Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 151-200: Chúa Lên Trời

Thứ tư - 09/05/2018 06:11
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 151-200 Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 151-200 Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 151-200 Chúa Lên Trời
LênTrời-151: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN.. 2
LênTrời-152: HẠNH PHÚC NƯỚC TRỜI 3
LênTrời-153: CHUYỂN GIAO SỨ MẠNG.. 4
LênTrời-154: MỞ ĐƯỜNG.. 6
LênTrời-155: NHÂN DANH THẦY MÀ RAO GIẢNG.. 7
LênTrời-156: LỄ THĂNG THIÊN.. 9
LênTrời-157: NGÀY HẸN.. 11
LênTrời-158: Chuyến đi về trời - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 14
LênTrời-159: Ngày Chúa trở lại 16
LênTrời-160: Nơi chân trời và mặt đất giao nhau. 17
LênTrời-161: SỐNG HƯỚNG VỀ NƯỚC TRỜI TRONG CHÚA KITÔ.. 19
LênTrời-162: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN.. 21
LênTrời-163: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN.. 22
LênTrời-164: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN.. 24
LênTrời-165: Bài giảng của Lm. GB. Hiếu. 26
LênTrời-166: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN.. 27
LênTrời-167: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN.. 28
LênTrời-168: TIẾP TỤC CÔNG VIỆC CỦA CHÚA.. 30
LênTrời-169: MỘT CÕI ĐI VỀ.. 32
LênTrời-170: MẦU NHIỆM TÔN VINH THIÊN CHÚA.. 33
LênTrời-171: LOAN BÁO TIN MỪNG CHO MỌI LOÀI THỌ TẠO.. 35
LênTrời-172: Tiếp nối sứ vụ của Chúa Ki-tô. 39
LênTrời-173: SAO CÒN MÃI NHÌN TRỜI ?. 40
LênTrời-174: LÊN TRỜI LÀ LÊN ĐƯỜNG.. 42
LênTrời-175: SAO CÒN ĐỨNG NHÌN TRỜI?. 44
LênTrời-176: CHÚA VỀ TRỜI 45
LênTrời-177: Thầy ra đi, nhưng Thầy sẽ trở lại 47
LênTrời-178: ĐƯỜNG VỀ TRỜI 50
LênTrời-179: BÂY GIỜ CON VỀ CÙNG CHA.. 52
LênTrời-180: Lễ Thăng Thiên. 53
LênTrời-181: ĐỂ CÓ CHÚA CÙNG HOẠT ĐỘNG.. 57
LênTrời-182: Hãy Rao Giảng Tin Mừng. 59
LênTrời-183: CHIỀU KÍCH VŨ TRỤ CỦA TIN MỪNG.. 60
LênTrời-184: LỄ THĂNG THIÊN.. 63
LênTrời-185: Thời điểm MẬT MÃ DA VINCI 66
LênTrời-186: ÁI MỘ TRỜI CAO.. 69
LênTrời-187: NGƯỠNG MỘ VỀ TRỜI 73
LênTrời-188: Hạnh Phúc Nước Trời 75
LênTrời-189: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian. 76
LênTrời-190: Chúng không thuộc về thế gian. 77
LênTrời-191: Xin cho chúng con nên một 78
LênTrời-192:  Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. 80
LênTrời-193:  Thày đi nhưng sẽ trở lại… Thày sống các con cũng sống. 81
LênTrời-194: CÙNG Ở LẠI TRONG THÀNH.. 84
LênTrời-195: RAO GIẢNG VIỆC SÁM HỐI 86
LênTrời-196: CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI 88
LênTrời-197: ĐỪNG KHÓC ! 90
LênTrời-198: BAY VỀ TRỜI CAO.. 91
LênTrời-199: ANH EM HÃY ĐI THÂU NẠP MÔN ĐỒ KHẮP MUÔN DÂN.. 93
LênTrời-200: VỀ TRỜI 95

 

LênTrời-151: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN

Lc. 24, 46 - 53 
Anh chị em thân mến. 

 

Chúng ta thường nghe câu nói: Chiến đấu có gian nan thì chiến thắng mới vinh quang.  Nước VN: LênTrời-151

Chúng ta thường nghe câu nói: Chiến đấu có gian nan thì chiến thắng mới vinh quang.
Nước VN chúng ta đã trải qua 4000 năm văn hiến. Cha ông đã khổ công gây dựng nên. Biết bao người đã hy sinh. Đọc lại những trang sử hào hùng của dân tộc, chúng ta nhìn thấy sự thăng trầm của đất nước, nhìn thấy những nỗi khổ nhọc của tiền nhân. Giờ đây tất cả mọi điều đã qua đi, chúng ta chỉ còn truyền lại cho nhau nghe qua những phương tiện của thời đại. Những người đang sống, đang tận hưởng những gì mà người xưa đã để lại, họ có bổn phận gìn giữ, bảo vệ và cũng làm cho đất nước mỗi ngày tốt đẹp hơn, vì họ đang tận hưởng sự bình an, hạnh phúc của người xưa.
Nếu họ không biết cách bảo vệ, nếu họ làm cho đất nước bị suy đồi thì họ sẽ mang tội với người xưa và cả với thế hệ mai sau. Họ đã sống không xứng đáng là một chứng nhân sống động của thời đại, không xứng đáng là người VN. Nếu họ biết gìn giữ, đóng góp tích cực cho đất nước mỗi ngày được tốt đẹp. Đó là những chứng nhân xứng đáng, những người biết tận hưởng hạnh phúc và cũng biết để hạnh phúc cho người khác. Đó là những người sống không hổ thẹn với lịch sử.
Chúa Giêsu kêu gọi các Tông đồ làm chứng nhân, kêu gọi các ông rao giảng. Không phải rao giảng cho một dân tộc, một đất nước nhỏ bé trên trần gian. Cũng không phải rao giảng cho những con người không còn hiện hữu, cũng không phải rao giảng cho một hành động của quá khứ, một việc làm mà giờ đây không còn tồn tại nữa. Nhưng rao giảng và làm chứng cho Nước Trời, cho Dân Thiên Chúa. Rao giảng và làm chứng cho một việc làm của quá khứ, nhưng vẫn còn hiện diện hữu hiệu trong hiện tại,cho từng con người.
Rao giảng và làm chứng cho Thiên Chúa, cho Tình yêu bao la mà Ngài đã hành động cho con người. Các Tông đồ ngày xưa đã làm tròn bổn phận của một công dân nước trời. Các ông đã tận hưởng được sự bình an, hạnh phúc, nên các ông biết làm chứng cho hạnh phúc đó và truyền lại cho thế hệ mai sau. Chính vì các ông biết vâng lời và cũng vì các ông cảm nhận được một điều quang trọng là: Chúa Giêsu rời xa các ông qua thể xác, qua những gì là của trần gian tạm bợ nầy, nhưng Ngài vẫn ở bên cạnh các ông, vì các ông là công dân nước trời. Nhờ đó chúng ta cũng làcông dân nước trời, chúng ta cũng có bổn phận rao giảng, làm chứng và bảo vệ những gì mình đã tận hưởng.
Trong thánh lễ hôm nay, nhắc cho mỗi người nhớ lại mình đã là công dân nước trời. Mỗi người cũng đã nhận được lệnh truyền như các Tông Đồ khi xưa là rao giảng và làm chứng. Với những gì mình đang có trong hiện tại, với những việc làm đã qua trong cuộc sống, mỗi người trong chúng ta đã để lại những trang sử đời mình như thế nào cho thế hệ mai sau? Nếu trung thực mà viết lại tất cả những gì chúng ta đã làm, những gì đã suy tư toan tính, những điều ngoài ánh sáng cũng như những gì trong bóng tối không ai nhìn thấy, chúng ta có dám để lại những trang sử đó cho thế hệ mai sau học hỏi hay không? Nếu không dám để lại thì một cách nào đó, chúng ta đã làm ô danh nước trời, ô danh quê hương của chúng ta. Vậy thì Nước Trời sẽ đối xử với những người con đó như thế nào?
Còn nếu chúng ta dám để lại những trang sử tốt đẹp của đời mình cho thế hệ mai sau, mà không hổ thẹn. Đó là chúng ta đã biết nghe lời Chúa Giêsu: biết rao giảng, biết làm chứng bằng cuộc sống của mình. Đó là chúng ta biết mình đang tận hưởng sự bình an, biết đem bình an, hạnh phúc đến cho mọi người.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết sống tốt đẹp, để dùng đời sống của mình rao giảng nước Thiên Chúa, và xứng đáng là Công Dân Nước Trời.  

 
 

LênTrời-152: HẠNH PHÚC NƯỚC TRỜI

Lc. 24, 46 - 53  
 

Đã là người chắc hẳn ai trong chúng ta cũng có nhiều khao khát tự trong cõi lòng. Khao khát có: LênTrời-152

Đã là người chắc hẳn ai trong chúng ta cũng có nhiều khao khát tự trong cõi lòng. Khao khát có được ngôi nhà đầy đủ tiện nghi, khao khát có được vợ đẹp con ngoan, khao khát được yêu thương... Nhưng có một khao khát lớn hơn, nó bao trùm tất cả. Đó là khao khát được sống hạnh phúc. Quả thật, khao khát ấy hết sức chính đáng. Cách riêng với niềm tin kitô giáo, hạnh phúc đích thực là khi con người có được sự liên hệ thân thiết với Thiên Chúa. Từ thuở ban đầu, con người đã được Thiên Chúa ban cho điều ấy. Tiếc thay, do sự bất tuân mà tổ tông ta đã đánh mất. Dù vậy, do tình thương nên Thiên Chúa đã tìm nhiều cách để cho chúng ta tìm lại được tình trạng ấy.
Hôm nay, toàn thể Giáo hội Công giáo mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên. Đây là ngày Chúa Giêsu được trở về ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Đấy là hạnh phúc tuyệt vời và cao đẹp. Đoạn Tin Mừng mà Giáo hội cho chúng ta suy niệm hôm nay cho thấy khi Chúa Giêsu chia tay các Tông đồ để về trời thì các ông: “Trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24, 52b - 53).
Có thể, chúng ta sẽ lấy làm lạ vì thông thường khi chia tay người ta hay khóc lóc, buồn bã. Còn ở đây các ông lại vui mừng. Không vui sao được vì các ông tin rằng: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14, 1), “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20), “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14, 18) và “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14, 16) ... Như vậy, qua lời Chúa Giêsu hứa các ông tin rằng Người vẫn luôn hiện diện bên họ. Mặc dù với cặp mắt bình thường các ông không thấy được. Vì thân xác Người lúc bấy giờ đã trở nên vinh hiển và không còn bị lệ thuộc vào không gian và thời gian.
Do đâu mà Chúa Giêsu đã được Chúa Cha ban cho hạnh phúc đích thực như thế? Về bản tính Thiên Chúa thì Chúa Giêsu đương nhiên phải được. Còn về bản tính con người thì Chúa Giêsu đã đi con đường mà Chúa Cha đã vạch sẵn cho Người. Đó là con đường thập giá. Và Người đã đi trọn vẹn con đường ấy trong vâng phục và yêu mến. Chúa Giêsu cũng đã mời gọi chúng ta hãy đi theo Người bằng con đường ấy (Mt 16, 24). Khi chúng ta biết chấp nhận đi con đường thập giá, chắc chắn Người sẽ cùng đồng hành với chúng ta. Người đồng hành với chúng ta qua Giáo hội. Người đồng hành và ban sức cho qua Lời cũng như Mình Máu Người...
Đường thập giá không giống với những suy nghĩ và cách sống ích kỷ của con người. Những suy nghĩ và cách sống ấy chắc chắn không phải là điều Thiên Chúa muốn. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới mà người người chạy theo những hạnh phúc ảo mà họ chẳng hay biết. Hạnh phúc ảo ấy là tiền bạc, danh vọng, quyền lực, địa vị, danh vọng, thỏa mãn xác thịt ... Càng lún sâu vào những hạnh phúc ảo ấy, nó sẽ đưa con người chúng ta tới sự mất bình an và tâm hồn trống rỗng, mất phương hướng.
Mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên hôm nay, mỗi người chúng ta hãy xin Chúa Giêsu Phục sinh cho ta biết cùng đi như Người để có được hạnh phúc đích thực.

 
 

LênTrời-153: CHUYỂN GIAO SỨ MẠNG

Lc. 24, 46 - 53  
 

Trong điền kinh có môn chạy tiếp sức. Người thứ nhất cầm gậy chạy một đoạn quy định, chạy đến: LênTrời-153

Trong điền kinh có môn chạy tiếp sức. Người thứ nhất cầm gậy chạy một đoạn quy định, chạy đến người đồng đội của mình trao cây gậy đó cho đồng đội của mình để chạy tiếp và cứ như thế cho đến hết số người quy định.
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên. Chúa Thăng Thiên là làm sao? Có phải Chúa bay về vùng trời cao xa, Chúa bay về thiên quốc … Không phải như thế đâu. Chúa Thăng Thiên tức là Chúa chấm dứt sự hiện diện hữu hình tại thế của Người. Chúa Thăng Thiên nhưng Chúa không bỏ mặc các môn đệ mồ côi nhưng Ngài hứa “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” . Đoạn Tin Mừng theo thánh Luca mà chúng ta được đọc hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu hiện ra và minh chứng chính Ngài là chứng mà Kinh Thánh đã tiên báo và kêu gọi các môn đệ hãy làm chứng về những điều đó. Muốn làm chứng điều đòi hỏi đầu tiên là người đó phải là người chứng kiến, phải cảm nhận tức là họ phải tin chắc chắn đó là thật thì mới dám làm chứng. Nhưng ở đây làm chứng cho Chúa Phục Sinh còn đòi hỏi một yếu tố quan trọng hơn đó chính là sức mạnh, quyền năng từ trời cao ban xuống.
Sau khi Chúa Giêsu sống lại nhiều lần Chúa đã hiện ra với các môn đệ để minh chứng rằng chính Ngài là Đấng đã chịu đau khổ, đã chịu chết, và nay đã sống lại. Các môn đệ đã tận mắt chứng kiến và hôm nay các ông được mời gọi làm chứng cho điều đó. Chúa Giêsu đã làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại và hôm nay trọng trách đó, “ cây gậy tình yêu ” đó được chuyển giao lại cho các môn đệ để các ông làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa cho con người được thể hiện qua tình yêu tự hiến, qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.
Chúa Thăng Thiên, Chúa Giêsu đã hoàn thành sứ mạng của Ngài và Ngài chuyển giao sứ mạng đó cho mỗi người chúng ta. Đối với chúng ta niềm vui Chúa Phục Sinh của Chúa Giêsu có là một niềm vui trọng đại nào không? Sự phục sinh của Chúa Giêsu có mang lại cho chúng ta chút ý nghĩa nào không? Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một niềm vui lớn lao cho cả nhân loại, không riêng gì chúng ta. Chúa phục sinh tức Chúa đã chiến thắng cái chết với thân xác phải chết của chúng ta qua sự vâng phục trọn vẹn thánh ý Chúa Cha. Qua cái chết của Chúa Giêsu còn thể hiện một tình yêu bao la mà Thiên Chúa dành cho chúng ta, ngay Con Một mà Chúa cũng chẳng từ mà ban cho chúng ta thì thử hỏi Chúa còn tiếc gì đối với chúng ta nữa, thánh Phaolô đã nói “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là những tội nhân ”, chúng ta không đáng yêu chút nào nhưng tình yêu của Thiên Chúa bao trùm lấy chúng ta. Qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, Chúa đã biểu lộ tình yêu của Chúa cho chúng ta bây giờ chỉ còn việc ta sẽ đáp lại tình yêu đó như thế nào, và sẽ loan báo tin vui đó ra sao. Nếu chúng ta tin rằng Chúa đã chết và sống lại vì chúng ta thì sao chúng ta chưa biết tạ ơn Chúa, chúng ta chưa cảm tạ Chúa trong từng ngày sống của chúng ta, chúng ta chưa phó thác mọi sự cho Chúa. Phó thác không phải là buông xuôi nhưng là thực hiện hết khả năng của mình trong sự tin tưởng vào Thiên Chúa. Chúa Giêsu chiến thắng khi Ngài hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha, vậy chúng ta hãy vâng nghe lời Chúa để cũng được chiến thắng như Chúa Giêsu. Nghe tiếng Chúa qua việc siêng năng cầu nguyện, qua việc học hỏi thánh Kinh, qua việc tham dự Thánh Lễ, lãnh nhận các bí tích nhất là Bí Tích Thánh Thể … nghe tiếng Chúa để thi hành ý Chúa.
Chúa Thăng Thiên nhưng các môn đệ không buồn sầu thảm não như hôm Thầy bị bắt nhưng lòng các ông đầy hân hoan vì các ông biết rằng từ nay không được thấy Thầy mình hiện diện khả giác nữa nhưng các ông cảm nhận được sự hiện diện ấy bằng niềm tin. Trong niềm tin các ông cùng nhau hiệp nhất, cầu nguyện, chính trong niềm tin Chúa Phục sinh mà các ông gắn bó hơn với Chúa và gắn bó hơn với nhau. Mọi người Kitô hữu chúng ta cũng hãy biết gắn bó với nhau, hiệp nhất nhau trong lời cầu nguyện, hiệp nhất nhau trong Thánh Lễ, và chắc chắn khi đó sẽ cảm nhận được sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô.
Hôm nay Chúa Thăng Thiên mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Giáo hội, kỷ nguyên của chính chúng ta. Chúng ta hãy làm chứng cho tình yêu thương của Thiên Chúa đã cho chúng ta tất cả kể cả Con yêu Dấu của Ngài bằng một đời sống vui tươi, cảm tạ, một mối tương quan bác ái, huynh đệ đối với mọi người chung quanh để làm sao thể hiện một con người được cứu độ, được Thiên Chúa yêu thương và loan báo tình yêu thương đó cho mọi người.
Người ta nói khi yêu không thể giấu được: một anh chàng hay một cô nàng đột nhiên ca hát, hớn hở, rất linh hoạt, rất cởi mở, vui tươi, yêu đời … thì người ta có thể đoán anh chàng hay cô nàng đó đang yêu.
Ước gì mỗi người Kitô hữu chúng ta sẽ tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu trao phó là loan báo tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta bằng một đời sống như thế.

 
 

LênTrời-154: MỞ ĐƯỜNG

Lc. 24, 46 - 53 
“đang khi Chúa chúc lành cho các ông, Người được rước về trời ” (Lc 24, 51) 

 

Tập truyện Tây Du ký rất hấp dẫn, không những cho người Tàu, người Việt chúng ta, mà còn : LênTrời-154

Tập truyện Tây Du ký rất hấp dẫn, không những cho người Tàu, người Việt chúng ta, mà còn cho một số người ngoại quốc nữa. Người ta nói rằng: nhiều người mê chuyện Tây Du ký không phải vì chuyện đánh đấm, vì quyền phép của Tề Thiên mà thôi; cái chính là ở chỗ chuyện Tây Du ký đem lại sự kích thích tính tò mò hiếu kỳ của con người. Đó là chuyện trên trời, chuyện của thần tiên. Nhân loại vì tò mò, vì không ai biết trên trời ra sao, có gì trên đó, và cõi trời ở đâu, vì chưa có ai lên đó kể lại…. Thật ra, tính tò mò đó không phải là điều không chính đáng. Hôm nay mừng lễ Chúa lên trời, Hội thánh không phải để thỏa mãn tính tò mò của con người; cái chính Hội thánh muốn nói: đây là một sự thật chính Chúa từ trên trời xuống nói cho ta biết về trời, nhất là hôm nay, người về trời đi trước dọn chỗ cho ta, để mai sau ta cùng được lên đó với Chúa.
a. Thiên đàng là gì, ở đâu và ra sao? Có phải thiên đang là giấc mơ của tuổi thơ? Hay thiên đàng là thế giới đại đồng của người CS như Max hay Engels nói? Hay thiên đàng là cõi trời của Tây Du Ký?
Chúng ta thử nhìn lại: Cõi trời hay thiên đàng của Tây Du Ký, thực ra không khác gì ở trần gian, vì nơi đó còn đầy gian tham, hối lộ, còn đầy cái ác trên đó…Thực ra cõi trời của Tây Du Ký, theo Ngô Thừa Ân, đó chỉ là hiện thân của cõi lòng con người còn đầy lục dục, thất tình, và cõi lòng đó có khao khát muốn thóat ra cái không tốt đó. Tóm lại cõi trời đó chính là cái tâm của con người không hơn không kém.
Bây giờ ta lại nói đến cõi trời hay thiên đàng của trẻ thơ: thiên đàng của trẻ thơ thực ra chỉ là giấc mơ, nghĩa là không có thật; vì khi lớn lên ta mới hiểu, giấc mơ đó đẹp lắm, nhưng vì là giấc mơ, nên nó không phải là thực tại, không phải là sự thật. Ngày nay người thanh niên gọi thiên đàng của tuổi thơ: đó là thế giới mộng, hoặc thế giới ảo….
Theo triết lý của Max Engels mơ ước thiết lập cho người một thiên đàng thật lý tưởng, một thế giới đại đồng ở đó không có cảnh người bóc lột người, ở đó mọi của cải là của chung, và người ta sử dụng công bằng theo nhu cầu của mình. Thế giới đại đồng này đẹp quá, lý tưởng quá, đẹp và lý tưởng hơn cả thiên đàng của người Công giáo nữa; nhưng chừng nào thì ta đi tới đó?
Sau cùng, cũng phải nói đến thiên đàng của Chúa Giêsu; dĩ nhiên đây là sự thật chính Chúa nói cho ta biết, cũng vì chính Chúa đã từ trời mà xuống, nói lại cho nhân loại hiểu. Cũng chính Chúa Giêsu đã sẵn sàng chết để minh chứng cho lời nói của Chúa là sự thật. Sau này, qua lịch sử của Hội thánh, các thánh hàng hàng lớp lớp đã đứng lên làm chứng cho ta về sự thật này… Có người sẽ nói vì là người Công giáo, nên mình bênh vực cho Chúa, cho các thánh, đó là điều dĩ nhiên… Nói thế cũng không phải sai, nhưng có một điều này, nếu bênh vực một điều không đúng, không phải là sự thật, tại sao qua hai mươi thế kỷ, hàng tỉ con người luôn nghe theo, và sẵn sàng dám sống chết cho Chúa, cho hội thánh? Chẳng lẻ họ là những người dốt nát cả sao? Chính lý lẽ này phải làm cho ta suy nghĩ….
b. Gợi ý sống và chia sẻ:
Thật ra Hội thánh, mẹ chúng ta chẳng cần phải làm chứng cho chúng ta về sự thật này, về hạnh phúc thiên đàng, vì có Chúa Thánh Thần luôn làm chứng cho Hội thánh. Dù vậy Chúa Kitô đã chết để trở thành chứng nhân sống động cho ta tin nơi thiên đàng. Phần ta, ta có sẵn sàng tin vào Chúa và vào Hội thánh của Chúa không?

 
 

LênTrời-155: NHÂN DANH THẦY MÀ RAO GIẢNG

Lc. 24, 46 - 53  
 

Đức Giêsu có thể thực hiện bất cứ điều gì nếu Người muốn, thế nhưng Người vẫn luôn tôn trọng: LênTrời-155

1. Đức Giêsu có thể thực hiện bất cứ điều gì nếu Người muốn, thế nhưng Người vẫn luôn tôn trọng quy luật tự nhiên do Thiên Chúa thiết lập. Khi còn ở trần gian Người đã vất vả rao giảng Tin Mừng. Sau khi hoàn thành sứ vụ, Người trở về cùng Thiên Chúa Cha, việc loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Đức Giêsu Phục Sinh được trao bancho các môn đệ, cũng là trao ban cho mỗi người chúng ta. Chúng ta đã làm gì để góp phần mở rộng Nước Chúa, làm chứng cho Đức Giêsu?
2. Trước hết , chúng ta nên hiểu như thế nào về việc Chúa lên trời? Trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, thánh Luca ghi rằng sau khi hiện ra với các môn đệ, Người có những lời dạy bảo sau cùng, sau đó đang khi chúc lành cho các ông, thì Người được đem lên trời.
- Ở đây thánh sử Luca đã dùng cách thông thường của loài người để diễn tả việc Chúa Giêsu siêu thăng. Người “lên trời”, chúng ta thường hiểu là Người bỏ một nơi trên trái đất nầy để đến một nơi khác là “trời”, mà nên hiểu là:
- Người thay đổi tình trạng, không còn ở tình trạng mang thân phận loài người hèn hạ nữa, mà trở về tình trạng vinh quang của một vị Thiên Chúa cùng Thiên Chúa Cha trước khi Người nhập thế.
- Người cũng thay đổi cách hiện diện, từ nay Người không hiện diện giữa chúng ta bằng thân xác hữu hình nữa, nhưng vẫn hiện diện bằng thiên tính của Người cho dù mắt chúng ta không thấy. Người hiện diện khi Lời Người được công bố, các bí tích được cử hành… Hay Người xin Chúa Cha ban Chúa Thánh Thần đến để dạy dỗ chúng ta, đó cũng là một cánh hiện diện.
- Và khi nói về việc Chúa lên trời, các sách Tin Mừng chỉ ghi lại rất vắn tắt ‘Chúa lên trời’ vậy thôi, chứ không nói rõ Người lên trời sau khi sống lại bao lâu. Nhưng theo sách Công Vụ Tông Đồ, mà Luca ghi lại, Đức Giêsu ‘lên trời’ sau khi sống lại được 40 ngày. Vậy Chúa ‘lên trời’ chính xác là thời gian nào ?
Có thể trả lời tóm gọn là Chúa ‘lên trời’ ngay khi Người phục sinh. Nhưng sau đó Chúa còn hiện ra với các tông đồ, môn đệ nhiều lần để củng cố lòng tin của họ, trong một khoảng thời gian mà sách Công Vụ Tông Đồ cho rằng là 40 ngày. Sau cùng, Người chấm dứt việc hiện ra, bằng cách công khai về cùng Chúa Cha trước mặt các ông như trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe.
Đức Giêsu về trời đó là một điều chắc chắn, đó cũng là niềm phấn khởi cho chúng ta, vì chính Người nói Người đi để dọn chỗ cho chúng ta, nếu chúng ta trung thành tin giữ những điều Người dạy, chúng ta cũng sẽ được hưởng vinh quang trong nhà Cha Người.
3. Kế đến, làm sao loài người có thế biết Thiên Chúa, tin vào Đức Giêsu đã phục sinh ? Chính vì ưu tư này, mà trước khi về trời, Đức Giêsu đã ra chỉ thị cho các môn đệ:“ Phải nhân danh Thầy mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội …” (Lc 24,47).
“Phải nhân danh Thầy mà rao giảng” : Thực hiện lệnh truyền của Thầy Chí Thánh , các thế hệ Kitô hữu kế tiếp nhau không ngừng rao giảng Tin Mừng, làm chứng cho Đức Kitô Phục Sinh. Giáo hội như đôi tay nối dài của Chúa để đem ơn cứu rỗi con người.
Nhìn lại toàn cầu, sau 2000 năm Tin Mừng được rao giảng, hơn 2 tỉ người tin vào Đức Giêsu, trong đó có hơn 1 tỉ người Công giáo, con số này làm cho chúng ta vui mừng, nhưng còn hơn 4 tỉ người chưa biết Chúa, thì sao ? Tại Việt Nam, sau hơn 470 năm hạt giống Tin Mừng được gieo vãi, Giáo Hội Việt Nam khá vững mạnh. Thế nhưng 470 năm trước, cánh đồng truyền giáo thật bao la, 470 năm sau, thời chúng ta đang sống đây, cánh đồng truyền giáo cũng còn rộng khắp! Rồi nhiều người, ngay cả chúng ta nữa mang danh là Kitô hữu mà đời sống còn nhiều bất xứng, cho nên không những truyền giáo mà còn phải tái truyền giáo nữa. Thật là điều đáng làm cho chúng ta suy nghĩ và cấp bách thực hiện.
Rao giảng Tin Mừng muốn có hiệu quả phải đi đôi với việc làm cụ thể, quả đúng như thánh Giacôbê đã viết:”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”(Gc 2,17). Đức Phaolô VI, cũng như Đức Gioan Phaolô II thường dạy với ý tưởng rằng : Thời nay người ta tin chứng nhân hơn thầy dạy, nếu người ta có tin ở thầy dạy bởi chính người đó là chứng nhân. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong thư mục vụ 2006 cũng chỉ rõ:”Đời sống đạo vừa cần gắn bó với Thiên Chúa, vừa phải đi đến với anh em, như Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể và nhập thế đã nêu gương cho chúng ta” (TMV 2006,1). Trong phần hướng dẫn, các ngài cũng đã nêu những việc làm cụ thể như : Quan tâm giúp đỡ người thiếu thốn, bệnh tật, nạn nhân bão lụt ; tôn trọng luật giao thông, giữ môi trường sạch đẹp ; nhịn nhục, tha thứ, không báo thù, không gian tham, trộm cắp lỗi đức công bằng… Vậy mọi Kitô hữu hãy nhìn lại chúng ta đã là chứng nhân cho Đức Kitô Phục Sinh như thế nào ? Hay là những phản chứng khi đời sống ta còn quá lôi thôi thiếu sót ! 

Như một cuộc chạy tiếp sức, Đức Giêsu đã hoàn thành phận vụ của mình và trở về cùng Cha hưởng vinh quang thiên quốc, như kết thúc vai trò của Người ở trần gian. Giờ đây đến vai trò của Giáo Hội, của mỗi người chúng ta tiếp tục làm chứng cho sự hiện diện, tình yêu của Thiên Chúa. Sứ mệnh nầy mang tính cấp bách, liên lỉ và đòi hỏi chúng ta phải thật nhiều cố gắng để cộng tác với Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh mà Thiên Chúa Cha trao ban. Chắc chắn phần thưởng Nước Trời cách xứng hợp cho những ai không quản ngại nhân danh Đức Giêsu Kitô mà rao giảng.
 
 

LênTrời-156: LỄ THĂNG THIÊN

Tại Giêrusalem, trên đỉnh Núi Ôliu có một bảng ghi “Nhà Thờ Thăng Thiên” để tưởng nhớ việc LênTrời-156 Ephata

Tại Giêrusalem, trên đỉnh Núi Ôliu có một bảng ghi “Nhà Thờ Thăng Thiên” để tưởng nhớ việc Chúa Giêsu về Trời, xa rời các Tông Đồ và thế gian này ( Cv 1, 9-12 ).
Theo tín điều của Công Đồng Nixê, chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu lên trời khi chúng ta nói: “Ngài lên trời và ngự bên hữu Chúa Cha”.
Thăng Thiên là mầu nhiệm Đức Tin, cũng như việc Chúa Giêsu sống lại. Sự kiện này được nói ngắn gọn trong Mc 16, 19 và Lc 24, 50-53. Các chi tiết được Thánh Luca nói trong Cv 1, 1-12.
Việc Chúa Giêsu lên Trời có thể xác định là “bước chuyển tiếp” của thân xác sống lại vinh quang về Trời, về thế giới vĩnh hằng. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa được mô tả trong những cách như “từ Trời xuống” để hoàn tất công việc trên thế gian, tồi Ngài “lên Trời” hoặc “về Trời”. Chính Chúa Giêsu cũng nói trước về việc Ngài xuống thế gian và lại về Trời với Chúa Cha khi công cuộc cứu độ hoàn tất ( x. Ga 3, 13; Ep 4, 10 ).
Ngoại trừ chi tiết Thánh Luca nói bốn mươi ngày trong sách Công Vụ ( Cv 1, 3 ), cả Thánh Máccô, Thánh Luca và Thánh Gioan đều nghĩ về cuộc lên Trời của Chúa Giêsu là điều xảy ra vào ngày Ngài phục sinh. Tư tưởng này là tôn vinh và tán dương Chúa Giêsu xảy ra khi Ngài phục sinh — có hai phương diện tương tự. Qua việc sống lại và lên trời, Chúa Giêsu rời thế gian và các thụ tạo để về ngự bên hữu Chúa Cha.
Hình ảnh “ngự bên hữu Chúa Cha” ảnh hưởng từ Thánh Vịnh: “Sấm ngôn của Đức Chúa ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con” ( Tv 110, 1 ). Chính hình ảnh này đến từ ngày xưa, khi vua chúa được các quần thần bao quanh, bên phải vua là vị trí quan trọng nhất. Do đó, người ta cũng nói Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha để cùng chia sẻ quyền năng đối với vũ trụ.
Nếu Chúa Giêsu không tiến vào vinh quang khi sống lại, khó giải thích được Ngài ở đâu từ lúc sống lại tới khi lên Trời. Ở đây chúng ta nói về mầu nhiệm và rất khó để hiểu trọn vẹn ý nghĩa. Lên Trời là lần hiện ra cuối cùng của Chúa Giêsu đối với các Tông Đồ trước khi Ngài về Trời.
Con số “bốn mươi” trong Kinh Thánh nghĩa là “một khoảng thời gian viên mãn”, không chỉ mang nghĩa bốn mươi ngày theo lịch. Như vậy, điều đó có nghĩa là Chúa Giêsu thường xuyên hiện ra với các Tông Đồ trong một thời gian và rồi rời xa họ. Từ đó, họ phải sống bằng Đức Tin và giao tiếp với Ngài qua lời cầu nguyện và các Bí Tích.
Mầu nhiệm này có hai phương diện:
1. Vinh quang Nước Trời của Đức Kitô xảy ra đồng thời với sự phục sinh của Ngài.
2. Ngài đi xa các Tông Đồ sau một thời gian hiện ra nhiều lần với họ.
Lễ Thăng Thiên tưởng nhớ phương diện thứ hai.
Lễ Thăng Thiên nghĩa là Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, Ngài bắt đầu sự sống mới với Thiên Chúa. Ngài về Trời để chuẩn bị chỗ ở cho những người được chọn. Trong ngày cuối cùng, Ngài sẽ trở lại đưa họ tới đó để họ được đưa lên vĩnh cư với Ngài: “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” ( Ga 14, 1-3 ).
Vì thế, Lễ Thăng Thiên là nguồn hy vọng và niềm an ủi lớn lao đối với các Kitô hữu.
Lm. KENNETH BAKER, Dòng Tên
bản dịch của TRẦM THIÊN THU từ CatholicEducation.org

 
 

LênTrời-157: NGÀY HẸN

Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó (Ga. 14, 3). 

 

Trước khi về trời, Đức Chúa Giêsu đã an ủi các tông đồ là đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa: LênTrời-157

Trước khi về trời, Đức Chúa Giêsu đã an ủi các tông đồ là đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Ngài. Chúa về trời để dọn chỗ và sẽ trở lại đón chúng ta về với Ngài. Chúa hứa sẽ trở lại nhưng Chúa không hứa ngày, giờ hay lúc nào. Đã nhiều lần Chúa nhắc nhở rằng Con Người sẽ đến bất ngờ vào giờ chẳng có ai biết. Thánh Phaolô trong thơ thứ nhất gởi cho tín hữu thành Thessalonica đã viết: Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm (1Thes. 5,2). Ngày giờ tận thế không ai biết trước, Chúa Giêsu khuyên dạy chúng ta hãy quan sát và nhìn xem các dấu lạ để chuẩn bị nhưng chưa phải là ngày cùng tận. Chính Chúa đã phán: Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay cả người Con cũng không; chỉ một mình Chúa Cha biết mà thôi (Mt. 24,36).
Trong những tháng năm qua, có rất nhiều các nhà tiên tri giả đã loan tin phỏng đoán ngày giờ Chúa Quang Lâm. Mục sư Harold Camping, không giấy phép và những người theo ông đã công bố rằng sẽ có thiên tai, động đất khắp nơi báo hiệu ngày Chúa đến lần thứ hai và là ngày Phán Xét. Trung tâm tổ chức của ông Camping, trụ sở Family Radio, đã vui mừng nhận số tiền dâng cúng khoảng trên 80 triệu đôla giữa năm 2005-2009. Ông Harold Camping đã thành lập chương trình Family Radio, như một tổ chức mạng lưới truyền thông vô vị lợi tại Oakland, California. Năm 1985, tổ chức đã có 65 đài để tuyên truyền ở trong nước. Chỉ trong năm 2009, tổ chức Family Radio đã nhận được số tiền dâng cúng là 18 triệu đôla. Năm 1994, tổ chức đã phát động phong trào truyền rao ngày tận thế sẽ đến. Đã có nhiều người tin theo đã bỏ nhà cửa, bỏ công ăn việc làm và ăn chơi chờ ngày tận thế. Ngày đó đã không đến và biết bao nhiêu người đã bị tiền mất tật mang.
Lời tiên tri về ngày chung thẩm năm nay của nhóm Family Radio cũng gây tiếng vang vì kỹ thuật truyền thông mau lẹ. Qua nhiều ngày tháng lo sợ về ngày Phán Xét sẽ xảy đến vào đúng 6 giờ chiều ngày 21 tháng 5, 2011 và kéo dài 5 tháng sẽ kết thúc vào ngày 21 tháng 10. Nhóm truyền bá tin rằng những người tốt lành thì vui mừng được đón nhận về trời, còn những kẻ tội lỗi bê tha sẽ bị khổ đau luận phạt. Đã có biết bao nhiêu người ủng hộ và tin tưởng vào những sự loan truyền thất thiệt này. Những người tin theo nói rằng thứ Bảy ngày 21 tháng 5 sẽ là ngày vui mừng hoan hỉ dành cho những ai được cứu độ. Họ sẽ được đưa lên trời và những ai không hối cải, sẽ lãnh chịu những khổ đau vô vàn.
Tin tức của biến cố này đã trải rộng khắp Năm Châu, khởi đi từ Úc Châu. Tổ chức Family Radio đã dùng các phương tiện truyền thông, báo đài, trang mạng, twitter, biểu chương và truyền đơn đưa tin. Có nhiều người tự nguyện đeo bảng quảng cáo đứng trên các góc đường phố kêu mời. Khi giờ ấn định ngày Phán Xét sau cùng đã qua, nhiều người thở phào nhẹ nhõm. Báo Sydney Morning Herald với tựa đề tít lớn: “Ngày hoan hỉ (Day of Rapture) đã đi qua, thế giới vẫn còn đây” hoặc trang End Of The World Confessions đã viết: “Đừng lo lắng về thế giới sẽ kết thúc hôm nay. Đã sang ngày mới tại Úc Châu.” Và đã không có bất cứ báo cáo nào về sự cố tại họa lớn hay nhỏ đã xảy ra tai Á Châu và Âu Châu. Tuy thế, vẫn có một số người vẫn lo lắng những tai ương có thể sẽ xảy ra.
Chúa Giêsu luôn nhắc nhở chúng ta: Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn (Lc. 12, 35). Không phải ngày 21 tháng 5 chưa tận thế, có nghĩa là ngày đó sẽ không đến. Ngày tận thế có thể không đến chung cho mọi người và ở mọi nơi cùng một lúc, nhưng nó sẽ đến với từng cá nhân hoặc một làng mạc. Chúng ta phải luôn trong tư thế sẵn sàng và chuẩn bị: Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay (Lc. 12, 36). Kinh nghiệm những ngày qua cho chúng ta thấy niềm hân hoan vui mừng thoát ngày phán xét chưa dứt tiếng cười, thì tại họa khác đã xảy ra ngay tại thánh phố Joplin, tiểu bang Misouri, Hoa Kỳ. Ngày 22 tháng 5, 2001, một trận cuồng phong lốc xoáy đã làm thiệt hại biết bao làng mạc, nhà cửa và nhân mạng. Số người thiệt mạng là 139 người, số bị người bị thương trên 400. Cảnh hoang tàn thê thảm san bằng khu phố và làng mạc sau cơn cuồng phong. Các tòa nhà trở thành đống gạch vụn. Xe cộ chồng chất lên nhau. Sức mạnh giông bão của mẹ thiên nhiên thì không ai có thể ngăn cản. Có biết bao nước mắt thương đau cho những gia đình mất nhà, mất cửa, mất người thân và mất niềm hy vọng.
Chưa qua khỏi, tiếp theo những ngày qua một số cơn lốc xoáy tiếp tục hoành hành tại vùng Trung Tây (Midwest) các tiểu bang Oklahoma, Kansas và Nebraska lại thêm một số người chết, bị thương và nhà cửa bị phá hủy. Lốc xoáy thiên nhiên đến như kẻ trộm vào lúc chúng ta không ngờ. Tuy dù cho được cảnh báo một chút thời gian nhưng khó có thể chạy thoát. Khi có dịp nghe lại những đoạn thu thanh và thu hình chấp nhoáng trận cuồng phong, chúng ta sẽ nghe thấy những tiếng gió gầm thét, âm thanh ghê rợn đổ vỡ, những tiếng người la hét thất thanh, kêu gào thảm thiết và những tiếng kêu cứu vô vọng. Thật hãi hùng.
Chúa Giêsu luôn cảnh tỉnh chúng ta luôn cầu nguyện để được đứng vững: Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người (Lc. 21,36). Thần chết đến vào lúc chúng ta không ngờ và vào giờ chúng ta không biết. Chúng ta luôn trong tư thế sẵn sàng như đầy tớ đợi chủ về. Sự sẵn sàng sẽ mang lại lợi ích cho chính bản thân của chúng ta. Khi đã sẵn sàng thì tâm hồn của chúng ta sẽ tìm được sự bình an thanh thản, cuộc sống an vui và sẽ cảm nhận sư hạnh phúc đáng sống. Thánh Luca ghi lại lời Chúa dạy: Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu (Lc. 12,39).
Những dấu chỉ và điềm lạ xảy ra ở những nơi khác là một lời mời gọi mỗi người chúng ta hãy tỉnh thức. Chúng ta đừng quá mải mê với cuộc sống mà quên đi cùng đích của cuộc đời. Không ai biết được tuổi thọ đời mình được bao nhiêu. Đừng khi nào hoang phí thời gian mà chúng ta đang được sống. Hãy sống thật với chính mình trong giây phút này. Hãy hưởng nếm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Hãy dùng mọi khả năng và tài trí xây đắp đời sống gia đình an vui. Mỗi một phút giây chúng ta đang sống đều là hồng ân được trao ban. Chúng ta hãy chọn lựa sống an vui và hạnh phúc giây phút ân huệ này.
Chìa khóa của niềm vui hạnh phúc là lắng nghe và thực hành lời của Chúa Giêsu đã trăn trối: Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy (Ga. 14, 15). Giữ giới răn của Chúa là hãy yêu mến nhau. Thánh Phaolô trong thơ gởi cho tín hữu thành Rôma nói rằng: Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy ( Rm. 13,10). Đức mến là món qùa quý báu. Món qùa này không bọc trong khăn hay cất trong hộp vàng, mà món qùa đức ái này phải được chia sẻ và được trao ban cho mọi người. Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật (Rm. 13,8).
Khi chúng ta thực hành một việc bác ái nhỏ nhưng với trái tim yêu thương thì hậu qủa sẽ lớn. Mỗi một cử chỉ và hành động cư xử với nhau trong tình yêu, tình yêu sẽ nở hoa. Trong đời sống gia đình, sự nâng đỡ và đối xử giữa vợ chồng, con cái qua việc phục vụ nhau mỗi ngày như trao nhau một chén trà, tách cà phê, bát cơm, tô canh, trái ớt, cái tăm, miếng giấy…mỗi cử chỉ gói ghém trong tình yêu, niềm vui sẽ tỏa lan. Mọi công việc nhà sẽ trở nên nhẹ nhàng và dễ thương. Phục vụ nhau không còn là gánh nặng mà là niềm vui được tỏ bày. Thánh Phaolô diễn tả về sức mạnh của tình yêu: Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta (Rm. 8, 38-39). Cũng vậy, cứ yêu đi rồi làm. Không có gì tách biệt chúng ta ra khỏi tình yêu của vợ chồng, con cái và gia đình.
Ai cũng muốn sống vui và sống hạnh phúc. Hạnh phúc ngay trong tầm tay. Điều quan trọng là chúng ta có thật sự ước muốn sống tươi vui hạnh phúc hay không. Hãy sống trọn vẹn giây phút hiện tại. Hãy vui với những cái đang hiện có. Niềm vui tròn đầy nhất là chúng ta đang có Chúa hiện diện. Có Chúa, chúng ta sẽ có tất cả: có sự sống, có niềm vui, có sự bình an, có yêu thương và có hạnh phúc. Lạy Chúa, Chúa là gia nghiệp và là nơi chúng con nương náu ẩn thân. Xin cho chúng con được ngụp lặn trong tình yêu Chúa và cho chúng con biết chia sẻ tình yêu đến mọi người.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York

 
 

LênTrời-158: Chuyến đi về trời - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng nghe đến tác phẩm "Hồn Trương Ba da hàng thịt". Đây là vở kịch LênTrời-158

Có lẽ ai trong chúng ta cũng từng nghe đến tác phẩm "Hồn Trương Ba da hàng thịt". Đây là vở kịch được Lưu Quang Vũ viết năm 1981, công diễn lần đầu tiên năm 1984.
Trong tác phẩm, Trương Ba là một ông lão gần 60, thích trồng vườn, yêu cái đẹp, tâm hồn thanh nhã, giỏi đánh cờ. Chỉ vì sự tắc trách của Nam Tào gạch nhầm tên mà Trương Ba chết oan.
Để sửa sai, Nam Tào đã cho hồn Trương Ba được tiếp tục sống trong thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà. Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba vào một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú nhờ thân xác người khác, nhưng đáng tiếc, lại là một anh hàng thịt bặm trợn nên dần dần Trương Ba cũng mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình. Trương Ba đã đau xót thốt lên:
"Không. Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng, thô lỗ này, ta bắt đầu sợ mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát."
Đôi khi chúng ta cũng từng có những trăn trở và giằng xé như Trương Ba, con người ta thực sự nằm ở đâu? Ý nghĩa cuộc sống của ta là gì? Ta là ai, một tâm hồn nho nhã của ông lão Trương Ba hay một ông Trương Ba thô lỗ ở hàng thịt?
Thực ra, cuộc sống là một hành trình. Một hành trình phải đi tới. Một hành trình đòi hỏi con người mình phải lột xác mỗi ngày nên hoàn thiện hơn. Có ai đó từng nói: "Khi con sâu bướm đến tuổi, nó bắt buộc phải lột xác, hình thành kén và hóa bướm, nếu không nó sẽ chết. Khi đại bàng 40 tuổi, nó bắt buộc phải chịu những đau đớn tột cùng của việc nhổ lông, cạy mỏ để bước sang tuổi mới, nếu không nó sẽ chết."
Cuộc sống con người cũng phải luôn thay đổi, luôn thích nghi để mình nên hoàn thiện hơn. Con người luôn phải đấu tranh với cái thiện, cái ác để bảo vệ chân thiện mỹ trong cuộc đời của mình. Không ai sinh ra là đã hoàn thiện, mà phải nỗ lực vượt qua mọi cám dỗ, mọi thử thách để hoàn thiện  chính mình.
Thay đổi là điều không thể tránh được trong đời - có khi đó là một việc bình thường nhưng cũng có lúc là sự mất mát. Có những thay đổi là chuyện tự nhiên, như sinh - lão - bệnh - tử của con người, nhưng cũng có những đổi thay gây ra nhiều thảm kịch như bệnh tật, tai nạn hay phá sản... Nhưng cũng giống như sự thay đổi suốt quá trình chuyển hoá diệu kỳ của loài sâu buớm trong lớp vỏ kén để trở thành một cánh bướm rực rỡ sắc màu, sự thay đổi chính là cơ hội để ta thoát khỏi giới hạn của kiếp người để hướng tới một đời sống siêu nhiên cao quý hơn.
Điều này đã xảy ra nơi Chúa Giêsu. Ngài sinh ra trong thân phận con người. Ngài cũng nỗ lực vượt lên trên mọi khó khăn, mọi gian khổ, kể cả cái chết để hoàn thành đời mình. Ngài đã hoàn thành kiếp người trong vâng phục thánh ý Chúa Cha để ngày nay Ngài được đổi mới hoàn toàn qua sự phục sinh vinh quang. Ngài đã chấp nhận đi qua cái đau của con kén để trở thành cánh bướm rạng rỡ trong vinh quang. Sự phục sinh của Ngài là phần thưởng cho những đau khổ thập giá mà Ngài trải qua.
Lễ Chúa về trời còn là lời khẳng định cho chúng ta về chuyến đi cuộc đời của Ngài. Ngài đã đi qua kiếp người. Ngài đã đi qua những bể dâu của cuộc đời để tiến vào quê trời, là nơi không còn khóc lóc, than van và đau khổ. Cuộc đời của Ngài là một cuộc đời không ngừng chọn theo thánh ý Chúa để từ khước những lời mời mọc của ma quỷ thật ngọt ngào, thật quyến rũ về danh lợi thú trần gian. Cuộc đời của Ngài là một cuộc đời dâng hiến để phục vụ tha nhân và phục vụ tin mừng Nước Trời. Ngài đã sống một cuộc đời như hạt lúa gieo vào lòng đất, chịu mục nát để trổ sinh bông lúa vàng. Ngài đã đi đến cùng của việc xin vâng theo thánh ý Chúa, cho dẫu lời xin vâng cần phải thể hiện bằng chén đắng cuộc đời. Thế nên, Ngài đã được Chúa Cha ân thưởng và siêu thăng lên cõi trời. Ngài đã hoàn thành sứ mạng của mình tốt đẹp và nay về trời chung hưởng vinh quang với Thiên Chúa Cha.
Đó cũng là con đường mà Chúa luôn mời gọi chúng ta bước theo. Đường thập giá tới vinh quang. Đường hẹp đưa ta vào cõi sống trường sinh. Đường tử bỏ những tham sân si để sống cao thượng và thanh thoát hơn. Đừng đam mê xác thịt. Đừng nuông chiều xác thịt. Hãy sống tiết độ. Hãy vác thập giá của bổn phận, của hy sinh phục vụ anh em để nhờ đó mà ta được đổi mới nên tốt hơn, nhất là được lột bỏ con người cũ để sống sự sống con người mới, con người của con cái sự sáng, ngõ hầu mai sau cũng được phục sinh với Chúa.
Cuộc đời là một hành trình. Hành trình tiến về Thiên quốc. Hành trình này không thể đạt được bằng sự dễ dãi, nuông chiều xác thịt. Hành trình này đòi phải hy sinh, phải phấn đấu mới mong đạt được. Xin Chúa giúp chúng ta luôn nhìn lên trời cao là đích điểm của mình để can đảm từ bỏ những đam mê tội lỗi trần gian. Xin Chúa giúp chúng ta biết lột bỏ con người cũ cùng những tính hư  nết xấu của mình để hoàn thiện mình mỗi ngày nên giống Chúa hơn, ngõ hầu mai sau cũng được về quê trời hưởng phúc vinh quang với Chúa. Amen.

 
 

LênTrời-159: Ngày Chúa trở lại

Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các môn đệ trở lại Giêrusalem, chính tại đây bổn phận và nhiệm vụ: LênTrời-159

Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các môn đệ trở lại Giêrusalem, chính tại đây bổn phận và nhiệm vụ đang chờ đón các ông.
Với chúng ta cũng thế, thời gian hiện tại không phải là thời gian mơ mộng, thương tiếc vẩn vơ, nhưng là thời gian hành động. Vậy chúng ta phải làm gì trong lúc trông chờ ngày Chúa lại đến. Chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời trong Phúc Âm bằng những hình ảnh cụ thể.
Hình ảnh thứ nhất là hình ảnh những nén bạc. Một người giàu có trước khi trẩy đi phương xa, đã gọi các đầy tớ đến và trao phó tiền bạc của mình cho họ tuỳ theo như khả năng của họ. Sau khi chủ lên đường, người thì dùng tiền ấy đầu tư cho công chuyện làm ăn và đã sinh lời. Kẻ thì chôn giấu số tiền của mình dưới đất. Và khi chủ về đòi tính sổ, ông đã nói với những đầy tớ sinh lời rằng: Hỡi tôi tớ trung thành và khôn ngoan, hãy vào hưởng sự vui mừng của chủ ngươi. Còn tên đầy tớ biếng nhác, chôn vùi tiền bạc, thì đã bị trừng phạt một cách đích đáng.
Qua hình ảnh này Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng chúng ta không được phép chờ đợi ngày Ngài trở lại một cách thụ động và biếng nhác. Chúng ta cũng không được phép chọn lựa giữa hành động và chối từ. Thiên Chúa đã trao phó cho chúng ta một sứ mệnh mà chúng ta có bổn phận phải thực hiện. Ngài cần đến chúng ta. Đó là một nhu cầu, một đòi hỏi cần thiết. Nếu chúng ta không làm gì cả là chúng ta đã xỉ nhục Ngài và trong ngày sau hết Ngài sẽ không đón nhận chúng ta như là những người con của Ngài.
Hình ảnh thứ hai là hình ảnh 10 cô trinh nữ được mời đi phù dâu trong số đó 5 cô khôn ngoan đem đèn và dầu. Còn 5 cô khờ dại, đem đèn mà không có dầu. Và khi chàng rể đến, những cô đã sẵn sàng thì bước vào phòng tiệc với chàng, còn những cô khờ dại thì chạy đi mua dầu và bị chàng rể từ chối. Để kết luận Chúa Giêsu khuyên nhủ chúng ta: Hãy tỉnh thức. Điều quan trọng không phải là biết được ngày giờ Ngài trở lại, nhưng là sẵn sàng với đèn cháy sáng trong tay.
Điều này đòi buộc chúng ta phải cố gắng thực thi thánh ý Chúa, tuân giữ những điều Ngài truyền dạy. Để trở nên bạn hữu của Chúa, chúng ta phải cố gắng, chúng ta phải hành động. Thế nhưng chúng ta phải cố gắng những gì và phải hành động ra làm sao?
Yêu mến Thiên Chúa là chu toàn thánh ý Ngài trong việc lớn cũng như trong việc nhỏ. Nghĩa là sẵn sàng xin vâng ở mọi nơi và trong mọi lúc. Xin vâng là dùng mọi khả năng của mình để chu toàn điều Chúa muốn, như những người đầy tớ đã sinh lời cho chủ. Xin vâng là sống gắn bó mật thiết với Chúa qua những tâm tình cầu nguyện. Vì cầu nguyện không phải chỉ kết hiệp chúng ta lại với Thiên Chúa mà còn giúp chúng ta khám phá ra được những điều Chúa muốn nơi chúng ta. Xin vâng là sẵn sàng thực hiện những hành động bác ái giúp đỡ anh em.
Bởi vì trong ngày thẩm phán, chúng ta sẽ bị xét xử về những hành động yêu thương chúng ta đã làm hay không làm để giúp đỡ những người nghèo túng, ốm đau và bất hạnh. Thi hành được như thế là chúng ta đã góp phần xây dựng Nước Chúa, và tương lai của chúng ta sẽ được bảo đảm trong ngày Chúa trở lại.

 
 

LênTrời-160: Nơi chân trời và mặt đất giao nhau

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’) 
 

Có hai nhà đạo sĩ kia, một hôm đọc thấy trong một cuốn sách khảo cổ cho biết: có một nơi chân: LênTrời-160

Có hai nhà đạo sĩ kia, một hôm đọc thấy trong một cuốn sách khảo cổ cho biết: có một nơi chân trời và mặt đất giao nhau. Hai nhà đạo sĩ bèn quyết định lên đường đi tìm cho được nơi chân trời và mặt đất giao nhau như trong sách đã cho biết. Hai ông còn thề nguyền sẽ không trở về bao lâu chưa tìm được nơi trời đất giao nhau đó. Bởi vì hai ông được biết ở nơi đó sẽ có một cánh cửa mở ra chân trời. Khi cửa mở ra, người ta sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Sau một cuộc hành trình lâu dài và gian khổ, hai nhà đạo sĩ đã tìm được nơi chân trời và mặt đất giao nhau. Hai ông cũng đã mở được cánh cửa trời… Nhưng đến lúc bước vào cửa trời, hai ông hết sức bỡ ngỡ, vì hai ông gặp lại chính căn phòng quen thuộc của mình… Lúc ấy hai ông mới hiểu: con đường lên trời bắt đầu từ mặt đất này, trong đời thường, nơi mình đang sống hằng ngày.
Anh chị em thân mến, đường lên trời bắt đầu từ mặt đất này, nơi “Trời Mới Đất Mới” sẽ xuất hiện trong ngày Chúa chúng ta “trở lại cũng một cách y như Ngài đã lên trời”. Chúa lên trời không có nghĩa là Ngài ra đi. Bởi vì ra đi là để lại sự vắng mặt. Đàng này, Chúa không để chúng ta đơn độc, Ngài còn “ở lại với chúng ta mãi cho đến tận thế”.
Chúa lên trời là Chúa “khuất dạng”, không còn hiện diện bằng xương bằng thịt trước mắt chúng ta nữa, để bắt đầu một sự hiện diện ẩn khuất, nghĩa là Chúa vẫn có mặt đó mà chúng ta không thấy được. Ngài vẫn ở giữa chúng ta, trong những nơi mà Ngài đã dạy chúng ta biết để nhận ra Ngài: trong Lời Chúa, trong các bí tích, trong anh chị em, trong những người nghèo khổ… Ngài không chỉ hiện diện mà còn ở, còn cư ngụ. Một chỗ ở có ý nghĩa sâu sắc hơn một sự hiện diện: Người ta có thể hiện diện trên đường phố, còn ở thì chỉ ở trong nhà mà thôi. Thiên Chúa chỉ muốn có một chỗ ở, một ngôi nhà riêng của Ngài và ngôi nhà đó là chính chúng ta: “Ngài ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế”, Ngài ở với chúng ta như ở trong ngôi nhà của Ngài.
Khi nói “Chúa lên trời ngự bên hữu Chúa Cha” hay khi cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, chúng ta đừng tưởng Chúa ở xa cách chúng ta. Ngài ở trên các tầng mây xanh. Không! Nếu đóng khung Chúa ở trên trời là chúng ta bắt Ngài phải di tản. Chúng ta đánh mất Ngài! Nhưng qua kiểu nói tượng hình của Kinh Thánh, chúng ta hãy hiểu việc Chúa lên trời là một cuộc thăng quan tiến chức, được thêm uy quyền, hiệu năng, và do đó được hiện diện một cách sâu đậm, thắm thiết hơn, chứ không phải một cuộc thăng thiên xét theo không gian, khiến Ngài xa lìa thế giới chúng ta.
Vì vậy, thiên sứ phải lay tỉnh các môn đệ đang mải mê nhìn lên trời: “Hỡi các ông, người Galilê, thôi đừng đứng đó mà nhìn lên trời nữa!”. Nhưng hãy đi mở mang Nước Chúa và sự hiện diện của Ngài bằng cách hoàn thành công trình đang dang dở của Ngài ở trần gian này: “Hãy đi đến với muôn dân, làm phép Rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy”. Đó, như thế là Chúa lên trời là để khởi đầu sứ vụ của Giáo Hội: Các môn đệ phải ra đi làm chứng về sự sống lại của Chúa Giêsu, không phải chỉ ở Giêrusalem và nơi những người Do Thái mà thôi, mà còn ở khắp nơi, cho đến tận cùng trái đất và nơi tất cả dân tộc.
Anh chị em thân mến, từ ngày Chúa lên trời, sứ mạng của chúng ta là phải đi vào trần gian, trở về với thực tế, nhìn kỹ vào cuộc sống của nhân loại, của mọi người anh em trên mặt đất này, để cùng với mọi người ra sức xây dựng Nước Trời đang thành hình ngay trong trần thế này, giữa thế giới hôm nay, tuỳ theo mức độ chính thế giới này có thể hiện được tình thương, có phản ảnh được tình yêu vô biên của Thiên Chúa hay không. Đúng theo tinh thần của Tin Mừng: Nước Trời không phải chỉ là chuyện đời sau, mà còn phải là thực tế hiện tại: như hạt cải trong thửa vườn, như men trong bột, như muối cho đời: “Nước Trời ở giữa anh em”.
Như thế, thưa anh chị em, Thiên Chúa không đóng đô ở riêng một chỗ nào trong không gian, trên các tầng trời. Ngài ở bất cứ nơi nào có tình yêu thương. Nếu cứ luyến tiếc nhìn lui lại quá khứ, hãy mải mê ngước mắt lên trời, chúng ta sẽ quên rằng Thiên Chúa đang ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Thiên Chúa đang hiện diện bất cứ nơi nào có tình yêu thương nhau, đùm bọc nhau, chia sẻ cho nhau. Và chỗ nào có một cộng đoàn, một xã hội như vậy, lớn hay nhỏ, đang thành hình thì từ chỗ đó, Nước Trời đang bắt đầu hiện diện.
Trái lại, chỗ nào người ta còn giành giựt nhau, còn áp bức, khai thác, bóc lột nhau, còn coi nhau như thù nghịch, thì khỏi cần tìm địa ngục ở đâu xa hơn nữa: địa ngục đang bắt đầu từ chỗ đó. Thiên đàng hay địa ngục, chúng ta đang bắt đầu xây dựng hay đào sâu ngay từ trong cuộc sống chúng ta hôm nay.
Vậy, ngày Chúa lên trời, thay vì chỉ mải mê nhìn lên trời, thụ động trông chờ ngày Chúa trở lại, chúng ta hãy nhìn xuống mặt đất, hãy cùng nhau góp sức xây dựng con đường lên trời ngay từ mặt đất này; vì chính từ mặt đất này mà “Trời Mới Đất Mới” sẽ xuất hiện trong ngày Chúa chúng ta “trở lại cũng một cách y như Ngài đã về trời”.
Công đồng Vaticanô II đã nói: “Vẫn biết rằng quê hương vĩnh cửu của chúng ta không phải ở trần gian này và chúng ta chỉ đi qua để về quê hương trên trời, nhưng thực là sai lầm, nếu vì đó mà nghĩ rằng mình có thể xao lãng nghĩa vụ của mình ở trần gian” (Mv 43,1b). Vì thế, trông đợi “Trời Mới Đất Mới” không những không làm giảm bớt mà còn tăng thêm nơi chúng ta ý chí xây dựng trời đất hiện tại này. Bởi vì xây dựng trời đất hiện tại là xây dựng “Trời Mới Đất Mới” (MV 39,2a), là xây dựng quê hương vĩnh cửu của chúng ta vậy.

 
 

LênTrời-161: SỐNG HƯỚNG VỀ NƯỚC TRỜI TRONG CHÚA KITÔ

Mt 16, 15 - 20 
 

Hôm nay cùng với Hội Thánh, chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên. Qua những hình ảnh, lễ: LênTrời-161

Hôm nay cùng với Hội Thánh, chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên. Qua những hình ảnh, lễ Chúa Thăng Thiên diễn tả việc Chúa Kitô phục sinh từ nay sống trong thế giới của Thiên Chúa mà người ta thường gọi trong ngôn từ tôn giáo là Trời (bài đọc 1 và Tin Mừng). Chúa Kitô về trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, Ngài được tôn vinh là chủ tế của vũ trụ này. Điều quan trọng đối với các Kitô hữu tiên khởi cũng như đối với chúng ta hôm nay, không phải ở việc muốn biết Đức Giêsu lên trời như thế nào, nhưng là tận hiểu ý nghĩa sự ra đi của Người.
Chúa  Giêsu Kitô"được rước lên trời", đó là một lối nói của Kinh Thánh nhằm diễn tả việc Chúa Phục Sinh từ giã trần gian để về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài từ Cha mà đến và nay lại trở về với Cha. "Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ trời xuống" (Ga 3,13). Câu chuyện Chúa lên trời được sách Công Vụ Tông Đồ kể lại ở bài đọc 1 hôm nay là một kiểu nói bình dân để diễn tả một mầu nhiệm của Chúa Kitô Phục Sinh, ngay sau khi được  Phục Sinh, nhân tính của Chúa Giêsu được tôn vinh rồi, hay nói cách khác, đã được vào trong vinh quang. Tuy vậy vinh quang này vẫn còn bị che khuất. Chúa Phục Sinh hiện ra cho các môn đệ dưới dáng dấp của một người bình thường. Lần hiện ra cuối cùng của Chúa Giêsu đánh dấu một bước chuyển mới. Từ nay nhân tính của Ngài được đưa vào trong vinh quang Chúa Cha, được đặt ngồi bên hữu Chúa Cha.
Lễ Chúa Thăng Thiên không phải là một cuộc chia ly, tiễn đưa Chúa Giêsu vào một phương trời xa lạ và cắt đứt tương quan với Ngài. Chúa về trời là để có thể ở lại với mọi thời, mọi nơi. Điều duy nhất có thể mất đi là chúng ta không còn có thể thấy, đụng chạm, nghe Ngài bằng giác quan tự nhiên. Nhưng chúng ta có thể gặp gỡ Ngài bằng giác quan siêu nhiên của đức tin. Sau khi hoàn thành sứ mạng ở trần gian, Chúa Kitô trở về với Chúa Cha. Từ nay, Chúa Kitô phục sinh vắng mặt về thể hình, không ai có thể thấy hoặc nghe tiếng Người nữa. Tuy nhiên, Người luôn hiện diện với Giáo Hội, với mỗi người chúng ta như Người đã hứa: "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20). Sự hiện diện vô hình của Người, chỉ có con mắt đức tin mới thấy được. Phúc âm hôm nay cho thấy các tông đồ có cảm nghiệm rằng "Chúa đang làm việc với họ và xác nhận lời họ rao giảng bằng những dấu lạ kèm theo" (Mc 16,20) . Như thế sự vắng mặt hữu hình của Chúa Giêsu Kitô không cản trở việc Ngài tiếp tục hiện diện và hoạt động bên họ. Người Kitô hữu sống còn chính là nhờ Chúa Giêsu Kitô  đang sống và hoạt động nhờ Thánh Thần của Ngài. Được tôn vinh trên trời không phải là làm một cuộc đi xa, nhưng là đến gần. Phục Sinh và lên trời là để làm sứ vụ giữa lòng thế giới. Ngài là Thượng Tế cầu bàu cho chúng ta trên trời và không ngừng thu hút , nâng dậy cả nhân loại.
Chúa lên trời để chỉ cho chúng ta con đường để về trời với Ngài. Con đường ấy rất thiết thân với mọi người. Mừng lễ Chúa Thăng Thiên là mừng ngày Chúa Kitô được tôn vinh. Lễ Thăng Thiên thực hiện giấc mơ lớn nhất của con người. Tất cả chúng ta đều hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa, bên Chúa Giêsu, người Anh Trưởng. Trời là đích điểm của đời người Kitô hữu. Nhưng trời đã bắt đầu rồi từ khi chúng ta bước vào vũ trụ của Chúa Giêsu Kitô, qua đức tin và các bí tích. Nói cho cùng, Kitô hữu chỉ có một cuộc đời. Chằng có cuộc đời nào khác ngoài cuộc đời hiện tại và sẽ gắn liền với chúng ta mãi mãi. Trời không khiến ta tránh né bổn phận trần gian, ngược lại cho ta sức mạnh để chu toàn các bổn phận ở trần gian. Trời không phải là nơi đến của một người chỉ biết chăm lo cho ơn cứu độ của mình một cách ích kỷ. Trời cũng không phải chỉ là phần thưởng cho con người, là sự "bù lỗ" cho những khốn khổ ở đời, là cớ khiến chúng ta tránh né việc xây dựng trái đất hay phá đổ bất công.
Lễ Thăng Thiên là sự kết thúc công cuộc truyền giáo của Đức Giêsu thành Nazarét, và là khởi đầu thời gian của Giáo Hội. Dĩ nhiên, giai đoạn mới này luôn là giai đoạn của Chúa Kitô, vì tất cả đều hướng về Người, cũng như Người là đích điểm của mọi hoạt động tông đồ. Nhưng đó cũng là thời kỳ của Giáo Hội và các môn đệ để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và cho Tin Mừng : "Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất." (Cv 1, 8). Đó là ý nghĩa mọi hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Trước khi lên trời, Đức Kitô giao phó cho tất cả các môn đệ, tức là tất cả mọi người Kitô hữu chúng ta đang sống trên quả đất này. Đó là sứ mạng loan báo Tin Mừng, sứ mạng tiếp tục công trình của Người cho đến ngày tận thế.
Sứ thần trách các môn đệ: "Hỡi người Galilê! sao cứ đứng đó mà nhìn lên trời?". Các môn đệ đã hiểu ý. Các ông đã trở về với nhiệm vụ của mình, hoàn thành công việc của Chúa ở trần gian, làm chứng về tất cả những gì các ông đã được nghe, được thấy: "Các ông đã ra đi khắp nơi, rao giảng tin mừng cho mọi người; có Chúa vùng hoạt động với các ông, cũng cố lời rao giảng bằng các phép lạ kèm  theo".
Rõ ràng, Chúa lên trời không làm cho các môn đệ tê liệt, không giải nghệ các ông, mà còn thúc giục các ông lập tức bắt tay vào việc xây dựng nước trời ngay ở trần gian này và bảo đảm cho các ông thành công. Cũng vậy, đối với chúng ta ngày nay, Chúa lên trời nhắc chúng ta nhớ rằng: " Quê hương chúng ta ở trên trời... anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời". Nói thế không có nghĩa là chúng ta phải "xuất thế", phải xa lánh trần gian. Trái lại cần phải nổ lực dấn thân "vào đời". Có Chúa cùng hoạt động với chúng ta để "mở một tuyến đường lên trời từ mặt đất này" bằng những công việc xây dựng Nước Trời ngày này qua ngày khác; loại trừ những khổ đau, tội lỗi, tạo cho mọi người được sống ấm no, hiệp nhất, yêu thương nhau, cho mọi người được sống xứng đáng phẩm giá con người. Đó là con đường lên trời của chúng ta.
Chúng ta càng vui mừng khi biết rằng: "Chúa vẫn ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế". Ngài không bao giờ rời bỏ chúng ta. Thật là ích lợi cho chúng ta khi Ngài khuất mắt chúng ta về phương diện thể lý để chúng ta gặp Ngài hiện diện ở khắp mọi nơi mọi lúc, trong kinh nguyện và hoạt động, trong bí tích và trong anh chị em. Đặt biệt trong bí tích Thánh Thể, Chúa đến ở trong chúng ta, ban nguồn sinh lực giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nước Trời ở trần gian này, để một khi Nước Trời được hoàn thành Ngài sẽ trở lại trong vinh quang đón chúng ta lên trời về với Chúa Cha.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết nỗ lực xây dựng trần gian theo tinh thần của Chúa trong niềm mong đợi hạnh phúc nước trời. Amen.

 
 

LênTrời-162: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN

Mc 16, 15 - 20
Anh chị em thân mến. 

 

Ngày 21 tháng 5 năm 2003,một sự kiện quan trọng, một ngày lễ hội cho tỉnh Vĩnh Long, cũng là: LênTrời-162

Ngày 21 tháng 5 năm 2003,một sự kiện quan trọng, một ngày lễ hội cho tỉnh Vĩnh Long, cũng là niềm vui mừng cho người dân thuộc đồng bằng sông cửu long. Đó cũng là niềm vui cho cả nước VN vì một chiếc cầu hiện đại đã được lưu thông. Niềm mong đợi bấy lâu nay đã thành hiện thực. Nhờ chiếc cầu mà giờ đây mọi người không còn phải sốt ruột ngồi chờ từng chuyến phà lênh đênh trên giòng nước cách êm ả để đưa qua giòng sông Mỹ Thuận.

Nhưng từ hôm nay, mọi người, mọi phương tiện phải tự động vượt qua sông nhờ chiếc cầu. Lưu thông giờ đây đã được tốt đẹp nhờ chiếc cầu. Nếu người nào không biết chuẩn bị, thì việc dùng chiếc cầu để sang bờ bên kia không phải là một việc dể dàng gì đâu. Có những chiếc xe phải nằm lại giữa chừng, vì không đủ sức vượt lên con dốc. Có những người đi bộ cũng thế. Ngoài ra chắc có lẽ cũng còn những phương tiện không được phép đặt chân lên cầu vì nó nằm ngoài những qui định cho phép. Còn những người đã đủ điều kiện, họ ung dung lên cầu với một niềm phấn khởi, họ tận hưởng sự thoải mái cùng với cái hạnh phúc mà họ không thể lặng thinh được.
Hôm nay chúng ta hợp với toàn thể Giáo Hội mừng việc Chúa lên trời. Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Ngài đã từ trời xuống, giờ đây Ngài lại trở về. Không phải Ngài từ bỏ những con người mà Ngài yêu thương. Nhưng Ngài luôn ở gần họ như một chiếc cầu. Không phải chiếc cầu chỉ nối hai bờ của một giồng sông, nhưng chiếc cầu nối liền Trời và Đất. Ngài đã chuẩn bị tất cả thật hoàn hảo. Chiếc cầu mang tên Giêsu.
Chiếc cầu được xây nên không phải bằng bê tông cốt thép, nhưng được xây nên bởi chất liệu của Tình yêu, của thập giá. Ngài kêu gọi những người mà Ngài yêu thương, hãy đi khắp thế gian loan báo tin mừng, loan báo tin chiếc cầu đã được khai thông, để con người có thể nhờ chiếc cầu nầy mà đến cùng Thiên Chúa. Các Tông Đồ đã đi trên chiếc cầu, các Ngài đã tận hưởng được sự thoải mái, niềm hạnh phúc. Các Ngài không thể ngồi yên. Các Ngài đi thông báo, mời gọi mọi người cùng vượt qua chiếc cầu để đến cùng Thiên Chúa.
Trải qua hằng bao thế kỷ, biết bao người đã đến được với chiếc cầu, họ đã hưởng được hạnh phúc từ chiếc cầu mang đến cho họ. Nhưng cũng không biết bao nhiêu người , họ cũng từng nhìn thấy, đôi khi họ biết rất rỏ con đường đi đến chiếc cầu. Họ cũng biết rỏ chất liệu Tình Yêu của chiếc cầu. Nhưng đôi chân không bao giờ bước lên chiếc cầu. Có lẽ vì họ sợ con dốc cao sẽ làm cho đơi chân họ rã rời. Cũng có lúc họ sợ con đường dài, mà sức lực họ không có đủ. Cũng có những lúc họ lười biếng không muốn cố gắng nên họ không thể nào đặt được đôi chân của mình sang bờ bên kia được.
Còn chúng ta, chắc mỗi người cũng đã đến để chiêm ngưỡng công trình nối liền hai bờ của giòng sông Mỹ Thuận, chúng ta cũng hòa với niềm vui chung của mọi người nhờ chiếc cầu. Nhưng chiếc cầu quan trọng hơn trong đời sống chúng ta, chiếc cầu mang tên Giêsu, chiếc cầu nối liền con người của mình với Thiên Chúa. Mặc dù chúng ta đã biết, chúng đã nhìn thấy và đã nghe nói rất nhiều, nhưng giờ nầy đây, mỗi người chúng ta nhìn lại mình xem : Cũng có những lúc chúng ta cũng đang đi trên chiếc cầu với tất cả niềm phấn khởi và hạnh phúc. Nhưng cũng rất nhiều lần chúng ta sợ chiếc cầu làm hao mòn đi sức lực của mình, làm hao mòn đi những gì mình có được.
Đó là những lúc chúng ta ngại khó, không dám sống đúng theo những gì mình đã biết, đã được chỉ dạy, không dám sống theo lương tâm ngay chính của mình. Cũng có những lúc lười biếng sống buông thả theo những dục vọng riêng tư. Đó là những lúc chúng ta đắm chiềm dưới giòng sông mà không đi trên cầu để qua sông đến cùng Chúa. Như thế chiếc cầu mang tên Giêsu, chiếc cầu được xây dựng bằng chất liệu của tình yêu và thập giá, không đem lại một chút lợi ích nào cho chúng ta sao ? Như vậy việc Chúa Giêsu về trời mà chúng ta mừng hôm nay đem đến cho chúng ta được điều gì ?
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết đi trên con đường mà Chúa đã đi, để chúng ta cũng được tận hưởng niềm vui trên trời mà hôm nay chúng ta mừng kính.

 
 

LênTrời-163: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN

Mc 16, 15-20 
 

Chúng ta thường nói với nhau: "tiệc nào mà tiệc chẳng tàn, cuộc vui nào rồi cũng tới hồi kết: LênTrời-163

Chúng ta thường nói với nhau: "tiệc nào mà tiệc chẳng tàn, cuộc vui nào rồi cũng tới hồi kết thúc". Nói như thế có lẽ người ta nghĩ nhiều hơn về khía cạnh thể lý: Tiệc tàn, cuộc vui bế mạc để rồi đường ai nấy đi. Nếu một cuộc gặp gỡ nào đó khi kết thúc, mà người này khoát tay người kia, rồi nói câu "tạm biệt" là xong hết mọi sự thì cuộc gặp gỡ đó xem như mất hết ý nghĩa của nó.

Thực tế có nhiều cuộc gặp gỡ dù trong khoảnh khắc, cũng đã để lại trong lòng chúng ta những kỷ niệm, những dấu ấn không bao giờ phai nhạt. Đó là sự gặp gỡ giữa những tâm hồn, là yến tiệc của những con tim đang cùng một nhịp đập. Cho nên khi chia tay nhau họ không nói câu "tạm biệt", mà họ nói câu "hẹn gặp lại". Và đương khi chờ ngày gặp lại, lòng họ hướng về nhau, tâm trí họ suy nghĩ về nhau. Họ nhớ từng câu nói, cử chỉ của nhau, và họ cố gắng thi thố những điều họ đã ước hẹn với nhau. Như vậy, có vẻ như người ta đi xa nhau nhưng kỳ thực họ đang ở rất gần nhau.
Chúa lên trời là đi xa các môn đệ về mặt thể lý. Ngài không còn hiện diện bằng xương thịt, Ngài không còn đưa ngực cho Thánh Gioan tựa đầu vào nữa. Nhưng Ngài đang hiện diện trong tinh thần của các môn đệ, Ngài có mặt trong từng suy nghĩ, trong mỗi việc làm của các ông. Trước đây khi cùng ăn uống với Thầy, cùng bước với Thầy trên khắp các nẻo đường Palestin, mỗi lời Thầy nói, mỗi việc Thầy làm dường như các ông không hiểu bao nhiêu, không nhớ cho mấy.

Bây giờ các ông chẳng những nhớ tất cả mọi diều Thầy dạy, mà còn khắ ghi một cách sâu đậm mọi kỷ niệm về Thầy. Rõ ràng là Chúa đi xa nhưng là ở lại, ở lại nhiều hơn và sâu sắc hơn trong lòng các môn đệ.
Chúa về trời mà vẫn hứa ở với loài người chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Và do đó Chúa chỉ thay đổi cách hiện diện với chúng ta mà thôi. Mà cách hiện diện mới này sâu sắc hơn, có lợi cho chúng ta hơn. Giờ đây đến lượt mỗi người chúng ta cũng được Chúa ở lại trong cuộc đời của mình theo thể thức này, đó là: chúng ta phải để cho tinh thần của Chúa cấm rễ sâu nơi tâm hồn của chúng ta.

Chúng ta phải để cho việc làm của Chúa, cách ứng xử của Chúa chế ngự cả con người của chúng ta. Điêù quan trọng là tôi có muốn ở lại với Chúa hay không mà thôi. Tinh thần của Chúa, việc làm của Chúa, giờ đây chúng ta tìm thấy ở Lời Chúa, ở nơi Giáo Hội qua các bí tích. Và do đó muốn ở lại với Chúa mọi ngày cho đến tận thế, chúng ta phải tuân giữ Lời Chúa, yêu mến Giáo hội và siêng năng lãnh nhận các bí tích.
Lạy Chúa, Con biết Chúa luôn hiện diện trên mọi nẽo đường đời của con. Xin cho con luôn biết ở lại với Chúa. Xin cho con mau mắn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi hoàn cảnh, qua mọi công việc hằng ngày của con. Và xin cho con mỗi ngày biết can đảm hơn để thực thi ý Chúa trong đời con. Amen

 
 

LênTrời-164: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN  

Mc 16, 15-20 
 

Cách đây độ chừng 15 năm, nghĩa là trong những năm thời trung học phổ thông, con có chứng: LênTrời-164

Cách đây độ chừng 15 năm, nghĩa là trong những năm thời trung học phổ thông, con có chứng kiến một sự kiện hi hữu như thế này : hôm đó cả lớp cùng đi đám tang của một người bạn trong lớp. Vì nhà tang rất xa, cho nên phải đi khá sớm. Hơn nữa trước khi đi, xe phải chạy vòng ra chợ để lấy vòng hoa phân ưu đã đặt trước, cách chung là mọi việc rất khẩn trương vội vã. Khi đến nhà tang thì mọi người xuống xe, chuẩn bị hàng ngũ chỉnh tề để vào phúng viếng thì mới dở khóc dở cười khi nhìn thấy trên vòng hoa có hàng chữ "Chúc mừng khai trương - Thành công mỹ mãn".
Thưa anh chị em ! Chắc chắn rằng không ai trong chúng ta muốn cái sai lầm đó xãy ra bao giờ cả, nhất là đối với những người không phải là đạo Công Giáo. Thế nhưng suy nghĩ một chút, chúng ta cũng thấy rằng : cái lầm lẫn đó cũng mang một ý nghĩa khá thú vị. Bởi vì theo đức tin Công Giáo, cái chết là cửa ngỏ để dẫn chúng ta vào đời sau vĩnh cửu, để dẫn chúng ta vào Thiên Đàng, nơi mà theo Thánh Gioan diễn tả: không còn chết chóc, không còn vất vã nhọc nhằn, không còn khóc lóc và đau thương, nhưng chỉ có bình an và hạnh phúc.
Vậy nếu như cái chết đưa người ta đến một nơi tốt đẹp như thế, thì việc chúc mừng cho một người vừa qua đời, một cách nào đó, chúng ta vẫn có thể chấp nhận được. Ngày hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa lên trời nghĩa là mừng việc Chúa Giêsu công khai trở về Nước Thiên Đàng vĩnh cữu. Mặc dù chưa có ai trong chúng ta đã thấy Nước Thiên Đàng cả, nhưng chúng ta tin rằng có nước Thiên Đàng. Và vì tôi tin có điều đó, cho nên tất cả những gì tôi cố gắng thực hiện ngày hôm nay : tuân giữ lề luật của Chúa, sống hy sinh hãm mình, thể hiện tấm lòng bác ái đối với mọi người... là để tôi được vào nơi ấy. Chúng ta tin có Thiên Đàng bởi vì chính Đức Giêsu đã mạc khải điều đó. Trên Thánh Giá, Đức Giêsu đã nói với tên trộm lành rằng: "Ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta".
Rồi trong câu chuyện thân tình trước khi Thầy trò chia tay, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ của mình rằng: "Thầy đi là để dọn chổ cho các con và Thầy sẽ trở lại để đón các con, để Thầy ở đâu, các con cũng sẽ ở đó với Thầy". Ba vị tông đồ : Phêrô, Gioan và Giacôbê cũng đã có một thoáng nhìn thấy vinh quang NướcThiên Chúa khi Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor. Chắc chắn rằng nó phải hấp dẫn như thế nào đó mà ba ông đã lên tiếng xin dựng lều để được ở mãi trên đó. Thánh Phaolô dường như cũng có được một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó nhìn thấy được vinh quang ấy, mà sau này ông đã viết lại trong thư thứ hai gởi Côrintô rằng: "Đó là điều mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe".
Như vậy Thiên Đàng chắc chắn là có, và đó sẽ là quê hương vĩnh cữu của chúng ta. Thế nhưng không phải vì lời hứa ấy mà chúng ta ngồi đó trông ngóng chờ đợi mà sao lãng nhiệm vụ trần thế, những nhiệm vụ mà chúng ta cần phải chu toàn với Chúa, với gia đình, với xã hội và những người kề cận với chúng ta. Bằng chứng là ba Tông đồ : Phêrô, Gioan và Giacôbê sau khi thấy được vinh quang của Chúa trên núi Tabor, đã được Chúa bảo là phải xuống núi để tiếp tục công việc hàng ngày là rao giảng Tin mừng. Hay là nơi bài đọc thứ nhất mà chúng ta vừa nghe, Chúa đã ra đi rồi mà các môn đệ vẫn còn đứng đó nuối tiếc trông chờ, đến độ Chúa đã sai hai Thiên Thần đến nhắn nhở các ông: "Hỡi những người Galilêa sao còn mãi mê đứng nhìn trời?".
Thưa anh chị em! "Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo": Đó không phải là trách nhiệm của những thành phần đặc biệt nào cả, mà là cho hết thảy mọi thành viên trong ngôi nhà Giáo Hội. Nếu như cách đây gần 2000 năm, Đức Giêsu đã dùng đôi chân của mình, rong ruổi trên các nẻo đường để tìm kiếm những con chiên lạc, đã dùng môi miệng của mình để rao giảng Tin Mừng, đã dùng đôi tay của mình để thi ân giáng phúc, làm điều tốt đẹp cho người ta, thì hôm nay đây, hôm nay đây những công việc đó phải được tiếp tục trong đời sống của Giáo Hội, để nhờ những sinh hoạt của mình, nhờ đôi tay cụ thể của Giáo Hội, Chúa lại tiếp tục dìu dắt nhân loại về Thiên Đàng vĩnh cữu.
Mừng lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay, chúng ta có được một cơ hội tốt đẹp để hướng về Thiên Đàng, là một hạnh phúc lâu dài mà Chúa đã hứa ban khi Người còn ở tại thế. Lời hứa đó được xem như là một niềm vui, một sự an ủi khích lệ cho chúng ta trong cuộc sống hiện tại, nhất trong những lúc chúng ta phải đối diện những gian nan nhọc nhằn. Thế nhưng chúng ta không được đứng lại trong niềm vui, trong sự an ủi khích lệ đó, mà phải quay về để chu toàn những bổn phận của mình.
Chúa đã về trời nhưng Người đã mượn miệng lưỡi chúng ta để rao giảng Tin Mừng, mượn đôi tay của chúng ta để thi ân cho người khác, mượn đôi chân chúng ta để đến với người cùng khổ. Chúa về trời nhưng Người vẫn tiếp tục thực hiện những dấu lạ nơi cuộc đời của những con người biết sống tận tình cho tha nhân, cho anh chị em của mình.
Thưa chị em ! Biết rằng Thiên Đàng là quê hương vĩnh cữu của chúng ta, nhưng cuộc sống trần thế này chính là con đường dẫn tới quê hương hạnh phúc đó. Nếu chúng ta chỉ đứng một chỗ mà chờ đợi ngóng trông, có lẽ chúng ta không bao giờ tới được. Cho nên muốn tới được Thiên Đàng, chúng ta không còn cách nào khác hơn là phải đi hết con đường dương thế đó trong tinh thần chu toàn những trách nhiệm đối với Chúa, đối với gia đình và với những người sống chung quanh chúng ta.

 
 

LênTrời-165: Bài giảng của Lm. GB. Hiếu

NHẬP LỄ 
 

Chúa Giêsu về trời không có nghĩa là Chúa định vị vào một nơi nào trên không trung, lệ thuộc LênTrời-165

Chúa Giêsu về trời không có nghĩa là Chúa định vị vào một nơi nào trên không trung, lệ thuộc thời gian như con người chúng ta thường nghĩ, nhưng đúng hơn là chấm dứt một giai đoạn hiện diện hữu hình, để khởi đầu hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh và để các tín hữu Chúa nhiệt thành nên chứng tá cho Chúa trong cuộc sống này. Xin cho mỗi người chúng ta nên chứng nhân tích cực hoạt động cho Chúa hằng sống.
- Lạy Chúa, lòng Chúa yêu thương chẳng khi nào lìa bỏ chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con.
- Lạy Chúa Kitô, Chúa là Đầu của toàn thể Hội Thánh, là niềm hy vọng của chúng con. Xin Chúa Kitô thương xót …
- Lạy Chúa, Chúa muốn chúng con nên chứng tá cho Chúa, kêu gọi mọi người sám hối để được ơn tha tội. Xin Chúa …
GIẢNG
Cũng như biến cố Chúa Giêsu phục sinh là sự kiện quan trọng cho nền tảng đức tin của Kitô giáo, lẽ ra phải được thuật lại hoặc tuyên truyền cách nào thật long trọng, rầm rộ để mọi người nhận ra, thế nhưng trong Thánh Ý Thiên Chúa, chúng ta thấy Chúa Giêsu phục sinh rất âm thầm, không ai biết; tác giả các sách Phúc Âm chỉ thuật lại những sự kiện hậu phục sinh rất bình thường: các bà đạo đức ra phần mộ Chúa, thấy ngôi mộ trống, người chạy về báo tin, kẻ chạy ra kiểm chứng, cùng lắm là toán binh lính lo âu về thông tin cho các thượng tế Do-thái giáo để nhận được những đồng tiền hối lộ với lời chứng gian: “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13).
Sự kiện Chúa thăng thiên cũng vậy, rất đơn giản: Sau khi căn dặn các Tông Đồ trong Nhóm Mười Một (Mc 16,14) cần đi rao giảng Phúc Âm đem ơn cứu độ đến cho mọi người, Thánh Máccô nhẹ nhàng tuyên cáo: “Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (c.19).
Ý Chúa muốn gì qua những sự kiện đơn giản mà lẽ ra phải được tổ chức long trọng cho những biến cố quan trọng trong nền tảng niềm tin Kitô giáo như thế? Phải chăng Chúa muốn:
+ Niềm tin mang tính chất tự do, cần được đón nhận bằng cả tấm lòng yêu mến của mình, không mang tính chất bó buộc thúc ép? Tuy nhiên, vì yêu mến đón nhận sự kiện ngoài tầm hiểu biết, thì niềm tin đó sẽ đưa dẫn chúng ta vào nơi hạnh phúc của Thiên Chúa, bởi như Chúa Giêsu đã nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13), thì người đón nhận tin Chúa, không phải là đã liều mất mạng sống vì Lời Chúa hay sao?
+ Phục sinh chỉ là bước ngoặt cho một đoạn đường mới trong hành trình đi theo Chúa, để cuộc sống trong niềm tin Chúa mãi mãi là sức sống cho người tín hữu, thì việc Chúa thăng thiên cũng không phải là cắt đứt liên hệ với cuộc sống con người tại trần gian này; trái lại, về trời nhưng Chúa vẫn tiếp tục hiện diện cùng các môn đệ như Chúa đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b). Chính vì thế Chúa ban huấn lệnh cho các môn đệ “phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân… kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” và mời gọi các ngài làm “chứng nhân” cho những việc Chúa thực hiện này (x.Lc 24,47-48), không phải chỉ đứng đó “nhìn trời” (Cv 1,11).
Chúa về trời để khởi đầu một giai đoạn mới cho Hội Thánh, từ nay chính các tín hữu Chúa sẽ hoạt động, có Chúa hỗ trợ qua tác động của Chúa Thánh Thần: “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa” (Lc 24,49). Chúa không hiện diện hữu hình, nhưng hằng “ở cùng” chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế”.
Tin tưởng vào tình yêu quan phòng của Chúa, chúng ta cần sống làm chứng cho Chúa, để những người nhìn vào nếp sống của chúng ta, có thể nhận ra Chúa đang hiện diện trong cuộc sống nhân loại, chờ đợi con người đón nhận Chúa để được hưởng hạnh phúc với Chúa. Chúng ta có mạnh mẽ tuyên xưng niềm tin là con cái Chúa, quyết tâm sống theo Lời Chúa, cho dẫu có bị người đời thù ghét hay làm thiệt hại vật chất hoặc tinh thần chăng?
Xin Chúa Giêsu Phục Sinh hằng ở cùng chúng ta và giúp chúng ta chiến thắng mọi thử thách, để ngày kia cùng được chia sẻ hạnh phúc trên trời với Chúa. Amen.

 
 

LênTrời-166: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN

Mc 16, 15-20
"Hãy đi khắp bốn phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu rổi. Ai không tin sẽ bị kết án". (Mc 16, 15) 

 

Tin Mừng Marcô hôm nay tường thuật: trước khi về trời, Chúa Giêsu không quên trao lại cho: LênTrời-166

Tin Mừng Marcô hôm nay tường thuật: trước khi về trời, Chúa Giêsu không quên trao lại cho các tông đồ và những người kế vị, sứ mạng cao cả là loan báo Tin Mừng cho muôn dân; ai tin và chịu phép rửa sẽ được gia nhập vào vương quốc của Chân lý, của Tình yêu bất diệt; ai không tin, sẽ bị kết án: không tin chính là từ chối không gia nhập vào vương quốc đó. Xin mời anh chị em cùng nhau suy niệm.
Hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân: đây là lệnh truyền của Đức Kitô ; lệnh truyền này chúng ta lãnh nhận ngày ta chịu phép rửa tội. Công đồng Vaticanô II đã khẳng định mạnh mẽ điều đó; sứ mạng này không chỉ dành riêng cho hàng giáo phẩm. Vì không hiểu lời của Đức Kitô, nên một số người lơ là với sứ mạng này. Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh: mọi người đều là chi thể trong Thân thể mầu nhiệm Duy nhất là Hội Thánh, mà Chúa Kitô là Đầu; vì thế không ai có thể nói mình không có trách nhiệm chia sẽ sứ mạng loan báo Tin Mừng do Đức Kitô trao lại.
Hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân : Có người dựa vào câu nói này mà cho rằng Hội Thánh luôn muốn dùng quyền thế mình, hoặc ảnh hưởng để buộc người khác phải theo. Đây là câu trả lời: Chúa Giêsu không lập bè, lập đảng phái, để lo cho người mình nhằm loại trừ người khác. Đạo Chúa không phải là pháo đài để che chở cho con chiên, chống lại ngoại giáo. Đạo chính là Tin Vui , là nguồn hạnh phúc, là sức sống , là Nước Trời cho hết mọi người. Lẽ ra, mọi người đáng được hưởng Tin Vui, sức sống đó. Người ta đi loan báo Tin Mừng cho thế giới chính vì Tình Yêu (yêu Chúa Kitô, yêu mọi người.
Cán bộ coi tù hỏi Đức Cha Px Saviê. Thuận: "chúng tôi bắt ông, giam ông, làm điều không hay cho ông, tại sao tôi thấy ông vẫn vui vẻ, đối xử tốt với chúng tôi, không oán hận chúng tôi?". Đức Cha trả lời: "tại vì tôi yêu thương anh, vì anh cũng là người Việt Nam như tôi, và vì tôi yêu Đức Kitô."
L à Linh mục, tu sĩ, tôi lãnh nhận sứ mạng loan báo Tin Mừng ngày chịu phép Rửa Tội, nhất là ngày chịu chức Linh mục và ngày khấn dòng. Làm sao tôi có thể tự miễn chuẩn cho mình không phải đi loan báoTin Mừng? Làm sao tôi có thể nói được: mình làm vừa vừa thôi, đâu có sức, có tiền mà lo nhiều như vậy? Chúa Kitô khi bị treo trên Thập giá đâu có ra điều kiện, nếu không chịu nổi, thì Chúa Cha phải cho nghỉ xả hơi! Là giáo dân thường, tôi có nghĩ rằng tôi phải ý thức đi loan báo Tin Mừng cách mạnh mẻ hơn, vì thực tế, tôi chưa dành nhiều thì giờ cho Chúa về điều này. Bao lâu nay tôi cứ nghĩ công việc này là của ông cha, bà phước mà thôi...Tôi cứ nghỉ, việc đi loan báo Tin Mừng là chuyện truyền giáo cho Phi Châu, cho Trung Quốc; tôi có quên rằng với cương vị là cha mẹ, loan báo Tin Mừng là dạy dổ con cái tốt, nên gương sáng cho chúng. Với người chòm xóm, người lương, tôi có sẵn sàng nói về Chúa cho họ bằng cuộc sống tốt, ngay chính của tôi, để họ nhìn thấy Chúa nơi tôi không?

 
 

LênTrời-167: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN

Mc 16, 15-20 
 

Hôm nay lễ Chúa Giêsu lên trời, nhưng Trời ở đâu ? Trong Kinh Thánh, "trời" là hình ảnh văn: LênTrời-167

Hôm nay lễ Chúa Giêsu lên trời, nhưng Trời ở đâu ? Trong Kinh Thánh, "trời" là hình ảnh văn chương quen thuộc dùng để chỉ nơi Thiên Chúa ngự. Kinh Thánh cũng dùng hình ảnh đám mây để nói về sự hiện diện của Thiên Chúa, ví dụ: khi dân Chúa tiến bước trong sa mạc, thì có đám mây đi theo, Vậy chúng ta đừng hiểu cách mô tả của Thánh Luca trong Kinh Thánh theo nghĩa đen theo kiểu Chúa bay vào không gian như một phi hành gia. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là Người được vĩnh viễn đưa vào trong vinh quang của Thiên Chúa, được nên ngang hàng với Thiên Chúa và được đặt làm Chúa mọi loài mọi vật.
Chúa Giêsu lên trời hay còn gọi là lễ Thăng Thiên. Biến cố Thăng Thiên của Chúa Giêsu chấm dứt một lịch sử và khởi đầu một lịch sử. Lịch sử chấm dứt là lịch sử nào ? Thưa đó là lịch sử cuộc đời của Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể ở giữa trần gian, biến cố Thăng Thiên chấm dứt sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu ở giữa thế gian. Còn lịch sử bắt đầu là lịch sử nào ? Thưa là lịch sử của Hội Thánh, lịch sử này tiếp nối công cuộc cứu độ của Chúa Cứu Thế trên trần gian cho đến ngày Người trở lại trong vinh quang.
Thánh Luca viết:Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời, thì kìa hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói "Hỡi những người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời". Câu nói của các thiên sứ nhắc nhở các tông đồ phải trở về với nhiệm vụ đã được Thầy giao phó mà các Ngài phải chu toàn cho đến ngày tận thế.
Chúa Giêsu lên trời là một điều chắc chắn. Đây là một mầu nhiệm, một tín điều chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính "ngày thứ 3 Người sống lại như lời Thánh Kinh, Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha", một hy vọng cho chúng ta hướng đến khi suy niệm Năm Sự Mừng, thứ hai Đức Chúa Giêsu lên trời, Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.
Chúa Giêsu lên trời là để dọn chỗ cho các môn đệ và Người sẽ trở lại để đem họ về trời với Người. Chúng ta là người kitô hữu, qua bí tích rửa tội, chúng ta trở nên những môn đệ của Chúa Giêsu. Chúng ta sống đạo là để chúng ta được Chúa cho chúng ta lên thiên đàng trong ngày sau hết. Nhưng để được lên thiên đàng cũng phải có những điều kiện. Đó là làm theo những lệnh truyền của Chúa: phải sám hối từ bỏ mọi tội lỗi, các đam mê xấu và tin vào Tin Mừng của Chúa, để được ơn tha thứ và trở nên con cái Thiên Chúa; phải thực hành các giới răn của Chúa và những lời dạy của Hội Thánh, nhất là giới răn yêu thương. Bởi thiên đàng là nơi sống yêu thương, những ai sống trong thù hận, chia rẽ, ghen ghét, hay chửi rủa, hay nói hành nói xấu người khác, thì không thể lên thiên đàng được, họ sẽ không hoà hợp được với lối sống thiên đàng vì họ không biết yêu thương. Muốn được lên thiên đàng sau khi chết chúng ta phải xây dựng cho mình một thiên đàng ngay tại thế gian này bằng một đời sống luôn biết yêu thương, biết chia cơm sẽ áo cho những người nghèo đói, giúp các bệnh nhân nghèo có phượng tiện chữa bệnh, thăm viếng an ủi những người đau khổ cả về thể xác cũng như tâm hồn, động viên các tội nhân ăn năn sám hối và sớm trở về giao hoà với Thiên Chúa. Sống yêu thương là sống làm chứng cho người khác biết rằng có một cuộc sống mai sau thật tốt đẹp trong Chúa.
Lạy Chúa, con đường về trời là con đường sống yêu thương. Xin cho chúng con luôn biết sống yêu thương như Chúa đã dạy và đã sống. Uớc gì qua cuộc sống chúng con, người ta nhận ra Nước Chúa đang tỏ hiện. Amen.

 
 

LênTrời-168: TIẾP TỤC CÔNG VIỆC CỦA CHÚA

Mc 16, 15-20 
 

Ngày nay nhờ phương tiện đi lại dễ dàng, nhanh chóng, cũng như các phương tiện truyền: LênTrời-168

1. Ngày nay nhờ phương tiện đi lại dễ dàng, nhanh chóng, cũng như các phương tiện truyền thông rất đa dạng, phong phú vì thế mệnh lệnh ban ra của người có trách nhiệm hay một tin nào đó sẽ được loan truyền đi rất nhanh chóng. Ngày xưa phải dùng các trạm thông tin, tin được đưa truyền từ trạm này đến trạm khác. Nhân viên ở mỗi trạm cố gắng hết sức chu toàn nhiệm vụ của mình bằng cách chạy bộ, đi ngựa... để mệnh lệnh hay tin được đưa đi càng sớm càng tốt. Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, chúng ta liên tưởng đến một cuộc chạy tiếp sức đưa tin, nhưng có điều ở đây không phải là một tin bình thường mà là tin Tin Mừng cứu rỗi. Còn Đức Giêsu không phải như bao nhân viên bình thường khác mà Ngài là chính tác giả của Tin Mừng, và là chính Tin Mừng, Ngài đã thực hiện xong phần vụ của mình cách đặc biệt : Loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa... cuối cùng chịu nạn chịu chết và sống lại để chuộc tội cho loài người, giờ đây Ngài trở về cùng Thiên Chúa Cha. Đức Giêsu trao phận vụ còn lại cho các Tông đồ, Ngài đã yêu cầu các ông : " Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16,15), và cuộc chạy tiếp sức để loan báo Tin Mừng vẫn còn được trao cho tất cả các Kitô hữu qua nhiều thế hệ cho đến khi Đức Giêsu lại ngự đến trong vinh quang.


2. Qua đoạn Tin Mừng trên, Chúa Giêsu không chỉ ra chị thị, mà Ngài còn hứa hỗ trợ cho người tông đồ nữa. Đọc Kinh Thánh, nhất là sách Tông Đồ Công Vụ, chúng ta dễ thấy rằng nhờ Thánh Thần của Đức Kitô Phục Sinh mà các Tông đồ thực hiện được những phép lạ như trừ quỷ (Cv 5,12-16 ; 8,7; 16, 16-18), đặt tay chữa bệnh (Cv 4,30 ; 9, 10-17)... Ý nghĩa sâu xa của việc Chúa ban cho các Tông đồ thực hiện được các phép lạ (dấu lạ) này là gì ? Thưa đó là chứng tỏ "có Chúa cùng luôn hoạt động với các ông"(Mc 16,20), giúp các ông hoàn thành sứ mạng tông đồ của mình : giảng dạy, chiến thắng thế lực sự dữ, chữa lành bệnh tật...


3. Ngày hôm nay Chúa vẫn mời gọi và trợ lực cho mọi Kitô hữu tích cực góp phần đánh bại thế lực sự dữ do ma quỷ cầm đầu như : lười biếng, chưởi thề, nói tục, trộm cắp, dâm dục, rượu chè, xì ke, ma tuý, áp bức, bất công, giả hình... những thứ này nhan nhản khắp nơi, núp dưới nhiều hình thức khác nhau, rất tinh vi... làm cho ta bước vào con đường tội lỗi mà không hay biết !
Chúa cũng mời gọi mọi và trợ lực cho mọi người chúng ta 'đặt tay', hay nói đúng hơn là 'ra tay' góp phần xoa dịu những nỗi đau của anh chị em mình : bệnh tật thể xác (giúp đỡ người nghèo, bệnh tật...) cũng như bệnh tật thiêng liêng, tinh thần (ích kỷ, thù hằn, ghen ghét...). Vậy mọi Kitô hữu hãy là cánh tay nối dài của Đức Kitô.



4. Không những đẩy lùi sự dữ, chữa lành bệnh tật... mà hôm nay cũng như các Tông đồ xưa, người Kitô hữu bằng lời rao giảng, nhất là bằng đời sống chứng nhân, thu phục tha nhân về cùng Đức Kitô, đó chính là dấu lạ được tái diễn. Câu chuyện sau đây cho thấy các sơ Nữ Tử Bác Ái đã thực hiện một dấu lạ kỳ diệu :
Ngày 25/3/2003 tại Sàigòn, một bác sĩ có tên thánh là Augustino, 50 tuổi được thụ phong linh mục, điều đáng nói vị linh mục này là một người lương trở lại đạo cách ngày thụ phong 10 năm, lúc đó ngài 40 tuổi, sau khi trở lại đạo, ngài gia nhập tu hội Thánh Vinh Sơn, theo học triết học và thần học. Bề trên thấy có đủ điều kiện đã thụ phong linh mục cho ngài. Hiện cha đang làm việc cho một trung tâm dành cho những người mắc chứng siêu vi đang chờ ngày giờ về thế giới bên kia, trung tâm đó ở Củ Chi cách Sàigòn độ 30 cây số.
Làm sao từ một bác sĩ lương dân có thể trở nên một người tận hiến cuộc đời cho Chúa và anh em như vậy? Thưa ngài đã được thu hút bởi các nữ tu Nữ Tử Bác Ái, nhất là từ một nữ tu người ngoại quốc nhưng tận hiến trọn cuộc đời của mình để yêu thương phục vụ cho người cùi hủi, sau khi tốt nghiệp chuyên về ngành da liễu, sơ ngoại quốc này đã tình nguyện làm việc tại bệnh viện Bến Sắn, một bệnh viện công nhưng có các sơ Nữ Tử Bác Ái cùng làm việc.Trước những hy sinh tận tụy của sơ này và các sơ phục vụ cho các người phong cùi khác với cả tấm lòng, đã đánh động vị bác sĩ - linh mục này, ngài nói :"Tôi tự nghĩ trong lòng, tôi có thể chữa lành các vết thương thân xác, nhưng làm sao tôi có thể chữa lành nỗi lòng cô đơn, bị bỏ rơi của các bệnh nhân cùi hủi này? Từ đó tôi đã tìm hiểu niềm tin Công giáo và tôi đã gặp được vị bác sĩ của các tâm hồn là Ðức Giêsu Kitô".
Vậy, đời sống hy sinh bác ái của các sơ Nữ Tử Bác Ái không những đã đem lại niềm vui cho các người phong cùi, mà còn là động lực để một bác sĩ lương dân trở thành một linh mục, từ một bác sĩ thể lý thành môt bác sĩ tâm hồn, phải chăng đó là dấu lạ xưa của các Tông đồ tái diễn ? Phải chăng điều này chứng tỏ rõ đời sống tốt đẹp có tác dụng rất lớn cho việc loan báo Tin Mừng ?



5. Trong đêm tối, chiếc đèn được thắp sáng càng rõ công dụng chiếu sáng. Đời sống tốt đẹp của người Kitô hữu có thể ví như những chiếc đèn. Chiếc đèn tuy không nói gì cả, nhưng ai cũng thấy ánh sáng và lợi ích của nó. Hãy làm chứng cho Đức Giêsu bằng lời rao giảng và nhất là bằng đời sống chứng nhân lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Hãy ra sức thực hiện lệnh truyền quan trọng của Đức Giêsu ban cho mỗi người chúng ta trước khi Ngài về trời : "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo". Đức Giêsu đã được ngự bên hữu Chúa Cha sau khi hoàn thành phận vụ của mình, cũng thế phần thưởng thích đáng là điều chắc chắn cho những ai tích cực thi hành lệnh truyền của Ngài.
 
 

LênTrời-169: MỘT CÕI ĐI VỀ

Mc 16, 15-20 
 

Có lẽ trong chúng ta, phần đông đều biết đến một ca khúc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ca: LênTrời-169

Có lẽ trong chúng ta, phần đông đều biết đến một ca khúc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Ca khúc có tựa đề là "Một cõi đi về":
Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vòng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về.
Mây che trên đầu và nắng trên cao
Hôm nay ta đi song còn ở lại
Con tim yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hình bóng con người
..............
Nếu cố nhạc sĩ họ Trịnh đã viết nên lời của ca khúc Môt cõi đi về này thì tôi tưởng rằng Trịnh Công Sơn đã có một chiều sâu cảm nghiệm về một cõi, về một nơi nào đó mà người ta phải đi tới, phải đi về. Cõi đó là cõi nào? Nơi đó là nơi nào?

Tin mừng hôm nay mô tả: " Nói xong, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa"(Mc 16, 19)
Như vậy, nếu Trịnh Công Sơn đã nói về một cõi xa xăm nào đó thì hôm nay, chính Chúa Giêsu đã xác định cõi đó là Thiên Đàng, là Trời cao. Đó là nơi mà sau bao nhiêu năm Đức Giêsu đã long đong, sau bao nhiêu năm nhọc nhằn, sau bao lần nếm cảnh nghèo đói, khổ đau, cay đắng và thậm chí là những thất bại chua cay, giờ đây, Ngài đang bước đến cõi đi về đó. Nơi đó, cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Nơi hạnh phúc không còn khổ đau, nơi mà tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối và viên mãn. Nơi mà con người trở thành bất tử.
Thế nhưng có một vấn đề đặt ra là: có thật là có cõi trời cao không và có thật là khi ở tầng trời cao người ta sẽ có được một cuộc sống như thế không. Hay đó chỉ là một ảo giác, hay đó chỉ là ảo tưởng nếu không nói là không tưởng.
Khi đặt vấn đề như thế tự nhiên tôi nhớ lại lời của một triết gia vô thần, Kart Marx. Ông ta nói rằng:
"Kitô giáo là trái tim của một thế giới không trái tim, là linh hồn của một thế giới không linh hồn. " Ông còn nói thêm: "........và là thuốc phiện ru ngủ nhân dân".
Là thuốc phiện ru ngủ nhân dân, Kitô giáo ru ngủ người ta, làm cho người ta quên đi thực tại đau khổ này và thay vào đó chỉ toàn là dạy cho người ta luôn mơ tưởng về cõi Thiêng đàng xa xăm. Không thực tế.
Tôi không nghĩ thế. Trái lại, sự kiện Chúa lên Trời hôm nay nói với tôi rằng: Ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có môt cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác lớn hơn, cao hơn và tuyệt đối hơn.
Và như thế trời không phải là một cái gì đó xa xăm, ảo tưởng. Trái lại, trời là niềm hy vọng của con người. trời là nơi con người sẽ được giải thoát khỏi trói buộc và giam hãm. Nơi đó, người ta sẽe biết được thế nào là hạnh phúc vô biên, vĩnh viễn, bất diệt và bền lâu. Chính vỉ thế, Trời là cõi người ta phải đi tới, phải đi về.
Thưa anh chị em và các bạn! Khi hiểu được như thế thì tự nhiên tôi cảm thấy băn khoăn lại cuộc đời mà tôi và anh chị em đang có mặt.
Tôi tự hỏi ngày hôm nay người ta có còn tin vào cõi Trời cao ấy không. Người ta có còn hy vọng được sống ở chốn trời cao ấy không? Và người ta có còn biết khao khát kiếm tìm cõi ấy không? Tôi sợ rằng không! Vì một đàng Chúa Giêsu đã xác định: "Vương quốc của tôi không thuộc về thế giới này. (xYn 18,38). Đang khi đó thì Abel Camus, một nhà tư tưởng có tầm cỡ trên thế giới thì nói rằng: "Vương quốc của tôi là chính thế giới này". Câu nói đó phản ánh một quan niệm, một lối sống của phần đông nhân loại trong thế kỷ này và trong thời đại này. Quan niệm và lối sống đó là người ta chỉ tập trung lo hưởng thụ từ những thứ mà người ta cố kiếm và cố tìm là tiền là của cải, là địa vị và là những trò vui nặng tính trần tục.
Chính vì chúng ta đang bị nhận chìm trong một quan niệm và một lối sống như thế nên hình ảnh của một cõi đi về trong tâm tưởng của chúng ta trở nên xa lạ và nhạt nhòa.
Như vậy thì vấn đề còn lại là: Nếu hình ảnh đó đã nhạt nhòa rồi thì ta phải tô điểm lại bằng chính lòng nhiệt thành của chúng ta. Nhiệt thành xây dựng một đất nước, một xã hội, một thế giới huynh đệ hơn, công bằng hơn, bác ái hơn...
Như vậy có nghĩa là gì, nếu không phải đó là mệnh lệnh và một đòi hỏi của Chúa Giêsu hôm nay:
"Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi loài thọ tạo ." Amen (Mc 16,15).

 
 

LênTrời-170: MẦU NHIỆM TÔN VINH THIÊN CHÚA

Mc 16,15-20 
 

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Thăng Thiên, khải hoàn vê trời. Về mầu nhiệm Thăng Thiên, có: LênTrời-170

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Thăng Thiên, khải hoàn vê trời. Về mầu nhiệm Thăng Thiên, có hai phương diện cần phải giải thích. Một là việc Chúa được tôn vinh mà các tác giả Thánh Kinh mô tả bằng những hình ảnh như "được nâng" cao "lên trời", "ngự bên hữu Đức Chúa Cha". Cuộc tôn vinh đó được diễn ra chính vào lúc Chúa Phục Sinh, giác quan không thể cảm nghiệm được, chúng ta chỉ có thể nhận thức bằng con mắt đức tin. Nhưng có một dữ kiện thứ hai có tính cách lịch sử, cảm nghiệm được dựa trên chứng từ của những người tai nghe mắt thấy, như Thánh sử Luca cho biết: Vài tuần, sau lễ Vượt qua, Chúa Giêsu đã "được đưa lên trời" trước mặt các môn đệ, trên núi Cây Dầu, gần làng Bêthania; một dữ kiện rõ ràng kiểm chứng được.

Việc Chúa được tôn vinh hay lên trời cách vô hình, mới chính là trung tâm của mầu nhiệm. Việc Thăng Thiên hữu hình chỉ là dấu chỉ và bảo chứng việc tôn vinh vừa nói. Tuy nhiên, đó là một sự kiện lịch sử mà Luca người duy nhất đã kể lại. Vả lại, trong hạnh tích các Thánh, nhiều vị cũng được ơn "nâng lên" như vậy, danh từ thần học gọi là thần lực nâng cao (lévitation).

Thánh Phaolô trong Thư gửi Giáo đoàn Ephêsô đã giải thích cho chúng ta về mầu nhiệm hôm nay, khi người nói: "Công việc Thiên Chúa đã thực hiện trong Đức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời". Thánh Augustinô nói: "Đức Kitô trở về nơi tối cao, nhưng vẫn ở lại với chúng ta. Và cũng như chúng ta, chúng ta ở lại dưới đất, nhưng chúng ta cũng đã ở bên Ngài." Trên trời và dưới đất là hai trạng thái, hai lối sống: sống với Thiên Chúa và sống theo thể xác. Khi bỏ trời xuống đất, Chúa đến dạy cho chúng ta nếp sống theo ý Chúa muốn, để biết đường về trời, khi cuộc đời dưới trần gian viên mãn, ta được về với Chúa, "được sống lại với Chúa Kitô, vì mục đích cuộc đời ta, không phải ở dưới đất mà là ở trên trời" (Cl 3,1-2).

Trong bài Phúc Âm, Thánh Máccô gợi lên hai ý tưởng: sự lên trời của Chúa Giêsu và việc sai phái các tông đồ đi giảng đạo. Từ trời cao kia như một chỗ hẹn, một bộ chỉ huy, Chúa Kitô khởi hoàn hằng soi sáng hướng dẫn các môn đệ. Ngài sai họ đi trên vạn nẻo đường thế giới, ban cho họ nhiều quyền năng để rao giảng Tin Mừng.

Ngài đã chết để cứu độ mọi người thì nay Ngài trao phó cho các môn đệ sứ mạng đem Tin Mừng cứu rỗi quảng bá khắp mọi nơi, Marcô còn nói rằng "cho mọi tạo vật", ngụ ý rằng Chúa đã đến đổi mới vũ trụ và nay Ngài về trời để hiến dâng cho Đức Chúa Cha một trời mới một đất mới.

Tất cả hai bản tính của Chúa, bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại đều được tôn vinh. Với Chúa Giêsu, loài người và cả vũ trụ đạt đến tột đỉnh vinh quang.

Thánh Ignatiô thành Antiochia tử đạo vào năm 110. Là Giám mục, ngài ra đi để lại cho đoàn chiên những lời từ biệt thống thiết. Ngài xin giáo dân đừng can thiệp cho ngài: "Cha phải được nghiền nát dưới hàm răng sư tử để trở nên bánh tinh tuyền của Chúa Kitô. Hãy để cho cha ra đi đến nơi ánh sáng chân thật. Và khi cha đã về trên đó, sau khi đã làm mồi cho thú dữ, cha sẽ là bánh trong sạch dâng lên, là "người mang Chúa" (Theophore"). Thánh Nhân bị hai con sư tử phân xác và được giáo dân đặc biệt tôn kính.

Mầu nhiệm Thăng Thiên là mầu nhiệm tôn vinh Thiên Chúa toàn diện, vừa là Con Một Đức Chúa Cha, vừa là một phần tử nhân loại. Nhờ Chúa Giêsu con người và vũ trụ đổi mới cũng sẽ đạt đến định mệnh cao sang của mình vậy.

"Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng hoan ca...
Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy tung hô Vua ta". (Tv 46,8-9)
Cố Lm. Hồng Phúc, DccT

 
 

LênTrời-171: LOAN BÁO TIN MỪNG CHO MỌI LOÀI THỌ TẠO 

(Máccô16,15-20 – Thăng Thiên - B)
1.- Ngữ cảnh 

 

TM Máccô kết thúc với câu 16,8. Tuy vậy, một số Kitô hữu thuộc thế kỷ i-ii đã tìm cách “bổ: LênTrời-171

TM Máccô kết thúc với câu 16,8. Tuy vậy, một số Kitô hữu thuộc thế kỷ i-ii đã tìm cách “bổ túc” truyện sách Tin Mừng bằng cách thêm vào những cảnh mà họ nghĩ rằng tác giả Mc hẳn cũng đã thêm vào nếu ngài viết tiếp. Đoạn văn 16,15-20 nằm trong Phần Kết phụ trội thứ nhất gọi là “Phần Kết Dài” hay là “Phần Kết Vô Danh”, từ c. 9 đến c. 20 của chương 16. Phần này nói đến những cuộc hiện ra của Đức Giêsu với bà Maria Mácđala và với các môn đệ để thúc giục họ, tức Hội Thánh, đi loan báo Tin Mừng khắp nơi. Các nhà truyền giáo không có gì phải sợ, bởi vì Đức Giêsu Phục Sinh vẫn ở với họ. Các độc giả tinh ý sẽ thấy có một số đề tài trong các câu này không giống gì với những điều họ đã thấy trong TM II. Họ cũng còn có thể nhận ra nơi các đề tài này âm vang của những cảnh quen thuộc ở trong các Tin Mừng khác, được quy tụ lại để làm cho phần kết của Mc (16,8) bớt đột ngột (x. Ga 20,11-18; Lc 24,13-35; Mt 28,16-20).
Bản văn chúng ta đọc hôm nay tập trung vào sứ mạng phổ quát của các tông đồ, và giống như Lc 24,36-53, nó kết thúc với việc Đức Giêsu lên trời mà các ông thấy được. Bài không hề xác định nơi chốn. Tác giả chỉ muốn chúng ta lưu ý đến điều cốt yếu: sứ mạng được giao phó cho các môn đệ.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba đơn vị:
1) Lệnh ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (16,15-18);
2) Lên trời (16,19);
3) Ra đi thi hành sứ mạng (16,20).
3.- Vài điểm chú giải
- Nhóm Mười Một (14): Đây chính là Nhóm Mười Hai trước đây, nhưng nay chỉ còn mười một tông đồ, vì Giuđa không còn nữa. Nhóm mang nơi mình dấu chỉ của sự sa sút. Chính là với Nhóm này mà Đức Giêsu đã hiện ra và giao sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra và giao sứ mạng, điều này có nghĩa là Người đã tha thứ cho họ, và lòng cứng tin của họ đã được thắng vượt.
- Tin Mừng (15): Nội dung của sứ điệp phải loan báo không được giải thích, mà lại được tổng hợp trong khái niệm “Tin Mừng”. Do khái niệm này được nối kết với “các thọ tạo”, nó gần với Cl 1,23. Công thức này đã được chuẩn bị trong Do Thái giáo, nơi mà Thiên Chúa được ca ngợi là vua của toàn thể công trình tạo thành của Ngài (Gđt 9,12), là chúa tể của muôn loài thọ tạo và có lòng yêu thương muôn loài thọ tạo (x. 3 Mcb 2,2.7; 6,2. Sách 3 Mac không thuộc về Kinh Thánh). Vậy Tin Mừng phải loan báo chính là quyền chúa tể của Đức Kitô Phục Sinh trên toàn thể thọ tạo.
- phép rửa (16): Các phản ứng của con người trước sứ điệp Tin Mừng là tin hoặc không tin. Đức tin có kèm theo thái độ sẵn sàng lãnh nhận phép rửa. Phép rửa nhân lãnh trong đức tin đưa tới ơn cứu độ trong cuộc phán xét chung cuộc. Trong Tt 3,5 và 1 Pr 3,21, phép rửa và ơn cứu độ được nối kết với nhau. Sự đối lập giữa cứu độ và kết án khiến ta nhớ đến Ga 3,18. Tuy nhiên, ở đây bản văn hướng đến cuộc phán xét chung. 
- những dấu lạ đi theo (17): Khác với những gì xảy ra ở Mc 8,11t, dấu (lạ) được dùng theo nghĩa tích cực. Dấu lạ không đi trước đức tin và cũng không diễn tả một uy quyền chỉ được ban riêng cho các môn đệ (như ở Mc 6,7-13), mà phải được dùng như là cách Thiên Chúa chuẩn nhận cho những ai đã trở thành tín hữu. Dấu lạ cho thấy Đức Kitô là vị Chúa tể mới của tạo thành, Người muốn ban ơn cứu độ cho toàn thể tạo thành. Năm loại phép lạ quy chiếu về sách Cv: đuổi quỉ (Cv 16,16-18), nói tiếng lạ (Cv 2,1-11), cầm rắn độc (Cv 28,3-6), chữa bệnh (Cv 31-10; 9,31-35; 14,8-10; 28,8t). Còn thuốc độc có lẽ dựa theo một truyện kể nào đó (chẳng hạn chuyện sử gia Êusêbiô kể về Giúttô Bácsaba; x. Hist. Eccl. 3,39,9). Lc 10,19 có nói đến khả năng đạp trên rắn độc và bọ cạp. Các dấu lạ xảy ra “nhân danh Thầy”, tức là với việc cầu khẩn danh Đức Giêsu. Như thế, Đức Giêsu được tôn vinh tiếp tục ở với cộng đoàn của Người và hoạt động.    
- Chúa Giêsu được đưa lên trời (19): Danh hiệu “Chúa Giêsu”, rất quen thuộc với Phaolô và sách Cv, chỉ xuất hiện ở đây trong các Tin Mừng. Đấng Phục Sinh, Đấng được tôn vinh, chính là Kyrios (chúa tể), là Kosmokrator (chúa tể vũ trụ). Cuộc lên trời của Đức Giêsu giả thiết có hình ảnh của Kinh Thánh về thế giới (= lên trời), được mô tả phỏng theo cuộc lên trời của ngôn sứ Êlia (2 V 2,11; 1 Mcb 2,58).
- Ngự bên hữa Thiên Chúa: Câu này dựa theo Tv 109 (110), 1 muốn nói rằng nay Đức Giêsu có tất cả quyền năng của Thiên Chúa.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Lệnh ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (15-18)
Ta thấy lệnh truyền của Đức Giêsu quá rõ ràng và cấp bách, nhưng trong thực tế, dường như không phải thế: Đức Giêsu không cho biết rõ khoảng thời gian kéo dài từ khi Người sống lại đến khi Người quang lâm; Người không loan báo rằng các Dân ngoại sẽ dần dà đi vào trong Giáo Hội trước khi xảy ra phán xét chung; các tông đồ đã phải mò mẫm tìm kiếm phương hướng hoạt động, với sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần (x. Cv 10; 11,1-8; 15,7-11…). Dù sao, ở đây, chúng ta thấy sứ mạng của Giáo Hội nơi Dân ngoại đã trở nên rõ ràng, không ai phản đối nữa: các tông đồ phải ra khỏi môi trường Do Thái giáo mà loan báo Tin Mừng cho “mọi loài thọ tạo”. Công thức này tương đương với Mc 1,10 và Mt 28,19: “mọi dân tộc”; chỉ loài người mới có thể nghe rao giảng và đáp lại bằng đức tin. Tuy nhiên, cũng có thể, trong chiều hướng của thánh Phaolô (Rm 8,19-22; Cl 1,1-23), tác giả nghĩ đến ảnh hưởng của công cuộc Đấng Cứu thế thực hiện trên toàn vũ trụ.
Tại sao lại “loan báo Tin Mừng cho muôn loài thọ tạo”? Cây cối có thể nghe Tin Mừng? Khi người ta nghe theo sứ điệp của Chúa Kitô, phải chăng tất cả vũ trụ sẽ được biến đổi? Điều này sẽ được thánh Phaolô giải thích trong Thư gửi người Rôma: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người… với niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,19-21). Khi chúng ta sử dụng các thọ tạo sai cách, chúng ta làm điều dữ. Khi sứ điệp Tin Mừng thay đổi con tim chúng ta, muôn loài thọ tạo cũng sẽ được cứu chuộc; chúng không còn bị sử dụng cho điều xấu nữa, mà được sử dụng đúng mục tiêu của chúng như khi chúng được tạo thành: một phương tiện để yêu thương và sống hạnh phúc. Sứ mạng của các môn đệ là làm việc để cho có một nhân loại mới và một thế giới mới chào đời.
Đức tin chính là lời đáp trả lời rao giảng và được liên kết với phép rửa tội (Cv 2,41; 8,12…).
Còn về các dấu lạ, trong Hội Thánh lúc ấy, không phải bao giờ các dấu lạ cũng được các tông đồ thực hiện; nhiều lần Thánh Thần hành động nơi và qua các thính giả (x. Cv 10,44-46). Các dấu lạ được kể ra như là những ví dụ, và được chứng thực trong sách Cv.
    * Lên trời (19)
Tác giả đã liên kết hai thực tại không thuộc về cùng một bình diện, một bên là một cuộc tỏ mình hữu hình của Đức Giêsu Phục Sinh kết thúc những cuộc hiện ra, được diễn tả bằng ngôn ngữ của sách Cv (x. Cv 1,1-11); một bên là một cuộc tôn vinh trên thiên quốc, gắn liền với cuộc Phục Sinh (x. Ep 4,10; 1 Tm 3,16…). Thật ra, tác giả Mc không tường thuật một biến cố xảy ra trước mặt các khán giả. Các độc giả sẽ sai lầm nếu tưởng tượng Thăng Thiên như một “cuộc rời bỏ nhau”, “một chuyến ra đi”, “một sự biến mất”. Đức Giêsu không ở quanh quẩn đâu đó trong vòng bốn mươi này trước khi lên trời. Người đã đi vào vinh quang của Cha Người ngay sau khi chết. Ngày Thăng Thiên không phải là một lễ từ biệt, mà là một lễ mừng sự hiện diện. Điều mà tác giả muốn kể cho chúng ta là Đức Giêsu Nadarét, đã bị lính Rôma giết vào trước lễ Vượt Qua, không hề bỏ rơi các môn đệ Người mãi mãi. Người đã sống lại và tiếp tục sống với họ. Cách thức hiện diện thì khác, nhưng Người không bỏ rơi họ. Trước khi sống lại, Người không thể ở với mọi người tại mọi nơi chốn. Nay đã được tôn vinh, Người có thể hiện diện ở mọi nơi. Người có thể ở với mọi người chúng ta.
* Ra đi thi hành sứ mạng (20)
Tác giả quan tâm khẳng định rằng trong hoạt động truyền giáo, các tông đồ (và sau các ông, là Hội Thánh mọi thời) có thể cậy dựa vào sự hiện diện tuy vô hình nhưng hữu hiệu của Đức Giêsu đang ở trên thiên quốc với tất cả quyền năng Kyrios của Người.
Ngay ngày hôm nay, việc loan báo Tin Mừng cũng phải có kèm theo các dấu lạ, nhưng các dấu lạ này không phải là những mánh lới phù chú ma thuật, nhưng là những dấu chỉ cho thấy thế giới mới như các ngôn sứ và tác giả Mc đã từng lon báo.
+ Kết luận
Bởi vì các nhà chuyên môn cho rằng Kết dài của TM Mc là một huấn giáo về Phục Sinh, chúng ta có thể đối chiếu bản văn với 1 Cr 15,1-11. Cuộc gặp gỡ với một nhóm môn đệ giới hạn trở thành nền tảng cho các biến cố liên hệ đến Đức Giêsu Phục Sinh. Giới hạn về thời gian giữa cuộc Phục Sinh và Lên Trời đảm bảo cho tính hợp pháp của các chứng nhân chọn lọc, nhưng cũng cho thấy cuộc Phục Sinh là như một kiểu trở lại tạm thời của Đức Giêsu trong một cuộc sống trần thế. Quan trọng là đi loan báo Tin Mừng “khắp nơi” và chỉ khi loan báo như thế, người môn đệ mới trải nghiệm sự hỗ trợ thường trực của Đức Chúa được tôn vinh vẫn đang ở lại trong cộng đoàn mình.        
5.- Gợi ý suy niệm
1. Nay đã sống lại, đã được tôn vinh, Đức Giêsu có thể hiện diện với từng người trong chúng ta. Có thể gọi Thăng Thiên là lễ nhân ra nhiều sự hiện diện của Đức Giêsu. Đây là ý nghĩa đích thực của Thăng Thiên, nên chúng ta có thể thực sự hạnh phúc và chan hòa niềm vui. Đức Giêsu Phục Sinh là Chúa tể (Kyrios) nhưng vẫn đang “cùng hoạt động” với các môn đệ Người, với mỗi tín hữu đang dấn thân cho sứ vụ Người giao phó.
2. Nhìn vào Nhóm môn đệ, chúng ta nhớ đến tập thể trong đó chúng ta đang hiện diện: gồm những con người bất toàn, có thất trung. Nếu hôm nay, chúng ta còn có thể ra đi loan báo Tin Mừng, là vì Đức Giêsu Phục Sinh đã tha thứ và khôi phục tư cách cho chúng ta. Sống đời thừa sai là làm chứng rằng chúng ta đã được ơn tha thứ và chúng ta đã gặp Đấng Phục Sinh.
3. Địa bàn hoạt động của người môn đệ là thế giới, “khắp tứ phương thiên hạ”; đối tượng họ gặp gỡ là mọi người và từng người trên đường họ đi, “mọi loài thọ tạo”. Người môn đệ của Đấng Phục Sinh không được để cho những phân biệt về màu da, ngôn ngữ, chủng tộc, ... làm cho mình ngần ngại ra đi chia sẻ Tin Mừng cứu độ.
4. Hôm nay chúng ta đang làm các “dấu lạ” nào? Phải chăng chúng ta cứ muốn Thiên Chúa làm các phép lạ, hay là chính chúng ta cũng muốn thực hiện các “dấu lạ”? “Dấu lạ” có phải là chính sự hiện diện khiêm tốn, nhân ái và có khả năng “chữa lành” của chúng ta? Con người hôm nay có cảm thấy rằng Đức Giêsu đã lên trời, vẫn đang ở cùng chúng ta tại đây chăng?
Lm PX Vũ Phan Long, ofm

 
 

LênTrời-172: Tiếp nối sứ vụ của Chúa Ki-tô

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 16:15-20) 

 

Thánh Mác-cô cho thấy khi bắt đầu thi hành sứ vụ, Chúa Giê-su đã rao giảng:  “Thời kỳ đã: LênTrời-172

Thánh Mác-cô cho thấy khi bắt đầu thi hành sứ vụ, Chúa Giê-su đã rao giảng:  “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.  Anh em hãy thống hối và tin vào Tin Mừng” (Mác-cô 1:15).  Tiếp theo, trong phần còn lại của sách Tin Mừng, thánh sử ghi chép những lời giảng cũng như việc làm của Chúa, và cao điểm là mặc khải căn tính của Chúa Giê-su là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, qua lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng Rô-ma (15:39).  Cuối cùng, để kết thúc sách Tin Mừng, thánh Mác-cô ghi lại lời huấn dụ trước khi Chúa lên trời:  “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (16:15).  Như vậy, loan báo Tin Mừng là sứ mệnh Chúa Cha đã trao cho Chúa Giê-su và giờ đây Chúa Giê-su dạy các môn đệ hãy tiếp tục sứ mệnh ấy cho đến ngày Người trở lại.
          Biến cố Chúa Giê-su lên trời không kết thúc sứ vụ của Người, nhưng là một khởi đầu mới, mở ra thời đại của Chúa Thánh Thần và thời các môn đệ của Chúa Giê-su được sai đi khắp nơi để tiếp tục sứ vụ của Người.  Ba năm trước, khi Chúa đọc sách ngôn sứ I-sai-a tại hội đường Na-da-rét và tuyên bố:  “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (xem Lu-ca 4:16-21), là Người đã khai mạc sứ vụ của Người.  Hôm nay các môn đệ Người nhận lệnh truyền đi rao giảng Tin Mừng là họ mở đầu cho việc tiếp tục sứ vụ của Người.  Để hiểu các môn đệ phải tiếp tục sứ vụ của Chúa như thế nào, chúng ta hãy đọc lại những gì ngôn sứ I-sai-a nói về Chúa Giê-su.  “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn…”.  Được đầy tràn Thánh Thần, Chúa Giê-su đã ra đi rao giảng và chữa lành để giúp mọi người nhận ra Thiên Chúa yêu thương và muốn cứu độ họ.  Qua biến cố Hiện Xuống và bí tích Thêm sức, các môn đệ Chúa ngày xưa và hôm nay đã được trang bị bằng sức mạnh của Thánh Thần để tiếp tục những gì Chúa Giê-su đã làm.  Do đó, dù phải “đi khắp tứ phương thiên hạ” thì họ cũng không mỏi gối chồn chân.  Dù có phải “loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”, họ vẫn chưa cho là đủ và càng muốn có thêm nhiều người đến tin Chúa.
          Chúa Giê-su cũng đề cập tới đức tin, một yếu tố không thể thiếu để môn đệ tiếp tục sứ vụ của Người.  Khi bắt đầu rao giảng, Chúa Giê-su đòi người ta phải có lòng tin, phải “tin vào Tin Mừng”.  Hôm nay khi các môn đệ được sai đi, lòng tin ấy vẫn giữ vai trò quan trọng.  Nó giúp cho người đón nhận Tin Mừng được cứu độ và giúp cho người rao giảng thực hiện những việc lạ lùng như trừ quỷ, uống nhằm thuốc độc cũng bình an vô sự và có khả năng chữa lành bệnh tật.  Nói tóm lại, dù người ta có lòng tin chỉ bằng hạt cải thôi cũng đủ sức chuyển núi rời non và còn làm những việc lớn lao hơn cả những gì Chúa đã làm (Mát-thêu 17:20; 21:21)!
          Sau cùng, tiếp tục sứ vụ của Chúa Giê-su không phải công việc một mình chúng ta gánh vác, trái lại vẫn luôn có sự hiện diện của Chúa Giê-su bên cạnh.  Hình ảnh các Tông Đồ ra đi rao giảng bảo đảm rằng Chúa luôn hiện diện và hành động bên chúng ta:  “Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông”.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Có thể chúng ta cảm thấy sợ sệt khi nghe Chúa Giê-su mời gọi:  Con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo!  Có sợ cũng là đúng thôi, vì với khả năng giới hạn của chúng ta, rao giảng Tin Mừng là công việc đội đá vá trời.  Khoa học gia bảo:  Cho tôi một điểm tựa, tôi có thể nâng cả trái đất này lên!  Đó là điều giả thiết, nhưng với Ki-tô hữu, đó là một sự thật.  “Điểm tựa” của chúng ta là Chúa Giê-su và sức mạnh của chúng ta là Chúa Thánh Thần.  Loan báo Tin Mừng là sứ mệnh vĩ đại và Chúa cần chúng ta.  Người sai chúng ta đi “khắp tứ phương thiên hạ” của chúng ta, tức là nơi chúng ta sống, làm việc, gặp gỡ người khác.  Người bảo chúng ta làm chứng cho Người trước “mọi loài thọ tạo” là người thân gia đình, bạn bè, người cùng sở làm, cùng cộng đoàn… Nhưng quan trọng hơn cả, đó là điểm tựa Giê-su và sức mạnh Thánh Thần.  Vậy chúng ta cứ mạnh dạn mà ra đi tiếp tục những gì Chúa Giê-su đã khởi sự!
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 
 

LênTrời-173: SAO CÒN MÃI NHÌN TRỜI ?

Mc 16, 15-20 
 

Sau khi phục sinh, Đức Giêsu còn ở lại với các môn đệ 40 đêm ngày. Sở dĩ Chúa sống lại còn: LênTrời-173

Sau khi phục sinh, Đức Giêsu còn ở lại với các môn đệ 40 đêm ngày. Sở dĩ Chúa sống lại còn ở với các môn đệ lâu ngày như thế là vì Người thấy đức tin của các ông còn yếu kém. Do đó, Chúa Giêsu nói về Nước Trời để củng cố niềm tin cho các ông và để chuẩn bị cho các ông đi vào sứ mạng rao giảng Tin mừng. Chúa Giêsu đã lo lắng cho các môn đệ hết lòng bằng cách ban Thánh Thần cho các ông và luôn ở cùng các ông, luôn cùng các ông hoạt động.
Sau khi ban phép lành cho các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh đã được Chúa Cha cất nhắc về trời. Thế nhưng, các môn đệ vẫn cảm thấy bị hụt hẵng, bối rối, lo âu. Các ông cứ đứng đó mà nhìn trời. Cái trớ trêu của các môn đệ là vẫn còn sống trong ảo ảo hư hư. Các ông vẫn chưa nhận ra, Chúa phải về trời để chu toàn sứ vụ của Người:" ngự bên hữu Đức Chúa Cha". Các môn đệ vẫn chưa nhận ra cái thực tế của đời mình : rao giảng và làm tròn sứ mạng Chúa trao phó. Nhìn trời được coi như hướng về sự thiện, hướng về mục tiêu cuối cùng của người có đức tin: Nước Trời.Tuy nhiên, các môn đệ vẫn bị trách " làm sao các ông cứ mải nhìn trời ? ". Chắc rằng cái tiếc nuối của các môn đệ nếu có vẫn là mộng làm quan hụt. Vì rằng các ông cứ tưởng Thầy tới để củng cố vương quyền của Israen...Các ông mơ ước Chúa Giêsu sẽ làm vua theo quan niệm người đời. Khi ấy, các ông sẽ được Chúa chia chác cho các ông các ghế trong nội các của Chúa Giêsu. Điều mơ tưởng ấy chỉ là điều mơ mộng. Chúa Giêsu đã chẳng từng nói với Philatô:" Nước Tôi không thuộc thế gian này". Quả thực, Chúa Giêsu đã xác định rõ ràng, Người là vua nhưng là vua khiêm nhu, vua nhân hậu. Nước của Người không thuộc thế gian mà thuộc về thượng giới. Vả lại, các thiên thần áo trắng đã chẳng hứa hẹn:"Ngài sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Ngài đi lên Trời"( Cv 1, 11 ). Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và ngày mai vẫn là một. Chính vì thế, tất cả mọi người có lòng tin như các môn đệ xưa đang hướng về ngày cùng tận, ngày tận thế, ngày Trời mới Đất mới. Vì Chúa đang lại đến. Các môn đệ sau khi mơ mộng đã được các Thiên Thần đưa họ về thực tế. Các ông bỗng tỉnh ngộ và trở về với con người thực của mình. Các ông đã sực nhớ lại Thầy của mình đã trao sứ vụ đi rao giảng cho muôn dân và họ bắt đầu đi rao giảng.

Trước khi đi vào cuộc thương khó cứu đời theo ý Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nhiều lần loan báo cái chết Ngài sẽ phải chịu để cứu độ nhân loại. Các môn đệ vẫn mù tịt, chẳng hiểu gì về những lời Chúa nói. Phêrô còn dám cản ngăn con đường của Chúa. Trong các lần tâm sự với các môn đệ Chúa Giêsu đã chẳng nói:" Ta ra đi thì ích lợi hơn cho các con"( Ga 16, 17 ). Hoặc " Lòng các con chớ xao xuyến...Ta đi trước để dọn chỗ cho các con"( Ga 14, 1-2 )." Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ) và rồi Ngài cầu khẩn cho các môn đệ" Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ, trong danh Cha mà Cha đã ban cho con...Bây giờ con đến cùng Cha, và con...xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần"( Ga 17, 12.13.15 ). Đây là những lời tâm sự của Chúa đối với các môn đệ làm chúng ta hiểu được tấm lòng, hiểu được ước muốn của Chúa Giêsu. Chúa quả thực đã củng cố niềm tin, đã an ủi các ông, đã làm cho các ông càng lúc càng hiểu được cõi lòng sâu thẩm của Chúa. Nhờ đó, các môn đệ và mỗi người chúng ta đều nghiệm ra được tình thương vô biên của Chúa Giêsu. Các môn đệ vẫn hướng về trời, nhưng điều thực tế vẫn là các ông phải hành động ngay ở trần gian này như Đức Giêsu đã truyền:" Anh em hãy đi và và làm cho muôn dân trở thành môn đệ..."( Mt 28, 19 ). Các môn đệ và mọi người Kitô hữu luôn phải trở về với thực tế của mình là "đi" và " làm cho cho muôn dân trở nên môn đệ của Chúa Giêsu".
Chúa Giêsu về trời không có nghĩa" Ngài trở lên ở một khoảng không gian mông lung nào đó". Chúa Giêsu về trời cũng có nghĩa " Ngài không còn hiện ra với các môn đệ như khi Ngài mới sống lại". Chúa Giêsu vẫn hiện diện với nhân loại, với Hội Thánh nhưng theo một cách khác. Ngài không còn tỏ ra như đã từng cho các môn đệ thấy dấu đinh nơi chân tay Ngài, và cho các ông thấy cạnh nương long của Ngài. Chúa Giêsu về trời là để khai mạc một triều đại mới: triều đại của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội. Về trời cũng có nghĩa " Chúa phục sinh đón nhận vinh quang từ Cha của Ngài". Chúa về trời để cũng đưa nhân loại lên với Ngài. Mầu nhiệm Chúa Giêsu về trời cũng được hiểu là mầu nhiệm của Hội Thánh trần gian đang hiện diện tỏ tường nơi gian trần nhưng không ngừng lên trời, không ngừng hướng về Thiên Chúa Cha ngang qua cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin giúp mỗi người chúng con càng lúc càng hiểu rõ hơn sứ vụ rao giảng Tin Mừng mà Chúa đã truyền cho các môn đệ và cho toàn thể Hội Thánh .
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 
 

LênTrời-174: LÊN TRỜI LÀ LÊN ĐƯỜNG

Mc 16, 15-20 
 

Hôm nay toàn thể Giáo hội mừng lễ Chúa lên trời hay lễ Thăng Thiên. Ngày lễ Thăng Thiên có: LênTrời-174

Hôm nay toàn thể Giáo hội mừng lễ Chúa lên trời hay lễ Thăng Thiên. Ngày lễ Thăng Thiên có một ý nghĩa rất quan trọng trong dòng lịch sử Giáo hội. Lý do là vì Thăng Thiên vừa kết thúc mùa Phục Sinh, vừa là một mạc khải cuối cùng nói về vinh quang của Chúa Phục Sinh. Tuy nhiên Thăng Thiên vẫn chưa là biến cố sau cùng mà là một khai mở cho biến cố mới: biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống như Chúa Giêsu đã hứa.

Chúa lên trời, cũng có nghĩa là từ nay Người không còn hiện diện cách hữu hình, cách khả giác nữa mà là một sự hiện diện khác - hiện diện bằng chính quyền năng của Chúa Thánh Thần, hiện diện qua chính Giáo hội. Hiểu được như thế chúng ta sẽ thấy rằng, việc Chúa lên trời quả là một niềm vui cho chúng ta. Vì nhờ đó, chúng ta cũng sẽ hướng về quê trời - nơi chúng ta sẽ được hưởng sự sống Thần linh với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Khi suy niệm Lời Chúa hôm nay, chúng ta có cảm giác dường như thánh sử Máccô muốn diễn tả sự kiện Thăng Thiên diễn ra một cách chóng vánh để cho các Tông đồ bắt tay ngay vào việc lên đường truyền giáo. "Lên trời là lên đường", phải chăng đó là thông điệp mà thánh sử muốn gửi đến cho chúng ta? Dù sao, lệnh truyền của Chúa cho các tông đồ và cho cả chúng ta nữa cần được chúng ta suy chiêm và đem vào cuộc sống.

Lần hiện ra sau cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu trao cho các ông một sứ mệnh, là ra đi loan báo Tin mừng. "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo". Đây chính là một lời mời gọi của Chúa và Người muốn các môn đệ đáp lại mời gọi này với sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Lời mời gọi đó đòi buộc các môn đệ rời bỏ quê hương - nơi chôn rau cắt rốn, thậm chí rời bỏ luôn dân tộc Israel để hướng về lương dân, công bố Tin mừng Phục sinh cho hết mọi người. Truyền thống Tân ước cho biết lời rao giảng đầu tiên của các Tông đồ là công bố việc Thiên Chúa cứu nhân loại khỏi chết, khỏi mọi tội lỗi nhờ cái chết, sự phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu. Vâng lời Thầy, các môn đệ ra đi dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần Thiên Chúa và với sự hiện diện cách vô hình của Thầy Chí Thánh.

Sau khi Chúa về trời, và nhất là sau ngày lễ Ngũ tuần - ngày các môn đệ đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, sứ mệnh loan báo Tin mừng Phục sinh của các môn đệ mới lớn mạnh và ngày một lớn mạnh không ngừng. Tuy nhiên, chúng ta thấy, Tin mừng được loan đi, nhưng thái độ đáp trả của con người vẫn còn là điều đáng để chúng ta suy nghĩ. Bởi bên cạnh những người đón nhận lời rao giảng của các môn đệ và tin tưởng bước theo Chúa Kytô Phục sinh, thì vẫn còn đó không ít người không tin, thậm chí còn mỉa mai chê cười. Chính vì thế, Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ về hiệu quả của việc đón nhận hay từ chối lời loan báo Tin mừng Phục sinh của Giáo hội. Đó là, "Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ" và, "Ai không tin, thì sẽ bị kết án".

Chúng ta biết, đức tin - một hành động được diễn tả như là quá trình xuất phát từ chính trong tâm hồn để rồi biểu lộ ra bên ngoài bằng việc chịu phép rửa. Như vậy, tin và chịu phép rửa là đáp lại sứ điệp của Tin mừng và như thế sẽ nhận được ơn cứu độ, được thứ tha tội lỗi và huởng sự sống đời đời. Ngược lại, nghĩa là bị án phạt. Đây chính là án phạt trong ngày tận thế, ngày Chúa Kytô trở lại để khánh thành công trình cứu độ. Ai không tin Chúa, từ chối lời rao giảng tức là khước từ sự sống và như thế, bị luận phạt đời đời chính là hậu quả mà họ sẽ đón nhận. Ở đây cần phân biệt người chưa nghe lời Chúa với người nghe lời Chúa mà chối từ. Người chưa nghe lời Chúa không thể gọi họ là kẻ khước từ. Họ sống theo lương tâm ngay thẳng thì không thể kể họ là kẻ không tin.

Giai đoạn đầu của sứ mệnh rao giảng Tin mừng, chúng ta thấy có nhiều dấu lạ đi kèm theo lời rao giảng của các môn đệ. Điều này được nói đến trong đoạn kết của Tin mừng Máccô cũng như được minh hoạ trong sách Công vụ tông đồ. Tất cả những dấu lạ như trừ quỷ (x. Cv 5, 12-16; 8,9; 16,16-18); nói tiếng lạ (x. Cv 2, 4-13; 10, 44-46); cầm được rắn (x. Cv 28, 3-6); đặt tay chữa bệnh (x. Cv 4, 30; 9, 10-17),v.v... phải chăng là những ma thuật để khuyến dụ những người thích phù phép hay những người kém hiểu biết? Hoàn toàn không phải như vậy. Tất cả chỉ để diễn tả quyền năng tất yếu của Đấng Phục sinh chiến thắng những thế lực sự ác và sự chết. Đấng ấy, nay thông qua các dấu lạ kèm theo lời rao giảng của các môn đệ, để minh chứng rằng rằng những ai tin và bước theo Người cũng sẽ chiến thắng mọi thế lực của ác thần.

Mừng lễ Thăng Thiên, xin cho mỗi người chúng ta biết hướng về trời cao, tiến bước lên đường rao giảng Tin mừng Phục sinh và ơn cứu độ của Thiên Chúa cho khắp nhân trần. "Lên trời là lên đường", đó là thông điệp, và cũng là sứ mệnh Giáo hội muốn nhắn gửi cho con cái mình trong thời đại hôm nay.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

 
 

LênTrời-175: SAO CÒN ĐỨNG NHÌN TRỜI?

Mc.16,15-20 
 

Tin Mừng của Thánh Marcô tường thuật việc Chúa Giêsu về trời. Chúa về trời là hiển nhiên vì: LênTrời-175

Tin Mừng của Thánh Marcô tường thuật việc Chúa Giêsu về trời. Chúa về trời là hiển nhiên vì Người từ trời mà đến, nay Người trở về nơi Người ở trước, như Chúa Giêsu đã từng nói: "Nếu Con Người lên nơi đã ở trước thì sao?" (Jn.6,62). Cho nên mầu nhiệm Chúa thăng thiên là một vấn đề đã ăn sâu vào niềm tin Kitô giáo của chúng ta nên không còn phải chứng minh về điều này. Tuy nhiên, điều muốn nói là:

Chúa về trời " ngự bên hữu Thiên Chúa ", Người được tôn phong và trao ban uy quyền làm Chúa, nghĩa là với tư cách là người, nay Người được tham dự vào vương quyền của Cha và dự phần uy quyền cai trị vũ trụ. Thế nhưng khi các môn đệ được chứng kiến Chúa về trời rồi, sách Công Vụ còn kể : Các ông cứ đứng ngây ra đó mà trông theo, nên Chúa đã sai Thiên Thần hiện ra nhắc bảo " Hỡi người Galilê sao các ông còn đứng nhìn trời...?"(Cv.1,11).

Khi được sống trong hạnh phúc người ta thường có thái độ thích an hưởng mà quên đi bổn phận hiện tại, các môn đệ cũng vậy, nhưng sau khi được nhắc nhở các Tông đồ đã tung bay khắp nơi để rao giảng Tin Mừng, các ngài đã tiếp nối công việc của Chúa Giêsu và hoạt động trong quyền năng của Đấng Phục Sinh. Và Chúa thể hiện sự nâng đỡ bằng những phép lạ. Ngày nay cũng vậy, Chúa vẫn bảo vệ, nâng đỡ các nhà truyền giáo để nhân lọai được hưởng nhờ, nhưng hiếm hơn. Bù lại là những dấu chỉ thiêng liêng như kiên trì, sự xác tín và dấn thân của những nhà truyền giáo(x.2Cor.12,12) Chúa không để chúng ta một mình nhưng " ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế"(Mt.28,20).

Vậy trước hết và trên hết là chúng ta hãy ra đi loan báo Tin Mừng, không được khoanh tay ngước nhìn trời vì công việc loan báo Tin Mừng đang chờ đợi chúng ta và thế giới còn nhiều bề bộn....hãy sống hết mình với trái đất mà vẫn ngước lên trời cao. Dĩ nhiên đây là một thách đố lớn đối với người Kitô hữu, nhưng cũng là cốt lõi của niềm tin, mà thiên thần nhắc nhở phải loan truyền điều mình đã chứng kiến ngay đi, đừng bám lấy niềm vui hiện tại mà quên đi sứ mệnh Chúa vừa trao ban " Hãy đi giảng dạy muôn dân và rửa tội cho họ..."(c.16). Như thế, chúng ta phải quay về với bổn phận của mình để làm cho thế giới này không còn hận thù, không còn đau khổ để kiến tạo cuộc sống hữu hình tươi đẹp và sáng sủa hơn.

Đồng thời làm chứng sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần thế qua cuộc sống chứng nhân, như Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói : " Ngày nay người ta thích chứng nhân hơn thầy dạy". Cho nên loan báo Tin Mừng là làm chứng tình yêu của Thiên Chúa nơi con người qua hoạt động bác ái của chúng ta, qua đôi tay thi ân và chăm sóc người cùng khổ thể xác lẫn tinh thần, để nhờ đó mọi người nhận ra Chúa vẫn đang hioện diện và hoạt động nơi trần thế.

Hội Thánh ngày nay cũng bao gồm những kẻ yếu đuối, cứng tin nhưng với ơn cải hóa, họ sẽ trở thành những chứng nhân nhiệt thành loan báo Tin Mừng. Mầu nhiệm lên trời là động lực thúc đẩy việc truyền giáo mỗi ngày mạnh mẽ hơn. Con đường về trời là con đường hẹp nhưng đầy yêu thương, hãy chia sẻ cuộc sống với mọi người, biết quảng đại không sợ hi sinh, có như thế chúng ta sẽ trở nên dụng cụ của Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết đường về trời trong việc hi sinh, bác ái, yêu thương anh chị em con, để mỗi khi hướng vọng về trời thì chúng con lại thêm sức mạnh để xây dựng thế giới nay mà chuẩn bị ngày về trời.
Sr Mai An Linh OP

 
 

LênTrời-176: CHÚA VỀ TRỜI

Mc 16, 15-20 
 

Lúc còn nhỏ mỗi lần chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu về trời, đặc biệt vào chính ngày lễ Chúa thăng: LênTrời-176

Lúc còn nhỏ mỗi lần chuẩn bị mừng lễ Chúa Giêsu về trời, đặc biệt vào chính ngày lễ Chúa thăng thiên, như một tập quán quen thuộc nào đó, tôi thường làm một cử chỉ: nhìn lên trời. Tôi nghĩ rằng nhìn lên trời biết đâu tôi sẽ bắt gặp Chúa đang bay về trời bởi vì theo Tin Mừng thánh Máccô, sau khi Chúa nói với các tông đồ lệnh truyền giáo, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa ( Mc 16, 19 ). Do đó, nhìn lên trời để biết đâu bắt gặp được Chúa đang được rước về trời thì thật hạnh phúc biết bao !

Những suy nghĩ của tôi lúc còn nhỏ tuổi, thật ngộ nghĩnh, nhưng tôi cho rằng thực tế vì Chúa về trời là về với thế giới của Thiên Chúa Cha, có nghĩa khác với thế giới trần gian này. Con người đang sống nơi gian trần với những vẻ đẹp tuyệt mỹ: vũ trụ, sông, biển, đại dương, núi đồi, cây cỏ. Đó là thế giới khiến con người, khiến chúng ta ưa thích và say mê. Tuy nhiên, Chúa về trời cũng khiến chúng ta nhớ lại đời chúng ta là một cuộc hành trình dài mà đích đến là nước trời, là nơi xa xăm vv... Đã xác định được đích đến, chúng ta phải hiểu được lệnh truyền của Chúa: " Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án " ( Mc 16, 15-16 ). Các tông đồ của Chúa đã chứng kiến cuộc vinh hiển khải hoàn của Chúa, được nhìn thấy Chúa được rước về trời trong vinh quang, do đó, các Ngài không thể im lặng, các Ngài không thể làm ngơ, các Ngài đã mạnh mẽ làm chứng: " Thiên Chúa đã làm cho sống lại Đức Kitô mà anh em đã giết chết, rồi treo trên cây gỗ...và tôn Ngài làm thủ lãnh và Đấng cứu độ để đem lại cho Israen ơn tha thứ và hoán cải. Về những việc đó chúng tôi đây là những chứng nhân cùng với Thánh Thần mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng phục Người " hoặc " Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại để chúng ta được nên công chính ".

Vì tin vào Chúa Phục Sinh, cũng vì làm chứng cho Đấng sống lại mà các tông đồ tất cả đều bị bách hại, tất cả đều bị đổ máu, họ đã bị giết chết vì tin vào Đấng phục sinh.

Riêng đối với chúng ta, những Kitô hữu, những người theo Chúa, chúng ta luôn phải can đảm, quảng đại làm chứng cho Chúa phục sinh không chỉ bằng lời nói suông, nhưng phải làm chứng cho Chúa bằng chính đời sống thật, đời sống chân chính của mình và cảm nghiệm sâu xa cuộc sống tốt lành của chúng ta là những bước tiến gần Chúa Kitô, đồng thời những thử thách gian nan, những hy sinh, đau khổ, cam go của chúng ta là cần thiết để thanh luyện và làm rạng rỡ đức tin của chúng ta.

Mọi Kitô hữu đều muốn về trời với Chúa phục sinh, nhưng muốn về trời chúng ta phải hy sinh, lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc đời của chúng ta. Thực hành Lời của Chúa, đồng nghĩa thực hiện tình yêu thương của Chúa: " Hãy yêu nhau như Thầy đã yêu ".

Vâng, nhìn lên trời không có nghĩa là để thấy Chúa bay vụt vào một nơi chốn nào đó, vào một khoảng không mịt mù nào đó. Nhìn lên trời để hiểu rằng Chúa đã được tôn vinh, được hiển trị với Thiên Chúa Cha. Những suy nghĩ nhỏ bé của tôi hồi xưa như được sống lại với biết bao kỷ niệm êm đềm. Xem ra mừng Chúa Kitô lên trời có vẻ như mừng những lễ kính Đức Kitô khác, nhưng đây quả thực là mầu nhiệm đức tin, mầu nhiệm cao vời vì nếu Chúa không chết, không sống lại và không về trời, thì thực tế Chúa Thánh Thần đã không đến với thế giới, đến với mỗi người.

Thiên thần đã nói: " Hỡi người Galilê, sao các ông cứ đứng nhìn trời " ( Cv 1, 11 ). Chúa Kitô đã về trời thật, và cái thực nhất là sứ mạng rao giảng Tin Mừng như lời Ngài đã truyền dạy. Thế giới thực bao la, nhân loại còn biết bao người chưa biết Chúa. Sứ mạng của chúng ta là loan báo, làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh. Sống cái kiếp người, nhưng điều lôi cuốn và thu hút chúng ta đó là Nước Trời, đó là phía bên kia mà chúng ta phải hy sinh khám phá.

Chúa thăng thiên đang mời gọi chúng ta: " Hãy sống trọn kiếp người, nhưng đừng quên sứ mạng người Kitô hữu ". Nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta, đang ở trên ta, mỗi lần chúng ta sống bác ái yêu thương làm cho người khác nhận ra Chúa là chúng ta đang sống sự phục sinh của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, xin cho chúng con biết sống thế nào để nhiều người thấy chúng con là nhận ra sự hiện diện của Chúa sống lại. Amen.
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 
 

LênTrời-177: Thầy ra đi, nhưng Thầy sẽ trở lại

Lễ Chúa Giêsu Lên Trời Năm B
 (Cv 1,1-11; Ep 1,17-23; Mc 16,15-20)
 Phúc Âm: Mc 16, 15-20
"Đang khi Người chúc phúc cho các ông, Người rời khỏi các ông mà lên trời".
Khi ấy, Chúa Giêsu hiện ra với mười một môn đệ và phán: "Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt. Và đây là những phép lạ đi theo những người đã tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng mới lạ, họ đặt tay trên những người bệnh, và bệnh nhân sẽ được lành mạnh".
Vậy sau khi nói với các môn đệ, Chúa Giêsu lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa.
Phần các ông, các ông đi rao giảng khắp mọi nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và củng cố lời giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo.

 Suy Niệm: 
 

Bài đọc I hôm nay dường như muốn thuật lại cho chúng ta nghe câu chuyện Chúa lên trời. Cứ: LênTrời-177

Bài đọc I hôm nay dường như muốn thuật lại cho chúng ta nghe câu chuyện Chúa lên trời. Cứ theo như lời sách Tông đồ Công vụ, khoảng 40 ngày sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã lên trời trước mắt các Tông đồ. Một đám mây đã đến rước Người đi. Nhưng cũng chính tác giả sách Tông đồ Công vụ là thánh Luca, trong quyển Phúc Âm III, lại kể việc Chúa lên trời liền với việc Người sống lại, hầu như trong chính hôm Chúa nhật Phục sinh. Thánh Luca đã tiền hậu bất nhất, hay chúng ta phải hiểu các sự việc trên đây thế nào?
Khoa học Kinh thánh ngày nay trả lời cho chúng ta như sau: câu chuyện kể trong bài đọc I hôm nay chỉ muốn nói lên việc Chúa lên trời cách hữu hình, trước mắt các môn đệ. Đó cũng là câu chuyện Chúa sống lại hiện ra lần cuối cùng, để không bao giờ hiện một cách công khai nữa, cho đến khi Người trở lại trong ngày tận thế.
Còn chính mầu nhiệm Chúa lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, thì đã được bao trùm trong mầu nhiệm Phục sinh và thật sự đã xảy ra trong chính việc sống lại. Vì lên trời là gì, nếu chẳng phải là việc Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha? Thế mà Phục sinh chính là lễ Vượt qua của Chúa Giêsu. Người vượt qua cõi đời này để trở về cùng Cha Người. Người từ bỏ thân xác phàm trần yếu đuối để mặc lấy ánh vinh quang sáng láng. Chính ánh sáng bao bọc thân thể Chúa Giêsu khi Người sống lại làm chứng Người đã ở trong vinh quang của Chúa Cha.
Thế nên không được phép tưởng tượng Chúa Giêsu sống lại rồi còn ẩn khuất nơi nào trên trần gian trong 40 ngày, rồi sau đó mới về trời dứt khoát. Chúng ta phải tin thật rằng Chúa Giêsu khi sống lại đã lập tức ở trong vinh quang của Chúa Cha, đã ngự bên hữu Người và thỉnh thoảng hiện ra với các môn đệ để củng cố đức tin của họ, như bây giờ Người hay Đức Mẹ có thể hiện ra cùng một người nào đó. Như vậy câu chuyện lên trời như sách Tông đồ Công vụ hôm nay, chỉ là câu chuyện lên trời hữu hình trước mắt các môn đệ hay cũng là câu chuyện chấm dứt các lần Chúa sống lại hiện ra một cách công khai.
Nhưng phụng vụ của Giáo hội sung sướng nắm lấy câu chuyện lên trời hữu hình này để giúp chúng ta hiểu biết mầu nhiệm lên trời của Chúa Giêsu. Mầu nhiệm lên trời vô hình và đích thực đã xảy ra trong mầu nhiệm Chúa Phục sinh và có nghĩa là, sau khi hoàn tất sứ mạng cứu thế, Đức Kitô đã vượt qua đời này về ở trong vinh quang Chúa Cha, làm đấng cầu bầu cho loài người và làm Chúa cứu chuộc chúng ta ngay ở trên trời. Kiểu nói: ngự bên hữu Chúa Cha có ý nói lên cả hai ý tưởng đó. Đức Kitô ở trên trời thành đấng cầu bầu thế lực cho loài người; đồng thời Người được trao quyền bá chủ để dẫn dắt toàn thể tạo vật đến chốn vinh quang.
Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay cầu xin cho chúng ta được thần trí khôn ngoan và tâm hồn sáng suốt để nhận biết Chúa Giêsu và hiểu rõ công việc mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Người cho ta. Quả vậy khi làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết và đặt Người ở bên hữu mình ở trên trời, Thiên Chúa Cha đã truy phong Đức Kitô là Chúa, là đầu của toàn thể Hội Thánh để Người ở đâu thì cả Hội Thánh là thân thể Người cũng sẽ được ở đó. Như vậy ngày lễ hôm nay lại nói lên lòng Thiên Chúa Cha yêu thương loài người chúng ta. Người cho chúng ta nhìn thấy vinh hiển của Chúa Giêsu ở trên trời ngự bên hữu Người, là để chúng ta nhìn thấy vinh quang muôn đời đang chờ đợi chúng ta.
Thế nên, ngày hôm nay chúng ta hãy ngước mắt lên trời như là nơi quê hương phúc lộc đang kêu gọi chúng ta. Têrêsa Hài đồng Giêsu một đêm kia nhìn trời thấy chữ T tên mình đã được viết ở trên đó. Mỗi người chúng ta có thể chắc chắn như thế; tên chúng ta đã được viết sẵn trên trời rồi, không phải nơi chòm sao này, chỗ đám sao kia, nhưng là ngay trong cơ thể sáng láng của Đức Kitô bên hữu Thiên Chúa Cha. Người đã mang bản tính nhân loại lên trời, để ai bằng lòng kết hợp với Người, cũng sẽ được ở trong vinh quang Thiên Chúa. Ý nghĩa của ngày lễ Lên trời hôm nay đã được chính Chúa Giêsu khi còn ở đời này tuyên bố: Thầy sẽ ra đi dọn chỗ cho chúng con, để rồi Thầy sẽ trở lại đưa chúng con đến nơi Thầy đến.
Như vậy, cùng với lòng cảm mến Chúa Cha hứa ban chỗ ở trên trời cho chúng ta trong vinh quang, chúng ta phải cảm tạ Chúa Giêsu đã chấp nhận ra đi dọn chỗ đó cho chúng ta. Và chúng ta biết việc ra đi dọn chỗ này thật là gian khổ, vì Người đã phải đi qua con đường khổ nạn thập giá. Đồng thời chúng ta cũng phải hiểu rõ: tuy về trời nhưng Người vẫn làm việc cho chúng ta, để dọn chỗ cho chúng ta.
Tuy nhiên, chúng ta đừng có hiểu công việc này đang được làm ở trên trời. Trời lúc nào chẳng sẵn! Vinh quang của Chúa đã có từ đời đời! Công việc sửa soạn chỗ cho chúng ta được hạnh phúc phải làm ngay ở trần gian này, ngay nơi chúng ta, để chính chúng ta, chính thế giới này đang đi vào vinh quang của Chúa.
Chính vì vậy mà trong Phúc Âm, Chúa lại nói Thầy ra đi, nhưng Thầy sẽ trở lại; Thầy ra đi để trở lại. Thầy ra đi với thân xác yếu hèn, nhưng Thầy trở lại với thân thể sáng láng; Thầy ra đi trong thân phận con người, nhưng Thầy sẽ trở lại trong thần lực của Thánh Linh, để thực hiện công việc thánh hoá cho chúng con, hầu chúng con đi đến nơi Thầy đã tới. Hiểu như vậy, nên sau khi mừng lễ Chúa lên trời, bắt đầu ngay từ ngày mai, Giáo hội đã thúc giục chúng ta cầu xin ơn Chúa Thánh Thần đến hoạt động trong thế gian.
Do đó, trong ngày lễ lên trời, không ai được phép cứ đăm đăm nhìn trời mãi. Sứ thần Chúa hôm nay đã bảo các môn đệ không được làm như vậy. Và họ đã hiểu ý, ra về làm phận sự Chúa đã chỉ cho trước khi Người lìa xa: các con hãy ra đi, rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Phúc Âm hôm nay kết: các ông đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông. Chúng ta thấy, Chúa lên trời đâu có lìa xa chúng ta. Người đã hứa sẽ trở lại trong Thần Trí của Người, để cùng hoạt động với các môn đệ. Vậy, mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta hãy cầu xin Người, vì bây giờ ở trong vinh quang Chúa Cha, Người có sức mạnh của Thiên Chúa để đến củng cố đời sống đạo đức của chúng ta, hầu sửa soạn cho chúng ta và cho mọi người được chỗ vinh quang sau này trên trời.
Thế nên, chúng ta hãy can đảm, nhiệt thành như các tông đồ ngày trước, đưa Phúc Âm của Chúa ra sống trước mặt mọi người. Chúa hứa ban các phép lạ kèm theo cuộc sống đạo của chúng ta. Điều đó có nghĩa là ơn Chúa sẽ giúp đỡ thiện chí của chúng ta đạt được những kết quả không ngờ. Chúng ta cứ thành tâm nghĩ lại quá khứ của mình mà xem Chúa đã dẫn dắt chúng ta lướt thắng được bao cản trở, khó khăn mà thoạt tiên nhìn vào bản tính loài người, chúng ta tưởng như phải thất vọng... Sống đạo bao giờ cũng khó, chống trả các cơn cám dỗ không phải là dễ, thay đổi được lòng người để họ nhận biết Chúa là công việc vược quá sức chúng ta. Nhưng không phải chỉ có chúng ta cố gắng, Chúa Phục sinh lên trời sai Thánh Thần xuống cùng hoạt động với chúng ta. Chính Người đốt lòng mến nơi chúng ta, soi sáng tư tưởng hành động cho ta, dẫn đưa đời sống và công việc đạo đức của ta tới những thành quả bất ngờ. Chính điều đó làm chứng Chúa Giêsu đã về trời, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, trở thành Chúa, ban thần lực của Người xuống trong Phúc Âm của Người và trong hoạt động của các tông đồ Người, khiến Phúc Âm và Giáo hội của Người đạt được những thành quả kỳ diệu.
Vậy trong ngày lễ lên trời, chúng ta chỉ nhìn lên để thấy Chúa đang ở trong vinh quang có đầy quyền lực là Thánh Thần hầu ban xuống cho chúng ta. Người mượn mầu nhiệm thánh lễ này để trở lại sống hùng mạnh trong ta, thúc đẩy và hướng dẫn cuộc đời ta đi vào đường lối thánh thiện. Với ơn của Người mà chúng ta lãnh nhận trong Thánh Thể, chúng ta sẽ nỗ lực sống tích cực, làm cho mọi người thấy giá trị của Phúc Âm, mở lối cho mọi người tin theo Chúa, để rồi tất cả cũng sẽ được về trời với Người.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 
 

LênTrời-178: ĐƯỜNG VỀ TRỜI

CHÚA THĂNG THIÊN, năm B
Mc 16, 15-20 

 

Lúc còn nhỏ học giáo lý, mỗi năm lễ Chúa Thăng Thiên, tôi cứ ngước mắt trông lên trời xem có: LênTrời-178

Lúc còn nhỏ học giáo lý, mỗi năm lễ Chúa Thăng Thiên, tôi cứ ngước mắt trông lên trời xem có thấy Chúa về trời hay không và Chúa về trời như thế nào, ra làm sao ? Mà lạ thực chẳng bao giờ tôi nhìn thấy Chúa lên trời. Đó là suy nghĩ của tôi và tư duy ấy theo tôi mãi cho tới ngày tôi trưởng thành, cho tới ngày tôi được học hỏi kỹ hơn, tôi hiểu Chúa về trời không như cách suy nghĩ, tư duy của tôi.Tôi càng hiểu rõ hơn lời sách Công Vụ Tông Đồ 1, 1-11 :” Tại sao cứ đứng đó nhìn trời ? “.
TRỜI LÀ CÁI  GÌ XA VỜI VỢI ? : Xem ra trời là một cái gì đó thật mông lung, một cái gì đó xa vời vợi ? Do đó, lên trời không phải là chuyện hàng không vũ trụ. Bởi vì, đã có những phi hành gia cứ tưởng mình lên được một góc nhỏ nào đó của mặt trăng là đã thấy trời. Nếu nghĩ như thế quả họ thất vọng. Trời không có nghĩa là ở đây hay ở chỗ nọ. Trời cũng không có nghĩa là lên hay xuống. Lên trời là gặp Thiên Chúa ngay trong lòng Ngài, ngay trong tình thương của Ngài. Chúa Giêsu được tôn vinh, được cất nhắc ngay trong cái chết và phục sinh của Ngài. Thăng Thiên là biểu hiện việc Chúa được nâng nhắc ngay chính nơi lòng của Thiên Chúa.Chúa về trời là về với Thiên Chúa Cha.” Ta ra đi thì ích lợi hơn cho các ngươi, vì nếu ta không trẩy đi thì Đấng Bàu chữa không đến cùng các ngươi”( Ga 16, 17 ).Chính vì thế, Chúa về trời là về với Cha, ngự bên hữu Cha của Ngài như lời Kinh Tin Kính chúng ta vẫn đọc, vẫn tuyên xưng. Trời không phải là cái gì xa vời như chúng ta thường lầm nghĩ, nhưng trời đang ở ngay nơi lòng Thiên Chúa Cha. “ Lời đã thành xác phàm “ ( Ga 1, 14 ). Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người. Ngài đang ở giữa nhân loại, đang ở giữa chúng ta. “ Ngay từ đầu đã có Lời và Lời ở nơi Thiên Chúa “ ( Ga 1, 1 ).
TRỜI VÀ ĐẤT GIAO HÒA : Thật khó nói nếu chỉ có đất và nếu không có trời, không có bầu trời như chúng ta thường học, thường biết, thường nghe thì quả thật chúng ta sẽ vô vọng. Đất là nơi chốn, là một cái gì hết sức thực tế vì chúng ta đang sống trên trái đất. Đất tạo cho chúng ta sự sống thì trời cũng là nơi, đích điểm chúng ta trông mong, ao ước. Đất cho con người chúng ta sự sống. Trời tạo cho mỗi người, tạo cho chúng ta lẽ sống. Do đó, có lúc chúng ta vẫn tưởng tượng và ước mong trời đất sẽ giao hòa. Trời và đất gặp nhau để con người được vui tươi, hạnh phúc. Trời xanh ca tụng vinh quang Thiên Chúa nhưng trái đất là nơi đã cưu mang Con Thiên Chúa làm người. Thánh Phêrô chờ đợi Nước Thiên Chúa, thế nhưng lại không nhận rằng, Nước đó trị đến qua chính sự kết hiệp sâu xa của Thiên Chúa với nhân loại chúng ta ( Eloi Leclerc ). Do vậy, chỉ biết có đất chúng ta sẽ thất vọng vì mình đất không thỏa mãn được những khát vọng của chúng ta, của mọi người.
CHÚA VỀ TRỜI LÀ VỀ VỚI CHÚA CHA : Cuộc đời của người Kitô hữu là một cuộc hành trình đức tin, một cuộc trẩy đi lâu dài và xa vời vợi. Một cuộc hành trình mà đích đến là phía bên kia. Phía bên kia là một khoảng cách thật xa nhưng nó lại gần khi chúng ta biết tới với những người nghèo, khi chúng ta đi vào lòng đời để tới với tha nhân, khi chúng ta bước những bước chân đi loan báo Tin Mừng. Vâng, Tin Mừng là chính Chúa Giêsu Kitô. Tin Mừng chính là tình yêu của Chúa. Tin Mừng chính là lòng nhân từ, hay chạnh lòng xót thương của Thiên Chúa. Chúa về với Chúa Cha nhưng Ngài sai phái chúng ta đi vào đời để loan báo tình thương, để gặt lúa nơi những cánh đồng còn đầy ắp lúa chín vàng ở trái đất.
ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ : Chúa ra đi về với Chúa Cha thì ích lợi hơn bởi vì Chúa sẽ sai Thánh Thần xuống với chúng ta. Chúa về trời nhưng hứa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho tới tận thế. Chúa về với Cha nhưng Ngài vẫn dùng chúng ta để giới thiệu Ngài, vẫn dùng đôi tay chúng ta để thi ân giúp đỡ tha nhân, vẫn dùng đôi chân của chúng ta để dẫn chúng ta đến với những con người bơ vơ, những con người cùng khổ. Chúa về trời nhưng Ngài vẫn canh cánh trong lòng :” Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha ban cho con cũng sẽ ở đấy với con “ ( Ga 17, 24).
Chúng ta xác tín mãnh liệt rằng :” Mầu nhiệm Hội Thánh trong thế giới ngày nay đang gắn bó với trái đất, với mọi người nhưng vẫn không ngừng lên trời “.
Lạy Chúa xin cho mọi nẻo đường chúng con đi đều dẫn chúng con về trời.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 
 

LênTrời-179: BÂY GIỜ CON VỀ CÙNG CHA

(LỄ CHÚA GIÊSU VỀ TRỜI, NĂM B)
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương) 

 

Lễ Chúa Giêsu Về Trời thường cũng được gọi là Lễ Thăng Thiên, và được mừng vào ngày Thứ: LênTrời-179

Lễ Chúa Giêsu Về Trời thường cũng được gọi là Lễ Thăng Thiên, và được mừng vào ngày Thứ Năm sau Chúa Nhật VI Phục Sinh, đúng 40 ngày sau khi Chúa Giêsu sống lại như Lời Thánh Kinh (công vụ 1:3); tuy nhiên vì lý do mục vụ, để thuận tiện cho mọi tín hữu có thể đi dâng Thánh Lễ, nhiều nơi đã được phép chuyển mừng vào ngày Chúa Nhật tiếp theo (Chúa Nhật VII Phục Sinh).
Trong Thánh Lễ hôm nay, qua các Bài Đọc I (Công vụ 1: 1-11), Bài Đọc II (Ephesô 1: 17-23, hoặc Ephesô 4: 1-7, 11-13) và Bài Phúc Âm (Matcô 16: 15-20), các Thánh Sử đều ghi lại việc Chúa Giêsu  được “rước về Trời”, sau khi Ngài đã ‘sống lại và hiện ra với các Thánh Tông Đồ, an ủi, âng đỡ cùng giảng dạy thêm cho các Ngài ‘về Nước Trời’ trong vòng 40 ngày. Ngoài ra, trước khi được “Rước Về Trời”. Chúa Giêsu cũng hứa “vẫn ở lại với các Ngài mỗi ngày cho đến tận thế”, và sẽ ban Chúa Thánh Thần xuống (Gioan 14: 16) trên các Ngài để thánh hóa và soi sáng cho các Ngài hiểu đầy đủ về mọi điều đã được ghi chép trong Thánh Kinh và những lời Chúa Giêsu đã giảng dạy (Gioan 14: 26); rồi Chúa Giêsu đã chúc lành cho các Ngài và truyền cho các Ngài “hãy ra đi khắp nơi làm chứng nhân cho Chúa, và rao giảng Phúc Âm Tình Thương của Chúa cho mọi người, mọi nơi.”(Matco 16:15-16).
Lễ Chúa Giêsu Về Trời là niềm vui mừng phấn khởi cho mọi người chúng ta, vì Chúa Giêsu đã chịu nạn, chịu chết để cứu chuộc chúng ta , nhưng Người đã sống lại và về trời vinh hiển để mở đường về trời cho chúng ta. Con đường sự sống đã được mở sẵn cho chúng ta để ai đi theo con đường đó thì tới sự sống muôn đời, vì thế Chúa Giêsu đã nói: “Thày là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống…(Gioan 14:6).
Sau khi Chúa Giêsu về Trời, và sau khi Chúa Thánh Thần đã hiện xuống thánh hóa các Tông Đồ, các Ngài đã hăng hái, nhiệt thành đi rao giảng Lời Chúa và thành lập Hội Thánh. Từ ngày đó, dù bị các thế lực thế gian ở mọi thời và mọi nơi bách hại như Chúa Giêsu đã báo trước (Gioan 15:18-21), Giáo Hội đã không ngừng phát triển để đem Tin Mừng Tình Thương và Ơn Cứu Độ đến cho mọi người và mọi nơi, để những ai “tin thì được cứu rỗi” (20:31).
Ngày nay, đến lượt chúng ta là những tín hữu của Chúa, chúng ta cũng phải là những ‘tông đồ nhiệt thành’, có nhiệm vụ tiếp tục rao giảng Phúc Âm Tình Thương của Chúa đến mọi nơi trên trái đất bằng nhiều phương tiện khác nhau, nhất là bằng chính đời sống tín hữu gương mẫu của chúng ta. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải tiếp tục sống như ‘những chứng nhân’ của Chúa (Công Vụ 1: 8) cho mọi người mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống hằng ngày: nơi gia đình, trong sở làm, xưởng thợ, ở thành thị cũng như chốn thôn quê.
Xin Chúa Giêsu Phục Sinh và đã về Trời vinh hiển chúc lành cho mọi người chúng ta, gia đình chúng ta, cho các công cuộc truyền giáo của Giáo Hội, và cho mỗi tín  hữu chúng ta luôn được nhiệt thành rao giảng Phúc Âm Tình Thương của Chúa cho mọi người.

 
 

LênTrời-180: Lễ Thăng Thiên

Phụng Vụ Năm B (2009) 
 

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật VI Phục Sinh đã hướng đề tài về Chúa Thánh Thần;  còn Lời: LênTrời-180

          Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật VI Phục Sinh đã hướng đề tài về Chúa Thánh Thần;  còn Lời Chúa hôm nay, lễ Thăng Thiên, cho ta thấy thời gian chuyển tiếp sang một giai đoạn mới, tuy ngắn ngủi nhưng lại vô cùng quan trọng, vì đây chính là phần giới thiệu về giai đoạn của Chúa Thánh Thần trong kế hoạch cứu độ.  Chúa Giê-su lên trời là để kết thúc sứ vụ của Người tại trần gian, nhưng khởi đầu cho sứ vụ ở trên trời qua sự cộng tác của Chúa Thánh Thần.  Chúa Giê-su sẽ nhắn nhủ những gì?  Theo bước Người, thánh Tông đồ Phao-lô khuyên ta làm gì trong những ngày Chúa Thánh Thần ở với ta và giúp ta chuẩn bị đón Chúa Ki-tô trở lại trong ngày thế mạt?
 

  Ý nghĩa của biến cố Thăng Thiên theo sách Công vụ Tông Đồ (bài đọc Tân Ước – Cv 1:1-11)
          Sách Công vụ Tông Đồ được coi như sách Tin Mừng của Chúa Thánh Thần, kể lại sinh hoạt và phát triển của Giáo Hội sơ khai dưới sự hướng dẫn của Người.  Thánh sử Lu-ca viết “quyển thứ nhất”, tức sách Tin Mừng, để “tường thuật tất cả những việc Đức Giê-su đã làm và đã dạy, kể từ đầu cho tới ngày Người được rước lên trời”.  Mở đầu cho một thời đại mới, thời đại của Thần Khí Đức Ki-tô, Lu-ca viết ít dòng nhập đề cho “quyển thứ hai”, ghi lại những gì đã xảy ra trong bốn mươi ngày từ sau khi Chúa sống lại cho đến ngày Chúa Thánh Thần Hiện xuống.
          Thời gian bốn mươi ngày này có thể gọi là thời gian cần thiết để “rà soát lại” toàn bộ cơ bản giáo lý các Tông đồ đã lãnh nhận từ Chúa và để củng cố lòng tin của các ông, sẵn sàng được sai đi thi hành sứ vụ.  Vậy sinh hoạt chính của Chúa và các Tông đồ lúc này là “Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa”.  Đề tài chính của khóa bổ túc quan trọng này là Nước Thiên Chúa.  Suốt ba năm rao giảng và thi hành sứ vụ cứu độ (Lc 4:18-21), Chúa Giê-su đã thiết lập Nước Thiên Chúa, hoặc Triều Đại Thiên Chúa, trên trần gian.  Giờ đây sắp tới lúc các Tông đồ tiếp tục sứ mệnh của Chúa, làm cho Triều Đại ấy được bành trướng khắp nơi.  Cho nên hiểu biết về Nước Thiên Chúa hoặc Triều Đại Thiên Chúa là cốt lõi sứ mệnh của họ.  Không thông suốt là không thể thi hành nổi.  Chúa Giê-su “nói chuyện” với các ông, chứ không “dạy” họ như một giáo sư.  Họ đã được Chúa “thăng chức” làm “bạn hữu” (Ga 15:15), làm người “đồng lao cộng khổ” (2 Tm 2:3) với Chúa trong những năm tháng miệt mài rao giảng về Nước Thiên Chúa.  Cứ tưởng tượng khung cảnh Chúa giúp các ông học hành những ngày chót này, ta có thể cảm nhận được bầu khí sinh động như thế nào.  Chúa vẫn kiên nhẫn ôn tồn chỉ dạy.  Các Tông đồ hỏi han thắc mắc điểm này điểm nọ.  Thật tiếc là Lu-ca không ghi lại chi tiết gì về nội dung khóa học này.  Có lẽ ngài muốn nhấn mạnh đến một điều khác mà các Tông đồ cần phải học ráo riết, đó là về Chúa Thánh Thần, nhân vật sẽ tiếp nối công cuộc của Chúa Giê-su và sát cánh cùng các ông trên cánh đồng truyền giáo.
          Khóa học về Chúa Thánh Thần vô cùng quan trọng đối với các Tông đồ.  Do đó, trước khi “được rước lên trời”, Chúa Giê-su dùng giờ phút linh thiêng này để hoàn toàn giới thiệu về Chúa Thánh Thần.  Trước hết Chúa Giê-su loan báo:  các Tông đồ sắp “chịu phép rửa trong Thánh Thần”.  Thánh Thần, Đấng ngự đến ‘thay đổi bộ mặt trái đất” sẽ biến đổi toàn diện các Tông đồ, như ta thấy đã xảy ra trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-13).  Tiếp đến, nhân việc thắc mắc của các Tông đồ về vụ “khôi phục vương quốc Ít-ra-en”, Chúa Giê-su chỉ cho các ông một Ít-ra-en Mới mà “thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt”.  Trong vương quốc Ít-ra-en Mới, bổn phận của các ông là “sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần” để ra đi “làm chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8).
          Nói về biến cố Thăng Thiên, ta thường nghĩ tới vinh quang của Chúa Giê-su Phục Sinh và ít nghĩ tới việc Chúa mở ra cho ta một chân trời mới, một giai đoạn mới trong công cuộc cứu độ của Người và sự hợp tác của Chúa Thánh Thần.  Như thế, ta có thể nói biến cố Thăng Thiên là một buổi lễ Chúa Giê-su long trọng tuyên bố khai sinh thời đại mới, một đàng là công việc của Chúa Thánh Thần, một đàng là sứ vụ được sai đi của các Tông đồ và môn đệ Chúa Giê-su, cả hai đều chung sức xây dựng Giáo Hội Chúa Ki-tô ở trần gian.
 

  Sứ mệnh của ta trong Giáo Hội Chúa Ki-tô (bài đọc Tân Ước – Ep 4:1-13)
          Sứ mệnh Chúa Giê-su trao cho các Tông đồ trước khi về trời cũng là sứ mệnh của Ki-tô hữu mọi thời mọi nơi.  Để giúp ta chu toàn sứ mệnh ấy, thánh Phao-lô Tông đồ giúp ta một suy niệm ngắn trong bài đọc 2 hôm nay.  Phao-lô, “người tù vì Chúa”, nhắc nhớ ta một chút về mầu nhiệm Giáo Hội trước khi đề cập tới bổn phận xây dựng Giáo Hội.  Ngài nhấn mạnh đến sự hiệp nhất của Giáo Hội do Chúa Thánh Thần đem lại.  Ngài muốn nêu lên công việc quan trọng của Thánh Thần là Đấng tạo nên và duy trì sự hiệp nhất của Giáo Hội.  Hiệp nhất là yếu tố cần thiết cho sự phát triển.  Có khi nào một tổ chức phân rẽ, chia năm sẻ bảy mà mong lớn mạnh được đâu.  Ta cứ lấy cụ thể nhìn vào một giáo xứ chia làm ba, bốn phe là đủ biết hậu quả của chia rẽ như thế nào rồi.  Sự hiệp nhất Thánh Thần đem lại cho Giáo Hội làm cho Giáo Hội thành “một thân thể, một Thần Khí, một niềm hy vọng, một Chúa, một niềm tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha của mọi người” (Ep 4:3-5).  Ôi, thật là một hình ảnh tuyệt vời về Giáo Hội!  Và đấy là “công tác” của Thánh Thần.  Chúa Giê-su như là không hiện diện, thế mà sự hiện diện của Người lại đầy tràn, năng động hơn cả những ngày Người còn tại thế.
          Tiếp đến thánh Phao-lô nói đến những chức phận khác nhau trong Giáo Hội, không ai là không cần thiết cho việc xây dựng Giáo Hội.  Người mang chức phận Tông đồ, giảng dạy cũng như người tín hữu nhỏ bé trong một cộng đoàn, ai ai cũng phải đem hết khả năng để xây dựng Nhiệm thể Chúa Ki-tô. 
          Mục tiêu của việc xây dựng này không phải là làm thật nhiều nhà thờ nguy nga, lập nhiều đoàn thể xôm tụ bề ngoài, tổ chức những cuộc rước sách để “biểu dương lực lượng”, tạo một chỗ đứng đáng nể trong xã hội…, nhưng là làm sao “tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep 4:13).  Khẳng định này vô cùng quan trọng, cần phải lập đi lập lại hằng ngày nếu ta muốn có một Giáo Hội đúng với tâm ý của Đấng sáng lập là Ba Ngôi Thiên Chúa và đúng với mục đích Chúa nhắm vào nhân loại.  Có hai bước trong mục tiêu này:  thứ nhất, ta phải đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, rồi tiếp đến, thứ hai, ta mới đạt tới tình trạng trưởng thành theo tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.  Đúng vậy, nếu không hiệp nhất với nhau và với Chúa, làm sao ta có thể tiến tới mức viên mãn của Đức Ki-tô được.  Đây phải là một bản xét mình hằng ngày dành cho mọi phần tử trong Giáo Hội.  Xây dựng Giáo Hội là xây dựng chính bản thân ta, để ta đạt tới tầm vóc Chúa Ki-tô muốn thấy ở nơi ta trong ngày Người trở lại phán xét.  Ta nên thánh, nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo, là do việc xây dựng Giáo Hội mà ta là một chi thể.
          Có lẽ ta nên trở lại khúc đầu của đoạn thư hôm nay để nghe thánh Phao-lô cho ta một vài thí dụ cụ thể trong việc xây dựng Nhiệm thể Chúa Ki-tô.  “Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng đáng ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em.  Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại;  hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau” (Ep 4:1-2).  Đơn giản như vậy thôi, nhưng cũng quá đủ để vun đắp và phát triển sự hiệp nhất để làm cho Giáo Hội, cho ta là chi thể, đạt tới sự viên mãn của Chúa Ki-tô rồi.
 

  Đọc lại biến cố Thăng Thiên được thánh Mác-cô kể lại, để xác tín hơn sứ mệnh rao giảng Tin Mừng (bài Tin Mừng – Mc 16:15-20)
          Thực ra sách Tin Mừng Mác-cô đã kết thúc ở câu 8 chương 16, nhưng phần phụ trương (câu 9-20) được thêm vào để nhắc đến biến cố Thăng Thiên và mệnh lệnh của Chúa sai ta đi rao giảng Tin Mừng
          Trong bầu khí trang trọng của biến cố Thăng Thiên, Chúa Giê-su đặc biệt nhấn mạnh đến bổn phận được sai đi.  Có ba điểm quan trọng trong mệnh lệnh này:  hãy đi khắp nơi không trừ chỗ nào, hãy loan báo Tin Mừng, và hãy loan báo cho mọi người không trừ ai.  Tiếp đến, Chúa nói về mục đích của việc sai đi này là giúp cho người ta “tin và chịu phép rửa”, bước đầu để mọi người đi vào hành trình biến đổi tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.  Người cũng cẩn thận cho ta thấy đâu là sức mạnh của đức tin: với đức tin đích thực, không có gì là không làm được.
          Để kết thúc sách Tin Mừng, thánh Mác-cô không quên để lại cho ta một hình ảnh tuyệt vời về Giáo Hội sơ khai sau biến cố Thăng Thiên:  các Tông đồ hăng say thi hành sứ vụ và nhất là một yếu tố vô cùng quan trọng:  “Có Chúa cùng hoạt động với các ông”.
          Ta suy nghĩ về bổn phận rao giảng Tin Mừng:  Rao giảng điều gì?  Rao giảng ở đâu?  Rao giảng cho ai?  Nhưng nhất là ta có xác tín tầm quan trọng của việc “Có Chúa cùng hoạt động với ta” hay không?  Thật là một đề tài phong phú.
 

  Sống Lời Chúa
          Chúa Giê-su lên trời ngự bên hữu Chúa Cha.  Trước khi rời bỏ trần gian, Người không để ta trong cảnh “mồ côi” đâu, nhưng “ở lại” với ta trong quyền năng Chúa Thánh Thần, để giúp ta chu toàn sứ mệnh rao giảng Tin Mừng.  Biến cố Thăng Thiên có ý nghĩa với Chúa Giê-su, với Chúa Thánh Thần và cả với ta nữa.  Các Ngài đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội, và ta là chi thể của Giáo Hội không lẽ dửng dưng, coi đó không phải là việc của ta sao?
Suy nghĩ:  Thánh Phao-lô nói mục đích cuộc đời ta ở đời này là cố gắng đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô.  Điều này có ý nghĩa gì đối với tôi và tôi đang làm gì cho việc đạt tới ấy?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển.  Là Thủ Lãnh, Người đã đi trước để mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa, khiến chúng con là những chdi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, lễ Thăng Thiên).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 
 

LênTrời-181: ĐỂ CÓ CHÚA CÙNG HOẠT ĐỘNG

(CN VII PS – Mc 16, 15-20)
“Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16, 19-20). 

 

2 câu cuối cùng trên trong Tin Mừng Marcô mang lối văn nặng hình tượng nhưng, với tôi, là: LênTrời-181

2 câu cuối cùng trên trong Tin Mừng Marcô mang lối văn nặng hình tượng nhưng, với tôi, là lời mời gọi vô cùng tha thiết trong thế giới kỹ thuật số hiện nay.
Để “có Chúa cùng hoạt động”, tôi tớ của Lời Chúa, như Phaolô quả quyết: “Tôi là Phaolô, tôi tớ của Đức Kitô Giêsu, tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa” (Rm 1, 1), phải là người rao giảng thật xứng danh với địa vị cao cả, vì Chúa Giêsu đã kêu gọi trong chân lý trọn vẹn: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29), hay như thánh Phaolô đã nêu gương: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kiô” (1Cr 11, 1).
Để “có Chúa cùng hoạt động”, tôi tớ của Đức Kitô không thể là những kỳ lục và biệt phái, những kẻ bị Chúa quở trách khi căn dặn dân chúng: “Vậy, những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23, 2-4).
Những người rao giảng Lời Chúa như vừa nêu trên cao rao một lý tưởng sống cao đẹp nhưng bản thân lại sống mâu thuẫn. Họ hô hào những người khác dấn thân vào con đường hẹp. Còn chính họ thì lại vi vút giữa đại lộ thênh thang. Chính vì thế mà những người được nghe giảng khi họ gặp những con người kiên trung với nội dung rao giảng, chấp nhận đau khổ thua thiệt, không bị của cải thế gian vùi dập, vượt lên khỏi những sự dữ tác hại và dám chết vì điều mình loan báo (Mc 16, 17-18), thì đây quả là một ấn tượng rất lớn đối với họ. Một chân lý hiển nhiên là, từ kinh nghiệm bản thân, ai cũng biết rằng người ta chỉ sẵn lòng chịu cực khổ vì những điều họ thực sự thâm tín mà thôi. Do đó, Lời đã được sống có một sức mạnh thu hút vô địch, không gì thay thế được. Lời đó đầy lôi cuốn, đầy thuyết phục bởi đó là Lời đã từng cảm nghiệm, và đã vì đó mà chịu thương chịu khó trong cõi đời và trong nếp sống cầu nguyện của người rao giảng. Lời đó từ môi miệng phát ra mang theo một nhiệt tâm và một sức mạnh hết sức đặc biệt. Trong Lời đó có mảng linh hồn của chính người giảng, và có thể bắt gọn linh hồn người nghe. Sự tương giao giữa người giảng và người nghe xẩy ra không phải trên ý niệm suông, nhưng trên thực tế. Đây cũng chính là điều mà tác giả trong phần cuối của Tin Mừng Marcô đã khẳng định: “có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.”
Chính thánh Phaolô tông đồ đã khích lệ: “Chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Kitô Giêsu là Chúa; còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, vì Đức Giêsu” (2Cr 4, 5). Vậy ở đâu chưa có sự nhất quán với Lời Chúa, tức chưa cùng đồng hình đồng dạng với Đức Kitô thì trước tiên cần có đức khiêm nhường. Đây là thái độ tối cần thiết cho những tôi tớ của Lời Chúa. Người rao giảng phải tự xóa nhòa bản thân trước sự hiện diện của Lời Chúa, phải khước từ vinh quang của riêng mình, như thánh Gioan Tẩy Giả đã sống và đã chia sẻ với các môn sinh của mình: “Đức Kitô phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30).
Không chỉ hạ mình khiêm nhường, thánh Phaolô, Vị Tông Đồ rao giảng vĩ đại đã sống chết với Tin Mừng khi ngài viết cho môn đệ Timôthê yêu dấu: “Vì Tin Mừng, tôi chịu khổ, tôi còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi. Nhưng lời Thiên Chúa đâu bị  xiềng xich!” (2Tm 2, 9). Với lòng mến thâm sâu, ngài đã đặt trọng tâm tất cả vào việc loan báo Tin Mừng, cho dù có phải bị gông cùm, ngài vẫn sẵn lòng đón nhận. Với lòng mến đầy tin yêu và để “được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” như Đấng mà ngài say mê rao giảng, thánh Tông Đồ đã thể hiện được ý nghĩa siêu nhiên mà Chúa Giêsu đã truyền đạt trước khi trở về nơi Người đã đến là “dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao.”
Mới đây, kết thúc buổi triều yết chung tại Quảng trường Thánh Phêrô sáng ngày 20/5/2009, ĐTC Biển Đức XVI đã vắn tắt mở lời kêu gọi về Ngày Truyền thông Thế giới sẽ được cử hành vào ngày Chủ nhật 24 tháng 5 sắp tới. Ngài mời gọi:
“Đặc biệt với giới trẻ, cha kêu gọi các con hãy làm nhân chứng cho đức tin của chúng con qua thế giới kỹ thuật số. Hãy dùng những kỹ thuật mới đó để truyền bá Thánh Kinh, hầu cho Tin Mừng về tình yêu vô hạn của Thiên Chúa vang dội bằng những phương thức mới khắp trong thế giới của chúng ta, một thế giới không ngừng tăng tiến về kỹ thuật.” (trích Vietcatholic.net)
Làm nhân chứng cho đức tin mà ĐTC vừa nhắc nhở trên đã giúp tôi khâm phục biết bao một nhân chứng trên xe lăn mà tôi mới nhận được từ một nhóm trên mạng gửi tới. Bài viết có nội dung như sau và trích từ R. Veritas:
 “Một phụ nữ tên là Mensi đã đăng quảng cáo trên một tờ báo địa phương như sau: "Nếu bạn cô đơn hay gặp nan đề nào, xin hãy gọi điện thoại cho tôi. Tôi bị liệt phải ngồi xe lăn tay, nên rất ít khi ra ngoài. Chúng ta có thể trao đổi nan đề với nhau. Mời bạn cứ gọi. Tôi rất thích nói chuyện với bạn".
Việc đáp ứng quảng cáo này rất kỳ lạ. Mỗi tuần bà Mensi nhận được khoảng từ 30 cú phôn, và bà rất mừng. Điều gì thúc đẩy một người tàn tật ngồi trên xe lăn tay muốn tiếp xúc nói chuyện với những người khác?
Bà Mensi kể rằng trước khi bị tê liệt bà có sức khỏe hoàn toàn, nhưng rất tuyệt vọng. Bà đã tự tử bằng cách nhảy từ trên gác cao xuống đất. Nhưng thay vì chết, bà bị tê liệt từ thắt lưng trở xuống. Nằm trong nhà thương bà hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng một hôm bà nghe như Chúa Giêsu nói với bà: "Mensi ơi, trước đây con đã có một thân xác hoàn hảo, nhưng linh hồn con lại què quặt, Kể từ nay con sẽ có thân xác què quặt, nhưng linh hồn con kháng kiện".
Sau khi ra khỏi nhà thương, bà Mensi quyết tâm dâng đời mình cho Chúa. Bà cầu xin Chúa cho bà được chia sẻ niềm tin của mình với người khác. Rồi bà đăng báo như đã kể trên đây.
Công việc của bà Mensi xem ra như không có gì đối với người khác. Nhưng với bà, đó là công việc lớn lao nhất mà một người tàn tật có thể làm để phục vụ Chúa.”
Và lời cuối cùng của bài viết cũng là lời nhắc nhở rất cụ thể về việc loan báo Tin Mừng bình an dành cho những ai muốn “có Chúa cùng hoạt động” trong thế giới kỹ thuật số hiện đại như ngày nay:
“Mỗi người tin Chúa phải làm một việc nào đó để giúp đồng bào, đồng loại của mình. Mạnh khỏe hay tật nguyền, trẻ tuổi hay già nua, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện, viết thư hay làm bất cứ điều gì theo khả năng, nếu chúng ta thực sự muốn đem Chúa vào tâm hồn những người chung quanh mình”.
Lạy Chúa, Xin giúp con sức mạnh để con cũng kiên cường biết sống cho tha nhân như bà  Mensi dù cho bà ngồi trên xe lăn như con vậy. Amen.

 
 

LênTrời-182: Hãy Rao Giảng Tin Mừng

Lễ Chúa Lên Trời B 
 

Mc 16,15-20: 15 Và Người nói với họ: “Khi đi khắp thế gian, anh em hãy loan báo Tin mừng cho: LênTrời-182

Mc 16,15-20: 15 Và Người nói với họ: “Khi đi khắp thế gian, anh em hãy loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo. 16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, sẽ bị kết án. 17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, sẽ nói những tiếng mới. 18 Họ sẽ cầm rắn trong tay, và nếu họ uống thức gì độc hại, thứ ấy chẳng tác hại họ; họ sẽ đặt tay trên những người bệnh, những người này sẽ được mạnh khoẻ.” 19 Bấy giờ, Chúa Giêsu, sau khi nói với họ xong, được đưa lên trời và Người ngự bên hữu Thiên Chúa. 20 Còn họ, ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông và xác nhận lời bằng những dấu lạ kèm theo. 
Đoạn Mc 16:9-20 không tìm thấy trong những thủ bản xưa nhất của Tin mừng Marcô. Có thể đây là phần được thêm sau nầy, trong đó tóm tắt những điều mà trong các Tin mừng khác nói đến Đấng Sống Lại. Phần thứ nhất (16:9-11) thuật việc Chúa hiện ra với bà Mađalêna (x. Gio 20:11-18). Phần thứ hai (16:12-13) kể tóm tắt chuyện hai môn đệ đi về làng Emmaus (x. Lc 24:13-35). Phần thứ ba (16:14-18) kể lại chuyện Chúa hiện ra cho nhóm mười một; Người trách họ cứng lòng tin và trao cho họ sứ mạng rao giảng Tin mừng (x. Lc 24:36-43). Phần cuối cùng (16:19-20) ghi nhận vắn tắt việc Chúa lên trời (x. Lc 24:50-53; Tđcv 1:9-11).
Đoạn nầy không chắc chắn do Marcô viết ra; tuy nhiên nó được viết theo một truyền thống cổ xưa và được công nhận thuộc về Kinh thánh. Có thể phân chia đoạn 16:15-20 làm ba phần: 1- Mệnh lệnh rao giảng Tin mừng và những hành động quyền năng kèm theo (16:15-18); 2- Chúa Giêsu lên trời (16:19); Các tông đồ đi rao giảng và Chúa cùng hoạt động với họ (16:20).
Lần đầu tiên việc rao giảng Tin mừng được giao phó cách rõ ràng và như một mệnh lệnh cho các tông đồ để chu toàn. Ngay từ đầu, Marcô đã ghi nhận nhiều lần là Chúa Giêsu không mệt mỏi đi rao giảng khắp miền Galilê và những vùng lân cận của nó (1:14-15.39.45; 5:20). Khi tuyển chọn nhóm Mười Hai, Marcô ghi nhận là Người kêu họ đến với Người để có thể sai họ đi rao giảng (3:14); tuy nhiên, ông đã không nói là khi nào. Trong diễn từ nói đến những thử thách và bách hại các môn đệ sẽ chịu, Người tiên báo là qua đó Tin mừng sẽ được rao giảng cho mọi dân tộc (x. 13:10). Như thế, “Anh em hãy rao giảng Tin mừng” là mệnh lệnh trực tiếp và đầu tiên các tông đồ lãnh nhận sau khi Chúa Giêsu sống lại, và họ sẽ bắt đầu thực hiện nó cách công khai sau khi Người đã lên trời (16:15.20). Đây là thời điểm thích hợp nhất để làm việc đó, vì sứ vụ của Người trên trần gian chấm dứt khi Người lên trời; họ phải tiếp tục sứ vụ ấy của Người. “Tin mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (1:1) đã được loan báo trọn vẹn và đã thấm nhập họ không chỉ lời nói mà cả bản thân của Người. Rao giảng Tin mừng lần nầy sẽ được mở rộng cách phổ quát cho mọi người (16:15).
Những hành động quyền năng được hứa như xua trừ ma quỷ, nói được những ngôn ngữ mới, tiêu trừ những độc hại và chữa lành những bệnh tật là biểu trưng cho sự chiến thắng trên sự chết và tội lỗi (16:17-18). Người ban những quyền năng ấy cho tất cả những ai tin vào Người; tuy nhiên, không chỉ chừng ấy thôi, mà cả ơn cứu độ dứt khoát trong sự sống vĩnh cửu nữa.
Như việc sống lại do bởi Chúa Cha thực hiện (16:6), việc Chúa Giêsu được đưa lên trời cũng bởi Người. Được đưa lên trời là trở lại nơi Người đã từ đó mà đến trần gian. Chữ “trên trời” chỉ nơi Thiên Chúa hiện diện (1:10; 6:41; 7:34; 11:25). Lên trời là đi vào sự hiệp thông tuyệt hảo và vĩnh cửu với Cha của Người, trong đó Người được chia sẻ với Cha quyền năng và vinh quang. Thành ngữ “ngồi bên hữu” chỉ địa vị cao trọng và quyền hành lớn chỉ sau Thiên Chúa (14:62; 16:19; x. 10:37; 12:36; Tv 110:1). Sau cùng, các tông đồ đã đi khắp nơi rao giảng Tin mừng (16:20). Họ đã mở đầu một thời kỳ mới của Giáo hội. Thay vào lời hứa Chúa Giêsu sẽ ở cùng họ cho đến tận thế (x. Mt 28:20), Marcô ghi nhận là Chúa cùng hoạt động và trợ giúp lời họ rao giảng bằng những dấu hiệu quyền năng (16:20).
Đang ở trong vinh quang và quyền năng với Chúa Cha, Chúa Giêsu vẫn luôn hoạt động liên lỉ với Giáo Hội để hoàn thành việc rao giảng Tin mừng của Thiên Chúa cho muôn dân.

Lm. Đặng Quang Tiến
 

 

LênTrời-183: CHIỀU KÍCH VŨ TRỤ CỦA TIN MỪNG

Chúa Nhật Thăng Thiên, B
Cv 1:1-11
Mc 16:15-20
Ep 1:17-23 

 

Mặt trời, trung tâm của thái dương hệ, phải cách xa trái đất gần 145.000.000 cây số mới có thể: LênTrời-183

 Mặt trời, trung tâm của thái dương hệ, phải cách xa trái đất gần 145.000.000 cây số mới có thể tỏa sáng trên khắp trái đất. Dù cách xa như thế, nhưng sức hoạt động của mặt trời vẫn rất thiết thân và ảnh hưởng sâu xa tới sự sống trên mặt đất. Càng lên cao càng tìm được chiều kích mở rộng. Chính vì thế, Đức Giêsu hôm nay lên cao chín tầng trời để đem lại cho Tin Mừng một chiều kích vũ trụ và vĩnh cửu bằng chính sức mạnh Thánh Linh.
    Đức Giêsu đã chứng tỏ tất cả quyền năng tuyệt đối khi Phục Sinh từ cõi chết. Vinh quang Phục Sinh không thể cầm giữ Người mãi trên trái đất. Trái lại, vinh quang đó phải đạt tới mức trọn vẹn trong vinh quang Thiên Chúa Cha. Nếu không đạt tới mức toàn hảo đó, chiều kích Tin Mừng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, sẽ bị trói chặt trong biên giới Do thái. Để chuẩn bị cho cuộc ra đi đó, Đức Giêsu đã củng cố niềm tin Phục Sinh nơi các ông. “Người còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình : trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa”(Cv 1:3). Đó là nội dung sâu xa nhất và khẩn thiết nhất của Tin Mừng. Vì nếu Chúa không sống lại, việc xây dựng Nước Thiên Chúa không thể bắt đầu được.
    Cho đến lúc Chúa sắp về trời, các tông đồ vẫn chưa hiểu nổi chiều kích vũ trụ của Nước Thiên Chúa. Các ông còn mơ màng : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Isael không”? (Cv 1:6). Chẳng lẽ Nước Thiên Chúa chỉ có chiều kích hẹp như nước Israel ? Bởi thế, dù xuất hiện với các môn đệ nhiều lần sau khi sống lại, Thầy cũng vẫn bị các Tông Đồ trì kéo vào quan niệm hẹp hòi và trần tục. Thầy cần phải lên cao, dẫn theo đám tù nhân đang bị trói buộc vì những tư tưởng nông cạn của mình. Chính khi Thầy lên cao, mắt họ đã mở “lên trời phía Người đi” (Cv 1:10). Ít nhất họ thấy Nước Thiên Chúa cũng có một chiều cao như chính thân xác Phục Sinh của Đức Giêsu. Họ sẽ không còn cắm đầu xuống đất, để chỉ thấy những sự thuộc về đất. Vì “Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16:19), nên họ cũng được giải thoát khỏi những tăm tối và bừng tỉnh trước một siêu thực tại : Nước Thiên Chúa thuộc về Thiên Chúa và nằm dưới quyền của Đấng uy nghi cao cả.
    Sau khi mắt mở ra, cõi lòng cũng phải được nung nấu bằng một ngọn lửa đặc biệt đốt cháy những hàng rào giả tạo. Ngọn lửa đó chính là Thánh Linh. Ngay trong chính giới hạn trần gian, họ sẽ chứng kiến nét kỳ diệu vĩ đại. Họ không cần phải bay xa thực tế. Đức Giêsu đã kéo họ về một giấc mộng lớn sắp thành hiện thực. “Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa” (Cv 1:4). Đã đến giờ niềm hi vọng lớn lao nhất sẽ đạt đến tận điểm. Chúa Thánh Linh sẽ đến thực hiện tất cả những điều Chúa Cha đã hứa. “Anh em trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần, anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em” (Cv 1:5, 8). Việc kỳ diệu nhất Thánh Linh đã thực hiện cho Giáo Hội chính là làm cho các Tông Đồ thấy được chiều kích vũ trụ của Nước Thiên Chúa và sứ mạng vô biên giới của các ngài. “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8).
    Một cái nhìn như thế sẽ hướng dẫn các Tông Đồ thoát ra khỏi cảnh tù đầy tư tưởng. Tương quan sẽ mở rộng tới vô biên. Công việc thật mới lạ và vô cùng khó khăn. Thế nhưng các Tông Đồ đã hoàn toàn thành công. Đức Giêsu hoàn toàn toại nguyện vì những bước đường làm chứng vô cùng can đảm của các môn đệ. Đó là một dấu chỉ bảo đảm niềm tin Kitô không phi lý khi hướng lên “Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16:19). Nếu Đức Giêsu không được ngồi bên hữu Thiên Chúa, nghĩa là không có uy quyền của Thiên Chúa và không được phong làm vua vũ trụ (Life Application Study Bible 1991:1780), các Tông Đồ mất hẳn sức mạnh làm chứng và chiều kích vũ trụ của Tin Mừng. Như thế, Người lên cao để hiện diện sâu xa hơn với Giáo Hội. Sự lớn mạnh của Giáo Hội chính là dấu chỉ về sự hiện diện sống động và mãnh liệt đó.
RA ĐI
    Một lối nhìn khô khan và chai cứng về sứ mạng làm chứng sẽ cô lập Giáo Hội. Chính vì thế, Đức Giêsu đã thúc giục các môn đệ : “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15). Các ông không thể ngồi yên một chỗ mà thấy được sức mạnh Tin Mừng lan tỏa khắp nơi. Nhưng họ phải ra đi. Ra đi khỏi chính lòng mình. Ra đi khỏi khung cảnh chật cứng của Do thái. Ra đi chấp nhận rủi ro và thách đố khắp nơi để loan báo một Tin Mừng có sức giải thoát mọi loài thọ tạo khỏi cảnh rên siết vì những ngóng chờ ơn cứu độ (x.Rm 8:22).
    Ra đi có nghĩa là phục vụ. Theo thánh Marcô, “khi nắm giữ toàn quyền trên trời dưới đất, Đức Giêsu đã chọn con đường phục vụ tha nhân” (Life Application Study Bible 1991:1780). Chính qua con đường phục vụ này, quyền bính Thiên Chúa được mọi người nhìn nhận. Vinh quang chiếu tỏa qua bóng thập giá. Không học được bài học phục vụ này, quyền bính sẽ trở thành trò hề cho thiên hạ đàm tiếu. Trái lại, sức mạnh Tin Mừng chỉ tỏ lộ khi những người rao giảng Tin Mừng biết hết lòng phục vụ. Phục vụ cho công lý và hòa bình. Phục vụ người nghèo, bệnh tật, già cả, cô đơn. Không phục vụ không thể Phúc Âm hóa môi trường và vũ trụ theo lệnh Chúa. Khắp hang cùng ngõ hẻm phải vang lên lời mời gọi của Tin Mừng. Lời mời gọi đó được nghe rõ trong cung cách phục vụ của chứng nhân Tin Mừng.
    Làm sao có thể trở thành người thực sự phục vụ Tin Mừng ? Được chia sẻ quyền bính của Đức Giêsu, nhiều người đã coi đó như một nguồn lợi kinh tế và cơ hội bước lên thang danh vọng mà ngoài đời mình không thể có được. Khi nhìn vào họ, mọi người không thấy Chúa Kitô. Nói khác, họ đã biến mình thành một thứ trung tâm. Thiên Chúa trở thành phương tiện để phục vụ cho quyền lợi của họ. Trái lại, những người phục vụ Tin Mừng đích thực luôn luôn “đặt Thiên Chúa vào trung tâm đời sống mình và xem việc tìm kiếm và mở rộng Nước Trời như mục đích của cuộc đời mình” (ĐGH Gioan Phaolô II, VietCatholic 30/5/2000). Trung tâm đó sẽ chi phối mọi hoạt động, tâm tư và cuộc sống. Ýù nghĩa cuộc sống không còn tùy thuộc vào cuộc sống, nhưng vào chính Đấng vượt trên cuộc sống. Nói khác, nếu suốt đời chỉ loan báo Tin Mừng nhằm qui tụ muôn dân vào trong vương quyền Thiên Chúa, người môn đệ Đức Kitô sẽ tạo được một giá trị cao cả nhất cho cuộc đời.
    Giá trị cao cả đó nằm ở chỗ tiếp giáp giữa văn hóa và đức tin, giữa khoa học và những giá trị tinh thần. Hơn lúc nào, giá trị đó đang gặp cơn khủng hoảng vì sự cách ly giữa tinh thần và vật chất. Người môn đệ Chúa Kitô được kêu gọi để giúp con người “vượt qua sự tách biệt chết người giữa tiến bộ khoa học và những giá trị tinh thần đang cổ võ những tập quán duy vật, đưa tới một xã hội theo nếp sống cá nhân và cạnh tranh, nguồn sinh ra bất công và bạo động, khinh thường và kỳ thị, đối kháng và chiến tranh” (ĐGH Gioan Phaolô II, L’Osservatore Romano, số 21, 24/5/2000). Chỉ nơi Đức Giêsu, Đấng đã vượt lên chín tầng trời, người ta mới tìm được một trung tâm đích thực liên kết mọi đối lực và “một giá trị khách quan và phổ quát : sự hiệp thông giữa con người và các dân tộc, một sự hiệp thông bắt nguồn từ sự kiện chúng ta là con cái một Cha, một Thiên Chúa duy nhất "là tình yêu" (1 Ga 4:8). Trong Đức Kitô, Người đưa chúng ta vào ‘thời gian viên mãn’(Gl 4:4), kêu gọi chúng ta vào một đời sống tự do đích thực đầy yêu thương và liên đới” (ĐGH Gioan Phaolô II, L’Osservatore Romano, số 21, 24/5/2000).
Lm. Đỗ Vân Lực, OP

 
 

LênTrời-184: LỄ THĂNG THIÊN

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:      Ê-phê-xô 1: 17-23 

 

Trước khi mời gọi suy niệm về tầm quan trọng của việc Đức Ki-tô được Chúa Cha tôn vinh: LênTrời-184

Trước khi mời gọi suy niệm về tầm quan trọng của việc Đức Ki-tô được Chúa Cha tôn vinh, thánh Phao-lô đã ca ngợi lòng tin và lòng mến của anh chị em tín hữu Ê-phê-xô.  Nhưng nguyện vọng của Phao-lô còn hơn thế nữa.  Ngài muốn họ, nhờ lòng tin và mến ấy, sẽ khám phá thêm được nhiều điều diệu kỳ Thiên Chúa muốn thực hiện nơi họ, nhờ cuộc tôn vinh của Đức Ki-tô.  Sử dụng đoạn thư này của thánh Phao-lô, Phụng vụ Lời Chúa lễ Thăng Thiên cũng muốn mời gọi chúng ta khám phá những thực tại cao cả Người sẽ thực hiện nơi chúng ta.  Vậy làm sao chúng ta có thể khám phá, và sẽ khám phá được những thực tại nào? 
  Để khám phá những điều lớn lao Thiên Chúa thực hiện nơi chúng ta
          Thánh Phao-lô đưa ra một điều kiện căn bản để giúp chúng ta khám phá.  Đó là ý thức Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô.  Đức Ki-tô là Đầu của Nhiệm Thể.  Sự viên mãn của Đầu đã được thể hiện qua việc Thiên Chúa tôn vinh Đức Ki-tô, “đặt ngự bên hữu Người” và “đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô.”  Thiên Chúa Cha còn trao phó cho Đức Ki-tô một trọng trách khác ngoài việc làm đầu toàn thể Hội Thánh, đó là “làm cho tất cả được viên mãn.”  Chỉ nhờ Đức Ki-tô và qua Đức Ki-tô, mọi sự mới được viên mãn.  Nói khác đi, sự tôn vinh của Đức Ki-tô là khuôn mẫu và nguyên lý cho sự tôn vinh của Ki-tô hữu.  Thân thể mầu nhiệm Đức Ki-tô không phải đơn thuần là một hình ảnh so sánh, nhưng là một thực tại.  Để được tôn vinh với Đức Ki-tô đòi hỏi chúng ta phải tháp nhập vào thân thể mầu nhiệm của Người.  Làm chi thể thực sự của Nhiệm Thể ấy, chúng ta mới có thể khám phá được những gì ở nơi Đầu cũng sẽ là những gì của chi thể.
          Một điều kiện nữa giúp chúng ta khám phá là ơn Chúa.  Thánh Phao-lô viết:  “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển...  ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người.”  Ơn Chúa sẽ “soi lòng mở trí” cho chúng ta nhận ra những gì sự khôn ngoan loài người không thể giúp chúng ta được.  Ơn Chúa sẽ uốn nắn tâm hồn chúng ta để biết nhìn theo cách nhìn của Chúa và theo toàn bộ kế hoạch cứu rỗi của Người. 

  Những điều khám phá được
          Thánh Phao-lô kể ra những thực tại cao cả sau đây:
          -  niềm hy vọng do việc Thiên Chúa kêu gọi chúng ta:  khi Thiên Chúa tuyển chọn chúng ta làm con cái Người thì Người đã bảo đảm cho tương lai của chúng ta rồi.  Được Người tuyển chọn, chúng ta biết mình sẽ đi về đâu, biết được thân phận mai sau, biết được căn tính đích thực của mình.
          -  chia sẻ với con cái Chúa chính gia nghiệp vinh quang của Người:  nếu Đức Ki-tô là thừa kế gia nghiệp của Chúa Cha, thì chúng ta là chi thể Người cũng sẽ được đồng thừa kế gia nghiệp ấy với Người.  “Các thánh” sẽ không chỉ là những vị thánh thiện, các thiên thần..., nhưng là chính chúng ta, nhưng người đã chịu phép thánh tẩy và sống như thụ tạo mới trong cuộc tạo dựng mới của Thiên Chúa.
-  nhận biết quyền lực lớn lao của Thiên Chúa đang hoạt động nơi chúng ta:  nếu chúng ta vô cùng bỡ ngỡ và khâm phục trước những kỳ công tạo dựng của Thiên Chúa, thì giờ đây chúng ta lại có thể khám phá được quyền năng ấy nơi các chi thể của Nhiệm Thể Đức Ki-tô.  Thiên Chúa đang thực hiện một cuộc tạo dựng mới ngay tại mỗi chi thể của thân thể Chúa Ki-tô.  Để tôn vinh Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã tặng ban cho Người “danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2:9).  Qua sự tôn vinh ấy, Thiên Chúa cũng gọi tất cả những ai Người đã tuyển chọn được làm con cái Người, một tước vị tự sức loài người chúng ta không bao giờ có thể đạt tới được.
 

  Sống những điều khám phá
          Khám phá những điều lớn lao, rồi để nằm chết trong đống sách vở, thì có ích lợi gì cho cuộc sống chúng ta.  Trái lại, chúng phải được đưa vào cuộc sống.  Những phát minh khoa học đã làm cho cuộc sống con người được phong phú, tuyệt diệu.  Cũng vậy, những khám phá qua việc Thiên Chúa tôn vinh Đức Ki-tô phải được thể hiện trong đời sống Ki-tô hữu.  Nếu những thực tại cao cả đó không gặp thấy nơi Ki-tô hữu, thì Ki-tô hữu ấy chỉ là hữu danh vô thực, có tiếng mà không có miếng.  Nhìn lên trời, nhìn vào Đức Ki-tô đang cất lên cao (Cv 1:11) chưa đủ, nhưng còn phải nhìn vào chính mình, trở lại với thực tế hiện tại để sống đích thực như những chi thể của thân thể Đức Ki-tô nữa.  Điều ấy hôm nay Phụng vụ Lời Chúa lễ Chúa Giê-su Lên Trời đã nhắc nhở chúng ta.
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Ý thức làm chi thể của Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Ki-tô đã giữ vai trò nào trong đời sống Ki-tô hữu của tôi?
          Với suy niệm của thánh Phao-lô về việc “lên trời” của Chúa Ki-tô, tôi nhận thấy giá trị và thân phận của mình thế nào?  Như vậy có đáng làm Ki-tô hữu không?
          Thánh Phao-lô “không ngừng tạ ơn Thiên Chúa” về tín hữu Ê-phê-xô của ngài.  Có khi nào tôi cảm tạ Thiên Chúa đã cho tôi được tham dự vào những gì Người đã thực hiện nơi Đức Ki-tô không?  Làm sao để biểu lộ lòng biết ơn này?
 Cầu nguyện kết thúc
          Sau những lời nguyện bộc phát, nhóm cùng đọc kinh nguyện sau đây:
 Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bi đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giê-su đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao;
và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân chúng con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.
 (Trích RABBOUNI, lời nguyện 46)
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
30-5-2003

 
 

LênTrời-185: Thời điểm MẬT MÃ DA VINCI

Chẳng phải lần đầu tiên Đạo Chúa bị lôi ra bề hội đồng như kiểu chuyện phịa ấu trĩ rẻ tiền mang: LênTrời-185

Chẳng phải lần đầu tiên Đạo Chúa bị lôi ra bề hội đồng như kiểu chuyện phịa ấu trĩ rẻ tiền mang tính lừa đảo có tính toán một cách trân tráo trong Mật Mã Da Vinci. Trong những phản ứng khác nhau về phim này, người ta chú ý tới thái độ của người Ấn Độ: thật là thiếu văn hóa và liêm sỉ khi không đi báng bổ tôn giáo khác cũng như xía vào gia đình người ta. Nền văn hóa Ấn Độ vốn nổi tiếng kính trọng nét thiêng liêng của các Đạo. Để cái thứ phim ảnh đó đi vào nước thì mình còn xứng đáng được gọi là văn minh thật nữa không?
Từ hai ngàn năm nay, đã có biết bao đợt xô tới đẩy lại. Ngay cả ở Việt Nam trước đây đã có Gia Tô Bí Lục, tưởng rằng đã tìm ra cách ma giáo "vạch trần Đạo Chúa" để đốn gục. Nhưng rồi đạo Chúa vẫn đầu cao mắt sáng bước tới trong niềm tin vào Sự Thật. Chỉ tội nghiệp cho một lớp người đã đánh mất đi giá trị của chính mình, khi tự ý cắt đi nguồn cội tinh thần. Ông Đinh Vinh Phúc từ Paris trong bài "Còn Gì Để Quí Mến" trên www.dunglac.net đã góp ý suy tư thật trầm lắng thay vì những phản ứng ồn ào: "Có nên tiếp tục chống đối đạo Thiên Chúa nữa không? Câu hỏi đó cho đến nay không mấy ai đưa ra. Và dư luận đón tiếp cuốn Da Vinci Code một cách thản nhiên, mà không đặt cái enjeu to lớn: sự tồn tại của nền văn minh Tây phương. Nếu Gandhi và Tagore còn sống, không rõ hai nhà lãnh đạo Ần Độ này nghĩ gì về cuốn sách mà ảnh hưởng của nó trước sau chỉ có thể làm thiệt hại đến nền tảng thiêng liêng của người Tây Phương. Nếu dư luận bên trời Tây không còn giữ được lòng kính trọng đối với một giá trị thiêng liêng tuyệt vời được thể hiện trong đời sống của Jesus Christ và cả một gia tài văn hóa từ 2000 năm đến nay, thì còn có gì để người Tây phuơng giữ gìn, quý mến nữa?"



ĐIỀM BÁO MỘT CƠN GIẪY CHẾT
Bó tay là tâm trạng của những người cảm thấy hoàn toàn vô vọng trước những rối loạn vượt quá sức mình, không còn biết phải làm gì hơn!
Ngày 28 tháng 4 năm 1997 đã thành một thời điểm, một mốc ghi cho nước Mỹ và nền văn minh duy vật vào những ngày cuối cùng của thế kỷ 20. Đó là ngày Tổng thống Clinton triệu tập cuộc họp mặt thượng đỉnh về tình trạng lớp trẻ với Tương Lai Nước Mỹ được tổ chức ở Philadelphia ngay tại Tòa Nhà Độc Lập nơi khai sinh nước Mỹ. Biến cố quan trọng đến nỗi đã có được sự góp mặt của tất cả các cựu tổng thống còn sống của nước Mỹ: cựu tổng thống Ford, cựu tổng thống Carter, cựu tổng thống Bush, và bà Reagan thay cho chồng lúc đó đang bệnh nặng. Bên cạnh là 30 thống đốc các tiểu bang, trên 100 thị trưởng các thành phố lớn, và rất đông phái đoàn đến từ khắp nơi để xướng xuất một chương trình thiện nguyện lành mạnh hóa giới trẻ.
Tướng Colin Powell được chỉ định làm chủ tịch tổng quát cho chương trình này đã nói lên thực trạng thê thảm của lớp trẻ lúc này: "Trên 15 triệu đứa không được chuẩn bị khả năng vào đời, thiếu học, và tệ hơn nữa, không được yêu thương."
Dấu chỉ gì vậy? Nhìn vào những trang báo mỗi buổi sáng, không ngày nào mà không thấy nhan nhản những chuyện đám choai choai rửng mỡ, chém giết, bạo động, lăng loàn... thôi thì đủ mọi trò man rợ chưa từng thấy trong những xã hội bán khai nhất. Tờ The Times-Picayune ở New Orelans hôm 25 tháng 4 đăng tin một đứa bé tên là Michael Mack mới 13 tuổi đã can phạm giết người một cách thản nhiên trong vùng da mầu dầy đặc ở dưới phố. Nó cầm súng đi theo một cặp vợ chồng về gần đến nhà thì bắn chết để lấy ví tiền. Cảnh sát bắt được và sưu tra thêm thì biết năm 11 tuổi nó đã can phạm trọng tội, và năm sau lúc 12 tuổi thì phạm thêm 2 lần nữa. Nghĩa là nó đã dám làm chuyện động trời ngay cả trước tuổi choai choai (teen)! Và ngay tuần này trong cộng đồng Việt, nơi đã từng được khen là ơn phúc cho nước Mỹ thì cũng đang có những dấu hiệu tai họa bất ổn: một đứa bé trai 13 tuổi trong một gia đình tan vỡ bỏ nhà đi theo một đứa khác mới 16 tuổi; người cậu đi tìm bắt cháu 13 tuổi về thì bị tên 16 tuổi bắn bốn phát vào tim chết tại chỗ.
Bây giờ thì các vị lãnh đạo cao cấp nhất phải lên tiếng. Đúng là "quốc nạn". Cứ tha hồ thay nhau lên bục mà đọc diễn văn kêu gọi người khác tình nguyện vào chiến dịch làm sạch nước Mỹ. Các vị tổng thống xắn quần áo đứng thành hàng lau rửa và sơn lại những bức tường bị vẽ bẩn thỉu trong khu nghèo để chụp hình quay phim. Chàng Mỹ đen Priestley trong phái đoàn New Orleans với ông thị trưởng Marc Morial cũng dấn thân vào công tác với lời phát biểu: "Vùng New Orleans có quá nhiều trẻ thèm khát trông lên thần tượng buôn xì ke và tội ác! Ở đây thiếu những mẫu sống người lớn đa đen (adult role model), chúng cần tình thương của cha mẹ. Tôi đã lớn lên với tình thương này nên tôi hiểu."
Ở trong một thành phố với số dân cỡ trung bình của nước Mỹ mà cảnh sát cho biết có trên 50 băng đảng choai choai, từ cỡ nhỏ đến cỡ lớn, trong đó băng đảng gốc Việt được nhắc tới khá kỹ. Người Việt cũng đang góp phần vào cơn nhức đầu bó tay này của cái đà xuống dốc không thắng của cả một xã hội duy vật nhầy nhụa. Mọi người bị ném vào cái vòng xích theo trớn chỉ biết lo kiếm tiền hưởng thụ ngày này qua ngày khác nên đã biến cuộc sống thành vô nghĩa buồn nôn. Đứa trẻ lớn lên trong cả một bầu khí sặc mùi uế khí nên đã trở thành nạn nhân một cách tội nghiệp. Một số đứa sống hoàn toàn theo bản năng súc vật và mất hẳn nhạy cảm tối thiểu của một con người. Nên khi lên cơn chỉ cần 30 đồng để chích choác thì thản nhiên bắn một người chết để lấy ví, hay cậy xe lấy một cái máy bán đỡ mấy chục rồi đốt phi tang cả một gia sản mấy chục ngàn tiền Mỹ.



DẤU CHỈ MỘT NỖI CHÁN CHƯỜNG
Dù sao thì những nhà lãnh đạo chóp bu của nước Mỹ cũng đã lên tiếng báo nguy và xắn quần áo làm một cái gì. Nhưng chiến dịch làm sạch cho tương lai nước Mỹ kiểu trên thì xem ra chưa giải quyết gì cả, bao lâu nền giáo dục không có lấy một chương trình đức dục tối thiểu; và tình trạng suy đồi luân lý từ trên thượng tầng đến các gia đình.
Trên một bìa báo Newsweek có hình khá ngộ nghĩnh về ba bà mẹ da màu của ba thế hệ bế ba đứa con: bà ngoại trên 40 tuổi mới có con riêng; người mẹ trên 30 tuổi vừa sinh thêm một đứa con nữa; và đứa con gái mới mười mấy tuổi cũng đã có con. Cái đặc biệt là cả ba thế hệ đều không có chồng.
Cũng chính vì buồn nôn và thất vọng về cái hành tinh vô luân mà con người đang vênh mặt tự đắc này mà nhóm 39 người của giáo phái "Cổng Thiên Đường" đã tự tử tập thể tại San Diego, thuộc một vùng giầu có vào bậc nhất của nước Mỹ. Đúng là họ muốn "đóng cửa trần gian" để lên đĩa UFO bay theo sao chổi vào cõi ảo vọng.
Người ta lấy làm lạ về hiện tượng tỉ lệ giới trẻ ở thế giới văn minh cao độ của Âu Mỹ tự tử khá cao. Thế là thế nào?! Thừa mứa vật chất đến rửng mỡ mà lại chán chường cuộc sống đến thế hay sao? Đúng là tại vì con người ngày nay đang mất đi lẽ sống. Người trẻ trước đây được đào tạo với châm ngôn "ngày nay học tập ngày mai giúp đời", thì bây giờ được thay vào một "công án" kinh cầu khác là "ngày nay học tập ngày mai kiếm nhiều tiền mua giầy Nike, điện thoại di động, Ipod, và lớn hơn thì mua xe láng, tậu nhà có hồ tắm..." Đó là tất cả lý tưởng một đời người sinh ra trên mặt đất này! Một lúc nào đó, con người cảm thấy buồn nôn, vì tất cả những thứ đó không làm mình vui thỏa, mà mới chỉ đáp ứng những nhu cầu của một con vật như kiểu diễn tả trong một chương trình TV là con vật mang mặt người "human animal".



TIN VUI MỘT THẾ GIỚI ĐANG ĐỢI SINH RA
Quả thực, trong thâm tâm, con người vẫn thấy mình không phải là súc vật, vẫn khao khát cõi vô biên. Chính vì thế mà nhà tâm lý nổi tiếng là M. Scott Peck với những cuốn sách bán chạy nhất trong những năm qua, mới xuất bản một cuốn khác làm choáng váng nền văn minh này: "Một thế giới đang đợi sinh ra" (a World Waiting to Be Born). Ông có ý viết về một tình trạng vô vọng của thế giới Âu Mỹ hiện nay, hoàn toàn mất tính người và mất tình người, mất đi những gì sơ đẳng nhất để gọi là văn minh loài người: một nền văn minh bệnh hoạn và mọi rợ đi. Với kinh nghiệm của một bác sĩ về cơ thể con người, khi một bệnh nhân đã tới thời kỳ rã, thì chữa được bệnh này sẽ phát sinh bệnh khác. Cái sức sống liên kết mọi cơ năng làm nên con người được bác sĩ Scott Peck nói rõ là lực nội tâm, đó là niềm tin vào Đấng Tạo Hóa. Mất niềm tin này thì không còn lẽ sống, và tự cảm thấy tuyệt vọng như những sinh vật bầy nhầy chèn cựa nhau một quãng thời gian ngắn trên trái đất nhỏ bé trước vũ trụ bao la rồi lăn ra chết.
Dấu chỉ gì khi con người đã bước vào thiên kỷ mới? Tại sao con người lúc này hơn lúc nào khác cảm thấy nhỏ bé bất lực trước mọi thụ tạo: không thảnh thơi bằng con chim bay, không tung tăng như con cá bơi dưới dòng nước, không mạnh sức bằng con sư tử trong rừng sâu, không khôn ngoan bằng máy điện toán, không hiệu năng bằng chiếc máy cầy, và đôi khi không giá trị hơn một điếu xì ke... Là vì con người đã đánh mất niềm tin vào Đấng tác sinh ra mình. Đúng như lời suy tư qua phim Da Vinci Code gây ồn ào: "Nếu dư luận bên trời Tây không còn giữ được lòng kính trọng đối với một giá trị thiêng liêng tuyệt vời được thể hiện trong đời sống của Jesus Christ và cả một gia tài văn hóa từ 2000 năm đến nay, thì còn có gì để người Tây phuơng giữ gìn, quý mến nữa?"
Niềm Tin là con mắt thấy được Chúa Toàn Năng vẫn ở bên mọi ngày cho đến tận thế, "trong Người chúng ta sống, cử động và hiện hữu" vì "chúng ta cũng thuộc dòng giống của Người" (Công Vụ Tông Đồ 17:28). Thánh Phaolô đã cảm nghiệm sâu xa điều này: "Tôi có thể làm được mọi sự trong Chúa là sức mạnh cho tôi" (Phil 4:13). Chả lẽ người theo Chúa hôm nay hồ nghi cả lời Chúa khi nghe chính Chúa Giêsu xác quyết trước khi về Trời?
"Đây là những dấu sẽ đi theo những người có lòng tin: Nhân danh Thầy họ sẽ trừ được quỉ, nói được các thứ tiếng mới lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe" (Mc 16: 17-18). Sức mạnh này, sức sống này phát khởi từ Tình Yêu của Chúa.
Chúng ta đang ở trong một khúc quặt của lịch sử, mà ĐGH Biển Đức XVI đã nhìn ra dấu chỉ thời đại khi viết thông điệp gây ngỡ ngàng cho thế giới: thông điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu (Deus Caritas Est). Là vì thế giới này đang đánh mất cái bản chất làm cho mình khác con vật. Đó là tình yêu phát khởi từ một nguồn cội: "Tôi vui chơi giữa đời, ôi a, biết đâu nguồn cội?!"
Vâng con tin vào Lời Chúa, và cất cao tâm tình khẩn nguyện với thánh vịnh 18:
Lạy Chúa là sức mạnh của con;
Lạy Chúa là núi đá, là thành lũy,
Là Đấng giải thoát con;
Là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng.
 Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

 
 

LênTrời-186: ÁI MỘ TRỜI CAO

So với trái đất, trời ở xa, xa thẳm, xa như huyền thoại. Trần gian lại quá gần, quá mật thiết với. Ta: LênTrời-186

So với trái đất, trời ở xa, xa thẳm, xa như huyền thoại. Trần gian lại quá gần, quá mật thiết với ta. Ta sống với nó, đắm chìm cùng nó, hít thở trong nó tự nhiên như chính sự sống của ta vậy. Vì thế, trần gian đã níu chân ta không ít, khiến ta xa rời trời cao, xa rời biết bao nhiêu chân lý, kể cả những chân lý đó thuộc về cứu cánh muôn đời của ta, hoặc chí ít là tạo nên giá trị tinh thần, giá trị sự sống, giá trị cuộc đời…
Hôm nay mừng lễ Chúa về trời, ý thức đôi chân mình đạp đất, nhưng tâm hồn mình thuộc về trời cao, người Kitô hữu lặp lại lời cầu nguyện như họ đã không ngớt cầu nguyện: “Ta hãy xin cho được lòng ái mộ những sự trên trời” (là một trong những lời cầu nguyện khi chiêm ngắm mầu nhiệm Mân Côi, mùa Mừng).
Ái mộ những sự trên trời, Người Kitô hữu có được một cuộc sống an bình và quân bình trong nội tâm, dễ đồng cảm với hoàn cảnh của thế giới. Ái mộ trời cao, họ có khả năng dung hòa giữa trời cao và đất thấp; giữa thế giới nhân trần và thế giới tâm linh; giữa những đảo điên của cuộc đời với niềm hy vọng vĩnh cửu; giữa tình yêu bản thân với tình yêu dành cho thế giới xung quanh…
Hội chứng “The Da Vinci Code” đang làm ngả nghiêng kẻ dốt chân lý. Vì thế, trong ngày mừng lễ Chúa về trời, hưởng niềm vinh phúc vì là người thủ đắc chân lý trời cao, ta thử một lần nhận diện kẻ đói chân lý mà hội chứng “The Da Vinci Code” là một trong nhiều bằng chứng, để thêm một lần ta củng cố đức tin của mình bằng lòng “ái mộ những sự trên trời”.



I. HỘI CHỨNG “THE DA VINCI CODE”.
Mấy năm qua, cuốn tiểu thuyết “The Da Vinci Code” (xuất bản tháng 5.2003) đã làm nhiều người chao đảo đức tin, thậm chí đánh mất đức tin. Thời gian gần đây, lại có một bộ phim cùng nội dung, cùng tựa đề ra đời, lại càng làm nỗi lo ngại của mọi lương tâm thêm lớn dần lên.
Nhưng hội chứng này nảy sinh từ sản phẩm của những kẻ bán đứng lương tâm để dàn dựng bởi sự giả trá như thế, có đáng lo ngại? Có là một nguy cơ của đức tin?
Thực ra, nó chỉ là một hiện tượng trong vô số những hiện tượng nổi loạn, tìm khẳng định mình của nhân loại đang khát khao chân lý. Ngay cả hiện tượng đi ngoài chân lý mà “The Da Vinci Code” là một, cuối cùng lại để lộ chân tướng hết sức nhục nhã, cả đến nhơ nhớp: đói chân lý. Đói chân lý, đưa người ta đến chỗ tìm chân lý. Nhưng chân lý thật không phải là một sản phẩm của trí tuệ. Vì thế, kẻ đi tìm chân lý, chỉ tìm kiếm bằng nỗ lực của lý trí loài người, sẽ thất bại. “The Da Vinci Code” cho thấy sự thất bại và dốt nát của một lý trí chỉ biết có lý trí. Nó cũng là sự dốt nát đại diện cho cả một hệ thống lý trí không có chân lý của thế giới, đang xuất hiện đây đó trong nhiều tầng lớp nhân loại, cả những người nhân danh mình trí thức.
Bởi đói chân lý, nó là sản phẩm của sự mất quân bình nội tâm. Nếu con người mà mất quân bình nội tâm, chắc chắn con người sẽ lồng lộn, sẽ vùng vẫy để tìm lối thoát như con thú dữ sa lưới. “The Da Vinci Code” tố cáo chính chủ nhân của nó về phương diện này. Bởi mất quân bình nội tâm, kẻ làm ra “The Da Vinci Code”, cũng như kẻ thưởng thức nó, chẳng bao giờ hưởng bình an, càng không bao giờ gieo bình an. Cuộc đời vốn đã quá nhiều điên đảo, quá nhiều lừa bịp, quá nhiều luồng tư tưởng lẫn lộn khó có thể phân biệt vàng thau, vì thế, thêm một “The da Vinci Code” là thêm một kẻ thù tấn công sự bình an của loài người, càng gây thêm mất mát, gây thêm hoang mang… Bởi vậy, loài người cần sự tỉnh táo để đừng gây thêm nỗi đau cho mình.
Ngoài ra, hội chứng “The Da Vinci Code” cho rằng, nó đang nỗ lực “vạch trần sự thật của Hội Thánh Công giáo”. Nhưng nó lầm. Bởi chính lúc huênh hoan cho rằng, cần phải vạch trần “sự thật lịch sử” ấy, nó đã tự biến mình thành con rối cho chính cái suy nghĩ thiếu chân lý của mình lên ngôi ông chủ, giật giây. Như vậy, “sự thật lịch sử” mà người ta đi tìm ấy, chưa cần biết đã cho câu trả lời ở mức độ nào, thì lại xảy ra một sự thật mỉa mai đau đớn khác: Người ta nô lệ chính cái suy nghĩ thiếu chân lý của mình, nô lệ chính sự giả trá của mình.
Hay “The Da Vinci Code” cũng chỉ là một thứ sản phẩm nằm trong hệ thống chối từ trời cao, một hệ thống không ngừng giải thánh của biết bao nhiêu trào lưu chống đối Thiên Chúa của nhân loại từ xưa đến nay! Điều lạ lùng như một huyền nhiệm lớn, đó là, từ ngàn xưa đến nay, Hội Thánh của Chúa không lúc nào không bị chống đối. Nhưng càng bị chống đối, càng vươn mạnh. Đó là một sự thật không thể chối cãi. Sự thật đó đã chứng mình một thực tế ngược lại với những gì “The Da Vinci Code” và nhiều thế lực chống đối khác đang chủ trương, đó là: Hội Thánh là sự thật! Vận mạng và lý tưởng của Hội Thánh nằm trong bàn tay quyền năng của Thiên Chúa, để những gì là sóng gió người ta nhắm vào Hội Thánh, không thể dìm Hội Thánh, lại quay ngược lại dìm những gì đi ngoài, đi ngược chân lý đức tin. Chẳng hạn, trong hội chứng “The Da Vinci Code” là một bằng chứng lớn vô cùng cho thấy sóng gió không hướng về Hội Thánh. Bởi con người, chính khi chối từ trời cao, lập tức họ tự “bỏ tù” chính mình trong cái thế giới trần ai này. Điều quái gở lớn nằm ở chỗ, người ta tự “bỏ tù” mình mà vẫn ảo tưởng mình tự do. Bởi cứ bị nhận chìm trong ảo tưởng, người ta sẽ càng tự “bỏ tù” chính mình cách sâu hơn, nguy hiểm hơn. Kẻ mất tự do, chỉ biết vùng vẫy trong bóng tối của cái đói chân lý, làm sao có thể trở thành “sự thật” để chứng minh về một sự thật đầy lý tưởng, đầy sức sống, đầy tình yêu, đầy nguồn bình an, đầy phúc thật, đầy sự giải thoát, đầy chân lý… mà Hội Thánh Công giáo cất giữ.
Kẻ đói chân lý như thế, lại chủ trương tìm về cái gọi là “sự thật lịch sử” của một tổ chức đức tin lớn mạnh hàng ngàn năm như tổ chức Hội Thánh Công Giáo. Đúng là ngược ngạo, là mâu thuẫn, là lố bịch.
Nói những điều như trên kể cũng còn tôn trọng những kẻ làm ra “The Da Vinci Code”. Bởi ai biết được, đàng sau những luận điệu giả trá “như thật” ấy, người ta đang tìm cách móc túi cả thế giới này. Như vậy, cả thế giới bị moi tiền để làm giàu cho một trò bịp bợm. Hóa ra, vô tình cả thế giới bị lừa bịp bởi một trò lừa bịp ngoạn mục.
Vì thế, nếu bình tĩnh xét lại, ta thấy “The Da Vinci Code” chẳng đáng lo ngại. Bởi nó chẳng bao giờ có thể có cơ may đáp lại khát vọng sống của lương tri loài người. Đúng hơn, nó chỉ là một thứ giải trí tầm thường, một thứ suy nghĩ xô bồ không chỗ đứng, không tên tuổi, do những kẻ ham tiền, đánh mất lương tri, đói chân lý gây ra. Vì thế, nó càng không bao giờ mang lại bình an cho người làm ra nó, hoặc thưởng thức nó. Nó chỉ là một hội chứng không hơn không kém!



II. ÁI MỘ TRỜI CAO.
Hôm nay, nhân dịp The Da Vinci Code đang thất bại về niềm tin và sự thật, đang trở thành cặn bả của những trái tim không tình yêu, vẫy vùng trong nô lệ của một thứ lý trí thiếu chân lý, đặt trong bối cảnh mừng lễ Chúa về trời, chúng ta cùng nhau lặp lại lời cầu nguyện quen thuộc.: “Đức Chúa Giêsu lên trời, ta hãy xin cho được lòng ái mộ những sự trên trời”.
Ở trên cao, bao giờ người ta cũng nhìn thấy rõ ràng hơn. Ái mộ những thực tại của huyền nhiệm siêu nhiên vượt lý trí loài người, người ta sẽ nhận ra mình, ra người, nhận ra thế giới quan và vũ trụ quan với một ánh nhìn đầy nhân bản, tình yêu và sự thật. Hướng về trời cao, người Kitô hữu không chấp nhận một lối sống tầm thường, nhưng họ biết thánh hóa mình, để những cái bình thường của đời người mặc lấy sự phi thường của trời cao.
Vì thế, mừng lễ Chúa về trời, ta chỉ xin cho được lòng ái một trời cao, để khám phá chính chân lý đời mình, để đời mình được thăng hoa và nâng cao giá trị.
Lòng ái mộ những sự trên trời là cách tốt nhất để nắm chặt niềm hy vọng vĩnh cửu, là phương thế tối cần để liên tục củng cố đức tin của ta vào Chúa Kitô vinh thắng, là sức mạnh để ta vượt thắng những nghi nan đối nghịch niềm tin, vượt thắng mọi cám dỗ kéo ta xa rời Chúa của mình.
Lòng ái mộ những sự trên trời còn là sự khôn ngoan của loài người nhằm lách mình khỏi mọi thứ nô lệ trần tục, khỏi mọi nguy cơ giết chết giá trị nhân phẩm của bản thân cũng như của đồng loại. Chỉ có lòng ái mộ những sự trên trời dẫn ta đến và bắt gặp đích đến khi đi tìm bến bờ tự do đích thực, tự do vĩnh cửu.
Bởi bất cứ ai biết không ngừng đặt đức tin của mình vào những đam mê trời cao, người đó mới có khả năng sống mọi giá trị nhân bản, mới có khả năng xây dựng và ngày càng củng cố mọi định hướng cho nền tảng nhân văn và sự sống rất mực thanh cao của chính mình, cũng như của nhân loại, của xã hội loài người.
Bởi như một hệ quả tất yếu: Nếu không biết đặt đời mình vào sự sống thiêng thánh, không sống những giá trị trời cao, không giải thoát mình bằng những chân lý tinh thần ngàn đời của nhân loại, trong đó có vô số chân lý thuộc về Tin Mừng Chúa Kitô, thuộc về HộI Thánh của Người, nhân loại chỉ là một thứ sản phẩm của sự chết. Thực tế, cái chết mà nhân loại hứng chịu trong thế giới hôm nay không phải ít: Chẳng hạn, chủ nghĩa tương đối đang xông lên mạnh mẽ. Bởi chỉ là tương đối, không một chút ảnh hưởng tuyệt đối, xa vắng đến vô cùng niềm tin vào tuyệt đối, người ta mất phương hướng cho đời mình. Người ta chao đảo, trở nên cay đắng, thủ đoạn, tù túng, lao đao, độc ác, vô lương tâm, vô nhân đạo, duy hình thức, sống hời hợt, thác loạn, điên cuồng…
Chủ nghĩa tương đối, sinh ra một thứ chủ nghĩa khác còn tệ hơn: chủ nghĩa cá nhân. Mọi tương quan, mọi hiện diện, mọi sự thật bên ngoài mình đều không có giá trị. Chỉ có cá nhân mình là quang trọng. Cái nguy hiểm của cá nhân chủ nghĩa đó là dám triệt hạ tất cả những gì không phải là mình, để chỉ còn lại mình, chỉ có mình.
Như vậy đã rõ: Lòng ái một những sự trên trời sẽ đưa nhân loại tiến về tuyệt đối. Giết chết niềm ái mộ này, nhân loại tự đâm vào tim mình. Họ bị khuất phục bởi nhiều thứ nô lệ tàn nhẫn. Thật trớ trêu đến tận cùng và mỉa mai đau đớn cho nhân loại, đó là khi chối từ tùng phục quyền bính của Thiên Chúa, lập tức, họ phải kề vai gánh lấy không biết bao nhiêu thứ quyền bính thấp hèn, chèn ép, khó khăn, đòi hỏi, tủi nhục… Cũng chỉ Bởi loài người không thể đứng tự lập, trơ trọi, vì thế họ luôn luôn cần có một cái gì để bám. Không bám vào Thiên Chúa, họ lập tức nô lệ cho mọi thứ tầm thường khác. Bởi chỉ có nó là chỗ bám duy nhất, sau khi đã từ chối Thiên Chúa.
“The Da Vinci Code” sai lầm trong chọn lựa của mình khi dám một mình đứng đối nghịch lại cả một khối chân lý ngàn đời. Đó là bài học cho ta, bài học đáng giá ngàn vàng cho mọi Kitô hữu: Đi xa Thiên Chúa, loài người sẽ chới với. Sự chới với ấy dễ làm con người thác loạn, mất bình an, mất mọi trật tự nội tâm.
Như vậy, xét cho cùng “The Da Vinci Code” vẫn có lợi cho đức tin của Kitô hữu. Bởi qua hội chứng của cái đói chân lý này, Người Kitô hữu củng cố chính đức tin của mình bằng cách, từ nay không ngừng hướng về lý tưởng trời cao, để khi ái mộ những sự trên trời, họ sẽ lớn lên trong đức tin của mình, lớn lên đến không ngờ.
Lạy Chúa Giêsu, Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả, những thói đời đen tối không cản bước chúng con tiến về trời cao. Nhưng ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, chúng con biết biểu lộ tình trời dành cho trần thế. Xin cho lòng ái một trời cao của mỗi chúng con, sẽ chứng minh và làm tỏ hiện cho mọi người về một vương quốc vĩnh cửu: Nước Trời.
Lm. VŨ XUÂN HẠNH

 
 

LênTrời-187: NGƯỠNG MỘ VỀ TRỜI

Là những người Việt Nam xa quê hương, hầu như ai cũng một lần muốn về nhìn lại giải đất thân: LênTrời-187

Là những người Việt Nam xa quê hương, hầu như ai cũng một lần muốn về nhìn lại giải đất thân yêu nơi đó mình đã sinh ra, lớn lên, và đã có biết bao kỷ niệm. Thăm lại cha mẹ già. Thăm lại anh, chị, em, con, cháu, và những bạn hữu xa gần. Thăm lại ngôi trường xưa. Thăm lại ngôi thánh đường mà mình đã được rửa tội, xưng tội và rước lễ lần đầu. Và còn nhiều nhiều nữa, những nơi mà mình đã đi qua, đã để lại nhiều kỷ niệm mà chỉ có mình mới biết. Về để ăn những món ăn quê hương. Về để thở làn khí quê hương. Về để hưởng làn gió mát quê hương. Về để nghe lại tiếng nói quê hương. Những cái đã làm cho ta trở thành một người Việt Nam. Những cái mà chỉ có người Việt Nam chúng ta mới cảm và mới sung sướng, mới bồi hồi xúc động mỗi khi nghĩ tới nó.
Có lẽ Chúa Giêsu cũng có cùng một tâm sự như chúng ta khi Ngài về lại nơi mà Ngài đã xuất phát. Nơi mà từ đời đời Ngài đã hạnh phúc bên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ở đó, Ngài cũng được gặp lại các thần thánh, các tâm hồn mà Ngài đã cứu chuộc cho bằng Giá Máu của Ngài đổ ra trên thập giá, cho đến lúc đó và mãi sau này. Và trong tâm tình của một ngưòi xa xứ, chắc chắn Ngài cũng bồi hồi và xúc động chờ đợi giây phút khởi hành. Thánh Kinh kể lại Ngài về trời giữa sự bịn rịn và cảm động của các Tông Đồ: “Người được cất lên trước mặt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông. Đang khi các ông còn ngước mắt lên trời nhìn theo Người đang đi xa, thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời” (Act 1: 9-11).
Nếu để ý, chúng ta nhận ra điều này, Chúa Giêsu sẽ trở lại cùng một thể thức như lúc Người được đưa về trời. Có nghĩa là sẽ có một ngày “Người sẽ trở lại trong vinh quang” và đó cũng là điều mà mọi Kitô hữu chúng ta tin và mong đợi. Niềm tin đó, niềm mong đợi đó hợp với những gì Chúa Giêsu đã nói khi còn ở với các môn đệ, là Ngài đi “để dọn chỗ” cho chúng ta. Và khi Người trở lại là để đem chúng ta về với Người.
“Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Lời này nhắc nhở chúng ta rằng: Nhìn trời không thôi thì có ích gì? Bắt tay vào việc đi chứ. Làm sao cho được lên đó với Chúa mới là điều cần thiết chứ? Thấy trời đẹp. Thấy Chúa về trời hạnh phúc quá, nhưng chỉ đứng đó mà nhìn thì được cái gì? Và Giáo Hội dậy chúng ta: “Thứ Năm thì ngắm Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”.
Ái mộ những sự trên trời là điều đầu tiên chúng ta phải làm. Tại sao chỉ ái mộ thôi mà không xin cho được lên trời, hay xin cho được xem thấy trời. Vì lòng ái mộ ở đây bao gồm yêu mến, mong đợi, và ước muốn thiết tha. Đó là những yếu tố bảo đảm hạnh phúc nước trời. Đó là những yếu tố tạo nên hạnh phúc nước trời trong lòng con người ngay khi còn ở dương thế.
Thiên Đàng hay nước trời không phải là một nơi lơ lửng ở chỗ này hay chỗ khác trên không trung. Nước trời hay Thiên Đàng là một trạng thái yên hàn, thoải mái, và bình an trong ân sủng và tình yêu Thiên Chúa. Ta bình an, yên hàn, và thoải mái với mình, với tha nhân, và với Thiên Chúa. Và ta được cảm nhận tình yêu giữa ta với than nhân, giữa ta và Thiên Chúa. Sống như vậy là chúng ta đang sống trên Thiên Đàng, là chúng ta đang ở trên Thiên Đàng. Vì “đâu có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời”, mà đâu có Đức Chúa Trời là Thiên Đàng.
Như vậy, khi lòng mình ái mộ những sự trên trời, cũng có nghĩa là yêu mến, tìm tòi, và tha thiết với tình yêu Thiên Chúa, tình yêu đối với tha nhân, và tình yêu đối với ngay cả chính mình. Trong tâm tình và lối sống ấy, chúng ta mật thiết với Thiên Chúa, rộng rãi, xót thương, và yêu mến anh chị em mình. Sống như vậy là chúng ta sống trong sự bình an của con cái Chúa. Sống với Chúa. Và sống như vậy cũng có nghĩa là sống với hạnh phúc Thiên Đàng hay ở trên Thiên Đàng.
Rồi khi đã cảm được, đã tìm được hạnh phúc Thiên Đàng, hạnh phúc nước trời, thì như Chúa Giêsu đã dậy các Tông Đồ: “Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dậy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con” (Mt 28:19-20). Có nghĩa là chúng ta phải ra đi, đem Tin Mừng ấy chia sẻ với hết mọi anh em mình. Có nghĩa là sống chứng nhân điều mình tin tưởng và mộ mến.
Trong tinh thần “các thánh cùng thông công”, Kitô hữu chúng ta nên hiểu rằng mình sẽ không lên Thiên Đàng một mình. Bởi vì trên Thiên Đàng chỉ có một mình tức là Thiên Đàng thiếu đức ái. Mà nơi thiếu đức ái là nơi không có Thiên Chúa. Và nơi không có Thiên Chúa không phải là Thiên Đàng.
Ngưỡng mộ những sự trên trời, và sau khi đã hâm mộ, tìm kiếm và chiếm hữu được, Kitô hữu chúng ta còn có bổn phận chia sẻ, hướng dẫn và giúp cho người khác cùng ngưỡng mộ, chiếm hữu, và cùng lên Thiên Đàng với chúng ta. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta phải sống đức ái thực hành. Sống trong yêu mến và kính sợ Thiên Chúa. Và như vậy, chúng ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc nước trời ngay từ đời này, và nước trời sau khi chúng ta giã từ cõi đời tạm bợ này.
T.s. Trần Quang Huy Khanh

 
 

LênTrời-188: Hạnh Phúc Nước Trời

Lễ Chúa Thăng Thiên B (20-5-2012) 
 

Thánh Benoit Joseph Labre là vị thánh đã đi ăn xin và qua đời tại Roma năm 1783. Ngày kiađi : LênTrời-188

Thánh Benoit Joseph Labre là vị thánh đã đi ăn xin và qua đời tại Roma năm 1783. Ngày kia đi thăm một người đau nặng, Ngài đã dậy cho ông ta phải biết dâng của lễ nào cho  đẹp lòng Thiên Chúa. Ngài nói  "Hãy dâng cho Chúa 3 quả tim: quả tim thứ nhất bằng lửa nghĩa là quả tim đầy tình yêu đối với Thiên Chúa; quả tim thứ hai bằng thịt, nghĩa là quả tim  đầy tình yêu  đối với tha nhân và năng hướng về cầu nguyện; quả tim thứ ba bằng đồng, nghĩa là quả tim mạnh mẽ để chống lại các khuynh hướng xấu và tội lỗi."
Câu chuyện Ba quả tim của thánh Labre nhắc lại cho chúng ta nhớ đến 5 điều rất quan trọng sau đây, là người Công Giáo, chúng ta đừng bao giờ quên 5 điều đó.  
Tốt Đẹp nhất là Thiên Chúa.
Quí Trọng nhất là Linh hồn.
Hạnh Phúc nhất là Nước trời
Cần Thiết nhất là Cầu nguyện
Xấu Xa nhất là Tội lỗi.
Lễ Chúa Giêsu lên Trời hôm nay giúp chúng ta hướng về 5 điều căn bản ở trên. Chúng ta có một Linh hồn rất quí  trọng. Không có gì thỏa mãn  được linh hồn đó ngoài trừ chính Thiên Chúa, là Đấng Tốt Đẹp vô cùng. Linh hồn  đó thiêng liêng, bất tử, là cái cốt lõi của con người. Trong khi thân xác hữu hình này kéo chúng ta xuống với những cái hữu hình của trần gian, muốn bám víu lấy những gì tạm bợ mau qua, thì Linh hồn muốn chúng ta vươn lên tới thực tại cao cả hơn đó là Nước Trời, nơi hạnh phúc hoàn toàn. Muốn được Nước Trời, con người phải Cầu nguyện để thực hành những điều Chúa muốn và tránh được tội lỗi, là nguyên cớ xa lìa Thiên Chúa, đánh mất Nước Trời.
Chính vì Thiên Chúa là  Đấng Tốt  Đẹp nhất, chính vì Nước trời là nơi hạnh phúc nhất, chính vì linh hồn con người là cái gì quí  trọng nhất, cho nên Chúa muốn chúng ta tìm cách cho người khác nhận biết Chúa, cho họ  được rỗi Linh hồn và  được hưởng Nước Trời như chúng ta.
Đoạn Phúc Âm hôm nay (Mc 16:15-20) Giáo Hội đặt trong Lễ Chúa Giêsu Lên Trời  “đánh thức” chúng ta hướng vọng về Thiên  đàng là quê hương thật của mỗi người, đồng thời cũng nhắc lại bản tính của Giáo Hội và bổn phận của mỗi người là Truyền giáo, nghĩa là chúng ta rao giảng, nói năng hoặc quan trọng hơn “sống thế nào” để cho người khác nhận biết Chúa Giêsu và cuối cùng họ cũng hưởng  được hạnh phúc Nước Trời như chúng ta.
Nước trời là quê hương thật chúng ta hướng về. Cuối cùng “mọi sự sẽ qua  đi” nhưng Thiên Chúa, Thiên Đàng, Linh hồn chúng ta sẽ còn mãi. Chúng ta dại gì mà đánh mất Thiên Chúa, ngu gì mà bỏ bê Linh hồn mình, khờ gì mà không vào Thiên Đàng. Chúng ta cũng đừng sống ích kỷ, chỉ tìm Thiên Chúa, Thiên Đàng cho riêng mình. Hãy giới thiệu cho người khác nữa, càng nhiều càng tốt, để họ cũng được Thiên Chúa và Thiên đàng như chúng ta. 
LM. Louis Hữu Độ CMC


 

LênTrời-189: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian

Sau khi hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại, sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó, Chúa Giêsu: LênTrời-189

Sau khi hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại, sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó, Chúa Giêsu về Trời trước mặt các tông đồ và các môn đệ. Rời bỏ nhân loại để về Trời với Cha, Chúa Kitô không muốn để nhân loại mồ côi hay cảm thấy dường như công việc của Ngài đối với họ đã chấm dứt. Ngài muốn sứ vụ cứu độ của Ngài vẫn được tiếp tục ở trần gian.
Ước vọng của Thiên Chúa là "mọi tạo vật" được nhận biết tình yêu của Ngài, vì vậy Ngài đã nói với các tông đồ và môn đệ trong ngày Ngài về Trời: "Hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật". Tình yêu của Chúa vô lượng định, không sót một ai. Tự ngàn xưa, Thiên Chúa đã yêu thương không phân biệt, đã cho ánh mặt trời chiếu trên cả người xấu và người tốt. Cứu chuộc loài người, Chúa muốn tái lập một thế giới chỉ có tình thương và tình thương. Ước vọng của Ngài là được con người tiếp tục chuyển tình thương đến "mọi tạo vật", không quên một ai, không sót một mảnh tâm hồn nào.
Sứ điệp Chúa Kitô chuyển trao cho các tông đồ và môn đệ trong ngày Thăng Thiên cũng là sứ điệp cho mỗi người chúng ta. Làm thế nào chúng ta có thể nối tiếp công việc cứu độ của Chúa Kitô được? Marc Donze trả lời rằng chúng ta chỉ thực hiện được điều này khi chính chúng ta trở thành một mạc khải sống động của Thiên Chúa. Mẹ Têrêxa Calcuta đã giới thiệu cách thức trở nên mạc khải sống động của Thiên Chúa qua việc hàng ngày chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, qua việc choàng vào người chiếc áo Sari cổ truyền của Ấn Độ, chia sẻ cuộc sống của người nghèo. Nhưng những hoạt động ấy không chỉ đơn thuần là hoạt động xã hội và nhân đạo mà thôi. Động lực thúc đẩy Mẹ và các nữ tu của Mẹ hoạt động chính là đức Tin được sống bởi đức Mến: "Nhìn thấy và yêu mến Chúa trong những người nghèo".
Khi chúng ta có thiện tâm muốn trở nên khí cụ rao giảng Tin Mừng: Hãy mở mắt để nhận ra hình ảnh Chúa trong mọi người, nhất là những người nghèo hèn khốn khổ; mở rộng trái tim để biết cảm thông và yêu mến; mở rộng đôi bàn tay để biết sống quảng đại và trao ban thì chúng ta trở nên một mạc khải sống động, hoạ lại công việc cứu thế của Chúa Kitô. Nhờ sống điều mình nói mà lời họ trở nên sống động, có sức hấp dẫn, khiến người nghe cảm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa nơi họ. Nhờ vậy chính cuộc sống của người nghe được biến đổi, và rồi chính họ lại loan truyền Chúa cho người khác.
Trong một lớp tiểu học, cô giáo xin các em vẽ hình hay một đồ vật nào đó mà các em cho là mình phải mang ơn nhiều và nhớ đến thường xuyên. Các em hăng hái vẽ: em thì vẽ gà quay, cà rem, em thì vẽ xe đạp hoặc đồ chơi. Có một hình vẽ đặc biệt làm cho cả cô giáo lẫn các em học sinh đều bỡ ngỡ. Đó là bức hình của em Duclas, một học sinh ít nói nhất trong lớp vì thân hình tàn tật làm em mang nhiều mặc cảm. Em đã vẽ hình một bàn tay. Cô giáo đưa hình của em lên cho cả lớp góp ý, rồi cuối cùng hỏi em Duclas và được em trả lời: "Thưa cô, đây là bàn tay của cô. Con mang ơn bàn tay của cô, và con nghĩ rằng bàn tay của Chúa chắc cũng giống như vậy, vì hằng ngày khi con vừa đến cổng trường thì cô tươi cười đón tiếp đưa tay dắt con vào lớp học. Con mang ơn bàn tay của cô vô cùng, và con mong rằng bàn tay của con cũng được giống bàn tay của cô!"
Nguyện xin Chúa Giêsu mở mắt, mở miệng và mở lòng chúng ta để cả cuộc sống yêu thương bác ái của chúng ta trở thành một phép lạ, nhờ đó mọi người nhận biết Ngài, và như vậy Tin Mừng cùa Ngài được rao giảng.
Sr. Kara Ngọc Quyên, CMR

 
 

LênTrời-190: Chúng không thuộc về thế gian

Vào đầu thập niên 1970, tại Việt Nam nổi lên phong trào nhạc đạo vào đời, nhưng có lẽ đúng: LênTrời-190

Vào đầu thập niên 1970, tại Việt Nam nổi lên phong trào nhạc đạo vào đời, nhưng có lẽ đúng hơn là đem nhạc đời du nhập vào thánh ca. Tại sao gọi như vậy? Trước đó thánh ca Việt Nam có nét trang trọng, êm đềm riêng. Sau này các nhạc sĩ bắt đầu sáng tác thánh ca theo nhịp điệu tây phương như Bolérô, Twist, Rock... và gọi đó là nhạc "đạo vào đời". Ban đầu có nhiều sáng tác mang âm điệu trẻ trung hấp dẫn, nhưng sau này nhiều nhạc sĩ sáng tác gượng ép những bản nhạc mang âm điệu y chang nhạc đời, gây nhàm chán cho thính giả. Căn tính là điều quan trọng không thể đánh mất. Đời và đạo không phải kẻ thù nhưng là hai lãnh vực khác biệt.
Trong bài Phúc Âm thánh Gioan thuật lại lời Chúa Giêsu cầu nguyện thiết tha cho các môn đệ trong những ngày cuối cùng ở thế gian. Chúa Giêsu đã dùng một chữ "thế gian" (the world) nhưng nhắm đến hai ý nghĩa: Thứ nhất, "thế gian" là nơi chốn người ta cư ngụ, làm ăn, sinh sống; thứ hai, "thế gian" là quyền lực đối chọi với sự thiện, với Thiên Chúa, với chân lý. Khi Chúa nói: "Con không xin Cha đưa chúng ra khỏi thế gian... Như Cha đã sai Con vào thế gian, con cũng sai chúng vào thế gian..." Ngài có ý nói đến ý nghĩa thứ nhất, nơi chốn. Chúa lặp lại hai lần câu: "Chúng không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian" Ngài nhắm đến ý nghĩa thứ hai, quyền lực sự dữ.
Mỗi người chúng ta khi được rửa tội lúc sơ sinh hay khi trưởng thành đã tự mình hoặc qua cha mẹ tuyên bố từ bỏ quyền lực của ma quỷ, của tội lỗi, của thế gian. Theo tu đức, chúng ta có ba kẻ thù tinh thần là ma quỷ, thế gian và xác thịt. Khi được rửa tội chúng ta trở nên phần thân thể nhiệu mầu của Đức Kitô. Chúng ta thuộc về Đức Kitô, thuộc về quyền lực của ánh sáng, của sự thiện, do đó không thuộc về thế gian, quyền lực của sự dữ. Theo lời Chúa Giêsu cầu nguyện trong Phúc Âm, thế gian là quyền lực của ma quỉ, của điều gian dối. Do đó Đức Kitô đã xin Chúa Cha gìn giữ các môn đệ chống lại ma quỉ và thánh hoá họ trong chân lý.
Sống ở thế gian mà không thuộc về thế gian là một thách đố lớn cho người Kitô hữu, vì thế gian rất hấp dẫn với những của cải vật chất, danh vọng và lạc thú. Nhiều người Kitô hữu có máu mê cờ bạc. Họ tuyên dương sòng bài casino thành "đền thánh". Họ bào chữa rằng "chơi cho vui thôi mà!" Thế nhưng "vui" mà sao cái mặt lầm lì như bị... kiết lỵ ngồi bên sòng bài thâu đêm, rồi về nhà cáu kỉnh với vợ con hoặc chồng con? "Vui" mà sao bao nhiêu gia đình mất nhà, mất tàu, mất xe, ly dị... rồi có khi đi đến chỗ tự tử? Có người bào chữa rằng tại mấy người đó không biết tự chủ. Nếu ai vào sòng bài cũng tự chủ thì các chủ sòng bài đã xập tiệm từ lâu. Các sòng bài chỉ sợ một điều là không có người tới chơi. Một khi người ta đã đến chơi, giới chủ sòng bài nắm chắc phần thắng. Có nhiều chuyện lạ xảy ra trên thế gian nhưng chưa bao giờ thấy chuyện lạ này: casino phải đóng cửa vì quá đông khách. Nếu những người đến sòng bài mà tự chủ được thì chuyện lạ này đã xảy ra từ khuya rồi!
Lm. Nguyễn Hùng

 
 

LênTrời-191: Xin cho chúng con nên một

Khi ấy Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng: "Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ trong: LênTrời-191

Khi ấy Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng: "Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ trong Cha những kẻ Cha đã ban cho Con, để chúng được nên một như Ta. Khi con con ở với chúng, con đã gìn giữ chúng trong Cha, và gìn giữ những kẻ Cha đã trao cho Con, không một ai trong chúng bị hư mất, trừ ra con người hư vong, để lời Kinh Thánh được nên trọn. Bây giờ con về cùng Cha, và Con nói những điều này khi Con còn ở dưới thế, để chúng được đầy sự vui mừng của Con trong lòng.
Con đã ban lời Cha cho chúng, và thế gian đã ghét chúng, vì chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian. Con không xin Cha đem chúng ra khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ chúng khỏi sự dữ. Xin thánh hóa chúng trong sự thật: Lời Cha là chân lý. Cũng như Cha đã sai Con vào thế gian, thì con cũng sai chúng vào thế gian và vì chúng, Con đã tự hiến để cả chúng cũng được thánh hóa trong chân ly."
Cha Joseph Burns là vị chủ chăn mới của ngôi nhà thờ nhỏ ở Kavirando, Phi Châu. Chủ nhật đầu tiên, ngài nhìn thấy một người què lết ra giữa lối đi của nhà thờ để tìm đường ra sau giờ Thánh Lễ. Một tháng sau, cha lại thấy người này xuất hiện trong nhà thờ. Sau Thánh Lễ, cha nói chuyện với anh:
 

 
- Chào anh bạn, Tôi nghĩ là đã thấy anh một lần rồi.  
- Con tên là Giuse Cabuno. Anh mỉm cười.  
- Tôi thấy hài lòng thấy anh đi nhà thờ. Nhà anh ở cách đây bao xa?  
- Con ở làng bên cạnh, cách đây 40 cây số. Cha Burns không tin. Ngài trợn mắt hỏi:  
- 40 cây số. Một người tàn tật như anh có thể lết được đoạn đường dài như vậy ư ? Con phải lết 40 cây số để đi lễ ư ?  
- Vâng, thưa cha. Con rất tiếc là không thể đi lễ mỗi tuần. Một tháng một lần là điều tối đa con có thể làm được, vì con quá mệt. Cha Burns bèn đề nghị với anh:  
- Lần sau, con cứ ở nhà. Cha sẽ qua làng con dâng Thánh Lễ, mỗi tháng một lần. Con có thể dự Thánh Lễ và Rước Mình Thánh Chúa tại nhà. Có lẽ, vài người láng giềng không Công Giáo của con cũng thích đến nữa.  
Từ đó, ngôi nhà tranh nhỏ bé của Giuse trở thành một nhà nguyện. Chúa Giêsu đến ngự ở đó. Nhiều bạn bè của Giuse cũng đến tham dự. Dần dà họ xây một ngôi nhà nguyện xinh xắn và một Linh Mục được phái đến sống với họ. Hơn một lần Giuse nghĩ trong lòng rằng chính nhờ những buổi đi lễ cực nhọc ở Kavirando mà Thánh Lễ được đưa đến một nơi mới, trên thế giới.
Lời cầu nguyện trong bài Tin Mừng hôm nay: "Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ trong Cha những kẻ Cha đã ban cho Con, để chúng được nên một như Ta. Khi con con ở với chúng". Nói lên lòng khao khát của Chúa Giêsu, Ngài muốn đến với mọi người. Những người có lòng nhiệt thành trước rồi đến những người được thấy tình người. Anh Giuse Cabuno, một người tàn tật với lòng thành và với cố gắng hết lực để làm vinh danh Chúa, đã được Chúa đáp lại mối thịnh tình của anh là gửi cha Joseph Burns đến cho anh và cho nhiều người trong làng anh nữa. Anh Giuse Cabuno đã làm vinh danh Chúa, khiến Chúa đáp lại mối thịnh tình của anh. Chắc khi trở về anh đã không ngớt cầu nguyện : "Lạy Chúa, con biết Chúa có kế hoạch, có mục đích và ý định trên cuộc đời của con. Con không biết kế hoạch của Chúa thế nào, nhưng từ nay con sẽ loan báo cho các bạn bè chòm xóm của con biết rằng Chúa đã dùng tôi cho mục đích của Chúa".
Lời cầu nguyện hôm nay Chúa cũng nói với chúng ta về việc cầu nguyện. Có nhiều cách cầu nguyện:
 

 
- Cầu nguyện riêng một mình như anh Giuse Cabuno với hy sinh của anh.  
- Cầu nguyện theo nhóm trong gia đình, trong lớp học, trong hội đoàn...  
- Cầu nguyện cộng đoàn như nhà thờ xóm đạo.  
Chúa cũng cầu nguyện bàng 3 cách này: Ngài lên núi một mình suốt đêm Ngài cầu nguyện với Chúa Cha (Lc.6:12). Ngài cũng đưa Phêrô, Giacobê, Gioan đi cầu nguyện với nhóm (Lc.9:28). Và theo thường lệ Chúa vào trong Hội Đường ngày Sabath để cùng dân chúng cầu nguyện (Lc.4:16). Vì thế không lạ, nhóm các môn đệ cùng đã cầu nguyện dưới 3 hình thức này: Phêrô cầu nguyện một mình trên mái nhà (Cv 10:9). Rồi chia thành nhóm nhỏ như bài đọc thứ nhất hôm nay. và họp thành cộng đoàn như (Cv 3:11).
Cầu nguyện riêng không theo một guôn mẫu, nhưng với lời đơn sơ của mình nói với Chúa như cảm nhận được Chúa ở gần như bạn. Cầu nguyện chung nhóm pha lẫn cả hai hình thức cầu nguyện riêng và cầu nguyện chung. Cách tốt nhất cũng là lời lẽ của chính mình. Lời cầu nguyện từ trái tim chứ không nại vào bài vở. Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết cầu nguyện.
Lm. Thu Băng, CMC

 
 

LênTrời-192:  Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế

Bài Tin Mừng hôm nay của thánh Mathêu nói lên tâm trạng của Thầy trò trước khi rời bỏ nhau: LênTrời-192 

Bài Tin Mừng hôm nay của thánh Mathêu nói lên tâm trạng của Thầy trò trước khi rời bỏ nhau. Một tâm trạng vui mừng, buồn phiền, lo lắng, bâng quơ...... Vui mừng vì được chứng kiến một cuộc chiến thắng của Chúa về tội lỗi và sự chết. Thầy về trời là dấu hiệu báo cho ta biết: chết không phải là hết, nhưng là để về cùng Chúa Cha. Buồn phiền ngơ ngác vì phải lìa xa Thầy. Lo lắng buồn phiền vì phải mang một sứ vụ Chúa trối cho: Hãy đi rao giảng khắp muôn dân. Biết rằng các ông lo lắng nên Chúa nói vuốt mấy lời an ủi: Các con đừng buồi phiền, lo lắng, Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.
Chuyện kể rằng: Khi Chúa về trời thì các Thiên Thần ra đón rước. Gabriel thưa: "Sao cha trở về sớm vấy, mới có 3 năm giảng đạo thôi ?" Chúa trả lời: "Đáng lẽ Ta ơ lại lâu hơn, nhưng vì người ta khủng bố Ta, bắt Ta, rồi đóng đanh Ta vào thập giá". Thiên Thần thưa: "Vậy là ngài thất bại rồi". Chúa đáp: "Không phải thế. Ta đã kêu gọi được một nhóm môn đệ để truyền lệnh thực thi điều Ta muốn rồi, nhưng họ hành động diệt Ta ngay từ đầu để khỏi có họa. Nhưng họ không ngờ Ta đã có kế họach mầu nhiệm mà họ không hay là sẽ bí nhiệm ở cùng các môn đệ mọi ngày cho đến tận thế, ở bằng cách đó thì họ chịu thua"..
Ngài đã biết trước là họ sẽ gặp nhiều khó khăn, nên ở cùng họ cách bí nhiệm, hỗ trợ bằng tinh thần. Lễ về trời của Chúa thực là có ý nghĩa. Giáo Hội ngày gặp nhiều khó khăn thì Chúa lại càng hỗ trợ nhiều hơn và Giáo Hội vượt qua được những thử thách đó lại càng tự tin hơn. Tin vào lời Chúa hứa: Ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.
Lm. Thu Băng, CMC

 
 

LênTrời-193:  Thày đi nhưng sẽ trở lại… Thày sống các con cũng sống

Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên được Giáo Hội cử hành sau Lễ Phục Sinh 40 ngày, tức bao giờ cũng: LênTrời-193 

Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên được Giáo Hội cử hành sau Lễ Phục Sinh 40 ngày, tức bao giờ cũng vào Ngày Thứ Năm của tuần Thứ Sáu Phục Sinh. Tuy nhiên, vì nhu cầu, có những lúc Giáo Hội địa phương cử hành Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên vào Chúa Nhật VII Phục Sinh, Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Phục Sinh trước khi bước sang Mùa Thường Niên Hậu Phục Sinh, một mùa phụng vụ được mở màn với Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, thời điểm sau Lễ Phục Sinh 50 ngày. Dầu sao, nếu đọc kỹ ba bài Phúc Âm của Chúa Nhật VII Phục Sinh cả ba chu kỳ A, B và C, chúng ta thấy bài nào cũng đề cập đến sự kiện Thày trò phân ly. Phúc Âm Năm A: “Con không còn ở thế gian nữa, song những người này còn ở thế gian khi Con về cùng Cha”. Phúc Âm Năm B: “Con không xin Cha mang họ ra khỏi thế gian, nhưng chỉ xin Cha gìn giữ khỏi tên gian ác”. Phúc Âm Năm C: “Tất cả những ai Cha đã ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu thì họ cũng ở đó”.
Nơi ba bài Phúc Âm cho chính Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, chúng ta chẳng những thấy lần cuối cùng Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ của Người, lần hiện ra lên trời của Người, mà còn thấy được mối liên hệ linh thiêng của Thày trò không phải vì biến cố lên trời của Người mà bị đứt đoạn. Phúc Âm Thánh Mathêu năm A cho thấy: “Thày đã được toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy các con hãy đi tuyển mộ môn đồ khắp các dân nước, và rửa tội cho họ… cùng dạy họ thi hành biết những gì Thày đã truyền cho các con. Các con hãy biết rằng Thày luôn mãi ở cùng các con cho đến tận thế”. Phúc Âm Thánh Marcô năm B: “’Các con hãy đi khắp thế giới loan báo tin mưn#ng cho tất cả mọi tạo vật…’ Thế rồi, sau khi nói với các vị, Chúa Giêsu được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa. Nhóm Mười Một Vị ra đi rao giảng khắp nơi. Chúa tiếp tục hoạt động với các vị và chứng thực sứ điệp các vị rao giảng bằng những dấu lạ kèm theo”. Phúc Âm năm C: “Các con là chứng nhân về tất cả những điều này. Này Thày sai xuống trên các con những gì Cha hứa. Các con hãy ở lại thành này cho đến khi các con mặc lấy quyền lực từ trên cao. Đoạn Người dẫn các vị ra gần Bêthania, và giơ tay lên ban phép lành cho các vị. Khi Người ban phép lành thì Người rời các vị mà được cất lên trời”.
Như thế, qua ba bài Phúc Âm của Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, chúng ta thấy được cả một chân trời mở ra chứ không phải một cánh cửa hoàn toàn đóng lại, một lịch sử hoàn toàn hoàn toàn kết thúc. Bởi vì, lý do các môn đệ còn ở lại thế gian và cần phải ở trong thế gian, một tình trạng được ba bài Phúc Âm Chúa Nhật VII Phục Sinh cho thấy, là vì các vị cần phải sinh hoa trái. Chúa Kitô là Cây Nho Thực, một cây nho chỉ sinh muôn vàn hoa trái nơi và qua các cành nho của mình là Giáo Hội nói chung và Kitô hữu nói riêng mà thôi. Việc sinh hoa trái của Cành Nho Giáo Hội cho Cây Nho Chúa Kitô đây, theo các bài Phúc Âm Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, chính là việc hình thành và phát triển Giáo Hội (Phúc Âm năm A), là hoạt động truyền bá phúc âm hóa (Phúc Âm năm B), và là việc làm chứng cho tin mừng sự sống (Phúc Âm năm C).
Thật thế, theo các bài Phúc Âm cho Chúa Nhật VII Phục Sinh, trước hết, ở năm A, các tông đồ, như Chúa Giêsu thưa cùng Cha Người, “Con đã tỏ danh Cha cho những người Cha đã ban cho Con giữa thế gian… Giờ đây họ đã nhận biết rằng tất cả những gì Cha đã ban cho Con đều từ Cha mà đến. Con đã trao phó cho họ sứ điệp Cha đã ký thác cho Con và họ đã nhận lấy. Họ đã thực sự biết rằng Con từ Cha mà đến, họ đã tin rằng chính Cha là Đấng đã sai Con”. Chính vì thế, ở Phúc Âm Lễ Thăng Thiên Năm A, các tông đồ mới có thể cùng nhau xây dựng Giáo Hội trên niềm tin tông truyền của mình, một niềm tin cũng đã được Thánh Phêrô tuyên xưng thay cho tông đồ đoàn và nhờ đó đã được Chúa Kitô sử dụng như tảng đá nền để xây dựng Giáo Hội của Người, với linh quyền nắm giữ chìa khóa Nước Trời (x Mt 16:16-19). Rồi ở Phúc Âm Chúa Nhật VII năm B, Chúa Kitô đã xin Cha Người gìn giữ các vị cho khỏi tên gian ác, thành phần Người sai đi khắp thế gian, để chẳng những loan báo tin mừng cho mọi tạo vật mà còn để khu trừ ma quỉ và làm chủ sự dữ, những sự dữ được bài Phúc Âm Lễ Thăng Thiên năm B đề cập tới qua hình ảnh rắn rết và độc dược. Ở bài Phúc Âm Chúa Nhật VII Phục Sinh năm C, nếu Chúa Giêsu đề cập tới việc các môn đệ “Con sống trong họ, Cha sống trong Con… để thế gian tin rằng Cha đã sai Con và Cha đã yêu họ như đã yêu Con”, thì ở bài Phúc Âm Lễ Thăng Thiên cùng năm C, Chúa Giêsu đã truyền dạy các vị phải trở thành những chứng nhân của Người và cho Người, những thừa tác viên của lòng nhân hậu Người, một chi tiết đã được Chúa Giêsu nhắc đến trong bài Phúc Âm Thánh Luca về việc rao giảng sự thống hối để được ơn tha thứ.
Như thế, theo những gì vừa được nhận định và phân tách trên đây, ý nghĩa của bài Phúc Âm Lễ Thăng Thiên của cả 3 chu kỳ rất hợp với chiều hướng của bài Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật VII Phục Sinh của cả ba chu kỳ A, B và C, bài Phúc Âm về Lời Nguyện Hiến Tế kết thúc Bữa Tiệc Ly của Chúa Kitô với các môn đệ của Người. Lời Nguyện Hiến Tế này được Giáo Hội chia thành ba đoạn đều nhau, đoạn đầu cho vào Phúc Âm của chu kỳ năm A, đoạn thân cho năm B và đoạn kết cho năm C.
Nhưng riêng chu kỳ năm B, nếu xét đến chủ đề Chúa Kitô Phục Sinh là “sự sống” cho bốn tuần lễ cuối của Mùa Phục Sinh, thì câu cuối cùng Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm đã cho chúng ta thấy điều ấy: “Vì họ mà Con tự thánh hiến để họ được thánh hóa trong chân lý”. “Được thánh hóa trong chân lý” đây là gì, nếu không phải “được sự sống và là một sự sống viên trọn” (Jn 10:10). Bởi vì, sự sống đây là gì, hay sự sống thần linh đây là chi, nếu không phải như Chúa Giêsu đã định nghĩa ở đầu bài Phúc Âm Chúa Nhật VII năm A, “sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đức Giêsu Kitô Cha sai”. Nếu “được thánh hóa trong chân lý” tức là và chính là “nhận biết” Thần Linh, thì quả thực con người chỉ có thể nhận biết, hay chỉ có thể được sự sống nhờ và bởi cuộc “tự thánh hiến” của Chúa Giêsu Kitô mà thôi. Tại sao? Tại vì nhờ cuộc Vượt Qua này, hay nhờ việc tỏ hết mình ra này của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô, con người mới nhận thực Chúa Giêsu là ai, từ đâu đến, nhờ đó họ cũng mới nhận biết cả Cha là Đấng đã sai Người.
Nếu Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô phát sinh sự sống thần linh, sự sống trường sinh nơi thành phần tin tưởng ở khắp mọi nơi và mọi thời thì Cuộc Vượt Qua không phải chỉ là một biến cố thuần túy lịch sử, một biến cố sẽ qua đi như tất cả mọi biến cố lịch sử khác, mà là một Biến Cố Thần Linh, biến cố bất biến, biến cố siêu thời không, biến cố có tác dụng hiện thực. Đó là lý do, như Thánh Phaolô diễn tả trong Thư 1 gửi giáo đoàn Côrintô, “trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh, sau khi tạ ơn, bẻ ra mà phán ‘Này là mình Thày hiến cho các con. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thày’” (11:23-24). Chính vì biến cố Vượt Qua là một Biến Cố Thần Linh bất biến và ban sự sống trường sinh mà Giáo Hội cần phải cử hành bằng phụng vụ.
Đúng thế, con người lãnh nhận sự sống của Chúa Kitô nhờ Giáo Hội và qua phụng vụ, trước hết là qua phép rửa. Để rồi, sự sống thần linh được lãnh nhận qua phép rửa ấy sẽ được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, được phục hồi nơi Bí Tích Hòa Giải, và được trưởng thành với Bí Tích Thêm Sức. Cây Nho Thần Linh, trước hết và trên hết, thông ban nhựa sống thần linh cho Cành Nho Giáo Hội qua các Bí Tích. Đó là lý do, kinh nghiệm sống đạo cho thấy cành nho Kitô hữu nào không dính liền với Thân Nho, tức không chịu hay không năng xưng tội rước lễ, họ chắc chắn trở thành những cành nho khô khan nguội lạnh, chẳng những dễ dàng phạm tội mà còn dễ bị gẫy gục khi gặp thử thách khốn khó.
Thế nhưng, thực tế tu đức cũng cho thấy cành nho Kitô hữu nào nhờ tác dụng thần linh của phụng vụ trở thành cành nho sai trái, sai trái nhân đức, sai trái nội tâm, để nhờ đó có đủ sức chịu đựng những tỉa cắt nhức buốt nhất của Vị Trồng Nho, chịu đựng những cơn thử thách kinh hoàng, đến nỗi làm cho họ có lúc cảm thấy mình hoàn toàn bị tách lìa khỏi thân nho, bằng những hồ nghi đủ thứ, bằng nỗi buồn sầu của Vườn Cây Dầu đến chết được (x Mt 26:38), nhất là bị rơi vào tâm trạng tận tuyệt Thập Giá (x Mt 27:46), trống rỗng mung lung như bị đầy xuống âm phủ. Thế nhưng, linh hồn nhân đức nào, cành nho sai trái nào chịu được những tỉa cắt tối ư quan thiết bất khả châm chước đầy đoạn trường này, họ mới “càng sai trái hơn” (Jn 15:2), ở chỗ họ được thực sự nên giống hình ảnh Con Thiên Chúa (x Rm 8:29), được tái sinh bởi nước và Thần Linh (x Jn 3:5), để có thể hoàn toàn “mặc lấy con người mới” (2Cor 5:17), một con người luôn sống động theo Phúc Âm Chúa Kitô và tác hành theo Tinh Thần Chúa Kitô.
Vâng, cành nho sai trái hơn đây chính là cành nho Kitô hữu sống tinh thần Chúa Kitô, là chính cành nho chứng nhân trung thực và sống động của Chúa Kitô. Chính tinh thần Chúa Kitô nơi con người Kitô hữu chứng thực họ nên một với Chúa Kitô, và Chúa Kitô thực sự sống trong họ, sống trong họ bằng Thần Linh của Người, Vị được Người thông ban cho các tông đồ sau khi Người từ trong kẻ chết sống lại (x Jn 20:23). Đó là lý do Thánh Phaolô đã quả quyết: “Ai không có Thần Linh của Chúa Kitô thì không thuộc về Chúa Kitô” (Rm 8:9). Phải, Thần Linh của Chúa Kitô chính là Nhựa Sống được Thân Nho Chúa Kitô thông ban cho Cành Nho Giáo Hội để nhờ đó Giáo Hội có thể trổ sinh muôn vàn hoa trái cho Thân Nho, tức làm cho Công Cuộc Cứu Độ Người đã thực hiện được truyền đạt “cho tất cả mọi tạo vật” (Mk 16:15) “tới tận cùng trái đất” (Acts 1:8). Kitô hữu đã nhận lãnh Thần Linh của Chúa Kitô khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, nhờ đó, họ được trở thành chi thể, là cành nho của Chúa Kitô “Cây Nho Đích Thực” (Jn 15:1), để rồi Vị Thần Linh này đã trở thành “Quyền Lực từ trên cao” ban cho họ khi họ lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức, để nhờ đó họ có thể cùng với Ngài và nhờ Ngài (x Jn 15:26-27) làm “những chứng nhân cho Thày” (Acts 1:8; Lk 24:48), trở thành những cành nho “trổ sinh muôn vàn hoa trái” (Jn 15:5).
Đó là lý do, dù về trời, Chúa Kitô vẫn tiếp tục sống trong Giáo Hội, vẫn ở cùng Giáo Hội luôn mãi cho đến tận thế (x Mt 28:20), nhờ Thánh Linh Người đã từ Cha sai đến (x Jn 15:26) vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, ngày lễ hoa trái của Do Thái Giáo sau 50 ngày họ cử hành biến cố vượt qua của họ, cũng là Ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống của Kitô giáo, một biến cố Hiện Xuống mở màn cho một Mùa Xuân Gieo Tin Mừng Cứu Độ của Giáo Hội bằng công cuộc truyền bá phúc âm hóa để làm canh tân bộ mặt trái đất.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 
 

LênTrời-194: CÙNG Ở LẠI TRONG THÀNH

Khi Ngôn Sứ Êlia sắp được về Trời, thì môn đệ Êlisa không muốn xa thầy. Ông Êlia nói với: LênTrời-194

Khi Ngôn Sứ Êlia sắp được về Trời, thì môn đệ Êlisa không muốn xa thầy. Ông Êlia nói với ông Êlisa: “Xin anh ở lại đây, vì Đức Chúa sai thầy đến Bết Ên.” Nhưng ông Êlisa thưa: “Có Đức Chúa hằng sống và có thầy đang sống đây, con xin thề sẽ không bỏ thầy.” Rồi các ông đi xuống Bết Ên. Các anh em ngôn sứ ở Bết Ên ra gặp ông Êlisa và nói: “Ông có biết không, hôm nay Đức Chúa sẽ đem thầy của ông lên cao ngay trên đầu ông ?” Ông nói: “Tôi cũng biết chứ, im đi !”
Hành trình của hai ông Êlia và Êlisa tiếp tục đến Giêrikhô, rồi Giođan, sự kiện lập lại y như ở Bêt Ên. Ông Êlia bảo ông Êlisa ở lại, nhưng môn đệ Êlisa vẫn không chấp nhận, kể cả các anh em ngôn sứ sở tại cũng khuyên nhủ ông Êlisa hãy thuận theo.
Sau khi dẫn ông Êlisa qua sông Giođan, ông Êlia nói với ông Êlisa: “Anh cứ xin đi: thầy có thể làm gì cho anh, trước khi thầy được đem đi, rời xa anh ?” Ông Êlisa nói: “Xin cho con được hai phần thần khí của thầy !” Ông Êlia đáp: “Anh xin một điều khó đấy ! Nếu anh thấy thầy khi thầy được đem đi, rời xa anh, thì sẽ được như thế; bằng không, thì không được.” Các ông còn đang vừa đi vừa nói, thì này một cỗ xe đỏ như lửa và những con ngựa đỏ như lửa tách hai ông ra. Và ông Êlia lên Trời trong cơn gió lốc. Thấy thế, ông Êlisa kêu lên: “Cha ơi ! Cha ơi ! Hỡi chiến xa và chiến mã của Israel !” Rồi ông không thấy thầy mình nữa. Ông túm lấy áo mình và xé ra làm hai mảnh. Ông lượm lấy áo choàng của ông Êlia rơi xuống. Ông trở về và đứng bên bờ sông Giođan ( 2V 2, 1 – 13 ).
Sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại Chúa Giêsu thăng thiên. “Chúa Giêsu được cất lên trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” ( Cv 1, 9 ).
Còn trong trình thuật Tin Mừng thánh Luca, Chúa Giêsu lên trời trước mặt các môn đệ một cách đơn sơ. Không cầu kỳ và bi thảm chia ly như Ngôn Sứ Êlia với đệ tử Êlisa. Tuy nhiên, cả hai cuộc về trời đều có nhiều điểm tương đồng và dị biệt đầy ý nghĩa.
“Sau đó, Người dẫn các ông đến gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời các ông và được đem lên trời. Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” ( Lc 24, 50 – 53 ).
Chứng nhân và đi gieo
Không âu sầu, đau đớn như Ngôn Sứ Êlisa tiễn biệt Ngôn Sứ Êlia, các Tông Đồ đã canh tân, lột xác thật sự, không còn u buồn, sầu não trước cảnh biệt ly, mà thật sự bình an, khi chiêm ngưỡng Chúa Giêsu thăng thiên. Không hoành tráng cỗ xe đỏ như lửa và những con ngựa đỏ như lửa đón Ngôn Sứ Êlia, mà chỉ có một đám mây mỏng manh, tựa như làn hương thơm quyện lấy Chúa Giêsu, cất Người lên trước mặt các Tông Đồ.
Ngày xưa, khi ra đi, Ngôn Sứ Êlia thả lại tấm áo choàng, mà trước kia Êlia đã ném lên người Êlisa, để trao ơn gọi và sứ vụ, ( 1V 19, 19 ), thì nay Êlia muốn trao lại Êlisa sức mạnh và quyền năng của Ngôn Sứ. Bây giờ, Chúa Giêsu chính thức ngỏ lời trao sứ vụ cụ thể cho các Tông Đồ, cũng như tín hữu Kitô hai nhiệm vụ chính yếu: Chứng nhân và đi gieo Tin Mừng. Để trở thành chứng nhân đích thực phải dứt khoát canh tân, lột xác, thay đổi, chuyển hóa, để có thể sống đúng theo Lời Chúa, phản ảnh chính xác chân dung Người, hầu không làm méo mó, sai lệch hình ảnh của Người.
Trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô nhắc nhủ canh tân bản thân: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thật sự sống công chính và thánh thiện.” ( Ep 4, 22 – 24 )
Khi Kitô hữu đổi mới, trở về nguyên bản được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, sống công chính và thánh thiện, thì mới xứng đáng trở nên chứng nhân Đức Kitô, mới có thể nhân danh Người, đi rao giảng cho muôn dân. Nếu bản thân không canh tân, đổi mới, thì chẳng có thể thuyết phục được ai để kêu gọi sám hối, hầu được ơn tha tội. Như thế canh tân là điều kiện tiên quyết và thiết yếu của sứ vụ “Đi gieo Tin Mừng”. Do vậy, tín hữu Kitô không chỉ canh tân bản thân để được hưởng ơn Cứu Độ, mà còn có bổn phận và nghĩa vụ với tha nhân, quen biết, xa lạ, hay thù địch, cùng đưa họ về với Lòng Thương Xót của Chúa. Đó chính là mệnh lệnh của Thiên Chúa Tình Yêu.

 
 

LênTrời-195: RAO GIẢNG VIỆC SÁM HỐI

Chúa Giêsu đã về Trời. Người hoàn thành sứ mạng cứu rỗi nhân loại bằng chính cái chết và phục : LênTrời-195

Chúa Giêsu đã về Trời. Người hoàn thành sứ mạng cứu rỗi nhân loại bằng chính cái chết và phục sinh của Người. Dòng đời lữ hành của nhân loại vẫn còn tiếp diễn và vẫn còn phải được tiếp tục hưởng nhờ ơn cứu rỗi của Chúa. Vì thế sứ mạng cứu rỗi nhân loại được chuyển giao cho Hội Thánh của Người, dưới nguồn trợ lực của Chúa Thánh Thần.
Sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh là sứ mạng của mỗi tín hữu. “Như đã ghi chép là Đức Kitô phải chịu khổ hình và ngày thứ ba từ cõi chết sống lại; và nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem. Các con là nhân chứng những sự việc ấy” ( Lc 24, 46 – 47 ).
“Các con là nhân chứng những việc ấy”: các con phải làm chứng về một Chúa Giêsu tử nạn vì tội lỗi nhân loại, làm chứng về một Chúa Giêsu Phục Sinh để ai tin vào Người cũng sẽ được Phục Sinh trong sự sống vĩnh cửu, viên mãn.
Như vậy Lời Chúa hôm nay đề cập đến “Chúa đã chết để chuộc tội” và “Phục sinh để người tin và sám hối được cứu rỗi”. “Sám hối để được ơn tha tội” là nội dung chính của sứ điệp truyền giáo trong lễ Chúa Lên Trời hôm nay.
Nhìn vào thế giới hôm nay: tiêu chuẩn luân thường đạo lý đảo lộn, bờ mê bến giác cũng chẳng còn ranh giới, sự thật và giả dối có chung một thân xác, một mái nhà, thiện ác, tối sáng cứ quấn quít lấy nhau… làm cho con người gần như mất đi cảm thức về tội. Có những tội to đùng như núi, mà người phạm tội cứ nhởn nhơ phè phỡn như chẳng có tội gì. Càng có chức quyền càng gắn liền với ý đồ phạm tội cách công khai mà chẳng ai làm gì nhau được. Cuối cùng là tự cho mình cái quyền phạm tội, hoặc quyền tự tha tội cho mình. Tội từ cấp trên xuống cấp dưới, tội tràn lan ra xã hội, xuống tận tới dân đen. Dễ hiểu thôi, thượng bất chính, hạ tắc loạn. Lớn làm được, thì nhỏ cũng làm được chứ ? Bao gương mù gương xấu cho cả một thế hệ hậu duệ…
Thật tội nghiệp cho chúng ta, các tín hữu bây giờ phải truyền giáo trong thời đại của những kẻ mắc bệnh tuyên truyền sự giả dối. Người mắc bệnh tuyên truyền lúc nào cũng nghĩ người khác tuyên truyền và sợ mình bị tuyên truyền. Người nói dối bao giờ cũng nghĩ người khác nói dối. Người sống trong giả dối bao giờ cũng nghĩ người khác giả dối như mình. Khi thấy nơi này, nơi kia có nhiều người gia nhập Hội Thánh Công Giáo, thì họ cho là chúng ta tuyên truyền thành công. Họ tự mặc định cho việc “loan báo Tin Mừng, rao giảng sự sám hối, ơn tha tội” như là việc tuyên truyền sự giả dối mà họ đã từng làm.
Khi thấy một ngôi Nhà Thờ mới được xây dựng, một lễ nghi tôn giáo được tổ chức rầm rộ hoành tráng thì họ muốn chúng ta hiểu rằng đó là nhờ ơn của quyền lực thế gian ! Họ chưa nhận ra được sự kỳ diệu của Chúa Thánh Thần. Họ chưa mở mắt, mở tai ra mà đón nhận sự thật. Dễ nản quá, nhưng hãy vững tin: “Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”
Làm thế nào để rao giảng việc sám hối cho người không biết mình có tội, không nhận mình có tội ? Làm thế nào để rao giảng việc sám hối cho các cấp lãnh đạo chóp bu trong xã hội, những người cần làm gương sám hối trước tiên ?
Chính phủ nào, đất nước nào rồi cũng thế, khi đã nắm quyền lực xã hội trong tay rồi, thì nghĩ rằng mình phải là người nói người khác nghe, mình không phải là người nghe người khác nói. Càng tồi tệ hơn khi những người chống Thiên Chúa nắm chính quyền, thì việc nói về Chúa cho chính phủ ấy nghe quả là một thách đố cho Hội Thánh. Trong tình thế ấy, thiết nghĩ việc truyền giáo của Người Công Giáo Việt Nam đương thời chính là:
- Liên lỉ, sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Thần, vì chỉ có Ngài mới có đủ sức tác động làm mềm dịu những khối óc khô cứng, làm rung động những trái tim hóa đá, chai lì, làm biến đổi những tâm hồn vô ơn vô cảm như “con chim hay nói, nó nói tào lao, không có đứa nào, dạy cho tao nói” thành tâm hồn biết ơn chính Đấng đã tác dựng nên mình.
- Canh tân đời sống Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến đến mức tối đa từ mỗi cá nhân tín hữu, đến gia đình, Giáo Xứ, và cả Giáo Hội mới đủ sức thuyết phục một xã hội đang nghiêng hẳn về phía văn minh tha hóa, văn minh trần tục, văn minh sự chết.
- Xây dựng tình gắn bó, hiệp thông vững chắc trong Hội Thánh Chúa mà bảo vệ những giá trị thiêng liêng của chính đạo: bảo vệ sự sống, tôn trọng nhân quyền, bênh vực công lý. Bao lâu còn cảnh “ông nói gà, bà nói vịt” trong Hội Thánh, thì bấy lâu còn cho thấy dấu hiệu của căn bệnh kiêu ngạo, cửa quyền, có thể là cấp tính mà trầm kha, nguy hiểm. Căn bệnh ấy làm suy nhược cơ thể Hội Thánh, không còn đủ sức để truyền giáo hay rao giảng gì cho ai !
- Xác tín vững chắc sức mạnh của Lời Chúa có sức biến đổi mọi sự. Xác tín Lời đau khổ và phục sinh của Chúa Giêsu có sức làm cho mọi tạo vật trở nên mới trong Ngài, để không nản lòng lùi bước trước những thách đố có thể nói là quá lớn đối với sức chịu đựng của con người. Hãy vững vàng xác tín như Thánh Phaolô, nhà truyền giáo vĩ đại: “Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài, và là sự sung mãn của Đấng chu toàn mọi sự trong mọi người” ( Ep 1, 23 ).
- Xác tín vững chắc vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần, kiên tâm “ở lại trong thành”, trong phút kết hiệp huyền nhiệm khi cử hành Bí Tích Thánh Thể, khi rước lấy Thánh Thể Chúa, kết hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa để nhận lấy quyền lực của Chúa Thánh Thần, như Chúa đã căn dặn: “Thầy sẽ sai đến với các con Đấng Cha Thầy đã hứa; vậy các con hãy ở lại trong thành cho đến khi mặc lấy quyền lực từ trên cao ban xuống”.
- Xác tín ý nghĩa việc truyền giáo tại đất nước này: không phải là “khôi phục lại một đất nước” theo nghĩa chính trị, như các Tông Đồ vẫn mơ hồ: “Lạy Thầy, có phải đã đến lúc Thầy khôi phục Nước Israel chăng ?”, những là khôi phục lại những tâm hồn cho Thiên Chúa, khôi phục lại cho Thiên Chúa một chỗ trong lòng con người, khôi phục lại những giá trị thuộc về Thiên Chúa, khôi phục lại danh dự, uy quyền của Thiên Chúa trong một xã hội từng loại trừ, bôi nhọ, chống báng Ngài.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi chúng con canh tân đời sống đạo đức Kitô Giáo của mình để nên nhân chứng thuyết phục cho lời rao giảng về việc sám hối và ơn tha tội của Chúa cho mọi người. Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG, 6.5.2013

 
 

LênTrời-196: CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

Cuộc về Trời của Chúa Giêsu được ghi lại trong Mc 16, 19 – 20, Lc 24, 36 – 53, Cv 1, 6 – 12, và : LênTrời-196

Cuộc về Trời của Chúa Giêsu được ghi lại trong Mc 16, 19 – 20, Lc 24, 36 – 53, Cv 1, 6 – 12, và 1Tm 3, 16. Theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu chịu đóng đinh vì tội lỗi của nhân loại, rồi chết và sống lại. Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ.
Sau khi phục sinh được 40 ngày, Chúa Giêsu gọi 11 Tông Đồ lên Núi Ôliu, ngoại thành Giêrusalem. Người ta không hoàn toàn hiểu rằng sứ vụ thiên sai của Đức Kitô mang tính tâm linh chứ không liên quan chính trị, các môn đệ hỏi Chúa Giêsu sẽ phục hồi vương quốc cho Israel hay không. Họ thất vọng vì sự đè nén của đế quốc Rôma và có thể mường tượng cảnh lật đổ đế quốc Rôma.
Chúa Giêsu trả lời: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” ( Cv 1, 7 – 8 ).
Khi Chúa Giêsu được đưa lên cao, một đám mây bao phủ che kín Ngài. Khi các môn đệ nhìn theo hút Chúa Giêsu lên Trời, hai Thiên thần mặc áo trắng đứng bên cạnh họ và hỏi: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên Trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên Trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên Trời” ( Cv 1, 11 ).
Lúc đó, các môn đệ trở lại Giêrusalem rồi vào phòng mà họ vẫn tụ họp để cầu nguyện. Có những điểm thú vị từ việc Chúa Giêsu thăng thiên:
• Trong Kinh Thánh, đám mây thường diễn tả sức mạnh và vinh quang của Thiên Chúa, như trong sách Xuất Hành, khi cột mây dẫn đường cho dân Do Thái trong sa mạc.
• Trước đó, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ rằng sau khi Ngài lên Trời, Chúa Thánh Thần sẽ đến ban sức mạnh cho họ. Trong ngày Lễ Ngũ Tuần, họ đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong hình lưỡi lửa. Ngày nay, mỗi người được rửa tội đều được lãnh nhận Chúa Thánh Thần, chính Ngài ban ơn khôn ngoan và sức mạnh để sống đời Kitô hữu.
• Mệnh lệnh Chúa Giêsu truyền cho những người theo Ngài là làm chứng về Ngài tại Giêrusalem, Giuđê, Samari, và khắp nơi trên trái đất này. Đầu tiên, Phúc Âm được rao truyền cho người Do Thái, rồi rao truyền cho người Samari, và cho dân ngoại. Các Kitô hữu có trách nhiệm loan truyền Tin Mừng về Chúa Giêsu cho những người chưa nghe biết.
• Sứ vụ của Chúa Giêsu trên thế gian đã hoàn tất. Ngài đã trở về Trời, cũng là nơi Ngài xuất phát. Ngài đã mặc xác phàm, mãi mãi vẫn là Thiên Chúa và Con Người trong vinh quang của Ngài.
• Các Thiên Thần cho biết rằng một ngày nào đó Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang, như khi Ngài lên trời. Nhưng thay vì mơ hồ chờ ngày Ngài tái lâm, chúng ta phải bận rộn làm công việc mà Đức Kitô đã trao phó cho từng người trong chúng ta.
• Cuộc lên Trời của Chúa Giêsu là một trong các tín điều của Kitô giáo. Kinh Tin Kính của các Tông Đồ, Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicê, và Kinh Tin Kính của Thánh Athanasia đều tuyên xưng rằng Đức Kitô lên Trời và ngự bên hữu Chúa Cha.
Câu hỏi để suy tư:
Đây là một sự thật lạ lùng để nhận biết chính Thiên Chúa, trong Ngôi Thánh Thần, sống trong tôi là một tín hữu. Tôi có tận dụng tặng phẩm này để tìm hiểu thêm về Chúa Giêsu và sống vui lòng Chúa ?
TRẦM THIÊN THU, chuyển ngữ từ Christianity.about.com

 
 

LênTrời-197: ĐỪNG KHÓC !

Không có cuộc chia ly nào mà không đầy nước mắt. Nhưng cũng không thiếi những cuộc hội ngộ: LênTrời-197

Không có cuộc chia ly nào mà không đầy nước mắt. Nhưng cũng không thiếi những cuộc hội ngộ xum vầy đầy dòng lệ. Cuộc vui có lớn lao thế nào rồi cũng tàn, trong xum họp đã có mầm chia phôi. Đời đúng thật là bể khổ. Nếu cuộc sống này không có cùng đích, thì chả khác cái vòng lẩn quẩn xoay chuyển con người trong vòng tròn định lý hợp rồi lại tan, hạnh phúc đó nhưng rồi đau khổ cũng đến liền kề sau đó…
Kề cận bên Đức Giêsu 3 năm rao giảng, biết bao nhiêu biến cố vui buồn, thăng trầm của cuộc sống, hôm nay Ngài lại từ biệt các ông để về trời. Biến cố tử nạn với cuộc chia ly đầy tang thương và nước mắt như vẫn còn chưa nguôi ngoai, mặc dầu niềm vui Phục Sinh đã bừng sáng, xoa tan mọi tăm tối, thì giờ đây Ngài lại từ biệt các môn đệ về trời, hỏi thử làm sao các ông không bùi ngùi chua xót được chứ ?
Lạ lùng thay, cuộc chia tay này lại không có giọt nước mắt của đau thương hiện diện, nhưng chan chứa niềm vui và hoan hỉ: “Đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” ( Lc 24, 51 – 53 ).
Là chia ly đấy, nhưng không có nước mắt đau thương, ly biệt mà là niềm vui trào dâng hạnh phúc. Vì các ông biết chắc rằng Đức Giêsu đi về với Cha của Ngài, nhưng vẫn luôn hiện diện kề cận bên cạnh họ. Ngài lại còn ban Thánh Thần Tình Yêu đến thánh hóa và đổi mới bộ mặt trái đất. Chính niềm tin ấy đã cho các môn đệ sức sống mãnh liệt, để rồi các ông can đảm ra đi loan báo sứ điệp Tin mừng, không màng đến bản thân, sẵn sàng xả thân minh chứng tình yêu Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại.
Như vậy, mấu chốt của vấn đề chính là ở đây, hệ tại niềm tin của con người vào Thiên Chúa. Người ta tuyên tín Mầu Nhiệm Phục Sinh nhưng không sống Sự Sống Phục Sinh, không thực hành Niềm Tin Phục Sinh, cho nên nước mắt vẫn mãi là nước mắt của đau khổ, mất mát, thua thiệt… Nước mắt của sự tuyệt vọng, buồn phiền chứ không còn là nước mắt của hoan lạc nữa.
Không cần nói, ai làm người cũng có thể hiểu được rằng thế giới này đích thực là một thế giới của khổ đau và mất mát. Nơi đó, con người được huấn luyện trong gian khổ mới có thể trở thành người đích thực, và nước mắt, mồ hôi, ngay cả máu là điều kiện cần giúp con người trưởng thành. Nếu cứ chăm chú vào mớ tang thương, vòng lẩn quẩn của nhân loại, con người chẳng bao giờ có được một nụ cười. Chỉ khi nào có niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa, chỉ khi nào có tình yêu đích thực với Ngài, con người mới có thể biến đau khổ thành hoan lạc được.
Nói thì thế nhưng khó lắm, làm sao có thể cười được trong đau khổ, thất bại đây ? Làm sao trong u buồn, sầu khổ mà có thể cười được cơ chứ ? Làm sao đứng trước những cuộc chia tay ly biệt mà có thể vui vẻ cho đành ? Làm sao ? Làm sao đây ? Chỉ cần có niềm tin, chỉ cần tin thôi. Tin Thiên Chúa yêu mình. Đó chính là chía khóa mở toang mọi nỗi lo âu, sầu muộn. Hãy tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài là cha, là mẹ, là Thầy, là bạn… chăm lo cho cuộc sống của chúng ta.
Chính Ngài đã tạo dựng nên chúng ta, sống và chết cho ta, Ngài yêu thương con người đến thế, đến quên cả mạng sống của chính bản thân mình, thì làm sao Ngài có thể bỏ mặc con người cô đơn, một mình đối diện với những đau khổ ở đời được chứ. Những khó khăn vất vả mà cuộc sống mang lại, chỉ là những phương tiện để con người trưởng thành nhân bản và tâm linh, để con người có thể tuyên tín niềm tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa.
Sự sống thế gian này không trường tồn, nay còn mai mất, chóng qua và mau thay đổi, không có gì là vững chắc. Sự sống ấy đem lại hạnh phúc vụn vắn cho nhân loại, không phải là hạnh phúc vĩnh cửu. Chỉ có tình yêu và sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa mới là vĩnh cửu trường tồn và đem lại hạnh phúc bất diệt cho con người mà thôi.
Các Tông Đồ chia tay với Đức Giêsu mà hoan hỉ vui mừng cũng chính là nhận ra điều này. Các Ngài không lấy hạnh phúc thế gian làm cùng đích đời sống, nhưng lấy tình yêu và niềm tin vào Thiên Chúa làm nguồn lực sống. Và mọi vấn nạn được hóa giải…
Lạy Chúa, có không biết bao nhiêu cuộc chia ly đã xảy đến với con, cuộc chia ly nào cũng đong đầy nước mắt, cứa vào da thịt, cứa vào trái tim đến trào trụa máu. Và bao nhiêu giọt nước mắt đau khổ vì chia lìa cũng rơi xuống, thấm vào lòng đất, chìm vào biển cả… nhưng đều là những giọt nước mắt tiếc nuối những giá trị trần thế, tình yêu, sự nghiệp, danh vọng, lỗi lầm… Đã có giọt nước mắt nào đổ xuống vì quá yêu Ngài cách chân thành đâu.
Xin giúp con, mỗi khi phải rơi lệ vì chia tay ly biệt, hãy nhớ rằng không có cuộc xum vầy đoàn tụ nào vĩnh cửu trên thế giới; mỗi khi khóc vì thua thiệt, thất bại, hãy nhớ rằng không vật chất nào có giá trị trường tồn; mỗi khi đau khổ vì cơm ăn áo mặc, hãy hiểu rằng có một nguồn sự sống thần linh quí giá hơn dường nào.
Mỗi khi khóc, xin giúp con đừng khóc vì bản thân, đừng đòi hỏi những gì vượt quá giới hạn. Xin giúp con hãy khóc vì chưa yêu Chúa, hãy khóc vì đã bỏ xa con đường về Trời với Ngài… !
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 
 

LênTrời-198: BAY VỀ TRỜI CAO

CHÚA NHẬT THĂNG THIÊN
Lc 24,46-53
 

 

 Cử hành thánh lễ Thăng thiên xong, tôi ra phi trường. Chiếc Boeing chuẩn bị đưa tôi từ Anh : LênTrời-198

          Cử hành thánh lễ Thăng thiên xong, tôi ra phi trường. Chiếc Boeing chuẩn bị đưa tôi từ Anh sang Nauy. Tôi cột dây an toàn chắc chắn để máy bay cất cánh. Tôi được nhấc lên cao. Thấy máy bay rung rung khi vượt qua đám mây thứ nhất, thứ hai rồi thứ ba. Nhìn vào chiếc màn hình trước mắt. Tôi biết mình ở độ cao trên 9000m. Tôi đang ở giữa trời đây, từ dưới đất nhìn lên, tôi đang ở trên trời. trên đầu tôi không có gì, ngoại trừ không khí. Vậy thì đâu là trời? Không khí, cùng với không khí đó là trời sao? Như thế tiếng trời mà người ta thường dùng, đó chỉ là một danh từ, để chỉ một thế giới bên trên. Cao vượt hơn mặt đất. Và nếu vậy chữ trời chỉ là ngôn ngữ, để chỉ một thực tại cao vời đến vô tận.Vậy lễ Chúa Giêsu lên trời hôm nay, sẽ được lý giải thế nào? Ngài về trời, vậy trời ở đâu trong lớp không khí kéo dài đến vô tận ấy. Tin Mừng ghi lại: “Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời”.
          1- Thiên đàng là có thật. Nhưng đừng bao giờ hiểu: thiên đàng là một nơi chốn có nhà, có nước, có đất, như một địa điểm ở trên mặt đất. Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Ngài đã xuống thế làm người, không có nghĩa là Ngài đã nhảy xuống từ trời, với mọi sinh vật trong đó có con người, thì luôn bị chi phối bởi không gian và thời gian cho nên có xa gần, cao, thấp, nhanh chậm. Còn với Thiên Chúa, tất cả vũ trụ bao la này, đều ở trong bàn tay của Ngài. Và vì thế, không có thời gian hay không gian. Với Ngài, tất cả chỉ là hiện tại. Kiểu nói cho hợp với tri thức con người, là Ngài lên trời, chỉ có ý nghĩa là: Công việc của chương trình cứu chuộc của Ngài đã hoàn tất. Sự hiện diện vật chất của Ngài nơi trần gian không còn nữa, và Ngài đã ra khỏi để về nơi vô cùng. Nơi mà từ đó Ngài đã nhập thể làm người.
          2- Và đó là quê hương đích thực của con người. Ba mươi ba năm nơi trần gian, với toàn đau và khổ, toàn buồn và tủi, nhưng Chúa Giêsu đã chấp nhận tất cả, chấp nhận bằng cả trái tim yêu mến và vâng phục Chúa Cha. Ngài thừa biết, thời gian sẽ trôi, và khi trôi, nó sẽ kéo theo tất cả. Cho nên Ngài đã biết đón nhận và tận dụng tất cả mọi sự kiện, hoàn cảnh để biến nó thành lễ vật hiến dâng. Và đây là một bài học quí báu cho tất cả con người: Ai cũng chỉ sống một lần, lâu nhất là trăm năm. Vì vậy nếu ai biết bắt chước Chúa Giêsu, luôn biết tìm thánh ý Chúa, chấp nhận thi hành ý muốn ấy, dù có phải trả giá thế nào, thì rồi chắc chắn cũng sẽ được Thiên Chúa thưởng công, cho vào cõi vĩnh hạnh hạnh phúc vô biên.
          Gợi ý suy niệm:
1- Trần gian có là vĩnh cửu?
2- Có khi nào bạn nghĩ quê hương bạn là thiên đàng không?
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 
 

LênTrời-199: ANH EM HÃY ĐI THÂU NẠP MÔN ĐỒ KHẮP MUÔN DÂN

Lm. Phêrô Lê Văn Chính 
 

Cuối những tuần lễ mừng mầu nhiệm Phục sinh, Giáo hội mừng mầu nhiệm Chúa Giêsu thăng thiên: LênTrời-199

Cuối những tuần lễ mừng mầu nhiệm Phục sinh, Giáo hội mừng mầu nhiệm Chúa Giêsu thăng thiên. Mầu nhiệm Chúa thăng thiên đánh dấu thời kỳ hoạt động của Giáo hội, tiếp nối công việc cứu thế và làm chứng cho thầy Giêsu. Chúa Giêsu gặp các môn đệ của người ở núi Galilê mà người đã hẹn trước với các ông, cũng là nơi mà người đã khởi đầu sứ vụ cứu thế của mình và long trọng trao cho các ông trách vụ tiếp nối công việc rao giảng của người và làm chứng cho người.
Việc ủy thác cho các tông đồ tiếp nối công việc rao giảng của Chúa Giêsu là một việc trọng đại nên Người truyền cho các ông những lời hướng dẫn rất long trọng: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được trao cho thầy, anh em hãy đi, thâu nạp môn đệ khắp muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ giữ những điều thầy truyền cho anh em, này đây thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Để chu toàn sứ vụ cao cả này, Chúa Giêsu trao cho các môn đệ quyền bính của chính mình mà người vốn đã nhận từ Cha để họ ra đi rao giảng Tin mừng cứu độ và làm chứng cho thầy Giêsu. Sứ vụ của họ không chỉ hạn hẹp ở một góc nhỏ bé nào của phần đất do thái, nhưng là bao trùm khắp “muôn dân muôn nước” và kéo dài mãi cho “đến tận thế”. Công việc mà họ thi hành cũng chính là công việc của thầy Giêsu, là thu nạp môn đệ, để làm cho mọi người trở nên môn đệ của thầy Giêsu, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Những lời ủy nhiệm này của thầy Giêsu không chỉ dừng lại ở các tông đồ và môn đệ đầu tiên mà còn hướng đến cả những môn đệ khác nữa qua dòng thời gian mọi thời đại sẽ tin vào thầy Giêsu, những người này cũng được mời gọi cộng tác vào công việc của các tông đồ để làm chứng cho thầy Giêsu.
Việc thăng thiên của Chúa Giêsu không phải là một tấm vé để người vào nước Trời, không phải là phần thưởng cho những gì người đã làm được ở dưới đất này, nhưng việc thăng thiên của người là việc trở về với Chúa Cha, với nơi mà người vốn hằng hiển trị cùng với Chúa Cha từ đời đời vì người vốn là Ngôi Lời Thiên Chúa vĩnh cửu. Vì thế, dù thầy Giêsu không còn hiện diện hữu hình nhưng người vẫn hằng sống hiển trị trong vinh quang Thiên Chúa và hiện diện với các môn đệ một cách khác, theo một đường lối mới trong các môn đệ như lời người xác quyết người vẫn ở với các ông mọi ngày cho đến tận thế. Sự hiện diện mới này hoạt động qua sự hiện diện của Thánh Thần cũng chính là Thần khí của Cha và của Chúa Giêsu, sẽ được ban tặng cho các môn đệ để các môn đệ cũng được hiệp thông sự sống của Thiên Chúa và đón nhận sức mạnh thần linh. Chúa Giêsu cũng biết rằng hoạt động cứu độ mà người ủy thác cho các môn đệ không thể nào được thực hiện bởi sức mạnh thuần túy con người. Với sức riêng,  các môn đệ không thể nào chu toàn được công việc thu nạp muôn dân làm môn đệ cũng như làm chứng thầy Giêsu giữa muôn dân được. Các môn đệ có thể tiếp nối được công việc làm chứng cho người là vì các môn đệ sẽ được lãnh nhận Thánh Thần từ trên, Thánh Thần sẽ ở với các môn đệ, nhắc nhở các ông mọi điều người đã dạy các ông, dẫn các ông đến chân lý toàn vẹn.
Cho tới giờ phút này khi Chúa Giêsu sắp trao cho các môn đệ quyền và sứ vụ làm chứng cho người, các môn đệ vẫn còn hỏi Chúa Giêsu có phải đây là lúc thầy khôi phục lại nước Israel, một mục tiêu chính trị trần thế mà các môn đệ đang theo đuổi. Và hơn nữa, khi Chúa Giêsu được cất về trời từ giữa họ, họ còn đứng ngẩn ngơ nhìn trời cho đến khi thiên thần đến nhắc nhở: “Hỡi những người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn trời”. Lời nhắc nhở của thiên thần kéo các môn đệ trở về với thực tại của đời thường. Giờ đây các môn đệ phải sẵn sàng đón nhận Thánh Thần được ban cho họ để chu toàn công việc làm chứng cho thầy Giêsu. Điều lạ lùng đó là các tông đồ và môn đệ vốn yếu đuối nhưng đã thực sự chu toàn công việc mà Chúa Giêsu trao phó, các ngài đã làm việc thực hiệu quả đến độ cộng đoàn các môn đệ càng lúc càng có nhiều người đón nhận đức tin và lãnh phép rửa. Ngày nay, công việc làm chứng cho thầy Giêsu không dừng lại ở giai đoạn của các tông đồ và các môn đệ đầu tiên. Công việc làm chứng này vẫn còn tiếp diễn và mỗi người tín hữu cũng được mời gọi làm chứng cho thầy Giêsu bằng đời sống của mình, bằng cách giữ những lời dạy của thầy Giêsu, như lời người nhắc nhở các môn đệ: “anh em hãy dạy họ giữ những điều thầy truyền cho anh em”.
Người tín hữu nhiều khi băn khoăn không biết mình phải làm chứng như thế nào, hay nghĩ rằng việc làm chứng cho Đức Giêsu là công việc của những đấng bậc cao cả trong Giáo hội, hay việc làm chứng phải là những bài giảng hùng hồn của những người có quyền thế trong Giáo hội. Thật ra, việc làm chứng hiệu quả nhất vẫn là làm chứng bằng đời sống như lời đức cố giáo hoàng Phaolô VI vẫn nói “thế giới hôm nay cần chứng nhân hơn thầy dạy”. Người tín hữu không làm chứng cho thầy Giêsu bằng việc rao giảng với những lời hoa mỹ, nhưng bằng chứng tá đời sống khiêm nhường phục vụ yêu thương. Chính khi họ sống khiêm nhường phục vụ với công việc âm thầm của mình họ làm chứng cho Chúa. Chính khi họ giữ những lời của thầy Giêsu, họ làm chứng và rao giảng cho mọi người cách hiệu quả, bởi vì việc làm chứng này không dựa trên sự khôn ngoan hay sức mạnh người đời, nhưng là do tác động của Thánh Thần nơi họ, làm cho những công việc phục vụ âm thầm của họ có giá trị chứng tá lớn lao trước mặt mọi người. Bức thư thánh Phaolô gửi cho tín hữu Êphêsô làm cho người tín hữu hiểu hơn về đời sống chứng tá cho Chúa của người môn đệ bằng sức mạnh Thánh Thần. Chính Thánh Thần của Đức Giêsu sẽ ban cho người tín hữu được ơn khôn ngoan để hiểu biết Đức Giêsu, mở mắt tâm hồn của họ để được soi sáng để nhận thức được niềm hy vọng của lời mời gọi theo Đức Giêsu, và mọi sự phong phú vinh quang của gia nghiệp dành cho các thánh nhân là những người tin vào Đức Giêsu.
Quả thật, mừng mầu nhiệm Chúa thăng thiên đánh dấu thời gian của Giáo hội và cũng là thời gian của mỗi người tín hữu. Chúng ta được mời gọi đón nhận sức mạnh của Thánh Thần Đấng Phục sinh để làm chứng cho người bằng chính cuộc đời của mình.

 
 

LênTrời-200: VỀ TRỜI

(Tđcv 1, 1-11; Eph 1, 17-23; Mt 28, 16-20) 
 

Mừng lễ Chúa Lên Trời, Về Trời hay Thăng Thiên, ý nghĩa là Chúa Giêsu Kitô đã được cất nhắc: LênTrời-200

Mừng lễ Chúa Lên Trời, Về Trời hay Thăng Thiên, ý nghĩa là Chúa Giêsu Kitô đã được cất nhắc lên và không còn xuất hiện hiển nhiên với các tông đồ nữa. Theo kiểu nói bình dân có hình tượng đi lên, đi xuống và ngự bên phải, bên trái, để mọi người dễ hiểu. Chúa Kitô đã hoàn tất sứ mệnh tại thế: Sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy, Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng, Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa (Tđcv 1, 3). Chúa Giêsu đã xuống trần gian sinh sống trong khoảng thời gian ba mươi ba năm. Chúa ra rao giảng Tin mừng Cứu độ, chịu khổ hình thập giá, chết và sống lại. Sau khi sống lại, Chúa lưu lại trần gian một khoảng thời gian ngắn để dạy dỗ, an ủi và sai phái các tông đồ đi ra làm nhân chứng tin mừng. Rồi Chúa lên nơi đã ở trước và ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Trí khôn của chúng ta chỉ có thể hiểu được các sự kiện gắn liền với thời gian và không gian. Đôi khi chúng ta thắc mắc, lên trời là lên nơi nào và ở đâu? Xa hay gần. Bầu trời thì bao la như không cùng.
Thánh Luca, tác giả sách Tông Đồ Công Vụ làm sáng tỏ một chút: Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông và một đám mây bao phủ người khuất mắt các ông (Tđcv 1, 9). Chúa Giêsu được cất lên, mây che phủ và khuất mắt các tông đồ. Từ nay, Chúa Giêsu Phục Sinh sẽ hiện diện với các tông đồ theo thể thức khác. Chúa không còn hiện ra cách nhãn tiền để đàm đạo, dậy dỗ hoặc ăn uống với các ông như trước nữa. Chúa sẽ hiện diện linh thiêng qua các việc cử hành phụng vụ, các Bí tích và hiện diện nơi cộng đoàn dân Chúa. Chúng ta hiểu chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện với lịch sử của một dân tộc được chọn lựa. Có khởi đầu, diễn tiến và sẽ thành tựu trong thời gian và không gian. Các sự kiện lịch sử về ơn cứu độ được in ghi rất cụ thể và gắn kết với một dòng dõi, nơi một đất nước xứ sở và dưới thời một vua chúa, quan quyền.
Sứ mệnh cứu thế của Chúa Kitô đã được chuẩn bị rất lâu dài qua cả ngàn năm. Thiên Chúa Cha đã tuyển chọn một người, một gia đình sinh xôi nẩy nở thành một bộ lạc và rồi trở thành một dân tộc để chuẩn bị đón Đấng Cứu Thế. Các tiên tri đã loan báo và hướng dẫn dân chúng về Đấng Xức Dầu sẽ xuất hiện để ban ơn cứu độ giải thoát. Khi thời gian đã mãn, Thiên Chúa đã thực hiện kế hoặch của Người qua Đức Kitô. Ngài là trung gian của vũ trụ vạn vật. Đây là một biểu tỏ tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu cao siêu và linh thiêng đi vào cụ thể nơi lòng người. Một Thiên Chúa tốt lành vô cùng hạ thân làm người, gồm thiên tính và nhân tính. Chúa Giêsu đã trải nghiệm một cuộc đời như mỗi người chúng ta. Đức Kitô đã mạc khải cho chúng ta về tất cả mầu nhiệm cao siêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa vô hình và vô biên đã mạc khải mầu nhiệm Nước Trời trong cách thế và ngôn ngữ giới hạn của con người qua niềm tin tôn giáo, văn hóa, tổ chức xã hội và ý thức hệ chính trị… Chúa Kitô đã gặp gỡ con người xác phàm đầy sự yếu đuối, u mê và lầm lạc. Chúa Kitô đã phải đối xử một cách rất kiên nhẫn và nhân từ trong việc truyền rao chân lý Nước Trời.
Mầu nhiệm Nước Trời đã được gieo trồng trong thửa đất của tâm hồn con người. Tâm trí của con người không dễ dàng đón nhận những sự cao siêu trên trời vượt quá tầm trí hiểu. Chúa Giêsu đã thường lấy những hình ảnh cụ thể, thí dụ, tỉ dụ, dụ ngôn và ngụ ngôn để khải mở tâm trí con người để dẫn tới nguồn Chân, Thiện, Mỹ. Đức Kitô dùng khoảng thời gian rất ngắn để hoàn thành tất cả những lời đã được các tiên tri loan báo:  Công việc mà Chúa đã thực hiện trong Đức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời (Eph 1, 20). Chúng ta học biết Đức Kitô là con người lịch sử. Có nơi sinh và có chỗ từ trần. Ngài đã khai mở Nước Trời ban ơn cứu độ cho toàn dân. Ngài vẫn tiếp tục hiện diện với Giáo Hội dưới nhiều cách thế để ban ơn cứu độ. Đức Kitô không bị đóng khung hay giới hạn vào một niềm tin đặc thù nào, nhưng ban ơn cứu độ phổ quát cho mọi người. Ai tin vào Ngài, sẽ tìm thấy ơn cứu độ.
Khi Chúa Kitô hoàn tất sứ mệnh trên trần gian, Chúa Cha đã trao mọi quyền năng trên trời dưới đất, để mọi sự qui phục dưới chân Ngài: Chúa Giêsu tiến lại và nói với các ông rằng: Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy (Mt 28, 18). Chúng ta tin nhận Chúa Kitô là nguyên thủy và là cùng đích. Thật khó hiểu, chúng ta rơi vào giữa sự huyền nhiệm đời đời và cụ thể thực nghiệm, giữa thần thiêng và vật chất, giữa vô hạn và giới hạn. Chúng ta không thể đong đo tính đếm con đường tâm linh. Với niềm tin vào Chúa Kitô là trung gian, thân phận con người mỏng dòn được cất nhắc lên làm con Chúa và được hứa ban sự sống trường sinh. Con người có chiều sâu ước muốn đời sống tâm linh vô hạn. Ngưỡng vọng một cuộc sống vĩnh cửu. Linh hồn hiện hữu thiêng liêng không bị tiêu diệt.
Chúa Giêsu mong muốn Tin mừng cứu độ được tiếp tục truyền rao đến muôn thế hệ. Ngài đã trao phó sứ mệnh này cho các tông đồ và những người kế vị: Vậy các con hãy đi giảng dậy  muôn dân, là phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (My 28, 19). Chúa sai các tông đồ ra đi rao giảng và làm phép rửa nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa. Sau khi nhận lãnh ơn Chúa Thánh Thần vào ngày Lễ Ngũ Tuần, các tông đồ đã ra đi tản mát mỗi người một nơi để làm nhân chứng cho Chúa Kitô. Các ngài đã can đảm và không còn nhút nhát sợ sệt như trước nữa. Các ngài ra đi khắp vùng loan tin mừng cứu độ và mời gọi nhiều người trở về cùng Chúa. Các ngài đã nhiệt tâm rao giảng và dám dùng sự sống sự chết của mình để làm nhân chứng cho lời sự thật. Nhớ rằng, trước kia các tông đồ chỉ là những người chài lưới, ít học và dân giã. Nhưng với ơn biến đổi của Chúa Thánh Thần tác động, các tông đồ đã hiên ngang chu toàn sứ mệnh mà Chúa Kitô đã ủy thác.
Chúa Giêsu về trời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Thánh Phaolô dùng ngôn ngữ và cách hiểu biết của loài người để diễn tả: Chúa khiến mọi sự qui phục dưới chân Ngài và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài (Eph 1, 22). Chúa Kitô về trời là Ngài lên nơi đã ở trước. Ngài thuộc về thiên giới, còn chúng ta thuộc về hạ giới. Ngài không xuống trần để cai quản mà để phục vụ con người. Ngài hạ thân để chia sẻ tình yêu vô điều kiện. Ngài đã hiến mạng sống và yêu thương chúng ta đến cùng. Cách đơn giản, Chúa Giêsu muốn cứu chuộc chúng ta khỏi quyền lực ma quỉ, sự dữ và tối tăm. Ngài muốn chúng ta cùng được chung hưởng hạnh phúc muôn đời trong Nước Ngài.
Chúng ta được tự do chấp nhận hay chối từ lời mời gọi của Chúa. Nếu thật tâm tìm kiếm và đi theo lối bước của Chúa, chúng ta cần lắng nghe và thực hành lời Chúa trong đời sống mình. Một ý tưởng minh họa: Khi du khách đi du lịch đến một đất nước khác, việc đầu tiên mà du khách phải làm là đổi tiền của mình thành tiền lưu hành tại nước đó. Tiền của chúng ta trên thế gian này chẳng có giá trị gì trên nước trời, nếu nó không đổi thành tiền của nước Trời, đó chính là các việc lành phúc đức có giá trị. Đây là ý nghĩa lời Chúa nói với chàng thanh niên giầu có: Hãy bán gia sản và bố thí cho kẻ nghèo để mua Nước Trời.
Lạy Chúa, Chúa về trời nhưng Chúa vẫn còn luôn hiện diện giữa chúng con. Chúa không bỏ chúng con mồ côi. Chúa đi là để chuẩn bị chỗ cho chúng con và sẽ trở lại đón chúng con. Chúng con xin cảm tạ Chúa đến muôn ngàn đời.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây