Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 301-350: Chúa Lên Trời

Thứ năm - 10/05/2018 10:20
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 301-350: Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 301-350: Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 301-350 Chúa Lên Trời
LênTrời-301: SUY NIỆM LỄ CHÚA THĂNG THIÊN. NĂM A.. 2
LênTrời-302: BAY VỀ TRỜI 5
LênTrời-303: HIỆP NHẤT TRONG TIN YÊU.. 6
LênTrời-304: BÀI GIẢNG THIẾU NHI LỄ CHÚA LÊN TRỜI 9
LênTrời-305: QUÊ TRỜI 13
LênTrời-306: THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC.. 15
LênTrời-307: TRÁCH NHIỆM LOAN BÁO TIN MỪNG.. 16
LênTrời-308: CHÚA PHỤC SINH LUÔN HIỆN DIỆN VÀ HOẠT ĐỘNG.. 19
LênTrời-309: VÀO ĐỜI ĐỂ VỀ TRỜI 21
LênTrời-310: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN.. 24
LênTrời-311: ĐIỂM HẸN YÊU THƯƠNG.. 27
LênTrời-312: GÓP PHẦN KIẾN TẠO THIÊN ĐƯỜNG ĐỜI SAU.. 29
LênTrời-313: MỘT KHỞI ĐẦU MỚI 37
LênTrời-314: HƯỚNG LÒNG VỀ THƯỢNG GIỚI 39
LênTrời-315: CHÚA LÊN TRỜI 41
LênTrời-316: CHÚA VỀ QUÊ.. 43
LênTrời-317: LÒNG THƯƠNG XÓT TUÔN TRÀO TỪ TRỜI CAO.. 45
LênTrời-318: THĂNG THIÊN – MỘT BIẾN CỐ LỊCH SỦ SIÊU VIỆT.. 48
LênTrời-319: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN_C.. 51
LênTrời-320: TỪ BỎ ĐAM MÊ ĐỂ ĐƯỢC LÊN TRỜI 53
LênTrời-321: ĐƯỜNG LÊN TRỜI 56
LênTrời-322: Nên một như trong Thiên Chúa. 58
LênTrời-323: HÃY NHÂN DANH NGƯỜI MÀ RAO GIẢNG”. 61
LênTrời-324: HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI 63
LênTrời-325: TRUYỀN THÔNG LỜI CHÚA.. 65
LênTrời-326: Lễ Chúa Thăng Thiên B: Việc đó xảy đến khi nào?. 67
LênTrời-327: Ra khơi – R. Veritas. 69
LênTrời-328: CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM VUI 71
LênTrời-329: HẠNH PHÚC KHI CHIA TAY.. 73
LênTrời-330: CHÚA VỀ TRỜI – CON VÀO ĐỜI 78
LênTrời-331: CHỐN QUÊ MÌNH Ở ĐÂU?. 80
LênTrời-332: TRAO QUYỀN.. 82
LênTrời-333: CÙNG LOAN TIN MỪNG VÓI CHÚA GIÊSU.. 83
LênTrời-334: THIÊN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU.. 85
LênTrời-335: HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI 86
LênTrời-336: CHÚA VỀ TRỜI VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI 88
LênTrời-337: KẾT THÚC LÀ KHỞI ĐẦU.. 91
LênTrời-338: Suy Niệm Lễ Thăng Thiên – Năm B.. 94
LênTrời-339: Để có Chúa cùng hoạt động. 97
LênTrời-340: Hãy rao giảng Tin Mừng – Lm. Đặng Quang Tiến. 100
LênTrời-341: Suy niệm của JKN.. 101
LênTrời-342: BÀI ĐỌC THÊM. 105
LênTrời-343: CHÚA VỀ TRỜI 106
LênTrời-344: Mệnh lệnh của Chúa Phục Sinh:Hãy đi loan báo Tin Mừng. 108
LênTrời-345: CHÚA VỀ TRỜI 110
LênTrời-346: SAO CÒN ĐỨNG NHÌN TRỜI?. 112
LênTrời-347: HAI NHÁNH CUỘC ĐỜI 114
LênTrời-348:  CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI 118
LênTrời-349: HỒNG ÂN THĂNG THIÊN.. 123
LênTrời-350: LỄ THĂNG THIÊN.. 128

 

nTrời-301: SUY NIỆM LỄ CHÚA THĂNG THIÊN. NĂM A

Lm. Anthony Trung Thành
 

Biến cố Đức Giêsu lên trời là một biến cố lịch sử. Vì biến cố này đã diễn ra trong một thời gian và không LênTrời-301

Biến cố Đức Giêsu lên trời là một biến cố lịch sử. Vì biến cố này đã diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định, có sự chứng kiến của nhiều người và đã được sách Cộng Vụ Tông Đồ và các sách Tin mừng ghi lại. Bài đọc I cho chúng ta biết, sau thời gian thi hành nhiệm vụ ở thế gian, Ngài chịu nạn chịu chết, sống lại và hiện ra với nhiều người. Hôm nay, trước mặt các Tông đồ, Ngài được cất nhắc lên trời (x. Cv 1, 1-11). Cũng trong khung cảnh đó, bài Tin mừng cho chúng ta biết, theo lời hẹn trước, Mười một Tông đồ đã đến Galilê gặp Đức Giêsu. Trước khi lên trời, Ngài trao cho các ông sứ mạng loan báo Tin mừng (x. Mt 28,18-20).
Qua biến cố trên và qua những lời nhắn nhủ của Đức Giêsu, chúng ta thử hỏi: Biến cố Đức Giêsu lên trời nói gì với mọi người chúng ta hôm nay?
Biến cố Đức Giêsu lên trời khẳng định cho chúng ta rằng: Có Thiên Đàng.
Có đời sau, có Thiên đàng là niềm tin căn bản của người Kitô chúng ta. Niềm tin này luôn được củng cố bởi Kinh Thánh.
Chính Đức Giêsu đã khẳng định: Ngài bởi thượng giới (x. Ga 8,23), Ngài tự trời mà xuống (x. Ga 6, 38). Ngài nói với Matha rằng: “Ta là sự sống và là sự sống lại. Ai tin vào Ta thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11, 25). Ngài nói với kẻ trộm lành rằng: “Tôi bảo thật anh: Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43); Ngài nói với các Tông đồ: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”(Ga 14,2-3). Ngài khuyên nhủ mọi người rằng: “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không đào ngạch và lấy đi được” (Mt 6, 19-20); “Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12).
Đức Giêsu còn kể nhiều dụ ngôn chứng minh cho chúng ta về sự hiện diện của Thiên đàng: Trong dụ ngôn ông nhà giàu và anh La-da-rô nghèo khó cho chúng ta biết: ông La-da-rô chết và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham (x. Lc 16, 18 – 31). Trong dụ ngôn những nén bạc: người đầy tớ tài giỏi và trung thành được vào hưởng niềm vui của chủ anh (Mt 25,21). Trong bài Tin mừng nói về ngày phán xét chung (x. Mt 25, 41- 45) cũng cho chúng ta biết về phần thưởng của kẻ lành là được “thừa hưởng Vương Quốc đã dọn sẵn từ thuở tạo thiên lập địa”…
Trong bài đọc II hôm nay, thánh Phaolô cho chúng ta biết: Đức Kitô đã sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và được làm chúa muôn loài muôn vật: “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội thánh, mà Hội thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1,22-23). Ngài còn nói: “Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất là chiếc lều này bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1).
Tóm lại, tin vào sự sống lại, tin vào Thiên đàng là đức tin căn bản mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy.” Và, biến cố Đức Giêsu lên trời một lẫn nữa củng cố đức tin của chúng ta.
Biến cố Đức Giêsu lên trời giúp chúng ta sống niềm hy vọng sẽ được lên Thiên Đàng
Thiên Chúa giàu lòng thương xót muốn cho hết thảy mọi người được lên Thiên đàng. Bởi vì “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Nhưng, Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của con người. Vì vậy, để được lên Thiên đàng, xin được nêu lên một số cách thế mà Đức Giêsu mời gọi chúng ta thực hiện sau đây: Đó là những kẻ tin và lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy trong Chúa Thánh Thần. Đức Giêsu đã trả lời với ông Nicôđêmô rằng: “Tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh lại bởi ơn trên” (Ga 3,3); Đó là những người đi theo con đường thơ ấu thiêng liêng của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Nghĩa là họ trở nên như trẻ nhỏ, vì nước trời là của những ai giống như chúng (x. Mt 19,14); Đó là những ai thực hiện tám mối phúc thật (x. Mt 5,1-12), chẳng hạn như: Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ; Đó là những người tình nguyện sống khiết tịnh vì Nước Trời như các linh muc, tu sĩ (x. Mt 19,12) và những người từ bỏ mọi sự trần gian vì danh Chúa (x. Mt 19, 27-29); Đó là những người tội lỗi biết ăn năn hối cải trở về với Chúa (x. Mt 21,31-32), như người trộm lành (x. Lc 23,39-43), như Augustinô, như Maria Madalêna…; Đó là những người biết làm việc từ thiện, bác ái (x. Mt 6, 20; Mt 25,31-46); Đó còn là những người biết dọn mình xứng đáng để ăn uống Mình và Máu Thánh Chúa, vì “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời”(Ga 6,54)…
Tóm lại, ai cũng có thể được lên Thiên đàng. Nhưng để được lên Thiên đàng cần thực hiện những điều Đức Giêsu chỉ cho như vừa nêu trên, và duy trì tình trạng đó, đặc biệt trong giờ kết thúc cuộc đời này. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo nói rất rõ rằng: “Những ai chết trong ân sủng và tình bằng hữu của Thiên Chúa và được thanh tẩy hoàn toàn sẽ sống đời đời với Chúa Kitô. Họ đời đời giống Thiên Chúa, vì họ ‘nhìn thấy Ngài’ mặt đối mặt” (Số 1023); “Những ai chết trong ân sủng và tình bằng hữu của Thiên Chúa và được thanh tẩy không trọn vẹn, dù không được chắc chắn sự cứu rỗi đời đời, phải trải qua sự thanh tẩy sau khi chết, cũng sẽ đạt được sự thánh khiết cần thiết để bước vào sự vui thoả của Thiên Chúa” (Số 1054).
Biến cố Đức Giêsu lên trời mời gọi chúng ta thực thi bổn phận loan báo Tin mừng.
Mẹ Têrêxa Calcutta kể lại rằng: Trong những ngày đầu khi mới khởi sự làm việc cho những người cùng khổ nhất trong vùng ngoại ô, tôi bị sốt liệt giường. Trong cơn mê sảng, tôi bỗng thấy mình được đến trình diện trước mặt thánh Phêrô, người giữ cửa Thiên Ðàng. Nhưng Thánh Phêrô chận lại không cho tôi vào Thiên Ðàng. Ngài nói như sau: “Không thể để cho một người thuộc khu ổ chuột được vào Thiên Ðàng. Thiên Ðàng không có nơi cho người cùng khổ.”
Tôi mới tức giận nói với Ngài như sau: “Thế ư? Vậy thì con sẽ làm mọi cách để làm cho Thiên Ðàng đầy dẫy dân cư của các khu ổ chuột và lúc đó, Ngài bị bắt buộc sẽ để cho con vào Thiên Ðàng.”
Sau giấc mơ ấy, biết bao nhiêu người cùng khổ, cô đơn đã được chăm sóc và chết êm ái trong vòng tay yêu thương của Mẹ Têrêxa Calcutta và các nữ tu của Mẹ. Thế rồi, cùng đi với Mẹ Têrêxa lên Thiên Đàng là một đội quân đông đảo, họ là những người cùng khổ, cô đơn, những người bị bỏ rơi bên lề xã  hội. Thật đúng như ai đó đã nói: “Không ai lên thiên đàng một mình.” Đó là bài học cho tất cả mọi người chúng ta hôm nay. Để lên Thiên đàng, không phải chỉ lo cho chính mình mà còn phải giúp cho người khác nữa, bằng việc chu toàn bổn phận truyền giáo. Bổn phận đó đã được Đức Giêsu đề cập đến trong đoạn Tin mừng hôm nay: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.”(Mt 28,19).
Nhưng phải loan báo Tin mừng như thế nào? Chúng ta có thể loan báo Tin mừng bằng việc rao giảng, rao giảng lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện (x. 2Tm 4,2), để có thể nói được như Thánh Phaolô: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”(1Cr 9,16). Chúng ta có thể loan báo Tin mừng bằng việc cầu nguyện, hy sinh như thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã làm. Đặc biệt, chúng ta có thể loan báo Tin mừng bằng một đời sống thấm nhuần Giáo huấn của Đức Giêsu trong gia đình, trong giáo xứ và ngoài xã hội. Đối với gia đình: vợ chồng luôn sống đúng với những lời cam kết trong Bí tích Hôn Phối bằng cách biết yêu thương chung thủy, giúp đỡ nhau phần hồn phần xác; cha mẹ biết tôn trọng sự sống, sinh sản và giáo dục con cái theo đức tin Công giáo; con cái kính trọng, vâng lời, giúp đỡ cha mẹ, ông bà. Tất cả mọi thành viên trong gia đình biết siêng năng cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích. Đối với giáo xứ: các thành viên luôn biết chu toàn những bổn phận mà Giáo xứ đề ra như tham gia các sinh hoạt chung của giáo xứ, đóng góp công của xây dựng giáo xứ, sống tình liên đới với mọi người xung quanh. Đối với xã hội: hãy luôn ý thức sống tinh thần truyền giáo nơi mỗi môi trường sống của mình bằng đời sống công bằng, bác ái, yêu thương.
Ước mong rằng, nhờ lời rao giảng, nhờ lời cầu nguyện và đặc biệt nhờ đời sống chứng tá của chúng ta nhiều người sẽ biết Chúa, biết tìm đến với Giáo hội để biết con đường tới Thiên đàng.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã lên trời và sẽ trở lại đón chúng con. Xin cho chúng con luôn xác tín mạnh mẽ  vào sự sống đời sau, biết sống niềm hy vọng và thực hiện những điều Chúa chỉ cho để được lên Thiên đàng. Đồng thời, xin cho mỗi chúng con luôn biết chu toàn bổn phận loan báo Tin mừng. Amen.

 

nTrời-302: BAY VỀ TRỜI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan
 

Thưở còn thơ, những chiều bên ruộng lúa, bạn bè chúng tôi thường hay rủ nhau đi thả diều ở những cánh LênTrời-302

Thưở còn thơ, những chiều bên ruộng lúa, bạn bè chúng tôi thường hay rủ nhau đi thả diều ở những cánh đồng.
Những ngày hồn nhiên tươi vui và trong sáng của tuổi thơ thường hay mơ về những ngày hạnh phúc.
Cả những hạnh phúc đơn sơ thật thà của những đứa trẻ đói ăn thường xuyên trong những năm mất mùa,  đói kém.
Những khuôn mặt đen nhẻm, chân tay gầy guộc, bám đầy bụi đất trên áo quần. Mỗi đứa một chiếc diều làm bằng tre và vài tờ báo cũ. Thả những chiếc diều trên cao, những đứa trẻ thường rủ nhau gửi thư cho bầu trời, gửi những ước mơ theo đường chỉ.
Những lá thư trong đó gửi niềm mơ ước, gửi những ngày đói rách được ăn no, được hạnh phúc.
Lớn lên, chúng tôi nhận biết rằng những lá thư gửi về trời đâu thể bay cao đến tận cõi trời, không thể đến tay người nhận.
Không còn thả diều để chuyển thư, chúng tôi rủ nhau làm những chiếc đèn trời. Đèn trời được làm bằng giấy mỏng, có đèn đặt dưới theo nguyên tắc như khinh khí cầu. Chiếc đèn trời vừa sáng lung linh bởi ánh đèn vừa hiện rõ những lời cầu nguyện dán trên thành của đèn giấy.
Mỗi khi thắp đèn chuẩn bị thả là mỗi lần thinh lặng, thời gian tĩnh lại để cầu nguyện, để ký thác tâm tư. Những ước nguyện lại được bay cao, mỗi lần nhìn theo đèn trời được thả không lần nào tránh khỏi cảm xúc bâng khuâng, thương nhớ, ước vọng, đôi khi cảm xúc dâng trào có đứa còn rưng rưng ngấn lệ. Không biết đèn trời bay cao bao nhiêu và đi xa chừng nào, cứ trông mắt nhìn cho đến khi không còn thấy đèn mình trên bầu trời. Lúc ấy, chúng tôi cứ lặng lẽ, mỗi người một tâm tư ra về, lòng cứ quẩn quanh với chiếc đèn vừa thả lên.
Hôm nay, lại nghe từ sách Tông Đồ công vụ kể lại việc Chúa về trời, lòng lại bâng khuâng nhớ tới những kỷ niệm đã qua, nhưng rồi lại chợt tỉnh, khi được nhắc: “Hỡi người Galilê, sao còn đứng đó trông trời làm chi?”.
Chúa đã về trời, nhưng Chúa vẫn còn dưới thế, bởi trời đã một lần nhập thế nên trời vẫn mãi ở gấn người. Sao còn đứng đó nhìn trời, khi Chúa đang bên cạnh tôi, cùng đồng hành với tôi, Người vẫn cùng tôi chia ngọt bùi cay đắng, Người vẫn bên tôi ngay cả khi tôi không ý thức về sự hiện diện của Người. Người ở bên tôi! Gần hơn tôi tưởng và đầy tình thương mến hơn tôi nghĩ. Người yêu thương tôi.
Bạn thân mến! Cuộc đời mỗi chúng ta đều có những ước mơ, có những ước mơ dang dở, những mơ ước không thành, những ước mơ đã lỡ một thời… Chúng ta gửi về trời cao bằng nhiều cách, nhưng có cách thông thường nhất lại thường hay quên. Cầu nguyện cùng Giêsu, Người là Đấng từ Trời xuống, đã về trời và vẫn ở với con người, Người muốn yêu thương bạn.

 

nTrời-303: HIỆP NHẤT TRONG TIN YÊU

JM. Lam Thy
 

Suy niệm Lời Chúa Chúa nhật VII/PS-A, nếu chỉ đọc bài Tin Mừng (Mt 28, 16-20) thì không thấy LênTrời-303

Suy niệm Lời Chúa Chúa nhật VII/PS-A, nếu chỉ đọc bài Tin Mừng (Mt 28, 16-20) thì không thấy tác giả trình thuật biến cố thăng thiên, mà chỉ trình thuật Lời Đức Giê-su sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng. Để được rõ hơn phải suy niệm bài đọc 1 (Cv 1, 1-11) và bài đọc 2 (Ep 1, 17-23). Bài đọc 1 trích dẫn Lời tựa sách Công vụ Tông đồ (Cv 1, 1-5) và biến cố Thăng thiên (Cv 1, 6-11). Đặt tâm trạng mình vào tâm trạng các Tông đồ cứ “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi”, kẻ viết bài này bỗng băn khoăn tự hỏi “Trời ở đâu?” Chợt nhớ đến một truyện cổ (Truyện “MẶT TRỜI XA GẦN” trong Cổ Học Tinh Hoa – Quyển thượng). Truyện kể rằng:
Một hôm Đức Khổng Tử ra chơi ngoài đồng, thấy 2 đứa trẻ cãi nhau, hỏi tại sao, thì 1 đứa nói rằng: “Tôi, thì tôi cho mặt trời lúc mới mọc ở gần ta hơn, và buổi trưa ở xa ta hơn”. Nó lý luận: “Mặt trời lúc mới mọc to như cái bánh xe, đến giữa trưa nhỏ như cái bát ăn, thì chẳng phải xa ta mới nhỏ, gần ta mới to là gì?” Còn một đứa cãi: “Tôi, thì tôi cho mặt trời lúc mới mọc ở xa ta hơn, và buổi trưa ở gần ta hơn”. Nó lý luận: “Lúc mặt trời mới mọc thì mát mẻ, đến giữa trưa thì nóng nực, đó chẳng phải gần ta mới nóng, xa ta mới mát là gì?” Đức Khổng Tử nghe nói không giải quyết được ra làm sao. Hai đứa bé cười bảo: “Thế thì cho ông là người đa tri thế nào được” (Liệt Tử). Một nhà thông thái bậc thầy như Khổng Tử mà còn “bó tay.chấm.com” đến nỗi bị trẻ chê không phải là người biết nhiều (đa tri), huống hồ là bàn dân thiên hạ bình thường!
Chính vì thế, Thiên Chúa mới phải ”dùng sự bất toàn của con người để công bố Lời Toàn năng, dùng miệng lưỡi nhơ uế của con người để nói Lời Chí thánh”. Nói cách khác, với sự bất toàn của con người, nếu không được vén tấm màn che bí mật ra thì mãi mãi vẫn ở trong u tối, không thể hiểu được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm. Không hiểu biết thì làm sao mà mộ mến, tin yêu? “Vô tri bất mộ” là điều tất nhiên thôi. Vì thế, Thiên Chúa phải mạc khải (vén tấm màn lên) để con người hiểu rõ, mà muốn mạc khải thì phải làm sao để con người nhìn thấy tận mắt họ mới tin (“Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng.” (1Sm 16, 7)
Mấu chốt vấn đề chính ở điểm này. Vâng, hiện tượng “Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.” (Mc 16, 19) đã được diễn ra rất cụ thể trước mắt tất cả mọi người hiện diện, cũng chỉ cốt để họ tin rằng Đức Giê-su đã chết, đã sống lại và lên trời. Rõ ràng Thiên Chúa thương yêu loài người như con cái, Người luôn luôn muốn đến với con cái để thể hiện tỉnh yêu vô bờ bến đó. Khốn nỗi loài người lại bất toàn, u mê tăm tối, không hiểu ra được ý nghĩa cao quý vô song đó. Vì thế, tấm màn che phủ bí mật cần phải được vén lên, được mở ra (mạc khải). Quả thật “mạc khải là con đường Thiên Chúa đế#7871;n với con người”, nên chi con người cần phải đáp trả tình yêu vô lượng đó, mà cách đáp trả vẹn toàn nhất chính là niềm tin, là đức tin vậy. Vâng, “Đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa” (Thánh Au-gus-ti-nô).
Còn một điểm nữa khi suy niệm bài Tin Mừng hôm nay khiến phải lưu tâm. Đó là trong khi các thánh sử đều tường thuật sơ qua việc Chúa lên trời, thì chỉ có thánh Lu-ca trong sách Tông Đồ Công Vụ có tường thuật thêm một chi tiết rất đáng để suy niệm, đó là “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1, 9-11).
Các Tông đồ đã được “thực mục sở thị” mầu nhiệm thăng thiên của Thầy mình, cũng tức là đã được củng cố đức tin vững vàng về mầu nhiệm Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, xuống thế làm người, chịu khổ hình thập giá vì tội lỗi loài người, đã sống lại và thật sự lên trời vinh hiển. Những việc làm, những Lời dạy của Thầy đã là hiện thực 100%. Vậy thì còn “đăm đăm nhìn theo bóng dáng Thầy” làm chi nữa, bởi chính Thầy đã dạy “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 20). Lời thiên sứ “Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” cũng đã được Thầy nhắn nhủ từ trước: “Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 2-3). Người còn nói rất rõ chính Người sẽ đến: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người.” (Mt 25, 31).
Biến cố Chúa lên trời chỉ là một cách Thiên Chúa mạc khải cho con người dễ hiểu mà thôi. Còn thực chất trời không phải là một không gian cố định nào và kể từ khi Chúa phục sinh thì Người không còn bị giới hạn bởi thân xác phàm tục nữa, mà là cùng lúc Người vẫn kết hợp mật thiết với Ngôi Cha và Ngôi Ba, đồng thời Người còn ở khắp mọi nơi “cả trên trời, dưới đất và trong nơi âm phủ nữa”. Như vậy là đã rõ, trời không phải là ở chỗ này hay chỗ kia, ở trên cao hay dưới thấp, mà là ở khắp mọi nơi. Chúng ta vẫn thường nói khi con người sống thánh thiện là đã nên thánh giữa đời, lên thiên đàng ngay ở trần gian này. Và quả thật chỉ có như thế thì mới có “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20) được.
Vấn đề quan trọng không phải là cứ đăm đăm nhìn theo bóng dáng Thầy, để mà tiếc nuối, hoặc để mà thắc mắc xem trời ở đâu và Thầy lên trời sẽ cư ngụ chỗ nào (kiểu như những con người ở thế kỷ XXI này thắc mắc); mà là hãy nhớ lại lời Thầy đã truyền: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Mt 28, 19). Vì thế, nên “Các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.” (Mc 16, 20). Sở dĩ các Tông đồ tiên khởi làm được như vậy, chính là nhờ các ngài đã có một lòng tin sắt đá vào Thầy của mình, bởi “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.” (Mc 16, 17-18).
Có thể kết luận, khi Thiên Chúa đến với con người bằng con đường mạc khải, thì tại sao con người lại không đến với Thiên Chúa bằng con đường đức tin? Vâng, chính đức tin là con đường giúp con người tìm gặp Thiên Chúa để khám phá ra một số ‘con đường giúp nhận biết Người. Những con đường này còn được gọi là “bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa”, không theo nghịa bằng chứng khoa học tự nhiên, nhưng theo nghĩa những “luận chứng đồng quy và có sức thuyết phục”, giúp con người biết chắc có Thiên Chúa.” (Giáo lý HTCG, điều 31). Đồng thời với việc tin và hành động, người Ki-tô hữu còn phải sống chứng tá bằng cách sống cụ thể trong tin yêu và hiệp nhất với anh em trong Chúa Ki-tô Phục Sinh. Ước được như vậy.
Ôi! Lạy Chúa, xin cho con biết sống đức tin của mình một cách chân thực. Vì quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng đức tin của mình thật hùng hồn trước mặt mọi người, nhưng đời sống con lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu, thậm chí có nhiều khi con còn hoài nghi cả chính mình về một niềm tin con đã chọn cho đời mình! Vậy mà con lại luôn miệng chia sẻ niềm tin ấy cho mọi người, khiến người nghe cảm thấy những lời con nói chỉ là những sáo ngữ trên môi miệng, những lời giả dối… Thật chẳng khác “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm.” (Mt 23, ). Ôi! Lạy Chúa! Cúi xin Chúa giúp con thật sự sống những điều con tin, và rao giảng những điều con sống. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.

 

nTrời-304: BÀI GIẢNG THIẾU NHI LỄ CHÚA LÊN TRỜI

Thiếu nhi chúng con yêu quí.
 

 Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ gì nào chúng con?  - Dạ thưa lễ Thăng Thiên. Hay còn LênTrời-304

Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ gì nào chúng con?
 - Dạ thưa lễ Thăng Thiên. Hay còn gọi là lễ Chúa Giêsu Lên Trời.
 
  • Việc lên trời hay thăng thiên của Chúa phải được hiểu như thế nào?
  •  
 1. Chắc chắn chúng ta không được hiểu theo nghĩa hoàn toàn vật chất.
 Chúng con nghe cha kể cho chúng con câu chuyện này.
 Chuyện xảy ra cách đây cũng đã khá lâu: ngày 5-9-1961. Chuyện xảy ra tại nước Nga thời Cộng Sản trước kia. Chuyện kể rằng sau khi Nga sô đã đưa được người đầu tiên lên không gian, trong một cuộc phỏng vấn, Tổng Bí thư Krouchev của Nga lúc đó đã nói với ký giả của tờ New York Time một tờ báo nổi tiếng của Mỹ rằng: " Để điều tra trên trời có Thiên đàng thật như người ta nói hay không, chúng tôi đã gửi một thám tử lên không trung: Youri Gararine. Anh đã đi vòng quanh quả địa cầu mà chỉ trông thấy những bóng đen dầy đặc, không có chi giống như thiên đàng cả. Sau đó chúng tôi đã suy nghĩ và chúng tôi lại gửi một thám tử khác lên: German Titov. Chúng tôi đã bảo anh rằng: "Hãy bay lâu hơn một chút nữa. Có lẽ Gagarine chưa thấy Thiên đàng vì chàng chỉ mới bay có một tiếng rưỡi thôi. Vậy chuyến này anh hãy nhìn cho kỹ"
 Titov đã trẩy đi, rồi trở về và anh xác nhận lời tuyên bố của Gagarine là sự thật: "Hư vô! Chỉ có Hư vô!"
 Rồi Krouchev kết luận: "Cho nên người cộng sản chúng tôi không tin có đời sau"
 Đó chúng con thấy. Đấy là cái nhìn của một người cộng sản, một cái nhìn hoàn toàn vật chất duy vật. Đúng hay không thì chúng ta không cần phải xét những chắc chắn đó không phải là cái nhìn của chúng ta.
 Chúng con biết rằng tín điều chúng ta tuyên xưng hôm nay đã được các tông đồ truyền lại, với mục đích làm cho chúng ta tin vào Đức Giêsu Kitô: “Người lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, triều đại Người sẽ vô cùng vô tận”.
 
2. Vậy thì chúng ta phải hiểu việc Chúa lên trời hay Thăng Thiên như thế nào?
 Cha xin mượn sách Giáo lý chung để trả lời cho chúng con.
 Sách Giáo Lý chung diễn tả việc Chúa lên trời bằng nhiều gợi ý:. Chúa Giêsu Kitô, là Đầu của Hội Thánh, đã đi trước chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha, để chúng ta, là chi thể của Thân Thể Người, sống trong niềm hy vọng một ngày kia sẽ được vĩnh viễn ở với Người.(666)
 ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em" (Ga 20,17).
 Chỉ có Đấng “từ Chúa Cha mà đến” mới có thể “trở về cùng Chúa Cha”: đó là Đức Kitô. “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Nhân loại, với sức tự nhiên của mình, không thể vào được “Nhà Cha”, không thể đạt tới sự sống và sự vinh phúc của Thiên Chúa. Chỉ có Đức Kitô mới có thể mở lối cho con người tiến vào: “Người lên trời không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Đầu và là Thủ lãnh của chúng con đã đến trước”(661).
 Như vậy việc thăng thiên chỉ là sự chia tay vắng mặt với con người các môn đệ. Từ nay các ngài không thể nhìn Chúa Giêsu bằng mắt, bắt bằng tay. Nhưng Thăng Thiên không phải là Chúa biến luôn. Lý do là vì ngay trước khi về trời Chúa Giêsu đã nói hết sức rõ rệt với các tông đồ: "Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế".
 
Chúa ở như thế nào?
 Chắc không phải là như trước dây. Trước Chúa đã ở giữa các môn đệ của Ngài. Suốt ba năm trời như thế. Chúa có mặt, gần gũi, xương thịt, đến nỗi tông đồ Gioan đã phải nói lên: "Chúng tôi đã sờ thấy Ngôi Lời hằng sống". Phêrô cũng phải xác nhận trước cộng đoàn những ng Do thái: "Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Người". Sự có mặt như thế quả là rất cụ thể. Lịch sử cũng đã xác nhận. Đây không còn phải là một vấn đề phải tranh cãi.
 Những với sự việc lên trời hôm nay, chúng ta thấy rõ, sự có mặt cụ thể như thế không còn hay nói đúng hơn: không cần nữa.
 Rõ ràng với việc được tôn vinh trong biến cố lên trời hôm nay Chúa đã đổi cách thức có mặt của Ngài: Đổi từ hữu hình sang vô hình. Đổi từ cuộc sống xác thịt sang cuộc sống thần linh, đổi để Người có thể có mặt rộng lớn hơn, phổ quát hơn. Cha Teilhard de Chardin gọi sự có mặt này là sự có mặt tàn lan, tràn lan khắp địa cầu.
 Chắc chắn lúc đầu các môn đệ chưa có thể chấp nhận được điều đó. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã phải để một thời gian tương đối dài: 40 ngày sau Phục Sinh để tập cho các môn đệ làm quen với sự có mặt đó bằng những lần hiện ra với các ông, cá nhân cũng như với tập thể để rồi sau đó các ngài dám sống cuộc sống chứng nhân một cách triệt để hơn, mạnh dạn hơn, bất chấp những thách đố, bắt bớ và kể cả sự chết vì có Chúa luôn ở với các ngài.
 Vâng! Nhờ có Chúa ở cùng mà cuộc sống của các tông đồ sau đó đã hoàn toàn đổi mới. Rồi cộng thêm với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các ngài đã trở thành những chứng nhân không biết mệt mỏi trên con đường rao giảng và làm chứng. Kết quả các ngài để lại đã làm cho Voltaire một trong những nhà văn hào lớn của nhân loại đã phải ghen tức mà nói lên: "Ông Giêsu với 13 môn đệ của mình đã thay đổi cả bộ mặt của thế giới".
 
3. Bây giờ đến lượt chúng ta.
 Đây là lời của thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Philípphê: "Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người.(Phil 3,20-21)
 Cha kể cho chúng con câu chuyện này:
 Ai cũng biết đền thờ Thánh Phêrô ở Roma là một trong 8 kỳ công lớn của Thế giới. Mỗi dịp có năm thánh, các tin hữu ở khắp nơi hành hương về nơi đây rất đông. Có lúc con số lên đến cả 3.000.000 người. Trong ngôi đền thờ này có một nhà nguyện nhỏ nhưng rất đẹp. Cha đã có lần được vào kính viếng ngôi Nhà nguyện này: Đó là nhà nguyện Sixtina.
 Đây là Nhà nguyện ở trong nội thành Vatican. Nhà nguyện này đã được Đức giáo hoàng Sixto thứ 4 cho xây cất vào cuối thế kỷ thứ 15. Đây không những là nơi các vị hồng y tụ tập để bầu giáo hoàng hay còn là nơi để tổ chức những buổi họp quan trọng có tính cách thượng đỉnh khác, mà Nhà nguyện Sixtina còn là một bảo tàng viện với những tác phẩm nghệ thuật bất hủ, nhất là những bức bích họa của Michel Angelo.
 Bất cứ du khách nào đến Roma cũng tìm đủ mọi cách để được một lần chiêm ngắm các bức tranh được vẽ trên tường và trên trần nhà này. Người thưởng lãm không những chỉ ngắm nghía dưới khía cạnh lịch sử, nghệ thuật, văn hóa, nhưng còn để hồn hòa nhập vào niềm tin sâu sắc của nhà nghệ sĩ. Thật thế, tất cả những bức tranh mà Michel Angelo đã thực hiện trạng nhà nguyện Sixtina đều được cảm hứng từ Kinh thánh.
 Nhà danh họa của chúng ta đã phải nằm ngửa trên một giàn gỗ hướng mặt về trần bảng ròng rã không biết bao nhiêu năm trời. Nóng lòng chờ đợi các tác phẩm của mình, ngày kia, đức Sixto đã to tiếng hỏi vọng lên từ dưới đất:
 - Ông Michel Angelo, chừng nào ông mới hoàn thành công việc đây?
 Từ trên giàn gỗ, nhà danh họa đáp lại:
 - Chừng nào còn có thể!
 Vị giáo hoàng đường như mất hết kiên nhẫn:
 - Thế ông có biết là ông đã bắt đầu mấy năm rồi chưa? Thế mà tôi vẫn chưa thấy gì hết..."
 Một cách điềm tĩnh, Michel Angelo trả lời:
 - Thưa Đức thánh cha, con không làm việc cho đời tạm này, mà cho đời sau..."
 Chúng con yêu quí,
 Mọi sự trên cõi đời này rồi sẽ qua đi hết. Chẳng có chi tồn tại vĩnh viễn. Hãy nhớ lời thánh Phaolô căn dặn và hãy làm mọi việc với mục đích cuối cùng cuộc đời của mình là Nha Cha ở trên trời. Amen.
Lm Giuse Đinh Tất Quý

 

nTrời-305: QUÊ TRỜI

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, như chính Người đã khẳng định: “Phần con, con LênTrời-305

Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, như chính Người đã khẳng định: “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã trao cho con” (Ga 17,4). Và, như người lính sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về với ngành nguyệt quế chiến thắng, Đức Giêsu được cất lên trời trong vinh quang và giữa tiếng muôn thiên thần tung hô chúc tụng.”Được cất lên”, đó là kiểu nói của Kinh Thánh. Độc giả Do Thái dễ dàng liên tưởng đến trường hợp của ngôn sứ Elia và ông Enốc trong Cựu ước. Hai vị này đã được Chúa cất lên không trung, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ ngôn sứ.
Việc Chúa về trời trước hết diễn tả vinh quang chiến thắng. Qua sự phục sinh, Chúa Giêsu đã chiến thắng tử thần. Người cũng chiến thắng những cám dỗ của thế gian nhằm lôi kéo Người từ bỏ thực thi ý định của Chúa Cha. Chúa Giêsu về trời, đem theo những dấu tích của cuộc khổ nạn (dấu đinh), như bằng chứng của sự hy sinh tự hiến để thánh ý Chúa Cha được nên trọn.
Việc Chúa Giêsu về trời đánh dấu sự hoàn tất của công trình cứu độ được thực hiện qua biến cố thập giá. Tuy vậy, sự hoàn tất này lại mở ra một giai đoạn mới trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Lịch sử cứu độ đã sang một trang mới kể từ biến cố phục sinh. Nhận được lệnh truyền của Chúa, các môn đệ đã hân hoan ra đi thi hành sứ vụ. Đây là một cuộc lên đường mới, đầy hứng khởi nhiệt tình. Việc Chúa được cất lên trời không làm cho các môn đệ u sầu buồn bã, trái lại các ông lại hân hoan vui vẻ, vì tin chắc có Chúa ở với mình. Từ nay, các ông được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, cùng với khả năng làm phép lạ mà chính Chúa đã ban cho các ông, như lời căn dặn trước khi Người về trời. Với lời “sai đi” của Chúa, lãnh vực truyền giáo không còn giới hạn trong xứ Palestina, nhưng đã mở ra những chân trời mới. Nước của Chúa không còn giới hạn ở những cột mốc lãnh thổ, nhưng lan rộng đến mọi nền văn hóa, đến mọi dân tộc. Chúa đã về trời. Cũng như trời rộng bao la mênh mông thế nào, thì vương quốc bình an mà Người đã khởi sự thiết lập cũng sẽ rộng lớn như vậy.
Chúa Giêsu đã nhập thể và mang lấy thân phận con người như chúng ta. Sau khi kết thúc cuộc đời trần gian, Người đã khải hoàn về thiên quốc. Việc Chúa Giêsu về trời cũng khẳng định với chúng ta, đất và trời từ nay không còn cách biệt nữa. Dưới đất này đã có trời, và trên trời cao đã có đất. Quả vậy, nếu định nghĩa trời là nơi Thiên Chúa ngự trị, thì trong “cõi người ta” này, Thiên Chúa đang hiện hữu để chúc lành và dẫn dắt chúng ta bằng cánh tay yêu thương của Ngài. Nếu định nghĩa đất là nơi con người sinh sống, thì trên trời, hiện đã có một “Con Người” là Đức Giêsu, mẫu mực chung cho tất cả mọi người về cách sống cũng như về sự hy sinh vì tha nhân. Vì thế, liền sau khi Chúa Giêsu được cất lên, trong khi các môn đệ còn bỡ ngỡ lưu luyến, thì hai sứ thần đã nói với họ: “Hỡi người xứ Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời”. Qua những lời này, các sứ thần muốn khẳng định với các ông rằng, các ông hãy quay về với bổn phận, vì tuy Chúa đã về trời, Người vẫn luôn hiện diện trên mặt đất này với các ông. Từ nay, mọi bước đường truyền giáo của các ông sẽ có Chúa đi cùng. Người hiện diện thiêng liêng, vô hình nơi trần gian, và Người sẽ  trở lại trong vinh quang vào thời tận cùng của lịch sử. Chính vì vậy, “Người lên trời không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước” (Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên).
“Quê Trời” là niềm mơ ước của con người thuộc mọi nền văn hóa, dù khái niệm về trời rất mông lung bàng bạc. Trong quan niệm dân gian của người Việt, “Trời” không chỉ là cái vòm màu xanh ở tít trên cao, nhưng là một “Đấng”, một “Ông”, một “Vị”. Nơi “Ông Trời” người ta tin tưởng cầu xin ơn phù trợ để mọi sự tốt lành: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm” (Ca dao). Trời cũng là nơi ở dành cho các anh hùng dân tộc, những người có công với nước, như trường hợp Thánh Gióng, sau khi đánh giặc Ân, cưỡi ngựa về trời.
Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta: Quê trời là phần thưởng Chúa Cha dành cho người công chính. Hạnh phúc Nước trời là được chìm mình trong tình yêu của Chúa Ba Ngôi, cùng với anh chị em mình. Đó là tình yêu vĩnh cửu, viên mãn, tồn tại muôn đời. Hạnh phúc Chúa Giêsu hứa ban không phải một thứ “bánh vẽ” xa vời, một thứ “thuốc phiện mê dân” ảo tưởng, Nước Trời đã hiện diện giữa trần gian, ngay ngày hôm nay, nơi cuộc đời của mỗi người chúng ta, nếu chúng ta biết đón nhận bằng con tim rộng mở và tấm lòng chân thành.

 

nTrời-306: THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

Con người từ cổ chí kim đều tin rằng có thiên đường và có hỏa ngục. Thiên đường là niềm khao LênTrời-306

Con người từ cổ chí kim đều tin rằng có thiên đường và có hỏa ngục. Thiên đường là niềm khao khát của con người qua mọi thời đại. Không ai muốn sống trong hỏa ngục. Trái lại, ai cũng mong được sống trong thiên đường. Một cuộc sống thiên đường có bình yên, có hạnh phúc. Một cuộc sống thiên đường sẽ không còn những bon chen tranh giành, hận thù, chia rẽ mà chỉ có hòa thuận, chia sẻ, yêu thương.
Điều lạ là ai cũng thích thiên đường nhưng lại không ra sức xây dựng thiên đường. Cuộc sống luôn là chiến trường, là tranh giành, là đọa đầy khổ đau. Con người luôn phải đối mặt với biết bao bể dâu cuộc đời. Chính con người đã tạo ra hỏa ngục trong khi họ lại mơ ước thiên đường.
Cuộc sống xem ra nhiều khổ đau của hỏa ngục hơn là hạnh phúc của thiên đường. Con người dễ đầy đọa nhau hơn là nâng đỡ nhau. Nhu cầu hưởng thụ càng nhiều khiến con người loại trừ và làm khổ nhau nhiều hơn.
Người ta thường kể cho nhau về sự khác biệt giữa thiên đường và hỏa ngục qua câu chuyện sau:
Một người sùng đạo nói chuyện với Chúa “ Thưa Chúa, con rất muốn biết Thiên đường và Địa ngục là như thế nào?”. Chúa dẫn anh ta vào hai cái cửa…
Chúa mở cái cửa đầu tiên, người đàn ông nhìn vào.
Ở giữa phòng có một cái bàn tròn lớn. Ở giữa bàn có một nồi nước hầm bốc khói nghi ngút trông thật ngon và hấp dẫn.
Nhưng mọi người ngồi xung quanh bàn thì lại gầy guộc, xanh xao, cứ như là bị bỏ đói từ lâu vậy.
Mỗi người ai cũng đang cầm chiếc thìa có cán dài được buộc vào cánh tay. Họ có thể với chiếc thìa dài tới nồi nước hầm để múc, nhưng vì nó dài quá, và bị buộc vào tay, nên họ không thể cho vào miệng mình được.
Người đàn ông rùng mình trước cảnh tượng khổ sở như vậy. Chúa nói: “Đấy, con vừa nhìn thấy Địa ngục”.
Tiếp tục họ bước sang phòng thứ hai và mở cửa. Mọi thứ xung quanh đều giống phòng đầu tiên. Nhưng mọi người ở đây trông thật to khỏe, no nê, mãn nguyện, cười nói rôm rả.
Chúa nói “Đây chính là Thiên Đường”
Người đàn ông thắc mắc: “Con không hiểu, thưa Chúa”.
“Đơn giản thôi” – Chúa đáp – “Ở nơi này, mọi người biết cách đút cho nhau ăn”.
Thiên đường hỏa ngục khác nhau ở chỗ có tình yêu hay thiếu vắng tình yêu. Ở nơi đâu có tình yêu ngự trị sẽ mang lại thiên đường tại thế. Ở nơi đâu thiếu vắng tình yêu sẽ là hỏa ngục nơi đầy đọa nhau mà thôi.
Hôm nay Chúa về Trời là lời khẳng định cho chúng ta về một cõi thiên đường. Một thiên đường có Thiên Chúa sẽ làm no thỏa mọi hạnh phúc cho con người. Một quê Trời nơi đó con người sống thanh thoát khỏi những nhu cầu vật chất nên sẽ không còn bon chen, tranh giành, đầy đọa lẫn nhau. Một thiên đường hạnh phúc không phải một ngày mà là hạnh phúc miên trường.
Nhưng để về trời thì con người phải biết dựng xây thiên đường hạ giới bằng một đời sống thực thi Lời Chúa. Lời Chúa chỉ tóm gọn trong hai điều là mến Chúa yêu người. Yêu là cách chúng ta phá bỏ hỏa ngục để xây dựng thiên đường tại thế. Yêu là cách chúng ta đang gửi những viên gạch lên trời để xây dựng ngôi nhà vĩnh viễn trên thiên đường.
Ước mong cho mỗi người chúng ta được hưởng hạnh phúc thiên đường tại thế khi người người biết yêu thương nhau. Xin cho chúng ta biết xây dựng thiên đường hạ giới bằng yêu thương và phục vụ tha nhân như Chúa Giê-su đã sống và phục vụ. Đó cũng là phương thế đạt được hạnh phúc miên trường mai sau trong Nước Chúa. Amen

 

nTrời-307: TRÁCH NHIỆM LOAN BÁO TIN MỪNG

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc đang được coi là một mô hình phát triển năng động tại Châu Á. Như LênTrời-307

Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc đang được coi là một mô hình phát triển năng động tại Châu Á. Như nhiều quốc gia khác trong khu vực, người dân Hàn Quốc cũng bị ảnh hưởng bởi các truyền thống văn hóa, tôn giáo Đông Phương. Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, Giáo Hội Hàn Quốc là nơi có số người trở lại đạo Công Giáo nhiều nhất. Cách đây hai mươi năm, người Công Giáo Hàn quốc chỉ chiếm chừng 7-8% (bằng với Việt nam hiện nay). Họ đang quyết tâm đạt đến mục tiêu 20/20, tức là 20% người Công Giáo vào năm 2020. Thực hiện được kỳ tích này là do nhiều yếu tố cộng lại, từ những chiến dịch cầu nguyện, kết thân với các gia đình lương dân đến các chương trình đồng loạt đến với lương dân, các công tác hỗ trợ đời sống kinh tế của các doanh nhân Công Giáo dành cho nông dân không phân biệt lương giáo đã khiến cho người Hàn có cảm tình và gia nhập đạo.
Tại Việt Nam, trải qua hơn 400 năm, từ khi hạt giống Tin Mừng được gieo vãi đến nay, tỷ lệ người Công Giáo vẫn chỉ dừng ở mức 7 – 8% trong tổng số 80 triệu dân. Thời gian đầu dù có rất nhiều khó khăn, trải qua các cơn bách hại, nhưng số người tin vào danh Chúa Giêsu lại gia tăng nhanh chóng. Thế nhưng trong vòng 50 – 60 năm trở lại đây, nhất là từ khi cuộc sống kinh tế, xã hội được thoải mái hơn thì dường như số người tín hữu gia tăng không đáng kể.
Giáo phận Xuân Lộc là một trong những giáo phận có tỷ lệ người Công Giáo cao. Số giáo dân trong Giáo phận là gần một triệu người, chiếm khoảng 30 – 35% tỷ lệ người Công giáo trong toàn tỉnh Đồng Nai. Hàng năm, số người lớn được rửa tội lên đến hàng ngàn người, nhưng phần lớn là để kết hôn, còn những người rửa tội vì gương sáng đời sống của người tín hữu thì rất ít. Số người lớn được rửa tội tính trên tỷ lệ trên số tín hữu chỉ chiếm khoảng 0,03%. Đó là một con số quá khiêm tốn, chưa tương xứng.
Mừng lễ Chúa Giêsu Lên Trời, Giáo Hội trình bày cho chúng ta nhiều điểm giáo lý quan trọng, nhưng đặc biệt, nhắc nhở mỗi chúng ta từ linh mục, tu sĩ đến giáo dân về trách nhiệm sống và loan báo Tin Mừng mà Chúa Giêsu để lại cho mỗi người. Sách Công vụ Tông đồ đã thuật lại sự kiện Chúa Giêsu lên trời như là điểm kết thúc sứ mạng của Ngài và mở ra sứ mạng của Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúa về trời không phải Ngài thoái thác trách nhiệm, cũng không phải Ngài từ bỏ con người, nhưng Ngài hoàn tất nhiệm vụ Thiên Chúa Cha đã trao phó và trở về với Chúa Cha trong vinh quang của Ngài. Chúa lên trời, không có nghĩa là Ngài không còn hiện diện tại trần gian, nhưng là một sự thay đổi cách thức hiện diện. Ngài không hiện diện bằng xương bằng thịt như trước đây, nhưng vẫn hiện diện bằng quyền năng, bằng Thánh Thần và bằng sự quan phòng. Người được cất lên trước mặt các Tông đồ và có đám mây bao phủ lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Hình ảnh đám mây bao phủ lấy Ngài, Thánh Kinh muốn nói rằng, Ngài vẫn hiện diện ở bên mỗi người, chỉ có điều là mắt chúng ta bị mây che phủ nên không nhận ra Ngài.
Chúa về trời để chỉ cho ta rằng, mục đích của mỗi người và quê hương đích thực của chúng ta là Nước Trời. Chúa về trời là một bảo đảm chắc chắn cho tất cả những ai tin theo Chúa, thực hành những điều Chúa dạy, đi theo con đường của Ngài thì cũng sẽ được về trời với Ngài. Ngài là người mở đường, Ngài đi trước để dẫn lối cho chúng ta theo sau. Vì thế, mỗi người phải luôn nhớ hướng tâm hồn và cả con người mình về quê trời, là nơi Thiên Chúa là Cha yêu thương đang đón đợi chúng ta.
Tuy nhiên, việc hướng lòng về trời không làm cho chúng ta coi thường, bỏ quên những công việc và trách nhiệm trần thế. Hai Thiên thần đã hiện ra nói với các môn đệ : Hỡi người Galilê, sao còn mải đứng nhìn trời, hãy trở về Giêrusalem mà làm chứng về Chúa. Điều đó có nghĩa là người Kitô hữu không thể trốn tránh trách nhiệm trần thế, không thể sống lơ lửng trên không, nhưng vẫn phải bước đi trên mặt đất, đối diện với cuộc sống hiện tại cùng với vui buồn sướng khổ, thành bại. Chúng ta cùng bước đi với anh chị em chung quanh, sống trong hy vọng và chờ đợi Chúa trở lại, cùng chia sẻ mọi vui buồn của nhịp sống xã hội, cùng tham gia vào mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…, để làm cho xã hội và cuộc sống mỗi ngày thêm tốt đẹp hơn.
Sống trong hy vọng phải là thái độ không thể thiếu nơi người tín hữu. Chúng ta không thể để những khó khăn hoặc những đe dọa của con người, của xã hội làm chúng ta mất niềm hy vọng. Niềm hy vọng của người tín hữu không ảo tưởng, nhưng được đặt trên lời hứa của Chúa Giêsu. Ngài hứa sẽ ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, Ngài sẽ trở lại đem chúng ta về với Ngài và chung hưởng hạnh phúc với Ngài.
Từ niềm tin tưởng và hy vọng nêu trên, mỗi người được thúc đẩy thực thi mệnh lệnh của Chúa : Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Mệnh lệnh này mời gọi chúng ta phải liên tục nói về Chúa cho mọi người và mọi loài, đưa Chúa đến với mọi người và đưa mọi người về với Chúa. Việc loan báo Tin Mừng là trách nhiệm của hết mọi người. Tuy nhiên, nhiều người đã để mình ngủ quên trong nếp sống đạo thường ngày, đánh mất sự thao thức đem Chúa đến cho anh em. Vì thế, họ bằng lòng với những sinh hoạt hiện có mà quên rằng bên cạnh còn rất nhiều người chưa biết Chúa Kitô, chưa có cơ hội để nghe Tin Mừng yêu thương của Chúa.
Có người hỏi rằng : Tại sao anh em Tin Lành rất nhiệt tình để nói về Chúa cho người khác và họ nói một cách say sưa không mệt mỏi, còn người Công Giáo thì không bằng họ ? Đó là điều thực tế mà chúng ta cần tự vấn chính mình và cần sám hối. Chúng ta chỉ có thể nói về Chúa cho người khác khi chúng ta có Chúa, đồng thời, ta chỉ có thể nói về Chúa một cách không mệt mỏi khi chúng ta hoàn toàn xác tín vào Chúa. Trong khi anh em Tin Lành không hề ngại ngùng nói về Chúa Giêsu, thì dường như người Công Giáo lại rất ngại khi nói về niềm tin của mình. Lý do là vì đời sống của họ quá khác với đời sống của Chúa Kitô và của Tin Mừng. Họ sống đạo một cách hời hợt qua lần, không cầu nguyện, không lãnh nhận Bí tích. Nhất là nhiều người không tự tin về vốn giáo lý của mình, bởi vì họ không học hỏi, không trau dồi nên họ tránh né không dám nói về Chúa, không dám mạnh dạn bênh vực niềm tin của mình.
Nguyên nhân sâu xa là vì nhiều người Công Giáo đã không có thói quen đọc và suy niệm Lời Chúa, họ xa lạ với cuốn Kinh Thánh, họ không biết nhiều về Chúa Giêsu nên không thể nói về Chúa Giêsu cho người khác. (Bà Bill Clinton luôn mang cuốn Kinh Thánh trong giỏ xách, bất kể khi bà đi đâu). Nhiều người sống đạo hoàn toàn theo thói quen cha truyền con nối, không có những kinh nghiệm gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa, không yêu mến và không xác tín mạnh mẽ, vì vậy, họ chấp nhận im lặng hoặc thỏa hiệp khi phải nói về Chúa và về niềm tin của mình.
Để có thể mạnh dạn nói về Chúa cho người khác, cần phải có một xác tín thâm sâu, một lòng mến nồng nàn, và một sự nhiệt tâm không mệt mỏi dành cho Chúa. Muốn được như thế, chúng ta cần phải bắt đầu lại bằng việc siêng năng đến với Chúa qua Thánh lễ, các Bí tích ; siêng năng đọc và gẫm suy Lời Chúa, để cho Chúa biến đổi tâm hồn và con người của mình. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải có một tâm hồn quảng đại với Chúa và với Giáo Hội, dám để cho Chúa sử dụng hết mọi khả năng trí tuệ, sức lực, thời giờ và con người của mình cho chương trình của Chúa.
Xin cho chúng ta cũng bị thôi thúc như thánh Phaolô : Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm, để rồi chúng ta biết ra khỏi chính mình, ra khỏi sự tiện nghi vốn có, dám bước đến với anh chị em để thực thi mệnh lệnh Chúa truyền cho mỗi chúng ta. Amen.

 

nTrời-308: CHÚA PHỤC SINH LUÔN HIỆN DIỆN VÀ HOẠT ĐỘNG

TRONG GIÁO HỘI
Lm. Giuse Dương Hữu Tình
 

Hôm nay chúng ta cùng toàn thể Giáo hội mừng lễ Chúa lên trời. Thực ra thời gian đầu, lễ Chúa LênTrời-308

Hôm nay chúng ta cùng toàn thể Giáo hội mừng lễ Chúa lên trời. Thực ra thời gian đầu, lễ Chúa Giêsu lên trời và lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống được mừng chung với lễ Chúa phục sinh. Từ  thế kỷ IV, Giáo hội đã mừng riêng lễ Chúa lên trời vì dựa theo sách Công vụ Tông Đồ, bốn mươi ngày sau khi Chúa phục sinh, Chúa đã “được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa” (CVTD 1,9).
Khi cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời đúng bốn mươi ngày sau lễ Phục sinh, Giáo hội có ý giúp con cái mình sống lại kinh nghiệm của Giáo hội sơ khai, một kinh nghiệm rất hữu ích và phong phú cho đời sống của những người con Chúa. Trong thời gian bốn mươi ngày, Giáo hội sơ khai đã vinh dự được sống những tháng ngày mà Thầy Chí Thánh “chiếu cố” gặp gỡ một cách hữu hình, và ngày thứ bốn mươi là lần cuối cùng họ được diễm phúc gặp gỡ Người một cách trực tiếp. Để rồi từ đây, họ sẽ vui mừng hơn nữa khi đã đủ khả năng để bước vào một kinh nghiệm lớn lao hơn, đó là kinh nghiệm gặp gỡ. sống và hoạt động tông đồ với Người, Đấng từ nay sẽ hiện diện một cách vô hình. Điều này đã được thánh Luca mô tả rất hay. Sau khi đã chứng kiến tận mắt Thầy Chí Thánh “được cất lên” và “có đám mây quyện lấy Người”, để rồi “không còn thấy Người nữa”. “Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỷ” (Lc 24,53).
Sống kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Phục sinh, là Đấng đang hiện diện cách vô hình, quả là một kinh nghiệm thiêng liêng vô giá. Chính vì thế, trong suốt thời gian của Mùa Phục Sinh, đặc biệt những ngày trong tuần Bát Nhật Phục Sinh, Giáo hội đã không ngừng cho chúng ta suy ngắm những sự kiện Chúa Phục sinh đến gặp cách tỏ tường với nhiều người, với Giáo hội. Đó là thời gian Giáo hội sơ khai chưa thoát ra được cái thói quen của sự gặp gỡ, đồng hành. Những ước mong được tận mắt trông thấy dấu đinh hay được tận tay đặt vào cạnh sườn Người (Ga 20,25) đâu phải chỉ có một mình thánh Tôma? Những ước muốn được ôm chặt và giữ lấy Người (Ga 20,17) đâu phải chỉ có một mình bà Ma-ri-a Mác-đa-la? Đó là ước mong, khao khát của hết mọi người, nhất là những người đã một thuở vui buồn có nhau. Chúa Phục sinh hiểu điều đó, bốn mươi ngày là thời gian Người “chiều theo” thói quen của họ, nhưng cũng là thời gian Người bắt đầu tập cho họ bước vào một kinh nghiệm hoàn toàn mới, đó là kinh nghiệm gặp gỡ và sống với Người, Đấng không còn phải hiện diện hữu hình nữa mà là vô hình. Hễ khi họ tưởng không có Chúa, vắng bóng Chúa, thì ngay lập tức Chúa hiện diện bên họ. Bốn mươi ngày là thời gian đủ để Chúa củng cố niềm tin và giúp Giáo hội sơ khai sống kinh nghiệm mới đó. Và một khi đã sống kinh nghiệm đó rồi, Giáo hội mới nhận ra cái kinh nghiệm hữu hình của thời gian đầu thật “buồn cười” làm sao! Và cũng từ đây, Giáo hội không ngừng xác tín và khẳng định Đấng Phục sinh luôn hiện diện vô hình ngay trong lòng Giáo hội.
Giáo hội đã sống niềm tin đó (Giáo hội mang tên là lữ hành trong đức tin), không ngừng rao giảng niềm tin đó và sẵn sàng chết cho niềm tin đó. Giáo hội sơ khai đã ra sức truyền lại cho chúng ta cái kinh nghiệm vô cùng quý báu đó: Chúa Phục sinh đang hiện diện, đang có mặt trong cuộc đời chúng ta, không phải chỉ khi chúng ta họp nhau cầu nguyện, không phải chỉ khi chúng ta ở trong nhà thờ, nhưng Người còn hiện diện trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta. Khi thì như một người đang làm vườn (Ga 20,11-18), lúc thì như một người đi đàng (Lc 24,13-35), khi thì lại như một người đang cầu nguyện (Lc 24,50-53), lúc lại như một người thuyền chài (Ga 21,4-23). Chúa Phục sinh vẫn luôn đang hiện diện như vậy, không ngừng hiện diện như vậy với Giáo hội. “Lên trời” đấy, “ngự bên hữu Thiên Chúa” đấy; ấy vậy mà Giáo hội vẫn mạnh dạn khẳng định chắc chắn rằng: “Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16,20).
Cảm nghiệm được Chúa Phục sinh vẫn đang hiện diện với mình, đang cùng sống với mình, Giáo hội đã “mỉm cười” và “hoan hỷ” biết bao. Liệu đó có phải là kinh nghiệm của tôi không? Đã bao giờ tôi cảm thấy “hoan hỷ” và “mỉm cười” hạnh phúc vì biết rằng Chúa Phục sinh đang ở bên cạnh mình?

 

nTrời-309: VÀO ĐỜI ĐỂ VỀ TRỜI

Trầm Thiên Thu
 

Ai cũng muốn “về trời”, nhưng không phải ai cũng thật lòng muốn “vào đời”. Phải thực sự can LênTrời-309

Ai cũng muốn “về trời”, nhưng không phải ai cũng thật lòng muốn “vào đời”. Phải thực sự can đảm mới đủ sức dấn thân vào đời, vì trách nhiệm nhiều mà đau khổ cũng chẳng ít. Nhưng phải VÀO ĐỜI rồi mới có thể VỀ TRỜI với Đức Giêsu Kitô. Chính Ngài cũng đã vào đời và chịu nhiều đau khổ, thậm chí còn phải chết trên Thập Giá.
Là những người đi theo Ngài, chúng ta cũng không thể đi lối tắt hoặc đường khác mà về trời. Chắc chắn như thế! Thật vậy, trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài bảo chúng ta phải vào đời: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15). Tuy nhiên, chúng ta không lẻ loi hoặc đơn độc, vì Ngài hứa chắc: “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Hơn nữa, chính Đấng Bảo Trợ là Thần Chân Lý sẽ dạy chúng ta những điều phải làm (x. Ga 14:26). Cứ an tâm mà vào đời! 
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã dạy bảo các Tông Đồ mà Ngài đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Ngài còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Ngài vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình. Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà họ đã nghe Ngài nói tới, đó là: “Ông Gioan làm phép rửa bằng nước, còn họ sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1:5).
Đã có những người “vô tư” hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?”. Nhưng Ngài đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8). Thời đó, người ta cứ tưởng Chúa Giêsu là một chính trị gia có thể đảo chính để cướp chính quyền mà khôi phục quốc gia Ít-ra-en. Nhưng ai cũng “bé cái lầm”, vì có lần Ngài đã xác định trước mặt tổng trấn Phi-la-tô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18:36).
Sau 40 ngày sống lại, Chúa Giêsu căn dặn xong, Ngài được cất lên ngay trước mặt các tông đồ, và rồi có đám mây quyện lấy Ngài, khiến họ không còn thấy Người nữa. Đang lúc các ông còn đăm đăm ngước lên trời, nhìn theo phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1:11).
Lên trời là một hiện tượng vô cùng lạ, các ông ngạc nhiên là điều tất yếu. Lên trời ở đây là “về trời” chứ không phải lên trời du lịch một thời gian, cũng chẳng phải như Chú Cuội bám gốc đa bay lên cung trăng, hoặc như Táo quân cưỡi cá chép bay lên trời. Đó chỉ là huyền thoại. Lại càng không phải như các phi hành gia bay lên cung trăng bằng phi thuyền. Đó chỉ là dạng lên trời không chính thức, họ lên trời nhưng không thể sống được nếu không có bình dưỡng khí. Phải trở lại đất cho nhanh, kẻo hết dưỡng khí là chết chắc. Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác định với ông Ni-cô-đê-mô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13)
Chúa Giêsu lên trời là sự kiện vô cùng kỳ lạ. Các ông đã từng ngơ ngẩn khi thấy Thầy Giêsu bị người ta giết chết, tưởng thế là hết, nào ngờ Thầy phục sinh. Hạnh phúc tràn ngập. Nay các ông lại càng ngơ ngẩn hơn vì Thầy đi rồi, còn lâu Thầy mới trở lại, tiếc hùi hụi, nhớ ngẩn ngơ, nhưng chắc chắn các ông phải vào đời. Và mỗi chúng ta ngày nay cũng vậy, ai cũng phải vào đời để hy vọng và mong chờ ngày về trời. 
Cuộc chia tay nào cũng có phần lưu luyến, thường buồn hơn vui, nhưng khi Chúa Giêsu chia tay lại không buồn vời vợi mà lại tràn đầy niềm hy vọng. Ngài về trời là dấu chỉ cho biết chắc chắn chúng ta cũng được về trời. Vậy là vui chứ không buồn. Tác giả Thánh Vịnh mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47:2-3).
Chúa Giêsu thăng thiên, Ngài về trời, nơi Ngài đã xuất phát, chúng ta vui mừng khôn tả, tác giả Thánh Vịnh mô tả là “rộn rã tiếng hò reo, vang dội tiếng tù và, đàn ca kính mừng Ngài”. Nhưng cuộc sống đôi khi không êm đềm như thảm lụa, nên chúng ta luôn phải tiếp tục động viên nhau: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” (Tv 47:8-9).
Trong mọi hoàn cảnh, sự khôn ngoan rất cần thiết, cần cho cả đời sống xã hội và tâm linh. Sự khôn ngoan đó không như khôn ngoan bình thường, mà đặc biệt hơn, đó chính là Chúa Thánh Thần. Thánh Phaolô cho biết: “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời” (Ep 1:17-20). Nhờ khôn ngoan, chúng ta đón nhận nhiều điều quý giá khác từ Thiên Chúa. Thật tuyệt vời! 
Thánh Phaolô giải thích và cũng là kết luận: “Như vậy, Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1:21-23).
Trước khi về trời, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15). Đó không chỉ là lời căn dặn, là lời người ra đi, mà còn là mệnh lệnh – tức là điều phải thực hiện bằng mọi giá. Ngài vừa hứa hẹn vừa cảnh báo: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16:16). Đó là hệ lụy tất yếu chứ không là sự hù dọa. 
Đức tin rất quan trọng, tạo nên sức mạnh vô song, tạo nên điều kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của loài người. Thật vậy, Chúa Giêsu đã xác nhận: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16:17-18). Thực tế cũng đã và đang có những người làm được như vậy, đó là tặng phẩm mà Thiên Chúa trao cho ai thì người đó phải biết sử dụng hợp lý. Ai cũng có một tặng phẩm, người được tặng phẩm này, kẻ được tặng phẩm khác, có người được hai hoặc ba tặng phẩm, cũng như kẻ được một nén, ba nén, năm nén, nhưng dù nhiều hay ít cũng chỉ là để làm sáng danh Thiên Chúa, chứ không phải để cậy mình hoặc nhắm tư lợi nào đó. 
Thánh sử Mác-cô cho biết: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16:19-20). Rõ ràng, Chúa Giêsu về trời rồi thì các ông đã vào đời, làm chứng về Đức Giêsu Kitô “ba-trong-một”, với ba sự kiện: Chịu chết trên Thập Giá, phục sinh và lên trời. 
Vào đời như thế nào? Thánh Phaolô cho biết về phong cách vào đời: “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người. Được ơn làm ngôn sứ thì phải nói sao cho phù hợp với đức tin. Được ơn phục vụ thì phải phục vụ. Ai dạy bảo thì cứ dạy bảo. Ai khuyên răn thì cứ khuyên răn. Ai phân phát thì phải chân thành. Ai chủ toạ thì phải có nhiệt tâm. Ai làm việc bác ái thì vui vẻ mà làm” (Rm 12:6-8). Mỗi người mỗi việc, mỗi người mỗi hoàn cảnh và trình độ khác nhau, mỗi người là một các chi thể khác nhau nhưng vẫn chung một Nhiệm Thể Đức Kitô. Tất cả các chi thể phải đồng tâm nhất trí, cùng hợp lại để phát triển Nhiệm Thể Thánh. 
Thánh Phaolô nói thêm về phong cách vào đời: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12:9-13). Được vậy thì thật hạnh phúc cho chúng ta, và Thiên Chúa cũng vui mừng vì Ngài được tôn vinh nơi chính mỗi chúng ta.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết “ái mộ những sự trên trời” bằng cách sống nhân bản, nên hoàn thiện hàng ngày, chứng tỏ sự sống dồi dào của Đức Kitô qua việc thể hiện lòng thương xót với mọi người, nhất là đối với những người hèn mọn. Xin Đức Maria và Đức Thánh Giuse hướng dẫn chúng con biết đi đúng lối về trời và đưa chúng con đến đích thật. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

 

nTrời-310: CHÚA NHẬT CHÚA THĂNG THIÊN

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến.
 

Hôm nay cùng với Giáo hội chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên. Sau khi đã hoàn tất sứ mệnh cứu LênTrời-310

Hôm nay cùng với Giáo hội chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên. Sau khi đã hoàn tất sứ mệnh cứu chuộc được Thiên Chúa Cha trao phó, và sau khi đã trao sứ mệnh này lại cho các môn đệ tiếp tục, Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, đã lên trời trở về với Thiên Chúa Cha.
Trong một dịp đến thành phố Chicago, tôi có ghé tham quan tòa nhà lớn có tên là Tribune. Bức tường bên ngoài của tòa nhà có những viên đá khác thường được đặt lồi ra bên ngoài. Trên những viên đá này có một bảng nhỏ cho biết xuất xứ của viên đá. Có viên đá được lấy từ kim tự tháp bên Ai cập; có viên đến từ tòa nhà Taj Ma-hah bên Ấn độ, có viên từ Khải hoàn môn bên Pháp, có viên từ bức tường Bá linh bên Đức. Mục đích của kiến trúc sư khi vẽ và xây tòa nhà Tribune này là muốn có sự hiện diện của các quốc gia thế giới. Chúng ta thấy ngày nay, với những phương tiện truyền thông hiện đại như internet hay vệ tinh, nếu người kiến trúc sư này muốn có sự hiện diện của thế giới thì chỉ cần có những màn ảnh vĩ đại để trực tiếp truyền hình từ các thủ đô trên thế giới. Hay nếu chủ nhân của tòa nhà Tribune và người kiến trúc sư   muốn thế giới hiện diện bằng xương bằng thịt thì chỉ cần đưa những người đại diện đến ngồi hay “trưng bày” họ ở ngoài phòng tiếp khách.
    Sự kiện này dẫn chúng ta đến một điểm quan trọng, đó là, có nhiều cách và mức độ, để tạo sự hiện diện của người nào hay điều gì đó. Như những người Việt hải ngoại, chúng ta có thể hiện diện với người thân thuộc ở Việt Nam bằng nhiều cách như gọi điện thoại, e-mail, video, facetime là phương cách nói và nhìn hình trực tiếp cùng một lúc, hay về thăm bằng xương bằng thịt. Cũng vậy, sự kiện lên trời của Chúa không chấm dứt sự hiện diện của Ngài nơi trần gian, nhưng chỉ thay đổi cách hiện diện và đánh dấu một giai đoạn mới trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô không còn hiện diện nơi trần gian bằng xương bằng thịt, bằng thân thể thông thường của con người, nhưng Chúa hiện diện qua Nhiệm Thể Tinh Thần, đó là Giáo Hội mà Chúa đã lập nên. Và sự kiện này cũng nói lên một điểm hết sức quan trọng khác mà chúng ta phải lưu ý, đó là, Chúa Giêsu Kitô không còn hoạt động nơi trần gian bằng những chi thể xương thịt trong thân thể con người, nhưng qua những phần tử trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Hay nói một cách khác, Chúa Giêsu không còn xử dụng miệng, âm thanh của thân thể để nói và dạy dỗ, hay không còn xử dụng con tim thân xác để yêu thương, và cũng không dùng cánh tay xương thịt để dẫn dắt. Nhưng Chúa hoạt động qua những phần tử trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Người, trong Hội thánh. Chúa xử dụng tiếng nói và miệng của chúng ta để an ủi và dạy dỗ. Chúa xử dụng con tim của chúng ta để yêu thương. Chúa xử dụng bàn tay của chúng ta để dẫn dắt và che chở. Ngày nay, Chúa xử dụng những phương cách này để tiếp tục kế hoạch mang ơn cứu độ đến cho mọi người, và xây dựng Nước Chúa nơi trần gian.  
Ông bà anh chị em thân mến. Đó là điều vui mừng mà chúng ta cử hành trong ngày lễ Chúa Lên Trời hôm nay. Thật vậy, cách đây hơn 2 ngàn năm, Chúa đã trao ban cho chúng ta trách nhiệm và bổn phận thay mặt Chúa, trở thành những “Ki-Tô” hiện diện nơi trần gian, để tiếp tục nói Lời Chúa, tiếp tục mang Tin mừng đến cho mọi người, tiếp tục yêu thương những người nghèo khổ, bất hạnh, tiếp tục dẫn dắt người tội lỗi và chưa có đức tin đến với Chúa và Chúa cũng nhờ những cánh tay, con tim và lòng quảng đại của chúng ta để xây dựng Nước Chúa nơi trần gian. Chúa qua Thánh Thần thánh hóa, ban ơn và kêu gọi chúng ta hãy để cho Chúa tiếp tục hiện diện và hoạt động qua chúng ta, cũng như sai chúng ta đi mang Tin mừng ơn cứu rỗi của Thiên Chúa Cha đến cho mọi người.
Chúng ta thấy các bài Kinh thánh hôm nay diễn tả biến cố Chúa lên trời và trao ban sứ vụ rao giảng Tin mừng cho các môn đệ. Trong bài đọc 1, thánh Lu-ca tường thuật cả hai biến cố: Chúa lên trời và trao ban cũng như sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Bài đọc còn cho chúng ta biết trước ngày lên trời, Chúa Giê-su Ki-tô đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Sau khi sống lại, Người đã hiện ra nhiều lần trong bốn mươi ngày, để củng cố đức tin, chứng tỏ cho các ông thấy Người đã sống lại như lời Người đã tiên báo, sau khi đã chịu khổ hình chết trên thập giá, và nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. Chúa còn báo cho các ông biết các ông sẽ lãnh nhận Phép Rửa bằng Thánh Thần. Thật vậy, các Tông đồ lãnh nhận Phép Rửa này trong ngày Lễ Ngũ Tuần mà Hội thánh mừng vào lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống tuần tới. Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô cầu nguyện cho các tín hữu có thần trí khôn ngoan để hiểu Mầu Nhiệm Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, được thực hiện qua Chúa Giê-su Kitô. Thánh Phao-lô xác định cho mọi người biết Chúa Giê-su Ki-tô là đầu của Hội thánh và chúng ta là thân thể của Người, ngài nói “Thiên Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài.” Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ phải đi rao giảng Tin Mừng, và Người ban quyền cần thiết để người khác tin vào lời các ông rao giảng. Đây là sứ mệnh và cũng là một sự thử thách mà Tin mừng đề cho chúng ta trong cuộc sống Ki-tô hữu.
Ông bà anh chị em thân mến. Muốn truyền thông, muốn rao giảng Tin mừng một cách thiết thực, chúng ta phải tha thiết, gắn bó, xử dụng và phải sống Tin mừng là Lời Chúa. Lời Chúa phải thấm nhuần trong đời sống chúng ta. Hôm nay, Chúa nói với chúng ta “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật.” Chúng ta hỏi lại chính mình “Tôi có gắn bó và tha thiết và với Lời Chúa không?”, “Tôi có lời Chúa trong trái tim tôi không?” “Tôi có Tin mừng trong đời sống tôi không?” Nếu chúng ta không có, không biết Lời Chúa, không có Lời Chúa trong trái tim, không thấm nhuần Lời Chúa trong đời sống, thì làm sao chúng ta có thể truyền thông, có thể rao giảng Tin mừng Lời Chúa cho ai được! Nếu tôi muốn rao giảng Lời Chúa cho ông bà anh chị em, thì tôi phải cố gắng tha thiết và gắn bó với Lời Chúa trong đời sống, phải cố gắng đọc Lời Chúa, phải soạn và sau đó mới truyền thông, mới rao truyền Lời Chúa.
Chúa Giêsu chỉ rao giảng Ơn Cứu Độ 3 năm ngắn ngủi nơi trần gian, rồi Người phải từ giã các môn đệ về trời ngự bên hữu Chúa Cha vinh hiển, và Chúa cũng muốn chúng ta “Người ở đâu thì chúng ta ở đó.” Vì vậy Người đã ban Chúa Thánh thần để hiện diện và giúp chúng ta chu toàn sứ mệnh Người đã giao phó cho chúng ta. Xin Chúa ban cho chúng ta có tâm hồn khao khát, có sự gắn bó và thành tâm sống Lời Chúa, để Lời Chúa thấm vào cuộc sống chúng ta. Xin Chúa ban cho chúng ta can đảm và sức mạnh để rao truyền Tin mừng trong môi trường chúng ta đang sống là gia đình, nơi làm việc và cộng đoàn giáo xứ, bằng những việc tốt lành, bác ái, yêu thương và hy sinh phục vụ xây dựng Nước Chúa. 

 

nTrời-311: ĐIỂM HẸN YÊU THƯƠNG

 Lm. Jos. DĐH
 

Giầu sang phú quí, địa vị danh vọng có thể là điểm nhắm của nhiều người đang gắng sức tìm kiếm. Lý LênTrời-311

Giầu sang phú quí, địa vị danh vọng có thể là điểm nhắm của nhiều người đang gắng sức tìm kiếm. Lý tưởng của người lao động là có được lương cao, thao thức của người nhạc sĩ là có được tác phẩm để đời, người kiến trúc sư với mơ ước bản vẽ của mình được sử dụng. Đối với công trình lớn hay nhỏ, các chủ đầu tư đều đưa ra khẩu hiệu : an toàn là bạn, tai nạn là thù, đó cũng là mong ước của người lao động. Người ta dù cao sang hay nghèo hèn cũng được gọi công dân của một đất nước; từ khi chịu phép rửa tội, chúng ta đã được gọi là Kitô hữu, và đích điểm hạnh phúc vẫn là của mọi phần tử xã hội.
Vì thấy cuộc đời là “bể khổ”, nên giáo lý “Nhà Phật” chỉ đường cho chúng sinh cách giải thoát là “diệt dục”. Giáo lý Hội-thánh Công-giáo đặt nền tảng cho cuộc đời dựa trên “luật yêu thương”, con đường dẫn tới hạnh phúc của người Kitô hữu sẽ tùy thuộc chúng ta sử dụng khả năng, điều kiện, của mình như thế nào.
Sự kiện “Chúa Thăng Thiên” hay “Chúa về Trời”, là hoa trái của tình yêu Đức Giêsu hoàn tất “sứ mạng yêu thương” suốt 33 năm tại trần thế. “Chúa Thăng Thiên” là khởi đầu cho sứ mạng kế tiếp của các học trò Đức Giêsu, của từng người Tín hữu chúng ta. Sứ mạng tông đồ được mở ra với lệnh truyền : “các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi loài thọ tạo, ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cứu độ”.
Khi xưa tại Na-ra-rét, Đức Giêsu có 30 năm vừa học cầu nguyện vừa sống cầu nguyện, sau đó 3 năm tiếp theo, Chúa Thánh Thần dẫn Ngài thực thi sứ mạng yêu thương, và đến “điểm hẹn” Đức Giêsu đã thi hành trọn vẹn ý Chúa Cha. Sách Công vụ hôm nay diễn tả sự kiện Chúa Giêsu lên trời, và Thánh Thần tiếp tục hoạt động nơi các tông đồ, đó là ơn gọi làm chứng nhân tại Giêrusalem, các vùng Giuđêa, Samaria, và đến tận cùng trái đất. Điểm hẹn mà Thánh Phaolô nói nơi bài đọc 2 là hãy cầu nguyện, nhân danh Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô để ban cho các Tín hữu được ơn khôn ngoan của Thánh Thần.
Điểm hẹn giữa Chúa Giêsu và các tông đồ hôm nay không đơn giản chỉ là mệnh lệnh : “các con hãy đi khắp thế gian”; điểm hẹn mà các tông đồ phải đọc ra, đó là hạnh phúc được “lên trời ngự bên hữu Chúa Cha với Thầy Giêsu”. Sau nữa, điểm hẹn không chỉ là nơi hội ngộ, điểm hẹn còn cho thấy sức mạnh đầy quyền năng của Thánh Thần, có tình yêu Chúa cùng hoạt động ở hiện tại. Điểm hẹn của chúng ta hôm nay cũng được mang dáng dấp tình yêu thương, phải được bổ dưỡng hạnh phúc bằng cả vật chất lẫn tình thần, xem ra như thế mới đủ khỏe, đủ vui, đủ hấp dẫn cho những ai sống luật yêu thương.
Có một câu ca dao mà mhiều người trong chúng ta đã nghe : đi đâu cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam. Có một câu trong Tin mừng hôm nay : “đây là phép lạ đi theo những người đã tin, nhân danh Thầy họ sẽ trừ quỷ, nói các thứ tiếng lạ, cầm rắn trong tay, và nếu uống phải độc dược thì cũng không bị hại.” Cảm nhận về thủy chung, hiểu theo nghĩa chặt hay nghĩa rộng, đều đẹp, nói tới tình yêu là nhắc đến một sức sống mãnh liệt, dù tình yêu nặng về vật chất hay tinh thần.
Các tông đồ không thể hiểu hết về sự kiện Thầy lên trời, vì thế, các ông chỉ có thể trung thành với lời căn dặn của Thầy và không ngừng hiệp thông cầu nguyện. Ơn gọi của người tông đồ, của mỗi chúng ta theo Đức Giêsu phải có sự gắn bó như tình nghĩa phu thê, nếu ta tin Đức Giêsu vừa là Thầy vừa là Chúa. Thầy Giêsu là người tiên phong chiến thắng sự chết, Thầy là đường và cũng là người chỉ đường giúp chúng ta đạt tới điểm hẹn Nước Trời.
Người Việt Nam chúng ta quan niệm trời và đất xa nhau nhưng vẫn có liên hệ, trời chi phối tất cả mọi sinh hoạt của đất; vì thế mà dân gian có truyện “Cóc kiện trời”. Xảy ra lúc đó ở dưới đất nhiều năm không mưa, vạn vật khổ đau trăm bề, Cóc – Cáo – Cọp – Gấu là những con vật đại diện, tìm lối lên trời thưa kiện về việc hạn hán. Sau khi gặp gỡ được “Ngọc Hoàng”, không những khúc mắc được giải tỏa, “Ngọc Hoàng” còn cho “Cóc” một ân huệ, mỗi khi ở dưới đất cần mưa thì Cóc cứ nghiến răng ken-két. Dân gian còn đặt ra một câu vè, đề cao sự khăng khít giữa tương quan đất và trời : con Cóc là Cậu Ông Trời, hễ ai đụng đến là Trời đánh cho.
Tương quan giữa Chúa Giêsu với các tông đồ là yêu thương, sứ mạng Chúa Giêsu trao cho các ông là một diễm phúc, từ sự gắn bó yêu thương, các ông có thể chu toàn việc Thầy giao phó cách dễ dàng hơn. Do đó, Kinh Thánh đã diễn tả sức mạnh, quyền uy đi kèm với niềm tin của các ông : “nói được tiếng lạ, trừ được quỷ thần, chữa lành được các bệnh tật, cầm rắn trong tay, uống phải độc dược cũng không bị hại”. Điểm hẹn mà các tông đồ, và mỗi người tin theo Chúa đó là tình yêu hiệp thông, là hạnh phúc có Chúa cùng hoạt động, là niềm vui trọn vẹn vì được ở cùng Thầy Giêsu bây giờ và mai sau. Amen.

 

nTrời-312: GÓP PHẦN KIẾN TẠO THIÊN ĐƯỜNG ĐỜI SAU

 NGAY TỪ HÔM NAY
 Lm. Đan Vinh
I. HỌC LỜI CHÚA
 
  1. TIN MỪNG: Mc 16,15-20.
(15) Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. (16) Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ. Còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”. (17) Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. (18) Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay lên những người bệnh, thì những người này cũng được mạnh khỏe. (19) Nói xong, Chúa Giê-su được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. (20) Còn các Tông đồ thì ra đi rao gảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.
 
  1. Ý CHÍNH:

Đức Giê-su trước khi về trời đã trao cho các Tông đồ sứ mạng tiếp tục công việc loan báo Tin Mừng Nước LênTrời-312

Đức Giê-su trước khi về trời đã trao cho các Tông đồ sứ mạng tiếp tục công việc loan báo Tin Mừng Nước Trời cho mọi loài thụ tạo, để ai tin và chịu phép rửa thì được tái sinh làm con Thiên Chúa và được sống đời đời. Còn những kẻ không tin thì sẽ bị kết án. Chúa còn hứa ban quyền làm những dấu lạ cho các Tông đồ. Sau đó Chúa Giê-su đã được rước lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông đồ thì đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi với sự trợ giúp của Người.
 
  1. CHÚ THÍCH:
– C 15-16: +Anh em hãy đi: Lệnh truyền này chỉ được công bố sau biến cố Phục Sinh cho thấy: mầu nhiệm Phục Sinh là nền tảng cho sứ mạng tông đồ. +Khắp tứ phương thiên hạ: Trong thời gian 3 năm rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su chỉ được sai đến cùng các con chiên lạc của nhà Ít-ra-en. Nhưng sau khi Phục Sinh, Người đã trao sứ mạng “loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo” cho các Tông đồ. +Loan báo Tin Mừng: Theo Hy ngữ, Tin Mừng ( Eu-ag-ge-li-on) là một “tin vui, tin hạnh phúc”. Có thể hiểu Tin Mừng Đức Giê-su theo hai nghĩa: Một là “Tin Mừng được Đức Giê-su công bố. Hai là “Tin Mừng về Đức Giê-su”, Đấng ban ơn cứu độ nhờ mầu nhiệm chết và sống lại của Người. +Cho mọi loài thọ tạo: Mọi loài thọ tạo mang ý nghĩa cánh chung, nghĩa là mọi dân mọi nước (x. Mt 28,19), Chúa sẽ biến đổi trần gian nên Trời Mới Đất Mới vào ngày Tận Thế (x. Kh 21,1). +Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu độ: Tin là mở lòng đón nhận Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa. Chịu phép Rửa là nhận ơn tha tội và ơn tái sinh để nên người mới và nên dưỡng tử của Thiên Chúa. Nhờ đó họ sẽ được sống đời đời. + Còn ai không tin thì sẽ bị kết án: Thực ra, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ (x Ga 3,17). Còn kẻ không tin thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa nên đã tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ. Họ giống như cành nho bị tách lìa khỏi thân cây là Đức Giê-su, nên sẽ khô héo và sẽ bị quăng vào lửa hỏa ngục đời đời ở đời sau (x. Ga 15,5-6). +Còn những người không tin Đức Giê-su nhưng không do lỗi của họ thì có được hưởng ơn cứu độ không?: Những ai tuy không biết Đức Ki-tô, nhưng theo lương tâm ăn ở ngay lành, thì “Chúa sẽ lo liệu cho họ có đủ phương tiện cần thiết để được rỗi linh hồn”. Chỉ những kẻ cố tình theo ma quỷ làm điều gian ác và cố chấp không hồi tâm sám hối, thì chắc chắn sẽ phải xuống hỏa ngục, nơi dành cho các đầy tớ bất trung, “những kẻ đạo đức giả. Ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (x. Mt 24,51a), cũng là nơi “dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó” (Mt 25,41).
– C 17-18: +Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: Ngay trong thời gian giảng đạo, khi sai các Tông đồ đi thực tập truyền giáo, Đức Giê-su đã ban cho các ông quyền trên các thần ô uế để xua trừ chúng và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền trong dân (x. Mt 10,1-5). Giờ đây trước khi về trời, Chúa Giê-su Phục Sinh đã trao lại cho các ông quyền làm các dấu lạ ấy. +Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay lên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe: Khi viết Tin Mừng (khoảng năm 65), các Tông đồ đã làm nhiều dấu lạ. Chẳng hạn: Vào lễ Ngũ Tuần, sau khi nhận được đầy ơn Thánh Thần, các Tông đồ đã nói các thứ tiếng khác lạ (x. Cv 2,4). Thánh Thần cũng ngự xuống gia đình Co-nê-li-ô và cho họ nói các thứ tiếng lạ (x. Cv 10,44-46). Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân qua các Tông đồ (x. Cv 5,12). Tông đồ Phê-rô đặt tay trên bệnh nhân hoặc chỉ cần bóng của ông phớt qua đã đủ để họ được lành bệnh, và thần ô uế cũng phải xuất ra (x. Cv 5,15-16). Còn tông đồ Phao-lô thì chữa lành một người bị bại chân tại Lýt-ra (x. Cv 14,8-10) ; Tại đảo Man-ta, Phao-lô đã bị rắn độc bám vào tay và cắn mà không hề hấn gì (x. Cv 28,1-6); Ông cũng đã cầu nguyện và đặt tay chữa lành nhiều bệnh nhân (x. Cv 28,8-9); Ngay cả chiếc áo ông đã mặc qua cũng có năng lực làm cho cơn bệnh biến đi và tà thần phải xuất ra (x. Cv 19,11; 20,9-12).
– C 19-20: +Chúa Giê-su được rước lên trời: Như Ê-li-a thời Các Vua đã “lên trời trong cơn gió lốc” (2 V 2,11), thì thân xác Chúa Giê-su Phục Sinh cũng được rước lên trời trên các tầng mây. Từ nay Người không còn lệ thuộc vào không gian thời gian như khi còn sống nữa. +Và ngự bên hữu Thiên Chúa: Đức Giê-su đã được Chúa Cha tôn vinh (x Đn 7,13-14; Cv 2,34), được vào trong vinh quang của Chúa Cha, với quyền cai trị vũ trụ (x. Mt 28,18), ngang hàng với Thiên Chúa (x. Ep 1,21). Công Nghị Do Thái đã hiểu theo nghĩa này, nên đã đồng thanh kết án tử hình Đức Giê-su vì cho Người chỉ là phàm nhân mà dám phạm thượng khi nhận mình ngang hàng với Thiên Chúa (x. Mc 14,62-64). Đức Giê-su lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa không có nghĩa là lìa xa con người, nhưng có nghĩa: Người được tôn vinh lên ngang hàng với Thiên Chúa. Là Thiên Chúa nhập thể làm người, là “Em-ma-nu-en” nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. + Ra đi rao giảng khắp nơi: Các Tông đồ đã vâng lời Chúa Giê-su, đi khắp nơi loan báo Tin Mừng, làm chứng cho Đức Giê-su tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri, và cho đến tận cùng trái đất (x. Cv 1,8). +Có Chúa cùng hoạt động với các ông…: Từ đây, Chúa Ki-tô sẽ luôn hiện diện trong Hội thánh (x Mt 28,20). Chúa Phục Sinh đã hiện ra thổi hơi ban Thần Khí cho các Tông đồ để ban quyền tha tội (x Ga 20,21-22), và vào lễ Ngũ Tuần, Thần Khí hay Thánh Thần đã được đổ xuống trên Cộng Đoàn Hội Thánh Sơ Khai để giúp Hội Thánh chu toàn sứ vụ ngôn sứ là loan báo Tin Mừng khắp thế gian (x. Cv 2,18).
 
  1. CÂU HỎI:
1) Mầu nhiệm Phục Sinh có tầm quan trọng thế nào đối với sứ mạng được sai đi? Các Tông đồ được Chúa Phục Sinh sai đến với những người nào?
2) Tin Mừng của Đức Giê-su có những ý nghĩa thế nào?
3) Để được hưởng ơn cứu độ của Đức Giê-su, đòi ta phải có những điều kiện nào?
4) Những ai chắc chắn sẽ bị kết án sa hỏa ngục? Những người tuy chưa có đức tin, nhưng theo lương tâm ăn ở ngay lành có được Chúa ban ơn cứu độ không?
5) Trong thời gian giảng đạo, khi sai môn đệ đi thực tập truyền giáo, Đức Giê-su đã ban cho các ông những quyền nào?
6) Trườc khi về trời, Chúa Phục Sinh đã trao sứ vụ loan Tin Mừng cho các Tông đồ kèm theo những gì?
7) Lời Chúa tiên báo về các dấu lạ đi kèm với lời rao giảng của các Tông đồ đã được ứng nghiệm thế nào trong thời Giáo Hội Sơ Khai?
8) Trong thời Cựu Ước, ngôn sứ nào đã được rước lên trời? Thời Tân Ước hai nhân vật nào cũng được lên trời? Mầu nhiệm thăng thiên của Chúa Giê-su khác với mầu nhiệm mông triệu của Đức Ma-ri-a ra sao?
9) So sánh hai lệnh truyền của Chúa Giê-su trước khi lên trời trong Tin Mừng Mat-thêu “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…” (x Mt 28,19), và trong Công vụ Tông đồ “Hãy nên chứng nhân của Thầy…” (x Cv 1,8) giống và khác nhau thế nào?
10) Sau khi lên trời, Chúa Giê-su có còn hiện diện trong Hội thánh nữa không?
11) Chúa Phục Sinh thổi ban Thần Khí cho các Tông đồ nhằm mục đích gì?
II.SỐNG LỜI CHÚA
 
  1. LỜI CHÚA: Chúa Giê-su được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông đồ thì ra đi rao gảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng (Mc 16,19-20).
  2. CÂU CHUYỆN:
1) Phải chăng không có Thiên Đàng ?
Do hiểu Thiên đàng chỉ là một nơi cực lạc về vật chất nên vào ngày 5.9.1961 Thủ tướng Liên xô cũ là ông KÚT-XẾP (Kroutchev) đã nói với ký giả SUN-BÉC-GƠ (Sulberger) rằng : ”Để điều tra trên trời có Thiên đàng thật như người ta nói hay không, chúng tôi đã gửi một thám tử lên không trung: anh GIU-RI GA-GA-RIN (Youri Gagarine). Anh này đã đi vòng quanh trái đất mà cũng chỉ quan sát thấy những bóng đen dầy đặc, chứ không có gì như thiên đàng cả.  Sau đó, chúng tôi đã suy nghĩ và gửi thêm một thám tử khác nữa lên là GIƠ-MEN TI-TỐP (German Titov). Chúng tôi đã bảo anh ta rằng : ”Hãy bay lâu hơn một chút nữa. Có lẽ Ga-ga-rin chưa trông thấy thiên đàng, vì chàng ta chỉ mới bay có một tiếng rưỡi đồng hồ thôi. Vậy chuyến này anh hãy nhìn cho kỹ”. Ti-tốp đã ra đi rồi sau khi trở về, anh đã xác nhận lời tuyên bố của Ga-ga-rin: ”Hư vô ! Chỉ có hư vô!” là đúng. Rồi cuối cùng Kút-xếp xoa tay kết luận: ”Cho nên chúng tôi không tin có đời sau”. (Information catholique ngày 1.10.1961, tr 14).
Tuy nhiên đối với những người không có đức tin vào Thiên Chúa và vào thế giới siêu nhiên, thì làm sao có thể nhìn thấy Thiên Chúa hay thấy Thiên đàng bằng cặp mắt thường được?
2) Thiên đàng hỏa ngục hai bên:
Cách đây ít lâu thập niên 50, ở miền Nam Việt Nam các trẻ em thường chơi trò mà nội dung có ý nghĩa giáo dục rất lớn về hạnh phúc Thiên Đàng và bất hạnh của Hỏa Ngục như sau:
Hai em được đề cử sẽ đứng đối diện với nhau và giơ hai cánh tay lên nắm vào nhau để làm thành cánh cửa Thiên Đàng. Các em khác thì xếp hàng một, người sau đặt hai bàn tay lên vai người trước và nối đuôi nhau đi qua cánh cửa Thiên Đàng, trong lúc mọi người chơi đều hát một bài ca đồng dao theo cung giọng chung như sau:
“Thiên Đàng địa ngục hai bên,
Ai khôn thì lại, ai dại thì qua.
Đêm nằm nhớ Chúa, nhớ Cha,
Đọc kinh cầu nguyện, kẻo sa linh hồn.
Linh hồn phải giữ linh hồn,
Đến khi mình chết được lên Thiên Đàng”.
Cuộc chơi bắt đầu khi các em vừa hát bài đồng dao vừa di chuyển chầm chậm chui qua cửa Thiên Đàng. Nhưng khi bài hát gần hết, các em sẽ phải đi nhanh hơn. Khi hát tới câu “Đến khi mình chết được lên Thiên Đàng”, thì cánh cửa Thiên Đàng do hai em trấn giữ sẽ đóng sập xuống. Những em chưa qua được cửa Thiên Đàng đương nhiên sẽ bị kẹt lại trong hỏa ngục, và phải chịu hình phạt như hít đất, thụt dầu hay nhéo lỗ tai, v.v…
3) So sánh Thiên đàng và hỏa ngục giống và khác nhau thế nào?
Ngày xưa có ông vua triệu vời một đạo sĩ vào triều để hỏi xem Thiên Đàng và Địa Ngục là có thật hay chỉ là sự hoang đường mê tín. Đạo sĩ mời vua nằm ngủ đầu dựa trên chiếc gối có phép mầu. Vua vừa nằm ngủ liền xuất hồn ra khỏi xác đi theo vị đạo sĩ, vào trong một căn phòng lớn. Giữa phòng có đặt một nồi cháo thật to đáng bốc khói, bốc ra mùi cháo thơm phức. Chung quanh nồi cháo có rất đông người ốm đói đang chen lấn nhau rất mất trật tự. Mỗi người cầm trên tay một cái muỗm có cán dài quá khổ. Ai nấy đều cố giành cho mình được quyền vào múc cháo trước. Nhưng vì cán muỗm quá dài, nên họ chỉ múc được cháo mà không thể đưa muỗm cháo tới gần miệng để ăn. Họ tranh cãi nhau ồn ào như một cái chợ. Có kẻ còn dùng muỗm đánh nhau làm cháo đổ văng tung tóe. Vua lắc đầu ngao ngán: “Đúng thật là hỏa ngục!”
Vua lại thấy hồn mình đi theo đạo sĩ bước vào căn phòng lớn thứ hai, cũng có nồi cháo thật to đang bốc mùi cháo thơm phức như vậy và có rất đông người đứng gần đó. Mỗi người đều cầm một cái muỗm có cán khá dài. Nhưng những người ở đây lại xếp hàng trật tự để lần lượt chờ tới phiên mình. Khi múc được cháo, họ không thể đưa vào miệng mình nên đã đưa muỗm cháo cho người ở bên cạnh ăn. Vị biết nhường nhịn và quảng đại chia sẻ cháo cho nhau nên mọi người đều được ăn no. Ai nấy đều cảm thấy vui và bầu khí trong phòng thật an bình hạnh phúc. Vua thấy vậy liền gật gù và nói: “Đây thật là một Thiên Đàng hạnh phúc!”
Câu chuyện trên cho thấy Thiên Đàng và Hỏa Ngục nói chung rất giống nhau. Chỉ khác nhau ở chỗ người ta có biết nghĩ đến nhau và biết cách ứng xử với nhau bằng tình thương hay không. Tình thương phải được thể hiện qua thái độ biết nghĩ đến nhau, nhẫn nhịn chịu đựng nhau và hay tha thứ cho nhau, biết tôn trọng lẫn nhau, tránh thói ích kỷ và biết khiêm tốn phục vụ và làm vui lòng nhau hay không thôi.
 
  1. THẢO LUẬN:
1) Thiên Đàng là gì? 2) Thiên Đàng ở đâu? 3) Ta phải làm gì ngay từ bây giờ để sau này sẽ được sống an vui hạnh phúc với Chúa trên Thiên Đàng?
 
  1. SUY NIỆM:
1) Thiên Đàng hay Địa Đàng là gì?:
– Thiên Đàng (Hy ngữ là Pa-ra-dei-sos) nghĩa là Hoa viên hay khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ (x St 2,8). Theo Kinh Thánh, Địa đàng là một khu vườn hoan lạc, nơi con người được sống trong bình an hạnh phúc. Đầu tiên Thiên Chúa đã dựng nên một khu vườn có nhiều hoa trái tươi xinh, có suối nước trong và rất nhiều thú vật hiền hòa đều sinh sống bình an hòa thuận với nhau. Rồi đến lượt ông bà nguyên tổ Ađam Evà được Chúa dựng nên và nhận làm nghĩa tử. Chúa cho hai người ở trong Vườn Địa Đàng (Eđen), và trao cho họ nhiệm vụ coi sóc canh tác vườn (Stk 2). Nhưng Nguyên tổ Ađam Evà do tội kiêu ngạo, đã cãi lệnh truyên của Thiên Chúa, nghe lời cám dỗ của con rắn ma quỷ để ăn quả cây Chúa cầm, hầu được theo sở thích của mình và không bị lệ thuộc vào Chúa nữa. Do phạm tội Tổ Tông này nên hai ông bà đã bị truất quyền làm nghĩa tử, bị đuổi ra khỏi Địa đàng, phải vào sống trong thung lũng trần gian đầy gai góc, nước mắt đau khổ với nhiều tai ương hoạn nạn bệnh tật và cuối cùng còn phải chết (x. St 3,7.16-19).
– Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ mặc loài người chết trong tội lỗi muôn đời, nên đã hứa ban một Đấng Cứu Thế thuộc dòng dõi người nữ đến, với nhiệm vụ chịu hình phạt chịu đóng đinh chân tay vào thập giá để chịu chết đền tội thay cho loài người, hầu khôi phục lại tình trạng hoan lạc và hạnh phúc đời đời cho loài người (x. St 3,15). Đức Giê-su đã mở ra một con đường mới để dẫn đưa loài người về giao hòa với Thiên Chúa. Người biến trần gian là nơi lưu đầy trở thành Nước Trời bình an hạnh phúc, trở lại tình trạng Thiên Đàng ban đầu khi mới được tao thành (x. Ed 36,35; Is 51,3), trở thành “Trời Mới Đất Mới, nơi công lý ngự trị” (2 Pr 3,13; Kh 21,1), trở thành Miền Đất Hứa cho dân It-ra-en Mới là Hội Thánh trở về quê hương đời sau.
2) Thiên Đàng ở đâu?
– Thiên Đàng là nơi Thiên Chúa ngự trị, nơi đầy hoan lạc bình an và hạnh phúc. Thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Phi-lip-phê đề cập đến quê hương Thiên Đàng như sau: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta, nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).
– Thiên Đàng không phải ở đâu xa, mà ở đâu có tình yêu, có hòa bình, không chém giết hận thù nhau, mọi người sống chung hòa hợp và hạnh phúc thì nơi đó là Thiên Đàng như ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm về triều đại hòa bình của Đấng Thiên Sai:
“Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ, bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Is 11,6-9).
Sách Khải Huyền cũng diễn tả về hạnh phúc Thiên Đàng đời sau: “Bấy giờ Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ, sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4).
Tóm lại, Nước Trời hay Thiên Đàng có thể không ở đâu xa, mà ở trong lòng mỗi người, trong cộng đoàn ta đang sinh hoạt. Thiên Đàng hay Triều Đại của Thiên Chúa không phải thuộc vật chất nên chúng ta không trông thấy được như lời Đức Giê-su nói: “Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: “Ở đây này!” Hay “Ở kia kìa!”, vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17,20-21). Ai yêu thương thì người ấy đang sống trong Nước Trời hay đang hưởng hạnh phúc Thiên Đàng vì “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,16). Còn ai không yêu thương sẽ bị loại ra ngoài Nước Trời, “Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13,50).
3) Kiến tạo Thiên đàng đời sau bằng việc gieo việc tốt yêu thương từ đời này:
Ngày xưa có một chàng thanh niên hồ nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Một hôm anh tìm đến một cha Bề Trên có tiếng là đạo đức của một dòng tu trong vùng và hỏi cha rằng:
– Thưa cha, cha có tin có Thiên Chúa không ?
Cha Bề Trên trả lời:
– Có chứ. Tôi tin.
– Nhưng dựa vào đâu mà cha lại tin như thế ?
– Tôi tin Thiên Chúa vì tôi biết Ngài. Tôi cảm nghiệm được Ngài ở trong tôi mỗi ngày.
– Nhưng làm sao mà cha cảm nhận được như thế ?
– Khi chúng ta yêu thì chúng ta sẽ cảm nghiệm được Thiên Chúa, và những nỗi hồ nghi trong ta sẽ tan biến như những giọt sương mai sẽ tự nhiên tan biến dưới ánh nắng mặt trời.
Chàng thanh niên suy nghĩ một lúc rồi hỏi tiếp :
– Xin cha chỉ rõ cho con phải làm gì để tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa?
– Bằng cách thực hiện những việc yêu thương. Anh hãy cố gắng yêu thương những người chung quanh anh, yêu thương tích cực và không ngừng. Khi anh học biết yêu thương ngày càng nhiều hơn thì anh cũng sẽ ngày càng xác tín hơn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự bất tử của linh hồn.
Cha bề trên chẳng nói gì khác hơn điều Tông Đồ Gio-an đã viết như sau: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu”. Nhà danh họa Van Gogh cũng nói: “Cách tốt nhất để biết Thiên Chúa là hãy yêu nhiều. Hãy yêu bạn mình, yêu vợ mình, yêu một cái gì đó. Rồi bạn sẽ thấy mình đang đi đúng đường dẫn tới chỗ biết Thiên Chúa”.
Có một vực thẳm ngăn cách giữa việc nhận biết Chúa và yêu mến Chúa. Không yêu Chúa thì sẽ không nhận biết Ngài. Nhưng khi chúng ta yêu thì vực thẳm này được lấp đầy ngay. Yêu Chúa là nhận biết Chúa. Nơi nào có tình yêu thì nơi đó có Chúa và là Thiên Đàng, cũng như nơi nào có Chúa thực sự thì nơi đó chắc chắn sẽ có tình yêu đang ngự trị và trở thành Thiên Đàng.
4) Hiện nay công trình cứu chuộc của Chúa cần chúng ta góp phần hoàn tất: 
Công trình cứu độ loài người của Thiên Chúa gồm hai phần: Đức Giê-su đã hoàn tất phần đầu thuộc về Thiên Chúa là nhập thể và mở ra con đường “Qua đau khổ vào trong vinh quang” để cứu độ nhân loại. Nhưng việc cứu độ chỉ hoàn tất với sự cộng tác của các tín hữu với ơn Thánh Thần để nhận được ơn tha tội và tích cực cứu độ anh em.
Vì thế, trước khi về trời, Đức Giê-su đã nhắc lại cho các môn đệ sứ vụ loan báo Tin Mừng để làm cho chương trình cứu độ được hoàn thành nơi mỗi người tín hữu, rồi mọi người cùng góp phần cải thiện môi trường mình đang sống ngày một sạch đẹp hơn, công bình nhân ái hơn, để khu phố, xí nghiệp, cơ quan… mình đang làm việc trở thành Thiên Đàng yêu thương, mang lại bình an hạnh phúc là dấu chỉ sau này chúng ta sẽ được hạnh phúc đời đời trên Thiên Đàng.
Chúa Phục Sinh đã trao trách nhiệm cho các Tông Đồ cũng là cho mỗi tín hữu hôm nay là phải làm chứng nhân cho tình thương của Chúa: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Vậy gieo yêu thương để làm chứng cho Chúa hôm nay, đòi mỗi người chúng ta phải tha thứ, nhịn nhục, thăm viếng, giúp đỡ những người khó ưa sống chung trong gia đình, trong các đoàn thể của giáo xứ, nơi trường học, chợ búa, xí nghiệp, cơ quan, và bất cứ nơi nào chúng ta hiện diện…
 
  1. LỜI CẦU:
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Khi Chúa về trời, sứ thần đã nhắc nhở các môn đệ: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn cứ đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời (Cv 1,10-11). Lạy Chúa, bấy lâu nay chúng con đã lơ là với lệnh Chúa truyền loan báo Tin Mừng. Chúng con thường chữa lỗi mình rằng: Tôi lo cho mình chưa xong, làm sao dám lo cho người khác! Tôi phải tối ngày lo kiếm tiền nuôi gia đình nên không có giờ rảnh để tham gia sinh hoạt hội đoàn; Chúng con thường nhát đảm sợ hãi khi đối diện với những lời chống đối hay chối từ… nên đến hôm nay chúng con vẫn chưa làm được gì cho Chúa. Xin giúp chúng con biết làm chứng cho Chúa bằng một đời sống vị tha bác ái, luôn nghĩ đến tha nhân. Xin cho chúng con biết chiếu ánh sáng của Chúa ra trước mặt người đời và trở nên muối ướp thiên hạ khỏi hư hỏng. Xin cho chúng con luôn sống chan hoà, như nắm men được hòa lẫn vào ba đấu bột, để cả khối bột là học đường, xí nghiệp, chợ búa, khu xóm, giáo xứ… được dậy lên men tình yêu mến Chúa.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

nTrời-313: MỘT KHỞI ĐẦU MỚI

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Khi nói đến lễ Chúa Giêsu lên trời hay lễ Thăng Thiên, chúng ta thường chỉ nghĩ đó là  thời điểm LênTrời-313

Khi nói đến lễ Chúa Giêsu lên trời hay lễ Thăng Thiên, chúng ta thường chỉ nghĩ đó là  thời điểm kết thúc sứ mạng cứu chuộc của Chúa Giêsu. Phụng vụ hôm nay, nhất là bài Tin Mừng, lại quy hướng chúng ta về với một khởi đầu mới, trong lạc quan và hy vọng. Không phải vô cớ mà cả ba bài Tin Mừng cho chu kỳ ba năm A,B,C đều là những đoạn kết của các Tin Mừng nhất lãm. Đây là những kết “mở”, dẫn chúng ta sang một khởi đầu mới.
 
Trước hết, đó là khởi đầu của sứ mạng truyền giáo được Chúa Giêsu uỷ thác cho các môn đệ. Sứ mạng này có điểm xuất phát là Giêrusalem, là thành thánh và là trung tâm của Do Thái giáo. Sứ điệp mà các môn đệ được trao phó là lời kêu gọi sám hối. Chúng ta hãy nhớ lại, đây cũng là nội dung lời rao giảng đầu tiên khi Chúa Giêsu khởi sự loan báo Tin Mừng: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!”. Có điều khác biệt là bây giờ Chúa Giêsu không còn hiện diện hữu hình nữa, mà Người hiện diện qua các chứng nhân. “Chính anh em là chứng nhân về những điều này”. Một thời đại mới đã khai mở, đó là thời của các chứng nhân, cũng là thời của Giáo Hội. Qua các ông, mọi người nhận ra Đức Giêsu đang sống và đang hiện diện trong các cộng đoàn Đức tin.
 
Tuy Chúa Giêsu không hiện diện thể lý giữa các môn đệ, Người lại hứa ban cho các ông “quyền năng từ trời cao ban xuống”. Quyền năng này là Chúa Thánh Thần. Vậy, đây là khởi đầu của một thời đại mà Thiên Chúa tuôn đổ Thần Khí của Ngài trên mọi tạo vật, để hướng dẫn và thánh hoá mọi xác phàm, nhất là những môn đệ. Điều này đã được thực hiện vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi các môn đệ đang cầu nguyện xung quanh Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. “Quyền năng từ trời cao” đã biến đổi các ông, ban cho các ông sức mạnh và nghị lực, nhờ đó, các ông không còn sợ hãi, mạnh dạn mở tung các cửa và can đảm rao giảng về Chúa Giêsu phục sinh.
 
Được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các ông đã lên đường. Đây là cuộc chia tay với Thày, đồng thời cũng là khởi đầu một cuộc lên đường mới. Tác giả Tin Mừng Luca diễn tả: “Các ông trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa”. Sứ điệp mà các ông lãnh nhận để rao giảng phát xuất từ Giêrusalem, nơi có Thiên Chúa hiện diện theo quan niệm của người Do Thái. Từ nơi này, ánh sáng Lời Chúa lên đường cùng với các ông, với tư cách là nhân chứng của Đấng Phục sinh, để chiếu toả đến tận cùng thế giới. Lời căn dặn của Chúa được ghi trong sách Tông đồ Công vụ còn cho thấy “không gian” của sứ vụ tông đồ rất rộng lớn bao la: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thày tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
 
Tác giả sách Công vụ Tông đồ, cũng là Thánh Luca, là một nhân chứng mắt thấy tai nghe, giờ phút chia tay giữa Chúa Giêsu và các môn đệ. Sau những lời căn dặn, Chúa Giêsu đã lìa họ mà về trời cao. Tác giả dùng chữ “được cất lên”, cùng với chi tiết đám mây bao phủ. Trong truyền thống Cựu ước, đám mây là yếu tố diễn tả các cuộc “thần hiện” của Đức Giavê (x. Xh 13,21-22); của Con Người (x. Dn7,13). Đức Giêsu, mặc dù vắng bóng, vẫn luôn luôn hiện diện trong Giáo Hội. Như vậy, cuộc “lại đến” của Chúa được các sứ thần áo trắng diễn tả, không phải là một cuộc trở lại, nhưng đúng hơn, là sự tỏ mình lần cuối để minh chứng sự hiện diện ấy.
 
Xem ra có mấy vị trong số các tông đồ vẫn còn quan niệm lệnh lạc về sứ vụ thiên sai của Đức Giêsu. Vì vậy mà họ hỏi Chúa: “Thưa Thày, có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục vương quốc Israen không?“. Xưa cũng như nay, độc giả không khỏi ngỡ ngàng trước câu hỏi đó. Thế mới thấy rằng để canh tân tư duy và quan niệm của con người không phải là điều dễ dàng. Bốn mươi ngày sau biến cố Phục sinh, các ông đã nhiều lần gặp Chúa, mà quan niệm về Đấng Thiên sai của các ông vẫn chưa thay đổi. Trước sự tăm tối của lòng trí con người, tác giả Thư Do Thái khích lệ chúng ta “Hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng thì đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác thì đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền. Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín” (Bài đọc II).
 
Mười ngày sau lễ Thăng Thiên, Mùa Phục sinh sẽ khép lai. Như đã nói ở trên, Lễ Thăng Thiên không phải hồi kết thúc nhưng là một khởi đầu mới cho sứ mạng làm chứng nhân cho Chúa của mỗi chúng ta, với tư cách là tín hữu. “Không ai cho người khác cái mình không có”, chúng ta chỉ có thể trở thành chứng nhân can đảm của Chúa Giêsu, một khi chúng ta vững niềm xác tín nơi Người, nhận ra sự hiện diện của Người trong đời sống chúng ta. Lễ Thăng Thiên cũng nhắc cho chúng ta, quê hương đích thật của chúng ta là trên trời. Chúa Giêsu đã đi trước để dọn chỗ cho chúng ta. Tin yêu và gắn bó với Người ở đời này, chắc chắn chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc với Người ở đời sau.
 
Hãy cùng nhau lên đường trong hân hoan hy vọng, vì Chúa Phục sinh ở cùng với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế!


 

nTrời-314: HƯỚNG LÒNG VỀ THƯỢNG GIỚI

Lm. Inhaxiô Trần Ngà 
Khi con người chỉ biết nhìn xuống…
 

Người phụ nữ có biệt danh là ‘bà Năm khòm’ đã trở thành nhân vật quá quen thuộc đối với những ai LênTrời-314

Người phụ nữ có biệt danh là ‘bà Năm khòm’ đã trở thành nhân vật quá quen thuộc đối với những ai hay lui tới công viên của thành phố nầy. Đã lâu lắm rồi, từ sáng tới chiều, ngày nầy qua ngày khác, người ta thấy bà lầm lũi cúi gập người xuống để tìm nhặt những đồng tiền lẻ mà khách nhàn du đánh rơi đâu đó trong công viên. Hình như nghề nầy đem lại cho bà nguồn thu nhập tương đối khá, nên ngày nào bà cũng khom người xuống và căng mắt tìm kiếm miệt mài như con kiến cần cù chăm chỉ nhất.
Vì ngày nào bà cũng cúi gập người xuống, đôi mắt lúc nào cũng đăm đăm nhìn sát mặt đất để tìm kiếm những đồng tiền rơi nên rốt cuộc, cần cổ của bà cụp xuống, lưng còng hẳn đi đến nỗi bà không còn ngửng lên nhìn trời được nữa. Vì thế, người dân quanh đó gán cho bà biệt danh là “bà Năm khòm.”
Thế là mặc dù kiếm được khá tiền, nhưng bà đã đánh mất cuộc sống. Bà chỉ biết có mặt đất mà không biết có bầu trời. Bà chỉ biết ky cóp những đồng tiền lẻ mà chẳng biết gì đến thế giới bao la muôn màu muôn vẻ chung quanh!
Hình ảnh người đàn bà còng lưng trong mẩu chuyện trên đây là biểu tượng cho những người chỉ biết có thế giới vật chất mà không màng gì đến thế giới thiêng liêng.
Nếu không được ánh sáng phục sinh và cuộc thăng thiên vinh hiển của Chúa Giê-su soi sáng, con người chỉ có thể thấy gần mà không thể thấy xa; chỉ biết chú mục vào cuộc sống phù du đời nầy mà lãng quên cuộc sống mai sau; chỉ biết vun quén của cải vật chất tạm bợ trần gian mà không lo tích lũy cho kho tàng vĩnh cửu; chỉ biết kiếm tìm lạc thú chóng qua mà lãng quên hạnh phúc trường cửu muôn đời…
Nếu không được ánh sáng phục sinh chiếu dọi, con người dễ dàng ngoảnh mặt với Trời, quay lưng lại với Thiên Chúa, khước từ thế giới thiêng liêng!
Họ xem mặt đất nầy là quê hương duy nhất. Họ xem nấm mồ như điểm đến cuối cùng của cuộc sống, như nhận định của thi hào Nguyễn Du:
“Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.”
 
Hãy ngước nhìn lên                                               
Sự kiện Chúa Giê-su lên trời mở ra cho loài người một viễn tượng mới: Thế giới loài người không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ vật chất nhưng còn mở vào cõi vô biên. Cuộc đời con người không chấm dứt trong nấm mồ tối tăm nhưng vượt qua đó để tiến vào vĩnh cửu.
Như ấu trùng ve sầu chui ra khỏi những lớp đất tăm tối, lột bỏ chiếc vỏ chật hẹp để đón chào thế giới mới, cất tiếng ca vang dưới ánh nắng mặt trời, con người cũng được mời gọi vượt lên trên thế giới hữu hình, phá bỏ lớp vỏ vật chất bó chặt đời mình để vươn vai trở thành tạo vật mới, sống một đời sống mới.
Thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta hãy hướng về đích xa:
“Quê hương chúng ta ở trên trời” (Phi-lip 3, 20).
Thế nên: “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” (Col 3, 1-4) và “đừng chú tâm đến những sự vật hữu hình nhưng đến những thực tại vô hình, vì những sự vật hữu hình là phù vân, vô hình mới trường cửu” (2 Cr 4, 18 ).
Sự kiện Chúa Giê-su lên trời kêu gọi chúng ta hướng về đích cao: đừng chỉ lo phần xác mà quên mất phần hồn, không chỉ biết đời nầy nhưng còn phải chuẩn bị cho đời sau.
Chỉ cúi nhìn xuống đất mà không biết ngẩng lên nhìn trời là đánh mất cuộc sống.
 
Lạy Chúa Giê-su,
Sau cuộc khổ hình đầy đau thương và bi thảm, Chúa đã được phục sinh vinh hiển và lên trời trong vinh quang.
Xin cho biến cố trọng đại này nhen lên trong lòng chúng con niềm hy vọng lớn lao là:  Nếu hôm nay chúng con thực thi lời Chúa mỗi ngày, thì mai đây chúng con sẽ cùng được phục sinh vinh hiển như Chúa.

 

nTrời-315: CHÚA LÊN TRỜI

Lm. Phạm Thanh Liêm
 

Đức Giêsu lên trời, nhưng Ngài vẫn ở với con người cho đến tận thế. Xin cho ki-tô hữu được nên LênTrời-315

Đức Giêsu lên trời, nhưng Ngài vẫn ở với con người cho đến tận thế. Xin cho ki-tô hữu được nên giống Đức Giêsu mỗi ngày một hơn.
Đức Giêsu lên trời
Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy Đức Giêsu đã hiện ra với các tông đồ suốt bốn mươi ngày sau khi Ngài sống lại. Trong thời gian này Người đã ăn uống với các ngài, dạy dỗ các ngài nhiều điều; rồi đến thời đã định, Người đã lên trời trước mắt các ông.
Phải hiểu điều này như thế nào, khi người thời nay biết trái đất tròn; như vậy, trời phía trên đầu của người ở Việt Nam, lại là hướng dưới chân của người ở Mỹ, và ngược lại. Một phi hành gia bay lên vũ trụ, trời là khoảng không đối với họ! Tin Mừng Đức Giêsu theo thánh Matthêu cho thấy Đức Giêsu không lên trời, nhưng ở lại với con người cho đến ngày tận thế: “Này đây Thầy ở cùng anh em cho đến ngày tận thế” (Mt.28, 20). Làm sao trả lời cho con người ngày nay về việc hai trình thuật dường như trái ngược nhau?
“Lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa”, là một cách nói dùng để chỉ Đức Giêsu được siêu tôn ngang bằng Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng vô hình, làm gì có tay phải tay trái như con người. Đây là cách nói nhân hình, nghĩa là, nói về Thiên Chúa theo kiểu con người. Để hiểu đúng, không được hiểu theo nghĩa đen. Đức Giêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, nghĩa là, Đức Giêsu là Thiên Chúa.
Các ngươi là chứng nhân về những điều này
Không phải tất cả mọi người đều được thấy Đức Giêsu Phục Sinh. Chỉ có một số người được chọn, mới được diễm phúc này, và họ trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Các tông đồ là những người được thấy Chúa, và các Ngài đã là những chứng nhân anh dũng của Đấng Phục Sinh qua việc dùng chính mạng sống mình để làm chứng. “Ngu gì” để chết cho điều không thật hoặc không quan trọng! Sẵn sàng chết để làm chứng Đức Giêsu đã phục sinh, làm cho điều các tông đồ rao giảng “đáng tin”.
Các tông đồ đã chết. Các ki-tô hữu là những môn đệ của Đức Giêsu, đến lượt mình, các ki-tô hữu được mời gọi trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh cho con người thời đại hôm nay.
Các tông đồ đã chết để làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Ki-tô hữu hôm nay được mời gọi để sống yêu thương, như dấu chứng Thiên Chúa đang hiện diện và hành động nơi ki-tô hữu trong thế giới này. Yêu, đòi phải hy sinh, và cũng là một cách “chết” cho người yêu.
Nên giống Đức Giêsu
Đức Giêsu là thượng tế, là của lễ và bàn thờ. Lời Thiên Chúa nhập thể vì yêu con người, Ngài đã chết để đền tội con người, để con người không phải chết vì tội mình nữa nhưng được sống, vì có người đã chết thế cho mình.
Đức Giêsu dùng chính máu Ngài để thanh tẩy tội lỗi con người. Ngài thương cảm con người với những yếu đuối và giới hạn của họ. Ngài đã trải qua tất cả những gian nan thử thách, để con người có can đảm tới với Ngài.
Là người, anh chị em với nhau. Mỗi người phải trở nên một “Giêsu khác” để thông cảm và nâng đỡ anh chị em mình. Mỗi người được mời trở nên giống Đức Giêsu, bằng “yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
 
  1. Theo bạn, Đức Giêsu Phục Sinh bây giờ đang ở đâu? Xin giải thích.
  2. Trong đời tu hoặc đời sống ki-tô hữu, người ta thường nói tới “cái chết không đổ máu”, bạn hiểu điều này như thế nào? Cho thí dụ.
  3. Người nên giống Đức Giêsu nhất, là người có những đức tính nào?
 

nTrời-316: CHÚA VỀ QUÊ

 Lm. Tạ duy Tuyền
 

Có câu thơ viết rằng: Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai LênTrời-316

Có câu thơ viết rằng:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay ?…
Đây là mấy câu thơ tuyệt đẹp của Hàn Mặc Tử. Nó đẹp bởi nó gợi lên một bức tranh quê đầy thơ mộng, lãng mạn. Một đêm trăng có gió, có mây, có cả bóng hình người con gái đưa đò sang sông.
Nó gợi nhớ cho ai xa quê một kỷ niệm, một nỗi niềm riêng. Xa quê nên chạnh lòng nhung nhớ. Xa quê nên chỉ mong được trở về tao phùng bên mái nhà xưa. Nỗi nhớ ấy dường như luôn da diết trong lòng.
Ai mang quê hương vào trong nỗi nhớ
Để chiều này da diết quá đi thôi !
Đôi quang gánh nghèo trên vai chị bán xôi
Chợt thương sao đôi vai gầy của mẹ.
Nỗi nhớ quặng vào tim khi nhớ người thân. Mong đem mưa về làm mát cho vườn cau, cho luống trầu xanh vì ở đó có bóng hình của Nội đầy yêu thương.
Khói bếp nhà ai thân thương quá đổi!
Nhớ khói lam chiều khuất bóng hàng Cau
Ai mang mưa về tưới mát vườn rau
Chợt thưong sao luống Trầu xanh của Nội!.
Hai tiếng quê hương không chỉ gợi nhớ về một nơi chốn mà còn là một cõi linh thiêng. Nơi ấy chất chứa bao kỷ niệm ngọt ngào như chùm khế ngọt mà ai đi xa cũng mong được trở về. Trở về mái nhà xưa hay trở về khung cảnh đồng nội thân thương đều là nỗi nhớ nhung da diết trong lòng người xa quê.
Thế nên, xa quê ai cũng mong trở về. Ai cũng mong kết thúc công việc, hay kết thúc hành trình để “áo mão về quê” hay “vinh quy bái tổ”. Dầu sao, xa quê ai cũng mong, cũng cầu được sớm trở về quê hương.
Hôm nay, chúng ta mừng ngày Chúa Giê-su vinh thắng trở về Quê Trời. Ngài về Quê Trời sau 33 năm dãi dầu mưa nắng chốn dương gian. Ba mươi ba năm sống xa Quê Trời đến cư ngụ giữa chốn nhân gian để thi ân, để phục vụ trong yêu thương. Ngài đã làm tất cả để cho danh Chúa Cha cả sáng. Ngài luôn tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa. Ngài đã kết thúc hành trình dương gian trong chén đắng vâng phục Chúa Cha để danh cha cả sáng. Ngài đã hoàn tất chuyến đi cuộc đời khi hoàn tất sứ vụ Chúa Cha trao là cứu độ nhân gian qua hiến tế đồi Calve.
Cuộc vinh thắng trở về Quê Trời của Chúa Giê-su cũng là niềm vui và là niềm hy vọng cho hành trình cuộc đời chúng ta. Một hành trình không vô định nhưng có điểm tới là quê Cha trên trời. Chính Chúa Ky-tô đã soi lối mở đường cho chúng ta. Chính Ngài đã đi trước để dọn chỗ cho những ai tin theo Người. Từ nay u sầu sẽ gặp niềm vui. Từ nay những đau khổ đời này không còn làm cho con người thất vọng, nhưng ánh vinh quang phục sinh của Chúa đã mang lại niềm hy vọng và lạc quan cho cuộc đời chúng ta.
Cuộc vinh thắng trở về quê trời của Chúa Giê-su là cuộc khài hoàn vì Ngài đã trải qua đau khổ mới tới vinh quang. Hay nói cách khác, cuộc vinh quy bái tổ nơi quê trời cần lắm nhưng công lao mà chúng ta đã làm nơi dương thế. Đó là những hy sinh, những từ bỏ con đường xấu, từ bỏ con đường thênh thang để đi vào con đường hẹp, con đường của nói không với tội và sống tuân hành theo thánh ý Thiên Chúa.
Hôm nay nhìn Chúa về trời. Các tông đồ cảm thấy lòng trào dâng niềm vui. Xa xăm nơi cuối chân trời chỉ còn vang vọng lời Thầy chí Thánh Giê-su: “Anh em hãy làm chứng nhân cho Thầy. Khởi từ Giê-rusalem cho đến tận cùng thế giới”. Xin cho mỗi người chúng ta đang khi hướng lòng về trời cao cũng biết chu toàn sứ vụ trần thế trong niềm hân hoan, ngõ hầu “Ra đi tay ôm bó lúa đi gieo – Ngày trở về miệng reo vang câu hát mừng. Amen.

 

nTrời-317: LÒNG THƯƠNG XÓT TUÔN TRÀO TỪ TRỜI CAO

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Nhà du hành vũ trụ người Nga sau khi trở về từ trạm không gian đã tuyên bố : Tôi không thấy LênTrời-317

Nhà du hành vũ trụ người Nga sau khi trở về từ trạm không gian đã tuyên bố : Tôi không thấy thiên đàng ở đâu cả ! Trái lại, nhà tư tưởng Pascal sau khi nhìn vào kính thiên văn, ông đã nói : Tôi thấy Thiên Chúa bay ngang qua ống kiếng của tôi  ! Gần đây hơn, các nhà khoa học Mỹ khi nghiên cứu về sự hình thành vũ trụ đã tuyên bố : Chúng tôi đã thấy dấu vết bàn tay của Thiên Chúa.
Sự hiện diện và vắng mặt của Thiên Chúa trong cuộc sống và trong thế giới luôn là một thách thức đối với niềm tin của nhiều người. Có người cho rằng, Chúa Giêsu lên trời là chấm dứt tất cả sứ mạng của Ngài, Ngài không còn liên hệ gì với thế gian này nữa và cũng không còn ảnh hưởng nhiều trên cuộc sống cá nhân người tín hữu nữa. Các bài đọc của ngày lễ Chúa Giêsu lên trời hôm nay muốn khẳng định một giáo lý hết sức quan trọng : Chúa Giêsu kết thúc sứ mạng của Ngài tại trần gian, nhưng Ngài không bỏ thế giới này. Ngài không cắt đứt mối liên hệ với con người, nhưng chỉ là thay đổi cách thức hiện diện và hoạt động mà thôi. Ngài không hiện diện với con người bằng thân xác hữu hình như trước đây nữa, nhưng Ngài hiện diện cách vô hình, song lại có thể can thiệp cách mạnh mẽ để bảo vệ con người. Chúa Giêsu đã từng mang thân phận con người, nên đã thuộc về thế giới này, Ngài không thể bỏ con người. Ngài về trời, tức là Ngài trở về trong vinh quang của một một vị Thiên Chúa, như một hoàng đế chiến thắng trở về trong tiếng ca khải hoàn và trong vinh quang. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương dẫn dắt chúng ta.
Các tông đồ là nhưng người đã hiểu và đã tin vào sự hiện diện vắng mặt này cùa Chúa Giêsu, nên các ông vẫn hăng say làm việc như là Chúa vẫn đang hiện diện cụ thể bên các ông. Đoạn mở đầu Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy những bước ngoặt quan trọng làm thay đổi các tông đồ. Tác giả lược lại vắn tắt cuộc đời tại dương thế của Chúa Giêsu Nazaret. Ngài chính là vị Thiên Chúa đến ở với con người, Ngài đã sống và rao giảng Tin Mừng trong toàn cõi Giuđêa, cuối cùng Ngài đã chết và đã sống lại. Sau khi sống lại, Ngài đã hiện ra trò chuyện, ăn uống với các tông đồ và Ngài nói trước cho các ông về việc Ngài sẽ rời khỏi các ông và sẽ trao ban Thánh Thần cho các ông.
Chúa về trời, Ngài thay đổi cách thức hiện diện với nhân loại. Ngài không hiện diện bằng thể xác như trước đây, nhưng Ngài hiện diện bằng quyền năng Thánh Thần của Ngài, Đấng Ngài sai đến từ nơi Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu không muốn các tông đồ bị bó hẹp trong những lợi ích, ranh giới quốc gia nhỏ hẹp, không chỉ nghĩ đến việc khôi phục vương quốc Israel, nhưng Ngài đã mở ra cho các tông đồ một chân trời mới rộng lớn hơn, vượt mọi ranh giới quốc gia, để hòa mình vào thế giới, trong quyền năng và kế hoạch của Thiên Chúa. Một khi được đón nhận quyền năng của Chúa Thánh Thần, các tông đồ không còn bị giới hạn bởi bất cứ rào cản nào, nhưng phải trở thành chứng nhân của Chúa, khởi đầu từ Giêrusalem cho đến tận cùng trái đất. Trong sứ mạng này, Chúa Giêsu hứa sẽ ở bên các ông và cùng hoạt động với các ông nhờ Thánh Thần của Người.
Tác giả sách Công Vụ kể tiếp : Chúa Giêsu được cất lên ngay trước mặt các tông đồ và có đám mây quyện lấy Người khiến các ông không còn thấy Người nữa. Như thế, Kinh Thánh muốn nhấn mạng rằng : Chúa Giêsu được cất lên, không phải là đi vào một hành tinh xa xôi, nhưng Ngài vẫn ở trên cao ngay trước mắt các tông đồ và mỗi chúng ta. Chỉ vì bị giới hạn bởi mắt thịt, bị che khuất bởi những đám mây là giới hạn của con người, bởi những hào nhoáng của vật chất, khiến chúng ta không thể nhìn thấy Ngài.
Sách Công Vụ kể tiếp : Lúc các ông còn mải nhìn lên trời, thì có hai thiên thần mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói : Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời ?  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông về trời cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. Thánh Gioan còn ghi thêm cảm nhận và tâm trạng của các tông đồ : Các ông bái lậy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ và hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
Cho đến lúc này, chứng tỏ các tông đồ đã nhận ra Thầy của mình chính là Thiên Chúa, vì thế, họ bái lậy Người như họ vẫn bái lậy Thiên Chúa của Israel. Họ chia tay Chúa Giêsu không phải trong buồn thảm, nhưng trong sự hân hoan vui mừng. Các tông đồ hân hoan vui mừng vì từ nay, Chúa Giêsu sẽ hiện diện với các ông trong từng lời nói và hành động. Các ông sẽ không còn co cụm tại Gierusalem, cũng không chỉ đứng ngước mắt nhìn trời, nhưng Chúa muốn các ông trở về với cuộc sống thường ngày để nói cho mọi người và chỉ cho mọi người thấy Chúa đang hiện diện và hoạt động trong các ông.
Mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc chúng ta đã trở về trong vinh quang của Thiên Chúa. Chúng ta tin rằng, vì đã từng chia sẻ thân phận với con người, Ngài dễ dàng cảm thông với thân phận con người chúng ta. Giờ đây, trong vinh quang của Thiên Chúa, Ngài vẫn luôn hiện diện, che chở và dẫn dắt thế giới và mỗi người ta qua mọi chặng đường cuộc sống.
Tuy tin vào Chúa Giêsu, Đấng quyền năng đang hiện diện, nhưng khi gặp thử thách, nhiều người vẫn  bị chao đảo. Những khi rơi vào vực thẳm tăm tối không lối thoát, chúng ta cảm thấy dường như Chúa vẫn im lặng, Chúa vẫn ẩn mặt làm ngơ. Có những người trong cơn cùng cực đã oán trách : Chúa ở đâu ? Chúa có thấy nỗi khổ của tôi không ? Nhiều người khác đã sống như thể là Thiên Chúa không còn hiện diện trong cuộc đời của họ. Vì thế, họ sống một cuộc sống buông xuôi, không cầu nguyện, thiếu tin tưởng, họ cho rằng tự mình có thể giải quyết được tất cả mọi sự mà không cần Thiên Chúa.
Vì không nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, nhiều người đã sống như kẻ không niềm tin, không hi vọng, sống trong buồn chán, hoặc sống cách buông thả. Người khác lại sống như thể không có Chúa bên mình, nên họ gian dối, quanh co và làm những điều bất công gian ác.
Sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, một cô gái, con một vị giảng thuyết nổi tiếng trả lời phỏng vấn trên truyền hình. Người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô như sau : Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vậy ?
Thiếu nữ này trả lời thật thâm thúy : “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta. Ngài là người “quân tử” nên đã lẳng lặng rút lui. Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin Ngài để mặc chúng ta một mình ? Về những biến cố mới xảy ra như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh …, tôi nghĩ rằng, mọi sự đã bắt đầu với việc người ta đề nghị không nên đọc kinh cầu nguyện nữa. Và chúng ta đã đồng ý”.
Thật kỳ lạ là con người có thể vứt bỏ Chúa một cách dễ dàng rồi sau đó lại tự hỏi tại sao thế giới nhiều sự ác và biến thành địa ngục. Thật kỳ lạ là chúng ta lại có thể tin những gì báo chí nói mà lại nghi ngờ những gì Kinh Thánh và Giáo Hội nói. Thật kỳ lạ là chúng ta nói với nhau đủ điều, đủ chuyện, nhưng khi nói về Thiên Chúa thì chúng ta lại đắn đo suy nghĩ và ngại ngùng.
Chúa lên trời, Ngài để lại sự nghiệp của Ngài cho chúng ta và muốn chúng ta tiếp tục sứ mạng của Ngài. Xin cho chúng ta luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi hoàn cảnh và xin Chúa giúp ta trở thành người không mệt mỏi nói về Chúa cho anh chị em. Amen.

 

nTrời-318: THĂNG THIÊN – MỘT BIẾN CỐ LỊCH SỦ SIÊU VIỆT

Lam Thy
 

Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 660) viết: “Biến cố Thăng Thiên, vừa lịch sử vừa siêu việt, LênTrời-318

Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 660) viết: “Biến cố Thăng Thiên, vừa lịch sử vừa siêu việt, đánh dấu sự chuyển tiếp từ vinh quang này đến vinh quang kia.” Nói việc Chúa Giê-su Ki-tô thăng thiên mang tính lịch sử vì nó đã xảy ra trong một thời điểm nhất định (năm 33 – thế kỷ I công nguyên), ở một nơi chốn cụ thể (núi Ô-liu gần Bê-ta-ni-a, giáp phía đông thành Giê-ru-sa-lem của It-ra-en – xc Lc 24, 50-51; Cv 1, 12). Còn nói biến cố này mang tính siêu việt là muốn nói đến tính chất siêu linh vượt trên tất cả các biến cố trần thế.
Biến cố lịch sử siêu việt Thăng Thiên đã được Đức Giê-su tiên báo và dạy bảo rất kỹ từ trước: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” – Ga 14, 1-3). Tuy nhiên, khi biến cố đó xảy ra thì các môn đệ vẫn bày tỏ thái độ hoang mang lo sợ, điển hình như cảnh: “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa”, và thế là các Tông đồ cứ “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi” (Cv 1. 9-10).
Các Tông đồ đã được “thực mục sở thị” mầu nhiệm thăng thiên của Thầy mình, cũng tức là đã được củng cố đức tin vững vàng về mầu nhiệm Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, xuống thế làm người, chịu khổ hình thập giá vì tội lỗi loài người, đã sống lại và thật sự lên trời vinh hiển. Những việc làm, những Lời dạy của Thầy đã là hiện thực 100%; vậy thì còn “đăm đăm nhìn theo bóng dáng Thầy” làm chi nữa? Cái tâm trạng băn khoăn lo lắng để rồi thì cứ “đăm đăm nhìn theo bóng dáng Thầy” nó cũng chẳng khác gì cảnh Thầy dạy: ”Thầy đi đâu thì anh em đã biết đường rồi”, thì ngay lập tức hỏi lại: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14, 4-5). Tuy không dám nói ra, nhưng chắc chắn trong lòng các môn đệ vẫn băn khoăn thắc mắc: “Thầy lên trời, vậy trời ở đâu, và tại sao Thầy lại nói Thầy về với Chúa Cha ở trên trời mà vẫn “ở cùng anh em mọi ngày cho đến ngày tận thế” (Mt 28, 20 )? Và vì thế nên cứ “đăm đăm nhìn theo bóng dáng Thầy”.
Tâm trạng các tông đồ cũng là tâm trạng chung của con người, bởi cho đến thế kỷ XXI văn minh tiến bộ vượt bậc này, khoa học vẫn chưa chứng mình được trời ở đâu.  Nếu đã tin chắc trái đất tròn, đặt giả thử biến cố thăng thiên xảy ra ở mặt địa cầu phía đối nghịch với Ít-ra-en (như ở Việt Nam, chẳng hạn), thì  Đức Giê-su sẽ bay lên trời theo hướng ngược lại với hướng mà các Tông đồ cứ “đăm đăm nhìn theo”. Vậy thì trời ở đâu, ở phía trên đầu các môn đệ tại Giê-ru-sa-lem hay phía trên đầu các dân tộc Á Đông? Điều đó cho thấy biến cố Chúa lên trời chỉ là một cách Thiên Chúa mạc khải cho con người dễ hiểu mà thôi. Còn thực chất trời không phải là một không gian cố định nào và kể từ khi Chúa phục sinh thì Người không còn bị giới hạn bởi thân xác phàm tục nữa, mà là cùng lúc Người vẫn kết hợp mật thiết với Ngôi Cha và Ngôi Ba, đồng thời Người còn ở khắp mọi nơi “cả trên trời, dưới đất và trong nơi âm phủ nữa”. Như vậy là đã rõ, trời không phải là ở chỗ này hay chỗ kia, ở trên cao hay dưới thấp, mà là ở khắp mọi nơi.
Quả thật “Trời” chỉ là một tình trạng chớ không phải là nơi chốn hay khoảng không gian cố định. Hiểu theo Ki-tô giáo thì “Trời” chỉ là tình trạng của con người được kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa, là nguồn sự sống vĩnh cửu, hạnh phúc vô biên, nguồn chân thiện mỹ, vinh quang tuyệt đối. Vì thế, việc Đức Giê-su lên trời có nghĩa là Người trở về với Chúa Cha, mang theo nhân tính mà Người đón nhận khi trở thành người trần trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và nhập thế; để từ đó đưa nhân tính ấy kết hợp trọn vẹn với Thiên Chúa Ba Ngôi. Với biến cố thăng thiên, Đức Giê-su muốn đưa các môn đệ vào không gian mầu nhiệm để họ kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa, được thông hiệp sự sống kỳ diệu, nguồn chân thiện mỹ vô tận với Người. Người đã đưa họ lên trời vì Người là Đầu và các môn đệ là chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Người. (xc GL/HTCG, số 659-667).
Cũng trong ý nghĩa siêu việt đó, Đức Giê-su còn giao cho các môn đệ một nhiệm vụ quan trọng là xây dựng Nước Trời ngay trong lòng xã hội trần thế này, để cho mọi người tin vào Đấng Cứu Độ cũng được chia sẻ sự sống kỳ diệu, nguồn chân thiện mỹ vô tận và hạnh phúc vô biên của Thiên Chúa. Các môn đệ phải trở thành chứng nhân của Đức Ki-tô Phục Sinh (“Chính anh em là những chứng nhân về những điều này” – Lc 24, 48), nhờ sự kết hợp mật thiết với Chúa Giê-su và những đặc sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng được Chúa Cha hứa ban cho họ. Vì thế, càng kết hợp với Chúa Giê-su, người Ki-tô hữu càng cảm nghiệm được tình trạng thiên đàng và cũng là tình trạng Nước Trời (GL/HTCG, số 1023-1029). Khi Giáo hội hướng dẫn người tín hữu sống thánh thiện để được “nên thánh giữa đời” (lên Thiên đàng, lên trời ngay ở trần gian này) là có chủ ý giúp giáo dân “cảm nghiệm được tình trạng thiên đàng và cũng là tình trạng Nước Trời” vậy. Chỉ đến khi nào “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20), thì mới hiểu được Lời dạy: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 20).
Rõ ràng vấn đề quan trọng không phải là “cứ đăm đăm nhìn theo bóng dáng Thầy”, để mà tiếc nuối, hoặc để mà thắc mắc xem trời ở đâu và Thầy lên trời sẽ cư ngụ chỗ nào; mà là hãy nhớ lại lời Thầy đã truyền: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Mt 28, 19). Vì thế, nên “Các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.” (Mc 16, 20). Sở dĩ các Tông đồ tiên khởi làm được như vậy, chính là nhờ biến cố “ngày lễ Ngũ Tuần” tiếp liền với biến cố lịch sử siêu việt Thăng Thiên đã giúp cho các ngài có một lòng tin sắt đá vào Thầy của mình, bởi “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.” (Mc 16, 17-18).
Có thể kết luận: “Thiên Chúa đã muốn dùng mạc khải để bày tỏ và thông ban chính mình Ngài cùng những ý định muôn đời của Ngài liên quan đến phần rỗi nhân loại, “nghĩa là cho họ được tham dự vào các ân thiêng hoàn toàn vượt khỏi trí khôn loài người”. Chính nhờ Thiên Chúa mạc khải mà “tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa tự nó vốn không vượt quá khả năng lý trí con người, trong hoàn cảnh hiện tại của nhân loại, đều có thể biết được cách dễ dàng, chắc chắn mà không lẫn lộn sai lầm”. (Hiến chế Tín Lý về  Mạc Khải “Dei Verbum”, số 6). Rõ ràng Thiên Chúa đã vì Tình Yêu đến với con người bằng con đường mạc khải (mạc khải liên tiếp mầu nhiệm Lòng Thương Xót Nhập Thể => mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh => mầu nhiệm Thăng Thiên và Hiện Xuống); vậy thì tại sao con người lại không đến với Thiên Chúa bằng con đường đức tin?
Vâng, chính đức tin là con đường giúp con người tìm gặp Thiên Chúa để “khám phá ra một số ‘con đường” giúp nhận biết Người. Những con đường này còn được gọi là “bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa”, không theo nghịa bằng chứng khoa học tự nhiên, nhưng theo nghĩa những “luận chứng đồng quy và có sức thuyết phục”, giúp con người biết chắc có Thiên Chúa.” (Giáo lý HTCG, số 31). Từ đó “con người phó thác toàn thân cho Thiên Chúa một cách tự do “dâng lên Thiên Chúa mạc khải sự qui phục hoàn toàn của lý trí và ý chí”, đồng thời sẵn lòng chấp nhận mạc khải Ngài ban cho. Ðể được niềm tin này, cần có ân sủng Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần: Ngài thúc đẩy và quy hướng con tim về cùng Thiên Chúa, mở mắt lý trí và làm cho “mọi người cảm thấy dịu ngọt khi đón nhận và tin theo chân lý”. Và để việc hiểu biết mạc khải được sâu rộng thêm mãi, cũng chính Chúa Thánh Thần không ngừng kiện toàn đức tin qua các ơn của Ngài.” (Hiến chế “Dei Verbum”, số 5)
Ôi! Lạy Chúa, xin cho con biết sống đức tin của mình một cách chân thực. Vì quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng đức tin của mình thật hùng hồn trước mặt mọi người, nhưng đời sống con lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu, thậm chí có nhiều khi con còn hoài nghi cả chính mình về một niềm tin con đã chọn cho đời mình! Vậy mà con lại luôn miệng chia sẻ niềm tin ấy cho mọi người, khiến người nghe cảm thấy những lời con nói chỉ là những sáo ngữ trên môi miệng, những lời giả dối… Thật chẳng khác “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm.” (Mt 23, ).
Ôi! Lạy Chúa! Xin ban Thánh Linh giúp con thật sự sống những điều con tin, và rao giảng những điều con sống. “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển. Là Thủ Lãnh, Người đã đi trước mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Thăng Thiên).

 

nTrời-319: CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN_C

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến. 
 

Tuần này, cùng với mọi người sống trên đất nước Hoa kỳ này, chúng ta mừng Ngày Hiền Mẫu hay LênTrời-319

Tuần này, cùng với mọi người sống trên đất nước Hoa kỳ này, chúng ta mừng Ngày Hiền Mẫu hay Ngày Của Mẹ.  Một ngày đặc biệt để ghi nhớ công ơn “bao la như biển Thái bình” của những người mẹ.  Xin chúc mừng những người mẹ hiện diện trong thánh đường hôm nay, nhất là hội viên của hội Hiền mẫu, một ngày vui mừng và tốt đẹp nhất. Cầu xin Chúa qua lời cầu bầu của Hiền Mẫu Maria và thánh cả Giuse, ban nhiều ơn lành xuống cho tất cả các bà mẹ.
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên, Chúa về trời ngự bên hữu Chúa Cha.  Trong mỗi Thánh lễ, chúng ta cùng tuyên xưng “Người, Chúa Giê-su Ki-tô, lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha.” Đây là một hình ảnh rất quan trọng trong Kinh thánh.  Có lẽ hình ảnh này không đánh động mạnh mẽ vào chúng ta như những Ki-tô hữu ban đầu đang phải đối diện với những sự cấm đạo, tù đầy và bách hại.  Thánh Gioan ngay chương đầu cho chúng ta biết “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy.” (Ga. 1, 1-5)  Có nghĩa là Ngôi Lời ngự bên hữu Thiên Chúa Cha trước khi Người xuống thế làm người và bây giờ Người được tôn vinh và trở lại với ngôi vị quyền năng như trước.  Đối với những người không có đức tin vào mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa và vào mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể, thì sự kiện Chúa Giê-su được ngự bên hữu Chúa Cha là một sự nhạo báng, một sự phạm thượng hay sự lộng ngôn.  Và đó cũng chính là phản ứng của thượng tế Cai-pha trong vụ án xử Chúa Giê-su.  Khi Cai-pha hỏi Chúa Giê-su: “Ông có phải là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa không?”, Người đã nói cho ông biết: “Ông đã nói đúng. Nhưng Ta nói thật với các ông, rồi đây các ông sẽ xem thấy Con Người ngự bên hữu Ðấng Toàn Năng.” Cai-pha đã xé áo và kêu lớn tiếng: “Nó đã nói lộng ngôn!” (Mt. 26,64)
Nếu giả sử tôi nói với ông bà anh chị em: “Khi ông bà anh chị em lên Thiên đàng, ông bà anh chị em sẽ thấy các thiên thần, các thánh và tôi ngồi bên hữu Chúa Cha”, có lẽ ông bà anh chị em cho tôi là dại hay lộng ngôn.  Thế nhưng hình ảnh ngự bên hữu Chúa Cha của Chúa Giê-su đối với những người tin theo Chúa, nói lên sự cao cả bất diệt, nói lên vương quyền và nhất là thiên tính của Chúa Giê-su Ki-tô.  Chúng ta hãy nghĩ điều lạ lùng này: một con người như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi, ngự trên ngôi cao nhất trên Thiên đàng, đồng bản thể, chia sẻ vinh quang và quyền năng với Thiên Chúa Cha. Khi phó tế tiên khởi Tê-pha-nô bị tử vì đạo, trước khi chết đã thốt lên từ miệng ngài: “Kìa, tôi đã thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Chúa Cha.” (Cv. 7, 56)  Chúng ta thấy thánh Phao-lô đã diễn tả niềm tin lạ lùng này một cách mạnh mẽ trong bài đọc 2 hôm nay, ngài nói “Đối với chúng ta, là những kẻ tin, … công việc mà Thiên Chúa đã thực hiện trong Ðức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời,… Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài.” Thánh Phê-rô, trong bài giảng đầu tiên sau Lễ Ngũ tuần, đã mạnh mẽ tuyên xưng cho mọi người biết “Thiên Chúa đã cho Đức Ki-tô sống lại; tất cả chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Vậy sau khi được nhắc lên bên hữu Thiên Chúa, Người đã ban Thánh Thần.” (Cv. 2, 33) Và chúng ta thấy thánh Phao-lô đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần về hình ảnh Chúa Giê-su ngự bên hữu Chúa Cha trong những thư của ngài, cùng trong thư gởi người Do thái.
Thánh Lu-ca cho chúng ta 2 sự kiện Lên Trời.  Trong bài đọc 1 sách Tông đồ công vụ, các tông đồ đưa mắt lên trời chăm chú nhìn ngắm Chúa Giê-su biến vào trong đám mây.  Trong bài Tin mừng, các tông đồ trở về Giê-ru-sa-lem với tâm hồn đầy vui mừng, nhận biết Chúa Giê-su Ki-tô –Chịu-Đóng Đinh-Chết-Trên-Thánh-Giá hiện đang sống.  Và trong cả 2 sự kiện, chúng ta được biết các tông đồ đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần từ Chúa Giê-su, Đấng ban cho các ông quyền năng để các ông đi khắp nơi loan báo Tin mừng, và can đảm làm chứng cho sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô.
Ông bà anh chị em thân mến.  Chúng ta hình dung sự kiện Chúa lên trời, được một đám mây bao phủ, che khuất mắt các tông đồ như được diễn tả trong sách Tông đồ công vụ, và từ đó không một con mắt của người phàm trần nào được thấy, trừ các thánh mà thôi.  Mặc dù con mắt phàm trần của chúng ta bị che kín, nhưng Kinh thánh muốn cho chúng ta thấy rõ Chúa Giê-su Ki-tô chia sẻ vinh quang và quyền năng với Thiên Chúa Cha trên Thiên đàng.  Chúng ta tin thật Thiên Chúa, Đấng đã làm cho thân thể Chúa Giê-su phục sinh sống lại từ cõi chết, đã ban Người cho Giáo hội, cho chúng ta, trở thành Ơn Cứu Độ và dẫn chúng ta đến vinh quang của Người.  Chúng ta biết, trước khi về trời Chúa Giê-su đã hứa: “Thầy đi và dọn chỗ cho chúng con rồi, Thầy lại đến đón chúng con về cùng Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng được ở đó.” (Ga 14:2-3). Và Chúa còn cầu nguyện cho ý hướng đó: “Lậy Cha, đối với những kẻ Cha đã trao phó cho con, thì con muốn rằng, hễ con ở đâu, họ cũng được ở đó với con, để họ mục kích sự vinh hiển Cha đã ban cho con.” (Ga 17:24).
Sự kiện Chúa về trời hay về Thiên đàng là dấu chỉ cho cùng đích của người Ki-tô hữu chúng ta. Chúng ta biết dù chúng ta có luyến tiếc tiền bạc, tài sản và sự nghiệp thế gian chùng nào đi nữa, một ngày nào đó, ta sẽ phải từ biệt mọi người và rời khỏi trần thế này.  Mừng kính Chúa về trời hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi: Có bao giờ chúng ta đã hướng cuộc sống và lòng trí chúng ta về trời không và như thế nào?  Hướng cuộc sống chúng ta về trời sẽ giúp chúng ta biết sống tốt lành, thánh thiện, đạo đức, công bằng, ngay thẳng, vị tha và bác ái hơn.  Hướng tâm hồn chúng ta về trời sẽ giúp chúng ta biết sử dụng những ơn lành Chúa ban một cách khôn ngoan và sáng suốt hơn, để chúng ta sống trong an bình và ơn sủng Chúa đời này, và khi đối diện với Chúa Giê-su Ki-tô Vua trước toà phán xét công minh đời sau, chúng ta sẽ được hưởng vinh quang với Người.  Một lần nữa, xin chúc tất cả các bà mẹ, trong Ngày Hiền Mẫu hôm nay, một ngày thật vui mừng và tràn đầy ơn lành của Chúa.

 

nTrời-320: TỪ BỎ ĐAM MÊ ĐỂ ĐƯỢC LÊN TRỜI

Lm. Giuse Nguyễn
 

Trong bài giảng sáng thứ Ba, 03/05/2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã xin mọi người đừng là Kitô LênTrời-320

Trong bài giảng sáng thứ Ba, 03/05/2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã xin mọi người đừng là Kitô hữu “xác ướp”, hay Kitô hữu “lang thang”. Đối với loại Kitô hữu lang thang, Ngài nói: “Khi đổi hướng sau bao nhiêu lần (con đường) trở thành một trận đồ huyền bí, một bến mê, và họ không biết làm sao để ra khỏi. Họ đã để mất tiếng gọi của Chúa Giêsu. Họ không có la bàn để tìm đường ra và họ cứ phải loay hoay tìm kiếm. Có những Kitô hữu kia, trên hành trình đã bị mê hoặc bởi một cái gì và họ dừng lại nửa đường, bị mê hoặc bởi cái gì họ thấy, bởi một ý tưởng, một đề nghị hay một phong cảnh đẹp. Và họ đã dừng lại! Đời sống Kitô không phải là một sự mê hoặc: mà là chân lý! Đó là Chúa Giêsu Kitô!”.
 
  1. Con đường về trời
Đời sống đức tin của chúng ta là bước theo Đức Giêsu Kitô. Ngài đã xuống thế làm người, sống với con người, chết cho con người, sống lại để ban ơn cứu độ cho con người, lên trời để đưa con người vào đời sống mới. Cho nên, nó là một cuộc tình để chúng ta gắn bó đời mình với Đấng đã yêu thương chúng ta, và chúng ta hạnh phúc.
Để có thể bước theo và gắn bó đời mình với Đấng đã yêu thương chúng ta, thánh Luca đã nói trong đoạn đầu của sách Tông Đồ Công Vụ: “Trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những viêc Đức Giêsu làm và những điều Người dạy, kể từ đầu cho đến ngày Người được rước lên trời” (Cv 1, 1-2a). Nghĩa là Tin mừng đã tường thuật tất cả cho chúng ta về cuộc đời của Đức Giêsu. Vì vậy để yêu mến Đức Giêsu chúng ta phải yêu mến cuộc đời của Ngài trong Tin Mừng; để khỏi lạc đường, chúng ta có Tin Mừng là la bàn để chỉ đường cho chúng ta đi.
Ai trong chúng ta cũng biết mình xuất phát từ đâu? Mình đang làm gì? Và mình sẽ về đâu? Chúng ta xuất phát bởi tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa; chúng ta đang nổ lực để xây dựng cuộc đời mình trong sự canh tân của Chúa Thánh Thần; và chúng ta sẽ được về trời cùng với Đức Giêsu. Thế cho nên, con đường chúng ta đang đi là con đường về quê trời.
Vấn đề của chúng ta là vấn đề đã được Đức Thánh Cha Phanxicô nêu lên trong bài giảng sáng ngày 03/05/2016 tại nhà nguyện thánh Macta: “Có những Kitô hữu kia, trên hành trình đã bị mê hoặc bởi một cái gì và họ dừng lại nửa đường, bị mê hoặc bởi cái gì họ thấy, bởi một ý tưởng, một đề nghị hay một phong cảnh đẹp. Và họ đã dừng lại!” Vấn đề ở chỗ có “một cái gì” đó đã cản trở chúng ta về trời.
 
  1. “Một cái gì đó!”
Không lạ lẫm gì với “một cái gì đó” cản trở con đường về trời của chúng ta. Nó chính là 7 mối tội đầu: “Kiêu ngạo, hà tiện, mê dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng”. Mọi sai lầm, mọi tội lỗi đều xuất phát từ đây. Mỗi người đều bị một, hoặc một vài, thậm chí là tất cả những mối tội đầu này cản trở khiến chúng ta “cất cánh” lên không nổi để về trời. Nó nặng quá, nó trì trệ chúng ta.
7 mối tội đầu này lại được bao bọc bởi một cái gì đó thật hấp dẫn khiến cho con người chúng ta khó từ chối; thậm chí nó trở thành một ma lực để lôi kéo con người đi đến chỗ chết.
Ví dụ mê dâm dục được bao bọc bởi sự thỏa mãn dục vọng. Càng ngày nó như một thứ thuốc phiện làm cho người ta bị nghiện không thể dứt ra được, mặc dù biết nó là xấu xa, tội lỗi. Đến một lúc nào đó nó trở thành tâm bệnh đối với một số người. Thế giới riêng tư của họ là một thế giới đầy dẫy những tư tưởng, những hình ảnh và những hành động bệnh hoạn liên quan đến dục vọng.
Vì những mối tội đầu này, cụ thể là tội mê dâm dục làm cho người ta không còn thấy con đường phía trước. Nó chính là thực tế mà Đức Giêsu đã nói: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”. Vì họ không có tâm hồn trong sạch nên đương nhiên họ không nhìn thấy Thiên Chúa. Và vì thế họ không thể bay lên, và càng không thể giúp người khác bay lên cùng Thiên Chúa, thậm chí còn cản trở người khác bởi gương mù gương xấu của mình.
 
  1. Đức Giêsu, Đấng chữa lành
Tuy nhiên, chúng ta không tuyệt vọng vì có Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ đời ta. Ngài là thể hiện Lòng Thương Xót của Chúa Cha. Ngài đã đến trần gian này và xuống tận âm phủ để mở cửa ngục cho các thánh; Ngài đã lên trời để mở đường cho những kẻ tin. “Người đã mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người” (Dt 10, 20).
Vì vậy để được chữa lành khỏi những đam mê “Chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng thì đã được tẩy sạch mọi vết nhơ, còn thân xác thì đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền” (Dt 10, 22).
Để được chữa lành, chúng ta phải đến với Chúa trong tâm hồn bằng tất cả tình yêu và kết hợp với cuộc khổ nạn của Đức Giêsu bằng chính thân xác chúng ta.
Thường chúng ta chỉ để ý thờ phượng Chúa trong tâm hồn mà ít khi để ý kết hợp bằng cả thân xác chúng ta. Vì vậy không lạ lẫm gì khi chúng ta vẫn cố gắng mà không dứt bỏ được những đam mê, vì chúng ta chỉ nghĩ đến mà chưa làm.
a). Bằng cuộc khổ nạn
Chúng ta kết hợp với Đức Giêsu chịu khổ nạn trong thân xác của mình bằng việc từ bỏ những yêu thích của chúng ta. Chúng ta thường hay biện lý do hành động của mình không ảnh hưởng đến ai, việc làm của mình là để giải trí để sống trong những đam mê của mình… Khi người ta biết quan tâm đến người khác, thì những hành động thăm viếng, chăm sóc, phục vụ… là những hành động giải trí cao cả vô cùng, chẳng những không làm hại, mà còn đem lại lợi ích cho người khác. Sâu xa là vì chúng ta không có khả năng để từ bỏ. Từ những việc nhỏ đó, chúng ta sẽ thấy khả năng từ bỏ những đam mê của chúng ta đến mức nào. Thường những ai không quen từ bỏ những ham thích nho nhỏ thì không thể từ bỏ những lôi kéo, những đam mê của 7 mối tội đầu.
Chỉ khi nào chúng ta kết hợp với cuộc khổ nạn của Đức Giêsu trong thân xác chúng ta, thì chúng ta mới được Chúa cứu độ bằng cuộc khổ nạn của Ngài.
b). Bằng ơn thánh của Ngài
Đức Giêsu cứu độ nhân loại bằng cuộc khổ nạn và tình yêu tuôn chảy từ Trái Tim, nghĩa là ơn thánh của Ngài. Vì vậy con người rất cần ơn Chúa trong các Bí tích để có thể thoát khỏi những đam mê. Nhưng vì người ta đón nhận các Bí tích một cách bất xứng nên thay vì đón nhận ơn thánh, họ đã “uống thuốc độc”, làm cho những đam mê ngày càng nặng nề hơn.
Người ta cần phải rời bỏ môi trường mình đang sống để tìm đến môi trường thánh thiện hơn cho Chúa chữa lành. Những buổi cầu nguyện, tĩnh tâm và linh thao là rất cần thiết. Đối với những ai đam mê quá nặng nề, thì cần có thời gian lâu dài hơn trong việc rời bỏ môi trường mình đang sống để sống thân mật với Chúa.
Lạy Chúa, con nhận ra con đường “lên trời” của con vẫn còn trì trệ bởi những đam mê quá nặng nề nơi thân xác của con. Con muốn được chữa lành nhưng con chưa kết hợp với cuộc khổ nạn của Đức Kitô nơi thân xác của con; con chưa biết quý trọng ơn thánh của Chúa. Vì vậy tình trạng của con ngày càng nặng nề hơn. Con không thể về trời và không thể hướng dẫn người khác về trời.
Lạy Trái Tim Vẹn Sạch Đức Maria, xin giúp con biết mạnh dạn dành thời gian thân mật với Chúa để khám phá ra những đam mê của mình. Khi ở gần bên Chúa, con sẽ được Chúa chữa lành để con dứt khoát từ bỏ những gì là nguy hiểm cho đời sống đức tin của mình, để con được về trời với Chúa.

 

nTrời-321: ĐƯỜNG LÊN TRỜI

Dã Quỳ
 

Xuyên suốt bài đọc Tin Mừng hôm nay, chúng ta cảm nhận một tình yêu chan chứa của Chúa Giêsu LênTrời-321

Xuyên suốt bài đọc Tin Mừng hôm nay, chúng ta cảm nhận một tình yêu chan chứa của Chúa Giêsu dành cho môn sinh. Những lời nhắn nhủ như càng tha thiết hơn! Chúa mong muốn môn đệ hiểu  và xác tín thâm sâu trong trái tim những  Lời Kinh Thánh nói về Thầy mình,về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh mà Người đã trải qua. Và giờ đây, sắp đến lúc Chúa rời các ông. Mong ước cuối cùng của Chúa trước khi về trời là các môn đệ trở thành chứng nhân cho Chúa. Con đường làm nhân chứng cũng là con đường dẫn về trời cao của môn đệ và của mỗi Kitô hữu.
– Chúa Giêsu lên trời, đánh dấu cuộc ra đi và vắng mặt của Chúa. Từ nay, môn đệ không còn thấy Chúa cách cụ thể, không đụng chạm, không nghe và cũng không đồng hành bên cạnh như trước đây Người đã sống cùng. Chúa ra đi và vắng mặt, nhưng Người sẽ hiện diện với môn đệ, với Giáo Hội và với mỗi người chúng ta bằng cách thế mới. Người không còn bị giới hạn trong không gian và thời gian nữa.
– Chúa Giêsu lên trời, kết thúc sứ mạng của Người nơi trần gian. Nhưng lại là lúc khởi đầu sứ mạng của môn đệ, sứ mạng loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Chúa.
    Chúa cho các môn đệ hiểu vinh quang của Chúa đòi phải hy sinh. Muốn có phục sinh, phải chết. Hy sinh là biểu hiện của tình yêu, như hạt lúa gieo vào lòng đất phải thối và chết đi mới sinh bông hạt (x. Ga 12,24). Với Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa, chết là một bước trong quá trình biến đổi để đi tới Phục sinh. Chính vì thế, Chúa muốn môn đệ xác tín vững vàng để rồi:  “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân.”(Lc 24,47) , lời rao giảng Nhân Danh Người không ngoài lời rao giảng về Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa. Các Tông đồ và môn đệ sau này đã nằm lòng mỗi khi rao giảng cho dân chúng vì các ông là chứng nhân những gì các ông giảng. (x.CVTĐ 2, 22-24)
Trọng tâm của sứ vụ rao giảng là tác động của Chúa Thánh Thần. Người ban quyền năng và cho môn đệ hiểu tất cả Lời của Chúa Giêsu, sẽ hướng dẫn môn đệ biết phải làm gì, nên “Hãy ở lại trong thành cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.”(Lc 24,49) Vì thế, để ra đi thi hành sứ mạng, người môn đệ cần phải lắng nghe Lời Chúa để có thể hợp nhất trọn vẹn trong từng lời nói, hành động của ta với Chúa Cha và Chúa Giêsu, như chính Chúa Giêsu đã sống hiệp nhất với Cha “Lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra…”(Ga 14,10). Vậy sứ mạng chứng nhân luôn được Ba Ngôi Thiên Chúa đồng hành và trợ giúp, vì đó là công việc của Thiên Chúa sai chúng ta làm. Chúng ta là khí cụ trong bàn tay Chúa nên hãy can đảm và tin tưởng ra đi vì có Chúa luôn gìn giữ vững bước chân của ta.
– Đường lên trời của người Kitô hữu chúng ta đó là con đường làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh bằng chính đời sống phục vụ, yêu thương, tha thứ, vui tươi…. Tiếp nối sứ mạng của các môn đệ, mỗi Kitô hữu cũng được Chúa sai vào trong thế gian. Dù sống giữa trần gian, nhưng chúng ta không thuộc về trần gian này. Chính Chúa Giêsu đã đến trần gian và sống trọn phận người, Chúa thấu hiểu những khổ đau, bi đát hay niềm vui, hạnh phúc của cuộc đời.
Có những khi chúng ta phải đối diện với bao nặng nề, gian khó của cuộc sống vì miếng cơm manh áo, đôi lúc làm chúng ta mệt mỏi, chán chường. Nhưng Lời Chúa và sức mạnh của Chúa đã giúp chúng ta tin tưởng nhận ra thánh ý Chúa và ơn gọi của mình giữa cuộc đời.
Sống sứ mạng chứng nhân của Kitô hữu, nhiều lúc chúng ta gặp phải bao sự chống đối, thù nghịch, chê bai… cũng làm chúng ta ngại ngùng, sợ hãi. Thế nhưng bàn tay quan phòng yêu thương của Chúa luôn che chở, phù giúp chúng ta vượt thắng vững vàng.
Giữa thế gian luôn đầy dẫy những cám dỗ về quyền lực, tiền của, danh vọng…Có nhiều lần chúng ta cũng đã xao xuyến, lo âu, xem nhẹ hạnh phúc Nước Trời. Như các môn đệ xưa, chỉ nghĩ theo kiểu con người, mong có một vương quốc chính trị và chức vụ cao sang (x. CVTĐ 1,6) Nhưng rồi quyền năng và lòng thương xót Chúa đã dẫn chúng ta về với Người, để ta nhớ lại và ghi tâm “Quê hương chúng ta ở trên trời” và ta biết ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu để được thêm sức mạnh nâng đỡ.
Dẫu cuộc sống có vất vả nhọc nhằn nhưng không làm chúng ta quên trời cao, và vinh hoa của thế gian quyễn rũ không làm chân ta lạc lối về Quê Trời. Nhưng ta luôn biết tìm kiếm những gì thuộc thượng giới là bác ái, chia sẻ; là yêu thương, khiêm nhường; là công lý và hòa bình, …là sống tinh thần Nước Trời ngay tại thế… tất cả là thực thi Lời Chúa và Giới răn của Người, đó mới là những gì tồn tại và vĩnh cửu đưa chúng ta vào hưởng vinh quang bên Chúa.
– Đường lên trời là hành trình xa xôi, vất vả. Theo Chúa và làm chứng cho Chúa là sứ mạng khó khăn không đơn giản. Chúng ta còn đang loay hoay giữa biển đời. Nhưng niềm tin tưởng của ta đặt nơi chính Chúa. Chúa đã lên trời, Chúa là đầu, chúng ta là thân thể của Người (x.1Cr 12,27). Chỉ một mình Chúa đã từ trời xuống thế vì lòng thương xót nhân loại, nay Chúa lên trời thì chắc chắn khi chúng ta sống hợp nhất với Chúa và hoàn thành sứ mạng Chúa trao, chúng ta cũng sẽ có ngày đoàn tụ bên Chúa bởi Người đã hứa “Thầy đi dọn chỗ cho các con.” (x. Ga 14,2-3) vì trong nhà Cha có nhiều chỗ ở và đầu ở đâu thì thân thể cũng sẽ ở đó.
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết đường lên trời và trung thành thực thi sứ mạng chứng nhân cho Chúa tại trần gian này. Nguyện Thánh Thần Chúa cùng đồng hành để chúng con có thể lên đường trong tin tưởng và an vui. Amen.

 

nTrời-322: Nên một như trong Thiên Chúa

Chúa Nhật VII Phục Sinh năm – B
(Ga 17, 11b - 19)
 

Bước vào Chúa nhật thứ VII, Chúa nhật cuối cùng mùa Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng LênTrời-322

Bước vào Chúa nhật thứ VII, Chúa nhật cuối cùng mùa Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta chuẩn bị tâm hồn mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống như lời Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ trong bữa tiệc ly trước khi về trời là không bỏ chúng ta mồ côi, Người sẽ gửi Chúa Thánh Thần là Đấng Bầu Chữa đến.
Khi đến giờ rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ nhiều điều, toàn bộ Phúc Âm thánh Gioan chương 17 là một bằng chứng. Sau một loạt diễn từ ly biệt, được kết thúc bằng kinh nguyện vô cùng cảm động Chúa Giêsu dâng lên Cha. Kinh nguyện mở đầu bằng lời khẩn cầu danh Cha, ca tụng Ngôi Cha và Ngôi Con (Ga 17, 1-5). Thứ đến là xin "Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17, 1). Và sau cung là lời cầu xin cho các môn đệ.
Xin cho chúng nên một
Chúa Giêsu thấu hiểu những yếu đuối mỏng giòn của các môn đệ, nên Người tha thiết cầu xin Cha cho họ được hiệp nhất trong tin yêu, để các ông có thể thi hành sứ mạng rao giảng tin mừng Nước Thiên Chúa, một sứ mạng vô cùng khó khăn và đầy những thử thách. Các ông phải tự mình đương đầu với những khó khăn ở trong thế gian, mặc dù sống giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian, hoạt động của các ông phải qui hướng về thế giới khác. Đó là lý do khiến Chúa Giêsu cầu nguyện : "Xin cho họ nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha" (Ga 17, 21). Nhờ "sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần", được ràng buộc "bởi sợi dây bình an", tất cả họ sẽ "duy trì sự hiệp nhất của Thần khí... Chỉ có một Thân mình và một Thần khí " (Ep 4, 3 - 4), giúp họ đồng lòng hợp ý với nhau.
Vì muốn nhân loại kết hiệp ở trong Thiên Chúa, nên đã sai Con Ngài đến thế gian để thánh hiến họ trong chân lý. Khi đầu thai trong lòng Trinh Nữ Maria, Chúa Giêsu đã thực hiện một sự hiệp thông đầy kinh ngạc giữa bản tính Thiên Chúa với bản tính loài người "Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa thật và là người thật" (Kinh Tin Kính). Trong cuộc Thương Khó, Người đã xuống ngục tổ tông, nhà tù giam hãm chúng ta để giải thoát và đưa chúng ta lên cùng Thiên Chúa.
Chúa Giêsu ban vinh quang cho các môn đệ : "Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con" (Ga 17, 22). Vinh quang ở đây là Chúa Thánh Thần, Đấng liên kết con người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã ban cho họ vinh quang khi nói, "Hãy lãnh nhận lấy Chúa Thánh Thần" (Ga 20, 22). Chúa Giêsu đã nhận được vinh quang khi mặc lấy bản tính loài người chúng ta, bản tính đã được tôn vinh trong Thánh Thần. Vinh quang Người đã có "trước khi tạo thành thế gian" (Ga 17,5) liên kết nhân loại nên một trong Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu nói: "Lạy Cha, vinh quang mà Cha đã ban cho con, con đã ban cho chúng, để họ nên một như chúng ta là một" (Ga 17,22).
Xin Cha gìn giữ chúng
Trong suốt thời gian ở giữa các môn đệ, Chúa Giêsu đã trung thành gìn giữ họ. Khi trở về cùng Cha, Người không vắng mặt, Người cầu xin Cha cho họ, để họ giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, là Cha và Con và Thánh Thần.
Chúa Giêsu đến thế gian để hoàn thành sứ mạng mà Chúa Cha đã trao, đến lượt các môn đệ, họ cũng được trao cho một sứ mạng (x. Ga 13, 1). Chúa Giêsu không xin Cha đưa họ ra khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ họ khỏi những hiểm nguy của thế gian (x. Ga 17, 15). Vì nếu đưa họ ra khỏi thế gian thì sứ mạng tông đồ của họ chấm dứt. Xin Cha gìn giữ họ khỏi bị thế gian lây nhiễm, và thánh hoá họ trong sự thật (x. Ga 17, 17), xin cho họ được tràn đầy thần chân lý. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu làm sáng tỏ : "Chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian" (Ga 17,16).
Chúa Giêsu xuống tận vực thẳm của con người để kéo con người lên vì : "Thiên Chúa là Tình Yêu". Đây là tột đỉnh của Mạc Khải. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu thôi thúc chúng ta hiệp nhất với Thiên Chúa, và trong vinh quang đầy quyền thế Chúa Giêsu không ngừng cầu nguyện và gìn giữ để : "Không một ai trong chúng bị mất" (Ga 17,12).
Xin thánh hiến họ
Lời khẳng định trên cho thấy Chúa Giêsu và các môn đệ không thuộc về thế gian. Để hoạt động trên thế gian và trong thế gian, mà không liên can đến thế gian, nghĩa là được miễn dịch khỏi thế gian, các môn đệ cần phải được hiến thánh (x. Ga 17-19).
Khi muốn bảo vệ các môn đệ khỏi Sự Dữ trong thế gian, Chúa Giêsu đã tự thánh hiến chính mình, Người nhấn mạnh đến tầm quan trọng là "viên mãn trong Thiên Chúa" khi "ở trong tình yêu". Nguồn gốc của sự thánh hiến này là trung thành với Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Chúa Cha, Đấng tự hiến chính mình. Người ban Chúa Thánh Thần cho họ và xin cho họ sớm đạt được điều Người cầu xin. Chúa Thánh Thần là sự hiệp nhất của Chúa Cha và Chúa Con, liên kết tâm hồn họ với Chúa Cha, kết hợp trái tim tội lỗi của chúng ta với Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế. "Con đã ban lời Cha cho chúng, và thế gian đã ghét chúng, vì chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian" (Ga 17, 14). Họ đã nhận được Lời, từ "Logos", Ngôi Lời của Thiên Chúa, đã trở thành nhục thể và ở giữa chúng ta (Ga 1, 14).
"Lời Cha là chân lý "(Ga 11, 14). Bản chất của Lời là ở với Chúa Cha, đó là chân lý. Kể từ khi Người cho họ tham dự vào sứ mạng của Chúa Con (x. Ga 10, 36 và Ga 17, 18), họ cũng phải tham gia vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Người đã chọn và cắt đặt họ để họ sinh nhiều hoa trái. Đức Giêsu được thánh hiến trong sự thật. Người cũng xin Chúa Cha thánh hiến họ "trong sự thật". Sự thánh hiến này không phải là bên ngoài nhưng nó là sự thật, sâu sắc, thực sự.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu xin cho chúng con được hiệp nhất. Xin cho chúng con biết thể hiện tinh thần hiệp nhất giữa chúng con bằng sự biết cộng tác với nhau trong những việc làm chung, để xây dựng nhiệm thể cộng đoàn nhỏ bé, trong tình huynh đệ tương thân tương ái. Chúng con tin tưởng vào lời Chúa hứa mà chúng con đã đọc trước bài Tin Mừng, đó là được ở với Chúa đến muôn đời. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

nTrời-323: HÃY NHÂN DANH NGƯỜI MÀ RAO GIẢNG”

Lm. JB. Vũ Xuân Hạnh
 

Chính thánh Luca, đã từng ghi lại thao thức của Chúa Giêsu về sứ mạng truyền giáo, khi đề nghị các LênTrời-323

Chính thánh Luca, đã từng ghi lại thao thức của Chúa Giêsu về sứ mạng truyền giáo, khi đề nghị các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. (Lc 10, 2).
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chọn chính lời của Chúa Giêsu làm chủ đề cho Sứ điệp Ơn gọi 2004, để xin mọi người cầu nguyện cho việc truyền giáo, cách riêng cho những người sống ơn gọi tu trì  “luôn trung thành với ơn gọi của mình và đạt tới mức cao độ nhất của sự hoàn thiện Phúc Âm” (Sứ điệp Ơn gọi 2004, số 3).
Đến lúc Chúa về trời, một lần nữa, thánh Luca đã không bỏ qua chi tiết quan trọng trong di chúc của Người: “Hãy nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem” (Lc 24, 47). Những lời ấy chỉ ít phút trước khi Người “lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa”, trở thành lẽ sống, thành hướng nhắm để đi tới, thành mục tiêu để theo đuổi và là hoạt động không ngơi nghỉ của Hội Thánh.
Bởi từ ngày Chúa rời trần gian, bất cứ làm gì, dù chiêm niệm, cầu nguyện, sinh hoạt thường nhật của đời sống, làm công tác xã hội và từ thiện… Hay suy nghĩ gì, cử hành mầu nhiệm và bí tích nào, tổ chức phong trào nào… Hội Thánh cũng chỉ quy về một việc duy nhất: giới thiệu Chúa Kitô cho con người, và thánh hóa lòng người. Hội Thánh làm như thế vì, hơn ai hết, Hội Thánh hiểu rõ: truyền giáo là sự sống của mình.
Riêng quê hương Việt Nam, cách đây trên dưới năm trăm năm, vào năm 1533, Hội Thánh Việt Nam đã bắt đầu phôi thai với sự hiện diện của một giáo sĩ Tây dương tên là Inikhu. Ngài đến làng Ninh Cường, và làng Trà Lũ, thuộc giáo phận Bùi Chu ngày nay…
Nhờ những bước chân mở mang truyền giáo ấy, Tin Mừng đã bắt đầu. Hạt giống Lời Chúa đã gieo, vẫn âm ỉ, để khi có điều kiện, sẽ nảy nở và trổ sinh trong lòng người. Tất nhiên, điều đó cần ơn Chúa và nỗ lực truyền giáo của người Kitô hữu, có khi rất gian truân, đòi hỏi công sức, hy sinh, kể cả mồ hôi, nước mắt và đổ máu.
Một nửa thiên niên kỷ, dù không thể sánh với nhiều Hội Thánh địa phương khác, càng không thể sánh với Hội Thánh hoàn vũ đã mấy ngàn năm, Hội Thánh Việt Nam vẫn tự hào vẽ thêm một đường lịch sử  không bao giờ mệt mỏi, không bao giờ dừng lại trên trang sử  đức tin.
Ý thức truyền giáo của Hội Thánh Việt Nam phải vượt nhiều thử thách, do lòng người đố kỵ, thù ghét, cả lo sợ sự phát triển và ảnh hưởng của Hội Thánh, nên chưa khi nào Hội Thánh Việt Nam sống trong bình yên thực sự, chưa bao giờ được tôn trọng đúng mức.
Thật lạ lùng, càng khó khăn, Hội Thánh Việt Nam càng thắm thiết với đức tin. Ơn gọi tu trì của Hội Thánh Việt Nam không thiếu, nơi nào có người Việt Nam sinh sống, dù quê nhà, hay quê người, vẫn có người Công giáo Việt Nam hiến dâng cuộc đời cho Chúa. Các nhà thờ bao giờ cũng đông đảo. Các lớp giáo lý, các nhóm chia sẻ Lời Chúa, các hội đoàn, phong trào đạo đức, các tổ chức làm công tác xã hội… vẫn không ngừng phát triển.
Nhưng những gì Hội Thánh Việt Nam đã làm, chưa là tất cả của công tác truyền giáo. Nhiệm vụ của Hội Thánh Việt Nam chưa bao giờ kết thúc. Sau nửa thiên niên kỷ, hình như đó chỉ là cánh cửa vừa mở ra. Trách nhiệm của từng người Công giáo Việt Nam hôm nay phải luôn luôn ra đi theo lối mở ấy của tiền nhân để nhân danh Thiên Chúa và làm chứng cho Người bằng cuộc sống chứng tá của mình ngay trong hoàn cảnh hiện tại.
Chúng ta cần ghi nhớ: Hội Thánh nơi quê hương này, thuở ban đầu, là cả một cánh đồng truyền giáo bao la. Nhưng đã năm thế kỷ đi qua, quê hương vẫn chỉ là một cánh đồng bao la mà chúng ta phải truyền giáo!
Mừng lễ Chúa về trời, ôn lại thao thức truyền giáo của Người, lắng nghe lời Người: “Hãy nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ Giêrusalem” (Lc 24, 47), ta nhận ra nhiệm vụ lớn lao và vinh dự của mỗi người Việt Công giáo hôm nay. Đó là tiếp nối bước chân truyền giáo của Chúa, noi gương Người, cùng với lớp lớp cha ông, lên đường mang ơn cứu rổi cho cuộc đời, cho con người.
Có hai cách để chúng ta hoạt động truyền giáo theo khả năng của mình:
Cách 1: Chúng ta hãy khẩn thiết: “Xin Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10, 2). Đó là bổn phận cầu nguyện cho việc truyền giáo của bạn và tôi. Chúng ta cầu xin Chúa “cho có nhiều trái tim quảng đại biết cảm thương những cảnh đời bơ vơ không người chăn dắt; nhiều tâm hồn thiện chí dấn thân ra đi loan báo Tin Mừng” (Thư chung 2004 – HĐGM VN).
Cách 2: Hãy nhớ rằng, trước khi là người loan báo Tin Mừng, bản thân người Công giáo phải sống Tin Mừng ấy. Vì thế, “nêu gương sống lương tâm Công giáo” là việc cấp bách, liên lỉ. Bởi vậy, người tín hữu “hãy nỗ lực cùng với đồng bào xây dựng một nếp sống lành mạnh trong khu phố xóm làng, loại trừ mọi tệ đoan tật xấu. Đặc biệt, hãy nêu gương tôn trọng sự sống, tôn trọng phẩm giá con người, sống theo lương tâm ngay thẳng… Nêu gương về đời sống hiệp nhất yêu thương. Không có lời rao giảng nào có sức thuyết phục bằng sự hiệp nhất yêu thương trong gia đình, xóm làng, trong giáo xứ, trong giáo phận…” (Thư chung 2003).
Chúa Giêsu đã về trời. Biến cố về trời ấy bế mạc giai đoạn hiện diện của Người trên trần gian, nhưng khai mạc giai đoạn hiện diện và hoạt động của Hội Thánh.
Bởi vậy, Hội Thánh nói chung và Hội Thánh tại Việt Nam nói riêng, vẫn tiếp tục được mời gọi chia sẻ chức vụ mục tử của Chúa Giêsu, đem ơn thánh hóa, cứu độ mọi người và chính đồng bào Việt Nam của mình.
Nhưng nỗ lực sống lời mời gọi chia sẻ chức vụ của Chúa Kitô, phải là nỗ lực của từng cá nhân, trong từng ngày sống. Vậy bản thân chúng ta hãy tiếp nối sứ vụ của Chúa, bằng cách sống vai trò chứng nhân của tình yêu Chúa trong từng giây phút sống của mình.

 

nTrời-324: HƯỚNG LÒNG VỀ TRỜI

Huệ Minh
 

Ai nào đó trong cuộc đời cũng hơn một lần chứng kiến cảnh chia xa. Có khi là chia tay để lên LênTrời-324

Ai nào đó trong cuộc đời cũng hơn một lần chứng kiến cảnh chia xa. Có khi là chia tay để lên Sài Thành đi học hay lập nghiệp. Có khi là chia tay để đi … vượt biên và có khi là chia tay người thân của mình khi người thân của mình ra đi trở về lòng đất mẹ.
Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất. Nhưng không phải thế. Hôm nay, Chúa Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.
Việc Chúa Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài trái đất còn có trời. Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la. Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.
Chúa Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta. Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người. Vì chính Người đã hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy”.
Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho ta thấy Chúa Giêsu là Thiên Chúa xuống thế trần để làm – Người, cũng có linh hồn và thân xác như ta. Đến thời gian đã định, Chúa Giêsu sẽ lên trời và đoàn tụ với Thiên Chúa là Cha của Ngài. Đây là những ý nghĩa sâu xa nhất củabiên cố Chúa lên trời: Chúa Giêsu, đã chiến thắng trên sự chết, đã bắt đầu một cuộc sống mới với Thiên Chúa, là Cha của Ngài.
Chúa Giêsu ra đi trước ta, cũng để chuẩn bị một nơi cho ta trên Thiên đàng. Chúa Giêsu cùng tham dự vào một cuộc sống mới với Cha Ngài trên Trời. Và rồi, Ngài muốn đem mỗi người chúng ta cùng vào sống chung cùng cuộc sống với Ngài để ta được hạnh phúc viên mãn với Ngài.
Chúa Giêsu về trời sau khi hoàn thành sứ vụ dưới đất. Ngài muốn ta trưởng thành và gánh lấy trách nhiệm.
Bước chân Ngài mới chỉ đi hết xứ Palestina bé nhỏ. Còn cả một thế giới mênh mông ngút ngàn. Còn bao dân tộc xa gần chưa hề nghe rao giảng. Ngài muốn ta làm chứng nhân của Ngài đến tận thế.
Thiên thần bảo chúng ta không được khoanh tay nhìn trời, vì còn quá nhiều việc phải làm trước mắt. Chúng ta phải nhiệt tình xây dựng quê hương này huynh đệ hơn, công bằng hơn, bác ái hơn, văn minh hơn, để nó xứng đáng đón ngày Ngài trở lại.
Trình thuật biến cố Chúa Giêsu lên trời có điểm khác biệt là các môn đệ đang phủ phục xuống thờ lạy Ngài thì Chúa Giêsu đã rời khỏi họ lên trời, đồng thời Ngài giơ tay ban phép lành cho họ. Cử chỉ này của Chúa Giêsu cho thấy, Ngài hành động như là Thầy của các môn đệ. Chúa của các tông đồ là thủ lãnh của cộng đoàn dân riêng mới của Thiên Chúa, giã từ cộng đoàn nhưng đồng thời Ngài mời gọi mọi người ra đi chu toàn sứ mệnh mà họ đã được ủy thác. Phép lành của Chúa Giêsu bảo đảm cho cộng đoàn Giáo Hội mọi ơn cần thiết trong cuộc sống và sự tăng trưởng của mình trong sứ mệnh loan truyền lịch sử cứu độ.
Đặc điểm nữa trong trình thuật biến cố Chúa Giêsu lên trời đó là thay vì ra đi khắp nơi loan truyền Tin Mừng thì đoàn môn đệ vào đền thờ Giêrusalem cầu nguyện và chúc tụng Thiên Chúa. Phúc Âm thánh Luca mở đầu với cảnh Thầy Zacharia dâng hương cho Chúa trong đền thờ, giờ đây kết thúc với lời chúc tụng của đoàn tông đồ. Giêrusalem là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, là nơi lịch sử cứu độ thành toàn, đồng thời là nơi phát xuất sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội.
Hình ảnh Giáo Hội truyền giáo quanh quẩn trong đền thờ, trong lời cầu nguyện và chúc tụng Thiên Chúa xem ra hơi lạ, nhưng thật ra sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội sẽ đem lại nhiều hoa trái khi cộng đoàn biết bám chặt vào Chúa, dán mắt nhìn lên Chúa, thân tình thưa chuyện với Chúa để kín múc mọi ơn thánh và nghị lực cần thiết cho sứ mệnh loan báo lời Ngài để kéo đổi phúc lành của Thiên Chúa xuống trên mọi tâm hồn và phản ảnh gương mặt cũng như giáo huấn của Chúa một cách tinh tuyền, trung thực và sâu thẳm hơn.
Ta không được khoanh tay nhìn trời, nhưng lòng ta lại phải thường xuyên hướng lên trời. Xây dựng trái đất mà không hướng lòng về trời, thì sẽ không tìm được câu trả lời tối ưu.
Ta cần sức mạnh từ trên cao của Thánh Thần để giải quyết những vấn đề chằng chịt của trái đất: ma túy, trụy lạc, tham nhũng, ô nhiễm, nghèo đói và nhất là vấn đề xây dựng con người.
Khoa học kỹ thuật tiến bộ làm cuộc sống nhẹ nhàng nhưng cũng thường làm con người thêm nặng nề. Con người như bị dính vào những sản phẩm mình tạo ra, bị nô lệ cho những nhu cầu không có thực. Trái đất này vẫn có sức thu hút ghê gớm khiến ta muốn chọn nó làm quê hương vĩnh hằng, và quên rằng quê thật của ta ở trên trời cao (Pl 3,20).
“Hãy tìm kiếm những điều trên cao” (Cl 3,1). Đừng dập tắt nỗi khát khao những điều cao cả.
Ước gì Lễ Chúa Giêsu Lên Trời nhắc chúng ta về một Nước Trời tại thế mái ấm gia đình để sau Lễ Lên Trời này. Và rồi ta sẽ theo bước chân của các môn đệ, lên đường làm chứng tá cho Đức Kitô, chứng tá ngay trong gia đình, chứng tá bằng việc xây dựng một mái ấm. Dù rằng cuộc đời của chứng nhân nào cũng không tránh khỏi đổ mồ hôi hay đổ máu, không tránh khỏi những hiểm nguy như chiên đi giữa sói rừng, không tránh khỏi khốn khổ như một người tôi tớ, nhưng đó là giá cần trả để có được một bức tranh tuyệt đẹp của niềm tin, yêu thương, và an bình hạnh phúc.

 

nTrời-325: TRUYỀN THÔNG LỜI CHÚA

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng
 

Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân”. Chúa Kitô, trước khi về trời, đã để lại cho Hội  LênTrời-325

“Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân”. Chúa Kitô, trước khi về trời, đã để lại cho Hội Thánh mệnh lệnh truyền giáo như lời di chúc đặc biệt mà Hội Thánh phải cất giữ và ấp ủ từng ngày, để thao thức truyền giáo của Chúa Kitô trở thành nỗi thao thức và niềm say mê của Hội Thánh.
Có thể nói, ngày Chúa Kitô về trời là ngày mở ra sứ mạng của Hội Thánh: Hội thánh phải truyền thông Lời Chúa. Sứ mạng này phải được thi hành nhanh chóng, cấp bách. Đó là nhiệm vụ không miễn trừ một ai, miễn là chúng ta sống trong lòng Hội Thánh.
Nội dung của ngày lễ Chúa lên trời nhấn mạnh đến sứ mạng truyền giáo càng nói lên tính khẩn thiết, khi Hội Thánh gọi ngày lễ này là ngày Quốc tế Truyền thông.
Năm 1966, Đức Phaolô VI chọn ngày lễ Chúa Giêsu thăng thiên làm ngày Quốc tế Truyền thông. Có ba lý do để Đức Giáo hoàng chọn ngày lễ này chứ không chọn ngày nào khác:
1. Đức Giáo hoàng muốn nhấn mạnh việc rao giảng Lời Chúa, tức là truyền thông Lời Chúa cho anh chị em của mình.
2. Truyền thông Lời Chúa là mệnh lệnh mà Chúa truyền cho Hội Thánh trong chính ngày lễ này là hãy nhân danh Chúa mà rao giảng cho muôn dân.
3. Đức Giáo hoàng nhắc nhở những người làm truyền thông, nhất là người Công giáo, hãy truyền thông sự thật, truyền thông niềm hy vọng, truyền thông những điều tốt lành, phù hợp với Lời Chúa, phù hợp thánh ý Chúa.
Phải truyền thông Lời Chúa. Lệnh truyền ấy vừa là bổn phận, vừa làm cho Hội Thánh vinh quang:
– Bổn phận là vì Hội Thánh phải tiếp tục sứ mạng của Chúa Kitô: “Ngày sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2).
Và một khi thi hành sứ mạng truyền giáo, sứ mạng ấy trở thành nhiệm vụ cốt yếu của cả Hội Thánh và của từng người: “Chúng tôi không thể sao nhãng Lời Thiên Chúa để lo giúp việc bàn ăn” (Cv 6,2). Thánh Phaolô còn nói mạnh hơn về nghĩa vụ không thể bỏ qua của việc thực thi sứ mạng truyền giáo: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm”.
– Còn vinh quang là vì Hội Thánh được cộng tác với Chúa Kitô mang ơn cứu độ cho trần gian. Lời Thiên Chúa là Lời quyền năng, lại được trao và tay con người. Không phải chỉ hôm nay, nhưng đã có từ muôn thuở: “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ” (Dt 1,1).
Nhận lãnh sứ mạng truyền thông Lời Chúa, những con người mỏng dòn, yếu đuối lại tiếp tục trao gởi cho hết thế hệ này đến thế hệ khác Lời sự sống sống, để mọi thời, từng con người phải ấp ủ cho mình ngày càng trưởng thành, rồi đem Lời luôn được ấp ủ ấy san sẻ cho nhau.
Ý thức bổn phận vinh quang ấy, Hội Thánh luôn luôn lên đường dấn thân cho hoạt động truyền giáo.
Thế là con người tội lỗi được giao trách nhiệm công bố Lời thánh hoá, con người yếu đuối công bố Lời quyền năng, con ngươi giới hạn công bố Lời vĩnh cửu.
Ý thức mệnh lệnh cuối cùng của Chúa trước khi về Nhà Cha là hãy truyền thông Lời Chúa, ta lên đường bằng tất cả những gì có thể làm được để Lời Chúa được gieo vào lòng người.
Hãy tin tưởng và can đảm truyền thông Lời Chúa không bao giờ sợ hãi, để “những gì Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà mà rao giảng” (Mt 10, 27).
Hãy gieo lời Chúa chăm chỉ miệt mài như người gieo giống: gieo khắp nơi, gieo trong mọi hoàn cảnh, dù đó là “đất tốt” kết quả đạt đến “gấp trăm, hoặc “sáu mươi”, hoặc “ba mươi”, hay đó chỉ là “vệ đường”, là “nơi sỏi đá”, là “bụi gai” (Mt 13, 3-9).
Hãy gieo Lời Chúa đến cùng, gieo “lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”.

 

nTrời-326: Lễ Chúa Thăng Thiên B: Việc đó xảy đến khi nào?

“Thưa Thày, có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?” (Cv 1,6)
John W. Martens
Lm. Pherô Phạm Văn Chính, SDB chuyển ngữ
 

Dầu vẫn đang còn bị tổn thương bởi cuộc khổ nạn và những mơ ước trần thế bị tan vỡ do sự sống lại LênTrời-326

Dầu vẫn đang còn bị tổn thương bởi cuộc khổ nạn và những mơ ước trần thế bị tan vỡ do sự sống lại của Đức Giê-su từ cõi chết, các tông đồ vẫn cố bám víu vào niềm tin chung của người Do thái về một Đấng Mê-si-a và việc thiết lập vương quốc của Thiên Chúa. Họ đặt ra cho Đức Giê-su một câu hỏi đơn sơ trước khi Ngài lên trời: “Thưa Thày, có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?”.
Mặc nhiên trong câu hỏi này hàm chứa ước muốn được biết về những gì sẽ xảy đến sau này. Nếu như đường lối của Thiên Chúa đã để họ rơi vào tình trạng hoang mang, bối rối, tuy vẫn còn chút niềm hy vọng, vậy liệu họ có thể biết được những biến cố sắp xảy đến không? Liệu kế hoạch của Thiên Chúa theo sau những gì họ hiểu ra, sẽ là một dạng mẫu về nước Thiên Chúa phải đến không? Hoàn toàn không phải như thế. Vì Đức Giê-su đã nói với họ: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt”. Tất cả những gì họ cần biết là họ phải trở thành chứng nhân cho sự sống và sự sống lại của Đức Giê-su, làm chứng cho sự thật về Đức Ki-tô cho thế giới, khởi đầu từ Giê-ru-sa-lem, Giu-đê-a và Sa-ma-ri-a, cho đến tận cùng thế giới. Bất luận điều gì xảy đến sau đó, cũng phải được khám phá trong quá trình trung thành thực thi sứ mệnh của họ.
Hẳn rằng Đức Giê-su không phải là Đấng mà họ đã từng nghĩ, dầu họ sẽ khám phá ra Ngài còn hơn cả những gì họ có thể mường tượng, tức là một vị Thiên Chúa nhập thể - chính cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi phải khám phá ra rằng hành vi cứu độ của Thiên Chúa theo lối suy nghĩ của thế gian thì khác với việc đăng quang của Con Người ngự đến để xét xử trần gian; cộng đoàn Giáo hội tiên khởi phải khám phá ra rằng việc Dân ngoại được thông phần vào cùng hành vi cứu độ này đòi phải thực thi một sứ vụ cho thế giới” (Ben F. Meyer, Những mục đích của Đức Giê-su). Chính trong kinh nghiệm sống cuộc đời của những người môn đệ trung thành của Đức Giê-su mà họ phải hiểu những biến cố trong cuộc đời của Đức Giê-su đã nói về phận vụ của họ trong tư cách là Giáo hội.
Việc lên trời của Đức Giê-su có lẽ dễ bị hiểu sai nhất và bỏ quên những biến cố được tưởng niệm trong suốt mùa Phục sinh, từ biến cố phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Thế nhưng câu chuyện thăng thiên với việc Đức Giê-su “lên trời”, vốn được diễn đạt theo ngôn ngữ của vũ trụ luận xa xưa, lại muốn nói tới việc đăng quang của Đức Ki-tô trong tư cách là Thiên Chúa. Chính Tin mừng theo Thánh Mác-cô cũng mô tả việc Đức Giê-su được “đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa”.
Niềm hy vọng trước đây của các tông đồ rằng đã đến lúc Đức Giê-su khôi phục là vương quốc cho dân tộc Ít-ra-en trong khía cạnh trần thế, thì giờ đây lại được hiểu như là việc đăng quang của Đức Giê-su trong tư cách một vị vua cai trị với thẩm quyền trên mọi sức mạnh trần gian và thần thiêng. Đức Giê-su không chỉ là Vua của dân tộc Ít-ra-en, nhưng Ngài còn thực sự là Vua của vũ hoàn.
Lá thư của Thánh Phao-lô gởi tín hữu Ê-phê-xô cho thấy quyền năng của Thiên Chúa đang được biểu dương nơi Đức Ki-tô khi làm cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết và “đặt Ngài ngự bên hữu Người trên trời, vượt trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai”. Chính vì Đức Giê-su Ki-tô đã thống trị, nên Ngài có thể hướng dẫn Giáo hội trong sự khôn ngoan và sáng suốt, và hơn nữa còn đặt niềm hy vọng của chúng ta vào một vương quốc sẽ đến trong vinh quang tràn đầy. Quyền năng này cũng đang hoạt động nơi Thân mình của Đức Ki-tô trên trần thế tức là Giáo hội, cho phép Giáo hội tiếp tục sứ mệnh của Đức Giê-su trong việc loan báo tin mừng cứu độ cho toàn thế giới.
Các tông đồ lên tiếng hỏi: “Thưa Thày, có phải bây giờ là lúc Thày khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?”. Đức Giê-su liền giúp các tông đồ tập trung vào sứ mệnh của họ trong tư cách là Giáo hội. Điều này không có nghĩa là Ngài từ khước vương quyền của mình, nhưng là cách mà vương quyền của Đức Giê-su sẽ thống trị trên toàn thế giới (danh Ngài sẽ được toàn thế giới biết đến).
Đúng thế, vương quốc này đã đến theo cách mà họ không ngờ. Giả như chính chúng ta được nghe trực tiếp lời này: “Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,11), thì chúng ta cũng tự hỏi: khi nào điều ấy sẽ đến?
Như Phê-rô và các tông đồ khác, chúng ta cũng có phận vụ làm chứng nhân trong khi mong đợi nước Thiên Chúa ngự trị cách sung mãn tròn đầy, vì biết rằng đấng đã hứa, thì cũng sẽ thực hiện điều đó. Ngài sẽ lấp đầy niềm hy vọng của chúng ta, vượt xa những gì chúng ta mong đợi nữa. Chúng ta không biết điều đó sẽ xảy đến khi nào và thế nào, nhưng Đấng đã hứa điều đó sẽ ngự đến, Ngài sẽ thực thi điều đó theo cách thế mà chúng ta chẳng bao giờ ngờ trước được.
 Cầu nguyện: Việc Đức Giê-su lên trời giúp bạn hiểu về sứ mệnh của Giáo hội như thế nào?

 

nTrời-327: Ra khơi – R. Veritas

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
 

Dịp Lễ Thăng Thiên năm 2001 Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chia sẻ: "Chúng ta được qui tụ LênTrời-327

Dịp Lễ Thăng Thiên năm 2001 Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chia sẻ: "Chúng ta được qui tụ
Dịp Lễ Thăng Thiên năm 2001 Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chia sẻ:

"Chúng ta được qui tụ quanh bàn thờ Chúa để cử hành việc Chúa lên trời. Chúng ta đã nghe được Lời Chúa: "Các con sẽ nhận lấy sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ngự xuống trên các con và các con sẽ là những chứng nhân của Thầy cho đến tận cùng trái đất".

Từ hai ngàn năm qua, những lời này của Chúa Phục Sinh thôi thúc Giáo Hội tiến ra khơi, tiến vào trong lịch sử của con người. Những lời này làm cho Giáo Hội trở nên một người luôn đồng hành với tất cả mọi thế hệ, làm cho Giáo Hội trở nên như men, làm dậy nên những hạt văn hoá trên thế giới. Hôm nay, chúng ta nghe lại những lời trên để với sức mạnh được canh tân, chúng ta đón nhận mệnh lệnh của Chúa "Hãy ra khơi", mệnh lệnh mà Chúa đã nói với thánh Phêrô. Đây là một mệnh lệnh và tôi đã muốn làm vang dội lại trong Giáo Hội qua bức tông thư khởi đầu Ngàn Năm Mới. Và đây là mệnh lệnh mặc lấy một ý nghĩa sâu xa hơn theo ánh sáng của ngày lễ trọng Chúa Thăng Thiên. "Hãy ra khơi" ra nơi mà Giáo Hội cần tiến đến, không phải chỉ là một sự dấn thân truyền giáo mạnh mẽ nhưng nhất là và còn là một sự dấn thân mạnh mẽ sống chiêm niệm. Như những tông đồ, những kẻ đã được chứng kiến biến cố Chúa lên trời, chúng ta cũng được mời gọi hãy hướng cái nhìn lên dung mạo của Chúa Kitô được hiển vinh trong vinh quang Thiên Chúa Cha. Chắc chắn rằng nhìn ngắm trời cao không có nghĩa là quên đi trần gian này. Và nếu rủi gặp phải cám dỗ, chúng ta chỉ cần lắng nghe lại lời hai người mặc áo trắng của đoạn Phúc Âm hôm nay nói rằng: "Tại sao các ông còn nhìn trời?"

Việc cầu nguyện chiêm niệm Kitô không làm cho chúng ta tránh khỏi việc dấn thân vào trong lịch sử. "Trời", nơi Chúa Giêsu tiến vào không phải là một sự xa vắng nhưng như là một màn che khuất và là nơi lưu giữ một sự hiện diện. Đó là sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện không bao giờ bỏ rơi chúng ta cho đến khi Chúa trở lại trong vinh quang. Trong khi đó, thời giờ chúng ta sinh sống đây là thời giờ rất đòi hỏi. Đòi hỏi chúng ta phải làm chứng bởi vì nhân danh Chúa Kitô, sự ăn năn hối cải và sự tha thứ tội lỗi phải được rao giảng cho tất cả mọi dân nước. Và chính để làm sống lại ý thức này mà tôi đã muốn triệu tập hội nghị Hồng Y đặc biệt được bế mạc hôm nay (thứ Năm 24/05/2001). Các vị Hồng Y, từ các nơi trên thế giới mà tôi xin kính chào với lòng mộ mến huynh đệ. Các ngài trong những ngày qua đã hội họp với tôi để bàn về một vài đề tài trong số những đề tài nổi bật nhất của công việc rao giảng Phúc Âm và làm chứng Kitô trong thế giới hôm nay, vào khởi đầu Ngàn Năm Mới. Đây, đối với chúng tôi, là giây phút sống hiệp thông, trong đó chúng tôi cảm nghiệm được một phần nào của niềm vui đã tràn ngập tâm hồn các tông đồ ngày xưa, sau khi Chúa Phục Sinh chúc lành cho các ngài và tách rời ra khỏi các ngài để lên trời. Thật vậy, thánh Luca đã ghi lại rằng: "Sau khi bái lạy tôn thờ Chúa, các tông đồ trở lại Giêrusalem với niềm vui lớn lao và các ngài luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa."

Và tiếp sau trong bài giảng, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khai triển thêm bản chất cũng như sinh hoạt truyền giáo của Giáo Hội, và cuộc hội Hồng Y cũng được Đức cố Giáo Hoàng đặt trong viễn tượng này: "Thực hiện sự hiệp thông và hiệp nhất trong Giáo Hội, để Giáo Hội có thể rao giảng Phúc Âm Chúa một cách đáng tin hơn cho mọi anh chị em."

Trong thánh lễ Chúa Thăng Thiên và trong giây phút này, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho chúng ta biết ý nghĩa của biến cố quan trọng này: Không phải Chúa lên trời để bỏ chúng ta, mà Ngài bước sang một sự hiện diện mới với chúng ta trong Chúa Thánh Thần. Ngài luôn ở cùng chúng ta luôn mãi cho đến tận cùng. Và Ngài muốn mỗi người chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân Thánh Thần của Ngài để làm chứng cho Ngài trong môi trường chúng ta sinh sống.

Từ Chúa Nhật này cho tới Chúa Nhật Chúa Thánh Thần hiện xuống, chúng ta hãy dành thời giờ để nhìn lại cuộc sống của mình, mở rộng tâm hồn đón nhận Chúa Thánh Thần và sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để làm chứng cho Chúa đến mức độ nào rồi. "Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận cùng và các con sẽ làm chứng cho Thầy khắp nơi trên mặt đất này".

Xin Chúa gìn giữ chúng ta vững mạnh trong đức tin để chúng ta có thể làm chứng cho Chúa mọi nơi mọi lúc.


 

nTrời-328: CHỨNG NHÂN CỦA NIỀM VUI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
 

Trong Mùa Phục sinh, lời cầu nguyện của Giáo Hội trong Phụng vụ luôn diễn tả niềm vui. Đó là niềm LênTrời-328

Trong Mùa Phục sinh, lời cầu nguyện của Giáo Hội trong Phụng vụ luôn diễn tả niềm vui. Đó là niềm vui tái sinh, làm cho người tín hữu trở nên con người mới trong Chúa Giêsu Phục sinh. Đó cũng là niềm vui vì có Chúa Phục sinh đang hiện diện, là nguồn mạch sức sống, ân sủng và bình an. Niềm vui của cộng đoàn Giáo Hội và của mỗi người tín hữu không dừng lại khi Mùa Phục sinh kết thúc, nhưng còn được tiếp tục và dàn trải trong suốt cuộc đời. Trước khi về trời, Đức Giêsu mời gọi các môn đệ hãy trở nên những nhân chứng của niềm vui thiêng liêng thánh thiện ấy.
 
Trình thuật về việc Chúa Giêsu lên trời trong sách Công vụ Tông đồ được đề nghị cho cả ba năm A,B,C. Bởi lẽ đây là biến cố để lại nơi các môn đệ dấu ấn quan trọng. Đó là lần cuối cùng các ông được gặp gỡ Chúa ở trần gian. Cuộc tiễn đưa này, vừa lưu luyến bịn rịn, vừa vui mừng và hy vọng. Các ông đã được chuẩn bị trước cho cuộc chia tay này bằng các lời giáo huấn của Chúa. Các ông cũng được Chúa hứa sẽ ban Thần Chân lý, Đấng bảo trợ để soi sáng và hướng dẫn các ông. Về phần các ông, Chúa trao phó sứ mạng quan trọng và rõ ràng: “Anh em hãy là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, Samari và cho đến tận cùng trái đất”. Khởi đi từ Giêrusalem, là thành thánh và là thủ đô của Do Thái giáo, lời chứng về Đấng Phục sinh đi đến với Samari là một dân tộc có nhiều thù nghịch với người Do Thái, rồi từ đó đến với mọi mọi nơi trên thế giới. Hai mươi thế kỷ đã qua, khởi đi từ nhóm mười một người dân chài người Galilêa, ánh sáng Tin Mừng đã được tỏa lan đến mọi nền văn hóa trên khắp địa cầu, đến với mọi quốc gia, mặc dù còn những thù nghịch, nghi kỵ hay mặc cảm thành kiến.
 
Tác giả sách Công vụ Tông đồ còn kể lại, sau khi dặn dò các môn đệ, Chúa Giêsu “được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người”. “Đám mây” mà tác giả nói tới ở đây là biểu tượng vinh quang của Thiên Chúa. Đây cũng là hình ảnh nói lên sức mạnh và quyền năng của Đấng Tối cao. Đức Giêsu lên trời là tiến vào vinh quang vĩnh cửu của Chúa Cha. Người kết thúc cuộc đời trần thế khi hoàn thành sứ mạng cứu thế. Chúa Giêsu về trời mang theo nhân tính của Người, và cùng với nhân tính ấy, cả nhân loại hy vọng cũng sẽ được về trời với Người. Nói cách khác, qua biến cố Đức Giêsu về trời, chúng ta là những con người cũng hy vọng sẽ được về trời vinh quang với Chúa, vì Chúa mang trong mình bản tính nhân loại giống như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
 
Bài Tin Mừng Thánh Mátthêu tiếp tục diễn tả lệnh truyền của Chúa cho các môn đệ: “Anh Em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Đây cũng là một cách diễn tả khác của lệnh truyền hãy trở nên chứng nhân của Chúa giữa trần gian. Việc phát triển cộng đoàn tín hữu khởi đi từ những chứng nhân khả tín của mỗi cá nhân, nhờ đó nhiều người nhận ra giáo huấn của Chúa và gia nhập Giáo Hội của Người.
 
“Hỡi các người Galilê, sao còn đứng đó nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời”. Chúng ta không cử hành lễ Thăng Thiên như sự ly biệt buồn bã u sầu. Trái lại, chúng ta mừng lễ này với niềm vui vì tin rằng Đấng Phục sinh đang tiếp tục hiện diện thiêng liêng và vô hình giữa cuộc sống của chúng ta. Giáo Hội diễn tả niềm vui ấy qua Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên: “Người lên trời, không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước”.
 
Như các tông đồ đã xuống núi sau khi chứng kiến Chúa Giêsu lên trời, mỗi tín hữu chúng ta cũng đi vào lòng cuộc đời để làm chứng cho Chúa Giêsu. Nếu Chúa Giêsu không còn hiện diện thể lý như trước đây, thì nay Người hiện diện nơi cuộc sống thấm đượm niềm vui của người tín hữu. Vì thế, họ được mang danh Kitô hữu. Nhờ được trang bị bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu có can đảm và nghị lực để trở thành những chứng nhân cho Đấng đã chết và sống lại vì yêu thương con người và để cứu chuộc trần gian. Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy xác tín điều đó. Vị Tông đồ dân ngoại đã cầu xin cho chúng ta thấy rõ đâu là niềm hy vọng chúng ta đã nhận được, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú chúng ta được chia sẻ và đâu là quyền lực vô biên Chúa đã tỏ cho chúng ta thấy (Bài đọc II). Khi xác tín những điều trên, cuộc sống của chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui mừng hân hoan.
 
Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu một chặng đường mới, chặng đường của chứng nhân. Mỗi chúng ta hãy lên đường, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, mạnh mẽ can đảm làm chứng cho Chúa, như Người đang mời gọi chúng ta.


 

nTrời-329: HẠNH PHÚC KHI CHIA TAY

Trầm Thiên Thu
 

Sao lại hạnh phúc khi chia ly? Lẽ thường thì không, nhưng với sự kiện Chúa Giêsu về trời thì đúng LênTrời-329

Sao lại hạnh phúc khi chia ly? Lẽ thường thì không, nhưng với sự kiện Chúa Giêsu về trời thì đúng là như vậy!
Chúa Giêsu là Vua các vua, Chúa các chúa, được Chúa Cha trao toàn quyền trên trời và dưới đất (Mt 28:18), nhưng Ngài lại tự hạ đến tột cùng, bị sỉ nhục, bị khinh miệt, và bị coi không bằng tên gian ác khét tiếng Baraba. Thế nhưng Ngài vẫn có bản lĩnh của một người công chính. Không phải cứ đa số là đúng. Tìm cách hạ bệ người khác là chứng tỏ mình yếu kém!
Thế nào là quyền lực và bản lĩnh? Chúng ta hãy suy tư hai ý tưởng này:
 
  1. Người có quyền lực nhất là người có thể kiềm chế các thói hư tật xấu của mình, chứ KHÔNG phải là người độc đoán và áp chế người khác.
  2. Người có bản lĩnh nhất là người dám chê trách chính mình chứ KHÔNG phải là người chê cười và chỉ trích người khác.
Chúa Giêsu bị giết chết, người đời coi đó là thất bại, là “chấm hết”, thế nhưng Ngài đã sống lại hiển vinh, và rồi trở về trời với Chúa Cha – nơi Ngài đã xuất phát: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3:13).
Mừng lễ Chúa Thăng Thiên không chỉ là kính mừng Chúa Giêsu lên trời mà còn là dịp tái khẳng định tín điều mà chúng ta vẫn tuyên xưng: “Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, LÊN TRỜI ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng”. Thánh Phaolô cho chúng ta biết rằng nếu Đức Kitô không sống lại, niềm tin của chúng ta chì là trống rỗng và vô ích, và như vậy chúng ta chỉ là những người hoang tưởng, thế nhưng Ngài đã thực sự sống lại và lên trời.
Lễ Thăng Thiên là một “cuộc chia tay” – Thầy trò đôi ngả, nhưng cuộc chia ly này không buồn thảm hoặc tuyệt vọng, mà tràn trề hy vọng và hạnh phúc. Tại sao Ngài về trời, và Ngài về trời làm gì? Để minh chứng và xác định lời hứa mà chính Ngài đã nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14:3). Đối với phàm nhân chúng ta, chắc chắn không còn niềm hạnh phúc nào lớn lao hơn nữa!
Quả thật là kỳ diệu, Thiên Chúa mà hóa thành Con Người, Con Người mà là Thiên Chúa, vừa hữu hình vừa vô hình. Chắc chắn chẳng một thần linh nào như vậy. Chỉ có Thiên Chúa của chúng ta như vậy mà thôi, độc nhất vô nhị, duy nhất và tuyệt đối. Thánh Phaolô đã nói: “Phải công nhận rằng: mầu nhiệm của đạo thánh thật là cao cả, đó là: Đức Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm, được Chúa Thánh Thần chứng thực là công chính; Người được các thiên thần chiêm ngưỡng, và được loan truyền giữa muôn dân; Người được cả hoàn cầu tin kính, được siêu thăng cõi trời vinh hiển” (1 Tm 3:16).
Chữ phải có ý nghĩa. Chữ nghĩa thật kỳ diệu. Người ta chỉ nói LÊN trời, TỚI trời, hoặc VÀO trời, vì người ta không xuất phát từ trời. Nhưng Chúa Giêsu nói VỀ trời, vì Ngài xuất phát từ Trời và từ Chúa Cha, Đấng ngự trên trời: “Nếu anh em yêu mến Thầy thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” (Ga 14:28). Người ta chỉ có thể VỀ nơi mà mình đã từng ở, còn nơi mình chưa ở thì không thể dùng động từ VỀ. Thế mà chúng ta cũng được Ngài cho phép VỀ trời với Ngài, dù chúng ta không xuất phát từ trời, dù chỉ là bụi tro xuất phát từ đất. Ôi, thật là vô cùng kỳ diệu!
Trong sách Công Vụ, Thầy thuốc Sử gia Luca đã viết: “Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giêsu làm và những điều Người dạy, kể từ đầu cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là: ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1:1-5). Chúa Giêsu về trời, nhưng rồi Ngài lại gởi Chúa Thánh Thần đến với chúng ta, đồng hành và hoạt động với chúng ta mọi nơi, mọi lúc, bởi vì Ngài “không để chúng ta mồ côi” (Ga 14:18).
Quả thật, tư tưởng loài người không cao hơn ngọn cỏ dại, tầm nhìn không vượt qua cái bóng của mình, thế nên khi nghe Đức Giêsu nói vậy, những người đang tụ họp ở đó tưởng rằng Ngài sắp sửa khôi phục vương quốc Ít-ra-en. Nhưng Ngài đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8). Vừa dứt lời, Ngài được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Ngài, khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Họ ngơ ngẩn nhìn nhau rồi nhìn theo hút Ngài, chẳng hiểu ất giáp chi cả!
Ngay khi các ông còn đăm đăm tròn mắt nhìn lên trời phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1:11). Lời giải thích này cho chúng ta biết chắc rằng Chúa Giêsu sẽ đến thế gian lần thứ hai vào một lúc nào đó, bất kỳ thời điểm nào mà chúng ta không thể biết được, thậm chí có thể là ngày mai hoặc hôm nay. Vì thế mà ai cũng phải sẵn sàng và tỉnh thức. Không chỉ vậy, với mỗi người còn là cái chết, vì tử thần có thể đến bất cứ lúc nào, không ai có thể ngờ được!
Kiếp phàm nhân là một chuyến đi, mỗi ngày tiến gần hơn một chút tới “miền cát bụi”. Cuộc đời Kitô hữu là cuộc lữ hành trần gian, là hành trình đức tin, và cũng là hành trình về trời. Đức Kitô đã về trời trước, đó là bảo chứng cho những ai tin nhận Đức Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai. Thánh Vịnh gia mời gọi: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47:2-3).
Vâng, trên cả tuyệt vời bởi vì niềm vui quá lớn, nỗi mừng khôn tả xiết. Nhưng chúng ta hữu hạn, chỉ biết thể hiện bằng tất cả khả năng phàm nhân mà thôi: “Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo, Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và. Hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta! Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu, hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ. Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” (Tv 47:6-9). Thiên Chúa không đòi hỏi quá sức chúng ta, Ngài chỉ muốn chúng ta chân thành với khả năng riêng của mỗi người – nén vuông hay tròn, to hay nhỏ, dài hay ngắn cũng không thành vấn đề, quan trọng là phải sinh lời theo khả năng của chính mình.
“Cái tôi và sự hiểu biết tỷ lệ nghịch với nhau. Hiểu biết càng nhiều, cái tôi càng bé; hiểu biết càng ít, cái tôi càng to” (Albert Einstein, 1879-1955). Dẹp được “cái tôi” là có thể nên thánh, ai khôn ngoan thì làm được, chưa khôn ngoan thì hãy cầu xin. Thánh Phaolô cho biết: “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu” (Ep 1:17-19a). Nhận biết Thiên Chúa là niềm hạnh phúc lớn lao, nhận biết Ý Ngài và vui mừng làm theo là niềm hạnh phúc lớn lao hơn. Quả thật, chấp nhận và làm theo Ý Chúa là điều không dễ chút nào, vì chúng ta thường chỉ muốn “được như ý” mà thôi!
Để chúng ta khả dĩ hiểu rõ ràng, Thánh Phaolô giải thích: “Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. Như vậy, Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1:19b-23). Đức Kitô được Chúa Cha trao ban mọi thứ, nhưng Ngài không giữ riêng cho Ngài, mà Ngài lại muốn chia sẻ với chúng ta, muốn làm cho chúng ta cũng được sống viên mãn với Ngài, dù chúng ta không chỉ là phàm nhân mà còn là những tội nhân hoàn toàn bất xứng.
Thật là kỳ diệu, vì niềm hạnh phúc như điệp khúc cứ lặp đi lặp lại trong cuộc đời chúng ta, cả ngày lẫn đêm, trên suốt hành trình về trời. Không hạnh phúc sao được, bởi vì chúng ta được Thiên Chúa ưu đãi quá nhiều, minh nhiên nhất là chúng ta được xóa án tử và được khôi phục cương vị làm con, đặc biệt là cũng sẽ được về trời để tận hưởng cuộc sống trường sinh với Ngài.
Thánh ký Mátthêu cho biết rằng, một hôm có mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Ngài, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Bản tính nhân loại là thế, tận mắt thấy bao phép lạ mà vẫn chưa đủ tin, miêng nói tin nhưng bụng vẫn ngờ vực. Vả lại, họ cứ tưởng Đức Giêsu là chính khách, Ngài sẽ giành quyền độc lập cho Ít-ra-en từ bọn thực dân Rôma. Khi đó, Đức Giêsu đến gần họ và nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28:18). Có lẽ nghe Ngài nói vậy thì họ càng cho rằng Chúa Giêsu đang làm chính trị thật, điều họ nghĩ không sai. Thế nhưng lại không phải vậy, Chúa Giêsu không bao giờ làm chính trị, và Phúc Âm cũng không là bản cương lĩnh chính trị.
Tuy nhiên, cuộc sống không ai lại không liên quan chính trị vì sự ác luôn đối đầu với sự lành. Bảo vệ công lý, chân lý và hòa bình là một dạng hoạt động chính trị. Đại đế Napoléon nhận định: “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là vì sự im lặng của những người tốt”.
Người Công giáo là người mang hai “quốc tịch”, trước tiên là công dân của Nước Trời, và sau đó là công dân của một đất nước tại thế gian này. Trên đường lữ hành trần gian, với tư cách là công dân một đất nước, người Công giáo cũng tuân hành theo luật định của đất nước đó: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt. Thật thế, làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ” (Rm 13:1-3). Tuy nhiên, có một nguyên tắc mà không một người Công giáo tốt nào dám vi phạm: luật pháp trần gian đi ngược lại với lề luật của Thiên Chúa và Giáo Hội.
Mục đích của Chúa Giêsu hoàn toàn khác, không phải là làm chính trị để tranh giành quyền lức ở thế gian này. Đây là ước muốn của Ngài: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28:19-20a). Tức là Ngài bảo mỗi chúng ta phải vào đời. Chúa Giêsu biết sắp đến giờ phải trở về cùng Chúa Cha, nên Ngài căn dặn kỹ lưỡng. Ngài về trời nên Ngài bảo chúng ta vào đời để làm chứng về Ngài. Đó vừa là một tặng phẩm vừa là một mệnh lệnh, vừa là một đặc ân vừa là một trọng trách.
Trước khi về trời, lời cuối của Chúa Giêsu trên thế gian là một lời hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20b). Lời hứa đó đã được chứng tỏ rõ ràng nhất là Bí tích Thánh Thể, một phép lạ vĩ đại vẫn xảy ra hằng ngày ở khắp nơi trên thế giới. Biết rõ chúng ta yếu đuối nên Chúa Giêsu rất “tội nghiệp” chúng ta, Ngài cũng đã hứa: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi” (Ga 14:8). Và lời hứa đó lại được thực hiện ngay lập tức: Ngài về trời rồi gởi Đấng Bảo Trợ đến ở với chúng ta (Ga 14:16). Thánh Thể và Thánh Thần luôn đồng hành với chúng ta trên suốt Hành Trình Về Trời.
Phàm sự gì cũng có “mở” và “kết”. Tương tự, Hành Trình Về Trời được khởi đầu từ điểm SINH và kết thúc ở điểm TỬ. Hành trình đó có thể là “con đường” dài hoặc ngắn, không ai biết; “con đường” đó cũng có thể rộng hoặc hẹp, nhưng ai chọn đường hẹp thì tốt hơn đường rộng, càng thênh thang càng “dễ chết”, có thể “chết yểu”, “chết” trước kỳ hạn, “chết” ngay khi còn đang sống. Chết như vậy thì thật là nguy hiểm! Vì thế, chính Chúa Giêsu đã khuyên những ai thực sự muốn được trường sinh vĩnh phúc: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7:13-14). Không chỉ đơn giản như vậy, người ta còn phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp” (Lc 13:24). Cách nói rất “ngược đời”, nhưng phải dám “ngược” như vậy thì mới mong “xuôi” về vĩnh cửu.
Chúa Giêsu đã nhập thế và đau khổ đến tận cùng bảng số. Những người muốn về trời thì cũng không thể không đau khổ – cách này hay cách khác. Thánh nữ Faustina so sánh: “Như bệnh tật được đo bằng nhiệt kế, sốt cao cho chúng ta biết là bệnh nặng, đời sống tâm linh cũng vậy, đau khổ là nhiệt kế đo tình yêu Chúa trong linh hồn” (Nhật Ký, số 774). Đây là điều rất khó đối với bản chất phàm nhân, nhưng người ta có thể chấp nhận nếu cố gắng hiểu theo cách hiểu của Chúa và với tầm nhìn của Ngài.
Lạy Thánh Phụ, Chúa Giêsu trở về trời là dấu bảo đảm về sự sống vĩnh hằng mà con phải không ngừng cố gắng chiến đấu để khả dĩ đạt được. Xin mau ban Chúa Thánh Thần để đổi mới chúng con, làm cho chúng con can đảm làm chứng về Chúa Ba Ngôi. Xin giúp chúng con đủ sức vượt qua chính mình để xứng đáng lãnh nhận những gì Ngài đã hứa ban. Chúng con cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô Phục Sinh, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

 

nTrời-330: CHÚA VỀ TRỜI – CON VÀO ĐỜI

Lm Giuse Hoàng Kim Toan
 

Chúa về trời và con vào đời, là một ý tưởng hay, khi con người vẫn còn tại thế, Chúa Giê su luôn LênTrời-330

Chúa về trời và con vào đời, là một ý tưởng hay, khi con người vẫn còn tại thế, Chúa Giê su luôn cầu nguyện cho: “Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần.” (Ga 17, 13 – 15)
Nỗi nhớ
Người Kitô hữu sống trong trần gian này là một khởi sự tiến về quê hương đích thật của mình. Đó là quê hương của mình, một quê hương, chính Chúa Giê su đã ban tặng khi Người về trời, ngự bên hữu Chúa Cha.
Niềm tin mộc mạc đó xác tín điều Chúa hứa: “Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14, 3 – 4).
Nỗi nhớ hoài hương luôn thổn thức con tim người lữ hành trần thế. Một nỗi nhớ không nguôi, hằng khao khát Người ơi!
Đường về trời.
Con người vốn sinh ra ở dương thế, được sinh ra và lớn lên, sinh sống và chết đi cũng ở trái đất này, hoặc mai sau có định cư ở một hành tinh nào khác vẫn thuộc về thế giới này, làm sao biết đường về trời?
Câu hỏi cơ bản đó, Thánh Toma cũng hỏi Chúa Giê su: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? (Ga 14, 5).
Câu hỏi rất lý thú, vì ai chẳng mong về trời, ngay cả những người lương dân, khát mong của họ cũng là ra khỏi kiếp nhân sinh mà đến nơi ở mới, không khổ đau, không còn chết, thoát vòng luân hồi…
Đường nào về trời?
Con người có thể dùng máy bay, bay cao trên trời, nhưng vẫn cần đáp xuống một nơi nào đó họ muốn đến. Con người có thể dùng phi thuyền để lên cao hơn, xa hơn, nhưng vẫn cần trở về trái đất. Câu hỏi vẫn còn đó, trời ở đâu? Con đường nào dẫn đến trời?
Có thể làm dập tắt khát mong về trời được không, khi không biết đường về trời? Chắc chắn là không thể dập tắt, dù muốn dù không, Thiên Chúa cũng đã đặt vào trong con người sự khát mong về vĩnh hằng, bất tử. Thánh Augustine đã nhận ra: “Chính Chúa thúc giục con người tìm sự vui thỏa trong việc ngợi khen Ngài, vì Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa.”
Về Trời.
Chỉ có người từ trời xuống mới biết đường về trời. Trong câu truyện với Nicôđêmô, Chúa nói với ông: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.” (Ga 3, 13). Chỉ có một con đường về trời và gười dẫn đường là Chúa Giêsu Kito6.
Nơi bắt đầu con đường về trời.
Khởi đầu hành trình về trời bắt đầu từ ngay nơi trần thế này chứ không phải ở đời sau. Giữa những bộn bề lo âu, những thử thách gian nan, những cám dỗ trần tục, những thú vui chóng qua đời này và cả những ảo tưởng về hạnh phúc, con người vẫn băn khoăn con đường về trời đích thật. Chúa dạy: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” (Mt 6, 33 – 34)
Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô.
Chúa đã về trời, nơi đó con người đã thấy mình nơi Thiên Chúa trong Chúa Giêsu. Người mang hai bản tính về trời: Thiên Chúa – con người. Bởi vậy, khi con người tự nhiên không thể vươn tới Thiên Chúa thì Thiên Chúa đã mang lấy chính bản tính con người, trở thành con người giữa nhân loại để tỏ bày cho con người và nhìn đến từng người mà thông ban chính mình Thiên Chúa.
Con người chỉ có thể nhận biết mình là ai và đi về đâu khi họ nhận biết về Thiên Chúa, như thánh Augustine cầu nguyện: “Lạy Chúa! Xin cho con biết Chúa, để cho con biết con”.
Thiên Chúa tự thông ban chính mình nên con người mới có thể gặp gỡ và cầu nguyện, rồi nhận ra chính mình. Linh mục Romano Guardini đã cảm nghiệm: “Thiên Chúa nhìn con người có nghĩa là là Ngài ban cho từng người một khuôn mặt độc đáo. Tôi là tôi nhờ Ngài nhìn tôi. Sức sống của linh hồn tôi được cưu mang từ cái nhìn của Thiên Chúa yêu thương. Đây là một điều cao trọng vô cùng, một huyền nhiệm sinh phúc. Thiên Chúa là Đấng âu yếm nhìn chúng ta: nhờ cái nhìn của Ngài, mọi sự hiện hữu, nhờ cái nhìn của Ngài, tôi hiện hữu, tôi trở thành chính mình” (R. Guardini- Thiên Chúa hằng sống, tr. 37-39).
Chúa về trời. Xin cho chúng con nhận ra mối phúc lớn nhất cuộc đời của mỗi chúng con đã được khởi sự ngay ở đời này để được về trời cùng Chúa. Tìm kiếm Nước Chúa và sự công chính làm thỏa cơn khát của chúng con về ở lại trong Chúa.

 

nTrời-331: CHỐN QUÊ MÌNH Ở ĐÂU?

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

Có ai đó nói rằng: “Người ta có thể ở trăm nơi nhưng quê thì chỉ một. Người ta có thể đi đến khắp LênTrời-331

Có ai đó nói rằng: “Người ta có thể ở trăm nơi nhưng quê thì chỉ một. Người ta có thể đi đến khắp chốn nhưng ga khởi hành thì chỉ một – chốn quê mình” 
Quê hương hai tiếng gọi nồng ấm yêu thương và cũng rất linh thiêng trong lòng mỗi người. Dù quê hương giầu có hay nghèo nàn người ta vẫn yêu quê hương, vẫn tự hào về nơi mình đã sinh ra. Thế nên, trong giao tiếp khi gặp nhau lần đầu, người Việt thường có câu hỏi thăm: “Anh, chị quê ở đâu?”. Câu hỏi cũng là lời chào, chào bằng một câu hỏi, biểu cảm, thân tình. Câu chào để khởi đầu câu chuyện từ quê hương của nhau, của kỷ niệm, của tự hào và hạnh phúc. . .
Vậy quê hương là gì mà trân quý vậy?

Thưa, Quê hương là từ để mỗi khi nhắc tới ta lại được vé trở về tuổi thơ với chân trần đi rong chơi khắp xóm, hay lon ton dép đứt cố đua với anh chị đón mẹ đi chợ về.
Quê hương là cánh đồng lúa xanh thơm mùi cỏ, mùi bùn; là cánh đồng lúa vàng rụm và tiếng ếch kêu đêm đêm. Nơi đó có cánh diều tuổi thơ êm ả thanh bình.

Quê hương cũng gọi là “Quê nhà” là từ gợi cho những ai đi xa nỗi thao thức trở về để xà vào lòng mẹ, để nằm đong đưa chiếc võng tre. Chỉ cần nghe hai tiếng quê hương nơi mỗi người đều xót xa nhớ nhung như câu ca dao xưa:
“Chiều chiều ra trước ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”,

Chúa Giê-su cũng có một quê hương. Ngài cũng nhớ da diết quê ấy. Ngài mong từng giờ được về quê ấy sau những ngày tháng tha hương nơi lữ thứ trần gian. Ngài cũng rất tự hào khi nói về chốn ấy. Chốn ấy bình an, hạnh phúc. Chốn ấy không có khổ đau chỉ có niềm vui hạnh phúc của Chúa Cha yêu Chúa Con mãi mãi.
Điều hạnh phúc là chốn ấy cũng là quê hương của mỗi người chúng ta. Vì chúng ta đều là con Chúa nên cũng cùng được thừa tự gia tài trên trời với Chúa Giê-su.
Hôm nay Chúa về Quê Trời đó là niềm vui và là niềm hy vọng cho hành trình cuộc đời chúng ta. Một hành trình không vô định nhưng có điểm tới là quê Cha trên trời. Chính Chúa Ky-tô đã soi lối mở đường cho chúng ta. Chính Ngài đã đi trước để dọn chỗ cho những ai tin theo Người. Từ nay u sầu sẽ gặp niềm vui. Từ nay những đau khổ đời này không làm cho con người thất vọng, nhưng ánh vinh quang Phục Sinh của Chúa sẽ mang lại niềm hy vọng và lạc quan cho kiếp người chúng ta.
Hôm nay chúng ta mừng Chúa về Trời. Mừng cuộc chiến thắng khải hoàn của Chúa. Mừng Chúa đã hoàn tất cuộc đời trần thế của mình trong vâng phục và thi hành thánh ý Chúa Cha một cách trọn vẹn. Sứ vụ của Chúa đến trần gian giúp con người đánh bại tử thần, và mang lại quyền làm con cái Thiên Chúa cho con người. Sự kiện Chúa về Trời cũng mở ra cho chúng ta một niềm hy vọng sau những bể dâu cuộc đời chúng ta cũng có một bến bờ yên bình hạnh phúc là quê Cha trên Trời. Chúa về Trời cho chúng ta quyền hy vọng sẽ được lên trời với Chúa nếu biết đi trên con đường của Chúa. Con đường của hy sinh phục vụ. Con đường dấn thân cứu đời. Con đường sống vì lợi ích của tha nhân.
Cuộc đời của mỗi con người đều gắn với một sứ mạng phải hoàn thành, một công việc để thi hành. Đó chính là bổn phận mà Chúa đã trao cho mỗi người chúng ta khi bước vào trần thế. Xin cho chúng ta luôn biết kiên nhẫn chu toàn bổn phận Chúa trao. Xin cho chúng ta luôn theo gương Chúa Giê-su tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa Cha. Xin đừng vì những đam mê trần thế mà bỏ bê bổn phận của người con với Cha trên trời. Amen

 

nTrời-332: TRAO QUYỀN

Lm Vũđình Tường
 

Sau khi hoàn tất mọi sự trên trần thế Đức Kitô về trời, đoàn tụ cùng Chúa Cha. Truớc khi về LênTrời-332

Sau khi hoàn tất mọi sự trên trần thế Đức Kitô về trời, đoàn tụ cùng Chúa Cha. Truớc khi về trời Đức Kitô trao toàn quyền cho các môn đệ, thánh sử Mathew 28,16-20 tóm gọn những lời nhắn nhủ trên trong năm câu cuối cùng trong phúc âm của ngài. Lời nhắn nhủ cuối cùng trở thành nguồn sống cho các tông đồ và những ai đặt niềm tin vào Đức Kitô. Giáo Hội coi lời nhắn nhủ trên là sứ mạng của các Kitô hữu, sống, tin và loan truyền niềm vui Phục Sinh cho toàn thể nhân loại. Kitô hữu được mời gọi trở thành tông đồ hoạt động và hướng dẫn, giúp những người chưa biết Đức Kitô trở thành tông đồ hoạt động để họ tiếp tục công việc loan báo Tin Mừng cho muôn thế hệ. Họ sống niềm vui Phục Sinh và yêu thương nhau để qua đó người ta nhận biết khuôn mặt Đức Kitô trần thế qua các môn đệ Ngài.
Thầy đã được trao toàn quyền trên trời, dưới đất. vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Mt 28,18
Lời nhắn nhủ đầu tiên thật rõ ràng khi Đức Kitô loan báo cho các tông đồ là Ngài có toàn quyền trên trời, dưới đất và sai các tông đồ ra đi huấn luyện những người tin theo thành tông đồ. Sứ mạng này không dành riêng cho một dân tộc nào, và cũng không có giới hạn thời gian. Sứ mạng loan báo cho toàn thể nhân loại và chấm dứt vào ngày tận cùng của vũ trụ. Ngày lễ Đức Kitô về trời được coi như ngày ra trường của các tông đồ. Các ông được chính Đức Kitô giáo huấn, chỉ bảo và nay Ngài về trời các ông chính thức đảm nhiệm công việc loan báo Đức Kitô Phục Sinh. Nguồn vui chung cho cả nhân loại. Đức Kitô về trời nhưng Ngài không để các ông mồ côi, Ngài sai Thánh Thần Chúa xuống hướng dẫn, chỉ bảo thêm cho các ông trong cánh đồng truyền giáo.
Kitô hữu được mời gọi giúp các người có lòng chân thành trở thành tông đồ Chúa. Để làm được công việc đó họ được chia sẻ quyền năng Chúa ban. Khi thực thi quyền năng Chúa ban họ không được tự í muốn làm gì thì làm nhưng phỏng theo cách Đức Kitô thực hiện quyền năng của Ngài. Không còn cách nào tốt hơn để tỏ lòng trung thành, quí mến Đức Kitô bằng cách thực hiện việc xử dụng quyền năng Chúa ban theo cùng cách Đức Kitô thực hiện khi Ngài sống nơi trần thế. Để làm được điều trên Kitô hữu cần liên kết mật thiết với Đức Kitô bởi Ngài là nguồn sống, là sự sống của Kitô hữu. Liên kết với Đức Kitô để sống theo Ngài và giúp người khác nhận biết Ngài. Nguồn sống Đức Kitô trao ban không phải tự mình Ngài mà chính là nguồn sống của Ba Ngôi Thiên Chúa và đây cũng là công thức thanh tẩy của Kitô hữu khi em bé lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy em được thanh tẩy trong một Thiên Chúa Ba Ngôi: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Đây là công thức thanh tầy hoàn vũ của các Kitô hữu. Lãnh nhận bí tích trên chúng ta trở thành con cái trong đại gia đình Chúa, trở thành anh chị em trong Đức Kitô.
Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em c.19
Mặc dù về cùng Chúa Cha Đức Kitô không để các Kitô hữu mồ côi, Ngài sai Thánh Thần Chúa xuống hướng dẫn, chỉ bảo các Kitô hữu trong cánh đồng truyền giáo và trong cuộc sống hàng ngày của các tín hữu. Lời hứa ở cùng các Kitô hữu được tiên tri Isaiah loan báo hàng ngàn năm trước về việc Đức Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con trai với tên là Emmanuel có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Đức Kitô nhắc lại lời tiên tri loan báo xưa Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
Này đây người thiếu nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel Is 7,14
Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế Mt 28.20
Mừng lễ Đức Kitô về trời là mừng mầu nhiệm Thiên Chúa cùng lúc ngự bên hữu Chúa Cha, đồng thời cũng luôn đồng hành với các Kitô hữu trong cuộc sống của mỗi người.

 

nTrời-333: CÙNG LOAN TIN MỪNG VÓI CHÚA GIÊSU

Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

Tin mừng hôm nay cho biết đang khi Chúa Giê-su từ biệt các môn đệ để lên trời thì Ngài lại hứa LênTrời-333

Tin mừng hôm nay cho biết đang khi Chúa Giê-su từ biệt các môn đệ để lên trời thì Ngài lại hứa ở cùng họ mọi ngày cho đến tận thế. Làm sao vừa lên trời xa cách các môn đệ lại vừa ở lại mãi với các ông được?
Xin mượn một thí dụ để giải thích điều nầy: Nếu tôi chỉ có một quả cam và tôi muốn phát cho một ngàn người hiện diện trong nhà thờ nầy, mỗi người một quả, thì điều đó không thể thực hiện được.
Nhưng nếu tôi có một điều khôn ngoan, chẳng hạn điều tôi học được từ Chúa Giê-su: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn mình thì được ích gì!” rồi tôi đem “phân phát” điều khôn ngoan đó cho cả ngàn người ngồi nơi đây, thì mỗi người đều có thể nhận được nguyên vẹn một điều khôn ngoan y như nhau.
Thế đó, nếu chỉ có một đơn vị vật chất hữu hình (như một quả cam) thì ta không thể đem ban phát cho nhiều người, mỗi người một đơn vị được; nhưng trái lại, điều gì thiêng liêng không lệ thuộc vật chất thì ta có thể đem “phân phát” cho nhiều người và ai cũng được lãnh nhận trọn vẹn món quà đó như nhau.  
Tương tự như thế, khi Chúa Giê-su lên trời, chính là lúc Ngài chấm dứt sự hiện diện trong thân xác hữu hình để trở nên Đấng vô hình, thì Ngài không còn bị lệ thuộc vật chất, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, nên Ngài có thể hiện diện trong tâm hồn mọi tín hữu và mỗi người đều có Ngài hiện diện trọn vẹn trong bản thân mình.
Chúa Giê-su ở với chúng ta để làm gì?
Là để đồng hành với chúng ta trên hành trình rao giảng Tin mừng như lời Ngài mời gọi: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ… hãy dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. (Mt 28, 19-20) Như thế, hôm nay Chúa Giê-su vẫn tiếp tục sứ mạng cứu độ của Ngài qua chúng ta.
Nhưng có người tự nghĩ rằng: Bản thân tôi yếu kém mọi bề, làm sao tôi có thể tham gia vào sứ mạng cứu độ của Chúa Giê-su được? Xin hãy tin rằng điều này có thể được nếu chúng ta biết tựa nương vào Chúa.
Lúc mới lên năm, tôi được cắp sách đến trường để học những con chữ đầu tiên. Cô giáo đầu đời của tôi là một nữ tu. Vì tôi không thể tự mình viết được bất cứ chữ gì, nên Dì nắm lấy bàn tay nhỏ bé của tôi, để bàn tay bé xíu của tôi nằm gọn trong bàn tay của Dì và như thế, Dì kèm cho tôi viết nên những con chữ đầu đời.
Hôm nay Chúa Giê-su đang ở trong mỗi người chúng ta như lời Ngài phán: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Ngài tha thiết kêu mời chúng ta hợp tác với Ngài trong việc loan Tin mừng và cứu độ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những gì Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28, 19-20)
Còn rất nhiều người chưa nhận biết Tin mừng của Chúa Giê-su. Tâm hồn họ là những trang giấy trắng. Chúa Giê-su rất muốn nắm lấy bàn tay nhỏ bé yếu đuối của chúng ta để viết lên trong tâm hồn họ những trang Tin mừng về Thiên Chúa là Cha yêu thương, về mọi người là anh em một nhà, về tình huynh đệ không biên giới… Chúa Giê-su muốn sử dụng chúng ta như khí cụ hữu hiệu mang lại ơn cứu rỗi cho nhiều người. Điều quan trọng là chúng ta có bằng lòng để cho Ngài thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài qua chúng ta hay không.
Lạy Chúa Giê-su,
Chúa khao khát cho nhân loại được cứu độ và Tin mừng được thấm nhập vào tâm hồn mọi người, và Chúa muốn thực hiện khát vọng đó qua những người phàm yếu đuối như chúng con.
Xin giúp chúng con biết hiến dâng đời mình cho Chúa toàn quyền sử dụng, biết đặt bàn tay nhỏ bé của mình nằm gọn trong lòng bàn tay Chúa, để Chúa viết nên những trang Tin mừng trong tâm hồn nhân loại.

 

nTrời-334: THIÊN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU

P. Trần Đình Phan Tiến
 

Khởi đi từ bài dọc I hôm nay ( Cv 1, 1- 11), chúng ta thấy Thiên Tính của Chúa Giêsu thật rõ ràng , LênTrời-334

Khởi đi từ bài dọc I hôm nay ( Cv 1, 1- 11), chúng ta thấy Thiên Tính của Chúa Giêsu thật rõ ràng , minh bạch đến độ không ai có thể so sánh, biện minh, hay chối từ nữa. Một Thiên Tính duy nhất, người được rước lên trời trước mặt các tông đồ. Chúa Giêsu không bày tỏ Thiên Tính khi Người Phục Sinh, nhưng , Người bày tỏ Thiên Tính khi chịu phép Rửa tại Sông Giodan, Biến Hình trên Núi Tabor. Nhưng, Thăng Thiên là mầu nhiệm bày tỏ Thiên Tính rõ nhất, bởi vì, không một phàm nhân nào thể hiện được điều đó. Qua mầu nhiệm Thăng Thiên chúng ta tin vào mầu nhiệm Chúa Giêsu có hai bản tính, một là Nhân Tính, hai là Thiên Tính. Mầu nhiệm Giáng Sinh không ai nhìn thấy, ngoại trừ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Người, thánh Cả Giuse , Dưỡng Phụ của Người, thì không ai nhìn thấy. Mầu Nhiệm Phục Sinh mở ra , không ai nhìn thấy, vì , mầu nhiệm Phục Sinh chưa tiết lộ phần Thiên Tính của Chúa Giêsu, Con Chí của Thiên Chúa.
Theo đó, chúng ta thấy, Mầu nhiệm Phục Sinh là Người bày tỏ hoàn toàn phần hữu hình, Mầu nhiệm Phục Sinh còn liên quan hoàn toàn đến sự hữu hình của Người. Để minh chứng sự hiển nhiên phần Nhân Tính, tức sự hữu hình của Chúa Giêsu. Vì vậy mầu nhiệm Phục Sinh đi liền với mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu, vì khi sống lại, Người biểu lộ trọn vẹn phần Nhân Tính của Người, dù giây phút Người Phục Sinh không thụ tạo nào được chứng kiến. Điều nầy nói lên , khi  Chúa Giêsu Người đã hoàn tất mầu nhiệm” Đau Khổ”, tức cái chết để cứu chuộc nhân loại, thì không còn thế lực nào làm chủ Người được nữa.
Từ giây phút Phục Sinh đến lúc trở về Trời, hôm nay, tức Mầu Nhiệm Thăng Thiên , Chúa Giêsu hoàn toàn làm “chủ” khi xuất hiện nơi nầy, nơi khác, không còn thế lực nào làm chủ Người được. Vì vậy, chúng ta thấy được phần Thiên Tính của Chúa Giêsu ngay khi Người từ cõi chết sống lại, yếu tố nầy thật quan trọng đem lại cho chúng ta một niềm kính tin sùng mộ, bởi vì không một thụ tạo nào làm được như vậy. Có thể nói sau khi Phục Sinh, Người bày tỏ Thiên Tính của Người bởi Thiên Chúa mà ra, nên chi sự xuất hiện của Người trong thời gian nầy là sự sự xuất hiện của một Ngôi Vị Thiên Chúa Nhập Thể làm Người để cứu chuộc loài người trọn vẹn cả Nhân Tính và Thiên Tính.
Tin Mừng (Mt 28 , 16 -20) hôm nay là Tin Mừng Lễ Thăng Thiêng, bậc lễ ngang bằng với Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, bởi vì là Lễ trọng, (Lễ Họ) Lễ cầu cho giáo dân, (chỉ khác là không có tuần bát nhật ). Thánh Matthuê không ghi lại chi tiết Thăng Thiêng của Chúa Giêsu, cũng như bốn thánh sử, không thánh sử nào ghi chi tiết mầu nhiệm Thăng Thiên. Thánh Marco ghi : “ Nói xong, Đức Giêsu được đưa lên Trời và ngự bên hữu Thiên Chúa “. ( Mc 16, 19). Còn thánh Luca ghi : “ Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên Trời.” ( Lc 24, 51).
Như vậy, Thăng Thiên là mầu nhiệm siêu nhiên thuộc về Thiên Tính của Đấng Cứu Thế làm Người Giêsu – Kitô, cũng như mầu nhiệm Phục Sinh thuộc về Thiên Tính hoàn toàn nơi Thiên Chúa. Nhưng , khác với Phục Sinh, sau mầu nhiệm Thăng Thiêng Người không còn hiện diện hữu hình nơi trần thế. Tuy nhiên, Người vẫn hiện diện trong Thiên tính hoàn toàn với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. ( Mt 28, 20b). Có thể nói,  Thăng Thiên là mầu nhiệm Phục Sinh hoàn tất, Alleluja !
Như vậy, thư Epheso, thánh Phaolo cho chúng ta biết Đức Giêsu- Kitô được siêu tôn trên tất cả mọi quyền lực, chính là Thiên Tính nơi Người. (Ep, 1, 17 -23)
Theo đó, Thăng Thiên là một mầu nhiệm được các chứng nhân tiên khởi là các môn đệ của Chúa Giêsu. (Cv 1, 1- 11). Vâng, bốn con số một của sách Công Vụ Tông Đồ là đoạn Thánh Kinh ghi lại và làm chứng mầu nhiệm lên Trời ngự bên hữu Thiên Chúa của Ngôi Lời làm Người Giêsu- Kitô. Đồng thời minh chứng Thiên Tính nơi Người trong Nhân Tính của một Đấng Cứu Độ duy nhất./. Amen
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã biểu lộ hoàn hoàn uy quyền Thần Tính của Chúa cho chúng con trong mầu nhiệm Thăng Thiên, là Người biểu lộ sự uy quyền trong Thiên Chúa . Xin cho chúng con biết thần phục suy tôn Người trong mọi biến cố cuộc đời, trong mọi nghịch cảnh, vì Người hằng ở cùng chúng con cho đến tận thế. Amen.

 

nTrời-335: HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI

Lm. Jos. DĐH.
 

ai nói ngược nói xuôi, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. Câu thành ngữ đó có phải chỉ nhằm LênTrời-335

Dù ai nói ngược nói xuôi, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân. Câu thành ngữ đó có phải chỉ nhằm khích lệ động viên hay còn có ý nhắc nhớ hãy tự tin cho hành trình phía trước ? Đích đến thành công hạnh phúc đúng là mơ ước của con người, lý tưởng đó điểm hẹn đó, đối tượng nào chẳng bị thu hút, vì vậy mà ý chí vững chắc như “kiềng ba chân” không phải là chuyện nhỏ trong đời ta. Chia sẻ cho người thân bạc tiền thì không khó, truyền lại kiến thức và kinh nghiệm cho họ sẽ phức tạp hơn, chỉ giúp anh chị em mình ổn định về đời sống tinh thần thật không hề đơn giản ! Hiểu về niềm vui hạnh phúc ở hiện tại đã là quá khó đối với các tông đồ, hôm nay Thầy Giêsu còn có ý định hướng dẫn các học trò của Ngài hiểu và sống sứ mạng tông đồ ở phía trước.
Hạnh phúc vì được no ấm về đời sống vật chất, đời sống tinh thần, hoặc tin yêu, nhớ tới đấng bậc sinh thành đã an nghỉ, vẫn là điều người ta có thể thấy và cảm nhận được. Xưa các tông đồ và hôm nay chúng ta, để hiểu: “Thầy đã được toàn quyền trên trời dưới đất,….”, tất cả chỉ thấy, cảm nhận được ý nghĩa và lời dạy đó bằng niềm tin yêu. Tiền nhân chúng ta cho rằng: khi một người sống hết mình vì người khác, thì cũng đồng nghĩa với việc người đó đã quên đi chính bản thân mình. Đức Giêsu không đợi đến lúc thầy trò ly biệt mới bày tỏ lời nói việc làm yêu thương, Ngài cũng không chờ đợi tới biến cố “Thăng Thiên”, mới chia sẻ sứ mạng loan báo Tin mừng cho các học trò, hạnh phúc Nước Trời là gì.
Đức Giêsu đã thật sự quên mình để diễn tả niềm vui hạnh phúc đời đời cho các học trò, Đức Giêsu đã tự nguyện chết đi và sống lại để mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Hạnh phúc đời đời đã đến với các môn đệ từ khi các ông hiểu biết và sống niềm tin Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Ơn cứu độ đã đến với tất cả những ai đang sống đức yêu thương và tuân giữ mọi điều Thầy Giêsu truyền dạy, niềm vui và ơn ban sẽ hiện thực mãi trong Đấng Kitô. Cha ông có để lại kinh nghiệm: nhà nghèo mới biết con thảo, nước loạn mới biết tôi trung. Đức Giêsu không cần ta phải là con nhà nghèo, cũng không đợi chiến tranh loạn lạc mới hé mở thế nào là hạnh phúc thật, Ngài sẽ hiện diện như một phần thưởng cho những ai sống giới luật yêu thương.
Chúa Thăng Thiên hay Chúa về trời là cách diễn tả Đức Giêsu đã hoàn thành sứ mạng Chúa Cha trao phó ; lên thiên đàng hay tận hưởng vinh quang phục sinh cũng là hạnh phúc đời đời dành cho những ai đi con đường của Thầy Giêsu. Nước trời hay thiên đàng, ta không cảm nhận được bằng lý trí, tai mắt tự nhiên, ta không thấy không thể nghe, nhưng bằng yêu thương và lòng mến, ta sẽ tin Nước Trời là nơi có sự hiện diện của Chúa, là cùng đích mà Chúa hứa ban. Khác với ở thế giới hiện tượng, với xã hội trần thế, họ nghĩ phải có ba thứ cơ bản để đạt danh vọng địa vị: thứ nhất hậu duệ, thứ hai tiền tệ, thứ ba quan hệ.
Trong tương quan yêu thương, người ta vẫn gọi đó là những âm giai đầy phức tạp của tình cảm, vì có người chỉ gặp một lần đã bén duyên, và họ mất cả đời người cũng không thể quên ; có những người gặp hoài, gặp mãi, thế nhưng không có gì để nhớ, để yêu… Theo Đức Giêsu, là học trò của Đức Giêsu, không chỉ để nhớ hay để quên, mà là được trở nên sứ giả của tình yêu thương, được tỏa chiếu hồng ân cứu độ Thiên Chúa ban. Các tông đồ không hiểu biến cố Chúa về trời, thì các ông cũng được an ủi với lời hứa: “Thầy sẽ ở cũng các con mọi ngày cho đến tận thế”, nếu các ông tuân giữ lệnh Thầy Giêsu truyền. Người Kitô hữu chúng ta hôm nay chưa hiểu hạnh phúc đời đời là gì, ít nhiều chúng ta cũng được mời gọi tin và sống giáo huấn của Đức Giêsu, trở nên môn đệ của Ngài.
Ca dao có câu: công cha nghĩa mẹ cao vời, nhọc nhằn chẳng quan suốt đời vì ta. Đạo làm con, phải sống hiếu sống thảo với đấng bậc sinh thành, đạo làm người không thể quên nghĩa trước tình sau, đạo làm con Chúa và Hội thánh ta không thể quên nguồn gốc tổ tiên là Nước Trời. Điều hệ trọng trong “đạo” không phải là yêu nhiều hay yêu ít, giữ lề luật từ thuở nào, mà là trong tương quan ta có yêu thương, có sống thuận sống hòa giữa anh chị em mình đến đâu ? Lệnh truyền của Chúa, không hệ tại ơn gọi làm giáo sĩ tu sĩ hay giáo dân, nhưng là do mỗi người đã nhân danh tình yêu Ba Ngôi thế nào, và sống niềm tin sự hiện diện của Thầy Giêsu đang đong đầy ơn ban cho ta là sự thật đến mức nào. Amen.

 

nTrời-336: CHÚA VỀ TRỜI VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO HỘI

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Ai có dịp đến phi trường có thể dễ dàng chứng kiến những cảnh ngậm ngùi chia tay nhau, kẻ ở người LênTrời-336

Ai có dịp đến phi trường có thể dễ dàng chứng kiến những cảnh ngậm ngùi chia tay nhau, kẻ ở người đi lưu luyến. Dù là chia tay nhau để đi Mỹ, di du học, vẫn không thể che dấu được những giọt nước mắt của những người thân thương dành cho nhau.
Hôm nay, Chúa Giêsu và các tông đồ, sau bao năm gắn bó, đã phải chia tay nhau, cuộc chia tay này dù lưu luyến, nhưng lại tràn đầy niềm vui và hy vọng. Thày trò chia tay nhau không phải là dấu chấm hết, nhưng chỉ là kết thúc một giai đoạn đã qua và mở ra một giai đoạn mới với sứ mạng mới và tinh thần mới.
Chúa về trời sau khi đã hoàn tất sứ mạng Thiên Chúa Cha trao phó. Là một vị Thiên Chúa, Đức Giêsu đã chấp nhận từ bỏ địa vị cao sang của mình để mang thân phận con người và bước vào cuộc sống trần gian. Ngài mang lấy trong mình tất cả những giới hạn, yếu đuối và đau khổ của con người, chấp nhận cái chết đau đớn nhục nhã vì yêu mến Thiên Chúa và để cứu chuộc nhân loại. Thiên Chúa đã dùng quyền năng để làm cho Chúa Giêsu chỗi dậy từ cõi chết, tiêu diệt tử thần và ma quỷ, và nay, Ngài trở về trong vinh quang khải hoàn của một vị Thiên Chúa. Chúa về trời không phải là từ bỏ con người, nhưng để chuẩn bị chỗ cho mỗi chúng ta, Ngài đi trước mở đường để dẫn chúng ta theo sau. Chúa về trời để khẳng định cho chúng ta về niềm hy vọng, về quê hương đích thực của mỗi chúng ta là Nước Trời chứ không phải ở trần gian này.
Chúa về trời không có nghĩa là Ngài không còn hiện diện trên trần gian này nữa, nhưng chỉ là thay đổi cách thức hiện diện mà thôi. Ngài thay đổi từ việc hiện diện hữu hình bằng xương bằng thịt đến hiện diện thiêng liêng bằng tình yêu và quyền năng. Sách Công Vụ đã diễn tả khẳng định này khi nói: Người được cất lên ngay trước mặt các ông và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Thánh Kinh vẫn dùng hình ảnh mây bao phủ để diễn tả sự hiện diện của Thiên Chúa, nay sách Công Vụ cũng dùng hình ảnh đám mây quyện lấy Ngài để diễn tả Chúa Giêsu trở về với thế giới thần linh của Ngài. Chúa Giêsu vẫn hiện diện trước mắt chúng ta, chúng ta không nhìn thấy Ngài bằng mắt thịt, nhưng vẫn có thể thấy Ngài bằng con mắt đức tin.
Chúa về trời để mở ra một giai đoạn mới, một sứ mạng mới cho Giáo Hội. Tin Mừng Matthew kể lại: Chúa Giêsu hẹn gặp các tông đồ trên một ngọn núi, khi đến nơi, thấy Ngài, các ông đã bái lậy Ngài. Điều đó chứng tỏ các tông đồ đã hoàn toàn thay đổi cái nhìn về Thầy Giêsu. Ngài không chỉ là vị Thầy trước đây, mà còn là Thiên Chúa, Đấng ngự nơi cao. Vì thế, thái độ của các tông đồ là quỳ xuống bái lậy Ngài, nhìn nhận Ngài là chính Thiên Chúa.
Trong giây phút long trọng này, Chúa Giêsu đã trao cho các tông đồ cũng là Giáo Hội, một sứ mạng hết sức quan trọng và cấp bách: Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mệnh lệnh này, Giáo Hội đón nhận trực tiếp từ Chúa Giêsu, để bắt đầu ra đi đến với muôn dân. Giáo Hội có trách nhiệm phải nói cho muôn dân về Chúa Giêsu để họ cũng tin nhận Người là Thiên Chúa, Đấng nắm giữ toàn quyền trên trời dưới đất. Giáo Hội cũng có trách nhiệm làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Chúa qua việc lãnh nhận phép rửa nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, sống theo đường lối và giáo huấn của Người.
Giáo Hội luôn tin tưởng, thi hành sứ mạng cao cả mà Chúa Giêsu trao phó, trong niềm xác tín rằng, Giáo Hội không làm việc một mình, nhưng trong sự hiện diện và trợ giúp của Chúa Giêsu như lời Ngài hứa: Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế. Quả thật, Chúa Giêsu vẫn ở với Giáo Hội qua Lời của Ngài, qua Bí tích Thánh Thể. Nơi Bí tích này, Chúa Giêsu ở lại một cách sống động và cụ thể để nâng đỡ, thông ban sức sống và tăng cường sức mạnh cho Giáo Hội trên hành trình loan báo Tin Mừng. Chúa Giêsu còn hiện diện trong và qua chính con người của các tông đồ và các thừa tác viên của Giáo Hội, đồng thời trợ giúp các ngài chu toàn sứ mạng Chúa trao phó. Đặc biệt hơn nữa, Chúa Giêsu còn liên tục ở lại với Giáo Hội qua Thánh Thần được ban tặng cho các tông đồ và cho toàn Giáo Hội để soi sáng và hướng dẫn mọi hoạt động của Giáo Hội.
Sống và làm việc vì Nước Trời và hướng về quê hương đích thực là Nước Trời, đó là điều mỗi người phải luôn ghi nhớ. Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn chúng ta sao lãng bổn phận trần thế nhưng muốn ta trước hết phải chu toàn bổn phận và sứ mạng tại trần gian. Sách Công Vụ kể lại: Đang lúc các ông còn nhìn lên trời theo phía Ngài đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời cũng sẽ ngự đến y như các ông thấy Ngài lên trời. Thiên Chúa không muốn các môn đệ của Chúa sống lơ lửng trong ngây ngất, cũng không mơ mộng, nhưng phải trở về Giêrusalem, tức là trở về với cuộc sống hiện tại, thực tế, thường ngày để đương đầu và giải quyết nhưng vấn đề của cuộc sống.
Lời sứ thần cũng căn dặn các môn đệ trở về cuộc sống nhưng đừng bao giờ quên Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang. Vì thực tế đã có nhiều người sống và lao đầu vào công việc như thể không có Chúa hiện diện trong cuộc đời, trong công việc của mình. Có nhiều người sống như thể không có ngày mai, vì thế, họ rơi vào tình trạng sống vội, sống cuồng, sống ảo và sống buông thả. Có người khác không nghĩ đến ngày cuộc sống của mình sẽ phải chấm dứt, ngày Chúa trở lại để đòi lại sự sống và cuộc đời mà Ngài đã trao gửi nơi mỗi người. Quan trọng hơn nữa, nhiều người quên rằng: Chúa sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, thưởng công cho người lành, người tốt và loại trừ kẻ dữ kẻ xấu, vì thế, họ không biết chuẩn bị cho tương lai chung cuộc của đời mình, không tích góp cho mình công phúc trước mặt Chúa và anh em.
Lễ Chúa Giêsu lên trời còn được chọn làm ngày Quốc tế Truyền thông. Ngày nay, các phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội phát triển mạnh nhờ mạng lưới Intrenet. Chúng ta được mời gọi sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại để phục vụ cho Tin Mừng, loan báo về Chúa Giêsu cho mọi người. Vì thế, dù làm chủ một địa chỉ facebook hay một trang báo, trang mạng, chúng ta cũng phải sử dụng với một lương tâm ngay thẳng, trong sáng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và nhu cầu thông tin chính đáng của con người, qua đó giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người.
Chúng ta cũng phải mạnh mẽ lên án và tẩy chay những trang mạng bẩn, những báo đài nói dối, nói láo, xuyên tạc, vu khống người khác. Nhiều người dễ dàng tin vào các đài, các trang mạng này hơn là tin vào sự giải thích trình bày của Giáo Hội. Giữa một rừng thông tin ngược xuôi, tốt xấu, mỗi người cũng cần biết gạn lọc và phân định, tìm hiểu thông tin mặt phải, mặt trái, nhiều chiều để rút ra sự thật. Nhiều trang báo đài ngày nay phục cho mục tiêu chính trị, đảng phái, chứ không nhằm cung cấp thông tin khách quan. Có những kênh truyền hình nhắm điều khiển dư luận, lái sự quan tâm của dư luận, khiến cho nhiều người hiểu sai lệch vấn đề, vì thế, hãy hết sức cẩn thận cân nhắc trước các thông tin của các kênh, các trang mạng báo đài này.
Mỗi người chúng ta mang trên mình sứ mạng loan báo Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Xin cho chúng ta nhiệt thành và trung thành với sứ mạng Chúa trao dù lúc thuận hay lúc nghịch, dù người ta có muốn nghe hay không muốn, chúng ta vẫn trung thành nói về Chúa Kitô cho thế giới. Amen.

 

nTrời-337: KẾT THÚC LÀ KHỞI ĐẦU

Lm. Giuse Nguyễn
 

Diễn đàn Suy Nghiệm với mục đích quan sát- lắng nghe- suy ngẫm- trải nghiệm- sáng tạo về cuộc LênTrời-337

Diễn đàn Suy Nghiệm với mục đích quan sát- lắng nghe- suy ngẫm- trải nghiệm- sáng tạo về cuộc sống có một bài viết mang tên: “Kết thúc là khởi đầu”. Trong bài viết có đoạn: “Hãy đặt niềm tin vào vào sự kết thúc bởi đơn giản một điều, sự kết thúc là một bước khởi đầu mới mẻ. Hãy lao mình vào dòng chảy của thời gian, trong đó có sự kết thúc lẫn khởi đầu, đó chính là sự khám phá thế giới và khám phá chính mình một cách đích thực”.
Khi nghe lại đoạn kết thúc Tin mừng hôm nay, chúng ta bắt gặp hình ảnh của những chương mở đầu trong “Tin Mừng về thời niên thiếu” do Matthêu viết. Khi các nhà Đạo sĩ đến từ phương Đông, đại diện cho những người đầu tiên của dân ngoại đón nhận ơn cứu độ đến Belem, “Họ vào nhà, thấy hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người” (Mt 2, 11a). Cũng với thái độ đó, “mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy” (Mt 28, 16-17).
Qua hình ảnh “Kết thúc là khởi đầu” trong Tin Mừng Matthêu, tôi nhận ra được 2 sứ điệp:
 
  1. Muôn dân thờ lạy Chúa
Sứ điệp đầu tiên là hình ảnh “muôn dân thờ lạy Chúa”. Không phải Thiên Chúa muốn biểu dương quyền lực của Ngài, nhưng là thái độ của con người nhận ra đâu là Đấng đem lại hạnh phúc đích thực cho họ; hay nói cách khác họ “ngộ” ra được, họ nhận biết được cùng đích của cuộc đời mình.
 
  1. Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ
Sứ điệp thứ hai xuất phát từ sứ điệp đầu tiên. Để muôn dân đến thờ lạy Chúa, các môn đệ phải “đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”.
Qua hai sứ điệp này cho tôi 2 thái độ sống: Tin và loan báo niềm tin. Tin vào Đức Giêsu Kitô là Đấng chẳng những dạy cho tôi sống tốt, mà còn cho tôi được hạnh phúc đời đời, dẫn tôi đến nguồn ơn cứu độ vì Ngài là “đường, là sự thật và là sự sống”. Loan báo niềm vui, hạnh phúc mà tôi đang có cho mọi người, chỉ cho anh chị em tôi thấy con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực, nhất là anh chị em lương dân.
 
  1. Tin vào Đấng được sai đến
Mừng lễ Chúa Giêsu về trời hôm nay là dịp để tôi suy niệm kỹ lưỡng hơn về thái độ sống đức tin của tôi. Hình ảnh Ba Vua trong những chương khởi đầu, cũng như hình ảnh các môn đệ trong chương kết thúc Tin Mừng Matthêu khiến tôi suy nghĩ mình đang “bái lạy” điều gì trong cuộc sống hôm nay?
Sách Các Vua quyển thứ hai (5, 15-19) kể về việc Ông Naaman là một viên tướng chỉ huy của quân đội Aram (một quốc gia ngoại giáo) sau khi được Êlisa chữa lành bệnh phong, ông đã quay trở lại để tuyên xưng niềm tin của mình: “Nay, tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Israel” (2V 5, 15b). Hơn thế nữa, ông làm một việc mà nhiều người thắc mắc. Ông đã xin với Êlisa “Xin cho phép tôi tớ ngài đây mang về một số đất vừa sức hai con lừa chở được, vì tôi tớ ngài sẽ không còn dâng lễ toàn thiêu và hy lễ cho thần nào khác ngoài Đức Chúa” (2V 5, 17). Ông đã giải thích lý do tại sao xin đất của Israel: “Khi ông chủ tôi vào điện của thần Rimmôn để sụp xuống lạy, và khi ông ấy vịn vào cánh tay tôi, thì tôi cũng phải sụp xuống lạy trong điện của thần Rimman cùng lúc với ông. Xin Đức Chúa tha thứ điều ấy cho tôi tớ Ngài” (2V 5, 18). Nhưng trong thâm tâm của ông, vẫn chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa đang hiện diện trượng trưng nơi phần đất mà ông mang về trừ Israel và đang đặt một cách trang trọng trong nhà ông.
Hình ảnh của ông Naaman rất thực tế trong hoàn cảnh sống đạo của chúng ta ngày hôm nay, có thể gọi là đầy dẫy những khó khăn thử thách. Như ông Naaman vì hoàn cảnh mà ông vẫn phải cử hành những nghi lễ tôn kính tà thần, nhưng thực sự con người của ông đã suy phục một mình Đức Chúa. Ngày hôm nay vẫn còn rất nhiều người mặc dù tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa, vẫn muốn suy phục quyền lực của Ngài, nhưng vì “hoàn cảnh” mà họ vẫn chưa thể công khai niềm tin của mình, vì bắt buộc mà họ có những hành động đàn áp, bắt bớ những người tin… Đó là một trong những lý do giải thích cho việc tại sao những người chống đối Thiên Chúa, những người xúc phạm đến những giá trị linh thánh vẫn bình an, mạnh khỏe. Vì tận thâm tâm của họ đã tin kính Ngài, vẫn sợ bị Ngài trừng phạt… nhưng vì nhiều lý do mà họ phải hành động như vậy. Chúng ta tin chắc một điều đến một ngày nào đó, những con người có niềm tin âm thầm cũng sẽ được giải phóng.
Từ đó chúng ta suy nghĩ đến hoàn cảnh của chúng ta, những con người được tự do thờ phượng Chúa, được công khai niềm tin của mình… thì chúng ta phải biết trân quý và làm cho nó được hoàn hảo trong từng thái độ sống của chúng ta, vì chúng ta còn có bổn phận sống đức tin thay cho những con người không được thờ phượng Chúa cách công khai.
 
  1. Ra khỏi chính mình để loan báo Tin Mừng
Từ việc tin vào Đấng Phục Sinh, người môn đệ còn có sứ mạng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trờ thành môn đệ” (Mt 28, 19). Như vậy để “làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, thì người môn đệ của Đức Giêsu phải cất bước ra khỏi chính mình.
Trong dịp hội ngộ mừng 20 năm tái lập 2 Giáo hạt Bạc Liêu – Cà Mau, một linh mục đã sống tại vùng Minh Hải từ những thập niên 80 đã chia sẻ: “Trong những lúc khó khăn về mọi mặt nhưng những cán bộ Truyền giáo vẫn hăng say loan báo Tin mưng và sống gần gũi, yêu thương nhau… Trong thời buổi xem ra thuận lợi về mọi mặt, thì những cán bộ Truyền giáo “xem ra” không còn nhiệt huyết như ngày xưa”. Cha giải thích theo tư tưởng của Đức Thánh Cha Phanxicô là vì “người ta có quá nhiều pháo đài”.
Quả thật chính những pháo đài đó đã cản trở việc loan báo Tin Mừng, để người ta chỉ lo “giữ đạo” cho riêng mình.
Những “pháo đài” này trước nhất là chính tội lỗi của con người. Đành rằng thời nào cũng có ma quỷ và vì vậy không phải bây giờ mới có tội, mà tội đã có từ thời ông bà nguyên tổ. Nhưng ma quỷ ngày hôm nay “tiến bộ” hơn nhiều, nó làm cho con người không còn ý thức về tội nữa, và đó là tội đáng sợ nhất của con người. Nó làm cho con người thường xuyên tiếp cận với dịp tội, và vì vậy họ sẽ mất ý thức.
Hôm nay là ngày quốc tế truyền thông. Nó là dịp để chúng ta suy nghĩ về những phương tiện truyền thông. Tất cả những tiến bộ khoa học kỹ thuật đều do Chúa ban như dụng cụ để loan báo Tin Mừng, nhưng người ta đã sử dụng sai mục đích để nó trở thành khí cụ của ma quỷ. Có người đã chia sẻ với tôi: “Trục trặc trong đời sống gia đình hôm nay phần lớn là do những chiếc điện thoại thông minh”. Vì nó quá thông minh theo kiểu thế gian nên nó đã đưa con người đến chỗ mất đi hạnh phúc.
Pháo đài thứ hai mà con người đang bị ràng buộc chính là sự an toàn cho bản thân mình. Để mình được an toàn trong công việc, trong chức vụ, trong tiền bạc, trong tình cảm…, con người đã làm mọi cách để che chắn, bảo vệ cho mình bằng những nhóm người, những thế lực theo kiểu thế gian, trong đó có quyền lực và tiền bạc. Chính vì vậy mà con người bị bao phủ bởi những toan tính riêng tư, không thoát ra được để đem niềm vui đến cho người khác mà chỉ tìm mọi cách để người khác đem niềm vui cho mình.  
Để thoát khỏi những “pháo đài” này, trước hết con người phải chấp nhận sự thật, để “sự thật sẽ giải phóng anh em”. Sự thật đó là mình yếu đuối để phải biết khôn ngoan, thận trọng trong tất cả mọi sự, đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng. Ngày hôm nay phải đề phòng với những phương tiện truyền thông, đừng để nó trở thành khí giới của ma quỷ; đừng để những điều kiện thuận lợi Chúa ban như khả năng, công việc, tiền bạc, bạn bè… trở thành chiếc thòng lọng để xiết chúng ta đến ngạt thở.
Kế đến phải biết ra khỏi chính mình để đến với người khác vì niềm vui thực sự của Tin Mừng phải được chia sẻ. Thể hiện của việc ra khỏi chính mình là biết hy sinh thời giờ, sức lực, khả năng và mọi sự cho những người mình có trách nhiệm, cho những ai tìm đến với mình, và hơn thế nữa là phải chủ động để thực hiện việc đến với người khác.
Biến cố về trời là kết thúc giai đoạn ở trần gian của Đức Giêsu, nhưng nó lại mở ra một trang Tin Mừng  mới cho những môn đệ của Ngài, để họ biết tin tưởng vào ơn cứu độ mà Đức Giêsu đã từ trời xuống loan báo; đồng thời mời gọi họ hãy bắt đầu thực hiện sứ điệp của Đức Giêsu để cũng biết đem Tin mừng đó cho muôn dân. Để có thể đem Tin mừng cho muôn dân, đòi hỏi người môn đệ phải biết ra khỏi “pháo đài” của tội lỗi, của sự an toàn cho chính mình để dám dấn thân trong cuộc sống hôm nay.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin ban sức mạnh để con tin tưởng và bước theo Đức Giêsu trong mọi hoàn cảnh; xin ban ơn can đảm để con dám ra khỏi chính mình để làm cho muôn dân trở thành môn đệ. Amen.

 

nTrời-338: Suy Niệm Lễ Thăng Thiên – Năm B

5/7/2018 10:30:59 PM
 

Đức Giêsu đã từng ở trên trời trước khi vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. LênTrời-338

Đức Giêsu đã từng ở trên trời trước khi vâng lệnh Chúa Cha xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. Sau khi hoàn thành sứ mạng Chúa Cha trao phó, Ngài lại lên trời. Nước Trời cũng là quê hương của mỗi người chúng ta. Vậy, chúng ta phải làm gì để được lên Trời?

1.                   Đức Giêsu đã lên trời
Thật vậy, Đức Giêsu đã về trời. Sau khi sống lại, Ngài nói với bà Maria Mađalêna đi báo tin cho các Tông đồ rằng: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17). Sau đó, Ngài đã về trời thực sự. Tin mừng hôm nay cho biết: “Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.”(Mc 16, 19). Sách công vụ Tông đồ cũng khẳng định: “Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông.” (Cv 1,9). Vì thế, sự kiện Đức Giêsu lên trời là sự kiện lịch sử, là niềm tin của mỗi người kitô hữu chúng ta. Niềm tin đó được chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh; chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.”


2.                   Nước Trời cũng là quê hương của chúng ta
Ở trần gian này, mọi người chúng ta đều có một quê hương, đó là nơi chúng ta sinh ra. Nhưng quê hương ở trần gian này chỉ là “quán trọ”, là nơi tạm bợ. Nước Trời mới là quê hương thật của chúng ta, là nơi chúng ta được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Thánh Phaolô đã nói: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta”(Pl 3,20). Vì thế, ngày lễ hôm nay không những chúng ta mừng kỷ niệm Đức Giêsu lên trời mà còn nhắc nhở chúng ta nhớ tới Nước trời là quê hương thật của chúng ta để chúng ta chuẩn bị cho ngày được hưởng hạnh phúc viên mãn đó.

3.                   Chúng ta phải làm gì để được lên Trời.
Để được lên Trời, chúng ta cần chuẩn bị hành trang. Hành trang đó được thể hiện qua những việc làm cụ thể sau đây:
Thứ nhất, phải luôn sống gắn bó với Chúa, gặp gỡ Chúa qua đời sống hằng ngày. Mặc dầu Đức Giêsu đã lên Trời nhưng Ngài vẫn ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến Tận thế. Ngài hiện diện với chúng ta bằng nhiều cách khác nhau: Ngài hiện diện cách thiêng liêng mọi nơi mọi lúc; Ngài hiện diện qua Giáo hội nơi các vị đại diện của Ngài ở trần gian này : Đó là Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục, các linh mục; Ngài hiện diện qua Lời Chúa được viết lại trong cuốn Kinh Thánh; Ngài hiện diện qua các Bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể; Ngài hiện diện qua những người nghèo khó; Ngài hiện diện khi chúng ta họp nhau cầu nguyện…Vì thế, muốn được lên Trời cần phải sống gắn bó với Chúa, gặp gỡ Chúa mọi nơi mọi lúc : qua Lời Chúa, qua Giáo hội, qua các Bí tich, qua người nghèo khổ và qua đời sống cầu nguyện.
Thứ hai, phải biết chu toàn bổn phận hằng ngày. Đó là bổn phận làm người, bổn phận làm con Chúa, bổn phận của đấng bậc mình. Đó là bổn phận vợ chồng, cha mẹ, con cái, giáo dân, tu sĩ, linh mục, giám mục, giáo hoàng. Đó là bổn phận học sinh, giáo viên, công nhân, bác sĩ… Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã nói : “Bổn phận là giấy để vào được Nước Trời” (ĐHV Số 27).
Thứ ba, phải biết loan báo Tin mừng. Trước khi về trời, Đức Giêsu ra lệnh cho các Tông đồ rằng: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.” (Mc 16,15). Không phải ai cũng có thể loan báo Tin mừng trực tiếp như các nhà truyền giáo, nhưng ai trong chúng ta cũng có thể loan báo Tin mừng gián tiếp bằng đời sống chứng tá của mình. Đặc biệt trong thời đại ngày hôm nay, chúng ta cũng có thể loan báo Tin mừng bằng truyền thông. Trong thông điệp ngày thế giới truyền thông xã hội lần thứ 52, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi mọi người phải truyền thông sự thật và biết ngăn chặn các “tin giả”. Ngài nói : “Trong một thế giới truyền thông và kỹ thuật số thay đổi nhanh chóng hôm nay, chúng ta đang chứng kiến sự lan tràn của cái được gọi là ‘tin giả’. Điều này buộc ta phải suy nghĩ, và đó là lý do tại sao trong Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông năm nay, tôi quyết định trở lại với vấn đề sự thật, là điều đã được các vị tiền nhiệm của tôi lặp đi lặp lại, bắt đầu từ Đức Phaolô VI, trong Sứ điệp năm 1972 với chủ đề: ‘Truyền thông xã hội phục vụ Chân lý’. Bằng cách này, tôi muốn góp phần vào sự dấn thân chung nhằm ngăn chặn sự lan rộng của tin giả và tái khám phá phẩm giá của báo chí và trách nhiệm cá nhân của các nhà báo trong việc truyền thông sự thật.” Từ thông điệp của Đức Giáo Hoàng trên đây cho chúng ta thấy, khi chúng ta góp phần ngăn chặn ‘tin giả’ và biết truyền thông sự thật cũng là cách thức truyền giáo cho người hôm nay. Vì làm như thế là chúng ta đang làm chứng cho Sự Thật, mà Sự Thật là chính Chúa như lời Đức Giêsu đã từng nói : “Ta là sự thật” (Ga 14,6).
Thứ tư, phải biết sống bác ái yêu thương. Vì trong ngày phán xét, mỗi người chúng ta sẽ chịu phán xét về bổn phận yêu thương. Vị Thẩm phán sẽ dựa vào việc ta làm hay không làm đối với những kẻ bé mọn để thưởng hay phạt chúng ta. Ngài đồng hóa Ngài với những kẻ bé mọn. Ngài nói với những kẻ lành rằng : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.”(Mt 25,34-36).  Còn đối với những kẻ dữ, Ngài nói : “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.”(Mt 25, 41-43).
Khi biết chuẩn bị như thế, hạnh phúc Nước Trời sẽ ở trong tầm tay của chúng ta. Ngược lại, nếu không biết chuẩn bị thì chúng ta có nguy cơ mất hạnh phúc Nước Trời.
Người ta kể  rằng :  Có một nhà phú hộ, đầy quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên đột quỵ và qua đời. Gia nhân ai nấy đều xúc động, bỡ ngỡ. Người ta bàn tán xôn xao về cái chết đột tử của nhà phú hộ. Trong đó có một lời bàn gây nhiều tranh cãi từ một người quản gia của nhà phú hộ. Người quản gia nói rằng: Theo các anh thì ông chủ chúng ta sẽ đi về đâu?

Các gia nhân đáp: Ông ấy lên trời chứ đi đâu nữa.
 Người quản gia nói: Không đâu. Tôi chắc chắn ông ta không lên trời.
 Tất cả đều ngạc nhiên hỏi: Làm sao quản gia biết là ông chủ không lên trời?
 Người quản gia nói: Thường thì đi đâu xa, chủ của chúng ta thường nói về nước sẽ đi đến và chuẩn bị rất là cẩn thận. Nước trời là cõi xa xôi, nhưng tôi không bao giờ thấy ông chủ của mình nói gì về nước đó, cũng không thấy ông ta chuẩn bị gì cả. Làm thế nào mà ông ta vào Nước Trời được! (Sưu Tầm) 
Thái độ thiếu khôn ngoan của nhà phú hộ trong câu chuyện trên đây cũng có thể là thái độ của mỗi người chúng ta. Vậy ngày lễ hôm nay mỗi người chúng ta tự hỏi : tôi có bao giờ nói về Nước Trời không ? Tôi có chuẩn bị hành trang cho chuyến đi cuối cùng này không ?
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã về Trời sau khi chu toàn bổn phận trần thế. Xin cho mỗi người chúng con biết chuẩn bị cho ngày về Trời với Chúa bằng cách chu toàn những bổn phận của đấng bậc mình nhất là bổn phận loan báo Tin mừng. Amen.
Lm. Anthony Trung Thành

 

nTrời-339: Để có Chúa cùng hoạt động

 (Suy niệm của Lm Phêrô Vũ Văn Quí – CVK64)
“Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16, 19-20).
 

Hai câu cuối cùng trên trong Tin Mừng Marcô mang lối văn nặng hình tượng nhưng, với tôi, là lời LênTrời-339

Hai câu cuối cùng trên trong Tin Mừng Marcô mang lối văn nặng hình tượng nhưng, với tôi, là lời mời gọi vô cùng tha thiết trong thế giới kỹ thuật số hiện nay.
Để “có Chúa cùng hoạt động”, tôi tớ của Lời Chúa, như Phaolô quả quyết: “Tôi là Phaolô, tôi tớ của Đức Kitô Giêsu, tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa” (Rm 1, 1), phải là người rao giảng thật xứng danh với địa vị cao cả, vì Chúa Giêsu đã kêu gọi trong chân lý trọn vẹn: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29), hay như thánh Phaolô đã nêu gương: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kiô” (1Cr 11, 1).
Để “có Chúa cùng hoạt động”, tôi tớ của Đức Kitô không thể là những kỳ lục và biệt phái, những kẻ bị Chúa quở trách khi căn dặn dân chúng: “Vậy, những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23, 2-4).
Những người rao giảng Lời Chúa như vừa nêu trên cao rao một lý tưởng sống cao đẹp nhưng bản thân lại sống mâu thuẫn. Họ hô hào những người khác dấn thân vào con đường hẹp. Còn chính họ thì lại vi vút giữa đại lộ thênh thang. Chính vì thế mà những người được nghe giảng khi họ gặp những con người kiên trung với nội dung rao giảng, chấp nhận đau khổ thua thiệt, không bị của cải thế gian vùi dập, vượt lên khỏi những sự dữ tác hại và dám chết vì điều mình loan báo (Mc 16, 17-18), thì đây quả là một ấn tượng rất lớn đối với họ. Một chân lý hiển nhiên là, từ kinh nghiệm bản thân, ai cũng biết rằng người ta chỉ sẵn lòng chịu cực khổ vì những điều họ thực sự thâm tín mà thôi. Do đó, Lời đã được sống có một sức mạnh thu hút vô địch, không gì thay thế được. Lời đó đầy lôi cuốn, đầy thuyết phục bởi đó là Lời đã từng cảm nghiệm, và đã vì đó mà chịu thương chịu khó trong cõi đời và trong nếp sống cầu nguyện của người rao giảng. Lời đó từ môi miệng phát ra mang theo một nhiệt tâm và một sức mạnh hết sức đặc biệt. Trong Lời đó có mảng linh hồn của chính người giảng, và có thể bắt gọn linh hồn người nghe. Sự tương giao giữa người giảng và người nghe xẩy ra không phải trên ý niệm suông, nhưng trên thực tế. Đây cũng chính là điều mà tác giả trong phần cuối của Tin Mừng Marcô đã khẳng định: “có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.”
Chính thánh Phaolô tông đồ đã khích lệ: “Chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Kitô Giêsu là Chúa; còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, vì Đức Giêsu” (2Cr 4, 5). Vậy ở đâu chưa có sự nhất quán với Lời Chúa, tức chưa cùng đồng hình đồng dạng với Đức Kitô thì trước tiên cần có đức khiêm nhường. Đây là thái độ tối cần thiết cho những tôi tớ của Lời Chúa. Người rao giảng phải tự xóa nhòa bản thân trước sự hiện diện của Lời Chúa, phải khước từ vinh quang của riêng mình, như thánh Gioan Tẩy Giả đã sống và đã chia sẻ với các môn sinh của mình: “Đức Kitô phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30).
Không chỉ hạ mình khiêm nhường, thánh Phaolô, Vị Tông Đồ rao giảng vĩ đại đã sống chết với Tin Mừng khi ngài viết cho môn đệ Timôthê yêu dấu: “Vì Tin Mừng, tôi chịu khổ, tôi còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi. Nhưng lời Thiên Chúa đâu bị xiềng xich!” (2Tm 2, 9). Với lòng mến thâm sâu, ngài đã đặt trọng tâm tất cả vào việc loan báo Tin Mừng, cho dù có phải bị gông cùm, ngài vẫn sẵn lòng đón nhận. Với lòng mến đầy tin yêu và để “được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” như Đấng mà ngài say mê rao giảng, thánh Tông Đồ đã thể hiện được ý nghĩa siêu nhiên mà Chúa Giêsu đã truyền đạt trước khi trở về nơi Người đã đến là “dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao.”
Mới đây, kết thúc buổi triều yết chung tại Quảng trường Thánh Phêrô sáng ngày 20/5/2009, ĐTC Biển Đức XVI đã vắn tắt mở lời kêu gọi về Ngày Truyền thông Thế giới sẽ được cử hành vào ngày Chủ nhật 24 tháng 5 sắp tới. Ngài mời gọi:
“Đặc biệt với giới trẻ, cha kêu gọi các con hãy làm nhân chứng cho đức tin của chúng con qua thế giới kỹ thuật số. Hãy dùng những kỹ thuật mới đó để truyền bá Thánh Kinh, hầu cho Tin Mừng về tình yêu vô hạn của Thiên Chúa vang dội bằng những phương thức mới khắp trong thế giới của chúng ta, một thế giới không ngừng tăng tiến về kỹ thuật.” (trích Vietcatholic.net)
Làm nhân chứng cho đức tin mà ĐTC vừa nhắc nhở trên đã giúp tôi khâm phục biết bao một nhân chứng trên xe lăn mà tôi mới nhận được từ một nhóm trên mạng gửi tới. Bài viết có nội dung như sau và trích từ R. Veritas:
“Một phụ nữ tên là Mensi đã đăng quảng cáo trên một tờ báo địa phương như sau: "Nếu bạn cô đơn hay gặp nan đề nào, xin hãy gọi điện thoại cho tôi. Tôi bị liệt phải ngồi xe lăn tay, nên rất ít khi ra ngoài. Chúng ta có thể trao đổi nan đề với nhau. Mời bạn cứ gọi. Tôi rất thích nói chuyện với bạn".
Việc đáp ứng quảng cáo này rất kỳ lạ. Mỗi tuần bà Mensi nhận được khoảng từ 30 cú phôn, và bà rất mừng. Điều gì thúc đẩy một người tàn tật ngồi trên xe lăn tay muốn tiếp xúc nói chuyện với những người khác?
Bà Mensi kể rằng trước khi bị tê liệt bà có sức khỏe hoàn toàn, nhưng rất tuyệt vọng. Bà đã tự tử bằng cách nhảy từ trên gác cao xuống đất. Nhưng thay vì chết, bà bị tê liệt từ thắt lưng trở xuống. Nằm trong nhà thương bà hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng một hôm bà nghe như Chúa Giêsu nói với bà: "Mensi ơi, trước đây con đã có một thân xác hoàn hảo, nhưng linh hồn con lại què quặt, Kể từ nay con sẽ có thân xác què quặt, nhưng linh hồn con kháng kiện".
Sau khi ra khỏi nhà thương, bà Mensi quyết tâm dâng đời mình cho Chúa. Bà cầu xin Chúa cho bà được chia sẻ niềm tin của mình với người khác. Rồi bà đăng báo như đã kể trên đây.
Công việc của bà Mensi xem ra như không có gì đối với người khác. Nhưng với bà, đó là công việc lớn lao nhất mà một người tàn tật có thể làm để phục vụ Chúa.”
Và lời cuối cùng của bài viết cũng là lời nhắc nhở rất cụ thể về việc loan báo Tin Mừng bình an dành cho những ai muốn “có Chúa cùng hoạt động” trong thế giới kỹ thuật số hiện đại như ngày nay:
“Mỗi người tin Chúa phải làm một việc nào đó để giúp đồng bào, đồng loại của mình. Mạnh khỏe hay tật nguyền, trẻ tuổi hay già nua, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện, viết thư hay làm bất cứ điều gì theo khả năng, nếu chúng ta thực sự muốn đem Chúa vào tâm hồn những người chung quanh mình”.
Lạy Chúa,
Xin giúp con sức mạnh để con cũng kiên cường biết sống cho tha nhân như bà Mensi dù cho bà ngồi trên xe lăn như con vậy. Amen.


 

nTrời-340: Hãy rao giảng Tin Mừng – Lm. Đặng Quang Tiến

Đoạn Mc 16,9-20 không tìm thấy trong những thủ bản xưa nhất của Tin mừng Marcô. Có thể đây LênTrời-340

Đoạn Mc 16,9-20 không tìm thấy trong những thủ bản xưa nhất của Tin mừng Marcô. Có thể đây là phần được thêm sau nầy, trong đó tóm tắt những điều mà trong các Tin mừng khác nói đến Đấng Sống Lại. Phần thứ nhất (16,9-11) thuật việc Chúa hiện ra với bà Mađalêna (x. Ga 20,11-18). Phần thứ hai (16,12-13) kể tóm tắt chuyện hai môn đệ đi về làng Emmaus (x. Lc 24,13-35). Phần thứ ba (16,14-18) kể lại chuyện Chúa hiện ra cho nhóm mười một; Người trách họ cứng lòng tin và trao cho họ sứ mạng rao giảng Tin mừng (x. Lc 24,36-43). Phần cuối cùng (16,19-20) ghi nhận vắn tắt việc Chúa lên trời (x. Lc 24,50-53; Tđcv 1,9-11).
Đoạn nầy không chắc chắn do Marcô viết ra; tuy nhiên nó được viết theo một truyền thống cổ xưa và được công nhận thuộc về Kinh thánh. Có thể phân chia đoạn 16,15-20 làm ba phần: 1- Mệnh lệnh rao giảng Tin mừng và những hành động quyền năng kèm theo (16,15-18); 2- Chúa Giêsu lên trời (16,19); Các tông đồ đi rao giảng và Chúa cùng hoạt động với họ (16,20).
Lần đầu tiên việc rao giảng Tin mừng được giao phó cách rõ ràng và như một mệnh lệnh cho các tông đồ để chu toàn. Ngay từ đầu, Marcô đã ghi nhận nhiều lần là Chúa Giêsu không mệt mỏi đi rao giảng khắp miền Galilê và những vùng lân cận của nó (1,14-15.39.45; 5,20). Khi tuyển chọn nhóm Mười Hai, Marcô ghi nhận là Người kêu họ đến với Người để có thể sai họ đi rao giảng (3,14); tuy nhiên, ông đã không nói là khi nào. Trong diễn từ nói đến những thử thách và bách hại các môn đệ sẽ chịu, Người tiên báo là qua đó Tin mừng sẽ được rao giảng cho mọi dân tộc (x. 13,10). Như thế, “Anh em hãy rao giảng Tin mừng” là mệnh lệnh trực tiếp và đầu tiên các tông đồ lãnh nhận sau khi Chúa Giêsu sống lại, và họ sẽ bắt đầu thực hiện nó cách công khai sau khi Người đã lên trời (16,15.20). Đây là thời điểm thích hợp nhất để làm việc đó, vì sứ vụ của Người trên trần gian chấm dứt khi Người lên trời; họ phải tiếp tục sứ vụ ấy của Người. “Tin mừng của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (1,1) đã được loan báo trọn vẹn và đã thấm nhập họ không chỉ lời nói mà cả bản thân của Người. Rao giảng Tin mừng lần nầy sẽ được mở rộng cách phổ quát cho mọi người (16,15).
Những hành động quyền năng được hứa như xua trừ ma quỷ, nói được những ngôn ngữ mới, tiêu trừ những độc hại và chữa lành những bệnh tật là biểu trưng cho sự chiến thắng trên sự chết và tội lỗi (16,17-18). Người ban những quyền năng ấy cho tất cả những ai tin vào Người; tuy nhiên, không chỉ chừng ấy thôi, mà cả ơn cứu độ dứt khoát trong sự sống vĩnh cửu nữa.
Như việc sống lại do bởi Chúa Cha thực hiện (16,6), việc Chúa Giêsu được đưa lên trời cũng bởi Người. Được đưa lên trời là trở lại nơi Người đã từ đó mà đến trần gian. Chữ “trên trời” chỉ nơi Thiên Chúa hiện diện (1,10; 6,41; 7,34; 11,25). Lên trời là đi vào sự hiệp thông tuyệt hảo và vĩnh cửu với Cha của Người, trong đó Người được chia sẻ với Cha quyền năng và vinh quang. Thành ngữ “ngồi bên hữu” chỉ địa vị cao trọng và quyền hành lớn chỉ sau Thiên Chúa (14,62; 16,19; x. 10,37; 12,36; Tv 110,1). Sau cùng, các tông đồ đã đi khắp nơi rao giảng Tin mừng (16,20). Họ đã mở đầu một thời kỳ mới của Giáo hội. Thay vào lời hứa Chúa Giêsu sẽ ở cùng họ cho đến tận thế (x. Mt 28,20), Marcô ghi nhận là Chúa cùng hoạt động và trợ giúp lời họ rao giảng bằng những dấu hiệu quyền năng (16,20).
Đang ở trong vinh quang và quyền năng với Chúa Cha, Chúa Giêsu vẫn luôn hoạt động liên lỉ với Giáo Hội để hoàn thành việc rao giảng Tin mừng của Thiên Chúa cho muôn dân.

 

nTrời-341: Suy niệm của JKN

Những lời cuối cùng của Đức Giêsu trước khi Người lên trời Câu hỏi gợi ý: 1. Trước khi về trời, LênTrời-341

Những lời cuối cùng của Đức Giêsu trước khi Người lên trời
Câu hỏi gợi ý:
1. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã trăn trối lại những gì cho chúng ta, là những môn đệ của Ngài? Chúng ta có quan tâm thực hiện những điều ấy không? thực hiện thế nào?
2. Những dấu lạ - mà Đức Giêsu hứa sẽ đi theo những kẻ có lòng tin - có ứng nghiệm với chúng ta không? Nếu không thì tại vì Ngài hứa «cuội» hay vì chúng ta chưa có đức tin đích thực? Đức tin đích thực là gì? Ta đã có chưa?
3. Là người đang rao giảng Tin Mừng, ta đã có đức tin thật sự chưa, hay mới chỉ là thứ đức tin được tuyên xưng chứ chưa được sống? Có những «dấu lạ» đi kèm theo lời ta rao giảng để những ai nghe ta dễ tin tưởng không?
Suy tư gợi ý:
1. Lời trăn trối cuối cùng
Trước khi từ giã các môn đệ để về trời và để hiện hữu một cách khác bên cạnh các ông, Đức Giêsu đã trăn trối nhiều điều. Những lời trăn trối quan trọng nhất là những lời Ngài nói ra trong bữa tiệc ly trước khi ra đi chịu tử nạn và ngay trước khi về trời. - Những trăn trối trong bữa tiệc ly nói lên tinh thần mà môn đệ của Ngài phải có: chủ yếu là yêu thương nhau (Ga 13), tin và hợp tác với Thánh Thần (Ga 14; 16), liên kết chặt chẽ với Ngài (Ga 15), hiệp nhất với nhau (Ga 17), mong đợi Ngài trở lại (Ga 16).
- Còn lời trăn trối ngay trước khi Ngài về trời nói lên việc mà các môn đệ Ngài phải làm là «đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo» để tiếp tục sự nghiệp mà Ngài đã khởi sự. Đó cũng chính là công việc phúc âm hóa và tái phúc âm hóa, để mọi người không chỉ biết Tin Mừng mà còn thật sự sống tinh thần Tin Mừng nữa.
Về lời trăn trối sau, rất nhiều Kitô hữu chỉ hiểu một cách nông cạn, là chỉ nghĩ tới việc rao giảng cho người ta biết Thiên Chúa, biết Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu, và dừng lại tại đấy! Nhưng thử hỏi nếu chỉ biết thôi thì ích lợi gì? Chẳng hạn biết rõ sự cần thiết và ích lợi của thức ăn, hay biết rõ mình cần phải ăn gì để mạnh khỏe mà lại không chịu ăn, thì sự biết rõ ấy có ích lợi gì? Nếu biết mà không sống điều mình biết, không đem nó ra áp dụng thì chẳng những vô ích mà còn phải chịu trách nhiệm về cái biết ấy nữa. Vì kẻ nhận 1 nén bạc thì chỉ phải làm lợi thành 1 nén khác thôi, nhưng kẻ nhận 5 nén thì có trách nhiệm làm lợi thành những 5 nén khác kia! (x. Mt 25,14-30; Lc 19,12-27).
Vì vậy, biết Tin Mừng mà không chịu sống Tin Mừng là tự làm cho mình bị kết án nặng hơn. Cũng vậy, rao giảng cho người ta biết Tin Mừng mà không giúp người ta sống Tin Mừng thì chỉ làm cho người ta bị kết án nặng hơn chứ chẳng đem lại lợi ích gì cho họ. «Đức tin chết» hay «đức tin không có việc làm» (Gc 2,17.26) đâu thể đem lại ơn cứu độ? Cũng như có đồ mà không đem ra dùng thì đồ ấy có ích lợi gì? hoặc cho người ta đồ mà không chỉ cho người ta cách sử dụng thì coi chừng kẻo làm hại người ta? Việc rao giảng Tin Mừng cần phải đi xa hơn một chút là giúp người ta sống Tin Mừng, như thế sẽ làm lợi cho họ vô cùng. Như vậy, điều quan trọng là chính chúng ta phải sống tinh thần Tin Mừng và làm cho mọi người cũng sống tinh thần Tin Mừng. Biết và sống Tin Mừng, hoặc làm cho người ta biết và sống Tin Mừng, hai thứ ấy phải đi đôi với nhau mới không có hại mà sinh ích lợi vô cùng cho mình và cho người. Nên đã biết Tin Mừng hoặc giúp ai về mặt Tin Mừng thì hãy biết hoặc giúp «tới nơi tới chốn», với tinh thần trách nhiệm. Đừng «đánh trống bỏ dùi», «đem con bỏ chợ», tức giúp nửa vời, rất tai hại!
2. Những dấu lạ đi theo những ai có lòng tin
Theo lời của Đức Giêsu thì những kẻ có lòng tin đích thực - tức tin và sống điều mình tin - sẽ có được những dấu lạ theo mình: «Họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ». Đó là những điều mà tôi nghĩ rằng thời nào cũng đều ứng nghiệm, không chỉ là thời các tông đồ. Và những điều này trước tiên được ứng nghiệm ngay nơi bản thân những người tin rồi sau đó mới ứng nghiệm ra bên ngoài, tức với người khác hay với ngoại cảnh. Tuy nhiên, lời Ngài nói cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen: tôi không tin rằng bất kỳ người mạnh tin nào cũng đều có thể uống thuốc độc mà không chết, hay bị rắn cắn mà không sao! Vì thế, những dấu lạ nói trên cần được hiểu như sau:
- "trừ được quỉ": quỉ tượng trưng cho thế lực của sự ác. Người thật sự tin vào Thiên Chúa - là nguồn sức mạnh của mình - có thể thắng được những thế lực của sự ác hay của tội lỗi ngay trong bản thân mình. Cụ thể là thắng được những cám dỗ, những tư tưởng xấu, những khuynh hướng xấu, v.v… Nếu đức tin của họ mạnh hơn nữa, họ có thể giúp những người yếu tin cũng thắng được thế lực ác giống như họ.
- "nói được những tiếng mới lạ": người có đức tin đích thực và sống nhuần nhuyễn đức tin ấy sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và Đức Giêsu, tức chứng ngộ được chân lý nơi bản thân mình. Nhờ đó họ có thể tự diễn đạt đức tin của mình theo đủ mọi phương thức khác nhau, chứ không dùng những kiểu nói sáo mòn, trống rỗng, thiếu chất sống. Họ luôn luôn dùng những cách diễn tả mới lạ, phù hợp với thời đại, với trình độ của người nghe, giúp người nghe cũng cảm nghiệm được thực tế đức tin như họ. Họ như một y sĩ đã nắm thật vững cốt yếu của y lý nên biết tùy bệnh mà tự mình cho thuốc thật hữu hiệu, phù hợp với từng căn bệnh. Họ không sao y những bài thuốc có sẵn của người khác để áp dụng chữa bệnh một cách máy móc giống như những y sĩ chưa nắm vững y lý. Hay như một thầy giáo đã tiêu hóa thật kỹ môn mình dạy nên chỉ cần nói tất cả những gì đang có sẵn trong bụng không phải lệ thuộc một bài bản nào cả. Họ có thể nói một cách sáng tạo theo đủ kiểu đủ cách mới lạ để học sinh dễ hiểu mà vẫn luôn luôn chính xác, chứ không nô lệ vào những giáo trình mẫu do người khác soạn sẵn.
- «cầm được rắn trong tay»: người có đức tin đích thực ắt nhiên có tâm hồn an bình và đầy tràn tình yêu. Họ coi mọi người - dù xấu ác hay ghét họ, muốn làm hại họ - như anh em ruột thịt và sẵn sàng hy sinh cho những người ấy. Vì thế, họ có thể tiếp cận và sống chung cả với những người xấu ác mà không hề bị hại, vì những người nguy hiểm này vẫn luôn cảm nghiệm được tình thương của họ dành cho mình: không ai lại muốn hại người đang yêu thương mình.
- «dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao»: tất cả những nghịch cảnh, những đau khổ trong cuộc đời không thể làm mất được sự bình an và hạnh phúc của những người có đức tin thật sự. Với đức tin, họ biết rằng tất cả những đau khổ hay nghịch cảnh Chúa gửi tới đều là những hồng ân do tình thương của Ngài. Họ tin rằng: "Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người" (Rm 8,28) và "những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta» (8,18). Vì thế, họ rất vui khi đau khổ hay nghịch cảnh xảy tới, nên đau khổ hay nghịch cảnh cỡ nào cũng không hề làm hại được họ.
- "nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ": Ngoài ra người có đức tin đích thực còn có sức cảm hóa và giúp những người xấu ác - là người bị bệnh về tâm linh - trở về đường ngay nẻo chính. Họ có khả năng nâng đỡ và thêm sức mạnh cho những người yếu đuối tinh thần. Ai gần họ cũng cảm thấy mình bình an hạnh phúc hơn, tin vững mạnh vào Thiên Chúa, vào chính bản thân và tương lai mình hơn.
3. Có Chúa cùng hoạt động với người rao giảng Tin Mừng
Bài Tin Mừng kết thúc bằng một câu thật tuyệt vời, làm an lòng tất cả những ai đang rao truyền Tin Mừng: "Các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng». Điều quan trọng nhất để việc loan báo Tin Mừng trở nên hữu hiệu - nghĩa là không chỉ giúp người ta biết Tin Mừng, mà còn làm cho họ sống Tin Mừng nữa - đó là "có Chúa cùng hoạt động với họ". Nhưng làm sao để có Chúa ở cùng? - Họ chỉ có Chúa ở cùng khi họ thường xuyên ý thức sự hiện diện của Ngài, và luôn gắn bó với Ngài bằng tình yêu chân thành có khả năng thúc đẩy họ hy sinh, dấn thân thật sự. Nhờ đó, họ có "những dấu lạ kèm theo" xác nhận những gì họ rao giảng là chân lý. Dấu lạ quan trọng và căn bản nhất - có khả năng thuyết phục những người nghe họ - chính là họ đã thật sự sống được những điều họ rao giảng. Nhờ sống điều mình nói mà lời họ nói trở nên sống động, mạnh mẽ, đầy sức hấp dẫn, khiến người nghe luôn «tâm phục khẩu phục", đồng thời cảm nghiệm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa ở nơi họ. Ước gì mọi người loan báo Tin Mừng đều luôn "có Chúa cùng hoạt động" như vậy!
Cầu nguyện
Lạy Cha, xin cho con biết sống đức tin của mình một cách thực tế và sống động. Vì quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng đức tin của mình hết sức mạnh mẽ trước mặt mọi người, nhưng đời sống con lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu! Thế mà con lại rao giảng thật hùng hồn về đức tin ấy khiến người nghe con cảm thấy những lời con nói chỉ là những sáo ngữ, những lời giả dối, không thể tin nổi. Xin Cha giúp con thật sự sống những điều con tin, và rao giảng những điều con sống.

 

nTrời-342: BÀI ĐỌC THÊM.

Hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật" (G. Bessière, trong "Thiên Chúa rất gần, LênTrời-342

1) "Hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật" (G. Bessière, trong "Thiên Chúa rất gần, năm B", DDB, tr. 68-69).
Bản văn không đề cao hiện tượng kỳ diệu của việc lên trời, nhưng nhấn mạnh sứ mệnh của các tông đồ. Các ngài mang đi một tin bất ngờ, một tin mừng cho "mọi tạo vật'? Đó là ơn cứu độ, ơn giải phóng, ơn chữa lành, đương đầu với mọi nguy cơ để đổi thay thế giới, cho nhân loại mới ấy, nhân loại ngồi bên hữu Thiên Chúa ấy được hiện hữu và lớn mạnh. Lịch sử đâu có thể nhờ một chiếc đũa thần mà biến đổi trong tích tắc mà phải qua hằng bao thế kỷ, hằng bao thiên niên kỷ, như một nắm men âm thầm nhưng phải luôn luôn khơi dậy Tin Mừng này, để Thánh Linh Thiên Chúa tái tạo bộ mặt địa cầu.
Suốt dòng thời gian, các môn đệ sẽ là những "chứng nhân hăng say": “cho đến tận cùng trái đất", nhờ sức mạnh Chúa Thánh Thần. Đức Giêsu ra đi, nhưng Người không vắng mặt, trái lại dường như cuộc ra đi này còn làm cho Người hiện diện nhiều hơn qua tất cả những người tiếp tục đón tiếp, sáng tạo và mưu tìm một thế giới mới. Họ cũng sẽ là những kẻ làm phiền vì tin rằng nhân loại có thể tiến xa hơn trên con đường công bình, tha thứ và yêu thương. Những con người mơ về một nhân loại thần linh này (humanité divine) sẽ luôn luôn phản kháng những gì là hỗn loạn, tồi tệ và chai lì trong đời sống cá nhân cũng như tập thể. Họ cũng sẽ trở thành mục tiêu tấn công của những chủ nhân sống một đời sống trì trệ, những tay quản lý ù lỳ và phó mặc cho số phận, những kẻ tôn thờ tiền bạc. Nhưng ngay cả trong cơn bắt bớ, những con người thân cận với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ấy, những người đã được rửa tội trong trong tai ấy, sẽ nghe thấy trong bản thân một tiếng nói bí ẩn thầm thì: “Thầy ở với các con cho đến ngày tận thế".
2) "Sự hiện diện của Đấng Phục Sinh" (Đức Cha L. Daloz, trong "Vậy người là ai?", DDB. tr. 109-1 10).
Đức Giêsu chứng minh sự hiện diện phục sinh của Người. Đoạn kết của Tin Mừng Maccô kể lại tóm tắt một vài tình huống chứng minh cho việc này. Đó là 3 tình huống khác nhau: Đức Giêsu ‘xuất hiện', "tỏ mình ra" cho Maria Madalena, cho hai môn đệ, cho mười một Tông đồ. Những chứng nhân ấy sẽ đi loan truyền điều họ đã thấy. Người ta không tin các ngài; trong lần sai đi cuối cùng này cũng thấy nói đến "ai tin" và "ai không tin”. Đức Giêsu phải "áp đặt" sự hiện diện của Người vì biến cố phục sinh quả thực là bất ngờ. Người khiển trách sự chậm tin và sự cứng lòng của họ, không tin lời những người đã thấy người sống lại”. Đoạn kết Tin Mừng này thật ngắn ngủi, vắn tắt như một bài điểm sách. Biến cố Phục sinh đâu cần chi đến những lời lẽ dao to búa lớn, những bài diễn văn dài dòng. Biến cố có đó để mời gọi đức tin. Biến cố tự nó đã có sức thuyết phục, có tính cách quyết định và đòi hỏi một quyết tâm. Biến cố quá mãnh liệt đã mở ra một tương lai và một chân trời bao la cho: "Toàn thế giới" và mọi tạo vật? Tin Mừng đầy ắp một sức mạnh phục sinh, có khả năng xuyên thấu bề dày tăm tối của thế giới, đem đến cho nó một chất men mới. Đó là ý nghĩa của những dấu chỉ này. Sức mạnh của Tin Mừng được biểu lộ qua con số không nhỏ những dấu chỉ này và tính cách phi thường của chúng, sức mạnh đó không chỉ là những lời nói suông, nhưng còn là chất men biến đổi cuộc sống. Các môn đệ có thể lên đường rao giảng. Đối với các ông, dù đã được cất lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, Chúa vẫn tiếp tục hoạt động và xác nhận Lời. Ngày nay, đến lượt chúng ta, chúng ta cũng được sai đến tận cùng thế giới để làm chứng nhân cho Tin Mừng, nhờ sức mạnh của mầu nhiệm Phục Sinh".

 

nTrời-343: CHÚA VỀ TRỜI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN
Mc 16, 15 – 20
 

 Hôm nay, Giáo Hội hân hoan mừng lễ Thăng Thiên. Chúa về trời để dọn chỗ trước cho chúng ta, Đức LênTrời-343 Dalat

Hôm nay, Giáo Hội hân hoan mừng lễ Thăng Thiên. Chúa về trời để dọn chỗ trước cho chúng ta, Đức Giêsu trao cho chúng ta sứ mạng làm chứng cho Ngài giữa thế gian và loan báo Tin Mừng cho các dân tộc.
Trước khi Chúa siêu thăng về trời, Ngài đã ra lệnh cho các môn đệ “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật “ ( Mc 16, 15 ). Chúa về trời là về với Thiên Chúa Cha. Chúng ta là con cái của Ngài.Chúng ta tin vào Ngài, chính Ngài đã nói :” Ai tin vào Ta thì dù có chết cũng sống lại “ và “ Ta đi để dọn chỗ cho các ngươi “. Do đó, đích đến của mỗi người Kitô hữu chúng ta là Nước Trời. Cuộc hành trình đức tin đi về quê trời là cuộc hành trình lâu dài, đòi hỏi phải kiên nhẫn, phải can đảm, vững mạnh, kiên quyết vượt thắng tội lỗi, đích đến là ở bên kia, là phía trước, thật gần nhưng cũng rất xa xôi.Nên, những bước chân gần gũi của chúng ta là đến với anh em ở mọi nơi, ở khắp cùng thế giới, những bước chân rao giảng Tin mừng, loan báo Đức Kitô. Phúc Âm mà chúng ta được Hội Thánh và chính Chúa sai đi là gieo rắc tình yêu.Tin mừng là chính Chúa yêu thương thế gian, yêu thương con người. Tin mừng là chính ai tin thì sẽ được lãnh nhận bí tích rửa tội, sẽ được cứu độ. Phúc Âm đó là Chúa ban cho chúng ta Lời để loan báo tình thương và ban cho chúng ta quyền năng làm phép lạ, và đến với mọi hạng người, không phân biệt bất cứ ai, bất cứ người nào bởi vì bất cứ ai tin cũng được Chúa đón nhận, được Chúa cứu độ.
Người Galilê xưa cứ nhìn lên trời để hy vọng dõi theo Chúa về trời. Thực tế là không chỉ nhìn lên trời, nhưng người Kitô hữu hãy hăng say đi loan báo Tin mừng, vì thế giới còn biết bao người chưa nhận biết Chúa đúng như lời Chúa nói :” Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt “. Chúa về trời, nhưng Ngài vẫn hiện diện với chúng ta, với nhân loại cho đến ngày tận thế.Chúa về trời, Ngài dùng miệng lưỡi của chúng ta để loan báo Tin Mừng, dùng đôi tay của chúng ta để giúp đỡ con người, để thi ân cho người khác, dùng đôi chân của chúng ta để đến với những con người nghèo khổ vv…Chúa về trời nhưng người vẫn luôn muốn :” Xin cho chúng nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha “. Chúa về trời nhưng Ngài vẫn luôn mong ước :”…để những người Cha ban co Con cũng ở đấy với Con “ ( Ga 17, 24 ).
Lễ Thăng Thiên là một trong những lễ trọng đại nhất của người Công giáo chúng ta. Chính vì thế, chúng ta có thể dùng hình ảnh của các vận động viện chuyền ngọn lửa thiêng trong một cuộc chạy tiếp sức để ngọn lửa được châm và cháy rực lên trong suốt cuộc thi đấu của Olympic hay một thế vận hội nào của thế giới.
Chúa Giêsu Phục Sinh trước khi về trời đã trao cho các môn đệ, cho Hội Thánh ngọn lửa đức tin, ngọn lửa của công cuộc truyền giáo, và các tông đồ, các môn đệ cùng tất cả Giáo Hội tiếp tục công việc cứu thế của Chúa cho đến ngày tận thế.
Đức Giêsu Kitô đã dạy các môn sinh của Ngài :” Các con là muối ướp cho đời, nếu muối nhạt, thì chẳng còn cách gì làm cho mặn lại được, nó trở thành vô dụng, chỉ còn nước ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó . Các con là ánh sáng cho toàn thế giới, là thành phố xây trên núi…Cũng thế, ánh sáng của các con phải chiếu sáng lên trước mặt thiên hạ, để họ nhìn xem những việc thiện chúng con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời “ ( Mt 5, 13-16 ).
“ Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay,Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển.Là Thủ Lãnh, Người đã đi trước mở đường rước chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời “. Amen. ( Lời nguyện Nhập lễ Thăng Thiên ).
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Chúa về trời để làm gì ?
2.Sứ mạng Chúa trao cho Hội Thánh là gì ?
3.Lễ Thăng Thiên là lễ thế nào đối với chúng ta ?
4.Sống lại, Chúa đã ở với các môn đệ bao lâu ? Rồi Ngài đi đâu ?
5.Tại sao lại ví công cuộc truyền giáo giống như một cuộc chuyền lửa tiếp sức ?
  
 

nTrời-344: Mệnh lệnh của Chúa Phục Sinh:Hãy đi loan báo Tin Mừng

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA LÊN TRỜI   
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mác-cô 16:15-20)
 

Trong bốn mươi ngày sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Giê-su thường xuyên hiện ra với các môn LênTrời-344

Trong bốn mươi ngày sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Giê-su thường xuyên hiện ra với các môn đệ để nói với họ những gì Người chưa thể nói hết và củng cố lòng tin của họ.  Giờ đây đã đến lúc Người trở về với Chúa Cha và nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần tiếp tục những gì Người để lại.  Tuy nhiên Người mở ra một chân trời mới, để dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, các môn đệ tiếp tục sứ mệnh Người đã hoàn tất những khởi đầu cần thiết.  Chân trời mới ấy được biểu lộ trong mệnh lệnh Người ban cho họ:  “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”.  Vậy nội dung của mệnh lệnh này là gì?
          Chúa Giê-su đã ban truyền mệnh lệnh này hai ngàn năm trước, nhưng qua bao nhiêu thế kỷ, Giáo Hội vẫn liên tục nhắc nhở các Ki-tô hữu về bổn phận truyền giáo, hoặc loan báo Tin Mừng.  Có lẽ chúng ta mắc bệnh quên, hoặc nghĩ rằng đó là bổn phận của một nhóm người đặc biệt, như các linh mục và tu sĩ, chứ không phải của giáo dân!  Thánh Phao-lô đã cho chúng ta tư tưởng căn bản sau đây, để giúp chúng ta ý thức việc truyền giáo là trách nhiệm của mọi người.  Ngài dạy:  “Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Ki-tô ban cho.  Chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm Tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng” (bài đọc 2).  Rồi ngài kết luận:  Chúa chuẩn bị chúng ta như vậy là để chúng ta “làm công việc phục vụ mà xây dựng thân thể Đức Ki-tô”.  Với xác tín này, chúng ta hiểu được mệnh lệnh truyền giáo Chúa gửi đến mỗi người chúng ta, không phân biệt địa vị trong Giáo Hội.
          Vậy trước khi sai chúng ta đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su đã ban cho mỗi người chúng ta đầy đủ ân sủng cần thiết tùy theo hoàn cảnh của từng người.  Dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân, mỗi người đều có những “khả năng” để thi hành sứ mệnh.  Một linh mục thừa sai như Phanxicô Xaviê đi phương xa giảng đạo Chúa cũng không làm hơn nữ tu Têrêsa khiêm nhường sống trong dòng kín Các-men cầu nguyện cho việc truyền giáo!  Chẳng vậy mà cả hai vị đều được Giáo Hội tuyên phong làm Quan Thầy các xứ truyền giáo!  
          Trang bị cho tất cả chúng ta những gì cần thiết rồi, vị chỉ huy Giê-su dạy chúng ta làm hai điều thôi:  đi khắp tứ phương thiên hạ, và loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.  Trước hết chúng ta cần phải ra khỏi ốc đảo cô độc của mình để đi tới bất cứ nơi nào Chúa muốn.  Dĩ nhiên Chúa không đòi chúng ta phải đi xa như thánh Phao-lô hoặc những vị thừa sai rời bỏ quê hương mình.  Nhưng thế giới truyền giáo của ta, hoặc “tứ phương thiên hạ” của ta có khi lại là gia đình mình, nơi sở làm hay làng xóm mình.  Ra khỏi con người khép kín và ích kỷ của ta tức là đi khắp tứ phương thiên hạ rồi.  Có nhiều trở ngại, nhưng “nhiệt tâm vì lo việc nhà Chúa thiêu đốt ta, hoặc tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách ta”, giúp ta thắng vượt mọi trở ngại.
          Điều thứ hai phải làm trong sứ mệnh truyền giáo là loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.  Tin Mừng gì?  Đó là Tin Mừng chính Chúa Giê-su đã loan báo:  Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi trao ban Con Một, để hễ ai tin vào người Con ấy thì sẽ được cứu độ.  Đó là rao giảng một Đức Ki-tô vì yêu thương đã chịu đóng đinh thập giá để cứu độ chúng ta.  Rồi phải loan báo cho mọi loài thọ tạo, tức là cho mọi người không trừ ai.  Trong truyền giáo, không có việc loại bỏ hay chọn lựa.  Mọi người ai ai cũng đều có quyền đón nhận Tin Mừng và trở nên con Chúa.  Chúa chỉ đòi chúng ta hãy dùng khả năng mình có để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa thôi.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Năm nay cũng là năm Giáo Hội nhấn mạnh đến việc Tân Truyền giáo.  Cùng một Tin Mừng phải loan báo, nhưng phương thức loan báo của chúng ta cần phải mới mẻ và thích hợp với cách tiếp nhận của con người hôm nay.  Chúng ta được nhắc nhở hãy đến với những người đã theo Chúa, nhưng hiện lơ là không sống đức tin Công giáo.  Chúng ta không thi hành công việc khó khăn ấy một mình, nhưng “có Chúa cùng hoạt động” với chúng ta, như Người đã sát cánh với các tông đồ.  Điều Chúa mong đợi nơi chúng ta là liệu chúng ta có thực sự dấn thân truyền giáo không, còn mọi sự khác Chúa sẽ hoàn tất!                        Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

 

nTrời-345: CHÚA VỀ TRỜI

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, năm B
Cv 1 1-11   Ep 1, 17-23   Mc 16, 15-20
 

 Về trời vẫn là đích nhắm của mỗi Kitô hữu. Trời là chốn hầu như chỉ có trong trí óc của mỗi người. LênTrời-345

Về trời vẫn là đích nhắm của mỗi Kitô hữu. Trời là chốn hầu như chỉ có trong trí óc của mỗi người. Khung hướng của con người là nhìn lên cao và định vị trời là nơi cao thẳm, xa vời vợi, mắt thường không thể nào nhìn thấy trời.Tuy nhiên, với đức tin, Trời là Thiên Đàng nơi người tín hữu mong và ước mong đạt tới. Trời là nơi Thiên Chúa ngự. Hôm nay, Chúa về trời là về với Thiên Chúa Cha đúng như lời Ngài căn dặn, ra lệnh cho các tông đồ :” Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho tất cả loài người…”. “ Nói xong, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa “.
Vâng, Chúa về trời là một mầu nhiệm.Bởi vì, Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu Nagiarét giờ đây được Thiên Chúa tôn vinh, được chia sẻ quyền thống trị của Thiên Chúa, được tôn lên làm Đức Chúa. Đó chính là sự kỳ diệu, là sự mới lạ, là mầu nhiệm. Cụm từ “ về trời “ vẫn là điều người tín hữu chúng ta hằng mong đợi, chờ mong sau khi đã chiến đấu anh dũng trong cuộc hành trình đức tin đầy khó khăn ở trần thế. Tuy nhiên, cụm từ “ lên trời “ không được hiểu theo nghĩa vật chất nghĩa là được bốc đi, đưa đi đến một nơi chốn mà phải hiểu theo nghĩa :” Này các bạn Galilê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các bạn  và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các bạn đã thấy người lên trời “ ( Cv 1, 11 ). Như người Galilê xưa, chúng ta đừng cứ đứng bỡ ngỡ nhìn trời, nhưng phải trở về với thực tế đời thường. Đừng mải nhìn trời rồi ước vọng cao xa. Chúa muốn con người phải sống với thực tế của con người. Bổn phận và nghĩa vụ của con người vẫn còn đó. Chúa muốn con người chúng ta phải làm chứng cho Chúa như các môn đệ, các tông đồ đã làm chứng cho Chúa Phục Sinh :” Anh em sẽ làm chứng cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất “ ( Cv 1, 8 ). Chúa về trời là để được tôn vinh là Đức Chúa, làm chủ thế giới, làm chủ vũ trụ. Chúa về trời là lúc sứ vụ rao giảng, sứ mạng làm chứng cho Chúa. Lúc Chúa ra đi, về trời không phải là lúc các môn đệ mơ tưởng đến một cõi trời xa xăm, mơ mộng, hão huyền. Chúa vể trời là lúc các môn đệ bắt đầu một sứ mạng mới, một cuộc sống mới. Các môn phải bắt đầu xuống núi để đi vào một cuộc sống thực tế, một cuộc sống gần gũi với anh em: đến với những người nghèo, những người bơ vơ vất vưởng, những người không nhà không cửa.Đến với những người bệnh hoạn tật nguyền, những người tội lỗi. Đó là những thực tế ờ trần gian. Các môn đệ và chúng ta phải lê những bước chân đi vào thế giới để đến với mọi lớp người như Chúa Giêsu khi Người đi rao giảng. Những bước chân của Chúa quả không bao giờ mệt mỏi để loan báo Tin Mừng. Bởi vì rao giảng Tin mừng, chính là loan báo Chúa yêu thương con người, yêu thương loài người. Tin Mừng cứu độ, chính là ai tin thì sẽ được lãnh nhận phép rửa. Tin Mừng chính là có Chúa cùng hoạt động với chúng ta, với con người với những dấu lạ kèm theo.
Đã đến lúc, chúng ta phải vứt bỏ quan niệm nhìn về trời như tìm một nơi chốn, Trời hay Thiên Đàng không phải là một nơi chốn treo lơ lửng ở trên không và cứ ráng nhìn là thấy được. Người Kitô hữu chúng ta nhìn về trời nhưng không quên nghĩa vụ, bổn phận trần thế: đó là ra đi loan báo Tin Mừng vì lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúa về trời nhưng Ngài nhờ miệng lưỡi chúng ta, nhờ đôi chân, đôi tay của chúng ta để giúp đỡ nhiều người. Chúa về trời nhưng ngài vẫn hiện diện với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày để giúp chúng ta làm chứng cho Ngài. Chúa về trời những Ngài vẫn tiếp tục làm nhiều dấu lạ, điềm thiêng cho con người tin vào Ngài. Chúa về trời nhưng Ngài luôn muốn mọi người tin vào Ngài sẽ cùng về bên Ngài khi Thiên Chúa gọi họ ra khỏi cõi đời này. Đây không chỉ là ước mơ nhưng là có thể nói được là niềm tin cho tất cả những môn đệ của Chúa.
Vâng “ Quê Hương “ của chúng ta là trời mới đất mới, là quê hương trần gian được biến đổi nhờ Thần Khí của Chúa Giêsu Phục Sinh. Do đó, chúng ta những môn đệ của Chúa phải làm tốt công việc của chúng ta là xây dựng trời mới đất mới ngay trần thế này bằng chính những hy sinh, bác ái và bằng chính thân xác của Chúa Giêsu Phục Sinh.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa về trời để được Chúa Cha tôn vinh làm Đức Chúa, làm chủ thế giới, làm chủ vũ trụ, đồng chia sẻ với quyền thống trị của Thiên Chúa Cha.Xin cho chúng con đừng mải mê nhin trời mà quên đi sứ mạng Chúa trao phó là rao giảng Nước Thiên Chúa và làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Amen.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Chúa về trời lúc nào ?
2.Chúa về trời để làm gì ?
3.Chúa về trời, Ngài còn hiện hiện với chúng ta không ?
4.Chúng ta có nên bắt chước người Galilê cứ nhìn lên trời không?
 
 

nTrời-346: SAO CÒN ĐỨNG NHÌN TRỜI?

 “Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời?” (Cv 1,9-11).
 

Sao còn đứng nhìn trời?” Câu hỏi không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn bao gồm cả tính LênTrời-346

“Sao còn đứng nhìn trời?” Câu hỏi không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn bao gồm cả tính nhân văn, và phản ảnh tâm lý sống nữa.
Nhìn trời. Trong ngắm thứ Hai mùa Mừng chúng ta suy niệm: “Thứ Hai Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên Trời”. Đó là điều mà các Tông Đồ được nghe từ hai người mặc áo trắng: “Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên Trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên Trời.” (Cv 1,11). Ao ước được về Trời với Chúa cũng là niềm vui mừng và hy vọng của tất cả những ai đang trông cậy nơi Ngài. Đây mới chính là lý tưởng sống và là động lực giúp con người chấp nhận hy sinh, thắng vượt thử thách, cũng như vất vả trên cuộc đời dương thế: “Vì chúng ta đã được phục sinh với Chúa Kitô, hãy tìm kiếm những sự trên Trời, nơi Chúa Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3,1).
Nhìn trời. Sao lại không nhìn? Vì người mà đang được cất lên cao kia chính là Thầy mình.  Biết đến bao giờ Thầy trò mới gặp lại nhau? Có cuộc chia ly nào mà không để lại những luyến lưu và nhớ nhung. Biết đâu trong những khóe mắt kia đã có những giọt lệ! Vì không như cảnh sau khi biến hình sáng láng trên núi Taborê, Chúa đã cùng xuống núi và đồng hành với các môn đệ, nhưng lần gặp gỡ này lại là lần mà Thầy trò chia tay, ly biệt.
Nhìn trời. Cũng có thể là một lối diễn tả những luyến lưu với quá khứ, hoặc một cảm tình mơ mộng về một tương lai. Cách nhìn này thường đem lại tâm lý trốn tránh thực tế, ngại đối đầu với những hy sinh và thử thách.        
“Sao còn đứng nhìn trời?” Câu hỏi mà “hai người mặc áo trắng” nêu lên phải chăng là muốn nhắc nhở các Tông Đồ, cũng như cho tất cả những ai yêu mến Chúa, đang thao thức hướng tầm nhìn lên Ngài về một sứ mệnh mới, sứ vụ làm chứng nhân cho Ngài. Thánh Luca đã ghi lại lệnh truyền đó một cách rõ ràng: “Ðã viết như thế: Ðức Kitô phải chịu khổ nạn và ngày thứ ba thì sống lại từ cõi chết; và nhân danh Ngài, phải được rao giảng cho mọi dân tộc việc hối cải để được tha thứ tội lỗi – khởi từ Giêrusalem” (Lc 24, 45-47).
Như vậy, nhìn trời trong trường hợp này không chỉ là một cử chỉ tạm biệt, một cái nhìn quyến luyến, một hoài niệm của quá khứ, hoặc một thao thức cho tương lai. Nhưng nó còn là thái độ nhắc nhở về sứ vụ chứng nhân cho tất cả những ai sau khi đã được biết Chúa, cho những ai muốn chứng tỏ mình yêu mến Chúa. Tình yêu là một sự chia sẻ. Tình yêu, nhất là tình yêu Thiên Chúa không được chỉ giữ riêng cho mình.
Cuộc đời người chứng nhân Tin Mừng luôn luôn mang hai đặc tính: Vui và buồn, hạnh phúc và hy sinh. Vui vì tình yêu của Thầy dành cho mình, vui vì được ơn đón nhận tình yêu ấy. Đau khổ, thử thách vì khi trở thành chứng nhân cho Thầy, thì cũng như Thầy, sẽ phải chấp nhận điều mà Thầy đã trải qua, những điều các ngôn sứ đã nói và sách Thánh đã ghi chép về Thầy của mình, đó là: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại”, và được cất lên trời. (x. Lc 24,44-51).
Nhìn Thầy được đưa về Trời trong vinh quang sẽ là niềm vui mừng, hãnh diện của các Tông Đồ. Rao giảng và làm chứng nhân cho Thầy cũng là một ân huệ, một hồng ân. Nhìn Thầy để hoài vọng về tương lai không xa sẽ được cùng Thầy đoàn tụ. Và nhìn Thầy để được thêm ý chí, nghị lực để bước tiếp cuộc hành trình trước mặt.
Người tông đồ, người của chứng nhân, do đó, không chỉ giữ và hạnh phúc với những gì mình đã có và đang có, dù đó là hạnh phúc với Chúa và trong Chúa rồi chỉ “ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24, 53) Nhưng phải ra đi chia sẻ niềm vui, làm chứng về Thầy. Đó là trách nhiệm do chính Thầy truyền dậy. Và đó cũng chính là một thử thách đang chờ đón trước mặt. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị trong tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân đã nói về sứ mạng chứng nhân này: “Trong khi vườn nho của Chúa có nhiều việc, thì không ai được nhàn rỗi”. Không ai được thờ ơ và vô cảm trước những thách đố của thời đại, trước sự lan tràn của tội lỗi, của sự dữ để chỉ lo lấy hạnh phúc cho mình, để chỉ đứng nhìn trời, đứng nhìn Thầy mình được đưa lên trong vinh quang.  
“Sao còn đứng nhìn trời?” Điệp khúc vang vọng lệnh truyền của Thầy. Lời mời gọi xuống núi. Phải quên đi những giây phút giã từ, những hình ảnh đẹp trên núi, mà phải xuống núi, ra đi vào đời và làm chứng nhân.
TRẦN MỸ DUYỆT

 

nTrời-347: HAI NHÁNH CUỘC ĐỜI

Chúa về Thiên Quốc sáng ngời vinh hiển
Con ở thế trần kiên vững chứng nhân
 

Thật kỳ diệu, như được Thiên Chúa đã “mặc định”, có nhiều thứ trái ngược mà không đối lập LênTrời-347

Thật kỳ diệu, như được Thiên Chúa đã “mặc định”, có nhiều thứ trái ngược mà không đối lập, giống như dạng bổ túc lẫn nhau vậy: Xuôi – Ngược, Phải – Trái, Trên – Dưới, Dọc – Ngang, Nam – Nữ, Trẻ – Già, Cao – Thấp, Nắng – Mưa, Trời – Đất...
Đất trời có tám hướng, mười phương. Cuộc đời có nhiều hướng, như cây có nhiều nhánh, chủ yếu là hai nhánh chính – như hình Thập Giá: hướng lên với Thiên Chúa (nhánh dọc) và hướng đến với tha nhân (nhánh ngang). Sống theo “chiều ngang” để xoay theo “chiều dọc” – mục đích cuối cùng: VỀ TRỜI.
Sau khi hoàn tất công cuộc cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu vinh hiển về trời, còn chúng ta phải hiên ngang vào đời để loan báo Tin Mừng về Đức-Kitô-chịu-chết-và-phục-sinh, làm chứng về Tình Yêu Vô Biên của Thiên Chúa, về Lòng Thương Xót bao la của Ngài. Chúa Giêsu về Trời là bảo chứng chắc chắn chúng ta cũng sẽ được về Trời. Với niềm hy vọng dạt dào đó, chúng ta có thể can đảm và kiên trì vượt biển-đau-khổ-trần-gian để cặp Bến Bình An Thiên Quốc.
Sách Công Vụ Tông Đồ (trình thuật Cv 1,1-11), Chúa Giêsu đã dạy bảo các Tông Đồ mà Ngài đã tuyển chọn qua tác động của Thánh Thần. Ngài còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy NGÀI VẪN SỐNG SAU KHI ĐÃ CHỊU KHỔ HÌNH: Trong 40 ngày, Ngài đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Trời. Đó là Ngài củng cố niềm tin cho những người còn tại thế. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã hứa: “Trong Nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,2-3). Để chúng ta an tâm, Ngài còn xác định: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
NHÁNH DỌC – HƯỚNG THƯỢNG
Phụng Vụ Mùa Phục Sinh sử dụng sách Công Vụ rất nhiều, Giáo Hội muốn chúng ta biết công việc của các Tông Đồ làm sau khi đã đủ tin vào Thầy Giêsu. Kinh Thánh cho biết:
Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là “ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”. Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó tò mò hỏi: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ítraen không?” Chắc là các ông cũng muốn “thơm lây” gì đó, vì con người vẫn nuôi hy vọng “một người làm quan, cả họ được nhờ”. Nhưng Chúa Giêsu thản nhiên: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,7-8).
Vừa nói xong, Ngài được cất lên ngay trước mắt các ông, khiến các ông chưng hửng và ngơ ngẩn. Lúc đó có đám mây quyện lấy Ngài, khiến các ông không còn thấy Ngài nữa. Ui da, sao thế nhỉ? Đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời, ngơ ngác hướng về phía Ngài vừa bay đi, bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Ngài lên trời” (Cv 1,11). Chúa Giêsu đã đến thế gian và đã về trời thật, rồi Ngài chắc chắn sẽ lại đến – tái lâm trong Ngày Tận Thế.
Chắc hẳn các môn đệ buồn lắm vì Sư Phụ đi xa rồi, và cũng có thể “trách yêu” là sao Thầy đi mà không nói trước. Quá đỗi bất ngờ! Các ông cũng có thể buồn vì từ nay không còn Sư Phụ thì không biết xoay xở thế nào. Con người là thế! Đại Sư Giêsu biết lắm, thế nên Ngài đã hứa ban Chúa Thánh Thần để đủ tự tin mà hành động vì Chúa: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Tất nhiên, Ngài hứa gì thì luôn thực hiện đúng – đúng chi tiết từng phẩy, từng chấm.
Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài không còn nhân tính mà chỉ còn thiên tính. Ngài ẩn hiện thoăn thoắt, vì không còn lệ thuộc thân xác. Nay Ngài lại về trời, nghĩa là chúng ta cũng chắc chắn sẽ được sống lại và về Trời với Ngài – mục đích cuối cùng của kiếp người. Vì thế, tác giả Thánh Vịnh mời gọi chúng ta cùng hợp xướng: “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 47,2-3). Đồng thời, chúng ta “hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa, đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta!” (Tv 47,7).
Thật vậy, “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu”, nên chúng ta phải “dâng Ngài khúc đàn ca tuyệt mỹ”. Tất nhiên những gì là tuyệt vời nhất thì phải được dành cho Thiên Chúa, vì “Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân, Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả” (Tv 47,9), toàn năng và toàn trí.
Sự vui mừng là biểu hiện có Chúa trong tâm hồn, nghĩa là chúng ta đang được Chúa Thánh Thần không ngừng tác động, được tràn đầy ơn Thánh Linh, đủ can đảm đi giữa bầy sói mà không hề run sợ… Thật tuyệt vời!
NHÁNH NGANG – DẤN THÂN
Lời nói phải được chứng mình bằng việc làm, không thể khác hơn. Mến Chúa thì phải yêu người, không thể nói suông, nếu không chỉ là “bà con ruột” với nhóm Pharisêu. Đức Ái là nhánh ngang của Thập Giá, như đôi tay dang rộng choàng lấy mọi người, bất kể đó là ai – quen hay lạ, bạn hay thù.
Rất chân thành, Thánh Phaolô xác định: “Tôi là người đang bị tù vì Chúa” (Ep 4,1a). Tự nhận là “tù nhân của Chúa” nên Thánh Phaolô không ngại nói: “Tôi khuyên nhủ anh chị em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh chị em. Anh chị em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh chị em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau” (Ep 4,1b-3). Ai cũng được Thiên Chúa kêu gọi, mỗi người mỗi trách nhiệm, mỗi người một loại “nén”, vấn đề là dùng những “nén” đó bằng cách nào và với mục đích gì. Không ai có quyền tự mạo nhận rằng “nén” của mình “có giá” hơn “nén” của người khác. Trước mặt Thiên Chúa, mọi người đều bình đẳng, chẳng ai hơn ai. Tại sao? Bởi vì ai cũng là tội nhân mà thôi!
Bình đẳng ư, bằng nhau ư? Đúng vậy! Lý do minh nhiên: “Thiên Chúa không thiên vị người nào. Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10,34). Vả lại, như Thánh Phaolô nói: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh chị em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng” (Ep 4,4). Đặc biệt là “chỉ có MỘT Chúa, MỘT niềm tin, MỘT phép rửa” (Ep 4, 5). Thế thì sao không bình đẳng? Đúng là “chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người”, nhưng “mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Kitô ban cho” (Ep 4,7). Đó là điều mầu nhiệm, trí tuệ loài người không thể phân tích hoặc giải nghĩa thấu tình đạt lý đúng mức, chỉ tương đối mà thôi.
Rất lạ với cách dẫn chứng của Thánh Phaolô: “Có lời Kinh Thánh nói: Ngài đã lên cao, dẫn theo một đám tù; Ngài đã ban ân huệ cho loài người” (Ep 4,8). “Đám tù” đó là chúng ta chứ còn ai trồng khoai đất này nữa, vì chúng ta đều là những tử tù được Đức Kitô chịu chết để giải thoát chúng ta khỏi chốn-lao-tù-tội-lỗi-trầm-luân. Thánh Phaolô đặt vấn đề: “Ngài đã lên nghĩa là gì, nếu không phải là Ngài đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất? Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn” (Ep 4,9-10). Hai động thái trái ngược là “lên” và “xuống”, nhưng hai động thái đó đều do chính Đấng-đã-chết-và-sống-lại thực hiện.
Ôi, Thánh Ý Thiên Chúa quá đỗi mầu nhiệm: “Chính Ngài đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ” (Ep 4, 11). Vì thế mà tạo nên xã hội, cộng đoàn, nhóm, ... Ai cũng làm giám đốc thì lấy ai là công nhân? Ai cũng làm tổng thống thì lấy ai là nhân dân? Nếu vậy, ơn gọi “làm nhỏ” có khi còn quan trọng hơn ơn gọi “làm lớn” đấy. Chính Chúa Giêsu đã xác định: “Ai MUỐN làm người đứng đầu thì PHẢI làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9, 35). Ngài luôn bảo người ta “làm nhỏ” chứ không khuyên ai “làm lớn”, nhưng người ta lại luôn thích làm ngược lại. Con người bướng bỉnh và ngang tàng, khoái “đi ngược chiều” lắm. Thế nên cần cảnh giác cao độ và cố gắng chấn chỉnh. Chớ có khinh suất hoặc ảo tưởng!
Thánh Phaolô giải thích: “Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới SỰ HIỆP NHẤT TRONG ĐỨC TIN và trong SỰ NHẬN BIẾT CON THIÊN CHÚA, tới TÌNH TRẠNG CON NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH, tới TẦM VÓC VIÊN MÃN CỦA ĐỨC KITÔ” (Ep 4, 12-13). Đó là cả một chu-trình-vào-đời của bất kỳ ai. Nói dễ, làm khó. Luôn phải tự thúc giục cả ngày cả đêm!
Chính Chúa Giêsu trao “bài sai vào đời” cho mọi người khi Ngài nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16,15-16). Rất rõ ràng, rất rạch ròi! Ai thật và ai giả cũng được Ngài nói trước: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16,17-18). Có Chúa và nhân danh Chúa thì có thể làm được những việc “khác thường”, và đó là “phép lạ” Chúa làm qua những người thành tín.
Trình thuật Tin Mừng của Thánh Máccô cho biết: “Nói xong, Chúa Giêsu được đưa lên Trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng” (Mc 16,19-20). Và cho đến ngày nay, nhiều người cũng đã và đang “vào đời” như thế: Nói về Chúa, sống chứng nhân, sống gương mẫu, làm việc tốt, tha thứ cho người ghét mình, nghĩ tốt về người khác, rao truyền Tình Yêu Chúa, thực thi Lòng Chúa Thương Xót…
Chúa Giêsu về Trời, chúng ta muốn về Trời thì phải vào đời. Hai nhánh cuộc đời phải luôn gắn kết với nhau. Chắc chắn như vậy. Một trong những “nhánh nhỏ ra khơi” là sống theo lời khuyên thấu tình đạt lý của Thánh Mark khổ tu:
“Anh em HÃY đọc hiểu những lời Thánh Kinh bằng hành động; ĐỪNG ham hố ngôn từ rồi hợm mình vì những ý tưởng lý thuyết suông. Các công việc là điều cần thiết và được Thiên Chúa minh nhiên an định, nhưng chúng ta NÊN dứt bỏ các công việc không hợp giờ giấc và dành ƯU TIÊN cho việc cầu nguyện, nhất là NÊN dứt bỏ những công việc đòi hỏi chi tiêu quá đáng hoặc sinh được quá nhiều của cải dư thừa.
Ai biết vì Chúa mà tự hạn chế và loại bỏ những của cải dư thừa của họ bao nhiêu, người ấy càng giữ tâm trí khỏi bị xao lãng bấy nhiêu… để dành chỗ cho việc cầu nguyện tinh tuyền và chứng tỏ một niềm tin chân thành nơi Chúa Kitô. Còn ai vì kém đức tin hoặc vì một yếu đuối nào khác mà không làm được điều ấy thì ít nhất cũng hãy THỪA NHẬN thực trạng, TỐ CÁO sự ấu trĩ của mình, và HÃY hết sức vươn lên”.
Hôm nay cũng là Ngày Hiền Mẫu hoặc Ngày Thân Mẫu (Mother’s Day, Chúa Nhật thứ hai trong Tháng Năm), không chỉ chúc mừng những người mẹ mà quan trọng là cầu nguyện cho họ, nhưng người đã hy sinh cả đời vì con cái.
Lạy Thiên Chúa là Cha nhân lành, xin ban thêm cho chúng con ba đức đối thần (tin, cậy, mến) và các đức đối nhân để chúng con làm hành trang vào đời theo lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô, Con Một Yêu Dấu của Ngài. Xin giúp chúng con kiên trì sống theo mệnh lệnh của Đức Kitô để có thể hân hoan về Trời mai sau. Chúng con cầu xin nhân danh Đại Sư Phụ Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

nTrời-348:  CHÚA GIÊSU LÊN TRỜI

Tin Mừng thuật lại hai sự kiện song hành: Chúa Giêsu lên Trời và lệnh truyền rao giảng Tin Mừng LênTrời-348

Tin Mừng thuật lại hai sự kiện song hành: Chúa Giêsu lên Trời và lệnh truyền rao giảng Tin Mừng. Sự kiện Chúa Giêsu lên Trời, Tin Mừng theo Thánh Máccô ghi lại rất vắn tắt: Chúa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa". Tin Mừng theo Thánh Mátthêu nói đến lệnh truyền: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần". Theo sách Công Vụ Tông Đồ, "
Thực ra sau khi Chúa Giêsu sống lại, Người đã lên Trời rồi theo kiểu nói của Kinh Thánh, nghĩa là Người bước vào cõi vinh quang của Chúa Cha, Người ngự bên hữu Chúa Cha, mặc lấy vinh quang và quyền năng của Chúa Cha.
Trong 40 ngày sau sống lại, Chúa Giêsu hiện ra nhiều lần để dạy dỗ và củng cố Đức Tin của các Tông Đồ. Giáo Hội đã được thiết lập nay được củng cố để được sai đi. Như vậy sự kiện lên Trời mà Phụng Vụ Giáo Hội kính nhớ hôm nay có ý nghĩa sâu xa. Nó chấm dứt thời gian Chúa hiện diện giữa nhân loại bằng thân xác, chấm dứt thời gian huấn luyện các Tông Đồ. Một thời điểm có tính cách quyết định của Lịch Sử Cứu Độ là Chúa Giêsu ban những giáo huấn cuối cùng, trao những chức vụ phải thi hành trong Giáo Hội, chuẩn bị cho các Tông Đồ thi hành sứ mạng chứng nhân của Đấng Phục Sinh trong thế giới.
Chúa Giêsu lên Trời, những chữ "lên Trời" bị chi phối bởi cách suy nghĩ có giới hạn của con người. Theo cách suy nghĩ đó, các biến cố xảy ra luôn luôn được gắn liền với các vị trí trong không gian. Thực ra Trời đây không phải là một nơi và lên không có nghĩa là nơi đó ở trên cao. Lên Trời ở đây không hiểu theo nghĩa địa lý, vì Trời hay Thiên Đàng là một trạng thái hơn là một nơi chốn. Con người đang sống trong không gian và thời gian nên định vị trí mọi sự theo hai trục đó. Trời ở đây không phải là một khoảng không gian rõ rệt, nhưng là một tình trạng (x. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 659-667, 2794-2796) mà Chúa Giêsu đi vào trong đó để dẫn chúng ta theo.
Lên Trời là giải thích theo ngôn ngữ bình dân của con người cho dễ hiểu. Theo quan niệm phổ biến của Thánh Kinh, trời là chỗ ở của thần minh, do đó cũng được dùng một cách tượng trưng để chỉ Thiên Chúa. Còn đất là nơi loài người cư ngụ. Ngày xưa khi Chúa Giêsu nhập thế thì gọi là ‘xuống trần’. Hôm nay Người trở lại với tình trạng vinh quang thì gọi là ‘lên trời’. “Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao hơn mọi tầng trời để làm cho vũ trụ được viên mãn” (Ep 4,10).
Vì vậy “lên Trời” đối với Chúa Giêsu không phải là một hành động bay đến một nơi trên chốn bồng lai tiên cảnh đầy mây, nhưng đó là tình trạng Người đã lấy lại vinh quang. Chúa lên Trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Theo Thánh Kinh, ngự bên hữu nghĩa là đồng hàng trong danh dự, phẩm vị và quyền năng. Chúa Giêsu lên Trời nghĩa là sau khi hoàn tất công cuộc cứu độ, Người lấy lại vinh quang, uy quyền và danh dự của một Thiên Chúa đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Người lấy lại những sự ấy là vì đã tự nguyện trút bỏ nó khi vào trần gian để thực thi chương trình cứu độ. “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
Điều cốt yếu mà Thánh Kinh muốn dạy về mầu nhiệm Thăng Thiên là Đức Giêsu Kitô đã ra khỏi thế giới trần thế bị tội lỗi làm nhiễm độc và một ngày kia sẽ tiêu tan để tiến vào một thế giới mới, trong đó Thiên Chúa ngự trị tuyệt đối và vật chất đã biến đổi, đã thấm nhuần tinh thần. Người chính là “vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (x. Dt 7,26), và đã vào chính cõi Trời, để đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta (x. Dt 9,25).
Từ nay trở đi, Người sẽ hiện diện với chúng ta một cách vô hình. Với quyền năng của Chúa Thánh Thần, thân xác Chúa Giêsu đã được thần khí hoá và đi vào cõi vĩnh hằng của Chúa Cha. Sự hiện diện này thâm sâu hơn và hiệu năng hơn. Khi còn ở trong thân xác, Chúa Giêsu chỉ ở bên cạnh một số người thôi. Từ nay, với quyền năng Thánh Thần, Người sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người (x. Pl 2,10-11).
Chúa Giêsu lên Trời, điều đó dạy cho chúng ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác. Con cá sinh ra trong con lạch nhỏ, rồi xuôi dòng nước ra sông lớn, nhưng mùa xuân đến, nó lại về nguồn như là trở về dòng sông quê hương. Con chim làm tổ trên kia, mùa đông nó vỗ cánh bay cả ngàn dặm về phương Nam, nhưng khi xuân đến, nó lại tìm về tổ ấm ngày xưa. Làm sao các con vật đó biết đường quay về, trong khi chẳng có bản đồ, không người hướng dẫn? Vì Thiên Chúa đã đặt vào lòng chúng, con đường trở về. Và Ngài cũng không quên đặt vào lòng mỗi người chúng ta con đường cuộc sống và con đường trở về Quê Trời.
Trời không phải là một nơi chốn xác định, là một không gian vật lý có thể cân đo đong đếm. Nhưng trời là Thiên đàng, là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, là chính Thiên Chúa Ba Ngôi.Lên trời không phải là bay bổng lên không gian, nhưng là chuyển đổi cấp độ sự sống, là bước vào sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa. Lên trời không phải là vắng mặt, là xa cách nhưng lại là một hiện diện vô cùng phong phú, vô cùng mãnh liệt, ở bên cạnh tất cả mọi người, ở mọi nơi và ở mọi thời.
Chúa Giêsu lên Trời, một cuộc tạm biệt chứ không ly biệt. Chia tay để rồi sẽ gặp lại nhau trong một tương quan mới. Chúa về Trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người và như thế, đối với chúng ta, không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận Sự Sống sung mãn Người ban tặng.
Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào. Nơi thiên cung, mọi đau khổ, bệnh tật, chiến tranh, khủng bố không còn nữa. Ở đó chỉ có thanh bình, công bằng, và hạnh phúc viên mãn, nhân phẩm và nhân vị con người hoàn toàn được phục hồi trong ánh sáng Phục Sinh của Chúa Kitô. Từ nay trở đi, Chúa Kitô Phục Sinh sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người. 
Chúa Giêsu lên Trời, đưa mọi người về Trời với Người vì chúng ta là những chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Người. Thánh Phaolô trong bài đọc II (x. Ep 1,17-23) đã nói, Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa Giêsu, Người là đầu và chúng ta là những chi thể. Khi Chúa Giêsu về Trời là mỗi người cũng được chia sẻ thần tính của Người, đi vào một tình trạng kết hợp hoàn toàn mới mẻ với Người. Điều này không phải chỉ xảy ra sau khi ta chết, nhưng có thể thực hiện ngay trong đời sống trần thế như đời sống của nhiều tín hữu đã chứng minh: Thánh Phaolô được đưa lên tầng trời thứ ba (x. 2Cr 12, 2). Nhiều vị Thánh như Phanxicô Assidi, Gioan Thánh Giá, Catarina thành Sienna... cảm nghiệm Trời trong những lần xuất thần; còn Thánh Têrêsa thành Calcutta lại thấy Trời giữa lòng xã hội với những con người khốn khổ, bệnh tật.
Tuy nhiên, Trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại.
Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ.
Chính vì thế mà trước khi lên Trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho Nước Chúa. Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc Nước Trời.
Chính Chúa Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên Trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi. Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đó. Đi đến đâu là làm cho hạt yêu thương nảy mầm lên màu xanh sự sống đến đó.
Chúa Giêsu lên Trời, mở ra sứ vụ mới cho các Tông Đồ. Đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu với lệnh truyền: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Nội dung của việc truyền giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Bảo chứng cho sứ vụ truyền giáo là: “Có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông Đồ, qua các Tông Đồ rồi đến các môn đệ, Chúa Giêsu trở thành người sống đương thời với chúng ta “và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.  
Chúa Giêsu lên Trời, hướng chúng ta đến cái nhìn lên Trời cao và cái nhìn về trần thế.
- Hướng lên trời cao để biết rằng Quê Hương vĩnh cửu của ta ở trên Trời, nơi đó có Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha, để ta biết “ái mộ những sự trên Trời” và biết sống niềm hy vọng một ngày nào đó sẽ được trở về với nguồn cội của mình là Thiên Đàng vĩnh phúc.
- Hướng về trần thế để biết chu toàn bổn phận xây dựng cuộc sống trong giây phút và hoàn cảnh hiện tại của mỗi người, để biết thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng mà Chúa đã trao phó với một thái độ tin tưởng là có Chúa luôn đồng hành.
Nếu bám vào một thứ vật chất nào đó, như những người nghiện ma túy, rượu bia, phim đồi trụy hay tìm thỏa mãn dục vọng, người ta có thể cảm thấy sung sướng như được lên trời trong giây lát. Nhưng đó không phải là trời thật sự vì chúng làm cho người ta bất an, lệ thuộc, tàn tạ, chết chóc. Còn khi vượt lên trên những vật chất, tham vọng, dục vọng, để gắn bó mật thiết với Chúa, chúng ta sẽ được Người chuyển thông Sự Sống kỳ diệu, hạnh phúc vô biên, niềm vui vô tận, quyền năng lạ lùng. Lúc đó chúng ta cảm thấy mình lên Trời với tâm trí nhẹ nhàng, thanh thoát.
Lễ Chúa Giêsu lên Trời, Giáo Hội chọn làm Ngày Quốc Tế Truyền Thông. Ngày nay, các phương tiện truyền thông, các trang mạng xã hội phát triển rất nhanh. Trong thế giới kỹ thuật số, Giáo Hội khuyến khích con cái mình vận dụng những phương tiện truyền thông hiện đại nhất để thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng.
Chủ đề của Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội năm 2018 là “Tin giả và một nền báo chí vì hòa bình: Sự thật sẽ giải thoát anh em!” Tin giả là những thông tin sai lạc dựa trên những dữ liệu không tồn tại hoặc bị bóp méo để lừa dối và thao túng độc giả. Tin giả thường dẫn đến việc làm mất uy tín của người khác, trình bày những người ấy như kẻ thù, thậm chí như ma quỷ, và nung nấu lòng căm thù họ. Tin giả là một dấu chỉ của thái độ thiếu khoan dung, quá nhạy cảm, kiêu căng và thù hận.
Chứng kiến tình hình tin giả đang lan rộng trong một thế giới chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi sự thay đổi nhanh chóng các kỹ thuật truyền thông, Đức Giáo Tông Phanxicô muốn đưa ra một sứ điệp để cộng tác với mọi người trong nỗ lực ngăn chặn sự lan rộng của tin giả, đồng thời tái khám phá phẩm giá của báo chí cũng như trách nhiệm của các nhà báo trong việc truyền đạt sự thật.
Thuốc giải độc hiệu nghiệm nhất cho vi khuẩn giả dối là luôn biết thanh lọc mình trong sự thật. Theo Kitô giáo, sự thật không chỉ là điều được đưa ra ánh sáng sau khi bị che giấu, mà là nơi chúng ta có thể dựa vào để cuộc đời của ta không bị sụp đổ. Và nơi đó chính là Đức Kitô, như lời Ngài xác định: “Ta là sự thật” (Ga 14,6). Và sự thật này sẽ cho ta được tự do: “Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Ga 8,32). Thuốc giải độc hiệu nghiệm nhất cho vi khuẩn giả dối chính là kết hiệp với Đức Kitô và thực hiện Lời Ngài.
Các nhà báo có trách nhiệm và sứ mạng rất lớn trong việc bảo vệ tin tức. Sứ mạng này đòi hỏi họ phải luôn ý thức rằng: Thông tin cho người khác chính là đào tạo người khác, vì thế các nhà báo phải luôn quảng bá sự thiện, tạo ra lòng tin, mở đường cho sự hiệp thông và hoà bình.
Truyền thông chính là chia sẻ niềm vui Tin Mừng cứu độ. Truyền thông có đặc điểm là khiêm tốn, nhẹ nhàng, nên mọi sự cho mọi người và xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ yêu thương. Từ đó giúp con người nhận ra tình yêu của Chúa. Đây là sứ vụ Chúa trao phó cho mỗi người tín hữu trong thời đại hôm nay.
Cảm tạ Thiên Chúa đã ban những phương tiện truyền thông hiện đại.
Ước mong mỗi người tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông với Đức Tin, trong sự tuân phục sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, góp phần loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

nTrời-349: HỒNG ÂN THĂNG THIÊN

Sau khi thi hành trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa Cha nơi trần gian này, Chúa Giêsu về Trời LênTrời-349

Sau khi thi hành trọn vẹn ý muốn của Thiên Chúa Cha nơi trần gian này, Chúa Giêsu về Trời, về với Cha. Người về “dọn chỗ cho chúng ta”. Chúa muốn nói cho chúng ta biết rằng, những ai thuộc về Người, thì quê hương của họ cũng ở trên Trời, họ cũng sẽ có một chuyến về trời trong Nước của Thiên Chúa. Chúa muốn chúng ta nghe Lời của Chúa mà thực hiện trọn vẹn Ý của Thiên Chúa: hãy sống công chính và làm chứng cho tình thương của Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô.
Nhưng không dễ sống công chính giữa cuộc trần gian đầy bất chính, và càng không dễ khi chính lòng chúng ta vẫn nghiêng về phía bất chính. Bởi vậy, Người ban “Đấng Phù Trợ đến” để chúng ta kết hiệp liên lỉ với Lời Đức Kitô, và có đủ sức mà vượt qua những bất chính ngọt ngào. Chính khi sống kết hiệp với Đức Kitô, nghe và thực hiện Lời Người trong cuộc sống trần gian, ấy là lúc chúng ta chuẩn bị chu đáo cho chuyến “về cùng Cha” của mình. Và khi giờ của mỗi người đã đến theo ý Cha, thì không ai có thể chần chừ, do dự, hay vì những luyến lưu trần gian này mà trì hoãn thi hành.
Sống ở trần gian, là chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu trong Nước của Thiên Chúa. Quê hương thật và vĩnh cửu của chúng ta ở trên trời. Sự sống vĩnh cửu ấy là Hồng Ân Thăng Thiên cho mỗi tín hữu Chúa.
Sứ vụ Chúa trao cho các Tông Đồ trước khi về Trời với Chúa Cha, cũng là sứ vụ Chúa trao cho mỗi chúng ta, những tín hữu của Chúa: Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”.
Lệnh truyền được ban ra cùng với ân sủng kèm theo, gồm có “trừ quỷ, nói các thứ tiếng mới lạ, họ đặt tay chữa lành bệnh nhân” để người nhận lãnh lệnh truyền có thể chu toàn sứ vụ.
Vâng, thánh ý Chúa là chúng ta hãy Loan Báo Tin Mừng, loan báo hồng ân thăng thiên cho mọi người. Thiết tưởng, để chu toàn thánh ý ấy, hoàn tất sứ vụ ấy, hẳn là, chúng ta cần phải có một tâm hồn thăng thiên, một ngôn ngữ thăng thiên và một đời sống thăng thiên như ý Chúa muốn.
1. Tâm hồn thăng thiên
Tâm hồn thăng thiên là tâm hồn luôn hướng về sự chân thật, điều tốt lành thiện hảo, vẻ tuyệt mỹ của Thiên Chúa trên Trời.
- Tâm hồn thăng thiên không chấp nhận làm tôi mọi cho những đam mê đánh bóng tên tuổi, tìm kiếm hư danh, khát khao trọng vọng ở trần đời này.
Nhưng tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn chấp nhận mất mình đi, chấp nhận buông bỏ cái tôi ảo tưởng cho mình là to lớn, là tài năng, là siêu sao, là trình độ, là nhan sắc là tuyệt vời… tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn biết đi xuống, biết cúi xuống, biết xuống tay xuống chân xuống cả cõi lòng, và chạm xuống nỗi đau cuộc đời này, đang còn lổn ngổn lang ngang bao là bất hạnh.
Tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn giống như Chúa Giê-su từ bỏ, khiêm nhường, tự hạ, hy sinh phục vụ; đành nhục nhã cho ai kia vinh dự; đành trắng tay cho kẻ khác đầy dư; đành vô danh tiểu tốt, thấp bé, nhỏ hèn để anh em mình được lớn lên được phát triển; và cuối cùng là đành mất mạng sống mình đi để người khác được sống, được còn, và được còn mãi mãi.
- Tâm hồn thăng thiên không chấp nhận làm môn đệ cho những tham lam nặng nề các thứ vật chất phù phàm chóng vánh, tham lam tiền vàng óng ánh, tham lam cơ ngơi sự nghiệp của mình của người, tham lam của thiên hạ lẫy lừng lóng lánh. Tâm hồn thăng thiên cũng không chấp nhận sự ganh tỵ, hơn thua, khi mình chưa có chưa đạt điều mình muốn có, muôn đạt tới cho thỏa cái khát phàm trần.
Nhưng tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn yêu chuộng sự khó nghèo thanh tịnh, tâm hồn ái mộ chuyện trên trời, tâm hồn khát khao chuyện dài lâu vĩnh cửu, tâm hồn đành mất chuyện dưới đất để được chuyện trên trời, tâm hồn để ở trên trời đang khi còn rong chơi ở nơi này “cùng trời cuối đất”. Tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn một nghệ sĩ chân chính, một nghệ sĩ đích danh, một nghệ sĩ thanh thoát vượt lên trên cái xoàng thường xạo sự, ảo tưởng của trần gian này. Tâm hồn thăng thiên của người nghệ sĩ mang tên Giêsu Kitô, ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian này.
- Tâm hồn thăng thiên không chấp nhận bị nhốt trong cái cũi dục vọng dối lừa hạnh phúc, không chấp nhận bị kìm kẹp trong cái ngục tù thân xác nay còn đó mai mất đi, không chấp nhận bị giam hãm trong cái mả tô trét phấn son của nhan sắc giả tạo sớm nở tối tàn, không chấp nhận bị trị bởi cái tài năng bằng móng tay mà tưởng là vĩ đại.
Tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn siêu thoát khỏi những dính bén của thú vui phàm trần vô nghĩa này, thoát khỏi những thứ khoái lạc mà người phàm cho là thiên đàng hạnh phúc. Tâm hồn thăng thiên phải là khao khát những gì bình an, tinh tuyền, thanh khiết, công chính, thánh thiện, theo ý định ngàn đời của Thiên Chúa, được Thiên Chúa chúc phúc lành và bồi dưỡng bằng ân sủng. Tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn tìm được bình an và niềm vui nơi chính Chúa, nơi lề luật Chúa, nơi Lời Chúa và Thánh Thể Người, nơi Đức Tin và lòng tín thác vào tình yêu bao la vô biên của Thiên Chúa.
- Tâm hồn thăng thiêng không chấp nhận làm tay sai cho sự gian dối, lọc lừa, ma mãnh, xảo trá. Tâm hồn thăng thiêng không chấp nhận chuyện thề gian, nói dối, chuyện quanh co, lừa đảo, chuyện đòn xóc hai đầu, vừa đâm bị thóc lại vừa chọc bị gạo, càng không chấp nhận được chuyện có nói không, không nói có, thêm điều đặt chuyện vu vạ.
Tâm hồn thăng thiêng phải là tâm hồn của người công chính, tươi tốt như cây trồng bên bờ suối, tâm hồn yêu chuộng sự thật, sống trong sự thật, và can đảm làm chứng cho sự thật: Sự thật về Thiên Chúa là có thật. Sự thật về Tình Yêu Thiên Chúa là có thật. Sự thật về sự Phục Sinh của Đức Giêsu và ơn cứu độ là có thật. Sự thật về Sự Sống đời sau là có thật. Sự thật về Nước Thiên Chúa là có thật, ngay hôm nay và đời sau cho những ai tin tưởng yêu mến Người.
Như thế đó, tâm hồn thăng thiên là tâm hồn luôn hướng về sự chân thật, điều tốt lành thiện hảo, vẻ tuyệt mỹ của Thiên Chúa trên trời; tâm hồn thăng thiên phải là tâm hồn thuộc trọn về Thiên Chúa, trong Đức Giêsu, dưới tác động của Chúa Thánh Thần; Tâm hồn thăng thiên là địa chỉ của Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị.
2. Lời nói thăng thiên, lời ca thăng thiêng
Khi tâm hồn đã thuộc trọn về Chúa, hãy để cho suy nghĩ của Chúa tràn ngập trong suy nghĩ của chúng ta, và cả lời ăn tiếng nói của Chúa, cũng tràn ngập trên môi miệng của chúng ta.
Bởi vì, ngôn ngữ của loài người tự nguyên sơ khởi thủy là ngôn ngữ của Thiên Chúa ban cho để chuyện trò với Thiên Chúa, mỗi khi Thiên Chúa xuống dạo chơi nơi vườn Địa Đàng xinh đẹp. Loại ngôn ngữ làm cho Thiên Chúa thấu hiểu con người và con người thấu hiểu Thiên Chúa. Loại ngôn ngữ làm Thiên Chúa vui thích và con người hân hoan.
Thế nhưng, chỉ trong một thoáng mê muội, khi nguyên tổ nghe theo ngôn ngữ của Xatan, chiều theo lời đường mật dỗ dành của quỷ dữ, thì ngôn ngữ loài người nhiễm phải độc dược của Xatan, để rồi khi Thiên Chúa gọi Ađam ơi, Ađam hỡi, mà chẳng nghe thấy tiếng đáp nào. Mãi sau, mới có lời đáp. Lời đáp ấy lại là lời đáp dùng loại ngôn ngữ chạy tội, ngôn ngữ đổ thừa, ngôn ngữ bất tuân, ngôn ngữ phụ tình Thiên Chúa.
Chúng ta vẫn đang nói cho nhau nghe, và nghe nhau nói bằng loại ngôn ngữ của loài người, ngôn ngữ đã từng bị nhiễm độc kiêu căng, hơn thua, thù oán, nhưng cũng là loại ngôn ngữ đã được cứu rồi bằng chính Ngôn Ngữ của Thiên Chúa, chính là Lời Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Lời của Chân Thiên Mỹ, Lời của sự bình an, Lời của hạnh phúc Nước Trời.
Lời đã từ trời xuống. Và Lời đã dùng chính ngôn ngữ của Thiên Chúa mà cứu rỗi ngôn ngữ loài người. Lời đã dùng chính Ngôn Ngữ của Thiên Chúa mà dẫn lối con người thăng thiên.
Thế thì, lời nói thăng thiêng, lời ca thăng thiêng, phải là lời nói lời ca xuất phát từ ngôn ngữ của Thiên Chúa, và không phải là lời nói lời ca xuất phát tự loại ngôn ngữ đã từng bị nhiễm độc chất độc của Xatan.
- Lời nói thăng thiêng, lời ca thăng thiêng phải là Lời Sự Thật, Lời Sự Sống của Thiên Chúa Trong Đức Giê-su.
- Lời nói thăng thiêng, lời ca thăng thiêng phải là lời tỏ tình chí thiết, lời yêu thương chân thành, lời mang lại bình an, hân hoan vui mừng, lời mang lại niềm tin yêu hy vọng cho mọi người, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Lời nói thăng thiên, lời ca thăng thiên dứt khoát không phải là loại lời mang lại buồn đau ghét ghen thù oán, không phải mang lại nghi ngờ, đố kỵ, chán nản, tuyệt vọng.
- Lời nói thăng thiêng, lời ca thăng thiêng phải là lời mời gọi mọi người tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa và hướng lòng lên những thực tại siêu nhiên bền vững, hướng lòng thoát khỏi những thực tại hư hèn.
- Lời nói thăng thiêng, lời ca thăng thiêng phải là lời xây dựng một gia đình bình an, một Giáo Xứ hiệp nhất, một làng xóm, một cộng đoàn an hòa, một thế giới chứa chan tình người, tình Thiên Chúa.
Như vậy, lời nói thăng thiêng, lời ca thăng thiêng phải là lời thấm nhuần tinh thần của Lời Tin Mừng, chính Lời Tin Mừng, chính Lời của Đức Giêsu Kitô trong mỗi người chúng con.
Ước gì, chúng ta dứt khoát bỏ đi những lời ăn tiếng nói không phù hợp với Tin Mừng. Ước gì, chúng ta chấm dứt những lời ca không hướng chúng ta về với Thiên Chúa, lại dẫn vào ngõ cụt của những mê muội trần gian, ngõ cụt của tuyệt vọng. Ước gì, chúng ta dừng ngay những cách nói, cách hát, cách phô diễn chỉ cốt sao cho nổi danh mình, mà không làm vinh danh cho Thiên Chúa.
Ước gì, chúng ta dùng ngôn ngữ của Thiên Chúa, mà ca tụng Chúa, và làm cho danh Chúa cả sáng, Nước Chúa trị đến, và thánh ý Chúa được thể hiện ngay trong đời sống của chúng ta.
Ước gì, chúng ta dùng ngôn ngữ của Thiên Chúa mà nói cho nhau nghe nỗi lòng yêu của Thiên Chúa muốn tỏ bày
“Lạy Chúa xin giữ miệng con đây, nguyện xin canh phòng lưỡi con đây, xin Chúa đừng để lòng trí con vấn vương mùi đời”.
3. Cuộc sống thăng thiên
Một tâm hồn thăng thiên, một tiếng nói, lời ca thăng thiên, thì hẳn phải được thể hiện bằng chính một cuộc sống thăng thiên trước mắt mọi người.
          “Chúa Giêsu lên Trời, ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”.
          Cuộc sống thăng thiên phải là cuộc sống thuộc trọn về Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Thuộc trọn về Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô thì nên giống Chúa Giêsu Kitô trong mọi sự: Một Đức Kitô hiền lành khiêm nhượng, một Đức Kitô mau chạnh lòng xót thương, mau mở lượng khoan hồng, mau xuống tay cứu khổ cứu nạn, mau sẻ chia mọi sự cho mọi người, kể cả thí mạng sống mình vì người mình yêu.
Như vậy,
- Cuộc sống thăng thiên không chấp nhận kiêu căng, hung dữ, độc ác, dối gian lọc lừa tính toán thiệt cho người hơn cho mình, nhưng, phải là cuộc sống hiền lành khiêm nhượng thật thà dễ thương, chịu thiệt thòi, hy sinh phục vụ…
- Cuộc sống thăng thiên không chấp nhận vô tình, vô cảm, vô tâm, trước bao cảnh sống của tha nhân, trước những bất hạnh, bất công, bất an, bất nhất của con người, nhưng, phải là cuộc sống biết chạnh lòng thương xót, biết giúp đỡ, biết sẻ chia, biết mất một phần đời mình đi cho người được vơi bao nỗi khốn khó.
- Cuộc sống thăng thiên không chấp nhận để bụng để lòng những thành kiến, những phân biệt, những miệt thị, khinh khi, những phê phán, kết án, những chấp nhất, nhưng phải là, cuộc sống cảm thông, tha thứ, nghĩ nói và thực hiện điều tốt cho nhau nên tốt, chân thành giúp nhau sống thánh và sống hạnh phúc giữa đời.
- Cuộc sống thăng thiên không chấp nhận cách sống đóng cửa nhà mình lại, ích kỷ vun vén, vơ vét, ky cóp cho mình, cho phần lợi của mình, cho danh dự của mình, cho sự nghiệp của mình, nhưng ngược lại, phải là cuộc sống biết mở cửa nhà mình ra, đi ra với tha nhân với mọi người, để đón nhận mọi ngườ vào trong cuộc sống của mình, như Chúa Giêsu đã mở trái tim của mình mà đón hết thảy mọi người vào trong trái tim yêu thương của Chúa.
Cuộc sống thăng thiên ấy, sẽ là môt đời chứng hùng hồn rằng: chúng ta đã tiếp nhận và thực hành lời Chúa sai chúng ta đi Loan Báo Tin Mừng trước khi Người về ngự bên hữu Thiên Chúa.
“Các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
Lạy Chúa Giêsu Lên Trời, xin cho chúng con “đi giảng dạy muôn dân” bằng chính cuộc sống thăng thiên của chúng con. Xin cho cuộc sống thăng thiên của chúng con, sẽ là lời mời gọi mọi người đến với Đức Tin và Tình Yêu Thiên Chúa qua Bí Tích Rửa Tội. Và lời mời gọi mọi người đến với Chúa bằng chính cuộc sống thăng thiên của chúng con, ước gì, là lời mời gọi đẹp lòng Chúa, đúng thánh ý Chúa Thăng Thiên mong chờ. Amen.
          PM. CAO HUY HOÀNG, 10.5.2018

 

nTrời-350: LỄ THĂNG THIÊN

Con người ngày nay dù đã có thể dùng phi thuyền để bay vào không gian, có thể đi bộ ra ngoài: LênTrời-350

Con người ngày nay dù đã có thể dùng phi thuyền để bay vào không gian, có thể đi bộ ra ngoài vũ trụ bằng những trang thiết bị cao, nhưng bầu trời vẫn là huyền bí, giới hạn vẫn còn đó cho nên đã biết bao lần bay lên rồi lại phải vội vàng bay về, trời cao vẫn là sự xa xôi, khó hiểu, không như ở dưới đất.
Trong cuộc sống của quảng đại quần chúng, thì khái niệm về trời đất khá thân thiện, gần gũi và dễ thương, vưa coi Ông như người nhà vừa là Đấng phải tôn thờ, thể hiện qua các sinh hoạt. Ở các vùng quê nhà nào mà chẳng có bàn Thiên để cúng với Trời đất; đi xa đi gần, làm ăn ruộng rẫy ai mà chả cầu Trời; Trời rất gần vì Ông Trời biết đến con người và vạn vật: "Trời cao có mắt” “Lạy trời mưa xuống”. Bình thường con người cảm thấy Ông trời rất là dễ thương, chẳng hạn như trai gái yêu nhau họ nói duyên trời se định, may mắn điều gì đó thì nói trời cho, ý trời, và khi hoạn nạn gian truân thì chẳng biết đổ đâu thôi đổ vạ cho trời, khi mưa gió lụt lội gọi là thiên tai, lâu lâu buồn thì cũng trách trời chút ít. Nói chung khái niệm về ông trời nơi chúng ta rất bộc bạch, chân chất, mang tính yên ủi và pha lẫn sự sợ sệt.
Chúa Giêsu khi đến trong thế gian, luôn luôn chỉ vẽ cho con người con đường về Trời, đó là con đường nhận ra Thiên Chúa là Cha, và mọi người là anh em. Hôm nay khi hoàn tất sứ vụ ở trần gian Ngài giã biệt mọi người để về Trời là nơi Ngài đã từ đó mà đến với chúng ta. Giáo lý mà Dức Giêsu dạy dỗ không mông lung khó hiểu, cõi trời không xa xăm, nước Trời ở trong lòng các ngươi. Chúa cũng chả dạy chúng ta phải đi bằng phương tiện khoa học như: Phi thuyền, hay một lực đẩy mạnh nào đó để đưa chúng ta ra khỏi trái đất này, cũng không cỡi cá chép như ông táo để về trời, mà bằng sự nhận ra Chúa và thi hành mệnh lệnh Chúa. Hôm nay trước lúc chia tay Chúa lại xác định thêm một lần nữa với nhóm tông đồ : “Hãy nhân danh Thầy mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân…” Thì ra Đấng từ trời cao đến không muốn gì khác hơn là làm cho mọi người dưới thế này có cơ hội để về nơi mà chính họ đã được hứa ban, Ngài chết cho họ là nhằm xoá bỏ những trắc trở trên đường đi. Ngài đã đổ máu cứu chuộc duy nhất một lần và có giá trị vĩnh hằng. Tuy nhiên bước đường này sẽ được các tông đồ và chúng ta tiếp nối, kéo dài cho đến khi Ngài quang lâm, cho nên Chúa đi nơi xa xét theo phương diện con người cảm thấy nhưng Chúa luôn mãi ở gần “Này Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20). Cái quan trọng của chúng ta hôm nay là đừng sao nhãng lời nhắn nhủ của Chúa, bởi vì con đường đi lên trời của Chúa vẽ cho chúng ta không phải là một đường thẳng băng, chính Chúa Giêsu là Thiên Chúa cũng đã phải cố gắng mới hoàn tất, huống chi chúng ta là con người đầy trì trệ, nhiều khi chúng ta cũng cố gắng chấp cánh bay nhưng tội lỗi lại lôi chúng ta xuống, có khi đã chạm đến trời cao nhưng vì kiêu căng lại té xuống.
Cuộc chia tay Thầy trò không phải đã chấm dứt bằng sự kiện người về trời cao, người ở lại dưới thế, mà này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế. Rõ ràng cõi trời mà Chúa trình bày chẳng xa xôi mà rất gần gũi, gần gũi đến độ thân tình tin tưởng nên Chúa mời gọi cộng tác qua việc làm cho nhiều người biết Chúa, hãy đi rao giảng cho muôn dân luôn là mệnh lệnh lên đường cho các môn đệ và cũng là mệnh lệnh cho chúng ta hôm nay. Và hơn thế nữa trong một xã hội tục hoá và kém tin, mệnh lệnh này vẫn mang tính thời sự. Ngày nay người ta ngại lên đường khi mà các phương tiện, tiện ích không đáp ứng nhu cầu, và người ta cũng ngại đối diện với sự thực, đó chẳng qua là sự ru ngủ và yên nghỉ với những cái đã đạt được và cũng là sự ươn lười, cái sức ỳ đó sẽ không là lực đẩy để chúng ta vươn lên cõi trời cao đâu.
Lúc còn nhỏ khi nhìn lên bầu trời quả là một cõi xa vời và thi vị và ước vọng đi lên cõi trời luôn là những khát khao rất trẻ con là để được thấy tất cả mọi người phía dưới. Ước vọng vươn đến trời cao cũng là ước mơ của nhân loại vì cõi trần quá phức tạp và đã bị xấu đi, người ta mơ tưởng đến một cõi khác có sự công bằng hơn. Nhưng cõi trời vẫn là cái gì đó xa xôi huyền bí, nhân loại chưa thể khám phá và chẳng biết gì hơn. Sự kiện Thăng Thiên của Chúa không phải là cú ngoạn mục để lòe các môn đệ, mà là chân lý của tình yêu: Thầy đi có lợi cho anh em. Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Thầy đi để Đấng an ủi sẽ đến. Chúa về trời là nhằm thiết lập vĩnh viễn cho chúng ta một đường đi lên.
 Lm. Nguyễn Đức Trung
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây