Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 51-100: Chúa Lên Trời

Thứ tư - 09/05/2018 05:51
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 51-100: Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 51-100: Chúa Lên Trời
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thăng Thiên ABC Bài 51-100 Chúa Lên Trời
LênTrời-51: Suy Niệm của Lm Trọng Hương. 2
LênTrời-52: Thầy ở đâu thì anh em sẽ ở đó - Lm. Nguyễn Văn Phan CSsR. 3
LênTrời-53: Anh em sẽ là chứng nhân của thầy - Lm Giuse Vũ Thái Hòa. 5
LênTrời-54: Các con hãy đi rao giảng và làm phép Rửa cho họ. 7
LênTrời-55: Hành Trình về Quê Trời – Sr Binh Huyền. 8
LênTrời-56: PHẢI HIỂU THẾ NÀO KHI NÓI CHÚA LÊN TRỜI 10
LênTrời-57: CHÚA THĂNG THIÊN.. 12
LênTrời-58: SỐNG VÀ RAO GIẢNG ĐỨC TIN.. 13
LênTrời-59: HẠNH PHÚC LỚN LAO.. 16
LênTrời-60: HÃY RA ĐI RAO GIẢNG CHO MUÔN DÂN, MUÔN NƯỚC.. 18
LênTrời-61: QUYỀN NĂNG CỦA ĐẤNG PHỤC SINH.. 19
LênTrời-62: CHÚA LÊN TRỜI- Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm.. 22
LênTrời-63: Sức Mạnh Từ Trời Cao. 24
LênTrời-64: SỐNG LỜI CHÚA - LÊN TRỜI 25
LênTrời-65: HRK/116- LÀM CHỨNG.. 27
LênTrời-66: HRK/333- RA KHƠI 28
LênTrời-67: NTGT/154 - CHỨNG NHÂN.. 29
LênTrời-68: CSTM/129- NƯỚC TRỜI 31
LênTrời-69: SCĐ/325- VẮNG MẶT.. 32
LênTrời-70: SCĐ/326- TIN MỪNG.. 33
LênTrời-71: Những chứng nhân mới – Lm. Pet. Trần thanh Sơn. 34
LênTrời-72: Bàn tay giơ ra để chúc lành – Lm. Jos. Phạm ngọc Ngôn. 37
LênTrời-73: Sao mãi đứng đó nhìn trời ? – Lm. Nguyễn hưng Lợi 38
LênTrời-74: LỄ CHÚA THĂNG THIÊN.. 40
LênTrời-75: LÊN TRỜI 43
LênTrời-76: Chúa về trời. 46
LênTrời-77: CHÍNH ANH EM LÀ CHỨNG NHÂN.. 47
LênTrời-78: DẶN DÒ CUỐI CÙNG CHO MÔN ĐỆ - VỀ TRỜI 50
LênTrời-79: Vinh quang mà chúng ta được kêu gọi 55
LênTrời-80: LỄ THĂNG THIÊN, TA HÃY NÓI VỀ THIÊN ĐÀNG... 59
LênTrời-81: VẪN KHÔNG HỀ LÙI BƯỚC - Mark Link S.J. 61
LênTrời-82: CHÍNH ANH EM LÀ CHỨNG NHÂN.. 63
LênTrời-83: Những giáo huấn cuối cùng và lên trời 65
LênTrời-84: SLC - Lên trời 70
LênTrời-85: SLCTTY/187 - Chờ đợi 71
LênTrời-86: SLCTTY/187- Chờ đợi 73
LênTrời-87: CSTM/116 – Quê hương. 74
LênTrời-88: Lời Chúa. 75
LênTrời-89: Thầy Ở Cùng Anh Em Mọi Ngày. 77
LênTrời-90: Sứ mạng truyền giáo. 78
LênTrời-91: NTĐY/213- Hộ chiếu. 81
LênTrời-92: THẦY Ở CÙNG ANH EM... 82
LênTrời-93: Hãy dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho Anh Em.. 85
LênTrời-94: VỀ GALILÊ - Lm Augustine, S.J. 87
LênTrời-95: Thiên đàng. 90
LênTrời-96: Nhìn trời – ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt 91
LênTrời-97: SNLC/344 - Ra đi 92
LênTrời-98: CSTM/130 – Lên trời 93
LênTrời-99: Thăng Thiên: Câu trả lời dứt khoát của Thiên Chúa... 95
LênTrời-100: Trở nên hoàn thiện là năng thay đổi-Lm Vincent Travers. 100

 

LênTrời-51: Suy Niệm của Lm Trọng Hương

Bài Tin Mừng này có hai phần: LênTrời-11
A. Hạt giống... 

 

Bài Tin Mừng này có hai phần: 1. Những lời căn dặn cuối cùng của Đức Giêsu (cc 46-49): - Sự cần: LênTrời-51

Bài Tin Mừng này có hai phần:
1. Những lời căn dặn cuối cùng của Đức Giêsu (cc 46-49):
- Sự cần thiết của Thập giá: đã có chép từ lâu trong Sách Thánh rằng Đấng cứu thế phải qua chịu nạn rồi mới tới phục sinh.
- Môn đệ Chúa phải rao giảng và làm chứng về việc Ngài chết và sống lại.
- Đức Giêsu sẽ ban Thánh Linh cho môn đệ.
2. Đức Giêsu lên trời (cc 50-53): Luca đã dùng cách viết của loài người để tạm diễn tả việc Đức Giêsu siêu thăng. Ngài siêu thăng không có nghĩa là Ngài rời bỏ một nơi (trái đất) để đến một nơi khác (trời), mà là
- Ngài thay đổi tình trạng: không còn ở tình trạng loài người hèn hạ nữa, mà trở về tình trạng vinh quang của một vị Thiên Chúa.
- Ngài cũng thay đổi cách hiện diện: từ nay Ngài không thường xuyên hiện diện giữa chúng ta bằng thân xác hữu hình của Ngài nữa, nhưng vẫn hiện diện một cách vô hình dù chúng ta không thấy.



B. ... nẩy mầm.
1. Cho đến phút cuối cùng lúc Đức Giêsu sắp về trời mà các môn đệ vẫn còn chưa hiểu câu chuyện đời Ngài. Bởi đó, trước khi ra đi, Ngài đã giải thích lần nữa một cách tóm tắt: đó là một cuộc đời thập giá. Nói cách khác, sở dĩ Ngài bỏ trời cao để xuống thế là để chịu chết trên thập giá ; và hôm nay Ngài trở về trời được cũng là nhờ Ngài đã hoàn thành sứ mạng thập giá.
Đời Chúa là kiểu mẫu cho đời con. Đau khổ của đời con là thập giá, nhưng vinh dự của đời con cũng chính là Thập giá.
2. Nhưng có lẽ lúc ở Bêtania hôm ấy, các môn đệ cũng vẫn chưa hiểu. Vì vậy Đức Giêsu bảo các ông trở về Giêrusalem, ở lại trong thành chờ đến khi Ngài gởi Chúa Thánh Thần đến với các ông. Đến khi đó, CTT sẽ giúp các ông hiểu hết.
Lạy Chúa, con vẫn chưa hiểu mầu nhiệm đời Chúa, và vẫn chưa hiểu về những thập giá của đời con. Xin ban Thánh Thần cho con.
3. Thánh Luca muốn chúng ta xác tín rằng ngày nay Đức Giêsu phục sinh đã thay đổi cách hiện diện nhưng vẫn luôn hiện diện. Nói cách khác, tuy chúng ta không nhìn thấy Ngài nhưng thực sự Ngài hằng ở bên cạnh chúng ta.
Nhiều khi chúng ta buồn rầu ảo não bởi vì nghĩ rằng Chúa đã vắng mặt, Chúa không còn ở bên cạnh mình nữa đang lúc mình gặp khó khăn, Chúa bỏ rơi mình rồi… !
Xin cho con xác tín điều Thánh Luca tha thiết nói với con trong bài Tin Mừng này, bởi vì có xác tín như thế thì con mới có thể lúc nào cũng “lòng đầy hoan hỉ” như các môn đệ xưa.
4. Người hấp hối than thở với cha sở rằng chẳng cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Cha sở lấy một chiếc ghế đặt bên cạnh, rồi bảo ông hãy nghĩ rằng Chúa Kitô đang ngồi đó, hãy đặt tay mình trên tay Ngài trên thành ghế. Người đó làm theo và cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Mấy hôm sau, được tin ông qua đời, cha sở đến thăm và thấy tay ông vẫn còn đặt trên bàn tay vô hình ở thành ghế. (Góp nhặt)
5. “Có lời Kinh Thánh chép “Đức Kitô phải chịu khổ hình rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại” (Lc 24,46)
Lapeaux là một chính trị gia và là nhân viên của Hội đồng Hành chánh quốc gia Pháp (1745-1799). Ông rất ghét đạo Công giáo nên đứng ra lập một đạo mới dựa vào triết lý và khoa học. Nhưng chẳng ai theo. Ông bực tức và đi hỏi một bạn đồng nghiệp: “Tại sao đạo của tôi vừa là công trình của triết lý và khoa học, vừa có những người rất giỏi truyền bá mà vẫn thất bại, trong khi Công giáo chỉ nhờ mấy anh chài lưới ít học mà lại thành công ?”. Người ấy trả lời: “Nếu anh muốn thiên hạ theo đạo của anh, hãy để người ta đóng đinh anh vào ngày thứ sáu, rồi sáng Chúa nhật hãy cố sống lại xem”.
Lạy Chúa, Chúa đã sống lại để minh chứng đạo của Ngài là đạo thật. Xin cho con biết yêu mến đạo Chúa và hân hoan loan báo Tin Mừng Phục sinh cho mọi người (Hosanna) 


 

LênTrời-52: Thầy ở đâu thì anh em sẽ ở đó - Lm. Nguyễn Văn Phan CSsR.

Cv 1,1-11; Eph 1.17-23;Mc 16,15-20 
 

Lễ Thăng Thiên vừa nhắc đến một mầu nhiệm và vừa nói đến quyền năng vươn tới một chiều kích: LênTrời-52

Lễ Thăng Thiên vừa nhắc đến một mầu nhiệm và vừa nói đến quyền năng vươn tới một chiều kích mới. Lễ này chấm hết sứ vụ Đức Kitô trên trần gian và mừng đón Chúa vinh hiển trở về cùng Chúa Cha trên trời. Mặc dầu là hành động cuối cùng của Chúa trên cuộc đời dương thế, hôm nay không phải là một ngày buồn, mà là một ngày vui chan chứa hy vọng. Siêu thăng lên chốn trời cao, Đức Kitô đã đưa mình thoát khỏi chốn “bình thường” để đi vào chốn “khác thường”, từ đất Galilê này mà đến mọi nơi trên trái đất. Người không còn tự giới hạn mình vào một cõi thời gian, cõi không gian, hay một nhóm người nào nữa. Nhờ sức mạnh Thần Khí, Người trở nên hiện diện vô hình và sẵn sàng đến với bất cứ ai muốn tiếp xúc với Người, đảm nhận công việc và chia sẻ vinh quang của Người.
Đối với các tông đồ, hôm nay là ngày bế giảng mãn khóa, là thời gian huấn luyện đã qua, nay bắt đầu nhiệm vu mới, “đi khắp thế gian, rao giảng Tin mừng cho mọi loại thụ tạo” (Mc 16,15). Lúc Chúa ra đi, các tông đồ chỉ biết đứng trời trồng, bất động. Nỗi buồn bên trong lòng các ông chúng ta có thể hiểu được, vì đây là lần thứ hai các ông trải qua kinh nghiệm đau lòng phải xa cách chia phôi với Thầy chí thánh, biết rằng từ đây cuộc đời không còn được như trước nữa. Có hai người mặc áo trắng xuất hiện lôi các ông về với thực tại, cắt đứt giấc mơ màng và bảo các ông đi làm việc của Thầy mình đã giao phó. Vâng, nhiệm vụ của các ông không phải là đứng nhìn trời, trông chờ điều gì xảy đến. Trong khi Đức Kitô vắng mặt, các ông sẽ là sứ giả của Người, công bố Tin mừng cho người nghèo khó, bị áp bức và cho mọi người.
Đức Chúa Giêsu trở về cùng Thiên Chúa Cha trong vinh quang hôm nay cũng cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về một tương lai vĩ đại, dành sẵn cho chúng ta mai sau, đúng hơn là một tương lai mà chúng ta được kêu mời đi tới. Nếu chúng ta vẫn trung thành với giáo huấn của Người, thì ngôi nhà sau hết của chúng ta cũng sẽ là nơi mà Đức Giêsu vừa mới siêu thăng trở về cùng Cha trên trời. Giống như các tông đồ ngày xưa, Đức Kitô ra lệnh cho chúng ta làm chứng nhân của Người trong công cuộc rao giảng Tin Mừng cho đến tận cùng bờ cõi trái đất. Đó là một công việc dào lâu dễ làm nản lòng thối chí, nhưng chúng ta đã được bảm bảo rằng Người sẽ không để chúng ta mồ côi, nhưng nhờ sức mạnh của Thần khí, Người sẽ ở cùng chúng ta trong mọi nỗi gian truân thử thách cũng như trong mọi nỗ lực phấn đấu của chúng ta.
Cuộc đời này thường được ví như một cuộc lữ hành và chúng ta hết thảy đều là lữ khách đang cùng đi trên con đường thiên lý này. Nhiều anh chị em trong chúng ta do thử thách khổ đau, thất vọng trong cuộc đời, lắm khi ngã lòng trông cậy đến nỗi không còn biết mình đang đi về đâu, không hề biết sẽ có gì đang chờ đón mình ở cuối con đường. Họ luôn tìm hạnh phúc bằng cách sống dựa trên ký ức của quá khứ. Họ thường dành thời gian cuộc đời này để chờ ngóng một cái gì đó không có mục đích nào cả, như các tông đồ xưa ngong ngóng nhìn lên bầu trời. Việc Đức Chúa Giêsu thăng thiên bảo đảm với chúng ta rằng có một mục đích tối hậu cho cuộc đời lữ thứ này, đồng thời đảm bảo với chúng ta rằng hành trình nơi dương thế này, tuy muôn vàn khó khăn, nhưng chắc chắn sẽ dẫn đưa chúng ta về cùng Cha trên trời. Trong lúc này chúng ta vẫn sống trong niềm hy vọng rằng lời Chúa Giêsu hứa khi xưa sẽ trở thành sự thật: “Thầy ở đâu, thì anh em sẽ ở đó”. (Ga 14,3)
NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Lm. Nguyễn Văn Phan CSsR.

 
 

LênTrời-53: Anh em sẽ là chứng nhân của thầy - Lm Giuse Vũ Thái Hòa

Cv 1,1-11; Ep 1,17-23 hoặc Ep 4,1-13; Mc 16,15-20 
 

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Đức Giêsu lên trời. Qua những hình ảnh, lễ Thăng thiên diễn tả việc: LênTrời-53

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Đức Giêsu lên trời. Qua những hình ảnh, lễ Thăng thiên diễn tả việc Chúa Kitô phục sinh từ nay sống trong thế giới của Thiên Chúa mà người ta thường gọi trong ngôn từ tôn giáo là trời (bài đọc 1 và Tin Mừng). Vào thời Đức Giêsu, để diển tả sự vĩ đại, vinh quang của Thiên Chúa, con người không thể đạt tới được, người Do thái dùng hình ảnh của chiều cao: Chúa ở trên cao, ở trên trời. Thiên Chúa được gọi là Đấng Tối Cao (Lc 1,76; Cv 16,17). Đức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta cũng tuyên xưng: “Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha.”
Điều quan trọng đối với các Kitô hữu tiên khởi cũng như đối với chúng ta hôm nay, không phải ở việc muốn biết Đức Giêsu lên trời như thế nào, nhưng là tận hiểu ý nghĩa sự ra đi của Người.
Sau khi hoàn thành sứ mạng ở trần gian, Đức Giêsu trở về với Chúa Cha. Từ nay, Chúa Kitô phục sinh vắng mặt về thể hình, không ai có thể thấy hoặc nghe tiếng Người nữa. Tuy nhiên, Người luôn hiện diện với Giáo Hội, với mỗi người chúng ta như Người đã hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Sự hiện diện vô hình của Người, chỉ có con mắt đức tin mới thấy được.
Lễ Thăng Thiên là sự kết thúc công cuộc truyền giáo của Đức Giêsu thành Nazarét, và là khởi đầu thời gian của Giáo Hội. Dĩ nhiên, giai đoạn mới này luôn là giai đoạn của Chúa Kitô, vì tất cả đều hướng về Người, cũng như Người là đích điểm của mọi hoạt động tông đồ. Nhưng đó cũng là thời kỳ của Giáo Hội và các môn đệ để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô và cho Tin Mừng: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari, và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1,8). Đó là ý nghĩa mọi hoạt đồng truyền giáo của Giáo hội. Trước khi lên trời, Đức Kitô giao phó cho tất cả các môn đệ, tức là tất cả Kitô hữu trên toàn cầu, sứ mạng tiếp tục công trình của Người cho đến ngày tận thế.
Chúng ta hãy nghe câu chuyện có thật và rất cảm động sau đây.
Nhà soạn nhạc vĩ đại người Ý Giacomo Puccini (1858-1624) đã viết nhiều vở nhạc kịch lừng danh. Năm 1922, lúc ông được 64 tuổi, thì ông mắc bệnh ung thư. Dầu vậy, ông vẫn quyết định hoàn thành vở nhạc kịch cuối cùng của mình, tức vở Turandot mà hiên nay nhiều người xem như vở nhạc kịch hay nhất của ông. Ông miệt mài làm việc ngày đêm. Nhiều người ép ông nghỉ ngơi, vì theo họ nghĩ, ông không thể nào hoàn tất nổi vở nhạc kịch ấy. Khi thấy căn bệnh ngày càng nặng hơn, Puccini nói với các đệ tử: “Nếu ta không hoàn tất được vở Turandot thì các trò hãy cố gắng hoàn tất nó cho ta.”
Vào năm 1924, Puccini được học trò đem đến Bruxelles để giải phẫu, nhưng hai ngày sau cuộc giải phẫu đó, thì ông qua đời. Trở về Ý, các đệ tử của Puccini nghiên cứu kỹ lưỡng vở Turandot và tiếp tục viết cho đến lúc hoàn thành trọn vở nhạc kịch đó.
Hai năm sau, vở nhạc kịch được trình diễn lần đầu tiên tại nhà hát lớn La Scala thuộc thành phố Milan, do Arturo Toscanini, người học trò ưu tú của Puccini điều khiển. Mọi sự đều trôi chảy tốt đẹp cho đến khúc nhạc mà Puccini buộc phải ngừng bút. Nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt Toscanini. Anh cho giàn nhạc dừng bản nhạc kịch lại, đặt cây gậy điều khiển xuống rồi quay về khán thính giả và nói lớn: “Sư phụ chúng tôi đã viết được đến đây, rồi người qua đời.”
Lúc đó toàn thể nhà hát đều im bặt, không cử động. Sau vài phút, Toscanini cúi xuống cầm gập điều khiển lên, quay về cử tọa mỉm cười qua dòng lệ rồi thốt lên: “Nhưng các đệ tử đã hoàn tất công việc của người”. Vở Turandot vừa dứt thì toàn thể khán thính giả vỗ tay ầm ầm như sấm vang. Những người có mặt lúc đó không thể nào quên được giây phút ấy.
Câu chuyện sáng tác vở nhạc kịch Turandot của Puccini có nét rất giống với công việc truyền giáo của Giáo hội chúng ta.
Trước khi su phụ Giêsu hoàn tất công trình lập nước Thiên Chúa trên trần gian, thì Người lên trời. Nhưng trước đó, Người đã yêu cầu các môn đệ hoàn tất việc ấy y như Puccini đã yêu cầu các đệ tử hoàn tất vở nhạc kịch Turandot.
Trước khi lên trời, Đức Giêsu nói với các Tông đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Công việc của Puccini được một vài đệ tử hoàn tất trong vòng ít năm, còn công việc của Đức Giêsu cần đến rất nhiều thế hệ mới có thể hoàn tất được; và đó không phải chỉ là việc của vài môn đệ, mà là tất cả các môn đệ thuộc mọi thời đại. Thánh Phaolô có nói: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Co 9,16).
Nhưng truyền giáo không chỉ là công việc của các Linh mục và Tu sĩ mà là của tất cả các Kitô hữu. Là môn đệ Đức Giêsu, chúng ta có bổn phận cộng tác vào việc xây dựng và mở mang Nước Chúa. Tất cả chúng ta đều có thể rao giảng Tin Mừng ngay trong gia đình, trong khu phố và trong cộng đoàn chúng ta. Mỗi người đều có thể là sứ giả Tin Mừng, thợ xây hoà bình và là người gieo niềm vui và hy vọng.
Ngày xưa, chỉ với 5 chiếc bánh và 2 con cá, Đức Giêsu đã làm phép lạ cho hơn năm ngàn người ăn no nê, thì bây giờ Chúa cũng muốn và cần đến sự cộng tác, tuy nhỏ bé và hạn chế, của mỗi người chúng ta hầu hoàn thành những kỳ công của Người.
NS Dân Chúa Âu Châu
Lm.Giuse Vũ Thái Hòa

 
 

LênTrời-54: Các con hãy đi rao giảng và làm phép Rửa cho họ

 Lm. Thu Băng CMC.
 

Trong một cuộc tổ chức cho các em chạy đua tiếp sức, tôi thấy lúc quan trọng nhất mà các em: LênTrời-54

Trong một cuộc tổ chức cho các em chạy đua tiếp sức, tôi thấy lúc quan trọng nhất mà các em cổ động mạnh là lúc em đang chạy đưa cây gậy tiếp sức cho em kế tiếp, vì lúc đó là lúc quyết định được sự thành bại của cuộc chạy đua. Ai trao chậm là phần thắng chậm lại.
Cũng thế, Chúa Giêsu chính là người chạy xong phần của mình và đang trao cây gậy trách nhiệm tiếp sức cho các tông đồ chạy tiếp. Ngài ủy thác cho họ chu toàn công việc của Ngài đã làm nơi trần gian: "Hãy đi rao giảng, dạy cho muôn dân" (Mt. 28). "Hãy tiếp tục thay nhau làm chưng nhân về Thầy cho đến tận thế" (Eph.1:17-23).
Trong thế kỷ này chúng ta làm cách nào để thi hành sứ mệnh Chúa trao ban: Làm nhân chứng và chỉ cho mọi người biết về Chúa?
Có nhiều phương cách để thực hiện:
- Nếu bạn vừa tốt nghiệp đại học, bạn hãy thực hiện như hai bác sỹ vừa ra trường: một người từ Chicago, một người từ Dallas được nhà thương Israel tại Boston nhận việc. Cả hai hợp tác với nhau, bàn chuyện với nhau để phục vụ bệnh nhân, khiến nhiều bệnh nhân kính nể và khen trường học đã đào tạo nên hai người (phục vụ tốt là đem bình an hạnh phúc của Chúa đến cho mọi người).
Hoặc như anh chị T... N.... tại St.Louis (MO) khi lập gia đình anh chị hứa với tôi sẽ tình nguyện đi phục vụ đồng bào tị nạn Hongkong 4 năm. Sáu năm sau gặp lại anh chị với 3 cháu nhỏ, tôi hỏi lại điều quyết định ấy, anh chị trả lời cách vui vẻ:
- Chúng con mua nhà ngay bên đó sinh sống và làm việc giúp dân tị nạn cho tới ngày nào đóng cửa trại, vì nhờ việc phục vụ này, nhiều người nhận được ơn cứ rỗi lắm.
Chúng ta cũng có thể làm điều mà nhiều người đang thực hiện mà không sợ xấu hổ, đi lượm lon trên các ngã đường đem bán lấy tiền giúp cho các trại cùi. Một người nói nhỏ với tôi: "Con làm việc thiện không sợ cùi" tức là bất chấp tiếng chê, dèm pha, chỉ trích, xét đoán lệch lạc.... "Con đã gửi về các trại cùi một số tiền không ai nghĩ tới $ 5,000 Đollas Mỹ".
Tuy nhiên còn nhiều phương thế khác chúng ta đã và đang chu toàn việc Chúa ủy thác và có lẽ còn về lâu về dài, còn đòi nhiều hy sinh cam đảm hơn nữa. Đó là làm chứng nhân và làm thầy dạy ngay trong gia đình, trong xứ đạo, trong sở làm, trong chủng viện, trong môi trường cuộc sống.
Hãy cố gắng chu toàn nhiệm vụ Chúa đã trao ban; hãy nhẫn nại chịu đựng mọi phiền toái khi phục vụ; Hãy sống với mọi người như Chúa sống bên họ.... cũng chính là đem Chúa đến cho mọi người. Robert nói trong cuốn "Bản vũ nhạc của lý trí - Masque of Reason: Phần lớn người ta không thể nghĩ ra hết các sự việc đâu. Họ chỉ nhìn thấy những việc ấy qua hành vi người khác làm mà thôi".
Ông Trung Thành bạn tôi kể rằng: Ngày đó vợ tôi bị đau và cơn bệnh kéo dài khiến nàng bị kệt quệ cả về tinh thần lẫn thể xác. Cơn thử thách đè nặng trên tôi và làm sức khoẻ tôi cũng bị suy sụp. Bỗng một biến cố đã bị quên lãng từ hồi tôi mới 10 tuổi, chợt loé lên trong lòng. Biến cố ấy xảy ra khi mẹ tôi bị đau nặng. Nửa đêm hôm ấy tôi thức giấc vì khát nước, tôi đi ngang qua phòng ngủ của bố mẹ tôi, chợt tôi thấy bố tôi đang ngồi bên cạnh giường của mẹ và mẹ đang ngủ say. Tôi bước vào hỏi bố:
- Bố ơi, bệnh mẹ nặng lắm hả? Bố tôi bình thản trả lời:
- Không nặng đâu con, bố chỉ ngồi đây chờ đợi khi mẹ con thức giấc có cần gì thì bố làm cho mẹ thôi.
Nhờ nhớ lại biến cố ấy mà tôi có đủ can đảm cần thiết để phục dịch và đương đầu với hoàn cảnh.
Làm chứng cho Chúa và giúp cho người khác biết về Ngài chỉ là chia sẻ cho họ niềm tin và tình yêu mà chính mình đã tiếp nhận từ nơi Chúa, cho người khác. Sứ điệp Thăng Thiên chỉ đơn giản có thế. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tiếp nhận từ nơi Ngài, đồng thời Ngài sai chúng ta tiếp tục trao ân cho đồng loại, giúp mọi người, tốt với mọi người theo bất cứ cách thức nào Chúa Thánh Thần soi sáng cho chúng ta. (6/2003).
Trích Dongcong.net
Lm. Thu Băng CMC.

 
 

LênTrời-55: Hành Trình về Quê Trời – Sr Binh Huyền

Suốt đời tôi, có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh cụ X (xin dấu tên) đã ngoài 70 cứ: LênTrời-55

Suốt đời tôi, có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh cụ X (xin dấu tên) đã ngoài 70 cứ chiều chiều lên sân thượng trại tị nạn Hong Kong nhìn ra biển với hai hàng lệ tuôn dài trên gò má nhăn nheo. Lúc bấy giờ tôi mới là cô bé 14 tuổi nhưng cũng mạnh dạn đến làm quen và thăm hỏi cụ. Về sau mới biết cụ qua Hong Kong có một mình và hoàn toàn ngoài ý muốn. Cụ đi đánh cá với ghe người ta và mặc dầu vẫn biết là cụ X không muốn vượt biên tí nào người ta cũng phải đưa cụ đi vì nếu không sẽ bị công an tình nghi. Thế là cụ X đến Hong Kong. Mặc dầu con cháu đều đã đi ở riêng, cụ bà cũng đã về bên kia thế giới từ lâu, và đời sống vật chất ở trại tị nạn đầy đủ hơn cuộc sống trước kia rất nhiều nhưng cụ X vẫn cảm thấy trống rỗng vì đã đánh mất quê hương mà cụ biết chắc là sẽ không bao giờ thấy lại được vì tuổi đời đã quá cao. Vì thế cụ luôn cảm thấy buồn và nhớ nhà mỗi khi chiều tàn.
Lễ Chúa về trời hôm nay đánh dấu lần chia tay sau cùng giữa Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài. Nói cách khác, đây chính là lúc Chúa Giêsu trở về bên cạnh Chúa Cha sau khi đã hoàn tất sứ mạng của Ngài ở trần gian. Vì thế, các môn đệ rất buồn phiền; tuy nhiên, tâm hồn các ông lại tràn đầy hy vọng vì lời hứa của Chúa Giêsu vẫn còn văng vẳng bên tai: "Thầy đi để dọn chỗ cho các con... và Thầy sẽ trở lại đón các con, để Thầy ở đâu các con cũng sẽ ở đó với Thầy. Đừng sợ, Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi đâu" (Jn 14:3,18).
Là những Kitô hữu, chúng ta biết cuộc sống tại thế này chẳng qua chỉ là cuộc hành trình tiến về quê thật trên trời. Nói khác đi, quê hương thật sự của người Kitô hữu là ở trên trời, nơi mà Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Vì thế, người Kitô hữu đúng nghĩa phải là người có đời sống lạc quan, tràn đầy hy vọng và chan chứa niềm tin. Họ lạc quan vì đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Họ tràn đầy hy vọng vì đã nhìn thấy tương lai sáng lạn đang chờ đợi một khi họ hoàn tất cuộc sống trần gian này. Họ chan chứa niềm tin vì biết chắc rằng Chúa Giêsu sẽ chẳng bao giờ lừa dối và bỏ rơi họ.
Để dọn chỗ cho chúng ta ở trên trời, Chúa Giêsu đã phải trả một giá không rẻ: chính mạng sống của Ngài. Tuy nhiên, để vào được chỗ đã dọn sẵn đó, Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta phải cộng tác với Ngài bằng việc "ra đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian cho mọi loài thụ tạo" (Mc 16:15). Nói cách khác, Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta tiếp tục sứ mạng của Ngài ở trần gian như là điều kiện để được ở với Ngài. Được ở với Ngài là một niềm vui mà người Kitô hữu nào cũng hằng mong đợi và chia sẻ niềm vui đó cho người khác qua việc rao giảng Tin Mừng là điều kiện để niềm vui đó được tròn đầy hơn. Vì chưng, người ta thường nói: "Niềm vui, nếu biết chia sẻ chẳng những sẽ không hao mòn đi mà còn lớn lên bội phần tùy theo mức độ chia sẻ." Tuy nhiên, khi kiểm chứng lại cuộc sống thường ngày có lẽ không ai trong chúng ta dám cho mình đã sống trọn vẹn lý tưởng đó. Vẫn biết thế gian này không phải là nhà nhưng chúng ta lại dành quá nhiều thời giờ và công sức để xây đắp và tích lũy cho những gì thuộc về thế gian hơn là quê trời; trong cuộc hành trình này, đôi khi chúng ta lại coi những trạm nghỉ bên đường là nơi chúng ta sẽ ăn đời ở kiếp chứ không phải là quê trời; và khi sống giữa thế gian, thay vì dùng chính cuộc sống mình để loan báo Tin Mừng cho những người chung quanh thì chúng ta lại dùng nó như là bằng chứng cho câu nói chua xót mà người ta thường dùng để ám chỉ người Kitô hữu: "tin đạo chứ đừng tin người có đạo."
Cụ X vì quá nhớ nhà nên đã bỏ ăn dần và sau cùng đã giã biệt cõi đời vì kiệt sức sau gần một năm sống ở trại tị nạn. Còn chúng ta, chúng ta có thái độ nào trên hành trình về quê trời: quẳng bớt để nhẹ gánh hơn hay ôm đồm thêm để tâm hồn nặng trĩu không muốn bước? Có bao giờ chúng ta cảm thấy NHỚ quê trời chưa nhỉ? Hỏi ra thì ai cũng muốn được ở bên cạnh Chúa nhưng khi phải đối diện với thực tế thì ít ai dám chọn thái độ quẳng bớt vì quá dính bén với cuộc sống trần gian này. Mừng lễ Chúa về trời hôm nay, mỗi người chúng ta hãy xin Chúa ban ơn soi sáng để có thể nhận ra tình trạng thật sự của cuộc sống mình, và ơn can đảm để dám sửa đổi ngõ hầu cuộc sống chúng ta không trở nên vô nghĩa khi đang sống giữa thế gian và không trở nên gánh nặng ngăn cản chúng ta tiến gần Chúa hơn.
NS. Trái Tim Đức Mẹ
Sr. Binh Huyền

 
 

LênTrời-56: PHẢI HIỂU THẾ NÀO KHI NÓI CHÚA LÊN TRỜI

 Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

 

Ngày còn nhỏ, sống gần vùng có nhiều máy bay Mỹ bay ngang dọc bầu trời. Những chiếc máy bay: LênTrời-56

Ngày còn nhỏ, sống gần vùng có nhiều máy bay Mỹ bay ngang dọc bầu trời. Những chiếc máy bay, dù là tuổi nhỏ, tôi vẫn mơ màng hiểu rằng, chúng đang tác oai, tác oái để phục vụ cho mục đích chiến tranh. Những lần nghe tiếng gầm rích xé tan bầu trời, bọn trẻ chúng tôi kéo nhau chạy ra khỏi nhà nhìn lên trời xem máy bay bay mà khoái chí, mà thỏa thích và lắm lúc còn hun đúc ước mơ được phóng lên trời bay như máy bay, oai biết mấy.
Cũng vẫn là những ngày còn nhỏ, ngày lễ Chúa Giêsu lên trời, tôi lại ra sân tìm kiếm. Không phải đi tìm máy bay nhưng là tìm Chúa Giêsu xem Chúa lên trời thế nào. Trong tưởng tượng, tôi cảm nhận rằng, chắc Chúa đẹp lắm, không đen sì như những chiếc máy bay, chắc Chúa hiền từ lắm, không ồn ào như máy bay& Trong tư tưởng non nớt của tôi làm sao hiểu nổi chuyện Chúa lên trời. Tìm kiếm trên bầu trời chán và mỏi, tôi đến gặp mẹ. Mẹ tôi cũng chẳng thể cho tôi một điều gì khá hơn. Bà chỉ biết có mỗi một chuyện: “Hôm nay Chúa lên trời”, và không giải thích gì thêm để một thằng bé như tôi hiểu được. Và trong tôi còn mãi một thắc mắc, Chúa đã lên trời sao không thấy. Máy bay lên trời còn thấy bay đi bay lại kia mà! Ngày ấy, hình như tôi hiểu Chúa lên trời quá là nghĩa đen. Dù vậy, bây giờ đã có một hiểu biết nhất định, sao tôi vẫn không thể thay thế được cái nghĩa đen ấy!
Đúng là ngôn ngữ của Thánh Kinh cho phép chúng ta hiểu Chúa lên trời theo nghĩa đen. Chẳng hạn bài đọc một, trích sách Công vụ Tông đồ cho biết: “Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông” (Cv 1, 9). Nhưng với một sự kiện của lòng tin lớn như biến cố Chúa thăng thiên mà lại chỉ dừng lại ở nghĩa đen như thế, thì quả là làm thiệt hại đức tin biết bao nhiêu. Bởi điều quan trọng không nằm ở sự kiện Chúa lên trời cho bằng khám phá lại ý nghĩa của lễ Chúa lên trời hôm nay.
Bạn và tôi có quyền hiểu Chúa thăng thiên theo nghĩa đen, nhưng bạn và tôi không được quyền dừng lại ở đó. Ta không bao giờ được phép xem Chúa lên trời như là một chiến thắng đang say trong men chiến thắng, một cao ngạo, một sự trả thù của người bị hại đối với những người đã từng treo Chúa lên thánh giá. Nếu chỉ như thế thì chắc Chúa đã không lên trời!
Lên trời là một sự chiến thắng, một vinh quang. Đúng! Nhưng chiến thắng và vinh quang theo nghĩa nào?
Bài Tin Mừng cho biết, “ Chúa Giêsu lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa”. Giáo Hội không ngừng lặp lại lời tuyên xưng này qua mọi thời, mọi thế hệ trong lời tuyên tín của mình.
Cụm từ “HÚA LÊN TRỜI”đủ để cho thấy VINH QUANG THIÊN CHÚA của Người. Chúa đã một lần làm người. Nghĩa là đã một lần Người hạ mình hóa nên nhục thể. Vinh quang của Người là vinh quang Thiên Chúa. Nhưng vinh quang ấy đã bị che lấp trong cuộc đời trần thế, đến nỗi có lần thư gởi tín hữu Do thái phải bộc bạch: “hi còn sống kiếp phàm nhân Chúa Giêsu đã lớn tiếng kêu vang khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết... là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” Hôm nay về trời cũng là chính lúc Chúa Kitô về lại với vinh quang mà Người vẫn có. Nói cho thật nôm na, dễ hiểu: Về trời chính là lúc Chúa Kitô trở lại “kiếp Chúa” của Người. Vinh quang bị che lấp, giờ đây tỏ lộ. Nếu trong quá khứ, “Người đã bị thua kém các thiên thần trong một thời gian ngắn”, thì giờ đây, “Người được Thiên Chúa ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên” (Dt 2, 9). Vinh quang danh dự mà Chúa Kitô lãnh nhận hôm nay là vinh quang cao cả, là chiến thắng lớn lao: Chúa bước vào vĩnh cửu. Trong vinh quang vĩnh cửu ấy, chính “Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Để khi nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Phil 2, 9- 11). Cũng chính trong vinh quang Đức Chúa của mình, Chúa Giêsu làm chủ mọi loài,, Người làm vua toàn vũ trụ. Vì nơ Người chính “Thiên Chúa đã đưa thời gian tới hồi viên mãn, đã quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Eph 1, 10). Hay như bài đọc hai diễn tả: Chúa Kitô “Vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này, lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Người, và tôn Người làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Người, và là sự sung mãn của Đấng chu toàn mọi sự trong mọi người” (Eph 1, 21- 23).
Nhưng vinh quang thiên quốc của Chúa Kitô, không chỉ quy tụ nơi chính bản thân Người mà thôi. Vinh quang của Chúa Kitô là ánh sáng chói ngời chiếu thẳng vào niềm hy vọng của chúng ta. Chúa thăng thiên để nhờ Người, trong Người và với Người, ta cũng được thăng thiên. Vì nếu đã có một con người mang tên Giêsu được vinh thăng, thì mọi người có quyền hy vọng nếm hưởng vinh quang Thiên Chúa với Người. Như vậy lễ thăng thiên là lễ thực hiện giấc mơ lớn nhất của con người: sống đời đời trong hạnh phúc và vinh quang vĩnh cửu.
Vì thế, hôm nay mừng lễ Chúa thăng thiên, hướng lòng về Thiên Chúa, và chiêm ngắm vinh quang của Chúa Kitô, loài người chỉ còn biết cúi đầu cảm tạ. Xin dâng muôn lời cảm tạ tri ân Thiên Chúa. Bởi thân phận bé nhỏ là thế, nhưng loài người lại có vận mạng được đặt nơi Thiên Chúa. Do đó dẫu là thuộc về đất thấp, loài người vẫn mang nơi mình một chiều cao thăm thẳm: vận mạng được vĩnh cửu hóa và Thiên Chúa là Chúa vĩnh cửu đã thương trao ban cho loài người, cho từng người một, một vận mạng không bao giờ có thể lạc mất.
Lạy Chúa, chúc tụng tình yêu vô ngần của Chúa, vì nhờ đó, thân phận bụi tro của chúng con được hóa thần nhờ ơn thần hóa Chúa ban. Amen.
Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

 
 

LênTrời-57: CHÚA THĂNG THIÊN

SUY NIỆM
 

Đỉnh Everest cao nhất thế giới của dãy Hy Mã Lạp Sơn như có một ma lực hấp dẫn những người leo: LênTrời-57

Đỉnh Everest cao nhất thế giới của dãy Hy Mã Lạp Sơn như có một ma lực hấp dẫn những người leo núi thiện nghệ. Ai đã vướng vào môn thể thao leo núi xem đó như là một giấc mơ, nếu ngày nào đó họ đặt được chân trên đỉnh núi cao 8.880 thước, quanh năm phủ tuyết này, nhưng chỉ có một số ít người thực hiện được giấc mộĩng ấy và rất nhiều người đã bỏ mình dọc theo con đường lên đỉnh. Trên những con đường ấy, người ta thấy hai bia mộ ghi những dòng chữ sau đây: Bia thứ nhât đề ỀHọ thấy được lần cuối cùng trong lúc gắng sức leo lênỂ. Và bia thứ hai tưởng niệm một huấn đạo viên chỉ viết vỏn vẹn một câu ỀÔng ta chết trong lúc đang leoỂ. Nếu đời sống là một cuộc tranh đấu không ngừng thì để sống đạo và hành đạo cũng thế. Điều quan trọng không phải là thành công hay thất bại, mà là chỗi dậy và tiến bước. Phải gọi là thẳng tiến thì đúng hơn, vì câu tâm niệm của các Kitô hữu phải là: ỀNgày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua, nhưng kém hơn ngày maiỂ. Bí quyết thành công thứ hai là không bao giờ chúng ta nên đi trên con đường nên thánh một mình, hãy noi gương những người đi trước, những thánh nhân và hãy cùng nhau tiến bước. Và nhất là hãy đi vào những vết chân Chúa Giêsu đã để lại.
Cầu nguyện:
Người đời thường nói một cách rất chính xác: Người có công thì đáng được thưởng, còn kẻ có tội thì đáng phải phạt. Nếu chúng ta nói về Đức Giêsu thì chắc chắn chúng ta phải nhìn nhận rằng: Đức Giêsu rất có công hay có công rất lớn. Người có công lớn, rất lớn, với Thiên Chúa Cha, vì Người đã vâng phục Thiên Chúa Cha trong mọi sự, đã chu toàn Thánh Ý của Cha một cách hoàn hảo. Để vâng phục Chúa Cha như một người con thảo số một, Đức Giêsu đã chấp nhận cụoc sống trần gian với bao hy sinh khó nhọc và nhất là với hiến tế toàn thiêu trên thập giá. Đức Giêsu còn có công lớn, rất lớn với loài người là anh em của Chúa, vì Người đã lấy cuộc sống và nhất là cái chết để chứng tỏ nhân loại được Người yêu thương, quý trọng như thế nào. ỀKhông có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêuỂ. Lời tuyên bố ấy chẳng nhữõng đúng với mối tương quan của Đức Giêsu với chúng ta mà còn đúng với mối tương quan của Đức Giêsu của Người với Chúa Cha. Vì thế việc Người được Cha dùng sức mạnh thần linh làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết và đặt Người ngồi bên hữu Thiên Chúa, ban cho nhiều danh hiệu cao quý nhất, tôn Người làm Vua vũ trụ là sự kiện lôgích và dễ hiểu.
Xin Chúa cho chúng con biết ngưỡng mộ những sự trên trời, hơn là tìm kiếm của cải, danh vọng địa vị trần gian mau qua chóng hết. Amen.

 
 

LênTrời-58: SỐNG VÀ RAO GIẢNG ĐỨC TIN

     LỜI TRĂN TRỐI CUỐI CÙNG
 

Trước khi từ giã các Môn Đệ để về Trời và để hiện hữu một cách khác bên cạnh các ông, Đức Giê-su: LênTrời-58

Trước khi từ giã các Môn Đệ để về Trời và để hiện hữu một cách khác bên cạnh các ông, Đức Giê-su đã trăn trối nhiều điều. Những lời trăn trối quan trọng nhất là những lời Ngài nói ra trong bữa tiệc ly trước khi ra đi chịu tử nạn và ngay trước khi vềTrời.
Những trăn trối trong bữa Tiệc Ly nói lên tinh thần mà Môn Đệ của Ngài phải có: chủ yếu là yêu thương nhau ( Ga 13 ), tin và hợp tác với Thánh Thần ( Ga 14; 16 ), liên kết chặt chẽ với Ngài ( Ga 15 ), hiệp nhất với nhau ( Ga 17 ), mong đợi Ngài trở lại ( Ga 16 ). Còn lời trăn trối ngay trước khi Ngài về Trời nói lên việc mà các Môn Đệ Ngài phải làm là “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” để tiếp tục sự nghiệp mà Ngài đã khởi sự. Đó cũng chính là công việc Phúc Âm Hóa và Tái Phúc Âm Hóa, để mọi người không chỉ biết Tin Mừng mà còn thật sự sống tinh thần Tin Mừng nữa.
Về lời trăn trối sau, rất nhiều Ki-tô hữu chỉ hiểu một cách nông cạn, là chỉ nghĩ tới việc rao giảng cho người ta biết Thiên Chúa, biết Tin Mừng cứu độ của Đức Giê-su, và dừng lại tại đấy ! Nhưng thử hỏi nếu chỉ biết thôi thì ích lợi gì ? Chẳng hạn biết rõ sự cần thiết và ích lợi của thức ăn, hay biết rõ mình cần phải ăn gì để mạnh khỏe mà lại không chịu ăn, thì sự biết rõ ấy có ích lợi gì ? Nếu biết mà không sống điều mình biết, không đem nó ra áp dụng thì chẳng những vô ích mà còn phải chịu trách nhiệm về cái biết ấy nữa. Vì kẻ nhận 1 nén bạc thì chỉ phải làm lợi thành 1 nén khác thôi, nhưng kẻ nhận 5 nén thì có trách nhiệm làm lợi thành những 5 nén khác kia ! ( x. Mt 25, 14 – 30; Lc 19, 12 – 27 ).
Vì vậy, biết Tin Mừng mà không chịu sống Tin Mừng là tự làm cho mình bị kết án nặng hơn. Cũng vậy, rao giảng cho người ta biết Tin Mừng mà không giúp người ta sống Tin Mừng thì chỉ làm cho người ta bị kết án nặng hơn chứ chẳng đem lại lợi ích gì cho họ. “Đức Tin chết” hay “Đức Tin không có việc làm” ( Gc 2, 17. 26 ) đâu thể đem lại ơn cứu độ ? Cũng như có đồ mà không đem ra dùng thì đồ ấy có ích lợi gì ? hoặc cho người ta đồ mà không chỉ cho người ta cách sử dụng thì coi chừng kẻo làm hại người ta ? Việc rao giảng Tin Mừng cần phải đi xa hơn một chút là giúp người ta sống Tin Mừng, như thế sẽ làm lợi cho họ vô cùng. Như vậy, điều quan trọng là chính chúng ta phải sống tinh thần Tin Mừng và làm cho mọi người cũng sống tinh thần Tin Mừng. Biết và sống Tin Mừng, hoặc làm cho người ta biết và sống Tin Mừng, hai thứ ấy phải đi đôi với nhau mới không có hại mà sinh ích lợi vô cùng cho mình và cho người. Nên đã biết Tin Mừng hoặc giúp ai về mặt Tin Mừng thì hãy biết hoặc giúp tới nơi tới chốn, với tinh thần trách nhiệm. Đừng “đánh trống bỏ dùi”, “đem con bỏ chợ”, tức giúp nửa vời, rất tai hại !
 

      NHỮNG DẤU LẠ ĐI THEO NHỮNG AI CÓ LÒNG TIN
Theo lời của Đức Giê-su thì những kẻ có lòng tin đích thực – tức tin và sống điều mình tin – sẽ có được những dấu lạ theo mình: “Họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ”. Đó là những điều mà tôi nghĩ rằng thời nào cũng đều ứng nghiệm, không chỉ là thời các tông đồ. Và những điều này trước tiên được ứng nghiệm ngay nơi bản thân những người tin rồi sau đó mới ứng nghiệm ra bên ngoài, tức với người khác hay với ngoại cảnh. Tuy nhiên, lời Ngài nói cần phải hiểu theo nghĩa tâm linh, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen: tôi không tin rằng bất kỳ người mạnh tin nào cũng đều có thể uống thuốc độc mà không chết, hay bị rắn cắn mà không sao ! Vì thế, những dấu lạ nói trên cần được hiểu như sau:
“Trừ được quỷ”:
Quỷ tượng trưng cho thế lực của sự ác. Người thật sự tin vào Thiên Chúa – là nguồn sức mạnh của mình – có thể thắng được những thế lực của sự ác hay của tội lỗi ngay trong bản thân mình. Cụ thể là thắng được những cám dỗ, những tư tưởng xấu, những khuynh hướng xấu, v.v... Nếu Đức Tin của họ mạnh hơn nữa, họ có thể giúp những người yếu tin cũng thắng được thế lực ác giống như họ.
“Nói được những tiếng mới lạ”:
Người có Đức Tin đích thực và sống nhuần nhuyễn Đức Tin ấy sẽ cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và Đức Giê-su, tức chứng ngộ được chân lý nơi bản thân mình. Nhờ đó họ có thể tự diễn đạt Đức Tin của mình theo đủ mọi phương thức khác nhau, chứ không dùng những kiểu nói sáo mòn, trống rỗng, thiếu chất sống. Họ luôn luôn dùng những cách diễn tả mới lạ, phù hợp với thời đại, với trình độ của người nghe, giúp người nghe cũng cảm nghiệm được thực tế Đức Tin như họ.
Họ như một y sĩ đã nắm thật vững cốt yếu của y lý nên biết tùy bệnh mà tự mình cho thuốc thật hữu hiệu, phù hợp với từng căn bệnh. Họ không sao y những bài thuốc có sẵn của người khác để áp dụng chữa bệnh một cách máy móc giống như những y sĩ chưa nắm vững y lý. Hay như một thầy giáo đã tiêu hóa thật kỹ môn mình dạy nên chỉ cần nói tất cả những gì đang có sẵn trong bụng không phải lệ thuộc một bài bản nào cả. Họ có thể nói một cách sáng tạo theo đủ kiểu đủ cách mới lạ để học sinh dễ hiểu mà vẫn luôn luôn chính xác, chứ không nô lệ vào những giáo trình mẫu do người khác soạn sẵn.
“Cầm được rắn trong tay”:
Người có Đức Tin đích thực ắt nhiên có tâm hồn an bình và đầy tràn tình yêu. Họ coi mọi người – dù xấu ác hay ghét họ, muốn làm hại họ – như anh em ruột thịt và sẵn sàng hy sinh cho những người ấy. Vì thế, họ có thể tiếp cận và sống chung cả với những người xấu ác mà không hề bị hại, vì những người nguy hiểm này vẫn luôn cảm nghiệm được tình thương của họ dành cho mình: không ai lại muốn hại người đang yêu thương mình.
“Dù có uống nhằm thuốc độc cũng chẳng sao”:
Tất cả những nghịch cảnh, những đau khổ trong cuộc đời không thể làm mất được sự bình an và hạnh phúc của những người có Đức Tin thật sự. Với Đức Tin, họ biết rằng tất cả những đau khổ hay nghịch cảnh Chúa gửi tới đều là những hồng ân do tình thương của Ngài. Họ tin rằng: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” ( Rm 8, 28 ) và “những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” ( 8, 18 ). Vì thế, họ rất vui khi đau khổ hay nghịch cảnh xảy tới, nên đau khổ hay nghịch cảnh cỡ nào cũng không hề làm hại được họ.
“Nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ”:
Ngoài ra người có Đức Tin đích thực còn có sức cảm hóa và giúp những người xấu ác – là người bị bệnh về tâm linh – trở về đường ngay nẻo chính. Họ có khả năng nâng đỡ và thêm sức mạnh cho những người yếu đuối tinh thần. Ai gần họ cũng cảm thấy mình bình an hạnh phúc hơn, tin vững mạnh vào Thiên Chúa, vào chính bản thân và tương lai mình hơn.
 

      “CÓ CHÚA CÙNG HOẠT ĐỘNG” VỚI NGƯỜI RAO GIẢNG TIN MỪNG
Bài Tin Mừng kết thúc bằng một câu thật tuyệt vời, làm an lòng tất cả những ai đang rao truyền Tin Mừng: “Các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Điều quan trọng nhất để việc loan báo Tin Mừng trở nên hữu hiệu – nghĩa là không chỉ giúp người ta biết Tin Mừng, mà còn làm cho họ sống Tin Mừng nữa – đó là “có Chúa cùng hoạt động với họ”. Nhưng làm sao để có Chúa ở cùng ? – Họ chỉ có Chúa ở cùng khi họ thường xuyên ý thức sự hiện diện của Ngài, và luôn gắn bó với Ngài bằng tình yêu chân thành có khả năng thúc đẩy họ hy sinh, dấn thân thật sự. Nhờ đó, họ có “những dấu lạ kèm theo” xác nhận những gì họ rao giảng là chân lý.
Dấu lạ quan trọng và căn bản nhất – có khả năng thuyết phục những người nghe họ – chính là họ đã thật sự sống được những điều họ rao giảng. Nhờ sống điều mình nói mà lời họ nói trở nên sống động, mạnh mẽ, đầy sức hấp dẫn, khiến người nghe luôn “tâm phục khẩu phục”, đồng thời cảm nghiệm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa ở nơi họ. Ước gì mọi người loan báo Tin Mừng đều luôn “có Chúa cùng hoạt động” như vậy !
Lạy Cha, xin cho con biết sống Đức Tin của mình một cách thực tế và sống động. Vì quả thật rất nhiều khi con tuyên xưng Đức Tin của mình hết sức mạnh mẽ trước mặt mọi người, nhưng đời sống con lại chứng tỏ con chẳng tin bao nhiêu ! Thế mà con lại rao giảng thật hùng hồn về Đức Tin ấy khiến người nghe con cảm thấy những lời con nói chỉ là những sáo ngữ, những lời giả dối, không thể tin nổi. Xin Cha giúp con thật sự sống những điều con tin, và rao giảng những điều con sống.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

 
 

LênTrời-59: HẠNH PHÚC LỚN LAO

Phi hành gia Yuri Gagarine của Liên Xô sau khi đã bay nhiều vòng trong vũ tru,  khi trở về trái: LênTrời-59

Phi hành gia Yuri Gagarine của Liên Xô sau khi đã bay nhiều vòng trong vũ tru,  khi trở về trái đất đã tuyên bố: “Tôi chẳng thấy Thiên Chúa đâu cả !” Thế nhưng, nhà bác học Isaac Newton khi quan sát vũ trụ bằng kính viễn vọng thì lại thốt lên: “Tôi đã nhìn thấy Thiên Chúa qua kính viễn vọng của tôi”.
Chúng ta là những người tin Chúa Giê-su Phục Sinh và lên Trời cả hồn lẫn xác. Vậy chúng ta trả lời cho vấn nạn đó như thế nào ? Chúa Giê-su lên Trời nghĩa là gì ? Nay người ở đâu ? Việc Chúa Giê-su lên trời có liên hệ gì tới cuộc sống hiện tại của chúng ta hay không ?
Theo quan niệm của người Do-thái cách đây hơn 2000 năm, vũ trụ này chia ra làm ba phần: Phần dưới mặt đất là âm phủ dành cho người chết; phần trên mặt đất dành cho loài người đang sống và trời là thế giới của Thiên Chúa và các Thánh. Để thích ứng với quan niệm bình dân ấy, các Giáo Lý Viên ngày xưa đã trình bày mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giê-su làm hai: Giai đoạn đầu, sống lại, Đức Giê-su đi từ âm phủ lên mặt đất; giai đoạn kế đó, lên Trời, Đức Giê-su bay từ mặt đất lên thế giới của Thiên Chúa l
Trình bày như vậy thì dễ hiểu nhưng không hoàn toàn đúng với thực tế, hậu quả tai hại là người ta dễ hiểu lầm rằng khi lên trời như thế Chúa Giê-su sẽ đi xa trái đất và cuộc sống của loài người, vì trời thì ở trên cao xa tắp, đâu có liên hệ gì tới trái đất. Những chữ “lên Trời” bị chi phối bơi cách suy nghĩ có giới hạn của chúng ta. Theo cách suy nghĩ đó, các biến cố xảy ra luôn luôn được gắn liền với các vị trí trong không gian. Thực ra trời đây không phải là một nơi và lên không có nghĩa là nơi đó ở trên cao. Lên Trời ở đây không hiểu theo nghĩa địa lý vì Trời hay Thiên Đàng là một trạng thái hơn là một nơi chốn. Chúng ta đang sống trong không gian và thời gian nên định vị trí mọi sự theo hai trục đó. Điều cốt yếu mà Thánh Kinh muốn dạy về mầu nhiệm Thăng Thiên là Đức Ki-tô đã ra khỏi thế giới trần thế bị tội lỗi làm nhiễm độc và một ngày kia sẽ tiêu tan để tiến vào một thế giới mới, trong đó Thiên Chúa ngự trị tuyệt đối và vật chất đã biến đổi, đã thấm nhuần tinh thần.
Thực ra khi Chúa Giê-su sống lại, Người đã lên Trời rồi theo kiểu nói của Kinh Thánh, nghĩa là Ngươì đã bước vào cõi vinh quang của Thiên Chúa Cha, Người ngự bên hữu Chúa Cha, mặc lấy vinh quang và quyền năng của Chúa Cha. Trong 40 ngày sau sống lại, Chúa Giê-su hiện ra nhiều lần để dạy dỗ và củng cố Đức Tin của các Tông Đồ. Giáo Hội đã được thiết lập nay được củng cố để được sai đi.
Như vậy sự kiện lên Trời mà Phụng Vụ Giáo Hội kính nhớ hôm nay có ý nghĩa sâu xa. Nó chấm dứt thời gian Chúa hiện diện giữa nhân loại bằng thân xác, chấm dứt thời gian huấn luyện các Tông Đồ. Một thời điểm có tính cách quyết định của Lịch Sử Cứu Độ là Đức Ki-tô ban những giáo huấn cuối cùng, trao những chức vụ phải thi hành trong Giáo Hội, chuẩn bị cho các Tông Đồ thi hành sứ mạng chứng nhân của Đấng Phục Sinh trong thế giới. Từ nay trở đi, Người sẽ hiện diện với chúng ta một cách vô hình, với quyền năng của Chúa Thánh Thần, thân xác Đức Giê-su đã được Thần Khí Hóa và đi vào cõi vĩnh hằng của Chúa Cha. Sự hiện diện này thâm sâu hơn và hiệu năng hơn. Khi còn ở trong thân xác, Chúa Giê-su chỉ ở bên cạnh chúng ta thôi, bên cạnh một số người thôi. Từ nay, với quyền năng Chúa Thánh Thần Đức Giê-su sẽ hiện diện trong lòng con người, trong tâm hồn tất cả những ai tin vào Người.
 Khi hai người yêu nhau thì luôn muốn sống bên nhau, nhưng tới một giây phút nào đó họ cảm thấy sống bên nhau vẫn chưa đủ. Xuân Diệu đã diễn tả chân lý ấy cách sâu sắc: “Hai người tình ngồi sát bên nhau, ôm lấy nhau mà vẫn còn thấy rất xa xôi”. Nnững người yêu nhau muốn sống trong nhau, nhưng điều đó không thể xảy ra giữa loài người được vì dẫu sao thân xác của mỗi người vẫn tạo ra một ngăn cách. Điều con người không thể làm được thì Thiên Chúa đã làm. Đức Giê-su một khi ngự bên hữu Chúa Cha đã hoàn toàn mặc lấy quyền năng Chúa Thánh Thần, Người đến ngự trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Chính Người đã nói: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến nó và chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” ( Ga 14, 23 ).
Để chúng ta hiểu hơn về sự hiện diện này Chúa đã dùng dụ ngôn cây nho và cành nho: “Thầy là cây nho các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” ( Ga 15, 5 ). Thiền sư Suzuki rất tâm đắc với huyền nhiệm này khi viết: “Thiên Chúa ở trong con người và con người ở trong Thiên Chúa. Chúa là người và người là Chúa mà Chúa vẫn là Chúa và người vẫn là người. Quả thật, đó là điều kỳ bí nhất của Tôn Giáo, một nghịch lý thâm u nhất của triết học”.
Chúa về Trời gợi lên trong tâm hồn chúng ta một khát vọng quy hướng về Người để rồi đối với chúng ta không còn hạnh phúc nào lớn hơn là được ở trong Người, đón nhận sự sống sung mãn Người ban tặng. Nhận thức được niềm hạnh phúc ấy, đời sống cầu nguyện của chúng ta sẽ có một sự thú vị ngọt ngào.
Bài Tin Mừng hôm nay kết thúc Phúc Âm Mác-cô nhưng thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở, đó là khai trương công cuộc Truyền Giáo toàn cầu. Hình thức của việc Truyền Giáo được chỉ định rõ ràng: “Làm cho muôn dân trở thành Môn Đệ của Thầy. Làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho anh em”. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông Đồ, qua các Tông Đồ rồi đến các Môn Đệ Đức Giê-su trở thành người sống đương thời với chúng ta: “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Chúa đã dùng Giáo Hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc Cứu Rỗi của Người. Sứ mệnh của Chúa là sứ mệnh thiêng liêng. Nhưng sứ mệnh đó phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Giáo Hội thực thi sứ mệnh đó trong khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của giáo hội mà Chúa Giê-su tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống, dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu. Mỗi Ki-tô hữu là chi thể của Giáo Hội, thân mình mầu nhiệm Chúa Ki-tô, mỗi người chúng ta cũng là những cánh tay mở rộng của Chúa Ki-tô, nhờ đó Người không ngừng trao ban tình thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người.
Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết

 
 

LênTrời-60: HÃY RA ĐI RAO GIẢNG CHO MUÔN DÂN, MUÔN NƯỚC

Mc 16:15-20
 
 

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Sứ mạng của: LênTrời-60

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Sứ mạng của đức Giêsu cần phải được tiếp nối bằng những con người đang ở giữa trần gian,công cuộc rao giảng Tin Mừng đến khắp mọi dân nước, hang cùng ngõ hẻm của địa cầu. Chúng ta hãy biết cảm tạ Chúa vô vàn vì Ngài đã ban cho ta vinh dự được tham gia vào công việc cao quý của Ngài.
Việc làm trong đời sống không chỉ đem lại cho ta cơm áo, mà còn làm giàu cho ý nghĩa của cuộc sống nữa. Ở đời ai cũng ham tìm được một job thơm với đồng lương hậu hĩ kèm theo công việc nhàn nhã, không phải suốt ngày vất vả toát mồ hôi mẹ mồ hôi con. Ai chưa gặp được thì cứ mãi loay hoay kiếm tìm, người đã gặp được thì ung dung sung sướng, cảm thấy cuộc đời thật đáng sống và đầy ý nghĩa. Họ chẳng quản ngại sự bận rộn, vì chính bận rộn này giúp họ cảm thấy mình rất có giá trị, và cuộc đời thật dễ thương đáng quý làm sao ấy! Ước chi bao con người đa đoan bận bịu trong thế gian hiểu thấu được giá trị phù du của bạc tiền sánh với giá trị tuyệt đối vĩnh cửu của tình yêu Thiên Chúa. Để họ dồn hết bầu nhiệt huyết đang có vào chương trình của Thiên Chúa: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.
Người ta không thể mang theo được gì khi nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời! Ở bến bờ bên kia không có gì khác sẽ bảo đảm cho con người tiếp tục sống hạnh phúc ngoài tình yêu chan chứa của Thiên Chúa duy nhất. Chúa không ban cho con người chỉ có tiền bạc là vật chất hay hư mất vì mối mọt và trộm cướp, nhưng Ngài ban cho ta cả kho báu dư đầy trên trời, nơi mối mọt trộm cướp không thể đục khoét được! Tại sao người ta lại quá mải mê lao nhọc vì tiền của hay hư nát, nhưng lại rất ít người làm việc cho hạnh phúc đời đời? Một khi biết đặt câu hỏi này, là ta đã tìm thấy được câu trả lời: chỉ vì con người không tin vào Chúa, nên Lời Thánh của Ngài luôn cả tình yêu của Ngài chẳng có giá trị thực tế chi hết! Trong khi đó con người tin tưởng gần như hoàn toàn vào _giá trị cứu rỗiỴ của tiền tài, danh vọng và địa vị!
Lạy Chúa, xin mau giúp con hiểu và tin rằng rao truyền Tin Mừng của Chúa là đại vinh dự và lẽ sống duy nhất của đời con.
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

 
 

LênTrời-61: QUYỀN NĂNG CỦA ĐẤNG PHỤC SINH

Mc 16,15-20
Thưa quí vị.


 

Sau thời gian giảng thuyết ở vùng West Virginia, tôi nhớ mãi những ngôi làng nhỏ trên cao. Dân: LênTrời-61

Sau thời gian giảng thuyết ở vùng West Virginia, tôi nhớ mãi những ngôi làng nhỏ trên cao. Dân cư trong làng đều theo đạo Thiên Chúa, nhưng không phải công giáo, mà thuộc các nhóm Tin lành khác nhau. Họ rất sùng đạo, đơn sơ, mộc mạc. Để minh chứng lòng tin của mình, tín hữu cùng với mục sư giảng đạo sẵn sàng thọc tay vào các giỏ rắn lục và lôi ra một con, giơ cao lên trước mặt cộng đoàn. Số người khác uống thuốc độc an thần (strychnine). Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay cũng nói đến điều đó: Nhân danh Thầy, họ sẽ cầm được rắn, và dù uống nhằm thuốc độc, thì họ cũng chẳng sao (16,18). Những cộng đoàn thôn quê thực hiện các hành động liều lĩnh đó để xác tín Chúa Giêsu đang sống giữa họ và làm tròn những lời Ngài đã hứa cho thế gian. Kết quả là một số người có thể sống sót được sau khi bị rắn cắn hoặc uống độc dược (dĩ nhiên là cấp cứu ở bệnh viện). Cộng đoàn hoan hỷ biểu dương đức tin và can đảm của họ. Nhưng số người khác không qua khỏi và đã chết. Lúc ấy cộng đoàn không đổ lỗi cho họ, hoặc cá nhân mục sư rao giảng, mà nhận phần lỗi về mình, chưa tin cho đủ. Cộng đoàn cần phải hối cải và mạnh lòng tin Thiên Chúa hơn nữa.
Tôi không thuộc về giáo phái giải thích Kinh thánh theo nghĩa đen như vậy. Đạo Công giáo La-mã chúng tôi cắt nghĩa Kinh thánh theo lối khác. Cứ như nội dung bài Tin mừng hôm nay, thì quả thật Chúa Giêsu có hứa với các Tông đồ theo Ngài rằng sẽ có những dấu chỉ đi kèm theo họ. Nhưng không phải các dấu chỉ khả giác ở trên, mà là những điều thuộc thế giới luân lý, một ý nghĩa sâu sắc và chân thật hơn nhiều. Trong thời đại Chúa Giêsu, cũng như bây giờ, thế giới chia làm hai phe tốt xấu rõ ràng. Đúng hơn có những rạn nứt to lớn giữa nhân loại. Những giá trị mà chúng ta có thể đong đếm, giải thích và giá trị thuộc về Thiên Chúa. Những tình trạng tiêu cực của loài người như bệnh tật hiểm nghèo, tâm thần phân liệt, điên khùng, ngoài khả năng chữa chạy hay giải thích của xã hội lúc bấy giờ, người ta đều gán cho ma vật, quỷ làm. Thánh kinh gọi những người đó là “quỷ ám” theo ngôn ngữ dân gian. Bởi vì những bệnh nhân như thế không còn kiểm soát được các hành vi của mình nữa. Hình như họ bị một ngoại lực sai khiến. Thế giới bình dân gọi những lực tưởng tượng đó là ma quỷ hay ác thần. Dân tộc Do thái có nhiều luật lệ “thanh sạch”. Người bị quỷ ám thường không giữ được các luật lệ này, cho nên họ còn được mệnh danh là kẻ nhơ uế, hay kẻ bị thần ô uế ám. Ngày nay, nhờ các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, y tế, thuốc men cho nên nhiều trường hợp bệnh tật, quỷ ám đã được giải trình, hố sâu giữa những điều chưa biết và những nhiệm mầu đã được dần dần lấp đầy. Loài người đã thu hẹp những mê tín, dị đoan và có nhiều hiểu biết hơn về những ngoại lực của cha ông thời xưa. Vậy thì trong những chuyện này, Thiên Chúa giữ vai trò thế nào? Sứ vụ và lời hứa của Chúa Giêsu cho các kẻ tin theo Ngài như là những dấu chỉ đức tin ra sao?
Cứ như văn bản thì Chúa Giêsu cho chúng ta khả năng trục xuất tà thần: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: Nhân danh Thầy họ sẽ trừ được quỷ, nói được các tiếng mới lạ.” (16,17). Dược phẩm tân thời chữa trị được nhiều thứ bệnh ngày xưa cho là quỷ ám, ma làm như tâm thần phân liệt, động kinh& Nhưng có những bệnh quỷ ám khác mạnh hơn nhiều, mà loài người không thể trừ khử được. Đó là điều mà Chúa Giêsu ám chỉ tới và tín hữu thời nào cũng phải đối mặt, phải cố gắng xoá bỏ khỏi xã hội. Kể ra thì vô số, chỉ xin đơn cử vài thí dụ. Quỷ nghèo đói, quỷ dâm dục, quỷ áp bức, bất công, giả hình, quỷ ngu dốt, rượu chè, xì ke, ma tuý& Những thứ quỷ này nhan nhản khắp nơi, núp dưới nhiều hình thức khác nhau, có khi cả vẻ bề ngoài nghiêm trang, đạo đức. Một xã hội giàu có như Hoa Kỳ, nghèo đói vẫn không ngừng phát triển làm cho ông già, bà cả, thanh niên, thiếu nữ thất nghiệp, lâm vào cảnh khốn cùng, là nạn nhân của lòng tham vô đáy của các công ty. Quỷ mê tín, dị đoan giết chết bao nhiêu tâm hồn đơn sơ, giản dị, như các giáo phái sa đoạ, chúng nhồi sọ vào trí khôn con người những tư tưởng quá khích, kỳ thị, lệch lạc, tù túng. Quỷ chiến tranh khuyến dụ những thế lực giàu có, quyền hành giải quyết các khó khăn quốc tế bằng nguyên tử, hoả tiễn, bạo lực. Quỷ tham lam vơ vét tài sản của các quốc gia nghèo khó. Quỷ phân biệt chủng tộc, màu da, tiếng nói rất phổ biến trong xã hội Phương Tây, kể cả Hoa Kỳ, mặc dầu các chính phủ đã ban hành luật pháp nghiêm cấm, loại trừ. Còn bao nhiêu thứ quỷ khác len lỏi vào các xã hội, đoàn thể, nhà thờ để dụ dỗ, phá hoại. Những “chủ thuyết” xưa nay mang hình thức tiến bộ xã hội nhưng kỳ thực là những miếng mồi trá hình của Satan. Cầu nguyện suông không thể khu trừ được các thứ quỷ này. Như Chúa Giêsu nói, phải cầu nguyện với ăn chay, hành xác, hoán cải tâm hồn. Chúng ta phải cầu nguyện thế nào cho được một trái tim thánh thiện, thái độ thay đổi và khôn ngoan chân thật để biết phân biệt phải trái, lành dữ, khi nào nên tránh, khi nào nên dấn thân vào các khó khăn của cuộc sống xã hội. Chúng ta còn phải cầu nguyện cho có đủ can đảm, kiên nhẫn, sức mạnh để vật lộn với những thứ quỷ này về lâu về dài. Đối mặt với chúng, thắng chúng và hy vọng một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân loại.
Chúa Giêsu truyền các tín hữu phải đặt tay chữa trị mọi thứ bệnh tật. Đây có thể hiểu về bí tích xức dầu bệnh nhân, nhưng cũng còn mang ý nghĩa rộng hơn: tức mọi thứ bệnh tật của nhân loại, bệnh thể xác cũng như tâm hồn. Vài năm trước đây, ông Vernon Jordan, một trợ lý phủ tổng thống Hoa Kỳ bị bắn vào lưng. Khi khỏi bệnh, ông không dám phủ nhận công lao của các chuyên viên y tế đã chữa trị cho ông, nhưng thú thật vị bác sĩ đã cứu ông là người bạn thường ngồi bên giường tâm sự. Chúng ta đặt tay chữa lành bệnh tật bằng nhiều cách, chữa nhiều thứ bệnh: Bệnh gia đình tan vỡ, bệnh cô đơn, thất vọng, bệnh nghiện ngập, bệnh mất việc làm, bệnh ly dị, thù hằn, ghen ghét, bệnh lao, Aids, Sars, phong cùi, thần kinh& Điều quan trọng là chia sẻ những khó khăn, vật lộn với họ. Một nhân viên hoạt động xã hội nói: “Nhiều khi tôi chẳng biết xoay sở ra sao. Đơn giản chỉ đến thăm.” Chỉ thăm viếng cũng là một đường lối “đặt tay chữa lành bệnh nhân”. Sự có mặt của chúng ta nhiều lúc rất quan trọng, như trong các trường hợp phải đối diện với thế lực áp bức. Chúa Phục sinh hành động qua các môn đệ của Ngài, ban cho họ sức mạnh và nghị lực để thi hành công việc Ngài muốn thực hiện: Chống lại các âm mưu đen tối, các hệ thống bất công, các chính sách bóc lột dân nghèo. Chúng ta đang làm chi hôm nay trước Thánh Thể? Tưởng nhớ một vị thần đã về trời từ lâu? Hối tiếc sự hiện diện của Ngài và than vãn: “Nếu như có Chúa Giêsu ở đây, Ngài sẽ biết phải hành động ra sao !” Không, chúng ta đang cử hành các dấu chỉ Ngài hiện diện trong cộng đoàn này: Bánh rượu và lời hằng sống.
Bài đọc một, sách Công vụ các Tông đồ khởi sự bằng lời truyền của Chúa Giêsu Phục sinh: Không được rời khỏi Giêrusalem (1,4) nhưng phải ở lại chờ đợi Chúa Thánh Thần. Những linh hồn hiếu động trong cộng đoàn tiên khởi hẳn thất vọng vì lệnh này. Họ đã sẵn sàng và nóng lòng ra đi rao giảng, trí óc đầy những tư tưởng về cuộc đời Chúa Giêsu, họ muốn chia sẻ tức thời với thế gian. Nhưng nếu họ được tự do thì có lẽ họ đã lạc hướng, hành động sai: “Thưa Thầy có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục Vương quốc Israel không?” Rõ ràng họ muốn một vương quốc trần thế, quân sự, chính trị, như các kinh sư quan niệm. Họ phải kiên nhẫn chờ đợi phép rửa của Chúa Thánh Linh và sẽ biết đường hướng làm chứng cho Chúa. Ngài muốn họ gột rửa được não trạng cũ hạn hẹp, để có khả năng hiểu đúng ý nghĩa cuộc đời Ngài, rao giảng thế nào và ở những nơi đâu? Ngài muốn họ còn phải ra khỏi ranh giới Israel, cho tới tận cùng trái đất: “Anh em sẽ là chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samaria và cho đến mút cùng trái đất” (1,8). Tự thân, họ chẳng thể chu toàn lệnh truyền này, họ cần ơn Chúa giúp đỡ và Ngài luôn đổ xuống Thánh Linh để bảo vệ họ !
Theo kinh nghiệm, loài người rất tồi về tâm lý chờ đợi. Nó thường làm chúng ta thất vọng, bởi hình như có sức mạnh nào khác ở trên chúng ta, chúng ta không được tự do, bị kẻ khác điều khiển. Tuy nhiên Chúa Giêsu bảo các Tông đồ phải đợi chờ điều Chúa Cha đã hứa (1,4). Không được đi rao giảng theo ý mình, kẻo giải thích sai sự kiện Ngài sống lại. Họ là một cộng đoàn nhỏ be, nhút nhát, không có chút quyền lực nào thì làm sao nghiêm chỉnh thi hành sứ vụ? Các Phúc âm đã chỉ rõ, họ có khuynh hướng đi lạc đường, thậm chí chạy trốn trong những lúc nguy nan. Chắc chắn họ sẽ mắc sai lầm, rao giảng theo ý riêng chứ không phải theo đường lối của Thiên Chúa. Lịch sử truyền giáo của Hội thánh đầy dẫy những chứng cớ như thế: Rửa tội cưỡng ép, chà đạp nhân phẩm, xoá bỏ nếp sống thổ địa, gần đây mới thấy nhấn mạnh về hội nhập văn hoá!
Như vậy lệnh truyền “đợi chờ Chúa Thánh Thần” là hợp lý. Các Tông đồ phải tự kiềm chế để điều Chúa Cha hứa được nên trọn. Chúng ta đã từng hành động hèn nhát như các tín hữu tiên khởi trước khi nhận lãnh Chúa Thánh Linh. Hơn nữa, thời gian là của Chúa, không phải của chúng ta. Ngài hành động qua Hội thánh chứ không phải Hội thánh điều khiển Chúa Thánh Linh. Chúng ta đã từng sai lầm ở điểm này, quá ư chủ quan, như thể không lệ thuộc vào ai cả. Nếu như mọi ý nghĩ, mọi chương trình của chúng ta đều được thực hiện, thì vai trò của Thiên Chúa ở đâu? Chúng ta có thỉnh ý Ngài không? Làm sao biết ý Ngài nằm trong chương trình của mình? Thực ra, chờ đợi Chúa Thánh Linh là lật ngược thể thức xưa nay chúng ta hành sử!
Một nhà giảng thuyết Tin lành, mục sư Thomas Troeger đã nhắc lại những thất vọng của Giáo hội tiên khởi trong khi khát khao chờ đợi Thiên Chúa thiết lập nước Ngài và chỉ ra đó là tình huống của chúng ta hôm nay. Ịúng là thật khó khăn, trong khi hàng ngày qua báo chí, truyền hình, truyền thanh đều đầy dẫy những áp bức, tai ương, khốn khổ của con người, kêu gào Nước Thiên Chúa mau trị đến. Nhưng tất cả những chi chúng ta có được, là lòng tin Chúa Giêsu sẽ toàn thắng, Ngài luôn gởi Thánh Linh để chúng ta sống xứng đáng. Chúng ta không thể gò ép bàn tay Chúa Thánh Linh, quà tặng luôn đến với chúng ta. Chỉ có điều là chúng ta phải kiên nhẫn đợi chờ. Amen, Alleluia.
Lm.Jude Siciliano, OP.

 
 

LênTrời-62: CHÚA LÊN TRỜI- Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm  

Đức Yêsu lên trời, nhưng Ngài vẫn ở với con người cho đến tận thế. Xin cho ki-tô hữu được nên: LênTrời-62

Đức Yêsu lên trời, nhưng Ngài vẫn ở với con người cho đến tận thế. Xin cho ki-tô hữu được nên giống Đức Yêsu mỗi ngày một hơn.
Đức Yêsu lên trời
Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy Đức Yêsu đã hiện ra với các tông đồ suốt bốn mươi ngày sau khi Ngài sống lại. Trong thời gian này Người đã ăn uống với các ngài, dạy dỗ các ngài nhiều điều; rồi đến thời đã định, Người đã lên trời trước mắt các ông.
Phải hiểu điều này như thế nào, khi người thời nay biết trái đất tròn; như vậy, trời phía trên đầu của người ở Việt Nam, lại là hướng dưới chân của người ở Mỹ, và ngược lại. Một phi hành gia bay lên vũ trụ, trời là khoảng không đối với họ! Tin Mừng Đức Yêsu theo thánh Matthêu cho thấy Đức Yêsu không lên trời, nhưng ở lại với con người cho đến ngày tận thế: “Này đây Thầy ở cùng anh em cho đến ngày tận thế” (Mt.28, 20). Làm sao trả lời cho con người ngày nay về việc hai trình thuật dường như trái ngược nhau?
“Lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa”, là một cách nói dùng để chỉ Đức Yêsu được siêu tôn ngang bằng Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng vô hình, làm gì có tay phải tay trái như con người. Đây là cách nói nhân hình, nghĩa là, nói về Thiên Chúa theo kiểu con người. Để hiểu đúng, không được hiểu theo nghĩa đen. Đức Yêsu lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa, nghĩa là, Đức Yêsu là Thiên Chúa.
Các ngươi là chứng nhân về những điều này
Không phải tất cả mọi người đều được thấy Đức Yêsu Phục Sinh. Chỉ có một số người được chọn, mới được diễm phúc này, và họ trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Các tông đồ là những người được thấy Chúa, và các Ngài đã là những chứng nhân anh dũng của Đấng Phục Sinh qua việc dùng chính mạng sống mình để làm chứng. “Ngu gì” để chết cho điều không thật hoặc không quan trọng! Sẵn sàng chết để làm chứng Đức Yêsu đã phục sinh, làm cho điều các tông đồ rao giảng “đáng tin”.
Các tông đồ đã chết. Các ki-tô hữu là những môn đệ của Đức Yêsu, đến lượt mình, các ki-tô hữu được mời gọi trở thành chứng nhân của Chúa Phục Sinh cho con người thời đại hôm nay.
Các tông đồ đã chết để làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Ki-tô hữu hôm nay được mời gọi để sống yêu thương, như dấu chứng Thiên Chúa đang hiện diện và hành động nơi ki-tô hữu trong thế giới này. Yêu, đòi phải hy sinh, và cũng là một cách “chết” cho người yêu.
Nên giống Đức Yêsu
Đức Yêsu là thượng tế, là của lễ và bàn thờ. Lời Thiên Chúa nhập thể vì yêu con người, Ngài đã chết để đền tội con người, để con người không phải chết vì tội mình nữa nhưng được sống, vì có người đã chết thế cho mình.
Đức Yêsu dùng chính máu Ngài để thanh tẩy tội lỗi con người. Ngài thương cảm con người với những yếu đuối và giới hạn của họ. Ngài đã trải qua tất cả những gian nan thử thách, để con người có can đảm tới với Ngài.
Là người, anh chị em với nhau. Mỗi người phải trở nên một “Yêsu khác” để thông cảm và nâng đỡ anh chị em mình. Mỗi người được mời trở nên giống Đức Yêsu, bằng “yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Theo bạn, Đức Yêsu Phục Sinh bây giờ đang ở đâu? Xin giải thích.
2. Trong đời tu hoặc đời sống ki-tô hữu, người ta thường nói tới “cái chết không đổ máu”, bạn hiểu điều này như thế nào? Cho thí dụ.
3. Người nên giống Đức Yêsu nhất, là người có những đức tính nào?

 
 

LênTrời-63: Sức Mạnh Từ Trời Cao

Suy Niệm
Đức Giêsu được đưa về trời khiến cả nhân loại hoan hỷ.

 
 

Con Thiên Chúa làm người, long đong với phận người, nếm cái nghèo đói, nhọc nhằn, nếm: LênTrời-63

Con Thiên Chúa làm người, long đong với phận người, nếm cái nghèo đói, nhọc nhằn, nếm nỗi khổ đau, cay đắng. Cuộc đời Ngài tưởng như là một thất bại ê chề. Nhưng rồi Ngài đã được phục sinh, đã hiện ra, và được khải hoàn đưa vào thế giới của Thiên Chúa.
Ngài từ Cha mà đến và lại trở về với Cha. Sứ mạng Cha giao, tuy khó khăn, nhưng Ngài đã hoàn tất.
Ta cần chiêm ngắm giây phút Ngài được siêu thăng. Ngài giơ tay chúc lành cho các môn đệ như vị thượng tế. Ngài về trời trong tư thế đang chúc lành.
Chúc lành cho trái đất mà Ngài đã sống.
Chúc lành cho mọi người là người như Ngài.
Hôm nay chúng ta vui vì biết mình có người Anh trưởng đã được nâng lên đến tột đỉnh vinh quang thần linh.
Con người đầu tiên với tất cả nhân tính như ta đã được siêu tôn trên trời, dưới đất và nơi âm phủ.
Sự thành công của Đức Giêsu là niềm hy vọng cho ta.
Cùng đi với Ngài trên con đường cheo leo ấy, chúng ta tin mình sẽ đến nơi mà Ngài đã đến.
Đức Giêsu về trời sau khi hoàn thành sứ vụ dưới đất. Ngài muốn ta trưởng thành và gánh lấy trách nhiệm.
Bước chân Ngài mới chỉ đi hết xứ Palestina bé nhỏ. Còn cả một thế giới mênh mông ngút ngàn. Còn bao dân tộc xa gần chưa hề nghe rao giảng. Ngài muốn ta làm chứng nhân của Ngài đến tận thế.
Thiên thần bảo chúng ta không được khoanh tay nhìn trời, vì còn quá nhiều việc phải làm trước mắt. Chúng ta phải nhiệt tình xây dựng quê hương này huynh đệ hơn, công bằng hơn, bác ái hơn, văn minh hơn, để nó xứng đáng đón ngày Ngài trở lại.
Chúng ta không được khoanh tay nhìn trời, nhưng lòng chúng ta lại phải thường xuyên hướng lên trời. Xây dựng trái đất mà không hướng lòng về trời, thì sẽ không tìm được câu trả lời tối ưu.
Chúng ta cần sức mạnh từ trên cao của Thánh Thần để giải quyết những vấn đề chằng chịt của trái đất: ma túy, trụy lạc, tham nhũng, ô nhiễm, nghèo đói và nhất là vấn đề xây dựng con người.
Khoa học kỹ thuật tiến bộ làm cuộc sống nhẹ nhàng nhưng cũng thường làm con người thêm nặng nề. Con người như bị dính vào những sản phẩm mình tạo ra, bị nô lệ cho những nhu cầu không có thực. Trái đất này vẫn có sức thu hút ghê gớm khiến ta muốn chọn nó làm quê hương vĩnh hằng, và quên rằng quê thật của ta ở trên trời cao (Pl 3,20).
"Hãy tìm kiếm những điều trên cao" (Cl 3,1). Đừng dập tắt nỗi khát khao những điều cao cả.
Ước gì Chúa Giêsu, Đấng được đưa lên cao, kéo ta lên khỏi cái tầm thường ô trọc mỗi ngày.
 Gợi Ý Chia Sẻ
Tiền bạc, tiếng tăm, khoái lạc làm người ta nặng nề. Còn bạn, bạn thấy mình nặng nề vì điều gì? Có cách nào thoát được không?
Đời sống là một nỗ lực "bay lên cao" khỏi sức kéo xuống của vật chất và của cái tôi trì trệ. Có khi nào bạn được nhẹ nhàng mà bay lên khỏi sức kéo đó không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó. Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bi đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân chúng con tiến về bên Chúa. Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

 
 

LênTrời-64: SỐNG LỜI CHÚA - LÊN TRỜI

Qua Phúc Âm, chúng ta biết: sau khi sống lại, Chúa Giêsu còn ở trần gian bốn mươi ngày. Trong: LênTrời-64

Qua Phúc Âm, chúng ta biết: sau khi sống lại, Chúa Giêsu còn ở trần gian bốn mươi ngày. Trong suốt quãng thời gian này, Ngài đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ. Các ông có diễm phúc được nhìn thấy Ngài, được ăn uống với Ngài. Tất cả những sự việc ấy đã tạo nên cho các ông một niềm xác tín: Ngài đã phục sinh.
Cũng trong thời gian ấy, Chúa Giêsu đã chuẩn bị cho cuộc ra đi của mình. Ngài nói với các ông:
- Ta sẽ trở về với Cha Ta, cũng là Cha của các con, về với Thiên Chúa của Ta, cũng là Thiên Chúa của các con.
Thế nhưng, các ông đã không hiểu được lời nói mầu nhiệm này. Sau cùng, Ngài đã gặp các ông trong phòng tiệc ly, tâm sự với các ông và khi bữa ăn kết thúc, theo thông lệ, Ngài dẫn các ông lên núi Cây Dầu.
Các ông đi qua đường phố Giêrusalem, xuống thung lũng Cêdron, theo con đường Ngài đã bước đi trong cuộc tử nạn. Chắc hẳn khi đi lại con đường ấy, Chúa Giêsu và các môn đệ đã nói chuyện, đã hàn huyên với nhau rất nhiều.
Khi tới núi Cây Dầu, Chúa Giêsu và các môn đệ đã đưa mắt nhìn chung quanh và đã thấy được toàn cảnh thành phố Giêrulem với miền đất hứa. Chúng ta hãy cùng các tông đồ đứng trên đỉnh núi Cây Dầu và đưa mắt nhìn: Gần đấy là Bêtania, nơi ba chị em Martha, Maria và Lagiarô sinh sống. Họ là những người được Chúa yêu và cũng là những người yêu Chúa.
Về phía bên trái là Bêlem, nơi Ngài mở mắt chào đời. Rồi sau đó là những vệt trắng. Đó là những con đường từ Giêrusalem đi tới những thôn làng, những thị trấn của xứ Giuđêa. Hẳn rằng các tông đồ đã nhớ tới biết bao nhiêu kỷ niệm trên những nẻo đường quen thuộc   này: nào là những việc kỳ diệu Chúa đã làm, nào là những lời lẽ khôn ngoan Chúa đã dạy. Xa hơn một chút là dòng sông Giócđan, nơi các tông đồ sống lại những kỷ niệm đầu tiên, khi gặp Chúa và được Ngài kêu gọi.
Còn về phía bên phải: xa xa là biển cả. Những con tàu nhổ nheo đi về Rôma, cũng như đi về những miền khác nhau của dân ngoại. Có lẽ chính trong bối cảnh này mà Chúa Giêsu đã truyền cho các tông đồ:
- Các con hãy đi giảng dạy muôn dân và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Trong thâm tâm, Ngài muốn bảo các ông rằng:
- Hy lễ của Ta đã hoàn tất. Công việc của Ta đã kết thúc. Bây giờ đến lượt các con. Vậy các con hãy đi loan truyền Tin mừng cho mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Có lẽ các tông đồ đã trả lời:
- Vì tình yêu và vinh quang của Chúa, chúng con sẽ làm tất cả.
Sau đó, Chúa Giêsu đã lên trời. Còn các tông đồ thì ngạc nhiên nhìn theo cho đến khi thiên thần hiện ra và bảo:
- Các ngươi đứng nhìn làm chi. Đức Kitô đã về trời thế nào thì Ngài cũng sẽ trở lại như vậy.
Hẳn chúng ta đã biết: Ngài sẽ trở lại vào ngày tận thế. Rồi sau đó lại sẽ về trời. Nhưng về trời lần này, thì cùng với Ngài còn có tất cả những người đã tin theo và yêu mến Ngài.
Chính vì thế, các tông đồ không hề buồn phiền, vì các ông biết rằng đây chỉ là một cuộc tạm biết, chứ không phải là một cuộc ly biệt, vĩnh viễn chia cắt đôi ngả. Ngài sẽ trở lại và các ông sẽ lại được xem thấy Ngài. Trong lúc chờ đợi, các ông ra sức chu toàn sứ mạng Ngài đã trao phó, đó là rao giảng Tin mừng, làm chứng về Ngài.
Với chúng ta cũng vậy.  Mổi khi tham dự thánh lễ, chúng ta có diễm phúc được ở gần Chúa, được lắng nghe lời Ngài. Thế nhưng, trước khi thánh lễ kết thúc, qua môi miệng của vị linh mục, Chúa cũng nói với chúng ta:
- Lễ xong, chúc anh chị em ra về bình an.
Điều đó có nghĩa là: hãy ra về để chu toàn sứ mạng Chúa trao phó. Hãy ra về để rao giảng Tin mừng. Hãy ra về để làm chứng cho Chúa giữa lòng cuộc đời.

 
 

LênTrời-65: HRK/116- LÀM CHỨNG

Chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Lên Trời kết thúc một cách chính thức cuộc đời nhập thể của Chúa: LênTrời-65

Chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu Lên Trời kết thúc một cách chính thức cuộc đời nhập thể của Chúa Giêsu trên trần gian, kể từ giây phút thụ thai, tức là khi Thiên Thần Truyền tin cho Đức Maria cho đến giây phút Chúa Giêsu từ giã các Tông đồ sau khi phục sinh và về trời để trở về cùng Thiên Chúa Cha.
Cuộc đời của Chúa Giêsu và những lời giảng dạy của Ngài Luôn thách thức, luôn mời gọi con người phải có một trong hai thái độ tin yêu chấp nhận hay kiêu ngạo chối từ. Xưa cũng như nay và qua mọi thời đại, con người phải chọn lựa một trong hai thái độ này. Đối với những ai kiêu ngạo chối từ Thiên Chúa và Chúa Kiô thì việc Chúa Lên Trời đối với họ có thể được so sánh như là việc Chúa rút lui, biến mất khỏi cuộc sống con người, không còn ý nghĩa gì nữa.
Con người được tự do quyết định về cuộc sống của mình theo những tiêu chuẩn riêng và thuận hoặc nghịch lại Lời Chúa. Họ không còn màng chi đến sự thật đã được Chúa mạc khải. Nếu không lên án kết tội Chúa thì họ cũng quên hẳn mất Chúa. Nhưng đối với những ai tin yêu chấp nhận Chúa, chẳng hạn như các Tông đồ và những đồ đệ của Chúa lúc đó và ngày hôm nay thì biến cố Chúa Giêsu Lên Trời khai mào cho một thời kỳ mới, thời kỳ trách nhiệm của các ngài là làm chứng cho Chúa, chia sẻ với anh chị em xung quanh về tình thương và sự thật của Chúa. Đây cũng chính là thời kỳ dấn thân cho sứ mạng làm chứng cho Chúa Kitô. Mặt khác, Chúa biết rõ sự yếu đuối của những đồ đệ thân yêu của Ngài, nên trước khi từ biệt các Tông đồ Chúa hứa ban một Đấng soi sáng đến an ủi là Chúa Thánh Thần để các ngài đủ sức mạnh cho toàn sứ mệnh đã lãnh nhận.
Mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay hãy xét lại thái độ sống của mình như thế nào? tốt hoặc xấu, hay tệ hơn chúng ta đã chối bỏ Chúa, sống nghịch lại với những lời dạy của Chúa, làm cớ cho anh chị em xung quanh xa lìa Chúa, hoặc là chúng ta đang cố gắng hết sức mình cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần để làm chứng cho Ngài.
       Trong suốt tuần lễ tới này, chúng ta hãy luôn cầu nguyện để xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trong tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta sống dấn thân cho Chúa và làm chứng cho Chúa ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.

 
 

LênTrời-66: HRK/333- RA KHƠI

Tại Rôma, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II luôn luôn cử hành lễ Chúa Thăng thiên vào đúng ngày: LênTrời-66

Tại Rôma, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II luôn luôn cử hành lễ Chúa Thăng thiên vào đúng ngày, tức là vào ngày thứ Năm, trong khi đó thì tại các Giáo Hội địa phương, như tại Việt Nam, Giáo hội cử hành vào ngày Chúa Nhật tiếp sau. Như thế, hôm nay chúng ta được dịp may để nghe lại đây một vài đoạn trích từ chính bài giảng của Đức Thánh Cha trong Thánh Lễ Kính Chúa Thăng Thiên. Đức Thánh Cha đã chia sẽ như sau: Chúng ta được qui tụ quanh bàn thờ Chúa để cử hành việc Chúa Lên Trời, chúng ta đã nghe được Lời Chúa: “chúng con sẽ nhận lấy sức mạnh Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ ngự xuống trên chúng con và chúng con sẽ là những chứng nhân của Thầy cho đến tận cùng trái đất.”
Từ hơn 2000 năm qua, những lời này của Chúa Phục Sinh thôi thúc Giáo hội tiến ra khơi, tiến vào trong lịch sử con người. Những lời này làm cho Giáo hội trở nên một  người luôn đồng hành với tất cả mọi thế hệ, làm cho Giáo hội trở nên như men làm dậy lên mọi nền văn hóa trên thế giới.
Hôm nay trong lễ kính Chúa Thăng Thiên, chúng ta muốn nghe lại những lời trên để với sức mạnh đã được canh tân, chúng ta đón nhận mệnh lệnh của Chúa: “Hãy ra khơi”, mệnh lệnh và Chúa Giêsu đã nói với Phêrô. Đây là một mệnh lệnh mà tôi muốn làm vang dội lại trong Giáo Hội qua bức Tông Thư “Khởi Đầu Ngàn Năm Mới”, và đây là mệnh lệnh với một ý nghĩa sâu xa hơn theo ánh sáng ngày lễ Chúa Thăng Thiên.
“Hãy ra khơi”. Ra nơi mà Giáo hội cần tiến đến không phải là một sự dấn thân truyền giáo mạnh mẽ, nhưng còn là một sự dấn thân mạnh mẽ sống chiêm niệm như những tông đồ, như những kẻ đã được chứng kiến biến cố Chúa Lên Trời. Chúng ta cũng được mời gọi hãy hướng cái nhìn lên dung mạo của Chúa Kitô được hiển vinh trong vinh quang của Thiên Chúa Cha. Chắc chắn nhìn ngắm trời cao không có nghĩa là quên đi trần gian này, và nếu rủi gặp phải cám dỗ, chúng ta chỉ cần lắng nghe lại lời hai người mặc áo trắng của đoạn Phúc Am hôm nay nói rằng: “Tại sao các ông còn nhìn trời?”.
Việc cầu nguyện và chiêm niệm Kitô không làm cho chúng ta tránh khỏi dấn thân vào trong lịch sử. Trời nơi Chúa Giêsu tiến vào không phải là một sự xa vắng , nhưng như là một màn che khuất và là nơi lưu giữ một sự hiện diện, đó là sự hiện diện của Chúa, một sự hiện diện không bao giờ bỏ rơi chúng ta cho đến khi Chúa trở lại trong vinh quang.
Trong khi đó, thời giờ chúng ta sinh sống đây là thời giờ rất đòi hỏi, đỏi hỏi chúng ta phải làm chứng. Bởi vì nhân danh Chúa Kitô, sự ăn năn hối cải và sự tha thứ tội lỗi phải được rao giảng cho tất cả mọi dân nước, và chính để làm sống lại ý thức này mà tôi đã muốn triệu tập đại hội Hồng Y đặc biệt bế mạc hôm nay.
Các vị Hồng Y từ khắp nơi trên thế giới và tôi xin kính chào với lòng mộ mến huynh đệ. Các ngài trong những ngày qua đã hội họp với tôi để bàn về công việc rao giảng Phúc Am và làm chứng Kitô trong thế giới ngày nay vào “Khởi Đầu Ngàn Năm Mới”. Đây, đối với chúng tôi là giây phút sống hiệp thông, trong đó chúng tôi cảm nghiệm được một phần nào của niềm vui giống như của các tâm hồn các tông đồ ngày xưa, sau khi Chúa Phục Sinh chúc lành cho các ngài và tách rời ra khỏi các ngài để lên trời.
Thật vậy, Thánh Luca đã ghi lại rằng, sau khi bái lạy tôn thờ Chúa, các tông đồ trở lại Giêrusalem với niềm vui lớn lao và các ngài luôn ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa. Và tiếp sau trong bài giảng, Đức Thánh Cha đã khai triển thêm bản chất cũng như sinh hoạt truyền giáo của Giáo hội, và cuộc Hội Hồng Y cũng được Đức Thánh Cha đặt nằm trong viễn tượng này. Thực hiện sự hiệp thông và hiệp nhất trong Giáo hội đễ Giáo hội có thể rao giảng Phúc Am Chúa một cách đáng tin hơn cho mọi anh chị em.
Trong Thánh Lễ hôm nay và trong giây phút này, chúng ta được Đức Thánh Cha nhắc lại một ý nghĩa quan trọng của biến cố Chúa Lên Trời, không phải Chúa lên trời để bỏ chúng ta, nhưng Ngài còn bước sang một sự hiện diện mới với chúng ta trong Chúa Thánh Thần. Ngài ở cùng chúng ta luôn mãi cho đến tận cùng và Ngài muốn mỗi người chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận hồng ân Thánh Thần của Ngài để làm chứng cho Ngài trong môi trường chúng ta sinh sống.
Từ Chúa Nhật hôm nay đến tuần tới lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta hãy dành thời giờ để nhìn lại cuộc sống của mình xem chúng ta đã mở rộng tâm hồn mình đón nhận Chúa Thánh Thần và sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để làm chứng cho Chúa đến mức độ nào rồi: “Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế, và chúng con sẽ làm chứng cho Thầy khắp nơi trên mặt đất này”.

 
 

LênTrời-67: NTGT/154 - CHỨNG NHÂN

Dù chỉ là một nữ tu sáng lập đơn côi ban đầu, mẹ Têrêsa đã làm nên phép lạ cho dòng Thừa Sai: LênTrời-67

Dù chỉ là một nữ tu sáng lập đơn côi ban đầu, mẹ Têrêsa đã làm nên phép lạ cho dòng Thừa Sai Bác Ai của mẹ lên đến 4000 nữ tu, 450 sư huynh và hàng ngàn người ngoại giáo ngày đêm xuôi ngược tiếp tục công việc nhân ái của mẹ, với 600 cơ sở và 126 quốc gia trên thế giới. Từ ngày thành lập từ năm 1950 đến nay mỗi năm nhà dòng của mẹ đã giúp nuôi 50.000 gia đình nghèo, dạy dỗ cho 20.000 trẻ em và săn sóc cho 90.000 người mắc bệnh phong cùi trong các bệnh viện riêng ở 10 quốc gia. Các trẻ em mồ côi mà mẹ đã nuôi dạy từ hơn nửa thế kỷ nay nhiều không kể xiết.
Ngày mẹ qua đời, tổng thống pháp Jacques Chirac đã gởi một bức điện với lời lẽ đau buồn như sau: “Buổi tối hôm nay đã có ít Tình yêu hơn, ít lòng trắc ẩn hơn và ít ánh sáng hơn trên thế giới này”.
Mẹ Têrêsa quả là một chứng nhân anh dũng. Mẹ không chỉ tin đạo mà còn sống đạo để làm chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa cho thời đại hôm nay.
Bài tin Mừng hôm nay kết thúc Tin Mừng thánh Luca, kể lại việc Chúa Giêsu dạy dỗ các tông đồ lần cuối cùng, sai các ông đi rao giảng và làm chứng cho Ngài rồi Ngài lên Trời.
Sách Công vụ tông đồ trình bày cho chúng ta biết biến cố lên trời là một sự hoàn tất gắn với một khởi đầu. Chúa Giêsu hoàn tất sứ mạng cứu độ trần gian và khởi đầu cho sứ mạng làm chứng nhân của Giáo Hội.
Điều mà bài tin Mừng hôm nay muốn nhấn mạnh, không phải là việc Chúa Giêsu được đem lên trời cách kỳ diệu mà là việc các tông đồ được sai đi để loan báo một Tin Mừng mới lạ, một Tin Mừng cho muôn dân. Đó là Tin Mừng về việc cứu độ.
Các Tông đồ đón nhận lời mời của Chúa Giêsu trong niềm tin tưởng và hân hoan. Tin vào Chúa Giêsu đã phục sinh và lên trời. Tin Ngài sẽ ban Thánh Thần để giúp các ông thi hành sứ mạng mới. Hân hoan vì mỗi người đều được Chúa Giêsu tin tưởng và sai đi.
Với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các tông đồ, những chứng nhân tích cực sẽ không ngừng làm chứng cho các giá trị Tin Mừng, cho đến tận thôn cùng xóm vắng.
Đức Giêsu đã lên trời, nhưng bằng ngày vẫn có muôn vàn chứng nhân tiếp bước Ngài, đón nhận, sáng tạo và đi xây dựng cho thế giới ngày một tốt đẹp hơn.
Họ cũng là những người gây phiền nhiễu như Chúa Giêsu. Họ không chấp nhận một trật tự bất công, một thế giới thiếu vắng tình thương trong đó một số người giàu có dư dật trong khi hàng vạn người phải lang thang đói rách. Họ là những kẻ gây phiền nhiễu như Chúa Giêsu, vì họ làm hết cách để người ta tin rằng, nhân loại có thể ngày một tiến gần hơn đến công bình, tha thứ và tình thương.
Để làm những việc ấy chính các Tông đồ và những chứng nhân tiếp nối các Tông đồ trong Giáo hội chấp nhận sự hiểu lầm, chống đối, đau khổ, tù đày và cả cái chết. Bởi họ luôn có sức mạnh của Chúa Thánh Thần và xác tín vào niềm tin Chúa Giêsu phục sinh.
Chính anh em là chứng nhân.
Hôm nay cũng như bao lần khác, chúng ta cùng nhau mừng lễ Chúa Giêsu lên trời và cũng đã nghe nhiều lần lời mời gọi của Chúa Giêsu “phải rao giảng cho muôn dân… chính anh em là chứng nhân”. nhưng chúng ta có đáp lại lời mời gọi đó với niềm tin tưởng và hân hoan không? hay chúng ta nghĩ đó là công việc của các linh mục, của tu sĩ nam nữ.
Hơn bao giờ hết cuộc sống của hôm nay đã có không ít những khó khăn đang đặt ra cho mỗi gia đình và cho mỗi người chúng ta. Những khó khăn đó đã làm cho chúng ta quên đi đời sống chứng nhân của mình. Tuy nhiên cũng có những người trong chúng ta sống dửng dưng, không quan tâm đến ai khác ngoài cái tôi của mình ngoài tiền bạc và tham vọng cá nhân.
Lễ Chúa Giêsu lên trời hôm nay một lần nữa Chúa mời gọi mỗi người chúng ta hãy là chứng nhân cho Ngài. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải lập nhà dòng hay xây dựng những cơ sở để làm việc từ thiện như Mẹ Têrêsa, điều Ngài chờ đợi nơi mỗi người chúng ta là hãy bỏ đi tính ích kỷ xâm chiếm cuộc sống của chúng ta để mở tâm hồn mở con tim mở miệng ra để sống cho Ngài và cho tha nhân.
Mở tâm hồn để lắng nghe, suy niệm và chiêm ngắm Chúa trong Thánh Kinh đó là cách thức để Lời Chúa trở thành ánh sáng và sức mạnh cho những lựa chọn và quyết định trong cuộc sống hằng ngày.
Mở con tim ra với tha nhân giúp nhau phát huy những tương đồng, chấp nhận dị đồng, vượt qua những bất đồng. Đặc biệt là biết người đau khổ… để mỗi người có thể nhận ra chúng ta là môn đệ Chúa Giêsu và là người xây dựng hòa bình.
Cuối cùng chúng ta hãy biết nói về Chúa Giêsu cho người khác khi có điều kiện.
Con người thời nay thường nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, cũng như họ đã xác tín vào điều đã trông thấy tận mắt hơn là chỉ thích chúng ta làm chứng bằng lời nói, nhưng là bằng chính cuộc sống xả thân, phục vụ và yêu thương.

 
 

LênTrời-68: CSTM/129- NƯỚC TRỜI

Nhìn vào thực tế, chúng ta phải nhìn nhận rằng: chúng ta đã quá bén rễ sâu vào cuộc sống trần: LênTrời-68

Nhìn vào thực tế, chúng ta phải nhìn nhận rằng: chúng ta đã quá bén rễ sâu vào cuộc sống trần gian, đã quá quyến luyến những thực tại chóng qua. Chúng ta đã chọn trái đất này làm quê hương vĩnh cửu và sẵn sàng bán rẻ linh hồn mình lấy một nắm tro bụi. Dân Do thái ngày xưa đã thờ lạy con bò vàng thế nào thì hôm nay con người cũng đang đi vào con đường ấy. Họ tôn thờ những thần tượng nhảm nhí thay cho Thiên Chúa, như một lời phát biểu đầy châm biếm: hiện giờ tôn giáo lớn nhất trên hoàn cầu là tôn giáo … bóng đá.
Bởi đó ngày hôm nay, sau khi hoàn tất sứ mạng ở trần gian, Chúa Giêsu đã về trời để nói với chúng ta rằng: cuộc sống trần gian chỉ là như một chiếc thang dẫn chúng ta tới quê trời. Hay nói cách khác, trần gian là quán trọ, nước trời mới chính là quê hương đích thực của chúng ta. Khốn cho tôi nếu tôi quên đi chân lý ấy. Khốn cho tôi nếu tôi ra sức biến đổi trái đất thành một thiên đàng vĩnh cửu. Khốn cho tôi nếu tôi không biết dùng cuộc sống này để chuẩn bị những hành trang cần thiết cho tương lai mai hậu… Nhưng dựa vào đâu chúng ta xác quyết rằng: còn một cuộc sống khác, một thế giới khác ?
Chúng ta không chụp được hình, cũng không bắt được làn sóng của thế giới ấy, không một ai đã nhìn thấy hay có kinh nghiệm, nhưng sở dĩ chúng ta tin là bởi vì Thiên Chúa đã mạc khải, đã tỏ lộ cho chúng ta. Thực vậy, chúng ta không thể biết nếu Đức Kitô đã không nói đến nước trời bằng những từ ngữ khác nhau. Chúng ta không thể biết nếu thánh Phaolô đã không viết: “Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe và trái tim chưa một lần cảm nghiệm được những gì Thiên Chúa dành cho kẻ yêu mến Ngài”.  Chúng ta không thể biết nếu thánh Gioan đã không mô tả: “Ở đó sẽ không còn thời gian và không gian, buổi sáng và buổi chiều, tội lỗi và sự chết. Ở đó, Thiên Chúa sẽ lau khô những giọt nước mắt của chúng ta”. Chúng ta không thể biết nếu hôm nay Đức Kitô đã không về trời để củng cố niềm tin của mọi tín hữu suốt dòng thời gian, giúp họ hăng say rao giảng Tin Mừng, chấp nhận mọi khổ đau, chịu đựng mọi thử thách. Thế giới ấy sẽ to lớn gấp ngàn vạn lần thế giới chúng ta đang sống. Vậy thế giới ấy ở đâu ? Có phải là lơ lửng giữa các vì sao, trên không trung bao la ? Có phải là ở dưới lòng đại dương thăm thẳm ? Không, tất cả đều không đúng. Vậy thế giới ấy ở đâu ?
Thưa: ở bất kỳ nơi nào chúng ta được nhìn ngắm Thiên Chúa, ở bất kỳ nơi nào có Ngài thì đó là nước trời, thì đó là hạnh phúc vĩnh cửu. Trái lại, bất kỳ nơi nào không có Thiên Chúa, bất kỳ nơi nào chúng ta không được nhìn ngắm Ngài, thì đó là hỏa ngục, thì đó là chốn đọa đầy. Xưa kia thánh Tôma tông đồ nói: “Nào chúng ta cùng đi để được chết với Ngài”. Còn hôm nay, chúng ta có thể đổi lại câu nói ấy: “Nào chúng ta cùng đi để được sống với Ngài”. Phải, sống với Ngài trong một cuộc sống vĩnh cửu. Niềm tin ấy đã thiêu đốt biết bao nhiêu con tim suốt 20 thế kỷ. Chúng ta cần đến khoa học và kỹ thuật, nhưng chúng ta phải luôn nhớ: khoa học và kỹ thuật không thể giúp chúng ta tránh khỏi cái chết. Và sau cái chết sẽ còn lại một cuộc sống khác, trải dài đến muôn ngàn đời. Nếu có ai hỏi: điều ấy có chắc chắn như ngày mai sẽ là thứ hai không ? Tôi sẽ trả lời: còn hơn thế nữa. nếu có ai hỏi: điều ấy có chắc chắn như mặt trời mọc vào ban sáng và lặn vào ban chiều hay không ? Tôi sẽ trả lời: còn hơn thế nữa. Nếu có ai hỏi: điều ấy có chắc chắn như mùa xuân sẽ trở lại khi mùa đông qua đi hay không ? Tôi sẽ trả lời: còn hơn thế nữa. Phải, vì có thể có một ngày Chúa nhật mà sau đó không còn ngày thứ hai ; có thể có mặt trời mọc vào ban sáng mà không còn ban chiều để lặn ; có thể có một mùa đông mà sau đó mùa xuân sẽ không bao giờ trở lại. Nhưng sẽ không bao giờ xảy ra rằng lời Chúa sẽ chẳng được thực hiện: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta sẽ không phải chết, nhưng sẽ được sống đời đời”.

 
 

LênTrời-69: SCĐ/325- VẮNG MẶT

Kể từ khi Chúa Giêsu Thăng thiên, Ngài không còn hiện diện cách hữu hình giữa các môn đệ: LênTrời-69

Kể từ khi Chúa Giêsu Thăng thiên, Ngài không còn hiện diện cách hữu hình giữa các môn đệ nữa. Nhưng sự vắng mặt thể lý không có nghĩa là không còn hiện diện nữa.
Thực ra nhiều khi sự hiện diện thể lý chẳng là gì cả. Hai người sống chung một nhà, ăn chung một bàn, và thậm chí ngủ chung một giường nhưng vẫn cảm thấy xa nhau vạn dậm, bởi vì lòng và trí họ quá xa nhau. Như người ta nói “đồng sàng, dị mộng” (chung giường nhưng giấc mộng khác nhau).
Trái lại dù thể xác xa cách nhau vạn dậm nhưng người ta vẫn có thể cảm thấy rất gần nhau, miễn là người ta thương nhau và hiểu nhau. Có khi nhờ xa nhau một thời gian mà người ta lại thương nhau hơn và hiểu nhau hơn.
Hơn nữa, trong thời gian ta hiện diện bên cạnh một người thân, nếu đó là một sự hiện diện trọn vẹn thì khi xa nhau, chính sự vắng mặt ấy lại sinh nhiều hoa trái, bởi vì những kỷ niệm lúc gần nhau và tình nghĩa thắm thiết lúc sống bên nhau sẽ còn tiếp tục nuôi dưỡng người thân ấy. Như thế, đối với những người thân nhau thì cả sự hiện diện lẫn sự vắng mặt đều là những món quà.
Từ khi thăng thiên, sự hiện diện của Chúa Giêsu không còn bị hạn chế về không gian và thời gian nữa, nhưng nhờ đó mà Ngài có thể hiện diện ở khắp nơi và trong mọi lúc.
Các Kitô hữu đầu tiên đã hiểu rất rõ điều này. Họ biết Chúa Giêsu vẫn ở bên họ, tuy không cùng một cách như trước nữa. Họ tin rằng Ngài đang chia sẻ cuộc sống của họ ; họ còn tin rằng cái chết sẽ giúp họ được hợp nhất mãi mãi với Ngài trong vinh quang.
Có lẽ nhiều người cho rằng các tông đồ ngày xưa hạnh phúc hơn mình bây giờ, bởi vì các vị ấy đã được nhìn thấy Chúa Giêsu. Nhưng các sách Tin Mừng viết rằng dù mắt họ nhìn thấy Chúa Giêsu nhưng họ vẫn chưa hiểu Ngài là ai. Họ chỉ hiểu được Ngài khi đọc sách Thánh và khi dự lễ bẻ bánh.
Đọc sách Thánh và dự lễ bẻ bánh, đó là những phương tiện giúp nhận ra Chúa Giêsu. Mà những phương tiện này chúng ta ngày nay cũng có. Cho nên, xét về vấn đề nhận ra Chúa Giêsu bằng đức tin thì chúng ta ngày nay cũng chẳng thua thiệt gì hơn so với các tông đồ ngày xưa.
Ngày xưa Chúa Giêsu đã trông cậy vào các tông đồ  để Tin Mừng được rao giảng khắp nơi và được mọi người sống theo Tin Mừng ấy. Ngày nay Chúa Giêsu cũng trông cậy nơi chúng ta như thế. Chúng ta phải làm chứng về Ngài cho mọi người trong thế giới hôm nay.

 
 

LênTrời-70: SCĐ/326- TIN MỪNG

Thông thường, những lời cuối cùng của một người trước khi người ấy từ giã cõi đời, là những: LênTrời-70

Thông thường, những lời cuối cùng của một người trước khi người ấy từ giã cõi đời, là những điều hết sức quan trọng mà người ấy muốn những người thân yêu ở lại thực hiện. Và những người ở lại thường coi những lời người sắp từ giã thế gian trăn trối như một điều linh thiêng cần thực hiện cho bằng được.
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã căn dặn các tông đồ: “Phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem…” Như vậy, sứ điệp quan trọng nhất mà Đức Kitô muốn trao gửi lại cho các môn đệ, và cho mọi Kitô hữu là: hãy tiếp tục sứ mạng loan báo và làm chứng cho Tin Mừng của Ngài trước mọi người, mọi dân tộc trên thế giới.
Thế nhưng thế nào là loan Tin Mừng ?
Nhiều người nghĩ rằng loan báo Tin Mừng là tỏ cho người khác biết mình là Kitô hữu, là làm dấu thánh giá nơi quán ăn, là can đảm xưng mình là người Thiên Chúa giáo trong các tờ lý lịch bất chấp những bất lợi sẽ xảy ra. Kẻ khác nghĩ rằng loan báo Tin Mừng là cố gắng sống cho thật đạo đức, năng đi lễ, năng chịu các bí tích, với mục đích làm gương sáng cho người chung quanh, đồng thời khuyên mọi người làm như vậy. Người khác nữa thì gặp những người ngoại đạo mình quen biết, liền tìm cách gạ gẫm, thuyết phục họ vào đạo, bằng cách nói cho họ biết vào đạo thì được Chúa ban ơn này ơn kia…
Kết quả của những việc đó có thể là chúng ta lôi kéo được một số người vào đạo, hoặc làm cho nhiều người khô khan năng đi lễ, năng đến nhà thờ, năng chịu các bí tích hơn, hoặc làm cho đời sống gia đình của họ trở nên đầm ấm hơn, hạnh phúc hơn…
Tất cả những điều đó là những điều nên làm, cần làm, nhưng chưa phải là loan báo Tin Mừng đúng nghĩa. Muốn loan báo Tin Mừng cho đúng nghĩa, chính người loan báo phải biết Tin Mừng là gì, phải cảm thấy Tin mình loan báo là điều đã làm mình hạnh phúc, vui tươi, làm cho đời sống mình trở nên có ý nghĩa. Nếu không như thế, thì mình chỉ làm công việc “mù mà lại dắt mù”, và kết quả là “cả hai sẽ lăn cù xuống hố”.
Thật vậy, nếu chính mình chưa cảm thấy Tin Mừng đã ảnh hưởng tốt đẹp trên đời sống mình, chưa thật sự thay đổi đời sống mình, mà mình lại đi rao giảng Tin Mừng, muốn Tin Mừng ảnh hưởng tốt đẹp trên đời sống người khác, thì có khác gì “cho đi cái mình chẳng có” ? Như thế thì người nhận sẽ nhận được gì ?
Vì thế, chúng ta cần phải năng học hỏi về Tin Mừng, nhất là suy gẫm Tin Mừng, để Tin Mừng thấm sâu vào tư tưởng, lời nói, việc làm và đời sống của ta. Có như thế, việc loan báo Tin Mừng của ta mới có sức thuyết phục.

 
 

LênTrời-71: Những chứng nhân mới – Lm. Pet. Trần thanh Sơn

Khởi từ cuộc Phục Sinh của mình, Đức Giêsu đã đổi mới mọi sự. Ngài đã vượt qua sự chết để: LênTrời-71

Khởi từ cuộc Phục Sinh của mình, Đức Giêsu đã đổi mới mọi sự. Ngài đã vượt qua sự chết để khai mở sự sống. Từ đây, lịch sử nhân loại bước sang một giai đoạn mới. Các thế lực sự dữ như: đau khổ, gian nan, vất vả, và nhất là cái chết vẫn còn đó, nhưng không còn được sức mạnh. Tất cả đã bị Đấng Phục Sinh khuất phục. Nhờ sự Phục Sinh của Đức Giêsu thế giới cũ đã qua đi và một thế giới mới đã bắt đầu xuất hiện (x.Kh 21, 1-5).
Ngay trong Chúa Nhật Phục Sinh, ngang qua hình ảnh ngôi mộ trống, phụng vụ lời Chúa cho thấy bởi sự sống lại của mình, Đức Giêsu đã tạo dựng nên một thế giới mới. Và rồi không chỉ lập nên một thế giới mới, Đấng Phục Sinh còn lập nên một dân mới khi Ngài thổi hơi ban Thánh Thần để biến đổi các tông đồ từ những kẻ nhát đảm ở trong những căn phòng đóng kín cửa, thành những con người can đảm dám mở bung cửa, ra đi loan báo Tin mừng cho muôn dân. Từ đây, bước đi giữa biển đời tăm tối, dân mới do Đấng Phục Sinh thiết lập không còn bơ vơ, nhưng họ có Lời Chúa làm kim chỉ nam, định hướng cho cả cuộc đời của họ. Họ chỉ cần để tâm lắng nghe và khiêm tốn thực hành lời dạy của Đấng Phục Sinh, chắc chắn họ sẽ thu được kết quả, như mẻ cá lạ mà các tông đồ đã kéo được trên bờ biển Tibêria năm xưa. Hơn thế nữa, dân mới là Giáo Hội do Đấng Phục Sinh thiết lập còn được chính Ngài làm Thủ Lãnh. Ngài chính là vị Mục Tử Nhân Lành biết rõ từng người trong dân mới. Ngài hằng chăm sóc và ban cho họ được sống và sống dồi dào. Đồng thời, trong tư cách là vị Mục Tử nhân lành, Đấng Phục Sinh cũng mời gọi mỗi người chúng ta là thành phần trong dân mới hãy sống yêu thương nhau như Ngài đã hằng yêu thương chúng ta. Mặt khác, đối với Đấng Phục Sinh, việc chúng ta tuân giữ lời dạy yêu thương không những là một dấu chỉ để mọi người nhận ra chúng ta là môn đệ của Ngài, nhưng còn là một biểu hiệu cụ thể chứng tỏ lòng yêu mến của chúng ta đối với Ngài, như lời Ngài tuyên bố: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời Thầy” (Ga 14, 23).
Và hôm nay, trước khi chấm dứt sự hiện diện hữu hình của mình giữa nhân loại, Đấng Phục Sinh đã mời gọi các tông đồ và cả từng người chúng ta lên đường ra đi loan báo cho muôn dân biết về Tin Mừng Phục Sinh mà chúng ta đã lãnh nhận. Chính vì thế, theo truyền thống của Giáo Hội, Chúa Nhật lễ Thăng Thiên hôm nay đã được chọn làm ngày “Thế giới truyền thông”.



1. GÍA TRI CỦA ĐAU KHỔ:
Trở lại với bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy sứ điệp đầu tiên mà mỗi người chúng ta cần loan báo cho mọi người đó là cuộc khổ nạn của Đức Kitô, như lời Ngài phán với các môn đệ trước lúc về trời: “Như đã ghi chép là Đức Kitô phải chịu khổ hình”. Khi nhắn gởi với các tông đồ sứ điệp này, một lần nữa, Đức Giêsu khẳng định với chúng ta rằng: không thể có cuộc Phục Sinh và Thăng Thiên vinh hiển hôm nay, nếu trước đó, Ngài đã không đi đến tận cùng con đường thập giá. Hay nói cách khác, Kitô giáo không hứa hẹn một con đường dễ dãi, hấp dẫn, nhưng để đạt đến một đời sống vĩnh cửu, mỗi người cần phải đi theo con đường Đức Giêsu đã đi, con đường thập giá, con đường của đau khổ. Kitô giáo không tôn sùng đau khổ và cũng không chạy trốn đau khổ, nhưng mời gọi chúng ta sẵn sàng đối diện và đón nhận mọi biến cố vui buồn trong cuộc sống hàng ngày, và biến chúng trở thành phương thế dẫn đưa chúng ta đến với cuộc sống vĩnh cửu.
Nói đến việc đón nhận đau khổ, trái ý… vào giờ này, ở nơi đây, trong ngôi Thánh Đường này thì dễ, nhưng để đón nhận những đau khổ và thử thách ngay trong cuộc sống thực tế hàng ngày, thì quả thật không dễ chút nào. Đối mặt với đau khổ, khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là tìm cách trốn chạy đau khổ. Thế nhưng, có một thực tế mà nhiều khi chúng ta không muốn nhận, đó là tự sức mình, chúng ta không thể nào loại trừ hết mọi đau khổ. Đau khổ vẫn còn đó vì trong từng người chúng ta vẫn còn dục vọng, vẫn còn “Tham, Sân, Si”. Càng chạy trốn, càng vùng vẫy đau khổ như càng thắt chặt cuộc đời của chúng ta. Chính vì chỉ cậy vào sức mình như thế, nên cuối cùng có nhiều người đã đi vào con đường tuyệt vọng.
Biết rõ sự yếu đuối và giới hạn của con người chúng ta, nên trước khi về Trời, Đức Giêsu đã hứa với các tông đồ và với từng người chúng ta: “Thầy sẽ sai đến với các con Đấng Cha Thầy đã hứa”. Chính vì ý thức được sự mỏng dòn của mình, và trong tâm tình tin tưởng vào lời hứa của Đấng Phục Sinh, thánh Phaolô đã lên tiếng cầu xin cho chúng ta: “Xin Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc khải, dể nhận biết Người, xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi”. Thánh nhân, xin Thiên Chúa ban Thần trí của Ngài cho chúng ta, để nhờ ánh sáng của Ngài soi dẫn, chúng ta biết vững lòng trông cậy vào ơn Chúa. Nhờ đó, chúng ta đủ can đảm đón nhận những gì Chúa gởi đến trong cuộc sống mỗi ngày.



2. TIN MỪNG PHỤC SINH:
Tuy nhiên, chúng ta đón nhận đau khổ không phải vì đau khổ, nhưng chúng ta đón nhận nó như một phương tiện để giúp chúng ta đến với cuộc sống vĩnh cửu. Đau khổ, chỉ là một bước thanh luyện cần thiết để giúp chúng ta đạt đến vinh quang Phục Sinh. Chính Đức Giêsu, mặc dù đã đi con đường thập giá, nhưng Ngài không dừng lại ở cái chết khổ nhục trên thập giá. Đàng sau cái chết, đó là cuộc Phục Sinh vinh hiển. Chính sự sống lại của Đức Giêsu đã làm cho con đường thập giá trở nên có giá trị. Sau này trong thư gởi tín hữu Corinhtô, thánh Phaolô đã tuyên bố: “Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15, 14). Ý thức điều đó, sau những lời nói về cuộc thương khó của Đức Giêsu, thánh sử Luca liền cho chúng ta biết về sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: “Sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng; Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày”. Tin Mừng Phục Sinh phải là điều mà mỗi người chúng ta cần xác tín và là mục tiêu cuối cùng của cuộc sống mỗi người chúng ta.
Như thế, vững lòng đón nhận mọi biến cố vui buồn sướng khổ trong cuộc sống hiện tại, và luôn hướng lòng về đời sống vĩnh cửu là hai mặt gắn liền không thể tách rời của mỗi người kitô hữu. Đồng thời, đó cũng là sứ điệp mà mỗi người chúng ta cần loan truyền cho mọi người trong thế giới hôm nay. Chúng ta phải dùng chính đời sống của mình để loan báo cho mọi người về giá trị của con đường thập giá và niềm vui Phục Sinh, như lời dặn của Đấng Phục Sinh: “Các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa, và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”. Hơn nữa, rao giảng bằng cuộc sống, cũng chính là cách thức truyền giáo thích hợp nhất trong thế giới hôm nay.
Chớ gì nhờ sức mạnh của Đấng Phục Sinh nâng đỡ, mỗi người chúng ta không tuyệt vọng khi gặp thử thách gian nan, nhưng luôn bình an trong mọi sự. Nhờ đó, chúng ta trở nên những chứng nhân mới cho Đấng Phục Sinh trong thời đại hôm nay. Amen.

 
 

LênTrời-72: Bàn tay giơ ra để chúc lành – Lm. Jos. Phạm ngọc Ngôn

Hôm nay toàn thể Giáo hội long trọng mừng lễ Chúa Kytô vinh hiển về trời. Có thể nói biến cố: LênTrời-72

Hôm nay, toàn thể Giáo hội long trọng mừng lễ Chúa Kytô vinh hiển về trời. Có thể nói biến cố Thăng Thiên là một biến cố đặc biệt, vì đó không chỉ là một mạc khải biểu lộ vinh quang khải hoàn của Chúa Kytô nhằm đóng dấu ấn kết thúc cuộc đời cũng như sự kiện Phục sinh của Người; Đó cũng không chỉ là biến cố cuối cùng của lịch sử cứu độ mà đây chính là thời kỳ khai mở cho một biến cố mới: Chúa Thánh Thần sẽ đến hướng dẫn và dạy dỗ các môn đệ như Chúa Giêsu đã hứa.
Khi đối chiếu hai bản văn Tin mừng thứ ba và sách Công vụ Tông đồ của cùng một tác giả là thánh sử Luca, chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì cùng một biến cố Thăng Thiên nhưng lại có sự mâu thuẫn rõ ràng về mặt thời gian: một đàng là biến cố Thăng Thiên xảy ra ngay sau khi Chúa Phục sinh, chỉ trong một ngày và một đàng là 40 ngày sau (x. Lc 24; Cv 1, 3). Lý giải sao về điều này?
Chúng ta có thể thấy dụng ý thần học của Luca trong đoạn Tin mừng trên, vì sự thực thì Phục sinh và Thăng Thiên là một thực thể thống nhất không thể tách rời nhằm biểu lộ vinh quang của Đấng Phục sinh và quyền thống trị của Người. Như thế, ngay sau khi Phục sinh, Chúa Kytô đã đi vào vinh quang thiên quốc chứ không phải chờ đợi gì nữa. Tuy thế, thỉnh thoảng Chúa Kytô xuất hiện cách hữu hình với các môn đệ nhằm củng cố đức tin và dạy dỗ các ông. Có thể thấy 40 ngày là quãng thời gian tượng trưng đầy đủ và sung mãn để các ông tiếp nhận những giáo huấn và hiểu rõ hơn sứ mệnh của Người. Thật vậy, đây chính là quãng thời gian mà Chúa Kytô tỏ mình cho các môn đệ nhận biết Người (Lc 24, 39). Người mở tâm hồn cho các ông hiểu rõ ý nghĩa của biến cố Phục sinh (24, 44). Để rồi những gì các ông vừa trải nghiệm với Người, tất cả sẽ trở thành những chủ đề cho lời rao giảng cốt yếu sau này- những gì đã được Kinh thánh loan báo đều được thực hiện trọn vẹn trong mầu nhiệm Vượt qua. Chính các ông sẽ là những chứng nhân cho những gì các ông từng trải nghiệm mà Công vụ Tông đồ đã ghi. Sau quãng thời gian này, Chúa Kytô không còn hiện diện cách hữu hình, cách thể lý bằng xương bằng thịt nữa và tác giả Công vụ Tông đồ nói rằng Chúa Kytô lên trời.
Thánh sử Luca ghi lại sự kiện Chúa lên trời thật giản dị: “Người dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời” (24, 50). Hình ảnh cuối cùng của Chúa Kytô ở trần gian chính là bàn tay giơ ra để chúc lành. Đây chính là hình ảnh tuyệt vời bởi nó không chỉ là dấu chỉ từ biệt và chúc lành mà chúng ta thường thấy nơi các thánh tổ phụ chúc lành cho các con, cho những người thừa kế vào lúc lìa cõi thế, mà còn là dấu chỉ nhằm cho thấy Chúa Giêsu mãi mãi sẽ ở cùng và ban ơn cho các môn đệ của Người ở trần gian này. Cuộc chia ly này không giống cuộc chia ly trong vườn Ôliu, các môn đệ lòng đây hoan hỷ và không ngớt tụng ca Thiên Chúa: cuộc chia ly trở nên dấu chỉ cho sự hiện diện của Chúa Kytô bên cạnh các môn đệ.
Biến cố Thăng Thiên không chỉ cho thấy công trình cứu chuộc như lời Kinh thánh loan báo đã hoàn thành mà còn là thời điểm làm cho tất cả mọi người nhận ra những lầm lỗi của mình, ăn năn sám hối để hưởng nhờ ơn tha thứ của Thiên Chúa; biến cố Thăng Thiên không chỉ là lúc Chúa Kytô Phục sinh trao trách nhiệm rao giảng cho các môn đệ mà còn là thời điểm đnh dấu những hoạt động truyền giáo cho muôn dân của các ông sau này; biến cố Thăng Thiên không chỉ là một lời hứa, một lời chúc phúc nhưng còn là một sự hiện diện, một sức mạnh của Chúa Kytô làm cho các môn đệ hoan hỷ, không ngớt lời tụng ca Thiên Chúa và giúp các ông trở nên can đảm và nhiệt huyết hơn trong sứ vụ chứng nhân Tin mừng.
Ước gì tâm tình của ngày lễ Thăng Thiên giúp mỗi người chúng ta thêm lòng tin tưởng vào sự hiện diện cách vô hình của Đấng Phục sinh để rồi như các môn đệ xưa, cuộc sống của chúng ta là những chuỗi ngày đầy ắp niềm vui trong Chúa, lời cầu nguyện và tạ ơn của chúng ta sẽ hoà nhập với lời cầu nguyện và tạ ơn của các môn đệ để rồi theo chân các ngài, chúng ta ra đi dấn thân cho công cuộc truyền giáo như lòng Chúa hằng ước mong.

 
 

LênTrời-73: Sao mãi đứng đó nhìn trời ? – Lm. Nguyễn hưng Lợi

Các bài đọc hôm nay đều nhắc đến việc Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại và được rước về trời: LênTrời-73

Các bài đọc hôm nay đều nhắc đến việc Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại và được rước về trời. Cuộc biệt ly trong giây phút này không làm các môn đệ buồn phiền như con người thường có ở những cuộc chia ly. Tin Mừng của thánh Luca ở câu cuối đoạn này viết:” Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa”(Lc 24, 53 ).
NỖI BUỒN TRỞ THÀNH NIỀM VUI:
Biệt ly nào cũng mang lại nỗi buồn da diết hoặc man mác thê lương, ủ rũ. Biệt ly nào cũng gợi lên sự xa cách khôn nguôi. Chúa Giêsu bị bắt, bị kết án và bị treo lên thập giá quả đã làm cho các môn đệ đi từ hoang mang này đến xáo trộn khác. Rồi Chúa Giêsu phục sinh: biến cố này đã ghi đậm dấu ấn trong các môn đệ. Chúa sống với các môn đệ 40 ngày đêm sau khi Người từ cõi chết sống lại đã từ từ củng cố niềm tin của các môn đệ. Sở dĩ Chúa sống lại đã ở với các môn đệ thời gian 40 đm ngày vì Người muốn chứng tỏ cho các ông hiểu Người đã phục sinh thật sự đúng như lời của Người đã nói trước và đúng như lời Sách Thánh đã loan báo. Củng cố niềm tin của các môn đệ, Chúa phục sinh muốn trình bầy cho các ông thấy một viễn ảnh hoàn toàn mới về sự sống Người ban cho các ông và nhân loại. Do đó, chia tay các môn đệ, Chúa Giêsu đã gửi gắm cho các ông tất cả sứ mạng mà Người đã thực hiện, đã hoàn tất cho nhân loại để mọi người được sống hạnh phúc, an bình và vui tươi. Chia tay các môn đệ để trở về cùng Thiên Chúa Cha sau khi Chúa Giêsu hoàn tất tốt đẹp sứ mạng Thiên Chúa Cha trao phó. Chúa Giêsu được tôn vinh hiển trị muôn loài, muôn vật. Chính vì thế, các môn đệ không cảm thấy buồn tủi vì các ông hiểu được ý Chúa, các ông sống trong hy vọng và niềm vui. Chúa về trời trong cảnh chia ly, các môn đệ vẫn hiểu được sâu xa, Chúa không rời xa các ông nhưng các ông cảm nghiệm hay nói đúng hơn có kinh nhiệm sâu xa về ơn cứu độ chứa chan nơi Chúa Giêsu, về sứ mạng cứu độ của Chúa Giêsu và về sứ mạng của chính các ông còn đang ở dưới thế. Từ đó, các môn đệ lòng đầy tin tưởng, hân hoan trở nên nhân chứng son sắt cho Chúa phục sinh và trở thành nhân chứng cho sự sám hối để lãnh ơn tha thứ. Điều này, minh chứng các môn đệ đã được lột xác hoàn toàn, các ông đã cởi bỏ quan niệm cổ hủ, một cái nhìn rụt rè, nhát đảm, sợ chết để trở nên dũng sĩ kiên cường cho ơn cứu rỗi của Chúa sống lại.
CUỘC SỐNG MỚI CHÚA PHỤC SINH TRAO BAN CHO MỖI NGƯỜI:
Cuộc sống mới Chúa phục sinh trao ban cho các môn đệ và mọi người tín hữu đòi buộc con người phải: ” Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”. Sự sống mới là do Chúa sống lại ban cho qua quyền năng của Chúa Thánh Thần. Các môn đệ đã trút bỏ cái lớp vỏ quê kệch của những bác thuyền chài đơn sơ, chất phác mà mặc lấy quyền lực và sự đổi mới của Chúa Thánh Thần. Các môn đệ khi trở nên nhân chứng cho Chúa phục sinh, cho sự hoán cải, chính các ông cũng đã phải cải hóa nội tâm, cởi bỏ con người cũ, trút bỏ những ham muốn thế tục để sống hoàn toàn cho Chúa. Sự sống mới của Chúa phục sinh cũng được trao ban cho mọi Kitô hữu khi họ biết sám hối, thay đổi, biến đổi nội tâm để con người của họ hoàn toàn thuộc về Chúa. Và làm được như vậy, con người vẫn cần đến” quyền năng từ trời cao ban xuống “ để họ biết phục vụ, biết chọn lựa cách sống như thánh Phaolô đã viết:” Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Chúa Giêsu về trời mở ra cho các môn đệ và nhân loại một chân trời mới, một hy vọng hoàn toàn mới. Do đó, các môn đệ và nhân loại vẫn một lòng trung tín tin tưởng vì Chúa về trời để ban Thánh Thần cho mọi người. Nhân loại đang được thăng hoa và con người cũng đang hoan hỷ vì mọi người tin chắc sẽ được phục sinh và về trời với Chúa sau cuộc trần thế đầy phục vụ, quảng đại, bác ái và một lòng với Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho mọi người chúng con can đảm trở thành nhân chứng cho sự sám hối để lãnh ơn tha tội.



GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
1. Bạn hiểu gì về Chúa lên trời ?
2. Bạn có mau mắn trở nên chứng nhân cho Chúa phục sinh không ?
3. Sứ mạng cứu thế là gì ?

 
 

LênTrời-74: LỄ CHÚA THĂNG THIÊN

Nghe:
* Cv 1,1-11:
“…………Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất”
Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa.



* Ep 1,17-23:
Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em Thần Khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết và đặt ngự bên hữu Người trên trời. Như vậy Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.



* TIN MỪNG: Lc 24,46-53: Những lời chỉ bảo sau hết cho các Tông Đồ & Đức Giê-su được rước lên trời.
Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và Người nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại; phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân về những điều này.
Phần Thầy, Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.”
           Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bê-ta-ni-a, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời. Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giê-ru-sa-lem, lòng đầy hoan hỉ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.



Ngẫm:
* Câu hỏi gợi ý:  
 

Từ các bản văn Thánh Kinh của Phụng Vụ hôm nay, chúng ta có thể rút ra được những điều: LênTrời-74

Từ các bản văn Thánh Kinh của Phụng Vụ hôm nay, chúng ta có thể rút ra được những điều quan trọng nào cho đời sống Đức Tin?
Làm thế nào để chúng ta thực hiện Sứ Mạng Làm Chứng?
* Suy tư gợi ý:
1. Từ các bản văn Kinh Thánh của Phụng Vụ hôm nay, chúng ta có thể rút ra những điều quan trọng sau đây cho đời sống Đức Tin:
1o) Đức Giê-su Ki-tô chịu khổ nạn và phục sinh là các sự kiện nằm trong chương trình, kế hoạch của Thiên Chúa và được thực hiện bằng Sức Mạnh của Thánh Thần Thiên Chúa. 
2o) Chúa Thánh Thần, hay Thần Khí của Thiên Chúa là ân ban của Cha và là quà tặng đã được Đức Ki-tô long trọng hứa ban cho các môn đệ. Thần Khí sẽ giúp các môn đệ và các Ki-tô hữu hiểu được Mầu Nhiệm của Đức Giê-su Ki-tô đã được mặc khải trong Thánh Kinh. Vì thế muốn trở thành môn đệ đích thực của Đức Giê-su chúng ta cần phải có Thánh Thần trong tâm hồn.
3o) Cùng với Thánh Thần, Đức Giê-su ban cho chúng ta một sứ mạng cao cả và quan trọng: đó là làm chứng về Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa nhập thể làm người, đã chịu chết và đã phục sinh và được Thiên Chúa tôn vinh trên tất cả và đặt Người làm Đức Chúa muôn dân muôn loài và làm đầu Hội Thánh là Thân Thể của Đức Giê-su Ki-tô.
2. Chúng ta thực hiện Sứ Mạng Làm Chứng:
1o) Trước tiên chúng ta có chia sẻ xác tín của các Giám Mục của chúng ta không? Tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu các ngài đã quả quyết rằng “nếu trong thiên niên kỷ thứ nhất của Ki-tô giáo, Thập Giá đã được trồng trên đất Au Châu, trong thiên niên kỷ thứ hai, Thập Gía được trồng trên đất Mỹ Châu và Phi Châu, thì trong thiên niên kỷ thứ ba, Giáo hội sẽ được một mùa gặt bội thu trên lục địa rộng lớn và tràn trề sức sống này.” (Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 1).
2o) Để có được một mùa gặt bội thu, chúng ta có đồng quan điểm với các ngài về việc dành ƯU TIÊN cho việc Loan Báo tức Làm Chứng không? (Xem THGHTCA số 19) Dành Ưu Tiên cho việc Loan Báo hay Làm Chứng có nghĩa là mối bận tâm trước nhất và lớn nhất của chúng ta phải là việc Loan Báo Tin Mừng! Có nghĩa là chúng ta đầu tư trí tuệ, tài năng, tiền của, thời gian, sức lực nhiều nhất, trước nhất cho việc Loan Báo ấy!
3o) Thứ đến, chúng ta đã hiểu rõ thế nào là Loan Báo chưa? thế nào là Làm Chứng chưa? Loan báo hay Làm Chứng theo THGHTCA (số 19) trước hết là công khai loan báo Đức Giê-su là Chúa, hay nói rõ hơn như Đức Phao-lo VI và được Đức Gio-an Phao-lô II nhắc lại trong Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, số 22: ”Không có việc Loan Báo Tin Mừng thực sự, nếu trong đó người ta chưa công bố tên, giáo lý, cuộc đời, các lời hứa, Nước Trời và Mầu Nhiệm của Đức Giê-su Na-da-rét, Con Thiên Chúa”
4o) Vậy chúng ta có thể rút ra một kết luận hết sức cụ thể cho cuộc sống là muốn loan báo về Đức Giê-su, người Ki-tô hữu phải biết về “giáo lý, cuộc đời, các lời hứa, Nước Trời và Mầu Nhiệm của Đức Giê-su Na-da-rét, Con Thiên Chúa”. Biết ở đây không chỉ là lý thuyết, kiến thức; mà biết ở đây chủ yếu là kinh nghiệm đời sống nội tâm, gắn bó chặt chẽ và thâm sâu với Thiên Chúa nhập thể làm người và hiện đang sống và hoạt động giữa chúng ta. Có sự hiểu biết ấy, chúng ta mới có thể nói về Người như nói về Đức Chúa và Bạn Thân của mình. Vì thế mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nói chung và Đức Tổng Giám Mục của Tổng Giáo Phận Sài-gòn nói riêng đã đề nghị các giáo xứ, các hội đoàn, các nhóm, các gia đình hãy chú tâm vào việc học hỏi, lắng nghe, suy niệm và chia sẻ Lời Chúa trong sinh hoạt của mình trong Năm Thánh 2000 vừa qua và trong năm 2001 là năm đầu của Thế Kỷ 21 và của Thiên Niên Kỷ thứ ba này! Lắng nghe Lời Chúa để sống Lời Chúa; Sống Lời Chúa để Rao Giảng Lời Chúa: đó chính là nội dung Thư Mục Vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2000 và đáng lẽ phải là “chương trình hành động” của toàn Giáo Hội Việt Nam!!
5o) Cuối cùng, đi vào hành động cụ thể mỗi thành viên, mỗi gia đình Khôi Bình, phải biết cách Làm Chứng và tìm ra mọi cơ hội cho công việc cao cả này:
a) Làm Chứng về Ai? - Làm Chứng về Đức Giê-su Ki-tô là Chúa, về Thiên Chúa là Cha yêu thương, về Chương Trình Cứu Độ của Người, về Giới Răn yêu Thương, về giá trị siêu việt và bình đẳng của con người, về tình Huynh Đệ giữa mọi người, mọi dân tộc!
b) Làm Chứng như thế nào? (hay bằng cách nào?) - Làm Chứng bằng nhiều cách: lời nói, việc làm, sách báo, thái độ, cử chỉ, lời cầu nguyện, hy sinh, thời giờ, tiền của, trí tuệ…!
c) Làm Chứng ở đâu? - Làm Chứng trong gia đình, trường học, cơ quan xí nghiệp và ngoài xã hội!
d) Làm Chứng cho ai? - Làm Chứng cho những người sống chung quanh và tiếp xúc với chúng ta hằng ngày!
e) Làm Chứng khi nào? - Làm Chứng bất cứ khi nào: lúc thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn!
Nguyện:
Lạy Thánh Thần Thiên Chúa, xin dạy cho con/chúng con biết cách rao giảng, loan báo, làm chứng về Chúa Giê-su Ki-tô, về Thiên Chúa Ba Ngôi, về Chương Trình Cứu Độ, về Nước Trời, về Giới Răn Yêu Thương, về các Lời Hứa của Thiên Chúa, về giá trị siêu việt và bình đẳng của con người, về tình Huynh Đệ giữa loài người cho những người xung quanh. Amen! 
(Giêrônimô Nguyễn Văn Nội)

 
 

LênTrời-75: LÊN TRỜI

Ông Berthol Breeh một thi sĩ hiện đại người Đức có viết một văn thơ sau đây: "Bên trên thế giới: LênTrời-75

Ông Berthol Breeh một thi sĩ hiện đại người Đức có viết một văn thơ sau đây: "Bên trên thế giới là mây trời, mây trời thuộc về thế giới. Bên trên mây trời là hư vô". Vần thơ này được hằng triệu người trên thế giới chứng thực mỗi ngày khi ngồi trong các loại máy bay Boing khổng lồ, mỗi chuyến chở được mấy trăm hành khách. Các loại Boing này thường bay trên độ cao hơn 10.000m nghĩa là trên các tầng mày và quả thật, trên độ cao ấy du khách chỉ thấy bên dưới là mây. Trước mắt và xung quanh chân trời xanh trải dài vô tận và bên trên chỉ là khí, không có gì cả. Tuy nhiên qua khẳng định trên đây, thi sĩ không ám chỉ một sự kiện khoa học mà muốn diễn tả một xác tín vô thần của ông: Không tin có Thiên Chúa, không tin có quê trời, không tin vào thiên đàng và cuộc sống mai sau. Cuộc đời con người kết thúc với cái chết và bên kia cái chết thì là hư vô. Nghĩa là thi sĩ gián tiếp khẳng định rằng cuộc đời con người vô nghĩa. Do đó cũng không cần phải sống tết với tha nhân và ăn ngay ở lành, hay sống đạo đức, lương thiện làm gì, cứ việc tham ô, gian ác, bóc lột, cũng không cần cầu nguyện làm gì, bởi vì nó chỉ là đối thoại với hư vô. Và thế giới này chỉ là hư vô bởi vì nó không còn tương lai.
Nhưng thi sĩ Berthol lầm lớn, lầm to. Với lễ Thăng Thiên, Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta rằng sau cái chết, cuộc sống mới thực sự bắt đầu và bên trên tầng mày là tất cả.
So sánh tường thuật biến cố Chúa Giêsu Kitô Phục sinh và lên trời trong các văn bản Phúc âm, chúng ta nhận ra ngay một số khác biệt.
Trong Phúc âm thánh Gioan, toàn mầu nhiệm cuộc đời của Chúa Giêsu tập trung vào ngày sau thứ bảy là ngày lễ Vượt qua ngày Chúa Giêsu sống lại lên trời và trao ban Chúa Thánh Thản cho các môn đệ. Đối với thánh Gioan, Thiên Chúa tự tỏ lộ mình cho nhân loại trong con người và trong mầu nhiệm của Chúa Giêsu, và Giáo Hội hay cộng đoàn của các môn đệ là hoa trái của sự mặc khải ấy.
Phúc âm thánh Matthêu trái lại, là Phúc âm của Emmanuel: Thiên Chúa ở cong chúng tôi. Nghĩa là theo thánh nhân, Chúa Giêsu luôn luôn sống hoạt động và hiện diện sâu thắm giữa cộng đoàn xã hội. Ngài tự đồng hứa mình với mọi người. Do đó mỗi một việc làm cho một trong các thành phần của cong đoàn Giáo Hội là làm cho chính Chúa Giêsu. Nói cách khác, theo thánh Matthêu, Chúa Giêsu Kitô Phục sinh luôn hiện diện trong cộng đoàn thân mình mầu nhiệm của Ngài cho dầu cộng đoàn đó có bé nhỏ và sống tại nơi hẻo lánh xa xôi, ở chân trời góc biển nào trên thế giới này đi nữa. "ở đâu có hai hay ba người tụ họp nhân danh Thầy thì Thầy ngự giữa họ”. Chủ đích thần học này giải thích tại sao thánh Matthêu đã bỏ không kết thúc Phúc âm với tường thuật biến cố Chúa Giêsu rời bỏ cộng đoàn môn đệ để về trời, như hai thánh sử Marcô và Luca. Trái lại thánh Matthêu kết thúc Phúc âm với lời Chúa Giêsu trang trọng khẳng định với các môn đệ trong: Ngài sẽ ở cùng họ mọi ngày cho đến tận thế.
Thánh sử Luca thì có một quan niệm thần học khác đối với thánh nhân, thời gian sau khi Chúa Giêsu về trời là thời gian của Giáo Hội. Thánh Luca coi việc cộng đoàn Giáo Hội tiếp nối sứ mạng loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu như giai đoạn cuối củng trong lịch sử cứu độ. Nếu Kinh Thánh Cựu ước đã tập trưng lịch sử cứu độ vào dân lsrael và vào lời hứa của Thiên Chúa, thì Kinh Thánh Tân ước tập trung lịch sử cứu độ vào Chúa Giêsu và vào ngày hôm nay của Chúa Giêsu, như thời điểm thành toàn lời Thiên Chúa đã hứa với dân Israel xưa kia. Lời Thiên Chúa hiện thực trong cộng đoàn Giáo Hội giờ đây phải được tiếp tục thành toàn và ơn cứu độ phải được mọi thành phần Giáo Hội tiếp tục loan truyền cho mọi dân tộc khác.
Đó là nội dung của sách Tông đồ Công vụ, thánh Luca tường thuật cong tác Tin Mừng mà Chúa Giêsu là trung tâm điểm và là người khởi xướng mà giờ đây cộng đoàn Giáo Hội tiếp tục đẩy mạnh với sự thúc đẩy và ơn dìu dắt của Chúa thánh Thần. Trong một nghĩa nào đó, biến cố Chúa Giêsu lên trời cần thiết cho việc khai mào sứ mạng của Giáo Hội Chúa Giêsu Phục sinh lên trời, nhưng giờ đây thời gian Ngài hoạt động qua và trong cộng đoàn Giáo Hội. Sự kiện Chúa Giêsu lên trời không có nghĩa là Ngài không hiện diện trong thế giới nầy. Chúa Giêsu đã đến trần gian và sẽ trở lại trần gian. Nhưng trong thời gian giữa hai khoảng cách đó, Ngài sống ngoài lịch sử nhưng hiện diện trong lịch sử và hoạt động trong lịch sử qua cộng đoàn Giáo Hội. Nước Thiên Chúa, cuộc sống siêu việt vĩnh cửu, vẹn toàn mai sau tỏ hiện dần dần trong Giáo Hội, trong nỗ lực xã hội làm chứng cho Chúa Giêsu và rao truyền Tin Mừng của Chúa. Thánh Luca đã thật khéo léo khi nối liền thời gian hoạt động của Giáo Hội với ngày hôm nay của Chúa Giêsu và giải thích nó như là thời gian của ơn thánh cứu độ. Vì biến cố chúa Giêsu lên trời như ghi trong chương 1,1-11 sách Tông đồ Công vụ và chương 24,46-53 sách Phúc âm, đã giới thiệu trong ánh sáng của lịch sứ cứu độ. Mầu nhiệm lên trời giải thích tại sao lại có Giáo Hội, tại sao Giáo Hội hiện diện và loan báo Tin Mừng cứu độ Nói cách khác, qua Phúc âm, sách Tông đồ Công vụ, thánh sử Luca muốn chứng minh cho chúng ta thấy chương trình Thiên Chúa có đối với loài người và thế giới đã được Chúa Giêsu hiện thực và thành toàn, mà giờ đây được tỏ hiện từng bước và kéo dài trong cuộc sống của Giáo Hội. Trong tường thuật biến cố Chúa Giêsu lên trời, thánh Luca là người duy nhất có can đảm dùng động từ chỉ sự chia lìa, khi biết Chúa Giêsu Kitô tách rời khỏi đoàn môn đệ. Chương 24 mở đầu tường thuật một ngày sống của Chúa Giêsu cũng như của cộng đoàn môn đệ, bằng cách ghi nhận sự vắng mặt của Chúa Giêsu. Nhưng tiếp sau đó, Chúa Giêsu lại hiện diện giữa cộng đoàn rồi Ngài đồng hành đàm đạo, rồi dùng bữa tối với hai môn đệ trên đường về làng Emmaus. Và giờ đây, tường thuật kết thúc với biến cố của Chúa Giêsu lại tỏ hiện ra cho các môn đệ. Tuy nhiên sự chia lìa này tại Bethania không khiến cho các môn đệ buồn rầu hay chán nản, trái lại họ cùng nhau trở về Giêrusalem lòng tràn đầy vui sướng.
Thánh Luca không giải thích tại sao cộng đoàn môn đệ giờ đây phải xa thầy mình mà lại sướng vui như vậy. Nhưng chắc chắn các môn đệ đã khám phá ra hay ít nhất đã trực giác được chuyện gì đó, nghĩa là các vị đã hiểu ra rằng Chúa Gìêsu tuy đã tách rời khỏi họ, nhưng vẫn luôn hiện diện bên họ. Trong tường thuật biến cố Chúa Giêsu lên trời còn có một điểm đặc biệt khác, đó là khi các môn đệ đang phủ phục xuống thờ lạy thì Chúa Giêsu rời khỏi họ và lên trời, đồng thời giơ tay ban phép lành cho họ. Cử chỉ này của Chúa Giêsu cho thấy Ngài hành động như là Thầy của các môn đệ: Chúa của các tông đồ, là thủ lãnh của cộng đoàn dân riêng mới của Thiên Chúa giã từ cộng đoàn, nhưng đồng thời sai phái mọi người ra đi chu toàn sứ mạng Ngài đã trao phó. Phép lành của Chúa Giêsu đảm bảo cho cộng đoàn Giáo Hội mọi ơn cần thiết trong cuộc sống và sự tăng trưởng của mình trong sứ mạng loan truyền Tin Mừng cứu độ.
Đặc điểm thứ ba trong tường thuật biến cố Chúa lên trời đó là, thay vì ra đi khắp nơi loan báo Tin Mừng ngay thì đoàn môn đệ lại vào đền thờ Giêrusalem cầu nguyện và chúc tụng danh Chúa. Phúc âm thánh Luca mở đầu với cảnh thầy cả Giacaria dâng hương cho Chúa trong Đền thánh, giờ đây kết thúc với lời chúc tụng của đoàn Tông đồ. Glêrusalem là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, là nơi lịch sừ cứu độ thành toàn đống thời là nơi phát xuất sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội. Hình ảnh cộng đoàn Giáo Hội truyền giáo quanh quẩn trong đền thờ, trong lời cầu nguyện và chúc tụng Thiên Chúa xem ra hơi lạ. Nhưng thật ra sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội sẽ chỉ đem lại hoa trái khi cộng đoàn Giáo Hội biết luôn luôn bám chặt vào Chúa, dán mắt nhìn lên Chúa, đối thoại thân tình với Chúa để kín múc mọi ơn thánh và nghi lực cần thiết cho sứ mạng loan báo Lời Ngài, để kéo phúc lành của Chúa xuống cho mọi tâm hồn và phản ánh gương mặt cũng như giáo huấn của Chúa một cách tinh tuyền trung thực và sâu đậm hơn. Bởi vì nếu không có phúc lành và ơn thánh Chúa trợ lực, sẽ không có sự sống, sẽ không có ơn hoán cải và biến đổi con tim và công tác truyền giáo của Giáo Hội sẽ không sinh hoa trái phong phú. Càng phải hoạt động nhiều, Giáo Hội càng sống chiều kích chiêm niệm và đối thoại thân tình với Chúa nhiều hơn.
Đây cũng là lý do giải thích tại sao trước khi về trời, Chúa Giêsu đã dạy dỗ các môn đệ nhiều điều để giúp họ hiểu sứ mạng loan báo Tin Mừng mà từ nay họ phải đảm trách thay Ngài. Lời các Thiên thần nhắc nhở cho các ông biết, sứ mạng rao truyền Lời Chúa không cho phép các vị đứng nhìn trời, nhìn đất mơ mộng tiếc nuối hay chỉ lo lắng cho các dịch vụ phụng tự quanh quẩn trong bốn bức tường nhà thờ đáp ứng nhu cầu của các linh hồn mà thôi, mà phải xuống núi nhập thể đem Chúa vào lời loan truyền ơn cứu độ và hoạt động thăng tiến con người toàn diện như Chúa Giêsu đã làm xưa kia.

 
 

LênTrời-76: Chúa về trời.

Bốn mươi ngày sau khi Chúa Giêsu sống lại, Giáo Hội mừng lễ Ngài về trời. Biến cố này dựa: LênTrời-76

Bốn mươi ngày sau khi Chúa Giêsu sống lại, Giáo Hội mừng lễ Ngài về trời. Biến cố này dựa vào bài tường thuật của sách Tông đồ Công vụ kể rằng: Sau cuộc thương khó, Người vẫn cho các tông đồ thấy rằng Ngài vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông khoảng 40 ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa. Sau đó Người được cất lên trước mắt các ông và một đám mây bao phủ Người trước mắt các ông". Chúa Giêsu về trời là con người bằng xương bằng thịt của Người về trời, nhưng về bản tính Thiên Chúa, Người hứa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Vì thế những lời tường thuật về biến cố sống lại và lên trời của Chúa Giêsu trong bài Phúc âm và trong bài sách Tông đồ Công vụ như là một giao điểm.
Bài Phúc âm diễn tả biến cố như là nhiệm vụ kết thúc sứ mạng trần gian của Đấng Cứu thế, trong khi sách Tông đồ Cong vụ diễn tả khởi điểm của công cuộc làm chứng nhân vô nhiệm vụ truyền bá Lời Chúa của các tông đồ. Bài Phúc âm bất đầu với lời giải thích của Chúa Giêsu về cái chết vô sự Phục sinh của Người, như sự viên mãn của những điều ghi trong kinh Thánh. Điểm quan trọng trong sự viên mãn đó là việc sám hối và ơn tha lội được gán cho Thiên Chúa như lời Người đã hứa. Ngày nay, được công bố nhân danh Chúa Giêsu một điều quan trọng nữa tại giao điểm này là, thánh Luca không bao giờ cho thấy Chúa Giêsu thi hành sứ mạng của Người nơi dân ngoại, nhưng đến giờ phút này, Người lại sai các tông đồ đi rao giảng cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Cũng tại giao điểm đó, chúng ta thấy hai tâm tình được biểu lộ một cách rõ rệt. Nơi bài Phúc âm, Chúa Giêsu giơ tay chúc phúc cho các tông đồ và sau khi Người lên trời rồi, thì các ông trở về Giêrusalem, lòng đầy vui mừng vào trong đền thờ chúc tụng Thiên Chúa. Tâm tình đó diễn tả sự hài lòng của một Công việc được hoàn tất. Các tông đồ vào đền thờ chúc tụng Thiên Chúa, chính nơi đó qua bao thế hệ, dân Chúa cầu xin Người bên Đấng Cứu Thế cho họ. Ngày hôm nay đã xong, các tông đồ vào đó để chuẩn bị tạ ơn. Trái lại, tâm tình nơi sách Tông đồ Công vụ là tâm tình lo âu khủng hoảng. Câu hỏi: "Lạy Thầy có phải đã đến lúc Thầy khôi phục nước Israel chăng?" cho chúng ta thấy sự khắc khoải của con người trong Giáo Hội sơ khai đang chờ đợi ngày Nước Thiên Chúa hiển trị. Các giáo hữu tiên khởi chờ mong sự hiển trị của Đấng Thiên sai đến nỗi không mong gì đến của cải vật chất, ai có gì đem bán hết bỏ lại với nhau mà chung sống chờ đợi ngày Chúa đến.
Với tâm tình đó, sách Tông đồ Công vụ cho thêm một hình ảnh có tính cách tượng trưng đó là, một đám mày bao phủ Chúa Giêsu khuất mắt các tông đồ. Từ biến cố thăng thiên cho đến khi Chúa Giêsu trở lại, đó là thời gian Chúa Giêsu bị che phủ bởi những đám mày. Trước mắt chúng ta, chúng ta cần phải có đức tin để hiểu được rằng bên kia những đám mây mù Đấng Cứu Thế vẫn ở, là đèn soi sáng chúng ta như mặt trời Công chính, Người vẫn yêu thương săn sóc chúng la cho đến ngày Người trở lại.
Tâm tình bình an phó thác đó được thánh Phaolô trình bày nơi bài đọc thứ hai trong thư gởi tín hữu Êphêsô. Biến cố thăng thiên dưới cái nhìn của Phaolô chính là sự tiến vào đền thờ, là Nước Thiên Chúa của vị thượng tế duy nhất để giao hoà Thiên Chúa với loài người. Trong Do Thái giáo, ngày lễ, vị tương tế của đền thờ vào nơi cực thánh với máu sát tế  để cầu ơn tha tội, thì trong Tân ước, Chúa Giêsu chính là thừa tác viên thượng tế đời đời. Người về trời vô cùng cực thánh với hy lễ sự chết và sự Phục sinh của Người, để giao hoà con người lại với Thiên Chúa Cha một lần cho tất cả, từ tạo thiên lập địa đến tận thế. Và cũng như trong khi thầy cả thượng phẩm ở trong nơi cực thánh, dân chúng chờ đợi bên ngoài mong lúc ngài trở ra công bố ơn tha tội, thì con người nay cũng mong chờ Chúa Giêsu từ trời trở lại để quy phục mọi sự dưới chân Người, để hoàn tất ơn cứu rỗi đời đời cho nhân loại. Vậy đời sống người Công giáo là đời sống an bình, phó thác tin tưởng nơi ơn cứu rỗi của Thiên Chúa, dầu lúc Người vẫn còn bị che phủ khói mất chúng ta, bởi những đám mày dây đặc.
Để có việc làm cụ thể trong tuần này, tôi xét xem sự hiện diện của Chúa Giàu có sống động thật sự trong đời sống tôi không? Cá nhân, gia đình cũng như xã hội tôi có nhớ rằng Người về trời nhưng Người vẫn hứa cùng tôi là ở cùng tôi, cùng gia đình tôi, cùng thế gian này mọi ngày cho đến tận thế tôi hãy cố gắng khám phá ra sự hiện diện sống động đầy an ủi của Người qua những vui tươi, ngọt ngào, an ủi tôi gặp và kể cả những nhắc nhở của Người qua những đau buồn trong cuộc đời tôi. Điều quan trọng là với Người không bao giờ tôi được thất vọng chán nản, và điểm thứ hai là tôi cố gắng khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi những người mà tôi gặp trong đời sống hằng ngày của tôi.

 
 

LênTrời-77: CHÍNH ANH EM LÀ CHỨNG NHÂN

Lc 24, 46-53
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1.Đối với Đức Giêsu: hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua.

 
 

Trong sách Công Vụ Tông đồ, chúng ta đã đọc thấy biến cố Lên Trời xảy ra vào ngày thứ Bốn: LênTrời-77

Trong sách Công Vụ Tông đồ, chúng ta đã đọc thấy biến cố Lên Trời xảy ra vào ngày thứ Bốn mươi sau Phục sinh. Trái lại, trong sách Tin Mừng, Luca lại đặt biến cố này vào ngay chiều ngày Phục sinh. Làm như thế Luca muốn nêu bật tính thống nhất không thể tách biệt của mầu nhiệm Vượt Qua: biến cố Lên Trời biểu lộ vinh quang của Đấng Phục sinh và quyền bá chủ thần linh của Người. Biến cố ấy đóng dấu ấn kết thúc cuộc đời và Tin Mừng của Đức Giêsu bằng việc tôn phong thiên quốc của Đấng Mêsia. Mâu thuẫn rõ ràng về thời gian - điều hoàn toàn lương hợp với cách hành văn của thời ấy - không nhằm mục tiêu nào khác hơn là phô bày tất cả vẻ phong phú của biến cố cứu độ này.
Sau khi tỏ mình cho các môn đệ nhận ra mình: "Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà" (c.39) Đức Giêsu mở tâm hồn cho họ hiểu ý nghĩa của biến cố phục sinh: "Tất cả những gì sách luật Mô sê, sách các Ngôn sứ và các Thánh vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm " (c.44). Tất cả những gì các ông vừa trải qua cùng với Người, đều hiện rõ ý  nghĩa dưới ánh sáng của Thánh Kinh, và chính Thánh Kinh được thực hiện hoàn hảo trong mầu nhiệm Vượt Qua:
"Đấng Kitô phải chịu khổ hình rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại rồi phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha thứ".
Khi dẫn các môn đệ tới tận Bêtania, giờ đây, Đức Giêsu từ biệt và chúc lành cho các ông là những người kế thừa mình theo cách các thánh tổ phụ chúc lành cho các con vào lúc lìa cõi thế.
Và đang khi Người được "đem lên trời" các môn đệ "phủ phục bái lạy Người ", một cử chỉ tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi.
Mặc dầu chia ly hoặc phải chia ly, nhưng tất cả mọi người đều chấp nhận từ nay không còn được trông thấy, mà chỉ sống bằng lòng tin nên các môn đệ cũng "lòng đầy hoan hỉ", "các ông trở lại Giêrusalem, ở trong Đền thờ" - nơi mọi việc đã khởi đầu khi thiên thần báo tin cho ông Dacaria - các ông không ngớt chúc tụng Thiên Chúa".
Roland Meynet quảng giải: "Các môn đệ xem thấy Đức Giêsu lần cuối, cuộc chia ly thế là dứt khoát rồi: Tuy nhiên, các ông không buồn sầu, ngược lại, các ông trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỉ. Chính là vì Thầy không đi vào cõi chết như họ đã trông thấy ba ngày trước, nhưng được đưa lên trời, đến cùng Chúa Cha. Các ông bái lạy Người và không ngớt chúc tụng Thiên Chúa. Nếu Đền thờ là nơi và là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người, thì các ông biết rằng: nếu các ông luôn ở lại trước mặt Đấng Tối Cao, các ông sẽ không phải xa cách Đấng vừa về với Ngài. Liệu các ông có lòng đầy hoan hỉ như thế, nếu các ông không tin chắc rằng Đức Giêsu luôn ở với các ông, mặc dầu không trông thấy? Xem như nghịch lý: cuộc chia ly đối với các ông lại trở thành dấu chỉ rằng Đức Giêsu luôn ở bên các ông" ("L'Evangile selon saint Luc", Cerf, cuốn 2, trg 239).
Đối với Hội thánh: khai mở một kỷ nguyên mới.
Kế hoạch của Thiên Chúa được ghi trong Kinh Thánh không chấm hết cùng với cái chết, phục sinh và lên trời vinh hiển của Đức Giêsu, mà còn tiếp tục trong Hội Thánh. Sứ điệp Tin Mừng được hoạch định "cho muôn dân”, được rao giảng "bắt đầu từ Giêrusalem".
“Anh em là chứng nhân của những điều đó". Đức Giêsu đã tuyên bố với các môn đệ như vậy. Và trước khi "lìa bỏ các ông” để "được đưa lên trời ", Người loan báo cho các ông biết bằng, các ông sẽ "nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống", quyền năng mà Cha đã hứa, để hoàn thành sứ mạng vĩ đại vượt quá sức riêng của các ông. 
Moti giai đoạn lịch sử cứu độ được hoàn tất. Một kỷ nguyên mới được chuẩn bị, kỷ nguyên đi gieo rắc Tin Mừng bắt đầu từ Giêrusalem cho đến tận cùng trái đất. Công việc gieo trồng này sẽ bội thu, bởi vì nó bắt rễ từ những gì vừa hoàn thành tại Giêrusalem, đó là việc "Đức Giêsu chịu khổ nạn, sống lại và sự sám hối được rao giảng nhân danh Người để được ơn tha tội”.



II. BÀI ĐỌC THÊM:
1.Loan báo Tin Mừng bằng lời nói và bằng hành động 
(G. Bessière: “Dieu si proche" Năm C, DDB, trg 68-69).
Tận cùng lại là một khởi đầu.
Mọi sự đều xảy ra tại Giêrusalem.
Các môn đệ đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Giêsu, Người đã Phục sinh. Các ông đã bắt đầu hiểu rằng sự việc phải đi tới đích điểm đó và phải được hoàn thành cách minh quang. "Cần phải... ". Đây không phải là do định mệnh an bài. Cụm từ đó chỉ có ý nói rằng mọi biến cố tìm được ý nghĩa trong Thiên Chúa và chúng là tiếp nối của một quá khứ cao quý nhất. Một nụ hoa hé nở, một việc kỳ diệu Thiên Chúa làm ở giữa dân Người.
Đức Giêsu được "đưa lên trời ". Những lời trăn trối cuối cùng của Người là lệnh "sai đi ", và là lời loan báo cho họ một "sức mạnh từ trời cao ", đó là Thần Khí được ban xuống, Thần Khí mà các Ngôn sứ đã loan báo. Từ nay, những con người ấy sẽ mang trên tay và trong trái tim ơn tái sinh. Các ông sẽ làm lây lan ơn Thiền Chúa, biến đổi cả nhân loại. Đức Giêsu đi về cùng Cha Người, cốt để các ông ra đi đến tận cùng trái đất.
Cử chỉ cuối cùng của Đức Giêsu thâu tóm cả cuộc đời của Đức Giêsu trên trần Gian: "Đang khi giơ tay chúc lành cho các ông, thì Người lìa các ông... ". Đức Giêsu lên trời đang khi chúc lành, hình ảnh cuối cùng đó sẽ còn mãi: bàn tay đang chúc phúc.
Còn các ông "lòng đầy hoan hỉ và "các ông không ngớt chúc tụng Thiên Chúa trong đền thờ". Giữa trời và đất, giữa đất với trời, lời chúc phúc được giao lưu.
Giờ đây các môn đệ Đức Giêsu - những môn đệ thời xưa và những môn đệ thời nay - cần phải loan báo Tin Mừng cho đến tận cùng thế giới và tận cùng lịch sử, bằng lời nói và bằng hành động. Phải không ngớt chúc tụng.
Được sai đi truyền giáo thế chân các tông đồ
(G. Boucher: "Le ciel sur terre" Kerampir 29820 Bohars).
Đức Giêsu đã lên trời thế nào? Ta hãy nghe thánh Luca tường thuật thật giản dị: "Đức Giêsu lìa khỏi các môn đệ và được đưa lên trời ".
Có điều lạ là các môn đệ không biến cuộc chia ly thành một tấm bi kịch. Tác giả thuật lại rằng các ông trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỉ. Dường như các ông đã được soi sáng cho hiểu rằng: Đức Giêsu đã hoàn thành trọn vẹn sứ mạng cứu thế của Người. Từ nay đến lượt các ông có nhiệm vụ làm chứng.
Biến cố Lên Trời cho thấy công trình cứu độ này đã hoàn lành: mọi điều Thánh Kinh loan báo đều là lời của Thiên Chúa. Tất cả đều đã được thực hiện, cả đến việc phục sinh. Từ nay làm cho thế giới sám hối trở lại.
Biến cố Lên Trời chứng tỏ rằng Đức Giêsu chuyển giao nhiệm vụ cho các chứng nhân. Giờ đây đến lượt các môn đệ hoạt động. Họ có nhiệm vụ làm cho kế hoạch đã được hoàn thành nơi Đức Giêsu được tỏ hiện cho mọi dân mọi nước.
Đồng thời biến cố Lên Trời cũng còn là một lời hứa. Một sức mạnh nội tâm sẽ được ban xuống cho các chứng nhân của Đức Giêsu. Một sức mạnh nội tâm sẽ được ban xuống cho họ trời cao. Sức mạnh ấy củng cố trí luệ -và tâm hồn các ông, biến các ông nên can đảm.
Biến cố Lên Trời là lời chúc phúc từ trời. Một phúc lành làm cho con người cảm nghiệm năng lực của Thiên Chúa ấm nhập vào mình, cảm thấy mình được tôn trọng trong tự do và có khả năng sáng tạo để đạt kết quả.
Biến cố Lên Trời còn được tiếp nối bằng lời cầu nguyện vui tươi và tinh thần hoan hỉ. Các môn đệ không bị mồ côi chút nào. Các ông có Chúa Thánh Thần ở cùng. Các ông ở nhà của Người là Đền thờ. Các ông ca tụng những thiện hảo của Thiên Chúa, các ông chúc tụng Người.
Niềm vui của ta. hỏi rằng có ngang tầm với niềm vui của các môn đệ đầu tiên không? Lời cầu nguyện của ta có hòa nhập với lời tạ ơn của các ông không? Cuộc sống thường ngày của ta có phải là cuộc dấn thân truyền giáo theo chân các tông đồ không?
Bởi vì biến cố Lên Trời của Chúa phải được sống và được cử hành như thế đó.

 
 

LênTrời-78: DẶN DÒ CUỐI CÙNG CHO MÔN ĐỆ - VỀ TRỜI

Lc 24,46-53
 

Đầu bản văn này, Lc cẩn thận xác định: việc rao giảng Tin Mừng phải “khởi từ Giêrusalem”. Điều đó: LênTrời-78

1. Đầu bản văn này, Lc cẩn thận xác định: việc rao giảng Tin Mừng phải “khởi từ Giêrusalem”. Điều đó làm cho ta gặp lại một viễn ảnh vĩ đại và mỹ quan và thần học của ông mà nhiều lần ta đã nhắc tới (x. những bài chú giải về Lc trong tập này). Là một nghệ sĩ, Lc biết truyền vào toàn bộ tác phẩm của mình một chuyển động đánh vào mắt chúng ta. Trong phúc âm của ông, phần lớn đời sống công khai của Chúa Giêsu được trình bày dưới hình thức một cuộc đăng trình chậm rãi nhưng vĩ đại tiến về Giêrusalem. Chính tại nơi đây mà Chúa Giêsu phải đến để được “siêu thăng” (9,51). Ngay cả sau khi phục sinh, Chúa Giêsu tự thấy mình bị bắt buộc không được rời khỏi Giêrusalem, nếu có thể nói được như vậy. Ngài chỉ hiện ra trong thành hay trong các vùng phụ cận. Và để duy nhất hơn nữa các cuộc hiện ra của Ngài đều xảy ra trong cùng ngày Phục sinh. Đến các tông đồ cũng không được bỏ Gierusalem trước khi lãnh nhận thánh thần (24,49). Chỉ lúc bấy giờ mới bắt đầu rao giảng tin mừng và bành trướng Giáo hội “khởi từ Gierusalem” ra toàn cõi Giuđê, Samari, cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8), như Cv đã ghi lại. Chắc hẳn viễn tượng này phần nào có tính cách văn chương, nhưng phải nhận là Lc nhờ đó đã khéo léo trình bày ơn cứu rỗi đã xuất phát thế nào từ công cuộc duy nhất mà TC đã thực hiện trong Đức Kitô tử nạn và vinh hiển.


2. Như vậy, chính tại Giêrusalem mà Chúa Giêsu đã hoàn thành công trình cứu rỗi của Ngài, cũng như tại đó mà các tông đồ đã được mặc lấy “mãnh lực từ trên ban xuống” để phổ biến ơn cứu độ cho hết mọi người. “Mãnh lực từ trên ban xuống” đó là Thánh Thần. Quả vậy, sức mạnh và Thánh Thần luôn luôn đi đôi với nhau. Sau khi thắng cám dỗ của satan, Chúa Giêsu đã trở về Galilê trong quyền năng của Thánh Thần để khởi sự công việc loan báo “năm hồng ân của Chúa” (4,14). Quyền năng của Thánh Thần lại được trao ban cho các môn đệ sau khi Chúa Giêsu một lần nữa toàn thắng Tên Cám Dỗ trong cuộc tử nạn và sau khi Ngài đã được cất về trời. Họ tiếp tục công việc của Chúa Giêsu giữa mọi dân tộc trong quyền năng của Chúa Thánh Thần “Với một quyền năng lớn lao, các tông đồ làm chứng về sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô (Cv 4,33). Không phải nhờ quyền năng riêng mình mà họ làm được những phép lạ (Cv 3,16) song là nhờ quyền năng và danh Chúa Giêsu Kitô (Cv 4,7.10). Thời gian của Chúa Giêsu khai mạc với việc “Thái dương từ cao xanh khấn đến viếng thăm” (1,78). Thời gian của Giáo hội bắt đầu với “quyền năng từ trên ban xuống”. Các tông đồ được mặc lấy mãnh lực ấy cũng như Chúa Giêsu đã được xức dầu nhờ Thánh thần và quyền năng (Cv 10,38) “Khả năng nghề nghiệp” (tenue professionnelle) của các tông đồ, chính là mãnh lực trên ban này. Sức mạnh ấy cho các Ngài được mọi quyền năng thần linh như Chúa Giêsu đã được. “Các tông đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động và củng cố lời bằng phép lạ kèm theo” (Mc 16,20). Vào đầu thời gian của Đức Kitô, đã vang lên sứ điệp hồng ân cứu rỗi này: “Thánh Thần sẽ đến trên bà và quyền năng Đấng tối cao sẽ trên bà rợp bóng” (1,35). Vào đầu thời gian Giáo hội đã hoàn thành lời hứa của Chúa Giêsu Kitô, lời hứa sai đến trên các tông đồ và mọi tín hữu quanh họ điều Chúa Cha đã hứa: mãnh lực từ trên cao. Chính Thánh Thần làm dấy lên trong cung lòng Đức Maria Đấng Thánh tuyệt vời Con TC (1,35); chính Thánh Thần, qua Giáo hội, tạo ra “các thánh”, các “con cái của TC” (tên gọi dành riêng cho các Kitô hữu đầu tiên). Sức sinh nở của Giáo hội cũng như của Đức Maria là do mãnh lực từ trên tác động. Đức Maria là tiền ảnh của Giáo hội vậy.


3. Các câu 50 đến 53, nơi Lc kể lại việc Chúa lên trời, xem ra mâu thuẫn với Cv 1,3-11. Theo bản văn Cv: “Sau cuộc tử nạn, Chúa Giêsu đã cho thấy mình vẫn sống với nhiều tang chứng rành rành. Suốt 40 ngày, Ngài đã hiện ra cho họ...” (Cv 1,3). Bản văn phúc âm hình như cho thấy tất cả những gì Lc thuật lại trong chương 24 đã xảy ra trong ngày phục sinh” lời chối trăn của Chúa trước khi từ giã cõi trần (cc.41-49) và tiếp ngay sau khi hiện ra chiều ngày phục sinh.
Xem ra Lc đã theo những ý hướng phụng vụ trong việc trình bày các biến cố trên: ông muốn nói mỗi chúa nhật của cộng đoàn kitô hữu là một lễ Phục sinh, một ngày vượt qua. Chính theo những quan niệm vừa có tính cách văn chương vừa có tính cách thần học mà Lc đã đặt trỉnh thuật tử đạo của Gioan tẩy giả trước thời gian vị tiền hô thực sự đi vào chuỗi lịch sử các biến cố được tường thuật. Cũng trong viễn tượng này mà Lc nói CGS bắt đầu rao giảng tại Nazareth (4,14-30)(như thể theo một chương trình toàn bộ nào đó) mặc dầu đáng lý ra ông phải đặt về sau thì mới đúng lịch sử hơn. Có nhiều dấu hiện trong phúc âm thứ ba mà công vụ cho thấy Lc đã hình thành một quan niệm về sách Cv khi ông bắt đầu viết phúc âm (x.H.J.Cadbury, The Making of Luke-Acts) Cho nên giả thiết rằng một cách nào đó, ông đã muốn dùng Cv “sửa sai” phúc âm thì không đúng lắm. Chỉ cần biết rằng ông không theo những ý hướng thuần túy lịch sử.



4. Trước khi từ giã các môn đệ, CGS “giơ tay” chúc lành cho họ (c.50). Đấng chưa bao giờ chúc lành cho môn đệ của mình, giờ đây chúc lành cách trọng thể. Việc giơ hai tay để chúc lành là một chỉ không gặp thấy chỗ nào khác trong phúc âm Lc cũng như trong TƯ. Cử chỉ này muốn nói CGS như là vị tư tế đang chúc lành. Quang cảnh này nhắc nhở cho độc giả một cảnh tương tự trong sách Huấn đạo. Trong đoạn cuối sách này nói về thày cả thượng phẩm Simon như sau: “Bấy giờ người bước xuống và giơ tay lên trên cộng đoàn Israel đang tụ họp. Người thốt lên lời chúc lành của Chúa và hãnh diện nói ra thánh danh Giavê. Và họ phục lạy một lần nữa để lãnh nhận phúc lành của Người” (Hđ 50,20-21).
Đối với Lc, Đức Kitô qua việc chúc lành, mạc khải ra phúc lành mà TC đã ban trong chính con người của Ngài và đã hứa từ xưa cho Abraham: “Mọi thế hệ trên mặt đất sẽ được chúc phúc trong giòng giống của ngươi” (Cv 3,25-26). Có lẽ chúng ta được phép coi Lc đã có ý hướng đó trong việc ông mở đầu phúc âm với câu chuyện một vị tư tế, sau khi dâng của lễ, đã không thể chúc lành cho dân vì sự cứng tin của mình (Lc 1,22). Thừa tác vụ của Giacaria là một phụng vụ chưa hoàn tất. Nhưng vào cuối phúc âm, người ta thấy một tư tế đã kết thúc hy lễ của mình bằng một phúc lành đích thực. Ở đây phụng vụ đã đi đến chỗ hoàn thành.



5. Chúng ta nhận thấy Lc đã khách quan, vắn gọn và kín đáo, thuật lại các công việc của cộng đoàn tông đồ sau khi CGS về trời. Họ trở lại Giêrusalem theo mệnh lệnh của Chúa phục sinh (c.49). Nhưng bản văn nói tiếp: “Họ trở lại...trong niềm hân hoan”. Người theo sát mặt chữ sẽ tự hỏi như nhiều nhà chú giải: CGS từ giã họ mà lại vui được sao ? Thật ra Lc muốn nhấn mạnh rằng cộng đoàn tông đồ đã xem biến cố này không phải là một cuộc ra đi cho bằng là việc CGS khuất mắt họ để ở gần họ hơn. Lc nơi đây đã tỏ ra giống Gioan một cách kín đáo.
Niềm vui phở lở bây giờ là niềm vui của những người không những đã được thấy Đấng sống lại mà còn thấy sự phục sinh của Ngài liên hệ với sự ra đi, và sự ra đi liên hệ với lời hứa ban Thánh Thần của Ngài. “Niềm vui vĩ đại” này chứng tỏ việc Thăng thiên để chấm dứt cuộc đời trần gian của CGS là một sự hoàn thành việc phục sinh, là khởi điểm cho thời gian thánh của Giáo hội. Niềm vui vĩ đại này là dấu hiệu đầu tiên của “thời buổi thanh nhàn Chúa gởi tới” trong đó “mọi sự đã được thực hiện” và TC “sẽ sai Đấng Messia Người đã tiền định” (Cv 3,20-21). “Nỗi vui lớn lao” của các nhân chứng Thăng thiên là việc đi vào “niềm hân hoan”, niềm hân hoan từ nay không hề chấm dứt, mà còn bùng vỡ ra nơi nào có Kitô hữu, “và ông hân hoan với cả nhà vì đã được tin vào TC” (Cv 16,34); niềm vui ấy tái diễn mỗi lần cộng đoàn Kitô hữu tụ họp bẻ bánh: “Họ cùng nhau dùng bữa, lòng hân hoan, dạ đơn thành” (Cv 2,46). Và có lẽ nơi đây Lc cũng có một chủ ý rõ rệt: “Niềm vui vĩ đại” của các nhân chứng Thăng thiên là âm vang và kết thúc của niềm vui mà thiên sứ hứa cho thày cả Giacaria và cho một số người sau khi Gioan tẩy giả sinh ra: “Ngươi sẽ mừng vui hoan hỉ; và lắm người sẽ được vui mừng vì việc nó sinh ra” (Lc 1,14). Nhưng đặc biệt đó là sự thể hiện trọn vẹn niềm vui mà thiên sứ hứa ban cho các mục đồng, “một niềm vui vĩ đại cho cả toàn dân” (Lc 2,10). Ở đây, khởi đầu và kết thúc của Phúc âm Lc đã liên kết với nhau.
6. Ý nghĩa, trong chương trình cứu rỗi, của việc Đấng phục sinh từ giã môn đệ và thế gian còn được kín đáo diễn tả trong câu sau cùng của Phúc âm Lc. Sau khi các môn đệ trở lại Giêrusalem “họ hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng TC”. Đối với Lc, Đền thờ là mục đích thực sự của CGS, là nơi sau cùng Ngài cư trú và giảng dạy (Lc 19,45tt; 21,37-38; 22,53). Bây giờ đền thờ trở thành nơi cư trú của cộng đoàn chứng nhân thăng thiên, và còn là nơi tập trung sau này cho cộng đoàn chứng nhân hiện xuống (Cv 2,46; 3,1tt; 5,12.20-21; 5,42...) Trong đền thờ, từ nay sẽ vang lên lời ngợi khen TC do Giáo hội của các chứng nhân thăng thiên, sẽ vang lên lời chúc tụng (c.53: eulogein) phát xuất từ lời chúc lành (c.50: êulôgêsein) của Đấng đã lên trời. Ở đây cũng như trong CƯ, eulogein ám chỉ lời cảm tạ và chúc tụng TC qua kinh nguyện và thánh ca. Và một lần nữa, có lẽ trong ý của tác giả phúc âm, khởi điểm và cùng điểm đã liên kết chặt chẽ với nhau. Vì ngay từ Lc 1 và 2, Đền thờ đã đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt là như chỗ của những người “ngóng đợi phúc cứu chuộc của Israel” (Lc 2,38; 1,8tt; 2,27.37.46). Khi Gioan tẩy giả sinh ra, Giacaria đã cất lời khen ngợi: “Chúc tụng Chúa, TC của Israel” (1,64.68). Simêon cũng ẵm lấy con trẻ Giêsu trên tay mà ca ngợi rằng: “Mắt tôi đã thấy ơn cứu độ Người đã dọn sẵn trước mặt muôn dân” (2,28.30). Và hôm nay bắt đầu thực hiện những gì đã được đoan hứa và diễn tả ra trong lời ngợi khen chúc tụng ấy. Ơn cứu độ đã dọn sẵn và đã được ban tặng cho muôn dân trong lời chúc tụng ngợi khen TC, một phụng vụ chẳng bao giờ cùng.



KẾT LUẬN
Trình thuật Thăng thiên được trình bày như sự khai mào cho cảnh hiện xuống vĩ đại và cho lịch sử của một Giáo hội từ nay vắng bóng Đức Giêsu. Cuối phúc âm, có lẽ chúng ta có một dấu hiệu tiên báo sự bành trướng của Giáo hội trong việc CGS đem các môn đệ ra ngoài thành Giêrusalem; nhưng đó chưa phải là điều cốt yếu. Trong đoạn kết phúc âm này, CGS vẫn còn là mục tiêu. Và chủ ý của Lc ở đây còn lộ rõ hơn nữa khi ông cố ý tìm cho cử chỉ cuối cùng của Đấng hiển vinh một hình ảnh vĩ đại trong CƯ: hình ảnh vị thượng tế giơ tay chúc lành cho dân chúng đang phủ phục dưới chân mình.



Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Hôm nay chúng ta mừng lễ Thăng thiên, mừng ngày CGS trở về với Cha Ngài và lãnh nhận vinh quang đã hứa ban cho Con Người. Thực ra, mầu nhiệm thăng thiên còn phong phú hơn thế. CGS đã trở về với Chúa Cha từ lâu; ngay từ ngày phục sinh, Ngài đã được tôn vinh rồi, như nhiều đoạn trong kinh thánh đã minh chứng. Hôm nay đúng ra chúng ta mừng việc Ngài tỏ mình một cách khả giác sau cùng cho các môn đệ trước khi trở lại vào ngày cánh chung. Các bài đọc cho chúng ta thấy việc thăng thiên thực ra là việc biến đổi cách thức hiện diện của Chúa Kitô trên trần gian này. Thật vậy, nếu Chúa Giêsu trở về với Chúa Cha luôn mãi, điều đó không có nghĩa là Ngài từ bỏ loài người, nhưng chỉ muốn đổi cách thức hiện diện với họ. Vì nếu phúc âm phải được rao giảng cho mọi người ở mọi thời và ở mọi nơi, thì CGS phải hiện diện cho họ một cách thích ứng. Để được như vậy, Ngài đã chọn nhiều cách hiện diện khác nhau: qua những chứng nhân được Chúa Thánh Thần tác động, qua bí tích Thánh thể, qua tiếng nói của Giáo hội trong tâm hồn người tín hữu. Bằng những cách thức khác nhau đó, CGS có thể hiện diện trong mỗi người chúng ta và trong mọi thế hệ nhân loại. Nhưng nếu CGS tiếp tục mang một thể xác trên trần gian này, sự hiện diện của Ngài sẽ bị giới hạn vào một nơi, một thời. Với việc Thăng thiên, CGS đã bỏ cách hiện diện hạn hẹp bằng thể xác, để từ nay hiện diện luôn mãi cho mỗi người chúng ta.



2. Cuộc khải hoàn của CGS cũng là cuộc khải hoàn của các tín hữu. Như việc tử nạn, Ngài lên trời là vì chúng ta. Cả hai biến cố đều nhằm cứu rỗi chúng ta. Ngài đã nói cùng các môn đệ: “Ta đi dọn chỗ cho các con”. Khi từ giã họ, Ngài đã dâng lên TC một lời cầu nguyện mà cũng là một lời hứa: “Lạy Cha, những kẻ Cha đã ban cho con, con muốn là con ở đâu họ cũng được ở đó để họ chiêm ngắm vinh quang của Con” (Ga 17,24) CGS lên trời để lãnh lấy vinh quang cho các tín hữu kết hợp với Ngài.


3. Khi về trời dưới mắt các môn đệ, CGS dạy cho chúng ta một cách hết sức cụ thể đây là mục đích của đời sống. “Đô thành chúng ta là ở trên trời” (Ph 3,20), kinh thánh đã nói. Chỗ khác kinh thánh cũng rút từ việc thăng thiên một kết luận áp dụng cho các môn đệ: “Anh em hãy tìm kiếm những điều trên cao, nơi Đức Kitô đang ngự” (Col 3,1). Vậy nếu chúng ta xác tín rằng mình phải ở “trên cao”, thì trước hết hãy qui hướng đời sống chúng ta về đó để bảo đảm hạnh phúc vĩnh cửu cho mình. Dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là phải xuất thế, xa lánh trần gian. Trái lại, phải nỗ lực làm việc để chu toàn phận sự TC giao phó cho mỗi người trong hoàn cảnh Ngài đã đặt định. Nhưng đừng để mình bị nô lệ bởi những vật trần gian này: của cải, gia đình, việc làm, thành công đến độ bỏ quên thiên đàng. Hạnh phúc cho ai trải qua cuộc đời trong việc tuân theo “Đấng đã lên ngự bên hữu ngai uy nghi trên các tầng trời” (Dt 8,1). CGS cũng đã nói với Thánh Gioan trong một thị kiến: “Ai thắng, ta sẽ cho ngự với Ta trên ngai của ta” (Kh 3,21)
 
 

LênTrời-79: Vinh quang mà chúng ta được kêu gọi

Dẫn vào Thánh lễ và sám hối
 

Ngày hôm nay, chúng ta kỷ niệm cuộc vinh thăng của Chúa Giêsu, người anh của chúng ta, khi: LênTrời-79

Ngày hôm nay, chúng ta kỷ niệm cuộc vinh thăng của Chúa Giêsu, người anh của chúng ta, khi Thiên Chúa Cha phục hồi vinh quang Con của Người. Chúa Giêsu muốn chúng ta cùng được chia sẻ trong vinh quang của Người. Chúng ta hãy hồi tâm trong giây lát về vinh quang mà chúng ta được kêu gọi.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Con Thiên Chúa, là Hoàng tử Bình an.
Lạy Chúa Glêsu, Chúa là Con Thiên Chúa và là Con Đức Trinh Nữ Maria.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Lời hoá thành nhục thể và là sự huy hoàng của Thiên Chúa Cha.
Dẫn vào các bài đọc
Bài đọc 1: Cv 1,1-11
Chúng ta nghe về cuộc thăng thiên của Chúa Giêsu, và lời hứa của Người sẽ gửi Thánh Thần đến cho các môn đệ.
Bài đọc 2: Ep 1,17-23
Thánh Phaolô tuyên bố ý nghĩa biến cố thăng thiên: Thiên Chúa đặt Chúa Giêsu vượt trên mọi quyền lực trần thế, đặt Người làm đầu toàn thể Giáo Hội và Chúa muôn loài
Tin Mừng: Lc 24,46-53
Trước khi về trời, Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần xuống trên các môn đệ.
Bài giảng 1
CON ĐƯỜNG KHÁC THƯỜNG DẪN TỚI VINH QUANG
Trong ngày lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay, chúng ta cử hành cuộc vinh thăng của Chúa Giêsu. Với nhân tính, Chúa Giêsu đã từng chịu đau khổ và đã chết, giờ đây ngự trị trong vinh quang bên hữu Thiên Chúa Cha. Con đường khác thường nào đã đưa Người tới vinh quang. Chân thực mà nói, trước tiên các môn đệ nhận thấy điều không thể tin được rằng không có ai, lại càng không phải là Đấng Mêsia, đi tới vinh quang bằng con đường như thế.
Các môn đệ hy vọng và mơ ước rằng Chúa Giêsu là Đấng như đã hứa - Đấng Mêsia. Nhưng khi Người bước vào cuộc tử nạn, ước mơ của họ tan dần theo mây khói. Một Đấng Mêsia nhục nhã, khổ hình là điều họ không thể nhận thức được. Họ tìm kiếm câu trả lời nơi Kinh Thánh nhưng không thấy.
Tuy thế, từ từ trí khôn họ mở ra và họ nhận ra rằng có một cách thức khác trong việc nghiên cứu Kinh Thánh. Họ đi dần tới nhận thức rằng tất cả các ngôn sứ đã loan báo trước rằng Đấng Mêsia sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết, và theo đó Người mới tiến vào vinh quang. Vâng, Người muốn thực hiện con đường khác thường dẫn đến vinh quang. Và rồi, phải chăng đó là điều khác thường ? Làm sao một người có thể đạt tới vinh quang mà không qua những hy sinh và đau khổ ?
Từ cải nhìn của thế gian, giờ chết của Chúa Giêsu là giờ của sự thất bại. Tệ hơn nữa, đó là giờ của sự ô danh và nhục nhã. Nhưng với cuộc chỗi dậy của Chúa Giêsu từ còi chết, Thiên Chúa biến đổi trở nên giờ của vui mừng chiến thắng, giờ hồng phúc dành cho ta. Cái chết của Chúa Giêsu chẳng những không phải là kết thúc của giấc mơ, đó chính là thực tế được đón nhận. Và vì thế các tông đồ bắt đầu hiểu được sứ điệp của Chúa Giêsu "chết và Phục Sinh" – vinh quang chỉ đạt được qua đau khổ. Trước là thương đau, sau là niềm vui.
Chúa Giêsu được đưa lên bên hữu Thiên Chúa Cha. Chốn vinh hiển nhất của Nước Trời nay thuộc về Chúa Giêsu, Người ngự bên hữu. Vị trí đó là của Người bởi Người là con theo thần tính, có quyền được hưởng, nhưng Người cũng từ bỏ đặc quyền đó, để rồi chỉ thu hồi lại bằng quyền của người tôi trung yêu mến. Chẳng phải là đau khổ như thế đem đến cho Người vinh quang. Đó là cuộc sống Người dẫn đưa, một cuộc sống phục vụ và tự hiến cho đến chết, cái chết mà từ đó Người sẽ chỗi dậy vinh quang qua cuộc Phục Sinh của Người. Người đã không hề tìm kiếm vinh quang cho chính mình, nhưng là vinh quang của Cha. Con đường dẫn đưa Đức Giêsu tới vinh quang không phải là con đường dễ. Nếu dễ, thì nó chẳng giúp gì cho ta.
Sau khi chiêm ngắm Chúa Giêsu về trời, các môn đệ trở lại Giêrusalem với niềm vui trời. Tại sao vui ? Bởi vì giờ đây họ xác tín rằng Chúa Giêsu vẫn sống. Vì thế tâm hồn họ rạo rực niềm vui. Tất cả những điều này bày tỏ phúc lành của Thiên Chúa, Đấng biến những ước mơ thầm kín nhất của ta thành sự thật bằng những cách thức khác thường nhất. Người khiến mọi sự đều trở nên tốt đẹp nơi những ai biết đặt trọn niềm tin cậy vào Người. Người làm cho điều thiện hảo xuất hiện từ sự dữ, sự sống từ cõi chết, và vinh quang tú những đau khổ và phiền muộn. Có những lần trong cuộc sống, chúng ta thấy chính mình lao xuống nẻo đường của đau buồn và cô đơn. Chúng taphái nhớ rằng chúng ta không cô đơn. Chúa Phục Sinh vẫn luôn đồng hành với ta. Người thấu hiểu mọi nỗi đau khổ của con người. Người gần ngay bên ta để cuộc đời ta được kết hợp với Người. Biến cố Phục Sinh và về trời của Chúa:Giêsu mở tất cả diễn tiến cuộc đời của ta tới một viễn cảnh, không phải chỉ là một kết thúc tốt đẹp nhưng là một kết thúc vinh quang.
Ngày lễ hôm nay hướng đến chúng ta nhiều hòn. Chúa Giêsu về trời chỉ ra cho chúng ta cùng đích của hành trình trần thế, đem lại chiều kích vĩnh cửu cho cuộc sống, của chúng ta.
Chúng ta sống trong niềm hy vọng những lời của Chúa Giêsu sẽ trở thành sự thật đối với chúng ta: "Nơi Thầy đi, anh em sẽ đi theo." Nghĩa là chúng ta phải có bổn phận rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa trên khắp thế giới.


Bài giảng 2
HIỆN DIỆN VÀ KHIẾM DIỆN
Ngày Chúa Giêsu về trời, Người rút khỏi sự hiện diện về mặt thể lý với các tông đồ. Nhưng khiếm diện về mặt thể lý không có nghĩa là kết thúc sự hiện diện. Chúa Giêsu Phục Sinh hoàn toàn tự do với mọi giới hạn của không gian và thời gian. Điều đó không thay thế cho sự di chuyển của Người khỏi mặt đất, nhưng Người hằng hiện diện ở mọi nơi trên trái đất.
Hiện diện thể lý không phải là tất cả. Dĩ nhiên, thỉnh thoảng thực sự cần đến trong cách thức tương quan thân mật. Trong cuộc sống, nhiều nỗi thất vọng của chúng ta có nguyên nhân là vì những gì chúng ta nhìn thấy và tiếp xúc không phải luôn luôn tạo nên sự gần gũi thân mật như chúng ta nhắm đến. Hai người có thể rất gần về mặt thể lý, nhưng lại sống tách biệt, sống cô đơn bởi vì họ không gặp được nhau trong tâm trí và tâm hồn. Họ như những vỏ ốc trên bãi biển.
Ngược lại, người ta có thể rất gần với người khác cho dẫu họ cách xa nhau hàng ngàn dặm. Với họ để cùng nhau tiến triển phải có những giai đoạn hiện diện cũng như khiếm diện. Trong sự khiếm diện, chúng ta nhìn thấy người khác theo cách thức mới.
Nếu chúng ta có khả năng hiện diện tràn đầy với các bạn của ta khi chúng ta ở với họ, thì sự khiếm diện của ta sẽ sinh hoa trái. Họ sẽ ấp ủ những kỷ niệm và sự nồng ấm của sự hiện diện của ta. Bởi thế, không chỉ sự hiện diện mà cả sự khiếm diện cũng trở thành một quà tặng.
Khi ta nghĩ đến người nào đó với tình yêu mến, một tương quan tinh thần được thiết lập giữa chúng ta, và chúng ta bước vào mối thân tình mới. Vì khi ta yêu mến ai sẽ không có chỗ cho sự xa cách.
Chúa Giêsu về trời không phải là một hành trình vượt ra ngoài không gian, nhưng là hành trình về quê. Chúng ta không nghĩ rằng Người đã bỏ rơi chúng ta ; Người đã một lần nhập thế nhưng giờ đây Người trở về nơi mà Người thực sự thuộc về. Nếu như thế, thì Kitô giáo chỉ là một thứ tôn giáo hoài niệm. Chúa Giêsu về cùng Thiên Chúa. Trong sứ vụ tại thế của Người, Người chỉ hiện diện tại một nơi vào một thời điểm. Nhưng giờ đây Người hiệp nhất với Thiên Chúa, Người hiện diện bất cứ nơi nào Thiên Chúa hiện diện. nghĩa là ở khắp mọi nơi.
Các Kitô hữu tiên khởi hiểu rất rõ điều này. Họ biết rằng Chúa Giêsu vẫn ở với họ, mặc dù không như, cách thức trước đây. Họ tin rằng Người vẫn chia sẻ cuộc sống với họ, và sự chết có nghĩa là được kết hợp với Người trong vinh quang muôn đời.
Tuy nhiên, chúng ta có thể nhìn lại với sự thèm muốn những người đã được diễm phúc gặp Chúa Phục Sinh bằng chính đôi mắt của họ. Nhưng Tin Mừng cho thấy rằng chính những người sống trong hoàn cảnh mà chúng ta thèm muốn đó lại là những người không thực sự nhận ra Chúa Giêsu, cho tới khi Lời Kinh Thánh được giải thích và Bánh được bẻ ra.
Ngày nay, là những người Kitô hữu, chúng ta có. Cùng những phương cách nhận ra Chúa: Kinh Thánh và việc bẻ bánh. Vấn đề tiếp xúc với Chúa Giêsu bằng đức tin, thế hệ của quá khứ cũng không được ưu tuyển hơn những người hiện tại.
Chúa Giêsu vẫn tin tưởng vào các môn đệ (và ngày nay nơi chúng ta) để bảo đảm rằng Tin Mừng được rao giảng và được sống. Người cần chúng ta trở nên những nhân chứng cho sự hiện diện của Người trên trần gian.



Bài giảng 3
CHỨNG NHÂN CHO ĐỨC KITÔ .
Trước khi rời các môn đệ, Chúa Giêsu đã uỷ quyền cho họ rao giảng Tin Mừng khắp thế giới. Để giúp họ thực. Hiện sứ vụ dó, Người hứa gửi Thánh Thần đến. Và ngày Lễ Ngũ tuần, lời hứa của Người đã được thực hiện.
Nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng cho thế giới ngày nay được uỷ thác cho chúng ta. Chúng ta là những chứng nhân cho Chúa Kitô. Đây là một hồng ân nhưng cũng là một trách nhiệm nặng nề. Tuy nhiên, chung ta có thể tin tường vào sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần. Nhưng chúng ta trở nên chứng nhân như thế nào ?
Làm chứng bằng lời. Chúng ta làm chứng bằng việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Diều này bao hàm cả việc giải thích và bảo vệ đức tin.
Làm chứng bằng hành động. Cây táo mà không cho được trái táo nào cả sẽ là một bằng chứng cho vườn cây trái nghèo nàn. "Dừng giới thiệu điều gì cả trừ phi bạn có thể đưa ra một thí dụ tiêu biểu về nó" (Thoreau).
Như thế làm chứng phải bằng chính đời sống. Cây cối chỉ là bằng chứng cho sự sống được hiện hữu. Chúng cao, thẳng, bất động, thinh lặng nhưng lại có khả năng hùng biện cho sự sống. Những bông hoa nở rộ là bằng chứng cho vẻ đẹp mộc mạc bởi sự hiện hữu chúng là loại cây gì. Và người Kitô hữu trở thành chứng nhân bởi những gì họ là. Bài giảng đầy sức hùng biện nhất đó chính là bài giảng thinh lặng của mẫu gương. Ngày nay người ta không còn muốn nghe những bài giảng về đức tin. Họ muốn thấy Tin mừng trong những việc làm.
Chứng nhân của đời sống người Kitô hữu thì có sức mạnh hơn bất cứ cuộc tranh luận nào. Đó là những con người mà cuộc sống của họ sản sinh những chứng từ rực sáng với quyền năng biến đổi của đức tin. Trong cuộc sống của họ, đức tin là một ngọn lửa bừng sáng ; trong khi cuộc sống của những người khác đức tin chỉ là một thứ ánh sáng mờ hoặc là tia lửa bất thường. Đó là những người khinh ghét những nhược điểm và tật xấu của bản tính nhân loại nơi chính mình, sống đời sống đơn giản, nhận Đức Kitô là gương mẫu, là dấu chỉ của Thiên Chúa và của thực tại siêu việt. Chứng nhân Tin Mừng có sức lôi cuốn nhất mà thế giói tìm kiếm đó là sự quan tâm đối với con người và đức ái dành cho người nghèo, đau yếu, và đau khổ. Lòng khoan dung làm cơ sở cho thái độ và những hành động này đứng vững trong những tương phản rõ rệt với sự ích kỷ của con người. Nó làm chỗi dậy những chất vấn nghiêm túc dẫn đưa người ta đến với Thiên Chúa và Tin Mừng. Một sự cam kết cho bình an, cho công bằng, cho nhân quyền là một chứng nhân cho Tin Mừng. Mức độ thứ tư của việc làm chứng, ấy là, làm chứng bằng chính cái chết. Nhưng đây không phải là điều ban, cho hoặc đòi hỏi nơi tất cả mọi người. Điều đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta đó là làm chứng bằng chính đời sống của chúng ta.
Đây không phải là cách thức nhẹ nhàng, dễ dàng, nhưng là cách thức mời gọi đặc biệt về sự bền bỉ, mạnh mẽ và can Thế giới ngày hôm nay đang khao khát Tin Mừng Đức Kitô. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống" (Lc 24,49). Đó chính là quyền năng Chúa Thánh Thần. Chúng ta cần cùng một quyền năng đó để chúng ta làm chứng cho Đức Giêsu. Ai làm chứng cho Người sẽ được chia sẻ vinh quang với Người.



LỜI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế: Khi chúng ta cầu khẩn Thiên Chúa thương đến những nhu cầu cần thiết của ta, chúng ta hãy cầu xin nhân danh Đức Giêsu Kitô - Đấng đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha trong vinh quang và làm trung gian cho ta.
Xướng: Xin cho những người bước theo Chúa, được Đức Kitô nhóm lên ngọn lửa hăng hái khao khát Nước Trời.
Xướng: Để Ngài củng cố bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần trên những ai đang hoạt động cho công lý và hoà bình thế giới.
Xướng: Để những ai không còn hy vọng gì ở bên kia của cuộc sống này, được ban ân sủng đức tin.
Xướng: Để cuộc sống của chúng ta làm chứng cho đức tin mà chúng ta tuyên xưng trên môi miệng.
Chủ tế: Lạy Cha, xuyên qua biến cố Con Cha về trời đã trở nên Chúa của vũ trụ, thống trị tất cả những gì là tốt đẹp nhất vì Ngài là sự sống và là nguồn sống, thống trị tất cả sự dữ, vì Ngài là Đấng chiến thắng, thống trị mọi quyền lực, vì Ngài là Đấng thẩm phán, thống trị mọi thất bại và tội lỗi, vì Ngài là Đấng tha thứ và yêu thương. Chúng con tin cậy Ngài quan tâm đến những ước nguyện này của chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

 

 

LênTrời-80: LỄ THĂNG THIÊN, TA HÃY NÓI VỀ THIÊN ĐÀNG...

VÀ  TRẦN THẾ
 

Ngài lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Câu này trong kinh Tin Kính của chúng ta nhắc nhở đến: LênTrời-80

"Ngài lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha". Câu này trong kinh Tin Kính của chúng ta nhắc nhở đến ngày lễ hôm nay. Việc Chúa Giêsu thăng thiên liên quan thế nào đến chúng ta ? Có lẽ chúng ta bị cám dỗ nói: "Chúa Giêsu về cùng Thiên Chúa. Tốt lắm ? Xin chúc mừng Ngài ? ".
Lý luận như vậy chứng tỏ là không biết đức tin Kitô giáo. Vì Con Thiên Chúa đã làm người, nên không gì xảy ra cho Ngài lại xa lạ đối với chúng ta cả, vì tất cả những gì Ngài sống, Ngài đều sống vì chúng ta. Cái chết và cuộc Phục Sinh của Ngài làm cho Ngài trở thành vị lãnh đạo toàn thể nhân loại. Thánh Phaolô dạy rằng, Chúa Giêsu Kitô là Đầu và chúng ta hết thảy, những con người thuộc mọi thời đại và mọi nơi, chúng ta họp thành Thân Thể của Ngài. Những gì xảy đến cho Đầu không thể không liên quan đến Thân mình. Thánh Lêô viết: "Vậy Thăng Thiên là chính chúng ta được lên nơi mà Đầu đã đi trước chúng ta, nơi mà Thân mình cũng được gọi đến đó ".
Ước muốn Thiên đàng. .
Việc Chúa Giêsu, Đầu của chúng ta lên trời, mời gọi chúng ta xem xét lại niềm cậy trông của chúng ta. Một trong những hình thức của niềm cậy trông này là ước ao thiên đàng. Nói về thiên đàng trong môi trường của chúng la thật là không nghiêm túc. Chính cuộc sống mới thu hút chúng ta. "Mọi người đều muốn lên thiên đàng, nhưng không ai muốn chết cả ". Hoặc như một nhân vật của Pagnol nói: "Đối với tôi, chết cũng không sao, nhưng rời bỏ cuộc đời làm cho tôi đau đớn ".
Nhân dịp một đám tang, ta nghe nói: "ôi, ông ấy sung sướng hơn chúng ta! ... Bà ấy đi đến một thế giới tốt đẹp hơn? ". Nhưng không ai ao ước đi thay cho người đã khuất, không ai muốn đi đến thế giới tốt đẹp hơn đó cả. Hãy thành thật thú nhận, chúng ta không ham chết cũng chẳng ham đi gặp Chúa. Ham sống chẳng có gì là không lành mạnh cả vì sự sống là ân huệ của Thiên Chúa. Ngược lại, có một thứ muốn chết mang tính bệnh hoạn hơn là được thúc đẩy bởi niềm hy vọng. Nhưng, việc chúng ta thiếu ước muốn thiên đàng lại chẳng cho thấy niềm hy vọng của chúng ta còn quá yếu kém sao?
Nếu nhìn vào chứng tá của những người đi trước chúng ta, những người đã tin và hy vọng, thì việc chúng ta không ưa thích thiên đàng có thể khiến chúng ta phải lo lắng. Thánh Phaolô cảm thấy bị kẹt giữa ước muốn gặp Chúa Kitô và việc phục vụ anh em. Ngài thồ lộ: "Đối với tôi, sống là Chúa Kitô và chết là mọt mối lợi, nhưng nếu sống ở trần gian này giúp cho tôi làm một công việc tông đồ phong phú hơn, tôi không biết phải lựa điều gì. Tôi muốn ra đi để ở với Chúa Kitô và điều này đáng ước ao hơn nhiều?. Thánh lnhaxiô thành Antiôkia van nài các Kitô hữu Roma đừng cản trở cuộc tử đạo của ngài: "Hãy để cho tôi làm mồi cho thú dữ, nhờ đó tôi được vui hưởng Thiên Chúa .:. Đừng lấy mất khỏi tôi sự sống thật ... vì chính lúc đó tôi mới là một nam nhi".
Quan tâm đến trằn thế.
Niềm hy vọng Kitô chỉ giới hạn vào ước muốn thiên đàng thôi sao? Không đâu. Nó cũng quan tâm đến trái đất của loài người nữa, nếu không, nó sẽ là một niềm hy vọng bất toàn và không trung thành với dự định của Thiên Chúa. Đó là ý nghĩa của câu thiên thần hỏi các môn đệ: "Hỡi những người xứ Galilê, tại sao các người còn đứng đó mà nhìn trời?". Các môn đệ Chúa Giêsu được sai đi tiếp tục sứ vụ của họ, tiếp tục công trình cứu độ. Họ phải loan báo Tin mừng khắp nơi.
Theo gương các tông đồ, người kitô hữu không đứng đó mà nhìn trời. Tùy khả năng của mình, họ lo biến đổi thế giới này, làm cho nó trở thành một nơi cư ngụ xứng đáng hơn với con người. Đó là cách họ biểu lộ niềm hy vọng của mình. Cảnh phán xét cuối cùng trong Tin mừng thánh Matthêu mặc khải cho chúng ta mối liên hệ hữu cơ giữa việc vào thiên đàng: "Hãy đến đây những kẻ được Cha Ta chúc phúc ", và những cử chỉ cụ thể nhất để cho thế giới thêm xứng đáng hơn với con người: "Các ngươi đã cho Ta ăn, uống, mặc, các ngươi dã đón tiếp Ta". Niềm hy vọng thiên đàng được liên kết với việc phục vụ con người:
Thánh âu tinh cảnh cáo chúng ta đừng tôn kính Chúa Giêsu Kitô trên trời mà không chăm sóc thân mình của Ngài dưới thế, tức là nhân loại: "Ta lên trời nhưng Ta vẫn còn ở trần thế ; Ta lên trời vì Ta là Đầu, nhưng Thân mình của Ta vẫn còn ỡ dưới đất. Nó ở đâu? Ở khắp trần thế, hãy coi chừng, đừng đánh đập nó. đừng hung bạo đối với nó". Chúng ta chỉ có hy vọng gặp lại Đầu của chúng ta nếu chúng ta lo lắng cho Thân mình Ngài



Sứ điệp
Niềm hy vọng Kitô thúc đẩy chúng ta sống một điều nghịch lý vì nó hướng chúng ta đến những điều trái ngược nhau. Chiều dọc bởi ước mong thiên đàng, chiều ngang bởi việc dấn thân trong thế giới này. Mỗi lần chúng ta đặt thêm một chút hy vọng vào lòng anh em chúng ta thì chúng ta gần thiên dàng hơn một chút. Vì chúng ta làm cho hạt giống Nước Trời lớn lên, đó là đất mới này mà Chúa Giêsu sẽ đến làm cho phát triển đến mức sung mãn.
Nhờ thánh lễ này nguyện xin Chúa giúp chúng ta thêm can đảm hành động để xây dựng Nước Trời.
Guy Mori

 
 

LênTrời-81: VẪN KHÔNG HỀ LÙI BƯỚC - Mark Link S.J.

Bài đọc:Cv 1: 1-11 ; Ep 1: 17-23 ; Lc 24: 46-53
Chủ đề:
Chúa Giêsu giao cho các môn đệ sứ mệnh hoàn tất công việc truyền bá Tin Mừng cho muôn dân.. 

 

Có truyền thuyết xưa kể lại lúc Chúa Giêsu về trời như sau: Khi Chúa Giêsu về đến trời, thân xác: LênTrời-81

Có truyền thuyết xưa kể lại lúc Chúa Giêsu về trời như sau: Khi Chúa Giêsu về đến trời, thân xác Ngài vẫn còn mang đầy thương tích dấu vết của cuộc hành trình thập tự giá. Tay chân Ngài vẫn còn hình lỗ đinh, cạnh sườn Ngài vẫn mang dấu đòng đâm, trên lưng vẫn còn in hằn những lằn roi và trên đầu vẫn in hình thương tích mũi gai. Các thiên thần trên thiên quốc nhìn thấy những vết tích này liền quì gối xuống trước mặt Ngài, và sửng sốt không ngờ Ngài đã mang thương tích trầm trọng đến thế. Sau đó, Thiên sứ Gabriel đứng lên tâu với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, Ngài đã chịu đau đớn biết bao trên cõi dương trần! Liệu tất cả bàn dân thiên hạ trên mặt đất có hiểu và đánh giá được hy sinh Ngài đã chịu và tình yêu bao la Ngài đã dành cho họ không? Chúa Giêsu trả lời: “Ồ ! Không!  Chỉ một nhúm người ở Palestine biết điều ấy thôi, số dân còn lại vẫn chưa hề nghe nói đến Ta, chưa hề biết Ta là ai và cũng chẳng hề biết nỗi đau đớn và tình yêu bao la Ta dành cho họ”. Nghe Chúa Giêsu nói thế, Thiên sứ Gabriel quá đỗi ngạc nhiên, liền tâu tiếp:
“Thế thì làm sao tất cả muôn dân còn lại trên trần thế hay biết được nỗi đớn đau và Tình yêu của Ngài?”. Chúa Giêsu đáp: “Ngay trước khi rời dương trần, Ta đã truyền bảo Phêrô, Giacôbê, Gioan và một số bạn bè họ đi rao giảng cho muôn dân biết về Ta. Họ sẽ loan báo cho tất cả những người họ gặp, rồi đến lượt những người này lại truyền rao cho những người khác nữa, nhờ đó cuối cùng toàn thế giới sẽ biết được tình yêu Ta dành cho họ”. Gabriel nghe thế lại càng bối rối hơn vì Thiên Sứ này quá rõ đám dân trần thế rất yếu hèn, chóng quên và dễ nghi ngờ, liền nhìn Chúa Giêsu thưa tiếp;



“Nhưng lạy Chúa, lỡ Phêrô, Giacôbê và Gioan bị mệt mỏi và thất bại thì sao? Lỡ họ quên mất hoặc ngờ vực Chúa thì tình hình sẽ ra thế nào? Và cho dẫu chuyện này không xảy ra đi nữa, thì lỡ đám người được họ loan báo về sau lại trở nên bi quan, lãng quên hoặc ngờ vực Chúa thì sao? Ngài không dự tính trước những điều này và không có một kế hoạch dự bị sao?
Chúa Giêsu trả lời: “Ta đã dự liệu tất cả những điều đó, nhưng Ta đã quyết định dứt khoát không thay đổi kế hoạch. Đây là kế hoạch duy nhất Ta chọn vì Ta tin cậy Phêrô, Giacôbê và Gioan sẽ không làm Ta thất vọng và cả đám người được họ loan báo cũng sẽ không làm Ta thất vọng.
Mãi đến 20 thế kỷ sau, Chúa Giêsu vẫn không thay đổi kế hoạch đã định. Phêrô, Giacôbê và Gioan đã không phụ lòng Ngài, đám dân được họ loan báo Tin Mừng cũng đã không phụ lòng Ngài. Và hiện giờ Ngài đang tin cậy vào chúng ta.
Lễ Thăng Thiên là một trong những lễ quan trọng nhất của năm Phụng vụ. Trong lễ này chúng ta mừng Chúa Giêsu khải hoàn về với Cha Ngài. Chúng ta có thể ví lễ Thăng Thiên như một cuộc chuyền gậy từ vận động viên này sang vận động viên khác trong một cuộc chạy tiếp sức. Cách đây hơn 2000 năm vào ngày hôm nay Chúa Giêsu đã chuyền chiếc gậy công tác của Ngài cho Phêrô, Giacôbê và Gioan. Đến lượt họ, họ đã chuyền cho những kẻ đến sau, rồi những người này lại chuyền gậy ấy đến chúng ta . Và giờ đây đến lượt chúng ta lại phải chuyền gậy cho những người kế tiếp.



Thực tế mà nói, điều này có ý nghĩa gì? Việc ra đi rao giảng về Chúa Giêsu như các đấng Tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan đã làm mang ý nghĩa gì? Có phải là trèo lên các bục cây ở phố chợ để bảo cho mọi người về Chúa Giêsu không? Dĩ nhiên một số trong chúng ta cần làm như thế nhưng đối với đa số thì việc rao giảng về Chúa Giêsu mang một ý nghĩa nền tảng và căn bản hơn nhiều. Đó chính là sống Lời Chúa Giêsu truyền dạy trong chính cuộc sống riêng của mỗi người, để rao giảng Chúa Giêsu cho thế gian, chúng ta phải bắt đầu bằng cách tự rao giảng Ngài cho chính chúng ta trước. Có câu ngạn ngữ Trung Hoa như sau:
“Tiên chánh kỳ tâm hậu tu kỳ thân,
Tiên tu kỳ thân hậu tề kỳ gia.
Tiên tề kỳ gia hậu trị kỳ quốc
Tiên trị kỳ quốc hậu bình thiên hạ”
(Tâm hồn có chân chính thì bản thân mới tốt đẹp,
Bản thân có tốt đẹp thì gia đình  mới thuận hoà,
Gia đình có thụân hoà thì quốc gia mới thạnh trị,
Quốc gia có thạnh trị thì thế giới mới hoà bình.)
Cũng thế, muốn rao giảng Chúa Giêsu cho thế gian, chúng ta phải đưa Ngài vào chính cuộc sống chúng ta trước, sau đó lời rao giảng về Ngài mới toả lan khắp cùng thế giới. Nếu có đủ số người Kitô hữu biết đưa Chúa Giêsu vào cuộc đời mình thì gợn sóng ấy sẽ biến thành cơn sóng thủy triều, rồi cơn sóng thủy triều ấy sẽ thay đổi bộ mặt trái đất thành tuyệt vời đến mức Chúa Giêsu chưa bao giờ dám mơ ước.
Đấy chính là sứ điệp của ngày lễ hôm nay. Các bài đọc hôm nay đưa ra cho chúng ta sự thách thức trước niềm tin cậy mà Chúa Giêsu đặt nơi chúng ta.
Chúng ta hãy kết thúc bằng những lời Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ trong bài giảng trên núi, vì chúng mang một ý nghĩa đặc biệt soi sáng cho những điều chúng ta vừa nói đến trên đây:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt thì lấy gì ướp nó mặn lại được? Nó không còn ích lợi gì nữa, chỉ còn nước quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân. Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được… Cũng thế, ánh sáng của các con phải chiếu toả ra trước mặt kẻ khác để họ xem thấy việc thiện chúng con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5: 13-16)

 
 

LênTrời-82: CHÍNH ANH EM LÀ CHỨNG NHÂN

 Nữ tu Anna Phạm thị Bích Hằng
Dòng Đa Minh Tam Hiệp 

 

Không có nước mắt, hay nỗi buồn đi kèm một chút luyến lưu trong lúc chia tay như lẽ thường tình: LênTrời-82

Không có nước mắt, hay nỗi buồn đi kèm một chút luyến lưu trong lúc chia tay như lẽ thường tình, mà chỉ có "lòng đầy hoan hỷ". Phải chăng tình yêu của các môn đệ dành cho Đức Giêsu chưa đủ, chưa nhiều và chưa sâu ? Nhưng như thế thì hiểu sao được việc các ông dám liều chết để làm chứng cho Thầy? Vì rằng "không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu" (Ga 15,13)
Niềm hoan hỷ của các môn đệ chứng tỏ các ông thực sự được lột xác trong niềm tin, trở thành một con người hoàn toàn mới. Bởi từng biến cố trong đời Đức Giêsu mà các ông chứng kiến được chính Thầy ráp vào những gì mà sách luật Môsê, các sách ngôn sứ và các Thánh vịnh đã nói như chìa khóa mở trí, mở lòng, mở rộng niềm tin và thăng hoa mọi ước muốn trần gian nơi các ông. Chia tay không có nỗi buồn, nhưng các ông có được kinh nghiệm sâu xa về ơn cứu độ, về sứ mạng của Đức Giêsu và về sứ mạng của chính mình. Từ đó, các ông hoan hỷ trở nên "chứng nhân" cho sự sám hối để được ơn tha tội. Đó cũng là khát vọng mà Đức Giêsu gởi gấm cho các môn đệ cũng như cho mỗi Kitô hữu.
Để trở nên nhân chứng cho sự sám hối, các môn đệ cũng đã sám hối và hoán cải trí lòng khỏi ước muốn cất giấu lớp vỏ chân quê của cánh làng chài trong vương quyền vinh quang sẽ được Đức Giêsu đem lại. Cũng vậy, mỗi Kitô hữu được mời gọi sám hối mỗi ngày, sám hối trong cách đọc và hiểu lời Chúa còn quá mơ hồ, sám hối vì thiếu can đảm để phác họa chân dung người Kitô đích thực cho cuộc đời, sám hối vì "sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm" (Rm 7,19), mặc cho tiếng lương tâm réo gọi còn bản thân thì giả điếc làm ngơ. Sám hối vì chưa dám sống trung thực trong một xã hội mà thật thà thường thua thiệt, không muốn mất đi những mối lợi nho nhỏ nên phải tìm cách lắt léo dù biết rằng: “Được cả thế gian mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì" (Mt. 16,26)
Nhưng cũng như các môn đệ, người Kitô muốn thể hiện khát vọng mà Đức Giêsu gởi gấm vẫn cần lắm "quyền năng từ trời cao ban xuống", quyền năng ấy không phải để trấn áp thiên hạ nhưng để phục vụ, để sống chính danh Kitô, để biết chọn lựa một cách sống, một hành động xứng hợp với tư cách của chứng nhân cho Tin Mừng Cứu độ .
Cuộc sống hôm nay vẫn còn đó những khó khăn, những thách đố khiến tâm tư người tín hữu phải bao phen trăn trở trước những chọn lựa. Vì để sống chân tình, người tín hữu Kitô sẽ phải chấp nhận mất mát và rất khó kiếm đuợc chân đứng cũng như những thành công trong xã hội. Nhưng Đức Giêsu về Trời, Ngài mở ra một bầu trời hy vọng cho các môn đệ, nên các ông thấy lòng đầy hoan hỷ và bầu trời ấy vẫn hiện hữu mời gọi "chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì lòng đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của luơng tâm. ..và chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín" (Dt. 10,22 - 23)

 
 

LênTrời-83: Những giáo huấn cuối cùng và lên trời

 (Lc 24,46-53 - Lễ Thăng Thiên - C)

1.- Văn mạch 

 

Chương 24 của Tin Mừng Luca được xây dựng thành 3 đoạn: Mồ trống (cc. 1-2): đây là đoạn: LênTrời-83

Chương 24 của Tin Mừng Luca được xây dựng thành 3 đoạn:
Mồ trống (cc. 1-2): đây là đoạn duy nhất song song với hai Tin Mừng Mc và Mt;

Các môn đệ Emmau (cc. 13-35);

Đức Giêsu hiện ra với Nhóm Mười Một (các ông nhận ra Chúa: cc.36-43; Người ban sứ điệp Phục Sinh: cc. 44-49);

Một kết luận ngắn với câu truyện Lên Trời và việc các môn đệ tạ ơn trong Đền Thờ, từ đó Tin Mừng đã khởi sự (cc. 50-53).

Khi hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu cho thấy Ngài chính là Đức Kitô đã chịu đóng đinh, Ngài cũng không được gìn giữ khỏi đau khổ và thiếu thốn, khỏi bị từ khước và thù ghét, khỏi những đau đớn và cái chết. Nhưng cũng chính Đấng chịu đóng đinh là Đấng Phục Sinh. Ngài đã bị điệu đi đến cái chết trong tình trạng thê thảm và tàn bạo, nay Ngài đang đứng trước mặt các ông như là Đấng đang sống đã thắng vượt cái chết và không thể chết nữa. Rồi Đức Giêsu cho các môn đệ hiểu rằng các ông chẳng những không phải sợ là bị hủy diệt hoàn toàn, mà còn có thể và phải đi làm chứng về biến cố trọng đại này. Đức Giêsu đã dựa vào Kinh Thánh để trình bày cuộc Khổ Nạn - Phục Sinh, rồi xác định sứ mạng của các môn đệ.

2.- Bố cục

Bản văn này gồm ba đơn vị:

1) Đức Giêsu Phục Sinh ban sứ điệp (24,46-49);

2) Đức Giêsu lên trời (24,50-53).

3.- Vài điểm chú giải

bắt đầu từ Giêrusalem (47): Câu này là câu chuyển tiếp đưa sang tập thứ hai của tác phẩm Luca (= Sách Công vụ).

Chứng nhân (48): Tại đây, tác giả Lc đã nói trước điều ông sẽ triển khai trong sách Cv, bắt đầu ở Cv 1,21-22. Ngoài TM IV, sách Cv là quyển sách thuộc Tân Ước trong đó từ này và các từ phái sinh (làm chứng, chứng tá, chứng từ) được sử dụng nhiều nhất: 29 lần. Lý do là vì quyển sách này là sách về việc làm chứng. Như thế, từ martys, “chứng nhân”, cũng có một tầm quan trọng đặc biệt. Đặc biệt không được lẫn lộn từ này với tư cách “mục chứng”: Hy ngữ cổ điển, và chính ông Lc (Lc 1,2) dùng từ autopês, “người chứng mắt thấy”. Vai trò của một autopês khá thụ động, và tư cách này thực ra chỉ là một tình trạng thực tế: autopês là người được may mắn chứng kiến một biến cố nào đó; do đó, nếu cần phải làm chứng hoặc toà án buộc làm chứng, người ấy có thể trình bày những gì mình đã thấy, như mình đã thấy. Còn chứng nhân (martys) có một vai trò tích cực hơn nhiều, có một sứ mạng phải hoàn tất: đó là không những công khai công bố những gì mình đã chứng kiến, mà còn xác định ý nghĩa, tầm mức của biến cố ấy nữa. Là người đi qua biến cố, “chứng nhân” trở thành người tuyên cáo (trong bối cảnh tôn giáo, thần học) sứ điệp đã được hàm chứa trong biến cố ấy. Câu truyện tuyển chọn ông Mátthia thay thế cho Giuđa minh hoạ điểm phân biệt này (Cv 1,15-26). Bởi vì trong thực tế, ta khó mà hiểu được vì sao lại phải đi tới một tuyển chọn, thậm chí một sự chuẩn nhận để cắt đặt một chứng nhân nếu người này chỉ này chỉ thăm) nếu vai trò người được chọn vượt quá khung cảnh chật hẹp này, nếu cùng với việc công bố biến cố, người ấy còn phải biết minh giải đúng đắn biến cố ấy. Vậy các chứng nhân mà sách Cv sẽ nói tới trong cả sách, là những nhà thần học về các hoạt động cứu độ của Chúa.

Muốn làm chứng về sự sống lại của Đức Chúa (Cv 4,33), thì phải công bố chân tính và toàn thể sứ vụ của Đức Giêsu. Công việc làm chứng này của các tông đồ được mô tỏ rõ ràng trong các bài diễn từ (Cv 2,22-36; 3,12-16; 4,8-12; 5,29-32; 10,34-43; 13,26-41; 17,30-31).

điều Cha Thầy đã hứa (49): dịch sát là “lời hứa của Cha Thầy”, là Thánh Thần, như Cv 1,4b.5b sẽ diễn tả rõ. Thánh Thần sẽ là nguồn của “quyền năng” trong câu tiếp theo.

giơ tay (50): Đây là cách chúc lành của tư tế (xem Aharon trong Lv 9,22), hoặc của vị thượng tế (xem Simôn II trong Hc 50,20-21). Điều mà ông Dacaria (1,21-22) đã không thể làm được, thì Đức Giêsu đang làm cho người đang đi theo Ngài. Mặc dù tác giả Lc mô tả Đức Giêsu thực hiện một hành vi tư tế, nền thần học của ông không hề đề cập đến Đức Giêsu như là tư tế.

được đem lên trời (50): Đây là thụ-động-cách thay tên Thiên Chúa (x. Cv 1,9.11.22). Các câu 50-53 dường như mâu thuẫn với Cv 1,3-11. Theo bản văn Cv, Đức Giêsu “ còn dùng nhiều dấu cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Ngài vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Ngài đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa” (Cv 1,3). Trong khi đó, bản văn TM dường như lại bảo rằng tất cả những gì ông Lc kể trong ch. 24 đã xảy ra trong ngày Phục Sinh, rằng di chúc của Chúa đang rời xa thế gian này (cc. 41-49) và cuộc Lên trời của Ngài (cc. 50-53) theo liền ngay sau cuộc hiện ra vào chiều ngày Phục Sinh.

Dường như ông Lc đã có những ý hướng phụng vụ khi trình bày các biến cố: mỗi ngày chúa nhật của cộng đoàn ki-tô hữu là một lễ Phục Sinh, một ngày Phục Sinh.

các ông bái lạy Người (52): Các môn đệ làm một cử chỉ nhận biết Đức Kitô. Họ thinh lặng bái lạy để thờ phượng Ngài, như người Do-thái đã làm trước mặt thượng tế Simôn (Hc 50,22) để nhận phúc lành của ông.

trở lại Giêrusalem (52): Như vậy, Tin Mừng Lc kết thúc tại nơi nó đã bắt đầu (1,5). Giêrusalem đã là mục tiêu của hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu (23,5); bây giờ Giêrusalem lại được nêu ra như điểm nhắm. Nhưng rồi, điểm nhắm lại trở thành khởi điểm khi “lời” lan tỏa đến tận cùng trái đất (Cv 1,8).

lòng đầy hoan hỷ (52): dịch sát là “với niềm vui lớn lao”. Đây là niềm vui của những người không những đã được thấy Đấng Phục Sinh, mà còn đã đặt sự Phục Sinh của Ngài liên hệ với cuộc ra đi của Ngài và đặt cuộc ra đi này liên hệ với lời hứa Thánh Thần. Lời nhắc đến “niềm vui lớn lao” khiến ta hiểu rằng biến cố Lên Trời chấm dứt thời gian Đức Giêsu ở tại trần thế, mà cũng là hoàn tất cuộc Phục Sinh của Ngài, là khởi đầu của thời gian Giáo Hội. Niềm vui này của những người chứng kiến cuộc Lên Trời là tiếng vọng và sự hoàn tất của niềm vuimà sứ thần hứa cho tư tế Dacaria và cho một số đông vào ngày ông Gioan Tẩy Giả chào đời (Lc 1,14). Nhưng nhất là niềm vui này thể hiện trọn vẹn niềm vui lớn lao mà sứ thần hứa choc ác mục đồng, “một niềm vui cho toàn dân” (2,10). Ở đây cũng vậy, khởi đầu và kết thúc gặp nhau.

hằng ở trong Đền thờ (53): Như vậy, tác giả Lc bắt đầu mô tả đời sống cộng đoàn của Hội Thánh phôi thai (x. Cv 2,46; 3,1; 5,42). Ở đây lại nổi bật tầm quan trọng của Đền thờ theo hướng nhìn của Lc.

4.- Ý nghĩa của bản văn

Đức Giêsu Phục Sinh ban sứ điệp (46-49)

Trong tư cách Đấng Phục sinh, Đức Giêsu giải thích cho các môn đệ hiểu rằng toàn thể định mệnh của Ngài đã được Thiên Chúa muốn như thế, và Ngài giúp các ông hiểu ý nghĩa của Kinh Thánh, như Ngài đã làm cho hai môn đệ Emmau. Cái chết của Ngài trên thập giá và cuộc phục sinh của Ngài cũng đã làm trọn nội dung sau này phải được loan báo cho mọi dân tộc. Nhân danh Đức Giêsu, nghĩa là trong chứng từ về Ngài, khởi đi từ tất cả những gì đã được biểu lộ xuyên qua công trình và toàn thể cuộc tiến bước của Ngài cho đến thập giá và sự sống lại, muôn dân sẽ được loan báo sự hoán cải và sự tha thứ tội lỗi. Mọi người phải quay trở lại với Thiên Chúa, Đấng đã nhờ cuộc sống, cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu mà chứng tỏ tình yêu và quyền lực của Ngài. Rồi Đấng Phục Sinh biến các môn đệ trở thành chứng nhân của Ngài. Họ sẽ phải làm chứng về các biến cố trong cuộc đời của Ngài cũng như cuộc gặp gỡ với Ngài đây và việc Ngài trở về trời (x. Cv 1,21t). Mỗi lời loan báo đều phải phát xuất từ các chứng nhân này, nghĩa là không dựa trên những suy diễn, những ý tưởng hoặc ý kiến cá nhân, nhưng trên các biến cố lịch sử và trên những giáo huấn do Đức Giêsu ban cho. Do đó, lời loan báo chỉ có thể phát xuất từ những người đã tháp tùng và lắng nghe Đức Giêsu, đã hiểy ý nghĩa của cuộc đời Ngài nhờ được Ngài giải thích.

Các môn đệ không thể hiểu bằng sức riêng nhiệm vụ bao la này. Do đó, Đức Giêsu báo cho các ông là Ngài sẽ gửi cho các ông điều Chúa Cha đã hứa, tức là Thánh Thần. Chính Thánh Thần, là quyền lực của Thiên Chúa, sẽ giúp cho các ông có khả năng loan báo với xác tín và can đảm công trình và sự phục sinh của Đức Giêsu (x. Cv 2,22-36).

Đức Giêsu lên trời (50-53)

Sau khi đã dùng nhiều cách để làm cho các môn đệ tin chắc vào sự sống lại của Ngài và sau khi đã chuẩn bị các ông đi vào nhiệm vụ, Đức Giêsu từ biệt các ông. Ngài sẽ không hiện diện bên các ông theo kiểu hữu hình nữa. Nhưng Ngài sẽ cùng đi với các ông trên mọi nẻo đường. Ngài giơ tay lên để từ biệt các ông. Trong khi Ngài đi xa dần khỏi mắt các ông, Ngài chúc lành cho các ông. Ngài gửi đến cho các ông sức mạnh của hành vi chúc lành của Ngài, để sức mạnh này ở lại với các ông và nâng đỡ các ông suốt đời trong mọi hoạt động.

Chỉ đến lúc này, tác giả mới nhắc đến niềm vui của các môn đệ và việc các ông chúc tụng Thiên Chúa. Oâng Dacaria (1,64.68-79) và cụ Simêôn (2,28-32) đã chúc tụng Thiên Chúa. lời chúc tụng Thiên Chúa liên tục vang lên khi dân chúng chứng kiến những hành vi quyền lực của Đức Giêsu (7,16; 13,13; 17,15; 18,43). Sau khi đã trải nghiệm qua Đấng Phục Sinh hành vi quyền lực lớn lao nhất của Thiên Chúa, nghĩa là sự Phục Sinh của Đức Giêsu, các môn đệ chỉ có một câu trả lời đúng đắn: ca ngợi trong niềm hoan hỷ và chan hòa tâm tình biết ơn đối với Thiên Chúa.

Kết luận

Tác giả TM Luca đã bắt đầu tác phẩm với việc ông Dacaria dâng hương và dân chúng cầu nguyện trong Đền thờ (1,8-10), để xin Thiên Chúa nhớ lại dân Ngài và tỏ lòng nhân ái. Bây giờ tác giả kết thúc Tin Mừng với việc các môn đệ của Đức Giêsu chúc tụng Thiên Chúa trong Đền thờ. Các ông đã cùng đi với Đức Giêsu cho đến khi Ngài lên trời, các ông đã biết hơn bất cứ ai Thiên Chúa đã nhớ lại dân Ngài thế nào. Và tất cả những ai nhờ chứng tá của các môn đệ và qua tác phẩm của ông Luca mà trải nghiệm lòng từ bi cao cả của Thiên Chúa, thì không thể làm gì hơn là tham gia vào việc ca ngợi chúc tụng Thiên Chúa.

5.- Gợi ý suy niệm

1. Hôm nay là Lễ Lên Trời. Khi mừng đại lễ này, chúng ta tưởng niệm lần cuối cùng Đức Giêsu tỏ mình ra hữu hình với các môn đệ. Ngài chọn một cách thức hiện diện khác để hỗ trợ các môn đệ trong hoạt động truyền giáo. Từ nay, Ngài sẽ đồng hành với họ, sẽ hiệp thông với họ khi chia sẻ bữa ăn, sẽ sống động khi họ giải thích Sách thánh và khi họ ý thức rằng họ đang được đón nhận sự sống viên mãn của Ngài. Ngài bỏ cách hiện diện trước đây bằng thân xác, để từ nay hiện diện mãi mãi với mỗi môn đệ.

2. Khi đi về trời, Đức Giêsu cũng chỉ cho chúng ta biết mục tiêu của đời sống chúng ta. Nếu chúng ta xác tín rằng chúng ta thuộc về “trên cao”, thì chúng ta sẽ phải qui hướng trọn cuộc sống chúng ta về đó. Chúng ta vẫn sống giữa các thực tại trần gian, chúng ta vẫn phải sử dụng các yếu tố trần gian, nhưng không bám víu vào các phương tiện ấy, trái lại, biết dùng chúng cách tích cực mà chuẩn bị cho mình và người khác đi vào cuộc sống vĩnh cửu. Trước ngày đi chịu chết, Đức Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm nhưỡng vinh quang của con” (Ga 17,24).

3. Thánh Thần, là quyền năng của Chúa Cha và của Đức Giêsu, luôn ở với Họâi Thánh để hỗ trợ Họâi Thánh trong sứ mạng đã nhận từ Đức Giêsu. Đọc sách Cv, chúng ta nhận ra được sức năng động của Thánh Thần.

4. Nếu các tín hữu gắn bó mật thiết với Đức Giêsu, họ nhận ra quyền lực vô song của Thiên Chúa trong việc cho Đức Giêsu sống lại. Khi đó, họ chỉ có thể cảm thấy tưng bừng hoan hỷ và lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa sẽ hồn nhiên từ đáy lòng trào dâng lên môi miệng họ. Và trọn cuộc sống của họ là một chứng từ về quyền lực cứu độ của Thiên Chúa mà họ đã trải nghiệm.
Lm. Phaxicô Vũ Phan Long

 
 

LênTrời-84: SLC - Lên trời

Đọc lại Phúc Âm, chúng ta nhận thấy rất nhiều lần Chúa Giêsu đã tỏ lộ quyền năng và vinh quang: LênTrời-84

Đọc lại Phúc Âm, chúng ta nhận thấy rất nhiều lần Chúa Giêsu đã tỏ lộ quyền năng và vinh quang của Ngài cho các môn đệ. Ngài nói với các ông về Nước Trời và hứa ban Chúa Thánh Thần cho các ông.
Thế nhưng, có lễ chúng ta sẽ ngạc nhiên bởi vì đầu óc các ông hầu như hoàn toàn khép kín. Các ông chỉ biết nghĩ đến địa vị và danh vọng. Ngay cả khi Chúa Giêsu sắp sửa hoàn tất sứ mạng của mình, thế mà các ông vẫn còn đặt câu hỏi:
- Có phải bây giờ là lúc Thầy sắp khôi phục lại vương quốc Israen ?
Khi Chúa Giêsu nói về Nước Trời, hay Nước Thiên Chúa, thì đầu óc lệch lạc của các ông lại hiểu là nước Do Thái, hay vương quốc Israen. Và Chúa Giêsu đã không trả lời cho câu hỏi của các ông. Thay vì thỏa mãn sự tò mò, Chúa Giêsu đã lợi dụng vào đó để hướng dẫn các ông tới một bình diện cao cả hơn.
Thực vậy, theo Ngài: Thiên Chúa là chủ tể tuyệt đối của thời gian và của tất cả những gì  sẽ xảy ra. Tuy nhiên, Ngài không muốn cho con người biết trước, nhất là về những ý định đời đời của Ngài. Trong khi đó, Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần cho các ông, để các ông trở thành những chứng nhân trung thành của Ngài ở Giêrusalem, trên khắp xứ Palestine và cho đến tận cùng bờ cõi trái đất.
Sau khi nói những lời ấy, Chúa Giêsu đã lên trời trước cái nhìn thán phục của các ông. Thực vậy, các ông đứng đó và nhìn lên trời cho tới khi Chúa Giêsu biến mất và hai thiên thần hiện đến và nói với các ông:
- Tại sao các ông còn đứng đó mà nhìn làm chi ?
Chúa Giêsu hôm nay đã về trời thế nào, thì ngày mai chính Ngài sẽ hiện đến như thế. Phải, Chúa Giêsu sẽ lại đến một lần nữa trong thế gian vào ngày sau hết, vào ngày tận cùng của trời và đất.
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta đi tới hai nhận định sau đây:
Nhận định thứ nhất, đó là mặc dầu Chúa Giêsu đã về trời, nhưng Ngài vẫn thực sự ở bên chúng ta qua Giáo hội và nhờ các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Chúng ta vẫn có thể chạy đến kêu cầu với Ngài. Ngài tuy xa mà lại gần, tuy gần mà lại xa. Tuy vắng mặt mà vẫn thực sự hiện diện trong lòng cuộc đời chúng ta.
Nhận định thứ hai, đó là rất nhiều khi chúng ta cũng giống như các môn đệ, chỉ biết cúi đầu xuống như muông chim, tranh giành nhau những quyền lợi nhỏ nhen về địa vị, về danh vọng, về tiền bạc vật chất mà sao lãng chính linh hồn của mình.
Đây là một sai lầm tệ hai, như lời Chúa Giêsu đã phán:
- Được lời lãi cả thế gian, mà mất linh hồn thì có ích lợi chi ?
Bởi đó phải xác định một hướng đi cho cuộc sống, cũng như phải điều chỉnh lại bản thân của mình, bằng cách uốn nắn sửa đổi  những sai lỗi, những khuyết điểm, đồng thời hãy ố gắng thực thi những hành động bác ái yêu thương để chất đầy trên đôi tay nhỏ bé những công nghiệp cần thiết.
Không phải Chúa chỉ đến với chúng ta một lần nữa trong ngày tận thế, để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nhưng ngày hôm nay Chúa còn đến với chúng ta qua những biến cố xảy ra. Vì thế, phải tỉnh thức để nhận ra tháh ý Ngài qua những biến cố ấy để rồi cố gắng chu toàn.
Và hơn thế nữa, Ngài sẽ đến với chúng ta vào ngày cuối cùng của đời sống mỗi người. Cuộc gặp gỡ này, tuy âm thần và riêng tư, nhưng lại có một tầm mức rất quan trọng, vì nó sẽ ấn định số phận đời đời của chúng ta.
Vậy chúng ta đã làm được những gì để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ riêng tư ấy, giữa Chúa Giêsu và cá nhân chúng ta, để rồi chúng ta sẽ được Chúa đón nhận vào quê hương Nước Trời với Ngài ?

 
 

LênTrời-85: SLCTTY/187 - Chờ đợi

Kinh nghiệm cho hay một phần lớn thời gian trong cuộc sống là chờ đợi. Có cái phải chờ đợi: LênTrời-85

Kinh nghiệm cho hay một phần lớn thời gian trong cuộc sống là chờ đợi. Có cái phải chờ đợi mấy phút, vài giờ, một tuần, cả tháng hay vài năm. Có khi lại phải chờ đợi cả đời người. Cuộc đời có ý nghĩa và hạnh phúc hay không tùy theo thái độ của chúng ta trong lúc chờ đợi.
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu lên trời. Đây là thời gian chờ đợi của các thánh tông đồ. Thánh Matthêu kể lại cho chúng ta biết rằng: “Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước”. Luca ghi lại rằng: “Và đây, chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”. Và sách Công vụ Tông đồ cũng nói rằng: “Người đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa”.
Các tông đồ chờ đợi sự xuất hiện vinh quang của Thiên Chúa được biểu lộ ra cho họ qua biến cố Chúa Giêsu lên trời. Và qua lời hứa của Chúa Giêsu, các tông đồ lại chờ đợi sự hiện xuống của Đức Chúa Thánh Thần cùng với sức mạnh của Thần Khí được ban cho các ngài.
Thánh Augustinô đã giải thích lý do tại sao chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu lên trời như sau: “Vinh quang của Thiên Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, đã được hoàn tất bởi sự sống lại và lên trời của Ngài. Vào Chúa nhật Phục sinh, chúng ta cử hành sự sống lại ; hôm nay chúng ta cử hành sự lên trời của Ngài. Cả hai lễ đều thuộc về chúng ta, vì Ngài đã sống lại để cho chúng ta một bằng chứng về sự sống lại của chính chúng ta ; Ngài đã lên trời để bảo vệ chúng ta từ trên trời cao”.
Sách Giáo lý Công giáo số 661 nói rằng: “Vinh quang của sự Chúa lên trời đã gắn liền với giai đoạn của sự đi xuống của mầu nhiệm Nhập Thể. Chỉ một mình Đấng đã “bởi Chúa Cha mà ra” mới có thể “trở về với Chúa Cha”: đó là Đức Kitô. “Không một ai đã lên trời bao giờ, trừ Con Người đã từ trời xuống thế”. Với sức mạnh tự nhiên của mình, loài người không có đường nào để tới “nhà Cha”, tới sự sống và vinh phúc của Thiên Chúa. Chỉ một mình Chúa Kitô đã có thể mở đường cho con người, “để chúng ta, những chi thể của Ngài, chúng ta có hy vọng đoàn tụ với Ngài, Đầu của chúng ta và Nguyên lý của chúng ta, ở nơi mà Ngài đã đến trước chúng ta”.
Đối với người Kitô hữu, trong khi chờ đợi để được đoàn tụ với Đức Kitô thì chính thái độ và cách sống sẽ đưa chúng ta vào vương quốc Thiên Chúa, vương quốc của an bình, công chính, và hạnh phúc cho mọi người. Chúng ta phải có thái độ nào đang khi chờ đợi ?
Hãy nhìn vào đời sống của các tông đồ, chúng ta sẽ học được thái độ phải có. Các ngài đã không chờ đợi ở Giêrusalem với một thái độ thụ động, tiêu cực và nhàm chán. Nhưng các ngài đã chờ đợi với niềm vui chung của toàn thể Giáo Hội, xét như thân thể của Chúa Giêsu Kitô như Luca đã diễn tả: “Bấy giờ các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ”.
Trước hết, các ngài đã quy tụ chung lại với nhau, thờ phượng Thiên Chúa, và cầu nguyện với lòng ước ao gặp gỡ Thiên Chúa. Các ngài và những người tín hữu tiên khởi đã tiếp tục công việc của Chúa Giêsu khởi sự qua các sinh hoạt của Giáo Hội, với đời sống cầu nguyện, cử hành các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, và đặc biệt qua đời sống bác ái yêu thương.
Thứ đến, các ngài chờ đợi trong tin tưởng và trung thành vào lời hứa của Chúa Giêsu. Tin tưởng và trung thành vào lời hứa của Thiên Chúa là tìm kiếm những dấu chỉ của Thiên Chúa ở mọi nơi trong đời sống của chúng ta. Đôi khi Thiên Chúa xuất hiện trong những hoàn cảnh và môi trường xem ra rất tức cười.
Nếu chúng ta không nhận ra những dấu chỉ của việc Thiên Chúa làm, chúng ta sẽ không bao giờ thấy. Tôi tự hỏi rằng đã có biết bao nhiêu người chăn chiên đã đi qua bụi cây rừng đang cháy trong câu chuyện của Môsê, và họ đã không nhìn thấy gì cả ! Chỉ có Môsê là người tin tưởng và trung thành nên đã đón nhận được sự biểu tỏ của Thiên Chúa. Môsê đã tìm kiếm tích cực, nên mới gặp gỡ.
Chúng ta cũng có thể sẽ bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa nếu chúng ta không tìm kiếm Ngài một cách tích cực. John Westerhoff, giảng sư của trường Duke University, trong các bài nói chuyện với sinh viên thường kể câu chuyện về một người có tên là Nostradam. Trong nhiều năm, Nostradam đã đi qua biên giới bằng con lừa kéo chiếc xe chở đầy rơm khô. Những người lính biên phòng biết rất rõ Nostradam đang buôn lậu một cái gì đó. Họ chặn ông lại và lục soát kỹ lưỡng chiếc xe chở cỏ khô. Đôi khi họ còn lấy cỏ xuống mang đi đốt, nhưng vẫn chẳng tìm thấy sự gì. Sau cùng, khi ông già yếu, phải nghỉ làm công việc buôn bán này. Họ tổ chức một buổi tiệc cho ông. Những người lính biên phòng nói với ông, “Thưa cụ Nostradam ! Bây giờ cụ đã nghỉ ngơi rồi, xin cụ có thể nói với chúng tôi, cụ đã buôn lậu cái gì trong những năm qua”. Nostradam thản nhiên trả lời, “buôn những con lừa”. Điểm chính của câu chuyện là những thứ buôn lậu ở ngay trước mắt của họ, nhưng họ không nhìn thấy.
Sự hoạt động của Thiên Chúa cũng giống như vậy. Không phải là Ngài không có mặt trên trần gian, nhưng con người đã làm ngơ, quên đi tất cả các dữ kiện và dấu chỉ về sự hoạt động của Ngài.

 
 

LênTrời-86: SLCTTY/187- Chờ đợi

Trong ngày Chúa Giêsu lên trời, sách Công vụ diễn tả: “Người được cất lên trước mắt các ông: LênTrời-86

Trong ngày Chúa Giêsu lên trời, sách Công vụ diễn tả: “Người được cất lên trước mắt các ông và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông”. Đối với người có niềm tin, theo Cựu ước, mây biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người. Mây ám chỉ cuộc quang lâm, đến lần thứ hai của Chúa Giêsu. Nếu không có niềm tin, mây chỉ che khuất mắt con người mà thôi ! Có người nói rằng tôi cần phải thấy thì tôi mới tin. Còn những người Kitô hữu, chúng ta nói rằng chúng tôi tin nên chúng tôi trông thấy. Nếu chúng ta tin tưởng và tìm kiếm những dấu chỉ của Thiên Chúa, chúng ta sẽ nhìn thấy Ngài ở mọi nơi.
Sau cùng, các ngài chờ đợi bằng đời sống chứng nhân như lệnh truyền của Chúa Giêsu đã ban cho họ: “Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất”.
Theo sự giải thích của William Barclay, người chứng nhân Kitô hữu phải có ba đặc tính căn bản. Trước hết, chứng nhân phải là một người nói rằng tôi biết đây là sự thật. Đây không phải là điều người làm chứng tự nghĩ ra, nhưng là điều người ấy biết rằng chính kinh nghiệm cá nhân của mình. Thứ đến chứng nhân đích thực không phải bằng lời nói mà bằng hành động. Sau cùng, theo tiếng Hy Lạp, chữ “martus” vừa có nghĩa là chứng nhân, vừa có nghĩa là tử đạo. Một người chứng nhân đích thực phải sẵn sàng chết cho điều mình đã làm chứng. Là một chứng nhân có nghĩa là phải trung thành bằng mọi giá.
Quả vậy, lịch sử Giáo Hội đã chứng minh điều này. Tất cả các tông đồ, trừ thánh Gioan, đã dùng chính mạng sống của mình để làm chứng cho lệnh truyền của Chúa Giêsu ban trước khi về trời: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Đời sống con người trên trái đất là một cuộc lữ hành. Con người đang trên đường lữ hành về với đấng Tuyệt Đối”. Vì là lữ hành nên luôn luôn phải chờ đợi: chờ đợi giữa quá khứ và tương lai, giữa điều không còn nữa và điều chưa xảy ra, giữa sự biệt ly của Chúa Giêsu và ngày Ngài sẽ trở lại, giữa lên trời và hiện xuống, giữa sự vắng mặt của Chúa Giêsu và sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. Vì là lữ hành, nên “vẫn phải tiếp tục tìm kiếm nhan thánh Chúa suốt cả đời mình. Nhưng cuối cuộc hành hương đức tin, con người sẽ về tới “Nhà Cha”, và ở trong “nhà” này, có nghĩa là thấy Thiên Chúa nhãn tiền”.

 
 

LênTrời-87: CSTM/116 – Quê hương

Bài đọc sách Công vụ Tông đồ hôm nay cho biết: Chúa Giêsu lên trời trước mặt nhiều môn đệ: LênTrời-87

Bài đọc sách Công vụ Tông đồ hôm nay cho biết: Chúa Giêsu lên trời trước mặt nhiều môn đệ vào ngày thứ 40 sau Phục sinh, tức là lần hiện ra cuối cùng với họ, và trong khoảng thời gian 40 ngày, kể từ ngày Phục sinh, Chúa Giêsu không ở liền với các môn đệ mọi giây phút, nhưng chỉ thỉnh thoảng mới hiện ra thôi. Như thế, những lúc không hiện ra với các môn đệ thì Chúa ở đâu ? Thực ra, vấn đề thăng thiên của Chúa có thể ghi lại những điểm chính như sau:
Sau khi Phục sinh, Chúa Giêsu đã được tôn vinh nơi Chúa Cha ngay lập tức rồi. Nói cách khác, Chúa Giêsu Phục sinh rồi lên trời ngay để ngự bên hữu Chúa Cha. Tuy nhiên, trong quãng thời gian 40 ngày, kể từ ngày Phục sinh, Chúa đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ, và vào lần cuối cùng, ngày thứ 40, Chúa hiện ra đàm đạo với các môn đệ, nhắn nhủ họ nhiều điều, rồi Ngài lên trời trước mắt họ. Từ đấy Ngài không còn hiện ra với họ như trước đó nữa cho tới ngày tận thế. Dẫu sao ngày lễ thăng thiên hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta lưu ý đến ý nghĩa của mầu nhiệm thăng thiên hơn là đến ngày giờ mầu nhiệm ấy xảy ra.
Mầu nhiệm thăng thiên nhắc nhở ít nhất hai điều: Thứ nhất, Chúa Giêsu về trời, nhưng Ngài vẫn luôn hiện diện giữa chúng ta. Là những con người tại thế, bị ảnh hưởng và chi phối bởi giác quan, chỉ quen chấp nhận những gì giác quan kiểm chứng được, nên chúng ta dễ cảm thấy rằng: ra đi là mất mát, chia lìa là đau đớn kinh khủng, là chết đi một chút. Do đấy chúng ta cũng thường nghĩ rằng: Chúa Giêsu đã về trời, thế là mọi sự mất hết rồi. Nhưng sự thật không phải thế. Chúa Giêsu Phục sinh đã lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, nhưng Ngài lại vẫn còn hiện diện với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Thăng thiên chính là một cuộc chuyển tiếp từ hiện diện hữu hình sang hiện diện thiêng liêng. Nghĩa là từ đây Chúa Giêsu Phục sinh chấm dứt cách hiện diện với các môn đệ khiến cho giác quan của họ kiểm nhận được, mà hiện diện một cách thiêng liêng. Dấu hiệu của sự hiện diện này là Ngài ban Thánh Thần xuống trên các tông đồ. Đúng vậy, Chúa Giêsu hiện diện giữa chúng ta, trong chúng ta qua Chúa Thánh Thần. Đó cũng là ý nghĩa của câu Chúa khẳng định với các tông đồ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Điểm thứ hai nhắc nhở chúng ta: Chúng ta đang sống ở trần gian, nhưng phải luôn hướng về trời. Những du khách có dịp đi du ngoạn ở miền bắc nước Tô Cách Lan, thường gặp thấy những đống đá chồng chất lên nhau. Những đống đá này hàm chứa một ý nghĩa lịch sử cho dân chúng miền đó. Đây là kỷ niệm của những người dân đã di cư đi nơi khác làm ăn. Người ta kể lại rằng: vì thiếu công ăn việc làm, dân chúng miền này phải tìm đến những nước công nghiệp như Canada, Úc hay Mỹ để tìm kế sinh nhai. Khi ra đi, họ thường nhặt một hòn đá của làng mình và đem theo cho đến khi bóng xóm làng chỉ còn một chấm mờ ở đàng sau, họ dừng lại, đặt hòn đá xuống như một kỷ niệm yêu thương cuối cùng để lại cho quê hương của họ. Rồi hằng năm, vào dịp lễ thánh Andrê, bổn mạng nước Tô Cách Lan, người dân Tô Cách Lan trên khắp thế giới thường họp nhau lại để tưởng nhớ tới quê hương mình đã cách xa, và cũng để nhớ đến họ hàng thân thuộc còn ở lại quê nhà.
Bất cứ một người dân di cư nào cũng đã gói ghém trong hành trang của mình ít nhiều tình yêu quê hương sâu đậm. Người ta tìm ra hai nguyên  nhân chính yếu đã là những động lực thúc đẩy các cuộc ra đi này, đó là một đời sống nghèo nàn, cơ cực, đói khát, với những điều kiện quá khắc khổ, không công ăn việc làm, không bảo đảm tương lai. Và một hấp lực lôi cuốn từ đàng trước, đó là một đời sống no đủ, sung túc hơn, với những hứa hẹn của một tương lai tươi sáng, bảo đảm và vững chắc hơn.
Người Kitô hữu cũng có thể được ví như những người dân di cư đó. Và cuộc ra đi của chúng ta là một cuộc hành hương về nước trời. Chúng ta cũng có một động lực thúc đẩy từ cuộc sống trần gian đầy vất vả này, và một hấp lực lôi cuốn của một quê hương hạnh phúc.
Sống ở đời này, ai ai cũng có những hy vọng. Chúng ta hy vọng về nước trời như là cái đích cuối cùng ở cuối con đường trần gian. Cuộc sống hôm nay nơi trần gian phải có một mục đích. Nếu sống hết ngày này qua ngày khác, phấn đấu, lam lũ làm ăn, vất vả, cực khổ… chỉ để sống vậy thôi, chứ không biết mình sống để làm gì thì đời chúng ta thật là vô nghĩa và phi lý. Vậy chúng ta đã có mục đích sống cho đời mình chăng ? Mục đích đó là mục đích nào ? Thưa đó là nước trời. Vì vậy cuộc đời này là một cuộc hành hương về nước trời.
Ước gì từng hành động, từng suy nghĩ, từng gặp gỡ, từng hơi thở của chúng ta cũng đều là một đáp trả tích cực của chúng ta với lời mời gọi vào sự sống bất diệt của Chúa. Ước gì trong tất cả mọi sự, sự khôn ngoan hướng dẫn chúng ta chính là cõi phúc trường sinh mà Chúa đã hứa ban cho chúng ta. Ước gì trong từng bước lữ hành về cõi phúc ấy, chúng ta đã có thể nếm được niềm vui và hạnh phúc đích thực ngay trong cuộc sống này.

 
 

LênTrời-88: Lời Chúa

Nơi mục tựa ngắn của một tập sách do chính mình viết có tựa đề: "Biết Và Không Biết Về Thiên: LênTrời-88

Nơi mục tựa ngắn của một tập sách do chính mình viết có tựa đề: "Biết Và Không Biết Về Thiên Chúa". Tác giả Đức Hồng Y Sacrunez, một triết gia và cũng là một thần học gia nổi tiếng của thập niên 60 đã trình bày niềm xác tín của mình như sau:
"Người ta không thể nào không nói về Thiên Chúa, mọi kinh nghiệm tốt xấu, tích cực hay tiêu cực đều đưa con người đến việc đặt vấn đề về Thiên Chúa. Con người không thể loại bỏ hay quên hẳn Thiên Chúa được, con người vẫn nói về Thiên Chúa, nhưng khi nói rồi con người cảm thấy lời nói của mình về Ngài như không có ý nghĩa gì cả, lời nói đó trở thành như một sự im lặng to lớn."
Từ nhận định trên đây Đức Hồng Y rút ra hai điểm kết luận ngắn rất quan trọng:
Thứ nhất, con người cần trân trọng quí mến những lời nói, tuy là của con người nhưng đã được Thiên Chúa sử dụng để mạc khải chính Mình cho con người.
Thứ hai, để lời nói của mình về Thiên Chúa có được chút giá trị nào đó, diễn tả thực thể Thiên Chúa thì con người cần có cảm nghiệm về Thiên Chúa.
Chúng ta ghi nhận là các Tông Đồ ngày xưa đã thực hiện hai điều căn bản này. Họ trân trọng, quí mến lời Chúa giảng dạy. Họ trung thành thông truyền, không xuyên tạc và các ngài là những kẻ có kinh nghiệm trực tiếp về Chúa trước khi ra đi rao giảng cho kẻ khác.
Chúa đã gọi các Tông Đồ để các ngài sống bên cạnh Chúa trong suốt thời gian Chúa giảng dạy, đến độ tác giả của thư thứ nhất Thánh Gioan và truyền thống cho là thánh Gioan Tông Đồ, một trong mười hai Tông Đồ đã sống bên cạnh Chúa trong suốt cuộc đời rao giảng, tác giả thư thứ nhất thánh Gioan đã viết ngay đầu thư như sau: "Những gì chúng tôi đã thấy, đã nghe, đã chạm đến về Ngôi Lời Hằng Sống, về Con Thiên Chúa, chúng tôi loan truyền lại cho anh chị em."
Mừng Lễ Chúa Lên Trời hôm nay, chúng ta được mời gọi như các Tông Đồ ngày xưa, tiếp tục công việc của Chúa. Trước khi lên trời, Chúa đã ra lệnh cho các Tông Đồ: "Mọi quyền hành trên Trời, dưới đất, được trao ban cho Thầy, chúng con hãy ra đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Giảng dạy và tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con, và Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế."
Người ta không thể nào không nói về Thiên Chúa. Chúng ta, những đồ đệ của Chúa không thể nào không chia sẻ về Chúa cho anh chị em, không những bằng lời nói mà còn bằng những việc làm. Nhưng để làm chứng nhân cho Chúa thì hai điều kiện căn bản mà Đức Hồng Y đã nhắc cho chúng ta là trân trọng, quí mến những lời nói của Chúa, đây là những lời mà Con Thiên Chúa Nhập Thể đã nói cho con người biết về mầu nhiệm Thiên Chúa, chúng ta cần trân trọng, quí mến Lời đó. Những Lời đó và cũng là những Lời mà Con Thiên Chúa đã chọn để mạc khải Thiên Chúa cho con người. Chúng ta cần trân trọng những Lời đó.
Điểm thứ hai, chúng ta cần sống trực tiếp có cảm nghiệm về Chúa, sống với Chúa trước để có thể làm chứng cho Chúa: "Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế." Trân trọng tuân giữ lời rao giảng và duy trì kinh nghiệm khi gặp Chúa, sống với Chúa qua đời sống cầu nguyện, việc cử hành Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Thánh Thể là phương thế để Chúa hiện diện, để Chúa thực hiện điều Ngài đã quả quyết: "Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế."
Chúng ta không nên có thái độ vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, kể Chúa như kẻ ra đi đã khuất mắt không còn hiện diện trên trần gian này nữa, để chúng ta được tự do gây xáo trộn, tự do phá bỏ mọi giá trị. Chúa Lên Trời là một biến cố khai mạc giai đoạn mới, giai đoạn của một sự hiện diện mới và của sự dấn thân mới của mỗi người chúng ta để làm chứng cho Chúa. Chúng ta cần sống với Chúa, lắng nghe Lời Chúa và trân trọng tuân giữ Lời Chúa để trở thành những chứng nhân của Chúa.
Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được thực hiện điều này và cho chúng ta được trưởng thành trong đức tin. Amen.

 
 

LênTrời-89: Thầy Ở Cùng Anh Em Mọi Ngày

Suy Niệm 
 

Nếu trời là nơi Chúa ngự thì chẳng có gì gần ta bằng trời. Trời ở quanh ta, trời ở trong ta... Trời: LênTrời-89

Nếu trời là nơi Chúa ngự thì chẳng có gì gần ta bằng trời. Trời ở quanh ta, trời ở trong ta... Trời vượt xa đất muôn trùng, nhưng nếu đất trở thành nơi Chúa ngự thì đất cũng mang dáng dấp của trời.
Thiên Chúa không phải là Đấng chỉ thích ở trên trời. Ngài thích con người, Ngài thương trái đất, nên Ngài đã sai Con Ngài làm người ở đời.
Đức Giêsu Con Thiên Chúa đã đặt chân lên trái đất. Đất chẳng xa lạ gì với Ngài, vì nhờ Ngài mà nó được tạo dựng.
Đất đã bắt đầu thành trời từ khi Con Thiên Chúa đến dựng lều ở đó. Đất vẫn luôn thuộc về trời vì Đức Giêsu luôn ở với ta cho đến tận thế.
Trời là mẫu mực của đất: Ý Cha phải được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Chỗ nào vâng theo ý Cha, chỗ đó thành trời.
Trái tim của chúng ta cũng phải trở thành trời, phải đầy ắp yêu thương, đầy ắp Thiên Chúa.
Rốt cuộc, nhiệm vụ của người Kitô hữu là xây dựng trời cao ở ngay nơi đất thấp, là cho thấy rằng trời cao thật gần, chứ không phải là sản phẩm của hoang tưởng.
Trời cao đã gần bên, chỉ người Kitô hữu biết sống cho nhau chân tình, chia sẻ cho tha nhân tất cả những gì mình có, không bị mê hoặc bởi của cải lợi danh, không bị kéo ghì bởi những đam mê xác thịt, cũng không chùn bước trước cái chết, khổ đau.
Chúng ta phải làm chứng về thiên đàng có thực bằng cuộc sống vui tươi hạnh phúc ở đời này.
Hạnh phúc khi hy sinh, tự hiến, khi chịu thua thiệt, mất mát, lãng quên.
Hạnh phúc cả khi tưởng như không thể nào hạnh phúc được. Hạnh phúc như thế gợi mở về hạnh phúc viên mãn đời sau.
Chúng ta không thể làm chứng về thiên đàng mai hậu bằng một cuộc sống ủ rủ, buồn phiền.
Thiên đàng mai sau chớm nở từ bây giờ. Tôi chỉ được hạnh phúc sống đời sau bên Chúa, nếu tôi đã bắt đầu sống bên Chúa từ đời này.
Có một thiên đàng nho nhỏ ở trong tôi: "Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và dựng nhà nơi người ấy" (Ga 14,24).
Tôi muốn xây những thiên đàng nho nhỏ ở quanh tôi, nơi gia đình, bè bạn; nơi phố chợ, học đường... mong có ngày cả trái đất này ngập tràn sự hiện diện của Thiên Chúa.



Gợi Ý Chia Sẻ
1. Có phi hành gia, sau khi du hành trong vũ trụ, đã quả quyết không hề có thiên đàng.  Bạn nghĩ gì về nhận xét đó?
2. Theo bạn, có thể dùng lý luận để chứng minh cho người khác về sự hiện hữu của thiên đàng không?  Có thể dùng cuộc sống để cho thấy thiên đàng không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu trái đất này, và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết nỗi khổ đau và hạnh phúc, sự bị đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời, nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu, chúng con thấy mình được thêm sức mạnh để xây dựng trái đất này, và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa, xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời không làm chúng con quên trời cao; và những vẻ đẹp của trần gian không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con, mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

 
 

LênTrời-90: Sứ mạng truyền giáo

Ngày 15/11/1998, linh mục Luchiano Benedicti thuộc hội Giáo Hoàng truyền giáo đã được các: LênTrời-90

Ngày 15/11/1998, linh mục Luchiano Benedicti thuộc hội Giáo Hoàng truyền giáo đã được các phiến quân Hồi giáo ở mạn nam Phi Luật Tân trả tự do sau đúng sáu mươi tám ngày bị bắt làm con tin. Trong một cuộc phỏng vấn liền sau đó, linh mục này cho báo chí biết ngài sẽ trở lại chính nơi mình đã bị bắt cóc. Ngài khẳng định rằng: “Sứ mệnh của tôi chưa hoàn tất” (Chu Văn, Truyện Tử Tế, tập 3, Làm chứng cho tình yêu, trang 15).
Khi nói đến “Sứ mạng của tôi chưa hoàn tất”, Cha Lucchiano muốn nói đến sứ mạng làm chứng cho mọi người về tình yêu của Đức Giêsu, một tình yêu dám “chết vì người mình yêu”. Sứ mạng này không phải do tự ý Cha Luchiano muốn làm hay thích làm, nhưng là do chính Đức Giêsu trước khi về trời đã trao cho cha Luchiano, và không chỉ cho cha Luchiano mà còn cho từng người chúng ta, cho tôi và quý ông bà anh chị em khi Ngài phán “Các con hãy đi giảng dạy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con”.
1. Truyền giáo, bản chất của người Kitô hữu:
Sứ mệnh này đã được trao cho từng người chúng ta vào ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa. Nhờ phép rửa, mỗi người chúng ta trở thành một chi thể trong Nhiệm Thể có Chúa Kitô là Đầu như lời thánh Phaolô trong bài đọc hai “Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm Đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài”. Vì là chi thể, mỗi người chúng ta có nhiệm vụ đóng góp phần của mình để làm cho cả thân thể ngày càng lớn lên và được sung mãn, nghĩa là làm cho Nước Chúa ngày càng được mở rộng, hay nói một cách khác, mỗi người chúng ta đều có nhiệm vụ truyền giáo. Truyền giáo là một bổn phận đòi buộc của mọi tín hữu, của những người tin vào Đức Kitô, Đấng đã chết và phục sinh để cứu độ chúng ta. Vì thế, Công đồng Vatican II trong Sắc lệnh về truyền giáo số 2 viết: “Tự bản tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo”. Khi nói tự bản tính, Công đồng muốn nhấn mạnh với từng người chúng ta rằng, nếu không truyền giáo, thì không còn là Giáo Hội, mà Giáo Hội là do từng người chúng ta, do quý ông bà anh chị em và tôi làm nên. Do đó, nếu chúng ta không truyền giáo, thì chúng ta không còn lý do tồn tại, không phải là một Kitô hữu đúng nghĩa nữa.
Chính vì muốn nhấn mạnh đến sứ mạng truyền giáo này của Giáo Hội, mà sau khi Phục Sinh, Đức Giêsu đã hẹn gặp các Tông đồ, không phải tại Giêrusalem, thủ đô và là thành thánh của người Do Thái, nhưng trên một ngọn núi tại xứ Galilê, một miền đất vẫn được coi là biểu trưng của dân ngoại (x. Mt 4, 12-23). Nếu như trước đây, Ngài đã sai các môn đệ chỉ đi rao giảng cho những chiên lạc nhà Israel (x. Mt 10, 5-6), thì giờ đây, sau khi Phục Sinh, cũng từ nơi miền đất Galilê ấy, và cũng từ chính Đức Giêsu, và cũng một lệnh lên đường ấy, nhưng được mở rộng hơn, không còn giới hạn: “Các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”.
Lệnh truyền giáo được mở rộng vì giờ đây Đức Giêsu ấy sau khi từ cõi chết sống lại, đã được Thiên Chúa “đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời, vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần, và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này lẫn đời sau. Chúa đã khiến mọi sự quy phục Người”. Vâng, chính với quyền năng ấy mà Ngài sai các môn đệ và từng người chúng ta lên đường đến với muôn dân.
Như thế, đoạn Tin mừng theo thánh Matthêu mà chúng ta vừa nghe, nhìn bên ngoài là một đoạn kết thúc, nhưng thực ra, nó chưa kết thúc, nhưng là một đoạn khởi đầu. Khởi đầu một giai đoạn mới trong đời sống Giáo Hội, giai đoạn sống và loan truyền niềm tin vào Đấng Phục Sinh. Và cũng trong tinh thần đó, Giáo Hội đã chọn ngày lễ Thăng Thiên hôm nay làm ngày “Truyền Thông Thế Giới”. Chúng ta cần thông truyền cho cả thế giới và từng người trong thế giới hôm nay biết về Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại và tất cả những ai tin nơi Ngài sẽ nhận được sự sống đời đời.
2. Việc truyền giáo trong thế giới hôm nay:
Khi nói đến truyền giáo, chúng ta thường nghĩ đến công việc của các nhà Thừa Sai, của các linh mục, tu sĩ, của những người ra đi đến những miền đất xa xôi nào đó, để rao giảng Tin mừng. Và như thế, vô tình, chúng ta đã tách bổn phận truyền giáo ra khỏi đời sống hàng ngày của chúng ta.
Suy nghĩ như thế là chưa đủ. Truyền giáo, trước hết, là bổn phận của từng người chúng ta và đối tượng của việc truyền giáo vừa là những người chưa tin, nhưng cũng lại là chính chúng ta.
Truyền giáo là làm cho mọi người trở thành môn đệ của Đức Kitô, làm cho Tin mừng của Đức Kitô thấm nhập vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Như thế, việc truyền giáo không chỉ là nói về Thiên Chúa, về Đức Kitô, nhưng quan trọng hơn, đó là dẫn đưa mọi người về với Đức Kitô bằng chính đời sống chứng tá của từng người chúng ta. Đó là điều mà chính Đấng Phục Sinh trước khi về Trời đã căn dặn các tông đồ và cũng là với tôi và quý ông bà anh chị em: “Các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy”.
Tuy nhiên, để có thể làm chứng cho Đức Kitô, và làm cho mọi người trở thành môn đệ của Ngài, tôi thiết nghĩ, từng người chúng ta, tôi và quý ông bà anh chị em cần có những cảm nghiệm riêng tư của mình về Đức Kitô, cần nhận ra được tình yêu của Đức Kitô đang bao phủ cuộc đời mình, cần có một xác tín về sự quan phòng của Ngài trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần có một cảm nghiệm về sự bình an và niềm vui của một người đang có Chúa ở cùng. Có được như thế, chúng ta mới có thể chia sẻ kinh nghiệm này với các người khác, và dạy họ tuân giữ các giới luật của Đức Giêsu, mà thực ra chỉ tóm gọn lại trong một giới luật là tình yêu. Khi nói về việc rao giảng Tin mừng trong thế giới hôm nay, thì chúng ta không thể không nhắc đến Đức Cố Giáo Hoàng Gioan - Phaolô II. Với một đức tin chân thật và một cuộc sống luôn gắn bó với Chúa trong lời cầu nguyện, Đức Thánh Cha đã không ngần ngại khi phải lên tiếng xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội trong quá khứ, nhưng cũng thật kiên quyết khi phải lên tiếng để bảo vệ các chân lý của Thiên Chúa. Ngay khi nghe tin Đức Thánh Cha vừa qua đời, Thủ Tướng nước Anh, Tony Blair đã phát biểu: “Ngay cả nếu bạn không phải Công Giáo, hay không phải là Kitô hữu, thậm chí không có chút niềm tin nào, điều mà người ta có thể thấy nơi Đức Giáo Hoàng Gioan - Phaolô II là một đức tin chân thật và sâu sắc về tinh thần, một tấm gương sáng chói cho thấy đức tin là gì”.
Như thế, để việc truyền giáo trong thế giới hôm nay thực sự trở nên sống động và hiệu quả, thì lời rao giảng của chuùng ta cần phải đi đôi với chính đời sống chứng nhân của chúng ta. Thí dụ, cùng sống trong cùng một khu xóm, nhưng nếu mọi người thấy quý ông không nhậu nhẹt say sưa, không cờ bạc, không la vợ, đánh con, nhưng biết chăm sóc gia đình chu đáo, đồng thời còn dành thời giờ để đến thăm nom, an ủi, giúp đỡ, chia sẻ với những người già yếu bệnh tật, cô đơn; hay thấy quý bà không ngồi lê đôi mách, nói hành nói xấu, nhưng biết lo lắng tần tảo, yêu thương chồng con, vui vẻ với làng xóm; hay thấy các bạn trẻ trong giáo xứ sống lành mạnh, biết kính trên nhường dưới, không đua đòi, không ăn nói tục tằn, nhưng chăm chỉ học hành, sẵn sàng giúp đỡ cha mẹ, nhiệt thành với công việc chung … thì hẳn những người xung quanh phải đặt câu hỏi: Tại sao chúng ta sống được như vậy ở giữa đời? Và khi đi tìm câu trả lời, họ sẽ tìm đến được với Đức Kitô, Đấng đã dạy chúng ta sống như vậy, thì đó quả là một lời rao giảng hiệu nghiệm nhất, và từng người chúng ta sẽ là những nhà truyền giáo đúng nghĩa nhất.
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn là Đấng Emmanuel, Ngài vẫn đang hiện diện và ở giữa nhân loại, nhất là trong bí tích Thánh Thể. Chớ gì nhờ việc hiệp lễ, mỗi người chúng ta thực sự cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời chúng ta, để đến lượt chúng ta sống và làm cho những người chưa tin Chúa, nhận ra và tin theo Ngài. Amen.

 
 

LênTrời-91: NTĐY/213- Hộ chiếu                 

Chuyện kể rằng: có một bà lão qua đời, suốt cuộc sống bà chẳng làm được việc thiện nào. Vì: LênTrời-91

Chuyện kể rằng: có một bà lão qua đời, suốt cuộc sống bà chẳng làm được việc thiện nào. Vì thế, Satan chộp lấy bà ném vào biển lửa. Nhưng thiên thần bản mệnh của bà không chịu thua. Ngài suy nghĩ một lúc lâu và nói:”Lạy Chúa, có một lần bà đã đào một củ hành nhỏ trong vườn cho người ăn xin”.
Chúa nói:”Được, vậy con hãy lấy củ hành nhỏ tương tự, thả xuống biễn lửa và kéo bà lên bằng củ hành nhỏ đó. Nếu con thành công, bà ấy sẽ được cứu”.
Thiên thần cẩn thận kéo bà lên. Nhưng khi những người khác thấy bà bắt đầu đi lên, họ liền bám theo bà. Bà vội vàng đá tung họ ra và la lên: “Chỉ có tôi là được cứu bằng củ hành này, nó thuộc về tôi chứ đâu có thuộc về các người”.
Lúc đó, củ hành bị tách ra và bà rơi trở lại biển lửa. Thiên thần quay mặt đi khóc cho số phận của một con người quá ích kỷ.
Chúa về trời và Người muốn cho các con cái cũng được lên trời với Người. Vì Người đã cầu xin Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con”.
Nhưng muốn được lên trời cũng phải có hộ chiếu của nước trời. Hộ chiếu đó chính là tình yêu thương. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã truyền cho các môn   đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Mọi điều Thầy truyền chỉ tóm lại có một điều là “Mến Chúa yêu người”. Vì thế, tình yêu thương chính là thước đo, là điều kiện, là bảo đảm cho người tín hữu được lên trời với Chúa.
Chúng ta tưởng trời ở thật xa nhưng thực ra lại rất gần. Đức Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Ở đâu có Chúa là ở đấy có thiên đàng, vậy trời há không ở trong lòng chúng ta đấy ư? Trời ở ngay trong trái tim chúng ta, những trái tim đầy ắp yêu thương, ngập tràn Thiên Chúa. Trời ở ngay trong thế giới này, nếu đó là một thế giới yêu thương và hòa bình, chia sẻ và tha thứ cho nhau.
 Chúng ta tưởng mình chỉ được lên trời sau cuộc sống này, nhưng thực ra thì chúng ta đang vui hưởng hạnh phúc nước trời. Hạnh phúc nước trời là khi chúng ta không màng lợi danh lạc thú, cũng chẳng ngại ngần trước khổ đau và nỗi chết. Nhưng luôn biết chia sẻ cho anh em, xả thân phục vụ hết mọi người. Vì phục vụ là tên gọi của tình yêu.
Lạy Chúa, con đường về trời là con đường yêu thương. Xin chỉ cho chúng con biết đường về trời bằng cách sống hiến thân, phục vụ và trao ban.Xin đừng để những truân chuyên nơi cuộc sống này làm chúng con quên mất trời cao. Xin đừng để những quyến rũ của trần gian cản lối chúng con về trời. Ước gì qua cuộc sống chúng con mọi người sẽ nhận ra con đường về trời.

 
 

LênTrời-92: THẦY Ở CÙNG ANH EM...

Lễ Chúa Giê-su Thăng Thiên có 3 bản văn Tin Mừng khác nhau cho 3 năm ABC. Năm nay năm A: LênTrời-92

Lễ Chúa Giê-su Thăng Thiên có 3 bản văn Tin Mừng khác nhau cho 3 năm ABC. Năm nay năm A, bản văn trích Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu có một nét đặc biệt khác hẳn hai bản văn theo Thánh Mác-cô ( năm B ) và theo Thánh Lu-ca ( năm C ) ở chỗ không thấy kể chi tiết nào về chuyện Chúa Giê-su được cất lên trời cao. Tất cả chỉ dừng lại ở những lời cuối cùng Chúa Giê-su nói với các Môn Đệ trên một ngọn núi nào đó ở miền Ga-li-lê. Có thể hiểu Thánh Mát-thêu chỉ muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng ở nội dung của di chúc hơn là ở khung cảnh và bầu khí Thầy trò ly biệt. Nếu vậy, chúng ta cũng hãy chú ý đặc biệt đến điểm này mà thôi.
Chúng ta thấy có thể chia đoạn Tin Mừng này thành 3 câu với 3 ý nghĩa gắn bó liên hoàn với nhau, cũng là bố cục 3 phần chúng ta sẽ cùng nhau suy niệm:



1. LỜI KHẲNG ĐỊNH:
Đức Giê-su khẳng định điều gì ? “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất”. Ai lại có thể nắm giữ được tất cả quyền năng trên trời dưới đất ? Chỉ có thể là Thiên Chúa mà thôi. Như vậy, Đức Giê-su muốn cho các Môn Đệ, cũng là muốn cho chúng ta, cho toàn nhân loại thấy Người chính là một vị Thiên Chúa, chứ không phải là người phàm. Nói theo Thánh Phao-lô, Đức Giê-su “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”. Người đã chọn kiếp người mong manh, hạn hẹp, yếu đuối, và cuối cùng phải chịu chi phối bởi cái chết như mọi người. Thế nhưng sau khi đã phục sinh, Người lại được Chúa Cha “siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu: Đức Giê-su Ki-tô là Chúa”. Và vì thế, đương nhiên “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất”, quyền của một Đấng là Chúa !
Lời xác quyết mạnh mẽ này của Chúa Giê-su chính là để đánh tan những hoài nghi, hoang mang, sợ hãi, nhát đảm vẫn còn lởn vởn ám ảnh các Môn Đệ sau biến cố Thập Giá quá thương đau và kinh khủng. Có Môn Đệ vẫn chưa hoàn toàn tin Thầy mình đã sống lại. Có Môn Đệ còn mãi tiếc thương Thầy như một người đã bị giết chết, mất hẳn rồi, không còn gặp lại nữa. Có Môn Đệ còn tưởng Thầy là hồn ma hiện về. Có Môn Đệ nhụt chí nản lòng muốn bỏ cuộc về quê. Có Môn Đệ tin Thầy đã sống lại, mừng mừng nhưng lại vẫn tủi tủi, vẫn sợ sẽ bị người Do-thái theo dõi, trù giập, thanh toán...
Lạy Chúa, nghe lại Lời Ngài ngày xưa khẳng định xác quyết với các Môn Đệ, chúng con tin Chúa cũng đang muốn nói với chính chúng con hôm nay: “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất”. Bỗng nhiên, đang hoài nghi chúng con liền được vững tin hơn; đang sợ hãi chúng con liền thấy can đảm hơn; đang lo lắng chúng con liền được an tâm hơn; đang uể oải chán nản trước bao nhiêu khó khăn cuộc sống, chúng con liền được thêm hăng hái phấn khởi để sống đời Ki-tô hữu làm chứng cho Tin Mừng của Chúa. Chúng con cám ơn Chúa...



2. LỜI SAI ĐI:
Lời xác quyết mạnh mẽ: “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất” của Chúa Giê-su cũng chính là một lời dẫn nhập, lời chuẩn bị, lời báo trước cho một lệnh truyền. Nghĩa là lệnh truyền sắp được Người tuyên bố ấy có hẳn một nền tảng chắc chắn, một hậu thuẫn vững mạnh, không gì có thể đe đọa và trấn áp được, đó là chính quyền năng của Thiên Chúa ! Vậy, lệnh truyền của Chúa Giê-su là gì ? Ngài sai những ai ra đi, và ra đi để làm gì ? “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành Môn Đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”.
Có thể phân tích về 3 động từ được Chúa Giê-su dùng liên tiếp: “Ra đi”, “làm phép rửa”, và “dạy bảo”.
Trước hết, Chúa Giê-su bảo các Môn Đệ cần phải ra đi, cần phải lên đường. Nghĩa là cần phải vượt thoát khỏi cái vòng kiềm tỏa vây bủa của sự sợ hãi, thụ động, an phận. Làm Môn Đệ của Chúa thì không thể bị những cái thường tình ở đời ràng buộc vương vấn, cũng không để cho bất cứ trở ngại nào phía bên ngoài có thể xây tường lập hàng rào ngăn cản bước chân rao giảng Tin Mừng. Ra đi cũng là để gặp gỡ bao con người đang khao khát tìm kiếm Chúa mà chưa có ai hướng dẫn, chưa có ai mở lời. Không chỉ là đến gặp một số người nào đó, người Do-thái hay một dân tộc riêng biệt nào đó, mà là đến với muôn dân ( Ad Gentes ), đến với toàn nhân loại.
Gặp gỡ họ rồi thì các Môn Đệ sẽ loan báo cho họ một Tin Vui, một Tin Mừng đem lại sự sống của Thiên Chúa ngay giữa những thứ tin buồn, tin dữ, tin chết chóc của cuộc đời này, giới thiệu cho họ một Nước Trời đang mở rộng cửa chào đón họ. Loan báo bằng cách nào đây ? Bằng lời nói, bằng việc làm, và bằng chính cuộc sống của bản thân mình. Cũng có những khi không thuận tiện để rao giảng bằng lời thì chứng tá cuộc sống nơi người Môn Đệ lại càng có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. Đây chính là sứ mạng của người Ngôn Sứ.
Ra đi, gặp gỡ, rao giảng... Đến một lúc chính người nghe đã tuyên xưng Lòng Tin vào Đức Giê-su Ki-tô thì người Môn Đệ của Chúa có thể thực hiện bước thứ hai, đó là “làm phép rửa” cho họ để họ cũng được “trở thành Môn Đệ” của Chúa Giê-su. Mà phép rửa ở đây không phải bằng nước như trước đây với ông Gio-an Tẩy Giả, mà là “phép rửa nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
Cũng cần nói thêm rằng nguyên văn ở đây là “nhân danh Thầy”, nghĩa là chỉ nhân danh Chúa Giê-su mà thôi như trong Cv 2, 38 và 10, 48 đã thuật lại. Thế rồi vào khoảng những năm từ 80 đến 90, bản văn Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu ra đời, đã đúc kết ghi nhận lại từ kinh nghiệm cụ thể của Hội Thánh tiên khởi, và tích luỹ trong một thời gian dài sau khi Chúa Giê-su đã về Trời, để hình thành công thức trao ban Bí Tích Thánh Tẩy như chúng ta có ngày nay, đó là: “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
 Sau khi cử hành phép rửa, người Môn Đệ của Chúa Giê-su còn phải hướng dẫn những Tân Tòng ấy vào những nề nếp sinh hoạt của Hội Thánh, tiếp tục một giai đoạn có thể gọi tạm là “Hậu Bí Tích”, giúp họ đào sâu học hỏi nhiều hơn nữa về Giáo Lý Tin Mừng và đem ra thực hành trong đời sống Ki-tô hữu. Chúa Giê-su dặn các Môn Đệ rất kỹ, phải “dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”.
Lạy Chúa, nghe lại Lời Ngài ngày xưa đã sai các Môn Đệ ra đi, làm phép rửa và dạy bảo cho muôn dân, chúng con tin Chúa cũng đang muốn nói với chính chúng con hôm nay: Hãy lên đường, hãy ra khơi, hãy gặp gỡ, hãy rao giảng Tin Mừng, hãy chia sẻ cho mọi người Ơn Cứu Độ mà chính chúng con đã nhận được qua Bí Tích Thánh Tẩy. Bỗng nhiên, chúng con giật mình nhớ ra: chúng con đã quên mất sứ mạng Ngôn Sứ của mình, chúng con ở lì trong đời sống Đạo của riêng mình, của gia đình mình, của Giáo Xứ mình, của Giáo Phận mình. Chúng con tự biện hộ: đi Lễ mỗi Chúa Nhật, đủ rồi; đọc kinh lần chuỗi nhiều nhiều, đủ rồi; đóng góp xây Nhà Thờ nơi này nơi kia, thỉnh thoảng tham gia các chuyến đi từ thiện, đủ rồi ! Còn chuyện truyền giáo, loan báo Tin Mừng cho muôn dân là của các Linh Mục, Tu Sĩ, các vị Thừa Sai nào khác ! Chúng con xin lỗi Chúa...



3. LỜI ĐOAN HỨA:
Cuối cùng, hình như Chúa Giê-su thấu hiểu các Môn Đệ vẫn còn hoang mang lo sợ và do dự chần chừ. Ở với Thầy, đi chung với Thầy, có Thầy ngay bên cạnh suốt 3 năm mà chẳng thu được kết quả bao nhiêu, ngược lại chính Thầy còn bị người đời giết chết nữa chứ. Huống chi, nay Thầy lại bảo sắp phải chia tay vì Thầy sẽ về cùng Chúa Cha. Hoang mang lo sợ và do dự chần chừ là phải. Chúa Giê-su đã khẳng định “Thầy đã được trao quyền trên trời dưới đất”. Chắc vẫn không đủ ! Phải cam kết, phải đoan hứa với danh dự của một vị Thầy, của một vị Thiên Chúa, chắc như đinh đóng cột: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Vậy là Chúa Giê-su không để cho các Môn Đệ đơn độc trong sứ vụ, không đi một mình, không nói một mình, không làm một mình, mà luôn có Chúa đồng hành, luôn có Chúa cùng rao giảng, luôn có Chúa thi thố quyền năng của Người nơi con người và khả năng hạn hẹp yếu hèn của các Môn Đệ. Không thấy Thầy không phải là không có Thầy hiện diện. Mặt khác, Chúa Giê-su không nói ra nhưng các Môn Đệ phải ngầm hiểu rằng: với toàn quyền “trên trời dưới đất”. Thầy có thể làm được hết nhưng Thầy lại vẫn muốn được các Môn Đệ cộng tác trong sứ vụ cao quý mà khó khăn này. Cao quý vì được kế thừa tiếp nối sứ vụ của chính Chúa Giê-su. Mà khó khăn nguy hiểm đến đâu đi nữa thì đã có “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.



Lạy Chúa, nghe lại Lời Ngài ngày xưa đã hứa với các Môn Đệ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Chúng con tin Chúa cũng đang muốn nói với chính chúng con hôm nay: “Đừng xao xuyến ! Đừng sợ hãi ! Có Thầy ở bên anh em. Có Thầy ở trong anh em. Hãy cứ thực hiện những gì Thầy truyền dạy. Đừng xao xuyến ! Đừng sợ hãi ! Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Bỗng nhiên, chúng con thấy dâng lên một niềm bình an giúp chúng con phó thác tất cả cho Chúa. Đồng thời, chúng con cũng học được bài học của sự khiêm tốn: công việc là công việc của Chúa, chúng con làm là làm cho Chúa và làm với Chúa. Nếu có thành công nào trong việc rgiang Tin Mừng thì chúng con chỉ biết tạ ơn Chúa chứ chẳng dám vênh vang tự đắc mà kể công. Chúng con xin ngợi khen Chúa...
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT

 
 

LênTrời-93: Hãy dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho Anh Em

 Sr Têrêsa Ngọc Bích
Cv 1,1-11; Ep 1, 17-23; Mt 28,16-20 

 

Một sinh viên T đến thăm một trại dưỡng nuôi người tàn tật và những người nghèo vô gia cư,: LênTrời-93

Một sinh viên T đến thăm một trại dưỡng nuôi người tàn tật và những người nghèo vô gia cư, T có dịp hớt tóc cho một trại viên gần 40 tuổi. Khi hay biết T là sinh viên thường đi ngang qua khu vực gia đình anh hiện đang sống, anh liền kể cho T về hoàn cảnh tuyệt vọng đáng thương của Anh.

Được sinh ra trong một gia đình gia giáo, anh là con đầu lòng đã được bố chăm sóc rất nghiêm khắc và rất mực yêu thương, cho đi học ở chủng viện. Ông hy vọng ngày nào đó, anh sẽ là niềm vinh dự cho gia đình. Nhưng trong dịp về nhànhân kỳ nghỉ hè, anh ta đã theo bạn bè cùng xóm quấy phá. Việc ấy gây tai tiếng đến nỗi bố anh vì thất vọng và vì danh dự đối với bà con lối xóm, nên đã chửi mắng, đánh đập rồi đuổi anh đi. Do lòng tự ái và thiếu suy nghĩ, anh đã bỏ nhà ra đi bất kể hậu quả ra sao. Anh đã trải qua biết bao thăng trầm và tự mưu sinh với đủ mọi thứ việc: bốc rác, phụ hồ, làm rẫy, làm ruộng, đồng thời làm quen với nhiều thói xấu trên đời.

Hơn 20 năm bỏ nhà ra đi, cũng có những giây phút anh cảm thấy trống vắng hướng về mái ấm gia đình và nhớ người bố ngày một già yếu. T giải thích cho anh về chữ "HIẾU" và khuyên anh dẹp bỏ tự ái, kiên trì hoà giải với bố và gia đình thay vì thất vọng oán trách. Anh ấy thật xúc động và ao ước ghé thăm bố vài ba tháng một lần.

Anh T đã kể lại với bố anh ta tất cả những điều anh ấy ao ước. Sau đó vài tuần trong dịp tới thăm trại, anh khoe với T rằng bố anh đã tới thăm, hai bố con ôm nhau khóc va cùng an ủi nhau trong nước mắt, anh đã nghiệm thấy tình cha con nồng nàn mãnh liệg. Như dụ ngôn "Người cha nhân hậu", anh T đã dùng chữ "Hiếu" trong giới răn thứ tư để thức tỉnh lương tâm của anh trại viên được hòa giải với bố và gia đình.

Đức Giêsu đã đến trần gian để dạy dỗ nhân loại, đã chịu chết và lên trời. Trước khi về trời, Ngài đã nhắc nhở các môn đệ và mỗi người chúng ta tiếp tục sứ mạng của Chúa ở trần gian: "Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem trong khắp các miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất" (Cv 1,8) và hãy "dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" Mt 28,20)

Thế giới ngày nay đang bị đè bẹp dưới sức nặng của biết bao sự dữ. Một Kitô hữu không thể làm ngơ hoặc không hay biết những sự kiện đang xảy ra chung quanh mình: Những người đàn áp bất công, thất nghiệp, đói khổ và bị tàn phế…vì bạo động chiến tranh, luân lý suy đồi…

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin để nhận ra Chúa nơi khuôn mặt khốn khổ của tất cả những người bị thử thách;

những kẻ đói, không chỉ vì thiếu của ăn, nhưng vì thiếu lời Chúa;

những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước, nhưng còn vì thiếu bình an, sự thật, công bằng và tình thương;

những kẻ vô gia cư, không chỉ tìm kiếm một mái nhà, nhưng còn tìm một con tim hiểu biết và yêu thương;

những kẻ bệnh hoạn và hấp hối không chỉ trong thân xác nhưng còn trong tinh thần…

Bởi lẽ: "Điều mà các ngươi làm cho người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính Ta".

NS Dân Chúa Âu Châu

 
 

LênTrời-94: VỀ GALILÊ - Lm Augustine, S.J

Theo lệnh của Chúa Phục Sinh nhắn qua các phụ nữ đã gặp Ngài, các môn đệ nhanh chóng lên: LênTrời-94

Theo lệnh của Chúa Phục Sinh nhắn qua các phụ nữ đã gặp Ngài, các môn đệ nhanh chóng lên đường trở về Galilê. Đây là hành trình đức tin, bước đi trong vâng phục. Biến cố Thầy bị kết án tử đã khiến các ông thất vọng ê chề. Các môn đệ đã từng theo Thầy rong ruổi khắp mọi nẻo đường của xứ Galilê này. Tại đây, các ông từng chứng kiến bao điều kỳ diệu Thầy đã thực hiện: xua trừ ma quỉ, chữa lành bệnh tật, nhân bánh ra nhiều để nuôi cả đoàn dân đông đảo... Cũng chính nơi đây, các môn đệ đã từng nghe Thầy giảng dạy về Nước Trời, về lòng thương xót của Cha trên trời, về cách sống sao cho xứng với địa vị làm con cái Thiên Chúa. Thầy đi đến đâu, muôn người đều ngưỡng mộ quí mên Thầy. Điều này khiến các môn đệ rất đỗi tự hào, phấn chấn và hãnh diện.

Mọi vinh hoa trần thế người ta dâng cho Thầy mau chóng biến tan khi Thầy lên Giêrusalem nộp mình thọ nạn. Dù cho Thầy đã từng báo trước đến ba lần, nhưng các môn đệ không sao hiểu được biến cố đau thương đã xảy đến cho Thầy. Khi Thầy bị bắt, các môn đệ chống trả khá dữ dội, đến mức đổ máu (x.Mt 26,51). Thế nhưng, chẳng mấy chốc sau đó, tất cả các ông đều bỏ chạy thoát thân, để Thầy lại một mình. Ngay cả Phêrô, người đã từng tuyên bố: “dù cho mọi người có vấp ngã, riêng con đây sẽ chẳng bao giờ bỏ Thầy” (Mt 26,33), vậy mà nay lại chối Thầy đến ba lần (x.Mt 26,69-74). Cái chết thập giá đầy ô nhục của Thầy đã làm cho bao nhiêu kỳ vọng của các môn đệ thành mây khói. Còn hơn thế nữa, cái chết ấy đã làm cho các ông thành những kẻ phản Thầy.

Thầy đã chết nhưng nay đang sống. Qua các phụ nữ, Thầy nhắc lại cho các môn đệ lời Thầy đã nói trước trước khi chịu khổ nạn: “Sau khi chỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em” (Mt 26,32). Trở lại Galilê lần này, các môn đệ không lên đường đi vào quá khứ để tìm lại những kỷ niệm của một thời vang bóng, nhưng là để gặp lại Thầy, Đấng đã chiến thắng. Thầy đi trước để chờ đón và tỏ mình ra cho các môn đệ, bất chấp sự giới hạn và những đổ vỡ vừa xảy ra trong biến cố tử nạn của Thầy. Thầy đi bước trước trong tiến trình hoà giải với các môn đệ về mối tương quan vừa bị đổ vỡ. Bất chấp giữa các ông vẫn còn một số người hoài nghi, Thầy vẫn một lần nữa tuyển chọn và sai các ông đi trong tư cách là môn đệ của mình.

Mừng Chúa Thăng Thiên

Hôm nay, Giáo Hội mừng mầu nhiệm Chúa Thăng Thiên. Chúa về trời không có nghĩa Chúa rời bỏ trần thế, nhưng chỉ có nghĩa thay đổi cách thức hiện diện. Từ nay, Ngài không còn hiện diện cách hữu hình, nhưng là hiện diện cách vô hình với con người. Mừng mầu nhiệm Chúa về trời cũng đồng nghĩa tuyên xưng sự hiện diện của Chúa nay vượt mọi giới hạn thời gian và không gian. Từ nay, Ngài hiện diện với con người ở mọi thời (mọi ngày), giữa muôn dân nước (x. Đn 7,14) vì Ngài có toàn quyền trên trời dưới đất.

Các môn đệ được Chúa Phục Sinh đưa vào mầu nhiệm Thiên Chúa hoà giải với con người. Các ông được Chúa Phục Sinh sai đi làm chứng cho chính mầu nhiệm này, mầu nhiệm mà các ông đã cảm nghiệm thật sâu xa nơi lòng mình: Tình yêu Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi con người. Giáo Hội mừng lễ Chúa Thăng Thiên cũng nhằm mục đích nhắc nhớ sứ mạng của mình, đó là làm chứng cho Chúa Phục Sinh và dẫn đưa muôn người về với Chúa. Là những môn đệ được Chúa Phục Sinh tuyển chọn qua Giếng Nước Rửa Tội, chúng ta hãy dùng chính đời sống vui tươi, tràn đầy hy vọng, thứ tha và yêu mến nhờ Chúa Giêsu để giới thiệu Chúa Phục Sinh cho người chưa biết Ngài. Chúa muốn dùng đời sống chứng tá của chúng ta để làm cho muôn dân thành môn đệ Ngài.

Từ đại tướng thành chiến sĩ Tin Mừng...

Câu chuyện dưới đây kể về một con người đã gặp Chúa Phục Sinh và trở thành môn đệ của Ngài.

Trong cuộc chiến Angiêri hồi năm 1961, Mạc Đăng Hưng (Philip Morion), lúc bấy giờ là một thiếu úy trẻ tuổi, đã tận mắt thấy một số tu sĩ công giáo cứu giúp cả những kháng chiến quân Fellag của Angiêri là những người, khoảnh khắc trước đó, đã tìm cách giết hại binh lính Pháp. Chàng sĩ quan trẻ tuổi này đã không thể hiểu nổi hành động từ bi của các tu sĩ. Đức tin của anh lâm vào tình trạng khủng hoảng. Anh muốn nổi loạn, loại bỏ niềm tin Kitô nơi mình. Nhưng rồi sau đó, nhờ suy nghĩ chín chắn, Mạc Đăng Hưng hiểu được ánh sáng đức tin chân thật và ngoan ngoãn để cho đức tin hướng dẫn cuộc đời binh nghiệp của mình.

Hồi tháng 3 năm 1993, trận chiến tại Bosnia-Herzêgovina đang leo thang mãnh liệt. Tại vùng Srêbrênica, lãnh thổ Hồi giáo, tuyết rơi phủ một màu trắng xoá - Srêbrênica đang bị quân Serbia vây hãm, tấn công và đe dọa tiêu diệt. Người dân sống trong đói khổ và âu lo trước viễn tượng bị tàn sát tập thể, nếu quân Serbia chiến thắng tràn vào đây. Cộng đồng quốc tế thì phân vân lưỡng lự trong khi giới ngoại giao tiến được một bước thì lùi lại hai bước. Thảm cảnh ghê rợn như đang chờ cơ hội ập xuống trên người dân nơi đây. Một sáng nọ, Đại tướng Mạc Đăng Hưng trong vị trí tổng tư lệnh lực lượng quân đội bảo hoà liên hiệp quốc (gọi tắt là IFO), đã đích thân đến Srêbrênica, dùng chính bản thân làm khiên thuẫn bảo vệ mạng sống người dân Hồi giáo ở đây. Nhờ hành động quả cảm này, vị tổng tư lệnh được mệnh danh là “ông tướng can trường” đó đã một mình đẩy lùi được cuộc tấn công của quân Serbia hung hãn.

Năm nay, tướng Mạc Đăng Hưng 63 tuổi. Hiện tại, ông đã về hưu và sống tại thủ đô Paris. Từ giã binh nghiệp, giờ đây ông trở thành một chiến sĩ của Thiên Chúa. Dưới sự linh hướng của cha sở họ đạo thánh Dương Minh (Saint Germain l" Auxerrois) tướng Mạc Đăng Hưng đào luyện một nhóm người trẻ để họ giúp đỡ các giới bị lỏ rơi ngoài lề xã hội tìm lại được niềm hy vọng. Nhóm người trẻ này sẽ là những đội quân cảm tử của vị đại tướng về hưu, để với vũ khí là Tin Mừng, họ sẽ tấn công vào các vùng ngoại ô thành phố.

Khi được mời chia sẻ tâm tình của mình, tướng Morion có lần đã tâm sự: “Tôi rất ngưỡng mộ thánh Máctin thành Tua, người lính đã xẻ đôi mảnh áo choàng chia cho một kẻ nghèo. Nếu Chúa muốn, tôi xin dành thời gian về hưu còn lại của tôi bây giờ để phục vụ Giáo Hội theo gương thánh Máctin. Bởi lẽ trong các thành phố cũng như trên toàn thế giới ngày nay, sự dữ đang toa rập hình thành nên một nền văn hoá chết chóc, đe dọa xoá bỏ mọi kết quả sự lành. Cuộc đời binh nghiệp và nhất là thảm cảnh Srêbrênica đã giúp tối biết trở thành hiện thân của hy vọng, và tôi ước mong chia sẻ niềm hy vọng ấy với các bạn trẻ tìm đến với tôi trong cuộc chiến chống nạn tuyệt vọng hiện nay giữa kinh đô ánh sáng Paris. Cùng với đội quân cảm tử đặc biệt này, tôi sẽ chĩa mũi giáo Tin Mừng tấn công các vùng ngoại ô man rợ, sẽ đi vào các bãi chiến trường thành phố, để rao giảng sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô là sứ điệp có khả năng chiến thắng sự chết.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Theo Bạn, đâu là ý nghĩa của việc Giáo Hội mừng lễ Chúa Thăng Thiên?

2. Qua câu chuyện về đại tướng Philip Morion, bạn thấy có điều tâm đắc, đánh động bản thân mình?

3. Bạn có bao giờ nghe được tiếng lòng mình đòi buộc mình phải sống chứng nhân trong một chọn lựa cụ thể của đời sống chưa? Xin bạn chia sẻ về kinh nghiệm đó?

“Chúng ta phải ôm trọn thế giới trong sự hiệp nhất bác ái của Chúa Giêsu Kitô. Há đó chẳng phải là điều Ngài muốn nhờ bí tích Thánh Thể mà chúng ta vẫn thường lãnh nhận đó sao? Và không lẽ sau nhiều lần hiệp lễ chúng ta vẫn còn có những tâm tình khác với Chúa Giêsu Kitô ư? Chắc chắn nếu chúng ta chuẩn bị đón nhận Ngài bằng đức ái, thì Ngài sẽ thông chia cho ta mọi tâm tình của Ngài” (NT MECHTILDE du Saint Sacrament sinh năm 1614, lập dòng Nữ Biển Đức và qua đời năm 1698) 


 

LênTrời-95: Thiên đàng

Hôm nay mừng kính Chúa về trời, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về nước trời, về thiên đàng, về: LênTrời-95

Hôm nay mừng kính Chúa về trời, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về nước trời, về thiên đàng, về quê hương vĩnh cửu của chúng ta.
Những kẻ không có một niềm tin thì cho rằng chết là hết. Nhưng với chúng ta thì khác, cái chết chỉ là một khởi điểm cho một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Cái chết chính là khung cửa hẹp dẫn chúng ta vào quê hương nước trời. Ý tưởng về nước trời, về thiên đàng vốn được Kinh Thánh nói tới nhiều lần.
Trong Cựu ước, ông Gióp một con người khổ đau đã kêu lên: Tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi hằng sống và trong ngày sau hết, tôi sẽ từ bụi đất sống lại và tôi sẽ nhìn thấy Thiên Chúa.
Vua thánh Đavid thì xác quyết: Sống công chính tôi được nhìn thấy Chúa. Thức giấc rồi, tôi no thỏa thánh nhan.
Sách Khôn Ngoan đã diễn tả: Bấy giờ người công chính sẽ chiếu sáng như những vì sao .
Trong Tân ước, Chúa Giêsu đã khuyên nhủ cho chúng ta hãy tích lũy cho mình những kho tàng ở trên trời, ở đó sẽ chẳng có mối mọt và trộm cắp: Tiên vàn các con hãy tìm kiếm nước trời, còn mọi sự khác sẽ được ban thêm cho các con.
Nhất là trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã yên ủi những người bị đau khổ, bị bắt bớ bằng niềm hy vọng nước trời: các con hãy mừng rỡ hân hoan vì phần thưởng của các con sẽ to lớn ở trên trời.
Và trong ngày sau hết, Ngài sẽ phán với những người lành: Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần thưởng nước trời đã được sắm sẵn cho các ngươi từ thuở tạo dựng thế gian.
Thánh Phaolô cũng nói: hiện nay chúng ta như đang nhìn vào gương, nhưng bấy giờ, chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt.
Vậy thì nước trời hay niềm hạnh phúc thiên đàng là gì ? Tôi xin thưa: đó là sự chiếm hữu Thiên Chúa như thánh Phaolô đã nói: Tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy và trái tim chưa một lần cảm nhận được những gì Thiên Chúa dành cho những kẻ yêu mến Ngài. Tất cả những khổ đau trong cuộc sống hiện tại sẽ chẳng là gì cả, nếu đem so với hạnh phúc nước trời. Đó là nơi vinh quang, đó là nơi ánh sáng, đó là nơi ân thưởng cho những người đã trung thành phụng sự Chúa.
Tuy nhiên, niềm hạnh phúc tuyệt vời ấy không phải như là một món ăn quý giá đã nấu chín và chúng ta chỉ việc dùng mà thôi. Trái lại, chúng ta phải cố gắng, phải chiến đấu thì mới đạt tới.
Chúa Giêsu đã nói: chỉ những kẻ khỏe mạnh can trường mới chiếm được nước trời.
Thánh Phaolô đã diễn tả: Như các lực sĩ nơi thao trường, phải cố gắng giao đấu và phải giao đấu theo đúng những qui luật thì mới đạt được tấm huy chương vàng.
Có một em nhỏ bị đau nặng. Biết mình sắp chết, em nói với người mẹ: má ơi, khi con chết đi, thì má hãy mặc cho con bộ quần áo đẹp nhất nhé… Ngày rước lễ lần đầu, con đã mặc quần áo đẹp, thì ngày con về trời, con còn phải mặc đẹp hơn thế nữa.
Hãy ra sức xa tránh tội lỗi, để khi xuất hiện trước ngai tòa Chúa, tâm hồn chúng ta trong trắng như tấm áo ngày rửa tội, nhờ đó mà chúng ta sẽ được Chúa đón nhận vào quê hương nước trời.

 
 

LênTrời-96: Nhìn trời – ĐTGM. Giuse Ngô quang Kiệt

Con người thường có hai thái độ sống đối nghịch nhau. Một bên là những người chỉ biết có việc: LênTrời-96 FB

Con người thường có hai thái độ sống đối nghịch nhau. Một bên là những người chỉ biết có việc đạo. Sống dưới đất nhưng lòng trí để cả ở trên trời. Không tha thiết gì với những người chung quanh. Không tham gia những sinh hoạt xã hội. Khinh chê tất cả những giá trị ở đời này. Ngược lại, bên kia là những người sống như chỉ biết có việc đời. Chỉ coi trọng những giá trị vật chất. Chỉ biết có đời này. Sống là còn. Chết là hết. Cả hai thái độ đều bất cập.
Việc Đức Giêsu lên trời và những lời Ngài truyền dạy trước khi từ giã trần gian giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn đối với trời và đối với đất.
Đức Giêsu lên trời. Điều đó dạy ta biết ngoài cõi đời này còn có một nơi chốn khác. Ngoài cuộc sống này còn có một cuộc sống khác. Ngoài những giá trị đời này còn có những giá trị khác.
Trời là nơi hạnh phúc không còn khổ đau. Trời là nơi cuộc sống vĩnh viễn không bị tiêu diệt. Trời là nơi tất cả mọi giá trị đạt đến mức tuyệt đối. Trời là nơi con người trở thành thần thánh, sống chung với thần thánh.
Như thế trời là niềm hy vọng của con người. Con người không còn bị trói chặt vào trần gian. Định mệnh của con người không phải chỉ là đớn đau sầu khổ. Số phận con người không phải sinh ra để rồi tàn lụi. Trời cho con người một lối thoát. Trời mở ra cho con người một chân trời hạnh phúc. Trời cho con người cơ hội triển nở đến vô biên.
Trời nâng cao địa vị con người. Có trời, con người không còn bị xếp ngang hàng với súc vật. Súc vật sinh ra để tàn lụi. Con người sinh ra để triển nở, để vượt qua số phận, để đạt tới địa vị con Thiên Chúa. Có trời, con người sẽ được nâng lên ngang hàng thần thánh.
Tuy nhiên, trời không phải xây dựng trong mây trong gió, nhưng được xây dựng trong cuộc sống trần gian. Trời không phải là cõi mơ mộng viển vông, nhưng đã bắt đầu ngay trong thực tế cuộc đời hiện tại.
Chính vì thế mà hai thiên thần áo trắng đã bảo các môn đệ đừng đứng nhìn trời mãi làm chi, nhưng phải trở về mà lo chu toàn nhiệm vụ.
Chính vì thế mà trước khi lên trời, Chúa căn dặn các môn đệ hãy đi làm việc cho nước Chúa. Sống và làm việc ở trần gian, đó là một nhiệm vụ phải chu toàn. Hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian, đó là điều kiện để đạt tới hạnh phúc nước trời.
Chính Đức Giêsu cũng đã chu toàn nhiệm vụ ở trần gian rồi mới lên trời. Nhiệm vụ đó là đi gieo Tin Mừng khắp nơi. Đi đến đâu là thi ân giáng phúc đến đấy. Đi đến đâu là gieo yêu thương đến đấy.
Hôm nay Chúa cũng sai các môn đệ và chúng ta đi gieo Tin Mừng khắp thế gian. Hãy đi làm mọi việc tốt đẹp cho mọi người.
Làm việc tốt đẹp ở trần gian đó là góp phần xây dựng nước trời. Góp phần xây dựng trần gian đó là dọn chỗ ở trên nước trời. Trần gian không phải là nơi cho ta bám víu vì không vĩnh cửu. Nhưng trần gian là cơ hội cho ta đạt tới nước trời.
Chính vì thế, người môn đệ của Chúa phải sống giữa trần gian, phải yêu mến trần gian, phải xây dựng trần gian. Vì trần gian là nơi Chúa sai ta đến làm việc.
Tuy nhiên người Kitô hữu làm việc ở trần gian mà lòng vẫn hướng lên quê trời. Yêu mến trần gian vì nước trời. Yêu mến trần gian để biến trần gian thành nước trời.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết nỗ lực xây dựng trần gian trong niềm mong đợi hạnh phúc nước trời. Amen.
Gợi ý chia sẻ:
1) Tin có thiên đàng. Điều này có quan trọng đối với bạn?
2) Người môn đệ của Chúa phải có thái độ nào đối với của cải vật chất?
3) Khi ngắm thứ hai mùa mừng, đọc “Ta hãy xin cho được lòng ái mộ những sự trên trời”, bạn nghĩ gì? Bạn phải sống làm sao để thực hiện lời cầu nguyện này?


 

LênTrời-97: SNLC/344 - Ra đi

Các sân bay là những nơi có nhiều niềm vui cũng như nước mắt. Có những người ngẩng đầu lên: LênTrời-97

Các sân bay là những nơi có nhiều niềm vui cũng như nước mắt. Có những người ngẩng đầu lên để nhìn thoáng qua lần đầu người thân của mình đang đến. Trong khi đó, lại có những người khác với đôi mắt nhòe lệ nhìn lần cuối một người thân ra đi. Ngày lễ hôm nay tưởng niệm việc Chúa Kitô lên trời, nhưng thực chất không phải là một cuộc ra đi. Dĩ nhiên, Chúa Kitô không còn được nhìn thấy bằng mắt thường nữa. Thánh Luca viết: “Chúa Giêsu được cất lên ngay trước mắt các ông và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa”.

Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là câu chuyện Chúa ra đi. Ngược lại là đàng khác ! Người vẫn tiếp tục hiện diện, nhưng theo một cách mầu nhiệm. Người tiếp tục hoạt động trong thế giới này qua các môn đệ. Và vì thế, chúng ta có thể nói hôm nay là ngày cử hành đại lễ của một kết thúc và cũng là của một khởi đầu. Việc hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu trên trái đất này đã kết thúc. Bây giờ khởi đầu một triều đại mới mà Người là Vua trên các vua. Vì thế, việc cử hành thánh lễ hôm nay không phải là việc tưởng nhớ một người vắng mặt, nhưng là một cử hành tràn đầy niềm vui cùng với Chúa Kitô đang hiện diện giữa chúng ta.
Thiên thần đã nói với các môn đệ đừng đăm đăm nhìn lên trời nữa. Ngài chỉ cho các ông nơi mà Chúa Giêsu đang cần các ông, đó là ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi người. Sứ vụ này vẫn tiếp tục, và đó là sứ vụ của chính chúng ta. Một Kitô hữu đích thực không phải là người cứ nhìn lên trời, chờ Chúa Kitô xuất hiện trên đám mây. Nhưng một Kitô hữu đích thực là người đầy lòng nhiệt thành mang Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người. Thế giới ngày nay đang khao khát Tin Mừng của Chúa. Qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn đem niềm vui và sự bình an vào trong một thế giới đầy những tai ương, chiến tranh và bất công. Qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn đem sự hiểu biết, tình yêu và sự cảm thông vào trong một thế giới đầy tranh chấp, cãi cọ và thù hận. Qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn biến đổi thế giới này trở nên một nơi chốn tốt lành hơn. Ngày hôm nay, chúng ta cần thức tỉnh về nhiệm vụ của mình. Chúng ta cần nhìn vào thế giới này với những vấn đề rắc rối của nó, và chúng ta hãy thực hiện việc các tông đồ đã làm sau khi Chúa lên trời đó là chia sẻ Chúa Kitô Cho mọi người.



Lạy Chúa, con tin Chúa vẫn tiếp tục hiện diện trong thế giới này. Xin Chúa ban tràn đầy Thần Khí Chúa xuống trên con để con có thể thi hành nhiệm vụ loan báo Tin Mừng mà Chúa đã ủy thác cho con.
 
 

LênTrời-98: CSTM/130 – Lên trời

Có những cuốn sách khi khép lại chính là lúc mở ra: mở ra cho suy tư, mở ra cho trách nhiệm, mở: LênTrời-98

Có những cuốn sách khi khép lại chính là lúc mở ra: mở ra cho suy tư, mở ra cho trách nhiệm, mở ra cho hành động. Sách Tin Mừng là cuốn sách như thế, theo ý nghĩa trọn vẹn nhất. Nếu Tin Mừng khép lại cuộc đời Chúa Giêsu thì đồng thời lại mở ra cho một trang sử mới. Nếu biến cố Thăng Thiên khép lại cuộc đời tại thế của Chúa Giêsu, thì đồng thời lại mở ra cho một mệnh lệnh mới phải được thực thi, một trách nhiệm mới phải được hoàn thành, một hiện diện mới phải được đón nhận. Chính trong sự đan kết đó mà phụng vụ lời Chúa hôm nay vừa mời gọi chúng ta suy niệm mầu nhiệm Thăng Thiên, lại vừa đòi hỏi chúng ta đào sâu trách nhiệm tông đồ, trách nhiệm truyền giáo, trách nhiệm rao giảng Tin Mừng trong đời người Kitô hữu.
Trước hết, về mầu nhiệm Thăng Thiên, tức là mầu nhiệm Chúa Giêsu lên trời. Trong bốn sách Tin Mừng, chỉ có hai sách nói đến việc Chúa Giêsu lên trời, đó là Tin Mừng Marcô và Luca. Thánh Marcô nói rất vắn tắt, chỉ nói Chúa Giêsu lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa, chứ không nói rõ Chúa lên trời ở đâu và sau khi sống lại được bao lâu. Còn thánh Luca, đọc Tin Mừng của ngài, chúng ta có cảm tưởng Chúa Giêsu lên trời ngay ngày Chúa sống lại và ở gần Bêtania. Nhưng theo sách Công vụ Tông đồ, cũng của thánh Luca, thì Chúa lên trời sau khi sống lại được 40 ngày, và chỗ Chúa lên trời là núi Cây Dầu.
Chúa Giêsu lên trời là một điều chắc chắn. Đây là một mầu nhiệm, một tín điều chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Ngày thứ ba, Người sống lại như lời Thánh Kinh, Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha”. Vậy ý nghĩa của mầu nhiệm này thế nào ? Việc Chúa lên trời là một sự kiện tất yếu của quá trình nhập thể và cứu chuộc của Ngài, nghĩa là Ngài là Con Thiên Chúa, từ trời xuống trần gian để thực hiện chương trình cứu chuộc của Chúa Cha, Ngài đã giảng dạy, phục vụ và cống hiến cả mạng sống, nên sau khi sống lại từ cõi chết, Ngài đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh, được đặt bên hữu Thiên Chúa và ban cho quyền xét xử vũ trụ.
Chúa lên trời là một câu trả lời vô cùng phấn khởi cho chúng ta, nếu chúng ta trung thành tin theo Chúa, chúng ta cũng sẽ được về trời, sẽ được Chúa Giêsu đón vào trong nhà Cha để cùng với Ngài hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời. Tuy nhiên, để đạt được nước trời đòi hỏi chúng ta phải trả giá, cũng như không có thành công nào hay hạnh phúc nào ở đời này mà lại đạt được quá dễ dàng, thì hạnh phúc nước trời thì lại càng khó hơn biết bao, đòi hỏi chúng ta phải kiên trì và cố gắng về mọi phương diện. Những ngày sống lữ thứ trần gian là để đi vào nước trời, chúng ta phải cố công đi cho tới đích, không bao giờ được bỏ cuộc, không rẽ ngang, không đi lui, phải đi tới mãi. Đường vào nước trời thiên nan vạn nan chứ không phải dễ dàng ra vào như đi chợ hay đi bát phố. Kinh Thánh nói: Người ta phải dùng sức mạnh sấn sả mà đi vào ; qua con đường hẹp, phải ra đi trong nức nở mới trở về trong hân hoan. Cũng thế, ai cũng biết bài học:nước chảy đá mòn”, “kiến tha lâu đầy tổ”, “có công mài sắt, có ngày nên kim”, “có khó mới có miếng ăn”, thì trên phạm vi siêu nhiên cũng vậy, Chúa dạy: “Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi”, vì nước trời đòi hỏi rất nhiều cố gắng, rất nhiều công lao khó nhọc.
Nhưng làm sao người ta có thể biết Chúa, tin theo Chúa, sống theo những lời Chúa giảng dạy để rồi cũng được về với Chúa ? Chính vì thắc mắc đó mà trước khi về trời, Chúa Giêsu đã ra chỉ thị cho các môn đệ của Ngài. Ngài đã sai các ông ra đi trên vạn nẻo đường thế giới, ban cho các ông nhiều quyền năng để rao giảng Tin Mừng và đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người. Chính nhờ các tông đồ đầu tiên ấy, rồi các tông đồ khác, lại các tông đồ khác nữa kế tiếp nhau trung thành thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng ấy mà người ta biết Chúa, tin theo Chúa, được cứu rỗi và rồi sẽ được về trời.
Nói khác đi, Chúa Giêsu đã dùng Giáo hội như đôi tay để tiếp tục công cuộc cứu chuộc của Ngài, nghĩa là Giáo hội như một nối dài của Chúa Giêsu. Cách đây hai ngàn năm, Chúa Giêsu đã đi lại, đã giảng dạy, đã làm nhiều điều tốt đẹp. Ngày nay, Ngài cũng muốn cho các hoạt động của Ngài được tiếp tục qua Giáo hội. Sứ mạng của Chúa Giêsu là một sứ mạng thiêng liêng, nhưng sứ mạng đó cần phải được thể hiện bằng lời nói, bằng hành động bên ngoài. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi trao phó sứ mạng đó cho Giáo hội, Chúa muốn nó được thực thi trong một khung cảnh hữu hình, nhờ những phương tiện cụ thể. Chính nhờ những sinh hoạt hữu hình và đôi tay cụ thể của Giáo hội mà Chúa Giêsu tiếp tục loan truyền chân lý, trao ban sự sống và dẫn đưa nhân loại về hạnh phúc vĩnh cửu.
Là chi thể của Giáo hội, thân mình mầu nhiệm Chúa Kitô, mỗi Kitô hữu là cánh tay rộng mở của Chúa, nhờ đó Ngài không ngừng giãi tỏa ánh sáng, trao tặng tình thương, ơn cứu độ và hạnh phúc cho mọi người. Để được như thế, cách tốt nhất là chúng ta hãy sống tốt: hãy sống tốt với mọi người trong gia đình, với xóm ngõ, với bạn bè, trong nơi làm việc và với những người chung quanh, bất kỳ lương hay giáo. Sống tốt có nghĩa là sống cởi mở, sống hòa đồng, sống vui tươi, sống bác ái, sống chan hòa tình yêu thương với mọi người.
Mừng lễ Chúa Giêsu lên trời nhắc nhở chúng ta: Chúa đã lên trời, chúng ta cũng sẽ về trời, đó là cùng đích của hạnh phúc đời người. Vì thế, chúng ta hãy sống cho thật tốt, thật tròn đầy những bổn phận hằng ngày để đạt được hạnh phúc ấy. Đồng thời ngày lễ hôm nay cũng mời gọi chúng ta hãy ra đi vào thế giới, vào môi trường mình đang sống để làm chứng cho Chúa, để giới thiệu Chúa cho anh em bằng chính đời sống tốt đẹp của chúng ta.

 
 

LênTrời-99: Thăng Thiên: Câu trả lời dứt khoát của Thiên Chúa...

Dẫn nhập đầu lễ:

Kính thưa ông bà anh chị em, 

 

Hôm nay toàn thể cộng đoàn Dân Chúa cử hành đại lễ Chúa Giê-su Thăng Thiên. Mầu nhiệm này: LênTrời-99

Hôm nay toàn thể cộng đoàn Dân Chúa cử hành đại lễ Chúa Giê-su Thăng Thiên. Mầu nhiệm này đã được Dân Chúa ngay từ đầu tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Ngày Thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha”.

Trong viễn tượng lịch sử cứu rỗi, việc Chúa Thăng Thiên lại là biến cố mở ra một giai đoạn mới: giai đoạn của các Tông đồ thực thi sứ mệnh “đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật”. Đó cũng chính là giai đoạn của Hội Thánh hôm nay, giai đoạn mà ở đó, mọi người chúng ta đều được trao gởi sứ mệnh loan báo Tin mừng, là chứng tá đức tin.

Chính vì thế, nội dung và ý nghĩa cử hành phụng vụ lễ Chúa Thăng Thiên hôm nay vừa là lời tuyên xưng đức tin của Hội Thánh về cùng đích vĩnh cửu của ơn cứu độ: Lên trời cùng với Đức Kitô; vừa là một quyết tâm dấn thân vào thế giới để làm chứng và tuyên rao Tin Mừng.

Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh lễ, chúng ta…….

Giảng Lời Chúa:

Anh chị em, trong những ngày vừa qua, chúng ta nghe liên tục các trích đoạn Tin mừng của Thánh Gioan tường thuật những “tâm sự cuối cùng của Chúa Giêsu dành cho các môn sinh” trước khi Ngài dấn thân vào hành trình khổ nạn mà nội dung chủ yếu là loan báo về “cuộc ra đi của Ngài”: “Một ít nữa các con sẽ không thấy Thầy…Thầy đi thì có ích cho chúng con…Thầy đi để dọn chỗ cho chúng con…Thầy đi về cùng Cha…”

Và hôm nay, Phụng vụ cử hành “lễ Chúa Thăng Thiên”, lễ “Đức Kitô Đi về cùng Chúa Cha, Về Trời” như một ấn chứng chắc chắn cho những lời loan báo của Đức Kitô và cũng là lời tuyên xưng vĩnh viẽn của Dân Chúa về cùng đích của ơn cứu độ do Đức Kitô mang đến. Quả thật, Đức Kitô đã không phĩnh gạt con người, cho dù với cái chết tủi nhục đau thương trên thập giá, có một lúc, nhiều người tưởng đâu mọi sự đã kết thúc tại đó ! Thì ra đằng sau “hoàng hôn thập giá” là một “bình minh của phục sinh” đang chỗi dậy ! Đau khổ và sự chết chưa phải là tiếng nói cuối cùng. Đúng hơn, đó chỉ là “con đường hầm phải vượt qua” để nhân loại bước vào “hiện hữu mới, quê hương mới, trời mới, đất mới”…

1. Lên trời: một cuộc “ra đi để bắt đầu một hiện hữu mới”.

Để trình bày một mầu nhiệm cao siêu và lạ lùng, mầu nhiệm Chúa Thăng Thiên, tác giả sách Công Vụ Sứ Đồ đã diển tả cuộc “ra đi về trời của Đức Kitô mang dáng đứng huyền thoại pha lẫn chút cổ tích với những hình ảnh thật gợi cảm “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người…Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi…” (BĐ 1). Cho dù Kinh Thánh dùng diễn ngữ nào chăng nữa, thì niềm tin truyền thống của Giáo hội vẫn đơn giản: “Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha” (KTK). Vâng, Đức Kitô không “ra đi” để vĩnh viễn mất hút trong không gian và thời gian, Ngài không ra đi để hoàn toàn “âm dương cách trở”, vĩnh biệt ngàn thu…mà chỉ là một cuộc đĩnh đạt bước vào “hiện hữu mới”, là cuộc chiến thắng khải hoàn tiến vào cung điện thiên cung, để được gần gũi hơn, tự do hơn, quyền năng hơn của một “Đấng Kitô Thiên Chúa uy quyền”, chứ không còn là một “con người Giêsu-Nadarét” trước đó 40 ngày, chỉ là một tội nhân bị kết án tử hình với tấm thân rách nát trước tòa Philatô (Ecce Homo) !

Chính vì thế, với cái nhìn của đức tin theo Lời Mặc khải, Lên trời, Thăng Thiên chỉ là một “diễn ngữ khác của Phục Sinh, Vượt Qua” nhưng mang âm hưởng của “chiến thắng, viên thành”. Chính vì thế, đừng có ai ngu ngơ như một Phi Hành Gia không gian nào đó của Liên Sô, sau chuyến du hành vũ trụ bay về mặt đất, đã ngông nghênh tuyên bố rằng: “Tôi đã bay ngang dọc khắp không gian nhưng chẳng gặp một ông Chúa nào trên đó cả”. Với một quan niệm và niềm tin lệch lạc như thế, thì với vài khoảnh khắc trong không gian kia làm sao anh ta gặp được Thiên Chúa; mà cho dù anh ta có đi hết “bầu trời cuộc sống” trong thái độ ngạo mạn kiêu căng như thế, thì mãi mãi Thiên Chúa sẽ “ngàn trùng xa cách”. Điều nầy, thì chúng ta phải công nhận triết gia Pascal có lý khi phát biểu rằng: “Thiên Chúa sẽ vô cùng sáng tỏ cho những ai khao khát gặp gỡ Ngài; nhưng Ngài cũng sẽ vô cùng ẩn kín mịt mù đối với những ai đóng kín tâm hồn và xua tay từ khước”. Cũng trong ý nghĩa đó, chúng ta càng xác tin rằng: Chúa về trời là để “dọn chỗ” hầu “lôi kéo mọi người lên với Ngài”; nhưng đồng thời, Ngài lên trời cũng là để vạch ra một “hố sâu ngăn cách giữa thiên đàng của những La-da-rô ăn mày và hỏa ngục của những tên phú hộ mà cuộc sống là một cuộc khước từ thuờng xuyên sự hiện diện của Thiên Chúa và ích kỷ triền miên trước anh em đồng loại (xem Lc 16,19-31).

2. Chúa lên trời cũng có nghĩa “Ngài đang ở lại”:

Đó chính là khẳng định của các Tin Mừng đặc biệt của Tin Mừng Mác-cô được công bố hôm nay: “Nói xong, Chúa Giêsu đươc đưa lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”.

Quả thật, Chúa lên trời để ở lại với chúng ta trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Ngài lên trời để ở lại với chúng ta trong Lời Ngài được công bố từng ngày, từng giờ hôm nay; Ngài lên trời để ở lại với chúng ta trong Nhiệm tích Thánh Thể; Ngài lên trời để ở lại với chúng ta trong những người nghèo hèn đói khổ, bị bách hại đau thương như Ngài đã từng xác quyết: “Khi nào ngươi làm cho một người bé nhỏ nhất là ngươi đã làm cho chính ta…”, “Saulô, Saulô, sao ngươi tìm bắt Ta..”; Ngài lên trời để ở lại trong chúng ta trong những Vị mục Tử thay mặt mặt Ngài chăn dắt đoàn chiên: “Sự gì dưới đất cầm buộc trên trời cũng cầm buộc…”; Ngài lên trời để ở lại với chúng ta khi chúng ta họp nhau dâng lời cầu nguyện và tiến dâng Hy Tế: “Ở đâu có hai ba người họp lại vì Danh ta, có Ta ở giữa…”…Vâng, chính nhờ mầu nhiệm “Lên trời” mà Đức Kitô Phục sinh không chỉ hiện diện trong những Ngôi Thánh Đường nguy nga đồ sộ, trên cung thánh rực rỡ hào quang; mà Ngài còn hiện diện nơi những nhà tù tanh hôi, khát máu, nơi những chòi tranh vách đất nghèo nàn, nơi trái tim nồng nàn cháy bỏng của những vĩ nhân như Đức Gioan-Phaolô II, hay nơi tâm hồn khiêm hạ giản đơn của Thánh Têrêxa hài Đồng, của Á Thánh Têrêxa calcutta, của Á Thánh Tân tòng Anrê Phú Yên, của linh mục tù nhân Maximilien Kolbe dám hy sinh cho bạn tù …

Đức Kitô về Trời để ở lại một cách huyện nhiệm khôn lường qua Bí Tích Thánh Thể mà hôm nay, giờ nầy tất cả chúng ta đang qui tụ để một lần nữa được cùng Ngài tái diễn Hy tế cứu độ, một lần nữa được nghe chính Ngài phán dạy qua bàn Tiệc Lời Chúa được công bố. Những lời hôm xưa của Đức Kitô trước khi giã từ các môn sinh: “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” đã được hiện thực không ngừng từng mỗi phút giây trong nhịp sống của Giáo Hội.

3. Hãy tìm kiếm những sự trên trời.

Nếu cách đây 2000 năm, các thiên thần đã nhắc khéo các tông đồ: “Tại sao các anh cứ đứng đó mà nhìn trời cao ?” (BĐ 1). Qua đó, Lời Chúa cũng muốn nói với chúng ta, với Giáo Hội muôn nơi muôn thuở rằng: Hãy quay về với mặt đất. Hãy quay về với Sứ Mệnh Đứcd Kitô phán truyền; hãy quay về với thực tại đời thường để đem men Tin mừng vào thúng bột thế giới, để đem ánh sáng chân lý cứu độ vào bóng tối trần gian. Và các tông đồ đã thật sự quay về để sau đó tung chân đi khắp nẽo đường loan báo Tin vui. Và sau 20 thế kỷ, quả thật ‘tiếng chúng đã vang cùng trái đất và lời chúng đã vang xa khắp cõi địa cầu”.

Sống mầu nhiệm Thăng Thiên hôm nay phải chăng đó là vừa “biết ngước mắt ngẫng cao đầu hướng về trời cao” để nuôi giữ niềm tin yêu hy vọng vĩnh cửu, và vừa biết nhìn thẳng vào cuộc sống đời thường để biết xả thân xây dựng cuộc sống hôm nay. Sống mầu nhiệm Thăng Thiên cũng có nghĩa là vừa biết giữ cõi lòng thanh thản khỏi mọi vướng bận và đam mê nhỏ hèn, ô trọc, nhầy nhụa vật chất và lạc thú tầm thường, vừa biết cần cù xây dựng công lý và yêu hương, sẵn sàng biết cho đi và quảng đại quên mình. Sống mầu nhiệm Thăng Thiên đó là biết không ngừng “chắp cho mình đôi cánh thiên nga” để bay cao khỏi vũng lầy của cái danh cái lợi, cái hận thù ghét ghen, cái nhỏ nhen bũn xĩn…để nhìn xa về phía trước, nhìn lên tận cõi cuối trời mà tin rằng có một “quê nhà đích thật” đang mở cửa đón đợi.

Mầu nhiệm ThăngThiên năm nay được cử hành trong bối cảnh Giáo Hội đang đương đầu với hiện tượng cuốn tiểu thuyết và bộ phim “Mật mã Da Vinci”, một cơn “sóng thần văn hóa sự chết”, văn hóa đồi trụy tâm linh nhằm hạ bề bản tính siêu việt Thần Linh của Chúa Giêsu và triệt hạ các chân lý nền tảng của Hội Thánh. Đây là một cuộc tuyên chiến thẳng thừng và láo xược nhất, một sự xúc phạm nặng nề và thâm độc nhất kho tàng chấn lý truyền thống của Giáo Hội và niềm tin căn cốt của các thế hệ kitô hữu, và cũng là một thứ độc dược nguy hiểm nhất với lớp võ bọc đường của hư cấu văn chương và tiểu thuyết trinh thám giả tưởng nhằm lung lạc đức tin của những tâm hồn kitô hữu non yếu và những ai chưa có một tiếp cận đúng nghĩa với Tin Mừng.

Không chỉ hôm nay với “Mật Mã Da Vinci”, mà xuyên suốt dòng lịch sử, ma quỉ và các thế lực của bóng tối luôn muốn giữ chặt Đức Kitô trên thánh giá, hay trong mộ đá; hay như cách hư cấu báng bổ của Dan Brown, muốn ném Đức Kitô “Vị Thiên Chúa làm người” xuống hàng phàm phu tục tử; và như thế, quyền năng Tạo Hóa hay bản tính thần linh mà Ngài đã tuyên bố và ấn chứng bằng những phép lạ kèm theo, sẽ tan thành mây khói.

Mầu nhiệm Thăng Thiên chính là “câu trả lời dứt khóat của Thiên Chúa” về chân tính đích thực của Con Một Ngài, Đức Giêsu-Kitô, Đấng từ Thiên Chúa mà đến và lại trở về cùng Thiên Chúa. Thăng Thiên chính là sự xác định rõ ràng về chương trình cứu độ của Thiên Chúa, về cùng đích của cuộc nhập thể và tử nạn-phục sinh của Con Một Ngài, về con đường hạnh phúc đích thực mà Đức Kitô sẽ dẫn đầu đi trước như lời kinh Tiền Tụng hôm nay: “Người lên trời không phải để lìa xa chúng con là những kẻ yếu đuối, nhưng vì là đầu và là thủ lãnh của chúng con, nên Người đã lên trước, để chúng con là những chi thể của Người vững một niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo”.

Chính vì thế, sống mầu nhiệm Thăng Thiên hôm nay chính là hãy gấp rút đứng lên, với trái tim đầy tràn lửa mến, với niềm tin son sắt kiên cường, với niềm trông cậy vững vàng không lay chuyển, cùng nắm tay dẫn bước lên đường tung gieo những hạt giống Tin Mừng trên mọi nẻo đường trần thế. Đó là những hạt giống của lòng tận tụy hy sinh nơi những người cha, người mẹ đạo đức gương mẫu trong đời sống gia đình. Đó là những hạt giống tín trung, chung thủy của chồng của vợ khi cương quyết sống trọn vẹn ý nghĩa của Bí tích Hôn Phối cho dù phải đối diện với muôn vàn thử thách đau thương. Đó là những hạt giống anh hùng và quảng đại của những thanh niên thiếu nữ biết chiến thắng những dục vọng yếu hèn, để luôn giữ được trái tim trong trắng và ý chí can đảm chiến đấu và chiến thắng. Đó là những hạt giống khiêm hạ âm thầm của những người nông dân, công nhân đầu tắt mặt tối, chân lấm tay bùn nhưng vẫn khoan dung mĩm cười thanh thản chu toàn trách nhiệm trong tinh thần liên đới và bác ái hiệp thông. Đó là những hạt giống hy sinh cao cả của những bệnh nhân, những người khuyết tật, những tù nhân bị kết án bất công, những trẻ em cô nhi, những người nghèo thấp cổ bé miệng bị bóc lột và chà đạp nhân phẩm…cho dù bị thiệt thòa đủ thứ trong cuộc sống đời thường, vẫn vui tươi đón nhận trong thứ tha và phó thác…

Đó là hạt giống “Lời Thiên Chúa nhập thể” được gieo ngay từ Đồi Canvê vào chiều Thứ Sáu khi Chúa tử nạn, để sau đó đơm hoa ngay trên đồi Galilê vào lúc Chúa sống lại-Về trời và Lời đó hôm nay đang từng ngày đơm bông kết trái trên mọi miền thế giới. Chúng ta có thể cùng thưa lên với Chúa Giêsu:

Lạy chúa Giêsu,
Chúa đã yêu trái đất nầy,
Và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết
nổi khổ đau và hạnh phúc,
sự bi đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
nhờ sống yêu thương đến hiên mạng sống cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất nầy,
và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
Không làm chúng con quên trời cao;
và những vẽ đẹp của trần gian
Không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.
LM. Giuse Trương Đình Hiền

 
 

LênTrời-100: Trở nên hoàn thiện là năng thay đổi-Lm Vincent Travers

Chúa Giêsu Thăng Thiên là một biến cố mà các Tông Đồ không bao giờ quên được. Họ sẽ không: LênTrời-100

Chúa Giêsu Thăng Thiên là một biến cố mà các Tông Đồ không bao giờ quên được. Họ sẽ không bao giờ gặp lại Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt. Đó là lúc giả biệt. Lời nói giả biệt cuối cùng bao giờ cũng đau đớn nhất. Cứ theo bản tính con người mà nói, có lẽ họ đã trở về lại kinh thành Giêrusalem với một tâm trạng sầu muộn. Nhưng thay vì trở lại kinh thành, than khóc buồn bã như Thánh Luca đã viết, thật ra họ rất vui mầng. Một điều đầy ý nghĩa đã xảy ra nơi đỉnh đồi nhìn xuống kinh thành tráng lệ đã biến đổi họ từ một trạng thái sa sút tinh thần đến một tình trạng mầng vui.
Cuộc sống đáng sống
Một thiếu nữ sau khi sinh bé gái đầu lòng đã cho biết chị rất ngạc nhiên đến sững sờ khi nhận thấy chị có thể yêu thương con chị một cách đậm đà đến thế. Chị ở bên cạnh con, lòng tràn đầy niềm vui. Sự sinh đẻ đã biến đổi con người của chị. Kinh nghiệm thật đáng giá, đầy ý nghĩa. Giống như khi chúng ta ngắm nhìn vũ trụ bao la với muôn vàn vì sao lấp lánh khiến chúng ta phải thốt lên: “Oi lạy Chúa! Thật tuyệt diệu biết bao!” Và dĩ nhiên Thiên Chúa rất hài lòng khi nghe chúng ta xung tụng kỳ công tuyệt hảo của Ngài. Đó là chúng ta nói theo ngôn ngữ loài người. Thiên Chúa rất ngạc nhiên khi thấy ai đó ở nơi chân trời xa lạ đã khâm sùng tán thưởng kỳ công do bàn tay Ngài tạo dựng. Rồi Thiên Chúa thấy chúng ta đến với Ngài và la lên: “Thật tuyệt diệu!” Và Thiên Chúa cảm thấy thích thú vì chúng ta đã mở mắt ra để chiêm ngắm những kỳ quan của Ngài.
Đó là kinh nghiệm mà các Tông Đồ đã trải qua trong ngày Thăng Thiên của Chúa. Họ đã bừng sáng mắt ra khi chiêm ngắm sự hiện diện của Chúa. Điều nầy cắt nghĩa tại sao họ đã trở lại Giêrusalem mà hồn còn ở trên mây. Và ‘Linh đạo’ có nghĩa là thức giác đối với những thực tại cao cả đang bao quanh chúng ta.
Sống là thay đổi
Gerard Manley Hopkins là một thi sĩ người Ai-Nhĩ-Lan. Hồi còn trẻ, ông là một giáo sư dạy học tại một học đường của các cha dòng Tên ở Wales. Ngày kia ông đang trên đường trở về nhà ở trong cư xá dòng Tên. Lúc bấy giờ là mùa thu. Hopkins đang ở trong một trạng thái rầu rĩ vì mùa hè đã qua, mùa đông sắp tới và thời tiết bắt đầu đổi thay. Nếu ai đã trải qua mùa đông ở Wales thì sẽ rõ tại sao thi sĩ bị sa sút tinh thần. Tại đây rất nhiều ngày chỉ thỉnh thoảng sương mù hơi mõng một chút, nhưng phần nhiều trong ngày là một màng sương dày đặc ẩm ướt bao trùm và nhìn đâu đâu cũng chỉ thấy mờ mịt. Đang khi ông trên đường trở về nhà, bất chợt Hopkins tự nói với mình: “Hãy thư thả một chút. Mùa hè không còn đây nữa. Hè đã qua rồi. Mùa đông chưa có ở đây. Mùa đông chưa đến. Vậy thì mùa gì đây? Đó là mùa thu, mùa của lá rụng và cũng là mùa gặt hái hoa quả. Hãy mở mắt ra mà xem. Xem vẻ đẹp của hoa lá. Xem mây trôi lơ lững trên nền trời. Hãy thưởng thức gió mát từ bờ biển Ai-Nhĩ-Lan thổi vào. Đừng bận tâm về điều gì không còn ở nơi đây nữa. Đừng bận tâm về điều gì chưa xảy tới nơi đây. Hãy ngắm xem cái gì đang xảy ra bây giờ đây. Hãy trân trọng giây phút hiện tại. Hãy trân trọng ve đẹp rạng rỡ đang phô bày trước mắt!”
Điều mà Hopkins đang ngắm nhìn vẫn luôn hiện diện ở đó. Điều thiếu sót là không có ai nhìn ngắm và chiêm ngưỡng vẻ đẹp tráng lệ ấy mà thôi. Thiên nhiên không thay đổi. Mùa gặt hoa quả cũng chưa bắt đầu lúc bấy giờ. Lá cây cũng chưa đổi màu vào lúc đó. Vậy cái gì đã thay đổi? Chính Hopkins đã thay đổi và vì thi sĩ đã thay đổi nên ông lần bước trở về nhà mà tâm hồn ông đã biến đổi theo mùa xuân đang dò dẫm theo những bước chân âm thầm của ông, với nụ cười tươi nở trên khuôn mặt và một bài hoan ca sảng khoái ở trong tâm hồn mà giờ đây đang trổi dậy khi ông đối diện với vẻ đẹp thần tiên của một buổi chiều vào thu ở xứ Wales đầy tríu mến.
Trở nên hoàn thiện là năng thay đổi
Vào ngày Thăng Thiên, Chúa Giêsu không thay đổi. Ngài cũng vẫn là một Chúa Giêsu. Dĩ nhiên Ngài đã trở về với Chúa Cha. Ở một giai tầng nào đó, Chúa không còn ở với các tông đồ nữa, nhưng ở một giai tầng cao hơn, Chúa vẫn ở với họ một cách nào đó mà trước kia họ không bao giờ chứng nghiệm được. Vậy thì ai đã thay đổi? Chính các Tông Đồ đã thay đổi. Đó là điều bất chợt đã chiếu tỏa trên họ, ở trên đỉnh đồi đó, điều mà Chúa đã hứa hẹn là sẽ ở với họ luôn mãi. Sự kinh ngạc về điều đó đã thay đổi họ. Họ đã được biến đổi. Vì vậy tại sao họ đã trở về lại kinh thành Giêrusalem, không phải với những giòng lệ tuôn tràn trong đôi mắt mà với một bài hoan ca ở trong con tim. Giờ đây họ đã có một nhãn quan mới mang lại nhiều nghị lực cho họ và làm cho cuộc đời của họ mang nhiều ý nghĩa. Đó là nhãn quan về Chúa Phục Sinh sẽ ở với họ luôn mãi và họ sát cánh bên nhau trong niềm hoan lạc.
Tại sao chúng ta ngày nay mầng kỷ niệm mầu nhiệm cao cả về biến cố Thăng Thiên? Chúng ta không chủ ý tụ họp lại cho đông đảo, để nêu gương tốt cho đám trẻ em, hoặc để làm vui lòng người lớn. Chúng ta hội nhau lại để mở mắt ra như Hopkins đã làm vào một ngày mùa thu ảm đạm ở xứ Wales và, chiêm ngưỡng sự vinh quang của Chúa trong giây phút hiện tại để rồi la lên: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa cao cả biết bao!” Thiên Chúa luôn ở với chúng ta. Điều thiếu sót là chúng ta chưa nhận ra Ngài. Thăng Thiên làm cho chúng ta có khả năng rời khỏi nơi gọi là Núi Chúa để trở về nhà chúng ta với lòng mừng vui. Một thứ mừng vui làm cho chúng ta muốn biết điều gì sẽ xảy ra? Điều gì đã đến với chúng ta? Điều gì đã vượt lên trên chúng ta? Các Tông Đồ đã cảm nghiệm một sự khác biệt. Một đức tin mà không có gì khác biệt thì không còn là một đức tin nữa. Một người thấy đường đi thi sẽ bước đi khác với một người mù mắt.
Đức Hồng Y Newman có lần đã nói: “Sống là thay đổi. Trở nên hoàn hảo là năng thay đổi.” Chúng ta thay đổi hay không thay đổi? Đó là vấn đề! Những ai thay đổi và năng thay đổi là những người sống thật. Những ai không thay đổi và giữ nguyên cách sống của họ là những kẻ chỉ sống mà không sống thật. Sự lựa chọn trước mắt là ở giữa sự sống và sống thật.
Mỏm nhô của tảng băng trôi
Sự Thăng Thiên của Chúa Giêsu là mầu nhiệm của đức tin. Chúng ta phải là những con người có niềm tin mới đi vào mầu nhiệm nầy được. Câu chuyện về Thăng Thiên chẳng khác nào một tảng băng trôi. Bảy phần tám của tảng băng chìm dưới mặt nước. Chỉ mỏm tảng băng - tức một phần tám - mới nhô lên trên mặt biển. Sự ngạc nhiên thích thú là điều gì cơ bản thì không thấy được.
Ở trên đỉnh đồi trông xuống kinh thành Giêrusalem, các tông đồ chỉ thấy một phần tám của mầu nhiệm Thăng Thiên. Phần còn lại được che giấu. Họ biết câu chuyện về Chúa Giêsu chưa kết thúc. Chương cuối chưa viết xong. Phần hấp dẫn nhất còn đang diễn tiến, nhưng họ đã có đủ dữ kiện để tiến tới. Một phần tám của mầu nhiệm Thăng Thiên cũng đủ để đưa họ xuống núi, trở lại kinh thành Giêrusalem và sau đó sẽ vượt ra khỏi biên giới của Giêrusalem để tiến qua biên vực đang chia cắt Giêrusalem với thế giới bên ngoài.
Ý nghĩa của mầu nhiệm
Thăng Thiên là một mầu nhiệm sáng chói. Không có bảy phần tám kia thì sẽ không có mầu nhiệm. Cuộc sống chỉ viết bằng văn xuôi, chứ không viết thành văn vần. Cuộc sống được xây cất trên gạch ngói và vôi hồ, chỉ là trần tục, bình thản và vô vị. Không có bảy phần tám kia thì sẽ không có câu chuyện về Chúa Giêsu, không có Kitô giáo, không có biến cố Thăng Thiên. Cũng sẽ không có đời sống linh thiêng, không có bí tích, không có Thánh Thể, không có Thánh Lễ Chúa Nhật. Jeanne Guyon đã viết: “Nếu biết tìm ra đáp số cho vấn nạn cuộc sống là điều tuyệt đối cần thiết cho bạn, vậy thì bạn hãy quên đi hành trình của mình. Bạn sẽ không bao giờ thực hiện được hành trình đó, bởi vì đó là một hành trình vô định, hành trình của những vấn nạn không có đáp số, hành trình của những bí ẩn, của những điều không thể hiểu nổi và nhất là của những sự bất công.”
Chúng ta được sinh ra và sống cho Thiên Chúa vô biên. Ở trên trần thế nầy, không thể có bản nhạc giao hưởng trọn vẹn như thế được. Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta cho sự vinh quang của Ngài, để được chiêm ngắm Ngài mặt tợ mặt. Giờ đây, chúng ta chỉ thầy Ngài một cách lờ mờ, khiếm khuyết. Nhưng rồi đây, chúng ta sẽ xem thấy Ngài một cách tuyệt hảo như Ngài hiện có và nỗi mầng vui của chúng ta sẽ được trọn vẹn. Trong khi chờ đợi, Thăng Thiên mang lại cho chúng ta một viễn tượng mới để nhận thấy rằng đời sống cá nhân chúng ta đang góp phần một cách nào đó vào một câu chuyện lớn lao hơn. Một câu chuyện lớn hơn là chính cuộc sống chúng ta và một câu chuyện kỳ diệu hơn bất cứ điều gì hết mà chúng ta sẽ chưa lúc nào thấy hết hay biết hết ở trong cuộc sống nầy.
Phỏng theo bài suy niệm “TO BECOME PERFECT IS TO CHANGE OFTEN” (Trở Nên Hoàn Thiện Là Năng Thay Đổi) của cha Vincent Travers O.P. trong sách “IN STEP WITH GOD” (Đồng Hành Với Chúa).


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây