Phục Sinh 4 B Phần III Bài 101-153: Chúa Chiên Lành

Thứ tư - 18/04/2018 21:35
Phục Sinh 4 B Phần III Bài 101-153: Chúa Chiên Lành
Phục Sinh 4 B Phần III Bài 101-153: Chúa Chiên Lành
Phục Sinh 4 B Phần III Bài 101-153: Chúa Chiên Lành
PS4-B101: “TÔI LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH”. 2
PS4-B102: Chúa Chiên Lành. 3
PS4-B103: Thời điểm CÁI ẤM NƯỚC CỦA TRIẾT GIA KIM ĐỊNH.. 4
PS4-B104: Chúa Nhật CHÚA CHIÊN NHÂN LÀNH.. 6
PS4-B105: VẪN CÒN ĐÓ NHỮNG MỤC TỬ TỐT LÀNH.. 7
PS4-B106: TÂM TÌNH SÂU RỘNG CỦA MỤC TỬ NHÂN LÀNH.. 9
PS4-B107: TÌNH NGƯỜI MỤC TỬ.. 10
PS4-B108: CHỦ CHĂN NHÂN LÀNH.. 10
PS4-B109:  GÃ CHĂN BÒ CỦA THẾ KỶ 21. 12
PS4-B110:  “CHIÊN TÔI THÌ NGHE TIẾNG TÔI”. 13
PS4-B111:  ĐÃ QUA 5 ĐỜI CHA XỨ... 14
PS4-B112:  “NHỮNG MỤC TỬ NHƯ LÒNG CHÚA MONG ƯỚC”. 15
PS4-B113:  CHỌN SAO CHO TRỌN ?. 16
PS4-B114:  “VỌNG THANH NGHE RỢN, HỒN CÔ TỊCH…”. 17
PS4-B115: CHỨNG NHÂN PHỤC SINH.. 19
PS4-B116: NGƯỜI CHĂN CHIÊN BỊ GIẾT. 21
PS4-B117:Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. 22
PS4-B118: MỤC TỬ.. 23
PS4-B119: Chúa Chiên Lành. 27
PS4-B120:  Nơi bạn thuộc về – Peter Feldmeier 27
PS4-B121: Mục tử tốt – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 29
PS4-B122:  Có một tình yêu thật lạ lùng. 31
PS4-B123: Nhận diện Mục Tử và Người Chăn Thuê. 33
PS4-B124:  Mục tử nhân lành. 35
PS4-B125: Nghe-Biết-Theo – Lm Trịnh Ngọc Danh. 35
PS4-B126: Đóa hoa yêu thương. 37
PS4-B127:  Tôi biết chiên của Tôi - ViKiNi 38
PS4-B128: Chủ chăn hoàn hảo – AM Trần Bình An. 39
PS4-B129: Ai là mục tử? Đàn chiên thuộc về ai?. 41
PS4-B130:   Mục tử tốt lành & Kẻ làm thuê. 42
PS4-B131: Chúa Giêsu - Mục Tử Nhân Lành. 43
PS4-B132: Mục Tử Tốt Lành với ba chữ D.. 44
PS4-B133: Chủ Chiên đích thực. 46
PS4-B134: TA LÀ MỤC TỬ  TỐT LÀNH.. 48
PS4-B135: Chúa là Mục tử và là người phục vụ. 49
PS4-B136: ĐẤNG CHĂN CHIÊN LÀNH.. 50
PS4-B137: MỤC TỬ NHÂN LÀNH HIẾN THÂN PHỤC VỤ ĐOÀN CHIÊN.. 51
PS4-B138: Trách nhiệm của vị Mục Tử nhân lành. 53
PS4-B139: Chúng ta thuộc về Chúa là Mục Tử nhân lành. 54
PS4-B140: TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH.. 55
PS4-B141:  Dung mạo đích thực của Giáo Hội 56
PS4-B142:  Tình yêu, con đường duy nhất để đến vơi thế giới bất tin". 56
PS4-B143:  Trong trái tim Giáo Hội, tôi sẽ là tình yêu". 57
PS4-B144: CHÚA DẪN CON ĐI. 57
PS4-B145: CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH_B.. 58
PS4-B146:  “MỤC TỬ PHẢI CÓ MÙI CHIÊN”. 60
PS4-B147: QUYỀN HÀNH VÀ TRÁCH NHỆM... 62
PS4-B148: CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH.. 63
PS4-B149:  CHÚA CHIÊN LÀNH – CẦU CHO ƠN THIÊN TRIỆU.. 64
PS4-B150: GẮN BÓ YÊU THƯƠNG.. 65
PS4-B151: Chân dung vị Mục tử nhân lành. 66
PS4-B152:  BẠN LÀ MỤC TỬ HAY LÀ CHIÊN?. 68
PS4-B153: CHÚA CHIÊN LÀNH.. 69

 

PS4-B101: “TÔI LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH”

Trong bài Tin Mừng của Lễ Chúa Chiên Lành hôm nay ( Ga 10, 11 – 18 ), Đức Giêsu khẳng: PS4-B101

Trong bài Tin Mừng của Lễ Chúa Chiên Lành hôm nay ( Ga 10, 11 – 18 ), Đức Giêsu khẳng định một cách tường minh rằng Người chính là Mục Tử Nhân Lành, đồng thời nói đến hai đặc điểm quan trọng làm nên dung mạo Mục Tử Nhân Lành của Người. Trước hết là vì khác hẳn những nhà lãnh đạo chỉ biết tìm lợi lộc cho riêng mình, Đức Giêsu hiến ban mọi sự, ngay cả chính mạng sống, cho những kẻ thuộc về Người, vốn không chỉ là những người Israel ( cc. 11 – 16 ). Thứ hai là vì mối tương quan nên một với Chúa Cha, Đấng yêu mến Người và trao phó cho Người sứ mạng đó ( cc. 17 – 18 ).
Mở đầu bài Tin Mừng, chúng ta gặp ngay lời khẳng định rõ ràng và tích cực của Đức Giêsu: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” ( c. 11 ). Nói về hành động của Người đối với những kẻ mà Chúa Cha đã ban cho mình, Đức Giêsu dùng hình ảnh “mục tử”. Nhưng Người không phải chỉ là một mục tử hơn hẳn những mục tử khác, mà là Mục Tử Nhân Lành, mẫu mực, điển hình. Nét đặc trưng mang tính quyết định trong tư cách Mục Tử Nhân Lành của Người là sự “hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”. Kẻ không yêu đến mức độ hiến ban chính mạng sống mình cho đoàn chiên thì không phải là mục tử nhân lành đích thực.
Trong Ga 10, 10 ( tức là ngay trước câu mở đầu bài Tin Mừng hôm nay ), Đức Giêsu đã xác quyết: “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. Đức Giêsu đến để mang lại Sự Sống dồi dào cho đoàn chiên, và Người thực hiện sứ mạng đó bằng cách hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Hiến mình là thông ban Sự Sống. Đó là một nguyên lý Sự Sống sẽ được Người trình bày bằng một hình ảnh khác: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” ( 12, 24 ). Để thông ban Sự Sống dồi dào cho những kẻ thuộc về Người, Đức Giêsu hiến mình cho đến chết. Sự Sống chỉ được thông ban bởi tình yêu, và là tình yêu của người hy sinh mạng sống vì người mình yêu ( 15, 13 ).
Trái ngược với hình ảnh Mục Tử Nhân Lành là hình ảnh những người làm thuê. “Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên” ( cc. 12 – 13 ). Ở đây có hai hình ảnh tiêu cực được đặt trong thế đối nghịch với hình ảnh Mục Tử Nhân Lành. Hình ảnh thứ nhất là những kẻ làm thuê. Vị mục tử đích thực thi hành việc phục vụ của mình vì tình yêu, không bận tâm đến chính mình, sẵn sàng thí ban chính mạng sống mình cho đoàn chiên. Ngược lại, kẻ làm thuê thì làm việc để lãnh lương, và trong trường hợp nguy hiểm, anh ta sẽ chẳng thiết gì đến chiên, thậm chí còn sẵn sàng để cho chiên phải chết. Hình ảnh thứ hai là sói. Đức Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành, “chết thay cho dân và... quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” ( 11, 51.52 ). Nhưng những con sói thì làm ngược lại: “Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn” ( 10, 12 ).
Sau khi nói đến những hình ảnh trái ngược với hình ảnh mục tử đích thực, Đức Giêsu quay lại với khẳng định về tư cách Mục Tử Nhân lành của mình. Người nói: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” ( cc. 14 – 15 ). Nếu ở đầu bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói về hành động của Mục Tử Nhân Lành, thì ở lời khẳng định thứ hai này, Người nhấn mạnh trên mối tương quan giữa Người với đoàn chiên: “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi”. Đó là mối tương quan thiết thân và là sự “biết” thâm sâu. Mối tương quan biết – yêu đó thâm sâu đến mức độ Đức Giêsu so sánh nó với mối tương quan giữa Người với Chúa Cha: “Như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha”. Sau này, Đức Giêsu sẽ còn đi xa hơn sự so sánh; Người sẽ nói đến một thực tại thâm sâu của sự ở trong và nên một. Với các môn đệ, Người sẽ nói: “Anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” ( 14, 20 ). Với Chúa Cha, Người sẽ thưa: “Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” ( 17, 21 ).
Chính trong mối tương quan biết – yêu thâm sâu đó, Đức Giêsu “hy sinh mạng sống cho đoàn chiên”. Đoàn chiên đó không chỉ gồm những người Israel. Đức Giêsu mở rộng phạm vi của đoàn chiên tương lai của Người: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” ( c. 16 ). Các môn đệ đến từ khắp nơi sẽ làm thành một đoàn chiên duy nhất cùng với những môn đệ đến từ Israel, chấm dứt ưu vị của dân được tuyển chọn trong Cựu Ước. Sự hiệp nhất thành một đoàn chiên đó được đặt trên một nền tảng duy nhất: chỉ có một Vị Mục Tử Nhân Lành – Đức Giêsu. Chính Người là nguyên lý và nền tảng thiết yếu làm nên sự hiệp nhất của đoàn chiên.
Sứ mạng của Đức Giêsu không giới hạn trong phạm vi những người Do Thái. Bởi lẽ tình yêu của Thiên Chúa mà Người phải thi thố là tình yêu dành cho toàn thể nhân loại. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” ( 3, 16 ). “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” ( 1, 9 ). “Đức Giêsu nói với người Do Thái: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” ( 8, 12 ).
Chương trình của Thiên Chúa là ban Sự Sống cho toàn thể nhân loại. Chính Đức Giêsu xác định: “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” ( 6, 37 – 40 ).
Đức Giêsu hoàn toàn hiến mình để thi hành ý muốn và chương trình đó của Thiên Chúa. Và chính trong sự hiến mình như thế, Người hoàn toàn nên một với Chúa Cha. “Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” ( 4, 34 ). Chính trong sự nên một với Chúa Cha như vậy, Đức Giêsu hiến mình cho đoàn chiên. Và ngược lại, chính trong sự hiến ban sự sống mình cho đoàn chiên, Người thực hiện tình yêu sâu xa với Chúa Cha. Theo nghĩa đó, Đức Giêsu khẳng định: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” ( cc. 17 – 18 ).
Vị Mục Tử Nhân Lành, như thế, là Đấng thi hành ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Chính Người đã khẳng định rõ ràng: “Vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” ( 5, 38 ). Đó chính là yếu tố cốt tử làm nên dung mạo của Vị Mục Tử Nhân Lành: được Chúa Cha sai đến và chỉ thi hành ý muốn của Chúa Cha đến mức độ hiến ban chính mình vì đoàn chiên.
Tóm lại, trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu khẳng định rõ ràng Người là Mục Tử Nhân Lành, đồng thời Người cũng cho chúng ta biết hai nét điển hình làm nên dung mạo Mục Tử Nhân Lành của Người:
1. Mục Tử Nhân Lành hiến ban mạng sống mình vì đoàn chiên;
2. Mục Tử Nhân Lành là Đấng được Chúa Cha sai đến và chỉ thi hành ý muốn của Chúa Cha đến mức độ hiến ban chính mình vì đoàn chiên.
Chiêm ngưỡng dung mạo của Vị Mục Tử Nhân Lành, chúng ta được mời gọi khiêm tốn để cho mình bị chất vấn thật sự bởi những đường nét điển hình trong dung mạo đó, đồng thời được mời gọi cầu nguyện cho tất cả những ai được Thiên Chúa cho tham dự vào sứ mạng Mục Tử của Chúa Giêsu và tiếp tục công trình cứu độ của Người nơi trần gian.
Lm. NGUYỄN THỂ HIỆN, DCCT
 

PS4-B102: Chúa Chiên Lành

Tony năm nay 28 tuổi, độc thân, cuộc sống tương đối khá về tài chánh vì anh là một chuyên: PS4-B102

Tony năm nay 28 tuổi, độc thân, cuộc sống tương đối khá về tài chánh vì anh là một chuyên viên định giá các chương trình xây cất nhà cho một công ty xây cất lớn có các chi nhánh tại nhiều tiểu bang. Thế rồi một buổi sáng trong khi lái xe đi làm anh đã ngủ gục vì đêm trước gần như thức trắng đêm nhậu nhẹt với bạn bè. Khi mở mắt ra anh chỉ thấy màu trắng của trần nhà, đầu đau như búa bổ, toàn thân đau đớn không cử động được và anh nghe tiếng của mẹ đang gọi tên anh. Anh cố gắng trả lời nhưng cổ anh bị nghẹn cứng vì ống của máy thở luồn vào phổi qua cuống họng. Anh cố gắng hết sức để làm một cử chỉ gì đó cho mẹ anh biết nhưng hoàn toàn thất vọng, vì toàn thân anh hình như không còn một nơi nào lành lặn. Anh đã mất nhiều tháng nằm bệnh viện và tới nay thì nửa người bên phải và từ thắt lưng xuống tới hai chân bị tê bại không xử dụng được.
Tôi đến thăm các bệnh nhân và những người lớn tuổi trong viện dưỡng lão hàng tuần và tôi đã gặp anh do sự tình cờ hay do Chúa xếp đặt vì anh vừa được đưa đến chung phòng với một thanh niên mà tôi vẫn thăm. Sau vài lần thăm viếng anh đã nói chuyện được nhiều hơn và anh cho biết là anh có ý muốn trở thành một người Công giáo, tôi không hỏi anh tại sao mà chỉ hứa là sẽ giúp anh. Sau đó tôi đưa đến cho anh cuốn sách giáo lý dành cho người lớn để anh đọc. Khoảng một tháng sau, khi tôi đến thăm thì anh vén cánh tay áo và cho tôi xem nơi bả vai sâm (tatoo) hình Chúa Giêsu bế trên tay một con chiên. Tôi vờ hỏi anh có nghĩa gì thì anh trả lời: "Tôi là con chiên lạc, Chúa đã tìm thấy tôi và Chúa là chủ chiên".
Câu chuyện của anh Tony chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện xảy ra hàng ngày. Nhưng cái khác ở đây là anh nhận ra Chúa Giêsu là chủ chiên, Mục tử tốt lành mà chúng ta đã nghe trong bài Phúc Âm hôm nay. Là người Công giáo chúng ta có thật sự nhận ra Chúa Giêsu là chủ chiên nhân lành, thương yêu đoàn chiên của mình và hy sinh cả mạng sống để bảo vệ đoàn chiên khỏi miệng sói dữ là tội lỗi không? Bổn phận của chúng ta là những con chiên có thái độ nào đối với chủ chiên?
Vị chủ chiên gần chúng ta nhất là cha xứ. Tất cả công việc, những hy sinh của ngài cho giáo xứ gần như chúng ta không để ý đến. Ngược lại, những điều chúng ta không đồng ý, những lầm lẫn nhỏ mọn của cha xứ thì chúng ta bàn ra tán vào, chống đối, chê bai. Thay vì tiếp tay với cha xứ để giúp giáo xứ đoàn kết, thăng tiến thì có khi chúng ta lại chia bè chia đảng để chống đối làm cho giáo xứ điêu tàn. Con chiên có thể bỏ đàn nhảy rào đi nơi khác, nhưng chủ chăn không thể bỏ đàn chiên của mình.

Chính Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết còn nhiều chiên chưa thuộc và đàn, không chỉ hiểu là những người chưa nhận biết Chúa mà cả những người đã nhận biết Chúa nhưng không sống hoà hợp yêu thương với mọi người trong giáo xứ hay cộng đoàn.
Nếu trong gia đình của có năm bảy người con, mỗi đứa có một cá tính khác biệt, có đứa vâng lời, có đứa ương ngạnh làm cha mẹ buồn lòng, có đứa hư thân mất nết làm cha mẹ đau xót xấu hổ, thì trong một giáo xứ, cộng đoàn phải có hàng ngàn cá tính khác biệt mà cha xứ phải đối diện. Rộng hơn đến Giáo hội hoàn vũ, vị cha chung của chúng ta là Đức Giáo Hoàng sẽ đau khổ thế nào khi thấy đoàn chiên của mình có rất nhiều con ngang bướng?
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con trở thành một con chiên ngoan ngoãn trong đàn chiên của Chúa, vì Chúa là Chúa Chiên Lành đã hy sinh mạng sống để bảo vệ con và cho con được hưởng hạnh phúc. Xin đừng để tội lỗi lôi cuốn con ra khỏi đàn nhưng giúp con biết đưa các chiên khác về một đàn. Amen
Pt. Trần Văn Luận
 

PS4-B103: Thời điểm CÁI ẤM NƯỚC CỦA TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

Triết gia giáo sư Kim Định đã từ trần ngày 25 tháng 3 năm 1997 tại Carthage Missouri và: PS4-B103

Triết gia giáo sư Kim Định đã từ trần ngày 25 tháng 3 năm 1997 tại Carthage Missouri và được an táng ngày 1 tháng 4 năm 1997 tại nghĩa trang Phục Sinh (Resurrection) ở Springfield, Missouri. Ngài là một người Công Giáo, là một linh mục, và là một người Việt suốt đời trăn trở với dòng sinh mệnh dân tộc mình. Ngài là một niềm hãnh diện của Hội Thánh Công Giáo Việt Nam đã dấn thân góp phần tích cực khai triển nền văn hóa nước nhà trong mấy chục năm qua.
Sống để mà chết là tiến trình văn hóa loài vật và của những người làm cho mình trở thành con vật kinh tế như Karl Marx khẳng định. Nhưng chết để mà sống là tiến trình văn hóa làm người. Đạo sống Việt mình gọi giờ chết là sinh thì, là giờ bắt đầu sống thật, là giờ nhiều người tưởng phải lìa bỏ cõi có để đi vào cõi không, nhưng thực ra là bắt đầu vượt cõi không để đi vào cõi có, vượt bờ sinh tử để hòa nhập vào cõi Vĩnh Hằng là chính Thiên Chúa như Tin Mừng của Đức Giêsu: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết" (Gioan 11: 25-26).
Chính trong niềm thao thức muốn đóng góp xây dựng văn hóa làm người, và nhất là đi tìm ra thực chất gốc rễ Triết Việt và nét văn hóa Việt, mà giáo sư Kim Định đã dành trọn cả đời cho triết lý, và đặc biệt đã để lại mấy chục cuốn sách xây dựng nền Triết Việt. Vì đây là điều mệnh hệ cho dân tộc mình.
KHI CÁI ẤM NƯỚC KHÔNG SÔI
Xin được gọi là Thầy Kim Định, mặc dù nhiều người không phải là môn sinh của Thầy trong những trường Đại Học như Văn Khoa Sài Gòn, Đà Lạt, Minh Đức, Thành Nhân... như nhiều môn sinh thuộc nhiều tôn giáo khác nhau có mặt trong dịp lễ an táng Thầy. Nhưng chắc chắn không ít người đã được Thầy một lần đánh thức nhìn về hướng Đông để tự hào đầy hứng khởi với những cuốn sách mở đầu như Cửa Khổng, Nhân Bản, Chữ Thời ... Và đặc biệt sau năm 1975 với những cuốn Hồn Nước với Lễ Gia Tiên, Kinh Hùng Khải Triết, Sứ Điệp Trống Đồng...
Năm 1989 khi nói chuyện với đại hội Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, Thầy kể một câu chuyện thật dí dỏm: "Mình vẫn có thói quen ban sáng dậy là lấy ấm nấu nước pha cà phê. Một hôm mình để ấm lên bếp, vặn lửa, rồi lấy báo đọc chờ nước sôi. Chờ mãi mà không thấy nước sôi gì cả, trái lại chỉ ngửi thấy mùi khen khét, mình lại bếp xem sao thì khám phá ra chưa đổ nước vào ấm".
Thầy có ý nói nước là thực chất văn hóa trong mọi sinh hoạt của người Việt hiện tại cũng như công cuộc phục hưng đất nước. Thiếu chất đó thì nấu hoài không sôi mà còn phải ngửi mùi khen khét nữa! Nhưng thực chất văn hóa là gì thì lại cả là một chuyện bàn cãi tốn công, tốn máu xương và nước mắt nữa. Vì nếu chỉ coi tìm nét văn hóa như một cái gì để khỏa lấp tự ái dân tộc, để phải cố gắng ra như là mình cũng phải có cái gì cho bằng người cho bớt tủi...thì dễ bị con cháu khước từ lắm. Nhiều người đi rước nét văn hóa từ Tây từ Mỹ về để tôn thờ và tận tình chém giết đầy đọa đồng bào ruột thịt. Cũng chính vì mình không đồng ý với nhau về nét văn hóa nên cũng dễ mất tự tin, khiến hậu quả là người mình bây giờ tả tơi rách nát, cúi mặt nuốt nhục trước đà tiến quá nhanh của nhân loại. Nét văn hóa chính là chủ đạo của tộc mình. Đạo mất trước nước mất sau như lời Thầy vẫn nói là vậy.
CHUYỆN CÂY CẦU BOLSA Ở LITTLE SAIGON
Mùa hè 1996 báo chí bàn cãi nhiều về vụ xây cây cầu vắt ngang qua đường Bolsa, nối khu Phúc Lộc Thọ với thương xá bên kia cho khu phố Việt ở quận Cam Nam Cali hấp dẫn và tiện dụng hơn. Nhưng câu chuyện đã ra rắc rối là vì nơi vẫn được mệnh danh là thủ đô tỵ nạn với cây cầu như biểu tượng mà ông chủ Triệu Phát là một nhà buôn người Tầu dám làm mô hình sặc mầu văn hóa Tầu để nộp đơn xin phép tại Westminster. Thế là dân Việt ta lên tiếng ồn ào, rằng như vậy là làm mất mặt dân một nước có tới mấy ngàn năm văn hiến! Ai cũng ra sức tranh luận rằng cây cầu phải mang nét tiêu biểu văn hóa Việt Nam, phải mang mầu sắc và hình dáng nước mình. Người thì bảo nét văn hóa Việt là Chùa Một Cột ở Hà Nội, nhóm thì bảo là Chùa Thiên Mụ ở Huế, và phải thêm Chợ Bến Thành như nét tình tự đặc sắc của Miền Nam. Mãi mà chẳng đến được một đồng ý chung nào cả. Thấy vậy ông nhà buôn Triệu Phát bèn tuyên bố một câu rất nhà buôn: "Chúng tôi là thợ may, quí vị muốn kiểu nào, chúng tôi sẽ may theo kiểu đó".
Chỉ tiếc là mỗi người một kiểu thì ai mà theo cho nổi! Vả lại những người đặt may lại không có tiền nên khó có quyền ăn nói, phương chi là quyền sai bảo làm theo ý mình. Thế là cho chắc ăn, ông nhà buôn Triệu Phát tuyên bố không làm cầu nữa, khiến mọi người chưng hửng, mọi cuộc tranh luận bỗng tắt rụp tiu ngỉu như trái bóng bị xẹp hơi. Vì một sự thật rất hiển nhiên là chẳng ai nắm chắc thực chất nét văn hóa Việt Nam là gì, và đau lòng hơn nữa, mình cũng chẳng có một thứ "thực chất" cụ thể rất quan trọng làm đà tiến hóa là phải có tiền thì mới nhúc nhích được. Người có tiền đầu tư thì xây kiểu của người ta, mình có bàn mà đồng ý cả thì người ta cũng chiều khách hàng mà xây theo ý mình và đổi tên từ Little Cholon sang Little Saigon để mình được vuốt ve tự ái mà nhào đến thuê tiệm do họ đầu tư xây cất và tiêu tiền cho họ có lợi, thế thôi.
LÀM MỘT CÁI GÌ CHO DÂN MÌNH NGÓC ĐẦU LÊN ĐI CHỨ!
Đó là lời vẳng đâu đây tâm huyết của Thầy Kim Định nhắn gửi từng người. "Cái gì" đây phải là một nỗ lực tìm ra thực chất cho văn hóa Việt để cùng nỗ lực góp phần khơi dòng sinh mệnh Việt tộc. Là một người công giáo, là một linh mục, Thầy cũng nhận trách nhiệm với vận mạng dân tộc mình: một mình thầy đơn phương độc mã gióng lên cuộc khai quật này từ mấy chục năm nay như một tiếng kêu gào trong sa mạc. Mấy chục cuốn sách vẫn chưa đủ. Ba cuốn Thái Bình Minh Triết là những cuốn cuối cùng của Thầy chưa được xuất bản, nhưng đã được cho lên mạng lưới điện toán toàn cầu. Toàn bộ tác phẩm của triết gia Kim Định đang được đưa lên Mạng Lưới Dũng Lạc: www.dunglac.net. Thầy đã đi theo đúng con đường của Hội Thánh Công Giáo trong việc nhập thể và nhập thế vào văn hóa dân tộc, như mẫu gương Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II trong việc góp phần vào cuộc phục hưng Ba Lan quê hương của Ngài.
TIN VUI CHÚA ĐI VÀO LỊCH SỬ DÂN MÌNH (Tin Vui Phục Sinh 4B)
Những ai học về tâm lý và tu đức thực tiễn thường phải qua một chương trình Viết Nhật Ký "Intensive Journal" do Ira Progoff khám phá. Trước khi quyết định hướng đi cuộc sống và lấy lại cân bằng, mình phải đối diện với 10 nấc đá đời mình là những biến cố quan trọng liên hệ xẩy ra, những chuyện vui cũng như chuyện buồn, từ khi mình sinh ra, rồi tuổi thơ, tuổi khôn lớn, và khung cảnh gia đình, kể cả trước khi mình sinh ra, liên hệ dòng họ, tổ tiên. Nghĩa là những mảnh đời cứ tưởng rời rạc xé mảnh, nay bỗng được nhìn lại nhất quán và ghép lại làm nên con người của mình bây giờ. Khi nhìn lại như vậy, mình bỗng nhận ra một chiều kích mới, là Chúa vẫn hiện diện hành trình với mình qua 10 nấc đá đó. Ngài cũng đi xuống lũng sâu, cũng vượt lên đồi cao, nói theo kiểu bình dân là cũng phải "lên voi xuống chó". Ngài vẫn tỏ mình ra trong cuộc sống của tôi, trong lịch sử dân tộc tôi, qua những biến cố buồn vui. Tìm ra sợi chỉ đan dệt đời ta là bước then chốt trong tiến trình nội tâm. Thầy Kim Định đã đi con đường đó.
Đã có câu truyện thánh viết về dân Chúa thì cũng có câu truyện thánh của mỗi người Kitô, và của người Kitô đi trong lịch sử cụ thể của dân tộc mình: câu chuyện của người lữ hành đi về miền Đất Hứa. Khi Abraham, tổ phụ những người tin, bỏ quê tổ để bước theo tiếng gọi của Chúa, ông cũng chẳng rõ mình sẽ đi về đâu. Nhưng ông biết chắc chắn một điều rằng ông đang bước tới phía trước đi về tương lai với một người, Đấng đang dẫn mình đi. Và trên đường đi tới này, nhiều biến cố xẩy ra. Ông cảm nhận những biến cố đó như những mốc ghi những chặng đường của ông. Ông đã xây bàn thờ để cảm tạ Chúa. Như thế, từ chỗ cắm lều này tới chỗ cắm lều khác, ông luôn thấy đời mình là một cuộc hành trình đức tin.
Chúa Giêsu đã không chỉ đồng hành mà còn là "mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (Gioan 10:11), vác lấy những gánh nặng khổ đau của nhân loại: "Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới. Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta..." (Isaia 53:2-4).
Lạy Chúa, con tin Chúa đã sống lại và đang hiện diện nơi đây lúc này trong cuộc sống của con, cũng như Chúa vẫn hành trình với con trong suốt dọc dài lịch sử dân tộc con, những lúc bi thảm cũng như những lúc vinh quang. Con tin tưởng bước đi theo Chúa, vì Chúa là mục tử đang dẫn dắt dưỡng nuôi con, con còn sợ chi?
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
 

PS4-B104: Chúa Nhật CHÚA CHIÊN NHÂN LÀNH

Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, thường được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Câu xướng: PS4-B104

Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, thường được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Câu xướng trước Phúc Âm cuả các năm A, B và C đều trích trong Phúc Âm Thánh Gioan (10,14): “Ta là Mục tử nhân lành, Ta biết chiên của Ta, và chiên của Ta biết Ta!” Các bài Phúc Âm năm A, B và C đều trích trong Phúc Âm của Thánh Gioan:10, 1-10 (Năm A); 10,11-18 (Năm B); 10, 27-30 (Năm C).
Trong các bài Tin Mừng trên đây, Chúa Giêsu xác định Ngừoi chính là cửa của đoàn chiên, và cũng chính là người chăn chiên nhân lành. Chỉ những chủ chiên nào đi theo cửa của Ngừơi (theo đường lối của Người) mới là chủ chiên thật (Gioan 10,2).
Suy nghĩ về Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, Cha M. D. Phillippe, O.P. viết những lời suy niệm sau đây:
Mọi công việc trong cuộc đời truyền giáo của Chúa Kitô, vị Chủ Chăn Nhân Lành, đều đơn giản là những công việc của tình thương xót đối với đoàn chiên, đối với mọi người. Tuy nhiên, chính nơi cơn “hấp hối” tại vườn “Cây Dầu” và trên Thánh Giá mà chúng ta cảm nghiệm được trọn vẹn Lòng Thương Xót của Chúa.
Mọi khổ đau của những người tội lỗi, mọi hậu quả của tội lỗi, Chúa Kitô đều vui lòng mang lấy vào mình. Không một khổ đau nào của nhân loại xa lạ với Chúa Kitô. Người thấu suốt tất cả và mang lấy tất cả vào trong thâm sâu của trái tim Người. Người đã sống những giây phút thật căng thẳng mà không ai có thể cảm nghiệm được. Người mang lấy tất cả vì tình yêu vô biên đối với mọi người chúng ta. Tình thương xót của Chúa thật huyền diệu và đi đến tuyệt đỉnh!
Là vị Mục Tử nhân lành, Chúa Kitô biết những điều Người phải làm. Người biết từng con chiên với những yếu đuối và những nhu cầu của từng con chiên. Người biết rằng để trở nên một Mục Tử nhân lành theo đúng ý nghĩa, người chủ chăn phải yêu mạng sống của con chiên hơn mạng sống của mình; phải muốn đặt mình vào hạng những người tội lỗi, vào hạng những người bị ruồng bỏ để có thể cứu vớt mọi người; phải dám ‘tự hủy ra không’ để có thể chấp nhận mọi bất hạnh, khinh chê, và bị coi như tầm thường hơn hết mọi người!
Khổ hình Thập Giá với ý nghĩa đặc biệt trọn vẹn của khổ đau để cứu chuộc, đã tỏ cho chúng ta thấy rõ tình thương xót vô biên của Chúa. Không từ chối gì cả, Người đã chấp nhận mọi khổ đau, mọi nhục nhã, mọi gánh nặng tới mức không còn có thể chịu đựng hơn được nữa. Như vậy, lòng Thương Xót của Chúa không phải chỉ ở chỗ tìm đến để giúp đỡ những người yếu đuối , mà còn ở chỗ, như một người mẹ, cúi mình xuống tận những kẻ đã sa ngã và cúi xuống sâu hơn họ để cứu vớt họ và nâng họ lên (chứ không phải kéo họ lên ; Người đã vác con chiên lạc lên vai và đưa về đoàn, đưa về lại cuộc sống).
Tự hạ mình xuống sâu thẳm, Chúa Kitô đã muốn bị coi như kẻ đáng tội hơn cả Babara (Mat-theu 27,16...), như một kẻ tội phạm công khai, như một kẻ nói phạm thượng, như một kẻ thù của lề luật Moise, kẻ không chịu giữ ngày Sabat, một kẻ nguy hiểm quấy phá dân chúng. Hơn nữa, Chúa Kitô còn muốn trở nên như một đồ vật mà người ta che mắt không dám nhìn, đến nỗi khi đã chết rồi còn bị người ta đâm vào cạnh sườn thấu tới trái tim.
Như vậy, Tình thương xót của Chúa là một thực thể bao quát tất cả con người , không một chi thể nào trong thân thể của Người không bị thương tích, và linh hồn Người cảm thấy buồn sầu đến chết đi trong cơn hấp hối (Mat-thêu 26,38).
Hy lễ thập giá thật là một sự tôn thờ tuyệt đỉnh và cũng biểu lộ tình Chúa thương xót đến tuyệt đỉnh. Nơi trái tim của Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá vừa mang sự Thờ Phượng (Chúa Cha), vừa mang tình thương xót nhân loại như anh em để giúp đỡ họ, an ủi họ, chuộc lấy mọi tội lỗi của họ và đem lại cho họ nguồn sống mới. (Dịch theo bản tiếng Anh, trong Magnificat, April 2005, Fourth Sunday of Easter; những chữ ở ngoặc đơn là chú thích của người dịch).
Ðọc những dòng trên đây, chúng ta càng hiểu biết sâu xa hơn tình thương xót cuả Chúa Giêsu, Ðấng Chăn chiên nhân lành, đối với đoàn chiên như thế nào, đến nỗi đã chấp nhận mọi khổ đau đến cùng cực và đổ đến giọt máu cuối cùng cho đoàn chiên của Chúa! Và khi không còn sống ở trần gian nữa, Người vẫn tiếp tục “nuôi sống đoàn con” bằng chính Mình và Máu Thánh Người hiện diện thật sự trong Hình Bánh và Hình Rượu (Bí tích Thánh Thể), và thánh hóa đoàn chiên bằng các “phép Bí tích nhiệm mầu.”
Thực sự, qua hoạt động của Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu vẫn ở với Giáo Hội “mọi ngày cho đến tận thế!”( Mattheu 28,20) Chúa Giêsu vẫn là vị Chủ Chăn chính điều hành Giáo Hội và qua các thời đại Chúa luôn luôn dẫn dắt đoàn chiên Chúa nhờ sự lãnh đạo của các vị chủ chăn Chúa chọn. Chúa đã chọn Thánh Phêrô và các Thánh Tông đồ và thành lập Giáo Hội Chúa kể từ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Ngài và thánh hóa các Ngài. Từ đó, qua từng thế kỷ, Chúa vẫn tiếp tục gọi và chọn một số người để làm Chủ chiên chăn dắt Ðoàn chiên Chúa.
Chúa chọn ai?
Chúa chọn những người mà Chúa muốn (Matco 3,13 ) và trao cho những nhiệm vụ theo Thánh ý Chúa: Người thì làm Tông đồ, người thì làm Ngôn sứ, người thì chuyên rao giảng Tin mừng, người chuyên lo việc quản trị và giảng dạy... (Epheso 4,11). Không ai có quyền đặt mình vào địa vị trong Giáo Hội, nhưng tất cả đều do Chúa chọn và cắt đặt.
Nhưng tại sao Chúa chọn con?
Vào những ngày sắp chịu chức Linh Mục, theo sự hướng dẫn của Cha Linh hướng và Cha Giảng Phòng, tôi thường cầu nguyện và nói thầm với Chúa: “Tại sao Chúa chọn con?”... Rồi vào ngày Lễ Truyền Chức cũng như dịp Lễ “Mở Tay” (Lễ Tạ Ơn) tôi thật cảm động khi nghe ca đoàn hát: “Không phải vì con Chúa chọn con! Nhưng vì bí nhiệm tình yêu Chúa!...”
Vâng, “không phải vì con mà Chúa chọn con” nhưng Chúa chọn “những ai mà Chúa muốn” (Matcô 3,13), sau khi Chúa đã lên núi một mình để cầu nguyện suốt đêm ( Luca 6,12 ). Ðó thật là một sự kỳ diệu của Ơn Gọi theo Thánh Ý Chúa. Chúa gọi Phêrô dù Ông đã “chối Chúa tới ba lần dù Chúa đã cảnh cáo ông trước!” và lại còn đặt Ông làm Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội. Chúa đã chọn Phaolô ngay trên con đường Ông đi tìm bắt và bách hại đoàn chiên non trẻ của Chúa! Và suốt đời Ông vẫn phải mang những “yếu đuối” của mình "Hỏi có ai yếu đuối mà tôi lại không yếu đuối?"... (2 Cor. 11,29 ). Mọi người được Chúa gọi và chọn đều cảm thấy mình bất xứng và thật lo lắng trước trách nhiệm được trao phó, như Ðức Ðương Kim Giáo Hoàng Benedicto XVI, khi được bầu chọn lên ngôi Giáo Hoàng, trong “Lời Tâm Tình Ðầu Tiên của Ngài” cũng chia sẻ kinh nghiệm đó: “Tôi cảm thấy bất xứng và... thật lo lắng trước trách nhiệm được trao phó...” nhưng “Ơn Chúa đủ cho tôi!” (2 Cor. 12,9…); nên Ðức Giáo Hoàng cũng nói tiếp: “Tôi cảm thấy như bàn tay quyền năng của Thiên Chúa nắm chặt lấy tay tôi. Tôi như nhìn thấy ánh mắt tươi cười của Chúa và lắng nghe Chúa nói với tôi đặc biệt vào lúc này: “Con đừng sợ!”. Với tâm tình đó, những người được chọn đều khiêm tốn như Mẹ Maria để thưa lời “Xin Vâng!”.
Như vậy, chúng ta mới hiểu tại sao Chúa Giêsu đã “lên núi thức suốt đêm để cầu nguyện” (Luca 6,12) trước khi chọn các Tông đồ. Hơn nữa trong đêm trước khi tự trao mình để chịu cuộc khổ nạn để cứu chuộc nhân loại, trong Bữa Tiệc Ly, Chúa đã cúi mình xuống để rửa chân cho các Tông đồ để dạy cho các Ông bài học phục vụ trong khiêm tốn và Chúa đã tâm tình và căn dặn các tông đồ nhiều điều mà Phúc Âm theo Thánh Gioan đã ghi lại suốt các đoạn 13, 14, 15; còn toàn đoạn 17 ghi lại những lời Chúa Giêsu cầu nguyện thiết tha với Ðức Chúa Cha cho các Tông đồ đang hiện diện, cũng như cho các Chủ chăn qua mọi thời đại; đặc biệt trong câu “Con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian; nhưng xin gìn giữ họ khỏi mọi sự dữ!” (Gioan, 17,15).
Trong thời gian giúp các giáo xứ Hoa Kỳ, khi gặp gỡ Giáo dân, thường có những người sau khi chào hỏi đã nói với tôi một cách thân tình “Thank you Father for being a priest! - Cám ơn Cha đã là một Linh Mục!”. Chúng ta thường có lòng yêu mến và hằng cầu nguyện cho các chủ chăn trong Giáo hội; nhưng đặc biệt trong ngày Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, chúng ta hãy dâng nhiều hy sinh và lời cầu nguyện cho Ðức Giáo Hoàng cũng như cho các chủ chăn trong toàn thể Giáo Hội, cách riêng các chủ chăn Chúa sai đến làm việc giữa chúng ta.
Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh cũng là Ngày Thế Giới đặc biệt cầu nguyện cho Ơn Gọi (World Day of Prayer for Vocations): Trong Thánh lễ cũng như trong các kinh nguyện, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện cho có nhiều người được Chúa gọi và chọn để trở nên các nhà Truyền giáo và Chủ Chăn để rao giảng và chăn dắt Ðoàn chiên Chúa.Chúng ta cũng cầu xin với Mẹ Maria, Mẹ Hàng Gíao Sĩ, chuyển cầu cho chúng ta; nhất là trong tháng này là Tháng Hoa dâng kính Mẹ.
Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

PS4-B105: VẪN CÒN ĐÓ NHỮNG MỤC TỬ TỐT LÀNH

PM. Cao Huy Hoàng
 

Mừng Lễ Chúa Chiên Lành, thiết tưởng, mỗi chúng ta được quyền vui mừng tạ ơn Chúa vì : PS4-B105

Mừng Lễ Chúa Chiên Lành, thiết tưởng, mỗi chúng ta được quyền vui mừng tạ ơn Chúa vì Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đang có, nếu không tất cả, thì cũng rất nhiều Linh Mục đã và đang sống theo kiểu mẫu của Chúa Giêsu, Linh Mục, Mục Tử Tốt Lành:
“Ta là Mục Tử tốt lành… thí mạng sống vì chiên… Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta…”
“Ta còn những chiên khác không thuộc đoàn này; cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đoàn; chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một chủ chiên…”
Tôi vẫn không quên hình ảnh cha Phanxicô Xaviê cựu Chánh Xứ Giáo Xứ tôi. Ngài từ trại cải tạo về nhận xứ cuối tháng 8 năm 1982 nên được “quản thúc” 6 tháng tại chỗ: không được làm Lễ, đi đâu cũng phải trình báo để “được bảo vệ” chu đáo. Thế mà, 9 tháng sau ngày nhận xứ, một ngày nọ, có anh công an đến hỏi thăm sức khỏe của Ngài, và hỏi về con số Giáo Dân trong Giáo Xứ. Ngài trả lời:
- Tính đến sáng hôm nay, con chiên trong đoàn là 2.131. Ngoài đoàn là hơn 19.000”.
- Ông nói trong đoàn là sao ?”
- Là những người đã được rửa tội. Hôm qua số con chiên là 2.125. Sáng nay mới rửa tội thêm một gia đình 6 người nữa”.
- Vậy ông nói còn có ngoài đoàn nữa là làm sao ?”
- À, thì những người chưa được rửa tội cũng thuộc trách nhiệm của tôi”.
Anh công an có vẻ ngẩn ngơ không hiểu, nhưng không hỏi về chuyện đó nữa. Anh ta chuyển đề tài:
- Ông nhớ nhắc nhở cho bà con nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ đặt vòng…
Chỉ trong vòng 3 tháng sau thời gian quản thúc, cha đã thăm không sót một “nhà con chiên” nào, kể cả những “chuồng chiên” bên kia sông, kể cả những “chòi chiên” trong núi. Chuyện đi thăm cũng đặc biệt: sáng từ 9g đến 13g chiều. Chiều từ 16g đến 20 giờ tối. Nhờ chọn giờ thăm này mà cha có thể gặp được hầu như cả nhà người ta trong bữa ăn trưa hay bữa ăn tối. Cha chứng kiến tận mắt những bữa ăn kham khổ. Có người thấy cha đến vội cất ngay nồi khoai lang lát xuống bếp. Về đến nhà, cha ghi vào cuốn sổ tay, chẳng hạn:
- Đường vào sông Đợt.
- Nhà ông A: bà A bệnh gan, 4 đứa con: Hoàng, Mai, Trúc Liễu. Hoàng điếc, Trúc kinh phong, 2 sào ruộng, lúa không giáp hạt, có xe đạp…
- Nhà chị B: chồng cụt giò chiến tranh, 3 con, Linh, Ly, Long, đốt than, gánh than mướn, qua ngày, không xe đạp, ăn gạo đong…
- Nhà Ông C ( cho ông A đất làm chòi ), Phật giáo, có bàn thiên, có bàn thờ Phật, 5 con, ngay thẳng, lòng tốt… quên… có cái lu và gáo nước…
Có lần tôi vô tình đọc được câu này trong sổ tay của cha: “Chúa ơi ! Đa số bà con nghèo khổ quá, “chuồng chiên”, “chòi chiên” nhiều gấp mười lần “nhà chiên”!
18 năm hết mình với Giáo Xứ, cha biết từng nhà, từng chuồng, từng chòi, từng con dốc vào núi, từng khe suối vào sông, biết từng người, hiểu từng nỗi khổ niềm vui, và nhất là tận tụy phục vụ mọi người lương giáo. Ấy vậy, con số ngày cha nhận xứ là gần 2.000 và con số khi giao xứ là 5.285 giáo dân, với ba Giáo Họ lớn 4 Chi Họ nhỏ. Một Giáo Họ đã có Nhà Thờ nay đã nâng lên thành Giáo Xứ. Hai Giáo Họ kia cũng chuẩn bị tách Giáo Xứ mẹ. Rồi cha được thuyên chuyển về Giáo Xứ khác. Cho đến nay, xa cha đã 12 năm rồi, cha sắp về hưu, thế mà nếu có dịp gặp lại người nào, ngài gọi đúng tên, kể đúng chuyện và thăm hỏi đúng người, đúng địa chỉ.
Thiết tưởng đây là một trong nhiều tấm gương “mục tử tốt lành” trên khắp cả nước những ngày sau 1975 gian khổ. Còn rất nhiều tấm gương tốt lành đáng kính phục mà mỗi con chiên luôn tự hào về những Mục Tử của mình: có vị đã cùng gắn bó với con chiên trên đồng sâu ruộng cạn, trên nương lúa rẫy ngô, có vị cùng con chiên chia nhau những củ khoai sùng trong những ngày cạn kiệt, trong tháng đợi lúa kết đòng đòng, có vị cùng con chiên đến tận nơi xa xôi dạy Giáo Lý, Rửa Tội cho người trong những hang cùng ngõ hẻm…
Thiết tưởng, mỗi chúng ta đều có quyền, và có bổn phận vinh danh những vị Mục Tử đã chết đời mình đi cho đoàn chiên được sống, đã nêu gương đời sống hiến thân phục vụ vì Nước Chúa. Không chỉ con chiên trong đoàn, nhưng còn biết bao con chiên ngoài đoàn cũng được các vị luôn đặt lòng, để tâm để trí đến và có hướng truyền giáo rất rõ rệt bằng đời sống chứng nhân anh dũng của chính mình và của đoàn chiên mình chăm lo trong cuộc chung đụng với những nghịch cảnh khốn khổ gian nan.
- Chỉ mới hơn ba mươi năm dưới chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội mà các cha ngày nay khác xưa quá !
- Muôn đời vẫn là chức linh mục của Chúa Giêsu mà, có gì khác đâu ?
- Có chứ ! Thì vẫn cứ là Mục Tử đấy chứ, nhưng hai chữ tốt lành chẳng biết từ bao giờ đã bị mờ đi, hoặc thiếu, hoặc… không còn nữa ! Chúa chẳng bao giờ lại bảo như thế này: “Con chiên Ta thì buộc phải nghe tiếng Ta. Ta không cần biết chúng, nhưng chúng cần phải biết Ta. Ta không cần đến với chúng, chúng cần thì cứ việc tìm đến với Ta !?!”
Theo tôi thì Mục Tử của chúng ta ở bất kỳ thời nào cũng luôn bị Satan tấn công từ mọi phía. Mục đích của Satan và bè lũ của nó là làm cho các Mục Tử mất đi tính “tốt lành”, mất đi tính “thí mạng vì đoàn chiên”, hoặc làm cho Mục Tử thêm tính lệch lạc trong cái nhìn, cái nhận, cái biết về con chiên, thêm tính lệch lạc trong tinh thần yêu thương phục vụ…
Phải nhìn nhận sự thật rằng: đã có một ít Mục Tử của chúng ta bị vướng bẫy của chúng: người lâm bệnh vô cảm, kẻ vướng lòng tham tiền, tham quyền, tham chức, người vướng tiếng sét ái tình, kẻ nhiễm bệnh quan liêu, nhưng đáng sợ nhất là có cả những người bị mắc bệnh “vâng lời kẻ gian dối”.  Bởi Satan biết rõ: “Cứ đánh kẻ chăn chiên thì đoàn chiên tan tác” ( Mt 26, 31 ). Nhưng nên nhớ rằng đó chỉ là một số rất ít, không phải là tất cả, không đáng làm cho chúng ta bận tâm, thất vọng, hay tuyên bố cẩu thả về một hàng Giáo Sĩ bị tục hóa đến mức báo động. Ngược lại, chúng ta còn phải cầu nguyện tha thiết hơn, liên lỉ hơn cho các Linh Mục, các Mục Tử của chúng ta luôn là những người chiến thắng trong cuộc chiến với Satan có đầy vũ khí tinh vi thời đại này.
Bởi thế, xin đừng lầm tưởng rằng những tấm gương “Mục Tử Tốt Lành” thời nay đã trở nên quý hiếm. Xin đừng ngồi một chỗ, hoặc ở một nơi mà kết luận vội vàng. Hãy đến khắp mọi nơi xa xôi hơn một tí để thấy sức sống Hội Thánh đang vươn lên nhờ những “Mục Tử Tốt Lành” như thế.
Tôi lại có chuyện để kể là nhờ các chị Lý, An, Mai, anh Mạnh ở Gò Vấp, hôm 23.4.2012, muốn thăm và tặng chút quà Phục Sinh nho nhỏ cho người nghèo, không kể lương giáo, nên đã nhờ tôi tìm một số địa chỉ. Tôi đề nghị về Xã Suối Kiết, Bình Thuận. Nơi đây chúng tôi đã gặp một cha trẻ DCCT ở Giáo Họ An Phong, và nhờ cha, các anh chị đã trao 100 phần quà tận tay người nghèo. Bà con giáo lương nhận quà với những nụ cười và niềm vui tròn trịa.
Sau khi tặng quà, cha cho một số ông đưa xe máy đến chở chúng tôi thăm một điểm dạy Giáo Lý và một số gia đình trong Giáo Họ. “Đi đường này phải là tài xế chuyên nghiệp anh em à”. Đường vào rừng xa, lồi lõm, dốc đứng, qua suối, qua mương, nắng bụi mù trời, mưa nhòe lầy lội….
Đến điểm dạy Giáo Lý cũng là nơi dạy học chữ cho các em người Kinh lẫn người Dân Tộc là một mái nhà trống trước trống sau, có bàn thờ Lòng Chúa Thương Xót, có ba cái bàn học, anh em tôi được dừng chân nghỉ một tí, đọc kinh và trò chuyện. Nhìn con đường, chị Mai đã đề cập ngay đến chuyện cha đi xức dầu cho bệnh nhân. Một anh Giáo Dân tài xế nói: “Có lần 1 giờ khuya, em chở cha đi xức dầu rồi đó”.
Đi tiếp năm bảy cây số nữa vào rừng, đường càng khó đi hơn, thỉnh thoảng lên bắt gặp một “chòi chiên” nho nhỏ. Vào chòi, dăm đứa con nít đen đủi ở truồng chạy nhông nhông, bố mẹ đều đi làm vắng nhà.“Ơ, cái chòi rách nát trống trước trống sau mà cũng có bàn thờ, có Chúa !” Đến nhà ông bà Năm, hình như ai đó đã nhắn “người ta vô nhà ông đông lắm kìa”, nên khoảng 15 phút sau, ông bà về. Mặt mũi lấm lem mồ hôi nhễ nhại, tay chân than bụi đen sì: “Chào cha, cha vào mà không nói con trước ? Con nhớp quá nè, làm sao đây cha ?”
Trưa nắng rồi, anh chị em còn phải về lại Sàigòn, chúng tôi trở lại Nhà Thờ, viếng Chúa, nghỉ ngơi, rồi ra xe về. Mỗi người một suy nghĩ miên man về người “Mục Tử Tốt Lành” còn trẻ lắm của thời đại hôm nay.
Lạy Chúa, tạ ơn Chúa, chúng con còn có thể tin được Chúa Giêsu Linh Mục vẫn luôn hoạt động trong các Mục Tử nhỏ bé của chúng con. Xin cho chúng con thêm nhiều nữa, những Mục Tử Tốt Lành như lòng Chúa mong ước. Amen.
PM. Cao Huy Hoàng, 24.4.2012
 

PS4-B106: TÂM TÌNH SÂU RỘNG CỦA MỤC TỬ NHÂN LÀNH

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó, nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ… Vậy: PS4-B106

   Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó, nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ… Vậy đức Giê-su lại nói… Tôi có cảm tưởng khi tự đồng hóa mình với hình ảnh người mục tử tốt lành, đức Giê-su đã không chỉ muốn khảng định một khái niệm, một so sánh; đúng hơn Người đang muốn diễn đạt một tâm tình. Chính cái tâm tình ấy là điều mà những người Pha-ri-sêu thủ lãnh thẳng thừng chối bỏ. Tâm tình mục tử độc đáo này gồm hai yếu tố không thể tìm thấy nơi bất cứ một ai khác:
-         Yếu tố chiều sâu: Anh gọi tên từng con… biết chiên của mình… và hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên”.
-         Yếu tố chiều rộng: Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi phải đưa chúng về”.
Chiều sâu: Chiên nhận biết và nghe tiếng của mục tử… đó là điều xảy ra hết sức tự nhiên, như phản ứng tất yếu trước tâm tình của người mục tử chân chính được biểu lộ bằng hành động. Anh gọi tên từng con… Người Do Thái thừa hiểu ‘gọi tên’ có nghĩa là gì (xem St 2,20; Lc 1, 59-63). Khi khảng định người mục tử ‘gọi tên từng con’, đức Giê-su chắc chắn muốn khảng định sự trân trọng của mục tử đối với từng con chiên, bất luận chúng thế nào. ‘Gọi tên’ hàm ý giữa mục tử và chiên có một mối liên hệ nhân vị, vừa mang nội dung thuộc về nhau, vừa nói lên trách nhiệm chăm sóc phát huy, lại vừa trân trọng giá trị riêng của mỗi con chiên trong hiện hữu cũng như sứ mệnh. Và còn hơn thế nữa, Tôi biết chiên của tôi”. Cũng như ‘gọi tên’, người Do Thái hiểu ý nghĩa sâu sắc của từ ‘biết’ (xem St 4,1; Lc 1,34). ‘Biết’ chính là kết hiệp bền chặt, là thấm nhập vào nhau, là truyền cho nhau sức sống trong yêu thương và quí chuộng. Nếu mục tử nhân lành quả là như thế, thì đúng là không còn gì bình thường nữa, mà là điên khùng. Ông ấy bị quỷ ám và điên khùng rồi, nghe ông ấy làm gì (c.20). Nhưng đối với bất kỳ con chiên Ki-tô hữu nào, thì đi sâu vào tâm tình đó quả thật là cả một khám phá, giúp ‘nghe và thấu hiểu được’ tiếng yêu thương, nhân ái khôn lường của Mục Tử Giê-su.
Chiều rộng: Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi phải đưa chúng về”. Có lẽ không mục tử nào lại có tâm tình khùng điên và phi lý đến thế: đã không thuộc ràn mình thì tại sao lại cất công đưa về, họa chăng lả kẻ tham lam? Phải, Người quả là mục tử vô cùng tham lam, chỉ vì cõi lòng Người không chút hạn hẹp. Tình yêu dâng hiến đối với từng con chiên không ngăn cản Người tiếp nhận hết mọi con, không loại trừ bất cứ con nào. Không chỉ chiên tốt lành khỏe mạnh, mà cả những con ốm đau ghẻ lở; không chỉ các chiên ngoan ngoãn trong ràn, mà cả những con tinh nghịch trốn chạy khỏi ràn; thậm chí cả các chiên thuộc các ràn tranh giành, đối kháng hoặc thù nghịch. Con tim của Mục Tử này - và duy nhất chỉ có vị này trên trần - muốn ôm lấy tất cả, để… hy sinh mạng sốngcho tất cả. Các chiên, một khi đã thuộc về ràn của Người, chắc chắn sẽ không thể hẹp hòi khư khư bảo vệ những quyền lợi riêng tư. Tâm tình chiều rộng của vị Mục Tử phải trở thành tâm tình của từng con chiên trong ràn, để có thể vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chin mươi chin người công chính không cần sám hối ăn năn”; đồng thời chấp nhận cả những thiệt thòi, nếu đôi khi có cảm thấy vị mục tử của mình nhẫn tâm để chin mươi chin con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất (Lc 15, 4-7).
Chỉ trong tư cách chiên, tôi đã phải thấm nhập được vào cái tâm tình sâu rộng như thế, huống hồ là người mà đôi khi vẫn thường được nhắc nhở trở nênmục tử như lòng Chúa mong ước’. Nếu không liên tục chiêm ngắm vị Mục Tử Giê-su tự hiến trên thập giá, nếu không liên tục kết hiệp với Người, hỏi liệu tới khi nào tôi mới đáng mang danh là linh mục của Chúa. Sốt sáng cử hành Thánh Lễ hàng ngày, đối với bất cứ linh mục nào, cũng có tầm quan trọng sống còn. Cầu nguyện cho có linh mục không phải điều khó, cái khó là có được nhiều mục tử trong tâm tình rộng sâu của Mục Tử Giê-su.
Ôi Mục Tử nhân lành, xin cho mọi linh mục của Chúa hiểu được tâm tình Chúa có đối với chiên là chính bản thân họ. Trong tư cách là chiên được Chúa chăn nuôi, chính con phải là người đầu tiên hiểu ra rằng Chúa đã đích danh ‘gọi tên’ con, và ‘biết’ con. Mỗi khi có ai kêu con là linh mục, xin hãy gợi nhớ cho con biết tiến sâu hơn một bước nữa vào tâm tình rộng sâu của Mục Tử Giê-su duy nhất. Amen
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

PS4-B107: TÌNH NGƯỜI MỤC TỬ

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

Có một thai nhi sắp được chào đời. Nó mới hỏi Thượng đế rằng: “Thưa Ngài, có phải ngày: PS4-B107

Có một thai nhi sắp được chào đời. Nó mới hỏi Thượng đế rằng: “Thưa Ngài, có phải ngày mai Ngài sẽ đưa con vào đời không?”
·        Thượng đế trả lời: Đúng đó con ạ!
·         Đứa bé đáp: “Nhưng làm sao con sống nổi ở đó khi mà con quá nhỏ bé và bất lực như thế này?”.
·        Thượng đế đáp: “Hãy yên tâm, trong số những thiên thần, ta đã chọn cho con một người. Thiên thần của con sẽ ở bên con và chăm sóc con chu đáo”.
·        Đứa bé lại hỏi: “Và làm sao con có thể hiểu được khi họ nói chuyện với con bằng ngôn ngữ mà con chưa hề biết đến?”
·        Thượng đế trả lời: “Thiên thần của con sẽ nói với con bằng những lời ngọt  ngào và đẹp đẽ nhất mà con chưa từng được nghe, đồng thời với sự nhẫn nại và cẩn trọng, thiên thần của con sẽ dậy con biết nói những điều hay lẽ phải”.
·        - Con nghe nói chốn trần gian lắm kẻ xấu xa. Vậy, ai sẽ bảo vệ con?
·        - Thiên thần của con sẽ hộ trì con ngay cả khi điều đó đe dọa đến tính mạng của mình.
·        - Nhưng con sẽ rất buồn vì không còn được thấy ngài nữa.
·        - Thiên thần của con sẽ luôn nói với con về Ta, và dạy con cách thức quay về với Ta mỗi khi lạc lối.
·        - Vậy thưa Ngài, nếu con phải đi ngay bây giờ, xin hãy cho con biết tên thiên thần hộ mạng của con là gì?
·        Tên của người không quan trọng, con chỉ giản đơn gọi người là Mẹ.
Nếu người mẹ cần thiết cho con cái thế nào, thì người mục tử cũng cần thiết cho đàn chiên như vậy. Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy chân dung của người mục tử tốt lành. Người mục từ luôn sống vì lợi ích đàn chiên, luôn sống cho và vì đàn chiên. Người mục tử  gắn liền đời mình với đàn chiên tựa như người mẹ  gắn liền với định mệnh đời con. Người mẹ được Thiên Chúa sắp đặt để bảo vệ đứa con, chăm sóc đứa con, dậy dỗ và gìn giữ đứa con khỏi những nguy hiểm trong suốt hành trình cuộc đời. Không có mẹ đứa con sẽ không lớn nổi thành người. Đàn chiên cũng không thể có đồng cỏ xanh tươi, có suối mát ngọt ngào nếu không được người mục tử miệt mài tìm kiếm cho đàn chiên. Đàn chiên sẽ không thể sống an toàn khỏi cạm bãy, khỏi thú dữ rình chờ, nếu không có chủ chiên canh phòng với đầy đủ trách nhiệm và đầy yêu thương.
Chúa Giêsu sánh ví tình thương của mình như tình thương của người mục tử dành cho đàn chiên. Ngài yêu thương con người nên đã mang lấy thân phận con người để cùng đồng hành với con người. Ngài đã cùng chia vui sẻ buồn với con người qua những thăng trầm của cuộc sống. Ngài đã sống một cuộc đời yêu thương và phục vụ như một người đầy tớ phục vụ chủ nhân. Ngài đã đi đến tận cùng của tình yêu là chết cho đàn chiên được sống. Ngài còn hiến mình thành lương thực nuôi dưỡng đàn chiên qua bàn tiệc Thánh Thể mỗi ngày. Ngài chính là vị mục tử mà bài đáp ca đã ca ngợi rằng: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tuơi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính. Lạy Chúa, dầu qua thung lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có chúa ở cùng con”.
Hình ảnh người mục tử còn là hình ảnh của những người cha, người mẹ đang ngày đêm lo lắng bảo vệ con con cái. Các ngài đã hy sinh cuộc đời vì hạnh phúc các con. Các ngài đã trải qua những mưa nắng khắc nghiệt của dòng đời để mang lại cơm no áo ấm cho đàn con. Các ngài đã chấp nhận chịu tiêu hao như hạt lúa chịu mục nát đời mình cho con cái lớn khôn.
Hôm nay lễ Chúa chiên lành, chúng ta hãy dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội luôn có những mục tử hết lòng vì đàn chiên. Cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta có cha, có mẹ luôn hết mình hy sinh cho chúng ta. Cám tạ Chúa đã thương chăm sóc, chở che và gìn giữ cuộc đời chúng ta bằng muôn nghìn cách. Cám ơn Chúa vẫn nuôi dưỡng chúng ta trên đồng cỏ xanh tươi là bàn tiệc Thánh thể, nhờ đó mà ta được no thoả ân tình của Chúa. Ước gì mỗi người chúng ta biết siêng năng đến với bàn tiệc Thánh Thể. Xin đừng bao giờ để tâm hồn mình bị chết đói, chết khát ngay bên nguồn nước trong lành với đồng cỏ xanh tươi là Bàn tiệc Thánh Thể mà Chúa Giêsu với tình mục tử đã dọn sẵn cho chúng ta. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền
 

PS4-B108: CHỦ CHĂN NHÂN LÀNH

AM Trần Bình An
 

Trong đàn, thường có chiên chưa ngoan, nghịch ngợm, hay dại dột ham vui, mải mê đuổi theo: PS4-B108

Trong đàn, thường có chiên chưa ngoan, nghịch ngợm, hay dại dột ham vui, mải mê đuổi theo những cánh bướm lả lướt, sặc sỡ, quyến rũ, hoặc thích lân la tìm kiếm hoa thơm cỏ lạ. Rồi lang thang vui chân lạc bầy, vô tình sa vào vòng vây sói dữ. Chủ Chăn Nhân Lành liền vội vã chạy đến che chở, giải thoát, cất tiếng an ủi, vỗ về đừng sợ, ngọt ngào gọi chiên trở về. Chẳng hề chần chừ, phân vân, bối rối, hay giả đui giả điếc, giả dại làm ngây, lưỡng lự lên tiếng hay không lên tiếng?
1.     Chủ Chăn luôn âu yếm gọi tên và chăm sóc từng con chiên.
          Người không thích chạy theo đám đông, không hoa mắt với những dãy số dài ngoằng, không hề mặn mà chạy theo thành tích tập hợp số đông xô bồ, mà mỗi cá thể chỉ được hiển thị bằng một con số lạnh lùng. Trái lại, Người quan tâm đến từng thân phận nhỏ nhoi, hèn mọn, chăm lo, gần gũi và thân mật gọi tên từng con, rổi dẫn chúng ra (Ga 10, 3)
                   Thậm chí, khi thấy một chiên bị lạc, Người không nỡ bỏ rơi, mà vội vàng tìm về cho bằng được. Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: "Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó. (Lc 15, 4 – 6)
2.     Chủ Chăn luôn bảo vệ và dưỡng nuôi chiên.
          Người luôn yêu thương, chu đáo bảo vệ và dẫn dắt chiên khỏi lạc lối, khỏi nguy hiểm đồi cao, vực thẳm, khỏi lang sói hung tàn, khỏi dã thú đe dọa, khỏi cạm bẫy ác nhân thù địch. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau. (Ga 10, 4) Chiên muốn được an toàn, khỏe mạnh, hồi sinh, phải cậy nhờ Người nuôi dưỡng, bằng những thảo dược thần linh. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. (Ga 10, 9)
3.     Chủ Chăn luôn luôn thấu hiểu và chiên luôn trông cậy Chủ.
          Người luôn đồng hành, đồng cảm với chiên. Biết rõ những nhu cầu cấp bách của chiên, biết rành rẽ sức khỏe, sinh lực, lẫn năng lực, đồng thời biết cả những nhược điểm, yếu đuối, đam mê, dục vọng của chiên, để chăm sóc, giúp đỡ, vỗ về, hay bắt mạch kê toa chữa chạy. Ngược lại, nếu muốn tồn tại, sống còn, chiên cũng chỉ biết cậy trông vào Chủ Chăn Nhân Lành.
                   Chiên xa lánh chủ chăn giả mạo, kẻ chăn thuê, hoặc kẻ lạ nói tiếng lạ, bẻo mép, xảo ngôn, ngụy biện, nham hiểm đầu độc chiên bằng những tà thuyết, tà đạo phản nghịch với Tin Mừng. Vì thế, ngôn sứ Êdêkien đã phải nhắc lại cơn cuồng nộ của Thiên Chúa: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt các người làm thịt; nhưng các ngươi lại không lo chăn dắt đàn chiên. Chiên đau yếu các người không làm cho mạnh. Chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành. Chiên bị thương các ngươi không băng bó. Chiên đi lạc các ngươi không đưa về. Chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi thú dữ …”
Vì thế, hỡi các mục tử, hãy nghe lời Đức Chúa. Ta lấy mạng sống Ta mà thề.- sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng-, bởi chiên của Ta bị cướp phá và biến thành mồi cho mọi dã thú vì thiếu mục tử, bởi các mục tử chỉ biết lo cho mình, mà không chăn dắt đàn chiên cũa Ta, nên các mục tử hãy nghe Lời Đức Chúa, Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Đây Ta chống lại các mục tử. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta; Ta sẽ không để chúng chăn dắt chiên…Ta sẽ giải thoát các chiên khỏi miệng chúng, để chiên Ta không còn làm mồi cho chúng nữa. (Ed 34, 2-10)
                   Chiên hiểu tấm lòng từ bi nhân ái của Chủ Chăn, cũng như đặt hết niềm trông cậy, phó thác vào Chủ Chăn. Chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì không nhận biết tiếng người lạ. (Ga 10, 5)  Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. ( Ga 10, 10) Người làm thuê, vì không phải là Mục Tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, không thiết gì đến chiên.(Ga 10, 12-13)  Tôi biết Chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi. (Ga 10, 14)
4.     Chủ Chăn luôn tìm các chiên khác đem về chung một đàn.
          Người không chỉ hài lòng với chiên ngoan đang chăn dắt, mà còn sẵn lòng tìm kiếm những chiên khác còn bơ vơ, lạc loài, đem về chung đàn. Sứ vụ muôn thuở của Chủ Chăn Nhân Lành, là quy tụ lại muôn chiên tứ phương, hầu chúng đều được no thỏa trong đồng cỏ xanh tươi, được sống viên mãn. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ ghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đòan chiên và một mục tử. (Ga 10, 16)
5.     Chủ Chăn hy sinh để cứu rỗi chiên.
          Người chẳng tiếc mạng sống, mà sẵn lòng chịu hy sinh, chịu khổ nạn, chịu chết đi, để cứu vớt chiên được sống, thoát khỏi kiếp trầm luân vĩnh viễn. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào. (Ga 10, 10) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (Ga 10, 15)
                   Lạy Chúa Giê su, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa gọi, mỗi khi con lỡ bước lạc bầy, để con tỉnh ngộ, nhận biết và đi theo Chúa luôn mãi.
          Lạy Mẹ xin cho nhiều người mở lòng đón nhận tiếng Chúa mời gọi, để dâng hiến phục vụ tích cực Nước Chúa, cũng như nhắc nhở con luôn cộng tác vào việc chăm sóc Ơn Gọi. Amen
AM Trần Bình An
 

PS4-B109:  GÃ CHĂN BÒ CỦA THẾ KỶ 21

Pio X Lê Hồng Bảo
 

Có lẽ hình ảnh “người chăn chiên” hơi xa lạ với dân Việt nam. Trưởng thành từ nền văn minh: PS4-B109

Có lẽ hình ảnh “người chăn chiên” hơi xa lạ với dân Việt nam. Trưởng thành từ nền văn minh lúa nước, hình ảnh những chú mục đồng nằm trên lưng trâu hay cưỡi trên lưng bò với ống sáo vi vu giai điệu nom gần gũi và thân thương hơn. Cho dù thuộc tầng lớp nào hay làm nghề nghiệp gì, cũng có người hiền kẻ dữ: Từ vua chúa, quan quyền, địa chủ, phú hào cho đến thương nhân, sĩ tử, công nhân hay nông dân… Nhưng trong tâm khảm tôi, hình ảnh các chú mục đồng luôn luôn… hiền! Không chỉ là những chú bé trong tranh Đông Hồ mà cả những “gã chăn bò” tôi gặp trong cuộc đời bươn chải. Những gã chăn bò luôn tìm những bãi cỏ tốt nhất cho đàn của mình, những gã chăn bò cuối ngày luôn kiểm tra xem bò của mình đã no chưa, những gã chăn bò đi ngang đám mía mới chặt tranh thủ xin một bó ngọn mía cho những con bò cái đẻ, những gã chăn bò mùa lạnh đi xin rơm để thả vào chuồng cho ấm đàn bò…
Có lẽ vì yêu thương loài vật nên họ luôn… hiền!
Hồi còn bé, tôi cũng từng bị chinh phục bởi hình ảnh những gã chăn bò khác qua nghệ thuật thứ bảy: những chàng cao-bồi (cowboy) trong loạt phim western vào thập niên 50 – 60. Đó là những gã chăn bò trông giang hồ và phong trần hơn với hai tay hai súng, giày da cao cổ, tấm áo khoác tròng đầu cũng là tấm chăn đắp lúc đêm về giữa trảng cỏ mênh mông. Những gã chăn bò cưỡi ngựa như làm xiếc, bắn súng nhanh như điện và nhiều kỹ năng khác để đối phó và tồn tại giữa môi trường hoang sơ nhưng rất nhiều tranh chấp. Nhưng những nét chính mà tôi nhận thấy ở họ là: gan lì và hiệp nghĩa! Bấy nhiêu kỹ năng và đức tính ấy chỉ để bảo vệ đàn gia súc mà họ chăn dắt.
Nhưng chung quy, chăn bò Việt nam hay chăn bò Mỹ đều… ít được ăn học! Thật khó để đồng hóa hình ảnh người mục tử mà Chúa dùng với các linh mục được học hành nghiêm túc hiện nay.
Những năm sau này, tôi cũng có dịp được gặp gỡ và sinh hoạt với một số linh mục có nhiều kỹ năng: có vị đàn hay hát giỏi, có vị biết ảo thuật hay làm xiếc, có vị vừa đọc rap vừa nhảy hip-hop điệu nghệ như chàng cao-bồi vừa phi ngựa vừa quăng dây lasso bắt chú ngựa bất kham… Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy hơi bất kính khi so sánh các ngài với những “gã chăn bò” mà tôi vừa đề cập.
Trước giờ tôi vẫn một mực kính trọng các vị mục tử thay mặt Chúa ở giữa trần gian này. Không chỉ vì chiếc áo chùng đen nghiêm trang đạo mạo hay vẻ linh thánh toát ra khi các ngài nâng cao tấm bánh đọc lời truyền, tôi còn kính phục các ngài vì sự tinh thông uyên bác trong nhiều lĩnh vực. Hẳn là các ngài đã được học hành nhiều lắm, rèn luyện dữ lắm! Để trở thành một Alter Christus hẳn không phải là một điều dễ dàng. Tôi từng khâm phục một vị rất nghiêm túc trong giờ giấc và công việc, chúng tôi thường gọi ngài là “reglo” – mẫu người mực thước. Câu nói cửa miệng của ngài là “giờ nào việc ấy”. Khi ngài nói 7 giờ dâng lễ thì nghĩa là đúng 6g60’ ngài bước ra cung thánh trong phẩm phục và ca đoàn phải hát Ca nhập lễ. Tôi thầm nhủ, với cung cách ấy, ngài mà ra đời làm giám đốc doanh nghiệp hẳn cũng rất thành công.
Rồi có lần, tôi chứng kiến cảnh mấy bà Legio thuyết phục đám “con trời” đi xưng tội mùa Phục sinh. Thật ra, đám “con trời” rất dễ thương, chỉ phải cái tội “nhác” và “nhát”. Bê trễ lâu ngày đâm ra lười nhác. Đến với ông cha nghiêm nghị cũng cảm thấy nhát sợ. Thế là, sau nhiều lần hẹn tới hẹn lui, cả bọn tập trung tại nhà một chú, “chích” mỗi chú một ly để lấy can đảm rồi dắt nhau vô Cha. Không biết có phải vì bấy nhiêu “thủ tục” khề khà ấy mà các chú vô Cha hơi trễ hay không? Vào nhà thờ không thấy Cha, cả bọn kéo vào nhà xứ:
-         Thưa Cha, tụi con xin xưng tội…
-         Tụi bay có đọc bảng thông báo dán ở đằng trước không? 14 giờ đến 16 giờ. Giờ nào việc ấy! Bây giờ, Cha mắc đi ăn cơm…
-         Thưa Cha, hôm nay là ngày cuối cùng ạ!
-         Vậy sao bữa giờ không lo? Cha cũng đã thông báo giữa nhà thờ mấy Chúa nhật liền, có đi lễ đâu mà nghe!
Cả bọn tiu nghỉu kéo về và rất lâu sau đó, tôi không gặp họ ở nhà thờ…
Rồi cơ duyên cũng cho tôi được cộng tác với một vị mục tử khác: Vị này khéo tay và lắm tài! Trong tam nhật thánh, tôi phải túc trực luôn trong nhà xứ để làm công việc trang trí vì ba ngày này mang 3 ý nghĩa khác nhau. Ngài luôn cùng làm với tôi vì trang trí cũng là sở trường của ngài. Cứ giải tội hết một tốp là ngài lại vào nhà xứ cởi áo dòng khoác lên ghế rồi xắn tay áo cùng làm. Có người đến xưng tội, ngài lại ra. Khoảng 11g30 trưa, hai cha con vừa làm dấu ăn cơm, nhác thấy bóng một anh thanh niên ngoài nhà thờ, ngài khoác vội áo dòng bước ra. Tôi can:
-         Đợi có vài người rồi Cha ra giải tội luôn thể, ăn cho xong bữa cơm đã?
-         À, trách nhiệm của mình là đến tận nhà năn nỉ hắn đi xưng tội, nay hắn đã tự động đến mà mình không ra ngay, rủi hắn đổi ý đi về thì mình… lãnh đủ! - Ngài vừa nói vừa cười thật hồn nhiên.
Khi đã giải tội cho chàng trai xong, trở vào bàn ăn, ngài tâm sự thêm với tôi:
-         Mình tự thấy không “học”* nổi các thánh, mình chỉ “học” anh chăn bò. Cuối ngày, lùa bò về chuồng đếm thiếu mất một con nghé (lũ nghé ưa nhảy lăng quăng lắm!) Anh vào ăn vội chén cơm để có sức vào rừng tìm ngay chứ không may chú nghé gặp tụi dắt trộm là… xong đời. Vừa bưng chén cơm lên, nghe tiếng chú nghé lạc “nghé… ọ…” bên ngoài, anh chăn bò có đợi ăn hết bữa cơm hay vội vàng bỏ chén  cơm đang ăn để ra dắt chú nghé lạc vào chuồng?
Tôi nghẹn, chan vội muỗng canh…
Từ đó, tôi gọi ngài là “gã chăn bò của thế kỷ 21”.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã không yêu cầu các môn đệ Chúa phải trở nên những vị quan thanh liêm, những ông tướng thao lược, những giám đốc tài ba, những chính trị gia kinh bang tế thế. Vì vậy, xin cho chúng con chỉ biết cầu xin và kỳ vọng ở các ngài vai trò mục tử thiện hảo giữa thế kỷ 21 đầy nhiễu nhương này. Amen. 
 
  • “học”: tíng Quảng trị có nghĩa là “bắt chước”.
Pio X Lê Hồng Bảo
 

PS4-B110:  “CHIÊN TÔI THÌ NGHE TIẾNG TÔI”

Cách đây khá lâu, anh Nguyễn Quốc Đoạt, một người nhiệt thành tận tụy với việc làm mọi cách: PS4-B110

Cách đây khá lâu, anh Nguyễn Quốc Đoạt, một người nhiệt thành tận tụy với việc làm mọi cách để trân trọng và bảo vệ Sự Sống, gửi cho chúng tôi một bộ phim Video tài liệu rất hay của đài Truyền Hình Pháp TV5, tên là “Le Bébé est une Personne”. Có một trường đoạn rất dễ thương, chúng tôi xin kể lại:
Tại một bệnh viện phụ sản thủ đô Paris nước Pháp, người ta chuẩn bị cho một cuộc thử nghiệm, bằng cách mời gọi một bà mẹ đặt tên trước cho đứa bé trai 5 tháng tuổi còn trong bào thai. Đứa bé được chọn tên là Nicolas. Trong suốt mấy tháng trời, ngày nào bà mẹ cũng âu yếm gọi tên con, trò chuyện với đứa bé trong bụng.
Đến ngày sinh, đứa bé được cho cách ly, nằm riêng trong một cái nôi. Người ta chọn thêm 3 người phụ nữ có âm giọng tương tự như bà mẹ đẻ của em bé. Tất cả ngồi trong căn phòng, cách em bé đang ngủ say một khoảng bằng nhau. Thế rồi, lần lượt, ba phụ nữ kia gọi tên Nicolas nhiều lần cách quãng nhau, chú bé vẫn tỉnh bơ như không. Đến đúng bà mẹ đẻ lên tiếng: “Nicolas !” thì cậu nhỏ liền cựa quậy, rồi mở mắt, rồi khóc ré lên đòi được gặp mẹ, đòi mẹ phải đến ẵm ngay mới thôi… Cuộc thí nghiệm được lập lại nhiều lần, kết quả đều y như thế ! Hơi mẹ, sữa mẹ, và nhất là tiếng mẹ đã khiến cho đứa con nhận ngay ra sự hiện diện của mẹ mình.
“Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”
Chúng tôi đem ra kể trong các lớp Giáo Lý Hôn Nhân, có khi thuận tiện còn chiếu luôn bộ phim ấy cho các đôi chong tương lai xem. Nhiều người đã lẳng lặng đem áp dụng, có lẽ cũng còn nửa tin nửa ngờ. Thế rồi bẵng đi một thời gian, cả hai vợ chồng hí hửng chạy đến “báo cáo thành tích” cho chúng tôi, chị vợ bảo: “Tuyệt vời cha ơi, thằng cu nhà con giỏi thật. Không những cháu nó nghe được tiếng con mà còn nghe được tiếng bố nó nữa cơ !”
“Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”.
Hồi còn nằm nôi nâng niu bú mớm, chúng ta bé tý xíu nên bây giờ chúng ta đâu có nhớ được gì. May ra thì được bố mẹ kể mới biết mình đã từng ầu ơ trò chuyện với bố với mẹ. Khi đói cứ é lên một cái là được mẹ ôm vào lòng, vỗ nhẹ mông, gãi gãi lưng, tha hồ bú đến kỳ no lại ngủ. Đến khi đi học mẫu giáo, bố đến trường đón, giờ tan học, trẻ con lau nhau lóc nhóc đông nthe, chắc chắn đâu có thiếu những đứa trùng tên, vậy mà giữa bao tiếng lao xao, bố gọi “Tâm ơi !”, “Hùng ơi !”, “Dũng ơi !”, “Hồng ơi !”, “Mai ơi !”... chú bé, cô bé nhận ra ngay, lách giữa bạn bè, chạy a vào vòng tay của bố.
“Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”.
Vậy rồi ta lớn lên, nên ông nên bà, nên cha nên sơ, bố mẹ đã quá già yếu hoặc đã khuất, thỉnh thoảng giữa chợ đời ta thèm được nghe bố mẹ gọi “Tâm ơi !”, “Hùng ơi !”, “Dũng ơi !”, “Hồng ơi !”, “Mai ơi !”... Làm gì còn được như thế nữa ! Điện thoại réo, alô suốt ngày. Còi xe váng cả đầu. Nhạc lao xao ầm ĩ ù cả tai... Tất cả làm ta không còn nghe được một tiếng gọi khác thật nhẹ, thật trìu mến, từ nơi sâu kín của tâm hồn, bảo ta làm một điều gì đó, tránh một việc gì đó, hoặc đơn giản chỉ là gọi đúng tên ta. Trong ngày phsinh, tiếng ấy đã gọi: “Maria !” Chị Môn Đệ thành Magdala ngưng khóc lóc, bật kêu lên: “Rápbuni !”
“Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT
Bài cũ đã đăng trên Ephata Chúa Nhật 17.4.2005

 

PS4-B111:  ĐÃ QUA 5 ĐỜI CHA XỨ...

Nhận được điện thoại của chị Hai H. hẹn “chiều nay sau giờ kinh lòng Chúa Thương Xót, chị : PS4-B111

Nhận được điện thoại của chị Hai H. hẹn “chiều nay sau giờ kinh lòng Chúa Thương Xót, chị ghé nhà em, nghe Hoàng”. Tôi không biết chuyện gì mà hôm nay chị Hai bỗng thăm mình đột xuất.
Thì ra, anh Hai mất đã hơn 5 tháng, chị nhớ anh, chị thương anh, chị hồi tưởng và tâm sự:
“Chị vẫn là người tân tòng 48 năm nay, mặc dù đã theo đạo khi lấy chồng từ lúc 22 tuổi. Em biết đó, nhà chị không xa Nhà Thờ lắm, không đẹp lắm, không giàu lắm, cũng không nghèo lắm, nhưng có một cái “lắm” đáng kể hơn cả là anh Hai... nổi tiếng lắm, nổi tiếng về chuyện ngang bướng lắm. Chị cũng yêu sự ngang bướng của anh lắm. Bởi vì chị hiểu sự ngang bướng của anh: ngang bướng vì tính cầu tiến đến nỗi cầu toàn.
Giáo Xứ chị đang sống từ ngày thành lập đến nay đã 5 đời cha Xứ. Những ngày nhận xứ đầu tiên của cha Xứ tiên khởi đến các vị kế nhiệm, anh Hai có thói quen đến thăm cha và trao đổi hàn huyên với cha vài lần, rồi thôi, không bao giờ đến nữa. Anh vẫn siêng năng đi Lễ và sốt sắng giữ Đạo. Nhưng trong anh có điều gì bất an rất kín kẽ.
Tháng 7 năm 2011, năm ngoái, bỗng dưng, anh chuyển biến lạ lùng, vui hẳn lên. Và lúc ấy chị mới hiểu ra niềm vui của anh.
“Em thấy đó, tui chịu phép rửa tội được 72 năm rồi, ở Giáo Xứ Cù Và, Quảng Ngãi 32 năm, về Gxu này từ ngày thành lập đến nay 40 năm, đã gần nửa thế kỷ rồi, đã qua năm đời cha Xứ bốn đời cha Phó rồi. Hai cha Xứ trước, mang tiếng nhà quê cù lần, nhưng năm nào các cha cũng đi thăm Giáo Dân. Cha Phanxicô thăm nhà mình còn chọc quê tui là hay “lý sự” nhưng là lý sự cùn. Cha còn hỏi tui lâu nay có xưng tội không, rồi ngồi ngay trước hè nhà mình giải tội cho tui. Tui còn nhớ hôm đó, tui xưng tội ghét CS nhất trên đời, ghét cả ông S. kia nữa. Ông đi cải tạo với tui, nhờ thuộc bài bợ đỡ nịnh nọt mà về trước. Rồi lại làm chủ nhiệm Hợp Tác Xã, ra vẻ CS nòi. Ghét cay ghét đắng thằng phản bội. Cha biểu tui ghét CS không có tội, không được ghét những người theo CS. Từ ngày cha đi đến nay, đã qua ba đời cha Xứ, bốn cha Phó, mới có được một cha Phó, một vị Mục Tử đến nhà thăm con chiên”...
“Thì ra, anh quan trọng việc ấy như vậy sao ?”
“Quan trọng lắm chứ. Không thăm thì làm sao biết. Ngồi một chỗ mà hỏi thăm, nghe báo cáo tui là thằng ngang bướng thì trúng trật gì. Chúa còn bảo “đến xem nơi Người ở và ở lại với Người kia mà”.
“Anh sai rồi, đó là Chúa bảo con chiên phải đến thăm cha Sở, xem cha cần gì, thiếu gì, mà giúp đỡ”.
“Bởi vậy, sốt sắng quá như các bà nên đã làm hư hết mấy đời cha rồi. “Đã qua 3 đời cha Xứ” cũng xem như “3 cha Xứ đã qua đời” ngay tại nhà xứ mình rồi đó. Chỉ có một cha Phó kia còn sống thôi”.
Đúng là anh ấy ngang bướng thật !
Sau đó mấy tháng, anh Hai lâm trọng bệnh: ung thư phổi. Em biết không, ngày ở Bệnh Viện tỉnh chị bảo anh nên chuyển về Sàigòn để chữa trị, có con V., có thằng Út nó lo cho. Anh không chịu. Anh nói: “Đi đâu thì đi, nhưng đưa tui về nhà đã. Tui mắc nợ cha Phó một lần thăm. Tui phải thăm cha Phó”. Chị bằng lòng đưa về nhà. Anh đòi lên thăm cha Phó, nhưng yếu lắm rồi. Anh bảo gọi cha Phó cho anh lãnh các phép sau cùng. Sau khi Xưng Tội, được xức dầu và rước Của Ăn Đàng, anh nói: “Thưa cha, con chưa kịp lên thăm cha. Cha đã thăm con hai lần. Con mắc nợ cha. Mà lấy gì trả nữa ? Xin Chúa trả cho Cha”. Anh đi bệnh viện Chợ Rẫy. Chưa được hai tuần, trở về, và ra đi bình an...
“Thăm con chiên”, chuyện quan trọng như vậy sao ?
Thăm con chiên nào ? Con chiên béo khỏe về kinh tế, con chiên có thân nhân Việt kiều hay thăm con chiên ốm yếu bệnh hoạn nghèo hèn ? Thăm con chiên ngoan là tốt rồi, còn con chiên ngang bướng thì sao ? Thăm hết thảy con chiên trong ràn là đúng rồi, nhưng có nên thăm con chiên ngoài ràn không ?
“Tôi mắc nợ cha Phó một lần thăm”. Thế thì Mục Tử có mắc nợ con chiên điều gì không ? Không mắc nợ một lần thăm nào đó sao ?
Có nhiều người lấy làm vinh dự quá sức vì được cha đến thăm, rồi khoe với mọi người là nhà mình được Chúa thương xót: “Nhờ cha thăm, mà ông ấy trở lại rồi”, hoặc “Cha thăm cha chẳng cho gì, mà nhà tui tự nhiên dễ thương ra. Mấy bữa ổng cáu gắt, la lối om sòm, nay nói dịu dàng nghe được”. Có người lại quá sợ cha đến thăm vì cha thăm quá nhiều lần, vừa thăm vừa hỏi khoản đóng góp cho công trình này công trình nọ. Có người lại sợ cha đến thăm vì sợ tiếng đời dị nghị rằng mình là “con quỷ cám dỗ” bậc tu hành. Có người khác lại sợ cha đến thăm vì phải tốn kém bữa cơm cao lương mỹ vị có rượu Tây, rồi cha sinh ra hư đốn.
Thì ra, Giáo Dân, con chiên vẫn vẫn luôn khao khát điều tốt lành cho Mục Tử và vẫn luôn e ngại sự dữ, điều bất thiện, bất hảo xảy ra cho các ngài đấy chứ ? Kể cả việc các ngài... đi thăm.
Tuy nhiên, thiết tưởng, trong muôn vàn địa chỉ con chiên, chỉ có những người nghèo khổ, tội lỗi, mặc cảm tật nguyền, mặc cảm hèn kém, mặc cảm rối vợ rối chồng… lại là những người đang khao khát cha đến thăm một cách chân thành nhất. Họ sẽ không có gì đền đáp cho Mục Tử, hoặc nếu có, thì phần đền đáp ấy là chính “linh hồn” của họ mà thôi.
Nhân ngày Lễ Chúa Chiên Lành, chúng con, là những Giáo Dân, những con chiên trong ràn chiên Giáo Hội, hiệp ý hiệp lòng nguyện xin cho các Mục Tử của chúng con được “vì yêu các linh hồn, bằng lòng làm khất sĩ” như Thánh Linh Mục Gioan Bosco đã từng nguyện xin: “Da mihi animas, coetera tolle – Xin cho tôi các linh hồn, còn các sự khác xin hãy lấy đi.” Amen.
PM. CAO HUY HOÀNG, 28.4.2012
 

PS4-B112:  “NHỮNG MỤC TỬ NHƯ LÒNG CHÚA MONG ƯỚC”

Lễ Chúa Chiên Lành bao giờ cũng là Ngày Cầu Nguyện cho Ơn Gọi, nhiều nơi tổ chức rất: PS4-B112

Lễ Chúa Chiên Lành bao giờ cũng là Ngày Cầu Nguyện cho Ơn Gọi, nhiều nơi tổ chức rất “hoành tráng”, đặc biệt không thể thiếu một cuộc trình diễn áo Dòng, cứ lần lượt một bé nam rồi lại một bé nữ, xúng xính trong chiếc áo nâu, đen, trắng, xám, xanh, có lúp, có choàng, có đai, có chuỗi... Cả Nhà Thờ xôn xao nhộn nhịp hẳn lên vì cha mẹ ai cũng muốn trông thấy con thấy cháu của mình được “hóa thân” thành một Nữ Tu Dòng Đa Minh xinh xắn, thành một thầy Phanxicô mảnh mai hoặc một Giáo Sĩ Triều điển trai... Từng bước từng bước đi, tay chắp nết na, mắt nhìn vời vợi như hướng lên tận cõi trời cao. Máy ảnh kỹ thuật số lóe lên liên tiếp không sợ hao phim. Tiếng nhạc nền, tiếng người hướng dẫn chương trình vang vang về từng vị Thánh Tổ lập Dòng, về tôn chỉ linh đạo, về đường hướng phục vụ...
Lại cũng có nơi thích canh tân, không muốn năm nào cũng bổn cũ soạn lại, hỏi ý kiến tư vấn, chúng tôi liền mách nước: Ơ hay, Ơn Gọi hàm nghĩa sâu và rộng lắm, đâu chỉ có Ơn Gọi đi tu làm cha, làm thầy, làm dì phước ? Vậy tại sao sau một loạt “người mẫu” áo Dòng lại không có thêm những cô bé chú bé mặc áo blouse trắng của ngành Y; mặc áo dài cầm tập giáo án của các thầy cô giáo; mặc áo xanh đội nón bảo hộ của một đốc công trong xưởng máy; mặc sơmi trắng thắt khăn quàng huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể...
Và cuối cùng, kết thúc cuộc diễn hành thì đừng quên có một đôi là vợ chồng thật sự hẳn hoi, dắt thêm mấy cháu bé lon ton là con cái của họ, bước ra ngỏ đôi lời với cộng đoàn, rằng thì là: “Vâng, Ơn Gọi xuất phát từ Thiên Chúa. Ngài gọi và con người chúng ta đáp trả. Chúng tôi đã đáp trả để nên nghĩa vợ chồng và Thiên Chúa đã trao cho chúng tôi bổn phận tuyệt vời là làm những người... chăn trâu để chăm sóc một đàn nghé tý hon như thế này đây. Vất vả lắm, mệt mỏi lắm, nhưng chúng tôi luôn ngợi khen và tạ ơn Chúa...”
Sáng Chúa Nhật hôm nay, bản thân tôi cũng đã gợi lên trong bài giảng Thánh Lễ về hình tượng các thầy cô giáo được Chúa trao cho từ đầu mỗi năm học cả một đàn nghé bốn, năm chục con lau nhau lóc nhóc, nghịch ngợm hiếu động để chăn dắt sao cho chúng ngoan hơn, giỏi hơn và nhất là tốt bụng, lớn lên sống tử tế hơn; rồi hình tượng các y bác sĩ được Chúa trao cho cùng lúc hoặc liên tiếp nhiều bệnh nhân trong nhà thương để phải thăm khám, hội chẩn, giải phẫu, điều trị cho đến khi hồi phục và lành bệnh...
Thế rồi Thánh Lễ sau đó, tôi đang đi trên hành lang Tu Viện Sàigòn thì chợt nghe bên phía Nhà Thờ có một giọng giảng quen quen, trẻ nhưng chững chạc, khá hùng hồn. Thì ra đó là một thầy gốc Hà Nội, mới chịu chức Phó Tế gần đây. Tôi lại càng tò mò muốn xem các em trong Dòng của mình “hậu sinh khả úy” ra sao ? Tôi dừng lại chú ý nghe, không ngờ bắt ngay lấy được một ý tưởng hay quá. Thầy cũng nói đến các Mục Tử trong nghề giáo và nghề y, nhưng thêm: “Các ông bà chủ, giám đốc các nhà máy xí nghiệp, Thiên Chúa cũng đang trao vào tay quý vị quản lý hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn những công nhân nam nữ, những bạn trẻ di dân xa quê nghèo tiền nhưng giàu nghị lực, đang cần một công việc thích hợp, đang cần những món tiền lương đủ sống. Xin hãy chăn dắt họ bằng sự lương thiện và công bình, bằng sự tôn trọng và nhân ái...”
Vậy là đã có một sự chuyển đổi trong quan niệm về Ơn Gọi. Lâu nay chúng ta quá chú ý đến cái là chủ thể ( subject ) và cái là khách thể ( object ) của việc chăn dắt, để rồi chúng ta dễ dàng và nhanh chóng bị cuốn theo khuynh hướng xếp các đấng các bậc Giáo Sĩ đáng kính vào vai trò Mục Tử chăn dắt cả một đàn chiên khổng lồ là anh chị em Giáo Dân. Không sai, nhưng chắc là chưa đủ ! Chỉ cần chúng ta chú ý xoáy sâu vào nội dung của hành động ( verb ) chăn dắt để khám phá ra đó chính là yêu thương, quan tâm, chăm sóc, hướng dẫn. Chăn dắt đàn chiên đúng nghĩa như thế thì hao tổn tâm sức ghê lắm, mướt mồ hôi, sôi nước mắt và thậm chí có thể đổ cả máu, sẵn sàng mất mạng cho đàn chiên của mình được quây quần bình an, được sống và là sống dồi dào !
Chăn dắt đâu phải chỉ là nhốt đàn chiên vào trong chuồng, rào giậu lại canh gác ngày đêm cho an toàn, nội bất xuất ngoại bất nhập. Công việc chăn dắt buộc người chăn dắt phải đưa chiên hằng ngày ra đi mà chăn mà dắt, rong ruổi lữ hành, sao cho tìm gặp được những đồng cỏ xanh tươi, những nguồn nước trong lành cho đàn chiên được no thỏa cơn đói và cơn khát gay gắt của cuộc đời.
Hướng nhìn của vấn đề như thế là đã nghiêng hẳn về phía “quyền lợi” sâu xa của đàn chiên hơn là phía... “quyền lực” của chủ chiên. Khổ nỗi, lâu nay chúng ta chỉ quen nghĩ đến sự cai quản lãnh đạo của hàng chủ chiên Giáo Sĩ đối với đàn chiên Giáo Dân. Tất cả đều từ bên trên bổ xuống, được đến đâu quý đến đấy, may nhờ rủi chịu, gặp đấng chăn chiên hiền lành và khôn ngoan sáng suốt thì may quá, phúc đức quá, Xứ Đạo cứ thế mà đi lên; ngược lại, lỡ mà gặp phải đấng chăn chiên dữ dằn, quan liêu, lại thêm lem nhem đủ chuyện nữa thì khốn khổ, dân đen chỉ biết cắn răng mà chịu, hó hé là coi chừng vạ tuyệt thông ! Vẫn biết Chức Thánh của hàng Giáo Sĩ không thể đem so sánh với bất cứ điều gì, nhưng phải luôn nhớ Chức ấy Thánh ở chỗ được sung công, được trưng dụng để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người, làm gì mà dám vênh vang như những thứ chức tước khanh tướng thế gian !?!
Thật ra, một khi đã toàn tâm toàn ý chăm sóc cho đàn chiên, thì chủ chiên cũng sẽ không thể nào lại là hạng người hẹp hòi được, cũng chẳng còn thời giờ và hơi sức để mà hư thân trong những thứ đam mê nguy hại. Linh Mục trong Họ Đạo hay người cha trong gia đình đã quá tận tụy lo toan cho con cái mình thì bảo đảm không thể dính vào bài bạc rượu chè hoặc tơ tưởng lăng nhăng. Bác sĩ có tâm đức và chuyên môn giỏi, đã hết mình chữa trị cho bệnh nhân ở nhà thương rồi thì còn biết móc nối lôi kéo ai về phòng mạch riêng để kiếm thêm ? Thầy cô giáo đã giảng dạy quá chu đáo ở trường rồi thì chẳng cần phải ép học sinh phải về nhà riêng để học thêm ?
Ấy đấy, xã hội chung quanh chúng ta hôm nay đang giàu lên, đẹp lên, ngon lên, sang trọng hẳn ra, nhất là ở nơi thành thị đô hội. Nông thôn cũng chẳng chịu kém cạnh đâu, rồi nay mai cũng sẽ ngoi lên cùng với đà tiến công nghiệp hóa, cơ khí hóa. Thế nhưng, đáng lẽ “phú quý sinh lễ nghĩa” thì chẳng ngờ, chất lượng cuộc sống của chúng ta lại đang dần dần nghèo đi, xấu xí, ích kỷ, bần tiện, nhỏ nhen, gian dối, thủ đoạn, độc ác. Nó cho thấy lương tri con người đang bị xói mòn, teo lại, méo mó èo uột. Và nguyên nhân sâu xa trên tất cả mọi nguyên nhân, đó là một nếp sống vật chất thiếu vắng tâm linh, thản nhiên quên Chúa, gạt Chúa ra bên lề...
Làm sao bây giờ ? Chúng ta có còn nghe được tiếng Chúa gọi chúng ta không ? Cái mà ta vẫn nói là Ơn Gọi ( Vocation ) ấy, vẫn đang được gửi đến chúng ta như những mẩu nhắn tin trong điện thoại. Ăn thua chúng ta có chịu để ý tín hiệu và mở tin nhắn ra đọc. Lại ăn thua ở chỗ đọc được tin nhắn rồi, chúng ta có vui vẻ nhận lời hợp tác với Chúa, để cho chính Chúa sẽ chăn dắt huấn luyện cho chúng ta trở thành những mục tử chăn dắt lẫn nhau hay không ? Được như thế, Giáo Hội, xã hội, quê hương chúng ta sẽ bắt đầu hồi sinh, chuyển mình thăng hoa nhờ những mục tử nhân lành dễ thương đúng như lòng Chúa Giêsu mong ước. Họ là Giáo Sĩ, Giáo Dân, đàn ông, đàn bà, già trẻ lớn bé, ở mọi nơi, mọi cảnh sống, mọi ngành nghề, mọi cương vị, mọi hoàn cảnh môi trường. Họ đấy, chúng ta đấy, sẽ là những con người cứu vớt dân tộc này, nhân loại này khỏi cái đói cái khát Tình Yêu Giêsu !
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT
Bài cũ đã đăng trên Ephata Chúa Nhật 7.5.2006

 

PS4-B113:  CHỌN SAO CHO TRỌN ?

Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Chiên Lành hôm nay, Đức Giêsu đã dùng hình ảnh người Mục Tử : PS4-B113

Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Chiên Lành hôm nay, Đức Giêsu đã dùng hình ảnh người Mục Tử nhân lành để khẳng định mình. Người chăn chiên thuê chỉ biết làm việc và hưởng công. Cho dù có tình cảm gắn bó thân thiết với đàn súc vật cũng không thể níu giữ được anh, khi có biến cố đến. Vì sự gắn kết giữa người chăn chiên với đàn chiên là công việc, bổn phận chứ không phải là tình thương ( x. Ga 10, 12 ). Thước đo mọi giá trị chuẩn mực của cuộc sống chính là tình yêu thương. Bất kỳ hoạt động nào đi ra khỏi quỹ đạo yêu thương thì đều trở nên án phạt. 
Đức Giêsu đã khẳng định mình: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi” ( Ga 10, 14 ). Động từ “Biết” ở đây đã giải mã cho hành động của kẻ chăn chiên: Khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy… vì anh ta là kẻ làm thuê, nên không thiết gì đến chiên ( x. Ga 10, 12 ).
Ngày nay, có biết bao mục tử giả đội lốt chiên. Luôn xưng danh mình là người mang trọng trách đem lại an bình, hạnh phúc đến cho người khác, nhưng được mấy ai biết hy sinh tính mạng mình cho đàn chiên như Đức Giêsu ? ( x. Ga 10, 15 ). Chỉ vì không “biết” chiên của mình mà chỉ biết mình thôi !
Giáo Hội dành đặc biệt Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh để cầu nguyện cho Ơn Thiên Triệu, cũng chính là cầu nguyện cho người chăn chiên. Mỗi chúng ta, đều là người chăn chiên trong chính môi trường sống của mình. Mang ơn gọi làm người, chúng ta đều có bổn phận chăm sóc, giúp đỡ và cầu nguyện cho nhau. Cứ nhìn vào hành động sống của ta, tha nhân có thể nhận biết ta là kẻ chăn chiên thật hay là kẻ làm thuê. Người có tình yêu thương thật không bỏ rơi những cơ hội thi thố tình thương trong từng biến cố cuộc đời. Không nhắm mắt làm ngơ, khoanh tay đứng nhìn trước những hành động bất công hay tội ác của kẻ khác. Bảo vệ, bênh vực cho Công Lý và Hòa Bình. Không cần phải khuya chiêng đánh trống, nhưng chỉ bằng những hành động nhỏ trong cuộc sống, biết bảo vệ cho sự thật và chân lý, biết san sẻ chén cơm, manh áo với sự tự nguyện và ý thức “biết” chiên của mình thì đã là tất cả rồi.
Đau đớn thay, xã hội ngày nay, trà trộn sự thiện, sự ác, người ta không còn biết phân biệt đâu thật, đâu giả. Người xấu đội lốt kẻ tốt dựa trên danh vọng, chức tước, địa vị xã hội để rồi lừa gạt người khác. Kẻ tốt luôn sống âm thầm, khiêm nhượng lại bị khinh miệt, xem thường. Người ta dựa vào hình thức để lừa gạt nhau. Nhân loại vội quên chân lý, hãy cho tôi biết bạn sống thế nào, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là ai. Đừng hòng tưởng dựa vào cái danh, cái phận mà có thể che mắt người khác, bằng những hành động vô liêm sỉ của mình. Chính thái độ sống của bạn sẽ tố cáo bạn là ai. Thời buổi này, người ta không còn tin vào lời nói hùng biện hay khoa trương nữa đâu.
Nhân loại đi tìm hạnh phúc. Đó là mục đích cùng đích của con người. Có rất nhiều lối đi giúp con người hạnh phúc. Và tất nhiên, lối đi nào cũng tốt, con đường nào cũng đẹp. Ngay cả con đường tội lỗi. Thiên Chúa không dựng nên sự dữ thật, nhưng Ngài có thể rút ra từ sự dữ những điều tốt lành. Đó chính là mầu nhiệm của tình yêu. Vũ trụ này và vạn vật trong đó đều là tinh hoa của đất trời ban tặng cho nhân loại để làm phương tiện giúp họ đạt đến hạnh phúc. Vì thế, những sự vật ngoài con người hoàn toàn là vô tội, chính tác nhân tác động xấu lên chúng mới làm cho nó trở nên xấu mà thôi. Quả thật, đường đi nào cũng đẹp, cũng đều đưa đến cùng đích là sự thiện, nhưng chỉ có một con đường đem đến hạnh phúc đích thực mà thôi, đó chính là con đường Giêsu.
Lạy Chúa, như bao người, nhân loại đang vất vả trên đường đi tìm hạnh phúc. Chọn lựa bỏ đường này lấy đường khác vì cho rằng đường ấy hạnh phúc hơn. Phúc thật không hệ tại đường. Đường chỉ là để đi, đường không thể quyết định phúc họa cho con người nhưng chính là hành động của chủ nhân đang bước đi trên con đường ấy. Đi vào đường đẹp, đường thiện mà sống vô luân thì có phúc được chăng ? Ngược lại, đi trên đường hẹp, gồ ghề, sỏi đá mà sống thiện mỹ, chọn Thiên Chúa làm chuẩn mực thì sao gọi là vô phúc ? Thiên hạ cứ đang chọn, mặc sức chọn. Người này vác lên, kẻ kia bỏ xuống, rồi chê bôi, tranh luận, cãi cọ, miệt thị, khinh bỉ lẫn nhau… cuối cùng đều làm mồi ngon cho thế lực sự ác chiếm ngự.
Xin Chúa giúp con, chọn sao cho chọn, chọn thế nào thì chọn, chỉ cần con biết chọn con đường Giêsu, theo sát dấu chân Ngài, bám víu, nương tựa vào Ngài, sống theo gương Ngài, đấy mới đích thực là con đường hạnh phúc. Con đường của người mục tử, biết sống cho, sống vì người khác vì tình mến, chứ chẳng phải vì hão danh, chỉ được cái vỏ bọc sơn son thiếp vàng bên ngoài, mà bên trong sáo rỗng !
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG
 

PS4-B114:  “VỌNG THANH NGHE RỢN, HỒN CÔ TỊCH…”

 “Vọng thanh nghe rợn, hồn cô tịch
 tôi hiểu, lòng anh chửa toại nguyền.”
( dẫn từ thơ Đinh Hùng )
 

Chửa toại nguyền”, là bởi hồn anh còn cô tịch. “Thanh nghe rợn, là vì tâm trạng nhiều người: PS4-B114

“Chửa toại nguyền”, là bởi hồn anh còn cô tịch. “Thanh nghe rợn, là vì tâm trạng nhiều người ở thánh Hội thời tiên khởi vẫn muốn Chúa Chiên tập hợp toàn thể chiên con về chung ràn, như Thánh Gioan diễn tả ở trình thuật.
Trình thuật nay thánh sử ghi, là ghi về Chúa Chiên Hiền từng khẳng định: “Người chăn chiên tốt, chính là Ta ! Người chăn chiên tốt thí mạng sống mình vì chiên.” ( Ga 10, 11 ) Nói xong, Ngài lại tiếp: “Ta còn những chiên khác không thuộc ràn này; các chiên ấy, Ta cũng phải chăn dắt.” ( Ga 10, 16 ) Nói lên điều này, Chúa muốn nói đến các Giáo Hội cùng tin một Chúa vẫn ưu tư chuyện đại kết, rất hài hoà. Suy về điều ấy, tưởng cũng nên biết thêm một chút lịch sử về nguồn gốc các chiên ràn, khác chánh kiến.
Thật ra, thì sự khác biệt giữa các chiên ràn thời tiên khởi do có ly tâm phân rẽ bên trong Giáo Hội cũng đáng buồn. Đó, là thời mà nhiều nhóm hội đoàn thể tuy cùng tin một Chúa, nhưng lại chủ trương phụng vụ và luật lệ theo cách khác. Các ngài đã ứng đáp với tình hình Hội Thánh lúc ban đầu theo cung cách rẽ chia/phân lìa mãi hôm nay. Lịch sử Đạo còn cho thấy: Hội Thánh đã có những đoạn đường lịch sử có chứng tích rất đa dạng. Thế nên, cho đến hôm nay, đạo hữu theo chân Chúa vẫn ấp ủ đường hướng giáo dục vẫn qui về “Hội Thánh duy nhất, thánh thiện” chỉ mỗi Công Giáo mình để rồi lại sẽ bảo rằng ngay từ đầu, Hội Thánh không đấu tranh giành phần cho phe nhóm nào hết. Nhưng sự thật không phải thế. Từ ban đầu, Hội Thánh mang nhiều dạng thức rất khác biệt. Và đó chính là lý do khiến Hội Thánh của ta cứ mãi đề cập đến chuyện tập họp chiên ràn làm một để Chúa ấp ủ suốt mai ngày.
Ở thời rất sớm, kiều dân Do Thái đã phải nổi lên chống báng ngoại bang để rồi kết thúc bằng một trận chiến kéo dài từ năm 66 đến 70. Lúc ấy là thời kỳ thành thánh Giêrusalem bị ngoại xâm phá huỷ đến tan tành. Mọi Kitô hữu đều tản mác đi khắp chốn. Và dấu vết các ngài để lại, đã được tìm thấy ở Galilê và Syria cũng rất nhiều. Duy mỗi cộng đoàn Thánh Phaolô gồm kiều bào Do Thái là rớt lại đến ngày nay. Và có thể nói mà không sợ quá lời rằng: tín hữu con dân Chúa sống còn đến hôm nay là cánh tay nối dài của cộng đoàn Thánh Phaolô nói đến vào thời này.
Từ ban đầu, kiều dân Do Thái đã phải giáp mặt với nhiều khó khăn mới, một trong số đó là ngóng đợi ngày Chúa quang lâm vẫn muốn Ngài lại đến với họ một lần nữa mới toại nguyện. Nhưng, chuyện này xem ra không xảy đến. Phải chăng đó là niềm hy vọng viển vông, không thật ? Hoặc tín hữu dân con Chúa vẫn phải sống chuỗi ngày dài không thấy Chúa trở về lại với mình như lịch sử chứng minh, phải chăng đó là sự thật rất khách quan ? Và con dân Đạo Chúa ra như đã và đang lao mình vào với nền văn hoá của ngoại bang, vốn là chuyện rõ như ban ngày. Kết cuộc là, các Thánh đã đánh mất đi căn tính tư riêng của mình, cũng là điều dễ hiểu.
Kịp đến thế kỷ thứ hai, dân con tôi tớ Chúa không còn sốt sắng sống đời thực tế mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 3 các ngài mới bắt đầu sở hữu đất đai, sinh hoạt trong các hang toại đạo, nơi phụng thờ và ở Đền Thánh; để rồi, biến các nơi ấy thành chốn thánh thiêng đặc biệt dành cho Chúa. Cũng mãi về sau, các Thánh mới triển khai tín lý của Giáo Hội mình gồm một số tín điều rất mới như: Đức Mẹ Đồng Trinh sạch sẽ, hoặc lời khuyên bảo hãy chết đi cho tội lỗi, để rồi tất cả sẽ trỗi dậy mà đạt chốn hạnh phúc rất miên trường. Mãi về sau, ý niệm về một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện và chính thống đã từ từ hội nhập vào lòng tin qua giải thích khác biệt.
Từ buổi đầu cho đến giữa thế kỷ thứ tư, đã thấy sự xuất hiện một đế chế gọi là triều đại Constantine, vị hoàng đế khá nổi danh với lời tuyên bố sẽ châm chước cho các Kitô hữu sống trong đế quốc của ông cả ở trời Đông lẫn phương Tây. Và ông cho phép mọi người được tự do chọn lựa niềm tin theo ý mình. Kể từ đó, Đạo Chúa trở thành thực thể xã hội sống động. Nhưng đó chỉ là “văn bản” niềm tin vào Chúa được Constantine chuẩn thuận, mà thôi. Trong khi đó, hầu hết mọi tôn giáo khác, dù cùng tin một Đức Kitô, đều đã phải đi vào chốn âm thầm lặng lẽ, hoặc biến dạng.
Từ quá trình nền tảng được coi như địa bàn soi dọi lối sống đạo và hành xử theo cung cách đạo hạnh, lại thấy xuất hiện một giáo phái mang nhãn hiệu “chính thống” rất công khai. Trước đó không lâu, một số vị đã tỏ ra không ít thì nhiều đã mang tính tích cực hơn về các chủ đề có liên quan đến người Do Thái. Những người khác, không nhiều thì ít, cũng chứng tỏ rằng mình thuộc cộng đoàn Thánh Phaolô, nên đã ít nhiều gắn bó với thể chế có kinh nghiệm đạo hạnh khác nhau. Có nhiều bạn đạo lại đã tham gia dấn bước nhiều hơn vào với tín điều và công thức niềm tin tư riêng. Cuối cùng thì với triều đại Constantine, một điều khiến Đạo Chúa nối kết hài hoà với nhau, là lập trường khá chính thuần. Duy chỉ mỗi giáo phái tự cho mình là chính thống ngay từ đầu, mới có cơ phát triển phổ biến giáo huấn chủ trương rằng Đức Kitô vừa mang Thiên tính, vừa có tính “người” hơn ai hết. Chính Chúa là Đấng duy chỉ một, nhưng Ngài lại gồm những Ba Ngôi. Kịp đến cuối thế kỷ thứ 2, là thời mà nhóm chính thống tiên khởi tồn tại, lại thấy có nhóm khác đi vào giòng “lịch sử âm thầm trầm lặng” đến độ không ai còn nhớ đến.
Đôi lúc, nhiều người nhận thấy phần đông các tín hữu Công giáo hiểu rất ít hoặc chẳng sở đắc kiến thức nào về lý lịch Đạo mình. Thậm chí có vị chỉ có trong đầu vài ba ý tưởng lờ mờ về nhóm Cải Cách tách biệt khỏi Hội Thánh Công Giáo, thôi. Và họ coi như “chỉ mình họ” là nhóm hội thừa hưởng tính chính thuần sau nhiều luận tranh, giành quyền rất kéo dài, và phía còn lại ở đầu bên kia Đạo Chúa, toàn những sai sót hết. Và người nhà Đạo của ta, cứ thế cho rằng Chúa Chiên HIền Lành là đặc trưng của nhóm Đạo mình thôi. Kỳ thực, mọi chuyện đều không phải thế.
Quả là thời đó, trong số các đạo hữu dấn bước theo chân Đức Kitô, có nhiều điều rất khác biệt. Và, có một số điều ta không tài nào hoá giải được. Thế nên, có lẽ vì vậy mà ta vẫn ước ao làm sao có được tình đại kết, gắn bó. Vẫn nguyện cầu cho đại kết thành hiện thực. Và nhất là cố chờ cho sự thể này được xảy đến cũng rất chóng. Chừng như mọi người chỉ biết mỗi điều, là: ta vẫn chưa biết cách làm thế nào để tất cả Kitô hữu, tức các kẻ tin vào Chúa, có thể đến với nhau làm “một” mà không cần tranh giành biện giải. Đến với nhau để thấy rằng: thời buổi qua, các đấng bậc ở trên cao cũng rối bời đầy tranh chấp về hầu hết các vấn đề thuộc mọi khía cạnh.
Chuyện như thế, lại đã ảnh hưởng lên tâm tưởng ta vẫn có về Đức Chúa. Trên thực tế, điều đó còn ảnh hưởng lên ý tưởng mà mọi người vẫn có về Chúa. Và, phần lớn các tranh luận của cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi, thường là: hãy nên coi lại ảnh hình ta có về Đức Chúa ( hoặc Đức Giêsu ) là Chúa Chiên Hiền Từ, với mọi người. Tất cả đều có khó khăn với loại ảnh hình khá “nặng nề” về Chúa. Bởi họ đều muốn một loại ảnh hình về Đức Chúa thôi, nhưng lại không biết rằng: định nghĩa nào dù rõ nét về ảnh hình Thiên Chúa đều phải “dễ thưong” và “cởi mở” hơn mọi thứ. Đa phần thì điểm “khác biệt“ giữa các Giáo Hội là đến từ các cuộc tranh luận về chân dung Chúa ngay từ buổi đầu của Hội Thánh.
Vấn đề, nay nên hiểu là: Đức Giêsu, Chúa Chiên Hiền Lành là của tất cả mọi chiên ràn, thuộc mọi hệ cấp Giáo Hội. Tất cả các chiên con đều tin vào Ngài. Và, Ngài cũng tin tưởng mọi chiên con đến với Ngài. Chúng ta đây, vẫn yêu thương tự hào về truyền thống rất thánh của Công Giáo mình, nhưng cũng nên biết là: ta vẫn hằn in lý lịch thuộc truyền thống khác nhau. Có thế, ta mới có thể hiểu, chia sẻ và cảm thông với sự việc đang xảy đến với Giáo Hội là quyết thay đổi lập trường về “đại kết”.
Thay đổi đây, không theo nghĩa cho rằng: Giáo Hội bạn xưa nay có sai sót, sẽ phải về lại với ta, là “văn bản” chính thống rất mực, bởi ta mới là thành phần đích thực có đạo đức, chức năng rất đúng, mà thôi. Nay, một khi biết rằng mình không như thế, để rồi ta lại sẽ học hỏi để sống khiêm nhu, tự hạ coi mình chỉ nhỏ bé trước mọi người. Thật ra, ta vẫn chung một khuôn thước giống như cũ, vẫn ở mức độ quan trọng như bao giờ. Nhưng cũng đừng nên cho mình quan trọng hơn như phần đông các nhóm hội đối tác. Thành thử ra, ta sẽ biết được chính mình không chỉ nhờ vào quá khứ, nhưng bằng cả cuộc sống hiện tại, để nhận chân ra sự thật rằng: tất cả chúng ta là “một” trong muôn người.
Thay đổi được như thế, ta ắt biết lý lẽ của ưu tiên hàng đầu trong Hội Thánh không do sự thể là ta có thuộc nhóm “chính thuần” hay không, mà là: ta chỉ có duy nhất Một Chúa Chiên Hiền thôi. Từ đó, toàn thể dân con Chúa sẽ tái xác định ơn gọi làm con Chúa, kể từ lúc này, hoặc khi ấy. Và ta sẽ thấy mình là nhóm hội bé nhỏ có đời sống nội tâm đáng quý; và, có ảnh hưởng lớn trên thế giới của đạo giáo khác cũng như của trần thế, quanh ta. Ta không là lời đáp trả cho yêu cầu mọi người đặt, nhưng sẽ luôn nguyện cầu cho mọi người tìm ra câu giải đáp cho lời cầu đích thực, đối với họ.
Thành thử, có thể tương lai sẽ không ra như ta ao ước. Cũng có thể, là ta sẽ không có thêm thời vàng son nào khác trong đó Công Giáo mình sẽ lại chế ngự mọi cung cách giải quyết hết mọi việc. Có thể ta sẽ lại học được nhiều cung cách trở thành chiên con hiền lành, dù không thuộc một ràn như trước đó. Tin Vui mau đến với ta là: Chúa Chiên Hiền rày sẽ không khác trước, nhưng vẫn như thế mãi.
 Nếu để chiên con đứng trụ trên chân của chúng, rồi tìm cách sống riêng tư biệt lập, e rằng sẽ khó mà trông coi chăn dắt được chúng. Hãy nâng chúng lên mà quàng cổ, rồi thì chúng cũng ổn định thôi. Rồi thì, người người sẽ có lông chiên mịn màng, dư dả để giải quyết. Và, Chúa Chiên Hiền sẽ biết cách xử sự với chiên con chỉ thích tách lìa, tự cho mình chính thống, độc lập vì chúng sẽ trở về chốn cũ, những cãi tranh, giành quyền rồi rã đám.
Trong tinh thần phấn đấu cho tình đại kết, cũng nên ngâm nga lời thơ đầy ý nhị, rằng:
“Tôi lạc hồn Xuân giữa Cố Đô,
Hỏi giăng, giăng mọc nước Tây Hồ.
Hỏi hoa, hoa vẫn thôn đào liễu,
Lòng hỏi riêng lòng: Đâu bạn xưa ?”
( Thơ Đinh Hùng – Cặp Mắt Ngày Xưa )
Có hỏi hoa và giăng, cũng đâu ngờ rằng hoa-giăng giờ đây đã xum vầy, để mọi người tìm gặp “Cặp Mắt Ngày Xưa” yêu thương mềm mại, tình đại kết. Rất nên duyên.
Lm. NGUYỄN ĐỨC VINH SANH, bản phỏng dịch của MAI TÁ
 

PS4-B115: CHỨNG NHÂN PHỤC SINH

Các bạn thân mến, ngày nay cũng thế, Đấng Phục Sinh cũng vào trong nhà và trong tâm hồn: PS4-B115

“Các bạn thân mến, ngày nay cũng thế, Đấng Phục Sinh cũng vào trong nhà và trong tâm hồn chúng ta, mặc dù đôi khi những cánh cửa bị đóng lại. Người đi vào để ban niềm vui và sự bình an, sự sống và hy vọng, là những hồng ân mà chúng ta cần cho việc tái sinh nhân bản và tinh thần của mình. Chỉ có Người mới có thể lay chuyển những tảng đá lấp mồ này, mà con người thường đặt trên các tình cảm, các mối liên hệ, và các cách đối xử của riêng mình, các tảng đá đánh dấu cái chết là các sự chia rẽ, hận thù, bất hòa, oán hờn, ghen tỵ, hoài nghi và thờ ơ. Chỉ có Người, Đấng Hằng Sống, mới có thể ban một ý nghĩa cho cuộc đời… Đó là kinh nghiệm mà hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về Emmau đã trải qua trong ngày Phục Sinh” ( Lc 24, 13 – 35 ) ( Bài Giáo Lý của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI về Chúa Phục Sinh 2012 – Phaolô Phạm Xuân Khôi dịch ).
Đoạn trích trên từ bài giảng của Đức Thánh Cha trong buổi triều kiến chung và suy niệm về ý nghĩa Phục Sinh. Đối với Kitô hữu hôm nay, Đức Tin nơi Đấng Phục Sinh biến đổi đời sống, ban niềm hy vọng sống trọn vẹn ý nghĩa cuộc đời.
Sau khi Chúa bị hành hình, bức màn tăm tối buổi chiều tử nạn trên đồi Canvê đã khép lại một thời huy hoàng rao giảng. Cuộc đời còn ý nghĩa gì sau ba năm theo chân Chúa giờ chỉ còn sự bẽ bàng tan nát con tim, niềm hy vọng như đã chết cùng Thầy những ngày sau đó ! Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với nhiều người, nhiều không gian khác nhau, niềm vui vỡ òa con tim Maria Magdala bên ngôi mộ trống, bà đang khóc sau cái chết đau khổ của Thầy lẫn bất ngờ không thấy xác Thầy nữa ( Ga 20, 1 – 9 ). Đến các môn đệ trong nhà đóng kín cửa vì sợ người Do Thái, Ngài đứng giữa họ chúc “Bình an cho các con…” ( Ga 20, 19 ). Rồi tám ngày sau đó có cả Tôma, người xuất hiện soi chiếu lòng nghi ngờ tăm tối, ông đã thốt lên “Lạy Chúa tôi, là Thiên Chúa của tôi”. “Chúa đó !”, giữa các Tông Đồ buồn tênh trở về quê cũ nghề xưa nơi biển hồ Tibêria với đầy mẻ cá bất ngờ ( Ga 21, 1 – 14 ) hay trên con đường về Emmau, tìm lại kỷ niệm thân thương của Thầy, hy vọng sẽ gặp được thoáng ủi an cho những chán chường mất mát.
Tin Mừng Phục Sinh ghi nhận tất cả những lần Chúa hiện ra với các Tông Đồ lẫn Maria họ đều hoài nghi, mãi cho đến khi Chúa gọi tên như trường hợp Maria hay được sờ vào cạnh sườn Chúa như Tôma, cho lưới tràn ngập cá, hay khi bẻ bánh trao ban môn đệ Emmau mới nhận ra Chúa Giêsu. Các biến cố hiện ra của Chúa ngày xưa với cuộc đời mỗi người hôm nay cũng có nhiều gần gũi, chắc hẳn ai cũng đã nhiều lần cảm nghiệm được Chúa vẫn đồng hành nhưng như hai môn đệ Emmau, chúng ta vẫn không nhận ra Ngài.
Trên đường Emmau, hai người lữ khách bước đi bên nhau.
Mộng vàng tan mây, nhọc nhằn lê gót chân buồn đường dài.
Này Ngài tiến đến, về Emmau tiến bước theo ngay bên.
Họ không trông ai, người lữ khách đó chính là Ngài“.
( Trên đường Emmau – Lm. Thành Tâm )
Một buổi sáng mùa xuân năm xưa, hai môn đệ trên đường về Emmau, cách Giêrusalem khoảng 10 cây số. Họ là hai trong nhóm 70 môn đệ, lên Giêrusalem mừng Lễ Vượt Qua, một người tên là Clêopha, người kia không rõ tên ( có giả thuyết cho là Luca ). Họ chuyện trò, bàn tán với nhau về những việc vừa xẩy ra, bên nhau mà tâm hồn vẫn cô đơn trống vắng, Chúa đến gần cùng đi chung nhưng họ không nhận ra Ngài ( Lc 24, 13 – 35 ). Lòng đầy thất vọng, mộng tan bay vì tưởng như “Chúng tôi đã hy vọng người sẽ cứu vớt Israel”. Thế mà Thầy đã chết, hy vọng được chôn chặt cùng Thầy. Hai người không nhận ra Chúa khi Ngài đồng hành chuyện vãn cùng họ, khi Chúa ngồi vào bàn ăn, lấy bánh bẻ ra, mắt hai ông bỗng mở ra và nhận biết Ngài. Hai ông trở về Giêrusalem bất chấp trời tối, cảm thấy cần thông báo tin vui cho mọi người, làm nhân chứng biến cố Phục Sinh của Ngài.
“Niềm hạnh phúc năm mươi ngày hoan lạc.
Chảy trong ta là giòng thác Phục Sinh.
Ta đứng lên, đứng lên khỏi chính mình.
Và hít thở niềm vui chiến thắng.

Ngài vẫn bên ta trong cuộc trần dâu bể.
Cứ chiều về thì bẻ bánh chia san.
Hạnh phúc là khi chấp nhận trao ban.
Niềm hoan lạc đến tận người cùng khổ”.

( Niềm hoan lạc phục sinh – Cao Danh Viện )
Đức Giêsu Phục Sinh biến đổi toàn bộ cuộc đời các môn đệ. Đức Kitô Phục Sinh là Tin Mừng trọng đại, Ngài bước ra khỏi mồ làm bừng tỉnh, tăng sức mạnh đồng hành với các môn đệ trên mọi nẻo đường. Chúa đã thấy những lắng lo yếu hèn những môn sinh bé nhỏ, nỗi vất vả bơ vơ thân phận con người, Ngài đã biến họ thành chứng nhân Tin Mừng mạnh mẽ đến lạ kỳ ! Quà tặng Đấng Sống Lại ban cho các bạn hữu của Ngài và mọi người, bình an cho môn đệ cũng như muốn họ phải đem bình an đến cho toàn thế giới. Sứ mệnh của Ngài ở trần gian giờ đây được các môn đệ nối tiếp như lệnh truyền, họ đã lấy cả máu mình rao giảng Tin Mừng: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, chết là chết cho Đức Kitô” ( Pl 1, 21 ); như Thánh Phaolô tận hiến hoàn toàn cho Tin Mừng Đức Kitô: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” ( 1Cr 9, 16 ).
Ngài vẫn đi bên cạnh chúng ta, nhưng chúng ta vô tâm không nhận ra Ngài, đã bao lần ta đòi Ngài phải làm phép lạ theo những ước muốn ích kỷ thấp hèn, vật chất… khi không được như ý,ta tưởng chừng như Ngài bỏ rơi, cô đơn lạc lõng như môn đệ làng Emmau. Chúa muốn chúng ta nhận ra Ngài trong từng gặp gỡ, bao người bên ta mà ta vẫn thờ ơ xa lạ, đồng hành với ta mà ta vẫn dửng dưng vô tình.
Hôm nay Chúa vẫn luôn ở bên ta mọi thời gian, từng biến cố, mỗi con người, qua dấu chỉ, từ lúc ta mới chào đời đến lớn khôn, rồi tuổi đời xế bóng. Nỗi buồn niềm vui, thành công hay thất bại nhiều lúc ta tưởng như ngẫu nhiên tình cờ nhưng biết đâu rằng Ngài luôn ở bên ta, chỉ cần dừng bước khao khát tỉnh thức lắng nghe là gặp được Ngài. Đó cũng là tâm tình của văn hào Ấn Độ Rabindranath Tagore: “Những người yêu con trong đời tại thế luôn ở bên con từng giây. Tình Ngài yêu con không bờ không bến nhưng có thấy bóng Ngài đâu. Và, con sẽ chờ đợi Ngài trong đêm tối”.
Tìm thấy Chúa trong đời sống hằng ngày không đòi hỏi làm những những công việc cao cả trước mặt thiên hạ, nhưng là ân cần tiếp nhận đời sống thường nhật qua những bổn phận nhỏ nhặt, dù thuận lợi hay không với một tình yêu hết mình như Chúa Giêsu ngày xưa.
Chân Phước Charles de Foucauld đã nói: “Thiên Chúa mời gọi tất cả mọi linh hồn mà Ngài đã dựng nên yêu mến Ngài với toàn thể con người... nhưng Ngài không đòi hỏi mọi linh hồn phải chứng tỏ tình yêu của họ bằng cùng một công việc, phải leo lên Thiên Đàng bằng cùng một cái thang, phải đạt được sự tốt lành bằng cùng một cách. Vậy tôi phải làm thứ công việc nào ? Con đường nào là đường lên Thiên Đàng của tôi ?” Từ đó, ta xác tín thâm sâu rằng: Thiên Chúa, Đấng đang ẩn mình trong ta, mời gọi ta cũng hãy biết luôn ẩn mình trong Ngài, Đấng đang âm thầm hành động trong ta qua mọi sự, mời gọi ta hãy âm thầm hành động trong Ngài qua mọi điều.
Hành trình Đức Tin chúng ta nhiều khi chơi vơi lạc hướng, than thở cho số phận hẩm hiu, chúng ta có khi nào nhận ra những hy sinh từ bỏ bản thân là dấu hiệu Chúa Phục Sinh trong cuộc đời mình, đời sống tâm linh tăng trưởng để vươn tới Nước Trời vĩnh cửu mai sau. Đó là mầu nhiệm Thiên Chúa ẩn mình. Ngài ẩn mình ngay trong đêm tối của cuộc đời, nhất là những cuộc đời chấp nhận bị lãng quên, bị coi thường, bị vùi dập và có khi bị loại trừ. R. Tagore đã cảm nhận điều đó như sau:
“Chỗ này là thảm hoa, nhưng Người không bước vào.
Người lại đứng nơi kia, bên những người nghèo khó.
Nơi này là chỗ cao, muôn người nghiêng kính chào.
Nhưng Người đứng nơi kia, bên hàng hạ nhân khốn cùng.
Người ở với người nông dân đang cày bừa.
Người ở với người công nhân đang đập đá.
Người đang đổ mồi hôi dưới nắng mưa từng ngày.
Và chân bùn tay lấm trong tấm áo tả tơi.”

Bạn có bao giờ nghe tên Ludwig van Beethoven, nhạc sĩ thiên tài bậc nhất thế giới, ông sinh ra trong một gia đinh có truyền thống âm nhạc ở Đức. Thuở nhỏ, lúc 11 tuổi, Beethoven đã có thể soạn nhạc và chỉ huy dàn nhạc. Gần 20 tuổi, ông đến Vienna nước Áo để học thêm về âm nhạc.
Một buổi chiều kia, đi dạo qua căn nhà nguời thợ sửa giày và nghe có nguời đang chơi bản nhạc của ông. Dừng chân lại, chợt nghe tiếng cô gái nói cô mơ ước được chính tác giả chơi đúng bản nhạc đó. Beethoven vào nhà, cảm động thấy một cô gái mù đang chơi đàn, ông đề nghị đàn cho cô nghe, ông đàn khoảng hơn một giờ…
Trời bắt đầu tối, nến trong phòng đã lụi tàn. Ánh trăng thanh mơ màng dọi qua vuông cửa sổ, nhịp nhàng từng nốt nhạc cùng ông. Sự cảm kích âm nhạc say mê của cô gái và vẻ đẹp của ánh trăng lãng mạn hôm ấy, Beethoven đã làm nên kiệt tác Moonlight Sonata – Sonate Clair de Lune ( sonate Ánh Trăng, sonate là bản nhạc soạn cho độc tấu piano hoặc song tấu piano và violin ). Chính Beethoven cũng có một kiệt tác khác là bản Định Mệnh, ông đã sáng tác khi thấy mình có triệu chứng bị điếc. Từ đó, ông sáng tác mà không nghe đuợc âm thanh, chỉ có những âm thanh trong đầu mà thôi…
Beethoven là một thiên tài âm nhạc, nhưng khiêm nhuờng. Ông thổ lộ: “Cảm ơn Chúa ! Tôi có thể viết nhạc, ngoài ra tôi chẳng làm đuợc gì khác”. Có đúng vậy không ? Beethoven rất cô đơn nhưng ông đã cố gắng vuợt qua chính mình.
Bạn có bao giờ cảm thấy những mơ ước bị tan vỡ và cảm thấy cô đơn trong bóng đêm của sự tuyệt vọng ? Chắc là có, không chỉ một lần... Thiên Chúa đang nói và hành động trong chính nỗi cô đơn ấy để trao cho bạn ơn cứu độ. Khi cuộc đời của chúng ta phó thác cho Đức Kitô thì ngay trong bóng đêm của linh hồn, Thiên Chúa vẫn không ngừng hành động để giúp chúng ta hiểu biết hơn về cuộc sống và lòng trắc ẩn đối với tha nhân. Người hằng sống thực sự ở giữa chúng ta, hướng dẫn đời sống, làm chúng ta tái sinh,có khả năng yêu thương tin tưởng. Chán chường, thất vọng trong cuộc sống vì không có Đức Kitô đồng hành trong cuộc đời thì tất cả mọi sự đều vô nghĩa.
Đức Tin Công Giáo, không đơn thuần là những giáo thuyết, tư tưởng, kiến thức, hệ thống niềm tin, tận nguồn gốc Kitô giáo là một cảm nghiệm tình yêu, một cảm nghiệm đổi đời về Đức Giêsu Phục Sinh. Cuộc đời Thánh Phaolô từ một người hăng say bắt đạo, ngã ngựa trên đường Damas đã trở thành một Tông Đồ nhiệt thành cho dân ngoại, cuộc đời thay đổi của Thánh Phaolô từ đó đã sống và chết cho Đức Kitô: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, gươm giáo ?” Cuộc đời mỗi người chúng ta cũng như thế nếu chúng ta thật sự tìm kiếm.
“Gặp gỡ Đức Kitô, biến đổi cuộc đời mình,
Gặp gỡ Đức Kitô, đón nhận ơn tái sinh.
Gặp gỡ Đức Kitô, chân thành mình gặp mình.
Gặp gỡ Đức Kitô, nảy sinh tình đệ huynh.
Cuộc sống kiếp lữ khách, lộ trình xa ôi thật xa !
Đường nguy nan phong ba, đơn độc sức hơi kiệt ngã.
Kìa bóng Chúa hiện đến, nhẹ tay nâng con lên.
Ủi an như mẹ hiền, chính Ngài Chúa bình yên”.
( Gặp gỡ Đức Kitô – Lm. Tiến Lộc )
Hôm nay Chúa muốn chúng ta noi gương các tông đồ, từng người trong chúng ta được mời gọi trở thành chứng nhân, đó là lệnh truyền chính xác, dấn thân và phấn khởi của Chúa Phục Sinh. Tin vui Chúa Phục Sinh phải sáng ngời trong cuộc sống Kitô hữu, mỗi cuộc đời Kitô hữu là một sứ vụ, cố gắng mỗi ngày trở nên tốt hơn, nên giống Chúa Kitô hơn:
“Thế giới ngày nay đang cần những người nói với Thiên Chúa, để có thể nói về Thiên Chúa. Và chúng ta cũng phải luôn nhớ rằng Chúa Giêsu không cứu độ thế giới bằng những lời hoa mỹ, hoặc bằng những phương thế ”hoành tráng”, nhưng bằng đau khổ và cái chết của Người. Luật về hạt lúa chết đi trong lòng đất ngày nay vẫn còn giá trị; chúng ta không thể trao ban Sự Sống cho người khác, nếu chúng ta không hiến chính mạng sống của chúng ta” ( Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu tái truyền giảng Tin Mừng – Lm. Trần Đức Anh dịch )
Không phải chúng ta chọn làm gì với đời mình, nhưng khám phá ra Thiên Chúa muốn ta dùng cuộc đời mình thế nào để truyền bá Tin Mừng tình yêu của Ngài. Hơn bao giờ hết sứ điệp Phục Sinh rất hợp thời và cần thiết cho con người hôm nay. Xã hội đang mất niềm tin vào Thiên Chúa, con người cần hy vọng để sống, niềm tin vào Chúa giúp chúng ta vượt qua mọi khủng hoảng: cô đơn, bệnh tật, thất bại, chia rẽ, xung đột… Chúng ta đem Tin Mừng đến với tha nhân thoát khỏi bế tắc cuộc sống, khôi phục niềm tin yêu Chúa, biết bao người đau khổ đang chờ đợi được phục sinh bằng cách chúng ta mở tấm lòng, vòng tay yêu thương như Chúa mời gọi chúng ta.
“Tóm lại, kinh nghiệm của các môn đệ mời gọi suy nghĩ về ý nghĩa của Lễ Phục Sinh đối với chúng ta. Hãy để Chúa Giêsu Phục Sinh gặp gỡ chúng ta ! Người, Sự Sống và Sự Thật, vẫn luôn hiện diện: Người cùng đi với chúng ta để hướng dẫn cuộc đời chúng ta, để mở mắt chúng ta. Hãy tin vào Đấng Phục Sinh, là Đấng có khả năng ban sự sống, làm cho chúng ta được tái sinh thành con cái Thiên Chúa, có khả năng tin tưởng và yêu thương. Đức Tin vào Người biến đổi cuộc đời chúng ta: Đức Tin này là sự giải phóng khỏi sợ hãi, nó cho chúng ta một niềm hy vọng chắc chắn, nó linh hứng bằng cách làm cuộc sống có đầy ý nghĩa, ý nghĩa ấy là tình yêu của Thiên Chúa.” ( Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu tái truyền giảng Tin Mừng – Lm. Trần Đức Anh dịch ).
HẠNH NGUYÊN, Boston, 2012
 

PS4-B116: NGƯỜI CHĂN CHIÊN BỊ GIẾT

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
Ga 10,11-18
 

Đấy không phải là một truyện phim, mà là một câu chuyện có thực. Câu chuyên không phải do: PS4-B116

Đấy không phải là một truyện phim, mà là một câu chuyện có thực. Câu chuyên không phải do người khác kể lại, mà do chính Người chăn chiên đã kể.
          Tôi đã bị chó sói cắn chết. Không phải vì chó sói tấn công Tôi, nhưng vì Tôi tự ý chấp nhận hy sinh, để bầy chiên của tôi được sống. Tôi có một đàn chiên, do Cha Tôi đã trao cho Tôi. Tôi hết mực yêu thương chúng. Tôi quan tâm đến chúng và Tôi biết rõ từng con. Con nào ốm bệnh, Tôi lo toan chữa chạy. Con nào gầy gò, Tôi lo bồi dưỡng. Tôi bao dung với chúng. Ngày nào Tôi cũng điểm danh từng con. Chính vì thế, con nào lạc là Tôi biết ngay. Nếu phát hiện có con bị lạc, Tôi vội vã đi tìm. Có khi cả hai, ba ngày đàng; vượt qua suối, qua đồi, mồ hôi ướt đẫm, đôi chân rã rời, nhưng Tôi vẫn cứ bước đi. Tôi lùng sục mọi nơi, mọi chỗ, cho đến khi nào tìm được mới thôi. Cả đàn chiên đông đảo đều gọi Tôi là Mục Tử nhân lành.
          Gọi thế cũng phải thôi, Tôi có hành hạ ác độc với con nào bao giờ đâu cơ chứ? Tôi biết rõ từng con, con nào nhanh, con nào chậm, con nào khôn, con nào khờ; con nào hiền, con nào dữ. Tôi thương chúng vô cùng. Vì thế, Tôi luôn lo nuôi chúng béo tốt. Tôi quên đi tất cả mệt nhọc vất vả. Tôi dẫn chúng đến những dòng suối mát, những dòng suối của bí tích dịu êm. Để cho chúng được gội rửa, để cho chúng giải khát. Tôi đưa chúng lên những cánh đồng mênh mông bát ngát với cỏ xanh non. Tôi cho chúng ăn. Ăn no say không chỉ những mầm sống tự nhiên, mà còn cả những mầm sống thần linh cao cả nữa. Tôi muốn chúng sống cao thượng, bình an và hạnh phúc. Nhưng nhiều đau khổ lắm, chúng cứ dại dột, để những con chó sói đánh lừa; cho nên, nhiều con cứ thích sống đời hoang dã với thú tính của mình. Cũng chính vì vậy, nhiều con đã trở thành mồi ngon cho bầy chó sói.
          Cũng chính vì bầy chó sói rảo quanh tìm mồi cắn xé, cho nên, Tôi có lúc nào được ngủ yên đâu. Đàn chiên của Tôi ngủ yên đó, còn Tôi, Tôi thì không ngủ. Tôi  canh giữ chúng không chỉ suốt ngày mà còn suốt đêm. Trước sức tấn công dày đặc của bầy chó sói từ tứ phía, Tôi đã tự ý hy sinh mạng sống, vừa để cứu thoát đoàn chiên, vừa để cho đàn chiên mở mắt linh hồn nhận ra rằng: Tôi yêu chúng vô cùng, yêu chúng hơn cả mạng sống của Tôi.
          Và vì tự nguyện hy sinh, theo ý định của Cha, nên Cha đã cho Tôi sống lại. Sau gần ba ngày nằm trong cõi chết. Tôi đã sống lại, và trở về với cõi sống vĩnh hằng của mình. Tôi không bao giờ chết nữa. Và giờ phút này, Tôi sẽ chăm sóc tất cả bầy chiên của Tôi trên thế giới. Con chiên nào mà biết lắng nghe tiếng Tôi, đi theo Tôi, Tôi cũng cho nó bước vào cuộc sống vĩnh hằng cùng Tôi.
Gợi ý suy niệm:
1- Bạn có dám nghĩ, mình là con chiên đúng nghĩa của Chúa không?
2- Buông bỏ người Mục Tử Giêsu, bạn sẽ thành đàn chiên của ai?
Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên

 

PS4-B117:Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH - B
( Ga 10, 11 – 18 )
 

Lễ "Chúa Chiên lành" là lễ của Chúa Giêsu, Đấng đã tự xưng "Ta là mục tử tốt lành" (Ga 10, 11).: PS4-B117

Lễ "Chúa Chiên lành" là lễ của Chúa Giêsu, Đấng đã tự xưng "Ta là mục tử tốt lành" (Ga 10, 11). "Mục tử" là một hình ảnh rất quen thuộc của nền văn minh nông nghiệp còn trong trạng thái thô sơ của thời du mục vùng Trung Đông. "Người chăn chiên" được Chúa Giêsu dùng để diễn tả tương quan vừa mật thiết, vừa rất "dễ thương" giữa Người và chúng ta.
Chúa là mục tử
Thông thường, trong Cựu Ước, người ta gọi Thiên Chúa là mục tử của dân Ngài (St 49, 24 – 31 ; Gr 31, 10 ; Mk 7,14 v.v ...) Sự so sánh này có nguồn từ đầu lịch sử thánh, vì dân được chọn là dân du mục trên hành trình về Đất Hứa, trước hết là Abraham từ Ur đến Canđê, thứ đến là Môisen, kẻ chăn cừu nhận được mạc khải từ bụi gai đang cháy trong sa mạc, cho tới Đavít cậu bé chăn cừu ở Belem.
Hình ảnh Chúa Giêsu Mục Tử nhân lành là một trong những hình ảnh lâu đời nhất của Kitô giáo. Hình ảnh này được tìm thấy trong các hang toại đạo, người ta khắc vẽ Chúa Giêsu với vẻ dịu dàng và trìu mến của người chăn chiên, vác chiên trên vai, tìm kiếm con chiên lạc, đưa chiên về với đàn của chúng để cùng chia sẻ một đồng cỏ xanh tươi. Khi lấy lại hình ảnh người mục tử và tự ví mình như thế, Chúa Giêsu đưa chúng ta về với hình ảnh cổ xưa trong Kinh Thánh, chứng tỏ Thiên Chúa không chỉ là Đấng dẫn dắt dân, hơn thế nữa còn là Đấng trao ban sự sống cho dân, sự sống ấy bắt nguồn từ tình yêu hỗ tương giữa Chúa Cha và Chúa Con, vì trong Người, mệnh lệnh và tự do đồng nhất với nhau : "Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta đã nhận nơi Cha Ta "(Ga 10, 18).
Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên
Chúa Giêsu yêu thương con người bằng một tình yêu thí mạng khi tự ví mình là "mục tử tốt lành"sẵn sàng thí mạng vì đoàn chiên. Người nói thẳng : "Ta là mục tử tốt lành" (Ga 10, 11). Đối với Chúa Giêsu, tất cả là hiện tại, không có gì là quá khứ hay tương lai hết. Điều này đã được nói trong sách Khải Huyền : "Ta là Alpha và Ômêga chính là Ta, Chúa, Thiên Chúa phán, Ðấng đang có, đã có, và sẽ đến, Ðấng toàn năng!" (Kh 1,8). Và trong sách Xuất Hành : "Ngươi sẽ nói với con cái Israel thế này: "Ta có" đã sai tôi đến với các người! » (Xh 3,14).
"Ta là mục tử tốt lành". Từ "mục tử" có nguồn gốc từ động từ "chăn nuôi". Chúa Giêsu Kitô nuôi dưỡng chúng ta bằng chính thịt máu mình hằng ngày trong bí tích Mình Thánh. Khi Samuen hỏi Giêsê, cha của Đavít : "Các cậu này tất cả là con trai của ông sao?" Ông đáp: "Còn đứa nhỏ nhất nữa; này nó đang phải chăn cừu!" (1S 16,11). Đavít, một con người bé nhỏ và khiêm nhu, đã chăn sóc đoàn chiên mình như một người mục tử.
Chúng ta cũng đọc thấy trong sách Isaia : "Như mục tử, Người chăn đàn chiên của Người, cánh tay Người thâu họp chúng lại; Người bồng chiên con và dìu đi cừu mẹ nuôi con" (Is 40,11)... Quả thật, mục tử tốt lành dẫn chiễn tới đồng cỏ xanh tươi, tập hợp những con chiên yếu kém không thể đi được ; vác chúng trên vai, ôm chúng vào lòng ; như người mẹ bồng ẵm con thơ. Chúa Giêsu cũng làm như thế : hàng ngày, Người nuôi dưỡng chúng ta bằng những Lời Hằng Sống và các bí tích của Hội Thánh. Người giang cánh ta trên thập giá để thâu họp "con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một" (Ga 11,52). Người đón nhận chúng ta vào lòng nhân ái của Người, như mẹ hiền ấp ủ con thơ.
Thật là hình ảnh cụ thể tuyệt đẹp và đầy cảm động về một Vì Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đã làm đối với chúng ta là những tạo vật, những con chiên của Ngài. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, được Chúa Cha phái đến, cũng tuyên bố : "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta" (Ga 10, 14 ).
Hôm nay, mỗi người chúng ta tự hỏi : tôi có phải là chiên của Chúa không? Nếu phải thì tôi có biết Chúa không và nếu biết thì biết thế nào ? "Biết" ở đây, không có nghĩa là "biết" nhờ đức tin, nhưng là "biết" nhờ đức mến. "Biết" không có nghĩa là "biết" được diễn tả qua thái độ tin, nhưng là "biết" được diễn tả qua việc làm. Chính thánh Gioan Tông Đồ đã viết điều này và làm chứng ở nơi khác : "Ai nói mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối" (1 Ga 2, 4).
Vậy, ai chân thành đi theo Chúa Giêsu thì được nuôi dưỡng nơi đồng cỏ xanh tươi muôn đời. Đồng cỏ của đoàn chiên đây là gì nếu không phải là cảnh thiên đàng luôn xanh ngắt, khiến tâm hồn ngập tràn niềm vui, nơi có Thiên Chúa luôn hiện diện, nơi đây chiên theo Chúa và làm theo ý Chúa sẽ được hân hoan mừng lễ cùng với bao công dân Nước Trời.
Trên đây là những lý do với nhiều lý do khác mà Giáo hội gọi Chúa nhật thứ IV Phục Sinh là Chúa nhật Chúa Chiên lành, đồng thời mời gọi con cái mình suy nghĩ đặc biệt về hình ảnh của Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Tối Cao đã hy sinh Mạng Sống Mình vì đoàn chiên.
Cầu cho các mục tử
Đối mặt với hiểm nguy, Chúa Giêsu không chạy trốn như lính đánh thuê, Người sẽ chết, nhưng cái chết của Người sẽ chiến thắng và sống mãi, Người sẽ thâu họp những con chiên tán mát khắc nơi về. Chúa Giêsu muốn không chỉ có các mục tử tiếp bước theo mình, Người còn muốn những người nam nữ dâng mình cho Chúa trong đời thánh hiến, đến lượt mình, cũng xả thân bảo vệ đàn chiên, đưa các con chiên lạc trở về. Người mong ước các mục tử với ơn Người trợ giúp sẽ hoàn thành trách nhiệm dẫn dắt đoàn chiên đến đồng cỏ Nước Trời.
Với chủ đề của Sứ Điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi Năm 2015 : "Xuất hành, kinh nghiệm nền tảng của ơn gọi". Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi "những người trẻ bước đi theo dấu chân của Ðức Giêsu, trong việc phụng thờ mầu nhiệm Thiên Chúa và quảng đại hiến thân cho người khác! đừng sợ ra khỏi chính mình và đặt mình vào một cuộc hành trình! " Chúng ta hãy khẩn cầu xin Ðức Trinh Nữ Maria, mẫu gương của mọi ơn gọi, đã không sợ hãi khi thưa tiếng "xin vâng" trước lời mời gọi của Thiên Chúa, đồng hành với chúng ta và dẫn dắt chúng ta. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

 PS4-B118: MỤC TỬ

Lm Stephanô Huỳnh Trụ
 

Khi giảng về Chúa Giêsu là Mục tử nhân lành, tôi có hỏi giáo dân, “tử” là gì. Nhiều người không: PS4-B118

Khi giảng về Chúa Giêsu là Mục tử nhân lành, tôi có hỏi giáo dân, “tử” là gì. Nhiều người không biết trả lời, có người lại nói: “tử” là chết! Thuật từ này tưởng đơn giản, thật ra có thể không đơn giản. Nếu chúng ta biết rằng “tử” ở đây không có nghĩa là chết, cũng không có nghĩa là con, mà chỉ là một hợp tố đi sau một danh từ, để chỉ người. Trong Thánh Kinh, mục tử được dùng để dịch chữ pastor của tiếng Latin, mà bản tiếng Anh là shepherd, có khi cũng dùng chữ pastor. Vậy, thử tìm hiểu mấy chữ này có nghĩa gì.

1. Nghĩa của từ shepherd và pastor:

Bản La ngữ Phổ thông dịch từ roʿeh trong Cựu Ước tiếng Hipri và poimēn trong Tân Ước tiếng Hy Lạp là pastor (do động từ pascere: chăn dắt).

Cựu Ước, bản Hipri, dùng từ roʿeh 173 lần để nói về việc chăn nuôi chiên, như trong St 29,7 hay việc dưỡng nuôi thiêng liêng tâm linh con người, như trong Gr 3,15.

Tân Ước, bản Hy Lạp, hai từ poimēn: mục tử (vd: Ga 10, 2.12.16; 1Pr 2, 25) hay người chăn chiên (vd: Mt 26,31; Mc 14,27; Lc 2,8.15.18.22) và động từ poimaino: chăn dắt, chăn chiên (Mt 2, 6; Lc 17, 7; Ga 21,16) được sử dụng 29 lần, hầu hết để chỉ Chúa Giêsu. Chẳng hạn, trong Ga 10,11 Chúa Giêsu tự nhận mình là Mục tử nhân lành. Ngài cũng được gọi là Vị Mục tử cao cả (Dt 13,20), Vị Mục tử tối cao (1 Pr 5,4). Trong trình thuật giáng sinh, từ poimēn chỉ các mục đồng tức các người chăn chiên, theo nghĩa đen (Lc 2, 8.15.18.20).

Bản dịch Thánh Kinh tiếng Việt của Nhóm CGKPV sử dụng từ “mục tử” (69 lần) và “kẻ / người chăn chiên” (13 lần).

1.1. Shepherd (dt.) [Có từ năm 1790, nghĩa ẩn dụ có từ năm 1820, tiếng Anh cổ là sceaphierde: do từ sceap (= sheep: chiên, cừu) + hierde (=herder, từ heord = a herd: người chăn đàn gia súc) ]. Shepherd có nghĩa là: (1) Người chăn chiên cừu: Mục tử. (2) Nghĩa ẩn dụ: Người hướng dẫn tinh thần hay chăm sóc các linh hồn: Linh hướng. (3) Viết hoa là chỉ Chúa Giêsu (4) Giáo sĩ: Giám mục. (5) Chó chăn cừu. (đt.) (6) Chăn giữ chiên (to herd sheep). (7) Nghĩa ẩn dụ: Chăm sóc, hướng dẫn (watch over or guide): Chăn dắt.

Theo nghĩa ẩn dụ, hạn từ Shepherd dùng để chỉ Thiên Chúa, đặc biệt truyền thống Kitô - Do Thái (Tv 23, 1-4), và trong Kitô Giáo đặc biệt chỉ Chúa Giêsu, Đấng tự xưng là ‘Good Shepherd’. Tổ tiên dân Do Thái là những người sống nghề chăn nuôi và trong đó có rất nhiều người chăn chiên. Cũng cần lưu ý rằng nhiều vị anh hùng trong Thánh Kinh là những người chăn chiên, trong đó có các tổ phụ Abraham và Giacob, mười hai tổ phụ của 12 chi tộc, Môisen, vua Đavít và tiên tri Amos... Trong Tân Ước, các thiên thần đã loan báo tin Chúa giáng sinh cho những người chăn chiên. Đức Kitô được gởi đến như mục tử đến với các chiên lạc nhà Israel (Mt 10,6; 15,24; Lc 15,3-7). Người là mục tử tốt lành, dám thí mạng vì đoàn chiên (Ga 10,11-16; Dt 13,20; 1Pr 13,25). Người mời gọi những người khác trở nên mục tử trong Giáo Hội, nhưng đoàn chiên vẫn là của Người (Ga 21,15-17; 1Pr 5,1-4).

Nghĩa ẩn dụ cũng được áp dụng cho các linh mục. Trong số các huy hiệu của các giám mục Công Giáo và Anh Giáo có sử dụng gậy chăn chiên, nói lên trách nhiệm chăm sóc các tín hữu là đoàn chiên.

1.2. Pastor: Có từ trước thế kỷ 14 (dt.) (1) Chữ cổ xưa của chữ shepherd. (2) Vị chức sắc trong giáo hội; Công Giáo dịch là linh mục chính xứ, cha sở; Tin Lành dịch là mục sư. (3) Vị linh hướng. (4) Một loài chim. (đt.) (5) Chăn dắt.

Trong một số bản dịch Thánh Kinh tiếng Anh , hai chữ này dùng xen kẽ nhau, có khi dùng pastor (Gr. 2,8; 3,15; 10,21; 12,10; 17,16) có khi dùng shepherd (Ga 10,11). The New American Bible 2002 (NAB), bản dịch chính thức của HĐGM Hoa Kỳ, chỉ dùng chữ shepherd mà thôi.

Theo nghĩa ẩn dụ, shepherd và pastor đều diễn tả quan hệ mật thiết giữa người cai trị và người dân, hay giữa Thiên Chúa và dân của Ngài. Ngày nay, trên thực tế, các linh mục chính xứ (cha sở) ở Đức và Hoa Kỳ cũng được gọi là pastor, trong khi những nơi khác thì gọi là parish priest.

Hầu hết anh em Tin Lành, từ thời John Calvin và Huldrich Zwingli, đã sử dụng từ pastor (mục sư) chỉ những người nhận tác vụ phụ trách cộng đoàn, thay cho từ priest (linh mục). Tuy nhiên các giáo sĩ được tấn phong trong vài giáo hội Lutheran, trong giáo hội Episcopal và cũng như trong tất cả các chi nhánh của Anh giáo vẫn được gọi là priest (linh mục).

2. Nghĩa của mục, tử.

2.1 Mục: Có tám chữ: (), , , , , , (tiếng Việt cũng đọc là tý), (cũng đọc là cù, mâu hoặc mậu). Trong hạn từ mục tử là chữ, thuộc loại chữ hội ý, diễn tiến như sau:

Hình này cho thấy một cánh tay cầm roi (chỉ việc chăn giữ) đang lùa một con bò (chỉ súc vật). Nghĩa gốc là chăn nuôi gia súc, cũng chỉ người chăn giữ súc vật, như mục nhân, mục đồng vv... Thời cổ còn có nghĩa mở rộng là thống trị, như mục vạn dân (chăn dắt muôn dân). Chữ mụccó những nghĩa sau: (dt.) (1) Người làm nghề chăn nuôi gia súc: Mục đồng (đứa trẻ chăn giữ súc vật), mục nhân, mục dân hay mục phu. (2) Chỗ chăn nuôi: Mục trường. (3) Nghề chăn nuôi: Du mục, mục nghiệp. (4) Quan coi một châu: Châu mục. (5) (Họ) Mục: Mục Niệm Từ (!) (đt.) (6) Tu luyện: Ti dĩ tự mục dã (卑以自牧也: Tự nhún mình tôn người để nuôi đức mình. Dịch Kinh). (7) Chăn nuôi: Mục dưỡng. (8) Cai trị: Mục dân. Cụ Đào Duy Anh giải thích: Ngày xưa các quan cai trị nhân dân gọi là mục dân, ví dân cũng như súc vật, mà quan như người chăn.

2.2 Tử: Cũng có bảy chữ: , , , , , , . Tử trong từ mục tử là chữ , thuộc loại chữ tượng hình, diễn tiến như sau:

Chữ giáp cốt và kim văn của chữ này đều có hai cách viết khác nhau: Một là có một cái đầu và tóc, hai chân giơ lên, một kiểu nữa có đầu, có hai tay, hai chân quấn kín trong tả lót. Chữ trước hơi rườm rà chữ sau đơn giản hơn.

Diễn tiến của chữ tử: (1) Nghĩa gốc: (dt.) Em bé vẫy hai tay, không thể tự lập: Tử đệ, hài tử. Cho ra nghĩa (2), (6), (9): (2) (dt.) Em trai: tử nữ, trưởng tử. (6) (dt.) Hạt giống nhỏ: Tử phòng, ngư tử. (9) Thứ tự, thứ nhất của địa chỉ: Tử ngọ, tử dạ. Từ số (2) cho ra nghĩa (4), (5) Rộng hơn: (4) (dt.) Tôn xưng người nam: Phu tử. (5) (dt.) Tước vị: Tử bộ, tử tước. Từ số (6) cho ra (7) nghĩa rộng hơn: (tt.) Hình thể nhỏ: Tử đạn, tử thành. Từ số (7) lại cho ra (8) nghĩa rộng hơn: (trợ từ) Để sau danh từ, là hình thể nhỏ: Tỵ tử, chủng tử.

Hiện nay nghĩa là (dt.) (1) (Đọc là Tý) Tý, chi đầu trong mười hai chi: Năm Tý, giờ Tý: Từ mười một giờ đêm đến một giờ sáng là giờ Tý. (2) Con, xưa, dù con trai hay con gái đều gọi là tử: nghĩa tử, dưỡng tử, hiếu tử, phụ tử tình thâm (tình cha con sâu đậm). Nay chỉ gọi riêng con trai: Nhất tử nhị nữ (một trai hai gái). (3) Tiếng tôn xưng để tỏ lòng kính trọng người có đức hạnh và học vấn cao: Khổng tử; Lão tử; Mạnh tử, Trang tử. Ở đây, tử có nghĩa là ông, bác, thầy, tiên sinh hay phu tử (tiên sinh ấy). Khổng, Lão, Mạnh, và Trang là tên họ (family name), còn chữ tử được ghép vào để chỉ bậc thầy, hay người có học như đã nói. Nói khác đi, nếu chúng ta nói “Ông Khổng tử” là đã dùng thừa chữ “Ông” rồi vì chữ “Khổng tử” đã có nghĩa là “ông Khổng”, “thầy Khổng” hay “nhà trí thức họ Khổng”. Có người còn viết Khổng Tử (chữ hoa) vì kính trọng, chớ không vì Tử là tên ông Khổng ; Quân tử君子: Tiếng dùng xưng tụng người có tài đức hoặc gọi người học trò chín chắn: “Trước xe quân tử tạm ngồi” (Lục Vân Tiên). (4) Tiếng xưng hô để tỏ lòng kính trọng người thân thuộc, như: Con cháu gọi người trước: tiên tử; chồng gọi vợ: nội tử, vợ gọi chồng: ngoại tử. (5) Chỉ mầm giống của sinh vật hoặc sinh vật còn non, còn nhỏ, gọi là: trứng, hạt, giống: Kê tử (trứng gà hay gà con), ngư tử (trứng cá hay cá con), tàm tử (giống tằm), đào tử (hạt đào), lí tử (hạt mận), thái tử (菜子, hạt cải), khương tử (gừng non). (6) Từ đặt sau một số danh từ để chỉ vật hay người, có nghĩa là: cái, người, chú, gã, kẻ, đám, lũ. Ví dụ: Trác tử (cái bàn), mạo tử (cáinón), kỷ tử (lá cờ), nam tử (người nam), chu tử (chú lái đò), bàn tử (gã mập), hoại phần tử (kẻ gian), nhất loã tử nhân (cả lũ, cả một đám người), tặc tử (thằng giặc)... (7) (Hoá) Phần vật chất rất nhỏ mà khoa học thường dùng như một đơn vị: Nguyên tử, phân tử. (8) Một trong bốn loại sách, theo cách phân loại ngày xưa ở Trung Quốc: Kinh, sử, tử, tập (tức là kinh điển, lịch sử, chư tử và văn tập). (9) Một trong năm (hay sáu) tước, tức là tôn hiệu danh dự, không hàm ý trách nhiệm và quyền hành, do vua ban cho các người trong hoàng tộc hay những người có công với tổ quốc: (Vương), công, hầu, bá, tử, nam. Tử tước dưới bá tước và trên nam tước. Tước tử gồm một mỹ từ và chữ tử. Ví dụ: Kiến Xương tử. (đt.) (10) Một trong 214 bộ thủ của Hán tự, tức bộ tử (). (11) (Họ) Tử. (12) (Văn) Có nghĩa như chữ từ (): từ ái, chiếu cố: Tử thứ dân (chiếu cố người dân thường). (tt.) (13) Thuộc về mục trước: Tử mục (mục con). (14) Số lẻ, đối với số nguyên mà nói: Như phần tử 分子so với phần mẫu 分母, tử kim (子金phần lãi) so với mẫu tài ( phần vốn).

3. Nghĩa của thuật từ mục tử.

Mục tử là người chăn. Chăn nuôi, chăn giữ hay chăn dắt? - Nuôi, giữ hay dắt chẳng qua chỉ là từ ghép đệm âm, vì thực ra trong từ chăn đã hàm ý nuôi dưỡng, trông nom, gìn giữ, dẫn dắt rồi. Nghĩa ẩn dụ chỉ người chăn dắt các linh hồn, người coi sóc việc thiêng liêng hay chăm sóc phần hồn, La ngữ gọi là pastor, “The New Testament Greek Lexicon” định nghĩa như sau: (1) Người chăm sóc thú vật, đặc biệt là người chăn chiên; (1a) Nghĩa bóng: Người mà sự chăm sóc và kiểm soát của người ấy khiến cho những người khác đầu phục, và tuân theo các lời giảng dạy. (2) Nghĩa ẩn dụ: (2a) Người chủ tịch, quản lý, giám đốc của bất kỳ một cộng đoàn nào: dùng chỉ Đức Kitô, Đầu của Hội Thánh, (2a1) dùng chỉ những người coi sóc các cộng đoàn Kitô giáo; (2a2) dùng chỉ các vị vua hoặc hoàng tử.

Nhiệm vụ của một người chăn cừu ở Cận Đông là: (1) Canh giữ đàn cừu không để kẻ thù hãm hại; (2) Bảo vệ đàn cừu khỏi những kẻ thù tấn công; (3) Tìm kiếm và giải cứu những cừu lạc mất hay bị nạn; (4) Chữa lành những con cừu bị thương hay bị bệnh; (5) Yêu thương, chia sẻ cuộc sống với đàn cừu và như vậy người ấy được đàn cừu tin tưởng.

4. Vài vấn nạn.

4.1. Có người cho rằng “mục tử” là từ mới xuất hiện chừng 50 năm nay, có lẽ do người Công Giáo tạo ra vì các từ điển ngoài Công giáo không thấy có mục từ này?

- Thực ra, một trong bốn nghề lao động phổ biến ngày xưa ở phương đông là: ngư, tiều, canh, mục. Tức là nghề đánh cá, nghề đốn củi, nghề làm ruộng, nghề chăn nuôi. Người làm những nghề này, Trung Quốc lần lượt gọi là: Ngư phu, tiều phu, nông phu và mục phu, còn Việt Nam thì quen gọi là: Ngư phủ, tiều phu, nông phu và mục tử. Mục phu hay mục tử đều chỉ người giữ súc vật. Nhưng thực tế việc chăn dắt gia súc, đặc biệt là trâu bò, thường được giao cho các trẻ nhỏ nên người ta gọi đó là các mục đồng. Do đó, trong văn học hạn từ mục tử rất ít khi được sử dụng so với từ mục đồng. Ít, chứ không phải là không có. Ví dụ: Trong bài thơ “Cảnh chiều hôm” của Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848): “Gác mái, ngư ông về viễn phố; Gõ sừng, mục tử lại cô thôn”, hay “Tiếng mục tử xa đưa nơi quãng vắng” của nhà thơ Phan Văn Dật (1907-1987). Trong truyện ngắn “Das Glasperlenspiel (Ảo hoá)” của Hermann Hesse, bản dịch của Ni sư Trí Hải (1938-2003): Hoàng tử Dasa trốn bà mẹ ghẻ, trở thành một mục tử, chàng chăn bò vùng rừng núi.

Nhiều từ điển Việt Nam (tác giả ngoài Công giáo) không có hạn từ mục tử ? - Chúng tôi thấy có trong hai cuốn từ điển của Thanh Nghị (1958) và Nguyễn Lân (2000) . Tuy nhiên cả hai tác giả này đều cho rằng mục tử đồng nghĩa với mục đồng, tức là “kẻ chăn súc vật” hay là “trẻ em chăn gia súc” (!).

Trong giới Công giáo, có lẽ Lm. Eugène Gouin (1957) là người đầu tiên đã dùng từ mục tử để dịch từ pasteur trong tiếng Pháp, và sau đó là nhóm phiên dịch các văn kiện Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II (1972) và Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh (1973) của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X. Các bản Thánh Kinh tiếng Việt thường dịch là: mục đồng, người chăn, kẻ chăn, kẻ chăn chiên, Đấng chăn chiên, Chúa chăn, Chúa chiên... chỉ có bản của Lm. Nguyễn Thế Thuấn (1976) và Nhóm Phiên Dịch CGKPV sử dụng từ mục tử.
2. Có người cho rằng “tử” nguyên nghĩa là con, chỉ những gì nhỏ bé, tầm thường, nên khi kết hợp với chữ nào để thành từ mới, cũng được hiểu là bé nhỏ, tầm thường (xem nghĩa thứ (6) của chữ tử). Nên xem ra sử dụng từ mục tử để chỉ Chúa Giêsu thì không thích hợp lắm?

- Trong Hán văn, có nhiều chữ hàm ý chỉ người, nhưng có chỗ tiểu dị. Như chữ: Giả : thường đi sau một động từ, chỉ người làm việc gì đó: Đọc giả, khán giả, tác giả. Khách : người ở ngoài đến tham gia việc gì đó: Hành khách, thực khách, thích khách. : người thuộc bậc thầy trong một chuyên môn: Nhạc sư, giáo sư, thiền sư. Phu : người có nghề nhất định, thiên về tay chân: Ngư phu, nông phu, tiều phu. : người có nghề nhất định, thiên về trí óc: Nhạc sĩ, viện sĩ, tu sĩ. Dân : người cùng một giới: Bần dân, cư dân, nông dân. Hữu : người cùng chí hướng: Chiến hữu, giáo hữu, Kitô hữu. Viên : người trong một tổ chức: Học viên, giáo viên, vận động viên. Trưởng : người đứng đầu: Viện trưởng, gia trưởng, lớp trưởng. Phó : người giúp người trưởng: Viện phó, giám mục phó, lớp phó.

Trường hợp chữ tử khá đặc biệt là vừa hàm ý trọng, tức là chỉ người chín chắn thuộc bậc đáng kính: (Bách gia) chư tử, nam tử, quân tử, sĩ tử; lại có trường hợp hàm ý khinh, tức là chỉ kẻ tầm thường thuộc hạng phàm phu: chu tử (chú lái đò), bàn tử (gã mập), hoại phần tử (kẻ gian), lãng tử (tên hoang đàng), tặc tử (thằng giặc)... Tương tự như chữ gia cũng có ý trọng: chỉ người chuyên làm việc gì đó: Nông gia, thương gia, luật gia hoặc bậc học giả, có học thuyết riêng: Bách gia (chư tử), triết gia, thần học gia; nhưng cũng có trường hợp hàm ý khinh: Cánh, bọn, lũ...: cô nương gia ( : cánh con gái), hài tử gia ( : lũ trẻ)... Vậy không thể nói chữ tử trong mục tử hàm nghĩa trọng. Đây cũng là một trường hợp về sự giới hạn trong ngôn ngữ của con người. Thực ra, hình ảnh con chiênngười chăn chiên trong Thánh Kinh nhằm diễn tả thân phận bé nhỏ và lệ thuộc của con người vào Thiên Chúa - Đấng uy dũng và giàu lòng thương xót, ngày đêm che chở bảo vệ con người khỏi những tai ương hoạn nạn, tìm kiếm khi lạc đường, cứu chữa khi bệnh tật thương tích và dưỡng nuôi bằng tình yêu khôn tả: “Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông: ông coi nó như một đứa con gái” (2 Sm 12,3).

Con chiên không mang nghĩa xấu: “thuộc hàng súc vật, nô lệ, cuồng tín, mất khả năng suy nghĩ lập luận bình thường mà chỉ ngoan ngoãn quên mình trong vâng phục” và người chăn chiên không phải là “những chủ chăn độc ác, xảo quyệt, huyễn hoặc và khuyến dụ con chiên tin vào những điều không thực” như những người cố tình đả kích Giáo Hội đã vẽ ra. Thử hỏi những lời vu khống ấy thực sự sẽ đem lại lợi ích gì cho con người hôm nay?

5. Kết luận.

Mục tử là tiếng đã có sẵn trong đời sống xã hội Việt Nam, được Giáo Hội sử dụng để dịch từ pastor, tức là người chăn giữ gia súc. Từ này rất thích hợp và sát nghĩa. Nhưng nếu lưu ý rằng từ pastor của Thánh Kinh cũng hàm ý nghĩa là người chủ chiên (chúa chiên). Vì từ xa xưa chủ chiên thường không trực tiếp chăn đoàn chiên của mình, nhưng giao cho con mình trông coi. Họ ít khi giao cho người làm thuê, vì người làm thuê thì không tậm tâm chăm sóc đoàn chiên, nhưng con cái trong nhà mới có nhiệt tâm chăm lo tốt được. Vì thế, Chúa Giêsu mong muốn những người Ngài tuyển chọn để coi sóc đoàn chiên của Ngài phải là những “chủ chiên”, những mục tử thật (x. Ga 10, 11-13). Mục tử thật luôn hết mình vì đàn chiên. Mục tử giả chỉ lo vun quén cho bản thân. Mục tử thật thì hy sinh cho đàn chiên. Mục tử giả chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử thật luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Mục tử giả chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình. Họ sống hưởng thụ, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.

Từ xưa (1916), Cha Cố Chính Linh đã dịch chữ “pastor bonus” trong Ga 10, 11-18 là “Chúa Chiên lành”, danh hiệu này vẫn được dùng trong phụng vụ cho đến ngày nay. Và theo chúng tôi, khi nói về Chúa Giêsu, chữ “Chúa Chiên” gần với ý nghĩa Thánh Kinh của pastor hơn là chữ mục tử.

 

PS4-B119: Chúa Chiên Lành

Từ ông Abraham cho tới vua Đavid, biết bao tổ phụ của dân Do Thái đã từng là những người: PS4-B119

Từ ông Abraham cho tới vua Đavid, biết bao tổ phụ của dân Do Thái đã từng là những người chăn chiên. Họ không được huấn luyện trong những trường hành chánh hay trường đào tạo cán bộ, cũng chẳng được qua những lớp bổ túc văn hoá, nhưng chỉ được học từ kinh nghiệm duy nhất của nghề chăn chiên để có thể đứng ra lãnh đạo dân tộc. Hơn thế nữa, chính quan niệm của họ về Thiên Chúa cũng đã từng dựa trên kinh nghiệm đó, cho nên họ gọi Thiên Chúa là mục tử và tự coi mình là đàn chiên của Ngài.
Chúa Giêsu làm người, sinh trưởng trong môi trường xã hội Do Thái, cũng đã thừa hưởng một nền văn hoá và một quan niệm tôn giáo Do Thái, nên cũng đã sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh cùng những khái niệm Do Thái, để công bố cho họ thông điệp cứu độ của Thiên Chúa. Nếu từ thời các tiên tri, dân Do Thái vẫn mong chờ ngày Thiên Chúa đích thân đến chăn dắt họ như mục tử chăn dắt đoàn chiên, thì ngày hôm nay, Chúa Giêsu đã xác quyết với họ rằng: Ngài là vị mục tử. Điều đó có nghĩa là Ngài tỏ lộ cho họ biết Ngài chính là hiện thân của Thiên Chúa.
Tuy nhiên Ngài còn đi xa hơn nữa. Đúng thế, Ngài đến không phải chỉ để chăn dắt đoàn chiên, mà còn hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. Đây là điều vượt ra ngoài sự tưởng tượng của chúng ta. Bởi vì ngoài mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, chúng ta khó có thể nghĩ tới chuyện Thiên Chúa chịu chết. Thực vậy, tự bản tính Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu, Đấng trường tồn bất biến, nơi Ngài chỉ có sự sống mà thôi, thế nhưng vì yêu thương chúng ta, Ngài đã chấp nhận cái chết ê chề nhục nhã trên thập giá để giải thoát chúng ta khỏi án phạt đời đời của tội lỗi và sự chết.
Cùng với Đức Kitô, thì đoàn chiên của Ngài không còn bị giới hạn trong phạm vi dân Do Thái, mà đã mở rộng cho toàn thể nhân loại, như lời Ngài đã nói: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin vào Người Con ấy thì sẽ không phải chết, nhưng được sống đời đời. Như thế là đã rõ: Chúa Giêsu đã đến trần gian, đã sống, đã yêu thương và đã chết, không phải chỉ cho dân tộc Do Thái mà thôi, nhưng còn cho toàn thể loài người.
Tình yêu thương không chỉ thôi thúc Chúa Giêsu đi tìm cứu những con chiên lạc, cũng không dừng lại ở việc hy sinh mạng sống để cứu chuộc đoàn chiên, mà còn chủ yếu là quy tụ những con chiên đã được tìm thấy, đã được cứu chuộc, để chúng làm thành một đoàn chiên, quây quần chung quanh một vị mục tử duy nhất, để rồi dưới sự chăn dắt của Ngài, chúng sẽ được sống trong tình yêu thương, hợp nhất và bình an.

 

PS4-B120:  Nơi bạn thuộc về – Peter Feldmeier

(Lm. GB. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)
“Tôi là mục tử nhân lành. Tôi biết các chiên tôi và các chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14)
 

Vài năm trước, tôi có dịp nói chuyện với một anh bạn. Vợ anh ta vừa chết và mới được chôn cất. Cuộc : PS4-B120

Vài năm trước, tôi có dịp nói chuyện với một anh bạn. Vợ anh ta vừa chết và mới được chôn cất. Cuộc sống của anh ta trước đây khá bệ rạc, và anh đã đối xử với vợ con rất tồi tệ. Anh ta hỏi tôi, theo tôi nghĩ, liệu anh ta có được lên thiên đàng hay không. Đây không phải là một câu hỏi khó trả lời, vì việc cứu rỗi chẳng phải là vấn đề quá nan giải. Chính Đức Giêsu đã quả quyết ai tin sẽ được sống đời đời. Hiển nhiên, không phải như nhiều người cứ đinh ninh rằng ơn cứu rỗi sẽ được tặng ban một cách nhưng không, chẳng cần con người cộng tác chút nào.
Sau khi đã hiểu khá rõ cuộc sống của anh, tôi trả lời. Nhưng trước hết tôi hỏi lại anh ta: Thế bây giờ anh sống ra sao, có biến chuyển khá hơn trước hay không? Anh trả lời “Tôi nghĩ, khó thay đổi. Tôi còn có nhiều buồn bực và vẫn hay uống rượu để giải khuây”. Tôi hỏi tiếp “Anh có đến nhà thờ thường xuyên không? Anh ta đáp: “Không. Trừ hôm an táng vợ tôi, đã 30 năm nay, tôi không đến nhà thờ nũa. Tôi nghĩ cuộc sống tôi vẫn vậy, chẳng thể thay đổi”. Tôi hỏi vặn lại “Nhưng vì anh đã bỏ nhà thờ, bỏ cả Chúa? Trước đây cuộc sống anh có tồi tệ như thế đâu.” Anh ta nói “Tôi biết, cuộc sống tôi hiện nay như là hỏa ngục thực sự, không phải như nhà thờ mà tôi đã bỏ suốt 30 năm qua”. Tôi tiếp tục hỏi anh “Thế ít nhất, anh có cầu nguyện không?” Anh trả lời “Hầu như không, tôi cũng chẳng còn tha thiết cầu nguyện như trước đây nữa.”
Tôi động viên anh hãy đến tòa cáo giải và trình bày tất cả. Tôi nhẹ nhàng khuyên anh hãy cố gắng sửa chữa và hàn gắn lại những đổ vỡ trong những tháng ngày còn lại của cuộc đời. Tôi gợi mở cho anh con đường trở về, song từ trong thâm tâm, tôi cũng lấy làm lạ và tự hỏi, tại sao một con người chẳng thiết tha gì đến Thiên Chúa như thế, nhưng vẫn mong muốn được vào thiên đàng. Họ không hiểu rằng thiên đàng chính là tình trạng con người gắn kết với Thiên Chúa và thuộc về Ngài trọn vẹn hay sao.
Trong bài đọc thứ hai của phụng vụ hôm nay, Thánh Gioan đã viết “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con cái Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy (1Ga 3,2). Đó chính là thiên đàng thực sự của chúng ta, là tình trạng con người kết hiệp với Thiên Chúa và trở nên giống Ngài.
Thánh Phêrô tông đồ diễn tả trạng thái căn bản về việc Thiên Chúa hiện thực tròn đầy lời hứa cứu độ, khi Ngài viết “Chúng ta sẽ được thông phần bản tính Thiên Chúa (2Ph 1,4). Giáo hội gọi đó là sự “Thần hóa” Theosis, một khi chúng ta qua ân sủng được sống chính sự sống của Thiên Chúa, sống như Ngài đã sống, và yêu như Ngài đã yêu.
Nếu cách diễn đạt này xem ra có vẻ trừu tượng và khó hiểu, chúng ta sẽ dễ thấu triệt hơn khi đọc lại bài Tin mừng hôm nay. Đức Giêsu nói cho đám đông, Ngài là Mục Tử Nhân Lành. Không như các mục tử bất cẩn khác đã bỏ chiên để tháo chạy vào những thời khắc nguy hiểm, vị Mục Tử tốt lành đã liều cả mạng sống để bảo vệ đoàn chiên của mình. Chủ đề về chăn chiên được nói đến khá nhiều, và dàn trải đều khắp trong cựu ước. Ezekiel chương 34 là một đoạn văn cổ, qua đó vị tiên tri nặng nề cảnh báo các mục tử xấu xa, ám chỉ các vị lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ, đã bỏ rơi các con chiên, tức dân Israel, và chểnh mảng việc chăm sóc chúng. Ezekiel tiên báo rằng chính Thiên Chúa sẽ chăn dắt và săn sóc đàn chiên của Ngài (Ez 34,15-23). Đức Giêsu là Đấng sẽ thực hiện lời hứa đó, và Ngài sẽ là mục tử đích thực về cả hai phương diện: Chăn dắt và nuôi sống đoàn chiên.
Đức Giêsu đã đến và nuôi dưỡng chúng ta. Ngài bảo vệ, dẫn dắt và yêu thương chúng ta. Điều đánh động chúng ta sâu xa nhất, chính là Đức Giêsu đã hai lần nhắc đến sự tương giao thân tình giữa Ngài và các học trò, tức giữa người chăn chiên và các con chiên trong đàn. Ngài nói “Tôi biết chiên tôi và chiên của tôi biết tôi”, đồng thời Ngài nói tiếp “Chúng sẽ nghe tiếng tôi”. Qua hình ảnh người chăn chiên nhân lành, Đức Giêsu bộc lộ sự hiền dịu sâu xa nơi chính Ngài. Về phía chúng ta, khi chúng ta biết Ngài và để Ngài biết chúng ta, chúng ta sẽ đi vào sự gắn kết sâu xa với Ngài, và thuộc trọn về Ngài.
Khi còn là sinh viên, có lần tôi được trao cho một quyển sổ nhỏ có ghi một câu hỏi để tôi trả lời: “Khi đến trước cổng thiên đàng, để được đón nhận vào, bạn phải nói điều gì?” Chắc chắn câu trả lời là “Tôi tin, vì Đức Giêsu đã chết cho tôi”. Bài Tin mừng hôm nay còn vạch dẫn cho ta một câu trả lời khác: “Vì nơi đó chính là chỗ tôi thuộc về”. Cũng như đối với gã đàn ông ngược ngạo kia đã hỏi tôi như tôi nói ở đầu, tôi sẽ trả lời cho anh ta “thế thì bạn, bạn đang thuộc về đâu?”


 

PS4-B121: Mục tử tốt – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tình yêu Chúa cao vời biết bao, ngút cao như mây trời và mênh mang như biển cả. Chúa yêu thương: PS4-B121

con người qúa bội. Thiên Chúa đã hứa ban ơn cứu độ và đã thực hiện trọn vẹn lời hứa. Chúa Giêsu đã xuống thế mang thân phận con người để hoà nhập cuộc sống. Thiên Chúa làm người để cùng chia sẻ mọi nỗi truân chuyên, cơ cực, khổ đau, chối bỏ và ruồng rẫy trong thân phận người. Ngài đã dám hy sinh xả thân vì đàn chiên. Hình ảnh người mục tử chăn chiên thật ấn tượng. Chủ chiên đi trước và đoàn chiên theo sau. Chủ chiên mong tìm nguồn suối mát để chiên được giải khát. Chủ chiên đi tìm cánh đồng cỏ xanh tươi để chiên bồi dưỡng, nghỉ ngơi. Chúa Giêsu ví Ngài như người Chủ Chiên nhân lành.
Người mục tử tốt lành lo chu đáo cho mọi nhu cầu của đoàn chiên. Đối với người Dothái, hình ảnh người chăn chiên rất quen thuộc. Họ hiểu trọn vẹn ý nghĩa về vai trò của người chủ chiên và người làm thuê. Chúa Giêsu đã truyền dạy: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Tác giả sách Tông đồ Công vụ đã viết về Chúa Giêsu chủ chiên tốt lành: “Chính Người là viên đá đã bị chư vị là thợ xây loại ra, đã trở thành viên đá góc tường”. Để được ơn cứu độ sẽ không có một Danh nào khác, mà chỉ nhờ Danh Chúa Giêsu Kitô.
Thư của Thánh Gioan Tông Đồ đã minh chứng rằng Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta là dường nào. Ngài cho chúng ta được quyền làm con cái Thiên Chúa và hưởng nhờ ơn cứu độ. Ngài chăn dắt chúng ta như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình. Thánh Gioan đã viết: “Chúa phán: Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta” (Ga 10,14). Chúa biết nhu cầu tâm linh của từng con chiên. Mục đích tối hậu là dẫn dắt mọi người về chung hưởng hạnh phúc viên mãn trong một đàn chiên theo một Chúa Chiên: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16).
Chúng ta biết rằng nhu cầu cuộc sống thì vô vàn và sức lực cùng khả năng của con người thì giới hạn. Sống giữa một xã hội đổi thay và hỗn hợp văn hoá, tuyền thống, ngôn ngữ và tôn giáo, chúng ta khó có thể đáp ứng thoả đáng mọi nhu cầu của con người. Để tìm một một nguồn dưỡng nuôi thích đáng, mỗi người đều phải cộng tác nâng đỡ và mở cửa tâm hồn đón nhận. Sống trong một nền văn hoá đa dạng có các phương tiện truyền thông tốc độ, người có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn cần tỉnh thức nhiều hơn. Đàn chiên không đơn thuần nhập đàn theo nhau tìm đến dòng suối mát hay cánh đồng tươi xanh để cùng ăn uống thoả thuê. Nhu cầu cuộc sống không đơn giản đi theo bầy đàn.
Sứ mệnh mục tử được lan trải và áp dụng trong các vai trò cụ thể qua sự dưỡng nuôi và giáo dục. Chúng ta đang cần có các mục tử tốt trong mọi bước đi của cuộc đời. Chúng ta cùng chia sẻ vai trò quan trọng này trong chức vụ là cha mẹ, huynh trưởng, nhà giáo dục, các thầy thuốc, bác sĩ, các công nhân viên, các quan chức chính phủ và các nhà giáo dục tôn giáo.
Tại gia đình, vai trò giáo dục chủ yếu là của cha mẹ, phụ huynh lo lắng cho con cái về mọi mặt. Hãy yêu thương và dùng thời gian ở bên để chia sẻ buồn vui và những khó khăn với con cái. Đôi khi có những đứa con ngỗ nghịch, chúng ta cần kiên nhẫn dạy bảo với tình thương bao dung. Cha mẹ phải luôn là mục tử gương mẫu dám hy sinh cho đàn con.
Nơi nhà trường, chúng ta cần các thầy cô. Các thầy cô cần học biết hoàn cảnh và nhu cầu của từng học sinh. Các em không phải là một đám học trò nhưng là từng cá vị có những khả năng riêng biệt cần phát triển. Kiến thức, văn hoá và đạo đức là tinh hoa cần được trau dồi và truyền đạt cho các thế hệ tiếp nối.
Trong nhà thương, cần có các bác sĩ và y tá như là từ mẫu. Các bác sĩ chăm sóc và chữa lành bệnh nhân và đối xử với họ đầy phẩm chất của một con người. Đem tình yêu thương để phục vụ đồng loại với lương tâm ngay chính. Chữa lành và cứu sống chứ không huỷ hoại và tiêu diệt.
Nơi công cộng và xã hội, chúng ta cần các nhân viên công chức lo cho sự an ninh trật tự, an vui và hạnh phúc chung của mọi người hơn là chỉ vì lợi ích riêng tư. Các nhân viên chính quyền lo cho dân như phụ mẫu.
Trong Giáo Hội, nơi nhà thờ và các trung tâm mục vụ, cần các tu sĩ nam nữ, các giám mục và linh mục phục vụ mọi người trong yêu thương. Hướng dẫn con đường tâm linh chính thật. Không gây hoang mang mập mờ làm lung lạc đức tin. Biết nêu gương sáng và chăm sóc lo lắng đời sống tâm linh cho các tín hữu. Đời sống phải đi đôi với lời giảng dạy. Giáo dân cần thấy bài giảng hơn là nghe bài giảng. Sống niềm tin một cách chân thành và trong sáng. Dám hy sinh xả thân vì anh chị em.
Trong gia đình nhân loại, mỗi thành viên đều nhận những vai trò khác nhau từ đời sống trong gia đình ra ngoài xã hội. Chúng ta không phân biệt giai cấp, chức vụ hay nguồn gốc, mỗi người đều có trách nhiệm và bổn phận lo xây dựng một cuộc sống xã hội tốt đẹp chung. Vì thế, chúng ta không thể đổ trách nhiệm cho riêng một thành phần nào. Ai cũng được kêu gọi đóng góp công sức và khả năng của mình để làm cho cuộc sống con người tươi đẹp hơn.
Chúng ta thường có khuynh hướng gán trách nhiệm, những lời trách móc và đổ lỗi cho người khác hơn là quy chiếu trách nhiệm cho chúng ta. Dễ dàng so sánh và phê bình người khác hơn là xét lại những ngôn hành của chính mình. Chúng ta nên nhớ rằng từ sự suy tư, lời nói đi tới hành động có một khoảng cách rất lớn. Mỗi người cần có một sự dấn thân tu tâm và quyết chí thực thi lời dạy hằng ngày. Nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì ngôn hành trở thành bất nhất. Chỉ nói mà không làm. Ai trong chúng ta cũng có những kinh nghiệm tiêu cực này.
Chúa Giêsu là Chúa Chiên Lành. Chúng ta gẫm suy về những lời truyền dạy và thực hành của Chúa. Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt vời giúp chúng ta tu tập sống đạo. Chúa đã giảng và sống lời giảng qua sự cầu nguyện, yêu thương, hy sinh, tha thứ, khiêm nhường, từ bỏ và công bằng chân thật. Chúng ta cần tu tâm tích đức, tu tâm luyện tính và tu tâm hành đạo. Chúng ta đặt niềm tin vào Chúa Giêsu là Chúa, là Mục Tử và là Đấng Cứu Độ. Bước theo Chúa Chiên, chúng ta sẽ tìm được nguồn sống thật và no thoả trong nguồn suối ân tình.
Chúa Giêsu là Chủ Chiên và là cửa chuồng chiên. Đức Giêsu nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào” (Ga 10,7). Trong cuộc sống, có rất nhiều cánh cửa mở rộng đón mời chúng ta vào. Có những cánh cửa dẫn chúng ta vào con đường lầm lạc và hư mất. Có những cánh cửa đưa dẫn chúng ta xa lạc trong thế giới tục hoá với nền văn minh sự chết. Có những cánh cửa mở ra cho chúng ta tìm những thoả mãn hưởng lạc và vui thú truỵ lạc. Có những cánh cửa đưa chúng ta vào chung hưởng nguồn vui an lạc thật sự. Chúa Giêsu nói: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10,9). Chúa Giêsu là cửa. Cửa của sự sống và sự sống lại. Đến với Chúa Giêsu và qua Ngài, chúng ta sẽ tìm được nguồn sống chan hoà trong niềm an vui, hy vọng và hoan lạc muôn đời.


 

PS4-B122:  Có một tình yêu thật lạ lùng

(Suy niệm Tin mừng Gioan (Ga 10, 11-18) trích đọc vào Chúa nhật 4 phục sinh)
 

Để biết Thiên Chúa cao cả và quyền năng như thế nào, chúng ta hãy thoáng nhìn qua vũ trụ vô biên PS4-B122

Để biết Thiên Chúa cao cả và quyền năng như thế nào, chúng ta hãy thoáng nhìn qua vũ trụ vô biên do Ngài tạo dựng.
 



-Có bao nhiêu ngôi sao trên vòm trời?
Không tài nào đếm được, vì sao trời nhiều như cát biển.
-Ngôi sao xa nhất cách chúng ta bao nhiêu (tính vào thời điểm hiện nay)?
Với kính thiên văn tốt nhất hiện nay ( kính thiên văn Hubble), người ta có thể nhìn thấy ngôi sao xa nhất cách chúng ta 32 tỷ năm ánh sáng! Nói cụ thể thế này, một tia chớp cực mạnh (có vận tốc 300.000 km/giây) phát xuất từ trái đất, muốn lên tới Mặt trời thì chỉ cần 8 phút, nhưng phải mất một thời gian là 32 tỷ năm thì mới tới được ngôi sao xa nhất
[1].
-Vũ trụ này rộng tới đâu (tính vào thời điểm này)?
Các nhà thiên văn cho biết rằng mảng vũ trụ mà kính thiên văn tốt nhất hiện nay có thể quan sát được có vô vàn vô số ngôi sao trong đó, mảng vũ trụ này có bề rộng 92 tỷ năm ánh sáng.
[2]

Nói cách đơn sơ, nếu có một tia chớp cực mạnh (vận tốc 300.000 km/giây) lóe sáng từ rìa bên này sang rìa bên kia của mảng vũ trụ này thì phải mất 92 tỷ năm mới tới nơi! Thật khó hình dung nổi.
Thoáng nhìn như thế để biết vũ trụ càn khôn bao la và kỳ diệu không thể tưởng được. Vậy thì Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên vũ trụ này cao cả, quyền năng, vĩ đại... biết chừng nào!

 

So với vũ trụ vô biên, thì con người chỉ là tro bụi li ti không đáng kể và chẳng có nghĩa lý gì!
Trước mặt Thiên Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ càn khôn vô cùng quyền năng và cao cả,  thì con người chỉ là hạt bụi vô cùng nhỏ bé dưới đáy vực sâu, chẳng đáng cho Chúa quan tâm, như lời được ghi trong thánh vịnh :
“Ngắm tầng trời tay Ngài tác tạo
Muôn trăng sao Chúa đã an bài,
Thì con người  là chi mà Chúa cần nhớ đến
Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm” (Tv 8, 4-6).
 
Thế mà Ngôi Hai Thiên Chúa vô cùng quyền năng và cao cả, Đấng đã dựng nên vũ trụ càn khôn
[3] vô tận vô biên… lại đoái thương thân phận cát bụi thấp hèn của con người, không muốn để cho họ phải đắm chìm trong tội và trầm luân trong hoả ngục đời đời, nên đã hạ mình xuống làm người, trở nên một người phàm như bao nhiêu người phàm khác; mang kiếp sống lầm than như loài người… hóa nên như một hạt bụi li ti trong vũ trụ do chính Ngài dựng nên. Thật là điều không thể tưởng được.
 

 

Thế rồi, Ngài trở thành người Anh đáng yêu và Người Bạn tốt của con người, biết rõ từng người không bỏ sót ai, quan tâm chăm sóc họ như mục tử giữa đoàn chiên, cận kề dìu dắt nuôi dưỡng họ đêm ngày như người chăn chiên tốt chăm lo cho từng con chiên một, như lời Ngài nói: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi,  như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha” (Gioan 10, 14-15).
Và không như kẻ chăn thuê hễ thấy sói đến là bỏ chiên mà trốn, Ngôi Hai Thiên Chúa sẵn sàng bảo vệ đoàn chiên với bất cứ giá nào; Ngài sẵn sàng hiến mạng sống, mạng sống của Thiên Chúa tối cao; sẵn sàng đổ máu, máu của Đấng tạo dựng đất trời… để đền tội thay, để chết thay cho những con người yếu hèn, tội lỗi… như lời Ngài nói: “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành… tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Gioan 10, 11- 15).
 
Lạy Chúa Giê-su,
Từ địa vị Thiên Chúa tối cao, là đấng dựng nên vũ trụ vô biên vô tận, Chúa lại hóa thân làm người, mang thân phận con người mỏng giòn yếu đuối như mọi người chúng con… để rồi hy sinh chịu chết cho chúng con, vốn chỉ là những hạt bụi trong vũ trụ bao la do chính Ngài tạo dựng… Đây là điều nhiệm mầu chúng con không thể nào hiểu được, mà chỉ biết rằng đó là tột đỉnh của tình yêu.
Xin cho chúng con biết nhận ra tình yêu Chúa dành cho chúng con mênh mông như biển trời để sống sao cho đẹp, cho thánh thiện… hầu khỏi phụ lòng Chúa đã hy sinh tất cả vì yêu thương chúng con.

Linh mục I-nha-xi-ô Trần Ngà



 

PS4-B123: Nhận diện Mục Tử và Người Chăn Thuê

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
 

Hằng năm cứ đến ngày Lễ Chúa Chiên Lành (Chúa Nhật IV Phục Sinh), cả Giáo hội hướng đến việc : PS4-B123

Hằng năm cứ đến ngày Lễ Chúa Chiên Lành (Chúa Nhật IV Phục Sinh), cả Giáo hội hướng đến việc cổ võ ơn thiên triệu trong bậc tu trì nói chung và cách riêng ơn gọi làm linh mục. Một trong những nội dung làm việc của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kỳ I năm 2012 tại giáo phận Xuân Lộc, đó là việc đào tạo linh mục. Dĩ nhiên là mục tiêu nhắm là để có những vị “mục tử như lòng Chúa mong ước”. Có thể luận suy rằng khi người ta yêu sách phẩm hạnh cần có của một bậc sống thì mặc nhiên người ta khẳng định sự cao quý và cần thiết của bậc sống ấy.
Một sự thật dễ thấy, đó là khi đề cập đến mặt tích cực và khi đó là một trong những nhân đức hay lý tưởng thì người ta dễ đón nhận và cũng dễ tự bằng lòng khi thấy mình chưa đạt đến. Một trong những luận lý để tự châm chước đó là phận người còn nhiều hạn chế, thiếu sót vì như lời người xưa: “nhân vô thập toàn”. Trái lại khi nói đến điều tiêu cực, hay mặt trái của vấn đề thì người ta khó đón nhận, vì ai ai cũng vấn vương chút sĩ diện, chút tự ái nào đó. Nói rằng bạn chưa hoàn hảo thì chúng ta dễ chấp nhận ngay nhưng nếu nói rằng bạn xấu xa thì xem ra dễ có phản ứng. Hoặc giả như cho rằng bạn nói chưa đúng thì dễ chấp nhận nhưng nếu ai đó cho rằng chúng ta nói sai thì vấn đề lại trở thành trầm trọng. Dẫu sao đi nữa thì bài trích Tin Mừng thánh Gioan của Chúa Nhật IV Phục Sinh năm B, qua những lời của chính Chúa Kitô, chúng ta cũng cần xem xét đôi điều để phân biệt mục tử với người chăn thuê.
Đã nói là phân biệt hai thực thể nào đó thì chắc chắn giữa chúng phải có nét tương đồng khiến người ta dễ lầm lẫn. Vì thế, trước hết chúng ta cùng xem xét một vài nét xem ra tương đồng giữa người chăn thuê và vị mục tử:
1. Qua cửa ràn chiên: Cả hai, vị mục tử và kẻ chăn thuê đều đường đường chính chính qua cửa ràn chiên mà vào và ra chứ không leo tường hay chui rào. Có thể nói rằng dù được tấn phong giám mục thành sự, được truyền chức linh mục thành sự, dù có sắc phong, có văn thư bổ nhiệm hợp pháp… thì cũng chưa hẳn đã là mục tử chính hiệu.
2. Biết chiên: Dù rằng khó có thể có cái “biết” theo nghĩa Kinh Thánh đó là đồng thân, chung phận, nhưng người chăn thuê cũng biết con chiên một cách nào đó khả dĩ đáng gọi là biết theo nhãn quan nhân loại.
3. Chiên nghe tiếng và đi theo mục tử cũng như kẻ chăn thuê: Ít ai phản đối sự thật này, vì người chăn thuê không phải là người lạ hay là kẻ trộm (x.Ga 10,5;8). Ngoại trừ một số ít chiên “cá biệt” hoặc bị gán nhãn mác là “chống giáo sĩ”, thì có thể nói là đại đa số giáo dân Công giáo, cách riêng giáo dân Công giáo Việt Nam đều ngoan, theo nghĩa là biết vâng nghe lời các đấng bậc.
4. Người chăn thuê và mục tử đều dẫn chiên đến đồng cỏ và nguồn nước: Rất có thể chiên không được hưởng dùng các loại cỏ xanh tươi hay dòng nước mát trong cách tốt nhất, nhưng người chăn thuê vẫn không quên bổn phận cung cấp thức ăn và nước uống cho đàn chiên.
Tiếp đến chúng ta cùng nhận diện những điểm khác biệt giữa người chăn thuê và vị mục tử. Đây là nội dung muốn chia sẻ. Hy vọng rằng khi trực kiến với hình ảnh mang tính phản diện thì chúng ta dễ giật mình hơn, không chỉ với những người đang trong phận vụ mục tử mà còn với cả những người trong danh phận con chiên.
1. Làm chỉ vì tiền: Mục đích nhắm của bất cứ người làm thuê nào, nếu thực sự là làm thuê, thì đều vì tiền công. Người chăn thuê cũng có thể có tấm lòng với đàn chiên, nhưng ưu tiên số một vẫn là tiền công, dù là công nhật, công tháng, công năm hoặc hưởng lương theo sản phẩm.
2. Làm hết giờ hơn là làm hết việc: Trong thân phận người làm thuê thì người ta rất mong đến giờ tan sở. Giả như người làm thuê nếu có làm hết việc thì ít khi hết lòng. Nếu người làm thuê làm ăn lương theo sản phẩm thì có đó chuyện làm hết sức, nhưng làm cách công tâm và hết tình thì chưa hẳn có. Trái lại, nếu đúng là mục tử thì có thể nhiều khi làm không hết việc, thậm chí có khi không được việc trước mắt, nhưng luôn thực thi hết lòng.
3. Không quan tâm đến chiên ngoài đàn: Đây là một điều tất yếu đương nhiên. Đã là làm thuê thì ít có ai thích dài tay với những việc xem ra không quá đòi buộc phải làm hoặc có xao nhãng hay không làm cũng chẳng bị trừ lương. Đã là mục tử thì không thể quên lời của Thầy chí thánh, Giêsu: “Ta còn nhiều chiên ở ngoài đàn…”
4. Không bao giờ sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì chiên: Cần thú nhận rằng chẳng có ai dại gì tự nguyện bị thiệt thân vì những gì không thuộc về mình. Khi thấy sói đến người chăn thuê sẵn sàng bỏ chiên để giữ lấy mạng sống mình (x.Ga 10,12). Chuyện hiến dâng mạng sống vì chiên xem ra chẳng hề có trong tâm trí của người chăn thuê. Trái lại, đây là điểm không thể thiếu để thẩm định ai mới là mục tử.
Với bốn điểm đồng và bốn điểm dị, thầm mong khi phân biệt mục tử với người chăn thuê, chúng ta thêm xác tín rằng ngoài việc cần thiết cầu nguyện liên lỉ cho các mục tử trong Giáo hội, thì đang còn đó nhiều việc đáng làm và nên làm. Cũng hy vọng rằng một số mục tử nào đó trong Giáo hội, dù chưa hẳn xứng danh mục tử tốt lành nhưng không phải là những người chăn thuê. Và mong sao không hề có những kẻ chăn thuê đang mang danh mục tử.
“Hãy ra khỏi ngôi mộ trống!” Hy vọng rằng lời nhắn nhủ của Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, vị đại diện của Đức Thánh Cha giúp cho nhiều đấng bậc, cách riêng trong Giáo Hội Công Giáo Việt Nam biết thức tỉnh để sống lại con người mục tử chính danh chính hiệu của mình. Chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ muốn đoàn chiên của Người sống và hành xử như “đoàn cừu của Panurge”, mà là như đoàn dân Thiên Chúa trưởng thành, đầy ý thức và tinh thần trách nhiệm, luôn tích cực cộng tác với ơn Chúa để dệt xây những mục tử tốt lành như lòng Chúa ước mong.


 

PS4-B124:  Mục tử nhân lành

Ở Trung Đông, người ta sống bằng nghề chăn nuôi, chủ yếu là chiên và cừu. Tổ phụ Abraham và PS4-B124 Luong

Ở Trung Đông, người ta sống bằng nghề chăn nuôi, chủ yếu là chiên và cừu. Tổ phụ Abraham và con cháu ông đều có những đàn chiên, đàn cừu khổng lồ. Vua Đavid, khi còn là một cậu bé tóc hung, cũng đã đi chăn giữ đoàn chiên của cha cậu. Và cũng từ giữa đàn chiên, Thiên Chúa đã gọi Đavid và xức dầu cho cậu làm vua. Đối với dân Do thái, hai chữ mục tử còn được dùng để chỉ những vị lãnh đạo của dân Chúa.
Đức Kitô, Con Thiên Chúa xuống thế làm người giữa một dân tộc đã bao phen bị chiếm đóng, bị lưu đày. Và thời bấy giờ đang bị đế quốc Rôma đô hộ. Dân chúng bơ vơ như đàn chiên không người chăn. Ngài thường cứu chữa nhiều người mắc những chứng bệnh nan y như phong cùi, bại liệt, mù lòa…Những người này vốn đã bị liệt vào phường tội lỗi, phải sống tủi nhục bên lề xã hội. Chúa Giêsu rất thương xót họ. Ngài chữa họ lành, để họ được trở về với cuộc sống bình thường của xã hội, an vui với gia đình.
Đức Kitô không phải chỉ chữa lành phần xác, mà còn chữa lành cả phần hồn. Ngài vừa là mục tử, lại vừa là Thiên Chúa, nên Ngài thấu suốt mọi tâm hồn. Từ một Giakêu thu thuế, tham ô xảo trá, đã được Ngài thức tỉnh lương tâm bằng một cái nhìn trìu mến và đôi lời trao đổi chân tình. Ngài không sợ dư luận quần chúng, khi bênh vực một cô gái điếm và dám để cho Mađalêna lấy tóc mình mà lau chân Ngài, giữa một bữa tiệc tại nhà ông biệt phái. Đức Kitô biết rõ đây là những kẻ tội lỗi và chỉ có thể cứu chữa họ bằng tìnhyêu thương tha thứ.
Các thánh sử còn thuật lại nhiều chứng từ yêu thương khác nữa. Thề nhưng, chứng từ cao cả nhất của Chúa Giêsu, người mục tử nhân lành, chính là cái chết trên thập giá vì yêu thương chúng ta. Thực vậy, với tư cách người mục tử nhân lành, Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết ê chề và tủi nhục trên thập giá, để tỏ tình liên đới với đàn chiên khổ đau, và nhất là để cứu tất cả những con chiên còn đang lầm đường lạc lối.
Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện về cha thánh Đamiêng, vị tông đồ người hủi. Ngài là một linh mục đạo đức, thánh thiện và nhiệt thánh. Ngài đã từ bỏ mọi sự, để lại sau lưng tất cả, dấn bước tới hải đảo Molokai, một hải đảo xa côi và hẻo lánh, một hải đảo biệt lập và được dành riêng cho những người mắc phong cùi. Ngài đã đến với họ, đã sồng giữa họ, đã chăm sóc và giúp đỡ họ, những người bất hạnh bị xã hội khai trừ. Cuối cùng chính ngài cũng đã mắc phải chứng bệnh này và đã chết ở giữa họ.
Chúa Giêsu vị mục tử nhân lành cũng đã đến với chúng ta, sống giữa chúng ta, đã chăm sóc và giúp đỡ chúng ta. Tất cả chúng ta đều được Ngài yêu thương, bởi vì tất cả chúng ta đều là con cái Chúa Cha, tất cả chúng ta đều là em của Ngài. Tất cả chúng ta đều là con chiên trong đàn chiên mà Ngài là vị mục tử nhân lành. Đồng thời, Ngài còn muốn tất cả chúng ta cũng lãnh nhận và chia sẽ trách nhiệm mục tử với Ngài. Có nghĩa là mỗi người chúng ta trong phạm vi và khả năng của mình, cố gắng chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ và phục vụ anh em, góp phần xây dựng một thế giới công bình và hạnh phúc, đề rồi chỉ còn một đàn chiên và một chủ chiên.

 

PS4-B125: Nghe-Biết-Theo – Lm Trịnh Ngọc Danh

Những dấu hiệu để nhận ra người thân quen là gương mặt và giọng nói. Tuy cách nhau, nhưng nhớ  PS4-B125

Những dấu hiệu để nhận ra người thân quen là gương mặt và giọng nói.
Tuy cách nhau, nhưng nhớ đến ai, ta vẫn hình dung ra được gương mặt người ấy; nghe giọng nói qua diện thoại, ta nhận ra ngay người thân quen của ta là ai.
Chính Chúa Giêsu đã xác nhận: “Các chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga. 10,27), hay “Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta” (Ga. 10,14).
Động từ “biết” trong Kinh Thánh có một ý nghiã đặc thù diễn tả tình yêu thương kết hợp nơi thân xác của vợ chồng để cả hai trở nên một như Chúa Cha biết Chúa Con và Chúa Con biết Chúa Cha. Khi nghe Thiên Thần báo tin: “Này Trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu…”, Trinh nữ Maria đã trả lời: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”
Như thế “biết” là không chỉ có ý nghiã thuần túy thuộc phạm trù nhận thức mà còn bao gồm cả về phương diện tình cảm. Biết là thân thương, trìu mến, gắn bó, kết hợp.
Ta biết các chiên Ta
Chúa Giêsu đã tự xác nhận mình là Mục Tử. Ngài là chủ đàn chiên chứ không phải người chăn thuê và là một Mục Tử Nhân Lành. Khác với chủ chăn đích thực, người chăn thuê, vì đàn chiên không thuộc về anh ta, anh ta không thiết gì đến đàn chiên, nên khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên mà chạy, mặc cho sói vồ lấy chiên và làm cho chúng chạy tán loạn.
Người Chăn Chiên Nhân Lành ấy biết đàn chiên của mình là con cái cùng một Cha, cùng chung một mái nhà, là anh em, là bạn hữu chứ không phải là tôi tớ…, biết từng con chiên một, biết đàn chiên yếu đuối hay sa ngã, biết chúng đang phải sống một kiếp sống hủy diệt vì tội lỗi, biết chiên đang khát vọng tìm một đồng cỏ xanh tươi, một dòng suối mát cho cuộc sống để nghỉ ngơi…
Vì yêu thương đàn chiên, muốn giải cứu chúng khỏi kiếp sống diệt vong ấy để được sống hạnh phúc viên mãn nơi Nhà Cha trên trời, người Mục Tử Nhân Lành ấy đã xuống thế mang thân phận thấp hèn của con chiên, đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên để từ sự phục sinh của người Mục tử Nhân Lành ấy, đàn chiên được sống trong an bình và hy vọng.
Chúa Giêsu chịu chết và phục sinh, Mục Tử Nhân Lành đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, cho từng con người. Ngài muốn chăn dắt, gìn giữ, nuôi sống từng con chiên một trong đàn chiên. Mục Tử Nhân lành biết các chiên của mình là như thế đó! Và dung mạo của Chủ Chăn ấy là nhân lành , yêu thương, biết các chiên, hy sinh mạng sống vì đàn chiên và bảo vệ đàn chiên là như thế đó!
Là con chiên thuộc đàn chiên của Mục Tử Nhân Lành, ta đã biết chủ chăn, nghe tiếng Đấng ấy như thế nào? đã cảm nhận được sự hy sinh, bảo vệ, chăm sóc qua cái “ biết” của Mục Tử ấy chưa?
và các chiên Ta biết Ta, chúng nghe tiếng Ta
Nhờ dấu hiệu nào giúp chúng ta “ biết” Chủ Chăn?
Qua Kinh Thánh và nhất là qua Tin Mừng và phép Thánh Thể, ta biết Ngài, nghe tiếng Ngài kêu gọi. Ngài là Đấng Phục Sinh, nghĩa là Đấng Hằng Sống. Ta sẽ biết rõ Ngài hơn, nhiều hơn, thân mật hơn, nếu ta sống và đi vào cuộc sống với, sống cùng các chiên khác.
Chúng ta đọc Kinh Thánh để nhận biết Người Chăn Chiên, để nghe tiếng Đấng ấy kêu gọi, nhưng ta nhận biết và nghe được tiếng gọi ấy bằng cách nào? Bằng phân tích, lý luận hay bằng tình cảm tin yêu?
Ba người ngồi trao đổi với nhau về bản dịch Kinh Thánh.
Ông thứ nhất nói:
- Tôi thích bản dịch A. Nó sáng sủa hơn những bản dịch trước. Bản dịch này đọc dễ hiểu hơn.
Ông thứ hai nhận định:
- Tôi thì thích bản dịch B hơn. Bản dịch vừa rõ ràng lại vừa văn chương, rất thích hợp cho chúng ta cầu nguyện.
Ông cuối cùng nhỏ nhẹ nói:
- Phần tôi, tôi thích bản dịch của mẹ tôi nhất. Mẹ tôi dịch Thánh Kinh ra thực thế, làm cho Thánh Kinh dễ dàng áp dụng vào đời sống hằng ngày.
Mỗi ngày, có thể ta sẽ viết thêm một trang mới vào cuốn sách Tin Mừng sống của thời đại bằng chính những việc ta làm, bằng những lời ta nói.
Nếu những lời nói và hành động của ta không phản ảnh được những giá trị của Tin Mừng, thì những lời nói và hành động ấy cũng chẳng nói lên được gì cả.
Nói đến đây, có lẽ cũng là dịp để ta nhớ lại dụ ngôn người gieo giống.
Sống và thực hành lời Chủ Chăn kêu gọi: hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, nhiệt thành tham dự Thánh Lễ để từ đó sống kết hợp với Ngài là ta biết và nghe tiếng Mục Tử Nhân Lành kêu gọi.
Bổn phận của con chiên là biết nghe tiếng của chủ chăn. Chỉ có một tiếng thôi, không có tiếng nào khác để chiên nghe theo mà được yên ổn, an vui, sống hạnh phúc ngoài tiếng Giêsu.
Nhưng chỉ có thế thôi thì chưa đủ, chưa trọn vẹn bổn phận mà còn phảibước theo sự dìu dắt của Mục Tử nhân lành.
và chúng theo Ta” (Ga. 10, 27)
Đã biết Chủ Chăn, và đã phân biệt được tiếng gọi của Ngài với tiếng gọi của người chăn chiên thuê, ta phải mau mắn, tin tưởng đi theo. Đi theo để được chăm sóc , được bảo vệ khỏi mọi hiểm nguy trong bất cứ hòan cảnh nào.
Không như người chăn thuê, khi thấy sói rừng đến thì bỏ mặc đàn chiên mà chạy thoát thân; trái lại, Mục Tử Nhân Lành của ta sẵn sàng thí mạng sống mình vì đàn chiên. Đi theo và tin tưởng phó thác vào sự bao bọc chở che của Chủ Chăn đã lấy mạng sống Ngài để bảo vệ, cứu thoát ta khỏi tội lỗi và cái chết hủy diệt để đưa ta vào sự sống Phục sinh vĩnh cửu như tác giả Thánh vịnh 22 đã cảm nghiệm:
Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Ngài cho tôi nằm nghỉ.
Ngài đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi.
Ngài dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính, vì danh dự của Ngài.
Lạy Chúa, dầu qua thung lũng tối tăm,
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm…
Thế nhưng, ta có sẵn sàng chịu nghe tiếng của Chủ Chăn để tìm về với Ngài mỗi khi đi lạc đường, có sẵn sàng đi theo Ngài để cho Ngài bảo vệ, chăm sóc hay lại tìm cách tách rời đàn chiên để đi tìm những bãi cỏ tiền tài, danh vọng, bãi cỏ ý riêng…thay vì gặm cỏ xanh tươi, uống nước dòng suối mát nơi đồng Tin Mừng và Thánh Thể!
Phải coi chừng chủ chăn giả hay người chăn thuê, vì đàn chiên không thuộc về ngưới ấy, nên họ thiếu trách nhiệm với đàn chiên, ích kỷ sợ nguy hại đến bản thân mình hơn đến số phận của đàn chiên..
Ngược lại, Mục Tử nhân lành là người yêu thương, bảo vệ, chăm sóc đàn chiên, biết từng con chiên một.
Tiêu chuẩn cuối cùng để phân biệt chủ chăn đích thực và ngươì chăn chiên thuê là thí mạng sống vì đàn chiên. Chỉ có Mục Tử Nhân Lành Giêsu là Đấng đã làm như thế cho đàn chiên của mình.
Là chiên trong đàn chiên của Chúa, có ba điều ta cần phải suy xét và thực hành trong cuộc sống của mình là:
Chiên Ta nghe tiếng Ta, chúng biết Ta và chúng theo Ta. Sống và thực hành ba điều đó không phải chỉ để mưu tìm hạnh phúc cho riêng mình mà còn phải cùng Mục Tử nhân Lành thực hiện một sứ vụ khác, một nỗi trăn trở khác là:“Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này, cả những chiên đó ta cũng phải mang về đàn, chúng sẽ nghe tiếng ta. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một chủ chiên”
Khi gặm cỏ, gặp những chiên khác chưa thuộc đàn chiên của Chủ Chăn Giêsu, chúng ta có thái độ nào? Đố kỵ hay thân thiện, nhường nhịn chia sẻ hay ganh ghét tranh phần, yêu thương hay thù hận, tiếp đón giúp đỡ hay làm ngơ bỏ mặc, cộng tác hay dửng dưng, đối thoại hay khép kín?
Ghen ghét, đố kỵ, phân cách, tự mãn, tự kiêu, ích kỷ... có giúp gì được cho mong ước quy tụ những chiên khác chưa thuộc về đàn chiên của Mục Tử Giêsu thành một đàn chiên duy nhất và chỉ một chủ chiên mà thôi không?

 

PS4-B126: Đóa hoa yêu thương

(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
 

Cuộc sống cho ta những cái đẹp để mang lại niềm vui hạnh phúc cho ta. Cái đẹp của thiên nhiên PS4-B126

Cuộc sống cho ta những cái đẹp để mang lại niềm vui hạnh phúc cho ta. Cái đẹp của thiên nhiên cho ta thư thái bình an. Cái đẹp của tình người cho ta niềm vui hạnh phúc. Cái đẹp của tâm hồn cho ta tin tưởng lạc quan. Một trong những cái đẹp để lại cho ta những ấn tượng nhất không hẳn là cái đẹp hoàn mỹ, sắc xảo của thể xác mà là cái đẹp của những nghĩa cử hy sinh đầy ắp tình người. Hy sinh càng nhiều thì nghĩa cử càng cao đẹp bấy nhiêu.
Cư dân mạng vừa qua có dịp trầm trồ về tình yêu lứa đôi. Tại làng Liangwang thuộc Tế Nam, Sơn Đông, Trung Quốc, có một câu chuyện tình yêu khiến nhiều người không khỏi rung động. Sun Guofang, một người vợ chưa cưới đã dũng cảm hiến tặng một bên thận của mình để cứu sống người yêu bị nhiễm độc đường niệu cần cấy ghép. Cô nói rằng: "Đây là món quà giá trị nhất tôi có thể mang lại cho anh ấy trong ngày Valentine”.
Đây là một tình yêu đẹp. Đẹp như một đóa hoa mà ai đó nói rằng:
Sắc là dâng hiến
Hương là hy sinh
Thiên Chúa đã yêu thương con người bằng một tình yêu cao đẹp hơn thế! Ngài yêu thương không phải dành tặng cho con người một quả thận, một đôi tay, một đôi mắt... ; Ngài dành tặng cho con người cả mạng sống hiến thân vì anh em. Tình yêu của Ngài là tình yêu dâng hiến đến hy sinh cả tính mạng cho con người. Tình yêu của Ngài rực rỡ như một sắc hoa và tỏa lan hương thơm nhờ hy sinh đến quên cả chình mình.
Tình yêu ấy hôm nay Ngài ví tựa như tình yêu của người mục tử dành cho đàn chiên. Một tình yêu vượt lên trên trách nhiệm để có thể lo cho đàn chiên. Thức ăn nước uống và nhất là canh thức để bảo vệ đàn chiên khỏi hiểm nguy của thú rừng luôn rình chờ. Thiên Chúa yêu con người. Tình yêu của Ngài luôn mang con người trong trái tim đến nỗi biết từng con chiên, lo lắng cho từng con chiên, chăm sóc cho từng con chiên. Ngài biết từng nỗi khổ của con người vì từng “sợi tóc trên đầu rơi xuống Ngài cũng biết”. Cái biết của Ngài là cái biết thông cảm, thương xót. Cái biết kèm theo sự dấn thân để xoa dịu nổi khổ của con người.
Xin cho chúng ta biết nhận ra tình yêu của Thiên Chúa luôn ban tặng cho thế gian. Tình yêu của Ngài vẫn đong đầy trên cuộc đời chúng ta. Một tình yêu quan phòng, chở che, nâng đỡ chúng ta. Xin cho chúng ta cũng biết đền đáp tình yêu ấy bằng cả một đời họa lại chân dung đầy yêu thương của Chúa cho anh em. Nhất là nơi gia đình chúng ta, nơi mà ai cũng từng được yêu thương và cũng cần thể hiện tình yêu thương. Tình yêu nơi vợ chồng luôn hy sinh dâng hiến cho nhau. Tình yêu nơi cha mẹ luôn tận tụy cho con cái. Tình yêu nơi con cái luôn sống hiếu thảo với mẹ cha... Mỗi một tình yêu dâng hiến nơi gia đình là một đóa hoa đang trang trí cho gia đình thêm rạng rỡ và thơm hương. Ước gì mỗi người chúng ta luôn là một đóa hoa yêu thương dâng tặng gia đình như tình yêu của Thiên Chúa hiến dâng vì chúng ta. Amen.

 

PS4-B127:  Tôi biết chiên của Tôi - ViKiNi

(Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm – trong ‘Xây Nhà Trên Đá’)
 

Câu nói có vẻ tầm thường, nhưng thật lạ lùng. Nếu một ông thủ tướng trong sạch, biết rõ từng bộ  PS4-B127

Câu nói có vẻ tầm thường, nhưng thật lạ lùng.
Nếu một ông thủ tướng trong sạch, biết rõ từng bộ trưởng, từng tỉnh trưởng, từng giám đốc, bí thư, thì không một ai dám tham nhũng, hối lộ.
Nếu cha mẹ tốt lành, biết rõ từng đứa con, sẽ dễ dàng dạy con ngoan chăm con giỏi, và không có con nào dám qua mặt làm điều hỗn láo.
Nếu người trên nhân hậu biết rõ người dưới, chắc chắn sẽ dễ cảm thương cho số phận khổ sở kẻ dưới và sẽ hết mình giúp đỡ họ.
Vậy làm sao có thể biết rõ được?
Muốn biết rõ người phải xuyên suốt bốn giai đoạn sau:
Thứ nhất, biết những hành động bên ngoài, từ lời nói, cử chỉ đến việc làm.
Thứ hai, biết những hành động bên trong, là những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, ước muốn và ý định.
Thứ ba, biết quá khứ, hiện tại, tương lai xẩy ra sao.
Thứ bốn, biết số phận, vận mệnh may rủi sống chết thế nào?
Thường người ta, dù người tài giỏi, thông thái hay gần gũi như cha mẹ sống với con cái, cũng chỉ biết được người khác qua những hành động bên ngoài. Những nhà tâm lý giáo dục biết được tâm tính con người thường dùng phương pháp quan sát ba yếu tố: cảm xúc (Emotivité: E), hoạt động (Activité: A) và xem phản ứng sơ khởi hay sâu lắng (retentivité primaire ou secondaire) để xếp xem người đó thuộc loại tính tình nào trong tám loại tính tình.
Thực ra, con người chỉ có thể biết nhau ở giai đoạn thứ nhất, tới giai đoạn thứ hai chỉ là đoán mò, nên mới có câu: “Sông sâu còn có người dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”.
Khi Chúa Giêsu nói với ta: “Tôi biết chiên của Tôi” thì Người biết hết mọi sự: từ hành động bên ngoài đến bên trong ta, từ quá khứ hiện tại đến số phận đời đời của ta, Người thấu suốt cả cuộc đời ta.
Người biết rõ Nathanael ở đâu, đang làm gì.
Người biết rõ Pharisiêu nghĩ gì, biết rõ âm mưu của Giuđa và các thượng tế. Người biết rõ quá khứ của người đàn bà xa lạ đến kín nước giếng Giacóp có bảy đời chồng và kẻ đang sống với bà không phải là chồng bà. Người biết rõ tương lai của các môn đệ sẽ bị bắt bớ, tù đầy, xét xử và bị giết đi vì làm chứng về Người, và Người khuyên các ông đừng sợ vì họ chỉ giết được xác mà không giết được hồn. Người biết rõ phần thưởng Chúa Cha ban cho các ông bội hậu trên trời.
Người biết rõ số phận của thành Giêrusalem sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào và Người khóc thương họ.
Chính vì biết rõ thân phận con người như thế mà Người cảm thương ta vô cùng.
Khi ta nhìn một người quằn quại trên vũng máu vì tai nạn hay một người rên xiết trên giường bệnh, ta không cầm được nước mắt. Ta chỉ biết được chút bên ngoài chốc lát thôi, ta còn biết mủi lòng, huống chi là Thiên Chúa biết quá rõ số phận ta từ đời đời, Thiên Chúa còn phải thương yêu ta đến thế nào! Người đã thấy thân phận ta như “con chiên ở giữa sói rừng, sói liền bắt và làm tan tác đoàn chiên”. Vì thế, không lạ gì Thiên Chúa Cha đã phải hy sinh Con Một yêu dấu của Ngài, xuống thế làm người, sống lăn lộn cứu chữa con người cho đến chết và bị chết đóng đinh trên thập giá. Hôm nay chúng ta thấy: tại sao Người nói: Tôi biết chiên Tôi và Tôi hy sinh mạng sống Tôi cho đoàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một người mục tử”.
Trong bài đọc một, thánh Phêrô đã chứng tỏ cho thượng hội đồng thấy: “Chính nhờ danh Đức Giêsu Kitô, người Nagiarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã cho Người chỗi dậy, từ cõi chết, đã cứu chữa người tàn tật này được lành mạnh”.
Trước tình yêu của Đấng chăn chiên nhân lành như thế, thánh Gioan kêu gọi chúng ta: “Anh em hãy xem Thiên Chúa yêu ta dường nào để ta được gọi làm con Thiên Chúa. Và được nên giống như Người”.
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết cố gắng nên giống Người Mục Tử nhân lành, biết nhận trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, thánh hóa đoàn chiên, chúng con mới được giống Người trong vinh quang.

 

PS4-B128: Chủ chăn hoàn hảo – AM Trần Bình An

Người ta đã nghe các lời Đavít nói và thuật lại cho vua Sa un. Vua cho gọi Đavít đến. Đavít nói PS4-B128

Người ta đã nghe các lời Đavít nói và thuật lại cho vua Sa un. Vua cho gọi Đavít đến. Đavít nói với vua Sa un: “Đừng ai ngã lòng vì nó. Tôi tớ ngài đây sẽ đi chiến đấu với tên Philitinh ấy.” Vua Sa un nói với Đavít: “Con không thể đến với tên Philitinh ấy để chiến đấu với nó, vì con chỉ là một đứa trẻ, còn nó là một chiến binh từ khi còn trẻ.”
Đavít thưa với vua Saun: “Tôi tớ ngài là người chăn chiên dê cho cha. Khi sư tử hay gấu đến tha đi một con chiên trong bầy gia súc, thì con ra đuổi theo nó và giật con chiên khỏi mõm nó. Nó mà chồm lên con, thì con nắm lấy râu nó, đánh cho nó chết. Tôi tớ ngài đã đánh cả sư tử lẫn gấu, thì tên Philitinh không cắt bì này cũng sẽ như một trong các con vật đó, vì nó đã thách thức các hàng ngũ của Thiên Chúa hằng sống.” Đavít nói: “Đức Chúa là Đấng đã giật con khỏi vuốt sư tử và vuốt gấu, chính Người sẽ giật con khỏi tay Philitinh này.” Vua Sa un nói với Đavít: ”Con hãy đi, xin Đức Chúa ở với con!” Vua Sa un lấy y phục của mình mặc cho Đavít, đội mũ chiến bằng đồng lên đầu và mặc áo giáp cho cậu. Đavít đeo gươm của vua ngoài y phục, rồi thử bước đi, vì cậu không quen. Đavít nói với vua Sa un: “Con không thể bước đi với những thứ này được, vì con không quen.” Rồi Đavít bỏ những thứ đó ra. Cậu cầm gậy trong tay, chọn lấy năm hòn đá cuội dưới suối, bỏ vào túi chăn chiên, vào bị của cậu, rồi tay cầm dây phóng đá, cậu tiến về phía tên Philitinh. (1 Sm 17, 31- 40)
Trích đoạn trong sách Samuen thứ nhất phác họa phần nào chân dung mục tử nhân lành. Đavít thuở thiếu thời đã dũng cảm chiến đấu với sư tử và gấu, để bảo vệ đoàn chiên chăn dắt. Nay sẵn sàng thân chinh giết Philitinh, Đavít dám hy sinh mạng sống cứu đoàn chiên của Thiên Chúa. Trong Tin Mừng của Thánh Gioan hôm nay, Đức Giêsu tuyên xưng là Mục Tử nhân lành với tất cả tình cảm, trách nhiệm và chịu chết để cứu đoàn chiên. “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10, 14)
Đức Giêsu hiểu biết rành mạch từng con chiên trong đoàn chiên đông đảo vô số. Không những biết mặt mũi, vóc dáng, tên tuổi từng con, mà còn thấu hiểu cả tâm tính, đức hạnh để kỹ lưỡng chăm sóc, băng bó, dìu dắt, cứu giúp và hy sinh để chiên sống khỏe mạnh: “Ta đến để chúng được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10)
Chủ Chiên phục vụ
Dĩ thực vi tiên, được ăn no đã là sung sướng như được ở cõi tiên rồi. Thế gian vẫn quan tâm nhiều đến cái ăn cái mặc, dĩ nhiên đó là nhu cầu chính đáng, nhưng sự lo lắng thái quá sẽ dễ quên đi điều còn vô cùng quan trọng và cấp bách hơn, như Đức Giêsu đã khẳng định với ma quỷ cám dỗ: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4, 4)
Tuy nhiên, Đức Giêsu đã không nỡ để những ai theo Người chịu mãi cảnh đói khát, một khi đã bỏ mọi sự mà theo Người. Hai lần Người hóa bánh và cá ra nhiều cho hằng ngàn người được ăn no nê. Một lần sau khi Phục Sinh, Người cũng hóa bánh và cá phục vụ các môn đệ được sau đêm chài lưới đói khát, mệt nhọc, vất vả.
Đức Giêsu đã chăm lo đoàn chiên toàn tâm toàn ý với trách nhiệm rất cao, như sách Êdêkien đã ghi sấm ngôn của Đức Chúa: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ.” (Ed 34, 14)
Người ân cần chăm sóc mọi bề, sao cho đoàn chiên luôn ấm no, hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.” (Tv 23,1)
Từ lương thực và nước uống vật chất, hữu hình, Đức Giêsu, Mục Tử Nhân Lành dẫn dắt tín hữu, con chiên đến nước trường sinh: “Ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4, 14) và lương thực đến sự sống đời đời là vâng phục theo Thánh Ý Thiên Chúa: “Lương thực của Thầy là thực hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người.” (Ga 14, 34)
Chủ Chiên yêu thương
Mục Tử Nhân Lành chan chứa tình yêu, tận tụy với đoàn chiên: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt.” (Is 40, 11)
Với tình yêu nồng nhiệt, Chủ Chiên đích thực không chỉ chăm lo, nuôi nấng, mà còn tận tình chăm sóc, quan tâm đến con đi lạc bầy, đau yếu, bệnh hoạn, để đi tìm về, cứu chữa, dưỡng nuôi, bảo vệ, gìn giữ: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng.” (Ed 34, 16)
Đoàn chiên luôn được Chủ Chăn bảo vệ bình an, yên lành, trước những cơn bão táp cuộc đời hung hăng, dữ tợn, hiểm nguy, ào ạt đe dọa tràn đến: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.” (Tv 23,4)
Mục Tử chân chính không chạy theo số đông, mà quên đi một con chiên đi lạc. Một con chiên lạc đối với Người cũng giá trị không kém chín mươi chín con ở lại: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc.” (Mt 18, 12-13)
Với trái tim nhân ái, vị Mục Tử Nhân Lành không muốn bất cứ ai bị hư mất. Nên Người quan tâm chiên đi lạc, chăm sóc chiên ốm yếu, bệnh tật, hoạn nạn, thương tích: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn.” (Lc 5, 32). Mặc dù, Chủ Chiên nhìn thấu suốt đáy lòng những con chiên giả hình, kiêu ngạo, tham lam, cố chấp, ỷ lại, bất nghĩa, bất tín, bất trung, nhưng Người thương xót, không phạt vạ ngay, mà chỉ ân cần kêu gọi sám hối, ăn năn, cải tà quy chánh, với lòng thương xót để hồi phục và chữa lành.
Chủ Chiên hy sinh
Sấm ngôn của Thiên Chúa qua ngôn sứ Dacaria đã khẳng định: “Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên.” (Dcr 9, 16) Nay Mục Tử nhân lành đã chu toàn thực hiện lời Thiên Chúa hứa ngàn xưa: "Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải là chủ chiên, và các chiên không phải là của người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà trốn.” (Ga 10, 11)
Thế nhưng muốn sống đời đời, con chiên phải dứt khoát quyết định đi qua cửa Chủ Chiên Nhân Lành: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.” (Ga 10, 7) Dĩ nhiên, con chiên phải bỏ lại sau lưng những thứ hư ảo, phù phiếm kềnh càng, cả chính bản thân hẹp hòi, ích kỷ, nặng nề, mà cố gắng vác thập giá, trách nhiệm, bổn phận với gia đình , cộng đoàn, tha nhân, mới được cứu rỗi vĩnh cửu.
Hơn nữa Người còn tự nguyện trở nên lương thực cho đoàn chiên được no đủ, mạnh khoẻ, giầu sinh lực, can đảm thẳng tiến trên đường hy vọng: "Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ." (Ga 6, 24-35)
Tuyệt đỉnh chính là cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Mục Tử Nhân Lành đã giải thoát đoàn chiên khỏi sự chết, mà dẫn vào cõi sống viên mãn muôn đời. Người chính là Chủ Chăn hoàn hảo độc nhất vô song, Người đích thực là Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên.
“Chúa không sinh con để làm đàn cừu, đàn vịt, nhưng để lãnh đạo môi trường của con. Lãnh đạo là thúc đẩy, là lôi cuốn.” (Đường Hy Vọng, số 214)
Lạy Chúa Chiên Lành, Mục Tử chí nhân chí ái, xin luôn mãi kiếm tìm chúng con trở về đoàn tụ với đoàn chiên, mỗi khi chúng con đi lạc, ham vui đi hoang. Xin dạy bảo chúng con noi gương Người, cũng trở nên chủ chiên tốt lành từ gia đình, cộng đoàn, đến xã hội, hầu dẫn dắt mọi người về với Chúa.
Lạy Mẹ Maria nhân từ, Hiền Mẫu của chúng con, xin giúp chúng con biết yêu thương, phục vụ và hy sinh, hầu dẫn dắt mọi người về đường ngay nẻo chính, hiệp nhất trong Đoàn Chiên duy nhất của Chúa Giêsu. Amen.

 

PS4-B129: Ai là mục tử? Đàn chiên thuộc về ai?

(Suy niệm của Lm. Giuse Lê Minh Thông)
Chăn cừu trong hoang mạc Giu-đê
Bản văn (Lê Minh Thông dịch sát bản văn Hy Lạp)
Đức Giêsu nói với những người Pha-ri-sêu:
11 Chính Tôi là mục tử tốt. Mục tử tốt hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên.
12 Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình. Thấy sói đến, anh ta bỏ đàn chiên mà chạy - và sói vồ lấy chúng và làm tán loạn -.
13 Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên.
14 Chính Tôi là mục tử tốt. Tôi biết chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết Tôi,
15 như Cha biết Tôi, và Tôi biết Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên.
16 Tôi còn có những chiên khác, chúng không thuộc ràn này. Tôi cũng phải dẫn dắt chúng và chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ làm thành một đàn chiên, một mục tử.
17 Vì điều này mà Cha yêu mến Tôi: Tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại nó.
18 Không ai lấy nó khỏi Tôi, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh nó. Tôi có quyền hy sinh nó và Tôi có quyền lấy lại nó. Tôi đã nhận mệnh lệnh này từ nơi Cha của Tôi.”
***
 

Đức Giêsu là mục tử tốt, Người là mục tử duy nhất của đàn chiên. Khi tham gia nhiệm vụ chăn dắt PS4-B129

Đức Giêsu là mục tử tốt, Người là mục tử duy nhất của đàn chiên. Khi tham gia nhiệm vụ chăn dắt trên nhiều cấp độ khác nhau trong Hội Thánh, chúng ta dễ quên là chỉ có một mục tử duy nhất là Đức Giêsu. Những người có nhiệm vụ chăn dắt trong cộng đoàn là những người được Đức Giêsu giao phó nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên của Người. Đàn chiên đó thuộc về Đức Giêsu. Sở hữu đàn chiên là Đức Giêsu, vì chỉ một mình Người là mục tử tốt, chỉ một mình Người có khả năng “hy sinh và lấy lại mạng sống mình” vì yêu mến đàn chiên. Xin chia sẻ đôi nét về tư cách mục tử của Đức Giêsu và về vai trò người chăn dắt trong cộng đoàn Hội Thánh.
Trước hết, người ta thường gọi Đức Giêsu là “Mục tử nhân lành” cách nói này chưa diễn tả hết ý nghĩa, vì có thể chỉ dừng lại ở nghĩa “hiền lành”, “tốt lành”. Trong khi, bản văn Hy Lạp dùng tính từ “tốt” (kalos). “Mục tử tốt” không chỉ là “tốt lành”, “hiền lành”, mà điều quan trọng hơn là “tốt” về phẩm chất. Người mục tử tốt là người có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của nhiệm vụ chăn dắt và chu toàn tốt đẹp vai trò mục tử.
Khẳng định của Đức Giêsu: “Chính Tôi là mục tử tốt” là kiểu nói đặc trưng của thần học Gio-an. Đức Giêsu là ánh sáng, là bánh, là cây nho đích thực, là cửa ràn chiên, là mục tử tốt. Tính từ “tốt” cho phép phân biệt với tất cả các mục tử khác trong Cựu Ước. Trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giêsu không so sánh mình với các mục tử khác, bởi vì Người là mục tử duy nhất của đàn chiên.
Đức Giêsu là mục tử tốt, vì Người hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên (10,11). Lời này lạ lùng và nghịch lý. Nếu mục tử chết, đàn chiên cũng chết. Vì không có ai bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói dữ. Trên thực tế, người mục tử phải tìm mọi cách để sống còn. Dù phải đối diện với nguy hiểm, người mục tử khôn ngoan là người bảo toàn được mạng sống của mình, như thế mới có thể bảo vệ đàn chiên. Bởi vì, sự sống còn của đàn chiên lệ thuộc vào sự sống còn của mục tử. Người mục tử tốt là người “sống vì đàn chiên”, chứ không phải là người “hy sinh mạng sống mình”, theo nghĩa “chết vì đàn chiên” như Đức Giêsu nói.
Thực ra, cuối đoạn Tin Mừng, sự sống của Đức Giêsu được đề cao. Người khẳng định: “Tôi có quyền hy sinh mạng sống mình và có quyền lấy lại nó”. Lời này ám chỉ Đức Giêsu sẽ chiến thắng sự chết. Biến cố Phục Sinh làm cho Người trở thành mục tử duy nhất. Người đang sống. Chính Người bảo vệ đàn chiên, ban sự sống đích thực cho đàn chiên và làm cho đàn chiên được sống dồi dào (10,10).
Nhưng tại sao Đức Giêsu lại hướng về sự chết khi khẳng định ngay từ đầu đoạn Tin Mừng: “Mục tử tốt hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên” (10,11)? Trong bối cảnh văn chương của Tin Mừng thứ tư, đoạn văn 10,11-18 ở vào cuối sứ vụ công khai, những kẻ chống đối Đức Giêsu đã và đang tìm cách giết Người; sứ vụ công khai của Đức Giêsu đang dần dần khép lại. Vì thế, đoạn văn 10,11-18 nhằm xác định vai trò của Đức Giêsu đối với những ai tin vào Người. Người là mục tử tốt, Người tự ý hy sinh mạng sống mình và Người có quyền lấy lại nó. Nhờ đó, Người có khả năng ban sự sống cho đàn chiên.
Bầu khí xung đột bộc lộ trong cách Đức Giêsu dùng hình ảnh “người làm thuê”. Ai là những kẻ làm thuê? Tin Mừng cho phép hiểu Đức Giêsu ám chỉ giới lãnh đạo Do Thái đang tìm cách giết Người, đó là những người Do Thái, những người Pha-ri-sêu, các thượng tế, họ là những người được giao nhiệm vụ chăn dắt dân. Các sách Cựu Ước gọi họ là mục tử, nhưng Đức Giêsu tước mất quyền đó khi nói: “Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình… Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên” (10,12-13).
Chính trong bối cảnh những kẻ chống đối đang tìm cách giết Đức Giêsu mà Người nói đến việc “hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”. Hoa trái của sự “hy sinh và lấy lại mạng sống” này là phổ quát. Vì qua đó, Đức Giêsu quy tụ tất cả con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi về thành một đàn chiên, một mục tử (10,16; 11,52).
“Một đàn chiên, một mục tử” (10,16) là khẳng định thần học quan trọng, mà nhiều lúc những người có nhiệm vụ chăn dắt xem nhẹ. Cuối Tin Mừng Gio-an (21,15-17), ba lần Đức Giêsu hỏi Phê-rô: “Anh có yêu mến Thầy không?”, chỉ sau khi Phê-rô trả lời “Thầy biết con yêu mến Thầy”, Đức Giêsu mới trao sứ vụ chăn dắt: “Anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy”.
Kiểu hành văn này cho thấy: Đàn chiên, bao gồm mọi người tin, là của Đức Giêsu. Các chủ chăn trong Hội Thánh là những người được Đức Giêsu giao phó nhiệm vụ chăn dắt và chăm sóc đàn chiên của Người. Đàn chiên là của Đức Giêsu chứ không phải của bất kỳ ai khác.
Câu hỏi đặt ra: Để có thể chăn dắt đàn chiên của Đức Giêsu phải có điều kiện nào? Ngoài những đòi hỏi mang tính pháp lý như được huấn luyện, lãnh tác vụ, điều cốt lõi là “tình yêu dành cho Đức Giêsu”. Ba lần, Phê-rô tuyên xưng tình yêu dành cho Đức Giêsu trước, sau đó mới được Người giao sứ vụ chăn dắt. Như thế, tình yêu dành cho Đức Giêsu là nền tảng làm nên bản chất của người chăn dắt. Có thể nói, khi người chăn dắt không thực sự yêu mến Đức Giêsu nữa, thì ngay lúc đó, người ấy không còn tư cách để chăn dắt đàn chiên của Đức Giêsu nữa. Bởi vì, chính tình yêu dành cho Đức Giêsu là bản chất và là căn tính của sứ vụ chăn dắt.
Thánh Augustinô diễn giải lời Đức Giêsu nói với Phê-rô ở Ga 21,15-17 như sau: “Nếu anh yêu mến Thầy, anh đừng nghĩ anh là mục tử; nhưng anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy, như chúng là của Thầy chứ không phải như chúng là của anh; anh hãy tìm kiếm nơi đàn chiên vinh quang của Thầy chứ không phải vinh quang của anh; sở hữu của Thầy, chứ không phải sở hữu của anh, lợi ích của Thầy, chứ không phải lợi ích của anh.”
Xin cho sứ điệp của bài Tin Mừng giúp chúng ta sống đúng vị trí và vai trò của mình khi tham gia vào nhiệm vụ chăn dắt ở nhiều cấp độ khác nhau trong cộng đoàn Hội Thánh. Điều quan trọng hơn cả là “yêu mến Đức Giêsu” và từ đó chăn dắt đàn chiên được giao phó bằng chính tình yêu mà Đức Giêsu là vị mục tử duy nhất đã dành cho mình và dành cho đàn chiên của Người.

 

PS4-B130:  Mục tử tốt lành & Kẻ làm thuê

(Suy niệm của John W. Martens - Văn Chính, SDB chuyển ngữ)
“Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên” (Ga 10,12-13).
 

Trong 4 Ezra 5,19, một bản văn khải huyền Do thái vào thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, Ezra bị chất PS4-B130

Trong 4 Ezra 5,19, một bản văn khải huyền Do thái vào thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, Ezra bị chất vấn bởi “Phaltiel, một thủ lãnh của dân” về việc ông có biết rằng “dân Ít-ra-en đã được ủy thác cho ông trong miền đất lưu đày không? Vậy hãy đứng lên và ăn chút bánh, đừng bỏ rơi chúng tôi như một người mục tử bỏ rơi đàn chiên trước sự tấn công của đàn sói dữ tợn”. Hình ảnh ở đây tương tự với hình ảnh người mục tử mà Tin mừng Gio-an đã viết, trong đó Đức Giê-su nói: “Ta là Mục tử tốt lành. Người mục tử tốt lành hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên”.
Trong tác phẩm “Hãy để các trẻ em đến với Ta”, Cornelia Horn và tôi đã viết “Trình thuật về Người Mục tử tốt lành trong Tin mừng Gioan chương 10 đã phác họa cho chúng ta thấy một dung mạo thần học về Tình yêu của Đức Giê-su đối với dân của Ngài, thế nhưng lối ám chỉ về Tình yêu của Đức Giê-su lại được lấy từ những gì rất quen thuộc trong cuộc sống. Đức Giê-su không phải là một “kẻ làm thuê” (misthotos), nhưng là một người biết chăm sóc đàn chiên, một người dám hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên (Ga 10,11-15). Trái lại, những kẻ làm thuê thì sẽ làm gì khi sói dữ đến tấn công? Nó sẽ chạy trốn”.
Những kẻ làm thuê được Đức Giê-su xác định rõ ràng trong lối ám dụ này. Vậy nếu Đức Giê-su là Mục Tử tốt lành, vậy ai là kẻ làm thuê? Đó là những kẻ mà trong 4 Ezra mô tả, những nhà lãnh đạo tôn giáo Do thái đã không chăm lo cho đàn chiên như một người mục tử tốt lành. Một khi dùng thứ hình ảnh thực tế trong đời sống nông nghiệp và chăn nuôi rất quen thuộc với dân chúng, hẳn dân chúng sẽ hiểu ngay lập tức, và lên án những kẻ chăn thuê.
Đức Giê-su chăm sóc, lo lắng cho dân chúng là đàn chiên, vì họ là chiên của Ngài và Ngài sẽ bảo vệ họ. Chuyện này thật hiển nhiên, tuy thế hình ảnh người mục tử này xem ra có vẻ kỳ lạ, khi Đức Giê-su nói: “Và Tôi sẽ hiến mạng sống mình vì đàn chiên”. Những con chiên có xứng đáng với việc này không? Đàn chiên có đáng để người mục tử hy sinh mạng sống của mình không? Nếu người mục tử chết vì đàn chiên, thì ai sẽ bảo vệ chúng? Hình ảnh này xem ra có sự phi lý nào đó trong việc Đức Giê-su hy sinh mạng sống vì nhân loại. Thật ra, sự hy sinh này chỉ thực sự có nghĩa nếu như nhờ đó mà đàn chiên sẽ được bảo vệ tốt hơn nữa.
Đức Giê-su dùng chính trường hợp này để nói về cái chết của Ngài, một cái chết sẽ “đưa về những chiên khác không thuộc về ràn này… Như thế, sẽ chỉ có một đàn chiên và một mục tử.” Đức Giê-su nói về việc hy sinh mạng sống của Ngài, nhưng “để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạmg sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.” Như vậy thoạt đầu, việc chết cho đàn chiên dường như để nhằm tới mục đích là chăm sóc đàn chiên, thế nhưng đó cũng chính là lý do để cho đàn chiên được phát triển và lan rộng như ngày nay ở trên khắp thế giới.
Khi “các thủ lãnh trong dân và các kỳ mục” chất vấn Phê-rô để xem ông đã làm thế nào khiến người què được chữa lành; Phê-rô trả lời rằng chuyện đó là “do danh Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng mà các ông đã đóng đinh vào thập giá, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết. Chính Đức Giê-su là ‘viên đá bị các ông là thợ xây loại bỏ, nhưng lại trở thành đá góc tường’. Ngoài Ngài ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,8-12).
Vị mục tử tốt lành không chỉ cứu đàn chiên qua việc hy sinh mạng sống mình cho chúng, nhưng có khả năng làm cho chúng không còn là những con chiên nữa, mà “tất cả chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thật sự chúng ta là con Thiên Chúa… Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3,1-2). Tất cả chúng ta được cứu độ và trở thành con cái Thiên Chúa, nhưng mục tiêu tối hậu, một điều chúng ta không tưởng tượng ra được, là chúng ta trở nên giống như vị Mục Tử Tốt Lành.
Suy nghĩ: Trở thành chiên trong đàn chiên của Đức Giê-su có nghĩa là thế nào? Trở thành con cái Thiên Chúa có nghĩa ra sao?

 

PS4-B131: Chúa Giêsu - Mục Tử Nhân Lành

(Suy niệm của Lm. Barnaba Lê An Phong, SDB)
 

Từ Phúc Âm của Thánh Gioan, chúng ta nghe lại lời của Chúa Giêsu về Mục Tử Nhân Lành trong PS4-B131

Từ Phúc Âm của Thánh Gioan, chúng ta nghe lại lời của Chúa Giêsu về Mục Tử Nhân Lành trong cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó, đặc biệt là nhóm Pharisêu. Sau khi xác nhận những khác biệt cơ bản giữa các mục tử thật và mục tử giả hiệu (Ga 10, 1-18), Chúa Giêsu đã tuyên bố những yếu tố quan trọng mối quan hệ giữa người tin vào Người và bản thân Người, giữa người chăn chiên tốt lành với đàn chiên của mình. Chúng ta suy niệm với nhau hai điểm sau đây.
Về người chăn chiên
- “Chiên của tôi nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” Biết là động từ diễn đạt cho chúng ta hay về hoạt động của lý trí, của việc nắm bắt một thực tại. Mục Tử Nhân Lành biết đàn chiên của mình. Người không chỉ biết số lượng (100 con), biết tính toán (99 con tốt và 01 con lạc đàn). Ngài còn nhận biết chiên của mình, cả con tốt lành, ngoan hiền lẫn con làm loạn, hư đốn; biết những con đau yếu và cả những con mạnh khỏe.
Là một mục tử tốt lành, Chúa Giêsu còn biết nhiều hơn cùng với việc “lắng nghe” và “dõi theo” đàn chiên; nhưng việc nhận thức ấy không là “kiến thức thực tế” theo kiểu của một giám sát viên đang theo dõi một hoạt động xây dựng, của một công an đang theo người phạm luật giao thông, của một thẩm phán đang xét xử. Chúa Giêsu - Mục tử nhân lành biết đến chiên của mình như một người có sự dịu dàng của một người mẹ khi bà dành cho cậu con trai nhỏ của mình sự nâng đỡ hướng dẫn, chăm sóc; và giống như của một người cha đã nhìn thấy trước và chuẩn bị tương lai cho những đứa con của mình, khi ông biết sức lực và tài năng, biết cả những cố gắng, những thành công và những thất bại của chúng... Đây là “kiến thức của cõi lòng” (sapientia cordis) của người chăn chiên tốt biết đàn chiên và từng con chiên của mình.
- “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, chúng sẽ không bị hư mất mãi mãi và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Mục tử nhân lành đã khẳng định một sự thật tuyệt đối: Người sẽ sử dụng tất cả sức mạnh của mình để giữ an toàn cho con chiên của mình.
Nhưng với sức mạnh nào mà Chúa Giêsu Mục tử nhân lành giữ lấy chiên của mình? Vị Mục tử Nhân lành yêu thương và đối xử tốt lành với từng con. Sợi dây làm hàng rào nơi ràn chiên và giữ chúng lại trong đàn là tình yêu thương và sự quan tâm, là việc hy sinh bản thân mình cho cuộc sống của đàn chiên bằng cách chết trên thập tự giá. Và đây chính là sức mạnh của Mục tử nhân lành, cũng là sức mạnh của Thiên Chúa Cha, bởi vì “Tôi và Chúa Cha là một”.Và Người làm điều hy sinh lớn lao đó không chỉ cho bản thân mình, nhưng làm như vậy vì Thiên Chúa, nhân danh Chúa Cha và với tất cả thẩm quyền của Chúa Cha.
- “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời và sẽ không bị hư mất mãi mãi”. Đây là công việc và tất cả kết quả trong tay của Mục tử nhân lành. Việc bảo vệ và hướng dẫn đàn chiên là hành động nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho đàn chiên. Đó là một cái gì đặc biệt, nhiều hơn, cao hơn, sâu hơn so với những gì thuộc thế giới này mà vị mục tử nhân lành muốn làm cho đàn chiên – sự sống đời đời. Đó phải đích đến cho một thế giới khác, là sự sống nơi Thiên Chúa và Vương quốc tình yêu của Ngài.
Về đàn chiên
- “Chiên của tôi nghe tiếng tôi”. Lời Chúa như muốn chúng ta tự vấn: Mỗi người Kitô hữu luôn luôn là người biết lắng nghe? Đâu là lời mà họ muốn nghe từ chủ chăn của mình?
Lắng nghe phải là một thái độ đón nhận vàchuyển hoá lời đó qua hành động. Đối với chúng ta, Chúa Chiên Lành được coi là Thầy dạy căn bản và đầu tiên. Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa, và Lời của Người đồng thời cũng là điều cần thiết cho cuộc sống chúng ta. Trong Ngài, đàn chiên còn được nghe lời yêu thươngvà từ ái của một Thiên Chúa – Đấng giàu lòng xót thương.
- “Tôi biết chúng và chúng biết tôi”: Như đàn chiên thuộc về Đức Kitô, chúng ta biết gì về Mục tử của mình? Bước theo Mục Tử Nhân Lành, chúng ta phải đi theo một cuộc hành trình: Thông qua Bí tích rửa tội, mỗi con chiên có thể bước đi bằng đức tin của mình với Chúa Giêsu; nhưng đích đến của cuộc hành trình vẫn còn xa. Sống trong đàn chiên là Giáo Hội và từng bước, từng bước trong đời sống hằng ngày, người kitô hữu phải tiến về phía trước theo lời mời gọi của Mục tử -Đấng yêu thương họ: Đó là sống theo Tin mừng, tập luyện đời sống nhân đức và luôn bước đi trên con đường ngay chính, hướng về sự thiện hảo là chính Thiên Chúa, không tách mình ra khỏi đàn chiên, không rẽ ngang bước tắt trên đường đi vì những đam mê và tính toán và lợi ích của riêng mình…
Trong ngày lễ Chúa Chiên lành, chúng ta cùng cầu nguyện cho các mục tử và cầu nguyện cho ơn gọi.
Những lời nói của Chúa Giêsu đã từng gây sốc cho người Pharisêu, bởi vì đôi tai và trái tim mục tử của họ đã khô cứng theo mô hình trong Cựu Ước. Khi mà vị trí của họ được coi là thầy dạy quan trọng và nắm trong tay quyền lực mạnh mẽ thì họ đã không muốn thay đổi, không muốn yêu thương, cũng như không muốn nhìn thấy sự hiện diện đầy yêu thương của vị Mục tử là chính Đấng Cứu thế. Lời cảnh cáo của Đức Giêsu Mục tử tiếp tục gây sốc cho nhiều mục tử của Giáo Hội ngày nay, trong công việc mà thường được gọi là “mục vụ”. Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều này: Cầu cho các mục tử ai ai cũng biết sứ vụ quan trọng của mình, nhận biết đàn chiên và từng con chiên, biết sử dụng sức mạnh của tình yêu thương và sự hy sinh để canh giữ đàn chiên, và biết quan tâm hơn cho sự sống đời đời của đàn chiên.

 

PS4-B132: Mục Tử Tốt Lành với ba chữ D

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An) 
 

Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là Mục Tử Tốt Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của Tôi biết PS4-B132

Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là Mục Tử Tốt Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của Tôi biết Tôi. Mục Tử Tốt Lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên”. Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, yêu thương săn sóc và hy sinh mạng sống cho đàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên, tiếp nối sứ mạng Mục Tử của Ngài.
Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành với những nét đặc trưng sau đây:
- Vị Mục Tử Tốt Lành hết lòng yêu thương những người thuộc về mình. Vì yêu thương nên Ngài quan tâm đến mọi người và đến từng người. Càng quan tâm thì càng biết tường tận: biết họ muốn gì, họ cần gì, họ có thể gặp phải những nguy cơ cạm bẫy hay thử thách nào.
- Vị Mục Tử Tốt Lành luôn đi đầu, đi trước, hướng dẫn, lãnh đạo đoàn chiên, đứng mũi chịu sào, gánh chịu mọi khổ cực cho người thuộc về mình. Mục Tử Tốt Lành đem chiên đến những miền an toàn, có suối mát có cỏ xanh, cho chiên được ăn uống no nê, được nghỉ ngơi thoải mái. Chiên sẽ tăng trưởng cả về chất lượng lẫn số lượng. Mục Tử Tốt Lành dám hy sinh mạng sống vì chiên.
- Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến để yêu thương, chăm sóc, quy tụ mọi con chiên. Ngài biết tên từng con chiên như Cha Ngài biết Ngài (Ga 10,14-15). Ngài gọi tên từng con chiên và dẫn đi (Ga 10,3). Mục Tử sẵn sàng hy sinh mạng sống vì chiên: "Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu" (Ga 15,13). Chúa Giêsu đã chứng tỏ Ngài là vị Mục Tử Tốt Lành, vị chủ chăn không bao giờ hèn nhát thấy sói tấn công chiên mà bỏ trốn, nhưng Ngài luôn cứu vớt, tập họp, chăn dắt (Ga 10,9.16).
Chúa Giêsu còn cho thấy tính tương phản của hai loại mục tử. Mục tử thật và mục tử giả. Mục tử thật luôn hết mình vì đàn chiên. Mục tử giả chỉ lo vun quén cho bản thân. Mục tử thật thì hy sinh cho đàn chiên. Mục tử giả chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử thật luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Mục tử giả chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình, sống hưởng thụ, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.
Đức Hồng Y Yvan Dias, Tổng trưởng Thánh bộ Phúc âm hóa các Dân tộc, đại diện Đức Thánh Cha đã chủ toạ bế mạc Năm Thánh 2010 tại Thánh Địa La Vang.
Sau đại lễ, ĐHY Ivan Dias đã gặp gỡ các Giám Mục Việt Nam trong một tiếng đồng hồ để chia sẻ về tình hình cũng như gởi gắm sứ điệp. Về sứ điệp, ngài mời gọi tất cả Giám mục chia sẻ lại cho các linh mục, chủng sinh của mình về 3 chữ D rất cần thiết trong đời sống của người thuộc về Giáo Hội. 3 Chữ D là: Doctrine, Discipline, Dévotion.
1. Doctrine, về giáo thuyết. Mỗi Linh mục hôm nay được mời gọi nắm vững giáo lý Giáo hội Công giáo, giáo huấn Giáo hội, học thuyết xã hội của GHCG, bởi vì nếu không nắm vững những hướng đi trong đó, thì trong cách ứng xử một Linh mục ở tại giáo xứ nhiều khi có những cái chưa chuẩn mực và nếu như cả một Giáo hội mà lại không nắm vững về Doctrine này thì rất nguy hiểm, sẽ đưa Giáo hội đến chỗ không cứu vãn được. Tại sao Tòa Thánh phải lên tiếng về Giáo hội Trung Quốc? Câu trả lời cho biết vì yếu về giáo thuyết. Nếu hiểu Giáo hội không thể tự lực tự cường được thì người ta sẽ có chọn lựa khác. Chẳng phải nói đâu xa, trường hợp của GHVN ngày nay cũng cho thấy thấp thoáng nguy cơ. Hết rồi thời đối đầu, đã bước sang thời đối thoại. Nhưng đối thoại như thế nào để mình vẫn là GHCG, đó lại là cả một tuyến mở ra cho suy nghĩ và vì vậy quan trọng là nắm vững giáo thuyết để có những quyết định phù hợp.
2. Discipline, về kỷ luật. Đây là một vấn đề thường gây khủng khoảng cho các Giáo hội phương Tây. Vấn đề Linh mục lạm dụng tình dục là do việc không tuân thủ kỷ luật của Giáo hội, để đến khi bùng nổ ra thì không vớt vát được. Hiện nay ở nhiều địa phận của Hoa Kỳ đã phải bán hết cơ sở của mình đi để trang trải cho việc xao lãng kỷ luật của một thời. Đây là một vấn đề đau lòng. Do đó, tuân thủ kỷ luật đời sống Linh mục là một cách để giúp Linh mục một đàng thánh hóa bản thân và đàng khác tránh tất cả những hậu quả tai hại. Thời mới bước chân vào Chủng viện, chắc chắn các chủng sinh đều thuộc lòng câu: Ai sống theo kỷ luật là sống theo ý Chúa, và sau này trên bước đường lớn hơn, Linh mục vẫn thường được nghe nhắc nhở: hãy giữ luật thì luật sẽ giữ cho mình, sẽ bảo vệ mình. Cho nên chữ Discipline mời gọi mỗi người trong hướng đi đời Linh mục cũng gắn bó với luật lệ của Giáo hội cách khít khao.
3. Dévotion, lòng đạo đức sốt sắng. Ở đây theo như lời chú giải của ĐHY Dias, thì nó gắn liền với những phong trào đạo đức, có một thời tưởng như bị bỏ rơi vì đi liền với lòng đạo đức bình dân của đại chúng. Thí dụ: tràng hạt Mân Côi, có một thời người ta rẻ rúng cho là loại kinh dành cho phụ nữ, người nhàn rỗi, người già… nhưng sau này người ta cảm nghiệm được sức mạnh của kinh Mân Côi, nhất là sức mạnh hoán cải, sức mạnh thánh thiêng giúp người ta tiến xa trên đường nên thánh. Những cái thuộc loại Dévotion thì thường gắn liền với những hình thức văn hóa. Ví dụ: hành hương coi như chuyện đi chơi, nhưng ở đó cũng là một thứ Dévotion mời gọi Linh mục không nên xem thường. Tất nhiên không thể loại trừ những hình thức Dévotion truyền thống tôn sùng Thánh Tâm, Chầu Thánh Thể, hay là những hình thức khác nhau dành cho các Thánh. Một Linh mục mà rẻ rúng những hình thức đạo đức bình dân thì coi chừng, tưởng là mình ở trên đỉnh cao trí thức, biết đâu lúc nào đó mình rớt xuống vực mà không hay. Lần hạt Mân Côi, đó là một lời kinh tháp tùng Linh mục trên mọi bước đường, trong mọi hoàn cảnh, đó là lời kinh còn lại duy nhất sau khi đã quên đi tất cả. Gắn bó với một sự đạo đức như thế cũng là một cách giúp cho đời Linh mục được vươn lên, được thăng tiến. (x. Huấn từ khai mạc Tình tâm Linh Mục Giáo Phận Phan Thiết, ngày 10.1.2011, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống).
Chúa nhật IV Phục sinh, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu Linh mục và ơn gọi Tu sĩ nam nữ. Giáo Hội luôn cần đến những mục tử tốt lành. Hãy cầu nguyện cho Giáo Hội có nhiều mục tử đạo đức, thánh thiện như lòng Chúa mong ước.
Trong Sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho các ơn gọi năm 2012, ĐTC Bênêđictô xác định: Lời Chúa, cầu nguyện và Thánh Thể là kho tàng quý giá giúp cho các ơn gọi hiểu vẻ đẹp của một cuộc sống hoàn toàn dâng hiến cho Nước Thiên Chúa.Ngài mời gọi mời gọi các mục tử: Khi kín múc ở nguồn mạch tình yêu Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện, cùng với việc năng lui tới với Lời Chúa và các Bí tích, cách riêng Bí tích Thánh Thể, mà ta có thể sống tình yêu đối với tha nhân trong đó ta học biết khám phá khuôn mặt của Chúa Kitô (x. Mt 25,31-46). Trở nên mục tử tốt lành nhờ biết trau dồi giáo thuyết Kinh Thánh (Doctrine), sốt sắng trong lời cầu nguyện gắn bó với Chúa Giêsu (Dévotion) và có tinh thần kỷ luật trong đời sống tu trì (Discipline).
Mục tử tốt lành là phải luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, luôn khát khao và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, vị mục tử tốt lành biết rõ đàn chiên,yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hiến mạng vì đàn chiên. Từ đó, vị mục tử tốt lành biết nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực có chất lượng cao đặc biệt là cử hành Thánh Thể sốt sắng và nhiệt thành trong bí tích Hòa Giải.
Ơn gọi Linh mục Tu sĩ chính yếu là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi”(Mc 3, 14). Sống với Chúa, là lắng nghe tiếng Ngài trong từng giây phút sống, để nên một với Chúa trong gian nan và hạnh phúc. Để Ngài sai đi, là sẵn sàng đi theo con đường Ngài đã đi, thực thi sứ mạng Ngài trao bất chấp những gì xảy ra.
Giáo dân cần Linh mục như bệnh nhân cần bác sĩ, như học sinh cần thầy cô giáo, như một người bạn sẵn sàng cảm thông chia sẻ vui buồn trong đời sống và như người bạn đồng hành giúp đỡ trong cuộc hành trình tiến về đời sau.
Hãy cầu nguyện cho các Linh mục được trở nên những mục tử như Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tốt Lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích của đàn chiên.
Hãy cầu nguyện cho các Linh mục có những đức tính tốt của những Mục Tử tốt Lành mà Thánh Kinh đã mô tả:
- Yêu thương, trìu mến chiên với tất cả tâm hồn: "Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt" (Is 40,11).
- Yêu quý từng con chiên, một con cũng như cả trăm con: "Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc" (Mt 18,12-13).
- Lo cho chiên, tạo những điều kiện tốt đẹp cho chiên: "Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ" (Ed 34,14).
- Làm cho chiên được sống no ấm, hạnh phúc: "Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì" (Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: "Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm" (23,4).
- Tinh thần trách nhiệm đối với đàn chiên rất cao: "Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng" (Ed 34,16).
- Cứu thoát, giải phóng đàn chiên: "Thiên Chúa sẽ cứu thoát dân Người, như mục tử cứu thoát đàn chiên" (Dc 9,16).
Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Tốt Lành, xin hãy ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa. Amen.

 

PS4-B133: Chủ Chiên đích thực

(Suy niệm của Lm. Phêrô Nguyễn Hồng Phúc)
 

Hình ảnh người mục tử với đàn chiên thật thân thuộc và gần gũi với người Do Thái. Tuy nhiên, đối PS4-B133

Hình ảnh người mục tử với đàn chiên thật thân thuộc và gần gũi với người Do Thái. Tuy nhiên, đối với người Việt Nam chúng ta cũng phải được diễn tả bằng nhiều cách so sánh. Ngày nay chúng ta đã thấy thân thuộc hơn khi hình ảnh của người Kitô hữu được gọi là đoàn chiên và các giám mục, linh mục được gọi là chủ chiên. Hình ảnh này được họa lại từ chính Đức Giêsu Kitô xưng mình là “Mục tử tốt lành”, vì “Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta”(Ga 10,14). Vì vậy, để hiểu rõ Chúa chiên và đoàn chiên, người Việt Nam chúng ta nên nhìn thẳng vào giữa cộng đoàn dân Chúa – những người Kitô hữu hôm nay với các chủ chiên của mình.
Điều thứ nhất, Chúa Giêsu phân biệt giữa người chăn thuê và người chăn chiên đích thực. Người chăn thuê, vì lo giữ mạng sống của mình nên khi chó sói tấn công chiên thì bỏ chiên mà chạy trốn. Còn người chăn chiên đích thật thì coi chiên là chính mạng sống của mình. Do vậy, khi thấy chó sói đến, kể cả sư tử, cũng lăn xả vào chống trả để bảo vệ đàn chiên. Nhiều khi, thú dữ phải đi qua xác chủ chiên mới ăn thịt được đàn chiên. Và hình ảnh đó là một hình ảnh về tình yêu đích thực, tình yêu lớn nhất. Chúng ta nhìn vào các vị chủ chiên để chúng ta hiểu rằng, đối với các vị chủ chiên thì một tình yêu hiến tế là cả cuộc đời của các ngài hiến dâng, vì Chúa Kitô, vì nhân loại. Các ngài không sống cho mình, nhưng các ngài đã vì phần rỗi linh hồn của đàn chiên.
Thánh Phanxico Assisi quen gọi là Phanxicô khó khăn đã diễn tả một cách sâu sắc và đầy tính triết lý trong lời kinh Hòa Bình, lời kinh được diễn tả một thái độ, một tư cách của người chủ chiên trong đoạn kinh:
“…Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người,
để con đem yêu thương vào nơi oán thù.
Đem thứ tha vào nơi lăng nhục.
Đem an hòa vào nơi tranh chấp.
Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
Để con đem tin kính vào nơi nghi nan.
Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng...
Lạy Chúa, xin hãy dạy con.
Tìm an ủi người hơn được người ủi an.
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết.
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu…”.
Đó là những tư cách của người chủ chiên. Những chủ chiên đích thực tìm hiểu biết người nơi chính đoàn chiên, và họ làm như vậy là bởi chính Chúa Kitô đã thực hiện trước. Họ chỉ là những người đi theo sát bước Chủ chiên đích thực dám hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Thế giới hôm nay càng cần có các vị giám mục, linh mục tốt. Bởi vì trong một thế giới duy vật chất, người ta muốn khước từ những gì là thiêng liêng thì sự hiện diện của các giám mục, linh mục chủ chiên là bằng chứng cho thế giới thấy Thiên Chúa đang hiện diện giữa thế giới vật chất của chúng ta.
Điều thứ hai, đoàn chiên hôm nay cần có chủ chiên để nói cho thế giới biết rằng, chúng ta phải sống trong tình yêu thương. Đoàn chiên hôm nay cần có chủ chiên để nói cho thế giới biết rằng, những người chăn chiên đích thực là những người biết bảo vệ cho đoàn chiên. Rồi từ đó, nhìn vào đoàn chiên, chúng ta cũng thấy mối tương quan giữa “Ta biết chiên Ta và các chiên Ta biết Ta”.
Trong thế giới hiện nay, đàn chiên đã có nhiều những biểu hiện suy thoái, đó là nghe tiếng lạ. Tin Mừng hôm nay, Chúa cảnh báo “chiên không nghe tiếng lạ”. Nhưng thế giới hôm nay thì đàn chiên nghe theo tiếng lạ rất nhiều. Những tiếng lạ của vật chất, những tiếng lạ của tình dục, những tiếng lạ của phá thai, những tiếng lạ của hưởng thụ sống gấp, những tiếng lạ của những hận thù và oán ghét dẫn đến chiến tranh. Vì vậy, hơn bao giờ hết, mối tương quan giữa chủ chiên và đoàn chiên hôm nay cần phải luôn luôn tái lập, phải luôn luôn ý thức lại. Đó là một mối tương quan hữu cơ: “Ta biết chiên Ta và các chiên Ta biết Ta”. Không những là đàn chiên hiện tại, Chúa Giê su còn nói: “Ta còn nhiều chiên khác chưa thuộc đàn này. Cả những chiên đó cũng phải đưa về, để cuối cùng chỉ có một đàn chiên và một Đấng chăn chiên đích thực” (Ga 10,16). Chỉ có một chân lý, một tình yêu đích thực mà tất cả mọi người đều phải qui về đó!
Mối tương quan giữa chủ chiên và đàn chiên được đảm bảo bằng chân lý, đảm bảo bằng tình yêu đích thực thì chỉ có một. Thế giới hôm nay cũng chỉ có một, nếu người ta coi trọng chân lý, coi trọng tình yêu. Sự hiện diện của chủ chiên là tiếng nói quen thuộc đối với đàn chiên thì không bao giờ là tiếng lạ. Tiếng nói quen thuộc đó kêu gọi mọi người hãy yêu thương, hãy phục vụ, hãy quên mình, hãy quảng đại, hãy dấn thân. Nếu chúng ta nghe được tiếng của tình yêu Thiên Chúa, tiếng của Giáo Hội thì hôm nay gia đình của chúng ta đã hạnh phúc, xã hội của chúng ta đã bằng yên, không có khủng bố, không có hận thù chiến tranh, không có phá thai. Nhưng thế giới của chúng ta hôm nay đã có nhiều tiếng lạ xuất hiện khiến cho khoa học cũng phải lên án, triết học cũng phải lên án và hòa bình cũng phải lên án.
Một lần nữa, ngày lễ Chúa chiên lành hôm nay. Khi chúng ta nhìn vào Chúa Chiên Lành, chúng ta nhìn vào giáo phận của chúng ta với các tân chức linh mục vừa được phong. Nhìn lại mối tương quan giữa Chúa chiên và đoàn chiên, chúng ta thấy vang âm lại Lời Chúa. Lời Chúa vẫn luôn luôn là kim chỉ nam cho cả chủ chiên và đoàn chiên, rằng: “Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta”.
Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Chúa là mục tử tốt lành.
Xin cho chúng con cũng là những đoàn chiên tốt lành
và là những đàn chiên thuộc về quyền của Chúa,
để cuối cùng chúng con chỉ nghe một tiếng
là tiếng của chân lý.
Chúng con chỉ sống trong một tiếng gọi,
là tiếng gọi của tình yêu.
Xin cho hôm nay,
chủ chiên biết đi sát những gì
mà người mục tử tốt lành duy nhất
là chính Chúa đã chỉ rõ những tư cách của người mục tử
cho các linh mục noi theo,
đồng thời đàn chiên cũng ý thức
đi theo tiếng của Chúa chiên
mà không nghe theo tiếng lạ
để sống trong yêu thương,
trong an bình và trong hạnh phúc.
Xin cho chúng con ở trong một đoàn chiên duy nhất
dưới quyền một Đấng chăn chiên duy nhất
là chính Chúa, Amen.

 

PS4-B134: TA LÀ MỤC TỬ  TỐT LÀNH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
Ga 10, 11 – 18
 

 Chúa nhật Chúa Chiên Lành là Chúa nhật dành riêng cầu nguyện cho ơn gọi. Chúa nhật này gợi cho PS4-B134 Dalat

Chúa nhật Chúa Chiên Lành là Chúa nhật dành riêng cầu nguyện cho ơn gọi. Chúa nhật này gợi cho chúng ta hình ảnh của Vị Mục Tử Nhân Lành tự hiến mạng sống mình, để chia sẻ với nhân loại, với mọi người, với chúng ta sự sống Phục Sinh của Ngài. Vị Mục Tử Nhân Hậu, Hiền Lành đã bỏ chín mươi chín con chiên trong đàn mà đi tìm một con chiên lạc. Tìm được con chiên lạc, Vị Mục Tử Nhân Lành vác con chiên lạc trên vai mình…
Vâng, ngày xưa, đề tài này là nguồn cảm hứng của nhiều văn nhân, thi sĩ trong Thánh Kinh, khiến họ mô tả Thiên Chúa như một Vị Mục Tử. Thiên Chúa đã xả thân, hy sinh, hiến mạng sống cho dân Israen không khác gì Vị Mục Tử, vì thế tác giả Thánh Vịnh 23 đã hát lên :” Chúa là mục tử chăn dắt tôi…Tôi không còn thiếu thốn gì…Dù phải đi qua thung lũng tối đen hiểm nguy.Tôi cũng không hề lo sợ “ ( Tv 23, 1-4 ). Và từ đó, các Vị Lãnh Đạo Tôn Giáo Israen ở trần gian cũng được coi như Vị Mục Tử. Tuy nhiên, theo thời gian, vai trò lãnh đạo tôn giáo của Israen đã bị thoái hóa, biến chất. Ngôn sứ Êzéchiel đã nhân danh Chúa nói :” Hỡi các mục tử Israen, các ngươi đã bị băng hoại, biến chất rồi ! Các ngươi chỉ biết lo cho bản thân mình, chứ không hề nghĩ đến bầy chiên…Các ngươi chẳng chăm sóc  những con yếu đuối, bệnh hoạn, tật nguyền…Vậy hỡi những chủ chăn, hãy nghe đây, Ta, Vị Chủ Tể tối cao, Ta tuyên bố rằng…Ta sẽ tách bầy chiên ra khỏi các ngươi…Ta sẽ giao chúng cho một Vị Vua giống như Đa Vít tôi tớ của Ta, để làm mục tử của chúng và Người ấy sẽ lo lắng chăm sóc chúng “ ( Ez 34, 2-4,9-10,23 ).
Chính vì thế, chúng ta phải đọc đoạn Tin Mừng của thánh Gioan hôm nay trong bối cảnh này. Đức Giêsu nói :” Ta là Mục Tử Tốt Lành, sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đàn chiên…Chúng sẽ nghe tiếng Ta và chúng sẽ trở nên một đàn chiên duy nhất dưới quyền một chủ chiên “. Hình ảnh người chăn chiên rất quen thuộc đối với người Do Thái vì chính cha ông của họ và chính họ cũng là những người sống về nghề chăn chiên nuôi cừu. Đức Giêsu được ví như người Chăn chiên nhân lành vì Ngài là nhân vật mà ngôn sứ Ézéchiel đã tiên báo. Giống như Vua Đa Vít, Đức Giêsu, người mục tử nhân lành, chăm sóc những con chiên yếu đuối, gầy còm, bơ vơ, chữa lảnh những con chiên tật nguyền, bệnh hoạn, băng bó vết thương cho những con chiên bị nạn, đi tìm con chiên lạc đường, mất lối. Đức Giêsu còn nhân hậu hơn thế, Ngài xả thân , tự hiến mạng sống cho đàn chiên của Ngài…Ngài còn đi tới tận cùng là đã sống lại từ cõi chết và chia sẻ đời sống linh thánh, Phục Sinh của Ngài cho nhân loại, cho chúng ta. Ngài cho chúng ta được tham dự vào quyền năng Phục Sinh của riêng Ngài như thánh Phêrô cho chúng ta hay chính nhờ tin vào quyền năng của Chúa mà người tàn tật được chữa lành. Chúa Phục Sinh cũng mời gọi mọi người chúng ta tin vào Ngài để được chữa lành phần hồn cũng như phần xác. Thánh Gioan trong bài đọc hai cũng nhắc nhở mọi người chúng ta:” Nhờ Chúa Giêsu, Thiên Chúa Cha đã cho chúng ta trở nên con cái riêng của Ngài”. Mỗi người chúng ta khi được trở nên con cái Chúa, chúng ta cũng được kêu gọi sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành và với sứ mạng được trao chúng ta được mời gọi loan báo Chúa đã Phục Sinh, và giới thiệu Chúa Chiên Nhân Lành cho mọi người để nhiều người nhận ra ơn cứu độ Chúa sống lại mang đến cho họ.
Mừng lễ Chúa Chiên Lành, chúng ta cầu người cho có nhiều thanh niên, nam nữ quảng đại, dấn thân cho Chúa, cho Hội Thánh trong các Chủng Viện, Tu Viện, Đan Tu  vv…Xin cho các Linh Mục trở nên giống các Mục Tử Nhân Lành như lòng Chúa mong ước.
Lạy Chúa, xin cho chúng con mỗi người biết sống địa vị của mình theo gương Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành đã hiến mạng sống vì đàn chiên.Amen.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 
1.Mục Tử Tốt lành ngĩa là gì ?
2.Tại sao Chúa Giêsu lại được ví như Mục Tử tốt lành ?
3.Tại sao lại gọi là Mục Tử xấu ?
4.Cac Linh mục được mời gọi sống giống ai ?
5.Tại sao chúng ta lại phải cầu nguyện cho ơn thiên triệu ?
 
 

PS4-B135: Chúa là Mục tử và là người phục vụ

SUY NIỆM CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH - B
( Ga 10, 11 – 18 )
 

Ngày Thế Giới lần thứ 55 cầu cho ơn gọi sẽ được cử hành vào ngày 22-2-2011, Chúa nhật thứ 4 Phục PS4-B135

Ngày Thế Giới lần thứ 55 cầu cho ơn gọi sẽ được cử hành vào ngày 22-2-2011, Chúa nhật thứ 4 Phục Sinh, mời gọi chúng ta suy tư về đề tài: " lắng nghe, biện phân, và sống". Chúng ta bị chìm đắm trong một xã hội ồn ào, giao động vì nhiều thứ kích thích và thông tin tràn ngập bủa vây chúng ta. Để nhận ra tiếng Chúa gọi, cần có thái độ mặc niệm trong thinh lặng, lắng nghe (x. Sứ Điệp Cầu Cho Ơn Gọi 2018). Chăm chú lắm mới khám phá ơn gọi đặc thù và cách riêng mà Chúa đã nghĩ ra cho mỗi người chúng ta. Nhưng để sống, chúng ta phải chiêm ngắm Chúa Giêsu là Mục Tử.
Mục Tử giầu lòng thương xót
Trong Cựu Ước hình ảnh người mục tử có một tầm quan trọng. Khi nói về mục tử, người ta liên tưởng ngay đến điều đã viết trong sách Ngôn sứ Ezekiel nhân danh Thiên Chúa ông nói : "Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta. Chính Ta, Ta sẽ cho chúng được an nhàn. Sấm của Ðức Chúa Yavê.  (Chiên) thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm. (Chiên) tản mác, Ta sẽ lùa về. (Chiên) xây xát, Ta sẽ băng bó. (Chiên) bịnh hoạn, Ta sẽ bổ sức. Còn con nào béo, mạnh, Ta sẽ diệt đi. Một cách công minh, Ta sẽ chăn dắt chúng" (Ed 34, 15-16). Lời tiên tri này được cụ thể hóa nơi Đức Giêsu Kitô, Vị Mục Tử nhân lành như chúng ta thấy trong Tin Mừng hôm nay. Vị Mục Tử giầu lòng thương xót biết và thương từng con chiên, ôm ấp con chiên ốm, chiên gặp nạn thì băng bó vết thương, chiên lạc đi tìm về. Chữ "mục tử" gợi lên sự dịu dàng và cảm động, khiến mỗi người chúng ta muốn trở thành con chiên lạc (Lc 15, 3-7) được Người Mục Tử quyết tâm đi tìm bằng được và vác trên vai.
Mục Tử tốt lành trao ban mạng sống mình.
Hình ảnh người mục tử không chỉ quan trọng trong Kinh Thánh, mà chính trong Giáo hội hôm nay hình ảnh này vẫn con hấp dẫn. Điều mà Thiên Chúa hứa với dân xưa rằng : "Ta sẽ ban cho những mục tử như lòng Ta mong muốn" (Gr 3,15) là kinh nghiệm hàng ngày của Giáo hội, dân mới của Thiên Chúa. Giáo hội biết rằng chính Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Tối Cao hoàn thành cách sống động lời Thiên Chúa hứa : "Ta là Mục Tử tốt lành " (Ga 10,11); Người là "Mục Tử vĩ đại" (Dt 13,20) ủy thác cho những người kế nhiệm là các tông đồ nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên Chúa (x. Eph 21, 15 ... 1 P.5, 2). Nhờ các linh mục vâng theo lệnh Chúa Giêsu truyền: "Hãy đi, làm cho môn dân trở thành môn đệ của Thầy" (Mc 16,19) mà dân Chúa có thể sống dồi dào.
Vậy chúng ta hãy cầu xin Chúa sai các thợ gặt lành nghề đến gặt lúa của Người và xin cho các mục tử ngày hôm nay theo gương Chúa Giêsu là Mục Tử tốt lành. Ước mong họ dâng hiến sự sống mình và can đảm cống hiến mạng sống mình để bảo vệ đoàn chiên. Xin cho họ yêu mến đoàn chiên như Chúa Kitô đã yêu mến ngõ hầu họ có thể dẫn chiên đến sự hiệp nhất với Chúa Kitô.
Sự tốt lành của người mục tử được thể hiện trong hồng ân mà vị ấy làm cho đoàn chiên được giao phó được sống và sống dồi dào trong sự nhận biết chiên của mình. Người mục tử biết từng con chiên một với tình yêu cao cả và chăm sóc mỗi con chiên. Chiên "cảm nhận" được điều đó và biết mục tử của mình thật tốt lành. 
"Biết" trong Kinh Thánh có nghĩa là biết trong tình yêu: biết vì tình yêu và trong tình yêu. Như một người mẹ, trong bóng tối đêm đen "cảm thấy" con mình bị bệnh, bà thức dậy để chăm sóc cho con, ngay cả khi người con ấy không phàn nàn, người con "cảm thấy" người mẹ chăm sóc cho mình. Tình yêu đích thực là sự biết hoàn hảo. Giống như Người Mục Tử tốt lành, các mục tử và đoàn chiên sống trong sự hỗ tương để lớn lên trong sự qui chiếu vào Chúa Kitô.
Thuộc về Đức Kitô
Chúng ta bởi Chúa mà ra và chúng ta thuộc về Chúa, Chúa biết mỗi người chúng ta để thí mạng và sống lại vì đoàn chiên. Nếu chúng ta nghe tiếng Chúa, tin tưởng vào Chúa, chúng ta sẽ có được sự sống của chính Chúa. Chúa Giêsu nói : "Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: kẻ nghe lời Ta và tin vào Ðấng đã sai Ta, thì có sự sống đời đời, và khỏi đến tòa phán xét, nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự sống" (Ga 5 , 24). Với đức tin, chúng ta hoàn thành bước quyết định : đi từ cõi chết đến cõi sống, bỏ miền đất của kẻ chết và bước vào miền đất của kẻ sống.
Giáo hội đề nghị các mục tử suy niệm đoạn Tin Mừng này: để suy ngẫm về chính mình. Tại sao vậy? Thưa mỗi mục tử đơn giản chỉ là "dấu chỉ" của Chúa Giêsu là Mục Tử. Vậy chúng ta suy gẫm trang Tin Mừng này và tìm cách sống bằng cách sống hiệp thông giữa chúng ta để chúng ta hiểu biết Chúa Kitô cách sâu xa và thuộc trọn về Chúa Kitô.
Trong Tin Mừng hôm nay, tương quan giữa mỗi người với Chúa Phục Sinh được chỉ ra trước hết là mối quan hệ "thuộc về" : chiên không thuộc về kẻ trộm nhưng thuộc về mục tử.  Thuộc về trước hết là sự nhận biết hỗ tương : "Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta" (Ga 10,14). Sự nhận biết này rất quan trọng, chúng ta thuộc về Chúa khi chúng ta đón nhận Lời Chúa Giêsu ("chúng sẽ nghe tiếng Ta"). "Biết Chúa Giêsu là Mục Tử" là nghe tiếng Chúa và đi theo sự hướng dẫn của Chúa.
Nhớ lại lời đề nghị của Chúa Giêsu: "Mùa lúa thật nhiều, mà thợ gặt lại ít! Chúng con hãy cầu xin Chủ Mùa sai nhiều thợ đến gặt lúa!" (Mt 9,37), chúng ta ý thức thật nhiều về nhu cầu phải cầu nguyện cho những ơn gọi linh mục và ơn gọi sống đời tận hiến. Chúng ta hãy xin Chúa Cha trên trời đốt nóng tâm hồn những người trẻ để họ quảng đại đáp lại tiếng Chúa, đồng thời xin Chúa phù giúp các linh mục mà Chúa đã ban cho cộng đoàn Dân Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
  
 

PS4-B136: ĐẤNG CHĂN CHIÊN LÀNH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH, năm B
Cv 4, 8-12    1 Ga 3, 1-2     Ga 10, 11-18
 

 Mục Tử là danh xưng của người Do Thái khi gọi Thiên Chúa là Mục Tử, và họ là đoàn chiên của PS4-B136

Mục Tử là danh xưng của người Do Thái khi gọi Thiên Chúa là Mục Tử, và họ là đoàn chiên của Người. Thực tế, đối với Dân Chúa, từ Ông Abraham tới Vua Đavít và nhiều tổ phụ của người Do Thái đã từng là những người chăn chiên chăn cừu. Từ kinh nghiệm của nghề chăn chiên, họ trở nên lãnh đạo Dân Chúa. Các Vị này đã trở thành những Mục Tử chăn dắt Dân Thiên Chúa.
Vâng, quan niệm, ý niệm về Mục Tử là truyền thống, văn hóa và quan niệm của người Do Thái xưa. Do đó, Chúa Giêsu cũng thừa hưởng quan niệm về tôn giáo và hấp thụ nền văn hóa của dân tộc Do Thái, đã công bố thông điệp cứu độ cho nhân loại bằng ngôn ngữ, hình ảnh thường gặp nơi dân Do Thái. Dân Do Thái từ ngàn xưa như các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia và Êdêkiên loan báo, đã hằng trông mong Đấng Cứu Thế đến chăn dắt họ như Mục Tử chăn dắt đàn chiên. Hôm nay, Chúa Giêsu nói với dân Do Thái, Ngài là Mục Tử chăn dắt đàn chiên thì Ngài đích thực muốn nói với dân, Ngài chính là hiện thân của Thiên Chúa. Đây là ý nghĩa quan trọng và chính yếu của chương 10 của thánh Gioan. Chương 10 còn đi xa hơn lời loan báo của các ngôn sứ, bởi vì các ngôn sứ chỉ loan báo Thiên Chúa đến chăn dắt dân, chứ chưa nghĩ tới việc Con Thiên Chúa dám hy sinh mạng sống mình, làm giá cứu chuộc nhân loại. Bởi vì, Thiên Chúa là Đấng vĩnh hằng, trường tồn, bất biến, làm sao dám nghĩ rằng Ngài lại chấp nhận chết vì tội lỗi của nhân loại.Đó là một mặc khải lớn lao vượt quá lời loan báo của các ngôn sứ. Mặc khải khác nữa mà chương 10 của thánh Gioan nói tới, Đức Giêsu Kitô, không chỉ là Mục Tử của dân Do Thái, mà Ngài còn là Mục Tử của toàn thể nhân loại.
Hình ảnh chiên, cừu và những người chăn chiên là hình ảnh phổ quát, quen thuộc của người Do Thái. Nên, ngày nay, nhiều bức tranh, bức ảnh vẽ Chúa Giêsu đang vác chiên trên vai hoặc Chúa Giêsu đang ngồi, vây quanh Ngài là nhiều con chiên. Chúa là Mục Tử tốt lành chăn dắt chiên. Tuy nhiên, Ngài hơn mọi Mục Tử vì Ngài biết chiên từng con một, nghe tiếng chiên, gọi tên con chiên và chiên cũng nghe tiếng Ngài để đi theo Ngài. Đây là sự hiểu biết tận căn, nhận ra nhau dễ dàng, quý mến, trân trọng lẫn nhau. Chúa Giêsu đã trao quyền chăn dắt đoàn chiên, tức là Hội Thánh cho Phêrô sau khi Ngài sống lại. Sứ mạng này thật cao cả và quý hóa. Sứ mạng này bắt nguồn từ tình yêu. Chúa Giêsu là Mục Tử tối cao và là Mục Tử gương mẫu. Môi Mục Tử khác đều dưới quyền lãnh đạo của Ngài. Chính vì thế, mọi Mục Tử trên trần gian này phải noi gương, bắt chước Ngài. Mọi Mục Tử phải dám hy sinh vì chiên của mình.
Nữ tu Chiara Francesca Pico đã viết :” Vào mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc đều có những người hướng dẫn và thủ lãnh của họ…không một ai trong những người này đã hiến mạng cho dân mình, một cách cho không và vô điều kiện.Chỉ duy nhất Con Thiên Chúa, trở nên người phàm, đã mang lấy tội lỗi và chết cho chúng ta.Chỉ duy nhất một mình Người, Đức Giêsu Kitô, là Người hướng dẫn, là Chủ Chăn của chúng ta…Chúng ta hãy nghe “ tiếng nói “ của chủ Chăn này, vào mỗi Chúa Nhật, ở Thánh Lễ…Chúng ta có đủ khả năng giữ thinh lặng để lắng nghe tiếng nói của Người không ?”.
Giáo Hội dùng Chúa nhật thứ IV Phục Sinh để cầu nguyện cho ơn gọi. Trên thế giới ngày nay, nhiều nơi thiếu ơn gọi trầm trọng. Riêng tại Việt Nam, tạ ơn Chúa, ơn gọi vẫn còn đông.Đời sống tu trì, và ơn gọi làm linh mục vẫn còn hấp dẫn nhiều tâm hồn. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho có nhiều thanh niên nam nữ quảng đại dấn thân cho Chúa trong các Dòng Tu, Tu Hội và trong các Chủng Viện.
Xin Chúa ban cho các cha mẹ luôn biết giáo dục con cái tốt, hướng dẫn và động viên con cái đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Amen.
  
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
 1.Tại sao lại gọi Chúa Giêsu là Mục Tử tốt lành ?
2.Quan niệm Mục Tử phát xuất từ đâu ?
3.Abraham, Đavít và nhiều Tổ phụ đã là ai trước khi lãnh đạo dân Chúa ?
4.Biết theo nghĩa của Chương 10 của thánh Gioan có nghĩa gì ?
5.Ai được Chúa Giêsu trao quyền lãnh đạo Giáo Hội đầu tiên khi Ngài Phục Sinh ?

 

PS4-B137: MỤC TỬ NHÂN LÀNH HIẾN THÂN PHỤC VỤ ĐOÀN CHIÊN

CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH B
Cv 4,8-12; 1 Ga 3,1-2; Ga 10,11-18
1. TIN MỪNG: Ga 10,11-18
(11) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (12) Người làm thuê vì không phải là Mục Tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn. (13) Vì anh ta là kẻ làm thuê và không thiết gì đến chiên. (14) Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi. (15) Như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (16) Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. (17) Sỡ dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. (18) Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh chính mình. Tôi có quyền hy sinh và lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh Cha tôi mà tôi đã nhận được.
2. CÂU CHUYỆN: MẸ SẴN SÀNG CHỊU CHẾT ĐỂ CHO CON MÌNH ĐƯỢC SỐNG:
 

Vào năm 1995, một trận động đất với cường độ mạnh đã xảy ra tại Thành phố Kô-bê Nhật Bản. PS4-B137

Vào năm 1995, một trận động đất với cường độ mạnh đã xảy ra tại Thành phố Kô-bê Nhật Bản. khiến cho nhiều nhà cửa trong thành phố sụp đổ trở thành những đống gạch khổng lồ, gây thiệt hại rất lớn cho thành phố về người và của. Các đội cứu hộ ngày đêm làm việc khẩn trương để lôi ra từ những đống gạch đổ nát nhiều xác chết và người bị thương. Nhưng cũng chính từ tai họa này, người ta đã khám phá ra một câu chuyện rất cảm động về một tình yêu hy sinh quên mình như sau:
Đến ngày thứ hai của cuộc đào bới, thì từ dưới một ngôi nhà đổ nát, người ta đã đào lên được hai mẹ con vẫn còn sống thoi thóp. Đứa con nhỏ mới được vài tháng tuổi đang nằm ngủ yên trong lòng mẹ, đang khi mẹ của em lại bị hôn mê bất tỉnh. Sau khi tỉnh dậy, một nhà báo đã phỏng vấn bà mẹ trẻ ấy như sau: “Làm thế nào mà hai mẹ con chị có thể sống được đến hai ngày dưới đống gạch đổ nát kia ?”. Chị đáp: “Tuy bị vùi dưới tòa nhà, nhưng rất may chúng tôi đã không bị đè chết. Mấy tiếng đồng hồ sau thì con tôi khóc đòi ăn đang khi tôi chẳng còn giọt sữa nào. Tôi quờ quạng tìm xem có cái gì ăn cho đỡ đói không. Bất ngờ bàn tay tôi chạm vào một con dao sắc trong cái giỏ bên mình. Tôi cầm dao rạch một đường ở ngón cái cho chảy máu, rồi ấn chỗ bị cắt cho con bú máu thay vì sữa mẹ. Sau khi bú ngón tay tôi được mươi phút thì cháu nằm im ngủ. Nhưng rồi lại tiếp tục khóc vì đói. Tôi liền rạch thêm một đường nữa nơi cổ tay và cho cháu bú. Sau đó tôi ngất đi lúc nào không biết cho tới khi cả hai mẹ con được cứu sống”. Nhà báo tiếp tục hỏi: “Thế chị không nghĩ rằng khi làm như thế thì chị sẽ bị mất máu và sẽ bị chết hay sao?” Chị ta trả lời: “Lúc ấy, tôi không nghĩ đến mình, mà chỉ lo cho con tôi có cái gì bú để cho nó được sống!”.
3. THẢO LUẬN: 1) Qua câu chuyện trên, hãy cho biết đặc điểm của một tình yêu đích thực là gì ? 2) Trong Tin Mừng Đức Giê-su dựa trên những đặc điểm nào để phân biệt 2 loại mục tử là mục tử chân chính và mục tử chăn thuê ? 3) Theo Đức Thánh Cha Phan-xi-cô: Các mục tử hôm nay cần làm gì cụ thể để noi gương Mục Tử lý tưởng Giê-su ?
4. SUY NIỆM:
1) Hai loại mục tử:
Mục tử là người chăn chiên, là người lãnh đạo chăm sóc đoàn chiên. Trong Tin mừng hôm nay Đức Giê-su đã phân biệt hai loại mục tử là: mục tử chân chính và mục tử giả hiệu như sau:
- Mục tử chân chính là chính Đức Giê-su: Như Người đã khẳng định: "Tôi chính là Mục Tử nhân lành”. Đức Giê-su đã thể hiện vai trò mục tử nhân lành qua việc biết từng con chiên và được chiên đáp lại (x. Ga 10,14); Người hy sinh lo lắng phục vụ cho đoàn chiên: đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng về Nước Trời (x Mt 13,1-9), sẵn sàng tính mạng bảo vệ chiên (x. Ga 10,11), Người ban Thánh Thần để tha tội và lập bí tích Thánh Thể “để cho chiên được sống dồi dào” (Ga 10,10), chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân (x. Mt 8,16-17), xua trừ ma quỷ (x. Mt 9,32-34), nhân bánh ra nhiều (x. Mt 14,15-21), và rửa chân môn đồ để dạy bài học yêu thương (x. Ga 13,14)…
- Hạng thứ hai là mục tử giả hiệu hay là những kẻ chăn thuê, ám chỉ các đầu mục dân Do Thái đương thời gồm các kinh sư, người Pha-ri-sêu và các tư tế Đền thờ. Những người này không phải là chủ chiên thực sự nên «không thiết gì đến chiên» (10,13). Họ vô trách nhiệm: «Khi thấy sói đến, họ bỏ chiên mà chạy», để «sói vồ lấy chiên và làm cho đoàn chiên tán loạn» (10,12). Đối với hạng mục tử này, đoàn chiên chỉ có giá trị lợi dụng như ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã tuyên sấm: «Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Sữa chiên thì các ngươi uống, len thì các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, nhưng đoàn chiên thì lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc» (Ed 34,2-4).
2) Kiểm điểm đời sống:
- Ngày nay, hầu hết các vị mục tử trong Hội Thánh đều có lối hành xử tốt đẹp noi gương Mục Tử Giê-su: yêu thương quên mình, hy sinh tận tụy phục vụ đoàn chiên vô vụ lợi. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một ít mục tử có lối hành xử quan liêu, vụ lề luật khi giải quyết công việc, trở thành phản chứng khiến lương dân đánh giá sai về các mục tử trong đạo. Ngày lễ Chúa Chiên nhân lành hằng năm là dịp để mọi tín hữu chúng ta, nhất là những mục tử đang có sứ vụ coi sóc đoàn chiên xét lại cung cách phục vụ của mình để cộng đoàn ngày thêm hiệp nhất và bình an.
- Có thể các mục tử chúng ta đã có nếp sống xa hoa, thể hiện qua hay thay đổi xe cộ đời mới nhất, dùng các vật dụng quần áo, ăn uống … không phù hợp với lối sống đơn sơ khó nghèo của Đức Giê-su: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20).
- Có thể chúng ta đã "nói mà không làm" như các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình đã bị Đức Giê-su nặng lời quở trách (x. Mt 23,2-4).
- Có thể chúng ta đã quá dễ dãi khi giải quyết công việc theo ý riêng chứ không theo qui định chung của giáo luật hoặc trái lại: quá nguyên tắc, thiếu cảm thông và hành xử "vụ luật" thiếu tình người, trái với tinh thần nhân ái, luôn đề cao yếu tố con người noi gương Đức Giê-su: “Ngày sa-bát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sa-bát” (Mc 2,27).
Ngày lễ Chúa chiên nhân lành là cơ hội thuận tiện để mỗi người tín hữu, đặc biệt các mục tử chúng ta hồi tâm và canh tân tu sửa lối hành xử theo gương Mục Tử lý tưởng là Đức Giê-su.
3) Mục tử lý tưởng theo giáo huấn của Đức Thánh Cha Pha-xi-cô:
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhiều lần đã dạy dỗ những người có nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên Hội Thánh: Mục tử lý tưởng phải là "người gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em, với sự hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót. Là những người yêu sự khó nghèo, sự khó nghèo nội tâm trước mặt Chúa, cũng như khó nghèo bên ngoài như sự đơn sơ và khắc khổ trong cuộc sống. Là những người không có "tâm lý của các ông hoàng". Là những người không tham vọng làm phu quân của Giáo Hội. Là những người có khả năng thức tỉnh đoàn chiên được giao phó, và quan tâm duy trì sự hiệp nhất, canh giữ đoàn chiên, chú ý tới các hiểm nguy có thể đe dọa đoàn chiên. Nhất là, làm cho niềm hy vọng được lớn lên.
Ước gì các Mục Tử luôn có mặt trời và ánh sáng trong trái tim mình. Là những người có khả năng hỗ trợ Thiên Chúa nơi dân Người, với tình thương và lòng kiên nhẫn.
Mục Tử phải có lòng yêu mến con chiên, phải có mùi chiên do thường xuyên gần gũi tiếp xúc với con chiên.
Và cuối cùng để thi hành sứ vụ, vị mục tử có ba vị trí ở trong đoàn chiên như sau:
- Một là ở đàng trước đoàn chiên để dẫn đường.
- Hai là ở giữa để duy trì sự hiệp nhất và giữ vững tinh thần của đoàn chiên.
- Ba là ở đàng sau để tránh cho chiên khỏi đi tụt hậu, và tạo điều kiện để đoàn chiên đánh hơi, hầu tìm ra một hướng đi mới.
4) Ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu:
Hiện nay trên thế giới nhất là tại các nước Âu Mỹ đang thiếu ơn gọi linh mục tu sĩ cách trầm trọng. Nhiều nhà thờ không có linh mục coi sóc, nhiều tu viện to lớn bị bỏ hoang vì không còn tu sĩ trẻ. Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, nhưng có lẽ nguyên nhân chính là do lỗi của mỗi tín hữu chúng ta: Vì chưa ý thức được tầm quan trọng của sứ vụ truyền giáo nên chúng ta chưa thiết tha nài xin Thiên Chúa sai thêm thợ gặt đến, chưa canh tân đời sống để làm chứng nhân cho tình thương của Chúa trước mặt người đời; Các bậc cha mẹ công giáo chưa quảng đại dâng con cho Chúa và không khuyến khích chúng đi tu làm linh mục và tu sĩ để phục vụ Chúa và Hội Thánh cách hữu hiệu hơn.
5. LỜI CẦU: 
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin ban cho chúng con những linh mục biết quảng đại, hy sinh phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Xin ban cho chúng con những linh mục có trái tim biết yêu thương bằng tình yêu của Chúa, một trái tim mở rộng để sẵn sàng đón nhận hết mọi người, nhất là những người đau khổ và bị bỏ rơi. Xin ban cho chúng con những linh mục có đức tin vững mạnh, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa, để giúp chúng con gặp được chính Chúa hầu có thể chia sẻ Chúa cho tha nhân. Xin ban cho chúng con những linh mục biết nhiệt tình rao giảng Lời Chúa, có sức làm bùng cháy ngọn lửa tin yêu trong lòng chúng con, giúp chúng con thêm đức tin để nhìn thấy Chúa trong mọi người và khiêm tốn phục vụ họ như phục vụ chính Chúa. Cuối cùng xin ban cho chúng con những linh mục là những vị chủ chiên tốt lành noi gương Chúa xưa, đến để cho chiên "được sống và sống dồi dào".
LM ĐAN VINH - HHTM
 
 

PS4-B138: Trách nhiệm của vị Mục Tử nhân lành

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
                                                  
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 10:11-18)
 

Lắng nghe bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giê-su lập đi lập lại ý tưởng hy sinh mạng PS4-B138

Lắng nghe bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giê-su lập đi lập lại ý tưởng hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.  Phải chăng đó là hành động cốt yếu để xác định ai là Mục Tử nhân lành?  Đúng vậy, hình ảnh hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên gợi lại cho chúng ta những gì đã xảy ra mấy tuần lễ trước đây:  Chúa Giê-su đã hy sinh mạng sống mình trên thập giá để cứu thoát chúng ta khỏi tội lỗi và đem lại sự sống mới cho chúng ta.
            Trước hết chúng ta để ý tới một chi tiết khá quan trọng liên quan tới những người Chúa Giê-su nói với họ về vị Mục Tử nhân lành.  Thánh sử Gio-an ghi rõ:  “Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái…”  Như chúng ta đã rõ, trong Tin Mừng Gio-an, từ “người Do-thái” luôn ám chỉ kẻ thù của Chúa Giê-su, hay đúng hơn, đó là nhóm Pha-ri-sêu, kinh sư và các nhà lãnh đạo tôn giáo.  Họ được coi là những mục tử chăn dắt đoàn chiên Ít-ra-en của Chúa.  Nhưng họ lại không thực thi vai trò mục tử của mình, như ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã hạch tội các mục tử nhà Ít-ra-en (Ê-dê-ki-en 34).  Giờ đây, khi nói với họ, Chúa Giê-su muốn họ nhớ lại lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en:  “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Đây Ta chống lại các mục tử. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta; Ta sẽ không để chúng chăn dắt chiên, và các mục tử sẽ không còn lo cho mình. Ta sẽ giải thoát các chiên của Ta khỏi miệng chúng, để chiên của Ta không còn làm mồi cho chúng nữa” (Ê-dê-ki-en 34:10).  Rồi Chúa Giê-su còn đưa ra hình ảnh “người làm thuê” để ám chỉ về họ.  Cũng theo lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, vị mục tử được Thiên Chúa sai đến để thay thế các mục tử xấu của Ít-ra-en chính là Chúa Giê-su, Mục Tử nhân lành.  Vậy Mục Tử nhân lành của chúng ta đã làm gì cho đoàn chiên của Người?
            Mối nguy hiểm lớn nhất đối với các con chiên là sói dữ.  Người làm thuê chỉ lo cho mạng sống mình, cho nên vừa thấy sói đến là hắn đã ba chân bốn cẳng bỏ chạy, mặc cho chiên bị sói vồ.  Trái lại, mục tử đích thực sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đoàn chiên nên khi anh can đảm đánh nhau với sói, anh đã nhận lấy phần nguy hiểm cho mình để chiên được an toàn.  Khác với người làm thuê không tha thiết gì đến chiên, mục tử tốt có mối tương quan mật thiết với chiên, mối tương quan được diễn tả bằng hành vi “biết”.  Trong Kinh Thánh, biết không phải bằng trí óc, nhưng bằng trái tim.  Hơn thế nữa, không những biết bằng trái tim loài người, mà còn biết bằng trái tim Thiên Chúa, “như Chúa Cha biết tôi và tôi biết Chúa Cha”.  Như vậy, chính vì yêu thương chúng ta là chiên của Người, Chúa Giê-su đã phải chiến đấu và đã thắng được tội lỗi và ma quỷ bằng cái chết trên thập giá.
            Khi hy sinh mạng sống, vị Mục Tử nhân lành của chúng ta không những đã bảo vệ đoàn chiên, mà Người còn mang một hoài bão lớn lao, là đưa cả những chiên thuộc các ràn khác trở về, để “chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”.  Quy về một mối là sứ mệnh của Đấng Ki-tô.  Qua Chúa Ki-tô, con đường đi đến Chúa Cha, toàn thể nhân loại được mời gọi làm con cái Thiên Chúa.  Chúa Giê-su đã “hy sinh mạng sống” là để biến đổi thân phận chúng ta, từ những kẻ tội lỗi trở thành con cái Thiên Chúa.  Người đã hy sinh mạng sống để đem lại cho chúng ta sự sống mới, sự sống của Thiên Chúa.  Trước khi về trời, để hoài bão quy về một mối được tiếp nối, Chúa Giê-su sai chúng ta là môn đệ Người ra đi rao giảng Tin Mừng cho mọi người.  Như vậy khi chúng ta tiếp tay với việc rao giảng Tin Mừng là chúng ta dự phần vào việc hy sinh mạng sống của Người vậy.
Sống sứ điệp Tin Mừng
            “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này.  Tôi cũng phải đưa chúng về”.  Có khi nào những lời này của Chúa Giê-su nhắc nhở chúng ta về bổn phận tham gia việc truyền giáo không?  Trong năm nay, công cuộc Tân Truyền giáo mời gọi chúng ta đem Chúa đến cho mọi người, không chỉ những người chưa biết Chúa, mà chủ yếu là những người xa Chúa hoặc bỏ Chúa.  Có thể họ là những người trong gia đình, hoặc sống chung quanh chúng ta.  Chúng ta phải là những người giúp Chúa Giê-su đạt được hoài bão của Người!
        Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

PS4-B139: Chúng ta thuộc về Chúa là Mục Tử nhân lành

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 10:11-18)
 

Sự khác biệt giữa Mục Tử nhân lành và người chăn thuê là điều ai cũng có thể nhận thấy dễ dàng.  PS4-B139

Sự khác biệt giữa Mục Tử nhân lành và người chăn thuê là điều ai cũng có thể nhận thấy dễ dàng.  Đó chính là ở mối tương quan giữa kẻ chăn chiên và đàn chiên.  Chúa Giê-su nêu lên sự khác biệt ấy để minh chứng Người là Mục Tử nhân lành.  Vậy chúng ta hãy xem Chúa nói thế nào về sự khác biệt ấy.
            Trước hết là dung mạo người chăn chiên thuê.   Mối tương quan giữa người chăn thuê với đoàn chiên đặt căn bản trên vấn đề tiền công.  Đó là một nghề nghiệp hoặc một hợp đồng giữa người chủ với kẻ làm thuê.  Người chăn thuê nhận tiền công của chủ để canh giữ đoàn chiên của ông.  Chiên không “thuộc về” anh, cho nên anh ta chỉ cần làm những gì liên quan tới nghề nghiệp, như làm sao giữ chiên khỏi chết đói hoặc bị hư hao.  Con chiên đối với anh chỉ mang giá trị vật chất, đáng giá bao nhiêu đồng, chứ không có giá trị tình cảm.  Vì thế, chiên có gặp nguy hiểm, bị sói ăn thịt…, anh ta cũng chẳng quan tâm.  Chiên “thuộc về” ông chủ, cho nên anh ta không thấy được bổn phận phải chăm sóc bằng sự ân cần và tình thương yêu.  Anh ta sẵn sàng “bỏ chiên mà chạy” khi chúng bị sói vồ, miễn là tính mạng mình khỏi bị nguy hiểm.
            Trái lại, mục tử có một tương quan sống động với đoàn chiên.  Chúa Giê-su không những ví mình là mục tử, mà Người còn thêm vào hình ảnh mục tử ấy hai chữ “nhân lành” để nói về bản thân Người:  “Tôi chính là Mục Tử nhân lành”.  Người đã dùng nhiều động tác để mô tả mối tương quan giữa Người với đoàn chiên.  Trước hết là một động tác chủ yếu:  Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.  Hy sinh mạng sống là hành vi của tình yêu lớn lao nhất, bởi vì “không có tình yêu nào lớn lao bằng tình yêu của người sẵn sàng thí mạng sống mình vì người mình yêu”.  Đoàn chiên phải mang giá trị tình cảm lớn lao nhất đối với Mục Tử thì Mục Tử mới dám sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.  Tình yêu lớn lao nhất của Mục Tử nhân lành nói ở đây đã được diễn tả bằng một động từ quen thuộc trong Tin Mừng Gio-an:  đó là “biết”.  Biết không phải bằng trí óc, nhưng là bằng trái tim.  Tương quan Mục Tử với chiên là yêu thương.  “Tôi yêu thương chiên của tôi và chiên của tôi yêu mến tôi”.  Ngoài ra, Chúa Giê-su còn đề cập đến hai đặc điểm của tình yêu Người dành cho đoàn chiên.  Đặc điểm thứ nhất là “phải đưa những chiên khác không thuộc ràn này” về, nghĩa là phải đứa mọi người về nhận biết Thiên Chúa và ở trong đoàn chiên của Chúa Cha.  Tình yêu đích thực không chỉ giới hạn dành cho một số nhỏ, nhưng mang những chiều kích dài rộng cao sâu của Thiên Chúa.  Đặc điểm thứ hai của tình yêu người Mục Tử là tự ý hy sinh mạng sống.  Chính tình yêu đã là động lực khiến Chúa Giê-su tự nguyện chết trên thập giá cho đoàn chiên là nhân loại.  Chỉ cần vài ba đặc nét nói trên cũng quá đủ để giúp chúng ta chiêm ngưỡng dung mạo của Chúa Giê-su, vị Mục Tử nhân lành của chúng ta!
Sống sứ điệp Tin Mừng
            Ý thức mình là thành phần của đoàn chiên Thiên Chúa chắc chúng ta ai cũng có, nhưng liệu chúng ta có thực sự “thuộc về” Chúa Giê-su, Mục Tử nhân lành, hay không?  Nói khác đi, chúng ta có sống mối tương quan sống động giữa Chúa Giê-su và chúng ta không?  Hơn nữa Chúa Giê-su đã cho chúng ta thấy Người sống mối tương quan ấy như thế nào qua việc tự ý hy sinh mạng sống vì chúng ta.  Đây phải là một đề tài để chúng ta suy nghĩ và xét mình hằng ngày, để biết được chúng ta đã đáp lại tình yêu của Mục Tử nhân lành như thế nào.  Người tự ý chết vì chúng ta nên Người cũng muốn chúng ta tự ý “chết” cho tha nhân, cho những người thuộc “ràn chiên” gia đình chúng ta hay thuộc cộng đoàn chúng ta.  Những hy sinh và những cái chết nho nhỏ hằng ngày có thể chỉ là những công việc lặt vặt, một lời nói khích lệ, một cử chỉ thân thiện, một sự vâng lời mau mắn, mấy đồng bạc dành dụm giúp người nghèo… Chúa Giê-su đã nhận từ Chúa Cha mệnh lệnh tự ý hy sinh mạng sống vì tha thân và Người đã chu toàn mệnh lệnh ấy.  Hôm nay Người ban mệnh lệnh ấy lại cho chúng ta!
            Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

PS4-B140: TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH
Ga 10, 11-18
 

 Chúa Giêsu sinh trưởng tại Do Thái, Người thừa hưởng nền văn hóa và quan niệm tôn giáo Do Thái. PS4-B140

Chúa Giêsu sinh trưởng tại Do Thái, Người thừa hưởng nền văn hóa và quan niệm tôn giáo Do Thái. Do đó, những tập tục, những nghi lễ của Do Thái giáo, Chúa Giêsu đều thông suốt, am tường. Chính vì thế, Người đã dùng ngôn ngữ Do Thái, dùng những việc xẩy ra tại đất nước Do Thái để giới thiệu nước Trời, trình bầy quan điểm và đường hướng của mình, đồng thời giới thiệu chân dung đích thực của Người và sứ điệp cứu rỗi của Người.
TA LÀ MỤC TỬ TỐT LÀNH: Chúa Giêsu ví mình như một mục tử tốt lành. Khi Chúa Giêsu giới thiệu Người là chủ chăn đích thực, Người muốn mượn lại hình ảnh của tổ phục Áp-ra-ham, của vua Đavít những con người cũng đã làm nghề chăn cừu chăn chiên. Cả Aùp-ra-ham, cả vua Đavít chưa hề học qua bất cứ một trường đào tạo nào, nhưng qua kinh nghiệm của nghề chăn cừu, họ đã trở thành những người lãnh đạo tốt. Quan niệm của họ về Thiên Chúa cũng dựa trên kinh nghiệm chăn cừu, chăn chiên, họ gọi Giavê là mục tử, và coi mình là đoàn chiên của Người. Chúa Giêsu là hiện thân của một mục tử nhân hậu. Mục tử nhân lành khác với người làm thuê, khác với các vị lãnh đạo dân Israen đã bị thoái hóa. Mục tử nhân lành biết từng con chiên, hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Còn các vị lãnh đạo tôn giáo của Israen thay mặt Chúa ở trần gian đã dần dần bị biến chất đến nỗi ngôn sứ Êdêkiên đã nhân danh Chúa nói lên:” Hỡi các mục tử của Israen, các ngươi đã bị băng hoại rồi ! Các ngươi chỉ biết lo cho bản thân mình chứ chẳng hề nghĩ đến bầy chiên…Các ngươi chẳng chăm sóc những con yếu đuối, chữa lành những con bệnh hoạn, băng bó những con bị thương tích, dẫn về những con lệch đường, hoặc tìm kiếm những con bị lạc mất. Vậy hỡi các chủ chăn, hãy nghe đây, Ta, vị Chủ Tể tối cao, Ta tuyên bố rằng… Ta sẽ tách bầy chiên ra khỏi các ngươi…Ta sẽ giao chúng cho một vì vua giống như Đavít tôi tớ Ta để làm mục tử của chúng và Người ấy sẽ lo lắng chăm sóc chúng”( Ez 34: 2-4,9-10, 23 ). Chúa Giêsu chính là nhân vật mà ngôn sứ Êdêkiên loan báo. Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, Người là hình ảnh của vua Đavít, người mục tử nhân lành, luôn chăm sóc những con yếu đuối bơ vơ, chữa lành những con bệnh hoạn, và đi tìm những con chiên lạc. Chúa Giêsu còn hơn thế nữa, Ngài tự hiến mạng sống cho đàn chiên của Ngài. Cái chết của Ngài là cái chết tự hiến theo ý Thiên Chúa Cha. Chết là tình yêu tột đỉnh của Ngài. Chết mới nói lên lời như thánh Gioan viết:” Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu’( Ga 15, 13 ).
Không những tự hiến cho đến chết nhưng Đức Giêsu còn làm hơn thế nữa, Ngài đã sống lại từ cõi chết và chia sẻ đời sống phục sinh của riêng Ngài với đàn chiên. Tình yêu của Chúa đã gắn bó Ngài với đàn chiên:” Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta” ( Ga 10, 14-15 ). Đức Giêsu là mục tử tối cao, duy nhất. Mọi mục tử đều là cánh tay nối dài của Ngài. Các mục tử phải noi gương bắt chước Ngài vì Ngài đến để cho chiên được sống và sống dồi dào( Ga 10, 10 ).
 
SỨ ĐIỆP CỨU RỖI CỦA ĐỨC GIÊSU: 
Đức Giêsu mạc khải cho người Do Thái biết Ngài là hiện thân của Thiên Chúa, Ngài đến để gánh tội nhân loại, cứu vớt con người và ban cho con người hạnh phúc. Ai muốn đến với Cha Ngài phải ngang qua Ngài. Hơn cả những mong đợi mà các ngôn sứ đã loan báo, Ngài là chủ chăn đích thực và nhân lành, sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Ngài cứu độ, hy sinh mạng sống cho mọi người, mọi dân tộc, cả nhân loại chứ không chỉ có dân Do Thái ( Ga 10, 14-16 ). Mình Máu Chúa là bằng chứng hùng hồn nhất nói lên tình thương cao vời, vô bờ vô bến của Chúa đối với nhân loại, đối với con người. Máu của Ngài đổ ra để đem lại ơn tha tội cho muôn người, cho tất cả mọi người.
Người chăn chiên tốt lành cho thấy cái cốt lõi tình yêu của mình. Tình yêu không chung chung mà Đức Giêsu yêu từng người, gọi tên từng người vì Ngài biết hoàn cảnh của từng con người, từng con chiên. Ngài biết hoàn cảnh bi đát của con người:” đàn chiên không người chăn dắt ( Mt 9, 36 ), những con chiên lạc ( Lc 15, 4-7 ), chiên tản mác, cần được qui tụ lại” ( Ga 11,52 ). Đức Giêsu muôn thời vẫn mời gọi các bạn trẻ hiến thân theo chân Ngài. Ngài luôn cần đến những mục tử tốt lành, noi gương Ngài và phục vụ như Ngài. Ngài luôn mời gọi nhân loại cầu xin để có những mục tử tốt lành, biết hy sinh, xả kỷ, biết can đảm, quảng đại, thánh thiện, những mục tử luôn biết quên mình, biết sống hòa đồng, đạo đức, những mục tử luôn đặt lợi ích của đàn chiên trên lợi ích cá nhân, những mục tử “đến để hầu hạ, chứ không đến để được hầu hạ”.
Ngày hôm nay cũng là ngày ơn gọi, xin cho các bạn trẻ biết chọn cho mình một hướng đi, một đích điểm để đời sống của họ trở nên muối, nên men cho đời.
Lạy Chúa xưa Chúa đã phán:”lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt, Chúa hãy ban nhiều thợ biết nhiệt thành, để nước Chúa rộng lan khắp nơi…”.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

PS4-B141:  Dung mạo đích thực của Giáo Hội

"Ta còn những chiên khác chưa thuộc đàn này".
 

Đó là dung mạo đích thực của Giáo Hội. Giáo Hội là truyền giáo. Nếu không Giáo Hội sẽ chẳng còn PS4-B141

Đó là dung mạo đích thực của Giáo Hội. Giáo Hội là truyền giáo. Nếu không Giáo Hội sẽ chẳng còn là Giáo Hội nữa. Hoặc sẽ là Giáo Hội của những Người được sai đi (Tông đồ) hoặc sẽ chẳng còn là Kitô hữu nữa. Chúng ta, bạn và tôi, hôm nay, phải thi hành điều mà các Tông đồ đã làm vào thời các ngài. Các ngài đã để Mầu Nhiệm Phục Sinh biến đổi mình. Các ngài đã hiểu rằng, nhờ Bí tích Thánh Thể và qua các ngài, nhân tính Chúa lại hiện diện nhiều hơn nữa. Các ngài đã hiểu rằng Người muốn nhờ các ngài đem đến cùng tận địa cầu, cũng như nhờ chúng ta đem đến tận cùng thời gian, ơn cứu độ mà trong 33 năm, Người đã đem tới cho những người sống cùng thời với Người. Từ nay, chính nhờ đôi mắt ta mà Đức Kitô có thể nhìn thấy những khổ đau của nhân loại, chính nhờ đôi chân ta mà Đức Kitô có thể đi đến gặp gỡ con người trong đau thương hay trong lầm lạc, chính nhờ trái tim ta mà Người có thể yêu thương thế giới hiện đại. Chính qua bản thân ta mà Đức Giêsu Cứu Thế muốn trao ban sự sống của Người, sự sống của ta. Như thế, trở về chuồng chiên không còn là cứ giữ nguyên lốt chiên, nhưng là trở nên, qua ơn gọi, chính Vị Mục Tử Tốt Lành đi tìm con chiên lạc đàn .
Nói về ơn gọi là nói về cuộc chuyển hoán, cuộc đổi đời quyết liệt của tất cả những ai đã lãnh nhận bí tích rửa tội. Ơn gọi này đòi buộc ta phải giã từ thân phận của những kẻ tiêu thụ thuần tuý, chỉ biết đòi hỏi trong Giáo Hội. Ta phải trở nên thân thể Đức Kitô. Ta phải là bóng hình của Người. Mỗi người ở địa vị mình, đều được kêu gọi vào những công việc khác nhau, để thực sự trở thành những Mục tử Tốt lành cho con người thời nay".

 

PS4-B142:  Tình yêu, con đường duy nhất để đến vơi thế giới bất tin"

 (Đức Hồng Y P.Poupard, tài liệu dành cho ngày ơn thiên triệu).
 

Thánh nữ Têrêxa đã mở ra cho chúng ta con đường duy nhất để đến với thế giới những người không PS4-B142

"Thánh nữ Têrêxa đã mở ra cho chúng ta con đường duy nhất để đến với thế giới những người không tin: đó là tình yêu. Không ai có thể sống thiếu tình yêu. Trước tấn thảm kịch của thuyết nhân bản vô thần, thảm kịch, vì do nhân danh một tư tưởng cao cả của nhân loại, mà con người đã khước từ Thiên Chúa. Mọi Kitô hữu, mọi linh mục, mọi tu sĩ đều bồn chồn lo âu. (...) Thánh Phanxicô đệ Salê đã nói: "tất cả đều dành cho tình yêu đều ở trong tình yêu, đều vì tình yêu, và đều phát xuất từ tình yêu trong Giáo Hội". Nhưng cái chân lý cao cả ấy hầu như đã bị lãng quên, đã bị thuyết Jansénisme khô cằn ngăn chặn. Chỉ có người nữ tu dòng kín trẻ trung thành Lisieux đã nhắc ta nhớ lại chân lý ấy trong nét tươi tắn của thái độ Ngài hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa. Hôn thê của Đấng chịu đóng đinh và đã vì yêu mà tự nộp mình cho ta, chính chị cũng dâng hiến cho Người tình yêu vì tình yêu, như vị hôn thê dâng hiến cho hôn phu. "Trong trái tim Giáo Hội, tôi sẽ là tình yêu"; thế là đã rõ, một xác quyết như thế đụng chạm tới tất cả mọi người ở thế kỷ XX của chúng ta vì chúng ta không biết yêu và được yêu trong chân lý (...).
Thánh nữ Têrêxa luôn luôn là, tôi dám nói, một âm vang đích thực của trái tim Thiên Chúa cho thời đại chúng ta, cho mỗi người chúng ta. Dù ta là ai, ta đã được tạo thành để sống tình yêu Thiên Chúa, tình yêu đã trao ban sự sống cho ta. Ta đến từ Thiên Chúa và ta lại trở về với Người, Người là Đường là Sự Thật và là Sự Sống. Công Đồng Vatican II đã mạnh mẽ nhắc lại điều này. Sử gia mai ngày có thể thắc mắc ''Giáo Hội thời Công Đồng đã làm gì? Đức Phaolô VI đã trả lời họ ngay từ ngày 14/9/1965: "Giáo Hội yêu, Giáo Hội yêu, yêu bằng trái tim mục tử, yêu bằng trái tim đã kêu, yêu bằng trái tim rộng mở đón nhận mọi người, kể cả những người bắt bớ Giáo Hội". Ta nên tìm lại cái trực cảm quan trọng ấy của Đức Phaolô VI. Đó cũng là trực cảm của thánh nữ Têrêxa thành Lisieux: "Giáo Hội là Đức Kitô và Đức Kitô là tình yêu". Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương.
Thánh nữ Têrêxa đã khơi gợi hàng ngàn, hàng ngàn ơn gọi làm linh mục trên khắp thế giới. Những linh mục ấy đã tìm thấy nơi thánh nữ một tình yêu tuyệt đối dành cho Đức Giêsu và tình yêu Giáo Hội, một ý nghĩa sâu xa trong kinh nguyện và trong sứ mệnh truyền giáo trên khắp hoàn cầu, một sự kết hợp bằng chiêm niệm và hoạt động, một mẫu gương dùng con đường tình yêu bé nhỏ và phó thác, đường nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Ngày nay, thánh nữ Têrêxa vẫn tiếp tục làm phong phú tác vụ của các linh mục, đặc biệt là những linh mục trẻ bị cuốn hút bởi sứ điệp tình yêu giữa lòng Giáo Hội (...).
Tất cả hành trình đức tin thâu tóm trong đức cậy và đức ái. Niềm tin là niềm hy vọng của tình yêu, tin là hy vọng vào tình yêu. Phải chăng vai trò đã được quan phòng của sứ điệp của thánh nữ Têrêxa, ở ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ 3, chính là trả lại cho ta tình yêu và niềm hy vọng? Con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu là để yêu thương. Trong lãnh vực tình yêu, thánh nữ Têrêxa là bậc thầy linh đạo. Trong tình yêu, không có dè dặt, không có tính toán, không có trung dung, không có quân bình vì con người chẳng bao giờ có thể yêu Thiên Chúa cho xứng với tình Người yêu ta (...).
Một nữ tu hỏi thánh nữ Têrêxa: "Chị nói gì với Đức Giêsu?" Chị thánh trả lời: "Em không nói gì hết, em yêu Người"? Chỉ tình yêu là quan trọng.

 

PS4-B143:  Trong trái tim Giáo Hội, tôi sẽ là tình yêu".

(Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng, bản văn được trích dẫn trong tài liệu của Uỷ ban quốc gia về ơn thiên triệu)
 

Sau cùng con đã tìm thấy an nghỉ... tìm trong thân thể mầu nhiệm của Giáo Hội, con chẳng thấy mình PS4-B143

"Sau cùng con đã tìm thấy an nghỉ... tìm trong thân thể mầu nhiệm của Giáo Hội, con chẳng thấy mình trong bất cứ chi thể nào đã được thánh Phaolô miêu tả, đúng hơn con muốn có mặt trong tất cả những chi thể ấy... Đức ái đã cho con chìa khoá ơn gọi của con. Con hiểu rằng nếu Giáo Hội có một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, chi thể quan yếu nhất, cao cả nhất không thể thiếu được, con hiểu đó là TRÁI TIM, và TRÁI TIM đó cháy đỏ TÌNH YÊU. Con hiểu rằng chỉ có Tình Yêu mới làm cho các chi thể của Giáo Hội hoạt động, và nếu Tình Yêu vụt tắt, các Tông đồ sẽ thôi không loan báo Tin Mừng, các thánh tử đạo sẽ từ chối đổ máu... Con hiểu rằng TÌNH YÊU phủ trùm lên mọi ơn gọi, và tình yêu là tất cả, bao gồm mọi không gian và mọi thời gian... Tắt một lời, Tình Yêu là vĩnh cửu!
Thế là, trong niềm vui tột đỉnh, con kêu lên: "ôi Giêsu, Tình Yêu của con, ơn gọi của con, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con chính là TÌNH YÊU.
Phải rồi, con đã tìm được vị trí của con trong Giáo hội. Chỗ ấy, Ôi lạy Chúa, chính Chúa đã ban cho con, trong trái tim Giáo Hội, thưa Mẹ, con sẽ là Tình Yêu, như thế con sẽ là tất cả, như thế giấc mơ của con đã thành hiện thực!"

 

PS4-B144: CHÚA DẪN CON ĐI

Gm Giuse Vũ Văn Thiên
 

Đường đời như con sông trôi về muôn hướng, ai cũng cần có người dẫn đường chỉ bảo để biết lẽ sống PS4-B144

Đường đời như con sông trôi về muôn hướng, ai cũng cần có người dẫn đường chỉ bảo để biết lẽ sống ở đời. Người công giáo tin rằng, cùng với cha mẹ và những người có trách nhiệm, họ còn có Chúa là Đấng dẫn đường. Đi theo con đường của Chúa, chắc chắn sẽ không bị lạc lối. Giữa muôn nẻo đường trần gian, có Chúa dẫn ta đi.
“Ta là Đường, là Sự thật và là Sự sống” (Ga 14, 6). Chúa Giêsu vừa là người dẫn đường, vừa là chính con đường. Đi trên con đường mang tên Giêsu, chúng ta sẽ đến gặp Chúa Cha. Chúng ta sẽ đến bến bờ hạnh phúc.
Chúa nhật thứ bốn của Mùa Phục sinh, Phụng vụ cả ba năm A,B,C đều giới thiệu với chúng ta: Chúa Giêsu là mục tử nhân lành. Đây chính là lời khẳng định của Chúa, được Thánh Gioan ghi lại. Trong đời sống du mục của người Do Thái, hình ảnh người mục tử rất  gần gũi, quen thuộc.
Mục tử là người có trách nhiệm hướng dẫn đoàn chiên. Nhờ sự chăm sóc của mục tử, đoàn chiên được an toàn và được đáp ứng những nhu cầu cần thiết. Tác giả thánh vịnh đã cảm nhận được sự chăm sóc của Chúa, và đã thốt lên : “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi” (Tv 23, 2-3). Giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng là những gợi ý hướng dẫn giúp ta tránh những tai họa và đạt được hạnh phúc lâu bền. Nhờ sự hướng dẫn của Chúa, chúng ta biết xây dựng mối tương quan tốt đẹp với Chúa và với anh chị em, nhờ đó, cuộc sống này trở nên hài hòa, liên đới và an bình.
Là Đấng hướng dẫn chúng ta đi trên con đường chính lộ, Chúa Giêsu còn là Đấng hiến mạng sống mình vì chúng ta. Chúng ta vừa cử hành lễ nghi Tuần Thánh và lễ Phục Sinh. Qua biến cố thập giá, Chúa Giêsu như mục tử hiến mạng sống để bảo vệ đoàn chiên. « Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên ». Chúa Giêsu đã chấp nhận chết cho chúng ta được sống, chấp nhận đau khổ để chúng ta được hạnh phúc. Thánh Phêrô, khi ngỏ lời với các thành viên Thượng Hội đồng Do Thái, đã nhấn mạnh tới hiệu quả mà sự chết của Chúa Giêsu đem lại. Một chứng từ sống động, đó là người què được chữa lành nhờ kêu cầu danh Đức Giêsu. Thánh Phêrô còn xác quyết: ngoài Chúa Giêsu, dưới gầm trời này, không ai có thể đem lại ơn cứu độ cho con người. Các thành viên công nghị đều ngạc nhiên khi nghe người dân chài ít học này giảng dạy những lẽ cao siêu. Mặc dù không dám công khai ủng hộ, nhưng họ cũng rất dè dặt trước việc cấm đoán thánh Phêrô và các tông đồ loan truyền Đức Giêsu Phục sinh.
Chúa Giêsu tuyên bố: Người là mục tử nhân lành và đích thực. Người phân biệt rõ, mục tử đích thực khác với người chăn chiên thuê. Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta,  luôn tồn tại những khuynh hướng muốn lôi kéo con người xa Chúa. Họ chủ trương: Thiên Chúa đã chết. Họ hô khẩu hiệu: Vật chất quyết định tất cả. Họ muốn thay thế Thiên Chúa bằng những phát minh của nền kỹ nghệ hiện đại. Họ đã lầm. Vật chất dồi dào, khoa học hiện đại, những điều đó rất cần để cải thiện đời sống con người. Nhưng chọn chúng làm đích điểm cuộc đời sẽ là một ảo tưởng và làm cho cuộc sống trở nên trống rỗng. Hãy đến với Chúa để được thụ giáo, để biết phân biệt đâu là thật giả, đâu là giá trị tạm thời, đâu là hạnh phúc vĩnh cửu.
« Anh em hãy xem Chúa yêu chúng ta dường nào ! Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa » (Bài đọc II). « Con Thiên Chúa », đó là tước hiệu của Chúa Giêsu. Nhờ tin vào Chúa Giêsu mà chúng ta cũng được vinh dự cao quý ấy trong mối tương quan với Chúa Cha. Mặc dù đang sống giữa đời đầy bon chen đau khổ, chúng ta vẫn là con Thiên Chúa, là con chiên trong đoàn chiên của Ngài, nhờ Đức Giêsu, với Đức Giêsu và trong Đức Giêsu. Suy tư về hình ảnh vị Mục Tử nhân lành nhắc bảo chúng ta vinh dự cao quý ấy.
« Tôi còn có những con chiên khác không thuộc ràn này… » Lệnh truyền ra đi loan báo Tin Mừng từ hai ngàn năm vẫn mang tính thời sự và cấp bách. Chúng ta là con chiên trong đoàn chiên của Chúa, chúng ta đã và đang làm gì để thuyết phục những người xung quanh nhận biết Ngài ? Đức Thánh Cha Phanxicô vừa ấn định sẽ mở Năm Thánh Lòng Thương Xót, khởi đầu vào ngày 8-12-2015. Ngài coi đây là con đường cẩn thiết và phương pháp phù hợp với bối cảnh xã hội hôm nay để đưa nhiều người gia nhập đoàn chiên của Chúa. Đức Thánh Cha nói: « Tôi thường suy nghĩ xem làm thế nào để Giáo Hội có thể làm nổi bật hơn sứ mạng của mình là làm chứng nhân về lòng từ bi. Đó là một con đường bắt đầu bằng sự hoán cải tinh thần. Vì thế, tôi quyết định ấn định Năm Thánh đặc biệt, có trọng tâm là lòng từ bi của Chúa. Đây sẽ là một Năm Thánh Lòng Thương Xót. Chúng ta muốn sống năm này dưới ánh sáng lời Chúa nói: ”Các con hãy có lòng thương xót như Chúa Cha” (x. Lc 6,36).
Khi thực thi đức thương yêu và lòng nhân hậu với những người xung quanh là chúng ta quảng diễn hình ảnh của Đức Giêsu Mục Tử. Qua chứng từ của chúng ta, chắc chắn đoàn chiên của Chúa sẽ thêm đông số. Như thế, ước mong của Vị Mục Tử sẽ được thực hiện trong cuộc sống hôm nay.

Hôm nay cũng là ngày cổ võ ơn gọi và cầu nguyện cho ơn Thiên triệu. Xin Chúa gửi đến cho Giáo Hội của Người những mục tử tốt lành thánh thiện, để trở thành hiện thân của Chúa giữa trần gian. Amen.
 

PS4-B145: CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH_B

Lm. Antôn
Ông bà anh chị em thân mến.  
 

Chúa nhật thứ tư Phục sinh hôm nay được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành, vì chúng ta nghe đoạn PS4-B145

Chúa nhật thứ tư Phục sinh hôm nay được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành, vì chúng ta nghe đoạn văn trong Tin mừng thánh Gioan nói về Chúa Giê-su là vị Mục Tử của chúng ta. Và Chúa nhật hôm nay, Giáo hội kêu gọi mọi người cầu nguyện cho ơn thiên triệu, ơn trở thành linh mục, tu sĩ để dạy dỗ, chăm sóc và hướng dẫn dân Chúa.
Trong bài Tin mừng, Chúa Giêsu cho chúng ta biết có 2 thành phần mục tử, là những người chăm sóc, lo lắng và bảo vệ chiên.  Một là những mục tử chăm sóc đoàn chiên của chính mình, và hai là những mục tử được thuê mướn để coi sóc chiên của chủ nông trại.  Thành phần mục tử thứ hai này trốn tránh khi có sự nguy hiểm đến, trong khi những mục tử thứ nhất can trường chiến đấu để bảo vệ chính đoàn chiên của mình, có những trường hợp mục tử bị thương và có những trường hợp phải hy sinh mạng sống để chiên được cứu sống.  Chúa Giê-su nói với chúng ta Người sẽ bị kết án, chết trên thập giá để bảo vệ và cứu chúng ta được sống, nhưng Người sẽ sống lại, và thật sự Chúa đã sống lại. Qua sự kiện này, Chúa cho chúng ta biết, điều thứ nhất, Người lo lắng cho chúng ta biết chừng nào.  Người sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho chúng ta.  Và sự kiện này còn cho chúng ta biết điều thứ hai là quyền năng vô biên của Chúa.  Chúa đã tự hiến mạng sống mình qua cái chết, và đã trỗi dậy, đã phục sinh sống lại vinh hiển.
Ông bà anh chị em thân mến.  Thánh Phê-rô trong bài đọc 1 hôm nay quả quyết với chúng ta chỉ theo Chúa Giê-su chúng ta mới được an toàn và được cứu sống.  Và bài đọc một còn cho chúng ta biết thánh Phê-rô đã dùng quyền năng vô biên của Chúa Giê-su Ki-tô phục sinh để chữa lành bệnh và làm phép lạ cho kẻ tàn tật được khỏi.  Ngài đã xác quyết rằng “Chính nhờ danh Ðức Giêsu Kitô Nadarét, Chúa chúng ta, Người mà chư vị đã đóng đinh, và Thiên Chúa đã cho từ cõi chết sống lại, chính nhờ danh Người mà anh này được lành mạnh như chư vị thấy đây.”
Ngoài ra, qua bài Tin mừng, Chúa Giê-su còn cho chúng ta biết những sự kiện khác nữa: những người mục tử biết chiên của mình, và chiên nhận ra chủ chiên, như chủ và thú vật mà chúng ta nuôi trong nhà.  Làm sao chủ và thú vật trong nhà biết và nhận ra nhau?  Thưa vì dành nhiều thời giờ cho nhau.  Thú vật trong nhà cần sự chăm sóc và nuôi nấng của chủ.  Chủ nhà hiện diện 24 tiếng 1 ngày, 7 ngày một tuần.  Chúa Giê-su, Chúa Chiên Lành của chúng ta, hiện diện với chúng ta mọi lúc và biết rõ chúng ta hơn chúng ta biết chính chúng ta.  Chúa biết rõ có bao nhiêu sợi tóc trên đầu chúng ta.  Có ai trong chúng ta biết rõ chúng ta như vậy không?  Nếu chúng ta không biết rõ Chúa, chúng ta cần dành nhiều thời giờ hơn với Chúa qua sự cầu nguyện.  Chúng ta phải dành thời giờ cầu nguyện, tham dự Thánh lễ để biết Chúa hơn.
Ông bà anh chị em thân mến. Theo kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa, và để tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu, một số người được kêu gọi trở thành mục tử cho cộng đoàn dân Chúa, đó là các giám mục và linh mục.   Họ được trao cho trách nhiệm chăm lo, dạy dỗ và hướng dẫn công đoàn dân Chúa về mặt tinh thần. Trách nhiệm của các giám mục và linh mục ngày nay và trong xã hội này thật cao quí những cũng thật khó khăn và nặng nề!  Cao quí vì các họ phải thực tế hóa và hiện tại hóa tấm lòng, cách sống và sự hy sinh như Chúa Giêsu, qua đời sống giới hạn và yếu đuối của chính mình, để phục vụ cộng đồng dân Chúa được Chúa trao phó.  Khó khăn và nặng nề vì các giám mục và linh mục cũng vẫn là những con người phàm trần với nhiều yếu đuối và đam mê như mọi người khác.  Nhìn vào thực tế, chúng ta thấy các mục tử trong Giáo hội có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của một cộng đoàn dân Chúa. Chính vì thế mà Giáo hội tha thiết kêu gọi tất cả mọi Kitô hữu cầu nguyện cách đặc biệt cho các vị.  Nếu không có ơn sủng đặc biệt của Thiên Chúa, thì không ai có thể chu toàn được những công việc “ngược đời” trong xã hội ngày nay mà Tin mừng đòi hỏi.
Tôi xin được chia sẻ với ông bà anh chị em một phát biểu chân thành của một giáo dân mà tôi đọc được, viết như sau: “Vị chủ chăn gần chúng ta nhất là cha xứ. Tất cả công việc, những sự hy sinh của ngài cho giáo xứ gần như mọi người không để ý đến.  Hầu hết mọi người chỉ đi xem lễ rồi ra về, không giúp gì cho cha xứ, dù chỉ một việc nhỏ mọn là nhặt một cái rác, hay thu dọn bánh kẹo của con mình rơi xuống thảm. Ngược lại, những điều chúng ta không đồng ý, những lầm lẫn nhỏ mọn của cha xứ, thì chúng ta bàn ra, tán vào, rồi chống đối, chê bai, thậm chí nói xấu, hoặc tìm cách gây những chia rẽ.  Thay vì tiếp tay với cha xứ để giúp giáo xứ đoàn kết, thăng tiến thì có khi chúng ta lại kiêu căng, tự cao, tự ái, chia bè, chia nhóm để chống đối làm cho giáo xứ điêu tàn. Con chiên có thể bỏ đàn đi nơi khác, đi nhà thờ khác, nhưng chủ chăn thì không thể bỏ đàn chiên của mình. Chính Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết còn nhiều chiên chưa thuộc vào đàn, không chỉ hiểu là những người chưa nhận biết Chúa, mà cả những người đã nhận biết Chúa, nhưng không sống hoà hợp và yêu thương với mọi người trong giáo xứ hay cộng đoàn. Nếu trong gia đình của chúng ta có năm bảy người con, mỗi đứa có một cá tính khác biệt, có đứa vâng lời, có đứa ương ngạnh làm cha mẹ buồn lòng và có đứa hư thân mất nết làm cha mẹ đau xót xấu hổ, thì trong một giáo xứ, cộng đoàn có hàng trăm, hàng ngàn cá tính khác biệt mà cha xứ phải đối diện.”  Đó là lời phát biểu chân thành của một giáo dân để chúng ta cùng suy nghĩ.
Ông bà anh chị em thân mến.  Đi sâu hơn nữa vào tinh thần của Tin mừng, chúng ta nhận biết rằng: không chỉ các thừa tác viên có chức thánh mới có sứ vụ mục tử, mà mọi Ki-tô hữu lớn nhỏ, nam nữ, nhất là những bậc cha mẹ đều có sứ vụ mục tử của Chúa Giêsu Ki-tô. Vì thế trong gia đình, cha mẹ có sứ vụ mục tử đối với con cái; cũng như con cái có sứ vụ chăm lo cho cha mẹ; vợ chồng có sứ vụ mục tử đối với nhau; anh em chị em cũng có sứ vụ mục tử như vậy.  Trong cộng đoàn, mọi người đều có sứ vụ mục tử với nhau, vì mọi người  là con cái của Thiên Chúa, là anh em chị em với nhau, và đều thuộc về một đàn chiên duy nhất của Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh. Chính Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh, vị Mục Tử Tốt Lành, đã kết hợp chúng ta trở thành một cộng đoàn dân Chúa, và Người tiếp tục liên kết chúng ta bằng lời và Thánh Thể của Người.
Chúng ta tạ ơn Chúa vì hồng ân được thuộc về đàn chiên của Chúa. Xin Chúa giúp chúng ta có một niềm tin vững chắc vào Chúa, luôn biết lắng nghe, đi và sống theo lời của Chúa Chiên dạy bảo.  Xin Chúa cũng giúp chúng ta biết yêu thương, hiệp nhất, cộng tác, giúp đỡ, hy sinh và quảng đại, để cùng nhau làm sáng danh Chúa Chiên Lành.  Và xin Chúa gởi thêm cho chúng ta nhiều mục tử có tấm lòng yêu thương, và sẵn lòng hy sinh dấn thân phục vụ cho mọi người trong cộng đoàn được Chúa trao phó.

 

PS4-B146:  “MỤC TỬ PHẢI CÓ MÙI CHIÊN”

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
 

Tại Đền thờ Thánh Phêrô, ĐTC Phanxicô cử hành Thánh Lễ Làm Phép Dầu vào lúc 9giờ30, ngày Thứ  PS4-B146

Tại Đền thờ Thánh Phêrô, ĐTC Phanxicô cử hành Thánh Lễ Làm Phép Dầu vào lúc 9giờ30, ngày Thứ Năm Tuần Thánh (28.3.2013), ngài nói với các Linh mục: “Tôi yêu cầu anh em hãy là những mục tử mang nặng mùi con chiên của mình”. Đức Thánh Cha đã gợi lên một hình ảnh thật ấn tượng: mục tử phải có mùi của chiên. Người chăn chiên sống gần gũi, gắn bó với đàn chiên, lo lắng chăm sóc, bảo vệ đàn chiên của mình đến nỗi mùi của chiên đã ngấm vào không những áo quần mà cả da thịt mục tử. Linh mục, người chăn chiên về đàng thiêng liêng cũng phải như vậy.
Mục tử phải có mùi của chiên vì tính cách đồng hành của Linh mục sống dấn thân trọn vẹn cho cộng đoàn giáo xứ. Để có mùi chiên, mục tử phải chung sống với đàn chiên; đây là sự đồng hành chia sẻ; sự đồng hành này được Phúc Âm diễn tả: “Mục tử gọi tên từng con chiên và chiên nghe tiếng của mục tử, mục tử đi trước chiên và chiên đi theo mục tử”. Để có mùi chiên, mục tử phải hiện diện giữa đàn chiên để chăm sóc và bảo vệ chiên để chiên “được sống và sống dồi dào”; đây là sự đồng hành và phục vụ; phục vụ cho sự phát triển “vì tôi còn có những chiên hkác không thuộc về ràn này, tôi cũng phải đưa chúng về”, và phục vụ cho sự hiệp nhất của cả đoàn để “chỉ còn một đoàn chiên và một mục tử”. Để có mùi chiên, mục tử đồng hành và phục vụ đến mức độ sống chết vì đàn chiên; đây là đồng hành và tự hiến “Mục tử nhân lành hiến mạng sống mình vì đàn chiên”. Mục tử vì đàn chiên chứ không phải đàn chiên vì mục tử[1].
Mục tử có mùi của chiên chính là mục tử có tình yêu với đàn chiên theo gương Mục Tử Tối Cao. Chúa Giêsu khẳng định: “Tôi là Mục Tử Tốt Lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên của Tôi biết Tôi. Mục Tử Tốt Lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên”. Chúa Giêsu là vị Mục Tử Tốt Lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, yêu thương săn sóc và hy sinh mạng sống cho đàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên, tiếp nối sứ mạng Mục Tử của Ngài. Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu so sánh mục tử và người làm thuê. Mục tử tốt lành luôn hết mình vì đàn chiên. Người làm thuê chỉ lo vun quén cho bản thân. Mục tử hy sinh cho đàn chiên. Người làm thuê chỉ đến để xén lông chiên. Mục tử luôn tìm kiếm nguồn nước và đồng cỏ xanh tươi cho đàn chiên no đầy. Người làm thuê chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chính bản thân mình, sống hưởng thụ, lười biếng và thiếu trách nhiệm đến sự sống còn của đàn chiên.
Mục tử tốt lành mang mùi của chiên có những đặc tính như sau[2].
    Mục tử tốt lành là người nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực có chất lượng cao.         
Lương thực thứ nhất là Lời Chúa. Chúa Giêsu phán: “Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bằng mọi lời do miệng Chúa phán ra” (Mt 4,4). Lời Chúa là hạt giống mang sự sống thiêng liêng (Lc 8,11).
Lương thực thứ hai là Phép Thánh Thể. Chúa Giêsu phán: “Ta là bánh trường sinh… là bánh bởi trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 5,48-51).
Lương thực thứ ba là thánh ý Chúa Cha. Chúa Giêsu phán: “Lương thực của ta là thi hành thánh ý Chúa Cha, Đấng đã sai Ta” (Ga 4,34).
Mục tử không tự mình làm ra những lương thực thiêng liêng này, và không được phân phát ra một cách máy móc, nhưng phải cộng tác chặt chẽ với Chúa Giêsu, kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, là mục tử tốt lành đứng đầu các mục tử.
    Mục tử tốt lành là người kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu phán: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu là có một sự hiểu biết sâu xa về Chúa Giêsu do đã gặp gỡ Ngài và sống với Ngài thực sự. Khi thánh Phêrô tìm người thay thế Giuđa Iscariốt, ngài đã nói với cộng đoàn: “Trong số những anh em đã cùng chúng tôi theo Chúa Giêsu suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, kể từ khi Người được Ông Gioan làm phép rửa cho đến ngày Người lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời, phải có người trở thành chứng nhân cùng với chúng ta làm chứng Người đã phục sinh” (Cv 1,21-22). Với những lời trên đây, thánh Phêrô, khi chọn người mục tử thay thế Giuđa, đã chỉ đưa ra một tiêu chuẩn là: người đó đã phải cùng sống với Chúa Giêsu và đã tham dự cuộc đời cứu thế của Ngài, một đời mặc lấy thân phận đoàn chiên, yêu thương đoàn chiên, cứu độ đoàn chiên và còn hơn nữa, như lời Ngài nói: “Ta còn có những chiên không thuộc đoàn này. Ta cũng phải đưa chúng về” (Ga 10,16). Ngài cũng khẳng định: “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (10,11).
Muốn được như vậy, người mục tử phải có những tâm tình của Chúa Giêsu. Nhất là sự khiêm nhường. Chúa Giêsu đã mời gọi các môn đệ hãy học với Ngài, đặc biệt là về đức tính“hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29). Chính Ngài đã cứu chuộc loài người bằng sự hiền từ khiêm tốn, vâng phục thánh ý Chúa Cha.
    Mục tử tốt lành là người luôn khát khao và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần
Để biết phân định sự thực và sự không thực về thánh ý Chúa Cha, người mục tử tốt lành rất cần ơn Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu phán: “Khi nào Thần Khí chân lý đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thật vẹn toàn” (Ga 16,13).Thần Khí chân lý là Chúa Thánh Linh. Khi Ngài đến, Ngài sẽ giúp cho mục tử làm mục vụ một cách rất mới, có hồn, đầy uy tín. Bởi vì Thánh Thần sẽ cho mục tử nếm được phần nào mùi vị ngọt ngào của sự sống Thiên Chúa trong Lời Chúa. Ngài sẽ cho mục tử nhìn thấy phần nào dung mạo đẹp đẽ của Thiên Chúa trong Phép Thánh Thể. Ngài sẽ cho mục tử cảm được phần nào lửa nồng nàn của tình xót thương Chúa ẩn tàng trong thánh ý Chúa. Những lúc đó, người mục tử sẽ phục vụ đoàn chiên với tất cả tâm hồn hòa tan trong quyền lực Thánh Linh, như thánh Phaolô xưa: “Khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run tẩy. Tôi nói, tôi giảng mà chẳng dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn. Nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thánh Linh và quyền năng Thiên Chúa”. (1Cor 2,3-5). Thời nay người mục tử rất cần ơn Thánh Thần. Như ơn sáng suốt khôn ngoan trong phân định việc nên làm với cách nên làm, và việc không nên làm với cách không nên làm, ơn tiên liệu, ơn đối thoại, ơn đào tạo, ơn biết an ủi nâng đỡ đoàn chiên.
    Mục tử tốt lành luôn cử hành Thánh Thể sốt sắng và nhiệt thành trong bí tích Hòa Giải.
“Thánh Thể là trung tâm, nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ của Giáo Hội. Do đó, các mục tử phải chú tâm đến việc cử hành Thánh Thể thật sốt sắng và xứng đáng, nhất là ngày Chúa Nhật, và hướng dẫn cộng đoàn tham dự Thánh Lễ cách ý thức, tích cực và sống động hơn. Các ngài cũng cần thúc đẩy và canh tân việc sùng kính Thánh Thể, vốn đã từng nổi bật trong truyền thống Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam.Ý thức về thân phận tội lỗi của mình, các tín hữu cần khiêm nhường thống hối và đón nhận ơn tha thứ qua bí tích Giao Hòa, để xứng đáng là chi thể trong Nhiệm Thể Đức Kitô. Bí tích Giao Hòa vừa là bí tích của hiện tại qua việc tha tội vừa là bí tích của tương lai nhằm xây dựngtình hiệp thông giữa gia đình con cái Thiên Chúa. Ước mong các mục tử luôn quảng đại và sẵn sàng hơn nữa trong việc giúp các hối nhân lãnh nhận bí tích Giao Hòa”[3].
Chúa nhật IV Phục sinh, ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu Linh mục và ơn gọi Tu sĩ nam nữ. Giáo Hội luôn cần đến những mục tử tốt lành. Hãy cầu nguyện cho Giáo Hội có nhiều mục tử đạo đức, thánh thiện như lòng Chúa mong ước. Mục tử tốt lành luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, luôn khát khao và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, vị mục tử tốt lành biết rõ đàn chiên, yêu thương đàn chiên và sẵn sàng hiến mạng vì đàn chiên. Từ đó, vị mục tử tốt lành biết nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực có chất lượng cao đặc biệt là cử hành Thánh Thể sốt sắng và nhiệt thành trong bí tích Hòa Giải.
Ơn gọi Linh mục chính yếu là để “sống với Chúa, và để Ngài sai đi”(Mc 3, 14). Linh đạo Linh mục chính là nên thánh trong công việc mục vụ hàng ngày. Xin cầu nguyện cho các Linh mục luôn có mùi chiên với những đức tính tốt mà Thánh Kinh mô tả:
– Yêu thương chiên với cả tâm hồn: “Chúa tập trung cả đàn chiên dưới cánh tay: lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” ( Is 40, 11).
– Yêu quý từng con chiên: “Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao ? Và nếu may mà tìm được, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc” (Mt 18, 12-13).
– Lo cho chiên: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong những đồng cỏ mầu mỡ” (Ed 34, 14).
– Lo cho chiên được sống hạnh phúc: “Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23,1); làm chiên luôn vững dạ vì được bảo vệ: “Dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (23, 4).
– Có tinh thần trách nhiệm cao đối với đàn chiên: “Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng” (Ed 34, 16).
Linh mục Giuse Nguyễn Công Hoàng, Quản xứ Giáo xứ Mẹ Thiên Chúa, sống gắn bó với đoàn chiên. Siêng năng thăm viếng giáo dân, hay ghé thăm những gia đình lương dân, thường thăm cha mẹ của các tân tòng. Giúp đỡ người nghèo, hay đến thăm các bệnh nhân và người già cả. Gần gũi chơi thể thao hàng ngày với giới trẻ, ca hát sinh hoạt với thiếu nhi, vui tươi và hiền hòa với mọi người, một linh mục trẻ dễ mến dễ thương…Từ ngày ngài về nhận xứ, số giáo dân là 1.100. Sau 5 năm số giáo dân tăng lên là 1.544. Tăng 441 giáo dân, một con số thật lý tưởng cho một vùng truyền giáo và tái truyền giáo giữa địa bàn dân cư lương dân và anh chị em Tin lành tại Căn cứ 6[4]. Linh mục trẻ mới 5 năm chịu chức, mang mùi của chiên, trở thành gương sáng trong sứ vụ mục tử.
Cha sở Gioan Vianney “là mục tử mang nặng mùi con chiên của mình”, ngài là bổn mạng các Linh mục. Hôm nay ngày cầu nguyện cho các mục tử, xin ngài giúp anh em linh mục chúng con luôn biết sống theo gương sáng mục tử của ngài. Amen.
 ————-
[1] x.ĐGM Giuse Trần Văn Toản, Suy niệm Tin Mừng CN 4 Phục Sinh B.
[2] x. ĐGM Bùi Tuần, Thao Thức 3, trang 147-153.
[3] Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010 của HĐGMVN, số 12
[4] x. gpphanthiet.com/news/Su-kien/Cha-Xu-Giuse-Nguyen-Cong-Hoang-Tham-Muc-Vu-Giao-Dan-1706.

 

PS4-B147: QUYỀN HÀNH VÀ TRÁCH NHỆM

Trầm Thiên Thu
 

Chúa Giêsu là Chúa Chiên Lành, là Cửa cho chiên ra vào (Ga 10:7), ai qua cửa đó thì được cứu PS4-B147

Chúa Giêsu là Chúa Chiên Lành, là Cửa cho chiên ra vào (Ga 10:7), ai qua cửa đó thì được cứu và gặp được đồng cỏ xanh rì (Ga 10:7), Ngài đã xác nhận: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6). Ngài là Chủ Chiên, là Mục Tử Nhân Lành, nên Ngài có quyền đối với đoàn chiên, nhưng quyền của Ngài là “quyền hy sinh” và “quyền yêu thương” – đặc biệt là “yêu thương đến cùng” (Ga 13:1).
Xã hội loài người có nhiều loại quyền, cơ bản nhất là nhân quyền – quyền của con người. Mọi người đều bình đẳng, vì ai sinh ra cũng có nhân phẩm và nhân vị. Nhà có gia phong, nước có quốc pháp, nhóm có nội quy. Mỗi quốc gia có ba quyền cơ bản: Quyền lập pháp, quyền tư pháp, và quyền hành pháp.
[1] Quyền lập pháp là quyền làm luật, xây dựng luật và ban hành những văn bản luật được áp dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. [2] Quyền tư pháp pháp là quyền bảo vệ luật pháp, do Tòa án và Viện Kiểm sát tiến hành, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện và chống lại các hành vi phạm pháp. Theo luật học, cơ quan tư pháp hay hệ thống tư pháp là hệ thống tòa án nhân danh quyền tối cao hoặc nhà nước để thực thi công lý, một cơ chế giải quyết các tranh chấp. [3] Quyền hành pháp do các cơ quan hành chính Nhà Nước thực thi để đảm bảo hoàn thành chức năng và nhiệm vụ của mình, bao gồm hai quyền: quyền lập quy và quyền hành chính.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10-12-1948 tại Palais de Chaillot (Paris, Pháp). Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ.
Có CHỨC thì có QUYỀN, có QUYỀN nên dễ HÀNH người khác, và có QUYỀN rồi thì chỉ muốn có LỢI. Quyền hành hoặc quyền lực như con dao sắc bén, như chiếc kéo nhọn, phải rất cẩn thận kẻo tác hại. Chính mình bị tác hại đã đành, nguy hiểm nhất là tác hại người khác, làm khổ người khác – tức là ỷ thế cậy quyền mà “hành” người khác. Có điều “lạ” là người ta THÍCH có quyền hành nhưng lại KHÔNG MUỐN có trách nhiệm!
Bác học lừng danh Albert Einstein (1879-1955, người Đức) nói: “Quyền lực luôn luôn thu hút những kẻ kém đạo đức – Force always attracts men of low morality”. Một cách nhận xét nhẹ nhàng mà “đau điếng”.
Chúa Giêsu có mọi quyền hành – trên trời và dưới đất, nhưng Ngài lại không muốn dùng quyền để hành hạ người khác, mà Ngài chỉ muốn phục vụ, yêu thương và tha thứ. Ngài xác định: “Tôi là mục tử tốt lành, Tôi biết các chiên của Tôi, và các chiên của Tôi biết Tôi” (Ga 10:14). Chủ chiên thật thì phải yêu thương chiên, nếu không thì chỉ là “thợ chiên”, là “kẻ chăn thuê” mà thôi – điều mà Phúc Âm hôm nay có đề cập. Thật vậy, những kẻ có chức quyền mà tránh né trách nhiệm, chỉ muốn dùng quyền mà hành người khác, Chúa Giêsu đã nguyền rủa là “đồ khốn” (Mt 23:13-30; Mc 12:40; Lc 11:39-48; Lc 20:47) và “đồ mãng xà” (Mt 23:33-36; Lc 11:49-51). Đáng sợ thật!
Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, ông Phêrô được đầy Thánh Thần và mạnh dạn nói: “Thưa quý vị thủ lãnh trong dân và quý vị kỳ mục, hôm nay chúng tôi bị thẩm vấn về việc lành chúng tôi đã làm cho một người tàn tật, về cách thức người ấy đã được cứu chữa. Vậy xin tất cả quý vị và toàn dân Ít-ra-en biết cho rằng: nhân danh chính Đức Giêsu Kitô, người Nadarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị” (Cv 4:8-10). Phêrô hôm nay khác hẳn Phêrô hôm qua, không còn khiếp đảm, dám bênh vực sự thật, dám bảo vệ công lý. ĐGH Phanxicô cũng đã mạnh mẽ lên tiếng nói rằng Giáo Hội phải “nói thẳng, nói thật”.
Dùng ý Thánh Vịnh 118:22, ông Phêrô cho biết: “Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường. Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ. Vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4:11-12).
Chết đi để sống lại. Chúa Giêsu đã trải qua “hành trình kỳ diệu” đó. Chúng ta chỉ là tội nhân nhưng lại được hưởng ơn tha thứ và được quyền sống, không chỉ sống ở đời tạm này mà còn được sống đời đời. Đặc quyền quá lớn, phàm nhân chúng ta có mơ cũng không thấy, nhưng đó lại là sự thật hiển nhiên, không chút mơ hồ, không là chiếc bánh vẽ. Vì thế, tác giả Thánh Vịnh tha thiết nhắn nhủ chúng ta: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118:1 và 29).
Thật là khôn ngoan nếu biết tạ ơn Chúa, vì đó là điều minh nhiên: “Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời thì hơn tin cậy ở người trần gian. Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời” (Tv 118:8-9). Mỗi lần ngủ là chúng ta “chết lâm sàng”, giống như “chết giả” để có thể trải nghiệm sự chết vậy. Do đó, mỗi khi thức dậy, chúng ta lại trải nghiệm sự sống lại. Thật là kỳ diệu, vì thế hãy hân hoan dâng lời cảm tạ Thiên Chúa: “Lạy Chúa, chính Ngài là Thiên Chúa của con, xin dâng Ngài muôn câu cảm tạ; lạy Thiên Chúa con thờ, xin dâng Ngài vạn tiếng tôn vinh” (Tv 118:28).
Là con người của tình yêu, thích nói về tình yêu và nhìn theo lăng kính tình yêu, Thánh Gioan cho biết: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa – mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Sở dĩ thế gian không nhận biết chúng ta, là vì thế gian đã không biết Người” (1 Ga 3:1). Nếu có hỏi “Bạn là ai?”, liệu chúng ta có mạnh dạn nói ngay rằng “Tôi là con (của) Thiên Chúa” hay không? Cũng dễ mà cũng không dễ đâu!
Không nhiều thì ít, chúng ta cũng có “máu” Tào Tháo hoặc dòng dõi của ông “đá xanh” Tôma. Con người yếu đuối thế đấy, nói tin mà vẫn “hình như…”, chưa tin thật 100% đâu. Thánh Gioan nói thêm: “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3:2). Quả là điều vô cùng lạ. Hiện nay chúng ta không thể nào tưởng tượng ra nổi. Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, nhiều người được thấy Ngài mà không thể nhận ra Ngài, dù Ngài vẫn là Ngài như khi chưa chịu chết. Quen mà lạ, lạ mà quen.
Trình thuật Tin Mừng hôm nay chỉ có 8 câu do chính Chúa Giêsu nói chứ không có lời dẫn, ngắn gọn nhưng đầy đủ chi tiết cần thiết. Chúa Giêsu xác nhận và phân tích rạch ròi: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn, vì anh ta là kẻ làm thuê, và không thiết gì đến chiên. Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi, như Chúa Cha biết tôi, và tôi biết Chúa Cha, và tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:11-15). Hai lần Chúa Giêsu xác nhận Ngài là Mục Tử nhân lành, và hai lần đề cập sự “hy sinh mạng sống”, cho thấy tầm quan trọng của việc dấn thân và quên mình. Hạnh phúc thay Việt Nam chúng ta có một tấm gương sáng về mục tử, đó là Lm Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897-1946).
Chúa Giêsu “mở rộng” hơn về vấn đề chức quyền và trách nhiệm truyền giáo: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử. Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10:16-18). Ngài nhắc lại hai quyền của Ngài, khác hẳn các quyền chúng ta muốn. Ngài nói đến QUYỀN nhưng Ngài không nói đến LỢI, hoàn toàn khác hẳn với “sở thích” của chúng ta. Nghiêm túc xét mình thì thấy rằng chúng ta thật đáng xấu hổ vô cùng, vì chỉ nói hay mà làm chẳng ra gì!
Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con can đảm chân nhận các nhược điểm của mình để khả dĩ được biến đổi nhờ ân sủng thương xót của Ngài, biết phục vụ chứ không muốn hưởng thụ (Mt 20:28; Mc 10:45). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng phục sinh cứu độ chúng con. Amen.

 

PS4-B148: CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH

Lm. Giuse Dương Hữu Tình
 

Mùa Phục sinh gồm bảy Chúa nhật. Ba Chúa nhật đầu (I, II và III), Giáo hội không ngừng cho chúng PS4-B148

Mùa Phục sinh gồm bảy Chúa nhật. Ba Chúa nhật đầu (I, II và III), Giáo hội không ngừng cho chúng ta suy ngắm những bài Tin Mừng ghi lại sự kiện Đấng Phục sinh “đến” với các tông đồ, môn đệ và một số người. Chúa nhật thứ bốn được dành riêng để suy ngắm về đề tài: Chúa Giêsu là mục tử nhân lành, nên được gọi là Chúa nhật Chúa chiên lành. Ba Chúa nhật sau cùng (V, VI và VII), Giáo hội dành để suy ngắm những lời dạy của Chúa sau khi Chúa rửa chân cho các tông đồ được gọi là “những lời cáo biệt”, từ cuối chương 13 (Ga 13,31) đến hết chương 16 (Ga, 16,33), và những lời cầu nguyện của Chúa ở chương 17 trong Tin Mừng theo thánh Gioan.
Để diễn tả sự gắn bó thiết thân giữa Chúa và những người tin, Chúa Giêsu đã dùng nhiều hình ảnh quen thuộc như thầy trò, cây nho và mục tử-đoàn chiên. Vì là Chúa nhật dành riêng để suy ngắm đề tài Chúa là mục tử nhân lành, Giáo hội đã chọn chương 10 trong Tin Mừng theo thánh Gioan. Chương này gồm 42 câu, Giáo hội đã chọn những câu Chúa nói đến mục tử- đoàn chiên và chia thành ba phần để suy ngắm theo chu kỳ của năm phụng vụ. Năm A từ câu 1 đến câu 10. Năm B từ câu 11 đến câu 18. Năm C từ câu 27 đến câu 30
Nếu cả phần đầu và phần hai nhắc nhiều đến sự phân biệt giữa mục tử đích thực với mục tử giả (hay kẻ làm thuê), thì phần hai phân biệt rõ hơn nữa tính cách đích thực của vị mục tử. Mục tử đích thực này không chỉ còn là người “đi qua cửa mà vào”, “chiên nghe tiếng của anh”, “anh gọi tên từng con”, “anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh”; nhưng còn là vị “Mục tử nhân lành”. Nhân lành ở đây không chỉ có nghĩa hiền lành, nhân từ nhưng còn cho thấy sự mạo hiểm trong sự nhân lành, đó là dám hy sinh cả tính mạng mình vì đoàn chiên của mình. Chỉ có 8 câu, từ câu 11 đến câu 18, thế mà có tới 5 lần Chúa Giêsu nói đến hai chữ “hy sinh”.
Nói đến hai từ “hy sinh” trong tương quan giữa mục tử- đoàn chiên xem ra có gì đó không ổn chăng? Con chiên, con cừu hay con gì đi nữa thì cũng chỉ là một con vật, chúng ta chỉ có thể có một tương quan tương đối đối với chúng mà thôi. Chúng không phải là con người mà ta phải trân trọng tới mức độ phải hy sinh cả tính mạng. Giả như phải để bảo vệ đàn chiên, người mục tử phải đánh nhau với chó sói, có khi nguy hiểm tới tính mạng, ta có thể khẳng định người mục tử đó đã chết vì yêu quý đàn chiên của mình không? Có lẽ không hoàn toàn như thế. Người mục tử vừa quý đàn chiên vừa tiếc tài sản của mình. Thế thì vì lý do gì Chúa lại khẳng định chắc như đinh đóng cột: “Tôi chính là Mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”? Chính lời tuyên bố này cho thấy tính giới hạn của hình ảnh mục tử-đoàn chiên. Mục tử- đàn chiên vốn có sự gắn bó thân thiết, có nảy sinh tình cảm thật sự, nhưng tình cảm giữa Chúa và dân của Người không chỉ giống như thứ tình cảm của người mục tử với đàn chiên. Tình yêu thương mà Người dành cho nhân loại, sự gắn bó mà Người đã kết thân với con người dường như đạt tới mức độ khác hoàn toàn, tới mức sẵn sàng “hy sinh”, tức là sẵn sàng chết. Chết để cho người mình yêu được sống. Khi nhận mình là Mục tử nhân lành, Chúa Giêsu có ý diễn tả “tình yêu đến cùng” ấy của Người, đồng thời Người cũng muốn tỏ lộ (mặc khải) cho ta biết Thiên Chúa- Cha của Người chính là Đấng có tình yêu như vậy: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại”, “Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được”.
Với đề tài Chúa là Mục tử nhân lành, chúng ta thật cảm động khi nhận ra có ai đó đang rất quan tâm đến ta, rất thương yêu ta tới mức sẵn sàng hy sinh cả mạng sống vì ta. “Ai đó” ấy chính là Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ, nhưng nhiều khi chúng ta chỉ tôn thờ Ngài như một Đấng cao cả, xa vời và nhiều khi rất xa cách. Không phải thế, Ngài chính là Đấng gắn bó, thân thiết với mỗi chúng ta. Câu Người nói: “Tôi biết chiên của tôi” như một lời xác quyết rằng Người đang dõi mắt theo ta từng bước trong cuộc đời. Còn chính chúng ta, liệu chúng ta có đang sống được như Người đã tin tưởng chúng ta mà khẳng định rằng: “và chiên của tôi biết tôi” không?

 

PS4-B149:  CHÚA CHIÊN LÀNH – CẦU CHO ƠN THIÊN TRIỆU

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Vào tháng Giêng vừa qua, một nhóm gồm 20 sinh viên từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Tây Ninh để PS4-B149

Vào tháng Giêng vừa qua, một nhóm gồm 20 sinh viên từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Tây Ninh để chinh phục núi Bà Đen. Tuy nhiên, chuyến leo núi của họ không thành công, cả nhóm bị lạc trên núi khi trời tối. Họ đã phải cầu cứu đội cứu hộ đưa cả nhóm ra khỏi bóng đêm sợ hãi của núi rừng. Nhiều người đã thắc mắc : Núi Bà là ngọn núi duy nhất nằm gữa đồng bằng, tại sao cả nhóm không tìm được đường xuống ? Sau đó, các thành viên cho biết, chuyến leo núi của họ không thành công là do có sự chia rẽ khi một số người bị mất sức, một số khác sợ bóng tối, sợ độ cao ; thêm vào đó, cả nhóm đã không chuẩn bị tốt những kỹ năng cũng như đồ dùng cho hành trình leo núi. Nhưng điều hết sức quan trọng, đó là cả nhóm đã không có được một lãnh đạo tốt để động viên tinh thần cả nhóm cũng như để giải quyết những sự việc bất thường xảy ra.
Nếu hành trình của một nhóm leo núi đã không thành công vì thiếu người dẫn đường, thì hành trình leo lên núi thánh của Thiên Chúa, hành trình đức tin, càng không thể thiếu người dẫn đường khôn ngoan, can đảm và giàu kinh nghiệm. Mừng lễ Chúa Chiên Lành, nhiều người chỉ dừng lại ở hình ảnh một đàn chiên ngoan ngoãn ăn cỏ và người chăn dắt chỉ là người lùa chiên, mà quên rằng, người chăn chiên còn quan trọng hơn như thế nhiều.
Con chiên trong văn hóa và đời sống của người Do Thái có một vị trí hết sức đặc biệt. Chiên không chỉ là tài sản mà còn là người bạn, là con cái và là thành viên của gia đình. Có thể người Việt không ôm con trâu, con bò, nhưng người Do Thái ôm con chiên như ngày nay người ta ôm thú cưng. Do đó, khi Chúa Giêsu dùng hình ảnh : Ta là Mục Tử tốt lành, thì người Do Thái sẽ hiểu ngay Chúa muốn nói đến tương quan của Ngài với mỗi người như mối thân tình của mục tử với đoàn chiên.
Chiên là loài vật hiền lành, chúng không thể tự vệ nên thường bị các thú dữ tấn công. Chúng là loài mắt kém, chân yếu nhưng tai rất thính. Vì mắt kém nên chúng rất dễ bị lọt xuống hố, vướng trong bụi gai ; và vì chân yếu nên chúng rất thường bị vấp té. Nhưng ngược lại, đôi tai thính của chúng phân biệt rất rõ tiếng của đồng loại và tiếng của người chăn. Vì vậy, người chăn chiên rất vất vả để chăm sóc cho đàn chiên của mình, người chăn thuê sẽ không làm được như vậy. Chúa Giêsu đã nói : Tôi là Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. Chúng ta là đàn chiên của Chúa Giêsu. Giống như con chiên trong thực tế không có khả năng tự vệ, dễ bị sói dữ tấn công, thì cũng vậy, tội lỗi đã làm cho mắt chúng ta không còn sáng suốt để nhận ra đường đi, không đủ sáng để phân định điều tốt, điều xấu. Mắt chúng ta bị che mờ bởi sự tham lam tiền bạc và của cải vật chất khiến chúng ta dễ bị lạc đường. Chúa Giêsu là mục tử nhân lành và khôn ngoan. Ngài nhân lành để yêu thương, thông cảm, nâng đỡ và tha thứ ; Ngài khôn ngoan để dẫn chúng ta đi trên con đường an toàn, dẫn chúng ta đạt đến hạnh phúc nước trời. Là con chiên yếu đuối, con người dễ bị vấp té bởi những thử thách và cám dỗ do ma quỷ và thế gian bày ra. Vị Mục tử Giêsu đã ẵm bế, an ủi và chữa lành những vết thương trong tâm hồn và thể xác của chúng ta.
Khác với những kẻ chăn thuê, Chúa Giêsu là mục tử đích thực, Ngài đã hy sinh tính mạng để chiến đấu và bảo vệ đàn chiên khỏi sói dữ là ma quỷ tấn công. Ngài đã trải qua một cuộc chiến kinh hoàng, đã phải mang thương tích, chịu đánh đòn và bị người ta đóng đinh trên thập giá. Trong cái nhìn của người đời, thì cuộc chiến của Chúa Giêsu đã kết thúc với cái chết thảm bại. Nhưng trong quyền năng của Thiên Chúa, cái chết của Chúa Giêsu như một sự nghỉ ngơi lấy sức, sau đó, Ngài đã đạp mồ chỗi dậy để vĩnh viễn tiêu diệt thần chết, đem lại sự sống cho nhân loại. Từ cõi chết sống lại, Mục tử Giêsu đã quy tụ đàn chiên bị tản mác, đem lại sức sống mới cho nhân loại. Từ đây, tội lỗi được xóa bỏ, sự chết bị đập tan và Chúa Giêsu trở thành mục tử, thành người dẫn đường đưa đàn chiên tới sự sống hạnh phúc đời đời.
Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Đó vừa là điều kiện vừa là tiêu chuẩn để đánh giá xem chúng ta có thuộc về đàn chiên của Chúa Giêsu hay không. Là con chiên, chúng ta cần phải có một đôi tai thật thính để phân biệt tiếng nói của chủ với tiếng nói của kẻ lạ ; để nghe được tiếng nói của anh em khác với tiếng gầm gừ của sói dữ. Mục tử Giêsu sẽ dùng lời để an ủi, nâng đỡ, và cũng dùng lời để hướng dẫn chúng ta đi đúng con đường của Chúa. Bước theo sự hướng dẫn của Ngài, chúng ta không sợ rơi xuống vực thẳm, cũng không sợ đi lạc hay vấp chân vào đá. Ngài hướng dẫn chúng ta qua giới răn lề luật của Ngài, chỉ cho chúng ta con đường khiêm nhường và khó nghèo, con đường hẹp, là con đường an toàn nhất đưa chúng ta đến với Thiên Chúa. Ngài chỉ cho chúng ta con đường Bát Phúc để đưa chúng ta đến hạnh phúc thật. Mục tử Giêsu chỉ cho chúng ta đi theo con đường của Ngài là con đường yêu thương và phục vụ. Đi trên con đường này, chúng ta sẽ nhận ra Chúa và nhận ra anh em bên cạnh chúng ta.
Là con chiên có đôi tai thính để nghe được tiếng nói của mục tử, thì đồng thời cũng phải nghe được tiếng của những người bên cạnh. Nghe được tiếng của anh em sẽ giúp con chiên luôn đi bên cạnh anh em mình và tránh được tình trạng xa đàn và lạc đàn. Là con chiên trong đàn, chúng ta cũng cần phải lắng nghe tiếng nói của anh em mình. Thiên Chúa đang dùng những anh em bên cạnh để nhân danh Ngài tiếp tục hướng dẫn chúng ta. Hãy tin tưởng và lắng nghe theo sự hướng dẫn của Giáo Hội và các chủ chăn trong Giáo Hội. Các Ngài đang nhân danh Mục tử Giêsu và thay mặt Người để dẫn chúng ta. Thiên Chúa cũng đang dùng những người bên cạnh để nói với chúng ta, đó là cha mẹ, thầy cô và những người khôn ngoan. Nghe theo sự hướng dẫn của các ngài là nghe theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu.
Trong Sứ điệp Ngày Cầu nguyện cho Ơn gọi sống đời tu trì, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các bạn trẻ và hết mọi người hãy dám bước vào một cuộc “xuất hành mới” để trở nên những con người phục vụ Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài cách quảng đại hơn. Ngài mời gọi mỗi người hãy mạnh dạn bước theo Chúa Giêsu, đi vào hành trình của Ngài, ra khỏi chính mình cùng với sự yên ổn, êm ấm của mình để đáp lại lời mời gọi của Thiên chúa. Trước hết, cần ra khỏi con người cũ kỹ và tình trạng tội lỗi để bước vào con đường sám hối và hoán cải. Bước theo con đường này, Mục tử Giêsu sẽ canh tân, đổi mới cuộc đời chúng ta. Kế đến, là bước vào hành trình của đức tin, theo sự dẫn dắt của Mục tử Giêsu, là dám buông mình cho tình yêu của Chúa, để cho Chúa xếp đặt và sử dụng tuổi trẻ và khả năng của mình. Hành trình này sẽ đưa chúng ta xa tránh những lối sống ích kỷ, khô cứng, để mang lấy một cuộc sống quảng đại và tràn đầy tình yêu thương phục vụ. Hành trình này vẫn đang là những thách thức cho tất cả những ai là môn đệ của Chúa Giêsu, là con chiên trong đàn chiên của Ngài.
Đức Thánh Cha cũng thách thức các bạn trẻ, đừng để cuộc đời mình bị cuốn trôi uổng phí, đừng chỉ tìm kiếm tiền bạc, của cải, tiếng tăm trước mắt, cũng đừng để trái tim và tâm hồn mình trở nên khô cứng, hẹp hòi, nhưng hãy luôn sẵn sàng và quảng đại đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Các bạn đừng sợ bước vào cuộc xuất hành cùng với Chúa Giêsu, Ngài sẽ giải phóng và làm cho cuộc đời chúng ta thêm tươi đẹp hơn. Thiên Chúa không bao giờ lấy đi những gì của chúng ta, Ngài sẽ trả lại và còn trao tặng cho chúng ta nhiều điều tốt đẹp hơn.
Thiên Chúa cũng đang cậy nhờ mỗi người đến với anh em của mình để nói với họ rằng : Thiên Chúa yêu thương họ. Chúng ta có dám thực hiện điều Chúa cậy nhờ không ? Xin Chúa cho chúng ta có một đôi tai thật thính để lắng nghe được lời mời gọi của Mục tử Giêsu. Xin cho mỗi chúng ta có một tâm hồn quảng đại để đáp lại lời mời gọi của Chúa, trở thành những cộng tác viên đem tình yêu thương của Chúa đến cho anh chị em. Amen.

 

PS4-B150: GẮN BÓ YÊU THƯƠNG

Lm. Jos. DĐH
 

Chương trình quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, ta vẫn gặp ở mọi nơi, có thể nhà sản xuất họ đã đánh PS4-B150

Chương trình quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, ta vẫn gặp ở mọi nơi, có thể nhà sản xuất họ đã đánh trúng tâm lý người tiêu dùng : ngon, bổ, rẻ, thường thu hút nhiều tầng lớp. Người tốt, sản phẩm chất lượng, ai cũng thích; người xấu, hàng giả hàng nhái, ai cũng khiếp, tuy nhiên nhiều người vẫn thích hàng khuyến mãi, dù đã ý thức lời cha ông dạy : “của rẻ là của ôi”. Lắng nghe, tìm kiếm người tốt, hàng chất lượng cao, sự chọn lựa ấy không phải chỉ nói lên sự “sành điệu”, mà xã hội văn minh, thời đại tân tiến còn nói đến, bất kể cái gì xấu, không tốt, rồi sẽ bị phế bỏ theo thời gian.
Chúa Giêsu hôm nay đã lấy hình ảnh mục-tử và chiên, để dẫn chúng ta đi sâu vào mầu nhiệm hiệp thông giữa Thiên Chúa và loài người. Ngài nói rất thật : “Ta là mục-tử tốt lành, mục-tử tốt lành thí mạng sống vì chiên”. Nếu như ai cũng ngao ngán bài học lý thuyết, trừu tượng, Chúa Giêsu đã hướng mọi người tới sự gắn bó cụ thể nơi mục-tử với đoàn chiên. Đoàn chiên sẽ tan tác, hoặc bị thú dữ ăn thịt nếu thiếu người mục-tử chăn dắt bảo vệ; mục-tử sẽ mất chỗ đứng hay bị xóa tên tuổi, nếu để chiên lạc hoặc chiên bị biến chất.
Khái niệm về xấu và tốt chúng ta đã có trong tâm trí, hình ảnh chiên cừu tung tăng chạy nhảy bên đồng cỏ xanh tươi, có thể chúng ta đã nhìn thấy qua phương tiện truyền thông. Người mục-tử trong ví trí giám mục, linh mục, tu sĩ, hay cha mẹ, chúng ta đã nghe; còn đâu là mục-tử tốt lành, hôm nay Chúa Giêsu đã khẳng định Ngài chính là mục-tử sẽ thí mạng vì đoàn chiên. Cái khó ở chỗ là phải có kiến thức, kinh nghiệm, người ta mới phân biệt được người tốt, việc tốt, hàng thật, hàng tốt. Chúa Giêsu hôm nay đã hướng chúng ta đến tình yêu, kêu gọi ta hãy là người tốt, có đầy tình yêu thương, vì chỉ khi yêu, người mục-tử mới dám sống chết để bảo vệ, bênh vực cho đoàn chiên mình được giao phó.
Cái đẹp gây được sự chú ý của người thời nay là cái đẹp toàn diện, sự tốt lành mà chúng ta hằng chờ đợi là niềm vui ngập tràn trong yêu thương. Khi đưa ra hai hình ảnh mục-tự thật và mục-tử giả, tốt và xấu, Chúa Giêsu đưa dẫn các độc giả tới “cái biết”, biết chọn lựa, biết khôn ngoan, biết làm cho “chữ tình” được sống động, nghĩa là mỗi người đừng dừng lại ở mơ ước hay thụ động chờ đợi. Hình ảnh người chăn chiên hiểu biết chiên của mình, và đoàn chiên sẽ không nghe theo tiếng người lạ, cho thấy ai cũng cần phải năng động, cần biết gắn bó yêu thương, nhằm đạt tới niềm vui dồi dào hạnh phúc.
Thánh Phêrô trong sách Công vụ hôm nay nói tới sự gắn bó yêu thương trong Đức Kitô, và chính khi tin tưởng vào Danh Đức Kitô mà người bại liệt được chữa khỏi. Sự hiện diện và quyền năng của Đấng Phục Sinh tỏ rõ người thật, việc thật, dẫn ta tới niềm vui và có kết quả tốt trong ơn Thiên Chúa cứu độ. Khoảng cách xa lạ sẽ được xóa bỏ, Đức Kitô chính là nền tảng vững chắc cho tình yêu thương được triển nở, niềm vui ơn cứu độ sẽ đến với tất cả những ai tin và sống theo tinh thần Đức Kitô.
Khi yêu, chúng ta thường diễn tả về tâm trạng của mình theo truyền thống tiền nhân : “yêu ai yêu cả đường đi, hoặc yêu là chết trong lòng một tí”, như thế đã là hay lắm rồi. Đức Giêsu hôm nay nói rằng : Ta là mục-tử tốt lành, Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta. Khi gắn bó trong tình yêu thương, người mục-tử có thể nghe, hiểu những âm thanh phát ra nơi đoàn chiên, đó là những lý do Vị Mục-tử dám thí mạng sống mình vì nhu cầu sống hạnh phúc của đoàn chiên.
Đã ở trong một đoàn chiên, không những chiên phải biết nghe theo sự hướng dẫn của người chăn chiên, mỗi con chiên còn có một sứ mạng giúp nhau biết yêu thương, biết sống đoàn kết để đạt tới niềm vui thật trong Đức Kitô là Chủ Chiên. Đó cũng là tâm tình của Thánh Gioan tông đồ nơi bài đọc 2 hôm nay chia sẻ về ơn được làm con trong tình yêu thương của Đức Kitô. Trong cộng đoàn giáo xứ, tin Đức Kitô, sống niềm tin trong Đức Kitô, mỗi người đều phải thể hiện sự hiệp nhất giữa các phần tử với nhau, dù nén bạc và khả năng mỗi người có khác nhau.
Kinh nghiệm của người xưa để lại : đẹp và rồi được yêu, ấy mới chỉ là phụ nữ; xấu mà biết cách làm cho mình được yêu, đó mới đáng gọi là công chúa. Thích sản phẩm tốt, muốn sở hữu được hàng hiệu, hàng tốt, mới chỉ là người say mê “cái đẹp”; bao trùm lên trên tất cả, chúng ta phải khiêm tốn trau dồi kiến thức và đón nhận ơn thánh hàng ngày để là người hoàn thiện, đó mới cao quí. Chúa Giêsu là Mục-tử nhân lành, Ngài đã chết vì yêu thương, vì tội lỗi nhân loại, chúng ta là đoàn chiên của Ngài, chỉ có thể đến được đồng cỏ xanh tươi khi chúng ta biết sống hiệp nhất với Hội Thánh trong ơn gọi theo Chúa Kitô của mình. Amen.

 

PS4-B151: Chân dung vị Mục tử nhân lành.

Suy niệm Lời Chúa - Chúa nhật 4 phục sinh năm B
Lm. GB. Trần Văn Hào SDB
 

Trong Giáo Hội có rất nhiều vị mục tử thánh thiện và gương mẫu, đáng để chúng ta noi theo. Nhưng, PS4-B151

Trong Giáo Hội có rất nhiều vị mục tử thánh thiện và gương mẫu, đáng để chúng ta noi theo. Nhưng, mẫu gương tuyệt hảo nhất chính là Đức Giêsu, vị Mục tử nhân lành khả kính, Đấng mà Giáo hội hôm nay mời gọi chúng ta quy hướng về. Giáo hội dành riêng ngày Chúa nhật tuần 4 mùa Phục sinh với các bài đọc Lời Chúa để chúng ta học hỏi nơi Đức Giêsu, nguyên mẫu mục tử cho tất cả mọi người.
Tình yêu mục tử nơi Chúa Giêsu được hiển thị rõ nét qua ba chiều kích : Vị mục tử biết chiên của mình, vị mục tử lặn lội đi kiếm tìm con chiên lạc, và vị mục tử nhân lành đã hy sinh mạng sống cho đoàn chiên.

Mục tử nhân lành ‘biết’ các chiên của mình
Trong Tin mừng Gioan chương 10, Chúa Giêsu đã nói về đặc nét căn bản này. Trước hết, vị Mục tử nhân lành biết rõ từng con chiên trong đàn :“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27). Đây không phải là cái biết của tri thức, nhưng đó là thái độ biết chiên được biểu tỏ bằng sự hiệp thông sâu xa. Trong Tin mừng Gioan, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần nói về việc Ngài biết Chúa Cha và thi hành những công việc được Chúa Cha trao phó (Ga7,29; Ga 8,19; Ga 9,55,…). Tương tự như thế, Ngài mời gọi các học trò của mình bắt chước Ngài, ‘biết’ các con chiên, giống như Ngài đã biết. Chúa là vị Mục tử nhân lành luôn luôn biết các con chiên thuộc đàn của mình.
Để diễn bày thái độ ‘biết’ chiên, Đức Giêsu đã đi vào trần gian, chia thân sẻ phận với chúng ta. Ngài vui với người vui, khóc với người khóc. Ngài đi dự tiệc cưới tại Cana để chung chia niềm vui với đôi uyên ương trẻ. Ngài thổn thức trước cái chết của đứa con trai bà góa thành Naim. Chúa cũng rơi lệ khi đứng trước ngôi mộ của Lazarô, người bạn nghĩa thiết. Đức Giêsu là Thiên Chúa rất Thiên Chúa, đồng thời Ngài cũng là một con người rất con người, gần gũi với cuộc sống đời thường, sống giống hệt như chúng ta ngoại trừ tội lỗi.
Trong một bài giảng mùa chay, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng khuyến mời các vị mục tử đừng bao giờ ‘mỏi mệt’ để biết các con chiên của mình và người Mục tử phải có ‘mùi chiên’. Cụ thể, Đức Thánh Cha vẫn hay đến thăm các nhà tù, đã từng cúi xuống rửa chân cho các thiếu niên phạm pháp, đã ngồi ăn uống chung với những người vô gia cư… Điều Đức Thánh Cha thực hiện, không phải là một học thuyết mới lạ mang tính cách mạng, nhưng Ngài chỉ muốn sao chép lại cách sống của Chúa Giêsu, vị Mục tử nhân lành luôn biết các con chiên của mình, và mang nơi mình ‘mùi’ của từng con chiên.

Mục tử nhân lành đi kiếm tìm con chiên bị lạc
Chúa Giêsu không phải là một lý thuyết gia. Ba dụ ngôn mà Thánh Luca viết lại trong chương 15 diễn bày chân dung cứu thế và lòng thương xót của một vị mục tử đích thực. Đó là dụ ngôn kể về người đàn bà đi tiềm kiếm đồng bạc bị mất, dụ ngôn người chăn chiên lặn lội tìm kiếm con chiên đi lạc, và nhất là dụ ngôn đứa con hoang đàng trở về trong sự vui mừng tột độ của người Cha. Chúa đã chọn cái chết bi thương trên Thập giá để diễn bày lòng thương xót và sự tha thứ vô điều kiện đối với các tội nhân. Phán quyết của Đức Giêsu, một vị quan tòa đầy lòng thương xót khi Ngài nói với người phụ nữ phạm tội ngoại tình, cũng là phán quyết Chúa ngỏ trao tới từng người chúng ta, là những tội nhân đáng phải chết : “Tôi không kết án chị đâu. Hãy về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”. Trong một bài giảng tại Missouri bên Hoa kỳ, Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận đã dí dỏm nói rằng Đức Giêsu là một học sinh rất dốt toán. Ngài coi con số 1 lớn hơn con số 10. Ngài cũng là một kinh tế gia khá tồi, vì dám liều bỏ lại 99 con chiên khỏe mạnh để lặn lội đi tìm kiếm một con què quặt đang đi lạc. Ngài cũng là một kẻ đãng trí và hay quên. Ngài không nhớ cô gái đang ngồi khóc bên chân Ngài là một cô gái điếm khét tiếng, cũng quên mất tên tử tù bị đóng đinh bên cạnh Ngài là một tay gian phi nguy hiểm với một quá khứ đặc kín tội ác… Bởi vì, Chúa Giêsu luôn mãi là một Mục tử nhân lành, và Ngài mắc phải một căn bệnh kinh niên, đó là bệnh dễ quên. Căn bệnh lú lẫn và hay quên của Chúa thật đáng trân quý biết bao.

Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên
Chúa Giêsu đã nói: “Tôi đến để chúng được sống và sống dồi dào.” Thánh giáo phụ Irênê cũng đã viết : “Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống”. Để chúng ta được sống và sống dồi dào, Đức Giêsu đã chấp nhận cái chết khủng khiếp giống hệt một tên tử tội đốn mạt. Ngài đã nói: “Cha tôi đã làm việc, và tôi cũng luôn làm việc”. Công việc của Ngài là hy sinh tính mạng để đem lại sự sống cho con người, phục hồi cho ta phẩm giá cao quý được làm con Thiên Chúa. Thánh Phanxicô Salê đã nói: “Điều linh thánh nhất trong tất cả mọi điều linh thánh là làm việc cho thiện ích các linh hồn (Divinissimum divinorum est opere ad lucrum animorum)”. Điều linh thánh ấy, Đức Giêsu đã thực hiện trong 3 năm rao giảng và cao điểm cuối cùng là Ngài chấp nhận cái chết oan ức trên Thập giá để cho chúng ta được sống và sống dồi dào. Ngài trở nên nguyên mẫu cho tất cả chúng ta, vì Ngài là Mục tử toàn hảo, đã hy sinh ngay cả mạng sống cho đoàn chiên.

Kết luận
Một linh mục trẻ đã chia sẻ tâm sự của mình trên blog như sau: “Tôi có một người bạn và cũng là một người anh rất thân thương. Ngài là một linh mục, lớn tuổi hơn tôi, và hình ảnh của vị linh mục đó luôn in đậm dấu ấn trong cuộc đời tôi. Ngài được bề trên sai về coi sóc một giáo xứ mới thành lập, và Ngài cũng là Cha xứ đầu tiên của giáo xứ đó. Giáo dân rất quý mến Ngài, vì Ngài hiền lành, luôn sống yêu thương chan hòa với mọi người. Ngài đặc biệt quan tâm tới những người nghèo, những bệnh nhân, những cụ già đơn chiếc và đặc biệt Ngài quý mến các trẻ em. Nhưng có một số vị trong ban hành giáo lại không thích Ngài. Lúc đầu họ ngấm ngầm chống đối, rồi dần dần ra mặt phản kháng công khai. Có điều kỳ lạ, là giáo dân trong giáo xứ cho dầu kính phục Cha xứ của họ, nhưng đã bị ban trùm lôi kéo và dần dần quay lại chống đối Ngài. Một kết cục rất đau buồn đã xảy ra, là đến một ngày đã sắp xếp, cả xứ kéo vào nhà xứ và dã tâm đập chết vị Linh mục mà trước đây họ rất nể phục. Người ta báo cho chính quyền, chính quyền cũng làm ngơ và ra vẻ như đồng thuận. Bà cố của Cha khi nghe tin, đã rất đau khổ, tâm hồn tan nát như chết lặng. Tuy nhiên, bà cố không bao giờ than trách, chẳng tỏ dấu buồn bực hay trách cứ một ai. Dần dần, danh tiếng Ngài được nhiều người biết đến. Từ khắp nơi, người ta kéo đến giáo xứ để tưởng nhớ đến Ngài và cầu nguyện trước di ảnh của Ngài như một đấng Thánh.
Người ta mới thắc mắc và hỏi: “Thế, Cha xứ đó tên là gì, và ở đâu ? Chúng tôi cũng muốn đến kính viếng và học hỏi nơi cuộc sống của Ngài”. Vị linh mục trẻ kia trả lời: “Ngài ở rất gần đây và cũng chẳng lạ lẫm gì. Tên Ngài quen thuộc lắm. Vị Cha xứ đáng kính đó tên là Giêsu”.
Giêsu chính là vị Mục tử khả ái, người Mục tử nhân lành. Ngài đã trở nên khuôn mẫu tuyệt hảo nhất cho tất cả mọi người chúng ta hôm nay, nhất là cho các anh em linh mục.

 

PS4-B152:  BẠN LÀ MỤC TỬ HAY LÀ CHIÊN?

CHÚA NHẬT IV PS MỤC TỬ TỐT LÀNH
Thưa quý OBACE,
 

Tình phụ tử, mẫu tử là một tình cảm hết sức thiêng liêng và hết sức mãnh liệt trong trái tim của những PS4-B152

tình phụ tử, mẫu tử là một tình cảm hết sức thiêng liêng và hết sức mãnh liệt trong trái tim của những người cha người mẹ khi họ phải bảo vệ con cái khỏi phải nguy hiểm. Chúng ta đã từng nghe có người cha lao vào đám lửa cháy để cứa đứa con bé nhỏ của mình bị kẹt trong đó, hoặc là người mẹ ngày đêm túc trúc trong bệnh viện để chăm sóc cho đứa con, dù phải bán hết cả cửa nhà tài sản để chạy chữa cho con… những hình ảnh ấy dễ dàng giúp chúng ta hình dung về hình ảnh người mục tử mà Chúa Giêsu và Kinh Thánh thường sử dụng để nói về tình phụ tử, tình yêu thương săn sóc của Thiên Chúa dành cho con người.
Đối với người Việt Nam, hình ảnh đàn chiên và người chăn chiên có vẻ xa lạ, nhưng đối với văn hóa du mục như người Do Thái thì đàn chiên không chỉ là tài sản của gia đình, mà những con chiên còn được coi như là những thành viên trong gia đình, và người chăn chiên như là người cha người mẹ của chúng, họ ăn uống ngủ nghỉ, bồng bế con chiên như người ta bồng bế trẻ thơ, họ chăm sóc cho con chiên như chăm sóc cho con mình.
Chính vì thế, hôm nay Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh ấy để nói lên tình yêu thương săn sóc của Thiên Chúa dành cho con người: Tôi chính là mục tử nhân lành, mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đàn chiên. Chúa Giêsu qủa là một mục tử, được Thiên Chúa Cha sai đến với đòan chiên nhân loại này, cũng như người chăn chiên là người biết tìm cho chiên đồng cỏ non và dòng suối mát, là người bảo vệ đàn chiên khi bị sói dữ tấn công, nhiều lúc trong cuộc chiền bảo vệ đàn chiên này, người mục tử đã phải mang thương tích đầy mình vì móng vuốt và hàm răng của sói dữ tấn công. Chúa Giêsu chính là mục tử như thế, ngài đã đến để dắt nhân loại chúng ta đến đồng cỏ non là Nước trời, Ngài nuôi dưỡng chúng ta và dẫn đắt con người bằng Lời của Ngài, Ngài cho chúng ta không phải là cỏ non làm thức ăn, mà Ngài trao ban chính máu thịt Ngài làm lương thực bổ dưỡng cho nhân loại, và hơn thế nữa Ngài đã chiến đấu bảo vệ chúng ta khỏi nanh vuốt của Satan và thần chết; Trong cuộc chiến đấu này, Vị Mục tử Giêsu đã phải mang trên mình đầy thương tích bầm giập, tả tơi và cuối cùng Ngài đã hy sinh cả mạng sống để bảo vệ cho đàn chiên được sống.
Tôi là mục tử tốt lành, tôi biết chiên của tôi và chiên tôi biết tôi. Khác với những luật sĩ và biệt phái là những người chỉ biết lo tìm lợi ích cho mình mà không lo cho đàn chiên, họ chỉ là những người chăn thuê, không biết đến những nhu cầu và những nỗi khốn khổ của đàn chiên và không dám hy sinh bảo vệ đàn chiên, trái lại Chúa Giêsu so sánh mình như một mục tử tốt lành: tôi biết chiên tôi và chiên tôi biết tôi. Biết chiên của mình, không chỉ là biết tên biết mặt, mà là thấu hiểu từ trong tâm hồn, thông cảm và thứ tha, lắng nghe và nâng đỡ, Chúa Giêsu biết rõ tâm hồn chúng ta hơn cả chúng ta biết về mình, Ngài biết cả những suy nghĩ ước muốn của chúng ta và biết cả những yếu đuối tội lỗi của chúng ta, như cha mẹ biết tính nết của từng đứa con mình để yêu thương, để vỗ về, Chúa Giêsu đã yêu thương săn sóc cho chúng ta như thế.
Với trái tim của một người mục tử, Chúa Giêsu không loại trừ bất cứ ai ra khỏi tình yêu thương của mình, dù họ có thuộc đàn chiên của Chúa hay họ thuộc đàn chiên khác, thì Chúa vẫn yêu thương chăm sóc và tìm cách để đưa mọi người trở về gia nhập vào đoàn chiên duy nhất dưới quyền một mục tử duy nhất là chính Chúa Giêsu.
Noi gương Thày Giêsu, đồng thời được trao ban cho nhiệm vụ chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Chúa, Thánh Phêrô, thủ lãnh của Giáo Hội đã trở thành một chủ chăn hết mình với Giáo Hội hy sinh vì sứ mạng của mình. Nếu trước đây không lâu Simon Phêrô là một một con người nhút nhát đã 3 lân chối bỏ thày mình, thì hôm nay trước mặt Thượng Hội Đồng Do Thái, Phêrô đã mạnh dạn lên tiếng bênh vực cho sứ mạng của mình là chủ chiên và bảo vệ cho những người đã được trao phó cho ông trong tư cách là tông đồ của Chúa Giêsu. Sứ mạng của Phêrô là loan truyền Tin mừng Phục sinh cho đến cùng cõi đất, là người củng cố đức tin cho anh em và là người chăm sóc đoàn chiên chủa Chúa, Thánh Phêrô đã mạnh mẽ khẳng định về màu nhiệm tử nạn và Phục sinh của Chúa Giêsu, cùng quyền năng Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu, và Người trở thành nguồn ơn cứu độ duy nhất cho toàn thể thế giới, Ngài đã trở thành một mục tử gương mẫu cho tất cả những người được trao trách nhiệm làm mục tử chăm sóc đàn chiên của Chúa.
Cảm nhận hạnh phúc vì được là con chiên trong đòan chiên của Chúa, mà hơn thế nữa, Đức Giêsu đã đổ máu mình ra để cứu chuộc chúng ta và qua cái chết của Ngài, Ngài đã nhận chúng ta vào trong gia đình Thiên Chúa, trở thành những thành viên trong gia đình của Thiên Chúa, thành người nhà và hơn thế nữa chúng ta cũng trở thành con Thiên Chúa, ân phúc này vượt quá sức mơ tưởng của chúng ta, Thánh Gioan trong thư thứ nhất đã quả quyết với chúng ta như thế.
Vì là con trong gia đình, chúng ta cũng phải sống hết mình để chu toàn bổn phận và ơn gọi là người con của Thiên Chúa, sống hiếu thảo và vâng lời Thiên Chúa là cha cha hết mực yêu thương ta và hy sinh vì ta, là con chiên trong đàn chiên của Mục tử Giêsu, chúng ta cần đi theo sư hướng dẫn của Ngài, và để cho Ngài chăm sóc băng bó những vết thương trong tâm hồn chúng ta.
Thưa quý OBACE, là con chiên của Chúa Giêsu, chúng ta không thể đi trước Chúa Giêsu, mà phải đi theo sau Ngài, theo sự hướng dẫn của Ngài, đi trong sự bảo vệ của Ngài. Ngài hướng dẫn chúng ta đi theo con đường của Tin Mừng, Ngài mời gọi chúng ta ăn trên đồng cỏ của tám mối phúc thật, Ngài muốn chúng ta bước vào con đường hẹp con đường hy sinh từ bỏ và nhất là con đường thập giá, vì chỉ có con đường này mới bảo đảm đưa chúng ta đến nguồn nước hạnh phúc chân thật, Ngài mời gọi chúng ta đến, không phải là đồng cỏ mà là bàn tiệc thánh của Ngài để cùng ăn cùng uống với Ngài, Ngài dùng các Bí tích là những phương thuốc chữa lành mọi bệnh tật trong tâm hồn, hãy đến với các Bí tích nhất là bí tich giái tội để được chăm sóc và chữa lành.
Là con chiên trong đoàn, chúng ta còn phải đồng hành cùng với các anh em khác, chúng ta không thể đi một mình, mà phải đi cùng với những người khác, cùng tiến về đồng cỏ hạnh phúc nước trời. Chúng ta đang sống trong một đàn chiên cụ thể là Giáo Hội, giáo phận, và đặc biệt chúng ta đang là con chiên trong đoàn chiên giáo xứ, hãy trở thành những thành viên có trách nhiệm, cùng chung tay góp sức xây dựng giáo hội địa phương và xây dựng tình huynh đệ trong cộng đoàn giáo xứ, hãy sống tốt hơn nữa tình tương thân tương ái trong môi trường chúng ta đang sống, nhất là lắng nghe tiếng nói của chủ chiên mà Chúa đã đặt lên, để hướng dẫn chúng ta và bằng sự cộng tác xây dựng.
Không chỉ là con chiên, mà mỗi chúng ta cũng đang là những mục tử, là người chăn dắt hướng dẫn những người khác nữa: Là cha mẹ trong gia đình, quý vị đang được mời gọi trở thành những mục tử cho con cái, hãy noi gương vị mục tử Giêsu, không chỉ tìm kiếm cơm gạo nuôi con, mà các bậc cha mẹ còn phải dùng đời sống gương sáng của mình để dẫn đưa gia đình và con cái đi theo con đường của Thiên Chúa muốn,  và đừng đi bằng con đường nào khác mà hãy đi theo con đường của Tin Mừng, hết mình bảo vệ  sự êm ấm thuận hòa và bầu khí hạnh phúc của gia đình bằng đời sống cầu nguyện, bằng những giờ kinh, bằng sự dạy dỗ uốn nắn con cái khỏi những sự tấn công của sói dữ là nhữ lôi kéo và những tệ nạn xấu xa trong xã hội hôm nay như rượu chè, cờ bạc, phim ảnh sách báo xấu…
Hôm nay còn là ngày cầu nguyện cho ơn kêu gọi làm linh mục tu sĩ, các bạn trẻ nam nữ thân mến! Các bạn đang được Chúa và Giáo hội mời gọi quảng đại đáp lại tiếng Chúa, sống đời tu trì trở thành những linh mục tu sĩ, những mục tử trong Giáo Hội, Chúa đang cần sự cộng tác của các bạn, Chúa đang muốn dùng trái tim khối óc của các bạn, dùng đôi tay và tuổi trẻ của các bạn để Ngài tiếp tục yêu thương săn sóc cho đoàn chiên của Ngài, đừng ngại ngần đắn đo, đừng tiếc cuộc đời với Chúa vì Chúa có tiếc gì với các bạn đâu, hãy mạnh dạn đáp lại tiếng Chúa, đừng chỉ sống cho riêng mình, mà hãy dám sống cho nhiều người. Chúa đang chờ các bạn! Amen

 

PS4-B153: CHÚA CHIÊN LÀNH

Thánh lễ Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh, Giáo Hội mời gọi mọi thành phần dân Chúa hướng về Đức PS4-B153

Thánh lễ Chúa Nhật thứ 4 Phục Sinh, Giáo Hội mời gọi mọi thành phần dân Chúa hướng về Đức Kitô Phục Sinh với tước hiệu “Chúa Chiên Lành”, nói một cách bình dân, Đức Kitô là vị Mục Tử tốt lành, công việc chính yếu của Ngài là chăn dắt, thí mạng để bảo vệ đàn chiên khỏi nanh vuốt của sói dữ tham mồi, dẫn đưa đàn chiên đến đồng cỏ xanh non và suối nước không bao giờ cạn, dẫn đưa đàn chiên về với cội nguồn của sự sống vĩnh cửu và niềm hạnh phúc viên mãn trong gia đình Thiên Chúa nơi vương quốc Nước Trời. Ngài không chỉ chăn dắt những đàn chiên ngoan hiền, sống theo bầy đàn, nhưng ngài còn cất công đi tìm và đem về những con chiên ngỗ nghịch, bỏ bầy đi rong chơi… như lời Ngài đã minh định: “ Ta còn những chiên khác không thuộc đàn này, cả những chiên đó Ta cũng phải mang về đàn và chúng sẽ nghe tiếng Ta..” (Ga.10,).
Trong ngày lễ Chúa Chiên Lành, ta được Giáo Hội mời gọi cầu nguyện cho ơn thiên triệu, linh mục và tu sỹ. Đây là một công việc rất thiết thực và rất có ý nghĩa, nhất là với xã hội ngày hôm nay, một xã hội tôn sùng chủ nghĩa hiện sinh, hưởng thụ…Sự bành trướng của những lối sống này đã đưa đến hiện tượng khan hiếm ơn gọi trở thành linh mục, tu sỹ…Còn đó những cộng đoàn thiếu vắng các vị mục tử cử hành các bí tích, hướng dẫn, chia sẻ Lời Chúa nơi quê hương đất nước ta, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa, những buôn sóc anh em dân tộc thiểu số, rất nhiều nơi thiếu vắng tình thương của Chúa qua bàn tay chăm sóc của các tu sỹ nam, nữ, những tâm hồn thiện nguyện. Cuối cùng ta cũng được mời gọi dâng lời cầu nguyện để tỏ lòng biết ơn, quý trọng đối với các vị mục tử đã và đang chăm sóc ta trong đời sống đức tin, đời sống cầu nguyện như lời mời gọi của thánh Phaolô: “ Thưa anh em, chúng tôi xin anh em hãy quý trọng những ai đang vất vả vì anh em, để lãnh đạo anh em nhân danh Chúa và khuyên bảo anh em” (1Tx. 5,12)
Hướng về Đức Kitô Phục Sinh vị Mục Tử Nhân Lành, ta cũng không quên cầu nguyện cho chính ta là những mục tử mà Chúa yêu thương giao phó cho ta trách nhiệm chăm sóc đàn chiên qua hình ảnh của những người thân yêu nơi mái ấm gia đình, nơi cộng đoàn… Để nhờ ơn Chúa giúp ta dần trở thành những mục tử như lòng Chúa ước mong, luôn biết khiêm hạ, hy sinh, hiến thân chăm lo, bảo vệ đàn chiên là vợ, chồng, con, cháu, anh em…Đây chính là quà tặng, là ân sủng của Thiên Chúa ban tặng cho ta một cách nhưng không.
Đức Giêsu Kitô Phục Sinh đã nên gương cho ta trong vai trò mục tử, Ngài cũng mời gọi ta bước theo, học theo Ngài trong trách nhiệm và bổn phận mục tử mà Ngài đã trao ban. Vâng! Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa khi vâng lời Chúa Cha bước xuống trần mặc lấy kiếp phàm nhân, sống như người trần thế (x.Pl.2,6-8), Ngài đã là một người con hiếu trung nơi gia đình Thánh Gia, Ngài vâng lời Cha trên trời cho đến chết và chết trên cây thập giá. Chính đời sống nói thực, sống thực, Ngài mạnh dạn và lớn tiếng phán với các môn đệ thân tín và với người Do Thái: “ Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì đàn chiên…Vì lẽ này mà Cha yêu mến Ta, là Ta thí mạng sống để rồi lấy lại. Không ai cất mạng sống khỏi Ta, nhưng Ta, Ta thí mạng sống. Ta có quyền thí mạng sống và cũng có quyền lấy lại. Đó là mệnh lệnh Ta nhận nơi Cha Ta”(Ga.10,11-18).
Làm sao ta có thể trở thành người mục tử gương mẫu, thánh thiện, chu toàn công việc và bổn phận, biết chăm lo và xả thân vì đàn chiên, nếu ta thiếu lòng trung hiếu, thiếu đức vâng lời, khiêm hạ, sự chuyên chăm và nhất là dám hy sinh chính tính mạng của mình để bảo vệ đàn chiên, thánh Phêrô khi nói về trách nhiệm và bổn phận của người mục tử, ngài đã viết:“Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1Pr.5, 2-5).
Vâng! Nếu trong đời sống của ta thiếu lòng trung hiếu với Chúa và với nhau, thiếu đức vâng lời, khiêm hạ, thiếu đi sự từ bỏ những danh, quyền, lợi và cả chính bản thân, mạng sống mình, điều tất yếu ta sẽ dần trở thành kẻ làm thuê, chăn thuê như lời Đức Kitô đã phán: “ Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên chạy tán loạn” (Ga.10,12).
Lời bộc bạch của thánh Phaolô:“Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm”(Rm.7,19) đã nói lên cái yếu đuối và tính xác thịt nặng nề của chính ngài và cho chính ta, nhưng Thánh Nhân đã tìm ra cho mình một con đường giải thoát để trở thành vị mục tử đẹp lòng Chúa khi ngài thốt lên:“Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này. Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm.7, 24-25). Từ nơi Đức Ki tô ta mới có thể trở thành những mục tử như Ngài hằng ước mong.
Lạy Chúa Giêsu Vị Mục Tử Nhân Lành! Con cảm tạ Chúa vì Chúa đã chăm sóc con và gia đình con, Chúa đã ban và mời gọi con trở thành người mục tử chăm lo đàn chiên của Chúa là chính gia đình con.
 Con xin lỗi Chúa, vì con đã không học theo gương Chúa trong công việc và bổn phận, con đã ích kỷ, chỉ chăm lo cho chính mình và cho những gì mình yêu thích, những gì dễ dãi đối với con, để rồi con dần trở thành kẻ chăn thuê làm đàn chiên của Chúa tan tác.
Con van xin Chúa tha thứ và ban ơn trợ giúp, để từ đây, nhờ ơn Chúa giúp, con sẽ trở thành người mục tử như lòng Chúa ước mong. Amen.
Sài gòn, ngày 27/04/2012
Antôn Lương Văn Liêm

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây