Phục Sinh 4 B Phần I Bài 1-50: Chúa Chiên Lành

Thứ tư - 18/04/2018 21:04
Phục Sinh 4 B Phần I Bài 1-50: Chúa Chiên Lành
Phục Sinh 4 B Phần I Bài 1-50: Chúa Chiên Lành
Phục Sinh 4 B Phần I Bài 1-50: Chúa Chiên Lành
PS4-B1. MỤC TỬ.. 2
PS4-B2. CSTM / 121- TỐT LÀNH.. 3
PS4-B3. HRK/324- CHÚA CHIÊN LÀNH.. 3
PS4-B4. PV / 241- TÌM THẤY.. 4
PS4-B5. PV / 244- ƠN GỌI. 5
PS4-B6. PV / 247- TÌNH YÊU.. 6
PS4-B7. SCĐ / 224- MỤC TỬ.. 7
PS4-B8. SCĐ/226- CẦU NGUYỆN.. 7
PS4-B9. Vị Mục tử nhân lành - JKN.. 8
PS4-B10. Mục Tử Nhân Lành. 10
PS4-B11. Con Ốc "Jesus"(The "Jesus" Nut) 11
PS4-B12. CHÚA LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 12
PS4-B13. Mục tử nhân lành - Sr. Maria Vũ Thị Ngọc Bích. 14
PS4-B14. Đức Giêsu, Vị mục tử nhân lành - Lm. Đan Vinh. 14
PS4-B15. MỤC TỬ NHÂN LÀNH: HY VINH MẠNG SỐNG VÌ ĐOÀN CHIÊN - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội. 17
PS4-B16. TÌNH YÊU THIÊN CHÚA ỊỐI VỚI CHÚNG TA.. 19
PS4-B17. Tôi là mục tử nhân lành - Huyền Đồng. 23
PS4-B18. Cha mẹ là mục tử theo gương Chúa Kitô Mục tử - Lm. JB Nguyễn Minh Hùng. 24
PS4-B19. TA LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH.. 25
PS4-B20. TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH.. 26
PS4-B21. TRÁCH NHIỆM... 27
PS4-B22. Chúa chăn chiên lành. Mục Tử của các Mục Tử. 28
PS4-B23. MỤC TỬ NHÂN LÀNH- ĐC Ngô Quang Kiệt 28
PS4-B24. CHÚA CHIÊN LÀNH.. 30
PS4-B25. NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH HÔM NAY.. 31
PS4-B26. ƠN GỌI PHỤC VỤ.. 33
PS4-B27. Mục Tử tốt lành. 34
PS4-B28. Chúa Chiên Lành. 36
PS4-B29. Chúa Chiên Lành - Suy niệm Lời Chúa. 37
PS4-B30. Chiên Ta thì nhận biết Ta. 38
PS4-B31. Chúa Chiên Lành - Suy niệm Lời Chúa. 39
PS4-B32. Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta. 40
PS4-B33. Ơn kêu gọi 44
PS4-B34. Người Mục Tử Nhân Lành. 45
PS4-B35. TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH.. 45
PS4-B36. MỤC TỬ NHÂN LÀNH.. 46
PS4-B37. Hiến mạng vì đoàn chiên. 47
PS4-B38. TA BIẾT CHIÊN TA VÀ CHIÊN TA BIẾT TA.. 49
PS4-B39. Ngôi sao chúng ta. 50
PS4-B40. Gieo trong thương đau. 51
PS4-B41. SNLC/288 – Câu hỏi 54
PS4-B42. CSTM/116 - Mục tử. 54
PS4-B43. Tôi là mục tử nhân lành - Huyền Đồng. 55
PS4-B44. Chúa là Mục Tử - Lm. Hà Ngọc Đoài 56
PS4-B45. Chúa Chiên Lành. 57
PS4-B46. MỤC TỬ NHÂN LÀNHƯ.. 58
PS4-B47. LÀNH NHƯNG KHÔNG HIỀN.. 60
PS4-B48. MỤC TỬ NHÂN LÀNH.. 61
PS4-B49. CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH.. 64
PS4-B50. Chúa chiên lành. 65

 

PS4-B1. MỤC TỬ

Du khách dừng chân trước một đàn cừu, bỗng lưu ý tới một con vật nằm dài trên đất được chủ: PS4-B1

Du khách dừng chân trước một đàn cừu, bỗng lưu ý tới một con vật nằm dài trên đất được chủ nó vuốt ve, và băng bó vết thương ở một chân bị gẫy.
Du khách hỏi chuyện nhưng bị người chăn cừu đáp lại bằng một bộ mặt khó chịu. Sau khi thấy du khách là người hiền lành, người chăn cừu mới tiết lộ sự thật :
- Con cừu này có những đức tính tuyệt hảo. Khi còn lành mạnh, nó luôn dẫn đầu đàn. Nó biết cách làm cho mọi con trong bầy vâng phục. Tiếc thay vì quá tự tin, nó không chịu vâng lời tôi và thường hay dẫn đàn cừu đi theo sở thích của nó. Cuối cùng, tôi buộc lòng phải áp dụng biện pháp khá đau đớn.
Nói tới đây, người chăn cừu dừng lại vì bị xúc động. Anh giải thích tiếp :
- Tôi đành phải bẻ gẫy chân nó. Kể từ đó, nó hoàn toàn phụ thuộc vào tôi. Mỗi buổi sáng, tôi vác nó lên vai, đưa ra đồng cỏ. Rồi buổi chiều, tôi lại vác nó về. Nó không tự mình đi ăn cỏ. Từ một tháng nay, nó ăn cỏ giữa lòng bàn tay của tôi. Những chăm sóc tôi dành cho nó đã tạo nên mối tương quan mật thiết giữa nó và tôi. Mong sao nó giảm đau, để rồi từ nay nó sẽ là con vật biết vâng lời và tôi sẽ lại đặt nó đặt nó làm con vật đầu đàn.
Từ câu chuyện trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay. Vậy trước hết, mục tử là người như thế nào ? Tôi xin thưa :
- Mục tử là người chăm sóc đàn chiên.
Họ có thể là chính ông chủ, hay con trai, con gái của ông ta. Họ cũng có thể là người làm thuê được trả công bằng tiền, hay bằng sản phẩm của đoàn vật, với trách nhiệm phải tìm đồng cỏ cho đàn vật ăn và suối nước cho đàn vật uống.
Ngoài ra, người mục tử còn có bổn phận phải bảo vệ đàn chiên khi chúng bị kẻ trộm hay thú dữ đe dọa. Trách nhiệm này không nhỏ, vì họ có thể bị buộc phải đần bù về số con vật bị mất.
So sánh Chúa Giêsu với người mục tử trong câu chuyện vừa nghe, chúng ta thấy có một số điểm khác biệt như sau .
Trước hết tương quan giữa chủ chăn và con vật gẫy chân là một tương quan thu hẹp. Chủ chăn muốn nắm giữ quyền sở hữu trên mọi con vật trong đàn. Trong khi đó, con vật đầu đàn lại muốn chiếm quyền điều khiển cả đàn, nên đã bị sửa phạt.
Còn tương quan giữa Chúa Giêsu, vụ mục tử nhân lành với đàn chiên thì lại khác, đó là một tương quan mở rộng và luôn hướng tới Chúa Cha. Ngài không qui đàn chiên về mình, trái lại luôn qui hướng về Chúa Cha, như lời Ngài đã phán :
- Cha của anh em, Đấng ngự ở trên trời, không muốn một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.
Người chủ chăn trong câu chuyện đã sửa phạt con vật đầu đàn để nó được thuần tính, bằng cách bẻ gẫy một chân để nó hoàn toàn lệ thuộc vào mình.
Còn Chúa Giêsu thì khác. Ngài gọi tên từng con chiên và dẫn cả đàn đi ăn. Ngài biết từng con chiên như Chúa Cha biết Ngài. Đồng thời, Ngài đích thân chắm sóc các con chiên. Mỗi người đều có một vị trí, một giá trị của mình trong đàn, vì chính Ngài đã nói :
- Trên trời sẽ vui mừng vì một kẻ tội lỗi sám hối trở lại, hơn chín mươi chín người công chính không cần ăn năn.
Sau cùng, kẻ chịu đau đớn trong câu chuyện là con đầu đàn bướng bỉnh.
Còn Chúa Giêsu thì khác, chính Ngài, với tư cách là mục tử nhân lành, đã hy sinh mạng sống cho đàn chiên, như lời Ngài đã nói :
- Ta hoàn toàn tự nguyện hiến mạng sống của Ta, trước là để làm đẹp lòng Chúa Cha, sau là để các chiên Ta được sống và sống dồi dào.
Hãy bước đi dưới sự hướng dẫn của vị mục tử nhân lành là Chúa Giêsu, nhờ đó chúng ta sẽ tới được bến bờ hạnh phúc.
 

PS4-B2. CSTM / 121- TỐT LÀNH

Thế nào  là một mục tử tốt lành? Đó là người biết các con chiên của mình, ân cần săn sóc chúng: PS4-B2

Thế nào  là một mục tử tốt lành? Đó là người biết các con chiên của mình, ân cần săn sóc chúng, và sẵn sàng hy sinh, chịu cực khổ để bảo vệ chúng, thậm chí sẵn sàng hy sinh cả mạng sống cho chúng nữa. Đó là những đặc điểm hay những vẻ đẹp của một người chăn chiên tốt lành mà Chúa Giêsu đã phác họa trong bài Tin Mừng hôm nay và áp dụng cho chính Ngài.
Chúa Giêsu là mục tử tốt lành của chúng ta, vì Ngài biết chúng ta. Chúa biết từng con chiên một, Chúa biết tình trạng sức khỏe của từng con, và con nào đi lạc trong cả bầy trăm con Ngài cũng biết. Chúa biết tất cả và biết rõ từng người một. Không phải Chúa chỉ biết một cách chung chung, nhưng có thể nói Chúa đi guốc trong bụng chúng ta.
Người đời không đo được lòng người : “Dò sông dò biển dễ dò. Đố ai đo nổi lòng người nông sâu”. Nhưng với Chúa, Chúa biết từng chân tơ kẽ tóc của chúng ta. Chúa hiểu biết chúng ta hơn bất cứ ai, hơn cả chúng ta biết về chính mình nữa. Ngài thấu suốt tư tưởng, ước mơ, lời nói, việc làm, dự định, khuynh hướng tốt xấu của chúng ta. Ngài còn biết tất cả chúng ta trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngài biết những ai đã bê tha trong tội lỗi, những ai đang đau khổ về thể xác và những ai đang bị dằn vặt trong tâm hồn. Ngài biết rõ từng người : ai là con chiên tốt, trung thành, ngoan đạo, ai là con chiên ghẻ, lười biếng, khô khan, phản bội… Tóm lại, không ai có thể lẩn trốn khỏi mắt Chúa, bất cứ sự gì, dù thầm kín hay bí mật đến đâu, Chúa cũng biết hết, biết tất cả, biết từng ly từng tí, theo kiểu “Một sợi tóc trên đầu cũng được đếm cả rồi, sợi nào rơi xuống đất Chúa đều biết hết”.
Tuy nhiên, Chúa biết rõ mọi con chiên và từng con chiên. Đây không phải là cái biết lý thuyết : biết để biết hay biết suông vậy thôi, nhưng là cái biết để đối xử với đàn chiên và từng con chiên theo tình trạng của nó. Thông thường, tiến trình của hầu hết các tình cảm của chúng ta đều theo một diễn tiến như sau : quen – biết – hiểu – thông cảm – thương mến – yêu, nghĩa là khi chúng ta quen một người, dần dần chúng ta hiểu biết về người ấy, rồi mới dễ dàng đi tới cảm thông, giúp đỡ và thương yêu.
Đó là chưa kể trường hợp nhiều khi biết rõ nhau, người ta lại ghét nhau hơn. Đó là về phía con người chúng ta với nhau. Còn đối với Chúa, là Đấng toàn tri, toàn năng và yêu thương, nơi Ngài không có vấn đề tách rời từng giai đoạn như diễn tiến nơi con người. Cùng một lúc, sự hiểu biết và yêu thương của Ngài gồm tóm tất cả mọi yếu tố, nên không thể có trường hợp Chúa biết rồi Chúa mới yêu hay Chúa biết mà Chúa không yêu thương.
Thực vậy, Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, vì Ngài ân cần săn sóc các con chiên. Trong ba năm giảng dậy, chúng ta thấy Ngài ân cần săn sóc tất cả những ai đến với Ngài, nhất là những người vất vả, khó khăn. Ngài kêu gọi : “Những ai khó nhọc và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ nâng đỡ, bổ sức cho”. Đặc biệt những người tội lỗi. Ngài không bao giờ xua đuổi, xa lánh họ, nhưng tìm kiếm, kêu gọi, tha thứ. Cả một đời tận tụy, hy sinh, giảng dạy và ban ơn, Chúa chưa cho là đủ, Chúa còn muốn thực hiện đặc tính sau cùng của một mục tử tốt lành nữa, là chết vì con chiên và cho con chiên, như Ngài đã tuyên bố : “Không có tình yêu nào cao quý hơn, lớn hơn là chết cho người mình yêu”.
Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, nhưng sứ vụ mục tử ấy Chúa cũng đã trao cho Giáo Hội, cho mỗi người trong Giáo Hội. Dù có chức vụ gì, hay chỉ có vị trí khiêm nhường, nhỏ bé đến đâu trong cuộc sống, mỗi người đều là mục tử : Giám mục là mục tử trong giáo phận; linh mục là mục tử trong giáo xứ; vợ chồng, cha mẹ là mục tử trong gia đình. Có thể con cái cũng là mục tử cho cha mẹ và anh chị em với nhau; thầy cô giáo là mục tử trong lớp, trong trường mình. Rất có thể học sinh cũng là mục tử cho thầy cô giáo và các bạn học; các bạn trẻ là mục tử cho nhau… Tóm lại, mục vụ là sứ mệnh của Giáo Hội và mỗi tín hữu đều có phần của mình trong sứ mệnh ấy, vừa được chăn dắt vừa có trách nhiệm chăn dắt.
Là mục tử, dù trong vị trí nào, chúng ta cũng phải nhìn vào mục tử gương mẫu là Chúa Giêsu. Chúng ta phải biết nhau, ân cần quan tâm đến nhau, giúp đỡ nhau, yêu thương nhau. Đặc tính nổi bật của mục tử tốt lành là nhân hậu, thương xót. Vì thế, ai muốn nên trọn lành thì phải tập sống nhân hậu, thương xót. Ai muốn kéo người ta về với Chúa thì càng phải cố gắng có những cử chỉ và những việc làm nhân hậu, thương xót.
Chúng ta hãy nhớ : mỗi người chúng ta đều được Chúa trao cho trách nhiệm chăn dắt một ai đó trong đoàn chiên hay đưa một ai đó vào đoàn chiên, hay đưa một ai đó về lại trong đoàn chiên… bằng cách sống biểu hiện nhân hậu và thương xót của chúng ta.
 

PS4-B3. HRK/324- CHÚA CHIÊN LÀNH

Trong việc tham dự hội nghị tại An Độ, tôi đã được dịp nghe bài thuyết trình của một nhà trí: PS4-B3

Trong việc tham dự hội nghị tại An Độ, tôi đã được dịp nghe bài thuyết trình của một nhà trí thức Công giáo người An Độ nói về những ước nguyện của người giáo dân trong cộng đồng Giáo Hội. Nhà trí thức An Độ này là một tổng giám đốc của một công ty phổ biến những kỹ thuật truyền thông mới mẻ và có uy tín trong cộng đồng Giáo Hội địa phương. Và một trong những ước nguyện của một giáo dân trưởng thành và có thể nói là đã thành đạt trong đời sống cộng đoàn, đó là không muốn được gọi là con chiên của Chúa, ông đã hãnh diện chia sẻ như sau:
Trong thời đại kỹ thuật tân tiến hiện nay, thời đại mà người giáo dân đã đạt được mức trí thức cao thì ta không thể nào đối xử với họ là những con chiên ngoan ngoãn chỉ biết vâng phục lệnh của bề trên, và ông ta nói, tôi không thích hình ảnh con chiên trong đoàn chiên của Chúa, tôi cũng không muốn sống như những con chiên, tôi muốn được gọi, được kể như là những con chiên chỉ biết cúi đầu nghe lệnh.
Kể từ lần nghe được bài chia sẻ của giáo dân trí thức này bên An Độ đến nay, thỉnh thoảng tôi lại đặt vấn đề cho mình suy nghĩ về hiền thánh này, Chúa là Đấng chăn chiên nhân lành, còn ta là đoàn chiên của Người. Đây là một hình ảnh hết sức quen thuộc và cũng hết sức quan trọng trong mạc khải Cựu cũng như Tân Ước, đến nỗi Chúa Giêsu đã dùng đến nó không những nhiều lần, mà nhất là trong lần quan trọng nhất khi trao cho Phêrô quyền chăn dắt đoàn chiên của Chúa : “Hãy chăn dắt chiên con, chiên mẹ của Thầy”.
Nhiều lần tôi đã đặt cho mình câu hỏi: “Hình ảnh về đoàn chiên còn hợp thời nữa hay không?”, và có thể nói tôi đã tìm được câu trả lời trong một lần dừng chân tại miền Nam quốc gia Au Châu, và được dịp tận mắt chứng kiến cảnh những người chăn chiên hướng dẫn đoàn chiên tiến về đồng cỏ tươi tốt nuôi sống đàn chiên.
Kinh nghiệm sống này tôi chỉ được nhìn qua và trước khi có kinh nghiệm sống này, tôi chỉ được nhìn đoàn chiên qua hình ảnh Chúa Giêsu hướng dẫn đoàn chiên trong những bức tranh, và giờ đây qua kinh nghiệm tận mắt nhìn ngắm đoàn chiên sinh hoạt như thế nào với người chăn, tôi chợt như được hiểu thêm về ý nghĩa sâu xa của hình ảnh được Chúa Giêsu sử dụng và được Giáo Hội cử hành hằng năm vào Chúa nhật hôm nay, Chúa nhật IV Phục sinh được gọi là Chúa nhật “Chúa Chiên Nhân Lành”.
“Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta và chúng theo Ta”. Đây là một hình ảnh cụ thể và hình ảnh cụ thể đoàn chiên im lặng hiệp nhất đi theo người chăn mà tôi đã chứng kiến tận mắt giúp tôi hiểu thêm mối tương quan giữa người chăn và đoàn chiên. Đây không phải là một mối tương quan trí thức của sự hiểu biết thuần lý của lý trí khô khan, nhưng là một tương quan sống động của con tim, của tình yêu thương vật chất, một tình yêu không thể diễn đạt thành lời nói, không thể gói ghém trọn vẹn trong ngôn ngữ con người, nhưng được diễn tả một cách cụ thể trong hành động.
Từ ngữ “biết” có nghĩa là tin tưởng và yêu thương. Tin và yêu thì không có sự đàn áp nào cả, những con chiên như hiểu được ý muốn của người chăn và trung thành gắn bó với người chăn, nhưng không phải chỉ là một sự gắn bó bên ngoài.
Trong bài Phúc Am chúng ta vừa nghe qua, Chúa Giêsu còn nhắc đến một sự gắn bó chặt chẽ nội tâm, đó là một sự chia sẻ được cuộc sống để chúng được sống đời đời và chúng sẽ không bao giờ hư mất, không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Tôi: “Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi thì cao trọng hơn tất cả, không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Tôi”. Đây là lúc mà Chúa Giêsu vượt qua giới hạn của hình ảnh đời thường, của hình ảnh một đoàn chiên đi theo người chăn, để tiến xa hơn vào trong mối tương quan giữa Chúa và mỗi người chúng ta.
Trong đời thường, người chăn chiên không thể nào chia sẻ sự sống của mình cho con chiên, nhưng ở đây Chúa Giêsu vượt qua giới hạn của hình ảnh mà đi vào thực tại và Chúa mạc khải cho chúng ta biết, Chúa chia sẻ cho chúng ta sự sống của chính Chúa, để được sống kết hợp mật thiết với Chúa, một sự kết hiệp mật thiết có thể nói giống như mẫu lý tưởng sự kết hiệp mật thiết giữa Chúa và Thiên Chúa Cha: “Tôi và Cha Tôi là một”.
Cử hành lễ Chúa Chiên Lành hôm nay, chúng ta được mời gọi vượt qua tính tự phụ, tự kiêu của mình để tin tưởng vào tình yêu của Chúa và sống trong tình yêu này. Và không những chỉ tin tưởng và sống trong tình yêu này mà thôi, nhưng chúng ta còn được mời gọi để chia sẻ sự sống của Chúa, được mời gọi mỗi ngày một lớn thêm trọn hảo trong tình yêu của Chúa.
Do đó chúng ta biết rằng, mối tương quan giữa ta và Chúa là mối tương quan đặc biệt có ưu tiên trên mọi mối tương quan khác như Chúa đã nói: “Không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta. Điều mà Cha Tôi ban cho Tôi thì cao trọng hơn tất cả”. Chúa Giêsu đã đặt mối tương quan giữa ta và Chúa, tình yêu thương kết hiệp giữa ta và Chúa thành mối tương quan ưu tiên của Ngài, đến độ Ngài phải hy sinh mạng sống của mình trên thập giá để ban cho chúng ta được mối tương quan này, được chia sẻ sự sống của Chúa và chia sẻ mãi mãi.
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của Chúa trong đời sống mình và cho chúng ta được trưởng thành trong đời sống, trong tình yêu của Chúa và trong đức tin mà chúng ta giờ đây cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin kính.
 

PS4-B4. PV / 241- TÌM THẤY

Công việc chiếm một phần rất lớn trong cuộc sống của chúng ta. Do đó, điều quan trọng nhất: PS4-B4

Công việc chiếm một phần rất lớn trong cuộc sống của chúng ta. Do đó, điều quan trọng nhất là cách thức chúng ta quan niệm về công việc. Nếu công việc của chúng ta có ý nghĩa, thì nó trở thành một lời chúc phúc. Nhưng nếu nó không có ý nghĩa, hoặc có ít ý nghĩa, thì hầu như nó trở thành một tai họa.
Người ta nói rằng điều đầu tiên trong vấn đề của chúng ta, đó là tìm ra được công việc nào mà chúng ta muốn làm trong thế giới này. Vincent Van Gogh đã trải qua nhiều năm, để cố gắng tìm cho được công việc mà ông muốn làm trong cuộc đời của ông. Cuối cùng, sau nhiều cuộc tìm kiếm, ông phát hiện rằng ông muốn trở thành một họa sĩ. Kể từ ngày đó, cuộc đời của ông được thay đổi hẳn. Dường như cuộc đời ông đột nhiên trở nên dễ dàng. Điều trái ngược lại tiếp cận hơn sự thật.
Đúng là cho đến nay, cuộc sống của ông không đi đến đâu, bây giờ, cuộc đời của ông đang đi đến một nơi nào đó xác định. Ông nói :
“Dù sao, tôi thường cảm thấy rằng mình cũng giàu có như Croesus, không phải là giàu có về tiền bạc. Tôi giàu có, bởi vì tôi cảm thấy trong công việc của mình, có một điều gì đó mà tôi có thể cống hiến cả tâm hồn và lòng trí tôi, điều đó còn mang lại ý nghĩa và cảm hứng cho cuộc đời tôi. Tôi nghĩ rằng thật là một ơn phúc rất lớn, khi người ta tìm được công việc của mình”.
Nếu đôi khi, tôi cảm thấy trong lòng tôi dâng lên một ham muốn đến với một lối sống dễ dãi, thì tôi thích quay trở lại với một lối sống khó khăn. Đây không phải là con đường mà trên đó, người ta sẽ bị tàn lụi, nói đúng hơn, đây chính là nguồn sức mạnh sẽ đưa tôi đến bến bờ một cách an toàn.
Sự khác biệt giữa người chăn chiên tốt lành và kẻ làm thuê là gì ? Đó là những thái độ trái ngược của hai người đối với công việc chăn dắt đoàn chiên. Kẻ làm thuê làm công việc đó, bởi vì họ buộc phải làm. Đối với người này, đây chỉ là một công việc; tâm hồn của họ không đặt vào công việc này. Người chăn chiên tốt lành làm công việc đó, bởi vì họ muốn làm. Họ đặt cả tâm hồn mình vào công việc này.
Người nào giống như người chăn chiên tốt lành, là người rất may mắn. Họ đã tìm ra một kho tàng thực sự. Họ không chỉ tìm thấy một công việc, mà còn tìm thấy một ơn gọi trong cuộc đời. Họ có một công việc mà họ có thể đặt cả tâm hồn của mình vào, và công việc đó còn mở lối tạo thuận lợi cho những năng khiếu nơi họ nữa.
Mặc dù công việc của họ có thể gặp khó khăn và không có gì là kỳ diệu cả, nhưng nó vẫn rực sáng ý nghĩa, bởi vì đó là một công việc của tình yêu. Mặc dù cuộc sống của họ có thể chứa đựng nhiều khó khăn vất vả, nhưng tự trong sâu thẳm tâm hồn, họ vẫn cảm thấy hài lòng. Chúng ta không bao giờ được đánh giá ngang hàng nhau, giữa cuộc sống hạnh phúc với cuộc sống dễ dãi. Công việc nào càng khó khăn, nhưng chúng ta vẫn tự hiến thân vì mục đích yêu thương, thì công việc đó càng làm cho chúng ta trở nên cao quí.
Thật hạnh phúc cho người nào tìm được công việc của mình, bất kể đó là một công việc tầm thường đến thế nào. Họ được giải thoát khỏi tình trạng không tha thiết, và khỏi bi kịch chỉ sống cuộc sống của họ một cách nửa vời. Tự thân công việc đó mang những nét tốt đẹp nhất. Không phải là cường điệu khi nói rằng đối với họ, công việc đó trở thành con đường cứu độ.
Đức Giêsu đã tìm ra công việc của Người. Công việc này hệ tại ở việc trở nên một người chăn chiên tốt lành đối với đàn chiên của Chúa Cha. Trước hết, Người quan tâm đến đàn chiên của mình, đến mức độ sẵn sàng chết đi để bảo vệ chúng. Và Đức Giêsu đã tự hiến cuộc đời mình cho đàn chiên của Người. Những nhà lãnh đạo tốt đều biết rõ thuộc hạ của mình, và những người này cũng nhận biết cấp trên của họ. Có một tương quan thân thiện giữa nhà lãnh đạo và thuộc hạ. Nếu không được như vậy, thì sự lãnh đạo dễ dàng trở thành cảnh đàn áp.
Không cần nói rằng chúng ta là những con chiên. Như thánh Gioan nhắc nhở chúng ta : Chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa, Thiên Chúa mong muốn chúng ta được sống cuộc sống bây giờ và mai sau.
 

PS4-B5. PV / 244- ƠN GỌI

Bài Tin Mừng hôm nay nói về sự quan tâm và không quan tâm. Kẻ làm thuê không biết hoặc không: PS4-B5

Bài Tin Mừng hôm nay nói về sự quan tâm và không quan tâm. Kẻ làm thuê không biết hoặc không quan tâm gì đến đàn chiên. Người chăn chiên tốt lành quan tâm đến đàn chiên của mình, đến mức độ sẵn sàng chết đi để bảo vệ chúng. Sự quan tâm thật đáng giá và mang tính cách rủi ro. Người quan tâm săn sóc là loại người rất đặc biệt.
Ngày nay, người ta chú ý nhiều đến lối làm việc của người quá quan tâm, và đúng là như vậy. Tuy nhiên, không phải lúc nào quá quan tâm cũng là hậu quả của lối làm việc quá nhiều. Chắc hẳn, đó là hậu quả của lối suy nghĩ phù phiếm. Người ta có thể làm việc lâu giờ, miễn là họ cảm thấy rằng công việc của họ đang tạo ra được một sự khác biệt. Nhưng nếu họ cảm thấy rằng những nỗ lực của họ đang bị uổng công, rằng bất chấp họ đã làm việc lâu dài và vất vả đến đâu, nhưng công việc đó vẫn không hề tạo ra được một sự khác biệt nào cả thì họ sẽ cảm thấy mệt lử và bị kiệt sức.
Sự quan tâm không hệ tại nhiều ở tự thân công việc có khó khăn hay không, nhưng hệ tại ở sự kiện công việc đó có mục đích hay không. Tự hiến thân mình một cách không có mục đích chính là làm xói mòn năng lực của mình. Việc hiến thân theo mục đích không phải là một khả năng có thể làm suy kiệt năng lực của con người.
Khi có được một công việc thu hút con người, thì càng tạo ra cho người đó một sức mạnh và năng lực lớn lao. Alexander Solzhenitsyn đã trải qua nhiều năm làm việc lao động tại trại Siberia. Yếu tố lớn nhất giúp ông tồn tại được, chính là công việc viết lách của ông. Trong tác phẩm bất hủ của ông, The Gulag Archipelago, ông nói :
“Đôi khi, trong một đội lao động ảm đạm, với những cỗ máy pháo thủ gầm rú chung quanh tôi, những phòng tuyến và hình ảnh tập trung một cách quá dồn dập, đến nỗi chính tôi cũng cảm thấy mình bị hất tung lên không trung, tôi bỏ qua đội hình, đến chỗ trại làm việc, và tìm một góc để viết. Những lúc như vậy, tôi vừa có được cả sự tự do lẫn niềm hạnh phúc.
“Tôi cứ tiếp tục viết. Vào mùa đông tại lán trại ấm áp, vào mùa xuân, trên giàn giáo đặt tại tòa nhà; ở khoảng giữa hai xe cút kít chất đầy hồ vữa, tôi sẽ đặt mảnh giấy của tôi trên mấy viên gạch, và bằng một mẩu bút chì, tôi viết ra những vần thơ vừa mới chảy dồn vào đầu óc tôi, trong khi tôi vẫn đang vỗ vào cái sô đựng mảng hồ vữa cuối cùng. Tôi bị thẩm vấn, để ý, và đẩy đi sống tại thảo nguyên. Tôi ngồi trong phòng ăn lớn, với món cháo mà đôi khi thậm chí tôi không buồn để ý đến hương vị của nó, tôi như câm điếc trước những sự việc diễn ra chung quanh mình – tìm cách viết ra những vần thơ của tôi, và lựa chiều sắp xếp sao cho phù hợp, giống như những viên gạch trên một bức tường vậy”.
Khi có được một công việc thu hút con người mình, thì thật là một ơn phúc rất lớn. Nhưng khi có được một ý thức về ơn gọi thì còn là một ơn phúc lớn lao hơn. Thật vậy, đó là một trong những ân sủng vĩ đại nhất trong cuộc đời. Đức Giêsu đã có được ân sủng này, và Người đạt tới một mức độ mà sẽ không bao giờ chúng ta đạt được. Có một lần, Người nói với các tông đồ của Người “Thầy có một thứ lương thực mà anh em không biết. Lương thực của Thầy chính là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người”. Và chúng ta còn nhận thấy điều này một cách rõ ràng hơn trong bài Tin Mừng hôm nay, trong đó, Người nói về chính Người như là một người chăn chiên tốt lành.
Không giống như kẻ làm thuê, người chăn chiên tốt lành yêu thích công việc của mình. Đối với người này, đàn chiên là một ơn gọi. Điều này không có nghĩa là cuộc sống của họ dễ dàng hơn, so với cuộc sống của kẻ làm thuê. Trên thực tế, so với kẻ làm thuê, cuộc sống của họ còn khó khăn hơn. Nhưng cuộc sống của họ được thỏa mãn hơn. Công việc của họ nuôi dưỡng họ.
Tình yêu là một nguồn sức mạnh và năng lực tuyệt vời. Tình yêu làm cho người ta trở nên can đảm. Ở nơi nào hiện diện một tình yêu đích thực, thì không có sự hy sinh nào là quá to lớn cả. Tình yêu chế ngự tất cả những khó khăn. Nếu chúng ta biết yêu mến, thì năng lực sẽ đến với chúng ta.
Hôm nay, người ta thường ám chỉ đến một ngày Chúa nhật dành cho những ơn gọi. Đối với người Kitô hữu, tất cả những ơn gọi đều là ơn gọi yêu thương.
 

PS4-B6. PV / 247- TÌNH YÊU

Khi không có động cơ là tình yêu, thì việc thực hiện một bổn phận, thậm chí kể cả việc thể hiện: PS4-B6

Khi không có động cơ là tình yêu, thì việc thực hiện một bổn phận, thậm chí kể cả việc thể hiện lòng tin, cũng đều có thể đưa đến hậu quả là làm khô héo tâm hồn con người.
Hai người có thể đang làm cùng một công việc như nhau, ngay cả đang làm việc bên nhau, tuy nhiên, họ vẫn có thể có những thái độ trái ngược nhau đối với công việc đó. Một người thì yêu mến công việc của mình, và hoàn toàn hết mình với công việc. Người đó tự hào về việc mình đang làm, và đặt tâm hồn của mình vào đó. Còn người kia thì ghét công việc của mình, và chỉ làm nửa vời. Đối với người này, đây chỉ là thuần túy là một công việc mà thôi. Điều duy nhất mà người này quan tâm đến, đó là số tiền thù lao.
Đức Giêsu cho ta một ví dụ hay về điều này, trong dụ ngôn của Người, nói về kẻ làm thuê và người chăn chiên tốt lành. Giữa hai người này, có một sự mâu thuẫn. Đối với kẻ làm thuê, quan tâm đến đàn chiên chỉ là công việc. Anh ta làm việc chỉ vì đồng lương, mà không hề biết gì về đàn chiên, hoặc chăm sóc gì đến chúng. Hậu quả là đàn chiên bị đói khổ.
Đối với người chăn chiên tốt lành, quan tâm đến đàn chiên không chỉ là công việc, mà còn là một lối sống, một ơn gọi. Người đó biết rõ về đàn chiên, và quan tâm chăm sóc chúng, đến mức độ sẵn sàng liều cả mạng sống của mình, để cứu đàn chiên. Kết quả là đàn chiên được phát triển.
Nét khác biệt rất lớn giữa người chăn chiên tốt lành và kẻ làm thuê chính là tình yêu của người đó đối với công việc của mình. Người đó yêu thích và tận tụy với công việc. Điều này không làm cho công việc của họ trở nên dễ dàng hơn. Nếu bất cứ điều gì cũng làm cho công việc của người đó khó khăn hơn, là bởi vì họ làm công việc đó một cách kỹ lưỡng. Nhưng điều này lại làm cho họ có khả năng đặt hết tất cả năng lực của mình vào công việc. Nếu bạn muốn yêu mến, thì năng lực sẽ đến với bạn. Không chỉ có công việc được lợi ích, mà người làm công việc đó cũng được lợi ích nữa – trong cùng một hành động, công việc này đem lại điều tốt đẹp nhất. Cách làm việc như vậy đem lại sự giải phóng cho con người.
Hầu hết chúng ta đều là những kẻ làm thuê, theo ý nghĩa là chúng ta không làm việc cho bản thân mình. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta phải có tư tưởng của người làm thuê. Chỉ vì con người đòi hỏi phải được trả công đầy đủ, nhưng điều đó không có nghĩa là người đó thuộc loại làm thuê mà Đức Giêsu nói đến. Người đó không được mang thái độ của kẻ làm thuê vào công việc của mình. Người đó không được làm việc chỉ vì đồng lương, mà vẫn có thể mang thái độ của người chăn chiên tốt lành.
Chúng ta có quyền đòi một số tiền trả công xứng đáng. Ngoài những sự đền đáp khác, đây là điều đúng đắn, do nhân phẩm của con người. Nhưng với tư cách là những Kitô hữu, chúng ta phải cố gắng nhìn vào công việc như là một cách thế phục vụ người khác, bất kể điều gì xảy ra. Nếu được như vậy, chúng ta mới là những người chăn chiên tốt lành. Chúng ta phải rời bỏ hàng ngũ của những kẻ làm thuê. Chúng ta đều là  thành viên của một cộng đoàn thánh thiêng – đó là những người thực hiện những công việc cần thiết, nhưng tẻ nhạt, trong một tinh thần phục vụ. Công việc vất vả nhưng lương thiện làm cho cơm bánh của con người trở nên có hương vị ngọt ngào. Kẻ làm thuê làm việc trong sự bất lợi trầm trọng nhất – tâm hồn của người đó không đặt vào trong công việc. Người ta vẫn có thể sống suốt cả cuộc đời mình, với tâm lý của một kẻ làm thuê. Hầu như kẻ bị lạc lối không mang tư tưởng gì cả. Có một sự xói mòn xảy ra trong tâm hồn của những người nào không quan tâm đến phẩm chất công việc, mà chỉ để ý đến những động cơ mà thôi.
“Nếu bạn cảm thấy mình không có tình yêu, hãy cứ để mặc người khác một mình. Thay vào đó, bạn nên bận rộn với nhiều thứ” (Tolstoy).
 

PS4-B7. SCĐ / 224- MỤC TỬ

Dưới thời bạo chúa Nêrô bắt đạo. Rôma ngập tràn máu lửa, biết bao tín hữu đã chết dưới tay: PS4-B7

Dưới thời bạo chúa Nêrô bắt đạo. Rôma ngập tràn máu lửa, biết bao tín hữu đã chết dưới tay ông vua điên loạn, bạo tàn.
Giáo Hội non trẻ do Đức Giêsu thiết lập như sắp rã rời tan tác. Phêrô là con chim đầu đàn, là trụ cột của Giáo Hội. Các tín hữu tha thiết xin Phêrô trốn khỏi Rôma, để tiếp tục dẫn dắt đoàn chiên. Người anh cả một thoáng phân vân, chần chừ. Quả thật đoàn chiên đang nao núng vì sợ thiếu vắng đầu đàn, sao có thể giữ vững niềm tin? Thầy đã chẳng khuyên khi người ta bắt bớ chúng con ở thành này, thì hãy trốn sang thành khác sao? Phêrô xách bị gậy đi trốn. Đụng Thầy ở cổng thành, Phêrô hỏi :
- Quo vadis, Domine? Thưa Thầy, Thầy đi đâu?
- Nếu con bỏ các Kitô hữu của Thầy thì Thầy sẽ quay lại để chịu đóng đinh cho họ một lần nữa.
Phêrô hiểu ngay lời Thầy, quay trở lại Rôma để an ủi khích lệ đoàn chiên, và để chịu đóng đinh thập giá như Thầy.
“Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì đoàn chiên”. Đức Giêsu ví mình như một vị mục tử tốt lành khác với người chăn thuê, vì người đã dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Cái chết của Người không bất ngờ, cũng không đầu hàng bạo lực, nhưng là một cái chết tự hiến. Đức Giêsu chết để nói lên lời yêu thương. Một tình yêu tột đỉnh, yêu cho đến cùng. Thánh Gioan viết : “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.
Chính tình yêu đã tạo nên mối dây gắn bó giữa chủ chiên và từng con chiên, khiến Người nói : “Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta”. Đó là sự hiểu biết nhau sâu xa, sự trân quí giữa mục tử và đoàn chiên.
Đức Giêsu là mục tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Người. Mọi mục tử phải noi gương Người, dám chết cho đoàn chiên được sống. Phêrô là người mục tử đầu tiên. Phêrô có thể trốn bắt bớ, tù tội, chết chóc. Nhưng chính khi đổ máu, Phêrô đã giữ vững đoàn chiên. Cái chết của Phêrô đã có sức thuyết phục hơn bất cứ lời rao giảng nào : “Thầy làm vững đức tin của con. Rồi đến lượt con, con sẽ làm vững đức tin của anh em con”. Các mục tử tiếp bước Phêrô vui lòng nằm xuống đất để nên nhân chứng, và củng cố niềm tin cho các anh em.
Dụ ngôn người “mục tử tốt lành” cho thấy tình yêu sâu sắc của Thiên Chúa.
- Người yêu thương mỗi người một cách cá biệt, không yêu cách chung chung.
- Người yêu thương vô điều kiện, ngay cả khi chúng ta lầm đường lạc lối.
- Người yêu thương bằng tình yêu vui mừng, chứ không la rầy khiển trách khi tìm thấy chiên lạc.
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn cần những vị mục tử tốt lành lo cho đoàn chiên trên thế giới. Người rất cần các bạn trẻ hiến thân cho sứ mạng mục tử này. Người mời gọi chúng ta hãy nhìn bằng trái tim yêu thương, để thấy những cơn đói Lời Chúa, đói tình thương, đói của ăn, đói ý nghĩa cuộc sống. Người kêu gọi chúng ta hãy tha thiết xin Cha cho nhiều mục tử tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn, và thánh đức hơn. Những mục tử sẵn lòng âm thầm chết từng ngày cho đoàn chiên.
 

PS4-B8. SCĐ/226- CẦU NGUYỆN

Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh “chiên và người chăn” không phải là một hình ảnh gần: PS4-B8

Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh “chiên và người chăn” không phải là một hình ảnh gần gũi, vì xứ sở chúng ta không thuộc vùng Cận Đông với nghề chăn nuôi chiên cừu như Palestin xưa. Hơn nữa trong khi cả đất nước đang nói đến công nghiệp hóa, mà chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại câu chuyện “đàn chiên với mục tử”, thì e rằng chúng ta bị coi là những người lạc hậu! Nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa và biểu tượng tôn giáo của hình ảnh “chiên và mục tử” thì chúng ta lại chẳng thấy lạc hậu tí nào. Vì chưng những người tin ở Thiên Chúa đều xác tín rằng họ luôn được Thiên Chúa và Chúa Kitô quan tâm và tận tình chăm sóc, không chỉ về phương diện tâm linh mà về mọi phương diện con người, không chỉ ở đời sau mà cả ở đời này lẫn đời sau. Mối tương quan gắn bó giữa người chăn và con chiên là hình ảnh sống động, cụ thể của mối tương quan giữa Thiên Chúa và người tín hữu.
Đức Giêsu đã công bố Người là vị Mục tử nhân lành, với những nét đặc trưng sau đây: Vị mục tử nhân lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Người quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận : biết họ muốn gì? họ cần gì? họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào? Vị mục tử nhân lành luôn đi đầu, đi trước tức hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, tức đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Vị ấy sẽ đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát và cỏ xanh, để chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Thậm chí vị mục tử sẽ hy sinh mạng sống vì chiên.
Lý do Hội thánh lấy ngày Chủ nhật Chúa Chiên Lành làm ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục tu sĩ : Bản tin Hiệp thông (tiếng nói của Hội đồng Giám mục Việt Nam) số 11, ra ngày 15 tháng 2 năm 2002 trang 8- 9 cung cấp cho chúng ta những con số cụ thể và đáng chúng ta suy nghĩ trong ngày hôm nay : Tổng dân số của Việt Nam hiện là : 80.489.857 người (76.683.203 dân tộc kinh + 3.806.654 dân tộc thiểu số). (2) : Tổng số công giáo của 25 giáo phận : 5.324.492 người (5.065.105 dân tộc kinh + 259.387 dân tộc thiểu số). (3) : Tổng số linh mục của 25 giáo phận : 2.526 Lm (2.133 triều + 393 dòng). (4) : Tổng số tu sĩ trong 25 giáo phận : 11.282 Ts (1.524 nam + 9.758 nữ). (5) : Tổng số chủng sinh của 25 giáo phận : 1.765 Cs (1.044 đang học + 318 học xong + 403 dự bị). (6) : Tổng số giáo lý viên của 25 giáo phận : 45.858 Glv (671 giáo phu + 219 có lương + 44.968 không có lương). Nếu chia bình quân số giáo dân cho số linh mục (triều dòng, khỏe yếu) thì một linh mục phải phục vụ 2.107 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số linh mục (triều dòng, khỏe yếu) thì một linh mục phải phục vụ 31.865 người. Nếu chia bình quân số giáo dân cho số tu sĩ (nam nữ, khỏe yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 472 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số tu sĩ (nam nữ, khỏe yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 7.134 người. Nếu chia bình quân tổng số người Việt Nam không công giáo cho tổng số người Việt Nam công giáo thì một người Việt Nam công giáo phải giúp cho 14 người Việt Nam không công giáo biết Chúa và gia nhập Giáo hội.
Nguyên nhìn vào những con số trên, chúng ta cũng đã thấy được nhu cầu to lớn về nhân sự của Giáo hội Việt Nam trong sứ mệnh sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng mà Giáo hội đã nhận được từ chính Chúa Giêsu. Đã đành rằng ngày nay trách nhiệm sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng không chỉ của riêng các linh mục, tu sĩ mà của mọi Kitô hữu. Nhưng các linh mục, tu sĩ vẫn là lực lượng quan trọng nhất, là lực lượng nòng cốt và đầu tầu trong lãnh vực này. Thế nhưng ơn gọi linh mục, tu sĩ càng ngày càng giảm sút trong các Giáo hội địa phương, thậm chí giảm trầm trọng trong một số Giáo hội. Riêng tại Việt Nam, thì tình hình có mấy nét riêng sau đây : (1) Việc thanh niên nam nữ muốn vào chủng viện, dòng tu còn gặp nhiều cản trở từ những qui định của nhà nước. (2) Việc các Giám mục, Dòng tu gửi các linh mục, tu sĩ đến nơi cần gửi, đặc biệt đến vùng sâu vùng xa, cũng chẳng dễ dàng gì. (3) Ơn gọi tu trì đã có dấu hiệu sút giảm ở thành thị, nhất là ở các quận nội thành. Vì thế cho nên chúng ta không chỉ cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo hội – nhất là Giáo hội Việt Nam – nhiều linh mục, tu sĩ tài đức thánh thiện, nhiệt thành mà chúng ta còn phải nài xin Thiên Chúa tạo thuận lợi cho các ứng sinh linh mục tu sĩ được đào tạo đến nơi đến chốn và cho các linh mục tu sĩ có điều kiện cần thiết để thực thi sứ vụ của mình.
 

PS4-B9. Vị Mục tử nhân lành - JKN

Câu hỏi gợi ý:
 

Mục tử là gì? Xét về phẩm chất, có mấy loại mục tử? Mỗi loại có những tính chất gì? Làm: PS4-B9

1. Mục tử là gì? Xét về phẩm chất, có mấy loại mục tử? Mỗi loại có những tính chất gì? Làm sao phân biệt được loại nào với loại nào?
2. Đức Giêsu là mục tử nhân lành: đặc điểm cao quí nhất của Ngài là gì? Ngài có thể hy sinh cho đàn chiên tới mức độ nào?
3. Những bậc cha mẹ trong gia đình, những tổ trưởng trong khu phố hay trong các xí nghiệp, những thầy giáo trong các trường học, những giám đốc công ty... có thể hiểu là những mục tử không? Bài Tin Mừng này có áp dụng cho họ được không?
Chia sẻ
1. Mục tử - tốt và xấu - trong xã hội và Giáo Hội
Xã hội nào cũng đều có tổ chức, cơ cấu, trong đó luôn luôn có những người lãnh đạo, điều khiển. Trong các tôn giáo cũng thế. Trong lịch sử Do-thái, những người lãnh đạo dân chúng được gọi là mục tử (x. Gr 10,21; Ed 37,23-24): chẳng hạn như vua Sa-un, vua Đavít. Kitô giáo, vốn tiếp nối truyền thống Do-thái, cũng gọi những người lãnh đạo trong Giáo Hội (như linh mục, mục sư, giám mục, hồng y, giáo hoàng) là mục tử. Những mục tử hay những người lãnh đạo ấy thường được xã hội hay tôn giáo tạo cho những điều kiện thuận lợi và trao cho những phương tiện hữu hiệu để có thể thi hành hữu hiệu công việc lãnh đạo đó: chẳng hạn địa vị, chức vụ, quyền bính, tiền bạc, tiếng nói... Những điều kiện và phương tiện này là một thứ dao hai lưỡi. Nó có thể giúp các mục tử hay các nhà lãnh đạo phục vụ dân chúng hay các tín hữu hữu hiệu hơn. Nhưng nó có thể làm tha hóa, biến chất các mục tử khi sử dụng nó. Và nó cũng có thể bị những kẻ lắm tham vọng tìm cách đạt tới để lợi dụng nó, để phục vụ cho những tham vọng hay lợi ích cá nhân của mình, của gia đình hay phe nhóm mình.
Như vậy, chiếu theo thái độ đối với những điều kiện và phương tiện mà xã hội hay tôn giáo dành cho những người lãnh đạo hay mục tử, ta có thể có 2 loại mục tử tương ứng:
- Mục tử tốt: là những người lãnh đạo thật sự có ý hướng phục vụ dân chúng hay các tín hữu, chứ không nhằm lợi ích cho riêng mình. Họ sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội hay Giáo Hội trao cho hoàn toàn để phục vụ tha nhân và công ích.
- Mục tử xấu: là những người lãnh đạo không nhắm phục vụ dân chúng, mà nhắm đạt được những điều kiện và phương tiện thuận lợi kia để hưởng thụ hoặc chỉ để thăng tiến bản thân, thỏa mãn những tham vọng riêng tư.
Loại sau này còn bao gồm những mục tử bị tha hóa, là những người lãnh đạo khởi đầu có ý hướng tốt, nhưng khi tiếp xúc hay sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội trao cho, thì bị chúng hấp dẫn, mê hoặc và làm cho biến chất, để cuối cùng trở thành những mục tử xấu.
2. Mục tử tốt và xấu trong bài Tin Mừng và trong Thánh Kinh
Trong bài Tin Mừng hôm nay (Ga 10,11-18), Đức Giêsu mô tả và đối chiếu hai loại mục tử ấy: một loại được gọi là mục tử nhân lành, còn loại kia là kẻ chăn chiên thuê.
* Mục tử nhân lành thì: «hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên», «tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi... chúng sẽ nghe tiếng tôi». Ngài tự nhận mình chính là mục tử loại này. Trong Thánh Kinh có rất nhiều câu mô tả những đức tính tốt của những mục tử nhân lành, mà chính Thiên Chúa là mô hình gương mẫu nhất:
- yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: «Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt» (Is 40,11).
- yêu quí từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: «Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc» (Mt 18,12-13).
- lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: «Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ» (Ed 34,14).
- làm chiên sống no ấm, hạnh phúc: «Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì» (Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: «Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm» (23,4).
- tinh thần trách nhiệm rất cao: «Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng» (Ed 34,16).
- cứu thoát, giải phóng đàn chiên: «Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên» (Dc 9,16).
Tóm lại, người mục tử tốt thật sự yêu thương đàn chiên, sẵn sàng hy sinh cho sự an nguy và hạnh phúc của đàn chiên. Thậm chí như Đức Giêsu, người mục tử tuyệt vời nhất, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình: coi sự sống còn của đàn chiên quý hơn cả sự sống mình.
* Kẻ chăn chiên thuê hay mục tử xấu thì: «không thiết gì đến chiên», «khi thấy sói đến liền bỏ chiên mà chạy: sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn». Thánh Kinh cũng có nhiều câu mô tả hạng mục tử này với những đặc tính:
- vô trách nhiệm: «Con chiên nào mất, nó chẳng quan tâm; con thất lạc, nó chẳng đi tìm; con bị thương, nó không chạy chữa; con mạnh khoẻ, nó chẳng dưỡng nuôi» (Dc 11,16a); «Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm» (Ed 34,4)
- chỉ nghĩ tới hưởng thụ, sẵn sàng bóc lột: «Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, mà đàn chiên lại không lo chăn dắt» (Ed 34,3). Thậm chí bóc lột đến tận xương tủy: «Con nào béo thì chúng ăn thịt, rồi lóc luôn cả móng» (Dc 11,16b)
- ích kỷ, vụ lợi, đầy tham vọng: «Chúng là lũ chó đói, ăn chẳng biết no. Thế mà chúng lại là mục tử! Cả bọn - chẳng trừ ai - chỉ mưu tìm lợi lộc cho riêng mình» (Is 56,11).
- tàn bạo, độc ác: «Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc» (Ed 34,3); «Các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng» (Gr 23,2b).
- tác hại vô cùng đến đàn chiên: «Các ngươi đã làm cho đàn chiên của Ta phải tan tác» (Gr 23,2).
Tóm lại, mục tử xấu coi đàn chiên chỉ là phương tiện, bắt chúng phải hy sinh phục vụ cho lợi ích riêng tư của mình, không một chút tình thương đối với chúng. Nhưng kết cục của hạng mục tử này rất bi thảm: «Khốn cho mục tử vô tích sự đã bỏ mặc đàn chiên. Gươm sẽ chặt đứt tay nó, sẽ chọc mắt phải của nó. Cánh tay của nó sẽ khô đét, và mắt phải của nó sẽ mù loà» (Dc 11,17); «Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác (…) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng. Này Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng phạt các ngươi. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa» (Gr 23,1-2).
3. Hãy trở nên những mục tử nhân lành
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu tự xưng mình là «mục tử nhân lành», luôn yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Khi tự xưng như thế không phải để chúng ta nể phục cho bằng để chúng ta bắt chước, noi gương Ngài trong công việc «mục tử» của chúng ta. Chúng ta thường giới hạn ý nghĩa của từ «mục tử» này, đến nỗi chỉ áp dụng nó cho những người lãnh đạo tôn giáo. Thật ra, tất cả những ai đảm trách việc lãnh đạo, từ một gia đình đến một phường, một tỉnh, hay một quốc gia, từ một hội đoàn, một xứ đạo, đến một giáo phận, một giáo hội địa phương hay Giáo Hội toàn cầu, một cách nào đó, đều có thể gọi là mục tử. Ước chi mọi mục tử đều biết thật sự yêu thương đàn chiên của mình và lãnh đạo chúng một cách sáng suốt! Ước chi mọi cha mẹ đều yêu thương con cái, mọi cha xứ đều sẵn sàng hy sinh phục vụ giáo dân, mọi giám mục đều hết lòng chăm sóc các linh mục và giáo dân dưới quyền mình! Ước chi mọi vị lãnh đạo xã hội và đất nước biết quên những quyền lợi riêng tư để nghĩ đến lợi ích chung của dân chúng!
Mọi quốc gia, mọi giáo hội, đều rất cần những vị minh quân, những mục tử nhân lành. Cần hơn cả việc có thật đông những cá nhân tài giỏi, xuất sắc. Câu chuyện sau đây minh họa điều đó.
Có hai người thuộc hai quốc gia nói chuyện với nhau: - «Tôi rất khâm phục đất nước anh, vì nước anh có rất nhiều anh hùng». - «Thế đất nước anh có nhiều anh hùng không?» - «Rất tiếc, đất nước tôi ít anh hùng lắm!» - «Lạ nhỉ, đất nước tôi nhiều anh hùng thế mà sao vẫn cứ nghèo nàn và lạc hậu, còn đất nước anh không có anh hùng mà sao lại phát triển và giàu có như vậy?» - «À, đất nước tôi thì bù lại, được khá nhiều vị minh quân!» Thì ra chỉ một vị minh quân - hay mục tử nhân lành - cũng đủ quí giá và ích lợi cho đất nước và Giáo Hội hơn nhiều anh hùng hay cá nhân xuất sắc hợp lại! Cầu mong cho đất nước và Giáo Hội Việt Nam có được những minh quân!
Cầu nguyện
Lạy Cha, xin Cha hãy ban cho Giáo Hội và đất nước con nhiều vị mục tử nhân lành hơn! Xin cho các nhà lãnh đạo đất nước và Giáo Hội con biết thật sự yêu thương người dân cũng như các tín đồ của mình hết lòng và sẵn sàng hy sinh phục vụ họ. Có như thế, đất nước và Giáo Hội con mới tiến bộ lên được. Amen.
 

PS4-B10. Mục Tử Nhân Lành

Suy Niệm
 

Mục tử và đàn chiên trên đồng cỏ là một hình ảnh quen thuộc đối với người Pa-lét-tin. Giữa: PS4-B10

Mục tử và đàn chiên trên đồng cỏ là một hình ảnh quen thuộc đối với người Pa-lét-tin. Giữa người và chiên có một mối tương quan mật thiết. Ở đây Đức Giêsu tự ví mình như người mục tử.
Mục tử nhân lành khác với người chăn thuê, vì dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, chứ không bỏ chiên mà chạy khi gặp sói dữ.
Hội Thánh là đoàn chiên của Đức Giêsu Kitô.
Giữa Ngài và từng con chiên, có mối dây gắn bó. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Cha biết tôi và tôi biết Cha.
Đây là cái biết sâu thẳm, cái biết hai chiều.
Chiên không phải là một con vật ngờ nghệch, thụ động. Chiên là hình ảnh của một ngôi vị tự do.
Vị Mục Tử gọi tên từng con bằng giọng quen thuộc. Chiên nghe tiếng của Ngài và đi theo.
Như thế giữa Mục Tử và đoàn chiên có sự hiểu biết nhau sâu xa, nhận ra nhau dễ dàng, và một sự trân trọng quý mến nhau đặc biệt.
Sau Phục Sinh, Đức Giêsu đã giao cho Phêrô sứ mạng chăn dắt và chăm sóc đoàn chiên của Ngài. Sứ mạng này bắt nguồn từ một tình yêu.
Yêu mến Ngài dẫn đến yêu mến đoàn chiên Ngài. Đức Giêsu là Mục Tử tối cao và gương mẫu.
Mọi mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Mọi mục tử phải noi gương Ngài, dám chết để cho chiên được sống.
Hội Thánh dành Chúa Nhật hôm nay để cầu cho ơn thiên Triệu.
Chúa Giêsu vẫn cần những người tiếp nối công việc của Ngài, để lo cho đoàn chiên trên thế giới.
Các bạn trẻ khi lớn lên thường lập gia đình. Điều đó thật là tốt đẹp.
Nhưng Chúa Giêsu vẫn muốn một số bạn trẻ ở bên Ngài cách đặc biệt để được Ngài sai đi.
Họ chấp nhận hy sinh quyền được lập một tổ ấm, để có thể yêu mãnh liệt hơn và bao la hơn.
Tiếng gọi của Chúa vẫn vang lên ở ngay nơi lời nài xin của con người. Những người đói khát Lời Chúa, đói khát tình thương,
đói khát bánh ăn, đói khát ý nghĩa cuộc sống. Khước từ tiếng kêu của con người là khước từ tiếng Chúa.
Chúa Giêsu mời các bạn trẻ nhìn thấy đám đông bơ vơ. Những người bệnh hoạn tật nguyền, những trẻ em đường phố, những người lầm lỡ, tự đặt mình ở bên lề xã hội... Thấy họ bằng trái tim và để cho tim mình đáp trả.
Tạ ơn Chúa đã cho Hội Thánh hơn 100.000 đại chủng sinh, hơn 400.000 linh mục, hơn 800.000 nữ tu.
Nhưng đồng lúa chín vàng vẫn cần nhiều thợ gặt, tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn.
Có thể chính bạn được Chúa bất ngờ mời gọi để đứng trong đội ngũ những người phục vụ đó!
Gợi Ý Chia Sẻ
Bạn nghĩ gì về cuộc sống của các linh mục và tu sĩ ở vùng bạn sống? Các vị ấy đã làm gì và còn phải làm gì cho dân Chúa?
Theo ý bạn, cuộc sống thực dụng hôm nay có làm cho ít người muốn đi tu không? Đi tu có phải là làm một việc khác thường hay bất thường không?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con những linh mục có trái tim thuộc trọn về Chúa, nên cũng thuộc trọn về con người.
Xin cho chúng con những linh mục có trái tim biết yêu bằng tình yêu hiến dâng, một trái tim đủ lớn để chứa được mọi người và từng người, nhất là những ai nghèo khổ, bị bỏ rơi.
Xin cho chúng con những linh mục biết cầu nguyện, có tình bạn thân thiết với Chúa để các ngài giới thiệu Chúa cho chúng con.
Xin cho chúng con những linh mục thánh thiện, có thể nuôi chúng con bằng tấm bánh thơm tho, tấm bánh Lời Chúa và Mình Chúa.
Cuối cùng, xin cho chúng con những linh mục có trái tim của Chúa, say mê Thiên Chúa và say mê con người, hy sinh đời mình để bảo vệ đoàn chiên và dẫn đưa chúng con đến với Chúa là Nguồn Sống thật.
 

PS4-B11. Con Ốc "Jesus"(The "Jesus" Nut)

Vài năm về trước, tôi đọc được một bài báo của Carolyn Moran với tựa đề là "Con Ốc Cứu Vãn: PS4-B11

Vài năm về trước, tôi đọc được một bài báo của Carolyn Moran với tựa đề là "Con Ốc Cứu Vãn Cuộc Hôn Nhân Chúng Tôi." Con ốc là ai? Carolyn giới thiệu "con ốc" bằng câu chuyện: Một ngày nọ, bà ta đang ăn trưa với chồng và người con trai tên Mike tại nhà ở Los Angeles. Mike là một phi công trực thăng. Trong lúc ăn, Mike và ba anh nói chuyện với nhau về chiếc trực thăng mà anh lái: "Này ba, ba có biết không, chiếc trực thăng coi thì nó thật là kiên cố, nhưng chiếc quạt chong chóng của nó chỉ được giữ bởi một con ốc sáu cạnh."
Sau đó, anh quay qua mẹ anh, Mike hỏi, "Này mẹ ơi, mẹ có biết họ gọi con ốc đó là gì không?" Mẹ anh ta nhún vai trả lời: "Mẹ chịu thua."
Mike mỉm cười và nói, "Họ gọi nó là con ốc 'Jesus'." Chúa Giêsu, qua cái chết và phục sinh, Ngài đã ôm ấp toàn thể nhân loại với nhau, cũng như chiếc ốc đã nối kết các bộ phận của chiếc trực thăng với nhau.
Carolyn đã nhìn thấy Chúa Giêsu trong cùng một nhiệm vụ đối với cuộc hôn nhân của bà y như chiếc ốc có nhiệm vụ trong chiếc trực thăng của Mike. Chính Chúa Giêsu đã gìn giữ cho cuộc hôn nhân của bà được êm đẹp.
Giống như chiếc trực thăng, hôn nhân cũng là một vấn đề phức tạp. Có rất nhiều sự kiện có thể đưa đến xáo trộn .
Khi loại bỏ Chúa Giêsu ra khỏi đời sống hôn nhân thì sẽ giống như là loại bỏ chính con ốc "Jesus" ra khỏi chiếc trực thăng của Mike vậy. Nó sẽ bị tan rã liền.
Khái niệm Chúa Giêsu là Người giữ gìn cho mọi sự được thuận hòa cũng chính là chủ điểm cho những bài đọc hôm nay.
Bài đọc I diễn tả Chúa Giêsu như là tảng đá góc tường. Trong những tòa nhà ngày xưa, tảng đá góc tường thật là quan trọng. Nó giúp chống đỡ và giữ cho cả tòa nhà đứng vững. Rút bỏ tảng đá góc tường khỏi tòa nhà là làm cho nó sụp đổ.
Cùng một phương thức, Chúa Giêsu chính là tảng đá góc tường gìn giữ đời sống hôn nhân Kitô giáo lại với nhau. Loại bỏ Chúa Giêsu, chính là tự tìm lấy diệt vong.
Bài Phúc Âm nhắc lại tư tưởng trên. Nó diễn tả Chúa Giêsu chính là người chăn chiên. Nhiệm vụ của người chăn chiên là gìn giữ đàn chiên lại với nhau và bảo vệ chúng khỏi những nguy nan sẽ gây hại chúng.
Một lần nữa, đấy cũng chính là nhiệm vụ mà Chúa Giêsu đã làm cho đời sống hôn nhân Kitô giáo. Ngài gìn giữ chúng lại với nhau và bảo vệ chúng khỏi những nguy nan sẽ nguy hại chúng.
Nếu đời sống hôn nhân hay đời sống gia đình của ta gặp phải những khó khăn, đấy có thể là vì, chúng ta đang quên đi chiếc ốc mà Thiên Chúa đã tiền định để gìn giữ nó lại với nhau.
Có thể chúng ta đang lãng quên Chúa Giêsu. Có thể chúng ta đang loại bỏ Ngài ra ngoài. Có thể chúng ta không mời Chúa Giêsu vào trong đời sống hôn nhân hay vào trong nhà chúng ta. Điều đáng chú ý là rất nhiều lần trong thời Chúa Giêsu, khi Ngài được mời vào nhà nào, thì Ngài thường làm phép lạ cho những người sống trong đó.
Ví dụ như khi cặp tân hôn đã mời Chúa Giêsu đến nhà họ, Ngài đã biến nước thành rượu.
Khi Phêrô mời Chúa Giêsu đến nhà ông, Chúa Giêsu đã chữa cho bà nhạc mẫu của ông. Khi viên đại đội trưởng Rôma mời Chúa Giêsu đến nhà ông, Chúa Giêsu đã chữa lành cho người đầy tớ của ông.
Khi hai chị em đã mời Chúa Giêsu đến nhà họ, Ngài đã làm cho em họ sống lại từ cõi chết. Khi Jairus mời Chúa Giêsu đến nhà ông, Chúa Giêsu đã làm cho con gái ông sống lại.
Điều đó làm cho chúng ta phải tự hỏi, chẳng lẽ chúng ta mời Chúa Giêsu về nhà mình, mà Ngài lại không thực hiện những việc như vậy cho ta sao?
Và như thế những bài đọc hôm nay chính là lời mời gọi chúng ta hãy mời Chúa Giêsu trở lại với gia đình ta và vào trong đời sống của ta.
 

PS4-B12. CHÚA LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Cầu cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ
 

Ca hiệp lễ chúa nhật 4 phục sinh viết rằng:” Vị Mục Tử nhân lành đã sống lại. Chính Người đã: PS4-B12

Ca hiệp lễ chúa nhật 4 phục sinh viết rằng:” Vị Mục Tử nhân lành đã sống lại. Chính Người đã thí mạng vì con chiên và chịu chết vì đoàn chiên của Người”. Đức Giêsu Kitô được gọi là Mục Tử nhân hậu, tốt lành và mọi người theo Ngài đều được coi là chiên của Ngài. Abraham, Đavít và biết bao tổ phụ đã xuất thân từ giới lao động, cần cù, đã làm nghề chăn cừu, chăn chiên. Kinh nghiệm của các Ngài có xuất phát từ những việc thực tế trong đời sống chăn chiên và nhờ đó, các Ngài đứng ra lãnh đạo dân, lãnh đạo dân tộc của họ. Đi từ thực tế đó, các tổ phụ có một quan niệm nhất quán về Thiên Chúa Giavê, họ gọi Giavê là Mục Tử và họ tự coi họ là chiên của Giavê Thiên Chúa.
Quan niệm mục tử theo nhãn giới Kinh thánh
Trong lịch sử dân Chúa và trong lịch sử đời thường, dân xưa thường sống về nghề nuôi cừu, nuôi chiên. Họ là những dân du mục, rầy đây mai đó, miễn sao kiếm ra những cánh đồng xanh tươi và những dòng suối mát trong lành mà thả chiên ăn cỏ, uống nước. Phát xuất từ nguồn cảm hứng chăn chiên, các thi sĩ, văn sĩ tha hồ diễn tả tâm tình của mình. Đọc lại thánh vịnh 23, chúng ta nhận ra tâm tình của văn sĩ Thánh Kinh. Họ quan niệm Thiên Chúa là Mục Tử đã hy sinh cho Israen, như Vị Mục Tử xả thân vì đoàn chiên:” Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ…Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm”( Tv 23, 1-4 ). Với quan niệm này, tất cả các vị lãnh đạo tôn giáo của Israen, thay mặt mặt Chúa phục vụ dân, cũng được coi là những Vị Mục Tử.
Tuy nhiên, năm tháng trôi qua, vai trò mục tử của những vị lãnh đạo tôn giáo của Israen đã bị thoái hóa, đã không đi đúng đường lối nguyên tuyền, chính thống của vị mục tử đích thực như mẫu gương là Đức Giêsu Kitô, đến nỗi ngôn sứ Ezêchiên phải thốt lên những lời này:” …Khốn cho các mục tử Israen,những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao ?...chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên bị lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc…Nên hỡi các mục tử hãy nghe lời Đức Chúa:”…Ta chống lại các mục tử, Ta sẽ đòi lại chiên của Ta”. Ta sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng; nó sẽ chăn dắt chúng, đó là Đavít, tôi tớ của Ta: chính nó sẽ chăn dắt chúng; chính nó sẽ là mục tử của chúng”( Ed 34, 2-4, 9-10,23 ).
Đoạn Tin Mừng của thánh Gioan 10, 11-18 được đọc dưới nhãn giới đó:” Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên….Tôi biết chiên của Tôi, như chiên của Tôi biết Tôi…Chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”( Ga 10,11-16 ). Đức Giêsu chính là mục tử mà ngôn sứ Edêkien đã tiên báo. Giống như vua Đavít, vị mục tử nhân lành, Chúa Giêsu chăm sóc, nâng đỡ những con chiên đau ốm, băng bó vết thương cho những con chiên bị thương tổn, và đi tìm những con chiên lạc đường, mất lối. Hơn thế nữa, Chúa Giêsu tự hiến mạng sống vì chiên mà Ngài yêu thương:” Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ). Rồi, Chúa Giêsu còn làm một việc diệu kỳ, lạ lùng, không ai có thể làm nổi:” Chúa sống lại thật rồi.Kính dâng Người vinh quang và uy quyền. Đến muôn đời muôn thuở”( Lc 24, 34; Kh 1,6) và chia xẻ đời sống phục sinh của Ngài với đàn chiên của chính Ngài.
Mục tử nhân hậu, yêu thương
Thánh Gioan trong chương 10 này vén lộ cho nhân loại thấy Chúa Giêsu là vị mục tử không chỉ riêng cho dân Israen mà còn cho toàn nhân loại nữa. Vì Thiên Chúa theo thánh Gioan 3, 16 nói:” Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. Rõ ràng, Chúa Giêsu đến trần gian không vì dân Do Thái, nhưng vì mọi người, vì thế gian. Điều này cũng được các thánh sử Matthêu, Máccô và Luca nhấn mạnh trong bữa tiệc ly, khi Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể:”…Máu Ta đổ ra vì mọi người, đem ơn tha tội cho muôn người, nghĩa là cho thế gian"( Mt 26, 26-29, Mc 14, 22-25, Lc 22, 15-20 ). Điều này được thánh Phêrô nhắc lại trong bài đọc I là Chúa chữa người tàn tật nhờ quyền năng của Người. Chúa Giêsu mời gọi dân chúng tin vào Người để được chữa lành phần hồn phần xác và đây cũng là điều thánh Gioan nhắc nhở chúng ta trong bài đọc II, nhờ Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm cho ta trở nên con cái riêng của Ngài. Ở đây, còn một lý do thâm sâu, cốt lõi nữa là vì mục tử biết chiên, biết ở đây có nghĩa là hiểu rõ hoàn cảnh bi đát, tội lỗi, thiếu thốn của mỗi người, nên mục tử là Chúa Giêsu đã yêu thương con người, đã tìm chiên lạc( Mt 18, 12-14 ), những chiên tản mác, lang thang khắp nơi ( Is 53, 6 ), qui tụ lại thành ràn( Ga 11, 52 ).
Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành luôn yêu thương chiên của Người, dù chiên ngỗ nghịch, dù chiên phản bội, dù chiên yếu đuối, Người lúc nào cũng tìm kiếm chiên lạc đàn, hy sinh cứu đàn chiên và qui tụ những chiên đã tìm thấy để qui tụ những con chiên này quanh một vị mục tử duy nhất để tất cả được sống trong hiệp nhất, hòa thuận, yêu thương và bình an:” Lạy Cha xin hãy cho mọi người hiệp nhất nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”( Ga 17, 21 ).
Thánh lễ Chúa Nhật 4 Phục sinh: Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, Giáo Hội mời gọi mọi người cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ.” Lạy Cha, xin hãy sai thêm thợ gặt trong đồng lúa. Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Tất cả mọi người đều được mời gọi làm trong vườn nho của Chúa. Đứng trước một thế giới văn minh, ơn gọi làm linh mục và tu sĩ nhiều nơi thiếu vắng, chúng ta hãy cầu nguyện thiết tha cùng Chúa xin cho có nhiều tâm hồn trẻ nam nữ thành tâm thiện chí dâng hiến mình cho Chúa.
Lạy Cha là mục tử nhân lành, chúng con là đoàn chiên đã được Cha cứu chuộc bằng máu châu báu của Đức Giêsu Kitô. Cúi xin Cha giờ đây thương đoái, dẫn đưa chúng con vào đồng cỏ Nước Trời. ( Lời nguyện hiệp lễ, Chúa Nhật 4 phục sinh ).
Gợi ý chia sẻ
1. Cựu Ước nói gì về các mục tử ?
2. Tại sao lại gọi Chúa Giêsu là mục tử tốt lành ?
3. Bạn đã thấy con chiên chưa? Hãy tả lại những nét chính yếu của con chiên.
 

PS4-B13. Mục tử nhân lành - Sr. Maria Vũ Thị Ngọc Bích

Sr. Marcela người Tây Ban Nha Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ- FMA đã kể lại một kinh nghiệm: PS4-B13

Sr. Marcela người Tây Ban Nha Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ- FMA đã kể lại một kinh nghiệm giáo dục đơn sơ và đầy hiệu quả như sau:
Sr. Marcela được gửi đến dạy một lớp học bị tai tiếng là ”khủng khiếp”. Ngày đầu tiên vào lớp, các học sinh cứ tiếp tục la lối inh ỏi không chịu nổi nhưng Sr. đã vẫn giữ được sự bình thản viết trên bảng một câu nói của Cha Bosco: ”Chỉ cần các con là giới trẻ cũng đủ để Cha yêu mến các con”. Khi thấy câu viết trên bảng, các học sinh bắt đầu lặng hơn để tò mò đọc, suy tư một chút rồi xin Sr. giải thích nhưng Sr. Marcela không muốn. Và tiếp tục Sr. Marcela hỏi thăm các em xem chúng ước muốn điều gì? Từ đó, Sr. chủ nhiệm lớp học sinh ngỗ nghịch này cho đến cuối năm. Với thời gian, các học sinh đã cảm nghiệm tình thương mến đầy mẫu tử và sâu xa của Sr. Marcela, luôn sẵn sàng lắng nghe những khó khăn của chúng, luôn hướng dẫn, sửa dạy với tình yêu thương chân thành là luôn muốn tốt, muốn điều tốt và muốn cho chúng tốt.
Tin Mừng hôm nay nói đến ”Chúa Chiên Lành” hay” Mục Tử Nhân Lành” đầy yêu thương, gắn bó đến mức sống chết vì đàn chiên.
Hình ảnh quá quen thuộc này muốn khăng định Chúa Giê-su là Mục tử ”thật sự và tốt lành” không chỉ bằng lời nói nhưng với hành động ”hy sinh mạng sống vì đàn chiên”.
Chính Chúa Giê-su đã nói: ”Tôi biết chiên của tôi” (Ga 10,14), Ngài biết những công việc bé nhỏ, hy sinh âm thầm của chúng ta; Ngài biết những nỗi thao thức, lo toan, giới hạn, không thoát khỏi sự yếu đuối, tội lỗi của chúng ta; Ngài cũng biết thế giới hôm nay còn chìm trong bất công, nghèo đói, hận thù, bạo lực và chiến tranh.
Nhưng ai có thể giải thoát và dẫn chúng ta đến đồng cỏ non tươi mát của cuộc sống? Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, Ngài mời gọi ta theo vết chân của Ngài, bước đi với Ngài, tin tưởng tuyệt đối nơi Ngài, vì Ngài là ”Mục Tử Nhân Lành” bảo vệ đàn chiên khỏi mọi hiểm nguy, hướng dẫn ta biết nhận định và biết lựa chọn giũa biết bao những đề nghị, mời mọc luôn phơi bày ra trước mắt ta trong xã hội hôm nay.
Và đồng cỏ tươi chính là Lời Chúa và giới răn yêu thương của Ngài để giúp ta nhận ta ”tiếng” của vị ”Mục Tử Nhân Lành”, Ngài sẽ khơi lên trong ta một chân trời không giới hạn và chan chứa niềm hy vọng.
Lạy Chúa Giêsu, giàu sang, danh vọng, khoái lạc là những điều hấp dẫn chúng con. Chúng trói buộc chúng con và không cho chúng con tự do ngước lên cao để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn. Xin giải thoát chúng con và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng trước những lời mời gọi của Chúa, không bao giờ ngoảnh mặt để tránh cái nhìn yêu thương của Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.
 

PS4-B14. Đức Giêsu, Vị mục tử nhân lành - Lm. Đan Vinh

Tìm hiểu lời Chúa
1) Ý chính : Đức Giêsu, vị mục tử nhân lành :
 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã tự ví mình như một Mục Tử nhân lành. Sự nhân lành: PS4-B14  oFB

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã tự ví mình như một Mục Tử nhân lành. Sự nhân lành của người Mục Tử biểu lộ qua 3 hành động sau : một là biết rõ từng con chiên và cũng được chiên nhận biết và đi theo. Hai là quan tâm đến cả đàn chiên, nhất là những con bị đau ốm, bị thương tích hay lạc mất. Ba là can đảm thí mạng đương đầu với sói rừng để bảo vệ đoàn chiên.
2) Chú thích :
- Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê vì không phải là Mục Tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn. Vì anh ta là kẻ làm thuê và không thiết gì đến chiên (Ga 10,11-13) :
+ Tôi chính là : Đây là kiểu nói mặc khải về Danh xưng của Thiên Chúa : “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3,14). Đức Giêsu đã nhiều lần khẳng định : “Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,24.28); “Chính tôi là bánh trường sinh” (Ga 6,35), “Tôi là bánh từ trời xuống” (Ga 6,41); “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12; 9,5); “Tôi là cửa cho chiên vào” (Ga 10,7.9); “Tôi chính là Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11.14); “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25); “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6); “Thầy là cây nho thật…Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,1.5).
+ Mục Tử nhân lành : Mục tử là người chăn chiên, một hình ảnh quen thuộc đối với dân Do Thái. Thiên Chúa chính là Mục Tử cai trị, hướng dẫn dân Người (x. Tv 23,1). Ngôn sứ Edêkien đã tuyên sấm lời Đức Chúa phán như sau; “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; Con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; Con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; Con nào bệnh tật, Ta sẽ cho mạnh; Con nào béo mập, con nào khỏe mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng” (Ed 34,15-16). Thiên Chúa cũng dùng một số mục tử để thay Người mà coi sóc dân như Môsê (x. Is 63,11), Đavít (x. Tv 78,70-71). Bên cạnh các mục tử tốt cũng có những kẻ xấu xa bất xứng (x. Gr 10,21; 12,10). Thiên Chúa hứa ban một Mục Tử thuộc dòng dõi Đavít, luôn làm đẹp lòng Người (x. Gr 23,4-6; Ed 34,23-24). Vị Mục Tử duy nhất ấy chính là Đức Giêsu như Người đã từng khẳng định : “Tôi là Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11.14).
+ Hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên : Đây là sự khác biệt quan trọng giữa mục tử chân chính với kẻ chăn thuê. Hy sinh mạng sống là dấu hiệu của một tình yêu tột đỉnh (x. Ga 15,13).
+ Người làm thuê không phải là Mục Tử : Đức Giêsu dùng kiểu nói tương phản để làm nổi bật tính cách nhân lành của Mục Tử chân chính. Người chăn thuê thường tỏ ra hèn nhát và vô trách nhiệm đối với đoàn chiên (x. Ga 10,12-13). Ở đây, người làm thuê ám chỉ là các đầu mục dân Do Thái như các kinh sư, các người pha-ri-sêu gỉa hình (x. Mt 23,2), các Ngôn sứ giả (x. Mt 24,11). Những đầu mục này chỉ lo tìm tư lợi, là kẻ dẫn đường sai lạc, là người nói mà không làm, là người đạo đức giả (x. Mt 23,14.16.25.28).
- Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi. Như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử (Ga 10, 14-16) :
+ Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi : Từ ngữ “Biết” trong Kinh Thánh không những nói về sự hiểu biết đối với tha nhân về tri thức, mà còn có nghĩa là một sự quan hệ mật thiết : Biết cái gì nghĩa là có kinh nghiệm cụ thể về cái đó. Biết một người nào là có liên hệ mật thiết với người đó (x. St 4,1; Lc 1,34). Đức Giêsu biết các tín hữu là đoàn chiên của Người, và họ cũng biết Người là Mục Tử của họ và sẵn sàng vâng nghe lời Người. Tuy nhiên những điều mặc khải của Đức Giêsu thường khó hiểu và khó chấp nhận, bao lâu Đức Giêsu chưa được tôn vinh, nghĩa là chưa được treo trên thập giá(x. Ga 8,28). Sự tôn vinh này là điều kiện để các môn đệ đón nhận được ơn Thánh Thần (x. Ga 7,39). Rồi nhờ Ơn Thánh Thần tác động, các ông sẽ hiểu biết trọn vẹn các chân lý đã được Đức Giêsu mặc khải trước đó (x. Ga 16,3).
+ Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này : Sự quan tâm săn sóc của Đức Giêsu, vị Mục Tử nhân lành, không chỉ dành riêng cho các tín hữu, mà còn phổ biến đến mọi dân tộc nhờ các môn đệ của Người. Sứ mạng loan Tin Mừng và làm chứng cho Đức Kitô được trao cho các môn đệ và cũng là trao cho Giáo Hội, trao cho mỗi tín hữu chúng ta trước khi Người về trời (x. Mt 28,19; Cv 1,8).
+ Sẽ chỉ có một đoàn chiên và một Mục Tử : Với cái chết của Đức Giêsu trên thập giá, biên giới ngăn cách giữa Do Thái và dân ngoại đã bị phá hủy (x. Gl3,28). Mọi người mọi dân tộc đều có thể gia nhập đoàn chiên của Người, vì Người đã đổ máu ra để cứu chuộc toàn nhân loại (x. 1 Tm 2,4). Viễn tượng về một ngày đoàn tụ nhân loại trong một đại gia đình, một đoàn chiên duy nhất dưới quyền một Mục Tử tối cao là Đức Giêsu (Vua Mêsia) có trở thành hiện thực hay không, là tùy vào sự ý thức và quyết tâm của mỗi người tín hữu chúng ta có sẵn sàng cộng tác với Ơn Thánh Thần để chu toàn sứ mạng “được sai đi khắp thế gian, đến với muôn dân” hay không.
- Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại Mạng Sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được (Ga 10,17-18) :
+ Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi: Khi hiển dung trên quả núi cao, Đức Giêsu đã được Chúa Cha công nhận : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về người” (Mt 17,5). Lý do Người được Chúa Cha yêu mến :
+ Là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại: Đức Giêsu đã hy sinh chịu chết trên thập giá vâng theo ý Chúa Cha như Người đã cầu nguyện trước cuộc khổ nạn: “ Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Người sẵn sàng chịu chết để rồi nhờ quyền năng Thánh Thần, Người sẽ lấy lại mạng sống bằng sự phục sinh vinh quang.
+ Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình : Việc Đức Giêsu chịu chết không phải do ý muốn của các đầu mục Do Thái, tổng trấn Philatô, Giuđa, quân lính và dân chúng…Nhưng là do Người tự ý chấp nhận vâng phục thánh ý Chúa Cha(x. Mt 26,39) khi đến “GIỜ” Con Người được tôn vinh (x.Ga 12,23).
+ Để rồi lấy lại : Đức Giêsu đã báo cho các môn đệ biết trước : Người sẽ đi lên Giêrusalem, chịu đau khổ do các đầu mục Do Thái gây ra, sẽ bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại (x. Mt 16,21; 17,22; 20,18-19), nhờ quyền năng Thiên Chúa Cha (x. Cv 2,32-33).
+ Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được : Đức Giêsu đã luôn vâng lời Chúa Cha (x. Mc 14,36), đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (x. Pl 2,8).
Học sống lời Chúa
1) “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).
- Câu chuyện : Mẹ chết thay con :
Trên một tờ báo y học ở Achentina, bác sĩ Giăng Coóctê (Jean Cortez) đã kể lại trường hợp đặc biệt mà chính ông đã chứng kiến. Ông đang điều trị cho một bé gái tên là Angien. Em bị ung thư bao tử, một bệnh rất hiếm gặp nơi trẻ em. Sau mấy lần giải phẫu và điều trị đủ cách, ông đành báo tin buồn cho bà mẹ là ông đành chịu bất lực trước căn bệnh hiểm nghèo này, và cho biết Angien đã chết ! Bà Maria mẹ em bé gần như hóa điên khi nghe tin ấy. Bà nhất quyết không cho ai đụng vào thi thể của con, và quì cầu nguyện nhiều giờ bên giường con. Bác sĩ Coóc-tê rất xúc động khi nghe thấy lời bà cầu xin cho mình được chết thay con. Ong cùng mọi người im lặng ra bên ngoài để bà một mình với đứa con yêu đã chết.
Nửa tiếng đồng hồ sau, mọi người lại vào phòng. Mọi người hiện diện đều rất ngạc nhiên khi thấy Angien đã khỏe lại. Gương mặt em rạng rỡ vui vẻ. Em đang ngồi trên giường và ôm mẹ, còn mẹ em thì lại nằm gục trên giường và đang ở trong tình trạng sắp chết. Bà thều thào nói với bác sĩ rằng : “Thưa bác sĩ, tôi rất mừng được Chúa đã thương nhậm lời cầu của tôi là cho tôi được chịu bệnh thay thế cho con tôi!”. Bấy giờ bác sĩ Coóctê lập tức cho tái xét nghiệm và kết quả là bé Angien đã hoàn toàn bình phục, còn bà Maria mẹ em lại mắc chứng bệnh ung thư bao tử của em mà trước đó bà không hề mắc phải. Thân nhân xúm lại chung quanh bà Maria để động viên an ủi bà và có người hứa sẽ thay bà mà nhận bé Angien làm con và chăm sóc nuôi dạy bé nên người tốt. Vài giờ sau bà Maria tắt thở trong bình an, Bà được mọi người kính phục về tình mẫu tử cao quí bà dành cho con. Bác sĩ Coóctê kết luận : “Tôi không thể giải thích lý do tại sao chuyện này lại có thể xảy ra được! Vì rõ ràng trước đó cô bé Angien đã chết. Có thể đã có một quyền năng siêu phàm nào đó tác động và hoán chuyển căn bệnh quái ác từ nơi đứa con sang cho bà mẹ!”
- Suy nghĩ : Tình mẫu tử thiêng liêng đã khiến bà Maria hy sinh chịu chết thay cho con. Tình mẫu tử ấy là phản ảnh tình yêu của Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành đối với các tín hữu là đoàn chiên của Người. Người đã nói : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Trong bài Tin Mừng hôm nay Người nói : “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”.
- Câu hỏi : 1) Mỗi người chúng ta đều có thể là mục tử đối với đoàn chiên là những người được Chúa trao cho ta nhiệm vụ trông nom săn sóc. Vậy đoàn chiên ấy gồm những ai ?
* Đáp : Đoàn chiên ấy chính là các con cái và các em trong gia đình mà ta có nhiệm vụ phải nuôi dưỡng, dạy dỗ và săn sóc; Đoàn chiên ấy cũng là các công nhân trong nhà máy xí nghiệp mà ta đang giữ nhiệm vụ quản lý điều hành; Đoàn chiên ấy cũng là các học trò trong một lớp học mà ta là giáo viên chủ nhiệm; Đoàn chiên ấy còn là các hội viên trong hội đoàn Công Giáo Tiến Hành mà ta có nhiệm vụ là huynh trưởng trong Ban Chấp Hành…
- Câu hỏi : 2) Phân biệt giữa Mục Tử nhân lành với các kẻ chăn thuê giống và khác nhau thế nào ?
* Đáp : Giống nhau vì cả hai đều có nhiệm vụ phải chăm sóc và nuôi dưỡng đoàn chiên. Tuy nhiên Mục Tử nhân lành và kẻ chăn chiên lại có nhiều điểm khác nhau như sau :
** Mục tử nhân lành : là chủ đoàn chiên và chiên thuộc về người ấy, nên ông yêu thương chúng và sẵn sàng thí mạng chống lại với sói dữ để bảo vệ đoàn chiên; Ong lại cũng biết rõ từng con chiên một như về tính khí và các khó khăn con chiên phải chịu đựng, các nhu cầu của chiên cần được đáp ứng. Do đó đoàn chiên luôn yêu mến và vâng nghe lời ông. Ngoài ra Mục Tử nhân lành còn phải có tinh thần trách nhiệm cao đối với đoàn chiên như : băng bó chữa lành các con chiên bị đau ốm hay thương tích, đi tìm các con chiên thất lạc và tìm được thì vác trên vai mà đưa về đoàn, để sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.
** Kẻ chăn thuê chỉ là người làm công và chiên không thuộc về hắn, nên hắn không yêu thương chiên mà chỉ lo tìm tư lợi ích kỷ như chỉ lo vắt sữa và xén lông chiên đem bán lấy tiền, không quan tâm chăm sóc cho đoàn chiên, không chịu băng bó chữa bệnh cho chiên đau yếu, không đi tìm các con chiên lạc. Nhất là khi thấy sói rừng kéo đến tấn công đoàn chiên, kẻ chăn thuê cảm thấy nguy hiểm cho bản thân mình thì sẵn sàng bỏ rơi đoàn chiên mà chạy thoát thân một mình, mặc cho sói rừng cắn xé các con chiên và làm cho đoàn chiên tan tác…
2) “Tôi chính là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10, 14)
- Câu chuyện : “Vì tôi là linh mục” :
+ Cách đây ít lâu, Nguyễn Đức Quang đã sáng tác một bài hát mang tựa đề : “Vì tôi là Linh Mục” để tặng một người bạn thân là linh mục “cấp tiến” đã phá giới hồi tục. Nội dung bài hát về một linh mục vì không mặc áo dòng nên đã bị sa chước cám dỗ vào cuộc tình. Để rồi cả đời bị lương tâm cáo trách và đánh mất lý tưởng của cuộc đời mình.
+ Linh mục là người phàm, không phải là thần thánh : Linh mục cũng là một con người yếu đuối và bất toàn như bao người khác : “Nhân vô thập toàn”, Tuy nhiên Linh Mục đã được thánh hiến cho Chúa, nghĩa là thuộc trọn về Chúa, hiến thân phụng sự Chúa và trở thành khí cụ Chúa dùng mà thánh hóa thế gian. Linh Mục là người được Chúa mời gọi và đã đáp lại tiếng Chúa bằng sự hy sinh tình cảm gia đình, thôi bỏ nghề nghiệp mà đi theo làm môn đệ Chúa. Được Người đào tạo và huấn luyện trong môi trường chủng viện. Sau đó, được thụ phong Linh Mục và được sai đi để chu toàn ba sứ vụ đặc biệt là: Sứ vụ tiên tri để đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, sứ vụ Tư Tế để cử hành các phép Bí Tích nhất là Thánh Thể mà thánh hóa người ta, và sứ vụ Vương Đế để chăn dắt đoàn chiên được Chúa trao phó.
+ Những khó khăn của Linh mục thời đại mới : Trong bài “Linh mục, người là ai ?”, văn hào Giuăng Aria (Juan Arias) viết : “Lạy Chúa, Linh mục là ai ? Đối với nhiều người : Ông ta là người cô độc ích kỷ. Đối với nhiều người khác : Ông ta là thứ trai già vô tích sự, một nhân viên bàn giấy của tôn giáo”. Người nghèo tỏ vẻ bực bội khi thấy Linh mục năng tiếp xúc với các người giàu có. Họ rủa Linh mục là ‘Đồ tư bản chết liệt!”, Nếu Linh mục hiến thân chuyên lo phục vụ cho người nghèo hèn ít học, bệnh tật, cô đơn…thì người ta lại ganh ghét và gọi Linh mục là “Đồ Tả Khuynh bần tiện !”. Làm Linh mục thời đại này thật không đơn giản chút nào !
+ “ Một người luôn luôn sai lầm” (He is always wrong) : Đây là tựa đề của một bài báo nhỏ nói lên sự cảm thông của các tín hữu đối với Linh mục chủ chăn như sau :
* Giảng ngắn dưới 10 phút : “Ông Linh mục này lười không chịu dọn kỹ bài giãng!”. Giảng quá 20 phút : “Ong ta là người ưa nói dai và nói dài !”
* Nếu giảng hùng hồn : “Ông ta la lối om sòm thật bất kính đối với Chúa đang ngự trong nhà chầu !”. Nếu giảng với giọng bình thường : “Ông ta có tài dỗ ngủ cho người mang bệnh khó ngủ !”.
* Nếu năng đến thăm các gia đình trong xứ : “ Ông ta chẳng có việc gì để làm, suốt ngày la cà hết nhà này sang nhà nọ để kiếm chác ! chẳng mấy khi thấy ông ta có mặt ở nhà để tiếp xúc với các người cần gặp hay để đi kẻ liệt !”. Nếu ít đi thăm : “Ông ta chẳng quan tâm để biết con chiên của mình sống chết ra sao !”.
* Nếu Linh mục còn trẻ : “Ông ta mới ra trường nên tay nghề còn non và chưa có kinh nghiệm mục vụ giáo xứ !”. Nếu đã cao niên : “Một lão già lẩm cẩm hủ lậu ! Ông ta nên sớm xin về hưu đi là vừa !”.
- Quyết tâm : “Ở sao cho vừa lòng người : Ở rộng người cười ở hẹp người chê” : Câu ca dao thật đúng khi áp dụng cho Linh mục. Vậy bạn quyết tâm sẽ làm gì để trở nên con chiên ngoan trong đoàn chiên Chúa, do các Mục Tử là các Linh Mục chăm sóc ?
(Đáp : Cầu nguyện, cảm thông, cộng tác, giúp đỡ, trở nên cánh tay nối dài…)
Hiệp sống nguyện cầu
1) Lạy Chúa Giêsu, con cảm thấy hạnh phúc biết bao khi biết rằng con đang được Chúa như bà mẹ hiền nâng niu bảo vệ. Chúa như người Mục Tử hằng yêu thương con, luôn săn sóc dưỡng nuôi con bằng Lời hằng sống và Bánh Thánh Thể. Chúa đã hy sinh chịu chết để đền tội thay cho con, để bảo vệ con khỏi ma quỉ tấn công. Lạy Chúa, đối với Chúa : sự sống thân xác của con thật là quí giá và sự sống linh hồn con cũng thật cao cả. Chúa muốn con “được sống và được sống dồi dào !”. Xin cho con luôn biết tín thác vào lòng từ bi nhân hậu của Chúa, cậy trông vào sự quan phòng yêu thương của Người và luôn tin chắc rằng sau này con sẽ được Chúa cho về trời hưởng Tôn Nhan Chúa và được hưởng hạnh phúc đời đời.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria. Xa-tan muốn cướp giựt con khỏi bàn tay Chúa. Xa-tan muốn biến thế gian này làm tay sai cho nó. Có những cám dỗ ngọt ngào, có những thử thách khổ đau. Ma quỉ muốn con lạc xa tình thương của Chúa. Nhưng Chúa đã cầu xin Chúa Cha cho chúng con. Rồi Chúa lại thí mạng sống mình chịu chết trên thập giá đền tội thay cho con. Lạy Mẹ Maria nhiều lúc con đã từ chối tình thương của Chúa để phạm tội. Con đã chán nản không dấn bước theo Chúa nữa. Con đã chọn một lối sống tự do phóng túng để cuối cùng con phải lãnh lấy bao đau khổ và bất hạnh. Xin Mẹ giúp con từ nay luôn tín thác vào Chúa quan phòng, luôn sống theo Lời Chúa dạy. Khi con gặp ma quỉ cám dỗ, xin Mẹ giúp con can đảm từ bỏ tội lỗi và bước theo con đường hẹp và đầy chông gai, tuân giữ các giới răn, nhất là giới răn yêu người như Chúa đã dạy. Nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ được Chúa liệt vào hàng ngũ các chiên ngoan trong ngày phán xét và được thưởng hạnh phúc Thiên Đàng muôn đời.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
 

PS4-B15. MỤC TỬ NHÂN LÀNH: HY VINH MẠNG SỐNG VÌ ĐOÀN CHIÊN - Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Chúa nhật 4 Phục Sinh vẫn thường được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành (vì trong bài Phúc: PS4-B15

Chúa nhật 4 Phục Sinh vẫn thường được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành (vì trong bài Phúc Am Đức Giêsu tuyên bố Người là Vị Mục Tử Nhân Lành) và được Giáo hội dành cho việc cầu nguyện cho những người có chức thánh (phó tế, linh mục và giám mục) là những người được chọn để chăn dắt đoàn chiên của Dân Chúa.
1. Sứ vụ mục tử : Cứ mỗi lần đọc lại đoạn Thánh Kinh nào nói về người chăn chiên, nhất là đoạn Tin Mừng của thánh Gioan chương 10, là tôi lại nhớ lại hình ảnh rất sống động của một người chăn chiên Tây Ban Nha tên là Franco. Khi ấy (năm 1969-1970) tôi đang sống trong tập viện Dòng Tiểu đệ Chúa Giêsu ở làng Farlete tỉnh Saragosa, miền Bắc Tây Ban Nha. Ong Franco thường ghé thường ghé vào nhà bếp cũng là nhà khách của chúng tôi để uống một ly cà phê, ăn một miếng bánh và trao đổi vài ba câu trước khi dẫn đàn chiên thân yêu lên núi hay sau khi từ trên núi trở về làng. Trên đầu ông bao giờ cũng có một cái nón rộng vành và rất dày, trong tay ông bao giờ cũng có cây gậy, ngang lưng ông bao giờ cũng có bình nước bằng da, và cùng đi với ông bao giờ cũng có một con chó rất trung thành tên là Negro. Mỗi khi ai nhắc đến đàn chiên của ông thì mắt ông ngời sáng và tiếng nói ông rổn rảng sinh động. Hình ảnh của người chăn chiên này khiến nhiều trang Thánh Kinh trở nên cụ thể, sống động, gần gũi hơn đối với tôi.
Thật vật, đối với các dân tộc sống nghề du mục như Ítraen, thì không có hình ảnh nào quen thuộc, gần gũi, thân thương, đáng yêu và giầu ý nghĩa cho bằng hình ảnh người chăn chiên và đàn chiên. Hình ảnh quen thuộc nhất là người chăn chiên vác con chiên trên vai, một tay ôm hai cẳng chiên phía trước ngực, một tay chống gậy, tiến về phía trước. Công việc hay trách nhiệm của người chăn chiên là chăm lo cho đàn chiên luôn được an lành, béo tốt, sinh sôi nẩy nở. Cụ thể là cho chiên có cỏ non, có nước mát, được an toàn tránh khỏi mọi đe dọa của thú rừng hay kẻ trộm. Vì thế mà người chăn chiên thường đi trước dẫn đầu đàn chiên, để kịp đối phó với mọi bất trắc có thể xẩy ra khi tiến vào các khe núi hay trên sa mạc. Người chăn chiên tốt lành là người chỉ biết có chiên, chỉ lo cho chiên mà không nghĩ tới cả bản thân mình, thậm chí liều mạng sống vì chiên.
2. Sứ vụ mục tử của Chúa Giêsu: Đức Giêsu đã dùng hình ảnh người chăn chiên để khẳng định Người là vị Mục tử nhân lành vì Người đã chu toàn mọi trách nhiệm của người chăn chiên tốt lành. Người đã hy sinh mạng sống vì chiên, cho chiên. Người yêu thương loài người đến mức độ tột cùng và bằng Tình Yêu bao la của Thiên Chúa. Người đã đồng hóa với chiên. Cuộc sống của Người là vì chiên và cho chiên.
3. Sứ vụ mục tử của các phó tế, linh mục và giám mục: Theo kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa, một số ít người trong Dân Chúa được gọi, được chọn để đóng vai người mục tử của cộng đoàn. Đó là các giám mục, linh mục và phó tế tức các thừa tác viên có chức thánh. Công việc được giao cho các vị, chính là việc chăn dắt, chăm lo cho đoàn chiên của Thiên Chúa. Trách nhiệm của các vị là làm sao cho đoàn chiên chẳng những được an toàn mà còn được ăn uống no nê, béo tốt. Trách nhiệm ấy thật cao cả những cũng thật khó khăn và nặng nề! Cao cả vì các vị phải hiện-tại-hóa tấm lòng và cách sống yêu thương và hy sinh xả kỷ của Chúa Giêsu và của Thiên Chúa đối với cộng đồng anh chị em được giao phó cho các vị. Khó khăn và nặng nề vì các vị cũng vẫn là những con người phàm trần với nhiều yếu đuối và đam mê như mọi người khác. Nhìn vào thực tế, chúng ta thấy các vị chủ chăn có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của một cộng đoàn. Nhìn vào thực tế chúng ta cũng thấy rất rõ là không phải tất cả các chủ chăn đều có được tấm lòng yêu thương và cách sống hy sinh quên mình vì đoàn chiên. Vẫn còn đó, những ích kỷ, những vụ lợi, những hưởng thụ không chính đáng! Vẫn cón đó, những lạm dụng danh nghĩa, những tự tôn tự cao! Vẫn còn đó những ngại hy sinh, những cách phục vụ nửa chừng nơi các vị chủ chăn của chúng ta! Chính vì thế mà Giáo hội mới tha thiết mời gọi tất cả mọi Kitô hữu cầu nguyện cách đặc biệt cho các vị. Không có ơn đặc biệt của Thiên Chúa, không ai làm được những chuyện “ngược đời” mà Phúc Âm đòi hỏi.
4. Sứ vụ mục tử của mọi Kitô hữu: Nhưng nhìn sâu hơn nữa vào tinh thần của Phúc Âm, chúng ta phải quả quyết rằng: không chỉ có các thừa tác viên có chức thánh mới có sứ vụ mục tử, mà mọi Kitô hữu lớn nhỏ, nam nữ đều được tham gia vào sứ vụ chăm sóc của Chúa Giêsu Kitô. Thật vậy, bí tích Thánh Tẩy đã khiến chúng ta thành chi thể của Thân Mình Mầu nhiệm mà Chúa Kitô là Đầu. Là chi thể, chúng ta mang trong mình tư cách, tính chất, sứ vụ của Đầu. Nếu Đức Giêsu Kitô là Mục tử thì mọi Kitô hữu cũng đều là người chăm lo cho anh em là chi thể của Thân mình. Vì thế trong gia đình cha mẹ có sứ vụ mục tử đối với con cái cũng như con cái có sứ vụ chăm lo cho cha mẹ; vợ có sứ vụ mục tử đối với chồng và chồng có sứ vụ mục tử đối với vợ; anh em chị em có sứ vụ mục tử đối với nhau và cứ thế mở rộng ra toàn xa hội và thế giới: mọi người có sứ vụ chăm lo cho nhau, vì mọi người đều là con cái của Thiên Chúa, đều là anh em chị em của nhau, đều thuộc về một ràn chiên duy nhất của Chúa Kitô Giêsu.
Sống Lời Chúa
Tôi đặc biệt cầu nguyện cho các vị có chức thánh mà Chúa đã chọn làm chủ chăn đoàn chiên của Chúa để các ngài được dồi dào ơn Chúa và trở nên giống Chúa trong lời nói và việc làm.
Tôi cũng sẽ tận dụng mọi điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên mà Chúa Quan Phòng ban cho để chăm lo cho những người chung quanh, nhất là những người cần đến tôi hơn.
Cầu nguyện với Lời Chúa
Lạy Thiên Chúa Giavê, Chúa là Mục tử tín trung, độ lượng và quảng đại của dân Ítraen xưa. Nhờ có Chúa chăm lo, hướng dẫn mà Dân riêng Chúa luôn biết con đường phải đi, biết cách phải sống cho được hạnh phúc. Xin Chúa tiếp tục làm Mục tử của Ítraen mới là Giáo hội ngày nay để không một phần tử nào trong cộng đồng bị bỏ rơi bơ vơ lạc lõng, trái lại mọi người đều được chăm sóc và yêu thương đầy đủ.
Lạy Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, chúng con cảm tạ Cha vì Cha đã ban cho chúng con Vị Mục Tử nhân lành là Con Yêu Dấu của Cha. Nhờ sự hy sinh mạng sống của Người vì chúng con và cho chúng con mà chúng con được sống.
Lạy Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, chúng con cảm tạ Cha vì Cha còn ban cho chúng con những vị mục tử giống như chúng con, ở gần chúng con là Đức Giáo hoàng, các Đức Giám mục, các linh mục và phó tế để chúng con được yêu thương, chăm sóc và hướng dẫn tận tình.
Xin Cha ban cho những người mà Cha đã chọn làm chủ chăn đoàn chiên của Cha biết noi gương Vị Mục Tử nhân lành là Chúa Giêsu Kitô, Con Cha, để mọi con cái Cha được tập hợp thành một đại gia đình, được yêu thương chăm sóc đầy đủ ở đời này và được hướng dẫn cách hữu hiệu cách tiến về đời sau. Chúng con cầu xin. Amen!
 

PS4-B16. TÌNH YÊU THIÊN CHÚA ỊỐI VỚI CHÚNG TA

"Ta là mục tử nhân lành" (Ga 10,11)
Minh họa
- Mille images 89 B
- "Ta là mục tử nhân lành" (Ga 10,11)
Sợi chỉ đỏ
 

Phêrô và Gioan làm chứng trước Thượng Hội Đồng về việc chữa một người què à người ấy: PS4-B16

- Bài đọc I (Cv 4,8-12) : Phêrô và Gioan làm chứng trước Thượng Hội Đồng về việc chữa một người què à người ấy được chữa lành nhờ Danh Đức Giêsu.
- Bài Tin Mừng (Ga 10,11-18) : Mục tử thật và kẻ chăn thuê à Mục tử nhân lành yêu thương đàn chiên, biết từng con chiên.
- Bài đọc II (1 Ga 3,1-2) : Tình yêu của Chúa Cha đã cho chúng ta thành con Thiên Chúa.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Mỗi năm, Giáo Hội dành ngày Chúa nhật thứ IV mùa Phục sinh để nhắc cho chúng ta biết Đức Giêsu là mục tử nhân lành rất yêu thương chúng ta là những con chiên của Ngài. Ngài chăm sóc chúng ta và dẫn chúng ta đến cuộc sống hạnh phúc muôn đời.
Ngày hôm nay cũng là ngày Giáo Hội trên toàn thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu.
Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu biết hơn về tình yêu của Ngài ; đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện cho có nhiều người trẻ hiến thân làm Linh mục để tiếp nối sứ mạng Đức Giêsu là làm mục tử chăm sóc đoàn chiên Ngài.
II. GỢI Ý SÁM HỐI - Chúng ta là những con chiên được Đức Giêsu là mục tử nhân lành dẫn dắt. Nhưng nhiều khi chúng ta không ý thức tình thương Chúa luôn bao bọc cuộc sống chúng ta.
- Đôi khi chúng ta còn tỏ ra là những con chiên bướng bỉnh không đi theo sự dẫn dắt của Chúa.
- Chúng ta ít quan tâm đến việc khuyến khích và nuôi dưỡng các ơn thiên triệu.
III. LỜI CHÚA 1. Bài đọc I : Cv 4,8-12
Sau khi Phêrô chữa cho một người què được khỏi, ông bị bắt dẫn ra trước Thượng Hội Đồng Do thái giáo cùng với bạn đồng hành là Gioan.
Trước Thượng Hội Đồng, Phêrô xác nhận người què ấy được khỏi không phải do quyền phép gì riêng của ông mà chỉ nhờ danh thánh Đức Giêsu.
Nhân dịp đó, Phêrô giảng về Đức Giêsu : Ngài đã bị các thủ lãnh do thái giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại và tôn vinh Ngài lên đến tuyệt định vinh quang. Nhờ danh Ngài mà mọi người được ơn cứu độ.
2. Đáp ca : Tv 117
(như Chúa nhật I Ps)
Thánh vịnh này là tâm tình của người đã cảm nghiệm được tình thương và quyền năng của Thiên Chúa. Quyền năng và tình thương ấy đã chiến thắng tất cả, cho dù là khổ đau, là chết chóc. Tác giả muốn sống mãi để có thể ca tụng Thiên Chúa đến muôn đời.
3. Tin Mừng : Ga 10,11-18
Đức Giêsu xưng mình là mục tử tốt lành. Ngài cũng phân biệt mục tử tốt lành và người chăn chiên thuê :
- Những đặc tính của Người mục tử tốt lành : a/ thí mạng sống vì chiên ; b/ biết các con chiên và được các con chiên biết ; c/ muốn quy tụ những con chiên khác ở ngoài vào đàn chiên mình, để rồi sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên.
- Kẻ chăn chiên thuê chẳng tha thiết gì đến đàn chiên. Hắn ưu tiên lo cho bản thân nên khi gặp nguy hiểm thì bỏ mặc đàn chiên để chạy trốn.
4. Bài đọc II : 1 Ga 3,1-2
Thánh Gioan nói đến mức độ to lớn vô cùng của tình yêu Thiên Chúa dành cho tín hữu :
- Hiện nay Thiên Chúa cho chúng ta làm con của Ngài.
- Sau này Ngài còn cho chúng ta được giống như Ngài.
IV. GỢI Ý GIẢNG * 1. Mục tử tốt lành
Dưới thời bạo Chúa Nêrô bắt đạo. Rôma ngập tràn máu lửa, biết bao tín hữu đã chết dưới tay ông vua điên loạn, bạo tàn.
Giáo hội non trẻ do Đức Giêsu thiết lập như sắp rã rời tan tác. Phêrô là con chim đầu đàn, là trụ cột của Giáo hội. Các tín hữu tha thiết xin Phêrô trốn khỏi Rôma, để tiếp tục dẫn dắt đoàn chiên. Người anh cả một thoáng phân vân, chần chừ. Quả thật đoàn chiên đang nao núng vì sợ thiếu vắng đầu đàn, sao có thể giữ vững niềm tin ? Thầy đã chẳng khuyên khi người ta bắt bớ chúng con ở thành này, thì hãy trốn sang thành khác sao ? Phêrô xách bị gậy đi trốn. Đụng Thầy ở cổng thành, Phêrô hỏi :
- Quo vadis, Domine ? Thưa Thầy, Thầy đi đâu ?
- Nếu con bỏ các Kitô hữu của Thầy thì Thầy sẽ quay lại để chịu đóng đinh cho họ một lần nữa.
Phêrô hiểu ngay lời Thầy, quay trở lại Rôma để an ủi khích lệ đoàn chiên, và để chịu đóng đinh thập giá như Thầy.
"Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì đoàn chiên" (Ga.10,11). Đức Giêsu ví mình như một mục tử tốt lành khác với người chăn thuê, vì người đã dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Cái chết của Người không bất ngờ, cũng không đầu hàng bạo lực, nhưng là một cái chết tự hiến. Đức Giêsu chết để nói nên lời yêu thương. Một tình yêu tột đỉnh, yêu cho đến cùng. Thánh Gioan viết : "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình" (Ga.15,13).
Chính tình yêu đã tạo nên mối dây gắn bó giữa chủ chiên và từng con chiên, khiến Người nói : "Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta" (Ga.10,14-15). Đó là sự hiểu biết nhau sâu xa, sự trân quí giữa mục tử và đoàn chiên.
Đức Giêsu là mục tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Người. Mọi mục tử phải noi gương Người, dám chết cho đoàn chiên được sống. Phêrô là người mục tử đầu tiên. Phêrô có thể trốn bắt bớ, tù tội, chết chóc. Nhưng chính khi đổ máu, Phêrô đã giữ vững đoàn chiên. Cái chết của Phêrô đã có sức thuyết phục hơn bất cứ lời rao giảng nào : "Thầy làm vững đức tin của con. Rồi đến lượt con, con sẽ làm vững đức tin của anh em con". Các mục tử tiếp bước Phêrô vui lòng nằm xuống để nên nhân chứng, và củng cố niềm tin cho các anh em.
Dụ ngôn người "Mục tử tốt lành" cho thấy tình yêu sâu sắc của Thiên Chúa.
- Người yêu thương mỗi người một cách cá biệt, không yêu cách chung chung.
- Người yêu thương vô điều kiện, ngay cả khi chúng ta lầm đường lạc lối.
- Người yêu thương bằng tình yêu vui mừng, chứ không la rầy khiển trách khi tìm thấy chiên lạc.
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn cần những vị mục tử tốt lành lo cho đoàn chiên trên thế giới. Người rất cần các bạn trẻ hiến thân cho sứ mạng mục tử này. Người mời gọi chúng ta hãy nhìn bằng trái tim yêu thương, để thấy những cơn đói Lời Chúa, đói tình thương, đói của ăn, đói ý nghĩa cuộc sống. Người kêu gọi chúng ta hãy tha thiết xin Cha cho nhiều mục tử tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn, và thánh đức hơn. Những mục tử sẵn lòng âm thầm chết từng ngày cho đoàn chiên.
*
Lạy Chúa, xin gởi đến cho chúng con những mục tử có trái tim của Chúa : luôn say mê Thiên Chúa và yêu thương con người, có tình bạn thân thiết với Chúa, dám hy sinh cho đoàn chiên, dẫn đưa chúng con về với Cha là nguồn hạnh phúc thật của chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 2. Ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và Tu sĩ
a/ Đối với người Việt chúng ta thì hình ảnh "chiên và người chăn chiên" không phải là một hình ảnh gần gũi, vì xứ sở chúng ta không thuộc vùng Cận Đông với nghề chăn nuôi chiên cừu như Pa-lét-tin xưa. Hơn nữa trong khi cả đất nước đang nói đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại câu chuyện "đàn chiên với mục tử", thì e rằng chúng ta bị coi là những người lạc hậu ! Nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa và biểu tượng tôn giáo của hình ảnh "chiên và mục tử" thì chúng ta lại chẳng thấy lạc hậu tí nào. Vì chưng những người tin ở Thiên Chúa đều xác tín rằng họ luôn được Thiên Chúa và Chúa Ki-tô quan tâm và tận tình chăm sóc, không chỉ về phương diện tâm linh mà về mọi phương diện con người, không chỉ ở đời sau mà ở cả đời này lẫn đời sau. Mối tương quan gắn bó giữa người chăn và con chiên là hình ảnh sống động, cụ thể của mối tương quan giữa Thiên Chúa và người tín hữu.
b/ Những nét đặc trưng của Vị Mục Tử nhân lành
    Đức Giêsu đã công bố Người là Vị Mục Tử nhân lành, với những nét đặc trưng sau đây :
     * Vị Mục tử nhân lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Người quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận : biết họ muốn gì ? họ cần gì ? họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào ?
      * Vị Mục tử nhân lành luôn đi đầu, đi trước tức hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, tức đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Vị ấy sẽ đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát và cỏ xanh, để chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Thậm chí vị Mục tử sẽ hy sinh mạng sống vì chiên.
c/ Lý do Hội Thánh lấy ngày chủ nhật Chúa Chiên Lành làm ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục tu sĩ :
    Bản tin Hiệp Thông (tiếng nói của Hội đồng Giám Mục Việt Nam) số 11, ra ngày 15 tháng 02 năm 2002 (trang 8-9) cung cấp cho chúng ta những con số cụ thể và đáng chúng ta suy nghĩ trong ngày hôm nay :
(1) : Tổng dân số của Việt Nam hiện là : 80.489.857 người (76.683.203 dân tộc kinh + 3.806.654 dân tộc thiểu số). 
(2) : Tổng số công giáo của 25 giáo phận : 5.324.492 người (5.065.105 dân tộc kinh + 259.387 dân tộc thiểu số).
(3) : Tổng số linh mục của 25 giáo phận : 2.526 Lm (2.133 triều + 393 dòng).
(4) : Tổng số tu sĩ trong 25 giáo phận : 11.282 Ts (1.524 nam + 9.758 nữ).
(5) : Tổng số chủng sinh của 25 giáo phận : 1.765 Cs (1.044 đang học + 318 học xong + 403 dự bị).
(6) : Tổng số giáo lý viên của 25 giáo phận : 45.858 Glv (671 giáo phu + 219 có lương + 44.968 không có lương).

Nếu chia bình quân số giáo dân cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 2.107 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 31.865 người. Nếu chia bình quân số giáo dân cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 472 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ  phải phục vụ 7.134 người. Nếu chia bình quân tổng số người VN không công giáo cho tổng số người VN công giáo thì một người VN công giáo phải giúp cho 14 người VN không công giáo biết Chúa và gia nhập Giáo hội.
Nguyên nhìn vào những con số trên, chúng ta cũng đã thấy được nhu cầu to lớn về nhân sự của Giáo hội Việt Nam trong sứ mệnh sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng mà Giáo hội đã nhận được từ chính Chúa Giê-su. Ịã đành rằng ngày nay trách nhiệm sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng không chỉ của riêng các linh mục, tu sĩ mà của mọi Ki-tô hữu. Nhưng các linh mục, tu sĩ vẫn là lực lượng quan trọng nhất, là lực lượng nòng cốt và đầu tầu trong lãnh vực này. Thế nhưng ơn gọi linh mục, tu sĩ  càng ngày càng giảm sút trong các Giáo hội địa phương, thậm chí giảm trầm trọng trong một số Giáo hội. Riêng tại Việt Nam, thì tình hình có mấy nét riêng sau đây : (1) Việc thanh niên nam nữ muốn vào chủng viện, dòng tu còn gặp nhiều cản trở từ những qui định của Nhà Nước. (2) Việc các Giám mục, Dòng tu gửi các linh mục, tu sĩ đến nơi cần gửi, đặc biệt đến vùng sâu vùng xa, cũng chẳng dễ dàng gì. (3) Ơn gọi tu trì đã có dấu hiệu sút giảm ở thành thị, nhất là ở các quận nội thành.
Vì thế cho nên chúng ta không chỉ cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo hội -nhất là Giáo hội Việt Nam- nhiều linh mục, tu sĩ tài đức thánh thiện, nhiệt thành mà chúng ta còn phải nài xin Thiên Chúa tạo thuận lợi cho các ứng sinh linh mục tu sĩ được đào tạo đến nơi đến chốn và cho các linh mục tu sĩ có điều kiện cần thiết để thực thi sứ vụ của mình. (Giê-rô-ni-mô Nguyễn Văn Nội).
3. "Tình yêu, con đường duy nhất để đến với thế giới bất tín".
"& Thánh nữ Têrêxa đã mở ra cho chúng ta con đường duy nhất để đến với thế giới những người không tin : đó là tình yêu. Không ai có thể sống thiếu tình yêu. Trước tấm thảm kịch của thuyết nhân bản vô thần, thảm kịch, vì do nhân danh một tư tưởng cao cả của nhân loại mà con người đã khước từ Thiên Chúa, mọi Kitô hữu, mọi Linh mục, mọi tu sĩ đều bồn chồn lo âu (&) thánh Phanxicô đệ Salê đã nói : "Tất cả đều dành cho tình yêu, đều ở trong tình yêu, đều vì tình yêu và đều phát xuất từ tình yêu trong Giáo hội". Nhưng cái chân lý cao cả ấy hầu như đã bị lãng quên, đã bị thuyết Jansénisme khô cằn ngăn chận. Chỉ có người nữ tu dòng kín trẻ trung thành Lisieux đã nhắc ta nhớ lại chân lý ấy trong nét tươi tắn của thái độ Ngài hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa. Hôn thê của Ịấng chịu đóng đinh và đã vì yêu mà tự nộp mình cho ta, chính thị cũng dâng hiến cho Người tình yêu vì tình yêu, như vị hôn thê dâng hiến cho hôn phụ. "Trong trái tim giáo hội tôi sẽ là tình yêu" thế là đã rõ, một xác quyết như thế đụng chạm tới tất cả mọi người ở thế kỷ XX của chúng ta vì chúng ta không biết yêu và được yêu trong chân lý (...)
Thánh Nữ Têrêxa luôn luôn là, tôi dám nói, một âm vang đích thực của Trái tim Thiên Chúa cho thời đại chúng ta, cho mỗi người chúng ta. Dù ta là ai, ta đã được tạo thành để sống tình yêu Thiên Chúa, tình yêu đã trao ban sự sống cho ta. Ta đến từ Thiên Chúa và ta lại trở về với Người, Người là Ịường là Sự Thật và là sự sống. Công đồng  Vatican II đã mạnh mẽ nhắc lại điều này. Sử gia mai ngày có thể thắc mắc "Giáo hội thời Công đồng  đã làm gì ?" Ịức Phaolô VI đã trả lời họ ngay từ ngày 14.9.1965 : "Giáo hội yêu, giáo hội yêu, yêu bằng trái tim mục tử, yêu bằng trái tim đại kết, yêu bằng trái tim rộng mở đón nhận mọi người kể cả những người bắt bớ giáo hội". Ta nên tìm lại cái trực cảm quan trọng ấy của Ịức Phaolô VI. Ịó cũng là trực cảm của thánh nữ Têrêxa thành Lisieux : "Giáo hội là Ịức Kitô và Ịức Kitô là tình yêu". Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.
Thánh nữ Têrêxa đã khơi gợi hàng ngàn, hàng ngàn ơn gọi làm Linh mục trên khắp thế giới. Những Linh mục ấy đã tìm thấy nơi thánh nữ một tình yêu tuyệt đối dành cho Ịức Giêsu và tình yêu Giáo hội, một ý nghĩa sâu xa trong kinh nguyện và trong sứ mệnh truyền giáo trên khắp hoàn cầu, một sự kết hợp bằng chiêm niệm và hoạt động, một mẫu gương dùng con đường tình yêu bé nhỏ và phó thác, đường nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Ngày nay, thánh nữ Têrêxa vẫn tiếp tục làm phong phú tác vụ của các Linh mục, đặc biệt là những Linh mục trẻ bị cuốn hút bởi sứ điệp tình yêu giữa lòng Giáo hội (...)
Tất cả hành trình đức tin thâu tóm trong đức cậy và đức ái. Niềm tin là niềm hy vọng của tình yêu, tin là hy vọng vào tình yêu. Phải chăng vai trò đã được quan phòng của sứ điệp của thánh nữ Têrêxa, ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ 3, chính là trả lại cho ta tình yêu và niềm hy vọng ? Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Tình yêu là để yêu thương. Trong lãnh vực tình yêu, thánh nữ Têrêxa là bậc thầy linh đạo trong tình yêu, không có dè dặt, không có tính toán, không có trung dung, không có quân bình vì con người chẳng bao giờ có thể yêu  Thiên Chúa cho xứng với tình Người yêu ta (...).
Một nữ tu hỏi thánh nữ Têrêxa : "Chị nói gì với Ịức Giêsu ?" Chị thánh trả lời : "Em không nói gì hết, em yêu Người", Chỉ tình yêu là quan trọng. (Ịức Hồng Y P.Poupard, tài liệu cho ngày ơn thiên triệu. Trích dẫn bởi Fiches dominicales, năm B)).
4. "Trong trái tim Giáo hội, tôi sẽ là Tình yêu"
(Thánh nữ Têrêxa Hài Ịồng, bản văn được trích dẫn trong tài liệu của Ủy ban quốc gia về ơn thiên triệu).
"... Sau cùng con đã tìm thấy an nghỉ& tìm trong thân thể mầu nhiệm của Giáo hội, con chẳng thấy mình trong bất cứ chi thể nào đã được thánh Phaolô miêu tả, đúng hơn con muốn có mặt trong tất cả những chi thể ấy& Ịức Ái đã cho con chìa khóa ơn gọi của con. Con hiểu rằng nếu giáo hội có một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, chi thể quan yếu nhất, cao cả nhất không thể thiếu được, con hiểu đó là Trái Tim và Trái Tim đó cháy đỏ Tình yêu. Con hiểu rằng chỉ có Tình yêu mới làm cho các chi thể của Giáo hội hoạt động và nếu tình yêu vụt tắt, các Tông đồ sẽ thôi không loan báo Tin mừng, các thánh tử đạo sẽ từ chối đổ máu& Con hiểu rằng Tình yêu phủ trùm lên mọi ơn gọi và tình yêu là tất cả, bao gồm mọi không gian và mọi thời gian. Tắt một lời, Tình yêu là vĩnh cửu !
Thế là, trong niềm vui tột đỉnh, con kêu lên : "Ôi Giêsu, Tình yêu của con& ơn gọi của con, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con chính là Tình yêu !&
Phải rồi, con đã tìm được vị trí của con trong Giáo hội. Chỗ ấy, ôi Lạy Chúa, chính Chúa đã ban cho con& Trong Trái  Tim Giáo hội, thưa Mẹ, con sẽ là Tình yêu& như thế con sẽ là tất cả& như thể giấc mơ của con đã thành hiện thực !!!..."
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và tu sĩ, chúng ta cầu xin Chúa sai đến đoàn chiên Chúa những chủ chăn tốt lành như lòng Chúa mong muốn.
1. Chúng ta hãy cầu xin cho mọi thành phần trong Hội thánh / đều tích cực quan tâm đến việc nâng đỡ, đào tạo và chọn lựa những người xứng đáng với ơn gọi làm Linh mục và tu sĩ.
2. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho tất cả những ai đang thi hành trách nhiệm làm Mục tử trong Hội thánh / biết noi gương Ịức Giêsu là mục tử tốt lành / sẵn sàng hiến thân chăm lo cho đoàn chiên Chúa đã trao phó cho mình.
3. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người trẻ biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa / và quảng đại đáp trả tiếng gọi ấy / để dấn thân vào đời sống giáo sĩ và tu sĩ
4. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người làm cha mẹ trong họ đạo chúng ta / biết giáo dục và hướng dẫn con cái sống tinh thần Tin mừng / để cống hiến cho Hội thánh những mầm giống ơn gọi tốt lành.
Chủ tế  : Lạy Chúa, lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, xin cho chúng con biết rộng rãi góp phần vào việc đào tạo Linh mục và tu sĩ, bằng lời cầu nguyện, và bằng sự giúp đỡ nhiệt tình. Chúng con cầu xin, nhờ Ịức Kitô Chúa chúng con.
VI. TRONG THÁNH LỄ - Kinh Tiền Tụng : Nên dùng Kinh Tiền Tụng Phục sinh V, trình bày Ịức Giêsu là Linh mục và của lễ.
- Trước kinh Lạy Cha : Ngày xưa Ịức Giêsu đã bảo "Chúng con hãy xin chủ ruộng đến gặt lúa của Ngài". Chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa Cha ban cho Giáo Hội có nhiều ơn gọi Linh mục để làm việc trên cánh đồng truyền giáo, để cho "Nước Cha" mau trị đến.
VII. GIẢI TÁN Rời Nhà thờ để trở lại với cuộc sống, chúng ta sẽ thấy còn biết bao người lương chưa biết Chúa, chưa yêu mến tôn thờ Ngài. Vậy anh chị em hãy tiếp tục cầu nguyện cho có thêm ơn gọi Linh mục làm việc trên cánh đồng truyền giáo.
 

PS4-B17. Tôi là mục tử nhân lành - Huyền Đồng

Chúa Nhật 4 Phục Sinh-B =  Fourth Sunday of Easter
* I am the Good Shepherd *
 

Đấng Cứu độ là Đức Kitô: Chính Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, lại trở nên: PS4-B17

*Bài đọc 1: Cvu 4, 8- 12= Đấng Cứu độ là Đức Kitô: Chính Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, lại trở nên tảng đá góc tường.
He is the stone rejected by you, the builders, which has become the cornerstone.
*Bài đọc 2: 1 Ga. 3, 1- 2= Ta sẽ thấy Người: Chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
We shall see God, We do know that when it is revealed we shall be like Him, for we shall see Him...
* Bài Tin mừng (Gospel): Gioan 10, 11-18=Muc Tử nhân lành: Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi.
The good Shepherd : I am the Good Shepherd, and I know mine and mine know Me.
A. Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )
1/ Trong câu đầu bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói rõ: ẪTôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên.Ữ Chúa xác minh là người Mục tử tốt lành hướng dẫn dân Ngài bằng sự quên mình cho tôi. Ở trong chức vụ là cha me, là nguời trách nhiệm, tôi có nhận lãnh những vất vả khó khăn hay chỉ lo thỏa mãn cá nhân mình ? Đưa ra một hai việc làm hy sinh cho người thân?
ẪI am the good shepherd. The good shepherd lay down His life for the sheep". ( Ga. 10, 11 )
2/ Đức Giêsu còn nói rõ thêm sự quan tâm đến mọi người như sau: Ẫ Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về, chúng sẽ nghe tiếng tôi...Ữ Tình yêu của Thiên Chúa không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo...Ngài muốn họ được hiệp nhất. Bạn có gây được hòa khí với những anh em khác cũng là con Chúa không? Kể một vài việc làm hòa hợp, gần gũi của bạn với tôn giáo khác?
“I have other sheep that do not belong to this fold. These also I must lead, they will hear My voice...” ( Ga. 10, 16 )
3/ Sách Tông đồ Công vụ viết như sau: ẪNgoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới vòm trời không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loai.Ữ Thánh Phêrô trong Thánh Thần đã hùng hồn tuyên bố Đức Kitô là Đấng Cứu độ. Là Tín hữu tôi đã can đảm làm gì trong môi trường sống hiện tại?
“There is no salvation in anyone else, for there is no other name in the whole world given to men...” (Cvụ 4, 12 )
4/ Thư 1 thánh Gioan cho bạn biết về tình yêu của Ngài như sau: ẪAnh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa...Ữ Bạn thấy mình có gì để đáng Chúa nhận là con, nhưng Ngài vẫn hy sinh cho bạn được sống. Bạn biết ơn Ngài bằng những hành động nào cho anh em?
“See what love the Father has bestowed on us in letting us be called children of God!...” ( 1Ga. 3, 1 )
B.Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best GodỴs Word )
Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên (Gioan 10, 11 )
The good Shepherd lay down His life for the sheep
C. Ngay bây giờ tôi phải làm gì để xứng đáng là chiên của Chúa: ( So what am I doing / For Action )
1/ Bạn có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành trong đời sống.
2/ Tôi can đảm làm một việc hiệp nhất, yêu thương cho Gia đình hay Giáo xứ mà lâu nay đã bị chia rẽ.
D. Tôi cầu nguyện với Lời Chúa và Sống lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )
- Lạy Cha, Đức Giêsu đã nói: Tôi chính là Mục tử nhân lành, hy sinh mạng sống mình cho chiên. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi. Xin cho lời nói và việc làm của con được luôn luôn giống Chúa.
- Thánh Gioan đã cho biết tình yêu của Chúa Cha đã quá yêu thương nhân loại khi nhận chúng con là con cái của Ngài. Xin cho con biết yêu thương gia đình và tha thứ cho những ai làm con phải buồn khổ.
Lời hay ý đẹp : Thương xót thật là yêu thương bằng hành động.  True compassion is love in action
Huyền Đồng
 

PS4-B18. Cha mẹ là mục tử theo gương Chúa Kitô Mục tử - Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Nếu anh bạn để ý, sẽ nhận ra rằng: các Chúa nhật đầu mùa Phục sinh, Hội Thánh muốn chúng: PS4-B18

Nếu anh bạn để ý, sẽ nhận ra rằng: các Chúa nhật đầu mùa Phục sinh, Hội Thánh muốn chúng ta suy niệm các trình thuật Tin Mừng liên quan đến biến cố phục sinh. Nhưng Chúa nhật này, cũng trong bối cảnh mùa phục sinh, Hội Thánh lại cho ta biết, Chúa Kitô là Ịấng chăn chiên lành. Bạn thử nghĩ xem, Hội Thánh muốn dạy điều gì khi làm như thế? Hội Thánh muốn dạy rằng: Chúa Kitô vẫn là Mục tử nhân lành cho đến đời đời. Chúa đã là Mục tử tốt lành hiến dâng mạng sống để cứu lấy đoàn chiên. Chính khuôn mặt đau thương của thập giá đã biểu lộ mạnh mẽ tình yêu không giới hạn của vị Mục tử tốt lành tối cao ấy. Chúa Kitô đã nói như thế về mình trong bài Tin Mừng: ẪTa thí mạng sống vì đàn chiên& Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta là Ta thí mạng sống, để rồi sẽ lấy lại. Không ai cất mạng sống của Ta, nhưng tự Ta, Ta thí mạng sống. Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lạiỮ. Và hôm nay khi đã phục sinh, Chúa vẫn tiếp tục chăn dắt đoàn chiên là từng người chúng ta, là chính bạn và tôi, bằng chính Thánh Thần của Người. Bởi qua sự hiện diện mới mẽ, hiện diện nhờ Thánh Thần, trong Thánh Thần, với Thánh Thần, sự hiện diện ấy trở nên hiện diện tròn đầy nhất: sự hiện diện thần linh, một sự hiện diện vượt trên tất cả mọi cách thế hiện diện. Chính nhờ được chăn dắt bằng Thánh Thần, đoàn chiên lãnh nhận một tình yêu Phục sinh, một sức sống mới tràn đầy. Và vì thế, mãi mãi Chúa Kitô vẫn hiện diện giữa đoàn chiên, không ngừng hiện diện, Người vẫn là Mục tử không ngừng là Mục tử. Vị Mục tử nhân từ và yêu thương vẫn không ngừng nhân từ, không ngừng yêu thương.
Như Chúa kitô, tất cả mọi người đều có thể trở thành mục tử, chia sẻ chức vị mục tử của Chúa Kitô. Nhưng cách riêng, trong lễ Chúa chăn chiên lành hôm nay, tôi muốn hướng về những ai mang trọng trách làm cha, làm mẹ.
Còn nhớ có một lần, tôi đến thăm một đôi vợ chồng trẻ. Cuộc thăm viếng này để lại trong tôi lòng cảm phục, vì đối với tôi, đôi vợ chồng này đã phải chịu đựng và vượt qua những khắc nghiệt quá sức con người. Họ là một đôi vợ chồng nghèo, có ba đứa con. Cả ba đều không hiểu biết gì, không nói được. Ịứa con trai đầu có khuôn mặt dị dạng trông rất sợ. Lúc tôi đến, anh đã đi ra rẫy, còn chị đang ngồi đan từng chiếc nan tre để kiếm thêm tiền chợ, vừa phải trông con. Chị nói về ba đứa con của chị trong nước mắt: ẪNhiều lúc con muốn chết cho rồi, nhưng nghĩ lại ba đứa con, con phải gượng sống. Cha nhớ cầu nguyện cho vợ chồng con can đảm". Bạn cứ nghĩ mà xem, trong tình cảnh đó, ta sẽ làm gì? An ủi ư? Tôi nghĩ rằng, lời an ủi lúc đó sẽ vô nghĩa, sẽ lạc điệu vô cùng. Tôi đã im lặng nghe chị kể, để người mẹ đau khổ ấy vơi bớt nỗi lòng, cũng là để sự thông cảm trong tôi lắng sâu hơn, mạnh hơn đối với những người cha, người mẹ đáng trân trọng ấy.
Người mục tử yêu mến đàn chiên thật, sẽ là người chấp nhận hao mòn sức lực, một mực bảo vệ sự sống đàn chiên. Cũng thế, ba đứa bé tật nguyền kia, nếu chúng không được sống hạnh phúc hơn do những khiếm khuyết trên cơ thể, thì trong tình yêu của cha mẹ, chúng đang sống hết sức dồi dào. Ta cứ tưởng tượng, nếu một ngày nào đó, chúng suy nghĩ được, và ai đó bảo chúng chết cho người cha, người mẹ ấy, chắc chúng sẽ không dám chối. Còn chính trong tình yêu dành cho con mình, anh chị đã trở thành mục tử giống như Chúa Giêsu mà anh chị tôn thờ. Tình yêu ấy đã làm tăng nghị lực, tăng sức mạnh, tăng sức chịu đựng. Bởi anh chị đã từng nghĩ đến cái chết để có thể tự giải thoát mình, nhưng vì những đứa con, anh chị đã vượt qua nó.
Tôi và bạn, ai cũng từng là những đứa con, và vẫn là những đứa con. Tôi cứ tin rằng, cha mẹ chúng ta là những mục tử tốt lành. Hãy sống thảo hiếu, hãy cầu nguyện và làm tất cả những gì có thể làm để cha mẹ vui lòng. Không bao giờ được phép coi khinh, hay ít là coi thường cha mẹ. Hãy yêu mến cha mẹ chúng ta. Tình yêu sẽ chỉ cho biết phải làm gì, phải sống thế nào để gọi là hiếu thảo!
Còn các bậc cha mẹ, ta vui mừng nhận thấy những người cha, người mẹ Công giáo đều yêu thương con mình và chăm lo cho con tận tình tận lực. Họ yêu con, nhưng không có nghĩa là chìu chuộng con, nhưng biết giáo dục con, cho con ăn học, lo cho con từng chén cơm khi con đói, từng viên thuốc khi con ốm đau…
Chúa Kitô đã làm trọn vai trò Mục tử nhân lành của Người khi nhập thể làm người để cùng sống kiếp người với chúng ta. Người đã chịu tử nạn, đã phục sinh để chứng minh rằng Người yêu ta bằng cả cuộc đời, bằng cả cuộc sống của Người. Ngoài hình ảnh Chúa Kitô Mục tử, tôi đã kể câu chuyện về đôi vợ chồng trẻ kia để chứng minh rằng, đã từng có những bậc làm cha, làm mẹ phản chiếu hình ảnh mục tử của vị Mục tử nhân lành tối cao kia. Bạn và tôi hãy xem đó, và hãy bắt chước. Lòng yêu thương mang một trái tim mục tử của những bậc cha mẹ như thế, chắc chắn sẽ không có đứa con nào có thể đan tâm phủ nhận được.
Như Chúa Kitô Mục tử, xin kính chúc những người cha, người mẹ cũng là những mục tử tốt lành. Như chúng ta yêu mến Chúa Kitô, xin chúc những người làm con cũng biết yêu thương cha mẹ mình.
Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
 

PS4-B19. TA LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH

Mark Link S.J.
Chủ đề: Vị Mục Tử Nhân Lành tự hiến mạng sống mình để chia sẻ với chúng ta sự sống Phục sinh của Ngài.
 

Laura Bell không phải là một mẫu sinh viên tốt nghiệp đại học, điển hình của quí bạn. Sau khi: PS4-B19

Laura Bell không phải là một mẫu sinh viên tốt nghiệp đại học, điển hình của quí bạn. Sau khi tốt nghiệp xong, cô chọn nghề chăn cừu tại Wyoming. một số bạn bè nghĩ rằng cô ta « khùng ». Nhưng vì muốn thách thức nên Laura đã chấp nhận nghiệp vụ ấy.
 Mỗi ngày cô làm việc tới 18 tiếng đồng hồ và làm suốt cả 7 ngày trong tuần. Cô làm từ sáng sớm và chỉ nghỉ vào lúc mặt trời lặn. Suốt thời gian này cô hoàn toàn cô đơn chỉ biết bầu bạn với chú chó, chú ngựa và hai ngàn chú cừu. Mỗi tuần lễ một lần có người cưỡi ngựa băng qua đồi mang đến cho cô thực phẩm, thư từ và những băng đạn.
 Công việc của Laura làm sao giữ cho đàn cừu ở chung một chỗ. Dẫn chúng đến chỗ có cỏ và nước, đồng thời bảo vệ chúng khỏi thú dữ. Cô nói; ẪKhi bạn hoàn toàn một mình ở ngoài ấy, thì chẳng có ai để sửa đổi lầm lỗi của bạn cả. Vì thế các bạn phải cảnh giác gấp đôi để coi chừng những hiểm nguy có thể xảy ra, chẳng hạn có những loài rắn cực độc, và cũng đừng làm điều gì khiến cho chú ngựa của quí bạn phải bực mình đấy nhé!Ữ.
 Laura nói rằng việc thay đổi thời tiết là một trong những niềm vui của nàng nhưng nó cũng gây cho nàng những cơn nhức đầu ghê gớm nhất. Thời tiết sẽ qui định những động thái của bầy cừu cũng như tính chất ngày làm việc của nàng. Một buổi sáng nọ, một nhóm cừu tự rời khỏi bầy chính, thế là Laura bỏ thời gian còn lại trong ngày lần theo dấu vết chúng; ngay khi nàng vừa tìm thấy chúng thì một cơn mưa bão dìm ngập nàng lẫn bầy cừu trong nước mưa, đêm ấy, nàng phải chịu rét run trong đống mền ướt sũng nước.
***
  Câu chuyện của Laura Bell cho chúng ta thấy  nghề chăn cừu thời nay khó khăn cực nhọc như thế nào. Nhưng ngày xưa nghề chăn cừu còn cực khổ hơn thế nữa. Bởi vì họ chả có ngựa, chó hoặc súng để gíup họ thi hành công việc. Họ chỉ có chính bản thân họ thôi. Điều này khiến cho công việc của họ trở nên cực kỳ nguy hiểm.
 Tôi xin dùng một thí dụ để làm sáng tỏ.
 Câu chuyện trong sách Samuel quyển I kể lại cho chúng ta về chàng David trẻ tuổi đã tình nguyện giao đấu với Goliath tên khổng lồ người Philistine. Đức vua từ chối và bảo với chàng: ẪChú mày chỉ là một thằng nhóc còn hắn thì cả một đời làm chiến binh chuyên nghiệp rồi!Ữ. David trả lời: ẪTâu Bệ Hạ, Thần từng chăm sóc bầy cừu của phụ thân thần. Bất cứ khi nào có một con sư tử hay một con gấu cướp đi một con chiên, lập tức thần rượt theo, tấn công nó để cứu con chiên. Và nếu con sư tử hay con gấu ấy quay vào tấn công thần, thần xông đến chộp cổ họng nó và đánh nó cho đến chết. Thần đã giết nhiều sư tử và gấu, vậy thần cũng sẽ làm thế đối với gã Philistine ngoại đạo nàyỮ (1 Sm 17 : 34-36)
 Tất cả chúng ta đều biết câu chuyện tiếp diễn ra sao. David đã đánh bại Goliath bằng cách dùng một cái ná; loại vũ khí mà người mục tử trước kia thường dùng này có thể sánh với khẩu súng hiện đại. Nhưng mạng sống các mục tử ngày xưa không chỉ bị đe doạ từ phía thú dữ mà còn từ phía những kẻ sống phi pháp và các tên thổ phỉ. Trong quyển sách viết về Thánh Địa mang tựa đề ẪMảnh đất và quyển sáchỮ (The Land and the Book) ; W.M. Thomson ghi lại câu chuyện bi đát này.
 Một ngày nọ có chàng mục đồng trẻ tuổi dẫn bầy súc vật đi về vùng lân cận ngọn núi Tabor. Bỗng có ba tên cướp người Ả Rập Xuất hiện. Chàng thanh niên biết rõ điều chàng sẽ gánh chịu, thế nhưng chàng đã không bỏ trốn. Chàng kiên cường chiến đấu để giữ cho bầy súc vật của chàng khỏi rơi vào tay lũ thổ phỉ. Đoạn cuối được kết thúc bằng cái chết liều mạng của chàng thanh niên cho đàn cừu của chàng.
***
 Ngày xưa, đề tài người mục tử xả thân cho bầy chiên là một nguồn hứng khởi cho các văn sĩ Thánh Kinh khiến họ mô tả Thiên Chúa như một Đấng Mục Tử. Thiên Chúa đã xả thân cho Israel không khác gì người Mục tử, vì thế tác giả Thánh Vịnh đã hát lên:
« Đức Chúa là mục tử tôi,
 tôi không hề thiếu chi...
 Dù phải đi qua thung lũng tối đen Tôi cũng không hề lo sợ » (Tv 23, 1-4)
 Từ đó các nhà lãnh đạo tôn giáo của Israel thay mặt Chúa ở trần gian, cũng được ví như các vị mục tử. Tiếc thay, theo thời gian, vai trò lãnh đạo tôn giáo của Israel đã bị thoái hoá. Khi điều này xảy ra, tiên tri Ezechiel đã nhân danh Chúa nói lên: ẪHỡi các mục tử của Israel, các ngươi đã bị băng hoại rồi! Các ngươi chỉ biết lo cho bản thân mình chứ chẳng hề nghĩ đến bầy chiên& các ngươi chẳng chăm sóc những con yếu đuối, chữa lành những con bệnh hoạn, băng bó những con bị thương tích, dẫn về những con lệch đường, hoặc tìm kiếm những con bị lạc mất. Vậy hỡi các chủ chăn, hãy nghe đây, Ta, vị Chủ Tể tối cao, ta tuyên bố rằng& Ta sẽ tách bầy chiên ra khỏi các ngươi& Ta sẽ giao chúng cho một vì vua giống như David tôi tớ ta để làm mục tử của chúng và Người ấy sẽ lo lắng chăm sóc chúngỮ (Ez 34 : 2-4, 9-10, 23).
 Vậy chúng ta phải đọc bài Tin Mừng hôm nay trong bối cảnh này. Đức Giêsu nói: ẪTa là mục tử nhân lành, sẵn sàng liều mạng vì đàn chiên& Chúng sẽ nghe tiếng Ta và chúng sẽ trở nên một đàn chiên dưới quyền một chủ chiênỮ.
 Nói cách khác, Đức Giêsu chính là nhân vật mà ngôn sứ Ezekiel tiên báo. Giống như David người mục tử nhân lành, Ngài chăm sóc những con yếu đuối bơ vơ, chữa lành con nào bệnh hoạn, và đi tìm những con lạc đường mất lối. Đức Giêsu còn làm hơn thế nữa. Ngài tự hiến mạng sống cho đàn chiên của Ngài. Và Ngài lại còn làm hơn như thế. Ngài đã sống lại từ cõi chết và chia xẻ đời sống Phục sinh của riêng Ngài với đàn chiên.
 Đây chính là điều thánh Phêrô nhắc nhủ trong bài đọc thứ nhất ngày hôm nay. Ngài nói với dân chúng rằng chính nhờ quyền năng Đức Giêsu mà người tàn tật ấy được chữa lành. Ngài mời gọi dân chúng tin vào Chúa Giêsu để được chữa lành phần hồn giống như kẻ tật nguyền được chữa lành phần xác. Đây cũng là điều thánh Gioan nhắc nhớ trong bài đọc thứ hai hôm nay; nhờ Chúa Giêsu, Thiên Chúa Cha đã làm cho chúng ta trở nên con cái riêng của Ngài.
 Chúng ta phải đáp lại tất cả những lời đó cách nào đây?
 Trước hết, chúng ta hãy tỏ lòng biết ơn đối với Chúa Giêsu, vì nhờ sự chết và sống lại của Người chúng ta được cứu khỏi phải chết đời đời để được sống vĩnh viễn.
 Đây là điều thánh Gioan nhắm nói đến trong bài đọc thứ hai; ẪCác bạn thân mến, hiện giờ chúng ta là con cái Chúa, nhưng vẫn chưa bíêt rõ chúng ta sẽ trở nên thế nào, tuy nhiên chúng ta biết rằng khi Đức Kitô hiện ra, chúng ta sẽ nên giống như Ngài. Bởi vì Ngài thế nào thì chúng ta sẽ nhìn thấy Ngài như vậyỮ.
 Thứ đến chúng ta phải cởi mở tâm hồn mình với Đức Giêsu, vì Ngaì đang ở với chúng ta ngay lúc này để tiếp tục công việc cứu rỗi của Ngài.
 Ngài vẫn tiếp tục chăm sóc kẻ yếu đuối, chữa lành người đau ốm, băng bó người bị thương tích, đem người lầm lạc trở về và tìm kiếm những người đã lạc mất.
 Đức Giêsu quả là Mục tử nhân lành mà Thiên Chúa đã hứa ban cho chúng ta. Ngài không chỉ hiến mình vì chúng ta hơn 2000 năm về trước, mà vẫn còn tiếp tục cư ngụ giữa chúng ta và thông ban sự sống phục sinh của riêng Ngài cho chúng ta nữa.
 

PS4-B20. TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH

N. Quesson
“...Người mục tử tốt lành hy sinh mạng sống cho dân chiên”.
 

Trên một tờ báo y học ở Achentina, bác sĩ Gioan Cootê (Jean Cortez) đã kể lại một trường hợp đặc: PS4-B20 FB

 Trên một tờ báo y học ở Achentina, bác sĩ Gioan Cootê (Jean Cortez) đã kể lại một trường hợp đặc biệt chính ông chứng kiến. Ông chữa bệnh cho một bé gái tên là Angien. Bé Angien bị ung thư bao tử, một bệnh ít khi xảy tới cho người trẻ tuổi. Sau mấy lần giải phẩu và điều trị đủ cách, ông đành báo tin buồn cho bà mẹ rằng ông chịu bó tay, bé Angien đã chết.
 Mẹ em bé, bà Maria gần hoá điên trước tin này. Bà không cho ai đụng tới thi thể con gái và quì cầu nguyện lâu giờ bên giường em. Bác sĩ Cortez nghe bà cầu xin Chúa để bà chết thay cho con. Ông rất cảm động, làm hiệu cho mọi người ra ngoài để bà mẹ một mình với con. Lúc trở lại, ông bỡ ngỡ thấy em Angien đứng bên giường, dáng vẻ rạng rỡ khoẻ mạnh. Còn bà mẹ gục đầu trên giường và thều thào với bác sĩ Cortez: Thưa bác sĩ, Chúa đã nhận lời tôi. Bác sĩ Cortez cho làm mọi loại thử nghiệm và thấy em Angien đã hoàn toàn khỏe mạnh không còn dấu vết đau ốm nào. Còn bà Maria thì đang hấp hối vì bệnh ung thư bao tử, căn bệnh mà con gái bà đã mắc từ hai năm nay. Các thân nhân xúm quanh bà mẹ, an ủi và hứa chăm sóc bé Angien chu đáo, vài giờ sau, bà tắt thở. Bác sĩ Gioan Coóctê kết luận: « Tôi không thể giải thích chuyện này vì rõ ràng em bé đã chết. Một nguồn lực siêu nhiên đã chứng giám và can thiệp vào tình mẫu tử mạnh mẽ mà của bà mẹ ».
 Tình mẫu tử khiến bà Maria sẵn sàng chết thay con. Người ta lý giải cường độ mạnh mẽ của tình mẫu tử là vì chính bà mẹ đã chia sẻ cuộc sống cho con. Hai mẹ con dường như chỉ có một sự sống duy nhất. Và Chúa Giêsu đã muốn dùng hình thức sự sống này để diễn tả ý này bằng nhiều cách: « Ta là bánh sự sống, Ta là ánh sáng thế gian; Ta là cửa; Ta là mục tử nhân lành; Ta là cành nho; Ta là sự sống lại và là sự sống ». Còn chúng ta là con người được nuôi dưỡng bằng bánh sự sống, chúng ta là chiên, là cành nho, được thông ban sự sống của Chúa. Vì thế, Người sẵn sàng chết để cứu độ chúng ta.
 Lời lẽ của Chúa hoàn toàn khác biệt với bất cứ một người sáng lập học thuyết, tôn giáo nào. Kiểu nói làm ta nghĩ tới Thiên Chúa, Đấng mạc khải tên mình cho Môisê; Đấng đã phán từ bụi gai bừng cháy, Ta là Đấng tự hữu.
 Danh hiệu Người Mục tử đã thành cổ điển trong mọi nền văn hoá Đông Phương. Chúa là Mục tử chân chính, khác hẳn với những người chăn thuê, làm mướn, vì chỉ có Mục tử chân chính, mới sẵn sàng hiến mạng vì chiên. Chúa đã thực hiện điều này để chúng ta thấy rõ Tình yêu của Người, thấy rằng Chúa là Mục tử duy nhất chân thực, vị Mục tử nhân lành đã hy sinh mọi thứ vì đàn chiên, kể cả tài sản quý hoá nhất, đó là mạng sống mình, nhất nữa đó lại là mạng sống của Chúa, mạng sống mà chúa tự nguyện hy sinh. Cái chết của Chúa không phải bất ngờ, không phải chịu thua bạo lực, nhưng là một hiến ban hoàn toàn ý thức và tự do. Chúa chết như một hành động yêu thương... Một Tình yêu tột đỉnh (Ga 13,1; 15,13)
 Chúa là Mục tử thực, Chúa biết rõ các chiên và các chiên biết Chúa. Hiểu biết này không phải chỉ là nhận thức, nhưng là thấu hiểu là chia sẻ cuộc sống. Một hiểu biết ở mức độ chặt chẽ nhất, cao thượng nhất: Như Cha biết Ta và Ta biết Cha. Tình thân giữa chúa với những người được Chúa cứu chuộc bằng cái chết của Người cũng chính là tình thân mật giữa các ngôi vị Thiên Chúa, và chúng ta được thông hiệp trong sự sống, trong tình yêu của Thiên Chúa cao cả.
 Kinh thánh dùng từ ngữ đoàn chiên để nói về dân Israel: Chúa Giêsu đã mở rộng từ này tới một giới hạn vô tận: Ta còn nhiều chiên khác ngoài đoàn, Ta phải đem tất cả về, và sẽ chỉ còn một đoàn chiên, một Mục tử, chúng ta có sứ mệnh cùng Chúa thực hiện mục tiêu của tình yêu lớn lao cao cả đó.
 Lạy Chúa, xin giúp chúng con là những người cộng tác với Chúa, được chu toàn nghĩa vụ loan báo Tin.
 

PS4-B21. TRÁCH NHIỆM

Gm. Arthur Tonne
 

Gió cát và các vì sao” là tựa đề một cuốn sách hấp dẫn của công tước Saint Exupery, một tai: PS4-B21

“Gió cát và các vì sao” là tựa đề một cuốn sách hấp dẫn của công tước Saint Exupery, một tai nạn đặc biệt gợi ý cho ông. Tác giả và bạn ông là Guillaumet chở thơ qua dãy núi Andes cho chính phủ Chilê. Một buổi sáng kia bạn ông cất cánh trong cơn bão tuyết. Băng đóng trên cánh màn tuyết dày đặc, gió thổi dữ dội làm máy bay không vượt qua được dãy núi, buộc bạn ông phải hạ cánh trên mặt Hồ nước mênh mông.
 Guillaumet đào một hang trú ẩn ngay dưới phòng lái và lấy bao đựng thơ tấn xung quanh. Ông trú ẩn ở đó 2 ngày đêm. Khi cơn bão ngưng, ông phải mất năm ngày năm đêm tìm đường trở về, bò trên hai tay và hai đầu gối dưới nhiệt độ 20 độ âm.
 Làm sao ông đã cố gắng bò về được mặc dù ông đuối sức muốn nằm lại nghỉ? Ông đã nghĩ đến vợ, đến con ông họ đang cần ông. Ông đã nghĩ đến trách nhiệm phải đem thư. Ông sống sót, mặc dù tay chân ông quá lạnh cứng phải cắt đi. Khi Saint Exupery tả lại Kinh nghiệm chua chát; và sự cố gắng sinh tồn vượt mức của bạn ông. Ông tóm gọn trong một câu: ẪLà người, phải có trách nhiệmỮ.
 Đây cũng là điều Đức Giêsu nó tới trong ngày hôm nay. Trách nhiệm. Đấng chăn chiên lành có trách nhiệm về đoàn chiên, về chúng ta. Người phi công trong câu chuỵện cảm thấy trách nhiệm với gia đình , vì ông yêu họ, Đức Giêsu có trách nhiệm với chúng ta, vì Người yêu chúng ta, Người phi công ý thức trách nhiệm phải đưa thư, Đức Giêsu ý thức trách nhiệm cứu chuộc thế giới. Người là Đấng chăn chiên lành. Người hy sinh mạng sống cho đàn chiên: Bạn và tôi.
 Cũng như Chúa, chúng ta phải có tinh thần trách nhiệm. Cha mẹ có trách nhiệm với lợi ích thể xác và tinh thần của con cái, những thành phần của gia đình có trách nhiệm với nhau, cha sở có trách nhiệm với mỗi linh hồn trong họ đạo gồm cả người lương, người bỏ đạo và người trễ nải. Cũng vậy, người trong họ đạo có trách nhiệm với gia đình của Chúa và với mỗi phần tử cá nhân. Đức Giám Mục của chúng ta có trách nhiệm với mỗi người trong địa phận của ngài. Đức Thánh Cha có trách nhiệm trên toàn thế giới. Trách nhiệm vô cùng nặng nề.
 Các thầy, cô, các viên chức trong trừơng có trách nhiệm với mọi học sinh. Các công chức từ viên chức xã ấp tới Tổng Thống đều có trách nhiêm nặng nề, Bác sĩ, cảnh sát, tá viên, tài xế, quản đốc và công nhân; tất cả đều có trách nhiệm về việc làm của mình đối với người khác.
 Hôm nay, chúng ta nghĩ tới một số người đặc biệt, tôi cho rằng họ có trách nhiệm lớn lao nhất trên địa cầu; Các bà mẹ của chúng ta. Họ đáp ứng được những đòi hỏi của con cái. Họ đem nguồn sống cho thế giới. Họ hy sinh mọi cái cho sức khoẻ thể xác và tinh thần của chồng, con họ, tôi cảm phục các bà mẹ hôm nay vì họ lãnh trách nhiệm và chu toàn trách nhiệm đó. Xin Chúa chúc lành cho các bà mẹ của chúng ta. Và xin Chúa chúc lành cho tất cả những ai làm tròn trách nhiệm với ơn phù giúp mà Chúa ban cho chúng ta, từ bàn thánh này. Xin Chúa chúc lành bạn.
 

PS4-B22. Chúa chăn chiên lành. Mục Tử của các Mục Tử.

Sách "DIEU SI PROCHE" (Thiên Chúa thật gần)
Tôi là người mục tử tốt lành.
 

Hằng ngày tại Palestine thời Chúa, người ta vẫn gặp thấy những người chăn chiên đang chăn: PS4-B22

Hằng ngày tại Palestine thời Chúa, người ta vẫn gặp thấy những người chăn chiên đang chăn dắt đàn cừu của họ, ngay cả trên những đường thành phố Giêrusalem. Họ là những con người cục mịch, có khuôn mặt dạn dầy nắng gió, nhưng lại rất lành nghề trong việc chăm sóc đoàn vật, luôn sẵn sàng bảo vệ đàn vật. Từ xa người ta nghe những tiếng gù gù gọi đàn và tiếng đàn cừu kêu be be.
 Quang cảnh thường nhật đó đã làm nên một hình tượng. Dân Israel coi vua là người mục tử chăn dắt đoàn chiên dân nước. Trong Kinh Thánh Cựu Ước, chính Thiên Chúa được ví như một người mục tử. Sau khi giải phóng dân tộc riêng của Ngài khỏi xiềng xích Ai Cập, Ngài đã dẫn dắt dân Ngài Ẫnhư dẫn dắt đoàn chiên qua sa mạc"( Tv.78, 52 ) đưa đến những cánh đồng cỏ xanh tươi là Đất hứa Canaan. Sau cùng, khi dân tộc Israel hướng về tương lai trong nỗi chờ mong Đấng Thiên Sai, họ đã nhớ lại những lời Thiên Chúa hứa với họ qua miệng ngôn sứ Edêkien: "Ta sẽ cho chỗi dậy trên chúng một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng" ( Ez,34,23).
  Trong bối cảnh đó, chúng ta dễ tưởng tượng ra những gương mặt rạng rỡ, những tấm lòng cháy bỏng nhiệt tình của dân chúng khi họ nghe Đức Giêsu nói với họ:ỮTôi là Mục tử nhân hậu, là người chăn chiên tốt lành". Người mục tử này lành nhưng không hiền: Đức Giêsu dứt khoát chống lại những mục tử làm thuê, canh gác đoàn chiên để lấy tiền công, chứ không thực bụng yêu thương chăm sóc đoàn chiên.(Một số bậc kinh sư, Biệt phái cảm thấy mình bị Chúa ám chỉ ). Đồng thời với thái độ lên án đó, Đức Giêsu tự giới thiệu Ngài là người mục tử mà toàn dân đợi trông qua bao thế hệ nhọc nhằn gian khổ.
 Đức Giêsu cũng là mục tử khác thường, với cung cách xử sự khiến ta ngạc nhiên. Ngài dám Ẫbỏ" 99 con chiên trung thành, tức là cả đàn chiên, để đi tìm một con chiên lạc. Để sau cùng chính Ngài phải lâm vào bước “lạc loài", khi Ngài hiến dâng mạng sống mình vì đàn chiên thân yêu.
 Đức Giêsu đã không muốn tập hợp một đoàn chiên mù lòa, gồm những "con cừu Panurge", chỉ biết hùa theo đàn. Chúa muốn mỗi "con chiên", tức mỗi người tín hữu, hãy ý thức mình là một người tự do, là một người có trách nhiệm về anh em mình. Mỗi tín hữu, nói cho cùng, phải là một người mục tử, người chăm sóc đoàn chiên, theo sức lực, địa vị của mình. Mục tử Giêsu không ngừng kêu gọi ý thức mục tử nơi mỗi con chiên của mình.
 

PS4-B23. MỤC TỬ NHÂN LÀNH- ĐC Ngô Quang Kiệt

Dân Do thái là dân du mục. Cuộc đời họ gắn liền với đoàn vật và những đồng cỏ. Nên khi Đức: PS4-B23

Dân Do thái là dân du mục. Cuộc đời họ gắn liền với đoàn vật và những đồng cỏ. Nên khi Đức Giê-su đưa ra hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, người Do thái hiểu ngay tức khắc. Đức Giê-su đã dùng hình ảnh quen thuộc ấy để nói lên mối liên hệ của ta với Người và của Người với ta. Người là Mục tử nhân lành. Ta là đoàn chiên của Người. Người lãnh đạo đoàn chiên không phải bằng uy quyền áp chế, bằng kỷ luật khắc nghiệt, nhưng bằng tình yêu tha thiết. Tình yêu của Người được biểu lộ qua ba khía cạnh: hiểu biết, quan tâm chăm sóc và hi sinh cho đoàn chiên.
Tình yêu của Đức Giê-su là tình yêu hiểu biết.
Sự hiểu biết này không phát xuất từ lý trí, do học hỏi, nhưng phát xuất từ trái tim, do tình yêu. Khi yêu, trái tim trở nên vô cùng nhậy bén đến độ hiểu được hết những gì mà trí óc con người không hiểu thấu, nghe được hết những âm thanh của tâm hồn, mà tai người thường không nghe thấy, nhìn thấy hết những gì ẩn kín trong tâm hồn mà mắt thường không nhìn thấy, cảm nhận được hết những chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn mà không một nhà tâm lý học nào có thể cảm được. Khi Đức Giê-su nói: ‘Ta biết chiên Ta’, có nghĩa là Người hiểu biết từng người trong chúng ta. Người không chỉ hiểu rõ hoàn cảnh sinh sống của chúng ta, mà còn thấu rõ tâm tư tình cảm của ta. Người biết những gánh nặng mà ta đang phải gánh. Người thông cảm với những đau đớn mà ta đang phải chịu. Người đau những nỗi đau trong tâm hồn ta. Người khổ những nỗi khổ đang dày vò ta. Người nhức nhối trong vết thương của tâm hồn ta.
Tình yêu của Đức Giê-su là tình yêu quan tâm chăm sóc.
Sự hiểu biết sâu xa đến từ sự quan tâm chăm sóc. Sự quan tâm chăm sóc cũng phát xuất từ tình yêu. Có yêu mới quan tâm. Có quan tâm mới hiểu biết nhu cầu. Có hiểu biết nhu cầu mới biết đường chăm sóc. Đức Giê-su yêu thương ta nên Người quan tâm đến ta. Người biết rõ những nhu cầu của ta. Người chăm sóc ta. Có những tình yêu muốn chiếm hữu. Đó là thứ tình yêu ích kỷ. Có những chăm sóc khiến ta trở nên ấu trĩ, yếu ớt, không lớn lên được. Đó là thứ chăm sóc độc đoán, ràng buộc. Đức Giê-su chăm sóc không phải để ràng buộc ta, nhưng để giúp ta sống trong tự do. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên ấu trĩ, nhưng là để giúp ta trưởng thành. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên yếu ớt nhút nhát, nhưng là để giúp ta mạnh mẽ, tự tin. Vì thế, Người cung cấp cho ta những lương thực lành mạnh. Người đưa ta đến những đồng cỏ non, đến những giòng suối trong. Lương thực Người mang đến, đó là Lời Chúa, là Mình Máu Thánh Chúa, là Thánh ý Chúa Cha. Những lương thực ấy sẽ cho ta được sống và sống dồi dào.
Tình yêu của Đức Giê-su là tình yêu hi sinh.
Đây chính là dấu chỉ chắc chắn nhất của một tình yêu. Càng yêu nhiều càng sẵn sàng hi sinh nhiều. Yêu đến sẵn sàng hi sinh mạng sống là một tình yêu cao cả không có gì sánh được. Đức Giê-su đã xác nhận điều ấy khi Người nói: ’Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hi sinh mạng sống mình cho bạn hữu’ (Ga 15, 13). Chính Người đã thực hiện điều ấy. Người là Mục tử nhân lành sẵn sàng liều mạng, một mình chống lại sói dữ để bảo vệ đoàn chiên. Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Người đã chấp nhận chết đi để ta được sống.
Hạnh phúc cho ta được là đoàn chiên của Người. Ta được an ủi, vì Người hiểu ta. Ta an tâm, vì Người hằng quan tâm chăm sóc ta. Ta sung sướng, vì Người yêu thương đến nỗi chết vì ta.
Người muốn ta chia sẻ hạnh phúc ấy cho mọi người.
Người muốn ta lớn mạnh để đến lượt ta, chính ta trở thành mục tử nhân lành theo gương Người. Cha mẹ là mục tử của con cái. Thày cô giáo là mục tử của học sinh. Giám đốc là mục tử của công nhân. Y bác sĩ là mục tử của bệnh nhân. Anh chị lớn là mục tử của các em nhỏ.
Nhưng đặc biệt hơn hết, Người muốn có những người tiếp tục công việc của Người, chăm sóc đời sống tâm linh nhân loại. Chính vì thế, Giáo hội dành ngày hôm nay để cầu nguyện cho ơn kêu gọi làm linh mục. Nhìn tình hình chung trên toàn thế giới, và riêng trong Giáo phận Lạng sơn, ta thấy còn thiếu rất nhiều linh mục. Giáo dân cần linh mục như bệnh nhân cần bác sĩ. Giáo dân cần linh mục như học sinh cần thầy cô giáo. Giáo dân cần linh mục như một người bạn sẵn sàng cảm thông, chia sẻ vui buồn trong đời sống và như người bạn đồng hành giúp đỡ trong cuộc hành trình tiến về đời sau.
Hãy cầu nguyện cho có nhiều thanh niên sẵn sàng hiến thân làm linh mục. Hãy khuyến khích con cháu dâng mình cho Chúa, làm linh mục để phục vụ anh em. Nhất là hãy cầu nguyện cho các linh mục được trở nên những mục tử như Đức Giê-su, vị Mục Tử nhân lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hi sinh bản thân vì lợi ích của đoàn chiên.
Lạy Đức Giê-su, Mục Tử nhân lành, xin hãy ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa. Xin biến chúng con thành những mục tử tốt lành trong gia đình, trong khu phố, trong xã hội. Amen.
Kiểm điểm đời sống:
1- Đức Giê-su hướng dẫn đoàn chiên bằng cách nào ? Bằng quyền lực hay bằng tình yêu thương ?
2- Bạn có cảm thấy trách nhiệm là mục tử của mình không ? Bạn đã đối xử với đoàn chiên của mình thế nào ?
3- Bạn nghĩ gì về đời sống tu trì ?
 

PS4-B24. CHÚA CHIÊN LÀNH

Trong kho tàng chuyện cổ người Kơ-ho có nhiều câu chuyện rất ấn tượng nói lên tổ tiên, cha mẹ, nguồn: PS4-B24

Trong kho tàng chuyện cổ người Kơ-ho có nhiều câu chuyện rất ấn tượng nói lên tổ tiên, cha mẹ, nguồn gốc, tình yêu và những sự việc đời thường. Ông tổ của người Kơ-ho tên Xơ-rơ-đen có nguồn gốc thần Mặt Trời. Người Dân Tộc Kơ-ho coi Xơ-rơ-đen là vị Tổ Phụ có uy quyền luôn chăm sóc thần dân: bảo vệ và nâng đỡ dân với tất cả sức mạnh vĩ đại của mình. Đọc lại ngọn nguồn, gốc tích của người Kơ-ho, tôi có cảm tưởng Xơ-rơ-đen cũng giống như Đa-vít hoặc Sa-lô-mon lo lắng cho bàn dân thiên hạ. Đa-vít là vị vua xuất thân từ nghề chăn cừu, lên ngôi vua, Đa-vít đã hiểu rõ dân, ông có lòng yêu thương dân. Sa-lô-mon trị vì dân với tất cả sự khôn ngoan Thiên Chúa ban tặng cho vua. Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh được gọi Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Chúa là Mục Tử Tốt Lành đã tự hiến mình để chia sẻ với nhân loại Sự Sống Phục Sinh của Ngài.
MỘT CÂU CHUYỆN – MỘT CUỘC ĐỜI
Tác giả W.M. Thompson trong tác phẩm viết về Thánh Địa mang tựa đề The Land and The Book ( Mảnh Đất và Quyển Sách ), đã kể lại một câu chuyện rất bi đát như sau: ”Một hôm có một chàng mục đồng chăn dẫn bầy cừu tiến về vùng núi Ta-bo để kiếm cỏ cho bầy chiên và nước uống cho chúng. Bỗng có ba tên cướp người Ả-rập  đi tới. Chàng mục đồng hiểu rõ những khó khăn, nguy hiểm sẽ xẩy tới với chàng, nếu chàng không bỏ bầy cừu mà chạy trốn. Chàng mục đồng can đảm, kiên trung chống lại bọn cướp. Tác phẩm kết thúc bằng cái chết liều mạng của chàng mục tử hy sinh để cho đàn chiên không bị tản mác”.
Câu chuyện này làm tôi liên tưởng tới một giai thoại mà một già làng đã kể cho tôi từ lâu: ”...Số là ông tổ Xơ-rơ-đen rất thương dân làng, một hôm có một cô gái bị cọp vồ, Xơ-rơ-đen liền nhảy tới chụp hai chân cọp giơ cao và đập nó xuống đất, nằm chết cứng đờ trước sự chiêm ngưỡng của dân làng. Cô gái tên K’ Nga được giải thoát khỏi nanh cọp và dân làng được bữa nhậu bí tỉ, thịt cọp nướng với rượu cần. Dân làng ai ai cũng ca ngợi lòng dũng cảm của Xơ-rơ-đen, ông tổ của người Kơ-ho”. Trong Cựu Ước, người mục tử hy sinh vì đàn chiên là nguồn cảm hứng cho các văn thi sĩ, khiến họ mô tả Thiên Chúa là Mục Tử hy sinh vì mọi người. Tác giả thánh vịng 23 đã viết lên: ”Đức Chúa là mục tử của tôi...”
Vì thế các nhà lãnh đạo tôn giáo của Ít-ra-en cũng được coi như các vị mục tử lãnh đạo dân. Lúc đầu, họ tốt lành nhưng từ từ thoái hóa khiến ngôn sứ Ê-dê-ki-ên phải thốt lên: ”...Ta sẽ tách bầy chiên ra khỏi các ngươi... Ta sẽ giao chúng cho một vì vua giống như Đa-vít tôi tớ Ta, để làm mục tử của chúng và Người ấy sẽ lo lắng chăm sóc chúng” ( Ed 34, 2 – 4, 9 – 10, 23 ). Chúa Giê-su là nhân vật mà ngôn sứ Ê-dê-ki-ên loan báo trước. Như vua Đa-vít, vị mục tử nhân hậu, Chúa Giê-su tới để cho chiên được sống và sống dồi dào ( Ga 10, 10 ). Chính Ngài đã xác định: ”Tôi chính là Mục Tử Nhân Lành. Mục Tử Nhân Lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” ( Ga 10, 11 ). Chúa Giê-su còn hơn vua Đa-vít, còn hơn cả Xơ-rơ-đen hay chàng mục tử ( The Land and The Book ), Ngài đã hy sinh đổ máu mình, chịu chết trên thập giá vì tội của toàn nhân loại mà Ngài còn thực hiện điều không ai có thể làm được là Ngài đã sống lại sau ba ngày bị táng trong mồ và chia xẻ đời sống phục sinh của Ngài với nhân loại, với từng người.
Một câu chuyện, một cuộc đời thực tế đã xảy ra cách đây hơn hai ngàn năm. Sự sống, cuộc đời của Chúa Giê-su Phục Sinh đã làm cho nhiều người được tràn ân phúc, được thấy sự sống mới đó là trường hợp của người tàn tật nhờ quyền năng của Chúa Giê-su Phục Sinh được Phê-rô chữa lành. Đó là nhờ Chúa Giê-su, mà Thiên Chúa Cha đã làm cho mọi người được trở nên con cái Thiên Chúa, trở thành con riêng của Người và như thế Chúa Giê-su Phục Sinh vẫn luôn ở với nhân loại, để nhân loại có Sự Sống Mới Vĩnh Cửu. Chúa Phục Sinh vẫn luôn có mặt giữa con người, giữa Giáo Hội và thế giới để thông ban Sự Sống Thần Linh cho nhân loại…
CHÚA PHỤC SINH ĐANG HIỆN DIỆN VÀ TIẾP TỤC CỨU CHỮA MỌI NGƯỜI:
Tôi còn nhớ trong Mùa Chay vừa qua, khi tôi đang cùng anh em trong Nhà Xứ điểm tâm, có một anh chị em Dân tộc tới, chó sủa vang, tôi chỗi dậy khỏi bàn ăn và ra sân gặp họ. Tôi hỏi: ”Các con đi đâu đó ?” ( Tăng bol kon lòt tèh ? ) Họ trả lời: ”Chúng con đi xưng tội”. Tôi nhẹ nhàng bảo: ”Các cha mới giải tội mấy ngày nay mà !” Họ trả lời: ”Chúng con mới xưng tội, nhưng lại phạm tội nữa, nên chúng con lại đi xưng tội với Chúa, với Cha”. Câu trả lời của họ thật đơn sơ, nhẹ nhàng và thành thật.
Thì ra, Linh Mục, người Mục Tử thay mặt Chúa quả rất cần thiết cho nhân loại, cho con người. Tôi tự nghĩ: Chúa là vị Mục Tử Nhân Hậu luôn yêu thương, săn sóc các chiên bệnh hoạn, tật nguyền, luôn băng bó vết thương cho các chiên bị thương, ghẻ lở, luôn quy tụ chiên tản mác và tìm kiếm những chiên đã lạc mất. Và, lại một hình ảnh ấn tượng đã hiện lại trong đầu óc tôi: Số là một buổi chiều khi cử hành Lễ thứ ba Chúa Nhật xong, một anh Dân Tộc Kơ-ho tới tìm tôi đến xức dầu cho một cụ già trong làng cách xa 15 cây số, tôi uống miếng nước lọc, rồi lấy sách, Dầu Thánh, Mình Thánh Chúa đi ngay theo anh K’But. Tôi tới nhà, nhiều người đã tụ tập quanh người bệnh, tôi cầu nguyện cho cụ già, xức dầu, giải tội, ban Phép Lành Tòa Thánh và cho cụ chịu lễ. Đêm hôm đó, cụ già được Chúa gọi về...
Tôi cảm thấy hạnh phúc vì Chúa là Chúa mà đã hy sinh đến tận cùng bằng cái chết thập giá vì tội nhân loại... Các vị Mục Tử của Chúa họa lại hình ảnh Chúa cũng phải sẵn sàng như Ngài vì phần rỗi của mọi người. Hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho Ơn Gọi Linh Mục và Ơn Gọi Thánh Hiến của những người nam người nữ, cầu xin Chúa ban cho có nhiều tâm hồn quảng đại và nhiều cha mẹ, gia đình sẵn sàng dâng hiến con mình cho Chúa.
Lạy Chúa xưa Chúa đã phán: Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt, xin Chúa sai thêm thợ tới các cánh đồng để gặt lúa, để phục vụ và... ”cả các anh nữa hãy vào làm trong vườn nho của Ta “.
Lm. Giu-se NGUYỄN HƯNG LỢI, DCCT
 

PS4-B25. NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH HÔM NAY

1.         Mục tử tốt và xấu trong xã hội và Giáo Hội
 

Xã hội nào cũng đều có tổ chức, cơ cấu, trong đó luôn luôn có những người lãnh đạo, điều khiển. Trong: PS4-B25

Xã hội nào cũng đều có tổ chức, cơ cấu, trong đó luôn luôn có những người lãnh đạo, điều khiển. Trong các tôn giáo cũng thế. Trong lịch sử Do-thái, những người lãnh đạo dân chúng được gọi là mục tử ( x. Gr 10, 21; Ed 37, 23 – 24 ): chẳng hạn như vua Sa-un, vua Đa-vít. Ki-tô Giáo, vốn tiếp nối truyền thống Do-thái, cũng gọi những người lãnh đạo trong Giáo Hội ( như Linh Mục, Mục Sư, Giám Mục, Hồng Y, Giáo Hoàng ) là Mục Tử. Những Mục Tử hay những người lãnh đạo ấy thường được xã hội hay tôn giáo tạo cho những điều kiện thuận lợi và trao cho những phương tiện hữu hiệu để có thể thi hành hữu hiệu công việc lãnh đạo đó: chẳng hạn địa vị, chức vụ, quyền bính, tiền bạc, tiếng nói... Những điều kiện và phương tiện này là một thứ dao hai lưỡi. Nó có thể giúp các mục tử hay các nhà lãnh đạo phục vụ dân chúng hay các tín hữu hữu hiệu hơn. Nhưng nó có thể làm tha hóa, biến chất các mục tử khi sử dụng nó. Và nó cũng có thể bị những kẻ lắm tham vọng tìm cách đạt tới để lợi dụng nó, để phục vụ cho những tham vọng hay lợi ích cá nhân của mình, của gia đình hay phe nhóm mình.
Như vậy, chiếu theo thái độ đối với những điều kiện và phương tiện mà xã hội hay tôn giáo dành cho những người lãnh đạo hay mục tử, ta có thể có 2 loại mục tử tương ứng:
Mục tử tốt: là những người lãnh đạo thật sự có ý hướng phục vụ dân chúng hay các tín hữu, chứ không nhằm lợi ích cho riêng mình. Họ sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội hay Giáo Hội trao cho hoàn toàn để phục vụ tha nhân và công ích.
Mục tử xấu: là những người lãnh đạo không nhắm phục vụ dân chúng, mà nhắm đạt được những điều kiện và phương tiện thuận lợi kia để hưởng thụ hoặc chỉ để thăng tiến bản thân, thỏa mãn những tham vọng riêng tư.
Loại sau này còn bao gồm những mục tử bị tha hóa, là những người lãnh đạo khởi đầu có ý hướng tốt, nhưng khi tiếp xúc hay sử dụng những điều kiện hay phương tiện xã hội trao cho, thì bị chúng hấp dẫn, mê hoặc và làm cho biến chất, để cuối cùng trở thành những mục tử xấu.
2.         Mục tử tốt và xấu trong bài Tin Mừng và trong Thánh Kinh
Trong bài Tin Mừng hôm nay ( Ga 10, 11 – 18 ), Đức Giê-su mô tả và đối chiếu hai loại mục tử ấy: một loại được gọi là Mục Tử Nhân Lành, còn loại kia là kẻ chăn chiên thuê.
Mục Tử Nhân Lành thì: “hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên”, “tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi... chúng sẽ nghe tiếng tôi”. Ngài tự nhận mình chính là mục tử loại này. Trong Thánh Kinh có rất nhiều câu mô tả những đức tính tốt của những Mục Tử Nhân Lành, mà chính Thiên Chúa là mô hình gương mẫu nhất:
– Yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” ( Is 40, 11 ).
– Yêu quý từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc” ( Mt 18, 12-13 ).
– Lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ” ( Ed 34, 14 ).
– Làm cho chiên được sống no ấm, hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” ( Tv 23, 1 ); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” ( 23, 4 ).
– Tinh thần trách nhiệm đối với đàn chiên rất cao: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng” ( Ed 34, 16 ).
– Cứu thoát, giải phóng đàn chiên: “Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên” ( Dc 9, 16 ).
Tóm lại, người Mục Tử tốt thật sự yêu thương đàn chiên, sẵn sàng hy sinh cho sự an nguy và hạnh phúc của đàn chiên. Thậm chí như Đức Giê-su, người Mục Tử tuyệt vời nhất, sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình: coi sự sống còn của đàn chiên quý hơn cả sự sống mình.
Kẻ chăn chiên thuê hay mục tử xấu thì: “không thiết gì đến chiên”, “khi thấy sói đến liền bỏ chiên mà chạy: sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn”. Thánh Kinh cũng có nhiều câu mô tả hạng mục tử này với những đặc tính:
– Vô trách nhiệm: “Con chiên nào mất, nó chẳng quan tâm; con thất lạc, nó chẳng đi tìm; con bị thương, nó không chạy chữa; con mạnh khoẻ, nó chẳng dưỡng nuôi” ( Dc 11, 16a ); “Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm” ( Ed 34, 4 )
– Chỉ nghĩ tới hưởng thụ, sẵn sàng bóc lột: “Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, mà đàn chiên lại không lo chăn dắt” ( Ed 34, 3 ). Thậm chí bóc lột đến tận xương tủy: «Con nào béo thì chúng ăn thịt, rồi lóc luôn cả móng” ( Dc 11, 16b )
– Ích kỷ, vụ lợi, đầy tham vọng: “Chúng là lũ chó đói, ăn chẳng biết no. Thế mà chúng lại là mục tử ! Cả bọn, chẳng trừ ai, chỉ mưu tìm lợi lộc cho riêng mình” ( Is 56, 11 ).
– Tàn bạo, độc ác: “Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” ( Ed 34, 3 ); “Các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng” ( Gr 23, 2b ).
– Tác hại vô cùng đến đàn chiên: ”Các ngươi đã làm cho đàn chiên của Ta phải tan tác” ( Gr 23, 2 ).
Tóm lại, mục tử xấu coi đàn chiên chỉ là phương tiện, bắt chúng phải hy sinh phục vụ cho lợi ích riêng tư của mình, không một chút tình thương đối với chúng. Nhưng kết cục của hạng mục tử này rất bi thảm: “Khốn cho mục tử vô tích sự đã bỏ mặc đàn chiên. Gươm sẽ chặt đứt tay nó, sẽ chọc mắt phải của nó. Cánh tay của nó sẽ khô đét, và mắt phải của nó sẽ mù loà” ( Dc 11, 17 ); “Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác (...) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng. Này Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng phạt các ngươi. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa” ( Gr 23, 1 – 2 ).
3.         Hãy trở nên những Mục Tử Nhân Lành
Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su tự xưng mình là Mục Tử Nhân Lành, luôn yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Khi tự xưng như thế không phải để chúng ta nể phục cho bằng để chúng ta bắt chước, noi gương Ngài trong công việc “mục tử” của chúng ta. Chúng ta thường giới hạn ý nghĩa của từ “mục tử” này, đến nỗi chỉ áp dụng nó cho những người lãnh đạo tôn giáo. Thật ra, tất cả những ai đảm trách việc lãnh đạo, từ một gia đình đến một phường, một tỉnh, hay một quốc gia, từ một hội đoàn, một Xứ Đạo, đến một Giáo Phận, một Giáo Hội địa phương hay Giáo Hội toàn cầu, một cách nào đó, đều có thể gọi là mục tử. Ước chi mọi mục tử đều biết thật sự yêu thương đàn chiên của mình và lãnh đạo chúng một cách sáng suốt ! Ước chi mọi cha mẹ đều yêu thương con cái, mọi Cha Xứ đều sẵn sàng hy sinh phục vụ Giáo Dân, mọi Giám Mục đều hết lòng chăm sóc các Linh Mục và Giáo Dân dưới quyền mình ! Ước chi mọi vị lãnh đạo xã hội và đất nước biết quên những quyền lợi riêng tư để nghĩ đến lợi ích chung của dân chúng !
Mọi quốc gia, mọi Giáo Hội, đều rất cần những vị Minh Quân, những Mục Tử Nhân Lành. Cần hơn cả việc có thật đông những cá nhân tài giỏi, xuất sắc. Câu chuyện sau đây minh họa điều đó.
Có hai người thuộc hai quốc gia nói chuyện với nhau:
– Tôi rất khâm phục đất nước anh, vì nước anh có rất nhiều anh hùng.
– Thế đất nước anh có nhiều anh hùng không ?
– Rất tiếc, đất nước tôi ít anh hùng lắm !
– Lạ nhỉ, đất nước tôi nhiều anh hùng thế mà sao vẫn cứ nghèo nàn và lạc hậu, còn đất nước anh không có anh hùng mà sao lại phát triển và giàu có như vậy ?
– À, đất nước tôi thì bù lại, được khá nhiều vị minh quân !
Thì ra chỉ một vị Minh Quân – hay Mục Tử Nhân Lành – cũng đủ quý giá và ích lợi cho đất nước và Giáo Hội hơn nhiều anh hùng hay cá nhân xuất sắc hợp lại ! Cầu mong cho đất nước và Giáo Hội Việt Nam có được những minh quân !
Lạy Cha, xin Cha hãy ban cho Giáo Hội và đất nước con nhiều vị Mục Tử Nhân Lành hơn ! Xin cho các nhà lãnh đạo đất nước và Giáo Hội con biết thật sự yêu thương người dân cũng như các tín đồ của mình hết lòng và sẵn sàng hy sinh phục vụ họ. Có như thế, đất nước và Giáo Hội con mới tiến bộ lên được. Amen.
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT
 

PS4-B26. ƠN GỌI PHỤC VỤ

Chúa Nhật 4 Phục Sinh, Lễ Chúa Chăn Chiên Lành, Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Thiên: PS4-B26

Chúa Nhật 4 Phục Sinh, Lễ Chúa Chăn Chiên Lành, Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Thiên Triệu. Chúa Giê-su Mục Tử Nhân Lành chính là mẫu gương tuyệt hảo cho mọi Ơn Gọi Phục Vụ.
1. Chúa Giê-su là Mục tử nhân lành:
Từ Áp-ra-ham cho đến Mô-sê, Đa-vít, biết bao Tổ Phụ Do-thái đã từng là những người chăn chiên. Từ kinh nghiệm của nghề chăn chiên, họ đứng ra lãnh đạo dân tộc. Quan niệm của họ về Thiên Chúa cũng dựa trên kinh nghiệm đó nên họ gọi Thiên Chúa là Mục Tử và coi mình là đoàn chiên của Ngài.
Các Ngôn Sứ thường dùng hình ảnh này để nói về tương quan thân tình giữa Thiên Chúa và dân của Người. Nhất là trong Sách Ngôn Sứ E-dê-ki-en chương 34, Sách Giô-na chương cuối và Thánh Vịnh 23. Đặc biệt chương 10 Phúc Âm Thánh Gio-an: Chúa Giê-su là Mục Tử Nhân Lành, là Cửa chuồng chiên. Mục tử và đàn chiên là một hình ảnh rất đẹp gắn liền với dân du mục. Khác với hình ảnh những đứa trẻ chăn trâu, chăn bò ở làng quê Việt Nam, chúng đi sau đàn vật. Người mục tử đi trước đàn chiên, dẫn chiên đến đồng cỏ xanh tươi, tìm suối mát cho chiên, dẫn về đàn những con chiên lạc, bảo vệ chiên khỏi thú dữ, biết từng con chiên một.
Chúa Giê-su là Mục Tử Nhân Lành, mọi Ki-tô hữu là đàn chiên của Chúa. Chúa ban cho đàn chiên sự sống cách dồi dào, đó là sự sống đời đời. Mỗi con chiên đều quý giá vô ngần đối với Chúa. Người hy sinh mạng sống vì chiên. Mối tương giao này giống như tương giao Chúa Cha và Chúa Con, dựa trên sự hiểu biết riêng tư về nhau tức là trên tình yêu.
Không những là mục tử, Chúa Giê-su còn là Cửa: “Tôi là cửa cho chiên ra vào.Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu.Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ”. Câu trả lời đó khẳng định Chúa Giê-su chình là Cửa Cứu Độ.
Cánh cửa mở ra một chân trời mới: Cánh cửa tương lai; Cánh cửa đại học; Thời mở cửa; Bước qua ngưỡng cửa Hy Vọng; Cửa Nước Trời. Tại sao Chúa Giê-su là Cửa Cứu Độ ? Bởi vì Ngài là trung gian duy nhất và trọn hảo giữa Thiên Chúa và nhân loại. Ngài có vai trò thủ lãnh trong sự thánh hoá. Ngài thông truyền giáo huấn Thiên Chúa. Ngài đền tội và cầu khẩn cho nhân loại trước mặt Thiên Chúa. Ngài thâu hợp toàn thể nhân loại và vũ trụ cho Thiên Chúa. Khi nhập thể, Ngài thông truyền ân sủng Thiên Chúa cho mọi chi thể. Bằng hy lễ Cứu Độ Thập Giá trong tâm tình vâng phục yêu mến Chúa Cha, Ngài lập nên công phúc cứu độ loài người. Đức Giê-su Phục Sinh vinh quang mở đầu cho sự giao hoà giữa Thiên Chúa và nhân loại đưa nhân loại về với Thiên Chúa để dự phần đời sống Thần Linh cách dồi dào phong phú. Như thế Đức Giê-su là Cửa Cứu Độ duy nhất, là người mở đầu, là Đấng hướng dẫn, thông truyền ân sủng nên Người là Mục Tử Tốt Lành vì đem lại sự sống phong phú và dư đầy cho đàn chiên.
Ki-tô Giáo là đạo đi từ con người tới Thiên Chúa. Đây quả thật là “Đạo bất viễn nhân”, không xa nhưng rất gần gũi với con người. Bởi lẽ đạo ấy đi vào chính giữa lòng đời, đã nhập thể vào chính cuộc đời, làm men, làm muối, làm ánh sáng để biến đổi lòng người, biến đổi trần thế.
Thánh Grệ-gô-ri-ô Cả nói rằng: Chúng ta đi theo Chúa Giê-su là đi theo con đường cứu độ, được nuôi dưỡng nơi đồng cỏ xanh tươi muôn đời. Quả thế, đồng cỏ của những người được chọn là chính thánh nhan Thiên Chúa luôn hiện diện. Khi con người không ngừng chiêm ngưỡng thánh nhan, lòng trí họ được thoã thuê mãi mãi nhờ lương thực ban sự sống. Vậy hãy tìm kiếm đồng cỏ này, hãy làm cho lòng bừng cháy niềm khát khao những kho tàng trên Trời.
2. Đức Giê-su vị Mục Tử hết mình phục vụ đoàn chiên
Cả cuộc đời Đức Giê-su từ khi nhập thể làm người đến chết và phục sinh có thể tóm tắt cách đơn giản là phục vụ đoàn chiên vì yêu thương. Đỉnh cao phục vụ là thí mạng vì đoàn chiên. Việc gặp gỡ Người, kết hợp với Người sẽ dần dần biến đổi chúng ta trở nên những người phục vụ. Mỗi người Ki-tô hữu đều có trách nhiệm phục vụ anh chị em mình trong tư cách tham dự vào trách nhiệm Mục Tử của Đức Giê-su.
Trong sứ điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Thiên Triệu năm nay,Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 đã chọn chủ đề Ơn Gọi Phục Vụ. Khởi đi từ Đức Ki-tô: Người không đến để phục vụ,”nhưng để phục vụ và trao ban mạng sống để cứu chuộc nhiều người” ( Mt 20, 28 ). Người đã rửa chân cho các môn đệ và tuân phục chương trình của Chúa Cha cho đến chết, chết trên Thánh Giá ( x. Pl 2, 8 ). Vì thế, Chúa Cha đã tôn vinh Người, ban cho Người một danh hiệu mới và đặt Người làm Chúa trên trời dưới đất ( x. Pl 2, 9 – 11 ). Đức Thánh Cha xác định: Một cách huyền nhiệm, ơn gọi phục vụ luôn là một ơn gọi thông phần một cách rất riêng tư vào trong sứ vụ cứu độ” ( số 2 ). ”Ơn Gọi Linh Mục hoặc Ơn Gọi Tu Trì, bởi chính bản chất của nó,luôn là những ơn gọi để quãng đại phục vụ Thiên Chúa và người lân cận” ( số 3 ).
Đức Thánh Cha đã từng nói rằng: ”Trong thời đại chúng ta, một thời đại tuy đã bị tục hoá, giải thiêng nhưng vẫn được thúc đẩy đi tìm sự thánh thiện; một thời đại rất cần có những vị thánh làm sáng tỏ sự hiện diện đầy yêu thương và quan phòng của Thiên Chúa. Nhân loại đang cần có những linh mục thánh thiện và những tâm hồn được thánh hiến, họ là những người ngày ngày sống hết mình cho Thiên Chúa, cho tha nhân, họ là những bậc cha mẹ sống chứng nhân ngay trong bầu khí gia đình nhờ ân sủng của bí tích hôn nhân, họ là những người trẻ có kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô và được Người thu hút để hướng dẫn anh chị em đồng loại tới cội nguồn tin mừng” ( Sứ Điệp Ngày Thế Giới Cầu cho Ơn Thiên Triệu lần thứ 36 ).
Ngài gởi lời mời gọi thiết tha đến các bạn trẻ: “Cha hy vọng các con có thể biết cách lắng nghe tiếng Thiên Chúa mời gọi các con phục vụ. Đó là con đường mở ra biết bao hình thức của sứ vụ vì lợi ích của cộng đoàn: từ các tác vụ được phong cho đến các tác vụ khác nhau được thiết lập và được nhìn nhận là những thừa tác vụ, như dạy Giáo Lý, linh hoạt Phụng Vụ, giáo dục giới trẻ và những diễn tả khác nhau về đức ái” ( Số 4 ).
3. Ai phục vụ Thầy, người ấy phải theo Thầy
Một xã hội thiếu bóng dáng những người sống đời tận hiến là một xã hội thiếu lòng quãng đại, một xã hội bị khủng hoảng về ý nghĩa cuộc sống. Chính sự có mặt của những người sống đời tận hiến phục vụ như là một nhắc nhở rằng, con người có khả năng sống yêu thương, phục vụ như Đức Ki-tô và sống quãng đại hy sinh dấn thân cho người khác.
Những người trẻ lớn lên thường lập gia đình, điều đó thật tốt đẹp. Nhưng Chúa Giê-su vẫn muốn một số người trẻ dâng hiến đời mình cho Chúa, ở bên Chúa cách đặc biệt để được sai đi. Vì thế Đức Thánh Cha nhắn nhủ những người trẻ ”Lời mời gọi của Chúa Giê-su vẫn còn vang vọng ngày hôm nay “Nếu ai phục vụ Thầy, người ấy phải theo Thầy” ( Ga 12, 26 ). Đừng e ngại đón nhận lời mời gọi này. Chắc chắn các con sẽ gặp phải những khó khăn hy sinh, nhưng các con sẽ hạnh phúc khi phục vụ, các con sẽ là chứng nhân của niềm vui mà thế gian không thể ban tặng. Các con sẽ là những ngọn lửa sống động của một tình yêu vô biên và vĩnh cửu. Các con sẽ nhận biết những phong phú thiêng liêng của chức vụ Linh Mục, quà tặng và mầu nhiệm thần linh” ( Số 5 ).
Người sống đời tận hiến chấp nhận hy sinh quyền được lập một tổ ấm. Họ dâng tình yêu lứa đôi cho một tình yêu cao hơn trong Ơn Gọi Tu Trì để có thể yêu mãnh liệt và bao la hơn.Đức Thánh Cha khẳng định: “Họ không tìm kiếm những lợi lộc vị kỷ, nhưng hiến mình cho kẻ khác, khi cảm nghiệm niềm vui của tính nhưng không qua việc hiến tặng bản thân” ( số 4 ).
Người đi tu là người muốn nên trọn lành, muốn đạt đến đỉnh cao của sự toàn thiện. Cũng tựa như người leo núi, muốn có ánh sáng thì phải lên cao. Để lên cao phải vất vả, nhiều khi phải leo lên những sườn dốc cheo leo. Leo núi là một cuộc mạo hiểm. Đó không phải là một cuộc dạo chơi nhàn hạ.Nó đòi hỏi sức khoẻ, sức chịu đựng dẻo dai, tài khéo léo và nhất là sự can đảm. Đời sống tu trì cũng vậy. Nó đòi hỏi một sức khoẻ tinh thần, thể xác, sự khôn ngoan, nhẫn nại, lòng can đảm, sức chịu đựng bền bỉ. Nếu không người ta sẽ sợ hãi chóng mặt, dừng lại và rút lui. Đổi lại, người leo núi được hưởng những niềm vui mà người khác không biết đến. Đó là, được ở trong ánh sáng không bao giờ tắt, được chiêm ngưỡng cảnh trời đất bao la hùng vĩ, cảnh mây bay lững lờ tận dưới xa chân mình, càng leo những núi cao càng khám phá ra muôn vàn những đỉnh núi khác.
4. Cầu nguyện cho những người Mẹ
Ơn Gọi Tu Trì là ân huệ đến từ Thiên Chúa. Gia đình là Chủng Viện đầu tiên, Dòng Tu đầu tiên ươm mầm ơn gọi phát triển.Các bậc cha mẹ là những người phát hiện và vun trồng cho Ơn Gọi lớn lên, trổ sinh hoa trái.
Bài Tin Mừng hôm nay đặc biệt thích hợp cho các người Mẹ. Giống như người mục tử, giống như Chúa Giê-su, một bà mẹ luôn có mối tương giao gần gũi sâu sắc với đàn con cái. Người Mẹ yêu thương chăm sóc từng đứa con, tuỳ tính tình mỗi đứa để có cach giáo dục thích hợp. Không gì mà người Mẹ không làm để bảo vệ con khỏi nguy hiểm. Bà sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ để tìm kiếm đứa con lầm đường lạc lối trở về.
Ơn Gọi Tu Trì thường do người Mẹ phát hiện và dìu dắt từng bước. Hầu như Linh Mục nào cũng giống Mẹ và rất kính yêu Mẹ của mình. Tấm lòng người Mẹ bao la như biển cả. Trái tim người Mẹ nhân hậu bao dung như đất trời. Bởi vậy Ngày Thế Giới Cầu Cho Ơn Thiên Triệu cũng cần dành lời cầu nguyện đặc biệt cho mọi người Mẹ trên thế giới. Xin cho mọi người Mẹ luôn sống vai trò Mục Tử Nhân Lành với con cái và luôn biết quãng đại dâng con mình cho Chúa, cho Giáo Hội trong Ơn Gọi Phục Vụ.
Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết
 

PS4-B27. Mục Tử tốt lành

Bài đọc 1: Cv 4, 8-12; Bài đọc 2: 1 Ga 3, 1-2; Tin Mừng: Ga 10, 11-28
Kính thưa ….
 

Trong Chúa Nhật 4 Phục Sinh, bài Tin Mừng của cả ba năm phụng vụ đều được chọn đọc trong: PS4-B27

Trong Chúa Nhật 4 Phục Sinh, bài Tin Mừng của cả ba năm phụng vụ đều được chọn đọc trong đoạn 10 của Phúc Âm theo thánh Gioan nói về người Mục Tử. Do đó, Chúa Nhật 4 Phục Sinh hôm nay được chọn làm ngày cầu cho ƠN THIÊN TRIỆU.
Do đó, trong giờ chia sẻ này, xin mời cộng đoàn cùng với tôi chiêm ngắm lại hình ảnh của Đức Kitô, Vị Mục Tử nhân lành để cảm tạ lòng thương xót của Ngài. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để mỗi người chúng ta cầu nguyện nhiều hơn cho Giáo Hội luôn có nhiều Mục Tử tốt như lòng Chúa mong ước. Nhờ đó, khát vọng của Đức Kitô: ẪTa còn những chiên khác không thuộc đàn này; cả những chiên đó, Ta cũng phải mang về đànỮ sớm trở thành hiện thực.
1. Mục Tử tốt lành:
Có lẽ hình ảnh của người mục tử và đàn chiên khá xa lạ với chúng ta, những người làm nghề biển. Tuy nhiên, đối với người Do thái thì đây lại là một hình ảnh khá quen thuộc. Đối với dân Do thái lúc bấy giờ, chăn nuôi là một trong những nghề nghiệp chính của họ. Họ cho đàn súc vật của họ đi ăn khá xa nhà, có khi cả mấy tuần mới về (x. St 37, 12-36). Đến tối, họ tập trung cả đàn súc vật lại một nơi, có tường đá bao quanh đề phòng nạn trộm cắp hoặc thú dữ đến sát hại. Như thế, trong suốt thời gian cho đàn chiên của mình đi ăn, đời sống của những người chăn chiên coi như gắn liền với đàn chiên. Do đó, có một mối thân tình rất lớn giữa họ và đàn chiên. Họ biết rõ từng con chiên một. Mỗi khi có một con chiên bị lạc. Họ liền đi khắp nơi để tìm kiếm cho bằng được (x. Sm 9, 3-4).
Vì thế, khi nói: ẪTa là mục tử tốt lànhỮ. Đức Giêsu đã gợi lại nơi các thính giả của Ngài một hình ảnh thật thân quen và gần gũi. Đồng thời, Đức Giêsu cũng xác định rõ sự khác biệt giữa người mục tử tốt lành và người chăn thuê.
1.1 Biết chiên:
Trước hết, để chứng tỏ mình là ẪNgười mục tử tốt lànhỮ, Đức Giêsu nói: ẪTa biết các chiên TaỮ. Khi dùng từ ẪbiếtỮ ở đây, Đức Giêsu không chỉ muốn nói đến cái biết ở bên ngoài, nhưng là cái biết theo nghĩa Kinh Thánh, nghĩa là cái biết tận bên trong, một cái biết thân mật, thắm thiết, như vợ chồng biết nhau như lời sách Sáng Thế: ẪAđam biết Eva, vợ ông, và bà đã có thaiỮ (St 4, 1). Hơn nữa đối với thánh Gioan, ẪbiếtỮ ở đây còn là cái biết của tình yêu, nghĩa là cái biết kết hợp cả hai nên một như lời cha ông chúng ta vẫn thường nói: ẪMình với ta tuy hai mà mộtỮ. Còn Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay thì nói: ẪTa biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta. Cũng như Cha biết Ta và Ta biết ChaỮ. Đó là ẪCái biếtỮ khiến cho Ba Ngôi trở nên Một.
Quả thật, là Mục Tử tốt, Đức Giêsu thấu rõ tất cả con người của chúng ta như lời tác giả Thánh vịnh: ẪLạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ, biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa, & Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết. Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con... Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài, lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan?Ữ (Tv 139, 1-7). Cùng chung một cảm nghiệm đó, thánh Augustin trong tác phẩm ẪTự thúỮ, cũng đã thốt lên: ẪLạy Chúa, con là người thế nào, thì Chúa đã thấu tỏỮ.
Chính vì biết rõ những giới hạn, bất toàn, yếu đuối của chúng ta, nên Đức Giêsu đã hết lòng thương xót chúng ta đến nỗi sẵn sàng thí mạng vì chúng ta. 1.2 Thí mạng vì chiên:
Như vậy, dấu chỉ thứ hai của người Mục Tử tốt lành là sẵn sàng Ẫthí mạng sống vì chiênỮ. Đức Kitô đã hết lòng yêu thương, chăm sóc đàn chiên là chúng ta đến độ sẵn sàng thí mạng mình cho đàn chiên. Sự thí mạng này là kết quả của một tình yêu tự hiến hoàn toàn cho người mình yêu, như lời Đức Giêsu mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng: ẪKhông ai cất mạng sống Ta được nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta; Ta có quyền thí mạng sống TaỮ. Việc Đức Giêsu chịu chết để đền tội cho nhân loại là ý Chúa Cha, nhưng đồng thời, cũng là ý của Đức Giêsu. Chính tình yêu đã làm cho ý muốn của Chúa Giêsu trở nên một với ý muốn của Chúa Cha. Chính vì thế, thánh Gioan, vị tông đồ của tình yêu đã mời gọi chúng ta: ẪCác con thân mến, các con hãy coi: tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta là thế nào, khiến chúng ta được gọi là con Thiên Chúa và sự thật là thế Ữ. Đức Giêsu Mục Tử đã chết và Phục Sinh để cho tất cả chúng ta, những kẻ đã cùng chết với Ngài nhờ bí tích Rửa tội, trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là ẪAbba, Cha ơi!Ữ (x. Rm 8, 15-17)
Đức Giêsu cũng chính là Người Mục Tử tốt lành đã thí mạng mình để cứu chiên khỏi sói dữ, hay nói đúng hơn là để cho chiên được sống và sống dồi dào (x. Ga 10, 10). Điều này đã được thánh Phêrô mạnh mẽ làm chứng trước toà Công Nghị của người Do thái, sau khi các ngài đã chữa lành cho một người què nhân danh Đức Giêsu: ẪChính nhờ Danh Đức Giêsu Kitô Nazareth, Chúa chúng ta, Người mà chư vị đóng đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống lại, chính nhờ Danh Người mà anh nầy được lành mạnh như chư vị thấy đâyỮ.
2. Chúng ta hôm nay:
Nhìn vào mẫu gương người Mục Tử tốt lành của Đức Kitô, chúng ta cũng cần suy nghĩ lại về đời sống của mình. Thông thường, khi nói đến Mục Tử, chúng ta thường nghĩ đến các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ& nói chung là hàng Giáo phẩm. Tuy nhiên, trong địa vị của mình, mỗi người chúng ta cũng đang là một mục tử. Trong gia đình, cha mẹ chính là mục tử cho con cái. Chúng ta sẵn sàng hy sinh làm lụng, vất vả, thức khuya dậy sớm, để lo cho con cái, nhưng như thế vẫn chưa đủ, người mục tử tốt là người biết rõ chiên của mình. Chúng ta có biết rõ chiên (con cái) của mình không? Chúng đang ở đâu? Đọc sách gì? Làm gì? Chơi với những bạn bè nào? Chúng đang có tâm sự gì? Chúng có gặp khó khăn gì trong cuộc sống? Đời sống đạo đức của chúng ra sao?& và nhiều vấn đề khác nữa. Lắng nghe lời Chúa hôm nay chính là cơ hội để chúng ta kiểm điểm lại tư cách mục tử của chúng ta trong gia đình.
Cũng thế, những người có trách nhiệm trong từng cộng đoàn, từng giới, các Giáo lý viên& cũng là mục tử cho những người mình có trách nhiệm. Chúng ta có biết rõ hoàn cảnh của từng người và sẵn sàng hy sinh thời giờ, cơ hội, khả năng cho họ không? Hay là chúng ta chỉ là những người chăn thuê, đến làm việc theo giờ?
Rộng hơn, mỗi người cũng là mục tử cho chính mình và cho bạn bè của mình. Vì chính Chúa Phục Sinh đã giao nhiệm vụ cho mỗi người chúng ta phải đưa bản thân chúng ta và mọi người về với Chúa, để rồi Ẫchỉ có một đàn chiên và một chủ chiên Ữ.
Cuối cùng, mỗi người chúng ta là chiên của Đức Kitô Mục Tử tối cao. Chúng ta hãy sẵn sàng nghe tiếng Ngài qua Kinh Thánh, qua Giáo Hội, qua Đức Giám Mục Giáo phận và các cộng tác viên của các ngài là các Linh Mục mà Chúa gởi đến hướng dẫn chúng ta, như lời Đức Giêsu đã nói: ẪChiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo TaỮ.
Chớ gì tham dự ngày lễ hôm nay, mỗi người chúng ta ý thức hơn về tình yêu của Đức Giêsu Mục Tử dành cho từng người chúng ta, để từ đó, chúng ta luôn biết cảm tạ bằng cách chu toàn nhiệm vụ mục tử của mình trong đời sống thường ngày theo mẫu gương của Ngài. Đồng thời, nhân ngày cầu nguyện cho ơn Thiên Triệu, chúng ta cũng không quên, cầu xin Chúa ban thêm cho Giáo Hội có nhiều Mục Tử như lòng Chúa mong ước. Amen.
Lm Trần Thanh Sơn
 

PS4-B28. Chúa Chiên Lành

Để nêu rõ chúng ta được Thiên Chúa yêu dấu ở những nội dung nào, thánh Gioan tông đồ liệt: PS4-B28

Để nêu rõ chúng ta được Thiên Chúa yêu dấu ở những nội dung nào, thánh Gioan tông đồ liệt kê tước vị, phẩm giá và tương lai của người tín hữu như con cái Đức Chúa Trời. Đây là những nguyên do chính yếu khiến thế gian ghét bỏ họ và khinh bỉ các thực tại siêu nhiên. Chúng ta suy nghĩ từng điểm một.
1. Thế gian không hề thấu hiểu người tín hữu. (câu 2).
Thế gian ở đây theo nghĩa xấu. Tức thế giới vô đạo, tục hoá hoặc căm thù những kẻ mang danh Đức Ki-tô. Một khi không biết Thiên Chúa là Cha Đức Ki-tô và những tín hữu, thì làm sao họ có thể thấu hiểu tính làm con trong Đức Ki-tô của các tín hữu? Nội dung của nó đi xa tới đâu? Người không có đạo hoàn toàn mù tịt về thế giới siêu nhiên vô hình thì không thể hiểu phần tâm linh của người có đạo: Tin những gì? Thực hành tôn giáo ra sao? Cho nên các tín hữu thường bị hiểu lầm!
Ngược lại kẻ tin kính Đức Giêsu tự biết mình là con Thiên Chúa trong Đức Ki-tô. Họ luôn được giáo dục như thế suốt dòng lịch sử Giáo hội, từ thời các thánh Tông đồ. Họ còn được chia sẻ Thần Trí của Con Thiên Chúa. Thần Trí này thúc đẩy họ hoan hỉ chấp nhận các thực tại siêu nhiên, não trạng siêu nhiên và tâm tình hiếu thảo như Đức Ki-tô. Thánh Gioan không ảo tưởng về tính thù ghét của thế gian nên hạ bút viết cho các tín hữu: ẪBóng tối đã chối từ Ánh sángỮ (Ga 1,5). Do đó, quyền bính phần đời luôn tìm cách loại bỏ những kẻ xưng tụng danh Đức Ki-tô là lẽ thường tình. Thời nào cũng vậy.
Như thế đời sống người tín hữu ở giữa thế gian, nhưng không thuộc về nó. Khi này lúc khác họ sẽ chịu bách hại, khổ cực lớn lao (Kh 8,14). Nếu như không phải chịu bách hại, thì họ vẫn luôn là kẻ xa lạ giữa thế gian, tối thiểu về những điểm cốt yếu tạo thành đời sống Kitô hữu. Nhất là về mối tương giao mật thiết của họ với Thiên Chúa.
2. Chúng ta được gọi là Con Thiên Chúa. (câu 1).
Điểm suy nghĩ căn bản ở mục này không phải ơn gọi trở nên Con Thiên Chúa, mà là danh xưng phù hợp với thực tại. Con Thiên Chúa là tên thực sự của mỗi tín hữu. Vì tên này Thiên Chúa cứu chuộc và ban cho chúng ta vinh quang. Chúa Giêsu Kitô xứng đáng danh hiệu Con Đấng Tối Cao do bản chất và công nghiệp của Ngài. Nhưng loài người cũng được hưởng danh hiệu đó trong ý nghĩa dẫn xuất, tức từ tính làm Con của Đức Ki-tô. Ý nghĩa này vừa tập thể vừa cá nhân. Tập thể là toàn bộ nhân loại, cá nhân là từng thành viên. Chúng ta là Một trong Đức Ki-tô, nhưng cũng có tránh nhiệm qua lại trên nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. (I-II q.21 art 3). Không ai là một hòn đảo. (Thomas Merton). Trong tình yêu mến nhân loại, Thiên Chúa bao gồm hết mọi linh hồn liên kết với Đức Ki-tô, Con yêu dấu của Ngài. Ngài gọi từng tên, đếm từng người, nhưng cũng yêu mến và kể chúng ta như các đứa con yêu quí riêng của mình. Chúng ta là nghĩa tử trong người Con Duy nhất của Thiên Chúa.
3. Chúng ta là nghĩa tử thực thụ của Thiên Chúa. (câu 1).
Không thể so sánh tính làm con theo dòng thần linh với tính làm con theo dòng con nuôi của thế gian. Dòng con nuôi hoàn toàn ngoại lai và luật pháp. Ngay từ căn nguyên, mối dây ràng buộc cha mẹ và những đứa con nuôi hoàn toàn thuộc trật tự ước lệ xã hội, kể cả khi tình cảm thật đằm thắm như con đẻ. Ngược lại do ơn thánh hoá Thiên Chúa biến đổi chúng ta từ bên trong, nhận chúng ta làm nghĩa tử của Ngài, ban cho những nhân đức thiên bẩm: tin, cậy, mến và Chúa Thánh Thần, nhân danh Con Một của Ngài, Đấng đã chịu khổ nạn để cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi, ban ơn thánh trong bí tích rửa tội để chúng ta bước vào đời sống mới, đời sống ân sủng trong Đức Ki-tô.
Hơn nữa, chính Thiên Chúa dưỡng nuôi và dẫn dắt cuộc sống của Con Ngài trong mỗi linh hồn thánh thiện. Đó là sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thần học gọi là ơn bất tạo dựng (le don incréé). Còn một thứ ân huệ khác cũng đi kèm theo là ơn tạo dựng (le don créé). Ơn này có mặt khi linh hồn sạch tội trọng, sống bằng ơn thánh hoá. Ơn thánh hoá là phản ánh sự hiện của Thiên Chúa trong mỗi linh hồn. Nói cách khác nó sửa soạn tình trạng linh hồn cho Thiên Chúa Ba Ngôi đến ngự trị: ẪChúng ta sẽ đến và ngự trong người đó.Ữ Khi khác chúng ta sẽ trở lại vấn đề. Nó là của nuôi phong phú cho đời sống chiêm niệm và đà tiến mạnh mẽ trên con đường thiêng liêng.
4. Tương lai của con cái Thiên Chúa. (câu 2).
ẪChúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được tỏ bầy.Ữ Bởi lẽ ơn thánh phải được kết thúc trong vinh quang. Đời sống siêu nhiên hiện thời chỉ là khởi sự. Nếu như không bị tội trọng bẻ gẫy, nó sẽ kéo dài vĩnh viễn. Cái chết mỗi người cũng không ngăn cản được dòng chảy của nó. Bên kia cái chết, bức màn che phủ sẽ bị xé toang và chúng ta sẽ được diện kiến Thiên Chúa mặt đối mặt. (1Cor 8,8). Thiên Chúa sẽ tự mạc khải đầy đủ trong ngày Đức Ki-tô trở lại. Lúc ấy người công chính sẽ trỗi dậy hiển vinh, để hưởng hạnh phúc trọn vẹn. Hạnh phúc này hệ tại chiêm ngưỡng Thiên Chúa cách vĩnh cửu. Toàn thể Hội thánh khải hoàn sẽ được phúc ngắm nhìn Thiên Chúa như Ngài vốn hằng hữu. Trong ánh quang hiển vinh đó chúng ta sẽ được hoà nhập vào bản tính Đức Chúa Trời thật viên mãn, tuỳ theo mức độ thánh thiện của mỗi cá nhân (thần linh hoá con người). Sự thăng hoa lên tình trạng siêu nhiên sẽ tối đa theo khả năng chịu đựng được của tạo vật. Chúng ta sẽ hiển trị với Đức Ki-tô bên ngai toà Thiên Chúa. Vinh quang thay những linh hồn lành thánh. Ainsi-soit-il. Amen. Alleluia.
Trích dịnh từ cuốn Lectures Bibliques du Dimanche của Đức Cha Soubigou
Tu viện Martino, Hố Nai.
Gm Soubigou
 

PS4-B29. Chúa Chiên Lành - Suy niệm Lời Chúa

Ga 10,11-18
Thưa quí vị,
 

Trong thời gian tôi sống ở miền West Virginia (Mỹ), tôi được chỉ định phục vụ một giáo xứ: PS4-B29

Trong thời gian tôi sống ở miền West Virginia (Mỹ), tôi được chỉ định phục vụ một giáo xứ nhỏ. Cộng đồng giáo dân đa số làm phu mỏ và nghề nông. Đây là cơ hội tốt để suy tư về bài Tin mừng hôm nay: Đức Giêsu là Chúa Chiên Lành. Chung quanh dẫy Appalachia toàn đồi núi và cao nguyên, không có nhiều ruộng đồng bằng phẳng để trồng hoa màu. Thành thử cư dân sống bằng nghề chăn nuôi dê, cừu, trâu, bò. Những loại súc vật không kén địa thế. Chúng có thể gặm cỏ trên những dải đất dốc như sườn đồi, triền núi. Trong buổi học hỏi về đoạn Tin mừng này, bất thần một nông dân hỏi tôi: ẪCha có biết một trăm con cừu gặm cỏ ở cánh đồng, một con nhảy ra ngoài hàng rào thì còn lại bao nhiêu không?Ữ Tôi ngẩn người vì câu hỏi quá dễ, đứa con nít sáu bảy tuổi cũng có thể trả lời được: Chín mươi chín con. Thấy tôi trả lời ngây thơ cả hội nghị cười khúc khích. Họ biết rõ câu trả lời của tôi sai một trăm phần trăm! Tôi sinh trưởng ở quận Brooklyn, thành phố New York, nơi chẳng có nhiều đất để chăn nuôi hay làm ruộng thì làm sao tôi biết được tình tiết của nghề này. Tôi hỏi lại bác nông dân: Vậy bác bảo còn bao nhiêu? Mọi người cùng nói : Chẳng còn con nào cả. Một con nhảy ra là cả đàn cùng nhảy theo. Giống cừu ngu lắm! Thấy động là toàn thể làm theo một con. Tôi ngạc nhiên vì chưa biết tính nết đó của loài cừu, cho nên không dám khẳng định rằng mình có thể tự hào vì được làm một trong những con chiên của đoạn Tin mừng hôm nay không?
Dầu sao, câu truyện sau đây khiến tôi tự tin phần nào. Số là trong biến cố ám sát tổng thống John F. Kennedy ngày 22.11.1963 tại thành phố Dallas. Có một người hoàn toàn thất vọng. Ông ta là cận vệ của tổng thống. Người ta trả lương cao cho ông với nhiệm vụ đỡ đạn cho vị Nguyên thủ quốc gia mỗi khi có sự cố. Ông ta đã thất bại và bị sa thải. Sau những ngày buồn sầu, ông quyết định đi tìm cơ hội khác. Ông vào làm cho các thương gia giầu có, và trong một cuộc tranh chấp, ông đã bị tử thương vì đỡ đạn cho chủ mình. Ở nước Mỹ, hai hạng người thường dễ bị ám sát: Các chính trị gia và các ông chủ buôn bán lớn. Họ trừ khử lẫn nhau vì quyền lợi hay địa vị. Do đó, phát sinh nghề đỡ đạn thuê với lương bổng rất cao. Nhưng cách đây hơn hai nghìn năm, cũng có một người làm nghề này ở đất Palestine. Ông không có lương. Chẳng ai chịu trả lương cho ông. Tên ông là Giêsu, người làng Nazareth. Có điều dị biệt là không phải ông chỉ đỡ đạn cho nguyên thủ quốc gia hay các kẻ tai to mặt lớn của xã hội. Ông giơ lưng đỡ đạn cho toàn thể nhân loại. Ông đã chết để cho mọi người được sống. Viên đạn giết ông là tội của mỗi người. Đúng thật ông là Chúa Chiên Lành.
Như thế, tôi không phải xấu hổ vì là một con chiên trong đàn của ông. Dù tôi đích thị là một con hết cỡ ngu xuẩn. Tôi đã phạm đủ mọi thứ lỗi lầm trong cuộc đời mình. Ông đã tha thứ cho tôi và không hề bỏ mặc tôi bao giờ nữa. Thế gian, ma quỉ, xác thịt có vây hãm, doạ nạt, dụ dỗ thế nào đi nữa, tôi vẫn cứ an lòng. Vì Ông không bỏ rơi tôi trong những nỗi gian truân. Ông đã hứa như vậy và đã lấy máu mình để đóng ấn lời hứa.
Hồi còn bé, tôi có nhiều bạn bè thân tình, có thể nói là chí thiết hơn cả Bá Nha, Tử Kỳ. Mỗi lần thề hứa với nhau, chúng tôi vắt máu đầu ngón tay để ký kết: ẪBạn muôn đời.Ữ (Friends forever). Bây giờ tôi chẳng hiểu những đứa trẻ mười, mười một tuổi đầu khi ấy đã thề thốt làm bạn vĩnh viễn với nhau bằng máu, hiện đang ở đâu? Còn sống hay đã chết, làm nghề gì, có gia đình hay chưa? Được hạnh phúc hay phải khốn khổ, thành công hay thất bại? Nói cho đúng, lời thề nghiêm trọng đến thế mà cũng chẳng kéo dài nổi cho đến khi lên Trung học. Khoảng 4,5 năm sau, chúng tôi mỗi người một ngả, mỗi người một trường tuỳ theo hoàn cảnh gia đình và học hành. Phần Chúa Giêsu, Ngài không hề bội tín. Thánh giá của Ngài, bửu huyết của Ngài đã đóng ấn vào giao ước cứu độ, thì Ngài luôn ở bên mỗi linh hồn. Chúng ta chẳng cần giàu có, đẹp trai, quyền thế, tài năng, chủ xí nghiệp, ngân hàng, lạc quan, bi quan hay cùng đinh khố rách mới được kết bạn với Ngài. Điều kiện duy nhất Ngài đòi hỏi để được Ngài lãnh đạo là tổ chức cuộc đời thế nào để có thể sẵn sàng noi gương Ngài, nghe tiếng Ngài. Cụ thể như trong Chúa nhật hôm nay: Giữa những thứ ồn ào của xã hội đương đại chúng ta nghe thấy gì trong các bài đọc? Cầu nguyện ra sao cho các nhu cầu của Hội thánh và các người nghèo?
Ngay cả những linh hồn không thành thạo Kinh thánh, có lẽ cũng thuộc lòng vài câu của Thánh vịnh 23. Thánh vịnh này thường được đọc trong các dịp lễ hội hay trong các đám tang, an ủi nạn nhân: ẪChúa là mục tử tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi& Dầu qua lũng âm u tôi chẳng sợ nguy khốn, vì có Chúa ở cùng& Tôi được ở đền Người suốt ngày tháng, suốt đêm dài triền miên!Ữ Trong thời gian mừng lễ Phục sinh, chúng ta được nhắc nhớ đặc biệt đến hình ảnh mục tử của Chúa Giêsu. Bởi lẽ giáo dân thường bị cám dỗ nghĩ về Chúa sống lại như đã xảy ra hàng ngàn năm trước. Không phải vậy, vai trò của Ngài luôn hiện tại. Ngài đã hướng dẫn Hội thánh và mỗi linh hồn thủa xưa làm sao, thì bây giờ vẫn vậy. Không giảm bớt, không lạnh nhạt, không thiếu chính xác cho đến ngày Ngài trở lại. Khi chúng ta tung hô: Chúa Kitô đã chết, sống lại và sẽ đến, xin đừng nghĩ là truyện đã qua mà là đức tin hiện tại cho tới khi tất cả loài người trở thành môt đàn chiên của một Chúa Chiên Giêsu Kitô.
Ngay từ những ngày đầu của Giáo hội hình ảnh Chúa Chiên Lành rất được phổ thông, yêu mến. Ngày nay vẫn vậy. Chúng ta có thể tìm thấy vô số tranh ảnh, kính mầu cửa sổ, tượng đài nghệ thuật miêu tả ý tưởng này. Nhiều nhà thờ, trường học, bệnh viện, cư xá, quán ăn lao động, nồi súp cứu đói&. Mang tên Chúa Chiên Lành (Good Shepherd). Nhưng có điều cần bàn là trong các tranh ảnh đó người ta thường vẽ Ngài quá đẹp đẽ trang trọng như thể từ một thế giới khác, xa lạ, kỳ quặc, quá khứ, chứ không thực với đời thường, phải vật lộn với miếng cơm manh áo, nhọc nhằn cực khổ, vấy nhơ lấm bùn. Đó là những hình ảnh để giáo dân tôn thờ, chứ không phải để đồng hành, làm bạn. Nó ở trên nếp sống con người, chứ không phải từ nếp sống xã hội hằng ngày. Các Phúc âm không mô tả Ngài như vậy. Ngược lại các thánh sử chẳng tách Chúa Giêsu ra khỏi đám đông. Ngài hoàn toàn nhận lấy thân phận làm người. Chịu đựng những hoàn cảnh của con người. Ngài biết đủ: hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục, của tâm lý con người. Ngài có bạn bè và tình yêu, Ngài ăn bữa với gia đình và bạn hữu. Ngài đi dự tiệc cưới, đám tang. Ngài biết hy vọng và thất vọng, trung tín và phản bội, sự sống, đau khổ, nhục nhã và cái chết. Ngài cảm nhận cái giá phải trả vì sự thật, vì làm chứng tá. Ngài tuyên bố sẽ thí mạng sống vì đàn chiên và đã thực hiện đúng như vậy.
Đối với chúng ta, những người được ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, hàng xóm láng giềng dạy cho biết thế nào là yêu mến, đại lượng, phục vụ tha nhân& chúng ta hiểu rõ Chúa Chiên Lành không phải chỉ có trên các cửa sổ. Qua những người đó chúng ta nghe thấy tiếng thúc giục của Chúa trong lương tâm mình. Rồi khi lớn lên, xa gia đình, nhớ lại những lời giáo huấn của ông bà, cha mẹ về những việc phải làm, những điều phải tránh, chúng ta thực chất được Chúa Chiên Lành hướng dẫn. Chúng ta còn có những ảnh hưởng tốt khác từ bạn bè, đồng nghiệp, tư vấn tâm lý, cha giải tội, tu sĩ, linh mục& trong cuộc sống và chúng ta nhận ra Chúa Chiên Lành không chỉ ở trong các tranh ảnh. Chúng ta thực sự nghe được Ngài trên khắp các nẻo đường đời.
Thú thật, khi đi thuyết giáo lưu động, tôi đã gặp vô số Ẫmục tử tốt lànhỮ. Tôi gặp họ trong các dì phước thánh thiện, trong các tu sĩ khắc khổ, trong các linh mục nghèo khó và cả trong các giáo dân nhiệt thành, các hội đồng giáo xứ, trung tâm cấm phòng, tuyên uý đại học, nhà trọ lỡ đường, bệnh xá, viện mồ côi, các Caritas quốc tế, địa phương v.v& Họ là những mục tử Ẫkhông chỉ địnhỮ của Chúa Giêsu. Họ làm việc hăng say trong các cơ quan từ thiện, bác ái. Họ đã chăn dắt tuyệt vời đàn chiên Thiên Chúa. Cũng không nên bỏ xót những cộng đoàn chuyên biệt như ca đoàn, hội giúp lễ, ban phục vụ kẻ liệt, giáo lý thêm sức, xưng tội lần đầu, ban kinh tế giáo xứ. Thiếu vắng họ chắc hẳn đời sống tôn giáo của chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Hôm nay chúng ta phải tạ ơn Chúa, cầu nguyện và biết ơn họ. Như vậy trong Hội thánh có muôn vàn mục tử. Tất cả đều theo gương Chúa Chiên Lành, chăm chỉ nghe lời Ngài và nhất là sẵn sàng hy sinh tài sức, thời giờ, tiền bạc, mạng sống cho đàn chiên khi cần. Họ đang nỗ lực thu gom tất cả mọi người vào đàn chiên của Đấng Mục Tử duy nhất. Những cố gắng này phát sinh từ đâu? Nếu không phải từ Chúa Chiên Lành Phục sinh. Ngài đang chăn dắt chúng ta trong sự hy sinh của các linh hồn lành thánh.
Tóm lại, tinh thần Chúa Chiên Lành không ngừng phát triển trong Giáo hội, kêu gọi sự cộng tác của mọi người. Qua họ, Ngài vẫn chăm sóc, hướng dẫn đàn chiên Thiên Chúa. Chúng ta cũng được mời mọc tiếp tay với Ngài chăm lo cho các linh hồn, chữa lành các vết thương, cho kẻ đói ăn, khát uống, rách rưới ăn mặc, để tất cả nhân loại, mai ngày, họp thành một đàn duy nhất dưới quyền lãnh đạo một Chúa Chiên như Ngài đã hứa. Quí vị có đồng ý cho Ngài mượn một tay? Amen. Alleluia.
 

PS4-B30. Chiên Ta thì nhận biết Ta

Cv 4:8-12; 1Ga 3:1-2; Ga 10:11-18
 

Đọc Thánh kinh, ta thấy người Do thái cổ xưa là dân du mục. Như vậy thì văn chương của họ: PS4-B30

Đọc Thánh kinh, ta thấy người Do thái cổ xưa là dân du mục. Như vậy thì văn chương của họ là các Sách Cựu Ước cũng mang nhiều dẫn chứng về đời sống chăn nuôi. Chúa Giê-su và các tông đồ cũng theo truyền thống đó. Chúa dùng nhiều hình ảnh về đồng áng và chăn nuôi quen thuộc với quần chúng để dạy họ về chân lý của đạo Ki-tô giáo. Chúa thường dùng những hình ảnh con chiên và người chăn chiên để nói về cái mối liên hệ của Chúa với loài người. Những hình ảnh như người mục tử thổi sáo, hoặc vác chiên trên vai còn được tìm thấy trong những hang toại đạo.
Trong Phúc âm hôm nay Chúa nói với ta : Ta biết chiên ta, và chiên ta biết ta (Ga 10: 14). Cũng như người mục tử xưa kia biết đàn chiên của mình, biết con chiên nào khoẻ mạnh, con nào đau yếu, con nào bị thất lạc, Chúa cũng biết từng người chúng ta. Chúa biết tư tưởng, ước muốn, cảm tình, hành động và nhu cầu của mỗi người. Đó chính là điều Chúa nói trong Thánh kinh : Trước khi ta tác thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi (Gr 1:5).
Muốn thuộc đàn chiên của Chúa, ta cần phải biết Chúa như Chúa phán chiên Ta thì nhận biết Ta. Vậy nhận biết Chúa có nghĩa là gì? Khi Thánh kinh nói về việc biết Chúa, điều đó không có nghĩa là chỉ nghe biết về Chúa, như là ta nghe biết về người nọ, người kia, qua việc đọc tiểu sử của họ. Biết theo nghĩa Thánh kinh là cáí mối liên hệ cá biệt do tác động của Chúa hướng dẫn đời sống. Chúa muốn mỗi người chúng ta biết Chúa một cách riêng tư, thân mật và gần gũi. Theo ngôn ngữ Thánh kinh thì biết thường ám chỉ cái sự thông hiệp sâu đậm và riêng tư giữa hai nhân vật. Trong Thánh kinh, biết một người bao hàm cái ý thức toàn diện về người đó: về trí óc, con tim và tâm hồn. Biết khác với việc biết về hay biết đến. Ta biết về người khác là do được kể lại hay biết đến người khác là do đọc tiểu sử của ho. Còn nếu đã biết về một người thì không cần nghe ai nói hoặc viết về họ, nghĩa là không cần trung gian của người thứ ba. Ví dụ hai người bạn quen biết nhau thì không cần nghe ai giới thiệu về bạn, vì bạn hữu thường biết rõ nhau : ưu điểm cũng như khuyết điểm, tài năng và tình trạng sức khoẻ. Vợ chồng biết nhau thì không cần ai nói về vợ chồng mình, vì cái liên hệ vợ chồng là một thứ liên hệ thân mật và gần gũi nhất trong các thứ liên hệ giữa loài người.
Biết Chúa cũng khác việc biết về Chúa. Người ta có thể biết nhiều về Chúa qua việc đọc Thánh kinh và giáo lý của đạo Chúa, nhưng không chắc người ta đã tin và biết Chúa một cách sâu đậm. Có những người là giáo sư, học giả Thánh kinh, nhưng họ không phải là những người tin Chúa. Họ biết về Thánh kinh, biết về đạo Chúa, nhưng thực ra không biết Chúa. Ta biết Chúa khi ta nhận thức rằng cuộc tử nạn của Người trên thập giá đã mang lại cho ta ơn tha thứ và cứu độ. Ta biết Chúa khi ta xác tín trong con tim rằng Chúa yêu mến ta, Chúa là Đấng tạo dựng, cứu độ và thánh hoá của ta. Ta nhận biết Chúa qua những công trình sáng tạo của Người trong vũ trụ, những kỳ công của tạo hoá, những vẻ đẹp của thiên nhiên. Ta nhận biết Chúa qua những biến cố xẩy ra chung quanh ta trong vũ trụ. Ta nhận biết Chúa khi ta nhận thấy Người biến đổi cuộc sống ta, cho ta được thoát khỏi tội lỗi, được tự do làm con cái Chúa. Ta nhận biết Chúa khi ta nhận ra chính Người đã đưa dẫn ta qua những hiểm nguy, những cạm bẫy của cuộc sống.
Cái bước khởi đầu đưa đến việc biết Chúa là việc loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn là tội lỗi và các thứ tính mê nết xấu như kiêu căng, tự phụ, khoe khoang, ích kỷ, gian tham, nói hành nói xấu, bỏ vạ cáo gian&. Chướng ngại vật trong tâm hồn làm cản trở những tác động của ơn thánh Chúa. Kết quả nội tại của việc loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn là cái lòng ăn năn sám hối tộị lỗi, và cảm thấy cần Chúa. Và đó là cái bước khởi đầu cho cái tiến trình của việc biết Chúa. Biết về Chúa hay biết về Thánh kinh khiến người ta vẫn là người ngoại cuộc. Còn biết Chúa khi nào người ta đã ở trong cuộc, ở trong nội thất và nội cung của nhà Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa được như vậy. Xin cho con cảm nghiệm được tình yêu Chúa và sự hiện diện của Chúa trong đời sống con và xung quanh con.
NS Dân Chúa Mỹ Châu - Lm Trần Bình Trọng, USA
 

PS4-B31. Chúa Chiên Lành - Suy niệm Lời Chúa

Cv 4:8-12; 1 Ga 3:1-2; Ga 10:11-18
 

Kể từ ngày các Kitô hữu tiên khởi vẽ những bức tranh Chúa Chiên Lành lên những bức tường hang: PS4-B31

Kể từ ngày các Kitô hữu tiên khởi vẽ những bức tranh Chúa Chiên Lành lên những bức tường hang toại đạo ở Rôma cho đến nay chưa bao giờ hình ảnh Chúa Chiên Lành lại trở nên quen thuộc và hấp dẫn trong cộng đồng Kitô giáo ngày nay. Bao thế hệ Kitô hữu đã được nâng đỡ và ủi an qua hình ảnh Đức Kitô âu lo đi tìm con chiên lạc và vác trên vai đưa nó về nhà. Hình ảnh này đem lại biết bao là cảm hứng xúc động vì nó diễn tả được cung cách tận tâm tận tụy, chăm sóc dẫn dắt, đồng cam cùng khổ của Đức Kitô đối với chúng ta. Hình ảnh ấy luôn đảm bảo với chúng ta rằng mỗi người trong chúng ta được Chúa yêu thương cách riêng cứ như là người con người con độc nhất của Người. Đức Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta là Người biết tường tận từng người chúng ta và quan tâm đến chúng ta nhiều đến nỗi Ngưòi không có thể buông chúng ta ra khỏi tầm mắt của Người. Việc chúng ta có một chỗ đặc biệt trong trái tim Chúa có thể giúp chúng ta thêm lòng tin yêu và hy vọng vào Người. Ngay cả khi tội lỗi lôi kéo chúng ta lạc xa nẻo đường công chính, chính Chúa Chiên Lành sẽ luôn có mặt đúng lúc để cứu giúp chúng ta. Người sẽ vác chúng ta trên vai, đưa chúng ta đến nơi chốn an toàn.
Được sống gần gũi với sự chăm sóc yêu thương mà Thiên Chúa dành cho chúng tanhư những nghĩa tử, chúng ta cần tự hỏi mình đã làm thế nào đáp lại mối tương giao mật thiết và mới mẻ này. Có thực mười mươi là nhờ những lời nói và gương sáng trong đời sống của chúng ta mà Đức Kitô trở nên viên đá góc của cuộc sống chúng ta hay là chúng ta đã cất giấu Ngài vào một xó xỉnh xa xôi nào rồi. Lời Chúa luôn đòi hỏi chúng ta công bố lập trường. Kết hợp với Đức Kitô nghĩa là cần cư xử thật sự giống Đức Kitô. Chấp nhận chúng ta làm nghĩa tử, Thiên Chúa Cha có ý muốn chúng ta sống như Đức Chúa Giêsu, nghĩa là đến phiên chúng ta, chúng ta cần phải yêu thương chăm sóc và gần gũi với những người chúng ta gặp gỡ trong đời. Đôi khi chúng ta đã tự dối gạt mình khi cứ níu kéo ràng buộc người khác mà không có bổn phận nghĩa vụ với ai cả.
Hôm nay Lời Chúa mời gọi chúng ta xét lại cung cách yêu thương chăm sóc của chúng ta với tha nhân. Nhiệm vụ của mỗi một người được Thánh tẩy là phải thông tri cho cộng đoàn biết tình yêu Thiên Chúa Cha đã dành cho chúng ta qua việc chúng ta được gọi là con cái Thiên Chúa. Chăm sóc nhau qua những việc thiện kín đáo, như viết một lá thư chân tình, chia sẻ vui buồn, hay một cú điện thoại, trao gởi một cái nhìn cảm thông hay một món quà bất ngờ - tất cả chỉ là ngầm nói rằng: "Mình luôn ở bên bạn." Chăm sóc cuộc sống của nhau như Chúa Chiên Lành là một công việc âm thầm và nhậy cảm. Nó có thể đem lại cho một người bạn nào đó niềm hy vọng để tiếp tục dũng cảm dấn bước theo con đường sự sống trong lúc chỉ còn le lói một ánh lửa đức tin trong trái tim. Qua Nhiệm tích Thánh Tẩy, Thiên Chúa mời gọi chúng ta hãy chìa đôi tay ra giúp đỡ tha nhân, cất bước vội vã đến với người nghèo, đưa mắt nhìn đến những nỗi khốn cùng và khát vọng trong cuộc sống và lắng đôi tai nghe những tiếng thở than rên xiết của tha nhân. Hơn nữa, bất cứ thời đại nào, Đức Chúa Giêsu cũng kêu gọi nhiều người, nam cũng như nữ, chuyên cần chăm lo những nhu cầu thầm kín của anh chị em. Chúa Chiên Lành thực sự là như thế đó.
NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Lm. Nguyễn Văn Phan DCCT
 

PS4-B32. Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta

VietCatholic News (01/02/2005)

Chúa Nhật 4 Phục Sinh B

Chủ Ðề: Tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta - Lm. Carolô Hồ Bạc Xái

I. Dẫn vào Thánh lễ

Mỗi năm, Giáo Hội dành ngày Chúa nhật thứ IV mùa Phục sinh để nhắc cho chúng ta biết Ðức Giêsu là mục: PS4-B32

Mỗi năm, Giáo Hội dành ngày Chúa nhật thứ IV mùa Phục sinh để nhắc cho chúng ta biết Ðức Giêsu là mục tử nhân lành rất yêu thương chúng ta là những con chiên của Ngài. Ngài chăm sóc chúng ta và dẫn chúng ta đến cuộc sống hạnh phúc muôn đời.

Ngày hôm nay cũng là ngày Giáo Hội trên toàn thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu.

Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta hiểu biết hơn về tình yêu của Ngài; đồng thời chúng ta cũng cầu nguyện cho có nhiều người trẻ hiến thân làm Linh mục để tiếp nối sứ mạng Ðức Giêsu là làm mục tử chăm sóc đoàn chiên Ngài.

II. Gợi ý sám hối

* Chúng ta là những con chiên được Ðức Giêsu là mục tử nhân lành dẫn dắt. Nhưng nhiều khi chúng ta không ý thức tình thương Chúa luôn bao bọc cuộc sống chúng ta.

* Ðôi khi chúng ta còn tỏ ra là những con chiên bướng bỉnh không đi theo sự dẫn dắt của Chúa.

* Chúng ta ít quan tâm đến việc khuyến khích và nuôi dưỡng các ơn thiên triệu.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I: Cv 4, 8-12

Sau khi Phêrô chữa cho một người què được khỏi, ông bị bắt dẫn ra trước Thượng Hội Ðồng Do thái giáo cùng với bạn đồng hành là Gioan.

Trước Thượng Hội Ðồng, Phêrô xác nhận người què ấy được khỏi không phải do quyền phép gì riêng của ông mà chỉ nhờ danh thánh Ðức Giêsu.

Nhân dịp đó, Phêrô giảng về Ðức Giêsu: Ngài đã bị các thủ lãnh Do Thái giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại và tôn vinh Ngài lên đến tuyệt định vinh quang. Nhờ danh Ngài mà mọi người được ơn cứu độ.

2. Ðáp ca: Tv 117

(như Chúa nhật I Ps)

Thánh vịnh này là tâm tình của người đã cảm nghiệm được tình thương và quyền năng của Thiên Chúa. Quyền năng và tình thương ấy đã chiến thắng tất cả, cho dù là khổ đau, là chết chóc. Tác giả muốn sống mãi để có thể ca tụng Thiên Chúa đến muôn đời.

3. Tin Mừng: Ga 10, 11-18

Ðức Giêsu xưng mình là mục tử tốt lành. Ngài cũng phân biệt mục tử tốt lành và người chăn chiên thuê:

* Những đặc tính của Người mục tử tốt lành: a/ thí mạng sống vì chiên; b/ biết các con chiên và được các con chiên biết; c/ muốn quy tụ những con chiên khác ở ngoài vào đàn chiên mình, để rồi sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên.

* Kẻ chăn chiên thuê chẳng tha thiết gì đến đàn chiên. Hắn ưu tiên lo cho bản thân nên khi gặp nguy hiểm thì bỏ mặc đàn chiên để chạy trốn.

4. Bài đọc II: 1 Ga 3, 1-2

Thánh Gioan nói đến mức độ to lớn vô cùng của tình yêu Thiên Chúa dành cho tín hữu:

* Hiện nay Thiên Chúa cho chúng ta làm con của Ngài.

* Sau này Ngài còn cho chúng ta được giống như Ngài.

IV. Gợi ý giảng

* 1. Mục tử tốt lành

Dưới thời bạo Chúa Nêrô bắt đạo. Rôma ngập tràn máu lửa, biết bao tín hữu đã chết dưới tay ông vua điên loạn, bạo tàn.

Giáo hội non trẻ do Ðức Giêsu thiết lập như sắp rã rời tan tác. Phêrô là con chim đầu đàn, là trụ cột của Giáo hội. Các tín hữu tha thiết xin Phêrô trốn khỏi Rôma, để tiếp tục dẫn dắt đoàn chiên. Người anh cả một thoáng phân vân, chần chừ. Quả thật đoàn chiên đang nao núng vì sợ thiếu vắng đầu đàn, sao có thể giữ vững niềm tin? Thầy đã chẳng khuyên khi người ta bắt bớ chúng con ở thành này, thì hãy trốn sang thành khác sao? Phêrô xách bị gậy đi trốn. Ðụng Thầy ở cổng thành, Phêrô hỏi:

- Quo vadis, Domine? Thưa Thầy, Thầy đi đâu?

- Nếu con bỏ các Kitô hữu của Thầy thì Thầy sẽ quay lại để chịu đóng đinh cho họ một lần nữa.

Phêrô hiểu ngay lời Thầy, quay trở lại Rôma để an ủi khích lệ đoàn chiên, và để chịu đóng đinh thập giá như Thầy.

"Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì đoàn chiên" (Ga. 10, 11). Ðức Giêsu ví mình như một mục tử tốt lành khác với người chăn thuê, vì người đã dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Cái chết của Người không bất ngờ, cũng không đầu hàng bạo lực, nhưng là một cái chết tự hiến. Ðức Giêsu chết để nói nên lời yêu thương. Một tình yêu tột đỉnh, yêu cho đến cùng. Thánh Gioan viết: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình" (Ga. 15, 13).

Chính tình yêu đã tạo nên mối dây gắn bó giữa chủ chiên và từng con chiên, khiến Người nói: "Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta" (Ga. 10, 14-15). Ðó là sự hiểu biết nhau sâu xa, sự trân quí giữa mục tử và đoàn chiên.

Ðức Giêsu là mục tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá giúp chăn dắt đoàn chiên của Người. Mọi mục tử phải noi gương Người, dám chết cho đoàn chiên được sống. Phêrô là người mục tử đầu tiên. Phêrô có thể trốn bắt bớ, tù tội, chết chóc. Nhưng chính khi đổ máu, Phêrô đã giữ vững đoàn chiên. Cái chết của Phêrô đã có sức thuyết phục hơn bất cứ lời rao giảng nào: "Thầy làm vững đức tin của con. Rồi đến lượt con, con sẽ làm vững đức tin của anh em con". Các mục tử tiếp bước Phêrô vui lòng nằm xuống để nên nhân chứng, và củng cố niềm tin cho các anh em.

Dụ ngôn người "Mục tử tốt lành" cho thấy tình yêu sâu sắc của Thiên Chúa.

* Người yêu thương mỗi người một cách cá biệt, không yêu cách chung chung.

* Người yêu thương vô điều kiện, ngay cả khi chúng ta lầm đường lạc lối.

* Người yêu thương bằng tình yêu vui mừng, chứ không la rầy khiển trách khi tìm thấy chiên lạc.

Ngày nay, Ðức Giêsu vẫn cần những vị mục tử tốt lành lo cho đoàn chiên trên thế giới. Người rất cần các bạn trẻ hiến thân cho sứ mạng mục tử này. Người mời gọi chúng ta hãy nhìn bằng trái tim yêu thương, để thấy những cơn đói Lời Chúa, đói tình thương, đói của ăn, đói ý nghĩa cuộc sống. Người kêu gọi chúng ta hãy tha thiết xin Cha cho nhiều mục tử tận tụy hơn, thanh khiết hơn, vô vị lợi hơn, và thánh đức hơn. Những mục tử sẵn lòng âm thầm chết từng ngày cho đoàn chiên.

*

Lạy Chúa, xin gởi đến cho chúng con những mục tử có trái tim của Chúa: luôn say mê Thiên Chúa và yêu thương con người, có tình bạn thân thiết với Chúa, dám hy sinh cho đoàn chiên, dẫn đưa chúng con về với Cha là nguồn hạnh phúc thật của chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

* 2. Ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và Tu sĩ

a/ Ðối với người Việt chúng ta thì hình ảnh "chiên và người chăn chiên" không phải là một hình ảnh gần gũi, vì xứ sở chúng ta không thuộc vùng Cận Ðông với nghề chăn nuôi chiên cừu như Pa-lét-tin xưa. Hơn nữa trong khi cả đất nước đang nói đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại câu chuyện "đàn chiên với mục tử", thì e rằng chúng ta bị coi là những người lạc hậu! Nhưng nếu đi sâu vào ý nghĩa và biểu tượng tôn giáo của hình ảnh "chiên và mục tử" thì chúng ta lại chẳng thấy lạc hậu tí nào. Vì chưng những người tin ở Thiên Chúa đều xác tín rằng họ luôn được Thiên Chúa và Chúa Ki-tô quan tâm và tận tình chăm sóc, không chỉ về phương diện tâm linh mà về mọi phương diện con người, không chỉ ở đời sau mà ở cả đời này. Mối tương quan gắn bó giữa người chăn và con chiên là hình ảnh sống động, cụ thể của mối tương quan giữa Thiên Chúa và người tín hữu.

b/ Những nét đặc trưng của Vị Mục Tử nhân lành

Ðức Giêsu đã công bố Người là Vị Mục Tử nhân lành, với những nét đặc trưng sau đây:

* Vị Mục tử nhân lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Người quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận: biết họ muốn gì? họ cần gì? họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào?

* Vị Mục tử nhân lành luôn đi đầu, đi trước tức hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, tức đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Vị ấy sẽ đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát và cỏ xanh, để chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Thậm chí vị Mục tử sẽ hy sinh mạng sống vì chiên.

c/ Lý do Hội Thánh lấy ngày chủ nhật Chúa Chiên Lành làm ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục tu sĩ:

Bản tin Hiệp Thông (tiếng nói của Hội đồng Giám Mục Việt Nam) số 11, ra ngày 15 tháng 02 năm 2002 (trang 8-9) cung cấp cho chúng ta những con số cụ thể và đáng chúng ta suy nghĩ trong ngày hôm nay:

(1): Tổng dân số của Việt Nam hiện là: 80. 489. 857 người (76. 683. 203 dân tộc kinh + 3. 806. 654 dân tộc thiểu số).
(2): Tổng số công giáo của 25 giáo phận : 5. 324. 492 người (5. 065. 105 dân tộc kinh + 259. 387 dân tộc thiểu số).
(3): Tổng số linh mục của 25 giáo phận: 2. 526 Lm (2. 133 triều + 393 dòng).
(4): Tổng số tu sĩ trong 25 giáo phận: 11. 282 Ts (1. 524 nam + 9. 758 nữ).
(5): Tổng số chủng sinh của 25 giáo phận: 1. 765 Cs (1. 044 đang học + 318 học xong + 403 dự bị).
(6): Tổng số giáo lý viên của 25 giáo phận: 45. 858 Glv (671 giáo phu + 219 có lương + 44. 968 không có lương).
Nếu chia bình quân số giáo dân cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 2. 107 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số linh mục (triều dòng, khoẻ yếu) thì một linh mục phải phục vụ 31. 865 người. Nếu chia bình quân số giáo dân cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 472 giáo dân. Nếu chia bình quân tổng số dân Việt Nam cho số tu sĩ (nam nữ, khoẻ yếu) thì một tu sĩ phải phục vụ 7. 134 người. Nếu chia bình quân tổng số người VN không công giáo cho tổng số người VN công giáo thì một người VN công giáo phải giúp cho 14 người VN không công giáo biết Chúa và gia nhập Giáo hội.

Nguyên nhìn vào những con số trên, chúng ta cũng đã thấy được nhu cầu to lớn về nhân sự của Giáo hội Việt Nam trong sứ mệnh sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng mà Giáo hội đã nhận được từ chính Chúa Giê-su. Ðã đành rằng ngày nay trách nhiệm sống, làm chứng và loan báo Tin Mừng không chỉ của riêng các linh mục, tu sĩ mà của mọi Ki-tô hữu. Nhưng các linh mục, tu sĩ vẫn là lực lượng quan trọng nhất, là lực lượng nòng cốt và đầu tầu trong lãnh vực này. Thế nhưng ơn gọi linh mục, tu sĩ càng ngày càng giảm sút trong các Giáo hội địa phương, thậm chí giảm trầm trọng trong một số Giáo hội. Riêng tại Việt Nam, thì tình hình có mấy nét riêng sau đây:
(1) Việc thanh niên nam nữ muốn vào chủng viện, dòng tu còn gặp nhiều cản trở từ những qui định của Nhà Nước.
(2) Việc các Giám mục, Dòng tu gửi các linh mục, tu sĩ đến nơi cần gửi, đặc biệt đến vùng sâu vùng xa, cũng chẳng dễ dàng gì.
(3) Ơn gọi tu trì đã có dấu hiệu sút giảm ở thành thị, nhất là ở các quận nội thành.


Vì thế cho nên chúng ta không chỉ cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo hội -nhất là Giáo hội Việt Nam- nhiều linh mục, tu sĩ tài đức thánh thiện, nhiệt thành mà chúng ta còn phải nài xin Thiên Chúa tạo thuận lợi cho các ứng sinh linh mục tu sĩ được đào tạo đến nơi đến chốn và cho các linh mục tu sĩ có điều kiện cần thiết để thực thi sứ vụ của mình. (Giêrônimô Nguyễn Văn Nội).

3. "Tình yêu, con đường duy nhất để đến với thế giới bất tín".

"... Thánh nữ Têrêxa đã mở ra cho chúng ta con đường duy nhất để đến với thế giới những người không tin: đó là tình yêu. Không ai có thể sống thiếu tình yêu. Trước tấm thảm kịch của thuyết nhân bản vô thần, thảm kịch, vì do nhân danh một tư tưởng cao cả của nhân loại mà con người đã khước từ Thiên Chúa, mọi Kitô hữu, mọi Linh mục, mọi tu sĩ đều bồn chồn lo âu (...) thánh Phanxicô đệ Salê đã nói: "Tất cả đều dành cho tình yêu, đều ở trong tình yêu, đều vì tình yêu và đều phát xuất từ tình yêu trong Giáo hội". Nhưng cái chân lý cao cả ấy hầu như đã bị lãng quên, đã bị thuyết Jansénisme khô cằn ngăn chận. Chỉ có người nữ tu dòng kín trẻ trung thành Lisieux đã nhắc ta nhớ lại chân lý ấy trong nét tươi tắn của thái độ Ngài hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa. Hôn thê của Ðấng chịu đóng đinh và đã vì yêu mà tự nộp mình cho ta, chính thị cũng dâng hiến cho Người tình yêu vì tình yêu, như vị hôn thê dâng hiến cho hôn phụ. "Trong trái tim giáo hội tôi sẽ là tình yêu" thế là đã rõ, một xác quyết như thế đụng chạm tới tất cả mọi người ở thế kỷ XX của chúng ta vì chúng ta không biết yêu và được yêu trong chân lý (...)

Thánh Nữ Têrêxa luôn luôn là, tôi dám nói, một âm vang đích thực của Trái tim Thiên Chúa cho thời đại chúng ta, cho mỗi người chúng ta. Dù ta là ai, ta đã được tạo thành để sống tình yêu Thiên Chúa, tình yêu đã trao ban sự sống cho ta. Ta đến từ Thiên Chúa và ta lại trở về với Người, Người là Ðường là Sự Thật và là sự sống. Công đồng Vatican II đã mạnh mẽ nhắc lại điều này. Sử gia mai ngày có thể thắc mắc "Giáo hội thời Công đồng đã làm gì?" Ðức Phaolô VI đã trả lời họ ngay từ ngày 14. 9. 1965: "Giáo hội yêu, giáo hội yêu, yêu bằng trái tim mục tử, yêu bằng trái tim đại kết, yêu bằng trái tim rộng mở đón nhận mọi người kể cả những người bắt bớ giáo hội". Ta nên tìm lại cái trực cảm quan trọng ấy của Ðức Phaolô VI. Ðó cũng là trực cảm của thánh nữ Têrêxa thành Lisieux: "Giáo hội là Ðức Kitô và Ðức Kitô là tình yêu". Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.

Thánh nữ Têrêxa đã khơi gợi hàng ngàn, hàng ngàn ơn gọi làm Linh mục trên khắp thế giới. Những Linh mục ấy đã tìm thấy nơi thánh nữ một tình yêu tuyệt đối dành cho Ðức Giêsu và tình yêu Giáo hội, một ý nghĩa sâu xa trong kinh nguyện và trong sứ mệnh truyền giáo trên khắp hoàn cầu, một sự kết hợp bằng chiêm niệm và hoạt động, một mẫu gương dùng con đường tình yêu bé nhỏ và phó thác, đường nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Ngày nay, thánh nữ Têrêxa vẫn tiếp tục làm phong phú tác vụ của các linh mục, đặc biệt là những linh mục trẻ bị cuốn hút bởi sứ điệp tình yêu giữa lòng Giáo hội (...)

Tất cả hành trình đức tin thâu tóm trong đức cậy và đức ái. Niềm tin là niềm hy vọng của tình yêu, tin là hy vọng vào tình yêu. Phải chăng vai trò đã được quan phòng của sứ điệp của thánh nữ Têrêxa, ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ 3, chính là trả lại cho ta tình yêu và niềm hy vọng? Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Tình yêu là để yêu thương. Trong lãnh vực tình yêu, thánh nữ Têrêxa là bậc thầy linh đạo trong tình yêu, không có dè dặt, không có tính toán, không có trung dung, không có quân bình vì con người chẳng bao giờ có thể yêu Thiên Chúa cho xứng với tình Người yêu ta (
…).

Một nữ tu hỏi thánh nữ Têrêxa: "Chị nói gì với Ðức Giêsu?" Chị thánh trả lời: "Em không nói gì hết, em yêu Người", Chỉ tình yêu là quan trọng. (Ðức Hồng Y P. Poupard, tài liệu cho ngày ơn thiên triệu. Trích dẫn bởi Fiches dominicales, năm B)).


4. "Trong trái tim Giáo hội, tôi sẽ là Tình yêu"

(Thánh nữ Têrêxa Hài Ðồng, bản văn được trích dẫn trong tài liệu của Ủy ban quốc gia về ơn thiên triệu).

"... Sau cùng con đã tìm thấy sự an nghỉ... tìm trong thân thể mầu nhiệm của Giáo hội, con chẳng thấy mình trong bất cứ chi thể nào đã được thánh Phaolô miêu tả, đúng hơn con muốn có mặt trong tất cả những chi thể ấy... Ðức Ái đã cho con chìa khóa ơn gọi của con. Con hiểu rằng nếu giáo hội có một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, chi thể quan yếu nhất, cao cả nhất không thể thiếu được, con hiểu đó là Trái Tim và Trái Tim đó cháy đỏ Tình yêu. Con hiểu rằng chỉ có Tình yêu mới làm cho các chi thể của Giáo hội hoạt động và nếu tình yêu vụt tắt, các Tông đồ sẽ thôi không loan báo Tin mừng, các thánh tử đạo sẽ từ chối đổ máu... Con hiểu rằng Tình yêu phủ trùm lên mọi ơn gọi và tình yêu là tất cả, bao gồm mọi không gian và mọi thời gian. Tắt một lời, Tình yêu là vĩnh cửu!

Thế là, trong niềm vui tột đỉnh, con kêu lên: "Ôi Giêsu, Tình yêu của con... ơn gọi của con, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con chính là Tình yêu!...

Phải rồi, con đã tìm được vị trí của con trong Giáo hội. Chỗ ấy, ôi Lạy Chúa, chính Chúa đã ban cho con... Trong Trái Tim Giáo hội, thưa Mẹ, con sẽ là Tình yêu... như thế con sẽ là tất cả... như thể giấc mơ của con đã thành hiện thực!!!... "


V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh mục và tu sĩ, chúng ta cầu xin Chúa sai đến đoàn chiên Chúa những chủ chăn tốt lành như lòng Chúa mong muốn.

1. Chúng ta hãy cầu xin cho mọi thành phần trong Hội thánh / đều tích cực quan tâm đến việc nâng đỡ, đào tạo và chọn lựa những người xứng đáng với ơn gọi làm Linh mục và tu sĩ.

2. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho tất cả những ai đang thi hành trách nhiệm làm Mục tử trong Hội thánh / biết noi gương Ðức Giêsu là mục tử tốt lành / sẵn sàng hiến thân chăm lo cho đoàn chiên Chúa đã trao phó cho mình.

3. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người trẻ biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa / và quảng đại đáp trả tiếng gọi ấy / để dấn thân vào đời sống giáo sĩ và tu sĩ

4. Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người làm cha mẹ trong họ đạo chúng ta / biết giáo dục và hướng dẫn con cái sống tinh thần Tin mừng / để cống hiến cho Hội thánh những mầm giống ơn gọi tốt lành.

Chủ tế: Lạy Chúa, lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, xin cho chúng con biết rộng rãi góp phần vào việc đào tạo Linh mục và tu sĩ, bằng lời cầu nguyện, và bằng sự giúp đỡ nhiệt tình. Chúng con cầu xin, nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.


VI. Trong Thánh lễ

- Kinh Tiền Tụng: Nên dùng Kinh Tiền Tụng Phục sinh V, trình bày Ðức Giêsu là Linh mục và của lễ.

- Trước kinh Lạy Cha: Ngày xưa Ðức Giêsu đã bảo "Chúng con hãy xin chủ ruộng đến gặt lúa của Ngài". Chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa Cha ban cho Giáo Hội có nhiều ơn gọi Linh mục để làm việc trên cánh đồng truyền giáo, để cho "Nước Cha" mau trị đến.


VII. Giải tán

Rời Nhà thờ để trở lại với cuộc sống, chúng ta sẽ thấy còn biết bao người lương chưa biết Chúa, chưa yêu mến tôn thờ Ngài. Vậy anh chị em hãy tiếp tục cầu nguyện cho có thêm ơn gọi Linh mục làm việc trên cánh đồng truyền giáo.
Trích Người Tín Hữu  - Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái
 

PS4-B33. Ơn kêu gọi

Hôm ấy thánh Phêrô và Gioan bị điệu đến trước tòa án Do Thái vì những tội trạng như đã chữa: PS4-B33

Hôm ấy thánh Phêrô và Gioan bị điệu đến trước tòa án Do Thái vì những tội trạng như đã chữa lành cho một người què, đã rao giảng danh Đức Kitô cho dân chúng, khiến nhiều người nghe lời giảng mà tin theo, để rồi trở nên những con chiên trong đàn chiên của vị mục tử duy nhất là chính Đức Kitô.
Tuy nhiên, để họ được nghe tiếng Ngài, thì phải có những người được sai đi rao giảng, như Phêrô và Gioan mà tôi vừa nhắc đến.
Phải cần thật nhiều những vị tông đồ đi rao giảng thì nhân loại này mới thực sự trở nên một đoàn chiên dưới quyền dẫn dắt của một chủ chiên. Vì thế, nhân ngày ơn thiên triệu hôm nay, trước hết phải là ngày cầu nguyện và hành động để có thêm, thêm nữa số các tông đồ.
Nếu như con người thời nay không muốn lắng nghe Tin Mừng thì lại càng cần phải có nhiều người đi rao giảng, để ở mọi nơi và trong mọi lúc, Tin Mừng được trình bày dưới mọi góc cạnh cho mọi người, để rồi không ai nói được rằng mình chẳng hề được nghe nói về Tin Mừng ấy.
Tuy nhiên, đông số tông các tông đồ mà thôi chưa đủ, điều cần thiết là phải có những tông đồ hội đủ tư cách và khả năng, mà Phêrô hôm nay là những tấm gương sáng ngời. Ông không ngừng rao giảng khi được thong dong, trước đám đông dân chúng đang ngạc nhiên và ngưỡng mộ vì phép lạ người què vừa mới được chữa lành. Hơn thế nữa, ông còn rao giảng hùng hồn và dạn dĩ khi đứng trước tòa án Do Thái, trước những vị đầu mục của dân chúng. Nếu chúng ta có nói rằng ông đang hiến mạng sống mình vì đoàn chiên, thật cũng chẳng sai. Cứ thử so sánh phiên tòa hôm nay với phiên tòa xét xử Chúa Giêsu mà xem, chúng ta sẽ thấy có những điểm thật giống nhau.
Trước đây người ta hỏi Chúa Giêsu: Ông lấy quyền gì mà làm như vậy. Còn bây giờ người ta cũng hỏi các ông: Bởi quyền phép nào hay nhân danh ai mà các ngươi đã làm những điều ấy. Tòa chỉ chờ họ thưa: nhân danh Chúa Giêsu, để khép tội, vì thưa như vậy là coi Đức Kitô là Thiên Chúa. Đó cũng chính là tội trạng của Chúa Giêsu vì dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa.
Nếu Đức Kitô đã không sợ chết, thì các môn đệ của Ngài cũng không sợ phải hiến mạng sống mình. Các ông tuyên xưng một cách mạnh dạn Đức Kitô là Đấng Cứu Thế. Vụ án của Ngài đã được nói trước trong Kinh Thánh, vì Ngài chính là viên đá bị thợ xây loại bỏ, lại trở thành viên đá góc xây nên đền thờ Thiên Chúa.
Phêrô và Gioan là những tông đồ sẵn sàng hiến mạng sống mình vì danh Đức Kitô, để giống như Ngài và kết hợp với Ngài trong mầu nhiệm cứu độ, tiếng các ông đã vang vọng, để rồi đã được lắng nghe, đã được đón nhận và đã thôi thúc được nhiều người đã trở về trong đoàn chiên của Chúa.
Tóm lại trong ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi, chúng ta hãy kêu xin Chúa sai thêm thợ gặt đến đồng lúa của Ngài, nhưng đồng thời phải là những thợ biết gặt, phải là những mục tử dám hy sinh vì đoàn chiên, để nhờ đó qui tụ được những con chiên còn lạc đường vào một đoàn chiên và dưới sự dẫn dắt một chủ chiên duy nhất mà thôi.
 

PS4-B34. Người Mục Tử Nhân Lành

Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Chúa: PS4-B34

Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Chúa Giêsu đã dám nói và đã dám thực hiện đến cùng lời Người đã từng phán. Chúa Giêsu có đầy uy quyền làm chủ chính vận mạng của mình, chứ không ai có thể hại đến mạng sống Ngài; nhưng vì quá yêu thương loài người Ngài đã tự nguyện hy sinh bản thân hầu phát sinh một sức mạnh giải thoát người ta khỏi vòng nô lệ của tội lỗi. Ngài muốn đến với con người trong một mối tương quan mật thiết rất cảm động cho từng tâm hồn: Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi. Có như thế Ngài mới cảm thấy tình yêu được đáp trả tròn đầy. Ôi thật êm dịu và sung sướng biết bao khi nghe những lời quá đổi chân thật và ngọt ngào! Trong cuộc đời chúng ta được nghe rất nhiều những lời như thế, nhưng không được mấy người có khả năng thực hiện trọn vẹn những lời hứa ấy. Và các lần thất hứa của con người khiến ta chới với hụt hẫng trong bao đau khổ thất vọng! Chúa Giêsu không hứa suông hứa hảo như người khác, lời hứa của Ngài ngay cả lụt Đại Hồng Thủy cũng chẳng xóa đi được. Ngài không chỉ là con người hèn yếu giống chúng ta, nhưng còn là Đấng Thần Thiêng cao cả, nên Ngài có thừa khả năng để thực hiện đầy đủ những lời hứa trọng đại của Ngài.
Ai nương tựa Chúa thì tốt hơn tốt hơn nương tựa ở loài người.
Ai nương tựa Chúa thì tốt hơn tốt hơn nương tựa những bậc quân vương! Đó là lời ca của một bài hát khá quen thuộc nhắc nhở các tín hữu hãy tin chắc nơi Chúa, vì chỉ có Ngài mới không bỏ ta trong thất vọng ê chề; do Ngài hằng thương ta nhiều hơn ta có thể tưởng tượng. Tình yêu của Ngài thật cao sâu mầu nhiệm đã phát sinh ra muôn vàn sự sống huyền diệu đầy dẫy trong vũ trụ bao la hùng vĩ. Tình yêu đó không để một tâm hồn nào bị lạc mất trong đám đông, trái lại luôn thấu suốt nhu cầu cá biệt của từng nhân vị. Và chính tình yêu đó dìu ta đi qua suốt mọi nguy hiểm đường đời, để cuối cùng đưa ta về an nghỉ trong đồng cỏ xanh tươi có suối mát trong thơm ngọt của cõi sống vĩnh hằng Thiên Đàng. Tình yêu đó một khi đã tác tạo nên ta sẽ không bao giờ lìa bỏ ta; trừ khi ta tự ý quyết định xa lìa tình yêu ấy để đi theo những quyến dũ của những ảo ảnh tình yêu khác.
Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ
 

PS4-B35. TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH

Một người lữ khách đi qua một vùng núi Tô Cách Lan, ông dừng chân trước một đàn cừu. Bỗng: PS4-B35

Một người lữ khách đi qua một vùng núi Tô Cách Lan, ông dừng chân trước một đàn cừu. Bỗng ông nhìn thấy một người mục tử đang săn sóc một con cừu. Con vật nằm dài trên mặt đất, còn chủ nó thì vừa vuốt ve vừa nói chuyện với nó một cách dịu dàng thân mật, trong khi ông không ngừng băng bó một chân của nó. Người lữ khách tiến lại gần và hỏi xem con vật có việc gì không. Người chăn cừu thân mật trả lời :
- Con cừu này có đức tính của một con vật hướng đạo. Khi lành mạnh, nó luôn dẫn đầu đàn cừu và nó biết cách làm cho các con khác vâng lời nó. Nhưng vì quá tự tin, nên nó không nghe lệnh của tôi và dẫn đàn cừu đi theo ý nó. Tôi đã tìm con khác thay thế nó, nhưng vô hiệu. Hễ con nào có vẻ muốn thay nó đều bị nó đánh và xua đuổi khiến đàn cừu trở nên nguy ngập. Tôi buộc lòng phải dùng biện phát khá đau đớn là bẻ gẫy chân nó. Từ đó con vật bị thương nên hoàn toàn tùy thuộc vào tôi. Mỗi buổi sáng tôi vác nó lên vai đêm ra đồng cỏ, buổi chiều vác nó về. Nó không tự ý đi ăn cỏ được mà phải ăn giữa lòng bàn tay của tôi. Những săn sóc liên tục của tôi từ hơn một tháng nay đã tạo nên giữa tôi và nó một sự liên hệ vô cùng mật thiết. Bây giờ có lẽ nó cũng hiểu rằng tôi đả thương nó cũng chỉ vì không biết vâng lời chủ. Tôi cũng đã tìm cách chữa lành cho nó. Tôi cũng biết rằng tôi không thể tìm được một con nào trong đàn biết vâng lời tôi hơn nó. Ít ngày nữa, khi nó khoẻ mạnh lại, tôi sẽ phục hồi nó lại trong địa vị cũ của nó.
Hình ảnh người chăn cừu khôn ngoan chân thành trên đây gợi lại phần nào đặc tính của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Thánh Kinh đã không ngần ngại so sánh Thiên Chúa với người mục tử tốt lành. Người mục tử tốt lành săn sóc từng con chiên, uốn nắn từng con chiên và sửa trị từng con một.... Nhưng tất cả cũng chỉ vì yêu thương đàn chiên của mình.
Thiên Chúa có thực sự yêu thương chúng ta không? Đó là câu hỏi mà chúng ta có quyền đặt ra để tìm kiếm hạnh phúc cho mình. Nhưng hạnh phúc cho mình còn lụy thuộc vào hậy quả của Án phạt của nguyên tổ gây nên. Cuộc sống diễn ra xem chừng như không xuôi chảy cho từng người. Cũng không bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn vì đau khổ, thất bại, chiến tranh, chết chóc, bệnh tật, tai ương đã làm giảm đi niềm hạnh phúc của con người. Chính vì những tai ương đó đã gợi lên trong ta những thắc mắc về tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng Tiên Tri Isaia đã hé mở cho chúng ta rằng: Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của các ngươi không phải đường lối của Ta. Như trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu (Is 55: 8-9).
Thánh Gioan đã viết: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài và Người Con Một đó đã yêu đến nỗi đã tự phó nộp mình và chết trên thập giá. Nói như thế không có nghĩa là Thiên Chúa muốn cho con người phải chịu đau khổ. Thiên Chúa cũng không tạo ra đau khổ để sửa trị con người. Nhưng nhờ thắng lướt được thánh giá đau khổ, mà con người đạt được hạnh phúc.
Chúa Giêsu cũng nói: Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành, Ta thí mạng sống vì chiên (Jn. 10:11). Tức là vì yêu thương chúng ta, Chúa đã mở lối thí mạng sống khai đường cho chúng ta đi vào lối trường sinh qua con đường thập giá.
Lạy Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, xin săn sóc chúng con như người mục tử trên cánh đồng Tô Cách Lan săn sóc, uốn nắn và sửa trị từng con chiên một, để chúng con trở thành những con chiên ngoan hiền giữa một một đàn chiên với một chủ chiên.(5-2003).
Trích Dongcong.net - Lm. Thu Băng, CMC
 

PS4-B36. MỤC TỬ NHÂN LÀNH

Cha Ngô phúc Hậu đang truyền giáo tại Cà Mau, Việt Nam trong cuốn Nhật Ký Truyền Giáo: PS4-B36

Cha Ngô phúc Hậu đang truyền giáo tại Cà Mau, Việt Nam trong cuốn Nhật Ký Truyền Giáo ghi lại rằng trong giờ dạy giáo lý, cha hỏi một người dự tòng:
- Trước khi con đến đây xin học đạo, thì con đã tới nhà thờ lần nào chưa?
- Con chỉ đi qua trước cổng, chứ không dám vào?
- Tại sao vậy?
- Người ta biểu: người ngoại mà vô nhà thờ, thì ông cha đánh thấy mồ.
- Eo ơi, làm gì có. Con đã bị đánh lần nào chưa?
- Con nghe người ta nói vậy, chứ con có vô nhà thờ bao giờ đâu mà bị đánh.
Chắc chắn chẳng có linh mục nào lại đánh những người lương dân đến nhà thờ để tham quan, hoặc là để làm thỏa mãn tính tò mò. Nhưng tại sao lại có tin đồn như thế? Do ác ý hay do vô tình? Nhưng có một điều chắc chắn là nhiều người giáo dân vẫn thích đưa cha sở của mình ra, để hù thiên hạ.
- Mày mà không đi lễ, tao méc cố sở, cố sở "uýnh" thấy cha mày.
- Mày mà không dứt với con nhỏ này, thì ông cố sở cho mày đi đoong.
Cha viết tiếp: "Có một lần kia, mình đang đi ngoài đường, thì nghe một người đàn bà dọa thằng cu tí đang gào lên như cái ống bô bể:
- Mày mà không nín, tao méc ông cố, ông cố cắt chim mày.
Thằng cu tí dòm mình, mặt tái mét...
Mình cảm thấy bất bình với người đàn bà ấy, vì bà đã đem mình ra làm con ngáo ộp, để dọa thằng cu tí. Thế là vô tình bà đã gieo vào tâm thức con bà một hạt giống sợ hãi. Lớn lên nó sẽ giữ đạo trong nỗi sợ: sợ Chúa, sợ cha sở, sợ hỏa ngục."
Cha còn ghi thêm: "Dân gian vẽ chân dung mục tử như thế đó. Bất công thay. Còn đâu nữa hình ảnh mục tử tốt lành: dẫn chiên đi ăn trên đồng cỏ xanh tươi; đưa chiên xuống suối uống nước trong lành; cho chiên nằm nghỉ dưới bóng râm của cây cổ thụ; băng bó những con chiên bị thương; vác con chiên lạc trên vai; phang gậy trên đầu chó sói để bảo vệ bầy chiên?" (NKTG, trang 132-134).
Hôm nay trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu cho chúng ta hay Ngài là vị mục tử nhân lành, tự tình hiến mạng sống vì đoàn chiên, Chúa biết đoàn chiên và đoàn chiên biết Chúa.
Noi gương Chúa Kitô, Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám mục, linh mục được kêu mời và tuyển chọn làm chủ chăn, làm mục tử săn sóc đoàn chiên, yêu thương tha nhân. Nói một cách chung, các vị chủ chăn, các mục tử là những người theo đuổi một lý tưởng cao đẹp, hiến thân cho Chúa và hy sinh phục vụ tha nhân với tâm hồn quảng đại cao thượng. Vì Chúa, vì tha nhân và đoàn chiên, các ngài đã sẵn lòng hy sinh. Nếu không có tình yêu quảng đại và tấm lòng tự tình hy sinh thực sự, thật khó cho các vị chủ chăn, các mục tử có thể trung thành với những gì đã cam kết, với lý tưởng đang theo đuổi.
Ôm ấp một lý tưởng cao đẹp và sẵn lòng hy sinh chăm sóc đoàn chiên, nhưng điều cần để ý đó là các vị chủ chăn, các mục tử tuy đã được thánh hiến, nhưng các ngài vẫn còn là con người, với những giới hạn của con người, các ngài có thể đã có những yếu đuối, những sa ngã, sai sót của thân phận làm người, vì bánh thánh sau khi truyền phép cũng vẫn còn mang tính chất mỏng dòn yếu mềm, và một cây nến sau khi làm phép cũng dễ tắt như bao cây nến khác. Mang thân phận con người, các ngài nhiều lần đã không làm những điều phải làm và lại làm những điều không nên làm. Hơn nữa, với khả năng hữu hạn, nhiều lần với nhiều cách thức khác nhau, các ngài đã không thể làm thỏa mãn hài lòng tất cả mọi người.
Một sơ giảng giáo lý cho các em nhỏ về quyền năng của Thiên Chúa, Chúa làm được mọi sự Ngài muốn. Muốn nhấn mạnh điều mình nói, sơ hỏi các em: "Có em nào thấy việc gì mà Chúa không làm được không?" Sơ đang hí hửng bỗng cánh tay của em Hùng từ từ giơ lên làm sơ bối rối, sơ hỏi em: "Em Hùng, em kể xem có điều gì mà Thiên Chúa không làm được?" Em Hùng nhẹ nhàng trả lời: "Dạ thưa sơ, có một điều mà Thiên Chúa không làm được đó là Chúa không thể làm hài lòng tất cả mọi người." Nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng mà còn không thể làm hài lòng tất cả mọi người, thì chúng ta phải nói sao về các mục tử, các vị chủ chăn là những con người với nhiều giới hạn bất toàn?
Do đó, các vị chủ chăn, các mục tử mong được sự thông cảm nâng đỡ hiểu biết rộng lượng của chúng ta. Có người bảo rằng trong giờ hấp hối tại vườn cây dầu, cũng như trên đường thương khó và ở núi Sọ, Chúa Kitô sẽ bớt cô đơn hơn, bớt đau khổ hơn nếu tất cả các môn đệ trung thành, cộng tác vác đỡ thánh giá, và can đảm chia sẻ đứng dưới chân thập giá.
Cuộc thương khó của Chúa Giêsu đã hoàn tất, con đường Ngài đi đã trọn vẹn, nhưng con đường của các chủ chăn, các vị mục tử, của Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám mục, linh mục chưa hoàn tất, chưa đi trọn; con đường của chúng ta cũng chưa hoàn tất, các vị chủ chăn, các mục tử đã đang mời gọi chúng ta cùng đồng hành nâng đỡ lẫn nhau. Phải chăng chúng ta thích đồng hành, đi chung với nhau trong vui tươi xây dựng đoàn kết như một đoàn chiên, hay nhân danh tự do chúng ta lại muốn độc hành trong lẻ loi cô độc làm cho đời mình thành những con chiên lạc đàn thiếu an vui hạnh phúc, khiến cho các vị chủ chăn, các mục tử phải buồn phiền, nghĩ ngợi, và băn khoăn lo lắng?
NS. Trái Tim Đức Mẹ - Lm. Louis Minh Nhiên, CMC
 

PS4-B37. Hiến mạng vì đoàn chiên

Tại San Salvador ngày 24.3.1980, Đức Tổng Giám Mục Oscar Romeno đang sốt sắng dâng: PS4-B37

Tại San Salvador ngày 24.3.1980, Đức Tổng Giám Mục Oscar Romeno đang sốt sắng dâng Thánh Lễ, thì bỗng nhiên một phát súng từ một kẻ sát nhân nào đó, bay tới trúng trái tim ngài, khiến ngài tắt thở ngay tại chỗ. Chỉ trước đó vài phút, ngài đã giảng một bài thật hùng hồn về niềm hy vọng tràn đầy vào hạnh phúc vĩnh cửu của con cái Chúa; trong đó, ngài tha thiết khuyên Giáo Dân hãy hy sinh phục vụ tha nhân theo mẫu gương hy sinh bác ái của Chúa Kitô.
Sau lúc đọc lời truyền phép, biến đổi bánh rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa, ngài được tràn đầy sung sướng thốt lên những lời sau hết này: "Chớ gì Thân Thể đã chịu sát tế và Máu Thánh đã đổ ra vì nhân loại, tăng thêm sức mạnh cho thân xác và khí huyết chúng ta, để chúng ta có thể hy sinh bản thân chúng ta, chịu đau khổ và tử nạn như Chúa Kitô, để có thể trao tặng cho Dân Chúa một viễn tượng công lý và Hòa Bình".
Từ ngày Đức Tổng Giám Mục Romeno tranh đấu đòi nhân quyền cho Giáo Dân của ngài đang bị áp bức, ngài đã quá biết rằng tính mạng ngài đang bị đe dọa. Dầu vậy, Ngài vẫn cương quyết hô hào dân chúng chống lại sự áp bức bất công và đòi quyền tự do cho con người. Một lần kia đầy lòng tin tưởng ngài đã quả quyết với các phóng viên báo chí rằng: "Mặc dầu kẻ thù có giết chết tôi, tôi cũng sẽ "Chỗi dậy" giữa dân của tôi". Bởi vì Đức Tổng Giám Mục rất thương mến Giáo Dân của Ngài tại San Salvador, và chính bởi thế, ngài đã chịu chết để bênh vực quyền lợi cho họ. Ngài đã thực sự làm ứng nghiệm nơi bản thân ngài lời Chúa phán trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe: "Ta là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành đã hiến mạng sống mình vì Đoàn Chiên... Ta biết chiên của Ta và Ta hy hiến mạng sống Ta vì chiên của Ta".
I. Mẫu gương của các vị chủ chăn
Chúa Kitô tự xưng mình là Mục Tử Nhân Lành. Chúa đã dùng một hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống người Do Thái: Đó là hình ảnh người chăn chiên, để mặc khải cho chúng ta nhận biết tình thương của Thiên Chúa đối với nhân loại. Vì thương yêu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người, như một thụ tạo đặc biệt giống hình ảnh Chúa và giống bản tính Người. Chúa còn quan phòng, săn sóc, bảo vệ, che chở và dưỡng nuôi; cung cấp mọi nhu cầu cần thiết để chúng ta sống mà phụng sự Người, hầu có thể đạt tới cùng đích tối hậu là hạnh phúc vĩnh cửu Người đã sắm sẵn cho chúng ta trên Quê Trời.
Sau khi nguyên tổ phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa, Người đã sai Đấng Cứu Thế đến trần gian, như hiện thân của lòng nhân từ, như Mục Tử Nhân Lành chăn dắt Đoàn Chiên của Người là tất cả chúng ta, ban lời giáo huấn làm lẽ sống hướng dẫn cuộc đời, rộng tay ban phát mọi ơn lành. Sau cùng, Người đã hiến chính mạng sống mình để đền tạ phép công bình Thiên Chúa, đền phạt tội lỗi chúng ta, lập nên Giá Ơn Cứu Độ cho chúng ta và cho tất cả những ai thành tâm thiện chí, muốn hưởng nhờ công Ơn Cứu Độ của Người.
Chúa còn thiết lập Giáo Hội, chỉ định Hàng Giáo Phẩm như các vị Chủ Chăn, trao quyền chăn dắt Đoàn Chiên Chúa, cai quản, giáo huấn và thánh hóa Đoàn Chiên Chúa trao phó cho các Ngài, đặt mình như mẫu gương trọn hảo cho các ngài noi theo bắt chước trong khi thi hành sứ mạng Ngài đã trao phó.
II. Chủ trương của Giáo Hội Công giáo
Chính vì thấu hiểu giáo huấn của Chúa Kitô, nên Giáo Hội Công Giáo chúng ta đã thiết lập luật độc thân cho Hàng Giáo Phẩm, để các ngài được theo sát mẫu gương của Thầy Chí Thánh, Đấng thiết lập Giáo Hội, hy hiến tất cả bản thân và cả cuộc sống để phục vụ Đoàn Chiên đã được ủy thác cho các ngài. Nhưng ngày nay có nhiều người đã đưa ra những luận điệu có vẻ xây dựng, đề nghĐ cho các Linh Mục được lập gia đình giống như các Mục Sư Tin Lành, để cứu vãn tình trạng thiếu ơn gọi, khan hiếm Linh Mục, vì sợ rằng mai ngày không còn đủ Tông Đồ làm việc cho Chúa, thiệt hại cho các linh hồn.
Nhưng chúng ta hãy nghe thuật lại những phức tạp sau đây, đã được chính các vị Chủ Chăn tiết lộ về tình trạng của các giáo phái có luật cho phép Linh Mục lập gia đình và Mục Sư có đôi bạn.
Đây là những nhận định của các vị hữu trách trong các giáo phái, đã chân thành chia sẻ với các vị Chủ Chăn Công Giáo trong một phiên họp thân mật:
1. Mục Sư Jungmann nói: "Qúi vị đừng nghĩ rằng chỉ có Giáo Hội Công Giáo của quí vị gặp khủng hoảng, bên Tin Lành chúng tôi còn gặp khủng hoảng nặng hơn bên quí vị rất nhiều.
2. Trong một cuộc họp mặt giữa Linh Mục Công Giáo và Mục Sư Tin Lành, một Mục Sư phát biểu về đời sống độc thân: "Tôi bắt đầu hiểu giá trị đời sống độc thân nơi Giáo Hội Công Giáo. Tôi cảm thấy các Cha là anh em với nhau, và tạo nên một gia đình thực sự, chúng tôi không thể nói được như thế đối với chúng tôi... Nếu một Mục Sư nào đó thành công, tôi không sung sướng gì; nếu một Mục Sư nào đó thất bại, tôi cũng không đau xót gì với ông. Giữa chúng tôi không có bầu khí gia đình, họa chăng cũng chỉ có giữa vợ chồng chúng tôi thôi".
3. Đức Tổng Giám Mục Công Giáo ở Beyrouth (Liban) tâm sự: "Các Đức Cha hãy cố giữ lấy kho tàng quí báu của Giáo Hội Latinh, tức là luật Linh Mục độc thân. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này; vì Giáo Phận tôi, một Giáo Phận theo nghi lễ Đông Phương: Có Linh Mục độc thân và có Linh Mục lập gia đình. Lắm vấn đề phức tạp mà quí vị không thể tưởng tượng được".
4. Giáo Hội Công Giáo chúng tôi cũng như bên Chính Thống Giáo luôn nuôi ở tòa Giám Mục vài Cha sống độc thân, để dự phòng sau này làm Giám Mục kế vị chúng tôi, vì Giáo Luật đòi buộc Giám Mục phải sống độc thân.
5. Lại còn phức tạp do luật buộc Linh Mục chỉ được kết hôn một lần trước khi chịu Chức Thánh. Có những trường hợp Linh Mục mới có 30 hoặc 35 tuổi, vợ ông đã chết, tay bồng tay bế, lũ con nheo nhóc, không ai nuôi dưỡng, thật nan giải.
6. Trong việc mục vụ càng phức tạp hơn: Mặc dầu tập quán Linh Mục lập gia đình đã có từ xưa truyền lại, Giáo Dân vẫn quí mến Linh Mục độc thân hơn, các ngài dù ở xa hoặc đi đến đâu, họ cũng tìm cách gặp gỡ, để xưng tội và xin lễ.
7. Linh Mục có gia đình chỉ phục vụ trọn vẹn ngày Chúa Nhật, còn các ngày khác họ phải lo làm ăn để nuôi sống gia đình. Như thế làm sao tiếp xúc được với mọi người.
8. Thuyên chuyển một Linh Mục có gia đình thật là một vấn đề khó khăn. Được lệnh ông sẽ bảo: "Con sẵn sàng, nhưng vợ con mắc làm ở sở kia, các cháu lại đang học ở trường nọ, gia đình con không cùng đồng tâm đến địa phương đó".
9. Có khi Linh Mục thì tốt, nhưng bà vợ hoặc con cái chưa nói là xấu, chỉ không được Giáo Dân trong xứ có thiện cảm, thì cũng đủ để họ ghét luôn cả Linh Mục, rồi dần dà xa việc đạo. Trường hợp mà xảy ra thù hằn thì còn mất cả Đức Tin nữa. Nếu thuyên chuyển Linh Mục ấy không được, thì cha truyền con nối, tiếp tục giữ Giáo Xứ từ thế hệ này qua thế hệ khác, làm cho cả Xứ Đạo phải chịu sự áp bức của một gia đình, nên đời sống đạo hạnh sa sút không thể lường được.
Kết Luận
Là con cái Chúa và Giáo Hội, chúng ta hãy nên giống Chúa sẵn sàng hy sinh tư lợi, tư kỷ, tư kiến, để hy hiến bản thân phục vụ tha nhân, đem Ơn Cứu Độ của Chúa đến cho họ, an ủi những người sầu khổ, nâng đỡ kẻ túng thiếu nghèo nàn, cầu nguyện cho những người bị bách hại, tha thứ cho kẻ chống đối mình, nâng dậy kẻ yếu đuối sa ngã.
Đặc biệt cầu cho mọi thành phần của Giáo Hội được luôn trung kiên noi theo gương Chúa Kitô, để Hàng Giáo Phẩm, Giáo Sĩ giữ vững truyền thống luật độc thân thánh thiện của chức Linh Mục, hầu các Vị Chủ Chăn có thể chu toàn sứ mạng chăn dắt Đoàn Chiên và nên gương mẫu đời sống trong sạch, thánh thiện cho Đoàn Chiên Chúa trao phó cho các Ngài.
Trích Dongcong.net - Lm. Minh Vận, CMC
 

PS4-B38. TA BIẾT CHIÊN TA VÀ CHIÊN TA BIẾT TA

Trong cuộc chiến chống Saddam Hussein, người Mỹ đã huy động những đội quân tinh nhuệ: PS4-B38

Trong cuộc chiến chống Saddam Hussein, người Mỹ đã huy động những đội quân tinh nhuệ và hùng hậu, cùng với những khí giới tối tân nhất. Trong số đoàn quân viễn chinh ấy, có hai quân nhân Ẫcá heoỮ, đó là Makai và Takoma. Hai binh sĩ cá này thuộc hải quân Hoa Kỳ. Makai phát xuất từ căn cứ hải quân ở Hawaii, còn Takoma ở San Diego, California.
Sứ mạng đặc biệt của hai binh sĩ này là tìm kiếm những trái thủy lôi được đặt dưới lòng đại dương. Khả năng tìm thủy lôi của hai quân nhân này vượt khỏi khả năng tìm kiếm của những binh sĩ người nhái, hoặc những người lính hải quân. Và cả hai đã được huấn luyện thuần thục có thể nghe và hiểu được những mệnh lệnh của cấp chỉ huy.
Trước đó, cũng một trường hợp đặc biệt được ghi nhận là một hoa tiêu Ẫcá heoỮ với tên gọi Pelorus Jack, đã không ngừng hướng dẫn và đưa đường cho những con tầu ra vào eo biển Cook thuộc Tân Tây Lan, một vùng biển vô cùng hiểm trở với những rặng đá và sóng ngầm. Có ít nhất một trường hợp đã xẩy ra vào năm 1909, vì không được Pelorus Jack hướng dẫn, nên chiếc Penguin đã đâm vào đá ngầm và làm thiệt mạng 75 hành khách. Pelorus Jack đã từ trần vào năm 1912, sau 24 năm làm công việc hoa tiêu đầy lý thú ấy.
Hình ảnh của hai quân nhân và hoa tiêu cá trên là hình ảnh của những con vật được huấn luyện thuộc thời đại tân tiến, thời đại văn minh khoa học, hoặc bẩm sinh như của Pelorus Jack. Nhưng cũng có một hình ảnh mà trước đây 2000 năm, Chúa Giêsu đã dùng để so sánh và đưa ra một dẫn chứng về mối liên lạc mật thiết trong cuộc sống tâm linh của con người, đó là hình ảnh những con chiên và người chăn chiên. Điểm đặc biệt ở đây là chính Chúa Giêsu đã tự ví mình là người chăn chiên tốt Ẫmục tử nhân lànhỮ. Tốt đến nỗi không những lo cho chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi nơi những đồng cỏ non bên các dòng suối mát trong. Hơn thế nữa, người chăn chiên Giêsu còn sẵn lòng chết cho chiên của mình. Chưa thấy ai trong những người chăn chiên đã làm như thế. Bù lại, những con chiên trong đàn đã đáp lại một cách nhiệt tình với mục tử của mình bằng cách biết và nghe tiếng mục tử.
Với bản năng tự nhiên, những con chiên được chăn trong một đàn, ngày qua ngày sẽ quen với tiếng người chăn và đi theo người chăn, miễn là người chăn không làm chúng hoảng sợ. Phân tích một cách tâm lý hơn, thì do sự pha trộn giữa ảnh hưởng có điều kiện và ảnh hưởng vô điều kiện giữa người chăn và đàn chiên được tạo nên do những phản ứng đối với hình ảnh, mùi vị, tiếng nói của người chăn, và những cách đồng cỏ non, những dòng suối mát trong đã khiến cho chiên trở thành quen thuộc với người chăn, và đi theo người chăn. Nhưng Chúa Giêsu không so sánh trường hợp này với những chuyện thường tình, mà Ngài muốn dùng hình ảnh ấy để nói về một sự liên lạc mật thiết giữa con người và Thiên Chúa. Ngài mong mỏi con người bày tỏ sự tin tưởng và ngoan thảo đối với tình thương yêu của Thiên Chúa, như những con chiên ngoan ngoãn nghe theo tiếng của người mục tử.
Qua hình ảnh so sánh trên, những con vật tinh khôn kia rõ ràng là biết ý chủ mình, và sẵn sàng làm theo ý chủ. Chúng có khả năng nghe được tiếng chủ và đi theo chủ. Nhưng điều này lại thấy xẩy ra trái ngược trong thế giới tâm linh con người. Phải chăng vì con người có tự do, có lý trí, và có khả năng tự quyết. Nhiều lần và trong rất nhiều hoàn cảnh, con người đã không muốn nghe và hiểu tiếng Chúa. Như Evà xưa trong vườn Diệu Quang, đã muốn Ẫbiết lành và biết dữỮ, và xẩy ra là sự ham muốn ấy đã dẫn đến hậu quả làm cách ly con người với Thiên Chúa, làm tan biến mối liên hệ mật thiết giữa Chúa và con người. Đây chính là yếu tố phân biệt, và cũng là điều mà Chúa Giêsu muốn dùng hình ảnh con chiên để nói với nhân loại. Dĩ nhiên, Ngài không gọi ta là ẪchiênỮ theo nghĩa thể lý mặc dù con người cũng không thể là Thiên Chúa, và không tài nào có thể khám phá thế giới của Ngài. Cũng như con chiên không thể nào hiểu được trọn vẹn tâm tư của người chăn mình.
Cũng qua hình ảnh con chiên và người chăn chiên, ta mới khám phá thêm về tình yêu đặc biệt mà Thiên Chúa muốn dành tặng con người. Vì con người không thể là Thiên Chúa và hiểu được Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã tự hạ xuống làm con người, và để con người được tự do thân mật với Ngài. Hơn nữa, Ngài xem như thích được nói với con người và nghe tâm sự của con người. Có bao giờ con chiên lại có thể nói truyện với chủ chăn của mình như hai người bạn thân? Và có bao giờ chiên lại thông cảm được với chủ, nhất là trong những lúc có chuyện xẩy ra chung quanh cuộc sống. Thế mà Chúa Giêsu - Thiên Chúa làm người - đã nói: ẪThầy không gọi anh em là tôi tớ, nhưng là bạn hữuỮ (Gio 15:15). Và trong tinh thần bạn hữu ấy, Ngài đã tỏ ra rất tự nhiên và thân thiết: ẪNgười ta bảo Con Người là ai?Ữ (Mt 16:13). Hoặc: ẪSimon con Gioan, con có mến Thầy khôngỮ (Gio 21:17). Quan tâm đến những nhu cầu thiết thực của cuộc sống, đã có lần Ngài hỏi các môn đệ: ẪCác con có gì ăn khôngỮ (Gio 21: 5). Hoặc chính Ngài đi tìm những nhu cầu ấy qua con người: ẪCho ta uống vớiỮ (Gio 4:7). Đó không phải là một hình thức tâm sự và muốn lắng nghe tâm sự là gì. Và đó không phải lúc con người truyện vãn với Thiên Chúa là gì? Thế giới hôm nay có quá nhiều tiếng động đạc, ồn ào. Và cũng có quá nhiều tiếng nói đến từ nhiều phía làm con người bị phân tâm và không nhận rõ ra tiếng Chúa. Để săn tìm được những trái thủy lôi nằm sâu dưới lòng biển cả, Makai và Takoma đã trải qua 10 năm trời huấn luyện. Để hướng dẫn những con tầu vượt qua những tảng đá ngầm và những cơn sóng ngầm, Pelorus Jack đã được thiên phú một cho một khả năng mà từ đó tới giờ chưa có trường hợp thứ hai xẩy ra. Và để nghe được tiếng chủ chăn, những con chiên đã nghe được tiếng nói ấy nhiều lần và trong nhiều trường hợp khác nhau. Trong thế giới tâm linh, con người cũng phải gần gũi, tiếp cận với Thiên Chúa, nhất là luyện cho mình có khả năng nghe và nhận ra Ngài trong những biến cố thường ngày chung quanh cuộc sống: ẪTa là mục tử nhân lành. Ta biết chiên ta, và chiên ta biết taỮ (Gio 10:14).
Trích Dongcong.net- TS Trần Quang Huy Khanh
 

PS4-B39. Ngôi sao chúng ta

Chúa Giêsu phán: “Chiên Ta nghe tiếng Ta” (Gioan 10,27). Đó là một câu nói đầy ý nghĩa: PS4-B39

Chúa Giêsu phán: “Chiên Ta nghe tiếng Ta” (Gioan 10,27). Đó là một câu nói đầy ý nghĩa. Nhưng câu nói đó không có vẻ tâng bốc chút nào. Chiên không phải là loài súc vật thông minh nhất. Chúng ta không nghĩ chính chúng ta là những con chiên. Lần kia có người nói rằng việc so sánh con người với con chiên khiến ông ta cảm thấy bị hạ thấp. Ông thắc mắc đúng. Con chiên không thể suy nghĩ về chính mình. Theo bản tính và bản năng, loài chiên chỉ biết đi theo mà thôi.
Lần kia một nữ giáo sư yêu cầu đám học sinh trẻ tuổi giải đáp bài tính về mười một con chiên ở trong đồng cỏ. Sáu con nhảy băng rào qua đồng cỏ khác. Bao nhiêu con còn lại? Hết thảy học sinh - chỉ trừ một em - đã trả lời: ẪCòn lại năm conỮ. Em bé khác thường kia đáp: ẪKhông còn con nào hếtỮ. Cô nữ giáo sư nói : ẪEm không nhận ra mười một con, trừ đi sáu con, còn lại năm con sao?Ữ. Em bé đáp lại: ẪThưa cô, có thể cô rất rành về toán học nhưng cô không biết rõ giống chiên!!!Ữ Em bé nhận xét đúng. Loài chiên không phải là những súc vật xuất chúng nhất. Khi một con nhảy; cả đám nhảy theo. Đó là bản năng sống thành bầy. Chúng không thể làm khác đi được. Đó là bản chất của thú vật.
Cứ theo sách vở mà nói, Chúa Giêsu không đáng được ca tụng khi so sánh chúng ta với đoàn chiên. Vậy tại sao lại có sự so sánh như thế? Có hai lý do. Một là Chúa nói theo ngôn ngữ thời bấy giờ và hai là Ngài có tâm hồn thi sĩ. Từ ngữ ẪchiênỮ và Ẫngười chăn chiênỮ, Ẫchủ chănỮ hay Ẫmục tửỮ trong ngữ cảnh Thánh kinh là những thành ngữ có tính cách thi phú. Những thành ngữ đó không thể hiểu theo nghĩa đen được. Thánh kinh đầy dẫy những thành ngữ có tính cách thi phú như thế. _Chiên Thiên ChúaỴ có tính cách thi ca. Chiên dễ bị tổn thương và cừu thì không có tính cách đe dọa. Chúa Giêsu khi ám chỉ mình là _chiên và cừuỴ là muốn cho chúng ta thấy Thiên Chúa giống như thế nào. Thiên Chúa thì dịu dàng, ai cũng có thể đến được và ai cũng có thể lại gần được. Đó là những thuộc tính của Thiên Chúa mà chúng ta chú trọng ở trong Phúc Am. Chúng ta không chú trọng đến quyền năng, quyền uy và vinh danh của Ngài.
Thánh vịnh và người chăn chiên
Có một vị diễn giả rất hùng biện, ưa thích dẫn chứng câu Thánh vịnh 22: “Chúa là Đấng chăn dắt tôi”. Lần kia sau khi trích dẫn câu Thánh vịnh đó ở trong một đại sảnh, toàn thể cử tọa đứng lên vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Một cụ già bước tới trước và nói lớn cho biết là cụ có thể diễn thuyết hay hơn. Vị diễn giả kia đã mời cụ lên bệ giảng và cụ bắt đầu đọc hết bài Thánh vịnh nổi tiếng đó. Một sự im lặng sâu lắng tràn ngập trên cử tọa. Họ lắng tai nghe, thích thú. Niềm tin và sự chân thành của cụ đã khiến nhiều người rơi lệ. Khi cụ chấm dứt, vị diễn giả thấy mình đã bị lép vế. Ông hỏi cụ làm thế nào mà cụ có thể để hết tâm hồn vào khi ngâm nga thánh vịnh đó. Cụ già trả lơì: ẪThưa ngài, sự khác biệt giữa ngài và tôi là ngài biết bài Thánh vịnh đó còn tôi, tôi biết người chăn chiên.Ữ Chính xác biết bao! Tất cả đều hoàn toàn tùy thuộc về Thiên Chúa mà chúng ta biết và đặt trọn vẹn niềm tin.
Biết mấy người trong chúng ta nhớ lại bức tranh thánh thiện về Thiên Chúa là người mục tử vác con chiên trên vai? Ngài đang vác con chiên nào? Đó là con chiên bị lạc mất, con chiên què quặt, con chiên bị đau yếu, con chiên bị lạc lối. Đó là con chiên cần được mang vác lên vai nhiều nhất. Ngạc nhiên thay, đối với Tin Mừng thì tất cả chúng ta đều là những con chiên đi lạc. Nếu chúng ta đánh mất điều đó, chúng ta đánh mất tâm điểu của dụ ngôn nầy. Có phải chính Thiên Chúa là Đấng mà chúng ta đặt trọn vẹn niềm tin không?
Hình ảnh mẹ con
Nếu Chúa Kitô còn sống bằng xương bằng thịt ở trên đời ngày hôm nay, chúng ta tự hỏi không biết Chúa còn dùng hình ảnh con chiên và người mục tử không? Có lẽ Chúa sẽ dùng hình ảnh “mẹ và con” hơn. Thật tình tứ biết bao hình ảnh mẹ và con sánh bước bên nhau, tay trong tay. Rồi thì em bé chợt buông tay mẹ ra và bị bỏ rơi đằng sau, đang lơ đểnh nhìn cái nầy cái khác. Người mẹ dừng lại và chờ đợi. Mẹ ra hiệu cho con chạy tới trước. Em bé chạy tới và mẹ con lại sánh bước bên nhau nhưng chẳng bao lâu, em bé lại buông tay ra và lần nầy chạy tuôn về phía trước. Mẹ gọi em hãy đợi, coi chừng nguy hiểm. Đến ngã tư đường, đèn xanh đèn đỏ, xe cộ như mắc cửi. Em bé nghe tiếng mẹ gọi, đứng dừng lại đợi. Mẹ nắm tay em, ngó trước ngó sau rồi băng qua đường an toàn và tiếp tục cuộc hành trình. Chẳng bao lâu em bé trở nên mệt nhọc, rã rời và gục xuống. Người mẹ đỡ em lên và ẳm em trong tay trên đoạn đường còn lại để đi về nhà. Đó đúng là một sự mô tả đầy thi vị cuộc hành trình của Kitô hữu. Giống như một người mẹ âu yếm con, Chúa Giêsu - người Mục Tử Nhân Từ - luôn để mắt đến chúng ta. Ngài luôn ở bên cạnh chúng ta. Ngài không bao giờ rời mắt khỏi chúng ta. Niềm tin thâm sâu của chúng ta là, nhờ vào sự hiện diện âu yếm của Ngài, chúng ta sẽ đạt tới đích của cuộc hành trình chúng ta bình an vô sự.
Đúng là đúng và sai là sai
Qua dụ ngôn nầy, phải chăng chúng ta có cảm tưởng Thiên Chúa dịu hiền như con chiên nên Ngài không quan tâm gì đến những gì ta làm, những tội ta phạm. Chúa Giêsu hoàn toàn nhu nhược, dễ bị mê hoặc. Nếu thế, chúng ta đã tỏ ra vô cùng bất công đối với Lời Hằng Sống của Chúa. Chúa Giêsu đã tỏ ra minh bạch và dứt khoát khi đòi hỏi chúng ta hãy nghe tiếng Ngài và đừng nghe những tiếng xa lạ, không quen biết. Đối với Chúa Giêsu - người Mục Tử Nhân Lành - sai là sai ngay cả khi mọi người đều làm như thế, và đúng là đúng, ngay cả khi không ai làm điều đó cả. Albert Einstein - một đại toán học gia - đã làm nổi bật điều đó khi nói: ẪThiên Chúa thì tinh tế nhưng không si mêỮ.
Lần kia một chàng trai trẻ rảo bước trong công viên vào một ngày nắng hạ đẹp trời và tình cờ thấy một thiếu nữ xinh đẹp, tức thì bước theo chân nàng. Người đàn bà nhận biết có người đang đi theo mình, quay lại và đối diện với anh ta mà nói: ẪTại sao anh đi theo tôi?Ữ Chàng thanh niên trả lời: ẪBởi vì cô rất xinh đẹp và tôi đã si tình với cô.Ữ Chị ta trả lời: ẪNếu anh quay nhìn xem đằng sau, anh sẽ thấy em gái tôi còn xinh đẹp hơn tôi nhiều.Ữ Chàng thanh niên quay nhìn lại phía sau nhưng không thấy ai hết. Rồi quay mặt lại đằng trước, anh ta nói: ẪCô đã chế giễu tôi.Ữ Thiếu nữ đáp: ẪNếu anh đã yêu tôi tha thiết, tại sao anh còn quay nhìn lui ở đằng sau?Ữ Chị ta đã bỏ đi và để lại đằng sau chàng thanh niên đứng lặng người nhìn theo. Chúa Giêsu phán: ẪChiên Ta nghe tiếng Ta và chúng theo Ta.Ữ Oscar Wilde cũng có tư tưởng rất giống như thế, khi nói: ẪChúng ta đều ở dưới rãnh cống, nhưng vài người trong chúng ta đã nhìn thấy những tinh tú trên trời.Ữ Chúa Giêsu - vị Mục Tử Nhân Lành - là ngôi sao sáng chói của chúng ta. Ngài là Đấng duy nhất để mắt nhìn xem chúng ta và nếu chúng ta khôn ngoan, chúng ta nhất quyết sẽ không bao giờ rời mắt khỏi Ngài.
Phỏng theo bài suy niệm “OUR STAR” (Ngôi Sao Chúng Ta) của LM. Vincent Travers O.P. trong sách “IN STEP WITH GOD” (Đồng Hành Với Chúa).
Hương Vĩnh
 

PS4-B40. Gieo trong thương đau

VietCatholic News (12/05/2003 )
Gieo trong thương đau

(Cảm nhận ơn gọi linh mục nhân lễ Chúa Chiên lành)

Như cánh chim tung mình trong bầu trời lộng gió, giả từ quê hương, giả từ gia đình kính yêu, người: PS4-B40

Như cánh chim tung mình trong bầu trời lộng gió, giả từ quê hương, giả từ gia đình kính yêu, người:
Như cánh chim tung mình trong bầu trời lộng gió, giả từ quê hương, giả từ gia đình kính yêu, người linh mục tung mình bằng những bước dài trong cánh đồng truyền giáo. Quả là hình ảnh rất đẹp: Cánh chim chao liệng giữa bầu trời: thơ mộng và đáng yêu.

Thế nhưng cũng khác lắm! Khác một cánh chim tung bay tự do lắm! Khác đến mức không thể so sánh nỗi với hình tượng một cánh chim tung bay.

Nhưng vì sao giống rồi lại khác, đấy không là mâu thuẫn lắm sao?

I. KHÓ KHĂN NGOẠI TẠI

Nghe hai tiếng LINH MỤC, tự nhiên sao thấy nhẹ nhàng, thanh thoát. Hình tượng linh mục lại càng thơ mộng. Thơ mộng vì không mang nỗi âu lo của cuộc mưu sinh đời thường. Thơ mộng vì hình như linh mục có nhiều tự do hơn: cần là cứ đi, không cần là ở nhà, có lẽ không vướng bận một điều gì. Thơ mộng trong tưởng tượng của nhiều người cho đến mức, người ta không cần dè dặt, nhưng có thể buông những lời này bất cứ lúc nào: “Nếu con tôi mà chọn đi tu làm linh mục, tốn bao nhiêu, tôi bất kể”… Còn vô vàn những câu nói đại loại như thế, cứ y như rằng, muốn làm linh mục phải có tiền, và có tiền cho nên linh mục sống thật an nhàn. Nói như thế, hóa ra linh mục không phải là ơn gọi?

Nhưng chất chứa trong vóc dáng thơ mộng ấy là cả một ơn gọi lớn lao, không phải bất cứ ai muốn đều có thể đạt được. Nói như ai đó từng nói: An trong cái thơ mộng ấy lại chất chứa gánh nặng của trách nhiệm: Trách nhiệm làm Kitô hữu với anh em và làm linh mục cho anh em, có mưa dầm nắng gắt, có mồ hôi nhễ nhại và cũng có cô đơn buốt giá”.

Trách nhiệm của linh mục cũng đầy khó khăn. Bởi không chỉ giới thiệu hạt giống Tin Mừng nhưng phải gieo hạt giống Tin Mừng vào lòng anh chị em. Trách nhiệm càng khó khăn hơn nữa khi phải gìn giữ và nuôi nấng để hạt giống lớn lên và sinh kết quả.

Đàng khác, làm linh mục giữa thời hiện đại, thời mà con người mang nặng thèm khát sở hữu. Bằng mọi giá, dẫu là chà đạp lên cuộc sống, chà đạp lên nhân phẩm của người khác, dẫu là thủ đoạn, là loại trừ đồng loại, miễn sở hữu thật nhiều.

Làm linh mục giữa một thế giới ảnh hưởng của kinh tế thị trường đang thấm vào từng ngỏ ngách của đời sống, biến con người thành cái máy sản xuất, vật chất trở thành ông chủ. Nghĩa là bằng mọi giá, phải nâng cao giá trị sản phẩm, nhằm tiêu thụ dễ dàng, dẫu sức lực của người lao động bỏ ra bất kể là ở mức độ nào. Hóa ra con người phải phục vụ chính sản phẩm mình làm ra, thay vì chúng phải phục vụ mình.

Từ chỗ đề cao vật chất, xem nhẹ giá trị con người, nhân loại cũng lún sâu vào một thứ tâm lý tệ hại: loại bỏ tất cả những gì là thánh thiêng, những gì là giá trị tinh thần, những gì mang chiều sâu nội tâm và khoác vào một thứ chủ nghĩa hưởng thụ, một thứ chủ nghĩa đầy vật chất.

Làm linh mục hôm nay là làm linh mục giữa một thế giới bị bao vây bởi quan niệm lệch lạc về tự do. Nghĩ rằng tự do là thoát khỏi sự ràng buộc của mọi lề luật, dẫu đó là lề luật làm nên giá trị con người, vì thế người ta vong thân. Vì cho rằng để có tự do là phải loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình, người ta bị chới với, bị chao đảo, cuộc đời chỉ là một thứ rỗng tuếch, cuộc sống mất hết ý nghĩa. Càng chìm sâu trong quan niệm tự do buông thả lệch lạc, người ta càng tự chôn mình trong vũng lầy của thế giới tội lỗi. Nhưng tính tự nhiên của con người có bao giờ ở yên. Vì thế càng mất bình an, con người càng vùng vẫy. Nếu vùng vẫy mà không có một định hướng đúng đắn, không vươn lên được, người ta càng lún sâu trong đám bùn đen ấy. Quan niệm tự do như thế, biến con người thành một thứ nô lệ đáng kinh sợ: nô lệ cho chính quan niệm và lối sống tự do lệch lạc phóng túng của mình. Cái bi đát nằm ở chỗ, nô lệ mà không nhận ra mình nô lệ, lại còn ảo tưởng tôi đang tự do!

Làm linh mục giữa thời buổi mà óc thực nghiệm trở thành một bóng ma tác oai, tác oái, nó gieo vào lòng con người thứ tư tưởng, có khi chỉ là mơ tưởng về một thế giới không có Thiên Chúa. Người ta đề cao khoa học và sự phát triển của khoa học như Chúa của mình. Thay thế Thiên Chúa bằng chứng cứ khoa học. Cái đau đớn là khoa học vẫn cứ bó tay trong rất nhiều lãnh vực, không chỉ thuộc về siêu nhiên, không chỉ là tâm thức đức tin, mà bó tay ngay trên chính lãnh vực thực nghiệm của mình.

Loại trừ những gì thuộc về tinh thần, loại trừ các giá trị thiêng liêng, loại trừ mọi giá trị đạo đức đã tích tụ và làm nên giá trị của sự sống con người qua nhiều thế hệ. Người ta quên mất, hay cố tình quên khoa học có nguồn gốc từ đâu, do ai, nếu không phải Thiên Chúa đã xếp đặt mọi trật tự để con người, nhờ đó nhận ra các định luật khoa học? Người ta quên rằng, khi loại trừ Thiên Chúa, loại trừ mọi giá trị thánh thiêng, con đường phát triễn của khoa học, lẽ ra nhắm phục vụ con người, sẽ dễ dàng rơi vào tính bập bênh, lệch lạc. Xa hơn nữa: tự nó quay lại giết hại chính con người, giết hại nhân phẩm con người, điều mà chính lúc này, hơn ai hết, những người Công giáo chân chính nhận ra và có kinh nghiệm. Bởi thế mà Giáo Hội luôn luôn đòi phải trả lại chỗ đứng đúng đắn của con người trong khi phát triển khoa học.

Vô vàn những nếp sống, chủ trương, tư tưởng, chủ nghĩa duy thế tục như thế làm cho người linh mục như mỏi mòn trong công tác truyền giáo của mình. Giữa thời buổi mà người ta nhân danh tính hiện đại, không còn nhìn nhận mọi chân lý truyền thống như thế, người linh mục phải gieo hạt giống Tin Mừng, phải cao rao tinh thần Tám Mối Phúc, cao rao tình yêu, lòng tha thứ, nhân hậu, bao dung…, thì đúng là làm linh mục hôm nay cũng đồng nghĩa với lội ngược dòng.

II. TIẾNG NÓI CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II

Những khó khăn ấy cũng là điều mà mấy mươi năm trước, Công Đồng Vatican II nói nhiều trong hiến chế Mục vụ. Chẳng hạn: “Chưa bao giờ nhân loại dồi dào của cải, khả năng và quyền lực kinh tế như ngày nay, vậy mà tới nay, một phần rất lớn nhân loại trên thế giới đang quằn quại vì đói ăn và thiếu thốn, rồi không biết bao nhiêu người đang chịu cảnh mù chữ. Chưa bao giờ con người ý thức mãnh liệt được sự tự do như ngày nay, đang khi đó lại thấy sống dậy những hình thức nô lệ mới mẽ về mặt xã hội cũng như tâm lý. Trong lúc đang mãnh liệt cảm thấy sự duy nhất cũng như sự kiện tất cả lệ thuộc nhau trong sự liên đới cần thiết, thì thế giới lại bị lôi kéo kịch liệt theo những chiều hướng tương phản do những lực lượng chống đối nhau; thực vậy, vẫn còn kéo dài mãi tới ngày nay những bất đồng trầm trọng về chính trị, xã hội, kinh tế, chủng tộc và ý thức hệ, và một cuộc chiến diệt vong vẫn còn đe dọa” (MV số 4).

III. KHÓ KHĂN NƠI CHÍNH BẢN THÂN

Ngoài những khó khăn ngoại tại như thế, về lâu, về dài, tâm lý tự nhiên dễ làm linh mục chán nản. Thêm vào đó, do bổn phận, đòi linh mục phải mực thước, phải nêu gương, phải khôn khéo… làm cho bổn phận và thánh chức mà ngày xưa khi còn mới mẽ, người linh mục dễ dàng, có khi còn hăm hỡ đón nhận, nay trở thành gánh nặng.

Chiều dài thời gian làm cho một linh mục coi xứ phải nói Lời Chúa, đến một lúc, cái hay, cái mới ban đầu dần khô cạn, anh chị em tín hữu trở nên nhàm chán. Hai bên cứ phải chịu đựng lẫn nhau, đến với nhau, cùng dâng thánh lễ mà không mấy vui tươi phấn khởi.

Cũng là người như anh chị em mình, linh mục cũng có những ưu tư, khắc khoải, vui buồn của riêng mình. Có những điều có thể bộc lộ với hết mọi người, nhưng cũng có những điều không thể nói cho bất cứ ai. Nếu là niềm vui thì không sao, nhưng gặp phải nỗi buồn mà không ai hiểu, không ai thông cảm, nỗi buồn ấy càng quay quắt, càng quặn thắt như muốn đốt cháy tiêu tan tâm hồn, người linh mục dễ rơi vào nỗi cô đơn buốt giá.

Bên cạnh đó, còn biết bao nhiêu hoàn cảng khác tác động như: bị chống đối, tuổi tác, đau bệnh, sức cùng, lực kiệt… làm linh mục dễ ngã lòng, muốn buông xuôi. Từ đó công tác truyền giảng dễ dẫn đến bế tắc.

Nói cho tường tận, tất cả trở thành vô cảm, lòng người trở nên khô khan. Bản thân linh mục không còn chí khí. Cuối cùng chỉ còn hai tiếng: đầu hàng. Nghĩ như thế là tự chôn vùi cuộc đời linh mục của mình vì thiếu hy vọng. Để xảy ra như thế thì thật là bi đát.

IV. CỨU CÁNH KHÔNG THỂ THIẾU

Đừng quên, những lúc mà công tác rao giảng bế tắc cùng với những rào cản linh mục gặp phải, lại chính là lúc cần thiết đòi linh mục phải mở Thánh Kinh ra, đọc lại Lời Chúa, để nhận ra một sự thật rằng: nỗi bấp bênh của ta hiện nay, đâu phải của riêng ta. Chính Con Thiên Chúa làm người cũng không thoát khỏi, các tổ phụ, các tiên tri ngày xưa đã từng chung số phận. Các thánh tông đồ cũng từng nếm trải nỗi thương đau ô nhục.

Chẳng hạn tổ phụ Abraham được Chúa kêu gọi: “Hãy bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi đến đất Ta sẽ chỉ cho” (St 12, 1). Thế là Abraham ra đi. Đi trong mịt mù. Đi trong tăm tối. Đi mà chẳng biết mình đi đâu. Suốt đời ông mơ ước có một đứa con nối dõi tông đường, vậy mà cũng chẳng có. Đến khi ông cả trăm tuổi, vợ ông cũng cao niên chẳng kém gì, Thiên Chúa mới hứa ban cho ông một đứa con. Một lời hứa như thế thật khó chấp nhận làm sao. Thế như Abraham vẫn tin.

Đến khi đứa con trai duy nhất của ông, đứa con thừa tự, đứa con của lời hứa, đứa con ngọc, đứa con ngà đã lớn khôn, Thiên Chúa lại đòi ông đem đứa con đó đi sát tế cho Người. Có tội ác nào lớn cho bằng tội của một người cha giết con. Có còn lời dạy nào khủng khiếp cho bằng dạy một người cha giết chính đứa con là máu, là mủ, hơn nữa là cả cuộc sống của người cha già nua đã từng rút ruột mình sinh ra. Và còn đâu là một Thiên Chúa yêu thương, một Thiên Chúa gần gũi với con người, hay chỉ là một Thiên Chúa tàn nhẫn và say máu cho đến độ đòi một người cha phải thủ tiêu con của ông làm của lễ tế hiến cho mình. Đúng là một Thiên Chúa độc ác, không còn gì độc ác hơn. Càng suy nghĩ như thế về hình ảnh của Thiên Chúa bao nhiêu, ta càng thấy đức tin của Abraham lớn bấy nhiêu. Cứ bắt đầu bằng tình cảm con người, ta suy diễn, sẽ thấy, Chắc tâm hồn ông chao đảo lắm, lương tâm ông giày vò lắm, cuộc sống của ông chắc mất bình an lắm. Có lẽ nước mắt đã tràn ngập, đã dàn dụa tâm hồn ông. Và có lẽ giọt nước mắt ấy rất âm thầm, vì ông không thể để lộ cho con mình biết được. Làm sao dám cho con biết khi chính ông sẽ giết chết con! Mà tiếng khóc càng âm thầm, tiếng nấc càng nghẹn ứ, nước mắt càng chảy ngược vào hồn nhiều bao nhiêu, thì nỗi đau càng dằn xé, càng tê tái, càng buốt giá bấy nhiêu. Nhất là mỗi khi ông nhìn đôi bàn tay của mình. Ngày nào đôi tay ấy bồng ẳm con, nâng niu con, bây giờ cũng chính đôi tay ấy sẽ thủ tiêu con. Là cha, là mẹ như bao người cha, người mẹ khác, Abraham se thắt lòng mình. Nhưng Abraham đã vượt qua tất cả. Đức tin của ông lớn hơn tất cả. Chính đức tin dạy cho ông biết: Thiên Chúa vẫn yêu thương ông vô cùng. Người vẫn nhìn thấy ông. Người biết rõ lòng ông. Người có cách của Người để trù liệu cho ông những điều tốt đẹp nhất.

Vì tình yêu vô cùng mãnh liệt, vì tình yêu mến Thiên Chúa ngất trời cao, Abraham đã không mất bất cứ một điều gì, dù là nhỏ nhoi nhất. còn hơn bất cứ một người nào trong nhân loại, qua muôn ngàn thế hệ, bằng miệng lưỡi của thiên thần, Thiên Chúa ca tụng ông: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của Ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!… Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển…” (St 22, 12. 16 -18).

Cũng thế, chính ông Môiisen, một nhà giải phóng lừng danh, được Chúa tin tưởng trao cho sứ mạng đưa dân của Người thoát cảnh lầm than nô lệ cho Aicập, cũng đã từng quặn thắt tâm hồn, đã từng than trách với Chúa và muốn chết đi: <B>“Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên vai con? Có phải con đã cưu mang dân này đâu, có phải con sinh ra nó đâu?… Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn…” (Ds 11, 12 tt).

Đến như tiên tri Êlia, trong nỗi khổ của một kẻ chạy trốn vì hoàng hậu Giêgiaben đang tìm giết, dẫu là người rất can đảm cũng đã phải thốt lên: “Lạy Đức Chúa, đủ rồi!, bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con” (1V 19, 4).

Tiên tri Giêrêmia cũng chung số phận: Vì phải sống và loan báo Lời Chúa, nhà tiên tri bị người đời ghét bỏ, bị những kẻ xấu chống đối dữ dội, và thù hận đến mức có những lúc ông đau khổ một cách tuyện vọng, chỉ còn biết trách móc cái ngày ông sinh ra và than van cho số phận bạc kiếp của mình: “Thật đáng nguyền rủa ngày tôi được sinh ra. Ngày mẹ tôi sinh ra tôi không đáng được chúc lành. Tại sao tôi lại không chết ngay trong lòng mẹ, để mẹ tôi nên nấm mồ chôn tôi, và lòng bà cưu mang tôi mãi mãi? Tôi đã lọt lòng mẹ để làm chi? Phải chăng chỉ để thấy toàn gian khổ buồn sầu, và thấy cuộc đời qua đi trong tủi hổ” (Gr 21, 14. 17 - 18).

Và rất nhiều những con người đạo đức, thánh thiện, lẽ ra được tràn đầy hạnh phúc, thì ngược lại, số phận cứ mãi lênh đênh bạc bẽo, đau khổ tột cùng như ông Gióp, tiên tri Giona, Tôbia, Isaia, Amốt… Đến vị tiên tri cuối cùng của Cựu ước là thánh Gioan Tẩy giả cũng đã từng hoang mang đến mức nghi ngờ: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi phải chờ đợi ai khác?” (Mt 11, 3). Cuối đời, vì lẽ sống và sự thật, thánh Gioan cũng không đi ngoài con đường mà những người tiền nhiệm đã đi: nếm trải nỗi đau khổ, tù tội và cái chết bi ai (Mc 6, 17 -29)…

Bởi thế, càng u uất, thất bại và chán nản bao nhiêu, linh mục càng phải suy niệm Thánh Kinh gấp nhiều lần bấy nhiêu. Nơi Lời Mạc khải của Thiên Chúa, linh mục sẽ tìm thấy nguồn an ủi, lời động viên, sức nóng đủ hâm lại nhiệt huyết của mình. Và trên hết, nơi Lời Chúa, linh mục lấy lại sự thánh thiện, lấy lại đức tin, niềm hy vọng và phó thác vào tay Chúa là Đấng luôn quan phòng điều khiển mọi sự.

Hãy nhớ rằng, linh mục chỉ là dụng cụ trong tay Thiên Chúa. Vì thế hãy cứ gieo hạt giống Tin Mừng, gieo khắp nơi, gieo mọi lúc. hãy tin rằng, người gieo hạt giống Lời Chúa nếu chỉ là kẻ bất lực, thì quyền năng Thiên Chúa sẽ mạnh mẽ. Chỉ có Chúa mới làm cho xấu trở nên tốt. Dẫu cho người gieo là chính linh mục có sống trong tội lỗi đi nữa, thì chỉ có Chúa mới có thể rút ra điều tốt từ những gì mà trong con mắt con người chỉ là cái xấu.

Hãy gieo Lời Chúa và hãy tin mãnh liệt rằng, hạt giống Lời Chúa vẫn nảy mầm và mọc lên, dù đêm hay ngày và người gieo ngủ hay thức (Mc 4, 27). Có thể có hạt rơi trên sỏi đá, rơi trên đất khô cằn. Nhưng sẽ có những hạt rơi trên đất tốt và sinh hoa kết trái: hạt được một trăm, hạt được sáu mươi, hạt được ba mươi (Mt 13, 8).
Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

PS4-B41. SNLC/288 – Câu hỏi

Lần kia, có một thanh niên đến thăm chủng viện. Trên các bức tường của hành lang và trên: PS4-B41

Lần kia, có một thanh niên đến thăm chủng viện. Trên các bức tường của hành lang và trên các bảng yết thị có những áp phích với dòng chữ: “Chúa Kitô là câu trả lời”. Ngạc nhiên trước lời này, người khách trẻ tuổi đến bên một áp phích và ghi nguệch ngoạc bên dưới dòng chữ sau: “Cái gì là câu hỏi ?”
Cái gì nằm sau những đau khổ ? Đâu là ý nghĩa của cuộc đời ? Nếu cuộc đời là vô nghĩa thì tại sao con người phải nhọc nhằn tranh đấu vất vả để chỉ có được vài niềm vui cỏn con, mà cuối cùng kết thúc bằng cái chết ? Trong thư của thánh Phaolô, chúng ta thấy ngài nhắc đến một khẩu hiệu của thế gian này: “Hãy ăn, hãy uống đi vì ngày mai chúng ta sẽ chết ?”
Qua việc sống lại, Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta thấy cuộc đời không phải là một cuộc đánh đố vô nghĩa. Sự Phục sinh của Chúa đã mang lại ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta. Hơn thế nữa, việc Chúa Kitô Phục sinh từ cõi chết là biến cố quyết định xác nhận tính chân thật của mọi lời Ngài nói, mọi việc Ngài làm và cả cuộc đời Ngài đã sống. Chúa Giêsu không phải là một kẻ lừa đảo, cũng không phải là một con người tầm thường. Như lời thánh Phaolô đã nói trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: “Nếu Đức Kitô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng”.
Chúng ta được mời gọi trở nên những người thông phần tích cực vào sự thương khó, cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô để sống những thực tại đó trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chẳng hạn, cái chết của Chúa Kitô dạy chúng ta phải chết đi cho con người cũ của chúng ta. Như vậy, khi một người chiến đấu để bỏ tật nghiện thuốc lá, bỏ chơi bài bạc và những tật xấu khác của mình thì người ấy đã minh họa cho việc sống lại với Chúa Kitô trong một cuộc sống mới. Trong một xã hội tràn ngập việc hối lộ và tham nhũng, khi một người Kitô hữu làm việc một cách lương thiện, bất chấp những cám dỗ chung quanh mình, người ấy biểu lộ sự trung tín của Chúa Kitô với thánh ý của Chúa Cha.
Lần kia, một linh mục cao niên, thành viên của một cộng đoàn tu sĩ, ngài có tiếng là hay cáu gắt, nóng nảy đã đi dự một tuần tĩnh tâm trong mùa chay. Khi trở về, con người của ngài đã thay đổi hẳn, ngài dán một tấm biển ở cửa phòng: “Con người mới đang sống ở đây. Con người cũ đã chết và được chôn cất rồi”. Toàn thể cộng đoàn rất vui mừng trước những thay đổi trong cuộc sống của ngài. Nhưng sự thay đổi cũng chỉ được vài tuần lễ, những tính xấu của ngài lại xuất hiện một lần nữa.
Một ngày nọ, một thành viên trong cộng đoàn đến viết vào tấm biển của vị linh mục cao niên đó dòng chữ sau đây: “Nhưng ngày thứ ba, con người cũ đã trỗi dậy từ cõi chết”.
Lạy Chúa Giêsu, cũng như các tông đồ, con thường đóng cửa của lòng con lại. Xin Chúa cử Thánh Thần của Chúa đến để Ngài mở cửa tâm hồn con đón nhận và thi hành những điều Chúa muốn.
 

PS4-B42. CSTM/116 - Mục tử

Chúa nhật thứ IV mùa Phục Sinh được gọi là Chúa nhật Đấng Chăn Chiên nhân lành. Vì thế: PS4-B42

Chúa nhật thứ IV mùa Phục Sinh được gọi là Chúa nhật Đấng Chăn Chiên nhân lành. Vì thế, toàn bộ lời Chúa hôm nay đều xoay quanh chủ đề này. Mục tử, tức là người chăn chiên, là hình ảnh rất quen thuộc đối với dân Do Thái du mục ngày xưa nói riêng, và cả xã hội Do Thái cho tới thời Chúa Giêsu nói chung. Vì vậy, suốt thời Cựu ước, hình ảnh người chăn chiên trở thành một trong những biểu tượng phong phú và sống động nhất, được dùng để diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và dân Do Thái. Họ như một đoàn chiên riêng của Thiên Chúa, được Người nuôi nấng, chăn dắt, săn sóc đặc biệt. Và bây giờ, Chúa Giêsu áp dụng hình ảnh đó cho chính Ngài và đoàn chiên của Ngài là chúng ta. Chúng ta thấy Chúa dùng hai hình ảnh: người chăn chiên thuê và người chăn chiên tốt lành để so sánh và diễn tả cho mọi người biết Ngài là người chăn chiên thật, là mục tử tốt lành.
Thế nào là một mục tử tốt lành ? Chúng ta có thể tóm tắt trong hai điều: biết các con chiên của mình và ân cần săn sóc chúng. Chúa Giêsu là một chủ chăn tốt lành vì Ngài có đầy đủ và hoàn toàn hai yếu tố đó.
Chúa Giêsu là chủ chăn tốt lành của chúng ta vì Ngài biết chúng ta. Một người chăn chiên chuyên nghiệp biết số chiên trong bầy có bao nhiêu con. Họ biết từng con một, về ngày sinh tháng đẻ, để có thể xén lông hay gây giống. Họ có tên gọi cho từng con, biết bệnh tật từng con để cứu chữa: con nào hay bị lạnh, con nào cận thị, con nào hay lạc bầy ăn rong, hơn nữa, có khi họ còn chụp hình, ghi sổ từng con mỗi năm và cân ký hàng tháng.
Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh đó áp dụng cho Ngài như Ngài đã tuyên bố: “Tôi biết chiên của tôi”, và Ngài còn quả quyết sự hiểu biết của Ngài đối với mỗi người cũng như sự hiểu biết giữa Ngài với Cha Ngài: “Tôi biết chiên tôi như Cha tôi biết tôi và tôi biết Cha tôi”. Thực vậy, Ngài biết từng con chiên, Ngài biết chúng ta là những nhân vị, là những tín hữu, là những người có tính tình thế nào, dòng máu huyết thống ra sao. Ngài biết chúng ta hơn chúng ta biết mình. Ngài thấu suốt tư tưởng, ước mơ, lời nói, việc làm, dự định, khuynh hướng tốt xấu của chúng ta. Ngài biết rõ từng người: ai là con chiên tốt, trung thành, ngoan đạo ; ai là con chiên ghẻ, lười biếng, khô khan, phản bội. Tóm lại, không ai có thể lẩn trốn khỏi mắt Chúa, bất cứ sự gì, dù thầm kín hay bí mật đến đâu, Chúa cũng biết hết.
Rồi Chúa Giêsu là chủ chăn tốt lành đích thực của chúng ta, vì Ngài ân cần săn sóc chúng ta. Thực vậy, Chúa hằng ở bên săn sóc từng người chúng ta, dù chúng ta không quan tâm đến, như cá sống dưới nước, dù không để ý tới nước, nơi nó bơi lội, nhưng không có nước, nó sẽ chết. Chúa biểu lộ tình yêu đặc biệt đối với những ai mang thương tích linh hồn. Ai trong chúng ta đã không nhiều lần nghe những câu chuyện Tin Mừng tỏ rõ lòng ưu ái của Chúa, như chuyện đứa con hoang đàng, chuyện Giakêu hối cải, chuyện người đàn bà ngoại tình, chuyện người trộm lành trên thập giá, và tột đỉnh của tình yêu này là tự hiến mình cho đoàn chiên. Quả thực, cả một đời tận tụy, hy sinh, giảng dạy và ban ơn, Chúa chưa cho là đủ, Chúa còn muốn thực hiện đặc tính sau cùng của một chủ chăn tốt lành là chết vì con chiên và cho con chiên, để minh chứng lời Ngài đã nói: “Không có tình yêu nào lớn hơn, cao quý hơn là chết cho người mình yêu”.
Chúa Giêsu tự xưng mình là mục tử tốt lành và Chúa đã hành động xứng tước vị đó, thì đoàn chiên cũng phải biết đối xử sao cho xứng đáng. Vật không lý trí còn biết bổn phận mình với chủ chăn, thì chúng ta, vật có linh tính, càng phải đền đáp sao cho xứng tình ưu ái của Chúa chiên vô cùng nhân hậu ấy. Vậy bổn phận của chúng ta là gì ?
Chúng ta phải suy tôn Chúa là chủ chăn chúng ta bằng lòng tin tưởng và yêu mến. Nhưng suy tôn không phải chỉ ngoài miệng mà phải suy tôn Chúa trong đời sống, trong công ăn việc làm, trong sự đối xử với người chung quanh, và làm chứng nhân cho Chúa. Rồi chúng ta phải tín nhiệm vào Ngài. Con cái tín nhiệm cha mẹ, tôi tớ tín nhiệm vào chủ, chúng ta càng phải biết tín nhiệm vào Chúa hơn. Sau cùng, chúng ta phải biết nghe lời Chúa. Một con chiên ngoan bao giờ cũng biết tuân ý chủ. Luôn vâng theo ý Chúa và sống theo lời Chúa là làm hài lòng Chúa nhất, giống như con cái tuyệt đối vâng lời cha mẹ vậy.
Có lẽ những điều trên chúng ta đều biết cả, nhưng biết mà không đem thực hành là biết uổng. Chúng ta hãy kiểm điểm xem thái độ và hành động của chúng ta đối với Chúa, chủ chăn của chúng ta thế nào ? Thành thực mà nói: chúng ta không chối Chúa ra mặt, nhưng chúng ta hay xâm lấn một số quyền lợi của Chúa. Chúng ta chỉ công nhận Ngài là chủ chăn, là Chúa trong vài hoàn cảnh, trường hợp đời sống, chứ không cả đời sống, sự thường xuyên của chúng ta. Chẳng hạn, chúng ta chỉ giữ đạo, chỉ giữ điều răn khi hứng thú, gặp may mắn ; bao lần chúng ta thiếu tín nhiệm vào Chúa, quá lo lắng vật chất đến xao nhãng các bổn phận thiêng liêng ; bao lần đời sống, cách ăn ở, cư xử của chúng ta không làm chứng cho Chúa trước những người chung quanh. Sửa chữa những khuyết điểm đó là cốt yếu của lời Chúa dạy hôm nay. Lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở thành chiên ngoan tốt lành Chúa.
 

PS4-B43. Tôi là mục tử nhân lành - Huyền Đồng

Lời hay ý đẹp : Thương xót thật là yêu thương bằng hành động.
True compassion is love in action
Chúa Nhật 4 Phục Sinh-B

Fourth Sunday of Easter

* I am the Good Shepherd *

*Bài đọc 1: Cvu 4, 8- 12= Đấng Cứu độ là Đức Kitô: Chính Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, lại trở nên tảng đá góc tường.

He is the stone rejected by you, the builders, which has become the cornerstone.

*Bài đọc 2: 1 Ga. 3, 1- 2= Ta sẽ thấy Người: Chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.

We shall see God, We do know that when it is revealed we shall be like Him, for we shall see Him...

* Bài Tin mừng (Gospel): Gioan 10, 11-18=Muc Tử nhân lành: Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi.

The good Shepherd : I am the Good Shepherd, and I know mine and mine know Me.


A. Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

Trong câu đầu bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói rõ: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử: PS4-B43

1/ Trong câu đầu bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói rõ: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên.” Chúa xác minh là người Mục tử tốt lành hướng dẫn dân Ngài bằng sự quên mình cho tôi. Ở trong chức vụ là cha me, là nguời trách nhiệm, tôi có nhận lãnh những vất vả khó khăn hay chỉ lo thỏa mãn cá nhân mình ? Đưa ra một hai việc làm hy sinh cho người thân?

I am the good shepherd. The good shepherd lay down His life for the sheep". ( Ga. 10, 11 )

2/ Đức Giêsu còn nói rõ thêm sự quan tâm đến mọi người như sau: “ Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về, chúng sẽ nghe tiếng tôi...” Tình yêu của Thiên Chúa không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo...Ngài muốn họ được hiệp nhất. Bạn có gây được hòa khí với những anh em khác cũng là con Chúa không? Kể một vài việc làm hòa hợp, gần gũi của bạn với tôn giáo khác?

I have other sheep that do not belong to this fold. These also I must lead, they will hear My voice...” ( Ga. 10, 16 )

3/ Sách Tông đồ Công vụ viết như sau: “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới vòm trời không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loai.” Thánh Phêrô trong Thánh Thần đã hùng hồn tuyên bố Đức Kitô là Đấng Cứu độ. Là Tín hữu tôi đã can đảm làm gì trong môi trường sống hiện tại?

There is no salvation in anyone else, for there is no other name in the whole world given to men...” (Cvụ 4, 12 )

4/ Thư 1 thánh Gioan cho bạn biết về tình yêu của Ngài như sau: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa...” Bạn thấy mình có gì để đáng Chúa nhận là con, nhưng Ngài vẫn hy sinh cho bạn được sống. Bạn biết ơn Ngài bằng những hành động nào cho anh em?

See what love the Father has bestowed on us in letting us be called children of God!...” ( 1Ga. 3, 1 )

B.Câu Kinh Thánh thúc đẩy tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best God’s Word )

Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho chiên (Gioan 10, 11 )

The good Shepherd lay down His life for the sheep

C. Ngay bây giờ tôi phải làm gì để xứng đáng là chiên của Chúa: ( So what am I doing / For Action )

1/ Bạn có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành trong đời sống.

2/ Tôi can đảm làm một việc hiệp nhất, yêu thương cho Gia đình hay Giáo xứ mà lâu nay đã bị chia rẽ.

D. Tôi cầu nguyện với Lời Chúa và Sống lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )

- Lạy Cha, Đức Giêsu đã nói: Tôi chính là Mục tử nhân lành, hy sinh mạng sống mình cho chiên. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi. Xin cho lời nói và việc làm của con được luôn luôn giống Chúa.

- Thánh Gioan đã cho biết tình yêu của Chúa Cha đã quá yêu thương nhân loại khi nhận

chúng con là con cái của Ngài. Xin cho con biết yêu thương gia đình và tha thứ cho những ai làm con phải buồn khổ.
 

PS4-B44. Chúa là Mục Tử - Lm. Hà Ngọc Đoài

VietCatholic News (01/02/2005)

Lời Chúa: Acts 4:8-12; 1Jn 3:1-2; Jn 10:11-18

Chủ Đề: Chúa là Mục Tử - Lm. Hà Ngọc Đoài

Suy Niệm: “ Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên của Ta và các chiên của Ta biết Ta … và Ta thí mạng sống vì đoàn chiên.” (Jn 10:14-15)

Chúa Nhật hôm nay được gọi là ‘Chúa Nhật Chúa Chiên Lành’. Hình ảnh người mục tử cnh giữ đoàn chiên PS4-B44

Chúa Nhật hôm nay được gọi là ‘Chúa Nhật Chúa Chiên Lành’. Hình ảnh người mục tử cnh giữ đoàn chiên rất quen thuộc đối với người Do Thái, cũng như cuộc sống thôn quê tại Việt Nam. Mỗi người chúng ta đều có thể hình dung được hình ảnh nhân hậu của mục tử đối với đoàn chiên. Người mục tử luôn để ý đến sinh hoạt, và biết tính tình của mỗi con chiên. Khi đàn chiên được ăn no, nằm nghỉ trong đồng cỏ xanh tươi, nguời mục tử an tâm, đăm chiêu ngắm mây trời. Lòng tràn niềm vui tạ ơn Tạo Hóa đã ban cho thiên nhiên xinh tươi để nuôi vạn vật. Nếu chợt thấy có mãnh thú rình mò đến phá, mục tử không ngại hiểm nguy xông vào đánh đuổi thú dữ để bảo vệ đàn chiên. Nếu con chiên nào đau yếu thì mục tử săn sóc chữa trị.

Chúa Giêsu dùng hình ảnh quen thuộc và yêu thương này để diễn tả tình yêu của Ngài đối với nhân loại. Ngài đến để an ủi những ai buồn sầu thất vọng. Ngài săn sóc từng người tùy theo nhu cầu tâm linh của họ để “Nguời thế nào, chúng ta sẽ thấy và được sống như vây.”(Jn 3:2).

Khi nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, mỗi Kitô hữu được đem đến trình diện với Chúa. Tên của họđược ghi vào sổ đại gia đình của Ngài là Giáo Hội. Họ được hưởng những ân phúc tuôn ban từ các Bí tích, để tăng trưởng đời sống siêu nhiên.

Thực Hành: “Ơn cứu độ không gặp được nơi một ai khác.” (Acts 4:12) Thánh sử Luca suy niệm về diễm phúc được làm con Thiên Chúa và được Đức Giêsu, Chủ chăn nhân hậu săn sóc, thì xác định rằng ngoài Đức Giêsu Kitô ra, không ai là chủ chănđích thật có thể cứu chữa ta ở đời này và ban phúc trường sinh đời sau. Đúng như lời Đức Giêsu xác nhận Ngài chẳng những là chủ chăn mà là “cửa”, tức là nguồn ban phát thiên ân. Xin Chúa cho con biết nhận ra hồng phúc làm con Chúa và biết đáp lại tiếng Chúa mời gọi mỗi khi con đi lạc lối.

PS4-B45. Chúa Chiên Lành

Cv 4,8-12; 1 Ga 3,1-2; Ga 10,11-18

Truyền thống Giáo Hội quen gọi Chúa Nhật 4 Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, vì bài Phúc âm: PS4-B45

Truyền thống Giáo Hội quen gọi Chúa Nhật 4 Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, vì bài Phúc âm nói về Chúa Giêsu là vị Mục Từ nhân lành, rồi cả phần Ngôn lễ đều qui hướng về ý nghĩa đó.

Hôm nay cũng là ngày Quốc tế cầu nguyện cho ơn thiên triệu lần thứ 37. Năm 1964, sau 1 năm lên ngôi Giáo Hoàng, đảm trách chức vụ mục tử hoàn cầu, đứng trước viễn tượng: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít", Đức Phaolô đệ VI đã ấn định hằng năm cứ vào ngày Chúa Nhật 4 Phục Sinh sẽ là ngày "Quốc tế cầu nguyện cho ơn thiên triệu" để tha thiết xin Chúa là chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến trong đồng lúa của Người. Do đó, hôm nay là ngày ráo riết học hỏi, cổ võ và cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục, tu sĩ, nhiều nơi mang những chiếc áo dòng nho nhỏ đủ loại dòng tu trong Giáo Hội cho các em nam nữ mặc để cổ võ ơn Thiên triệu nơi các tâm hồn non trẻ, những mầm non của Giáo Hội.

Tất cả mọi ơn thiên triệu đều xuất phát từ Chúa Giêsu là Linh mục Thượng phẩm đời đời, là đấng chăn chiên nhân từ "không nỡ bẻ gẫy cây sậy đã bị dập, và dập tắt tim đèn còn leo lét".

Ngài biết từng con chiên và tận tình săn sóc chúng, băng bó các vết thương, bồng bế trên tay, nâng niu trên đầu gối. Ngài đã chẳng ngần ngại để 99 con chiên tại chuồng, bôn ba đi tìm một con chiên bị thất lạc. Ngài dẫn chiên đến đồng cỏ xanh rì cho chúng gặm cỏ, đưa tới giòng suối mát cho chúng giải khát, tìm nơi mát mẻ cho chúng nghỉ ngơi, dưỡng sức. Cuối cùng Ngài đã hy sinh tính mạng vì đoàn chiên hầu dẫn đưa chiên vào đồng cỏ xanh tươi muôn đời trên thiên đàng.

Là những con chiên bé nhỏ được tình thương của Đấng chăn chiên lành ấp ủ bao bọc, chúng ta hãy tỏ ra ngoan ngoãn dễ dạy dễ bảo, lắng nghe và đáp lại tiếng gọi dịu dàng của vị Mục Tử tốt lành ngõ hầu tránh được những mưu mô cạm bẫy bầy sư tử, sói rừng luôn rình chực để ăn tươi nuốt sống hãm hại linh hồn ta, và như thế chúng ta mới hy vọng đi theo Người bước vào cửa chuồng chiên muôn đời.

Lạy Chúa Giêsu là Đấng chăn chiên lành, xin dẫn đưa tất cả chúng con: mục tử cũng như đàn chiên, được đạt tới quê hương vĩnh phúc trên trời. Amen.

PS4-B46. MỤC TỬ NHÂN LÀNHƯ

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM B (07.05.2006)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ       
 

Cứ mỗi lần đọc/nghe lại chương 10 Tin Mừng Gioan là tôi lại nhớ lại hình ảnh rất sống động của một: PS4-B46

          Cứ mỗi lần đọc/nghe lại chương 10 Tin Mừng Gioan là tôi lại nhớ lại hình ảnh rất sống động của một người chăn chiên Tây Ban Nha tên là Franco. Vào những năm 1969-1970 tôi sống trong tập viện Dòng Tiểu đệ Chúa Giêsu tại làng Farlete, tỉnh Saragosa, miền Bắc Tây Ban Nha. Ong Franco thường ghé vào nhà bếp cũng là nhà khách của chúng tôi để uống một ly cà phê, ăn một miếng bánh và trao đổi vài ba câu trước khi dẫn đàn chiên thân yêu lên núi hay sau khi từ trên núi trở về làng. Trên đầu ông bao giờ cũng có một cái nón rộng vành và rất dày, trong tay ông bao giờ cũng có cây gậy, ngang lưng ông bao giờ cũng có bình nước bằng da, và cùng đi với ông bao giờ cũng có một con chó rất trung thành tên là Negro. Mỗi khi ai nhắc đến đàn chiên của ông thì mắt ông ngời sáng và tiếng nói ông rổn rảng. Hình ảnh của người chăn chiên này khiến nhiều trang Thánh Kinh trở nên cụ thể, sống động, gần gũi hơn đối với tôi. 
         Đối với các dân tộc sống nghề du mục như Ítraen, thì không có hình ảnh nào quen thuộc, gần gũi, thân thương, đáng yêu và giầu ý nghĩa cho bằng hình ảnh người chăn chiên (mục tử) và con/đàn chiên. Hình ảnh quen thuộc nhất là người chăn chiên vác con chiên trên vai, một tay ôm hai cẳng chiên phía trước ngực, một tay chống gậy, tiến về phía trước. Trách nhiệm của người chăn chiên là chăm lo cho con/đàn chiên luôn được an lành, béo tốt. Cụ thể là lo cho chiên có cỏ non, có nước mát, được an toàn trước mọi đe dọa của kẻ trộm hay thú rừng. Vì thế mà người chăn chiên thường đi trước, dẫn đầu đàn chiên, để kịp đối phó với mọi bất trắc có thể xẩy ra khi tiến vào các khe núi hay trên sa mạc. Người chăn chiên tốt lành là người chỉ biết có chiên, chỉ lo cho chiên mà không nghĩ tới bản thân mình, thậm chí liều mạng sống vì chiên. Chúa Giêsu đã mượn hình ảnh quen thuộc này để mạc khài về mình: ‘Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên!”
 
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh
(1) Bài đọc 1: Cv 4, 8-12: nhờ Danh Người mà người này được chữa lành.
      (8) Bấy giờ, ông Phêrô được đầy Thánh Thần, liền nói với họ: "Thưa quý vị thủ lãnh trong dân và quý vị kỳ mục, (9) hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn về việc lành chúng tôi đã làm cho một người tàn tật, về cách thức người ấy đã được cứu chữa.   (10) Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Ítraen biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giêsu Kitô, người Nadarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị. (11) Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường. (12) Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ."

(2) Bài đọc 2: 1 Ga 3,1-2:  vì yêu chúng ta mà Chúa Cha cho chúng ta làm con
     (1) Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa -mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người. (2) Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.

(3) Bài Tin Mừng: Ga 10,11-18: Tôi là mục tử nhân lành.
     (11) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (12) Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, (13) vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. (14) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, (15) như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.
     (16) Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. (17) Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. (18) Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được."

2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
1. Bài đọc 1: Cv 4,8-12: Là lời chứng hùng hồn của ông Phêrô trước Thượng Hội đồng Do Thái gồm các thủ lãnh và kỳ mục trong dân. Tông đồ Phêrô quả quyết chính nhờ Danh Đức Giêsu Nadarét mà ông đã chữa lành người què. Đấng mà Phêrô nhân danh để làm phép lạ chính là người mà giới lãnh đạo Đền thờ đã giết hại bằng cách kết án trên cây thập tự. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho người trỗi dậy từ cõi chết để minh oan, siêu tôn người và trả lại cho người tất cả quyền năng mà người đã tự ý khước từ khi nhập thể làm người. Cái chết hy sinh trên thập giá chứng tỏ Đức Giêsu là Vị Mục tử nhân lành mà Chúa đã khẳng định trong Tin Mừng Gio-an. 
2. Bài đọc 2: 1 Ga 3,1-2: Gioan muốn các tín hữu tin vào Lòng Yêu Thương vô bờ vô bến của Chúa Cha. Bằng chứng của Tình Yêu ấy là Thiên Chúa Cha đã làm cho mọi người nên con cái của Người, trong và nhờ Đức Giêsu Kitô Con Một Yêu Dấu của Thiên Chúa.
3. Bài Tin Mừng: Ga 10,11-18: Là lời khẳng định của chính Đức Giêsu: “Chính tôi là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Mối liên hệ giữa mục tử và con/đoàn chiên là gắn bó, mật thiết, sống động: con/đoàn chiên thuộc về mục tử, biết và nghe lời mục tử. Còn mục tử thì biết rõ từng con chiên một và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì con/đoàn chiên của mình. Mục tử tự ý, tự nguyện hy sinh mạng sống vì con/đoàn chiên. Mục tử còn có rất nhiều chiên khác chưa tập trung cùng đàn mà còn tản mác khắp chốn khắp nơi, nên trong lòng Người còn nặng trĩu nỗi bức xúc phải tập hợp tất cả mọi con chiên thành vào một đàn duy nhất. 

2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sđiệp gì cho chúng ta?    
        Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay có hai phần:
      
       * Phần thứ nhất là: Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đền trần gian để yêu thương và chăm lo cho hết mọi người. Người đã hết lòng yêu thương, chăm sóc những kẻ thuộc về Người là tất cả chúng ta đến độ Người đã hy sinh mạng sống mình vì chúng ta. Vì thế chúng ta được mời gọi hãy đón nhận - với lòng biết ơn - sự yêu thương, chăm sóc và hy sinh của Chúa Giêsu và hãy có mối liên hệ mật thiết với Người.
      
       * Phần thứ hai là: Mỗi Kitô hữu được mời gọi trở thành “mục tử nhân lành” đối với những người thuộc về mình hay được giao phó cho mình, tức có bổn phận yêu thương, chăm sóc và hy sinh cho những người ấy theo gương Chúa Giêsu đã yêu thương, chăm sóc và hy sinh mạng sống cho chúng ta và mọi người. Những Kitô hữu có chức thánh như giáo hoàng, hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục thì trách nhiệm làm mục tử nhân lành càng nặng nề hơn.

III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY

        Để việc thực hành Lời Chúa được dễ dàng và cụ thể, xin mỗi người/cộng đoàn hãy dùng mấy câu hỏi gợi ý sau đây để kiểm điểm đời sống của mình:
(a)  Tôi và cộng đoàn tôi nhận thức và trân trọng như thế nào mạc khải “Chúa Giêsu là mục tử nhân lành”?

(b) Tôi và cộng đoàn tôi có để cho Chúa Giêsu yêu thương, chăm sóc và hy sinh cho không? Nói cách khác tôi và cộng đoàn tôi có đón nhận sự yêu thương, chăm sóc và hy sinh của Chúa Giêsu không?

c) Tôi và cộng đoàn tôi có ý thức mình cũng  phải là mục tử nhân lành đối với những người thuộc về mình và được giao phó cho mình không?
d) Tôi và cộng đoàn tôi yêu thương, chăm sóc và hy sinh đến mức nào cho những người thuộc về mình và được giao phó cho mình?
                            
IV. CẦU NGUYỆN  
          Lạy Thiên Chúa, đọc Cựu Ước chúng con thấy Chúa là Cha và là Mục Tử tín trung, độ lượng và quảng đại của Ítraen. Nhờ được Chúa chăm lo, hướng dẫn mà Dân riêng Chúa luôn biết con đường phải đi, biết cách phải sống cho đẹp lòng Chúa và được hạnh phúc. Xin Chúa tiếp tục làm Mục Tử cho Ítraen mới là Giáo hội ngày nay để không một phần tử nào trong cộng đoàn ấy phải bơ vơ lạc lõng, trái lại mọi người đều được Cha yêu thương và chăm sóc.

          Lạy Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, chúng con cảm tạ Cha vì Cha đã ban cho chúng con Vị Mục Tử Nhân Lành là Con Yêu Dấu của Cha. Nhờ sự hy sinh mạng sống của Người vì chúng con và cho chúng con mà chúng con được sống.

          Lạy Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, chúng con cảm tạ Cha vì Cha còn ban cho chúng con những vị mục tử tốt lành sống gần và hiểu chúng con là đức giáo hoàng, các hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục để chúng con được yêu thương, chăm sóc và hướng dẫn tận tình. Xin Cha chúc phúc cho những vị này để họ biết noi gương Vị Mục Tử Nhân Lành là Chúa Giêsu Kitô, Con Cha mà yêu thương, chăm sóc và quy tụ mọi con cái Cha thành một đại gia đình!

          Lạy Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, chúng con cảm tạ Cha vì Cha còn mời gọi chúng con làm mục tử đối với những người thuộc về chúng con và những người mà Cha đã trao cho chúng con. Xin Cha chúc phúc cho chúng con để chúng con biết noi gương Vị Mục Tử Nhân Lành là Chúa Giêsu Kitô, Con Cha, mà yêu thương và phục vụ những người thuộc về chúng con và được giao phó cho chúng con. Amen!
          Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.                                               
Sàigòn ngày 30.04.2006
 

PS4-B47. LÀNH NHƯNG KHÔNG HIỀN

Để so sánh mức độ phát triển đời sống của người dân Trung Quốc, người ta ghi lại mơ ước của ho: PS4-B47

Để so sánh mức độ phát triển đời sống của người dân Trung Quốc, người ta ghi lại mơ ước của họ qua các thời kỳ: ở thập kỷ 70, ba điều ước của người Trung Hoa là một chiếc đồng hồ đeo tay, một chiếc máy may và một xe đạp. Ba điều ước ấy ở thập niên 80 đã trở thành: một chiếc ti-vi màu, một cái tủ lạnh và một máy giặt. Những thứ ấy đầy dẫy ở thập niên 90 và đầu thế kỷ này, thì ba điều ước cũng được “nâng cấp”. Đó là được học hành, có một căn nhà và sở hữu chiếc xe hơi.
Ở đất nước chúng ta, sau những năm tháng rồng rắn xếp hàng mua lương thực và thực phẩm theo tem phiếu, thèm khát từng lạng thịt, cân đường, giành giật từng chai mắm, gói mứt, một hạt cơm “cõng” ba bốn miếng khoai sắn, kéo theo tình trạng suy dinh dưỡng trầm trọng nơi trẻ em và khiến cái ăn choán hết cả thời giờ, tâm trí của mọi giới, thì từ đầu thế kỷ đến nay, khi hàng hoá ê hề, khi cái ăn cái mặc không còn chỉ để nuôi sống, mà trở thành tiêu chuẩn phân biệt giàu nghèo, với những bữa ăn thừa mứa, thì nỗi lo “thừa ca-lo-ri” gây béo phì nơi rất nhiều trẻ nhỏ cũng làm đau đầu các bậc phụ huynh không kém. Song cái đáng sợ nhất, sự tụt dốc không hãm nổi của đời sống đạo đức luân lý, tỷ lệ nghịch với phát triển vật chất, thì dườngnhư bị bỏ qua và bỏ quên !
Căn bản đạo đức không có, ở những đất nước chuyển từ cái đói, cái thiếu túng triền miên sang cái no nê dư thừa, thì lời dạy: ”phú quý bất năng dâm” của Khổng Tử, xem ra đã quá cổ lổ. Người ta vội vã hưởng thụ. Người ta làm mọi cách để có tiền, nhiều tiền, dù phải trả giá bằng cả mạng sống: một thành tỷ phú, hai là “dựa cột” ! Luơng tâm của rất nhiều người chỉ còn là không để bị luật pháp “sờ gáy” đạo đức luân lý là làm sao không để bị phát hiện !
Mong ước sống dài lâu “để ăn”, chứ không còn là “ăn để sống” nữa ! Sự bù trừ đang bị lạm dụng, không chỉ về mặt vật chất, mà gây ra không biết bao nhiêu là xáo trộn xã hội, khi lớp người thành đạt đòi hỏi cuộc sống sa hoa, “quý tộc”, với những “cơn say suốt sáng, trận cười thâu đêm”, lao vào những thú vui ”nhất dạ đế vương” sa đọa trụy lạc. Họ đục khoét của công, bóc lột người nghèo, để có tiền vung vãi trác táng. Lớp trẻ nhìn gương xấu của bậc phụ huynh, cũng nhắm mắt sa đà vào các thú ăn chơi ngông cuồng xấu xa, mất hết ý chí để đứng dậy để sống nên người.
Giáo Hội không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của vòng xoáy do ma quỷ đạo diễn này. Mỗi người chúng ta cũng không thể vô can đối với tất cả những diễn biến xung quanh chúng ta, trong cuộc sống, trong xã hội và trên thế giới này, đơn giản bởi vì chúng ta cũng là những “chủ chăn” và một cách nào đó, còn là những “cửa chuồng”, nơi các chiên cừu tin tưởng đi qua để vào được chốn bình an; song kẻ trộm hoặc sói dữ cũng có thể chui vào từ đó, để phá hoại gieo rắc chết chóc.
Trong một bài suy niệm về đề tài này, hai tác giả Gerard Bessière và Hyacinthe Vulliez đã viết: “Trong tâm trí chúng ta, người mục tử thật tốt bụng, hiền lành, dễ thương, nên được gọi là kẻ chăn chiên lành. Nhưng theo bài Tin Mừng hôm nay, người mục tử lành thì có lành, nhưng không hiền đâu”.
LÀNH nhưng không HIỀN: đó cũng là lập trường mà Chúa muốn chúng ta phải có trước những gì đe doạ làm hư hại hoặc phá hủy sự bình an trong nội tâm, trong gia đình, trong cộng đoàn chúng ta: tham sân si, dục vọng, hận thù, ích kỷ. Con mèo “lành” không có nghĩa là mất hết móng vuốt. Con chim “lành” nhưng sẵn sàng chiến đấu đến chết khi sự sống con cái nó bị đe dọa. Trong vụ tai nạn xe buýt thảm khốc vừa qua ở Colombia, một bé gái ba tuổi thoát chết, nhờ người bà đã ôm chặt chái bé vào lòng và hy sinh dùng thân hình mình để giữ mạng sống cho cháu.
Trong văn học Việt Nam có câu chuyện cảm động ”Anh Phải Sống”, kể về người vợ buông tay giữa dòng lũ xiết, để chồng đủ sức bơi vào bờ, sống sót mà nuôi con. Chúa Giê-su đã hy sinh chịu khổ hình, để bảo đảm sự sống và an bình cho chúng ta. Còn chúng ta, biết bao phen như bị tê liệt vì lợi lộc, biết bao lần “nhũn như con chi chi” vì sợ mích lòng và sẵn sàng phá bỏ “cửa chuồng” để đánh đổi chút lợi danh, hoặc vì muốn yên thân, ngại gian khổ, ngại đấu tranh chống cái xấu cái ác đang nhe nanh giơ vuốt rình rập để gây hại, để mặc cho sự dữ, ma quỷ xông vào làm hại không chỉ chúng ta, mà cả những người Chúa giao phó cho chúng ta, dù ở cương vị, chức phận nào.
Sự nhu nhược, vô trách nhiệm, hèn nhát của “chủ chăn” như thế đã tạo kẻ hở và cơ hội cho ma quỷ lọt vào được chuồng chiên, tung hoành và hủy diệt đàn chiên.
Ngạn ngữ la-tinh có câu: “Si vis pacem, para bellum” ( “Nếu muốn có hoà bình, hãy chuẩn bị chiến tranh” ), không phải xúi giục gây hấn, mà dạy con người luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, bởi kẻ thù chẳng khi nào chịu để yên. LÀNH là thái độ cần có, nhưng có những tình huống không cho phép ta HIỀN, vì lúc đó, ”hiền” đồng nghĩa với đầu hàng.
 CVK NGUYỄN THẾ BÀI, Đi Tìm Đáp Số Tình Yêu 151
 

PS4-B48. MỤC TỬ NHÂN LÀNH

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM B (03.05.2009)
[CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI LINH MỤC VÀ TU SĨ]

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ       
 

Chúa Giê-su đã mượn hình ảnh “người chăn chiên và đoàn chiên” rất quen thuộc với người Do Thái: PS4-B48

Chúa Giê-su đã mượn hình ảnh “người chăn chiên và đoàn chiên” rất quen thuộc với người Do Thái để mạc khải về mình: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên!”
Chúa Ki-tô Giê-su không chỉ hy sinh mạng sống vì đoàn chiên và chăm lo cho đoàn chiên một cách trực tiếp mà ngài còn giao cho các Ki-tô hữu nhiệm vụ chăm lo cho đoàn chiên, thay cho ngài.
Ông William Barclay đã viết mấy dòng rất sâu sắc và cụ thể về sự việc ấy khi ông diễn giải ý nghĩa của giáo huấn “Hội Thánh là Thân Thể Chúa Ki-tô” trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô của Thánh Phao-lô:
“Chúa Giê-su không còn trong xác thịt trên trần gian này nữa, do đó, nếu Ngài muốn làm một việc gì trên đời này, Ngài phải tìm một người để làm công việc ấy.
Nếu Ngài muốn dậy dỗ một đứa trẻ, Ngài tìm một thầy giáo để dậy bảo nó.
Nếu  muốn chữa lành một người bệnh, Ngài tìm một bác sĩ hay một nhà giải phẫu để làm công việc đó cho Ngài.
Nếu Ngài muốn kể lại một câu chuyện về mình, Ngài phải tìm một người để kể. Tóm lại chúng ta là thân thể của Chúa Ki-tô,
là những bàn tay để làm việc cho Ngài,
những bàn chân để chạy việc cho Ngài,
là tiếng nói để phát ngôn cho Ngài.
“Ngài không có tay, chỉ có đôi tay của chúng ta
Để làm công việc ngày hôm nay của Ngài.
Ngài không có chân, chỉ có đôi chân của chúng ta
Để dẫn người ta theo đường lối Ngài.
Ngài không có tiếng nói, chỉ có tiếng nói của chúng ta
Để nói với loài người rằng Ngài đã chịu chết như thế nào.
Ngài không có cách giúp đỡ nào khác ngoài sự giúp đỡ của chúng ta
Để đưa họ đến bên cạnh Ngài.”
(Thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, NXB Tôn giáo 2008, trang 100)”
Cử hành LỄ CHÚA CHIÊN LÀNH cách tốt nhất là chúng ta tham gia và chia sẻ công việc chăm lo cho đoàn chiên của Thiên Chúa, cả những người đã ở trong ràn và cả những người chưa thuộc về ràn của Chúa Ki-tô.   
II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Bài đọc 1 (Cv 4, 8-12): Không có một danh nào khác để chúng ta phải nhờ vào dang đó mày được cứu độ.
 (8) Bấy giờ, ông Phê-rô được đầy Thánh Thần, liền nói với họ: "Thưa quý vị thủ lãnh trong dân và quý vị kỳ mục, (9) hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn về việc lành chúng tôi đã làm cho một người tàn tật, về cách thức người ấy đã được cứu chữa.   (10) Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Ít-ra-en biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giê-su Ki-tô, người Na-da-rét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị. (11) Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường. (12) Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ."
2.2 Bài đọc 2 (1 Ga 3,1-2): Thiên Chúa  thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
 (1) Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa -mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người. (2) Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy.
2.3 Bài Tin Mừng (Ga 10,11-18): Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đoàn chiên.
 (11) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (12) Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, (13) vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. (14) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, (15) như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.
(16) Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. (17) Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. (18) Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được."

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
3.1 Chân Dung của Thiên Chúa    
3.1.1 Bài đọc 1 (Cv 4,8-12) là lời chứng hùng hồn của ông Phê-rô trước Thượng Hội đồng Do Thái gồm các thủ lãnh và kỳ mục trong dân. Tông đồ Phê-rô quả quyết chính nhờ Danh Đức Giê-su Na-da-rét mà ông đã chữa lành người què. Đấng mà Phê-rô nhân danh để làm phép lạ chính là người mà giới lãnh đạo Đền thờ đã giết hại bằng cách kết án trên cây thập tự. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho người trỗi dậy từ cõi chết để minh oan, siêu tôn người và trả lại cho người tất cả quyền năng mà người đã tự ý khước từ khi nhập thể làm người. Cái chết hy sinh trên thập giá chứng tỏ Đức Giê-su là Vị Mục tử nhân lành mà Chúa đã khẳng định trong Tin Mừng Gio-an. 
3.1.2 Bài đọc 2 (1 Ga 3,1-2) cho chúng ta biết Thánh Gio-an muốn các tín hữu tin vào Lòng Yêu Thương vô bờ vô bến của Chúa Cha. Bằng chứng của Tình Yêu ấy là Thiên Chúa Cha đã làm cho mọi người nên con cái của Người, trong và nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Con Một Yêu Dấu của Thiên Chúa.
3.1.3 Bài Tin Mừng (Ga 10,11-18) là lời khẳng định của chính Đức Giê-su về CHÂN DUNG đích thực của mình: “Chính tôi là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Mối liên hệ giữa mục tử và con hay đoàn chiên là gắn bó, mật thiết, sống động: con chiên hay đoàn chiên thuộc về mục tử, biết và nghe lời mục tử. Còn mục tử thì biết rõ từng con chiên một và sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì con chiên và vì đoàn chiên của mình. Mục tử nhân lành tự ý, tự nguyện hy sinh mạng sống vì con chiên và đoàn chiên. Mục tử còn có rất nhiều chiên khác chưa tập trung cùng đàn mà còn tản mác khắp chốn khắp nơi, nên trong lòng Người còn nặng trĩu nỗi bức xúc phải tập hợp tất cả mọi con chiên thành vào một đàn duy nhất. 
3.2 Sđiệp của Lời Chúa    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay có hai phần: 
* Phần thứ nhất là: Chúa Giê-su được Chúa Cha sai đền trần gian để yêu thương và chăm lo cho hết mọi người. Người đã hết lòng yêu thương, chăm sóc những kẻ thuộc về Người đến độ Người đã hy sinh mạng sống vì chúng ta. Vì thế chúng ta được mời gọi hãy đón nhận - với lòng biết ơn - sự yêu thương, chăm sóc và hy sinh của Chúa Giêsu và hãy có mối liên hệ mật thiết với Người.        
* Phần thứ hai là: Mỗi Ki-tô hữu được mời gọi trở thành “mục tử nhân lành” đối với những người thuộc về mình hay được giao phó cho mình, tức có bổn phận yêu thương, chăm sóc và hy sinh cho những người ấy theo gương Chúa Giê-su đã yêu thương, chăm sóc và hy sinh mạng sống cho chúng ta và mọi người. Những người có chức thánh và những người có trách nhiệm hướng dẫn cộng đoàn thì có càng phải chăm lo cho người khác nhiều hơn.
IV. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Để giúp mỗi người/cộng đoàn thực thi sứ điệp Lời Chúa một cách dễ dàng và cụ thể, xin hãy trả lời mấy câu hỏi sau đây:
4.1 Tôi và cộng đoàn tôi nhận thức và trân trọng như thế nào vai trò và chức năng mục tử của Chúa Ki-tô Giê-su?  của các người lãnh đạo khác trong cộng đoàn Giáo xứ, Giáo phận, Dòng Tu, Hội đoàn?
4.2 Tôi  và cộng đoàn tôi có cảm thấy hạnh phúc khi được là “những bàn tay để làm việc cho Chúa Ki-tô”, là “những bàn chân để chạy việc cho Ngài”, là “tiếng nói để phát ngôn cho Ngài” không?

V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ NHÂN LOẠI
5.1 “Chính tôi là mục tử nhân lành.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Cha, vì Cha đã ban Con Yêu Dấu Cha là Đức Giê-su cho chúng con, để Người chăn dắt chúng con trong cuộc lữ hành trần gian. Chúng con nguyện xin Cha ban ơn phù trợ cách riêng cho Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, cho các Giám Mục, linh mục, phó tế và các thành phần lãnh đạo khác của cộng đoàn là nhũng người được tham gia sứ mạng mục tử của Chúa Ki-tô, để các vị ấy chu toàn sứ mạng hướng dẫn và chăm lo cho đoàn chiên đã được Cha giao phó. 
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.2 “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Cha, vì Con Yêu Dấu Cha đã hy sinh mạng sống vì chúng con và toàn thể nhân loại. Xin Cha ban cho Hội Thánh tại các quốc gia nói chung và tại Việt Nam nói riêng nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ nam nữ để nhờ những con người quảng đại hiến mình cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng mà nhiều người được tập họp trong đoàn chiên của Chúa Ki-tô, Con Cha.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.3 “Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Cha vì Cha đã yêu thương chúng con đến độ đã cho chúng con được thực sự làm con của Cha. Chúng con xin Cha ban cho chúng con ơn cảm nghiệm được “Tình Cha” bao la và ơn biết sống “tư cách làm con” cao trọng của chúng con.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.4 “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha, về ý định và kế hoạch của Cha là quy tụ muôn người muốn dân thành một đoàn chiên duy nhất dưới sự hướng dẫn của Chúa Ki-tô Con Cha. Xin Cha ban ơn cho những người thành tâm thiện chí và khao khát Chân Lý và Tình Thương, để họ sớm được dẫn dắt vào đoàn chiên của Chúa Ki-tô Phục Sinh.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
 

PS4-B49. CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH

CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH
Ga 10, 11-18

 

Mỗi năm cứ vào ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, tôi luôn hồi tưởng tới một bức ảnh mầu rất ấn: PS4-B49

Mỗi năm cứ vào ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, tôi luôn hồi tưởng tới một bức ảnh mầu rất ấn tượng mà hồi còn nhỏ tôi đã được thấy nơi phòng sinh hoạt của giáo xứ của tôi, nhưng ngày nay sau mấy chục năm dài đằng đẵng không hiểu bước ảnh đẹp và ý nghĩa ấy đã trôi dạt nơi đâu ? Bức ảnh vẽ hình Chúa Giêsu đang vác một con chiên trên vai, gần Ngài là bầy chiên gồm nhiều con lớn con bé, xa xa là cánh đồng cỏ xanh rì và dòng suối mát trong xanh. Hình ảnh Chúa Giêsu mục tử tốt lành luôn thôi thúc tôi tìm hiểu Ngài và đến với Ngài.

MỤC TỬ TỐT LÀNH: Thực tế, dân Pa-lét-tin rất quen thuộc với người mục tử và đàn chiên trên các đồng cỏ xanh tươi. Giữa người chăn chiên và con chiên có một mối giây rất thân tình. Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng này ví mình như người mục tử. Mục tử nhân lành luôn luôn khác với người chăn thuê, bởi vì mục tử tốt dám hy sinh cả mạng sống vì con chiên khi chiên của họ bị thú dữ tấn công. Điều này trái nghịch với kẻ làm thuê làm mướn vì người làm mướn thì lơ là, bỏ chạy thoát thân khi sói dữ đến tấn công bầy chiên. Giáo Hội ví như bầy chiên của Chúa Giêsu. Giữa Đức Kitô và chiên có mối giây liên kết gắn bó cách mật thiết.” Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi, như Cha biết tôi và tôi biết Cha “ ( Ga 10, 14-15 ).Đây không phải cái biết hời hợt nhưng là cái biết sâu xa và có đi có lại. Chiên là hình ảnh của một ngôi vị hoàn toàn tự do. Người chăn chiên tốt lành gọi tên từng con chiên bằng một giọng thật quen thuộc, thật gần gũi. Chiên nghe tiếng người chăn và đi theo. Do đó, giữa người chăn và đoàn chiên hiểu biết nhau, nhận ra nhau thật dễ dàng, trân trọng và quý mến nhau. Sau khi Chúa Giêsu sống lại, Ngài đã giao cho thánh Phêrô quyền cai quản Hội Thánh và chăn dắt đàn chiên:” Hãy chăn dắt chiên con chiên mẹ của Ta “. Sứ mạng này phát xuất tự lòng mến của Thiên Chúa. Yêu mến Chúa dẫn đến việc yêu mến đoàn chiên.

ĐỨC GIÊSU KITÔ, MỤC TỬ TỐI CAO VÀ GƯƠNG MẪU: Mình Đức Kitô là mục tử duy nhất, tối cao và gương mẫu. Mọi mục tử đều chỉ là phụ tá cho mục tử duy nhất là Đức Kitô. Chính vì thế, mọi mục tử đều phải noi gương, bắt chước Ngài, dám chết cho đoàn chiên được sống như Đức Kitô đã sống: ” Ta đến cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào “ ( Ga 10, 10). Phêrô, nối tiếp sứ mạng chăn dắt đoàn chiên. Phêrô có thể trốn tránh tù tội, bắt bớ, giết chết. Nhưng khi Ngài nằm xuống, Phêrô mới củng cố lòng tin của Hội Thánh và đàn chiên. Phêrô trở lại vào thành để chịu chết vì Chúa, chính lúc đó Phêrô đã trở nên mẫu gương ngời sáng, không hề phai mờ của người mục tử tốt lành: ” Thầy làm vững đức tin của con.Rồi đến lươt con, con sẽ làm vững đức tin của anh em con “. Nhiều mục tử trên khắp mặt đất đã nối gót Phêrô cũng đã nằm xuống để trở nên nhân chứng, và củng cố niềm tin cho anh em. Quả thật, chỉ có Đức Kitô là mục tử nhân hậu mới dám hy sinh cả mạng sống mình cho từng con chiên của mình: ” Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ).

HỘI THÁNH CHỌN NGÀY CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH ĐỂ LÀM NGÀY CỔ VÕ ƠN THIÊN TRIỆU: Công việc loan báo Nước Trời và công việc cứu độ, Chúa không làm một mình, nhưng Ngài kêu mời nhiều người góp tay vào công việc mở mang Nước Thiên Chúa. Bởi vì Chúa luôn cần những người tiếp nối công việc của Ngài, để Nước Thiên Chúa được mở rộng.Do đó, cần có nhiều người trẻ dấn thân sống đời độc thân loan báo Tin Mừng và cầu nguyện cho thế giới. Việc khước từ không lập gia đình để rảnh rang hơn cho việc phục vụ Chúa, Hội Thánh và tha nhân luôn là điều khẩn thiết, Giáo Hội đang mời gọi. Hội Thánh theo gương Chúa mời gọi các môn đệ:” Hãy cho họ ăn “. Vâng, cả một thế giới với một số lớn còn chưa nhận biết Chúa, vấn đề nhân loại đang khao khát Lời Chúa lại là điều thật thúc bách nhiều người dấn thân làm môn đệ phục vụ Lời và phân phát Lời Chúa.Chúng ta thử xem thế giới hiện giờ đã có gần 8 tỷ người, nhưng người tin Chúa chỉ có hơn 1 tỷ người. Như vậy, việc truyền giáo còn rất cần thiết và cánh đồng truyền giáo còn rất bao la, mênh mông. Hội Thánh cho thấy việc khao khát Lời Chúa, những người nghèo, những kẻ bơ vơ vất vưởng, những người bệnh hoạn tật nguyền những người neo đơn, bị áp bức, bị bỏ rơi còn la liệt trên khắp cánh đồng truyền giáo. Cả một đám đông bơ vơ. Chính vì thế, các bạn trẻ hãy nhìn đám đông, thấy đám đông bằng con tim và để cho con tim mình đáp trả. Hội Thánh đã có biết bao dòng tu nam nữ, biết bao tu hội nam nữ, biết bao tu hội đời vv…Hội Thánh đã có biết bao tâm hồn quảng đại dấn thân phục vụ trong chức vụ Giám Mục, Linh Mục, Tu sĩ nam nữ, nhưng cánh đồng lúa vẫn chín vàng mà còn thiếu nhiều thợ gặt.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con mọi người biết luôn nhiệt thành mở mang Nước Trời bằng tất cả khả năng và mức độ có thể. Xin ban cho nhân loại nhiều Linh mục, nhiều Tu sĩ nam nữ thánh thiện để Nước Chúa được mở rộng khắp nơi và Tin mừng cứu rỗi được vang lên khắp cùng bờ cõi trái đất. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

PS4-B50. Chúa chiên lành

Có một chàng sinh viên, sau khi tốt nghiệp đại học, đã không chọn cho mình một ngành nghề: PS4-B50

Có một chàng sinh viên, sau khi tốt nghiệp đại học, đã không chọn cho mình một ngành nghề chuyên môn, nhưng lại đi chăn cừu thuê. Anh cho biết: Mỗi ngày anh phải làm việc tới mười tám tiếng đồng hồ và làm tất cả bảy ngày trong tuần. Suốt thời gian ở trên núi, anh hoàn toàn cô đơn, chỉ bầu bạn với chú chó, chú ngựa và hai ngàn con cừu.
Mỗi tuần một lần, người ta đem đến cho anh thực phẩm, thư từ và đạn dược. Công việc của anh là làm sao giữ cho đàn cừu được ở chung một chỗ, dẫn chúng đến nơi có cỏ và có nước, đồng thời bảo vệ chúng khỏi thú dữ.
Anh kể: một buổi sáng nọ, có một nhóm cừu tự rời khỏi bày, thế là tôi phải bỏ tất cả thời gian để lần theo dấu vết của chúng. Ngay khi vừa mới tìm thấy, thì một cơn mưa bão ập xuống, khiến tôi và những con cừu vừa ướt lại vừa bị lạnh cóng suốt đêm.
Câu chuyện trên cho chúng ta thấy nghề chăn cừu thời nay thật là khó khăn và cực nhọc. Nhưng ngày xưa, khi chưa có súng đạn thì công việc của họ không chỉ cực nhọc mà còn rất nguy hiểm nữa.
Trong sách Samuel, Đavid đã trả lời cho nhà vua trước lúc giao tranh với Goliath như sau: Tâu bệ hạ, thần đã từng chăm sóc đàn cừu của phụ thân, bất cứ khi nào có một con sư tử hay một con gấu cướp đi một con cừu, thì lập tức, thần rượt theo và tấn công nó để cứu con cừu. Nếu con sư tử hay con gấu ấy quay vào tấn công thần, thần sẽ xông tới, chộp cổ họng và đánh nó cho đến chết. Thần đã giết nhiều sư tử và gấu. Thần cũng sẽ làm như vậy với tên Philitinh ngoại đạo này.
Từ những mẩu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin mừng hôm nay, trong đó Chúa đã nói: Ta là mục tử nhân lành, sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Nói cách khác Chúa Giêsu chính là vị mục tử mà tiên tri Egiechiel đã loan báo: Ngài chăm sóc những con bơ vơ yếu đuối, chữa lành những con bệnh hoạn và đi tìm những con bị lạc. Chúa Giêsu còn làm hơn thế nữa, Ngài tự hiến mạng sống cho đoàn chiên. Và từ cõi chết sống lại, Ngài đã chia sẻ vinh quang Phục sinh cho đoàn chiên của Ngài. Từ đó chúng ta hãy rút ra một vài điểm thực hành:
Điểm thứ nhất, đó là hãy tỏ lòng biết ơn Ngài vì nhờ sự chết và Phục sinh, Ngài đã cứu chúng ta khỏi manh mối của thú dữ là ma quỷ và tội lỗi.
Điểm thứ hai, đó là hãy bước đi dưới sự dẫn dắt của Ngài, nhờ vậy mà chúng ta chẳng bao giờ bị lầm đường lạc lối. Trái lại, cuộc đời chúng ta sẽ được bảo đảm an toàn, bởi vì như lời thánh vịnh cũng đã xác quyết: Chúa là Mục tử, Ngài dẫn lối chỉ đường cho con đi. Đi trong tay Chúa nào con thiếu chi con sợ chi. Cỏ non rợn đồng xanh con không bao giờ thiếu suối nước trường sinh con nghỉ uống no đầy.


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây