động khác, đồng thời các môn đệ bắt đầu một cuộc trông đợi. Chúc lành của Chúa làm dậy lên trong các môn đệ một nghị lực sắp lớn mạnh nảy nở. Cử chỉ Chúa giơ tay ban phép lành biểu hiện sức mạnh của sự sống, của lòng bác ái và một nghị lực tràn ngập tâm hồn các ông, sắp biến đổi và hướng dẫn các ông thành toàn bản ngã và sứ mạng. Một ví dụ thực tế: Chúng ta nhắc lại rằng chúc lành nhân danh Chúa Kitô của linh mục chủ tế lúc thánh lễ hoàn tất, biểu hiện sự hoàn tất và sự phái đi. Chúng ta có nhiệm vụ hoàn tất trong đời sống thực tế ơn lãnh nhận được trong Thánh lễ, và chúng ta được phái đi vào thế giới làm chứng cho Chúa Kitô.
2) Các môn đệ vui mừng mặc dầu Chúa Giêsu vừa biến đi trước mắt các ông.
Chúng ta có thể nghĩ rằng các ông được sinh ra trong tình yêu đích thực của Thầy, các ông không hề nghĩ về thân phận mình theo tính ích kỷ thường tình, trái lại được vui mừng nhìn Thầy đi vào vinh quang của Chúa Cha. Tuy nhiên, cho dẫu tình yêu đầy vị tha tới đâu thì cũng phải có sự hiện diện của Thầy. Có thể các môn đệ làm một cuộc thí nghiệm mới về sự hiện diện vô hình của Thầy. Chúa về trời trở nên gần gũi các ông hơn trước. Chúa biểu lộ sự hiện diện trong quyền năng thần thánh của Người, Chúa đem thần khí vào tâm hồn các ông. Tới đây chúng ta thấy vai trò đức tin là cần thiết. Điều tốt là các môn đệ nay trở thành chứng nhân cho Chúa phải tham dự vào kinh nghiệm đức tin mà tất cả chúng ta đều phải có, một niềm tin trong hân hoan không giải thích được, trải qua mọi gian nan thử thách. Niềm tin ấy sinh ra một niềm trông cậy hân hoan hơn nữa, vì lẽ ngày Chúa lên trời sẽ đưa tới ngày chúng ta sẽ vô cùng hân hoan, Chúa ở đâu, chúng ta cũng sẽ ở đó.

 
 

LênTrời-110: Chúa lên trời

Cách đây mấy ngàn năm, khi khoa học về vũ trụ chưa được phát triển, dân Do Thái cũng như những: LênTrời-110

Cách đây mấy ngàn năm, khi khoa học về vũ trụ chưa được phát triển, dân Do Thái cũng như những dân tộc vùng cận đông thường có một cái nhìn đơn sơ về vũ trụ. Họ coi trái đất là như một chiếc mâm, chung quanh đất là biển, dưới lòng đất là âm phủ, nơi ở của những người đã khuất. Còn bầu trời là như cái lồng bàn úp lên trên đất và biển. Trên chiếc lồng bàn này có nhiều thứ kho : kho nước, kho mây, kho gió, kho tuyết, kho sương mù. Mỗi khi Thiên Chúa mở cửa những kho này là chúng ta lập tức sẽ có những hiện tượng thiên nhiên tương ứng.
Vòm trời cũng là nơi Ngài treo các vì tinh tú để soi sáng cho mặt đất. Thiên Chúa ngự trên chốn trời cao cùng với các thiên thần. Vậy khi nói Chúa Giêsu được đưa lên trời, thì có nghiã là Ngài được đưa vào thế giới của Thiên Chúa. Ngài được tôn vinh bên Chúa Cha, sau khi đã hoàn tất công trình cứu độ nhân loại.
Đối với chúng ta thì hơi khác một chút. Điều cốt lõi của biến cố Chúa về trời không phải là chuyện Chúa đã bay lên, thoát khỏi sức hút của trái đất, mà là mầu nhiệm Ngài được Chúa Cha nâng dậy từ cõi chết và đưa vào chung hưởng vinh quang bên Chúa Cha. Nơi ở của Thiên Chúa là thiên đàng. Nhưng thiên đàng ở đây, chúng ta không được rõ. Toan tính đi tìm thiên đàng bằng một con tàu vũ trụ điều đó chỉ đưa đến thất vọng và chứng tỏ một thái độ ấu trĩ, vì thiên đàng nằm ngoài khả năng cảm nhận của giác quan, như lời thánh Phaolô : Tai chưa hề nghe, mũi chưa hề ngửi và trái tim chưa một lần cảm nghiệm được những điều Thiên Chúa dành cho những người trung thành phụng sự Ngài. Chúng ta không thấy thiên đàng nhưng thiên đàng còn có thực hơn cả vũ trụ hữu hình này, bởi vì thế giới của con người sống nhờ vào thế giới của Thiên Chúa.
Mặc dù Chúa đã về trời nhưng Ngài vẫn còn ở lại với chúng ta luôn mãi; bởi vì lên trời không phải là đi vào một thế giới xa lạ với thế giới loài người và cắt đứt mọi liên hệ với trần thế… Tuy chúng ta không còn thấy Ngài một cách hữu hình nhưng Ngài vẫn tiếp tục hiện diện giữa chúng ta dưới những hình thức khác.
Chúng ta có thể gặp Ngài qua những kỳ công trong vũ trụ. Chúng ta có thể gặp Ngài qua những lời giảng dạy. Chúng ta có thể gặp Ngài qua Bí tích Thánh Thể. Chúng ta có thể gặp Ngài qua Giáo Hội. Chúng ta có thể gặp Ngài nơi những người anh em, nhất là những kẻ khổ đau và bất hạnh. Như thế Ngài được tôn vinh lên trời không phải là làm một cuộc đi xa, nhưng trái lại là một cuộc đến gần. Phục sinh và Lên Trời là để làm tròn sứ vụ giữa lòng thế giới. Chính vì thế mà Ngài đã truyền cho các môn đệ cũng như cho chúng ta phải tiếp tay với Ngài : Các con hãy đi giảng dạy cho muôn dân và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Bởi đó, hãy chu toàn bổn phận của chúng ta, bằng cách sống đức tin và đem đức tin đến cho những người chung quanh, để rồi trong ngày sau hết, chúng ta sẽ được chia sẻ niềm hạnh phúc thiên đàng với Ngài.

 
 

LênTrời-111: Sức mạnh từ trời cao

Đức Giêsu được đưa về trời khiến cả nhân loại hoan hỷ. Con Thiên Chúa làm người, long đong: LênTrời-111

Đức Giêsu được đưa về trời khiến cả nhân loại hoan hỷ.
Con Thiên Chúa làm người, long đong với phận người, nếm cái nghèo đói, nhọc nhằn, nếm nỗi khổ đau, cay đắng. Cuộc đời Ngài tưởng như là một thất bại ê chề. Nhưng rồi Ngài đã được phục sinh, đã hiện ra, và được khải hoàn đưa vào thế giới của Thiên Chúa.
Ngài từ Cha mà đến và lại trở về với Cha. Sứ mạng Cha giao, tuy khó khăn, nhưng Ngài đã hoàn tất.
Ta cần chiêm ngắm giây phút Ngài được siêu thăng. Ngài giơ tay chúc lành cho các môn đệ như vị thượng tế. Ngài về trời trong tư thế đang chúc lành.
Chúc lành cho trái đất mà Ngài đã sống.
Chúc lành cho mọi người là người như Ngài.
Hôm nay chúng ta vui vì biết mình có người Anh trưởng đã được nâng lên đến tột đỉnh vinh quang thần linh.
Con người đầu tiên với tất cả nhân tính như ta đã được siêu tôn trên trời, dưới đất và nơi âm phủ.
Sự thành công của Đức Giêsu là niềm hy vọng cho ta.
Cùng đi với Ngài trên con đường cheo leo ấy, chúng ta tin mình sẽ đến nơi mà Ngài đã đến.
Đức Giêsu về trời sau khi hoàn thành sứ vụ dưới đất. Ngài muốn ta trưởng thành và gánh lấy trách nhiệm.
Bước chân Ngài mới chỉ đi hết xứ Palestina bé nhỏ. Còn cả một thế giới mênh mông ngút ngàn. Còn bao dân tộc xa gần chưa hề nghe rao giảng. Ngài muốn ta làm chứng nhân của Ngài đến tận thế.
Thiên thần bảo chúng ta không được khoanh tay nhìn trời, vì còn quá nhiều việc phải làm trước mắt. Chúng ta phải nhiệt tình xây dựng quê hương này huynh đệ hơn, công bằng hơn, bác ái hơn, văn minh hơn, để nó xứng đáng đón ngày Ngài trở lại.
Chúng ta không được khoanh tay nhìn trời, nhưng lòng chúng ta lại phải thường xuyên hướng lên trời. Xây dựng trái đất mà không hướng lòng về trời, thì sẽ không tìm được câu trả lời tối ưu.
Chúng ta cần sức mạnh từ trên cao của Thánh Thần để giải quyết những vấn đề chằng chịt của trái đất: ma túy, trụy lạc, tham nhũng, ô nhiễm, nghèo đói và nhất là vấn đề xây dựng con người.
Khoa học kỹ thuật tiến bộ làm cuộc sống nhẹ nhàng nhưng cũng thường làm con người thêm nặng nề. Con người như bị dính vào những sản phẩm mình tạo ra, bị nô lệ cho những nhu cầu không có thực. Trái đất này vẫn có sức thu hút ghê gớm khiến ta muốn chọn nó làm quê hương vĩnh hằng, và quên rằng quê thật của ta ở trên trời cao (Pl 3,20).
"Hãy tìm kiếm những điều trên cao" (Cl 3,1). Đừng dập tắt nỗi khát khao những điều cao cả.
Ước gì Chúa Giêsu, Đấng được đưa lên cao, kéo ta lên khỏi cái tầm thường ô trọc mỗi ngày.



 Gợi Ý Chia Sẻ
Tiền bạc, tiếng tăm, khoái lạc làm người ta nặng nề. Còn bạn, bạn thấy mình nặng nề vì điều gì? Có cách nào thoát được không?
Đời sống là một nỗ lực "bay lên cao" khỏi sức kéo xuống của vật chất và của cái tôi trì trệ. Có khi nào bạn được nhẹ nhàng mà bay lên khỏi sức kéo đó không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó. Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bi đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân chúng con tiến về bên Chúa. Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

 
 

LênTrời-112: Chia sẻ của Đức Gioan Phaolô II

Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chia sẻ:  "Chúng ta được qui tụ quanh bàn thờ Chúa để: LênTrời-112

Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chia sẻ:
"Chúng ta được qui tụ quanh bàn thờ Chúa để cử hành việc Chúa lên trời. Chúng ta đã nghe được Lời Chúa: "Các con sẽ nhận lấy sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ngự xuống trên các con và các con sẽ là những chứng nhân của Thầy cho đến tận cùng trái đất".
Từ hai ngàn năm qua, những lời này của Chúa Phục Sinh thôi thúc Giáo Hội tiến ra khơi, tiến vào trong lịch sử của con người. Những lời này làm cho Giáo Hội trở nên một người luôn đồng hành với tất cả mọi thế hệ, làm cho Giáo Hội trở nên như men, làm dậy nên những hạt văn hoá trên thế giới. Hôm nay, chúng ta nghe lại những lời trên để với sức mạnh được canh tân, chúng ta đón nhận mệnh lệnh của Chúa "Hãy ra khơi", mệnh lệnh mà Chúa đã nói với thánh Phêrô. Đây là một mệnh lệnh và tôi đã muốn làm vang dội lại trong Giáo Hội qua bức tông thư khởi đầu Ngàn Năm Mới. Và đây là mệnh lệnh mặc lấy một ý nghĩa sâu xa hơn theo ánh sáng của ngày lễ trọng Chúa Thăng Thiên. "Hãy ra khơi" ra nơi mà Giáo Hội cần tiến đến, không phải chỉ là một sự dấn thân truyền giáo mạnh mẽ nhưng nhất là và còn là một sự dấn thân mạnh mẽ sống chiêm niệm.
Như những tông đồ, những kẻ đã được chứng kiến biến cố Chúa lên trời, chúng ta cũng được mời gọi hãy hướng cái nhìn lên dung mạo của Chúa Kitô được hiển vinh trong vinh quang Thiên Chúa Cha. Chắc chắn rằng nhìn ngắm trời cao không có nghĩa là quên đi trần gian này. Và nếu rủi gặp phải cám dỗ, chúng ta chỉ cần lắng nghe lại lời hai người mặc áo trắng của đoạn Phúc Âm hôm nay nói rằng: "Tại sao các ông còn nhìn trời?"
Việc cầu nguyện chiêm niệm Kitô không làm cho chúng ta tránh khỏi việc dấn thân vào trong lịch sử. "Trời", nơi Chúa Giêsu tiến vào không phải là một sự xa vắng nhưng như là một màn che khuất và là nơi lưu giữ một sự hiện diện. Đó là sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện không bao giờ bỏ rơi chúng ta cho đến khi Chúa trở lại trong vinh quang. Trong khi đó, thời giờ chúng ta sinh sống đây là thời giờ rất đòi hỏi. Đòi hỏi chúng ta phải làm chứng bởi vì nhân danh Chúa Kitô, sự ăn năn hối cải và sự tha thứ tội lỗi phải được rao giảng cho tất cả mọi dân nước. Và chính để làm sống lại ý thức này mà tôi đã muốn triệu tập hội nghị Hồng Y đặc biệt được bế mạc hôm nay (thứ Năm 24/05/2001). Các vị Hồng Y, từ các nơi trên thế giới mà tôi xin kính chào với lòng mộ mến huynh đệ. Các ngài trong những ngày qua đã hội họp với tôi để bàn về một vài đề tài trong số những đề tài nổi bật nhất của công việc rao giảng Phúc Âm và làm chứng Kitô trong thế giới hôm nay, vào khởi đầu Ngàn Năm Mới. Đây, đối với chúng tôi, là giây phút sống hiệp thông, trong đó chúng tôi cảm nghiệm được một phần nào của niềm vui đã tràn ngập tâm hồn các tông đồ ngày xưa, sau khi Chúa Phục Sinh chúc lành cho các ngài và tách rời ra khỏi các ngài để lên trời. Thật vậy, thánh Luca đã ghi lại rằng: "Sau khi bái lạy tôn thờ Chúa, các tông đồ trở lại Giêrusalem với niềm vui lớn lao và các ngài luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa."
Và tiếp sau trong bài giảng, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khai triển thêm bản chất cũng như sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội, và cuộc hội Hồng Y cũng được Đức cố Giáo Hoàng đặt trong viễn tượng này: "Thực hiện sự hiệp thông và hiệp nhất trong Giáo Hội, để Giáo Hội có thể rao giảng Phúc Âm Chúa một cách đáng tin hơn cho mọi anh chị em."
Trong thánh lễ Chúa Thăng Thiên và trong giây phút này, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho chúng ta biết ý nghĩa của biến cố quan trọng này: Không phải Chúa lên trời để bỏ chúng ta, mà Ngài bước sang một sự hiện diện mới với chúng ta trong Chúa Thánh Thần. Ngài luôn ở cùng chúng ta luôn mãi cho đến tận cùng. Và Ngài muốn mỗi người chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân Thánh Thần của Ngài để làm chứng cho Ngài trong môi trường chúng ta sinh sống.
Từ Chúa Nhật này cho tới Chúa Nhật Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng ta hãy dành thời giờ để nhìn lại cuộc sống của mình, mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa Thánh Thần và sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để làm chứng cho Chúa đến mức độ nào rồi. "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận cùng và các con sẽ làm chứng cho Thầy khắp nơi trên mặt đất này".
Xin Chúa gìn giữ chúng ta vững mạnh trong đức tin để chúng ta có thể làm chứng cho Chúa mọi nơi mọi lúc.

 
 

LênTrời-113: Chứng nhân

Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Trước khi từ từ lên cao, Ngài đã ban huấn lệnh: LênTrời-113

Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Trước khi từ từ lên cao, Ngài đã ban huấn lệnh: “Các con sẽ là chứng nhân cho Ta tại Giêrusalem, trong toàn cõi Giuđêa, Samaria, và cho đến tận cùng cõi đất”.
Các môn đệ đã chứng kiến cuộc khải hoàn vinh hiển của Chúa, họ không thể nào im tiếng được. Họ đã mạnh mẽ xác quyết: “Thiên Chúa đã phục sinh Chúa Kitô mà anh em đã giết rồi treo lên cây gỗ… và tôn Ngài làm thủ lãnh và Đấng cứu độ để đem lại cho Israel ơn tha thứ và hoán cải. Về những sự việc đó chúng tôi đây là những chứng nhân cùng với Thánh Thần mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng phục Người”, “Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại để chúng ta được nên công chính”…
Tất cả các môn đệ đều bị bách hại đến đổ máu ra vì chứng cớ đức tin và lời rao giảng của mình. Và sau họ, từng lớp lớp người cũng đã ngã gục chỉ vì tin vào Đấng Phục Sinh.
Đối với chúng ta là những kẻ đã tin, đến lượt chúng ta cũng phải làm chứng về Ngài, không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng chính đời sống chúng ta nữa. Chúng ta hãy chứng tỏ cho thế giới biết rằng cuộc sống thường ngày là những bước tiến lên với Chúa Kitô, và những thử thách, hy sinh là cần thiết để thanh luyện và làm sáng tỏ đức tin của chúng ta.
Chúng ta tiến lên trời với Chúa Kitô bằng kiên nhẫn, hy sinh… hầu biểu lộ đức ái, bởi vì đức ái là khát vọng Thiên Chúa và làm điều lành cho tha nhân. Điều đó có nghĩa là chúng ta chờ đợi thời giờ của Thiên Chúa và giúp mọi người phương tiện tiến lên với Thiên Chúa. Đức ái là thái độ phản ánh trung thực nhất niềm khát vọng nội tâm của chúng ta.
Đời sống tu trì là một minh chứng cho niềm khát vọng lên trời trong chờ đợi nhẫn nại và hy sinh. Quả vậy, vì tin ở lời hứa của Chúa sẽ ban gấp trăm ở đời này và đời sau được sống muôn đời mà chúng ta đã từ bỏ tất cả để theo Ngài. Điều Chúa Kitô hứa, Ngài đã đang và sẽ còn thực hiện. Hạnh phúc mà Ngài ban cho những ai theo Ngài chính là niềm hoan lạc trong tâm hồn, hoan lạc của những ai có Chúa làm tất cả. Niềm hoan lạc đó là hiệu quả tất nhiên của sự bình an, bình an của những kẻ ẩn náu trong tình thương Chúa. Và những gì do tình thương Chúa gửi đến đều tốt lành. Ngay cả cái chết cũng là dịp để chúng ta vui mừng, vì chết là cánh cửa cuối cùng được mở ra cho chúng ta gặp Chúa Kitô Phục Sinh - Thăng Thiên mà chúng ta yêu mến kiếm tìm.
Hỡi những ai tìm Chúa, tâm lòng hãy vui sống và chúc tụng Thiên Chúa là Cha Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã tái sinh chúng ta cho hy vọng sống động, nhờ sự phục sinh - thăng thiên của Ngài.

 
 

LênTrời-114: TRUYỀN THÔNG, MỘT PHƯƠNG TIỆN LOAN BÁO

 TIN MỪNG HỮU HIỆU
LỄ CHÚA VỀ TRỜI – NGÀY QUỐC TẾ TRUYỀN THÔNG
 “Chính anh em là chứng nhân về những điều này….” (Lc 46,48) 

 

Chuyện kể rằng : sau khi về trời, Tổng lãnh thiên thần Gabriel đón gặp Chúa Giêsu và muốn trao: LênTrời-114

Chuyện kể rằng : sau khi về trời, Tổng lãnh thiên thần Gabriel đón gặp Chúa Giêsu và muốn trao đổi với Ngài về một vài vấn đề :
- Xin chúc mừng Chúa đã hoàn tất tốt đẹp sứ mệnh cứu độ của Ngài trên trần gian, Sứ thần nói.
- Cám ơn, cám ơn, quá khen, Chúa Giêsu đáp.
- Nhưng con xin hỏi Chúa là khi về trời còn ai tiếp nối sứ mệnh của Chúa nữa không?
- Có chứ, có chứ….Ta đã truyền lại các bí kíp cho 12, 13 đệ tử thật tuyệt vời rồi.
- Con số ít ỏi như vậy liệu chừng có thể thông tin đi khắp trái đất không, vì chẳng có phương tiện truyền thông đại chúng gì cả. Hơn nữa nhóm 12, 13 nhỏ như thế nhỡ may thất bại thì sao? Chúa có phương án 2 không?
- Không, Ta không cần phương án 2, Ta chắc chắn là sẽ thành công, vì Ta đã trực tiếp huấn luyện suốt 3 năm trời !!!
- Vậy một lần nữa xin chúc mừng Chúa đã hoàn thành sứ mệnh……………..
Vâng, một cuộc đối thoại tuởng tuợng nho nhỏ trên muốn nói với chúng ta về sứ mệnh mà Chúa Giêsu muốn trao phó. Sứ mệnh mà sau khi về trời Chúa truyền lại cho các môn đệ : “Chính anh em là những chứng nhân…..”
Thánh sử Luca diễn tả cảnh Chúa Giêsu về trời thật ngoạn mục : “đang khi chúc lành cho các môn đệ, Ngài được cất lên trời……. Có một tác giả thời trung cổ đã diễn tả cảnh Chúa về trời rất hay: “ Khi về trời, Chúa Giêsu được cất lên trời theo thế thẳng đứng. Và từ từ Chúa khuất dạng sau đám mây, trước hết là người ta không thấy đầu Chúa, ngực Chúa…..cuối cùng là 2 bàn chân Chúa…..
Có một vài nhà giảng thuyết còn hùng hồn hơn nữa diễn tả rằng : Sau khi chết và sống lại, Chúa bay vút lên trời ngự bên hữu Chúa Cha ngay, nhưng lại quên...Ngài xin phép Chúa Cha lượn xuống thăm Đức Mẹ….lượn vài vòng thăm bà thánh Maria Mácđala…rồi thăm một vài môn đệ….thăm các tông đồ…….hihihi
Kính thưa quí anh chị và các em thiếu nhi rất thân mến,
Mừng kính Chúa Lên Trời, không phải là chúng ta xem Chúa đã lên trời như thế nào và với cách thức nào, mà chúng ta khám phá ra sứ điệp Ngài muốn, sứ điệp mà Ngài đã ấm ủ và rao giảng cả cuộc đời. Sứ điệp mà Ngài đã dùng chính mạng sống của mình để loan báo và minh chứng.
Hôm nay chúng ta chiêm ngắm Chúa Thăng Thiên, không phải là cứ đứng ngửa mặt lên trời ngắm Chúa, mà chúng ta lãnh nhận lệnh truyền của Ngài “Anh em hãy làm chứng cho Thầy”. Khi về trời, Chúa Giêsu truyền lại cho Giáo hội mệnh lệnh loan báo Tin Mừng.
Thật ý nghĩa từ mấy chục năm nay, Giáo Hội Công Giáo chọn Chúa Nhật lễ Chúa Lên Trời là ngày Truyền Thông xã hội. Bởi vì chúng ta đang sống trong một thời đại mà chưa bao giờ những phương tiện truyền thông phát triển cực kỳ tốc độ và cực kỳ tinh vi mà người ta gọi là thời đại “bùng nổ thông tin” như ngày nay. Và Giáo hội mời gọi chúng ta hãy tận dụng những phương tiện truyền thông đó để loan báo Tin Mừng.
Trong Sứ điệp cho ngày Thế Giới Truyền Thông 41 năm nay 2007, Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI chọn chủ đề : Trẻ Em và Truyền Thông, một thách đố cho vấn đề giáo dục.
Trong Sứ điệp, Ngài nhấn mạnh đến vai trò và trách nhiệm của các phụ huynh trong việc giúp các trẻ em tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyền thông cho có ích. Trong đó hai phương tiện được nhắc đến đó là Truyền hình và Internet.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến việc giáo dục trong chiều kích trẻ em bị chi phối bởi truyền thông và việc giáo dục trẻ em đón nhận truyền thông. Các phụ huynh cần huấn luyện lương tâm các em biết phân biệt và đón nhận những phương tiện truyền thông thế nào cho xứng đáng với ơn huệ Chúa ban.
Xin mượn một vài phân tích trong ngành Truyền thông để áp dụng vào việc loan báo Tin Mừng mà Chúa Giêsu đã trao ban. Khi nói đến những điều kiện Truyền thông, người ta thường nói đến 5 yếu tố sau : 

     Nguồn truyền thông (nguồn mạch, source) :
     Phương tiện truyền thông (Kênh, Channel) :
     Thông điệp truyền thông (điều muốn nói, Message)
     Đối tượng truyền thông (người tiếp nhận, Receiver)
     Phản hồi truyền thông (chọn lựa, choose)
Để cụ thể,  xin đưa ví dụ cho dễ hiểu. Ta mở một kệnh truyền hình lên, ta thấy Bé Xuân Mai đang hát.
- Bé Xuân Mai chính là nguồn truyền thông (bằng trang phục, nét mặt, ánh mắt, nụ cười, cả con người),
- Bé Xuân Mai sử dụng phương tiện bằng giọng ca,
- Bé Xuân Mai chuyển tải sứ điệp là nội dung bài hát: về tình bạn, tình yêu, về cuộc sống….
- Chúng ta ngồi xem là đối tượng đón nhận, lắng nghe, suy nghĩ…
- Và ta phản hồi, tức là ta đón nhận hay ta chuyển kênh khác và buông một câu : hát dở ẹc…
(Ngày hôm nay dần dần nhà nào cũng có Internet, bao nhiêu bạn nhà có Internet?)
Hay là ngồi trước máy vi tính, ta mở một trang web :
-         Trang web đó chính là nguồn truyền thông,
-         Và phương tiện được sử dụng là hình ảnh và chữ viết (các em thích xem trang web nào?)
-         Thông điệp muốn chuyển tải là nội dung của trang web và có cả ý đồ của người viết web,
-         Ta ngồi trước Monitor là đối tượng : nhìn xem, đọc hay không.
-         Và ta có trố mắt nhìn vào những hình ảnh trên trang web đó hay chuyển trang web khác là sự phản hồi, thái độ chọn lựa của ta….
Với đường truyền ADSL, trong một tích tắc là chúng ta đã có thể nhìn thấy cả thế giới rồi.
Bên cạnh những trang web lành mạnh, không ít những trang web thiếu lành mạnh, mà những trang web này lại rất thu hút các bạn trẻ và các em thiếu nhi...
(Có môt vài phụ huynh lại còn vô tư mở những trang web không lành mạnh…. ngay cả khi có cả con cái ở đó, với ý nghĩa rằng nó còn nhỏ….lại còn giới thiệu cho bạn bè nữa….)
Cả quí phụ huynh và cả các em thiếu nhi đều có bổn phận là phải biết và can đảm chọn lựa những  trang web nào, “sứ điệp” nào, mang lại lợi ích cho đời sống đức tin của chúng ta và ta có thể gởi những thông điệp đó cho bạn bè của mình.
Internet thì có rất nhiều trang Web Nhà Đạo và ta cũng có thể thiết kế …
(như  www.daminhvn.com, daminhbachuong.conggiao.net, tinvuivn.com, thanhlinh.net….mvtnsg.conggiao.net).
Nhưng trong bối cảnh xã hội Việt Nam, chúng ta không có một  Kênh truyền hình nào, không có một đài phát thanh nào? Và kể cả không có một nhà xuất bản chính thức nào của Giáo hội Công giáo??? Đó là hạn chế của việc loan báo Tin Mừng!!!
Vậy ta chỉ còn có 2 yêu tố trong truyền thông thôi : tiếp nhận và phản hồi.
Việc loan báo Tin Mừng của chúng ta cũng là một hoạt động truyền thông. Có rất nhiều phương tiện để ta vận dụng vào việc loan báo Tin Mừng. Không những các phương tiện thông tin đại chúng, mà bằng chính con người của mình. Một lời loan báo về niềm vui và hy vọng sẽ hiển hiện trên những khuôn mặt rạng rỡ. Một lời loan báo về tình yêu sẽ hiện rõ trên khuôn mặt hân hoan…và một lời loan báo đầy xác tín sẽ biễu lộ trong những hành động yêu thương.
Từng lời nói, hành động của ta: ánh mắt, nụ cười, và những việc làm tốt dù nhỏ nhoi, cũng đều có thể thực hiện được sứ điệp mà Đức Giêsu, Đấng Lên Trời truyền lại là hãy đi khắp tứ phương rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo, làm phép rửa cho họ Nhân Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Mừng Chúa Lên Trời, không phải chỉ đứng ngước mắt về trời cao, mà đón nhận sứ mệnh Chúa trao, sử dụng những phương tiện mình có, làm chứng cho Chúa, trở nên chứng nhân của Thầy Giêsu.
Xin mượn câu chuyện sau như một chứng từ để thúc đẩy chúng ta sẵn sàng làm chứng cho sứ điệp của Đức Giêsu Kitô :
Trong một lớp học tại Nhật bản, các bạn trong lớp tố cáo với thầy hiệu trưởng rằng, trong lớp có một bạn, trước khi vào buổi học thường làm một hành động có vẻ bùa chú, làm cho các bạn trong lớp rất sợ hãi. Vào một buổi học, thầy hiệu trưởng được mời đến, và khi được hỏi, em đó đứng lên và nói với thầy hiệu trưởng với giọng run rảy, rụt rè rằng : Thưa thầy, em chỉ xin Chúa chúc lành cho giờ học này của em bằng việc em làm dấu thánh giá thôi. Tức thì thầy hiệu trưởng xúc động gục mặt xuống bàn, hai hàng nước mắt của thầy tuôn trào. Thầy ngước mặt lên và nói với các em trong lớp rằng : Thầy cũng là người công giáo, nhưng Thầy không dám tuyên xưng niềm tin của mình. Hôm nay em đã được Chúa gởi đến để nhắc nhớ Thầy (Các em thiếu nhi có làm được như vậy không?).
Kính thưa cộng đoàn và các em Thiếu nhi,
Chúng ta phải hãnh diện về niềm tin của mình và can đảm tuyên xưng niềm tin đó trong cuộc sống hằng ngày như người bạn trong câu chuyện trên đây. Một hành động rất nhỏ là làm dấu thánh giá trước giờ học đã đủ là một lời tuyên xưng mạnh mẽ về Chúa Giêsu Lên Trời. Với niềm xác tín đó, chúng ta cùng đứng lên tuyên xưng đức tin thật mãnh liệt như những chứng nhân của Chúa giữa muôn người.
Tôi tin kính……..Chúa Lên Trời !!!
Phó tế Giuse Hoàng Huy Cương, op. 

 
 

LênTrời-115: Chúa về trời

VietCatholic News (Thứ Năm 24/04/2008 22:23)
CHÚA THĂNG THIÊN, năm A
Mt 28, 16-20  

 

Chúa về trời đã trả lời dứt điểm những vấn nạn của con người: người ta sinh ra để làm gì ? Chết:LênTrời-115

Chúa về trời đã trả lời dứt điểm những vấn nạn của con người: người ta sinh ra để làm gì ? Chết rồi con người đi đâu ? Những câu hỏi ấy đã được giải mã rõ ràng. Chúa về trời, ra đi về với Chúa Cha và dọn đường cho các môn đệ, cho mọi người:” Vì Người ở đâu các con cũng sẽ ở đó với Ta “. Sau những ngày tháng sống lại, Chúa Phục Sinh luôn hiện giữa các môn đệ, để minh chứng Ngài đã sống lại thật và qua đó các môn đệ sẽ nhìn nhận Chúa đã sống lại thật như lời Ngài đã tiên báo trước. Hôm nay, Chúa Phục Sinh từ giã các môn đệ để về với Cha của Ngài, các môn được Ngài ủy thác sứ vụ tiếp tục công trình cứu thế của Ngài:” Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy” ( Mt 28, 18 ).

CHÚA VỀ TRỜI SAU 40 NGÀY Ở VỚI CÁC MÔN ĐỆ:

Thực tế, con số 40 sau ngày Chúa Phục Sinh có một ý nghĩa hoàn toàn vượt lên trên hình thức của một con số. Số 40 này trong Thánh Kinh chỉ định một thời gian có thời hạn, thời gian Thiên Chúa hoàn thành công việc của Ngài. Thánh Matthêô kể lại việc Chúa về trời xẩy ra trên một ngọn núi. Đối với thánh Matthêô mọi biến cố quan trọng Chúa làm đều bắt nguồn từ trên núi: bài giảng tám mối phúc thật (Mt 5, 1 tt ), Chúa Biến Hình ( Mt 17, 1tt ). Núi là nơi gặp gỡ Thiên Chúa như Môsê đã gặp gỡ Chúa trong bụi gai trên núi. Núi là nơi con người gặp Thiên Chúa để tôn thờ và làm vinh quang Ngài. Chúa về trời để chỉ những hành động cuối cùng của Ngài đã hoàn tất nơi trần gian. Chúa về trời, Ngài đã để lại một lời hứa thật quan trọng để dù Ngài có ra khỏi thế giới này trong thân xác hữu hình, Ngài vẫn luôn hiện diện với con người, với thế giới cho đến tận thế. Chúa Phục Sinh sau khi đã về với Chúa Cha sẽ sai Thánh Thần của Ngài xuống trên Giáo Hội. Chúa về trời không phải chấm dứt tại đó, nhưng Ngài đã sai các môn đệ: ” Mọi quyền năng trên trời dưới đất đều được ban cho Thầy. Các con hãy đi giảng dạy muôn dân” ( Mt 28, 18-19). Chúa về trời nhưng đây lại là ngày khởi đầu lên đường rao giảng Tin Mừng của các môn đệ.Hôm nay đây, các môn đệ vâng lệnh Chúa Phục Sinh, ra đi chinh phục con người. Các Ngài trở thành những ngư phủ lành nghề lưới người. Các Ngài ra đi chinh phục thế giới bằng lời rao giảng, bằng phép rửa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Các môn đệ ngơ ngác nhìn Chúa về trời, rồi các Ngài ý thức sứ mạng Thầy mình trao phó, họ xuống núi trở về xây dựng Giáo Hội.

SỨ MẠNG RAO GIẢNG CỦA CÁC MÔN ĐỆ CŨNG LÀ SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH, CỦA MỖI NGƯỜI CHÚNG TA:

Khi sai các môn đệ rao giảng, Chúa muốn các Ngài trung thành trao ban cho muôn dân, cho mọi người những gì các Ngài đã lãnh nhận nơi Chúa. Điều trao ban cho muôn người không gì ngoài Tình Yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu như thánh Gioan nói. Tình yêu vô biên, hy sinh, tự hiến:” Không Tình Yêu nào cao vời bằng Tình Yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ).Chính vì yêu mà Con Thiên Chúa đã mặc xác phàm làm người. Chính vì yêu mà Chúa đã gánh tội cho nhân trần, cho con người, cho mỗi người. Và cũng chính vì yêu, Chúa đã giang tay chịu đóng đinh trên Thập Giá, để lại Thịt và Máu làm bánh trường sinh nuôi sống loài người, nuôi sống mỗi người. Chúa không ước mong gì hơn là nhân loại hãy sống giới luật yêu thương:” Các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con (Ga 15, 17 ).” Cứ dấu này người ta sẽ nhận ra các con là môn đệ của Thầy là các con hãy yêu thương nhau “. Yêu thương như Chúa nghĩa là dám hy sinh mạng mình vì người mình yêu, dám lấy Thịt Máu mình nuôi sống người mình yêu. Chúa trao sứ mạng rao giảng cho các môn đệ và hứa đưa các Ngài về trời với Ngài. Do đó, Chúa cũng đang mời chúng ta rao giảng và cùng về trời với Ngài, nhưng rao giảng là làm sống lại chân lý tình thương của Chúa và về trời không riêng lẻ cho một ai mà Chúa đang mời gọi chúng ta về trời cùng với anh em chúng ta khi chúng ta xây dựng thành công một cộng đồng đầy ắp tình yêu thương. Chúa trao sứ mạng:” Rao giảng cho muôn dân “ nghĩa là Chúa muốn chúng ta làm sống lại đời sống yêu thương của Chúa để tất cả mọi người đều có một Cha chung trên trời, đều sống tình huynh đệ với nhau không còn hận thù, không còn tranh giành, chia rẽ, hờn oán và chiến tranh nữa.Sứ mạng rao giảng Tin Mừng Chúa trao cho con người, cho mỗi người Kitô hữu là sứ mạng cao cả, con người không chỉ nói suông, nói trên bờ môi chóp lưỡi về Chúa mà còn phải sống bằng chính gương sáng đời sống Kitô của mình để ai ai cũng nhận ra chúng ta là chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa.

CHÚA VỀ TRỜI. MỘT BIẾN CỐ CỨU ĐỘ :

Chúa về trời giúp chúng ta xác tín sâu xa rằng Ngài đã hoàn tất công trình cứu độ Chúa Cha trao phó cho Ngài ở trần gian này. Chúa Giêsu đến trần gian để làm theo ý Chúa Cha.” Lạy Cha nếu được thì xin cất chén đắng này đi nhưng đừng theo ý Con mà theo ý Cha”. Chúa về trời để chuẩn bị sai Chúa Thánh Thần đến với Giáo Hội. Biến cố Thăng Thiên giúp mọi Kitô hữu nghĩ đến tương lai và niềm hy vọng của mình.Nhìn về trời không có nghĩa là sao lãng công việc trần thế nhưng càng lúc mọi Kitô hữu phải nhớ đến lời Chúa và những thực tế của cuộc đời này:” Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời ”.Quả thực, Chúa Giêsu đã sống giữa chúng ta, đã sống ở Nagiarét, ở các vùng Galilêa, Giêsrusalem, đã đi qua nhiều con đường mà nhiều người Do Thái đã đi qua: Samaria, Capharnaum vv…Và đó là những nét Tin Mừng đã nói về Chúa Giêsu, như một con người sống giữa thế giới này và bây giờ đã về trời. Biến cố Chúa về trời mang một ý nghĩa rất sâu xa: Ngài sống trong mầu nhiệm khôn dò của Ba Ngôi Thiên Chúa và Chúa Phục Sinh là khát vọng, là niềm hy vọng của mọi người. Và như thánh Phaolô viết:” Đức Kitô, Đấng đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” ( 2 Co 5, 15 ).

Lạy Chúa xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con: ” Đem niềm vui đến chỗ ưu sầu. Dọi ánh sáng vào nơi tối tăm. Đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”.
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 
 

LênTrời-116: HIỆN RA TẠI GALILÊ VÀ BAN SỨ MỆNH PHỔ QUÁT

Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt
GIẢI THÍCH BẢN VĂN 

 

11 tông đồ: Ta biết Đức Giêsu có tất cả 12 tông đồ. Nhưng trong biến cố thụ nạn, Giuđa đã hư: LênTrời-116

- 11 tông đồ: Ta biết Đức Giêsu có tất cả 12 tông đồ. Nhưng trong biến cố thụ nạn, Giuđa đã hư mất và sau đó đã tự vẫn; các tông đồ kia thì chạy trốn tán loạn. Bây giờ, trước lúc về trời, Đức Giêsu đã tập họp số còn lại được 11 người. Họ là hình ảnh của Giáo Hội. Giáo Hội là những người được Chúa tập họp lại, đúng ý nghĩa của chữ Hy Lạp Ekklêsia.
- Xứ Galilêa: Địa điểm tập họp sao không phải là Giêrusalem, nơi từ trước tới giờ vẫn được coi là trung tâm của niềm tin? mà lại là Galilêa là vùng có nhiều người lương? Hẳn là Đức Giêsu có chủ ý: Giáo Hội theo quan điểm của Matthêu phải là Giáo Hội truyền giáo, Giáo Hội của thế giới.
- Lên núi:  Matthêu không quan tâm đến vị trí địa dư chính xác cho bằng quan tâm đến ý nghĩa thần học của vị trí ấy. Vì thế đừng mất công tìm hiểu xem "núi" này là núi gì. Ngày xưa Môisen đã gặp Thiên Chúa trên núi; rồi Êlia cũng đi tìm gặp Thiên Chúa trên núi; Đức Giêsu cũng biến hình trên núi; Hiến Chương Nước Trời cũng được Đức Giêsu công bố trên núi. Các dữ kiện Thánh Kinh trên cho thấy "núi" là nơi Thiên Chúa công bố luật. Vậy cũng như ngày xưa Thiên Chúa gặp Môisen "trên núi" để ban Luật cho dân Israel, thì nay Đức Giêsu cũng hẹn gặp 11 tông đồ trên núi để ban Luật mới cho Giáo Hội, Israel mới.
- Thờ lạy:  Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng đáng thờ lạy (xem Mt 4,10 trích Đnl 6,13). Vậy khi các tông đồ thờ lạy Đức Giêsu phục sinh thì có nghĩa là các ông nhìn nhận Ngài là Thiên Chúa.
- Vẫn còn nghi nan: Giáo Hội mà Đức Giêsu tập họp tuy là Giáo Hội đã tin Ngài là Thiên Chúa nên đã "thờ lạy" Ngài, nhưng đức tin vẫn còn yếu kém, vẫn là "những kẻ hèn tin" (xem 6,30; 8,26; 14,31; 16,18).
- Đức Giêsu lại gần: Nếu dịch thật đúng, phải là "Đức Giêsu đến với họ". Nếu như Matthêu cố tình dùng động từ "đến" thì ngụ ý của Matthêu là Đức Giêsu thực hiện đúng tước hiệu mà Cựu Ước vẫn gán cho Đấng Messia, "Đấng đang đến" (Celui qui vient) (xem Đaniel 7,13; Tv 118,26; Mt 21,9; 23,39). Trước tòa án xét xử Ngài, chính Đức Giêsu đã xưng mình bằng tước hiệu đó (Mt 26, 54).
- Được mọi quyền: Trong Đaniel 7,14 "Con Người" (Đấng Messia) sẽ được Thiên Chúa ban cho mọi quyền. Như vậy, ở đây Đức Giêsu tự giới thiệu mình chính là Con Người Messia.
- Vậy các con hãy đi: Đức Giêsu sai các tông đồ (Giáo Hội) đi truyền giáo. Nên chú ý rằng ở chương 10, Đức Giêsu cũng đã sai như thế, nhưng các ông chưa đi, khi đó chính Chúa Giêsu đi và các ông đi theo. Bây giờ lúc Đức Giêsu sắp về trời rồi, thì chính thức tới lúc Giáo Hội phải ra đi truyền giáo.
- Ở khắp muôn dân: Tính đại đồng của Giáo Hội. So sánh với 10,5 ("Đừng vào nhà lương dân ....."), ta thấy câu nói này khó mà tưởng tượng nổi ngay buổi bình minh của Phục sinh. Sách Tông đồ Công vụ cho thấy các tông đồ đã tốn hàng chục năm trời mới mở được chân trời hướng về phía lương dân, và mãi 20 năm sau, công đồng Giêrusalem mới quyết định hướng truyền giáo ấy. Cho nên câu nói này không phải là câu nói của Đức Giêsu lúc ấy, mà đúng hơn là câu nói của Đức Giêsu sống trong Giáo Hội sau công đồng Giêrusalem (TđCv 15,5-12).
- Thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần: Giáo đoàn Matthêu đã có một nề nếp phụng vụ đàng hoàng với phép Rửa nhân danh Ba Ngôi. Lúc ban đầu người ta chỉ biết làm phép rửa nhân danh Đức Giêsu. Các thư của Phaolô cũng cho thấy những bước dò tìm chậm chạp của niềm tin vào Ba Ngôi.
- Dạy bảo người ta: Matthêu tỏ ra quan tâm đến "mục vụ trí năng": phải hiểu những gì mình tin (Mt 18,15-18), cho nên Matthêu nhấn mạnh lời Đức Giêsu dặn Giáo Hội phải "dạy bảo".
- Thầy ở với các con: Chỗ dựa và nơi an toàn duy nhất của Giáo Hội là Đức Giêsu. Ở đây Ngài tự xưng mình là Emmanuel. Lưu ý: khi hiện ra cho Giuse, Thiên sứ đã bảo tên đứa con của Maria sẽ là Emmanuel, vậy mà khi đứa trẻ ấy sinh ra thì Giuse lại đặt tên là... Giêsu! Bây giờ Đức Giêsu đã phục sinh mới thực là Emmanuel, Ngài đã sống lại rồi và sẽ mãi mãi ở với Giáo Hội "hết mọi ngày tới khi tận thế".



CHÚ GIẢI CHI TIẾT
“Đi Galilê": Ở đây tầm quan trọng của Galilê có tính cách thần học: Đấng Phục sinh gặp lại các môn đồ mình tại địa điểm hoạt động chủ yếu của Người trên trần gian (nhất là theo Matthêu và Marcô); điều đó giả thiết có sự liên tục giữa Chúa Kitô tại thế với Chúa Kitô phục sinh, sự liên tục mà câu 20a nhấn mạnh cách minh nhiên ("dạy họ giữ những gì Thầy đã truyền cho các con"). Cuộc Phục sinh ban cho lời vị Thầy xứ Galilê một uy quyền vô song; thay vì làm các môn đồ quên lời Chúa Giêsu Nagiaret để thế bằng thứ kinh nghiệm cao hơn về một cách thức hiện diện mới, cuộc Phục sinh thúc họ tuân giữ những gì Người đã truyền cho. Nếu thánh sử đã chẳng có ý niệm về mối tương quan giữa Chúa Giêsu-giảng dạy với Chúa Kitô-phục sinh ấy, có lẽ ông đã không mất công thu thập vào tác phẩm của mình tất cả những lời Chúa Giêsu mà ông đã "giữ" lại cho giáo đoàn của ông. Tóm lại, ở đây Matthêu muốn nhấn mạnh sự đồng nhất giữa "Chúa Giêsu của lịch sử” và "Chúa Giêsu của niềm tin".
“Mọi quyền năng đã được ban cho Ta": Công thức này rõ ràng ám chỉ đến những gì nói về Con Người trong Đanien 7,14: "Vương quốc, vinh dự đã được ban cho Người, và mọi dân nước, ngôn ngữ sẽ phục vụ Người". Chúa Giêsu hoàn tất lời Người đã hứa trước Công nghị (26,64): "Từ đây các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Quyền năng". Đấng đã ban một uy quyền như thế cho Chúa Giêsu, đương nhiên phải là Chúa Cha (“đã được ban": thể thụ động chỉ hoạt động Thiên Chúa: passif divin).
“Dạy họ tuân giữ": dịch sát chữ; "dạy dỗ họ" (didaschontes). Sự nghiệp của Chúa Giêsu đã được Matthêu trình bày như một việc dạy dỗ, giảng thuyết, chữa lành bệnh tật (4,23 và 9,35). Chúa Gỉêsu đã truyền cho các môn đồ chữa lành bệnh tật trong 10, 1.8 và rao giảng trong 10,7; lệnh dạy dỗ được để dành cho đến cuối Tin Mừng, có lẽ vì Matthêu nghĩ rằng phận vụ dạy dỗ là quan trọng nhất trong Giáo Hội.
“Những gì Thầy đã truyền cho các con”: Mấy chữ này phát xuất trực tiếp từ Cựu Ước (Xh 7,2; 29,35; Đnl 1, 41; 4, 2 ...); chúng tương ứng với thành ngữ của Gioan: "giữ lệnh truyền của Người" (Ga 14, 15; 15, 10; 1 Ga 3, 22tt . . . ). Trong Matthêu, từ “giảng dạy" mang một màu sắc luân lý; không phải là dạy dỗ những bí mật kỳ diệu của một thứ kiến thức bí truyền như người Essêni, cũng chẳng phải là dạy người ta lý luận đúng về sự vật và về chính mình, nhưng tiên vàn là rao giảng, loan truyền, làm cho người ta nhận biết Chúa Kitô và lời Người giải thích thánh ý Chúa Cha. Sứ mệnh Kitô hữu do đó không nhắm mục đích cho người ta "biết" (một sự hiểu biết thuần lý) một Chúa Kitô hoàn toàn thiêng liêng, nhưng là một Chúa Kitô như ta thấy trong Tin Mừng, một Chúa Kitô đang mời gọi mọi người "nghe theo" lời Người giải thích luật Thiên Chúa.
“Thầy ở với các con": Đoạn kết của Tin Mừng đối đáp lại phần mở. Nơi phần mở, Chúa Giêsu được trình bày như là Đấng có tên là Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (1,23) từ lúc mới sinh. Đúng là một lối đóng khung vĩ đại, phô bày tất cả chiều kích phổ quát của con người Chúa Giêsu trên toàn lịch sử nhãn loại, đồng thời đánh dấu việc Người nhập thể vào thời gian và không gian.



KẾT LUẬN
Công cuộc vĩ đại: mang ánh sáng đến cho mọi dân nước không thể là công cuộc của con người. Tin Mừng, mỗi lần đề cập đến sự yếu tin của các sứ đồ đã cho thấy họ bất lực đến chừng nào. Nhưng trong công cuộc trên, các môn đồ không bị bỏ rơi một mình với các phương tiện yếu đuối của riêng họ. Chính Chúa đỡ nâng, cứu giúp họ: “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Cái nhìn nhắm rất xa, đến những thế kỷ tương lai của một lịch sử dài đang bắt đầu. Chân trời nằm nơi cái biên giới mà thời hiện tại sẽ được thay bằng một thời mới. Thời cánh chung trước khi tái giáng cách hữu hình 'để phán xét’, Con Người sẽ ở với môn đồ mình để nâng đỡ hoạt động của họ. Người đang hiện diện và hoạt động giữa họ cách thiêng liêng, chẳng những khi họ tụ họp quanh bàn tiệc, tưởng niệm cái chết của Người, và ăn uống thần lương, nhưng luôn mãi và khắp nơi. Cộng đoàn cứu độ mới không chỉ tuyên xưng Chúa trong khắp vũ trụ, song chính Chúa đang hiện diện giữa cộng đoàn.



Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Ngay từ đầu bài Tin Mừng hôm nay ta nghe nói đến 11 môn đồ chứ không phải 12 như thường lệ. Như vậy ta thấy ngay trong ngày Thăng Thiên, lúc Chúa Giêsu xuất hiện nơi chóp đỉnh vinh quang của Người và lúc các môn đồ nhận lãnh ủy nhiệm trọng đại nhất, cái hạt nhân đầu tiên của Giáo Hội vẫn mang trong mình thương tích gây nên do sự bội phản của Giuđa. Sẽ luôn như thế, cho đến tận cùng thời gian. Dù thánh thiện đến đâu, Giáo Hội cũng là một dân tội lỗi, là Hôn Thê đầy tì vết mà Phu Quân chỉ sẽ làm cho hoàn toàn thanh khiết trong ngày thế mạt (Kh 19, 7-8; 21,2).
2) Chúa Giêsu muốn gặp các môn đồ mình tại Galilê để cho họ thấy: dù đã trở nên Chúa vinh quang, Người vẫn là Giêsu Nagiaret mà họ đã thân quen. Chúa Giêsu luôn như thế, chỉ tình trạng của Người thay đổi thôi. Không có hai Giêsu: Giêsu thợ mộc (Mc 6,3) và Chúa Kitô hiển vinh đã lên trời. Chỉ có một Chúa Giêsu, Giêsu Kitô, Giêsu-Kitô nhân-thần. Vận mạng chúng ta giống vận mạng của Chúa Giêsu, Đầu chúng ta. Chúng ta cũng chỉ có một cuộc sống gồm hai tình trạng: tình trạng trần thế và tình trạng vinh hiển mai sau. Cái thống nhất hai tình trạng thành một chính là tình yêu. Trên trời, chúng ta vẫn tiếp tục làm điều chúng ta đã tập lúc còn tại thế là Yêu. Và nếu ngay bây giờ, trong Galilê thường nhật của chúng ta, chúng ta đã là môn đồ của Chúa Giêsu-thợ mộc, thì sau này chúng ta mới có thể hy vọng được thống trị với Chúa Kitô vinh hiển.
3) Đấng lên trời luôn luôn là chính Đấng đến với chúng ta, gặp chúng ta trong cuộc sống Kitô hữu của mọi ngày. Sở dĩ Người đã lên trời cách hữu hình và thôi tỏ mình cho các môn đồ trong hình hài thể xác, là để từ đây luôn hiện diện từng giây phút cách vô hình với họ. Nhờ trở nên thân xác vinh hiển, Chúa Giêsu không còn bị giới hạn vào một điểm không gian và thời gian. Từ đây Người có thể gặp chúng ta, tất cả và mỗi người, bất cứ giờ nào, nơi đâu. Nhờ Phục sinh và Thăng thiên, Chúa Giêsu hiện diện như vậy với mọi người trong lịch sử nhân loại. Chúng ta chỉ cần lợi dụng sự hiện diện vô hình nhưng thực sự ấy của Chúa Giêsu để sống với Người trong mọi giây phút đời ta: Và Người vẫn đến với ta, dù ta hoài nghi, dù ta chểnh mảng phục vụ Người; dù ta tội lỗi đến đâu, Người biết ta vẫn có thiện chí trong đáy tâm hồn, vẫn ao ước phụng sự Người, vẫn muốn sám hối đổi đời. Dù ta bất tín bất trung, người vẫn mời gọi ta trở nên sứ giả Tin Mừng trong môi trường sống.
4) "Hãy thâu nạp môn đồ khắp muôn dân": Không phải chỉ có vấn đề học giáo lý như học bản cửu chương, phương pháp gia chánh hay cách sử dụng máy móc ... Điều chủ yếu là đi vào trong mối tương giao thân mật và cá nhân với Chúa Kitô, là thực sự trở nên môn đồ, anh em (28, 10), bạn hữu của Người (Ga 15, 15). Và con đường tốt nhất để đi vào tình thân ái ấy với Chúa Giêsu là bắt chước Người, là trở nên như Người: hoàn toàn tận hiến cho Chúa Cha và nhân loại, là yêu mến. Chính lúc yêu mến mà ta hoàn tất điều Chúa Giêsu truyền dạy, vì tất cả giáo huấn của Người chỉ thu gọn vào điểm này: "Giới luật của Thầy là các con hãy yêu thương nhau” (Ga 13, 14).

 
 

LênTrời-117: Sự sống mới- hiện diện mới - ĐTGM. Ngô quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 28,16-20
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ 

 

Có lẽ nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: sao trong bài Phúc Âm lễ Thăng Thiên hôm nay, chẳng thấy: LênTrời-117 FB

Có lẽ nhiều người ngạc nhiên tự hỏi: sao trong bài Phúc Âm lễ Thăng Thiên hôm nay, chẳng thấy nói gì đến trời, đến bay lên? Thắc mắc như vậy là hợp lý. Ta vẫn quen gọi hôm nay là lễ Chúa Giêsu lên trời. Và theo quan niệm bình dân, không gian chia làm ba tầng. Tầng dưới đất là âm ty, địa ngục, dành cho người chết. Tầng mặt đất mà ta đang sống là dương gian. Và tầng trên mặt đất là trời. Chúa Giêsu đã sống trên mặt đất, khi chết Người bị chôn trong lòng đất, đi vào cõi âm ty. Sống lại, Người trở lại mặt đất. Và hôm nay Người được đưa lên trời, bay lên đám mây, ngự bên hữu Chúa Cha.
Đó chỉ là một lối diễn tả bình dân. Thực ra, trời đâu phải là một nơi chốn. Con người có thân xác, bị giới hạn trong không gian, cần một nơi chốn để cư ngụ. Thiên Chúa không bị giới hạn trong không gian thì đâu còn bên tả bên hữu gì nữa.
Vậy, tại sao ta nói Chúa Giêsu lên trời? Lên trời ở đây có ý nghĩa gì?
Trời không phải là một nơi chốn, nhưng là một trạng thái, trong đó Ba Ngôi Thiên Chúa sống chan hoà yêu thương. Sự sống của Thiên chúa không giống sự sống của cây cỏ. Cũng không giống như sự sống của động vật hay loài người. Đó là sự sống thần linh. Sự sống vượt không gian, vượt thời gian, không còn bị lệ thuộc vào điều kiện vật chất. Sự sống không còn bị hao hụt, giảm thiểu bởi đau đớn, bệnh tật, đói khát. Đó là sự sống viên mãn tràn đầy. Được tham dự vào sự sống ấy là một hạnh phúc vô song. Đó chính là thiên đường. Lên trời hay lên thiên đàng như vậy không phải là thay đổi nơi chốn nhưng là thay đổi sự sống. Đó là chuyển đổi sự sống hữu hạn của con người sang sự sống vô hạn của Thiên Chúa. Đó là rời bỏ thế giới hữu hạn của loài người để bước vào thế giới vô hạn của Thiên Chúa. Đức Giêsu lên trời có nghĩa là Đức Giêsu về với Thiên Chúa, sống với Thiên Chúa, sống cuộc sống Thiên Chúa. Lên trời không phải lên theo chiều cao trong không gian vật lý. Nhưng là lên theo cấp độ sự sống, là sống cao hơn, mạnh mẽ hơn, tràn đầy hơn.
Chính vì thế, Chúa Giêsu lên trời không phải giã từ thế giới, để đi vào xa vắng mịt mù. Nhưng Người không đi vào một hiện hữu mới để hiện diện mãnh liệt hơn. Không còn bị kềm chế trong không gian, giờ đây Người hiện diện ở khắp mọi nơi. Không còn bị lệ thuộc vào một thân xác, giờ đây Người có thể hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Người ở đó trong những trang Sách Thánh đầy lời lẽ nhiệm mầu để dạy cho ta biết con đường về với Thiên Chúa. Người ở đó trong bí tích Thánh Thể huyền diệu để nuôi linh hồn ta, để kết hợp với ta, để giúp ta đủ sức mạnh đi hết con đường trần gian khổ. Người ở đó trong những người anh em đồng tâm nhất trí cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha. Người ở đó trong những anh em bé nhỏ nghèo hèn đang chờ chúng ta mở rộng trái tim, mở rộng vòng tay nhân ái. Người ở đó trong những người hiến thân phục vụ anh em, trong những người hy sinh bản thân mình cho công bình, cho chân lý, cho một thế giới tươi đẹp hơn. Người có mặt trên khắp mọi nơi nẻo đường, trong tất cả mọi cảnh ngộ của cuộc đời. Người có mặt trong mọi thời gian đúng như Người đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
Bây giờ thì chúng ta đã hiểu: Trời không phải là một nơi chốn xác định, là một không gian vật lý có thể cân đo đong đếm. Nhưng trời là Thiên đàng, là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, là chính Thiên Chúa Ba Ngôi.
Bây giờ chúng ta đã hiểu lên trời không phải là bay bổng lên không gian. Nhưng là chuyển đổi cấp độ sự sống, hay là bước vào sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa.
Bây giờ thì chúng ta đã hiểu, lên trời không phải là vắng mặt, là xa vắng nhưng lại là một hiện diện vô cùng phong phú, vô cùng mãnh liệt, ở bên cạnh tất cả mọi người, ở mọi nơi và ở mọi thời.
Chúa Giêsu là người mở đường cho nhân loại. Người tiến về một thế giới sự sống viên mãn, cao cả để cho ta thêm niềm tin tưởng rằng: vận mệnh của Người cũng sẽ là vận mệnh của ta. Ta cũng sẽ được cùng Người bước vào sự sống thần linh vĩnh cửu, miễn là ta đi vào con đường của Người: con đường khiêm nhường phục vụ. Miễn là ta vâng giữ lời Người truyền dạy: Hãy yêu tha nhân như chính bản thân mình.
Lạy Đức Giêsu, xin hãy nâng lòng con lên khao khát những sự trên trời. Amen.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Bạn có cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày?
2) Bạn làm cách nào để mọi người cảm thấy Chúa Giêsu đang hiện diện mãnh liệt trong thế giới?
3) Bạn làm gì để xây dựng Nước Trời?

 
 

LênTrời-118: Ta ở với các ngươi mãi mãi

Chúng ta không có một chỉ dẫn nào về vị trí ngọn núi xứ Galilêa, nơi Chúa Giêsu hẹn các môn: LênTrời-118

Chúng ta không có một chỉ dẫn nào về vị trí ngọn núi xứ Galilêa, nơi Chúa Giêsu hẹn các môn đệ. Bài tường thuật của thánh Matthêu được viết theo dàn bài thông thường của các cuộc hiện ra. Chúa Giêsu tỏ mình, Ngài đánh tan sự nghi ngờ, Ngài ban một sứ mạng cho các môn đệ. Bài Phúc Âm hôm nay bao phủ một sự phong phú ý nghĩa đặc biệt. Chúa Giêsu trao cho các môn đệ mệnh lệnh rao giảng Phúc Âm, uỷ thác cho các ông quyền làm phép rửa tội, Ngài hứa tiếp tục có mặt bên các ông. Chúa Giêsu còn hiện diện với Giáo Hội, thay mặt ở đây bởi mười một tông đồ, đặc biệt trong bí tích rửa tội và trong công cuộc truyền bá Phúc Âm.
1) Chúa Giêsu hiện diện trong phép rửa tội.
Ta biết rằng người chịu phép rửa tội được tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông với sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu. Phép rửa tội đặc biệt là bí tích của sự kết hợp vượt qua với Đức Kitô, vì phép ấy cho ta đạt tới sự sống qua khỏi sự chết. Điều ấy chỉ thành sự thật nhờ tin vào Chúa Giêsu. Chúng ta sẽ không biết gì cả về Ba Ngôi Thiên Chúa nếu không có Chúa Giêsu tỏ bày cho chúng ta. Đối với các tông đồ đã như thế, đối với chúng ta cũng như vậy. Chúa Giêsu còn hiện diện để dạy dỗ chúng ta bằng cách nào? Người hướng dẫn chúng ta đến phép rửa tội ra sao? Và sự hiện diện của Ngài tỏ ra đặc biệt gần gũi và tác động nơi linh hồn người chịu phép rửa tội như thế nào? Để trả lời những câu hỏi ấy cần viện đến sự kiện Giáo Hội và đến mầu nhiệm bên trong của đời sống Kitô hữu. Chúa Giêsu hiện diện để dạy dỗ người ta bởi Giáo Hội của Ngài. Chính Giáo Hội là điểm gặp gỡ giữa Đức Kitô và loài người và chính ở điểm gặp gỡ ấy nảy sinh đức tin. Do đó ta thấy tầm quan trọng của việc theo sát những vị có sứ mạng uỷ quyền giảng dạy trong Giáo Hội, những vị thừa kế các tông đồ. Mặt khác, qua ân sủng bí tích rửa tội, Đức Kitô tiếp tục nơi chúng ta công cuộc mặc khải Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngược lại, lòng sẵn sàng tuân theo Chúa Thánh Thần và đón nhận Chúa Cha giúp ta tiến tới trong việc hiểu biết Chúa Con. Đây là một cái gì sống động không thể diễn tả bằng lời nói được. Đức tin vào Chúa Giêsu Kitô cho chúng ta cảm nhận được thực tại sống động của bí tích rửa tội.
2) Đức Kitô hiện diện trong công việc truyền bá Phúc Âm.
Trước hết cần nhớ rằng, bổn phận truyền bá Phúc Âm thuộc mọi môn đệ của Đức Kitô, nghĩa là thuộc mọi người chịu phép rửa tội với những phương tiện riêng (bắt đầu bằng kinh nguyện). Chúa hiện diện nơi công việc của các tông đồ Ngài bằng hai cách chính. Trước hết Ngài hiện diện nơi công việc của người chiến sĩ Phúc Âm bằng sự hiện diện nơi chính người chiến sĩ. Như vậy có nghĩa là người chiến sĩ cần phải để tâm gặp gỡ riêng Chúa mình. Người môn đệ chỉ loan báo Đức Kitô cách hữu hiệu trong mức độ chính mình sống thân thiết bên trong và riêng biệt với Chúa. Sau đó hãy nhớ lời dạy quan trọng: nơi nào nhiều người tụ họp lại nhân danh Ta, có Ta ở giữa họ. Chúa hiện diện với các môn đệ khi họ đoàn kết. Thiếu đoàn kết giữa các Kitô hữu là nguyên do chính của việc thiếu hữu hiệu trong công việc truyền bá Phúc Âm. Đừng nói chi đến sự chia rẽ bi đát giữa các Giáo Hội. Hãy nghĩ đến mức độ chúng ta trong cách suy nghĩ, trong lời nói, trong các quyết định, trong cách hành động, chúng ta có lo lắng liên kết và hiệp nhất với các anh em tín hữu gần gũi nhất với chúng ta không? (xứ đạo, khu xóm, xưởng làm, phong trào Công Giáo Tiến Hành…). Nếu có, Đức Kitô hiện diện nơi công việc tông đồ của chúng ta.

 
 

LênTrời-119: Lễ Chúa Thăng Thiên năm B

Phụng vụ của Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên đều nói đến sự kiện Chúa Giêsu về trời. Bài đọc LênTrời-405

Phụng vụ của Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên đều nói đến sự kiện Chúa Giêsu về trời. Bài đọc một <cv1, 1-11=””>thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu được cất lên trời trong khi Ngài đang giảng dạy các tông đồ. Bài đọc hai (Ep 1, 17-23) cho chúng ta thấy việc Đức Giêsu lên ngự bên hữu Thiên Chúa Cha và trình thuật Tin Mừng (Mc 16,15-20) nói đến mệnh lệnh của Đức Giêsu là “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo…”. Chúng ta cùng nhau chia sẻ ý nghĩa của ngày lễ với ba điểm: Câu chuyện về trời của Đức Giêsu, tại sao Ngài lại về trời và có liên quan gì với chúng ta hay không?</cv1,>
<cv1, 1-11=””>1. Câu chuyện Đức Giêsu về trời</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Khi nói đến việc về trời, chúng ta nghĩ ngay đến sự lìa xa, sự lên cao, không còn ở trần gian này nữa và chúng ta sẽ không thấy nữa. Và Chúa giúp chúng ta xác định được đích điểm của chúng ta là cuộc đời của chúng ta sẽ đi về đâu, để chúng ta không bị lạc lối và để chúng ta có niềm hy vọng, chứ không phải chết là hết.</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Chúng ta thấy nơi bài đọc một, sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại: “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không thấy Người nữa” (c. 9). Hay trong Tin Mừng Thánh Mác-cô: “Nói xong, Đức Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19). Như vậy, Đức Giêsu về trời có nghĩa là từ bây giờ Ngài không còn xuất hiện hữu hình với các tông đồ nữa và Người ngự bên hữu Đức Chúa Cha, nơi mà Ngài đã rời bỏ ngai vàng vì vâng lời Thiên Chúa Cha, xuống Nhập Thể trong lòng Trinh Nữ Maria bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, đi vào cuộc sống trần gian như con người, Ngài đi vào dòng lịch sử của con người. Như vậy, câu chuyện Đức Giêsu về trời, có nghĩa là Ngài không hiện ra với các tông đồ nữa, như trong Tin Mừng thuật lại, sau khi sống lại, Ngài đã nhiều lần hiện ra với các tông đồ bằng thân xác của Đấng Phục Sinh, vẫn ăn uống, trò chuyện với các ông để các ông tin Ngài đã sống lại Thật. Còn bây giờ thì Ngài sẽ không hiện ra nữa. Hiểu theo cách nôm na theo ngôn ngữ con người về trời là Đức Giêsu không còn ở trần gian nữa, chúng ta không thấy Ngài nữa. Còn theo cách diễn tả của Kinh Thánh thì Đức Giêsu về trời chúng ta hiểu rằng là về quê hương của Ngài, nơi mà Ngài đã xuất phát theo lệnh của Cha, theo kế hoạch của Cha. Giờ đây khi đã hoàn tất, Ngài lại theo kế hoạch của Cha và trở về nguồn sống Vĩnh Hằng. Như vậy, Đức Giêsu về trời cho chúng ta xác định lại cùng đích của chúng ta là quê hương trên trời.</cv1,>
<cv1, 1-11=””>2. Tại sao Đức Giêsu lại về trời?</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Đức Giêsu lên trời để làm gì vậy, tại sao Ngài không ở với các Tông Đồ? Thiết nghĩ, Đức Giêsu về trời là để Ngài nói với các môn đệ rằng: bây giờ đến lượt anh em, “anh em hãy đi khắp thế gian, loan báo Tin Mừng cho mọi loại thọ tạo…”. Bây giờ đến lượt anh em, anh em đã được huấn luyện trong ba năm, đã cùng Thầy rong ruổi trên khắp mọi nẻo đường, anh em đã được thấy Thầy làm phép lạ, anh em đã được chứng kiến vinh quang của Thầy thì bây giờ đến lượt anh em, anh em hãy đi nói cho muôn dân biết Thiên Chúa yêu thương con người. Hãy nói với họ rằng, haãy sám hối và tin vào Tin Mừng và rửa tội cho họ, Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và dạy cho họ những tuân giữ những gì Thầy đã nói cho anh em.</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Như vậy, Đức Giêsu lên trời để cho các môn đệ được trưởng thành hơn, để cho các môn đệ đứng trên đôi chân của mình, ra đi loan báo bằng miệng lưỡi của mình và trên tất cả là làm chứng tá bằng chính đời sống của mình.</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Chúng ta có thể hỏi, các ông có thể làm được điều Chúa muốn không? Vì ngay sau khi Chúa chết, các ông sợ hãi, người thì bỏ về quê… có thể các ông không làm được như Chúa muốn và Chúa biết điều đó, nếu để họ bơ vơ một mình. Nhưng Chúa vẫn đồng hành với các ông trong Thần Khí, như trong Tin Mừng Thánh Matthêu “Thầy sẽ ở cùng anh em tới ngày tận thế” (Mt 28,20). Có nghĩa là Ngài không hiện diện thể lý, nhưng hiện diện và đồng hành bằng cách ban Thánh Thần. Và Ngài hiện diện trong Giáo Hội. Như Khi Thánh Phaolô trên đường Đa-mát, đi bắt những Kitô hữu, và biến cố ngã ngựa, tiếng từ trời nói: tại sao ngươi bắt bớ Ta? Khi Phaolô hỏi ngài là ai, Đức Giêsu trả lời: Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ”. Đức Giêsu ở lại với chúng ta qua những người anh em, qua các Bí Tích và đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể.</cv1,>
<cv1, 1-11=””>3. Chúa Giêsu lên trời có liên quan gì đến chúng ta?</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Chúng ta cũng là những môn đệ của Ngài, khi chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội là chúng ta được tháp nhập vào Mầu Nhiệm của Thiên Chúa ngang qua Đức Kitô, và ngày hôm nay Lời Chúa nói với các môn đệ cũng là nói với chúng ta, chứ không chỉ cho các Giám Mục, Linh Mục và tu sĩ, mà ngay cả chúng ta cũng có thể hân hoan loan báo bằng chính đời sống của chúng ta ngang qua ơn gọi, bổn phận của mỗi chúng ta. Chúng ta không chỉ đứng nhìn trời nhưng Chúa đang cần chúng ta tiếp nối sứ mệnh của Ngài, Chúa muốn mượn chính miệng lưỡi chúng ta để rao giảng, mượn đôi tay của chúng ta để nối dài sự trao ban, thi ân, Chúa mượn đôi chân của chúng ta để rong ruổi đi đến tận cùng trái đất để đến với những ai đang cần đến sự giúp đỡ…</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Chúng ta làm được không? Có lẽ là khó, nhưng không phải là không làm được vì: nếu tôi là hoc sinh, sinh viên, tôi làm chứng cho Tin Mừng Phục sinh bằng cách học hành chăm chỉ, không quay cóp… Nếu tôi là công nhân, tôi sẽ chu toàn bổn phận của tôi cách tốt nhất, không tham nhũng, không dối trá, không lươn lẹo… Trong gia đình, chúng ta sống yêu thương, tha thứ, chia sẻ, quan tâm đến những người hàng xóm… Trong cộng đoàn, chúng ta luôn hiệp nhất, yêu thương nhau, thật đẹp biết bao phải không, khi người khác nhìn vào, họ sẽ nhận ra dung mạo của Đức Kitô họ sẽ nhận ra tình yêu Thiên Chúa nơi đó.</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Vậy thì việc Chúa lên trời có liên quan tới chúng ta, Chúa nhắc nhở bổn phận trở nên nhân chứng cho Ngài và cho chúng ta niềm hy vọng, hy vọng sẽ được cùng Ngài trở về nhà Cha, trở về nơi Vinh quang mà Đức Giêsu, người anh cả đã đi trước để chuẩn bị cho chúng ta.</cv1,>
<cv1, 1-11=””>Lạy Chúa, xin cho chúng con được ơn can đảm, can đảm để sống đạo, để làm chứng cho Chúa trong đời sống thường nhật. Xin cho chúng con đức tin, để chúng con nhận ra Chúa vẫn đang hiện diện trong Giáo Hội, trong từng người Kitô hữu, để chúng con can đảm đi trên con đường lữ hành với niềm hy vọng, và chúng con can đảm bỏ lại những gì còn níu kéo chúng con, làm chúng con không thể thanh thoát, không thể hướng lòng lên và sống theo Tin Mừng, để chúng con cũng được hưởng vinh quang viên mãn với Ngài trên Thiên Đàng. Amen

 

LênTrời-120: Lời trối thiêng liêng của Đức Giêsu!

Lễ Chúa Lên Trời/A

(Mt 28,16-20) 

 

Mùa Phục Sinh kéo dài năm mươi ngày. Nghĩa là chúng ta mừng lễ Phục Sinh của Đức Giêsu:LênTrời-120

Mùa Phục Sinh kéo dài năm mươi ngày. Nghĩa là chúng ta mừng lễ Phục Sinh của Ðức Giêsu suốt năm mươi ngày liền. Vâng, sự Phục Sinh của Chúa là một biến cố vô cùng trọng đại và mang đầy ý nghĩa đối với cuộc sống chúng ta, hay nói đúng hơn, đối với sự cứu rỗi và hạnh phúc viên mãn của chúng ta, đến nỗi chúng ta phải cần một thời gian lâu như thế để «ăn mừng». Và thời gian trọng đại đó đã được Kinh Thánh chia làm ba phần: Biến cố Sống Lại – Lên Trời – Chúa Thánh Thần Hiện Xuống!
Ðức Giêsu chịu đóng đinh đã thắng vượt sự đau khổ và sự chết. Thiên Chúa đã cho Người sống lại trong một cuộc sống mới, cuộc sống trường cửu và bất tử, một cuộc sống chỉ nơi Thiên Chúa mới có. Và từ nơi đó, Người đã gửi Chúa Thánh Thần xuống trên các môn đệ và trên toàn thể nhân loại.

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật cho chúng ta cuộc tạm biệt các môn đệ của Ðức Giêsu và đồng thời chuyển đạt cho chúng ta lời trối thiêng liêng của Người!

Trước hết, Người đã khẳng định: «Thầy đã được ban cho mọi quyền hành trên trời dưới đất!» Ðức Giêsu đã chứng thực vai trò quan trọng mà Chúa Cha đã trao phó cho Người. Ðức Giêsu không hành động theo ý riêng, nhưng theo trọng trách Chúa Cha đã giao cho. Vì thế, ngoài Người ra, không có bất cứ ai có được sự tương quan thân tình và chặt chẽ với Chúa Cha như Người với Chúa Cha. Qua Ðức Giêsu, Chúa Cha đã tác động một cách cụ thể trên toàn thể vũ trụ: trên trời cũng như dưới đất! Và qua Ðức Giêsu, chúng ta có thể nhìn thấy được những gì Chúa Cha muốn hiện thực ở trên trời cũng như ở dưới đất.

Tiếp đến, Ðức Giêsu đã truyền cho các môn đệ phải kêu gọi mọi người đến bước theo con đường của Người, rửa tội cho họ và dạy cho họ biết sống theo thánh ý Thiên Chúa. Công cuộc truyền giáo của Người, công cuộc dẫn đưa toàn thể nhân loại trở về cùng Chúa Cha của Người chưa hoàn tất. Còn nhiều người chưa tin nhận Thiên Chúa. Cánh đồng truyền giáo còn bao la bát ngát. Vì thế công cuộc truyền giáo của các môn đệ, của tất cả chúng ta mới được khởi sự. Ðức Giêsu đã để lại cho đoàn môn đệ nhỏ bé của Người một lời trối thiêng liêng, một sứ mệnh vô cùng cao quí, vô cùng to lớn và vô cùng nặng nề.

Ý muốn của Ðức Giêsu là mọi người biết tìm đến cùng Người, đến cùng Chúa Cha, và nhờ thế tìm gặp được sự cứu rỗi. Ðức Giêsu không muốn cho con người bị giam cầm trong sự bất toàn của họ. Người muốn dẫn đưa con người đến sự hoàn thiện, đến sự cứu rỗi, vì Người không thể dửng dưng trước số phận con người được. Người dấn thân cho hết mọi người. Người mong muốn cho họ điều thiện hảo nhất!

Cả chúng ta nữa, những người đã được lãnh nhận phép thánh tẩy, chúng ta cũng muốn cho tất cả mọi người tìm gặp được đức tin vào Thiên Chúa, tìm gặp được sự cứu rỗi. Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng mong muốn cho tất cả mọi người biết sống theo giới răn của Ðức Giêsu, hầu cho sự công bằng được hiện thực trên thế giới và hầu cho tình bác ái không còn là một lời nói đẹp, trống rỗng, nhưng là một sức mạnh có thể biến đổi được cuộc sống chung của nhân loại.

Nhưng chúng ta cũng đã cảm nhận được khả năng nhân loại của chúng ta quá hạn hẹp biết chừng nào! Vâng, nhiều khi chúng ta tự cảm thấy một cách rõ ràng sự bất toàn của mình, khả năng quá yếu kém và quá giới hạn của mình, đến nỗi chúng ta đâm ra thối chí nản lòng và muốn nhắm mắt buông xuôi, để mặc cho mọi sự muốn ra sao tùy ý. Nhiều khi chúng ta tự chợt thấy mình đang trong cơn thử thách như thế. Nhưng trong những giờ phút yếu mềm như thế, tôi lại cảm thấy được an ủi là sứ mệnh trọng đại đó không phải là lời cuối cùng của Ðức Giêsu, nhưng là lời hứa chân thành của Người: «Và đây, Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế!» (Mt 28,20b).

Ðức Giêsu ở cùng chúng ta, ở cùng từng người trong chúng ta. Ðức Giêsu ở cùng tôi! Và Ðức Giêsu ở cùng Giáo Hội của Người, ở cùng cộng đoàn các tín hữu của Người: Trên khắp mọi nẻo đường họ đi, trong tất cả mọi thành công và thất bại của họ. Ðúng như lời Ðức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã nói trong bài giảng dịp đăng quang của ngài: «Ai tin vào Ðức Giêsu, sẽ không bao giờ cô đơn!».
Lm Nguyễn Hữu Thy

 
 

LênTrời-121: THĂNG THIÊN, SỰ HƯỚNG VỀ

Sự hướng về bao quát trong thiên nhiên, dường như mọi thọ tạo đều hướng về trời cao; điều này:LênTrời-121

Sự hướng về bao quát trong thiên nhiên, dường như mọi thọ tạo đều hướng về trời cao; điều này được thấy rõ nét nhất nơi cây xanh thảo mộc. Trong thiên nhiên, ở cõi vật chất, hình ảnh của ngọn núi là bộc lộ sự hướng về trời cao, biểu trưng bằng sự vươn tới. Trong các động vật, sự hướng về biểu lộ trong chu kỳ tiến hóa, từ bậc thấp lên bậc cao. Nơi con người, sự hướng về biểu trưng bằng hình ảnh con người đứng cao đưa hai tay vươn lên cõi trời thăm thẳm.

Sự hướng về luôn là biểu cho mọi sự sống đang bước lên trong ngày đăng quang của hòan vũ. Tạo dựng hướng về ngày đăng quang, không còn là quay về điểm khởi đầu để bắt đầu chu kỳ mới. Vạn vật hướng về theo lối đường thẳng, như biểu tựơng của sự sống trong tiến hóa liên tục, trong hướng chiều vươn lên tới trời cao. Hình ảnh vươn cao mãi rõ nét nhất là hình ảnh của một cây sự sống, Léonard de Vinci diễn tả bằng một phân đọan trong bức họa Nữ Thánh Anne, Đức bà Đồng Trinh và Chúa Hài Đồng. Cây sự sống vươn thẳng, hằng năm thay mùa trút lá, cuộc hóan cải không ngừng được diễn tả bằng sự trút lá để mọc ra những chiếc lá mới, và cũng theo chu kỳ thay lá đó, ngọn mỗi ngày vươn cao. Tự thân, cây xanh đó biểu hiện ba cấp của vũ trụ: Đất - Người - Trời, đó cũng là hình ảnh biểu trưng của Tam Tài gồm ba yếu tố kết thành: Trời - Đất - Người, làm nên một thể thống nhất. Trời biểu lộ tính chất Dương, Đất biểu lộ tính chất Âm, Người so với Trời biểu lộ tính chất Âm, Người so với Đất mang tính chất Dương.

Trời - Đất - Người biểu hiện điển hình cho các bộ ba khác. Trong Đạo Mẫu bộ ba được biểu hiện Trời - Đất - Nước, trong gia đình biểu hiện bộ ba Cha - Mẹ - Con, trong lịch sử biểu hiện bộ ba Không gian - Thời gian – Con người. Trên Trống Đồng Đông Sơn, bộ ba biểu hiện Chim – hươu - người. Bộ ba biến thiên trong kiến trúc có thấy như Tam Quan, trong cảnh quan tổng thể: thiên nhiên - kiến trúc - người. Con số ba biểu hiện tư duy đặc thù số lẻ của người nông nghiệp Phương Nam.

Cây xanh tập trung nơi nó biểu tượng ba cấp độ vũ trụ, rễ bám sâu vào trong đất, khỏang giữa không gian giữa trời và đất là những cành lá vươn dài tỏa rộng, như thế đứng của con người dang hai tay ôm lấy hòan vũ, ngọn trên hết những cành lá là đầu đội trời. Tổng quan nhìn theo cấp độ của con người có thể diễn tả: Con người đầu đội trời, chân đạp đất, thân đứng thẳng như cây trục của thế giới. Con người là trung tâm của hòan vũ là đỉnh cao của tạo dựng.

Con người tội lỗi cả vũ hòan quằn quại rên siết, bởi vì chân con người không vững để đủ làm trụ đứng cho loài thọ sinh. Khi con người bất hòa với trời, có nghĩa là con người để đầu ngọn cậy chúi đầu xuống đất, hình ảnh này biểu trưng cho sự quằn quại, chứ không còn biểu trưng cho sự hướng về tuyệt đối. Con người là trục thẳng đứng của thế giới khi trục đứng ấy ngả nghiêng thì thế giới chịu sự nghiêng ngả. Sự thực con người đã ngả nghiêng bởi sự lỗi của mình, cho nên cần có một cây đứng vững để con người bám vào làm trụ.

Cần có một cây trường sinh. Cây đó, đã được trồng trong nhân loại là cây trường sinh treo Đấng Cứu Thế. Henri de Lubac đã mượn dòng văn trữ tình của Chrisostome - Giả Danh để diễn tả trong bài giảng ngày Phục Sinh, đã goị cây Trường Sinh đó là: “Vật đỡ vững chắc của Tạo Hóa, mối liên kết của vạn vật, chỗ dựa cho cả trái đất, nơi con người cư trú, sự đan thoa vũ trụ mang tất cả bản tính con người. Được an định bằng những chiếc đinh vô hình của Thần Linh để biểu lộ một ý chí tối thượng; đỉnh đầu đội trời, gốc cây cắm rễ, cánh tay mở rộng đến vô biên ôm lấy hòan vũ”.

Như vậy, là đã có một cây thực sự là trụ đỡ nâng tòan vũ hướng về mà Thiên Chúa đã trồng vào trong nhân thế. Ý chí của con người từ nay không còn biểu lộ sự gục ngã hòan tòan nếu họ biết ngước mắt nhìn lên (Hình ảnh con rắn đồng). Bóng tối là sự đóng chặt, nhốt kỹ, bị xé tan khi con người mở ra để ánh sáng theo tự nhiên của bản chất là tràn vào. Sự vươn lên không mỏi mệt của con người được bảo đảm không hề tắt trong ý chí hướng thượng. Tội lỗi, sự dữ, cái xấu …không giam giữ nổi cũng như không thể đánh quỵ một con người, nếu con người còn ngước mắt nhìn lên.

Sự hướng về được biểu lộ trong ánh mắt nhìn lên, từ nay đã hòan tòan mở ra cho con người một lối thoát, không có gì có thể kìm giữ được nổi một con người khi họ còn biết nhìn lên. Nhìn lên là tư thế của một con người xứng đáng là một con người. Con người nhìn lên để vạn vật được chỗi dậy, nếu con người tin vào khả năng phi thường đó, con người sẽ tiếp tục trở thành trục của thế giới, là đỉnh cao của thọ tạo.

Hướng về, nhìn lên là mở ra một con đường hy vọng, sự hy vọng của một bậc thang bước lên từ hữu hình sang vô hình, mà nhiều nền văn hóa biểu trưng. Cây được dựng lên, họ nhảy múa, ca hát, thực hành lễ hội chung quanh gốc cây nêu ngày lễ. Hình ảnh đó cũng được diễn tả những bằng cây trụ đứng được dựng trong Thánh Đường, trong nhà rông của người dân tộc, trong các Chùa Chiền biểu trưng bằng cây bửu tháp, trong cây sồi của người Celtes, cây Gia của người Đức, cây oliu của người Hồi. Sự hy vọng ở đâu và lúc nào cũng được biểu lộ trong hầu hết các tôn giáo, niềm hy vọng đã thắp sáng sự thành tín.

Sự hy vọng, niềm trông đợi trong niềm tin của Kitô Giáo không dừng tại đó, không chỉ là hướng về mà còn là bay về, không chỉ là bám đất mà là lên trời. Không ràng buộc nào nữa có thể giữ chân con người, đó là niềm hy vọng cuối cùng của vạn vật và con người.

Lên trời hay thăng thiên là một hành vi dứt bỏ hòan tòan mọi quyến luyến trong hòan vũ này để tới nơi hòan tòan mới, hòan tòan không còn tỳ ố. Trong nhân loại đã có một người thăng thiên, dứt bỏ hòan tòan và đến nơi hòan tòan của Tuyệt Đối, con người số một của hòan vũ đó là chính Đức Giêsu Kitô. Trong Đức Giêsu Kitô, một nhân loại mới được thâu họp. Hạnh phúc và sung sướng tràn ngập trong hòan vũ này chảy lan tràn như sữa và mật trong ngày Chúa Thăng Thiên. Sự dữ đã hòan tòan sụp đổ, không còn có một cơ may nào để giữ chân một con người. Con người đã siêu thăng, sự nguyên tuyền đã được tái tạo vượt xa sự nguyên tuyền trong ngày đầu sáng tạo. Sự trội hẳn đã khơi mầm trong hòan vũ, một nhân loại mới được sinh lại hòan tòan mới trong Đức Giêsu Kitô, nhờ Đức Giêsu Kitô. Đó là niềm tin, sự hy vọng lớn nhất của nhân loại, trong Ngài (Đức Giêsu Kitô) và nhờ Ngài con người và vạn vật thấy mình được tham dự vào đời sống của Thiên Chúa.

Thăng thiên là lối mở về phía vô biên mà Thiên Chúa đã khai mở cho nhân loại, từ đó niềm xác tín trên trái đất này, ngày càng gia tăng khi tuyên xưng mầu nhiệm: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi…”. Thật sự là một mầu nhiệm khi mọi dòng suy nghĩ được bắt đầu sinh ra ở dưới thế, viên mãn ở trên trời, ở nơi Thiên Chúa ngự được hòan tất. Con người từ đó biết rằng sinh ra để sống chứ không để chết, mọi cuộc đời đếu mang một ý nghĩa và giá trị để đòi buộc con người phải tôn trọng sự sống. Như vậy, từ lối khai mở của Thiên Chúa về chốn thăng thiên, con người được mời gọi làm cho tòan vũ này trở nên một nơi đáng sống, cưu mang và thừa hưởng sự sống.

Thăng thiên được diễn tả rất nhiều trong nền hội họa của Kitô giáo, ở đó, diễn tả con người được giải thóat khỏi xác hay chết này bằng những hình ảnh hai tay giơ cao như để cầu nguyện, gối quỳ biểu hiện lời khấn vái, thân mình được nâng lên khỏi mặt đất mà không cần gì để đỡ nâng, những chòm sao kết thành triều thiên đội trên đầu, và đôi khi có những thiên thần cất cánh đưa con người lên không trung. Tất cả những thể loại biểu hiện ấy diễn tả con người lúc nào cũng hướng về nơi tòan thiện, tòan mỹ và chân lý mỗi ngày một hơn trong mọi nỗ lực của trần thế. Có nhiều cấp độ của sự thăng hoa, đó là những bậc thang trên linh đạo, ngày mỗi ngày hòan thiện hơn theo lời mời gọi: “ Các con hãy trở nên hòan thiện hơn như Cha của các con là Đấng Tòan Hảo ngự trên trời” (Mt 5, 48). Trở nên tòan hảo là đánh dấu một khát mong mọc từ đất thấp vươn tới trời cao, và được hòan thành nơi đó. Trong các khát khao của nhân loại đã được nhận lời, được hình thành và là câu trả lời của Thiên Chúa nơi nhân loại, là nơi Đức Maria, Mẹ đã về trời cả hồn lẫn xác. Đó là một sự kiện bảo đảm chắc chắn cho mọi con đường nỗ lực vươn lên trong nhân loại. Tinh thần hóa tuyệt đối của tòan thể con người từ xác thể tới tâm hồn, để thấy rằng thân xác bởi khí huyết này là khởi sự cho thân xác thần thiêng, sự chết của xác thể này là sự nảy mầm cho thân xác bất tử.

Thăng Thiên và cuối cùng để nhận thấy rằng con người là gì mà được Thiên Chúa quá yêu thương, phàm nhân là chi mà Thiên Chúa lại quá bận tâm và nhận ra rằng Thiên Chúa yêu thương con người quá đỗi. Ngài đã dựng nên con và đã không để con đời đời trong sự hư vô, để cho con có và có tất cả.
Lm Giuse Hòang Kim Toan

 
 

LênTrời-122: GIÁO HỘI THI HÀNH SỨ VỤ MỚI

LỄ THĂNG THIÊN
A. DẪN NHẬP.
 

 

Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người chịu chết trên thập tự để chuộc tội cho: LênTrời-122

Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người chịu chết trên thập tự để chuộc tội cho lòai người, để con người được quyền làm con Chúa và được thừa hưởng Nước Trời. Ngài đã đi rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa, chiêu tập môn đệ, thành lập Giáo hội để tiếp nối công việc của Ngài ở trần gian. Sau khi đã hòan tất sứ mạng một cách hòan hảo, Đức Giêsu trở về cùng Chúa Cha để được hưởng vinh quang mà Cha đã dành cho Ngài. Hôm nay là lễ Thăng Thiên và cũng là ngày bàn giao quyền năng và sứ mạng của Ngài cho các môn đệ và Giáo hội.

Trước khi từ giã các Tông đồ đi về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu trao lại sứ vụ của Ngài cho các ông là loan báo Tin mừng cho muôn dân. Tuy Đức Giêsu hứa sẽ ở cùng các ông cho đến ngày tận thế nhưng Ngài không trực tiếp giảng dạy được mà phải nhờ đến các ông và Giáo hội. Từ đó, Giáo hội phải nhận lấy trách nhiệm tiếp nối công trình của Ngài như Ngài đã dạy: ”Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Hiệp thông với các môn đệ được chứng kiến việc Chúa lên trời, ta cùng mang lấy tâm tình và bắt chước công việc các ông sau khi Chúa về trời, đó là “Chúa về trời, ta vào đời”. Ta phải vào đời để làm tròn sứ mạng Chúa đã trao phó cho chúng ta, đó là “Làm cho muôn dân trở nên môn đệ của Chúa”(Mt 28,20) bằng đời sống chứng nhân của mình. Đồng thời hãy vui mừng phấn khởi với lời hứa của Chúa: ”Thầy ra đi để dọn chỗ cho các con… để Thầy ở đâu, các con sẽ ở đó với Thầy”. Thiên đàng là quê hương của chúng ta, nơi Chúa đang chờ đợi. Nhưng dầu sao chúng ta phải nỗ lực không ngừng để tiến tới nơi đó vì “Nuớc Trời chỉ có thể chiếm được bằng sức mạnh”(Mt 11,12; Lc 16,16).

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

+ Bài đọc 1: Cv 1,1-11: Bài đọc 1 được rút ra từ sách Công vụ Tông đồ của thánh Luca và cũng là tác giả của sách Tin mừng thứ ba. Thánh Luca cho biết Chúa Giêsu kết thúc công việc mà Chúa Cha đã trao phó cho Ngài, nay Ngài về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Trước khi về trời Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ hai điều:
* Thứ nhất Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần cho các ông. Hãy tin tưởng chờ đợi.
* Thứ hai Ngài trao cho họ sứ mạng làm chứng cho Ngài trên khắp cùng trái đất.

+ Bài đọc 2: Ep 1,17-23: Trong thư gửi cho tín hữu Êphêsô, thánh Phaolô cầu xin Chúa Cha ban cho các tín hữu thần khí khôn ngoan để nhận biết mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, và mở trí lòng ra mà hiểu rõ đâu là niềm hy vọng mà họ đã lãnh nhận. Đức Kitô đã được trỗi dậy từ cõi chết, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và được làm chúa muôn vật: ”Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội thánh, mà Hội thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1,23).

+ Bài Tin mừng: Ga 28,16-20: Thánh Matthêu kết thúc sách Tin mừng của Ngài bằng một bài ngắn gọn tường thuật việc Chúa Giêsu từ giã các môn đệ mà về trời. Ý chính của bài Tin mừng này cũng giống như bài trích sách Công vụ tông đồ hôm nay: Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ hãy tiếp nối công trình của Ngài. Tuy Ngài không hiện diện để các ông trông thấy hay nghe thấy nhưng Ngài sẽ hiện diện bằng một cách thế mới để hoạt động trong Hội thánh. Ngài sẽ còn ở lại với Hội thánh cho đến ngày tận thế. Phần các ông ở lại, hãy thực hiện lời Chúa: ”Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Chúa về trời, ta vào đời.

I. ĐỨC GIÊSU VỀ TRỜI.

Sau khi sống lại, Đức Giêsu liên tiếp hiện ra với các môn đệ để vừa xác nhận việc Ngài sống lại vừa để bổ túc việc dạy dỗ các ông.

Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ trong thời gian bao lâu ? Thánh Luca cho biết là 40 ngày (các sách ngụy thư nói đến 50 ngày hay 18 tháng), một thời gian khả dĩ cần thiết để kiện tòan việc dạy dỗ các tông đồ.

Hôm nay Đức Giêsu quyết định ra đi vĩnh viễn trong một cuộc hiển linh đầy quyền năng, một cuộc Thăng thiên về nhà Cha trên trời. Có người cho rằng đây là lần hiện ra lần sau hết với 500 môn đệ để mọi người chứng kiến việc Chúa lên trời. Nhưng trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Luca cho biết chỉ có 11 tông đồ qui tụ về Galilê để được dạy dỗ và chứng kiến việc Chúa lên trời. Sở dĩ chỉ có 11 tông đồ vì Giuđa đã phản bội Chúa, đáng lẽ phải hối hận và đi tìm gặp Chúa đệ tạ lỗi thì lại đi thắt cổ tự tử (Mt 27,5).

Thánh Matthêu cho biết tiếp: ”Mười một môn đệ đi tới Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã hẹn với các ông (Mt 28,16). Trong Thánh Kinh, núi là nơi mang một tính chất thiêng liêng. Theo thánh Matthêu, các bản văn, lề luật quan trọng đều được ban ra từ trên núi như Thập giới, Tám mối phúc thật (Mt 5,1), Biến hình (Mt 17,1). Núi là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, để tôn vinh và thờ lạy.

Khi thấy Đức Giêsu “Các ông phục lạy Ngài”(Mt 28,17). Thánh Matthêu có ý dùng chữ “Phục lạy”. Động từ này có ý nghĩa thần học chính xác. “Phục lạy” chỉ được dùng cho những ai đã nhận biết phẩm vị của Đức Giêsu và nhìn nhận phẩm vị này qua cử chỉ đó như ba nhà Đạo sĩ đến triều bái Chúa Hài nhi (Mt 2,11), người phung cùi được sạch (Mt 8,2), các môn đệ trên thuyền (Mt 14,33), người đàn bà xứ Cana (Mt 15,25). Hôm nay các ông thờ lạy cách kính cẩn hơn nữa vì Ngài huy hòang trong ánh sáng Phục sinh, vì nơi Ngài “Mọi quyền năng trên trời dưới đất được trao phó”. Tuy nhiên, cũng có mấy ông còn hòai nghi, nhưng không nói rõ tên ai.

Đức Giêsu tiến lại gần họ và phán: ”Mọi quyền năng trên trời dưới đất đều được ban cho Thầy. Các con hãy đi giảng dạy muôn dân”(Mt 28,18). Đức Giêsu đã chính thức trao quyền hành và sứ mạng của Ngài cho các ông để tiếp tục hòan thành. Hôm nay Đức Giêsu ra đi nhưng là ngày các môn đệ lên đường, họ có nhiệm vụ đi chinh phục thế giới. Chinh phục bằng lời giảng dạy, chinh phục bằng phép rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần.

Hôm nay, sau cuộc bàn giao, Đức Giêsu lên trời, các môn đệ phấn khởi nhìn theo, nhưng các ông còn nghe văng vẳng bên tai lời Chúa kết thúc Tin mừng: ”Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20). Rồi họ xuống núi trở về xây dựng Giáo hội, làm cho Giáo hội thêm vững mạnh và phát triển chờ đợi Ngày Chúa lại đến. Giáo hội của Chúa sẽ đứng vững kiên cường không một thế lực nào có thể làm sụp đổ như lời sử gia Ba lan, ông Henryk Sienkievick, nói: ”Các bạo Chúa cùng với triều đại của họ đều lần lượt tiêu tan – Nhưng con thuyền của người dân chài Galilê cầm lái vẫn hiên ngang lướt sống”. Đấng là chủ con tầu đã chẳng từng nói đó sao (Mt 16,18) ?

II. CHÚNG TA VÀO ĐỜI.

1. Chúa về trời.

a) Chúa Giêsu về với Cha.

Nhiều lần Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ là Ngài sẽ về cùng Cha, Ngài hay nhắc đến Cha Ngài, đến nỗi ông Philipphê đã thưa với Ngài: ”Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14,8).

Sau khi hoàn thành sứ mạng của Cha giao phó là chịu chết chuộc tội cho nhân loại và sống lại để phục hồi cho con người sự sống mới, thì Chúa Giêsu đã lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và được đặt làm chủ tể muôn loài: ”Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giêsu Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Ngài lên trời” (Cv 1,11)

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa lên trời hay mừng lễ Thăng thiên. Theo chữ Nho thì “Thăng” là lên và “Thiên” là trời. Xét theo nghĩa chữ thì “thăng thiên” chính là “lên trời”. Thế nhưng tại sao Ngài lại nói rằng “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” ? Nói như vậy là Chúa vẫn còn ở với chúng ta chứ đâu có “lên trời” !

Chúng ta phải lưu ý đến cách viết của tác giả Matthêu. Ngài đã dùng từ không theo sát nghĩa đen, nhưng theo nghĩa mà người dân quen hiểu. Theo đó, cái gì cao thì gọi là “trời”, cái gì thấp thì gọi là “đất”, tình trạng tiến khá hơn thì gọi là “lên”, lùi tệ hơn thì nói là “xuống”. Như thế, “thăng thiên” hay ‘lên trời” không chỉ một chuyển động trong không gian, mà chỉ một tình trạng tốt hơn trước. Ngày xưa, Đức Giêsu nhập thế thì được diễn tả là “giáng trần” hay “xuống đất”. Hôm nay Ngài trở về tình trạng vinh quang với Chúa Cha thì được diễn tả là “lên trời”. Bởi vì, Đức Giêsu chỉ thay đổi tình trạng thôi cho nên dù bây giờ Ngài vinh quang, Ngài vẫn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, chứ không phải Ngài lên “ở trên trời” và để chúng ta phải mồ côi “ở dưới đất”.

Lễ Thăng thiên đánh dấu sự thay đổi tình trạng của Đức Giêsu. Hình dung Đức Giêsu đang bay lên giữa các tầng mây, hay đang ngồi bên phải Chúa Cha chỉ là những cách tưởng tượng. Những hình ảnh tưởng tượng này có cụ thể với đầu óc bình dân đấy, nhưng gây tai hại là khiến người ta nghĩ rằng Đức Giêsu đã xa cách loài người.

Chúng ta phải đi xa hơn những hình ảnh tưởng tượng kia để đạt đến ý nghĩa đích thực của việc thăng thiên: đó là Đức Giêsu đã lấy lại vinh quang, Ngài vẫn còn ở bên cạnh chúng ta luôn mãi, và nhờ vinh quang, Ngài sẽ hỗ trợ đặc biệt cho chúng ta (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 215).

b) Có thiên đàng không ?

Chúa Giêsu về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, đó là phần thưởng Cha dành cho Ngài sau khi đã hoàn thành sứ mạng được giao phó. “Lên trời” hay “lên thiên đàng” cũng là một, chỉ khác từ ngữ, còn ý nghĩa vẫn như nhau. Vậy Chúa Giêsu lên trời cũng có nghĩa là lên thiên đàng.

Trước đây Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ việc Ngài ra đi và đi để làm gì trong bài Tin mừng Chúa nhật 5 vừa qua: ”Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thày, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,1-3). Chúa Giêsu đi dọn chỗ cho chúng ta ở đâu, nếu không phải là ở thiên đàng ? Đúng vậy, Chúa Giêsu lên trời tức là lên thiên đàng như ở trên chúng ta đã nói. Do đó, chúng ta đặt ra hai vấn đề:

* Thiên đàng thế nào ?

Ta không biết rõ Thiên đàng như thế nào, nhưng ta chỉ biết đó là nơi ta sẽ được thấy Thiên Chúa nhãn tiền và được hạnh phúc vô cùng. Những người đã được nếm thử cảnh hạnh phúc thiên đàng nói lại cho ta điều họ thử nghiệm như sau:

Các Tông đồ ngây ngất nhìn về trời khi Chúa Giêsu được cất lên khỏi mặt đất, đến nỗi phải có hai thiên thần đến thức tỉnh các ông (Cv 1, 9-10).

Ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan ngây ngất nhìn Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê (Mt 17,1tt).

Còn thánh Phaolô thì thốt lên như sau: ”Người ấy đã được nhắc lên đến tận tầng trời thứ ba. Và tôi biết rằng người ấy – hoặc trong thân xác hoặc ở ngoài thân xác, tôi không biết, có Thiên Chúa biết – đã được nhắc vào Thiên đàng và được nghe những lời khôn tả, người phàm không được phép nói lại”(2Cr 12,2-4).
Thiên đàng như thế nào không ai biết và nếu có biết thì không thể nào diễn tả được.

* Thiên đàng ở đâu ?

Ta dùng hai từ “lên thiên đàng” và “xuống hỏa ngục”, hai từ ấy gợi cho chúng ta cái ý nghĩ về một không gian vật chất có thể trông thấy được, sờ mó được. Nhưng đúng ra, thiên đàng hay hỏa ngục chỉ là một trạng thái của tâm hồn. Tâm hồn ta có thể là thiên đàng, cũng có thể là hỏa ngục. Nếu thi sĩ Nguyễn Du nói “Thiện tâm ở tại lòng ta” thì ta cũng có thể nói: ”Thiên đàng hỏa ngục ở ngay trong lòng ta”.

Truyện: không có thiên đàng

Chính vì hiểu Thiên đàng là không gian vật chất nên ông Kroutchev, thủ tướng của Liên xô cũ, đã nói với ký giả C. Sulberger ngày 5.9.1961 rằng: ”Để điều tra trên trời có Thiên đàng thật như người ta nói hay không, chúng tôi đã gửi một thám tử lên không trung, anh YOURI GAGARINE. Anh đã đi vòng quanh quả địa cầu, mà chỉ trông thấy những bóng đen dầy đặc. Không có chi giống như thiên đàng cả. (Sau đó) chúng tôi đã suy nghĩ và chúng tôi đã gửi một thám tử khác lên: GERMAN TITOV. Chúng tôi đã bảo anh rằng: ”Hãy bay lâu hơn một chút nữa. Có lẽ Gagarine chưa trông thấy thiên đàng, vì chàng chỉ mới bay có một tiếng rưỡi thôi. Vậy chuyến này anh hãy trông cho kỹ”. Titov đã trẩy đi, rồi trở về, và anh đã xác nhận lời tuyên bố của Gagarine: ”Hư vô ! Chỉ có hư vô”.

Rồi Kroutchev xoa tay kết luận: ”Cho nên người Cộng sản chúng tôi không tin có đời sau”(Information catholique, ngày 1.10.1961, tr 14).

2. Ta vào đời.

Khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ ngây ngất nhìn lên trời để chiêm ngắm vẻ đẹp của Chúa Giêsu. Các ông đã quên trần gian, đến nỗi hai thiên thần phải hiện đến nhắc nhở cho các ông hãy quay về với thực tại, nghĩa là hãy quay về với đời sống hằng ngày, nhưng lòng vẫn hướng về trời. Vậy, Chúa đã về trời, còn chúng ta vào đời để làm gì ?

a) Để loan báo Tin mừng.

Quang cảnh Chúa Giêsu lên trời đẹp quá, khiến các môn đệ còn ngước mắt lên trời nhìn theo. Các ông ước ao được hưởng vinh quang và vẻ đẹp của Chúa Giêsu như khi Ngài biến hình trên núi Taborê. Còn đang say sưa nhìn trời thì hai thiên thần hiện ra nhắc nhở cho các môn đệ “Sao các ông còn đứng nhìn trời” ? Điều này nhắc nhở cho các ông và mọi Kitô hữu hãy quay trở lại với thực tế trần gian để tiếp tục công trình cứu độ của Chúa Giêsu.

Vậy vào đời để tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu là gì ? Ta hãy nghe lời nhắc nhở sau cùng của Chúa Giêsu trước khi từ giã các ông: ”Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy sẽ ở cùng anh em cho đến tận thế”(Cv 1,11).

b) Để chuẩn bị về quê trời.

Ngày lễ Thăng thiên hôm nay nhắc nhở chúng ta sống tốt lành và hướng lòng ta về trời là quê hương, như thánh Phaolô nói: ”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người”(Pl 3,20-21).

Quê trời là niềm hy vọng của chúng ta, là động lực khuyến khích chúng ta chấp nhận một cuộc sống đầy gian nan ở trần gian này, nếu không thì những cố gắng của chúng ta sẽ trở nên vô ích. Thánh Ambrôsiô nói: ”Nếu Chúa chết đi mà không sống lại thì mọi tin tưởng của chúng ta đều là ảo tưởng (1Cr 15,17). Nhưng nếu Chúa sống lại mà không lên trời thì bao gian lao đau khổ chúng ta phải chịu vì Chúa phải cho là vô ích. Bởi vì, chúng ta sẽ lấy đà nào để chịu khó, nếu chúng ta không có hy vọng lên trời”.

Ai muốn lên thiên đàng thì phải yêu mến Chúa và yêu mến Chúa thì phải thi hành lời Chúa như Ngài đã phán: ”Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các đều răn của Thầy” (Ga 14,15). Thi hành lời Chúa là phải đem ra thực hành các điều Chúa dạy; điều này đòi hỏi mọi Kitô hữu phải cố gắng, phải hy sinh, phải dấn thân, phải nép nình vào mà đi qua cửa hẹp, bởi vì Chúa đã nói:”Không phải cứ kêu Lạy Chúa, lạy Chúa, mà được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai làm theo thánh ý Cha Ta ở trên trời” (Mt 7,21)

Việc lên trời là việc của từng người, mỗi người phải quyết định lấy, không ai có thể làm thay được. Chúa thương yêu chúng ta thật, nhưng Ngài không áp đặt chúng ta, Ngài không cưỡng chế chúng ta phải về trời, Ngài luôn tôn trọng quyền tự do của mỗi người. Nhưng dù sao, muốn lên thiên đàng cũng phải có điều kiện như người ta nói:

Lênh đênh trên cửa Thần phù,
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm. Ca dao)

Mỗi người phải khéo lèo lái con thuyền của mình trên biển trần gian này mới được yên ổn, giống như ở Thánh hóa, ngày xưa có cửa biển Thần phù (bây giờ không biết có còn không), ở đó có dòng nước xoáy, rất nguy hiểm, người chèo qua đó phải rất cứng tay và khéo léo, nếu không sẽ bị chìm. Người ta lấy câu ca dao này để khuyên mọi người phải sống tốt lành để khỏi hư đi. Người ta rất khéo léo dùng chữ “tu” ở đây. Theo chữ Nho, chữ “tu” thì có nghĩa là “sửa”. Tu thân là sửa mình. Vậy ai khéo tu thân tích đức là người khéo chèo chống thì sẽ nổi, sẽ được rỗi; còn ngược lại thì sẽ bị chìm, tức là phải trầm luân.

Truyện: Ai muốn lên thiên đàng ?

Một hôm, trong nguyện đường D.S, một vị giảng thuyết hỏi giáo dân:
- Những ai muốn lên thiên đàng hãy đứng lên.
Tất cả cử tọa đều nhất loạt đứng dậy, chỉ trừ một người: anh ta cứ ngồi yên hàng ghế bên cạnh. Vị giảng thuyết liền hỏi anh ta:
- Thế còn bạn, bạn muốn đi đâu ?
Chàng uể oải trả lời:
- Chả đi đâu cả ! Tôi muốn được lên Thiên đang ngay ở đây.

Những người muốn một đời sống dễ dàng thường quên mất sự kiện này là: để sống dễ dàng, họ đã ỷ lại nhờ vả kẻ khác làm công việc mà đáng lẽ chính họ phải thực hiện. Nói khác đi, họ muốn đi du lịch mà không mất tiền (J. Keller, báo Thẳng tiến, số 29, th 01/63).
Lm Giuse Đinh lập Liễm

 
 

LênTrời-123: XÂY DỰNG NƯỚC TRỜI

Thăng Thiên
Mt 28, 16-20 

 

Chúng ta vừa nghe những câu cuối cùng trong Tin mừng theo thánh Matthêu. Đây là những lời nói:LênTrời-123 FB

Chúng ta vừa nghe những câu cuối cùng trong Tin mừng theo thánh Matthêu. Đây là những lời nói cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi từ giã trần gian về trời. Nên có tầm quan trọng rất lớn. Chính vì thế Chúa Giêsu triệu tập các môn đệ lên một ngọn núi cao. Trong Tin mừng, những biến cố quan trọng bao giờ cũng diễn ra trên ngọn núi cao. Chúa ký kết giao ước với dân Do thái trên núi. Chúa giảng bài giảng đầu tiên trên núi. Chúa biến hình trên núi. Chúa chịu chết trên núi. Và hôm nay Chúa trao sứ điệp cuối cùng trên núi. Sứ điệp này thật quan trọng vì cho ta hiểu được định mệnh của con người, hiểu được sự thật về Nước Trời và hướng dẫn đời sống của ta trên trần gian.

Sứ điệp đó cho thấy định mệnh con người.

Chúa Giêsu nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”. Khi bị treo trên thánh giá, không một mảnh vải che thân, ai cũng nghĩ là Chúa Giêsu đã mất tất cả. Nhưng hôm nay khi về trời, Chúa Giêsu được tất cả. Trong hoang địa, Chúa Giêsu đã từ chối cơn cám dỗ thờ lạy ma quỉ nhằm được lợi lộc trần gian. Thì nay Đức Chúa Cha đem tất cả đặt dưới chân Người. Là người đầu tiên về trời, Chúa Giêsu mở cho ta một chân trời hi vọng. Định mệnh con người không bị tàn lụi đi theo thân xác ở trần gian, nhưng triển nở đến vô tận trên Nước Trời. Định mệnh con người không chìm trong nhục nhằn thống khổ, nhưng sẽ trổi vượt trong vinh quang trên Nước Trời. Định mệnh con người không phải chịu giam cầm trong số phận xác đất vật hèn ngang hàng với cỏ cây súc vật, nhưng sẽ được nâng lên ngang hàng với các bậc thần thánh trên Nước Trời.

Sứ điệp đó cho thấy sự thật về Nước Trời.

Chúa Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Theo quan niệm dân gian ta thường phân chia trời với đất. Trời cách xa đất ngàn trùng. Đất chẳng bao giờ với được tới trời. Trời chẳng bao giờ có thể cúi xuống tới đất. Nhưng với lời Chúa Giêsu hôm nay, ta thấy trời đất không cách xa nhau. Chúa Giêsu về trời nhưng vẫn ở bên cạnh ta mọi ngày mọi giờ cho đến tận thế. Chúa Giêsu không nói Chúa sẽ lên trời, nhưng Chúa thường nói Người sẽ về với Chúa Cha. Nước Trời chính là sự sống trong Chúa Cha, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần. Nước Trời chính là sự sống trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Nước Trời là được hưởng hạnh phúc trong tình yêu Thiên Chúa. Như thế Nước Trời là một trạng thái chứ không phải một nơi chốn. Ai sống trong tình yêu Thiên Chúa thì đã ở trong Nước Trời rồi.

Sứ điệp đó cho thấy sứ mạng của người môn đệ.

Chính vì không cách biệt mà trời và đất không đối lập nhau. Trời không tách rời đất. Đất không đối lập với trời. Nước Trời phải được xây dựng ngay từ bây giờ, trên mặt đất. Trái đất Chúa ban cho để ta xây dựng thành Nước Trời. Đó là sứ mạng của người môn đệ. Đó là tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu. Xây dựng bằng cách nào. Thưa bằng “dậy cho họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em”. Những điều Chúa Giêsu dậy đã được tóm tắt trong điều răn mới: “Thầy truyền cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Điều răn mới này thay thế mọi điều răn cũ. Như thế sứ mạng của người môn đệ Chúa là sống yêu thương, là làm cho mọi người sống yêu thương. Khi mọi người biết yêu thương nhau như Chúa yêu thương ta, Nước Trời đã hiện diện.

Hôm nay mừng lễ Chúa Giêsu về trời, ta hiểu rằng định mệnh của chúng ta thật cao quí vì không kết thúc ở trần gian mà còn tiếp tục trên Nước Trời. Ta hiểu rằng Trời và Đất không cách xa đối lập nhau, nhưng Nước Trời phải được xây dựng ngay từ bây giờ trên mặt đất và Trái Đất Chúa ban cho để ta xây dựng thành Nước Trời. Ta hiểu rằng sứ mạng của ta phải nối tiếp sứ mạng của Chúa Giêsu, sống yêu thương và làm cho mọi người sống trong yêu thương. Khi ta hoàn thành sứ mạng như Chúa Giêsu ta sẽ được chung phần hạnh phúc với Chúa.

Lạy Chúa xin nâng lòng con lên khao khát những sự trên trời. Amen.
+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

 
 

LênTrời-124: Bình An cho Anh Em

VietCatholic News (Thứ Tư 30/04/2008 20:32)
CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG, năm A
Ga 20, 19-23  

 

Xem ra có một cái gì đó vẫn chưa ổn đối với các tông đồ khi Chúa Giêsu bị bắt, bị treo trên thập:LênTrời-124

Xem ra có một cái gì đó vẫn chưa ổn đối với các tông đồ khi Chúa Giêsu bị bắt, bị treo trên thập giá và ngay cả khi Ngài đã sống lại ! Cái chưa ổn, đó là phong ba bão táp trong lòng các tông đồ. Thầy Giêsu, một Vị Thầy đầy uy quyền, làm nhiều phép lạ, đã bị giết chết. Làm sao các tông đồ lại có thể yên lòng, bình chân như vại được ru ? Các Ngài cứ tưởng Thầy Giêsu sẽ khôi phục lại Vương Quốc Israen để rồi các được nhiều đặc quyền đặc lợi. Nhưng đùng một cái, mọi sự đều biến tan theo mây khói. Các Ngài sợ hãi người Do Thái, ở im lìm trong một ngôi nhà tại Giêrusalem, các cửa đều đóng kín và rồi Chúa Phục Sinh hiện đến, thổi hơi ban Thánh Thần cho các Ngài. Cuộc đời các Ngài thay đổi từ đây…

CHÚA PHỤC SINH HIỆN ĐẾN THỔI HƠI, TRAO BAN THÁNH THẦN VÀ 50 NGÀY SAU CHÚA THÁNH THẦN NGỰ ĐẾN KHIẾN CUỘC ĐỜI CÁC TÔNG ĐỒ HOÀN TOÀN ĐƯỢC ĐỔI MỚI:

Tin Mừng thánh Gioan thuật lại cách rất rõ rệt, sau khi hiện ra, trấn an các tông đồ trong ngôi nhà cửa kín then cài, Chúa Phục Sinh thổi hơi và ban Chúa Thánh Thần cho họ. Người nói:”Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” ( Ga 20,22 ).Tuy nhiên, năm mươi ngày sau khi Chúa sống lại, vào buổi sáng Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần xuống tràn ngập trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa.Các tông đồ bỗng thay đổi hẳn: sự nhút nhát, sợ hãi biến khỏi các ông. Các ông đã trở nên những chứng nhân hiên ngang rao giảng Tin Mừng. Bởi vì, các tông đồ đã nhận được sự bình an của Chúa Phục Sinh. Sự bình an thật trong tâm hồn. Bình an của Chúa Phục Sinh khiến các tông đồ có thể đối diện với khổ đau và đối diện ngay cả cái chết. Do đó, Chúa Phục Sinh đã truyền lệnh cho các Ngài:” Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” ( Ga 20, 21 ). Các tông đồ được Chúa sai đi. Các Ngài đã hiên ngang, kiên cường vì như bài sách công vụ thuật:” Chính trong ngày lễ trọng đại của người Do Thái, năm mươi ngày sau lễ Vượt Qua. Dịp lễ đặc biệt này qui tụ nhiều dân thuộc mọi thứ tiếng về Giêrusalem. Cũng trong ngày lễ vô cùng trọng đại này mà hoạt động của Chúa Thánh Thần được biểu lộ một các rõ ràng. Các tông đồ của Chúa Phục Sinh nói tiếng lạ và nhiều người thuộc mọi ngôn ngữ đều hiểu những gì các Ngài nói. Điều này chứng tỏ Chúa Thánh Thần tạo nên sự hiệp nhất chứ không như tình trạng con người muốn xây tháp Babel xưa. Còn thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Corintô đã viết: “ Trong một Thánh Thần chúng ta được thanh tẩy để làm nên một thân thể cho dù là Do Thái hay dân ngoại, nô lệ hay tự do, tất cả chúng ta đã uống trong một Thánh Thần “ ( 1 Co 12, 13 ). Chúa Thánh Thần là Đấng bảo trợ, an ủi, soi sáng, ủy lạo vv…Chúa Thánh Thần còn được ví như: ” Quả tim mới “ theo ngôn ngữ của ngôn sứ Edêkiên. Hội Thánh của Chúa ở trần gian trong niềm tin của mình Chúa Thánh Thần chính là nguồn sống mới, nguồn sống vô biên.

CÁC TÔNG CHỖI DẬY, RAO GIẢNG VÀ XÂY DỰNG MỘT NGÔI NHÀ CHUNG ĐẦY ẮP TÌNH THƯƠNG VÀ SỰ HIỆP NHẤT:

Được đầy tràn Thánh Thần, các tông đồ nhất nhất đã chỗi dậy, đã nắm lấy lịch sử của Hội Thánh. Các Ngài đã ra đi khắp tứ phương thiên hạ để đến với muôn dân, xây dựng Giáo Hội huynh đệ và hiệp nhất. Các Ngài đã để cho Chúa Thánh Thần mở toang tâm hồn, mở toang cõi lòng của họ, không còn nhát đảm sợ sệt, không còn xao xuyến hoang mang, nhưng các Ngài đã làm chứng cho Chúa Phục Sinh và giới thiệu Nước Trời cho nhiều người. Nhờ Chúa Thánh Thần nhờ ngọn lửa tình yêu, các tông dồ đã mau mắn, nhanh nhẹ ra đi làm chứng cho Chúa bất chấp hiểm nguy, bất chấp khó khăn cho dù phải hy sinh tới cả tính mạng của mình. Đi tới đâu, các tông đồ cũng xây dựng giáo đoàn, xây dựng Hội Thánh. Và Giáo Hội của Chúa luôn đầy ắp tình thương, luôn xây dựng nước trời. Lễ Hiện Xuống là một cuộc hiển linh, một sự bầy tỏ Hội Thánh cho thế gian. Công Đồng Vaticanô là một Lễ Hiện Xuống mới. Công Đồng Vaticanô tuyên bố:” Bằng việc liên hệ của mình với Đức Kitô, Giáo Hội là một loại bí tích hay là một dấu chỉ sự hiệp nhất thân mật với Thiên Chúa và hợp nhất mọi dân nước. Giáo Hội cũng là khí cụ kiến tạo nên một sự hiệp nhất như vậy”.

GIÁO HỘI MỜI GỌI CHÚNG TA LÃNH NHẬN CHÚA THÁNH THẦN:

Như các tông đồ cùng với Mẹ Maria trong nhà Tiệc Ly cầu nguyện, chờ đón lãnh nhận Chúa Thánh Thần, mỗi người Kitô hữu chúng ta khi được lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức cũng đang được Chúa sai đi loan báo Tin Mừng. Mọi Kitô hữu đã có Chúa Thánh Thần luôn được mời gọi làm chứng cho Chúa, bởi vì Hội Thánh là Hội Thánh truyền giáo. Làm chứng cho Chúa Phục Sinh có nghĩa là đến với những người nghèo, những người neo đơn, đau khổ, những người gặp khó khăn, những người tù bị tù đầy, những người bệnh hoạn tật nguyền. Làm chứng cho Chúa là mở tung cửa lòng của mình ra để cho Chúa ngự. Làm chứng cho Chúa là không nhát đảm chối Chúa khi gặp khó khăn, dám tuyên xưng niềm tin khi phải tuyên xưng niềm tin. Mỗi người Kitô hữu phải có thái độ sám hối, quay về như Phêrô: ” Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy “. Làm chứng cho Chúa là xây dựng sự hiệp nhất giữa nhau, giữa các cộng đoàn, giữa các giáo xứ, giáo họ. Làm chứng cho Chúa là gieo vãi tình thương và bình an của Chúa cho nhiều người. Tình thương và bình an là hoa trái tốt lành của Chúa Thánh Thần. Sự bình an phát xuất bởi Chúa Phục Sinh và tình thương tự hiến do Chúa trao tặng cho nhân loại. Chúng ta cầu xin tái diễn một Lễ Hiện Xuống mới để mọi người hiểu biết sâu xa hơn về Giáo Hội của Chúa.

Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy đến! Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy đến.

Cách đây hơn 2.000 năm, Thánh Thần của Chúa Phục Sinh bắt đầu ngự xuống trong tâm hồn các tông đồ cách đầy quyền năng. Chúng ta mừng ngày lễ trọng đại này với tất cả niềm tin và tình thương. Xin Chúa Thánh Thần đến trên chúng ta và biến đổi tâm hồn chúng ta hầu chúng ta trở nên những chứng nhân kiên trung của Chúa Phục Sinh.
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 
 

LênTrời-125: Suy niệm Lễ Chúa Thăng Thiên

VietCatholic News (Thứ Sáu 02/05/2008 07:43)
LỄ ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ THĂNG THIÊN (NĂM A)
LỜI CHÚA: Mt 28, 16-20

Bài trích Phúc Âm theo thánh Matthêô. Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Đức Chúa GIÊSU đã chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi. Đức Chúa GIÊSU tiến lại nói với các ông rằng: ”Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

SUY NIỆM 
 

Biến cố Đức Chúa GIÊSU KITÔ thăng thiên, chính thức kết thúc khoảng thời gian 33 năm tại:LênTrời-125

Biến cố Đức Chúa GIÊSU KITÔ thăng thiên, chính thức kết thúc khoảng thời gian 33 năm tại thế của Ngài. Đức Chúa GIÊSU nhập thể làm người, sinh ra nơi hang đá Bê Lem miền Giuđêa và lớn lên tại làng Nagiarét, thuộc xứ Galilêa. Khi tròn 30 tuổi, Ngài công khai rao giảng Tin Mừng, tuyên bố Nước Trời gần đến. Nước Trời, Nước THIÊN CHÚA tức là Vương Quốc của Ân Sủng, của Tình Yêu sẽ được phục hồi nhờ công trình cứu chuộc của Đức Chúa GIÊSU KITÔ.

Không ai có thể nghi ngờ về sự hiện hữu đích thực của Đức Chúa GIÊSU KITÔ trong lịch sử loài người, giới hạn trong nước Do Thái. Vào thời kỳ đó, nước Do Thái sống dưới ách thống trị của Đế Quốc La Mã. Điều này góp phần hữu hiệu trong việc kiểm chứng các dữ kiện liên quan đến cuộc đời Đấng Chúa Cứu Thế còn lưu lại trong sử liệu Do Thái và La Mã.

Chẳng hạn, về phía Do Thái, người ta có thể biết chính xác Đức Chúa GIÊSU sinh ra vào thời kỳ vua Hêrôđê Cả trị vì và chịu khổ nạn trong thời vua Hêrôđê Antipa đang tại ngôi. Về phía La Mã lúc ấy - tức năm 33 (kỷ nguyên Kitô) - quan Philatô (Pontius Pilatus) đại diện hoàng đế Cêsarê làm tổng trấn xứ Palestina.

Nhưng nổi bật nhất là biến cố lịch sử Đức Chúa GIÊSU KITÔ về Trời. Bởi lẽ, Đức Chúa GIÊSU lên Trời từ núi Oliu, trước sự chứng kiến của đám đông, cùng với các môn đệ và tông đồ. Sách Công Vụ Tông Đồ ghi rõ:

- Đức Chúa GIÊSU lên Trời ngay trước mắt các ông, và có đám mây rước Người lên, khuất mắt các ông. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên Trời phía Người đi, thì kìa hai người đàn ông mặc áo trắng nói với các ông rằng: ”Hỡi những người Galilêa, sao còn đứng nhìn lên Trời? Đức Chúa GIÊSU, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên Trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên Trời” (1,9-11).

Nhắc lại điểm lịch sử trên đây với chủ đích duy nhất làm sáng tỏ lệnh truyền của Đức Chúa GIÊSU KITÔ:

- Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.

Kitô Giáo do chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ thành lập. Ngài đến từ Trời cao và đã về Trời. Nhưng Ngài vẫn còn ở lại với Giáo Hội Ngài cho đến tận thế. Đức Chúa GIÊSU KITÔ hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Đức Chúa GIÊSU KITÔ rao giảng và hành động qua các thừa tác viên thánh, những vị đại diện Ngài. Đức Chúa GIÊSU KITÔ có mặt tại bất cứ nơi nào con người làm lành lánh dữ và thi hành huấn lệnh của Ngài. Đức Chúa GIÊSU KITÔ hiện diện nơi kẻ bé nhỏ khiêm tốn, nơi người nghèo nàn và đau khổ. Đức Chúa GIÊSU KITÔ đáp lời tất cả những ai van xin Ngài với trọn lòng tin-cậy-mến.

Nhiệm vụ của mỗi Kitô hữu là yêu mến Đức Chúa GIÊSU KITÔ và can đảm trở thành chứng nhân của Ngài. Chứng nhân trong một thế giới thiếu vắng THIÊN CHÚA và Tình Yêu Ngài. Người ta sống như thể không có THIÊN CHÚA. Người ta kiêu căng nghĩ rằng mình có thể giải quyết mọi sự mà không cần sự trợ giúp của THIÊN CHÚA. Đó là thảm họa lớn nhất của con người thời nay. Vì thế, các tín hữu Công Giáo phải sống làm sao để có thể kích động, lôi kéo người chung quanh trở về với THIÊN CHÚA CHA là Đấng Nhân Lành, trở về với Đức Chúa GIÊSU KITÔ là Đấng Cứu Độ duy nhất của thế giới và trở về với Đức Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ và là Thần Chân Lý.

Tin Mừng theo thánh Mác-cô còn ghi thêm lời hứa của Đức Chúa GIÊSU KITÔ trước khi về Trời:

- Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin. Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỉ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ (16,17-18).

Đó là lời hứa củng cố Đức Tin của mọi tín hữu Công Giáo. Vậy thì, đừng do dự cũng đừng sợ hãi. Tín hữu Công Giáo can đảm hăng say ra đi rao giảng cho muôn dân biết về THIÊN CHÚA Ba Ngôi và về Tình Yêu vô bờ vô bến của Ngài.
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 
 

LênTrời-126: QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA Ở TRÊN TRỜI

Có một chuyện kể rằng khi Đức Giêsu về trời, Tổng lãnh Thiên thần Gabriel ngạc nhiên vì:LênTrời-126

Có một chuyện kể rằng khi Đức Giêsu về trời, Tổng lãnh Thiên thần Gabriel ngạc nhiên vì Ngài trở về sớm quá. Gabriel biết rằng công việc Chúa Cha giao cho Đức Giêsu rất nhiều, không thể kết thúc trong thời gian chỉ có ba năm như thế. Bởi vậy Tổng lãnh Thiên Thần hỏi: Sao Chúa về sớm vậy?

- Ờ, Ta cũng muốn ở dưới đó lâu hơn. Nhưng mà họ đã đóng đinh Ta.

- Đóng đinh Chúa ư? Vậy là Chúa thất bại rồi?

- Không hẳn vậy. Trước đó Ta đã kịp lập một nhóm tín hữu. Từ nay về sau, họ sẽ tiếp tục công việc của Ta.

- Nhưng nếu họ cũng thất bại nữa thì chắc là chấm dứt luôn rồi!

- Ngược lại, họ lại thành công hơn vì một đằng Ta đã hứa sẽ ở cùng họ cho đến ngày tận thế, và đằng khác Ta còn phái Thánh Thần đến giúp họ nữa!.

Như vậy sự kiện Chúa Thăng Thiên không phải là khép lại, nhưng là mở ra một sức hoạt động mới cho Tông đồ đoàn. Chỉ tới khi thăng thiên, Chúa Giêsu mới trao cho các tông đồ sức mạnh ấy:“Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28,20).

Chúa ở lại trong Bí tích Thánh Thể, nơi đây, sự sống vĩnh cửu thể hiện dưới hình thức của ăn, của uống nuôi sống con người. Tình yêu hiến tế biểu lộ trong máu thịt là chiều sâu thẩm thấu nhất.

Chúa ở lại trong tính cách Thiên Chúa: đổ tràn vào tâm hồn, là biến đổi từ bên trong, là thánh hoá những gì trần tục. Đó chính là Thánh Thần tình yêu của Thiên Chúa đổ vào lòng chúng ta (x. Rm 8, 15).

Sự kiện Chúa Thăng Thiên còn cho chúng ta nhiều ý nghĩa mang tính mạc khải. Ta chỉ gặp thấy trong Cựu Ước những ơn rất ngoại lệ qua hình ảnh tiên tri Elia và Enoc được đưa lên trời bằng xe lửa, nhưng với sự kiện Chúa Thăng Thiên, “Người cất nhắc lên cõi trời muôn thuở, xác phàm nhân thân cát bụi yếu hèn". Hình ảnh Chúa Thăng Thiên chỉ cho ta thấy “Quê hương chúng ta ở trên trời” (Pl 3,20) để người Kitô hữu không đánh mất căn tính của mình. Thánh Phaolô rất sâu sắc khi khuyên dạy chúng ta: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3,1).

Thành ngữ “Bỡ ngỡ nhìn lên trời” của các Tông đồ, ngày nay vẫn còn ứng dụng. Chỉ khác nhau về mục đích. Khoa học nhìn trời cao để khám phá với biết bao bỡ ngỡ. Nhưng là bỡ ngỡ trong bế tắc. Một nhà khoa học nói: “Một lời giải đáp của khoa học kéo theo 20 câu vấn nạn khác”. Các văn hào, thi sĩ thả hồn trên trời cao để nuôi sống những niềm hy vọng, dong duổi những lãng mạn cho một thế giới ảo để mong làm vơi đi những khổ đau của đời trần tục, mà nhiều khi gặt hái những kết quả ngược lại. Những người khổ đau, thất vọng chỉ biết nhìn trời để ai oán... Nói tóm lại, thời đại nào người ta cũng bỡ ngỡ nhìn trời nhưng chỉ người Kitô hữu có lời giải đáp. Lời đó đến từ thiên thần hiện ra và nói với các Tông đồ: “Hỡi những người Galilie, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1,11). Đó là hình ảnh báo trước về tín điều được tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Và người sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng.” Từ niềm xác tín này sẽ làm cho người Kitô hữu sống thực tế hơn trong ý nghĩa cuộc sống từ đời này. Bác ái toát lên từ một lương tâm tốt, công bằng được thể hiện trong tính hoàn toàn tự giác. Vật chất, tiền tài, danh vọng được sử dụng làm phương thế để xây dựng một Nước Trời tại thế đã được khai mở cùng với sứ vụ cứu độ của Đức Giêsu.

Giáo hội kêu gọi chúng ta mỗi ngày trong thánh lễ “Hãy nâng tâm hồn lên.” Chúng ta hãy mau mắn đáp lại “Chúng con đang hướng về Chúa” vì ngước nhìn theo Chúa Thăng Thiên, chúng con ý thức hơn "Quê hương chúng ta ở trên trời" (Pl 3,20).

Chúa ơi con ngước nhìn trời

Vẫn còn bỡ ngỡ như người năm xưa

Không vì khoa học say sưa,

Không vì lãng mạn hồn thơ tràn trào

Nhưng vì tình Chúa dạt dào

Thánh Thần nay đã đổ vào hồn con

Tình yêu Thánh thể sắt son

Tới ngày tận thế vẫn còn tinh nguyên

Và trong bỡ ngỡ triền miên

Con thờ kính Chúa thăng thiên uy quyền

Chúa ơi, tình Chúa diệu huyền

Cho con mến Chúa ngày đêm trọn đời. Amen.
LM Nguyễn Hồng Phúc

 
 

LênTrời-127: Cùng loan Tin Mừng với Chúa Giê-su

Chúa Nhật thăng thiên: Matthêu 28, 16-20)) 
 

Tin Mừng hôm nay cho biết ngay khi Chúa Giê-su từ biệt các môn đệ để lên trời thì đồng thời Ngài: LênTrời-127

Tin Mừng hôm nay cho biết ngay khi Chúa Giê-su từ biệt các môn đệ để lên trời thì đồng thời Ngài lại hứa ở cùng họ mọi ngày cho đến tận thế. Vừa lên trời xa khuất các ông lại vừa ở lại mãi với các ông, hai việc nầy xem ra mâu thuẫn.

Nhưng thực ra, chẳng có mâu thuẫn gì, vì Chúa Giê-su lên trời là lúc Ngài được Thiên Chúa Cha tôn vinh, đồng thời là lúc Ngài chấm dứt sự hiện diện hữu hình trong một thân xác cụ thể để chuyển sang một hình thức hiện diện vô hình không bị giới hạn bởi thân xác, bởi không gian và thời gian. Nhờ đó, Ngài có thể hiện diện trong tâm hồn các môn đệ khắp nơi trên thế giới cho đến ngày tận thế: "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế."

Nếu tôi chỉ có một quả cam và tôi muốn phát cho một ngàn người hiện diện trong nhà thờ nầy, mỗi người một quả, thì điều đó không thể thực hiện được.

Nhưng nếu tôi có một điều khôn ngoan, chẳng hạn điều tôi học được từ Chúa Giê-su: “được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn mình thì được ích gì” rồi tôi đem phát điều khôn ngoan đó cho cả ngàn người ngồi nơi đây, hay cho cả tỉ người trên thế giới… thì mỗi người đều có thể nhận được nguyên vẹn một điều khôn ngoan y như nhau.

Thế đó, một quả cam thì không thể ban phát cho nhiều người, mỗi người một quả được, nhưng một điều khôn ngoan, một món quà thiêng liêng thì có thể phân phát cho nhiều người và ai cũng được lãnh nhận trọn vẹn món quà đó như nhau.

Khi Chúa Giê-su lên trời, Ngài không còn hiện diện trong thân xác hữu hình nữa. Ngài không mang thân xác vật chất nên không còn bị lệ thuộc bởi không gian và thời gian, do đó Ngài có thể hiện diện trong tâm hồn mọi tín hữu và ai ai trong chúng ta cũng có Ngài hiện diện trọn vẹn trong bản thân mình.

Chúa Giê-su ở với chúng ta để làm gì?

Là để cho chúng ta được tham gia vào công cuộc cứu thế của Ngài, được tiếp tục sứ mạng cao cả mà Thiên Chúa Cha đã trao cho Ngài như lời Ngài mời gọi: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em".

Thế là từ đây, chúng ta được vinh dự cùng loan Tin Mừng với Chúa Giê-su, cùng được tham gia sứ mạng cứu độ của Chúa Giê-su, mặc dù chúng ta yếu hèn và bất xứng.

Nhưng phận người phàm hèn như chúng ta làm sao có thể đảm đương một trách nhiệm cao cả và lớn lao như thế?

Lúc mới lên bốn, tôi bắt đầu cắp sách đến trường làng để học đọc, học viết. Cô giáo đầu đời của tôi là một nữ tu. Dì phát cho tôi cuốn tập trắng, một cây bút chì và dạy tôi tập viết. Vì tôi viết ngoằn ngoèo không ra chữ nên Dì mới nắm lấy bàn tay nhỏ bé của tôi, để bàn tay bé xíu của tôi nằm gọn trong bàn tay của Dì, và cứ thế, Dì kèm cho tôi viết những nét chữ đầu đời. Nhờ thế tôi mới viết ra chữ ra câu.

Hôm nay Chúa Giê-su đang ở trong mỗi một người chúng ta như lời Ngài đã phán: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài đang kêu mời chúng ta hợp tác với Ngài trong việc loan báo Tin Mừng. “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”.

Nhiều người chưa hề nhận biết Tin Mừng của Chúa Giê-su. Tâm hồn họ còn là một trang giấy trắng. Chúa Giê-su muốn nắm lấy bàn tay nhỏ bé yếu đuối của chúng ta để viết lên trong lòng họ những trang Tin Mừng về lòng thương xót của Thiên Chúa Cha, về tình huynh đệ không biên giới… Chúa Giê-su muốn dùng cuộc đời chúng ta để đem lại ơn cứu độ cho nhiều người.

Chúng ta chỉ là những con người hèn mọn yếu đuối, chẳng làm nên tích sự gì. Vậy hãy để bàn tay nhỏ bé của mình nằm gọn trong lòng bàn tay Chúa. Hãy trao cuộc đời chúng ta cho Chúa sử dụng để Ngài viết nên Tin Mừng trong tâm hồn tha nhân.

Lạy Chúa Giê-su, dù chúng con bất xứng nhưng Chúa vẫn cư ngụ trong chúng con và cùng chúng con loan báo Tin Mừng. Xin cho từng người trong chúng con quảng đại hiến thân cho Chúa, cộng tác với Chúa trong sứ mạng vô cùng cao cả và tốt đẹp nầy.
LM Inhaxiô Trần Ngà

 
 

LênTrời-128: Con đang nối dài bàn tay cứu độ Chúa đến với mọi người

VietCatholic News (Thứ Năm 01/05/2008 21:50)
Lễ Chúa Thăng Thiên (A)
TĐCV1:1-11; Tv 47; Êphêsô:1:17-23; Mat.28:16-20

Thưa qúi vị,  
 

Sách Sáng Thế Ký kể rằng: Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài:LênTrời-128

Sách Sáng Thế Ký kể rằng: Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (St 1,26). Sau đó con người phạm tội chống lại Thiên Chúa. Rõ ràng chương trình của Ngài bị con người làm hư hỏng. Vậy thì Thiên Chúa thất bại chăng? Các ngôn sứ và thần học giáo lý trả lời rằng “không”. Thiên Chúa chẳng hề thất bại trong ý định và việc làm của Ngài. Chúng ta lý giải ra sao đây? Vấn đề thật hóc búa.

May thay Tin Mừng hôm nay cung cấp chìa khóa để giải quyết khó khăn: “Thày đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”. Tức là Thày được Thiên Chúa đặt làm ông chủ trên trời và dưới đất. Trước đó, trong bài đọc một, các môn đệ hỏi Người rằng: “Thưa Thày, có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục nước Israel không? “câu trả lời tỏ rõ lòng khao khát của các tông đồ về quyền bính của chúa Giêsu và tương lai của dân tộc Do thái. Nhưng chúa Giêsu mở rộng tầm nhìn của họ xa hơn nhiều. Và như chúng ta hiểu ngày nay, thì không phải chỉ có thế thôi mà là toàn bộ chương trình của Thiên Chúa cho nhân loại, chúng ta cần suy nghĩ kỹ để có cơ sở cử hành lễ lên trời cho sốt sắng và đúng hướng.

Cách đây hơn bốn mươi năm, chính xác là vào cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Con người đã đặt chân lên mặt trăng, họ nhìn về trái đất, tức ngước mắt “lên trời” để nhìn xem địa cầu và thấy nó là một hành tinh tuyệt đẹp, màu xanh vàng đỏ như viên ngọc bích. Tương tự như hôm nay các môn đệ nhìn lên đám mây khi chúa Giêsu rời xa họ. Vậy thì “trời đất” ở đâu? Và biến cố “lên trời “ là gì và hứa hẹn cho nhân loại những chi ?

Đọc kỹ các bài đọc Chúa nhật này chúng ta có cảm tưởng câu trả lời này rất gắn gọn: “Đức Mêsia đã dến, Ngài rời bỏ trái đất ra đi và hứa sẽ trở lại”. Tuy lòng các môn đệ buồn sầu vì cảm thấy như bị bỏ rơi, nhưng được Chúa trao phó nhiệm vụ: Đi khắp thế gian làm chứng cho Chúa và thâu thập các linh hồn cho Ngài. Nghĩa là đấng Mêsia trở về trời cùng Cha Ngài nhưng sẽ trở lại đón nhân loại, trong khi các môn đệ phải tiếp tục công việc cứu thế của Ngài “ Tạo dựng một thế giới mới.

Như vậy chúng ta có thể quyết đoán không cần suy nghĩ việc lên trời phần xác của Chúa Giêsu chỉ có tính biểu tượng vì chúng ta chẳng biết trời ở đâu và Cha Ngài ngự chốn nào? Việc vắng mặt của Ngài chỉ trong không gian và thời gian, còn sự hiện diện thì vĩnh viễn: “Này đây Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế”. Tức Chúa vượt ra khỏi thế gian hữu hình mà đi vào cõi vĩnh hằng với đức Chúa Cha để chia sẻ vinh quang đời đời.

Chúng ta có thể hiểu biến cố “lên trời” trong hai mặt: chiều kích tiêu cực thể lý và chiều kích tích cực siêu nhiên. Về tiêu cực, lên trời là vắng mặt thân xác và linh hồn đức Giêsu. Các môn đệ không còn được thấy nữa từ lúc ấy về sau, tương tự như tín hữu ngày nay. Các công việc phần xác của Ngài kể như chấm dứt, không cần một công trình nào khác. Nhưng về thiêng liêng tức mặt tích cực trong nhân loại thì Ngài vẫn hiện diện. Chính Ngài bày tỏ trong bữa giã từ: “Thày nói thật với chúng con, Thày ra đi thì ích lợi hơn cho các con, vì nếu Thày không ra đi, thì Đấng bảo trợ không đến với các con. Còn nếu Thày ra đi, Thày sẽ sai Ngài đến với các con.” Sự ra đi vật lý của Chúa Giêsu là điều kiện cần thiết để Đức Thánh Linh ngự đến với nhân loại.

Chúng ta hãy vào vai các phi hành gia ngước mắt “lên trời” xem trên mặt đất Đức Chúa Cha đã tạo dựng nhân loại mới thế nào nơi Con của Ngài là đức Giêsu Kitô. Xin nhớ Ngài đã “thất bại” nơi Ađam, Evà. Hình ảnh và họa ảnh của Ngài không chiếu sáng nữa khi hai ông bà phạm tội. Sự thật về hình ảnh và họa ảnh của Đấng tạo hóa bị lu mờ, thì nay, sự thật ấy lại được khôi phục trong đức Giêsu Kitô. Linh hồn và thể xác đức Giêsu lại giãi sáng huy hoàng trong Đấng phục sinh. Như thế, hình ảnh và họa ảnh của tạo hóa nguyên vẹn như cũ, và trong Ngài ơn biến đổi nhân loại thành tạo vật mới giống Thiên Chúa và như Thiên Chúa thật dồi dào. Chúng ta chỉ còn việc mặc lấy và chiếm hữu như lời khuyên của thánh Phaolô (Rm 13,14). Như vậy Tạo Hoá đâu có thất bại, bất chấp con người phản bội.

Hôm nay Chúa lên trời là trong ý nghĩa ấy. Xin tưởng tượng tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con của mình cao độ biết bao. Và ngược lại tình yêu của Đấng phục sinh và lên trời đối với Cha Ngài thắm thiết biết mấy! Do đó mà phát xuất Ngôi Thánh Thần và được sai đến trần gian làm Đấng bảo trợ. Các tông đồ sẽ được kinh nghiệm ấy trong ngày lễ ngũ tuần. Họ sẽ được biến đổi hoàn toàn và những ai tin vào đức Kitô cũng được như vậy. Phải chăng họ là những tạo vật mới và thế gian này sẽ dần dần trở nên trời mới đất mới? Đó là nhiệm vụ đức Giêsu trao cho các môn đệ. Ở ý nghĩa này tỏ rõ tính tích cực của việc thăng thiên. Thánh Thần sẽ đến với Hội Thánh và ngự trên những kẻ tin kính đức Giêsu, chỉ dẫn họ trở nên những tạo vật hoàn toàn giống Thiên Chúa và như Thiên Chúa, ngõ hầu ngày nào đó cũng được hưởng vinh quang.

Cho nên không lạ gì sách Tông Đồ Công Vụ liên kết biến cố thăng thiên với việc trông đợi và đi rao giảng. Thật khó mà tin rằng những người hoạt động trong Giáo Hội tiên khởi không cảm thấy thất vọng với mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Anh em không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa!” đợi điều gì đây? Họ không có một tư tưởng nào trong đầu óc. Sự đơn sơ của họ chỉ có thể cho rằng Thày sẽ khôi phục lại Israel. Nhưng Ngài ra đi thì lấy ai ra làm việc đó? Dĩ nhiên khôi phục lại Israel có nghĩa đánh đuổi quân Rôma bằng binh hùng tướng mạnh. Đất nước sẽ có vua chúa, ngôn sứ, tư tế, chính trị, kinh tế như thời còn độc lập. Nhưng ý Chúa Giêsu là trông đợi phép rửa của Thánh Thần và đi ra làm chứng về Ngài. Thật khó mà tưởng tượng những ngư phủ Galilêa chân chính hiểu được lệnh truyền đó, nếu không có trợ giúp của Thần Khí.

Và họ đã trông đợi, rồi làm chứng, không những ở Giêrusalem mà còn khắp Giuđêa, Samaria, cho đến tận cùng trái đất. Thiên Chúa đã tưới gội họ bằng sức mạnh thiêng liêng. Họ nhận ra mình hoàn toàn lệ thuộc vào trời cao để chu toàn sứ vụ.

Tâm lý loài người là chúng ta không ưa đợi chờ. Cái chi cũng phải có lập tức, mì ăn liền, cafê instant, fastfood, hỏa tiễn, máy bay phản lực, Honda phân khối lớn. Ngày nay, mấy ai chịu khó đi bộ đâu? Vài bước cũng phải cưỡi xe máy. Nhất nhất đều phải có kết qủa tức thời, thí dụ: vé cào. Xô lấn, tranh giành là chuyện bình thường. Hai người cũng tranh nhau. Nếu không là cảm thấy thất vọng, chán chường. Tai nạn giao thông phần lớn đều mong mỏi giải phóng nhanh chóng. Chiến tranh Iraq, Afghanistan, Phi Châu, Trung Đông, đều đòi hỏi tốc độ phi mã. Loài người không mấy ưa đợi chờ.

Nhưng đức Kitô lại bắt các môn đệ: “Chờ đợi điều Chúa Cha hứa” họ không thể đi rao giảng điều mắt thấy tai nghe tức thời, do sức riêng mình. Cho nên phúc âm cho hay họ có khuynh hướng hiểu sai Lời Chúa: “Thưa Thày đã đến lúc Thày khôi phục nước Israel chăng? Ngày nay cũng vậy, không đủ kiên nhẫn để chịu huấn luyện, không đủ kiên trì tiêu hóa giáo lý thần học. Phải thực tập ngay. Chẳng lạ gì gặp bao nhiêu vấp váp, sai lầm. Cho nên đức Giêsu căn dặn môn đệ phải biết chờ đợi, phải biết suy đi nghĩ lại những biến cố họ vừa trải qua để nhận ra ý nghĩa thực của nó. Nhất là không kiêu căng cậy sức riêng. Các hiền triết xưa nay đều bắt học trò phải kiên nhẫn đợi chờ là vì vậy. Tự chế, tự chủ là đức tính cần thiết để thành công.

Cho nên cũng như các tông đồ, chúng ta phải học kiềm chế tính nông nổi của mình, cầu nguyện và chờ đợi ơn Chúa. Thiên Chúa làm tròn lời hứa của Ngài theo chương trình và thời gian Ngài ấn định. Không phải chúng ta ấn định. Chúng ta thường có khuynh hướng hành động vội vàng. Có những dự án, chương trình muốn thi hành ngay mà không suy nghĩ cho chín chắn, chúng ta muốn gạt ý Chúa ra khỏi suy nghĩ của mình, tự quyền, tự quyết hết thảy. Nói tắt, độc tài chuyên chính, chẳng cần thăm hỏi ý ai, nhất là cầu xin Ý Thiên Chúa. Cứ quan sát thiên hạ hành động, tự khắc rõ điều này.

Làm việc theo Thần Khí đức Giêsu đòi hỏi thái độ ngược lại, thận trọng và khôn ngoan. Sứ vụ rao giảng đến tận cùng trái đất không phải một sớm một chiều mà hoàn thành. Cũng không phải “Đứng đấy mà nhìn lên trời” cứ để sự việc tự nhiên thành công. Chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa, làm dụng cụ cho quyền năng Ngài. Chương trình của Thiên Chúa là: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thày”.

Một tác giả đạo đức đã viết: “Hãy đi và giảng dạy muôn dân, đó là mệnh lệnh từ giã của đức Giêsu Kitô. Nhưng lúc này Ngài chẳng còn tai, mắt mũi, họng, chân tay, lời nói, việc làm. Ngài nhờ vả chúng ta cả. Ngài chẳng còn tay mà nâng đỡ người vấp ngã… nhưng chúng ta còn. Ngài chẳng còn mắt mà trông xem những giọt lệ đang rơi vì đau khổ. Nhưng chúng ta có. Ngài chẳng còn miệng lưỡi đễ khuyên nhủ nói năng. Ngài chẳng còn trái tim để thương cảm những kiếp cô đơn. Nhưng chúng ta có. Vậy thì Ngài hành động nhờ thân thể chúng ta, nhưng Ngài thường săn sóc những số phận bất hạnh khổ đau. Ngài dùng những phương tiện hèn mọn để làm việc lớn. Nghĩa là Ngài sử dụng chúng ta để hoàn thành kế hoạch của Đức Chúa Cha. Bổn phận của mỗi tín hữu là gieo vãi Tin Mừng.

Phải làm thế nào? Sách Tông Đồ Công Vụ kể lại các môn đệ đã hiểu lầm nhiệm vụ này, tức khôi phục lại nước Do Thái. Nhưng đó không phải là chương trình của Đức Chúa Cha. Chương trình của Ngài là xây dựng nhân loại thành tạo vật mới theo hình ảnh và họa ảnh nguyên thuỷ của Ngài. Ngày nay thiên hạ thường rơi vào một trong hai cực đoan: chẳng làm gì hoặc hành động qúa mức và rỗng tuếch, hành động vì hành động. Thí dụ họ cố gắng sắp xếp để Giáo Hội Chúa Kitô trở thành đảng xã hội thiên tả hay thiên hữu, trong khi Giáo Hội là đoàn người tiến bước về nước trời. Khuynh hướng thứ hai là khuyên người ta ăn bánh vẽ, toàn những hứa hẹn siêu hình, trong khi thực tế Giáo Hội lữ hành ngay trên mặt trái đất này.

Chúng ta không thể rao giảng nguyên chỉ đạo lý của Ngài suông. Chúng ta còn phải thực hiện những công việc yêu thương Ngài đã làm nữa. Giáo Hội không chỉ là đức tin mà còn là đức ái. Người ta có khuynh hướng thất bại trong đức ái nhân danh đức tin như xẩy ra trong thời cổ. Ngày nay trái ngược lại: thất bại trong đức tin nhân danh đức ái. Thí dụ vấn đề phá thai, nghiên cứu tế bào gốc, chết tự tử… thánh Augustinô đã trông thấy các sai lầm ấy khi viết: “Sự khác biệt giữa người tốt và người xấu là ở chỗ này: người tốt sử dụng thế giới để hưởng mặt Thiên Chúa. Người xấu lợi dụng Ngài để hưởng thụ thế gian”. Nghĩa là cả hai đều sử dụng trái đất, nhưng với mục tiêu khác nhau. Chúng ta không phải chỉ là những người hoạt động xã hội. Chúa lên trời mở rộng tầm nhìn cho nhân loại. Chúng ta phải nhìn qua không gian, thời gian hiện tại vào vĩnh cửu và siêu nhiên. Hành động bằng quyền năng của một tạo vật mới. Đức Kitô phục sinh đang ngự trong mỗi người như lời cầu nguyện hiệp lễ nói: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu. Chúa cho chúng con ngay khi còn ở dưới thế đã được nếm thử phúc lộc quê trời. Xin cho lòng chúng con luôn hướng về bên Chúa, là nơi đức Kitô, thủ lĩnh chúng con đang hiển trị”. Chúng ta đụng chạm đến màu nhiệm tạo vật mới. Chương trình của Thiên Chúa bao gồm công tác phục vụ của chúng ta cho thế gian. Hãy giúp đỡ thiên hạ phát triển đầy đủ khả năng nên giống Chúa Kitô, chứ không đứng đấy ngó nhìn lên trời. Công việc đòi hỏi đức tin và đức ái trong thế cân bằng. Như vậy nhân loại mới có hy vọng tiến bước về Chúa Kitô phục sinh và lên trời. Amen

Tổng hợp theo: Sicilianô, OP.
Lm ThomasTrần Ngọc Túy, OP

 
 

LênTrời-129: ÁI MỘ NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI - Pm. Cao Huy Hoàng

Suy niệm Tin Mừng Lễ Chúa Giêsu Lên Trời 
 

Vừa xong giờ kinh gia đình tối thứ tư, với chuỗi hạt mân côi Năm Sự Mừng, Cu Út lớp 3,  hỏi: LênTrời-129

Vừa xong giờ kinh gia đình tối thứ tư, với chuỗi hạt mân côi Năm Sự Mừng, Cu Út lớp 3,  hỏi Mẹ:
-“Mẹ ơi, “ái mộ những sự trên trời” là gì thế, Mẹ”.
Mẹ vui mừng trả lời con:
- “ Ái là Yêu, Mộ là mến… là yêu mến những sự trên trời đấy con à”
-“Những sự trên trời là sự gì?”
Mẹ của Cu Út lớ ngớ, không biết phải trả lời con thế nào. Mẹ nhớ ra: “Thứ hai thì gẩm: Đức Chúa Giêsu Lên Trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”. Mẹ nói:
-“Những sự trên trời là  những thứ mà Chúa Giêsu Lên Trời chuẩn bị cho mình đó con à.
-“Chúa Lên Trời là lên làm sao? Chuẩn bị cho mình thứ gì?”
-“Là Chúa Giêsu về với Chúa Cha, chuẩn bị cho mình về với Chúa Cha…”
Cu Út không bằng lòng:
-“Con không hiểu gì cả. Về với Chúa Cha? Về đâu”
………..
Một em bé không cố ý làm bài kiểm tra giáo lý mẹ mình, nhưng quả thật, để trả lời cho bé hiểu về việc Chúa Giêsu Lên Trời và chuẩn bị cho chúng ta về với Chúa Cha thì không dễ dàng chút nào. Mẹ có thể hiểu được cả một cuộc đời mầu nhiệm của Chúa Giêsu với niềm tin và sự trải nghiệm trong hành trình đức tin của mình, nhưng để giải thích cho một tâm hồn non nớt thì không biết phải đi từ đâu…
Những sự ở trên trời, chỉ có người ở trên trời mới biết. Chúa Giêsu, người ở trên trời, xuống thế làm người, rao giảng cho con người trần gian biết có một cuộc sống mới, có một cuộc sống thiêng thánh, cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu… cuộc sống ấy ở trong Nước Trời, Nước Thiên Chúa. Để có thể tin được rằng: có một cuộc sống  khác  với cuộc sống trần gian nầy, và  để có thể  biết được chuyện ở trên trời, thì chỉ có con người khiêm cung chấp nhận và vâng phục mạc khải từ trời, rồi sống mạc khải ấy mới thấu hiểu được.
Chúa Lên Trời, Chúa Thăng Thiên là cách nói diễn tả hình ảnh không gian mà các Tông đồ chứng kiến “ Người được cất lên Ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galile, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến  y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv  1,9-11). Thực ra, phải nói là Chúa Giêsu về với Chúa Cha, về với cuộc sống, với thế giới, nơi Ngài đã xuất phát để đi làm nhiệm vụ cứu thế… Việc “về với Cha”, Chúa Giêsu đã nói trước tới biến cố nầy với bà Maria Madalena sau khi sống lại: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17). Như vậy các biến cố  tử nạn, Phục sinh và về cùng Chúa Cha đã nằm trong hoạch định ngàn đời của Thiên Chúa, trong đó, Lên Trời hay lên cùng Cha là đích điểm của  Mầu Nhiệm Vượt Qua: Qua tử nạn, đến Phục sinh; qua Phục sinh ở trần gian, đến việc “Về Với Thiên Chúa Cha” trong đời sống Thiên Chúa vĩnh cữu. Và không chỉ về với Cha, mà còn tham dự vào quyền năng, uy quyền của Thiên Chúa Cha trong Nước Ngài. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô còn xác quyết uy quyền của Chúa Giêsu là vương quyền, là  Vua Vũ Trụ: “Đến thời viên mãn, Thiên Chúa qui tụ mọi loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ga 1,10), và là Vua Lịch Sử Cứu độ: “Thiên Chúa đặt tất cả  mọi sự dưới chân Đức Kitô và đặt người làm đầu toàn thể Hội Thánh” (Ga 1,22).
Như thế, giải thích của người Mẹ trên đây với cậu con trai út chắc là không sai lạc giáo lý: Lên trời là về cùng Chúa Cha và ái mộ những sự ở trên trời, chính là yêu mến, khát khao cho chính mình cũng được về với Thiên Cha trong vương quốc Chúa Giêsu. Để hiểu cho thấu mầu nhiệm vượt qua nơi Chúa Giêsu, và giải thích được như thế, chắc chắn người Mẹ nầy cũng đã kết hiệp với Chúa Giêsu cách chí thiết để sống mầu nhiệm vượt qua của chính mình: Được Thiên Chúa sinh ra trong đời, vượt qua sự ràng buộc, sự nô lệ của tội lỗi nhờ ơn tái sinh nơi giếng nước rửa tội; vượt qua những rào cản là những hấp dẫn của “những sự dưới đất”đồng thời chấp nhận mất mát là tử nạn với Đức Kitô; vượt qua cuộc tử nạn hằng ngày để phục sinh tại thế nhờ cuộc sống siêu thoát và kết hiệp; và cuối cùng, chờ ngày vượt qua đời tạm nầy mà lên trời, mà về cùng Thiên Chúa Cha trong cuộc sống vĩnh cửu.
Thực tế là một thách đố to lớn đối với đời sống vượt qua của Kitô hữu công giáo, ở mọi thời, nhất là thời nầy, khi giá trị các sự ở dưới đất nầy đang nổi loạn đòi chiếm ưu thế trong đời sống các gia đình: tiện nghi vật chất thẩm định giá trị nhân bản nên phải đua đòi cho bằng chị, bằng em; người người khôn ra đang thụ hưởng những hiệu quả của một nền văn minh mà không cần nghĩ đến hậu quả thì ta dại gì mà phải khép mình trong lời mời gọi của Tin Mừng! Buổi sáng thật tĩnh lặng, may ra nếu có, thì cũng chỉ mấy phút trong giờ kinh nguyện ngắn ngủi, sau đó là chuyện cơm áo gạo tiền làm cho cả ngày đời  phải loay xoay toàn chuyện dưới đất. Thiết nghĩ, Chúa Giêsu biết rõ cái căn tính phàm phu tục tử trong mỗi con người, nên Ngài đã bàn giao công cuộc cứu thế vĩ đại của Ngài cho Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ. Tưởng là Chúa Thánh Thần không nói gì, làm gì, nhưng Ngài đang nói tất cả, kể cả đối với những người đang cố quên sự hiện diện của Ngài; Ngài đang làm tất cả, kể cả đối với những người tránh né sự hướng dẫn, chỉ đạo, hay sự can thiệp tài tình của Ngài. Ngài soi sáng cho chúng ta việc “phải làm”. Ngài không soi sáng cho chúng ta việc “thích làm”. Cho dù có đôi khi ta vẫn đọc kinh “cúi xin Chúa sáng soi” trước những công việc ta thích làm cho danh ta cả sáng, hoặc cho “những sự dưới đất” được thành công, thì Chúa Thánh thần khôn ngoan vẫn dẫn dắt chúng ta nhận ra khuôn mặt thật của sự dối trá trong lòng mình. Nhờ Ngài, mà thực tế thách đố kia không còn đáng lo ngại nữa, và đời sống tín hữu thật sự cảm nghiệm được ơn Ngài tác động-sáng soi hướng dẫn đời mình hướng về “những sự trên trời”, “ái mộ những sự trên trời”, chắc ăn hơn.
Và chỉ khi nào thực sự “ái mộ những sự ở trên trời”, thì có thể nói, chúng ta mới thực hiện nỗi lời di chúc của Chúa Giêsu : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28,18-20)
Đây không phải là lời di chúc để thừa hưởng một quyền bính, nhưng là một chuyển giao đặc nhiệm quan trọng trong chương trình của Thiên Chúa Cha: qui tụ mọi loài dưới quyền thủ lảnh của Chúa Giêsu Kitô, để mọi loài chung hưởng Tình Yêu vô biên và ơn cứu chuộc vĩ đại hơn tội lỗi con người. Nhiệm vụ đặc biệt ấy không chỉ trao ban cho các tông đồ, mà còn cho tất cả chúng ta hôm nay: Giới thiệu Chúa Giêsu Kitô cho mọi người để họ đón nhận chính Ngài qua bí tích rửa tội và dạy họ tuân giữ mọi điều răn  của Ngài để được về với nguồn cội yêu thương và hạnh phúc vĩnh cửu là Thiên Chúa. “Dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” đồng nghĩa với việc anh em tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền để họ thấy mà ngợi khen Cha ở trên trời, vì gương sáng là lời giảng dạy tốt nhất. Thực vậy, thời đại nầy người ta không tin người rao giảng, người ta có thể tin người sống lời rao giảng của mình. Vì thế, đòi hỏi tinh thần thoát tục và gương sống “ái mộ những sự trên trời” đối với những chứng nhân trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Và không nên trách cứ ai, nếu họ dựa vào tiêu chuẩn “dính bén với các sự dưới đất” mà đánh giá cao thấp giá trị của người tông đồ Chúa hôm nay. Có thể nói việc “dính bén với các sự dưới đất” của một chứng nhân gây nên việc phản tác dụng truyền giáo cách nguy hiểm, vì không những làm cho người ta không tin vào cuộc sống mới trong Nước Thiên Chúa, mà còn là cái cớ để người ta tin vào cuộc sống hiện tại này hạnh phúc hơn: cứ lao mình vào những chuyện dưới đất, như người rao giảng chuyện trên trời đã lao. Ôi thật nguy hiểm và thiệt hại cho công cuộc của Chúa Giêsu nếu chúng ta không sống tinh thần của Ngài trước khi loan báo Ngài cho mọi người.
Mừng Chúa Giêsu Lên Trời, một cơ hội cho mỗi tín hữu tự kiểm lại lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự, tự kiểm lại lòng khát khao với cuộc sống vĩnh cửu đời sau, tự  kiểm lại mức độ dính bén với các sự dưới đất, và nhất là tự kiểm lại hiệu quả làm chứng cho Chúa Giêsu, cho Nước Thiên Chúa của mình trong cuộc đời.
Mẹ Maria chắc chắn là mẫu gương “ái mộ những sự trên trời” hơn cả và loài người chúng con. Mẹ cũng là mẫu gương “chứng nhân Chúa Kitô” thật sống động vì lòng Mẹ luôn hướng về Nước của Thiên Chúa. Xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con sống mầu nhiệm vượt qua của đời mình, nhờ kết hiệp với cuộc vượt qua của Chúa Giêsu, noi gương Mẹ chí thánh -cho chúng con xứng đáng hưởng hạnh phúc trong Vương Quốc của Chúa Giêsu, con chí ái của Mẹ- cho cuộc sống chúng con thực sự trở nên lời rao giảng Thiên Chúa cho mọi người.
A men.

 
 

LênTrời-130: THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU?

Mc 16,15-20
1.LỜI CHÚA: “Chúa Giêsu được rước lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19).



2.CÂU CHUYỆN: THIÊN ĐÀNG Ở ĐÂU? 
 

Ngày 12 tháng 06 năm 1961, một phi hành gia Liên Xô tên là Ga-ga-rine đã bay trên phi thuyền: LênTrời-130

Ngày 12 tháng 06 năm 1961, một phi hành gia Liên Xô tên là Ga-ga-rine đã bay trên phi thuyền Vos-tok I và bay chung quanh quĩ đạo trái đất 3 vòng. Khi trở về mặt đất, Ga-ga-rine đã tuyên bố với các phóng viên báo chí rằng: Trong suốt thời gian bay trên trời, ông đã để tâm quan sát mà chẳng thấy Thiên Chúa hay thiên đàng ở đâu cả. Đối với một người không có đức tin, thì làm sao nhìn thấy Thiên Chúa hay thiên đàng bằng cặp mắt thường được? Vậy thực ra thiên đàng ở đâu?


3.SUY NIỆM:
- Đức Giêsu nhiều lần nói đến trời cao: Trời là nơi Thiên Chúa ngự. Chẳng hạn trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy ta cầu nguyện với Thiên Chúa Cha là Đấng ngự trên trời (x Mt 6,9) ; Người cũng dạy: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16.45).
- Đức Giêsu từ trời mà đến: Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống để rồi lại trở về trời (x Ga 3,13; 6,62). Người là Bánh hằng sống từ trời xuống, là Bánh đem lại sự sống cho thế gian (x Ga 6,33).
- Đức Giêsu được rước lên trời: Sau khi sống lại, Đức Giêsu tuyên bố Người đã được ban “mọi quyền năng trên trời dưới đất” (x Mt 28,18), “Người là vị Thượng tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (x Dt 7,26), và đã vào chính cõi trời, để giờ đây đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta (x Dt 9,25). Qua hình ảnh được rước lên trời, Chúa Phục Sinh sẽ không còn hiện ra với các Tông đồ như trong thời gian 40 ngày sau khi sống lại. Từ đây, Người sẽ hiện diện một cách thiêng liêng, không bị lệ thuộc vào thời gian và không gian như Người đã hứa: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
- Người ngự bên hữu Thiên Chúa:
Đức Giêsu với tư cách là Người, được tham dự vào vinh quang và quyền cai quản vũ trụ với Chúa Cha. Chính Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu trên mọi quyền lực thần thiêng, đặt tất cả dưới chân Người, đặt Người làm đầu toàn thể Hội thánh là thân thể Người (x Ep 1,20-23).
- Niềm hy vọng lên trời của chúng ta:
Đức Giêsu về trời là để dọn chỗ cho các môn đệ và Người hứa sẽ trở lại để đem họ về với Người (x Ga 14,2-3). Trời hay Thiên đàng là nơi trú ngụ của Thiên Chúa mà thánh Phao-lô đã cảm thấy vui thoả khi được chiêm ngắm (x 2 Cr 12,4); Là Nước Trời hay Hội thánh do Đức Giêsu thiết lập, ban đầu bé nhỏ như hạt cải, nhưng sau này sẽ phát triển thành cây to lớn đến nỗi chim trời là các dân tộc có thể đến nương náu được (x Mt 13,31-32). Thiên đàng là nơi dành cho tội nhân có lòng sám hối và tín thác cậy trông vào tình thương của Đức Giêsu, như kẻ trộm lành được vào đầu tiên với Người (x Lc 23,43). Là Vương Quốc dành cho những người công chính khi Vua Thẩm Phán sẽ lại đến để xét xử muôn dân trong ngày tận thế (x Mt 25,34.46)…



4. THẢO LUẬN: Để được lên trời với Đức Giêsu sau này, chúng ta phải làm gì?
Chúng ta phải sống Tám Mối Phúc Thật hay Hiến Chương Nước Trời do Đức Giêsu rao giảng trên núi, cụ thể là những việc làm như sau:
MỘT là tin Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa và được tái sinh bởi nước và Thánh Thần khi chịu phép rửa tội.
HAI là phải ăn năn sám hối tội lỗi, từ bỏ các thói hư tật xấu.
BA là phải thực hành giới răn yêu thương là có lòng thương xót người đau khổ bệnh tật và bị bỏ rơi.
BỐN là phải đi con đường hẹp leo dốc, từ bỏ ý riêng mình để vâng theo ý Thiên Chúa, sẵn sàng vác thập giá mình hằng ngày theo chân Chúa Giêsu.
NĂM là phải biết sử dụng của cải vật chất đời này để phụng sự Tin Mừng Nước Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.
SÁU là quyết tâm sống theo gương mẫu và Lời dạy của Chúa Giêsu để ăn ở hiền lành, tha thứ vô điều kiện, có lòng trong sạch, sẵn sàng bị bách hại vì đức tin.
BẢY là phải chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng Nước Trời, trở thành chứng nhân tình thương của Chúa ngay trong môi trường sống và làm việc của mình.



5.NGUYỆN CẦU
LẠY CHÚA GIÊSU. Khi Chúa về trời, sứ thần đã nhắc nhở các môn đệ: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn cứ đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời (Cv 1,10-11). Xin giúp chúng con biết làm chứng cho Chúa bằng một lối sống vị tha, luôn nghĩ đến tha nhân. Xin cho chúng con biết chiếu ánh sáng tình thương của Chúa ra trước mặt người đời và trở nên muối ướp thiên hạ khỏi hư hỏng. Xin cho chúng con luôn sống chan hoà, như nắm men được hòa lẫn vào ba đấu bột, để cả khối bột là môi trường chúng con đang sống được dậy lên men tình yêu mến Chúa.- AMEN.
LM ĐAN VINH www.hiephoithanhmau.com

 
 

LênTrời-131: SỐNG LÀ CHÚA KITÔ - Trần Mỹ Duyệt

Bình thường, người Kitô hữu vẫn nghĩ rằng “Chúa ở với tôi”. Chúa ở với mỗi người chúng ta: LênTrời-131

Bình thường, người Kitô hữu vẫn nghĩ rằng “Chúa ở với tôi”. Chúa ở với mỗi người chúng ta và ở với Giáo Hội. Bất cứ lúc nào muốn, chúng ta cũng có thể gặp Ngài, và nơi mà chúng ta có thể gặp gỡ Ngài là các Nhà Tạm trong các thánh đường.
“Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Ở với nhân loại cho đến tận thế. Đó là ao ước của Chúa Giêsu khi từ giã cõi đời này để về trời. Ngài không muốn bỏ lại những bạn hữu Ngài mồ côi trong hành trình trần thế, vì vậy, Ngài đã tình nguyện ở lại với họ và với chúng ta trong Thánh Thể. Điều mà chỉ có Thiên Chúa chúng ta mới dám nói và mới có thể thực hiện được. Không thấy một thần minh nào, một giáo tổ của bất cứ tôn giáo nào trên thế gian này đã tuyên bố và làm được như vậy. 
“Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Chúa Giêsu không chỉ nói suông. Ngài đã thực hiện ước vọng ấy bằng một hành động phi thường mà theo thánh Thomas A’quinas, thì dù Thiên Chúa toàn năng cũng không thể làm hơn được là lập nên Phép Thánh Thể. Chúa lồng những giá trị hy lễ hiến tế của Ngài vào với những vất vả và lao công con người. Ngài cho phép những vất vả, những giọt mồ hôi và nước mắt của con người được phép đồng trộn với Mình và Máu Ngài để làm nên sức sống nuôi dưỡng đời sống tâm linh và đạo đức của con người. Và đây là hình thức Ngài dùng để thực hiện ước nguyện ở lại với nhân lọai. Vì nếu Ngài dùng bất cứ một chất liệu nào khác, hoặc bất cứ một hình thức nào khác, sợ rằng nó không lột tả được cái tính chất thực tế của cuộc sống, và kiếp người.
Thử hỏi trong chúng ta, ai mà chẳng đã một lần đổ mồ hôi và mệt nhọc vì miếng cơm, manh áo? Và ai mà đã chẳng một lần va chạm với sự thật đắng đót của cuộc sống bằng những vất vả, mệt nhọc. Nhưng nay Chúa cho phép con người được đóng góp những vất vả, nhọc nhằn của mình vào với chất lượng làm nên Thánh Thể, có nghĩa là mỗi lần chúng ta nhìn lên Thánh Thể, chúng ta hiểu ngay sự hiện diện của Ngài bên chúng ta, vì cũng trong chính chúng ta, luôn có những vất vả và nghiệt ngã của cuộc sống.
Nhắc đến những vất vả và đắng đót cuộc đời, cũng là nhắc đến thân phận của con người trên cuộc lữ hành trần thế. Và hình thức ở lại với nhân loại của Chúa trong Thánh Thể chính là để nâng đỡ, để chia sẻ, và để ủi an chúng ta. Chúa Giêsu đã chẳng nói: “Hỡi những ai vất vả và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ bổ sức cho” (Mt 11:28). Còn lời êm dịu nào hơn, và còn lời phấn khởi nào hơn cho những ai đang vất vả và lo âu trong cuộc sống. Giữa những gánh nặng cồng kềnh đè nặng trên vai. Giữa lúc tưởng chừng như quỵ ngã giữa đường, bỗng có người đến tình nguyện nâng đỡ và chia sẻ, thử hỏi tình cảm và sự thương mến của người ấy đối với chúng ta như thế nào. Giữa sa mạc cuộc đời, và trên hành trình đức tin, nhiều lúc chúng ta cũng đã tưởng chừng như quỵ ngã. Lo âu về cuộc sống. Buồn phiền về quá khứ. Phập phồng, thấp thỏm về tương lai. Và đắng đót, chịu đựng với hiện tại. Lo lắng cho mình. Lo lắng cho người thân mình. Lo lắng cho những người cần đến mình. Tất cả những lo lắng ấy là những gánh nặng cồng kềnh có thể làm ta ngã quỵ dọc đường. Nhưng nhờ Chúa nâng đỡ, chúng ta mới có thể yên tâm mà tiến tới.
Chúa ở với chúng ta. Ngài ở lại qua hình bánh rượu trong Thánh Thể còn để thông ban cho chúng ta sức sống của Ngài. Ngài gọi việc tiếp nhận Mình và Máu Ngài là việc tiếp nhận sức sống được ban cho từ Thiên Chúa: “Trong bữa ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và đưa cho các môn đệ. Ngài phán: “Hãy cầm lấy mà ăn, này là mình ta”. Rồi người cầm lấy chén rượu đọc lời chúc tụng, và trao cho các môn đệ. Ngài phán: “Tất cả hãy cầm lấy mà uống, vì đây là máu ta, máu giao ước sẽ đổ ra cho nhiều người để được tha tội” (Mt 26:26-28). Đó là những lời mời gọi của Chúa Giêsu khi trao ban Thánh Thể Ngài cho chúng ta. Như vậy, Ngài không muốn chỉ ở với nhân loại, đồng hành với nhân lọai; mà hơn nữa, trở thành cơm bánh nuôi nhân loại trên đường về Thiên Quốc. Hình ảnh này chúng ta có thể tìm gặp trong cuộc lữ hành của dân Ngài 40 năm trong sa mạc. Trên đường về đất hứa, Chúa đã nuôi họ bằng manna trong sa mạc. Và chúng ta cũng có thể tìm gặp qua hình ảnh của tiên tri Elia trên đường lên núi Horept. Mệt mã và đói khát, tiên tri đang nằm chờ chết thì bỗng nhiên thiên thần Chúa hiện đến và đưa cho ông bánh và nước: “Hãy chỗi dậy mà ăn, vì đường con dài”. Thiên thần có ý nói chưa chết được. Chưa được phép chết. Lúc này chưa phải là lúc chết vì còn nhiều việc phải làm, và con đường trần chưa đi hết.
Khi trở thành rượu bánh nuôi sống con người, cũng có nghĩa là Chúa thuộc trọn về con người. Cơm bánh, rượu nước khi ăn vào, uống vào sẽ trở thành máu huyết nuôi sống người ăn và người uống. Tiếp nhận Thánh Thể là tiếp nhận Mình Máu Chúa Giêsu để trở thành sức sống của ta. Và đó là lý do Chúa ở trong con người. Hình ảnh một giọt nước hòa tan trong chén rượu. Hình ảnh một hạt miến bị nghiền tan và hòa với trong trăm ngàn hạt miến để trở thành một tấm bánh là hình ảnh Chúa cho phép con người được hòa tan trong Chúa, cũng như để Chúa hòa tan trong con người. Qua Phép Thánh Thể, Chúa ở trong con người. Chúa thuộc trọn về con người. Chúa trở thành sức sống cho con người. Ngài trở thành con người với chúng ta, ngoại trừ chia sẻ tội lỗi với chúng ta.
Không còn sự hòa trộn nào. Không còn sự tan biến nào với cuộc đời và cuộc sống con người bằng sự hòa trộn giữa Chúa Giêsu và con người khi đón nhận Thánh Thể. Và ở đây, Ngài không những ở với nhân loại, ở với chúng ta, mà hơn nữa, hoàn toàn trở nên và lệ thuộc vào cuộc sống và mỗi con người chúng ta.
Như vậy, ai trong chúng ta có thể nói là mình không một lần gặp gỡ Chúa. Không một lần được động chạm, sờ được đến Chúa. Không một lần được gần gũi và thân mật với Chúa. Và ai là người có thể nói được rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi, đã không nhìn đến, và không quan tâm đến mình. Qua Thánh Thể, và trong ý nghĩa hòa đồng ấy, Chúa Giêsu không có lý do nào để quên chính mình Ngài, thì chúng ta cũng không có lý do gì để sợ rằng Ngài quên chúng ta và không nghĩ đến chúng ta.
Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Ngài ở đó để đồng hành với chúng ta. Ngài ở đó để nâng đỡ chúng ta. Ngài ở đó để trở thành của nuôi sống chúng ta. Và Ngài ở đó để hòa tan và trở nên một với chúng ta. Như vậy, Ngài đã thực hiện được điều Ngài đã nói với các Tông Đồ xưa: “Thầy ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế”. Mầu nhiệm vô cùng cao quí, vượt qua mọi hiểu biết và lối dẫn giải của con người. Mầu nhiệm mà chỉ có tình yêu Thiên Chúa mới thực hiện nổi.
Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài không chỉ ở với nhân loại mà còn ở trong mỗi người chúng ta. Ngài không chỉ ở trong chúng ta, mà hơn thế, còn trở thành nên chính chúng ta. Thánh Phaolô Tông Đồ đã cảm được một cách rốt ráo và cảm nhận này đã làm cho vị Tông Đồ Dân Ngoại sửng sốt kêu lên: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi. Tôi vẫn tiếp tục sống trong cuộc sống con người, nhưng đó là đời sống trong đức tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và đã hiến mình vì tôi” (Gal 2:20). Để rồi từ đó, ngài khẳng định:  “Với tôi, sống là Chúa Kitô” (Phil 1:21).
Thì ra vậy, mặc dù tôi rước Thánh Thể, mặc dù tôi được tan biến và trở thành như Giêsu, và mặc dù với tôi, “sống là Chúa Kitô” thì cuộc sống này cũng chỉ là một cuộc sống trong Đức Tin. Bởi vì như Thánh Phaolô: “Tôi vẫn tiếp tục cuộc sống con người này.” Tức là tôi vẫn không được châm chước khỏi yếu đuối, bệnh tật, nghèo khó, sầu muộn, đau khổ, và phải chết nữa. Mà đôi khi như Thánh Phaolô đã khẳng định, vì sống trong đức tin, nên cuộc sống này đối với tôi nhiều khi lại còn lắm đau khổ, sóng gió, và thử thách hơn nữa. Bởi vì nó là một đời sống đức tin. Sống đức tin trong thân xác của con người. Mà vì sống bằng đức tin nên không dễ dàng và không mấy thoải mái như người đời vẫn thường nghĩ. Những giá trị của cuộc sống ta không được đặt định trên những giá trị thực tế của tiền tài, danh vọng, quyền lực, và ngay cả những lạc thú.   
Lậy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho chúng con được lòng yêu mến và siêng năng đến với Chúa và rước Chúa. Xin cho đời sống chúng con là một giọt nước luôn luôn được hòa tan vào chén rượu nồng là tình yêu Thiên Chúa, để chúng con dù sống hay chết, cũng là sống và chết cho tình yêu đã hy hiến vì chúng con, để cũng như Thánh Phaolô, tuy dù sống trong thân xác yếu hèn này, và giữa trăm ngàn thử thách, “với con, sống là Chúa Kitô”. 

 
 

LênTrời-132: ĐẤT THẤP TRỜI CAO

 “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế."(Mt:28.19-20)
 

Trên đây là lời dạy dỗ mời gọi sau cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi Ngài về trời:LênTrời-132

Bạn thân mến!  Trên đây là lời dạy dỗ mời gọi sau cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ trước khi Ngài về trời.  Đó cũng là nội dung Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay.
Biến cố Ðức Giêsu lên trời có nghĩa là Ngài chấm dứt thời gian hiện ra để dậy dỗ các môn đệ nơi miền “đất thấp” này.  Ngài chuẩn bị cho họ bước vào một giai đoạn mới:  Giai đoạn của Chúa Thánh Thần,  giai đoạn của Thần Khí  đi vào nội tâm của con người, giai đoạn mà con người được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài trong cuộc sống.
Biến cố Ðức Giêsu Kitô lên trời mạc khải cho ta thấy con người đến cư ngụ trên miền “đất thấp” nhưng nguồn gốc thật sự của con người phát xuất từ  “trời cao” nên cuối cùng con người phải trở về với “trời cao”.
Biến cố Ðức Giêsu Kitô lên trời mời gọi ta phải ra đi với muôn dân, rao giảng và làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh để mọi người trở thành môn đệ của Ngài (Mt:28.19).  Một khi ta ra đi với muôn dân và rao giảng về Chúa Kitô phuc sinh, ta không bị lẻ loi một mình vì có Ngài cùng đồng hành với ta, cùng rao giảng với ta, và cùng ở với ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt:28:20)
Biến cố Ðức Giêsu Kitô lên trời cho ta thấy nếu trời cao là nơi Chúa ngự thì chẳng có gì gần ta bằng trời cao.  Trời cao ở quanh ta, trời cao ở trong ta... Trời cao vượt xa đất thấp muôn trùng,  nhưng nếu đất thấp đã là nơi Chúa đến và sinh ra,  thì đất thấp cũng mang dáng dấp của trời cao.
Thiên Chúa không phải là Ðấng chỉ thích ở trên trời cao.  Ngài thích con người, Ngài thương đất thấp , nên Ngài đã sai Con Một của Ngài làm người sinh ra ở đất thấp.  Ðức Giêsu Con Thiên Chúa đã đặt chân lên đất thấp.  Ðất thấp chẳng xa lạ gì với Ngài, vì nhờ Ngài mà nó được tạo dựng.  Ðất thấp đã bắt đầu trở thành trời cao từ khi Con Thiên Chúa đến và sinh ra ở đó.  Ðất thấp vẫn luôn thuộc về trời cao vì Ðức Giêsu luôn ở với ta nơi miền đất thấp cho đến tận thế.
Trời cao cũng là mẫu mực của đất thấp: Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời.  Chỗ nào vâng theo ý Cha, chỗ đó trở thành trời cao.  Trái tim của chúng ta cũng phải trở thành trời cao, phải đầy ắp yêu thương, đầy ắp Thiên Chúa.  Rốt cuộc, nhiệm vụ của người Kitô là xây dựng trời cao ở ngay nơi đất thấp,  là cho thấy rằng trời cao thật gần, chứ không phải là sản phẩm của hoang tưởng.  Trời cao chỉ gần kề bên khi người Kitô biết sống cho nhau chân tình, biết chia sẻ cho tha nhân những gì mình có, không bị mê hoặc bởi của cải lợi danh, không bị kéo ghì bởi những đam mê xác thịt, cũng không chùn bước trước cái chết và khổ đau.
"Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở trong người ấy" (Ga 14,24).  Ước mong có một “trời cao” nho nhỏ ở trong ta, và trời cao nho nhỏ đó cũng hiện diện nơi gia đình, bạn bè;  nơi phố chợ, học đường, công xưởng.. để một ngày nào đó, cả miền “đất thấp” này được ngập tràn sự hiện diện của ”trời cao”


***
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu thương miền “đất thấp” này và đã sống trọn vẹn thân phận con người ở đây.  Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc,  sự cao cả và yếu đuối thấp hèn của thân phận con người.  
Xin Chúa dạy con biết sống yêu thương nơi miền “đất thấp” này để mỗi khi con ngước nhìn lên “trời cao”, con luôn xác tín rằng Chúa đang hiện diện bên con,  giúp con vượt qua những khó khăn vất vả của cuộc sống con người.  Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của con, mọi người thấy được “trời cao” đang dần dần tỏ hiện.  Amen.
(Trích từ R. Veritas)

 
 

LênTrời-133: THĂNG THIÊN - Bảo Lộc

Chuyện kể rằng, khi Chúa Giêsu Kitô về Trời, các thiên thần ra mừng đón Ngài.  Họ thắc mắc:LênTrời-133

Chuyện kể rằng, khi Chúa Giêsu Kitô về Trời, các thiên thần ra mừng đón Ngài.  Họ thắc mắc không hiểu vì sao Chúa về Trời sớm quá.  Làm sao Ngài hoàn thành được sứ mạng Chúa Cha giao phó khi chỉ rao giảng mới được ba năm. 
Một thiên thần suýt xoa: 'Bây giờ Chúa không còn ở trần gian nữa, không biết Nước Trời làm sao hiện diện được?'  Chúa đáp: 'Ta không lo, ta đã dặn dò các môn đệ của ta tiếp tục công việc của Nước Trời.'
Các thiên thần kinh ngạc: 'Chúa giao sứ mạng ấy lại cho ai?  Những môn đệ chết nhát đó à?  Chúa thật sự nghĩ rằng họ có thể làm được sao?'  Chúa trả lời:  'Ta tin nơi họ.'
Các thiên thần nhao nhao phản đối: 'Cho dù như thế, lạy Chúa, sau khi những người này chết đi thì sao?  Người ta sẽ quên hết những điều Chúa dạy họ?'  Chúa mỉm cười: 'Ta tin rằng sẽ có những người khác tiếp nối công việc của họ.' 
Các thiên thần trố mắt không tin: 'Chúa à, Chúa không có kế hoạch nào khác sao?  Hay là để chúng con đi làm việc này chắc ăn hơn.'  'Không,' Chúa lắc đầu, 'Ta chỉ có một kế hoạch duy nhất.  Họ sẽ làm được điều đó, vì Thần Khí của Ta sẽ ở với họ'


****

Bạn thân mến,
Cùng với toàn thể Hội Thánh mừng lễ Chúa Thăng Thiên, chúng ta hướng lòng về Đấng đã về Trời để dọn chỗ cho chúng ta trong ngôi nhà có nhiều phòng của Cha Ngài.
Thăng Thiên là ngày đại lễ của niềm hy vọng.  Sự kiện Chúa Kitô về Trời không phải là cuộc chia ly giã biệt, nhưng chính 'Ngài đã đi trước mở đường dẫn chúng ta vào Nước Trời, khiến chúng ta là những chi thể của Ngài nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Ngài hưởng phúc vinh quang.'  (Lời nguyện lễ Thăng Thiên).  Xác tín vào điều này, vui mừng vì điều này, chúng ta có thể sống sung mãn trước những thách đố và nghịch cảnh của cuộc sống. 
Mừng Chúa về Trời chúng ta hướng lòng về những gì là vĩnh cửu, là hạnh phúc viên mãn.  Truyền thống tâm linh người Việt có câu 'sinh ký tử quy', sống là gửi, thác là về – một nhân sinh quan sống rất thực tế.  Danh lợi mà chi, bon chen mà chi, để rồi đánh mất chính mình trong những vòng xoáy của cuộc đời.
Mừng Chúa về Trời chúng ta không chỉ ngồi chiêm ngắm tương lai, nhưng còn phải làm những việc cần làm trong hiện tại.  Năm xưa các thiên thần đã nhắc khéo các môn đệ của Chúa Giêsu: 'Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn Trời?' (CV 1:11)
Lời này nhắn nhủ chúng ta phải quay về với bổn phận.  Tin vào hạnh phúc vĩnh cửu mai hậu không có nghĩa là buông xuôi những trách nhiệm và công việc hiện tại.  Hướng về Trời cao để nhận ra cùng đích của cuộc sống.  Nhìn thẳng vào cuộc đời để xả thân xây dựng hiện tại và tương lai.
Cuộc đời của Chúa Giêsu là rao giảng về Nước Trời, là làm chứng cho tin mừng cứu độ.  Chúa về Trời, nhưng công việc của Ngài chưa chấm dứt.  Ngài khai mở cho các môn đệ và hàng hàng lớp lớp những thế hệ mai sau một viễn tượng mới, trong đó con người được mời cộng tác với Thiên Chúa để tiếp tục thăng hoa thế giới này: 'Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ.' (Mt 28:19).  Và Ngài trao ban sứ mạng đó cho chúng ta, để tình yêu của Thiên Chúa được lan toả trên khắp địa cầu, và để con người tìm được niềm hy vọng nơi hạnh phúc vĩnh cửu. 
Chúa lên Trời, nhưng Ngài không bỏ chúng ta một mình, 'Thầy sẽ ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế' (Mt 28:20).
Mục tiêu đích thật của đời người không nằm ở trong cõi đời tạm này. Cuộc sống nhân sinh dù vui buồn sướng khổ, dù sao cũng chỉ là thời gian thanh luyện.  Cuộc sống này với tất cả những hỉ nộ ái ố của nó không phải là nơi để bám víu, hoặc là nơi để lao mình vào những ân oán bon chen.
Hiểu được lẽ vô thường tạm bợ của cuộc đời, tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn, tâm hồn an lạc hơn.  Ngày hôm nay, tôi chỉ cần tập dừng lại một chút, hồi tâm ý thức được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống mình, thì tôi chẳng cần phải đi đâu để tìm kiếm hạnh phúc an lạc.  Tin rằng Chúa Kitô đang hiện diện với tôi, mỗi một ngày tôi sống trong sự lạc quan và hy vọng.
Hôm nay, mừng Chúa về Trời, chúng ta lại một lần nữa xác tín vào đời sống vĩnh cửu.
Chúng ta xác tín vào quê hương thật của chúng ta, là nơi chúng ta đến từ Thiên Chúa, và sẽ trở về cùng với Ngài.  Đồng thời chúng ta cũng xác tín vào ơn gọi của người Kitô là tiếp tục sứ mạng rao giảng và làm chứng của Chúa Giêsu Kitô.  Chúng ta tin rằng chúng ta làm được những điều này, vì Chúa đang hiện diện với chúng ta.
            Lạy Chúa xin cho chúng con biết tiếp tục sứ mạng của Chúa mà đi rao giảng và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa bằng chính đời sống chứng nhân của mình ở trong gia đình, hãng xưởng, giáo xứ và trong các mối quan hệ giao tiếp hàng ngày…… Amen!

 
 

LênTrời-134: LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI THỜI NAY!

CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN NĂM B (24.05.2009)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ   

 

Trong Hội nghị kỳ I.2009 vừa qua tại Đền Thánh Đức Mẹ Bãi Dâu (Vũng Tầu), Hội Đồng Giám: LênTrời-134

Trong Hội nghị kỳ I.2009 vừa qua tại Đền Thánh Đức Mẹ Bãi Dâu (Vũng Tầu), Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã quyết định lấy Ngày Lễ Chúa Thăng Thiên làm Ngày Truyền Thông của Giáo Hội Việt Nam.
Cơ sở của quyết định của Hội đồng Giám mục là những lời của Chúa Giê-su nói với các Tông đồ trước khi về trời: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15) và “Anh em sẽ là chứng nhân của Thày tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
Cơ sở của quyết định của Hội đồng Giám mục còn vai trò vô cùng quan trọng của các phương tiện truyền thông xã hội mà chính Công đồng Vatican II đã phải đề cao trong một sắc lệnh là sắc lệnh về các phương tiện truyền thông xã hội (INTER MIRIFICA).
Theo tinh thần ấy, chúng ta nên suy nghĩ một lần nữa về sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội và của mỗi người/cộng đoàn và về cách thực hiện sứ mạng ấy bằng những phương tiện truyền thông xã hội, khi mừng Lễ Chúa Thăng Thiên năm nay.  



II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Bài đọc 1 (Cv 1,1-11): Đức Giê-su được cất lên ngay trước mắt các ông.
(1) Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy, kể từ đầu (2) cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. (3) Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông vể Nước Thiên Chúa. (4) Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, “điều mà anh em đã nghe Thày nói tới, (5) đó là: ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.”
(6) Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng: “Thưa Thày, có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?” (7) Người đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, (8) nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thày tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.”
 (9) Nói xong, Người lên trời ngay trước mắt các ông, và có đám mây rước Người lên, khuất mắt các ông. (10) Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì kìa hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh (11) và nói: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.”
2.2 Bài đọc 2 (Ep 1,17-23): Thiên Chúa đã đặt Đức Ki-tô ngự bên hữu Người trên trời.
 (17) Thưa anh em, tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. (18) Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, (19) đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, (20) mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. (21) Như vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. (22) Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh ; (23) mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.
2.3 Bài Tin Mừng (Mc 16,15-20): Đức Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.
 (15) Khi ấy Đức Giê-su hiện ra với Nhóm Mười Một và nói với các ông: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. (16) Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. (17) Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. (18) Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ."
(19) Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. (20) Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.



III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
3.1 Chân dung của Thiên Chúa    
3.1.1 Bài đọc 1 (Cv 1,1-11) là Bài Tựa của Sách Công vụ Tông Đồ trong đó Thánh Lu-ca ôn lại cuộc đời của Chúa Giê-su, từ đầu cho đến ngày Người lên trời. Đức Giê-su đã huấn luyện các Tông đồ, đã chứng minh là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình, đã nói với các ông về Nước Trời. Rồi một ngày kia Người đã biến đi - hay về trời - trước mắt các Tông đồ, sau khi Người báo cho các ông biết là các ông sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần để thực thi sứ mạng làm chứng cho Người trong trần gian này.
3.1.2 Bài đọc 2 (Ep 1,17-23) là một đoạn của thư của Thánh Phao-lô Tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-sô. Tuy ngắn nhưng đoạn Thánh Thư này chứ đựng hai điều rất quan trọng trong mạc khải Ki-tô giáo.
(a) Trước hết Thánh Phao-lô nói -cách gián tiếp- về vai trò quan trọng của Chúa Thánh Thần: Chúa Thánh Thần là thần khí khôn ngoan, là quyền lực vô cùng lớn lao, là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực. Chức năng của Thánh Thần là mặc khải, là soi lòng mở trí…. cho chúng sinh đón nhận và hiểu biết về Thiên Chúa và kế họach của Người.
(b) Kế đến Thánh Phao-lô cho biết “Thiên Chúa đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.”
3.1.3 Bài Tin Mừng (Mc 16,15-20) tuy ngắn nhưng có ba nội dung khá quan trọng:
(a) Trước hết Thánh Mác-cô nhắc lại những lời dặn dò sau cùng và quan trọng của Đức Giê-su về sứ mạng rao giảng Tin Mừng của các môn đệ và lời báo trước về sự hiện diện và hành động của Người nơi các môn đệ.
(b) Kế đến Thánh Mác-cô nhắc đến biến cố Chúa Giê-su Ki-tô lên trời, có các môn đệ chứng kiến.
(c) Sau cùng Thánh Mác-cô ghi nhận hoạt động rao giảng Tin Mừng của các Tông đồ rất có hiệu quả vì có Chúa cùng hoạt động với các ngài.
3.2 Sứ điệp Lời Chúa    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay gồm hai phần:
* Thứ nhất là Chúa Giê-su đã thực hiện thánh ý của Thiên Chúa và đã hoàn tất chương trình, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa nên Người đã được Thiên Chúa cho lên trời (tức được tưởng thưởng và tôn vinh).
* Thứ hai là các Tông Đồ được Chúa GIê-su Phục Sinh giao sứ mạng loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Người. Các ngài đã ra đi rao giảng khắp nơi, thu được nhiều kết quả, vì có Chúa cùng hoạt động với các ngài.



IV. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
4.1 Sống sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là tôn vinh Chúa Giê-su Ki-tô vì Người đã chu toàn thánh ý, chương trình, kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa bằng cuộc sống và bằng cái chết hy sinh thập giá của Người.
4.2 Sống sứ điệp của Lời Chúa hôm nay còn là thi hành sứ mạng rao giảng về Chúa Giê-su Ki-tô bằng lời nói, việc làm, cách sống của chúng ta và bằng các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại: sách báo, phim ảnh, internet v.v...               



V. CẦU NGUYỆN  
5.1 Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su và là Cha của chúng con, chúng con chúc tụng / ngợi khen / cảm tạ và tôn vinh Cha, vì Cha đã tôn vinh Con Cha là Chúa Giê-su Ki-tô sau khi Người đã hoàn toàn vâng theo thánh ý và thực thi hoàn hảo kế hoạch cứu độ của Cha.
Xin Chúa Cha ban cho chúng con và cho hết mọi người ơn cứu độ mà Cha đã muốn ban cho nhân loại nhờ cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô Con Cha, Chúa chúng con.
5.2 Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa và là Chúa chúng con, chúng con chúc tụng / ngợi khen / cảm tạ và tôn vinh Chúa, vì Chúa đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá… để thánh ý và kế hoạch cứu độ nhân loại của Chúa Cha được thực hiện và chúng con được ơn cứu độ.
Xin Chúa Giê-su Ki-tô ban ơn cho chúng con biết học cách sống vâng phục, hy sinh, cứu giúp của Chúa, để chúng con được xứng danh là môn đệ và là chứng nhân của Chúa, mạnh dạn loan báo Tin Mừng Cứu Độ cho những người chung quanh.
5.3 Lạy Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Thiên Chúa, chúng con chúc tụng / ngợi khen / cảm tạ và tôn vinh Chúa, vì Chúa là thần khí khôn ngoan, là quyền lực vô song, là sức mạnh toàn năng, là Đấng mặc khải và soi long, mở trí…. cho chúng con đón nhận Thiên Chúa và hiểu biết về kế hoạch cứu độ của Người.
Xin Chúa Thánh Thần hãy luôn luôn ở bên / trong chúng con, soi sáng hướng dẫn và hỗ trợ chúng con trong mọi lúc, mọi nơi, để chúng con biết dùng đời sống và sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội mà loan báo Tin Mừng cứu độ cho người thời nay. Amen.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

 
 

LênTrời-135: Chúa lên trời

Hôm nay chúng ta mừng kính biến cố về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Hay nói đúng hơn LênTrời-135

Hôm nay chúng ta mừng kính biến cố về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Hay nói đúng hơn chúng ta mừng kính việc Ngài được tôn vinh, làm chủ thế giới và vũ trụ. Bởi đó, chúng ta không hướng về trời theo nghĩa là hướng tới một điểm nào đó trong không gian, để rồi chỉ chờ đợi được di tản, được bốc đi khỏi chốn lưu đày ở thế giới này.
Chính vì thế, thánh Luca đã ghi lại lời hai người đàn ông mặc áo trắng nói với các môn đệ, sau khi Chúa đã lên trời: Này các bạn xứ Galilêa, sao còn đứng nhìn trời làm chi. Đức Kitô Đấng vừa lìa bỏ các bạn và được rước lên trời cũng sẽ ngự đến y như các bạn đã thấy Ngài lên trời.
Từ lời phán bảo này chúng ta nhận thấy: Người môn đệ của Chúa không được nhìn trời mà quên đi trái đất, nơi mà bổn phận đang chờ đón họ như lời Chúa Giêsu đã nói: Anh em sẽ làm chứng về Thày tại Giêrusalem, tại Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Ngày Chúa Giêsu ra đi là ngày sứ mạng của các môn đệ bắt đầu. Mơ tưởng tới một cõi trời cao mà quên đi sứ mạng được trao phó cho mình thực hiện nơi trần gian, chính là mơ tưởng một cách hão huyền. Nếu chúng ta có hướng lên trời thì điều đó phải có nghĩa là chúng ta hướng tới những thực tại cao quí và tốt đẹp, khả dĩ giúp cho con người đạt tới những kích thước viên mãn của mình về mặt tinh thần, và cũng chỉ có thế mà thôi.
Đã đến lúc chúng ta cần phải dứt khoát với những quan niệm lỗi thời về một thiên đàng, về một nước Chúa lơ lửng trên không trung, một quê hương chúng ta coi là thật, ở một chỗ nào đó trên trời, khiến chúng ta lơ là, có khi còn khinh chê cái thế gian phù vân, hư vô giả trá. Cái quê hương lầm than đau khổ như một thứ quê hương không thật.
Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là chúng ta sẽ đi tới một thái cực khác, đó là chỉ còn biết vui sự thế gian này, coi thế gian này như là tất cả, như là vĩnh cửu. Quê hương thật là trời mới đất mới, không đồng hóa với trần gian, nhưng cũng không đối lập với trần gian. Trái lại, trời mới đất mới chính là quê hương trần thế này được đổi mới nhờ Thánh Thần của Đức Kitô Phục sinh. Bởi đó chúng ta không nhìn lên trời, mà cần phải thiết tha hơn ai hết với sứ vụ Chúa đã trao ban, đó là đổi mới thế gian, xây dựng nước Chúa, kiến tạo một trời mới đất mới từ chính cái nguyên liệu là thế giới, là xã hội chúng ta đang sống. Hay nói một cách khác đó là nhờ việc xây dựng xã hội này mỗi ngày một tốt đẹp hơn, bằng những hành động bác ái yêu thương, nhờ đó chính bản thân chúng ta sẽ đạt tới quê hương hạnh phúc nước trời.

 
 

LênTrời-136: Công giáo

Đoạn cuối Phúc Âm thánh Maccô trình bày một phương diện của công cuộc truyền giáo vào cuối: LênTrời-136

Đoạn cuối Phúc Âm thánh Maccô trình bày một phương diện của công cuộc truyền giáo vào cuối thế kỷ thứ nhất. Tác giả tóm kết vào mấy câu, chớ không phải một bài tường thuật, những gì xây dựng nên đời sống của Giáo Hội: sứ vụ các Tông đồ. Nhờ một bản văn tóm tắt mà Lễ Thăng Thiên được nói đến ở đây, sau khi tác giả đã nhắc lại một lần hiện ra của Chúa Giêsu đã không “được cất lên Trời” vào chiều ngày Phục Sinh. Trước khi Chúa biến hẳn đi về thể xác truớc mắt các môn đệ, Chúa còn hiện ra nhiều lần với họ và ngỏ lời cùng họ. Điều mà thánh sử Marcô nói trong Phúc Âm “sau khi đã ngỏ lời cùng họ” kéo dài qua nhiều tuần lễ.
Điểm ghi nhận: “bên hữu Thiên Chúa” có nghĩa là sau khi về Trời, Chúa Giêsu trở về địa vị Thiên Chúa và Người có những đặc quyền của Thiên Chúa. Từ nay, Người trao cho Giáo Hội của Người sứ mệnh phổ biến sứ điệp cứu rỗi của Người trên khắp thế giới. Sứ mệnh trao phó cho các môn đệ ấy có gì đặc biệt?
1) Về tính cách phổ quát của sứ mệnh: Các con hãy đi khắp thế gian, công bố Tin Mừng cho hết mọi dân tộc. Tính cách phổ quát ấy tập hợp tất cả nhân loại vào ơn Cứu chuộc của Đức Kitô. Người ta nhận ra ở đây, một trong các dấu hiệu của tính cách Kitô giáo đích thật. Một người Kitô hữu đích thật bao giờ cũng “phổ quát” “công giáo”. Tính cách phổ quát hay là tính cách công giáo ấy không chỉ bao hàm vấn đề địa dư, bởi lẽ là hết mọi dân tộc của mọi nước đều thuộc thẩm quyền của Phúc Âm. Ở thời đại chúng ta, tính cách đó còn bao gồm –và ở đây là điều đáng nhấn mạnh- tinh thần Kitô hữu. Những người công giáo tập hợp thành những cộng đoàn nhỏ, không ý thức được sự nguy hiểm rằng họ có thể trở thành những nhóm nhỏ mang não trạng khép kín, hầu như là óc phe phái, loại ra ngoài Đức Ái của mình phần này, hay phần nọ của thế giới, giai cấp này hay giai cấp nọ, chế độ này hay chế độ kia của xã hội. Nhưng hết thảy mọi người của mọi văn hoá, mọi chế độ đều có quyền biết đến Phúc Âm. Giáo Hội phải đạt tới họ hết thảy. Một công cuộc truyền giáo mạo nhận, tự phong toả mình vào tính chất gây gỗ đối với chế độ này hay chế độ kia bị coi là dễ ghét, đương nhiên sẽ mất hết tính cách công giáo và chân thật. Người Tông đồ của Đức Kitô tìm cách tới được hết mọi người ở khắp nơi và yêu họ ở mọi chốn. Xuyên qua mọi chế độ xã hội dầu là có tính chất áp bức ý thức hệ hay áp bức kinh tế, người Tông đồ cũng phải tìm phương khai thông tới tự do, để con người có thể vươn tới sự tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô Cứu thế.
2) Ai tin và chịu Phép Rửa, sẽ được cứu rỗi. Điều này cho thấy đối tượng tranh thủ của sức mạnh Tông đồ chính là đức tin. Nhưng đức tin nào đây? Có phải là sự kết hợp với một thứ nhân bản Phúc Âm mù mờ, trong đó lòng đam mê đức công chính lẫn lộn dễ dang với các đam mê phe phái –thiếu tình yêu đích thật? Không: Đây phải là đức tin vào Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa. Đấng Cứu Thế. Chỉ có một đức tin cứu rỗi. Dầu người ta nhắm tới việc cứu vớt con người hay cứu vớt xã hội, không gì có thể đạt tới con người trong mọi kích thước của số mệnh nó ngoại trừ một niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Ai tin vào Đức Giêsu thì ngay từ bây giờ, đi vào con đường cứu độ cho tâm trí mình bằng sự thật, con đường cứu độ cho ý chí mình nhờ Thánh Linh, con đường cứu độ cho tâm hồn mình bằng sự thanh tẩy của tình yêu. Người đó cũng đi vào con đường cứu rỗi vượt qua cuộc sống tạm đời này. Đức tin vào Chúa Giêsu Kitô mang lại một ý nghĩa cho đời sống của con người.

 
 

LênTrời-137: Nơi Chúa hẹn gặp ta

Là con người sống trong không gian và thời gian, chúng ta thường suy nghĩ và tưởng tượng theo: LênTrời-137

Là con người sống trong không gian và thời gian, chúng ta thường suy nghĩ và tưởng tượng theo chiều kích của không gian và thời gian. Vì thế, khi Kinh Thánh nói “Chúa Giêsu lên trời” chúng ta cũng dễ hình dung Chúa Giêsu như một “phi hành gia” hoặc như “người bay” tự động cất bổng mình lên trời, để rồi không biết dừng lại ở hành tinh nào khi ra ngoài quỹ đạo của trái đất? Vậy thì sau khi sống lại 40 ngày, Chúa Giêsu đi về phương trời nào? Các phi hành gia đầu tiên vào vũ trụ cho biết họ chẳng thấy trời, cũng chẳng thấy Thiên Chúa!
Thời Trung cổ, có hai tu sĩ tình cờ đọc thấy trong một cuốn sách cổ chép rằng: ở tận cùng trái đất sẽ có một nơi mà trời đất gặp nhau. Họ quyết định ra đi tìm cho bằng được điểm gặp nhau ấy và thề quyết sẽ không trở về nhà nếu không tìm ra nơi ấy, vì họ đã đọc được trong quyển sách cổ rằng tại điểm giao nhau giữa trời và đất, một cánh cửa sẽ mở ra và họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa tỏ tường. Họ vượt thác băng rừng, không quản ngại hy sinh. Cuối cùng thì họ cũng đứng trước giao điểm ấy. Với tất cả xúc động, họ đưa tay gõ vào cánh cửa hẹn hò, cánh cửa mở ra và họ bỡ ngỡ nhận ra đó chính là căn phòng của mình. Họ chợt hiểu rằng nơi gặp gỡ giữa trời và đất, nơi hẹn hò giữa Thiên Chúa và con người không gì khác hơn là chính cuộc sống hằng ngày của họ.
Chúa Giêsu “được rước lên trời”: đó là một lối nói của Kinh Thánh nhằm diễn tả việc Chúa Phục Sinh từ giã trần gian để về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài từ Cha mà đến và nay trở về với Cha. “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã-từ-trời xuống” (Ga 3,13). Câu chuyện Chúa lên trời được sách Công vụ Tông đồ kể lại ở bài đọc 1 hôm nay là một kiểu nói bình dân để diễn tả một mầu nhiệm của Chúa Kitô Phục Sinh: ngay sau khi được Phục Sinh, nhân tính của Chúa Giêsu đã được tôn vinh rồi, hay nói cách khác, đã được vào trong vinh quang. Tuy vậy vinh quang này vẫn còn bị che khuất. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các môn đệ dưới dáng dấp của một người bình thường. Lần hiện ra cuối cùng của Chúa Giêsu đánh dấu một bước chuyển mới. Từ này nhân tính của Ngài được đưa vào trong vinh quang Chúa Cha, được đặt ngồi bên hữu Chúa Cha.
Lễ Chúa Thăng Thiên không phải là một cuộc chia ly, tiễn đưa Chúa Giêsu vào một phương trời xa lạ và cắt đứt tương quan với Ngài. Chúa về trời là để có thể ở lại với mọi thời, mọi nơi. Điều duy nhất mất đi là chúng ta không còn có thể thấy, đụng chạm, nghe Ngài bằng giác quan tự nhiên. Nhưng chúng ta vẫn có thể gặp gỡ Ngài bằng giác quan siêu nhiên của lòng tin. Chúa Giêsu khẳng định: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Tin Mừng hôm nay cho thấy các tông đồ có cảm nghiệm rằng “Chúa đang làm việc với họ và xác nhận lời họ rao giảng bằng những dấu lạ kèm theo” (Mc 16,20). Như thế sự vắng mặt hữu hình của Chúa Giêsu không cản trở việc Ngài tiếp tục hiện diện và hoạt động bên họ. Kitô giáo sống còn chính là nhờ Chúa Giêsu đang sống và hoạt động nhờ Thánh Thần của Ngài. Được tôn vinh trên trời không phải là để làm sứ vụ giữa lòng thế giới. Ngài là Thượng Tế cầu bầu cho chúng ta trên trời (Dt 7,25) và không ngừng thu hút, nâng dậy cả nhân loại (Ga 12, 32).
Mừng lễ Chúa Thăng Thiên là mừng ngày Đức Giêsu được tôn vinh. Có một con người mang tên Giêsu nay được hưởng vinh quang và danh dự của Thiên Chúa. Lễ Thăng Thiên thực hiện giấc mơ lớn nhất của con người. Tất cả chúng ta đều hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa, bên Chúa Giêsu, người Anh Trưởng. Trời là đích điểm của đời Kitô hữu. Nhưng trời đã bắt đầu rồi từ khi chúng ta bước vào vũ trụ của Chúa Giêsu Kitô, qua đức tin và các bí tích. Nói cho cùng, Kitô hữu chỉ có một cuộc đời. Chẳng có cuộc đời nào khác ngoài cuộc đời hiện tại và sẽ gắn liền với ta mãi mãi. Trời không khiến ta tránh né bổn phận ở trần gian. Trời không phải là nơi đến của một người chỉ biết chăm lo cho ơn cứu độ của mình một cách ích kỷ. Trời cũng không chỉ là phần thưởng cho con người, là sự “bù lỗ” cho những khốn khổ ở đời, là cớ khiến chúng ta tránh né việc xây dựng trái đất hay phá đổ bất công.
Sứ thần của Chúa hôm nay đã quở trách các môn đệ: “Hỡi người Galilê! Sao cứ đứng đó mà nhìn lên trời?”. Các môn đệ đã hiểu ý. Các ông đã trở về với nhiệm vụ của mình, hoàn thành công việc dang dở của Chúa ở trần gian, làm chứng về tất cả những gì các ông đã được nghe, được thấy. “Các ông đã ra đi khắp nơi, rao giảng Tin Mừng cho mọi người; có Chúa cùng hoạt động với các ông, củng cố lời rao giảng bằng các phép lạ kèm theo” (Mc 16,20).
Rõ ràng, Chúa lên trời không làm cho các môn đệ lên trời, không làm cho các môn đệ tê liệt, không giải nghệ các ông, mà còn thúc giục các ông lập tức bắt tay vào việc xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian này và bảo đảm cho các ông thành công. Cũng vậy, đối với chúng ta ngày nay, Chúa lên trời nhắc chúng ta nhớ rằng: “Quê hương chúng ta ở trên trời… Anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời” (Pl 3,20; Cl 3,1). Nói thế không có nghĩa là chúng ta phải “xuất thế”, phải xa lánh trần gian. Trái lại, cần phải nổ lực dấn thân “vào đời”, “nhập cuộc”. Có Chúa cùng hoạt động với chúng ta để “mở một tuyến đường lên trời từ mặt đất này” bằng những công việc xây dựng Nước Trời ngày này qua ngày khác; loại trừ những khổ đau, tội lỗi, tạo cho mọi người được sống ấm no, hiệp nhất, yêu thương nhau, cho mọi người được sống xứng đáng phẩm giá con người. Đó là con đường lên trời của chúng ta.
Vui sướng biết bao: “Chúa vẫn ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài không bao giời rời bỏ chúng ta. Thật là ích lợi cho chúng ta khi Ngài khuất mắt chúng ta về phương diện thể lý để chúng ta khi gặp Ngài hiện diện ở khắp mọi nơi mọi lúc: trong kinh nguyện và hoạt động, trong bí tích và trong anh chị em. Đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, Chúa đến ở trong chúng ta, ban nguồn sinh lực giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nước Trời ở trần gian này, để một khi Nước Trời được hoàn thành Ngài sẽ trở lại trong vinh quang đón chúng ta lên trời về với Chúa Cha.

 
 

LênTrời-138: Chú giải của William Barclay

SỨ MẠNG CHO HỘI THÁNH 
 

Như chúng ta đã thấy trong phần nhập đề, sách Phúc Âm Marcô chấm dứt ở câu 8. Chúng ta chỉ: LênTrời-138

Như chúng ta đã thấy trong phần nhập đề, sách Phúc Âm Marcô chấm dứt ở câu 8. Chúng ta chỉ đọc đoạn này để xem nó khác với các phần khác của sách Phúc Âm như thế nào, vì nó không có trong các bản chép tay cổ nhất. Đây là một bản tóm tắt được thêm vào sau này, nhằm thay cho phần kết thúc Maccô không còn sống để viết hoặc vì đã bị thất lạc ít lâu sau đó.
Điều quan trọng cần ghi nhận là bức tranh về Hội Thánh vẽ ra cho chúng ta. Rõ ràng người viết đoạn kết thúc này tin rằng Chúa Giêsu đã uỷ thác cho Hội Thánh một số nhiệm vụ.
1/ Hội Thánh có nhiệm vụ rao giảng. Đó là bổn phận của Hội Thánh, như thế cũng có nghĩa là nhiệm vụ của mỗi người Kitô hữu là phải thuật chuyện Phúc Âm của Chúa Giêsu cho những người chưa hề được nghe nói đến. Nhiệm vụ của Kitô hữu là phải làm người công bố về Chúa Kitô cho mọi người đều biết.
2/ Hội Thánh có nhiệm vụ chữa bệnh. Đây là một công việc chúng ta vẫn được thấy đi thấy lại nhiều lần. Kitô giáo quan tâm đến cả thân xác lẫn linh hồn con người. Chúa Giêsu muốn đem cả sự mạnh khoẻ cho thân xác lẫn linh hồn con người.
3/ Hội Thánh có nguồn của quyền năng. Chúng ta không hiểu mọi sự theo nghĩa đen. Chúng ta không tin đúng nghĩa đen, Kitô hữu cầm được rắn độc trong tay và uống nhằm thuốc độc mà không bị tổn hại gì. Nhưng ẩn đàng sau phần ngôn ngữ gợi hình ở đây là niềm tin rằng Kitô hữu vốn đã được đổ đầy quyền năng để đối phó với đời sống, một khả năng thích ứng với đời sống mà những người khác không có và không thể nào có được.
4/ Hội Thánh khồng hề bị bỏ mặc một mình để thực hiện công tác ấy. Chúa Kitô luôn luôn hành động với Hội Thánh trong Hội Thánh, và qua Hội Thánh. Chúa vẫn ở trong Hội Thánh, và Ngài vẫn là Chúa quyền năng.
Như vậy, sách Phúc Âm này kết thúc với thông điệp là: Kitô hữu sống trong sự hiện diện và quyền năng của Đấng đã bị đóng đinh vào thập giá và đã sống lại.

 
 

LênTrời-139: Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux

LỜI KẾT THÚC (16,9-20). 
 

Những câu kết thúc Tin Mừng Maccô không phải là của chính tác giả. Trong nhiều thủ bản quan: LênTrời-139

Những câu kết thúc Tin Mừng Maccô không phải là của chính tác giả. Trong nhiều thủ bản quan trọng người ta không thấy có đoạn này. Ngoài ra, văn phong trừu tượng ở đây khác hẳn lối viết cụ thể và đầy màu sắc của Maccô. Do đó các nhà chuyên môn cho rằng đoạn này được “thêm” để xóa đi cảm giác hụt hẫng kết thúc với câu 16,8: các bà sợ hãi và bỏ chạy ra khỏi ngôi mộ trống.
Tuy nhiên, không phải đoạn này chẳng có giá trị gì: nó vẫn là Thánh Kinh được linh hứng. Cũng như ba Tin Mừng khác, nó thuật lại “những lần Chúa Giêsu hiện ra” trước tiên là với các phụ nữ, rồi đến các môn đệ, và cuối cùng là với nhóm các Tông đồ (x. Mt 28,9-20; Lc 24,13-49; Ga 20,11-29). Nhưng ở đây, tác giả soạn thảo đoạn kết này dưới hình thức một bản “tóm lược”, không nhiều chi tiết, chủ yếu dựa vào Luca và kế đó là Gioan. Trước hết, Chúa Giêsu hiện ra với riêng một phụ nữ nhiệt thành nhất trong “đám phụ nữ theo chân Ngài” (c.9). Lần hiện ra này với Maria Magđala được tường thuật chi tiết ở Gioan (Ga 20,11-18). Luca cũng nói bà này là người trung thành với Chúa Giêsu, như Gioan đã nhận định về bà Maria Magđala, truyền thống lại coi đó là kẻ bị “bảy quỷ dữ ám”, và là người phụ nữ có lòng hối cải. Nhưng ta cũng biết rằng Chúa Giêsu cũng trục xuất quỷ khỏi các bệnh nhân (ví dụ 3,10-11) Maria Magđala có thể không phải là một phụ nữ tội lỗi ghê gớm lắm đâu, mà là một bệnh nhân nguy kịch được Chúa Giêsu chữa lành…
Trong cả bốn Tin Mừng, các phụ nữ, chẳng hạn như Maria Magđala ở đây, là những người đầu tiên đã tin và rao giảng Tin Mừng, dù rằng thuở ấy họ không đóng một vai trò công khai nào cả (c. 10-11). Ta cần ghi nhận rằng đoạn Thánh Kinh này đã cho thấy được các môn đệ quả hết sức phiền muộn khi thấy Thầy mình đã chết đi. Họ chịu đựng cảnh tang tóc và không hề tin rằng Thầy Phục Sinh. Trái lại, Maccô nhấn mạnh là các bạn hữu Chúa Giêsu là những kẻ rất cứng lòng tin, họ chẳng hề tin vào lời các phụ nữ, những người đã thấy rõ ràng Chúa đang sống (Lc 24,9-11). Việc Chúa Giêsu hiện ra cách riêng với hai môn đệ cũng được Maccô đề cập tới (c.12). Đó chính là cuộc gặp gỡ kỳ diệu với “hai lữ khách trên đường Emmau” theo như Luca kể lại (Lc 24,13-35). Những tiếng “dưới một hình dạng khác” chỉ về chính Chúa Giêsu “mà họ không nhận ra được” khi Ngài đồng hành với Cleopas và một người bạn khác (Lc 24,15-16). Câu tiếp theo (c.13) là một lời lên án các ông Tông đồ cứng lòng tin.
Sau khi đã thất bại trong hai lần cố tỏ mình ra cho các môn đệ, cuối cùng liệu Chúa Giêsu có gặp được đức tin nơi những kẻ hết sức gần gũi với mình không? Tệ hại hơn thì có (x.14)! Lần này Chúa Giêsu hiện ra thẳng với nhóm Mười Hai trừ Giuđa. Theo các Tin Mừng thì chính nhóm các Tông đồ sẽ trở thành chứng nhân đích thực cho Chúa Phục Sinh. Vậy mà Chúa Giêsu lại một lần nữa lên tiếng quở trách các ông cứng lòng tin và chai đá. Về việc này sách Tin Mừng nào cũng đều có ghi lại cả: phản ứng đầu tiên của các ông là nghi ngờ, cực kỳ nghi hoặc (x. Mt 28,17’ Lc 24,37-38; Ga 20,25-27). Ta chớ quên thực tế lịch sử đã chắc chắn xảy ra đúng như thế! Sau khi đã quở trách những chứng nhân tương lai, tác giả Maccô không cho biết thêm gì về những dấu chỉ Chúa Giêsu cho họ xem hầu họ có thể nhận ra Ngài cả (x. các dấu tích thương tổn trong Lc 24,39; Ga 20,20). Rồi Ngài sai họ đi rao giảng. Và đó chính là mục đích của những lần Chúa Giêsu hiện ra. Quy mô hoàn vũ của sứ mạng đó thật quá hiển nhiên (c.15). Ở đây ta có thể đánh giá được ý thức lạ thường của Giáo Hội sơ khai hồi bấy giờ. Giáo Hội nhận thức được rằng Tin Mừng phải được rao giảng cho hết mọi người, khắp cả thiên hạ.
Rồi Chúa Giêsu nói thêm rằng đức tin của người chịu thanh tẩy sẽ cứu rỗi được họ, ai từ chối tin thì sẽ bị kết án (c.16). Qua câu này ta thấy biểu lộ một quan niệm rất sống động nơi Giáo Hội vừa mới khai sinh. Sự công bố Tin Mừng nhất thiết phải đi kèm với việc trở lại đạo: phải tin. Phép rửa đến sau như thể là một đăng quang tất yếu cho kẻ có được đức tin. Đức tin quy tụ các tín hữu vào cộng đoàn cứu rỗi (x. Cv 2,38; Mt 28,19). Không được tách lòng tin ra khỏi phép rửa –và ngược lại- đồng thời cũng không được tách họ ra khỏi con đường cứu độ họ đã quyết tâm dấn bước. Kẻ nào từ chối đức tin –với ý thức tự do- khi đã biết đến Tin Mừng, kẻ ấy tự kết án chính mình vậy. Có lẽ tác giả muốn nói về thảm trạng của dân Chúa đã chọn, dân đã kịch liệt chối bỏ Chúa Giêsu chăng? Cuối cùng là những dấu chỉ đi kèm người tín hữu hầu họ chu toàn được sứ mạng lãnh nhận.
Trong thuở còn sinh thời, Chúa Giêsu đã làm nhiều dấu chỉ về sứ điệp được tin nhận. Trong Công Vụ Tông đồ, ta thấy các Tông đồ đã làm nhiều phép lạ để chứng thực lời rao giảng của họ (x. Philipphê: Cv 8,4-7; Phêrô: Cv 9,32-43 v.v…). Ở đây ta thấy có liệt kê các dấu chỉ, ít nhiều “phi thường”. Đuổi trừ ma quỷ kiểu như trong y học thời cổ đại (Cv 5,12-16; 16,16-18), “nói” tiếng lạ đôi khi là đặc sủng của Thánh Thần (Cv 2,4-13; 10,44-46; 9,10-17), đặt tay trên bệnh nhân để chữa lành (Cv 4,30; 9,10-17), bắt rắn trong tay mà vẫn bình an vô sự như chuyện kể về Phaolô (Cv 28,3-6). Toàn bộ các dấu chỉ này, một số rất xa xưa (chứng tỏ thời Chúa Giêsu ảnh hưởng văn hóa Đông phương rất thịnh hành), thảy đều minh chứng cho uy quyền tuyệt đối của Đấng Phục Sinh trên các quyền lực sự Ác và sự Chết. Đây chính là sứ điệp của Tin Mừng, sứ điệp mang lại một sức mạnh cứu rỗi.
Sau bài tường thuật cuối cùng về những lần Chúa Giêsu hiện ra với mười một Tông đồ, sai các ông đi rao giảng và hứa ban cho các ông những dấu chỉ hỗ trợ, tác giả kết thúc bằng một loạt những hình ảnh hùng hồn (c.19). Với một câu văn cô đọng, tác giả đã đặt độc giả vào một tình trạng mới mẻ của Chúa Kitô Phục Sinh. Ngài “được rước lên trời”. Đó là Thăng Thiên, một lối diễn tả có tính Kinh Thánh, hình tượng hóa việc Chúa Giêsu Phục Sinh từ giã cõi trần để về cùng Thiên Chúa trên chốn trời cao. Việc các người công chính và lành thánh được đưa về trời cao, sau khi họ đã trải qua cuộc sống trần thế này cùng với Thiên Chúa, là một chủ đề thường gặp trong truyền thống dân Do Thái (x. Hônôc: St 5,24; Êlia: 2V 2,9-18). Nhưng mục đích đến của Chúa Giêsu khi về trời lại đặc biệt hơn. Văn bản ghi rõ: Ngài “ngự bên hữu Thiên Chúa”. Nghĩa là Chúa Giêsu hoàn toàn trở nên Đấng Mêsia, và Đức Chúa do việc Ngài sống lại. Thiên Chúa đã ban cho Ngài thông phần đầy đủ vào quyền năng tối thượng của Đấng Xét xử và Cứu độ của hết thảy mọi người trong thời cuối cùng (x. Maccô 12,35-37: phác họa và Cv 2,32-36: triển khai).
Ở đây ta không thấy nói gì đến ơn cần thiết ban xuống trong Lễ Ngũ Tuần (ngược với Cv 2,32-33; Ga 20,22). Nhưng dù sao thì ơn ban “Mêsia” cốt yếu của Chúa Kitô Phục Sinh cũng đã khiến các môn đệ dấn thân hoàn toàn vào niềm tin Phục Sinh. Chính Thánh Thần mà họ sắp lãnh nhận mới giải thích trọn vẹn được việc thi hành chương trình rao giảng được đề cập đến trong câu cuối cùng (c.20). Mười một Tông đồ sắp rao giảng Tin Mừng Chúa Phục Sinh. Và lời rao giảng (đến từ Thiên Chúa và được Thánh Thần linh hứng) sẽ được đi kèm với các dấu chỉ để mọi người tin).
Một lần chót, chúng ta đã thấy rõ Giáo Hội thuở mới khai sinh đã hết sức ý thức được sứ mạng rao giảng cho muôn dân trên khắp cả thế giới, loan báo sứ điệp hạnh phúc của Đấng Mêsia chịu đóng đinh nay đã sống lại và khai mở nguồn ơn cứu thoát cho hết mọi người. Lời cuối cùng nhấn mạnh đến sự hiện diện sống động và hết sức hữu hiệu của Chúa Giêsu trong hoạt động truyền giáo. Chính Đấng Phục Sinh cùng “làm việc” với các tín hữu. Tin Mừng có sức cứu rỗi hết thảy những ai làm chứng cho Tin Mừng, và tiếp nhận Tin Mừng trong đức tin (xem gương Phaolô trong thư gởi giáo hữu Rôma 1,1-7).

 
 

LênTrời-140: Chú giải của Noel Quesson

Những câu từ 9 đến 20 của chương cuối cùng Tin Mừng theo Thánh Maccô không có trong những: LênTrời-140

Những câu từ 9 đến 20 của chương cuối cùng Tin Mừng theo Thánh Maccô không có trong những văn bản cổ xưa nhất vì có nhiều Giáo phụ trong Giáo Hội không biết đến những câu này. Ý kiến thông thường là những câu này đã được thêm vào do một tác giả khác không phải là Thánh Maccô (cách hành văn cũng có khác). Dầu vậy, đoạn cuối này vẫn “Hợp luật Giáo Hội” và là một phần bản văn chính thức của Thánh Kinh đã được linh ứng. Nên đó cũng là “Lời Chúa” như tất cả Tin Mừng. Đàng khác chúng ta nhận thấy nhũng câu này không có gì “mới lạ”. Tác giả vô danh đã tóm lại đoạn cuối của những bản Tin Mừng khác. Trước tiên đoạn này có giá trị thần học. Chúng ta sẽ lưu ý đến điều mà tác giả nhấn mạnh trong đoạn này: “Đức Giêsu phục sinh nói với 11 tông đồ: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho tất cả loài người”.
 Nếu chúng ta hiếu kỳ đọc câu liền trước câu này, chúng ta sẽ thấy: Đức Giêsu hiện ra cho 11 môn đệ thấy, Người trách sự cứng lòng của các ông vì các ông đã không tin theo những người đã trông thấy Chúa sống lại (Mc 16,14). Như thế chúng ta đột ngột đi từ chỗ Chúa Giêsu trách cứ nặng nề sự không tin của các môn đệ đến việc Người sai các môn đệ đi rao giảng khắp thế giới. Dĩ nhiên là tác giả đã tóm lược lại qua những trình thuật khác. Chúng ta biết rằng, ban đầu các môn đệ đã “không tin”. Nhưng trình thuật tóm tắt này nhắc nhở trong lòng chúng ta rằng: Chúng ta không nên trì trệ trong những hoài nghi và do dự Đức Giêsu sống lại đã thúc đẩy “Các môn đệ”. Không đếm xỉa đến việc họ không tin, Đức Giêsu chủ động, đặt niềm tin cậy nơi các ông còn đang bất toàn -Hai động từ chia vào mệnh lệnh cách: “Anh em hãy đi” và “Hãy rao giảng”, hai cách nói này diễn tả một động lực mãnh liệt biết bao!
 Lạy Chúa Giêsu, Chúa không đợi chúng con –Giáo Hội Chúa cũng chưa hoàn hảo, những môn đệ cũng không hoàn hảo, và con cũng không hoàn hảo nhưng đó không phải là nguyên cớ để chúng con không làm gì cả.
“Khắp thế giới” - “Tất cả loài người”.
 Những dự án, chương trình của chúng ta nhỏ nhen và tầm thường biết bao. Đức Giêsu mời gọi các bạn của Người loại trừ thói quen nhỏ nhen, để đến gặp gỡ mọi người. Có sứ vụ, thì phải có khởi hành, phải ra khỏi chính mình, ra khỏi thế giới tinh thần nhỏ bé của mình. Đối với các môn đệ, họ phải ra khỏi môi trường Do Thái để đi về phía dân ngoại. Đối với chúng ta cần phải quan tâm đến những nền văn hóa mới, chấp nhận những tư tưởng hiện đại, lắng nghe những ước vọng tân thời, ”rời bỏ sự thoải mái trí thức của những tư tưởng sẵn có”, để làm cho những người không suy nghĩ như chúng ta hiểu được chúng ta.
 Nếu chúng ta trung thành với chiều hướng phổ quát này, chúng ta sẽ thích thú để thấy những nơi vừa mới được Tin Mừng hoá đã có những ngôn ngữ mới để loan báo tin mừng. Chúng ta sẽ cầu nguyện sao cho “những lục địa nhân loại” mới, những tâm thức mới đến được Giáo Hội, dù có phải xáo trộn một chút những gì đã có sẵn của chúng ta. Tin mừng dành cho “toàn thế giới” và cho “toàn nhân loại”.
Anh em hãy loan báo Tin Mừng.
Từ Hy Lạp ở đây là “Kèrussein”, nghĩa đen là “la lên”. Tin Mừng trước tiên là một tiếng “kêu”. Chúng ta tìm gặp lại được chiều hướng này của những Kitô hữu đầu tiên trong đức tin –Chúng ta đã quá trí thức hoá, chương trình hoá, tổ chức hoá việc rao giảng Tin Mừng. Đức Giêsu đã nói: ‘Hãy kêu to’ Tin mừng cho toàn thể nhân loại. Đức Giêsu không yêu cầu chúng ta thuyết phục “hay” chứng minh – Nhưng đơn giản chỉ làm chứng tá với sự vui mừng và sức mạnh của đức tin chúng ta. Than ôi có những người Kitô hữu không muốn làm chứng nhân như thế. Họ cứ rên siết, lên án, chỉ trích, đoán xét – Lạy Chúa xin cho chúng con sự vui mừng có sức lôi cuốn mà Chúa đòi hỏi nơi chúng con – ước gì gương mặt chúng con tỏ lộ cho anh em biết sự vui mừng đến từ Chúa. Nếu đối với chúng con, đức tin tôn giáo là một điều buồn tẻ, thì tốt hơn là chúng con nên im lặng về vấn đề này. Nếu đó là một “Tin mừng”, “Tin tốt” thì xin sự mừng tốt đó phát triển ra từ da thịt chúng con, trên môi miệng chúng con thành ra một tiếng kêu hân hoan.
Ai tin và chịu phép rửa sẽ đượ cứu độ, còn ai không tin sẽ bị kết án.
 Nếu Tin Mừng phải được rao giảng lớn tiếng cho mọi người, thì con người cũng có thể chấp nhận hay từ chối một cách tự do. Việc rao giảng Tin Mừng thể hiện một sự “xét xử” gần như là “phiên toà xử Đức Giêsu”. Một số đáp lại bằng đức tin, một số khác bằng “sự không tin” – Dĩ nhiên, không thể đẩy xuống địa ngục vô số con người thiện chí nhưng không thể tin vào Tin Mừng. Cũng không thể tưởng tượng một sự can thiệp của Chúa để trừng phạt. Toàn bộ Thánh Kinh chứng minh rằng Chúa không kết án ai, nhưng cứu rỗi tất cả mọi người. Không bao giờ đặt vấn đề: ”Chúa có tha tội cho tôi không?”. Mà là “Tôi có chấp nhận sự tha thứ mà Chúa đã ban cho từ trước hay không?”. Nói cách khác, kẻ nào biết rõ mà lại cố tình chối bỏ Tin Mừng, thì không phải Chúa kết án người đó, mà chính người đó tự kết án mình.
Làm sao hiểu được điều này?
Hiểu đơn giản như sau: Ngoài Tin Mừng, ngoài Chúa Giêsu Phục sinh và Hằng sống, không có sự cứu rỗi, không có câu giải đáp cho số phận con người hay chết. Ngoài Đức Giêsu, con người thực sự chỉ hư mất, số kiếp của con người ngắn ngủi. Chỉ có Đức Giêsu mới cứu được con người ra khỏi số kiếp của nó. Chỉ có Đức Giêsu mới cứu được con người khỏi phải “chỉ là một con người” mà thôi. ‘Kẻ nào tin? kẻ nào không tin?’. Đây là phần thưởng đặc biệt cho sự tự do của chúng ta. Nhưng có một điều chắc chắn là: Không ai bị bắt buộc phải sống đời đời với Đức Giêsu nếu người đó không muốn -Đức Giêsu tôn trọng chúng ta. Ngài không ép buộc chúng ta.
Những ai có lòng tin, sẽ làm được các dấu lạ này: “Nhân danh Thầy họ sẽ trừ được ma quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ có cầm phải rắn hay uống nhầm thuốc độc thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh hoạn yếu đau thì những người này sẽ được mạnh khoẻ”.
 Con người thời nay không thể đặt “câu hỏi” về ma quỷ, rắn, bệnh tật và những chất độc khác mà con người tin Chúa được miễn nhiễm. Những “dấu lạ” được hứa này chỉ là những giá trị điển hình, phù hợp với thời đại mà Kitô giáo được nảy sinh giữa cộng đồng dân ngoại, trong đó những “Thầy phép” (phù thuỷ) là những ông vua.
Độc giả ngày nay phải hiểu những “dấu lạ” này theo nghĩa tượng trưng. Điều vẫn đúng là: Người “tín hữu” cùng với Đức Giêsu sống lại, phải lao vào trận chiến chống lại “tất cả những lực lượng thù địch, nô lệ hoá và làm mất phẩm giá con người”, tất cả những gì “đầu độc” nhân loại. Ngày nay có những “dấu lạ” tương ứng với những dấu lạđược tác giả Tin Mừng kể ra trên đây đối với thời của ông. Chúng ta hãy tự hỏi xem ngày nay cái gì có thể là “dấu lạ” cho mình thời bây giờ. Chúng ta đừng coi thường “năng khiếu sinh ngữ” vì ngôn ngữ là một phương tiện truyền thông tuyệt hảo, và nó là một “ân ban của Chúa Thánh Thần”. Lạy Chúa xin cho mọi Kitô hữu “khả năng một ngôn ngữ mới” để có thể làm cho Tin Mừng đi vào trong những “tâm hồn mới lạ” (chưa đón nhận Chúa).
 Còn về khả năng “săn sóc và chữa bệnh cho người đau yếu” thì chúng ta biết người anh em chúng ta cần đến năng khiếu này như thế nào. Tin Mừng là một sức mạnh cứu rỗi, một nguồn hạnh phúc mà Kitô hữu có trong tay. Vậy thì chúng ta chớ khoanh tay không làm gì cả, chúng ta phải biết xây dựng chúng.
Nói xong Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.
 Tác giả vô danh chỉ có nhắc lại mà không dàn cảnh cụ thể những gì mà thánh Luca đã kể (Cv 1,9). Chúng ta nên lưu ý rằng, trong hai cách nói này, một cách có thể có giá trị lịch sử đối với con người chúng ta, (sự biến mất được nhìn thấy rõ ràng của Đức Giêsu), trong khi cách nói kia hoàn toàn căn cứ vào đức tin (việc bay lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa). Chúng ta coi chừng đừng “vật chất hoá” cách diễn tả này: Thiên Chúa không có “bên phải” hay “bên trái” gì cả, Người cũng không “ở trên” trời hay “ở dưới” đất. Trong tâm thức thời đó, hình ảnh bầu trời xanh gợi lên thế giới thần thánh và người ta cũng đã có nói về một vài vị hoàng đế La Mã nào đó đã “lên trời”. Đối với Đức Giêsu, sự Thăng Thiên hoàn toàn khác: Người đạt đến Vương quyền trên toàn vũ trụ, và để diễn tả điều này, người ta dùng đến ngôn ngữ Thánh Kinh trong Thánh vịnh 110,1: “Lời truyền dạy của Thiên Chúa cho Chúa tôi: Hãy ngự bên phải của Ta”. Những từ ngữ gợi hình này nói lên một ý nghĩa thần học về thực tại Đức Kitô Phục sinh: Chúa vinh quang, một thực tại mà ta không nắm bắt được bằng giác quan hay lý trí con người, một thực tại mà ta chỉ có thể đạt đến bằng đức tin.
Còn các tông đồ thì đi rao giảng khắp nơi.
Dường như các ông không để chậm trễ một giây nào. Các ông lên đường ngay lập tức. Đây cũng là một “dấu lạ”. Ngôi mộ trống … “Họ ra đi”… “họ lên đường “…
Chuá cộng tác với họ và dùng dấu lạ điềm thiêng mà xác nhận lời họ giảng.
 Đức Giêsu không còn “ở trong mồ” nữa. Người đồng thời “ngự bên hữu Thiên Chúa” và “hoạt động với các môn đệ”. Đây là dấu lạ mà chúng ta không có từ ngữ nào để diễn tả sự phong phú của mầu nhiệm Thăng Thiên. Những từ ngữ đúng nhất có lẽ lại là “một hiện diện ẩn khuất”, một hiện diện sinh động đang “hành động” dưới hình thức của một lời nói.

 
 

LênTrời-141: Chú giải của Fiches Dominicales

ĐỨC GIÊSU HIỆN RA LẦN CUỐI VÀ SAI CÁC MÔN ĐỆ ĐI
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1) Trong đoạn kết thứ hai của Tin Mừng Maccô 

 

Đoạn kết của Tin Mừng Maccô, dùng trong lễ Thăng Thiên năm B này, thực ra là đoạn kết thứ: LênTrời-141

Đoạn kết của Tin Mừng Maccô, dùng trong lễ Thăng Thiên năm B này, thực ra là đoạn kết thứ hai của Tin Mừng này. Thực vậy thoạt tiên -như các bản chép tay cho thấy- Tin Mừng Maccô kết thúc ở đoạn các phụ nữ đi viếng mộ Chúa và các bà im lặng vì sợ hãi: "Các bà không hé cho ai biết điều gì, vì các bà sợ". Hiển hiện những hàng trên đã có từ rất lâu (đã được thánh Irênê, Giám mục Lyon vào cuối thế kỷ thứ hai công nhận thuộc về Tin Mừng thánh Maccô) và đã được Giáo Hội nhận vào quy điển, nghĩa là thuộc về Kinh Thánh được linh ứng.
2 ) Việc sai đi trong một sứ mạng phổ quát
Đoạn kết này cắt ngang những truyền thống mà ta thấy ở nơi khác, trong các Tin Mừng khác. Đức Giêsu hiện ra với 11 Tông đồ "khi họ đang ăn”. Sau khi đã khiển trách những kẻ đã thấy Người sống lại" mà vẫn không tin (14), Người sai họ lên đường sứ mạng.
Đó là một sứ mạng phổ quát: "Hãy đi khắp thế giới. Hãy rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật” J. Hervieux nhận xét: "Ta có thể lường được ý thức của Giáo Hội sơ khai. Giáo Hội sơ khai biết mình được kêu gọi đem Tin Mừng cho hết mọi người, hết mọi tạo vật ("Tin Mừng theo thánh Maccô", Centurion, trang 238).
Đó là một sứ mạng có "các dấu lạ đi kèm”: Những dấu lạ đó đoạn kết thứ hai của Maccô kể ra và ta thấy minh hoạ trong sách Công vụ các Tông đồ: trừ quỉ nhân danh Đức Giêsu (Cv 5,12-16; 8,9; 16,16-18); nói tiếng lạ (một đoàn sủng đôi khi đi tới ơn Chúa Thánh Thần (Cv 2,4-13; 10, 44-46); đặt tay chữa bệnh (Cv 4, 301 9,10-17); cầm rắn mà không sợ nguy hiểm (Cv 28,3-6). Đối với một vài người thì những dấu chỉ cổ điển ấy muốn diễn tả uy quyền tất định của Đấng Phục Sinh thắng những thế lực sự ác và sự Chết. L.Monloubou viết: '(Xuyên qua bảng liệt kê bằng thứ ngôn ngữ kỳ diệu của thời ấy, ta thấy xuất hiện niềm xác tín rằng sự phục sinh của Đức Giêsu đem đến một chất men làm đổi mới con người: một ‘tạo dựng mới’ đã bắt đầu nhờ cuộc phục sinh của Đức Giêsu. Mới, vì mọi tâm màn che dấu chân lý về Thiên Chúa đã bị xé rách. Mới, vì mọi rào cản chia cách con người đã bị loại bỏ. Và mới, vì mọi sự ác dày vò con người trong quá khứ nay đã bị khuất phục: Sự thể hiện chiến thắng này không toàn vẹn; trần gian luôn phô bày bộ mặt của một thế giới trần trụi, nhưng đã có những dấu chỉ cho thấy cuộc chiến thắng sẽ hoàn tất ("Tin Mừng theo thánh Maccô, Salvator, trang 166).
Những dấu chỉ ấy có thể thay đổi, tuỳ theo khung cảnh văn hoá. Nhưng điều cốt lõi vẫn luôn luôn, như trong mọi dấu chỉ Đức Giêsu đã thực hiện, là mặc khải một chút về tình yêu của Chúa Cha mà sứ điệp đã loan báo.
3) Và loan báo sự hiện diện huyền nhiệm của Đấng Phục sinh:
Bức tranh Chúa Thăng Thiên chỉ được chấm phá bằng vài nét như kết thúc cuộc mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu. Người được "cất lên trời" giống như Êlia trong sách Các Vua 2,11; Người ngự "bên hữu Chúa Cha”, Người được tôn phong là Kitô và là Chúa, ứng nghiệm lời Thánh vịnh 110,1 nói về Người: “Đức Chúa đã nói với Chúa tôi: Hãy ngồi bên hữu Ta”. Nhưng việc thăng thiên không mở ra một giai đoạn vắng mặt của Đức Giêsu, mà đánh dấu một "khởi điểm”, khởi đầu một hiện diện mới cho các môn đệ, một hiện diện tích cực đem lại vô vàn hiệu quả cho hoạt động truyền giáo của họ. Đoạn kết thứ hai của Maccô kết luận: "Có Chúa cùng hoạt động với các ông và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”.



BÀI ĐỌC THÊM.
1) "Hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật"
(G. Bessière, trong "Thiên Chúa rất gần, năm B", DDB, tr. 68-69).
Bản văn không đề cao hiện tượng kỳ diệu của việc lên trời, nhưng nhấn mạnh sứ mệnh của các tông đồ. Các ngài mang đi một tin bất ngờ, một tin mừng cho "mọi tạo vật'? Đó là ơn cứu độ, ơn giải phóng, ơn chữa lành, đương đầu với mọi nguy cơ để đổi thay thế giới, cho nhân loại mới ấy, nhân loại ngồi bên hữu Thiên Chúa ấy được hiện hữu và lớn mạnh. Lịch sử đâu có thể nhờ một chiếc đũa thần mà biến đổi trong tích tắc mà phải qua hằng bao thế kỷ, hằng bao thiên niên kỷ, như một nắm men âm thầm nhưng phải luôn luôn khơi dậy Tin Mừng này, để Thánh Linh Thiên Chúa tái tạo bộ mặt địa cầu.
Suốt dòng thời gian, các môn đệ sẽ là những "chứng nhân hăng say": “cho đến tận cùng trái đất", nhờ sức mạnh Chúa Thánh Thần. Đức Giêsu ra đi, nhưng Người không vắng mặt, trái lại dường như cuộc ra đi này còn làm cho Người hiện diện nhiều hơn qua tất cả những người tiếp tục đón tiếp, sáng tạo và mưu tìm một thế giới mới. Họ cũng sẽ là những kẻ làm phiền vì tin rằng nhân loại có thể tiến xa hơn trên con đường công bình, tha thứ và yêu thương. Những con người mơ về một nhân loại thần linh này (humanité divine) sẽ luôn luôn phản kháng những gì là hỗn loạn, tồi tệ và chai lì trong đời sống cá nhân cũng như tập thể. Họ cũng sẽ trở thành mục tiêu tấn công của những chủ nhân sống một đời sống trì trệ, những tay quản lý ù lỳ và phó mặc cho số phận, những kẻ tôn thờ tiền bạc. Nhưng ngay cả trong cơn bắt bớ, những con người thân cận với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ấy, những người đã được rửa tội trong trong tai ấy, sẽ nghe thấy trong bản thân một tiếng nói bí ẩn thầm thì: “Thầy ở với các con cho đến ngày tận thế".
2) "Sự hiện diện của Đấng Phục Sinh"
(Đức Cha L. Daloz, trong "Vậy người là ai?", DDB. tr. 109-1 10).
Đức Giêsu chứng minh sự hiện diện phục sinh của Người. Đoạn kết của Tin Mừng Maccô kể lại tóm tắt một vài tình huống chứng minh cho việc này. Đó là 3 tình huống khác nhau: Đức Giêsu ‘xuất hiện', "tỏ mình ra" cho Maria Madalena, cho hai môn đệ, cho mười một Tông đồ. Những chứng nhân ấy sẽ đi loan truyền điều họ đã thấy. Người ta không tin các ngài; trong lần sai đi cuối cùng này cũng thấy nói đến "ai tin" và "ai không tin”. Đức Giêsu phải "áp đặt" sự hiện diện của Người vì biến cố phục sinh quả thực là bất ngờ. Người khiển trách sự chậm tin và sự cứng lòng của họ, không tin lời những người đã thấy người sống lại”. Đoạn kết Tin Mừng này thật ngắn ngủi, vắn tắt như một bài điểm sách. Biến cố Phục sinh đâu cần chi đến những lời lẽ dao to búa lớn, những bài diễn văn dài dòng. Biến cố có đó để mời gọi đức tin. Biến cố tự nó đã có sức thuyết phục, có tính cách quyết định và đòi hỏi một quyết tâm. Biến cố quá mãnh liệt đã mở ra một tương lai và một chân trời bao la cho: "Toàn thế giới" và mọi tạo vật? Tin Mừng đầy ắp một sức mạnh phục sinh, có khả năng xuyên thấu bề dày tăm tối của thế giới, đem đến cho nó một chất men mới. Đó là ý nghĩa của những dấu chỉ này. Sức mạnh của Tin Mừng được biểu lộ qua con số không nhỏ những dấu chỉ này và tính cách phi thường của chúng, sức mạnh đó không chỉ là những lời nói suông, nhưng còn là chất men biến đổi cuộc sống. Các môn đệ có thể lên đường rao giảng. Đối với các ông, dù đã được cất lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, Chúa vẫn tiếp tục hoạt động và xác nhận Lời. Ngày nay, đến lượt chúng ta, chúng ta cũng được sai đến tận cùng thế giới để làm chứng nhân cho Tin Mừng, nhờ sức mạnh của mầu nhiệm Phục Sinh".

 
 

LênTrời-142: Chúa lên trời

Chiều thứ năm tuần thánh, sau khi rời phòng tiệc ly, Chúa Giêsu đã dẫn các môn đệ theo con đường: LênTrời-142

Chiều thứ năm tuần thánh, sau khi rời phòng tiệc ly, Chúa Giêsu đã dẫn các môn đệ theo con đường Bêtania để lên núi Cây Dầu. Và tại đây, Ngài đã phải trải qua một cơn hấp hối đầy cay đắng, đến nỗi mồ hôi máu chảy xuống…
Rồi ngày hôm nay, Ngài đã đi lại con đường ấy, cũng để tiến đến núi Cây Dầu. Và tại đây, Ngài đã gặp gỡ, đã vĩnh biệt các môn đệ, trước khi Ngài được đưa lên trời dưới mắt các ông.
Từ đó, chúng ta nhận thấy: Cùng một địa điểm, nhưng có những khác biệt và tương phản. Thực vậy, lần trước Ngài đến để thực hiện thánh ý Chúa Cha, đó là chịu chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Lần sau Ngài đến trong vinh quang như một Đấng đã chiến thắng.
Tôi nghĩ rằng đó chính là hình ảnh, là con đường, mà mỗi cá nhân chúng ta cũng như toàn thể Giáo Hội, sẽ phải dấn thân vào trong thời điểm hiện nay.
Đúng thế, có những lúc Giáo Hội phải lên núi Cây Dầu để làm quen với thập giá, nếu muốn được chiêm ngưỡng vinh quang phục sinh. Đọc lại Phúc Âm chúng ta sẽ thấy rõ được điều ấy.
Thực vậy, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ điều gì trước khi vĩnh biệt họ? Tôi xin thưa: Ngài đã nhắc tới cái chết và sự sống lại của Ngài nhằm tha thứ tội lỗi. Rồi Ngài phán: Từ nay họ sẽ là chứng nhân của mầu nhiệm vượt qua, bằng các loan báo Tin mừng hoán cải ở mọi nơi, trong mọi lúc và trên mọi nẻo đường trần gian. Và một điều quan trọng khác nữa, đó là họ sẽ phải sống mầu nhiệm thập giá để làm chứng cho Đức Kitô.
Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy thiên thần đã nhắc khéo các môn đệ:
- Này các bạn xứ Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời làm chi.
Hay nói cách khác:
- Các bạn hãy về đi. Về với sứ mạng vừa mới được trao phó.
Đúng thế, con người chúng ta tiến bước, đôi mắt ngước nhìn trời, nhưng bàn chân thì lại đạp đất. Đó là một hình ảnh trung thực nhất về Giáo Hội nói chung và về mỗi người chúng ta nói riêng. Tuy nhiên, nhiều lúc chúng ta lại có khuynh hướng ly khai, tách biệt hai yếu tố căn bản ấy và chúng ta đã tạo nên một nếp sống chông chênh, không vui lòng Chúa, mà cũng chẳng đem lại lợi ích gì cụ thể cho bản thân mình.
Nếu ngày xưa Đức Kitô đã phải vác thập giá để tiến tới Phục sinh, thì hôm nay cá nhân chúng ta cũng như toàn thể Giáo Hội cũng phải bước đi trên con đường ấy, bởi vì đau thương là đường lên ánh sáng, gian khổ là đương về vinh quan và thập giá là đương dẫn tới phục sinh.
Vì thế, hãy chập nhận thập giá đời thường là những hy sinh gian khổ chúng ta gặp phải trong cuộc sống, để rồi trong ngày sau hết, chúng ta cũng sẽ được Chúa đưa lên quê hương Nước trời, chia sẻ niềm hạnh phúc vinh quang với Ngài.

 
 

LênTrời-143: Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

RAO GIẢNG TIN MỪNG CHÚA CHO THẾ GIAN 
 

Các Tin mừng để lại cho chúng ta 5 trình thuật hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh cho các sứ: LênTrời-143

Các Tin mừng để lại cho chúng ta 5 trình thuật hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh cho các sứ đồ: Mt 28,16-20; Mc 16,14-20; Lc 24,36-39; Ga 20,19-29; Ga 21,1-23. Thay vì phối hợp các chi tiết theo một thời biểu giả tạo, thiết tưởng nên theo sự gợi ý của Descamps mà xếp đặt chúng (ít nhất trong tâm tưởng) "thành 5 cột song song ... như bấy nhiêu cách diễn tả văn chương về cùng một loại thị kiến Đấng Phục sinh ban cho các sứ đồ" (Albert Descamps, La structure des récits évangeliques de la Résurrection, trong Biblica 40 (1959) tr.741, chú thích 1). Một truyền thống lịch sử vững chắc đã cống hiến cho các tường thuật gia một sơ đồ chung, theo đó các sứ đồ sau khi tỏ vẻ ngờ vực, rốt cùng đã nhận ra Chúa Giêsu đang sống qua nhiều kinh nghiệm khách quan, và đã hiểu rằng Đấng Phục sinh truyền lệnh cho họ tiếp tục chương trình thiên sai khởi từ Giêrusalem. Trên sơ đồ chung này, mỗi tác giả hình ứng đã ghép thêm nhiều khai triển riêng, tùy theo các truyền thống đặc biệt và các ý hướng thần học riêng tư của mình.
Đoạn văn Mc 16,15-20 của chúng ta là một trong năm trình thuật lịch sử-thần học đó. Nó tập trung như các trình thuật khác trên sứ mệnh phổ cập của các sứ đồ, và chia sẻ với Lc 24,36-53 - mà nó lấy cảm hứng - cái đặc điểm là kết thúc với việc Thăng thiên-hữu hình. Ngoài ra, chỉ duy mình nó là chẳng cho một xác định nơi chốn nào cả: không có gì hỗ trợ sự ưu tiên (có lẽ có) của những cuộc hiện ra tại Galilê trên những cuộc hiện ra tại Giêrusalem hay ngược lại. Cố ý hay không, tác giả chỉ tập trung tất cả chú ý của chúng ta vào điểm cốt tùy: sứ mệnh được trao cho các môn đồ.



1) SỨ VỤ LỆNH PHỔ QUÁT
c15: "Và Người (Chúa Giêsu) nói với họ (nhóm Mười một): "Hãy đi khắp cả thiên hạ, rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo.
c16: Ai tin cùng chịu thanh tẩy thì sẽ được cứu, còn ai không tin thì sẽ bất luận tội.
c17: Và này những dấu lạ sẽ tháp tùng kẻ tin: nhân danh Ta, chúng sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng.
c18: Chúng sẽ cầm rắn thẳng tay, và dẫu có uống nhằm thuốc độc, thuốc độc cũng chẳng hại được chúng; chúng đặt tay cho kẻ liệt nào và họ sẽ được an lành mạnh khỏe".
a- Sai phái các kẻ rao giảng Tin mừng (c. 15)
Người ta thình lình đi từ lời trách móc nghiêm khắc về sự cứng lòng (c.14) sang sứ mệnh phổ cập. Tác giả giản lược hóa: chắc chắn ông giả thiết rằng nhóm Mười một, như Tôma trong trình thuật Gioan, đã chậm tin khi Chúa Giêsu tỏ mình cho họ; nhưng ông không quan tâm đến việc các môn đồ "nhận ra" Chúa Giêsu, cũng chẳng tìm cách thể chất hóa sự "tỏ hiện" của Người: ông đi thẳng vào sứ vụ lệnh.
Lời phát biểu mệnh lệnh này, "biểu lộ cách tuyệt diệu tinh thần Kitô giáo" (V.Taylor, The Gospel according to Saint Mark, London, 1957, tr.612), không thể bắt nguồn y nguyên như thể từ Chúa Giêsu, cũng như lời phát biểu tương tự trong: Mt 28,19-20. Nếu Chúa Giêsu đã ban cho nhóm Mười Một một mệnh lệnh rõ ràng và cấp thiết như thế, thì ta không cắt nghĩa được tại sao đã phải cần một sự can thiệp rất đặc biệt của Thánh Thần để thúc đẩy Phêrô rửa tội cho lương dân (Cv 10; 11,1-18; 15,7-11). Dĩ nhiên, trước khi tử nạn, Chúa Giêsu cho biết rằng những lương dân ngay chính sẽ được đón nhận vào Vương quốc Thiên Chúa trong thời cánh chung (Mt 8,11-12; 25,32; x.11,20-24; 12,41...). Nhưng khi đặt cơ cấu cho cộng đoàn thiên sai bằng lời hứa ban quyền năng tông đồ, Người đã không nói rõ khoảng cách kéo dài giữa cuộc sống lại và cuộc Quang lâm của Người, cũng chẳng loan báo việc lương dân lần hồi đi vào Giáo hội trước ngày Chung thẩm (xem J.Jeremias, Jésus et les paiens, Neuchâtel. Delachaux et Niestlé, l956; J. Dupont, Jésus et les paiens, trong Rythmes du monde, 1957, tr.76-88). Thành thử dưới ánh sáng của các sấm ngôn Cựu ước và thái độ chỉ rao giảng cho người Do thái của Chúa Giêsu, các sứ đồ có thể đã tin rằng sau cuộc Phục sinh đặt Người làm Chúa của toàn thể vũ trụ, là tiếp liền cuộc Quang lâm của Người, và rằng chính Thiên Chúa gây nên lập tức sự trở lại thình lình của toàn thể thế giới bằng những điều kỳ diệu.
Dần dần họ hiểu rằng việc trở lại này không chờ đợi sự hoàn thành tối hậu của thời cánh chung mà cuộc phục sinh của Chúa Giêsu chỉ mới mở đầu, và rằng Chúa Giêsu vinh hiển đã trao cho chính họ nhiệm vụ khai mạc, ngay từ dưới thế, Chúa Quyền (eigneurie) của Người trên mọi dân tộc. Sự ý thức này đã được Thánh Thần hướng dẫn (Lc 24,49: Cv 1,8). Đặc biệt ý thức đó đã được hối thúc nhờ việc kêu gọi Phaolô và nhờ những cuộc tranh luận mà ông này đã tự động khởi xướng (x. Cv 15; Cl 2).
Trong đoạn kết của Maccô đây, tư tưởng trên đã tiến tới đích điểm. Sứ mệnh của Giáo hội bên cạnh lương dân đã trở nên rõ ràng, không chối cãi. Người ta chẳng còn gặp thấy ở đây lời đề cập đến quyền ưu tiên được rao giảng Tin Mừng của dân Do thái, vốn đã được thánh Phaolô không ngừng tôn trọng và đã được thánh Lc gợi lên (Lc 2-1,4; 7,1 "khởi từ Giêrusalem"; Cv 1,8: "Giêrusalem” trong toàn cõi Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất (x. Cv 13-6t)
Thật vậy, lời phát biểu của c.15 xuất hiện khá trễ và tùy thuộc nhiều nguồn ảnh hưởng rất khác nhau (vốn không nhất thiết là những vay mượn trực tiếp). Tiếng đầu tiên ‘hãy đi’ cũng là tiếng dùng trong câu nói (logion) song song của Mt 28,19: các sứ đồ phải rời Giêrusalem để đi đến với mọi người "khắp muôn dân". Sứ mệnh đòi hỏi một việc khởi hành, ra đi khỏi xứ sở, khỏi môi trường xã hội hay khỏi vũ trụ tinh thần của mình. Đối với các sứ đồ, vấn đề là phải đi ra khỏi môi trường Do thái để đến "tận cùng trái đất" (Is 49,6), nghĩa là để quay về với lương dân, mặc dầu họ gần hay xa trên phương diện địa lý (x. Cv 13,46t).
Các chữ “hãy loan báo Tin mừng" thuộc ngôn ngữ truyền giáo chung của Giáo hội sơ khai; nhưng Maccô đã thích chúng cách đặc biệt, và chỉ mình ông trong bốn thánh sử viết "Tin Mừng" là không thêm một xác định nào khác, có lẽ do ảnh hưởng của Phaolô. Hai tiếng "loan báo" và "Tin mừng" được nối kết trong Mc 1,14; 13,10 (Mt 24,14); 14,9 (Mt 26,13), cũng như trong bản văn chúng ta đây. Bản văn này đặc biệt rất gần với phần Maccô thêm vào trong diễn từ cánh chung của Chúa Giêsu: trước lúc Con Người đến trong vinh quang, các môn đồ đã phải làm chứng trước quyền bính dân ngoại, "vì trước hết Tin mừng phải được loan báo cho mọi dân tộc” (13,10).
Do động từ kerussein (loan báo), thông dụng trong sách Cv, phát xuất kerugma, "lời rao giảng" hay Sứ điệp, mà trong thực tế tương đương với Tin mừng. Các sứ đồ của những kẻ truyền bá Tin mừng, là những truyền lệnh sứ của Sứ điệp cứu rỗi vui tươi. Trong các diễn từ của Công vụ, "lời rao giảng" sơ yếu và "đánh động" thường nói về cuộc sống, nhưng nhất là về cái chết, sự sống lại và sự tôn vinh Chúa Giêsu, rồi loan báo việc Người trở lại như thẩm phán và Cứu Chúa. Đoạn kết giản lược của Maccô chẳng nói gì về đối tượng này của Sứ điệp hay của lòng tin tương ứng cả. Nhưng không thể hồ nghi rằng: đối với tác giả cũng như đối với tất cả lời rao giảng sơ khai, trung tâm của Tin mừng là cuộc tử nạn và sự tôn vinh Chúa Giêsu, được quan niệm như là một hành vi cứu chuộc cao cả duy nhất của Thiên Chúa: tác giả mặc nhiên ám chỉ điều này qua việc đặt sứ vụ lệnh nằm giữa cuộc phục sinh và Thăng thiên hữu hình. Vì đã thấy Chúa Giêsu lại sống và biến dạng, các sứ đồ sẽ phải loan báo khắp nơi biến cố trung tâm của lịch sử nhân loại ấy và ý nghĩa của nó cho thế gian; vì đã thấy được nâng lên trời "Đấng mà hiện trời cao phải đón lấy cho đến thời buổi phục hồi vạn vật" (Cv 3,21), họ sẽ phải loan truyền rằng "chính Chúa Giêsu ấy sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Người đi về trời".
Chính cho "mọi loài thụ tạo" mà Tin mừng được gọi đến. Thành ngữ tương đương với thành ngữ của Mc 13,10 và Mt 28,19: "mọi dân tộc". Vẫn biết chỉ con người mới có thể nghe lời rao giảng và đáp lại bằng đức tin. Nhưng chắc rằng tác giả, trong đường hướng của Phaolô (Rm 8, 19-22; Cl 1,1-23), cũng nghĩ tới âm hưởng mầu nhiệm của công trình cứu độ trên toàn thể vũ trụ.
b- Đức tin, lời đáp trả sứ điệp (c. 16)
Các lời rao giảng của Cv đều kết thúc bằng một lời kêu gọi hãy thống hối và đón nhận ơn tha tội bằng cách tin vào Chúa Giêsu và nhận lãnh phép rửa. Thành thử đức tin là sự đáp trả lời rao giảng (Cv 2,41; 8,12t; 11,20t; 14,1; 15,7; 17, 11-12.34; Rm 10, 14) và được liên kết với phép rửa một cách minh nhiên trong các bản văn (Cv 2,41; 8,12; 8,36tt; 16;33t). Ở đây cũng vậy, đức tin và việc chịu phép rửa là hậu quả tự nhiên của thái độ đón nghe Sứ điệp, được phát sinh bởi lời rao giảng, hành vi gắn bó đầu tiên với Chúa Kitô bằng đức tin (thì aoriste hy lạp chỉ một hành vi xác định, như trong Cv 2,44; 4,32) là điều kiện của ơn cứu rỗi; và ơn cứu rỗi này, được đặt tương phản với án phạt (trong ngày chung thẩm), xuất hiện như ơn cứu rỗi cánh chung, công trình của Chúa Kitô thẩm phán trong cuộc Quang lâm sau cùng của Người (x. Cv 3,20; 10,42t; 17,3ot; Rm 5, 10; 8,24; 13, 11; Pl 3,24 v.v ...). Niềm vui này được tuyên xưng cách công khai trong việc lãnh nhận phép rửa, phép rửa này trở nên như dấu ấn của niềm tin và đem lại cho tín hữu, cùng với ơn tha tội, chính ơn huệ của Thánh Thần, là hoa trái đầu mùa hay là bảo chứng của ơn cứu rỗi (x Rm 8,23; 2Cr 1,22; 5,5; Ep 1,14).
Việc nhắc đến sự luận tội các kẻ không tin, mặc dù được đưa vào theo lối đối chiếu phản đề, vẫn không phải là giả tạo. Đối với Gioan, từ chối không tin chẳng phải là trọng tội và gần như là trọng tội duy nhất đó sao? Nhưng không có vấn đề kết án hỏa ngục cho bao nhiêu người vì ngay tình mà ở ngoài giáo hội (P.Benoit, Passion ét Résurrection du Seigneur. Paris, Cerr, 1966, tr.383-384, nhấn mạnh điều này); các thần học gia giải thích rằng: họ sẽ có thể được cứu thoát nhờ đức tin và nhờ phép rửa bằng ước muốn.
c. Các dấu lạ (cc. 17- l8)
Trước khi chết, Chúa Giêsu đã thực hiện nhiều phép lạ và trừ quỷ dựa trên sức mạnh của lời Người; nhưng các Tin mừng Nhất lãm, vì phản ánh sự dè dặt của Người, nên khi nói về các việc quyền năng đó, đã tránh dùng chữ "dấu chỉ" vốn vẫn được sử dụng bởi đối phương, những kẻ ao ước chuyện ngoạn mục kỳ lạ. Nhưng sự dè dặt này biến mất trong phần còn lại của Tân ước, kể cả đoạn kết của Maccô đây, nơi hai lần đề cập tới việc "tháp tùng" của các dấu chỉ.
Ở câu 17, Chúa Giêsu hứa rằng các dấu chỉ sẽ tháp tùng "những kẻ tin" mà câu trước vừa đề cập tới. Thành thử thoạt nhìn, người ta tưởng đấy không phải là những phép lạ của các sứ đồ, song là những phép lạ được thực hiện bởi các thính giả đã tin; vì thế, Chúa Giêsu chẳng nói ‘các ngươi sẽ trừ quỷ’ nhưng ‘họ sẽ trừ’. Đàng khác, các dấu chỉ lại xuất hiện ở câu 20, với cùng việc sử dụng lạ lùng động từ "kèm theo", và chúng đóng vai trò củng cố lời của nhóm Mười Một, nhưng tác giả không nói rõ bởi tay ai mà chúng được làm.
Những điểm mơ hồ này có thể được biện minh bằng nhiều cách khác nhau. Không chối bỏ ơn làm phép lạ của nhóm Mười một, tác giả biết rằng họ là những tín hữu đầu tiên đã được hứa ban ơn đó, như Chúa Kitô trong Gioan hàm ý khi tuyên bố với nhóm sứ đồ: "Kẻ nào tin vào Ta, thì các việc làm kẻ ấy cũng sẽ làm, và sẽ làm được những việc lớn lao hơn thế nữa” (Ga 14,12). Nhưng tác giả cũng cho hay rằng đặc sủng làm phép lạ, trừ quỷ, nói các thứ tiếng cũng đã được ban cho các tín hữu (x. 1Cr 12,28t), đôi lúc còn cho nhiều môn đồ không công khai nữa (x. Mc 9,38-40). Ông biết ngoài nhóm Mười Một, có nhiều "sứ đồ" khác được hưởng cùng đặc ân, nhất là Phaolô, Barnabê (Cv 14,3 ...). Sau hết ông cũng cho hay rằng những dấu lạ kèm theo và củng cố lời rao giảng của các sứ đồ không luôn luôn được thực hiện bởi tay họ, nhưng lắm lần Thần Khí xem ra đã hành động trực tiếp trong và qua các thính giả, như trường hợp "nói các thứ tiếng" của Cornêliô (Cv 10 44-46; x. Gl 3,4t ...). Chắc hẳn đó là những lý đo giải thích cho thấy: vì vừa muốn vắn gọn vừa muốn chính xác, tác giả đã sử dụng nhiều kiểu nói hơi tối nghĩa và vụng về.
Các dấu chỉ hứa ban và vốn có giá trị như những thí dụ thích hợp với cái thời mà Kitô giáo phát sinh giữa lòng một ngoại giáo mê tín, được soi sáng nhờ sách Công vụ. Phaolô đuổi quỷ (Cv 10, 18) cùng thản nhiên giũ con rắn độc quấn vào tay ông (28,3-5; x. Lc 10, 19). Trong lễ Ngũ Tuần, nhóm Mười Một được xem như nói nhiều thứ tiếng ngoại quốc (2,3-11); trong lúc ở nhiều trường hợp khác, Cornêliô và thân thuộc (10,44-46), nhóm môn đồ của Gioan ở Êphêsô (19,6), những người Côrintô (1Cr 14) và chính Phaolô (14,18) nói một ngoại ngữ xuất thần. Nhờ việc đặt tay, Anania chữa lành Phaolô (Cv 9,12-l7) và Phaolô chữa lành cha của Publius (28,8). Theo lời Papias thì ông Giustô, kẻ từng tranh cử với Matthias để thay chân Giuđa trong Cv 1,23, "đã uống phải thuốc độc nhưng không bị khó chịu chút nào nhờ ơn của Chúa" (Eusèbe, Hiist. Eccl. III,39).
Chúa Giêsu đã tập cho các môn đồ thân tín nhất của Người sử dụng quyền trong chữa bệnh và trừ quỷ (Mt 10,8; Mc 3,15; 6,13; Lc 9,1; 10,9). Bây giờ họ sắp biểu dương, qua các dấu chỉ ấy, quyền lực cứu độ của Đấng phục sinh (chính "nhân danh Người" mà họ sẽ trừ quỷ) và như thế cho thính giả biết rằng lời của họ đáng tin tưởng. Sau họ, và bây giờ cũng thế, Chúa của Giáo hội và của thế giới đã tiếp tục và đôi khi đang tiếp tục "tỏ dấu chỉ" cho con người qua nhiều phép lạ vật lý. Tuy nhiên những phép lạ này đã trở thành một vũ khí rất đặc biệt của các tay thợ Tin mừng để hỗ trợ cho những dấu chỉ thiêng liêng hơn. Đức kiên nhẫn (2 Cr 12, l2) lòng vững tin và tính vô vị lợi (1Tx 2,2-12) Của các nhà truyền giáo, phẩm chất nội tại của Sứ điệp, sự hợp nhất và thánh thiện của một cộng đoàn (Ga 13,35; 17,21) làm nên những dấu chỉ thông thường giúp Lời tác động trong các con tim, một khi sự tự do của đức tin và hành động nội tại của Thánh Thần dã được bảo đảm.
2) LÊN TRỜI.
c19: “Vậy sau khi đã nói với họ rồi, Chúa Giêsu được nhắc về trời và ngự bên hữu Thiên Chúa".
Sau khi "đá quả giao banh" cho sứ mệnh các sứ đồ Chúa Giêsu được trình bày như được nhắc về trời để nhận lấy Chúa quyền trên tất cả nhân loại (x. Cv 10,36; Rm 14,9), quyền là các sứ đồ phải loan báo và đề ra cho đức tin của người Hy lạp cũng như người Do thái (Rm 10,9-13), trong lúc chờ đợi quyền đó thi thố hoàn toàn vào ngày Quang lâm của Thẩm phán tối cao. Thật ra, trong câu tóm tắt của mình, tác giả đã gan dạ nối kết, theo một sự liên tục thời gian giả tạo, hai thực tại không cùng một bình diện: một bên là cuộc tỏ mình hữu hình kết thúc chuỗi Kitô hiện để mô tả cuộc tỏ mình này, tác giả đã mượn công thức "nhắc về trời" từ trình thuật của Cv 1,1-11 bên kia là việc siêu tôn trên trời đi liền với việc Phục sinh (x. Ep 4,10; 1Tm 3,16; Dt 4,14; 6,19t; 9,24 v.v.) (Xem P.Benoit, L’ascension, trong Revue Biblique LVI (1949), tr.161-203 (= Exégèse ét théologie I, Cerf xb, 1961, tr.363-411); và mục Ascension của cùng tác giả trong Vocabulaire de théologie biblique). Dù việc "nhắc lên" này mà Cv 1,3 đã đặt 40 ngày sau Phục sinh và được mô tả cũng bằng những danh từ như cuộc nhắc lên của Elia (2V 2,11) có tính cách đặt chắc trên phương diện lịch sử đến đâu, thì vẫn là một biến cố tự bản chất thuộc về chứng từ nhân loại; trái lại cuộc siêu tôn trên trời là một mầu nhiệm chỉ hiểu được bằng lòng tin mà thôi.
Mầu nhiệm tôn vinh Chúa Giêsu trong nhân tính thánh thiện của Người như thế được diễn tả ở đây, cũng như nhiều nơi khác (x. Rm 8,34; Ep 1,20; Cl 3,1; Cv 7,55; Dt 1,3. 13; 8,1; 10, 12; 12,2; 1 Pr 3,2 xem J.Dupont, Etudes sur les Actes des Apôtres (Lectio divina 45), Paris, Cerr, 1967, tl'. 267, 291-294; 385-390) dưới hình ảnh việc ngự bên hữu Thiên Chúa, mượn thánh vịnh 110 (109), Chính khi trích dẫn câu thánh vịnh này phối hợp với đoạn văn Đanien (7,13) gợi lên việc xuất hiện của Con Người trên mây trời, mà Chúa Giêsu đã loan báo trước Công nghị cuộc tỏ hiện sắp tới của thiên sai tính thần linh của Người (Mt 26,64-65), và chính cùng dựa trên bản văn này mà Phêrô, theo Cv 2,34-36, sẽ công bố trong ngày Ngũ Tuần: "Thiên Chúa dã đặt Người làm Chúa và làm Kitô". Khi phục sinh Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã siêu tôn và phong Người làm Chúa: Ngài đã ban cho người "Danh hiệu vượt trên mọi đanh hiệu” (Pl 2,9) nghĩa là đã làm rạng rỡ thần tính trên nhân tính được tôn vinh của Người, và như thế thiết lập vương quyền phổ quát cho Người.
3) LÊN ĐƯỜNG THỰC THI SỨ MỆNH
c20: “Còn họ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng họ hoạt động, và củng cố lời bằng những phép lạ kèm theo". Không nhắc tới việc Thần khí đến cũng chẳng xác định họ ra đi từ đâu, nhưng "trình bày việc rao giảng Tin mừng theo gương chim bay" (Lagrange), tác giả cho ta thấy nhóm Mười Một trao ban Sứ điệp đến khắp mọi nơi mọi chốn. Mối bận tâm của ông là quả quyết rằng: trong mọi hoạt động truyền giáo của họ, các sứ đồ và sau họ là Giáo hội mọi thời, có thể tin tưởng vào sự hiện diện vô hình nhưng hữu hiệu của Chúa Kitô đang sống trên trời với tất cả quyền lực Kyrios. Không những Chúa Giêsu củng cố, bằng những dấu lạ, lời của các sứ giả Tin mừng (so sánh với Dt 2,3 1) như Người đã loan báo trong các 17-18, mà còn kết hợp "năng lực" của Đấng Phục sinh với nỗ lực của các sứ giả khiêm cung của Người. Dưới một hình thức khác, nó cũng là ý tưởng của Mt 20,28: "Hãy đi ... và này Ta ở với các ngươi mọi ngày cho tới tận thế".



KẾT LUẬN
Khi hiện ra với mười một môn đồ vốn chậm tin vào sự phục sinh của Người như thế, Chúa Giêsu đã biến cải họ đến độ thành những nhà rao giảng gan dạ của Tin mừng, thành nền móng của Giáo hội Người lập. Nhờ họ, nhờ Phaolô và nhờ biết bao kẻ khác, Giáo hội đã lan rộng khắp hoàn vũ; nhưng còn lâu Giáo hội mới tin mừng hóa được thế giới và nhiệm vụ vẫn luôn tiếp tục. Vì thế, Chúa không ngừng nhắc nhở rằng Người hằng ở bên cạnh Giáo hội, hay đúng hơn trong Giáo hội với quyền năng soi sáng và thánh hóa mà cuộc siêu tôn trên trời đã mang lại cho Người, để khắp nơi và mọi thời, Tin mừng được cống hiến cho nhân loại và để những bảo chứng của ơn cứu rỗi được đổ tràn trên họ nhờ đức tin "thi thố bằng đức mến" (Gl 5,6). Cho các Kitô hữu nguội lạnh hay xao xuyến, cho tất cả chúng ta mà lòng dấn thân truyền giáo cần được khêu gợi, phấn kích, tăng cường. Mầu nhiệm Lên Trời nhắc nhớ rằng Chúa Kitô vinh quang luôn luôn hiện diện chủ động với Giáo hội và rằng Người cần đến chúng ta để tỏ tình ra cùng thế giới, "cho tới khi người đến lại" (1Cr 11,26). Maranatha!
Paul Ternant, Assemblées du Seigneur 28. tr.38-48



Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Việc Chúa Giêsu Kitô lên trời và ngự bên hữu Chúa Cha là cao điểm của cuộc Tử nạn phục sinh vinh hiển của Người. Từ đây, một khi đã sống lại từ cõi chết, Chúa Kitô không bao giờ chết nữa, cái chết chẳng còn quyền hành chi trên người (x. Rm 6,9). Người đã tiêu diệt sự chết để chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời; Người lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền Người (x. 1Pr 3,22).
2) Giữa những đau khổ, oan ức, những giả dối, bất công, ta hãy vững vàng tuyên xưng với toàn thể dân Chúa: "Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng" (Đường Hy vọng 679).
3) Đối với các môn đồ, việc Chúa Giêsu Kitô lên trời muốn dạy một bài học cụ thể: “Thành Đô chúng ta là ở trên trời" (Pl 3,20); "Anh em hãy tìm kiếm những điều trên cao, nơi Chúa Kitô đang ngự" (Cl 3,1). Điều đó không có nghĩa là phải xuất thế, xa lánh trần gian. Trái lại phải nỗ lực nhập cuộc, dấn thân: "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho tất cả thụ tạo" (Mc 16, 15).
4) "Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và bảo đảm lời giảng bằng những phép lạ đi kèm". Khi thành công, người tông đồ không tự mãn vì ý thức rằng kết quả có được là bởi Chúa: "Không có Ta, các con không làm được việc gì" (Ga 15,5).
Lúc thất bại, người tông đồ không nản chí, tuyệt vọng: "Hãy nhìn lên Thánh giá, ôm choàng lấy Thánh giá và con sẽ thinh lặng đứng vững như Mẹ Maria" (x. Đường Hy vọng số 694).
5) Chúa Giêsu không còn hiện diện trên trái đất này như xưa, nhưng vẫn còn hiện diện cách hữu hình trong Hội Thánh hữu hình, trong lời Tin Mừng, trong các bí tích, trong những kẻ thay mặt Người. Chúa Giêsu còn hiện diện để kiện toàn Nước Thiên Chúa với chúng ta, là những kẻ phải làm chứng cho Người, phải làm cho trần gian thấy Người. Tại sao cứ đứng đó mà nhìn lên trời? Phải dùng ơn Chúa ban mà xây dựng nước Trời ngày này sang ngày khác, trong bác ái, hy sinh, khiêm tốn, để làm cho con người sống xứng đáng nhân phẩm, để loại trừ khổ đau và tội lỗi, để mọi người biết sống công bình, hòa thuận, yêu thương.

 
 

LênTrời-144: Niềm hy vọng Nước Trời - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất. Nhưng: LênTrời-144

Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất. Nhưng không phải thế. Hôm nay, Chúa Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.
Việc Chúa Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài trái đất còn có trời. Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la. Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.
Chúa Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta. Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người. Vì chính Người đã hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy”.
Chúa Giêsu đã liên kết ta thành một thân thể với Người. Người là đầu. Chúng ta là chi thể. Đầu tiến đến đâu thì chi thể cũng sẽ tiến đến đấy.
Chúa Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời. Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ. Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên.
Tuy nhiên Chúa Giêsu chỉ về trời sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian. Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Chúa là Cha yêu thương mọi người. Nhiệm vụ đó là làm chứng về tình yêu thương của Cha đối với mọi người.
Hôm nay, trước khi về trời, Chúa Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta. Ta phải tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng yêu thương cho mọi người. Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người.
Với niềm hy vọng đó, người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao. Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi. Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh. Niềm hy vọng đó đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng. Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó. Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.
Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con được về trời với Chúa. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Ham hố tiền bạc, danh vọng, chức quyền, khoái lạc làm đời sống ta nặng nề, không vươn lên cõi tâm linh được. Bạn thấy mình bị nặng nề về ham mê nào?
2. Đời sống là một nỗ lực bay lên cao. Có khi nào bạn cảm thấy mình thoát khỏi những ràng buộc tầm thường để nhẹ nhàng bay lên không?
3. Đời sống là một bổn phạn phải chu toàn. Bạn nghĩ gì về điều này?

 
 

LênTrời-145: Không giải thích được - Achille Degeest

Đức Giêsu đã thuyết phục các tông đồ tin rằng Người đã sống lại. Chúa mở tâm trí cho các: LênTrời-145

Đức Giêsu đã thuyết phục các tông đồ tin rằng Người đã sống lại. Chúa mở tâm trí cho các ông hiểu ý nghĩa Kinh Thánh và thấy mình đang đi vào kế hoạch liên tục của Thiên Chúa. Các ông sắp làm chứng cho Đấng được loan báo trong Kinh Thánh, Người đã thật sự sống với các ông cuộc đời dưới thế của Người và sắp tiếp tục công cuộc cứu độ qua Giáo Hội, đem lợi ích cho khắp thế giới. Các ông sẽ lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần đến hoàn tất sự hiểu biết của mình, như Đức Giêsu đã hứa. Lúc đó sẽ thấu hiểu ý nghĩa khổ nạn và Phục Sinh, hơn nữa sẽ khám phá Phúc Âm được dùng vào một công cuộc có tầm mức bao la đến chừng nào. Các ông sẽ không choáng váng tê liệt, sẽ thật sự trở nên tông đồ vì mặc lấy sức mạnh từ Trên ban cho. Chúng ta không ngạc nhiên đọc câu: Họ trở lại Giêrusalem, lòng mừng khôn xiết. Như vậy, chứng kiến Chúa lên trời, các môn đệ tuyệt nhiên không kinh ngạc, trái lại vui mừng vô hạn. Tại sao? Ví các ông chắc hẳn bắt đầu hiểu rõ bí nhiệm về sự hiện diện vô hình của Thày. Chúng ta dừng lại để suy niệm về việc Chúa chúc lành và niềm hân hoan không giải thích được của các môn đệ.
1) Giơ tay, Chúa chúc lành cho họ.
Các môn đệ lãnh nhận chúc lành của Thày, coi đó là cử chỉ của Thiên Chúa kết thúc một sự hoàn tất và mở màn cho một sự bắt đầu. Hoàn tất, vì thời gian Chúa sống giữa thế gian đã chấm dứt. Chúa vào vinh quang của Chúa Cha. Tác động của Đức Giêsu hiện diện hữu hình không còn nữa, sắp chuyển sang một thể thức tác động khác, đồng thời các môn đệ bắt đầu một cuộc trông đợi. Chúc lành của Chúa làm dậy lên trong các môn đệ một nghị lực sắp lớn mạnh nảy nở. Cử chỉ Chúa giơ tay ban phép lành biểu hiện sức mạnh của sự sống, của lòng bác ái và một nghị lực tràn ngập tâm hồn các ông, sắp biến đổi và hướng dẫn các ông thành toàn bản ngã và sứ mạng. Một ví dụ thực tế: Chúng ta nhắc lại rằng chúc lành nhân danh Đức Kitô của linh mục chủ tế lúc Thánh Lễ hoàn tất, biểu hiện sự hoàn tất và sự phái đi. Chúng ta có nhiệm vụ hoàn tất trong đời sống thực tế ơn lành nhận được trong Thánh Lễ, và chúng ta được phái đi vào thế giới làm chứng cho Đức Kitô.
2) Các môn đệ vui mừng mặc dầu Đức Giêsu vừa biến đi trước mắt các ông.
Chúng ta chúng ta nghĩ rằng các ông được sinh ra trong tình yêu đích thật của Thày, các ông không hề nghĩ về thân phận mình theo tính ích kỷ thường tình, trái lại được vui mừng nhìn Thày đi vào vinh quang của Chúa Cha. Tuy nhiên cho dầu tình yêu đầy vị tha tới đâu thì cũng phải có sự hiện diện của Thày. Có thể các môn đệ làm một cuộc thí nghiệm mới về sự hiện diện vô hình của Thày. Chúa về trời trở nên gần gụi các ông hơn trước. Chúa biểu lộ sự hiện diện trong quyền năng thần thánh của Người, Chúa đem Thần Khí vào tâm hồn các ông. Tới đây chúng ta thấy vai trò đức tin là cần thiết. Điều tốt là các môn đệ nay trở thành chứng nhân cho Chúa phải tham dự vào kinh nghiệm đức tin mà tất cả chúng ta đều phải có, một niềm tin trong hân hoan không giải thích được, trải qua mọi gian nan thử thách. Niềm tin ấy sinh ra một niềm trông cậy hân hoan hơn nữa, vì lẽ ngày Chúa lên trời sẽ đưa tới ngày chúng ta sẽ vô cùng hân hoan, Chúa ở đâu, chúng ta cũng sẽ ở đó.

 
 

LênTrời-146: Chúa tin tưởng chúng ta

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’) 
 

Có một truyền thuyết xưa kia kể lại rằng: Khi Đức Giêsu hoàn thành sứ mạng dưới thế, Ngài trở: LênTrời-146

Có một truyền thuyết xưa kia kể lại rằng: Khi Đức Giêsu hoàn thành sứ mạng dưới thế, Ngài trở về trời và được Thiên thần Gabriel đón tiếp. Gặp Chúa, thiên thần lên tiếng hỏi ngay:
- Xin Chúa cho biết công trình của Chúa sẽ được tiếp tục như thế nào ở dưới thế?
Chúa Giêsu trả lời:
- Ta đã chọn 12 Tông đồ, một nhòm môn đệ và một vài phụ nữ. Ta đã giao cho họ sứ mạng rao giảng Tin Mừng đến tận cùng trái đất.
Nghe Chúa trả lời như thế, thiên thần Gabriel hình như chưa hoàn toàn thỏa mãn nên hỏi tiếp:
- Nhưng số môn đệ ít ỏi đó thất bại thì Chúa có dự trù nào khác không?
- Chúa Giêsu mỉm cười và dường như muốn biểu đồng tình là thiên thần Gabriel đã có lý khi nghi ngờ, tuy nhiên Ngài vẫn quả quyết:
- Đó là kế hoạch duy nhất Ta chọn. Ta không dự trù một kế hoạch nào khác cả. Ta tin tưởng vào họ.
Vâng, thưa anh chị em, mãi đến 20 thế kỷ sau, Chúa Giêsu vẫn không thay đổi kế hoạch Ngài đã chọn. Các Tông đồ đã không làm Ngài thất vọng và cả đám dân được họ rao giảng Tin Mừng cũng đã không phụ lòng Ngài. Và hiện giờ Ngài đang tin tưởng vào chúng ta.
Thật vậy, trước khi từ giã các môn đệ ngài để trở về trời, Chúa Giêsu đã trao cho các ông trọng trách rao giảng Tin Mừng của Ngài và đã hứa ban cho các ông được lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thân: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ làm chứng cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
Vì thế, các môn đệ đã trở về, lòng tràn ngập hân hoan. Đây chính là lúc phải bắt tay vào việc. Chính nhờ vào niềm tin và nỗi vui mừng nầy, các môn đệ đã hăng hái ra đi rao giảng Tin Mừng sau khi được lãnh nhận Thánh Thần. Các ông không còn sợ hãi của những ngày Chúa chịu chết, nhưng đầy sức mạnh để dám đương đầu với tất cả những khổ đau, những thương tích mà chính các ông không thể trốn tránh được. Quả thật, các môn đệ của Chúa Giêsu đã không phụ lòng Ngài.
Cha Mark Link, S.J đã sánh ví ngày lễ Thăng Thiên như một cuộc chuyền cây gậy từ vận động viên nầy sang vận động viên khác trong một cuộc chạy tiếp sức. Cách đây 2000 năm, vào ngày hôm nay, Chúa Giêsu đã chuyền cây gậy sứ mạng của Ngài cho Phêrô, Giacôbê và Gioan… đến lượt họ, họ đã chuyền cho những người tiếp theo sau, rồi những người nầy lại chuyền cây gậy ấy đến chúng ta. Và giờ đây đến lượt chúng ta lại phải chuyền gậy cho những người kế tiếp.
Thực tế mà nói, điều nấy có nghĩa gì? Sứ mạng ra đi rao giảng Tin Mừng về Chúa Giêsu như các Tông đồ đã làm mang ý nghĩa gì? Đối với chúng ta, sứ mạng rao giảng về Chúa Giêsu mang một ý nghĩa căn bản trong cuộc sống Kitô hữu. Đó chính là làm chứng cho Chúa Giêsu bằng đời sống Kitô hữu của mình. Đó chính là sống Lời Chúa Giêsu truyền dạy trong chính cuộc sống riêng của mỗi người. Để rao giảng Chúa Giêsu cho thế giới, chúng ta phải bắt đầu bằng cách tự rao giảng Ngài vào chính cuộc sống chúng ta trước, sau đó lời rao giảng về Ngài mới tỏa lan khắp thế giới. Nếu có đủ số người Kitô hữu biết đưa Chúa Giêsu vào cuộc đời mình thì họ sẽ thay đổi được bộ mặt trái đất nầy thành tuyệt vời đến mức chúng ta chưa bao giờ dám mơ ước.
Anh chị em thân mến, Sứ điệp của ngày lễ Thăng Thiên hôm nay đưa ra cho chúng ta sự thách thức trước trước niềm tin tưởng mà Chúa Giêsu đã đặt nơi mỗi người chúng ta:
“Anh em là muối đất… anh em là anh sáng trần gian…” (Mt 5, 13 -16). Là men, là muối, là ánh sáng cho đời, cuộc sống Kitô hữu phải tốt, phải ướp mặn chất Tin Mừng, phải phản chiếu khuôn mặt Chúa Giêsu. Được như thế, chắc chắn chúng ta sẽ không làm cho Chúa Giêsu phải thất vọng.
Mừng lễ Chúa lên trời hôm nay, chúng ta không phải chỉ đăm đăm ngước mắt nhìn về trời để nuối tiếc, để tìm kiếm, nhưng là ra đi vào thế giới, vào môi trường mình đang sống, để làm chứng cho Chúa, để làm chứng cho Chúa, để giới thiệu Chúa Kitô cho anh chị em chung quanh mình. Chúa Kitô đặt hết niềm tin tưởng nơi chúng ta, để rồi một khi chu toàn bổn phận của mình nơi trần gian, chúng ta cũng sẽ trở về Trời với Chúa của mình.

 
 

LênTrời-147: Thời kỳ của Giáo Hội

HIỆN DIỆN VÀ VẮNG MẶT 
 

Vào ngày Lễ Thăng Thiên, Đức Giêsu đã rút lại sự hiện diện thể lý của Người đối với các môn: LênTrời-147

Vào ngày Lễ Thăng Thiên, Đức Giêsu đã rút lại sự hiện diện thể lý của Người đối với các môn đệ. Nhưng sự vắng mặt thể lý ấy không có nghĩa là chấm dứt sự hiện diện. Sự thăng thiên của Đức Giêsu là sự giải phóng của Người khỏi mọi giới hạn của thời gian và không gian. Nó không thể hiện vận động của Người trên mặt đất, nhưng sự hiện diện thường xuyên của Người ở mọi nơi trên trái đất.
Sự hiện diện thể chất không phải là tất cả. Thật vậy, một đôi khi, sự hiện diện có thể đạt được bằng con đường hiệp thông mật thiết. Trong đời sống chúng ta gặp nhiều nỗi thất vọng bởi sự kiện, sự gặp gỡ và tiếp xúc không phải lúc nào cũng tạo ra sự thân mật, gần gũi mà chúng ta tìm kiếm. Hai người có gần gũi nhau về mặt thể chất thế nhưng cuộc sống vẫn xa cách, cô đơn. Bởi lẽ không có sự gặp gỡ trong trí óc và tâm hồn. Họ giống như những vỏ sò trên bãi biển.
Mặt khác, người ta có thể rất gần nhau dù xa cách nhau hàng ngàn dặm. Đối với những người cùng nhau lớn lên, trưởng thành phải có những thời kỳ vắng mặt và hiện diện. Khi vắng mặt, chúng ta nhìn nhau bằng một phương thế mới mẻ. Chúng ta bớt bực bội nhau vì những cung cách bên ngoài, và có thể thừa nhận giá trị thật của nhau tốt hơn.
Nếu chúng ta có thể hiện diện trọn vẹn với bạn hữu khi chúng ta ở với họ thì sự vắng mặt của chúng ta cũng sẽ mang lại kết quả. Khi hồi tưởng sự hiện diện nồng nàn ấy hơi ấm của nó sẽ tiếp tục nuôi dưỡng người kia. Vì thế, không chỉ sự hiện diện của chúng ta mà cả sự vắng mặt của chúng ta cũng đem lại nhiều ơn ích.
Khi chúng ta nghĩ đến nhau trong sự yêu thương, một dây liên kết tinh thần hình thành ở giữa chúng ta và chúng ta bước vào một sự thân mật mới. Đối với những người yêu thương nhau, không có chỗ dành cho sự “xa cách”.
Đức Giêsu lên trời không phải là một cuộc hành trình ra ngoài không gian, nhưng là một cuộc hành trình về nhà, chúng ta không nên nghĩ rằng trước đó Người sống trên mặt đất, còn giờ đây Người lại trở lại nơi thật sự thuộc về Người. Nếu như thế thì Kitô giáo không hơn một tôn giáo của sự hoài niệm, hồi tưởng. Đức Giêsu đã về với Chúa Cha. Trong suốt sứ vụ ở trần gian, Người chỉ có thể ở một nơi và trong một thời gian. Nhưng giờ đây, Người đã hiệp nhất với Thiên Chúa, Người hiện diện bất cứ nơi nào Thiên Chúa hiện diện, có nghĩa là ở khắp mọi nơi.
Các Kitô hữu tiên khởi đã hiểu điều ấy rất rõ. Họ biết rằng Đức Giêsu vẫn ở với họ, cho dù không cùng một cách thức như trước đây. Họ tin rằng Người vẫn chia sẻ đời sống với họ, và cái chết có nghĩa là được hiệp nhất với Người trong vinh quang mãi mãi.
Tuy nhiên khi nhìn lại, chúng ta cũng thèm muốn được như những người có may mắn nhìn thấy Chúa Phục Sinh bằng chính mắt mình. Nhưng Tin Mừng cho biết những người ở trong tình huống đáng ao ước ấy đã không thật sự nhận ra Đức Giêsu cho tới lúc Người dẫn giải Kinh Thánh và bẻ bánh.
Là những Kitô hữu hôm nay, chúng ta cũng có những phương tiện như thế để nhận ra Chúa: Kinh Thánh và việc bẻ bánh. Về vấn đề gặp gỡ Đức Giêsu bằng đức tin, thế hệ đã qua không có nhiều đặc quyền hơn thế hệ hiện tại.
Đức Giêsu đã tín nhiệm các Tông đồ (và giờ đây tín nhiệm chúng ta) để Tin Mừng bảo đảm được rao giảng và được sống. Người cần chúng ta làm chứng cho sự hiện diện của Người trong thế gian.

 
 

LênTrời-148: NHÂN CHỨNG CHO ĐỨC KITÔ

Trước khi rời xa các tông đồ, Đức Giêsu đã uỷ thác cho họ việc rao giảng Tin Mừng cho toàn: LênTrời-148

Trước khi rời xa các tông đồ, Đức Giêsu đã uỷ thác cho họ việc rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới. Để giúp họ thi hành sứ vụ ấy. Người hứa sẽ gởi Chúa Thánh Thần đến cùng họ. Trong ngày Lễ Hiện Xuống, Người đã hoàn thành lời hứa ấy.
Nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho thế giới hiện nay tuỳ thuộc vào chúng ta. Chúng ta là những nhân chứng của Đức Kitô. Đó là một đặc ân to lớn nhưng là một nhiệm vụ luôn làm người ta chán nản. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể cậy đến sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần. Nhưng chúng ta phải làm chứng như thế nào?
Có sự làm chứng bằng lời nói. Chúng ta làm chứng bằng việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Điều này có thể bao gồm việc giải thích đức tin và bảo vệ đức tin.
Có sự làm chứng bằng việc làm. Một cây táo không bao giờ cho trái táo sẽ là một chứng tá nghèo nàn đối với vườn cây ăn trái. Dù chỉ trái táo ngon cũng nói lên được một điều gì đó. “Chớ vao giờ khuyên bảo một điều gì mà bạn không thể làm gương về điều đó” (Thoreau).
Rồi có sự làm chứng bằng đời sống của mình. Cây cối làm chứng cho sự sống bằng chính sự hiện hữu của nó. Cao, thẳng, bất độn, chúng là những chứng tá im lặng nhưng hùng hồn của đời sống. Bông hoa làm chứng về cái đẹp đơn giản bởi vẻ đẹp phong phú của chúng. Và những Kitô hữu làm chứng bằng đời sống của họ. Bài giảng thuyết hùng hồn nhất là bài giảng thuyết thinh lặng bằng gương sáng. Ngày nay, người ta không còn muốn nghe những bài giảng về đức tin. Họ muốn nhìn thấy Tin Mừng trong hành động.
Sự làm chứng bằng đời sống của một Kitô hữu còn mạnh mẽ hơn bất cứ lý luận nào. Có những người mà đời sống của họ toả sáng chứng cứ về quyền năng biến đổi của đức tin. Trong đời sống của họ, đức tin là một ngọn lửa sáng, giữa đời sống của những người khác, đức tin là một ánh sáng lờ mờ hoặc một tia lửa bất chợt. Dù có mọi giới hạn và khuyết điểm của con người, nếu một người sống đơn sơ, lấy Đức Kitô làm mẫu mực thì người ấy là dấu chỉ về Thiên Chúa và về những thực tại siêu việt.
Chứng tá của Tin Mừng mà thế giới cho rằng có thể kêu gọi người ta nhiều nhất là sự quan tâm đến con người, là việc làm bác ái hướng về người nghèo, người yếu đuối và người chịu đau khổ. Sự quảng đại được nhấn mạnh trong thái độ và các hành động đó nổi lên sự tương phản với tình vị kỷ của con người. Nó đưa ra những vấn đề chính xác dẫn đưa người ta đến với Thiên Chúa và đến với Tin Mừng. Một cam kết với hoà bình, công lý, nhân quyền là một sự làm chứng cho Tin Mừng.
Có một cấp độ thứ tư của việc làm chứng, đó là làm chứng với cái chết của mình. Nhưng điều này không đòi hỏi mọi người hoặc ban cho mọi người. Đây không phải là con đường êm ái và dễ dàng, nhưng là một con đường đòi hỏi một tính kiên trì, sức mạnh và lòng can đảm đặc biệt.
Thế giới ngày nay có một sự khao khát mãnh liệt Đức Kitô của Tin Mừng. Đức Giêsu nói với các Tông đồ: “Anh em hãy ở lại thành đô, cho đến lúc mặc lấy quyền năng từ trên cao”. Quyền năng nói ở đây là quyền năng của Chúa Thánh Thần. Chúng ta cần có chính quyền năng này, nếu chúng ta làm chứng cho Đức Giêsu. Và ai làm chứng sẽ chia sẻ vinh quang của Người.



CÂU CHUYỆN KHÁC.
Ngày xưa, có một người cha có mười hai người con. Dù ông đều yêu thương các con, ông vẫn có một tình thương dịu dàng với đứa con áp út tên Giuse. Những người con khác ganh tỵ với Giuse và quyết định giết anh. Tuy nhiên, vào giây phút cuối cùng, họ đổi ý. Thay vì giết em, họ bán em cho những thương gia đi ngang qua đó, họ nói với cha họ rằng người em đã bị thú giết chết.
Giuse bị xích lại và đưa sang Ai Cập, ở đó ông được bán như một người nô lệ. Ông có một đời sống cùng cực, hèn kém. Dsư5 việc còn tệ hơn, khi ông bị vu khống và bị giam vào ngục tối. Dù xung quanh là những tội phạm cứng lòng, ông vẫn tiếp tục tín nhiệm vào Thiên Chúa và sống một đời sống tốt. Ông cũng làm bạn với các tội phạm. Cuối cùng ông làm rạng danh ông và được tha.
Lúc đó, như thấy trước nạn đói khủng khiếp sẽ đến, ông đã cảnh báo nhà vua phải truyền lệnh cho dân tiết kiệm ngũ cốc. Nhà vua không chỉ theo lời khuyên của ông mà còn đặt ông làm quản lý công việc. Giuse đã hoàn thành công việc một cách xuất sắc.
Nạn đói đã xảy ra như dự kiến và dân chúng có thể lấy lúa gạo tích trữ ra dùng. Nhưng trong các nước láng giềng, tình trạng trở nên tồi tệ. Dân chúng các nước kéo nhau về Ai Cập để tìm mua ngũ cốc. Và nhà vua nói với họ: “Hãy đến gặp Giuse”.
Một ngày kia, anh em của Giuse đã đến Ai Cập để mua ngũ cốc. Khi họ nhận ra ông họ run sợ. Nhưng thay vì trả thù, Giuse đã tiếp đãi tử tế, và cho họ đầy đủ ngũ cốc mà họ cần. Ông nói với họ hãy trở về nhà và đưa cha họ đi theo họ trở lại Ai Cập cho ông gặp.
Người cha già rất đỗi vui mừng khi nghe nói rằng đứa con trai thân yêu của ông vẫn còn sống. Các anh của Giuse đã phạm phải một hành động ác độc chống lại ông. Nhưng qua đó, điều tốt lành đã đến với ông. Ông có thể cứu các anh mình khỏi nạn đói và làm cho cho cả nhà được đoàn tụ.
Câu chuyện của Giuse là một trong những câu chuyện cao cả nhất của Kinh Thánh. Ông Giuse là hình ảnh của Đức Giêsu, Chúa Con yêu dấu của Chúa Cha, đã bị anh em Người bán đi, bị giết chết, nhưng giờ đây đã được Chúa Cha cho sống lại và đặt Người ở bên hữu Chúa Cha trong vinh quang. Từ vị trí cao trọng ấy, Người cứu chuộc chúng ta, anh chị em của Người khỏi tội lỗi và cái chết đời đời. Và Người tìm kiếm để quy tụ mọi thành phần còn tản lạc của gia đình Thiên Chúa.
Ngày hôm nay chúng ta cử hành sự thăng thiên của Đức Giêsu. Người lên trờ ngự bên hữu Chúa Cha. Đây là một ngày vui vẻ. Nhưng Người đã cho chúng ta một nhiệm vụ phải hoàn thành. Không phải là phân phát ngũ cốc, nhưng là rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới.

 
 

LênTrời-149: Chú giải của Noel Quesson

Cũng như đối với trình thuật về cuộc Thương khó và Phục sinh, ta nên suy niệm những trình: LênTrời-149

Cũng như đối với trình thuật về cuộc Thương khó và Phục sinh, ta nên suy niệm những trình thuật khác nhau về biến cố Thăng Thiên được ghi lại cho ta: suy niệm tận nguồn gốc đặc biệt của chúng, để khỏi lẫn lộn Người với một thứ hình tượng -người máy.
Năm nay, chúng ta có may mắn được nghe hai trình thuật diễn tả cùng một biến cố do cùng một tác giả thuật lại đó là Luca. Thật rõ ràng, nếu Luca không nỗ lực dung hòa toàn diện hai đoạn văn mô tả của ông, là vì theo ông, chính những khác biệt đó có một ý nghĩa... vượt qua tính lịch sử được hiểu theo nghĩa hẹp.
Trong Tin Mừng, Luca giới thiệu biến cố Thăng Thiên ngay chiều hôm Phục sinh, và chác chắn ngay trong đêm tiếp theo ngày thứ nhất trong tuần (Lc 24, 1. 24, 13. 24, 36. 24, 50), nếu ta nhớ lại khi các môn đệ làng Em-mau vào bàn ăn, thì “trời đã muộn “ (Lc 24, 29), và các ông phải đi bộ khoảng 12 cây số trong “hai tiếng đồng hồ “ (Lc 24, 13) để trở lại Giêsusalem. Còn Đức Giêsu đã mất giờ giải thích Lề luật, các ngôn sứ và Thánh Vịnh liên hệ đến Người, với các môn đệ (Lc 24, 44) ngay chiều Phục sinh...
Trước khi dẫn họ đến Bê-tha-ni-a, ở đó Người được đem về trời (Lc 24, 50). Trái lại, trong Công vụ Tông đồ, cũng chính Luca xác định biến cố Thăng Thiên vào lúc kết thúc “bốn mươi ngày” (Cv 1,3). Ngoài những tưởng tượng có tính cách ấu trĩ mà ta cần phải từ bỏ, hiển nhiên là giữa những lần “hiện ra” khác nhau của Người, Đức Giêsu không lánh ẩn trong một khu phố tại Giêrusalem, trong một nơi bí mật, để chờ đợi “ên” trời về cùng Chúa Cha! Thực sự, Phục sinh, Thăng Thiên và Hiện xuống, là ba khuôn mặt của cùng một “mầu nhiệm” duy nhất: bởi vì vừa sống lại, thì Đức Giêsu đã bước vào vinh quang của Chúa Cha và ngự bên hữu Người “ theo kiểu nói của khải huyền. Đặc biệt, Luca nhấn mạnh đến sự kiện Đức Giêsu “rời bỏ “ những kẻ mà Ngài đã cho họ được gặp mặt... Người biến mất trước cái nhìn của họ (Lc 24, 31 - 24, 51).
Như thế, Thăng thiên vào chiều tối Phục sinh xảy ra để gắn liền cuộc sống nhân loại của Đức Giêsu với việc tôn vinh quyền năng Thiên Chúa của Người…và đó là trang cuối cùng của Tin Mùng!
Trong khi biến cố Thăng Thiên vào “ngày thứ bốn mươi” để bắt đầu cuộc sống mới của Đức Giêsu vượt qua không gian và thời gian... thì cũng là lúc khởi sự trang đầu tiên của Công vụ Tông đồ! Kết thúc thời gian của Đức Giêsu Nadarét...là bắt đầu thời kỳ của Giáo hội.
Rồi Người bảo: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Môsê, các sách Ngôn sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm”. Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và bảo: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội”.
Đức Giêsu nói: “Khi Thầy còn ở với anh em”. Điều đó chứng tỏ rằng Người không còn ở trái đất như trước nữa. Thăng thiên sắp tới chỉ lặp lại những gì đã diễn ra do biến cố Phục sinh: từ đây trở đi, sự hiện diện của Chúa Phục sinh, dù có thực sự đi nữa, thì cùng ở trong một trạng thái khác... Người đã bước vào thế giới của Thiên Chúa rồi.
“Việc ứng nghiệm... và hiểu biết Kinh Thánh!”. Đức tin là phương thế duy nhất để đạt được “thế giới của 'Thiên Chúa” mà Đức Giêsu đang hiện diện, vì giờ đây Người “không còn ở với chúng ta theo cùng một cách thức như trước nữa”. Ngay trên bước đường đi đến Em-mau, Đức Giêsu đã khiển trách hai người đồng hành với Người là những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin” (Lc 24, 25).
“Như sách Luật Môsê, các sách Ngôn sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy”. Chỉ khi sống lại, Người mới giải thích Kinh thánh: thực vậy, cần phải “chết đi sống lại”, để khi người ta đọc lại Kinh Thánh, mới có thể nhận ra điều đó đã được loan báo. Do đó, trong đời sống của chúng ta, có một số những biến cố đột nhiên xảy đến, soi sáng trở lại những sự việc, những lời nói mà trước đó chúng ta chưa hiểu được cách sâu xa.
“Các Thánh Vịnh”: Đức Giêsu đã thuộc lòng và hằng ngày dùng Thánh vịnh để cầu nguyện. Còn tôi thì sao? Liệu tôi có đủ độ nhớ chỉ một Thánh Vịnh để cầu nguyện, nhất là một trong những Thánh Vịnh nói về Đức Giêsu không?
Có lời Kinh Thánh chép rằng: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân của những điều này”.
Luca nhấn mạnh đến sự kiện: chỉ nhờ biến cố Phục sinh, các môn đệ mới hiểu được “những lời Kinh Thánh chép”. Như thế, đời sống của riêng ta, đời sống của mọi người, đời sống của những kẻ mà ta vẫn tưởng rằng mình có tương quan thân mật nhất... chỉ sáng tỏ trong ngày của Chúa. Đúng vậy, những biến cố liên hệ đến cuộc đời của Đức Giêsu, trước ngày đó, vẫn làm cho các môn đệ hoang mang, khó hiểu! “Đau khổ” của Đức Giêsu trên thập giá, có vẻ như một sự ngẫu nhiên, một tai nạn, một thất bại. Nhưng giờ đây họ mới khám phá ra, đó là sự ứng nghiệm chương trình mầu nhiệm của Chúa Cha: “Cần phải ứng nghiệm không gì đã được Kinh Thánh báo trước... “. Đó không phải là một định mệnh, cũng không phải là một số mệnh nghiệt ngã và khắt khe... mà là một chương trình yêu thương! Nhưng cho tới ngày đó, họ chưa nhận ra. Giờ đây, họ sắp trở nên chứng nhân cho những điều đó. “Ngày Phục sinh ngày dài nhất của thời gian... “Ngày thứ nhất” đó sẽ kéo dài, tới vô tận! Không có ngày nào khác như thế nửa. Ta hiểu ra rằng, Luca đã muốn gom cách tiêu biểu để cả trong ngày duy nhất đó, và ngày này sẽ được kéo dài qua đời sống chứng tá của Giáo hội suốt dòng lịch sử. Hiện nay, chúng ta có luôn là “nhân chứng” cho tình yêu cứu độ của Thiên Chúa không? Đức Giêsu, trước thái độ kịch liệt công phẫn của những người được coi là “sạch” đã nghiêng về phứa những người Samari ngoại giáo... những kẻ lạc đường, đĩ điếm, ngoại tình... những kẻ dốt nát, bị nhóm Pharisêu và thông giỏi khinh bỉ... những kẻ thông đồng với dân ngoại, những người thu thuế cộng tác với đế quốc Rôma... mọi người nghèo khổ bị xã hội ruồng bỏ, những kẻ thấp kém, bệnh tật, phong cùi. Thay vì ra hình phạt của Thiên Chúa mà lề luật đòi buộc, Đức Giêsu lại loan báo “ơn tha thứ” không giới hạn, không loại trừ một người nào khỏi ơn cứu độ phổ quát được cống hiến cho mọi người, bắt đầu từ Giêrusalem”. Đúng vậy, Thiên Chúa là Cha những người tội lỗi. Người tha thứ cho mọi người. Và noi gương Thiên Chúa, ta cũng phải tha thứ cho mọi người, ngay cả những kẻ thù của mình! Vì đã rao giảng những điều như thế nên Đức Giêsu đã bị kết án và bị đóng đinh như kẻ “phạm thượng”. Nhưng rõ ràng việc sống lại minh chứng rằng, Ngài đã có lý. Những người đại diện cho lề luật bị lên án. Đấng chịu đóng đinh luôn sống động. Mọi điều Đức Giêsu đã giảng dạy và hành động... sẽ tiếp tục và được chính Thiên Chúa minh chính hóa.. “Anh ern sẽ là chứng nhân! “.
Lạy Chúa, Chúa đòi chúng con phải thay đổi trở về thế nào đây? Thực sự, chúng con chưa làm chứng đầy đủ cho tình yêu cứu độ phổ quát!
Và đây chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.
Họ rất cần điều đó. Chúng ta cũng rất cần điều đó, cần “quyền năng” không do ta, chứng từ trời cao ban xuống! Bởi vì các môn đệ sắp phải sống và rao giảng trong một thế giới, bề ngoài chưa có gì thay đổi cả: sự dữ bạo lực, hận thù, chết chóc... độc ác, tà thuyết, sai lầm, dốt nát, áp lực đủ thứ... vẫn còn tiếp diễn.
Đấng sẽ trao ban quyền năng đó... ở đây không nêu tên... bởi vì, cũng như Chúa Cha “không ai trông thấy bao giờ.. và khác với Đức Giêsu, Đấng là khuôn mặt hữu hình của Thiên Chúa... Thần Khí không có dạng hình. Hay, đúng hơn Ngài mang bộ mặt của ta, theo cách nói của Thánh Phaolô: “Anh em là thân thể của Đức Kitô. Khi cây nến Phục sinh được tắt đi vào Lễ Thăng Thiên, thì độ là lúc các ngọn lửa được thắp sáng:để xâm chiếm mỗi người môn đệ vào Lễ Hiện Xuống.
Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được lên trời.
Đó là sự “rời khỏi”. Chỉ mình Luca sử dụng từ ngữ đây ý nghĩa đó.
So sánh với cùng một trình thuật trong Công vụ Tông chúng ta nhận thấy có nét giản dị hơn. Ở đây, không có yếu tố mô tả nào, không có “đám mây” cũng không có hai Người mặt áo trắng”. Không phải là Luca không hay biết tới ngôn ngữ khải huyền. Trong một trình thuật khác, ông sẽ sử dụng thứ ngôn ngữ này. Nhưng trong đoạn văn trên, ông muốn tương đối hóa, đơn giản hóa nó.
Tất cả đều rất bí mật, và chúng ta thử dõi theo Đức Giêsu xem sao: “Người dẫn các ông... “, “Người giơ tay chúc lành cho các ông”. “Người rời khỏi các ông để trở về với Chúa Cha trên trời”.
Chưa bao giờ Đức Giêsu đã “chúc lành” cho các tông đồ. Nhưng đây là một cảnh từ biệt. Luca có ý nối kết lại một truyền thống Kinh Thánh phong phú. Các nhân vật quan trọng trong Kinh Thánh thường kết thúc đời mình bằng một cử chỉ chúc lành cho những kẻ tiếp sau: Giacóp (St 49), Môsê (Đnl 33), Đavit (1Sb 28-29). “Phép lành” của Đức Giêsu là cử chỉ cuối cùng của Người. Một cử chỉ mà Người sẽ không ngừng thể hiện, nhờ mỗi linh mục, đại diện của Người, làm lại trên chúng ta vào lúc chào tạm biệt trong Thánh lễ, bằng cách “giơ tay lên” để chúc lành cho chúng ta nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa.
Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giênlsalem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
Thật là nghịch lý! Đức Giêsu rời khỏi họ, thế mà họ không buồn, lại vui tươi. Cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu đã trở thành nhóm người “tôn thờ” Đức Giêsu và cùng nhau “ca tụng Thiên Chúa”. Đức Giêsu ở “trên trời”. Các môn đệ của Người ở “trong Đền Thánh'. Đó chỉ là một biểu tượng... một sự đối xứng. Một phụng tự mới.

 
 

LênTrời-150: Suy niệm của R. Gutzwiller

Ý nghĩa Phục sinh  
 

Đức Kitô phải chịu khổ nạn và ngày thứ ba ........... Đấng chịu đóng đinh và Phục sinh sẽ là Đấng: LênTrời-150

‘Đức Kitô phải chịu khổ nạn và ngày thứ ba sống lại từ cõi chết, rồi phải nhân danh Ngài rao giảng cho mọi dân tộc việc hối cải để được tha thứ tội lỗi –khởi từ Giêrusalem’. Đấng chịu đóng đinh và Phục sinh sẽ là Đấng mà lề luật, các tiên tri và thánh vịnh đã hứa. Biến cố daỳ vò các tông đồ không phải là cái gì khác hơn là sự thực hiện chương trình vĩ đại về việc cứu độ của Thiên Chúa. Được phác hoạ trong Cựu ước và hoàn thành trong Tân ước. Đường dây nối mọi sách thánh lại là Đấng Messia đến, hành động, hy sinh. Và kết quả riêng tức ý nghĩa sâu xa nhất là sự thứ tha tội lỗi cho mọi dân moị nước. Phổ quát tính của ơn cứu độ, ý nghĩa bao quát của hy sinh thập giá được diễn tả qua những lời đó. Hy sinh thập giá là hy tế đem lại ơn cứu chuộc. Và Đấng Thiên Sai khi hoàn tất hy tế ấy đã trở nên ơn cứu độ cho Israel cũng như cho cả nhân loại.
Loan báo Phục sinh
‘Các anh em là những chứng nhân về điều đó’. Sứ điệp Kitô giáo không phải là một ý tưởng sáng tạo một sáng kiến độc đáo chi phối những khám phá mới, cũng không phải là việc tìm kiếm các chân lý, nhưng chính là xác quyết sự kiện: Đức Kitô đã chết và đã sống lại. Kitô giáo trước hết là một biến cố, rồi từ biến cố ấy thành lịch sử. Và lịch sử đó không tường thuật lại những hoạt động của loài người nhưng là những hoạt động của Thiên Chúa, nhất là sự hy sinh, của một vị Thiên Chúa nhập thể, đem ơn cứu chuộc đến cho mọi dân tộc. Loan truyền sứ điệp ấy có nghĩa là chứng thực biến cố ấy, vững lập trường về sự kiện ấy. Đó là làm chứng bằng lời nói, bằng đời sống và có khi phải bằng máu nữa. Đã làm chứng được như vậy, con người phải đón nhận sức mạnh Thánh Thần Thiên Chúa ‘Ta sắp sai đến trên anh em, điều Cha Ta đã hứa’. Chính Chúa Thánh Linh là chứng tá đích thực. Ngài sẽ làm chứng trong các tâm hồn bằng đức tin bên trong, còn con người làm chứng bên ngoài bằng việc rao giảng. Bởi thế, sự Phục sinh của Chúa Kitô là nội dung chính cốt của sứ điệp Kitô giáo qua các lời giảng dạy của các tông đồ cũng như qua sách công vụ và các thơ, đứng trước biến cố trọng đại ấy, tất cả đều phai nhoà đi hết. Việc rao giảng Kitô giáo không phải là trình bày các qui luật luân lý, giảng giải các chân lý giáo điều hoặc trình bày cuộc đời Chúa Giêsu, nhưng sự rao giảng ấy trước hết là một khẳng định rõ về cái chết và sự Phục sinh của Chúa, vì đó là những yếu tố trung tâm của lịch sử ơn cứu độ.



TỪ BIỆT
Đây là lần cuối cùng Chúa Giêsu ở giữa các tông đồ. Ngài ở giữa họ để nói lên lời từ biệt. Sự việc xảy ra gần Bêtania ở cửa thành thánh. Thánh Luca trình bày sự kiện này hết sức ngắn gọn, nhưng Ngài sẽ trở lại vấn đề trong chương Tin mừng sách Công Vụ với nhiều chi tiết hơn là ở đây, khi nói đến việc Chúa về Trời. Theo Tin mừng ta thâý việc kết thúc sứ vụ loan báo Tin mừng
1. Đức Kitô
Chúng ta được biết Đức Kitô từ biệt các tông đồ đang khi các Ngài chúc lành cho họ. Ngài không còn giảng dạy và ra lệnh gì nữa. Mọi cái mờ ám đều biến dạng. Cho dầu cuộc khổ nạn, việc Phêrô chối Chúa, sự nghi ngờ Chúa sống lại và sự phập phồng sau lần hiện ra cuối cùng. Mọi sự đều được sáng tỏ. Tất cả đều kết thúc tốt đẹp bằng phúc lành của Chúa, Đấng sẽ ban cho họ sinh lực để sống dù Ngài không còn hiện diện trước mắt nữa, và để họ hành động và tiếp tục sự nghiệp, họ sẽ giữ kỷ niệm sống động, việc Thày chúc lành.
Chúa lên trời chẳng qua là sự Người trở về cùng Chúa Cha và được biến hình cả thể xác lẫn tình thần, việc Chúa lên trời đó đối với các môn đệ cũng là một dấu chỉ tối cao về việc Ngài trở lại và nhờ đó, các ông cũng được lên trời. Từ giờ đó, họ biết rằng đời họ là một cuộc hành trình tiến về ánh sáng và bất chấp mọi trở ngại của cuộc sống trần gian cũng như quân thù bách hại, mọi chuyện sẽ hoàn tất trong ánh sáng của sự biến hình.
2. Các tông đồ
Họ quì gối xuống và thờ lạy. Họ không còn u tối, sợ sệt, phập phồng, hồ nghi gì nữa. Vì thế họ tin kính thờ lạy. Việc Ngài Phục sinh và lên trời chứng minh rõ ràng cho họ biết nguồn gốc cũng như bản tính Thiên Chúa của Ngài và Ngài được cất nhắc lên ngự bên hữu Chúa Cha. Thờ lạy, thán phục chỉ là cách thức nói lên sự hân hoan của họ. ‘Rồi họ trở lại Giêrusalem, vui mừng khôn xiết, và hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa’. Tin mừng kết thúc trong niềm hoan lạc, việc Chúa trở lại ‘uy nghi’ cho các tông đồ có cơ hội tôn vinh Ngài. Khi nhìn lại, khi nhớ đến lời truyền tin cho Giacaria và Đức Maria, khi nhớ lại các sứ điệp các thiên thần gởi cho các mục tử, nhớ đến việc dâng Chúa trong Đền thờ, rồi ơn kêu gọi riêng họ, việc họ thông dự vào quyền giảng dạy và làm các phép lạ của Chúa, từ đây họ hiểu rằng mọi sức đối kháng của thù địch đều không làm gì được và qua cuộc khổ nạn và thập giá Chúa, sự đối kháng ấy cũng góp phần vào việc đặt nền cho hoạt động cứu thế đúng nghĩa, cho hy tế cứu chuộc để cứu rỗi thế giới, sau cùng họ thấy rằng Chúa biến hình, từ đây không còn khổ đau nữa, thì họ chỉ còn biết tạ ơn Thiên Chúa với lòng thành tín khôn tả. Kế hoạch Ngài đã thực hiện, sự nghiệp Ngài đã hoàn thành, vinh quang Ngài đã tỏ hiện cho loài người. chính Thánh Luca đã kết thúc Tin mừng của ông bằng thánh thi ngợi khen vậy.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây