Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 251-300: Chúa Lên Trời

Thứ năm - 10/05/2018 10:09
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 251-300: Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 251-300: Chúa Lên Trời

Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 251-300 Chúa Lên Trời
LênTrời-251: Chúa lên trời 2
LênTrời-252: Chứng nhân – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 4
LênTrời-253: Chúa Giêsu lên trời – R. Veritas. 6
LênTrời-254: Quê hương chúng ta là quê trời 9
LênTrời-255: Ra khơi – R. Veritas. 11
LênTrời-256: Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện. 13
LênTrời-257: Hướng lòng về thượng giới – Lm Ignatio Trần Ngà. 16
LênTrời-258: Sống Mầu Nhiệm Lên Trời – Lm. Thiện Duy. 17
LênTrời-259: Suy niệm của Giuse Trần Xuân Chiêu. 21
LênTrời-260: Những giáo huấn cuối cùng và lên trời 23
LênTrời-261: TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP. 28
LênTrời-262: CHỨNG NHÂN HIỆN ĐẠI 32
LênTrời-263: Định hướng. 36
LênTrời-264: Quê Hương Chúng Ta Là Quê Trời 40
LênTrời-265: “HÃY LÀ CHỨNG NHÂN CỦA THẦY”. 41
LênTrời-266: CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH.. 44
LênTrời-267: CHÚA THĂNG THIÊN.. 47
LênTrời-268: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN.. 48
LênTrời-269: LÀM CHỨNG NHÂN CHO CHÚA PHỤC SINH.. 50
LênTrời-270: CHÚA THĂNG THIÊN C.. 52
LênTrời-271: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN.. 58
LênTrời-272: LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, năm C.. 59
LênTrời-273: Lễ Thăng Thiên C.. 61
LênTrời-274: Lễ Chúa Thăng Thiên. 64
LênTrời-275: NIỀM HY VỌNG CỦA CHÚNG TA.. 65
LênTrời-276: ĐƯỜNG LÊN THIÊN THAI. 67
LênTrời-277: Lễ Chúa Thăng Thiên. 71
LênTrời-278: CHÚA THĂNG THIÊN.. 75
LênTrời-279: Chúa Nhật lễ Thăng Thiên. 77
LênTrời-280: LỄ THĂNG THIÊN.. 81
LênTrời-281: Chúa Nhật thứ 7 Phục Sinh. 85
LênTrời-282: Niềm an ủi 89
LênTrời-283: Quê trời 90
LênTrời-284: Một khởi đầu mới 91
LênTrời-285: Lễ Chúa Thăng Thiên. 93
LênTrời-286: Quê hương chúng ta ở trên trời – An Phong. 96
LênTrời-287: Suy niệm của Lm. Dom. Trần Quang Hiền SDB.. 97
LênTrời-288: Người “Giời” – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 99
LênTrời-289: Hãy đi, vì có Thầy ở cùng! 101
LênTrời-290: Thực hiện sứ mạng. 103
LênTrời-291: Ra đi trong lời hứa – G. Nguyễn Cao Luật 105
LênTrời-292: CÙNG VỚI ĐỨC GIÊSU ĐỂ TÔN VINH THIÊN CHÚA CHA.. 108
LênTrời-293: CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI 111
LênTrời-294: Được chuẩn bị, sai đi để thi hành sứ mệnh. 113
LênTrời-295: DI NGÔN.. 115
LênTrời-296: THIÊN ĐÀNG: NƯỚC YÊU THƯƠNG.. 117
LênTrời-297: CUỘC TRAO BAN.. 120
LênTrời-298: ÁI MỘ NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI 121
LênTrời-299: ÁI MỘ NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI- 122
LênTrời-300: LỄ CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI 125



 

LênTrời-251: Chúa lên trời

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã căn dặn những lời cuối cùng như một di chúc để lại cho các LênTrời-251

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã căn dặn những lời cuối cùng như một di chúc để lại cho các môn đệ thân thương, Người muốn các môn đệ của mình xác tín một điều: muốn được thông phần vinh quang với Người, họ phải chấp nhận đi vào con đường hẹp, con đường của từ bỏ, của thập giá. Chính Người đã đi trên con đường ấy trước và mời gọi họ bước theo: "Đức Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại"( Lc 24, 46). Thập giá là nơi duy nhất cho chúng ta thấy tình yêu vĩnh cữu của Thiên Chúa. Qua thập giá, Chúa Giêsu mở ra một con đường hạnh phúc thật, hạnh phúc bất diệt cho chúng ta. Và Người muốn những ai theo Người cũng được hưởng niềm hạnh phúc ấy.
"Chính anh em là chứng nhân về những điều này" (Lc 24, 49). Các tông đồ phải là chứng nhân về tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Là nhân chứng, các tông đồ không thể ngồi yên một chỗ mà phải ra đi, phải thắng vượt tính nhút nhát, phải hy sinh và can đảm hoàn thành sứ mạng làm chứng của mình, phải tuyên xưng niềm tin vào Đấng đã chết nhưng nay đã phục sinh, đã chiến thắng tử thần và nay đang được tôn vinh. Các ông thi hành sứ mạng chứng nhân cho Đấng phục sinh là xây dựng thế giới yêu thương, công bằng xứng với trời mới đất mới mà Chúa Giêsu đã cứu chuộc. Các ông làm chứng về Người bằng một đời sống yêu thương phục vụ, vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá như Người đã làm.
Như thế, Chúa Giêsu muốn các ông là cánh tay nối dài sứ mạng cứu độ của Người trong thế giới.  Về trời không phải là Người không còn hiện diện nhưng Người vẫn hiện diện qua các tông đồ, qua Giáo Hội. Và sứ điệp ngày xưa Người trao cho các tông đồ thì ngày nay vẫn đang được thực hiện qua mỗi người chúng ta. Về trời nhưng chương trình cứu độ của Người vẫn phải được tiếp tục nơi thế gian này, qua Hội thánh, và qua mỗi người chúng ta. Sứ mạng cứu độ này cần phải được thực hiện bằng lời nói và bằng những hành động cụ thể bên ngoài.
Chúa Giêsu vẫn đang hiện diện sống động giữa chúng ta. Bổn phận của chúng ta là phải làm sao cho mọi người sống chung quanh chúng ta và thế giới này nhận ra được sự hiện diện đó. Do đó, đối với chúng ta, sứ mạng rao giảng về Chúa Giêsu mang một ý nghĩa căn bản trong cuộc sống Kitô hữu. Đó chính là làm chứng cho Người bằng đời sống Kitô hữu của mình. Để rao giảng Chúa Giêsu cho thế giới, chúng ta phải bắt đầu bằng "cái có" của bản thân mình. Chúng ta phải có Người trong cuộc sống của mình, có kinh nghiệm và cảm nghiệm thực tế về Người trong đời sống mình, có đi lễ có đọc kinh, có rước lễ và nói chuyện thân tình với Chúa Giêsu Thánh Thể, có kinh nghiệm suy niệm Lời Chúa và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống. Hơn nữa, chúng ta phải có tình yêu Chúa trong cuộc sống được thể hiện qua những cử chỉ yêu thương, giúp đỡ, quan tâm đến tha nhân, chúng ta có kinh nghiệm về sự tha thứ, kinh nghiệm về bí tích hoà giải, kinh nghiệm cần lòng thương xót của Chúa,...Khi có Chúa trong lòng, khi chúng ta đã cảm nghiệm về Chúa, chúng ta dễ dàng đem Chúa đến cho thế giới, chia sẻ kinh nghiệm về cuộc gặp gỡ thân mật và chân tình với Người cho thế giới, cho anh chị em chung quanh chúng ta. Đồng thời, chúng ta là muối, là men, là ánh sáng cho đời (Mt 5,13-16) nghĩa là cuộc sống Kitô hữu phải tốt, phải ướp mặn chất Tin Mừng, phải phản chiếu khuôn mặt Chúa Giêsu. Mỗi người chúng ta phải là một tấm gương phản chiếu được tình thương của Thiên Chúa đến với mọi người xung quanh. Mỗi người chúng ta phải là một dấu chỉ cho người khác. Chúng ta dù bé nhỏ nhưng sức mạnh đức tin của chúng ta là Chúa Thánh Thần sẽ bù lại cho tình trạnh mong manh của chúng ta. Được như thế, chúng ta đang làm chứng cho Chúa Kitô phục sinh.
Sống mầu nhiệm Chúa lên trời hôm nay, chúng ta không phải chỉ đăm đăm ngước mắt nhìn về trời để nuối tiếc, để tìm kiếm, nhưng là ra đi vào thế giới, vào môi trường mình đang sống để làm chứng cho Chúa, để giới thiệu Chúa Kitô cho anh chị em chung quang mình. Sống chứng nhân là xây dựng nước trời ngay trong cuộc sống này, trong gia đình, trong họ đạo của chúng ta. Chúa Kitô đặt hết niềm tin tưởng nơi chúng ta, để rồi một khi chu toàn bổn phận của mình nơi trần gian, chúng ta cũng sẽ trở về trời với Chúa của mình.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con dám bước theo Chúa, can đảm sống đức tin, chấp nhận hy sinh, dám sống yêu thương để làm chứng cho Chúa giữa mọi người để mai sau chúng con cũng được vào Nước Trời hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa. Amen.
 
 

LênTrời-252: Chứng nhân – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Truyện kể: Thấy một thổ dân Phi Châu đang đọc sách. Một nhà buôn Âu Châu đi ngang qua, hỏi LênTrời-252

Truyện kể: Thấy một thổ dân Phi Châu đang đọc sách. Một nhà buôn Âu Châu đi ngang qua, hỏi xem anh đọc gì? Anh đáp: Đọc Kinh Thánh. Nhà buôn cười cười nói: Thứ đó, ở xứ tôi đã lỗi thời rồi! Người Phi Châu đáp: Nếu ở đây mà Kinh Thánh lỗi thời, thì ông đã bị ăn thịt từ lâu rồi.
Kinh Thánh là lời mạc khải của Thiên Chúa ban cho con người. Đọc Kinh Thánh giúp cho chúng ta nhận biết về chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Dân tộc Do-thái được Thiên Chúa chọn lựa, cưu mang và phát triển là để đón nhận Đấng Cứu Thế. Sự hình thành của Kinh Thánh Cựu Ước kéo dài cả mấy ngàn năm đón chờ. Tuy dù dân tộc Do-thái được chuẩn bị cách rất cẩn thận qua Kinh Thánh mạc khải, qua các dấu chỉ và qua các lời tiên tri loan báo, nhưng nhiều người đã bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ Đấng mà cha ông bao năm mong chờ. Bởi lẽ các vị lãnh đạo tôn giáo như các Thượng tế, Thầy cả, Tư tế, Luật sĩ, Biệt phái, Nhóm Sađucêô và các Đầu mục, Kỳ lão đã dẫn dân đi lạc vào ngõ khác. Chúa Giêsu đã đến hoàn tất mọi lời Kinh Thánh loan báo về Ngài. Chúa đến không phải để hủy phá lề luật, nhưng làm cho nên trọn. Chúa Giêsu là phiến đá mà thợ xây loại bỏ, đã trở thành đá góc tường. Ngài chính là cột trụ trung tâm duy nhất của mọi niềm tin.
Cuộc lữ hành trần thế của dân Do-thái tiến bước dần đến ơn cứu độ. Suy tư và não trạng chung của nhiều người vẫn còn bám víu vào những truyền thống và tục lệ cha ông. Vì thế, họ không dễ dàng mở cửa đón nhận những làn gió mới. Đạo Do-thái với những sinh hoạt tôn giáo, những hệ thống thần học, những luật lệ và những thực hành sống đạo đã ăn rễ sâu trong niềm tin. Một hệ thống tôn giáo quá nặng về phần tổ chức, sống vị luật và chú tâm hình thức. Tâm hồn họ dần rời xa cốt lõi của niềm tin là đời sống nội tâm. Nhiều người chỉ còn tôn thờ Thiên Chúa ngoài môi miệng nhưng lòng họ lại rời xa. Chúa Giêsu xuất hiện như cai gai trước mắt nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo đương thời. Chúa công khai giảng dạy tại trung tâm tôn giáo ở Giêrusalem. Chúa đã gặp gỡ mọi thành phần trong dân và đối diện với các nhóm lãnh đạo chuyên biệt. Chúa Giêsu tìm đưa dẫn họ về với căn cốt của đạo. Tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý. Sống đạo nội tâm. Sống đạo trong yêu thương, bác ái và vâng phục.
Chúa Giêsu đến để rao giảng tin mừng cứu độ. Chúa mời gọi mọi người sám hối vì Nước Trời đã gần kề. Thời gian đã viên mãn. Chúa thực hiện một cuộc vượt qua mới trong tinh thần mới. Chiếc xe thời gian đã đến, ai không bước lên, sẽ bị tụt lại sau. Mặc dầu có nhiều sự chống đối và chối từ, Chúa Giêsu đã hoàn thành sứ mệnh hy sinh cứu độ. Chúa hiến thân chịu chết và đã sống lại. Chúa Phục Sinh đã trở thành niềm hy vọng tuyệt đối cho nhiều người. Có rất nhiều người cùng đồng hành chia sẻ với cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa. Chúa không dấu diếm hay lừa dối những người tin theo Chúa, nhưng Chúa đã báo trước những sự khó khăn, sự bách hại, xua đuổi và chịu hy sinh đau khổ. Qua thánh giá khổ đau mới có thể bước vào vinh quang sự sống. Stêphanô là hoa qủa đầu mùa của niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh đã lãnh nhận triều thiên tử đạo.
Người ta thù ghét cả những người tin vào Chúa Kitô sống lại. Các nhà lãnh đạo tôn giáo là những người đầu tiên lên tiếng phủ nhận, phản đối và bách hại. Tác giả sách Tông Đồ công Vụ kể rằng trước khi bị ném đá cho chết, Stêphanô được đầy ơn Chúa Thánh Thần: Ông nói: "Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa."(Tđcv 7, 56). Stêphanô đã tuyên xưng đức tin một cách can đảm, dầu phải đối diện với sự đau khổ và sự chết kề bên. Ông đã tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô Phục Sinh. Stêphano hiểu ý nghĩa lời dạy: Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính vì Nước trời là của họ. Nhưng những người đồng hương không thể chấp nhận một giáo lý mới của một người đã bị kết án tử hình: Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá. Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Sao-lô (Tđcv 7, 57-58).
Stêphanô thấm nhuần Tin Mừng của Chúa: Rồi ông quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: "Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này." Nói thế rồi, ông an nghỉ (Tđcv 7, 60). Chúng ta biết máu của các vị thánh tử đạo là hạt giống ươm mầm đức tin. Thật vậy, sau cái chết của Stêphanô, ông Saolô đã được ơn trở lại. Saolô cùng đồng cảnh, đồng thuyền với nhóm đồng hương nhân danh đạo giáo để kết án ném đá Stêphanô. Chúa Giêsu phục sinh đã mở đường đưa dẫn ông Saulô trở về làm nhân chứng cho Ngài. Ông Saulô đã đổi đời và đổi tên thành tông đồ Phaolô. Phaolô trở thành một nhân chứng nhiệt thành. Không sợ gian nan, đau khổ và bách hại, ông đã sống chết cho niềm tin. Cả cuộc đời còn lại Phaolô đã không ngừng rao giảng Chúa Kitô phục sinh cho nhiều người. Ngài cũng đã chịu tử vì đạo và lấy máu đào chứng minh cho niềm tin sắt son.
Chúa Giêsu là kiên thuẫn, là đá tảng và là nơi nương náu cho những tâm hồn tìm kiếm Chúa. Chúa mời gọi mọi người lắng nghe và thực hành lời Chúa, họ sẽ được chia phần vinh quang hạnh phúc: Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một (Ga 17, 22). Chúa Giêsu yêu mến những người Chúa đã chọn và tất cả những ai thuộc về Chúa. Ngài muốn ấp ủ chúng ta như gà mẹ ấp ủ con dưới cánh. Chúa đã tha thiết cầu nguyện cùng Chúa Cha: Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành (Ga 17, 24).
Qua bí tích Rửa Tội, chúng ta được tẩy sách tội xưa và cùng được tham dự vào Nhiệm Thể của Chúa Kitô, Chúa Kitô là đầu và tất cả chúng ta là chỉ thể. Chúng ta được kết hợp mật thiết với Chúa trong một đoàn chiên theo một Chúa Chiên. Chúa cầu nguyện để mọi người nên một trong Chúa. Trở nên một trong ý nghĩa phổ quát. Không phải nên một với người này, người kia hay nhóm này, nhóm nọ. Chúng ta nên một với Chúa Kitô để cùng tôn thờ Thiên Chúa Cha. Chúng ta cùng chia sẻ một niềm cậy trông và một niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu ngày sau. Chúng ta tuyên xưng chỉ có một Chúa, một đức tin và một phép rửa. Chúng ta tin nhận Chúa Kitô: Là An-pha và Ômêga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 22, 13).
Trong cuộc sống, chúng ta nhận biết rằng có rất nhiều tổ chức các tôn giáo khác nhau. Tuy các tôn giáo có khác nhau về cơ cấu, tổ chức và thực hành sống đạo nhưng cùng quy hướng về sự tôn thờ một Thiên Chúa và hy vọng cuộc sống vĩnh cửu ngày sau. Chúa Kitô là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Con đường dẫn lối vào Nước Trời tuy hẹp nhưng Chúa Giêsu đã đi trước và mở lối đưa đường. Chúa Giêsu phán: Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy (Ga 14, 6). Chúa Kitô là trung tâm điểm qui tụ mọi niềm tin về một mối để tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi.
Lạy Chúa, chúng con đã lãnh nhận hạt giống đức tin qua Bí tích Rửa Tội, xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng con. Xin cho chúng con biết can đảm sống niềm tin và hăng say làm nhân chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh. Amen.
 
 

LênTrời-253: Chúa Giêsu lên trời – R. Veritas

(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’)
 

Một thi sĩ người Đức có viết vần thơ sau đây: "Bên trên thế giới này là mây trời, mây trời thuộc LênTrời-253

Một thi sĩ người Đức có viết vần thơ sau đây: "Bên trên thế giới này là mây trời, mây trời thuộc về thế giới. Bên trên trời là hư vô". Vần thơ này được hàng triệu người trên thế giới chứng thực mỗi ngày khi ngồi trong các máy bay khổng lồ, mà mỗi chuyến bay chở được mấy trăm hành khách. Các loại máy bay này thường bay trên độ cao hơn 10,000 mét, nghĩa là trên các tầng mây. Và quả thật, trên độ cao ấy, du khách chỉ thấy bên dưới là mây, trước mắt và chung quanh là chân trời xanh dài vô tận và bên trên chỉ là khí, không có gì khác.
Tuy nhiên, qua khẳng định trên đây, thi sĩ người Đức ám chỉ một sự kiện khoa học, ông muốn diễn tả xác tín vô thần của ông là không tin có Thiên Chúa, không tin có quê trời, không tin có thiên đàng và cuộc sống mai sau. Cuộc đời con người kết thúc với cái chết và bên kia cái chết chỉ là hư vô. Nghĩa là thi sĩ gián tiếp khẳng định rằng, cuộc đời con người vô nghĩa, do đó cũng không cần phải sống tốt với tha nhân hoặc ăn ngay ở lành hay sống đạo đức luân lý làm gì, cứ việc tham ô, gian ác, bóc lột người khác, cũng không cần phải cầu nguyện làm gì, bởi vì nó chỉ là đối thoại với hư vô, và thế giới này chỉ là hư vô bởi vì không có tương lai.
Nhưng xác tín như vậy là thi sĩ đã rơi vào sự lầm lẫn lớn nhất. Bởi vì trong ngày lễ Thăng Thiên, Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta rằng sau cái chết cuộc sống mới thực sự bắt đầu và bên trên tầng mây là tất cả.
So sánh trình thuật biến cố Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh lên trời trong các bản văn Tin Mừng, chúng ta hiểu ra ngay một sự khác biệt trong Phúc Âm thánh Gioan: cuộc đời Chúa Giêsu tập trung vào ngày sau thứ bảy là ngày lễ Vượt Qua, ngày Chúa Giêsu sống lại, lên trời và trao ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ. Đối với thánh Gioan, Thiên Chúa tự tỏ lộ mình cho nhân loại trong con người và trong mầu nhiệm của Chúa Giêsu, và Giáo Hội hay cộng đoàn các môn đệ là hoa trái của sự mạc khải ấy.
Phúc Âm thánh Matthêu trái lại, là Emmanuel: "Thiên Chúa ở cùng chúng ta", nghĩa là theo thánh nhân, Chúa Giêsu luôn luôn sống hiện diện và hoạt động sâu thẳm giữa cộng đoàn Giáo Hội. Ngài tự đồng hóa mình với mọi người. Do đó, mỗi việc làm cho một trong các thành phần của cộng đoàn Giáo Hội là làm cho chính Chúa Giêsu. Nói cách khác, theo thánh Matthêu, Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh luôn hiện diện trong cộng đoàn thân mình mầu nhiệm của Ngài, cho dù cộng đoàn đó có bé nhỏ và có sống tại nơi hẻo lánh xa xôi ở tận chân trời góc biển nào trên thế giới này đi chăng nữa thì vẫn có Chúa hiện diện luôn luôn: "Ở đâu có hai, ba người tụ họp lại nhân danh Thầy thì Thầy ngự giữa họ". Chủ đích thần học này giải thích tại sao thánh Matthêu đã không kết thúc Phúc Âm với trình thuật Chúa Giêsu rời bỏ cộng đoàn môn đệ về trời như hai thánh sử Marcô và Luca. Phúc Âm thánh Matthêu kết thúc Phúc Âm với lời Chúa Giêsu trang trọng khẳng định với các môn đệ rằng: "Ngài sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".
Thánh sử Luca thì có một quan niệm thần học khác, đối với thánh nhân thì thời gian sau khi Chúa Giêsu về trời là thời gian của Giáo Hội. Thánh Luca coi việc cộng đoàn Giáo Hội tiếp nối sự loan truyền Tin Mừng của Chúa Giêsu như giai đoạn cuối cùng trong lịch sử cứu độ.
Nếu Kinh Thánh Cựu Ước đã tập trung lịch sử cứu độ vào dân Israel và vào lời hứa của Thiên Chúa, thì Kinh Thánh Tân Ước tập trung lịch sử cứu độ vào Chúa Giêsu và vào ngày hôm nay của Chúa Giêsu như thời điểm thành toàn lời Thiên Chúa đã hứa với dân Israel xưa kia. Lời Thiên Chúa thực hiện trong cộng đoàn Giáo Hội giờ đây phải được tiếp tục thành toàn và ơn cứu độ phải được mọi thành phần Giáo Hội tiếp tục loan truyền cho mọi dân tộc khác. Đó là nội dung của sách Tông Đồ Công Vụ, trong đó thánh Luca tường thuật công tác truyền giảng mà Chúa Giêsu là trung tâm điểm và là người khởi xướng và giờ đây cộng đoàn Giáo Hội tiếp tục đẩy mạnh dưới sự thúc đẩy, dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.
Trong một nghĩa nào đó, biến cố Chúa Giêsu lên trời cần thiết cho việc khai mạc sứ mệnh của Giáo Hội. Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời nhưng giờ đây là thời gian Ngài hoạt động qua và trong cộng đoàn Giáo Hội. Sự kiện Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài không hiện diện trong thế giới này, nhưng Ngài sẽ trở lại trần gian. Nhưng trong thời gian giữa hai khoảng cách đó, Ngài sống ngoài lịch sử, nhưng hiện diện trong lịch sử qua cộng đoàn Giáo Hội. Nước Thiên Chúa thực tại cuộc sống siêu việt vĩnh cửu, vẹn toàn mai sau tỏ hiện dần trong Giáo Hội. Trong nỗ lực, Giáo Hội làm chứng cho Chúa Giêsu và rao truyền Tin Mừng của Chúa.
Thánh sử Luca đã thật khéo léo khi nối liền thời gian hoạt động của Giáo Hội với ngày hôm nay của Chúa Giêsu và giải thích nó như là thời gian của ơn thánh cứu độ. Biến cố Chúa Giêsu lên trời như ghi trong sách Tông Đồ Công Vụ và sách Phúc Âm phải được hiểu dưới ánh sáng của lịch sử cứu độ: mầu nhiệm lên trời giải thích tại sao lại có Giáo Hội. Giáo Hội hiện diện giữa lòng xã hội và loan báo Tin Mừng cứu độ cho mọi người.
Nói cách khác, qua sách Tông Đồ Công Vụ và sách Phúc Âm, thánh sử Luca muốn chứng minh cho chúng ta thấy chương trình Thiên Chúa đối với loài người và thế giới đã được Chúa Giêsu thực hiện và thành toàn, và giờ đây được tỏ hiện từng bước và kéo dài trong cuộc sống của Giáo Hội.
Trong trình thuật biến cố Chúa Giêsu lên trời, thánh sử Luca là người duy nhất có can đảm dùng động từ ám chỉ sự chia lìa khi biết Chúa Giêsu Kitô tách rời khỏi đoàn môn đệ, và chương 24 mở đầu trình thuật một ngày sống của Chúa Giêsu cũng như của cộng đoàn các môn đệ bằng cách ghi nhận sự vắng mặt của Chúa Giêsu. Nhưng tiếp sau đó Chúa Giêsu lại hiện diện giữa cộng đoàn, Ngài đồng hành, đàm đạo và dùng bữa tối với hai môn đệ trên đường Emmau, và giờ đây trình thuật kết thúc với Chúa Giêsu lại tự tỏ hiện ra.
Tuy nhiên, sự chia tay này tại Bethania không khiến cho các môn đệ buồn sầu hay chán nản. Trái lại họ cùng nhau trở về Giêrusalem lòng tràn đầy vui sướng. Thánh sử Luca không giải thích tại sao đoàn môn đệ giờ đây phải xa Thầy mình mà lại sướng vui như vậy, nhưng chắc chắn các môn đệ đã khám phá ra hay ít nhất đã trực giác được chuyện gì đó, nghĩa là các vị đã hiểu rằng, Chúa Giêsu tuy đã tách rời khỏi họ, nhưng vẫn luôn hiện diện bên họ.
Trong trình thuật biến cố Chúa Giêsu lên trời còn có một điểm đặc biệt khác nữa, đó là các môn đệ đang phủ phục xuống thờ lạy Ngài thì Chúa Giêsu đã rời khỏi họ lên trời, đồng thời Ngài giơ tay ban phép lành cho họ. Cử chỉ này của Chúa Giêsu cho thấy, Ngài hành động như là Thầy của các môn đệ. Chúa của các tông đồ là thủ lãnh của cộng đoàn dân riêng mới của Thiên Chúa, giã từ cộng đoàn nhưng đồng thời Ngài mời gọi mọi người ra đi chu toàn sứ mệnh mà họ đã được ủy thác. Phép lành của Chúa Giêsu bảo đảm cho cộng đoàn Giáo Hội mọi ơn cần thiết trong cuộc sống và sự tăng trưởng của mình trong sứ mệnh loan truyền lịch sử cứu độ.
Đặc điểm thứ ba trong trình thuật biến cố Chúa Giêsu lên trời đó là thay vì ra đi khắp nơi loan truyền Tin Mừng thì đoàn môn đệ vào đền thờ Giêrusalem cầu nguyện và chúc tụng Thiên Chúa. Phúc Âm thánh Luca mở đầu với cảnh Thầy Zacharia dâng hương cho Chúa trong đền thờ, giờ đây kết thúc với lời chúc tụng của đoàn tông đồ. Giêrusalem là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, là nơi lịch sử cứu độ thành toàn, đồng thời là nơi phát xuất sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội.
Hình ảnh Giáo Hội truyền giáo quanh quẩn trong đền thờ, trong lời cầu nguyện và chúc tụng Thiên Chúa xem ra hơi lạ, nhưng thật ra sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội sẽ đem lại nhiều hoa trái khi cộng đoàn biết bám chặt vào Chúa, dán mắt nhìn lên Chúa, thân tình thưa chuyện với Chúa để kín múc mọi ơn thánh và nghị lực cần thiết cho sứ mệnh loan báo lời Ngài để kéo đổi phúc lành của Thiên Chúa xuống trên mọi tâm hồn và phản ảnh gương mặt cũng như giáo huấn của Chúa một cách tinh tuyền, trung thực và sâu thẳm hơn.
Bởi vì nếu không có phúc lành và ơn thánh Chúa trợ lực sẽ không có sự sống, sẽ không có ơn hoán cải và biến đổi con tim và công tác truyền giáo của Giáo Hội không sinh hoa trái phong phú. Càng hoạt động nhiều, Giáo Hội càng phải sống chiều kích chiêm niệm và đối thoại thân tình với Chúa nhiều hơn.
Đây cũng là lý do giải thích tại sao trước khi về trời, Chúa Giêsu đã dạy dỗ các môn đệ nhiều điều để giúp họ được sứ mệnh loan báo Tin Mừng, và từ nay họ phải đảm trách thay Ngài. Lời các thiên thần nhắc nhớ có các ông biết sứ mệnh rao truyền Lời Chúa không cho phép các vị đứng nhìn trời, nhìn đất mơ mộng nuối tiếc hay chỉ lo lắng cho các dịch vụ phụng tự quanh quẩn trong bốn bức tường nhà thờ hoặc đáp ứng nhu cầu của linh hồn mà thôi, mà phải xuống núi, nhập thể, đem Chúa vào đời loan truyền ơn cứu độ và hoạt động thăng tiến con gnười toàn diện như Chúa Giêsu đã làm xưa kia.

 

LênTrời-254: Quê hương chúng ta là quê trời

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Hôm nay, Chúa chúng ta lên Trời, chúng ta không làm trái đất rung động, nhưng hướng tâm hồn LênTrời-254

Hôm nay, Chúa chúng ta lên Trời, chúng ta không làm trái đất rung động, nhưng hướng tâm hồn lên Đức Kitô và trông đợi Ngài đến như lời Ngài đã hứa trước khi về Trời, để Ngài ở đâu chúng ta cũng ở đó. Vì thế, chúng ta hãy nuôi dưỡng lòng ái mộ những sự trên Trời, để cũng được cả xác lẫn hồn về trời với Chúa. Tuy nhiên, cần phải biết rõ rằng lòng tự cao, tự đại, hà tiện, dâm ô là những thói hư tật xấu, tội lỗi lôi kéo, giam hãm chúng ta trong tội lỗi... Hãy hướng về Trời, hướng lòng lên thật cao, kết hợp với Chúa. Sự Phục sinh của Chúa là chính niềm hy vọng của chúng ta, sự kiện Chúa lên Trời là vinh quang của chúng ta. Vậy nếu chúng ta cử hành lễ Chúa về Trời với lòng trung thành và sùng kính, thánh thiện và đạo đức, chúng ta về Trời với Chúa và vươn tâm hồn lên tới Chúa.
* Phụng vụ Lời Chúa
- Tđcv 1, 1-11: Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta lên Trời
- Tv 47, 2: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng
- Êph 1, 17-23: Đức Kitô thống trị địa cầu
Hoặc - Êph 4, 1-13: (trừ Năm B)
Hoặc – Dt 9, 24-28 ou 10, 19-23: ( trừ Năm C)
- NĂM A - Mt 28, 16-20: Hãy đi giảng dạy muôn dân
- NĂM B - Mc 16, 15-20: Chúa Giêsu ban những lời cuối cùng cho các Tông Đồ
- NĂM C - Lc 24, 46-53: Những lời sau hết và sự lên Trời của Đức Giêsu
"Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Allelui ! Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời", Alleluia! Alleluia! Alleluia! "(Ca nhập Lễ trong ngày)
Hôm nay, Đức Kitô Phục sinh vinh quang và yêu dấu, Đấng sống lại từ trong cõi chết bởi quyền năng Thiên Chúa, sau khi đã được an táng trong mồ, tức là Đền thờ người Do thái phá hủy, kết thúc bốn mươi ngày thánh và trước sự kinh ngạc của các Tông Đồ, "đã được cất nhắc lên cao trước mắt các ông và một đám mây che khuất Ngài khỏi tầm nhìn các Tông Đồ" (Tđcv 1,9).
Hành động cuối cùng này của Chúa Giêsu có hai ý nghĩa. Trước hết, khi lên trời, Ngài mạc khải cách rõ ràng thần tính của Ngài: sau khi đã chu toàn sứ mạng của mình trên trần gian, nay Chúa trở về nơi mà từ đó Ngài đã đến trong thế gian, nơi đó là cung lòng Thiên Chúa Cha. Hơn nữa, Đức Giêsu về Trời cùng với nhân tính mà Ngài đã lãnh nhận và đã làm cho sống lại từ cỏi chết. Nhân tính đó là nhân tính của chúng ta, được thanh luyện, thần thiêng hoá, và được trở nên đời đời. Chúa về Trời mạc khải "ơn gọi cao cả nhất" của mỗi người: con người được gọi đến hưởng sự sống đời đời trong Nước Chúa, nước của tình thương, của ánh sáng và hòa bình.
Đức Kitô Phục sinh, với thời gian, bằng sự hiện diện của mình và các chứng từ cần thiết đã gia tăng niềm tin nơi con người vào Đấng sống lại. Cái chết của Chúa Kitô, trong thực tế, đã làm cho lòng trí các môn đệ rối bời. Tâm trí các ông nặng trĩu với nỗi buồn da diết khi chứng kiến Thầy bị đóng đinh, thở ngắn thờ dài và sau cùng là trút hơi thở cuối cùng, thân xác bất tỉnh, chết và mai táng trong mồ. Một sự thẫn thờ sinh ra từ sự thiếu lòng tin đã gieo vào tâm trí các các môn đệ. Cái chết đau thương trên thập giá đã làm các thánh Tông Đồ, các môn đệ Chúa và nhiều người khác run sợ khi tin vào Chúa phục sinh. Đức Kitô Phục sinh lên trời cao là chân lý hiển nhiên đã củng cổ niềm tin của các ông do nỗi buồn sâu thẳm và làm cho tâm hồn các ông tràn ngập niềm vui.
Thật tuyệt vời và khôn tả được nguyên nhân niềm vui của họ! Đức Giêsu về Trời ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang, báo trước quê hương chúng ta đích thực là quê Trời. Chúng ta là chi thể của Ngài, Đầu đã về Trời, đây là niềm hy vọng lớn lao cho cả thân xác. Khi lên trời, Đức Giêsu đã mở ra lại con đường dẫn về quê hương thật của chúng ta, là thiên đàng. Giờ đây, với sức mạnh Thánh Thần của Ngài, Ngài nâng đỡ chúng ta trong cuộc lữ hành hằng ngày trên trần gian.
Tất cả chúng ta cùng vui mừng với niềm vui thánh thiện và tạ ơn Ngài. Hôm nay, chúng ta không chỉ vững tin và nắm chắc thiêng đàng, mà còn cùng với Chúa Kitô tiến vào chốn Trời cao nhờ ơn khôn tả của Chúa Kitô, chúng ta có được hơn là chúng ta mất do sự thù ghét của ma quỷ.
Sau khi Chúa đã được cất nhắc lên Trời, các đồ đệ quy tụ lại với nhau trong lời cầu nguyện, ở phòng Tiệc Ly, cùng với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. (x. Tđcv 1,14), vừa cùng nhau khẩn xin Chúa Thánh Thần, Đấng có thể ban cho họ quyền năng để làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh (x. Lc 24,49; Tđcv 1,8). Ngày này, chúng ta hướng về Mẹ Maria là "Nữ Vương Thiên Đàng", xin Mẹ bảo vệ gìn giữ Hội Thánh, cách riêng mỗi người húng ta là con cái Mẹ, biết sống và thực hành lời Chúa truyền ban, để một ngày kia chúng ta cũng được về Trời với Đức Giêsu và với Mẹ vui hưởng tôn nhan Chúa muôn đời. Amen.

 

LênTrời-255: Ra khơi – R. Veritas

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Dịp Lễ Thăng Thiên năm 2001 Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chia sẻ:
 

Chúng ta được qui tụ quanh bàn thờ Chúa để cử hành việc Chúa lên trời. Chúng ta đã nghe được LênTrời-255

"Chúng ta được qui tụ quanh bàn thờ Chúa để cử hành việc Chúa lên trời. Chúng ta đã nghe được Lời Chúa: "Các con sẽ nhận lấy sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ngự xuống trên các con và các con sẽ là những chứng nhân của Thầy cho đến tận cùng trái đất".
Từ hai ngàn năm qua, những lời này của Chúa Phục Sinh thôi thúc Giáo Hội tiến ra khơi, tiến vào trong lịch sử của con người. Những lời này làm cho Giáo Hội trở nên một người luôn đồng hành với tất cả mọi thế hệ, làm cho Giáo Hội trở nên như men, làm dậy nên những hạt văn hoá trên thế giới. Hôm nay, chúng ta nghe lại những lời trên để với sức mạnh được canh tân, chúng ta đón nhận mệnh lệnh của Chúa "Hãy ra khơi", mệnh lệnh mà Chúa đã nói với thánh Phêrô. Đây là một mệnh lệnh và tôi đã muốn làm vang dội lại trong Giáo Hội qua bức tông thư khởi đầu Ngàn Năm Mới. Và đây là mệnh lệnh mặc lấy một ý nghĩa sâu xa hơn theo ánh sáng của ngày lễ trọng Chúa Thăng Thiên. "Hãy ra khơi" ra nơi mà Giáo Hội cần tiến đến, không phải chỉ là một sự dấn thân truyền giáo mạnh mẽ nhưng nhất là và còn là một sự dấn thân mạnh mẽ sống chiêm niệm. Như những tông đồ, những kẻ đã được chứng kiến biến cố Chúa lên trời, chúng ta cũng được mời gọi hãy hướng cái nhìn lên dung mạo của Chúa Kitô được hiển vinh trong vinh quang Thiên Chúa Cha. Chắc chắn rằng nhìn ngắm trời cao không có nghĩa là quên đi trần gian này. Và nếu rủi gặp phải cám dỗ, chúng ta chỉ cần lắng nghe lại lời hai người mặc áo trắng của đoạn Phúc Âm hôm nay nói rằng: "Tại sao các ông còn nhìn trời?"
Việc cầu nguyện chiêm niệm Kitô không làm cho chúng ta tránh khỏi việc dấn thân vào trong lịch sử. "Trời", nơi Chúa Giêsu tiến vào không phải là một sự xa vắng nhưng như là một màn che khuất và là nơi lưu giữ một sự hiện diện. Đó là sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện không bao giờ bỏ rơi chúng ta cho đến khi Chúa trở lại trong vinh quang. Trong khi đó, thời giờ chúng ta sinh sống đây là thời giờ rất đòi hỏi. Đòi hỏi chúng ta phải làm chứng bởi vì nhân danh Chúa Kitô, sự ăn năn hối cải và sự tha thứ tội lỗi phải được rao giảng cho tất cả mọi dân nước. Và chính để làm sống lại ý thức này mà tôi đã muốn triệu tập hội nghị Hồng Y đặc biệt được bế mạc hôm nay (thứ Năm 24/05/2001). Các vị Hồng Y, từ các nơi trên thế giới mà tôi xin kính chào với lòng mộ mến huynh đệ. Các ngài trong những ngày qua đã hội họp với tôi để bàn về một vài đề tài trong số những đề tài nổi bật nhất của công việc rao giảng Phúc Âm và làm chứng Kitô trong thế giới hôm nay, vào khởi đầu Ngàn Năm Mới. Đây, đối với chúng tôi, là giây phút sống hiệp thông, trong đó chúng tôi cảm nghiệm được một phần nào của niềm vui đã tràn ngập tâm hồn các tông đồ ngày xưa, sau khi Chúa Phục Sinh chúc lành cho các ngài và tách rời ra khỏi các ngài để lên trời. Thật vậy, thánh Luca đã ghi lại rằng: "Sau khi bái lạy tôn thờ Chúa, các tông đồ trở lại Giêrusalem với niềm vui lớn lao và các ngài luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa."
Và tiếp sau trong bài giảng, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khai triển thêm bản chất cũng như sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội, và cuộc hội Hồng Y cũng được Đức cố Giáo Hoàng đặt trong viễn tượng này: "Thực hiện sự hiệp thông và hiệp nhất trong Giáo Hội, để Giáo Hội có thể rao giảng Phúc Âm Chúa một cách đáng tin hơn cho mọi anh chị em."
Trong thánh lễ Chúa Thăng Thiên và trong giây phút này, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho chúng ta biết ý nghĩa của biến cố quan trọng này: Không phải Chúa lên trời để bỏ chúng ta, mà Ngài bước sang một sự hiện diện mới với chúng ta trong Chúa Thánh Thần. Ngài luôn ở cùng chúng ta luôn mãi cho đến tận cùng. Và Ngài muốn mỗi người chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân Thánh Thần của Ngài để làm chứng cho Ngài trong môi trường chúng ta sinh sống.
Từ Chúa Nhật này cho tới Chúa Nhật Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng ta hãy dành thời giờ để nhìn lại cuộc sống của mình, mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa Thánh Thần và sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để làm chứng cho Chúa đến mức độ nào rồi. "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận cùng và các con sẽ làm chứng cho Thầy khắp nơi trên mặt đất này".
Xin Chúa gìn giữ chúng ta vững mạnh trong đức tin để chúng ta có thể làm chứng cho Chúa mọi nơi mọi lúc.

 

LênTrời-256: Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện

Chúa Thăng Thiên: Mầu Nhiệm và Sự Kiện
 

Hôm nay chúng ta đọc hai trình thuật của Thánh Luca diễn tả cùng một thực tại: Chúa Giêsu Thăng LênTrời-256

Hôm nay chúng ta đọc hai trình thuật của Thánh Luca diễn tả cùng một thực tại: Chúa Giêsu Thăng Thiên.
Tuy nhiên, hai trình thuật này lại có nhiều điểm xem ra không dễ dung hòa với nhau, nhất là về phương diện lịch sử. Trong Tin Mừng (Lc 24,50-51), tác giả Luca giới thiệu biến cố Thăng Thiên ngay buổi chiều ngày Phục Sinh. Nhưng trong Công Vụ Tông Đồ, ông lại xác định biến cố Thăng Thiên vào thời điểm kết thúc “40 ngày” (Cv 1,3). Tại sao lại có sự khác biệt đó?
Trong Tin Mừng Lc, biến cố Thăng Thiên là biến cố kết thúc sách Tin Mừng. Tác giả không cung cấp những yếu tố thời gian rõ ràng, nên nhiều người hiểu rằng ông kể lại biến cố đó như thể đã xảy ra ngay chiều ngày Phục Sinh và diễn ra trong một cách thức long trọng: Chúa Giêsu giơ tay chúc lành cho các đồ đệ, “và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời” (Lc 24,51).
Trong Cv, điều Thánh Luca bận tâm và cố ý nhấn mạnh là công trình của Hội Thánh không được khởi sự chỉ với các đồ đệ của Chúa, mà là với chính Chúa Giêsu Phục Sinh. Chính Người hiện ra với họ, đồng hành với họ, thăm viếng họ suốt 40 ngày. Do đó, công trình loan báo Tin Mừng của Hội Thánh không phải là công trình của nhân loại, mà là công trình do chính Chúa Phục Sinh ấn định, khởi xướng, dẫn dắt. Vì thế, biến cố Thăng Thiên được đặt ở lúc kết thúc “40 ngày”.
Trình thuật trong sách Cv dài hơn và có nhiều chi tiết hơn trình thuật trong Lc: “Trong bốn mươi ngày, Đức Giêsu đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Người truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là: ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần. Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không? " Người đáp: "Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất." Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: "Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,3b-11).
Điểm đặc biệt đáng chú ý nhất trong trình thuật này là tác giả đã không sử dụng bất cứ một chi tiết ly kỳ nào để miêu tả chính biến cố Thăng Thiên, cũng không nói gì về tâm tình hay cảm xúc của những người chứng kiến. Trình thuật chỉ kể đơn giản rằng: “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (Cv 1,9). Đám mây quyên lấy Người, khiến cho không ai có thể kể lại là Người đã đi vào cõi Trời như thế nào. Rõ ràng tác giả cố tránh những chi tiết ly kỳ.
Điều này làm cho trình thuật khác hẳn tất cả những câu chuyện truyền kỳ và hoang đường đương thời. Tác giả không mô tả chính việc Đức Giêsu lên trời, cho bằng trách cứ thái độ của các đồ đệ cứ đăm đăm nhìn lên trời, phía Đức Giêsu đã đi. Đó là thái độ đặc trưng của những người mong cuộc tận thế sẽ mau xảy đến. Thánh Luca là một người công bố Tin Mừng. Điều ông quan tâm là giúp các tín hữu thời đại ông sống sứ mạng của họ theo thánh ý Thiên Chúa. Ông không bận tâm đến thái độ và phản ứng của các đồ đệ chứng kiến cuộc Thăng Thiên, mà chú ý đến việc Hội Thánh phải lấy lập trường đức tin như thế nào đối với mầu nhiệm Thăng Thiên và mầu nhiệm Cánh Chung. Điều chính yếu là lập trường căn bản mà Hội Thánh phải có đối với mầu nhiệm Cánh Chung. Vì thế, ông nhấn mạnh rằng Hội Thánh phải từ bỏ những sự tính toán ngày tháng (Cv 1,7), và phải tin rằng chính Đức Chúa, trong hiện tại của Hội Thánh, đang điều khiển lịch sử của thế giới và công trình loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.
 Liên quan đến mầu nhiệm Thăng Thiên mà chúng ta cử hành hôm nay, cứ theo những gì Kinh Thánh trình bày, chúng ta có thể nói: đây là một thực tại có hai khía cạnh. Một bên là mầu nhiệm Đức Giêsu Phục Sinh vào trong cõi của Thiên Chúa một cách vô hình, còn bên kia là biến cố Người từ giã thế gian này một cách hữu hình. Khía cạnh thứ nhất trình bày cuộc tôn vinh Chúa Phục Sinh trên cõi trời, mang đậm chiều kích thần học, vượt quá giác quan và chỉ có thể chấp nhận nhờ lòng tin và nhờ ơn Chúa Thánh Thần. Khía cạnh thứ hai là một sự kiện xảy ra trong lịch sử, thuộc phạm vi của những thực tại có thể kinh nghiệm được.
Khía cạnh thứ nhất, khía cạnh mầu nhiệm, là điều chính yếu và thuộc về nội dung căn bản của lòng tin. Còn việc Đức Giêsu chia tay các đồ đệ sau 40 ngày là một biến cố xảy đến như một ân huệ Thiên Chúa thương ban cho chúng ta vì bản tính yếu đuối của con người có giác quan. Vậy sự kiện xảy ra vào lúc kết thúc “40 ngày” không thể diễn tả trọn vẹn, đầy đủ và tương xứng chính mầu nhiệm đức tin thâm sâu vượt quá giác quan con người.
Chính vì thế, khi mô tả biến cố Thăng Thiên, cả trong Tin Mừng lẫn trong Cv, ta thấy Thánh Luca luôn cố ý giữ gìn một tâm tình kính cẩn trước mầu nhiệm. Ngài tránh mọi chi tiết mang tính huyền thoại, chỉ giữ lại ở mức tối thiểu những hình ảnh văn chương không thể không dùng để diễn tả mầu nhiệm. Để trình bày ý tưởng Đức Chúa Phục Sinh đã siêu vượt thế giới hư nát này và đi vào vinh quang Thiên Chúa, Kinh Thánh buộc phải dùng lối nói “lên trời”. Đó là hình ảnh có giá trị tượng trưng mà chúng ta buộc phải chấp nhận để diễn tả mầu nhiệm.
Vậy khi chúng ta nói Đức Giêsu lên trời, điểm cốt yếu phải tin là Chúa Kitô đã sống lại và siêu vượt khỏi cái thế giới tù túng, tội lụy, hay thay đổi và đầy đau thương này. Với thân xác phục sinh, Người đã đi vào một thế giới mới, thế giới của Thiên Chúa. Thế giới đó là thế giới xác thực, thiêng liêng, mới mẻ và siêu việt. Chỉ trong thế giới đó mới có sự sống đích thực. Thế giới đó siêu việt (chứ không xa cách) thế giới chúng ta đang sống. Đó là một thế giới khác biệt hẳn về phương diện thực hữu, chứ không phải về phương diện không gian xa gần hay rộng hẹp. Chúng ta có thể “sờ đụng” vào thế giới đó trong lòng tin và nơi các bí tích cứu độ. Đó là một sự “tiếp cận” một thực tại mầu nhiệm nhưng đồng thời rất thật, rất gần, thật và gần hơn cả cái thế giới phàm tục mà ta đang sống đây.
Vì thế, nói theo một nghĩa nào đó, mầu nhiệm Thăng Thiên cũng chính là mầu nhiệm mà Hội Thánh đang mời gọi chúng ta sống hằng ngày, ngay trong cái hôm nay của cuộc đời chúng ta.

 

LênTrời-257: Hướng lòng về thượng giới – Lm Ignatio Trần Ngà

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’)
Khi con người chỉ biết nhìn xuống...
 
 

Người đàn bà có biệt danh là "bà lom khom" đã trở thành hình ảnh quá quen thuộc đối với những LênTrời-257

Người đàn bà có biệt danh là "bà lom khom" đã trở thành hình ảnh quá quen thuộc đối với những ai hay lui tới những công viên của thành phố nầy. Đã lâu lắm rồi, từ sáng tới chiều, ngày nầy qua ngày khác, người ta thấy bà lầm lũi cúi mặt xuống đất để tìm nhặt những đồng tiền xu mà khách nhàn du đánh rơi đâu đó trong các công viên. Người dân trong khu vực gọi bà là "bà-lom-khom" vì hình như mắt bà rất kém, phải khom gập người xuống mới có thể thấy được những đồng tiền rơi rớt đâu đó trong công viên. Hình như nghề nầy đem lại cho bà nguồn thu nhập khá lớn, nên ngày nào bà cũng khom người đi nhặt như con kiến cần cù, như con ong kiên nhẫn nhất.
Vì lúc nào bà cũng cúi gằm xuống đất, đôi mắt lúc nào cũng đăm đăm nhìn xuống để tìm những đồng xu lẻ, dần hồi cần cổ của bà cụp xuống, lưng còng hẳn đi đến nỗi bà không còn ngửng lên nhìn trời được nữa.
Thế là mặc dù kiếm được khá tiền, nhưng bà đã đánh mất cuộc sống. Bà chỉ biết có mặt đất mà không biết có bầu trời. Bà chỉ biết ky cóp những đồng tiền xu mà chẳng biết gì đến thế giới chung quanh!
* * *
Hình ảnh người đàn bà còng lưng trên đây là biểu tượng cho những người chỉ biết có thế giới vật chất mà đánh mất thế giới thiêng liêng.
Với tầm nhìn hạn chế, con người chỉ thấy gần mà không thể thấy xa, chỉ biết chú mục vào cuộc sống đời nầy mà lãng quên cuộc sống đời sau, chỉ biết vun quén của cải vật chất mà không lo làm giàu của cải thiêng liêng; chỉ biết kiếm tìm lạc thú trần gian mà lãng quên hạnh phúc đời đời... Họ chối bỏ Trời, quay lưng lại với Thiên Chúa, khước từ thế giới thiêng liêng!
Họ xem mặt đất nầy là quê hương duy nhất, họ xem nấm mồ như điểm đến cuối cùng của kiếp người. Cuộc đời của họ được thi hào Nguyễn Du diễn tả cách bi thương:
"Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì".
Như thế, đối với người không tin thì sống là hành trình tiến về ngôi mộ; còn đối với chúng ta, sống là hành trình tiến về thiên quốc.
Viễn tượng mới
Sự kiện Chúa Giêsu lên trời mở ra cho loài người một viễn tượng mới: Thế giới loài người không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ vật chất nhưng còn mở vào cõi vô biên. Cuộc đời con người không chấm dứt trong nấm mồ hoang nhưng vượt qua đó để tiến vào vĩnh cửu.
Như con ve chui lên khỏi đất, lột bỏ chiếc vỏ chật hẹp để đón chào thế giới mới, cất cao tiếng hát dưới ánh nắng mặt trời, con người cũng được mời gọi hãy vượt lên trên thế giới vật chất, đập bỏ lớp vỏ vật chất bó chặt đời mình để vươn vai trở thành tạo vật mới, sống đời sống mới.
Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta hướng về đích xa:
"Quê hương chúng ta ở trên trời" (Philip 3, 20)
Thế nên: "Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới" (Col 3, 1-4)
Vậy chúng ta đừng chỉ lo phần xác mà quên mất phần hồn. Phải dành ưu tiên cho linh hồn chúng ta, phải dành ưu tiên cho Thiên Chúa. Chỉ dán mặt xuống đất mà không biết ngẩng lên nhìn trời thì vô cùng tai hại.

 

LênTrời-258: Sống Mầu Nhiệm Lên Trời – Lm. Thiện Duy

Kinh Nghĩa Đức Tin mà chúng ta đọc mỗi ngày Chúa Nhật, là tóm kết tất cả những điều chúng ta LênTrời-258

Kinh Nghĩa Đức Tin mà chúng ta đọc mỗi ngày Chúa Nhật, là tóm kết tất cả những điều chúng ta phải tin và những việc chúng ta phải làm để thể hiện đức tin của chúng ta. Trong niềm tin đó có việc Chúa Giêsu chịu chết, sống lại, khỏi 40 ngày lên trời. Còn trong Kinh Tin Kính cũng có đoạn nói về sự việc này là Chúa Giêsu sống lại, lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Trong những tuần vừa qua, nếu có đi lễ ngày thường chúng ta sẽ được nghe diễn từ giã biệt của Chúa Giêsu, có nghĩa là những lời từ biệt của Chúa Giêsu với các môn đệ của Ngài. Ngài cho các môn đệ biết là Ngài sẽ trở về với Chúa Cha. Cụ thể trong những bài đọc hôm nay cũng có nhắc đến việc Chúa Giêsu lên trời: “Nói xong Người được cất lên ngay trước mắt các ông”. Còn Tin Mừng Maccô trong Chúa Nhật năm B thì sẽ có tường thuật giống như sách Tông Đồ Công Vụ: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa”. Vì thế việc Chúa Giêsu “lên trời” là một sự thật. Tuy nhiên Chúa Giêsu lên trời có phải là Ngài không còn ở với chúng ta nữa hay không? Chúng ta phải hiểu “lên trời” nghĩa là gì? Việc “lên trời” của Chúa Giêsu có ý nghĩa gì trong cuộc sống chúng ta? Và cuối cùng là chúng ta phải làm gì khi nghe những lời sau cùng của Chúa Giêsu trước khi lên trời?

I/ BIẾN CỐ LÊN TRỜI CỦA CHÚA GIÊSU
1/ Lên trời nghĩa là gì?
Đức Kitô Phục Sinh đã vào trong vinh quang, đó là một tín điều. Nhưng đó còn là một mầu nhiệm vượt quá kinh nghiệm giác quan, và có lẽ không chỉ hạn hẹp nơi ngọn núi ở Galilê mà Chúa Giêsu hẹn gặp các môn đệ hôm nay. Lên trời là giải thích theo ngôn ngữ của con người cho dễ hiểu. Theo quan niệm phổ biến của Thánh Kinh, trời là chỗ ở của thần minh, do đó cũng được dùng một cách tượng trưng để chỉ Thiên Chúa. Còn đất là nơi loài người cư ngụ. Tình trạng tốt đẹp, khá hơn thì gọi là “lên” (gặp một người làm ăn khá giả mình nói: “lúc này lên hương rồi hé!”). Tình trạng lùi lại, xấu hơn thì gọi là “xuống” (Lâu ngày gặp lại một người bạn ốm nhom, hốc hác, mình nói: “sao lúc này xuống dữ vậy!”). Ngày xưa khi Ngài nhập thế thì gọi là “xuống trần”. Hôm nay Ngài trở lại với tình trạng vinh quang thì gọi là “lên trời”. Vì vậy “lên trời” đối với Chúa Giêsu không phải là một hành động bay đến một nơi, nhưng đó là tình trạng Ngài đã lấy lại vinh quang. Ngài vẫn còn ở bên cạnh chúng ta, vì Ngài đã nói: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Hiểu như vậy để chúng ta đừng nghĩ rằng Chúa Giêsu lên trời là Ngài rời bỏ chúng ta, không còn ở với chúng ta. Nhưng mừng lễ Chúa Giêsu lên trời là chúng ta mừng vinh quang của Chúa, mừng Chúa đã chiến thắng tội lỗi và sự chết. Tuy nhiên Ngài không còn hiện diện một cách hữu hình với con người nữa, hay nói cách khác: xác phàm của con người không thể thấy được vinh quang của Đức Kitô Phục Sinh.
2/ Biến cố “lên trời” trong đời sống kitô hữu
Khi lần chuỗi với mầu nhiệm năm sự mừng, chúng ta đọc: “Thứ hai ĐGS lên trời. Ta hãy xin cho được lòng ái mộ những sự trên trời”. Thánh Phêrô thì khuyên các tín hữu của mình: “Nếu anh em sống lại làm một với Đức Kitô, thì anh em cũng phải tìm kiếm những thực tại cao siêu ở trên trời”. Còn trong Hiến Chế về Giáo Hội của Công Đồng Vatican II thì xác quyết: “Giáo Hội trần thế là một cuộc lữ hành về quê hương trên trời”. Vì thế, tuy sống ở đời này, nhưng chúng ta phải lo vun đắp cho hạnh phúc mai sau. Thánh tử đạo Phaolô Lê Bảo Tịnh đã nói trước khi bị hành hình: “Thân xác tôi đây các ông muốn làm gì thì làm đi, nó sẽ chết nhưng mai này sẽ sống lại vinh quang”. Không cần ở đâu xa, ngay tại họ đạo Tắc Sậy của Giáo Phận Cần Thơ cũng có một con người biết qu#ý trọng thực tại cao siêu ở trên trời nên đã sẵn sàng từ bỏ những thứ chóng qua ở đời này để đổi lấy hạnh phúc đời sau. Người đó không ai khác hơn là cha Px. Trương Bửu Diệp.
3/ Lệnh truyền của Chúa Giêsu
Điểm thứ 3 mà chúng ta cần lưu ý qua biến cố Chúa Giêsu lên trời là lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Đây là mệnh lệnh truyền giáo của Chúa Giêsu. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu không chọn Giêrusalem vừa là thủ đô, vừa là cái nôi của Kitô giáo để gặp gỡ các môn đệ, nhưng Ngài chọn Galilê là vùng đất bị người Dothái loại trừ, là biểu tượng của dân ngoại. Ngài không chọn vùng đồng bằng để tâm sự với các ông, nhưng lại chọn ngọn núi cao vốn là nơi mặc khải của Thiên Chúa, để từ nơi cao đó các ông sau khi gặp gỡ Đấng Phục Sinh phải tỏa rạng vinh quang của Thiên Chúa. Vì vậy những lời sau cùng của Chúa Giêsu, cách thức gặp gỡ của Ngài muốn nhắc nhở các môn đệ sứ mạng truyền giáo, bằng cuộc sống tỏa sáng cho mọi người noi theo.

II/ CUỘC SỐNG NGƯỜI KITÔ HỮU
Mừng lễ Chúa Giêsu lên trời với 3 sự thật về ý nghĩa của việc lên trời, về việc Chúa lên trời trong đời sống của người kitô hữu và mệnh lệnh truyền giáo của Chúa, chúng ta phải sống những điều đó như thế nào đây?
1/ Chúa lên trời nhưng vẫn ở với con người
Trước hết chúng ta đã biết lên trời là tình trạng vinh quang của Chúa Giêsu. Vì vậy nhờ vinh quang mà Ngài càng có thể ở cạnh con người, càng giúp đỡ con người một cách đắc lực hơn. Cho nên chúng ta hãy nhớ rằng Chúa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, để chúng ta sống là sống cho Chúa, sống trong Chúa và sống với Chúa. Mọi sự bất toàn nơi con người chúng ta là do không y thức sự hiện diện của Chúa. Nếu chúng ta biết và nhớ rằng Chúa luôn ở bên cạnh tôi thì làm sao chúng ta có thể làm những điều xấu được. Vì vậy làm sao để chúng ta ý thưc sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời chúng ta đây? Chúng ta hãy dựa vào những phương thế siêu nhiên mà Chúa và Giáo Hội đã dạy chúng ta. Đó là năng đọc và suy niệm lời Chúa; lãnh nhận các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Giải Tội; siêng năng lần chuỗi mân côi; đọc lời nguyện tắt, có nghĩa là chọn một câu nào đó mình thích để lặp đi lặp lại suốt ngày trong đời sống chúng ta. Ví dụ: “Lạy Chúa Giêsu xin thương xót con”, hay: “Lạy Chúa Giêsu con yêu mến Chúa”. Chúng ta hãy nhớ rằng tự sức chúng ta và những phương thế tự nhiên không thể nào thắng được ba thù: thế gian, ma quỷ và xác thịt đâu; chỉ có ơn Chúa và phương thế siêu nhiên mới có thể giúp sức cho chúng ta mà thôi.
2/ Hướng lòng lên trời
Từ việc Chúa lên trời cho chúng ta một niềm tin chắc chắn rằng một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ được về trời với Chúa. Vì vậy ngay từ bây giờ chúng ta phải chuẩn bị cho cuộc sống mai sau. Chuẩn bị cho cuộc sống mai sau có nghĩa là chúng ta phải biết rằng cuộc sống này chỉ là tạm bợ, chóng qua, để chúng ta không bám víu vào mà chỉ lo tìm kiếm những thứ thuộc về đời này, những thứ mà Chúa Giêsu gọi là thuộc về thế gian. Đồng thời chúng ta phải sống thực tại Nước Trời ngay tại trần gian này. Mà thực tại Nước Trời là gì nếu không phải là tình yêu thương. Do đó dấu hiệu để chúng ta biết mình sống ở đời này mà có lo vun đắp cho hạnh phúc mai sau hay không chính là việc chúng ta có thể hiện tình yêu thương trong cuộc sống hay không.
3/ Thực hiện lệnh truyền giáo
Cuối cùng, chúng ta phải thực hiện di chúc của Chúa Giêsu, đó là “anh em hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Đó cũng là ước nguyện cuối cùng của Chúa Giêsu, muốn cho mọi người được vào Nước Trời với Chúa. Vì vậy bổn phận của chúng ta là phải đem Chúa đến cho những người chưa biết Chúa, hay còn gọi là truyền giáo. Truyền giáo là làm sao? Chúng ta khoan hãy nghĩ đến chuyện lôi kéo nhiều người vô đạo, làm sao cho càng có nhiều người được rửa tội càng tốt… đó là cách thức của việc truyền giáo. Nhưng trước hết chúng ta hãy nghĩ đến nội dung truyền giáo, có nghĩa là Tin Mừng mà chúng ta muốn truyền đạt là như thế nào; có hấp dẫn người ta mới theo, có đáng tin người ta mới vào. Điều đó đòi hỏi bản thân chúng ta trước hết phải cảm nhận được điều mình muốn truyền đạt. Mình phải cảm thấy niềm vui, hạnh phúc trong đời sống đạo thì mình nói người ta mới tin. Khi đã có nội dung của Tin Mừng rồi thì phần còn lại là cách chúng ta trình bày cho người  khác bằng lời rao giảng, bằng cách sống đạo, bằng lời cầu nguyện… Lúc đó người ta tin chúng ta không phải vì lời rao giảng, không phải vì những việc chúng ta làm, nhưng vì hạnh phúc chúng ta đang cảm nhận, niềm vui chúng ta đang có, và hy vọng chúng ta đang mong chờ.
Tóm lại, Phụng Vụ Lời Chúa trong lễ Chúa Giêsu lên trời hôm nay cho chúng ta biết rằng việc lên trời của Ngài là trở lại tình trạng vinh quang thuở ban đầu, nên Ngài vẫn hiện diện và càng ở bên cạnh để ban ơn giúp sức cho chúng ta. Nhờ Chúa Giêsu lên trời mà chúng ta tuy sống ở đời này nhưng vẫn hướng lòng về trời cao để sống giá trị của Nước Trời ngay tại thế này để hy vọng một ngày nào đó cũng được về trời với Chúa. Cuối cùng vì niềm tin vào việc chúng ta cũng sẽ được về trời với Chúa nên chúng ta có bổn phận làm cho người khác cũng được vào Nước Trời, bằng cách phải cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc vì tôi là người kitô hữu, từ đó lời rao giảng của chúng ta mới có sức mạnh lôi kéo người khác. Lạy Chúa, xin cho con lòng ái mộ những sự cao siêu ở trên trời.

 

LênTrời-259: Suy niệm của Giuse Trần Xuân Chiêu

Sau khi sống lại 40 ngày, và sau những lần gặp gỡ với các môn đệ, Đức Giêsu đã thực hiện lời LênTrời-259

Sau khi sống lại 40 ngày, và sau những lần gặp gỡ với các môn đệ, Đức Giêsu đã thực hiện lời Người đã nói trước, người đã từ biệt các ông và lên Trời.
Nhưng tại sao Đức Giêsu dạy các môn đệ làm phép Rửa đã, sau đó mới giảng dạy cho họ? Tại sao không nói Chúa về Thiên đàng mà lại lên Trời, dễ làm người ta hiểu lầm ở một điểm nào trên không gian? Tại sao cho đến lúc này vẫn có những môn đệ còn hoài nghi? Theo Matthêu thì Đức Giêsu lên Trời tại Galilêa, vậy tại sao thánh Luca (Lc 24,50-53) lại nói Chúa lên Trời ở Bêtania?
1. Galilêa
Matthêu không có ý nhấn mạnh tới địa danh nơi Chúa lên Trời, nhưng tác giả muốn nhấn những sự kiện có liên quan tới công trình cứu thế của Đức Giêsu tại Galilêa:
Galilêa là một địa danh rộng lớn thuộc phía bắc It-ra-en, nơi có đủ các thứ dân sinh sống. Đây là khu vực mà người It-ra-en ở Giê-ru-sa-lem coi khinh, cho là vùng đất của dân ngoại. Nơi đây được coi như trung tâm của các giao tiếp, sắc tộc, ngôn ngữ, thương mại, hoà trộn tín ngưỡng và vô tín ngưỡng.
Galilêa được coi là điểm hẹn lí tưởng giữa Thiên Chúa và con người: Trên núi Sinai, nơi Môi-sen đã ở trên đó 40 ngày đêm và được Thiên Chúa mạc khải cho 10 điều răn. Ngôn sứ Isaia và sau này là thánh Matthêu nhắc tới địa danh Galilêa như một điểm sáng: “Hỡi Galilêa miền đất của dân ngoại, những dân đang ngồi trong bóng tối tử thần được nhìn thấy ánh sáng” (Is.9,1).
Galilêa gắn liền với sứ vụ của Đức Giêsu: Na-da-ret nằm trong vùng đất Galilêa, nơi gia đình Đức Giêsu sinh sống, lớn lên và làm việc. Trên núi Ô-liu, nằm phía đông Giê-ru-sa-lem, là nơi Đức Giêsu thường xuyên đến để cầu nguyện. Tại đây còn có vườn Giêt-si-ma-ni, có làng Bêtania, nơi Người đã cho La-da-rô chết bốn ngày sống lại, có ngọn núi Bet-pha-giê nơi khởi điểm cuộc rước Đức Giêsu long trọng vào thành Giê-ru-sa-lem và tiên báo thành này bị tàn phá không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào.
Galilêa còn là dấu chỉ hẹn cuối cùng của Đức Giêsu với các môn đệ: Cũng có mây mù che phủ, như đã từng che phủ Môi-sen trên núi Si-nai, cũng như Đức Giêsu với ba môn đệ yêu dấu ở Ta-bo-rê; cũng con số 40 kì diệu: 40 ngày trên núi Si-nai của Môi-sen hay 40 ngày chay tịnh của Chúa; 40 ngày sau khi Đức Giêsu sống lại, Người đã gặp gỡ lần cuối với các môn đệ như đã chỉ định trước: “Các bà hãy mau về nói với các môn đệ rằng người đi Galilêa trước các ông” (Mt.28,7).
Như vậy Galilêa là nơi Chúa Giêsu đã sống gương mẫu, rao giảng chân lí, thành lập Giáo Hội và tuyển môn đệ. Đức Giêsu đã làm xong nhiệm vụ và đi trước để dọn chỗ cho những ai tiếp tục sứ mệnh Người giao phó.
2. Cõi Trời
Chúa Giêsu về Trời, là về nơi Người phát xuất: Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của Người ở trần gian, Người cần được hưởng vinh quang với Ba Ngôi Thiên Chúa. Mười một Tông đồ đã đến điểm hẹn, có một số còn hoài nghi. Thực ra tất cả các môn đệ đều khởi đầu từ chỗ hoài nghi rồi đến tin tưởng, và dám đổ máu mình ra để chứng tỏ niềm tin đó. Các ngài vẫn còn những hạn chế của con người, như Phê-rô, Tô-ma, hay hai môn đệ Emmau; các ngài còn phải được học hỏi các màu nhiệm mặc khải, các ngài phải được thử thách đủ, trước khi làm nhiệm vụ. Các Tông đồ còn được chứng kiến Thầy mình về Trời để các ông hi vọng. Chỉ có sự thật mới thuyết phục được các ngài theo Chúa; tất cả nói lên rằng, Đức tin là một hành động hoàn toàn tự do dành cho con người.
Chúa lên Trời là đi từ chỗ hữu hình vào nơi vô hình: Nói Chúa lên Trời, là nói theo kiểu thế gian. Người ta thường quan niệm trời là tất cả không gian ngoài trái đất, trời là nơi Đấng Tạo Hoá ngự trị và điều khiển muôn loài. Tuy nhiên, Trời đây không phải là một điểm nào, không phụ thuộc chiều cao của không gian vật lý, không phụ thuộc vào quy luật của vũ trụ, thời gian, có thể cân đong đo đếm. Chúa lên Trời không phải là lánh xa trái đất, đến ngự trị trong một vì tinh tú hào quang, Chúa lên Trời là thay đổi từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái siêu nhiên. Trời hay Thiên đàng là một, Người hiện diện khắp mọi nơi.
Đức Giêsu về Trời để nhận nhiệm vụ mới: Người duy trì sự hiện diện của Người nơi nhân loại: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế"(Mt 28,20). Đức Giêsu được trao toàn quyền trên trời, dưới đất, vũ trụ hữu hình và vô hình. Người đánh bại cái chết, Người làm Vua vũ trụ, Đấng sáng tạo và bảo tồn vũ trụ, không có gì nằm ngoài quyền của Người.
3. Thế gian
Đức Giêsu đã về Trời và trao lại nhiệm vụ cho Giáo Hội. Người đã lệnh cho mọi người trên trái đất phải thi hành chỉ thị của Người:
Vậy anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân và làm cho họ trở thành môn đệ Thầy. Môn đệ đây được hiểu là các Kitô hữu. Đức Giêsu gọi các môn đệ và muốn họ nhân rộng ra, tăng mạnh lên. Chúa tạo dựng con người và muốn cho họ hưởng hạnh phúc. Các Tông đồ được coi là người kế nghiệp Chúa Ki-tô, là những thợ gặt lành nghề. Họ phải biết đưa mọi người vào Nước Chúa. Chúa từ chối Sa-tan với tất cả vinh hoa của nó, Người muốn các Tông đồ tiếp tục chinh phục toàn thể vũ trụ để đưa mọi người vào Nước Trời hạnh phúc mà Người đi trước dọn chỗ, để mọi người có thể tận hưởng muôn đời.
Hãy làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Đức Giêsu muốn thâu nạp nhiều môn đệ qua phép Thanh Tẩy. Người đã thánh hoá nước, để nước có sức thánh hoá nhờ Thánh Linh. Người muốn họ nối kết với nhau trong một tập thể, mà Ba ngôi Thiên Chúa là mối dây, là tình yêu liên đới, là sức sống sung mãn dồi dào trong toàn thể, cũng như từng cá nhân. Không thể nhân danh cá nhân nào, không nhân danh thụ tạo nào, thần thánh nào, mà là nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa, để họ được gia nhập vào gia đình thánh thiện của Chúa.
Hãy dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Việc Đức Giêsu đặt nhiệm vụ này cuối cùng, không phải là Người dạy họ phải làm theo thứ tự như vậy, đó chỉ là câu nói nhằm mục đích kêu gọi môn đồ. Người muốn họ phải hiểu biết đầy đủ, để chia sẻ Lời dạy của Chúa, phải biết được giá trị của việc làm, để thực thi nhiệm vụ của một môn đệ.
Nhiệm vụ Chúa giao phó cho các Tông đồ cũng là nhiệm vụ của chúng ta. Chúa không muốn riêng ai quản lí màu nhiệm Mạc khải, Chúa ra lệnh mỗi người phải mạnh dạn ra đi rao giảng và làm chứng về Người, hầu được hưởng phúc Nước Trời với Thiên Chúa Ba Ngôi.

***
Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con tin bằng trái tim, tuyên xưng bằng miệng và bày tỏ bằng việc làm, rằng Chúa ngự trong chúng con ngõ hầu nhân loại thấy rõ những việc lành chúng con làm mà tôn vinh chúc tụng Cha chúng con trên trời. Vì Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, Đấng muôn đời vinh hiển. Amen! (Origênê)

 

LênTrời-260: Những giáo huấn cuối cùng và lên trời

(Chú giải và suy niệm của Lm. PX. Vũ Phan Long)
“Khi đi về trời, Đức Giêsu cũng chỉ cho chúng ta biết mục tiêu của đời sống chúng ta.”
1.- Ngữ cảnh
 

Chương 24 của TM Lc được xây dựng thành 3 đoạn và một kết luận (xem bài trước). Bản văn LênTrời-260

Chương 24 của TM Lc được xây dựng thành 3 đoạn và một kết luận (xem bài trước). Bản văn đọc trong Phụng vụ hôm nay lấy một vài câu của phần ba và đoạn kết luận.
Khi hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu cho thấy Người chính là Đức Kitô đã chịu đóng đinh, Người cũng không được gìn giữ khỏi đau khổ và thiếu thốn, khỏi bị từ khước và thù ghét, khỏi những đau đớn và cái chết. Nhưng cũng chính Đấng chịu đóng đinh là Đấng Phục Sinh. Người đã bị điệu đi đến cái chết trong tình trạng thê thảm và tàn bạo, nay Người đang đứng trước mặt các ông như là Đấng đang sống đã thắng vượt cái chết và không thể chết nữa. Rồi Người cho các môn đệ hiểu rằng các ông chẳng những không phải sợ là bị hủy diệt hoàn toàn, mà còn có thể và phải đi làm chứng về biến cố trọng đại này. Đức Giêsu đã dựa vào Kinh Thánh để trình bày cuộc Thương Khó – Phục Sinh, rồi xác định sứ mạng của các môn đệ.
2.- Bố cục
Bản văn này có thể chia thành hai phần:
1) Đức Giêsu Phục Sinh ban sứ điệp (24,46-49);
2) Đức Giêsu lên trời (24,50-53).
3.- Vài điểm chú giải
- bắt đầu từ Giêrusalem (47): Câu này là câu chuyển tiếp đưa sang tập thứ hai của tác phẩm Lc (= Sách Cv).   
- Chứng nhân (48): Tại đây, tác giả Lc đã nói trước điều ngài sẽ triển khai trong sách Cv, bắt  đầu ở Cv 1,21-22. Ngoài TM IV, sách Cv là quyển sách thuộc Tân Ước trong đó từ này và các từ phái sinh (làm chứng, chứng tá, chứng từ) được sử dụng nhiều nhất: 29 lần. Lý do là vì quyển sách này là sách về chuyên việc làm chứng. Như thế, từ martys, “chứng nhân”, cũng có một tầm quan trọng đặc biệt. Đặc biệt không được lẫn lộn từ này với tư cách “mục chứng”: Hy ngữ cổ điển, và chính Lc (Lc 1,2) dùng từ autopês, “người chứng mắt thấy”. Vai trò của một autopçs khá thụ động, và tư cách này thực ra chỉ là một tình trạng thực tế: autopês là người có cơ hội chứng kiến một biến cố nào đó; do đó, nếu cần phải làm chứng hoặc toà án buộc làm chứng, người ấy có thể trình bày những gì mình đã thấy, như mình đã thấy. Còn chứng nhân (martys) có một vai trò tích cực hơn nhiều, có một sứ mạng phải hoàn tất: đó là không những công khai công bố những gì mình đã chứng kiến, mà còn xác định ý nghĩa, tầm mức của biến cố ấy nữa. Là người đi qua biến cố, “chứng nhân” trở thành người tuyên cáo (trong bối cảnh tôn giáo, thần học) sứ điệp đã được hàm chứa trong biến cố ấy. Câu truyện tuyển chọn ông Mátthia thay thế cho Giuđa minh hoạ điểm phân biệt này (Cv 1,15-26). Bởi vì trong thực tế, ta khó mà hiểu được vì sao lại phải đi tới một tuyển chọn, thậm chí một sự chuẩn nhận để cắt đặt một chứng nhân nếu người này chỉ cần có một điều kiện là hiện diện thể lý trong một biến cố thuộc quá khứ. Trái lại, ta hiểu là cần có một cuộc tuyển chọn (rút thăm) nếu vai trò người được chọn vượt quá khung cảnh chật hẹp này, nếu cùng với việc công bố biến cố, người ấy còn phải biết minh giải đúng đắn biến cố ấy. Vậy các chứng nhân mà Cv sẽ nói tới trong cả sách, là những nhà thần học về các hoạt động cứu độ của Chúa.
Muốn làm chứng về sự sống lại của Đức Chúa (Cv 4,33), thì phải công bố chân tính và toàn thể sứ vụ của Đức Giêsu. Công viẹc làm chứng này của các tông đồ được mô tỏ rõ ràng trong các bài diễn từ (Cv 2,22-36; 3,12-16; 4,8-12; 5,29-32; 10,34-43; 13,26-41; 17,30-31).
- điều Cha Thầy đã hứa (49): dịch sát là “lời hứa của Cha Thầy”, là Thánh Thần, như Cv1,4b.5b sẽ diễn tả rõ. Thánh Thần sẽ là nguồn của “quyền năng” trong câu tiếp theo.
- giơ tay (50): Đây là cách chúc lành của tư tế (xem Aharon trong Lv 9,22), hoặc của vị thượng tế (xem Simôn II trong Hc 50,20-21). Điều mà Dacaria (Lc 1,21-22) đã không thể làm được, thì Đức Giêsu đang làm cho người đang đi theo Người. Mặc dù tác giả Lc mô tả Đức Giêsu thực hiện một hành vi tư tế, nền thần học của ngài không hề đề cập đến Đức Giêsu như là tư tế.
- được đem lên trời (50): Đây là thái bị động thay tên Thiên Chúa (x. Cv 1,9.11.22). Các câu 50-53 dường như mâu thuẫn với Cv 1,3-11. Theo Cv, Đức Giêsu “còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa” (Cv 1,3). Trong khi đó, bản văn TM dường như lại bảo rằng tất cả những gì tác giả Lc kể trong ch. 24 đã xảy ra trong ngày Phục Sinh, rằng di chúc của Đức Chúa đang rời xa thế gian này (cc. 41-49) và cuộc Lên trời của Người (cc. 50-53) theo liền ngay sau cuộc hiện ra vào chiều ngày Phục Sinh.
Dường như Lc đã có những ý hướng Phụng vụ khi trình bày các biến cố: mỗi ngày chúa nhật của cộng đoàn Kitô hữu là một lễ Phục Sinh, một ngày Phục Sinh.
- các ông bái lạy Người (52): Các môn đệ làm một cử chỉ nhận biết Đức Kitô. Họ thinh lặng bái lạy để thờ phượng Người, như người Do-thái đã làm trước mặt thượng tế Simôn (Hc50,22) để nhận phúc lành của ông.
- trở lại Giêrusalem (52): Như vậy, TM Lc kết thúc tại nơi nó đã bắt đầu (1,5). Giêrusalem đã là mục tiêu của hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu (23,5); bây giờ Giêrusalem lại được nêu ra như điểm nhắm. Nhưng rồi, điểm nhắm lại trở thành khởi điểm khi “lời” lan tỏa đến tận cùng trái đất (Cv 1,8).
- lòng đầy hoan hỷ (52): dịch sát là “với niềm vui lớn lao”. Đây là niềm vui của những người không những đã được thấy Đấng Phục Sinh, mà còn đã đặt sự Phục Sinh của Người liên hệ với cuộc ra đi của Người và đặt cuộc ra đi này liên hệ với lời hứa Thánh Thần. Lời nhắc đến “niềm vui lớn lao” khiến ta hiểu rằng biến cố Lên Trời chấm dứt thời gian Đức Giêsu ở tại trần thế, mà cũng là hoàn tất cuộc Phục Sinh của Người, là khởi đầu của thời gian Giáo Hội. Niềm vui này của những người chứng kiến cuộc Lên Trời là tiếng vọng và sự hoàn tất của niềm vui mà sứ thần hứa cho tư tế Dacaria và cho một số đông vào ngày Gioan Tẩy Giả chào đời (Lc 1,14). Nhưng nhất là niềm vui này thể hiện trọn vẹn niềm vui lớn lao mà sứ thần hứa cho các mục đồng, “một niềm vui cho toàn dân” (2,10). Ở đây cũng vậy, khởi đầu và kết thúc gặp nhau.
- hằng ở trong Đền Thờ (53): Như vậy, tác giả Lc bắt đầu mô tả đời sống cộng đoàn của Hội Thánh phôi thai (x. Cv 2,46; 3,1; 5,42). Ở đây lại nổi bật tầm quan trọng của Đền Thờ theo hướng nhìn của Lc.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Đức Giêsu Phục Sinh ban sứ điệp (46-49)
Trong tư cách Đấng Phục sinh, Đức Giêsu giải thích cho các môn đệ hiểu rằng toàn thể định mệnh của Người đã được Thiên Chúa muốn như thế, và Người giúp các ông hiểu ý nghĩa của Kinh Thánh, như Người đã làm cho hai môn đệ Emmau. Cái chết của Người trên thập giá và cuộc Phục Sinh của Người cũng đã làm trọn nội dung sau này phải được loan báo cho mọi dân tộc. Nhân danh Đức Giêsu, nghĩa là trong chứng từ về Người, khởi đi từ tất cả những gì đã được biểu lộ xuyên qua công trình và toàn thể cuộc tiến bước của Người cho đến thập giá và sự sống lại, muôn dân sẽ được loan báo sự hoán cải và sự tha thứ tội lỗi. Mọi người phải quay trở lại với Thiên Chúa, Đấng đã nhờ cuộc sống, cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu mà chứng tỏ tình yêu và quyền lực của Người. Rồi Đấng Phục Sinh biến các môn đệ trở thành chứng nhân của Người. Họ sẽ phải làm chứng về các biến cố trong cuộc đời của Người cũng như cuộc gặp gỡ với Người đây và việc Người trở về trời (x.Cv 1,21t). Mỗi lời loan báo đều phải phát xuất từ các chứng nhân này, nghĩa là không dựa trên những suy diễn, những ý tưởng hoặc ý kiến cá nhân, nhưng trên các biến cố lịch sử và trên những giáo huấn do Đức Giêsu ban cho. Do đó, lời loan báo chỉ có thể phát xuất từ những người đã tháp tùng và lắng nghe Đức Giêsu, đã hiểu ý nghĩa của cuộc đời Người nhờ được Người giải thích.
Các môn đệ không thể hiểu nhiệm vụ bao la này bằng sức riêng. Do đó, Đức Giêsu báo cho các ông là Người sẽ gửi cho các ông điều Chúa Cha đã hứa, tức là Thánh Thần. Chính Thánh Thần, là quyền lực của Thiên Chúa, sẽ giúp cho các ông có khả năng loan báo với xác tín và can đảm công trình và sự Phục Sinh của Đức Giêsu (x. Cv 2,22-36).
* Đức Giêsu lên trời (50-53)
Sau khi đã dùng nhiều cách để làm cho các môn đệ tin chắc vào sự sống lại của Người và sau khi đã chuẩn bị các ông đi vào nhiệm vụ, Đức Giêsu từ biệt các ông. Người sẽ không hiện diện bên các ông theo kiểu hữu hình nữa. Nhưng Người sẽ cùng đi với các ông trên mọi nẻo đường. Người giơ tay lên để từ biệt các ông. Trong khi Người đi xa dần khỏi mắt các ông, Người chúc lành cho các ông. Người gửi đến cho các ông sức mạnh của hành vi chúc lành của Người, để sức mạnh này ở lại với các ông và nâng đỡ các ông suốt đời trong mọi hoạt động.
Chỉ đến lúc này, tác giả mới nhắc đến niềm vui của các môn đệ và việc các ông chúc tụng Thiên Chúa. Dacaria (Lc 1,64.68-79) và ông Simêôn (2,28-32) đã chúc tụng Thiên Chúa. Lời chúc tụng Thiên Chúa liên tục vang lên khi dân chúng chứng kiến những hành vi quyền lực của Đức Giêsu (7,16; 13,13; 17,15; 18,43). Sau khi đã trải nghiệm qua Đấng Phục Sinh hành vi quyền lực lớn lao nhất của Thiên Chúa, nghĩa là sự Phục Sinh của Đức Giêsu, các môn đệ chỉ có một câu trả lời đúng đắn: ca ngợi trong niềm hoan hỷ và chan hòa tâm tình biết ơn đối với Thiên Chúa.
+ Kết luận
Tác giả Lc đã bắt đầu tác phẩm với việc Dacaria dâng hương và dân chúng cầu nguyện trong Đền Thờ (Lc 1,8-10), để xin Thiên Chúa nhớ lại dân Ngài và tỏ lòng nhân ái. Bây giờ tác giả kết thúc Tin Mừng với việc các môn đệ của Đức Giêsu chúc tụng Thiên Chúa trong Đền Thờ. Các ông đã cùng đi với Đức Giêsu cho đến khi Người lên trời, các ông đã biết hơn bất cứ ai rằng Thiên Chúa đã nhớ đến dân Ngài thế nào. Và tất cả những ai nhờ chứng tá của các môn đệ và qua tác phẩm Lc mà trải nghiệm lòng từ bi cao cả của Thiên Chúa, thì không thể làm gì hơn là tham gia vào việc ca ngợi chúc tụng Thiên Chúa. 
5.- Gợi ý suy niệm
1. Hôm nay là Chua Giêsu lên trời. Khi mừng đại lễ này, chúng ta tưởng niệm lần cuối cùng Đức Giêsu tỏ mình ra hữu hình với các môn đệ. Người chọn một cách thức hiện diện khác để hỗ trợ các môn đệ trong hoạt động truyền giáo. Từ nay, Người sẽ đồng hành với họ, sẽ hiệp thông với họ khi chia sẻ bữa ăn, sẽ sống động khi họ giải thích Sách Thánh và khi họ ý thức rằng họ đang được đón nhận sự sống viên mãn của Người. Người bỏ cách hiện diện trước đây bằng thân xác, để từ nay hiện diện mãi mãi với mỗi môn đệ.
2. Khi đi về trời, Đức Giêsu cũng chỉ cho chúng ta biết mục tiêu của đời sống chúng ta. Nếu  chúng ta xác tín rằng chúng ta thuộc về “trên cao”, thì chúng ta sẽ phải quy hướng trọn cuộc sống chúng ta về đó. Chúng ta vẫn sống giữa các thực tại trần gian, chúng ta vẫn phải sử dụng các yếu tố trần gian, nhưng không bám víu vào các phương tiện ấy, trái lại, biết dùng chúng cách tích cực mà chuẩn bị cho mình và người khác đi vào cuộc sống vĩnh cửu. Trước ngày đi chịu chết, Đức Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm nhưỡng vinh quang của con” (Ga 17,24).
3. Thánh Thần, là quyền năng của Chúa Cha và của Đức Giêsu, luôn ở với Hội Thánh để hỗ trợ Hội Thánh trong sứ mạng đã nhận từ Đức Giêsu. Đọc sách Cv, chúng ta nhận ra được sức năng động của Thánh Thần.
4. Nếu các tín hữu gắn bó mật thiết với Đức Giêsu, họ nhận ra quyền lực vô song của Thiên Chúa trong viẹc cho Đức Giêsu sống lại. Khi đó, họ chỉ có thể cảm thấy tưng bừng hoan hỷ và lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa sẽ hồn nhiên từ đáy lòng trào dâng lên môi miệng họ. Và trọn cuộc sống của họ là một chứng từ về quyền lực cứu độ của Thiên Chúa mà họ đã trải nghiệm.

 

LênTrời-261: TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP

Viễn tượng tương lai
 

Thủ lãnh của một bộ tộc nằm hấp hối trên giường. Ông cho gọi ba người có thể thay thế ông: LênTrời-261

Thủ lãnh của một bộ tộc nằm hấp hối trên giường. Ông cho gọi ba người có thể thay thế ông và nói: Ta phải chọn một người kế vị. Các ngươi hãy leo lên đỉnh núi thiêng liêng của chúng ta và mang về đây cho bộ tộc một món quà quý giá nhất.
Người thứ nhất mang về một thỏi vàng lớn. Người thứ hai mang về một viên ngọc quý. Người thứ ba trở về tay không. Ngạc nhiên vị tù trưởng hỏi: món quà quý giá của ngươi đâu ? Anh điềm tĩnh trả lời: khi tôi lên tới đỉnh núi, tôi thấy ở phía bên kia môt vùng đất phì nhiêu màu mỡ, tại đó dân chúng có thể một cuộc sống sung túc tốt đẹp.
Tù trưởng nói: Ngươi sẽ kế vị ta vì ngươi đã mang về món quà quý giá nhất là một viễn tượng tương lai tốt đẹp cho cả bộ tộc.
Chúa Giêsu về Trời mở ra một viễn tượng tương lai tốt đẹp, đó là hạnh phúc Thiên Đàng. Người đi trước mở đường và dẫn chúng ta lên theo Người.
 
Chúa Giêsu Lên Trời
Hôm nay, Giáo Hội mừng Lễ Chúa Giêsu lên Trời. Người trở về Nhà Cha, sau khi đã hoàn tất sứ vụ Chúa Cha trao phó. Sau thời gian 33 năm xa nhà, Người hồi hương trong vinh quang phục sinh và “được đưa về trời ngự bên hữu Thiên Chúa” ( Mc 16, 19 ).
Chúa Giêsu lên trời, một cảnh tượng thật huyền diệu. Thân xác Người nhẹ bay lên cao. Tay Người ban phúc lành cho các tín hữu. Dáng Người nhỏ dần và hòa biến vào không gian vô tận.Trên trời cao, các thiên thần và triều thần Thiên Quốc đang tụ họp tổ chức nghi lễ đón tiếp Đấng Cứu Thế khải hoàn.
Tác giả Thánh Vịnh 23 đã chiêm ngưỡng và mô tả cuộc nghinh đón đó bằng ca khúc bất hủ: “Hỡi các khải hoàn môn và các vệ binh thiên quốc, hãy cất cao đầu lên. Hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu, hãy mở rộng ra, để Vua vinh hiển và đoàn tùy tùng tiến vào. Vua vinh hiển là ai ? Thưa là Đức Giêsu uy hùng lẫm liệt, là Chúa oai phong chiến thắng. Hỡi các khải hoàn môn, hỡi các cửa triều đình vĩnh cửu hãy cất cao đầu lên, để Vua vinh hiển tiến vào, Vua vinh hiển là ai ? Chính là Thiên Chúa hùng dũng uy linh”.
Đoàn tùy tùng theo Chúa về trời đông vô kể, các Thánh thời Cựu Ước, các Tổ Phụ, các Ngôn Sứ, các người công chính… đang hoan hỉ vui mừng đi theo Chúa. Đặc biệt có Thánh cả Giuse, Thánh Gioan Tiền Hô, Tổ Phụ Abraham, Giacóp, Môsê, Thánh Gióp, vua Đavít, hân hoan cung nghinh Đấng Phục Sinh khải hoàn về Thiên Quốc.
Trên núi Cây Dầu, cả cộng đoàn môn đệ đang ngây ngất chiêm ngưỡng, tâm trí như mất hút vào không gian vô tận, lòng rộn rã hân hoan: “Hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa. Hãy trổi cao kèn sáo, đàn ca lên dâng Người khúc ca tuyệt mỹ, Chúa là Vua khắp muôn dân, ngự trên tòa uy linh cao cả” ( Tv 47, 2-3, 6-9 ).
Chúa về trời vì chính Người đã từ trời xuống thế: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng đã từ trời xuống” ( Ga 3, 13 ). Người đến nhân gian để nói với nhân loại về Nước Trời, mặc khải cho con người biết Thiên Chúa. Người giúp họ thay đổi quan niệm về Thiên Chúa cũng như quan niệm về con người.
 
Hiện diện mới
Chúa về Trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới.Chúa về Trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng.
Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng phục sinh của Chúa Kitô.
Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người.
Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Những người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Chúa Giêsu một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” ( Ga 14, 23 ).
Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho “Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” ( Ga 15, 5 ).
Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa. Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người. Quả thật, đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học.
 
Trao Sứ Vụ
Chúa về Trời mở ra sứ vụ mới cho các Tông Đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”.
Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông Đồ, qua các Tông Đồ rồi đến các Môn Đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta: “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống,dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.
Hội Thánh chọn lễ Thăng Thiên làm Ngày Thế Giới Truyền Thông ( World Communications Day ). Ngày Lễ Thăng Thiên gắn liền với mệnh lệnh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” ( Mt 28, 19 ). Các Tông Đồ lên đường truyền giáo, cộng đoàn Hội Thánh được thiết lập và những bước chân không mệt mỏi của người loan báo Tin Mừng đã làm nên lịch sử Hội Thánh.
Có truyền giáo là có truyền thông, và bởi vì có truyền rao sứ điệp cứu rỗi của Tin Mừng nên mới có những người lắng nghe, đón nhận Đức Tin và được sống trong ơn cứu rỗi. Truyền giáo là nghĩa vụ “thông truyền điều đã thấy và đã nghe” ( 1Ga 1, 3 ) để mọi người được hiệp thông với Thiên Chúa.
Đây là điểm khác biệt giữa truyền thông xã hội và truyền thông Công Giáo. Trong khi truyền thông xã hội khai thác thông tin theo quy luật cung cầu của thị trường, thì truyền thông Công Giáo lại xác định hướng đi của mình là mùa màng trong đời sống Đức Tin.
Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng: “Ngày nay các phương tiện truyền thông hiện đại, vốn là một phần thiết yếu của cuộc sống, cách riêng đối với những người trẻ” ( Sứ điệp Truyền Thông lần thứ 49, năm 2015 ).
Trong Sứ điệp Truyền Thông lần thứ 50, năm 2016, ngài viết: “Truyền thông có sức mạnh bắc những nhịp cầu, thúc đẩy gặp gỡ và hoà nhập, làm cho xã hội được phong phú. Đẹp biết bao khi thấy mọi người thận trọng lựa lời và cử chỉ, để vượt qua những hiểu lầm, để chữa lành những ký ức đau thương và xây dựng hoà bình và hoà hợp. Lời nói có thể bắc những nhịp cầu nối giữa các cá nhân, các gia đình, các nhóm xã hội và các dân tộc với nhau. Điều này là có thể được, cả trong thế giới vật chất và thế giới kỹ thuật số… Email, tin nhắn, mạng xã hội và trò chuyện cũng có thể là những hình thức truyền thông đầy tính nhân văn. Không phải là công nghệ xác định truyền thông có xác thực hay không, mà là trái tim con người và khả năng của con người biết sử dụng một cách khôn ngoan các phương tiện sẵn có. Các mạng xã hội có thể giúp cho những mối tương quan được dễ dàng và thúc đẩy thiện ích của xã hội”.
Nếu Chúa Giêsu sinh ra trong thời đại này, Người sẽ dùng internet để rao giảng Tin Mừng. Chúa Giêsu Kitô là nhà truyền thông đầu tiên, vĩ đại, đại tài vì sứ điệp của Người là Tin Mừng, là tin vui cho mọi người. Chúa Giêsu có mạng lưới gồm các Tông Đồ thông truyền Tin Mừng cho nhân loại. Qua các Môn Đệ, Tin Mừng được loan truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Chúa Giêsu không có các phương tiện hiện đại, Người có các Tông Đồ, các Môn Đệ, các thế hệ nối tiếp nhau như mạng lưới phổ biến Tin Mừng khắp nơi trên thế giới.
Truyền thông chính là chia sẻ niềm vui Tin Mừng Cứu Độ. Truyền thông có đặc điểm là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nên mọi sự cho mọi người và xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ yêu thương. Từ đó giúp con người nhận ra tình yêu của Chúa. Đây là sứ vụ Chúa trao phó cho mỗi người tín hữu trong thời đại hôm nay.
Cảm tạ Thiên Chúa đã ban những phương tiện truyền thông hiện đại. “Truyền thông, dù ở đâu và bằng cách nào, cũng mở ra những chân trời rộng lớn hơn cho nhiều người. Đây là quà tặng của Thiên Chúa kèm theo một trách nhiệm lớn lao”; “Internet có thể được sử dụng một cách khôn ngoan để xây dựng một xã hội lành mạnh và mở ra để sẻ chia” ( Sứ điệp Truyền Thông lần thứ 50 ).
Ước mong mỗi người tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông với Đức Tin, trong sự tuân phục sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, góp phần loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

LênTrời-262: CHỨNG NHÂN HIỆN ĐẠI

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đến Albania vào Chúa Nhật 21.9.2014, bất chấp lời cảnh báo trước LênTrời-262

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đến Albania vào Chúa Nhật 21.9.2014, bất chấp lời cảnh báo trước đó của đại sứ Iraq tại Toà Thánh rằng, ngài có thể bị những kẻ thánh chiến Nhà Nước Hồi Giáo nhắm mục tiêu tấn công. Dù vị trí địa lý ở ngay sát bên thủ đô của Giáo Hội Công Giáo, Albania là một quốc gia CS tồi tệ nhất tại Âu Châu, là nước vô thần đầu tiên trên thế giới. Điều 37 trong Hiến Pháp 1967 của CS tuyên bố: “Nhà Nước không công nhận tôn giáo nào, ủng hộ và thực thi chính sách tuyên truyền vô thần nhằm kiến tạo một thế giới tương lai khoa học và duy vật.”
Các nhà lãnh đạo Giáo Hội bị bắt, bị giam cầm trong các trại cải tạo, bị giết, có cả những Giám Mục và linh mục bị xô xuống từ những tầng lầu cao, bể sọ chết… Tất cả 2.167 Nhà Thờ và các cơ sở của Giáo Hội bị tịch thu, nhiều đền thờ lâu đời, như Vương Cung Thánh Đường ở Shkodër, bị biến thành một vận động trường. Trước sự tàn bạo của CS Albania, chỉ một phần tư thế kỷ trước không ai dám nghĩ có một ngày người dân được hưởng chút tự do tôn giáo. Chuyện một vị Giáo Hoàng đến thăm Albania có lẽ nằm mơ cũng không dám nghĩ tới.
Cha Ernest Simoni, 84 tuổi ( Ảnh bên trái ), từng bị kết án tử hình, nhưng rồi được giảm xuống còn 27 năm lao động khổ sai trong các trại lao động khác nhau. Cha bị nhà nước CS bắt giam từ lễ Giáng Sinh năm 1963, bị kết án tử hình vì đã cử hành 3 lễ cầu nguyện cho Tổng Thống Kennedy của Mỹ bị ám sát chết một tháng trước đó. Cha bị tra tấn và đối xử vô nhân đạo. Sau đó, án tử hình được biến cải thành 18 năm tù, trong đó có nhiều năm lao động khổ sai, và sau khi được trả tự do một thời gian, cha lại bị bắt trở lại, tổng cộng là 27 năm tù đày. Trong thời gian đó, cha vẫn cử hành Thánh Lễ thuộc lòng bằng tiếng Latinh, giải tội và bí mật phân phát Mình Thánh Chúa cho các tín hữu. Ngày 5.12.1990, cha được thả tự do, và bắt tay ngay vào các hoạt động mục vụ của mình, việc mà cha chưa bao giờ ngừng ngay cả khi ở trong tù. Điều đầu tiên cha làm là khẳng định tha thứ cho những người đã hành hạ mình. “Tôi luôn xin Chúa thương xót họ.”
Khi đươc hỏi cha đã đấu tranh thế nào để chịu đựng sự hành hạ như thế mà không bỏ cuộc, thì cha mỉm cười và tiết lộ bí mật: "Tôi chẳng làm gì phi thường cả, thật đấy, chỉ là tôi luôn luôn cầu nguyện với Chúa Giêsu, luôn luôn nói chuyện với Chúa Giêsu.” Khi cha Simoni dứt lời, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiến đến ôm vị Linh Mục thật lâu và cảm động khóc. Sứ thần Tòa Thánh tại Albania, Đức Tổng Giám Mục Ramiro Moliner Inglés, nhận định chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha Phanxicô đến đất nước Albania, muốn nhấn mạnh rằng, sự thiện cuối cùng đã chiến thắng cái ác.
Theo hãng tin AFP, cuộc du hành một ngày qua Albania của Đức Phanxicô vào ngày 21.9.2014, nhằm đề cao nước này như một kiểu mẫu của hoà hợp liên tôn, giữa lúc ở Trung Đông đang có rối loạn và tại Âu Châu làn sóng bất khoan dung đang dâng cao. Tháng 8 năm 2015, Đức Phanxicô cho biết: Albania đã thành công trong việc tạo ra một “chính phủ đoàn kết quốc gia gồm người Hồi Giáo, Chính Thống Giáo và Công Giáo, với một hội đồng liên tôn rất có ích và cân bằng” và nói thêm: sự hiện diện của ngài “sẽ là một cách nói với mọi người rằng: quý vị xem, tất cả chúng ta đều có thể làm việc với nhau !”
Albania là một quốc gia tại Đông Nam Âu với Montenegro ở phía Bắc, Serbia ở phía Đông Bắc, Cộng Hoà Macedonia ở phía Đông, và Hy Lạp ở phía Nam. Dân số chỉ 3.581.655 người. Những người cộng sản lên nắm quyền sau Thế Chiến II. Sau sự sụp đổ của chính phủ CS, Albania theo mô hình Cộng Hoà Nghị Viện. Công Giáo đã bắt đầu có mặt tại Albania vào giữa thế kỷ thứ nhất khi đó còn thuộc Đế Quốc Rôma. Albania từng là nước có số tín đồ Công Giáo ưu thế, với mười tám Tòa Giám Mục, một số chúng có lịch sử liên tục từ khi bắt đầu có Cơ Đốc Giáo cho tới ngày nay. ( Lữ Giang, Đức Giáo Hoàng đến thăm Albania, Vietcatholic ).
Ông Mimmo Muolo, nhà báo Công Giáo người Ý, đã viết một quyển sách về cha Simoni. Ông cho biết: “Cha Simoni đã chịu hơn 11.000 ngày tra tấn và lao động cưỡng bức.” Hôm Thứ Tư, 20.4.2016 vừa qua, trong buổi tiếp kiến chung, cha Ernest Simoni đã đến gặp và trao quyển sách này cho Đức Giáo Hoàng. Và ngài đã chào đón cha bằng cách hôn tay đầy kính trọng.
Cha Simoni cho biết: “Tôi chịu bách hại, bắt đầu từ Đêm Giáng Sinh 1963, khi bị bắt và biệt giam, tra tấn và tuyên án tử hình, đơn giản chỉ vì tôi là Linh Mục.” Bạn cùng phòng giam với cha cho biết, đáng ra vị Linh Mục này hẳn sẽ căm thù chế độ, nhưng cha Simoni chẳng làm gì ngoài cầu nguyện và tha thứ cho những người hành hạ mình. Rồi bản án của cha được đổi thành 25 năm lao động khổ sai, tại hầm mỏ và cống rãnh ở vùng Scutari. ( Bản dịch của J.B. Thái Hòa, Vatican Insider 20.4.2016 ).
Trong Tin Mừng Chúa Nhật Thăng Thiên hôm nay, Đức Giêsu trao cho các môn đệ sứ vụ cấp bách và quan trọng cần phải thực thi: “Ðức Kitô phải chịu khổ nạn và ngày thứ ba thì sống lại từ cõi chết; và nhân danh Ngài, phải được rao giảng cho mọi dân tộc việc hối cải để được tha thứ tội lỗi – khởi từ Giêrusalem. Về các điều ấy, các ngươi là chứng nhân." Người mong tất cả Kitô hữu, những ai tin và theo Người, đều là những nhà truyền giáo mọi thời và mọi nơi, đồng thời cũng trở thành chứng nhân cho chính niềm tin vào Đức Giêsu.
Cha Ernest Simoni đã và đang là chứng nhân thời đại của Chúa Giêsu, giữa một thế giới thực dụng, tôn sùng vật chất, đang ra sức chối từ Thiên Chúa. Ngài vẫn không hề lùi bước, không chán nản lội ngược dòng đời, vẫn tiếp tục dũng cảm thảo nên những chứng từ cụ thể, khả tín, hết sức thuyết phục, mà không ai có thể công kích, có thể phủ nhận hay phản bác.
Chứng từ khổ giá
Theo Chúa tiên quyết phải bỏ mình, vác thập giá mà bước theo chân Chúa. Điều kiện tưởng chừng thật dễ dàng và đơn giản, nhưng thực hiện không dễ và cũng chẳng giản đơn như ngộ nhận. Tuy nhiên, có thể tóm tắt và diễn giải điều kiện đó, là từ bỏ ý riêng, để hoàn toàn nói “Fiat” theo Thánh Ý Chúa, cùng chấp nhận tất cả sự khốn khó xảy đến vì danh Chúa.
Từ bỏ mình là không lấy bản thân mình làm tâm điểm, chẳng quy về mình, cũng chẳng kiếm lợi cho mình. Nhưng lấy Đức Giêsu làm tâm điểm cuộc đời, làm kim chỉ nam, làm cùng đích tại thế. Tất cả suy nghĩ, tư tưởng, nói năng, hành động, ứng xử, đều quy hướng về Chúa làm chuẩn mực, gương mẫu. Nếu Chúa cũng ở vào hoàn cảnh như mình, sống trong môi trường xã hội hiện nay, gặp những vấn đề nan giải, phức tạp, đau khổ, thì Chúa sẽ nghĩ sao ? Người sẽ nói gì ? Người sẽ hành động ra sao ? Người sẽ ứng xử thế nào ? Thánh Kinh, Tông truyền, Giáo truyền, các Chủ Chăn, Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo Dân tốt lành, luôn sẵn sàng trả lời chính xác. Nhất là dành cho những ai tha thiết tìm hiểu Thánh Ý, trước tất cả biến cố trong đời người.
Khi từ bỏ mình, xả kỷ, sẵn sàng chấp nhận những khổ giá, thách đố, đau thương, nhục hình vì danh Chúa, cũng là lúc Kitô hữu viết nên những chứng từ minh bạch và thuyết phục nhất. Điển hình như Cha Ernest Simoni đã viết chứng từ bằng 11.000 ngày tra tấn và lao động cưỡng bức. Mặc dầu, có thể bị coi là khờ khạo, dại dột, ngu dốt, không thức thời, dưới mắt thực dụng của người đời. Nhưng “những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh” ( 1Cr 1, 27 ).
Chứng từ tình yêu
Trên thập giá, Đức Giêsu không chỉ tha thứ cho những người âm mưu và sát hại Người, mà còn khoan dung, thân thương cầu nguyện cho họ, như chính lời Người đã dạy: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” ( Lc 23, 34 ). Vậy tha thứ chính là đỉnh cao của tình yêu. Làm chủ bản thân, không nhương bộ bản năng, không chiều theo ham muốn, không chịu khuất phục bởi dục vọng, sẵn sàng chịu đóng đinh vào thập giá, đành cam chịu chết đi, mới có thể sẵn lòng khoan dung, tha thứ cho kẻ hại mình.
“Hãy yêu thương thù địch và làm ơn cho những kẻ ghét các con, hãy cầu nguyện cho những ai bắt bớ và nguyền rủa các con: để như vậy các con nên con cái Cha các con, Ðấng ngự trên trời: Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương.” ( Mt 5, 44-46 ). Cha Ernest Simoni đã thực hành trung thực Lời Chúa, khi tha thứ và cầu nguyện cho những người hành hạ, đày ải: “Tôi luôn xin Chúa thương xót họ.”
Chứng từ tín thác
Chứng nhân còn là người luôn liên lỉ trông cậy vào Thiên Chúa qua cầu nguyện và Thánh Thể. Noi gương Đức Giêsu hằng sáng tối chuyên chủ cầu nguyện, để kếp hợp chặt chẽ với Thiên Chúa Cha, người Kitô hữu cũng cần luôn cầu nguyện, để lắng nghe tiếng Chúa, Thánh Ý, cũng như tâm sự mọi sự với Người. Kể cả những thất bại, những đau khổ, hoạn nạn, những ân oán, oan ức, nhục mạ, ganh ghét, tị hiềm, những lời thị phi đố kỵ. Người sẽ luôn lắng nghe, sẽ luôn thấu hiểu, luôn an ủi, nâng đỡ, chở che.
Như vậy, cầu nguyện là hoàn toàn tín thác vào Lòng Thương Xót, cũng như là chứng từ đặc biệt, để được cứu rỗi khỏi mọi gian nguy, nhất là khỏi phải chết đời đời.
“Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản bội Hội Thánh ? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính: họ bỏ cầu nguyện từ lâu.” ( Đường Hy Vọng, số 125 ).
Khi hỏi về bí quyết chịu đựng sự hành hạ, bạc đãi, tù đầy với niềm tin vững mạnh, trung kiên vào Thiên Chúa, Cha mỉm cười tiết lộ: ”Tôi chẳng làm gì phi thường cả, thật đấy, chỉ là tôi luôn luôn cầu nguyện với Chúa Giêsu, luôn luôn nói chuyện với Chúa Giêsu.” Hơn nữa, Cha còn được bổ sung, tăng thêm sức chịu đựng nhờ âm thầm dâng Thánh Lễ hằng ngày trong nhà tù. Thánh Thể là nguồn sinh lực vô biên cho những ai trân trọng đón rước.
“Đèn không sáng nếu hết dầu, xe không chạy nếu cạn xăng, hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến vói Thánh Thể: "Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta, chẳng được sống đời đời." ( Đường Hy Vọng, số 360 ).
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin luôn dạy chúng con biết rao giảng, làm tông đồ, làm chứng nhân, không phải chỉ bằng lời nói suông, nhưng chính bằng những chứng từ khổ giá, chứng từ tình yêu khoan dung với tha nhân, cùng chứng từ tín thác vào Lòng Thương Xót vô ngần.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu bầu cho chúng con biết vinh danh Chúa qua việc chu toàn bổn phận, trách nhiệm trong đời sống thường nhật. Đó cũng chính là vâng theo Thánh Ý Chúa trong từng phút giây hiện tại, như Mẹ từng vâng phục. Amen.

 

LênTrời-263: Định hướng

Định hướng là việc cần làm trong cuộc sống. Lĩnh vực nào cũng cần được định hướng đúng đắn  LênTrời-263

Định hướng là việc cần làm trong cuộc sống. Lĩnh vực nào cũng cần được định hướng đúng đắn để khả dĩ có kết quả tốt nhất. Về tâm linh, Chúa Giêsu đã định hướng cho những ai muốn thuộc về Ngài: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ). Đặc biệt hơn, Ngài định hướng sống cho chúng ta qua Điều Răn Mới: Yêu thương nhau ( Ga 13, 34-35; Ga 15, 12 và 17 ). Thật kỳ lạ là yêu thương khả dĩ “che phủ muôn vàn tội lỗi” ( 1Pr 4, 8 ).
Trước khi về Trời, Chúa Giêsu đã định hướng cách sống cho chúng ta để chúng ta cố gắng sống tốt, chờ Ngài trở lại đón chúng ta. Ngài về Trời trước để dọn chỗ cho chúng ta ( Ga 14, 2-3 ), nhưng Ngài vẫn ở bên chúng ta cho tới tận thế ( Mt 28, 20 ).
Chúa Giêsu về trời, chúng ta ở lại. Đó là cuộc chia tay đầy ý nghĩa. Tất nhiên cuộc chia tay nào cũng đầy lưu luyến, bịn rịn, đôi khi còn buồn thảm. Nhưng cũng có những cuộc chia tay khiến người ta vui mừng và hy vọng, đặc biệt nhất là cuộc chia tay giữa Chúa Giêsu và các môn đệ vào ngày Ngài về trời. Chúng ta vui mừng và hy vọng, không hề mồ côi, vì chính Ngài đã hứa: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” ( Ga 14, 26 ).
Vương Quốc Thiên Chúa không phải ở thế gian này, nhưng người ta lại tưởng Chúa Giêsu là nhà cách mạng lỗi lạc, chính trị gia đại tài, đang tìm cách khôi phục vương quốc trần gian. Do đó, người ta đã hỏi dò Ngài: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ítraen không ?” ( Cv 1, 6 ). Nhưng Ngài đã thẳng thắn xác định: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” ( Cv 1, 7 ).
Vừa nói xong, Ngài được cất lên ngay trước mắt họ, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Họ ngơ ngẩn, không biết vì tiếc Chúa hay tiếc cảnh lạ nữa. Đang lúc họ còn đăm đăm nhìn lên Trời phía Ngài đi mất hút, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên Trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” ( Cv 1, 11 ). Hoàn hồn. Nhéo tay thấy vẫn đau lắm.
Quả thật là lạ lùng và kỳ diệu, phàm ngôn không thể diễn tả ! Nói cho ngay thì cũng thấy buồn khi Ngài đi xa, nhưng chúng ta vẫn tràn trề hy vọng, vì chúng ta không hề bị bỏ rơi, không như kẻ lang thang vô định. Như Ngài nói, Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta, và Ngài còn gởi Chúa Thánh Thần đến nâng đỡ chúng ta từng ngày. Lợi ích nhân đôi đấy !
Thật là vui mừng, và trong niềm hy vọng đó, tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo ! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” ( Tv 47, 2-3 ). Thật hạnh phúc khi chúng ta được nhận biết và tôn thờ một Thiên Chúa như vậy.
Niềm vui mừng nối tiếp, niềm hy vọng được kéo dài và lan tỏa: “Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo, Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và. Hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta! Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” ( Tv 47, 6-9 ).
Rất rạch ròi, Thánh Phaolô cho biết: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta. Người vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh” ( Dt 9, 24-25 ).
Tại sao vậy ? Thánh Phaolô giải thích: “Người đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình. Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét. Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người” ( Dt 9, 26-28 ).
Vì vậy, “nhờ máu Đức Giêsu đã đổ ra, chúng ta được mạnh dạn bước vào cung thánh” ( Dt 10, 19 ). Chúng ta vô cùng hạnh phúc vì được Chúa trao ban cho quyền đó, dù chúng ta hoàn toàn bất xứng. Và còn hơn thế nữa, chính “Người đã mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người. Chúng ta lại có một vị tư tế cao trọng đứng đầu nhà Thiên Chúa” ( Dt 10, 20-21 ). Vì thế, Thánh Phaolô căn dặn chúng ta: “Hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một Đức Tin trọn vẹn, vì trong lòng đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền. Hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín” ( Dt 10, 22-23 ).
Sống Đức Tin và thực thi lòng thương xót là việc làm cần thiết, nhưng phải kiên trì và không ngừng canh tân. Thật vậy, có thể nói rằng sống Đức Tin là mối phúc thứ 9 mà chính Chúa Giêsu đã xác nhận: “Phúc thay những người không thấy mà tin !” ( Ga 20, 29 ). Về phương diện này, chúng ta phải cảm ơn Tông Đồ Tôma, vì nếu lòng tin của ông cũng “mềm” như người khác thì làm gì có mối phúc này!
Sống Đức Tin là thể hiện Đức Tin một cách sống động và cụ thể. Sống Đức Tin là sống đạo, chứ không chỉ dừng lại ở việc giữ đạo hoặc chỉ giới hạn từ cửa nhà thờ vào phía trong. Giữ đạo thì không khó, có thể nói là dễ, nhưng sống đạo thì không dễ chút nào và phức tạp lắm, cần phải thực sự can đảm và dứt khoát.
Chúa Giêsu nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” ( Lc 24, 46-47 ). Chẳng có niềm hạnh phúc nào mà vắng bóng đau khổ, chẳng có niềm vui nào thiếu khoảng buồn. Chúa Giêsu là Thiên Chúa mà còn chịu đau khổ đến tột cùng mới có thể vinh thắng, thế thì chúng ta không thể không đau khổ khi sống đạo.
Sống đạo là làm chứng về Đức Kitô, về Tình Yêu của Thiên Chúa, về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, vì chính Ngài đã truyền lệnh cho mỗi chúng ta: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này” ( Lc 24, 48 ).
Chúa Giêsu chia tay các môn đệ để về Trời, cuộc chia tay không buồn thảm mà lại chứa chan niềm hy vọng: “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” ( Lc 24, 49 ). Nói xong những lời đó, Ngài dẫn các ông tới gần Bêthania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Đang khi chúc lành, Ngài rời khỏi các ông và được đem lên Trời.
Thánh Luca tường thuật rõ ràng: “Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” ( Lc 24, 52-53 ). Đức Kitô chịu chết nhưng phục sinh khải hoàn và lên trời, chúng ta cũng hy vọng được sống lại và lên trời vĩnh cư với Ngài. Đó là niềm hy vọng thật và niềm hạnh phúc khôn tả !
Như một bài luận có ba phần – nhập đề, thân bài và kết luận. Tương tự, cuộc đời cũng có ba khoảng – tuổi thơ, tuổi trẻ và tuổi già. Có thể có người chỉ có tuổi thơ mà không có tuổi trẻ và tuổi già, có người có tuổi thơ và tuổi trẻ mà không có tuổi già. Tuy nhiên, ai cũng có ba khoảng này: quá khứ, hiện tại và tương lai.
Nhân vô thập toàn. Vì vậy, đừng quay lại quá khứ mà nuối tiếc hoặc tự trách mình thái quá, hãy hướng tới tương lai để vươn lên. Ai nghĩ gì, mặc họ. Hãy cứ là chính mình. Đừng đếm những gì đã mất, hãy quý trọng những gì hiện đang có, và định hướng mới về những gì khả dĩ đạt được trong tương lai. Tại sao ? Quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho những gì đã mất mát.
Thiên Chúa chí công, không thiên vị bất kỳ ai ( Gl 2, 6; Cv 10, 34 ). Cửa này khép lại thì sẽ có cửa khác mở ra. Hãy vững tin vào Ngài. Thánh Gioan Kim Ngôn ( cũng gọi là Kim Khẩu, 347-407, Ioannes Chrysostomos ) xác tín: “Thiên Chúa lượng định đau khổ theo mức cần thiết cho chúng ta”. Cứ an tâm, vì Thiên Chúa đã quan phòng và tiền định, nghĩa là Ngài đã định hướng riêng từng người. Đừng chê trách hoặc đề cao bất cứ ai. Mỗi người đều có vị trí nhất định theo Thánh Ý Chúa, với mục đích là để làm vinh danh Ngài.
Lạy Thiên Chúa nhân từ và giàu lòng thương xót, xin cảm tạ Ngài đã định hướng cho chúng con, xin giúp chúng con can đảm sống đạo và thể hiện Đức Tin trong từng hơi thở của cuộc đời chúng con trên thế gian này. Nhờ đó, chúng con không chỉ hy vọng mà còn định hướng sống là về trời với Đức Kitô, sau khi chúng con hoàn tất cuộc hành trình Đức Tin trên trần gian này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

 

LênTrời-264: Quê Hương Chúng Ta Là Quê Trời

Lễ Chúa Giêsu Lên Trời
(Lc 24, 46 - 53)
 

Hôm nay mừng Chúa lên Trời, vâng, toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh LênTrời-264

Hôm nay mừng Chúa lên Trời, vâng, toàn bộ ý nghĩa Chúa về Trời được các bài đọc Thánh Kinh diễn tả và nội dung gồm tóm trong những lời sau : "Chúa Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, Người căn dặn các Tông đồ xong... ". Và sau đó " Người lên Trời " (x. Cvtđ 1, 1- 11).
"Đã đến giờ Chúa Giêsu rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha". Lời này được lặp đi lặp lại mỗi đoạn Tin Mừng trước lễ Chúa về Trời. Theo sự quan phòng trong kế hoạch đời đời của Thiên Chúa, Chúa Giêsu từ giã Đức Maria, Mẹ Người, các môn đệ và nhất là tâm sự với các nhiều điều trước khi về Trời.
Chúa về Trời, làm cho các Tông đồ nhớ lại "nhiệm vụ" đã được giao phó: "Các con là nhân chứng về những sự việc ấy" (Lc 24,48). Nhiệm vụ  được ủy thác từ đây, đến lượt mình các Tông đồ phải thi hành cách trung thành.  Lời Chúa nói với các ông : "Các con sẽ nhận được sức mạnh của Chúa Thánh Thần (...). và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy …cho đến tận cùng trái đất"(Cv 1,8). Lời ấy vẫn còn rất thời sự và thật cấp bách, tiếp tục vang lên cách mạnh mẽ trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này. Ðây là lệnh truyền chứ không phải là lựa chọn. Hết thảy mọi người, mọi cộng đoàn, mọi dòng tu đều phải ra đi để làm chứng cho Chúa.
Chúa về Trời, Vinh quang Ba Ngôi được hiển hiện
Biến Cố Chúa Lên Trời là một thể hiện Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi; một sự thể hiện chỉ cho chúng ta biết cùng đích cho cuộc hành trình của cá nhân và vũ trụ. Mặc dù thể xác con người sẽ trở về bụi đất, nhưng trọn cả "chủ thể được cứu chuộc" bước theo Chúa Kitô mà về cùng Chúa Cha.
Trong lời chào từ biệt của Chúa Kitô Phục Sinh với các tông đồ, chúng ta nhận ra trước hết chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa Cha, Ðấng đã loan báo trong Kinh Thánh về cái chết và sống lại của Chúa Con, nguồn mạch của sự tha thứ và giải thoát. Và cũng trong những lời mà Chúa Kitô Phục Sinh nói ra, chúng ta nhận thấy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, nguồn sức mạnh và là chứng tá cho các Tông đồ. Như thế, trọn cả Ba Ngôi Thiên Chúa đều hiện diện trong chính giây phút Giáo hội được khai sinh.
Chúa về Trời, niệm hy vọng của chúng ta
Sau khi đã thân hành xuống thế, đi vào lịch sử của con người, bước vào trong bóng sự chết, Chúa Giêsu đã phục sinh và trở về trong vinh quang mà từ thuở đời đời Người đã có với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, hầu đưa nhân loại đã được cứu chuộc về với Chúa.
Nay Chúa Giêsu lên Trời ngự bên hữu Thiên Chúa đến muốn đời. Theo lời thánh Lêo Cả, Vị Thủ Lãnh của chúng ta bước vào thiên đàng và ở trên đó, "vinh quang của Đầu" đã trở thành "niềm hy vọng cho thân xác" (x.Bài giảng lễ Thăng Thiên). Chúa Giêsu đã vĩnh viễn bước vào thiên đàng, " Người là Đầu và là Trưởng Tử giữa đàn em đông đúc" (Rm 8, 29). Vì bản tính của chúng ta là ở trong Thiên Chúa và ở trong Đức Giêsu Kitô. Nên vì loài người chúng ta (thân xác), Chúa Giêsu là (Đầu) hằng sống đến muôn thủa muôn đời hằng cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước mặt Chúa Cha (x. Dt 7, 25). Từ trên cao vinh hiển, Người gửi cho Giáo hội một sứ điệp hy vọng và mời gọi hướng đến sự thánh thiện trên Trời nơi Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa.
Nhờ công nghiệp và lời cầu bầu của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha, chúng ta có hy vọng đạt tới sự công chính và sống thánh thiện nơi Người. Giáo hội có thể gặp phải những khó khăn, việc loan báo Tin Mừng có thể bị thất bại, nhưng vì Chúa Giêsu ngự bên hữu Thiên Chúa, Giáo hội sẽ không bao giờ bị đánh bại. Sức mạnh của Chúa Kitô vinh hiển, Con yêu dấu của Chúa Cha hằng gìn giữ chúng ta, giúp chúng ta tận tụy và trung thành với Nước Thiên Chúa một cách quảng đại. Sự kiện lên Trời của Chúa Giêsu ảnh hưởng cụ thể đến đời sống hàng ngày của chúng ta. Vì mầu nhiệm này, toàn thể Giáo hội có ơn gọi đợi chờ trong niềm hân hoan hy vọng ngày Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta ngự đến.
Chúa Giêsu vị Thủ Lãnh của chúng ta đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, hiển vinh về Trời, đó là niềm hy vọng của chúng ta. Người sẽ trở lại đón chúng ta đi với Người. Để được về Trời với Chúa, chúng ta hãy gia tăng lòng mộ mến những sự trên trời và tích cực làm việc vì Nước Trời.
Lạy Nữ Vương Thiên Ðàng, chúng con xin Mẹ bảo vệ và gìn giữ chúng con là con cái Mẹ. Xin Mẹ dạy chúng con biết sống và thực hành lời Chúa truyền dạy, để một ngày kia chúng con cũng được về Trời với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh vui hưởng tôn nhan Chúa Ba Ngôi đến muôn thủa muôn đời. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
 

LênTrời-265: “HÃY LÀ CHỨNG NHÂN CỦA THẦY”

LỄ CHÚA THĂNG THIÊN
(Cv 1,1-11; Ep 1,17-23; Lc 24,46-53)
Jos. Vinc. Ngọc Biển
 

Hôm nay, Giáo Hội hân hoan mừng lễ Đức Giêsu lên trời. Việc Đức Giêsu lên trời đã chấm dứt LênTrời-265

Hôm nay, Giáo Hội hân hoan mừng lễ Đức Giêsu lên trời. Việc Đức Giêsu lên trời đã chấm dứt cuộc đời trần thế và sứ mạng của Ngài trên trần gian theo ý muốn của Chúa Cha.
Tuy nhiên, sứ mạng ấy tiếp tục được chuyển trao cho các Tông đồ là những chứng nhân của tất cả những gì đã thấy và đã cảm nghiệm, để các ông ra đi làm chứng nhân cho Ngài.
Sứ mạng ấy cũng được trao phó cho mỗi người chúng ta trong vai trò là người thuộc về Đức Kitô.
 
Ý nghĩa của việc Đức Giêsu lên trời
Sự kiện Đức Giêsu về trời cho chúng ta thấy: Ngài đã hoàn toàn vâng phục Chúa Cha. Đã chu toàn sứ mạng cứu độ con người qua cái chết trên thập giá. Ngài đã sống lại để làm chứng những lời Ngài đã loan báo. Và, hôm nay, Ngài lên trời để đem lại cho chúng ta niềm hy vọng mai ngày cũng được về trời với Ngài như lời Ngài đã nói: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó” (Ga 12,26).
Việc Đức Giêsu lên trời cũng là lúc kết thúc những cuộc gặp gỡ bằng xương bằng thịt và mở ra một cuộc gặp gỡ thiêng liêng, vượt lên trên không gian và thời gian. Sự kiện này không chấm dứt mọi hoạt động của Ngài trên trần thế. Nhưng qua đó, Đức Giêsu hiện diện cách phổ quát: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Ngài hiện diện nơi Lời của Ngài và trong Bí tích Thánh Thể, qua Giáo Hội và nơi các chứng nhân. Vì thế, Đức Giêsu trở về với Chúa Cha, nhưng Ngài lại khai mở ra cho các Tông đồ và Giáo Hội một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của việc cảm nghiệm, loan báo và làm chứng về Đấng Phục Sinh.
 
Sứ mạng của các Tông đồ sau khi Chúa Giêsu lên trời
Đức Giêsu về trời, Ngài trao ban sứ mạng truyền giáo cho Giáo Hội, khởi đi từ các Tông đồ. Lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), để “muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), phải là lời mời gọi, một lệnh truyền cấp thiết hơn bao giờ hết! Bởi lẽ: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (x. Ga 17,18; 20,21).
Vì thế, khi Đức Giêsu đã lên trời, thì cũng là lúc các Tông đồ phải xuống núi, phải ra đi để đến với muôn dân như lời Ngài đã truyền. Các ông ra đi để tuyên xưng niềm tin của mình vào Đấng đã chết và đã phục sinh; Đấng là đường, là sự thật và là sự sống; Đấng đã yêu thương con người, đã chết và đã sống lại vì hạnh phúc và phần rỗi của con người. Đấng ấy đã lên trời để đem lại niềm hy vọng cho những ai tin vào Ngài cũng được lên trời như các ông đã thấy Ngài lên trời.
Chính trong giây phút này, các ông nhận lãnh sứ mạng xây dựng Giáo Hội, một Giáo Hội có Thiên Chúa là Chủ và có nhau là anh em; một Giáo Hội yêu thương, hiệp nhất; một Giáo Hội công bằng, nhân ái.
 
Sứ mạng loan báo Tin Mừng của mỗi chúng ta
Lời của Đức Giêsu khi xưa nhắn gửi các Tông đồ: “Anh em hãy là nhân chứng cho Thầy đến tận cùng trái đất” (x. Cv 1,8) cũng là lời mời gọi cho mỗi người Kitô hữu hôm nay.
Ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta thuộc về và nhận lãnh sứ mạng ngôn sứ từ nơi Đức Giêsu. Công cuộc ấy chẳng mấy tốt đẹp theo kiểu con người suy nghĩ. Vì thế, Đức Giêsu đã tiên báo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét” (Lc 21,17). Và "hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: “Tôi tớ không hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em" (Ga 15,29). Nhưng hãy học nơi các Tông đồ: càng bị sỉ nhục, bắt bớ và tù đày, các ông lại càng “hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 5,41). Bởi xác tín rằng "... trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16, 33; x. Rm 8,35-37).
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm chèo thuyền ra chỗ “nước sâu” để thả lưới...; cũng như tiến ra những vùng “ngoại biên” để đem Ánh Sáng Lời Chúa cho những người chưa nhận biết Chúa.
“Nước sâu” ở đây chính là những nơi tội lỗi, gian tham, lọc lừa. Nó cũng là thái độ của những con người thù ghét, cấm cách, bắt bớ những người tin vào Đức Giêsu hay là một thái độ thờ ơ, lãnh đạm với niềm tin Kitô Giáo.
Còn “ngoại biên” chính là những người vô gia cư; trẻ em mồ côi, những cụ già không nơi nương tựa... những người đói khát bần cùng, những người không có tiếng nói...
Những nơi ấy, rất cần các Kitô hữu can đảm, trung thành, bất chấp khó khăn, thử thách, để sẵn sàng làm chứng cho sự thật, công bằng. Mặt khác, nơi tâm hồn người tông đồ phải luôn mang trong mình trái tim của chính Thiên Chúa, để lòng thương xót của Ngài được lan tỏa đến những con người kém may mắn đang sống ở bên lề xã hội.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay Chúa về trời, Chúa đã trao phó cho các Tông đồ và Giáo Hội phải loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Xin Chúa cho mỗi chúng con ý thức được điều đó và sẵn sàng ra đi làm chứng cho Tin Mừng của Chúa trong lòng xã hội hôm nay, dầu có phải chịu đau khổ, thử thách. Amen.
 
 

LênTrời-266: CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:      1 Gio-an 4: 11-16
 

Với bài đọc cuối cùng trích thư I Gio-an nói về tình yêu của Thiên Chúa, Phụng vụ Lời Chúa dẫn LênTrời-266

Với bài đọc cuối cùng trích thư I Gio-an nói về tình yêu của Thiên Chúa, Phụng vụ Lời Chúa dẫn chúng ta vào tận tâm điểm của mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.  Chúng ta được sống đời sống đức tin vì Chúa Con đã thực sự cứu chuộc chúng ta.  Chúng ta được sống đời sống đức ái vì chúng ta được chia sẻ Thần Khí của Thiên Chúa.  Đời sống tin yêu ấy mở đường cho chúng ta đi vào mầu nhiệm Thiên Chúa, cho dù chưa bao giờ chúng ta nhìn thấy Người.  Tuyệt đỉnh của suy niệm về tình yêu Thiên Chúa phải là đưa chúng ta về với chính tình yêu ấy, tình yêu được biểu lộ qua sinh hoạt của Ba Ngôi Thiên Chúa.  Nói khác đi, để kết thúc cho loạt bài suy niệm về tình yêu Thiên Chúa, Phụng vụ Lời Chúa muốn trình bày một cuộc hành trình đưa chúng ta đến với Thiên Chúa và “ở lại” với Người.
 
Khởi đầu cuộc hành trình đến với Thiên Chúa:  phải xác tín tình yêu của Thiên Chúa
          Muốn đến đâu, chúng ta cần phải biết vị trí của địa điểm mình tới và phương tiện mình sử dụng để tới.  Với phương tiện “tìm bản đồ” trong mạng lưới hôm nay, việc xác định địa điểm chúng ta muốn tới quả thực rõ ràng.  Chỉ cần bấm máy vi tính ra là chúng ta có ngay một tấm bản đồ đầy đủ chi tiết.  Văn minh hơn nữa, hệ thống “chỉ đường” còn được gắn ngay trên xe, cứ việc vừa lái xe vừa theo lời của “người” chỉ đường vô hình!  Nhưng có bản đồ nào giúp chúng ta tới với Thiên Chúa không?  Thánh Gio-an cung cấp cho chúng ta một bản đồ sống động:  cứ theo con đường tình yêu mà đi.  Vậy tình yêu ở đâu?
          Tự bản chất, Thiên Chúa là Đấng siêu việt, thụ tạo không thể tự mình đến với Người được.  Có những kẻ vỗ ngực tự cho mình là những người có trực kiến, có sức đạt tới Thiên Chúa được.  Nhưng thánh Gio-an khẳng định nhiều lần:  Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ (Ga 1:18; 5:37 và 6:46).  Không phải là con người đến với Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa đến với con người.  Chẳng những Người đã đến, mà còn “ở lại” nữa!  Thiên Chúa đã “ở lại” với con người qua dạng thức tình yêu.  Trước hết qua Tình yêu Nhập thể, là Con Một Người đã được trao ban cho nhân loại (Ga 3:16).  Đâu cần phải lên trời, xuống biển hoặc đến tận chân trời mà tìm kiếm Chúa nữa.  Nhưng chính “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).  Qua Đức Giê-su, Thiên Chúa đã ôm nhân loại vào lòng, đã sờ vào những người phong cùi bệnh tật, đã bênh vực kẻ yếu đuối, đã đón nhận kẻ tội lỗi...  Cụ thể nhất, khi tông đồ Phi-líp-phê xin Người tỏ cho biết Chúa Cha, Đức Giê-su trả lời:  “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9).

          Khi Đức Ki-tô, Tình yêu Nhập thể, không còn hiện diện bằng thể xác ở giữa loài người nữa, thì Người lại hiện diện bằng Thần Khí giữa nhân loại.  Thiên Chúa luôn luôn muốn “ở lại” với con người.  “Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta” cũng giống hệt như “Người đã ban Con Một.”  Cả hai việc trao ban để “ở lại” với con người đều do cùng một động lực là Tình yêu.  Như thế, mầu nhiệm Thiên Chúa đã được biểu lộ và “hoạt động” của Ba Ngôi:  Cha, Con và Thần Khí, đã giúp con người nhận ra “nơi chốn” của Thiên Chúa.
 
  Yêu thương anh chị em là phương tiện đưa chúng ta đến với Thiên Chúa
          Sau khi xác định địa điểm phải tới, chúng ta cần sử dụng phương tiện di chuyển.  Thiên Chúa “ở lại” trong chúng ta.  Người là sự sống dấu ẩn trong tâm hồn chúng ta và lúc nào cũng chờ đợi được biểu lộ qua sinh hoạt.  Sinh hoạt ấy chính là “Nếu chúng ta yêu thương nhau.”  Chúng ta sẽ gặp được Người ngay tại cõi lòng mình nếu chúng ta đến với anh em.  Đến với anh em trong yêu thương chính là phương tiện chuyên chở Thiên Chúa đến với tha nhân và biểu lộ hình ảnh của Thiên Chúa nơi chúng ta.  Thiên Chúa muốn chúng ta theo cùng một cách thức sinh hoạt của Ba Ngôi khi đến với nhân loại để tỏ cho nhân loại biết Người là Đấng nào.  Thần Khí sinh động của Người đã làm cho mối tình của Thiên Chúa đối với nhân loại (“Thiên Chúa yêu thế gian”) được thể hiện (“đã ban Con Một”).  Cũng vậy, Thần Khí được ban cho chúng ta (1 Ga 4:13) để thúc giục và hướng dẫn chúng ta sống tinh thần con Thiên Chúa qua sinh hoạt “yêu thương nhau.”  Vai trò của Thần Khí là giúp cho tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta nên hoàn hảo.  Thánh Thần khơi lên lòng tin của chúng ta vào Chúa Giê-su (Tình yêu Thiên Chúa)  và thúc giục chúng ta sống tình yêu ấy qua việc yêu thương nhau.  Tin và Yêu là hai hành động không thể tách rời.  Chúng ta nhận ra Đức Ki-tô là dấu chỉ Tình yêu Thiên Chúa (tin) và chúng ta tuân giữ giới răn yêu thương anh em như Người đã dạy (yêu).  Đó là con đường đưa chúng ta tới Thiên Chúa.
 
  Kinh nghiệm bản thân của Gio-an
                Với tư cách là người cha của một cộng đoàn Ki-tô, thánh Gio-an chia sẻ chính cảm nghiệm cá nhân về con đường tình yêu ngài vừa đề cập tới.  “Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng:  Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian.”  Thế nào là chiêm ngưỡng và làm chứng?  Thưa là tin vào Tình yêu Thiên Chúa và sống Tình yêu Thiên Chúa.  Đó cũng là điều mỗi Ki-tô hữu chúng ta phải thể hiện trong cuộc sống mỗi ngày, để mỗi ngày chúng ta có thể nhận ra dung mạo của Thiên Chúa rõ ràng hơn.
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Ý tưởng của thánh Gio-an hôm nay có giúp tôi liên kết lòng mến Chúa với yêu thương anh em không?  Sự liên kết ấy được ngài diễn tả như thế nào?
          Từ “ở lại” thánh Gio-an sử dụng ở đây nói gì với tôi về Chúa và về chính tôi?
          Có lẽ vai trò của Thần Khí trong đời sống Ki-tô hữu của tôi ít được lưu ý.  Tôi phải làm gì để giúp cho mình ý thức hoạt động của Thánh Thần nơi tôi?  Nhất là trong những sinh hoạt biểu lộ tình yêu đối với anh chị em?
          Mỗi ngày tôi có xét mình để thấy “tình yêu của Thiên Chúa nơi tôi nên hoàn hảo hơn” không?  Xét làm sao?
 
Cầu nguyện kết thúc
          Sau những lời nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài ca ngợi Thiên Chúa là Tình Yêu, hoặc bài “Đâu có tình yêu thương...”
 Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi
30-5-2003

 

LênTrời-267: CHÚA THĂNG THIÊN

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH, năm C
Cv 1, 1-11  Dt 9, 24-28   Lc 24, 46-53
 

Chúa Giêsu về với Thiên Chúa Cha sau khi hoàn tất sứ mạng Cha trao. Bước chân của Ngài và LênTrời-267

Chúa Giêsu về với Thiên Chúa Cha sau khi hoàn tất sứ mạng Cha trao. Bước chân của Ngài và của các môn đệ mới chỉ rảo khắp xứ Palestina bé nhỏ và những vùng phụ cận chung quanh. Cả một thế giới còn mênh mông, bao la với nhiều dân tộc khác nhau đang chờ đón bước chân thừa sai của nhiều người. Chúa Giêsu muốn chúng ta làm chứng nhân cho Ngài cho đến tận cùng thế giới. Hôm nay, Chúa Giêsu phục sinh được siêu thăng về Nước Trời như lời Kinh Thánh nói :” …Người dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời “ ( Lc 24, 50-51 ).
Sau khi sống lại, Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với các môn đệ nhiều lần, Ngài ở với các ông bốn mươi ngày bốn mươi đêm để củng cố đức tin của các ông và minh chứng rằng Ngài đã sống lại thật. Sứ vụ dưới đất, Thiên Chúa Cha trao cho Ngài, Chúa Giêsu đã hoàn tất một cách anh hùng.Kế hoạch cứu rỗi nhân loại đã được Chúa Giêsu thực hiện theo ý Chúa Cha cách hoàn hảo. Hôm nay, Ngài được siêu thăng về trời giữa tư thế Ngài đang chúc lành cho các môn đệ, cho thế giới và cho trái đất. Sứ mạng của nhân loại, của Giáo Hội là phải làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh. Trách nhiệm và bổn phận của Giáo Hội còn rất nặng nề bởi vì mới có một phần tám nhân loại biết Chúa. Do đó, việc Chúa thăng thiên nghĩa là được siêu tôn trong tư thế Ngài đang chúc lành cho thế giới, cho mọi người là một hồng ân cao quí tuyệt vời bởi vì như lời thiên thần nói :” Hỡi người Galilêa, tại sao cứ đứng nhìn trời ? “, nhân loại còn quá nhiều việc phải làm ở dưới đất. Biết bao người chưa được nghe lời của Chúa, chưa nhận biết Chúa ! Biết bao nhiêu người còn đang đợi được lắng nghe lời của Chúa, được nghe rao giảng Tin Mừng. Nhân loại phải nhiệt tình bảo vệ môi trường, xây dựng vũ trụ, làm đẹp trái đất. Việc sống nhân ái, sống tình thương hiệp nhất đòi hỏi chúng ta không được mải mê nhìn trời, chúng ta không được khoanh tay ngó nhìn để mặc kệ ai muốn làm gì thì làm. Nhân loại, con người phải tích cực, quảng đại, chia sẻ và nhiệt tình xây dựng văn minh tình thương chờ ngày Chúa trở lại. Chúng ta đầu đội trời, chân đạp đất, xây dựng nước đời nhưng lòng phải hướng về trời, hướng lên cao để xin ơn từ trên cao đổ xuống bởi vì xây dựng thế giới mà không biết hướng về trời, không biết cầu khẩn ơn trên, thì sẽ không tìm được giải đáp tối ưu cho công việc. Cần có ơn trên, cần có sức  mạnh của Chúa Thánh Thần, nhân loại, con người chúng ta mới tránh được những ung nhọt đang xói mòn nhân loại, đang làm tan rữa con người như tệ nạn ma túy, sì ke, HIV, cờ bạc, trai gái, rượu chè sau sưa, tứ đổ tường vv…Con người dễ bám chặt vào những ảo ảnh chóng qua của thế gian. Con người đang sống trong một thế giới văn minh tột bậc với internet tốc độ siêu cao, với muôn cám dỗ làm lung lạc đức tin con người. Chúa về trời với Thiên Chúa Cha trong tư thế đang chúc lành để nói rằng :” Ngài luôn chúc lành, luôn đổ muôn vàn hồng ân xuống cho nhân loại “. Quê hương của chúng ta không phải ở đời này nhưng là ở trên cao, nơi vĩnh hằng ( Pl 3, 20) Thế giới chúng ta đang sống là nơi tạm bợ, mọi sự đều sẽ qua đi, ngay cả mạng sống con người.
Lễ Thăng Thiên là một trong những lễ quan trọng của năm phụng vụ.Do đó, Giáo Hội mừng lễ này cách đặc biệt. Vâng, cách đây 2016 năm, Chúa Giêsu
đã về với Chúa Cha và trao cho các môn đệ, trao cho Giáo Hội sứ mạng loan truyền Tin Mừng cho toàn thế giới.
Chúa Giêsu đã phán :” Các con là muối ướp cho mọi người, nếu muối nhạt, thì chẳng còn cách gì làm cho nó mặn lại được; nó trở thành vô dụng, chỉ còn nước ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó.Các con là ánh sáng cho toàn thế giới, là một thành phố xây trên ngọn đồi nên không thể giấu được…
Cũng thế, ánh sáng chúng con phải sáng lên trước mặt thiên hạ để họ nhìn xem những việc thiện các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời “
( Mt 5, 13-16 ).
Lạy Chúa Giêsu, Chúa về trời nhưng đã hứa không để chúng con mồ côi…Xin sai Thánh Thần đến để Ngài đổi mới mặt địa cầu. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Chúa về với Chúa Cha, Ngài có bỏ rơi con người không ?
2.Ai sẽ sai Thánh Thần đến thế gian ?
3.Lễ Thăng Thiên là một trong những lễ có quan trọng của năm phụng vụ không ?
4.Sứ mạng của Giáo Hội là gì ?

 

LênTrời-268: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN

Làm chứng Chúa Ki-tô chết và sống lại
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 24:46-53)
 

Nhiều lần chúng ta nghe Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta làm chứng nhân cho Người bằng cách thực LênTrời-268

Nhiều lần chúng ta nghe Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta làm chứng nhân cho Người bằng cách thực thi những điều Người truyền dạy, nhất là làm chứng Người đã sống lại từ kẻ chết.  Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su lập lại lời kêu gọi ấy với các môn đệ.  Người trích dẫn lời Kinh Thánh nói về Người, rồi ban cho họ mệnh lệnh:  “Chính anh em là chứng nhân về những điều này”.  Vậy những điều này về Chúa Giê-su là gì và chúng ta phải làm chứng thế nào?
          Trước hết Chúa Giê-su nêu lên điểm chính các Sách Thánh nói về Người:  “Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại”.  Người không lập lại nguyên văn những lời các ngôn sứ, nhất là I-sai-a, đã nói về Người.  Người chỉ muốn nhấn mạnh đến hai điều thuộc sứ mệnh của Đấng Ki-tô là chịu khổ hình và sống lại từ kẻ chết.  Đây là ý niệm các môn đệ thường không hiểu hoặc cố tình không hiểu.  Nhưng lại sắp đến lúc họ phải đi rao giảng Chúa Ki-tô rồi!  Nếu họ nhất định không hiểu đúng về Người, thì làm sao họ có thể rao giảng được?  Do đó, họ phải nắm vững cốt lõi của sứ điệp cần rao giảng.  Sau này, hơn ai hết, chính thánh Phao-lô, vị tông đồ “sinh non”, đã xác tín sứ mệnh của ngài là rao giảng Chúa Giê-su Ki-tô, mà phải là Chúa Ki-tô chịu đóng đinh thập giá (1 Cô-rin-tô 2:1-2).  Tại sao rao giảng Chúa Ki-tô chịu đóng đinh thập giá?  Bởi vì cuộc Thương khó và cái chết của Chúa Giê-su có một chỗ đứng vô cùng quan trọng trong kế hoạch của Thiên Chúa Cha.  Cuộc khổ hình và cái chết ấy đã là cái giá để Người chuộc lại lỗi lầm của nhân loại, nhất là giải hòa Thiên Chúa với con người và phục hồi cho con người chức phận làm con cái Thiên Chúa.
          Cũng quan trọng giống như cuộc khổ hình và cái chết của Chúa Giê-su, đó là sự sống lại của Người.  Nếu khổ hình thập giá và cái chết của Chúa Giê-su chuộc được tội lỗi nhân loại, thì sự sống lại của Người lại chiến thắng vĩnh viễn trên tội lỗi và sự chết là hậu quả nó đã gây ra cho nhân loại.  Nếu Chúa Ki-tô không sống lại thì tội lỗi và sự chết vẫn không bại trận.  Một lần nữa, cũng chính thánh Phao-lô đã nói lên tầm quan trọng của việc Chúa sống lại.  Sự Phục Sinh là tột đỉnh của đức tin vào Chúa Ki-tô.  Do đó, thánh Phao-lô khẳng định:  “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cô-rin-tô 15:14tt).
          Khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Phục Sinh muốn chắc chắn rằng các môn đệ Người phải xác tín tầm quan trọng của cuộc Thương khó, cái chết và sự Phục sinh của Người, trước khi họ được sai đi để làm chứng nhân về những điều xác tín ấy.  Thánh sử Lu-ca kể lại rằng sau khi Chúa Giê-su trao cho các môn đệ trách nhiệm làm chứng nhân cho Người, Người còn cẩn thận lập lại lời hứa ban Thánh Thần cho họ.  Thánh Thần sẽ giúp đỡ họ trong sứ mệnh làm chứng nhân.  Cuối cùng, đang khi lên trời, Chúa Giê-su đã chúc lành cho họ.  Quả thực là một khung cảnh hết sức cảm động.  Như thế, chia ly đâu phải là nước mắt hay là chết trong lòng một ít, nhưng các môn đệ đã bái lạy Chúa, trở lại Giê-ru-sa-lem mà “lòng đầy hoan hỷ”!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúng ta có để ý các môn đệ Chúa đã làm gì khi Chúa “rời khỏi các ông và được đem lên trời” không?  Phải, các ông “bái lạy Người, trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ và cầu nguyện trong Đền Thờ”.  Đó chính là phong cách của người làm chứng cho Chúa Ki-tô.  Chúng ta “bái lạy Chúa”, tức là tin vào con người và sứ mệnh Đấng Ki-tô của Chúa Giê-su.  Chúng ta “trở lại Giê-ru-sa-lem” để gặp Chúa Giê-su đã chịu cuộc Thương khó và sống lại ở đấy.  Rồi chúng ta “lòng đầy hoan hỷ” vì chúng ta đi loan báo Tin Mừng.  Mà đã là Tin Mừng thì sao lại có thể buồn sầu được!        Sau hết, giống như các môn đệ Chúa hằng sốt sắng cầu nguyện chúc tụng Thiên Chúa trong Đền Thờ, chúng ta cũng có đền thờ để gặp gỡ Chúa, đó là đời sống cầu nguyện của chúng ta, để làm cho tương quan chúng ta với Người được sống động hơn.  Làm chứng cho Chúa không giống như làm chứng ngoài tòa án, mà là chia sẻ với người khác chính tâm tình và lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa vậy!        
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

LênTrời-269: LÀM CHỨNG NHÂN CHO CHÚA PHỤC SINH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, năm C
Lc 24, 46-53
 

Lễ Chúa Thăng Thiên là một trong những lễ quan trọng của năm phụng vụ.Bởi vì, qua lễ này LênTrời-269

Lễ Chúa Thăng Thiên là một trong những lễ quan trọng của năm phụng vụ.Bởi vì, qua lễ này, chúng ta mỗi Kitô hữu đều ý thức vai trò, nghĩa vụ và bổn phận của chúng ta là làm chứng cho Chúa sống lại. Khi Chúa về trời thì cũng là lúc, thời điểm các tông đồ, môn đệ ra đi khắp nơi. Ra đi tuyên xưng của các Ngài về một Giêsu mà người ta cho rằng đã tiêu diệt được cái trên Thập giá. Các Ngài tuyên xưng  Đức Giêsu Kitô đã chết và đã phục sinh.Người đã chiến thắng tử thần, Người từ Cha mà đến, nay trở về cùng Cha.
 Chúa Giêsu về trời và lúc đó cũng là lúc các môn đệ, các tông đồ phải trở về với cuộc sống thực tế. Các Ngài xuống núi nghĩa là không còn ngây ngất trong vinh quang của núi Tabôrê khi Chúa tỏ mình ra cho ba môn đệ thân tín.Các Ngài ra đi xây dựng trời mới đất mới, xây dựng một thế giới đầy tình yêu thương, hiệp nhất, xây dựng một thế giới công bình, huynh đệ, văn minh, tiến bộ. Các tông đồ đã làm theo lệnh truyền của Chúa về trời :” Các con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng…” hoặc “…Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính các con làm chứng về những điều này” ( Lc 24, 47 ). Các tông đồ nhất nhất đã hăng say rao giảng, làm chứng cho Chúa và dám hy sinh cả mạng sống để loan báo cho Chúa phục sinh, làm chứng cho Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
 Mọi Kitô hữu đều có có sứ mạng và vinh dự tiếp nối sứ mạng của các tông đồ đi loan báo Lời Chúa, rao giảng chân lý, làm chứng cho Chúa sống lại.Tuy nhiên, đây cũng là một việc rất khó khăn, nặng nề vì còn 80% số người trên thế giới này chưa đón nhận Tin Mừng. Và thật sự, việc loan báo Tin Mừng, giới thiệu Đức Kitô là một thách đố lớn lao cho mọi người có lòng tin.
 Chúa đã về trời cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng thực tế rất nhiều người chưa nhận ra Tin Mừng phục sinh. Chúng ta có thể đặt vấn đề như thế này: Tại sao Chúa đã sống lại từ lâu nhưng nhiều người lại chưa nhận ra Chúa phục sinh ? Phải chăng chúng ta quên đi, Chúa phục sinh nhưng Ngài vẫn hiện diện sống động giữa chúng ta, Ngài đang muốn chúng ta chia sẻ cho những người khác sự sống của Ngài. Chúa đã sống lại, Ngài vẫn ở với chúng ta, Ngài đang hoạt động nơi thế giới, nơi con người. Chúng ta phải giới thiệu Ngài bằng chính cuộc sống của chúng ta. Ngày hôm nay, thế giới này, thích sống chứng nhân hơn chứ không muốn nghe những lời rao giảng suông. Cuộc sống hy sinh, xả thân, phục vụ vô vị lợi, bác ái, yêu thương là cuộc sống chứng nhân hùng hồn hơn biết bao lời nói hoa mỹ nhưng chỉ là những lời trên môi miệng.
 Cha Pierre Emonet, s.j đã viết một đoạn khá ấn tượng, Ngài nói :” Sự hiệp nhất nơi các tông đồ xác thực sứ vụ của Đức Giêsu. Họ chịu trách nhiệm về đức tin của thế gian. Dường như chưa bao giờ Đức Giêsu đã phải giao một trách nhiệm nặng nề như vậy cho cho những người đi theo và nói về Người. Từ giờ trở đi, công việc của họ là làm cho người ta tin vào Chúa. Và thách thức vượt quá sức của họ đến nỗi, đó chỉ là tác phẩm của Thiên Chúa. Đó là điều tại sao Đức Giêsu cầu nguyện để gửi gắm mọi sự cho Chúa Cha. Từ bây giờ, một điều nguy hiểm đang rình chờ các môn đệ : đó là xuyên tạc về Thiên Chúa. Bằng việc hướng đến những giới hạn hiệp nhất mà Chúa muốn, họ lại có nguy cơ bộc lộ sự nhỏ nhen của sứ vụ. một cách tỉ mỉ, thận trọng, như người biết con đường duy nhất của sự trung thành, các môn đệ có ý định chuyên tâm tạo nên một lộ trình bắt buộc của Chúa. Từ đó, những cấu trúc được luân phiên với cuộc sống và sự đồng nhất thay thế cho sự hiệp nhất. Bằng cách đưa ra bốn cách tiếp cận khác nhau về cuộc đời và giảng dạy của Đức Giêsu, các Thánh sử tự mình lấy khoảng cách với sự cám dỗ này. Họ khẳng định rằng hiệp nhất mà Đức Giêsu cầu xin làm nên từ sự đa dạng. Hiệp nhất trở nên có thể khi một người hoặc một lời khẩn cầu có thể vượt qua chính mình để ý thức về một nửa khác của bản thân mình “.
 Để kết luận, chúng ta hãy dùng lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng thánh Matthêu 5, 13-16 soi sáng chúng ta :” Các con là muối ướp cho mọi người, nếu muối nhạt, thì chẳng còn cách gì làm cho nó mặn lại được, nó trở thành vô dụng, chỉ còn nước ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó. Các con là ánh sáng cho thế gian, là một thành phố xây trên đồi không thể giấu được…Cũng thế ánh sáng của chúng con cũng phải tỏa sáng trước mặt thiên hạ để họ nhìn xem những việc thiện các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời “.
 Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ban thêm đức tin cho chúng con để chúng con sẵn sàng và mạnh dạn loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Chúa phục sinh. Amen.
 
 

LênTrời-270: CHÚA THĂNG THIÊN C

Cv 1,1-11 ; Ep 1,17-23 ; Lc 24,46-53
LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY
I. HỌC LỜI CHÚA
1.TIN MỪNG: Lc 24,46-53
(46) Khi ấy Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ và bảo: “Có lời Kinh thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại. (47) Và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. (48) Chính anh em là chứng nhân của những điều này”. (49) Và đây, chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống. (50) Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. (51) Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời. (52) Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ, (53) và hằng ở trong Đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
2. Ý CHÍNH:
 

Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su sau khi phục sinh đã hiện ra với các môn đệ vào LênTrời-270

Tin mừng hôm nay thuật lại việc Đức Giê-su sau khi phục sinh đã hiện ra với các môn đệ vào chiều ngày Thứ Nhất trong tuần, nhằm mục đích dạy các ông hiểu Người trải qua cuộc tử nạn và phục sinh đúng như lời Thánh kinh, và các ông có bổn phận làm chứng về những điều mắt thấy tai nghe ấy. Người cũng hứa sẽ ban Thánh Thần đến giúp đỡ các ông. Sau đó, Đức Giê-su lên trời đang khi giơ tay chúc phúc cho các ông gần làng Bê-ta-ni-a. Rồi các ôing trở về Giê-ru-sa-lem cầu nguyện đón nhận ơn Thánh Thần.

3. CHÚ THÍCH:
- C 46-48: + Khi ấy Đức Giê-su hiện ra với các môn đệ: Về con số môn đệ được chứng kiến việc Chúa Giê-su lên trời thì Tin mừng Lu-ca không nêu rõ, đang khi Tin mừng Mát-thêu và Mác-cô nói là 11 ông (x Mt 28,16; Mc 16,15). Về nơi Chúa lên trời thì các tác giả không thống nhất: Lu-ca cho biết ở gần làng Bê-ta-ni-a (x Lc 24,50), Mát-thêu xác định là xứ Ga-li-lê, tại quả núi đã được Người chỉ định trước (x. Mt 28,16). Sách Công vụ thì cho biết Đức Giê-su lên trời tại núi Ô-liu gần thành Giê-ru-sa-lem (x Cv 1,12) + Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem: Lu-ca luốn nhấn mạnh về tầm quan trọng của Giê-ru-sa-lem. + Chính anh em là chứng nhân của những điều này: Các Tông đồ được sai đi nói cho mọi người biết về Đức Giê-su, dựa theo những điều mắt thấy tai nghe tay sờ, sau khi Người đã từ cõi chết sống lại (x. Ga 21,24; Cv 3,15).
- C 49-50: + Chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa: Đức Giê-su tiên báo điều Chúa Cha đã hứa là gửi Chúa Thánh Thần đến với các Tông đồ sau khi Người bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha (x Cv 1,8). + Cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống: Quyền năng này chính là sức mạnh của Thánh Thần. Trong Tân ước, Chúa Thánh Thần và quyền năng luôn gắn liền với nhau. Chẳng hạn trong biến cố truyền tin, sứ thần đã nói với Trinh nữ Ma-ri-a: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà” (Lc 1,35). Sau khi chiến thắng Xa-tan cám dỗ, Đức Giê-su đã trở về Ga-li-lê trong quyền năng Thánh Thần để bắt đầu sứ vụ (x. Lc 4,14-19). Giờ đây, Đức Giê-su lại sắp trao cho các Tông đồ quyền năng Thánh Thần sau cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người. Từ đây, các Tông đồ đã cố gắng chu toàn sứ vụ làm chứng về mầu nhiệm Chúa Giê-su đã chết và sống lại (x. Cv 4,33). Các ông không dùng sức riêng làm các phép lạ, nhưng nhờ quyền năng Thiên Chúa và nhờ Danh Đức Giê-su Ki-tô (x Cv 3,16; 4,7-10). + Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a: Với tư cách là Vua Mê-si-a, Đức Giê-su đã khải hoàn tiến vào thành Giê-ru-sa-lem, bắt đầu từ làng Bê-ta-ni-a (x. Lc 19,28-29). Giờ đây với tư cách là Đấng Phục Sinh chiến thắng tử thần, Đức Giê-su cũng khải hòan về trời từ làng Bê-ta-ni-a này (x. Lc 24,50). + Rồi giơ tay chúc lành cho các ông: Thời Cựu ước, các Tổ phụ dân Ít-ra-en thường chúc lành cho con cháu trước khi chết như: I-xa-ác chúc lành cho Gia-cóp (x. St 27,23-29) ; Gia-cóp chúc phúc cho 12 con trai (x. St 49,28) ; Mô-sê chúc phúc cho con cái Ít-ra-en (x. Đnl 33,1). Ở đây, trước khi về trời, Chúa Giê-su cũng chúc lành cho các Tông đồ. Ngày nay, vào cuối Thánh lễ, linh mục chủ tế cũng chúc lành cho các tín hữu trước khi giải tán họ.
- C 51-52: Người rời khỏi các ông và được rước lên trời: Qua sự kiện lên trời ở đây, tác giả Tin mừng Lu-ca muốn cho thấy hai mầu nhiệm Phục Sinh và Thăng Thiên luôn gắn bó mật thiết với nhau. Trong sách Công vụ (1,6-11), tác giả Lu-ca coi việc Thăng Thiên như kết thúc các lần Chúa hiện ra với các môn đệ, khởi đầu sứ vụ làm chứng cho Người tại Giê-ru-sa-lem cho đến tận cùng thế giới (x. Cv 1,8).
4. CÂU HỎI: 1- Chúa Giê-su đã lên trời ở nơi nào? Bao nhiêu môn đệ đã được chứng kiến Người lên trời? 2- Theo Tin mừng Lu-ca, Giê-ru-sa-lem có vai trò gì trong công cuộc cứu độ của Đức Giê-su? 3- Các Tông đồ phải làm gì để thi hành sứ vụ làm chứng nhân cho Đức Giê-su? 4- Đức Giê-su hứa ban quyền năng từ trên cao xuống trên các Tông đồ. Vậy các ông đã nhận được quyền năng ấy khi nào? 5- Tin mừng Lu-ca cho thấy hai mầu nhiệm Phục Sinh và Thăng Thiên có liên quan với nhau ra sao?

II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: “Chính anh em là chứng nhân của những điều này” (Lc 24,47-48).
2. CÂU CHUYỆN: CHỨNG NHÂN BÁC ÁI - PHƯƠNG THẾ TRUYỀN GIÁO HIỆU QUẢ.
Một tân tòng gặp một anh bạn vô tín. Người vô tín này hỏi thăm về việc theo đạo của anh như sau:
- Nghe nói anh mới theo đạo Công giáo phải không ?
- Vâng, đúng hơn là tôi mới theo làm môn đệ Chúa Giê-su.
          - Thế thì chắc anh đã phải biết rõ về ông ta. Vậy hãy cho tôi biết ông Giê-su sinh ra ở đâu ?
  - Tôi đã học rồi, nhưng rất tiếc bây giờ tôi lại quên mất.
  - Thế ông Giê-su sống ở trần gian bao nhiêu năm ?
  - Tôi không nhớ rõ lắm.
  - Vậy anh có biết ông ta đã giảng bao nhiêu bài, làm bao nhiêu phép lạ, có bao nhiêu tác phẩm viết về ông ta ?...Nói chung, sự nghiệp của ông  ta như thế nào ?
- Tôi cũng không rõ.
  - Như vậy là anh đã biết quá ít về ông Giê-su. Vậy tại sao anh lại theo đạo của ông ta ?
  - Anh đã nói đúng. Tôi rất xấu hổ vì mới chỉ biết qúa ít về Đức Giê-su. Thế nhưng, điều mà tôi biết rất rõ là thế này : ba năm trước, tôi là một tên nghiện rượu, sáng say chiều xỉn, nợ nần chồng chất. Gia đình lâm vào tình trạng bất hạnh. Vợ con đều buồn giận và không muốn nhìn mặt tôi. Tôi chán nản tuyệt vọng thậm chí muốn đâm đầu vào xe lửa để chết quách đi cho xong. Nhưng một hôm tôi đã gặp được Đức Giê-su qua một người bạn công giáo. Anh này đã đưa tôi đến gặp một vị linh mục và tôi được vị linh mục khuyên chừa bỏ thói hư, được giới thiệu công ăn việc làm và được ghi tên học giáo lý công giáo. Sau một năm tôi đã trả hết được nợ nần, đã chừa bỏ được tật say sỉn, gia đình tôi đã tìm lại được hạnh phúc. Mỗi chiều vợ con tôi đều vui vẻ chào đón tôi về nhà sau giờ tan sở. Sở dĩ tôi được hạnh phúc như ngày nay, tất cả đều bắt nguồn từ tin vào Đức Giê-su. Và đó là tất cả những gì tôi biết rõ về Người.
3. SUY NIỆM:
  1. Quê hương chúng ta ở trên trời: Trước cuộc tử nạn, Đức Giê-su dã khích lệ các môn đệ như sau :”Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi. Vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại, và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”(Ga 14,1-3). Thánh Phao-lô cũng khẳng định: ”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta”(Pl 3,20).
Trong thực tế, phải thừa nhận như lời thánh Phao-lô: “có nhiều người sống thù nghịch với thập giá Ðức Ki-tô. Chung cuộc đời họ là hư vong, chúa tể của họ là cái bụng, và họ đặt vinh danh của họ trong những điều ô nhục; họ chỉ ưa chuộng những cái trên cõi đời này” (Pl 3,17). Có nhiều tín hữu đã quá bám víu vào các thực tại trần gian là cái nay còn mai mất, như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, chức quyền… Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Phi-líp-phê, cũng là khuyên chúng ta hôm nay: Quê hương của chúng ta không phải ở trần gian, nhưng trên trời. Như dân Ít-ra-en xưa đã đi qua sa mạc bốn mươi năm để được thanh luyện, trước khi được vào trong miền Đất mà Đức Chúa đã hứa ban cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời, thì trần gian hôm nay cũng là một chặng đường mà chúng ta phải trải qua, trước khi về tới quê trời vui hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa.
 
Điều kiện để được lên trời: Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến để thiết lập Nước Trời, là Thiên đàng, xưa đã bị A-đam E-và đánh mất do phạm tội không vâng phục và bị phạt xuống trần gian là thung lũng đầy nước mắt. Đức Giê-su đã được Chua Cha sai đến trần gian cứu độ lòai người. Người đã thiết lập Nước Trời, và làm cho Nước ấy sẽ ngày một triển nở biến thành một Trời Mới Đất Mới viên mãn vào ngày tận thế. Để được vào Nước Trời do Đức Giê-su thiết lập, cần phải vâng theo thánh ý Thiên Chúa là tuân giữ các giới răn “mến Chúa yêu người” như Đức Giê-su dạy: ”Không phải những ai cứ kêu Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! mà được vào Nước Trời, mà chỉ những ai làm theo thánh ý của Cha Ta” (Mt 7,21-23; Lc 6,46; 13,26-27). Nước Trời hay thiên đàng  là phần thưởng cho những ai làm theo thánh ý Chúa.
 3. Sứ vụ làm chứng cho Chúa: Khi Chúa lên trời, các môn đệ cứ đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì kìa có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh họ và nói: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,10-11). Từ đây, sứ vụ của các ông là phải ra đi rao giảng tin mừng Nước Trời, làm chứng về sự chết và sống lại của Đức Giê-su (Cv 1,8b).. Từ đây các ông phải xuống núi, chu toàn sứ vụ xây dựng môi trường mình đang sống trở thành một Trời Mới Đất Mới đầy công bình yêu thương và bình an (x Kh 21,1.4).
Cách đây ít lâu, tờ “Lơ Fi-ga-rô” (Le Figaro) đã có đăng một bài báo phỏng vấn Tổng thống Nga Pu-tin nội dung như sau: Khi được hỏi trong chuyến đi Giê-ru-sa-lem của ông mới đây, người ta đã thấy ông đến cầu nguyện tại mồ Đức Giê-su và tay ông cầm cây thánh giá. Vậy ông có cảm thấy mâu thuẫn giữa việc trước đây đã từng là cựu sĩ quan của tình báo KGB với việc bày tỏ đức tin hiện nay hay không?” Tổng thống Pu-tin đã trả lời như sau: “Cuộc sống được tạo nên bằng những điều mâu thuẫn. Chỉ khi nào chết thì người ta mới hết mâu thuẫn... Mẹ tôi là một phụ nữ theo đạo. Mẹ tôi đã bí mật làm lễ rửa tội cho tôi tại nhà thờ. Vậy tại sao các ông lại ngạc nhiên khi thấy tôi cầm cây thánh giá mà cầu nguyện tại ngôi mộ của Chúa Giê-su? Tôi tự hào là một tín hữu... Niềm tin của tôi đã cho tôi thêm tinh thần và sự bình an trong tâm hồn”.
4. Làm chứng cho Chúa bằng cách nào ? : Chứng nhân là người nghe gì thì nói lại y như vậy, thấy sao thì thuật lại cách trung thực cho người không thấy, là người sống và hành động theo điều mình hiểu biết và xác tín. Còn làm chứng là dùng lời nói hành động quả quyết về một sự việc đã thực sự xẩy ra mà chính mình đã chứng kiến hay đã trải nghiệm. Đức Giê-su đã đi giảng đạo gần ba năm và được mười một Tông đồ, bảy mươi hai môn đệ và dân chúng đương thời chứng kiến và có thể làm chứng, như Ngừơi đã nói với thượng tế Cai-pha : "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Ðền Thờ, nơi mọi người Do thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Ðiều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì" (Ga 18,20-21).
Đức giáo hòang Phao-lô VI đã nói:”Mỗi ngưởi giáo dân, tự bản chất, là một chứng nhân”.  Bởi vì khi lãnh nhận phép rửa tội và Thêm sức, chúng ta đã được Đức Giê-su trao cho sứ vụ làm chứng cho Người. Các tín hữu chúng ta hôm nay tuy không thấy, không gặp gỡ tiếp xúc trực tiếp với Chúa như các Tông đồ hay dân Do thái xưa, nhưng chúng ta nhờ đức tin, vẫn có thể suy niệm và thực hành Lời Chúa và được ơn Thánh Thần biến đổi nên con người mới giống Đức Giê-su. Cách thức làm chứng tốt nhất là quên mình vị tha bác ái theo gương Người làm và lời Người dạy.
Tóm lại: Làm chứng cho Chúa là công khai nhận mình là người tin Chúa, sống theo đức tin và sẵn sàng tuyên xưng đức tin ấy trước mặt người đời bằng lời nói cũng như hành động.

4. THẢO LUẬN: 1- Con người ngày nay thích nghe các chứng nhân hơn các bậc thầy dạy, thích nhìn thấy những gương sáng hơn nghe lời giảng suông, như Ba-banh (Babin) đã nói: “Người ta chỉ có thể tin vào Đức Giê-su, khi họ tin vào tình yêu của những kẻ đi loan báo Người”. Bạn có đồng ý với các nhận định nói trên hay không? Tại sao? 2- Trong quá khứ, bạn đã làm được việc nào tâm đắc nhất để làm chứng cho Chúa? Bạn quyết tâm sẽ làm chứng cho Chúa thế nào trước mặt bạn bè, đồng nghiệp hay người xa lạ trong những ngày sắp tới?

5. NGUYỆN CẦU
- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Tuy là Con Thiên Chúa, nhưng vì yêu thương nhân lọai mà Chúa đã vâng lời Chúa Cha, từ trời xuống thế làm người. Chúa đã tình nguyện mang thân phận một người phàm. Chúa đã nên giống như chúng con mọi đàng ngoại trừ không phạm tội. Chúa đã biểu lộ một tình yêu tột đỉnh khi sẵn sàng chấp nhận mọi nỗi đau khổ và cả cái chết nhục nhã trên cây thập giá, để đền tội thay cho chúng con và đã sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.
- LẠY CHÚA. Hôm nay mừng ngày Chúa về trời. Xin cho chúng con nhớ rằng: “Quê hương chúng con ở trên trời, nơi đó chúng con sẽ gặp Đấng Cứu Chuộc” là Chúa. Xin giúp chúng con chu toàn bổn phận làm con Chúa Cha và làm anh em của mọi người. Xin cho chúng con sẵn sàng góp phần xây dựng thế giới này ngày một tươi đẹp hạnh phúc hơn, công bằng nhân ái hơn. Xin cho chúng con ý thức rằng: tuy sống giữa thế gian nhưng chúng con không thuộc về trần gian. Xin đừng để chúng con quá quyến luyến với những của cải vật chất nay còn mai mất, nhưng luôn biết phó thác cậy trông, và quảng đại chia sẻ cơm áo cho những người nghèo, an ủi giúp đỡ những người đau khổ ... để sau này chúng con cũng được về trời với Chúa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH - Hiệp Hội Thánh Mẫu

 

LênTrời-271: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN

Những khởi đầu mới
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 24:46-53)
 

Chúa Giê-su lên trời, về cùng Chúa Cha, nhưng chưa hoàn tất sứ mệnh mà là mở ra những khởi đầu LênTrời-271

Chúa Giê-su lên trời, về cùng Chúa Cha, nhưng chưa hoàn tất sứ mệnh mà là mở ra những khởi đầu mới.  Những lời cuối cùng trước khi Người từ giã môn đệ tại Bê-ta-ni-a là những lệnh truyền đã nói lên khởi đầu sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội.  Đó cũng là ý nghĩa đích thực của biến cố chúng ta mừng kính hôm nay.
          Biến cố Chúa Giê-su lên trời là một khởi đầu mới với những hoạt động do Thánh Thần của Người và các môn đệ là chứng nhân của Người.  Trước hết, đây là thời điểm bắt đầu thể hiện “điều Cha Thầy đã hứa”, tức là việc Chúa Giê-su ở cùng chúng ta cho đến ngày tận thế (Mát-thêu 28:20) qua sự hiện diện của Chúa Thánh Thần được sai đến với chúng ta.  Chúa Thánh Thần sẽ dẫn các môn đệ Chúa Giê-su đến “chân lý trọn vẹn”, dạy họ mọi điều và giúp họ nhớ lại mọi điều Chúa Giê-su đã dạy họ (Gio-an 14:26).  Chúa Thánh Thần sẽ giúp họ hiểu sứ điệp về Đấng Ki-tô:  Tại sao Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình và ngày thứ ba sống lại từ cõi chết?  Ý nghĩa cuộc Thương Khó, sự chết và Phục sinh của Đấng Ki-tô phải là cốt lõi của sứ điệp tình yêu Thiên Chúa muốn nói với nhân loại:  Thiên Chúa đã yêu nhân loại đến nỗi sai Con Một là Đấng Ki-tô đến, để ai tin vào Con Thiên Chúa thì sẽ được cứu độ.
          Nếu Chúa Giê-su đã khởi đầu cho công cuộc truyền giáo nhờ hoạt động của Thánh Thần, thì Người cũng truyền lệnh cho các môn đệ dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, phải bắt đầu rao giảng cho muôn dân và kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.  Vậy điều bắt đầu thứ nhất là khi rao giảng cho muôn dân, môn đệ Chúa Giê-su phải nói cho người ta biết cái chết và sự phục sinh của Đấng Ki-tô đã chứng minh Thiên Chúa yêu nhân loại đến mức nào.  Đấng Ki-tô đã hiến mạng sống để cứu nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi và đem lại cho họ đời sống mới được làm con cái Thiên Chúa.  Điều bắt đầu thứ hai của các môn đệ là kêu gọi người ta sám hối để được ơn tha tội.  Đúng vậy, đáp lại tình yêu Thiên Chúa không phải là việc ở ngoài tầm tay chúng ta, trái lại, chúng ta chỉ cần sám hối, quay về với Thiên Chúa để được giải hòa và để nhận lại chức phận làm con mà họ đã bị tước đoạt do tội lỗi.  Còn điều bắt đầu thứ ba, làm chứng nhân cho Chúa Giê-su, là phương thức người môn đệ rao giảng và kêu gọi người ta sám hối.  Người môn đệ đã chứng kiến Chúa thi hành sứ vụ rao giảng và cứu độ.  Họ đã được Chúa Phục Sinh hiện ra nhiều lần.  Lại nữa, họ được Thánh Thần soi sáng, hỗ trợ và dẫn dắt trong sứ mệnh mới.  Đó là tất cả những điều kiện một chứng nhân cần phải có để thi hành lệnh truyền giáo Chúa Giê-su ban cho họ.
          Tuy nhiên còn một khởi đầu rất quan trọng, đó là “nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”.  Các môn đệ Chúa được lệnh “ở lại trong thành”.  Với biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, họ đã thực sự nhận được quyền năng từ trời cao.  Quyền năng ấy không chỉ biến đổi con người họ, mà còn “đổi mới bộ mặt trái đất” nữa!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Những khởi đầu mới Chúa Giê-su truyền lệnh cho các môn đệ thi hành trước khi Người lên trời cũng là những khởi đầu của chúng ta hôm nay.  Đối với Chúa, thời gian không tính bằng năm tháng, như là bằng những cơ hội.  Nếu ông già Si-mê-ôn hoặc bà già An-na đã có một khởi đầu mới khi gặp được Hài Nhi Giê-su trong Đền Thời, thì tại sao chúng ta lại không có một khởi đầu mới mỗi ngày khi chúng ta rước Chúa trong Thánh lễ?
          Riêng trong Năm Đức tin này, Tân Truyền giáo chính là lời Giáo Hội mời gọi mỗi người Ki-tô hữu làm một cuộc khởi đầu mới trong việc sống và truyền bá đức tin.  Đáp lời kêu gọi của Giáo Hội về công cuộc Tân Truyền giáo, chúng ta sẽ “tái khám phá niềm vui Đức tin và tìm lại niềm hăng say thông truyền đức tin.  Việc dấn thân truyền giáo của các tín hữu… sẽ nhận được sức mạnh và tinh thần hăng hái qua việc hằng ngày nhận ra tình yêu của Thiên Chúa” (Cửa Đức tin, số 7).  Ước mong mỗi người chúng ta hãy lấy cột mốc Chúa Giê-su lên trời làm khởi đầu mới cho hành trình đức tin của mình.
             Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

LênTrời-272: LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, năm C

Lc 24, 46-53
CHÚA VỀ TRỜI
 

Từ lên trời chứng tỏ một điều gì xa cách, một cái gì đó chia lìa. Đối với Chúa phục sinh lên trời LênTrời-272

  Từ lên trời chứng tỏ một điều gì xa cách, một cái gì đó chia lìa. Đối với Chúa phục sinh lên trời không có nghĩa là lên một chỗ xa xôi mông lung nào đó ở trên cao. Chúa lên trời có nghĩa là Chúa đón nhận lại vinh quang tràn đầy, viên mãn của một vị Thiên Chúa, mà khi hóa kiếp làm người Chúa  đã khước từ để sống hòa đồng với con người ngoại trừ tội lỗi, và sau khi đã hoàn thành chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha,Chúa đã mặc lại vinh hiển đó.Chính vì thế, chúng ta hãy nhớ lại lời của các hai thiên thần mặc áo trắng đã lay tỉnh các tông đồ :” Các ông người Galilê, tại sao các ông cứ đứng đó nhìn trời “ ( Cv 1, 1-11 ).
  Thực sự, các môn đệ và các tông đồ vẫn chưa hiểu rõ việc Chúa về trời. Dù rằng, sau khi sống lại Chúa phục sinh đã nhiều lần trấn an và củng cố niềm tin của các môn đệ, đồng thời đã nhiều lần nói cho các môn đệ hay Chúa đi nhưng Chúa luôn hiện diện với các môn đệ trong Lời của Ngài và trong các ân ban của Ngài. Có một điều quan trọng nhất là Chúa phục sinh luôn ban bình an cho các môn đệ bởi vì nếu thiếu sự an bình của Chúa, các môn đệ sẽ hoang mang và đứt gánh giữa đường. Trước khi về trời, Chúa trao cho các môn đệ sứ mạng cao cả và khẩn thiết :” Phải nhân danh Chúa mà rao giảng cho muôn dân “ ( Lc 24, 47 ). Chúa phục sinh đặt hoàn toàn tin tưởng nơi các môn đệ và mọi Kitô hữu làm chứng cho Ngài khắp nơi, khắp chốn và loan báo, giới thiệu Danh chí Thánh của Ngài cho toàn thể nhân loại. Chúa về trời để cho các môn đệ và nhân loại hiểu rằng:” Tất cả đều là cánh tay nối dài của Chúa để thu góp nhiều người về Giáo Hội do Chúa thiết lập “. Công cuộc truyền giáo và việc cứu độ, Chúa muốn các tông đồ và Hội Thánh góp tay để xây dựng, để mở mang. Ngài muốn các tông đồ làm chứng Chúa về với Chúa Cha vì Ngài đến trần gian do ý Thiên Chúa Cha. Chúa muốn các môn đệ ra đi khắp nơi xây dựng một thế giới đầy yêu thương, hiệp nhất và an bình theo mẫu trời mới đất mới Chúa đã loan báo trước. Thế giới ấy Con Thiên Chúa đã hy sinh mạng sống cứu chuộc để làm của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa Cha. Chúa về với Chúa Cha nhưng thực tế Ngài luôn canh cánh bên lòng đưa toàn Giáo Hội và mọi Kitô hữu về với Ngài ngay khi nhân loại còn đang sống trong hiện tại. Chúa về trời nhưng Ngài vẫn đang sống với Hội Thánh, với con người ngay ở dưới thế này. Đây là một mầu nhiệm bởi vì Giáo Hội lữ hành đang gắn bó với trái đất nhưng không ngừng lên trời với Chúa phục sinh, về cùng Chúa Cha của Chúa sống lại nhưng cũng là Cha của mỗi người.
  Lễ Thăng Thiên là một lễ lớn trong phụng vụ. Chính vì thế, lễ này là một thông điệp cho toàn Giáo Hội hãy ra khơi, hãy thả lưới. Thế giới còn gần 80% những người chưa được loan báo Tin Mừng, chưa được nghe Danh Đức Kitô. Chúa về trời nhưng Chúa vẫn hiện diện sống động giữa con người, giữa mọi người, giữa cuộc sống của Hội Thánh. Người môn đệ Chúa hãy làm cho bộ mặt phục sinh của Chúa rõ nét trong cuộc sống, nhờ thế, nhiều người sẽ biết và  nhận ra Chúa. Chúng ta hãy tưởng tượng Lễ Thăng Thiên giống như ngọn lửa thế vận được chuyền từ tay vận động viên này tới vận động viên khác, cho tới khi ngọn lửa được châm bùng lên để rồi nó sẽ sáng mãi cho tới ngày chấm dứt thế vận hội. Hãy làm chứng cho Chúa phục sinh bằng chính đời sống thánh thiện, đạo đức của mình.
  “Các con là muối ướp cho mọi người, nếu muối nhạt, thì chẳng còn cách gì làm cho nó mặn lại được, nó trở thành vô dụng, chỉ còn nước ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó.
Các con là ánh sáng cho toàn thế giới …
…Ánh sáng chúng con phải sáng lên trước mặt thiên hạ để họ nhìn xem những việc thiện các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời “(Mt 5,13-16 ).
  Lạy Chúa phục sinh, chúng con tin Chúa luôn hiện diện với chúng con trong cuộc lữ hành trần thế tiến về Quê Trời. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 
 

LênTrời-273: Lễ Thăng Thiên C

Người Được Đem Lên Trời
Lc 24:46-53: 46 và Người nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; 47 phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. 48 Chính anh em là chứng nhân về những điều này. 49 “Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.”
50 Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. 51 Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. 52 Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ, 53 và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
 

Đây là cuộc đối thoại cuối cùng với các tông đồ trước khi Chúa Giêsu lên trời. Người cho họ LênTrời-273

Đây là cuộc đối thoại cuối cùng với các tông đồ trước khi Chúa Giêsu lên trời. Người cho họ hiểu lần cuối sứ mệnh của Người như đã được viết trong các Sách Thánh. Đồng thời Người giao phó cho họ sứ mệnh sắp đến là làm chứng về tất cả những gì họ đã nghe và biết về Người; để trợ giúp họ, Người ban cho họ Thánh Thần. Rồi Người lên trời; còn các tông đồ bắt đầu sứ mệnh của họ. Nằm trong chương 24 trình bày những biến cố và giáo huấn của Chúa Giêsu sau khi Người sống lại, đoạn 24:44-53 gồm hai phần: - Giáo huấn các tông đồ bằng cách làm cho hiểu những điều Sách Thánh nói về Người và giao phó cho họ sứ mạng (24:44-49); - Trình thuật lên trời (24:50-53).
 Giáo huấn các tông đồ về con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu (24:44-49)
 Để có thể hiểu dễ dàng hơn, đoạn nầy được chia thành hai phần: - Ứng nghiệm những điều đã nói trong các Sách thánh về Chúa Giêsu (24:44-46); - Sứ mạng trao phó cho các tông đồ (24:47-49).
Các tông đồ bị vấp ngã trước cái chết trên thập giá của Chúa Giêsu. Họ nghi ngờ về Người như là Đấng Được Sai Đến. Xem câu chuyện hai môn đệ về làng Emmaus (24:13-35; x. 1Cor 1:23.28-24). Chúa Giêsu hiểu điều nầy; nên Người phải dùng đến các Sách Thánh để làm chứng về Người. Với dân Israel, các Sách Thánh là nơi ý định của Thiên Chúa được bày tỏ; đồng thời, họ xem các Sách Thánh là nguồn uy tín nhất để hiểu và giải thích nhất là những điều liên quan đến đời sống tôn giáo. Câu đầy đủ nhất là “phải ứng nghiệm tất cả những gì được viết trong luật Môsê và các ngôn sứ và thánh vịnh về Tôi” (24:44. 45.46). Điều mà các Sách Thánh viết là “Đấng Kitô chết và sống lại từ kẻ chết vào ngày thứ ba” (24:26; x. 9:22; Cv 17:2-3). Các tông đồ đã không hiểu các điều nầy, mặc dù Chúa Giêsu đã lấy Sách thánh mà tiên báo về cái chết và sự sống lại của Người (18:31-34). Bởi đó, họ cần được mở lòng để hiểu (24:45; 24:25). Lời nầy trong các Sách Thánh chỉ có thể hiểu được cách tường tận khi nó đã được thực hiện: Đấng Kitô đã sống lại. Đầu tin mừng khi Chúa Giêsu khởi đầu việc rao giảng công khai, Người tuyên bố là “đã ứng nghiệm” (4:21) lời Sách Thánh trích trong ngôn sứ Isaia (Is 61:1tt; 58:6), nói về sứ mệnh của Người. Bây giờ Người lại tuyên bố là “phải ứng nghiệm” (24:44) để đánh dấu công việc ấy đã hoàn tất. Như thế, Người muốn các tông đồ nhận biết cách rõ ràng và chắc chắn Người chính là Đấng Kitô do Thiên Chúa sai đến, và sự chết và sống lại của Người nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
 Sứ mạng trao phó cho các tông đồ (24:47-49)
 Chúa Kitô chết và sống lại là nền tảng và nội dung căn bản của lời rao giảng sám hối để được tha tội (24:47; Cv 2:38; 5:31; 17:30). Lời kêu gọi sám hối để được tha tội đã ngỏ với dân Do thái (1:77; 3:3; 4:18; 5:32; 15:7) để chuẩn bị họ đón nhận tin mừng do Chúa Giêsu rao giảng. Các tông đồ sẽ tiếp tục  lời kêu gọi nầy, vì họ sẽ bắt đầu thời kỳ mới rao giảng về Chúa Kitô chết và sống lại; không còn chỉ cho Israel, mà mọi dân tộc. Khi nhân danh Chúa Kitô rao giảng sự sám hối, các tông đồ  lấy tư cách và uy quyền của Chúa Kitô mà làm việc nầy. Mục đích là tái lập sự hiệp thông với Thiên Chúa nhờ tin vào Đấng Kitô và nhờ hiệu quả của sự chết và sống lại của Người mà được tha tội (x. Cv 2:38; 3:16; 4:12.17.18; 5:28.40.41). Việc nầy “khởi đầu từ Giêrusalem”, vì nơi đó sứ mạng của Chúa Giêsu đã hoàn tất cách dứt khoát. Chúa Giêsu sống lại làm cho họ trở thành những chứng nhân (24:48; x. 1:2; Cv 1:8.22; 2:32; 3:15; 5:32). “Những điều nầy” là những sự kiện đã xảy ra và những giáo huấn của Chúa Giêsu mà họ đã chứng kiến, lắng nghe và cả cảm nghiệm bằng đức tin (Cv 2:22-36). Tiếp theo việc giao phó sứ mạng làm chứng, Chúa Giêsu loan báo việc ban Thánh Thần do Chúa Cha đã hứa (24:49; Gio 16:7; 14:16). Khi Người đến, Thánh Thần sẽ làm cho họ hiểu hơn về Chúa Giêsu như là Đấng Kitô; đồng thời giúp họ chu toàn vai trò làm chứng cho Người.
 Biến cố Chúa Giêsu lên trời (24:50-53)
 Biến cố nầy được trình bày cách chi tiết hơn trong Cv 1:4-14. Có thể phân chia đoạn nầy như sau: - Bêtania nơi Chúa lên trời (24:50a); - Hành động của Chúa trước khi lên trời (24:50b-51); - Các tông đồ sau khi Chúa đã lên trời (24:52-53). Bêtania (24:50a), nơi Chúa lên trời, được ghi nhận gần hơn là ngọn núi Cây Dầu (Cv 1:12). Các tông đồ được Chúa Giêsu dẫn đến đó có tên trong danh sách Cv 1:13. Việc “được đem lên trời” được diễn tả cách khác là “đám mây che Người khỏi mắt họ” (Cv 1:9). Đám mây tượng trưng cho “nơi” Thiên Chúa cư ngụ. Vậy “lên trời” là đi vào trong vinh quang của Thiên Chúa (x. 24:24.46), và mắt con người không thể nhìn thấy “nơi” nầy.
 Giữa trình thuật lên trời và trình thuật giáng sinh có nhiều chi tiết tương đồng. Rất có thể Luca cố ý trình bày như vậy để nhấn mạnh sứ mạng đã khởi đầu của Chúa Giêsu, nay kết thúc. Trong trình thuật giáng sinh, Luca mô tả các thiên thần xuất hiện và loan báo cho các mục đồng Đấng Kitô xuống trần gian (2:9-11). Trong trình thuật lên trời, cũng chính các thiên thần loan báo cho các tông đồ là Người đã về trời rồi (Cv 1:11). Như thế, sứ mạng ở trần gian đã kết thúc. Chúa Giêsu trở về nơi Người đã đến. Luca nói đến “niềm vui lớn” cả khi Chúa sinh ra lẫn khi Người về trời (2:10 và 24:52). Niềm vui khởi đầu là Đấng Cứu Thế, cũng là Đấng Kitô, đã sinh ra cho mọi người (2:10-11). Người là sự cứu độ mà muôn dân trông đợi (2:30; 3:6). Bởi đó mọi người đều vui mừng: các mục đồng (x. 2:15-20), Zacharia (1:64.68-79), Simêon (2:28-32). Sự cứu độ ấy nay được Đấng Kitô thực hiện trong cái chết và sống lại của Người (24:46.52). Bởi đó các tông đồ vui mừng vì họ đã chứng kiến được việc quyền năng nhất Thiên Chúa đã làm trong Đấng Kitô. Luca khởi đầu tin mừng với việc tế tự của Zacharia trong đền thờ (1:8-10) để cầu xin Thiên Chúa nhớ lại dân của Người mà ban ơn cứu độ. Ông (1:64), Simêôn (2:28), Elizabeth (1:42) và Maria (1:46-55) đã chúc tụng Thiên Chúa khi nhận ra những dấu hiệu cứu độ khởi đầu. Kết thúc tin mừng, Luca nói đến việc các tông đồ trở lại đền thờ để chúc tụng Thiên Chúa (24:55). Họ sẽ còn tiếp tục lui tới đền thờ để cử hành việc bẻ bánh và chúc tụng Thiên Chúa (2:26-47), cầu nguyện (3:1) và rao giảng Chúa Giêsu là Đấng Kitô (5:42). Vậy, với trình thuật lên trời kết thúc tin mừng, Luca cho thấy sứ mạng cứu độ của Chúa Giêsu đã hoàn tất đúng theo chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa đáng mọi lời chúc tụng (2:14, 24:53).
 Chúa Giêsu đã hoàn tất chương trình cứu độ Thiên Chúa muốn. Bây giờ Người đi vào trong vinh quang của Cha Người. Người là gương mẫu của những người tôi tớ trung tín (x. 19:12-27).
 Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

LênTrời-274: Lễ Chúa Thăng Thiên

Năm C - 2010
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 24:46-53)
 

Những lời nói, cử chỉ hay việc làm của một người sắp đi xa bao giờ cũng rất quan trọng đối với LênTrời-274

Những lời nói, cử chỉ hay việc làm của một người sắp đi xa bao giờ cũng rất quan trọng đối với những người ở lại.  Chúa Giê-su lên trời không có nghĩa là Người đã kết thúc sứ mệnh, mà chỉ là chuyển đổi sang một giai đoạn mới, giai đoạn cần sự tiếp tay của các môn đệ.  Thời gian Chúa Giê-su hoạt động với tư cách Thiên Chúa làm người đã mãn, để bắt đầu từ bây giờ Người sẽ hoạt động bằng Thánh Thần của Thiên Chúa.  Sứ mệnh tại thế của Chúa Giê-su là Nhập Thể, rao giảng Tin Mừng, “phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại”.  Biến cố Lên trời mở ra một hoạt động mới, nhưng là tiếp tục những gì Người đã thực hiện trong những năm tháng “trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).
          Trong hoạt động mới này, Chúa mời các môn đệ cộng tác.  Sứ mệnh Chúa Giê-su trao cho họ gồm hai việc:  a) rao giảng cho thế giới biết Chúa đã nói gì và đã làm gì cho nhân loại; b) làm chứng nhân cho Người và cho những giá trị Tin Mừng.
          Để thi hành sứ vụ cao quý này, các môn đệ được Chúa sai đi cần phải có hành trang.  Chúa Giê-su đã được Chúa Cha sai đến với nhân loại và hành trang của Người là Thánh Thần.  Giờ đây Người sai môn đệ đi và hành trang của họ cũng phải là Thánh Thần.  Người bảo họ cứ ở lại Giê-ru-sa-lem một thời gian ngắn và họ sẽ lãnh nhận hành trang là Thánh Thần trước khi lên đường thi hành sứ vụ.
          Chúng ta cũng không thể bỏ qua cử chỉ của Chúa Giê-su khi lên trời.  Người “giơ tay chúc lành cho các ông, và đang khi chúc lành, Người rời khỏi các ông và được đem lên trời”.  Thật là một cuộc ra đi đầy ý nghĩa, không nước mắt, không ồn ào tiễn biệt, nhưng vừa trang trọng vừa đầy tràn tình yêu thương.
          Như vậy, Lên Trời không chỉ là biến cố của riêng Chúa Giê-su mà còn là biến cố của Ki-tô hữu chúng ta.  Đó là một móc nối cần thiết giữa Chúa Giê-su và chúng ta, giữa sứ mệnh của Người và sứ mệnh của chúng ta.  Nó đánh dấu giai đoạn Chúa ở với chúng ta trên trần gian, nhưng cũng đánh dấu giai đoạn Người ở lại với chúng ta qua Thánh Thần của Người như Người đã hứa:  Thầy ở lại với anh em cho đến ngày tận thế.
 
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Lắng nghe những lời sau hết của Chúa Giê-su và chiêm ngưỡng Chúa được đem lên trời rồi, chúng ta hãy nhìn vào các môn đệ Chúa để học bài học của họ.          Cũng như họ, chúng ta hãy “bái lạy Chúa”, tức là nhìn nhận Người là Thiên Chúa của chúng ta.  Chúng ta “trở lại Giê-ru-sa-lem” của chúng ta, trở về với môi trường sống hằng ngày là gia đình, sở làm, khu phố, láng giềng.  Chúng ta “ở lại trong Đền Thờ”, nghĩa là tham gia những sinh hoạt đạo đức tại nhà thờ giáo xứ cùng các anh chị em giáo dân.  Tuy nhiên chúng ta sẽ làm tất cả những điều ấy với thái độ “lòng đầy hoan hỷ”, vì đó là tư thế của đời sống Ki-tô hữu đích thực, những con người sống trong tinh thần lạc quan và sống bằng tình yêu thương Chúa Giê-su đã dạy chúng ta.
          Với chúng ta, việc Chúa Giê-su Lên Trời không chỉ là một sự kiện, nhưng là một mệnh lệnh Chúa sai chúng ta đi tiếp nối sứ mệnh của Người.  Chúng ta đi rao giảng bằng chính cuộc sống hằng ngày và chúng ta làm chứng cho Chúa bằng cách cư xử với anh chị em qua lời nói và hành động thấm nhuần tinh thần Ki-tô của chúng ta.  Có như vậy thì những lời nói và cử chỉ của Chúa Lên Trời mới thực sự có ý nghĩa đối với chúng ta.
Lm. Dominic TTL
 
 

LênTrời-275: NIỀM HY VỌNG CỦA CHÚNG TA

(LỄ CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI)
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)
 

Lễ Chúa Giêsu Lên Trời thường được mừng vào ngày Thứ Năm sau Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh, LênTrời-275

Lễ Chúa Giêsu Lên Trời thường được mừng vào ngày Thứ Năm sau Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh, nhưng ở nhiều Giáo Phận, Lễ này thường được chuyển vào ngày Chúa Nhật VII Mùa Phục Sinh để giáo dân có thể đi dâng Thánh Lễ đông đủ hơn. Thánh Lễ hôm nay mừng kỷ niệm Chúa Giêsu Lên Trời trong vinh  quang sau 40 ngày hiện ra với các môn đệ để chứng minh Ngài đã sống lại thật.
Lễ Chúa Giêsu Lên Trời là niềm hy vọng cho chúng ta là các tín hữu của Chúa: Chúa Giêsu đã sống cuộc  đời trần gian như một người nghèo khó, rao giảng Tin Mừng cứu độ, chịu khổ nạn và chịu chết để chuộc tội chúng ta , chịu táng trong mồ; nhưng sau ba ngày, Ngài đã Sống Lại và Lên Trời trong vinh quang để mở đường về trời cho mọi người chúng ta, khi mỗi người chúng ta lần lượt từ giã cuộc đời đau khổ trần gian qua cái chết mà ai cũng phải trải qua. “Sinh Qúy Tử Quy!” “Sống Gửi Thác Về!” Sự chết không còn là sự tuyệt vọng, một sự tan biến vào hư vô, nhưng là ‘qua cuộc đời’ đau khổ này để trở về quê hương thật, trở về với Chúa là Cha  (Sách Khôn Ngoan 3:1-7).
Bài Đọc I (Năm A, B, C: Công Vụ Tông Đồ 1: 1-11) là đoạn đầu của Sách Công Vụ Tông Đồ ghi lại việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với các Tông đồ: Chúa Giêsu đã căn dặn các ông đừng rời xa Giêrusalem, chờ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống  ban ơn thánh hóa và soi sáng để các ông trở nên những Tông đồ nhiệt thành đi rao giảng Phúc Âm tình thương của Chúa cho mọi người, ở mọi nơi, bắt đầu từ Giêrusalem.
Bài Đọc II (Năm A, B, C: Thư Êphêsô 1: 17-23) Thánh Phaolô cầu xin Chúa cho các tín hữu được ơn soi sáng để hiểu biết và tin tưởng nơi Chúa Giêsu đã ‘từ cõi chết sống lại’ và đã Lên Trời trong vinh quang, Ngài là đầu toàn thể Hội Thánh, và chúng ta là các chi thể của Ngài.(Bài Đoc II Năm C có thể chọn Thơ Do Thái 9:24-28;10:19-23).
Bài Phúc Âm (Năm C: Luca 24: 46-53) là đoạn cuối cùng của Phúc Âm Thánh Luca. Trong đoạn này, Thánh sử Luca ghi lại những lời Chúa Giêsu nói với các Tông đồ về những lời “các Tiên tri nói về Đấng Kitô phải chịu khổ hình, nhưng ngày thứ ba Ngài sống lại từ cõi chết” đã được thực hiện, và bổn phận các Tông đồ là phải làm chứng cho cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa, và “rao giảng sự thống hối và ơn tha tội cho mọi người, mọi nơi bắt đầu từ Giêrusalem;” sau đó, Chúa Giêsu chúc lành cho các ông trước khi “rời khỏi các ông mà lên trời.” Các Tông đồ được ơn an ủi của Chúa, vui mừng trở lại Giêrusalem và vào Đền thờ ca tụng Thiên Chúa.
Trng Bài Phúc Âm hôm nay, Thánh Luca cũng ghi lại nơi Chúa Giêsu về trời là gần Bêtania; nhưng trong Công Vụ Tông Đồ (1:12), Thánh Luca ghi rõ hơn về địa điểm Chúa Giêsu lên trời là núi Ô-liu, gần Bêtania .Bêtania ở đây là quê hương của bà Mátta, Maria và Lagiarô, cách Giêrusalem gần 3 cây số (Gioan 11: 18), khác với Bêtania ở phía đông sông Giođanô, nơi Thánh Gioan Baotixita làm Phép Rửa (Gioan 1:28). Nếu chúng ta có dịp hành hương kính viếng Đất Thánh, chúng ta sẽ được hướng dẫn đi kính viếng địa điểm nơi Chúa Giêsu về Trời như Thánh Luca ghi lại.
Trong sách Công Vụ Tông Đồ 1:13-14, Thánh Luca còn ghi thêm một điểm đặc biệt khác rất cảm động, đó là: sau khi Chúa Giêsu Phục Sinh lên trời, các ông vui mừng về Giêrusalem để cùng họp nhau cầu nguyện chung tại ngôi nhà nơi các ông thường cư ngụ, chờ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, có cả sự hiện diện của Mẹ Maria, anh em của Chúa và mấy bà đạo đức khác.
Trước khi Chúa Giêsu lên trời, Chúa cũng đã hứa với các Tông Đồ: “Cha vẫn còn ở  với các con mọi ngày cho đến tận thế!” (Matthêu 28:20). Như vậy, Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài từ bỏ Giáo Hội, từ bỏ Đoàn Chiên của Chúa, nhưng Ngài vẫn ở cùng Giáo Hội và chăn dắt đoàn chiên của Chúa qua các vị Mục Tử mà Chúa đã chọn, đã thánh hiến và sai đến giữa chúng ta (Mátthêu 28: 18-20; Gioan 21: 15-17). Vậy, chúng ta đừng bao giờ thất vọng khi thấy những biến cố đau thương, những bách hại xảy ra cho Giáo Hội. Con thuyền Giáo Hội, trong khi vượt biển trần gian, luôn gặp những sóng to, gió lớn, những bão tố, nhưng không bao giờ bị chìm đắm, như Chúa đã nói với Thánh Phêrô: “Con là Đá, trên Đá này, Thày sẽ xây Giáo Hội của Thày, và mọi quyền lực thế gian cũng không thắng nổi!” (Mátthêu 16:18).
Cuộc vượt biển trần gian của mỗi người chúng ta cũng nhiều khi gặp ‘sóng to, gió  lớn’ nhưng đừng bao giờ chúng ta thất vọng, vì Chúa Giêsu Sống Lại và Lên Trời là Niềm Hy Vọng vững chắc của chúng ta là những tín hữu của Chúa.
Xin Chúa Giêsu Lên Trời chúc lành cho Giáo Hội của Chúa, cho Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam, cho mọi người chúng ta, gia đình chúng ta, và cho toàn thể thế giới. Tạ ơn Chúa! Amen! Alleluia! Alleluia!

 

LênTrời-276: ĐƯỜNG LÊN THIÊN THAI.

 Lễ Thăng Thiên C.
 

Thiên thai gợi lên bao nhiêu hình ảnh viễn mộng.   Một cảnh tượng tuyệt vời hầu như không bao LênTrời-276

Thiên thai gợi lên bao nhiêu hình ảnh viễn mộng.   Một cảnh tượng tuyệt vời hầu như không bao giờ tìm thấy trong cuộc đời thực tế.   Thế nhưng hôm nay Đức Giêsu sẽ hướng tất cả nhân loại nhìn về cảnh thiên thai, nơi Chúa Cha đang chờ đợi Chúa Con  trở về trong vinh quang sau bao thử thách trần gian.
 
NIỀM VUI LY BIỆT.
 Giây phút cuối cùng cuộc đời Đức Giêsu đã đến.   Khác hẳn những ngày đi trong bóng đêm thập giá, các môn đệ “lòng đầy hoan hỷ” (Lc 24:52) khi “Người rời khỏi các ông và được đem lên trời.” (Lc 24:51)  “Niềm vui đã được loan báo khi thánh Gioan và Đức Giêsu sinh ra (Lc 1:14; 2:10) và khi Đức Giêsu chuẩn bị sứ vụ (Lc 8:13; 10:17; 15:7, 10), nhưng nay sẽ hoàn thành vào giây phút cuối cùng.” (NIB 1995:489)  Hình ảnh tuyệt vời đó không cuốn đi tất cả những gì tươi đẹp nhất khỏi trần gian.   Trái lại, từ nay niềm hi vọng sẽ tràn ngập mặt đất vì “Thầy sẽ gởi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa.” (Lc 24:49)   Đúng hơn, “anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần,” (Cv 1:8) để thực hiện tất cả giấc mộng cứu nhân độ thế.
 Giấc mộng đó thành sự thật khi “anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:8)   Ơn cứu độ có một chiều kích vượt khỏi tầm nhìn của các tông đồ, nhưng đồng thời cũng có một độ sâu không ai dò thấu, tức là lòng người.   Chính nơi đây sẽ diễn ra một chuyển biến lớn lao.   Vâng lời Thầy, các môn đệ “phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 24:47)   Làm cách nào đi sâu vào lòng người như thế ?   Thưa, “chính anh em là chứng nhân về … Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại.” (Lc 24:48, 46)   Chỉ có kinh nghiệm sống với Thầy mới đánh động lòng người sâu thẳm như vậy.   Các môn đệ không làm chứng về giáo lý hay phép lạ.   Tất cả lời giảng chỉ xoay quanh sự kiện khổ nạn và phục sinh mà thôi.
 Nhưng sự kiện đó chỉ được một số ít chứng kiến.   Làm sao lời chứng đó vẫn còn giá trị đối với những người không bao giờ được diễm phúc sống với Đức Giêsu ?   Thực ra “ý nghĩa lời chứng đã chuyển từ vai trò chứng kiến tận mắt sang vai trò có thể làm chứng về tầm quan trọng của Đức Giêsu.   Thánh Phaolô có thể làm chứng bằng lời tuyên xưng, mà chẳng phải là chứng nhân tận mắt những biến cố về sứ vụ Đức Giêsu (Cv 1:22)” (NIB 1995:488)   Không thấy nhưng vẫn có thể làm chứng mạnh mẽ.   Chỉ Thánh Linh mới có thể thực hiện được việc đó nơi các chứng nhân sau này.   Lời chứng ngày càng mạnh mẽ và tạo nên những chứng nhân anh hùng.  Nếu không tin, người ta dễ kết án là cuồng tín hay mê tín.   Trái lại, đức tin sẽ giúp con người nhận ra “niềm hi vọng”, “gia nghiệp vinh quang phong phú” và “quyền lực vô cùng lớn lao” (Ep 1:18, 19) nơi những lời chứng đó.   “Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực,” (Ep 1:19) vì phát xuất tự Thánh Linh.    
 Thánh Linh đã phục sinh Đức Giêsu, trả lại danh dự và rửa nhục cho Người.  Thăng thiên chính là lúc Người chiến thắng kẻ thù và tìm về nguồn gốc thần linh của mình.   Tầm vóc thần linh của Người vươn cao đến ngai tòa Thiên Chúa.   Từ nay Người sẽ bá chủ muôn loài và đi vào tương quan sâu xa hơn với cộng đoàn Người đã thiết lập trên trần gian.   Quả thế, “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội thánh.” (Ep 1:22)    Khi “rời khỏi các ông và được đem lên trời” (Lc 24:51) , Người vẫn không quên “giơ tay chúc lành cho các ông.” (Lc 24:50)   Chính nhờ phúc lành ấy, các ông đã phấn khởi lên đường làm chứng cho Chúa.   Phúc lành như một bảo chứng “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:20)   Phúc lành báo trước “quyền năng từ trời cao ban xuống.” (Lc 24:49)   Người càng lên cao, quyền lực ấy càng lan rộng.   Lan rộng tới mức bao trùm cả vũ trụ, vì quyền lực Người lên tới tột đỉnh khi ngự bên hữu Chúa Cha (x. Ep 1:20).
 Nhờ quyền lực ấy, các tông đồ đã có thể làm cho nhiều con mắt và tâm trí nhìn thấy tính cách “hữu lý” của mầu nhiệm phục sinh và nghe theo những lời giải thích Kinh thánh mà đi theo sự hướng dẫn của các môn đệ và “chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24:53) không ngừng (x. NIB 1995:489)   Nhờ đó, tín hữu ngày càng đào sâu niềm tin nơi Thiên Chúa.   “Cộng đoàn niềm tin kinh nghiệm Thiên Chúa như Đấng cứu độ, sai đi và chúc lành.” (NIB 1995:490)   Từ kinh nghiệm sâu xa đó, họ mới có thể chia sẻ với người khác tất cả phúc lành đã đón nhận từ nơi Thiên Chúa.   Cộng đoàn đức tin không thể sống mà không có phúc lành đó.  Chính nhờ phúc lành cộng đoàn mới có thể tìm được niềm vui lớn lao và năng lực thi hành những điều Chúa truyền dạy.  Niềm vui là dấu chỉ cộng đoàn đang sống trong phúc lành của Chúa.  “Niềm vui là kết quả tự nhiên của phúc lành.” (NIB 1995:490)   Khi đón nhận phúc lành, “các ông bái lạy Người”, “lòng đầy hoan hỉ,” và “chúc tụng Thiên Chúa.” (Lc 24:52, 53)   Đó là những phản ứng tự nhiên của những tấm lòng biết ơn và suy phục Thiên Chúa.
 Vì thế “một linh đạo và phụng vụ lành mạnh và thấm nhuần kinh thánh đòi phải có một sự quân bình tương xứng giữa lời giảng về Thiên Chúa như Đấng Cứu chuộc và Cứu thế, kinh nghiệm về phúc lành của Thiên Chúa, và sự vâng phục lệnh truyền công bố danh Thiên Chúa cho muôn dân.” (NIB 1995:490)    Lời rao giảng chỉ là tiếng kêu bật lên từ một kinh nghiệm sâu xa và lòng biết ơn vô hạn về muôn ơn lành Chúa ban nhờ cái chết và sự phục sinh của Con Chúa.   Sống trong phúc lành và quyền lực Thiên Chúa,  các môn đệ không cảm thấy xa lìa “Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời” (Cv 1:11) về thể lý.   Về tinh thần, các ông cảm thấy gắn bó với Chúa đến nỗi tin rằng “Hội thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người.” (Ep 1:23)   Không còn sự liên kết nào bền chặt hơn !   Đó là một mầu nhiệm giải thích tất cả sức mạnh Hội thánh trên trần gian và hạnh phúc sâu xa của người đặt tất cả niềm tin nơi Chúa.
 Hạnh phúc đó không phải là suốt ngày “đăm đăm nhìn lên trời” (Cv 1:10), nhưng dấn thân làm chứng cho Thầy “cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:11)    Nỗ lực ấy phải trải dài ra trong một không gian và thời gian hầu như vô tận để kiếm tìm những người biết “sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 24:47)   Làm sao cho con người thành tâm nhìn ra sự thật về chính mình và cảm thấy nhu cầu cần được giải thoát nhờ ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô ?   Chúa thăng thiên để bảo đảm các chứng nhân sẽ thành công trong nỗ lực đem muôn dân về cùng Thiên Chúa. Thật vậy, khi về trời “Đức Giêsu mãi mãi hiện diện với Thiên Chúa.” và “hiện diện mãi mãi giữa trần gian.”  (Encyclopedia of Catholicism: 99)   Như thế Người đi ra để hiện diện một cách sâu xa và mãnh liệt hơn.   Người hiện diện cả hai cõi Thiên Chúa và con người để cho các môn đệ thấy họ chẳng mất mát gì trong cuộc chia ly.   Đó là lý do tại sao có niềm vui biệt ly trên cõi đời này !
 
SỨC SỐNG GIÁO HỘI.
 Đúng như Đức Giêsu đã hứa, “sức mạnh của Thánh Thần” (Cv 1:8) đã đẩy các “chứng nhân của Thầy đến tận cùng trái đất.” (Cv 1:8)   Trên quê hương Việt Nam hôm nay, vẫn có hằng ngàn chứng nhân ngày đêm noi gương cha ông làm chứng cho Chúa trên miền rừng núi âm u hay các vùng biên giới, trong các trại cùi hay bệnh viện.   Nếu không có sức mạnh Thánh Thần, làm sao các chứng nhân đó có thể tìm được niềm vui và bình an giữa bao sóng gió như thế ?   Sức sống Giáo hội thật là một mầu nhiệm.  Càng bị bách hại, Giáo hội càng vươn lên !
 Từ Mật Hội Hồng Y Đoàn vừa qua, ĐHY Tonini nói : “Nghe ĐHY Jakarta nói về tử đạo, về những vụ thảm sát mà người Công giáo phải trải qua tại các đảo khác nhau của Indonesia; nghe các giám mục trong thế giới của giới trẻ, tôi phải nói rằng chúng ta đang đứng trước một Giáo hội tràn đầy sức sống, và đó là điều kỳ diệu biết mình thuộc về một Giáo hội như vậy.” (VietCatholic 24/5/2001)   Sức sống Giáo hội không phải tại việc tổ chức, nhưng vì “Chúa Kitô đang sống giữa chúng ta, Người phấn chấn chúng ta với Thần Khí của Người và giúp chúng ta nhìn ra những gì sẽ xẩy đến, ngõ hầu thế hệ này sẽ nhận ra rằng mình đang sống trong giây phút phi thường nhất của lịch sử thế giới, bởi vì bây giờ mới thật sự trở về lúc khởi đầu.” (ĐHY Tonini, VietCatholic 24/5/2001)   Sức sống Giáo hội cũng không hệ tại tiền bạc, mặc dù một tổ chức lớn lao như Giáo hội đòi phải có tiền mới có thể có những phương tiện truyền giáo và những cơ sở hoạt động.   Bước theo Thày chí thánh, “Giáo hội trở nên nghèo bởi vì Giáo hội tràn đầy Thiên Chúa.  Giáo hội nghèo vì Giáo hội có nhiều thứ vĩ đại hơn.” (ĐHY Tonini, VietCatholic 24/5/2001)   Những thứ vĩ đại có thể tìm thấy nơi chứng từ của Giáo hội.  Theo ĐHY Etchegaray, “Giáo hội cần phải có tinh thần nghèo khó.   Chỉ Giáo hội nghèo khó mới có thể trở thành Giáo hội truyền giáo, và chỉ có Giáo hội truyền giáo mới có thể làm cho Giáo hội nghèo khó trở thành cần thiết cho mọi người.” (CWNews 24/5/2001)  Thật là một nghịch lý.   Chứng nhân luôn sống giữa những giằng co vì nghịch lý của chứng từ giữa một xã hội có quá nhiều mâu thuẫn và bất ổn.
 Đáng lẽ khi xa rời các Tông đồ, Đức Giêsu đã để lại một khoảng trống lớn lao không gì bù lấp nổi.   Nhưng thực ra Người ra đi để hiện diện một cách phong phú hơn bằng chính sức mạnh Thánh Linh.  Nhờ đó, Giáo hội “cảm thấy nhu cầu cấp bách không những chỉ nói về Thiên Chúa, nhưng cũng làm cho Người ‘được nhìn’ ra : qua việc tuyên giảng Lời có sức cứu độ, và việc làm chứng đức tin táo bạo trong công cuộc truyền giáo được canh tân.” (Mật Hội Hồng Y, VietCatholic 25/5/2001)   Cả hai mặt lý thuyết và thực tiễn đều cần cho chứng từ hôm nay.   Chứng từ đó đang trở thành cấp thiết ngay trong lòng Giáo hội.   Hiện tại các Kitô hữu vẫn chưa thể nào hiệp nhất với nhau.   Lý do không phải chỉ vì lý thuyết, nhưng rất nhiều khi vì những lý do tâm lý mà thôi.  Nghĩa là tình yêu vẫn chưa mạnh đủ để Thánh Linh có thể tìm ra mối giây liên kết mọi người trong Đức Kitô Giêsu.   Nhiều người vẫn coi quyền bính Giáo Hoàng là một cản trở lớn cho việc hiệp nhất Kitô hữu.   Nhưng theo ĐHY Avery Dulles, “sự rối loạn trong các giáo phái cho thấy tầm quan trọng của quyền bính trong các vấn đề giáo lý và kỷ luật.” (CWNews 24/5/2001)   Do đó càng hiệp nhất, anh em Công giáo càng làm chứng mạnh mẽ cho chính những anh em Kitô của mình.
 Đó là chưa kể đến những chứng từ khó khăn hơn vì những cơn bách hại và ngộ nhận.  Giữa những não trạng vô thần và lối sống duy vật xã hội hôm nay, Giáo hội đã trở thành xa lạ đối với nhiều người.  ĐGM Vincent Malone tại Liverpool nhận định : tình trạng suy giảm số người đi nhà thờ vì ngày càng có nhiều người cảm thấy tự mãn.   Người nói : “Hình như mọi sự đều nằm trong vòng kiểm soát của chúng ta.   Chúng ta không ý thức về sự lệ thuộc và nhu cầu cần có cái nhìn thần học xa hơn chính mình.” (CWNews 24/5/2001)   Nói khác, người ta không còn cần Thiên Chúa nữa, trong khi Giáo hội vẫn cứ nói về Thiên Chúa !   Thiên Chúa trở thành huyền thoại giữa nền văn minh hiện đại.   Làm sao cho hình ảnh Thiên Chúa sống động trước con mắt nhân loại hôm nay ?   Làm sao cho con người cảm thấy nhu cầu cần đến Thiên Chúa ?   Niềm tin luôn luôn là một điều kỳ diệu nhưng đã trở thành lạc điệu vì Kitô hữu đã đánh mất phẩm chất của niềm tin giữa anh em đồng loại.
 Để phục hồi phẩm chất chứng từ Kitô hôm nay, theo ĐHY Jean-Marie Lustiger địa phận Paris, phải nhấn mạnh đến sứ mệnh rao giảng Tin Mừng duy nhất của Giáo hội trên toàn thế giới (CWNews 24/5/2001) Chỉ khi nào nhìn Giáo hội như Hiền thê của Đức Kitô, mới có thể cứu Giáo hội khỏi những thách đố lớn lao của thời đại hôm nay.
 Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

 

LênTrời-277: Lễ Chúa Thăng Thiên

(Lu-ca 24: 46-53)
 

Ta có khuynh hướng coi lễ Chúa Thăng Thiên là một biến cố trong cuộc đời Chúa Giê-su tại LênTrời-277

Ta có khuynh hướng coi lễ Chúa Thăng Thiên là một biến cố trong cuộc đời Chúa Giê-su tại trần gian.  Điều đó đúng vì biến cố ấy là một trong những biến cố nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.  Tuy nhiên, hơn cả một biến cố, việc Chúa Giê-su lên trời sau khi sống lại còn là một sứ mệnh, sứ mệnh đưa nhân loại về cùng Chúa Cha.  Do đó, ta không chỉ chiêm ngưỡng Chúa lên trời như việc hoàn tất sứ mệnh của Người ở trần gian, mà còn suy nghĩ về sứ mệnh lên trời của Giáo Hội, một tiếp nối sứ mệnh của Chúa Giê-su và con đường Người thiết lập để đưa nhân loại lên cùng Thiên Chúa.
 
  “Người rời khỏi các ông và được rước lên trời”
          Khung cảnh biến cố Chúa lên trời xảy ra gần Bê-ta-ni-a và được thánh sử Lu-ca mô tả như một buổi cử hành phụng vụ.  Chúa Giê-su nhắc lại về sứ mệnh của Người đã được nói đến trong Kinh Thánh, rồi truyền cho các Tông Đồ đi rao giảng và làm chứng nhân cho Người.  Chúa chúc lành cho các ông.  Còn các ông thì bái lạy Người, cử chỉ tôn sùng Chúa Giê-su là Đức Chúa.
          Bốn mươi ngày sau khi sống lại từ kẻ chết, Chúa Giê-su đã hiện diện với các Tông Đồ qua thân xác phục sinh của Người.  Trong các lần hiện ra, Chúa thường nhắc nhở các ông nhớ lại những lời Kinh Thánh nói về Người để các ông hiểu và xác tín ý nghĩa tại sao Người đến trần gian, giảng dạy, chịu tử nạn và sống lại.  Giờ đây các ông đã biết khá rõ Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô như thế nào và sứ mệnh của Người là gì.  Các ông chỉ còn chờ Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần được sai đến giúp các ông nắm được “sự thật toàn vẹn” (Ga 16:13).  Đây sẽ là chuẩn bị cuối cùng để các Tông Đồ sẵn sàng ra đi rao giảng Chúa Giê-su Ki-tô và Tin Mừng cứu độ của Người.
          Đã đến lúc Chúa Phục Sinh kết thúc việc hiện ra với các Tông Đồ và trở về với Đấng đã sai Người đi.  Thánh sử ghi lại một hình ảnh đầy uy nghi:  “Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời”.  Thật khác hẳn với khi Người từ trời đến với nhân loại.  Khi ấy, Người nhận một thiếu nữ đơn sơ khiêm nhượng làm mẹ (Lc 1:30-31) và tại một thành phố chẳng có cái gì hay đẹp (Ga 1:46), sinh ra trong cảnh nghèo cùng cực (Lc 2:7).  Cung cách Người đến với ta trong nghèo nàn và trở về với Chúa Cha trong vinh quang diễn tả thân phận của những kẻ được Thiên Chúa cứu độ, từ tình trạng nghèo nàn bụi đất của con người tiến lên chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên Chúa.  Đó là cuộc xuất hành của ta từ trần gian về nhà Cha, tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Ki-tô là Trưởng Tử nhân loại mới.  Với tư cách là con đầu lòng của nhân loại mới, Chúa Ki-tô đi trước để dọn chỗ cho ta.  “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3).  Như vậy ta mới hiểu được việc lên trời của Chúa Giê-su là giai đoạn kết thúc công cuộc cứu độ loài người và là bảo đảm cho số phận tương lai của ta.
 
  “Chính anh em là chứng nhân của những điều này”
          Đã nhiều lần Chúa Giê-su dạy các môn đệ phải làm chứng nhân cho Người và  cho Tin Mừng (Mt 10:18; 24:14).  Họ đã tận mắt nhìn thấy những điều Chúa làm, cách Chúa sống và đối xử với tha nhân.  Chính tai họ đã nghe tiếng Người, nghe những lời giảng đơn sơ nhưng vô cùng thâm thúy, nghe những lời ca ngợi từ rất nhiều người nói về Chúa.  Nhất là họ đã được tiếp xúc hằng ngày với Người, cảm nghiệm được tình yêu Người dành cho họ.  Có biết bao điều họ có thể làm chứng về Người.  Thánh Gio-an Tông Đồ quả thực chẳng nói phóng đại:  “Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm.  Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ:  cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra” (Ga 21:25).
          Trong bối cảnh Chúa lên trời vinh hiển, Người dạy các Tông Đồ:  “Có lời Kinh Thánh chép rằng:  Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân” (Lc 24:46-47).  Nội dung việc rao giảng là nói về Đấng Ki-tô và sứ mệnh của Người.  Cao điểm sứ mệnh của Người là “phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại”.  Các Tông Đồ đã nghe Chúa tiên báo về cuộc Thương Khó và Phục Sinh.  Thế mà khi gian nan xảy ra cho Chúa, họ đã cao chạy xa bay, bỏ Thầy mà trốn hết.  Giờ đây trước khi lên trời, Chúa truyền cho họ phải làm chứng nhân cho cái chết và sự sống lại của Người, dù họ có phải chịu bách hại vì việc làm chứng ấy.  Nhưng từ nay họ sẽ đủ can đảm và nghị lực để làm công việc ấy vì “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa” tức là Thánh Thần xuống trên họ trong ngày lễ Ngũ tuần (Cv 1:8; 2:3).
          Thế nào là chứng nhân của cuộc Thương Khó và Phục Sinh?  Thực không ai hiểu ý nghĩa này thấu đáo hơn thánh Phao-lô Tông Đồ.  Ngài cho ta câu trả lời qua lời nhắn nhủ người môn đệ yêu dấu Ti-mô-thê:  “Anh hãy nhớ đến Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã sống lại từ cõi chết, Đấng xuất thân từ dòng dõi Đa-vít, như tôi vẫn nói trong Tin Mừng tôi loan báo.  Vì Tin Mừng ấy, tôi chịu khổ...  Tôi cam chịu mọi sự, để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn, để họ cũng đạt tới ơn cứu độ trong Đức Ki-tô Giê-su, và được hưởng vinh quang muôn đời.  Đây là lời đáng tin cậy:  Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người.  Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người” (2 Tm 2:8-12).
 
Sứ mệnh xuất hành của Giáo Hội
          Chúa Giê-su là Đầu của Giáo Hội để thâu hợp mọi phần tử nhân loại về một mối (recapitulation), làm thành một cuộc Vượt Qua Mới tiến về quê trời.  Người trao cho Giáo Hội sứ mệnh tiếp tục công việc thâu hợp ấy qua việc rao giảng.  Trong Tin Mừng Lu-ca, Giê-ru-sa-lem là khởi điểm cuộc Xuất Hành của Chúa Giê-su để về với Chúa Cha.  “Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem” (Lc 9:51).  Do đó, Người cũng truyền cho các Tông Đồ và Giáo Hội phải lấy Giê-ru-sa-lem như điểm xuất phát rao giảng Tin Mừng cứu độ.  Theo lời Chúa dạy, các ông đã “ở lại trong thành” để chờ lãnh nhận “quyền năng từ trời ban xuống” là Thánh Thần, trước khi ra đi mời gọi người ta “sám hối để được ơn tha tội” như ta thấy được kể lại trong sách Công vụ Tông Đồ.
          Sứ mệnh truyền giáo là sứ mệnh chung cho mọi Ki-tô hữu.  Ta đã được Chúa Ki-tô quy tụ và lãnh nhận quyền năng Thánh Thần để tham gia vào cuộc xuất hành của Giáo Hội.  Ta không đi một mình, nhưng dưới sự lãnh đạo của Mô-sê Mới là Chúa Ki-tô và cùng với anh chị em khắp nơi.  Ta cũng không đi một cách thụ động hoặc vô ý thức, nhưng biết mình đang đi về đâu và phải làm gì trong cuộc xuất hành ấy.  Lời Đức Ki-tô là châm ngôn trong cuộc hành trình:  Chính anh em là chứng nhân của những điều này, nghĩa là chứng nhân cho cuộc tử nạn và sống lại của Người.
 
  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Có khi nào tôi suy nghĩ về ý nghĩa của việc Chúa lên trời gắn liền với số phận được cứu độ của tôi không?  Biến cố lên trời của Chúa có giúp tôi luôn luôn lạc quan và hy vọng không?
          Chúa Giê-su nói với tôi:  Con là chứng nhân của những điều này.  Vậy tôi sẽ làm chứng điều gì về Chúa thích hợp nhất và rõ ràng nhất qua cuộc sống của tôi hiện nay?
          Lời thánh Phao-lô (2 Tm 2:12) sẽ giúp tôi sống kiên nhẫn trong cuộc sống khó khăn của tôi như thế nào?
 
Cầu nguyện
          “Lạy Chúa Giê-su phục sinh
          Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa,
          xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,
          Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.
          Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.
          Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.
          Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.
          Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.
          Vượt qua những thành kiến con có về người khác...
          Chính vì Chúa đã phục sinh
          nên con vui sướng và can đảm vượt qua,
          dù phải chịu mất mát và thua thiệt.
          Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh
          gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng,
          tin tưởng và niềm vui.
          Ước gì ai gặp con
          cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 83)
 Lm. Đaminh Trần đình Nhi

 

LênTrời-278: CHÚA THĂNG THIÊN

Lc 24, 46-53
 CHỨNG TỪ VÀ VIỆC RAO GIẢNG
 

Lúc còn nhỏ mỗi lần lễ Chúa lên trời, tôi cứ tưởng Chúa bay vù lên trời như bọn con trẻ chơi LênTrời-278

Lúc còn nhỏ mỗi lần lễ Chúa lên trời, tôi cứ tưởng Chúa bay vù lên trời như bọn con trẻ chơi thả diều. Và có khi tôi đã ra giữa trời ngó về trời để xem Chúa lên trời bằng cách nào ? Những thái độ, những cử chỉ, những suy nghĩ tôi có khi còn tấm bé chẳng khác nào những người Galilêa xưa, cứ đứng trố mắt xem Chúa về trời đến nỗi các ông được lay tỉnh:” Hỡi người xứ Galilê, sao ngỡ ngàng đứng đó nhìn trời ? Các bạn thấy Đức Giêsu lên trời làm sao, Người cũng sẽ ngự giá quang lâm như vậy”( Cv 1, 11 ).Đức Giêsu thăng thiên để trao ban Thánh Thần cho nhân lọai. Ngài về trời và giao cho các môn đệ, cũng như tất cả chúng ta sứ mạng loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Ngài.

CHÚA TRAO SỨ MẠNG RAO GIẢNG CHO CÁC MÔN ĐỆ: Phục sinh, Chúa sống lại đã ở với các môn đệ 40 đêm ngày để củng cố niềm tin của các ông và để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, hy vọng và âu lo với các môn đệ. Hôm nay, trước khi về trời, Chúa phục sinh đã trao cho các môn đệ sứ mạng cao cả:” Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân”( Lc 24, 47 ).Thực ra sứ mạng rao giảng Chúa phục sinh không chỉ trao cho các môn đệ, nhưng Ngài kêu mời tất cả nhân lọai, kêu gọi tất cả những kẻ tin vào Ngài hãy làm chứng cho Ngài. Rao giảng, giới thiệu Chúa sống lại đến tận thế và làm chứng cho Chúa đến tận cùng thế giới : đó là sứ mạng Chúa trao phó cho tòan thể những người có lòng tin. Đây cũng là khởi đầu con đường của Hội Thánh, con đường của những người đi theo Đức Giêsu, rồi đã nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, cho nhân lọai, cho thế giới. Chúa về trời, các môn đệ cũng phải ra đi. Các Ngài ra đi tuyên xưng niềm tin cho mọi người biết Đức Giêsu Kitô đã chết nhưng nay đã phục sinh, đã chiến thắng thần chết và nay đang được tôn vinh bên hữu Chúa Cha. Người từ Cha mà đến nay lại trở về với Chúa Cha. Chúa về trời là lúc các môn đệ phải xây dựng một thế giới đầy tình yêu thương, một thế giới hòa bình, huynh đệ, công bình, bác ái, văn minh xứng với trời mới đất mới Chúa Giêsu đã đổ máu ra để cứu chuộc và hiến dâng cho nhân lọai, cho thế giới, cho con người.

NHÂN DANH CHÚA PHỤC SINH KÊU GỌI SỰ SÁM HỐI : Chúa nói với các môn đệ:” Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội”( Lc 24, 47 ). Công việc rao giảng cho muôn dân không chỉ giới hạn trong việc công bố sứ điệp của Chúa Giêsu cứu độ, mà còn có nghĩa là giáo dục muôn dân nhằm giúp họ tìm lại được chương trình của Thiên Chúa về con người. Việc loan báo Tin Mừng và kêu gọi sự sám hối để được ơn tha tội  đòi hỏi phải kiên trì, lâu dài. Sám hối là cải tổ, thay đổi bản thân con người. Do đó, các môn đệ phải miệt mài với sứ mạng đổi mới thế giới, đổi mới con người, các Ngài phải quên mình, hy sinh cả mạng sống để loan báo Đức Giêsu phục sinh và làm chứng cho Người.

VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG CŨNG ĐƯỢC CHÚA PHỤC SINH TRAO BAN CHO CHÚNG TA: Việc tiếp nối sứ mạng của các tông đồ rao giảng Tin Mừng, làm chứng cho Chúa lại là một thách đố rất nặng nề đối với chúng ta vì rằng cả thế giới có gần 7 tỷ người, Hội thánh công giáo mới chỉ có hơn một tỷ người nhận biết danh Chúa mà thôi. Trên thế giới còn hơn 80% người chưa nhận biết Thiên Chúa. Chính vì thế, việc loan báo Đức Kitô trở nên khẩn thiết, cấp bách. Đức Kitô đã về trời nhưng Người luôn hiện diện sống động giữa chúng ta, giữa nhân lọai. Chúng ta phải đưa Người vào chính cuộc sống của chúng ta để qua cuộc sống chứng nhân có Chúa ở cùng, lời rao giảng của chúng ta mới thực sự có giá trị. Vì lời nói thì bay đi, gương lành lôi cuốn.  Sứ mạng rao giảng Tin Mừng được Chúa sống lại trao cho tất cả mọi người. Do đó, bất cứ thành phần nào trong Giáo Hội cũng phải có trách nhiệm hòan thành sứ mạng Chúa trao phó: Rao giảng và làm chứng cho Chúa phục sinh theo khả năng và trách nhiệm của mình. Chúng ta hãy chuyền ngọn lửa đức tin cho mọi người để tất cả mọi người đều chuyền ngọn lửa đức tin cho thế giới và cuối cùng thế giới sẽ nhận ra bộ mặt yêu thương của Chúa phục sinh.
Chúa đã truyền dậy các mộn đệ trong bài giảng trên núi xưa:” Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngòai cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.Một thành xây trên núi không thể nào che giấu được…Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”( Mt 5, 13-16 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin củng cố đức tin của chúng con để chúng con rao giảng và làm chứng cho Chúa không mệt mỏi, bất chấp gian nan, không sợ thử thách dẫu có phải hy sinh cả mạng sống của mình. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
 
 

LênTrời-279: Chúa Nhật lễ Thăng Thiên

(23-5-2004)
 Đức Giêsu về trời để hiện diện
tại trần gian một cách mới mẻ
ĐỌC LỜI CHÚA
        Cv 1,1-11: (8) «Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất».
        Dt 9,24-28; 10,19-23: (20) Người đã mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người.
        TIN MỪNG: Lc 24,46-53
Đức Giêsu được rước lên trời
 (46) Khi ấy Đức Giêsu nói: «Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; (47) phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. (48) Chính anh em là chứng nhân về những điều này. (49) Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống».
 (50) Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. (51) Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. (52) Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, (53) và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
 CHIA SẺ
 Câu hỏi gợi ý:
 

Trước khi từ biệt các tông đồ để về trời, đáng lẽ Đức Giêsu phải nói: «Thầy sẽ không còn ở LênTrời-279

     Trước khi từ biệt các tông đồ để về trời, đáng lẽ Đức Giêsu phải nói: «Thầy sẽ không còn ở cùng anh em nữa; vậy Thầy xin tạm biệt anh em» mới thuận lý. Tại sao Ngài lại nói: «Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế» (Mt 28,20)? Điều đó nghĩa là gì?
     Đức Giêsu ở lại với chúng ta đến tận thế. Vậy muốn gặp Ngài thì gặp ở đâu? Phải tiếp xúc với Ngài cách nào để thật sự nhận được sức mạnh của Ngài?
 Suy tư gợi ý:
 
     Đức Giêsu hiện diện tại trần gian theo một cách thức mới
Tại trần gian, chẳng có một trường hợp nào «tụ» mà không «tán», chẳng bao giờ có một cuộc xum họp nào mà không kết thúc bằng sự chia ly. Và sự chia ly của những người yêu thương nhau chẳng bao giờ mà không vương vấn buồn phiền, đau khổ. «Ái biệt ly khổ» (yêu nhau mà phải xa cách nhau thì khổ) là một trong «bát khổ» theo giáo lý nhà Phật. Biết như thế, ta mới hiểu được nỗi buồn và sự bâng khuâng của các tông đồ sau khi Đức Giêsu về trời. Kể từ nay, các ông không còn được gặp mặt người Thầy mà mình hết dạ quý mến bằng xương bằng thịt nữa, chẳng còn nghe thấy tiếng Ngài nói, lời Ngài dạy dỗ nữa.
Nhưng cuộc chia ly của Đức Giêsu và các tông đồ không phải là một cuộc chia ly theo kiểu thường tình của cuộc đời. Vì Đức Giêsu tuy không ở bên cạnh các tông đồ bằng xương thịt như khi còn sinh tiền, nhưng Ngài vẫn luôn hiện diện chẳng những ở bên cạnh các ông, mà ở ngay trong tâm hồn các ông. Ngay trước khi từ giã các môn đệ để về trời, đáng lẽ Ngài phải nói: «Thầy sẽ không còn ở với anh em nữa» thì mới hợp lý, đằng này Ngài lại nói: «Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế» (Mt 28,20). Sao Ngài nói lạ vậy? Chắc chắn Ngài không ở với các tông đồ và chúng ta bằng thân xác nữa. Nên nếu đúng như lời Ngài nói, thì tất nhiên Ngài phải ở lại bằng tâm linh hay thần khí của Ngài. Đó là cách khôn ngoan nhất để mọi người trên thế gian có thể gặp Ngài.
Giả như Ngài tiếp tục hiện diện tại trần gian bằng thân xác của Ngài – chẳng hạn tương tự như Đức Giáo Hoàng hiện nay ở Rôma – thì cả đời chúng ta không dễ gì gặp được Ngài một lần, dù chỉ gặp trong giây lát. Và sẽ có vô số người muốn gặp Ngài mà không gặp được. Thử nghĩ xem: tỷ lệ số người đang sống tại Việt Nam hiện nay đã từng gặp được Đức Giáo Hoàng một lần để nói chuyện là bao nhiêu phần trăm? E rằng không được 1 phần ngàn (tức 80.000 người). Trái lại, nếu Đức Giêsu hiện diện theo cách thức mới bằng tâm linh hay thần khí, thì ai trong chúng ta cũng có thể gặp Ngài dễ dàng trong bất cứ bao lâu và bất kỳ lúc nào. Ngài có thể nói với ta một cách thiêng liêng trong tâm linh ta; và ta cũng có thể «nghe» Ngài nói bằng lời rõ ràng qua Thánh Kinh, đặc biệt qua các Tin Mừng. Ngoài ra, Ngài còn lập phép Thánh Thể để ta có thể gặp gỡ Ngài một cách thể chất, và để Ngài có thể ngự vào lòng ta cũng một cách thể chất.
 
     Phải gặp gỡ và liên kết với Đức Giêsu mới có sức mạnh
Đức Giêsu nói: «Thầy là đường, là sự thật và là sự sống» (Ga 14,6); và «Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào» (Ga 10,10). Vì thế, muốn sống hạnh phúc, sống tràn đầy, sống cho có ý nghĩa, ta cần phải thường xuyên gặp gỡ và liên kết chặt chẽ với Đức Giêsu. Nhờ đó, ta tiếp nhận được sự khôn ngoan và sức mạnh dồi dào của Ngài, vì Ngài «là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa» (1Cr 1,24). Có sức mạnh nội tâm dồi dào, ta mới có thể thực hiện được Nước Trời ngay trong bản thân mình, và trong quan hệ giữa mình và tha nhân (x. Lc 17,21). Vì «Nước Trời chỉ có thể chiếm được bằng sức mạnh» (Mt 11,12). Nước Trời đó chính là khả năng quên mình để yêu thương, để hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân, và đó cũng chính là nên thánh.
 
     Để gặp gỡ và liên kết với Đức Giêsu cách hữu hiệu
a) Phải sống tinh thần quên mình, từ bỏ mình
Chúng ta chỉ có thể gặp gỡ và liên kết với Đức Giêsu khi tâm hồn ta tràn đầy Ngài. Ta chỉ có thể tràn đầy Ngài khi tâm hồn ta không bị chiếm hữu bởi «cái tôi» của chính ta, vì nếu tâm hồn ta bị «cái tôi» của mình tràn ngập, thì nó không còn một chỗ trống nào cho Ngài. Để có chỗ cho Ngài, ta phải dẹp bỏ hay làm trống «cái tôi» của mình đi. Đó chính là sống tinh thần quên mình, từ bỏ mình, không coi bản thân, sở thích hay ý muốn của mình là quan trọng. Nghĩa là không còn sống cho chính mình, mà sống cho Thiên Chúa và tha nhân, coi thánh ý của Thiên Chúa và hạnh phúc của tha nhân là quan trọng.
Sống quên mình là không làm theo ý muốn của «cái tôi» ích kỷ của mình, mà luôn luôn làm theo ý muốn của Thiên Chúa hay Đức Giêsu, theo tinh thần và đường lối của Ngài, và để Ngài tự do hành động nơi mình. Lúc đó ta có thể nói như Đức Giêsu: «Tôi (…) không làm theo ý tôi, nhưng làm theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 6,38; x. 5,30; Lc 22,42). Và như thế ta trở thành công cụ của Ngài, để Ngài hành động qua mọi khả năng của ta. Lúc đó, Ngài sẽ làm nhiều việc lạ lùng và lớn lao ở nơi ta và qua ta. Và với tinh thần quên mình, ta nhận ra những hành động lớn lao ấy không phải là do ta, mà do Ngài. Ta vẫn nhận ra mình là «đầy tớ vô ích» mặc dù ta đã cố gắng làm việc hết sức mình (x. Lc 17,10).
Sống quên mình và từ bỏ mình, ta sẵn sàng đánh mất chính mình vì Đức Giêsu. Nhưng chính khi ta sống tinh thần quên mình ấy, thì thật ra ta lại sống mãnh liệt nhất, và ta lại tìm lại được bản thân ta hay hạnh phúc của ta một cách đích thực nhất. Đúng như lời của thánh Phanxicô Khó Khăn: «Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân».
b) Ý thức sự hiện diện và hoạt động của Đức Giêsu ở trong ta
Một khi ta không còn sống cho bản thân ta nữa, không còn bị thúc đẩy bởi những động cơ vị kỷ nữa, mà hoàn toàn sống cho Ngài, thì Ngài sẽ tự do hoạt động ở trong ta. Và ta sẽ cảm thấy: «Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20); hay «tôi làm, nhưng không phải tôi làm, mà là Chúa Kitô làm trong tôi».
Sức mạnh và khả năng ở trong ta sẽ tăng lên khi ta thường xuyên ý thức sự hiện diện và hoạt động của Đức Giêsu ở trong ta, ý thức Ngài là sức mạnh của ta. Sức mạnh ấy là vô biên khiến ta có thể thực hiện được tất cả những gì Ngài muốn. Hãy thường xuyên tự nhủ lời của thánh Phaolô: «Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi có thể làm được mọi sự» (Pl 4,13).
Một điều quan trọng khác là ta phải dám tin vào sức mạnh của Thiên Chúa ở trong ta. Dám tin vào những gì Ngài nói, Ngài hứa là đúng sự thật và sẽ được thực hiện ở nơi ta. Hãy dám tin theo gương Đức Maria như lời của bà Êlisabét nói với Ngài: «Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em» (Lc 1,45). Nếu ta dám tin và tin thật lòng, ta sẽ thấy điều mình tin trở thành hiện thực, như lời Đức Giêsu nói: «Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được» (Mt 17,20).
c) Sống tinh thần yêu thương với tha nhân
Muốn liên kết với Đức Giêsu, không gì cụ thể và chắc chắn bằng liên kết với những tha nhân đang sống chung quanh ta, đặc biệt những người nghèo đói, đau khổ, bệnh tật, bị áp bức, nói chung là những người đáng thương. Vì Ngài thường tự đồng hóa mình với những người ấy. Nếu ta liên kết với Đức Giêsu, mà ta không hề quan tâm hay tỏ ra một chút yêu thương nào đối với những người đáng thương mà ta từng gặp trong cuộc sống, thì sự liên kết ấy chỉ là bề ngoài và hoàn toàn giả dối. Làm như thế chẳng khác gì ta muốn nấu cơm mà lại dùng cát để nấu. Nghĩa là trong thực tế ta chẳng hề liên kết gì với Đức Giêsu cả, và do đó ta sẽ chẳng nhận được sức mạnh nào từ Ngài.
Tóm lại, muốn gặp gỡ và liên kết với Đức Giêsu nguồn sức mạnh, ta phải có tinh thần từ bỏ mình, tự xóa mình để tâm hồn ta tràn đầy thần khí của Ngài. Ta cũng phải thường xuyên ý thức về sự hiện diện đầy sức mạnh của Ngài trong tâm hồn ta. Đồng thời ta phải yêu thương và liên kết với những người đáng thương mà ta gặp trong cuộc đời. Như thế, ta sẽ cảm nghiệm được tâm hồn ta tràn đầy sức mạnh của Ngài, và ta sẽ hạnh phúc.
 
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, thân xác của Đức Giêsu đã về trời để thần khí của Ngài có thể hiện diện và hoạt động trong bản thân con và mọi người. Xin giúp con ý thức sự hiện diện hoạt động ấy của Ngài trong tâm hồn mình, để tâm hồn con trở nên mạnh mẽ thật sự. Nhờ đó, con thực hiện được những gì Cha mong muốn nơi con.
 Joan Nguyễn Chính Kết

 

LênTrời-280: LỄ THĂNG THIÊN

(Lu-ca 24: 46-53)
 
 

 Biến cố Chúa Giê-su sai các tông đồ lên đường thi hành sứ vụ được kể lại ở cuối mỗi sách Tin LênTrời-280

Biến cố Chúa Giê-su sai các tông đồ lên đường thi hành sứ vụ được kể lại ở cuối mỗi sách Tin Mừng.  Nhưng đặc biệt đối với sách Tin Mừng Lu-ca, biến cố này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, vừa tóm tắt những điều sách đã viết về Chúa Giê-su và sứ mệnh cứu thế của Người, đồng thời vừa mở ra một chân trời mới cho các môn đệ Người và toàn thể Giáo Hội, tức là công việc rao giảng Tin Mừng cứu rỗi cho mọi dân nước.  Nếu đọc tiếp sách Công vụ Tông đồ cũng do thánh Lu-ca viết, ta sẽ dễ dàng nhận thấy cuốn sách được mệnh danh là Tin Mừng của Chúa Thánh Thần đã tiếp nối sách Tin Mừng Lu-ca và mô tả những công việc của Chúa Thánh Thần thực hiện qua sứ vụ của các tông đồ.  Những lời dặn dò của Chúa Giê-su trước khi rời xa các tông đồ mà lên trời hẳn phải có ý nghĩa mạnh mẽ và sâu xa, không chỉ nhất thời trong biến cố Thăng Thiên, mà là vĩnh viễn cho toàn thể Giáo Hội mọi nơi mọi thời.
 
  Sứ vụ làm chứng nhân cho Chúa Giê-su
            Dĩ nhiên rao giảng về Chúa Giê-su Ki-tô, nhưng là Chúa Ki-tô nào?  Câu trả lời là nội dung căn bản của việc rao giảng Tin Mừng.  Chính Chúa Giê-su đã dựa vào Kinh Thánh để tóm tắt nói về chân tính của Người mà ta phải rao giảng:  “Có lời Kinh Thánh chép rằng:  Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại.”  Đức Ki-tô chịu chết trên thập giá và Đức Ki-tô sống lại vinh hiển là hai chiều kích nền tảng của Tin Mừng cứu rỗi không thể tách rời.  Thánh Phao-lô đã nói lên tầm quan trọng của sự liên kết này trong thư 1 Cô-rin-tô.  “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta” (1 Cr 15:3t).  Và tiếp đến, “nếu Đức Ki-tô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15:14).  Sự sống lại của Đức Ki-tô đã đem lại ý nghĩa cho cái chết của Người và là cách Thiên Chúa Cha tôn vinh Chúa Giê-su cùng đặt Người làm Chúa của muôn loài muôn vật (Pl 2:9-11).  Do đó, công thức “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” chính là nội dung căn bản của việc rao giảng Tin Mừng và là lời tuyên xưng đức tin cho những ai muốn đi theo làm môn đệ Chúa Ki-tô.  Từ  nay, “chỉ rao giảng Đức Ki-tô Giê-su là Chúa” sẽ là sứ vụ các tông đồ phải ý thức và thi hành theo lệnh truyền của Người.
 
  Vai trò của Chúa Thánh Thần đối với sứ vụ làm chứng nhân cho Chúa Giê-su
            Trong những lời cáo biệt trước khi chịu thương khó, Chúa Giê-su đã đề cập tới vai trò của Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ do Chúa Cha sai đến.  Khi trao ban cho các tông đồ sứ mệnh làm chứng nhân, Chúa Giê-su đã cảm nhận nỗi ưu tư và khả năng yếu đuối của họ.  Nhưng Người bảo họ cứ an tâm chờ đợi “điều Cha Thầy đã hứa” và chờ đợi “cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.”  Điều đã hứa đây chính là biến cố sẽ xảy ra trong ngày lễ Ngũ tuần:  ngày sinh nhật của Giáo Hội, ngày sứ mệnh rao giảng Tin Mừng khởi sự, và ngày Giáo Hội bắt đầu phát triển trên lãnh vực truyền giáo với kết quả ba ngàn người xin chịu phép Rửa tội sau bài giảng của ông Phê-rô (Cv 2:1-47).
            Ông Phê-rô đã giảng những gì?  Được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần, ông Phê-rô đã nói với dân chúng Giê-ru-sa-lem về “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa.”  Sau khi đề cập tới vai trò của Thánh Thần trong việc rao giảng Tin Mừng, tất cả bài giảng của ông chỉ nhằm khai triển hai điều Kinh Thánh đã nói về Chúa Giê-su:  “Vậy toàn thể nhà Ít-ra-en phải biết chắc điều này:  Đức Giê-su mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô” (Cv 2:36).  Nghe giảng xong, họ đã sám hối, được rửa tội và lãnh nhận Thánh Thần.  Như thế, Chúa Thánh Thần không chỉ hoạt động nơi những người thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng, mà cả nơi tâm hồn những ai đón nhận Tin Mừng nữa.
 
  “Đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời”
            Mỗi sách Tin Mừng nhất lãm nói lên một hình ảnh cảm động về biến cố Chúa lên trời và sai môn đệ đi rao giảng.  Thánh Mát-thêu quan tâm tới “ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các môn đệ đến.”  Thánh Mác-cô nhấn mạnh đến tình trạng “có Chúa cùng hoạt động với các ông.”  Còn thánh Lu-ca thì muốn ta chú ý đặc biệt tới hình ảnh Chúa Giê-su chúc lành cho các ông.  Nêu lên hình ảnh sống động ấy, chắc chắn thánh Lu-ca muốn ta hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của việc Người lên trời.  Thân xác Người rời khỏi Giáo Hội, nhưng “phép lành” của Người luôn ở với Giáo Hội và với ta.  Làm sao nói hết được ý nghĩa của phép lành hoặc những ơn lành.  Bên cạnh hồng ân lớn lao nhất đó là Chúa Thánh Thần, ta còn nhận được bao ơn khác, những ơn cần thiết cho sứ vụ làm chứng nhân của Chúa Giê-su Ki-tô giữa lòng thế giới.  Chính vì vậy, dù là cảnh ly biệt thầy trò, nhưng các môn đệ Chúa sau khi bái lạy Người, vẫn cảm thấy lòng hoan hỷ lên đường thi hành sứ mệnh.
 
  Suy nghĩ và cầu nguyện
            Các tông đồ đã rao giảng về Chúa Giê-su Ki-tô, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem.  Còn tôi, tôi làm chứng cho Chúa bắt đầu từ nơi nào?  Từ gia đình tôi?  Hay tôi chỉ mang mặt nạ rao giảng ở ngoài kia, còn trở về nhà tôi lại chỉ rao giảng “tin buồn”?  Vậy tôi cần suy nghĩ đâu là những Giê-ru-sa-lem của tôi.
            Chúa Thánh Thần đã hoạt động hữu hiệu nơi các tông đồ.  Tôi cũng đã lãnh nhận Thánh Thần khi chịu Bí tích Thêm sức.  Vậy tôi có để cho Thánh Thần tiếp tục biểu dương quyền năng của Người qua đời sống chứng nhân của tôi không?  Những gì đã cản trở hoặc giới hạn hoạt động của Người nơi tôi?
            Các môn đệ bái lạy Chúa Giê-su, một cử chỉ mang ý nghĩa thần phục và phụng thờ trước khi lên đường thi hành sứ mệnh.  Tôi đã bái lạy Chúa Giê-su chưa?  Nói cách khác, tôi đã thực sự tin kính Người và có một mối quan hệ mật thiết với Người chưa?
 
Cầu nguyện:
          “Lạy Chúa Giê-su thương mến,
          xin ban cho chúng con
          tỏa lan hương thơm của Chúa
          đến mọi nơi chúng con đi.
          Xin Chúa hãy tràn ngập tâm hồn chúng con
          bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.
          Xin Chúa hãy xâm chiếm toàn thân chúng con
          để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa.
          Xin Chúa hãy chiếu sáng qua chúng con,
          để những người chúng con tiếp xúc
          cảm nhận được Chúa đang hiện diện nơi chúng con.
          Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa,
          không phải bằng lời nói suông,
          nhưng bằng cuộc sống chứng tá,
          và bằng trái tim tràn đầy tình yêu của Chúa.
                                      - Mẹ Têrêxa Calcutta
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 68)
 Lm Trần Đình Nhi

 

LênTrời-281: Chúa Nhật thứ 7 Phục Sinh

(27-5-2001)
 Lễ Chúa Thăng Thiên
 Đọc Lời Chúa
 · Cv 1,1-11 : Nói xong những lời ấy, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên Trời phía Người đi, thì bỗng nhiên có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: «Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên Trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời».
 · Ep 1,17-23 : Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ với các thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những người tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô chỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.
 
· TIN MỪNG : Lc 24,46-53
 Đức Giê-su được đưa lên Trời
 Khi ấy, Đức Giê-su nói: «Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này. Phần Thầy, Thầy sẽ gửi đến anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống».
 Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
 
Suy niệm
 Câu hỏi gợi ý :
 

Tại sao Thiên Chúa đã hoàn tất công trình cứu chuộc nơi Đức Giê-su, mà con người vẫn vẫn còn LênTrời-281

1. Tại sao Thiên Chúa đã hoàn tất công trình cứu chuộc nơi Đức Giê-su, mà con người vẫn còn tội lỗi và đau khổ? Công trình Ngài còn thiếu gì nữa?
2. Tại sao con người lại phải cộng tác vào công trình của Ngài? Ngài làm hết tất cả không được sao?
3. Đức Giê-su đến để cứu rỗi tất cả nhưng theo từng cá nhân riêng lẻ, hay Ngài muốn cứu toàn thế giới với tư cách toàn thể (chứ không chỉ cá nhân)?
4. Người kitô-hữu có cần quan tâm và tìm cách giải quyết những vấn đề xã hội trong khả năng của mình không?
 
Suy tư gợi ý :
 1. Công trình cứu chuộc nhân loại đã hoàn tất nhưng chưa xong
 Đức Giê-su đã đến trần gian, đã dạy dỗ nhân loại, đã chịu chết, đã sống lại, và đã hoàn tất công trình cứu chuộc trần gian của Ngài. Nhưng trần gian trong thực tế vẫn chưa được cứu, vẫn còn biết bao đau khổ và tội lỗi đang diễn ra tại trần gian. Công trình cứu độ trần gian gồm hai phần: phần của Thiên Chúa, và phần của con người. Đức Giê-su mới chỉ làm xong phần của Ngài, tức phần của Thiên Chúa. Việc cứu độ trần gian chỉ được hoàn thành với sự cộng tác và tiếp tục của con người. Vì thế, trước khi về trời, Đức Giê-su đã nhắc lại cho các môn đệ bổn phận của các ông là phải tiếp tục rao giảng, để con người hoàn thành công trình cứu chuộc của Ngài nơi chính bản thân mỗi người, đặc biệt trong xã hội và thế giới: «Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; Phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội». Ngài giao trách nhiệm rõ rệt cho các ông, cũng là cho chúng ta, là phải làm chứng cho Ngài: «Chính anh em phải là chứng nhân về những điều này».
 
2. Để được cứu độ, con người phải hoàn tất phần của mình
 Phàm trong mọi chuyện, Thiên Chúa không làm một mình, mà luôn luôn đòi hỏi sự cộng tác của con người. Ngài thường làm phần cơ bản, cốt yếu nhất, và để lại phần rất nhỏ cho chúng ta, mà nếu chúng ta không cộng tác, thì công trình của Ngài đành phải dang dở và trở nên vô ích. Điều ấy rất dễ hiểu. Tương tự như cha mẹ lo lắng cho con cái đủ mọi thứ, để con cái được no ấm, đủ phương tiện phát triển nên người. Nhưng dù cha mẹ có lo lắng đến đâu, thì sự hưởng ứng và cộng tác của con cái vẫn là tối cần thiết, không thể thiếu, để những nỗ lực của cha mẹ đạt được kết quả mong muốn. Thật vậy, nếu cha mẹ lo cho con cái cơm bưng nước rót tới tận miệng, nhưng nếu con cái không chịu há miệng đón nhận thức ăn, không chịu nhai và nuốt, thì chúng vẫn đói, và mọi nỗ lực của cha mẹ để chúng khỏi bị đói khát trở nên vô ích. Cũng vậy, cha mẹ lo liệu đủ mọi phương tiện cho con học hành, nhưng nếu chúng lười biếng không chịu học, thì cha mẹ có lo cho lắm cũng bằng thừa. Để ích lợi cho con cái, cha mẹ dù có muốn làm hết tất cả mọi sự để con cái không phải làm gì cả, cũng không thể được. Luật tự nhiên không cho phép như vậy.
 
Thiên Chúa cũng vậy, không hà cớ gì lại muốn chừa phần cho chúng ta, bắt chúng ta phải cộng tác, phải làm phần của mình thì mới được cứu độ hay hạnh phúc! Thiên Chúa dù có muốn làm hết tất cả để chúng ta không phải làm gì cả, cũng không được! Ngài không thể làm gì khác với những điều mà luật tự nhiên đòi hỏi. Vì luật tự nhiên chính là bản tính của Ngài, Ngài không thể hành động phản lại chính Ngài.
 
3. Để được cứu độ, chúng ta phải làm gì?
 Đức Giê-su đã về trời, điều đó có nghĩa là phần việc cứu độ nhân loại của Ngài ở trần gian đã xong. Nếu Ngài không làm phần việc ấy, con người dù có cố gắng nỗ lực đến đâu, cũng không thể tự cứu mình nổi. Nhưng vẫn còn lại phần việc của con người, đặc biệt của các kitô-hữu môn đệ của Ngài, là phải tiếp tục công việc cứu độ ấy cho đến tận thế. Công việc ấy cụ thể nơi mỗi người là gì?
 Trước hết, mỗi người phải tự cứu lấy mình bằng cách sống theo giáo huấn và đường lối của Đức Giê-su, là yêu thương tha nhân, và thể hiện tình yêu thương ấy bằng cách làm cho mọi người chung quanh mình trở nên tốt hơn và hạnh phúc hơn.
 Kế đến, là mỗi người hãy cố gắng cứu rỗi những người chung quanh mình, bằng cách loan báo Đức Giê-su và công cuộc cứu chuộc của Ngài cho họ, để họ cũng sống theo giáo huấn và đường lối của Ngài, là sống yêu thương mọi người.
 Nếu tất cả mọi người đều biết Đức Giê-su và sống tinh thần yêu thương của Ngài với những người chung quanh, thì chắc chắn xã hội sẽ trở nên tốt đẹp, và thế giới sẽ trở thành Nước Trời. Biến xã hội hay thế giới thành Nước Trời phải là lý tưởng của tất cả mọi kitô-hữu trong cuộc đời của mình.
 4. Phải cứu rỗi những người chung quanh ta, phải quan tâm đến xã hội ta đang sống.
 Đức Ki-tô đến không đến chỉ để cứu rỗi từng cá nhân riêng rẽ, mà chủ yếu là để cứu toàn xã hội và thế giới, biến xã hội con người và thế giới thành môi trường lành mạnh, trong đó mọi người đều sống an vui hạnh phúc trong tinh thần yêu thương nhau. Sau khi Ngài về trời, các kitô-hữu có nhiệm vụ tiếp tục sứ mạng của Ngài là cứu rỗi xã hội và thế giới.
 Phải cứu rỗi xã hội và thế giới, bằng cách làm cho tinh thần yêu thương, tự hủy để phục vụ của Đức Giê-su thấm nhập vào trong đời sống xã hội. Hiện nay, tu đức học của Giáo Hội nhấn mạnh nhiều đến nghĩa vụ của người kitô-hữu trước những vấn đề xã hội. Một kitô-hữu đích thực không thể làm ngơ, lãnh đạm, hoặc không hay biết, hoặc không cố gắng làm gì cả để giải quyết những vấn đề xã hội đang xảy ra chung quanh mình (bất công, đói khổ, thất nghiệp, luân lý suy đồi, các tệ nạn xã hội: tham ô, trộm cướp, mãi dâm, ma túy, bệnh dịch, v.v…) Tinh thần đạo đức kiểu hương nguyện, cá nhân – nghĩa là chỉ biết giữ đạo lấy cho mình, chỉ biết tốt hay nên thánh một mình mình, còn ai tốt hay xấu, sướng hay khổ thế nào thì mặc kệ họ – không còn được chấp nhận nữa. Giáo Hội ngày nay kêu gọi người kitô-hữu gắn bó với xã hội nhiều hơn, quan tâm và ý thức trách nhiệm của mình nhiều hơn trước những vấn đề xã hội.
 Con người không thể tự cứu rỗi mình một cách riêng lẻ, độc lập, mà sự cứu rỗi ấy luôn luôn mang tính liên đới với những người chung quanh, với xã hội hay môi trường mình sống. Ta không thể được cứu rỗi nếu ta không quan tâm đến việc cứu rỗi những người trong gia đình ta, những người sống chung quanh ta. Cũng tương tự như ta không thể hạnh phúc đang khi những người trong gia đình ta phải đau khổ, ta không thể sống an ổn đang khi xã hội chung quanh ta đầy nhiễu nhương. Ta chỉ có thể hạnh phúc khi gia đình ta, hay những người chung quanh ta hạnh phúc. Ta chỉ có thể an ổn khi xã hội trong đó ta đang sống được yên lành. Hạnh phúc của ta luôn luôn liên đới với hạnh phúc của người chung quanh, phần rỗi của ta cũng luôn luôn liên đới với phần rỗi của những người chung quanh. Do đó, ta phải luôn luôn quan tâm đến sự tốt đẹp, yên lành, hạnh phúc và sự cứu rỗi của xã hội. Một người không quan tâm đến xã hội, đến những vấn đề đang xảy ra trong xã hội, không phải là một kitô-hữu đúng nghĩa.
 
Cầu nguyện
 Lạy Chúa, trước khi lên trời, Chúa đã yêu cầu chúng con tiếp tục sứ mạng của Chúa ở trần gian. Xin cho chúng con – các kitô-hữu – biết ý thức trách nhiệm ấy, đặc biệt trên bình diện xã hội. Xin cho chúng con biết thật sự quan tâm đến sự bình an và hạnh phúc của xã hội, đến những vấn đề xã hội và cố gắng giải quyết trong khả năng của mình. Amen.
 Joan Nguyễn Chính Kết

 
 

LênTrời-282: Niềm an ủi

Biến cố Chúa về trời đem lại cho chúng ta niềm an ủi nào? Niềm an ủi thứ nhất đó là sự hy LênTrời-282 Luong

Biến cố Chúa về trời đem lại cho chúng ta niềm an ủi nào?
Niềm an ủi thứ nhất đó là sự hy vọng vào cuộc sống vinh quang. Thực vậy, nếu để ý chúng ta sẽ thấy rằng: Núi cây Dầu là nơi đã tiếp nhận những giây phút đau khổ cũng như vinh quang của Ngài. Ngọn núi ấy còn in những vết máu trong cơn hấp hối vào đêm thứ năm Tuần Thánh. Ngọn núi ấy đã nghe thấy tiếng van xin tha thiết của Ngài, đã chứng kiến hành động phản Chúa của Giuđa. Nhưng ở đâu có đau khổ Ngài sẽ biến nó thành vinh quang. Chính vì thế mà Núi cây Dầu đã được chọn làm nơi giã biệt và về trời vinh hiển của Ngài. Đó là một niềm an ủi vì chúng ta sẽ tìm thấy vinh quang ở chính những đau khổ phải chịu cũng như chúng ta chỉ ngắt được những bông hồng thắm trên những gai nhọn của nó, hay như lời Đức Kitô đã phán: Ngài sẽ phải chịu nhiều đau khổ trước khi được bước vào chốn vinh quang. Chúng ta cũng vậy, sau một cuộc sống đầy chông gai thử thách, chúng ta sẽ được trở v62 trời với Chúa trong niềm hạnh phúc bất diệt.
Niềm an ủi thứ hai đó là Chúa Giêsu về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha để cầu bầu cho chúng ta. Chắc hẳn Ngài sẽ trình bày mọi nhu cầu, mọi ước vọng và mọi sự trợ giúp chúng ta cần đến như lời thánh Phaolô đã viết: Chúa Giêsu đã chết, đã sống lại và ngự bên hữu Đức Chúa Cha, Ngài chuyển cầu cho chúng ta luôn mãi. Và thánh Gioan cũng nói: Nếu chúng ta trót phạm tội, thì hãy vững tâm vì chúng ta có được một vị trạng sư thần thế trước toà án tối cao đó là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, bao giờ chúng ta cũng kết thúc lời nguyện bằng câu: Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Sau cùng niềm an ủi thứ ba đó là Chúa Giêsu về trời để dọn cho chúng ta. Điều ấy muốn nói lên rằng quê hương chúng ta không phải là mặt đất này nhưng là ở chốn trời cao. Nhìn vào thực tế chúng ta phải thú nhận rằng: chúng ta đã bén rễ quá sâu vào cuộc sống trần gian, chúng ta đã quá quyến luyến và đã có quá nhiều ràng buộc vào những thực tại chóng qua. Chúng ta đã chọn trái đất này làm quê hương vĩnh cửu. Chúng ta sẵn sàng bán cả linh hồn cho một nắm bụi đất. Dân Do Thái trong sa mạc đã quỳ gối thờ lạy bò vàng thế nào thì con người hôm nay cũng đang đi vào con đường ấy, họ đã tôn thờ những thần tượng chóng qua thay cho Thiên Chúa, như lời phát biểu châm biếm sau đây: Tôn giáo lớn nhất trên hoàn cầu hiện giờ là tôn giáo bóng đá.
Bởi đó ngày hôm nay, sau khi đã hoàn tất sứ mạng ở trần gian, Chúa Giêsu đã về trời để nói với chúng ta rằng: cuộc sống trần gian chỉ là như một chiếc thang dẫn các con tới quê trời. Khốn cho các con nếu các con quên đi điều đó. Khốn cho các con nếu các con ra sức biến đổi trái đất trở thành một thiên đàng vĩnh cửu. Khốn cho các con nếu các con không biết dùng cuộc sống này để chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết cho tương lai mai hậu.

 

LênTrời-283: Quê trời

Dựa vào đâu chúng ta xác quyết được rằng: Còn có một cuộc đời khác, còn một thế giới khác, còn LênTrời-283

Dựa vào đâu chúng ta xác quyết được rằng: Còn có một cuộc đời khác, còn một thế giới khác, còn một quê hương khác là Nước Trời?
Chúng ta không chụp được hình, chúng ta không bắt được làn sóng của thế giới ấy, không một ai đã nhìn thấy, không một ai đã có kinh nghiệm. Nhưng sở dĩ chúng ta tin là bởi vì Thiên Chúa đã mạc khải, đã tỏ lộ cho chúng ta. Thực vậy, chúng ta không thể biết nếu Đức Kitô đã không nói đến Nước Trời bằng những từ ngữ khác nhau. Chúng ta không thể biết nếu thánh Phaolô đã không viết: mắt không thể nhìn, tai không thể nghe và trái tim chưa một lần cảm nghiệm được những gì mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những kẻ yêu mến Ngài. Chúng ta không thể biết nếu thánh Gioan đã không mô tả: Ở đó sẽ không còn thời gian và không gian, buổi sáng và buổi chiều, đói khát và cơm áo, tội lỗi và sự chết. Ở đó chỉ còn Thiên Chúa và vương quốc của Ngài, ở đó Con Chiên sẽ dẫn chúng ta đến nguồn suối mát. Chúng ta không thể biết, nếu hôm nay Đức Kitô đã không về trời để củng cố niềm tin của mọi tín hữu suốt dòng thời gian, giúp họ hăng say công bố Tin Mừng, chịu đựng mọi thử thách, chấp nhận mọi đau khổ.
Thế giới của kẻ chết sẽ lớn gấp ngàn vạn lần thế giới chúng ta đang sống. Vậy thế giới đó ở đâu? Có phải là ở ngoài các vì sao? Có phải là ở giữa không trung bao la? Có phải là ở dưới lòng đại dương sâu thẳm? Không, tất cả đều không đúng. Vậy thế giới ấy ở đâu? Tôi xin thưa thế giới ấy ở bất kỳ nơi nào có Thiên Chúa, ở bất kỳ nơi nào chúng ta được nhìn thấy và chiêm ngắm Ngài, thì đó là Nước Trời, thì đó là hạnh phúc vĩnh cửu. Còn trái lại, ở bất kỳ nơi nào không có Thiên Chúa, ở bất kỳ nơi nào chúng ta không được nhìn thấy và chiêm ngắm Ngài, thì đó là hoả ngục, là chốn đoạ đày.
Ngày kia thánh Tôma nói với các tông đồ: Nào chúng ta cùng đi để được chết với Ngài. Thì bây giờ chúng ta cũng có thể đối lại câu nói ấy: Nào chúng ta cùng đi để được sống với Ngài. Chúng ta sẽ sống với Ngài trong cuộc sống vĩnh cửu. Niềm tin ấy đã thiêu đốt biết bao nhiêu con tim suốt 20 thế kỷ. Phải, chúng ta cần đến khoa học kỹ thuật, nhưng chúng ta luôn nhớ rằng: khoa học kỹ thuật không giúp chúng ta tránh khỏi cái chết. Và sau cái chết sẽ còn lại một cuộc sống khác, trải dài đến muôn ngàn đời. Nếu có ai hỏi tôi rằng: điều đó có chắc chắn như ngày mai sẽ là ngày thứ hai hay không? Tôi sẽ trả lời: Còn hơn thế nữa. Nếu có ai hỏi tôi rằng: điều đó có chắc như mặt trời mọc vào ban sáng và sẽ lặn vào ban chiều không? Tôi sẽ trả lời: Còn hơn thế nữa. Nếu có ai hỏi tôi rằng: Điều đó có chắc như mùa xuân sẽ trở lại khi mùa đông qua đi hay không? Tôi sẽ trả lời: Còn hơn thế nữa. Phải, còn hơn thế nữa, vì có thể có một ngày Chúa nhật mà sau đó không còn ngày thứ hai. Có thể có mặt trời mọc vào ban sáng mà không còn buổi chiều để lặn. Có thể có một mùa đông mà sau đó, mùa xuân sẽ không bao giờ trở lại. Nhưng sẽ không bao giờ, phải, không bao giờ xảy ra rằng lời Chúa sẽ chẳng được thực hiện: Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta sẽ không phải chết nhưng sẽ được sống đời đời. Vì ý của Cha Ta là hễ ai tin vào Con Ngài thì sẽ có sự sống đời đời và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. Hãy tin Chúa bằng cách bước theo Ngài, bằng cách thực thi những điều Ngài truyền dạy, để nhớ đó chúng ta sẽ được sống đời đời, sẽ được về trời trong niềm hạnh phúc bất diệt với Chúa.

 

LênTrời-284: Một khởi đầu mới

(Bài giảng của Đức Cha Giuse Vũ Văn Thiên)
 

Một thời đại mới đã khai mở, đó là thời của các chứng nhân, cũng là thời của Giáo Hội. Qua các LênTrời-284

Một thời đại mới đã khai mở, đó là thời của các chứng nhân, cũng là thời của Giáo Hội. Qua các ông, mọi người nhận ra Đức Giêsu đang sống và đang hiện diện trong các cộng đoàn Đức tin.
Khi nói đến lễ Chúa Giêsu lên trời hay lễ Thăng Thiên, chúng ta thường chỉ nghĩ đó là thời điểm kết thúc sứ mạng cứu chuộc của Chúa Giêsu. Phụng vụ hôm nay, nhất là bài Tin Mừng, lại quy hướng chúng ta về với một khởi đầu mới, trong lạc quan và hy vọng. Không phải vô cớ mà cả ba bài Tin Mừng cho chu kỳ ba năm A,B,C đều là những đoạn kết của các Tin Mừng nhất lãm. Đây là những kết "mở", dẫn chúng ta sang một khởi đầu mới.
Trước hết, đó là khởi đầu của sứ mạng truyền giáo được Chúa Giêsu uỷ thác cho các môn đệ. Sứ mạng này có điểm xuất phát là Giêrusalem, là thành thánh và là trung tâm của Do Thái giáo. Sứ điệp mà các môn đệ được trao phó là lời kêu gọi sám hối. Chúng ta hãy nhớ lại, đây cũng là nội dung lời rao giảng đầu tiên khi Chúa Giêsu khởi sự loan báo Tin Mừng: "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!". Có điều khác biệt là bây giờ Chúa Giêsu không còn hiện diện hữu hình nữa, mà Người hiện diện qua các chứng nhân. "Chính anh em là chứng nhân về những điều này". Một thời đại mới đã khai mở, đó là thời của các chứng nhân, cũng là thời của Giáo Hội. Qua các ông, mọi người nhận ra Đức Giêsu đang sống và đang hiện diện trong các cộng đoàn Đức tin.
Tuy Chúa Giêsu không hiện diện thể lý giữa các môn đệ, Người lại hứa ban cho các ông "quyền năng từ trời cao ban xuống". Quyền năng này là Chúa Thánh Thần. Vậy, đây là khởi đầu của một thời đại mà Thiên Chúa tuôn đổ Thần Khí của Ngài trên mọi tạo vật, để hướng dẫn và thánh hoá mọi xác phàm, nhất là những môn đệ. Điều này đã được thực hiện vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các môn đệ đang cầu nguyện xung quanh Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. "Quyền năng từ trời cao" đã biến đổi các ông, ban cho các ông sức mạnh và nghị lực, nhờ đó, các ông không còn sợ hãi, mạnh dạn mở tung các cửa và can đảm rao giảng về Chúa Giêsu phục sinh.
Được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các ông đã lên đường. Đây là cuộc chia tay với Thày, đồng thời cũng là khởi đầu một cuộc lên đường mới. Tác giả Tin Mừng Luca diễn tả: "Các ông trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa". Sứ điệp mà các ông lãnh nhận để rao giảng phát xuất từ Giêrusalem, nơi có Thiên Chúa hiện diện theo quan niệm của người Do Thái. Từ nơi này, ánh sáng Lời Chúa lên đường cùng với các ông, với tư cách là nhân chứng của Đấng Phục sinh, để chiếu toả đến tận cùng thế giới. Lời căn dặn của Chúa được ghi trong sách Tông đồ Công vụ còn cho thấy "không gian" của sứ vụ tông đồ rất rộng lớn bao la: "Anh em sẽ là chứng nhân của Thày tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất" (Cv 1,8).
Tác giả sách Công vụ Tông đồ, cũng là Thánh Luca, là một nhân chứng mắt thấy tai nghe, giờ phút chia tay giữa Chúa Giêsu và các môn đệ. Sau những lời căn dặn, Chúa Giêsu đã lìa họ mà về trời cao. Tác giả dùng chữ "được cất lên", cùng với chi tiết đám mây bao phủ. Trong truyền thống Cựu ước, đám mây là yếu tố diễn tả các cuộc "thần hiện" của Đức Giavê (x. Xh 13,21-22); của Con Người (x. Dn7,13). Đức Giêsu, mặc dù vắng bóng, vẫn luôn luôn hiện diện trong Giáo Hội. Như vậy, cuộc "lại đến" của Chúa được các sứ thần áo trắng diễn tả, không phải là một cuộc trở lại, nhưng đúng hơn, là sự tỏ mình lần cuối để minh chứng sự hiện diện ấy.
Xem ra có mấy vị trong số các tông đồ vẫn còn quan niệm lệnh lạc về sứ vụ thiên sai của Đức Giêsu. Vì vậy mà họ hỏi Chúa: "Thưa Thày, có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục vương quốc Israen không?". Xưa cũng như nay, độc giả không khỏi ngỡ ngàng trước câu hỏi đó. Thế mới thấy rằng để canh tân tư duy và quan niệm của con người không phải là điều dễ dàng. Bốn mươi ngày sau biến cố Phục sinh, các ông đã nhiều lần gặp Chúa, mà quan niệm về Đấng Thiên sai của các ông vẫn chưa thay đổi. Trước sự tăm tối của lòng trí con người, tác giả Thư Do Thái khích lệ chúng ta "Hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng thì đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác thì đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền. Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín" (Bài đọc II).
Mười ngày sau lễ Thăng Thiên, Mùa Phục sinh sẽ khép lai. Như đã nói ở trên, Lễ Thăng Thiên không phải hồi kết thúc nhưng là một khởi đầu mới cho sứ mạng làm chứng nhân cho Chúa của mỗi chúng ta, với tư cách là tín hữu. "Không ai cho người khác cái mình không có", chúng ta chỉ có thể trở thành chứng nhân can đảm của Chúa Giêsu, một khi chúng ta vững niềm xác tín nơi Người, nhận ra sự hiện diện của Người trong đời sống chúng ta. Lễ Thăng Thiên cũng nhắc cho chúng ta, quê hương đích thật của chúng ta là trên trời. Chúa Giêsu đã đi trước để dọn chỗ cho chúng ta. Tin yêu và gắn bó với Người ở đời này, chắc chắn chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc với Người ở đời sau.
Hãy cùng nhau lên đường trong hân hoan hy vọng, vì Chúa Phục sinh ở cùng với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế!

 

LênTrời-285: Lễ Chúa Thăng Thiên

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Bá Trung)
 

Hôm nay, toàn thể cộng đoàn Dân Chúa cử hành đại lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên hay còn gọi LênTrời-285

Hôm nay, toàn thể cộng đoàn Dân Chúa cử hành đại lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên hay còn gọi là Chúa Giêsu lên trời. Mầu nhiệm này đã được Dân Chúa ngay từ đầu tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha”.
Chúa Giêsu “được đưa lên trời” đó là một lối nói của Kinh Thánh nhằm diễn tả việc Chúa Phục Sinh từ giã trần gian để về cùng Thiên Chúa Cha. Ngài từ Cha mà đến và nay lại trở về với Cha. “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống”(Ga 3, 13). Vì thế, nếu ta cho rằng về trời theo quan niệm địa lý bình dân như trời cao đất thấp, thì ta có thể nghĩ rằng việc Chúa về trời là ở xa loài người. Quan niệm về trời xa như vậy là rối đạo, là lạc giáo, không khác gì sự ngớ ngẩn của một phi hành gia không gian, anh Youri Gagarine của Liên Xô, sau chuyến du hành vũ trụ, bay về mặt đất, đã ngông nghênh tuyên bố rằng: “Tôi đã bay ngang dọc khắp không gian nhưng chẳng gặp một ông Chúa nào trên đó cả”. Với một quan niệm và niềm tin mơ hồ lệch lạc như thế, chắc chắn không phải chỉ với vài khoảnh khắc trong không gian anh ta không gặp được Thiên Chúa mà nếu anh ta cứ cố chấp và kiêu căng, có lẽ đời đời Thiên Chúa sẽ “ngàn trùng xa cách”.
Như vậy, lễ Chúa Thăng Thiên hay Chúa lên trời không phải là một cuộc tiễn đưa Chúa Giêsu đi vào một phương trời xa lạ và cắt đứt tương quan với Ngài. Nhưng Chúa lên trời được hiểu là chấm dứt sự hiện diện hữu hình của Ngài tại trần thế, Ngài không còn hiện diện bằng xương bằng thịt trước mắt chúng ta nữa. Chúng ta không còn có thể thấy, đụng chạm, nghe Ngài bằng giác quan tự nhiên. Chúa bắt đầu một sự hiện diện “ẩn khuất”, nghĩa là Chúa vẫn có mặt đó mà chúng ta không thấy được. Chúng ta vẫn có thể gặp gỡ Ngài bằng giác quan siêu nhiên của lòng tin. Ngài vẫn ở giữa chúng ta, trong những nơi mà Ngài đã dạy chúng ta biết để nhận ra Ngài. Chẳng hạn: Chúa hiện diện trong Lời Ngài, trong Bí Tích Thánh Thể, trong những anh chị em sống chung quanh, trong những người nghèo hèn, khốn khổ, bị bách hại đau thương, trong mỗi người chúng ta khi chúng ta họp nhau dâng lời cầu nguyện và tiến dâng hy tế: “Ở đâu có hai ba người họp lại vì Danh Ta thì có Ta ở giữa họ”…Và lát nữa đây, trên bàn thờ này, nhờ Ngài lên trời, mà chúng ta được hân hoan đón nhận Mình Thánh Ngài như lương thực trường sinh nuôi dưỡng chúng ta trên cuộc hành hương về quê trời vĩnh cửu.
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ!
Sự kiện Chúa Giêsu lên trời mà phụng vụ Giáo Hội kính nhớ hôm nay có ý nghĩa sâu xa, Chúa Giêsu về ngự bên hữu Thiên Chúa Cha, sau khi đã hoàn tất sứ vụ cứu chuộc mà Chúa Cha đã trao phó, nhưng sự cứu độ của Chúa Giêsu vẫn còn được tiếp tục qua Giáo Hội khi Ngài ra lệnh cho các Tông đồ: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con”(Mt 28, 19-20). Mệnh lệnh này Chúa cũng trao cho mỗi người chúng ta là những người đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, để chúng ta trở nên chứng nhân cho Chúa Giêsu tại trần gian này.
Mừng lễ Chúa lên trời hôm nay, Chúa cũng nhắc cho chúng ta nhớ rằng: “Quê hương chúng ta ở trên trời…Anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời”. Và như lời kinh tiền tụng hôm nay cũng nói: “Người đã lên trời trước, để chúng ta là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”. Quê trời là đích điểm của người kitô hữu. Quê trời là niềm hy vọng cho những ai biết dấn thân xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian này. Vì thế, những hy sinh ở đời này, dù có chịu nhiều mất mát, thiệt thòi đi nữa vẫn không thể nào so sánh được cuộc sống trên quê trời.
Trong tờ báo Công Giáo và Dân Tộc, số 1505 có đăng tải thắc mắc của một em bé 10 tuổi, tên là Thu Minh, em hỏi: “Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mới qua đời có được lên thiên đàng không?”. Với câu hỏi ấy, hôm nay em Thu Minh có lẽ đã tìm được câu trả lời. Vì để tỏ lòng biết ơn Đức Giáo Hoàng về những công lao to lớn trong việc phục vụ cho Giáo Hội hoàn vũ, vào ngày 27. 4. 2014 vừa rồi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cử hành lễ phong hiển thánh cho Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nhân dịp kỷ niệm ngày lễ Lòng Chúa Thương Xót. Như chúng ta đã biết, việc ai được lên thiên đàng, đó là quyền Thiên Chúa xét đoán. Chúng ta tin Thiên Chúa như một người Cha, giàu lòng thương xót và luôn giúp chúng ta sống tốt. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chắc chắn đã sống tốt: ngài hoạt động cho hòa bình thế giới, ngài đã đi thăm những người nghèo khổ, ngài đã bênh vực những người yếu hèn, ngài đã hòa giải những tôn giáo không cùng ý tưởng, ngài đã đem Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô đến cho mọi người trên toàn cầu. Nén bạc mà Thiên Chúa giao cho ngài đã được sinh lợi gấp trăm, gấp ngàn lần. Một cuộc sống như vậy thế nào cũng được Thiên Chúa dành cho một chỗ trên thiên đàng, và chắc chắn Thánh Gioan Phaolô II sẽ được gặp lại Chúa và tất cả những người thân thương của ngài. Tin vào lòng thương xót của Chúa, chúng ta tin chắc giờ này Thánh Gioan Phaolô II rất hạnh phúc vì được ở gần Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
Cũng trong tâm tình đó, Chúa Giêsu lên trời là chuẩn bị chỗ cho chúng ta ở trên thiên đàng, để khi chúng ta từ giã cõi đời này cũng được các thiên thần Chúa rước đưa về thiên đàng. Muốn được vậy, chúng ta cần phải yêu mến những sự trên trời bằng cách chu toàn thật tốt bổn phận ki tô hữu ở trần gian. Chu toàn thật tốt bổn phận ở trần gian là góp phần xây dựng Nước Trời. Một khi chu toàn tốt bổn phận ở trần gian như vậy đó là dọn chỗ ở trên thiên đàng. Trần gian không phải là nơi ta chọn để bám víu luôn mãi. Nhưng trần gian là cơ hội để ta đạt tới hạnh phúc trên thiên đàng.
Ước gì, xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta biết chu toàn bổn phận hằng ngày để mai sau được về trời với Chúa. Amen.

 

LênTrời-286: Quê hương chúng ta ở trên trời – An Phong

Phục Sinh và Lên Trời là hai từ ngữ diễn tả một thực tại: Đức Giêsu đã chỗi dậy từ giữa những người LênTrời-286

Phục Sinh và Lên Trời là hai từ ngữ diễn tả một thực tại: Đức Giêsu đã chỗi dậy từ giữa những người chết và được vinh quang bên hữu Thiên Chúa Cha. Sau khi sống lại, Ngài đã Lên Trời ngự bên hữu Chúa Cha.
Cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời tức là cử hành "Sự hiện diện theo cách thế mới" của Chúa Giêsu. Đức Giêsu về trời nhưng Ngài không bỏ rơi các môn đệ. Ngài vẫn hiện diện qua Thánh Thần, qua Bí tích Thánh Thể, qua Lời Ngài và qua biết bao tâm hồn thành tâm thiện ý sống Đức Tin giữa cuộc đời này: "Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
Người cất nhắc lên cõi trời muôn thuở, xác phàm nhân thân cát bụi yếu hèn". Vì "quê hương chúng ta ở trên trời" (Pl 3,20) nên "anh em hãy tìm kiếm những gì trên cao" nơi Đức Giêsu cư ngụ (Cl 3,1).
Con người vốn "đầu đội trời, chân đạp đất", con người là "nhân linh ư vạn vật". Niềm xác tín chúng ta "từ trên cao" sẽ làm cho chúng ta trước hết lo tìm kiếm hạnh phúc vĩnh cửu. Nhưng điều đó không có nghĩa là trốn tránh trần gian này. Trái lại, chúng ta phải xây dựng một nước trời tại thế đã được khai mở cùng với sứ vụ cứu độ của Đức Giêsu; và nước trời đó đang chờ ngày nên viên mãn. "Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự". Đừng để mình nô lệ cho vật chất, tiền bạc, danh vọng, thành đạt, mà quên mục tiêu tối hậu của cuộc đời mình là "quê hương chúng ta ở trên trời".
Phải chăng tôi nhận ra chúa hiện diện trong cuộc đời cùng với tôi; và tôi đang đi tìm "quê hương chúng ta ở trên trời"?
Lạy Chúa Giêsu,
Cũng như các môn đệ ngày xưa
chúng con tiếc nuối, vì:
không thấy Chúa đi lại,
không nghe thấy Chúa nói.
không thấy bàn tay Chúa can thiệp.
Chúa vắng mặt
và bao lần
chúng con than trách Chúa như bỏ rơi chúng con
trong những khó khăn của cuộc đời.
Nhưng niềm tin cho chúng con biết
Chúa vẫn đang hiện diện ở đây
trong tấm bánh nhỏ này,
trong tâm hồn của con,
và trong cuộc đời của con.
Lạy Chúa Giêsu
xin củng cố niềm tin đó nơi chúng con
để chúng con có thể nhận ra Chúa vẫn đang hiện diện
hiện diện một cách khác
trong từng bước chân của cuộc đời chúng con".

 

LênTrời-287: Suy niệm của Lm. Dom. Trần Quang Hiền SDB

Câu hỏi thắc mắc mà con người ngày nay luôn phải đối diện đó là: Tôi sinh ra ở đời này để làm gì? LênTrời-287

Câu hỏi thắc mắc mà con người ngày nay luôn phải đối diện đó là: Tôi sinh ra ở đời này để làm gì? tôi sẽ về đâu sau cái chết? chắc hẵn ai trong chúng ta cũng muốn mình được bình an, hạnh phúc, được chết lành và được phần thưởng thiên đàng sau khi chết. Nhưng ai có thể bảo đảm cho ta rằng có thiên đàng, có sự sống đời sau? Lời Chúa tuần này Chúa Nhật Lễ Chúa Thăng Thiên tường thuật lại việc Chúa Giêsu lên trời, đây là một minh chứng cho thấy rằng có thiên đàng, có sự sống đời sau. Nhưng lên trời không phải là một di chuyển từ nơi chốn này đến nơi chốn khác. Trời ở đây không phải là nơi chốn có thể đụng chạm, sờ mó được nhưng sâu xa hơn đó là một trạng thái. Chúa Giêsu lên trời có nghĩa là Ngài về cùng với Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần là nơi Ngài đã xuất phát. Trời ở đây có nghĩa là sống trong tình yêu tròn đầy của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế, việc Chúa Giêsu lên trời không phải giã từ thế giới đi vào cõi xa vắng mịt mù, nhưng Ngài đi về thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi, sống với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài không còn hiện diện với chúng ta nữa, trái lại Ngài sẽ ở lại cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Để có thể lên trời như Chúa Giêsu mỗi người chúng ta cần phải hoàn thành hành trình dưới thế của mình như chính Ngài. Dù phải sống ở trần thế này với muôn ngàn thánh giá, thử thách, khó khăn... nhưng chúng ta không quên mục đích tối hậu của chúng ta đó là về quê trời, nơi ấy chúng ta sẽ sống trong tình yêu viên mãn của Chúa Ba Ngôi. Nếu như cuộc đời của người kitô hữu chúng ta thiếu đi cùng đích của đời mình là hướng về sự sống đời sau thì chắc chắn những nỗ lực, cố gắng của chúng ta sẽ trở nên vô nghĩa. Chúa Thăng Thiên cũng cố đức tin của mỗi người chúng ta vào niềm hy vọng tràn trề trong đó mỗi người chúng ta sẽ nếm cảm hạnh phúc thiên đàng sau này.
Trước khi Chúa Giêsu lên trời Ngài đã nhắn nhủ các môn đệ rằng “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo". Đây là lệnh truyền của Chúa Giêsu và trở thành căn tính của mỗi người kitô hữu chúng ta, đó là làm chứng nhân tin mừng phục sinh, niềm vui của Chúa Giêsu cho tất cả mọi người không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo. Mỗi người chúng ta có trách nhiệm mang Đức Kitô đến với thế giới hôm nay đang sống trong đau khổ, chiến tranh, bất an, tội lỗi.... để xoa dịu hết tất cả những vết thương của họ.
Lễ Chúa Thăng Thiên muốn nhắn gởi cho chúng ta một thông điệp nữa đó là hãy xây dựng thiên đàng tại trần thế này, khi tất cả chúng ta đều xem nhau như là anh em cùng một Cha trên trời. Khi mỗi người chúng ta biết sống từ bỏ, hy sinh và phục vụ nhau.
Người ta kể rằng: có một bác nông dân đã tình cờ nhặt được một tượng chịu nạn đã bị sứt mẻ đang nằm chơ vơ vì không có thập giá. Bác cầm tượng chịu nạn lên và đi vào trong làng. Bác đến từng nhà. Bác hỏi han từng người. Từ người già đến người trẻ. Bác nghĩ thầm rằng: "Không chừng ở đâu đây! Có ai đó đang có thập giá trơ trụi mà không có Đức Kitô nằm trên. Đức Kitô của bác không có nơi ngơi nghỉ, còn thập giá của ai đó không có Đức Kitô. Bác muốn trao Đức Kitô cho ai đang đang phải vác thập giá một mình, để nhờ Đức Kitô họ vượt qua những gian nguy của dòng đời. Bởi vì, một thập giá không có Đức Kitô là tra tấn, là hoả ngục, là thất vọng. Thế nên, bác đã cố gắng tìm đến những ai đang thất vọng vì gánh nặng hai vai, đang ui sầu vì lầm than cơ cực, bác trao gởi cho họ Đức Kitô để họ nhận ra họ đang được thông phần đau khổ với Đức Kitô. Hy vọng rằng cuộc đời họ sẽ vui hơn vì họ đang làm việc, đang đón nhận đau khổ vì Đức Kitô, nhờ đó họ cũng được chung phần vinh phúc với Chúa trên trời.
Vâng, cuộc đời chúng ta sẽ ngụp lặn trong đau khổ cùng cực nếu không có Đức Kitô hiện diện. Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết sống và đem Đức Kitô đến với hết tất cả mọi người đang vác thập giá để họ cũng biết biến thập giá thành thánh giá như Đức Kitô, để mai sau cũng được lãnh nhận phần thưởng vinh phúc đời sau mà Chúa hứa ban cho những ai trung tín bước theo Ngài. Amen.

 

LênTrời-288: Người “Giời” – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Chúng ta vẫn thường nói với nhau: “người Giời”, nghĩa là người chẳng biết những sự gì dưới LênTrời-288

Chúng ta vẫn thường nói với nhau: “người Giời”, nghĩa là người chẳng biết những sự gì dưới đất. Một người dường như ở cõi trên chứ không phải phàm nhân. Đó là người vô tư, vô lo thật đáng bị khiển trách.
Trong cuộc thi Hoa hậu Đại Dương vừa diễn ra tối 25/5 tại Bình Thuận, thí sinh Phan Thị Thu Phương (SBD 18) đã phát biểu: "Khi biết về việc Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương tại vùng biển Việt Nam mình, em cảm thấy rất là bức xúc, nó xâm phạm về lãnh thổ, về vùng kinh tế của đất nước Việt Nam mình. Em muốn người Trung Quốc hãy mở giàn khoan đó ra, và để cho đất nước Việt Nam của em ngày càng xinh đẹp hơn".
Trước câu trả lời thiếu sự hiểu biết khi muốn người Trung Quốc mở giàn khoan để đất nước Việt Nam xinh đẹp hơn của thí sinh Thu Phương đã khiến khán giả có mặt trực tiếp xem cuộc thi không khỏi bật cười. Và câu ứng xử này của thí sinh Hoa hậu Đại Dương đã nhanh chóng lan truyền trên các trang mạng xã hội.
Nhiều người đã tỏ ra bức xúc trước sự việc đang là tâm điểm của Quốc gia, được đưa tin trên hàng trăm phương tiện truyền thông mỗi ngày mà thí sinh Hoa hậu Đại Dương lại tỏ ra kém hiểu biết. Đúng là người “Giời”!
Cuộc đời người tín hữu luôn ước ao những sự trên trời nhưng không bao giờ quên bổn phận với gia đình, với quê hương đất nước. Người tín hữu càng không thể bàng quan trước những thăng trầm của cuộc đời, trước những vận mệnh của quê hương. Cuộc đời người ky-tô phải biết dấn thân cho dân tộc khi cần tựa như thánh Gióng biết đứng lên khi đất nước lâm nguy.
Truyện xưa kể rằng: vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây". Sứ giả vào, đứa bé bảo: "Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này".
Sứ giả trình với nhà vua và được ưng thuận.
Sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.
Khi giặc Ân đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gẫy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Thánh Gióng về nhà dập đầu lạy mẹ, tạ ơn công nuôi dưỡng sinh thành rồi lên đỉnh núi cởi giáp sắt bỏ lại, cả người lẫn ngựa từ từ bay về trời…
Có một người đã về Trời thực sự. Ngài từ Trời mà đến và sau khi hoàn tất sứ mạng Ngài đã trở về Trời trong vinh quang. Sự kiện Chúa Giêsu về Trời hôm nay không phải là một truyền thuyết mà là một sự kiện lịch sử. Vì Chúa Giêsu là người thật. Chính Ngài đã trải qua những thăng trầm bể dâu đời người. Ngài đã đi qua kiếp người với gió mưa, nắng bụi... Ngài thực sự là Thiên Chúa xuống trần gian để cứu chúng sinh. Qua cái chết Ngài đã đánh bại tử thần để mở cửa trời đưa con người về với Thiên Chúa. Và sau khi kết thúc cuộc đời trần thế trong việc chu toàn sứ mạng của mình, Ngài đã được đưa về Trời trước sự chứng kiến của các môn đệ, và trong sự nuối tiếc vì kẻ ở người đi nơi các môn đệ.
Hôm nay chúng ta mừng Chúa về Trời. Mừng cuộc chiến thắng khải hoàn của Chúa. Mừng Chúa đã hoàn tất cuộc đời trần thế của mình trong vâng phục thánh ý Chúa Cha và thi hành thánh ý trọn vẹn. Sứ vụ của Chúa đến trần gian giúp con người đánh bại tử thần, và mang lại quyền làm con cái Thiên Chúa cho con người. Sự kiện Chúa về Trời cũng mở ra cho chúng ta một niềm hy vọng sau những bể dâu cuộc đời chúng ta cũng có một bến bờ yên bình hạnh phúc là quê Cha trên Trời. Chúa về Trời cho chúng ta quyền hy vọng sẽ được lên trời với Chúa nếu biết đi trên con đường của Chúa. Con đường của hy sinh phục vụ. Con đường dấn thân cứu đời. Con đường sống vì lợi ích của tha nhân.
Cuộc đời của mỗi con người đều gắn với một sứ mạng phải hoàn thành, một công việc để thi hành. Đó chính là bổn phận mà Chúa đã trao cho mỗi người chúng ta khi bước vào trần thế. Xin cho chúng ta luôn biết kiên nhẫn chu toàn bổn phận Chúa trao. Xin cho chúng ta luôn theo gương Chúa Giêsu tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa Cha. Xin đừng vì những đam mê trần thế mà bỏ bê bổn phận của người con với Cha trên trời. Amen.

 

LênTrời-289: Hãy đi, vì có Thầy ở cùng!

(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)
 

Có một vấn nạn không dễ gì lý giải: địa điểm Chúa lên trời thực sự ở đâu, Ga-li-lê-a hay Giê-ru-sa-lem, LênTrời-289

Có một vấn nạn không dễ gì lý giải: địa điểm Chúa lên trời thực sự ở đâu, Ga-li-lê-a hay Giê-ru-sa-lem, hai địa điểm cách nhau tới vài trăm cây số? Tác giả Luca khảng định rất rõ ràng: tại Giê-ru-sa-lem, địa điểm đó gần Bê-ta-ni-a (Lc 24, 47.50; Cv 1, 4-12), trong khi Mát-thêu lại xác định: một ngọn núi miền Ga-li-lê-a (Mt 28, 16). Tôi đã đặt câu hỏi này cho hướng dẫn viên chuyến hành hương Đất Thánh năm 2005, giáo sư Coffele của đại học UPS và nhận được câu trả lời: ‘truyền thống’ luôn xác định là Giê-ru-sa-lem (lúc đó chúng tôi đang viếng đền thờ Thăng Thiên, do người Hồi Giáo quản lý, có cả tảng đá in vết chân Chúa khi Ngài cất lên trời!) Điều đó cho thấy, khi Kinh Thánh đề cập tới bất cứ biến cố nào thì điều quan trọng nhất cần lưu tâm vẫn là nội dung của sứ điệp hơn là chính sự kiện. Đoạn Tin Mừng hôm nay cũng không nằm ngoài nguyên tắc đó. Về biến cố Đức Giêsu phục sinh thăng thiên thì chỉ có Lu-ca mới tường thuật cách tương đối chi tiết, trong khi các tác giả khác, hoặc không đề cập gì (Gioan, Mátthêu), hoặc chỉ thoáng qua mà thôi (Máccô).
Tin Mừng Mátthêu hôm nay, thay vì mô tả chính biến cố Chúa về trời thì chỉ đơn giản ghi lại những lời căn dặn và trăn trối đầy tâm huyết cuối cùng Chúa gửi gắm tới các môn đệ thân yêu trước khi xa rời họ vĩnh viễn.
Trong giờ phút ly biệt chấm dứt cuộc hiện diện trần thế, Đức Giêsu long trọng công bố Vương Quốc Người chính là quyền lực yêu thương của thập giá đã được vĩnh viễn xác lập và bao trùm: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”; đồng thời Người căn dặn các môn đệ ở lại, và truyền cho họ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Như vậy Thăng Thiên trước hết phải được hiểu như một mệnh lệnh ‘ra đi’ để mở rộng vương quốc Kitô. Chúa về trời là để tạo điều kiện cho các môn đệ có thể tự do lên đường. “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em hơn” (Ga 16, 7). Chúa về trời là để vương quốc tình yêu của Ngài được mở rộng tới mọi nơi, tới mọi cõi lòng. Hướng nhìn của biến cố ‘Chúa lên trời’ không phải là không gian vũ trụ vô tận, mà là đi sâu vào niềm tin bên trong tâm hồn con người. “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời?” (Cv 1, 11) Sự hùng vĩ và huy hoàng của ‘lên trời’ không phải là một thứ ánh sáng chói lòa của tinh tú hay mây trời, nhưng là “anh em nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em… anh em là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp miền Giu-đê, Sa-ma-ri, và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 8). Như vậy việc mừng ‘Chúa lên trời’ đối với các Kitô hữu sẽ đồng nghĩa với việc xác định lại niềm tin vào quyền lực tình yêu của Thầy Giêsu, và khảng định lại quyết tâm mở rộng vương quốc đó tới mọi tâm hồn và cho tới tận cùng trái đất. Do đó Thăng Thiên chính là một biến cố nội tâm sâu xa nhất, một đòi hỏi khắt khe nhất của niềm tin.
“Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”, lời trăn trối tâm huyết làm sao chính vào lúc hình bóng Thầy Giêsu lặng lẽ bị mây trời che khuất. ‘Xa mặt thì cách lòng’, thói thường vẫn thế… Đức Giêsu thì khảng định ngược lại, khi ‘các ông không còn thấy Người nữa’ thì lại là lúc Người ‘cận lòng’ và gần gũi thắm thiết với từng môn đệ hơn bao giờ hết. Thậm chí sự gần gũi thắm thiết này còn được hiện thân hóa bằng cả một nhân vật kỳ diệu được Người sai phái đến: Thần Khí - Đấng Bảo Trợ - Thần Chân lý. Các môn đệ mừng vui là phải bởi vì ‘Chúa về trời’ đâu phải là mất mát, là xa cách. Các ông được lợi, lợi rất nhiều, nhiều tới mức sung mãn nhất: họ được sở hữu Thầy Giêsu cách trọn vẹn và vĩnh viện, qua sự hiện diện phong phú tột cùng của Thánh Thần đổ tràn vào tâm hồn. “Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em…” (Ga 14, 17). Câu Đức Giêsu nói với tông đồ Tô-ma: “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20, 29) đang lộ rõ nội dung cụ thể, phong phú và thâm sâu nhất của nó, có giá trị cho hết mọi thời, tới tận thời đại chúng ta hôm nay.
Mừng Chúa Thăng Thiên là như thế; không phải mừng vì Đức Kitô được vinh thăng, mà thực chất là mừng cho người môn đệ là mỗi chúng ta được cất nhắc lên cách kỳ diệu. Niềm vui đó ta có được không phải vì chăm chú nhìn lên trời, cho dầu đó là thiên đàng đi nữa, để mà mơ ước và chờ đợi, nhưng vì đi xâu vào nội tâm, nơi Thần Khí Đức Kitô Giêsu hiện diện và tác động, để nghiệm thấy tình yêu mạnh mẽ của Người, và sẵn sàng để cho tình yêu đó thúc đẩy ta lên đường công bố niềm vui phục sinh cho mọi tạo vật.
“Hãy đi vì có Thầy luôn ở cùng!”
Lạy Chúa Thăng Thiên vinh hiển, con xin được ca ngợi Chúa đã lên trời trong âm thầm lặng lẽ hơn là trong hoành tráng phô trương. Con cảm tạ Chúa đã ra đi vĩnh viễn để niềm tin con tập trung hơn vào Thần Khí đã được Người sai đến và đang ngự trị trong thâm sâu cõi lòng con. Do đó xin cho con luôn xác tín rằng: Chúa hằng ở cùng con, và sức mạnh tình yêu của Thần Khí Người luôn thôi thúc con lên đường. Amen.

 

LênTrời-290: Thực hiện sứ mạng

Trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Matthêu cho chúng ta thấy rằng trước khi về trời, trước khi với LênTrời-290

Trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Matthêu cho chúng ta thấy rằng trước khi về trời, trước khi với Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu qui tụ các môn đệ tại Galilê, và tại đây, Chúa Giêsu trao cho các ông một sứ mạng, đó là, làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, nghĩa là, làm cho muôn dân nhận biết Chúa Giêsu và tin vào Chúa Giêsu.
Là một người Kitô hữu. Chúng ta cũng là môn đệ của Chúa Giêsu từ khi lãnh bí tích rửa tội. Trong các cộâng đoàn đức tin, trong họ đạo, trong Giáo hội và nhất là giờ đây, trong ngôi thánh đường này cũng là một Galilê khác mà Chúa Giêsu qui tụ chúng ta và trao cho chúng ta sứ mạng mà Chúa đã trao cho các môn đệ ngày xưa. Vậy tôi và ông bà anh chị em thực sứ mạng này như thế nào?
Dựa vào Lời Chúa truyền dạy và dựa vào những gì các môn đệ của Chúa Giêsu thực hiện qua mọi thời đại thì chúng ta có thể tóm gọn việc thực hiện sứ mạng trong 3 chữ đó là: chữ đi, chữ làm và chữ dạy. Chúng ta có thể áp dụng một cách cụ thể và hữu hiệu 3 chữ này trong cuộc sống của chúng ta như sau:
1. Thứ nhất là chữ "đi": đối với chúng ta ngày nay, thực hiện chữ đi này không chỉ theo phương diện thể lý hay địa lý như đi nơi này nơi khác, nước này nước khác. Nhưng trước hết là đi ra khỏi con người của mình, đi ra khỏi cái tôi của mình để mở rộng tâm hồn đón nhận người khác. Đức Hồng Y Px. Nguyễn Văn Thuận kể về một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Ấn độ tên là Gandi như sau: Một hôm ông Gandi đến nhà thờ, nhưng những người Kitô hữu ở đó đã không cho ông vào nhà thờ bởi vì ông là người da đen, còn nhà thờ này chỉ dành riêng cho người da trắng. Ông Gandi đã bỏ về và từ đó về sau ông không đến nhà thờ nữa. Câu chuyện cho thấy rằng đến với người khác, đón nhận người khác là vượt qua những rào cản, những khác biệt về giàu nghèo, địa vị, trình độ tri thức, văn hoá, màu da sắc tộc... Đón nhận người khác là chấp nhận người khác làm phiền mình về thời giờ, sức khoẻ. Vậy để áp dụng chữ đi này trong cuộc sống, mỗi khi gặp gỡ những người chung quanh, chúng ta đến với họ bằng cái bắt tay, bằng một nụ cười, một ánh mắt thân thiện, bằng lời hỏi thăm hay sự quan tâm. Đó là chúng ta đi đến với họ.
2. Chữ thứ hai là chữ "làm": Lời Chúa nói hãy làm phép rửa cho họ, nghĩa là, làm cho họ gia nhập đạo qua Bí tích Rửa tội. Vậy trước khi làm cho họ gia nhập đạo thì chúng ta làm cho họ có một cái nhìn thiện cảm về những người theo đạo, làm cho họ có một cái nhìn tốt đẹp đối với đạo và làm cho họ có một cái nhìn yêu mến đối với Chúa Giêsu bằng chính đời sống của chúng ta. Có 2 người bạn đồng nghiệp của nhau, một hôm cả hai nghe nói về đạo Chúa Giêsu, nhưng một người thì đã theo đạo liền, còn bạn của anh ta thì 1 năm sau mới theo đạo. Thấy vậy, anh ta mới hỏi bạn của mình tại sao như vậy. Bạn của anh ta trả lời rằng, ban đầu tôi không tin Chúa Giêsu, nhưng sau một năm tôi thấy từ khi anh theo đạo, anh đã thay đổi cuộc sống, anh đã ứng xử tốt hơn đối với người khác, cuộc sống của anh lúc nào cũng an vui. Vì thế tôi tin rằng chân lý có trong Kitô giáo nên tôi quyết định theo đạo. Rõ ràng, cuộc sống của chúng ta chính là lời giới thiệu cho người chung quanh chúng ta nhận biết Chúa Giêsu và tin vào Chúa Giêsu. Chúng ta áp dụng chữ làm này như sau: trong gia đình, chúng ta sống hoà thuận yêu thương nhau, cha mẹ sống đúng bổn phận của cha mẹ như lo cho gia đình và giáo dục con cái, con cái thì sống đúng bổn phận của mình như hiếu thảo, giúp đỡ cha mẹ. Ngoài xã hội, thì chúng ta là một người công dân tốt. Sống như thế là chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác.
3. Chữ thứ ba là chữ "dạy": Chúa Giêsu nói với các môn đệ dạy cho họ những điều thầy truyền dạy cho anh em. Điều Chúa Giêsu truyền dạy cho các môn đệ chính là giới luật yêu thương: "Anh em hãy yêu thương nhau như thầy yêu thương anh em". Trong xã hội hôm nay người ta thích nhìn thấy những gì chúng ta làm hơn là nghe những gì chúng ta nói. Vậy, để nói cho người khác về yêu thương thì không cách nào tốt cho bằng chúng ta thực hiện yêu thương đối với họ. Chúng ta đã nghe nói về mẹ Têrêsa Caculta. Mẹ Têrêsa Calculta và những người trong tu hội thực hiện yêu thương đối với người khác bằng việc đem những người bị bỏ rơi ngoài đường về tu hội chăm sóc nuôi dưỡng họ, cho họ cảm thấy họ được đối xử và được sống xứng đáng với phẩm giá của một con người. Mẹ Têrêsa Calculta đã trình bày một cách sống động về giới luật yêu thương cho mọi người trong thời đại chúng ta. Thật vậy, đời sống yêu thương của chúng ta chính là lời nói hữu hiệu về giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta. Để thực hiện đời sống yêu thương, trong mùa phục sinh này, chúng ta hạn chế chi xài để quyên góp làm quỹ bác ái giúp cho những người đang thiếu thốn, đang gặp khó khăn chung quanh chúng ta. Sống như vậy là chúng ta nói cho người khác một cách cụ thể về giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu đã dạy.
Mong rằng chúng ta nhớ lời Chúa truyền dạy hôm nay, nhớ sứ mạng chúa trao cho chúng ta trong thánh lễ này, để mỗi ngày sự ra đi của chúng ta, việc làm của chúng ta, đời sống yêu thương của chúng ta là một nhịp cầu đưa những người chung quanh chúng ta đến với Chúa Giêsu, nhận biết Chúa Giêsu và tin vào Chúa Giêsu. Đó cũng là chúng ta thực hiện lời mời gọi của Đức Thánh Cha trong sứ điệp ngày ngày truyền giáo 2010, Đức Thánh Cha mong đợi các tín hữu "cho thấy Đức Giêsu và làm sáng lên khuôn mặt của Đấng Cứu Chuộc nơi mọi hang cùng ngõ hẻm của trái đất này". Amen.

 

LênTrời-291: Ra đi trong lời hứa – G. Nguyễn Cao Luật

Một sự hiện diện mới
 

Ở phần đầu sách Tin Mừng, thánh Mátthêu đã nhắc lại lời ngôn sứ Isaia để loan báo sự xuất hiện LênTrời-291

Ở phần đầu sách Tin Mừng, thánh Mátthêu đã nhắc lại lời ngôn sứ Isaia để loan báo sự xuất hiện của người con thuộc dòng họ Đavít, Đấng được gọi là "Emmanuen", có nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta". Tất cả các phần sau của Tin Mừng Mátthêu đều nhắc đến sự hiện diện này, một sự hiện diện mà người ta có thể cảm thấy, sờ thấy, nhìn thấy...
Nhưng đã đến lúc chấm dứt sự hiện diện này, không phải là tan biến đi, nhưng là mang một hình thức mới còn sâu xa, còn mãnh liệt và cụ thể hơn sự hiện diện trước kia: "Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".
Thế nào là sự hiện diện đích thực? Khi nào thì sự sống của một hữu thể khác thấm nhập vào một người đến nỗi cả hai biến thành một? Theo một ngôn ngữ khác với thánh Gio-an, thánh Mát-thêu làm nỗ bùng những sự kiện hữu hình để dẫn đưa độc giả vào một cái nhìn khác về thực tại.
Đức Giêsu hẹn gặp các môn đệ tại một ngọn núi ở miền Ga-li-lê. Theo tác giả sách Tin Mừng thứ nhất, Ga-li-lê là vùng đất của dân ngoại, là điểm tiếp xúc của những biên giới. Đây là miền đất biểu tượng cho thế giới ngoại đạo, đồng thời cũng tiêu biểu cho việc rao giảng Tin Mừng. Chính tại đây, giữa lòng nhân loại mà các môn đệ - cũng như người Kitô hữu sau này - khám phá ra ý nghĩa sự hiện diện của Đức Giêsu.
Đàng khác, sau cuộc gặp gỡ cuối cùng này, Đức Giêsu không còn xuất hiện hữu hình với các môn đệ nữa. Nhưng sự hiện diện vô hình của Người đạt tới chiều sâu và chiều rộng mà thân xác của Người nơi trần gian không cho phép đạt tới. Nhờ Thần Khí, sự hiện diện này không chỉ giới hạn ở đây ở đó, vào những cách thức thông thường, nhưng được mở rộng đến mọi nơi và theo nhiều cách thức khác nhau. Đức Giêsu sẽ mãi mãi ở cùng con người qua lời của Người, qua các bí tích, qua người thân cận, và nhất là qua sứ vụ tông đồ.
Quả thế, Đức Giêsu được Chúa Cha phục sinh và tôn vinh, đặt làm Chúa vũ trụ và làm nguồn mạch thông ban sự sống, được đặt ngự bên hữu Chúa Cha, tức là trong một tình trạng hoàn toàn mới. Qua nhân tính được Thần Khí điều động, Đức Giêsu hiện diện và hoạt động trong Giáo Hội, trong thế giới, nơi mỗi người, qua mọi thời đại, như nguyên nhân cứu rỗi duy nhất. Sự thăng thiên của Đức Giêsu đưa Người ra khỏi một góc trời, khuất khỏi tầm mắt của một nhóm người để làm cho Người có mặt và hoạt động trên khắp thế giới và nơi mọi con người. Đó là cuộc ra đi cần thiết và hữu hiệu như Đức Giêsu đã báo trước. Cuộc ra đi làm cho Đức Giêsu trở nên rộng lớn hơn, cũng như cộng đoàn các môn đệ thêm rộng lớn. Rộng lớn như vũ trụ, như vương quyền của Đức Giêsu.
Vì thế, ngay từ bây giờ, không phải là lúc đứng một chôỵ mà đăm đăm nhìn lên bầu trời, nhưng là lúc phải lên đường, phải trở thành chứng nhân về Đấng Phục Sinh, phải loan báo cho mọi người, phải trở nên kẻ cộng tác với Người để mở rộng vương quốc.
Cuộc ra đi mở đầu
Trong tường thuật về thăng thiên, thay vì dừng lại ở những chi tiết, dù rất đơn giản, về cuộc ra đi thể lý của Đức Giêsu, các độc giả sách Tin Mừng nên nhấn mạnh về ý nghĩa cuộc ra đi của Đức Giêsu cũng như về sứ mệnh Đức Giêsu trao lại cho các môn đệ.
Cuộc ra đi của Đức Giêsu thật bất ngờ. Như một tia sáng vụt qua bầu trời, lần hiện ra cuối cùng của Đức Giêsu là chứng cớ, đúng hơn là dấu khả giác về việc Người đi vào luôn mãi trong vinh quang của Chúa Cha, tức là trở vế với điểm xuất phát của Người. Nhưng Người không trở lại nơi đó một mình. Người lôi kéo theo cả nhân loại, mặc dù còn trong hy vọng, nhưng là một niềm hy vọng có thực, không phải là ảo tưởng.
Và điều quan trọng hơn, đó là trước khi biến đi, Đức Giêsu đã đặt các tông đồ làm những người "tiếp nối" công việc cứu độ của Người trong thế giới. Để thực hiện sự liên tục này, Người đã sai Thần Khí của Người đến trên các ông. Sự tuôn đỗ Thần Khí một cách viên mãn ấy sẽ được mô tả vào ngày lễ Ngũ Tuần. Thần Khí biến nhóm môn đệ nhỏ nhoi này thành Giáo Hội của Đức Kitô với sứ mạng làm chứng về sự phục sinh của Người cho toàn thế giới. Như trên một cây cầu mà móng cắm sâu vào dòng sông, đối với các môn đệ, kể từ nay các môn đệ sẽ phải rời bỏ bờ sông quen thuộc với những lần hiện diện thân thương để đi đến những miền đất còn xa lạ. Tại những miền đất đó, chính Thánh Thần của Đấng Phục Sinh sẽ nắm lấy các ông và hướng dẫn các ông.
Đó quả là một kinh nghiệm lớn mà dần dần các môn đệ sẽ hiểu ra. Nhưng ngay lúc này, khi chứng kiến việc Đức Giêsu biến đi, các ông vẫn tràn ngập niềm vui "trở về Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ".
Do đó, với tư cách là cộng đoàn kế tục cộng đoàn tông đồ, Giáo Hội và mỗi Kitô hữu sẽ luôn kiểm điểm đời sống của mình xem có phù hợp với sứ mạng đã lãnh nhận từ Đức Giêsu. Theo đúng lời bảo của Đức Giêsu, Giáo Hội sẽ phải trung thành thực hiện sứ mạng này trong suốt chiều dài của lịch sử, cho đến ngày Người trở lại, với niềm tin chắc chắn vào sự hiện diện đầy năng động của Vị Thủ Lãnh, Đấng luôn gìn giữ và hướng dẫn Giáo Hội qua ân sủng Thần Khí.
Như vậy, cuộc ra đi của Đức Giêsu là khởi đầu cho những cuộc ra đi khác, bắt đầu là các tông đồ, sau đó là Giáo Hội cho đến ngày tận thế.
Chúa chúng ta ở đâu?
Đối với chúng ta ngày nay, một câu hỏi vẫn thường được đặt ra: "Đức Giêsu, Chúa của bạn, đang ở đâu?" Câu hỏi này càng trở nên gay gắt hơn trong những hoàn cảnh bi đát và buồn phiền, đến nỗi ngay cả những người bình tĩnh nhất cũng cảm thấy lúng túng.
Quả thất, trước một câu hỏi như vậy, những câu trả lời chúng ta đã nghe khi học giáo lý thời nhỏ không làm chúng ta thoả mãn. Đức Giêsu không chỉ ngự "trên trời" hay "khắp mọi nơi", và cũng không phải chỉ "ở trong tâm hồn những em bé ngoan ngoãn".
Đối với chúng ta cũng như với các môn đệ, niềm xác tín duy nhất chính là Đức Giêsu ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.
Nếu chúng ta tin vào lời hứa đó, để rồi trong mọi hoàn cảnh, giữa những thăng trầm của cuộc sống, chúng ta vẫn sẵn sàng quả quyết: ""Vâng, Đức Kitô đang sống, Người ở đây, mặc dù tôi không thấy Người, cũng chẳng biết Người như thế nào"", thì câu hỏi chẳng còn ý nghĩa gì.
Bởi vì, vấn đề ở đây không phải là "biết" Chúa ở đâu, nhưng là "thấy" Chúa ở đâu. Cũng không phải là học một câu trả lời, nhưng là hướng cái nhìn của chúng ta để nhận ra Đức Kitô ở bất cứ nơi nào có sự sống, bất cứ nơi nào sự sống đang phát triển.
Như thế, Đức Giêsu không có mặt trong những nơi sự chết đang hoành hành. Và ngược lại, ở bất cứ nơi nào có sự sống, chúng ta có cơ may được nghe thấy tiếng của Người, được nhìn thấy Người đang bước đi trên những nẻo đường đầy hy vọng.
Do đó, chúng ta không chỉ bằng lòng với việc quả quyết: "Đức Kitô đang ở đây", nhưng còn phải mở to đôi mắt, phải lắng tai để nhận ra Người.
Và chúng ta cũng nhận ra rằng ở đâu có Tình Yêu làm sức mạnh cho đời sống, ở đó có Chúa ngự trị, và tại đó chúng ta sẽ gặp Người.
Hơn nữa, chúng ta sẽ không buồn phiền vì sự vắng mặt của Đức Giêsu, trái lại chúng ta hân hoan làm chứng về Người. Bởi vì từ cuộc ra đi của Người, chính chúng ta cũng được mời gọi ra đi trên những nẻo đường khác nhau, trong ân huệ Thần Khí, để công bố về lời quả quyết "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta".

 

LênTrời-292: CÙNG VỚI ĐỨC GIÊSU ĐỂ TÔN VINH THIÊN CHÚA CHA

CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH, NĂM A
 (Cv 1, 12-14 ; 1 Pr 4. 13-16 ; Ga 17, 1-11)
 

Sau khi Đức Giêsu được đưa về trời để ngự bên hữu Thiên Chúa Cha và làm chủ tể mọi loài, thì Giáo LênTrời-292

Sau khi Đức Giêsu được đưa về trời để ngự bên hữu Thiên Chúa Cha và làm chủ tể mọi loài, thì Giáo Hội mà Ngài thiết lập bắt đầu chính thức hoạt động dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần qua các Tông đồ.
Khi chính thức hoạt động, các Tông đồ luôn luôn xác tín rằng: đời sống cầu nguyện trong sự hiệp nhất là điều căn cốt để xây dựng và phát triển Giáo Hội. Mặt khác, sự ghét ghen, chống đối, sỉ nhục, đánh đập và ngay cả giết chết… sẽ làm cho người môn đệ trở nên đồng hình đồng dạng với Thầy Giêsu hơn.
Như vậy, nếu Đức Giêsu đã tôn vinh Thiên Chúa Cha bằng chính đời sống chứng tá, nhất là cái chết trong đau thương trên thập giá, thì người môn đệ của Đức Giêsu cũng không thể có con đường nào tốt đẹp và làm vừa ý Thiên Chúa Cha khi chúng ta tôn vinh Người cùng một cách thức như Đức Giêsu.
Đây chính là những nét quan trọng trong sinh hoạt Giáo Hội thời sơ khai mà phụng vụ Lời Chúa hôm nay qua các bài đọc đã lần lượt mặc khải cho chúng ta.
 
  Cầu nguyện là nền tảng căn cốt để xây dựng Giáo Hội
Nhìn lại lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy hình ảnh và đời sống của các Kitô hữu thời ban sơ thật là lý tưởng, chân tình và chất phát. Họ đồng tâm nhất trí với nhau trong mọi sự, nhất là đời sống cầu nguyện. Cùng một tâm hồn và một tấm lòng là điều mà các Kitô hữu tiên khởi đã sống.
Quả thật, các Tông đồ đã thấy được tầm quan trọng của việc cầu nguyện, nên các ngài đã không ngừng làm gương và thúc đẩy các Kitô hữu gia tăng cầu nguyện, để củng cố đức tin, lòng mến và nhất là tìm ra thánh ý Chúa để thi hành.
Không cầu nguyện, sẽ không có niềm xác tín mạnh mẽ. Không cầu nguyện sẽ kiêu ngạo. Không cầu nguyện sẽ làm cho tâm hồn trai lỳ, u mê chẳng còn nhạy bén với thánh ý Thiên Chúa. Không cầu nguyện sẽ không biết yêu thương và phá vỡ sự hiệp nhất…
Xác tín được tầm quan trọng của cầu nguyện, nên các Tông đồ đã trung thành với lời cầu nguyện qua mọi hoạt động tập thể, chẳng hạn như: trong các cuộc quy tụ cộng đoàn để tham dự nghi thức bẻ bánh (x. Cv 2, 42-46), chọn ông Mátthia (x. Cv 1, 24), xin Chúa ban Thánh Thần xuống (x. Cv 8,15), khi bị bách hại (x. Cv 4, 24-31; 12,5-12), cầu cho các vị truyền giáo (x. Cv 13,3; 14,23).  Việc cầu nguyện riêng cũng thường gặp ở nhiều trường hợp, như ông Têphanô cầu nguyện khi bị ném đá (x. Cv 7,59-60), ông Saolô khi trở lại (x. Cv 9, 11), ông Phêrô tại nhà ông Conêliô (x. Cv 10, 9; 11,5).
Như vậy, cầu nguyện trong sự hiệp nhất là yếu tố rất cần thiết trong tiến trình xây dựng Giáo Hội. Không hiệp nhất, Giáo Hội sẽ có nguy cơ tan rã. Thấy được tầm quan trọng này, nên Đức Giêsu đã không ngớt cầu nguyện để xin Chúa Cha cho các môn đệ của mình được hiệp nhất theo khuôn mẫu của chính Thiên Chúa Ba Ngôi, ngõ hầu các ông đứng vững trước những thử thách đau thương khi thi hành sứ vụ.
 
      Giáo Hội được lớn lên nhờ thử thách
Nếu đời sống và hoạt động của Đức Giêsu luôn luôn bị chống đối gắt gao, đến nỗi Ngài đã phải chấp nhận cái chết để tôn vinh Thiên Chúa Cha, thì vẫn cùng một hệ quả như vậy, các môn đệ sẽ gặp những chống đối, bắt bớ, đánh đập và ngay cả bị giết chết… Nói cách khác, đời sống của người môn đệ được gắn liền với thập giá và cái chết. Đây chính là mẫu số chung cho tất cả những ai bước theo Đức Giêsu trên con đường sứ vụ.
Điều này đã được chứng minh nơi Giáo Hội sơ khai. Cộng đoàn tiên khởi đã chịu sự bách hại, bắt bớ tàn khốc kéo dài suốt 300 năm trường. Sự bách hại ấy đã không ngừng buông tha con cái của Chúa trên khắp năm châu ở mọi thời.
Trước biết bao nhiêu khó khăn thử thách như vậy, người môn đệ Đức Kitô đôi khi vì yếu đuối do sợ hãi nên bị những cám dỗ bỏ cuộc, buông xuôi. Thấu hiểu điều đó, nên thánh Phêrô, trong tư cách là người đứng đầu Giáo Hội, đại diện Chúa Kitô ở trần gian, ngài đã lên tiếng an ủi: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ” (1 Pr 4, 13).
Chính vì điều này đã làm cho tinh thần của người môn đệ được củng cố, bởi vì nhờ nó mà được thông phần với Đức Kitô chịu đóng đinh để mai ngày được phục sinh vinh hiển với Ngài.
Tuy nhiên, vì sức con người có giới hạn, nên Chúa Thánh Thần sẽ là thầy dạy luôn bên cạnh để giúp cho người môn đệ thêm sức mạnh, biết nói gì, làm gì để đáp trả trước những khó khăn do con người gây nên (x. Mc 13,11). 
Như vậy, dù trong hoàn cảnh nào, người môn đệ vẫn luôn tự hào và hãnh diện trong sự khiêm tốn để tôn vinh Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật.      
 
Thiên Chúa Cha được tôn vinh
Khi nói về việc tôn vinh Thiên Chúa Cha, chúng ta thấy Đức Giêsu chính là mẫu mực để mỗi người noi theo. Thật vậy, trong suốt cuộc đời tại thế của Ngài, từ lời giảng dạy đến hành động, tất cả đều hướng con người về việc tôn vinh Thiên Chúa Cha. Việc tôn vinh mà Đức Giêsu đã thi hành và dạy cho các môn đệ cũng như mọi người thực hiện, đó là giúp cho họ “biết danh Cha, thuộc về Cha và tuân giữ lời Cha”. 
Biết danh Cha qua chính Đức Giêsu, vì Ngài đã phán: ai biết Ta là biết Đấng đã sai Ta. Khi biết Chúa Cha, chúng ta được ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa Cha nếu chúng ta ở lại trong Đức Giêsu và vâng nghe lời Ngài chỉ dạy.
Nhưng lựa chọn để thuộc về Chúa Cha khi đã biết Người không phải lúc nào cũng êm xuôi, mà ngược lại, luôn luôn gặp phải những cạm bẫy chông gai, chống đối, thử thách và ngay cả cái chết.
Khi đã hoàn tất sứ vụ tôn vinh Thiên Chúa Cha trên trần thế, Đức Giêsu đã trao phó sứ mạng tôn vinh Chúa Cha cho Giáo Hội, để Giáo Hội tôn vinh Thiên Chúa trong chân lý và tình yêu. 
Kể từ khi nhận lãnh trách nhiệm, từ thời các Tông đồ cho đến ngày nay, Giáo Hội không ngừng tôn vinh Thiên Chúa Cha trong Đức Giêsu và nhờ Chúa Thánh Thần.
 
  Sống sứ điệp Lời Chúa
Cùng một sứ vụ và trách nhiệm trong lòng mến, người tín hữu Kitô luôn được mời gọi hãy ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa Cha qua Đức Giêsu để tôn vinh Người.
Một trong những điều mà chính Đức Giêsu đã tôn vinh Thiên Chúa Cha và đã được Người rất ưng ý, đó là làm chứng cho sự thật và thể hiện tình yêu thương của Thiên Chúa cho mọi người.
Trong xã hội hôm nay, sự thật luôn luôn bị coi thường nếu không muốn nói là bị đe dọa. Ngược lại, sự gian dối lại lộng hành và lên ngôi đến chóng mặt.
Trước thực trạng ấy, người môn đệ là người thuộc về Đức Giêsu, mà Đức Giêsu đến để làm chứng cho sự thật, đồng thời Ngài cũng mời gọi ai đứng về phía sự thật thì thuộc về thần dân trong Nước của Ngài.
Như vậy, người tín hữu Kitô phải là người làm cho sự thật được sáng tỏ trong những lời nói, lựa chọn, quan điểm và hành vi của mình. Chúng ta không thể chấp nhận một người tín hữu với những khái niệm và lựa chọn mù mờ giữa sự thật và gian dối.
Mặt khác, vì Thiên Chúa là tình yêu, nên chúng ta thuộc về Thiên Chúa, thì chắc chắn chúng ta phải thi hành luật yêu thương trong cuộc sống của mình. Nếu không yêu thương, nhất là không yêu thương những người kém may mắn và bị loại ra bên lề, thì bấy lâu chúng ta đang phản lại bản chất của Thiên Chúa và mâu thuẫn với chính chúng ta.
Thiết nghĩ, sống và chu toàn những điều trên, ấy là chúng ta đang tham gia vào công việc tôn vinh Thiên Chúa Cha cách thiết thực nhất, bởi vì Thiên Chúa sẽ được tôn vinh khi chúng ta làm cho hình ảnh của Người được tỏa sáng qua hành vi, lời nói và việc làm của chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban Chúa Thánh Thần xuống trên chúng con để chúng con biết nhận ra, ở lại và tôn thờ Thiên Chúa Cha cách trung thành và yêu mến. Xin cho chúng con biết hãnh diện để tôn thờ Thiên Chúa Cha trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, ngoc hầu mai ngày chúng con được trực diện trước tôn nhan Chúa để tôn thờ Người mãi mãi không ngừng. Amen.

 

LênTrời-293: CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, năm A
Mt 28, 16-20
 

Lễ Chúa Giêsu lên trời là một trọng những lễ trọng nhất của năm phụng vụ. Do đó, lễ Chúa thăng LênTrời-293

Lễ Chúa Giêsu lên trời là một trọng những lễ trọng nhất của năm phụng vụ. Do đó, lễ Chúa thăng thiên mang một ý nghĩa quan trọng và có một chiều kích lớn lao đối với Giáo Hội. Lễ Chúa thăng thiên có thể được mường tượng như một cuộc đua tiếp sức giữa các vận động viên trong một thế vận hội hay một Sea games nào đó. Các vận động viên chuyền gậy từ vận động viên này tới vận động viên khác vv…Đây là hình ảnh và sứ mạng Chúa Giêsu phục sinh giao cho các môn đệ và chúng ta làm chứng cho Ngài giữa thế giới và rao giảng, loan báo Tin Mừng cho các dân tộc.
Lễ Chúa Giêsu lên trời cho chúng ta hay Chúa Phục Sinh không còn hiện diện trước mặt các môn đệ một cách hữu hình nữa, Ngài có mặt cách vô hình.Bởi vì, khi Phục Sinh, Chúa đã hiện ra và ở với các môn đệ bốn mươi đêm ngày để chứng minh cho các môn đệ rằng Ngài đã sống lại khải hoàn.Giờ đây Ngài về cùng Cha và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, Chúa Phục Sinh vẫn luôn đồng hành với các môn đệ, với Giáo Hội “ mọi ngày cho đến tận thế “.Đây là bảo chứng niềm tin cho các môn đệ, cho cả Giáo Hội.  Chúa truyền lệnh, trao sứ vụ rao giảng và lời hứa ở cùng Giáo Hội luôn mãi, minh chứng Chúa Phục Sinh luôn tin tưởng vào các môn đệ, tin tưởng Giáo Hội trong sứ mạng loan truyền Lời Chúa và giúp các môn đệ, giúp Giáo Hội củng cố niềm tin và hy vọng đạt được Nước Thiên Chúa. Ngài sai các môn đệ :” Các con hãy đi giảng dạy cho muôn dân. Các con là những chứng nhân cho Thầy “.
Vâng, cách đây 2017 năm, Chúa Phục Sinh đã chuyền cho các môn đệ, các tông đồ chiếc gậy tượng trưng cho công cuộc cứu độ và công việc truyền giáo của Ngài. Các môn đệ có sứ mạng tiếp tục chuyền cây gậy cho những người khác và cho chính chúng ta. Nên, thao thức của các môn đệ cũng chính là thao thức của mỗi người chúng ta là thực hiện điều Chúa truyền. Tin Mừng các môn đệ, Giáo Hội và mỗi người chúng ta phải loan báo, đó là rao giảng Chúa đã Phục Sinh.  Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi nhân loại, tội lỗi thế gian, nhưng nay Ngài luôn sống và lên trời, Ngài mở ra cho nhân loại, cho chúng ta một viễn tượng vinh quang mai sau. Ngài hướng mỗi người chúng ta và nhân loại về Nước Thiên Chúa : là Nước cùng đích chúng ta phải tới mai sau.
Chúa Thăng Thiên mở ra cho chúng ta, cho nhân loại một lối sống mới :” sống ở đời nhưng chúng ta phải hướng về Quê Trời, là nơi ở vĩnh viễn cho chúng ta “. Hướng về trời, nhìn lên cao sẽ giúp nhân loại, giúp mỗi người chúng ta vượt thắng, đẩy lui những tình cảm thấp hèn, những sự xấu xa của thế gian, ma quỷ, để hướng về Thiên Chúa, hướng về một tình yêu tuyệt đối, tình yêu cao cả, tình yêu vô biên là chính Đức Giêsu Phục Sinh. Tình yêu cao vời giúp chúng ta hướng trọn về Chúa, hướng về Quê Trời. Tuy nhiên, khi hướng về trời, chúng ta không quên được những thực tại trần thế, không quên sứ mạng, bổn phận Chúa Phục Sinh trao phó là rao giảng Tin Mừng tới tận cùng thế giới với tất cả lòng nhiệt thành, hăng say vì biết rằng lúc nào Chúa Phục Sinh cũng đồng hành với chúng ta.
Chúng ta hãy nhớ lại lời Chúa :” Các con là muối ướp cho mọi người, nếu muối nhạt, thì chẳng còn cách gì làm cho nó mặn lại được; nó trở thành vô dụng, chỉ còn nước ném ra ngoài để cho người ta chà đạp lên nó.Cũng thế, các con là ánh sáng cho thế gian, là thành phố xây trên núi, nên không thể dấu kín được…Cũng thế, ánh sáng các con phải sáng lên trước mặt thiên hạ, để họ nhìn xem việc thiện các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” ( Mt 5, 13-16 ).
Lạy Chúa, Xin sai Thánh Thần đến để giúp chúng con nhận ra Chúa Phục Sinh đang hiện diện, đang đồng hành với chúng con trong cuộc sống. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Chúa về trời để làm gì ?
2.Chúa giao cho các môn đệ và cho chúng ta sứ mạng gì ?
3.Hướng về trời, nhưng chúng ta có được sao nhãng những bổn phận ở trần gian không ?
4.Bổn phận ở trần gian của chúng ta là gì ?

 

LênTrời-294: Được chuẩn bị, sai đi để thi hành sứ mệnh

CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN
Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Cv 1:1-11;  Ep 1:17-23;  Mt 28:16-20)
 

Trong mùa sinh viên ra trường, chúng ta chứng kiến những hình ảnh nhộn nhịp đượm chút lo lắng. LênTrời-294

Trong mùa sinh viên ra trường, chúng ta chứng kiến những hình ảnh nhộn nhịp đượm chút lo lắng.  Tốt nghiệp sau những năm tháng vất vả học hành, các tân khoa cũng có phần lo âu làm sao kiếm được việc làm tốt.  Tâm trạng ấy giúp chúng ta hiểu được hoàn cảnh của các môn đệ Chúa trong ngày Người lên trời về cùng Chúa Cha.  Sau ba năm trời được đào tạo dạy dỗ dưới mái trường Giê-su Ki-tô để tiếp tục sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Người, giờ đây các tân khoa là các tông đồ và môn đệ Chúa được Người chính thức sai đi vào cánh đồng truyền giáo.  Quả thực Phụng vụ Lời Chúa đã mô tả ngày lễ Chúa lên trời không chỉ là kết thúc cuộc đời trần thế của Chúa, mà cũng là khởi đầu mới cho sứ mệnh của các môn đệ và Giáo Hội Người.
          Phần mở đầu sách Công Vụ Tông Đồ của thánh Lu-ca kể lại sơ lược giai đoạn cuối chương trình đào tạo tông đồ truyền giáo.  Trong bốn mươi ngày sau khi sống lại, Chúa Giê-su đã hiện ra với các tông đồ để “nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa”.  Chúng ta có thể tưởng tượng ra khung cảnh các ông chăm chỉ tham dự các lớp học quan trọng này và hết sức chú ý lắng nghe Chúa “nói chuyện”.  Chắc chắn các ông cũng có rất nhiều thắc mắc và câu hỏi cần được giải đáp.  Nhưng dù các ông có chú tâm học hỏi cách mấy thì vẫn chưa đủ, vì còn thiếu một yếu tố vô cùng quan trọng.  Đó chính là “sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em”.  Thánh Thần sẽ được sai đến, không phải để trao cho các môn đệ Chúa mảnh bằng tốt nghiệp, nhưng là để đổi mới tâm hồn họ và trang bị đầy đủ cho họ để được sai đi.  Thời gian chờ đợi Thánh Thần không còn bao lâu, chỉ mười ngày sau khi Chúa Giê-su về trời!
          Tuy thánh Lu-ca không ghi lại các chi tiết nội dung những cuộc “nói chuyện” của Chúa Giê-su với các tông đồ, nhưng thánh Phao-lô thì trình bày điểm cốt lõi của việc rao giảng Tin Mừng:  Phải rao giảng về Chúa Giê-su Ki-tô, bởi vì chỉ nơi Người chúng ta mới có “niềm hy vọng nhờ ơn Người kêu gọi, gia nghiệp vinh quang nhờ được chia sẻ cùng dân thánh, và quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu” (Ep 1:19).  Đó là tất cả những gì Chúa Giê-su đã mang lại cho chúng ta sau khi Người chiến thắng tội lỗi và sự chết.  Câu chuyện “Nước Thiên Chúa” mà Chúa Giê-su đã từng rao giảng và nhất là nói chuyện với các tông đồ sau khi phục sinh bao gồm những điểm cốt yếu kể trên.  Sứ mệnh của Chúa Giê-su là đặt nền móng vững chắc cho tương lai của chúng ta.  Tương lai ấy phải là kết quả của việc sống niềm hy vọng và chiếm hữu được gia nghiệp vinh quang.  Cuộc đời trần thế của chúng ta không còn vô nghĩa vô định như nhiều người tưởng nữa, nhưng đã có một hy vọng chắc chắn và một số phận hạnh phúc.  Chắc chắn vì Chúa Giê-su đã sống lại khải hoàn, và hạnh phúc vì được cùng với Người thừa kế gia nghiệp đời đời Chúa Cha dành cho Người và những ai tin vào Người.  Tương lai tốt đẹp ấy chúng ta sẽ có được, không phải do cố gắng của riêng chúng ta, nhưng là do “quyền lực vô cùng lớn lao Chúa đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu”.  Dĩ nhiên cũng có phần đóng góp của chúng ta, nhưng phần chính vẫn là do quyền lực của tình yêu vô điều kiện Thiên Chúa biểu lộ qua Chúa Giê-su Ki-tô.
          Rõ ràng việc đào tạo tông đồ truyền giáo đây không phải là trình bày mớ kiến thức thần học cao siêu, mà là giúp người ta phát triển đức tin vào Chúa Ki-tô và sứ mệnh của Người.  Các môn đệ Chúa được sai đi để công bố cho người ta biết:  “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất”, Thầy đã đến để nói với nhân loại những lời ban sự sống, để chia sẻ một lối sống mới trong Thánh Thần, nhất là lối sống yêu thương.  Sứ mệnh của tông đồ truyền giáo là chia sẻ đức tin ấy với mọi người ở khắp nơi và mọi thời, như mệnh lệnh Chúa ban trước khi Người lên trời:  “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”.
Sống sứ điệp Lời Chúa
          Chúa Giê-su mời gọi chúng ta bước vào mái trường đào tạo của Người là nơi đức tin chúng ta sẽ được phát triển.  Nhưng muốn giúp người khác “tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền”, chúng ta phải học hỏi, lắng nghe và tuân giữ trước, thì mới có thể chia sẻ với người khác những gì ta có.  Mong mọi người tốt nghiệp và làm việc truyền giáo tốt!
       Lm Đa-minh Trần đình Nhi

 

LênTrời-295: DI NGÔN

Bùi Văn Ngợi, Nguyễn Mậu Linh, Phan Thanh Nhiên là ba người Việt Nam đầu tiên chinh phục LênTrời-295

Bùi Văn Ngợi, Nguyễn Mậu Linh, Phan Thanh Nhiên là ba người Việt Nam đầu tiên chinh phục thành công đỉnh Everest trong chương trình Everest Việt Nam 2008, Tinh thần Việt hòa cùng thế giới. Đoàn leo có 10 người, gồm 5 người Sherpa hỗ trợ, 3 người Việt Nam, 1 người Thái, và 1 người Mỹ. Ngày 18.5.2008, chúng tôi từ trại chính lên trại 1, rồi tiếp tục qua trại 2, 3, 4. Ngày 22.5, chúng tôi chạm đỉnh Everest. Trước khi bắt đầu hành trình, đã phải luyện tập rất gắt gao. Tuy không quy định chính xác bắt buộc, nhưng đây là một nguyên tắc phải có. Bình thường, mỗi người mất khoảng 3 năm tập luyện để có sức khỏe, thể lực, kiến thức leo núi, đặc biệt là thích nghi độ cao và nhiệt độ âm. Như hơn 7 tháng tập luyện leo một số đỉnh như Fansipan cao 3.143m ( Việt Nam ), Kinabalu 4.095m ( Malaysia ), Kilimanjaro, nóc nhà châu Phi cao 5.895m, Island Peak cao 6.160m ( Nepal ). Island Peak có thời tiết và địa hình gần tương tự, nếu không leo thành công thì khó nghĩ tới Everest cao 8.848 m.
Tình trạng khắc nghiệt là cái lạnh -30 độ C, leo núi trong điều kiện  gió mạnh, mưa tuyết, băng qua những dốc núi tuyết dựng đứng lên đến 70, 80 độ, khi oxy chỉ còn 27% trong không khí.
Trong thời gian dài tập luyện, họ đã được trang bị rất kỹ về tâm lý, khả năng và về phản ứng thích nghi trong môi trường tập thể, tình đồng đội. Vì vậy, trên hành trình, tâm lý mọi người khá vững vàng, không nghĩ đến cái chết, chỉ tập trung cho việc hỗ trợ đồng đội và phải chiến thắng.
Thực sự đã có những khoảnh khắc nguy hiểm tưởng như sắp chết: điều kiện ăn uống không phù hợp, khí hậu khắc nghiệt, lượng oxy xuống quá thấp, cơ thể kiệt sức triền miên, không ngủ được trong  nhiều ngày nên đầu nóng lên. Những lúc đó, suy nghĩ không còn tỉnh táo nữa. Nhưng tất cả cũng qua.
Do lượng oxy thấp, lúc nào nhịp tim cũng làm việc rất nhanh, đập hơn 142 nhịp/phút, vừa để cung cấp oxy, vừa sưởi ấm cơ thể ( vì thiếu oxy và lạnh nữa nên rất khó ngủ ). Những trang thiết bị bảo hộ chuyên dụng chống lạnh được khí lạnh bên ngoài, nhưng do mình hít thở bằng khí trời nên luồng không khí  lạnh đi thẳng vào lồng ngực, làm lạnh từ trong ra. Không phải lúc nào cũng có thể dùng bình oxy, chỉ có những đoạn cuối cùng như từ trại 4 lên đỉnh, hay ở thềm Hillary. Hầu hết các vận động viên leo núi đều phải tập tự hít thở.
Người Nepal cung cấp lương thực mang theo. Đoàn Việt Nam chủ yếu ăn lương khô. Mỗi người phải tự mang những thứ đó, vì trên hành trình, nếu quá mệt, phải nghỉ ngơi nên cần đồ sử dụng ngay. Ngoài ra trong balo còn có lương thực, nước uống, trường hợp lạc vẫn có thể cầm cự được vài ngày. Tất cả những thứ này không thể nhờ người khác mang giúp, vì hoàn toàn có thể lạc nhau… ( Hải An, Người Việt kể gian truân trên đường chinh phục đỉnh Everest )
Ba chàng thanh niên Việt Nam đã vượt bao khó khăn, nguy hiểm, thách đố, chinh phục đỉnh Everest. Ngày xưa, mười một môn đệ cũng không quản bao cơ cực, gian lao, vất vả, lên núi hạnh ngộ với Đức Giêsu Phục Sinh. Người để lại di ngôn trước khi về Trời. Tóm tắt lại là tiên quyết dám bỏ mình theo Chúa, chịu khổ giá, sống theo đúng theo ba trạng thái thiên hoà, địa hoà và nhân hoà.
Thiên hoà
“Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Ðức Giêsu đã truyền cho các ông đến.” Vâng lệnh truyền, vâng theo trái tim nhiệt thành, không sợ hãi, không sợ cường quyền, không sợ đòn vọt, tù đầy, chết chóc, bỏ lại đàng sau tất cả những gì níu kéo chân, như tình cảm, quyền lợi, vật chất, sang giàu, chức danh. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.” ( Mc 6, 34 ).
Nghe và thực hành Lời Chúa mời gọi là thiên hoà, là chấp nhận, đồng thuận, hợp ý với Nước Trời, với Đức Giêsu Kitô đã răn dạy, hướng dẫn, khuyên nhủ, không một chút do dự, hay lo lắng đối phó thế gian. Dẫu thế, người môn đệ luôn phải chiến đấu với cám dỗ, như lời Thánh Phaolô công khai bày tỏ: ”Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.” ( Rm 7, 18-19 ).
Địa hoà
“Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em.” Nếu sống theo thiên Hoà, thì đương nhiên phải có nhiệm vụ rao truyền Lời Chúa, Tin Mừng, đến mọi người, đó chính là địa hoà. Đem chân lý hoà vào muôn dân, dẫn tha nhân về Nước Chúa.
Địa hoà là sống an vui với tha nhân, dù chịu chống đối, bất bình, bắt bớ, đau khổ, tra tấn và chịu chết vì Lời Chúa, vì chân lý, sự thật. “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” ( Ga 15, 18-19 ).
Nhân hoà
“Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế." Lời an ủi, bảo đảm và chứng thực cho những ai theo Chúa Giêsu, làm môn đệ chân chính của Người. Trạng thái nhân hoà là sống giao hoà, hoà hợp, hoà bình với Thiên Chúa
Được "Chúa ở cùng" chính là niềm vui, hạnh phúc và hy vọng cho tất cả những ai là Kitô hữu, như Vua Đavít đã hân hoan chúc tụng: “Chúa là mục tử, chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Trong đồng có xanh tươi, Người cho tôi năm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên nẻo ngay đường chính vì danh dự Người” ( Tv 23, 1-3 ).
“Thời đại mới, nhu cầu mới, phương pháp mới. "Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế", và Ngài ban cho Hội Thánh lễ Hiện Xuống mới” ( Đường Hy Vọng, số 296 ).
Xin Chúa luôn ở với chúng con, để chúng con có thể sống và đem Tin Mừng đến mọi người, qua chính chứng tá của chúng con.
Khấn xin Mẹ luôn cầu bầu cho chúng con trở nên những tông đồ nhiệt thành và trung thành của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

LênTrời-296: THIÊN ĐÀNG: NƯỚC YÊU THƯƠNG

 Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên hay nói một cách bình dân là lễ Chúa lên trời. LênTrời-296

Hôm nay, chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên hay nói một cách bình dân là lễ Chúa lên trời.
Cả ba bài đọc lời Chúa hôm nay liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Bài đọc thứ I sách TĐCV mô tả việc Đức Giêsu được cất nhắc lên trời trước mắt các môn đệ. Bài đọc II, thánh Phaolo trong thư gửi tín hữu Epheso cho biết Đức Giêsu sau khi hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó ở dưới thế đã về trời ngự bên hữu Chúa Cha; và bài Tin Mừng theo thánh Luca (năm C) cho biết -trước khi về trời- Đức Giêsu PS đã truyền cho các môn đệ làm chứng cho Ngài; rồi nhân danh Ngài mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân. Ngài cũng chúc bình an và hứa ban Thánh Thần cho các ông để các ông được tràn đầy niềm vui và hân hoan chu toàn sứ mạng.
Mầu nhiệm Chúa lên trời là một tín điều chúng ta vẫn tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Tôi tin …Ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên Trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha".
Vậy, lên trời là gì? Và việc Đức Giêsu lên trời có ý nghĩa gì với cuộc đời người Kitô hữu chúng ta?
Khi nói về việc Chúa Giêsu lên trời, nhiều người tưởng là Ngài bay vào không gian; rồi ở đâu đó giữa muôn vàn tinh tú! Cho nên, người ta kể rằng: sau khi từ không gian trở về, một nhà du hành vũ trụ đã tuyên bố: “không có Thiên Chúa”  vì ông đã lên tới trời rồi mà không gặp!
Vậy, trước hết, chúng ta cần hiểu việc Chúa "lên Trời" là một sự kiện diễn ra trước mắt các tông đồ (bài đọc I). Đồng thời, chúng ta cần đọc biến cố này trong ngôn ngữ thánh kinh: Đức Giêsu lên trời nghĩa là Ngài được ‘cất nhắc lên’ được ‘tôn vinh’; và cũng để khẳng định: Ngài là Đấng từ trời xuống; vậy sau khi đã hoàn tất sứ vụ, Ngài trở về trời với Chúa Cha (bài đọc II).
Hơn nữa, thiên đàng hay cõi trời của Thiên Chúa ở trong chiều kích khác với chiều kích không gian địa lý của chúng ta. Thật vậy, Thiên đàng là nơi Thiên Chúa ngự. Mà Thiên Chúa là tình yêu; cho nên, nơi nào có tình yêu, nơi đó là thiên đàng!
 
Sách tu đức có kể lại câu chuyện:
Một tu sĩ sống cuộc đời hạnh phúc và an vui trong bốn bức tường của Tu viện. Đời sống tu trì đã biến đổi cuộc đời và tâm hồn của ông trở nên tốt lành, đến nỗi mọi người đều gọi ông là ông thánh.
 Ngày nọ, đang lúc ông rửa chén, bỗng một Thiên thần hiện ra và nói: “Thiên Chúa sai ta đến để báo cho thầy biết là giờ thầy lìa đời đã đến”. Tu sĩ vẫn điềm nhiên vui vẻ trả lời: “Tạ ơn Chúa đã thương nghĩ đến tôi, nhưng như ngài thấy đó, tôi còn phải rửa hàng chồng chén dĩa để phục vụ cho kịp bữa cơm chiều của tu viện, xin ngài có thể hoãn lại sau khi tôi làm xong bổn phận rửa chén dĩa này không?” Nói xong, Thiên thần biến đi. Tu sĩ trở lại công việc một cách hăng say, hoàn tất rồi chờ mãi mà cũng không thấy thiên thần trở lại.
Bẵng đi một thời gian, trong lúc vị tu sĩ đang làm cỏ ngoài vườn, Thiên thần hiện ra. Như đoán trước ý nghĩ của Thiên thần, vị tu sĩ giơ tay chỉ mảnh đất trong vườn và nói: “Đây ngài xem, cỏ dại mọc đầy vườn, [Bề trên tổng quyền lại sắp về tu viện kinh lý!] ngài có thể hoãn lại cho đến khi tôi làm xong cỏ không?”. Cũng như lần trước, Thiên thần chỉ mỉm cười rồi biến mất.
Một ngày nọ, trong lúc vị tu sĩ đang chăm sóc các bệnh nhân, thì Thiên thần hiện ra; lần này vị tu sĩ không nói một lời, nhưng chỉ giơ tay chỉ vào các bệnh nhân đang kêu la đau đớn trên giường bệnh. Thiên thần biến đi không nói một lời nào.
Chiều đến, vị tu sĩ trở lại căn phòng nhỏ bé đơn sơ của mình, mãn nguyện vì đã xong bổn phận, ông cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin sai Thiên thần Chúa đến, con đã sẵn sàng theo Ngài về trời”. Lời cầu nguyện vừa dứt, Thiên thần Chúa xuất hiện; vị tu sĩ mừng rỡ: “Lần này, Thiên thần mang tôi đi, vì tôi đã sẵn sàng theo ngài về thiên quốc”. Thiên thần trìu mến nhìn vị tu sĩ và nói: “Này ông thánh sống ơi, những ngày tháng vừa qua, ông không nghĩ rằng ông đã ở thiên đàng rồi sao?”
Qua câu chuyện, tác giả sách tu đức không phủ nhận thiên đàng đời sau dành cho những ai chu toàn bổn phận và sống giới răn yêu thương nhưng muốn chúng ta hiểu và sống thực tại thiên đàng ngay tại trần thế.
Tuy nhiên, như các môn đệ Chúa năm xưa, nhiều Kitô Hữu cứ đăm đắm hướng về trời mà quên mất bổn phận dưới đất! (MV 43, 1b).
Vì vậy, sách TĐCV bài đọc thứ nhất cho thấy thiên sứ phải thức tỉnh các tông đồ: “Hỡi các ông người Galilê, thôi đừng đứng đó mà nhìn lên trời nữa!”. Thiên thần nhắc nhở các ông nhìn xuống đất để sống với thực tại; và nhất là để thực hiện sứ mạng mà Đức Giêsu -Thầy của các ông đã trao phó.
Như thế, sự kiện Chúa lên trời là khởi đầu cho sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội: từ đây, nhất là từ ngày lễ Ngũ Tuần, khi đã lãnh nhận tràn đầy Thánh Thần, các môn đệ hân hoan ra đi làm chứng về sự sống lại của Chúa Giêsu, và loan báo Tin Mừng cứu độ không chỉ ở Giêrusalem và cho người Do Thái mà thôi, mà còn ở khắp nơi, và cho mọi người.
 Đức Giêsu lên trời nhưng không rời xa chúng ta “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài vẫn hiện diện cùng chúng ta trong Lời Chúa, trong các bí tích, trong các thừa tác viên Chúa chọn, trong những người anh em quanh ta, nhất là trong những người nghèo khổ, bệnh tật. Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Chúa Cha không có nghĩa là Ngài đóng đô ở một chỗ nào đó trong không gian, trên các tầng trời. Ngài ở bất cứ nơi nào có tình hiệp nhất, yêu thương, chia sẻ.
 Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu Phục sinh, Chúa về trời là niềm hy vọng cho chúng con. Chúng con tin tưởng, sau những gian nan thử thách và cả cái chết ở đời này, đến ngày tận thế, thân xác chúng con sẽ được Chúa cho phục sinh để hưởng phúc vinh quang. Xin cho chúng con ý thức rằng: mừng lễ Chúa thăng thiên, chính là dịp để chúng con nhìn tới tương lai để định hướng sống cho hiện tại; hơn nữa, thay vì chỉ mải mê nhìn trời, xin cho chúng con biết cùng nhau xây dựng nước trời ngay đời này bằng đời sống yêu thương, dấn thân phục vụ. Đó là cách thức truyền giáo hữu hiệu và cũng là con đường đưa chúng con về quê trời khi chúng con hoàn tất cuộc đời dương thế. Amen.

 

LênTrời-297: CUỘC TRAO BAN

Anna Cỏ May
 

Mừng Chúa lên trời, cả trần hoan cất tiếng ca. Có lẽ Chúa Giêsu cũng rất vui, nhưng trước khi LênTrời-297

Mừng Chúa lên trời, cả trần hoan cất tiếng ca. Có lẽ Chúa Giêsu cũng rất vui, nhưng trước khi được rước về trời, Ngài đi thực hiện lời hứa với các môn đệ. Ngài đã hứa sẽ gặp các môn đệ ở Galilê. Ngài chỉ định cho các môn đệ đến đó chờ đợi Ngài.
          Các môn đệ đã thực hiện điều đó, các ông đến và chờ đợi Ngài. Chúa đến với họ như một người từ phía nào tới, chứ không phải từ trời xuống, khiến cho mấy môn đệ hoài nghi. Chắc hẳn, chúng ta sẽ thắc mắc tại sao mười một môn đệ là người thường ở gần Chúa, được nghe và thấy việc Ngài làm mà sao vẫn hoài nghi khi thấy Thầy. Có lẽ, trong số đó có người ở bên cạnh Chúa nhưng không để ý và không ở lại với Thầy nên Thầy có chút lạ thường thì liền hoài nghi.
          Khi thấy các môn đệ như vậy, Ngài tiến đến gần và nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”(Mt 28,18-20). Lúc này đây, Ngài tỏ mình ra cho các môn đệ biết Ngài là chủ vũ trụ. Và đây cũng không phải là lúc dạy dỗ nữa mà là sai các môn đệ ra đi lên đường làm nhân chứng cho Ngài ở trần gian. Những gì Chúa Cha trao cho Ngài thì nay Ngài trao lại cho các môn đệ. Ngài không còn ở thế gian nhưng các môn đệ vẫn tiếp tục thực hiện việc Ngài làm và đem tình yêu đến cho mọi người. Chúa Cha đã trao ban cho Chúa Giêsu quyền trên muôn loài vũ trụ. Ngài là Đấng trung gian, là con đường đến với Chúa Cha, là vị thẩm phán quyết định mọi sự và là Đấng công lý và hòa bình. Quyền năng ấy, Ngài ủy thác trao ban cho các môn đệ. Ngài kêu gọi các môn đệ: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, là đưa muôn dân đến bước đầu của niềm tin, của ơn cứu độ; “làm phép rửa nhân danh Chúa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, để khắc ghi cho họ ấn tín đức tin và là cánh cửa vào của Nước Trời; “dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”, vì có đức tin mà họ không thực hiện thì nào được ích gì. Chúa Giêsu trao quyền cho các môn đệ không có nghĩa là Ngài không còn ở bên các môn đệ nữa. Ngài vẫn ở cùng và ở mãi cho đến ngày tận thế. Ngài luôn đồng hành và gia tăng sức mạnh cho các môn đệ trên hành trình sứ mạng.
          Ngày nay, Hội Thánh tiếp nối sứ mạng của các môn đệ và chúng ta đang được mời gọi tham dự vào việc thờ phượng Thiên Chúa, loan báo Tin Mừng và phục vụ mọi người. Chúng ta hãy lên đường ra đi làm chứng cho Chúa trong niềm tin: “Chúa ở cùng chúng ta”. Chúng ta hãy vui mừng vì Ngài về trời chứng thực Ngài là con Thiên Chúa. Ngài đã thực hiện đúng và trọn vẹn theo ý Chúa Cha. Ngài cũng không ngừng chuyển cầu ý nguyện cho chúng ta. Chúng ta hãy tôn vinh, ca tụng Ngài mãi mãi qua việc thực thi ý Ngài.
          Lạy Chúa Giêsu, Ngài về trời nhưng không để chúng con sợ hãi, bơ vơ và mồ côi. Ngài đã trao tặng những quyền năng của Ngài cho chúng con. Xin cho chúng con biết đón nhận hồng ân Ngài trao, để mau mắn lên đường đem tình yêu đến cho mọi người. Amen.

 

LênTrời-298: ÁI MỘ NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI

Bông Hồng Nhỏ
 

Cuộc sống vốn dĩ không bình yên như ta mong đợi. Khi nhịp sống thường ngày bị đứt đoạn bởi LênTrời-298

những biến cố khiến ta không dễ vượt qua, ta chỉ mong cho qua khỏi cái tao đoạn khó khăn này. Những khó khăn cứ ập tới, khó khăn này chưa kịp đối mặt thì khó khăn khác đã đến như những đợt sóng vỗ liên hồi. Ta như chiếc thuyền không người lái, như cái nón không quai chòng chành trước gió.
Theo Thầy Giêsu, dù cuộc sống có lúc tưởng chừng như không thể vượt qua nhưng ta vẫn vững tin vào tình yêu Chúa. Bởi, Thầy chẳng bao giờ để chúng ta mồ côi.
Mới ngày nào, Thầy gọi các ông nơi biển hồ Galilê. Mối tình đầu ấy chắc hẳn vẫn còn khắc ghi trong tâm hồn bốn môn đệ đầu tiên. Thầy đã chọn và gọi các ông dù cho các ông chỉ là những con người yếu đuối, những ngư phủ ít học và suốt ngày chỉ biết bám biển mà sống. Hay dù chỉ là một Mátthêu tội lỗi bên bàn thu thuế… Tất cả các ông dù mỗi người có một quá khứ rất riêng nhưng chính Thầy đã chọn từng người và dành cho mỗi người một tình yêu không đổi dời.
Có mối tình nào đẹp hơn tình yêu Giêsu. Tình yêu ấy không dừng lại ở những điểm hẹn yêu thương nhưng tiến xa hơn thế, đẹp hơn thế nữa đó là: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 20). Chúa Giêsu hẹn các Tông đồ đến Galilê, không còn ở biển hồ sóng vỗ nhưng lên núi. Tất cả những gì Thầy nhận được nơi Chúa Cha, Thầy đã ban tặng cho các ông rồi. Thầy đã sống lại và hiện diện trước mặt các môn đệ. Mười một môn đệ cùng đi tới nơi đã hẹn. Khi thấy Thầy, các ông bái lạy Người nhưng có mấy ông vẫn hoài nghi. Tại sao vậy?
Phục sinh là một mầu nhiệm và bởi thế, dù đã được thấy Thầy tận mắt, được nghe lời Thầy nói nhưng các ông vẫn hoài nghi. Chỉ dùng lý trí làm sao chấp nhận nổi, nhưng khi đã được ơn đức tin và từ chính kinh nghiệm yêu Thầy, các ông mới có thể đón nhận được mầu nhiệm cao vời ấy. Có mấy ông còn hoài nghi bởi tình yêu các ông dành cho Thầy chưa đủ lớn nhưng không vì thế mà Thầy không yêu thương các ông. Thầy vẫn đến gần, ân cần trao ban lệnh truyền: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (x. Mt 28, 18- 20a). Thầy không nại vào những yếu đuối của chúng ta mà cất đi ơn thánh, nhưng đi từ những yếu đuối ấy, Thầy bày tỏ tình yêu nhưng không đến cùng. Thầy luôn bên cạnh chúng ta vì Thầy yêu chúng ta.  Chính trên ngọn núi ấy, Giêsu đã trở về cùng Chúa Cha. Người lên trời trước mắt các ông. Các ông đăm đăm hướng nhìn trời, lòng hoan hỉ và cảm tạ Thiên Chúa. Rồi một ngày, các ông cũng được chung phần với Thầy trên nhà Cha dấu yêu.
“Năm sự Mừng: Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lên trời.  Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.” Lời kinh Mân Côi nhắc nhở mỗi chúng ta hướng lòng về quê thiên đàng. Nơi ấy, quê hương vĩnh cửa dành cho những ai nhiệt tâm sống Lời Chúa. Chúa Giêsu đã đi dọn chỗ cho chúng ta. “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở.” (Ga 14, 2). Tin tưởng vào tình yêu Chúa, chúng ta hãy nỗ lực canh tân đời sống, sống chứng nhân Tin Mừng giữa những biến cố của cuộc đời. Ước chi mỗi người Kitô hữu chúng ta luôn ý thức và cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Sứ mạng rao giảng Tin Mừng vẫn thôi thúc mỗi chúng ta ra đi đến với muôn dân, mang con tim của tình yêu Chúa đến với muôn người.
Lạy Chúa Giêsu! Chúa đã lên trời nhưng Chúa vẫn ở mãi với chúng con. Đến với Bí tích Thánh Thể, chúng con được Chúa nâng đỡ và bổ sức thiêng. Xin cho chúng con biết chạy đến cùng Chúa để được Chúa yêu thương. Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi chúng con, dù cho chúng con yếu đuối và bất xứng. Xin Chúa đổi mới tâm hồn chúng con để chúng con biết hướng lòng về quê thiên đàng, ái mộ những sự trên trời và tránh khỏi cái nhìn hạn hẹp vì những phù vân chóng qua. Xin chúa thương ấp ủ chúng con trong bóng cánh của Ngài. Amen.

 

LênTrời-299: ÁI MỘ NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI-

“Thứ hai thì gẫm: Đức Chúa Giêsu Lên Trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”
 

Những sự ở trên trời là những sự gì thì chỉ có người ở trên trời mới biết. Hồng Phúc thay! Chúa Giêsu, LênTrời-299

Những sự ở trên trời là những sự gì thì chỉ có người ở trên trời mới biết. Hồng Phúc thay! Chúa Giêsu, người ở trên trời, xuống thế làm người, rao giảng cho con người trần gian biết có một cuộc sống mới, có một cuộc sống thiêng thánh, cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu… cuộc sống ấy ở trong Nước Trời, Nước Thiên Chúa. Để có thể tin được rằng: có một cuộc sống khác với cuộc sống trần gian nầy, và để có thể biết được chuyện ở trên trời, thì chỉ có con người khiêm cung chấp nhận và vâng phục mạc khải từ trời, rồi sống mạc khải ấy mới thấu hiểu được.
Chúa Lên Trời, Chúa Thăng Thiên là cách nói diễn tả hình ảnh không gian mà các Tông đồ chứng kiến (Cv 1,9-11). Thực ra, phải nói là Chúa Giêsu về với Chúa Cha, về với cuộc sống, với thế giới, nơi Ngài đã xuất phát để đi làm nhiệm vụ cứu thế… Sau khi sống lại Chúa Giêsu đã nói với bà Maria Madalena việc “về với Cha”,: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17).
Như vậy các biến cố tử nạn, Phục sinh và về cùng Chúa Cha đã nằm trong hoạch định ngàn đời của Thiên Chúa, trong đó, Lên Trời hay lên cùng Cha là đích điểm của Mầu Nhiệm Vượt Qua: Qua tử nạn, đến Phục sinh; qua Phục sinh ở trần gian, đến việc “Về Với Thiên Chúa Cha” trong đời sống Thiên Chúa vĩnh cữu. Và không chỉ về với Cha, mà còn tham dự vào quyền năng, uy quyền của Thiên Chúa Cha trong Nước Ngài. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô còn xác quyết uy quyền của Chúa Giêsu là vương quyền, là Vua Vũ Trụ: “Đến thời viên mãn, Thiên Chúa qui tụ mọi loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ga 1,10), và là Vua Lịch Sử Cứu độ: “Thiên Chúa đặt tất cả mọi sự dưới chân Đức Kitô và đặt người làm đầu toàn thể Hội Thánh” (Ga 1,22).
Lên trời là về cùng Chúa Cha và ái mộ những sự ở trên trời, chính là yêu mến, khát khao cho chính mình cũng được về với Thiên Cha trong vương quốc Chúa Giêsu. Để hiểu cho thấu mầu nhiệm vượt qua nơi Chúa Giêsu, và giải thích được như thế, chắc chắn người ấy đã kết hiệp với Chúa Giêsu cách chí thiết để sống mầu nhiệm vượt qua của chính mình: Được Thiên Chúa sinh ra trong đời, vượt qua sự ràng buộc, sự nô lệ của tội lỗi nhờ ơn tái sinh nơi giếng nước rửa tội; vượt qua những rào cản là những hấp dẫn của “những sự dưới đất”, đồng thời chấp nhận mất mát là tử nạn với Đức Kitô; vượt qua cuộc tử nạn hằng ngày để phục sinh tại thế nhờ cuộc sống siêu thoát và kết hiệp; và cuối cùng, chờ ngày vượt qua đời tạm nầy mà lên trời, mà về cùng Thiên Chúa Cha trong cuộc sống vĩnh cửu.
Thực tế là một thách đố to lớn đối với đời sống vượt qua của Kitô hữu công giáo, ở mọi thời, nhất là thời nầy, khi giá trị các sự ở dưới đất nầy đang nổi loạn đòi chiếm ưu thế trong đời sống các gia đình: tiện nghi vật chất thẩm định giá trị nhân bản nên phải đua đòi cho bằng chị, bằng em; người người khôn ra đang thụ hưởng những hiệu quả của một nền văn minh mà không cần nghĩ đến hậu quả thì ta dại gì mà phải khép mình trong lời mời gọi của Tin Mừng!
Buổi sáng thật tĩnh lặng, may ra nếu có, thì cũng chỉ mấy phút trong giờ kinh nguyện ngắn ngủi, sau đó là chuyện cơm áo gạo tiền làm cho cả ngày đời phải loay xoay toàn chuyện dưới đất. Thiết nghĩ, Chúa Giêsu biết rõ cái căn tính phàm phu tục tử trong mỗi con người, nên Ngài đã bàn giao công cuộc cứu thế vĩ đại của Ngài cho Chúa Thánh Thần, Đấng Bảo Trợ.
Tưởng là Chúa Thánh Thần không nói gì, làm gì, nhưng Ngài đang nói tất cả, kể cả đối với những người đang cố quên sự hiện diện của Ngài; Ngài đang làm tất cả, kể cả đối với những người tránh né sự hướng dẫn, chỉ đạo, hay sự can thiệp tài tình của Ngài. Ngài soi sáng cho chúng ta việc “phải làm”. Ngài không soi sáng cho chúng ta việc “thích làm”. Cho dù có đôi khi ta vẫn đọc kinh “cúi xin Chúa sáng soi” trước những công việc ta thích làm cho danh ta cả sáng, hoặc cho “những sự dưới đất” được thành công, thì Chúa Thánh thần khôn ngoan vẫn dẫn dắt chúng ta nhận ra khuôn mặt thật của sự dối trá trong lòng mình. Nhờ Ngài, mà thực tế thách đố kia không còn đáng lo ngại nữa, và đời sống tín hữu thật sự cảm nghiệm được ơn Ngài tác động-sáng soi hướng dẫn đời mình hướng về “những sự trên trời”, “ái mộ những sự trên trời”, chắc ăn hơn.
Và chỉ khi nào thực sự “ái mộ những sự ở trên trời”, thì có thể nói, chúng ta mới thực hiện nỗi lời di chúc của Chúa Giêsu : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,18-20)
Đây không phải là lời di chúc để thừa hưởng một quyền bính, nhưng là một chuyển giao đặc nhiệm quan trọng trong chương trình của Thiên Chúa Cha: qui tụ mọi loài dưới quyền thủ lảnh của Chúa Giêsu Kitô, để mọi loài chung hưởng Tình Yêu vô biên và ơn cứu chuộc vĩ đại hơn tội lỗi con người. Nhiệm vụ đặc biệt ấy không chỉ trao ban cho các tông đồ, mà còn cho tất cả chúng ta hôm nay: Giới thiệu Chúa Giêsu Kitô cho mọi người để họ đón nhận chính Ngài qua bí tích rửa tội và dạy họ tuân giữ mọi điều răn của Ngài để được về với nguồn cội yêu thương và hạnh phúc vĩnh cửu là Thiên Chúa. “Dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” đồng nghĩa với việc anh em tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền để họ thấy mà ngợi khen Cha ở trên trời, vì gương sáng là lời giảng dạy tốt nhất.
Thực vậy, thời đại nầy người ta không tin người rao giảng, người ta có thể tin người sống lời rao giảng của mình. Vì thế, đòi hỏi tinh thần thoát tục và gương sống “ái mộ những sự trên trời” đối với những chứng nhân trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Và không nên trách cứ ai, nếu họ dựa vào tiêu chuẩn “dính bén với các sự dưới đất” mà đánh giá cao thấp giá trị của người tông đồ Chúa hôm nay.
Có thể nói việc “dính bén với các sự dưới đất” của một chứng nhân gây nên việc phản tác dụng truyền giáo cách nguy hiểm, vì không những làm cho người ta không tin vào cuộc sống mới trong Nước Thiên Chúa, mà còn là cái cớ để người ta tin vào cuộc sống hiện tại này hạnh phúc hơn: cứ lao mình vào những chuyện dưới đất, như người rao giảng chuyện trên trời đã lao. Ôi thật nguy hiểm và thiệt hại cho công cuộc của Chúa Giêsu nếu chúng ta không sống tinh thần của Ngài trước khi loan báo Ngài cho mọi người.
Mừng Chúa Giêsu Lên Trời, một cơ hội cho mỗi tín hữu tự kiểm lại lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự, tự kiểm lại lòng khát khao với cuộc sống vĩnh cửu đời sau, tự kiểm lại mức độ dính bén với các sự dưới đất, và nhất là tự kiểm lại hiệu quả làm chứng cho Chúa Giêsu, cho Nước Thiên Chúa của mình trong cuộc đời.
Mẹ Maria chắc chắn là mẫu gương “ái mộ những sự trên trời” hơn cả và loài người chúng con. Mẹ cũng là mẫu gương “chứng nhân Chúa Kitô” thật sống động vì lòng Mẹ luôn hướng về Nước của Thiên Chúa. Xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con sống mầu nhiệm vượt qua của đời mình, nhờ kết hiệp với cuộc vượt qua của Chúa Giêsu, noi gương Mẹ chí thánh -cho chúng con xứng đáng hưởng hạnh phúc trong Vương Quốc của Chúa Giêsu, con chí ái của Mẹ- cho cuộc sống chúng con thực sự trở nên lời rao giảng Thiên Chúa cho mọi người. A-men.

 

LênTrời-300: LỄ CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

Lm Tôma Nguyễn Hoàng Phượng
 

Chúa Giêsu sống lại là một mầu nhiệm khó hiểu, khó tin. Chúa lên trời càng là mầu nhiệm khó khiểu, LênTrời-300

Chúa Giêsu sống lại là một mầu nhiệm khó hiểu, khó tin. Chúa lên trời càng là mầu nhiệm khó khiểu, khó tin hơn. Vì xưa nay chưa ai tự mình có khả năng đưa thân xác nặng nề bay bổng lên trời cao được. Nhưng sự gì con người làm không được, thì Thiên Chúa làm được. Đúng thế, cách đây gần 2000 năm, Chúa Giêsu đã dùng quyền năng mình bay bổng về trời.
Thánh kinh tả cảnh Chúa về trời như sau: Sau khi sống lại 40 đêm ngày, Ngài dẫn 11 tông đồ và 1 số đông tín hữu khác lên núi cao, ở đó Ngài phán một câu chứng tỏ Ngài đầy uy quyền: “Ta đã được mọi quyền trên trời dưới đất”.
            – Và trước khi Chúa về trời, Chúa Giêsu truyền lệnh cho các tông đồ tiếp tục công việc của Ngài ở trần gian: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, và làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
            – Ngài còn an ủi, khích lệ các tông đồ: “Thầy không để chúng con mồ côi. Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế”. Nói đoạn, Ngài từ từ bay bổng lên trời, cho tới khi mây che không còn thấy Ngài nữa. Mắt họ dán lên trên trời cao, như nuối tiếc, như ước mong. Họ cứ đứng ngẩn người, cho tới khi hai Thiên Thần hiện ra bảo họ: “Hỡi người xứ Galilêa, các người còn đứng nhìn trời làm chi?”. Lúc đó, họ mới hoàn hồn. Họ trở về nhà tiệc ly để cầu nguyện và chờ Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Nhưng tại sao Chúa về trời?
            – Chúa về trời, hay về thiêng đàng là nơi Chúa ngự, là nơi vĩnh phúc, là nơi các Thiên Thần và các thánh hưởng nhan Chúa.
Người tín hữu sống đạo là theo Chúa. Nhưng làm sao theo Chúa về thiên đàng?
            – Muốn được về thiên đàng với Chúa, chúng ta phải giữ giới răn Chúa: Một chàng thanh niên đến hỏi Chúa: “Làm sao để được sống đời đời?”. Chúa trả lời: “Hãy tuân giữ giới răn Chúa…giữ giới răn Chúa sẽ hạnh phúc thiên đàng”.
            – Muốn được về thiên đàng, ta phải theo Chúa: “Chúa Giêsu đã phán: “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Ai tin Thầy không đi trong tối tăm, không bước đi trong sai lầm, sẽ sống mãi ngàn năm”.
            – Muốn được vào thiên đàng, ta phải trung thành với Chúa: Chúa Giêsu đã từng dạy: “Ai bền đỗ đến cùng sẽ được ơn cứu độ”.
            Kẻ chạy đua trong vận động trường, muốn đoạt giải thưởng phải cố gắng từ đầu và “nước chót” càng phải cố gắng hơn. Thiên đàng cũng dành cho những kẻ cố gắng và cố gắng đến cùng.
            Trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài nói với các tông đồ: “Thầy đi trước để dọn chỗ cho chúng con”. Nhưng muốn dành được một chỗ trên nước trời, chúng ta phải tuân giữ giới răn Chúa, chúng ta phải đi theo Chúa, và phải trung thành với Chúa đến cùng.
            Lạy Con Một Chúa, Đấng cứu độ chúng con đã lên trời, xin cho chúng con sau này cũng được về trời với Chúa.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây