Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 201-250: Chúa Lên Trời

Thứ tư - 09/05/2018 06:20
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 201-250: Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 201-250: Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 201-250 Chúa Lên Trời
LênTrời-201: Được sai đi 2
LênTrời-202: Ước mơ về trời – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền. 3
LênTrời-203: Lễ Thăng Thiên - Damiano. 5
LênTrời-204: Suy niệm của Lm Phêrô Trần Đình. 6
LênTrời-205: Bài giảng của Đức Cha Giuse Nguyễn Năng. 8
LênTrời-206: Cùng đích cuộc đời chúng ta là Nước Trời 11
LênTrời-207: Bài giảng của ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên. 14
LênTrời-208: Thiên đàng. 15
LênTrời-209: THẦY Ở CÙNG ANH EM... 17
LênTrời-210: CHÚA TRONG CUỘC SỐNG.. 19
LênTrời-211: Ý NGHĨA THĂNG THIÊN.. 20
LênTrời-212: SỨ MỆNH.. 21
LênTrời-213: ĐẤT TRỜI GIAO DUYÊN.. 23
LênTrời-214: LỆNH LÊN ĐƯỜNG.. 24
LênTrời-215: KHÁT VỌNG LÊN TRỜI CAO.. 25
LênTrời-216: SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI 27
LênTrời-217: TIẾP TỤC LOAN BÁO ƠN CỨU ĐỘ.. 29
LênTrời-218: ĐIỂM HẸN GALILÊ.. 33
LênTrời-219: CHÚA VỀ TRỜI 34
LênTrời-220: CHÚA VỀ TRỜI 36
LênTrời-221: Lễ Thăng Thiên. 38
LênTrời-222: CHÚA LÊN TRỜI,  TA HÃY MẾN YÊU.. 40
LênTrời-223: SỨ MỆNH KITÔ HỮU HÔM NAY.. 42
LênTrời-224: HÀNH TRÌNH VỀ TRỜI 44
LênTrời-225: KHÁT VỌNG NGÀN ĐỜI 48
LênTrời-226: ĐỪNG Ở LẠI QUÁ LÂU.. 53
LênTrời-227: SỨ MẠNG PHỔ QUÁT.. 54
LênTrời-228: LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY.. 63
LênTrời-229: Được sai đi 70
LênTrời-230: Lần Gặp Gỡ Cuối Cùng. 72
LênTrời-231: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN.. 77
LênTrời-232: Hãy Làm Trở Thành Môn Đệ. 78
LênTrời-233: BIỆT LY … LY BIỆT ?. 81
LênTrời-234: Lệnh truyền cuối cùng của Đức Giêsu. 83
LênTrời-235: LỄ CHÚA GIÊ-SU LÊN TRỜI 87
LênTrời-236: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN 2002. 91
LênTrời-237: TRUYỀN THÔNG CỔ VÕ NỀN VĂN HÓA GẶP GỠ.. 92
LênTrời-238: Lễ Chúa lênTrời 96
LênTrời-239: Đường vinh quang LênTrời-239. 98
LênTrời-240: Lên trời. 99
LênTrời-241: Hãy đi loan báo Tin Mừng. 100
LênTrời-242: Chúa Thăng Thiên – Lm Giuse Phạm Thanh Liêm.. 102
LênTrời-243: Chuyển giao thông điệp cứu độ. 104
LênTrời-244: Xin được theo Chúa về Trời 106
LênTrời-245  Hãy loan báo Tin Mừng. 107
LênTrời-246: Cùng lên trời với Chúa – Lm Nguyễn Nguyên. 109
LênTrời-247: Khát vọng lên trời – Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 110
LênTrời-248: Ý nghĩa việc Chúa Lên Trời 114
LênTrời-249: Sự hiện diện của Chúa. 116
LênTrời-250: Bàn tay Chúa. 117

 

LênTrời-201: Được sai đi

Sứ điệp được sai đi là một điểm nổi bật trong phần phụng vụ Lời Chúa sáng hôm nay, ngày lễ: LênTrời-201

Sứ điệp được sai đi là một điểm nổi bật trong phần phụng vụ Lời Chúa sáng hôm nay, ngày lễ Chúa lên trời.
Trước hết là bài đọc trong sách Công Vụ Tông Đồ, kể lại những biến cố xảy ra trước, trong và sau khi Chúa Giêsu về trời. Điều đáng ghi nhận đó là lời Ngài căn dặn các môn đệ: Các con sẽ làm chứng về Thầy tại Giêrusalem, tại Giuđêa, tại Samaria và cho đến tận cùng trái đất.
Lời căn dặn này cũng là lời tuyên bố của Ngài trong bài Phúc Âm: Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.
Giáo Hội ngay từ buổi đầu đã ý thức được tầm mức quan trọng của việc lên đường rao giảng Tin Mừng. Ngay sau ngày lễ Hiện Xuống, các môn đệ đã lên đường chinh hục thế giới, đem ánh sáng Phúc Âm chiếu tỏa cho muôn dân. Và từ đó cho tới nay, trải dài hơn hai mươi thế kỷ, Giáo Hội không ngừng thực hiện lệnh truyền của Đức Kitô.
Thế nhưng, không phải lúc nào Giáo Hội cũng nhiệt thành với sứ mạng của mình. Theo các nhà nghiên cứu, thì trong mấy thập niên gần đây, đà hoạt động truyền giáo đã giảm sút một cách đột ngột. Và ngay cả sứ điệp cứu độ của Giáo Hội cũng xem ra mất đi nhiều sức thu hút và tính bén nhạy, trước những thách đố và khủng hoảng do hiện tượng tục hóa gây ra bên Tây Phương và các giáo phái lớn bên Đông Phương.
Chính vì thế mà các Đức Thánh Cha, tiếp nối công cuộc danh tân của Công Đồng Vaticanô II, đã không ngừng lên tiếng và nhấn mạnh đến sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, làm chứng cho Đức Kitô, giúp cho con người khám phá ra Giáo Hội là dấu chỉ và là dụng cụ Thiên Chúa dùng để cứu chuộc nhân loại.
Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II trong tông huấn “Người tín hữu giáo dân”, đã nêu lên vấn để phải đổi mới việc truyền bá Phúc Âm. Đổi mới ở đây có nghĩa là phải có phương pháp mới, nhiệt huyết mới và tổ chức mới. Muốn có được sự đổi mới ấy, thì cần phải thực hiện một cuộc kiểm điểm đời sống một cách nghiêm túc và khiêm tốn, từ đời sống cá nhân của mỗi thành phần dân Chúa, đến đời sống tập thể của cộng đoàn Giáo Hội, trong đó điểm nổi bật cần lưu ý, đó là đời sống bác ái yêu thương, và bênh vực công lý hòa bình của Giáo Hội. Đây cũng chính là những khía cạnh nhạy cảm đối với con người thời nay.
Còn chúng ta, chúng ta đã thực sự lên đường, đã thực sự góp phần vào công cuộc truyền bá Phúc Âm, rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội hay chưa?

 
 

LênTrời-202: Ước mơ về trời – Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Hôm nay Chúa về trời đó là niềm vui và là niềm hy vọng cho hành trình cuộc đời chúng ta. Một: LênTrời-202

Hôm nay Chúa về trời đó là niềm vui và là niềm hy vọng cho hành trình cuộc đời chúng ta. Một hành trình không vô định nhưng có điểm tới là quê Cha trên trời. Chính Chúa Kitô đã soi lối mở đường cho chúng ta. Chính Ngài đã đi trước để dọn chỗ cho những ai tin theo Người. Từ nay u sầu sẽ gặp niềm vui. Từ nay những đau khổ đời này không làm cho con người thất vọng, nhưng ánh vinh quang Phục Sinh của Chúa đã mang lại niềm hy vọng và lạc quan cho kiếp người chúng ta.
Người ta kể rằng: có một bác nông dân đã tình cờ nhặt được một tượng chịu nạn đã bị sứt mẻ đang nằm chơ vơ vì không có thập giá. Bác cầm tượng chịu nạn lên và đi vào trong làng. Bác đến từng nhà. Bác hỏi han từng người. Từ người già đến người trẻ. Bác nghĩ thầm rằng: "Không chừng ở đâu đây! Có ai đó đang có thập giá trơ trụi mà không có Đức Kitô nằm trên. Đức Kitô của bác không có nơi ngơi nghỉ, còn thập giá của ai đó không có Đức Kitô. Bác muốn trao Đức Kitô cho ai đang đang phải vác thập giá một mình, để nhờ Đức Kitô họ vượt qua những gian nguy của dòng đời. Bởi vì, một thập giá không có Đức Kitô là tra tấn, là hoả ngục, là thất vọng. Thế nên, bác đã cố gắng tìm đến những ai đang thất vọng vì gánh nặng hai vai, đang ui sầu vì lầm than cơ cực, bác trao gởi cho họ Đức Kitô để họ nhận ra họ đang được thông phần đau khổ với Đức Kitô. Hy vọng rằng cuộc đời họ sẽ vui hơn vì họ đang làm việc, đang đón nhận đau khổ vì Đức Kitô, nhờ đó họ cũng được chung phần vinh phúc với Chúa trên trời.
Vâng, cuộc đời chúng ta sẽ ngụp lặn trong đau khổ cùng cực nếu không có Đức Kitô hiện diện. Nếu cuộc đời không có Đức Kitô thì những hy sinh, những đau khổ, những gánh nặng trong cuộc đời này sẽ là một mất mát, một nỗi đau của kiếp người. Đây cũng là tin mừng mà Đức Kitô đã và đang trao phó cho giáo hội, cho mỗi người chúng ta: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo". Hãy loan tin vui đến cho những ai đang gặp u sầu, đang thất vọng, đang trải qua những ngày tháng bất hạnh, khổ đau. Hãy nói cho họ biết sau đêm dài là ánh bình minh. Cuộc đời này là một hành trình đi về thiên quốc. Một con đường có thập giá. Thập giá trong bổn phận. Thập giá trong hy sinh từ bỏ những tham sân si của dòng đời. Thập giá trong những dâng hiến cuộc đời để phục vụ cho lợi ích tha nhân. Đó chính là thập giá mà chúng ta đón nhận vì Đức Kitô sẽ biến thành Thánh Giá của hồng ân cứu độ.
Người nông dân đang cố gắng mang Chúa đến cho những mảnh đời bất hạnh, là sứ vụ mà Chúa đã trao cho giáo hội và cho mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy cùng nhau mang Đức Kitô đến muôn nẻo đường đời. Hãy mang Đức Kitô đến cho những ai đang thất vọng u sầu, đang nặng trĩu những buồn đau. Hãy mời gọi họ biết đón nhận mọi biến cố đang diễn ra trong cuộc đời mình vì Đức Kitô và trong Đức Kitô.
Hôm nay, Chúa về trời. Chúa vẫn mang theo những dấu vết của thương tích trong cuộc khổ nạn. Không có vết thương nào đắt giá cho bằng sự chết. Như thể, Chúa về trời với những chứng tích đau thương, với những chống đối mà Ngài phải gánh chịu trong cuộc sống, với cơn hấp hối nơi vườn Cây Dầu, với những đau đớn của roi đòn, lỗ đinh. Ngài đã mang theo tất cả những giai đoạn đau thương đẫm máu như dấu tích cho lời xin vâng trọn vẹn vâng theo thánh ý Chúa. Và hôm nay, Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng như những ai muốn đi theo Ngài phải đi con đường này để lên trời. "Anh em hãy làm chứng cho Thầy. Khởi từ Giê-rusalem cho đến tận cùng thế giới". Làm chứng không chỉ bằng lời nói mà bằng cả cuộc sống theo gương Chúa Giêsu. Một cuộc sống luôn tìm kiếm ý Chúa và thực thi trong cuộc sống hằng ngày. Một cuộc sống yêu thương và phục vụ tha nhân để qua đó muôn dân sẽ ngợi ca Thiên Chúa. Một cuộc sống làm chứng không nhất thiết phải đổ máu, nhưng quan yếu là phải thể hiện tình yêu bằng những nghĩa cử cụ thể trong lời nói, trong việc làm: luôn bao dung, luôn kính trọng lẫn nhau, luôn bác ái và sống công bình với nhau. Một cuộc đời làm chứng không nhất thiết phải có một bản án để người đời khinh chê, ghét bỏ, nhưng chỉ cần biết hy sinh từ bỏ ý riêng của mình trong từng giây, từng phút để thánh ý Chúa luôn được thi hành trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.



Kính thưa, quý Ông Bà Anh Chị Em,
Hôm nay nhìn Chúa về trời. Các tông đồ cảm thấy lòng trào dâng niềm vui. Xa xăm nơi cuối chân trời chỉ còn vang vọng lời Thầy chí Thánh Giêsu: "Anh em hãy làm chứng nhân cho Thầy. Khởi từ Giê-rusalem cho đến tận cùng thế giới". Xin cho mỗi người chúng ta đang khi hướng lòng về trời cao cũng biết chu toàn sứ vụ trần thế trong niềm hân hoan, ngõ hầu "Ra đi tay ôm bó lúa đi gieo - Ngày trở về miệng reo vang câu hát mừng. Xin Chúa Giêsu vinh thắng về trời giúp chúng ta luôn ước ao những sự trên trời và tìm kiếm Nước Chúa trong cuộc sống hôm nay. Amen.

 
 

LênTrời-203: Lễ Thăng Thiên - Damiano

Trích đoạn Tin Mừng của lễ Chúa Lên Trời hôm nay là đoạn kết thúc Tin Mừng thánh Matthêu. Khung: LênTrời-203

Trích đoạn Tin Mừng của lễ Chúa Lên Trời hôm nay là đoạn kết thúc Tin Mừng thánh Matthêu. Khung cảnh là miền Galilê, một miền dân ngoại. Chúa Giêsu dặn các ông đến đây để gặp gỡ các ông lần cuối và căn dặn những điều cần thiết trước khi rời bỏ thế gian mà về Trời. Trong những lời nói cuối cùng nầy, có hai lời dặn rất quan trọng:
“Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
“Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Lời dặn của Chúa Giêsu cho thấy, Nước Chúa không chỉ dành riêng cho dân Do thái mà cho cả muôn dân; cũng vì thế mà ngày đem các ông đến Galilê là miền dân ngoại.
Theo lời Chúa hôm nay thì tất cả những ai chịu phép rửa đều là môn đệ của Chúa. Và muốn trở thành môn đệ thì phải có hai đều kiện: phải chịu phép rửa nhân danh Chúa Ba Ngôi mà còn phải tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Điều kiện thứ nhất thì tương đối dễ vì là kitô hữu thì ai cũng được chịu phép rửa; nhưng điều kiện thứ hai thì ít ai giữ cho trọn hảo. Và người ta cứ tưởng lầm rằng hễ chịu phép rửa đã là người kitô hữu rồi, còn điều kiện thứ hai: sống lời Chúa thì thường được kể như là điều kiện phụ trội, có hay không cũng được. Theo Lời Chúa thì đó là một quan niệm hết sức sai lầm. Cả hai điều kiện điều cần thiết; và nhiều khi điều kiện thứ hai còn cần hơn cả điều kiện thứ nhất, vì có những người tuy chưa được rửa tội nhưng sống tốt lành hợp với Lời Chúa thì vẫn được cứu rỗi.
Vì thế thánh Matthêu dùng cụm từ “trở thành môn đệ” để nói lên rằng người môn đệ là người sống theo lời dạy của Thầy mình, vì đó là điều kiện để trở thành môn đệ Chúa.
Trong lời dặn thứ hai: Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế, Chúa bảo đảm cho các tông đồ cũng như cho Hội Thánh sự hiện diện hằng ngày của Chúa trong công việc rao giảng Tin Mừng khắp thế gian. Người tông đồ không cô đơn vì luôn có Chúa ở cùng. Trước mọi khó khăn và thử thách, người tông đồ ý thức về sự hiện diện của Chúa nên tâm hồn vẫn bình an, vẫn can đảm và kiên trì.
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã giao cho các Tông Đồ và Hội Thánh tiếp tục sứ mệnh của Ngài ở thế gian. Là môn đệ của Chúa Kitô, mỗi người Kitô hữu cũng được Chúa giao cho nhiệm vụ mở mang Nước Chúa, rao giảng Tin Mừng bằng chính cuộc sống của chúng ta, một cuộc sống đầy chất Phúc Âm. Thánh Phaolô đã ý thức được nhiện vụ đó và đã kêu lên: khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.
Lời nói cuối cùng.
Chuyện xảy ra trong một bệnh viện ở New York.
Một thanh niên được đưa lên bàn mổ. Đội ngủ phẩu thuật đã sẵn sàng, vị bác sĩ giải phẩu nói với bệnh nhân: Tôi tưởng đã đến lúc phải nói thật với em: Cái lưỡi của em bị ung thư, và để cứu sống em, chúng tôi phải cắt cái lưỡi của em. Nếu em cần nói điều gì lần cuối thì em nói đi vì sau khi mất lưỡi, em không bao giờ nói được nữa! Người thanh niên tái mặt, những bắp thịt ở môi em rung lên vì sợ hãi. Nhưng sau một phút im lặng, vẻ mặt người bệnh bổng từ từ bình tĩnh lại; cuối cùng, vân dụng tất cả sức lực còn lại, anh nhìn mọi người đứng chung quanh một lượt, rồi nhìn lên trời và thốt lên: Xin chúc tụng danh Chúa Giêsu! Đó là lời quan trọng nhất mà anh thốt ra lần cuối!
Lời nói cuối cùng của bệnh nhân nầy đã làm bừng tỉnh đức tin của tất cả những người đứng chung quanh giường bệnh. Giường bệnh cũng là nơi truyền giáo. Nhà tù cũng là nơi truyền giáo. Cuộc sống đời thường cũng là nơi truyền giáo.

 
 

LênTrời-204: Suy niệm của Lm Phêrô Trần Đình

Lễ Chúa Giêsu lên trời nói với chúng ta thật nhiều điều. 1/ Trước tiên, con người chỉ có thể: LênTrời-204

Lễ Chúa Giêsu lên trời nói với chúng ta thật nhiều điều.


1/ Trước tiên, con người chỉ có thể sống khi cuộc sống có ý nghĩa đối với họ. Họ phải biết sống để làm gì ?.Chết rồi thì đi đâu ?. Con đường chúng ta đang đi sẽ dẫn chúng ta đến chỗ nào.
Người ta thống kê rằng cứ mỗi ngày trên thế giới có 5000 người trẻ tự vẫn. Đó là những người có cuộc sống đầy đủ, không cần phải phấn đấu, nhưng họ tìm đến cái chết (như lái xe với tốc độ cao…) vì không biết sống để làm gì, không tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.
Lễ Chúa lên trời dạy chúng ta rằng cuộc sống có một ý nghĩa, đường ta đi sẽ dẫn chúng ta đến đâu. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là về với Chúa Cha. Chúa Cha là quê hương của Đức Giêsu, là nơi Người phát xuất và cũng là nơi Người trở về. Chúa Giêsu về trời trước rồi Người sẽ trở lại đón chúng ta, để Người ở đâu chúng ta cũng sẽ ở đó.



2/ Chúa lên trời không phải để xa cách chúng ta, cho bằng là để gần kề chúng ta hơn mỗi khi chúng ta kêu cầu Người. Khi còn sống ở dương gian, Chúa Giêsu bị hạn chế về mặt không gian và thời gian. Nếu Chúa ở chỗ này, thì Người không thể ở chỗ kia. Còn bây giờ khi đã lên trời, Chúa không còn bị giới hạn về mặt không gian và thời gian nữa.


3/ Chúa lên trời để ngự bên hữu Chúa Cha, nghĩa là Người sẽ trở thành Đấng cầu bầu đắc lực cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (x. Kinh tiền tụng ngày lễ).


4/ Chúa lên trời để Giáo Hội trưởng thành hơn. Giờ đây, Giáo Hội sẽ tiếp tục công cuộc rao giảng của Người: “Anh em hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo”. Thời kỳ của Giáo Hội bắt đầu từ đây.
Các môn đệ của Chúa rất ý thức điều đó. Họ đã tuân lệnh Chúa “ra đi rao giảng khắp nơi”, làm cho người ta trở thành môn đệ của Chúa, nghĩa là tin vào Chúa.



5/ Chúa lên trời còn để dọn chỗ cho chúng ta như chính Người đã nói. Mỗi lần sau truyền phép chúng ta đều tuyên xưng: “Trong vinh quang mai Người sẽ đến, đón chúng con lên trời về với Chúa Cha”. Người kitô hữu ý thức rằng quê hương đích thực của chúng ta là ở với Chúa trên trời. Nhưng việc chúng ta có được vào chốn đó hay không, còn tuỳ thuộc vào cuộc sống của chúng ta hôm nay.
Để kết thúc tôi xin kể một câu chuyện. Có một bà chủ nhà kia rất mực giàu có. Bà nuôi một gia nhân để dọn dẹp nhà cửa cũng như chăm sóc vườn hoa. Người này rất chăm chỉ lao động, nhưng bà chủ ác độc la mắng anh ta đủ điều, dầu vậy anh ta vẫn phải ngậm tăm



Thế rồi bà chủ đã chết và được quỉ đưa ngay xuống địa ngục, chốn khóc lóc và nghiến răng. Quỉ chỉ cho bà một túp lều rách nát và bảo rằng đó sẽ là nơi cư ngụ của bà từ đây. Bà chẳng còn biết làm sao nữa, cho bằng răm rắp tuân lệnh.
Một thời gian sau, người nô bộc của bà cũng chết và được thiên thần rước ngay lên trời, chỉ cho anh ta một ngôi nhà sang trọng và nói đó sẽ là nơi cư ngụ vĩnh viễn của anh.



Từ đàng xa, bà chủ thấy anh và lập tức nhận ra đó là người nô bộc của mình. Bà không vui khi thấy anh này được ở trong ngôi nhà xinh xắn. Bà đề nghị đổi túp lều của mình để lấy ngôi nhà sang trọng kia, nhưng thiên thần bảo: “Không được đâu bà. Sở dĩ người kia được ở trong ngôi nhà xinh xắn sang trọng, là bởi vì từ trần gian anh ta không ngừng gởi cho chúng tôi những vật liệu quí giá. Chúng tôi chỉ có việc xây nhà từ những vật liệu anh ta gởi lên mà thôi’. Còn bà, bà chỉ gởi cho chúng tôi những vật liệu tồi tàn và ma quỉ cũng đã dùng chính những vật liệu bà đã gởi xuống, để dựng cho bà một cái chòi rách nát mà thôi”. Bà đừng ghen tị mất công. Số phận của mỗi người tuỳ thuộc khi còn sống người ta đã gởi những vật liệu nào về đời sau.
 
 

LênTrời-205: Bài giảng của Đức Cha Giuse Nguyễn Năng

(Lm. Phêrô Nguyễn Hồng Phúc ghi)
Anh chị em thân mến, 

 

Việc Chúa Giêsu lên trời thì chắc chắn là chúng ta phải suy nghĩ “lên trời tức là đi đâu?” và trí tưởng: LênTrời-205

Việc Chúa Giêsu lên trời thì chắc chắn là chúng ta phải suy nghĩ “lên trời tức là đi đâu?” và trí tưởng tượng của chúng ta bắt đầu làm việc, làm việc mạnh mẽ. Chúng ta tưởng tượng Chúa Giêsu đang đứng giữa chúng ta và Ngài bay lên, đi lên, lên mãi. Chúng ta tưởng tượng một khung trời nào đó, Chúa Giêsu đang núp ở đây. Tuy nhiên, không phải như vậy. Chúng ta có đi phi thuyền bay thật xa trong vũ trụ bao la này thì chúng ta cũng không bao giờ thấy Chúa Giêsu ở trên đó.
Vậy Chúa Giêsu lên trời tức là đi đâu? Chúa Giêsu lên trời nghĩa là Chúa đi vào trong vinh quang của Chúa Cha, Chúa trở về với Chúa Cha từ nơi Chúa Cha mà đến. Chúa Giêsu vào trong trần gian này cứu chuộc chúng ta. Hôm nay công trình đã hoàn tất, Chúa Giêsu trở về với Chúa Cha, sống trong vinh quang của Chúa Cha. Thật sự, Chúa Giê su đã về với Chúa Cha ngay từ khi Chúa sống lại. Nhưng trong thời gian bốn mươi ngày qua, Chúa Giê su vẫn còn tỏ mình ra cho các tông đồ. Chúa tỏ ra cho các tông đồ thấy là Chúa đang sống. Bài đọc thứ nhất trích trong sách Tông đồ Công vụ kể cho chúng ta như vậy (Cv 1, 1-11). Chúa hiện ra, Chúa chứng tỏ cho các môn đệ thấy Chúa vẫn đang sống. Đành rằng Chúa đã đi vào cuộc sống khác nhưng Chúa vẫn tỏ ra một cách cụ thể, một cách hữu hình khi mà mắt các tông đồ vẫn còn thấy được Chúa đang sống. Nhưng hôm nay, Chúa lên trời, có nghĩa là bốn mươi ngày sau khi Chúa sống lại, Chúa chấm dứt việc không tỏ ra cho các tông đồ thấy một cách cụ thể, hữu hình như trước đây nữa.
Chúa Giêsu lên trời là Chúa đi vào trong vinh quang của Chúa Cha, có nghĩa là Chúa chiến thắng tội lỗi, chiến thắng sự chết và Chúa bước vào cuộc sống mới. Cuộc sống mới này, chúng ta không thể thấy bằng mắt phàm được, chúng ta cũng không thể chạm lấy bằng đôi tay được mà chúng ta chỉ có thể nhận ra Chúa bằng đức tin. Chúa lên trời không có nghĩa là Chúa đi xa chúng ta, mà trái lại, Chúa ở gần chúng ta hơn bao giờ hết. Chúa ở giữa chúng ta. Đức Kitô Phục Sinh đã sống lại, có nghĩa là Ngài đang sống, sống giữa Hội Thánh và sống trong thế giới này. Chúa lên trời có nghĩa là Chúa không tỏ ra một cách hữu hình. Vì thế chúng ta chỉ có thể nhận ra Chúa bằng đôi mắt đức tin. Chúa lên trời nhưng Ngài không rời xa chúng ta, mà ngược lại, Chúa ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế theo như lời kết trong Tin Mừng theo thánh Matthêu: “Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).
Chúa Giê su lên trời là Chúa kết thúc công cuộc cứu chuộc của Chúa. Chúa đã làm phần việc của Chúa xong rồi, và bây giờ Chúa cho Giáo Hội tiếp tục làm công trình cứu độ ấy. Chúa đã hẹn gặp các tông đồ ở núi cao miền Galilê và Chúa đã căn dặn các tông đồ: “Anh em hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28, 19-20). Đó là sứ mạng Chúa trao cho các tông đồ, Chúa trao cho Hội Thánh. Hôm nay Chúa về trời thì Hội Thánh tiếp nối sứ mạng ấy. Trong ba mươi ba năm sống tại trần gian này thì ba năm Chúa đã rao giảng Tin Mừng, Chúa đã làm phép lạ để chứng tỏ tình thương cứu độ của Thiên Chúa. Chúa đã chữa lành bệnh tật, cho người đói ăn, cho người đau yếu được mạnh khỏe, rồi Chúa đã tha tội cho người ta. Chúa đã cử hành thánh thể để nuôi dưỡng con người. Tin Mừng cứu độ ấy, hôm nay Chúa đã hoàn tất và hôm nay Chúa trao cho chúng ta, Chúa trao cho Hội Thánh. Mỗi người trong cương vị của mình phải chu toàn trách nhiệm, sứ mạng rao giảng Tin Mừng mà Chúa đã trao cho chúng ta. “Anh em hãy giảng dạy cho muôn dân”, lời Chúa nói không phải chỉ dành cho các tông đồ, dành cho các giám mục, linh mục, tu sĩ nhưng là lời gửi đến toàn thể cộng đồng dân Chúa. Anh chị em, mọi người trong Hội Thánh đều có sứ mạng loan báo Tin Mừng để làm chứng về Chúa Giê su cho anh chị em chúng ta.
Trong những năm vừa qua, anh chị em được nghe nói đến việc tân Phúc Âm hóa hay là nói cách khác, là việc loan báo Tin Mừng mới. Loan báo Tin Mừng mới có nghĩa là gì? Không phải là rao giảng một Phúc Âm mới. Chỉ có một Phúc Âm mà thôi. Chỉ có một Đức Giê su, Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ làm người mà thôi. Phúc Âm ấy, Chúa Giê su ấy: hôm qua, hôm nay và mãi mãi cho đến mãi muôn đời vẫn là một. Không ai được quyền thay đổi Phúc Âm ấy, không ai được quyền thay đổi đức tin. Nhưng tân Phúc Âm hóa, công cuộc Phúc Âm hóa mới ở chỗ nào? Thưa, đó là mới ở chỗ đổi phương pháp loan báo Tin Mừng, đổi cách trình bày nội dung Tin Mừng. Nội dung vẫn là một, nhưng ngôn ngữ và phương cách phải được đổi mới. Phúc Âm hóa mới còn ở chỗ phải có nhiệt tình mới, một lòng hăng say mới để đi rao giảng Tin Mừng. Những điều ấy hết sức cần thiết cho thời đại của chúng ta hôm nay.
Quả vậy, thưa anh chị em. Chúng ta phải đổi mới cách loan báo Tin Mừng, đổi mới cách dạy giáo lý của chúng ta. Có lẽ trong bao nhiêu năm chúng ta đã quen với việc dạy giáo lý bằng cách “hỏi – thưa”. Một ông quản, một bà quản hay một anh chị giáo lý viên cầm cái roi ở trong tay, rồi dạy giáo lý. Chúng ta cố gắng nhồi nhét những câu hỏi thưa cho các thế hệ trẻ. Việc học thuộc lòng rất cần thiết, chúng ta không thể bỏ được. Nhưng phải thay đổi, dùng các phương pháp sư phạm mới, dùng cách trình bày mới, dùng phương tiện mới. Ngày xưa không có ti vi, ngày nay có ti vi, người ta dùng ti vi để giảng đạo; ngày xưa không có Internet, bây giờ người ta dùng Internet để rao giảng Phúc Âm; ngày xưa không có video, bây giờ có video để giảng dạy Phúc Âm; ngày xưa người ta dùng ngôn ngữ trừu tượng để giảng dạy về Chúa Giê su, ngày nay dùng phương pháp kể chuyện để nói về Chúa Giê su... Chúng ta thấy đó là những điều hết sức quan trọng để loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật. Có những điều chúng ta giảng dạy trừu tượng không ai muốn nghe, nhưng nếu chúng ta dùng phim ảnh, dùng câu chuyện để nói về Chúa Giê su thì những câu chuyện ấy, những bài giảng ấy hết sức là hấp dẫn, lôi kéo người khác. Đó chính là rao giảng Tin Mừng một cách mới mẻ: Tân Phúc Âm hóa.
Tân Phúc Âm hóa còn hiện đại ở chỗ là chúng ta phải có sự nhiệt tình mới. Phải có lòng nhiệt tình, phải có sự hăng say đi rao giảng Tin Mừng. Chúa trao sứ mạng đi rao giảng và làm chứng về Chúa cho anh chị em. Nhưng thử hỏi, suốt 2000 năm qua. Công việc rao giảng Tin Mừng được tiến triển bao nhiêu? Thưa, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II, là vị mới được phong Á Thánh ngày 01.05.2011 vừa qua. Ngài đã nói: “Sau 2000 năm, công cuộc rao giảng Tin Mừng vẫn còn dừng lại, dường như ở bước khởi đầu”. Nghĩa là chưa tiến được gì hết, 2000 năm không cứu vớt được là bao nhiêu. Bởi vì sao? Bởi vì thiếu nhiệt tình, thiết sự hăng say. Thiếu nhiệt tình, thiếu sự hăng say, bởi chính chúng ta đây, những người Ki tô hữu, chúng ta chưa cảm nhận được tin vào Chúa Giê su đó là một tin vui cho chúng ta. Nhiều người Ki tô hữu tin vào Chúa Giê su nhưng mà không cảm thấy vui, không cảm thấy là Tin Mừng, không cảm thấy là hạnh phúc. Và một khi chúng ta không thấy vui, không thấy hạnh phúc thì lúc đi nấc thang đi theo Chúa, làm sao chúng ta có lửa, chúng ta có nhiệt tình để rao giảng Tin Mừng cho người khác. Chính mình không cảm thấy đó là tin vui thì mình chỉ rao giảng tin buồn, không thể rao giảng Tin Mừng về Chúa được.
Cách đây chừng hai mươi năm, anh chị em vùng Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình) của chúng ta đổ xô đi tìm vàng. Có những người nghe nói ở chỗ nọ, chỗ kia có vàng. Một người đi kháo tin là có vàng, và đúng là có vàng, thì người đó vui mừng báo tin cho gia đình mình, cho anh em mình, cho xứ sở, lối xóm của mình. Thế là người ta từng đoàn, từng đoàn đi đào vàng. Có những người tìm được vàng, nhưng có những người thất bại. Nhưng điều quan trọng là người đầu tiên đi phát hiện thấy vàng. Người đó vui mừng về loan báo cho mọi người. Khi người ta nhận thấy tin vui, người ta không giữ được niềm vui, người ta sung sướng và muốn lôi kéo tất cả cùng đi để có một cuộc sống mới. Chính Chúa Giê su đã ví “Nước Trời cũng giống như viên ngọc quí” (x. Mt 13, 44-46). Nước Trời giống như kho tàng, không phải chỉ là mỏ vàng có khi được khi không, mà là cả kho tàng ngọc quí. Những người Ki tô hữu chúng ta đây là những người đã biết được sự cao quí của Nước Trời. Chúng ta cảm nhận được tin vui, chúng ta cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc, bởi vì chúng ta đã gặp được Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Đấng đổi mới cuộc đời chúng ta. Mình cảm nhận, mình công bố, mình mong muốn cho mọi người được biết Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu. Cho nên, tân Phúc Âm hóa là khơi dậy ngọn lửa nhiệt tình mới cho những người Ki tô hữu chúng ta.
Ngày hôm nay, ngày Chúa Giê su lên trời. Chúng ta dừng lại để suy ngẫm về sứ mạng của chúng ta. Chúng ta thử hỏi, chúng ta đã chu toàn sứ mạng đó được như thế nào? Ngọn lửa nhiệt tình của chúng ta, niềm vui của chúng ta khi chúng ta đi theo Chúa được bao nhiêu? Thưa, chắc còn thấp lắm. Hôm nay, khi Chúa trao phó sứ mạng cho Giáo Hội, cho các tông đồ thì Chúa cũng căn dặn: “Anh em hãy chờ đợi Chúa Thánh Thần đến trong anh em” (Cv 1, 8).
Trong tuần lễ này, từ hôm nay cho đến Chúa nhật tới, chúng ta hãy khao khát, cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần đến với Hội Thánh, đến với từng người chúng ta. Xin Chúa Thánh Thần đốt lên trong lòng chúng ta ngọn lửa nhiệt tình, đốt lên trong lòng chúng ta lòng hăng say để chúng ta rao giảng Tin Mừng cho Chúa. Chúng ta cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần khơi dậy trong Hội Thánh một nguồn sống mới. Trong Chúa nhật tới, chúng ta sẽ mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống thì trong tuần này, mỗi ngày, tất cả mọi nơi, mọi lúc, chúng ta hợp ý với toàn thể Hội Thánh xin Chúa Thánh Thần đến với chúng ta. Chúa Giê su đã về trời, sự hiện diện của Chúa qua lời của Chúa, qua Thánh Thể của Chúa, chúng ta lắng nghe sứ điệp mà Chúa Giêsu trước khi lên trời đã trối lại cho chúng ta. Chúng ta xin Chúa nâng đỡ để mỗi người trong chúng ta chu toàn sứ mạng mà Chúa đã trao cho chúng ta giữa lòng Hội Thánh. Amen.

 
 

LênTrời-206: Cùng đích cuộc đời chúng ta là Nước Trời

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí) 
 

Xã hội chúng ta đang sống, người ta tự xưng mình là những người vô thần, tức là không tin vào: LênTrời-206

Xã hội chúng ta đang sống, người ta tự xưng mình là những người vô thần, tức là không tin vào thần thánh, không tin hồn thiêng bất tử, và cũng không tin vào sự sống đời sau, cũng chính vì thế họ đã tự tạo ra một tinh trạng trống rỗng về tôn giáo, về tinh thần trong xã hội trong tâm hồn con người. Cho đến hôm nay, dường như người ta nhận ra rằng, con người không thể thiếu vắng những giá trị thiêng liêng, tôn giáo như thế, và thế là họ đã tạo nên những thứ thần linh và những thứ tôn giáo để lấp đầy khoảng trống đó trong xã hội và trong tâm hồn của nhiều người. Chính vì vậy mà trong những năm gần đây những hình thức lễ hội mang tính tôn giáo, các thứ cúng bái dân gian, kể cả những thứ tin kiêng vớ vẩn dường như đang được ủng hộ, khuyến khích trong xã hội chúng ta.
Trong khi đó niềm tin tôn giáo và đặc biệt đức tin Kitô giáo hướng chúng ta đến cùng đích của cuộc đời con người đó là hạnh phúc nước trời, cũng chính vì niềm tin và hy vọng này mà mỗi người chúng ta dù đang sống và làm việc trên trần gian này, nhưng lòng chúng ta luôn hướng về trời là quê hương thật của chúng ta.
Mừng lễ Chúa Giêsu về trời chúng ta không chỉ mừng một sự kiện đã xảy ra hoặc một cuộc chia tay, mà còn là dịp Giáo Hội nhắc cho chúng ta rằng: Chúa về trời để mở đường cho chúng ta và mời gọi chúng ta luôn yêu mến và tìm kiếm nước trời như là lẽ sống là mục đích cuộc đời. Nước trời mà hôm nay Chúa Giêsu trở về, không hẳn là một nơi chốn, cũng không phải là Ngài trở về một hành tinh xa xôi nào đó, nhưng là Ngài trở về với địa vị danh dự của một vị Thiên Chúa, trở về với tình trạng hạnh phúc cùng với triều thần thiên quốc. Sự kiện Chúa lên trời cho chúng ta nhớ rằng quê hương đích thực của chúng ta là nước trời, và cùng đích cuộc đời của mỗi người phải là tìm kiếm hạnh phúc nước trời, chính niềm hy vọng này thục đẩy và chi phối cuộc sống hiện tại của chúng ta, và làm cho chúng ta khác với những người vô thần.
Chúa Giêsu đến thế gian, Ngài đã hoàn tất việc khai sinh Giáo Hội, hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại và chỉ ra cho nhân loại con đường về trời, con đường đó chính là con đường của Tin Mừng, con đường của Tám Mối Phúc, con đường của thập giá, là con đường đưa con người đến sự giải thoát và siêu thoát. Nay, Chúa Giêsu về trời, Ngài muốn trao phó cho chúng ta tiếp nối sứ mạng mà Ngài đã thực qua mệnh lệnh Chúa truyền cho các Tông đồ trong bài Tin Mừng hôm nay: Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem,… chính anh em là chứng nhân của những điều này. Như vậy, sự kiện Chúa về trời còn là để để mở ra cho Giáo hội một giai đoan mới, giai đoạn Giáo hội phải lên đường, phải ra đi, ra khỏi tình trạng co cụm sợ hãi để mạnh dạn đến với mọi người mọi dân và làm chứng về Tin Mừng của Chúa, làm chứng cho niềm hy vọng về Nước trời mai sau.
Để lại sứ vụ rao giảng cho Giáo Hội, Chúa không để Giáo hội làm việc một mình, nhưng Ngài còn hứa sẽ ban Thánh Thần là Đấng bảo Trợ, Đấng an ủi đến với các tông đồ, Ngài sẽ là Thần Sức Mạnh, là Đấng soi sáng dẫn dắt cho mọi hoạt động của Giáo Hội. Trong cuộc chia tay này, không còn là cuộc chia tay buồn bã như trong bữa tiệc ly, song Thánh Luca muốn nhấn mạnh cho thấy, các tông đồ đã hoàn toàn ý thức và tin Thày của các ông đã được tôn vinh như một vị Thiên Chúa, nên trong lúc lãnh nhận sự chúc lành từ nơi Thày, các ông đã bái lạy Người như bái lạy Thiên Chúa, sau đó các ông trở về Girusalem lòng đầy hân hoan vui mừng.
Bài đọc một hôm nay là đoạn mở đầu của sách Tông Đồ công Vụ, thuật lại sự kiện Chúa Giêsu lên trời như là sự kiện đánh dấu sự khời đầu cho sứ mạng của Giáo Hội với sự bảo trợ của Chúa Thánh Thần. Tác giả đã cho thấy sự kiện lên trời của Chúa Giêsu như là sự kiện Thiên Chúa Cha tôn vinh Con của Ngài: Ngài được cất lên trời trước mặt các tông đồ, và có đám mây che phủ khiến các ông không thấy Ngài nữa. Hình ảnh Ngài được cất lên và đám mây che phủ là hình ảnh muốn nói lên vinh quang của một vị Thiên Chúa, và kể từ đây, không phải Chúa Giêsu lìa bỏ các tông đồ, Ngài vẫn đang hiện diện qua quyền năng và Thánh Thần được ban cho các ông, chỉ có điều vì mắt các ông bị mây che phủ nên các ông có thể không thấy Ngài.
Điểm tiếp theo mà sách Tông Đồ Công Vụ muốn diễn tả, đó là trong lúc các tông đồ còn đăm đăm nhìn theo Người, thì có hai người mặc áo trắng đứng bên cạnh nói với các ông: Hỡi những người Galilea, sao còn mải đứng nhin trời? Đức Giêsu Đấng vừa lìa bỏ các ông để lên trời, cũng sẽ ngự đến như các ông đã thấy Ngài lên trời. Lời này cho thấy, chúng ta được mời gọi hướng về quê hương trên trời, lấy nước trời làm mục đích của cuộc đời, nhưng chúng ta không mãi ngước nhìn trời để rồi quên lãng bổn phận trần thế, trái lại phải trở về với cuộc sống, phải nhìn xuống đất để thấy được những thực tại trần thế và những vấn đề của nó. Trở về cuộc sông thường ngày, là trở về với những lo toan những công việc, để đương đầu với những khó khăn thử thách, và biết giải quyết mọi vấn đề trong ánh sáng của Tin Mừng, trong niềm hy vọng và đợi trông nước trời. Đồng thời chúng ta còn được mời gọi làm việc không phải chỉ cắm mặt vào công việc, hoặc chỉ tìm kiếm vất chất và thế gian, nhưng còn phải luôn ở trong tư thế sẵn sàng chờ đón ngày Chúa Giêsu sẽ trở lại.
Thưa quý OBACE, như đã nói ở trên, chúng ta khác với những người xưng mình là vô thần không có niềm tin, đối với họ cuộc sống trên trần gian này chỉ là tìm kiếm cái ăn cái mặc hoặc là thu vét cho có nhiều của cải, thỏa mãn cái bụng mà không biết chung cuộc đời mình sẽ như thế nào, và đâu là niềm hy vọng hạnh phúc đời đời. Chúng ta đang sống trên trần gian nhưng lòng chúng ta lại hướng về trời cao, chúng ta vẫn đang làm việc nhưng chúng ta không chỉ làm việc vì cơm áo gạo tiền, mà chúng ta đang làm việc trong sự trao phó của Thiên Chúa và trong sự đợi chờ ngày chúa trở lại đem chúng ta về trời với Ngài, chính vì niềm hy vọng đời chờ này, lại thúc đẩy chúng ta phải sống và làm việc một cách tích cực hơn và tốt đẹp hơn.
Trong ngắm thứ nhất mùa mừng chúng ta đọc: Thứ nhất Chúa Giêsu lên trời, ta hãy xin cho được yêu mến những sự trên trời, điều này đặt ra cho chúng ta suy nghĩ xem chúng ta có thực sư yêu mến những sự trên trời hay chúng ta yêu mến những sự dưới đất hơn những sự thuộc về trời? Chúng ta sẽ trở thành giống như người không có niềm tin khi chúng ta chỉ biết yêu mến và tìm kiếm những sự dưới đất mà bỏ qua việc tìm kiếm những giá trị thiêng liêng và tìm kiếm nước trời về cho mình và cho con cái, khi chúng ta tự mình giải quyết những khó khăn của cuộc sống mà quên sự hiện diện và nâng đỡ của Thiên Chúa. Các bậc làm cha mẹ hãy biết dành ưu tiên cho việc tim kiếm Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài về cho gia đình và người thân của mình, hãy chu toàn bổn phận làm vợ chồng, cha mẹ trong niềm hy vọng Chúa sẽ trở lại và đưa chúng ta về trời, đừng biến gia đình mình trở thành một gia đình mất đi niềm hy vọng ấy, cũng đừng để gia đình mình bị những mây mù của tật xấu của đam mê, lười biếng làm cho các thành viên không còn nhìn nhận ra sự hiện diện của Chúa nữa.
Nhiều người trẻ ngày hôm nay đang sống như thể không có Chúa hiện diện, và không xác định được cùng đích cuộc đời của mình là gì, không biết rồi mình sẽ đi đâu, nên nhiều người đã sống không có định hướng, sống chộp giật, sống vội, sống như thể không có đời sau,… Chúng ta là những người tin Chúa, chúng ta phải sống trong hy vọng và phải sống khác với những người ấy. Chúng ta không thể buông mình cho dòng chảy của xã hội đưa đẩy, mà trái lại chúng ta được mời gọi phải sống làm chứng, và nói cho mọi người biết về Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài và nói về niềm hy vọng của chúng ta cho mọi người chung quanh; Chúng ta cũng vẫn phải làm việc như mọi người, nhưng chúng ta sẽ phải sống tốt hơn và làm việc tốt hơn, vì chúng ta làm việc trong sự thúc đẩy và vì lời mời gọi của nước trời.
Giáo hội chọn ngày hôm nay là ngày Truyền thông Quốc tế, để cầu nguyện cho những người làm công tác truyền thông biết nói lên sự thật và biết bênh vực cho sự thật, biết dùng những phương tiện truyền thông để phục vụ cho nhu cầu hạnh phúc và lợi ích của cộng đồng, nhất là qua những phương tiện này, họ biết nói về Thiên Chúa quyền năng và tình yêu thương của Ngài cho mọi người.
Xin Chúa giúp chúng ta biết chuẩn bị cho nước trời mai sau bằng việc sống thật tốt, thật tròn đầy ngày hôm nay. Amen.

 
 

LênTrời-207: Bài giảng của ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

HIỆN DIỆN – VẮNG MẶT 
 

Sau khi kể lại việc các môn đệ trực tiếp chứng kiến Chúa Giêsu rời khỏi các ông và được đem lên: LênTrời-207

Sau khi kể lại việc các môn đệ trực tiếp chứng kiến Chúa Giêsu rời khỏi các ông và được đem lên trời Thánh sử Luca đã ghi lại: Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ. Chúng ta hơi ngạc nhiên vì tâm trạng các môn đệ có vẻ mâu thuẫn trong tình huống này. Có lẽ nào khi chúng ta chia tay với những người mình quý mến mà lòng chúng ta lại được tràn đầy hoan hỷ? Câu trả lời cho tâm trạng của các môn đệ được tìm thấy nơi niềm xác tín của các ông về một Đức Kitô vừa hiện diện vừa vắng mặt trên trần thế.
Đức Giêsu “vắng mặt” nơi trần thế. Khi lên trời, Người về với Chúa Cha như chính Người đã nói. Người lìa xa các ông và từ nay Người không còn hiện diện cách thể lý như trong suốt 33 năm của cuộc đời dương thế, và trong suốt 40 ngày kể từ khi Chúa sống lại. Từ nay, Đức Giêsu vắng mặt nơi trần thế. Người đã nói với các môn đệ: “Thày đi thì tốt cho các con... Thày không bỏ các con mồ côi... Thày sẽ sai Thánh Thần đến với các con và Ngài sẽ dẫn các con đến chân lý toàn vẹn” (x.Ga 16,13).
Mặc dù Chúa Giêsu đã về trời, nhưng Người vẫn hiện diện giữa trần gian. Các nhà thần học gọi đó là một sự “Hiện diện – Vắng mặt”, có nghĩa là Chúa hiện diện mà ta không nhìn thấy, đồng thời Chúa vắng mặt nhưng Đức tin mách bảo rằng Người đang ở với chúng ta. Chính Chúa đã hứa với các môn đệ trước khi rời ra các ông: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Căn cứ vào những suy luận trên đây, chúng ta hiểu được tâm trạng của các môn đệ sau khi đã được chứng kiến Chúa lên trời. Các ông vui mừng với niềm xác tín rằng Chúa đang hiện diện với các ông, mặc dù từ nay, các ông không còn được ăn uống với Người và lắng nghe những lời Người giáo huấn. Từ nay, bổn phận chính yếu của các ông là nhớ lại những lời dạy của Chúa và lên đường loan báo lời dạy ấy cho muôn dân. Mặc dù không còn được thấy Chúa bằng con mắt thể lý, các ông vẫn thấy Người bằng con mắt đức tin. Đối với chúng ta cũng vậy. Chúng ta giống như hai lữ khách trên đường Emmau, từng bước ngỡ ngàng nhận ra Chúa đang hiện diện qua những cử chỉ chia sẻ huynh đệ và nhất là qua lời cầu nguyện.
Lễ Thăng Thiên là lễ của niềm vui và hy vọng. Bởi lẽ việc Chúa lên trời cũng đã là chiến thắng của chúng ta (x. Lời nguyện nhập lễ). Trong Phụng vụ của ngày lễ hôm nay, Giáo Hội cầu nguyện xin Chúa ban cho chúng ta niềm vui, vì “chúng con là chi thể của thân thể Người, Người là Đầu đã đi trước chúng con tiến vào vinh quang nơi Chúa, và chúng con cũng đang hy vọng tiến tới đó” (Lời nguyện dâng lễ).
Tâm trạng của chúng ta khi mừng lễ Chúa lên trời cũng là tâm trạng của các môn đệ năm xưa khi các ông xuống núi. “Xuống núi” là trở về với cuộc sống thường nhật, nhưng với tinh thần được đổi mới và với niềm xác tín mới. Lời nhắc bảo của hai sứ thần mặc áo trắng đưa các môn đệ đi từ tình trạng chiêm niệm đến với thực tế. Các ông đã được thấy Chúa về trời, các ông hãy trở lại với cuộc sống cụ thể để làm chứng về những điều mắt thấy tai nghe. Từ nay, sứ mạng tông đồ của các ông không còn bó hẹp trong một không gian nhất định, nhưng mang tính hoàn vũ: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
Khi mừng lễ Chúa về trời, người Kitô hữu được mời gọi nhận ra Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người. Người cũng vừa hiện diện vừa vắng mặt nơi cuộc sống của chúng ta. Nói cách khác, Người diện diện một cách huyền nhiệm, vô hình, thiêng liêng để tiếp tục sẻ chia những gian truân của thân phận con người. Lễ Thăng Thiên cũng nhắc người Kitô hữu có một quan niệm quân bình về cuộc sống trần thế. Bởi lẽ là người công dân của Nước Trời, chúng ta sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, đồng thời chúng ta có bổn phận phải xây dựng trần thế cho tốt đẹp và nhân ái hơn. Đối với các Kitô hữu “miền đất lạ nào cũng là quê hương, nhưng quê hương nào cũng là đất khách” (Thánh Justinô), vì quê thật của họ là Nước Trời, nơi Đức Giêsu đã dọn sẵn cho họ những chỗ ở, để họ chiêm ngưỡng vinh quang Chúa Cha trong hạnh phúc đời đời.

 
 

LênTrời-208: Thiên đàng

Hôm nay chúng ta hân hoan long trọng mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Nhưng Chúa Giêsu lên trời: LênTrời-208

Hôm nay chúng ta hân hoan long trọng mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Nhưng Chúa Giêsu lên trời có ý nghĩa gì? Trước hết, chúng ta cần xác tín kiểu nói “lên trời, xuống thế” là thế nào. Nếu hiểu “trời” là nơi Chúa ngự, còn “thế” là cõi trần của chúng ta. Và “lên, xuống” theo nghĩa kính Chúa thì đặt Chúa ở trên, còn loài người chúng ta tầm thường thì đặt ở dưới. Hiểu như vậy, thì kiểu nói”lên trời, xuống thế” chả còn đặt thành vấn đề nữa.
Nhưng điều làm cho một số người ngày nay thắc mắc là cách hiểu theo nghĩa đen:”Trời” là trời xanh, là không trung, có tinh tú, có mặt trời, mặt trăng… và đem quan niệm tiến bộ về thiên văn của thế kỷ XX, bây giờ là thế kỷ XXI, áp dụng vào những kiểu nói thời xưa, thì không đúng. Chắc chắn không thể hiểu theo nghĩa đen và đem áp dụng như thế được. Sự kiện Chúa Giêsu “bay lên khỏi đất” hoặc “bay lên trời” là để nói rằng: Chúa về nơi Ngài ở trước. Ngài không còn ở dưới trần thế như từ ngày giáng sinh đến hôm đó nữa. Ngài lên trời, đó là một cuộc tôn vinh sau khi đã hoàn tất chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.
Như vậy, việc Chúa Giêsu lên trời là một sự kiện tất yếu của quá trình nhập thể và cứu chuộc của Ngài. Như chương trình phát triển của một hạt lúa: phải tự mục nát trong đất mới đâm mầm và tăng trưởng dần cho đến thời kỳ trổ bông, sinh hạt. Cũng vậy, Chúa Giêsu sau thời gian đi gieo lời hằng sống, thiết lập và xây dựng một nền móng đạo đức đặt căn bản trên tình thương và công bằng trong xã hội Do thái thời đó, mảnh đất thí điểm và khởi điểm. Ngài đã chịu chết, sống lại và vinh hiển về trời.
Nói rõ hơn, Chúa Giêsu Con Thiên Chúa, đã từ trời xuống trần gian này, để thực hiện chương trình cứu chuộc của Chúa Cha. Ngài đã giảng dạy, phục vụ và cống hiến cả mạng sống. Nên sau khi sống lại từ cõi chết, Ngài đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh, đặt bên hữu Thiên Chúa, và ban cho quyền xét xử vũ trụ. Đây cũng là một câu trả lời vô cùng phấn khởi cho chúng ta, nếu chúng ta trung thành đi theo Chúa, sống theo lời Ngài, chúng ta cũng sẽ được về trời, chúng ta sẽ được Chúa Giêsu đón vào trong nhà Cha cùng với Ngài hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời.
Vì vậy, mầu nhiệm lên trời dạy cho chúng ta biết: Nước trời, tức là thiên đàng, có thực sự, là nơi Thiên Chúa ngự, là nơi tập họp những người con thảo của Thiên Chúa. Nhưng thiên đàng ở đâu? Ở trên không trung, trên trời, bên trên những đám mây ư? Chỉ những ai ngây thơ mới nghĩ như thế. Thiên đàng mà Chúa Giêsu đã hứa, Nước trời như Chúa đã nói, chẳng dính dáng gì tới bầu trời của những nhà du hành vũ trụ.
Trước đây, người ta kể rằng: Sau những lần đáp tên lửa vòng quanh trái đất, có những nhà du hành để thám hiểm vũ trụ, đã tuyên bố rằng: Họ chẳng thấy gì bên trên những đám mây, chẳng thấy Thiên Chúa, thiên đàng, các thánh, chẳng thấy gì hết. Thế là nhiều người ngây thơ, nông cạn tin rằng: Từ nay trở đi, niềm tin có thiên đàng sẽ hoàn toàn sụp đổ. Những điều đó có đúng không? Thưa không, con người đã lên cung trăng, sẽ đáp xuống sao hỏa, sao kim, rồi tuần tự sẽ thám hiểm thế giới các vì sao. Nhưng con người không thể và không bao giờ đến gần được thiên đàng, dù chỉ cách vài cây số thôi. Thiên đàng của Thiên Chúa ở trong chiều kích khác với thời gian và không gian của chúng ta. Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Ngài hiện diện khắp vũ trụ. Suy đoán thiên đàng ở đâu đó, trên các hành tinh hoặc trên các thiên hà xa lắc, là làm một công việc vô ích. Thiên Chúa ở đâu, thiên đàng ở đó.
Câu chuyện sau đây minh họa cho chúng ta: Có một tu sĩ kia, sau khi đã dày công tu luyện và suy nghĩ về niềm hạnh phúc của một thiên đàng hạ giới, đã lên đường đi tìm. Ngày tháng trôi qua, vị tu sĩ đã lên đường năm mươi năm, nhưng vẫn chưa tìm ra được một nơi nào để có thể hưởng trọn hạnh phúc xứng đáng được gọi là thiên đàng. Khi đã mệt mỏi mà chưa đạt đích, vị tu sĩ này đã đi lại con đường cũ dẫn tới tu viện nơi ông đã bỏ đó để đi tìm thiên đàng hạ giới. Khi ông vào tu viện gõ cửa để xin tá túc, thì không ai trong tu viện nhận ra ông nữa. Vị tu viện trưởng bằng lòng cho ông tá túc. Ông được dẫn đến căn phòng, đó chính là căn phòng ông đã ở trước kia. Một tư tưởng bỗng lóe lên trong tâm trí của người tu sĩ già này đã trả lời cho câu hỏi mà ông đã tìm câu giải đáp mấy chục năm qua, là thiên đàng ở đâu? Thiên đàng chính là nơi bạn đang sống. Thiên đàng không tùy thuộc nơi chốn nhưng tùy thuộc ở lòng người.
Đây chính là điều Chúa Giêsu đã quả quyết: “Thiên đàng ở giữa các ngươi”. Thiên đàng hiện ra trong từng giây phút chúng ta đang sống, thiên đàng là xã hội chúng ta đang sống, nếu xã hội là nơi mà quan niệm về hạnh phúc được thực hiện và thỏa mãn. Nếu xã hội là nơi mà sự hòa bình, sự bình an, sự hiệp nhất, tình liên đới, nghĩa huynh đệ được thực hiện thật sự và đích thực.
Hoặc chúng ta có thể nói rằng: ở đâu có bác ái, yêu thương, thì thiên đàng ở đó, câu chuyện sau đây cho chúng ta hiểu rõ điều đó: Có một chàng hiệp sĩ kia. Là hiệp sĩ nhưng rất sống thô lỗ, hung bạo. Một hôm, anh đến gặp một vị thiền sư và hỏi:”Xin ngài chỉ dạy cho tôi biết thiên đàng và hỏa ngục là gì? Vị thiền sư nhìn anh ta một hồi rồi nói:”Tôi không thể dạy cho anh bất cứ điều gì. Anh là nỗi tủi nhục cho hàng ngũ hiệp sĩ. Anh hãy đi đi”. Tức giận, chàng hiệp sĩ rút gươm sát hại vị thiền sư. Nhưng vị thiền sư giơ tay cản lại và nói: “Hỏa ngục là thế đó”. Chàng hiệp sĩ dừng tay lại, anh hối hận và nhận ra bài học thực tiễn. Anh xỏ gươm vào bao và quì xuống trước mặt vị thiền sư. Anh không nói gì, chỉ cúi đầu tỏ vẻ thành tâm sám hối. Vị thiền sư đỡ anh dậy, nhìn vào đôi mắt anh và nói: “Thiên đàng là thế đó”. Quả thực, nơi nào có hận thù, chém giết, thì nơi đó là hỏa ngục. Hỏa ngục không hẳn là một nơi chốn như chúng ta thường tưởng tượng mà là một tình trạng vắng bóng yêu thương, nơi nào ích kỷ, và hận thù ngự trị, thì nơi đó là hỏa ngục; hỏa ngục không chờ đợi ở đời sau mà xuất hiện ngay trong tâm hồn mỗi người chúng ta khi nào chúng ta để cho hận thù ngự trị và điều khiển mọi suy tư và hành động của chúng ta. Nếu hận thù là hỏa ngục, thì thiên đàng chính là tình yêu. Thánh Phaolô đã nói: “Ở đâu có bác ái yêu thương thì ở đấy có Thiên Chúa”. Mà Thiên Chúa là thiên đàng. Như vậy, thiên đàng là điều con người có thể xây dựng và thụ hưởng ngay ở trần gian này. Và không có thiên đàng trần gian thì cũng không có thiên đàng đời sau, vì Thiên Chúa căn cứ vào đời sống hôm nay để thưởng phạt chúng ta.


 

LênTrời-209: THẦY Ở CÙNG ANH EM

Mt 28, 16 - 20 
 

Mấy năm trước, một giáo phái bên Mỹ, qui tụ được năm bảy chục người gì đó. Ông giáo chủ cũng: LênTrời-209

Mấy năm trước, một giáo phái bên Mỹ, qui tụ được năm bảy chục người gì đó. Ông giáo chủ cũng là người có uy tín nên nói ra câu nào cũng được các đệ tử lắng nghe, dù ông cũng lợi dụng sự cả tin của tín đồ, để thu góp của cải của họ. Năm 2003, ông giáo chủ bảo ngày 20 tháng 12 năm này, các người ở tinh cầu mới sẽ đến vào ban đêm để rước họ đi lên ở trên tinh cầu mới đó. Sống trên tinh cầu đó được so sánh như lên thiên đàng. Các môn đồ đã tin vào lời ông giáo chủ; vào giờ đó ngày đó, ông giáo chủ và môn đồ đều tự sát để được rước lên tinh cầu mới. Ai sợ chết, đều bị ép buộc tự sát... Vài hôm sau, cảnh sát mới phát hiện, dân quanh vùng báo vì mùi hôi thôi xông lên...Chúa nhật hôm nay, Hội thánh cũng nói về việc Chúa Giêsu lên trời trong vinh quang. Tuy nhiên việc lên trời này đáng hân hoan, không phải đáng kinh sợ như câu chuyện chúng ta nghe ở trên. Kính mời suy niệm...
a/. Trước hết, theo bài Tin Mừng hôm nay, Matthêu tường thuật biến cố Chúa về trời cách đặc biệt: Chúa Giêsu hẹn 11 tông đồ và một số môn đệ, đến miền Bắc Galilêa, nước Do Thái, trên một ngọn núi, không rõ là ngọn núi nào... Tại đó, trước khi về trời, Chúa nói mấy lời từ biệt, dặn dò các ông với những lời nói vừa trang trọng, vừa rất thân tình, dạy các ông phải tiếp tục sứ mạng đem giáo lý và ơn cứu độ đến tận cùng thế giới. Đó chính là sứ mạng Chúa Cha đã giao phó cho Ngài; giờ đây Ngài đã hoàn tất trong vinh quang, nên Ngài phải về bên Chúa Cha. Dù vậy Chúa Giêsu cũng hứa hẹn với các ông là không bỏ các ông mồ côi. Ngài về trời để dọn chỗ cho các ông; nhưng trong khi còn ở trần gian, Ngài vẫn ở cùng các ông mọi ngày cho đến tận thế...
b/. Sau đây là một vài câu hỏi suy niệm: * Tại sao nói Chúa Giêsu về trời trong vinh quang? Chúng ta phải nghĩ thế nào?
Thưa chính là vì Chúa Giêsu đã hoàn thành sứ mạng Chúa Cha giao phó cách tốt đẹp, về trời trong vinh quang chính là để được Chúa Cha tôn vinh...Chúa Con về trời là về cùng Chúa Cha, về bên Chúa Cha, để được Cha khen thưởng, để được tôn vinh, vì đã thực hiện trọn vẹn sứ mạng cứu chuộc Cha giao phó. Chúa Cha yêu Chúa Con hết mực, thế mà khi Chúa Con làm tròn sứ mạng Cha giao phó, chẳng lẽ Cha không vui, chẳng lẽ Cha không khen thưởng? Chúng ta thử suy nghĩ: sau khi Chúa Con hoàn tất công việc cứu chuộc cách xuất sắc, nếu Chúa Cha không khen thưởng Chúa Con, đó mới là điều lạ chứ! Vì Chúa Cha tôn vinh Chúa Con, nên Chúa Con về trời để được trao cho toàn quyền trên trời dưới đất (Mt 28, 18), vì thế Chúa mới sai các môn đệ tiếp tục công việc của Chúa...
* Khi Chúa về trời, Ngài có bỏ môn đệ mồ côi không? Chúa về trời, có nghĩa là không còn hiện diện với các môn đệ bằng thể xác vật chất nữa, không còn cùng ăn cùng ngủ, giảng dạy họ hằng ngày, nâng đỡ đời sống vui buồn sướng khổ với họ trực tiếp, như khi Chúa còn sống. Dù vậy lời Chúa nói: Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế, đây không phải là câu nói ngược. Hội thánh Chúa Giêsu thiết lập ở trần gian, trên nền tảng các tông đồ luôn vẫn có Chúa hiện diện cách thiêng liêng, qua các bí tích, nhất là qua sự hiện diện đầy ơn sũng của Chúa Thánh Thần...
Một điều khác, Chúa về trời thì có lợi cho các tông đồ (Gn 16, 7): Thầy không đi, thì Thánh Thần sẽ không đến (Gn 16, 7) - Thầy đi để dọn chỗ cho anh em (trong Nước Trời) (Gn 14, 2) - Thầy sẽ trở lại đem anh em về với Thầy (Gn 14, 3).
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Nghe nói về Nước Trời, quê hương trên trời, ai nghe cũng thích, cũng ham muốn cả; tuy nhiên muốn được lên trời, ta có sẵn sàng sống ở dưới đất này cho đàng hoàng tử tế, để mai sau đáng được lên trên đó không? Nhất là ta có cố gắng sống đúng lời Chúa dạy không?


 

LênTrời-210: CHÚA TRONG CUỘC SỐNG

Mt 28, 16 - 20 
 

Nói đến tình bạn tri kỷ thâm giao, tôi chợt nhớ đến câu chuyện Lưu Bình và Dương Lễ. Đôi bạn: LênTrời-210

Nói đến tình bạn tri kỷ thâm giao, tôi chợt nhớ đến câu chuyện Lưu Bình và Dương Lễ. Đôi bạn tri kỷ này đã sống chết có nhau, cho dù phải trải qua những sóng gió của cuộc đời.
Lưu Bình là một chàng trai giàu có và phong lưu, trong một hoàn cảnh bất ngờ, anh gặp một chàng thư sinh nghèo khó nhưng hiếu học là Dương Lễ. Hai người kết nghĩa huynh đệ. Dương Lễ hiếu học nên đến kỳ thi anh đạt được công danh. Còn Lưu Bình vì có tiền của nhiều nên anh không chăm học, đến kỳ thi, anh đi không rồi lại trở về không. Anh cũng không buồn sầu lo lắng gì, cứ mãi lo ăn chơi. Dương lễ đau xót nhưng khuyên bạn không được. Việc gì đến rồi cũng phải đến.
Một hôm Lưu Bình đến nhà Dương Lễ xin tá túc, vì nhớ đến tình bạn tri kỷ mà hai người đã từng thề ước với nhau, đồng thời Lưu Bình còn nhớ đến những gì mà mình đã từng cưu mang nên Dương Lễ mới được như ngày hôm nay. Nhưng nào ngờ, khi vừa nhìn thấy người bạn năm xưa, Dương Lễ trở mặt không nhìn, còn nói những lời chê bai thậm tệ. Lưu Bình thất vọng bỏ đi, lòng buồn cho thế thái nhân tình. Trong lúc thất vọng, anh gặp được một người an ủi và lo lắng. Từ đó anh cố gắng học hành để đạt cho được ý nguyện, trước tiên là để trả thù cho thế thái nhân tình, kế đến là để làm lại cuộc đời. Ngày vinh quang đã đến, trời không phụ lòng người. Anh vội trở về tìm người đã giúp anh làm nên danh phận, nhưng không thấy, anh đến nhà người bạn mà anh cho là bất nhân, để tìm cách trả lại mối hận năm xưa. Nhưng lại một bất ngờ nữa, người đã từng giúp anh trong những tháng ngày gian khổ, giờ đây lại đang ở bên cạnh người mà anh cho là bất nhân. Anh chợt hiểu ra, vì lo lắng yêu thương, nên người bạn tri kỷ đã dùng khổ nhục kế và cho người vợ thân yêu nhất của mình giúp đỡ anh lập được công danh. Đôi bạn càng hiểu nhau càng thương mến nhau hơn.
Chỉ có tình yêu thương chân thành, mới có thể làm cho tình bạn cho dù ở bất cứ nơi đâu cũng có thể như là ở kề cận để lo lắng cho nhau.
Chúa Giêsu chuẩn bị mọi sự thật chu đáo trước khi Ngài rời xa các môn đệ. Ngài truyền lệnh cho các ông thi hành "các con hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần", không phải chỉ có thế, Ngài còn hứa một điều hết sức quan trọng: "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế". Các môn đệ không còn buồn sầu lo lắng gì nữa, mà các ông thi hành mệnh lệnh đã được trao cho. Các ông thi hành với một con tim cháy bừng lửa yêu thương, với một niềm tin vững mạnh là luôn có người mình yêu thương ở bên cạnh.
Mỗi người trong chúng ta đang sống trong tình yêu thương, mà Chúa Giêsu cũng chuẩn bị chu đáo cho chúng ta trong mọi việc và Ngài cũng hứa như các tông đồ khi xưa: "Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế". Nhưng nhiều khi trong cuộc sống, chúng ta sống dường như không có Chúa bên cạnh, chúng ta mãi đi tìm những thú vui cho riêng mình mà để ngoài tai tất cả mọi lời nói, lời khuyên can. Những gương tốt ngay trước mắt, chúng ta cũng không cần nhìn đến. Những khi sa cơ thất thế, chúng ta quay qua phiền trách tất cả mọi người, phiền trách cả Thiên Chúa của chúng ta. Chúng ta ngỡ rằng Ngài ở tận trên trời xa xôi nên không nhìn thấy cũng không biết những gì chúng ta đã và đang làm.
Nếu chúng biết thức tỉnh như anh chàng Lưu Bình, thì cơ may vẫn còn đến với chúng ta, khi đó chúng ta đã nhận ra ơn Chúa qua những người chung quanh, qua những bàn tay giúp đỡ chúng ta, qua những lời nói chân thành, có khi còn qua những thất bại trong cuộc đời. Nếu chúng ta biết nhận ra Chúa, thì bất cứ giờ phút nào Ngài vẫn luôn ở bên chúng ta như Ngài đã hứa. Nếu chúng ta biết tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, biết đến với mọi người để đem mọi người về làm môn đệ của Chúa, một môn đệ của Tình Yêu Thương, thì thật là hạnh phúc cho chúng ta.
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta được biết nhận ra Chúa trong cuộc sống hằng ngày, để biết luôn lắng nghe và vâng phục Thánh Ý Chúa.

 
 

LênTrời-211: Ý NGHĨA THĂNG THIÊN

Mt 28, 16 - 20 
 

5g17' sáng ngày 19.04 vừa qua, mọi người đã chứng kiến một bước tiến mới của ngành viễn thông: LênTrời-211

5g17' sáng ngày 19.04 vừa qua, mọi người đã chứng kiến một bước tiến mới của ngành viễn thông Việt Nam khi vệ tinh đầu tiên của Việt Nam bay vào không gian. Từ độ cao 35.768 km so với mặt đất, vệ tinh Vinasat-1 sẽ trở thành người bạn đồng hành không mệt mỏi trong suốt vòng đời 15-20 năm của nó nhằm phục vụ lợi ích cho nhân dân Việt Nam .
Hai tuần sau đó, tức là hôm nay, người Kitô hữu chúng ta cử hành thánh lễ mừng kính biến cố thăng thiên của Đức Giêsu, biến cố đánh dấu lần hiện ra cuối cùng của Đức Giêsu với các Tông đồ; để rồi từ đó trở đi, Người đồng hành cách thiêng liêng với Giáo Hội trong hành trình hướng về quê trời. Từ sự kiện thời sự vừa xảy ra, chúng ta cùng nhau suy nghĩ về biến cố thăng thiên của Đức Giêsu trong đời sống chúng ta.
Vệ tinh Vinasat-1 khi bay vào không gian, nó được định vị tại một khoảng không gian dành riêng cho nó, quỹ đạo 132 độ Đông. Còn khi nói Đức Giêsu lên trời, chúng ta phải hiểu thế nào? Có phải Người đi đến một nơi có thể định vị được trong không gian bao la nầy không? "Trời" của Kinh Thánh không nhất thiết đồng nghĩa với "trời" của con người. Khi nói Đức Giêsu lên trời không có nghĩa là Người bay lên khoảng không gian trên đầu ta. Trời là nơi Thiên Chúa ngự, mà Thiên Chúa không lệ thuộc vào thế giới vật chất như con người, nên "nơi" của Ngài không lệ thuộc không gian và thời gian, không xác định cụ thể một nơi có thể đo đạc và nhìn thấy được. Do đó, khi nói Đức Giêsu lên trời, ta không nên hiểu Người bay lên một nơi nào đó trên tầng mây xanh; trái lại, phải hiểu rằng Người về cùng Chúa Cha và Chúa Cha "tôn vinh Người lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai" (Ep 1,21).
Vệ tinh Vinasat-1 sẽ phủ sóng toàn cõi Việt Nam và một số nước khác trong vùng, giúp cho việc truyền tải thông tin dễ dàng hơn. Nó sẽ là công cụ hữu dụng cho ngành viễn thông Việt Nam . Còn Đức Giêsu lên trời đem lại lợi ích gì cho con người nói chung, cách riêng là những Kitô hữu chúng ta? Đức Giêsu lên trời không có nghĩa là Người sẽ mãi mãi rời xa chúng ta. Ngược lại, Người sẽ ở gần chúng ta hơn bao giờ hết. Nếu như trong thân xác thể lý trước đây, Người chỉ hiện diện tại một nơi trong cùng một thời gian mà thôi; thì giờ đây, với thân xác phục sinh không còn lệ thuộc thời gian và không gian, Người hiện diện với mọi người và bên mỗi người để nâng đỡ, ủi an, dìu dắt tất cả đến với Chúa Cha. Không những thế, Thánh Thần của Người sẽ hoạt động mạnh mẽ để tăng sức cho con người yếu đuối có đủ khả năng tiến về quê trời. Đức Giêsu lên trời vừa là bảo chứng cho cuộc sống vinh quang thiên quốc, vừa phát sinh nguồn lực dẫn đưa con người đến sự sống đời đời.
Vệ tinh Vinasat-1 đã đi vào không gian nhưng con người phải biết cách sử dụng và khai thác đúng cách thì nó mới đem lại lợi ích cho con người. Đức Giêsu lên trời cũng sẽ chỉ là một biến cố lịch sử, chẳng có ích gì nếu chúng ta không nhận biết được ý nghĩa của sự Thăng Thiên, và sống tích cực với ý nghĩa ấy. Mỗi Kitô hữu, qua kho tàng đức tin của Giáo Hội, nhận ra rằng Đức Kitô Phục Sinh luôn hiện diện bên mình, trong đời sống mình; và mình có nhiệm vụ làm sáng lên hình ảnh Người bằng cuộc sống giữa lòng xã hội. Đồng thời, theo lệnh truyền của Đức Kitô, mỗi người cũng được mời gọi làm cho mọi người nhận biết sự hiện diện của Người bằng lời nói và bằng chính hình ảnh sống động của Đức Kitô nơi bản thân mình. Có như thế, "vùng phủ sóng" của Đức Kitô Phục Sinh mới rộng lan trong lòng thế giới và trở nên hữu hiệu cho hành trình tiến về sự sống đời đời của con người.
Mừng Đức Giêsu lên trời, chúng ta hướng lòng lên cao, chiêm ngưỡng Đức Giêsu là mẫu mực cho đời sống mình, rồi trở về cuộc sống thường nhật, ra sức bắt chước Người trong cách ăn, nết ở; để "tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). Nhờ đó, sức sống của Đức Kitô phục sinh ở mãi trong ta và rồi lan rộng cho mọi người bên ta.

 
 

LênTrời-212: SỨ MỆNH

Mt 28, 16 - 20 
 

Trong lá thư của cha tuyên uý Vania gởi cho cha me trước khi gục ngã dưới làn mưa đạn đại: LênTrời-212

Trong lá thư của cha tuyên uý Vania gởi cho cha me trước khi gục ngã dưới làn mưa đạn đại để như sau: "Cha mẹ yêu dấu Thiên Chúa đã vạch chỉ cho con con đường con phải theo Ngài. Con không chắc là có thể còn sống để trở về với cha mẹ nữa, con không cảm thấy lo sợ vì có Chúa ở cùng con. Người ta cấm cản không cho con rao giảng về Chúa, và con phải trải qua nhiều khó khăn thử thách, thế nhưng con tuyên bố với họ là con sẽ không sợ, mà tiếp tục rao giảng Tin Mừng và tình yêu Chúa Kitô, bởi vì đó là điều Thánh Linh đã phán bảo con; Hôm mùng 10 tháng này, khi con rao giảng một binh sĩ đã tin Chúa".
Qua đời sống chứng nhân của cha Viana, rao giảng là một công việc rất cần thiết và hệ trọng, một công việc phải được xuất phát từ một con tim quảng đại, nhiệt thành trong tình yêu Chúa. Để được như thế thì lời Đức Giêsu nói với các môn đệ trước khi Ngài về trời: "Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần; giảng dạy cho họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho các con", không phải là một lời nói thông thường mà như một lời trăn trối thiêng liêng, một sứ mệnh vô cùng cao quý, vô cùng to lớn và vô cùng nặng nề.
Công cuộc truyền giáo của Người, công việc rao giảng để dẫn đường chỉ lối cho mọi người về với Chúa Cha vẫn chưa hoàn tất. Còn rất nhiều người đang sống trong u mê, họ vẫn chưa nhìn thấy ánh sáng của Chúa. Cánh đồng truyền giáo còn bao la bát ngát. Đó không chỉ là sứ mạng của các tông đồ, của các giám mục, linh mục ngày nay, mà là sứ mạng của toàn thể Giáo Hội của tất cả mọi người.
Qua mọi thời, Giáo Hội vẫn tiếp tục sứ mạng đó, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, những khi Giáo Hội bị bách hại dã man, các môn đệ của Chúa vẫn hiên ngang rao giảng, thực hiện sứ mạng mà Chúa Kitô đã giao phó. Giống cha Viana, họ cũng sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì Nước Trời, để minh chứng cho niềm tin của họ vào Đức Kitô.
Ngày lễ Chúa Lên Trời phụng vụ muốn cho chúng ta thấy nhóm mười một đã thực sự trưởng thành, và trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Nhưng họ còn phải chờ đón ơn Thánh Thần mới có thể ra đi tuyên chứng. Vì thế, lễ Chúa Lên Trời muốn nói lên sự kiện mới trong cuộc sống của Hội Thánh và của chúng ta hơn là một biến cố trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng được đổi mới và lãnh nhận sứ mạng truyền giáo của Đức Giêsu qua Bí Tích Thánh Tẩy. Người truyền giáo là người dám loan truyền sự hiện diện của Chúa giữa nhân loại, nghĩa là cho mọi người nhìn thấy Chúa qua đời sống chứng nhân thường ngày. Thử hỏi, Giáo Hội Việt Nam, Khi Tin Mừng mới được gieo vãi vào Việt Nam, được phát triển mạnh mẽ, rồi qua bao triều bạo Chúa bắt bớ và giết chóc nhưng vẫn phát triển mạnh mẽ. Những nhân chứng đó chính là hình ảnh Chúa Kitô hiện diện qua các thánh tử đạo. Còn ngày nay, trong một thế giới vô thần lại cần rất nhiều chứng nhân hơn nữa, cần những nhân chứng biết hy sinh đem Lời Chúa đến như dòng nước ấm rửa tan sự băng giá còn khô cứng trong lòng của họ. Nhiệm vụ này đòi hỏi mỗi người chúng ta hãy kiên trì làm chứng bằng chính đời sống của mình.
Nhu cầu được biết Tin Mừng là khát vọng của nhiều người còn chưa biết Chúa, họ vẫn còn đang mò mẫm tìm đường. Vì thế "lời trăn trối" của Đức Giêsu hôm nay cần thiết hơn bao giờ hết. Đòi hỏi mỗi người hãy cấp bách đi gieo Lời Chúa, gieo Tin Mừng trên những cách đồng xa, những nơi mà hạt giống Tin Mừng chưa được gieo vãi, vì ở đó đang đói khát Tin Mừng, đang mong được thoát khỏi cảnh nô lệ tội lỗi của ma quỷ và của sự chết. Khát vọng đó là mảnh đất tươi tốt thúc bách chúng ta mau mắn thi hành sứ mạng của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin cho thế giới này ngày cáng có nhiều người trẻ dám dấn thân, phục vụ trong cánh đồng truyền giáo của Chúa. Amen


 

LênTrời-213: ĐẤT TRỜI GIAO DUYÊN

Mt 28, 16 - 20 
 

Tv 115 có viết "Trời là trời của Chúa, còn đất thì Chúa cho con cái loài người." (Tv 115,16 ). Như thế,: LênTrời-213

Tv 115 có viết "Trời là trời của Chúa, còn đất thì Chúa cho con cái loài người." (Tv 115,16 ). Như thế, trời là nơi Chúa ngự. Nhưng Thiên Chúa không chỉ ở trên trời mà Ngài còn yêu con người và thương trái đất đến nỗi Ngài đã sai Con Một của Ngài đến ở với con người. "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời." (Ga 3,16 ). Và từ khi Con Thiên Chúa đến đặt chân ở trái đất này và cắm lều ở đó thì Đất và Trời đã giao duyên.
Trái đất giờ đây cũng trở thành nơi Chúa ngự. Đất thấp đã mang dáng dấp của trời cao. Đây quả là mầu nhiệm của tình yêu, vượt quá sức hiểu biết của con người. Thiên Chúa "cúi xuống để nhìn xem bầu trời trái đất ?" (Tv 113,6), một sự cúi mình vì yêu. Nhờ Đức Giêsu Kitô, con người nơi đất thấp đã được chạm đến trời cao và có thể bước vào trời cao. Quả là một huyền nhiệm của tình yêu! Thật chẳng có gì quá đáng khi nói: "Thiên Chúa xuống làm người để cho con người lên làm Chúa". Trong huyền nhiệm của tình yêu thì điều đó hoàn toàn có thể hiểu được!
Thật ra, Đất thấp chẳng xa lạ gì với Đức Giêsu Kitô vì nhờ Ngài mà nó được dựng nên. Nhưng từ khi Ngài đến ở với con người thì đất đã bắt đầu thành trời và mãi mãi thuộc về trời cao. Chính Đức Giêsu Kitô đã nói: "Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20).
Tôi rất thích ngắm nhìn cảnh một đứa bé lên 2, lên 3 được cha của nó nâng nó lên và cho ngồi trên đôi vai của mình. Đứa bé thích thú và sung sướng vì cảm thấy mình cao bằng và thậm chí cao hơn cha của nó. Vì thương con của mình nên người cha cúi mình xuống để nâng nó lên. Thiên Chúa cũng hành động như thế và còn vượt xa hơn thế nhiều lần đối với con người chúng ta.
Tình yêu đã làm cho trời cao ngang bằng với đất thấp; đất trời đã giao duyên và nên một với nhau trong Đức Giêsu Kitô.
Hiểu như thế, chúng ta sẽ không còn thắc mắc hay lo buồn khi nói Chúa lên trời nữa. Chúa lên trời cũng đồng nghĩa với việc Chúa đang ở bên tôi. Có khác chăng là cách thức Ngài hiện diện với chúng ta mà thôi. Trong Đức Giêsu Kitô, trời và đất là một. Đây quả là nguồn động viện và khích lệ quá lớn đối với đời sống của người Kitô hữu chúng ta. Vì từng giây từng phút, chúng ta đang sống và đang hoạt động với Đức Giêsu Kitô.
Như vậy, nhiệm vụ xây dựng Quê hương Nước Trời của người Kitô hữu chính là công việc xây dựng quê hương trần thế này. Nếu trời là nơi Chúa ngự, là nơi chốn của tình yêu, của công lý, của hoà bình và hạnh phúc thì con người cũng phải có trách nhiệm biến trái đất này thành nơi ở của những điều thiện hảo đó. Như vậy, Nước Trời đâu còn là cái gì đó xa lạ hay là sản phẩm hoang tưởng của những con người ngây ngô như một số người vẫn nghĩ như thế.
Trời cao và đất thấp ở bên nhau khi mọi người Kitô hữu biết sống với nhau cách chân tình, biết chia sẻ cho tha nhân những gì mình có , biết chấp nhận hy sinh và phục vụ anh em mình.
Trời cao và đất thấp đã gần nhau khi con người không còn bị mê hoặc bởi những của cải lợi danh, không bị những đam mê của xác thịt kéo ghì mình lại hay không chùn bước trước những đau khổ và chết chóc trong đời thường.
Hãy làm chứng về Nước Trời và làm cho "Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời" bằng cuộc sống vui tươi và hạnh phúc ở đời này; hạnh phúc khi hy sinh, tự hiến, khi chịu thua thiệt, mất mát, khi chịu lãng quên . . . Chúng ta không thể làm chứng về thiên đàng bằng một cuộc sống u sầu buồn bã được.Thiên đàng mai sau đã chớm nở ngay trong cuộc sống hạnh phúc ở đời này.
Nhà tỉ phú Warren Buffett đã nói một câu rất chí lý: "Nếu bạn không thấy hạnh phúc là lỗi của bạn". Sự thật là như thế. Tôi chỉ có thể được hạnh phúc sống dời sau bên Chúa nếu tôi biết bắt đầu sống hạnh phúc bên Chúa ngay từ bây giờ, ngay từ đời này.
Lạy Chúa, xin cho con biết ngước mắt nhìn lên trời cao với một tâm hồn đơn sơ và tự do của người con cái Chúa. Xin đừng để những vất vả và chán chường của cuộc sống ở đời này làm con quên mất trời cao. Xin cũng đừng để những vẻ đẹp của trần gian với những cám dỗ và quyến rũ của nó làm cản bước tiến của con trên đường về với Chúa. Ước gì qua từng ngày sống hiện tại của con đây là một phản chiếu cho mọi người thấy Nước Chúa đang tỏ. Amen.

 
 

LênTrời-214: LỆNH LÊN ĐƯỜNG

Mt 28, 16 - 20 
 

Lệnh truyền của Chúa Giêsu trước khi về Trời: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành: LênTrời-214

Lệnh truyền của Chúa Giêsu trước khi về Trời: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." (Mt 28,19) thôi thúc các Tông đồ ra đi gieo rắc Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho muôn dân. Đó chính là lệnh lên đường, mà mỗi người tín hữu, những kẻ tin vào Chúa Kitô phải thực hiện. Vì tin chính là làm chứng cho Chúa Kitô. Và nếu nhờ tin mà được rỗi, thì mọi tín hữu - không chỉ lo cho riêng mình - mà có trách nhiệm lo cho mọi người được phúc cứu độ.
Sứ mạng được giao phó cho mười một Tông đồ là: Giảng dạy để chuẫn bị cho mọi người (chứ không chỉ riêng người Do thái) lãnh nhận Phép Rửa tội, biến đổi họ trờ thành môn đệ Chúa Kitô, thành Kitô hữu và nhờ sống niềm tin vào Chúa Kitô mà được rỗi.
Kế thừa niềm tin của các Tông đồ, chúng ta cũng nhận lãnh sứ mạng lên đường, ra đi mở mang Nước Chúa, qua đời sống chứng tá của mình trong môi trường sống hằng ngày. "Ra khơi thả lưới" (x.Lc 5,4) như lời Chúa dạy!
Mỗi tín hữu cần phải ra đi khỏi chính con người của mình, để mưu cầu hạnh phúc cho người khác, mà đây lại là hạnh phúc tôi hậu của đời người: hạnh phúc đời đời. Không ai lên thiên đàng một mình, vì như thế chưa phải là tin. Đức tin mà chúng ta có được là nhờ Hội Thánh trao ban và cùng với Hội Thánh chúng ta tin và làm cho người khác cũng được tin.
Ra đi còn có nghĩa chúng ta phải vượt xa hơn khỏi những lo toan đời thường cho gia đình mình, vật chất cũng như tinh thần, để đem Chúa đến cho những người chung quanh: những người thân cận, làng xóm, những người chúng ta gặp trong mối giao tiếp nghề nghiệp của mình... bằng mối quan tâm đến nhu cầu của những anh em nghèo khổ, bấtt hạnh; bằng những lời nói khích lệ, bao dung; bằng những việc làm đầy thiện ý; bằng chính cả con người sẳn sàng cống hiến, chia sẻ cho mọi người, vì Chúa.
Cuộc ra đi nào cũng cần phải chuẫn bị hành trang, đó là sức mạnh của ơn Chúa qua việc cầu nguyện, chuyên cần lãnh các Bí tích, sống lời Chúa dạy và đích đến làm cho mọi người, qua chúng ta, đón nhận đức tin mà được rỗi. Nếu rao giảng Lời Chúa, là nói điều Chúa muốn nói chứ không phải ý của chúng ta, thì cũng vậy đời sống người Kitô hữu phải là hình ảnh sống động đầy yêu thương, nhân hậu của Chúa Kitô, được khắc sâu trong tâm hồn chúng ta, toả lan ra bên ngoài.
Có ngày gieo, thì sẽ có ngày gặt. Xin cho chúng con được góp một cánh tay vào ngày mùa sau hết trong cõi đời đời.

 
 

LênTrời-215: KHÁT VỌNG LÊN TRỜI CAO

Mt 28, 16 - 20 
 

Khát vọng lên trời cao hình thành nơi con người từ rất sớm. Lúc nhỏ ta thường ngước nhìn lên: LênTrời-215

Khát vọng lên trời cao hình thành nơi con người từ rất sớm. Lúc nhỏ ta thường ngước nhìn lên trời với ước mơ thật con trẻ. Ước mơ tầm thường nhưng thật lớn lao. Phải chi mình được lên trên trời để có thể nhìn thấy những gì trên trái đất. Ước vọng ấy cũng là khát vọng của bao con người. Cuộc trần nhiều khổ ải, đời sống còn lắm gian nan người ta còn mơ ước đến một cuộc sống trên cao tách biệt nơi trần thế, nơi đó con người được sống công bằng và hạnh phúc.
Con người coi trời là cõi xa xôi với nhiều điều bí nhiệm. Dù chưa rõ sinh hoạt nơi đó như thế nào nhưng con người vẫn tiếp tục ước mơ. Ước mơ một ngày tìm được lối thoát cho cuộc đời. Đói kém, đau buồn, giả dối, bất công mà con người phải đối diện hằng ngày làm cho cuộc sống thêm nặng trì, uể oải. Dù không hiểu rõ hạnh phúc trời cao là thế nào, có bền vững hay không nhưng con người vẫn tiếp tục hướng về trên cao.
Chúa về trời không phải Chúa bay lên khoảng không gian rộng lớn đang bao trùm quả đất. Trời không phải là chốn cao xanh, hay ở một nơi muôn trùng xa cách. Trời không phải là bầu khí quyển hay phần vũ trụ ở trên đầu ta. Theo cái nhìn Kitô giáo, trời là nơi Thiên Chúa ngự trị, nói có tình yêu chân thực mà con người luôn kiếm tìm. Trời có nghĩa là thế giới thuộc về Thiên Chúa. Trời là đích điểm của đời sống Kitô hữu. Hạnh phúc vĩnh cửu của con người là trở về với Thiên Chúa là Cha. Trước khi Chúa Giêsu về cùng Chúa Cha, Ngài hứa ban cho ta một chỗ trong nước Cha: "Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy".
Mừng Lễ Thăng Thiên là mừng ngày Đức Giêsu được tôn vinh. Một con người tên Giêsu nay được hưởng vinh quang và danh dự của Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa, được sống bên Chúa. Chúa về trời là một khẳng định về niềm hy vọng của con người sẽ trở thành hiện thực.
Chúa Giêsu về trời không phải là một cuộc chia ly xa cách, không phải là cảnh tiễn đưa Chúa về phương trời xa lạ. Thăng thiên chỉ là sự thay đổi cách thức hiện diện. Ta không còn thấy Ngài, không còn đụng chạm tiếp xúc Ngài bằng các giác quan tự nhiên nhưng chúng ta vẫn gặp thấy Ngài trong niềm tin và lòng yêu mến. Tuy Chúa đi xa nhưng thật ra Ngài đang ở gần. Tuy Chúa vắng mặt nhưng Ngài đang hiện diện bên ta. Ngài hiện diện như Ngài nói: "Và đây Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20)
Khát vọng về trời là khát vọng được lên cùng Thiên Chúa. Khát vọng ấy không phải chỉ ngước nhìn là đủ. Ngước nhìn là tâm thái của người đang khao khát, khao khát nên trọn vẹn khi con người được lên trời, cùng hưởng phúc với Chúa Giêsu. Trời không được xây dựng trên mây trên gió nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không là chốn mơ mộng viễn vong nhưng là đã bắt đầu ngay trong thực tế hiện tại. Sống và làm việc ở trần gian đó là một nhu cầu phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ nời trần thế đó là điều kiện để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu. Đức Giêsu đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới len trời. Nhiệm vụ đó là rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa. Đến đâu Ngài thi ân giáng phúc đến đó. Đi đến đâu là gieo yêu thương đến đó. Chúa Giêsu cũng đã sai các tông đồ hãy đi và làm những điều tốt đẹp cho con người.
Lời căn dặn sau cùng của Chúa Giêsu là phương cách để con người được về cùng Thiên Chúa: Aïnh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng trái đất. Giêrusalem là nơi các tông đồ đang ở. Giuđêa xa hơn một chút nhưng khá quen thuộc vì có nhiều đã tin Chúa. Samari tuy gần mà xa vì dân miền này biết Chúa Giêsu nhưng không có cảm tình với Ngài. Đến tận cùng thế giới là mục tiêu xa nhất và bao quát nhất.
Anh chị em thân mến, Chúa về trời và những lời Ngài dạy cho ta có cái nhìn đúng đắn hơn về trời và đất. Chúa về trời cho ta biết rằng ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác; ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Tự bản chất, cuộc sống này không có tính cách vĩnh cửu. Dù muốn dù không thì mỗi chúng ta cũng sẽ phải từ giã nó để trở về quê trời, nơi Thiên Chúa ngự trị. Người khôn ngoan là người biết sắm sẵn và xây dựng tương lai đời minh không phải nơi trần thế nhưng ở quê trời.
Vâng nghe Lời Chúa, rao giảng lời Ngài và chu toàn trách nhiệm đời này là bước chuẩn bị tốt nhất cho một đời sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.

 
 

LênTrời-216: SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

Mt 28, 16 - 20
Jos. Vinc. Ngọc Biển 

 

Xưa cũng như nay, Giáo Hội luôn quan tâm đến sứ mạng truyền giáo, bởi xác định đây là bản: LênTrời-216

Xưa cũng như nay, Giáo Hội luôn quan tâm đến sứ mạng truyền giáo, bởi xác định đây là bản chất của Giáo Hội. Mất yếu tố này, chúng ta mất đi căn tính, hay nói đúng hơn, không phải là người Công Giáo đúng nghĩa, bởi lẽ đã là người Công Giáo, thì việc truyền giáo là của chúng ta, thuộc về chúng ta, vì thế, không lẽ gì chúng ta thờ ơ với sứ vụ này được!
Sứ mạng này được khởi đi từ Thiên Chúa Cha khi sai Con Một của mình xuống trần gian để loan báo về Nước Trời cho muôn dân và cứu độ nhân loại; bắt nguồn từ lệnh tryuền của Đức Giêsu cho các môn đệ trước khi về trời: "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19-20); lệnh truyền đó đã được tiếp diễn trong suốt dọc dài lịch sử từ thời các Tông đồ cho đến ngày nay và mãi về sau.
 

     Đức Giêsu ra đi, các Tông đồ, môn đệ tiếp bước
Lúc sinh thời, đã có lần Đức Giêsu mặc khải: "... tôi từ nơi Người mà đến và chính Người đã sai tôi" (Ga 7, 29); khi sắp chia tay các Tông đồ để đi chịu chết chuộc tội thiên hạ, thấy các ông buồn bã vì sắp phải chia ly, kẻ đi người ở, Ngài đã củng cố niềm tin của họ: "Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Ga 14,1); Ngài căn dặn và an ủi thêm: "Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó" (Ga 14, 2-3); Sau khi sống lại, Đức Giêsu đã báo trước giây phút Ngài sẽ về cùng Cha của Ngài, Ngài nói:"Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em" (Ga 20,17).
Qua lời dạy của Đức Giêsu, nhất là biến cố về trời của Ngài, Đức Giêsu mặc khải mà chúng ta biết, chúng ta có một nơi ở khác, nơi ở đó là một nơi tràn đầy hạnh phúc vì được diện kiến Thiên Chúa. Niềm tin này cũng được thánh Phaolô nói nhắc đến: "Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Ðức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta"(Pl 3, 20). Còn gì hạnh phúc cho bằng, khi Nước Trời là cùng đích của ta, nơi đó, chúng ta sẽ được sung mãn nguồn tình yêu, và không bao giờ sợ mất nữa, nơi mà: "trộm cướp không thể lấy mất và mối mọt không thể gặm nhấm".
Cuối cùng, Đức Giêsu đã được cất lên trời trước mắt các ông, để như lời Ngài đã nói: "Thầy đi dọn chỗ cho anh em".
Tuy nhiên, Đức Giêsu đã để lại cho các Tông đồ, môn đệ lệnh truyền của Ngài, để các ông ra đi loan báo và làm chứng nhân cho Ngài đến tận cùng trái đất, hầu mọi người sẽ được lên nơi mà Đức Giêsu đã mặc khải: "Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28, 19-20).
Như vậy, sau khi Đức Giêsu về trời, các Tông đồ và môn đệ đã xuống núi để ra đi thi hành lệnh truyền đó của Đức Giêsu, bắt đầu từ Giêrusalem và đến tận cùng trái đất...
 

     Truyền giáo là bản chất của chúng ta
Nếu trước kia, Đức Giêsu truyền lệnh cho các Tông đồ và môn đệ lên đường loan báo Tin Mừng cứu độ, thì hôm nay, cũng cùng lệnh truyền đó, Ngài trao phó cho mỗi chúng ta sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho muôn dân.
Câu nói nổi tiếng của Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô cũng phải là nỗi thao thức của tất cả chúng ta:"Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! " (1Cr 9, 16); và, lệnh truyền của Đức Giêsu năm xưa: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16, 15), vẫn mãi là một lời mời gọi, luôn thôi thúc, mang tính mầu nhiệm và cấp thiết cho Giáo Hội cũng như mọi thành phần, qua mọi thời, mọi nơi.
Vì thế, ở bất cứ nơi đâu, ngoài việc cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo, mỗi người phải thể hiện vai trò ngôn sứ mà mình đã lãnh nhận ngày chịu Phép Thánh Tẩy bằng và qua hành động. Trong nhiều cách thế, có lẽ là trở nên những chứng nhân của những lời loan báo là điều quan trọng và có tính khả tín.
Cách thức này đã được Đức Thánh Cha Phaolô VI nói đến trong Thông điệp "Evangelii Nuntiandi", ngài nói: "Người thời nay sẵn sàng nghe những chứng nhân hơn là thầy dạy và người ta có nghe theo thầy dạy là vì thầy dạy cũng là chứng nhân" (Thông điệp "Evangelii Nuntiandi" số 41).
Thật vậy, truyền giáo và làm chứng chẳng khác gì như hai mặt trên một bàn tay, nên không thể nói rằng: tôi chỉ nói, loan báo về Chúa còn việc tôi sống là chuyện khác!
Trong thế giới ngày nay, con người dần mất đi cảm thức về tâm linh, từ đó như một hệ quả, họ sống trong sự thất vọng, bởi khám phá ra trong cuộc sống có nhiều điều không thỏa lấp được nỗi khát vọng thâm sâu trong tâm hồn của con người. Vì thế, là người kitô hữu trong thế giới hôm nay, chúng ta phải là những chứng nhân của niềm hy vọng, khi mang trong mình tràn đầy cảm nghiệm về Thiên Chúa. Thánh Phêrô cũng đã nói đến vai trò chứng nhân của niềm hy vọng, ngài nói: "Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em" (1Pr 3,15).
Ngoài ra, làm chứng cho Chúa trong một xã hội đang dần mất đi tinh thần liên đới, trách nhiệm với nhau, là một tiêu điểm trong xã hội hôm nay mà chúng ta phải quan tâm, bởi lẽ, con người ngày nay họ luôn bị vô cảm, dửng dưng và ích kỷ, không muốn liên lụy đến bản thân. Thực trạng cho thấy: "không thiếu những cái đầu lớn, nhưng bên cạnh đó lại quá nhiều trái tim nhỏ"; hay "không thiếu gì cái đầu nóng, nhưng lại có trái tim lạnh". Là kitô hữu, chúng ta được mời gọi dấn thân trong môi trường đang trở nên xa lạ đối với cuộc sống con người. Khi tiến bước và trở nên chứng nhân như thế, mỗi chúng ta trở nên một hình ảnh của Đức Giêsu hiền hòa, nhân hậu, bao dung, liên đới và sẵn sàng tha thứ cho mọi người. Làm được như thế, ấy là lúc chúng ta: "ngửi thấy mùi chiên".
Lạy Chúa Giêsu, lệnh truyền của Chúa khi xưa cho các Tông đồ, môn đệ cũng chính là lệnh truyền cho mỗi chúng con ngày hôm nay. Xin Chúa ban cho chúng con ý thức được điều đó và sẵn sàng ra đi loan báo Tin Mừng tình thương. Tin Mừng cứu độ đến cho hết mọi người. Amen. 

 
 

LênTrời-217: TIẾP TỤC LOAN BÁO ƠN CỨU ĐỘ

Mt 28, 16 - 20
John Nguyễn  

 

Để cứu con người, Thiên Chúa cần họ cộng tác với Ngài . Hôm lễ Giáng Sinh, chúng ta đọc: LênTrời-217

1. Để cứu con người, Thiên Chúa cần họ cộng tác với Ngài
Hôm lễ Giáng Sinh, chúng ta đọc bài Tin Mừng nói về việc Đức Giê-su giáng trần, bắt đầu cuộc đời làm người của Ngài. Hôm nay chúng ta đọc bài Tin Mừng nói về việc Ngài thăng thiên, kết thúc cuộc đời tại thế của Ngài. Ngài đến thế gian - vừa với tư cách một vị Thiên Chúa vô hạn và toàn năng, vừa với tư cách một con người đầy giới hạn và bất lực - để phục vụ con người, hầu trả lại cho con người thứ hạnh phúc vĩnh cửu đã bị nguyên tổ con người đã làm mất. Nhưng Ngài không thể làm chuyện này một mình được.

Khi dựng nên con người và cùng lúc ban hạnh phúc nguyên thủy cho con người (lúc ấy con người chưa có), Thiên Chúa không cần ý kiến hay sự cộng tác của con người. Nhưng khi con người đã hiện hữu, nhất là khi họ đã lạm dụng chính tự do Thiên Chúa ban để chống lại Ngài và làm mất đi hạnh phúc của mình, thì Ngài không thể tự mình chuộc lại hạnh phúc ấy cho con người mà không cần đến sự cộng tác tự nguyện của họ. Tương tự như khi sinh ra ta, cha mẹ không cần đến ta, nhưng một khi đã có ta, thì có rất điều ích lợi cho ta các ngài không thể làm một mình mà không cần ta cộng tác vào. Chẳng hạn các ngài có thể đem đồ ăn đến tận miệng ta, giúp chúng ta đủ mọi phương tiện để học hành, nhưng ta có ăn uống học hành hay không thì hoàn toàn do ta. Cha mẹ không thể ăn uống, học hành thay cho ta được. Cũng vậy, Thiên Chúa không thể cứu chuộc ta, lấy lại hạnh phúc đã mất cho ta mà không cần đến sự hợp tác của ta. Để cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã làm tất cả những gì Ngài có thể làm được qua Đức Giê-su. Tuy nhiên, vẫn còn lại một phần rất nhỏ mà chính con người phải làm, không ai làm thay được.

Nhưng làm sao con người ý thức được điều đó để cộng tác với Ngài hầu được cứu rỗi và hạnh phúc? Đức Giê-su có làm được điều ấy không? Làm sao Ngài làm được điều ấy cho từng người trên thế giới từ thế kỷ này sang thế kỷ khác?

2. Để loan báo ơn cứu độ, phục vụ con người, Đức Giê-su mời gọi ta cộng tác tiếp tay với Ngài

Đức Giê-su đến thế gian với mục đích ở với con người, chia sẻ thân phận đầy đau khổ của họ, xoa dịu những nỗi đau, săn sóc và chữa lành mọi căn bệnh cho họ, nhất là đem lại nguồn ủi an, hạnh phúc cho họ. Ngài muốn phục vụ toàn thể con người, đem ơn cứu rỗi đến cho họ không trừ một ai. Nhưng thế giới của con người thì bao la trải dài suốt mấy chục thế kỷ, còn Ngài chỉ sống tại thế có 33 năm thật ngắn ngủi, tại đất nước Do Thái quá chật hẹp. Làm sao Ngài có thể đến với từng người, phục vụ từng người không trừ ai như Ngài mong muốn được? Ngài có phương cách của Ngài, đó là mời gọi những người theo Ngài, những môn đệ của Ngài trong mọi thế kỷ, mọi thế hệ loài người cộng tác tiếp tay cho Ngài, trong đó có bạn, có tôi, cùng bao nhiêu Ki-tô hữu khác. Ngài lại mời gọi và đòi hỏi sự cộng tác.

Vì thế, trước khi từ biệt các môn đệ để về với Chúa Cha, Đức Giê-su đã trăn trối cho các ông di chúc này: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở nên môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy cho họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em". Đó không phải chỉ là lời mời gọi, mà là một lệnh truyền không chỉ cho 12 môn đệ đầu tiên của Ngài, mà cho tất cả những môn đệ thuộc tất cả những thế hệ sau, nghĩa là cho tất cả những ai theo Ngài. Vì thế, việc loan báo Tin Mừng hay phúc âm hóa môi trường mình sống, làm cho mọi người theo Đức Giê-su, thành môn đệ của Ngài, rửa tội cho họ, nhất là sống tinh thần yêu thương mà Ngài đã truyền dạy là bổn phận của mọi Kitô hữu.

3. Đức Giê-su mong được tiếp tục yêu thương và phục vụ con người qua bản thân và đôi tay của ta

Sứ mạng của Đức Giê-su thật vĩ đại, để hoàn tất sứ mạng ấy, Ngài muốn hiện diện một cách cụ thể bằng xương bằng thịt tại trần gian để sống với mọi người, chia sẻ đau khổ với mọi người thuộc mọi thời đại, mọi dân tộc, mọi quốc gia. Ngài muốn trực tiếp nói với mỗi người, phục vụ, săn sóc, an ủi, xoa dịu và chữa lành những nỗi đau, những căn bệnh của mỗi người, nhất là đem lại nguồn ủi an và hạnh phúc cho họ. Nhưng trong thực tế, Ngài chỉ sống tại trần gian một thời gian hết sức ngắn ngủi. Vì thế, để tiếp tục công việc ấy, Ngài muốn hiện diện ở trần gian một cách khác, một cách gián tiếp, qua sự hiện diện của ta. Nghĩa là Ngài muốn yêu thương mọi người bằng trái tim ta, suy nghĩ tìm ra giải pháp cho mọi vấn đề của con người bằng khối óc của ta, phục vụ mọi người bằng đôi tay của ta, đến với mọi người bằng đôi chân của ta, nói với mọi người, báo tin vui cứu độ cho mọi người bằng miệng lưỡi của ta. Ngài mong ta trở nên một dụng cụ của Ngài, tùy ý Ngài sử dụng hầu thực hiện chương trình của Ngài. Nếu Ngài đã là hiện thân của Thiên Chúa Cha giữa con người, thì Ngài cũng muốn ta là hiện thân của Ngài giữa những người sống chung quanh ta, trong gia đình ta, giữa xã hội, trong lòng thế giới. Nếu cách đây 2000 năm, Ngài đã là Em-ma-nu-en, tức Thiên Chúa ở giữa loài người qua con người Đức Giê-su, thì hiện nay, Ngài cũng muốn tiếp tục làm như thế, nhưng lần này qua con người mỗi chúng ta.

4. Hãy trở nên hiện thân của Đức Giê-su ở trần gian, giữa những người sống chung quanh ta

Chúng ta có thể trở nên hiện thân của Đức Giê-su ở trần gian, miễn là chúng ta có tình yêu đối với Ngài, với mọi người, và muốn trở nên hiện thân của Ngài giữa thế giới. Để làm được điều ấy, chúng ta chỉ cần ý thức rằng mình chính là hình ảnh của Thiên Chúa, được tạo dựng giống như Thiên Chúa (St 1,26.27; 9,6; Ep 4,24), là con cái Thiên Chúa (Lc 20,36; Rm 8,14.16; Gl 3,26), và mang trong mình bản tính thần linh của Ngài (2Pr 1,4). Vì thế, ngay từ bản chất, một cách nào đó, chúng ta đã là hiện thân của Thiên Chúa rồi. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều khi chúng ta chưa sống đúng với bản chất cao cả đó. Chúng ta còn sống một cách hèn hạ, nhát đảm, bần tiện, ích kỷ, chỉ vì chúng ta chưa ý thức được phẩm chất thần linh cao quí của mình. Chúng ta giống như một hoàng tử con ruột của một ông vua, nhưng vì sống trong môi trường dân giã lâu năm nên đã quên đi nguồn gốc cao quí của mình, nên sẵn sàng đem thân làm tôi tớ người khác, làm những điều không xứng hợp với phẩm giá mình.

Đức Giê-su muốn mỗi người chúng ta ý thức được phẩm chất cao cả của mình, đồng thời mời gọi ta trở nên hiện thân của Thiên Chúa, của Ngài nơi những người chung quanh chúng ta, để qua chúng ta, Ngài yêu thương họ, phục vụ họ. Chúng ta sẽ trở nên hiện thân của Thiên Chúa khi những người chung quanh cảm nghiệm được tình yêu thương của ta đối với họ, qua việc quan tâm, chăm sóc, hy sinh vì hạnh phúc của họ.

Lời mời gọi ấy, trước khi về trời, Đức Giê-su đã nói với chúng ta dưới một hình thức khác, một lệnh truyền, một sứ mạng được trao phó: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em". Làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa, cũng là giúp họ ý thức được họ là hình ảnh của Thiên Chúa, là con cái Ngài, và là anh em của nhau. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Đức Giê-su truyền dạy chính là tìm cách làm cho họ yêu thương nhau, phục vụ nhau. Vả lại yêu thương nhau chính là nét đặc trưng nhất, là tiêu chuẩn bảo đảm nhất chứng tỏ mình là môn đệ đích thực của Đức Giê-su. Chính khi chúng ta sống như thế, sống như những hiện thân của Đức Giê-su ở giữa anh chị em ta, thì ta đã làm cho câu nói sau đây của Đức Giê-su trở thành hiện thực và cụ thể: "Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế". Chúng ta hãy trở nên Giê-su hay Em-ma-nu-en ở giữa anh chị em mình!

CẦU NGUYỆN
Tôi thường nghe Thiên Chúa nói qua lương tâm tôi:
"Cách đây 2000 năm, Cha đã rao truyền chân lý, bày tỏ tình yêu và phục vụ săn sóc cho một số rất ít người Do Thái thời ấy qua con người Giê-su, Con của Cha. Cha vẫn muốn tiếp tục làm công việc yêu thương săn sóc ấy cho tất cả mọi người không trừ ai ở trần gian này. Nhưng lần này không phải qua con người Giê-su nữa, mà qua bản thân con và nhiều người khác như con. Con có đồng ý để Cha yêu thương họ bằng trái tim con, và phục vụ họ bằng đôi tay của con không?"

 
 

LênTrời-218: ĐIỂM HẸN GALILÊ

Mt 28, 16 - 20
Sr Mai An Linh, OP  

 

Cảnh cuối cùng của Tin mừng Mathêu cho thấy các môn đệ đã đi Galilê như lệnh của Thiên Thần: LênTrời-218

Cảnh cuối cùng của Tin mừng Mathêu cho thấy các môn đệ đã đi Galilê như lệnh của Thiên Thần (Mt.28,7) và lệnh của Đức Giêsu truyền qua mấy phụ nữ (c.20) và Đức Giêsu hiện ra với các ông không phải là trình thuật Phục Sinh mà có một vai trò khác, đó là dẫn chúng ta sang " thời gian của Hội Thánh", Đấng được tôn vinh - Đấng quyền uy trên toàn thế giới, sai môn đệ đi với những lời căn dặn rõ ràng và hứa ở với họ ở với họ cho đến tận thế.

Điểm hẹn gặp lần cuối, giữa Chúa Giêsu và các tông đồ không phải ở Giêrusalem như Luca, nhưng là ở Galilê. Mathêu muốn khẳng định rằng: Dân Do Thái bất trung, không tiếp nhận Đức Giêsu là Đấng Thiên Chúa sai đến, nên Tin Mừng được rao giảng cho dân ngoại mà Galilê là biểu tượng.

Đức Giêsu khải hoàn, Đức Giêsu sống lại vẫn là Đức Giêsu của Galilê, một Con Người qua hai giai đoạn: rao giảng và được tôn vinh. Chúng ta cũng thế, cuộc đời trần thế và cuộc đời vinh quang mai sau. Thế nhưng cuộc đời chúng ta cái gì nối kết hai quãng đời ấy? - Đó là Tình Yêu. Khi vào vương quốc của Thiền Chúa rồi, chúng ta vẫn tiếp tục điều mà chúng ta đã thực tập dưới thế, đó là yêu thương. Vậy hãy đặt niềm hi vọng nơi Đức Kitô Thăng Thiên rằng: Chúng ta sẽ được cùng ngự trị với Ngài nếu chúng ta biết bước theo Ngài khắp nơi Ngài đã đi qua.

Khi đến Galilê Chúa Giêsu đến gặp các tông đồ như đã hẹn và Ngài cũng không ngừng đến với chúng ta, gặp gỡ chúng ta qua các nẻo đường đời của chúng ta. Nếu Ngài phải quay về trời, thân xác xa cách chúng ta, nhưng chính là để từ nay ở gần chúng ta hơn và hiện diện với chúng ta trong mọi lúc. Phần chúng ta phải sống với Ngài mật thiết, vì Ngài biết chúng ta rất rõ, rõ hơn chúng ta biết mình. Ngài thấu suốt nỗi lòng thầm kín của chúng ta, Ngài hiểu rõ nỗi khao khát ước vọng của chúng ta và mong chúng ta. Chúng ta hãy phó thác trọn vẹn cho Ngài rồi hãy thực hiện điều Ngài chờ đợi nơi chúng ta là làm sứ giả rao giảng Tin mừng cho mọi người bằng chính cuộc đời của chúng ta.

Khi các môn đệ tới gặp Chúa Giêsu, các ông " phục lạy Ngài". Sự kiện phục lạy chỉ được dùng cho những ai đã nhận biết phẩm vị của Đức Giêsu và nhìn nhận phẩm vị này qua cử chỉ đó, như các đạo sĩ trong câu chuyện thời thơ ấu của Chúa Giêsu ( Mt.2,8-11), người phong cùi được sạch ( Mt.6,8), các môn đệ trên thuyền (Mt.14,33) và người đàn bà xứ Canaan ( Mt.15,25). Lòng tôn kính của các môn đệ quả có tính cách sùng bái tôn giáo và phụng vụ. Nó diễn tả trước những gì sẽ được phát biểu trong lời tuyên bố về quyền năng của Đức Giêsu ở câu 18b.

Ngài đã toàn thắng sự chết, và cả chúng ta nữa, chúng ta cũng tham dự vào sự chiến thắng ấy. Trận chiến quyết định đã xong rồi, chỉ còn những trận lẻ tẻ trong từng tâm hồn và cuộc sống của mỗi người. Chúng ta đã thành kẻ chiến thắng khi liên kết với Đức Kitô. Vậy đừng để bại trận nhục nhã ê chề nữa khi cố tình phạm tội.

Trước khi từ biệt các môn đệ để về trời, Chúa Giêsu nhắn nhủ các ông phải làm cho muôn dân đi vào mối tương quan với Chúa Giêsu, gắn bó mật thiết với Ngài như các ông đã từng có những tương quan ấy. Các ông phải rao giảng về Đức Kitô cho những người chưa biết để họ tin vào Ngài. Đồng thời phải dậy dỗ, giáo huấn cho những người đã tin.

Làm công việc này các ông không phải làm một mình mà " Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế". Ở với các ông không có nghĩa là sự hiện diện bằng xương bằng thịt, mà Chúa Giêsu thay đổi cách hiện diện, nghĩa là sau khi Phục Sinh thân xác Ngài không còn lệ thuộc không gian và thời gian. Ngài vẫn đang sống, đang tác động một cách có ý thức trên chúng ta, chúng ta cảm thấy sức mạnh Ngài, chính Ngài hoạt động trong chúng ta, trong thế giới. Chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Ngài hay không ?

Vì thế, lời hứa của Chúa Giêsu qủa là bảo đảm cho chiến thắng của chúng ta, Chúa ở với chúng ta trong những giờ phút khó khăn thử thách. Ngài sẽ là sức mạnh nâng đỡ chúng ta và Chúa đã phù trì thì ai thắng nổi ? Sự xác tín ấy phải là nguồn vui cho cuộc đời ta.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa lên trời là dấu chứng chắc chắn của niềm hi vọng, nhà chúng con ở trên trời. Chúa đi và chờ đón chúng con. Xin cho chúng con ngay trong cuộc sống hiện tạibi khao khát những sự trên trời và luôn mặc lấy Chúa Kitô vinh quang.Mai an Linh OP.

 
 

LênTrời-219: CHÚA VỀ TRỜI

Mt 28, 16 - 20
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT  

 

Lễ Chúa về trời là một trong những lễ quan trọng nhất của năm phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo: LênTrời-219

Lễ Chúa về trời là một trong những lễ quan trọng nhất của năm phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo. Đây là lý do đặc biệt để chúng ta mừng lễ này một cách trọng thể.Chúng ta có thể xem lễ này như một cuộc chuyền lửa, một cuộc tiếp sức trong cuộc chạy đua giữa các vận động viên để đem lửa châm vào ngọn lửa chính ở sân vận động suốt trong cuộc tranh tài. Đây là cuộc chuyền đức tin, một hoạt động truyền giáo để loan truyền Đức Kitô phục sinh cho những người khác.

Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài đã được tôn vinh nơi Chúa Cha. Nhưng để củng cố lòng tin còn non yếu của các môn đệ, Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ. Nói cách khác, trong suốt 40 ngày sau lễ Phục Sinh, Chúa Giêsu vẫn thường xuyên hiện diện với các môn đệ để các môn đệ yên lòng và để Ngài nhắc nhở, trấn an, dạy dỗ các môn đệ trước khi Chúa sai các môn đệ đi khắp tứ phương thiên hạ để rao giảng Tin Mừng. Vâng, vào ngày thứ 40, Chúa đã về trời trước sự chứng kiến của các môn đệ và rồi Ngài không còn hiện ra với các môn đệ như trước đó nữa cho tới ngày tận cùng thế giới. Ngày Lễ Thăng Thiên, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm Thăng Thiên hơn là ngày giờ xẩy ra việc Chúa về trời.

Mầu nhiệm Chúa về trời cho chúng ta hiểu rằng Chúa về trời nhưng Ngài vẫn hiện diện một cách thiêng liêng giữa thế giới, giữa nhân loại, giữa chúng ta. Về trời nghĩa là Ngài không còn hiện diện bằng xương bằng thịt như xưa, nên mắt phàm các môn đệ và chúng ta không thể nhìn thấy Ngài. Chúa đã hứa với các môn đệ: " Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho tới tận thế ". Dấu hiệu Chúa hiện diện là Ngài ban Thánh Thần xuống trên các môn đệ và đây cũng là dấu chỉ Ngài đang ở giữa chúng ta, ở trong chúng ta qua Chúa Thánh Thần. Và mầu nhiệm Chúa về trời cũng nhắc nhở chúng ta, nhắc nhở Giáo Hội rằng tuy còn đang trên cuộc hành trình đức tin nhưng mọi người hãy luôn hướng về trời, hướng về cái đích cuối cùng là Quê Trời nơi hạnh phúc vì chúng ta được gặp gỡ Chúa và sống trong Chúa.

Ngày hôm nay, trước khi khuất mặt các môn đệ để về trời, Chúa Giêsu đã truyền lệnh cho các Ông: " Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế ". Lệnh truyền ấy và bài sai các môn đệ đã lãnh nhận nơi Chúa Giêsu Phục Sinh, đồng thời chứng kiến việc Chúa vinh thăng về trời các môn đệ không thể nào im hơi lặng tiếng. Họ đã xác quyết mạnh mẽ:" Thiên Chúa đã phục sinh Chúa Kitô mà anh em đã giết rồi treo trên cây gỗ...và tôn Ngài làm thủ lãnh và Đấng cứu độ để đem lại cho Israen ơn tha thứ và hoán cải. Về những sự việc đó, chúng tôi đây là những chứng nhân cùng với Thánh Thần mà Thiên Chúa ban cho những ai vâng phục Người ". Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại để chúng ta được nên công chính "...

Làm chứng cho Chúa phục sinh, tất cả các môn đệ đều đổ máu đào tuyên xưng lòng trung thành của mình vào Đấng đã chết và sống lại. Chúng ta cũng được kêu mời làm chứng cho Chúa sống lại bằng chính cuộc sống tốt lành, gương mẫu của chúng ta. Chúng ta về trời với Chúa bằng hy sinh, kiên nhẫn và trung thành của chúng ta đối với Chúa Giêsu Kitô phục sinh.

Cách đây hơn hai ngàn năm, Chúa Giêsu phục sinh đã chuyền lửa, chuyền đức tin và chuyền cây gậy tượng trưng công việc truyền giáo cho các môn đệ để các môn đệ tiếp tục làm công việc ấy cho Chúa Giêsu phục sinh. Ngày nay, chúng ta cũng được mời gọi làm chứng cho Chúa sống lại bằng đức tin và bằng cách mà Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta.

" Các con là muối ướp cho đời, nếu muối nhạt, thì chẳng còn cách gì mà làm cho mặn lại được; nó trở thành vô dụng, chỉ còn nước ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó.

Các con là ánh sáng cho toàn thế giới, là thành phố xây trên đồi nên không thể dấu được...

Cũng thế, ánh sáng chúng con phải sáng lên trước mặt thiên hạ để họ nhìn xem những việc thiện các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời " ( Mt 5, 13-16 ).

 
 

LênTrời-220: CHÚA VỀ TRỜI

Mt 28, 16 - 20
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT  

 

Chúa về trời có lẽ đã là một việc quá quen thuộc với những môn đệ của Chúa. Cụm từ Chúa Thăng: LênTrời-220

Chúa về trời có lẽ đã là một việc quá quen thuộc với những môn đệ của Chúa. Cụm từ Chúa Thăng Thiên hay về với Thiên Chúa Cha, vẫn là cụm từ người Công giáo học thuộc lòng khi học giáo lý. Trời có vẻ xa lạ với con người, với chúng ta và đất dường như gần gũi chúng ta hơn bởi lẽ chúng ta đang sống trên trái đất, đang sống trong thế giới này.Tuy nhiên, Chúa về trời để dọn chỗ cho các môn đệ, dọn chỗ cho chúng ta để Ngài ở đâu chúng ta cũng ở đó với Ngài.

Tin Mừng của Thánh Matthêu trong trích đoạn ngày hôm nay, đoan kết câu 20 ( Mt 28, 20 ) có viết:" ...Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế ". Đúng là một lời đầy an ủi, đầy tin tưởng cho các môn đệ, cho chúng ta, cho nhân loại vì rằng Chúa về với Chúa Cha nhưng Ngài vẫn hiện diện với nhân loại mọi ngày cho đến tận thế. Ngài về trời, nhưng Ngài xin Chúa Cha sai Thánh Thần, để Thánh Thần ở với Giáo Hội, ở với mỗi người, bảo vệ, hướng dẫn Giáo Hội và mọi người. Chúa Phục Sinh đã về với Chúa Cha, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, nhưng Ngài vẫn hiện ra nhiều la62mn với các môn đệ, với những người thân thương để minh chứng Ngài đã sống lại thật và hôm nay ngày thứ 40, Chúa Phục Sinh lại hiện ra với các môn đệ, nhắn nhủ, dặn dò, khích lệ họ nhiều điều, rồi Ngài Thăng Thiên trước mặt các môn đệ. Đây là lần chót Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ, các môn đệ sẽ không còn thấy Ngài hiện diện như các lần trước nữa cho đến ngày tận thế. Tuy nhiên, hôm nay Giáo Hội muốn nhân loại, con người, chúng ta nhớ tới ý nghĩa mầu nhiệm Thăng Thiên hơn là nhớ tới ngày giờ mầu nhiệm Chúa lên trời xẩy ra.

Mầu nhiệm Chúa về trời nhắc nhở chúng ta hai điều quan trọng là Chúa về trời nhưng Chúa vẫn hiện diện với chúng ta mọi ngày cho tới tận thế. Bởi vì về trời có nghĩa là Chúa Phục Sinh chuyển đổi từ sự có mặt hữu hình đến việc có mặt một cách thiêng liêng. Chúa Phục sinh từ đây không cón hiện diện cách như xưa khiến giác quan hay nói một cách khác con mắt thể xác không còn nhận ra Ngài như trước kia Ngài có mặt. Dấu hiệu để các môn đệ nhận ra Chúa Phục sinh là Ngài ban Thánh Thần xuống trên các tông đồ. Chúa Phục sinh hiện diện nơi các tông đồ, môn đệ, nơi chúng ta, trong chúng ta qua Chúa Thánh Thần. Đúng như lời nói ! Đấng Phù Trợ đến từ nơi Chúa Cha và Ngài khẳng định với các tông đồ:" Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế ".

Điều khác nữa, Chúa Thiên, nhắc nhớ chúng ta phải luôn hướng về trời. Hướng về trời, có nghĩa là chúng ta những lữ hành đang đi trong cuộc hành trình đức tin tiến về trời. Chúng ta phải phấn đấu, quảng đại, hy sinh để kiên cường tiến về nước trời. Cuộc đời hôm nay nhiều vất vả, nhiều thử thách khó khăn, nhưng với niềm tin chúng ta có một sức thu hút, thúc đẩy chúng ta đạt tới quê hương vĩnh cửu, quê hương hạnh phúc là Nước Thiên Chúa.

Chúng ta đang sống nơi trần gian, trên thế giới. Gian trần hay thế giới chỉ là quê hương tạm bợ, quê hương mau qua vv...Đích điểm cuối cùng chúng ta là quê trời. Do đó, chúng ta ý thức và sống tốt lành với những ngày tạm bợ ở trần gian để chúng ta tiến về Nước Thiên Đàng, Nước Thiên Chúa.

Chúa Giêsu khi nói với các môn đệ ở Galilê trên một ngọn núi:" Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh THần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em...". Chúa truyền lệnh cho các môn đệ tiếp nối sứ mạng của Người đi truyền giáo, loan báo Nước Trời, nhưng điều quan trọng và hết sức an ủi, củng cố niềm tin, đó là Chúa hứa ở cùng các môn đệ luôn mãi.

Các tông đồ vững tin, không còn lo âu sợ hãi vì Chúa phục sinh luôn ở với các Ngài, luôn ở trong các Ngài. Đặc biệt Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên các tông đồ để các Ngài có sức mạnh, can đảm làm chứng cho Chúa Phục sinh.

Đoạn Sách Công Vụ Tông Đồ 1, 11 viết:" Sao các Ông cứ đứng mải miết nhìn trời ? ". Các Tông Đồ đang nuối tiếc Thầy mình.Tuy vậy, các Ngài ý thức sứ mạng cao cả:" Loan báo Tin Mừng, làm chứng cho Chúa Phục Sinh" còn đang chờ đợi các Ngài. Các Ngài đã xuống núi, trở về với đời thường và làm sứ mạng Chúa Phục sinh trao phó. Chúng ta đang sống ở trần gian, chúng ta cũng đang có sứ mạng lớn lao là rao giảng Tin Mừng. Làm tròn sứ mạng làm chứng cho Chúa Phục Sinh và loan báo Tin mừng cho Chúa nhưng đồng thời cũng luôn hướng về trời để quyết tâm về trời với Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con hiểu rõ Thiên Đàng là mục đích cuối cùng chúng con đang vươn tới.Xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con hiểu rằng trần gian là tạm bợ, Nước trời là Quê hương thật, Quê hương vĩnh cửu chúng con phải vươn tới. Amen.

 
 

LênTrời-221: Lễ Thăng Thiên

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, Chúa về trời, tức là mừng biến cố Chúa LênTrời-221

Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên, Chúa về trời, tức là mừng biến cố Chúa ngự về nơi Thiên Chúa Cha, sau thời gian Ngài sinh sống 33 năm với loài người chúng ta ở trần gian này trong bản tính nhân loại của Ngài. Ngài lên trời nghĩa là kiểu nói một cuộc tôn vinh Ngài, một lễ đăng quang, là một sự nâng cao lên cùng Thiên Chúa trong bản tính nhân loại của Chúa Giêsu. Vì thế, trời ở đây không phải là nơi chốn cụ thể, một không gian nào đó mà con người có thể xác định bằng những phương tiện "trần thế" của con người nhưng trời ở đây mà phúc âm muốn nói với chúng ta là một tình trạng, nơi mà con người sẽ về sau khi kết thúc cuộc hành trình trên cõi đời này.
Mừng lễ Chúa về trời hôm nay, chúng ta hãy rút ra bài học cho mình. Một là, Chúa Giêsu về trời, nhưng Ngài vẫn luôn hiện diện giữa chúng ta: "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20). Nghe Chúa nói như thế, chúng ta tin tưởng vào Lời hứa ấy vì Chúa là "Đấng Chân Thật, không lừa dối ai cả". Chúa Giêsu Phục sinh đã về trời ngự bên hữu Chúa Cha, nhưng Ngài lại vẫn còn hiện diện với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Về trời chính là một cuộc chuyển tiếp từ hiện diện hữu hình sang hiện diện thiêng liêng. Kể từ đây Chúa Giêsu Phục sinh chấm dứt cách hiện diện với các môn đệ khiến cho giác quan của họ kiểm nhận được, mà hiện diện một cách thiêng liêng.
Hai là, mặc dù con người sống ở trần gian, bị chi phối bởi không gian và thời gian nhưng con người luôn hướng về trời, hướng về nơi Chúa về trời. Bởi vì rồi đây ngày mai kia, người Kitô hữu cũng phải ra đi. Và cuộc ra đi của chúng ta là về nước trời. Chúng ta cũng có một động lực thúc đẩy từ cuộc sống trần gian này, dù phải sống đầy vất vả, khổ đau nhưng chúng ta có một đích điểm là quê hương Nước Trời, quê hương hạnh phúc vĩnh cửu.
Biến cố Chúa Lên Trời vì thế đã thành niềm vui và hy vọng cho tông đồ đoàn và các tín hữu tiên khởi. Họ hy vọng vì tuy Chúa không còn hữu hình ở thế gian nhưng Lời Ngài hứa "Ta ở với các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28, 20). Tin vào Lời Chúa, các Tông đồ mạnh dạn rao giảng và làm chứng cho Chúa phục sinh.
Phần chúng ta, hy vọng vào Nước Trời mai sau, chúng ta cũng phải làm tròn trách nhiệm của mình, trách nhiệm chứng nhân của người kitô hữu, được sinh ra trong bí tích rửa tội. Nhờ phép rửa, người Kitô hữu trở thành con trong Chúa Con, là anh em với nhau làm thành chi thể trong thân thể nhiệm mầu của Chúa Kitô. Vì là chi thể, mỗi người ta có nhiệm vụ làm cho cả thân thể ngày càng lớn mạnh, được sung mãn, và nhiều người biết đến, làm cho Nước Chúa được mở rộng...nghĩa là truyền giáo. Người Kitô hữu cần thông truyền cho cả thế giới và từng người trong thế giới hôm nay biết về Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại và tất cả những ai tin nơi Ngài sẽ nhận được sự sống đời đời. Tuy nhiên, khi nói đến truyền giáo, người ta thường nghĩ rằng đó là công việc của các nhà Thừa Sai, của các linh mục, tu sĩ, của những người ra đi đến những miền đất xa xôi nào đó, để rao giảng Tin mừng. Và như thế, là chưa đúng. Thực tế, Truyền giáo là làm cho mọi người trở thành môn đệ của Đức Kitô, là làm người ta biết Đức Kitô qua đời sống của người Kitô hữu. Như thế, việc truyền giáo không chỉ là nói về Thiên Chúa, về Đức Kitô, nhưng quan trọng hơn, đó là dẫn đưa mọi người về với Đức Kitô bằng chính đời sống làm chứng của từng người chúng ta: "Các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy".
Vì thế, để có thể làm chứng cho Đức Kitô, chúng ta cần có một cảm nghiệm về sự bình an và niềm vui của Chúa ở cùng. Có được như thế, chúng ta mới có thể chia sẻ kinh nghiệm này với các người khác, và dạy họ tuân giữ các giới luật của Đức Giêsu, mà thực ra chỉ tóm gọn lại trong một giới luật là tình yêu. Do đó, để việc truyền giáo thực sự trở nên hiệu quả, thì lời rao giảng cần phải đi đôi với chính đời sống chứng nhân của chúng ta. Thí dụ, cha mẹ biết chăm sóc gia đình chu đáo, đồng thời còn dành thời giờ để đến thăm viếng, an ủi, giúp đỡ, chia sẻ với những người già yếu bệnh tật, cô đơn,....và như thế, từng người chúng ta sẽ là những nhà truyền giáo đúng nghĩa nhất.
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn đang hiện diện và ở giữa nhân loại, nơi người nghèo khó, nơi người dám sống và làm chứng cho Tin Mừng, trong các bí tích và nhất là trong bí tích Thánh Thể.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho mỗi người Kitô hữu chúng con cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình, để chúng con dám sống và làm chứng cho Chúa. Amen.

 
 

LênTrời-222: CHÚA LÊN TRỜI,  TA HÃY MẾN YÊU

NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI 
 

Hôm nay, Chúa lên Trời, chúng ta hướng tâm hồn lên với Chúa, và trông đợi Người lại đến như: LênTrời-222

Hôm nay, Chúa lên Trời, chúng ta hướng tâm hồn lên với Chúa, và trông đợi Người lại đến như lời đã hứa trước khi về Trời, để Người ở đâu chúng ta cũng ở đó. Vì thế, chúng ta hãy nuôi dưỡng lòng ái mộ  những sự trên Trời, để cũng được cả xác lẫn hồn về Trời với Chúa. Đây là niềm vui lớn lao và tràn đầy hy vọng khi chúng ta hướng về tương lai trên hành trình dương thế. Toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh diễn tả. Nội dung chứa đựng trong những lời sau: "Chúa Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, Người căn dặn các Tông Đồ xong... " và sau đó "Người lên Trời" ( x. Cv 1, 1 – 11 ).
Theo sự quan phòng trong kế hoạch đời đời của Thiên Chúa, "đã đến giờ Chúa Giêsu rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha". Lời này được lặp đi lặp lại mỗi đoạn Tin Mừng trước lễ Chúa về Trời. Chúa từ giã Đức Maria Mẹ Người và nhất là tâm sự với các môn đệ nhiều điều. Hôm nay Người bảo các ông: "Các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất" ( Cv 1, 8 ). Thế là nhiệm vụ từ đây được ủy thác, đến lượt mình các Tông Đồ phải thi hành cách trung thành.
Đang lúc chờ đợi Chúa Thánh Thần, Món Quà do Chúa Cha ban xuống, Ngài là là sức mạnh của các Tông Đồ. Chính Ngài hướng dẫn Giáo Hội đi trên đường chân lý, Tin Mừng phải được rao truyền bởi quyền năng của Thiên Chúa chứ không phải do sức mạnh hay khôn ngoan của người đời.
 Trước khi về Trời, Chúa Giêsu "đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa" ( Cv 1, 4 ). Người nói với các ông: "Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con" ( Mt 28, 19 ). Căn cứ vào lời của Chúa Giêsu, các Tông Đồ có trách nhiệm phải loan báo Tin Mừng cho thế giới, làm phép cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, nói cho thế gian biết về Nước Thiên Chúa và ơn cứu độ, nhất là phải làm chứng về Chúa Kitô "cho đến tận cùng trái đất" ( Cv 1, 8 ). Giáo Hội sơ khai thấu hiểu huấn lệnh Chúa truyền, nên đã khai mở thời kỳ truyền giáo dù biết rằng thời kỳ này chỉ kết thúc vào ngày Chúa Giêsu lên Trời, và trở lại.
Những lời Chúa Giêsu để lại cho Giáo Hội là kho tàng vô giá. Giáo Hội không những phải gìn giữ, loan báo, suy niệm mà còn sống nữa. Chúa Thánh Thần sẽ làm bén rễ sâu trong lòng Giáo Hội ơn đặc sủng được sai đi. Chúa Giêsu đã và sẽ luôn sống trong Giáo Hội như lời Người đã hứa: "Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ). Vì thế, Giáo Hội nhận ra sự cần thiết phải trung thành với kho tàng Đức Tin và những lời Chúa truyền dạy, đồng thời thông truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, tới chúng ta ngày hôm nay.
Lời Chúa và chỉ có Lời Chúa là nền tảng cho mọi sứ vụ, cũng như tất cả các hoạt động mục vụ của Giáo Hội. Thẩm quyền của Lời Chúa là nền tảng mà Công Đồng Vatican 2 và Thánh Giáo Hoàng Gioan 23 đã nhấn mạnh trong bài phát biểu khai mạc: "Mối quan tâm chính của Công Đồng Đại Kết, là kho tàng thiêng liêng Kitô giáo phải luôn được giữ gìn và giảng dạy" ( Bài phát biểu của ngày 11.10.1962 ). Thách thức lớn nhất của chúng ta là trung thành với giáo huấn của Chúa Giêsu.
Suy tư thứ hai về ý nghĩa Chúa Giêsu lên Trời dựa trên cụm từ: "Chúa Giêsu lên Trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha... "
Sau khi hạ mình xuống trong cuộc thương khó, Chúa Giêsu lên Trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha đến muốn đời. Theo lời Thánh Giáo Hoàng Lêo Cả, khi Vị Thủ Lãnh của chúng ta bước vào Thiên Đàng và ở trên đó, "vinh quang của Đầu" đã trở thành "niềm hy vọng cho thân xác" ( x. Sermo Ascensione Domini ). Chúa Giêsu đã vĩnh viễn bước vào Thiên Đàng, "Người là Đầu và là Trưởng Tử giữa đàn em đông đúc" ( Rm 8, 29 ). Vì bản tính của chúng ta là ở trong Thiên Chúa và ở trong Đức Giêsu Kitô. Nên vì loài người chúng ta ( thân xác ), Chúa Giêsu là ( Đầu ) hằng sống đến muôn thủa muôn đời hằng cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước mặt Chúa Cha ( x. Dt 7, 25 ). Từ tòa cao vinh hiển, Người gửi cho Giáo Hội một sứ điệp hy vọng và mời gọi hướng đến sự thánh thiện trên Trời nơi Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa.
Nhờ công nghiệp và lời cầu bầu của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha cho chúng ta, chúng ta có hy vọng đạt tới sự công chính và sống thánh thiện nơi Người. Giáo Hội có thể gặp phải những khó khăn, việc loan báo Tin Mừng có thể có lúc gặp thất bại, nhưng vì Chúa Giêsu ngự bên hữu Đức Chúa Cha, Giáo Hội sẽ không bao giờ bị khuất phục. Sức mạnh của Chúa Kitô vinh hiển, Con yêu dấu của Chúa Cha hằng gìn giữ chúng ta, giúp chúng ta tận tụy và trung thành với Nước Thiên Chúa một cách quảng đại. Sự kiện lên Trời của Chúa Kitô ảnh hưởng cụ thể đến đời sống hàng ngày của chúng ta. Vì mầu nhiệm này, toàn thể Giáo Hội có ơn gọi đợi chờ trong niềm hân hoan hy vọng ngày Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta ngự đến.
Chúa Giêsu vị Thủ Lãnh của chúng ta đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, hiển vinh về Trời, đó là niềm hy vọng của chúng ta. Người sẽ trở lại đón chúng ta đi với Người. Để được về Trời với Chúa, chúng ta hãy gia tăng lòng mộ mến những sự trên Trời và tích cực làm việc vì Nước Trời. 
Hướng về Mẹ Maria "Nữ Vương Thiên Ðàng", chúng ta xin Mẹ bảo vệ gìn giữ chúng ta là con cái Mẹ, biết sống và thực hành Lời Chúa truyền dạy, để một ngày kia chúng ta cũng được về Trời với Chúa Giêsu. Đức Mẹ và các Thánh vui hưởng tôn nhan Chúa Ba Ngôi đến muôn thủa muôn đời. Amen.
 Lm. Antôn NGUYỄN VĂN ĐỘ

 
 

LênTrời-223: SỨ MỆNH KITÔ HỮU HÔM NAY

Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta : LênTrời-223

“... Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen…
Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.( Ảnh bên trái: cha Chính Nguyễn Văn Vinh lúc còn làm cha sở Nhà Thờ Lớn Hà Nội ).
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" ( tên họ đặt cho anh ta ) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ.
Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối.
Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc. Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy.
Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy ? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền ?...” ( Phùng Quán, Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá ).
Nhân vật bên trên được nhà văn Phùng Quán phác họa, chính là Lm. Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh, ( 1912 – 1971 ). Cha Chính Vinh, du học 17 năm tại Pháp, từng là giáo sư các môn Thánh Kinh, Âm nhạc, Triết học, Pháp, Anh ngữ tại Tiểu Chủng Viện Piô XII, Trung Học Chu Văn An và Đại Học Hà Nội. Ngài về với Chúa tại nhà tù Cổng Trời, Hà Giang, sau 17 năm chịu đày ải.
Hôm nay, mừng lễ Chúa Thăng Thiên, cũng là kỷ niệm ngày Đức Giêsu trao sứ mệnh cho các Kitô hữu: Loan báo Tin Mừng đến muôn dân và muôn nơi. Trong thời đại bùng nổ thông tin, để tránh nhiễu loạn, thiên hạ chỉ còn tin vào những gì mắt thấy tai nghe, cụ thể qua gương sáng Kitô hữu. Cha Chính Vinh là một chứng nhân tuyệt vời của Đức Giêsu trong cuộc đời.
Chứng nhân bằng cuộc sống
“Chính anh em sẽ là chứng nhân của những điều này” ( Lc 24, 48 ). Đó là huấn lệnh, cũng là lời mời gọi vô cùng tha thiết, quan trọng và cuối cùng của Đức Kitô, trước khi Người về cùng Đức Chúa Cha. Có nhiều cách làm chứng nhân, nhưng làm chứng nhân qua cuộc sống, chứng nhân qua Tình Yêu, như Cha Chính Vinh đều khá âm thầm, lặng lẽ, nhưng lại ảnh hưởng rất sâu rộng và hiệu quả. Lội ngược dòng đời, xô bồ, vật chất và thực dụng, người tín hữu Kitô cần chăm chỉ, tận tụy làm tròn bổn phận, vì “bổn phận là ý Chúa trong giây phút hiện tại” ( Đường Hy Vọng, số 17 ). Bổn phận làm cha mẹ, con cái, thầy giáo, công nhân, chủ nhân... mỗi người lại kiêm nhiệm biết bao bổn phận đối với bản thân và tha nhân.
Đức Giêsu đã long trọng khẳng định: “Lương thực của Ta là làm theo ý Đấng đã sai ta, và chu toàn công việc của Người.” ( Ga 4, 34 ). Thánh Phaolô cũng khuyên nhủ tín hữu Rôma có bổn phận sống cho Chúa, sống theo Thánh Ý nhiệm mầu: “Vì không ai trong chúng ta được sống cho mình, và cũng không ai được chết cho mình. Vì nếu ta sống, chính cho Chúa mà ta sống; và nếu ta chết, thì chính cho Chúa mà ta chết. Vậy dù sống dù chết, ta vẫn thuộc về Chúa” ( Rm 14, 7 – 8 ).
Chứng nhân bằng Tình Yêu
"Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau" ( Ga 13, 35 ). Thánh Gioan Tông Đồ giải thích cặn kẽ vì sao: "Thiên Chúa là tình yêu: Ai ở lại trong tình yêu, thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy." ( 1 Ga 4, 16 ).
Đức Giêsu cụ thể hóa Tình Yêu bằng hành động phục vụ:“Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” ( Mt 20, 28 ). Đức Kitô còn minh chứng lời giảng dạy bằng chính việc Người quỳ xuống, rửa chân cho các môn đệ. Đỉnh điểm là cuộc khổ nạn và chết nhục nhã trên thập tự để cứu độ con người.
Người luôn kêu gọi xả kỷ vị tha, từ bỏ mình, để phục vụ mọi người, mọi lúc, nhất là những kẻ cơ hàn, đói khát, nghèo khổ, bệnh tật, bị áp bức, tù tội. Đừng để sau này muộn màng phân bua với Chúa: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?” ( Mt 25, 44 )
Còn Thầy, Thầy bảo các con:”Các con hãy yêu thương thù địch và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con.”( Mt 5, 43 – 44 ).Tình Yêu không biên giới, không phân biệt, bạn thù, xóa sạch mọi trở ngại, khác biệt, oán thù, mà tha thứ và hòa giải. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” ( Lc 23, 34 )
“Đừng nhát sợ ! Hãy xem Công vụ các Thánh Tông đồ: đói khát, rách rưới, trộm cướp, roi đòn, đắm tàu, vụ vạ, tù ngục, chết chóc, .. Nếu con sợ, đừng làm tông đồ.” ( Đường Hy Vọng, số 167 )
Lạy Chúa Giêsu, Người lên Trời, xin hướng lòng chúng con lên cùng, để chúng con có thể dứt bỏ cám dỗ, đam mê, ham hố thế gian, mà sống Lời Chúa thực sự, hầu xứng đáng trở nên chứng nhân của Người giữa xã hội u mê trần tục.
Lạy Mẹ Maria, kính xin Mẹ đốt lửa mến trong lòng chúng con, để chúng con yêu Chúa, yêu người thắm thiết và trung thực, như Mẹ vẫn yêu con cái khắp nơi từ xưa đến nay và mãi mãi.
AM. TRẦN BÌNH AN

 
 

LênTrời-224: HÀNH TRÌNH VỀ TRỜI

Lễ Thăng Thiên không chỉ là lễ kính mừng Chúa Giêsu lên Trời mà còn là dịp tái khẳng định tín: LênTrời-224

Lễ Thăng Thiên không chỉ là lễ kính mừng Chúa Giêsu lên Trời mà còn là dịp tái khẳng định tín điều mà chúng ta vẫn tuyên xưng: “Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, LÊN TRỜI ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng”. Nếu Đức Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta vô ích, và chúng ta chỉ là những người hoang tưởng, nhưng Ngài đã thực sự sống lại và lên Trời.
Chúa Giêsu lên Trời là để minh chứng và xác định lời hứa Ngài đã nói trước: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” ( Ga 14, 3 ). Đối với phàm nhân chúng ta, chắc chắn không còn niềm hạnh phúc nào lớn lao hơn nữa !
Thật là kỳ diệu, Thiên Chúa mà hóa thành Con Người, Con Người mà là Thiên Chúa, vừa hữu hình vừa vô hình. Chắc chắn chẳng một thần linh nào như vậy. Chỉ có Thiên Chúa của chúng ta như vậy mà thôi, độc nhất vô nhị. Thánh Phaolô đã nói: “Phải công nhận rằng: mầu nhiệm của đạo thánh thật là cao cả, đó là: Đức Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm, được Chúa Thánh Thần chứng thực là công chính; Người được các thiên thần chiêm ngưỡng, và được loan truyền giữa muôn dân; Người được cả hoàn cầu tin kính, được siêu thăng cõi trời vinh hiển” ( 1 Tm 3, 16 ).
Người ta chỉ nói LÊN trời, TỚI trời, hoặc VÀO trời, vì người ta không xuất phát từ trời. Nhưng Chúa Giêsu nói VỀ trời, vì Ngài xuất phát từ Trời, từ Chúa Cha: “Nếu anh em yêu mến Thầy thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” ( Ga 14, 28 ). Người ta chỉ có thể VỀ nơi mà mình đã từng ở, còn nơi mình chưa ở thì không thể dùng động từ VỀ. Thế mà chúng ta cũng được Ngài cho phép VỀ trời với Ngài, dù chúng ta không xuất phát từ trời, chỉ là bụi tro xuất phát từ đất. Thật kỳ diệu quá đỗi !
Thánh Luca viết trong sách Công Vụ: “Thưa ngài Thêôphilô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giêsu làm và những điều Người dạy, kể từ đầu cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là: ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” ( Cv 1, 1 – 5 ). Chúa Giêsu về trời, nhưng rồi Ngài lại gởi Chúa Thánh Thần đến với chúng ta, đồng hành và hoạt động với chúng ta mọi nơi, mọi lúc.
Tư tưởng loài người không cao hơn mặt đất, tầm nhìn không vượt qua cái bóng của mình, thế nên khi nghe Đức Giêsu nói vậy, những người đang tụ họp ở đó tưởng rằng Ngài sắp sửa khôi phục vương quốc Ítraen. Nhưng Ngài đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” ( Cv 1, 7 – 8 ). Nói xong, Ngài được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Ngài, khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Họ ngơ ngẩn nhìn nhau rồi nhìn theo hút Ngài, chẳng hiểu thế là thế nào.
Đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” ( Cv 1, 11 ). Lời giải thích này cho chúng ta biết chắc rằng Chúa Giêsu sẽ đến thế gian lần thứ hai vào một lúc nào đó, bất kỳ thời điểm nào mà chúng ta không thể biết được, thậm chí có thể là ngày mai hoặc hôm nay. Vì thế mà ai cũng phải sẵn sàng và tỉnh thức. Không chỉ vậy, với mỗi người còn là cái chết, vì tử thần có thể đến bất cứ lúc nào, không ai có thể ngờ được !
Cuộc đời Kitô hữu là cuộc lữ hành trần gian, là hành trình đức tin, là hành trình về trời. Đức Kitô đã về trời trước, đó là bảo chứng cho chúng ta. Tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi ! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo ! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” ( Tv 47, 2 – 3 ).
Niềm vui quá lớn, nỗi mừng khôn tả. Nhưng chúng ta hữu hạn, chỉ biết thể hiện bằng tất cả khả năng phàm nhân: “Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo, Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và. Hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta ! Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” ( Tv 47, 6 – 9 ). Thiên Chúa không đòi hỏi quá sức chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta chân thành với khả năng riêng của mỗi người.
Thánh Phaolô cho biết: “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu” ( Ep 1, 17 – 19a ). Nhận biết Thiên Chúa là niềm hạnh phúc lớn lao, nhận biết Ý Ngài và vui mừng làm theo là niềm hạnh phúc lớn lao hơn. Quả thật, chấp nhận và làm theo Ý Chúa là điều không dễ chút nào, vì chúng ta thường chỉ muốn “được như ý” mà thôi !
Thánh Phaolô giải thích: “Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. Như vậy, Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” ( Ep 1, 19b – 23 ). Đức Kitô được Chúa Cha trao ban mọi thứ, nhưng Ngài không giữ riêng cho Ngài, mà Ngài lại muốn chia sẻ với chúng ta, làm cho chúng ta được viên mãn với Ngài, dù chúng ta không chỉ là phàm nhân mà còn là những tội nhân hoàn toàn bất xứng.
Niềm hạnh phúc như điệp khúc cứ lặp đi lặp lại trong cuộc đời chúng ta, trên suốt hành trình về Trời. Không hạnh phúc sao được, vì chúng ta được Thiên Chúa ưu đãi quá nhiều, minh nhiên nhất là chúng ta được xóa án tử và được khôi phục cương vị làm con, đặc biệt là cũng sẽ được về Trời.
Một hôm, mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Ngài, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Bản tính nhân loại là thế, tận mắt thấy bao phép lạ mà vẫn chưa đủ tin. Vả lại, họ cứ tưởng Đức Giêsu là chính khách, Ngài sẽ giành quyền cai trị Ítraen từ bọn thực dân Rôma. Khi đó, Đức Giêsu đến gần họ và nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” ( Mt 28, 18 ). Có lẽ nghe Ngài nói vậy thì họ càng cho rằng Chúa Giêsu đang làm chính trị thật, điều họ nghĩ không sai. Thế nhưng lại không phải vậy, Chúa Giêsu không bao giờ làm chính trị, và Phúc Âm cũng không là bản cương lĩnh chính trị.
Chúa Giêsu nói với họ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” ( Mt 28, 19 – 20a ). Ngài biết Ngài sắp đến giờ về cùng Chúa Cha, nên Ngài căn dặn kỹ lưỡng. Ngài về trời nên Ngài bảo chúng ta vào đời làm chứng nhân về Ngài. Đó vừa là một tặng phẩm vừa là một mệnh lệnh, vừa là một đặc ân vừa là một trọng trách.
Trước khi về trời, lời cuối của Chúa Giêsu trên thế gian là một lời hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28, 20b ). Lời hứa đó đã được chứng tỏ rõ ràng nhất là Bí tích Thánh Thể, một phép lạ vĩ đại vẫn xảy ra hằng ngày ở khắp nơi trên thế giới. Biết rõ chúng ta yếu đuối nên Chúa Giêsu rất “tội nghiệp” chúng ta, Ngài cũng đã hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” ( Ga 14, 8 ). Và lời hứa đó lại được thực hiện ngay lập tức: Ngài về trời rồi gởi Đấng Bảo Trợ đến ở với chúng ta ( Ga 14, 16 ). Thánh Thể và Thánh Thần luôn đồng hành với chúng ta trên suốt Hành Trình Về Trời.
Cái gì cũng có “mở” và “kết”. Cũng vậy, Hành Trình Về Trời được khởi đầu từ điểm SINH và kết thúc ở điểm TỬ. Hành trình đó có thể là “con đường” dài hoặc ngắn, không ai biết; “con đường” đó cũng có thể rộng hoặc hẹp, nhưng ai chọn đường hẹp thì tốt hơn đường rộng, càng thênh thang càng “dễ chết”, có thể “chết yểu”, “chết” trước kỳ hạn, “chết” ngay khi mình đang sống. Chết như vậy thì thật là nguy hiểm ! Vì thế, chính Chúa Giêsu đã khuyên những ai thực sự muốn được trường sinh vĩnh phúc: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” ( Mt 7, 13 – 14 ). Không chỉ đơn giản như vậy, người ta còn phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp” ( Lc 13, 24 ). Rất “ngược đời”, nhưng phải dám “ngược” như vậy thì mới mong “xuôi” về vĩnh cửu.
Thánh nữ Faustina so sánh: “Như bệnh tật được đo bằng nhiệt kế, sốt cao cho chúng ta biết là bệnh nặng, đời sống tâm linh cũng vậy, đau khổ là nhiệt kế đo tình yêu Chúa trong linh hồn” ( Nhật Ký, số 774 ). Đây là điều rất khó đối với bản chất phàm nhân, nhưng người ta có thể chấp nhận nếu cố gắng hiểu theo cách hiểu của Chúa và nhìn theo cách nhìn của Chúa.
Lạy Thiên Chúa, Con Chúa về trời là dấu bảo đảm về sự sống vĩnh hằng mà chúng con đang cố gắng chiến đấu để đạt được. Xin mau ban Chúa Thánh Thần để đổi mới chúng con, làm cho chúng con can đảm làm chứng về Chúa Ba Ngôi. Xin giúp chúng con đủ sức vượt qua chính mình để xứng đáng lãnh nhận những gì Ngài đã hứa ban. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 
 

LênTrời-225: KHÁT VỌNG NGÀN ĐỜI

Những ngày này, đọc trên các trang mạng hay xem truyền hình Việt Nam, kênh nào cũng nói về: LênTrời-225

Những ngày này, đọc trên các trang mạng hay xem truyền hình Việt Nam, kênh nào cũng nói về Biển Đông, dàn khoan HD 981, Trung Quốc xâm lược.
“Tính đến 8g30 sáng 25 tháng 5, đã có 37.181 người ký tên vào bản kiến nghị trên website chính thức của Nhà Trắng. Như vậy, từ đây đến ngày 12.6.2014, cần thêm 62,819 chữ ký nữa để chính quyền ông Obama có hành động cụ thể với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Haiyang Shiyou-981 ( Hải Dương-981 ) trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Bản kiến nghị có tiêu đề: Hãy áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc vì đã xâm phạm chủ quyền Việt Nam thông qua việc hạ đặt giàn khoan Haiyang Shiyou-981.
Theo nội dung kiến nghị, mối quan hệ giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam đang ngày càng tốt đẹp hơn trong sự hợp tác và hoà bình. Người Việt Nam khắp nơi trên thế giới kêu gọi Nhà Trắng có các biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Trung Quốc vì đã ngang nhiên vi phạm luật pháp quốc tế và chủ quyền của Việt Nam bằng việc hạ đặt giàn khoan dầu khổng lồ Haiyang Shiyou-981 trong vùng biển Việt Nam.Theo các quy định hiện hành của Chính phủ Mỹ, kiến nghị sẽ trở thành chính thức và được Nhà Trắng xem xét nếu có đủ 100.000 chữ ký ủng hộ trước ngày 12.6.2014. Đến 22g30 ngày 25 tháng 5, đã có 43.658 chữ ký, còn cần thêm 56.342 chữ ký nữa. Như vậy, trong 15 giờ đồng hồ qua, đã có thêm 6.477 người ký tên vào bản kiến nghị” ( Ngọc Hồ ).
 “Tàu Trung Quốc đâm tàu cá của ngư dân Việt Nam trên biển của Việt Nam. Họ đã húc vỡ, chìm tàu cá Đna 90152 của bà Huỳnh Thị Kim Hoa ( quận Thanh Khê, Đà Nẵng ) vào chiều 26 tháng 5. Tàu vỡ toang và chìm, 10 thuyền viên nhảy xuống biển, rất may là được các tàu cá khác đến cứu kịp thời. Ông Trần Văn Lĩnh, Phó Chủ tịch Hội Nghề Cá Thành phố Đà Nẵng chỉ thẳng rằng hành động cố tình đâm vào tàu cá ngư dân Việt Nam của Trung Quốc là vô nhân đạo và cố ý giết người.
Ngư dân của các địa phương khu vực miền Trung cho biết hiện nay cứ ra khơi là bị tàu sắt giả dạng tàu cá Trung Quốc truy đuổi, tấn công. Ngư dân phải xoay xở đủ cách để tránh bị húc chìm, kiếm miếng ăn phải đổi cả tính mạng. Chị Đặng Thị Sương, vợ của một thuyền viên trên chiếc tàu Đna 90152 nói: “Nghề đi biển là nghề làm ăn từ bao đời nay của người dân nơi đây. Cha mẹ sinh ảnh ra là để ảnh đi biển. Giờ không đi biển thì biết làm gì. Tàu Trung Quốc có đâm thì vẫn tiếp tục đi biển”.
Cái giá của đi biển bây giờ là giá máu, không phải chỉ vì thiên tai bão tố, mà vì mưu đồ độc chiếm biển Đông của Trung Quốc. Âm mưu của họ là muốn cho ngư dân Việt Nam sợ hãi, kiệt quệ, không có tài sản để đóng tàu mà phải bỏ vùng biển truyền thống Hoàng Sa. Một khi ngư dân Việt Nam bỏ biển, thì Trung Quốc mặc nhiên sở hữu một vùng ngư trường rộng lớn, chiếc lưỡi bò không còn trong trí tượng tượng của Bắc Kinh nữa. Âm mưu đưa tàu sắt ra húc tàu cá của ngư dân Việt Nam cũng giống như đưa tàu to húc tàu chấp pháp Việt Nam tại khu vực giàn khoan Hải Dương 981. Nhưng Trung Quốc sẽ không bao giờ thực hiện được âm mưu của mình, bởi vì một lẽ rất đơn giản: Việt Nam ! Hãy nghe người phụ nữ chủ tàu bị húc chìm nói: “Tuy nhiên còn một tàu đó, có bị Trung Quốc đâm thì mình vẫn tiếp tục vươn khơi. Dân biển mà không bám biển lấy gì mà ăn, còn để bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước mình nữa chứ”. Một người dân bình thường, chỉ có ước mơ đơn giản là làm nghề biển để kiếm cái ăn. Nhưng cũng biết “bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước”.
Trung Quốc có thể dùng vũ lực để hiếp đáp, gây hấn, xâm lấn nhất thời, nhưng chắc chắn một điều, sẽ không bao giờ thực hiện được dã tâm thôn tính biển Đông của Việt Nam. 90 triệu dân Việt Nam không khoanh tay ngồi nhìn cái lưỡi bò tham lam tự tung tự tác” ( Lê Chân Nhân ).
Khát vọng ngàn đời
Đọc lại câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương để tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người dân Việt.
Vào đời Vua Hùng Vương thứ sáu có nạn giặc Ân bên Tàu. Chúng cậy thế mạnh nên hay sang quấy nhiễu nước ta. Vua truyền hịch đi khắp nơi để tìm người tài giỏi giúp nước diệt giặc. Bấy giờ ở làng Phù Đổng có một cậu bé đã 3 tuổi mà chỉ nằm ngửa không nói được một lời nào. Nghe sứ giả nhà vua rao hịch tìm người tài diệt giặc, cậu liền nhờ sứ giả xin với Vua, đúc cho cậu một cây roi sắt và cấp cho cậu một con ngựa bằng sắt, để cậu đi đánh đuổi ngoại xâm. Nghe lời người hiền tài nhắn gởi, Vua thuận ý. Cậu bé liền vươn vai thành người to lớn, khỏe mạnh. Cậu đứng dậy, cầm roi sắt, nhảy lên yên ngựa, oai phong đi đánh giặc Ân. Dẹp xong giặc, cậu phóng ngựa lên núi Sóc Sơn rồi về trời. Vua nghĩ là thiên thần của trời cao xuống trần cứu giúp nên liền xây một đền thờ gọi là đền Phù Đổng Thiên Vương để tạ ơn và tưởng nhớ.
Câu chuyện huyền sử nói lên khát vọng của một dân tộc nhỏ bé luôn bị ngoại bang quấy nhiễu. Một tiểu quốc hiền hòa trước một đại hán bá quyền bành trướng. Vì thế mà ước mơ có được sứ thần từ trời cao đến cứu giúp. Một khát vọng ngàn đời, được tự do và độc lập, được công lý và dân chủ.
Con người mọi thời đại luôn khát khao bay lên trời. Đi dưới đất, ngược xuôi trên biển trên sông, con người luôn ước vọng, phải làm sao lên được trời cao.
Vì thế, ngày 4.6.1783, lần đầu tiên, hai anh em Mongolfiers, bay lên trời bằng khí cầu được 500 mét trước hàng ngàn người chứng kiến. Ngày 12.4.1961, Gagarine, phi hành gia đầu tiên bay ra khỏi tầng khí quyển của trái đất trong phi thuyền Sputnik của Liên Xô.
Đến ngày 16.7.1969, hai phi hành gia người Mỹ là Armstrong và Aldrin bay lên tới mặt trăng bằng Apollo 11. Cả thế giới đã hồi hộp theo dõi những phi hành gia bay vào vũ trụ. Nhưng chuyến bay nào rồi cũng phải trở về trái đất.
 

Chúa Giêsu Lên Trời
Hôm nay, Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu lên Trời. Người trở về Nhà Cha, sau khi đã hoàn tất sứ vụ Chúa Cha trao phó. Sau thời gian 33 năm xa nhà, Người hồi hương trong vinh quang phục sinh và “được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa” ( Mc 16, 19 ).
Chúa Giêsu lên Trời, một cảnh tượng thật huyền diệu. Thân xác Người nhẹ bay lên cao. Tay Người ban phúc lành cho các tín hữu. Dáng Người nhỏ dần và hòa biến vào không gian vô tận. Trên trời cao, các thiên thần và triều thần Thiên Quốc đang tụ họp tổ chức nghi lễ đón tiếp Đấng Cứu Thế khải hoàn. Tác giả Thánh Vịnh 23 đã chiêm ngưỡng và mô tả cuộc nghinh đón đó bằng ca khúc bất hủ:
“Hỡi các khải hoàn môn và các vệ binh thiên quốc, hãy cất cao đầu lên.
Hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu, hãy mở rộng ra,
để Vua vinh hiển và đoàn tùy tùng tiến vào.
Vua vinh hiển là ai ? Thưa là Đức Giêsu uy hùng lẫm liệt,
là Chúa oai phong chiến thắng.
Hỡi các khải hoàn môn,
hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu hãy cất cao đầu lên,
để Vua vinh hiển tiến vào.
Vua vinh hiển là ai ? Chính là Thiên Chúa hùng dũng uy linh”.
Đoàn tùy tùng theo Chúa về trời đông vô kể, các Thánh thời Cựu Ước, các Tổ Phụ, các Ngôn Sứ, các người công chính… đang hoan hỉ vui mừng đi theo Chúa. Đặc biệt có Thánh Cả Giuse, Thánh Gioan Tiền Hô, Tổ Phụ Abraham, Giacóp, Môsê, Thánh Gióp, vua Đavít, các Ngôn Sứ, hân hoan cung nghinh Đấng Phục Sinh khải hoàn về Thiên Quốc.
Trên núi Cây Dầu cả cộng đoàn môn đệ đang ngây ngất chiêm ngưỡng, tâm trí như mất hút vào không gian vô tận, lòng rộn rã hân hoan:
“Hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa.
Hãy trổi cao kèn sáo, đàn ca lên
dâng Người khúc ca tuyệt mỹ,
Chúa là Vua khắp muôn dân,
ngự trên tòa uy linh cao cả” ( Tv 47, 2 – 3, 6 – 9 ).
Chúa về Trời vì chính Người đã từ Trời xuống thế: “Không ai đã lên Trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ Trời xuống” ( Ga 3, 13 ). Người đến nhân gian để nói với nhân loại về Nước Trời, mặc khải cho con người biết Thiên Chúa. Người giúp họ thay đổi quan niệm về Thiên Chúa cũng như quan niệm về con người.
Hiện diện mới
Chúa về Trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới. Chúa về Trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.
Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người.
Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Những người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Chúa Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” ( Ga 14, 23 ).
Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” ( Ga 15, 5 ). Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: “Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa. Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người. Quả thật, đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học”.
 

Trao Sứ Vụ
Chúa về Trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông Đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông Đồ, qua các Tông Đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống,dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.
Hội Thánh chọn lễ Thăng Thiên làm Ngày Thế Giới Truyền thông. Ngày lễ Thăng Thiên gắn liền với mệnh lệnh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” ( Mt 28, 19 ). Các Tông Đồ lên đường truyền giáo, cộng đoàn Giáo Hội được thiết lập và những bước chân không mệt mỏi của người loan báo Tin Mừng đã làm nên lịch sử Giáo Hội. Có truyền giáo là có truyền thông, và bởi vì có truyền rao sứ điệp cứu rỗi của Tin Mừng nên mới có những người lắng nghe, đón nhận Đức Tin và được sống trong ơn cứu rỗi. 
Truyền giáo là nghĩa vụ “thông truyền điều đã thấy và đã nghe” ( 1 Ga 1, 3 ) để mọi người được hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là điểm khác biệt giữa truyền thông xã hội và truyền thông Công Giáo. Trong khi truyền thông xã hội khai thác thông tin theo quy luật cung cầu của thị trường, thì truyền thông Công Giáo lại xác định hướng đi của mình là mùa màng trong đời sống Đức Tin.
Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống gọi những người làm truyền thông là những thừa tác viên mới trong công cuộc truyền giáo mới vì họ luôn gắn bó với một phương tiện mới.
Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội lần thứ 48, có chủ đề: Truyền thông, phục vụ một nền văn hóa gặp gỡ đích thực. Truyền thông là cơ hội gặp gỡ giữa con người với nhau và đồng thời là dịp xây dựng tình cận thân trong ý nghĩa của Tin Mừng. Đó là hình ảnh của người Samari nhân hậu.
Nếu Chúa Giêsu sinh ra trong thời đại này, Người sẽ dùng Internet để rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô là nhà truyền thông đầu tiên, vĩ đại, đại tài vì sứ điệp của Người là Tin Mừng, là tin vui cho mọi người. Chúa Giêsu có mạng lưới gồm các Tông Đồ thông truyền Tin Mừng cho nhân loại. Qua các môn đệ, Tin Mừng được loan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.Chúa Giêsu không có các phương tiện hiện đại, Người có các Tông Đồ, các môn đệ, các thế hệ nối tiếp nhau như mạng lưới phổ biến Tin Mừng khắp nơi trên thế giới.
Truyền thông chính là chia sẻ niềm vui Tin Mừng Cứu Độ. Truyền thông có đặc điểm là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nên mọi sự cho mọi người và xây dựng nền văn hóa gặp gỡ yêu thương. Từ đó giúp con người nhận ra tình yêu của Chúa. Đây là sứ vụ Chúa trao phó cho mỗi người tín hữu trong thời đại hôm nay.
Cảm tạ Thiên Chúa đã ban những phương tiện truyền thông hiện đại. Ước mong mỗi người tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông với Đức Tin, trong sự tuân phục sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, góp phần loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô.
Lm Giuse NGUYỄN HỮU AN

 
 

LênTrời-226: ĐỪNG Ở LẠI QUÁ LÂU

Đến trần gian để thi hành ý muốn của Thiên Chúa Cha, mang Ơn Cứu Độ đến cho mọi người, hôm: LênTrời-226

Đến trần gian để thi hành ý muốn của Thiên Chúa Cha, mang Ơn Cứu Độ đến cho mọi người, hôm nay Đức Giêsu đã hoàn thành sứ mệnh của mình, Ngài về Trời, chấm dứt hành trình rao giảng.
Ý định cao cả nhất của Thiên Chúa chính là muốn cho muôn người được Ơn Cứu Độ để được sống hạnh phúc. Ý định ấy được tiên báo bằng cả một hành trình dài trong lịch sử, và được Đức Giêsu kết thúc. Trước Ngài, có biết bao nhiêu lời tiên báo về Ơn Cứu Độ. Sau Ngài không còn phải chờ đợi một lời tiên báo khác hơn. Vì Ngài là mặc khải tròn đầy và trọn vẹn nhất.
Chỉ cần nhìn vào cuộc đời Đức Giêsu, ta có thể thấy được tất cả mầu nhiệm về Thiên Chúa. Đó chính là mầu nhiệm của yêu thương và cứu độ. Yêu thuơng tạo dựng con người, Thiên Chúa ban cho con người tất cả: tự do, ý chí, lý trí, tình cảm và lương tâm.
Lạm dụng quyền tự do, con người đánh mất ân nghĩa cùng Thiên Chúa và phạm tội phản nghịch với Ngài. Mối dây liên hệ giữa Thiên Chúa và con người bị rạn nứt.
Đức Giêsu chính là nhịp cầu nối kết con người với Thiên Chúa. Chính nhờ sự vâng phục tự hủy quên mình của Ngài mà chúng ta mới được phục hồi phẩm giá làm con Thiên Chúa và sống mật thiết với Ngài.
Đến trần gian, Đức Giêsu không mang sứ vụ nào khác hơn ngoài việc cứu độ hầu đưa con người trở về với nguồn gốc của mình. Vì ý định ấy, Ngài đã không ngần ngại bỏ mình vì chúng ta. Ngài đã hy sinh tất cả hầu chỉ minh chứng tình yêu Thiên Chúa là thật.
Cuộc đời, sứ vụ cùng với lời rao giảng của Đức Giêsu là những chứng tá mặc khải mầu nhiệm Thiên Quốc. Chúng ta biết có Thiên Chúa là Cha đã hết tình yêu thương chúng ta. Không chỉ tạo dựng, không chỉ yêu thương, Ngài còn hy sinh ngay cả Con Một mình để cứu chúng ta.
Chỉ cần học, một bài học yêu thương. Chỉ cần sống, sống một đời thương yêu. Chỉ cần tin, tin một Tình Yêu duy nhất là chúng ta có đủ hành trang mang Tin Mừng, mang Ơn Cứu Độ đến cho muôn người như lời Đức Giêsu căn dặn: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” ( Ga 28, 19 ).
Sứ mệnh của Đức Giêsu là rao giảng, Ngài đã dùng chính cái chết của mình để mặc khải tình yêu thương của Thiên Chúa Cha. Ý định duy nhất của Thiên Chúa là muốn cho loài người được cứu độ, được hạnh phúc yêu thương. Tinh yêu thương của Thiên Chúa trao ban cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai. Và ý định cao quí nhất cũng chính là tình yêu thương vô biên ấy được lan tỏa đến tất cả mọi người.
Thiên Chúa dựng nên con người và biết điều gì cần cho con người sống. Chưa bao giờ Ngài bỏ mặc nhân loại mồ côi. Tình yêu Thiên Chúa lúc nào cũng tràn đầy, sung mãn như nguồn suối tuôn đổ sự sống hồng phúc trên họ. Thế nhưng chẳng hiểu sao con người cứ mãi mãi hoài nghi ?
Lạy Chúa, trần gian chỉ là cõi tạm Ngài ký gửi con vào và ban cuộc đời cho con thủ đắc. Mỗi người một cuộc đời. Đó chính là cầu nối đưa nhân loại trở lại nơi mình phát xuất ra. Hành trình trần gian dài hay ngắn không quan trọng, hạnh phúc hay đau khổ cũng là chuyện thường tình, làm thế nào để có thể trở về đúng nơi mình được dựng nên mới là quan trọng.
Xin giúp con hiểu rằng, thế giới bao người quanh con đang tranh giành ganh đua hơn thiệt chỉ là đường để dẫn con về. Ngày lại ngày qua, chẳng biết giờ nào con đến đích. Chỉ cần giúp con đừng ở lại quá lâu tại nơi nào đó trên trái đất này.
Xin giúp con biết sống như thể chỉ còn ngày mai nữa thôi, là sẽ về được tới nơi, mà khi xưa, ngày ấy, con đã được sinh ra.
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 
 

LênTrời-227: SỨ MẠNG PHỔ QUÁT

 (Mátthêu 28,16-20 – Thăng Thiên - A)
      1.- Ngữ cảnh 

 

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến ngữ cảnh trực tiếp, đó là mộ trống với hai sứ điệp, một tích cực: LênTrời-227

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến ngữ cảnh trực tiếp, đó là mộ trống với hai sứ điệp, một tích cực, một tiêu cực:
a) Sứ điệp tích cực
Sứ điệp tích cực được gửi đến trong hai thì:
- bởi sứ thần khi ngài giao phó cho các phụ nữ hai sứ mạng là làm chứng về sự Phục Sinh của Đức Giêsu và loan báo cho các môn đệ lệnh triệu tập của Đức Giêsu (28,1-8). Đây là kinh nghiệm tiêu cực về sự Phục Sinh.
- bởi chính Đức Giêsu Phục Sinh (28,9-10): Người cho các phụ nữ sống một kinh nghiệm thực hữu về sự Phục Sinh của Người và giao cho họ cùng một sứ mạng, là triệu tập các môn đệ về Galilê.
Đoạn văn Mt 28,16-20 cho hiểu rằng các phụ nữ đã chu toàn hai sứ mạng được giao: khi quy tụ về quả núi đã được chỉ định tại Galilê, các môn đệ chứng tỏ các ông đã tin vào chứng tá của các phụ nữ liên hệ đến cuộc Phục Sinh để cũng có thể tin vào lệnh triệu tập được các bà chuyển cho.
b) Sứ điệp tiêu cực 
Sứ điệp tiêu cực là truyện sai lạc về Đức Giêsu, được toán lính tung ra theo trò bịp bợm của các thủ lãnh Do Thái.
Đoạn văn này nêu bật sự tương phản (c. 16: de) giữa các thủ lãnh Do Thái và toán lính một bên, và bên kia, là Đức Giêsu và các môn đệ Người, giữa sứ điệp do người Do Thái tung ra và thực tế; vậy đoạn văn này chính là một lời phi bác tin đồn thất thiệt đã được phổ biến. Đối với người Do Thái, Đức Giêsu là một xác chết, còn các môn đệ Người là những tên trộm cắp và dối trá; trong thực tế, Đức Giêsu đã chiến thắng cái chết, đã sống lại, được ban cho toàn quyền của Thiên Chúa và đảm bảo bằng sự hiện diện đầy uy lực của Người; các môn đệ Người không tìm cách đánh cắp thi hài, nhưng đã đi về Galilê, đi xa ngôi mộ, để gặp Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng sẽ đi đến với “mọi dân tộc”, chứ không như tin đồn thất thiệt kia, chỉ được loan truyền “giữa người Do Thái” mà thôi. Giáo huấn phổ quát (didaskontes) mà các môn đệ của Đức Giêsu, vị Tôn Sư tuyệt đối (didaskalos, 23,8), sẽ cống hiến cho mọi dân tộc sẽ hoàn toàn vượt xa những gì toán lính phổ biến, vì họ đã làm theo lời “các thượng tế dạy” (edidachthêsan, 28,15). Các môn đệ sẽ được che chở và nâng đỡ “cho đến tận thế”, không phải bởi một quyền bính nhân loại như quyền bính của các thượng tế, nhưng bởi uy quyền của Đấng Phục Sinh, Chúa tể vũ hoàn.
2.- Bố cục
          Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (28,16-17);
2) Các lời nói của Đức Giêsu (28,18-20):
a) Mạc khải về quyền năng (18),
b) Lệnh truyền giáo (19-20a),
c) Hứa hiện diện hỗ trợ (20b).      
3.- Vài điểm chú giải
- Về phần mười một môn đệ (16): Ở đầu c. 16 này, có tiêu từ de (“và”, “rồi”; “nhưng”; “về phần”) hẳn là để nêu lên sự tương phản giữa báo cáo sai lạc của toán lính với sự thật về cuộc hiện ra của Đức Giêsu với mười một môn đệ.
- Mười một môn đệ (16): Trong Mt, Đức Giêsu có một nhóm các “môn đệ” (mathêtês: từ này được dùng trong Mt 73 lần, Mc 46 lần, Lc 37 lần, Ga 78 lần. Có 65 trong Mt ở số phức) luôn luôn được xác định bằng quán từ (article) hoi (x. 5,1; 8,21; 9,10; 12,1; 13,10; 14,15; 15,2; 16,5; 28,7). Điều này khẳng định rằng họ được biết rõ trong tư cách đó và họ không phải là nhóm “bảy mươi hai” của Lc (vả lại, Lc không gán cho nhóm “bảy mươi hai” cái tên “môn đệ”, mà là “bảy mươi hai người khác”, x. Lc 10,1). Các ông là những người sống hiệp thông với Thầy mình (“einai meta” [“ở với”]), tháp tùng Thầy trong sứ vụ của Người (9,19), cùng làm việc với Người để phục vụ các đám đông (9,36-37), được nêu ra làm gương cho các đám đông và được giới thiệu như là gia đình đích thực của Đức Giêsu (12,46-50). Mt xác định rằng các ông là “mười hai môn đệ” ( 10,1; 11,1; hay là “Nhóm Mười Hai”: 20,17; 26,20; ở c. 10,2, các ông cũng được gọi là “mười hai tông đồ” cùng với tên của các ông).
Con số “mười một” nhắc đến sự vắng mặt thê thảm của Giuđa, “một trong Nhóm Mười Hai” (26,14.47; x. 10,2.4): sự hư hỏng đã xảy ra ngay trong nhóm, tức là đây không phải là một nhóm toàn vẹn; với lại, tất cả các ông khác đều đã té ngã (x. hoi mathêtai: 26,56b; Phêrô: 26,69-75). Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đã là một dấu cho thấy Người tha thứ và hòa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành trình của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đã chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và hòa giải.
- ngọn núi (16): To oros (danh từ với quán từ xác định) cho hiểu rằng chính là trên một quả núi mà Đức Giêsu và các môn đệ đã biết, nhưng không cung cấp một xác định nào khác. 
- Bái lạy (17): Mt chỉ dùng động từ proskyneô (Mt 13 lần; Mc 2 lần; Lc 2 lần) cho những ai đã nhìn nhận phẩm giá của Đức Giêsu và diễn tả sự nhìn nhận đó ra bằng hành vi này (x. các hiền sĩ: 2,2.8.11; người phong cùi: 8,2; ông trưởng hội đường: 9,18;  các môn đệ trên thuyền: 14,33; bà Canaan: 15,25; mẹ các con ông Dêbêđê: 20,20; các phụ nữ tại mồ: 28,9).
- Nhưng có mấy ông lại hoài nghi (17): Trong Tân Ước, động từ distazein chỉ xuất hiện ở 14,31 (Phêrô đi trên mặt nước) và ở đây. Động từ này nhắc đến những gì Tin Mừng đã nói biết bao lần về phẩm chất của đức tin của các môn đệ: ở 6,30; 8,26-27; 14,31; 16,8; 17,20 (x. câu 17). Mt là tác giả duy nhất ghi nhận “đức tin lớn (megalê hê pistis)” của bà Canaan (15,28). Cùng với đề tài đức tin, Mt trình bày đề tài sự hiểu biết (synienai) và không hiểu biết: ở 15,16; x. 16,12; 17,13.
- Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18): Động từ edothê ở thì aorist thái bị động trần thuật (passive indicative): Thì aorist nhắm đến một sự kiện đã hoàn tất, chứ không phải là một lời hứa hay một niềm hy vọng; hẳn là ta có thể nghĩ đến một quan hệ mặc nhiên với sự phục sinh. Thái bị động đây là một thái bị động thay tên minh nhiên của Thiên Chúa. Hơn nữa, cách thức khẳng định cách tuyệt đối như thế gợi ý rằng Thiên Chúa là tác giả (so sánh c. 18b với 11,25).
Đề tài exousia cũng là một đề tài quan trọng của Mt (9 lần: 7,29; 8,9; 9,6; 9,8; 10,1; 21,23; 21,24; 21,27; 28,18). Từ ngữ có nghĩa là “quyền hành”, “uy quyền”, “quyền lợi”, “khả năng”, là những đặc tính của giáo huấn và cách hành động của Đức Giêsu: phân đoạn 5,1–7,29 (Bài Giảng trên núi) giới thiệu Đức Giêsu như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong lời nói” (x. 7,28), còn phân đoạn 8,1–9,38 giới thiệu Người như là “Đấng Mêsia có uy quyền trong hành động” (x. 11,2) (Đức Giêsu khẳng định rằng Người có exousia này: 9,6; dân chúng: 7,29; viên sĩ quan: 8,9; khi thấy người bại liệt được chữa lành, dân chúng tôn vinh Thiên Chúa: 9,8; Đức Giêsu nói về quyền của Người và từ chối cho biết nguồn gốc của quyền ấy: 21,24.27). Câu 28,18 là như tổng hợp về đề tài này và là một câu trả lời cho nhà chức trách tôn giáo: Đức Giêsu không phải là một người mất trí hay một kẻ tiếm quyền; Người đã nhận được quyền bính này trọn vẹn, trên toàn vũ trụ,  từ Thiên Chúa (chứ không phải từ tay ma quỷ, x. 9,34). Ở đây, điều được khẳng định là quyền (exousia) đã được Thiên Chúa ban.
- hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ (19): Trong các Tin Mừng, động từ mathêteuein chỉ được sử dụng ở Mt (13,52; 27,57; 28,19) với hai nghĩa: 1) nghĩa nội động (intransitive): trở thành môn đệ (13,52; 27,57); 2) nghĩa ngoại động (transitive): làm thành môn đệ; làm cho ai thành môn đệ (28,19; x. Cv 14,21). Đây không phải là chỉ trình bày, cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng, nhưng là kiến tạo một quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Kiểu mẫu của quan hệ này chính là quan hệ của Đức Giêsu lịch sử với các môn đệ đã được Người kêu gọi (môn đệ đi theo [akolouthein, x. 4,20.22; 8,23; 19,27.28], Thầy đi trước [proagein, x. 26,32; 28,7]).
- nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần (19): Công thức “nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” một công thức phép rửa. Qua công thức này, ta găp thực tại chúng ta có trong các Tin Mừng Nhất Lãm: đó là quan hệ chặt chẽ giữa đời sống và công trình của Đức Giêsu với Cha Người trong Chúa Thánh Thần. Cựu Ước biết đến vị Thiên Chúa tạo thành trời đất, đây là vị Thiên Chúa mà họ đến trình diện trong tư cách là các thọ tạo hoàn toàn khác với Ngài và không có quyền đi vào đối thoại với Ngài. Đức Giêsu loan báo vị Thiên Chúa có một người đối thoại trong bình diện thần linh. Chúa Con ở trước mặt Chúa Cha, và hai Đấng được liên kết với nhau, biết nhau, hiểu nhau và yêu thương nhau trọn vẹn và hoàn hảo nhờ Chúa Thánh Thần. Bí tích Rửa tội nhận chìm chúng ta vào trong vùng quyền lực của vị Thiên Chúa này.
- Này đây Thầy (20): Mt chuộng thức mệnh lệnh idou này. Nên ghi nhận là công thức long trọng idou egô luôn luôn có quan hệ với ý tưởng sứ mạng: 10,16; 23,34 et 28,20.
- Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20): Khi nói minh nhiên pasas tas hêmeras (tất cả các ngày), Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ. Heôs tês synteleias tou aiônos (cho đến tận thế) có nghĩa mục tiêu, nơi đến: nhắm đến tận thế. Từ ngữ synteleia (hoàn tất; kết cục) luôn được sử dụng với aiôn có nghĩa là “thời gian hiện tại”, “tình trạng hiện nay của tạo thành” (x. 13,22; 12,31). Synteleia tou aiônos có nghĩa là “khi kết thúc thời gian của thế giới này”. Người ta chờ đợi một kết thúc thời gian này với việc Đức Giêsu ngự đến (x. 24,3).
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Cuộc diện kiến của Nhóm Mười Một với Đức Giêsu (16-17)
Phần thứ nhất kể lại các hành vi của các môn đệ trong quá khứ (aorist) (đi tới, c. 16; bái lạy, c. 17; hoài nghi, c. 17). Bản văn cũng ghi nhận một hành vi của Đức Giêsu, “đã truyền” (etaxato, c. 16), nhưng chắc chắn đây là một hành vi Đức Giêsu  đã làm trước các hoạt động của các môn đệ được kể lại trong đoạn văn này; hành vi này lại chỉ là một mệnh lệnh, một hành vi nói. Ngược lại, trong các bản văn khác về hiện ra, Đức Giêsu hành động cùng nhịp với những người có mặt, chẳng hạn, ở Mt 28,9, Đức Giêsu đến gặp (hypêntêsen) các bà. Phải chờ đến c. 18 để gặp được một hành vi của Đức Giêsu, nhưng cả hành vi này cũng chỉ là một hành vi nói (elalêsen).      
Các nhân vật chính của phần thứ nhất là hoi hendêka mathêtai, “mười một môn đệ”. Con số này nhắc đến sự phản bội của cả nhóm. Nhưng sứ điệp mà Đức Giêsu ban cho các ông nhờ trung gian các phụ nữ đã là một dấu cho thấy Người tha thứ và hòa giải; Người gọi các ông là “anh em của Thầy” (28,10). Bây giờ, cuộc hành trình của các ông tiến về với Đức Giêsu và sự hiện diện của các ông tại nơi Người đã chỉ định là một dấu chứng tỏ các ông đón nhận sự tha thứ và hòa giải. Các môn đệ tiến về một nơi đã được Đức Giêsu xác định trước và theo thông tin của các phụ nữ (lệnh của sứ thần (28,7) và lệnh của Đức Giêsu ban cho các phụ nữ).
Trong Mt, ta không thấy có một lệnh minh nhiên của Đức Giêsu là đi đến một ngọn núi được xác định, nhưng có những chi tiết liên hệ đến Galilê. Tất cả các chi tiết này, khi được đặt vào trong bối cảnh là cuộc Thương Khó và Phục Sinh, thì giống như những tia chớp hy vọng được ban cho các môn đệ (tại núi Ô-liu, Đức Giêsu đã nói đến Galilê: 26,32; tại mộ, vị thiên thần đã nhắc đến Galilê: 28,7; Đức Giêsu xác nhận sứ điệp: 28,10). Chuyến đi đưa các ông về nơi Đức Giêsu đã chỉ định cho thấy rằng họ vừa thi hành lệnh Đức Giêsu truyền, họ vừa ý thức rằng họ đang được trở vào trong tình bằng hữu với Người, tình bằng hữu mà Người đã mời họ đến khi gọi họ là “anh em của Thầy” (28,10).
Như thế, câu truyện sẽ kết thúc ngay tại nơi mà sứ vụ của Đức Giêsu đã bắt đầu: tại “Galilê, miền đất của dân ngoại”, đã xuất hiện ánh sáng có sức thắng vượt bóng tối của tử thần (4,15-16) và giúp cho có thể bắt đầu việc rao giảng cho muôn dân (28,19). Ở đây tầm quan trọng của Galilê đặc biệt có tính thần học: Đấng Phục Sinh gặp lại các môn đệ Người tại nơi chính của hoạt động trần thế Người (nhất là theo Mc và Mt); điều này giả thiết có một sự tiếp nối giữa Đức Giêsu trần thế và Đức Kitô Phục Sinh, một sự tiếp nối mà c. 20a sẽ nêu bật minh nhiên (“[bằng cách] dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”). Do chính sự kiện này, Người xác nhận việc loan báo đầu tiên của Người, hoặc đơn giản hơn, xác nhận trọn vẹn sứ mạng của Người và giới thiệu sứ mạng ấy như mẫu mực cho các môn đệ.   
Lời Đức Giêsu nói với các phụ nữ (28,10), “họ phải đi đến Galilê”, là một mệnh lệnh, còn “họ sẽ được thấy Thầy ở đó” là một lời hứa. Vậy bản văn của chúng ta là sự hoàn tất mệnh lệnh ấy và sự thực hiện lời hứa ấy.
 “Ngọn núi” không phải là một nơi mà người ta hẳn là có thể xác định theo địa lý; đây là nơi tiêu biểu cho mạc khải (5,1: “Bài Giảng trên núi”; 15,29: mạc khải của Đấng cứu thế, Đấng nuôi dưỡng dân Người như Môsê xưa kia trong hoang địa; 28,16: “ngọn núi” xuất hiện lần thứ ba, để cũng nêu bật tầm quan trọng của mạc khải như thế).
Sự kiện các môn đệ “thấy” Đức Giêsu được kín đáo giới thiệu bằng một vị tính từ  (participle), lệ thuộc động từ chính: “các ông bái lạy”. Việc “thấy Đức Giêsu” chỉ được nhắc đến ngắn ngủi ở đây, khác với các bài tường thuật khác về hiện ra, nhưng nó chẳng còn giá trị gì khi nói về niềm tin Phục Sinh. Sự kiện quan trọng đối với Mt là “các ông bái lạy” (prosekynêsan), đây là cách tôn kính mang tính tôn giáo và thậm chí phụng vụ. Thái độ này diễn tả trước những gì sẽ được lời tuyên bố ở c. 18b loan báo về quyền của Đức Giêsu. “Nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (c. 17). Ở đây, nỗi ngờ vực đã xảy đến idontes, “khi thấy Người” như là Đấng Phục Sinh. Chúng ta phải ngạc nhiên khi thấy phát sinh nỗi ngờ vực, nghĩa là một tình trạng ngần ngại, lưỡng lự, trong bối cảnh lại quá đậm đặc và tiêu biểu này.  Phản ứng này xuất hiện nhiều lần trong các bài tường thuật khác về hiện ra. Nỗi hoài nghi được thắng vượt mỗi lần một cách: Đấng Phục Sinh xin các ông cho ăn (Lc 24,41tt); Đức Giêsu hiện ra một lần nữa với các môn đệ lúc đầu không tin (Mc 16,14tt); Tôma có thể chạm tới các vết thương của Đức Giêsu (Ga 20,24-29). Ta không thấy có gì tương tự ở đây cả. Có lẽ sự hoài nghi này liên hệ đến một thời đại muộn màng hơn: cộng đoàn hôm nay không còn thấy Đức Giêsu bằng mắt thịt nữa, họ có thể rơi vào hoài nghi; họ phải thắng vượt khó khăn này nhờ dựa vào lời của Đấng Phục Sinh. Các lời nói của Đức Kitô Phục Sinh và sự vâng phục của các môn đệ với lời Người là cách thế duy nhất giúp vượt qua nỗi hoài nghi.
* Các lời nói của Đức Giêsu (18-20)
Đứng trước đức tin xen lẫn hoài nghi của các môn đệ, lời Đức Giêsu nói cung cấp câu trả lời. Đấng Phục Sinh không trách các ông về sự bất trung hoặc về nỗi hoài nghi; thậm chí Người cũng không xua tan nỗi hoài nghi bằng một cử chỉ hoặc một chứng từ bổ sung. Người đến gần các ông và nói. Người từ xa đến với những người là các môn đệ Người, vâng phục Người và đang cung kính bái lạy Người. Chỉ mình Người có thể vượt qua khoảng cách bằng cách đi đến với các ông. Proserchomai là một động từ được Mt ưa chuộng (Mt 52x; Mc 5x; Lc 10x; Ga 1x), nhưng chỉ có hai lần ông diễn tả một hành vi chủ động của Đức Giêsu (ở đây và ở 17,6-7: hai đoạn riêng của Mt): trong trường hợp này, Đức Giêsu đến gần là để nâng đỡ những người đang hoài nghi hoặc đang sợ.
Vấn đề ở đây là một lời nói, vấn đề ở đây là nghe chứ không phải là thấy. Chính lời nói của Đức Giêsu tạo được sự trấn an diễn tả ra bằng hành vi đến gần: Người tự tỏ mình ra trong lời Người nói như là Đấng được đặt để trong quyền bính và nói với uy quyền. Trong tư cách đó, Người hiện diện trong thời gian của thế giới, trong Giáo Hội cho đến tận thế.
Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất (18b). Được đặt ở đầu bài diễn từ, mạc khải này đỡ nâng các khẳng định tiếp sau: lệnh truyền và lời hứa. Đức Giêsu khẳng định quan hệ của Người với Thiên Chúa và vị trí hiện nay của Người: chính Thiên Chúa, Cha của Đức Giêsu (so sánh với 9,6.8; 11,27 và Đn 7,14), đã ban cho Người tất cả các quyền hành trên trời dưới đất. 
Theo lời rao giảng tiên khởi (kêrygma) của các tông đồ, do Phục Sinh, Người đã được đặt làm Đức Chúa (Kyrios) trên vũ trụ và làm Thẩm phán vào lúc tận thế. Trong thực tế, bản văn không nói cho biết là Người đã được Chúa Cha đặt để như thế khi nào, nhưng nhấn mạnh rằng quyền lực tối thượng này của Đấng Phục Sinh là vô biên (pasa) tự nó trong sự viên mãn và trong cường độ của nó: trong không gian, Đấng Phục Sinh hiển trị trên vũ hoàn (trời và đất), như trong Cựu Ước, Thiên Chúa được nhìn nhận là Chúa tể trời đất, nghĩa là Đấng Tạo hóa và Bảo toàn tất cả vũ trụ; và trong thời gian, Người hiển trị  bây giờ và cho đến tận thế.
Bây giờ, trong tư cách là Đấng đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, Đức Giêsu là Đấng mạc khải cánh chung cho biết ý muốn của Thiên Chúa và là Đấng thực hiện dự phóng cứu độ của Ngài. Các môn đệ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng họ được ban cho quyền này.  
Từ oun, “vậy”, gợi ý là lệnh truyền này là hậu quả của tuyên bố về quyền vũ hoàn của Đức Giêsu, là sứ mạng của Nhóm Mười Một phát xuất từ quyền bính của Đức Kitô. Tuy nhiên, lệnh truyền được ban cho toàn nhóm, điều này cho thấy rằng bổn phận truyền giáo là một nhiệm vụ của toàn thể cộng đoàn chứ không của một vài cá nhân. Uy quyền (c. 18) và sự hiện diện của Đức Giêsu (c. 20) sẽ cho các ông đủ tư cách và uy tín mà chu toàn bổn phận này.
Khi đi rao giảng, các môn đệ không chỉ trình bày, chỉ cống hiến sứ điệp, loan báo Tin Mừng (keryssein), nhưng là kiến tạo một cộng đoàn có quan hệ chặt chẽ và riêng tư. Tương quan của các môn đệ với Đức Giêsu là kiểu mẫu cho sự hiệp thông với Người mà mọi dân tộc đang được đưa dẫn tới. Kể từ nay, kiểu mẫu này là chuẩn mực cho mọi Kitô hữu: “môn đệ” có thể nói là định nghĩa ngắn nhất của Kitô hữu. Được giao sứ mạng “làm ra các môn đệ”, Nhóm Mười Một đang hiện diện ở đây sẽ có thể rút ra từ đó biết bao hệ luận: một đàng, kinh nghiệm sống với Đức Giêsu phải luôn luôn là điểm qui chiếu cho họ trong hoạt động; đàng khác, tư cách môn đệ không phải là của riêng thuộc về những bạn đồng hành lịch sử của Đức Giêsu trần thế, trái lại đây là tư cách mà kể từ nay mỗi người được mời gọi đi vào. Tất cả đều được mời gọi trở thành”môn đệ Đức Giêsu”, vị Thầy duy nhất (x. 23,8.10).
Chiều hướng phổ quát đã được báo trước trong lời nhắc đến Abraham (1,1), trong truyện các đạo sĩ (2,1-12), vị sĩ quan Caphácnaum (8,5-13), bà Canaan (15,21-28), viên sĩ quan canh giữ Đức Giêsu trên đồi Sọ (27,54). Đi đến với các dân tộc đã là chọn lựa của Đức Giêsu, cho dù trong diễn từ truyền giáo (ch. 10), Người đã truyền các môn đệ là chỉ đi đến với các chiên lạc Israel thôi. Tính phổ quát truyền giáo này còn được báo trước ở 24,4 và 26,13, và bây giờ được khẳng định như là ý muốn chính xác của Đức Giêsu. Điều bị cấm trước đây ở 10,5 (anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại) bây giờ được khuyến cáo thi hành (hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ): như đại đa số các lần xuất hiện, từ ethnç trong Mt có nghĩa chữ là Dân ngoại, lệnh này chỉ liên hệ đến Dân ngoại. Nhưng nếu Israel không còn là đối tượng của một sứ mạng đặc biệt, điều này không có nghĩa là Israel bị loại ra khỏi chân trời Phục Sinh. Rất có thể vào thời của cộng đoàn Mt, đã có một sự đoạn tuyệt giữa Giáo Hội và Hội đường; nhưng người Do Thái tiếp tục là một thực tại của cộng đoàn Mt. Nếu Israel bị kết án, mỗi người Do Thái vẫn có thể đến với cộng đoàn các môn đệ. Sẽ xuất hiện một cộng đoàn phổ quát trong đó mỗi người có một quan hệ trực tiếp và thân tình vừa với Đức Giêsu vừa với những người khác. Hoạt động của các môn đệ là một sự tiếp nối hoạt động của Đức Giêsu (4,23; 9,35; 11,1).
Để làm cho muôn dân thành môn đệ, hai việc các môn đệ phải làm là “làm phép rửa” nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi và “giảng dạy”. Căn tính mới của Thiên Chúa là căn tính Cha, Con và Thánh Thần, mà người môn đệ bắt đầu quan hệ với qua bí tích thánh tẩy. Lệnh truyền giảng dạy đã được đặt vào cuối Tin Mừng, có thể là vì Mt coi nhiệm vụ giảng dạy như là nhiệm vụ cao nhất trong Hội Thánh. Nhóm Mười Một không được phép mở trường, nhưng tiếp tục học ở “trường” Đức Giêsu: các ông phải giảng dạy, như chính Đức Giêsu đã giảng dạy. Cho dù các ông đã nhận lãnh bổn phận giảng dạy, các ông sẽ phải mãi mãi duy trì chân tính môn đệ, bằng cách nhìn nhận và chấp nhận uy quyền của Đức Giêsu, bằng cách bây giờ tin vào Đức Giêsu như tin vào chính Thiên Chúa.
Đề tài giảng dạy đã có sẵn: các lệnh truyền của Đức Giêsu. TM Mt chứa biết bao lời giảng dạy của Đức Giêsu (trong năm diễn từ), nhưng nhất là giáo huấn của Bài giảng trên núi đáng được xét đến. Trong lệnh truyền giáo, Đấng Phục Sinh đã nói với các môn đệ là “dạy bảo họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (c. 20). Câu này chắc chắn quy về tất cả mọi lời nhắn nhủ, tất cả giáo huấn của Đức Giêsu trong TM Mt, nhưng đặc biệt qui về các lời nhắn nhủ trong Bài Giảng trên núi bởi vì Bài Giảng này chứa phần lớn những gì Đức Giêsu đã dạy các môn đệ và có một giọng thôi thúc người ta thực hiện các lời nhắn nhủ này (x. 7,13-27).
Tuy nhiên, Đấng nói đây không còn là vị Thầy trần thế nữa, nhưng là Đức Chúa Phục Sinh, “Đấng đã được ban cho toàn quyền trên trời dưới đất”. Bây giờ, với uy quyền của Đấng là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” trong mức viên mãn của sự Phục Sinh, Đức-Giêsu-đang-sống lấy lại giáo huấn của Bài Giảng trên núi và nhắc lại cho các thế hệ tương lai.
Mục tiêu không còn phải là chu toàn Lề Luật hoặc các Ngôn sứ, nhưng tuân giữ  “tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em”. Như thế, chính Đức Giêsu đặt mình vào vị trí của “Lề Luật hoặc các Ngôn sứ” (x. ngay ở 5,21-48 với các công thức “Anh em đã nghe [Luật] dạy người xưa / Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết”), Người là Đấng lập pháp tối cao, diễn tả trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa. Thái độ này khi đó và lệnh truyền hiện nay gửi trở lại với các công thức khác nhau của Cựu Ước trong đó chính Đức Chúa (Yhwh) truyền lệnh cho dân Ngài là tuân giữ điều răn của Ngài (x. 2 Sb 33,8; Xh 34,32; Đnl 4,2; 12,14). Bây giờ Đức Giêsu thay thế Yhwh khi khẳng định ý muốn của Người. Và chắc chắn ý muốn thần linh này được tập trung nơi điều răn yêu thương, đỉnh cao và sự hoàn tất của Kinh Thánh (“Lề Luật hoặc các Ngôn sứ”: x. 22,40).
Tuy nhiên, hẳn là ta có thể nới rộng ý nghĩa của “tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em” cho cả bốn bài diễn từ khác, bởi vì tác giả đã xác định rằng chúng cũng là những “chỉ thị/dụ ngôn/những điều” của Đức Giêsu (x. công thức kết luận mỗi bài diễn từ: 11,1; 13,53; 19,1; 26,1; x. 7,28-29). Vấn đề ở đây là các giáo huấn của Thầy về các điều kiện và bản chất của đời sống đích thực của người môn đệ và về nẻo đường thánh ý chân thực của Thiên Chúa, “nẻo đường công chính” (21,32).
Khi nói “tất cả những gì Thầy đã truyền cho anh em”, Đức Giêsu xác định giáo huấn của Người là như một lệnh truyền, như một đòi hỏi cấp bách (trong một ngữ cảnh tương tự, Mc nói đến “tin mừng”: 13,10; 14,9; Lc thì nói đến “hoán cải và tha thứ tội lỗi”: 24,47). Đấng Phục Sinh biến lời của Đức Giêsu trần thế thành chuẩn mực cho Hội Thánh mọi thời và “cho đến tận thế”. Sứ điệp của Đấng Phục Sinh được coi là đồng nhất với sứ điệp của Đức Giêsu trần thế.
Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (20b). Egô meth’ hymôn eimi. Giới từ meta + thuộc cách có nghĩa là “với” nhằm diễn tả sự hiệp thông, sự hiệp nhất (cơ bản là riêng tư cá nhân), sự cộng tác, khi đó là tương quan của Đức Giêsu với những người khác: Đặc biệt 28,20 đáp lại khởi đầu Tin Mừng, khi mà Đức Giêsu được giới thiệu lúc chào đời như là Đấng mà “người ta sẽ gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (1,23). Ở đây chúng ta có một thể đóng khung rất lớn bung mở ra chiều kích vũ hoàn của bản thân Đức Giêsu trên toàn thể lịch sử nhân loại, đồng thời vẫn nêu bật sự bám rễ của Người về phương diện xác thịt trong thời gian và không gian. Thực tại Emmanuel này được diễn tả xuyên qua toàn thể Tin Mừng: Vào lúc chào đời của Đức Giêsu (1,23); trong  khi hoạt động, Người hiện diện giữa nhóm môn đệ (9,15; 26,18.20.36.38.40; x. “Đức Giêsu dẹp yên biển động”, 8,23-27; egô eimi, 14,27); những lần Người tiếp xúc với người tội lỗi (9,11) và qua cái chết ban ơn cứu chuộc (26,28; x. 1,21; 17,17 so với Mc 9,19). Mt 28,20 hẳn là câu trả lời chung cuộc cho câu hỏi ấy. Bây giờ Người hứa ở với họ mãi mãi.
Trong Cựu Ước, bằng những thuật ngữ tương tự Ta sẽ ở với các ngươi mãi mãi, Yhwh thường đảm bảo với một tín hữu, một ngôn sứ, một thủ lãnh, toàn dân, nhất là trong bối cảnh một cuộc sai phái, là Người sẽ hiện diện, nghĩa là giúp đỡ tận tình, với lòng từ bi thương xót, để cứu độ.  Đấng Kyrios ban cho các môn đệ cũng một đảm bảo như Yhwh đã ban cho dân Ngài trong Cựu Ước. Người không thế chỗ cho các môn đệ, nhưng sẽ hiện diện với họ để nâng đỡ họ bằng sức mạnh, không do các đức tính hay các thành tích của các môn đệ, nhưng do sự trung tín hữu hiệu của Đấng đã đưa các lời hứa trong Kinh Thánh đến chỗ hoàn tất. Khi nói “tất cả các ngày”, Đức Giêsu khẳng định Người sẽ ở thường trực và trọn vẹn với các môn đệ, và nhắm đến tận thế, “lúc kết thúc thời gian của thế giới này”.
+ Kết luận
Trên núi Galilê (28,16; x. 5,1), Đức Giêsu Phục Sinh, đại diện toàn quyền của Thiên Chúa, tỏ mình ra như là Đấng mạc khải tối hậu của Thiên Chúa và Đấng lập pháp vĩnh viễn, nay cử các môn đệ đi đến với mọi dân tộc. Trong Cựu Ước, núi Sinai xuất hiện ra như là quả núi của mạc khải và của Giao ước, trên đó Thiên Chúa tự tỏ mình ra và thông ban các điều răn của Ngài (Xh 19,1–24,11). Từ Sinai, dân Israel bắt đầu cuộc hành trình tiến về Đất hứa; trên núi Galilê, Đức Giêsu đích thân, trong tư cách Đấng Phục Sinh, tức đã đi vào trong đời sống Thiên Chúa, cho thấy đâu là mục tiêu của mỗi người trong “tất cả các dân tộc”.
Các lời kết thúc của Đức Giêsu đã đón nhận lấy các nội dung chính của TM Mt về sứ vụ không biên giới của các môn đệ. Điều này còn cho thấy một lần nữa chiều hướng tổng hợp hướng về sứ vụ phổ quát như là nét tiêu biểu của Tin Mừng này.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Nhóm môn đệ có một vết thương, gây ra do sự phản bội và sự biến mất của Giuđa. Họ không còn là mười hai, là là mười một. Vết thương này nhắc nhớ rằng tất cả đã bất trung với Đức Giêsu. Khi Người bắt đầu chuyến đi vào Thương Khó, các ông đã cắt đứt việc đi theo Người hoặc bằng cách chạy trốn (26,56) hoặc bằng cách giữ khoảng cách trong ba lần chối (26,69-75). Tuy nhiên, Đức Giêsu đã chữa lành vết đứt này. Người không gọi những môn đệ mới, nhưng gọi chính những người đã thất bại trong thử thách Khổ Nạn. Khi các môn đệ đến nơi hẹn, Đức Giêsu không hề thốt ra một lời trách móc, mà lại còn giao sứ vụ, là sứ vụ của chính Người.
2. Nhận biết và hoài nghi là hai thái độ có thể đi với nhau, như lời xin của cha đứa bé trong Tin Mừng Máccô: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24). Do đó, cần phải nhìn lại tất cả hoạt động công khai của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố Phục Sinh. Bây giờ Đức Giêsu mạc khải cho các môn đệ biết Người có toàn quyền, Người là Chúa tể không giới hạn, do quyền Chúa Cha ban cho Người. Người đã gọi các ông, các ông đã đi theo Người, đã nghe lời Người giảng dạy; Người đã chết trên thập giá, nhưng nay Người đang sống trước mắt các ông và là Chúa tể tuyệt đối, các ông hãy tin trọn vẹn vào Người.
3. Các môn đệ của Đức Giêsu phải ra đi để làm cho muôn dân “trở thành môn đệ” Người, chứ không phải trở thành môn đệ của chính mình. Các môn đệ mới sẽ cùng các ông bước theo Đức Giêsu, nghĩa là liên kết với Đức Giêsu, hiệp thông cuộc sống với Người, chấp nhận Người chỉ cho mình lộ trình phải theo, xác định hình thái và chiều hướng sống, ký thác trọn vẹn nơi Người.
4. Những người được nhận lời hứa hiện diện thường trực cho đến tận thế, không chỉ là các môn đệ ở trên núi Galilê ấy mà thôi. Chân trời mở rất rộng: Đấng Kyrios không hiện diện giữa dân Người như trong mầu nhiệm nội tại và trong thực tại thần bí của Người, nhưng đúng ra, tại mọi thời và trong mọi tình huống, Người ở bên cạnh dân để trợ giúp và an ủi họ, để khích lệ và kêu gọi họ, và Người luôn luôn tháp tùng hoạt động của các sứ giả Người. Mt không nhắc đến Thăng thiên để không đưa Đức Giêsu đi xa cộng đoàn của Người: Người tháp tùng họ trong cuộc hành hương trần thế “cho đến tận thế”.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 
 

LênTrời-228: LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY

CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH A
LỄ CHÚA THĂNG THIÊN
Cv 1,1-11; Ep 1,17-23; Mt 28,16-20
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Mt 28,16-20:
(16) Mười một Môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. (17) Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. (18) Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”. (19) Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. (20) Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.



2. Ý CHÍNH: 
 

Sau khi sống lại, Chúa Giê-su đã hiện ra nhiều lần để chứng minh cho các môn đệ thấy Người đã: LênTrời-228

Sau khi sống lại, Chúa Giê-su đã hiện ra nhiều lần để chứng minh cho các môn đệ thấy Người đã thực sự từ cõi chết sống lại. Nhưng lần này trước khi về trời, Đức Giê-su hiện ra lần cuối với Nhóm Mười Một trên một ngọn núi tại miền Ga-li-lê. Người không chứng minh Người đã sống lại như các lần trước, nhưng trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng phổ quát cho Hội Thánh qua Nhóm Mười Một môn đệ như sau: “Hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Người cũng truyền cho các ông tiếp tục dạy cho các tín hữu phải tuân giữ các huấn luyện của Người và hứa sẽ ở cùng các ông mọi ngày cho đến tận thế.


3. CHÚ THÍCH:
- C 16-17: +Mười một môn đệ: Nhóm Mười Hai lúc này đã bị mất Giu-đa phản bội, nên chỉ còn mười một người (x. Mt 10,1-4; 27,5). + Đi tới miền Ga-li-lê: Vâng lời dạy của thiên thần nhắn cho các môn đệ qua hai phụ nữ và sau đó Chúa Phục Sinh cũng nhắc lại lệnh truyền này khi hiện ra với hai bà này vào sáng sớm Ngày Thứ Nhất trong tuần (x. Mt 28,7.10). Ga-li-lê là trung tâm truyền giáo của Đức Giê-su trong thời gian Người đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời. + Đến ngọn núi: Tin Mừng không xác định là núi nào. Còn sách Công Vụ Tông Đồ cho biết là núi Ô-liu (x. Cv 1,12). Núi tượng trưng nơi Thiên Chúa mặc khải cho các ngôn sứ thời Cựu Ước (x. Xh 3,1-5; 19,20; 1 V 19,8-14). Trong Tin Mừng Mát-thêu, nhiều lần Đức Giê-su cũng mặc khải những điều quan trọng trên núi. Chẳng hạn: Công bố Tám Mối Phúc Thật trên một quả núi (x. Mt 5,1), biến hình trước mặt ba môn đệ trên núi cao (x. Mt 17,1); ra lệnh cho các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc trên một ngọn núi (x. Mt 28,16). (17) + Khi thấy Người, các ông bái lạy: Các môn đệ thấy Chúa Giê-su Phục Sinh và biểu lộ niềm tin bằng việc sấp mình bái lạy Người. Hành động này tương tự như các đạo sĩ đã sấp mình bái lạy Hài Nhi Cứu Thế (x. Mt 2,2.8.11); Người phong cùi bái lạy xin Đức Giê-su chữa lành (x. Mt 14,33); Người đàn bà xứ Ca-na-an bái lạy xin Đức Giê-su chữa cho con gái bà khỏi bị quỷ ám (x. Mt 15,25). + Có mấy ông lại hoài nghi: Nói đến có môn đệ còn hoài nghi sau khi các ông đã bái lạy Chúa xem ra bất nhất và khó hiểu. Thực ra, lúc này khi từ giã Chúa Giê-su sắp về trời thì mọi môn đệ đều đã tin, và không ai còn hoài nghi gì nữa. Nhưng các trình thuật Tin Mừng hiện ra khác đều nói đến sự nghi ngờ, và đều được Người đánh tan sự nghi ngờ ấy. Riêng Tin mừng Mát-thêu ghi nhận sự kiện môn đệ hoài nghi vào thời điểm này và cũng đã được Chúa Giê-su đánh tan khi cho các ông biết Người đã được Thiên Chúa trao toàn quyền trên trời dưới đất (x. Mt 28,18). Theo một số tác giả thì sự hoài nghi ở đây nhắm đến sự hoài nghi của cộng đoàn nói chung, vì từ đây các tín hữu sẽ không còn thấy Chúa Phục Sinh hiện ra nữa. Sự hoài nghi này sẽ được Lời Chúa đánh tan. Do đó, các tín hữu cần dựa vào Lời Chúa để củng cố đức tin hầu được chúc phúc như Chúa Phục Sinh đã nói với Tô-ma: “Phúc thay những người không thấy mà tin !” (Ga 20,29).
- C 18-19: + Đức Giê-su đến gần: Đến gần là hành động ưu ái đặc biệt, lấp đầy khoảng cách giữa thiên quốc và trần gian mà chỉ Đức Giê-su Phục Sinh mới làm được. + Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất: Lúc khởi đầu việc rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su đã từ chối nhận quyền do ma quỷ hứa ban cho Người trên mọi nước thế gian (x. Mt 4,8-10), thì giờ đây, sau khi đã vâng phục thánh ý Chúa Cha để đi con đường "Qua đau khổ vào vinh quang", Người đã được Chúa Cha ban mọi quyền năng trên trời dưới đất, để ứng nghiệm lời tuyên sấm trong sách Đa-ni-en về Con Người: “Người được ban tặng quyền bính, vinh dự, vương triều. Tất cả các dân các nước và các tiếng nói đều phải phụng sự Người” (Đn 7,14), và quyền bính của Người còn bao trùm cả trời đất (x. Cv 13,33). + Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ: Các môn đệ đại diện Hội Thánh nhận bài sai của Chúa Giê-su để đi chinh phục thế giới. Từ nay Hội Thánh phải nhân danh Chúa Giê-su mà làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người, trước tiên là những người Do thái (x. Mt 10,5-6; 15,24), rồi đến mọi dân trên thế giới (x. Mt 8,11; 21,41). + Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần: Làm cho người ta trở thành môn đệ Chúa Ki-tô gồm cả việc rao giảng Tin Mừng. Để chu toàn việc này, các môn đệ phải cho họ lãnh nhận phép rửa nhân danh Chúa Ba Ngôi, nghĩa là đặt người dự tòng trong tương quan với Ba Ngôi Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
- C 20: + Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền: Việc đào tạo người ta nên môn đệ Chúa phải được tiếp tục sau phép rửa qua lời giảng dạy, cho tới khi Hội thánh đạt tới sự viên mãn của Đức Ki-tô (x. Ep 1,23). Vì thế các Tông đồ phải hướng dẫn muôn dân tuân giữ các giới răn của Chúa. Dân của Giao Ước Mới phải sống theo Luật Mới do Chúa Giê-su công bố mà các Tông đồ phải truyền đạt. + Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế: Chúa Ki-tô Phục Sinh hứa sẽ hiện diện mãi trong Hội Thánh để hỗ trợ, giúp Hội Thánh chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho đến tận thế. Vì Người chính là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (x. Mt 1,23).



4. CÂU HỎI:
1) Tại sao chỉ còn Mười Một môn đệ có mặt khi Chúa lên trời ? 2) Tại sao các môn đệ lại họp mặt tại miền Ga-li-lê ? 3) Chúa lên trời trên núi nào ? 4) Tại sao các môn đệ bái lạy Đức Giê-su khi Người xuất hiện ? 5) Tại sao Tin Mừng nhắc đến thái độ hoài nghi của các môn đệ vào lúc này ? 6) Tại sao trước khi lên trời Chúa Giê-su tuyên bố mình được trao toàn quyền trên trời dưới đất ?
HỎI 7) Mệnh lệnh thâu nạp môn đồ khắp muôn dân cũng như công thức rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi chính xác đến mức độ nào, đang khi sách Công Vụ Tông Đồ lại cho biết Hội Thánh sơ khai dùng công thức rửa tội “nhân danh Chúa Giê-su” (x. Cv 2,38; 10,48) ?
ĐÁP 7): Thực ra, mệnh lệnh rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc và việc nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong đoạn Tin Mừng Mát-thêu nói trên bắt nguồn tư Chúa Giê-su. Tuy nhiên việc mở rộng sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc đã dần dần được sáng tỏ do tác động của Chúa Thánh Thần (x. Cv 11,15-18). Sau một thời gian sống và rao giảng Tin Mừng, Hội Thánh do kinh nghiệm thực tế đã dần dần hiểu biết trọn vẹn lệnh truyền của Chúa Giê-su và đưa công thức rửa tội nhân danh Ba Ngôi là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần vào phụng vụ phép rửa. Đến khi biên soạn Tin Mừng thứ nhất (khoảng thập niên 80-90), Mát-thêu được Thánh Thần linh hứng, đã đưa mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi vào lệnh truyền rửa tội của Chúa Giê-su cho các môn đệ trước khi lên trời (x. Mt 28,19).



II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18b-20).



2. CÂU CHUYỆN:
1) DÙNG LỜI NÓI ĐỂ LÀM CHỨNG CHO CHÚA:
JUNE là một bé gái 5 tuổi có khuôn mặt đẹp như thiên thần và rất lanh lợi. Cha mẹ em đều là nhà giáo có lòng đạo đức. Mẹ thường đem em đi theo mỗi khi bà có việc phải đi ra ngoài. Một hôm, hai mẹ con dắt nhau vào trong bưu điện thành phố. Đang lúc bà mẹ lo gửi thư bảo đảm cho một người thân, thì bé June chạy chơi loanh quanh gần đó quan sát người ta làm việc. Bấy giờ một ông lão ngồi gần đó thấy bé gái kháu khỉnh dễ thương, liền bắt chuyện làm quen như sau: “Này cháu bé. Cháu có mái tóc đẹp lắm ! Mà tại sao mái tóc của cháu lại đẹp đến thế nhỉ ?” Cô bé liền vui vẻ trả lời: “Thưa ông, mẹ cháu dạy rằng: Chính Thiên Chúa đã ban mọi sự tốt đẹp cho cháu và cháu phải biết tạ ơn Người nhiều lắm đó !” Nói xong em nhìn thẳng vào mặt ông lão, nhoẻn một nụ cười thật dễ thương và hỏi: “Thế ông đã được Chúa ban cho điều gì tốt đẹp chưa ? Ông có đươc Chúa ban ơn cứu độ không ?”. Ông lão kinh ngạc và xúc động trước câu hỏi đơn sơ của cô bé. Ông ngẩn người suy nghĩ giây lát về tình trạng của mình rồi đáp: “Chưa đâu, cháu ạ”. Em bé liền nói: “Thế thì ông phải cầu xin Chúa ban ngay đi. Rồi Chúa sẽ cho ông trở thành con của Chúa, và ông sẽ được Chúa biến đổi nên một người mới rất xinh đẹp đó !” Nói xong, bé vội chạy về phía mẹ đang vẫy gọi ở lối đi bên kia. Ít tuần sau, ông lão tìm đến một nhà thờ xin học giáo lý dự tòng. Về sau ông cho biết: chính câu nói đơn sơ của cô bé hôm ấy đã đánh động tâm hồn vốn chai lì của ông, và luôn ám ảnh khiến ông không thể quên được. Cuối cùng ông đã quyết định phải  theo đạo để được trở nên con của Thiên Chúa và được biến đổi nên tốt đẹp như em đã nói.
Câu nói của một bé gái tuy đơn sơ nhưng đã có sức mạnh khiến một người già cứng lòng phải suy nghĩ và quay trở về với Chúa. Còn chúng ta thì sao ? Chúng ta có dám biểu lộ đức tin trước mặt người khác không ? Có dám nói về Chúa cho những người chưa nhận biết Chúa để họ tin Chúa và đi theo làm môn đệ Người hay không ?



2) LÚC CẤP BÁCH CẦN TRUYỀN ĐẠT ĐỨC TIN CÁCH CỤ THỂ:
Trong tác phẩm “Hương rượu mới”, tác giả thuật lại về giờ phút cuối cùng của cha mình như sau: Bấy giờ cha tôi đang hấp hối trên giường bệnh. Trong khi tôi chỉ biết ngồi nhìn cha với tâm trạng chán nản thất vọng, thì một nữ tu Công giáo với dáng người nhỏ nhắn đã bước vào phòng. Chị đi vòng qua bên kia giường cha tôi đang nằm, cầm lấy tay ông đưa lên vỗ nhè nhẹ. Sau đó chị hỏi: “Bác có nghe cháu nói không ?” Ông cụ gật đầu. Đoạn chị nói với ông: “Trước đây bác đã tin Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế chưa ?” Ông cụ lắc đầu. Chị nữ tu liền nói: “Bây giờ bác có muốn tin Chúa không ?” Ông cụ đáp: “Dạ có”. Thế là chị yêu cầu ông lặp lại theo mình: “Lạy Chúa Giê-su, con tin nhận Chúa là Đấng Cứu Thế của con. Xin Chúa ban cho con được làm môn đệ Chúa và được ơn tái sinh làm con Thiên Chúa trên trời. Lạy Chúa Giê-su, xin đón nhận linh hồn con”. Ông cụ lặp lại theo từng câu và sau đó từ từ nhắm mắt qua đời.



3. SUY NIỆM:
1) THẾ NÀO LÀ LÀM CHỨNG CHO CHÚA ?
Làm chứng cho Chúa là giới thiệu Đức Giê-su cho người khác. Muốn giới thiệu Đức Giê-su thì trước hết là phải làm cho đức tin nơi mình được lớn lên nhờ năng tham dự các buổi hiệp sống Tin Mừng với cộng đoàn hằng tuần, năng đến nhà thờ dự thánh lễ và rước lễ sốt sắng để được kết hiệp với Chúa, năng cầu nguyện bằng lời nguyện tắt…
Mỗi tín hữu đã chịu phép Thêm Sức đều đón nhận được ơn Chúa Thánh Thần để nên trưởng thành về đức tin và chu toàn sứ mạng làm chứng cho Chúa Giê-su theo lệnh Chúa truyền trước khi về trời: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Cụ thể chúng ta cần loan báo Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa, bắt đầu từ những người thân như: chồng vợ, con cái, cha mẹ, anh chị em… Rồi đến những người cùng xóm ngõ, bạn bè, đồng nghiệp …  Sau cùng là mọi người nhất là những người bất hạnh, các bệnh nhân, đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa…



2) PHƯƠNG CÁCH TRUYỀN GIẢNG TIN MỪNG CỦA ĐỨC GIÊ-SU:
Khi ra giảng đạo, Đức Giê-su đã nhận sứ mạng Thiên Sai từ nơi Chúa Cha khi được Chúa Cha giới thiệu là “Con yêu dấu luôn làm đẹp lòng Cha” (x. Mt 3,17) và truyền dạy các môn đệ “Hãy vâng nghe lời Người” (x. Mt 17,5).
Người đã thực thi sứ mạng Thiên Sai ấy nhờ kết hiệp với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần: Được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ (x. Mt 4,1); Nêu gương cầu nguyện trước khi chọn mười hai Tông đồ (x. Lc 6,12-16). Hằng ngày đi cầu nguyện với Chúa Cha ngay từ sáng tinh sương (x. Mc 1,35).
Người nêu gương khó nghèo “Con Người không có chỗ dựa đầu” (Mt 8,20), ăn ở “hiền hậu và khiêm nhường” (x. Mt 11,29), nêu gương hầu hạ rửa chân môn đệ trước khi dạy bài học yêu thương phục vụ lẫn nhau (x. Ga 13,12-15), và chỉ thị cho các môn đệ cách ứng xử khiêm tôn yêu thương phục vụ khi sai các ông đi thực tập truyền giáo (x. Mt 10,5-42).
Người giảng dạy Tin Mừng trong các hội đường Do thái (x. Mt 13,54), giữa cánh rừng vắng (x. Mt 14,13), ở ven biển hồ (x. Mt 13,1), vừa đi đường vừa giảng như tại Giê-ri-cô (x. Lc 19,1-6), giảng trong bữa tiệc (x. Lc 5,29-32). Người giảng trong các thành thị làng mạc trên đường lên Giê-ru-sa-lem (x. Lc 13,22), và tại Đền thờ Giê-ru-sa-lem (x. Ga 10,22-30)…
Người trình bày giáo lý bằng những ví dụ cụ thể thường ngày là các dụ ngôn để diễn tả các mầu nhiệm cao siêu về Nước Trời (x. Mt 13,3-52). Người giảng dạy như Đấng có thẩm quyền (x. Mt 7,29).
Người rao giảng Tin Mừng Nước Trời kèm theo việc làm phép lạ cứu nhân độ thế như: xua trừ ma quỷ và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyện trong dân (x. Mc 1,21-22.32-34), quan tâm đáp ứng nhu cầu tinh thần và thể xác của dân chúng và đòi môn đệ cộng tác vào phép lạ nhân bánh ra nhiều (x. Mt 14,15-18).
Nhờ rao giảng theo phương cách bác ái cụ thể như vậy mà Đức Giê-su đã được dân chúng tin theo rất đông, thể hiện ra khi Người khải hoàn vào Giê-ru-sa-lem (x. Mt 21,10-11).



3) PHƯƠNG CÁCH HỮU HIỆU LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY:
Ngày nay để làm chứng cho Chúa cách hữu hiệu, mỗi tín hữu cũng cần học tập phương cách truyền giáo của Đức Giê-su. Cụ thể làm những việc như sau:
- Cầu nguyện để xin ơn trợ giúp: Muốn làm chứng cho Chúa cách hữu hiệu trước hết phải cầu nguyện như lời Đức Giê-su dạy: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10,2). Phải cầu nguyện xin ơn Chúa giúp vì đây là việc làm vượt khả năng tự nhiên giới hạn của chúng ta, như lời Chúa Giê-su đã nói trong diễn từ giã biệt: “Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
- Nêu gương sống tốt lành thánh thiện:  chúng ta còn phải tỏa hương thơm nhân đức, có thái độ ứng xử hiền hòa nhẫn nhịn chịu đựng tha nhân, biết quên mình để nghĩ đến người khác, khiêm tốn phục vụ người nghèo như phục vụ chính Chúa Giê-su. Nhất là các vị chủ chăn cần ý thức mình là hiện thân của Đức Giê-su trước mặt lương dân, nên cần noi gương hiền hậu bao dung và khiêm tôn phục vụ khi làm các thủ tục về hôn phối giữa tín hữu đạo gốc với tân tòng hay phép chuẩn khác đạo, hoặc trong thánh lễ có người lương tham dự… Chính thái độ bao dung nhân hậu và thánh thiện thanh thoát của các vị mục tử sẽ gây ấn tượng tốt và giúp người lương hiểu đúng về đạo công giáo và dễ tin theo Chúa sau này.
- Quảng bá văn hóa đức tin công giáo: Làm chứng cho Chúa bằng phương tiện truyền thông xã hội như lập nhiều website Công Giáo nội dung phong phú và có uy tín, xuất bản các sách truyện tranh Kinh thánh, truyện các thánh, sách hộ giáo nghắn gọn dễ hiểu để giải tỏa các thắc mắc về đức tin, luân lý công giáo… Trao tặng các cỗ tràng hạt kèm theo sách hướng dẫn lần hạt Mân côi kèm theo Lời Chúa và lời cầu trước mỗi mầu nhiệm Vui Sáng Thương Mừng khi lầm hạt mân côi…
- Chủ động đi bước trước đến với tha nhân: Mỗi người cần làm chứng cho Chúa bằng việc chủ động mỉm cười làm quen với người mới gặp, lắng nghe những người đau khố tâm sự hoàn cảnh để cảm thông và khôn ngoan đáp ứng theo khả năng giới hạn của mình… Chọn một người chưa biết Chúa, một gia đình lương mình quen biết để cầu nguyện cho họ …
- Lời rao giảng phải đi đôi với việc bác ái cụ thể: Ngoài việc làm chứng cho Chúa bằng việc trình bày về Chúa, Hội thánh ngày nay còn chú trọng làm việc bác ái cụ thể như: Cứu trợ thiên tai lũ lụt, mở cô nhi viện, nhà nuôi người già, giúp người khuyết tật, mở lớp học tình thương, mở các đợt khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho người nghèo vùng sâu vùng xa, mở bữa ăn miễn phí cho người hành khất hay quán cơm phục vụ giá rẻ cho người lao động v.v… Ngoài ra về mặt xã hội, Hội Thánh cũng khuyến khích các tín hữu tích cực tham gia làm công tác xã hội với các người thiện chí như: Dọn vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, hiến máu nhân đạo để cứu người bị tai nạn, góp phần đẩy lùi và loại trừ các tệ nạn xã hội như cờ bạc, hút chích sì-ke, đĩ điếm, say xỉn ra khỏi khu vực…
TÓM LẠI: Nhờ các việc bác ái cụ thể được thực hiện trong sự khiêm tốn yêu thương vô vụ lợi, mà Tin Mừng Nước Trời sẽ tỏa sáng, giúp cho nhiều anh em lương dân nhận biết chúng ta thực là môn đẹ Chúa Giê-su và tôn vinh Thiên Chúa Cha chúng ta ở trên trời như lời Đức Giê-su: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).



4. THẢO LUẬN: 1) Theo bạn, các công tác bác ái từ thiện noi gương Đức Giê-su như: chia sẻ cơm áo gạo tiền cho những người nghèo đói bệnh tật… có hữu hiệu trong xã hội hiện nay không ? Tai sao? 2) Bạn có kinh nghiệm nào để giới thiêu Chúa cách hữu hiệu cho người bên cạnh trong một chuyến đi xa, hay một bệnh nhân nằm chung phòng tại bệnh viện … ?


5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay cùng với Hội Thánh, chúng con mừng lễ Chúa về trời. Trời đích thực là quê hương của chúng con, là nơi chúng con luôn hướng về. Tuy nhiên, trong bài Sách Thánh hôm nay, thiên thần lại nói với các môn đệ: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11). Qua đó, Chúa muốn dạy rằng: điều quan trọng nhất các ông phải làm bây giờ là tiếp tục công trình cứu độ của Chúa Giê-su, bằng việc loan Tin Mừng “bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”. Làm chứng trước hết bằng sự rao giảng Tin Mừng Nước Trời với ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Nhưng chúng con cũng có thể làm chứng bằng những hành động bác ái yêu thương, bằng sự khiêm nhường phục vụ, bằng việc quảng đại cho đi, bằng việc hy sinh bản thân vì lòng mến Chúa và yêu tha nhân... Xin giúp chúng con chu tòan sứ mạng ấy trong cuộc sống đời thường của chúng con.
- LẠY CHÚA. Chúng con thường hay cho tằng: “Tôi phải lo cái ăn cái mặc cho bản thân và gia đình tôi trước đã ! Tôi không có khả năng trình bày về Chúa cho người khác ! Tôi không có thì giờ …” Đang khi Chúa dạy chúng con: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). Vậy xin Chúa giúp chúng con hôm nay đừng quá lo cơm áo vật chất cho bản thân hay gia đình, nhưng phải biết lo việc của Chúa và phó thác mọi sự trong tay Chúa quan phòng. Xin Chúa giúp chúng con biết làm lợi gấp năm gấp mười nén vàng đức tin mà Chúa đã ban cho chúng con, để nhờ đó chúng con hy vọng sẽ được Chúa thương xét xử khoan dung và nói với chúng con: “Hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành ! Hãy vào hưởng niềm vui của chủ anh !” (Mt 25,21).
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH -  HHTM

 
 

LênTrời-229: Được sai đi

CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 28:16-20) 

 

Kết thúc cuộc đời tại dương thế, Chúa Giê-su đã làm một công việc vô cùng quan trọng, là sai: LênTrời-229

Kết thúc cuộc đời tại dương thế, Chúa Giê-su đã làm một công việc vô cùng quan trọng, là sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng:  “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…”  Nghi lễ “sai đi” đã diễn tiến trong một khung cảnh tuy đơn sơ nhưng không kém phần long trọng trên “ngọn núi Chúa Giê-su đã truyền cho các môn đệ đến”.
          Là nhân vật chính trong biến cố này, Chúa Giê-su sắp đặt mọi sự.  Địa điểm là ngọn núi do Người chỉ định.  Ga-li-lê có biết bao nhiêu ngọn núi, nhưng phải là ngọn núi Chúa chọn.  Chắc chắn ngọn núi này phải có liên hệ nhiều với sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Chúa, đồng thời cũng là một nơi gợi lại nhiều kỷ niệm của Thầy trò suốt ba năm trời.  Việc rao giảng Tin Mừng cần có những kinh nghiệm, nên khi người ta trở về nơi họ đã học được những kinh nghiệm quý báu do sứ mệnh của Chúa, thì họ sẽ thấy dễ dàng hơn để tiếp nối sứ mệnh của Người.
          Chúa Giê-su sai môn đệ đi thi hành sứ mệnh, nhưng là sứ mệnh gì?  Chỉ là tiếp tục những gì Người đã làm, tức là làm cho muôn dân trở thành môn đệ Người.  Trở thành môn đệ không hiểu theo ý nghĩa thầy trò thường tình của người đời, mà là làm môn đệ của Đấng “đã được trao quyền trên trời dưới đất”, tức là Con Thiên Chúa.  Chính các môn đệ của Chúa Giê-su đã biểu lộ tình môn đệ cung kính với Thầy bằng cách bái lạy Người, một cử chỉ tôn thờ dành riêng cho Thiên Chúa.  Họ đã học được tất cả những gì Thiên Chúa muốn dạy dỗ họ qua trường học Giê-su.  Vì thế, giờ đây chúng ta có thể gọi biến cố Lên Trời của Chúa Giê-su cũng là biến cố tốt nghiệp ra trường của các môn đệ Người.  Người sai họ đi như những “sinh viên tốt nghiệp” đầy kinh nghiệm.  Người phác họa rõ ràng kế hoạch họ phải theo mà thi hành sứ mệnh làm cho muôn dân trở thành con cái Thiên Chúa.  Kế hoạch gồm hai công tác chính.  Thứ nhất, làm phép rửa nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Nhờ phép rửa, những người lãnh nhận với lòng tin được thay đổi căn tính, để từ nay họ sẽ làm con cái của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Dĩ nhiên để có lòng tin này, họ phải được nghe giảng Tin Mừng cứu độ và được chuẩn bị để trở thành một phần tử của Nhiệm Thể Chúa Ki-tô.  Thứ hai, các môn đệ Chúa phải dạy bảo người ta tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền cho các ông.  Phải, chỉ là các điều Chúa đã truyền!  Người đã truyền cho các ông bằng những lời dạy dỗ, bằng những hành vi gương mẫu, bằng những cách Người đã đối xử với tha nhân, nhất là đối với những người cùng khổ, tội lỗi, cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa.  Theo thánh sử Gio-an, những điều Chúa Giê-su đã truyền lại, dù có viết ra thì cả thế gian này cũng không đủ để chứa sách!
          Có phải đây là một sứ mệnh quá lớn, vượt trên khả năng con người hay không?  Đúng vậy, quá lớn, nhưng không phải là không thể thực hiện, vì đây không phải là công việc chúng ta phải làm một mình, mà là làm trong sự có mặt của Đấng sai chúng ta đi.  Lời hứa “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” là một bảo đảm chắc chắn cho việc khả thi ấy!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Khi nghe Chúa Giê-su nói với các môn đệ:  “Anh em hãy đi và làm…”, có lẽ ít khi chúng ta nghĩ rằng Chúa cũng nói những lời ấy với chúng ta hôm nay.  “Được sai đi” không phải chỉ dành riêng cho một nhóm người sống cách đây hai ngàn năm, nhưng cho chúng ta, những người đang sống hôm nay và ở đây.  Cũng như các môn đệ xưa, chúng ta “bái lạy” Chúa Giê-su, nhìn nhận Người là Thiên Chúa và là Đấng sai chúng ta đi.  Chúng ta đã được diễm phúc làm con cái Chúa nhờ bí tích Rửa tội.  Chúng ta cũng biết ít hay nhiều những điều Chúa đã truyền, thí dụ hãy yêu thương nhau, hãy tha thứ, hãy yêu kẻ thù, hãy tin tưởng và phó thác cho Cha trên trời… Nhất là chúng ta biết Chúa Giê-su “ở cùng” chúng ta mọi ngày trong Lời Chúa và trong Bí tích Thánh Thể.  Chúa Giê-su không sai chúng ta đi để làm một công việc ngoài khả năng chúng ta.  Điều Người mong đợi nơi kẻ được sai đi không chỉ là kiến thức, kỹ thuật, tài ăn nói…, nhưng là tấm lòng.  Hồn tông đồ hay lòng nhiệt thành phải là động lực để Thánh Thần sử dụng mà thúc đẩy chúng ta lên đường truyền giáo!
        Lm. Đaminh Trần đình Nhi      

 
 

LênTrời-230: Lần Gặp Gỡ Cuối Cùng

Lễ Chúa Giêsu Lên Trời Năm A
 (Cv 1,1-11; Ep 1,17-23; Mt 28,16-20)
Phúc Âm: Mt 28, 16-20
"Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy".
Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi. Chúa Giêsu tiến lại nói với các ông rằng: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".


 Suy Niệm: 
 

Ngày lễ Chúa Lên Trời, tự nhiên chúng ta muốn ngước mắt nhìn lên: nhớ lại việc Người thăng thiên: LênTrời-230

Ngày lễ Chúa Lên Trời, tự nhiên chúng ta muốn ngước mắt nhìn lên: nhớ lại việc Người thăng thiên và chiêm ngưỡng Người trong vinh quang Thiên Chúa. Nhưng những việc ấy tỏ ra khó làm và ít kết quả. Nhớ lại việc Chúa về trời, chúng ta sẽ chẳng thấy gì hơn những lời Luca đã viết: "Nói thế rồi Ngài cất mình lên trước mắt họ, và một đám mây đã quyện lấy Ngài đi khuất mắt họ" (Cv 1,9). Còn chiêm ngưỡng Ðức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đang ngự trong vinh quang Thiên Chúa, không chắc chúng ta sẽ có thể nói gì hơn những lời thư Phaolô: "Quyền lực Người đã thi thố ra nơi Ðức Giêsu Kitô, tức là đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, và đặt Người ngự bên hữu mình ở trên trời, vượt qua mọi cấp trật: thiên phủ, quyền năng, thế lực cùng thiên chủ..." (Ep 1,20-21).
Như vậy trong ngày Lễ Chúa lên trời, chúng ta không được ưu đãi nhiều đề tài để suy nghĩ dễ dàng sao?
Bài Tin Mừng Matthêô vừa nghe mở ra một phương hướng nhiều hứa hẹn. Chúng ta hãy nhớ lại lần gặp gỡ cuối cùng ở trần gian giữa Chúa Phục sinh với các môn đệ. Chúng ta hãy chú ý nghe mệnh lệnh Người để lại trước khi về trời. Và chúng ta sẽ thấy ngày nay mỗi khi muốn làm đẹp lòng Ðấng ngự trên trời, chúng ta phải thi hành mệnh lệnh đó.
Làm như vậy, chúng ta sẽ đáp ứng lời thiên sứ trong ngày lễ Chúa Lên Trời, khi người nói với các môn đệ: "Hỡi những người xứ Galilê, sao còn ngước mắt nhìn lên trời?". Chúng ta bắt chước các môn đệ, trở về với mặt đất, nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã sống và đã làm, đặc biệt trong lần gặp gỡ cuối cùng trước khi về trời, để tìm ra ý định của Người đối với đời sống trần gian của chúng ta.
 
A. Lần Gặp Gỡ Cuối Cùng
Cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại nhiều lần Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ. Nhưng chỉ hai thánh sử Marcô và Luca có những lời kết thúc mọi lần gặp gỡ ấy. Marcô viết: sống lại lúc tảng sáng, ngày thứ nhất trong tuần, trước tiên Ngài hiện ra cho Maria Magđala... Sau đó Ngài tỏ mình ra cho hai người trong nhóm họ ở trên đàng... Sau cùng Ngài đến với chính nhóm Mười Một đang khi họ dùng bữa... Và sau khi đã nói cùng họ xong, Chúa Giêsu được nhắc về trời và lên ngự bên hữu Thiên Chúa (16,9-19).
Marcô cho ta có cảm tưởng mọi lần Chúa Phục sinh hiện đến đều xảy ra vào ngày thứ nhất trong tuần và Người đã lên trời cũng trong chính ngày ấy. Như vậy rõ ràng Marcô không đồng ý với Luca trong bài sách Công vụ hôm nay, vì tác giả này viết: Chúa Giêsu chỉ về trời 40 ngày sau khi sống lại và đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ.
Nhưng chính Luca cũng lại mâu thuẫn với mình nữa. Trong sách Công vụ thì ngài viết như thế, còn trong sách Tin Mừng thì ngài lại viết hầu giống như Marcô. Ngài cũng thuật rằng: Ngày thứ nhất trong tuần Chúa Phục sinh tỏ mình ra cho hai môn đệ đi Emmau vào lúc sau khi ngày đã xế chiều. Ngay giờ đó họ đã chỗi dậy trở về Giêrusalem và gặp thấy các bạn đang sum họp cùng nhau... Họ đang còn nói thì Ngài đã đứng giữa họ... Rồi Ngài dẫn họ đến tận Bêthania: đoạn giơ tay, Ngài chúc lành cho họ. Và xảy ra là đang khi Ngài chúc lành cho họ, thì Ngài tách lìa họ và được nhắc lên trời (24,13-51).
Luca có thể quên những điều ngài vừa viết khi soạn sách Công vụ các Tông đồ không? Và ngài có ý gì khi khẳng định việc Chúa Lên Trời khác nhau như vậy?
Ðọc kỹ các sách Kinh thánh, chúng ta có thể thấy rằng, trong sách Tin Mừng, Luca đã theo Marcô. Và cả hai đều muốn tô đẹp ngày Chúa nhật Phục sinh. Ðối với cả hai, đó là ngày Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ. Chắc chắn các ngài đã không muốn thuật lại hết mọi lần Chúa hiện ra. Các ngài đã lựa chọn kể lại một vài lần hiện ra đặc sắc. Và câu các ngài viết để thuật lại việc Chúa Lên trời thực ra nhằm mục đích kết thúc mọi lần Chúa sống lại hiện ra hơn là muốn khẳng định Chúa đã lên trời trong chính ngày Chúa nhật Phục sinh.
Nhất là trong Tin Mừng Luca, chúng ta thấy hai môn đệ đã phải trở về Giêrusalem vào lúc tối. Ðến nơi, họ gặp các Tông đồ, rồi được Chúa hiện ra chung cho mọi người và sau đó tất cả được Người dẫn đến Bêthania để chứng kiến việc Người lên trời. Như vậy, Người lên trời vào lúc đêm tối ư?
Không, lối hành văn của hai bản Tin Mừng Marcô và Luca trên đây không ghi lại lịch sử theo chi tiết thời gian. Hai tác giả muốn loan truyền Tin Mừng cứu độ: Ðức Kitô đã sống lại ngày thứ nhất trong tuần; Người đã hiện ra dạy dỗ các môn đệ nhiều lần; và lần cuối cùng Người đã cho họ thấy Người lên trời. Còn "lần cuối cùng" này xảy ra vào ngày nào, lúc nào, thì không tác giả nào muốn xác định theo lịch sử thời gian. Hai thánh Marcô và Luca, "bề ngoài" có vẻ như muốn quả quyết là vào cuối ngày thứ nhất trong tuần, nhưng thật sự như chúng ta đã thấy, cả hai chỉ muốn dùng việc lên trời để kết thúc mọi lần hiện ra; và các lần hiện ra này lại được xếp cả vào ngày thứ nhất trong tuần để tô điểm cho ngày Chúa sống lại. Ta có thể nói hai bản văn Tin Mừng Marcô và Luca là hai bài thần học về ngày Chúa Nhật: đó là ngày Chúa sống lại hiện đến với các môn đệ. Ðồng thời cũng là những bài thần học về mầu nhiệm Chúa Phục sinh. Mầu nhiệm này bao gồm việc Người sống lại, hiện ra với các môn đệ và lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa.
Theo Luca, chúng ta có thể nghĩ Chúa sống lại như mặt trời lúc rạng đông và Người về trời như vừng ô lúc lặn; còn cả ngày, thì ánh sáng Người chiếu soi cho các môn đệ. Luca kể chuyện Chúa đã liên tiếp hiện ra trong một ngày. Nếu chúng ta gom mọi lần hiện ra đó vào một và coi như chỉ là những diện khác nhau của việc Chúa sống lại tỏ mình ra cho các môn đệ, thì khi Người hiện đến họ biết Người đã sống lại và lúc Người biến đi họ biết Người đã về trời. Không vậy thì phải hỏi Người ở đâu? Nhưng họ đã không hỏi vì đã tin quyền năng Thiên Chúa đã phục sinh Ðức Giêsu từ nơi kẻ chết, thì mặc nhiên họ đã nhận ra rằng Người đã được nhắc lên trong vinh quang Thiên Chúa. Hai người trong nhóm họ đã viết lại việc Người lên trời cách hữu hình chẳng qua để muốn nói rằng từ nay Chúa sống lại không hiện ra nữa.
Nhưng tại sao Luca trong sách Công vụ lại nói đến con số 40 ngày như là thời gian để Chúa Phục sinh hiện ra dạy dỗ các môn đệ? Có thể lần hiện ra cuối cùng đã xảy ra vào ngày thứ 40 sau khi Chúa sống lại. Nhưng có thể hơn là Luca có một ẩy ý gì đây khi nêu ra con số này.
Chúng ta biết Môsê đã ở trên núi 40 ngày; dân được chọn đã đi trong sa mạc 40 năm; Êlya đã đến núi Horeb 40 ngày và nhất là chính Ðức Kitô đã chay tịnh 40 ngày trong sa mạc. Con số 40 ngày trở thành biểu tượng thời gian kết hợp với Thiên Chúa và được Thiên Chúa dạy dỗ. Có lẽ Luca muốn nói lên hạnh phúc và địa vị ưu việt của các Tông đồ. Các ngài là những người được Chúa sống lại hiện đến dạy dỗ trong 40 ngày. Như vậy các ngài đã có giáo lý đầy đủ của Chúa phục sinh và chúng ta phải kính nể, tin yêu giáo lý ấy.
Bởi vì chính đoạn sách Công vụ các Tông đồ hôm nay không có ý trình bày việc Chúa lên trời, đó là những lời mở đầu cho cả một cuốn sách. Tác giả nói đến nhiều ý tưởng mà tựu trung là để chuyển từ cuộc sống trần gian của Ðức Kitô sang thời đại hoạt động của các Tông đồ. Nên vai chính trong đoạn văn này là Phêrô và các bạn ông. Họ là những người được Ngài tuyển lựa dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, được tiếp xúc với Chúa Phục sinh trong 40 ngày là thời gian đầy đủ và lý tưởng, được Ngài dạy dỗ cặn kẽ về hoạt động tương lai và cuối cùng được thấy Ngài về trời để biết rõ nay đã đến thời đại của họ. Chính vì vậy mà bài sách Công vụ hôm nay kết thúc bằng câu: "Ðấng vừa bỏ các ông mà siêu thăng, sẽ đến cùng một thể như các ông đã thấy Ngài đi lên trời", để hàm ý nói rằng: các ông phải đi làm việc cho đến ngày Ngài lại đến.
Như vậy chúng ta không còn lý do nào nữa để cứ nhìn lên trời mãi. Hãy đi thi hành mệnh lệnh Chúa để lại mà cả hai bài sách Công vụ lẫn bài Tin Mừng đều tường thuật.
 
B. Lệnh Chúa Truyền
Bài sách Công vụ cho ta thấy: suốt 40 ngày Chúa Giêsu đã hiện ra cho các môn đệ mà nói về Nước Thiên Chúa. Rồi đang lúc đồng bàn với họ, Ngài truyền cho họ chớ rời xa Giêrusalem... nhưng hãy đợi chịu lấy quyền năng của Thánh Thần... rồi sẽ là chứng tá cho Ngài đến tận cùng trái đất.
Cụ thể, các Tông đồ phải ở lại Giêrusalem chờ lãnh ơn Thánh Thần rồi ra đi làm chứng cho Chúa Giêsu. Lệnh truyền có vẻ đơn sơ, nhưng nhiều ý nghĩa và hậu quả. Sau ngày Chúa thực hiện những hành vi quyết định để cứu thế qua việc chịu chết và sống lại, Giêrusalem trở thành nơi phát xuất ơn cứu độ. Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên các Tông đồ ở Giêrusalem để tung họ đi vào thế giới. Họ sẽ phải làm chứng về Chúa Giêsu nhưng nhờ sức mạnh của Thánh Thần. Thời đại của Giáo hội vì thế là thời đại của Chúa Thánh Thần làm việc với các Tông đồ, mà đối tượng là làm chứng cho Chúa Giêsu.
Thánh Matthêô trong bài Tin Mừng hôm nay không dùng những từ ngữ như thế, nhưng ngài cũng không nói khác Luca. Ngài đã tả Chúa sống lại hiện ra lần cuối cùng ở trên núi. Núi nào, ngài không nói rõ, dường như để chúng ta nhớ lại những lần Ðức Giêsu đã chay tịnh trên núi, đã giảng dạy trên núi và đã biến hình trên núi. Và tất cả những kỷ niệm đó đều có thể tăng thêm ý nghĩa cho việc Người đứng trên núi hôm nay với các môn đệ.
Việc Người được các Tông đồ thờ lạy và tuyên bố được Chúa Cha ban cho mọi quyền trên trời dưới đất, phải chăng không muốn gợi lại câu chuyện Satan cám dỗ Người hãy thờ lạy nó để được tất cả trời đất làm vương quốc? Và hôm nay Người đã sống lại vinh quang mà đứng trên núi, làm sao không khiến Phêrô nhớ lại hôm Người biến hình. Và nếu Người đã có lần ngồi trên núi giảng về Tám mối phúc thật, thì hôm nay Người cũng đang lệnh cho các Tông đồ: hãy ra đi làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ, rửa tội cho người ta nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy dỗ họ giữ mọi lệnh truyền. Và nay, Ta ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế.
Thánh Matthêô đã diễn tả lệnh truyền qua nếp sống của Hội Thánh. Ngài dùng các công thức Rửa tội của Hội Thánh. Ngài nói đến sự hiện diện của Chúa ở với Hội Thánh cho đến tận thế như là bảo chứng việc Chúa phù trợ Hội Thánh nhờ Thánh Thần. Nghĩa là đối với thánh Matthêô, thời đại của Hội Thánh cũng là thời đại của các Tông đồ làm việc với sự cộng tác và nâng đỡ của Chúa Thánh Thần. Và đối tượng sinh hoạt của Hội Thánh cũng là làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ Chúa Giêsu qua việc rao giảng Người cho họ và rửa tội cho họ nhân Danh Ba Ngôi.
Do đó với những lời lẽ khác nhau, bài sách Công vụ và bài Tin Mừng hôm nay đều ghi lại lệnh Chúa truyền cho các môn đệ trước khi Người về trời. Họ phải đón nhận Thánh Thần và ra đi làm chứng về Chúa Giêsu để thiên hạ trở thành môn đệ Người. Lệnh truyền này được ban bố sau khi Chúa sống lại để tập họp nhóm Mười Một qua các lần hiện ra để họ tin mầu nhiệm Phục sinh và được dạy dỗ về Nước Trời.
Ngày lễ Chúa Lên Trời, Phụng vụ muốn cho chúng ta thấy nhóm Mười Một ấy đã thực sự trở thành chứng nhân của Chúa Phục sinh. Họ còn phải chờ đón ơn Thánh Thần mới có thể ra đi tuyên chứng. Nhưng việc họ đã được huấn luyện xong nói lên thời gian của Chúa Giêsu ở trần gian đã kết thúc. Người lui khỏi họ mà về trời để thời đại của Hội Thánh khởi sự. Lễ Chúa Lên Trời vì thế có ý nói lên sự kiện mới trong đời sống của Hội Thánh và của chúng ta hơn là một biến cố nữa trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Bởi vì như lời Kinh Tin Kính chúng ta sắp đọc: chính vì chúng ta mà Người đã sinh ra làm người v.v... Và hôm nay Người về trời cũng là vì chúng ta. Nên chúng ta phải suy nghĩ về cuộc đời của mình nhân việc Người lên trời để ngày lễ hôm nay đạt được kết quả.
 
C. Thi Hành Lệnh Chúa
Trong 40 ngày chúng ta đã cử hành mầu nhiệm Phục sinh, chúng ta đã suy nghĩ về những lần Chúa sống lại hiện ra với các môn đệ. Và nhất là chúng ta có thể nói được như Phêrô rằng: chúng tôi là những người được chọn để ăn uống với Người sau khi Người đã sống lại, vì từ ngày đó chúng ta vẫn tham dự Thánh lễ và Tiệc Thánh. Chúng ta phải coi mình như các môn đệ 40 ngày sau khi Người Phục sinh: sẵn sàng lãnh lấy trách nhiệm tiếp nối sứ mạng của Người ở trần gian. Phải ra đi khỏi nơi Bàn tiệc này như núi thánh, để gặp mọi người và làm chứng cho họ về Nước Thiên Chúa. Việc Chúa Giêsu về trời nói lên rằng: thời đại của Hội Thánh và của chúng ta đã khởi đầu. Công cuộc cứu thế từ nay chuyển sang chúng ta.
Dĩ nhiên chúng ta không đơn độc. Còn Thánh Thần nữa. Và phải có Thánh Thần chúng ta mới thi hành được sứ vụ. Từ hôm nay Giáo hội khuyên ta hợp ý cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Và như cộng đoàn các môn đệ xưa, Giáo hội chờ đợi Thánh Thần với Ðức Mẹ. Nay cũng là tháng Năm, tháng hoa của Mẹ chúng ta. Con cái Mẹ hãy sốt sắng vây quanh Người để cầu xin ơn Thánh Thần xuống dồi dào trên Giáo hội và trong các tâm hồn.
Tuy nhiên, những ngày tới không phải chỉ là những ngày cầu nguyện. Phêrô và các Tông đồ đã làm việc đang khi chờ đợi ơn Thánh Thần. Các ngài chọn người thay chỗ Giuđa. Và phải là người có tư cách để làm chứng, tức là không những đã ở trong hàng ngũ môn đệ và biết Chúa Giêsu, nhưng nhất là phải tin Người đã sống lại để đem sức sống mới vào thế gian. Vì sứ mệnh của Giáo Hội tựu trung là đem vào đời sống của con người mầm mống của sự phục sinh sau này, tức là sự sống trường cửu của chính Thiên Chúa.
Sự sống này giờ đây Chúa sẽ ban thêm cho chúng ta trong Thánh lễ này để hôm nay và hằng ngày, chúng ta đem tăng cường cho sự sống của mọi người, khi chúng ta phấn đấu cho đời sống loài người mỗi ngày một đẹp hơn, tốt hơn và hạnh phúc hơn.
 (Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 
 

 LênTrời-231: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 28:16-20)
 

Một linh mục chính xứ được bề trên đổi sang một trách vụ mới.  Một ông xếp chuyển đi làm : LênTrời-231

Một linh mục chính xứ được bề trên đổi sang một trách vụ mới.  Một ông xếp chuyển đi làm trưởng phòng khác.  Biết bao nhiêu sự thay đổi giống như thế.  Có lẽ người nào ở trong hoàn cảnh thay đổi ấy cũng có thể mang cùng một ý nghĩ:  Không hiểu người thay thế tôi có tiếp tục và hoàn tất những công việc và hoài bão của tôi không.
          Nhưng có một người không hề nao núng hoặc lo lắng về sự chuyển đổi, đó là Chúa Giê-su.  Người sắp trở về bên Chúa Cha và Người quy tụ môn đệ lại để “chuyển giao công tác”.  Chúa Giê-su không cần một bài diễn văn dài kể lại những công trình Người đã thực hiện.  Người cũng không sắp đặt một kế hoạch chi tiết để các môn đệ cứ theo đó mà thi hành.  Những điều Người cần nói và muốn nói chỉ vỏn vẹn có ba câu:
          - Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.  Sau khi sống lại vinh hiển, Thánh Thần đã siêu tôn Người, đặt Người làm “Chúa” và muôn vật phải bái quỳ trước danh thánh Giê-su của Người (Phi-líp-phê 2:9-11).  Lần cuối cùng Chúa Giê-su kêu gọi môn đệ hãy nhận biết Người là Đấng nào.  Đây cũng là điều kiện cốt yếu để họ thi hành sứ mệnh Người trao ban.  Không nhận biết con người và sứ mệnh của Chúa, làm sao các môn đệ tiếp tục sứ mệnh của Người được!  Lời khẳng định này của Chúa Giê-su chắc chắn bảo đảm môn đệ sẽ chu toàn được sứ mệnh, vì Người sẵn sàng chia sẻ “toàn quyền trên trời dưới đất” của Người cho họ.  Quyền bính ấy phát xuất từ Thiên Chúa Cha, được ban cho Chúa Giê-su, rồi bây giờ được chuyển sang cho các môn đệ.  Đó là thứ quyền bính người đời không thể nào chuyển sang cho nhau được.
          -  Vậy anh em hãy đi và làm… Chúa không bảo môn đệ đứng tại chỗ, những hãy đi.  Họ được sai đi để thi hành những công tác chính yếu sau đây:  làm cho mọi người trở thành môn đệ Chúa; làm phép rửa cho người ta nhân danh Chúa Ba Ngôi; và dạy bảo người ta tuân giữ mọi điều Chúa Giê-su dạy.  Chúng ta có thể nhận ra ba công việc này quả thực là một tiến trình của việc rao giảng Tin Mừng.  Để giúp người ta trở thành môn đệ Chúa, chúng ta phải rao giảng về Chúa Ki-tô, rao giảng không phải chỉ bằng lời nói, nhưng bằng cuộc sống đã được Ki-tô hóa của chúng ta.  Tiếp theo là giúp người ta được chính thức trở thành con Chúa, làm một chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, tức là Giáo Hội.  Cha mẹ cho con cái được rửa tội và giáo dục con cái lớn lên trong đức tin Ki-tô.  Giáo lý viên dạy các tân tòng hoặc các em.  Chúng ta tuy không trực tiếp lãnh trách nhiệm giúp người khác được rửa tội, nhưng cũng đóng góp bằng sự khích lệ, cầu nguyện… Cuối cùng là dạy bảo người ta tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền.  Chúng ta làm công việc dạy bảo như cha mẹ dạy con cái, các vị mục tử dạy dỗ con chiên, thầy cô giáo dạy học sinh… Nhưng cách dạy bảo hữu hiệu nhất, đó là làm gương sáng, là “lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”.
          -  Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.  Trên đời này không ai có đủ tư cách nói lên lời hứa này.  Sự hiện diện thể xác “cho đến ngày tận thế” là điều không tưởng.  Còn sự hiện diện tinh thần rồi cũng mai một với tháng năm.  Vậy mà Chúa Giê-su hứa Người sẽ ở cùng chúng ta cho đến tận thế!  Đúng vậy, thân xác Người trước kia hiện diện trên trần gian nay đã về trời, nhưng sự hiện diện đích thực của Người đang thể hiện trong Bí tích Thánh Thể.  Đó là một cách hiện diện không ai có thể làm được ngoại trừ Thiên Chúa.  Sự hiện diện ấy không chỉ nằm dí trong nhà tạm ở thánh đường, nhưng ở trong thể xác và tâm hồn mỗi Ki-tô hữu khi chúng ta rước lễ!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta nhận thấy những điều Chúa Giê-su nói với các môn đệ thật rõ ràng.  Các môn đệ trở về Giê-ru-sa-lem, cầu nguyện cùng với Đức Mẹ và chuẩn bị lên đường (Công Vụ Tông Đồ 1:12-14).  Họ vâng lời ra đi và làm cho Giáo Hội hiện diện khắp nơi trên thế giới.
          Nếu xác tín rằng những lời Chúa nói với môn đệ cũng là những lời Người nói với chúng ta, chúng ta sẽ làm gì đây?  Bạn hãy trả lời Chúa đi!
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi
1-6-2011

 
 

LênTrời-232: Hãy Làm Trở Thành Môn Đệ

Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên A
Mt 28:16-20: 16 Mười một môn đồ trẩy đi Galilê, lên núi Ðức Yêsu đã hẹn với họ. 17 Thấy Ngài, họ phục lạy Ngài, và họ hoài nghi. 18 Ðức Yêsu tiến lại và nói với họ, rằng: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất được ban cho Ta. 19 Vậy các người hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, 20 Dạy chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi"."Và này Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế".

 

Đoạn 28:16-20 là cao điểm của chương 28, bàn về sự sống lại của Chúa Giêsu. Thiên sứ đã: LênTrời-232

Đoạn 28:16-20 là cao điểm của chương 28, bàn về sự sống lại của Chúa Giêsu. Thiên sứ đã cho các phụ nữ thấy mồ trống, và loan báo sự sống lại của Chúa Giêsu. Đồng thời thiên sứ còn bảo họ đi loan báo tin nầy cho các môn đệ của Người, và nói cho họ biết cuộc hẹn tại Galilêa (28:1-7). Trên đường về, Chúa Giêsu đã hiện ra cho các phụ nữ và tái xác nhận cuộc gặp gỡ với các môn đệ của Người (28:8-10). Đoạn đang bàn đây nói đến cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và  các môn đệ của Người tại Galilêa, và Người ban cho họ một sứ mạng. Có thể phân chia đoạn thành hai phần: - Tường thuật việc các môn đệ đến gặp Chúa Giêsu (28:16-18a);
- Lời Chúa Giêsu ngỏ với các môn đệ (28: 18b-20).
- Các môn đệ đến gặp Chúa Giêsu (28:16-18a)


Đoạn nầy mô tả chủ yếu hành động của các môn đệ. Theo lời nhắn bảo của Chúa Giêsu qua các phụ nữ, các ông đến Galilêa (c. 16). “Nhóm mười một môn đệ” làm chúng ta nghĩ đến “nhóm mười hai môn đệ” (10:1; 11:1). Họ được Chúa tuyển chọn và được gần gũi với Người. Người giáo huấn họ riêng về việc truyền giáo (10:1-11:1) và cho họ tham dự bữa Tiệc ly (26:20). Họ không còn là nhóm mười hai nữa, mà là mười một, do thiếu Giuđa Iscariốt (26:14.47). Galilêa là nơi Chúa Giêsu chỉ định để gặp họ (28:10). Người đã quyết định và nói trước điều nầy với (26:32). Từ thời điểm ở vườn Cây Dầu cho đến lúc ấy, các môn đệ đã không thấy Chúa Giêsu. Họ đi cả nhóm lên Galilêa lần nầy vì hy vọng được thấy lại Người.
 Về lại Galilêa gặp Chúa Giêsu phục sinh gợi cho các môn đệ nhớ lại tất cả những hoạt động Chúa Giêsu đã thực hiện tại đó. Họ đã luôn bên cạnh Người trước khi Người lên Giêrusalem (4:12-16:20). Họ vừa là môn đệ, vừa là những chứng nhân về lời giảng dạy và các việc Người làm. Khi thấy lại Chúa Giêsu trong vinh quang phục sinh, chắc chắn họ nhớ lại tất cả những điều Người đã nói về cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại của Người (16:21; 17:22tt; 20:17-19); do đó họ có thêm kinh nghiệm về Chúa Giêsu trong giai đoạn khổ nạn phục sinh mà họ đã từng phản đối và chạy trốn (x. 16:22tt; 20:20-23). Vậy trước khi được sai đi, họ đã là những người có kinh nghiệm trọn vẹn và đầy đủ về Chúa Giêsu.
 Chi tiết “trên một ngọn núi”, eis to horos, được thêm vào ở câu nầy so với những lời Chúa Giêsu nói qua các phụ nữ. Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ bằng bài giảng ở trên núi (5:1), và các môn đệ đã có mặt tại đó. Tiếp theo là các hoạt động khác của Người, và luôn luôn tại “một ngọn núi” ở Galilêa (x. 8:1; 14:23; 15:29; 28:16). Bây giờ, lúc Người sắp kết thúc thời gian tại thế và chuẩn bị về với Chúa Cha, Người gọi các môn đệ của Người lên núi tại Galilêa nầy để chuyển giao sứ mạng cho họ. Như thế, họ được đặt trong tương quan mật thiết với Người. Ơn gọi và sứ mạng của họ đều phát xuất từ ý muốn của Người.
Thấy Chúa Giêsu, các môn đệ phục lạy Người. Cử chỉ nầy ám chỉ là nhận biết Người chính là Đức Giêsu, và Người đã sống lại từ cõi chết. Theo sau hành vi nầy là “họ nghi ngờ” (c. 17b). Mathêô đã không nói họ nghi ngờ điều gì, mà chỉ ghi nhận sự kiện. Theo ngữ pháp “oi de” có thể chỉ “một số” trong các môn đệ, và cũng có thể hiểu là “họ”, chỉ các môn đệ (x. 2:5; 4:20, 22; 14:17, 33; 15:34; 16:7, 14; 20:5, 31; 21:25; 22:19; 26:15; 26:67; 27:4, 21, 23; 28:15). Động từ “distazō”, “nghi ngờ”, xem ra đối nghịch với việc phục lạy, vì việc nầy hàm ý là các môn đệ đã tin và nhận biết Chúa Giêsu sống lại. Động từ distazō chỉ xuất hiện hai lần trong Tân ước và cả hai nằm trong tin mừng Matthêô (14:31; 28:17). Thì aorist của động từ cho biết động từ hàm ý một hành động qua mau trong quá khứ, chứ không kéo dài như một tình trạng. Phêrô bị trách “nghi ngờ” vì ông đã không có đủ một thái độ tin tưởng thích đáng với điều ông đang làm. Các môn đệ cũng thế. Họ nghi ngờ vì chưa có thể đồng hoá ngay niềm tin vào Chúa Giêsu sống lại. Sự kiện xảy ra quá nhanh chóng vượt quá suy tưởng của họ. Như thế, ý nghĩa của động từ không liên quan trực tiếp đến lòng tin như động từ “apisteō”, “không có niềm tin” (Mc 16:11; Lc 24:11). Nó chỉ một sự không chắc chắn chóng qua về một biến cố xảy ra với họ mà trước đó họ không thể nghĩ tới. “Thờ lạy” và “nghi ngờ” vẫn có thể đi đôi với nhau, dù thứ tự có thay đổi (14:31.33 và 28:17), khi mà con người vẫn còn “ít lòng tin” (14:31). Chính trong tình trạng nầy mà Chúa Giêsu có những lời khuyến dụ ngỏ với họ trong những câu tiếp theo sau (cc.18-20).
Lời Chúa Giêsu ngỏ với các môn đệ (28:18b-20)
Lời nầy gồm: mạc khải quyền hành của Người (c. 18), lệnh truyền làm mọi người thành môn đệ (c. 19a) và lời hứa ở với họ luôn mãi (20b). 
Mạc khải quyền hành của Chúa Giêsu (c. 18b). Động từ “cho” ở thể thụ động ám chỉ Thiên Chúa là tác nhân. Thì aorist chỉ một sự kiện đã xảy ra; chứ không phải là một lời hứa. “Tất cả quyền hành” bao hàm trọn vẹn mọi sự trên trời dưới đất. Matthêô thuật lại một số quyền hành Người đã thực thi: giảng dạy (7:29; 21:23), tha tội (9:6), xua trừ ma qủy (10:1). Người luôn nhận Chúa Cha là nguồn xuất phát mọi quyền hành của Người (11:25; 28:18; so sánh với 4:9), và Người nhận lãnh quyền năng ấy với tư cách là Con (x. 21:37). Dân chúng cũng nhận biết điều nầy nơi Chúa Gisêu và họ ca ngợi Thiên Chúa (9:8).
Thâu nạp môn đệ (c. 19a). “Oun”, “vậy”, nối kết câu nầy với câu đi trước, và xem việc làm cho các môn đệ biết quyền năng của Người là nền tảng để Người sai các môn đệ đi.  Mệnh lệnh manthēteusate, “hãy làm cho trở thành môn đệ”, có động từ ở thể phân từ aorist đi trước là “đi”, và theo sau là hai động từ ở thể phân từ hiện tại “rửa tội” và “dạy dỗ”. Việc chính là đi thâu nạp môn đệ. Điều nầy giả thiết là phải ra đi, và rửa tội và giảng dạy cho người môn đệ mới gia nhập. “Làm cho trở thành môn đệ” có gốc là “môn đệ”. “Môn đệ”(mathētēs) đối lại là “thầy” (didaskalos). Thầy là người  dạy (didaskein), môn đệ là người học (manthanō). Tương quan trước tiên giữa thầy và môn đệ là dạy và học. Thầy đi trước dẫn đường (x. 26:23; 28:7), và môn đệ đi theo (x. 4:20.22; 8:23; 19:27.28). Môn đệ còn được đồng hóa với số phận của thầy mình (10:24).
Chúa Giêsu là “Thầy” duy nhất. Khi đi thâu nạp môn đệ, nhóm mười một không làm điều nầy cho họ, mà cho Chúa Giêsu. “Làm cho trở thành môn đệ” là làm cho người khác trở thành người môn đệ của Chúa Giêsu như họ đang là. Đồng thời thông truyền lại cho người khác tất cả kinh nghiệm họ đã có về Người, để những người ấy cũng có một tương quan nhân vị và mật thiết như họ đang có với Người. Như thế công việc nầy vẫn còn là hiện tại. Là ngoại động từ, manthēteusate có đối tượng là panta ta ethnē “tất cả mọi dân tộc” (x. 27:57 như nội động từ). Khác với việc giới hạn trước đây, việc rao giảng chỉ dành cho dân Israel (10:24). “Ethnē”, “dân tộc”, chỉ các dân tộc ngoài Israel (x. 4:15; 6:32; 10:5-6; 15:24; 20:19). Panta được thêm vào ta ethnē để chỉ tính cách phổ quát và toàn vẹn; và chắc chắn là không loại trừ dân tộc Israel (x. Lc 24:47). Chúa Giêsu sống lại làm cho mọi lời tiên báo về việc dân ngoại được nghe lời rao giảng được thực hiện (21:43; 24:14). Hơn nữa, vì đã nhận lãnh mọi quyền năng trên trời dưới đất, quyền năng ấy phải được thể hiện khắp nơi, chứ không chỉ còn trong giới hạn dân Israel.
Sự sống lại của Chúa Giêsu đánh dấu sự chấm dứt thời gian tại thế của Người; đồng thời khai mở sứ vụ mới cho các tông đồ. Sứ vụ của họ là tiếp nối và mở rộng sứ vụ của Người đến mọi dân tộc để mọi người có thể trở nên môn đệ của Người.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 
 

LênTrời-233: BIỆT LY … LY BIỆT ?

Chúa Nhật Thăng Thiên 
 

Phúc âm hóa thế giới đang diễn tiến ra sao ? Đâu là “quyền lực lớn lao Người đã thi thố” (Ep 1:19) ) trong: LênTrời-233

Phúc âm hóa thế giới đang diễn tiến ra sao ? Đâu là “quyền lực lớn lao Người đã thi thố” (Ep 1:19) trong công cuộc Phúc âm  hóa thế giới ?  Những vấn đề lớn  đó sẽ được giải đáp trong biến cố Chúa thăng thiên hôm nay.
LỜI HỨA.
Cuối cùng “mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi cao Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến” (Mt 28:16) để “được cất lên ngay trước mắt các ông và được rước lên trời.” (Cv 1:9.11)   Thật là ấm cúng và cảm động, mặc dù cảnh ly biệt diễn ra giữa trời.   Đức Giêsu “lìa bỏ các ông” (Cv 1:11) để thoát khỏi giới hạn vật chất và hiện diện sâu xa hơn khắp vũ trụ, nhất là trong tâm hồn tín hữu.   Nhờ quyền lực Thánh Linh, Đức Giêsu có thể thực hiện lời hứa “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20)   Sự hiện diện vô cùng sâu xa và đích thực đó như một bảo đảm vững chắc cho công cuộc Phúc âm hóa nhân loại.
Bảo đảm đó có thể tìm thấy nơi quyền lực của Đức Giêsu phục sinh.   Quả thực, “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28:18) sau khi sống lại từ cõi chết.  Chính Chúa Cha đã trao quyền bính của Nước Thiên Chúa vào tay Chúa Con.  Không một quyền lực nào lớn hơn Chúa Cha để có thể lấn át được quyền bính Chúa Con.  Nếu thế, tại sao phải sợ trước những thách đố cuộc đời ?   Tại sao chưa dấn thân vào công cuộc Phúc âm hóa ?   Tại sao vẫn coi việc truyền giáo như công trình cá nhân hay lệ thuộc vào chức tước, tài năng, tiền bạc ?   Công cuộc Phúc âm hóa hoàn toàn lệ thuộc vào một mình Đấng nắm trọn quyền bính vũ trụ mà thôi.
Sau khi đã củng cố niềm tin vào quyền bính độc nhất đó, Đức Giêsu trao sứ mệnh Phúc âm hóa cho các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” (Mt 28:19)    “Hãy đi” ra khỏi nhà, khỏi cái tôi ích kỷ.   “Hãy đi”, chứ đừng nằm lì một chỗ mà hưởng thụ.   “Hãy đi” đem Tin Mừng cứu độ đến muôn dân thuộc những nền văn hóa khác nhau.   Phúc âm hóa không biên giới:  “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:8)   Phải mở rộng tầm nhìn mới mong Phúc âm hóa thành công.   Tự bản chất, Phúc âm hóa không thể đi đôi với kỳ thị.    Không biên giới nào có thể ngăn cản bước chân người rao giảng Tin Mừng.   Nói khác, Tin Mừng thúc bách người tín hữu ra đi không ngừng.  Kitô hữu là lữ khách suốt đời ra đi đến với mọi người qua con đường Giêsu.  Đó là một sứ mệnh cao cả, cao cả như sứ mệnh Thày Chí Thánh.
Sứ mệnh đó do chính Thiên Chúa trực tiếp trao cho tín hữu ngày lãnh bí tích thanh tẩy “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28:19), chứ không nhân danh bất cứ người nào.   Sứ mệnh Kitô hữu có một nguồn gốc vô cùng sâu xa nơi Thiên Chúa và dựa trên “sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” (Ep 1:19b-20)   Chính nhờ sức mạnh đó, họ mới có thể “dạy bảo muôn dân tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28:20)   Sức mạnh đó đang đẩy mạnh công cuộc Phúc âm hóa thế giới, vì Kitô hữu đã ”nên một với Người, nhờ được sống lại như Người” (Rm 6:5) vì họ đã “nhận được sức mạnh của Thánh Thần” (Cv 1:8) như  một hồng ân “Chúa Cha đã hứa.” (Cv 1:4)  
Hồng ân vô cùng cao cả đó khiến họ có thể tham gia vào việc thánh hóa tha nhân vì được chia sẻ thừa tác vụ linh mục của Đức Giêsu khi “chịu phép rửa trong Thánh Thần.” (Cv 1:5)   Việc thánh hóa đạt tới cao điểm trong thánh lễ.  Tham gia vào việc thờ phượng là làm cho lời Chúa nhập thể vào cộng đoàn và làm chứng cho Chúa. Nhờ đó, Kitô hữu có quyền thi hành tông vụ để tích cực xây dựng cộng đoàn Dân Chúa, theo nguồn ơn phục vụ là chính Thánh Linh Thiên Chúa đã ban cho toàn thể Giáo Hội.   Sức mạnh Thánh Thần không ngừng tăng cường sự hợp tác trong cộng đoàn và làm cho Kitô hữu sống những giá trị Tin Mừng.   Chính vì biết lắng nghe Thánh Linh với tâm tình cầu nguyện trong nội tâm và đời sống, Kitô hữu ngày càng có tinh thần phục vụ mạnh mẽ hơn.   Càng phục vụ càng chia sẻ vương quyền với Đức Giêsu.  Nhờ đó công cuộc Phúc âm hóa muôn dân càng mau hoàn thành.



CHIỀU HƯỚNG PHỤC VỤ HÔM NAY.
Quả thực, phục vụ là con đường đẹp nhất đem Tin Mừng đến cho muôn dân.   Chính Đức Giêsu cũng đã xác nhận sứ mạng của mình khi nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mt 20:28; Mc 9:35; Ga 13:4-15; Rm 5:6-21; Is 53:10-11)   Bước theo Thầy Chí Thánh, Mẹ Têrêsa Calcutta đã hành động “như một mẫu mực Phúc âm  hóa, công bố Tin Mừng bằng việc làm hơn là lời nói.”   Đó là lời Đức TGM Henry Sebastian D’Souza thuộc giáo phận Calcutta công bố khi hân hoan nhắc lại thông điệp Instrumentum Laboris.   Mẹ Têrêsa đặt nơi mỗi cửa nhà nguyện của Mẹ những chữ “tôi khát” Đức Giêsu.   Đây chính là những chữ ngày xưa “đã gợi hứng cho mẹ rời bỏ Loreto êm ấm mà liều mạng dấn thân vào những đường phố bất ổn ở Calcutta.”   Công cuộc dấn thân cho người nghèo đã đáp ứng cho cơn khát này (Zenit 21/04/ 02).    Không thể giả điếc làm ngơ trước cơn gào thét rát cổ bỏng họng của các Giáo Hội Á Châu.   Bao nhiêu dân cư trên lục địa mênh mông đó đang gào thét trước những cơn đói khát công lý kinh niên. 
 Làm giảm cơn đói khát đó, Giáo Hội sẽ hoàn thành được sứ mệnh Phúc âm hóa lục địa bao la này.   Thực vậy, Đức TGM Calcutta nói tiếp: “Phúc âm hóa có thể mạnh lên nhờ chứng từ xã hội, không chỉ dưới hình thức bác ái như Mẹ Têrêsa, nhưng cũng nhờ những phương pháp phân tích quan trọng.   Giáo Hội Á châu phải hành động để chống nạn mù chữ, yểm trợ quyền phụ nữ, và bảo đảm nền y tế tốt đẹp hơn.”  (Zenit 21/4/02)   Đó là những nẻo đường Phúc âm hóa rất thực tế.    Chính Đức Giêsu đã không ra ngoài con đường ấy khi công bố Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.
Noi gương Thày Chí Thánh, Giáo Hội đang nỗ lực xây dựng “nền văn minh tình thương” như con đường Phúc âm hóa nhân loại.   Nhưng làm sao có thể hoàn thành công cuộc lớn lao đó, nếu các Giáo Hội đàn anh Aâu Mỹ cứ ngủ yên trước những gào thét công lý và hòa bình của các Giáo Hội đàn em nghèo đói ?   Bởi thế, Đức TGM Calcutta “kêu gọi các Giáo Hội đàn anh hãy đề cao trách nhiệm của mình tại Á châu.   Họ cần dấn thân vào việc kiểm soát thương mại để bảo vệ những nước yếu kém; đề cao khía cạnh nhân bản trong thương mại, và xóa bỏ hay giảm thiểu những món nợ làm cản trở bước tiến nhiều quốc gia Á Châu.” (Zenit 21/4/02)    Đó là một chiều kích lớn trong nỗ lực Phúc âm hóa nhân loại.
Mặt khác, khi xâm nhập một lục địa đa văn hóa và tôn giáo như Á Châu, Giáo Hội chắc chắn gặp nhiều chống đối từ các tôn giáo lớn như Phật giáo, Aán Độ giáo, Hồi giáo và Do thái giáo.   Đó là những thách đố lớn lao cho công cuộc Phúc âm hóa.   Lớp áo Tây Phương đã che mất nét hấp dẫn Tin Mừng trước cái nhìn của các dân tộc Á Châu.  “Chúng ta chỉ có thể trao cho Á Châu một sứ điệp khi các anh em Á Châu thấy những dấu chỉ Thiên Chúa hiện thân thực sự nơi con người chúng ta,” (TGM Daniel Acharuparambil:Zenit 21/4/02) chứ không phải qua lớp áo Tây Phương xa lạ. Chỉ khi nào tìm thấy chính mình nơi Tin Mừng, người Á Châu mới đón nhận Chân lý như một sức mạnh giải thoát khỏi những cơ chế bất công dưới mọi hình thức.
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 
 

LênTrời-234: Lệnh truyền cuối cùng của Đức Giêsu

Chúa Nhật Lễ Thăng Thiên
 (8-5-2005)
ĐỌC LỜI CHÚA 

Cv 1,1-11: (8) Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần (…), và sẽ là chứng nhân của Thầy (…) cho đến tận cùng trái đất.
Ep 1,17-23: (22) Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh.
       TIN MỪNG: Mt 28,16-20
Đức Giêsu sai môn đệ đến với muôn dân
(16) Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. (17) Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. (18) Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: «Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. (19) Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, (20) dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:

 

Lệnh truyền của Đức Giêsu trước khi về trời là gì? Những người theo Ngài đã thực hiện lệnh truyền: LênTrời-234

     Lệnh truyền của Đức Giêsu trước khi về trời là gì? Những người theo Ngài đã thực hiện lệnh truyền ấy ra sao?
     «Làm cho muôn dân trở thành môn đệ», «làm phép rửa cho họ» nghĩa là gì? Cách làm như đa số các nhà truyền giáo đang làm hiện nay đã thật sự đúng với ý của Đức Giêsu chưa?
      Đức Giêsu yêu cầu «dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền». Điều Ngài truyền chủ yếu là gì? Các nhà truyền giáo đã thật sự đặt nặng điều này chưa? Hay đã đặt nặng những điều mà chính Đức Giêsu đã coi nhẹ?
Suy tư gợi ý:
 

     Lệnh truyền cuối cùng của Đức Giêsu trước khi về trời
Đã đến lúc Đức Giêsu và các môn đệ Ngài phải chia tay. Đức Giêsu không còn hoạt động cách hữu hình tại trần gian nữa. Sứ mạng mà Chúa Cha giao phó cho Ngài là đặt nền tảng cho Nước Trời tại trần gian và khai mạc công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài đã hoàn tất hết sức tốt đẹp. Nhưng công cuộc thành lập Nước Trời tại trần gian và việc cứu rỗi nhân loại quá vĩ đại, không chỉ tới đó là hết, mà nó phải được tiếp tục mãi đến ngày tận thế bởi các tông đồ và những người theo Ngài. Vì thế, trước khi về trời, Đức Giêsu ra một đại lệnh cho tất cả những ai theo Ngài: «Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em» (Mt 28,19-20). Muốn thi hành đúng lệnh truyền của Ngài, ta phải hiểu rõ ý Ngài muốn qua lệnh truyền cuối cùng này.
 

     «Làm cho muôn dân trở thành môn đệ»
Để thi hành mệnh lệnh này, rất nhiều linh mục, tu sĩ, hay người truyền giáo cảm thấy hài lòng, mãn nguyện khi dẫn dụ được thật đông người học giáo lý, chịu phép rửa tội, và hằng ngày làm những tập tục của người Kitô hữu: dâng lễ và rước lễ hằng ngày hoặc hằng tuần, đọc kinh sáng tối mỗi ngày, v.v… Làm được như vậy, họ kể như việc truyền giáo đã thành công, và tiếp tục truyền giáo sang đối tượng khác. Nhưng thử hỏi: nếu những người gia nhập Kitô giáo này không có được một sự đổi mới thật sự từ bên trong, thì việc gia nhập Kitô giáo của họ có khác gì việc gia nhập một đảng phái nào đó chăng? Gia nhập một đảng phái thì cũng có nghi thức gia nhập, cũng có lời hứa hoặc cam kết, và cũng có những bổn phận hằng ngày, hàng tuần hay hàng tháng phải thực hiện. Nhưng việc gia nhập một đảng phái không biến đổi người gia nhập từ bên trong, không biến họ thành một con người mới. Trong khi «trở thành môn đệ Chúa» phải là một cái gì sâu thẳm từ bên trong, ảnh hưởng và biến đổi họ sâu xa hơn rất nhiều. Ta thử nhìn vào chân dung những Kitô hữu bình thường, nghĩa là những người đã được một linh mục hay một nhà truyền giáo nào đó đưa vào Kitô giáo, xem họ đã thật sự trở thành môn đệ của Đức Giêsu chưa.
Trở thành môn đệ ở đây chắc chắn không phải chỉ là trở thành những người mang danh là môn đệ, mà là môn đệ đích thật. Môn đệ đích thật là gì? Đức Giêsu đã định nghĩa: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 26,34; Lc 9,23). Như vậy, làm môn đệ Chúa, điều kiện đầu tiên là phải từ bỏ mình, nghĩa là coi nhẹ bản thân cùng với những quyền lợi mình để đặt nặng chính Thiên Chúa và quyền lợi của Ngài, đồng thời «vác thánh giá» là sẵn sàng chấp nhận đau khổ thiếu thốn khi thực hiện thánh ý Ngài. Không cần xem xét gì cao xa, hãy xem cách cầu nguyện của họ thì biết họ đã từ bỏ bản thân chưa, và đã đặt nặng Thiên Chúa hơn bản thân mình, và ý của Ngài hơn ý của mình chưa.
Rất nhiều Kitô hữu khi cầu nguyện chỉ biết quan tâm đến bản thân mình, nhu cầu của mình, đến những đau khổ, thiếu thốn, đến những gì họ đang bận tâm, và họ xin Thiên Chúa đủ điều liên quan đến bản thân họ. Xin mà chưa thấy được ban thì xin nữa, cứ nhắc đi nhắc lại mãi, làm như Chúa là người hay quên, không nhớ được những gì họ đã cầu xin những lần trước đó. Hoặc làm như Thiên Chúa giống như ông quan tòa bất chính kia (x. Lc 18,1-5), cứ phải bị quấy rầy cho thật nhiều mới chịu ra tay cứu giúp. Họ chỉ quan tâm tới bản thân họ, chứ không quan tâm đến Thiên Chúa, đến những gì Ngài đang muốn họ làm, đang trông chờ nơi họ. Chính khi cầu nguyện, họ tỏ ra ích kỷ và vụ lợi hơn lúc nào hết, họ tỏ ra chẳng từ bỏ mình tí nào. Họ coi bản thân họ mới là quan trọng, còn Thiên Chúa chỉ là người để họ cầu cạnh, là một phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu của họ. Nếu có ca tụng Ngài thì dường như đó chỉ như một hình thức ngoại giao để lấy lòng hầu dễ được thỏa mãn những điều mình xin.
Ta thử đặt mình là một người cha hay ông chủ: nếu con cái hay tôi tớ của ta chỉ biết xin xỏ ta những điều chúng cần, mà không quan tâm gì đến những điều ta yêu cầu chúng, những gì ta muốn chúng làm, thì ta sẽ đối xử với chúng thế nào? Ta có cho rằng chúng tin tưởng vững chắc vào lòng tốt và sự quan tâm của ta đối với chúng, khi mà chúng cứ phải nhắc đi nhắc lại điều chúng muốn xin, nhất là khi ta cảm thấy chưa thuận tiện để thỏa mãn yêu cầu của chúng?
Thử hỏi những Kitô hữu như thế đã là môn đệ đích thực của Chúa chưa? hay mới chỉ là những người mong cầu cạnh và lợi dụng lòng tốt của Ngài thôi? Không thể căn cứ vào những gì người ta làm bên ngoài để đánh giá họ là môn đệ Chúa được. Tương tự như «Người Do Thái chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài» (Rm 2,28a); mà «Người Do Thái chính hiệu là người Do Thái tận đáy lòng» (Rm 2,29a).
3. «Làm phép rửa cho họ»
Nhiều nhà truyền giáo cảm thấy rất hài lòng khi làm cho thật nhiều người chịu phép rửa tội, một nghi thức bên ngoài ai cũng thấy được. Nhưng có thật sự là họ đã được rửa tội không? Vì thánh Phaolô nói: «Phép cắt bì chính hiệu không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài, nơi thân xác» (Rm 2,28b); «Phép cắt bì chính hiệu là phép cắt bì trong tâm hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật» (Rm 2,29b). Những câu trên cũng có thể áp dụng cho phép rửa. Phải chăng có nhiều trường hợp ta mới chỉ giúp họ chịu phép rửa bề ngoài (tức không chính hiệu) chứ chưa phải phép rửa trong tâm hồn (tức chính hiệu)? Chỉ có phép rửa được thực hiện ở bên trong, mới là phép rửa chính hiệu hay đích thực, biến người ta nên «con người mới» (Ep 4,24; Cl 3,10), «thụ tạo mới» (2Cr 5,17; Gl 6,15), với một «đời sống mới» (Rm 6,4; 8,11) và «tinh thần mới» (Rm 7,6). Có phải nhiều khi chúng ta chỉ nhắm tới thứ phép rửa bề ngoài mà thôi chăng? Phép rửa bề ngoài là thứ phép rửa chỉ có tác động tâm lý tự nhiên, chỉ làm thay đổi con người một cách hời hợt, tạm thời, không có gì sâu xa bên trong cả.
 

      «Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền»
Tuân giữ lệnh truyền của Đức Giêsu là điều quan trọng nhất để trở thành môn đệ Ngài: «Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy» (Ga 14,23). Nhưng lệnh truyền của Ngài là gì? – «Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau» (Ga 15,17); thậm chí chỉ cần «yêu thương là đã chu toàn Lề Luật» của Ngài rồi (Rm 13,10; Gl 6,2). Và đó cũng chính là dấu chỉ bảo đảm nhất chứng tỏ ta là môn đệ của Ngài: «Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,35).
Điều cuối cùng trong những điều cuối cùng mà Đức Giêsu yêu cầu các môn đệ Ngài trước khi Ngài về trời là: hãy «dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em» (Mt 28,20). Và Đức Giêsu đã coi việc yêu thương nhau là điều chính yếu nhất trong lệnh truyền của Ngài. Nhưng dường như nhiều nhà truyền giáo hay giáo lý viên lại nhấn mạnh vào những điểm khác đã từng bị Đức Giêsu coi là kém quan trọng hơn, chẳng hạn: những nghi thức tôn giáo (x. Mt 5,23-24; 9,13), những tập tục truyền thống (x. Mt 15,2), những luật lệ khác (x. Ga 9,16)… Thiết tưởng khi rao truyền Tin Mừng, chúng ta cần phải nắm vững sứ điệp của Đức Giêsu và truyền đạt cho mọi người đúng ý của Ngài, phải coi là chính yếu những gì Ngài cho là chính yếu. Đừng coi những điều chính yếu là phụ thuộc, và coi những điều phụ thuộc là chính yếu (x. Mt 23,16-19.23).



CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, Đức Giêsu đã khai mạc Nước Trời tại trần gian, và yêu cầu những ai theo Ngài tiếp tục sứ mạng của Ngài cho đến tận thế. Xin giúp con và mọi Kitô hữu ý thức lệnh truyền đó và thực hiện cho đúng. Ngài đã hứa với chúng con: «Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế» (Mt 28,20), nên chúng con không đơn độc khi loan báo Tin Mừng, vì có Đức Giêsu ở cùng chúng con và phù trợ chúng con. Ngài đã «được trao toàn quyền trên trời dưới đất» (Mt 28,18), trong đó có quyền điều khiển lịch sử. Vì thế, chúng con cảm thấy an tâm khi phải đương đầu với thế gian, với sự ác, vì không phải chúng con đương đầu bằng năng lực riêng của chúng con, mà bằng quyền năng của Đức Giêsu. Xin hãy giúp chúng con vững tin.       
Joan Nguyễn Chính Kết 


 

LênTrời-235: LỄ CHÚA GIÊ-SU LÊN TRỜI

(Mát-thêu 28: 16-20) 
 

Kết thúc một biến cố vĩ đại và mở đầu cho một biến cố vĩ đại kế tiếp hẳn phải là một thời điểm: LênTrời-235

          Kết thúc một biến cố vĩ đại và mở đầu cho một biến cố vĩ đại kế tiếp hẳn phải là một thời điểm vô cùng quan trọng.  Để nói lên mức quan trọng của cuộc chuyển tiếp từ việc Chúa Giê-su hiện diện bởi thân xác Người giữa nhân loại sang giai đoạn hiện diện bởi Thần Khí trong Giáo Hội và thế giới, thánh sử Mát-thêu đã mô tả biến cố Chúa lên trời với tất cả vẻ tôn nghiêm, uy nghi và với những lời lẽ trang trọng Người truyền dạy các môn đệ.  Nếu lệnh truyền “hãy yêu thương nhau” đã được ban trong một khung cảnh ấm cúng nhỏ bé giữa thầy trò, thì lệnh truyền “hãy ra đi giảng dạy cho muôn dân” lại được công bố cách công khai trong một nghi lễ đã được chuẩn bị từ trước.  Chính khung cảnh trang trọng của biến cố Chúa lên trời cũng đủ để giúp ta nhận thấy được ý nghĩa đích thực của nó, đồng thời cũng đòi ta phải xét lại xem ta đã đáp lại lệnh truyền của Chúa như thế nào.
 

  “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.”
          Sự sống lại của Chúa Giê-su và việc ngự bên hữu Chúa Cha đã nói lên giới hạn quyền bính của Người.  Chẳng ai có thể nói rằng mình có toàn quyền trên trời dưới đất.  Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền bính ấy.  Giờ đây Thiên Chúa trao quyền bính ấy cho Con Một Người.  Thánh Phao-lô đã nói về việc trao quyền bính ấy và giải thích tại sao Đức Ki-tô được trao toàn quyền như vậy.  Đó là “Đức Giê-su Ki-tô... đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, vâng lời cho đến chết...  Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người.  Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng:  “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa.” (Pl 2:7-10).
          Theo thói thế gian thường tình, hễ có quyền bính là hay sử dụng nó để ra oai làm phách.  Còn đối với Chúa Ki-tô, quyền bính là để phục vụ, phục vụ Thiên Chúa và nhân loại, phục vụ cho Vương quốc của Thiên Chúa.  Khởi đầu sứ vụ, Thần Khí Chúa đã ngự xuống trên Chúa Giê-su, “xức dầu tấn phong Người để Người loan báo Tin Mừng” (x. Lc 4:18-19).  Sau khi hoàn tất sứ vụ cứu thế và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, Chúa Giê-su “được trao toàn quyền trên trời dưới đất” cũng vẫn là để tiếp tục công cuộc cứu độ cho đến lúc mọi sự được viên mãn trong Người.  Quyền bính của Chúa Giê-su mang chiều kích vũ trụ (cosmic).  Từ nay, Đức Giê-su là Chúa, một danh hiệu chỉ dành cho Thiên Chúa, và “như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ.”
          Tuy nhiên, quyền bính ấy không chỉ để ta bái quỳ, nhưng hơn thế nữa để ta tham dự.  Chúa Giê-su mời gọi ta nhìn nhận quyền bính ấy để nhờ Người, ta có được khả năng đến với Đấng vô biên là Thiên Chúa, điều mà tự sức riêng con người ta không thể làm được.  Nhiều lần Người đã lập đi lập lại lời mời gọi này:  Ai tin vào Người là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, thì sẽ được sống đời đời.  Chính vì thế, để giúp nhân loại tiếp nhận quyền bính ấy, Chúa Giê-su đã truyền lệnh cho các môn đệ:  “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ...”
 

  “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”
          Trong khung cảnh long trọng Chúa Giê-su hiện ra với các môn đệ trên núi, Người đã truyền cho các Tông đồ ra đi tiếp nối sứ vụ của Người.  Sứ vụ ấy Người đã khởi sự sau khi chịu ma quỷ cám dỗ.  Trên núi cám dỗ, Chúa Giê-su đã bị Xa-tan xúi giục hãy thi hành sứ vụ theo kế hoạch riêng chứ đừng theo kế hoạch của Thiên Chúa.  Nhưng Người đã chiến thắng cám dỗ và Người đã hoàn thành sứ vụ tốt đẹp.  Theo cùng một phương thức, môn đệ Người cũng phải ra đi và thi hành sứ vụ theo kế hoạch của Thiên Chúa.  Người chiến thắng cám dỗ để bảo đảm cho ta tiếp nối sứ mệnh mà không phải sợ là mình sẽ lạc đường.  “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.”
          Chỉ thị hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ đã được Giáo Hội sơ khai thi hành từng chữ từng nét.  Rửa tội và dạy bảo là hai công việc chính để “làm cho muôn dân trở thành môn đệ.”  Sách Công vụ Tông đồ đã kể lại những công việc này với những trang sử đầy khích lệ và nêu cao hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội sơ khai.  Việc rửa tội là kết quả của những bài giảng tuy đơn sơ, nhưng rõ ràng và nhất là đầy xác tín của những vị rao giảng muốn chia sẻ với dân chúng những gì họ tin vào Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh.  Giáo Hội từ một nhóm nhỏ tại Giê-ru-sa-lem đã bành trướng mạnh mẽ khắp nơi trên thế giới, đúng như Tin Mừng Mác-cô đã ghi lại lệnh truyền của Chúa:  “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi thọ tạo” (Mc 16:15).
          Thánh Thần đã giúp môn đệ Chúa nhớ lại tất cả những điều Người đã dạy dỗ họ trước kia.  Giờ đây họ đã đem lời dạy dỗ ấy đến cho mọi người.  Chính những lời dạy dỗ mà họ nhớ lại đã được ghi chép và trao lại cho ta qua những trang sách Tin Mừng và các thánh thư, một kho tàng quý giá tuyệt đỉnh giúp ta sống sao cho đúng nghĩa làm môn đệ Chúa.
 

  “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”
          Kẻ ra đi, nhất là ra đi một chuyến lâu dài, thường để lại một kỷ vật cho người ở lại.  Chúa Giê-su không có kỷ vật nào quý giá hơn chính sự hiện diện của Người.  Chắc hẳn khi chỉ thị cho môn đệ phải lên đường truyền giáo, rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su đã nhìn thấu nỗi lo lắng của họ. Phải làm gì?  Làm thế nào?  Mặc dù Người đã cho họ những huấn thị rõ ràng trong Mát-thêu chương 10 về sứ mệnh truyền giáo, nhưng họ vẫn không khỏi lo lắng vì sẽ phải đối phó với những khó khăn bách hại.  Họ cần có sự hỗ trợ của Thầy.  Do đó Chúa đã bảo đảm với họ là Người sẽ luôn ở bên cạnh họ để nâng đỡ ủi an.  Người đã ở với họ khi Người thi hành sứ vụ và đã nhiều lần bênh vực họ trước những chỉ trích của kẻ thù.  Sau khi sống lại, Người vẫn ở với họ, cùng bước trên đường Em-mau, cùng chuyện vãn với họ trong phòng cửa đóng then cài vì họ sợ người Do-thái, cùng ăn sáng với họ bên bờ hồ Ga-li-lê, nhất là trong lúc này đang khi Người ở với họ trên núi và trao trọng trách cho họ.  Trong bữa Tiệc Ly, Người đã thiết lập Bí tích Thánh Thể để “ở lại trong họ và họ ở lại trong Người”.  Bây giờ, trước khi về với Chúa Cha, Người hứa ở lại với họ qua Chúa Thánh Thần.  Từ nay, Người sẽ tiếp tục hoạt động bên họ, trong họ và trong Giáo Hội, nhưng dưới một hình thức mới là qua Chúa Thánh Thần.  Như thế, Người đâu có bỏ ta mồ côi, trái lại, còn gần gũi ta hơn bất cứ ai khác.  Người đi lên với Chúa Cha, còn ta làm chứng cho Người là Chúa khi ta được Người sai đi đến với anh chị em để giúp cho họ biết và yêu mến Người.  Trong phong cách long trọng của ngày lên trời, Chúa Giê-su muốn ta hãy nghiêm túc thi hành lệnh truyền của Người, bằng tất cả khả năng ta có, hoàn cảnh ta gặp, để kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Cha đã được khởi sự tốt đẹp nhờ Chúa Ki-tô cũng sẽ được hoàn tất với sự cộng tác của ta nữa.
 

  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Thiên Chúa muốn mọi người tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa.  Vậy tôi đã để cho Người là “Chúa của tôi” như thế nào, giống như cách tuyên xưng của thánh Tô-ma hoặc của thánh Phao-lô?
          Để được sai đi giúp người khác làm môn đệ Chúa, chính tôi phải biết làm môn đệ Chúa là gì, như thế nào...  Vậy tôi đã sẵn sàng để được Chúa sai đi chưa?  Tôi phải học làm môn đệ Chúa thế nào?
          Tôi cảm nghiệm thế nào về lời hứa của Chúa Giê-su sẽ ở lại với tôi cho đến cùng?  Nhớ lại một vài trường hợp tôi thấy rõ ràng nhất Người ở với tôi?



 Cầu nguyện:
          “Lạy Cha,
          Cha muốn cho mọi người được cứu độ
          và nhận biết chân lý,
          chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Đức Giê-su, Con Cha.
          Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người
          chưa nhận biết Đức Giê-su,
          họ cũng là những người đã được cứu chuộc.
          Xin Cha thôi thúc nơi chúng con
          khát vọng truyền giáo,
          khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc,
          niềm vui và bình an của mình cho tha nhân,
          và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giê-su cho thế giới.
          Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực
          trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất
          để loan báo Tin Mừng.
          Chúng con chỉ xin đến
          với những  người bạn gần bên,
          giúp họ quen biết Đức Giê-su và tin vào Ngài,
          qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.
          Chúng con cũng cầu nguyện
          cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.
          Xin Cha cho những cố gắng của chúng con
          sinh nhiều hoa trái.  A-men.”
                                      (Trích RABBOUNI, lời nguyện 69)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 
 

LênTrời-236: CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN 2002

Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong: LênTrời-236

          "Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần". Ðó là khởi điểm của cuộc sống mới, của Nước Thiên Chúa. Sự vinh thăng của Ðức Giêsu mà Giáo Hội hôm nay long trọng mừng kính "Ðó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà (Thiên Chúa) đã biểu dương nơi Ðức Kitô, khi làm cho Ðức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt bên hữu Người trên trời." Sự kiện "được cất lên" chỉ là để diễn tả điều Tin Mừng Matthêu đã ghi nhận "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất", hay nói theo Phaolô đó là quyền "làm đầu toàn thể Hội Thánh" "là sự viên mãn của Người, Ðấng làm cho tất cả được viên mãn." Nhờ đó Ðức Giêsu mới có thể "thi thố cho chúng ta là những tín hữu" "quyền lực vô cùng lớn lao" Người đã lãnh nhận. Vì vậy chúng ta cùng Giáo Hội tuyên xưng rằng "Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi..." mà Người đã lên trời.
          Theo đúng Mạc Khải thì ở "Khởi Nguyên", ở "khởi điểm" đã ẩn dấu một kế hoạch, một chương trình, một tương lai. Chính vì vậy hôm nay chúng ta được chứng kiến, được nghe huấn lệnh quan trọng của Ðức Giêsu cho Hội Thánh "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" . Người ta sẽ không đánh giá được hết mức tầm quan trọng của huấn lệnh này, nếu không đặt nó vào "Khởi Ðiểm" của cuộc sống mới, của Nước Thiên Chúa, không đặt nó vào Toàn Vẹn Vinh Quang, Toàn Vẹn Quyền Năng của Ðức Giêsu Kitô Vinh Thăng.
          Con đường trở thành người môn đệ Nước Thiên Chúa là điều có lẽ đã có quá nhiều ngộ nhận và sai lạc. Và vì thế chúng ta thường thấy xuất hiện những bè phái, những lạc thuyết, những phong trào ly khai... Giáo Hội ngay từ thưở ban đầu đã ôn đi nhớ lại con đường linh thánh này qua những tường thuật của Sách Công Vụ Tông Ðồ. Và ngay ở khởi đầu của sách, chúng ta đã thấy đây là con đường của những cơn người mà chính Ðức Giêsu đã gọi, đã chọn "Nhờ Thánh Thần". Ðọc Tin Mừng cho đến những giòng cuối cùng, chúng ta cảm nghiệm được một điều hết sức rõ ràng: Ðức Giêsu đã phải vất vả bằng mọi cách, để cho các tông đồ có thể lướt thắng được mọi thứ tự ty hay tự đại để hoàn toàn tùy thuộc vào Ðấng đã gọi, đã chọn và đã tấn phong các ông "Nhờ Thánh Thần". "Cuộc sống mới " của người môn đệ là "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế."Ðể như thánh Phaolô nói "làm cho tất cả được viên mãn".
          Theo mệnh lệnh của Ðức Giêsu, người môn đệ là người dành toàn thời gian và sức lực cho công việc là "chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem,trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất". Mà cốt yếu của lời chứng chính là "không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai" "Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Ðức Kitô." Một lời chứng không thể có cách diễn tả nào khác hơn là chính "Nhờ Thánh Thần", mà toàn diện cuộc sống người môn đệ là lời khẳng định Ðức Giêsu là "Ðấng làm cho tất cả được viên mãn." Vì vậy, người môn đệ không thể để mình bị cuốn hút vào những viễn ảnh xa vời, mà phải làm cho từng bước chân bám chặt trên mặt đất này bằng "Quyền Năng" của chính Ðấng "sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời".
          Là môn đệ còn có nghĩa là "tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền", những lời đều quy về "Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Cuộc sống mới, Nước Thiên Chúa không thể tách rời với sự Hiệp Thông trong Hội Thánh mà theo thánh Phaolô "Hội Thánh là Thân Thể Ðức Kitô, là sự viên mãn của Người". Theo đó, chỉ là Ðức Ái, chỉ là Tình Yêu chân thực, nếu nó hướng về sự viên mãn của Ðức Kitô nơi chính mình và nơi người mình yêu thương.
          Là môn đệ, trong lời rao giảng đã có cách ứng xử mà thánh Phaolô đã viết trong thư Corintô: "Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa."
Xem như vậy, con đường trở nên môn đệ mãi mãi trong cụ thể nơi một con người, hay nơi toàn thể Hội Thánh, là một Cuộc Vượt Qua cho đến khi mọi sự hoàn tất trong Nước Thiên Chúa. Trở lại với những bóng tối nơi hàng linh mục của chúng ta hôm nay, tôi muốn bắt chước thánh Phaolô để làm chứng rằng "Lề Luật đã xen vào, để cho sự sa ngã lan tràn; nhưng ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội. Như vậy, nếu tội lỗi đã thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, thì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Ðức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta."
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 
 

LênTrời-237: TRUYỀN THÔNG CỔ VÕ NỀN VĂN HÓA GẶP GỠ

Lễ Thăng Thiên kính nhớ việc Chúa Giêsu “lên trời”, được cử hành vào ngày thứ 40 sau Lễ Phục Sinh ( x. Mc 16, 19-20; Cv 1, 1-11 ). 
 

Sự kiện Chúa Giêsu thăng thiên đánh dấu việc Người trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước LênTrời-237

Sự kiện Chúa Giêsu thăng thiên đánh dấu việc Người trở về “nơi” mà Người đã hiện hữu trước khi nhập thể ( x. Ga 3, 13 ). Lễ này nói lên việc nhân tính của Người tiến vào trong vinh quang của Thiên Chúa một cách vĩnh viễn ( x. Ga 16, 28; 17, 5 ). Nó đánh dấu sự kết thúc sứ mệnh hữu hình của Chúa Giêsu ở trần gian và khởi đầu sứ mệnh của Giáo Hội. Vào chính ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu đã được tôn vinh, được siêu thăng và “ngự bên hữu Chúa Cha” trong thân xác vinh quang của Người rồi. Tuy nhiên, theo trình thuật của Thánh Luca, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu còn hiện ra nhiều lần với các môn đệ trong khoảng thời gian 40 ngày. Đây là thời gian Chúa Giêsu dùng để khẳng định sự Phục Sinh của Người, củng cố niềm tin của các môn đệ, hoàn tất việc giảng dạy và sai các ông đi rao giảng Phúc Âm. Với biến cố thăng thiên, Chúa Giêsu không còn hiện diện trong thân xác hữu hình như trước kia, nhưng Người vẫn hiện diện với Giáo Hội cho đến ngày tận thế ( x. Mt 28, 20 ) theo phương cách mới – theo quyền năng của Chúa Thánh Thần, với tư cách là Chúa của vũ trụ ( x. Pl 2, 10-11 ). ( x.Tiểu ban Từ vựng – UBGLĐT/HĐGMVN ).
Chúa lên Trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Theo Thánh Kinh, ngự bên hữu nghĩa là đồng hàng trong danh dự, phẩm vị và quyền năng. Chúa Giêsu lên Trời sau khi hoàn tất công cuộc cứu độ. Người lấy lại vinh quang, uy quyền và danh dự của một Thiên Chúa đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người lấy lại những sự ấy là vì đã tự nguyện trút bỏ nó khi vào trần gian để thực thi chương trình cứu độ. “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” ( Pl 2, 6-7 ).
Chúa lên Trời vì Người đã từ Trời xuống: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ Trời xuống” ( Ga 3, 13 ). Mầu nhiệm Chúa lên Trời minh chứng cho nguồn gốc thần linh của Đức Kitô. Người không phải là phàm nhân được tôn lên hàng thần thánh. Người chính là Thiên Chúa có từ đời đời và mọi sự, mọi loài nhờ Người mà được hiện hữu. “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa... Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” ( Ga 1, 1-3 ).
Chúa lên Trời với cung cách hiện diện mới, trao sứ vụ cho các Tông Đồ và Giáo Hội tiếp nối sứ mạng loan báo Tin mừng yêu thương.
 

Hiện diện mới
Chúa Giêsu đã tiên báo với các môn đệ: “Thầy đến cùng Chúa Cha”. Lời này được lập lại 7 lần trong khung cảnh tiệc ly ( x. Ga 14, 12.28; 16, 5.10.28; 17, 11.13 ), đến nỗi trong số các môn đệ tự hỏi lời nói đó có ý nghĩa gì ( Ga 16, 17 ). Đối với Chúa Giêsu, Người không đi đến một nơi nào khác, nhưng Người đến với một người, đó chính là Chúa Cha. Chúa Giêsu coi cuộc sống ở trần gian và những hoạt động của mình như một hành trình đi đến với Chúa Cha, như một cuộc về Trời với Chúa Cha. Khi hiện ra với Maria Magđala, Chúa Phục Sinh nói: “Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em ( Ga 20, 17 ). Như thế, Gioan không kể về việc “lên cùng Chúa Cha” như một “nơi chốn”, Người không đến một nơi chốn ( trời ), nhưng đến với một người, đó chính là “Cha của Người và cũng là Chúa của anh em”.
Chúa về Trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới. Các lời nguyện và Kinh Tiền Tụng của lễ Thăng Thiên cũng chứa đựng ý nghĩa này: “Người lên trời không phải để lìa xa chúng con là những kẻ yếu đuối, nhưng vì là đầu và là Thủ Lãnh, nên Người đã đi trước, để chúng con là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”.
Chúa về Trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.
Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người. 
Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Những người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Chúa Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” ( Ga 14, 23 ). Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” ( Ga 15, 5 ).
Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa.Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người.Quả thật,đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học.
 

Trao Sứ Vụ
Chúa về Trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông Đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông Đồ, qua các Tông Đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. 
Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống,dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.
 

Truyền Thông nền văn hóa gặp gỡ yêu thương
Giáo Hội Thánh chọn lễ Thăng Thiên làm Ngày Thế Giới Truyền Thông. Ngày lễ Thăng Thiên gắn liền với mệnh lệnh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” ( Mt 28, 19 ). Các Tông Đồ lên đường truyền giáo, cộng đoàn Giáo Hội được thiết lập và những bước chân không mệt mỏi của người loan báo Tin Mừng đã làm nên lịch sử Giáo Hội.
Có truyền giáo là có truyền thông, và bởi vì có truyền rao sứ điệp cứu rỗi của Tin Mừng nên mới có những người lắng nghe, đón nhận đức tin và được sống trong ơn cứu rỗi. Truyền giáo là nghĩa vụ “thông truyền điều đã thấy và đã nghe” ( 1Ga 1, 3 ) để mọi người được hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là điểm khác biệt giữa truyền thông xã hội và truyền thông Công Giáo. Trong khi truyền thông xã hội khai thác thông tin theo quy luật cung cầu của thị trường, thì truyền thông Công Giáo lại xác định hướng đi của mình là mùa màng trong đời sống Đức Tin.
Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Ngày nay các phương tiện truyền thông hiện đại, vốn là một phần thiết yếu của cuộc sống, cách riêng đối với những người trẻ” ( Sứ điệp Truyền thông 49 ).
Trong Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội 51, Đức Thánh Cha Phanxicô đã so sánh công việc truyền thông như những chiếc máy xay, hằng ngày “xay ra” những thông tin để cung cấp "lương thực bổ dưỡng” cho người khác. Muốn xay ra được những “thức ăn bổ dưỡng” như thế, truyền thông phải mang tính xây dựng, cổ võ nền văn hóa gặp gỡ và loại bỏ định kiến với người khác, hầu giúp mọi người có cái nhìn thực tế và tin tưởng đối với thế giới. Truyền thông phải truyền cảm hứng cho người-tiếp-nhận-thông-tin biết tìm đến với các thông tin tích cực, có trách nhiệm và cung cấp những câu chuyện mang “tin vui” đích thực. Câu chuyện sẽ mang “tin vui” đích thực khi chuyển tải được niềm hy vọng, ngay cả khi kể lại những sự kiện chất chứa nhiều thất bại cay đắng, vì biết rằng Đức Kitô vẫn hiện diện nơi các sự kiện ấy. “Tin vui” ấy chính là Đức Kitô, Đấng đã thực hiện lời hứa “Ta ở với ngươi” của Thiên Chúa.
Nếu Chúa Giêsu sinh ra trong thời đại này, Người sẽ dùng Internet để rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô là nhà truyền thông đầu tiên, vĩ đại, đại tài vì sứ điệp của Người là Tin Mừng, là tin vui cho mọi người. Chúa Giêsu có mạng lưới gồm các Tông Đồ thông truyền Tin Mừng cho nhân loại. Qua các môn đệ, Tin Mừng được loan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.Chúa Giêsu không có các phương tiện hiện đại, Người có các Tông Đồ, các môn đệ, các thế hệ nối tiếp nhau như mạng lưới phổ biến Tin Mừng khắp nơi trên thế giới.
Truyền thông chính là chia sẻ niềm vui Tin Mừng Cứu Độ. Truyền thông có đặc điểm là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nên mọi sự cho mọi người và xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ yêu thương. Từ đó giúp con người nhận ra tình yêu của Chúa. Đây là sứ vụ Chúa trao phó cho mỗi người tín hữu trong thời đại hôm nay.
Cảm tạ Thiên Chúa đã ban những phương tiện truyền thông hiện đại. “Truyền thông, dù ở đâu và bằng cách nào, cũng mở ra những chân trời rộng lớn hơn cho nhiều người. Đây là quà tặng của Thiên Chúa kèm theo một trách nhiệm lớn lao”; “Internet có thể được sử dụng một cách khôn ngoan để xây dựng một xã hội lành mạnh và mở ra để sẻ chia” ( Sứ điệp Truyền Thông 50 ).
Ước mong mỗi người tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông với đức tin, trong sự tuân phục sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, góp phần cổ võ nền văn hóa gặp gỡ và tích cực loan báo tin vui bình an yêu thương.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 
 

LênTrời-238: Lễ Chúa lênTrời

Mc 16,15-20
  “Thiên đàng” 

 

Một em bé mới có 3 tuổi nói với mẹ: Mẹ ơi, con mong mẹ chóng về Trời với Chúa. Sau đó ít: LênTrời-238

Một em bé mới có 3 tuổi nói với mẹ: Mẹ ơi, con mong mẹ chóng về Trời với Chúa. Sau đó ít tháng, mẹ em đã qua đời. Em bé ấy chính là thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Khi em bé mong mẹ về trời là em nghĩ rằng về trời sẽ hạnh phúc.Hôm nay cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Điều này Chúa đã nói trước với các môn đệ: “Thầy bởi Cha mà ra. Thầy đã đến trong thế gian. Bây giờ Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Cha”. Cha ở đâu? Cha Ở trên trời. Chính Chúa đã nói điều đó với ông Nicôđêmô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người là Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Thiên đàng được đồng hoá với trời. Vậy thiên đàng là gì? Thiên đàng ở đâu? Ta được vào thiên đàng khi nào? Làm sao để được vào thiên đàng?

1. Thiên đàng là gì?

1.1. Đối với người không có niềm tin vào sự sống đời đời, thì cho rằng thiên đàng là hạnh phúc. Và khi nào có tiền, có danh vọng, hưởng được mọi thứ trên trần gian này, có thành công, có vợ đẹp con khôn, muốn gì được nấy, thì là có thiên đàng hạnh phúc. Thế nhưng, đây là thứ thiên đàng phù phiếm ở dưới thế, nay còn mai mất. Mọi sự sẽ kết thúc trước cái chết.
1.2. Còn đối với những ai có niềm tin tưởng vào Chúa, vào sự sống đời đời, sự sống đời sau, thì thiên đàng là quê hương vĩnh cửu, và cái chết chính là kết thúc một giai đoạn tạm bợ để bước vào một cuộc sống mới tốt đẹp hơn và hạnh phúc muôn đời. Thiên đàng là nơi mà ông Gióp trong lúc đau khổ đã kêu lên: “Tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi hằng sống và trong ngày sau hết (tức là ngày tận thế), tôi sẽ từ bụi đất sống lại và tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”.
Chính Chúa Giêsu đã an ủi những người đau khổ, bị bắt bớ bằng niềm hy vọng Nước Trời: “Các con hãy mừng rỡ hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ to lớn trên trời”. Và trong ngày sau hết, Ngài sẽ phán với những người lành: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần thưởng Nước Trời đã được sắm sẵn cho các ngươi từ khi tạo dựng thế gian”. Nói tóm lại, Thiên đàng là một “trời mới, đất mới”, là nới “Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt lệ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Chính Thánh Phaolô đã nói: “Tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy, và trái tim chưa một lần cảm nhận được những gì Thiên Chúa dành cho những kẻ yêu mến Ngài”. Tất cả những khổ đau trong cuộc sống hiện tại sẽ chẳng là gì cả, nếu đem so với hạnh phúc Nước Trời. Đó là nơi vinh quang. Đó là nơi ánh sáng. Đó là nơi ân thưởng cho những người đã trung thành phụng sự Chúa.

2. Thiên đàng ở đâu?
Các em nhỏ thường chỉ tay lên trời và bảo thiên đàng ở trên trời. Chúng ta tưởng trời ở thật xa, nhưng thực ra lại rất gần. Chúa đã nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Vậy Ở đâu có Chúa là ở đấy có thiên đàng. Thiên đàng có thể ở ngay trong lòng ta. Thiên đàng có thể ở ngay trong trái tim ta, nếu trái tim đầy ắp yêu thương, ngập tràn ơn Chúa. Thiên đàng có thể ở ngay trong thế giới này nếu tràn ngập công bình và huynh đệ.

3. Ta được lên thiên đàng khi nào?
Ta tưởng mình chỉ được lên thiên đàng sau cuộc sống đời này, nhưng thực ra, ta có thể vui hưởng hạnh phúc Nước Trời bất cứ lúc nào nếu khi ta có Chúa ở trong ta. Vì Chúa là hạnh phúc của đời ta. Có Chúa là có tất cả. Tuy nhiên, niềm hạnh phúc tuyệt vời ấy không phải như một món ăn quí giá đã nấu chín và chúng ta chỉ việc dùng mà thôi. Trái lại chúng ta phải cố gắng, phải chiến đấu thì mới đạt tới.

4. Vậy làm sao để được vào Thiên đàng?
4.1. Phải giữ cho lòng trong sạch, không vương vấn tội lỗi. Chúa đã dạy rằng: “Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”
4.2. Sống công chính
Vua Thánh Đavít đã xác quyết: “Sống công chính, tôi sẽ được nhìn thấy Chúa. Thức giấc rồi, tôi no thoả Thánh Nhan”. Còn sách khôn ngoan thì diễn tả: “Bấy giờ người công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao”.
4.3. Phải giữ các giới răn, biết hy sinh và chia sẻ
Có một thanh niên đến thưa Chúa rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”. Chúa trả lời: “nếu anh muốn vào cõi sống thì hãy giữ các điều răn”. Ngươi ấy hỏi điều răn nào? Chúa đáp: “không được giết người, không được ngoại tình, không được trộm cắp, không làm chứng gian, phải thờ kính cha mẹ, phải yêu đồng loại như chính mình”. Người ấy nói: “Tất cả những điều đó tôi đã tuân giữ. Tôi còn thiếu điều gì nữa?” Chúa đáp: “Vậy còn thiếu một điều nữa, hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời”. Nghe lời đó, anh buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải. (Mt 19,16tt)
4.4. Mến Chúa và yêu người
Một tiến sĩ luật đứng lên hỏi Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời?” Chúa đáp: “trong luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi, và người thân cận như chính mình” Chúa bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy sẽ được sống” (lc 10,25tt)
Lạy Chúa, Chúa về trời là niềm hy vọng của chúng con. Trời là thiên đàng. Chúng con tin có thiên đàng. Chúng con mong ước được vào thiên đàng. Xin cho chúng con giữ được lòng trong sạch,, sống công chính, giữ các giới răn Chúa truyền và Hội Thánh dạy, biết hy sinh và chia sẻ, mến Chúa và yêu người, xây dựng thế giới này ngày một tươi đẹp hơn, để chúng con được hưởng hạnh phúc đời này và một ngày kia được trở về với Chúa trên quê hương Nước Trời mà chúng con hằng mong mỏi, như lời của một bài hát: Trái đất này, nơi con người náu thân. Thế gian này, con đường dẫn lên trời. Kiếp sống này, ta xây dựng thế giới, để dọn đường cho Nước Trời mai sau. Amen.

 
 

LênTrời-239: Đường vinh quang LênTrời-239

Mừng Chúa lên trời có nghĩa là mừng Ngài được tôn vinh sau khi hoàn thành sứ mạng Chúa Cha: LênTrời-239 Lương

Mừng Chúa lên trời có nghĩa là mừng Ngài được tôn vinh sau khi hoàn thành sứ mạng Chúa Cha đã trao phó. Ngài đã hoàn thành trong sự vâng phục và yêu thương, ngay cả trong việc chấp nhận thập giá để cứu chuộc mọi người. Vinh quang được trao ban cho Ngài, vì Ngài đã chấp nhận hy sinh tất cả. Nói cách khác, Ngài đã đi trọn con đường của yêu thương, không nề hà bất cứ một cử chỉ hay một hành động nào, để bày tỏ lòng yêu thương của Thiên Chúa đối với con người.
Sứ mạng ấy Chúa Giêsu cũng đã trao lại cho các môn đệ: Các con hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Các ông đã hoàn tất với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Thánh Gioan ghi nhận là chính Chúa Giêsu sống lại đã thổi hơi ban Chúa Thánh Thần cho các ông. Và theo thánh Luca, thì nếu Chúa Thánh Thần đã gầy dựng Con Thiên Chúa làm người nơi cung lòng Đức Trinh Nữ Maria, thì nay khi Ngài sắp sửa từ giã các ông, thì Ngài đã hứa ban cho các ông Chúa Thánh Thần như là một sức mạnh để gầy dựng cộng đoàn của Hội Thánh. Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ chờ đón Chúa Thánh Thần tại Giêrusalem. Nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các môn đệ đã trở thành những chứng nhân sống động của Đức Kitô cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Trong bối cảnh ấy Chúa Giêsu đã từ biệt các môn đệ, đây là một cuộc từ biệt không gây nên đau buồn vì Chúa Giêsu có hứa hẹn ngày tái ngộ. Thời gian chờ đợi sẽ là thời gian cần thiết để hoàn thành sứ mạng được trao phó, đồng thời cũng là thời gian chờ đợi vinh quang sẽ đến. Như thế mừng lễ Chúa lên trời cũng chính là lúc chúng ta chờ đợi vinh quang sẽ đến, cũng chính là chờ đợi ngày Ngài trở lại.
Nhưng sự chờ đợi chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó trở thành nỗi bận tâm chu toàn sứ mệnh được trao phó. Người Kitô hữu hôm nay cũng như các môn đệ ngày xưa không phải là những kẻ đứng nhìn lên trời, mà là những người dấn thân rao giảng Tin Mừng cứu độ, đem lại niềm vui của ơn giải thoát cho tất cả mọi người nhất là những kẻ nghèo khổ và bất hạnh. Chúng ta chỉ có thể chu toàn sứ mạng ấy bằng những hy sinh và quên mình. Lịch sử Giáo Hội xưa cũng như nay cho thấy nơi nào và khi nào toàn thể Giáo Hội cũng như từng người Kitô hữu biết hy sinh những quyền lợi của mình để nghĩ đến những lợi ích chung, nhất là của những tầng lớp bị quên lãng hay bị áp bức trong xã hội, thì ở đó và lúc đó, Giáo Hội cũng như người Kitô hữu làm cho người khác nhận ra được Tin Mừng của Đức Kitô. Và đó cũng chính là vinh quang của Giáo Hội cũng như của người Kitô hữu.
Như thế, con đường dẫn đến vinh quang, là con đường hoàn thành sứ mạng Chúa đã trao phó, trong quên mình và trong hy sinh.

 
 

LênTrời-240: Lên trời.

Người ta thường bảo ra đi là chết trong lòng một chút. Sự chia lìa với người thân yêu bao giờ: LênTrời-240

Người ta thường bảo ra đi là chết trong lòng một chút. Sự chia lìa với người thân yêu bao giờ cũng đem lại buồn đau, mặc dù chúng ta biết rằng người ấy sẽ gặp được những may mắn. Vậy phải chăng Giáo hội mặc lấy những tâm tình sầu khổ khi cử hành lễ Chúa về trời. Không, trái lại đây là một ngày lễ ngập tràn niềm vui. Chúng ta vui mừng cho Chúa cũng như cho chúng ta.
Trước hết, ngày lễ Lên Trời chính là ngày chiến thắng ngày khải hoàn của Đức Kitô.
Thực vậy, chúng ta hãy nhớ lại mọi chặng đường Ngài đã đi qua trong suốt cuộc sống nơi trần thế. Ngài đã tự hạ mình xuống mặc thân xác phàm trần trong lòng Đức Trinh Nữ Maria. Sinh ra trong cảnh khó nghèo của hang đá Bêlem. Vất vưởng nơi đdất khách quê người khi chạy trốn sang Ai Cập. Lao động mệt mỏi với cuộc sống tăm tối tại Nadarét. Rồi những năm tháng hăng say rao giảng Tin Mừng, tìm kiếm những con chiên lạc. Và sau cùng là cái chết ê chề nhục nhã trên thập giá. Tại sao Ngài lại chấp nhận? Tại sao Ngài lại ưng thuận? Tôi xin thưa chỉ vì yêu thương chúng ta. Chỉ vì muốn cứu chúng ta khỏi quyền lực ma quỷ, dẫn đưa chúng ta vào quê hương Nước Trời. Giờ đây, công cuộc cứu độ, qua đó Ngài đã hiến dâng tất cả tình yêu và những giọt máu cuối cùng, đã hoàn tất, Ngài vui mừng nhớ lại những gia đoạn đã đi qua.
Phụng vụ hôm nay muốn trình bày Đức Kitô như một vị chiến thắng và khải hoàn đang tiến lên, theo sau Ngài là tất cả chúng ta, những người đã được Ngài cứu chuộc, đã được thông phần vào niềm hạnh phúc Nước Trời. Chúa Giêsu trở về nhà Cha và giới thiệu những người em mới mà Ngài đã chuộc lấy bằng máu châu báu của Ngài. Ngày lễ lên trời phải chăng là ngày Đức Kitô được Cha tuyên phong làm Vua trời và đất.
Tiếp đến, ngày lễ Lên Trời còn là một ngày vui mừng cho chúng ta, nhờ đó mà bản tính nhân loại được nâng lên cao.
Thực vậy, qua biến cố này, bản tính nhân loại của chúng ta được tham dự vào những vinh quang của Thiên Chúa, vì Đức Kitô đã về trời cả thân xác, với cả bản tính nhân loại. Phải chăng đây là một mầu nhiệm mà chúng ta sẽ không thể nào hiểu thấu. Một người như chúng ta giờ đây đang được ngồi bên hữu Thiên Chúa. Ngài là đầu và chúng ta là chi thể, như trong kinh Tiền Tụng chúng ta sẽ đọc. Ngài về trời để chúng ta được tham dự vào bản tính Thiên Chúa.
Tuy nhiên, cho được như vậy, chúng ta phải nâng tâm hồn lên, như lời kinh Tiền Tụng kêu gọi, bởi vì tội lỗi sẽ ngăn trở không cho chúng ta về trời với Chúa. Tội lỗi như một sợi dây xích cột chặt chúng ta lại với trần gian. Hãy phá tan xiềng xích tội lỗi. Hãy hướng tới quê trời bằng lòng ao ước khát mong từ đó chúng ta sẽ hằng ngày phục vụ Chúa. Hãy khử trừ tội lỗi trung thành bước theo để rồi chúng ta cũng sẽ được về trời với Ngài.

 
 

LênTrời-241: Hãy đi loan báo Tin Mừng

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo!” 

 

Tôi không muốn coi đây là một lệnh truyền, vì mệnh lệnh bao giờ cũng là điều do vị bề trên : LênTrời-241

Tôi không muốn coi đây là một lệnh truyền, vì mệnh lệnh bao giờ cũng là điều do vị bề trên truyền xuống, chứ không xuất phát từ bản thân, từ một đòi hỏi thâm sâu của cõi lòng mình. Đối với Nhóm Mười Một, vào thời điểm họ nghe câu nói này, thì có lẽ đúng là họ nghe một mệnh lệnh; đơn giản là vì họ chưa hiểu được rằng các biến cố đang dồn dập xảy ra đích thị là Tin Mừng. Thậm chí họ còn lo âu, họ sợ hãi thì đúng hơn, trong biến cố khổ hình và thập giá đã đành, mà cả trong các lần Đấng Phục Sinh hiện ra với họ; phải đợi tới khi ‘Thần Chân Lý’ đến dạy đỗ trực tiếp, họ mới vỡ lẽ ra từ đáy lòng mình về ý nghĩa đích thực của nó (Ga 14,26; 16,12-13). Chỉ khi đó, phải, chỉ lúc đó mệnh lệnh Chúa truyền trước khi về trời mới trở thành một cảm nghiệm không thể cưỡng, vì nó thôi thúc họ từ bên trong (Cv 2,4).
Đối với Kitô hữu chúng ta hôm nay thì khác hẳn: ta có nhiều thời gian để suy tư, để cử hành biến cố tử nạn và phục sinh như một Tin Mừng đích thực; ta đã được ban ‘Thần Chân Lý’ để dạy cho biết mọi sự; vì thế, nếu là Kitô hữu chân chính của ngày hôm nay, ‘hãy đi khắp tứ phương thiên hạ… loan báo Tin Mừng’ chắc hẳn sẽ không còn là một lệnh truyền từ bên ngoài nữa, mà đã phải là một thúc bách từ niềm tin thâm sâu nhất từ bên trong.
Vậy, nếu Tin Mừng là một thôi thúc từ bên trong, thì quả thực sự hiện diện hữu hình của Đức Giêsu, cho dầu đã sống lại vinh hiển, sẽ không còn là cần thiết nữa. Người có thể yên tâm về trời, và còn nên sớm về trời nữa là đàng khác, với điều kiện làm sao các môn đệ nắm bắt được cuộc sống, sự chết và phục sinh của Người đích thị là Tin Mừng, Tin Mừng cho mọi người và cho từng người; chỉ lúc đó, vâng, chỉ lúc đó, như các Tông Đồ, tôi mới có thể ‘ra đi rao giảng khắp nơi’. Như thế thì sứ điệp chính mà Lời Chúa muốn gởi tới chúng ta hôm nay lại không chỉ là tưởng nhớ tới biến cố ‘Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa’, mà là một yêu cầu gửi tới mỗi người chúng ta làm cuộc tổng kiểm tra về những gì đã cử hành trong suốt hai tháng qua kể từ đầu Mùa Chay; đối với tôi, những cử hành này có phải thật sự là Tin Mừng hay không? Cuộc kiểm tra này càng cần thiết vì đồng thời nó làm cho ta nghiệm ra một điều nữa, đó là, trong tư cách Kitô hữu, ta cần không ngừng gia tăng ý thức về sự hiện diện của ‘Thần Chân Lý’ nơi chính mình, để sống với Người cách sâu xa hơn, và để nhờ Người và trong Người, sức mạnh Tin Mừng sẽ càng tác động tích cực trong thời gian tới của niên lịch phụng vụ (mùa Hiện Xuống).
Chính vì ý thức được Tin Mừng, với sức mạnh vô địch của nó, mà ta mới ngộ ra ‘những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin’ thực ra cũng chẳng có gì là lạ, là bất thường cho lắm: ‘trừ được quỉ’ - chẳng qua là hoàn lại sức sống tình yêu của Thiên Chúa cho nhiều tâm hồn; ‘nói được những tiếng mới lạ’ - chẳng qua là nhìn nhận Lời Thiên Chúa chính là Lời tình yêu và từ nhân, tha thứ và không hề luận phạt; ‘cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc thì cũng chẳng sao’ - sẽ là can đảm liều lĩnh gánh vác những công việc mà tự nhiên không ai thèm làm hoặc dám làm; ‘đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe’ - sẽ là thể hiện bằng mọi cách lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa cho những kẻ yếu hèn nhất. Vài dấu lạ được kể ra, cho dầu có gây đôi chút ấn tượng, thì cũng chỉ là vài nét chấm phá của một nội dung vô cùng phong phú Tin Mừng chứa đựng. Tất cả các điều này, kể cả sức mạnh vô địch của Tin Mừng, mỗi chúng ta đều đang được thụ hưởng, nhờ vào ơn gọi Kitô hữu của mình. Trong Thánh Thần, ta đã đón nhận Tin Mừng Đức Kitô Giêsu, Tin Mừng ‘Thiên Chúa hết lòng yêu thương thế gian’. Và một khi đã sở đắc được niềm tin này thì dù Chúa có hiện ra hữu hình hay ẩn mình vô hình, dù có được tận mắt chứng kiến phép lạ mặt trời quay cuồng như tại Fatima năm nào hay chỉ âm thầm sống tin yêu trong tăm tối như Mẹ Têrêxa Can-cút-ta… thì cũng không mấy quan trọng. Sự lạ thì vẫn là sự lạ… nhưng chỉ tác động được bên ngoài nhất thời mà thôi. Chỉ có Tin Mừng mới có sức thúc đẩy ta ‘đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo’. Mẹ Têrêxa đã không ngừng loan báo Tin Mừng cho những người hấp hối cùng cực nhất của thành phố Can-cút-ta bằng phục vụ âm thầm… chỉ vì Mẹ luôn thâm tín rằng: ‘Chúa thương yêu tôi không phải vì tôi tốt lành, nhưng tôi cố gắng trở nên tốt lành hơn vì biết rằng Chúa thương yêu tôi!’
Phải, chỉ duy những ai thấu hiểu được Tin Mừng tình yêu mới có thể lên đường loan báo Tin Mừng cho muôn dân, bằng nhiều phương tiện và nhiều cách thức rất khác nhau.
Lạy Chúa, nếu trước khi về trời Chúa hứa ban cho con một điều ước, thì con sẽ ước gì đây? Con sẽ không ước được thấy Chúa đôi lúc hiện ra hữu hình, con sẽ không ước được khôn ngoan, lợi khẩu, được làm phép lạ hay gì gì khác nữa. Điều ước duy nhất của con phải là được ở lại sâu hơn trong tình thương của Chúa; được thấu hiểu sâu hơn Tin Mừng Chúa yêu thương. Xin đổ tràn Thánh Thần Tình Yêu vào tâm hồn con, để - vì thâm tín rằng mình được Thiên Chúa yêu thương - con sẽ lên đường loan truyền Tin Mừng tình yêu cho mọi người. Amen.

 
 

LênTrời-242: Chúa Thăng Thiên – Lm Giuse Phạm Thanh Liêm

Bốn mươi ngày sau Chúa Phục Sinh là ngày thứ năm sau Chúa Nhật thứ sáu phục sinh. Như vậy: LênTrời-242

Bốn mươi ngày sau Chúa Phục Sinh là ngày thứ năm sau Chúa Nhật thứ sáu phục sinh. Như vậy lễ Chúa Thăng Thiên đúng ra đã được cử hành vào ngày thứ năm vừa qua, nhưng ở một số nơi lễ này được dời vào Chúa Nhật để tín hữu có dịp tham dự và hiểu hơn về mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể làm người.
I. Khỏi bốn mươi ngày Ngài Lên Trời
Truyền thống Giáo Hội vẫn cử hành lễ Chúa Lên Trời bốn mươi ngày sau lễ Chúa Phục Sinh. Truyền thống này theo sát trình thuật sách Công Vụ Tông Đồ: “Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong 40 ngày Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa…. Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (Cv.1, 3.9).
Bốn mươi ngày, là thời gian các tông đồ còn có thể nhìn thấy Đức Giêsu, có thể cùng ăn cùng uống với Ngài, còn được Ngài dạy bảo như những ngày nào. Trong thời điểm ngay sau khi Đức Giêsu phục sinh, các tông đồ cũng vẫn còn u mê, vẫn còn tưởng Ngài sẽ khôi phục nước Israel theo nghĩa phàm trần. Đức Giêsu vẫn tiếp tục kiên trì dạy dỗ những người học trò như thể “chậm hiểu” đối với con người ngày nay, nhưng thật sự những gì Đức Giêsu đề cập rất khó hiểu vì các tông đồ đâu có những khái niệm trước như những tín hữu hôm nay đã được nghe đi nghe lại nhiều lần.
Đức Giêsu “lên trời” ngay trước mắt các tông đồ (Cv. 1,9). Điều này đã xảy ra tại vườn dầu (Cv. 1,12). Bao nhiều lần Đức Giêsu hiện ra cho các tông đồ, và rồi Ngài lại biến đi trước mắt các ông. Những lần đó không có sách nào nói Ngài lên trời cả, chỉ coi Ngài hiện ra và Ngài lại đi thôi, và rồi Ngài sẽ lại thăm viếng các tông đồ khi các tông đồ cần và Ngài muốn. Sách Tông Đồ Công Vụ hôm nay diễn tả rất cụ thể và rõ ràng về biến cố Đức Giêsu lên trời.
II. Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế
Tin Mừng Đức Giêsu theo thánh Matthêu không nói Đức Giêsu lên trời, mà lại nói Đức Giêsu ở lại mãi với con người: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt. 28,20). Theo thánh Matthêu, Đức Giêsu là Emmanuel, nghĩa là, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, Thiên Chúa ở với con người (Mt. 1,23). Nếu Đức Giêsu là Đấng qua Ngài Thiên Chúa ở với con người, thì đâu có khi nào Đức Giêsu rời con người nữa. Thiên Chúa không ở xa con người, nhưng ở gần thật gần con người, một cách đặc biệt qua Đức Giêsu. Tin Mừng theo thánh Matthêu cũng cho thấy Đức Giêsu đã nói: “nơi nào có hai hay ba người họp nhau nhân danh Thầy, thì Thầy ở đó, giữa họ” (Mt.18, 20). Tin Mừng Đức Giêsu theo thánh Yoan cũng có những tư tưởng tương tự: “ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu thương người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga.14, 23). Đức Giêsu ở với các tông đồ, ở với những người nhờ lời các tông đồ mà tin vào Đức Giêsu.
Ý niệm Đức Giêsu ở với con người, hàm chứa niềm tin Đức Giêsu “đang sống” một cách nào đó. Đây không chỉ là “đang sống” theo nghĩa những người còn đang sống tưởng nhớ tới Ngài, nhưng thật sự Ngài vẫn đang sống độc lập và khách quan đối với tư tưởng của con người. Đức Giêsu Phục Sinh vẫn đang sống và ở với con người bất chấp con người có biết hoặc ý thức điều đó hay không.
III. Lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa
Một số người khi đọc tới đây có thể đã nói: “Kinh Thánh mâu thuẫn; như vậy biết tin thế nào đây, một đàng nói lên trời một đàng nói vẫn ở dưới thế”! “Phải chăng Kinh Thánh không đáng tin”. Thật sự trong Kinh Thánh có nhiều điều bị người ta nói “không lô gích và phản khoa học”, chẳng hạn trong Sáng Thế Ký nói “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St. 2, 7). Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng làm gì có tay mà nặn, làm gì có hơi thở mà thổi hơi vào hình đất đó. Khoa học cho thấy con người hình thành qua tiến trình tiến hóa.
Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng. Ngài ở khắp mọi nơi. Không có gì hiện hữu ngoài Ngài. Ma quỷ cũng luôn hiện diện trước Ngài, không thể tránh được Ngài. Nếu ai thù hận ghen ghét Ngài, thì sẽ muôn đời khổ vì không thể trốn đâu được với Ngài. Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, nên không có tay phải tay trái, không có bên phải bên trái. Những cách diễn tả như vậy, đó là cách diễn tả “nhân hình” về Thiên Chúa. Khi người ta nói “Thiên Chúa ở trên trời”, thì không có nghĩa Thiên Chúa ở trên trời thăm thẳm mà không ở dưới đất này, nhưng có nghĩa, Thiên Chúa là Đấng cao vời siêu việt, vượt quá sức hiểu và tưởng tượng của con người. Thiên Chúa là Đấng cao vượt trên con người như trời cao hơn đất: Thiên Chúa ngự trên trời. Như vậy khi một số tác giả diễn tả Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, không có nghĩa đen hoàn toàn như vậy, nhưng phải hiểu là Đức Giêsu được tôn vinh ngang hàng với Thiên Chúa. Công Nghị Do Thái đã hiểu theo nghĩa này, nên đã đồng thanh kết án tử hình Đức Giêsu: là người mà dám nhận mình ngang hàng với Thiên Chúa: phạm thượng (Mc.14, 62-64). Khi nói Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, cũng không có nghĩa rằng Đức Giêsu ở xa con người, rời bỏ con người, nhưng có nghĩa, Ngài được tôn vinh ngang hàng với Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa nhập thể, Ngài là Thiên Chúa làm người.



Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Đức Giêsu nói: “Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt.28, 20). Bạn có thấy câu này mâu thuẫn với khẳng định “Chúa Lên Trời” không? Tại sao bạn nói mâu thuẫn hoặc không mâu thuẫn?
2. Trong Kinh Thánh, những chỗ nào đề cập đến việc “Chúa lên trời”? Theo ý bạn, “lên trời” trong từ ngữ “Chúa Lên Trời” phải được hiểu như thế nào?
3. Ở đâu trong Kinh Thánh dùng từ ngữ “lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa”? Theo bạn, từ ngữ “ngự bên hữu Thiên Chúa” phải được hiểu như thế nào, vì Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, đâu có bên phải bên trái?


 

LênTrời-243: Chuyển giao thông điệp cứu độ

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà) 
 

Đối với chúng ta hôm nay, việc gửi một lá thư từ Việt Nam đi Âu hay Mỹ là điều dễ dàng như LênTrời-243

Đối với chúng ta hôm nay, việc gửi một lá thư từ Việt Nam đi Âu hay Mỹ là điều dễ dàng như trở bàn tay, nhất là đối với thư điện tử; chỉ cần ngồi vào máy tính và nhắp chuột một cái là bức thư sẽ được chuyển qua nửa bên kia trái đất chỉ trong một vài giây!
Thế nhưng vào thời kỳ ngành Bưu Chính Việt Nam chưa phát triển (từ thời vua Lý Thái Tôn [1028-1054] đến đầu thời Pháp thuộc), việc chuyển một bức thư từ Bắc vào Nam là cả một hành trình đầy gian truân khổ ải.
Chuyển giao chiếu chỉ Nhà Vua
Hồi ấy, người lính trạm ở hoàng cung (nay gọi là bưu tá), sau khi nhận được công văn hay chiếu chỉ của Nhà Vua, tức tốc lên ngựa phóng nước đại bất kể ngày đêm mưa nắng, để chuyển giao sớm hết sức có thể cho Trạm kế tiếp (mỗi trạm được gọi là Cung Dịch hay Trạm Dịch). Người lính ở trạm kế đó, khi vừa tiếp nhận chiếu chỉ, phải lập tức phóng ngựa lên đường không trì hoãn để chuyển giao cho Trạm tiếp theo... Cứ thế, các lính trạm nối tiếp nhau phóng ngựa như bay, bất chấp nhọc nhằn, băng qua nhiều chặng đường gian nan hiểm trở có lắm thú dữ hoành hành, để chuyển giao nhanh chóng chiếu chỉ đến tay người nhận, dù phải tốn rất nhiều thời gian và công sức.



Chuyển giao sứ điệp của Chúa Giêsu
Trước khi về trời, Chúa Giêsu long trọng trao cho các Tông Đồ sứ mạng loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16, 15).
Tin Mừng là thông điệp quan trọng bậc nhất vì có liên hệ mật thiết đến phần rỗi, đến sự sống đời đời của nhân loại: "Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án" (Mc 16, 16).
Tin Mừng là một thông điệp vô cùng quý báu vì mang lại hoà bình và hạnh phúc cho toàn thế giới.
Tin Mừng cũng là thông điệp khẩn cấp, cần phải loan truyền nhanh chóng và rộng rãi khắp nơi vì e rằng có rất nhiều người chết đi mà chưa kịp đón nhận được sứ điệp mang lại ơn cứu rỗi nầy.
Khi tiếp nhận sứ điệp Tin Mừng, các tông đồ đã cống hiến toàn bộ cuộc đời còn lại của mình, chấp nhận vô vàn gian lao khổ ải, kể cả ngục tù, xiềng xích và cái chết, để chuyển giao Tin Mừng cho người Do-Thái và cho dân ngoại trong đế quốc Rô-ma.
Kế đó, các cộng đoàn tín hữu tiên khởi, sau khi đón nhận Tin Mừng của Chúa Cứu Thế do các tông đồ truyền lại, tích cực bảo toàn và nỗ lực chuyển giao cho thế hệ tiếp theo dù phải trả bằng giá máu. Nhờ thế, sứ điệp Tin Mừng của Chúa Cứu Thế đã được loan báo cho nhiều dân tộc khắp năm châu.
* * *



Chuyển giao Tin Mừng là sứ mệnh cấp bách
Chúa Giêsu và Hội Thánh đã trao sứ điệp quý báu và quan trọng nầy tận tay chúng ta và thôi thúc chúng ta chuyển đi khắp thế giới. "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo."
Nắm trong tay thông điệp tối khẩn có liên quan đến vận mệnh đời đời của toàn thể nhân loại, ít nữa là vận mệnh của hơn 75 triệu đồng bào Việt Nam chưa biết Chúa đang sống quanh ta, nhưng dường như chúng ta còn uể oải chưa muốn lên đường làm trách nhiệm người "lính trạm" của Chúa Kitô.
Lạy Chúa Giêsu,
Hôm nay, nhiều người phải sống bất hạnh vì chưa được đón nhận niềm hạnh phúc do Tin Mừng mang đến, nhiều dân tộc phải chịu thiêu đốt trong lò lửa chiến tranh vì không hề biết giải pháp đem lại hoà bình do Tin Mừng cung cấp, đang khi Chúa vẫn thôi thúc chúng con truyền rao Tin Mừng cho họ mà chúng con vẫn lặng im!
Và nếu chung quanh chúng con có nhiều người chết đi mà chưa kịp đón nhận sứ điệp Tin Mừng cứu độ vì sự chểnh mảng, thờ ơ của chúng con là những "người lính trạm" của Chúa thì đến ngày phán xét, chúng con sẽ trả lời với Chúa sao đây?

 
 

LênTrời-244: Xin được theo Chúa về Trời

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền) 
 

Có một gia đình kia: chồng là người ngoại đạo. Ông không tin Chúa. Ông còn luôn miệng nhạo báng LênTrời-244

Có một gia đình kia: chồng là người ngoại đạo. Ông không tin Chúa. Ông còn luôn miệng nhạo báng, khinh miệt những hành vi thờ phượng kính mến Chúa. Ngược lại, bà vợ lại rất sùng đạo. Ngày nào bà cũng dắt con đi lễ cầu nguyện. Dù sống giữa hai chiều hướng trái ngược đối nghịch nhau, đứa con trai duy nhất của họ vẫn hiếu thảo với bố mẹ. Một hôm em lâm bệnh hiểm nghèo, em hỏi bố rằng: "Bố ơi! Trong ít ngày nữa con sẽ không còn sống ở dương gian. Con xin bố dạy con phải tin ai? Theo bố hay theo mẹ? Tin theo bố thì chẳng có thiên đàng, chẳng có Chúa hay có mẹ để được yêu thương ở đời sau! Còn tin theo Mẹ thì có Thiên Chúa là Cha nhân lành. Có cõi trời để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa là Cha. Có Đức Mẹ luôn bầu cử chở che?"
Người cha quá sững sờ và kinh ngạc. Ông ôm con vào lòng và nói: "Con hãy tin theo Mẹ. Con cưng của cha! Đứa bé liền nói tiếp: "Nhưng nếu bố không tin theo Mẹ, thì làm sao con có thể chờ đợi bố ở trên thiên đàng được?". Trước lời đơn sơ và chân thành của em bé, người cha đã không kiềm nổi những giọt nước mắt ứ tràn nơi khoé mắt. Ông đã để những giọt nước mắt xót xa tuôn rơi trên gò má già nua của mình. Kể từ ngày đó, người cha đã chọn Chúa là lẽ sống, là Đấng ông tôn thờ.
Vâng, nếu cuộc đời này sinh ra lớn lên rồi chết đi thì cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì! Con người sinh ra để được sống mãi chứ không phải để nhào lộn trong bể khổ và chết là hết kiếp người! Điều quan yếu là chúng ta phải tìm ra lẽ sống, và cùng đích đời người là gì? Sống để làm gì? Và chết rồi đi đâu? Đó là những vấn đề làm nên nhân cách con người. Chúng ta chọn cách sống nào cũng tuỳ thuộc vào việc chúng ta hiểu ý nghĩa và cùng đích đời người ra sao?
Chúa Giêsu trong tư cách một con người trần thế. Ngài đã sống cả cuộc đời để tôn vinh Thiên Chúa Cha trong việc phục vụ tha nhân. Ngài đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha. Thánh ý đó Ngài đã thực thi trọn vẹn cho dù phải trả giá bằng cả mạng sống, miễn sao cho ý Chúa Cha được thực hiện, cho danh Cha được cả sáng, cho Nước Cha mau hiển trị.
Là người ky-tô hữu chúng ta được mời gọi bước theo con đường Chúa Giêsu đã đi. Đó là con đường đi tìm thánh ý Chúa và thực thi cho đến hơi thở cuối cùng. Đó không phải là con đường trải thảm rộng thênh thang, mà là con đường hẹp, đầy chông gai giăng kín hành trình. Đó là con đường từ bỏ, đường thập giá, đường hiến tế đẫm máu trên đỉnh đồi Cal-vê.
Hôm nay Chúa về trời, Ngài vẫn mang theo dấu vết của thương tích, của thương đau, của sự chống đối, xỉ nhục, đòn roi mà Ngài đã từng trải qua... Ngài đã mang theo tất cả những giai đoạn đau thương đẫm máu đó, như dấu tích cho lời xin vâng trọn vẹn theo thánh ý Chúa Cha. Nay, Ngài cũng muốn tất cả chúng ta hãy đi con đường này để tiến về trời cao. Đó là con đường làm chứng nhân cho Tin mừng của Chúa bằng chính đời sống tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Một cuộc đời làm chứng không nhất thiết phải đổ máu nhưng quan yếu là phải thể hiện tình yêu bằng những nghĩa cử cụ thể trong lời nói, trong việc làm luôn bao dung, kính trọng, bác ái và công bình. Một cuộc đời làm chứng không nhất thiết phải có một bản án để người ta thoá mạ, tay chay, nhưng chỉ cần biết hy sinh từ bỏ ý riêng của mình trong từng giây, từng phút để thánh ý Chúa luôn được thi hành trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Hôm nay mừng Chúa về trời, chúng ta cũng nghe vang vọng đâu đây lời mời gọi thiết tha của Thầy Chí Thánh Giêsu: "anh em hãy làm chứng nhân cho Thầy. Khởi từ Giê-ru-sa-lem cho đến tận cùng thế giới". Xin cho mỗi người chúng ta đang khi hướng lòng về trời cao cũng biết chu toàn sứ vụ trần thế trong niềm hân hoan để: "Ra đi tay ôm bó lúa đi gieo - Ngày trở về, miệng reo vang câu hát mừng". Amen.

 
 

LênTrời-245  Hãy loan báo Tin Mừng

(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)
 

Một đạo sĩ hỏi các đệ tử: Các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất hiện, khi nào ánh sáng: LênTrời-245 

Một đạo sĩ hỏi các đệ tử: Các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất hiện, khi nào ánh sáng tới và bóng tối lui đi không? Các đệ tử thi nhau trả lời: Thưa thày, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện là khi từ xa nhìn một đoàn vật người ta có thể phân biệt được con nào là con bò và con nào là con trâu không? Thày lắc đầu: Không phải. Đệ tử khác trả lời: Thưa thày có phải ánh sáng tới và bóng tối lui là khi từ xa nhìn vào vườn cây, người ta có thể phân biệt được cây nào là cây xoài cây nào là cây mít không? Thày vẫn lắc đầu: Không phải. Thấy không ai trả lời được, thày mới giải nghĩa: Đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui là khi nào ta nhìn vào mặt người xa lạ và nhận ra đó là anh em mình.
Thật là khó hiểu. Tuy trên đời ta thấy có nhiều thứ ánh sáng. Có ánh sáng mặt trăng mặt trời. Có ánh sáng đèn dầu, đèn điện. Có những ánh sáng như tia X, tia hồng ngoại. Nhưng tất cả những ánh sáng đó chỉ giúp ta nhìn rõ sự vật. Không thấy có thứ ánh sáng nào soi vào mặt người xa lạ mà biến người ấy thành người thân của mình.
Mẹ Têrêxa dường như đã tìm ra thứ ánh sáng ấy.
Mẹ Têrêxa là một nữ tu người Anbani, được sai đến phục vụ người nghèo tại Ấn độ. Đến Ấn độ, thấy người nghèo khổ quá tội nghiệp. Biết bao người hấp hối ngoài lề đường. Chết rồi xác bị quẳng vào đống rác như xác thú vật. Biết bao trẻ thơ bị bỏ rơi. Biết bao gia đình chui rúc trong các căn nhà ổ chuột. Biết bao người đói khát không đủ cơm ăn áo mặc. Mẹ lăn xả vào phục vụ người nghèo.
Một hôm Mẹ đi thăm một ông già cô đơn trong căn lều tồi tàn. Bước vào lều Mẹ động lòng thương cảm. Vì tất cả đồ đạc chỉ là một mớ giẻ rách. Căn lều bụi bặm bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng. Và nhất là ông già thu mình lại không muốn giao tiếp với ai. Mẹ chào hỏi ông cũng không buồn trả lời. Mẹ xin phép dọn dẹp căn lều ông cũng làm thinh. Đang khi dọn dẹp, Mẹ thấy trong góc lều có một cây đèn dầu bụi bám đen đủi. Sau khi lau chùi, Mẹ kêu lên: Ô, cây đèn đẹp quá. Ông già nói: Đó là cây đèn tôi tặng vợ tôi ngày cưới. Từ khi bà ấy chết, tôi không bao giờ đốt đèn nữa. Thấy ông đã cởi mở, Mẹ Têrêxa đề nghị: Thế ông có bằng lòng cho các chị nữ tu mỗi ngày đến thăm và đốt đèn cho ông không? Ông đồng ý. Từ đó mỗi buổi chiều, các chị tới thăm ông, dọn dẹp nhà cửa, nói chuyện với ông. Ngọn đèn ấm áp trong căn lều ấm cúng. Ông trở nên vui vẻ hơn. Ông đã đi thăm mọi người. Mọi người đến thăm ông. Cuộc đời ông vui tươi trở lại.
Trước kia cuộc đời ông tăm tối không phải vì ông không thắp đèn. Nhưng vì ngọn đèn trong trái tim ông đã tắt. Trái tim khép kín nên ông mất niềm tin vào con người, vào cuộc sống. Ông nhìn mọi người như thù địch. Từ ngày các nữ tu đến đốt đèn đời ông vui lên, sáng lên. Đời ông sáng lên không phải vì có ngọn đèn dầu hoả soi sáng. Nhưng vì trái tim ông bừng sáng. Ngọn đèn tâm hồn ông rạng rỡ. Tâm hồn ông cởi mở và ông nhìn thấy mọi người là anh em. Thứ ánh sáng ấy ta thấy trong Phúc Âm. Khi người Samaritano nhân hậu cúi xuống săn sóc, băng bó vết thương cho người bị nạn bên đường. Hai người nhìn nhau. Một làn ánh sáng loé lên. Và họ nhận ra nhau là anh em.
Cứ như thế Mẹ Têrêxa miệt mài phục vụ người nghèo. Lập những trung tâm đón tiếp những người hấp hối, săn sóc để họ được chết, được chôn cất như một con người. Nuôi trẻ mồ côi. Xây bệnh viện. Xây trường học. Công việc càng ngày càng mở rộng. Số người theo Mẹ ngày càng đông và Mẹ đã lập dòng Nữ tử Thừa sai Bác ái chuyên phục vụ người nghèo. Hiện nay nhà dòng đã có mặt trên 132 quốc gia. Mẹ được thế giới biết tiếng. Mẹ được nhiều giải thưởng trong đó có giải Nobel Hoà bình. Năm 1997, khi Mẹ qua đời, 80 nguyên thủ quốc gia, trong đó có phu nhân tổng thống Mỹ Bill Cliton và phu nhân tổng thống Pháp Jacques Chirac đã đến dự đám tang. Và nước Ấn độ, đa số dân theo Ấn độ giáo, vốn không ưa đạo Công giáo, đã chôn cất Mẹ theo nghi thức quốc táng. Hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn Mẹ về trời.
Mẹ Têrêxa là một nhà truyền giáo thành công của thế kỷ 20. Vì Mẹ đã biết thắp lên ngọn đèn soi trong đêm tối. Giữa đêm tối vật chất hưởng thụ, Mẹ đã thắp lên ngọn đèn siêu nhiên của thiên đàng. Giữa đêm tối rụt rè nghi kỵ Mẹ đã thắp lên ngọn đèn cởi mở tin yêu. Giữa đêm tối lạnh lẽo cô đơn. Mẹ đã thắp lên một ngọn đèn ấm áp tình người. Trái tim Mẹ là một ngọn đèn sáng. Ánh sáng ấy toả lan tới muôn người làm cho mọi người nhận biết khuôn mặt hiền lành khiêm nhường của Đức Kitô và làm cho mọi người nhìn nhau là anh em.
Vào thời Cộng sản còn mạnh và còn chống đối Công giáo kịch liệt. Mẹ Têrêxa vẫn có thể lập nhà ở Nga, ở Cuba và cả ở Việt Nam. Với tấm lòng bác ái, Mẹ đã chiếu toả ánh sáng Tin Mừng khắp thế giới.
Hôm nay Giáo Hội cầu nguyện cho việc truyền giáo. Hôm nay Giáo Hội mời gọi chúng ta góp phần vào việc truyền giáo. Không gì bằng ta hãy noi gương Mẹ Têrêxa, thắp lên ngọn lửa tin yêu trong lòng mình, đem ngọn lửa yêu thương phục vụ soi sáng khắp nơi. Thế giới sẽ bừng sáng và mọi người sẽ nhìn nhận nhau là anh em.



GỢI Ý CHIA SẺ
1- Nhờ đâu Mẹ Têrêxa đến được cả những nước Cộng sản?
2- Nhờ đâu việc truyền giáo của Mẹ Têrêxa thành công tốt đẹp?
3- Đời sống bạn là ánh sáng hay là bóng tối cho những người chung quanh?
4- Bạn quyết tâm làm gì để loan báo Tin Mừng cho mọi người?

 
 

LênTrời-246: Cùng lên trời với Chúa – Lm Nguyễn Nguyên

Nếu cuộc đời này sinh ra lớn lên rồi chết đi thì cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì. Con người sinh ra LênTrời-246

Nếu cuộc đời này sinh ra lớn lên rồi chết đi thì cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì. Con người sinh ra để được sống mãi chứ không phải để nhào lộn trong bể khổ và chết là hết kiếp người. Nhưng điều quan trọng là chúng ta phải tìm ra lẽ sống, và cùng đích đời người là gì? Sống để làm gì? Và chết rồi đi đâu? Đó là những vấn đề làm nên nhân cách con người. Chúng ta chọn cách sống nào cũng tuỳ thuộc vào việc chúng ta hiểu ý nghĩa và cùng đích đời người ra sao?
Hôm nay, chúng ta cùng với giáo hội mừng lễ Chúa lên trời. Điều đó dạy cho chúng ta biết rằng ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác. Chúa lên trời để cho chúng ta thấy rằng: Định mệnh của loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh. Số phận của con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng để được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng. Đó mới là cùng đích của đời người, đó mới là quê hương vĩnh viễn của chúng ta.
Thế nhưng, muốn tới được trời, muốn lên thiên đàng thì trước hết chúng ta phải đi hết con đường dương thế này bằng cách chu toàn những nhiệm vụ của mình ở đời này. Một trong những nhiệm vụ chính yếu chúng ta vừa nghe trong tin mừng hôm nay: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”. Đây là một nhiệm vụ cao cả mà Chúa đã trao cho chúng ta khi Ngài về trời. Chúa về trời, Ngài không còn xác thịt trên thế gian này nữa. Ngài không còn đôi tay nữa, chỉ có đôi tay của chúng ta, để làm công việc ngày hôm nay của Ngài. Ngài không còn đôi chân, chỉ có đôi chân của chúng ta để dẫn người ta theo đường lối của Ngài. Ngài không còn tiếng nói, chỉ có tiếng nói của chúng ta để nói với loài người rằng Ngài đã yêu thương, đã chịu chết như thế nào. Ngài không còn cách giúp đỡ nào khác ngoài sự giúp đỡ của chúng ta để đưa tha nhân đến bên cạnh Ngài.
Vì thế, một cuộc đời loan báo tin mừng cho Chúa trên cõi trần này không nhất thiết phải đổ máu nhưng thiết yếu là phải thể hiện bằng những nghĩa cử cụ thể trong lời nói, trong việc làm, là biết thực hành những lời Chúa dạy, không gian dối, lừa đảo, không tham lam bất chính, luôn chung thuỷ trong đời sống gia đình. Một cuộc đời loan báo tin mừng không nhất thiết phải có một bản án để người ta thoá mạ, tẩy chay, nhưng chỉ cần biết hy sinh từ bỏ ý riêng của mình trong từng giây, từng phút để thánh ý Chúa luôn được thi hành trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Một cuộc đời loan báo tin mừng không nhất thiết phải đi đây đi đó rao giảng những lời hay ý đẹp mà là sống trong cùng một khu xóm, nhưng quý ông không nhậu nhẹt say sưa, không cờ bạc, không la vợ, đánh con, nhưng biết chăm sóc gia đình chu đáo, đồng thời còn dành thời giờ để đến an ủi, giúp đỡ, chia sẻ với những người già yếu bệnh tật, cô đơn ; còn quý bà thì không ngồi lê đôi mách, nói hành nói xấu, nhưng biết lo lắng tần tảo, yêu thương chồng con, vui vẻ với làng xóm; và các bạn trẻ trong giáo xứ thì sống lành mạnh, biết kính trên nhường dưới, không đua đòi, không ăn nói tục tằn, nhưng chăm chỉ nhiệt thành với công việc chung… Sống được như vậy là chúng ta đang làm chứng cho Chúa một cách tuyệt vời nhất, sống được như vậy là chúng ta đang xây nên con đường dẫn về Trời cho mình, đang làm cho gia đình chúng ta, giáo xứ chúng ta thành nơi Chúa hiện diện và biến đổi thế giới này thành thiên đàng.
Nguyện xin Chúa giúp chúng ta sống cho thật tốt, thật tròn đầy những bổn phận hằng ngày để rồi một khi chu toàn bổn phận của mình nơi trần gian, chúng ta cũng sẽ trở về Trời với Chúa mà hưởng hạnh phúc muôn đời. Amen.

 
 

LênTrời-247: Khát vọng lên trời – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Vào đời Vua Hùng Vương Thứ Sáu có nạn giặc Ân bên Tàu. Chúng cậy thế mạnh nên hay sang: LênTrời-247

Vào đời Vua Hùng Vương Thứ Sáu có nạn giặc Ân bên Tàu. Chúng cậy thế mạnh nên hay sang quấy nhiễu nước ta. Vua truyền hịch đi khắp nơi để tìm người tài giỏi giúp nước diệt giặc.
Bấy giờ ở làng Phù Đổng có một cậu bé đã 3 tuổi mà chỉ nằm ngửa không nói được một lời nào. Nghe sứ giả nhà vua rao hịch tìm người tài diệt giặc, cậu liền nhờ sứ giả xin với Vua, đúc cho cậu một cây roi sắt và cấp cho cậu một con ngựa bằng sắt, để cậu đi đánh đuổi ngoại xâm. Nghe lời người hiền tài nhắn gởi, Vua thuận ý. Cậu bé liền vươn vai thành người to lớn, khỏe mạnh. Cậu đứng dậy, cầm roi sắt, nhảy lên yên ngựa, oai phong đi đánh giặc Ân. Dẹp xong giặc, cậu phóng ngựa lên núi Sóc Sơn rồi về trời. Vua nghĩ là thiên thần của trời cao xuống trần cứu giúp nên liền xây một đền thờ gọi là đền Phù Đổng Thiên Vương để tạ ơn và tưởng nhớ.
Câu chuyện huyền sử nói lên khát vọng của một dân tộc nhỏ bé luôn bị ngoại bang quấy nhiễu. Một tiểu quốc hiền hòa trước một đại hán bá quyền bành trướng. Vì thế mà ước mơ có được sứ thần từ trời cao đến cứu giúp. Một khát vọng ngàn đời, được tự do và độc lập, được công lý và dân chủ.
Con người mọi thời đại luôn khát khao bay lên trời. Đi dưới đất, ngược xuôi trên biển trên sông, con người luôn ước vọng, phải làm sao lên được trời cao. Vì thế, ngày 04 tháng 06 năm 1783, lần đầu tiên, hai anh em Mongolfiers, bay lên trời bằng khí cầu được 500 mét trước hàng ngàn người chứng kiến. Ngày 12 tháng 04 năm 1961, Gagarine, phi hành gia đầu tiên bay ra khỏi tầng khí quyển của trái đất trong phi thuyền Vostok I của Liên Xô. Đến ngày 16 tháng 07 năm 1969 hai phi hành gia người Mỹ là Armstrong và Aldrin bay lên tới mặt trăng.
Cả thế giới đã hồi hộp theo dõi những phi hành gia bay vào vũ trụ. Và chuyến bay nào rồi cũng phải trở về trái đất.
Hôm nay, Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Người trở về nhà Cha, sau khi đã hoàn tất sứ vụ Chúa Cha trao phó. Sau thời gian 33 năm xa nhà, Người hồi hương trong vinh quang phục sinh và "được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa" (Mc 16,19).
Chúa Giêsu lên trời, một cảnh tượng thật huyền diệu. Thân xác Người nhẹ bay lên cao. Tay Người ban phúc lành cho các tín hữu. Dáng Người nhỏ dần và hòa biến vào không gian vô tận.
Trên trời cao, các thiên thần và triều thần thiên quốc đang tụ họp tổ chức nghi lễ đón tiếp Đấng Cứu Thế khải hoàn. Tác giả Thánh vịnh 23 đã chiêm ngưỡng và mô tả cuộc nghinh đón đó bằng ca khúc bất hủ: "Hỡi các khải hoàn môn và các vệ binh thiên quốc, hãy cất cao đầu lên. Hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu, hãy mở rộng ra, để Vua vinh hiển và đoàn tùy tùng tiến vào. Vua vinh hiển là ai? Thưa là Đức Giêsu uy hùng lẫm liệt, là Chúa oai phong chiến thắng. Hỡi các khải hoàn môn, hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu hãy cất cao đầu lên, để Vua vinh hiển tiến vào, Vua vinh hiển là ai? Chính là Thiên Chúa hùng dũng uy linh".
Đoàn tùy tùng theo Chúa về trời đông vô kể, các thánh thời Cựu Ước, các tổ phụ, các tiên tri, các người công chính...đang hoan hỉ vui mừng đi theo Chúa. Đặc biệt có thánh cả Giuse, thánh Gioan Tiền hô, Tổ phụ Abraham, Giacop, Môisê, thánh Giop, vua Đavid, các tiên tri, hân hoan cung nghinh Đấng Phục Sinh khải hoàn về thiên quốc.
Trên núi Cây Dầu cả cộng đoàn môn đệ đang ngây ngất chiêm ngưỡng, tâm trí như mất hút vào không gian vô tận, lòng rộn rã hân hoan: "Hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa. Hãy trổi cao kèn sáo, đàn ca lên dâng Người khúc ca tuyệt mỹ, Chúa là Vua khắp muôn dân, ngự trên tòa uy linh cao cả" (Tv 47, 2-3, 6-9).
Chúa về trời vì chính Người đã từ trời xuống thế: "Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ trời xuống" (Ga 3,13). Người đến nhân gian để nói với nhân loại về Nước Trời, mặc khải cho con người biết Thiên Chúa. Người giúp họ thay đổi quan niệm về Thiên Chúa cũng như quan niệm về con người.
Chúa về trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới.Chúa về trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.
Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người.
Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Xuân Diệu đã diễn tả chân lý ấy cách sâu sắc: Hai người tình ngồi sát bên nhau, ôm lấy nhau mà vẫn còn thấy rất xa xôi. Những người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Chúa Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói " Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy" ( Ga 14,23). Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho " Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được"(Ga 15,5). Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa. Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người. Quả thật,đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học.
Bài Tin mừng hôm nay kết thúc Phúc âm Maccô nhưng thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thọ tạo". Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: "Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em". Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: "Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng". Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông đồ, qua các Tông đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta "và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống,dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.
Giáo Hội Thánh chọn lễ Thăng Thiên làm Ngày Thế giới Truyền thông. Ngày lễ Thăng Thiên gắn liền với mệnh lệnh: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28,19). Vì thế, Ngày Thế Giới Truyền Thông gắn liền với sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng.
Trong Sứ điệp truyền thông 2012, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khuyến khích những ai làm công tác truyền thông hãy xây dựng những trang web và mạng xã hội: "Có thể giúp con người ngày nay tìm được thời giờ suy tư và tìm hiểu những vấn đề thiết yếu, cũng như tạo khoảng trống cho thinh lặng và cơ hội cầu nguyện, suy niệm, chia sẻ Lời Chúa". Giáo Hội tìm cách hội nhập sứ điệp Tin Mừng vào trong "nền văn hoá mới này" do những những phương tiện truyền thông xã hội tạo nên với những ngôn ngữ mới, những kỹ thuật mới và với những cách cư xử mới.
Đứng trước một lục địa mênh mông như Châu Á, làm sao có đủ nhân lực và phương tiện để đưa Tin Mừng đến từng nhà? Đây là câu trả lời đích xác: "Giáo Hội cần khám phá những cách thế để tận dụng mọi phương tiện truyền thông đại chúng vào kế hoạch mục vụ và hoạt động mục vụ, nhờ biết sử dụng cách hữu hiệu mà sức mạnh của Tin Mừng có thể đến và tiếp xúc một cách rộng rãi với từng cá nhân cũng như với toàn cả các dân tộc, đưa các giá trị của Nước Trời thâm nhập vào các nền văn hóa của Châu Á". (x. Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 48).
Cho dù phương tiện truyền thông hiện đại tới mấy, nhân lực vẫn là yếu tố quan trọng. Sức mạnh của truyền thông cũng phải phát xuất từ đức tin, chứ không từ những kỹ thuật. Đức tin mạnh mẽ là nhờ chiêm niệm: "Trong thinh lặng, tư tưởng phát sinh và có được chiều sâu. Trong thinh lặng, chúng ta hiểu rõ hơn điều mình muốn nói và muốn người khác đón nhận. Trong thinh lặng, chúng ta tìm cách diễn tả chính mình tốt hơn". (Sứ điệp Truyền Thông 2012).Giữa những ồn ào của truyền thông hôm nay, lời rao giảng Tin Mừng qua phương tiện truyền thanh, truyền hình, internet muốn đạt mục đích và kết quả như mong muốn cần có tĩnh lặng: "Trong thinh lặng của chiêm niệm, Lời hằng hữu hiện diện cách mạnh mẽ hơn bao giờ hết, và chúng ta khám phá ra kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện trong suốt lịch sử bằng lời nói cũng như hành động" (Sứ điệp Truyền Thông 2012). Mỗi người Kitô hữu, nhờ thinh lặng, lắng nghe được tiếng Chúa và đi vào cuộc giao tiếp với Chúa, chúng ta mới có thể truyền thông Lời Chúa cho người khác. Chỉ có những người tin thực sự và mãnh liệt mới có thể làm cho Tin Mừng đến với mọi người.
Mỗi Kitô hữu là chi thể của Giáo Hội, thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô. Mỗi người chúng ta cũng là những cánh tay mở rộng của Chúa Kitô, nhờ đó Người không ngừng trao ban tình thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người. Chúa về trời, chúng ta vào đời làm chứng nhân của Tin mừng cứu độ và loan báo tin vui, mai này chúng ta cũng sẽ về nhà Cha trên trời.


 

LênTrời-248: Ý nghĩa việc Chúa Lên Trời

(Keith Witfield – Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)
“Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi” (Mc 16,20) 

 

Theo Thánh Luca, biến cố Chúa về trời mang chở một ý nghĩa sâu xa, nhằm biến đổi các tông: LênTrời-248

Theo Thánh Luca, biến cố Chúa về trời mang chở một ý nghĩa sâu xa, nhằm biến đổi các tông đồ và khởi sự sứ vụ rao giảng Tin mừng của toàn thể Hội Thánh. Thánh Luca thuật lại biến cố này để kết thúc Tin mừng và cũng để khởi đầu sách Tông đồ Công vụ.
Việc Chúa Thăng Thiên mang lại một âm hưởng sâu xa nơi các môn đệ. Đối diện trước biến cố này, các ông ngỡ ngàng, mắt vẫn còn đăm đăm ngước lên trời cao (Cv 1,10), và chưa thể hình dung sự việc xảy ra như thế nào. Nhưng sau đó, các ông đã hiểu. Chính xác hơn, là các tông đồ đã dần dần hiểu ra và tiến sâu vào thế giới của huyền nhiệm khi nhớ lại những lời Đức Giêsu đã căn dặn. Cuối cùng, “Các ông bái lạy Người. Các ông trở về Giêrusalem lòng đầy hân hoan và họ ở trong đền thờ, ngày đêm chúc tụng Chúa. (Lc 24,52-53).
Thoạt đầu, phản ứng của các tông đồ khiến chúng ta dễ đặt nghi vấn. Đức Giêsu vừa “rời bỏ” các ông. Sự ra đi nào cũng để lại biết bao sầu thương và nỗi nhớ. Các ông buồn, nhưng sau đó các ông lại “ngập tràn niềm vui”. Tại sao các tông đồ lại có phản ứng trái chiều mau lẹ đến thế? Chúng ta nhớ lại trong diễn từ ly biệt, ở phần cuối chương 13 của Tin mừng Gioan, Đức Giêsu báo trước là Ngài sẽ bỏ lại các ông, và tâm hồn các ông sẽ xao xuyến. Nhưng sau đó Ngài trấn an và nói về Thánh Thần, là nguyên lý chữa trị những sầu buồn và tuyệt vọng (Ga 14-17). Ngài nói với các học trò của mình  đừng lo lắng, các ông sẽ không mất Ngài, những Ngài vẫn ở với các ông mọi ngày cho đến tận thế qua một dạng thức khác, nhờ Thánh Thần.
Việc Chúa về trời khơi dậy niềm vui. Các tông đồ sớm nhận ra rằng khi Đức Giêsu trở về với Chúa Cha, họ sẽ lãnh nhận được nhiều đặc phúc. Trước hết, đó là quà tặng Thánh Thần. Lời hứa về Chúa Thánh Thần sẽ được thực hiện tròn đầy. Các tông đồ nhìn xem Chúa lên trời, nhưng lòng đầy vui mừng bởi vì các ông nhớ lại lời hứa của Chúa về “ Đấng sẽ đến”. Những nghi ngại và sợ hãi dần tan biến. Các tông đồ thâm tín rằng Ngài đã trỗi dậy từ cõi chết và vẫn đang sống. Qua sự phục sinh của Đức Kitô, các tông đồ trải nghiệm niềm vui và hy vọng về sự chiến thắng trước mãnh lực tử thần. Họ tín thác vào Chúa. Vì thế, sự ra đi của Đức Giêsu để trở về với Chúa Cha đem lại cho họ niềm vui. Niềm vui đó được cắt nghĩa với những lý do sau:



1. Đức Giêsu lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Chính Chúa Cha đã sai Ngài đến trần gian. Ngài đã tiến nhận cái chết một cách bi thương và   đã được quyền năng Chúa Cha làm cho sống lại. Cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu là bằng chứng chắc chắn về ơn cứu độ và sự tha thứ tội lỗi (Do Thái 10,22-24). Đây là căn nguyên niềm vui nơi các môn đệ cũng như nơi chúng ta.


2. Khi Chúa Giêsu về trời, Ngài đảm nhận vai trò trung gian giữa con người với Chúa Cha. Nhờ Ngài và với Ngài, chúng ta được thông dự vào thế giới thần linh cùng Chúa Cha (1Ga 2,1).


3. Khi Chúa lên trời, vương quốc vĩnh cửu của Ngài bắt đầu khai mở. Đó là vương quốc đánh bại kẻ thù là Satan và ác thần. Thánh Phêrô đã viết: “ Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa sau khi đã lên trời, đã bắt các thiên sứ và toàn thể thần minh phải phục quyền (1P 3,22).


4. Cuối cùng, Khi Đức Giêsu lên trời, Hội thánh được phú ban năng quyền để thực thi sứ mệnh Chúa trao phó. Khi nói về việc Đức Giêsu sống lại và lên trời, Thánh Phaolô trong thơ gửi giáo đoàn Êphêsô đã khẳng quyết: “Thiên Chúa đã đặt tất cả mọi sự dưới chân Đức Giêsu và đặt Người làm đầu toàn thể hội Thánh, mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn (Eph 1,22-23).
Đức Giêsu được đưa về trời, khai mở vương quốc bất diệt. Ngài là Vua, là Chúa tể hoàn vũ và Satan không thể làm được gì đối với vương quốc ấy. Satan cám dỗ con người để chúng ta quên đi Đức Kitô là Vua vũ trụ. Ma quỷ làm mọi cách để cắt đứt sự liên lạc giữa chúng ta với Ngài. Sách Tông đồ Công vụ thuật lại, trước khi bị ném đá đến chết, Thánh Stêphanô đã ngước mắt lên trời và thấy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha. Các sách tân ước đều khải thị cho chúng ta hình ảnh Đức Giêsu Đấng Cứu thế, là Vua hoàn vũ, là Vua chiến thắng, để gọi mời chúng ta tin vào Ngài.
Trước sự kiện Chúa lên trời, tâm hồn các tông đồ ngập tràn niềm vui, chứa chan niềm hy vọng và sẵn lòng rộng mở để thực thi sứ mạng mà Đức Giêsu đã chuyển giao. Đây là ba nét căn bản đã làm đổi thay các tông đồ một cách toàn diện: Niềm vui, niềm hy vọng, và việc thực thi sứ mạng rao giảng.
Chớ gì mỗi người chúng ta hôm nay, cũng như các tông đồ năm xưa, có thể trải nghiệm niềm vui và niềm hy vọng. Đồng thời, tiếp nối dấu chân của các tông đồ, chúng ta hân hoan lên đường thực thi sứ mạng cứu thế mà Chúa Giêsu đã chuyển giao cho chúng ta trước khi Ngài trở về với Chúa Cha.

 
 

LênTrời-249: Sự hiện diện của Chúa

Trong phần chia sẻ sáng hôm nay, chúng ta cùng nhau tìm hiểu đâu là ý nghĩa của biến cố Chúa LênTrời-249

Trong phần chia sẻ sáng hôm nay, chúng ta cùng nhau tìm hiểu đâu là ý nghĩa của biến cố Chúa về trời.
Biến cố Chúa về trời không có nghĩa là Chúa di chuyển hộ khẩu, Chúa thay đổi nơi cư trú, từ mặt đất này tới một nơi nào đó, nhưng có nghĩa như là một sự tôn vinh, như lời thánh Phaolô đã viết: Đức Kitô đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá, cho nên Thiên Chúa đã tôn vinh Người. Các tín hữu tiên khởi đã tin rằng: Đức Kitô được tôn vinh tiếp tục hiện diện giữa trần gian. Người hiện diện không phải chỉ ở Giuđêa, mà còn khắp cùng bờ cõi trái đất. Ngài hiện diện trong chính sự rao giảng của Giáo Hội. Phần cuối của đoạn Tin Mừng cho thấy ngay cả sau khi Ngài đã lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa, các tông đồ vẫn tin tưởng rằng có Chúa cùng hoạt động với các ông khi các ông rao giảng và Ngài củng cố lời giảng của các ông bằng những phép lạ kèm theo. Thực vậy, thánh Matthêu đã lặp lại lời Chúa: Này Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Còn thánh Luca thì đã ghi nhận: Sau khi Chúa lên trời, các tông đồ trở lại Giê rusalem, lòng tràn ngập niềm vui. Tại sao lại như thế? Chẳng lẽ các ông vui mừng vì Người đã rời xa họ hay sao? Phải chăng đây là một thoáng mặc khải, hé mở cho chúng ta thấy sự vắng mặt của Người đã trở thành một sự hiện diện thất gắn bó và mật thiết. Người tuy xa mà lại gần, tuy vắng mặt mà vẫn luôn hiện diện.
Thực vậy, phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy việc Giáo Hội nối tiếp sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ của Đức Kitô, nối tiếp những công việc Người đã làm, kể cả những công viêc lạ lùng như trừ quỷ, chữa lành các bệnh nhân. Giáo Hội thể hiện sự hiện diện của Đức Kitô giữa trần gian. Sự hiện diện này không còn bị đóng khung trong thời gian và không gian. Nhưng đã được mở ra để có thể đến với mọi người.
Mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta không phải chỉ biết ngước mắt nhìn lên cao, mà điều quan trọng đó chính là chu toàn sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà bằng cả việc làm và đời sống, nhất là bằng sự dấn thân, để thực hiện một sự lựa chọn rõ rệt. Con Thiên Chúa khi làm người và ở giữa chúng ta, đã thể hiện một sự lựa chọn rõ rệt, Ngài không hiện diện một cách chung chung, và vô thưởng vô phạt, nhưng đã hiện diện như một Tin Mừng cứu độ cho nhiều người, đồng thời như một hòn đá vấp ngã đối với một số người khác.
Và khi Chúa Giêsu trao cho Giáo Hội sứ mạng tiếp nối sự hiện diện của Người, Người cũng đòi chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoá như Người. Chính vì thế, rất có thể đã xảy ra là tại một nơi nào đó, có sự hiện diện của người Kitô hữu, của Giáo Hội, nhưng lại không có sự hiện diện đích thực của Đức Kitô. Sở dĩ như vậy là vì sự chọn lựa của chúng ta đã đi ngược lại với sự chọn lựa của Chúa Giêsu. Chẳng hạn như khi chúng ta có những hành động bất công, bóc lột kẻ khác, thì chính bản thân chúng ta đã bôi nhọ và xoá bỏ sự hiện diện của Đức Kitô.
Chính vì thế mà mỗi người chúng ta hãy kiểm điểm lại đời sống xem lời nói và việc làm của chúng ta, có là một chứng tá trung thực cho sự hiện diện của Chúa Giêsu giữa trần gian này hay không.

 
 

LênTrời-250: Bàn tay Chúa.

Người ta kể rằng: sau thế chiến thứ hai, một toán lính đồng minh đi giúp các người dân xây dựng LênTrời-250

Người ta kể rằng: sau thế chiến thứ hai, một toán lính đồng minh đi giúp các người dân xây dựng lại cuộc sống trên đống gạch hoang tàn đổ nát. Họ làm lại nhà cửa, sửa chữa ngôi nhà thờ trong làng. Nhưng đến khi dựng tượng Chúa, thì toán lính không tìm đâu ra hai bàn tay của pho tượng đã bị bọm đạn cắt cụt. Tìm kiếm suốt ngày trong đám xà bần mà cũng chẳng thấy. Toán lính bèn chịu thua. Viên sĩ quan viết vào pho tượng câu này: Dân làng sẽ thay Chúa làm những công việc mà đáng lẽ hai bàn tay Chúa sẽ làm.
Một người khốn khổ nằm chờ chết bên vệ đường. Chúa xót thương người ấy, nhưng Chúa lại không thể gởi chén cơm manh áo cho người ấy. Nhưng may quá, tôi không phải là Chúa, tôi có thể đem cho người ấy một ly nước, một chén cơm. Đó là chỗ duy nhất tôi hơn Chúa.
Trong Phúc Âm chính Chúa cũng đã phán: Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống, Ta mình trần các ngươi đã cho mặc, Ta bị đau yếu và bị cầm tù, các ngươi đã viếng thăm. Chúa có thể làm nên cơm gạo cho người nghèo nhưng Chúa lại không thể đưa cơm gạo ấy cho họ được. Ngài phải nhờ đến đôi bàn tay của chúng ta.
Đó là những suy tư tôi đọc thấy trong một cuốn sách. Nghe qua thì rất táo bạo, nhưng đã nói lên một sự thật rất sâu xa, đó là Chúa dùng bàn tay chúng ta để ban phát những quà tặng, để xoa dịu những nỗi khổ đau cũng như để nâng đỡ và khích lệ cho những người chung quanh.
Trong chương trình cứu độ của Chúa, phần đóng góp của con người cũng thật là quan trọng như lời thánh Augustinô đã nói: Chúa sẽ không thế nào cứu chuộc được chúng ta nếu như chính bản thân chúng ta lại không muốn. Chúa đã chịu chết một lần trên cây thập giá và đã làm nên kho tàng ơn cứu độ. Thế nhưng Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài, để phân phát nguồn ơn sủng ấy cho anh em đồng loại. Hay nói một cách khác cuộc sống của người Kitô hữu, phải là một sự nối tiếp công trình cứu độ của Đức Kitô. Bản thân chúng ta phải kéo dài sự hiện diện của Chúa cho đến tận cùng thời gian.
Cũng chính vì thế, trước khi về trời, Chúa đã truyền cho các môn đệ: Đức Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê rusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này. Và như vậy, Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài đễ đem Tin Mừng cứu độ đến cho mọi người. Bởi đó, chúng ta phải sống thế nào để người khác khi nhìn vào chúng ta sẽ nhận ra sự hiện diện đầy yêu thương của Chúa.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây