Phục Sinh 5-B Phần II Bài 51-100: Thầy là Cây Nho

Thứ tư - 25/04/2018 10:01
Phục Sinh 5-B Phần II Bài 51-100: Thầy là Cây Nho
Phục Sinh 5-B Phần II Bài 51-100: Thầy là Cây Nho
Phục Sinh 5-B Phần II Bài 51-100: Thầy là Cây Nho
PS5-B51. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - Lm Carôlô Hồ Bặc Xái  Chuyện. 2
PS5-B52. GIỮ MỐI THÂN TÌNH - Lm. Mark Link, S.J. 5
PS5-B53. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - Lm. Augustine, SJ. 7
PS5-B54. AI ĐỔI ĐỜI AI - Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ. 8
PS5-B55. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - Lm. Ignatiô Hồ Thông. 10
PS5-B56. ĐỂ ĐƯỢC SỐNG SUNG MÃN VÀ SINH HOA KẾT TRÁI DỒI DÀO - Lm Ignatio Trâ. 14
PS5-B57. ANH EM HÃY LƯU LẠI TRONG TÔI - Lm. L.GonzagA Đặng Quang Tiền. 14
PS5-B58. CÂY NHO VÀ CÀNH NHO - Lm Giuse Ịinh lập Liễm... 15
PS5-B59. GỐC NHO NÀY CHÚA BỨNG TỪ AI CẬP - Lm Giuse Phạm Ngọc Ngôn, Csjb. 18
PS5-B60. THOÁI HOÁ LÀM MẤT PHẨM GIÁ - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 19
PS5-B61. ĐỂ SINH HOA KẾT TRÁI XUM XUÊ - Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa. 20
PS5-B62. HIỆP NHẤT VỚI CHÚA GIÊSU - Lm. An Phong, OP. 21
PS5-B63. MẠCH SỐNG - Lm. Giuse Ịô     Vân Lực, OP. 22
PS5-B64. Ở TRONG THẦY VÀ SINH NHIỀU HOA TRÁI - Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm... 23
PS5-B65. TÔI VAN XIN MỘT LẦN CUỐI... 26
PS5-B66: NGƯỜI KITÔ HỮU SINH HOA TRÁI TRONG CHÚA KITÔ.. 27
PS5-B67. Xây Dựng Giáo Hội – Jean-Yves Garneau. 28
PS5-B68. Cây nho và nhánh. 29
PS5-B69.  CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 30
PS5-B70. HIỆP THÔNG VỚI CHÚA VÀ VỚI THA NHÂN.. 30
PS5-B71: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 32
PS5-B72: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 32
PS5-B73: THẦY LÀ CÂY NHO THẬT.. 33
PS5-B74: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 34
PS5-B75: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 35
PS5-B76: ĐỊNH DANH KITÔ HỮU.. 36
PS5-B77: Ở LẠI TRONG THẦY.. 37
PS5-B78:  MỘT KẾT QUẢ ĐÃ BIẾN ĐỔI THẾ GIỚI. 38
PS5-B79: CÂY NHO THẬT.. 39
PS5-B80:  KHI LÒNG TA CÓ CHÚA.. 40
PS5-B81:  Thời điểm BỊ ĐỨT RỄ.. 42
PS5-B82:  Thần linh sinh sản thần linh hay quái thai kitô giả…... 44
PS5-B83:  Thầy là cây nho các con là cành. 46
PS5-B84:  Hiệp Thông Với Đức Kitô. 46
PS5-B85:  NỖI BẤT HẠNH CỦA CHÚA.. 47
PS5-B86:  “HÃY Ở LẠI TRONG THẦY!”. 49
PS5-B87:  CÂY NHO THẬT.. 50
PS5-B88:  HIỆP THÔNG VỚI CHÚA ĐỂ TRỔ SINH HOA TRÁI. 51
PS5-B89:  CẮT TỈA.. 51
PS5-B90:  HOA TRÁI LÀ THỨ PHẢI ĂN ĐƯỢC.. 55
PS5-B91: Cây nho. 55
PS5-B92:  Cây nho – Lm. Giuse Trần Việt Hùng. 56
PS5-B93: Sống thân mật với Chúa – Cố Lm. Hồng Phúc. 58
PS5-B94: Sự sống trong Chúa Kitô – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 59
PS5-B95: Tại sao cành phải liền thân?. 60
PS5-B96:  Cắt tỉa. 62
PS5-B97:  Thầy là cây nho, anh em là cành - ViKiNi 63
PS5-B98: Bình an trong Giáo hội 63
PS5-B99:  Nối kết để hoàn thiện. 64
PS5-B100: Tình yêu cần sự quan tâm... 66

 

PS5-B51. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - Lm Carôlô Hồ Bặc Xái  Chuyện

Chủ Ðề: Tình yêu phải sinh hoa trái
I. DẪn vào Thánh lỄ
Anh chị em thân mến
 

Lời Chúa tuần rồi dạy chúng ta phải sống tình yêu. Lời Chúa hôm nay khuyến cáo chúng ta rằng tình: PS5-B51

Lời Chúa tuần rồi dạy chúng ta phải sống tình yêu. Lời Chúa hôm nay khuyến cáo chúng ta rằng tình yêu thật không phải chỉ là yêu thương bằng đầu môi chót lưỡi nhưng phải sinh hoa trái. Những hoa trái ấy đối với Chúa là tuân giữ các điều răn của Ngài, và đối với người khác là những việc làm cụ thể biểu lộ lòng yêu thương.
Xin Chúa giúp cho tình yêu của chúng ta sinh hoa trái.
II. GỢi ý sám hỐi
Chúng ta chưa yêu thương tha nhân cho đủ.
Tình thương của chúng ta đối với người khác lắm khi chỉ là lời nói suông chứ chưa thể hiện bằng việc làm.
Chúng ta ít chịu kết hợp gắn bó với Chúa như cành nho gắn liền với thân nho.
III. LỜi Chúa
1. Bài đọc I Cv 9, 26-31
Ðức Giêsu phục sinh đã hiện ra với Saulô (Phaolô), không phải chỉ để thánh hóa ông, mà còn trao cho ông một sứ mạng (x. Cv 9, 6: "Ngươi hãy đứng dậy vào thành, và có người sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì"). Ý thức về sứ mạng đã khiến Saolô tìm cách nhập đoàn với các môn đệ.
Nhưng bước đầu thật khó khăn vì mọi người vừa không tin vừa còn sợ ông. Nhờ Banaba đứng ra bảo lãnh nên Saolô mới được đón nhận. Thế là Saolô bắt đầu thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng.
Bài tường thuật kết thúc bằng bảng tóm lược những kết quả khả quan của việc rao giảng Tin Mừng.
2. Ðáp ca Tv 21
Tv này rất hợp với hoàn cảnh của Phaolô: phần đầu (cc 1-19) mô tả cảnh tác giả bị ruồng bỏ. Nhưng trong phần sau (chính là phần được trích đọc hôm nay), tác giả đã được đón nhận, hăng hái truyền tụng những kỳ công của Thiên Chúa và hân hoan chúc tụng Ngài.
3. Bài đọc II 1 Ga 3, 18-24
Ðoạn thư này cũng giúp hiểu chủ đề "tình yêu phải sinh hoa trái": Yêu thương không phải chỉ bằng lời nói trên đầu môi chót lưỡi mà phải bằng việc làm và bằng việc tuân giữ các điều răn của Ðức Giêsu.
4. Tin Mừng Ga 15, 1-8
Dụ ngôn Cây Nho.
Dụ ngôn này dạy chúng ta một cách vừa cụ thể dễ hiểu nhưng vừa rất sâu sắc về cuộc đời kitô hữu:
Kitô hữu nếu muốn sống phong phú thì phải sống trong Ðức Giêsu và sống bằng sức sống của Ngài "Thầy là cây nho, các con là nhành... Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều trái"
Kitô hữu cũng phải chấp nhận để cho mình "được Cha Thầy tỉa sạch" bằng những việc xảy ra không đúng ý mình làm cho mình đau khổ.
Ðức Giêsu còn hứa một điều rất tốt đẹp: "Nếu các con ở trong Thầy và Lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin, và sẽ được"
IV. GỢi ý giẢng
* 1. Cây nho và cành nho
Ðức Giêsu không viết một quyển sách nào cả. Ngài cũng không xây dựng một ngôi nhà nào cả. Nhưng Ngài đã thực hiện một công trình lớn lao và cần thiết hơn nhiều, đó là xây dựng một cộng đoàn.
Ngài nói với các môn đệ: "Thầy là cây nho, anh em là cành". Ðó chính là hình ảnh Ngài dùng để nói về cộng đoàn mà Ngài xây dựng, một hình ảnh rất súc tích: Vào mùa xuân, các cành nho vươn ra, đơm lá, trổ hoa. Ðến mùa thu thì các cành đã nặng trĩu những chùm nho tươi tốt. Nhưng sở dĩ cành sinh lá, trổ hoa và kết trái là nhờ chúng nối liền với cây nho. Nếu cắt lìa chúng khỏi cây thì chẳng những chúng không có trái, mà còn héo tàn dần và cuối cùng thì chết. Cành nho cần đến cây nho thế nào, chúng ta cũng cần đến Ðức Kitô thế ấy. Nếu không kết hợp với Ngài, chúng ta sẽ không có sức sống và không thể sinh trái.
Nhưng cây nho cũng cần đến cành nho, bởi vì chính cành nho sinh ra trái nho. Nói thế nghĩa là Ðức Kitô cũng cần đến chúng ta. Chúng ta là cành của Ngài. Như thế cây nho và cành nho đều cần tới nhau. Hai bên tạo thành một thể hiệp nhất. Từ đó chúng ta mới hiểu Ðức Kitô rất tin tưởng và trông cậy nơi chúng ta. Có thể chúng ta cảm thấy mình không xứng đáng với sự tin tưởng trông cậy ấy, tuy nhiên chúng ta phải nhớ rằng bên cạnh chúng ta còn có Ngài nữa. Cành nho có thể yếu ớt và mong manh, nhưng cây nho thì rất vững chắc và dồi dào sức sống.
Ðức Kitô muốn nhờ chúng ta để sinh trái cho thế giới. Có một khác biệt lớn giữa thành công và sinh trái. Thành công đến từ năng lực, và mang lại vinh quang. Nhưng việc sinh trái thì thường đến từ sự yếu đuối, khổ đau và nhiều khi chẳng ai nhận biết mà khen thưởng. Ðức Kitô không bảo chúng ta phải thành công, nhưng Ngài dạy chúng ta sinh trái. Mỗi người chúng ta đều được Ngài ban cho một số khả năng nào đó. Bằng cách sử dụng, phát triển và chia xẻ những khả năng đó với người khác, chúng ta sẽ sinh trái. Thế giới đang chờ những trái ấy. Mà điều quan trọng là yêu thương. Thiên Chúa sẽ làm cho tình yêu của chúng ta sinh trái, những trái chúng ta thấy được và cả những trái chúng ta không thấy.
Sang mùa đông, các cành nho được cắt tỉa. Cắt tỉa là một tiến trình cần thiết cho cành nho: bỏ đi tất cả những gì thừa thải chẳng ích lợi gì mà còn làm hao mòn sức sống của cây nho. Mục đích của cắt tỉa không phải là làm cho cành bị đau mà là để giúp chúng sẽ sinh trái nhiều hơn và tốt hơn nữa. Vì chúng ta là những cành của Cây nho thật là Ðức Kitô nên chúng ta cũng cần được cắt tỉa. Có rất nhiều điều chẳng những vô ích mà còn có hại cho sự sống chúng ta, làm hao hụt năng lực chúng ta và cản trở sự sinh hoa trái thiêng liêng của chúng ta. Nếu Ðức Kitô cắt tỉa chúng ta bằng những gian truân thử thách, đó là vì Ngài muốn chúng ta sinh nhiều trái hơn. (Viết theo Flor McCarthy)
* 2. Sống với
Nhiều người nói rằng: "Tôi cần gì đến nhà thờ chứ? Tôi không thể tôn thờ Chúa theo cách của tôi sao? Tôn giáo là sự liên hệ cá nhân giữa tôi và Chúa cơ mà!"
Hãy nhớ rằng ngay từ những buổi đầu, việc theo Ðức Giêsu không bao giờ là một việc cá nhân và riêng tư. Các kitô hữu sống chung trong cộng đoàn, cùng nhau tuyên xưng niềm tin, cùng nhau làm chứng về Ðức Kitô sống lại, và cùng nhau sống theo những điều Ngài dạy dỗ. Lý do sâu xa của nếp sống cộng đoàn ấy được chính Ðức Giêsu giải thích khi Ngài nói "Thầy là cây nho, anh em là cành".
Cây nho và cành nho là một. Có một sự lệ thuộc hỗ tương giữa cây với cành và cành này với cành khác. Nếu nói "Tôi theo Ðức Kitô nhưng không theo Giáo Hội" tức là chia cách Ðức Kitô khỏi Giáo Hội, là cắt cành khỏi cây.
Những môn đệ đầu tiên của Ðức Giêsu đã nhìn thấy Ngài, ăn uống với Ngài và trò chuyện với Ngài sau khi Ngài sống lại. Nhờ đó họ cảm nghiệm rất sâu xa sự liên kết với Ngài, một sự liên kết mà nhờ đó họ được tăng sức hơn. Ðức Giêsu đã chọn họ, làm cho họ thành bạn hữu của Ngài, rồi sai họ ra đi để sinh hoa trái, hoa trái của tình thương.
Chúng ta sẽ biết mình là những cành nho đầy sức sống của cây nho nếu trong chúng ta thực sự có tình thương mến, tình thương mến ngự trị giữa nhau và thể hiện bằng sự chăm sóc cho nhau.
* 3. Hoa trái xum xuê
Nếu ta gắn bó với Người, Ðức Giêsu sẽ cho ta hoa trái xum xuê như Người đã hứa: "Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy người ấy sẽ sinh hoa trái xum xuê". Ðời ta có thể nên phong phú nhờ sự phong phú của Thiên Chúa. Ta nên những môn đệ đích thực và ta làm vinh danh Chúa Cha. Lời cầu của ta cũng tương tự lời cầu của Ðức Giêsu. Người biết Chúa Cha luôn nhận lời Người: "Nếu các con ở trong Thầy và lời Thầy ở trong các con các con hãy xin điều các con muốn và các con sẽ được như ý". Ta có thể xin gì khác hơn thánh ý Chúa Cha? Người môn đệ đích thực của Ðức Giêsu không đơn thuần là kẻ đi theo Người. Trong anh ta, chính Ðức Giêsu ngự đến sống đời sống của anh, biến đổi đời sống ấy và làm cho nên phong phú. Thánh Phaolô sẽ nói: "Không phải tôi sống, chính Ðức Kitô sống trong tôi". Môn đệ là người "mang Ðức Kitô". Nếu môn đệ trung tín với Lời Người, anh sẽ nối dài sự hiện diện và hoạt động của Ðức Giêsu trên trần gian. Tim anh sẽ đập cùng một tình yêu đó, đời anh sẽ dâng lên Chúa Cha cũng niềm vinh danh đó, lời anh sẽ loan báo cũng Tin mừng đó, cử chỉ anh sẽ phiên dịch cũng ơn cứu độ đó. Ðây không phải là bắt chước, nhưng là một chuyển biến sâu xa. Chính Thiên Chúa sinh hoa kết quả xuyên qua hoạt động của anh. Chẳng đời nào ta dám tưởng tượng ra một sự thân thiết thâm sâu dường ấy! Nên Ðức Giêsu đã phải nhấn mạnh, nhắc đi nhắc lại để hiểu hơn: "Ngoài Thầy, các con không làm được gì". Ta rất dễ bị cám dỗ, chiếm hữu Lời Người, dùng Lời Người để tự mình hướng dẫn đời sống muốn, để tự ta thấy trước những hoa trái ta muốn có... Thực ra, nếu ta là những môn đệ đích thực, thì chính Lời Ðức Giêsu sẽ nắm lấy ta, sẽ cắt tỉa ta. Khi ấy, cuộc đời ta sẽ biến đổi, nhựa sống của cây nho thật sẽ căng phòng lên ở các cành nho của ta và sản sinh trong ta hoa trái xum xuê". (Mgr. L. Daloz trong "Chúng tôi đã thấy vinh quang của Người" DDB, trang 192. Trích dịch bởi Fiches dominicales, năm B)
* 4. Liên kết với Người  FB
Một thầy kiện mới mở được một văn phòng luật sư khang trang lịch sự. Bỗng nghe có tiếng chân người ngoài cửa bước vào, ông vờ như không thấy. Vội nhắc ống diện thoại lên, nói thật to trong ống nghe:
 
  • Alô, văn phòng luật sư đây.
  • Vâng, từ ngày tốt nghiệp đại học đến nay, tôi đã thắng nhiều vụ kiện lớn. Các công ty danh tiếng đều nhờ cậy tôi. Tôi được rất nhiều người tin tưởng. Tuy thu nhập cao nhưng tôi luôn dành 10% cho các công việc từ thiện.
Có tiếng gõ cửa, ông quay lại, thấy người đàn bà đang đứng chờ từ nãy, ông mới lịch sự thưa:
 
  • Xin lỗi bà, tôi có khách quý đến.
Quay lưng lại, anh hỏi người vừa bước vào:
 
  • Anh cần gì?
  • Thưa luật sư, có phải hôm nay là ngày đầu tiên văn phòng của ngài bắt đầu làm việc?
  • Ðúng thế, anh cần tôi giúp vụ kiện nào?
  • Dạ thưa không tôi là người của công ty điện thoại được cử đến để gắn đường dây điện thoại cho ngài!
|||
Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại mối liên hệ của chúng ta với Chúa. "'Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, kẻ ấy sinh nhiều trái" (Ga. 15, 5). Ðức Giêsu Phục sinh là cây nho, các tín hữu Kitô là cành. Cây và cành có chung một dòng nhựa, nên cùng một sự sống. Càng gắn bó với cây, cành càng sinh nhiều hoa trái. Nếu ngược lại cành sẽ héo tàn. Ví như đường dây điện thoại của ông luật sư, không có nối với tổng đài, thì đâu có liên lạc đối thoại: không có liên lạc đối thoại thì đâu có khách hàng, lợi nhuận! Cành chỉ giả vờ gắn liền với cây, nên làm gì có sinh hoa trái.
Cành nào đã sinh trái, càng phải sinh trái nhiều hơn. Muốn sinh nhiều trái hơn, cành cần được cắt tỉa đớn đau. Có cắt tỉa vun xới, cành mới sinh hoa kết quả. Ðức Giêsu trên cây thập giá, như một thân nho trơ trụi. Ðó là lúc phát sinh hoa trái nhiều hơn cả. Từ cạnh sườn Người bị đâm thấu, Giáo hội đã được sinh ra, và đơm bông kết trái dồi dào.
Mỗi người tín hữu Kitô cũng phải được cắt tỉa, vun xới bằng hy sinh đau khổ hằng ngày, mới trổ sinh hoa trái dồi dào. Niềm vui và đau khổ không nhất thiết phải khử trừ nhau. Ðôi khi nó réo gọi nhau, trong những cuộc đàm thoại huyền nhiệm. Vì thế hy sinh không là bóp nghẹt cuộc đời, nhưng làm cho đời thêm triển nở tốt tươi.
Ðiều quan trọng là "Hãy ở lại trong Thầy" vì "Nếu không có Thầy các con không thể làm gì được" (Ga. 1, 5). Ở lại trong Thầy và liên kết với Thầy qua đường dây "Cầu nguyện và bí tích". Tất cả sức sống của Ðức Giêsu được chuyển thông từ đó, khả năng kết trái cũng phát sinh từ đó. Ðức Giêsu dạy: "Nếu các con ở trong Thầy và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin sẽ được" (Ga. 15, 7).
Nếu Ðức Kitô là Cây Nho đích thực, và Người Trồng Nho là chính Thiên Chúa thì chúng ta hãy là những cành nho căng nhựa sống, để dâng hiến cho đời những hoa trái tốt tươi.
|||
Lạy Chúa, Chúa muốn cắt tỉa chúng con khỏi những rườm rà, để cây đời chúng con trổ sinh nhiều hoa trái. Xin cho chúng con can đảm, dám sống theo những đòi hỏi cắt tỉa của Chúa. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 5. Ở lại
Ðoạn Tin Mừng này chỉ có 8 câu, vậy mà có tới 8 lần chữ "Ở lại". Thử tò mò đọc lại từng lần để xem mỗi lần có ý nghĩa gì đặc biệt không: Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế nếu không ở lai trong Thầy. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều trái. Ai không ở lại trong Thầy thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý.
Sau đây là một số ý nghĩa mà chúng ta có thể khám phá ra được: "Ở lại" là gì? Như cành nho ở lại trong cây nho -(1) Là một sự liên kết chặt chẽ đến nỗi tuy hai nhưng thành một. Cây nho và cành nho tuy một bên là "cây" một bên là "cành", nhưng cả hai đều là "nho". (2) Sự liên kết này không cần cho một bên nhưng rất cần cho bên kia. Cây nho không cần đến cành nho lắm, nhưng cành nho thì nhất thiết phải "ở lại" trong cây nho. (3) Sự liên kết phải vững bền, nghĩa là mãi mãi, không lúc nào mà không liên kết. Khi nào cành không liên kết với cây thì nó không còn là cành nho nữa mà trở thành cành củi. -Tóm lại, "ở lại" trong Ðức Giêsu là điều kiện sống còn, không thể không có đối với kitô hữu.
Ai "ở lại" trong ai? Ðức Giêsu và kitô hữu "ở lại" trong nhau. Về phía Ðức Giêsu thì đương nhiên Ngài ở lại trong chúng ta rồi. Nhưng Ngài nhắc chúng ta cũng phải "ở lại" trong Ngài: "Hãy ở lại...", "Như Thầy ở lại trong anh em".
Ích lợi của "ở lại": được sống, sinh hoa trái, muốn gì cứ xin và sẽ được.
Tai hại của "không ở lại": bị quăng ra ngoài, khô héo, không thể sinh trái. Làm thế nào để "ở lại" trong Ðức Giêsu? ghi nhớ và thực hành Lời Ngài.
V. LỜi nguyỆn cho mỌi ngưỜi
Chủ tế: Anh chị em thân mến, Ðức Giêsu là cây nho, chúng ta là cành, cành nào liền với cây mới sinh hoa trái, và cành nào được cắt tỉa lại càng sinh nhiều hoa trái hơn. Chúng ta hãy tha thiết dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện sau đây:
1. Xin cho giáo sĩ, tu sĩ, và giáo dân trong Hội thánh / luôn hiệp thông với Ðức Giêsu nhờ phụng vụ và bí tích, để có thể sinh nhiều hoa trái trong việc phục vụ và truyền giáo.
2. Xin cho mọi người đang phục vụ trong mọi hoàn cảnh xã hội / biết chấp nhận gian nan thử thách / để rút tỉa kinh nghiệm và phục vụ kết quả hơn.
3. Xin cho những người đau khổ, tật nguyền / những người bị tù đày áp bức / biết hiệp thông với cuộc khổ nạn của Ðức Giêsu / để góp phần đền tội cho những kẻ tội lỗi.
4. Xin cho anh chị em trong họ đạo chúng ta / biết vui lòng đón nhận mọi đau khổ thử thách như được Chúa cắt tỉa / để có thể sinh hoa trái nhiều hơn trong tình mến Chúa yêu người.
Chủ tế: Lạy Chúa, Ðức Giêsu đã dạy chúng con phải hiệp thông với Người như cành liền cây, thì xin gì cũng sẽ được. Xin giúp chúng con đừng bao giờ lìa xa Người, để mọi lời cầu xin đều được Chúa chấp nhận. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái
 

PS5-B52. GIỮ MỐI THÂN TÌNH - Lm. Mark Link, S.J.

Chủ đề: "Khi chúng ta hợp nhau thành Giáo hội, là chúng ta liên kết với Đức Kitô, và làm cho sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta trở thành hữu hình"
 

Phi thuyền đổ bộ mặt trăng tên Diều hâu (Eagle) mang hai nhà phi hành vũ trụ Aldrin và Armstrong: PS5-B52

Phi thuyền đổ bộ mặt trăng tên Diều hâu (Eagle) mang hai nhà phi hành vũ trụ Aldrin và Armstrong đã đáp xuống mặt trăng vào ngày 20 tháng 07 năm 1969.
Đang lúc Armstrong chuẩn bị bước bộ xuống mặt trăng thì Aldrin mở gói bánh mì và rượu ra đoạn đặt chúng lên máy vi tính có gắn hệ thống điều khiển sự lệch lạc. Ông ta mô tả lại điều ông làm tiếp tục sau đó:
“Tôi đổ rượu nho vào ly… vì tại mặt trăng trọng lực chỉ bằng một phần sáu trọng lực ở trái đất, nên rượu co vòng lên và từ từ dâng lên trên thành ly trông rất đẹp mắt. Thật là thú vị khi nghĩ rằng chất lỏng đầu tiên rót ra uống trên mặt trăng và thứ thực phẩm đầu tiên ăn đó lại là những chất dùng để làm thành Mình Máu Chúa”.
Ngay trước khi dùng những thứ món này, Aldrin đọc đoạn trong Phúc Âm thánh Gioan : “Thầy là cây nho và các con là cành nho, bất cứ ai ở trong Thầy và được Thầy ở trong người ấy thì người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái; bởi vì không có Thầy, các con sẽ chẳng làm được gì !”
Bàn về Kinh nghiệm hiệp thông ở một mình trên mặt trăng, Aldrin nói: “Tôi cảm thấy một cách hết sức mãnh liệt sự hiệp nhất giữa tôi và Giáo hội của chúng ta ở quê nhà, cũng như Giáo hội khắp mọi nơi trên thế giới” (trích trong Guideposts Freasury of Hope)
|||
Câu chuyện trên không chỉ gợi ý đặc biệt cho bài Phúc Âm hôm nay, mà còn nhấn mạnh đến cách thức chúng ta hiệp nhất với Đức Giêsu giống như các cành nho hiệp nhất vào cây nho vậy.
Chúng ta có ba cách đặc biệt để hiệp nhất với Đức Giêsu:
 
  • Tụ họp lại với nhau nhân danh Ngài
  • lắng nghe lời Ngài và
  • chia sẻ Thịt Máu Ngài
Về vấn đề tụ họp với nhau nhân danh Ngài, Đức Giêsu đã từng bảo với các môn đệ Ngài: “Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp với nhau nhân danh Thầy, thì Thầy hiện diện ở đó với họ (Mt 18: 20), Đức Giêsu hứa rằng Ngài sẽ hiện diện với chúng ta khi chúng ta họp lại với nhau nhân danh Ngài.
Còn việc đọc và giải thích lời Ngài, Chúa Giêsu có nói với các môn đệ Ngài: “Ai nghe các con chính là nghe Thầy” (Lc 10 : 16). Đức Giêsu hứa với chúng ta rằng hễ chúng ta nghe người khác đọc và giải thích Tin Mừng là chúng ta nghe chính Ngài.
Sau cùng, khi nói tới việc ăn uống Mình Máu Thánh Ngài, Đức Giêsu nói với các môn đệ Ngài: “Ai ăn Thịt và Máu Ta, người ấy sống trong Ta và Ta sống trong người ấy” (Ga 6 : 56). Đức Giêsu hứa với chúng ta rằng Ngài sẽ hiệp nhất với chúng ta khi chúng ta dự Tiệc Thánh của Ngài. Đó là ba cách thức đặc biệt để chúng ta hiệp nhất với Chúa Giêsu:
Điều này dẫn chúng ta đến một điểm quan trọng: ngày nay, nếu chúng ta muốn tìm gặp Đức Giêsu, chúng ta phải tìm gặp Ngài trong Giáo hội Ngài, nếu không chúng ta sẽ không gặp được Ngài chỗ nào cả. Thỉnh thoảng chúng ta nghe có người nói; “Tôi có thể tìm thấy Đức Giêsu và kết hiệp mật thiết với Ngài theo cách thức riêng của tôi, mà chẳng cần đến Giáo hội”. Nghe lời này, chúng tôi muốn la to lên rằng: “Thế nhưng chẳng có Đức Giêsu giống như quí vị đang nói tới đâu. Đức Giêsu ấy đã chết trên đồi Canvê hơn 2000 trước rồi”. Ngày nay chỉ có Đức Giêsu đã sống lại hôm Chúa nhật Phục sinh và Đức Giêsu này sống trong Giáo hội của Ngài, ngoài ra Ngài chẳng sống ở đâu cả. Để minh chứng điều này, quí vị hãy nhớ lại Kinh nghiệm của thánh Phaolô trên đường đến Đamas, trước khi Ngài trở lại với Đức Kitô. Chúng ta lắng nghe công vụ tông đồ mô tả sự việc ấy như sau:
Đột nhiên một ánh sáng từ trời chớp sáng quanh ông, ông liền ngã ngay xuống đất và nghe thấy có tiếng phát ra: Saulô! Saulô ! tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Phaolô vội hỏi: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Tiếng nói đáp lại: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ đó!” ( Cv 9: 3-5)

Phêrô vô cùng bối rối. Ông nào có bắt bớ Giêsu. Ông chỉ truy nã những kẻ theo Ngài mà thôi. Thế rồi Phaolô bắt đầu bừng tỉnh. Đức Giêsu và những kẻ theo Ngài là Một, giống như giữa chiếc đầu và thân mình. Cố gắng chia cắt Đức Giêsu khỏi các kẻ theo Ngài khác nào cố phân cách giữa chiếc đầu và thân mình. Sau đó nhiều năm thánh Phaolô có viết: “Đức Giêsu là đầu của Thân Thể Ngài, tức Giáo hội, Ngài chính là nguồn sống cho thân thể Ngài”. (Cl 1 : 18)
Điều này lại dẫn ta đến điểm sau cùng; Ngày nay người ta muốn tìm Đức Giêsu, thì chúng ta, Giáo Hội của Ngài, phải làm cho họ thấy được Ngài.
Có một giáo sư thường nói vớí các sinh viên của ông; “Giả sử có một vụ nổ kinh khủng tiêu huỷ toàn bộ sự sống trên trái đất, ngoại trừ chúng ta đang ở ngay căn phòng này, thì lúc đó Giáo Hội của Chúa Giêsu ở đầu?”. Các sinh viên suy nghĩ suốt một phút, thì họ nhìn ra ánh sáng; Giáo Hội của Đức Giêsu sẽ ở ngay đây trong căn phòng của họ. Họ sẽ chính là Giáo Hội ấy.
Cuộc thử trí nho nhỏ ấy cho ta thấy một điểm quan trọng, Giáo hội không phải là một nơi chốn người ta tụ họp lại mà chính là đám người tụ họp ấy. Giáo Hội không là nơi người ta tụ lại để cầu nguyện mà chính là đám người tụ lại để cầu nguyện.
Nhưng xin lưu ý điều chúng tôi vừa nói: Giáo Hội là đám người tụ họp lại. Vậy để có Giáo hội chúng ta phải tụ họp lại với nhau. Giáo Hội giống như bánh rượu chúng ta dùng trong Bí tích Thánh Thể. Hằng trăm hạt lúa mì và hằng trăm trái nho cùng hiệp nhau để làm nên chúng. Sự vịêc cũng tương tự thế đối với chúng ta.
Chỉ bằng cách tụ họp với nhau, chúng ta mới trở thành Giáo Hội Đức Giêsu. chỉ bằng cách tụ họp với nhau, chúng ta mới làm cho thế gian nhận ra Giáo hội Chúa Giêsu. Chỉ bằng cách tụ họp với nhau, chúng ta mới làm cho những người thời đại chúng ta nhìn thấy Chúa Giêsu Phục sinh. Và như vậy mọi người nhìn thấy Chúa Giêsu và Giáo Hội Ngài. Mỗi lần chúng ta tụ họp là chúng ta chỉ cho người ta biết nơi họ có thể tìm thấy Đức Giêsu Phục sinh trong thế giới hôm nay.
Đó là một trong những lý do khiến Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong bài giảng trên núi: “Các con là ánh sáng cho toàn thế gian, một thành xây trên đồi không thể nào giấu được… cũng vậy, ánh sáng của các con phải chiếu ra trước mặt mọi người để họ trông thấy những việc thiện các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5 : 14,16).
Lạy Chúa, Chúa là cây nho, chúng con là cành nho. Cành nho sống được là nhờ cây nho, cũng vậy chúng con sống được là nhờ Ngài.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn luôn hiệp nhất với Ngài bằng cách tụ họp với nhau nhân danh Ngài, bằng cách chúng con nghe lời Ngài, và bằng sự chia sẻ Máu Thịt Ngài. Bởi vì làm thế, chúng con sẽ làm cho thế gian nhìn thấy Ngài.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn luôn nhớ rằng Giáo Hội Ngài ở đâu thì Ngài cũng hiện diện ở đấy.
Lm. Mark Link, S.J.
 

PS5-B53. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - Lm. Augustine, SJ

"Con là con gái của cha: Con có hai cha!"
 

Có một số chi tiết lý thú do một giáo dân tiết lộ về mối tương quan giữa hai vị lãnh đạo Giáo Hội là: PS5-B53

Có một số chi tiết lý thú do một giáo dân tiết lộ về mối tương quan giữa hai vị lãnh đạo Giáo Hội là Ðức Cố Thượng Phụ Athenagoras I của Chính Thống Giáo và Ðức Cố Gíao Hoàng Phaolô VI của Giáo Hội Công Giáo.
Ðó là vào những năm sau Công Ðồng Vaticanô II, khi mà tinh thần đại kết dâng cao nơi cả hai Giáo Hội. Qua một số bạn hữu tương quan đôi bên, Ðức Thượng Phụ được biết chị giáo dân ấy đã từng dấn thân phục vụ công cuộc thăng tiến tình hiệp nhất giữa các Kitô hữu cũng như giữa các dân tộc. Vậy Ðức Thượng Phụ đã mời chị Chiara Lưu Bích tới gặp ngài. Nhưng cách ngài bày tỏ tình thân với người giáo dân công giáo này thật là độc đáo. Ngài nói với chị Lưu Bích: "Con biết con chính là con gái của cha! Con có hai cha: một cha ở Rôma, đó là một người cha vĩ đại, tức Ðức Phaolô VI (Ðức Thượng Phụ kể Ðức Phaolô VI như thánh Phaolô thứ hai) và người cha nữa lớn tuổi hơn là cha đây."
Ðức Thượng Phụ Athenagoras I vào dịp đó, cũng như nhiều dịp khác nữa, nói về Ðức Phaolô VI như chưa có ai nói như vậy bao giờ. Ngài bày tỏ một tình yêu gắn bó với Ðức Phaolô VI liên quan tới những việc lớn cũng như những việc nhỏ. Ngài nói với chị giáo dân Lưu Bích: "Con về nói với Ðức Phaolô VI chịu khó ăn nhiều hơn một chút, chịu khó đi bách bộ và thở hít không khí trong lành thêm chút nữa!"
Ðức Thượng Phụ vẫn đọc báo Người Quan Sát Viên Rôma đều đặn nên được biết tất cả các bài nói của Ðức Phaolô VI. Ngài quả quyết đã từng hiệp nhất với Ðức Phaolô VI trong mọi hành động của vị Giáo Hoàng này. Ðức Thượng Phụ mô tả cách hồn nhiên rằng: Khi Ðức Giáo Hoàng thực hiện những chuyến công du "Cha từng hiệp nhất với Người, đi đây đi đó với người." Ðức Thượng Phụ còn nói rằng: "Vì hiệp nhất với Ðức Phaolô VI cách đó nên cha cảm thấy việc chung hiệp đó còn thật hơn cả việc cha ở lại tại Istanbul!" Ðức Thượng Phụ có ý nói tới một tinh thần gần gũi thiêng liêng, siêu nhiên mãnh liệt hơn cả những thực tại tự nhiên.
Cả với chị giáo dân Lưu Bích là nhân vật con thoi giữa hai nhà lãnh đạo Chính Thống Giáo và Công Giáo Rôma, Ðức Thượng Phụ cũng bày tỏ một thứ tình yêu độc đáo. Chẳng bao giờ ngài để chị Lưu Bích đề cập tới vấn đề gì mà ngài không mời chị dùng chút gì trước đã, như một ly cà phê chẳng hạn. Ngài muốn chính ngài trả tiền khách sạn để chị là khách của ngài. Ngài yêu cầu có riêng một phòng nhỏ để chị có thể dùng bữa ở đó và vì cuộc thăm viếng nhằm vào ngày ăn chay và kiêng thịt của Chính Thống Giáo, nên ngài lưu ý nhà bếp phải có đồ ăn đặc biệt cho khách, như món trứng muối đặc sắc của vị Thượng Phụ!
Thực ra, Ðức Athenagoras không chỉ tỏ ra là một con người ngoại giao. Ðối với mọi dân tộc đến tiếp xúc với ngài, ngài đều bày tỏ một mối tình to lớn đối với họ. Với dân tộc nào, ngài cũng tìm ra điều tích cực để nêu lên. Chẵng ai nghe thấy ngài nói điều gì xúc phạm tới ai. Nơi Ðức Thượng Phụ, người ta có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp của Giáo Hội Chính Thống. Ngài giúp người ta khám phá ra cách Giáo Hội Ðông Phương nhấn mạnh về sự sống, nhấn mạnh cách diễn tả chân lý trong cuộc sống. Ngài thực sự nêu cao giá trị tình yêu.
Khát vọng để hai Giáo Hội hiệp nhất năm 2000
 Nơi Ðức Thượng Phụ Athenagoras I người ta đọc được niềm khát vọng lớn lao để hai Giáo Hội được chung hiệp với nhau vào cuối thiên niên kỷ thứ hai này. Chị Lưu Bích đã từng chuyển đạt tâm tình, ý nghĩ và lòng ước ao đó tới Ðức Phaolô VI. Ðó là những điều đã từng làm cho mối tình giữa hai vị lãnh đạo tôn giáo này trở nên bền chặt. Quả thật Ðức Phaolô VI hết lòng quí chuộng Ðức Athenagoras I đến nỗi khi được tin Ðức Thượng Phụ qua đời, phản ứng của Ðức Phaolô VI là "một vị thánh vừa qua đời."
Người ta có thể liệt kê vắn tắt tiến trình đại kết giữa Ðức Athenagoras và Ðức Phaolô VI như sau: Ðức Phaolô VI được bầu làm Giáo Hoàng giữa hai khóa họp của Công Ðồng Vaticanô II (1963) nhất quyết theo con đường đại kết mà Ðức Gioan XXIII đã mở ra. Ðức Phaolô VI đã gặp gỡ Ðức Thượng Phụ Athenagoras I tại Giêrusalem (1964). Hai vị đã gặp gỡ tại Constantinople (1967), rồi tại Hội Ðồng Ðại Kết của các Giáo Hội tại Geneva (1969) với những lời hối tiếc về những chia rẽ trong quá khứ đã được Ðức Phaolô VI nói lên khiến cả thế giới phải chú ý.
Giáo Hội Chính Thống tách rời khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma năm 1054. Ðó là năm hai Giáo Hội đã khai trừ nhau. Giáo Hội này lên án Giáo Hội kia. Mãi tới năm 1964, tức chín trăm năm sau, hai bên mới cùng nhau giải vạ tuyệt thông cho nhau và bắt tay thân ái trong phong trào đại kết Kitô giáo.
Viễn tượng về hiệp nhất giữa hai Giáo Hội đã có thời tưởng như gần nay lại trở nên xa do chiều hướng chống mọi giáo phái và tôn giáo từ bên ngoài nhập vào cựu Liên Xô.
Theo thống kê của QUID 1995 thì dân số Công Giáo tổng cộng là 928,500,000; Chính Thống Giáo là 164,500,000 và Tin Lành là 363,300,000. Cho nên thật là điều đáng tiếc nếu quả thật công cuộc hiệp nhất giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo chưa thể thực hiện được vào năm 2000 khi mà hai Giáo Hội này rất gần gũi nhau về tín lý, phụng vụ và bí tích.
Nhưng hiệp nhất là trách nhiệm không thể tránh do chính lời cầu nguyện của Chúa Giêsu khi Người thưa cùng Chúa Cha: "Con không chỉ cầu nguyện cho những người này (tức các tông đồ) nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cùng ở trong chúng ta." (Ga 17,20-21)
Bài Tin Mừng hôm nay nêu hình ảnh cây nho. Cựu Ước đã từng ví dân Ít-ra-en như cây nho của Giavê Thiên Chúa (Tv 80,9-20). Hình ảnh ấy nay được áp dụng với Ðức Giêsu. Ðức Giêsu là cây nho đích thực (cc.1.5) được Giavê Thiên Chúa đích thân chăm lo bằng cách loại bỏ những nhành không sinh trái; còn những nhành sinh trái thì Giavê Thiên Chúa tỉa để chúng mang lại nhiều trái hơn. Ở đây Ðức Giêsu có ý nói về các môn đệ là những người chấp nhận lời ban sự sống do Ðức Giêsu (cc.3.7). Họ được khuyến khích ở lại trong Người. Từ Hy ngữ meno (ở lại) được dùng tới 11 lần trong mấy câu mà thôi tuy được dịch bằng những từ khác nhau.
Ở lại trong Ðức Giêsu
Một từ khác quan trọng được sử dụng nhiều lần là "yêu". Lời dậy chính yếu qua bài Tin Mừng hôm nay là ở lại trong Ðức Giêsu qua yêu thương. Ðó là điều kiện để người môn đệ sinh nhiều hoa trái (cc.5.8). Môn đệ không sinh hoa trái, sẽ hết là môn đệ, sẽ trở nên vô dụng đáng bị ném vào lửa (c.6).
Nếu đọc tiếp, ta sẽ thấy tình yêu mà Ðức Giêsu đề cập phát xuất từ Chúa Cha (c.9). Tình yêu ấy chính là tình yêu mà Ðức Giêsu dành cho các bạn của Người (cc.9,12-13). Ðó là tình yêu được diễn tả qua lại khi các môn đệ yêu mến Thầy và giữ lời Thầy (cc.10,14). Tình yêu ấy sẽ lan tỏa ra giữa các môn đệ với nhau (cc.12,17).
Trở lại câu chuyện ở trên về Ðức Thượng Phụ Athenagoras I được Ðức Phaolô VI nhìn nhận là con người thánh thiện. Ngài có một tình yêu phổ quát đối với mọi người và mọi dân tộc. Ngài không hề nói xấu một ai. Tình yêu ở nơi ngài luôn tích cực và tràn lan qua những diễn tả độc đáo. Ðó là thứ tình yêu có sức lan tỏa bất chấp những điều kiện bên ngoài. Ðó quả là thứ tình yêu phải mang lại nhiều hoa trái như Ðức Giêsu chờ đợi nơi mỗi người môn đệ.
  Một số câu hỏi gợi ý
 
  1. Bạn tâm đắc được gì về mối tình mà Ðức Cố Thượng Phụ Athenagoras I dành cho Ðức Phaolô VI? Cả về cách nhà lãnh đạo Chính Thống Giáo này diễn tả đức ái đối với chị giáo dân Lưu Bích? Hãy so sánh mối tình của Ðức Thượng Phụ với mối tình nơi thầy giảng Phanxicô Nguyễn Cần (mới được đề cập CN 1 MC) đối với Chúa và với mọi người chung quanh, nơi pháp trường cũng như nơi nhà tù?
  2. Thế nào là ở lại trong Ðức Giêsu theo bài Tin Mừng hôm nay? Trong hoàn cảnh hiện có của bạn, bạn nghĩ bạn có thể ở lại trong Ðức Giêsu được chăng? Bạn thấy có những gì thuận lợi và bất lợi để bạn ở lại trong Ðức Giêsu theo gương những nhân vật nói trên?
Lm. Augustine, SJ
 

PS5-B54. AI ĐỔI ĐỜI AI - Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ

Gioan15: 1-8
 

Cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh trên đường đi Damas đã đổi đời Phaolô. Từ một người nhiệt: PS5-B54

Cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh trên đường đi Damas đã đổi đời Phaolô. Từ một người nhiệt thành với truyền thống tổ tiên, làm Phaolô hăm hở đi bắt các Kitô hữu về “trị tội”, trở thành một tông đồ hăng say làm chứng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh. Niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh làm Phaolô và các Kitô hữu trở thành những con người khác, như dấu chỉ Thiên Chúa đang hiện diện và yêu thương con người.
1. Phaolô làm chứng Đức Giêsu đã phục sinh
Trước khi ngã ngựa trên đường Damas, Phaolô là một người rất đặc biệt. Ngài là một biệt phái, nghĩa là, một người rất nhiệt thành với lề luật Do Thái, và sẵn sàng làm tất cả để bảo vệ lề luật. Phaolô đã từng là người giữ áo cho những người ném đá thánh Têphanô. Phaolô đã được phép của các người cầm quyền để đi lùng bắt các Kitô hữu Do Thái đem về Giêrusalem để trị tội. “Có lúc, những người bắt bớ các con, cứ tưởng rằng đó là việc tôn thờ Thiên Chúa” (Ga.16, 2). Nhưng với biến cố Damas, Phaolô đã trở thành con người khác.
Trước khi gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh, với Phaolô, Do Thái giáo là tôn giáo duy nhất đúng. Tất cả những gì trái với quan niệm truyền thống cha ông để lại, là sai lầm và phải loại bỏ. Những ai cố tình đi theo một niềm tin khác, phải bị trừng phạt. Đó là lý do tại sao Phaolô đi lùng bắt Kitô hữu ở Damas. Sau biến cố Damas, Phaolô đã thay đổi cái nhìn và thay đổi lập trường sống. Do Thái giáo vẫn đúng đó, nhưng “cái khác” vẫn có thể là sự thật. Đức Giêsu Phục Sinh là một thực tại mà Phaolô đã được gặp gỡ, cảm nghiệm, và rồi trở thành chứng nhân cho Ngài. Phaolô được ơn mở mắt để nhìn ra thực tại Đức Giêsu Phục Sinh; qua biến cố ngã ngựa, ông không thể phủ nhận được điều trước đó ông đã một mực chối từ, ông đã nhận ra sự thật, và kể từ đó Phaolô đã rao giảng cho dù bị ghét và bị tìm giết.
Đức Giêsu Phục Sinh đã đổi đời Phaolô. Từ một người không tin vào Đức Giêsu, Phaolô trở thành chứng nhân nhiệt thành của Đức Giêsu Phục Sinh. Từ một người lùng bắt người khác, giờ đây lại là kẻ bị lùng bắt. Biến cố gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trên đường đi Damas đã làm Phaolô thành một người hoàn toàn khác, đến độ ngài nói: “kể từ khi tôi biết Đức Giêsu Phục Sinh, tôi coi mọi sự như phân bón. Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi cả trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô Chúa tôi” (Pl.3, 8-9). Phaolô đã được Thiên Chúa biến đổi qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Phục Sinh.
2. Đời sống của một người tin vào Đức Giêsu Phục Sinh
Trong thư thứ nhất của thánh Gioan, Kitô hữu được nhắn nhủ: “chúng ta đừng yêu bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm”. Đức tin phải chi phối cách sống của Kitô hữu. Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Đức tin của Kitô hữu không chỉ là chấp nhận một mệnh đề là đúng, nhưng còn là cái biết chi phối toàn bộ đời sống của họ. Chính việc làm của Kitô hữu giúp cho người khác thấy đức tin của họ.

Lời Chúa trong thư của thánh Gioan hôm nay còn cho Kitô hữu hiểu hơn nữa về Thiên Chúa và về con người. Nếu lòng chúng ta không cáo tội chúng ta, thì chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa; nhưng nếu lòng chúng ta cáo tội chúng ta, thì chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết mọi sự. Thiên Chúa nhân từ và yêu thương chúng ta hơn chúng ta có thể tưởng được. “Như trời cao hơn đất bao nhiêu, tư tưởng của Ta cũng vượt xa tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu”. Đừng bao giờ ép Thiên Chúa phải phạt người khác theo phán đoán của mình. Thiên Chúa không phạt ai cả, Ngài chỉ biết yêu thôi. Đau khổ là do con người làm cho nhau hoặc tự chuốc lấy cho mình mà thôi.
Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Vời mà con người không thể hiểu thấu. Ngài nhân từ yêu thương con người hơn con người có thể nghĩ có thể ngờ. Ngài yêu thương con người ngay khi con người còn là tội nhân, xấu xa hư hỏng. Không ai có thể ngờ Ngài đã cho Đức Giêsu phục sinh. Không ai dám ngờ rằng Thiên Chúa có thể chấp nhận để con người giết Con Ngài. Không ai dám ngờ rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương con người đến độ Lời của Ngài nhập thể làm người, ngay cả khi con người đang phản bội và xa lánh Ngài. Thiên Chúa nhập thể là điều vượt sức hiểu của con người, và vượt ngay cả sức hiểu biết của thiên thần. Thiên Chúa là Đấng vượt quá lòng chúng ta có thể ngờ, và bây giờ Ngài vẫn đang tiếp tục làm những điều kỳ diệu và tuyệt vời cho mỗi người chúng ta, trong đời mỗi người chúng ta.
3. Thầy là cây nho các con là nhành
Tương quan giữa Thiên Chúa, Đức Giêsu, và chúng ta, được Tin Mừng theo thánh Gioan diễn tả như tương quan giữa người trồng nho, cây nho và nhành nho. Đức Giêsu là cây nho, chúng ta là nhành. Một nhành chỉ sống được và sinh hoa trái nếu nhành đó liên kết với thân cây, để lấy nhựa sống từ cây. Giữa chúng ta và Đức Giêsu, có một mối dây rất gần gũi và mật thiết, như nhành và cây. Nhành nào tách khỏi cây, sẽ khô héo và chết. Tương tự vậy, chúng ta sẽ khô héo và chết nếu chúng ta không liên kết với Đức Giêsu. Đức Giêsu là sức sống của mỗi người chúng ta.
Thiên Chúa như người chủ vườn nho. Ngài chăm sóc cây nho và nhành nho. Ngài muốn cây nho nhành nho sinh nhiều hoa trái. Ngài chăm bón cắt tỉa, để nhành nho sinh trái nhiều hơn. Hình ảnh Thiên Chúa như người chủ vườn rất quen thuộc đối với Đức Giêsu. Người chủ vườn trông nom, chăm bón vun trồng để cây nho nhành nho sinh trái. Thiên Chúa chăm sóc mỗi người chúng ta như vậy. Nếu Ngài có cắt tỉa, là để chúng ta sinh nhiều hoa trái hơn.
Tương quan giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa như tương quan giữa cây nho và ông chủ vườn. Cây nho luôn tùy thuộc chủ vườn. Người chủ vườn luôn quan tâm và chăm bón để cây nho có nhựa sống cung cấp cho nhành cây, để sinh nhiều hoa trái. Đây là hình ảnh, nó chỉ diễn tả phần nào sự thật. Thiên Chúa luôn có sáng kiến tuyệt vời, để làm những điều kỳ diệu, và ngay cả có thể làm cho những cành nho như thể khô đét có được sức sống và sinh trái. Thiên Chúa là người chủ vườn tuyệt vời. Thiên Chúa làm chúng ta có sức sống và sinh trái qua Đức Giêsu.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Đức Giêsu là ai đối với Phaolô?
2. Sau khi gặp gỡ Đức Giêsu Phục Sinh, đời sống Phaolô có gì khác?
3. Bạn nghĩ sao khi đọc câu: “Thầy là cây nho, các con là nhành”? Bạn có cảm được sự thân mật và gần gũi giữa Đức Giêsu và bạn không? Nếu được, xin bạn diễn tả.
Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ
 

PS5-B55. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - Lm. Ignatiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật này mời gọi người Ki tô hữu nên một với Ịức Ki tô phải: PS5-B55

Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật này mời gọi người Ki tô hữu nên một với Đức Ki tô phải xác tín: không thể nào đơm hoa kết trái nếu không được cắt tỉa.       
Cv 9: 26-31      
Sách Công Vụ tường thuật việc Giáo Hội Giê-ru-sa-lem ngần ngại tiếp đón thánh Phao-lô, sau khi thánh nhân hoán cải. Nhưng thánh nhân đã thật sự hoán cải: một môn đệ rao giảng Đức Ki tô với một con tim bốc lửa và trọn một niềm xác tín sâu xa.      
1Ga 3: 18-24      
Đoạn thư thứ nhất của thánh Gioan khuyên người Ki tô hữu hãy đứng về phía sự thật, có như thế chúng ta mới sống trong sự thanh thản và bình an và lời nguyện xin của mình mới được Thiên Chúa nhận lời.      
Ga 15: 1-8      
Đức Giê-su là cây nho thật. Được kết hợp với Ngài, các môn đệ không thể nào không đơm bông kết trái được, nhưng họ phải biết rằng họ phải chịu cắt tỉa, nghĩa là phải chịu thử thách.      
BÀI ĐỌC I Cv 9: 26-31      
Trong suốt sáu Chúa Nhật Phục Sinh, tất cả bài đọc I đều được trích dẫn từ sách Công Vụ: năm trong số đó liên quan đến lãnh vực hoạt động của thánh Phê-rô, vị lãnh tụ của Giáo Hội; một đoạn trích duy nhất, đoạn trích hôm nay, nêu lên dung mạo của thánh Phao-lô.      
Chứng liệu cung hiến cho chúng ta một mối quan tâm về lịch sử cũng như tâm lý: chính yếu là thời gian thánh Phao-lô lưu lại ở Giê-ru-sa-lem, sau khi hoán cải. Ngài được đón tiếp với thái độ nghi kỵ.  
    1. Những thử thách đầu tiên của thánh Phao-lô.      
Các Ki tô hữu Giê-ru-sa-lem chẳng những biết mà còn biết quá rõ về ông Phao-lô nầy. Vào cuộc bách hại đầu tiên giáng xuống trên họ, ông Phao-lô là kẻ bách hại cuồng nhiệt nhất: “Ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục” (Cv 8: 3). Ông đã dự phần vào việc ném đá thánh Tê-pha-nô, chính ở dưới chân ông mà người ta để áo để rảnh tay ném đá (Cv 7: 58).      
Nhiều năm sau nầy, chính thánh Phao-lô vẫn còn nhớ sự cuồng nhiệt mà ông đã phô bày vào lúc đó: “Về phần tôi, trước kia tôi nghĩ rằng phải dùng mọi cách để chống lại danh Giê-su người Na-da-rét. Đó là điều tôi đã làm tại Giê-ru-sa-lem. Được các thượng tế ủy quyền, chính tôi đã bỏ tù nhiều người trong dân thánh; và khi họ bị xử tử, tôi đã bỏ phiếu tán thành. Nhiều lần tôi đã rảo khắp hội đường, dùng cực hình cưỡng bức họ nói lộng ngôn. Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang cả các thành nước ngoài mà bắt bớ họ” (Cv 26: 9-11).     
 Ấy vậy, cũng chính nhân vật nầy trở lại Giê-ru-sa-lem nhập vai môn đệ của Đức Giê-su. Làm thế nào cộng đoàn Ki tô hữu không khỏi nghi ngờ rằng kẻ thù cuồng nhiệt nầy đã thay đổi triệt để, đã được chính Đấng Phục sinh quy phục để trở thành một trong những nhà truyền giáo nhiệt thành nhất của họ được? Quả thật, tin đồn về cuộc hoán cải của ông đã vang dội tới Giê-ru-sa-lem; nhưng phản ứng đầu tiên là ngờ vực.   
   Trong thư gởi các tín hữu Ga-lát, thánh nhân tường thuật diễn tiến của những biến cố sau khi được ơn trở lại của mình. Sau cuộc mặc khải làm đảo lộn cuộc đời của thánh nhân trên đường Đa-mát, và sau những ngày trải qua giữa nhóm nhỏ Ki tô hữu thành Đa-mát nầy: “Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Á-rập, rồi lại trở về Đa-mát. Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày” (Gl 1: 16-18).   
   Tại sao thánh Phao-lô lại trì hoản lên Giê-ru-sa-lem như vậy? Phải chăng vì sự ngại ngùng của một kẻ bách hại xưa kia đã làm biết bao điều dữ cho những người Ki tô hữu ở trong kinh thành nầy?   
    Lý do thật sự mà thánh Phao-lô cho chúng ta ở nơi những lời nầy: “Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, tức khắc tôi đã sang xứ Á-rập”. Thánh nhân không hỏi ý kiến của bất kỳ ai, ông xem mình như được chính Đấng Phục Sinh ủy nhiệm, ông đã nhận một mệnh lệnh truyền giáo đích thân từ Chúa; tức khắc ông khởi hành đến lương dân. Đây không là lần duy nhất, như đoạn trích Công Vụ hôm nay cho thấy.
      Tuy nhiên, trong những ngày lưu lại ở Giê-ru-sa-lem, trong khi thánh Phao-lô “tìm cách nhập đoàn với các môn đệ”, thì ông lại càng gieo nỗi sợ hãi ở nơi họ. May thay, có một người trong số họ, không xuất thân từ Giê-ru-sa-lem (nhưng từ đảo Síp), rất có uy tín trong cộng đoàn, bởi tấm lòng quảng đại của mình: “Ông đã bán đất của mình, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ” (Cv 4: 37) và bởi tài yên ủi mọi người: “Ông tên là Giô-xếp nhưng được các Tông Đồ đặt tên là Ba-na-ba, nghĩa là người có tài yên ủi” (Cv 4: 36).     
  Trong trường hợp nầy, ông Ba-na-ba xứng đáng với tên mình. Ông biết khám phá nhân cách của thánh Phao-lô; ông đứng ra lấy uy tín của mình mà bảo lãnh thánh Phao-lô và chân thành giới thiệu ơn gọi đặc biệt của thánh nhân. “Từ đó thánh Phao-lô cùng với các tông đồ đi lại hoạt động tại Giê-ru-sa-lem. Ông mạnh dạn rao giảng danh Chúa”.     
 Nhưng rồi thánh nhân nhận thấy rằng Giáo Hội Giê-ru-sa-lem quá bận lòng về sự hoán cải của những người Do thái gốc Palestine, thánh Phao-lô toan tính mở rộng sứ mạng về hướng những người Do thái theo văn hóa Hy lạp.       
Sở hữu hai nền văn hóa, những người Do thái gốc Hy lạp nầy đến sinh sống ở Giê-ru-sa-lem và hình thành nên một nhóm nhiệt thành và năng động, nhưng cũng là một nhóm nguy hiểm. Thánh Tê-pha-nô đụng phải họ và đã phải trả giá bằng mạng sống của mình (cf. Cv 6: 9). Thánh Phao-lô phải chịu cùng số phận. Lòng nhiệt thành của thánh nhân đánh thức lòng thù hận của họ. Thánh nhân phải lìa bỏ Giê-ru-sa-lem không chỉ để cứu mạng mình nhưng vì lợi ích của Giáo Hội Giê-ru-sa-lem: “Anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xê-da-rê và tiễn ông lên đường về Tác-xô”.     
  Những bước khởi đầu đầy gian nan nầy không ảnh hưởng đến tình cảm của thánh Phao-lô dành cho Giáo Hội-Mẹ; thánh nhân luôn luôn công bố uy quyền của Giáo Hội Mẹ mà ông gắn bó sâu xa. Ông sẽ không quản ngại công sức quyên góp để giúp đỡ Giáo Hội Mẹ. Với tấm lòng nhiệt thành truyền giáo, thánh nhân luôn luôn là người tiên phong, nhưng luôn luôn hoạt động trong sự hiệp thông với Giáo Hội.  
    Ông Ba-na-ba sẽ không quên người bạn đồng hành có tâm hồn bốc lửa nầy. Vài năm sau nầy, ông sẽ đi tìm thánh Phao-lô ở Tác-xô, dẫn thánh nhân theo với mình đến An-ti-ô-khi-a; đoạn, lôi kéo thánh nhân vào cuộc hành trình truyền giáo đầu tiên của mình. Thánh nhân cảm thấy mình thoải mái hơn trong cuộc mạo hiểm lớn lao nầy.   
   2. Giáo Hội được bình an.      
Sau những sự cố xảy ra trong những ngày thánh Phao-lô lưu lại ở Giê-ru-sa-lem, Giáo Hội gặp lại sự bình an. Thời kỳ yên ổn nầy không kéo dài được bao lâu. Việc thánh Phao-lô lưu lại ở Giê-ru-sa-lem được định vị vào khoảng năm 37 và 39 (vào năm 37, nếu cuộc tử đạo của thánh Tê-pha-nô và cuộc hoán cải của thánh Phao-lô được đặt vào năm 34; vào năm 39, nếu hai biến cố nầy được đặt vào năm 36, thánh nhân nói về ba năm lưu lại ở Á-rập trong thư gởi tín hữu Ga-lát của ngài). Ấy vậy, vào năm 42-43, cuộc bách hại xảy đến một lần nữa, lần nầy do vua Hê-rô-đê Agrippa, cháu của vua Hê-rô-đê An-ti-pát. Nạn nhân đáng chú ý nhất là thánh Gia-cô-bê, anh của thánh Gioan, bị xử chém đầu.    
   BÀI ĐỌC II 1Ga 3: 18-24      
Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ nhất của thánh Gioan. Bức thư nầy được triển khai theo một dàn bài khó xác định. Cũng những chủ đề xuất hiện đi xuất hiện lại, lúc thì với những lập đi lập lại, lúc thì với những hàm chứa mới. Nhưng giọng văn luôn luôn thôi thúc và nồng nàn. Vị Tông Đồ trình bày những tiêu chuẩn của một cuộc sống Ki tô hữu chính danh.    
  Thánh nhân khuyên người Ki tô hữu “đứng về phía sự thật”. Đây là một trong những ý tưởng chủ đạo thường hằng được nhắc đi nhắc lại trong bức thư nầy: một ngón đòn hữu hiệu nhất mà người ta có thể đối lại với những đạo lý sai lạc đang hoành hành nhân danh Ki tô giáo tự cho mình là cao vời siêu việt.   
    1. Sống trong sự thật:      
Sống trong sự thật, chính là sống theo cách sống của Thiên Chúa, nghĩa là trong tình yêu, vì Thiên Chúa là tình yêu.    
   “Đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thật sự bằng việc làm”. Đây là lời khuyên của vị mục tử cảnh giác, nhưng cũng là lời quở trách ngầm đối với những người lạc giáo mà thánh Gioan vừa mới lên tiếng ở trên: “Ai nói mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối” (1Ga 2: 9). Chúng ta không có bất kỳ xác định nào khác về cách hành xử của những thầy dạy sai lạc nầy, nhưng sau nầy chúng ta biết rằng những nhà thuyết giáo ngộ đạo bày tỏ sự khinh miệt đối với đám đông tín đồ không có khả năng vươn tới sự khôn ngoan của họ. 
     2. Sống trong bình an:       
Người Ki tô hữu nào thực hành tình yêu chân chính cho anh em mình, mới có thể sống trong sự thanh thản và bình an: “Chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa”. Chữ “lòng” ở đây phải được hiểu theo ý nghĩa của văn hóa Do thái, nơi lương tâm ngự trị: “vì nếu lương tâm chúng ta cáo tội chúng ta thì Thiên Chúa còn lớn hơn lương tâm chúng ta, và Người biết hết mọi sự”
     Cả câu trích dẫn trên và câu theo sau: “Nếu lương tâm không cáo tội chúng ta, , thì chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa”, hình thành nên hai thái độ căn bản ở nơi người Ki tô hữu: thái độ của tội nhân thống hối ăn năn và thái độ của người công chính làm những điều đẹp ý Chúa.
       Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta đừng xao xuyến vì tội lỗi của mình. Thiên Chúa biết rõ cõi lòng sâu thẳm của chúng ta hơn chúng ta nữa; chúng ta hãy phó thác vào trong sự hiểu biết sâu xa của Ngài. Ví dụ thường được trích dẫn để minh họa lời khuyên bảo nầy là lời của thánh Phê-rô, rõ ràng được thánh Gioan tường thuật trong Tin Mừng của mình: khi Chúa Giê-su long trọng hỏi thánh Phê-rô: “Nầy anh Si-môn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em nầy không?”. Vị Tông Đồ nầy, nhớ lại ba lần từ chối Thấy, không dám quả quyết trực tiếp là mình yêu mến Thầy, nhưng khiêm tốn phó thác vào sự hiểu biết của Đức Giê-su, Đấng thấu suốt tấm lòng của mình: “Thưa Thầy, Thầy biết là con yêu mến Thầy”. Và lần thứ ba, với một giọng trầm buồn, thánh nhân thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21: 18). Ở đây, chúng ta gặp lại cùng một diễn ngữ trong thư thứ nhất của Gioan: “Người biết mọi sự”.
       Thái độ thứ hai là thái độ của người Ki tô hữu trung tín: lương tâm của họ không cáo tội. Thánh Gioan không ngần ngại khuyên bảo họ hãy mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa. Khi người công chính đạt được tâm trạng nầy, họ biết làm cho những lời cầu nguyện của mình phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa và thấy mình “xin điều gì được Ngài ban cho điều đó”. Chủ đề nầy vang dội trong bản văn của Tin Mừng hôm nay.
      3. Sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa.      
“Tuân giữ các điều răn của Người” được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc suốt bức thư nầy. Trong đoạn trích nầy, thánh Gioan trộn lẫn ý muốn của Chúa Cha và lệnh truyền của Chúa Con thành một viễn tượng duy nhất, trong quan điểm hiệp nhất của Thiên Chúa. Chúa Cha đòi hỏi: tin vào Con của Ngài và yêu thương nhau như Chúa Con đã đòi hỏi họ.
      Hai huấn lệnh nầy “được đúc kết thành một huấn lệnh duy nhất”. Như vậy, đối với thánh Gioan, “tin”“yêu thương nhau” thì bất khả phân.
      Niềm tin sống động nầy đảm bảo cho người tín hữu rằng “mình ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong mình” (chúng ta gặp lại động từ “ở trong” chất chứa cùng một ý nghĩa như trong Tin Mừng thứ tư). Chính Thần Khí bảo lãnh niềm tin và đức ái nầy một cách chắc chắn và chính thực.  Như vậy, chương nầy hoàn tất trên cái nhìn Ba Ngôi của cuộc đời Ki tô hữu.
TIN MỪNG Ga 15: 1-8      
Vì Lễ Thăng Thiên, tưởng niệm cuộc ra đi của Đức Giê-su, sắp đến gần, các bản văn Tin Mừng của Chúa Nhật V và Chúa Nhật VI Phục Sinh được trích dẫn từ những cuộc trò chuyện của Đức Giê-su với các tông đồ của Ngài vào buổi chiều Tiệc Ly, trước khi bước vào con đường Khổ Nạn.
      Dụ ngôn “cây nho” được công bố trong cuộc chuyện trò sau cùng của Đức Giê-su với các môn đệ. Xét về hình thức, dụ ngôn nầy khó lồng vào khuôn khổ lịch sử của buổi chiều từ biệt nầy. Đức Giê-su vừa mới nói rất nhiều lời với các môn đệ mình; đoạn Ngài ra dấu ra đi khỏi bàn tiệc mà đến vườn Ô-liu: “Nào đứng dậy! Ta đi khỏi đây!”. Ấy vậy, tiếp liền ngay sau lời nầy, Ngài công bố: “Thầy là cây nho thật”.
       Phải chăng trên đường trong bóng đêm Chúa Giê-su kể dụ ngôn nầy? Nói đúng hơn dụ ngôn nầy được công bố vào ban ngày, khi Ngài cùng các môn đệ rảo bước băng qua vườn nho của đất Palestine. Đây cách thức thông thường Ngài đưa ra một giáo huấn của mình khởi đi từ những dự kiện cụ thể. 
     Tuy nhiên, còn chỗ nào thích hợp hơn là vào bữa ăn sau cùng ở đó Đức Giê-su công bố hay nhắc lại dụ ngôn nầy khi mà chén rượu được chuyền tay, khi mà cây nho thật sắp sản sinh rượu nho tinh tuyền nhất từ cuộc Khổ Nạn sắp đến của Ngài nhỉ? Dụ ngôn “cây nho” có một cung giọng mang đậm nét Thánh Thể. Nếu trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan không tường thuật Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể, thánh nhân đã biết đóng ấn Bí Tích nầy trên bữa ăn ly biệt cao cả nầy.
      1. “Thầy là cây nho thật”:      
Sau khi lòng nhân hậu của Thiên Chúa được gợi lên dưới dung mạo của người mục tử nhân lành, bây giờ tấm lòng gần gũi thân tình của Thiên Chúa được gợi lên qua một hình ảnh khác, hình ảnh cây nho.
      Khi công bố mình là cây nho thật, Chúa Giê-su quy chiếu về lịch sử dài của biểu tượng xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh: Ít-ra-en là cây nho được Thiên Chúa chăm chút mà các ngôn sứ không ngừng nhắc đi nhắc lại: Hô-sê, I-sai-a, đặc biệt Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en, Tv 80, các sách Khôn Ngoan, vân vân. Nhưng cây nho nầy, đối tượng của biết bao ân cần chăm sóc và yêu mến, đã không đơm bông kết trái như lòng Thiên Chúa mong ước. Các vị lãnh tụ hiện nay của dân cung cấp một bằng chứng rõ ràng (cf. Mt 21: 33-44). 
     Đức Giê-su là cây nho thật, cây nho hoàn hảo, cây nho sinh hoa trái mà Chúa Cha đòi hỏi Ngài, nghĩa là Đức Giê-su là Ít-ra-en mới; các Ki tô hữu kết hợp với Ngài hình thành nên dân Thiên Chúa mới, dân mà Ngài chuyển thông nhựa sống của mình. 
     Đức Giê-su long trọng khẳng định: “Thầy là cây nho thật”. Đây là một trong những lời khẳng định độc quyền của Đức Giê-su với “TÔI LÀ”. Những lời khẳng định nầy thường có một âm vang Mê-si-a và luôn luôn có một tính chất siêu việt. Ở đây Đức Giê-su xác định: cây nho là Con; Cha Ngài là người trồng nho. 
     Như vậy Chúa Giê-su muốn nói rằng sự sống mà Ngài chuyển thông thực chất là sự sống thần linh. Thân nho và các cành nho hình thành nên chỉ một cây nho duy nhất, hình ảnh thân thiết của Chúa Ki tô với Giáo Hội của Ngài. Ở đây, khía cạnh Giáo Hội cũng rõ ràng như trong dụ ngôn Người Mục Tử nhân lành, nhưng điểm nhấn được đặt ở trên đời sống nội tại của Giáo Hội.  
     2. “Anh em là cành”:      
“Thầy là cây nho, anh em là cành”. Chúng ta nhận ra chủ đề căn bản của Tin Mừng thứ tư: Đức Giê-su đòi hỏi một sự chọn lựa: hoặc gắn bó với Ngài hay từ chối Ngài. Gắn bó với Ngài không là một con đường dể dàng. Đức Giê-su gợi lên những công việc mà thính giả của Ngài biết rất rõ, những công việc của người trồng nho xử lý cây nho của mình ngõ hầu cây nho được trổ sinh nhiều hoa trái: chặt cành tỉa lá một cách nghiêm khắc và không biết xót thương. Chúa Cha hành xử như vậy đối với những môn đệ của Con Ngài. Đức Giê-su sử dụng những từ rất mạnh mẽ; Ngài chuẩn bị các môn đệ của Ngài bước vào những thử thách đang chờ đợi họ. Đây chính là mầu nhiệm Vượt Qua mà chính Ngài sẳn sàng sống. Luật cắt tỉa luật cứng rắn, nhưng chỉ như vậy người Ki tô hữu mới không trở thành những cành nho khô héo.
      Tuy nhiên, Đức Giê-su làm yên lòng các ông: “Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em”. Chữ “lời” được hiểu theo nghĩa mạnh: giáo huấn, sứ điệp . Đây là nét nghĩa thường hằng trong Tin Mừng thứ tư: “Ai tuân giữ lời tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (8: 51); “ai nghe lời tôi, và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời” (5: 24); “các ông tìm cách giết tôi, vì lời tôi không thấm vào lòng các ông” (8: 37). Vả lại, thuật ngữ nầy quy chiếu đến Ngôi Lời trong Tựa Ngôn: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời”
     Trước đây, Đức Giê-su đã nói với thánh Phê-rô rồi, vào lúc Ngài rửa chân cho ông: “Về phần anh em, anh em đã sạch” (13: 10). Các Tông Đồ được sạch nhờ lời Thiên Chúa mà họ đã đón nhận, đã chấp nhận, lời đã trở thành ở trong họ một sức mạnh biến đổi nội tâm. Đây là một chủ đề tiêu biểu của thánh Gioan: kết hợp với sự thật có sức thanh tẩy, có sức mạnh giải phóng khỏi gian dối và tội lỗi: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (8: 31). Sự thật là sự sống; hai khái niệm rất gần nhau tại Tin Mừng Gioan.  
    3. “Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em”.      
Đức Giê-su mời gọi các môn đệ: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em”. “Ở lại” là từ mạnh của dụ ngôn. Chúng ta biết rằng khác với ba Tin Mừng Nhất Lãm, thánh Gioan không sử dụng thành ngữ “Nước Thiên Chúa” (trừ ra trong cuộc đàm luận với ông Ni-cô-đê-mô ở đó thành ngữ nầy xuất hiện hai lần: Ga 3: 3 và 5). Thánh nhân không bao giờ nói: “Nước Thiên Chúa đến gần” hay “Nước Thiên Chúa ở đó”, vì Nước Thiên Chúa không là một thực tại bên ngoài. Thánh Gioan nhấn mạnh trên “chiều kích nội tại của Nước Thiên Chúa” và diễn tả sự nội tâm hóa nầy bởi động từ “ở lại”
    Cành nho không thể tự mình sinh hoa kết quả được, cũng vậy: “Không có Thầy, anh em không làm gì được”. Cốt là cuộc sống siêu nhiên mà không ai có thể đạt được hay tăng trưởng nhờ những phương tiện của riêng mình.   
    Toàn bộ dụ ngôn “cây nho” là bài diễn từ về cuộc sống siêu nhiên. Hậu cảnh bí tích được tiềm ẩn ở đây. Đức Giê-su công bố những lời nầy vài giờ trước cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Ngài. Chính Giáo Hội: cành nho, nhất thiết phải gắn bó với Đức Ki tô: thân nho, để đón nhận nhựa sống thần linh. Nước rửa tội, rượu Thánh Thể, sẽ là những chính lộ của sự chuyển thông nầy; cây nho thật là cây ban sự sống.  
    4. “Anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”.      
“Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”. Trong diễn từ từ biệt của mình, Đức Giê-su nhiều lần nhấn mạnh lời cầu nguyện. Chính Ngài nêu gương: Ngài hoàn tất cuộc trò chuyện nầy bởi một lời cầu nguyện dài với Cha Ngài.
      Trong viễn cảnh của sự kết hợp mật thiết giữa thân nho và cành nho, Đức Giê-su gợi lên tính hiệu lực của lời cầu nguyện. Cường độ của cuộc sống nội tâm kéo theo như một sự thẩm thấu giữa những ý muốn của Thiên Chúa và nhữung ước muốn của người tín hữu.  
     5. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh.  
Như chúng ta đã biết, Tin Mừng thứ tư được chia thành hai phần: phần thứ nhất được gọi là “Tin Mừng về các dấu chỉ” (2: 1-12: 50), và phần thứ hai được gọi là “Tin Mừng về vinh quang” (13: 1-20: 31). Quả thật, phần thứ hai nầy đề cập nhiều về vinh quang của Chúa Cha và sự tôn vinh của Chúa Con.   
   Điều đem lại vinh quang của người trồng nho chính là chất lượng của trái nho cũng như sự phong phú của chùm nho. Cũng vậy, các môn đệ sẽ góp phần vào vinh quang của Chúa Cha bằng những hoa trái thánh thiện và bằng sự rạng ngời sứ vụ của họ. Lúc đó, họ xứng đáng tước vị môn đệ. Bằng những lời nầy, Đức Giê-su diễn tả mối bận lòng chủ yếu của Ngài: thực hiện ý muốn của Cha Ngài trên con người: họ phải nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
 

PS5-B56. ĐỂ ĐƯỢC SỐNG SUNG MÃN VÀ SINH HOA KẾT TRÁI DỒI DÀO - Lm Ignatio Trâ

Gioan 15, 1-8
 

Từ lâu nay có những cá voi, khi thì một vài con, khi thì cả đàn lên đến bảy, tám chục con, không: PS5-B56

Từ lâu nay có những cá voi, khi thì một vài con, khi thì cả đàn lên đến bảy, tám chục con, không biết vì lý do gì lại từ bỏ đại dương như lòng mẹ hằng đùm bọc ấp ủ chúng để bơi ngược vào bờ rồi trườn mình lên bãi nằm chờ chết. Những người bảo tồn sinh vật biển nỗ lực cứu mạng chúng, dùng những chiếc tàu kéo đưa chúng ra khơi, trả chúng về với lòng mẹ đại dương, nhưng rồi sau đó chúng lại bơi vào bờ, trườn mình lên bờ để rồi nằm chết thối trên cạn. Đó là những cái chết tự chọn thật khó hiểu và có vẻ điên rồ!
Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su tha thiết mời gọi chúng ta ở lại trong đại dương tình yêu sâu thẳm của Người, đừng lìa bỏ Người như cá lìa nước, nhưng hãy ở lại với Người để khỏi phải chết như những chú cá voi rồ dại trên đây, nhưng được sống dồi dào sung mãn.
Chỉ trong một đoạn Tin Mừng ngắn gọn (Gioan 15, 1-8), Chúa Giê-su đã lặp lại cụm từ “ở lại” đến tám lần như những lời van lơn nài nỉ: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em.”
* Tách lìa Chúa thì phải hư vong
Như những chú cá voi tách rời lòng mẹ đại dương hằng bao bọc, chở che, nuôi sống chúng để bơi vào bờ rồi phải giẫy chết trên cạn, như những cành nho lìa thân để rồi phải ủ rũ héo tàn và sẽ bị đem đi thiêu đốt, số phận những ai không ở lại với Chúa Giê-su thì cũng vậy. Chúa Giê-su cảnh báo: “Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi” (Gioan 15, 6)
* Ở lại với Chúa thì được sống sung mãn dồi dào
Chúa Giê-su còn tha thiết kêu mời chúng ta ở lại trong Người như cành nho liên kết khắng khít với thân nho, để được nhận lãnh dồi dào sức sống Người ban và được sinh nhiều hoa trái: “Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Gioan 15, 4-5)
* Làm sao để ở lại với Chúa Giê-su?
Chúa Giê-su cho ta câu đáp: đó là tuân giữ lệnh Người truyền: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người” (Gioan 15, 10) và các điều răn ấy đã được Chúa Giê-su tóm gọn trong quy luật yêu thương: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Gioan 15, 12)
Thế là hôm nay, Chúa Giê-su đã tỏ cho chúng ta biết bí quyết tuyệt vời:
Ai yêu thương tha nhân thì người ấy đang ở lại trong Chúa, đang được kết hợp với Chúa như cành liền cây; nhờ đó, người ấy sẽ nhận được sung mãn “nhựa sống” Chúa ban và được sinh hoa kết quả dồi dào.
Trái lại, ai không yêu thương tha nhân là tự tách lìa mình khỏi “Thân Nho Giê-su” và hậu quả là phải tàn lụi muôn đời.
Lạy Chúa Giê-su,
Xin thương ban ơn phù trợ, giúp chúng con luôn tuân giữ những điều Chúa dạy, đặc biệt là giới luật yêu thương, để được ở lại với Chúa luôn mãi, nhờ đó chúng con sẽ được sống dồi dào và trổ sinh nhiều hoa trái đẹp tươi. Amen.
Lm Ignatio Trần Ngà
 

PS5-B57. ANH EM HÃY LƯU LẠI TRONG TÔI - Lm. L.GonzagA Đặng Quang Tiền

Gio 15:1-8: 1"Tôi là cây nho thật, và Cha tôi là người trồng nho. 2 Cành nào gắn liền với tôi mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều trái hơn. 3 Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời tôi đã nói với anh em. 4 Hãy lưu lại trong tôi như tôi lưu lại trong anh em. Như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không lưu lại trong cây nho, anh em cũng thế, nếu không lưu lại trong tôi. 5 Tôi là cây nho, anh em là những cành. Ai đang lưu lại trong tôi, tôi trong người ấy, người ấy sinh nhiều trái, vì không có tôi, anh em chẳng làm gì được. 6 Nếu ai không ở lại trong tôi, sẽ bị ném ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo và người ta nhặt lấy chúng, quăng vào lửa và nó bị cháy đi. 7 Nếu anh em lưu lại trong tôi và lời tôi lưu lại trong anh em, anh em hãy xin bất cứ điều gì anh em muốn, và điều ấy sẽ được làm cho anh em. 8 Nơi điều nầy mà Cha tôi được tôn vinh là anh em sinh nhiều  trái và trở thành môn đệ của tôi.
 

Là một trong những diễn từ ly biệt từ chương13:31 đến cuối chương 17, đoạn 15:1-16:4a có thể phân: PS5-B57

Là một trong những diễn từ ly biệt từ chương13:31 đến cuối chương 17, đoạn 15:1-16:4a có thể phân ra như sau: 1- Chúa Giêsu là cây nho thật (15:1-8); 2- Giới răn yêu thương (15:9-17); 3- Sự ghét bỏ của thế gian (15:18-16:4a). Căn cứ trên cụm từ “Tôi là cây nho” (cc. 1.5), đoạn 15:1-8 được chia cách thành hai: 15:1-4 và 15:5-8. Hơn nữa, những chữ “Cha tôi” (cc.1.8) đóng khung đoạn nầy; như thế, câu 1 và 8 được xem như nhập đề và kết luận của đoạn nầy.
 Đặc điểm của đoạn nầy là dùng những hình ảnh ẩn dụ như cây nho, cành, sinh trái… để nói lên những điều có thực tương ứng là Chúa Giêsu, các môn đệ, kết quả... Về đại danh từ, ngôi thứ nhất dùng cho Chúa Giêsu tương ứng với ngôi thứ hai số nhiều chỉ đến các môn đệ. Về chủ đề, nhấn mạnh liên tục việc “lưu lại” và “sinh trái”. Mục đích là kêu gọi các môn đệ lưu lại trong Người và lời của Người khi xem ra Người sẽ vắng mặt.
 Về cụm từ “Tôi là” (c. 1), xem bài chú giải tuần IV Phục Sinh B. Trong Cựu Ước cây nho là hình ảnh tiêu biểu chỉ dân Israel (Os 10:1–2; Isa 5:1–7; Ger 2:21; Tv 80:8–18). Dân nầy bây giờ được thu tóm trong cá nhân Chúa Giêsu; bởi đó, chỉ trong Người, Israel mới, mọi dân tộc mới tìm thấy ơn cứu độ. Tính từ “thật” được dùng cho “cây nho” nêu rõ tính cách duy nhất (x. 10:11). Đây là yếu tố tiêu biểu của Gioan (x. 1:9; 6:32; 8:16; 6:55). Chỉ Người là cây nho thật, nên phải lưu lại trong Người. Hình ảnh Chúa Cha là người trồng nho được dùng trong cả Cựu Ước và Tân Ước (x. Mc 12:1-12; Is 5:1; Tv 8:8). Tương quan giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha là hậu cảnh cho tương quan giữa Người và các môn đệ, được xem là chủ đề cốt yếu của đoạn nầy.
 Sau những xác định nhập đề (c. 1), nguyên tắc đầu tiên được đưa ra (cc. 2-3) là trong Chúa Giêsu, cành nào không sinh trái thì bị loại ra, cành nào sinh trái thì được cắt tỉa để sinh nhiều trái hơn. Như thế, ai đó dù ở trong Người mà không sinh trái, bị kể là không có Người ở trong họ. Ở đây tuyệt đối cần một quan hệ “ở lại” hỗ tương giữa Chúa Giêsu và người ấy (x. 15:4a.5a). Trong khi, đối với người sinh trái, lời đã rao giảng cho họ luôn là nguồn thanh tẩy để họ có thể sinh trái nhiều hơn (x. 6:63). Nguyên tắc thứ hai (c. 4a) là không ai có thể tự mình sinh trái, mà chỉ có thể sinh trái trong Chúa Giêsu. Do đó, Người đưa ra mệnh lệnh duy nhất trong phân đoạn nầy: “Anh em hãy lưu lại trong tôi” (c. 4a). Ở thể mệnh lệnh động từ “lưu lại” biểu thị một hành động hơn là một trạng thái. Đó là một cố gắng liên tục bước vào trong hiệp thông với Người, điển hình như hai môn đệ đầu tiên tìm đến và lưu lại với Người (1:39).
Hai nguyên tắc trên được diễn giải và áp dụng cho các môn đệ trong đoạn 15:5-8. Trong câu 5, tìm thấy những từ ngữ tương tự đoạn trên, tóm kết những điều đã nói là ở trong Người thì sinh nhiều trái, và không có Người thì không thể làm được gì cả. Câu 6 và 7 tương đương với hai mệnh đề của câu 2. Ở câu 6, Gioan trình bày một giả thiết có tính tiêu cực, nhấn mạnh những hậu quả sẽ xảy đến nếu không lưu lại trong Người. “Bị quăng ra ngoài”, “bị đốt cháy” là những hình ảnh chỉ sự loại bỏ và hủy diệt. Trong khi câu 7 đưa ra những điều kiện tích cực nhưng mang tính treo lửng: “Nếu anh em lưu lại trong tôi và nếu lời của tôi ở trong anh em” (c. 7a), nghĩa là chỉ khi nào hội đủ những điều kiện nầy, thì những điều Người nói ở vế thứ hai mới được thực hiện; đó là “Anh em hãy xin bất cứ điều gì anh em muốn, điều ấy sẽ được thực hiện cho anh em” (c. 7b). Mệnh lệnh “Anh em hãy xin”, kết thúc lý luận của Gioan, tương ứng và không thể tách lìa với mệnh lệnh ở trên (c. 5) như thế nầy: Anh em hãy ở lại trong tôi và anh em hãy xin bất cứ điều gì anh em muốn. Đoạn 15:1-8 được kết luận (c. 8) với khẳng định là Chúa Cha được tôn vinh bởi việc sinh nhiều trái và trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Chữ “môn đệ” xuất hiện ở vị trí cuối cùng của câu kết nầy tóm tắt tất cả những gì được đề cập ở trước: trở nên môn đệ của Chúa Giêsu là lưu lại trong lời của Người và qua đó sẽ sinh hoa kết trái trong Người.
 Đây là chỗ duy nhất trong kinh thánh cho thấy Chúa Cha, người trồng nho, không những hài lòng mà còn được tôn vinh bởi cây nho của mình. Chính bởi vì cây nho ấy là Con của Người luôn sinh trái ngon ngọt theo ý muốn của Người; và cũng thế tất cả những ai lưu lại trong Người Con ấy.
Lm. L.Gonzaga Đặng Quang Tiền 
 

PS5-B58. CÂY NHO VÀ CÀNH NHO - Lm Giuse Ịinh lập Liễm

Trong bài Tin mừng Chúa nhật tuần trước, Ịức Giêsu đã tự ví mình như Mục tử nhân lành, chăm: PS5-B58

Trong bài Tin mừng Chúa nhật tuần trước, Đức Giêsu đã tự ví mình như Mục tử nhân lành, chăm sóc đoàn chiên và sẵn sàng thí mạng vì đàn chiên đã được giao phó. Trong bài Tin mừng hôm nay, Ngài lại tuyên bố:”Thầy là cây nho đích thực” để nhắc nhở cho chúng ta phải kết hợp với Ngài để sinh hoa kết quả trong đời sống thiêng liêng.
I. HÌNH ẢNH CÂY NHO TRONG THÁNH KINH.
1. Cây nho trong Cựu ước.
Trong Thánh kinh, nho là một hình ảnh, một biểu tượng quen thuộc. Có người nói đó là”Cây sự sống”trồng ở giữa vườn địa đàng (St 2,9).
 Nhiều lần Cựu ước mô tả dân Israel như một gốc nho hay vườn nho của Thiên Chúa : ”Vườn nho của Đức Giavê ấy là nhà Israel”(x. Is 5,1-7).
 Qua Giêrêmia, thông điệp của Thiên Chúa đã truyền đến cho Israel rằng:”Ta đã trồng ngươi như cây nho tốt” nhưng vườn nho đã sinh ra quả đắng đót (Gr 2,21).
  Tiên tri  Ôsê nói :”Israel là cây nho tươi tốt”(Os 10,1).
 Hằng năm dân chúng mừng lễ mùa nho. Isaia sáng tác một bài dân ca mừng vườn nho xinh tươi của người bạn (Is 5,1-2) để ám chỉ tình yêu Thiên Chúa đối với dân Ngài. Và khi sự việc tệ hại xẩy ra, tác giả Thánh vịnh vẫn xướng lên một bài ca hy vọng:”Lạy Thiên Chúa, xin hãy viếng thăm và bảo trợ vườn nho mà chính tay Chúa đã vun trồng”(Tv 80,15-16).
 Cây nho đã trở nên biểu tượng của dân tộc Israel. Huy hiệu trên các đồng tiền hồi Maccabê là cây nho.  Một trong những kỳ công chói lọi trong Đền thờ là cây nho bằng vàng thật lớn đặt trước Nơi Thánh. Nhiều vĩ nhân kể mình có vinh dự lớn khi được phép dâng một số vàng để đúc thêm một chùm trái mới cho cây nho ấy. Cây nho là một hình ảnh đặc trưng của người Do thái và là biểu tượng của dân Israel.
2. Cây nho trong Tân ước.
Tại sao trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu lại tuyên bố:”Ta là cây nho đích thật”(Ga 15,1) ? Từ ngữ Alethnos có nghĩa là thật, có thật, đích thực chứ không phải giả tạo.
 Sở dĩ, Đức Giêsu xưng mình là cây nho “thật” vì trong Cựu ước, như các tiên tri đã phàn nàn, biểu tượng cây nho luôn luôn được gắn liền với ý niệm về suy thoái.
Trong bức tranh của Isaia, vườn nho đã trở thành vườn nho hoang.
Giêrêmia đã than phiền vì dân tộc ông đã biến thành một cây nho lạ, thoái hóa thành một cây khác.
Ôsê thì kêu lên:”Israel là cây nho trơ trụi”.
Dường như Đức Giêsu muốn nói : các ngươi tưởng vì thuộc về dân Israel nên các ngươi là cành nho thật của Thiên Chúa. Dân Do thái là một cây nho, nhưng là một cây nho thóai hóa y như các tiên tri đã nhìn thấy. Chính Ta mới là cây nho thật.
 II. ĐỨC GIÊSU LÀ CÂY NHO THẬT.
1. Bối cảnh của dụ ngôn.
Đức Giêsu đã đưa ra dụ ngôn này sau bữa Tiệc ly lúc tình yêu Thầy trò thật chan chứa. Có người cho rằng lúc ấy Đức Giêsu dẫn các môn đệ ra khỏi thành xuống khe suối Cédron. Ngồi giữa khung cảnh đó, họ thấy nho mọc khắp vùng, rồi Ngài nói:”Thầy là cây nho thật... Các con là cành”.  Đồng thời họ cũng nhìn thấy trong thung lũng đêm tối những đám cháy đang thiêu rụi những cành nho đã bị cắt quẳng đi lúc ban ngày. Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu nói thêm:”Ai kết hợp với Thầy... thì người ấy sinh hoa trái dồi dào... Ai không kết hợp với Thầy, thì bị quẳng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo, người ta sẽ ném nó vào lửa cháy đi”.
Khi Đức Giêsu khẳng định:”Thầy là cây nho đích thực và Cha Thầy là người trồng nho”(Ga 15,1) thì Ngài muốn các môn đệ nhận ra Ngài là cây nho Chúa Cha  đã đưa từ trời xuống trồng cho thế gian được sống nhờ kết hợp với Ngài. Khác với thứ cây nho là dân Do thái được bứng từ Ai cập về như Thánh vịnh 80 đã mô tả : Thứ nho có bóng rậm cả núi non, nhánh vươn tới biển khơi và chồi lan tới sông cả. Nhưng nó chỉ hào nhoáng bên ngoài như cây nho bằng vàng giả tạo  đúc trên cổng Đền thờ, nó vô tâm, vô hồn, được người ta ca tụng nó, nhưng nó không biết ca tụng Thiên Chúa, nên Ngài đã để cho kẻ qua lại dầy đạp nó, cho heo rừng và thú phá hủy nó. (Vũ khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm C, tr 80)
 2. Liên hệ giữa cây nho và cành nho.
Khi Đức Giêsu nói:”Thầy là cây nho, các con là cành” thì Ngài có ý nói lên sự cần thiết chúng ta phải kết hợp với Ngài. Theo kinh nghiệm trồng nho của người Do thái : vào mùa xuân, những cành nho tràn ngập sức sống, dưới hình thức của những chiếc lá và nụ hoa. Vào mùa thu, chúng trĩu nặng những chùm nho. Nhưng chúng có được sự sống này, và có khả nặng tạo ra được quả, chỉ vì chúng nối kết với thân cây. Khi bị cắt khỏi thân cây, chúng sẽ không chỉ trở nên cằn cỗi, mà còn nhanh chóng bị khô héo và chết rục. Giống như những cành cây cần đến thân cây, chúng ta rất cần đến Đức Kitô. Khi bị tách lìa khỏi Ngài, thì chúng ta không có sự sống, và không có khả năng sinh hoa kết quả.
 Đó là hình ảnh cho chúng ta biết : mỗi người chúng ta cần phải liên kết với Đức Giêsu, thì chúng ta mới sống và sống mạnh được. Chúng ta cần tới Chúa để đạt ơn cứu rỗi, nghĩa là chúng ta không thể thành toàn, tự giải thoát, thần hóa con người của mình, nếu không sống trong Chúa, nhờ Chúa và với Chúa. Điều này phải hiểu một cách tuyệt đối.
Tuy thế, cây nho cũng cần đến cành nho, chính những cành nho tạo ra hoa quả. Điều này có nghĩa là Đức Kitô cũng cần đến chúng ta. Chúng ta là những cành nho của Ngài. Cây nho và cành nho cần đến nhau. Bên nhau, chúng tạo ra một sự hợp nhất. Từ điều này, chúng ta có thể thấy rằng sự tin tưởng mà Ngài đặt để nơi chúng ta vĩ đại như thế nào. Chúng ta có thể cảm thấy mình không được đầy đủ, nhưng chúng ta phải ghi nhớ rằng cây nho cứng cáp và đầy sức sống. Đức Kitô tùy thuộc vào chúng ta , để tạo ra hoa quả trong thế giới này.
 Như vậy chúng ta phải kết hợp với Chúa để được thông ban sự sống, nếu không chúng ta sẽ trở nên những cành cây khô héo, trở nên những con người cô đơn, không giúp ích gì cho mình và cho kẻ khác.
 Truyện : Con người cô đơn.
Khắp trên thế giới, nơi đâu cũng có bán máy chụp Kodak. Người ta có thể nói:”Các cửa hiệu bán máy chụp hình và phim Kodak không bao giờ đóng cửa”. Khi các cửa tiệm Đông phương đóng cửa nghỉ, thì các tiệm ở Tây phương mở cửa bán.
 Ông chủ hãng phim Kodak sống ở toà nhà sang trọng bậc nhất New York, có không biết bao nhiêu tiền của ký gửi trong các ngân hàng lớn trên khắp thế giới, muốn lấy ra lúc nào tùy thích. Tài khoản thâu nhập của ông không tính theo mỗi năm, mỗi tháng, mà tính theo mỗi giây đồng hồ. Ông muốn gì cũng có, ông hưởng hết phúc lộc của con người. Người nào muốn ra tranh cử Tổng thống cũng đều phải nhờ ông làm hậu thuẫn, giúp đỡ tiền bạc. Mọi thứ trên đời này ông đều có, duy chỉ có một điều vô cùng quan trọng thì ông lại không có. Đó chính là Thiên Chúa. Vì không có Chúa nên lúc nào ông cũng cảm thấy cô đơn trống vắng. Mọi người thấy ông, cứ nghĩ là ông được sung sướng, nhưng thực ra ông rất đau khổ.
 Ông dùng tiền của quá dư thừa của mình mà đi chu du vòng quanh thế giới, hưởng muôn sự khoái lạc thế gian, hầu khỏa lấp nỗi cô đơn, trống vắng trong cõi lòng. Nhưng một tâm hồn không có Chúa thì tất cả vũ trụ cũng không thể làm cho họ được hạnh phúc.
Kết thúc chuyến du lịch vòng quanh thế giới mà cõi lòng ông  vẫn hoang vắng, buồn bã. Vì quá tuyệt vọng, ông đã lao mình xuống đại dương mênh mông tìm sự giải thoát.
 3. Muốn nhiều hoa quả, cần cắt tỉa.
Người ta trồng nho để lấy quả, cành nào không sinh hoa quả thì trở nên vô ích, cần phải cắt bỏ. Chúa bảo chúng ta là cành phải sinh hoa kết quả thì mới phát triển theo thánh ý Chúa. Chúng ta trổ sinh hoa quả, bằng cách phát triển, xử dụng và chia sẻ năng khiếu  đó cho nhau vì mỗi người chúng ta đều có một số năng khiếu mà Chúa ban cho.  Thế giới đang chờ đợi hoa quả của chúng ta. Đóù là gieo rắc tình thương để mọi người biết yêu Chúa và yêu thương nhau.
 Cắt tỉa cây nho là một điều cần thiết và là điều kiện để sinh nhiều hoa trái. Một cây nho tơ trong ba năm đầu chưa có trái, mỗi năm nó phải được tỉa thật sạch để có thể phát triển và giữ được sinh lực. Khi đến độ trưởng thành, người ta cắt tỉa nó vào mùa đông.
 Có hai loại cành nho, một loại sinh trái và một loại không sinh trái. Loại cành không sinh trái phải chịu cắt bỏ không thương tiếc, để lại, chúng hút mất sinh lực của cây nho. Cây nho sẽ không cho trái đúng mức nếu không bị cắt tỉa thật kỹ. Chúa Giêsu biết rõ điều đó.
Nhưng cắt tỉa là một quá trình gây đau thương cho một cây ăn quả. Đây là một thực tế không thể chối cãi được. Nhưng mục đích của việc cắt tỉa này không phải là bắt thân cây phải chịu đựng đau đớn, mà là để giúp cho thân cây tạo ra nhiều quả hơn, và quả được ngon hơn.
 Nói tới việc cắt  tỉa là chúng ta phải nói đến vấn đề đau khổ. Vấn đề đau khổ là một thực tại ngàn đời tồn tại và luôn luôn đòi được giải đáp. Đau khổ đến với ta dưới mọi hình thức : tinh thần, thể xác, bên ngoài, bên trong, cá nhận, tập thể, cộng đoàn. Ta có cảm tưởng đó là một lực lượng đến phá hủy tiềm năng phát triển con người. Nhưng với ánh sáng Phúc âm hôm nay, chúng ta thấy  được một khía cạnh của đau khổ. Thiên Chúa muốn dùng đau khổ để thanh luyện chúng ta, để cho ta sinh hoa trái tươi tốt  về đàng thiêng liêng. Điều cần thiết là phải lãnh nhận đau khổ với tinh thần đức tin và sự cậy trông ở lòng thương vô biên của Thiên Chúa.
 III. KẾT HỢP VỚI CHÚA KITÔ.
Đọc dụ ngôn cây nho và cành nho, chúng ta thấy rõ ý  Đức Giêsu là Ngài muốn chúng ta kết hợp với Ngài. Mầu nhiệm cây nho được Đức Giêsu tóm lại trong hai sự việc sau đây : kết hợp và sinh trái.  Càng kết hợp chặt chẽ càng sinh nhiều hoa trái. Chúa muốn dạy chúng ta điều kiện căn bản là kết hợp với Chúa, có kết hợp với Chúa mới đem lại kết quả thiêng liêng cho kẻ khác và cho chính mình.
 Chúng ta nên để ý đến câu Đức Giêsu nói với các môn đệ “Ai ở lại trong Thầy và Thầylại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái”(Ga 14,5). Có tới 9 lần cụm tụ “ở lại trong” được lặp lại trong đoạn Tin mừng này.  Đây là bổn phận của một cành nho. Điều kiện này không thể thiếu được, nếu không muốn đời sống siêu nhiên của mình bị héo tàn và vô dụng, vì Chúa nói rõ:”Không có Thầy, các con không thể làm được gì”(Ga 14,5) hoặc :”Không ở trong Thầy, các con không thể sinh hoa trái”.
 Nếu chúng ta được ở trong Đức Giêsu, được kết hợp với Ngài thì chúng ta sẽ lãnh được sức sống của Ngài. Ngài cũng ở trong Thiên Chúa nên khi chúng ta kết hợp với Ngài, chúng ta cũng được kết hợp với Thiên Chúa và múc được sự sống của Chúa Ba Ngôi. Tư tưởng này đã được thánh Hilariô trình bầy trong bài khảo luận về Chúa Ba Ngôi mà chúng ta trích dẫn sau đây :
Nếu Người chỉ muốn ta hiểu về sự hiệp nhất theo ý chí, thì tại sao Người lại trình bầy sự hiệp nhất phải được hoàn thành theo một tiến trình và một trật tự ? Đó là vì chính Đức Kitô ở trong Chúa Cha theo bản tính Thiên Chúa, và chúng ta ở trong Đức Kitô theo bản tính nhân loại Người đã lãnh nhận ; do đó, chúng ta tin rằng Đức Kitô ở trong chúng ta nhờ bí tích Thánh Thể. Nhờ vậy, chúng ta biết được sự hiệp nhất trọn hảo do Đấng Trung gian thực hiện : Khi chúng ta ở trong Đức Kitô, thì Người vẫn ở trong Chúa Cha, và khi Người ở trong Chúa Cha thì Người cũng ở trong chúng ta nữa. Như thế, chúng ta ngày càng tiến triển trong sự hiệp nhất với Chúa Cha, bởi vì Chúa Con vẫn ở trong Chúa Cha theo bản thể do được sinh ra từ thuở đời đời, và chính chúng ta cũng ở trong Đức Kitô theo bản thể, đang khi Người ở trong chúng ta theo bản thể” (Trích  Các bài đọc Kinh sách, Mùa chay và phục sinh, tr.26).
 Đó là sự kếp hợp giữa Chúa với chúng ta, tức là giữa cây nho và cành nho. Còn giữa chúng ta với nhau, tức là giữa các cành nho thì sao?  Chúng ta cần cộng tác với nhau, cần nâng đỡ nhau, cần kết hợp với nhau trên con đường cứu rỗi. Ở đời này, không ai chủ trương “Mỗi người là một hòn đảo” mà sống tốt được. Cũng như một thân cây nho chuyển thông sức sống, nhựa sống cho các cành, thì Chúa Giêsu cũng làm như thế. Cành nho nào không tiếp nhận nhựa sống thì sẽ cằn cỗi, khô héo và rời rụng đi. Nhựa sống trong thân cây nho hằng lưu chuyển, không cành nào được giữ lại cho mình mà ngăn cản nhựa sống truyền sang cho những cành khác.
 Truyện : Kết hợp với Chúa.
Văn hào kiêm triết gia nổi tiếng người Ấn độ Rabindranath Tagore đã viết như sau:
“Trên bàn tôi là sợi dây Guitar, tôi xoay nó qua lại theo các chiều khác nhau, nó không bị ràng buộc chi cả. Vì nó được cuộn tròn nên khi tôi xoắn đầu này thì đầu kia cũng bật dậy, sợi dây dẫy nảy trong tay tôi, mà chẳng phát ra một âm thanh nào. Hiện tượng này biến mất khi tôi buộc nó vào chiếc đàn Guitar, hai đầu bị gắn chặt để sợi dây căng thẳng, rồi với đầu ngón tay, tôi gảy nhẹ vào sợi dây và lạ thay , một âm vang nổi lên hầu như du dương. Đây chính là lúc sợi dây được tự do để tạo nên nốt nhạc.
 Cũng thế, trong cách trồng cây cà chua, cây yếu ớt ngã xoài trên mặt đất, nhiều khi lá bị héo úa dập nát. Nhưng nếu cây được cột vào một cọc dựng đứng, mọi phần tử của cây được phơi ra ánh nắng, cây sẽ mơn mởn và đâm nhiều bông trái. Chính vì bị ràng buộc mà cây đã có nhiều triển vọng sinh hoa kết quả”(Thiên Phúc, Lời gọi yêu thương, tr 39).
 Chúng ta cần lặp lại lời Đức Giêsu đãõ nói với chúng ta :”Không có Thầy các con không làm được gì”(Ga 14,5) . Chúng ta sống được là nhờ có ơn Chúa, mọi sự phải nằm trong tay Chúa. Đời sống thiêng liêng của chúng ta chỉ có thể phát triển được khi có ơn Chúa nâng đỡ, ngoài Chúa ra không ai có thể giúp đỡ chúng ta làm được việc gì sinh ơn ích cho phần rỗi chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng phải cần đến nhau vì , theo Thomas Merton, “Không ai là một hòn đảo”. Mọi người phải liên đới với nhau, hành động của người này ảnh hưởng đến công việc của người kia. Vì thế, muốn hưởng tự do của mình, ta phải tôn trọng tự do kẻ khác. Nói cách khác, tự do của mỗi chúng ta ràng buộc lẫn nhau và giúp đỡ lẫn nhau nữa.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
 

PS5-B59. GỐC NHO NÀY CHÚA BỨNG TỪ AI CẬP - Lm Giuse Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Ga 15, 1-8
Gốc nho này, Chúa bứng từ Aicập Đuổi chư dân lấy chỗ mà trồng… … bóng um tùm phủ xanh đầu núi, cành sum xuê rợp bá hương thần, nhánh vươn dài tới phía đại dương, chồi mọc xa đến tận miền sông Cả. (Tv 79,9.11-12)
 

Đọc những câu thánh vịnh trên, có lẽ chúng ta sẽ thắc mắc, tại sao khi viết về cây nho mà tác giả thánh: PS5-B59

Đọc những câu thánh vịnh trên, có lẽ chúng ta sẽ thắc mắc, tại sao khi viết về cây nho mà tác giả thánh vịnh lại miêu tả bằng những hình ảnh như gốc, bóng um tùm, cành sum xuê, nhánh vươn dài, chồi mọc xa… khác với hình ảnh về cây nho – hay đúng hơn là dây nho được trồng thiếu gì ở Ninh Thuận, Nha Trang hoặc xa hơn là ở Bordeaux, Bourgogne bên Pháp? Thực hư thế nào?
Trước hết, đối với cư dân Palestine, cây nho vốn được xem là tài sản quý. Palestine lâu nay vẫn được xem là nơi có những cây nho “khổng lồ”. Cây phát triển to lớn thành những cây cổ thụ với cành lá sum xuê chứ không phải như những dây nho nhỏ xíu được cắt tỉa gọn gàng như những vùng nêu trên. Còn nữa, ở Êphêxô trong đền thờ thần Diana, người ta có thể thấy nguyên một chiếc thang gỗ lớn được tạc từ một gốc nho duy nhất đem về từ đảo Chypre. Chính vì vậy, chúng ta thấy có những hình ảnh “vĩ đại” được miêu tả về cây nho của tác giả thánh vịnh. Cây nho trở thành biểu tượng cho sự phú túc, cho sự hào phóng của Thiên chúa đối với dân riêng của người. Hiểu được như thế về cây nho vùng Palestine, chúng ta sẽ hiểu hơn về trình thuật tin mừng hôm nay.
Trước hết, Chúa Giêsu sánh ví chính Người là cây nho thật. Cây nho thật, khác với cây nho dại- điều mà ngôn sứ Giêrêmia đã từng lên tiếng khiển trách dân Israel. “Ta đã trồng ngươi như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chủng. Sao ngươi lại thoái hoá thành cành nho tạp chủng?” (Gr 2, 21). Như thế, cây nho thật, nho thuần chủng là loại nho giống tốt, được chủ chăm sóc kỹ càng nên sinh nhiều trái thơm ngon, không giống như cây nho dại, nho tạp chủng, nho bị bỏ hoang nên sinh ra toàn trái nho bệnh tật và chua lòm. Chúa Giêsu chính là cây nho quý nhất mà Chúa Cha đã vun trồng, cắt tỉa chăm sóc để đem lại hoa trái thánh thiện công chính và sự sống dồi dào cho nhân loại. Sự chăm nom săn sóc của Chúa Cha đối với cây nho là Chúa Giêsu cho thấy tình yêu vô bờ bến Người đã ưu ái dành cho Chúa Con như là mối dây liên kết tình Cha – Con. Chính vì thế, khi đến thế gian, Chúa Giêsu đã tự hiến sự sống mình, kết thành những trái nho mọng nước, ngạt ngào hương thơm để tôn vinh Chúa Cha và đem lại ơn cứu rỗi cho con người.
Không chỉ có thế, Chúa Giêsu còn sánh ví mỗi người chúng ta là cành nho được liên kết với thân nho là chính Đức Kytô. “Thầy là cây nho, anh em là cành”. Khi khẳng định như thế, Chúa Giêsu muốn rằng các môn đệ của Người cần phải liên kết mật thiết với Người như cành nho được xuất phát và liên kết với cây nho. Điều này thật hiển nhiên. Vì có như thế nó mới được dưỡng nuôi bằng chính nhựa sống chảy ra từ chính thân nho. Tuy nhiên kinh nghiệm làm nho cho thấy rằng mục đích chính của chủ vườn nho là mong sao cho những cành nho kia sinh nhiều trái mọng nước. Để được điều đó, nếu cành nho không được cắt tỉa, thì nó chỉ có cành lá sum xuê, nhiều nhánh vươn dài mà chẳng có trái. Nhờ cắt tỉa, cây nho đau đớn, rướm máu, tuôn đổ nhựa sống, nảy sinh những hoa trái mọng nước. Cắt tỉa, làm cho sạch là hình ảnh của sự tinh luyện thử thách. Chắc chắn chẳng vui gì khi phải cắt tỉa, vứt bỏ những cành, nhánh nho nhưng nếu không như thế thì làm sao sinh nhiều hoa trái, làm sao sinh lợi. Vì thế tinh luyện thử thách là điều cần thiết để giúp chúng ta trưởng thành hơn.
Chúa Giêsu chính là thân nho nơi ngập tràn nhựa sống Thần linh. Nhựa sống Thần linh ấy chính là Mình và Máu Người hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta là những cành nho mong được tiếp nhận nhựa sống Thần linh ấy để sinh nhiều hoa trái. Muốn vậy, chúng ta hãy mau mắn đến với Chúa Giêsu qua bí tích Thánh Thể để kín múc nhựa sống Thần linh ấy; đồng thời hãy để cho Lời Chúa “cắt tỉa” và “rửa sạch” những gì là sum xuê, là tươi tốt của những cành nho không sinh lợi, đó là những đam mê, những dục vọng, những đố kỵ, ghen tương,… Cắt tỉa và rửa sạch những cành nho ấy, chắc chắn chúng ta sẽ nhẹ nhàng hơn và vui sướng hơn vì chúng ta được gắn kết mật thiết với Chúa trong Tình yêu.
Xin cho Lời Chúa hôm nay giúp mỗi người chúng ta duyệt xét lại cuộc sống đạo của mình. Là những cành nho được liên kết với Chúa Giêsu qua bí tích thánh tẩy, chúng ta đã thật sự liên kết với Chúa, với Giáo hội trong yêu thương và phục vụ chưa? Hay vẫn còn đó những cành lá thừa thải là những dục vọng thấp hèn, vị kỷ nhỏ nhen, không quan tâm đến nhu cầu của những anh em nghèo khổ,v.v… Chúng ta chỉ thật sự ở trong Chúa Kytô, liên kết với Chúa Kytô khi chúng ta biết sống cho người anh em mình cách chân tình, vô vị lợi. Và khi ấy, nhựa sống của cây nho thần linh là Chúa Kytô sẽ nuôi dưỡng và bổ sức cho chúng ta, biến chúng ta thành những cành nho sinh lợi, gắn kết thật sự với Chúa Kytô- cây nho của Thiên Chúa.
Lm Giuse Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
 

PS5-B60. THOÁI HOÁ LÀM MẤT PHẨM GIÁ - Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Ngày nay người ta đang nói nhiều về sự thoái hoá đạo đức của một số phần tử trong xã hội: PS5-B60

Ngày nay người ta đang nói nhiều về sự thoái hoá đạo đức của một số phần tử trong xã hội. Họ tự đánh mất căn tính của mình. Họ không còn giữ được phẩm chất của chính mình. Sự thoái hoá đã làm cho họ biến chất từ tốt ra xấu. Từ thanh sạch ra dơ bẩn. Từ hữu dụng ra vô dụng. Sự thoái hoá đạo đức có thể đến với bất cứ ai. Và cũng có thể làm băng hoại đủ mọi thành phần, cho dù là hàng trí thức hay dân hèn, một khi đã bị thoái hoá là họ đã đánh mất căn tính con người là “nhân chi sơ tính bản thiện”. Sự thoái hoá có mặt trong mọi ngành nghề, trong mọi cấp bậc. Sự thoái hoá làm mất đi đạo đức nghề nghiệp, mất đi lương tâm trong sáng chỉ còn là những tham sân si vô độ.
Năm nay là năm giáo dục gia đình, chúng ta cũng không thể không đau lòng trước những hiện tượng thoái hoá đạo đức và nhân cách của con người hôm nay như: cô giáo hành hung và xúc phạm học trò; học trò đánh thầy giáo, mẹ đánh chết con ruột, cháu nội hành hạ bà nội cho đến chết. Tại sao lại có những chuyện phi nhân thất đức như vậy? Văn hoá đạo hiếu Việt Nam có còn giá trị hay đã bị tha hoá bởi đời sống vô tâm của con người hôm nay?
Có một câu chuyện ngày xưa kể rằng: một lần vua Nước Bắc muốn làm nhục sứ giả Nước Nam qua triều cống. Ông đã bắt một người dân Nước Nam vừa ăn trộm ra trước mặt sứ giả để làm nhục. Vua Nước Bắc bảo rằng: “Phải chăng người Nước Nam hay ăn trộm?”. Sứ giả Nước Nam khiêm tốn trả lời: “Thưa bệ hạ! Cây táo trồng ở Nước Nam thì ngọt nhưng khi mang qua Nước Bắc trồng thì quả lại chua. Phải chăng người này ở Nước Nam thì tốt nhưng khi qua Đất Bắc đã biến chất rồi chăng?”
Nhìn lại phận người chúng ta đôi khi cũng giống như Cây Táo được trồng ở Đất Bắc. Con người là hình ảnh Thiên Chúa đôi khi cũng bị biến chất khi trồng vào thế gian. Con người cũng bị những thói đời sa đoạ làm băng hoại tâm hồn. Con người cũng bị những đam mê của danh lợi thú làm huỷ hoại danh giá, nhân phẩm của chính mình. Con người dễ bị đánh mất căn tính của mình là “nhân linh hơn vạn vật”. Con người dễ bị bị thoái hoá bởi tưởng mình chỉ là một loài vật: sinh ra – lớn lên – rồi chết nên cứ việc lao vào những cuộc truy hoan trác táng, những thói đời hưởng thụ tầm thường.
Các tiên tri thời Cựu ước đã từng tiếc nuối cho dân tộc Israel là “vườn nho của Chúa” đã bị biến chất. Tiên tri Isaia đã thất vọng vì vườn nho nhà Israel đã bị hoang tàn. Tiên tri Giê-rê-mi-a đau buồn vì dân tộc ông đã “biến thành một cây nho lạ, thoái hoá thành một cây khác”. Còn Ô-sê thì kêu lên trong đau đớn: “Israel là một cây nho trơ trụi”. Tất cả những từ ngữ đó đều diễn tả một đời sống thoái hoá đạo đức của một số phần tử Do Thái. Họ đã không sống theo đường lối Chúa. Họ đã thờ ngẫu tượng. Họ sống hình thức dẫn đến giả hình, giả dối. Họ bị men biệt phái kiêu căng làm biến chất. Họ thờ Thiên Chúa trên môi miệng nhưng thực chất họ đã xa lìa Chúa từ trong tâm hồn.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta kín múc nguồn sống đích thực từ Thiên Chúa. Chúa mời gọi chúng ta hãy để cho sự sống của Chúa tuôn chảy trong tâm hồn chúng ta. Hãy sống gắn bó với Chúa, kết hợp với Chúa như cành liên cây để có thể sinh hoa kết trái là những việc lành phúc đức. Hãy ở lại trong Chúa để hiểu rằng con người chúng ta có một phẩm giá vô cùng cao quý là “giống với thần linh, là hình ảnh Thiên Chúa”. Hãy biết gìn giữ phẩm giá cao quý ấy bằng việc chế ngự những đam mê tội lỗi, những thói đời truỵ lạc. Hãy làm chủ hành vi của mình bằng việc: biết sống theo lẽ phải, biết thể hiện phẩm giá của mình là tạo vật biết thiện và ác, thế nên phải biết làm điều thiện và tránh điều ác. Hãy bám vào Thiên Chúa hơn là bám vào những phù vân mau qua đời này. Hãy khiêm tốn cúi mình thờ lạy Chúa hơn là thờ lạy tạo vật. Hãy vì Chúa mà sống cao thượng hơn là vì tiền, vì tình, vì quyền mà sống thấp hèn. Hãy nhớ rằng: trần gian là tạm bợ. Thiên đàng mới là vĩnh cửu. Đừng vì những vinh hoa phú quý phù hoa này mà xa lìa Thiên Chúa. Xa lìa Thiên Chúa như cành lìa cây sẽ bị thoái hoá và héo khô.
Nguyện xin Chúa Giê-su Phục sinh luôn ở lại trong cuộc đời chúng ta để dẵn dắt chúng ta đi trong chân lý vẹn toàn. Xin cho nguồn thánh ân Chúa tưới gội tâm hồn chúng ta mãi thanh sạch xứng đáng là hình ảnh của Chúa. Amen
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 

PS5-B61. ĐỂ SINH HOA KẾT TRÁI XUM XUÊ - Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Đức cố giáo hoàng Phaolô VI đã từng nhấn mạnh rằng phát triển là hình thức truyền giáo: PS5-B61

Đức cố giáo hoàng Phaolô VI đã từng nhấn mạnh rằng phát triển là hình thức truyền giáo của thời đại hôm nay. Phát triển bản thân, xã hội cũng như Giáo Hội là một đòi hỏi có tính tất yếu để sống còn. Kitô hữu chúng ta vốn quen thuộc với dụ ngôn “những nén vàng hay nén bạc” mà Chúa Giêsu kể trong Tin mừng ( x.Mt 25,14-30; Lc 19,12-27 ). Không làm sinh lợi những gì chúng ta đã lãnh nhận là một thái độ không chỉ đáng trách mà còn đáng trừng phạt. Ngay đêm Tiệc ly, trước khi chịu tử nạn, Chúa Kitô đã khẳng định: “ Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại” ( Ga 15,16 ). Người còn nói rõ: “Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy” ( Ga 15,8 ).Qua hình ảnh cây nho, Chúa Kitô cho ta thấy hai điều kiện không thể thiếu nếu muốn đơm hoa kết trái. Đó là gắn bó và cắt tỉa.
Gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu: Chúa Giêsu đã làm nổi rõ chân lý này khi tự ví mình là thân nho, còn chúng ta là cành nho. Tách lìa khỏi thân nho thì cành nho sẽ chết. Mọi sự đều là ân sủng Chúa. Sự hiện hữu của chúng ta là do ân ban từ trời. Để tồn tại và phát triển, không một ai có thể tách lìa khỏi nguồn mạch tác tạo nên chính mình. Đã là người, chúng ta dễ chân nhận rằng thái độ sống kiểu “vong bản”, hay “mất gốc”, không chóng thì chầy cũng sẽ bị huỷ diệt. Người ta cũng dễ đồng thuận với nhau về những nguồn gốc tự nhiên là tổ tiên, ông bà, cha mẹ, là nơi chôn nhau cắt rốn, là tổ quốc, quê hương. Tuy nhiên, nguồn gốc của mọi nguồn gốc tự nhiên ấy là gì, là ai, là Đấng nào thì còn tuỳ ở quan điểm, ở niềm tin của mỗi người.
Như thế, nền tảng và động lực của sự gắn bó này đó là sự nhìn nhận nguồn gốc, xuất xứ của bản thân mình. Một trong những nét trỗi vượt của con người trên các loài thụ tạo hữu hình khác chính là biết hướng về cội nguồn. Thực tế cho ta khẳng định điều này. Các loài vật càng lớn lên thì chúng càng như quên mất cội nguồn sinh ra chúng. Với con người thì trái lại, càng thêm tuổi thì khao khát truy về nguồn càng mãnh liệt. Không kể các anh em vô thần hay vô tín, nói chung, nhân loại xưa nay vốn có tâm thức hướng về Đấng Tạo Thành, Đấng tác sinh mọi vật, mọi loài. Một trong những biểu hiện tâm thức này là lòng biết ơn, sự cảm tạ. Vào mỗi dịp năm hết, Tết đến hay vào các dịp lễ tiết theo phong tục tập quán như khởi đầu công việc, sau vụ mùa…những nén hương được thắp lên cùng các lễ vật bày ra cách này cách khác, chính là tấm lòng cảm tạ, biết ơn được dâng lên Đấng là cội nguồn các ơn lành đã lãnh nhận.
Với Kitô giáo, hình thức gắn bó với Thiên Chúa có thể gọi là căn bản, đó là sự thờ phượng. Cầu nguyện bằng nhiều hình thức là cách thế biểu lộ sự thờ phượng. Tuy nhiên một trong các tâm tình cầu nguyện nói lên sự gắn bó của chúng ta với Đấng là cội nguồn của mọi sự, mọi loài, đó là tâm tình cảm tạ, tri ân. Vừa qua, có anh bạn gửi cho tôi đoạn video clip thật cảm động trình bày một cảnh sống có thật như sau: Một anh nhà nghèo, làm nghề thu dọn thức ăn thừa trong một quán ăn ( theo cảnh quay thì có lẽ là ở nước Mỷ ). Các thực khách ăn uống rất phí phạm. Đồ ăn thừa đáng gọi là ê hề. Trong khi đổ các thức ăn thừa vào thùng rác thì anh nhà nghèo này không quên lọc, giữ lại những thức ăn có thể dùng được như là những đùi thịt gà mà người ta chỉ ăn một tí, qua loa hay chỉ ăn có một nửa và chí ít là còn một phần ba, phần tư thịt thừa. Cuối giờ làm anh ra về với bọc thức ăn thừa. Đó là mấy cái đùi thịt gà mà khách ăn còn dư chút thịt ít nhiều. Vào bàn dùng bữa, anh đổ các đùi thịt gà thu lượm được ra trước mặt vợ và bốn đứa con đang hăm hở chép miệng chờ ăn. Cả nhà ngồi vào bàn. Bổng cô con gái nhỏ, khoảng 8 tuổi, cầm vội một đùi thịt gà hầu như chỉ còn là xương, may ra còn dính chút thịt mà khách ăn còn dư. Cũng có thể vì quá đói, mà cũng có thể vì bé nghĩ rằng miếng này ít thịt nên cả nhà không tính số. Bổng người cha lấy tay ngăn em bé lại. Tôi ngạc nhiên, nhưng sự ngạc nhiên ấy lại tiếp nối bằng sự ngỡ ngàng cùng vài giọt lệ ngấn trên khoé mắt khi thấy người cha ra hiệu cho cả nhà làm dấu Thánh Giá, dâng lời cám ơn Chúa trước khi dùng những miếng thịt gà thừa mà khách ăn đã bỏ đi.
Kitô hữu chúng ta hiểu rằng đỉnh cao của việc thờ phượng là Thánh Lễ. Tham dự Thánh Lễ là tham dự vào hy tế tạ ơn mà Chúa Kitô đã hiến dâng trên thập giá xưa nay được hiện tại hoá trên các bàn thờ. Chúa Kitô nhìn nhận mọi sự của Người là do Chúa Cha trao ban. Trên thập giá, Người trao dâng lại cho Chúa Cha tấm xác thân và linh hồn mà Cha ban cho Người khi Người vào trần gian. Hành vi tự hiến này nói lên sự gắn bó thiết thân của Người với Cha trên trời. Người đã khẳng định rằng Người với Cha là một ( x.Ga 10,30 ). Sự tạ ơn là một động thái thờ phượng tuyệt hảo, biểu lộ sự gắn bó của chúng ta với cội nguồn của mình. Và khi gắn bó với nguồn của mọi ân sủng thì chuyện sinh hoa kết trái là chuyện đương nhiên sẽ đến.
Cắt tỉa: Để đơm bông kết trái ngày càng nhiều và tươi tốt, Chúa Giêsu còn đề cập đến sự cắt tỉa. Nói đến sự cắt tỉa thì nông gia rất dễ am tường. Sự thưòng của cây trồng, khi giảm phát sinh thì tăng phát dục. Cứ đến kỳ, đến vụ, nhà nông lại làm cành, tỉa cây để mong có mùa màng bội thu.. Để lớn lên, con rắn cần phải lột bỏ lớp da cũ. Để tung bay giữa trời xanh cánh bướm phải giả từ cái kén ấm êm. Cuộc đời con người cũng tương tự, dù là cá nhân hay tập thể, để tồn tại và phát triển, rất cần đến sự cắt tỉa, nói cách khác là cần sự dứt bỏ, đoạn tuyệt. Tuy nhiên, phải làm rõ những gì cần dứt bỏ và đoạn tuyệt.
Trước hết, cần dứt bỏ những yếu tố không còn sự sống hay những yếu tố tật bệnh làm ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển. Người ta dễ dàng loại bỏ các cành khô của cây, nhưng lại rất khó để đoạn tuyệt với tội lỗi của bản thân mình, dù tội lỗi được đồng hoá với sự chết. Dưới cái nhìn luân lý học ngày nay, thì chỉ có tội trọng mới được gọi là tội nguy tử, gây ra cái chết đời đời. Người phạm tội nguy tử là lỗi phạm luật Chúa trong một điều nặng, có ý thức đầy đủ và tự do hoàn toàn. Là Kitô hữu bình thường thì ít ai dám to gan ở lì trong tình trạng nguy tử này. Nhưng chúng ta có thể dây dưa trong tình cảnh chẳng chết mà chẳng sống. Có thể xem tình trạng này như những cành cây đang bị sâu bệnh. Nhà nông thì không tiếc xót gì khi cắt tỉa chúng, còn chúng ta thì quả là khó dứt bỏ những lỗi mọn. Xin hãy nhớ lại những lần chúng ta đến toà cáo giải, hình như đang có đó nhiều tội mà bản thân cứ mãi xưng thú đi, xưng thú lại không biết bao nhiêu lần.
Trở lại với nghề nông, các nông gia chuyên nghiệp vẫn không ngần ngại cắt tỉa những cành lá không sâu bệnh, có khi là xanh tốt, nhưng chúng không có khả năng sinh hoa trái, lại còn ảnh hưởng đến sự sinh hoa trái của các cành khác, chẳng hạn như những chồi vượt sát gốc thân cây…Đọc sách Công vụ tông đồ, chúng ta cần chân nhận sự can đảm của các nghị phụ Công đồng Giêrusalem. Đoạn tuyệt với lễ nghi cắt bì, một nghi lế gia nhập Da Thái giáo ( tương tự với bí tích Thánh Tẩy của Kitô giáo ), đúng là một quyết định kiên cường, dĩ nhiên sẽ phải hứng chịu nhiều điều không như ý: bị cho là bội giáo, mất gốc, vong bản, phản bội…
Vừa phải biết trở về nguồn để đi theo đường lối tông truyền, khỏi phải chệch hướng, nhưng cũng phải biết cắt tỉa những yếu tố nhân loại cho dù đã thành truyền thống của thời đã qua mà nay không còn phù hợp cho sự phát triển. Vuông trong hai nhiệm vụ này quả là không mấy dễ. Trong thực tế, nhiều khi khó phân biệt rõ ràng các yếu tố tông truyền nghĩa là được truyền từ Chúa Kitô qua các tông đồ đến chúng ta và các yếu tố của truyền thống cha ông một thời mà nay đã “lỗi thời”. Bên cạnh đó tâm lý hoài cổ hoặc cho rằng “rượu cũ thì ngon hơn” vẫn còn đó ảnh hưởng.
Xin được bỏ qua lãnh vực lớn là xã hội và Giáo Hội, để nhấn mạnh đến đời sống cá nhân. Có nhiều điều mà chúng ta cần phải cắt tỉa để phát triển và sinh hoa kết trái trong đời sống nhân bản lẫn tâm linh. Tuy nhiên xin được nhấn mạnh đến một điều rất cần cắt tỉa đó là thái độ tự cao, tự đại cho rằng: “bàn tay ta làm nên tất cả…”. Kiêu ngạo là mối tội đầu tiên trong bảy mối tội lớn, và cũng là đầu mối của của mọi sự tội.
Khi đã cho rằng mọi sự ta có, ta là, đều do bởi tay ta thì ta chẳng cần đến bất cứ ai và dĩ nhiên chẳng cần đến Đấng Tạo thành. Một điều tất yếu, khi ta tự tách lìa khỏi nguồn cội thì phải lãnh lấy hậu quả là sự chết. Chúa Cha sai Chúa Con đến thế gian không phải để luận phạt hay xét xử thế gian, nhưng để những ai tin vào Người Con, gắn bó với Người Con thì sẽ được sống muôn đời và sinh trái đơm hoa ( x. Ga 3,16; 15,5). Xin đừng quên: cành nào lìa cây sẽ khô héo liền ( x. Ga 15,6 ).
Cắt tỉa sự tự cao, tự đại để thêm gắn bó với Đấng mà nhờ Người mọi vật mọi loài được tác thành ( x. Col 1,15-16 ). Gắn bó với Người thì chắc chắn ta sẽ đơm hoa, kết trái trĩu cành. Và rồi khi Chúa đến, Người sẽ nói với ta: “ Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ ngươi” ( Mt 25,21 ). Ngoài việc chuyên chăm tham dự Thánh Lễ, thì theo thiển ý, những thực hành đạo đức như cầu nguyện trước, sau các bữa ăn, cầu nguyện mỗi sáng khi thức dậy và mối tối trước khi buông màn, làm dấu Thánh giá khi vào sân bóng hay sau khi ghi được bàn thắng…sẽ giúp ta cắt tỉa những điều xấu xa, tồn tại, để ngày càng gắn bó với Đấng mà nếu không có Người thì ta sẽ không làm được sự gì tốt đẹp ( x. Ga 15,5 ).
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
 

PS5-B62. HIỆP NHẤT VỚI CHÚA GIÊSU - Lm. An Phong, OP

Ga 15,1-8
 

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về mối liên hệ chặt chẽ, sự : PS5-B62

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về mối liên hệ chặt chẽ, sự thông hiệp trọn vẹn, sự kết hợp sâu xa giữa Chúa Giêsu là Thầy với những kẻ thuộc về Người.
Khi yêu thương, người ta muốn nên một với người mình yêu, đó là qui luật của tình yêu mà chắc ai cũng biết. Tuy nhiên, điều mà không phải ai cũng chấp nhận, đó là : tình yêu còn thúc bách người ta phải biết từ bỏ và tình yêu đích thực làm phong phú cuộc sống cho người biết yêu.
Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng : “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh trái, thì Người (Cha Thầy) sẽ chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái thì Người cắt tỉa cho nó ra nhiều quả hơn”. Như thế, Chúa Giêsu còn nhắc nhở các môn đệ một điều kiện không thể thiếu trong tình yêu : từ bỏ những gì không thích hợp, những gì cản trở mối liên kết yêu thương. Trong tình yêu, nếu mỗi người chỉ biết tìm lợi ích cho mình, tìm sung sướng cho mình, thì sớm muộn gì tình yêu cũng sẽ tan vỡ; vì trong đó đã có mầm mống của ích kỷ.
Giống như một cành nho, khi được cắt tỉa thì sẽ sinh nhiều trái hơn; thì cũng vậy, sự từ bỏ, hy sinh, chịu thiệt thòi vì người yêu chẳng những không làm cho người ta ra nghèo nàn, yếu nhược, ươn hèn; nhưng sẽ làm cho tâm hồn của người đang yêu được phong phú; họ tìm thấy sức mạnh để vượt qua những gian nan, họ trở nên can đảm, quảng đại, nhẫn nại, tha thứ…
Trong cuộc sống hiện nay, có lẽ chúng ta được thấy thật nhiều kiểu tình yêu; trong đó, không thiếu những thứ “tình yêu giả”, “tình yêu ích kỷ”, “tình yêu chiếm đoạt”, “tình yêu nô lệ”, “tình yêu yếu hèn”… Chúa Giêsu cho chúng ta thấy hai tiêu chuẩn của một tình yêu đích thực, đó là biết hy sinh cho nhau và trở nên phong phú. Chúng ta có thể dựa theo hai tiêu chuẩn này để duyệt xét lại những kiểu tình yêu hiện nay của mình.
Hơn nữa, Chúa Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta hãy sống liên kết với Người, một tình yêu đích thực và trọn vẹn, một tình yêu có khả năng làm cho tình yêu của chúng ta thêm mãnh liệt và trỗ sinh hoa trái dồi dào : “Hãy kết hợp với Thầy như Thầy kết hợp với anh em”.
Lạy Chúa Giêsu,
Vì tình yêu lớn lao,
Chúa đã vui lòng ngự đến trong tâm hồn chúng con ;
Xin cho chúng con được kết hợp mật thiết sâu xa với Chúa,
trong suy nghĩ, trong tình cảm, trong hành động,
trong đời sống hằng ngày của chúng con.
Xin cho chúng con có được một tình yêu đích thực,
với Chúa và giống như Chúa
Lm. An Phong, OP
 

PS5-B63. MẠCH SỐNG - Lm. Giuse Ịô          Vân Lực, OP

Ga 15,1-8
 

Đức Giêsu muốn gởi đến nhân loại một sứ điệp về sự sống qua mầu nhiệm Phục Sinh, khi cống: PS5-B63

Ðức Giêsu muốn gởi đến nhân loại một sứ điệp về sự sống qua mầu nhiệm Phục Sinh, khi cống hiến cho chúng ta hình ảnh cây nho và cành. Hình ảnh chủ chăn và đoàn chiên chưa nói được mối tương quan thực sự giữa Chúa và các môn đệ. Mối tương quan đó phải sâu xa như nhựa sống luân chuyển giữa cây nho và cành. Nhờ đó, người môn đệ luôn tìm được nguồn hứng khởi trên nẻo đường theo Chúa và làm chứng cho Người trong thế giới hôm nay.
CÂY NHO ÐÍCH THỰC
Cây nho không được phổ biến ở Việt Nam. Nhưng tại các nước Trung Ðông như Do thái hay Âu Mỹ, cây nho là một hình ảnh rất quen thuộc. Trái nho, dầu oliu và gạo là những sản phẩm chính tại đất Canaan (Ðnl 11:14; Gs 24:13; Gr 5:17). Người ta thường trồng nho trên các ngọn đồi (Is 5:1; Am 9:13). Cây nho thường leo trên giàn hay bò dưới đất.
Tiên tri Isaia đã ví Israen như vườn nho của Chúa (Is 5:1-7). Chúa đã liên tục chăm sóc vườn nho. Nhưng vườn đã không sinh hoa kết quả. Bởi vậy vườn bị bỏ hoang, hàng rào bị phá bỏ, mặc cho dã thú dẫm nát. Cây nho không còn sinh hoa trái vì bị gai góc tràn ngập, không ai tỉa xới. Trái lại, cây nho nào được chăm sóc kỹ lưỡng, được rào giậu cẩn thận, sẽ đem lại niềm vui cho muôn người vì những mùa màng phong phú. Tháng chín là mùa thu gặt và là cơ hội tổ chức hội hè, nhảy múa. Một cách biệt quá xa giữa hai thứ cây nho đã khiến Ðức Giêsu đưa ra một hình ảnh vô cùng sống động so sánh về hai loại người theo Chúa. Bên ngoài có thể hoàn toàn giống nhau. Nhưng chính mạch sống bên trong mới có tính cách quyết định. Bởi vậy, Ðức Giêsu quả quyết : "Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn" (Ga 15:1-2). Thầy trở thành tiêu chuẩn phân biệt giữa hai hạng môn đệ. Ðúng hơn, Người là trung tâm qui tụ muôn người, là nguồn cung cấp sự sống cho toàn thể nhân loại. Ai đi vào tương quan thực sự với Người, sẽ thấy một sự gần gũi và thân mật chưa từng thấy nơi bất cứ tương quan nào khác. Vì tương quan này có thể sâu như tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con : "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy" (Ga 15:9). Tình yêu là nhựa sống lưu chuyển khắp châu thân. Ðúng hơn, tình yêu đó chính là "sự sống Thần Khí dành cho các môn đệ Ðức Giêsu" (Fahey 1994:335). Muốn đạt tới sự sống đó, điều kiện duy nhất là "ai tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí mà Người đã ban cho chúng ta" (1 Ga 3:24). Thần Khí làm triển nở đời sống thiêng liêng và chiều kích Giáo hội trên toàn thế giới. Người chính là sức mạnh xây dựng Nhiệm thể Chúa Kitô.
Không ai có thể bảo đảm cho lời cầu nguyện của các tín hữu bằng chính kinh nghiệm của Ðức Giêsu, Ðấng luôn sống trong tình yêu thương và hiệp nhất với Chúa Cha. Nhờ kinh nghiệm đó, Người dám quả quyết : "Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý" (Ga 15:7). Chúa Cha đã không từ chối Chúa Con điều gì. Chắc chắn Người cũng không ngoảnh mặt làm ngơ trước những lời van xin tha thiết của những ai đã nên giống Con Người. Vì chính nhờ sự vâng phục, họ đã làm vinh danh Thiên Chúa như Ðức Giêsu. Vâng phục được thể hiện rõ nhất khi họ sống trọn vẹn tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.
Ngược lại, nếu ai chỉ tìm cách thuộc về Chúa bên ngoài mà thôi, sẽ không bao giờ đạt được mộng ước. Thực tế không ai kiếm được hoa trái đích thực nào nơi những hoạt động của họ. Chỉ có những tiếng động inh ỏi, không tấu lên được một bản nhạc nào. Chính Chúa đã báo trước : "Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta sẽ nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi" (Ga 15:6). Chúa Cha sẽ thực hiện cuộc phán xét ghê gớm đó : "Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi" (Ga 15:2). Có những người chỉ gắn liền với Thầy trên giấy tờ hay lời hứa ngoài đầu môi chót lưỡi mà thôi. Họ tự hào vì "bàn tay ta làm nên tất cả". Thực tế, "không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15:5), vì "Thầy là cây nho, anh em là cành" (Ga 15:5). Sống ngoài thực tại đó, tất cả công trình đều vô giá trị và vô hiệu lực. Chính trong thực tại đó, người môn đệ cảm thấy mình trắng tay như người nghèo, hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa.
Sự lệ thuộc đó không làm cho người môn đệ mất hết bản lãnh. Trái lại, "chính khi quên mình là lúc gặp lại bản thân". Thiên Chúa vĩ đại hơn cái tôi chúng ta nhiều lắm. Thiên Chúa mới là "có". Chúng ta chỉ là "không" mà thôi. Thay vì một mình bơi trải, người môn đệ luôn sống bằng sức mạnh Thiên Chúa, vì họ luôn ý thức "sống là Ðức Kitô" (Pl 1:21). Nhờ thế, kết quả được nhân lên ngàn lần. Kết quả này sẽ kéo theo muôn vàn kết quả tốt đẹp hơn. Một mùa màng vô cùng tươi tốt sẽ đem lại no ấm và bình an cho nhân loại.
SỨC MẠNH TÌNH YÊU
Những kết quả bên ngoài đó đập vào mắt mọi người. Nhưng mấy ai hiểu được ý nghĩa đằng sau sự kiện ? Giáo hội không tìm vinh quang cho chính mình. Vinh quang chỉ dành cho một mình Thiên Chúa. Nhưng làm sao Thiên Chúa được tôn vinh, nếu không có tình yêu làm động lực cho mọi hi sinh vô bờ bến ? Chính trong bí tích Thánh Thể Thiên Chúa mạc khải tình yêu cực kỳ sung mãn của Người. Ngôi Hai Thiên Chúa như vẫn còn nhập thể hằng ngày, trở nên của lễ hi sinh thượng tiến Chúa Cha và của ăn thơm ngon nuôi sống muôn dân. Bởi thế, "mặc dù mầu nhiệm vượt qua đã đem Người khuất mắt các tông đồ, nhưng Người hiện diện trong đời các ông hơn bao giờ, 'mọi ngày cho đến tận thế' (Mt 28:20)" (ÐGH Gioan Phaolô II, L'Osservatore Romano, 5/4/2000). Nhờ Thánh Thể, Ðức Giêsu đã thể hiện nét đậm đà nhất của tình yêu, trở nên một với người yêu. Chính nơi đây, người môn đệ Ðức Giêsu sẽ hiểu được dụ ngôn cây nho liền cành như thế nào. Mỗi lần uống chén máu Thầy, họ cảm thấy mạch sống dồi dào lưu chuyển khắp châu thân. Ðó là lúc họ được tháp nhập vào thân thể Ðức Kitô trọn vẹn, đến nỗi "tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi" (Gl 2:20). Người môn đệ đích thực có thể nói cuộc kết hiệp diệu kỳ đó như Ðức Giêsu nói về cuộc kết hiệp giữa Người và Chúa Cha : "Chúa Cha, Ðấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình" (Ga 14:10).
Sức mạnh đó có thể đương đầu với cái chết kinh hoàng trên thập giá. Mới đây, với sức mạnh huyền nhiệm của Ðức Giêsu, Cha Gallardo đã "từ chối mặc phẩm phục và đọc kinh Hồi giáo" để "sẵn sàng chịu đau khổ và chết vì thập giá" (VietCatholic 11/5/2000). Cuối cùng cha đã bị quân phiến loạn Hồi giáo Abu Sayyaf ở Philippines giết dã man. Sức mạnh có thể tìm thấy ngay nơi những thương tích và thất bại. Vì theo cha Gallardo, "Thiên Chúa sẽ thu lấy những mảnh vụn và từ đó làm nên một cái gì độc đáo cho chính mình" (VietCatholic 11/5/2000). Hoàn cảnh nào cũng là dịp tốt để Thiên Chúa thi thố tình yêu. Bao nhiêu công trình vĩ đại Giáo hội đã thực hiện cho nhân loại cũng bắt nguồn từ sức mạnh tình yêu đó. Hòa bình nhân loại hôm nay được xây dựng trên tình yêu, nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Trên mọi nẻo đường nhân loại hôm nay, hòa bình luôn là món quà đắt giá của tình yêu. Nói khác, TÌNH YÊU chính là tên gọi mới của HÒA BÌNH. Bởi đó, hơn lúc nào, nhân loại hôm nay cần rất nhiều nhân chứng tình yêu, từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Nhân chứng tình yêu luôn ý thức mình chỉ là cành phải dính liền với cây nho là Ðức Giêsu, Ðấng luôn sẵn sàng thông ban mạch sống Thánh Linh cho những ai quyết chí ở lại trong Người.
Lm. Giuse Đổ Vân Lực, OP
 

PS5-B64. Ở TRONG THẦY VÀ SINH NHIỀU HOA TRÁI - Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Cv 9,26-31; 1Ga 3,18-24; Ga 15,1-8
 Phúc Âm: Ga. 15, 1-8
"Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, kẻ ấy sinh nhiều trái".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Nhành nào trong Thầy không sinh trái thì Người chặt đi, còn nhành nào trong Thầy không sinh trái thì Người chặt đi, còn nhành nào sinh trái thì Người tỉa sạch để nó sai trái hơn. Các con đã được tỉa sạch nhờ lời Thầy đã nói với các con. Các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con. Cũng như nhành nho tự nó không thể sinh trái được, nếu không dính liền với cây nho; các con cũng vậy, nếu không ở trong Thầy.
"Thầy là cây nho, các con là nhành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, kẻ ấy sẽ sinh nhiều trái, vì không có Thầy, các con không thể làm được gì. Ai không ở trong Thầy, thì bị vứt ra ngoài như ngành nho, và sẽ khô héo, người ta sẽ thu lại, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu các con ở trong Thầy, và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì cứ xin, và sẽ được. Ðây là điều làm Cha Thầy được vinh hiển là các con sinh nhiều trái, và như thế các con trở nên môn đệ của Thầy".
 Suy NiỆm:
 

Chúa nhật trước là ngày Ơn Thiên Triệu, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu là vị mục tử tốt. Người đã thí: PS5-B64

Chúa nhật trước là ngày Ơn Thiên Triệu, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu là vị mục tử tốt. Người đã thí mạng sống mình vì chiên để tập họp chúng lại thành đoàn duy nhất. Người đã sai các tông đồ đi nói lời của Người để ai ai cũng có thể nghe tiếng của Người mà trở nên chiên tốt. Hôm nay, các bài Kinh Thánh chúng ta vừa nghe đọc cũng chỉ muốn nói lên các sự thật trên đây về Chúa Yêsu, các tông đồ và tín hữu để một lần nữa trong mùa Phục sinh này chúng ta hiểu biết hơn về Hội Thánh của Chúa sống lại. Nhưng thay vào hình ảnh đàn chiên của Chúa nhật trước, hôm nay để nói lên mầu nhiệm Hội Thánh, Phụng vụ có hình ảnh cây nho. Và với những bài Kinh Thánh vừa nghe đọc, chúng ta sẽ thấy Hội Thánh là dân mới, có tông đồ mới và có nếp sống mới.
 1. Dân Mới
Ai đã đọc các sách tiên tri hẳn còn nhớ trong đó có nhiều đoạn nói Thiên Chúa gọi Israel là cây nho. Ðó là giống nho Người đã chọn lọc, đem trồng nơi đất tốt, chăm sóc tận tình. Nhưng ai ngờ, thay vì sinh quả ngọt, nó đã cho toàn những trái chua, vì Israel không chịu sống trong giao ước và đã xé hàng rào đi cấu kết với tà thần; khiến Thiên Chúa phải dùng quyền xét xử, để cho cây nho của Người bị giày xéo, dân Người phải lưu vong (Os 10,1; Ys 5,1-7; Yr 2,21; Ez 15,1-8; Tv 80,9-17). Nhưng Thánh vịnh 80 hứa Chúa sẽ trồng cây nho đó lại.
Và nay Ðức Yêsu tuyên bố: Người là cây nho thật và Cha Người là người canh tác. Lời đó thật sâu xa và thấm thía đối với những ai hiểu biết Kinh Thánh. Họ phải nghĩ ngay rằng: cây nho Israel nay đã được thay thế; dân Chúa bây giờ tụ lại nơi một con người là chính Ðức Yêsu Kitô.
Và đây là cuộc thay đổi vĩnh viễn; vì những câu Tin Mừng Yoan tiếp theo cho thấy thân nho mới, thân nho đích thực sẽ muôn đời còn đó và chỉ có các nhánh là thay đổi: nhánh nào không sinh quả sẽ bị chặt, còn nhánh nào mang trái sẽ được tỉa để tốt hơn. Nói cách khác, Ðức Yêsu là Israel mới, không như Israel thay lòng đổi dạ ngày trước... Người sẽ luôn vâng phục Thiên Chúa Cha cho đến chết nên Người đẹp lòng Thiên Chúa Cha mọi đàng; và được tôn vinh để trở thành đầu hết và cuối hết của tạo vật được cứu chuộc.
Tính cách trường tồn này bảo đảm và là chính sự trường tồn của Hội Thánh là Thân Thể của Người và là dân mới của Chúa. Chính Thiên Chúa sẽ chăm sóc thân nho mới này để nó không bị những nhánh khô, nhánh dại làm cằn cỗi và hư hỏng; còn những nhánh tốt sẽ được tỉa, được chăm khiến thân nho càng thêm xum xuê hoa trái. Lịch sử của Hội Thánh vì thế nằm trong tay Chúa. Người tỉa chỗ này, Người chăm chỗ kia, để Hội Thánh của Người luôn thêm sức sống mang lại nhiều hoa quả cứu độ.
Nhưng nếu Ðức Giêsu đã là cây nho đích thực mà Thiên Chúa đã trồng để thay thế hẳn Israel ngày trước, thì ai muốn được cứu độ không những phải kết nạp với Người như nhánh nho với thân nho, mà còn phải luôn lưu lại với Người. Vì thế sau khi tuyên bố Người là cây nho đích thực và Cha Người là người canh tác, Ðức Giêsu đã khẳng định một chân lý thứ hai rằng: Người là cây nho đích thực và chúng ta là nhánh.
Tất cả bài Tin Mừng hôm nay xoay quanh hai tư tưởng. Nói đến hai thứ tương quan giữa Ðức Giêsu với một bên là Thiên Chúa Cha và bên kia là tất cả chúng ta. Với Chúa Cha, Người là cây nho và Chúa Cha là người canh tác. Với chúng ta, Người là cây nho và chúng ta là nhánh. Ðó cũng là hai mối tương quan của Hội Thánh, một với Thiên Chúa theo chiều dọc và một với loài người theo chiều ngang. Nhưng ở cả hai chiều cũng chỉ là một sự sống.
Như Ðức Giêsu là thân nho đích thực vì sự vâng phục trung tín, thì các tín hữu là nhánh nho cũng phải mật thiết trung kiên với thân nho là Ðức Giêsu. Họ có tư cách này khi lưu lại ở nơi Người, tức là giữ lời Người và vâng phục Người. Khi đó Chúa Cha sẽ "tỉa" cho họ để họ sinh nhiều trái. Người dùng lời của Người mà tỉa, tức là thanh tẩy họ khỏi các công việc chết chóc của tội lỗi khiến hoa trái công việc họ làm được dồi dào, thánh thiện. Ngược lại, nếu họ không lưu lại với Người thì sẽ như nhánh khô héo, bị chặt và đem đốt đi. Họ không còn ở trên thân cây với nhiều nhánh khác nữa.
Và như vậy rõ rệt Ðức Giêsu không những làm cho người ta được đẹp lòng Thiên Chúa, mà còn làm "môi sinh" để họ được sống kết hợp với tha nhân. Người là Ðấng nối trời với đất nhưng đồng thời cũng là vị nối các lục địa và đại dương lại với nhau để bất cứ ai ở trong Người cũng được kết hợp với Thiên Chúa và đồng thời với mọi anh chị em khác.
Hình ảnh thân nho với hai câu khẳng định Thiên Chúa là người canh tác và chúng ta là nhánh, nói lên Ðức Kitô thật là dân mới thay hẳn dân cũ. Hình ảnh ấy cũng có thể gợi lên cây thập tự mà Ðức Giêsu đã leo lên để chịu đóng đinh hầu hòa giải Thiên Chúa với loài người và loài người với nhau. Cuối cùng nó đưa chúng ta đến ý tưởng Ðức Giêsu đã trở thành chất rượu nho để ký kết giao ước mới và vĩnh cửu. Và như vậy hình ảnh thân nho càng trở nên phong phú vì nó bảo chúng ta hãy nhìn vào nhựa sống mang bình an và cứu độ của Thiên Chúa đến cho tất cả loài người ở nơi thân thể Ðức Giêsu để chúng ta được sai hoa kết quả và làm thành dân mới của Thiên Chúa.
2. Tông Ðồ Mới
Phaolô được gọi làm tông đồ của dân mới này. Người từ Ðamas trở về Yêrusalem sau khi đã ngã ngựa và trở nên con người mới. Ông đã kết hợp mật thiết với Chúa và bây giờ tìm cách ra mắt các tông đồ và kết hợp với anh em. Nhưng ai cũng sợ ông. Người ta nhớ ông trước đây hung hăng đi bắt các tín hữu. Bây giờ ông đã quả quyết đã trở lại và muốn sát nhập dân Chúa. Người ta vẫn nghi ngờ. Làm sao biết chắc được bụng ông? Nếu ông không thật lòng tin Chúa thì làm sao có thể kể ông vào số tín hữu, cho dù lúc này ông khiêm tốn và khẩn khoản nài xin tình anh em? Không, dân mới không phải là xã hội loài người. Dân mới là Ðức Yêsu Kitô. Người là cây nho đích thực; có lưu lại nơi Người mới là nhánh ở giữa bao nhánh khác. Saolô đã chứng tỏ phải thật sự kết hợp với Ðức Yêsu.
May có Barnabas, con người được mệnh danh là kẻ hay nâng đỡ. Chính ông đã bán ruộng, đem tiền đến cho các tông đồ để chia sẻvới anh em túng thiếu (4,36). Barnabas đưa Saolô đến trình diện các tông đồ và thuật lại câu chuyện trên đường Ðamas cũng như việc người Dothái ở đó định tâm hại người; vì trở lại đạo xong, Saolô đã nhiệt tình rao giảng Danh Chúa đến nỗi bị họ ghen ghét. Chính sự kiện này làm cho các tông đồ tin vào biến cố xảy ra trên đường. Saolô đã phải chịu khổ vì Ðức Giêsu thì người ta phải tin lòng mến Chúa ở nơi người, khiến "từ đó người được ra vào đi lại với cộng đoàn tức là Giáo hội ở Giêrusalem".
Câu truyện của Saolô như vậy đã giúp chúng ta hiểu hơn bài học của đoạn Tin Mừng Gioan. Hội Thánh, dân mới của Chúa là nơi xum họp hiệp thông của những ai tin tưởng vào Chúa. Các tín hữu ở Giêrusalem chỉ nhận cho Saolô được ra vào sinh hoạt với cộng đoàn của mình khi đã chắc chắn ông là người đã tin Chúa đến nỗi sẵn sàng hy sinh cả sự sống vì Người.
Nhưng câu truyện của Saolô hôm nay cũng còn nói lên một ý nghĩa khác nữa. Nó muốn làm chứng Lời Chúa nói với Ananias và Saolô khi sai ông đi gặp kẻ trước đây hung hăng lùng bắt các tín hữu của Chúa (9,18); "Ta sẽ tỏ cho nó biết tất cả những gì nó phải chịu vì Danh Ta". Quả vậy, cuộc đời của Saolô, từ ngày theo Chúa, dường như không bao giờ hết khổ. Tại Ðamas ông đã gặp thù hằn. Về Giêrusalem ông gặp nghi ngờ rồi hằn học. Sau này đi đâu ông cũng thấy vất vả cho đến lúc thí mạng vì Hội Thánh. Nhưng tất cả là vì Danh Chúa Giêsu, đúng như Người đã nói trước về số phận những kẻ được gọi làm tông đồ.
Tuy nhiên cũng đúng như lời Người nói trong bài Tin Mừng: đó là những cuộc đời "sai hoa" kết quả. Saolô gặp khó khăn, chống đối, bắt bớ, nhưng sách Công vụ kể: Hội Thánh được bình an... tài bồi thêm nữa, tiến đi trong sự kính sợ Thiên Chúa và tràn trề sự an ủi của Thánh Thần. Không hiểu như vậy, những lời sách Công vụ các Tông đồ vừa viết sẽ không đúng chỗ. Vừa nói đến việc Saolô bị hăm dọa, sách đó nói ngay Hội Thánh được bình an. Theo lý luận của loài người thì không thể như thế được. Nhưng với con mắt đức tin, tác giả sách Công vụ thấy rõ: ở đâu có thánh giá ở đấy có ơn cứu độ; và môn đệ được như Thầy là tốt rồi...
Chúa có đòi tất cả chúng ta như vậy không?
 3. Ðời Sống Mới
Thiên Chúa không thiên vị ai. Và Ðức Giêsu đã nói với hết mọi người rằng: ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá của mình hằng ngày mà theo Ta. Thế nên phải đi qua đau khổ để đạt tới ơn cứu độ và kết hợp với Ðức Kitô.
Tuy nhiên không phải hết mọi người được ơn gọi tử đạo như Saolô. Ða số chúng ta chỉ cần vác thập giá hằng ngày của mình là vượt qua mọi trở lực để giữ lệnh truyền của Chúa như bài thư Yoan hôm nay khuyên nhủ.
Lệnh truyền của Chúa, Yoan viết rõ, có hai điều: tin vào Danh Ðức Giêsu và yêu mến tha nhân như Người dạy. Có lẽ chúng ta tưởng mình đã giữ trọn điều trước vì tất cả chúng ta đều là tín hữu, nghĩa là đã tin vào Danh Ðức Giêsu từ lâu, nếu không phải là từ bé. Nhưng Gioan bảo: muốn biết có thật như vậy không, tức là muốn biết lòng tin của mình có chân thật không, thì phải xem mình có yêu mến anh em không? Bởi vì như bài Tin Mừng đã nói, ai thuộc về Chúa cũng phải kết hợp với anh em. Thành ra không phải vô lý mà Gioan trong bài thư hôm nay dường như chỉ khuyên giáo dân của người phải yêu mến anh em, cả bằng việc làm thật sự chứ không nguyên bằng lời nói và bằng đầu lưỡi. Chính thái độ yêu thương anh em thật sự bằng việc làm chứng tỏ chúng ta có lòng tin đích thực kết hiệp với Chúa. Thế mà ai lại không biết rằng đời sống bác ái huynh đệ đòi nhiều cố gắng hy sinh để lướt thắng những khuynh hướng ích kỷ tự nhiên? Ðức Giêsu cũng như thánh Phaolô đã chịu khổ nhiều, chẳng vì lòng yêu mến loài người sao?
Nhưng khi có lòng yêu mến ấy, thì theo lời thư Gioan, chúng ta hãy trấn tĩnh ở trước nhan Chúa, cho dù lương tâm có cáo chúng ta về những tội khác, bởi vì ai thương xót sẽ được xót thương và bác ái phủ lấp được nhiều tội lỗi. Và không lẽ nào Chúa không ban ơn để con người có lòng bác ái sẽ dần dần được lương tâm trong trắng: họ là nhánh nho sinh quả thì chắc chắn sẽ được Chúa Cha là người canh tác tỉa cho, để sinh quả nhiều và tốt hơn. Lúc ấy, họ cầu nguyện gì mà không được bởi vì Chúa đã ban Thánh Thần để Người giúp họ cầu nguyện. Và như vậy, chính thái độ yêu thương anh em đã giúp người ta kết hợp chặt chẽ hơn với Chúa.
Kết hợp với Chúa và yêu thương anh em là chiều dọc và chiều ngang của đời sống tín hữu. Ðó là cây thánh giá vẽ trên con người và đời sống của họ. Hai việc ấy làm chứng họ thuộc về Ðức Kitô và là môn đệ tốt của Người vì chính Người đã tự ví mình như thân nho có hai chiều: một nhờ Chúa Cha chăm sóc và phó mình ở trong tay canh tác của Người; và hai là ban sự sống và hoa trái cho những nhánh lưu lại ở với Người. Thánh Phaolô đã làm gương sáng cho chúng ta và thánh Yoan đã giải thích cho chúng ta hiểu vì sao đời sống mới phải lệnh truyền của Chúa là tin vào Danh Ðức Giêsu và yêu thương anh em.
Giờ đây chúng ta sắp được tiếp xúc với chén rượu nho, là máu của Ðấng bị treo trên thánh giá. Chúng ta nhớ đến Ðức Yêsu là cây nho đích thực. Uống chất nho này chúng ta phải nhớ tận hiến đời mình trong tay Thiên Chúa là người canh tác và chăm nom cây nho mới là Hội Thánh Chúa. Và chúng ta phải nhớ kết hợp với anh em như những nhánh của cùng một thân nho, để dân mới không bao giờ thiếu tông đồ mới và đời sống mới.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
 

PS5-B65. TÔI VAN XIN MỘT LẦN CUỐI...

 “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 4-5).
 

Lời Chúa thật tha thiết nồng nàn. Như một lời van xin! Vì thiết tưởng câu nói nầy không hiểu ở thể sai: PS5-B65

Lời Chúa thật tha thiết nồng nàn. Như một lời van xin! Vì thiết tưởng câu nói nầy không hiểu ở thể sai khiến, mà là câu yêu cầu. Một yêu cầu phát xuất từ lòng yêu thương.
“Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em”. Một cách hiểu khác, là Thầy vẫn có đó, Thầy vẫn ở đó trong anh em, nhưng thầy van xin anh em ở lại trong Thầy. Một tương quan song phương không cân đối nếu chỉ có một bên thấu đạt được vấn đề. Biết thế, nhưng ước muốn của Chúa Giêsu vẫn để cho tôi, cho bạn một sự tự do chọn lựa đồng ý hay không đồng ý, kết hiệp hay không kết hiệp. Ước muốn ấy còn khẩn thiết hơn bằng một lời hứa quyết liệt: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái”, và một cảnh tỉnh: “vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được”.
Đọc đi đọc lại lời nầy, tôi bỗng nhớ có lần anh bạn bại liệt của tôi từng nói sau  phút xuất thần trước ảnh Chúa Thương Xót: “ H ơi, mỗi lần anh đọc đoạn Tin Mừng nầy, anh nghe như Chúa Giêsu đang hát cho anh nghe với tất cả tấm lòng, diễn cảm qua đôi tay run lên đưa trước mặt anh, giọng kêu gào tha thiết: “Tôi van em, tôi van em một lần cuối... Hãy ở lại trong tôi... để tôi làm cho em được hạnh phúc tràn đầy.”
Chúa Giêsu muốn chúng ta kết hiệp với Ngài để chúng ta được hạnh phúc thật. Hoa trái mà Chúa Giêsu muốn cho tôi, cho bạn trổ sinh, không chỉ là hoa trái hạnh phúc thật của một cuộc sống viên mãn đời sau, mà còn là một hạnh phúc thật ngay trong cuộc sống đời nầy khi ngộ ra được rằng  tất cả những gì mình đang có đều nhờ bởi ơn Chúa. Và khi nhận ra chân giá trị hữu hạn của những gì thuộc về cõi đời tạm này, thì tự chúng ta sẽ cởi trói cho mình để được tự do mà kết hiệp với những gì là vĩnh cửu.
Chúa Giêsu muốn chúng ta kết hiệp với Ngài bằng một tâm tình đơn sơ phó thác. Ngài muốn chúng ta cùng Ngài đi hết hành trình đời người, và đi theo con đường Ngài đã đi. Có thể chúng ta rất kinh hoàng và không dám kết hiệp với Ngài, vì kết hiệp với Ngài là kết hiệp với những khổ đau bất hạnh. Nhưng, khi đã bằng lòng kết hiệp với Ngài, thì những khổ đau bất hạnh trong đời trở thành niềm vui, niềm vinh dự và hạnh phúc. Một điều ngược đời là, khi chúng ta không kết hiệp với Ngài, ta cứ tưởng là ta sẽ tìm được thoải mái hạnh phúc, nào ngờ, ta còn gặp đau khổ hơn, thất vọng hơn và không có lối thoát hiểm.
Chúa Giêsu muốn chúng ta kết hiệp liên lỉ với Ngài, như cành nho không ngừng kết hiệp với thân nho. Nhựa sống thân nho làm cho cành nho tươi tốt thế nào, thì nguồn ơn của Thiên Chúa tuôn trào cho chúng ta qua Chúa Giêsu cũng dồi dào thế ấy. Sự kết hiệp liên lỉ với Chúa Giêsu đòi hỏi thể hiện cùng một lúc cả ba nhân đức đối thần tin, cậy, mến cách tuyệt đối. Một đức tin lưng chừng, một đức cậy trục lợi, hay một đức mến mơ hồ, không thể đưa ta đến sự kết hiệp toàn bích và lâu bền. Đó cũng là lời giải thích cho chúng ta hiểu lý do sự kết hiệp giữa tâm hồn ta và Chúa Giêsu sao cứ lình xình mãi, lúc thế nầy, lúc ra thế nọ! Tất cả lý do nằm về phía chúng ta, những con người hay thay lòng đổi dạ, hay nghiêng về cái thực tại hấp dẫn trước mắt mà quên rằng, cành nho không thể lìa cành nho trong giây lát!
Đem những suy niệm vào đời sống thực tế hôm nay, có thể thấy, Lời Chúa vẫn thiết thực, vẫn mới keng như ngày nào Chúa nói với các môn đệ, nếu không nói là càng lúc càng khẩn thiết hơn. “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy”
                Đến bao giờ con người mới thấy cần có Chúa?! Những con người không tin có Thiên Chúa vẫn đang loại trừ Chúa ra khỏi cuộc sống mình, đã đành, mà cả những con cái Chúa, vẫn mù mờ mơ hồ giữa cái cần có và cái thích có. Thích có một cuộc sống hạnh phúc mà không cần có sự can thiệp của Thiên Chúa quả là một ý tưởng điên rồ.
                Vậy mà, ý tưởng điên rồ ấy lại được viết thành cả kho sách giáo dục cho một thế hệ không cần có Thiên Chúa, cắt đứt mọi quan hệ với Thiên Chúa và khẳng định với hậu duệ rằng tự sức chúng ta làm ra tất cả!
                 Thiết tưởng, Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho mọi gia đình công giáo về việc đặt lại một nền tảng đức tin, cậy, mến đối với chính các bậc làm cha mẹ và nhất là người trẻ, cho xứng với danh xưng con cái của Thiên Chúa. Người trẻ được giáo dục tại các nhà trường từ bé đến lớn đều không mảy may đề cập đến Thiên Chúa theo chiều hướng hữu thần, mà ngược lại, theo chiều từ chối sự can thiệp của Ngài vào trong tất cả mọi lãnh vực. Đối với họ, không chỗ nào có Thiên Chúa. Tòa án không Thiên Chúa. Bệnh viện không Thiên Chúa. Nhà trường không Thiên Chúa.... Và nhất là lòng người cũng không có Thiên Chúa! Thế rồi, người trẻ của Thiên Chúa bước vào cuộc đời giữa cái mơ hồ hỗn độn, lao đầu vào cuộc kinh tế chính trị xã hội không cần có sự can thiệp nào của Thiên Chúa, của lề luật Thiên Chúa... Và họ đang lao đầu vào chỗ diệt vong mà không hay không biết! Vì, “cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho”.
                Một bà mẹ dặn con trước khi đi học: “Con nhớ thinh lặng một phút đầu giờ học  nhé”. - “Chi thế Mẹ?” - “Nhớ đến Chúa, xin Chúa giúp con”. Một cuộc điện thoại của Bố gọi cho con: “Bằng cấp chưa đủ! Vốn liếng chưa đủ! Con nhớ cầu nguyện thì công việc của con mới thành đạt được”.  Tôi vẫn nhớ ông bà, cha mẹ  ngày xưa hay dặn dò và tập cho anh em chúng tôi ý thức cần đến Chúa, nhớ đến Chúa bằng cách dâng những lời nguyện tắt liên lỉ trong mỗi công việc. Và ngày nay, nhiều anh em vẫn hỏi ý kiến Chúa trước khi thực hiện việc gì, để đẹp ý Chúa. Giờ kinh tối sáng tại các gia đình vẫn là một truyền thống tốt đẹp để gợi lên trong gia đình một chương trình kết hiệp cành nho với thân nho. Truyền thống ấy nay đâu? Không phải vì người trẻ lười biếng, mà có khi lại do người lớn không có chương trình!
Chúa Giêsu đang van xin một lần cuối: Hãy ở lại trong Ngài...
.....
Lạy Chúa, chúng con cần có Chúa, chúng con cần sự can thiệp của Chúa trong hành trình đời người chúng con. A men.
Pm. Cao Huy Hoàng
 

PS5-B66: NGƯỜI KITÔ HỮU SINH HOA TRÁI TRONG CHÚA KITÔ

Ga 15, 1 - 6
 

Người trồng cây mong được ăn trái. Muốn cây có trái, người ta phải lắm công phu chăm sóc: PS5-B66

Người trồng cây mong được ăn trái. Muốn cây có trái, người ta phải lắm công phu chăm sóc. Không phải cây cứ xanh tốt lớn mạnh là có trái. Có những cây xum xuê cành lá, nhưng đến ngày mùa thu hoạch thì chẳng thấy được trái nào. Xanh tốt như thế không phải là thành công, nhưng là thất bại. Cũng vậy, một cây nho muốn có nhiều hoa trái cần phải có hai điều kiện. Một là cành nho phải liên kết với cây. Cành nho không liên kết với cây nho, không thể sinh hoa trái. Cành nho không liên kết với cây nho thì dòng nhựa nuôi dưỡng thân cây bị tắc nghẽn. Sâu bọ đục khoét làm cho cành cây bị thương tổn, không còn tiếp nhận được nguồn nhựa sống của thân cây truyền sang. Chỉ khi cành nho kết hiệp chặt chẽ với cây, dòng nhựa từ thân cây mới truyền sang cành, cho cành trổ sinh hoa trái. Hai là cành lá nho phải được cắt tỉa. Ai đã trồng cây thì biết cành lá phải được cắt tỉa thế nào. Nếu cứ để cành lá cây nho phát triển tự do, cây sẽ xanh tươi xem rất đẹp mắt nhưng không có trái nho nào cả. Muốn cây nho có quả, phải tỉa bớt cành lá. Việc cắt tỉa làm cho dòng nhựa không bị phân tán, nhưng tập trung vào những cành chính, dồn vào cho hoa sung sức, cho quả đầy đặn.
Như cành gắn liền với thân cây nho mới sống được và sinh hoa trái. Nếu cành nào tách rời khỏi thân cây nho, sẽ khô héo và cho vào lửa. Cũng vậy, người tín hữu phải sống kết hợp với Chúa Kitô mới có sự sống của Thiên Chúa và được sống đời đời, nếu không, sẽ chết đi và bị quăng vào lửa.
Như cành nho phải liên kết với thân nho mới sinh hoa kết quả, ta phải liên kết mật thiết với Đức Giêsu. Người là nguồn cội sự sống của chúng ta. Tách lìa Người, chúng ta không thể sống, càng không thể phát triển được. Người là dòng sông ân sủng. Khi ta kết hiệp với Người, ân sủng tuôn đổ vào cuộc sống, làm cho chúng ta được vui sống và sống sung mãn. Sự kết hiệp mật thiết với Chúa làm cho chúng ta sống sự sống của Người, nói lời nói của Người, hành động theo gương của Người, phán đoán theo chuẩn mực của Người, nhìn con người và sự việc bằng cặp mắt của Người, yêu thương bằng trái tim của Người. Khi sự kết hiệp đã đến mức hoàn hảo, chính Người hành động qua ta và vì thế, những hoa trái sẽ vô cùng phong phú. Vì vậy, mối liên hệ giữa Chúa Giêsu và các Kitô hữu là mối liên hệ mật thiết đến nỗi cả hai trở nên như một, vì cùng sống chung một sự sống. Chúa Kitô và các Kitô hữu tạo thảnh một cộng đồng sự sống, như các chi thể trong một thân thể mà thánh Phaolô gọi là "nhiệm thể, hay thân thể mầu nhiệm" của Chúa Kitô. Trong nhiệm thể ấy, các chi thể liên kết với nhau và liên kết với một đầu như các cành nho liên kết với thân cây nho và một góc nho. Cũng như nhựa sống lưu thông từ góc nho đến các cành cây, thì sự sống của Thiên Chúa cũng được chuyển đến các chi thể như trong một thân thể. Như thế, các Kitô hữu được gắn với nhau vào một góc là Chúa Giêsu: "Anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em"
Phải chịu cắt tỉa. Cành nho muốn sai trái phải chịu tỉa bớt những cành lá rườm rà. Cũng vì thế, con người chúng ta cũng phải để Chúa cắt tỉa những gì dư thừa cản trở ơn thánh sinh hoa kết quả. Phải cắt tỉa những ý muốn riêng tư để chuyên tâm tìm thánh ý Thiên Chúa. Phải cắt tỉa những hình thức bề ngoài để chìm vào nội tâm sâu lắng. Phải cắt tỉa những phô trương quyền lực để mặc lấy tâm tình đơn sơ khiêm nhường. Chúa cắt tỉa chúng ta bằng những thất bại ta gặp phải. Chúa huấn luyện ta bằng những lời phê bình chỉ trích của những người chung quanh. Chúa mài giũa chúng ta bằng những hiểu lầm nghi kỵ của người khác. Chúa đào tạo chúng ta trong những phản bội của người thân tín. Việc cắt tỉa làm cho ta đau đớn, nhưng đem lại những lợi ích vô cùng phong phú.
Một điểm khác cũng được Chúa Giêsu nhấn mạnh ở đây, đó là"Cành nho phải sinh hoa trái". Người Kitô hữu không chỉ gắn với thân cây mà còn sinh hoa trái nữa. Bởi vì, không thiếu những cành gắn chặt với cây mà không sinh trái nào. Những cành đó sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa. Không sinh trái là bằng chứng không còn "Ở trong Thầy" , không còn kết hợp với Thầy, mặc dầu bên ngoài vẫn là một cây "xanh rờn" ! Sinh hoa kết quả dồi dào mới trở thành người môn đệ thật của Thầy. Hình ảnh có thể làm cho chúng ta sửng sốt. Đâu phải đợiđến khi bị liệt vào hạng khô khan, nguội lạnh hay phạm những tội tầyđình mới bị loại khỏi cộng đoàn của Chúa. Sự sống từ Chúa Giêsu chi có thể là sức sống, làm nở hoa kết trái. chỉ có hai trạng thái: sinh trái hoặc không sinh trái, không có trạng thái thứ ba, hiểu theo nghĩa "cầm hơi hay cầm chừng". Người Kitô hữu trở thảnh môn đệ của Chúa Kitô bằng chính việc sinh nhiểu hoa trái và Thiên Chúa được tôn vinh cũng bằng chính việc người Kitô hữu sinh nhiều hoa trái. Chúa Giêsu đã khẳng định: "điều làm Chúa Cha được tôn vinh là anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy".
Thế nào là sinh hoa kết trái? chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời ngay trong bài đọc 2 hôm nay, Thánh Gioan nói: " ai tuân giữ giới răn của Thiên Chúa thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong kẻ ấy, và giới răn của Thiên Chúa là tin vào Danh Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài, và yêu thương nhau như Ngài đã truyền dạy". Thánh Gioan còn căn dặn: "Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thật sự bằng việc làm" (1Ga 3, 18). Do đó, chúng ta có thể hiểu được rằng, "sinh hoa trái" là yêu thương một cách hữu hiệu, bằng việc làm có sức biến đổi môi trường chung quanh, tạo sự hạnh phúc cho người khác. Phải phục vụ thật lợi ích của anh em, thì mới nói được rằng chúng ta đang ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong chúng ta. Chỉ có tình thương yêu đích thực, thực từ trong lòng ra hành động, mới là tình yêu thương hiệp nhất, hiệp nhất chúng ta nên một với anh em, hiệp nhất chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô là " cây nho Chúa Cha trồng tỉa" để sinh nhiều hoa thơm trái ngọt.
Hình ảnh của sự cắt tỉa còn gợi lên sự mất mát, đau đớn. Thế nhưng, mất mát dẫn đến thắng lợi, khổ đau dẫn đến vinh quang, sự chết dẫn đến phục sinh. Đó là bài học xuyên suốt cuộc đời, lời rao giảng và cái chết của Chúa Giêsu. Nhựa sống từ cây nho là Chúa Giêsu đã không ngừng nuôi sống Giáo Hội. Với cái nhìn đức tin, người ta vẫn nhìn thấy cái được trong cái mất, qua việc trở lại với những giá trị của Tin Mừng, Giáo Hội cởi bỏ được chiếc áo của quyền lực và hào nhoáng, để mặc lấy tinh thần phục vụ, khiêm tốn, đơn nghèo. Sự hoán cải của nhiều Kitô hữu trở thành con đường cho những người thành tâm thiện chí của người cần gặp Chúa Kitô. Giáo Hội sinh nhiều con cái là nhờ các chi thể của mình là những cành nho luôn được cắt tỉa.
Như cành liền cây mới sống được và phải cắt tỉa mới sinh nhiều hoa trái, Người Kitô hữu phải sống nhờ Chúa Kitô, với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô mới có thể sống như Chúa Kitô, sống cho Thiên Chúa và cho mọi người anh em. Đó là đòi hỏi căn bản của đời sống Kitô hữu. Chúng ta yêu thương mọi người một cách chân thành, và giúp đỡ họ thỉ chúng ta là người ở trong Thiên Chúa, kết hợp với Chúa Kitô, mới thật là cành nho gắn liền với cây nho. Chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Người sống kết hiệp mật thiết với Đức Chúa Cha. Sự kết hiệp ấy được diễn tả qua việc Người chuyên tâm cầu nguyện và luôn luôn làm theo ý Chúa Cha. Người đã để cho Chúa Cha cắt tỉa khi Người từ bỏ ý riêng, nhận uống chén đắng, nhận vác thập giá, nhận lấy cái chết tủi nhục. Chính vì thế, Người đã sinh hoa trái dồi dào nuôi sống tất cả chúng ta. Chính vì thế, Người đã trở nên gốc nho sung mãn sự sống để chuyển thông cho chúng ta.
 Lạy Chúa Giêsu là Cây Nho thật, xin cho chúng con biết kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin hãy cắt tỉa những gì vô ích trong chúng con, để chúng con sinh nhiều hoa trái tốt như lòng Chúa mong ước. Amen.
 

PS5-B67. Xây Dựng Giáo Hội – Jean-Yves Garneau.

MỘT HỢP ĐỒNG KHÁC HẲN.
 

Trong sách Tông đồ Công vụ, người ta kể lại rằng nhờ hoạt động của thánh Phaolô và các môn: PS5-B67

Trong sách Tông đồ Công vụ, người ta kể lại rằng nhờ hoạt động của thánh Phaolô và các môn đệ khác, “Giáo Hội (sơ khai) được xây dựng, tiến triển và lớn lên” trong tất cả vùng Giuđê, Galilê và Samari. Khi đọc những dòng này, chúng ta không nên chỉ nghĩ về quá khứ mà thôi; chúng ta cũng phải xem hiện tại nữa vì ngày nay Giáo Hội còn phải được xây dựng. Và chính chúng ta theo gương thánh Phaolô và các môn đệ đầu tiên, phải là các nghệ nhân của việc xây dựng này. Thiên Chúa chờ đợi chúng ta xây dựng Giáo Hội của Ngài.
Lời mời gọi bắt tay vào việc và hiến dâng tất cả năng lực của chúng ta để cộng tác vào việc xây dựng Giáo Hội, lời đó chúng ta đã thường được nghe, nhất là từ Công đồng Vatican II.
Phải thú nhận rằng lời mời gọi đó khiến chúng ta hơi khó chịu một chút. Quả thật, chúng ta ít có thói quen xây dựng Giáo Hội. Hồi trẻ, người ta đã không thực sự dạy chúng ta truyền đạt cho kẻ khác đức tin và niềm hy vọng của chúng ta. Người ta đã không khai tâm chúng ta để trở thành thừa sai và chứng nhân trong một môi trường ngày càng không biết đến Thiên Chúa hoặc ở đó người ta thường sống như thể không có Ngài. Làm gì đây, phải hành động thế nào để xây dựng Giáo Hội tại nơi này và hôm nay? Những bài Thánh Kinh chúng ta vừa nghe đã mang đến lời giải đáp cho câu hỏi này, chúng thu hút sự chú ý của ta về nhiều điểm quan trọng. Chúng ta sẽ ghi nhận ba điểm.
1. Tin vào Chúa Kitô và lưu lại nơi Ngài.
Để xây dựng Giáo Hội, trước hết phải tin vào Chúa Kitô. Người ta sẽ nói đó là chuyện hiển nhiên rồi. Có lẽ. Tuy nhiên, ta hãy nhớ rằng đức tin mà thánh Gioan nói đến không phải chỉ là chấp nhận sứ điệp của Chúa Kitô và những chân lý mặc khải trong trí mà thôi. Phải làm hơn thế nữa. Đó là gắn bó với Chúa Kitô. Đó là hiệp thông với Ngài. “Ai lưu lại nơi Thầy và Thầy lưu lại nơi người đó, kẻ ấy mang nhiều hoa trái” (Ga 15,5).
Thánh Phaolô, vị tông đồ vĩ đại đã chăm lo rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, một ngày nọ đã được Chúa Kitô thu hút và đã hiến dâng mình cho Ngài. Thánh Phêrô, Andrê, Giacôbê, Gioan và những vị khác trong nhóm Mười Hai cũng đã say mê Chúa Giêsu và họ đã từ bỏ mọi sự vì Ngài. Họ đã sống nhờ Ngài, trong Ngài… bởi Thần Khí của Ngài. Vậy nên, hết thảy họ đều là những kẻ xây dựng Giáo Hội cách tuyệt vời vào thời đại của họ. Bao giờ cũng thế thôi. Những kẻ lưu lại nơi Chúa Kitô sẽ làm được nhiều việc cho Ngài và cho Giáo Hội của Ngài.
2. Thương yêu nhau.
Điều kiện thứ nhì để xây dựng Giáo Hội được nêu lên trong thư thứ nhất của thánh Gioan: Đó là “thương yêu nhau như Chúa Kitô đã căn dặn chúng ta” (1Ga 2,23). Có sự mâu thuẫn rõ rệt khi muốn xây dựng Giáo Hội mà không thương yêu nhau, vì Giáo Hội là nơi của tình hữu nghị, nơi mà những con người –tứ xứ và hết thảy đều có những đức tính tốt và tật xấu- tụ họp nhau lại và nhận nhau là anh em. Không những chỉ bằng lời nói (điều này bao giờ cũng dễ dàng), nhưng trong sự thật.
Mỗi lần tình yêu thương giữa chúng ta lớn lên và được phát triển –tình yêu thương cụ thể được biểu hiện trong việc đón tiếp kẻ khác, trong việc thông cảm với kẻ khác, tha thứ cho kẻ khác…- thì chính Giáo Hội lớn lên và được phát triển.
3. Dám mạo hiểm.
Điều kiện thứ ba để góp phần xây dựng Giáo Hội: dám mạo hiểm. Ở đây, ta phải nhờ gương thánh Phaolô tông đồ. Ngài biết lên tiếng, dám lên tiếng ngay cả khi điều đó không làm hài lòng mọi người. Ngài không sợ tự khẳng định mình ngay cả khi ngài chắc chắn rằng sự can thiệp của ngài sẽ gây khó khăn cho ngài. Những người Do Thái nói tiếng Hy lạp, đã tranh luận với ngài tại Giêrusalem, tìm cách thủ tiêu ngài, sách tông đồ Công vụ (9,29) kể lại cho chúng ta như thế. Có bao giờ chúng ta dám mạo hiểm… dù là trong những điều rất nhỏ, nhân danh Chúa Kitô… vì quyền lợi và sự phát triển của Giáo Hội Ngài không?
Tóm lại, chúng ta phải xây dựng Giáo Hội và phải có ít nhất ba điều kiện để làm việc đó: kết hợp với Chúa Kitô, thương yêu nhau và đôi khi dám mạo hiểm. Và bây giờ, chúng ta hãy tự hỏi: chúng ta có phải là những người tích cực xây dựng Giáo Hội trong môi trường sống của mình không?
 

PS5-B68. Cây nho và nhánh.

(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’ – Radio Veritas Asia)
 

Mở đầu cho vở kịch mang tên: "Chiếc hài bằng Satin" của Paul Rolden, một văn thi sĩ người: PS5-B68 chuyện

Mở đầu cho vở kịch mang tên: "Chiếc hài bằng Satin" của Paul Rolden, một văn thi sĩ người Pháp đầu thế kỷ XX là một cảnh thật xúc động. Một trận cuồng phong bỗng dưng kéo dài tới nhận chìm chiếc tàu đang di chuyển đơn độc giữa đại dương. Chiếc tàu vỡ nát và mọi người trên tàu đều bị mất tích, ngoại trừ một vị thừa sai sống sót nhờ cột chặt người vào chiếc cột buồm.
Nhận thấy chiếc cột buồm đang chồm nổi với cơn sóng ác nghiệt và mình cũng đang gần kề cái chết, vị thừa sai đã dâng lên Chúa lời cầu nguyện như sau: "Ôi lạy Chúa, con xin cám ơn Chúa đã cho con đón nhận cái chết như thế này. Cuộc đời con không ít lần con cảm thấy lời dạy của Chúa quá khó khăn và con đã cưỡng lại lời mời gọi của Chúa. Giờ đây con đang gần Chúa hơn lúc nào hết, thân thể con đang bị trói chặt vào chiếc giá gỗ và con sắp chết trên chiếc giá gỗ này. Con có thể tháo gỡ thân thể con khỏi sự trói buộc, nhưng con không muốn, vì sự trói buộc sẽ cho con cảm giác được gần và giống Chúa hơn".
Anh chị em thân mến!
Được gần và giống Chúa, được hiệp nhất với Chúa, không đơn thuần chỉ là những ước mơ trong cuộc sống của người Kitô hữu, mà chúng là những điều kiện căn bản cho sự sống Kitô hữu như lời Ngài dạy cho chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.
Anh chị em thân mến!
"Vườn nho" hay "cây nho" là hình ảnh quen thuộc của Kinh Thánh Cựu Ước. Vườn nho được ví là nhà Israel. Các tiên tri lớn như Isaia, Giêrêmia, Ézekiel đều nhìn mối liên lạc giữa người trồng nho và cây nho để nói lên sự quan tâm của Giavê Thiên Chúa đối với dân Ngài, cũng như để khiển trách dân tộc Israel vì vườn nho đã trở nên hoang tàn, dây nho biến thành dây nho dại không còn sinh hoa kết trái.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng lấy hình ảnh "cây nho" để ví Ngài như là cây nho: "Thầy là cây nho thật và Cha Thầy là người trồng nho". Vườn nho của Thiên Chúa phát xuất từ một gốc duy nhất là Chúa Giêsu. Ngoài Ngài không có sự sống: "Thầy là cây nho, các con là ngành". Ngành không thể sống, nếu tách lìa xa thân cây.
"Ở trong Thầy và Thầy ở trong các con", đó là điều mà Chúa Giêsu không ngừng nhắc đi nhắc lại. Cần thông hiệp với Ngài để có sự sống. Tuy nhiên, một khi đã có sự sống từ thân chuyển sang thì ngành cần phải sinh hoa trái. Sinh hoa trái sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa, và đây cũng là điều kiện cho ngành tồn tại. Ngành nào không sinh trái sẽ bị chặt đi ném vào lò lửa. Muốn được sinh hoa trái, ngành nho phải được cắt tỉa. Chẳng có sự cắt bỏ nào mà không gây đau đớn, dù cho phần cắt tỉa chỉ là phần thừa thãi tác hại đến cơ thể. Thế nhưng, chẳng thấy được hoa trái nếu không chấp nhận sự đau đớn của việc cắt tỉa. Chắc hẳn người trồng nho sẽ đau lòng khi cắt tỉa, sẽ xót xa vì phải bỏ đi những phần không sinh lợi, nhưng vì lợi ích của cây nho nên chẳng thế nào làm khác đi được.
Khi thông hiệp vào Đức Kitô, đời sống của người môn đệ sẽ được cắt tỉa nhờ lời của Ngài. Lời của Ngài sẽ đặt các môn đệ trước những quyết định chọn lựa. Chọn lựa con đường hẹp nhọc nhằn, chọn lựa Thập Giá khổ đau. Những hy sinh đau đớn ở đời này sẽ mang lại phần thưởng mai sau. Và những hy sinh ấy tạo cho họ có cơ hội để được trở nên giống Thầy: "Họ ở trong Thầy và Thầy ở trong họ".
Thật thế, mọi đau khổ sẽ trở nên phí phạm, nếu không hướng về Thập Giá Đức Kitô, nguồn ơn cứu độ. Cắt tỉa chỉ là cắt bỏ, nếu không nhằm mục đích sinh hoa trái. Mọi hy sinh của người tín hữu cũng sẽ không mang lại hoa trái, nếu từ đầu không vì Đức Giêsu.
Lạy Chúa Giêsu, Ngài là cây nho đích thực. Xin cho chúng con luôn gắn chặt và hiệp thông với Chúa, để được hưởng nguồn sức sống dồi dào từ Ngài. Chúng con vẫn biết rằng, một khi gắn chặt với Chúa, chúng con sẽ phải đón nhận sự cắt tỉa, phải chấp nhận hy sinh. Xin cho chúng con xác tín rằng: cần phải có hy sinh để mang lại hoa trái. Đó là điều làm vinh hiển cho Cha, Đấng ngự trên trời. Amen.
 

PS5-B69.  CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ga 15, 1- 8
"Thầy là cây nho, chúng con là cành, ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái" . (Ga 15,5)
 

Qua bài Tin Mừng này, ta hết sức cảm phục Chúa Giêsu, vì cách Người dùng hình ảnh thật: PS5-B69

Qua bài Tin Mừng này, ta hết sức cảm phục Chúa Giêsu, vì cách Người dùng hình ảnh thật giản dị, dễ hiểu, để diển tả một mầu nhiệm vừa cao cả, lại vừa hết sức trừu tượng; để nói về mối liên kết chặt chẽ phải có giữa người Kitô hữu với Chúa Giêsu, Người dùng hình ảnh cành nho luôn dính chặt vào thân nho; và cành nho, tự nó ý thức phải luôn dính chặt vào thân cây, nếu không nó sẽ chết. Như vậy muốn là người Kitô hữu thực sự có hạnh phúc, chính là phải "ở lại " trong Chúa Kitô, như cành nho không tách rời rời khỏi thân nho. Nhưng ở lại trong Chúa Kitô như thế nào? Và sinh hoa trái ra sao?
1. Giải thích:
a. Động từ Hy Lạp: ở lại (menein en) từ câu 2 đến câu 10, thánh Gioan dùng đến 10 lần có nghĩa: ở lại trong Chúa Giêsu ở lại trong lời Chúa , ở lại trong tình thương của Chúa, trong các môn đệ v.v.. Còn một nghĩa nữa làgắn liền với: "cành nho gắn liền với thân nho."

b. Với cách dịch động từ Menein en: "ở lại" , hay "gắn liền" , hay có vài bản dịch khác dịch là: tháp chặt vào, dính liền, không thể tách rời, xem ra cũng không phải là sai nghĩa như điều Chúa Giêsu muốn nói : Như cành nho phải liên kết với Thân nho thế nào thì người Kitô hữu cũng phải kết hợp chặt chẻ với Đức Kitô là sức sống, là hạnh phúc của họ. Sự liên kết đó đòi hỏi người Kitô hữu phải sống và hành động theo Lời của Đấng đã chết và sống lại vì yêu thương chúng ta.
c. Thực hành: Linh mục nhận lãnh chức vụ Linh mục từ Giám mục, từ Hội Thánh, nhưng lại không có ý hiệp thông, liên kết chặt chẽ với Hội Thánh, Linh mục sẽ ban Bí Tích thành sự, nhưng không sinh hiệu quả sống động cho người lãnh nhận... Như khi người giáo dân bình thường chúc lành cho nhau trong sự chân thành, yêu mến, ơn phúc lành đó sẽ ở lại nơi người được chúc phúc, và sinh ơn ích cho họ biết bao trong đời sống, dù họ không thấy được bằng mắt xác thịt.
2. Gợi ý suy niệm:
a. Ai trồng nho, lại không muốn nó sinh trái. Đất đai ở Việt Nam không phù hợp mấy với cây nho, nhưng ta thấy cũng có nhiều nơi trồng được, dù kết quả không cao. Cành, nhánh nho muốn sinh trái, phải được tháp chặt (ở lại, gắn liền, liên kết) với thân nho, nếu không, cành nho không những không sinh trái, mà còn phải chết nữa, vì tự mình cành nho không thể cho mình nhựa sống. Khi ta lãnh nhận Bí Tích Rửa tội là lãnh nhận ơn gọi trở thành cành nho, được gắn liền (tháp chặt, ở lại, liên kết) với Thân nho là Đức Kitô, ta có nhận ra ơn sủng cao cả này không? Ta có biết luôn cảm tạ Chúa mọi nơi mọi lúc và hết sức nỗ lực gắn liền "tháp chặt" và kết hợp với Thân Nho là Đức Kitô không? Là người Kitô hữu, ta có nghĩ mình được quyền sống bên lề họ đạo, không phải tham gia vào sinh hoạt của họ đạo, vì nghĩ rằng, mình đã đi lễ, cầu nguyện và giữ mọi Lề Luật của Hội Thánh là đủ không?

b. Cành nho muốn sinh nhiều trái, phải chịu để cho ông chủ cắt tỉa bớt những cành dư thừa. Ta có muốn và sẵn sàng để Chúa cắt tỉa những tính hư tật xấu, để ta ngày càng được tháp chặt, gắn liền với Thân Nho, để sinh nhiều hoa trái hơn nữa không?
 

PS5-B70. HIỆP THÔNG VỚI CHÚA VÀ VỚI THA NHÂN

Ga 15,1-8
1. Têrêsa: Mãu gương hiệp thông với Chúa:
 

Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, sinh năm 1873 tại A-lăng-sông (Alancon) nước Pháp: PS5-B70

Thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, sinh năm 1873 tại A-lăng-sông (Alancon) nước Pháp. Ngay từ năm 15 tuổi, Tê-rê-sa đã được đặc ân gia nhập dòng kín Các-men. Chín năm sau, tức năm 1897, chị Tê-rê-sa đã an nghỉ trong Chúa do bị bệnh lao phổi. Thế mà, ngay sau khi qua đời, tiếng thơm nhân đức của ngài đã vang đi khắp nơi. Rồi 28 năm sau, tức vào năm 1925, Tê-rê-sa đã được Đức Pi-ô XI phong lên bậc hiển thánh và được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê. Mới đây, Đức Gio-an Phao-lô Đệ Nhị lại phong Tê-rê-sa làm tiến sĩ của Hội Thánh.
Đọc tiểu sử của thánh nữ, ta thấy chị không phải vất vả đi khắp nơi giảng dạy giáo lý Thánh Kinh cho dân chúng, đương đầu với lạc giáo như thánh Đa-minh; Không sống khắc khổ hay ăn chay đánh tội như thánh Phan-xi-cô Khó Khăn; Không phải bỏ quê hương đi đến những vùng xa xôi truyền giáo như thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê ; Không để lại nhiều tác phẩm có giá trị triết lý và thần học như thánh Tô-ma A-qui-nô ; Không làm nhiều phép lạ giúp đỡ những người nghèo khổ bất hạnh như thánh Mác-tin Po-rê; Không chịu cực hình đau khổ để làm chứng cho Chúa như các thánh tử đạo Việt Nam... Thế nhưng tại sao Tê-rê-sa lại được Hội Thánh tôn vinh như một đại Thánh của thế kỷ XX và XXI? Thưa chính là nhờ chị có đời sống nội tâm đạo đức, luôn kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su như cành nho gắn liền với thân cây nho. Nhờ sự kết hiệp đó, dù không làm được những việc lớn lao bề ngoài, nhưng Tê-rê-sa đã đem lại nhiều ích lợi cho Hội Thánh, đặc biệt là đường lối nên thánh của chị thánh phù hợp với Lời Chúa dạy và với tâm lý của con người thời đại mới. Nhờ kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su, mà Tê-rê-sa đã đem lại một sinh lực mới cho Hội Thánh, như lời Chúa phán: "Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5).
2. Hiệp thông với Chúa như cành nho kết hiệp với thân cây nho:
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy sự hiệp thông với Đức Giê-su là điều kiện để đức Tin của các môn đệ phát sinh hoa trái. Cũng như cành nho phải kết hiệp mật thiết với thân cây mới sinh hoa kết quả thế nào, thì các tín hữu cũng phải kết hiệp mật thiết vối Chúa Giê-su mới có thể chu tòan sứ mệnh làm vinh danh cho Thiên Chúa và góp phần cứu rỗi anh em.
3. Hiệp thông với Chúa để hiệp thông với tha nhân:
Qua tác phẩm "Tự thuật" mà Tê-rê-sa đã vâng lời bề trên trình bày về linh đạo của mình. Linh đạo ấy được gọi là Con Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng, là Đức Bác Ái rút ra từ lời dạy và gương lành của Đức Giê-su trong Tân Ước, và được tóm gọn như sau:
- Luôn tin yêu phó thác mọi sự cho Chúa quan phòng, giống như đứa con thơ ở trong lòng bà mẹ.
- Quyết tâm thực thi tình mến Chúa yêu người trong cuộc sống hằng ngày: "Sống đời thường bằng một cách thức phi thường".
- Tận hiến toàn thân để làm vinh danh Chúa và khiêm nhường phục vụ tha nhân.
- Vui vẻ đón nhận những sự hiểu lầm bất công hay khinh dể của tha nhân, như những món quà Chúa gởi đến giúp ta nên thánh.
Tê-rê-sa đã viết trong cuốn Tự Thuật như sau: "Đức Ái đã cho tôi thấy chìa khóa về ơn gọi của tôi. Tôi hiểu rằng: nếu Hội Thánh là một thân thể gồm nhiều chi thể, thì các chi thể đương nhiên phải có một chi trọng yếu hơn. Đó là trái tim luôn cháy lửa yêu mến. Chỉ có lòng mến mới thúc bách mọi thành viên trong Hội Thánh hăng hái hoạt động. Nếu ngọn lửa mến đó tắt đi thì các tông đồ không còn rao giảng Tin mừng, các vị tử đạo sẽ không hy sinh đổ máu. Tôi hiểu lòng mến bao trùm mọi ơn gọi khác, bao quát mọi không gian và thời gian. Tóm lại lòng mến là vĩnh cửu". Quả vậy, chính lòng mến Chúa tha thiết đã làm cho Tê-rê-sa tiến lên tới đỉnh trọn lành, và kết thúc cuộc đời trong sự bình an hạnh phúc.
Về đời sống nội tâm, Tê-rê-sa đã thưa với Đức Giê-su trong cuốn Tự Thuật như sau: "Ôi Giê-su là Tình Yêu của con. Con đã khám phá ra ơn gọi của con là Sống Tình Yêu! Con đã tìm ra chỗ đứng của con trong lòng Hội Thánh là mẹ con mà Chúa đã ban cho con. Con sẽ là Tình Yêu, và như vậy con sẽ là tất cả..."
4. Lạy Chúa Giêsu.
Hôm nay xin Chúa cũng giúp chúng con biết noi gương Đức Maria trong việc hiệp thông với Chúa và với tha nhân: Sau khi thụ thai Hài nhi Giêsu, Mẹ đã đem Thai Nhi đi viếng thăm bà chị họ để chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho cả gia đình Gia-ca-ri-a. Nhờ đó thai nhi Gio-an Tẩy Giả đã nhảy mừng trong dạ mẹ vì được khỏi tội tổ tông truyền. Xin cho chúng con hôm nay, mỗi lần dự lễ và rước Chúa Giêsu vào lòng, cũng biết đem Chúa là tình yêu đến chia sẻ cho những người thân chưa tin nhận Chúa, thăm viếng thắt chặt tình thân với các thành viên trong cộng đoàn... và sẵn sàng khiêm tốn phục vụ Chúa hiện thân trong những người neo đơn bệnh tật và bất hạnh... Nhờ được luôn hiệp thông với Chúa, chúng con sẽ biết quên mình, vác thập giá là những rủ#i ro trái ý gặp phải hằng ngày và bước theo chân Chúa trên đường lên Núi Sọ noi gương Mẹ Maria xưa. AMEN.
LM ĐAN VINH  www.hiephoithanhmau.com
 

PS5-B71: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ga. 15, 1 - 8
Anh chị em thân mến.
 

Nước VN chúng ta đang trên đà phát triển, nên hệ thống giao thông cũng dần dần được nâng: PS5-B71

Nước VN chúng ta đang trên đà phát triển, nên hệ thống giao thông cũng dần dần được nâng cấp. Nếu chúng ta nhìn thấy được tiến trình cho con đường được bằng phẵng tốt đẹp, chúng ta phải công nhận rằng ,đó là một kỳ công. Con đường được hình thành từ những viên đá có nhiều góc cạnh khác nhau. Nhưng chúng phải biết nhường nhịn nhau, chúng được xoay trở cách nào đó, để có thể nằm sát bên nhau mà không có một trở ngại nào đáng kể.

Nếu có viên đá nào không muốn đồng số phận, mà lại muốn vươn lên trên để cho mọi người có thể nhìn thấy nó. Khi đó có thể viên đá đó sẽ tự hào vì mình khôn ngoan hơn cấc viên đá khác. Nhưng thực ra, đó là điều hết sức vô phúc cho nó. Viên đá đó sẽ bị nhận xuống bằng những đe, búa rất nặng cho đến đỗi thân hình nó không còn nguyên vẹn. Nếu nó cứng đầu hơn, không chịu chìm xuống, cũng không chịu bể ra, thì số phận của nó sẽ bị loại ra ngoài. Nó không được liên kết với các bạn để tạo nên một con đường tốt đẹp, phục vụ cho con người. Số phận nó từ đây không ai còn biết đến nữa, vì nó đã trở nên vô ích, nên nó phải sống trong sự cô đơn và buồn tẻ.

"Thầy là cây nho, chúng con là cành."
Cành cây luôn dính liền với thân cây mới có sự sống. Cành cây muốn đạt được kết quả tốt đẹp, thì phải được thân cây truyền cho nhựa sống dồi dào. Có những lúc cành cây còn phải chịu sự cắt tỉa,để bỏ đi những gì không cần thiết. Sự bỏ đi sẽ làm cho cành cây nhiều khi trở nên đau đớn. Nhưng đó là sụ đau đớn cần thiết. Khi cơn đau qua đi, cành cây sẽ mạnh mẽ hơn, cho những cành tươi tốt hơn, để có thể cho những hoa trái cần thiết hơn. Nếu những cành nào vượt cao quá mà dùng những tàn lá của mình, che lấp đi những cành khác, nó cũng bị cắt tỉa để cho thân cây được thoáng mát và những cành khác cũng có cơ hội phát triển. Còn nếu cành nào tự lìa bỏ thân cây vì bất cứ lý do gì, thì số phận của nó chắc ai cũng biết. Nó không thể nào tự sống nỗi.
Các Môn Đệ là những cành nho thật sự, biết bám chặc vào thân, nên các ông đã sinh nhiều hoa trái tốt đẹp. Những hoa trái mà ngày nay chúng ta còn đang tiếp tục hưởng dùng.

" Thầy là cây nho, chúng con là cành."
Mỗi người trong chúng ta cũng là những cành nho gắng liền với gốc là Chúa Kitô. Chủ vườn luôn chăm sóc vườn nho của mình thật chu đáo. Ông đến cắt tỉa, săn sóc từng cành, sẳn sàng bỏ đi những gì làm nguy hại cho những cành nho yêu quí của mình. Ông muốn cho những cành mà ông chăm sóc được luôn tốt đẹp để nó đạt được kết quả khả quan hơn. Nên ông cũng thường tìm đến để xem sự chăm sóc của mình có kết quả gì không. Ông vui mừng biết bao khi trong tay có những chùm nho tươi đẹp. Trái lại ông cũng rất buồn khi tìm mãi mà chẵng thấy một kết quả nào, cho dù ông đã cố công chăm sóc. Nếu cành nào quá vô dụng đến thế, chắc ông sẽ không để nó đeo bám vào thân làm gì. Số phận nó sẽ bị tách rời khỏi thân, tách rời khỏi những cành khác, nó không còn được ở gần những cành khác, mà phải chịu số phận cô đơn và khô héo đi trong sự buồn tẻ, để rồi không còn ai biết đến nó nữa.

Con người chúng ta trong cuộc sống, có những lúc mình gặp những buồn hiền cay đắng, những điều không may. Có thể đó là những lúc chủ vườn nho đang cắt tỉa đi những chồi phát triển không đúng chỗ. Có những lúc chúng ta được sung túc may mắn, làm ăn thuận lợi. Những lúc đó, chủ vườn cũng đến tìm kết quả nơi chúng ta. Nếu những cành nho chỉ biết phát triển những cành lá, làm tổn hao nhựa sống chung của gốc mà không có kết quả, trái lại những cành lá của nó càng ngày càng che lấp đi những cành khác. Nó cũng bị cắt tỉa đi. Đó là những lúc chúng ta tự phụ về những gì mình có được, để rồi không còn biết đến ai, nhưng trái lại còn đè bẹp kẻ khác. Khi đó chủ vườn sẽ làm công việc của mình đối với những cành lá như thế. Vị chủ vườn sẽ vui mừng biết bao, khi thấy những cành nho mà mình đã chăm sóc có kết quả tốt đẹp. Cũng như những viên đá trên đường biết liên kết và nhường nhịn nhau, tạo nên con đường láng, phẳng, phục vụ cho con người.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết luôn sống kết hợp với Chúa và anh em, để có được sức sống dồi dào và đạt nhiều kết quả tốt đẹp trong đời sống hằng ngày.  

 

PS5-B72: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ga. 15, 1 - 8
 

Nếu như có người hỏi rằng : "Với sự cố gắng của riêng bản thân mình, chúng ta có thể sống: PS5-B72

Nếu như có người hỏi rằng : "Với sự cố gắng của riêng bản thân mình, chúng ta có thể sống đẹp lòng Chúa được không ?", thì anh chị em sẽ trả lời như thế nào? Có lẽ hầu hết chúng ta đều có thể trả lời ngay được rằng : "Không". Tại sao? Thưa bởi vì chính Đức Giêsu đã quả quyết rằng : "Không có Thầy, chúng con không thể làm gì được.".

Nghĩa là nếu không có ơn Chúa tác động, nếu không có ơn Chúa trợ giúp, thì chúng ta không thể sống đẹp lòng Chúa được. Nói khác đi là chúng ta có sống đạo tốt hay không, và tốt đến mức độ nào là hoàn toàn tùy thuộc vào mức độ gắn bó với Đức Kitô. Cho nên trong bài phúc âm ngày hôm nay, Đức Giêsu đã dùng một hình ảnh rất quen thuộc với người Do Thái để nói lên một chân lý quan trọng trong đời sống người Kitô hữu, đó là sự cần thiết phải gắn bó với Chúa Kitô "Thầy là cây nho, chúng con là cành nho, cành nào kết hợp cùng cây, sẽ trổ sinh hoa trái". Cũng như cành nho muốn được sống, muốn đơm hoa kết trái, nó cần phải bám chặt vào thân nho như thế nào, thì đời sống người kitô như thế.

Mặc dù hình ảnh cây nho và cành nho nó không quen thuộc với chúng ta ở đây, nhưng chúng ta có thể dễ dàng hiểu được điều mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây : Cành cây mà không gắn được với thân cây thì nó sẽ khô héo và chết đi, dù đó là bất cứ cây gì đi nữa. Điều quan trọng mà chúng ta sẽ tìm hiểu ở đây không phải là quá trình sinh trưởng của cây nho, mà là suy nghĩ xem có những cách nào để giúp ta sống gắn bó với Đức Giêsu.

Bởi vì qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được coi là những cành nho của Chúa, mà bổn phận của cành nho là phải cho những trái thơm tho ngọt ngào. Còn ngược lại không thực hiện được bổn phận đó, thì số phận của nó cũng đã được nêu rõ trong bài phúc âm này qua những lời tuyên bố của Đức Giêsu : "Nhành nào không sinh trái thì sẽ bị chặt đi, nó sẽ ra khô héo và người ta sẽ gom nó lại mà đốt đi". Như Thánh Phaolô đã xác quyết rằng : "Nếu Đức Kitô không sống lại thì niềm tin của chúng ta sẽ nên trống rỗng", thì hôm nay Giáo Hội cũng khẳng định với chúng ta rằng : Nếu anh chị em là những Kitô hữu, là những cành nho của thân nho Đức Kitô, mà không biết sống gắn bó với Người, thì tất cả những gì chúng ta đang theo đuổi trong đời sống đạo ngày hôm nay, những gì chúng ta hy vọng và tin tưởng ở cuộc sống đời sau sẽ không có nền tảng và cũng chẳng có gì là bảo đảm.

Bởi vì Đức Kitô là Đấng trung gian duy nhất của ơn cứu độ khi Người phán rằng : " Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, không ai đến đựơc với Cha mà không qua Thầy".

Thưa anh chị em! Nếu như trong đời sống đạo của mình, việc gắn bó với Chúa vẫn còn là một điều mới mẽ, xa lạ, thì ngay từ ngày hôm nay, chúng ta hãy quyết tâm thực hiện điều đó đi. Chúng ta có thể sống gắn bó với Chúa bằng tấm lòng yêu mến của chúng ta đối với Người. Kinh nghiệm cho thấy rằng : Khi yêu ai, người ta luôn nghĩ tới người đó, muốn được ở gần người đó và nhất là luôn luôn tìm cách làm đẹp lòng người mình yêu.

Nơi bài đọc II, Thánh Gioan đã khéo léo chỉ cho chúng ta cách thể hiện tình yêu đẹp đẽ, đúng đắn khi Ngài nói rằng : "Chúng ta đừng yêu thương bằng lời nói, nhưng hãy yêu thương bằng chính việc làm chân thật của mình". Mà việc làm ở đây chính là tuân giữ các giới răn của Chúa. Ai tuân giữ giới răn của Chúa là ở lại trong Thiên Chúa. Khi nói tới giới răn, nói tới lề luật, thì dường như chúng ta có cảm giác khó chịu, lắc đầu ngao ngán, bởi vì chúng ta thường coi đó như là một gánh nặng, một thứ dây vô hình trói buột sự tự do của mình.

Thế nhưng nhìn cho kỹ, chúng ta sẽ phải cám ơn Chúa vì lề luật đó là một thứ rào chắn cần thiết che chở chúng ta khỏi phải rơi xuống vực thẳm. Bao lâu chúng ta còn tuân giữ lề luật của Chúa là bấy lâu chúng ta vẫn còn đang đi trên đường dẫn tới hạnh phúc. Còn đi trên đường này là chúng ta còn đi với Chúa, mà còn đi với Chúa là chúng ta còn đang gắn bó với Người. Ngoài ra, chúng ta có thể hiện sự gắn bó với Chúa qua việc sống gắn bó với anh chị em sống xung quanh mình. Tôi là một cành nho, anh chị em tôi, những người đang sống chung quanh tôi, cũng là những cành nho khác như tôi. Tất cả mọi cành nho đều sống nhờ vào nguồn dinh dưỡng của một cây mà thôi. Cho nên giữa những cành nho với nhau cũng có những liên hệ đặc biệt khác nữa. Một cành nào đó bất ngờ bị chặt đi, thì không chỉ riêng một mình nó đớn đau mà là toàn bộ cây nho cũng đau đớn như thế.

La Fontaine đã viết một câu chuyện ngụ ngôn như thế này : "Một ngày nọ, tất cả các chi thể trong thân mình quyết tâm đình công, không chịu làm việc để phản đối cái miệng, vì nhận thấy rằng : cái miệng từ đó tới giờ chỉ có ăn mà không chịu làm gì cả. Trước sự phản đối này, cái miệng quyết định là từ nay sẽ không ăn nữa. Kết quả là chỉ sau một ngày mà thôi, tất cả các chi thể khác đều mệt mỏi rã rời và không còn đủ khả năng để trở lại với công việc của mình nữa".

Trong cuộc sống đời thường, đã muốn hay không muốn chúng ta cũng phải dựa vào người khác để có cái ăn cái mặc để chúng ta có thể sống và tồn tại. Thì trong đời sống đạo, đời sống siêu nhiên cũng vậy, chúng ta không phải là những hòn đá nằm cạnh nhau một cách lạnh lùng, mà chúng ta là những anh em với nhau, những anh em có cùng một Cha trên trời, những anh em cũng sống nhờ vào một nguồn sống duy nhất là Đức Kitô, cho nên chúng ta phải yêu thương gắn bó với nhau. Vã lại chính Đức Kitô đã từng xác nhận rằng : "Điều gì các con đã làm cho một trong những anh em bé mọn nhất ở đây, là các con đã làm cho chính Ta". Như thế, sống gắn bó với anh chị em của mình cũng là lúc chúng ta đang sống gắn bó với Chúa.

Thưa anh chị em! Nếu như Phụng Vụ Lời Chúa của ngày Chúa Nhật hôm nay, đã giúp cho chúng ta phần nào hiểu đựơc sự cần thiết phải gắn bó với Đức Kitô và biết đựơc một vài cách thức để thể hiện sự gắn bó đó, thì con tin rằng : Nhờ ơn Chúa soi sáng mỗi người chúng ta cũng sẽ biết được rằng mình sẽ phải làm gì để cành nho đời sống đạo của mình có thể sống và trổ sinh hoa trái như lòng Chúa ước mong.
 

PS5-B73: THẦY LÀ CÂY NHO THẬT

Ga 15,1-8
 

Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, trong bầu khí thân mật sau buổi tiệc ly với các môn đệ: PS5-B73

1. Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, trong bầu khí thân mật sau buổi tiệc ly với các môn đệ của mình, Đức Giêsu trong tư cách là người bạn, người thầy, người cha. Người đã nhấn mạnh mối tương quan cần phải có giữa Người với các môn đệ, hình ảnh cây nho và cành nho, một hình ảnh rất quen thuộc với người Do thái, được dùng để nói lên sự liên hệ này. Vượt trên không gian và thời gian, dụ ngôn này vẫn phù hợp với chúng ta và đáng cho chúng ta suy gẫm.
2. Chính Đức Giêsu đã giải thích dụ ngôn này, cây nho là Đức Giêsu, cành nho là người môn đệ và người trồng nho chính là Chúa Cha. Chỉ trong liên kết chặt chẽ với Đức Giêsu người môn đệ mới có thể sống phong phú. Để sinh hoa trái tốt đẹp người môn đệ cũng phải được cắt tỉa và chính đời sống tốt đẹp của người Kitô hữu đó là một hình thức tôn vinh Chúa Cha.
3. Người Kitô hữu cần phải được liên kết mật thiết với Thiên Chúa, qua Đức Giêsu. Đức Giêsu là cây nho đích thực mà Chúa Cha đã trồng, bằng cách sai Người xuống thế gian. Nơi Đức Giêsu mới có sự sống thật, sự sống thần linh. Qua cuộc khổ nạn, tử nạn và phục sinh Người ban sự sống thần linh cho tất cả mọi người, mà loài người đã đánh mất vì tội Ađam, để biến họ thành con cái đích thực của Thiên Chúa.
Cây và cành phải có mối tương quan mật thiết với nhau. Cây nho mà không có cành thì không thể có sức sống mạnh và mang trái được. Cũng thế Đức Giêsu mời gọi các môn đệ cộng tác để tiếp nối công trình cứu độ của Người, nhưng dầu sao người môn đệ cũng chỉ là cành mà thôi, Cành muốn sống hữu ích, mang lại hoa trái thì phải liên kết mật thiết với cây nho :"Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" . Tôi biết có những giáo dân tuy rất xa nhà thờ, nhưng họ cố gắng đi lễ mỗi khi có dịp và có thể được, ngoài ra họ còn giữ được việc đọc kinh hôm, kinh mai, nhờ thế họ là những tông đồ rất nhiệt thành. Tôi cũng được biết có những người mang danh là Kitô hữu, tuy không xa nhà thờ, mà việc kinh, lễ rất lôi thôi, cho nên con cái của họ đa phần là bị rối rắm trong hôn nhân. Vậy để đức tin được vững mạnh, người Kitô hữu phải dùng mọi phương thế để kết hợp mật thiết với Đức Kitô.
4. Không những người Kitô hữu phải dùng mọi phương thế để kết hợp mật thiết với Đức Kitô mà thôi, mà cũng như cành nho muốn sinh nhiều hoa trái cần phải vượt qua những trở ngại của thời tiết, môi trường sống và được cắt tỉa.
Cây nho nơi vườn, không hẳn bao giờ môi trường sống cũng luôn thuận lợi, mà có khi gặp nắng hạn hay mưa dầm... Đời sống đạo của người Kitô hữu không phải bao giờ cũng dễ dàng, mà luôn có những thử thách, những khó khăn từ phía bên ngoài hay chính bản thân. Đức Kitô là cây nho đích thực của Thiên Chúa mà cũng phải trải qua thử thách : Người phải qua đau khổ mới trở thành vị lãnh đạo thập toàn đưa mọi người đến ơn cứu độ (x. Dt 2,10). Người cũng luôn mời gọi chúng ta cùng chia sẻ đau khổ thì mới có thể thông phần vinh phúc với Người.
Như cây nho cần được tỉa cành mới có thể tốt được, cũng vậy để đời sống thiêng liêng được phong phú, người môn đệ Chúa cũng rất cần phải được cắt tỉa dần lội lỗi, bỏ các thói hư tật xấu, có như vậy ngày mới có thể thanh sạch và hoàn thiện hơn. Cắt tỉa thì tiếc xót và đau đớn nhưng đó là việc cần thiết để sinh kết quả bội phần. Trung kiên qua thử thách, quyết bỏ các tính hư tật xấu, nhờ đó người môn để có thể nên tốt hơn, trở nên muối, men cho đời.
5. Đời sống tốt đẹp của người tín hữu đó là một phương cách hữu hiệu để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta vẫn nguyện xin "danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời". Xin đừng đọc suông, mà đời sống của người Kitô hữu phải làm sao để tôn vinh Thiên Chúa thực sự. Chính trong liên kết mật thiết với Đức Kitô, cây nho đích thức của Thiên Chúa, người Kitô hữu sẽ được thánh hoá chính nơi bản thân mình bằng đời sống, bằng việc làm tốt đẹp, như ánh đèn toả sáng. Tiến xa hơn đó là thánh hoá tha nhân qua việc tông đồ. Công cuộc cứu rỗi của Đức Giêsu nhờ đó tiếp tục được lan rộng, đó chính là chúng ta góp phần tích cực tôn vinh Thiên Chúa, bởi vì ý của Thiên Chúa là muốn mọi người được nhận biết Thiên Chúa là Cha và họ được cứu rỗi.
6.Lạy Đức Kitô, cây nho đích thực của Thiên Chúa, xin cho mọi người chúng con biết ý thức luôn kết hiệp mật thiết với Người, để cho đời sống của chúng con được tràn đầy ân sủng và đem nguồn ơn cứu độ của Người đến cho tha nhân. Amen.
 

PS5-B74: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ga 15, 1- 8
 

Cây nho và việc trồng nho rất quen thuộc đối với người Do thái nên Chúa Giêsu dùng hình ảnh: PS5-B74

Cây nho và việc trồng nho rất quen thuộc đối với người Do thái nên Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây nho và cành nho nói lên mối liên hệ rất mật thiết giữa Chúa và dân của Ngài. Chúa Giêsu là cây nho còn dân chúng xưa cũng như chúng ta hôm nay là cành nho gắn liền với thân nho là Chúa Giêsu. Cành nho hút nhựa sống từ thân cây nho để sống và sinh hoa kết quả. Nếu không liên kết, không gắn liền với thân nho, cành nho sẽ khô héo, tàn úa và chết đi, không thể sinh hoa quả được.

Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội chúng ta được tháp nhập vào đời sống của thân nho là Chúa Giêsu, trở thành chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Chúa. Khi tham dự Thánh lễ và Rước lễ chúng ta được nuôi dưỡng, được hút nhựa sống từ thân cây nho là Chúa Giêsu. Khi cành nho là chúng ta bị sâu bệnh, héo úa do tội tội lỗi của chúng ta, chúng ta được chữa lành và tha thứ qua Bí tích Giải tội. Ân sủng Chúa là nhựa sống của thân nho không ngừng cung cấp cho ngành nho là chúng ta, để chúng ta được sống và sống dồi dào và để chúng ta sinh hoa kết quả tốt lành trong đời sống đạo của chúng ta.

Ngược lại, nếu chúng ta không liên kết, không gắn bó với Chúa qua việc năng lãnh nhận các Bí tích thì đời sống của chúng ta sẽ héo úa, khô cằn vì thiếu nhựa sống từ thân cây là Chúa Giêsu. Như vậy thì đời sống chúng ta sẽ sẽ cằn cỗi, không sinh hoa trái được.
Nhờ đời sống cầu nguyện, nhờ việc năng lãnh nhận Bí tích nhất là Bí tích Giải tội và Thánh Thể, người Kitô hữu chúng ta ngày càng gắn bó hơn với Chúa Kitô, mà gắn bó với Chúa Kitô có nghĩa là cũng gắn bó với Chúa Cha. Nhờ gắn bó với Thiên Chúa, chúng ta sẽ dễ nhận ra những người chung quanh là anh chị em cùng là con một Cha trên trời.
Chúng ta là cành nho cần liên kết mật thiết với thân nho là Chúa Giêsu để chúng ta được sống, nhưng chúng ta cũng cần phải liên kết mật thiết với các cành nho khác là các anh chị em chung quanh chúng ta nữa. Thân nho là Chúa Giêsu cung cấp nhựa sống cho các cành nho, nhưng các cành nho cũng phải chuyển thông sự sống cho nhau nữa. Một cành nho héo úa, bệnh hoạn cũng ảnh hưởng đến sức sống của các cành nho khác.

Cũng vậy tội lỗi của một người trong chúng ta cũng ảnh hưởng đến người khác, đến cộng đoàn họ đạo, làm bớt đi sự thánh thiện của Hội Thánh. Và sự thánh thiện, tốt lành của một người sẽ làm tăng thêm sự thánh thiện, tốt lành của toàn thể Hội Thánh. Nếu họ đạo chúng ta có nhiều người tội lỗi thì sẽ làm giảm bớt đi sự tốt lành, thánh thiện của họ đạo, của mỗi người chúng ta và làm cho họ đạo chậm phát triển. Ngược lại nếu họ đạo chúng ta có nhiều người thánh thiện và rất ít người tội lỗi thì sẽ làm tăng sự thánh thiện tốt lành của họ đạo và của mỗi người chúng ta và sẽ làm cho họ đạo phát triển rất nhanh. Đó là sự liên đới trong cộng đồng của những người có cùng cùng một niềm tin như chúng ta.

Là người Kitô hữu, chúng ta đã trở nên một trong Chúa Kitô qua Bí tích Rửa tội. Chúng ta đang bước theo Chúa Kitô trên con đường tiến đến sự hoàn hảo như Thầy chí thánh của chúng ta là Chúa Kitô. Chúng ta còn trãi qua nhiều cám dổ của ma quỷ, của tội lỗi, của sự xấu để thanh luyện con người chúng ta.

Nếu không có Chúa chúng ta không thể đi trọn con đường như Chúa đã đi, nên chúng ta cần phải liên kết mật thiết với Chúa qua các Bí Tích để chúng ta có đủ sức mạnh thiêng liêng mà bước đi trên con đường theo Chúa. Chúng ta không đơn côi, không cô độc nhưng chúng ta còn có Chúa, còn có Hội Thánh, còn có biết bao người cùng niềm tin với chúng ta. Chúng ta hãy vững tin vào Chúa, hãy trợ giúp nhau sống tốt, hãy làm gương tốt cho nhau, hãy dìu dắt nhau để chúng ta được tăng thêm sức mạnh và luôn vững bước trên con đường theo Chúa, để Chúa ở đâu chúng ta cũng được ở đó với Chúa.

 

PS5-B75: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

Ga 15, 1- 8
Cây nho, cành nho và trái nho
 

Người ta nói rằng ở Ephesô có 1 ngôi đền rất nổi tiếng. Đó là đền thờ thần Diana. Một trong: PS5-B75

Người ta nói rằng ở Ephesô có 1 ngôi đền rất nổi tiếng. Đó là đền thờ thần Diana. Một trong những nét độc đáo làm cho ngôi đền trở thành nổi tiếng là trong ngôi đền đó có cả 1 thang lầu làm từ 1 gốc cây nho duy nhất được mang về từ đảo Chypre. Rất oai nghi! Rất hùng tráng. Biết được như thế chúng ta mới có thể phần nào hiểu được hình ảnh và ý niệm về cây nho mà hôm nay chúa Giêsu đãsánh ví với Ngài.
Một cách cụ thể, hôm nay Chúa Giêsu xác định và tuyên bố: "Thầy là cây nho các con là nhành". (Yn 15,5). Tại làm sao Chúa lại tyên bố như thế. Lời tuyên bố ấy được nói trong hoàn cảnh nào và có ý nghĩa gì?
Theo chú giải Kinh Thánh thì Đức Giêsu nói những lời này với các môn đệ ngay sau bữa ăn cuối cùng với các ông. Giả thiết rằng có thể trên đường đi từ nhà tiệc ly đến vườn Giêtsêmani. Đức Giêsu biết rằng Người sẽ phải rời xa các môn đệ để bước vào cái chết. Người cũng biết môn đệ Phêrô sẽ chối Thầy, Giuđa sẽ phản bội . Tất cả các môn đệ còn lại cũng sẽ chối bỏ Người. Mọi sự như tan vỡ và chấm dứt. Chính trong hoàn cảnh đó, Đức Giêsu đã xưng mình là cây nho và các môn đệ là cành nho.
Khi khám phá ra điều này, tôi hiểu rằng Chúa muốn bộc lộ 1 ước mơ, và Ngài muốn ước mơ đó trở thành hiện thực. Cũng có thể nói được rằng ước mơ đó là 1 chân lý. Chân lý đó ở chỗ này:
Cho dù các môn đệ có phản bội, có khước từ nhưng Ngài vẫn gắn bó vơi họ.
Và cho dù Chúa Giêsu không ở với họ theo nghĩa thể lý nữa thì chính sự liên kết bền chặt giữa các môn đệ là yếu tố nền tảng làm cho các ông vẫn đứng vững và đoàn kết với nhau bất chấp phản bội, bất chấp khước từ, bất chấp yếu đuối đến độ hèn nhát.
Chúa Giêsu diễn tả điều tôi vừa nói bằng hình ảnh gắn liền của thân nho và cành nho. Cây nho và cành nho có cùng 1 sự sống và cùng 1 dòng nhựa. Cành sống nhờ cây. Cành có khả năng sinh được hoa quả là nhờ nối kết với thân cây. Nếu cành tách lìa khỏi thân cây, chúng sẽ không chỉ trở nên cằn cỗi mà còn nhanh chóng bị khô héo và chết rục.
Cũng thế, giống như những cành cây cần thân cây. Chúng ta cần đến Đức Giêsu Kitô vì sự sống của Người. Khi bị tách lìa khỏi Người, chúng ta không có sự sống và không có khả năng sinh trái. Nhưng cây cũng cần đến cành. Chính những cành nho mới sinh những trái nho. Như thế, chúng ta không những cần đến Đức Giêsu mà Người cũng cần đến chúng ta. Người đợi chờ hoa trái của Người trổ sinh nơi chúng ta, qua chúng ta. Nói cách khác chúng ta có bổn phận sinh hoa trái cho Người.
Thếnhưng thực tế chúng ta đã thực sự sản sinh ra những trái nho ấy chưa. Người khác có cảm nếm và thưởng thức được vị ngon vị ngọt của những trái nho ấy chưa.
Như thế, hoá ra lời tin mừng hôm nay lại là một lời tra vấn chúng ta, khi ta nhìn thấy sự cằn cỗi của ta, trong Giáo Hội và của thế giới. Đời ta không trổ sinh hoa trái được là vì ta chưa chịu cắt tỉa khi đời sống ta có nhiều cái thừa và không ít những cái thiếu. Thừa tiền bạc, thừa địa vị, thừa ích kỷ, thừa cái tôi chật hẹp của mình. Nhưng ta lại thiếu quá nhiều, thiếu cảm thông, thiếu chia sẻ, thiếu hợp tác, thiếu quan tâm đến người khác... Đang khi đó, Giáo Hội tuy có không ít những thánh nhân nhưng lại có quá nhiều người như chúng ta. Điều đó làm cho khuôn mặt Giáo Hội thêm già nua, cằn cỗi. Bên cạnh đó, xã hội càng ngày càng nảy sinh nhiều vấn nạn: sự chênh lệch giàu nghèo, nạn ma túy, tình dục, siđa, nạn tham nhũng ở Á Châu và Việt Nam ... đang là vấn đề thời sự. Khuôn mặt thế giới đang héo tàn.
Vì thế trách nhiệm sinh hoa trái thánh thiện đạo đức đòi hỏi ta rất lớn và rất nhiều. Và muốn được như thế đời ta cần chấp nhận cắt tỉa những gì cản trở những gì không cần thiết cho mùa dơm hoa kết trái. Đồng thời, ta hãy đóng góp những hoa trái tốt lành ấy cho nhân loại cho Giáo Hội. Được như thế mọi người sẽ nhận ra cây nho thật là Đức Kitô. Người trồng nho là Thiên Chúa. Và người ta sẽ cảm nếm được hương vị ngọt ngào, thánh thiện, thanh khiết của những trái nho. Amen
 

PS5-B76: ĐỊNH DANH KITÔ HỮU

Ga 15, 1- 8
 

Một hình ảnh rất đẹp khác mà Chúa Giêsu đã sử dụng để nói lên tương quan sống còn và tương: PS5-B76

Một hình ảnh rất đẹp khác mà Chúa Giêsu đã sử dụng để nói lên tương quan sống còn và tương quan triển nở giữa các môn đệ của Ngài với Ngài là hình ảnh cành nho với thân nho. Muốn sinh nhiều hoa trái thiêng liêng, người Kitô hữu cần phải kết hợp mật thiết với Chúa Kitô là nguồn sống, tức là phải ở lại trong tình yêu của Ngài. Ở lại qua việc tuân giữ lời Ngài. Đồng thời phải chấp nhận để cho Thiên Chúa cắt tỉa, thanh luyện, nghĩa là phải chấp nhận hy sinh thử thách và gian khổ. Dĩ nhiên cắt tỉa là phải đau đớn. Có khi bị rướm máu.

Nhìn lại thực trạng sống đạo hôm nay, chúng ta dễ dàng thấy có 3 hạng Kitô hữu:

- Hữu danh vô thần:

Họ là những người mang danh là Kitô hữu, xưng mình là đạo gốc đạo dòng, là "cành nho" chính thống, nhưng đã tách lìa Đức Kitô và xa lìa Giáo hội. Họ sống như những người vô thần không hơn không kém. Họ không giữ đạo và cũng không sống đạo.

Đây là hạng người đáng sợ nhất vì họ rất dễ rơi vào nguy cơ tháp nối với cây tiền tài, cây danh vọng, cây quyền lực, cây sắc dục.... Và chắc chắn cành nho đời họ sẽ sinh trái nho hoang nho dại, thậm chí là nho độc nho hại nữa.

- Hữu danh vô thực:

Là những người mang danh có đạo, có khi giữ đạo tốt, nhưng không sống đạo hay sống đạo kiểu cầm chừng, đủ rỗi linh hồn là được. Có đạo nhưng không thực hành đạo vì ngại bị cắt tỉa, ngại dấn thân, sợ thua thiệt.

Số phận của những người hữu danh vô thực thì sao ? Có thể nói được rằng số phận của họ thật đáng buồn vì họ như những "cành nho vô tích sự" không sinh được hoa trái thiêng liêng nào, nên chỉ còn có việc chặt làm củi.

- Hữu danh hữu thực:

Đây là những Kitô hữu sống đạo thực sự. Họ sẵn lòng chấp nhận mọi hy sinh sinh, mọi cắt tỉa mỗi ngày để hoa trái được phong nhiêu: "Hạt 30, hạt 60, hạt 100". Đối với họ, Lời Chúa luôn là nhựa sống đem lại sự sống cho cành nho đời họ. Lời Chúa còn là phương thế cắt tỉa, thanh luyện để họ có thể sinh hoa trái dồi dào hơn: hoa trái bác ái yêu thương, hoa trái công bình chính trực, hoa trái hiệp nhất bình an....

Tôi đang thuộc hạng người nào trên đây ? Phúc cho tôi nếu tôi có tên trong danh sách những người thuộc hạng thứ 3, "hữu danh hữu thực". Ngược lại, thật bất hạnh cho tôi nếu tôi bị liệt vào hàng ngũ những người thuộc diện "hữu danh vô thực", hay "hữu danh vô thần", là những hạng Kitô hữu sẽ bị phán xét công thẳng trước toà phán xét của Thiên Chúa sau này.

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long
 

PS5-B77: Ở LẠI TRONG THẦY

Ga 15, 1-6
 

Chúa Giêsu đã ví mình như Mục Tử tốt lành, hôm nay Ngài lại tuyên bố: " Thầy là cây nho thật:  PS5-B77

Chúa Giêsu đã ví mình như Mục Tử tốt lành, hôm nay Ngài lại tuyên bố: " Thầy là cây nho thật ".Chúa dùng hình ảnh cây nho để nói lên sự gắn bó của Ngài với các Kitô hữu. Bởi vì theo Kinh Thánh, cây nho là một biểu tượng, một hình ảnh rất quen thuộc đối với người Do Thái. Thực tế, có người đã nói cây nho là cây sự sống được Thiên Chúa trồng trong vườn Eden ( Stk 2, 9 ).

Hình ảnh vườn nho, cây nho, trái nho, chùm nho là một hình ảnh thân quen đối với người Do Thái và những nước Âu Châu, Mỹ Châu vv...Hình ảnh cây nho và sự liên kết, gắn bó giữa thân và các cành ám chỉ Đức Kitô Phục Sinh như cây nho và các Kitô hữu như các cành. Cây và cành có cùng một sự sống. Nhựa nguyên lưu thông trong thân cây và chuyền tới khắp các cành nhờ đó các lá, cành xanh tươi. Sự sống từ cây nho làm cho các cành sinh hoa trái.Chúa đã nói nhiều lần về sự sinh trái và ở lại trong Ngài. Vì nếu cây nho không còn nhựa thì các cành sẽ khô héo. Còn nếu thân nho và các cành nho liên kết, nhựa lưu thông đều thì cây và các cành sẽ xanh tươi, và các nhánh cây nho sẽ sinh hoa kết trái. Các cành nho càng liên kết với thân nho thì càng sinh hoa trái. Chúa dạy chúng ta phải luôn kết hợp mật thiết với Chúa. Có kết hợp mật thiết với Chúa, chúng ta mới đem lại kết quả thiêng liêng đối với người khác và với chính mình chúng ta được.

Kết hợp với Chúa là sống mật thiết với tình yêu của Chúa như thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã sống, như nhiều Vị Thánh đã sống. Kết hợp với Chúa là sống thân mật với Chúa trong tình yêu. Ở lại trong Chúa sẽ sinh hoa trái. Không ở trong Chúa, không thể nào sinh hoa kết quả. Nhìn hoa, nhìn trái chúng ta sẽ thấy mức độ gắn bó của cành. Giáo Hội sẽ vững bền, nếu Giáo Hội luôn ở trong Chúa. Ở lại trong Chúa, Giáo Hội sẽ sinh nhiều con cái như lòng Chúa mong ước. Chúng ta làm cho vinh quang của Thiên Chúa được tỏa sáng nếu chúng ta luôn ở trong Ngài. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm cho vinh quang của Thiên Chúa bị khô cằn khi chúng ta sống ngoài Thiên Chúa. Thế giới ngày nay vẫn tự hào là đang sống trong nền văn minh kỹ thuật tột bậc, nhưng tất cả những kỹ thuật cao, những văn minh tiến bộ, khoa học kỹ thuật vẫn trở thành những sự bế tắc. Con người với văn minh, khoa học kỹ thuật tột bậc vẫn cảm thấy bơ vơ, vẫn tự loay hoay trong vòng tròn không sao tự cứu nổi mình. Con người vẫn phải chết, con người không thể tự cứu mình.Con người luôn bế tắc, do đó, họ cần ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Chúa phán: "Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em ". Ở lại trong Thầy phải trả giá theo Thầy. " Ai muốn theo Ta hãy từ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy ". Con người chúng ta muốn được sự sống mới của Đấng Phục Sinh, chúng ta cũng phải kinh qua đau khổ, sự chết và phục sinh với Chúa. Chúa Giêsu cũng đã được cắt tỉa bởi sự khổ đau và sự chết.

Dòng nhựa nguyên lưu thông từ thân tới các cành. Con người cũng hãy gắn với sự Phục Sinh của Chúa như nhựa nguyên lưu thông trong thân và các cành nho. Chúng ta hãy làm cho thế giới tốt tươi để mọi người nhận ra Cây Nho đích thực là Đức Kitô và Người trồng nho là chính Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,Chúa là cây nho, chúng con là cành. Cành nho sống tươi tốt là nhờ cây nho. Con người chúng ta sống được cũng bởi nhờ Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con khi tụ họp với nhau nhân danh Ngài, bằng cách lắng nghe lời Ngài, và bằng sự chia sẻ Mình và Máu Chúa Kitô. Khi thực hiện những điều đó là chúng con làm cho thế giới này nhìn thấy Chúa ở khắp nơi.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, nhờ Đức Kitô, Con Một Chúa, Chúa đã thương cứu chuộc chúng con và nhận làm nghĩa tử; xin lấy tình Cha mà âu yếm đoái nhìn: này chúng con là những kẻ tin kính Đức Kitô, xin cho chúng con được trở nên những người tự do đích thực và đáng hưởng gia nghiệp muôn đời. Amen. ( Lời nguyện nhập lễ lễ Chúa nhật V Phục Sinh ).

Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 

 PS5-B78:  MỘT KẾT QUẢ ĐÃ BIẾN ĐỔI THẾ GIỚI

Ga 15,1-8
 

Tuy là những Kitô hữu, có lẽ chúng ta cũng đã có lần tự hỏi : Kitô Giáo đã thực sự cải thiện: PS5-B78

Tuy là những Kitô hữu, có lẽ chúng ta cũng đã có lần tự hỏi : Kitô Giáo đã thực sự cải thiện được gì trong thế giới ? Ðến nay đã hơn hai ngàn năm trôi qua kể từ khi Ðức Giêsu rao giảng Nước Thiên Chúa : Một viễn tượng về một thế giới hòa bình, tự do và công bằng ! Nhưng người ta sẽ tìm đâu ra được một thế giới lý tưởng như thế ? Người ta sẽ tìm đâu ra được những ảnh hưởng, những hoa quả của một tôn giáo lấy Ðức Giêsu làm cứu cánh ? Vì tình trạng ích kỷ, bạo động, bóc lột, hận thù, đàn áp và nghèo đói vẫn tiếp tục tồn tại trên cuộc sống nhân loại. Thế giới vẫn như cũ, hầu như không hề có gì thay đổi. Nhiều người đã phải chấp nhận thực tại đó và đành cam lòng chịu đựng. Họ chủ trương : Có lẽ một ngày nào đó sẽ có được một thực tại lý tưởng như trong Nước Thiên Chúa, nhưng điều đó chỉ có ở bên kia thế giới ! Con người và thế giới muôn đời vẫn thế, khó lòng đổi thay được, dù bất cứ quyền lực nào - thế quyền hay cả thần quyền - cũng không đổi thay được, nếu không sẽ xúc phạm đến quyền tự do căn bản của con người.

Tiếp đến, sự hoài nghi về Thiên Chúa. Người ta sẽ đặt câu hỏi : Tại sao Thiên Chúa không biến đổi thế giới ? Nếu Thiên Chúa toàn năng, tại sao Người lại cứ để cho cuộc đời đầy khổ đau như thế mãi ? Trước những câu hỏi nghiêm chỉnh và cụ thể như thế, bài Phúc Âm hôm nay đã đưa ra một câu trả lời hết sức thỏa đáng : Ðể trả lời, Ðức Giêsu kể cho thính giả của Người nghe dụ ngôn « Cây nho và cành nho ». Bổn phận của cành nho là đâm hoa kết qua xum xuê đầy cành. Trong khi đó cây nho lại thông chuyển cho các cành nho nguồn nhựa sống và sức mạnh, để các cành nho có thể đâm hoa kết quả được. Cái hình ảnh về sự tương quan mật thiết giữa cây nho và cành nho như thế đã được Ðức Giêsu giải thích như sau : « Thầy là cây nho, các con là cành nho ». Ðiều đó có nghĩa là chúng ta phải đâm hoa kết trái, và Ðức Giêsu ban cho chúng ta sức mạnh và các khả năng cần thiết để hiện thực được điều đó !

Nhưng thứ hoa quả được đề cập tới ở đây là thứ hoa quà nào? Chính Ðức Giêsu đã trả lời câu hỏi đó khi Người nói về cây nho và cành nho. Người nói : «Các con hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương các con ». Vậy, thứ hoa quả mà Ðức Giêsu đòi hỏi chúng ta phải mang lại trong suốt cuộc sống mình là tình yêu. Tình yêu mà chúng ta đã được lãnh nhận từ Thiên Chúa, chúng ta phải tiếp tục thông ban cho người khác như nhựa sống từ thân cây nho thông ra và lưu chuyển giữa các cành nho vậy.

Vâng, thân cây nho chuyển thông cho các cành lá nhựa sống và sức mạnh. Nhưng công việc đâm hoa kết quả là phận sự của cành nho, chứ không phải của thân cây. Ðúng thế, Thiên Chúa ban cho con người sức mạnh, các khả năng, các ơn thánh, nghĩa là các phương tiện; Còn việc mang lại hoa quả là bổn phận của con người, việc kiến tạo một thế giới an bình và tươi đẹp là bổn phận của chúng ta. Vâng, bổn phận của chúng ta là phải sống và thực thi tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu đã đổi mới thế giới. Chúng ta phải tiếp tục thông chuyển tình yêu của Thiên Chúa đến tất cả mọi đồng loại. Thiên Chúa cần đến chúng ta. Thiên Chúa cần đến mỗi người trong chúng ta theo khả năng mà Người đã ban cho từng người. Và nếu mỗi người biết đem khả năng đó của mình để cộng tác vào cuộc sống xã hội và thế giới, đương nhiên sẽ mang lại hoa trái.

Nhưng cành nho tự mình không thể đâm hoa kết trái được, nhưng phải nhờ có sức mạnh và nhựa sống từ thân cây thông chuyển cho. Ðiều đó có nghĩa là mọi điều thiện hảo chúng ta làm cũng như mọi tình yêu chúng ta trao ban, đều phát xuất từ Thiên Chúa. Còn chính chúng ta, tự bản chúng ta không thể làm được bất cứ điều gì thiện hảo. Vâng, chúng ta chỉ mang lại những hoa trái có giá trị và lành thánh, nếu Thánh Thần Thiên Chúa hành động qua chúng ta. Qua tình yêu của con người, Thiên Chúa hành động trong thê gian. Sự liên đới vô vị lợi với những người nghèo khổ và những người bị coi khinh, sự kính trọng đối với mọi người, sự khước từ bạo động và mù quáng chạy theo danh vọng, sự tôn trọng sự sống con người và môi trường thiên nhiên, v.v... là tất cả những điều mà thế giới hôm nay cần đến hơn bao giờ hết, và tất cả đều phát xuất từ Thiên Chúa.

Tuy nhiên, hình ảnh về « cây nho và cành nho » này xem ra vẫn còn xa lạ đối với một số Kitô hữu nào đó trong chúng ta. Con người chúng ta rất khó tin được rằng qua chúng ta tình yêu Thiên Chúa có thể biến đổi được thế giới. Chúng ta thường tin vào khả năng nhân loại của chính mình hơn ! Chúng ta cho rằng tự mình, chúng ta có thể mang lại hoa trái. Nhưng thực ra, chúng ta chỉ có thể mang lại hoa trái trong cuộc sống, nếu chúng ta biết rộng mở lòng mình để đón nhận nhựa sống ơn thánh của Thiên Chúa. Qua mỗi người trong chúng ta, sức sống thần thiêng đó hoạt động và có thể làm cho thế giới trở thành nhân bản hơn và nhờ đó trở thành Kitô giáo hơn. Vậy, các cành nho đâm hoa kết quả đúng với danh xưng của mình, thứ hoa quả làm vui lòng người và đổi mới được thế giới !

Tóm tắt, ở bất cứ nơi nào con người cảm nhận được tình yêu của những đồng loại của mình và qua đó cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, thì ở đó thế giới tự đổi mới. Thế giới nhờ thế sẽ trở nên nhân bản hơn. Vậy, thế giới có tiếp tục phát triển đúng với thánh ý Thiên Chúa hay không, tất cả hoàn toàn đều tùy thuộc vào chúng ta. Ở đây, có lẽ chúng ta có thể nói được rằng : Khi dựng nên thế giới Thiên Chúa không cần con người, không cần sự cộng tác của con người, nhưng để biến đổi thế giới trở nên nhân bản và tươi dẹp hơn, nhất thiết Thiên Chúa phải cần đến con người, cần đến sự góp tay của con người, vì Người tôn trọng sự tự do của con người ! Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh qua Lời Người, qua các Phép Bí Tích và qua sự trợ giúp đầy yêu thương của Người dành cho loài người chúng ta. Do đó bổn phận của chúng ta vẫn luôn là : phải đâm hoa kết quả, nghĩa là phải tiếp tục thông ban cho mọi anh em đồng loại sự trợ giúp đầy yêu thương của Thiên Chúa!

LM Nguyễn Hữu Thy
 

PS5-B79: CÂY NHO THẬT

Ga 15,1-8
 

Tư tưởng xuyên suốt trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay đó là hoa quả của Thánh Thần. Thánh: PS5-B79

Tư tưởng xuyên suốt trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay đó là hoa quả của Thánh Thần. Thánh Phaolô một con người say máu các Kitô hữu, thế nhưng khi được Thần Khí Chúa đánh ngã, ông đã trở nên lợi khí cho Tin Mừng, Lời Chúa nhờ ông mà được loan truyền (Cv. 9,26-31). Và bài Tin Mừng Chúa Giêsu cũng nói đến cây nho và cành nho phải có sự liên kết mật thiết cành và cây thì mới sinh hoa trái được, nghĩa là nếu chúng ta biết kết hợp với Chúa Giêsu thì hoa trái của Thánh Thần là những nhân đức mới phát sinh ( Jn.15,1-8). Thật vậy, tình yêu chỉ có ý nghĩa khi nó sinh trái trăng qua những hành động cụ thể ( 1Jn.3,18-24).

Trong chương trình cứu độ nhân loại, Thiên Chúa đã muốn có một dân riêng thánh thiện « minh chính » kiểu mẫu. Ngài đã săn sóc dân ấy như ông chủ săn sóc vườn nho của mình. Tiên tri Isaia đã diễn tả về vừơn nho như sau : ông tìm đất, vỡ đất, nhặt đá, chọn giống và đặt tháp canh giữ vườn, sau cùng là khoét bồn đạp nho. Những công việc ông làm chứng tỏ ông đặt nhiều hi vọng vào vườn nho « còn gì mà tôi không làm ? » ông đã làm hết sức mình rồi, và Ngài những mong dân ấy kết trái ngon, sinh quả ngọt nhưng nó chỉ sinh toàn nho dại, nho chua mà Iasia muốn ám chỉ là dân Israel, họ luôn manh tâm tội lỗi.

Vì yêu mến Cha nên Chúa Giêsu muốn là cây nho đích thực để gây tạo một vườn nho thực tốt cho Cha để thoả mãn tình yêu của Thiên Chúa Cha nên Người nhận « Thầy là cây nho đích thực » nhưng cây nho chỉ có ý nghĩa khi nó có những cành lá hoa trái xum xê, và cành nho chỉ sống được khi nó gắn liền với cây nho, nó sẽ được nhựa của cây nho lưu thông nuôi dưỡng. Cây nho và cành nho cần đến nhau và liên kết với nhau. Một cành nho muốn tươi tốt và sai trái nhiều thì phải bám chặt vào cây nho. Nhưng bám chặt vào cây nho chỉ là để tiếp lấy nhựa từ cây chảy qua các ống dẫn nhựa đến tận các tế bào nhỏ mà nuôi dữơng cho toàn thân toàn cành. Cành nào bám vào cây mà không để cho nhựa tràn vào nuôi sống thì cành ấy chết khô trên gốc. Cành nào cản trở nhựa sống chảy tới, thì tùy theo mức độ cản trở mà cành nho sẽ khô héo nhiều hay ít, cằn cỗi nhiều hay ít. Cho nên muốn tươi tốt, muốn có sức sinh nhiều trái thì ống nhựa phải thông, phải không có sức cản để cho nhựa tràn vào mọi nơi.

Tuy nhiên có những cành hút nhiều nhựa nhưng chỉ có lá xum xê mà không có trái, đó là cành làm phí nhựa. Cho nên muốn cây nho sinh nhiều trái, chẳng những các cành nho phải bám trên cây mà các chỗ chết cản nhựa không tới được toàn thân thì phải cắt bỏ đi, những cành tươi tốt mà không sinh trái nhiều cũng phải tỉa, có như thế cây mới có những trái trăng tươi tốt đích thật. Trái đích thật là đưa lại những kết quả mà chủ mong muốn.

Cũng vậy người môn đệ muốn sinh nhiều trái cũng phải lưu lại trong Chúa Giêsu để cho nhựa sống của Người tràn vào toàn thân, nuôi sống từng tế bào nhỏ nơi thân mình, nghĩa là sự sống của chúng ta phải cần liên kết với Chúa Giêsu, Người đã ví mình như cây nho và chúng ta là cành nho. Chúa cần đến chúng ta để sinh trái trăng cho Người và chúng ta lại càng cần đến Chúa hơn, vì có Chúa chúng ta mới có thể sống và trưởng thành. Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta thì Người cũng mong chờ nơi chúng ta sinh hoa trái Thánh Thần « Điều làm vinh hiển Cha là các con sinh hoa trái... », chính khi sinh hoa trái là đáp trả lòng mong muốn của Chúa.

Phải để cho lời dạy của Người và Thần Khí của Cha tỉa sạch những chỗ chết, những chỗ cản, phải để cho các Ngài cắt đi những phần thân bám trên gốc ăn hại nhựa mà không sinh trái. Nếu thấy Thiên Chúa cắt tỉa chúng ta là vì Ngài mong chúng ta sinh hoa trái. Giờ đây Chúa Giêsu vinh hiển, Người thực sự cần đến con người để tiếp tục chương trình cứu rỗi cách hữu hình như rao giảng Tin Mừng, phân phát Bí Tích...Tuy nhiên chúng ta chỉ là khí cụ để phát sinh hoa trái thiêng liêng cho người khác. Mỗi người Thiên Chúa mong chờ một cái gì riêng, vì thế chúng ta phải nhận định Chúa đang chờ mong gi nơi tôi ! và nhờ đức tin cùng đức ái mà trú ngụ lâu dài trong Chúa Giêsu như nguồn mạch sự sống. Thành quả của người Tông Đồ tùy thuộc vào sự kết hợp này.

Lạy Chúa, xin cho Lời Chúa hôm nay như nhựa sống ân sủng tràn đầy vào tâm hồn chúng con, để dù có gặp gian nan thử thách, chúng con vẫn không tách khỏi thân nho nhưng lưu lại, gắn bó với Chúa Giêsu nhiều hơn, nhờ đó những cắt tỉa qua đau khổ chúng con càng sinh nhiều hoa trái thiêng liêng là các nhân đức và các linh hồn.

Sr Mai An Linh, OP
 

PS5-B80:  KHI LÒNG TA CÓ CHÚA

 “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái…”
 

Mối liên hệ giữa Kitô hữu với Chúa Kitô phải là mối liên hệ làm phát sinh năng lực sống: PS5-B80

Mối liên hệ giữa Kitô hữu với Chúa Kitô phải là mối liên hệ làm phát sinh năng lực sống. Năng lực sống chính là kết quả cuối cùng giữa sự liên hệ hai chiều Chúa Kitô và Kitô hữu. Để phát triển thành mối liên hệ phát sinh năng lực sống, mối liên hệ giữa ta với Chúa phải keo sơn, bền chặt, sống động, như cành cần đến cây để sống và cây cần có cành để thực hiện chức năng tăng trưởng, làm sinh hiệu quả của mình. Cây và cành ở trong nhau, gắn chặt vào nhau. Cây và cành có chung một dòng nhựa, vì thế, cùng một sự sống, một sức sống. Sự sống và sức sống ấy chuyển tải từ cây sang cành, rồi nhờ cành, cây trổ hoa kết trái.
Khi dùng hình ảnh cây nho và cành nho để nói về chúng ta với Chúa, Chúa Kitô dạy ta hãy hiệp nhất, hãy gắn chặt đời mình với Chúa. Nói cách khác, ta và Chúa hãy ở trong nhau: ta trong Chúa và Chúa trong ta. Bởi cành nho cần đến cây nho thế nào, chúng ta cũng cần Chúa Kitô như thế. Nếu không hiệp nhất với Người, không ở trong Người, ta không thể sống, không thể sinh hoa kết trái.
Cũng vậy, cây nho cũng cần đến cành nho. Chính nhờ cành nho, mà cây nho có thể sinh trái. Chúa Kitô cần chúng ta, cần đến những hoa trái thánh thiện mà ta thể hiện trong đời sống để Chúa được vinh danh và cả sáng. Nói cách khác, ta phải làm sao để chính ta là hiện thân của Chúa giữa trần gian, để mọi người xung quanh, khi sống cùng ta, họ nhận ra Chúa Kitô trong ta. Tức là nhận ra trong đời sống của một kẻ đã biết làm cho đời mình trổ sinh hoa trái tốt lành nhờ liên hệ với Chúa Kitô.
Trên nguyên tắc, ta vẫn biết, Hiệp nhất với Chúa là được ở trong Chúa. Nhưng cụ thể, ta phải hiệp nhất thế nào? Phải làm thế nào để được “ở trong Chúa Kitô”?
“Ở trong Chúa Kitô” là kết hợp với Người tôn thờ Thiên Chúa trong từng thánh lễ và sống bí tích Người ban, nhất là bí tích Thánh Thể. Nếu chểnh mảng những điều này, ta giống như một cành nho bị bệnh, vì thế không thể đón nhận sức sống của cây nho. Như cành nho sẽ chết nếu không thể nhận nhựa sống từ cây nho. Cũng vậy, Nếu không đón nhận sức sống lưu chuyển từ Chúa Kitô, chúng ta sẽ tàn úa và chết.
“Ở trong Chúa Kitô” là chuyên chăm đọc, học hỏi và sống Lời Chúa. Bất kể là ai, học nhiều hay ít, giàu sang hay nghèo hèn…, chúng ta hãy học cho biết Lời Chúa và ra sức thực hành Lời Chúa trong từng ngày sống của mình. Có như thế, ta mới thực sự gắn bó với Chúa Kitô, ở trong Chúa Kitô.
“Ở trong Chúa Kitô” là ta luôn luôn chăm chỉ cầu nguyện và cầu nguyện liên lỉ suốt đời mình. Chỉ có người nào thường xuyên được ta lắng nghe và chuyện trò với họ, họ mới thực sự ở trong ta, ta ở trong họ, ta và họ trở nên gần gũi nhau. Cầu nguyện là lắng nghe tiếng Chúa trong cõi lòng mình, là chuyện trò với Chúa để ngày càng yêu mến Chúa và được Chúa yêu mến hơn. Làm được như thế, ta thực sự ở trong Chúa.
“Ở trong Chúa Kitô” là khi ta bày tỏ tình yêu với mọi người như cho đi sự thân thiện, nụ cười, không oán giận, luôn luôn giúp đỡ người hèn kém, viếng thăm người đau ốm liệt lào… Họ chính là anh em ta, và là hiện thân của Chúa Kitô bên cạnh ta. Vì thế, khi bày tỏ tình yêu đối với họ, là chính lúc ta ở lại trong Chúa Kitô.
“Ở trong Chúa Kitô” là khi ta dâng hiến sự hy sinh của mình cho Thiên Chúa, cho Hội Thánh của Người, cho cả xã hội mà ta đang đồng hành đây, để nhờ sự hy sinh của ta, Thiên Chúa được vinh danh, Hội Thánh được mở mang, và nhân loại có điều kiện sống tốt hơn. Chúa Kitô đang ở lại trong cuộc đời này. Vì thế, khi thực hành các nhân đức hy sinh, ta thực sự ở trong Chúa Kitô.
Một khi ta đã ở trong Chúa rồi, lập tức, như một kết quả tự nhiên, lòng ta có Chúa, cuộc đời ta có Chúa, sự sống ta có Chúa. Tắt một lời: Chúa ở trong ta.
“Xem quả thì biết cây”. Để kiểm chứng một tâm hồn có Chúa hay không, ta hãy đi tìm những hoa trái của tâm hồn ấy. Nếu ta thật sự trong Chúa và Chúa trong ta, chắc chắn lòng ta sẽ đầy tràn tình yêu. Nói như cách nói của thánh Phaolô, đó là “những người được chọn của Thiên Chúa, những người thánh thiện, và được yêu thương”. Họ “mặc lấy những tâm tình nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau...” (Col 3, 12 tt). Có Chúa lòng ta sẽ trổ sinh hoa trái tốt lành, thánh thiện như Chúa Kitô đã nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái…”
Chúng ta có thể kể ra rất nhiều tấm gương “trổ sinh hoa trái” trong suốt dòng lịch sử của Hội Thánh. Họ là những con người của đời thường, là anh chị em của ta, là những người đã từng sống hay đang sống như ta, nhưng cuộc sống của họ chứng minh họ ở trong Chúa và Chúa trong họ. Chẳng hạn tấm gương của Mẹ Têrêsa thành Calcutta bên Ấn Độ. Suốt đời, Mẹ đã để cho mình chìm ngập trong ơn Chúa. Mẹ đã gắn bó với Chúa cách sâu lắng, thấm đậm, nồng ấm vô cùng. Bởi thế, tất cả những gì Mẹ đã suy nghĩ, đã làm, đều chứng minh cho thế giới thấy, đó là những hoa trái trổ sinh bởi một tâm hồn lắng chìm trong Chúa và Chúa trong Mẹ.
Chẳng hạn, người ta kể một câu chuyện trong rất nhiều những câu chuyện về Mẹ Têrêsa thành Calcutta như sau: Một buổi tồi nọ, Mẹ Têrêsa tiến lại gần một người, người ta vừa mang vào căn nhà dành cho những người hấp hối. Đó là một bà lão. Thân mình bà phủ đầy những mảnh giẻ rách, nước da đen, đầy những vết thương hôi thối. Mẹ Têrêsa đã chùi rửa các vết thương và chăm sóc để ngừa nhiễm trùng. Nhưng bà đang hấp hối, có lẽ khó mà qua khỏi. Mẹ đã tặng bà một chén súp với tất cả tấm lòng yêu thương, quý mến.
Người phụ nữ đáng thương đưa đôi mắt lờ đờ, yếu ớt nhìn Mẹ thật lâu, rồi thều thào: “Vì sao bà lại làm như thế đối với tôi?”. Mẹ Têrêsa trả lời: “Bởi vì tôi rất yêu mến bà…”
Một tia sáng hạnh phúc phát xuất từ tận đáy lòng ánh lên khuôn mặt gầy gò của bà, nơi dấu ấn của tử thần đã bắt đầu xuất hiện, dù vẫn còn pha lẫn giữa sự ngạc nhiên lớn và một chút nghi ngờ. Nhìn khuôn mặt hạnh phúc ấy, dù chỉ như một đốm lửa sắp tàn, người ta vẫn nhận ra, không biết tự thuở nào, dường như người phụ nữ kia đã đói khát những tiếng yêu thương! Bà sung sướng thều thào trong nước mắt, đòi Mẹ Têrêsa nhắc lại: “Ôi, bà hãy nhắc lại một lần nữa đi!” “Tôi rất yêu bà”, Mẹ Têrêsa nhắc lại bằng một giọng nói ấm áp, dịu dàng.
“Hãy nhắc lại, hãy nhắc lại nữa đi bà!” Người phụ nữ đang xiết chặt tay Mẹ Têrêsa kéo về phía bà như muốn lắng nghe rõ hơn, nghe những lời lẽ hạnh phúc nhất, tuyệt vời nhất trong đời bà. Bởi đó cũng là những lời đẹp nhất trong cõi đời này mà con người có thể dành cho nhau. Ánh mắt của bà không ngớt nhìn về phía Mẹ Têrêsa. Cứ như thế, ánh mắt ấy lịm dần, lịm dần. Bà đi vào cõi chết trên tay Mẹ Têrêsa, không quên để lại một nụ cười tươi rói niềm hạnh phúc trên khuôn mặt dẫu đã nhiều héo úa…
Bằng chính tình yêu của mình, Mẹ Têrêsa đã làm chứng cho tình yêu của Chúa đối với loài người chúng ta. Có Chúa ở trong lòng, và để cho mình ở trong Chúa, Mẹ Têrêsa đã làm cho đời mình trổ sinh thật nhiều hoa trái thánh thiện, mang lại niềm an ủi cho không biết bao nhiêu tâm hồn.
Đó là bài học để ta nghiền ngẫm và ghi nhớ; đó là tấm gương để ta soi rọi lòng mình; đó là lời giải đáp hữu hiệu để ta trả lời cho những anh chị em đang gặp khó khăn quanh mình.
Bí quyết để ta có thể sống giống như Mẹ Têrêsa thành Calcutta đó là hãy ở trong Chúa để được Chúa ở cùng. Có Chúa, cuộc đời ta sẽ sinh nhiều hoa trái như Chúa muốn.
Lạy Chúa Kitô, xin cho chúng con được ở lại trong Chúa bằng tất cả những thực hành của lòng tin trong suốt cả cuộc đời dương thế của chúng con. Xin hãy làm cho chúng con kết hiệp với Chúa nhờ tất cả những phương tiện mà Chúa ban cho chúng con, để mãi mãi chúng con ở trong Chúa như cành nho gắn chặt đời mình vào thân nho. Amen.
 Lm. VŨ XUÂN HẠNH
 

PS5-B81:  Thời điểm BỊ ĐỨT RỄ

Cách đây mấy năm, ở Chicago, vụ một bé gái 9 tuổi người Mỹ đen bị một thanh niên Mỹ: PS5-B81

Cách đây mấy năm, ở Chicago, vụ một bé gái 9 tuổi người Mỹ đen bị một thanh niên Mỹ đen khác hành hạ hết sức tàn ác và man rợ may được khám ra kịp đưa đi nhà thương cứu cấp đã gây chấn động nơi tập thể Mỹ đen. Hóa ra nhiều đứa choai choai Mỹ đen chỉ có mẹ mà không có cha, không có ngày mai, không còn một ý thức tối thiểu về luân lý, mất luôn cả bản tính loài người ở ngay trong xã hội văn minh nhất loài người. Những lãnh tụ nổi tiếng như Jesse Jackson và Louis Farakhan đã đến thăm viếng và dám nói lên tệ trạng của cộng đồng Mỹ đen. Năm 1995, Farakhan đã điều động một cuộc diễn hành một triệu người đàn ông Mỹ đen, kêu gọi lớp người Mỹ gốc Phi Châu hãy dám đối diện với tình trạng đứt rễ của mình và dám bắt đầu ngẩng mặt lên tiến thân chen chân với những sắc dân khác, chứ không chịu cúi đầu thua kém mặc cảm hoài khiến sinh ra tàn tệ như hôm nay.
Phim Gốc Rễ (Roots) từ cuốn truyện của Alex Haley đã tác động người Mỹ đen rất nhiều, và cũng là dịp cho người Mỹ trắng nhận diện tội ác và thái độ kỳ thị bệnh hoạn một thời. Trong phim có đoạn diễn tả truyền thống đặt tên cho con thật cảm động thời cha ông người Mỹ đen còn ở Phi Châu. Người cha bế đứa con vừa sinh ra ngoài sân ban đêm nhìn lên bầu trời đầy sao, nhìn vào một ngôi mà đạt tên cho con theo hướng đó. Ngước nhìn lên cao, người cha nói với đứa con về mơ ước vào đời, rằng con cố mà vươn lên con nhé, con không thể sống tầm thường lệt bệt ở mặt đất được.
Bây giờ nhiều đứa không còn cha thì lấy ai mà chỉ cho thấy ước mơ ngoài việc canh chừng để trao thuốc xì ke và lý tưởng không lớn hơn đôi giầy Nike và chiếc quần rộng thùng thình mặc trễ xuống chẳng giống ai!
Gia tài quí nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con là cái gốc và đôi cánh, chứ không nhất thiết là những đồng bạc trong ngân hàng. Đúng là như một thân cây, chỉ có thể tươi tốt đơm bông kết trái khi nối vào được gốc rễ và có hướng lý tưởng vươn tới. Còn gắn được vào gốc rễ thì còn nhựa sống, còn hồn, còn tinh thần.
CÂU TRUYỆN MẤT HỒN
Trong cuốn Hồn Nước với Lễ Gia Tiên, triết gia Kim Định kể một câu truyện về một người bán mất hồn mình.
Ở Prague có một sinh viên nghèo đang lâm vào bước quẫn bách quá không biết tìm đâu ra tiền. Quỉ liền hiện đến đề nghị cho anh một món tiền kếch xù với điều kiện là nhường lại tất cả những gì anh có trong phòng. Ngỡ là điều kiện gì chứ cái đó thì anh không cần suy nghĩ vì tất cả cơ đồ của anh chỉ là một cái ghế bố đã thủng với một cái gương mẻ, vài đồ chơi rẻ tiền. Quỉ cứ việc mang tất cả đi và để tiền lại đó cho anh. Nhưng trước khi đưa đi qủi bảo anh soi vào gương một cái. Đang khi anh soi thì quỉ làm dấu, bóng anh biến đi và quỉ đem các đồ dông tuốt, để lại tiền cho anh sinh viên no sống cuộc đời đế vương, không thèm chú ý chi tới chuyện xảy ra nữa. Anh chỉ thấy hơi phiền một chút là lúc soi gương cạo mặt, không thấy mặt trong gương nữa. Tuy thế, đó là sự bất tiện nhỏ nhoi không đáng quan ngại, nhất là khi người ta có đủ tiền để thuê người cạo mặt.
Nhưng một ngày kia vì có chuyện bất bình với em rể không sao giàn hòa được nên phải hẹn đánh nhau để phân phải trái. Bố vợ can ngăn hết lời vô ích nên chỉ xin anh đừng có giết em. Điều đó thì anh chịu liền, vì thực bụng chính anh cũng không muốn giết em rể, mà chỉ có ý làm sầy da một chút gọi là đắc thắng, bởi đắc thắng có nghĩa là đắc lý. Vì thế, anh lấy danh dự hứa với bố vợ sẽ không giết em.
Khi ngày quyết đấu tới anh lên xe để đến chỗ hẹn ở bên ngoài thành. Dọc đường xe gẫy bánh, anh phải xuống đi bộ một quãng xa, nên không tới đấu trường kịp giờ. Khi gần tới nơi, anh thấy một người cầm gươm đi lại để đón anh, mặt mày có vẻ giống anh như hệt và đang chùi sạch cây gươm còn nhỏ máu. Thấy thế, anh liền giật mình nhận ra đó chính là cái hồn của anh mà anh đã vô tình bán cho quỉ, và nay có thể là quỉ sai về giết hại em mình. Nghĩ thế anh liền chạy vội đến đấu trường thì quả đúng rồi, xác em rể đã nằm chết xõng xoài, máu tuôn ra lai láng. Anh buồn muốn ngất xỉu: không những vì thương em, nhưng vì còn thẹn với bố vợ là thất hứa... Thật là mọi sự đã xảy ra ngoài ý muốn của anh, chỉ vì một cử chỉ coi như vô thưởng vô phạt: nhường tấm gương soi mặt cho quỉ, mà khiến nên nông nỗi đau thương. Đành rằng đời sống vật chất của anh có lên cao, nhưng nếu nghĩ đến cái xác vô tội của người em nằm trên vũng máu, nghĩ tới cặp mắt cha vợ đầy oán trách kinh hoàng cho anh là đứa hèn nhát nuốt lời thề... thì khó bình tâm ngồi hưởng thụ giàu sang kiếm được bằng giá máu của em...
MỘT NGHIÊN CỨU ĐÁNG CHÚ Ý
Quả thực, khi người trẻ nhìn vào dòng tộc tổ tiên mà mặc cảm muốn đạp đổ vất đi như những chiếc gương mẻ, thì cuộc khủng hoảng bắt đầu. Đó là cuộc rối loạn mà những nhà tâm lý bây giờ gọi là khủng hoảng không biết mình là ai (identity crisis). Đứa trẻ bị đứt rễ sẽ sinh ra đủ mọi hiện tượng hãi hùng làm mồi cho băng đảng, và có thể thành nửa người nửa ngợm nửa đười ươi.
Dịp 30 tháng 4 ghi mốc người Việt xa xứ, tờ The Times-Picayune vùng New Orleans đăng một bài nhận định khá dài về tình trạng giới trẻ Việt trong khung cảnh mới, với tựa đề Xung Đột Văn Hóa (Culture Clash). Bài báo cho biết kết quả một cuộc nghiên cứu về lý do tại sao học sinh Việt vùng New Orleans thành công, lên đại học nhiều. Nhóm Carl Bankston của ban xã hội học đại học Loyola cùng với sự cộng tác của đại học LSU đã cho biết như sau:
1. Vì truyền thống Việt hiếu học, cha mẹ thúc đẩy, sẵn sàng hy sinh cho con chỉ mong con cái vươn lên được. Chính vì thế mà nhiều em cho biết có những lúc muốn đi chơi mà nghĩ thương cha mẹ nên quyết học, mà học thành công thật.
2. Học sinh nào có liên hệ chặt chẽ với cộng đồng Việt, biết đọc và viết tiếng Việt, sinh hoạt tích cực với người Việt, và giữ được những giá trị phong hóa Việt, thì thường là những em giỏi trong trường Mỹ.
3. Học sinh dở trong nhà trường thường thuộc lớp thiểu số, không phải vì các em ấy quá giữ kiểu sắc dân mình mà không am hợp xã hội Mỹ, nhưng là vì chúng xa lìa lối sống của sắc dân và cộng đồng mình, nên bị đứt rễ. Mà vì không thuộc về đâu cả nên đâm loạn. Đúng là trở thành vô loài, chẳng giống ai.
TIN VUI THỜI ĐIỂM NỐI LẠI DÒNG NHỰA
Không thể yêu Chúa nếu không biết yêu cha mẹ dòng tộc mình. Sức sống là dòng nhựa chuyển xuống một cách cụ thể qua những người thân yêu. Chính vì thế mà triết gia Kim Định nói rõ trong Hồn Nước với Lễ Gia Tiên, rằng việc giữ hiếu với cha mẹ tổ tiên là căn bản văn hóa trong triết lý Việt Nam. Vì ở điểm giữa bài vị là chính tổ tiên dòng tộc mình, mà vị tổ tột cùng nguồn sống thì còn ai khác hơn là chính Chúa Trời Đất. Vì thế mà có thể nói dân Việt là dân có Đạo từ trong máu trong tâm. Việt Nam đã trở thành vùng đất phì nhiêu sẵn sàng chờ đón hạt giống Tin Vui của Chúa. Một trong những bằng chứng rõ nhất là trong việc truyền giáo ở các nước Á Đông, không một nước nào đón nhận đạo Chúa nhanh chóng cho bằng Việt Nam ngay từ những ngày đầu tiên truyền đạo đầu thế kỷ 16.
Mỗi lần nhớ lại ngày ra đi, người Việt lại có dịp để nhìn lại hiện trạng của mình: cành cây có thể đang tươi tốt hay đang héo tàn vì bị đứt rễ không còn gắn liền vào đâu nữa nên mất hồn hết nhựa sống. Mình có thể bị ảnh hưởng nặng bởi cá nhân chủ nghĩa của xã hội tiêu thụ này đang chặt mỗi người ra từng mảnh nhỏ riêng rẽ, không còn cảm thấy mình liên hệ tới cộng đồng người mình nữa, và nhất là cũng có thể không còn gắn bó với nguồn sống nội tâm đích thật là chính Chúa. Vì thế mà cuộc sống có lúc cảm thấy vô vị nhạt nhẽo rã rời, chưa kể có những lúc cảm thấy như vô hướng và vô vị. Chúa đã nói rõ lý do:
"Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái nếu không gắn liền với cây nho, chúng con cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, chúng con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy chúng con chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quẳng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy quăng vào lửa cho nó cháy đi" (Gioan 15:4-6).
Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường
 

PS5-B82:  Thần linh sinh sản thần linh hay quái thai kitô giả…

Vì vẫn còn trong Mùa Phục Sinh, bài Phúc Âm của tuần thứ năm Phục Sinh năm B tiếp tục: PS5-B82

Vì vẫn còn trong Mùa Phục Sinh, bài Phúc Âm của tuần thứ năm Phục Sinh năm B tiếp tục chủ đề Mầu Nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh là “Sự Sống” từ tuần trước. Nếu tuần thứ tư Phục Sinh Mầu Nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh là “Sự Sống” được diễn tả qua hình ảnh “vị mục tử nhân lành hiến mạng sống mình vì chiên”, vị mục tử nhân lành biết chiên của mình và được chiên của mình biết đến, thì tuần thứ năm Phục Sinh này Mầu Nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh là “Sự Sống” được tiêu biểu qua hình ảnh “cây nho đích thực”, một cây nho tràn đầy Nhựa Sống Thần Linh trổ sinh muôn vàn hoa trái nơi các cành của mình.
Tuy nhiên, ý nghĩa Mầu Nhiệm Chúa Kitô Phục Sinh là “Sự Sống” giữa tuần trước và tuần này khác nhau về đối tượng nhận lãnh. Tuần trước, Lời Chúa trong bài Phúc Âm ngỏ với dân Do Thái, Chúa Kitô Phục Sinh, qua vai trò Chủ Chiên Nhân Lành, là “Sự Sống” đối với chung đàn chiên của Người, một đàn chiên có thể hiểu là cộng đồng Kitô hữu nói riêng và cộng đồng xã hội loài người nói chung, vì Người nói đến cả những chiên chưa thuộc về đàn. Tuần này, Lời Chúa trong bài Phúc Âm ngỏ với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Kitô Phục Sinh, qua hình ảnh Cây Nho Đích Thực, là “Sự Sống” đối với chung Giáo Hội và đối với riêng thành phần giáo sĩ (kể cả tu sĩ) nhất là giáo phẩm, thành phần được Người tuyển chọn để làm bạn hữu với Người (x Jn 15:14-15), nhờ đó có thể cảm nghiệm Người (“ai sống trong Thày”), hầu làm chứng nhân cho Người (“Thày sống trong họ”), và chăn dắt đàn chiên của Người như Người chăn dắt chúng với tinh thần của một vị Mục Tử Nhân Lành hiến mạng sống mình vì chiên (“trổ sinh hoa trái”).
Nếu Chúa Kitô là Cây Nho Đích Thực, và chung Giáo Hội cũng như riêng đời tận hiến tu sĩ, đặc biệt hàng giáo sĩ, nhất là hàng giáo phẩm, là cành nho, thì nhựa sống của Cây Nho Đích Thực thông sang cho các cành nho này là gì? Hoa trái nhờ nhựa sống này được trổ sinh ở các cành nho đây là chi? Tại sao những cành đã sinh trái lại còn bị cắt tỉa cho càng sinh nhiều hoa trái hơn?
Về vấn đề thứ nhất, vấn đề nhựa sống của cây nho, vấn đề liên quan đến bài Phúc Âm tuần tới, Chúa Nhật VI Phục Sinh, nên chúng ta để đến bài chia sẻ tuần tới hãy bàn tới. Bài Phúc Âm Chúa Nhật V Phục Sinh tuần này chỉ nói đến vấn đề tác dụng của “Sự Sống” nơi các cành nho, tức nhấn mạnh đến vai trò sinh hoa kết trái của cành nho mà thôi. Đối với khía cạnh cành nho sinh hoa kết trái cho Cây Nho Đích Thực là Chúa Kitô này, chúng ta thấy Giáo Hội Chúa Kitô thực sự là hiền thê của Người, một người nữ tự mình không thể sinh sản con cái nếu không hiến thân cho chồng, kết hiệp với chồng và nhận được sinh lực từ chồng, như cành nho được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm không dính liền với thân nho chẳng những sẽ không sinh hoa trái còn bị khô héo, trở thành củi bị lửa thiêu rụi đi mất. Tuy nhiên, vì là việc sinh sản thiêng liêng chứ không phải thể chất, sinh sản thần linh chứ không phải phàm nhân, mà Vị Hiền Thê Mẹ Giáo Hội này phải là một Trinh Nữ, Trinh Nữ Sinh Con, như mô phạm của mình là Trinh Nữ Maria, Mẹ Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Đó là lý do ở phần đầu của bài Phúc Âm, Chúa Giêsu đã nói đến việc thanh sạch của thành phần sẽ sinh sản muôn vàn hoa trái cho Người: “Các con đã được thanh sạch nhờ lời Thày nói với các con”.
Nếu muốn sinh sản muôn vàn hoa trái thần linh, Giáo Hội cần phải thanh sạch, phải là một Trinh Nữ, mà yếu tố làm cho và giữ cho Giáo Hội luôn là một Trinh Nữ, tức luôn sinh hoa kết trái, đó là Lời Chúa. Như thế, dù chưa hoàn toàn cho thấy, như bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Sáu Phục Sinh tuần tới, tất cả bản chất của nhựa sống của Cây Nho Đích Thực, nhựa sống có tác dụng làm cho các cành nho sinh muôn vàn hoa trái, bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Năm Phục Sinh tuần này cũng cho thấy trước nhựa sống của Cây Nho Đích Thực đây trước hết là Lời Chúa. Bởi đó, cành nho dính liền với cây nho, ở chỗ, như Chúa Giêsu kêu gọi trong bài Phúc Âm, “hãy sống trong Thày như Thày sống trong các con”, để trổ sinh muôn vàn hoa trái đây không là gì khác ngoài việc tuân giữ Lời Chúa, như Chúa khẳng định trong bài Phúc Âm “nếu các con sống trong Thày và những lời của Thày ở với các con thì các con xin bất cứ sự gì cũng được”, đến độ Lời Chúa hoàn toàn làm chủ con người tự nhiên của họ và chi phối cuộc đời sống đạo của họ, thành phần nhờ đó trở thành phản ảnh sáng ngời Lời Chúa, trở thành những chứng nhân trung thực cho Tin Mừng Sự Sống, cho Đấng “là Sự Sống Lại và là Sự Sống” (Jn 11:25). Cho tới khi được nên một với Chúa Kitô, được Chúa Kitô chiếm đoạt như thế, một tình trạng linh đạo được tu đức học gọi là Thần Hiệp, thành phần môn đệ đích thực của Người nói chung, nhất là thành phần đã được thụ phong để trở thành “alter Christus” nói riêng, mới có thể làm cho thế gian thấy được một Chúa Kitô sống động nơi Giáo Hội mà trở về với Người, hầu được thông phần vào sự sống thần linh với Giáo Hội (x 1Jn 1:1-3).
Vậy hoa trái thần linh được trổ sinh từ cành nho Giáo Hội đây là gì – Chúa Kitô được tái sinh trên thế gian nơi các linh hồn, hay là các linh hồn được tái sinh trong Chúa Kitô bởi nước và Thần Linh (x Jn 3:5)? Nếu hài nhi được sinh ra là tầm vóc hình thành sống động của mầm sống 9 tháng 10 ngày trong bụng mẹ thế nào, thì hoa trái thần linh được Giáo Hội sinh ra cũng thế, cũng chính là Lời Chúa, song là Lời Chúa ở tầm vóc hình thành sống động như vậy, nghĩa là một Chúa Kitô hình thành nơi các linh hồn nhận biết Người (x Eph 4:13, 15; Col 1:28; Gal 4:19), tới độ thành phần nhận biết Chúa Kitô đã được hoàn toàn đồng hóa với Người, một cuộc đồng hóa đến nỗi ai xúc phạm đến họ là xúc phạm đến chính bản thân Người, như chính Người đã xác định với một Saolê ngã ngựa trên con đường đang hung hăng điên cuồng lùng bắt các Kitô hữu tiên khởi: “Saolê, Saolê, sao ngươi bách hại Ta?... Ta là Giêsu, người mà ngươi đang bách hại” (Acts 9:5-6). Như thế, hoa trái thần linh được cành nho Giáo Hội hay Kitô hữu trổ sinh đây chính là Chúa Kitô. Đó là lý do Chúa Kitô khẳng định với những ai báo cho Người biết về việc Mẹ Người và anh em Người đang chờ gặp Người (Lk 8:21) rằng Người có thể trở thành con cái của thành phần lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa như Mẹ Maria, Người Mẹ đã được một phụ nữ khen tặng là có phúc vì được diễm phúc cưu mang và cho Người bú về thể lý (x Lk 11:27-28).
Thế nhưng, cuộc sinh thể lý nào cũng quằn quại đớn đau ra sao, cuộc sinh sản thiêng liêng cũng thế. Đớn đau bao giờ cũng gắn liền với việc sinh sản, dù là sinh sản thể lý hay thiêng liêng. Đớn đau là dấu hiệu đi liền với việc sinh nở, đến nỗi không đau đớn cũng không có vấn đề sinh con. Đớn đau bởi thế còn là dấu hiệu cho thấy một nguồn sinh lực dồi dào phong phú, như dấu tích tử giá là dấu hiệu chứng thực Chúa Kitô Phục Sinh vậy. Nếu một Trinh Nữ Sinh Con Maria Vô Nhiễm Tội mà còn phải bị lưỡi đòng đâm thâu qua dưới chân cây thập giá của Con mình mới làm cho tư tưởng nhiều người tỏ lộ ra (x Jn 19:25; Lk 23:44-48), thì Giáo Hội, cũng là một Trinh Nữ Sinh Con, làm sao có thể nào thoát được thân phận đớn đau này. Đó là lý do, ngay ở đầu bài Phúc Âm Chúa Nhật V Phục Sinh Năm B tuần này Chúa Giêsu đã xác quyết và tiên báo cho các tông đồ biết về tình trạng cần phải đớn đau mới có thể sinh muôn vàn hoa trái rằng: “Cha sẽ chặt đi các cành không sinh hoa kết trái, còn cành nào sai trái thì Ngài cắt tỉa để càng sinh hoa kết trái hơn nữa”. Kinh nghiệm tu đức cho thấy không một vị thánh nào mà không có đau khổ. Không khổ không thánh. Càng khổ càng thánh. Thiên Chúa cũng sử dụng đau khổ để chẳng những thánh hóa linh hồn mà còn làm cho linh hồn có khả năng sinh sản thiêng liêng nữa. “Cành nho nào sai trái” sẽ được Vị Trồng Nho là Chúa Cha cắt tỉa đây phải chăng là cành nho đã được Lời Chúa thanh tẩy, cành nho thánh thiện, cành nho được thần hiệp với Chúa Kitô Tiệc Ly (x Jn 17:21), và cành nho sai trái này sẽ “càng sai trái hơn” còn cần phải trải qua đêm tối tăm với Chúa Kitô ở Vườn Cây Dầu (x Mt 26:38; Lk 22:44) cũng như trên Cây Thập Giá nữa (x Mt 27:46; Mk 15:34).
Tuy nhiên, theo nguyên tắc Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay, nếu phải dính liền với Cây Nho mới có thể sinh muôn vàn hoa trái, thì một khi cần phải bị Vị Trồng Nho cắt tỉa như lìa khỏi Cây Nho thì làm sao lại có thể sinh nhiều hoa trái hơn được? Thế nhưng, đó lại là định luật sinh sản. Nếu thai nhi phải lìa bỏ lòng mẹ, ở chỗ cái nhau làm cho mẹ con dính liền với nhau cần phải cắt đứt khi thai nhi lọt lòng mẹ thế nào thì quả thực, chỉ có những ai liều mất mạng sống mình mới giữ được nó cho sự sống đời đời mà thôi (x Jn 12:25). Nếu Chúa Kitô trước khi tắt thở trên Thập Giá đã phải kêu lên não nuột “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ rơi Con” (Mt 27:46; Mk 15:34), một tiếng kêu nói lên tình trạng và tâm trạng cho thấy cái cảm giác Người hoàn toàn bị cắt lìa khỏi Cha thế nào, thì thành phần môn đệ là “cành nho sai trái” cũng sẽ cảm thấy mình bị tách lìa khỏi Chúa Kitô như vậy, như trường hợp các tông đồ sau Bữa Tiệc Ly được Chúa Kitô tiên báo, nhưng lại là một tình trạng tách lìa thiết yếu và quan trọng để thành phần cành nho bạn hữu của Cây Nho Chúa Kitô “càng sai trái hơn”: “Thày đi thì có lợi cho các con… Các con sẽ khóc lóc than van… nhưng nỗi phiền muộn của các con sẽ trở thành niềm vui cho các con” (Jn 16:7,20).
Về vấn đề sống nội tâm thân mật với Chúa Kitô như cành nho với thân nho để có thể sinh nhiều hoa trái được bài Phúc Âm Chúa Nhật V Phục Sinh năm B nhắc đến, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhận định về tình trạng sống đạo hiện nay trong Giáo Hội và khuyên giục giới trẻ Tây Ban Nha trong chuyến tông du 99 (3-4/5/2003) của Ngài như sau:
“Thảm kịch của nền văn hóa hiện nay đó là thiếu đời sống nội tâm, thiếu việc chiêm niệm. Không có đời sống nội tâm thì văn hóa chỉ là những gì rỗng ruột, nó như một cái xác nhưng chưa có hồn sống. Các bạn đừng bao giờ tách biệt hoạt động với chiêm niệm; nhờ đó các bạn mới có thể góp phần vào việc biến đổi giấc mơ cao cả trở thành thực tại; trở thành một cuộc hạ sinh cho một tân Âu Châu trong tinh thần. Một thứ Âu Châu trung thành với những cội nguồn Kitô Giáo của mình, chứ không gắn bó với chính nó, song hướng tới việc trao đổi và hợp tác với các dân tộc khác trên thế giới… Các bạn cần đến sự trợ giúp của việc nguyện cầu cũng như cần đến sự an ủi phát xuất từ mối thân tình mật thiết với Chúa Kitô. Chỉ có thế, chỉ khi nào sống cái cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa và chiếu sáng tình huynh đệ Phúc Âm, các bạn mới có thể trở thành những tay xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, mới có thể trở thành những con người nam nữ chân chính của hòa bình và là những con người đi xây dựng hòa bình… Hãy tham dự vào ‘học đường của Trinh Nữ Maria’. Người là một mô phạm chiêm niệm siêu việt và là một mẫu gương tuyệt vời của đời sống nội tâm sinh hoa trái, hân hoan và phong phú”.
Tuy nhiên, vấn đề sống nội tâm đây không phải chỉ là vấn đề thi hành những việc đạo đức, nhất là cử hành những tác động phụng vụ, như thường xuyên xưng tội rước lễ, mà còn ở vấn đề sống tinh thần Chúa Kitô nữa. Đó là lý do kinh nghiệm sống đạo cho chúng ta thấy, có nhiều người rất đạo đức, xưng tội hằng tháng, rước lễ hằng tuần, đọc kinh hằng ngày, thế mà vẫn làm gương mù gương xấu, vẫn sống như người con cả ở gần cha mà chẳng hiểu cha mình gì hết (x Lk 15:29,31), chẳng khác gì như những cây vả xum xuê hoa lá mà chẳng có trái, đáng bị rủa chết (x Mk 11:13-14). Nói như thế không có nghĩa là phụng vụ là đồ bỏ, trái lại, có đến với Chúa Kitô nơi các bí tích, Kitô hữu chúng ta mới được dồi dào Chúa Kitô, nhờ đó mới có thể thông Người ra qua đời sống chứng nhân cho tinh thần đức ái trọn hảo của Người: “Các bạn đừng bao giờ tách biệt hoạt động với chiêm niệm”. Vấn đề quan trọng ở đây là chúng ta phải làm sao để tâm hồn chúng ta trở thành mảnh đất tốt cho mầm mống thần linh là Lời Chúa lớn lên trổ sinh gấp trăm (x Mt13:23), thì chúng ta sẽ không bị xẩy thai, thậm chí không cưu mang và sinh ra những quái thai, những kitô giả…
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
 

PS5-B83:  Thầy là cây nho các con là cành

 (Jn.15:1-8)
 

Nữ tu Seime Noquilic người Thụy Điển, đã đoạt giải thưởng Nobel Văn chương, có kể lại: PS5-B83

Nữ tu Seime Noquilic người Thụy Điển, đã đoạt giải thưởng Nobel Văn chương, có kể lại một câu chuyện như sau:
Một chàng kỵ mã Sophoner, đã chiến thắng trở về làng, mình trần không một trang phục che thân. Anh đã hứa mang ngọn lửa thắp từ mồ Chúa về cho quê hương mình. Qua rất nhiều cuộc cướp bóc, mất hết quần áo, mất cả con ngựa quí nhưng anh đã cố gắng không để tắt mất ngọn lửa qúy. Anh chạy về được đến nhà thờ chính tòa của làng anh và thắp sáng các ngọn nến trên bàn thờ bằng chính ngọn lửa mình mang về.
Trước anh, nhiều nguời cũng đã cố gắng thực hiện lời thề, nhưng trên đường đi, vì nhiều lý do khác, ngọn nến của họ đã tắt mất. Khi được hỏi đâu là bí quyết giúp anh thành công, người kỵ mã trả lời: "Tôi đặt hết chú tâm vào ngọn nến. Tôi đã sẵn sàng bỏ tất cả để bảo vệ ngọn lửa này!".
Đó cũng là điều mà Chúa Giêsu muốn mỗi người thực hiện. Ngài muốn chia sẻ với chúng ta niềm can đảm và hy sinh cả mạng sống nữa.
Chúa Giêsu nói rằng: "Ta là cây nho, cây nho chân thật mà Thiên Chúa đã vun trồng. Nếu các con liên kết với Ta, các con sẽ trổ sinh hoa trái, các con sẽ nên dân riêng của Ta".
Bài Sách Thánh hôm nay dạy chúng ta hai điểm quan trọng: Trước tiên Chúa dạy Ngài là cây nho, cần chúng ta có một niềm tin liên kết. Kế đến Chúa dạy chỉ có liên kết với Ngài thì chúng ta mới trưởng thành, nên người đáng tao cho ngọn lửa thiêng về thắp sáng các con tim. Hy sinh và can đảm bảo vệ Chúa thì chúng ta được toại nguyện. Xa lìa Ngài chúng ta không thể làm gì nên chuyện.
Lm. Thu Băng, CMC
 

PS5-B84:  Hiệp Thông Với Đức Kitô

Những sinh hoạt liên quan đến nghề trồng nho và ép rượu đã trở thành quen thuộc trong đời : PS5-B84

Những sinh hoạt liên quan đến nghề trồng nho và ép rượu đã trở thành quen thuộc trong đời sống của người dân tại Palestina. Chúa Giêsu dùng những sinh hoạt này để diễn tả mối liên quan và sự hiệp thông giữa Ngài và các môn đệ. Đây là sự hiệp thông tuyệt đối cần thiết phải có, nếu con người muốn lãnh nhận sức sống thần linh và được cứu độ. Ngài khẳng định: "Như cành nho tự nó không thể sinh trái, nếu không dính liền với cây nho. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh hoa trái". Lời tuyên bố này là một chân lý, một điều kiện, một định luật. Thật vậy, con người được Thiên Chúa tạo dựng, mang trong mình hình ảnh của Ngài và cùng đích phải đạt tới chính là được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.
Được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người hoàn toàn tùy thuộc vào Thiên Chúa, mang theo những khát vọng cao vời, những tiềm năng thánh thiện và những chiều kích vĩnh cửu. Do đó, con người phải quy hướng về Chúa, phải tiến dần về đích điểm của mình, dù còn đang sống trên trần gian. Khi chưa đạt được khát vọng này, con người vẫn cảm thấy bất an thiếu thốn, đúng như Thánh Augustinô đã nhận định: "Linh hồn tôi được tạo dựng cho Thiên Chúa, nên nó cứ băn khoăn xao xuyến bao lâu chưa gặp được Ngài".
Nhưng làm cách nào để đạt được sự hiệp thông trọn vẹn này, khi nhân loại đã thực sự xa lìa Thiên Chúa và đã chết trong sự bất trung của nguyên tổ, như Thánh Phaolô nói, "Tội lỗi đã vào thế gian, mang theo sự chết" (Rom 5,12) bởi vì "những đam mê của xác thịt luôn phản lại Thiên Chúa, không vâng phục lề luật Thiên Chúa" (Rom 8,7)? Chúa Kitô, Đấng Cức Độ nhân loại, chính là câu trả lời và là giải đáp cho vấn đề của chúng ta. Nói cách khác, Đức Kitô đã đến trần gian, đã gặp gỡ nhân loại, đã giáo huấn con người, đã dùng chính tình thương và sức mạnh của Thiên Chúa để tái lập sự hiệp thông này. Một phương thế nổi bật nhất trong kế hoặch được dự liệu, chính là việc thiết lập các bí tích, trong đó, bí tích Thánh Thể được coi là hữu hiệu nhất để dẫn tới sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa. Chúa Kitô tuyên bố: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, sẽ có sự sống đời đời".
Ngày 18 tháng 11-2005 tại Roma, Đức Thánh Cha Bênêđictô đã gặp các em bé mới rước lễ lần đầu. Một em tên là Andrea hỏi Đức Thánh Cha:
- Thưa Đức Thánh Cha, Đức Thánh Cha có kỷ niệm gì về ngày rước lễ lần đầu của Đức Thánh Cha không?
Đức Thánh Cha trả lời:
Đó là một ngày Chúa Nhật cuối tháng Ba, năm 1936, cách đây 69 năm. Trong ngày đó, Cha hứa với Chúa Giêsu, theo khả năng của Cha: "Con muốn luôn ở với Chúa". Và Cha đã xin Ngài: "Nhưng trước hết, xin Chúa hãy ở với con". Từ đó, Chúa Giêsu đã luôn nắm tay Cha, dắt Cha đi trong những tình huống khó khăn.
Ở lại với Chúa và Chúa ở lại với ta. Đó chính là sự hiệp thông mang lại hoa trái siêu nhiên, như Chúa đã ước mong và diễn tả trong dụ ngôn về cây nho. Do đó, lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha phải là lời cầu nguyện thường xuyên và tha thiết nhất của mỗi người chúng ta, nếu chúng ta thực sự muốn trở thành những cành nho luôn sinh hoa trái.
Lm. Bùi Mạnh Tín
 

PS5-B85:  NỖI BẤT HẠNH CỦA CHÚA

PM. Cao Huy Hoàng
 

Hạnh phúc của người làm cha làm mẹ là được nhìn thấy con mình mỗi ngày mỗi lớn, mỗi khỏe: PS5-B85

Hạnh phúc của người làm cha làm mẹ là được nhìn thấy con mình mỗi ngày mỗi lớn, mỗi khỏe mạnh xinh xắn, và càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan, cho đến lúc thành người hữu ích cho chính bản thân con, cho gia đình, cho xã hội, cho giáo hội, và đặc biệt là hữu ích cho Nước Thiên Chúa.
Không dễ gì có được hạnh phúc ấy, nếu cha mẹ không có những hy sinh triền miên, hay đúng là những hy sinh từng ngày và cả đời. Và không chỉ hy sinh mà còn biết kết hợp với lời cầu nguyện và giáo dục con cái cảnh giác trước những nguy cơ hư hỏng trong cuộc dời đầy những chước ma theo chiều hướng hạ.
Tiếc thay, đã có những cha mẹ trút hết bao hy sinh lớn lao cho con, nhưng vẫn phải nhận lấy nỗi bất hạnh vô cùng vì con mình hư hỏng. Hư hỏng từ suy nghĩ đến nhân cách, từ cách nhìn nhận cuộc đời đến cách thẩm định cái đẹp cái tốt trong cuộc đời, hư hỏng từ trong nhà ra ngoài ngõ…Và hư hỏng lớn nhất là con đã có tín hiệu đi vào con đường vô thần, vô nhân đạo, cô cảm, bất tín bất trung với Chúa, tín hiệu mất linh hồn.
Nhớ lúc còn nhỏ, cha cầm tay đắt đi lễ, mẹ dạy cho con từng mẫu kinh, và lần chuỗi với Mẹ. Còn nhỏ, mẹ tập cho con thói quen làm Dấu Thánh Giá trên mình dâng mình cho Chúa khi vừa nằm xuống, làm Dấu Thánh Giá trên mình tạ ơn Chúa và dâng ngày cho Chúa khi vừa thức dậy. Bây giờ, con đã có vợ, có nhà cửa, có hai ba mặt con rồi, tối nào cũng lai rai ba xị cho đến lúc say mèm lăn ra ngủ khò, sáng ra, mặt trời xỏ lỗ mũi chưa chịu dậy… Ôi ngày xưa ấy nay còn đâu. Lời khuyên dạy của cha mẹ ngày thơ ấu có còn là lời vàng lời ngọc nữa không, hay chỉ là một mớ lý thuyết suông không giá trị bằng những đồng tiền con kiếm được nhờ những phi vụ bất chính? Hay là không giá trị bằng những trận lãng phí với đời để khẳng định sự trưởng thành của con giữa những người dạy con theo lối bước gian tà của họ? Lúc nhỏ mẹ nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa cho con xinh đẹp mặn mà, ủ ấm cho con từng đêm, lo từng viên thuốc ly sữa thìa cháo….Bây giờ, chưa tới tuổi tam thập nhi lập con đã hóa ra ông già nằm ho lụ khụ vì hậu quả của những thói ăn chơi vô độ, nghiện ngập chích choác… Thật vô lý không thể hiểu thấu! Lòng cha mẹ quặn thắt từng cơn đau! Trời ơi! còn bất hạnh nào hơn nữa?
Thiết nghĩ nếu chúng ta thấu được nỗi bất hạnh của những người làm cha mẹ trên trần gian này, thì càng phải thấu hiểu hơn nỗi bất hạnh của Thiên Chúa, Cha của chúng ta trên trời khi nhìn thấy những đứa con được dựng nên giống hình ảnh ngài đang biến dạng, đang hư hỏng.
Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu tự bạch về thân phận của mình trong dòng chảy cứu độ, trong công trình Vườn Nho của Thiên Chúa: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho” (Ga 15,1). Chúa Giêsu xác nhận ngài là “Cây Nho Thật” để phân biệt với những cây nho mà Thiên Chúa đã trồng từ thưở tạo thiên lập địa đã hư hỏng.
Vâng, loài người như những cây nho mà Chúa đã trồng vào trần gian này lúc Ngài hoàn tất công trình sáng tạo. Thiên Chúa là Cha của loài người. Loài người là con cái của Thiên Chúa. Loài người ấy đã hư hỏng vì tội lỗi. Loài người ấy không vâng nghe lời Cha, lại bằng lòng tách lìa tình nghĩa với Cha và rơi vào tình trạng hư hỏng theo tiếng gọi của ma quỷ.
Cũng vậy, dân riêng của Thiên Chúa như những cây nho Chúa lại trồng:  “Gốc nho này Chúa bứng từ Ai Cập, đuổi chư dân lấy chỗ mà trồng. Chúa khẩn hoang bốn bề quang đãng, cho bén rễ sâu mà lan rộng khắp nơi.” (Tv 79, 9-10)
Công trình vườn nho, dân riêng, ấy là để chuẩn bị cho công cuộc cứu rỗi, nên đã được nuôi dưỡng bằng những mạc khải, bằng lời Chúa qua miệng các tiên tri, nhưng rồi, cũng hư hỏng vì dân riêng bỏ Chúa mà thờ tà thần, thờ ngẫu tượng, cậy dựa vào thế quyền và làm theo ý thế quyền chống lại Thiên Chúa.
Còn nỗi đau nào hơn, còn nỗi bất hạnh nào hơn nỗi đau và nỗi bất hạnh của Thiên Chúa là Cha của nhân loại, khi nhìn nhân loại, những cây nho ưu tuyển, những đứa con xinh đẹp của Ngài đã bị phù phép của ma quỷ mê hoặc đến nỗi không chỉ quay lưng lại với Chúa mà còn thờ lạy một thế lực gian tà, mà còn im hơi lặng tiếng mà tiếp tay tiếp sức cho đường lối lọc lừa thêm hưng thịnh, còn đi đêm đi hôm đồng bàn với những đứa sát hại kẻ đồng liêu…Ôi những cây nho con người thời đại bị bơm thuốc tăng trưởng vinh thân phì da cho chóng lớn, cho bóng mượt, làm nở mày nở mặt của ma quỷ và làm lở mày lở mặt của Thiên Chúa là Cha vẫn một mực yêu thương tín thành. Còn bất hạnh nào hơn?! Còn nỗi đau nào hơn?!
Tội bội phản ấy, tội uốn cong mình, uốn cong công lý, uốn cong sự thật theo thói gian ngoa ấy đáng kinh tởm đến nỗi tiên tri Giêrêmia phải nặng lời ví von chua chát: “…ngươi uốn mình như một con điếm” (Gr 2, 20). Và còn nặng lời hơn khi “con điếm” ấy sinh ra những đứa con ngoại hôn, những đứa con gian tà, những đứa con của ma quỷ, sản phẩm của ma quỷ:  “Ta đã trồng ngươi như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chủng. Sao ngươi lại thoái hóa thành những cây nho tạp chủng?” (Gr 2, 21).
Vì thế lời kêu xin của những người công chính tha thiết thốt lên: “Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, từ cõi trời, xin ngó xuống mà xem, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ. Xin bảo vệ cây tay hữu Chúa đã trồng, và chồi non được Ngài ban sức mạnh” (TV 79, 15-16
Và Thiên Chúa Cha đã sai Con Một đến trong trần gian, thăm lại vườn nho cũ, phục hồi vườn nho. “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho”. Chúa Giêsu là Cây Nho Thật mà Thiên Chúa Cha đã trồng trên trần gian này, là Cây Nho Cứu Rỗi, cây nho khởi đầu cho một kỷ nguyên nho tươi tốt, cây nho xóa nỗi bất hạnh của Thiên Chúa Cha và đem lại niềm vui, hạnh phúc cho Ngài. Ai tin vào Đức Kitô thì được Cứu Rỗi. Ai gắn liền với Đức Kitô như cành nho sống bởi sức sống của Thân Nho thì không bị héo úa, khô gãy, không bị hư hỏng.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng cảnh cáo những cành nho gắn liền với thân nho mà không sinh hoa trái, sẽ bị chặt đi và ném vào lửa. Cách gắn liền kiểu lắp ráp công nghệ, hay cách gắn liền trên danh nghĩa, trên căn cước, trên hình thức, trên chức danh mà không vụ, không việc không phải là cách gắn liền của mỗi chúng ta. Bởi theo cách ấy thì chẳng khắc nào gắn liền với thân nho mà sống bằng lương thực của thế gian, ma quỷ, chẳng khác nào một sự cài đặt có chủ ý của thế lực chống lại Thiên Chúa. Ma quỷ đang trả lương hậu hỷ, thiết đãi sang trọng, đang tạo điều kiện tốt để có cơ ngơi bền vững và kể cả bảo vệ mạng sống an toàn cho ai chịu để nó cài đặt vào thân nho Hội Thánh.
Nhưng ngược lại, gắn liền với Thân Nho phải là sống chính sức sống của thân nho. Sức sống của Thân Nho là tình yêu cho đi, là hy sinh phục vụ, là dám sống dám chết làm chứng cho sự thật cho công lý, là dám vâng theo lời Thiên Chúa hơn là vâng lời  người ta, là dám làm theo ý Chúa, dám dùng lương thực của Thiên Chúa Cha ban cho: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Gioan 4, 34)
Gắn liền với Thân Nho Giêsu còn là bằng lòng chung số phận với thân nho chịu sự cắt tỉa của người trồng nho: chấp nhận sự từ bỏ mình đi, chấp nhận chịu đau đớn với Cây Nho Thật: chịu Đóng Đinh với Chúa Giêsu. Người chịu bỏ mình đi là người chấp nhận sửa sai, cầu tiến, khát khao nên công chính thánh thiện….
Gắn liền với Thân Nho còn phải bảo toàn sự hiệp nhất trong cùng một thân nho. Hiệp nhất trong ý hướng cùng làm theo ý Cha trên trời. Hiệp nhất trong yêu thương, cảm thông sẻ chia tha thứ. Hiệp nhất trong tình khoan dung…Cành lớn cành bé trong Thân Nho đều có cùng trách nhiệm duy trì và bảo vệ sự hiệp nhất toàn vẹn. Không hẳn những cành nho bé nhỏ hoặc ở dưới thấp là xứng đáng lãnh nhận danh hiệu phá hoại sự hiệp nhất của thân nho, nhưng thiết nghĩ bất cứ cành nào gắn liền với thân nho mà sống bằng bỗng lộc của thế lực gian tà đều xứng đáng đạt danh hiệu phá hoại loại giỏi hoặc khá.
Nỗi bất hạnh của người làm cha mẹ trên đời này vẫn đang còn chồng chất. Nỗi bất hạnh của Thiên Chúa cũng chưa nguôi!
Lạy Chúa, nguyện xin cho mỗi chúng con biết kết hiệp cả tâm hồn và thân xác chúng con với Chúa Giêsu, với Lời Chúa, cho chúng con trở nên những cành nho sống động bằng sức sống của Chúa, trong Chúa Giêsu. Xin đừng để chúng con hư hỏng, chất chồng thêm một nỗi bất hạnh cho Ngài. A men.
PM. Cao Huy Hoàng, 04-5-2012
 

PS5-B86:  “HÃY Ở LẠI TRONG THẦY!”

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Chúng ta không rõ đây là một giới răn, một lệnh truyền, một lời khuyên nhủ hay một tâm: PS5-B86

 Chúng ta không rõ đây là một giới răn, một lệnh truyền, một lời khuyên nhủ hay một tâm tình thổ lộ… Hãy ở lại trong Thầy!’? Có thể là tất cả các điều đó cùng một lúc, tùy theo góc độ nhận định. Tuy nhiên tầm quan trọng tột cùng của nó là điều không thể chối cãi. Ở lại trong Thầy… Ở lại trong tình thương của Thầy (C. 9) là nền móng của chính tòa nhà thiêng liêng ‘mến Chúa – yêu người’ mà chúng ta đang cố công xây dựng.
          Ngũ Kinh của Cựu Ước ghi chép nhiều giới răn, Mô-sê nhân danh Gia-vê ban hành nhiều lệnh truyền; lập đi lập lại và khá lôn xộn. Trả lời vấn nạn do nhóm Pha-ri-sêu đặt ra: trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?, đức Giê-su đã tóm gọn trong câu giải đáp: Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn…” – mến Chúa hết lòng và yêu người thân cận như chính mình (Mt 22, 34-40). Cái thiếu trầm trọng trong giải đáp này (cũng như toàn bộ các luật lệ của Cựu Ước) là chưa cho thấy một nền tảng, một động lực để giữ các giới răn hay lệnh truyền đó. Phao-lô, đặc biệt trong thư Rô-ma, đã thấy cái giới hạn này (xem chương 2)
          Hãy ở lại trong Thầy… trong tình thương của Thầy chính là cái nền tảng, cái động lực rất cần thiết đó, giờ mới được đức Giê-su, trong tâm tình chí thiết với các môn đệ, bộc lộ cho biết. Và để các môn đệ dễ dàng nắm bắt điều căn bản và tối hệ trọng này, Người dùng hình ảnh rất quen thuộc với người vùng Địa Trung Hải: “Thầy là cây nho, anh em là cành… Cành nào gắn liền với cây mới sinh hoa trái”. Đúng thế, làm sao một người có thể ‘yêu mến Thiên Chúa’ nếu không trước hết ngụp lặn trong chính tình yêu của Thiên Chúa đối với mình? Thiên Chúa là tình yêu. Tình yêu do Ngài chủ động. Con người không thể chủ động được tình yêu đối với Chúa, mà chỉ có thể đáp trả tình yêu nhận được. Ngay trong Cựu Ước, Gia-vê đã là Đấng chủ động biểu lộ lòng thương xót đối với dân riêng. Nhiều lần Ngài giải thoát họ, dẫn dắt và chăm sóc họ… Và để có thể duy trì lòng trung thành với Ngài, hàng năm họ phải long trọng cử hành các biến cố đó (Lễ Vượt Qua là một điển hình). Trong Tâu Ước, Thiên Chúa không những chủ động mà còn cụ thể hóa tình yêu của Ngài nơi con người đức Giê-su Ki-tô, nhất là qua cái chết tự hiến trên thập giá. Thập giá, xét như một biến cố, cần phải được thường xuyên tưởng niệm và cử hành, “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy (Lc 22,19). Nhưng toàn diện con người và cuộc sống Đức Ki-tô thể hiện tình yêu muôn thuở của Thiên Chúa, và việc thể hiện này kéo dài liên tục cho đến muôn đời. Biến cố Phục Sinh cho thấy, trong tình yêu, Người ở lại cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế(Mt 28,20). Như thế chỉ đôi khi tưởng nhớ thôi chắc chắn là không đủ. Ở lại trong Thầy… Ở lại trong tình thương của Thầy không ngơi nghỉ và ngày càng sâu hơn, đó mới là nền tảng đích thực của toàn bộ cuộc sống Ki-tô hữu, Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em! Tùy thuộc và tỷ lệ thuận với việc ‘ở lại’ này mà người Ki-tô hữu mới dần dần học biết phải yêu mến Thiên Chúa như thế nào cho phải lẽ, và phải yêu mến tha nhân ra làm sao, anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (c. 12) Trong lãnh vực này đúng là không có Thầy, anh em chẳng làm được gì!
          Thế đó, cũng như biết bao tu sĩ và Ki-tô hữu khác, thường thì tôi đã cố công, nỗ lực rất nhiều để xây dựng cho mình có được một tình mến lớn hơn đối với Chúa và tha nhân. Thế nhưng kinh nghiệm cho thấy, kết quả cụ thể chẳng đi đến đâu. Cái mà tôi còn thiếu, chính là đã rất ít khi cất công hoặc dành thời giờ đề chiêm ngắm, đi sâu vào, và ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa đối với tôi. Cứ thử xem lại các lần đi xưng tội, đã mấy khi tôi dành thời giờ sau lúc xét mình để say sửa chiêm ngắm tình yêu tha thứ vĩ đại của Thiên Chúa cứu độ, hay chỉ chu chu chắm chắm quyết tâm sửa mình để có thể đạt được tiến bộ trong lý tưởng mến Chúa yêu người? Đối tượng nguyện gẫm của tôi gồm đủ mọi thứ cao đẹp trên trời dưới đất, nhưng chiêm ngắm tình yêu Chúa, và ở lại trong tình yêu đó, quả thực còn quá hiếm hoi. Cụ thể tôi có thâm tín: ở lại trong tình thương của Thầy là thiết yếu (a must) đối với đời Ki-tô hữu của tôi chưa?
          Lạy Chúa, tâm tình của Chúa tha thiết biết bao khi kêu gọi các môn đệ: “Hãy ở lại trong Thầy… Ở lại trong tình thương của Thầy”. Qua những lời này, Chúa mách nước cho con để thắng được trong ván cờ xây dựng tình yêu. Xin nhắc con đừng bao giờ quên nước đi kỳ diệu này, nhất là những khi nhận thấy mình tội lỗi, tức là khi tình mến Chúa và yêu người nơi con thấp kém nhất. Xin cho con biết cử hành Thánh Lễ với tâm tình chiêm ngưỡng sâu xa hơn, và tích cực kéo dài trong cuộc sống. Amen      
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

PS5-B87:  CÂY NHO THẬT

AM Trần Bình An
 

Cây nho là biểu tượng bình an và thịnh vượng của dân Do Thái. Có lẽ vì thế hình ảnh cây nho: PS5-B87

Cây nho là biểu tượng bình an và thịnh vượng của dân Do Thái. Có lẽ vì thế hình ảnh cây nho đã được khắc trên đồng tiền Do Thái dưới thời dòng họ Maccabe, thế kỷ II, trước Công nguyên. Theo sử gia Josephus, sau này vua Hêrôđê còn trang trọng gắn trên cửa vào Đến Thờ, một cây nho bằng vàng.
 Trong Kinh Thánh, cây nho cũng từng được nhắc đến với tần xuất khá cao, để khắc họa dân tộc Israel, mà trước đây Thiên Chúa đã từng yêu thương giải thoát khỏi kiếp đọa đầy nô lệ ở Ai Cập: “Gốc nho này Chúa bứng từ Ai Cập, đuổi chư dân lấy chỗ mà trồng. Chúa khẩn hoang bốn bề quang đãng, cho bén rễ sâu mà lan rộng khắp nơi.” (Tv 80, 9-10) Nhưng Israel đã đền đáp lại bằng thái độ bất trung, bất nghĩa với Thiên Chúa. “Ta đã trồng ngươi như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chủng. Sao ngươi lại thoái hóa thành những cây nho tạp chủng?” (Gr 2:21)
Thầy là cây nho  thật.
Vì thế, Đức Ki tô muốn xóa đi hình ảnh cây nho đã bị thoái hóa, lai tạo, hay biến đổi gien kia, bằng cách công bố, chính Người chính mới là cây nho thuần chủng, thuần giống, nguyên mẫu do chính Thiên Chúa trồng cấy. Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. (Ga 15, 1) Đồng thời mời gọi nhân loại tái sinh, trở về cội nguồn giống tốt, nguyên thủy, nhân chi sơ, tính bản thiện.“Không ai có thể vào nước Thiên Chúa, nếu không tái sinh bới nước và Thần khí(Ga 3, 5).   
Anh em là cành
Thật bất ngờ, Đức Kitô không hề phân biệt đâu là cành chính, đâu là cành phụ, hoặc ai là nhánh cái, ai là nhánh con. Dưới mắt Người, nhân phẩm mọi người đều bình đẳng, đồng hạng và giá trị ngang nhau, không hơn, không kém. Có khác chăng, chính là mức độ kếp hợp mật thiết với Người như thế nào mới đáng kể.
Từ khi Adam và Eva ăn trái cây biết lành biết dữ, con người bắt đầu vướng vào cái tâm phận biệt. Chính cái tâm phân biệt này tạo ra lắm phiền muộn, nghiệp chướng, đánh mất tình người, tình huynh đệ tương thân, tương ái. Chẳng hạn khi con người trầm luân vào vòng cương tỏa của cái thiện, cái ác, hơn thiệt, tốt xấu, của giai cấp cao thấp, mới phát sinh ra thái độ vô minh, khen chê, cái thói nịnh trên, nạt dưới, trọng phú, khinh bần, bon chen, chà đạp, hãm hại lẫn nhau, coi nhau như thù địch, như bậc thang leo lên danh lợi…
May thay, Người quá đỗi thương yêu nhân loại, đã kịp thời đến giải thoát con người khỏi cái tâm hư đó, cùng ban tặng lại tình người, tình huynh đệ, một khi cành nào biết kết hợp chặt chẽ vào cây nho thật là Người. Nguyện ước của Người là tái lập lại quan hệ song phương hỗ tương hiệu quả.
Chúa luôn hiện diện trong đời sống từng người, từ khi người ta nhận bí tích Thánh Tẩy. Nhưng con người lại không phải luôn luôn ở trong Người, mà có khi ở trong người khác, hay của cải, danh lợi, ham muốn, dục vọng, nên từ chối hợp nhất với Người, như cành nho chối bỏ dưỡng chất cần thiết để sinh trưởng, nên sẽ bị đào thải, bị đốn đi, quăng vào lò lửa. “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi.”(Ga 15, 2)
Chịu cắt tỉa để sinh nhiều hoa trái
Cây nho luôn được tận tình chăm sóc tỉa cành. Trong ba năm đầu người trồng không cho đơm bông kết trái, mà còn tỉa thật sạch để cây nho phát triển và giữ được sức sống mạnh mẽ. Nếu không được cắt tỉa thật kỹ cây nho sẽ không cho trái nhiều.
Thảo vật còn phải chịu hy sinh như thế, huống hồ con người, tạo vật cao cấp, muốn trở nên tốt lành, đạo hạnh, hầu xứng đáng kết hợp vói Đấng Tối Cao. Ngoài tuân giữ lề luật, còn phải dứt khoát với những thói kiêu căng, tự phụ, khoe khoang, màu mè, phù phiếm, như cây nho phải chịu đau đớn bấm ngọn, tỉa chồi khỏi lãng phí nhựa, mới sinh nhiều hoa trái. “Còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.” (Ga 15, 2)
Lời Thầy ở lại trong anh em
Khi liên kết với nguồn mạch sự sống, con người được Lời Chúa hướng dẫn soi đường.“Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”(Tv 119, 105). Lời Chúa chính là mối liên kết chặt chẽ giữa cành và với thân cây nho, điều hoa sức sống, mạch nhựa nuôi dưỡng toàn thân, đem lại phong phú kết quả. Lời Chúa tỉa gọt, mài dũa, chấn chỉnh tâm hồn con người trở nên trong sáng, hoàn thiện, phù hợp với sự sống vĩnh cửu. Khi thật sự sống Lời Chúa, cùng liên lỷ cầu nguyện, thì con người mới có thể trổ hoa kết trái nhiều.
Và anh em trở thành môn đệ của Thầy
Nguyện ước của Người chẳng viển vông, mà rất thực tế và hữu ích cho con người, là trở nên đồng hình đồng dạng với Người, kết hiệp mật thiết với Người, chịu hy sinh thử thách và quên mình như Người, để cho Danh Cha cả sáng, qua vai trò chứng nhân Tình Yêu, phục vụ tha nhân và mở mang Nước Chúa.“Ai muốn làn môn đệ Ta, phải bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.”(Mt 16, 24)
Lạy Chúa, xin cho con sống niềm tin vững vàng, cùng thể hiện niềm tin ấy qua cuộc sống liên kết thân hữu với mọi người, biết hy sinh bản thân, từ bỏ những phù phiếm trần tục, để có thể gặt hái nhiều hoa thơm, trái ngọt dâng lên Chúa.
Lạy Mẹ Mân Côi, xin luôn giữ gìn con sống trong ân sủng của Chúa, để con khỏi bị cắt bỏ, và quăng vào ngọn lửa đời đời. Amen.
AM Trần Bình An
 

PS5-B88:  HIỆP THÔNG VỚI CHÚA ĐỂ TRỔ SINH HOA TRÁI

(Ga 15,1-8)
 

Bài Tin Mừng hôm nay qui hướng về một chủ đề rất quan trọng, đó là chủ đề hiệp thông: PS5-B88

Bài Tin Mừng hôm nay qui hướng về một chủ đề rất quan trọng, đó là chủ đề hiệp thông. Trong đó, Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây nho để nói đến một thực tại cao cả, đó là sự hiệp thông trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu để rút ra bài học áp dụng trong đời sống Đạo.
1. Hình ảnh cây nho trong Cựu Ước và tại Palestine thời Chúa Giêsu:
Như một phương pháp sư phạm, khi rao giảng, Chúa Giêsu thường sử dụng các hình ảnh và ý niệm gần gũi với dân chúng, nhằm giúp họ dễ nắm bắt sứ điệp của Ngài. Hôm nay, Ngài dùng hình ảnh cây nho để giảng dạy, bởi vì cây nho là hình ảnh rất quen thuộc trong đời thường và cũng là hình ảnh thuộc di sản văn hóa của người Do thái.
Lần giở lại những trang Cựu Ước, chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều hình ảnh về cây nho và vườn nho trong sách các ngôn sứ Isaia, Giêrêmia, Ezêkiel hoặc trong các Thánh Vịnh. Nơi các sách này, dân Do thái được ví như vườn nho tốt tươi của Thiên Chúa và Thiên Chúa chính là Người trồng nho. Chưa hết, theo các nhà nghiên cứu, thời anh em nhà Macabê, huy hiệu trên đồng tiền của họ cũng mang hình ảnh cây nho. Còn trong đền thờ, người ta cũng đúc hình những cây nho hai bên bàn thờ, với những chùm trái trĩu nặng bằng vàng.
Vào thời Chúa Giêsu, tại xứ Palestine, cây nho mọc khắp nơi. Người ta trồng thành những khu vườn rộng, thậm chí trồng ven rào hoặc cho nó bò lên khung cửa của những ngôi nhà. Ở xứ này, cây nho phát triển rất mạnh, đến nỗi người ta phải chia hàng cho nó với khoảng cách trên dưới bốn mét, vì nhánh nó vươn ra rất dài. Mỗi năm, người ta cắt tỉa nó ít nhất một lần, vào khoảng tháng Ba hoặc tháng Tư theo lịch Do thái (khoảng tháng Mười hai hoặc Tháng giêng dương lịch). Có hai loại nhánh nho: loại sinh trái và loại không sinh trái. Những nhánh không sinh trái phải bị cắt bỏ để cây nho đủ sức nuôi những nhánh có trái.
Như thế, cây nho đã trở nên biểu tượng của dân tộc Do thái và Chúa Giêsu đã dùng chính hình ảnh thân thuộc này để nói đến một thực tại thánh thiêng khác, đó là sự hiệp thông trong chính Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài.
2. Hình ảnh cây nho theo nghĩa thiêng liêng và bài học rút ra từ hình ảnh này:
Với hình ảnh cây nho, Chúa Giêsu đã mạc khải cho nhân loại biết Ngài là hiện thân của Giavê Thiên Chúa, Ngài đến trần gian để đích thân chăm sóc vun trồng Vườn Nho mà Thiên Chúa đã thiếp lập. Đồng thời, Ngài cũng chính là Cây Nho đích thực. Ngài đến trần gian để thông ban sự sống thần linh cho nhân loại, như thân nho nuôi sống cành trái bằng nhựa sống trào tràn của nó. Nói rõ hơn, Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa Cha chính là Người trồng nho, còn Ngài là Thân Nho và mỗi người chúng ta là cành nho. Cành nho phải liên kết với thân nho thì mới được sống dồi dào và trổ sinh hoa trái. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh, muốn mời gọi chúng ta thông dự vào một cách trọn vẹn qua việc sống kết hiệp mật thiết với Ngài, để nhờ đó, chúng ta được hạnh phúc đời đời.
Khi hiểu được Mầu Nhiệm lớn lao này, mỗi người chúng ta cảm thấy rằng mình cần phải duyệt xét lại mối tương quan giữa mình với Chúa Giêsu, Cụ thể, cần nhìn lại tình trạng linh hồn mình. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy rằng nếu chúng ta phạm tội trọng thì “tội trọng làm chúng ta mất sự sống siêu nhiên, mất hết quyền lợi của người con Chúa, đáng chịu hình phạt ở đời sau và có khi ở đời này nữa” (x. GLCG số 276). Điều này cũng giống như tình trạng cành nho bị cắt lìa khỏi thân nho, phải héo úa và khô chết. Còn khi phạm tội nhẹ, “tội nhẹ làm cho chúng ta bớt lòng mến Chúa, hướng chiều về điều xấu và dễ phạm tội trọng hơn” (x. GLCG số 279). Trường hợp này cũng giống như cành nho tuy chưa tách lìa khỏi thân nho, nhưng nó rất ít trái hoặc không có trái và đang có nguy cơ bị tách lìa.
Tóm lại, qua hình ảnh cây nho, Mầu Nhiệm Hiệp Thông sâu xa giữa con người với Thiên Chúa đã trở nên gần gũi và không khó để nắm bắt, điều còn lại là vấn đề tin và sống. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết duy trì mối tương quan hiệp thông tốt đẹp với Chúa bằng cách giữ cho linh hồn mình thanh sạch, hầu xứng đáng đón nhận được ân sủng của Chúa để sinh nhiều hoa trái trong đời sống thiêng liêng. Ước được như vậy. Amen.
 Tác giả bài viết: Lưu Ly Thảo

 

PS5-B89:  CẮT TỈA

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Phục Sinh mời gọi mỗi Ki-tô hữu phải xác tín rằng cuộc : PS5-B89

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Phục Sinh mời gọi mỗi Ki-tô hữu phải xác tín rằng cuộc đời Ki-tô hữu không thể nào đơm hoa kết trái nếu không được cắt tỉa.
Cv 9: 26-31
Sách Công Vụ tường thuật Giáo Hội Giê-ru-sa-lem ngần ngại tiếp đón thánh Phao-lô, sau khi thánh nhân hoán cải. Nhưng thánh nhân đã thật sự hoán cải: một môn đệ rao giảng Đức Ki-tô với một con tim bốc lửa và một niềm xác tín sâu xa.
1Ga 3: 18-24
Đoạn trích thư thứ nhất của thánh Gioan khuyên người Ki-tô hữu hãy đứng về phía sự thật; có như thế, cuộc đời chúng ta mới thanh thản và bình an và lời nguyện cầu của chúng ta mới được Thiên Chúa nhận lời.
Ga 15: 1-8
Đức Giê-su là cây nho thật. Được kết hợp với Ngài, các môn đệ không thể không đơm bông kết trái được, nhưng phải biết rằng họ phải chịu cắt tỉa, nghĩa là phải chịu thử thách.
     

 BÀI ĐỌC I (Cv 9: 26-31)
      Trong suốt sáu Chúa Nhật Phục Sinh, tất cả bài đọc I đều được trích dẫn từ sách Công Vụ: năm trong số đó liên quan đến lãnh vực hoạt động của thánh Phê-rô, vị lãnh tụ Giáo Hội. Một đoạn trích duy nhất, đoạn trích hôm nay, nêu bật dung mạo của thánh Phao-lô.
      Chứng liệu này hiến dâng cho chúng ta mối quan tâm về lịch sử cũng như tâm lý: chính yếu là thời gian thánh Phao-lô lưu lại ở Giê-ru-sa-lem, sau khi hoán cải. Thánh nhân được đón tiếp với thái độ nghi kỵ.
      1. Những thử thách đầu tiên của thánh Phao-lô.
       Các Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem chẳng những biết mà còn biết quá rõ về ông Phao-lô nầy. Trong cuộc bách đạo đầu tiên giáng xuống trên họ, ông Phao-lô là kẻ bách hại cuồng nhiệt nhất: “Ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục” (Cv 8: 3). Ông đã dự phần vào việc ném đá thánh Tê-pha-nô, chính ở dưới chân ông mà người ta để áo để rảnh tay ném đá (Cv 7: 58).
      Nhiều năm sau nầy, chính thánh Phao-lô vẫn còn nhớ sự cuồng nhiệt mà ông đã phô bày vào lúc đó: “Về phần tôi, trước kia tôi nghĩ rằng phải dùng mọi cách để chống lại danh Giê-su người Na-da-rét. Đó là điều tôi đã làm tại Giê-ru-sa-lem. Được các thượng tế ủy quyền, chính tôi đã bỏ tù nhiều người trong dân thánh; và khi họ bị xử tử, tôi đã bỏ phiếu tán thành. Nhiều lần tôi đã rảo khắp hội đường, dùng cực hình cưỡng bức họ nói lộng ngôn. Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang cả các thành nước ngoài mà bắt bớ họ” (Cv 26: 9-11).
      Ấy vậy, cũng chính nhân vật nầy trở lại Giê-ru-sa-lem nhập vai môn đệ của Đức Giê-su. Làm thế nào cộng đoàn Ki-tô hữu không khỏi nghi ngờ việc kẻ bách đạo cuồng nhiệt nầy nay đã được chính Đấng Phục Sinh quy phục để trở thành một trong những nhà truyền giáo nhiệt thành nhất của họ được chứ? Thật ra, tin đồn về cuộc hoán cải của thánh nhân đã vang dội tới Giê-ru-sa-lem; nhưng phản ứng đầu tiên là ngờ vực.
      Trong thư gởi các tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô tường thuật những gì đã xảy ra cho thánh nhân sau khi được ơn trở lại. Sau khi Đấng Phục Sinh đã tỏ mình ra cho thánh nhân trên đường đi đa-mát và sau những ngày thánh Phao-lô đã trải qua giữa nhóm nhỏ Ki-tô hữu thành Đa-mát, thánh nhân viết: “Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đã sang xứ Á-rập, rồi lại trở về Đa-mát. Ba năm sau tôi mới lên Giê-ru-sa-lem diện kiến ông Kê-pha, và ở lại với ông mười lăm ngày” (Gl 1: 16-18).
      Tại sao thánh Phao-lô lại trì hoản lên Giê-ru-sa-lem? Phải chăng vì kẻ bách hại xưa kia đã gây ra biết bao điều tang tóc cho những người Ki-tô hữu ở tại kinh thành nầy cảm thấy ngại ngùng? Lý do thật sự mà thánh Phao-lô cho chúng ta ở nơi những lời nầy: “Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, tức khắc tôi đã sang xứ Á-rập”. Thánh nhân không hỏi ý kiến của bất kỳ ai, tự xem mình là người được chính Đấng Phục Sinh ủy nhiệm, là người đã nhận mệnh lệnh truyền giáo từ chính Chúa. Tức khắc, ông khởi hành ra đi truyền giáo cho lương dân. Đây không là lần duy nhất, như đoạn trích Công Vụ hôm nay cho thấy.
      Tuy nhiên, trong những ngày lưu lại ở Giê-ru-sa-lem, khi “tìm cách nhập đoàn với các môn đệ”, thánh Phao-lô lại càng gieo nỗi sợ hãi ở nơi họ. May thay, có một người trong số họ, không xuất thân từ Giê-ru-sa-lem (nhưng từ đảo Síp), rất có uy tín trong cộng đoàn vì tấm lòng quảng đại của ông (Cv 4: 37), đó là ông Giu-se, người được các Tông Đồ đặt tên là Ba-na-ba, nghĩa là người có tài yên ủi (Cv 4: 36). Chính ông nhận ra nhân cách của thánh Phao-lô, vì thế ông lấy uy tín của mình mà đứng ra bảo lãnh cho thánh nhân và chân thành giới thiệu ơn gọi đặc biệt của thánh nhân. “Từ đó thánh Phao-lô cùng với các tông đồ đi lại hoạt động tại Giê-ru-sa-lem. Ông mạnh dạn rao giảng danh Chúa”.
      Nhưng rồi thánh Phao-lô nhận thấy Giáo Hội Giê-ru-sa-lem quá bận tâm về sự hoán cải của những người Do thái Pa-lét-tin, vì thế thánh Phao-lô toan tính mở rộng sứ vụ truyền giáo đến những người Do thái gốc Hy-lạp. Sở hữu hai nền văn hóa: Do-thái và Hy-lạp, những người Do thái gốc Hy lạp nầy đến sinh sống ở Giê-ru-sa-lem và hình thành nên một nhóm nhiệt thành và năng động, nhưng cũng là một nhóm nguy hiểm. Thánh Tê-pha-nô đụng phải họ và đã phải trả giá bằng mạng sống của mình (x. Cv 6: 9). Thánh Phao-lô cũng phải chịu chung số phận. Lòng nhiệt thành của thánh nhân đánh thức lòng thù hận của họ. Thánh nhân phải lìa bỏ Giê-ru-sa-lem không chỉ để cứu mạng mình nhưng còn vì lợi ích của Giáo Hội Giê-ru-sa-lem: “Anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xê-da-rê và tiễn ông lên đường về Tác-xô”.
      Những bước khởi đầu đầy gian nan nầy không ảnh hưởng đến tình cảm của thánh Phao-lô dành cho Giáo Hội-Mẹ; thánh nhân luôn luôn công bố uy quyền của Giáo Hội Mẹ mà ông gắn bó sâu xa. Ông sẽ không quản ngại ra sức quyên góp để giúp đỡ Giáo Hội Mẹ. Với tấm lòng nhiệt thành truyền giáo, thánh nhân luôn luôn là người tiên phong, nhưng luôn luôn hoạt động trong sự hiệp thông với Giáo Hội.
      Ông Ba-na-ba sẽ không quên người bạn đồng hành có tâm hồn bốc lửa nầy. Vài năm sau nầy, ông sẽ đi tìm thánh Phao-lô ở Tác-xô, dẫn thánh nhân theo với mình đến An-ti-ô-khi-a; đoạn, lôi kéo thánh nhân vào cuộc hành trình truyền giáo đầu tiên của mình. Thánh nhân cảm thấy mình thoải mái hơn trong cuộc mạo hiểm lớn lao nầy.
      2. Giáo Hội được bình an.
      Sau những sự cố xảy ra trong những ngày thánh Phao-lô lưu lại ở Giê-ru-sa-lem, Giáo Hội lại được bình an. Thời kỳ yên ổn nầy không kéo dài được bao lâu. Vào năm 42-43, cuộc bách hại xảy đến một lần nữa, lần nầy do vua Hê-rô-đê Agrippa, cháu của vua Hê-rô-đê An-ti-pát. Trong cuộc bách đạo này, nạn nhân đáng chú ý nhất là thánh Gia-cô-bê, anh của thánh Gioan, bị xử trảm.
      BÀI ĐỌC II (1Ga 3: 18-24)
      Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ nhất của thánh Gioan. Bức thư nầy được triển khai theo một dàn bài khó xác định. Cũng những chủ đề xuất hiện nhiều lần, lúc thì với những lập đi lập lại, lúc thì với những hàm chứa mới. Nhưng giọng văn luôn luôn thôi thúc và nồng nàn. Vị Tông Đồ trình bày những tiêu chuẩn cho cuộc đời Ki-tô hữu chính danh.
      Thánh nhân khuyên người Ki-tô hữu “đứng về phía sự thật”, tức là “sống trong sự thật”, “sống trong bình an”“sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa”. Đây là một trong những ý tưởng chủ đạo thường hằng được nhắc đi nhắc lại trong bức thư nầy: một ngón đòn hữu hiệu nhất đối lại với những đạo lý sai lạc đang hoành hành nhân danh Ki-tô giáo, tự cho mình là cao vời siêu việt.
      1. Sống trong sự thật:
      Sống trong sự thật, chính là sống theo cách sống của Thiên Chúa, nghĩa là sống trong tình yêu, vì Thiên Chúa là tình yêu.
      “Đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thật sự bằng việc làm”. Đây là lời khuyên cảnh giác của vị mục tử, nhưng cũng là lời quở trách ngầm đối với những người lạc giáo mà thánh Gioan vừa mới lên tiếng ở trên: “Ai nói mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối” (1Ga 2: 9). Chúng ta không thể xác định cách cư xử của những thầy dạy sai lạc nầy, nhưng sau nầy chúng ta biết rằng những nhà thuyết giáo ngộ đạo này bày tỏ sự khinh miệt đối với đám đông tín đồ không có khả năng vươn tới sự khôn ngoan của họ.
      2. Sống trong bình an:
      Người Ki tô hữu nào thực hành tình yêu chân chính cho anh em mình, mới có thể sống trong sự thanh thản và bình an: “Chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa”. Chữ “lòng” ở đây phải được hiểu theo nghĩa của văn hóa Do thái, nơi lương tâm ngự trị: “vì nếu lương tâm chúng ta cáo tội chúng ta thì Thiên Chúa còn lớn hơn lương tâm chúng ta, và Người biết hết mọi sự”.
      Cả câu trích dẫn trên và câu theo sau: “Nếu lương tâm không cáo tội chúng ta, thì chúng ta được mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa”, hình thành nên hai thái độ căn bản ở nơi người Ki-tô hữu: thái độ của tội nhân thống hối ăn năn và thái độ của người công chính làm những điều đẹp lòng Chúa.
      Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta đừng xao xuyến vì tội lỗi của mình. Thiên Chúa biết rõ cõi lòng sâu thẳm của chúng ta còn hơn chúng ta nữa; chúng ta hãy phó thác vào trong sự hiểu biết sâu xa của Ngài. Mẫu gương mà bức thư này thường trích dẫn để minh họa lời khuyên bảo nầy là mẫu gương của thánh Phê-rô, rõ ràng được thánh Gioan tường thuật trong Tin Mừng của mình, khi Chúa Giê-su long trọng hỏi thánh Phê-rô: “Nầy anh Si-môn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em nầy không?”, vị Tông Đồ nhớ lại ba lần mình đã chối Thầy, nên không dám quả quyết ngay là mình yêu mến Thầy, nhưng khiêm tốn phó thác vào sự hiểu biết của Đức Giê-su, Đấng thấu suốt cõi sâu thẳm của lòng người: “Thưa Thầy, Thầy biết là con yêu mến Thầy”. Và lần thứ ba, với một giọng trầm buồn, thánh nhân thưa: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21: 18). Ở đây, chúng ta gặp lại cùng một diễn ngữ trong thư thứ nhất của Gioan: “Người biết mọi sự”.
      Trường hợp thứ hai là thái độ của người Ki-tô hữu trung tín: lương tâm của họ không cáo tội họ. Thánh Gioan không ngần ngại khuyên bảo họ hãy mạnh dạn đến cùng Thiên Chúa. Khi người công chính đạt được tâm trạng nầy, họ biết rằng những lời cầu nguyện của mình phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa; vì thế, “xin điều gì được Ngài ban cho điều đó”. Chủ đề nầy vang dội trong bản văn của Tin Mừng hôm nay.
      3. Sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa.
      “Tuân giữ các điều răn của Người” được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc xuyên suốt bức thư nầy. Trong đoạn trích nầy, thánh Gioan hòa hợp ý muốn của Chúa Cha và lệnh truyền của Chúa Con thành một viễn tượng duy nhất, trong quan điểm hiệp nhất của Thiên Chúa. Chúa Cha đòi hỏi họ phải “tin vào Con của Ngài”“yêu thương nhau” như Chúa Con đã đòi hỏi họ. Hai huấn lệnh nầy “được đúc kết thành một huấn lệnh duy nhất”. Như vậy, đối với thánh Gioan, “tin”“yêu thương nhau” thì bất khả phân.
      Đức tin sống động nầy đảm bảo cho người tín hữu rằng “mình ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong mình” (chúng ta gặp lại động từ “ở trong” chất chứa cùng một ý nghĩa như trong Tin Mừng thứ tư). Chính Thần Khí bảo lãnh đức tin và đức ái nầy một cách chắc chắn và chính thực. Như vậy, chương nầy kết thúc với cuộc đời Ki-tô hữu trong cùng một quan điểm của Ba Ngôi Thiên Chúa.
      TIN MỪNG (Ga 15: 1-8)
      Vì Lễ Thăng Thiên: tưởng niệm cuộc ra đi của Đức Giê-su, sắp đến gần, các bản văn Tin Mừng của Chúa Nhật V và Chúa Nhật VI Phục Sinh được trích dẫn từ những cuộc trò chuyện của Đức Giê-su với các môn đệ của Ngài vào buổi chiều Tiệc Ly, trước khi Ngài bước vào con đường Khổ Nạn.
1. Bối cảnh của dụ ngôn “cây nho”:
      Dụ ngôn “cây nho” được Chúa Giê-su công bố với các môn đệ Ngài trong cuộc chuyện trò sau cùng này. Xét về hình thức, dụ ngôn nầy khó lồng vào khuôn khổ lịch sử của buổi chiều cáo biệt nầy. Đức Giê-su nói rất nhiều điều với các môn đệ mình; đoạn Ngài ra dấu ra đi khỏi bàn tiệc mà đến vườn Ô-liu: “Nào đứng dậy! Ta đi khỏi đây!”. Ấy vậy, ngay sau lời nầy, Ngài công bố: “Thầy là cây nho thật”.
      Phải chăng trên đường trong bóng đêm Chúa Giê-su kể dụ ngôn nầy? Xem ra hợp lý hơn, Chúa Giê-su công bố dụ ngôn này đang khi Ngài cùng các môn đệ rảo bước băng qua vườn nho của miền Pa-lét-tin. Đây là cách thức thông thường Ngài đưa ra giáo huấn của mình khởi đi từ những dữ kiện cụ thể.
      Tuy nhiên, còn chỗ nào thích hợp hơn là vào bữa Tiệc Ly ở đó Đức Giê-su nhắc lại dụ ngôn nầy khi mà chén rượu được chuyền tay, khi mà cây nho thật sắp sản sinh rượu nho tinh tuyền nhất từ cuộc Khổ Nạn sắp đến của Ngài nhỉ? Dụ ngôn “cây nho” ngân vang một cung giọng đậm nét Thánh Thể. Trong Tin Mừng của mình, dù thánh Gioan không tường thuật Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể, thánh ký đã biết đóng ấn Bí Tích nầy trên bữa Tiệc Ly cao cả nầy.
      1. “Thầy là cây nho thật”:
      Nếu chúng ta liên kết hai bài Tin Mừng của Chúa Nhật trước và của Chúa Nhật này, sứ điệp của Chúa Giê-su thật tuyệt vời. Sau khi Chúa Giê-su đã gợi lên tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa dưới dung mạo “Người Mục Tử Nhân Lành”, bây giờ Ngài gợi lên tấm thân tình gần gũi của Thiên Chúa qua một hình ảnh khác, hình ảnh “Cây Nho Thật”.
      Khi tuyên bố mình là “Cây Nho Thật”, Chúa Giê-su quy chiếu về một lịch sử dài của biểu tượng xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh: Ít-ra-en là cây nho được Thiên Chúa ân cần chăm lo, điều này được các ngôn sứ không ngừng nhắc đi nhắc lại: Hô-sê, I-sai-a, đặc biệt Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en, Tv 80, các sách Khôn Ngoan, vân vân. Nhưng cây nho nầy, dù đã được Thiên Chúa hết lòng chăm sóc và thương yêu, đã không đơm bông kết trái như lòng Chúa mong ước. Các vị lãnh tụ hiện nay của dân cung cấp một bằng chứng rõ ràng (x. Mt 21: 33-44).
      Đức Giê-su là cây nho thật, cây nho hoàn hảo, cây nho sinh hoa kết trái như Chúa Cha mong đợi, nghĩa là Đức Giê-su là Ít-ra-en mới; các Ki-tô hữu kết hợp với Ngài hình thành nên Dân Thiên Chúa Mới, dân mà Ngài chuyển thông nhựa sống của mình cho họ.
      Đức Giê-su long trọng khẳng định: “Thầy là cây nho thật”. Đây là một trong những lời khẳng định độc quyền của Đức Giê-su với “TÔI LÀ”. Những lời khẳng định nầy thường có một âm vang chiều kích Mê-si-a và luôn luôn mặc lấy tính chất siêu việt. Ở đây Đức Giê-su xác định: cây nho chính là Ngài, Con Thiên Chúa; người trồng nho chính là Thiên Chúa, Cha của Ngài.
      Như vậy Chúa Giê-su muốn nói rằng sự sống mà Ngài chuyển thông thực chất là sự sống thần linh. Thân nho và các cành nho hình thành nên chỉ một cây nho duy nhất, hình ảnh mật thiết về Chúa Ki-tô với Giáo Hội của Ngài. Ở đây, khía cạnh Giáo Hội cũng rõ ràng như trong dụ ngôn Người Mục Tử Nhân Lành, nhưng điểm nhấn được đặt trên đời sống nội tại của Giáo Hội.
      2. “Anh em là cành”:
      “Thầy là cây nho, anh em là cành”. Ở đây, chúng ta nhận ra một chủ đề căn bản của Tin Mừng thứ tư: Đức Giê-su đòi hỏi một sự chọn lựa: hoặc gắn bó với Ngài hay từ chối Ngài. Gắn bó với Ngài không là một con đường dể dàng. Đức Giê-su gợi lên những công việc mà thính giả của Ngài biết rất rõ, những công việc của người trồng nho xử lý cây nho của mình ngõ hầu cây nho được trổ sinh nhiều hoa trái: chặt cành tỉa lá một cách nghiêm khắc, không biết xót thương. Chúa Cha hành xử như vậy đối với những môn đệ của Con của Ngài. Đức Giê-su sử dụng những từ rất mạnh mẽ; Ngài chuẩn bị cho các môn đệ của Ngài bước vào những thử thách đang chờ đợi họ. Đây chính là mầu nhiệm Vượt Qua mà chính Ngài sẵn sàng sống. Luật cắt tỉa luật cứng rắn, nhưng chỉ như vậy người Ki-tô hữu mới trở thành những cành nho đơm bông kết trái.
      Tuy nhiên, Đức Giê-su trấn an các ông: “Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em”. Chữ “lời” được hiểu theo nghĩa: giáo huấn, sứ điệp . Đây là nét nghĩa thường hằng trong Tin Mừng Gioan: “Ai tuân giữ lời tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (8: 51); “Ai nghe lời tôi, và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời” (5: 24); “Các ông tìm cách giết tôi, vì lời tôi không thấm vào lòng các ông” (8: 37). Vả lại, đặc ngữ nầy quy chiếu đến Ngôi Lời trong Tựa Ngôn: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời”.
      Trước đây, Đức Giê-su đã nói với thánh Phê-rô rồi, vào lúc Ngài rửa chân cho ông: “Về phần anh em, anh em đã sạch” (13: 10). Các Tông Đồ được sạch nhờ Lời Thiên Chúa mà họ đã đón nhận, Lời này đã trở thành ở trong họ một sức mạnh biến đổi nội tâm. Đây là một chủ đề tiêu biểu của thánh Gioan: Ai kết hợp với sự thật, người ấy có ở trong mình sức mạnh thanh tẩy, sức mạnh giải phóng khỏi gian dối và tội lỗi: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (8: 31). Sự thật là sự sống; hai khái niệm rất gần nhau tại Tin Mừng Gioan.
      3. “Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em”.
      Đức Giê-su mời gọi các môn đệ: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em”. “Ở lại” là từ chủ chốt của dụ ngôn này. Chúng ta biết rằng, khác với ba Tin Mừng Nhất Lãm, thánh Gioan không sử dụng kiểu nói: “Nước Thiên Chúa” (ngoại ,trừ trong cuộc đàm luận với ông Ni-cô-đê-mô ở đó kiểu nói nầy xuất hiện hai lần: Ga 3: 3 và 5). Thánh nhân không bao giờ nói: “Nước Thiên Chúa đã đến gần” hay “Nước Thiên Chúa ở đó”, vì Nước Thiên Chúa không là một thực tại bên ngoài. Thánh Gioan nhấn mạnh “chiều kích nội tại của Nước Thiên Chúa” và diễn tả chiều kích nội tâm hóa nầy bởi động từ “ở lại”.
      Cành nho không thể tự mình đơm bông kết trái được, cũng vậy: “Không có Thầy, anh em không làm gì được”. Đây cốt là cuộc sống siêu nhiên mà không ai có thể đạt được hay tăng trưởng được, nếu chỉ cậy nhờ vào những phương thế của riêng mình.
      Toàn bộ dụ ngôn “cây nho” là bài diễn từ về cuộc sống siêu nhiên. Hậu cảnh bí tích được tiềm ẩn ở đây. Đức Giê-su công bố những lời nầy vài giờ trước cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Ngài. Chính Giáo Hội: cành nho, nhất thiết phải gắn bó mật thiết với Đức Ki-tô: thân nho, để tiếp nhận nhựa sống thần linh. Nước rửa tội, rượu Thánh Thể, sẽ là những chính lộ của sự chuyển thông nầy; cây nho thật là cây ban sự sống.
      4. “Anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”.
       “Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý”. Trong Diễn Từ Cáo Biệt của mình, Đức Giê-su nhiều lần nhấn mạnh lời cầu nguyện. Chính Ngài nêu gương: Ngài hoàn tất cuộc trò chuyện giữa Thầy với các môn đệ bởi một lời cầu nguyện dài với Cha Ngài, được gọi “Lời Nguyện Hiến Tế” (17: 1-26).
      Trong viễn cảnh của sự kết hợp mật thiết giữa thân nho và cành nho, Đức Giê-su gợi lên tính hiệu lực của lời cầu nguyện. Cường độ của cuộc sống nội tâm kéo theo như một sự thẩm thấu giữa những ý muốn của Thiên Chúa và những ước muốn của người tín hữu.
      5. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh.
      Như chúng ta đã biết, Tin Mừng Gioan được chia thành hai phần: phần thứ nhất được gọi là “Tin Mừng về các dấu lạ” (2: 1-12: 50) và phần thứ hai được gọi là “Tin Mừng về vinh quang” (ch. 13-21). Quả thật, phần thứ hai nầy đề cập rất nhiều về vinh quang của Chúa Cha và sự tôn vinh của Chúa Con.
      Điều đem lại vinh quang của người trồng nho chính là chất lượng của trái nho cũng như sự phong phú của chùm nho. Cũng vậy, các môn đệ sẽ góp phần vào vinh quang của Chúa Cha bằng những hoa trái thánh thiện và sự rạng ngời sứ vụ của họ. Lúc đó, họ xứng đáng được gọi là môn đệ của Chúa Giê-su. Bằng những lời nầy, Đức Giê-su diễn tả mối bận lòng chủ yếu của Ngài: thực hiện ý muốn của Cha Ngài trên con người, tức là họ phải nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện.

Tác giả bài viết: Lm. Inhaxio Hồ Thồng
 

PS5-B90:  HOA TRÁI LÀ THỨ PHẢI ĂN ĐƯỢC

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH
Ga 15, 1-8
 

Khá khen cho La Fontaine, nhà văn trào phúng nước Pháp. Khi muốn diễn tả sự dị hợm của một: PS5-B90

          Khá khen cho La Fontaine, nhà văn trào phúng nước Pháp. Khi muốn diễn tả sự dị hợm của một con người. Ông đã dùng hình ảnh của một con gà trống. Con gà trống đứng chênh vênh trên một đống rơm, ngước cổ, bảo với bạn hữu rằng: Bà con có thấy tôi oai không? Cứ mỗi lần tôi gáy, là tức khắc mặt trời phải mọc. Kệch cỡm, buồn cười! mặt trời đã mọc mỗi ngày, từ khi ông bà tổ tiên con gà chưa ra đời cơ mà. Mà cái sự kệch cỡm ấy, nó lại lan tỏa ra khắp vạn vật, kể cả nơi con người.
          Người ta kể về một cành cây nhỏ; thấy đời mình sum xuê những trái, thế là lên mặt tự kiêu, tự hào, ngỡ tưởng mình là “giời” là “bể”. Nó quên mất một điều hệ trọng: Những quả mà nó có, tất cả đều bởi nhựa sống từ thân cây truyền sang. Hoa trái quý báu ấy, là thành quả của cả cây chứ không phải là của nó. Và vì thế, điều hệ trọng nhất là nó phải dính kết với cây. Rời thân nó sẽ héo khô ngay, sẽ chết tức thì, và trở nên vô nghĩa.
          Chúa Giêsu đã đem hình ảnh ấy nơi cây nho, để diễn tả mối liên hệ giữa Ngài và chúng ta, những người Kitô hữu. Để có sự sống thần linh trong mình, chúng ta phải luôn gắn liền với Ngài.
          Gắn liền là gì, nếu không phải là luôn đón rước lấy mình máu Ngài, nghĩa là luôn để sự sống của Ngài lúc nào cũng tuôn chảy trong linh hồn mình. Gắn liền là gì, nếu không phải là siêng năng đọc lấy những lời Ngài dạy trong Thánh Kinh, để chìm sâu vào trong đó, mà nhận ra được những chỉ thị của Ngài. Gắn liền là gì, nếu không phải là có những giây phút gặp gỡ riêng tư với Ngài: Để tâm sự thân thiết với Ngài, về chuyện vui, chuyện buồn, nỗi lo, niềm hy vọng, đang trải dài trong cuộc sống vốn đầy phức tạp của đời mình. Gần Ngài, để nghe được những lời an ủi, vỗ về thông cảm của Ngài. Gắn liền là gì, nếu không phải là luôn mời Ngài cùng đồng hành với mình, trong mọi công việc của nhịp sống. Cùng Ngài vào lớp học tập, vào bếp nấu ăn. Cùng Ngài đứng giữa chợ buôn bán, đứng chịu trận với cái nắng vỡ đầu, nơi cánh đồng vùng đất hắt hiu. Gắn liền với Ngài, nhựa sống thần linh sung mãn, sẽ ngập đầy cành cây đời ta và ta sẽ sinh rất nhiều hoa trái.
          Những hoa trái nào thế nhỉ? Có nhiều loại hoa trái. Chúa Giêsu thích loại hoa trái nào? Những loại hoa trái có thể hư hao; là những loại hoa trái bằng vật chất: như đền đài, nhà thờ, …Những loại hoa trái trường cửu vĩnh viễn, là tấm lòng nhân ái, sự bao dung, sự tha thứ, sự dấn thân phục vụ sâu xa đến tận cùng, như Ngài đã quỳ rửa chân. Hiến dâng đời mình trở thành một miếng bánh ngon mềm, cho người mình yêu cầm lấy mà ăn. Chúa Giêsu thích loại hoa trái vô hình, nhưng lại rất ngọt và vô cùng cao quý ấy.
Gợi ý suy niệm:
1- Đời bạn bây giờ có còn gắn liền với Đức Kitô?
2- Bạn đã sản sinh được loại hoa trái nào chưa?
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

PS5-B91: Cây nho

Đối với người Do Thái thì cây nho là một hình ảnh thật quen thuộc và gần gũi, giống như hình ảnh:  PS5-B91 Lượng

Đối với người Do Thái thì cây nho là một hình ảnh thật quen thuộc và gần gũi, giống như hình ảnh cành tre khóm trúc đối với người Việt Nam. Thế nhưng Chúa Giêsu muốn nói gì qua hình ảnh cây nho?
Tôi xin thưa: Qua hình ảnh cây nho, Ngài cho chúng ta biết rằng Ngài chính là hiện thân của Thiên Chúa. Ngài đến không phải chỉ để trông nom chăm sóc vườn nho, mà hơn thế nữa, còn để trở thành chính cây nho, hầu có thể trực tiếp thông ban sự sống của mình cho chúng ta; như thân cây nuôi ngành cây bằng nhựa sống của nó. Từ hình ảnh trên, chúng ta thấy được hai ý nghĩa nổi bật.
Ý nghĩa thứ nhất: Thiên Chúa là người trồng nho, còn chúng ta là những cây nho. Thế nhưng kể từ nay giữa chúng ta và Thiên Chúa, còn có một trung gian đó là Đức Kitô. Và như chúng ta đã biết: Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người, có nghĩa là Ngài cũng đã trở thành một cây nho, một cây nho hảo hạng, một cây nho giống tốt để tạo nên một vườn nho mới. Nói cách khác, Đức Kitô là một con người mới, là một Adong mới hầu tạo nên cho Thiên Chúa một nhân loại mới, theo đúng hình ảnh của Ngài.
Ý nghĩa thứ hai đó là một sự trao đổi kỳ lạ, được thực hiện qua mầu nhiệm nhập thể. Đúng thế, với mầu nhiệm nhập thể, Thiên Chúa đã bước xuống phận con người, để con người được bước lên ngôi Thiên Chúa. Ngài đã trở thành cây nho, để chia sẻ cho chúng ta, những cành nho của Ngài, chính nhựa sống thần linh. Kể từ nay, mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa, không phải chỉ là mối liên hệ cứng nhắc giữa Đấng hoá công và loài người thụ tạo, nhưng là một liên hệ thân thương, gần gũi và gắn bó mật thiết như cành liền cây hiệp thông cùng một nhựa sống, đến nỗi chúng ta có thể nói: Thiên Chúa ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Thiên Chúa. Hay: Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi.
Một khi đã hiệp thông trong cùng một nhựa sống, thì chúng ta cũng phải chia sẻ những khổ đau với Ngài. Thực vậy, nếu thân cây bị chặt thì những cành lá cũng phải chết theo. Và một khi chồi mới mọc lên thì những cành lá mới cũng ló dạng. Là Kitô hữu, đời sống của chúng ta từ nay không thể tách rời Đức Kitô. Do đó, những khổ đau của Ngài cũng phải là những khổ đau của chúng ta và sự chết của Ngài cũng phải là sự chết của chúng ta, để rồi sự phục sinh của Ngài cũng phải là sự phục sinh của chúng ta. Như lời thánh Phaolô xác quyết: Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng Ngài phục sinh. Nếu ta chịu khổ với Ngài, ta sẽ cùng Ngài thống trị.
Đó cũng chính là ý nghĩa của việc cắt tỉa mà Chúa Giêsu đã nói đến, để cho cành cây sinh nhiều trái hơn. Cành nho càng được cắt tỉa thì lại càng mang nhiều trái. Cũng vậy, đời sống người Kitô hữu càng kết hiệp với Đức Kitô, càng chịu nhiều gian nan thử thách, thì lại càng nhiều ơn phúc trước mặt Thiên Chúa hơn.

 

PS5-B92:  Cây nho – Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tôi thường ghé thăm và đưa ruớc Mình Thánh Chúa cho bà cụ Agnes Miller. Bà Agnes đã trên 80 tuổi, PS5-B92

Tôi thường ghé thăm và đưa ruớc Mình Thánh Chúa cho bà cụ Agnes Miller. Bà Agnes đã trên 80 tuổi, có hai người con trai. Mỗi lần ghé thăm, bà đều rất vui và kể truyện về người con trai, hai đứa cháu và hai đứa chắt nhỏ. Một lần nọ, tôi ngồi tỉ tê hỏi han kỹ hơn về gia cảnh của bà. Bà đã kể cho tôi nghe một tâm sự bất hạnh thầm kín trong lòng kéo dài từ lâu. Truyện là đứa con thứ hai, sau khi cưới vợ đã đổi dời đi nơi xa và đã 35 năm không hề liên lạc gì với bà. Hiện nay bà không biết hoàn cảnh gia đình người con thứ này thế nào. Bà nói rằng bà vẫn luôn nhớ cầu nguyện cho các con được mọi sự lành bình an. Ba mươi lăm năm là một khoảng thời gian rất dài trong cô đơn và nhung nhớ. Bà rất hy vọng được gặp mặt con lần cuối trước khi lìa trần. Càng mong, càng ngóng, bà càng bặt tin con. Thật là đau lòng khi con cái tự tách lìa khỏi gia đình. Bà tự hỏi không biết rõ lý do nào đã đưa dẫn đến tình trạng xa cách này.
Hôm nay chúng ta suy niệm một đề tài rất cụ thể liên đới giữa Chúa Giêsu và các tín hữu, Chúa là cây nho thật. Hình ảnh cây nho rất quen thuộc được trồng mọi nơi trên miền đất Palestine của người Do-thái. Chúa Giêsu đã phán cùng các môn đệ: Thầy là cây nho, các con là nhành. Chúng ta là nhành nho được liên kết với Chúa Kitô là cây nho. Một ẩn dụ qúa đẹp và ý nghĩa. Chúa Giêsu không chỉ hóa thân làm người trong một nhân vị riêng biệt, nhưng là cùng hòa nhập sự sống với nhân loại. Chúa Giêsu là trung gian của các tạo vật. Ngài là trưởng tử. Ngài là:An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 22,13). Ngài đã mời gọi và liên kết những kẻ tin vào Ngài để giúp họ sinh nhiều hoa trái.
Chúa Giêsu phán: Không có Thầy, các con không thể làm được gì. Giống như cành nho không liên kết với thân nho sẽ bị èo uột và khô héo. Không có một kinh sư, sư phụ hay một vị đại nhân nào dám lên tiếng một cách xác tín như Chúa Giêsu. Chúa có uy quyền trong tư tưởng, lời nói và hành động. Chúng ta không chỉ tuyên xưng niềm tin vào Chúa, nhưng điều quan trọng là sống và thực hành lời Chúa dậy: Ai giữ các giới răn của Người, thì ở trong Người và Người ở trong họ. Và còn hơn nữa, Chúa Giêsu còn cho chúng ta được sáp nhập vào gia đình thiêng liêng của Chúa. Khi Chúa Giêsu đã giơ tay chỉ các môn đệ và nói: "Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi (Mt 12, 49-50).
Đôi khi chúng ta hãnh diện và an lòng khi được mang danh Kitô hữu. Nghĩ rằng khi được lãnh nhận các Bí Tích nhập đạo là chúng ta có chứng chỉ để vào Nước Trời. Thực ra, đây mới chỉ là khởi đầu hành trình tiến về Nước Trời. Con đường theo Chúa đòi hỏi nhiều hy sinh và quyết tâm. Chúng ta đã nhập đạo, tin đạo, sống đạo nhưng còn phải hành đạo nữa. Không phải cứ thưa: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời đâu. Sống kết hợp với Chúa, tìm nguồn ân sủng qua việc nhận lãnh các bí tích, cử hành phụng vụ và các sinh hoạt cộng đòan dân Chúa. Phải thực hành giới răn và áp dụng lời Chúa truyền dạy trong đời sống cụ thể hằng ngày, nhờ đó, nhành nho mới sinh ra hoa trái.
Chúa ban ân sủng dồi dào cho chúng ta, nhưng điều kiện tiên quyết là chúng ta phải xứng đáng và sẵn sàng mở lòng đón nhận. Chúng ta nghĩ thế nào khi cả một cuộc đời dài sống trên trần thế, một người nào đó tách lìa khỏi nhiệm thể Chúa Kitô, bỏ bê luật Chúa, sống đạo lơ đễnh nhếc nhác, không tuân giữ giới răn, không chu toàn bổn phận người Kitô hữu, không hành đạo và không tu tâm tích đức. Khi đến giờ hấp hối sau cùng, người thân mời linh mục đến ban bí tích Xức Dầu, chúng ta không biết cành nho này có còn dính liền với cây nho để nhận nhựa sống ân sủng không? Chúng ta chỉ biết cậy vào danh Chúa nhân từ cho linh hồn người thân được hưởng ơn cứu độ.
Các Bí Tích là qùa tặng ân sủng cao quý cho ai biết đón nhận. Chúa Giêsu hiện diện qua các Bí Tích để ban ơn thánh sủng. Chúa không thể cứu độ chúng ta, nếu chúng ta nói ‘không’. Sự chuẩn bị tâm hồn tỉnh thức với lòng thống hối ăn năn và ước ao được kết hợp với Chúa sẽ giúp chúng ta đón nhận ân sủng của Người cách hiệu quả. Hình ảnh dàn nho cho chúng ta thấy một sự liên kết kỳ diệu qua tất cả các nhành, lá, hoa và chùm trái. Mọi thành phần chi thể phải gắn chặt với thân cây để hưởng nhờ nguồn sống. Tách rời khỏi thân, nhành lá sẽ bị khô héo liền. Sống trong thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô cũng thế, mọi thành viên phải luôn liên kết với đầu và mình là Chúa Kitô và Giáo Hội. Khi chúng ta tách lìa khỏi gia đình Giáo Hội, chúng ta tự tách lìa ra khỏi nguồn ân sủng siêu nhiên.
Trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, Chúa Kitô là đầu và chúng ta là chi thể. Chúa Giêsu lập Giáo Hội và trao quyền cai quản cho thánh Phêrô và các tông đồ. Theo truyền thống, Giáo Hội Công Giáo gắn bó một cách chặt chẽ với Đầu qua truyền thống của các giáo phụ và các Công Đồng Chung suốt những thế kỷ qua. Nhưng trải dài qua lịch sử, có nhiều thành phần đã tách lìa ra khỏi truyền thống tổ chức giáo hội hữu hình. Tuy các ngành, giáo phái hay nhóm hội không tuân phục Giáo Hội trong một hệ thống phẩm trật, nhưng các giáo phái vẫn liên kết với Chúa Kitô là đầu. Giáo Hội Công Giáo luôn có những cuộc liên kết đối thoại với các anh chị em cùng niềm tin trong Chúa Kitô. Chúng ta nhìn Giáo Hội như một cây cổ thụ to lớn có rất nhiều nhành và nhiều nhánh. Ước mong sao các nhành luôn kết hợp được với nguồn cội là Chúa Kitô để cùng được chia sẻ nguồn ân sủng từ Thiên Chúa Cha.
Một thoáng nhìn trong Giáo Hội, mỗi giáo hội địa phương cũng có một vài những khác biệt trong tổ chức và điều hành. Tuy rằng chúng ta có nhiều dị biệt trong cuộc sống nhưng trong niềm tin:Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người (Eph 4, 4-6). Sự đoàn kết và hợp nhất trong một Chúa sẽ mang lại niềm an vui và hạnh phúc. Mọi sự đều qui về Chúa Kitô là trung tâm điểm của mọi tạo vật, chúng ta sẽ tìm được ý nghĩa đích thực của niềm tin Kitô giáo.
Thực hành gia đạo trong đời sống gia đình cũng giống như sự liên kết của cây nho. Cây nho có gốc, có thân, có cành và hoa trái. Các cành kết hợp với gốc thân như con cái cháu chắt qui về ông bà cha mẹ sẽ tạo niềm vui chung và hạnh phúc. Con cái cháu chắt cùng mang một họ tộc hoặc cùng hòa chung trong một dòng máu, người ta gọi là gia đình. Giây ràng buộc của gia đình xây dựng sự tương quan chia sẻ như vui buồn, thành công thất bại và lo lắng muộn phiền. Sự liên đới giữa các thành viên trong gia đình họ tộc giúp san sẻ niềm vui hạnh phúc cuộc sống. Hạnh phúc biết bao khi chúng ta có gia đình, anh chị em và con cháu cùng vui vầy xum họp. Gia đình là đơn vị căn bản của giáo hội và xã hội. Có nhiều gia đình sống thánh thì giáo hội nên thánh thiện và xã hội sẽ tốt lành.
Lạy Chúa, Chúa phán rằng: Nếu các con ở trong Thầy và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin và sẽ được. Chúng con xin ơn hiệp nhất và bình an. Xin cho chúng con biết tôn trọng và gắn bó với nhau trong đời sống đạo, vì chúng con đều là anh chị em trong cùng một niềm tin và cùng tôn thờ một Cha trên trời. Nhờ đó, chúng con sẽ sinh hoa kết trái yêu thương trong cuộc sống hằng ngày.


 

PS5-B93: Sống thân mật với Chúa – Cố Lm. Hồng Phúc

Trong Phúc Âm Chúa nhật tuần trước Chúa Giêsu đã tự ví mình như người Mục Tử nhân lành, trong bài: PS5-B93

Trong Phúc Âm Chúa nhật tuần trước Chúa Giêsu đã tự ví mình như người Mục Tử nhân lành, trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa lại tuyên bố: ”Thầy là cây nho thật”. Trong Thánh Kinh, nho là một hình ảnh, một biểu tượng rất quen thuộc. Có người nói đó là “cây sự sống” trồng ở giữa vườn địa đàng (Stk. 2, 9). Môsê cho người đi do thám đất hứa đã mang về một nhành và một chùm nho vĩ đại phải hai người khiêng, làm cho dân chúng phấn khởi (số 13, 23). Hàng năm dân chúng mừng lễ mùa nho. Isaia sáng tác một bài dân ca mừng vườn nho xinh tươi của người bạn (5, 1-2) để ám chỉ tình thương của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Tiên tri Jeremia nói đến việc Thiên Chúa chăn sóc Israel như một khu vườn nho gia bảo; ai ngờ vườn nho đã sinh ra quả đắng đót! (Jr. 2, 21). Và khi sự việc tệ hại xảy ra, nhà Thánh Vịnh vẫn xướng lên một bài ca hy vọng: “Lạy Thiên Chúa, xin hãy viếng thăm và bảo trợ vườn nho mà chính tay Chúa đã vươn trồng” (Tv. 80, 15-16).
Hôm nay, Chúa Giêsu long trọng tuyên bố: “Ta là cây nho thật”, như Ngài là người Mục Tử chân thật. Nơi Ngài Giáo hội bám vào và chia sẻ nhựa sống như nhành nho bám vào một thân nho duy nhất. Thân nho là Chúa Giêsu, nhành nho là các môn đệ, Thánh Augustinô gọi là “Chúa Kitô duy nhất” gồm Chúa, môn đệ và chúng ta hết thảy.
Bạn hãy hát lên để cảm nghiệm lời Chúa từ xa xưa vọng lại cho mỗi người chúng ta: Thầy là cây nho, chúng con là nhành. Nhành nào kết hợp cùng cây sẽ trổ sinh hoa trái, nhành nào lìa cây sẽ khô héo liền. Chúng con hãy hợp trong tình yêu Thầy.
Mầu nhiệm cây nho được Chúa gồm tóm trong hai sự việc sau đây: kết hợp và sinh trái. Càng kết hợp chặt chẽ càng sinh hoa trái nhiều. Chúa muốn dạy chúng ta điều kiện căn bản là kết hợp với Chúa, có kết hợp với Chúa mới đem lại kết quả thiêng liêng cho kẻ khác và cho chính mình.
Kết hợp với Chúa là sống thân mật với Chúa trong tình yêu. Chị Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã nói: “Tôi đã tìm thấy ơn kêu gọi của tôi: Ơn kêu gọi của tôi là Tình Yêu”. Hai người kết hợp với Chúa trong tình yêu thì Chúa dùng để đem lại kết quả cho các linh hồn một cách phong phú nhiệm lạ. Mặc dù là một nữ tu kín, Têrêsa đã được Giáo Hội nhìn nhận và tôn phong làm quan thầy xứ truyền giáo cùng Thánh Phanxicô Xaviê. Vì truyền giáo là đem đức tin, đem lửa đến cho các linh hồn và càng có nhiều lửa, càng gây được đám cháy vĩ đại, như lời Chúa phán: Ta xuống trần gian và đem lửa đến để thiêu đốt lòng mọi người.
Trong bài đọc thứ hai, Thánh Gioan Tông đồ giải thích cho chúng ta lối sống hiệp nhất với Chúa. Người nói: “Ai giữ các giới răn của Chúa thì ở trong Người và Người ở trong họ”; “Đây là giới răn của Người: là chúng ta phải thương yêu nhau…đừng yêu bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và chân thật”. Anh em đã nghe nói đến nhà phung Quy Hòa ở ngoại ô thành phố Qui Nhơn. Vị sáng lập là Cha Paul Mahen đã dấn thân cho người cùi và chết giữa người cùi. Người cùi thường đến xin Ngài giúp đỡ. Một hôm một người đến nói với Ngài: “Con buồn quá, đêm qua con vừa rụng thêm một ngón tay nữa. Con lượm đây để Cha xem”. Cha Mahen cầm lấy đốt ngón tay, thương tiếc như chính một phần thân thể mình. Ngài an ủi, xin bệnh nhân cứ tiếp tục và thêm thuốc để chữa trị. Ngài nhìn họ là bản thân của Chúa. Ít năm sau, Ngài đã mắc bệnh phung và nằm xuống, xác được chôn cất giữa làng cùi bên cạnh đoàn con đau khổ. “Không có tình thương nào lớn lao cho bằng chịu chết vì bạn hữu”. Đồ đệ đã đi theo vết chân Thầy.
“Các con hãy ở trong Thầy và Thầy ở trong các con: ai ở trong Thầy, kẻ ấy sẽ sinh nhiều hoa trái” (Đáp ca)


 

PS5-B94: Sự sống trong Chúa Kitô – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Phân tích
 

Bài giáo lý về Dụ ngôn cây nho. Về sự sống trong Chúa Giêsu. Dụ ngôn cây nho chúng ta một cách vừa: PS5-B94

Bài giáo lý về Dụ ngôn cây nho. Về sự sống trong Chúa Giêsu.
Dụ ngôn cây nho chúng ta một cách vừa cụ thể vừa dễ hiểu nhưng lại rất sâu sắc về cuộc đời Kitô hữu:
Kitô hữu nếu muốn sống phong phú thì phải sống trong Chúa Giêsu và sống bằng sức sống của Ngài “Thầy là cây nho, các con là nhành… Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiếu trái.”
Kitô hữu cũng phải chấp nhận để cho mình “được Cha Thầy tỉa sạch” bằng những việc xảy ra không đúng ý mình làm cho mình đau khổ.
Chúa Giêsu còn hứa một điều rất tốt đẹp: “Nếu các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì, cứ xin thì sẽ được.”
Suy gẫm
1. Chữ “Kitô hữu” có nghĩa là “Người thuộc về Đức Kitô.” Cho nên cuộc sống Kitô hữu đương nhiên phải là cuộc sống trong Đức Kitô và sống bằng sức sống của Ngài. Muốn thế thì đương nhiên phải kết hợp chặt chẽ với Đức Kitô: bằng cầu nguyện, bằng tưởng nhớ, bằng thi hành những lời Ngài dạy… Ai không làm những điều đó thì người ấy không phải là Kitô hữu thật, người ấy là cành nho khô, sớm muộn gì thì cũng bị chặt đi và quăng vào lửa.
2. Cắt tỉa: cuộc đổi đời nào cũng được đánh giá bằng những cái mất và những cái được. Tuy nhiên với con mắt đức tin, người ta vẫn nhìn thấy cái được trong cái mất… Đức Hồng y Etchegaray có lần đã nói “Đứng trước cánh rừng, chúng ta không nên dừng lại ở tiếng ngã đổ của cây rừng, nhưng hãy lắng nghe âm thanh của những mầm non đang mọc lên.”
3. Thánh Anphongxô đã được Thiên Chúa cắt tỉa bằng việc để Ngài thất bại ê chề trong một cuộc xử kiện mà Ngài làm luật sư. Thánh Inhaxiô được cắt tỉa khi bị thương què chân trong một trận chiến. Các Ngài mất một điều nhưng được lại nhiều điều khác quý hơn.
4. “Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho, và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi.”
Mỗi ngày đọc báo, nghe đài, xem truyền hình tôi lại nghe thấy vụ giết người dã man; những thảm họa của chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, hạt nhân; những cái chết đầy thương tâm do các căn bệnh thế kỷ gây ra như Sida, Ebôla… Đâu đâu cũng thấy tang thương và chết chóc.
Có lần tôi đã phải bàng hoàng sửng sốt trước mẩu tin: “Một thanh niên đã chỉa súng bắn chết bố mẹ chỉ vì ông bà không cho cậu ta tiền tiêu vặt.”
Tại sao cuộc sống hôm nay lại có nhiều tội ác đến thế? Nguyên nhân chính phải chăng là vì con người xa lìa Thiên Chúa, chạy theo cuộc sống vật chất, do đó trở nên thoái hóa, buông thả, vô đạo. Đức tin khô héo rồi chết đi.
Lạy Chúa, xin cho con biết lưu lại trong Chúa qua cuộc sống yêu thương và phục vụ. (Cha Carôlô)
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, Chúa là cây nho, còn chúng con là cành, xin cho chúng con biết kết hợp với Chúa qua từng giây phút cuộc sống, nhất là khi chúng con được rước Thánh Thể Chúa ngự đến trong tâm hồn chúng con. Xin đừng để chúng con xa lìa Chúa bởi những tội lỗi, những đam mê mù quáng, những thói đời bất nghĩa, bất trung.
Lạy Chúa Giêsu mến yêu, chúng con vẫn biết rằng, để cành nho cuộc đời chúng con sinh hoa kết trái thì cần được cắt tỉa, loại bỏ những gì không phù hợp với sức sống Thần Linh của Chúa. Thế nhưng, Chúa ơi, chúng con vẫn bám víu vào những đam mê tật xấu. Tâm hồn chúng con vẫn chứa đựng đầy những tham lam bất chính, những tư tưởng dâm ô tội lỗi. Cuộc sống chúng con còn đầy những lầm lỗi gây nên đau khổ cho gia đình và bạn bè. Xin Chúa thứ tha tội lỗi chúng con. Xin Chúa cắt tỉa nơi tâm hồn chúng con khỏi những ước ao phạm tội, những toan tính xấu xa, những mưu đồ bất chính để chúng con luôn xứng đáng là đền thờ cho Chúa ngự trị.
Lạy Chúa, xin cho chúng con được lưu lại trong Chúa mỗi khi chúng con rước Chúa vào lòng, để sự sống của Chúa tuôn chảy trên dòng đời của chúng con, qua các việc đạo đức hằng ngày, qua cuộc sống yêu thương và phục vụ mọi người, nhờ đó mà muôn dân sẽ nhận ra “chúng con là môn đệ của Chúa.” Amen.


 

PS5-B95: Tại sao cành phải liền thân?

(Suy niệm của Lm. Raphael Amore Nguyễn)
1. Tình yêu và tham lam
 

Có hai thầy tu nọ sống với nhau đã 40 năm trời, họ chưa bao giờ cãi cọ, dù chỉ một lần. Cho đến một: PS5-B95

Có hai thầy tu nọ sống với nhau đã 40 năm trời, họ chưa bao giờ cãi cọ, dù chỉ một lần. Cho đến một ngày nọ, người này nói với người kia: “Này, anh bạn không nghĩ đã đến lúc chúng ta phải cãi nhau, ít nữa một lần sao?”
Người kia đáp: “Đúng vậy, nào chúng ta hãy bắt đầu! Nhưng chúng ta bắt đầu cãi nhau về chuyện gì?”
Người này bảo: “Về chiếc bánh mì này được không?”
“Được, hãy tranh luận về chiếc bánh này. Chúng ta sẽ làm thế nào đây nhỉ?”
Người này liền nói: “Chiếc bánh này của tôi; nó thuộc về tôi.”
Người kia đáp: “Nếu thế, thì bạn hãy lấy nó đi”.
Sở dĩ cuộc sống có xích mích và giận hờn, là do chính cái ngã to lớn có trong con người. Khi cái ngã càng trở nên bé nhỏ, sự bình an sẽ càng lớn. Cái ngã sẽ huỷ hoại sự bình an. Bình an chỉ có trong những trái tim mềm mại và trải rộng. Trái tim xơ cứng hoặc khép kín sẽ không thể cho được bình an. Cái ngã chỉ có làm một công việc duy nhất, đó là cột chặt trái tim lại - một trái tim bị ràng buộc. Trái tim này, vì thế, được gọi là ích kỷ. Và, những ai có trái tim này sẽ khổ đau, khổ đau cho chính mình, và làm cho người khác cũng đau khổ.
Tình yêu chỉ trở nên đúng nghĩa khi cái ngã không còn nữa. Hay nói cụ thể hơn, khi ta yêu, ta không còn là ta nữa. Thế giới cũ của ta sẽ biến mất nhường chỗ cho thế giới mới mẻ. Tại sao vậy? Khi yêu, là đi vào mối tương quan. Ta yêu cây yêu cỏ, ta nghĩ đến chúng, ta bảo vệ chúng, ta chăm sóc chúng, ta chờ đợi chúng lớn lên. Ta vui khi chúng lớn lên từng ngày và mạnh khoẻ.
Có bé trai nọ, vui mừng khi những chó con ra đời. Nó đi học cũng nhớ cún, nó học xong là quăng tập vở dưới sàn nhà, chạy ra nâng niu những chú cún con, nó nhịn uống sữa của nó để dành cho cún, nó đút từng thìa vào miệng cún, nó vui mừng khi cún và nó hiểu nhau.
Vì thế, yêu có nghĩa là đi vào mối tương quan giữa ta và đối tượng. Đi vào mối tương quan, có nghĩa là đi vào nguy hiểm, là liều mình. Liều mình, là vì ta chấp nhận không còn là ta như xưa nữa, mà trở thành cái ta khác. Vẫn có nhiều chàng thanh niên đã từng là tay bợm rượu, nhưng khi lấy vợ thì tay ấy không đụng một giọt rượu nào! Cho dù bị bạn bè cười chê là sợ vợ. Vẫn thấy đó đây những cô nàng, khi chưa yêu thì không bao giờ hề đụng vào bếp, nhưng khi đã có tình yêu, bỗng dưng nàng biết nấu ăn ngon, làm bánh và pha café! Người ta vẫn thường nói,“love makes wonders” rất là chí lý. Tình yêu luôn làm nên những việc diệu kỳ.
Vâng. Phải can đảm lắm mới dám yêu, vì yêu là dám ra khỏi mình để thiết lập mối tương quan. Tương quan như là sợi dây nối hai thế giới xa lạ - hai cái tôi khác biệt. Sợi dây càng thu hẹp lại thì tình yêu càng lớn. Tình yêu sẽ trọn vẹn khi sợi dây đó không còn nữa, vì hai thế giới đã trở nên một, không gọi là tương quan nữa, vì “mình với ta tuy hai mà một” rồi vậy. Khi sợi dây vẫn còn dài, có nghĩa là hai thế giới vẫn không chạm nhau được. Người ta có thể ngộ nhận là tình yêu, nhưng đó chỉ là xã giao bề mặt, chỉ là kinh doanh buôn bán lẫn nhau, chỉ là sự đổi trác đôi bên đều có lợi nào đó. Không lạ gì, trái đất ngày hôm nay có nhiều người đang sống như thế, cho nên nảy sinh nhiều cuộc ly dị, nhiều tình bạn đổ vỡ, nhiều vụ tự tử, nhiều kẻ bị tâm bệnh, nhiều người nóng nảy không thể tự chủ... Căn nguyên là hầu như phần lớn không mấy ai hiểu được tình yêu. Ai cũng nghĩ mình biết yêu, ai cũng nghĩ tình yêu là đẹp. Đúng! Tình yêu là đẹp, là vĩ đại hơn bất cứ điều gì trên trần gian này, vì tình yêu mở cửa Thiên Đàng. Nhưng thực tế, con người hôm nay lại chỉ thấy cửa Hoả Ngục.
Khi sợi dây tương quan không còn, khi hai thế giới xưa kia khác biệt giờ đây đã hoà nhập làm một để trở thành một thế giới mới - đó là thế giới của tình yêu. Thế giới này không phải để chiếm đoạt, thống trị, thao túng, điều khiển, nhưng đểhướng đến tự do và bình an mãi nơi nhau. Không thể nào có tình yêu khi một trong hai bên muốn phụ thuộc hay bị phụ thuộc. Phụ thuộc là không tự do. Khi ta làm tất cả mọi sự cho người mình yêu, nhưng khi người kia cảm thấy không thể sống thiếu ta, hay không thể không thể sống được khi ta hết cung cấp những gì là bên ngoài, là trau chuốc cho vỏ bọc, thì ta đang làm cho người yêu ta trở nên phụ thuộc vào ta. Đây chỉ là sự ích kỷ của ta, là sự tàn nhẫn nhất, vì ta đang làm cho đối tượng bị thương mà không thể kêu đau. Triết gia Phạm Công Thiện nói: “Trong dòng sinh diệt thời gian, Tình Yêu vẫn bất diệt vĩnh cửu sẽ vượt thời gian và không gian. Ai nghĩ khôn khéo cho chính mình là người sẽ biết đối xử tốt với người khác, vì rằng, cuối cùng về lâu về dài, chính kẻ ấy sẽ được nhiều lợi lộc. Tôi gọi đó là ích kỷ cách trí tuệ”.
Trong tiếng Anh, chữ love tưởng như bắt nguồn từ tiếng Latinh là amor, nhưng không phải, mà nó lại bắt nguồn từ tiếng Phạn (Sankrit) là lobha. Nguyên nghĩa Lobha có nghĩa là sự tham lam. Tình yêu là trải rộng, cho đi, sống cho, sống vì; còn tham lam thì ngược lại, là thu vén, chiếm giữ, thống lĩnh, chỉ biết nhận, biết lấy. Chỉ trong lĩnh vực ngôn ngữ học, chúng ta cũng đủ thấy rằng cha ông ta xưa kia rất uyên thâm về cuộc sống như thế nào mới sử dụng ngôn từ bên phương Đông một cách độc đáo như thế. Thật vậy, tình yêu và tham lam cũng đang trộn lẫn vào mỗi con người chúng ta. Có không ít cha mẹ người Việt bắt con cái học đủ thứ, và còn lên kế hoạch tương lai cho chúng, làm chúng phải “chạy” bở hơi tai. Cha mẹ kỳ vọng vào chúng, và rất hãnh diện khi chúng thoả mãn niềm ước mong của chính mình. Như vậy, không phải cha mẹ có tình yêu với con cái, nhưng chính là thống trị chúng trong lòng tham khôn khéo của mình. Con cái được đối xử như những món trang sức để tăng vẻ đẹp của bản thân cha mẹ. Tình yêu là sự sống, lòng tham thì đưa đến cõi chết. Chính vì thế, nhiều người con quá căng thẳng, hay quá bế tắc đã tìm đến cái chết, hoặc phản ứng ngược lại như quậy phá, chơi bời, bụi đời... Vì chúng không còn thấy chúng nữa. Chúng bị tước mất tự do. Chúng ta dễ ngộ nhận tình yêu, vì hầu như chúng ta sống tham lam thông qua chiếm hữu, điều khiển, thống lĩnh hơn là yêu đúng nghĩa.
Sự tham lam sẽ không làm cho hai thế giới chạm vào nhau để sinh ra tình yêu được. Người tham lam không dám liều để yêu, vì họ sợ mất thế giới của riêng mình. Họ cho rằng khi thế giới bên trong của mình bị đánh mất, thì họ sẽ chết. Nhưng họkhông biết được rằng, chính khi thế giới cũ của họ mất đi, thì họ mới sống viên mãn. Chính vì thế họ ra sức giữ gìn, bảo vệ. Chỉ có người nào biết trải rộng, có nghĩa là dám liều, dám bỏ trung tâm mình để đi sâu vào trung tâm của đối tượng, mới có kinh nghiệm sự sống viên mãn này.
2. Cành liền thân
Hìnhảnh cành nho gắn liền với thân cây nho trong Tin Mừng Gioan mà Chúa Giêsu diễn tả cho các môn đệ là hình ảnh thật đẹp về tình yêu.
Trước tiên, thiết tưởng cũng nên nhắc lại, Tin Mừng theo thánh Gioan là Tin Mừng vềtình yêu, hay còn gọi là thần học về tình yêu. Tình yêu của Gioan là một thếgiới mới - một thế giới được tạo dựng nên bởi hai thế giới cũ xưa kia của hai đối tượng can đảm dám liều. Đây là thế giới mà Chúa Giêsu gọi là điều răn mới: “Anh em hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em”(Ga 13,34). Như ở đây, có nghĩa là Chúa Giêsu muốn hướng chúng ta đến cội nguồn Tình Yêu của Ngài để kín múc, để tắm gội và để hoà tan vào trong toàn thể châu thân của ta, và từ đó chúng ta sẽ tưới gội cho đồng loại đang khao khát. Tình yêu theo Thánh Gioan là con người cần phải kín múc nơi nguồn mạch yêu thương từ Chúa Giêsu thì con người mới có tình yêu đúng nghĩa, và từ đó, để trao ban.
Ở đây, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt. Không phải ta có tình yêu đúng nghĩa là do tự bản thân ta có, nhưng mà ta phải nài đến Chúa Giêsu để kín múc thứ tình yêu đó. Để có tình yêu đúng nghĩa và thật, chúng ta phải bước ra khỏi thế giới cũkỹ của mình để đi sâu vào Thánh Tâm của Ngài - Thánh Tâm vẫn không ngừng tuônđổ tình yêu cho con người. Tình yêu không kín múc từ Chúa Giêsu là tình yêu thếgian (x. Ga 15,19), còn tình yêu kín múc từ Ngài thì được gọi là tình yêu trongđiều răn mới, là tình yêu trải rộng cho đến vô cùng như Chúa Giêsu đã trải rộng cho đến chết trên Thánh Giá.
Và Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn cây nho để diễn tả về tình yêu qua một dòng nhựa lưu chảy từ gốc rễ lên thân, ra đến cành nhánh, rồi đến lá kết hoa kết trái. Toàn bộ cây nho đều được nhựa sống ban sức sống cho. Khi cành nho gắn liền vào thân nho có nghĩa là đã có chung một dòng chảy nhựa sống, cho nên tương quan biến mất, và chỉ còn lại sự hợp nhất giữa thân và cành. Đến đây, có một chi tiết nhỏ rấtđáng cho chúng ta suy nghĩ: điều quan trọng trong dụ ngôn cây nho chính là “cành nho”. Thánh Gioan đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần từ “ở trong” trong trình thuật này. Như thế, chúng ta không thể đặt dấu chấm hỏi nữa về gốc, về nhựa sống, về thân nho nữa, nhưng chính là liệu cành có ở trong, có gắn liền với thân không?
Thông thường phần đông chúng ta đòi hỏi đối tượng mình yêu hơn là chính bản thân ta. Có đôi cặp tình nhân nọ đi chơi với nhau. Nàng hỏi chàng: “Anh có yêu em không?” Chàng có vẻ tự ái, hỏi lại: “Thế còn em thì sao?” Và thế là, đôi bạn trẻ mang từ những chuyện quá khứ ra bàn cãi, nào là người yêu xưa của nàng, của chàng... Cuối cùng họ đi đến cãi nhau. Chúng ta thường nói nhiều về đối tượng trong tình yêu, nhưng không bao giờ biết tự hỏi: “Tôi thì sao? Tôi có phải là người yêu thật sự của người ấy không?” Khi chúng ta chỉ hỏi người khác, có nghĩa là chúng ta đang tham lam, đang chiếm hữu họ cách tinh tế. Đối tượng của chúng ta trở thành một con thú cho chúng ta thoả mãn. Họ không còn là người nữa trong cách xử sự của chúng ta. Vì thế, cũng thật chí lý khi người ta nói rơi xuống tình yêu (fall in love) Chữ yêu khó được hiểu đúng nghĩa của nó, nên phần lớn người ta không biết yêu, nên phần lớn đang từ trên cao người ta rơi xuống, từ cao đẹp rơi xuống nhỏ nhen, từ hồn nhiên rơi xuốnghậm hực, từ người rơi xuống thành con. Khi anh ta trả lời rằng có yêu, thì chị kia vẫn sẽ thắc mắc mãi trong tâm trí: “Liệu anh ấy có thực lòng không?”Làm sao chúng ta có thể chắc chắn về người khác được. Không thể nào xác quyết một cách tuyệt đối về một ai, khi mình thậm chí còn không dám chắc chắn vềmình. Nhưng cho dù anh ta phải trả lời triệu lần rằng anh ta yêu đó, thì lại càng nguy hiểm hơn vì sự thật không cần phải lập đi lập lại nhiều lần đến thế. Sự thật là sự thật, nó có ngôn ngữ riêng của nó. Chính vì thế, khi quan tổng trấn Philatô hỏi Chúa Giêsu trước khi đem ra xử tử: “Sự thật là gì?” Chúa Giêsu thinh lặng. Sự thật không nằm trong địa hạt lý trí hoặc cảm xúc. Sự thật không cần chứng minh hay phải lặp đi lặp lại.
Vì vậy, điều quan trọng nhất trong tình yêu, đó là chính bản thân chúng ta. Chính chúng ta là chìa khoá mở cửa cho tình yêu toả sáng. Tình yêu đã có sẵn, đã chờ đợi, chỉ cần chúng ta can đảm đứng lên, đi đến tra chìa để mở cánh cửa ấy. “Hãy ở trong Thầy... Ai không ở trong Thầy...”. Chúa Giêsu như đã dọn sẵn tất cảnhững phần thưởng mà chúng ta khát mong nhất, và Ngài mời gọi chúng ta. Ngài tôn trọng tự do của chúng ta. Vì Ngài là Tình Yêu, nên Ngài không ép buộc, không chiếm hữu, không lôi kéo... chúng ta. Ngài mời gọi, còn chúng ta có quyền chối từ. Vì là Tình Yêu, Ngài muốn chúng ta tự do trong viên mãn. Ngài tôn trọng tự do chúng ta đến nỗi Ngài chấp nhận đau khổ khi thấy chúng ta vẫn chọn tách xa trung tâm của Ngài. Vì Tình Yêu, Ngài tôn trọng tự do của chúng ta cách tuyệt đối, và Ngài đau khổ không phải vì Ngài sợ đau đớn, nhưng vì đau khổ với cái khổ đau của ta. Ngài chỉ cần chúng ta bước đến với Ngài, và chúng ta sẽ được toại nguyện: “Nếu các con ở trong Thầy, và lời Thầy ở trong các con, thì các con muốn gì cứ xin, và sẽ được”.
Lời mời gọi “ở trong” của Chúa Giêsu là lời mời gọi con người đi vào tình yêu của Ngài, để hai bên chỉ thở cho nhau, hoà quyện và hoà tan vào nhau như cành liền cây với nhựa sống tuôn chảy mãi bên trong. Chúa Giêsu mời gọi vì yêu chúng ta, Ngài muốn chúng ta đạt đến sự viên mãn nhất, là cứu cánh của con người chúng ta. Chỉ hoà quyện vào trong nhựa sống Ngài, chúng ta mới thể hiện chính mình cách tuyệt đối.
Tình yêu của Chúa tuyệt đối đến nỗi Ngài cho con người khả năng đáp lại hay khước từtrước tình yêu đó. Chính vì thế, khi con người được khả năng tự mình quyết định tất cả, ngay cả sống chết, ngay cả chọn cứu cánh đời mình như thế nào - một cứu cánh đưa đến hạnh phúc thật hay đưa đến trầm luân trong khổ đau - cho thấy Chúa tôn trọng con người cách tuyệt đối. Vì tình yêu, Chúa không muốn con người tách khỏi “thân nho”, vì tách khỏi thân là tự mình đánh mất hạnh phúc thật của mình.
Trong trình thuật về cây nho cành nho, chúng ta thấy đằng sau đó không chỉ là lời mời gọi yêu thương của Ngài để cho con người bước vào cứu cánh hạnh phúc của mình, nhưng hơn thế nữa, lời mời gọi đó của Ngài còn chất chứa sự van xin con người cho Ngài một ân huệ cuối cùng nào đó. Trong bữa tiệc cuối cùng, sự van xin đó rõ nét hơn khi Chúa Giêsu đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ để thức tỉnh các môn đệ. Trước khi chịu khổ hình và chịu chết, lời mời gọi ấy vẫn không ngừng biểu lộ qua thái độ cũng như lời nói và cho môn đệ tự chọn và tự quyết cứu cánh của mình: “Này Giuđa, anh dùng nụ hôn để nộp Con Người sao?” (Lc 22,48). Và chỉ có sự mời gọi của tình yêu chất chứa trong cái nhìn của Chúa Giêsu gởi đến cho Phêrô, Phêrô đã rung động và bừng tỉnh, ông đã bước ra khỏi chính mình để đi sâu vào tình yêu của Chúa. Giọt nước mắt lăn trên má của Phêrô là giọt nước tẩy rửa tấm gương soi cho ông thấy rõ thân phận hạn giới của ông trước tình yêu vô hạn của Thầy, cho ông thấy trung tâm ở trong ông còn xa trung tâm Thầy lắm. Giọt nước mắt này của Phêrô cho thấy từ trước tới giờ ông chưa ra khỏi chính ông để tạo nên tương quan, vì thế chưa từng nên một với Thầy. Phêrô đã quá kỳ vọng vào Thầy, quá mơ tưởng đến tương lai sáng lạn mà Thầy sẽ giải thoát dân tộc theo nghĩa chính trị. Càng kỳ vọng, càng thất vọng. Phêrô kỳ vọng vào Thầy vì Phêrô yêu chính mình. Phêrô không hiểu được tình yêu thật là gì. Cảnh tượng Thầy mình bị truy bắt và bị lôi ra xử tử đã làm đảo lộn mọi giá trị mà Phêrô đã có trong ông: Thầy của ông đang ở trước mặt ông cách trần trụi. Trần trụi là thuộc tính của tình yêu. Sự giả dối thì không trần trụi, vì nó được mặc nhiều lớp áo đẹp và hấp dẫn. Chính vì thế, Chúa Giêsu mới dùng ngôn từ“Thầy là cây nho thật”. Khi hai người yêu nhau mà quá lịch thiệp với nhau, có nghĩa là cả hai đang giả dối.
Giả dối là ích kỷ và chỉ xảy ra trong mua bán đổi trác. Đôi tình nhân đó, thực sựhọ bên nhau, nhưng họ chưa từng gặp nhau, vì họ không cho trung tâm của nhau chạm vào. Họ không thể trở thành hơi thở của nhau nên họ chưa bao giờ có tình yêu. Vì thế, họ chỉ là trò chơi của nhau mà đôi bên đều vui. Tình yêu không phải là trò chơi hay tương quan suy tính lợi hại. Tình yêu là sức sống và sẽ thăng hoa nhân vị. Tình yêu thật thì mang tính tâm linh.
Cành nho gắn vào thân nho là sự trần trụi, là sự thật, vì cành và thân nho có nhưthế nào đều biết được lẫn nhau, vì họ có chung một dòng nhựa sống bên trong. Chính vì thế, tình yêu phải là sự hiệp nhất và chân thật. Thân nuôi cành và cành sẽ cho hoa trái.
Chúa Giêsu - là thân nho đã yêu thương sinh ra cành nho - con người chỉ có thể sống viên mãn khi gắn kết vào Ngài qua dòng nhựa sống của tình yêu không ngừng muốn chảy tràn trề trong họ. Để từ đó, tất cả những gì con người có đều là từ Chúa, cho Chúa và vì Chúa. Mong sao, từng hơi thở ra-vào của chúng ta cũng chính là hơi thở trong Hơi Thở của Chúa. Từ đó, chúng ta mới có thể mạnh mẽ và nhiều nội lực để tiếp sức cho những ai đang thoi thóp và héo khô.
Chúa là dưỡng chất nuôi sống con người, nên việc ở lại trong Chúa là tối quan trọng để con người thể hiện tuyệt đối tự do và cứu cánh đời mình, ngoài ra, không còn chỗ nào khác. Chỉ có thân nho thật mới mang sức sống, thế mà phần lớn mọi người vẫn cứ bám vào những cây nho giả vốn được trang hoàng rất đẹp và nhiều lời gọi mời hứa hẹn rất hấp dẫn đang lan tràn trên khắp thế giới ngày nay... Cái thật thì thầm lặng, không nhiều lời, nhưng đang hiện hữu, ngay lúc này đây, dù cái thật có bị khước từ hay đón nhận, cái thật vẫn toả sáng toả hương, như những đoá hoa đồng nội, dù ai có ghét hay thương, hoa vẫn nở.
Lạy Chúa Giêsu, “nếu không có Thầy, chúng con không thể làm được gì”. Amen.
 

PS5-B96:  Cắt tỉa

Chúng ta phải làm những gì để cành nho là cuộc đời chúng ta được sinh nhiều hoa trái? PS5-B96 Luong

Chúng ta phải làm những gì để cành nho là cuộc đời chúng ta được sinh nhiều hoa trái?
Tôi xin thưa, việc thứ nhất chúng ta cần phải làm là cắt tỉa. Đúng thế, Chúa Giêsu đã nói với chúng ta: Cành nào sinh hoa trái thì Ngài sẽ cắt tỉa để nó đem lại nhiều hoà trái hơn. Hành động cắt tỉa được thực hiện nơi bản thân chúng ta bởi những hy sinh và quên mình. Đây cũng là điều kiện mà chúng ta vốn thường thấy cho bất cứ một thành công nào. Chẳng hạn chúng ta sẽ không thể nào có nồi cơm vừa dẻo lại vừa thơm, nếu như những hột gạo không bị nấu chín. Chúng ta sẽ không thể nào có được những chiếc bánh vừa giòn lại vừa ngon, nếu như những bông lúa mì không bị nghiền nát. Đồng thời chúng ta cũng không thể nào có được những bột lúa mì, nếu như những hạt giống gieo trên ruộng đồng, không bị mục nát và rữa thối trong lòng đất. Cũng thế sẽ không thể nào có được chén rượu nho nếu những trái nho không bị ép nát. Hơn nữa, chúng ta sẽ không thể nào có được những trái nho, nếu như trước hết những cành lá không bị cắt tỉa. Hy sinh và gian khổ sẽ không bao giờ thiếu vắng trong cuộc sống. Tuy nhiên điều quan trọng đó là chúng ta phải biết đón nhận những hy sinh gian khổ ấy, phải biết vác lấy thập giá mà bước theo Chúa. Hay nói một cách khác: Hãy chấp nhận tất cả vì lòng yêu mến Chúa, để cuộc đời chúng ta sẽ đem lại nhiều hoa trái. Bởi vì lòng yều mến chính là chiếc đũa thần, biến những hy sinh nhỏ bé của chúng ta trở thành những sợi chỉ vàng, dệt nên tấm vải cuộc đời và là cho cuộc đời chúng ta có được một giá trị to lớn trước mặt Chúa.
Việc làm thứ hai đó là phải sống gắn bó mật thiết với Chúa. Thực vậy, chính Chúa Giêsu đã xác quyết: Không có Thầy các con không thể làm gì được. Đã hẳn, không có Ngài, chúng ta vẫn có thể làm được nhiều chuyện. Thế nhưng, đó chỉ là những công việc hời hợt, nông cạn thiếu nền móng, như căn nhà xây trên cát, chẳng bao lâu sẽ bị sụp đổ trước cảnh tượng mưa tuôn và gió cuốn. Với Ngài, thì đức tin dù chỉ bằng hạt cải, cũng có thể chuyển núi dời non. Với Ngài thì mạng nhện cũng trở nên tường thành, còn không có Ngài thì tường thành cũng trở nên mạng nhện mà thôi. Chính vì thế, Chúa Giêsu luôn luôn khuyên nhủ chúng ta: Các con hãy ở trong Thầy. Bởi vì chỉ cành nào kết hiệp cùng cây mới trổ sinh hoa trái. Trái lại, cành nào lìa cây thì lập tức sẽ bị khô héo. Bởi đó, hãy ở lại trong tình yêu Chúa. Hãy kết hợp mật thiết với Ngài.

 

PS5-B97:  Thầy là cây nho, anh em là cành - ViKiNi

(Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm – trong ‘Xây Nhà Trên Đá’)
 

Theo tiến sĩ Campell Morgan: “Chúa Giêsu nói dụ ngôn này vào một trong hai cảnh: một số người cho PS5-B97

Theo tiến sĩ Campell Morgan: “Chúa Giêsu nói dụ ngôn này vào một trong hai cảnh: một số người cho rằng: Đức Giêsu dẫn các môn đệ từ phòng tiệc ly ngang qua đền thờ. Cửa đền thờ trong tuần lễ Vượt Qua mở suốt đêm cho khách hành hương ra vào. Trên cổng đền thờ, cây nho bằng vàng là quốc huy của Do thái sáng loáng dưới ánh trăng thanh của những đêm rằm trong mát. Cảnh tượng ấy vô cùng đẹp đẽ và thơ mộng. Một số khác cho rằng: Đức Giêsu dẫn các môn đệ ra khỏi thành xuống khe suối Kêdrôn. Ngồi giữa khung cảnh đó, họ nhìn thấy nho mọc khắp trong vùng, rồi Ngài nói: “Thầy là cây nho thật … anh em là cành”. Đồng thời họ cũng nhìn thấy rải rác trong thung lũng đêm tối những đám cháy đang thiêu rụi những cành nho bị cắt quẳng đi lúc ban ngày. Trong bối cảnh đó Đức Giêsu nói thêm: “Ai kết hợp với Thầy … thì người ấy sinh hoa kết quả dồi dào … Ai không kết hợp với Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta sẽ ném nó vào lửa cho cháy đi” (Parables and Metaphores of our Lord, No 62).
Khi Đức Giêsu nói: “Thầy là cây nho đích thực và Cha Thầy là người trồng nho”, Người muốn các môn đệ nhận ra Người là cây nho Chúa Cha đã đưa từ trời xuống trồng cho thế gian được sống nhờ kết hợp với Người. Khác với thứ cây nho là dân Do thái được bứng từ Ai cập về như Thánh vịnh 80 đã mô tả: Thứ nho có bóng rậm cả núi non, nhánh vươn tới biển khơi và chồi lan tới sông cả. Nhưng nó chỉ hào nhoáng bên ngoài như cây nho bằng vàng giả tạo đúc trên cổng đền thờ, nó vô tâm, vô hồn, được người ta ca tụng nó, nhưng nó không biết ca tụng Thiên Chúa, nên Ngài đã để cho kẻ qua lại dầy đạp nó, cho heo rừng và dã thú phá hủy nó.
Tiên tri Isaia, Giêrêmia và Êzêkiel cũng ám chỉ Do thái như vườn nho được Thiên Chúa tạo dựng để sinh hoa kết quả, nhưng nó đã thất bại, chỉ sinh những trái nho dại (Is. 5, 1-7; Ger. 2, 21-5,10; Ez. 15, 1-2 – 17, 3.4 - 19, 10-14).
Chúng ta hãy chiêm ngưỡng cây nho đích thực: Thân cành quấn quít lấy nhau, chi chít những chùm trái chín mọng, không còn thấy đâu là thân, đâu là cành. Chúng cài đan chặt lấy nhau như những nan thúng, nan rá, không đơn độc trơ trọi như cành xoài, cành mít, Chúa Giêsu dùng những hình ảnh cụ thể sống động đó để diễn tả mầu nhiệm kết hợp giữa Người với kẻ tin Người, phải liên kết chặt chẽ gắn bó với Người như hình với bóng, nhìn hình thấu bóng, nhìn bóng biết được hình. Nhìn ta, người ngoài thấy được Chúa, nhìn Chúa, họ thấy ta giống Người, nếu họ nhìn ta không thấy ta giống Chúa, mà chỉ thấy ta như thứ hình bằng vàng giả tạo, vô tâm vô hồn, thì ta sẽ bị ruồng bỏ cho dã thú phá hủy, hay như cành nho bị cắt chặt vất vào lửa đời đời.
Nếu họ nhìn ta mà họ thấy được Chúa như thánh Phaolô nói: “Tôi sống không còn là tôi sống, nhưng Chúa Kitô sống trong tôi”. Như thế, “anh em sinh hoa kết quả dồi dào và trở thành môn đệ của Thầy, thì đó là tôn vinh Cha của Thầy”.
Bài đọc một cho thấy Saolô khi chưa trở nên cành nho của Chúa, ông đã hung hăng bách hại đạo Chúa, đến nỗi khi ông mới trở lại “mọi người vẫn còn sợ vì họ vẫn còn nghi ngờ ông”.
Khi ông đã được nhập đoàn với các môn đệ, trở nên cành nho của Chúa “ông đã mạnh dạn rao giảng danh Chúa Giêsu …” dù cho người Do thái luôn luôn âm mưu giết hại ông. Ông đã là cành nho “sinh hoa kết quả dồi dào và Hội thánh được bình an, ngày càng vững mạnh, sống kính mến Chúa, và ngày một thêm đông nhờ ơn Thánh Thần nâng đỡ”.
Họ càng đông, họ càng yêu thương nhau thật sự bằng việc làm, tuân giữ giới răn Chúa và làm mọi sự đẹp lòng Chúa.
Bài đọc hai, đó là những dấu chứng họ đích thực là cành nho của Chúa. “Họ ở trong Chúa và Chúa ở trong họ”.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết tuân giữ giới răn Chúa trong tình yêu thương nhau tận tâm tận lực và mạnh dạn rao giảng danh Chúa, để “Thầy là cây nho, chúng con là cành mới sinh hoa trái dồi dào”.

 

PS5-B98: Bình an trong Giáo hội

(Suy niệm của Peter Feldmeier - Lm. Văn Hào SDB, chuyển ngữ)
Trong khắp miền Giuđê, Galilê và Samari, Hội thánh được bình an (Cv 9,31)
 

Năm 2001, Hồng y Walter Kasper và Hồng y Joseph Ratzinger có một cuộc tranh luận sôi nổi nhưng PS5-B98

Năm 2001, Hồng y Walter Kasper và Hồng y Joseph Ratzinger có một cuộc tranh luận sôi nổi nhưng thân tình về bản chất của Giáo hội. Cuộc tranh luận thần học này đã được đăng tải rộng rãi trên các tạp chí. Hồng y Ratzinger biện luận về tính ưu việt của Giáo hội hoàn vũ so với các giáo hội địa phương. Ngài lập luận, ngay từ ban đầu, chúng ta đã thấy rất rõ điều ấy. Hồng y Kasper thì lại thách thức với những lập luận khác. Ngài cho rằng tư tưởng này khá giống với thuyết duy tưởng của Platon. Theo Ngài, Giáo hội hiện hữu như một thực thể thiêng liêng nhưng Giáo hội chỉ thực sự trở nên hữu hình trong thế giới hôm nay qua những cộng đoàn địa phương cách cụ thể. Hồng y Kasper lý luận rằng các cộng đoàn giáo hội địa phương chính là nền tảng cho sự hiện hữu của giáo hội toàn cầu. Cuộc tranh luận này không chỉ nói về giáo hội sơ khai, nhưng liên quan đến vấn nạn nêu ra là: Quyền bính giáo hội hiện tại nằm ở đâu, đến từ nơi nào và quyền bính đó được thực thi ra sao.
Những trích dẫn từ Thánh Kinh nghiêng về lập luận của hồng y Kasper nhiều hơn, ít nhất qua việc sử dụng các từ ngữ. Thánh Luca trong sách Tông đồ Công vụ, đã dùng hạn từ “giáo hội” , và trong những lần đó, có 18 lần Ngài ám chỉ về giáo hội địa phương. Nhưng chỉ có một trường hợp duy nhất, Luca nói về giáo hội với tính phổ quát, đó là trong bài đoc phụng vụ hôm nay: “Trong khắp mọi nơi, từ Giuđêa, Galilê và Samaria, hội thánh được bình an.”
Khi tôi nhìn vào giáo hội toàn cầu hiện nay, tôi không thấy có sự bình an mà mọi người đều mong ước. Ngay cả tại giáo hội địa phương nơi tôi sinh sống cũng vậy. Giáo phận tỏ vẻ hơi khó chịu với cộng đoàn địa phương tại đại học này, vì đa phần thuộc giới trí thức. Làm cách nào chúng ta có thể trở về với ý nghĩa sâu xa của sự bình an thời giáo hội sơ khai. Nói thẳng ra, chúng tôi ở đây không thể kiến tạo sự an bình thật sự, ít nhất về một vài phương diện nào đó. Nếu chúng ta đọc lại các thơ của thánh Phaolô, chúng ta cũng thấy vấn đề giống như thế. Ngài rất nhiều lần bình phẩm về giáo hội tại các địa phương và ngay cả khi nói về giáo hội phổ quát, Ngài cũng đã phàn nàn giống như thế. Ví dụ, Phaolô đã phê phán Phêrô như một kẻ giả hình ở Antiokia (Gal 2,11.14). Ngài khiển trách các Kitô hữu ở Galát không nhìn nhận vai trò của Ngài trong việc loan báo Tin mừng (Gal 1,8). Ngài trách cứ cộng đoàn Côrinthô vì tình trạng lộn xộn và chia rẽ (1 Cor 11,17;12,31.) Thánh Phaolô nói thẳng là có một vài đồng nghiệp rao giảng Tin mừng với những động cơ xấu xa như ganh tị hay tranh chấp (Phil 1,15). Ngài nài xin các tín hữu phải sống huynh đệ, một lòng một trí, đừng vì ganh tị hay ghen ghét hoặc tìm hư danh.( Phil 2,1.5). Cuối cùng, Ngài cũng nhắc nhở đùng ai coi thường Ngài, coi Ngài như thua kém các vị tông đồ khác (2 Cr 12,11). Những vấn đề Phaolô nêu ra, có những nét tương đồng như giáo hội hiện nay, theo như tôi được biết.
Thánh Luca trình bày một Giáo hội lý tưởng hơn là một Giáo hội với những lộn xộn và bất an mà chúng ta dễ thấy. Tuy nhiên, không phải vì thế mà Luca cảm thấy toại nguyện hoàn toàn. Ở đây, Luca chỉ muốn vạch hướng về lý tưởng mà giáo hội phải vươn tới. Ngài nói rằng, chúng ta vẫn có thể trải nghiệm bình an thực sự ngay cả khi chúng ta bị bách hại từ bên ngoài và gặp cả những sóng gió từ bên trong. Thật thú vị, khi chúng ta khám phá ra rằng đoạn văn trích từ sách Tông đồ công vụ mà Giáo hội đọc trong phụng vụ hôm nay diễn tả cuộc gặp gỡ giữa thánh Phaolô và những người Do thái có uy tín theo văn hóa Hy lạp tại Giêrusalem. Họ là đại biểu của giới lãnh đạo Giáo hội lúc bấy giờ, giáo hội địa phương ở Giêrusalem và cả Giáo hội toàn cầu nói chung (Cv 9,29 ). Kinh qua những cuộc bắt bớ và sát hại, họ tỏ ra rất dè dặt và thận trọng khi nói chuyện với Phaolô. Barnaba bảo đảm cho họ rằng Phaolô là người thuộc bọn họ chứ không phải kẻ thù. Ngài bênh vực Phaolô, và chúng ta thấy Phaolô dần dần đi lại dễ dàng giữa họ.Chính xác hơn, như sách Tông đồ công vụ thuật lại, Ngài đi ra đi vào cùng với họ. Đây là dấu chỉ của sự tương giao bằng hữu. Mối thân tình này có được nơi chúng ta, là phát nguyên sâu xa trong Đức Kitô. Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu nói Ngài là cây nho, các môn đệ là cành nho. Ngài nhắc nhở rằng nếu tách lìa khỏi Ngài,chúng ta sẽ bị khô héo và sẽ chết. Ngược lại, cùng với Ngài và qua Ngài, chúng ta sẽ triển nở và trổ sinh hoa trái.
Nếu chúng ta muốn Giáo hội được bình an, chúng ta phải cảm tạ Chúa, cũng như phải biết ơn các vị lãnh đạo trong Giáo hội. Các Ngài được trao phó trách nhiệm một cách hợp pháp và cũng là những người được Chúa đặt lên để nâng đỡ chúng ta. Chúng ta cần những tín hữu biết quan tâm lo lắng cho anh chị em mình, như là những bề trên được Chúa cắt đặt, sẵn sàng đối đầu với những thách đố, giống như Thánh Phaolô. Chúng ta cũng cần những con người như Barnaba là những vị lãnh đạo trung tín, biết cách khôn khéo để liên kết anh chị em lại với nhau. Nhưng trên hết, chúng ta cần phải nhận thức rằng mọi người chúng ta đều đang sống cuộc sống thực sự trong Đức Kitô, như cành nho dính kết vào cây nho.
Công đồng Vat II đã dạy rằng “Chúng ta là một Giáo hội duy nhất gồm các Giáo hội địa phương. Tính đơn nhất và tính đa dạng đều góp phần diễn tả đời sống của chúng ta trong Thần khí. Thực hiện cả hai chiều kích này: tính phổ quát toàn cầu và tính cá biệt của các cộng đoàn địa phương, Hội thánh sẽ vươn đạt đến sự bình an thực sự.

 

PS5-B99:  Nối kết để hoàn thiện

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Cuộc sống con người được kết nối với bao mối liên hệ. Liên hệ đồng loại giữa người với người. PS5-B99

Cuộc sống con người được kết nối với bao mối liên hệ. Liên hệ đồng loại giữa người với người. Liên hệ với vạn vật, với thiên nhiên. Liên hệ với Thiên Chúa, Đấng tạo thành. Sự liên hệ nào cũng đòi con người phải hòa hợp, phải có bổn phận liên đới để cho mình hoàn thiện hơn. Con người sống mà không có liên đới với cộng đồng thì cũng vô giá trị giữa thế giới mình đang sống.
Có một chàng trai gọi điện thoại cho bồ. Nhưng hôm ấy, chuông điện thoại reo vang, ông bố nhấc ống nghe. Chàng trai liền mở lời:
- Con chim non bé nhỏ xinh đẹp của anh đó hả?
- Không, chim bố đây- ông bố trả lời
- Ấy chết! Cháu xin lỗi bác! Bác có khỏe không ạ?
- Khỏe để đánh nhau với ai?
- Dạ... cho cháu hỏi Trang có nhà không ạ?
- Nó không có nhà thì là dân vô gia cư à?
- Dạ, dạ... ý cháu là Trang có ở nhà không ạ?
- Nếu không thì sao?
- Thế... Trang đi đâu ạ?
- Đến cơ quan rồi.
- Bác cho cháu số điện thoại của Trang được không ạ?
- Nó có nhiều số lắm!
- Bác cho cháu xin một số thôi ạ!
- số 8...
-... 8 rồi... mấy nữa ạ?
- Thì cậu bảo chỉ cần một số thôi mà.....
- Dạ bác cho cháu xin nốt mấy số còn lại luôn ạ!
- 5 7 3 6 8 2, còn sắp xếp sao thì tùy cậu !
Thật khó cho chàng trai! Vì các số không được nối kết với nhau thì chẳng có giá trị gì. Nó chỉ là những con số vô hồn, lạnh lùng nằm bên nhau mà thôi. Làm sao chàng trai có thể kết nối với cô gái nếu không có con số hoàn chỉnh? Mỗi một số thuê bao đều được kết nối với nhiều chữ số. Nếu không có sự nối kết thì làm sao có số thuê bao để liên lạc, để nối kết với nhau.
Cuộc sống con người cũng chỉ có giá trị khi có sự kết nối với nhau. Kết nối để tạo thành một cộng đồng nhân loại vì “không ai là một hòn đảo”. Kết nối với vạn vật để con người được vạn vật che chở dưỡng nuôi. Trên hết mọi sự là kết nối với Đấng tạo thành. Con người phải kết nối với Đấng tạo thành vì con người được sống nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài. Con người rời xa Đấng tạo thành tức là rời xa nhựa sống rồi sẽ héo khô theo thời gian. Đó là điều mà dân Việt mình vẫn nhắc nhở nhau muốn sống bình an hạnh phúc thì phải có “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.
Phúc âm hôm nay Chúa dùng hình ảnh cây nho và cành nho để nói lên sự nối kết giữa Thiên Chúa và con người. Chúa ví Người như cây nho, Chúa Cha là người trồng nho, còn ta là cành nho. Cây nho gồm nhiều cành được nối kết với nhau tạo thành một thân nho. Tất cả đều được chia sẻ nhựa sống với gốc rễ. Thế nên, nếu không gắn liền với thân cây, cành nho sẽ héo khô. Người Ky-tô hữu chúng ta là những cành nho được liên kết nên một trong Chúa Ky-tô. Tất cả đều phải được nuôi dưỡng trong ân sủng của Chúa, nếu tách lìa khỏi Đức Ky-tô thì chúng ta sẽ không có thể sinh hoa kết quả thiêng liêng trong đời sống.
Sự nối kết nên một với Chúa Kitô không phải là việc kết hợp bên ngoài như gia nhập tổ chức nọ, hội đoàn kia. Người tín hữu nối kết với Chúa Kitô bằng ơn thánh. Vì thế tội phạm sẽ làm giảm ơn thánh, có khi còn cắt đứt sự nối kết với Chúa. Tội phạm sẽ làm cho ta xa lìa Chúa để rồi sẽ không bao giờ sinh hoa kết trái thánh thiện.
Xin cho chúng ta luôn được sống trong ân nghĩa của Chúa, và được hiệp nhất nên một trong Chúa. Xin đừng để những đam mê tội lỗi làm chúng ta xa lìa ân sủng của Ngài, và đánh mất sự liên đới với Ngài. Xin Chúa cho chúng ta được nối kết với Chúa như cành liền cây để sinh hoa kết trái mỗi ngày một thánh thiện hơn. Amen.

 

PS5-B100: Tình yêu cần sự quan tâm

(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
 

Tình yêu đích thực luôn bày tỏ sự quan tâm lo lắng cho nhau. Không yêu nhau người ta đâu cần để PS5-B100

Tình yêu đích thực luôn bày tỏ sự quan tâm lo lắng cho nhau. Không yêu nhau người ta đâu cần để ý đến nhau, chỉ có trong tình yêu người ta mới dành tình cảm, sự quan tâm, nâng đỡ và chia sẻ cho nhau.
Thế nên, khi tình yêu chín mùi người ta sẽ thề non hẹn biển với nhau là quan tâm chăm sóc nhau suốt đời. Họ thề hứa một cách công khai sẵn lòng chia sẻ cuộc đời với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe. Nghĩa là gắn bó chia sẻ với nhau trong mọi sướng vui cuộc đời và cùng dìu nhau qua mọi khó khăn của dòng đời.
Nhưng trớ trêu thay! Khi đã thành vợ chồng người ta lại thường quên đi lời thề ước ấy. Họ chỉ quan tâm khi còn tình yêu đôi lứa, nhưng khi đã là vợ chồng lại hờ hững với nhau. Chúng ta vẫn thường nghe những lời trách móc, than vãn: Anh ấy không còn yêu em như trước nữa. Anh hay nói những lời châm chọc, khích bác, phán đoán giọng kẻ cả. Hoặc vợ tôi thường không để lỡ một cơ hội nào mà không phê bình chồng mình trước mặt bạn bè, ngay cả trước mặt con cái. Cô ấy hay kể tật xấu tôi với đồng nghiệp bạn bè cô ấy...
Có một anh chồng đã liệt kê những lần mà họ mở miệng ra là cãi nhau như sau:
Vợ tôi hỏi: Trên TV có gì không anh?
Tôi trả lời: Có rất nhiều bụi bặm, chắc tại em quên lau.
Thế là hai vợ chồng cãi nhau.
Rồi
Kỷ niệm hai mươi năm cưới nhau, tôi hỏi bả muốn đi đâu.
Bả nói: Em muốn đi đến một chỗ mà từ lâu em đã không đặt chân đến.
Tôi nói: Ủa em muốn vào trong bếp hả?
Thế là hai vợ chồng cãi nhau.
Một lần khác:
Vợ tôi: Ngày cưới em có phải là ngày vui nhất đời anh không?
Tôi nói: Không! Chỉ là ngày vui hạng nhì thôi.
Vợ tôi: Chứ ngày vui thứ nhất là ngày gì?
Tôi nói: Là cái ngày em về bên má em 3 tuần. Giời ơi ngày nào cũng xỉn.
Thế là hai vợ chồng cãi nhau. Giận dỗi.
Có một định nghĩa về tình yêu như sau: "Yêu là muốn cho một cái gì". Một số người có thể nghĩ rằng: khi kết hôn, hai người đã tự hiến mình cho nhau với tất cả những gì họ có, nên không cần biểu lộ sự quan tâm, lòng biết ơn dành cho nhau. Chính vì thiếu điều đó mà làm cho tình yêu mất đi hơi ấm nồng nàn tình yêu. Không có sự quan tâm thì tình yêu đâu còn được nuôi dưỡng, vun đắp, và dĩ nhiên là sẽ chết dần theo năm tháng.
Cách thức để gìn giữ tình yêu chính là làm mới lại tình yêu mỗi ngày bằng sự quan, lo lắng và chăm sóc nhau. Đó mới là một tình yêu chân chính luôn hy sinh cho người mình yêu. Một tình yêu chân chính thì luôn vượt lên trên sự ích kỷ bản thân để lo lắng, quan tấm đến người mình yêu.
Chúa Nhật lễ Chúa chiên lành như mời gọi chúng ta hãy học nơi Chúa Giê-su là vị mục tử luôn bày tỏ tình yêu với đàn chiên. Người mục tử luôn đồng hành với đàn chiên. Ngài đã cùng chia vui sẻ buồn với con người qua những thăng trầm của cuộc sống. Ngài biết từng con chiên. Ngài chăm sóc từng con chiên. Ngài sẵn lòng cùi mình phục vụ trong khiêm hạ. Ngài đã đi đến tận cùng của tình yêu là chết cho người mình yêu.
Đó là mẫu mực của mọi tình yêu. Tình yêu luôn đòi sự hy sinh quan tâm đến cho người mình yêu. Xin cho các đôi hôn phối luôn dành sự quan tâm cho nhau. Xin đừng sống ích kỷ chỉ lo cho bản thân mà bỏ rơi người bạn đời. Xin hãy sống vì nhau và cho nhau để tạo nên một mái ấm gia đình ngập tràn hạnh phúc yêu thương. Amen.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây