Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-B Phần I Bài 1-50: Yêu như Thầy đã yêu

Thứ tư - 02/05/2018 06:20
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-B Phần I Bài 1-50: Yêu như Thầy đã yêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-B Phần I Bài 1-50: Yêu như Thầy đã yêu
Phục Sinh 6-B Phần I Bài 1-50: Yêu như Thầy đã yêu
PS6-B1. NIỀM TÂM SỰ - JKN.. 2
PS6-B2. YÊU THƯƠNG ANH EM (chuyện) 5
PS6-B3. CSTM/132- YÊU NHƯ CHÚA.. 6
PS6-B4. PV/267-  TÌNH YÊU (chuyện) 7
PS6-B5. PV / 270- TÌNH YÊU (chuyện) 8
PS6-B6. PV/273- TÌNH YÊU.. 10
PS6-B7. SCĐ / 249- TÌNH YÊU.. 11
PS6-B8. SCĐ / 251- YÊU THƯƠNG.. 12
PS6-B9. SCĐ/256- NHƯ THẦY ĐÃ YÊU.. 13
PS6-B10. Tình Yêu Trao Ban. 14
PS6-B11. Ở Lại Trong Tình Thương. 15
PS6-B12. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 16
PS6-B13. HÃY Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THÀY - Lm Trần Bình Trọng. 18
PS6-B14. CÁC CON LÀ BẠN HỮU CỦA THẦY - Lm. Phêrô Trần Minh Đức. 19
PS6-B15. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU NHƯ THẦY YÊU THƯƠNG ANH EM - Lm. Đan Vinh. 20
PS6-B16. Hãy yêu thương nhau - Lm. JB Nguyễn Minh Hùng. 24
PS6-B17. Sự kỳ diệu của tình yêu – Gier. Nguyễn Văn Nội. 25
PS6-B18. Giới răn mới - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn. 27
PS6-B19. PHÉP LẠ CỦA TÌNH YÊU - Mark Link S.J. 29
PS6-B20. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - N. Quesson. 31
PS6-B21. GIÚP NGƯỜI YÊU MẾN - Gm. Arthur Tonne. 33
PS6-B22. Như Thầy đã yêu thương anh em. 34
PS6-B23. HÃY YÊU MẾN NHAU NHƯ THẦY YÊU MẾN ANH EM.. 34
PS6-B24. TÌNH YÊU CAO QUÝ.. 36
PS6-B25. Yêu thương nhau - Lm Gioan Trần Khả. 38
PS6-B26. YÊU NHAU LÀ MẾN CHÚA - Lm. Minh Vận, CMC.. 41
PS6-B27. Hãy ở trong tình yêu - T.s.Trần Quang Huy Khanh. 43
PS6-B28. Nhái Thầy... - Lm. Bm. Minh Trân, CMC.. 44
PS6-B29. Các con hãy yêu thương nhau - Lm. Thu Băng, CMC.. 45
PS6-B30. Yêu thương nhau - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR. 46
PS6-B31. Quên mình vì bạn hữu - Huyền Đồng. 48
PS6-B32. SLC - Yêu thương anh em.. 49
PS6-B33. Họ đã đóng đinh được Chúa Giêsu. 50
PS6-B34. Yêu như Chúa yêu – ĐTGM Ngô Quang Kiệt. 52
PS6-B35. SNLC/327 - Dấn thân. 53
PS6-B36. CSTM/126 - Yêu thương. 54
PS6-B37. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT. 56
PS6-B38. Hội Thánh được an ủi - Lm. Jude Siciliano, OP. 58
PS6-B39. TÌNH YÊU CAO QUÝ - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 60
PS6-B40. Yêu là hiến thân trọn vẹn - Lm. Peter Hà Ngọc Đoài 62
PS6-B41. CỐT YẾU CỦA ĐẠO KI-TÔ LÀ YÊU THƯƠNG! 62
PS6-B42. Mến Chúa và yêu người 65
PS6-B43. Chỉ là một nhịp đập của tim. 66
PS6-B44. Yêu như Chúa yêu. 67
PS6-B45. Chú giải của William Barclay. 68
PS6-B46. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour 71
PS6-B47. Chú giải của Noel Quesson. 72
PS6-B48. Chú giải của Fiches Dominicales 74
PS6-B49. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 76
PS6-B50. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU, NGÀI LÀM TẤT CẢ VÌ YÊU - Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ. 78
 

PS6-B1. NIỀM TÂM SỰ - JKN

Câu hỏi gợi ý:

Trong Tin Mừng, Đức Giêsu có nói: «Cha Thầy dạy Thầy thế nào, Thầy cũng dạy anh em: PS6-B1

1. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu có nói: «Cha Thầy dạy Thầy thế nào, Thầy cũng dạy anh em như vậy, nên anh em hãy dạy nhau như Thầy đã dạy anh em» không? Hay nói: «Cha Thầy làm gì cho Thầy, Thầy cũng làm điều ấy cho anh em, nên anh em hãy làm cho nhau như Thầy đã làm cho anh em»? Điều đó có nghĩa gì?
2. Xét về gương của Đức Giêsu: Ngài yêu thương con người đến mức độ nào? Ngài muốn chúng ta yêu thương nhau ở mức độ nào?
3. Để yêu thương mọi người, ta có thể làm gì cụ thể và ích lợi cho họ nhất? Họ cần gì nhất?
Chia sẻ
1. Đức Giêsu bắt chước Chúa Cha, sau đó Ngài mời gọi ta bắt chước Ngài
Trong bài Tin Mừng, ta thấy có những lời của Đức Giêsu có hình thức ít nhiều tương tự như sau: «Chúa Cha làm cho Thầy, Thầy cũng làm như vậy cho anh em», nên «anh em hãy làm như vậy cho nhau, giống như Thầy đã làm cho anh em». Chẳng hạn:
- Đức Giêsu nói với các môn đệ: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy». Sau đó Ngài mời gọi: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em»
- «Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người», Vậy «anh em (hãy) giữ các điều răn của Thầy và ở lại trong tình thương của Thầy»
- «Tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết», nghĩa là: Tất cả những gì Cha Thầy nói với Thầy, Thầy lại nói hết với anh em, nên tất cả những gì Thầy nói với anh em, anh em hãy nói hết với nhau. Vì nói cho nhau biết hết tức coi nhau như bạn hữu, nên lời trên có thể diễn tả cách khác: Cha Thầy đã coi Thầy như bạn hữu, Thầy cũng coi anh em như bạn hữu, vậy anh em hãy coi nhau như bạn hữu, giống như Thầy đã làm như vậy với anh em.
Như vậy, Chúa Cha nêu gương cho Đức Giêsu noi theo, Đức Giêsu lại nêu gương cho chúng ta noi theo. Đức Giêsu cũng đã nói rõ điều ấy: «Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em» (Ga 13,15). Vì thế, bổn phận của chúng ta là tiếp tục nêu gương tốt cho nhau, và cho mọi người. Nhờ đó, chúng ta trở nên «muối cho đời» và «ánh sáng cho trần gian» (x. Mt 5,13-16).
Trong nghi thức phong chức giáo sĩ, đức giám mục đại diện Giáo Hội trao cho các tân chức bổn phận phúc âm hóa, gồm hai nhiệm vụ được tóm lại trong câu: «Facete et docete» (=Hãy làm và dạy). Không phải là không có dụng ý khi Giáo Hội đặt chữ làm trước chữ dạy. Giáo Hội không bảo: «Hãy dạy và làm», mà bảo: «Hãy làm và dạy». Giáo Hội có ý nói: hãy làm gương trước đã rồi hãy dạy bảo sau, vì làm gương thì cần thiết và quan trọng hơn dạy bảo rất nhiều. Nhưng dường như nhiều nhà phụ trách phúc âm hóa thời nay thường chú tâm đến việc dạy bảo hơn là làm gương, thậm chí coi rất nhẹ việc làm gương. Nhiều khi lời dạy và việc làm của người dạy trái ngược hẳn nhau. Vì thế, việc phúc âm hóa và việc giáo dục Kitô hữu không đi đến kết quả mong muốn vì chưa đi đúng tinh thần của Đức Giêsu và Giáo Hội. Cần nhận thức rõ ràng rằng gương sáng có tác dụng giáo hóa hữu hiệu gấp nhiều lần lời dạy: «Lời nói lung lay, gương bày lôi cuốn». Các nhà phúc âm hóa và giáo dục Kitô hữu nên tránh vết xe đổ của những người Pharisiêu xưa là «nói mà không làm» (Mt 23,3), hay «nói một đằng, làm một nẻo».
2. Gương yêu thương và hy sinh của Đức Giêsu
Điểm nhấn của bài Tin Mừng hôm nay là gương yêu thương và hy sinh của Đức Giêsu, và lời Ngài yêu cầu chúng ta hãy bắt chước Ngài mà yêu thương nhau: «Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em».
Gương của Ngài trong việc yêu thương chúng ta là: Ngài yêu bằng những hành động cụ thể, nghĩa là hy sinh thật sự cho người mình yêu. Khi yêu ai, người ta có thể hy sinh cho người ấy thì giờ, tiền bạc, sức khỏe, công việc, cơ hội, tình cảm khác, v.v… Nhưng hy sinh cao độ nhất là hy sinh chính mạng sống mình: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình». Đức Giêsu đã thực hiện chính sự hy sinh cao độ ấy: «Đức Kitô đã chết vì chúng ta» (Rm 5,6.8; x. Ep 5,2; 1Ga 3,16). Không ai thật sự yêu thương mà lại không sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu. Ai nói mình yêu thương mà lại không muốn hy sinh, kẻ ấy nói dối, hay tình yêu của kẻ ấy chỉ là thứ môi miệng.
Như vậy, một trong những lý do quan trọng khiến chúng ta phải yêu thương nhau, đó là chính Thiên Chúa và Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta: «Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau» (1Ga 4,11); «Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước» (1Ga 4,19); «Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16).
3. Yêu thương nhau bằng cách làm gương sáng cho nhau: gương tốt nhất là gương yêu thương nhau
Người yêu thương đích thực thì sẵn sàng hy sinh bất kỳ điều gì mà người mình yêu cần đến. Điều mà người mình yêu cần đến có thể rất khác nhau, tùy theo mỗi người và theo từng trường hợp cá biệt. Để hy sinh, để thể hiện tình yêu một cách thích hợp, chúng ta cần phải tìm hiểu xem người mình yêu cần những gì, và cần gì nhất. Đức Giêsu dạy chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người không trừ ai. Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem con người thời nay, nhất là những người chung quanh ta, cần gì nhất.
Trong vô số những nhu cầu tinh thần cũng như vật chất, điều mà con người cần nhất là được cứu rỗi; nói cụ thể và chi tiết hơn là tin vào Thiên Chúa, đồng thời biết sống xứng đáng với phẩm giá của mình là hình ảnh và là con cái Thiên Chúa để nhờ đó được hạnh phúc vĩnh cửu. Vì thế, người yêu thương tha nhân cách sáng suốt là người biết quan tâm tới sự cứu rỗi của họ, nghĩa là chẳng những giới thiệu cho họ biết Thiên Chúa, tin Đức Giêsu, ý thức phẩm giá cao quí của mình, mà còn giúp họ sống cho xứng với phẩm giá cao quí ấy.
Để sống xứng với phẩm giá cao quí ấy, không gì tốt cho con người bằng thực hiện chính bản tính Thiên Chúa mà Ngài đã chia sẻ hay thông phần cho họ: «Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, là cho anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa» (2Pr 1,4). Mà điều cốt yếu trong bản tính Thiên Chúa chính là tình yêu: «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16). Vì thế, sống yêu thương - yêu Thiên Chúa và tha nhân - chính là thực hiện bản chất cao quí nhất của con người, là sống xứng với phẩm giá của con người là hình ảnh và là con cái Thiên Chúa. Đó cũng chính là điều mà con người cần thiết phải làm để được cứu rỗi. Chính vì thế, Đức Giêsu chỉ truyền cho con người một giới luật duy nhất là yêu thương nhau: «Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau» (Ga 15,17; x. Ga 13,34-35; 15,12; 1Ga 3,23; 2Ga 1,5). Vào ngày chung thẩm, Thiên Chúa chỉ căn cứ vào một điều duy nhất để phán xét chúng ta, đó là tình yêu của chúng ta đối với tha nhân (x. Mt 25,31-46).
Vì thế, tìm cách làm cho những người chung quanh ta yêu thương nhau, hy sinh cho nhau, chính là làm cho họ được cứu rỗi. Và không cách nào hữu hiệu để giúp họ yêu thương nhau cho bằng chính ta làm gương sáng cho họ về điều ấy. Nghĩa là ta không chỉ dạy họ yêu thương nhau và yêu thương mọi người, mà chính chúng ta phải thật sự gương mẫu trong việc yêu thương mọi người và yêu thương chính họ (những người ta dạy dỗ). Phải sống làm sao để có thể nói được tương tự như Đức Giêsu, chẳng hạn: «Thiên Chúa và Đức Giêsu yêu thương tôi, nên tôi cũng yêu thương anh chị em như vậy… và anh chị em cũng hãy yêu thương nhau giống như tôi đã yêu thương anh chị em». Tình yêu của ta đối với mọi người phải là tấm gương để mọi người nhìn vào đấy mà yêu thương nhau.
Tình yêu thật sự sẽ như một mồi lửa có thể lan truyền từ người nọ sang người kia và cuối cùng biến trần gian này thành Nước Trời. Chính Đức Giêsu đã mong ước lửa tình yêu mà Ngài đã đem đến trái đất lan truyền đến mọi người và bùng cháy lên: «Thầy đã đem lửa đến trần gian, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!» (Lc 12,49). Lửa ấy có bùng lên hay không, điều ấy tùy thuộc vào mỗi người chúng ta có lửa ấy trong tâm hồn mình hay không, và có biết truyền lửa ấy đến tâm hồn những người chung quanh ta hay không!
Cầu nguyện
Lạy Cha, Cha và Đức Giêsu đã yêu thương con vô bờ bến, xin cho con cũng biết yêu thương mọi người chung quanh con bằng những hy sinh cụ thể về thì giờ, tiền bạc, sức khỏe, công việc, cơ hội… Xin cho mọi người chung quanh con cảm nghiệm được tình yêu chân thật của con dành cho họ, để chính họ cũng bắt chước con mà yêu thương nhau.

PS6-B2. YÊU THƯƠNG ANH EM (chuyện)

Sống trong cuộc đời, chúng ta phải yêu thương nhau. Đó là điều dễ hiểu. Bởi vì nếu không yêu: PS6-B2 FB

Sống trong cuộc đời, chúng ta phải yêu thương nhau. Đó là điều dễ hiểu. Bởi vì nếu không yêu thương nhau, xã hội sẽ bất ổn và bản thân chúng ta cứ phải nơm nớp lo sợ trước những hận thù chồng chất. Thế nhưng, phải yêu thương nhau như thế nào ?
Qua đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra cho chúng ta một khuôn mẫu để noi theo và bắt chước. Ngài phán :
- Các con hãy yêu thương nhau, như Thày đã yêu thương các con.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta như thế nào, để rồi chúng ta sẽ lấy tình yêu của Ngài làm tiêu chuẩn hướng dẫn cho mọi hành động, làm khuôn vàng thước ngọc để đo mọi việc làm của chúng ta ?
Không cân phải nói, hẳn chúng ta cũng đã quá rõ :
Vì yêu thương chúng ta, Ngài đã xuống thế làm người, sinh ra nơi máng cỏ Bêlem, lớn lên trong xưởng thợ Nagiarét.
Vì yêu thương chúng ta, Ngài đã sống một cuộc sống vất vả và nghèo túng. Ở nhà thì phải lao động cực nhọc. Đi rao giảng Phúc âm thì vất vưởng nay đây mai đó, không có lấy cả một nơi để gối đầu và nghỉ ngơi. Nhất là Ngài đã chết một cái chết ê chề và nhục nhã, như lời Ngài đã phán :
- Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
Liệu chúng ta có thể biểu lộ tình yêu thương của chúng ta bằng những hành động cụ thể như vậy hay  không ? Liệu chúng ta có dám chấp nhận những hy sinh và ngay cả cái chết cho những người mình thương mến hay không ?
Hẳn chúng ta còn nhớ một Maximilianô Kolbê đã chết thay cho một bạn tù ở trại tập trung của Đức Quốc Xã trong cuộc thế giới đại chiến lần thứ hai.
Hẳn chúng ta còn nhớ một Đamiêng, vị tông đồ người hủi, đã đến hải đảo Molokai, đã sống giữa họ và đã chết giữa họ, để nâng đỡ và xoa dịu những đớn đau họ phải chịu do chứng bệnh phong cùi gây nên.
Và còn biết bao nhiêu tu sĩ nam nữ đã âm thầm hy sinh cuộc sống của mình để chăm sóc cho những người già cả, đau yếu và bất hạnh.
*** FB Ngày kia, tại một ngôi làng nhỏ bên Tàu, có một em bé đói rách, tiều tụy và mắc bênh phong cùi. Em bị dân chúng đánh đập và đuổi ra khỏi làng. Trước cảnh tượng ấy, một nhà truyền giáo phương xa đã bế em trên tay, che chở em khỏi gậy gộc phũ phàng.
Thấy có người chịu mang em đi, dân làng mới thôi không đánh đập em nữa, nhưng miệng thì vẫn không ngớt rủa xả.
Giờ đây, những giọt nước mắt chảy xuống trên gò má em. Không phải là những giọt nước mắt đau buồn và tủi hận, nhưng là những giọt nước mắt vui mừng và tin tưởng. Em đã hỏi :
- Tại sao ông lại lo lắng cho tôi ?
Nhà truyền giáo trả lời :
- Vì ông trời đã tạo nên cả hai chúng ta. Em là em gái của tôi và từ nay em sẽ không còn phải đói khổ, long đong vất vả nữa.
Suy nghĩ một hồi, em hỏi tiếp :
- Vậy tôi phải làm gì ?
Nhà truyền giáo trả lời :
- Em hãy trao tặng cho người khác tình yêu của em, càng nhiều càng tốt.
Từ đó cho đến khi qua đời, trong suốt ba năm, em luôn chăm sóc, giúp đỡ, băng bó vết thương và đút cơm cho các bệnh nhân trong trại cùi mà nhà truyền giáo đã đưa em vào.
Tới năm mười một tuổi, khi em qua đời, các bệnh nhân đã khóc và nói với nhau vói tất cả niềm thương nhớ :
- Bầu trời bé nhỏ đang xa lìa chúng ta.
Lề luật của Chúa được gồm tóm trong hai điều, đó là mến Chúa và yêu người. Chúng ta hãy cố gắng thực thi hai điều ấy với niềm xác tín rằng : qua những yêu thương nho nhỏ, chẳng hạn như một ánh mắt dịu hiền, một nụ cười cảm thông, một lời nói an ủi, một việc làm giúp đỡ…chúng ta sẽ trở nên là những môn đệ đích thực của Chúa.
Bởi vì  như lời Chúa đã xác quyết :
“Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thày, là các con yêu thương nhau”.

PS6-B3. CSTM/132- YÊU NHƯ CHÚA

Con chim trước khi chết thì cất tiếng hót bi thương; con người trước khi chết thì lời nói rất chân: PS6-B3

“Con chim trước khi chết thì cất tiếng hót bi thương; con người trước khi chết thì lời nói rất chân thật”. Điều này chúng ta có thể lấy Chúa Giêsu làm bằng chứng. Trong bữa tiệc ly, trước khi ra đi chịu chết, Chúa đã nói với các môn đệ những lời tâm huyết rất chân thật và cũng là những chỉ thị cuối cùng của Ngài. Một trong những chỉ thị ấy coi như bao hàm mọi chỉ thị khác là “anh em hãy yêu thương nhau” trong bài Tin Mừng hôm nay.
Luật cũ trong Cựu ước dạy : “Hãy yêu thương đồng loại như chính mình”. Nghĩa là lấy bản thân mỗi người làm tiêu chuẩn : tôi yêu bản thân tôi thế nào thì tôi cũng hãy yêu người khác như vậy. Đó là mức yêu thương cao độ lắm rồi, nhưng vẫn còn giới hạn và chưa loại trừ được hết những động lực vị kỷ. Vì thế, Chúa Giêsu đã đưa ra những đòi hỏi mới về tình yêu thương, và Ngài đưa tình yêu thương đó lên tột đỉnh mà không ai trong loài người dám nghĩ tới. Đó là Ngài dạy : hãy yêu thương nhau như chính Ngài đã yêu thương chúng ta. Chúng ta không chỉ lấy chính mình làm tiêu chuẩn : yêu người như mình, mà phải lấy Chúa làm tiêu chuẩn và kiểu mẫu ; yêu người như Chúa yêu. Chúng ta phải yêu như Ngài đã yêu.
Chúa đã yêu như thế nào ? Cả cuộc đời của Ngài, Ngài đã yêu thương tất cả mọi người và mỗi người một cách thiết thực và yêu thương cho đến cùng. Ngài không để ai về tay không mỗi khi họ đến với Ngài : người mù được sáng, kẻ què đi được, người điếc nghe được, người câm nói được, người mẹ mất con được lại con, người chị mất em được lại em, thậm chí đám cưới đang lúng túng vì thiếu rượu cũng được Ngài cho rượu tràn trề. Ngài quan tâm cả tới nỗi mệt nhọc của môn đệ và đưa họ đi nghỉ dưỡng sức. Ngài quan tâm tới những yếu đuối của họ để sửa dạy và nâng đỡ. Tình yêu của Ngài thiết thực như một người mẹ hiền săn sóc con cái.
Có những người xem ra không xứng đáng cho Ngài yêu thương, thế mà Ngài vẫn quan tâm đến họ. Những cô gái điếm cũng có giá trị đối với Ngài. Với những người sống ngoài lề xã hội, những người mà không một ai thèm để ý tới, thì Ngài đã nhìn nhận họ và chuyện trò với họ. Tất cả mọi người trước mắt Ngài đều rất quan trọng. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương, cả trong những lúc gặp hiểm nguy. Và cuối cùng, Ngài đã hy sinh đến chết, vì Ngài không muốn và không thể cắt đứt sự yêu thương, đúng như Ngài đã nói : “Tình yêu cao quý nhất là chết cho người mình yêu”.
Tình yêu của Chúa cao đẹp quá, cao quí quá và Chúa bảo chúng ta hãy yêu như Ngài. Thật khó quá, nhưng Chúa truyền chúng ta phải thực hiện bao nhiêu có thể. Xin hãy nhớ câu chuyện cùng lời khuyên sau đây và cố gắng thực hiện : trong một lớp học kia,một thầy giáo bất ngờ ra bài làm cho các học sinh như sau : “Từ nay đến cuối tuần, mỗi em hãy tìm quan sát một loại hoa tầm thường nở bên vệ đường hay ngoài đồng nội. Những bông hoa không được ai để ý và đặt tên cho đàng hoàng, nhưng chỉ được gọi bằng một tên chung là “hoa dại”. Không có giá trị gì cả”. Cả lớp học hăng say thực hiện điều thầy giáo muốn. Mỗi em cầm theo một cái kính lúp để quan sát thật kỹ những bông hoa dại. Sau đó từng em đã mô tả những nét đẹp của những bông hoa dại mà các em đã quan sát; và cả lớp đều công nhận : những bông hoa dại bị khinh thường đều có những vẻ đẹp riêng tuyệt vời không ngờ được.
Cuối cùng, thầy giáo lên tiếng kết luận : “Các em đã có kinh nghiệm rồi đó. Nếu chúng ta chú ý quan sát, và dành thời giờ để quan sát đi quan sát lại, thì cả vật tầm thường nhất như bông hoa dại kia cũng sẽ xuất hiện vẻ đẹp trước mắt chúng ta. Ap dụng vào mối tương quan giữa người với người, các em hãy nhớ điều này : mỗi người là một kỳ công tuyệt đẹp của Đấng Tạo Hóa. Nét đẹp của mỗi người khác nhau mà chúng ta không thể quan sát cho hết được. Thế nhưng, mỗi người chúng ta không có thời giờ dành cho nhau để tìm hiểu nhau, chúng ta chỉ biết nhau một cách hời hợt bên ngoài. Chúng ta chỉ nhớ ghi nhận những tật xấu, những khuyết điểm, những lỗi lầm… mà quên đi hay không muốn nhìn đến cái hay cái đẹp nơi người chúng ta gặp. Chúng ta không thể có tất cả những gì, những ai chúng ta thích, nhưng hãy yêu thích những gì chúng ta có; hãy yêu mến những ai chúng ta gặp hằng ngày”.
Ước chi những lời nhận định của thầy giáo trên đây thức tỉnh mỗi người chúng ta về mối tương quan của mình đối với anh chị em chung quanh : chúng ta có dành đủ thời giờ để tìm hiểu và nhận ra những điều tốt nơi anh chị em chung quanh hay không ? Có phải vì năng gặp mỗi ngày mà chúng ta có thái độ coi thường, không biết tôn trọng không ? Có phải vì khó khăn này nọ mà chúng ta không để ý tới hay thờ ơ đối với anh chị em sống quanh chúng ta không ? Có phải vì một điều gì đó   mà chúng ta né tránh và phủ nhận điều cao đẹp của họ không ?

PS6-B4. PV/267-  TÌNH YÊU (chuyện)

Lần kia, có một thanh niên nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Vì thế, anh ta đến thăm: PS6-B4

Lần kia, có một thanh niên nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Vì thế, anh ta đến thăm viếng một tu sĩ nổi tiếng là thánh thiện. Anh hỏi vị tu sĩ “Thầy có tin tưởng vào Thiên Chúa không?”.
Vị tu sĩ đáp “có chứ”.
Người thanh niên hỏi “Dựa vào chứng cứ nào mà thầy tin được?’.
Vị tu sĩ đáp “Ta tin tưởng vào Thiên Chúa, bởi vì ta biết Người. Mỗi ngày, ta đều cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta”.
Người thanh niên hỏi “nhưng làm thế nào điều đó có thể xảy ra được?
Vị tu sĩ đáp “Khi biết sống yêu thương, thì chúng ta cảm nghiệm được Thiên Chúa, và nỗi nghi ngờ tan biến, giống như làn sương buổi sáng bị tan biến trước ánh nắng mặt trời vậy”.
Người thanh niên suy nghĩ về câu nói này trong giây lát, rồi hỏi “Làm thế nào để con có thể đạt được niềm tin chắc chắn này?”.
Vị tu sĩ đáp “Bằng cách hành động theo tình yêu. Con hãy cố gắng yêu thương những người đồng loại; yêu thương họ một cách tích cực và không ngừng. Trong khi con học hỏi được cách càng ngày càng yêu thương hơn, thì con sẽ càng ngày càng trở nên tin tưởng vào sự hiện hữu của Thiên Chúa, và sự bất tử của linh hồn. Điều này đã được thử nghiệm. Đây là đường lối đúng đắn”.
Người thanh niên chỉ phản ánh lại những lời nói của thánh Gioan “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”. (Bài đọc 2).
Tình yêu là điều kiện đầu tiên, để thực sự hiểu biết về cuộc sống, và đặc biệt là hiểu biết về Thiên Chúa. Như cha Zosima nói trong cuốn sách Anh em nhà Karamazov của Dostoevsky “Bạn phải yêu thương tất cả những gì mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên, toàn bộ thế giới của Người, và mỗi hạt cát trong đó. Nếu bạn yêu thương tất cả mọi sự, thì bạn cũng sẽ nắm bắt được mầu nhiệm có trong tất cả mọi sự”. Van Gogh đã nói một câu tương tự :Cách thức tốt nhất để nhận biết Thiên Chúa là yêu thương nhiều thứ. Hãy yêu thương bạn bè, vợ con…, và bạn sẽ được đi trên đường lối đúng đắn trong việc nhận biết Thiên Chúa”.
Tình yêu là người giáo viên tốt nhất mà chúng ta có. Nhưng tình yêu không đạt được sự hòa hợp riêng của nó. Người ta phải trả giá đắt cho tình yêu. Tình yêu thường đòi hỏi nhiều năm tháng kiên trì, qua những công việc lặt vặt, trước khi người ta có thể đạt được khả năng biết yêu thương.
Có một khoảng cách lớn, giữa việc nhận biết Thiên Chúa và yêu mến Người. Không biết yêu mến, có nghĩa là không biết Thiên Chúa. Nhưng khi chúng ta biết yêu mến, thì khoảng cách này được lắp đầy. Biết yêu mến, có nghĩa là biết Thiên Chúa. Ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa; ở đâu có Thiên Chúa, ở đó có tình yêu. Sự nhận biết không phải là chứng tỏ hoặc giải nghĩa.
Ghen ghét là một điều tồi tệ. Ghét bất cứ thứ gì cũng đều là xấu xa cả. Thật là điều tốt đẹp, khi yêu mến tất cả mọi sự, ngay cả một bụi hoa hồng. “Đối với tôi, tôi hài lòng được trở thành một người làm vườn, một người biết yêu quí những cây cỏ của mình” (Van gogh).
Bởi vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, cho nên ngay từ bẩm sinh, mỗi người chúng ta đều có khả năng biết yêu thương. Tuy nhiên, để được như vậy, trái tim phải ngay thẳng. Nếu chỉ có được một trái tim ngay thẳng, thì chúng ta có thể hiến tặng nhiều hơn nữa. Nhưng than ôi ! Nhiều khi trái tim con người lại thờ ơ lạnh lẻo, đôi khi còn trống rỗng, tan vỡ nữa. Chúng ta không nên ngạc nhiên về điều này. Tất cả điều đó nói lên rằng chúng ta có một trái tim bằng máu thịt, chứ không phải là bằng đá. Nhưng chúng ta phải chữa lành những vết thương của trái tim, để có khả năng tạo ra được những hoa quả của tình yêu.
Khi chúng ta biết yêu thương, thì hình ảnh của Thiên Chúa đạt mức độ tươi đẹp nhất và rạng ngời nhất nơi chúng ta.

PS6-B5. PV / 270- TÌNH YÊU (chuyện)

Trong một ngôi làng tại dãy núi Alp ở Thụy Sĩ, có một nhà thờ nhỏ bé đã được sử dụng để làm: PS6-B5

Trong một ngôi làng tại dãy núi Alp ở Thụy Sĩ, có một nhà thờ nhỏ bé đã được sử dụng để làm nơi thờ tự, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Mặc dù không hề có một tác phẩm nghệ thuật nào, nhưng người dân địa phương luôn luôn dành một tình cảm đặc biệt cho ngôi nhà thờ này. Điều này khiến cho nơi đây mang vẻ rất tươi đẹp trong đôi mắt của cư dân? Đó chính là nhờ câu chuyện ngôi nhà thờ được xây dựng trên mảnh đất đặc biệt này như thế nào. Câu chuyện như sau :
Có hai anh em tạo dựng một nông trại gia đình, cùng chia sẻ sản phẩm và lợi nhuận cho nhau. Người anh đã kết hôn, người em còn độc thân. Khí hậu khắc nghiệt đưa đến hậu quả là đôi khi, huê lợi trở lên hiếm hoi.
Ngày kia, người em tự nhủ “Thật không công bình khi chia sản phẩm bằng nhau. Mình còn độc thân, nhưng anh mình phải nuôi cả một gia đình”. Vì thế, thỉnh thoảng, người em lại đi ra ngoài vào ban đêm, mang theo một túi hạt từ trong kho thóc của riêng mình, lặng lẽ băng qua cánh đồng nằm giữa hai ngôi nhà của hai anh em, và đổ vào thùng của người anh.
Đồng thời, người anh cũng có cùng một tư tưởng đó, và tự nhủ “Thật không công bình khi sản phẩm bằng nhau. Mình có cả một gia đình nâng đỡ mình, nhưng em mình vẫn độc thân”. Vì thế, thỉnh thoảng, người anh lại đi ra ngoài vào ban đêm, mang theo một túi hạt từ trong kho thóc của riêng mình, âm thầm đổ vào thùng của người em.
Việc này tiếp diễn trong nhiều năm, mỗi người đều thắc mắc không hiểu sao kho lúa của họ không bao giờ hao hụt đi. Thế rồi vào một đêm kia, họ đụng chạm với nhau trong bóng đêm. Sau khi nhận ra sự việc, họ bỏ túi hạt xuống, và ôm nhau. Đột nhiên, có một giọng nói xuất phát từ trên trời “Tại nơi đây, Ta sẽ xây dựng một ngôi nhà thờ. Bởi vì ở đâu con người gặp gỡ nhau trong lòng yêu thương, thì ở đó, có sự hiện của Ta”.
Nếu không có tình yêu, thì mục đích các cuộc sống là gì? William Blake đã nói một câu như sau : “Chúng ta được đặt để vào trong trái đất này một không gian nhỏ bé, để chúng ta có thể học hỏi được việc mang lại những tia sáng của tình yêu”.
Nhưng chúng ta không thể nào ban tặng tình yêu, trừ phi chúng ta đã đón nhận tình yêu từ trước đó. Một lò sưởi không thể tỏa ra sức nóng, trừ phi nó đã được đón nhận sức nóng từ trước đó. Điều này cũng đúng cả với Đức Giêsu. Người nói với các môn đệ của Người “Như Cha Ta đã yêu mến Ta, nên Ta cũng yêu mến anh em”. Tình yêu mà Người chia sẻ một cách quá quảng đại cho các môn đệ của Người, và cho mọi người nói chung, chính là tình yêu mà Người đã đón nhận từ Chúa Cha, Đức Maria, Thánh Giuse và cả những người khác nữa.
Không phải là một dấu hiệu yếu đuối, khi thừa nhận rằng người ta cần đến tình yêu. Chúng ta nên nhìn nhận và biết ơn vì tình yêu mà chúng ta đã được đón nhận. Chúng ta không cần phải tìm kiếm tình yêu đó, bởi vì có liên quan đến tình yêu của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Người yêu thương chúng ta, không phải vì chúng ta tốt lành, nhưng chỉ vì Người là Đấng nhân lành. Chính sự hiện hữu của chúng ta là một dấu hiệu về tình yêu của Thiên Chúa. Tất cả điều mà chúng ta phải làm là đón nhận tình yêu này, và rồi cố gắng chia sẽ tình yêu đó cho những người khác.
Được yêu thương nghĩa là có hạnh phúc. Tình yêu làm cho cuộc sống trổ sinh hoa quả. Khước từ tình yêu nghĩa là bắt đầu chết. Khi yêu là bắt đầu sống. Ít người nào có cơ hội bày tỏ tình yêu của mình với người khác bằng cách chết đi cho họ. Nhưng tất cả mọi người đều có cơ hội sống cho người khác.
Tình yêu có cái giá của nó. Yêu là chấp nhận rằng chúng ta có thể phải chết đi bằng một cái chết khác, trước khi chúng ta chết thật. Con đường yêu thương là con đường của thánh giá, và chỉ thông qua con đường thánh giá, mà chúng ta mới đến được với sự sống lại. Nếu nỗi đau khổ dạy cho chúng ta về cách thức yêu thương, thì không có gì là khủng khiếp, khi phải chịu đôi chút đau khổ trên trái đất này.
Có một lời cầu nguyện như sau : “Lạy Chúa, xin khoan để con chết đi, bởi vì con chưa yêu đủ”. Đây là một lời cầu nguyện mà  chúng ta nên đọc cho bản thân mình.

PS6-B6. PV/273- TÌNH YÊU

Vào một buổi chiều, khi từ trường trở về nhà, những đứa trẻ đều đến khu vườn của ông Giant để: PS6-B6

Vào một buổi chiều, khi từ trường trở về nhà, những đứa trẻ đều đến khu vườn của ông Giant để vui chơi với nhau. Đây là một khu vườn thật dễ thương,với thảm cỏ xanh rì và những bông hoa thơm ngát. Ở đó, còn trồng 12 cây táo, mà vào mùa xuân, trổ ra những bông hoa xinh xắn, và vào mùa thu, trĩu nặng những quả táo đỏ thật to. Có một lần kia, ông Giant đi vắng trong vòng 7 năm. Vào một ngày mùa đông, khi trở về nhà, ông nhìn thấy những đứa trẻ đang chơi đùa trong vườn. Ông rất tức giận, và la lên “Ra khỏi đây ngay! Đây là khu vườn của ta. Không một ai được vào đây chơi, ngoại trừ ta.
Ông đuổi chúng ra, rồi đặt một tấm bảng lớn ở ngay cổng ghi rằng “NHỮNG KẺ NÀO XÂM PHẠM VÀO ĐÂY, SẼ BỊ ĐUỔI”. Từ bấy giờ, những đứa trẻ không còn chỗ nào để chơi nữa, ngoại trừ chơi trên đường phố đầy bụi bặm. Chúng thường đi vòng quanh những bức tường cao một cách buồn bã.
Mùa xuân đến, khắp nơi trên mặt đất, những bông hoa xinh xắn nở rộ,và từng bầy chim hót líu lo. Nhưng mùa đông vẫn còn trong khu vườn của ông Giant. Không hề có một chiếc lá xanh, một ngọn cỏ biếc,hoặc một bông hoa nào xuất hiện. Tại đó, những con chim không buồn hót. Tuyết phủ đầy trên cỏ một lớp trắng xóa, và sương mù tô điểm màu bạc trên các thân cây. Rồi có thêm cả ngọn gió từ phương bắc và mưa đá.
Trong khi đang ngồi cạnh cửa sổ, và nhìn ra bên ngoài khu vườn lạnh lẽo của mình, ông Giant nói “Tôi không thể hiểu được tại sao mùa xuân lại đến chậm thế. Tôi hy vọng rằng thời tiết sẽ mau chóng thay đổi”. Nhưng mùa xuân không bao giờ đến, cả mùa hè cũng vậy. Mùa thu đến, đem lại hoa quả cho tất cả mọi khu vườn, ngoại trừ khu vườn của ông.
Năm sau, vào một buổi sáng khi thức dậy, ông nhận ra là mưa đá ngừng đổ xuống, và ngọn gió từ phương bắc ngừng thổi. Khi ngửi thấy mùi vị dễ chịu, ông nói “Tôi tin rằng cuối cùng, mùa xuân đã đến”. Ông nhảy khỏi giường, nhìn ra bên ngoài cửa sổ, và thấy một quang cảnh tuyệt vời. Những đứa trẻ đã lẻn vào trong vườn, qua một cái lỗ nhỏ trên tường, và đang ngồi đu đưa trên những cành cây. Những thân cây thật vui mừng khi thấy bọn trẻ trở lại, đến nỗi chúng đã trổ đầy hoa.
Ông Giant lặng lẽ đi vào trong vườn, và tiến lại gần lũ trẻ, với nụ cười rộng mở trên gương mặt ông. Thế rồi bằng một giọng tử tế, ông nói với chúng ta “Từ bây giờ, đây là khu vườn của các cháu”. Ông đập bỏ bức tường. Khi mọi người đi ra chợ ngang qua đó, họ nhìn thấy ông Giant đang chơi đùa với lũ trẻ, trong khu vườn đẹp nhất, mà họ chưa từng thấy.
Câu chuyện hay này của Oscar Wilde là một lời chú thích về giới răn yêu thương của Thiên Chúa. Khi khước từ tình yêu, là chúng ta xây một bức tường chung quanh bản thân chúng ta. Nhưng chính chúng ta là người chịu đau khổ trước hết.
Chúng ta tự kết án chính mình, bằng một mùa đông của nỗi cô đơn và bất hạnh.
Nhưng khi chúng ta yêu thương, thì bức tường đổ sụp xuống. Chúng ta cởi mở tâm hồn mình ra với người khác. Và bản thân chúng ta được ích lợi trước hết. Chúng ta cảm nghiệm được một mùa xuân tình cảm, lòng tốt, an bình và niềm vui.
Tình yêu ban tặng nhiều ích lợi cho người nào biết yêu thương. Một trong những quà tặng vĩ đại nhất, đó là niềm vui. Đức Giêsu nói với các tông đồ của Người “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em trở lại trong tình yêu của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy, và ở lại trong tình yêu của Người. Thầy đã nói với anh em các điều ấy, để niềm vui của Thầy trong anh em, và niểm vui của anh em được nên trọn vẹn”.
Đức Giêsu nói về tình yêu và niềm vui theo cùng một hơi thở. Đó là vì hai yếu tố này liên kết với nhau một cách sâu xa. Niềm vui là kết quả của tình yêu. Niềm vui là một trái tim chan chứa. Số lượng niềm vui mà chúng ta có được tỉ lệ với tình yêu mà chúng ta chia sẻ với người khác. Nếu chúng ta không có được niềm vui theo như chúng ta có thể có, thì tình trạng này nói với chúng ta về một điều gì đó.

PS6-B7. SCĐ / 249- TÌNH YÊU

Ngày xưa có một chàng thanh niên hồ nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Một hôm anh tìm: PS6-B7

Ngày xưa có một chàng thanh niên hồ nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Một hôm anh tìm đến một tu sĩ nổi tiếng là đạo đức và  hỏi :
- Ngài có tin Thiên Chúa không ?
- Vâng, tôi tin. Vị tu sĩ trả lời.
- Nhưng dựa vào đâu mà ngài tin như thế ?
- Tôi tin Thiên Chúa vì tôi biết Ngài. Tôi cảm nhận được sự hiện diện của Ngài trong tôi mỗi ngày.
- Nhưng làm sao mà cảm nhận được như thế ?
- Khi ta yêu thì ta sẽ cảm nghiệm được Thiên Chúa, và những nỗi hồ nghi sẽ tan biến như sương mai phải tan biến lúc mặt trời mọc.
Chàng thanh niên suy nghĩ một hồi, rồi hỏi tiếp :
- Xin ngài chỉ rõ cho tôi phải làm điều đó bằng cách nào ?
- Bằng cách thực hiện những việc yêu thương. Anh hãy cố gắng yêu thương những người chung quanh anh, yêu thương tích cực và không ngừng. Khi anh học biết yêu thương ngày càng nhiều hơn thì anh cũng sẽ càng ngày càng xác tín hơn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự bất tử của linh hồn. Việc này đã được thử nghiệm rồi đấy. Đó là sự thật.
Vị tu sĩ trên chẳng nói gì khác hơn điều thánh Gioan viết trong bài đọc II hôm nay : “Anh em thân mến, chúng ta hãy thương yêu nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”.
Thực vậy, tình yêu là điều kiện tiên quyết để hiểu biết cuộc sống và đặc biệt là hiểu biết Thiên Chúa. Van Gogh nói : “Cách tốt nhất để biết Thiên Chúa là hãy yêu nhiều. Hãy yêu bạn mình, yêu vợ mình, yêu một cái gì đó. Rồi bạn sẽ thấy mình đang đi đúng đường dẫn tới chỗ biết Thiên Chúa”.
Tình yêu là người thầy tốt nhất chúng ta có. Nhưng người thầy này không tự đến, chúng ta phải cực nhọc tìm kiếm. Thông thường phải tốn nhiều năm nỗ lực cách kiên trì người ta mới đạt được đến khả năng yêu thương.
Có một vực thẳm ngăn cách giữa việc biết Chúa và việc yêu Chúa. Không yêu Chúa thì không biết Ngài. Nhưng khi chúng ta yêu thì vực thẳm được lấp đầy ngay. Yêu là biết Chúa. Nơi nào có tình yêu thì nơi đó có Chúa, cũng như nơi nào có Chúa thì nơi đó có tình yêu. Nhưng nên lưu ý : Yêu không phải là chứng minh hay là giải thích.
Vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, cho nên mỗi người chúng ta đều có khả năng yêu thương. Tuy nhiên, để được như thế thì con tim chúng ta phải lành mạnh. Thực tế là con tim chúng ta dễ bị những chứng bệnh như lạnh nhạt, trống rỗng, hẹp hòi. Chúng ta cần phải chữa trị những chứng bệnh đó để con tim chúng ta lành mạnh hầu có thể sinh những hoa trái tình yêu.

PS6-B8. SCĐ / 251- YÊU THƯƠNG

Nhà văn nữ Harriet Beecher Stove có viết một quyển tiểu thuyết nhan đề “Túp lều bác Tôm”: PS6-B8

Nhà văn nữ Harriet Beecher Stove có viết một quyển tiểu thuyết nhan đề “Túp lều bác Tôm” kể chuyện đời của một người nô lệ da đen tên là Tôm. Chủ của bác Tôm là một trong số rất ít những người chủ da trắng biết thương yêu những người nô lệ da đen của mình. Đáp lại bác Tôm cũng rất yêu thương chủ và tận tụy hết lòng phục vụ chủ. Nhưng ông chủ này vì làm ăn thua lỗ nên đã nợ một món tiền rất lớn. Một tên da trắng khác chuyên buôn bán nô lệ đã tìm cách nắm được các giấy nợ và dùng chúng để làm áp lực với ông Senbi, tên của ông chủ da trắng nhân hậu ấy. Hắn buộc ông phải bán bác Tôm cho hắn để trừ nợ. Lúc đầu ông Senbi nhất định không chịu. Nhưng vì tên lái buôn hăm dọa sẽ tịch thu tất cả tài sản của ông, nên cuối cùng ông đành phải bán bác Tôm. Sau đó cuộc đời bác Tôm đã phải lao đao lận đận chịu đủ thứ khổ sở và cuối cùng phải chết.
Câu chuyện này đã giúp ta hiểu rõ hơn bài Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay. Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu nói “Chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con”. Trong câu này, có ba chữ then chốt, là : yêu thương, nhau, và như.
. Chữ thứ nhất yêu thương thì chúng ta dễ hiểu, bởi vì Đức Giêsu luôn luôn dạy chúng ta phải sống yêu thương. Yêu thương là điều răn quan trọng nhất của Chúa, là điều răn gồm tóm tất cả mọi điều răn khác.
. Chữ thứ hai : nhau. Yêu thương nhau là yêu thương ai ? Đây không phải là câu Chúa nói với hai vợ chồng hay với một cặp tình nhân, người này yêu thương người kia và người kia yêu thương người này. Nhưng Chúa nói với tất cả mọi người. Vì thế ta không nên hiểu chữ nhau này theo nghĩa hẹp, chỉ nhắm đến lòng yêu thương đối với một ít người thân thiết với ta thôi, mà phải hiểu theo nghĩa rộng, chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người. Giới răn của Chúa là như vậy. Nhưng thực tế, chúng ta chỉ mở rộng con tim để yêu thương một số người rất ít thôi, có thể đếm trên đầu ngón tay, như : cha mẹ, anh chị em ruột, một vài bè bạn thân thiết, và người yêu của chúng ta. Chỉ thế thôi. Còn lại biết bao nhiêu người khác chúng ta chưa yêu thương, chúng ta không muốn yêu thương, và thậm chí chúng ta còn ghét nữa. Vì thế, vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta có thể yêu thương hết tất cả mọi người như giới răn Chúa đã dạy ?
. Chữ thứ ba là chữ như. Đây là chữ quan trọng nhất trong câu. Nếu muốn yêu thương tất cả mọi người, thì chúng ta phải làm như Đức Giêsu đã làm. Vậy, Đức Giêsu đã làm như thế nào ? Ta hãy đọc tiếp đoạn Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng : “Thầy không coi các con là tôi tớ, nhưng Thầy coi các con là bạn hữu của Thầy”. Đức Giêsu là Chúa, là Thầy; còn các môn đệ là người, là đệ tử. Cho nên nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ thì cũng được thôi. Nhưng không, Chúa không muốn coi họ là tôi tớ thấp hèn, mà muốn coi họ là bạn hữu ngang hàng với Chúa. Nghĩa là Chúa tôn trọng họ. Tình yêu của Chúa là tình yêu đi đôi với lòng tôn trọng. Vậy nếu chúng ta muốn có thể yêu thương tất cả mọi người thì chúng ta cũng phải tôn trọng tất cả mọi người, như Đức Giêsu đã yêu thương.
Đến đây chúng ta có thể rút ra những kết luận thực hành :
. Chúng ta đang thương một số người, như cha mẹ, anh chị em, bạn bè, chồng vợ, người yêu của mình. Để cho những tình yêu thương ấy được bền vững, chúng ta hãy biết tôn trọng nhau. Dù những người đó có điều gì trái ý ta, dù có điểm tính tình họ khác ta, ta cũng phải tôn trọng họ, bởi vì mọi người là một cá thể độc đáo không ai hoàn toàn giống ai. Ta không được bắt buộc ai phải giống như mình. Ta phải tôn trọng cái quyền họ có quyền khác với ta. Có thế mới tránh được những xung đột, sứt mẻ trong tình yêu thương nhau.
. Và còn rất nhiều người mà chúng ta chưa yêu thương. Tuân giữ giới răn của Chúa, ta cũng phải cố gắng yêu thương họ. Muốn vậy, việc đầu tiên phải làm là ta phải dẹp bỏ mọi thành kiến, mọi kỳ thị, phải tôn trọng họ : tôn trọng những điểm khác biệt nơi họ, tôn trọng quyền tự do của họ, ngay cả khi họ có những khuyết điểm lỗi lầm ta vẫn phải tôn trọng con người của họ, bởi vì lỗi lầm là lỗi lầm, nhưng con người vẫn là con người, vẫn có nhân phẩm, và ta yêu thương là yêu thương chính con người đó, yêu thương chính nhân phẩm đó.
Đức Giêsu nói “Chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con”. Theo lời Chúa dạy, chúng ta hãy cố gắng yêu thương tất cả mọi người, và theo gương Chúa làm, chúng ta hãy cố gắng tôn trọng tất cả mọi người.

PS6-B9. SCĐ/256- NHƯ THẦY ĐÃ YÊU

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 16.9.1999 đã đưa tin : “10.645 người nghèo đã khỏi mù”. Theo Hội Bảo: PS6-B9

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 16.9.1999 đã đưa tin : “10.645 người nghèo đã khỏi mù”. Theo Hội Bảo Trợ Bệnh Nhân Nghèo TP. HCM từ đầu năm 1999 đến nay các đoàn phẫu thuật ghép thủy tinh thể nhân tạo của thành phố và các quận huyện đã đem lại ánh sáng cho 10.645 người nghèo bị mù (đạt 88 /o kế hoạch 1999). Trong tháng 8. 1999 đã có 108 lượt tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đóng góp hơn 2 tỷ đồng ủng hộ quĩ hội (tăng 205 /o so với tháng 7. 1999). Hội cũng đã tài trợ cho bệnh viện Nhi Đồng 2 trên 79,5 triệu đồng giúp phẫu thuật cho 21 trẻ em không có hậu môn bẩm sinh, và giúp trung tâm Răng Hàm Mặt phẫu thuật cho 178 trẻ em bị sứt môi, hở hàm ếch tại Bình Định.
Hầu như đọc bất cứ tờ báo nào, chúng ta cũng thấy nhan nhản các tổ chức, cá nhân đầy lòng quảng đại từ tâm. Những tâm hồn biết chăm lo cho người nghèo đói, bất hạnh. Những con tim tràn đầy yêu thương đã cùng nhịp đập với Thầy Giêsu. Những tấm lòng mau mắn đáp lại tiếng mời gọi tha thiết của Người : “Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con”.
Kể từ khi Ngôi Hai nhập thể để bày tỏ tình yêu của Ngôi Cha dành cho con người, thì mối liên hệ giữa Thiên Chúa và nhân loại hoàn toàn thay đổi : Không còn là tạo hóa và thụ tạo, không còn là Thượng đế và phàm nhân, không còn là Chủ ông và tôi tớ, nhưng chính là “bạn hữu thân tình”.
Tình yêu đã khiến Thiên Chúa hạ mình xuống với con người, cảm thông và chia sẻ với thân phận thụ tạo : “Tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết”. Tình yêu đó đã đến chỗ tuyệt đỉnh, đến nỗi thánh Gioan viết : “Người đã yêu thương họ đến cùng”. Yêu thương đến cùng có nghĩa là yêu cho đến chết, và chết trên thập giá. Thánh Bênađô dạy : “Mức độ của tình yêu là không yêu mức độ”.
Nguồn tình yêu ấy phát xuất từ Cha xuống Con, và không dừng lại như nước ao tù, nhưng luân chuyển đến mọi trái tim con người trên toàn thế giới. Nếu tình yêu đã liên kết chúng ta với Chúa, thì cũng chính tình yêu ấy sẽ liên kết chúng ta lại với nhau : “Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con”, vẫn biết rằng, con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức “Như Thầy đã yêu”. Nhưng lời mời này vẫn giục giã chúng ta hướng lên mãi theo đường Thầy đã đi.
Đức Gioan Phaolô II trong Thông điệp Ánh Sáng Rạng Ngời Chân Lý, số 20 viết : “Chữ như” này đòi hỏi phải bắt chước Đức Giêsu, tình yêu của Người, mà việc rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể… Chữ “như” cũng chỉ mức độ mà Đức Giêsu đã yêu thương các môn đệ của mình, và các môn đệ của người cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy.
Thế giới ngày nay khao khát tình yêu đích thực. Người tín hữu Kitô phải là nhân chứng của tình yêu ấy. Chúng ta không có dịp để chết cho tha nhân như Đức Kitô, nhưng chúng ta có rất nhiều dịp để sống cho tha nhân. Sống cho tha nhân là chết cho chính mình. Chết trong những hy sinh âm thầm hằng ngày. Chết không đổ máu, nhưng đổ mồ hôi và nước mắt. Chết không chỉ một lần, nhưng chết dần chết mòn cho hạnh phúc của tha nhân, Kahil Gibran viết : “Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi”.

PS6-B10. Tình Yêu Trao Ban

Có một câu truyện được truyền tụng qua nhiều năm kể về một vị chức sắc chính trị đến dự cuộc: PS6-B10

Có một câu truyện được truyền tụng qua nhiều năm kể về một vị chức sắc chính trị đến dự cuộc lễ đăng quang của Vua Edward VII tại Anh Quốc năm 1901.
Vị chức sắc này chứng kiến một giây phút lịch sử khi chiếc triều thiên được đặt trên đầu vua. Ông đã nhảy múa tại cuộc dạ vũ đăng quang vĩ đại này. Sau cùng, ông đã hòa nhập với các vương tôn và tiếp chuyện với những nhân vật nổi tiếng.
Khi ông trở về nhà, có người hỏi ông có một giây phút hay một dữ kiện nào trong cuộc hành trình thăm viếng của ông tại Anh Quốc đặc biệt nổi bật hơn hết không.
"Có," ông nói, "thật sự có giây phút đó." Ông tiếp tục nói rằng lúc đó xảy ra vào một đêm nọ khi ông trở về khách sạn của ông.
Ngoài trời thì lạnh rét. Và trong khi ông đi qua một căn nhà bỏ hoang, ông đã thấy hai đứa bé nhỏ tội nghiệp đang nằm co với nhau tại cửa nhà.
Một trong hai đứa là cậu bé khoảng 12 tuổi; còn đứa kia là bé gái khoảng 4 tuổi, rõ ràng là em gái của cậu bé.
Cậu bé đã cởi áo choàng của mình ra và quàng quanh bờ vai bé bỏng của người em gái. Và cậu lấy chiếc mũ len của cậu mà bọc quanh chân của cô em.
Nhà chức sắc nói rằng hình ảnh của hai đứa trẻ, đang nằm co bên cửa nhà, nổi bật hơn hết. Nó hoàn toàn làm lu mờ vẻ tráng lệ và nghi thức đăng quang, sự nhộn nhịp của cuộc dạ vũ đăng quang, cũng như những cuộc đối thoại với các nhân vật nổi danh.
Đó chính là hình ảnh mà ông không bao giờ quên được bao lâu ông còn sống.
Câu chuyện này diễn tả loại tình yêu mà được diễn tả thật tuyệt vời trong những bài đọc hôm nay.
Nó diễn tả, đặc biệt loại tình yêu mà Chúa Giêsu diễn tả trong bài Phúc Âm hôm nay khi Ngài nói, "Hãy yêu thương nhau như Ta yêu thương các ngươi."
Và một lần nữa, khi Ngài nói, "Không ai có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì bạn hữu."
Chúa Giêsu đã dạy và đã thực hành điều Ngài dạy. Chúa vì yêu thương chúng ta đã trao ban mạng sống chịu chết để đền tội chúng ta, để cứu chuộc chúng ta. Thánh Phaolô nói: "-t có ai chết cho tội nhân, họa may mới có kẻ chết cho người công chính. Chúa Kitô đã chết cho chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân." Chúa yêu chúng ta dường nào.
Chúng ta biết ơn Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy yêu mến Ngài và tuân theo lời Ngài: "Hãy yêu thương nhau như Ta yêu thương các ngươi." Chúng ta hãy quên mình để yêu thương quan tâm đến anh chị em chúng ta. Tình yêu được tóm tắt trong sự trao ban, trao ban trong lời nói và việc làm. Câu chuyện của hai đứa bé, nằm co bên cửa nhà, đã quảng diễn nó. Chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, dâng hiến cuộc đời cho Chúa và yêu thương anh chị em.

PS6-B11. Ở Lại Trong Tình Thương

Suy Niệm

Tôi là một linh mục công giáo Ba-lan, tôi đã già, tôi muốn chết thay cho ông này, vì ông có vợ con: PS6-B11

"Tôi là một linh mục công giáo Ba-lan, tôi đã già, tôi muốn chết thay cho ông này, vì ông có vợ con". Quyết định của Cha Kôn-bê (Maximilianus Maria Kolbe) đã cứu được ông Francis.
Không phải chỉ mình ông và gia đình ông, cha còn cứu được 9 người khác, khỏi nỗi tuyệt vọng, những người sẽ cùng bị bỏ đói đến chết với cha.
Từ hầm giam, không còn nghe thấy tiếng khóc than nguyền rủa. Chỉ có tiếng hát và lời kinh...
Cái chết của cha làm mọi người kinh ngạc, vì nó là bằng chứng của một tình yêu. Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu hiến mạng cho người bạn của mình.
Ông Francis chẳng phải là bạn của cha Kôn-bê, nhưng ông thành bạn của cha vì được cha hiến mạng.
Hãy ở lại trong Thầy, ở lại trong tình yêu của Thầy.
Đây không phải là một lời mời đầy tính lãng mạn của một người đang yêu. Đây cũng không phải là một mệnh lệnh cao siêu dành cho những nhà thần bí.
Đức Giêsu dạy ta biết cách ở lại trong Ngài.
Ai muốn ở lại trong tình yêu của Thầy thì phải giữ các điều răn (x. câu 10), mà điều răn quan trọng nhất là yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Như thế chúng ta có một kết luận kỳ diệu: muốn ở lại trong Thầy thì cũng phải ở lại trong nhau.
Cành nào muốn hiệp thông với cây thì cũng phải hiệp thông với các cành khác. Có một dòng nhựa từ cây nuôi các cành. Chúng ta là những cành cây được nuôi bằng một dòng nhựa.
Khi gắn bó thân thiết với Chúa, chúng ta cũng được gắn bó với nhau sâu thẳm.
Yêu anh em là thước đo đáng tin cậy để thấy được tình yêu của mình đối với Chúa. Chỉ có một dòng tình yêu duy nhất luân chuyển: như Cha đã yêu Thầy, Thầy đã yêu anh em; như Thầy đã yêu anh em, anh em hãy yêu nhau.
Dòng tình yêu phát xuất từ Cha và đi khắp thế giới.
Yêu thương là không làm cho nó ngừng lại thành ao tù.
Thế giới hôm nay đói khát tình yêu đích thực.
Môn đệ Đức Kitô phải là chứng nhân tình yêu, yêu như Chúa đã yêu, yêu bằng tình yêu lớn nhất.
Chúng ta không có dịp để chết như cha Kôn-bê, nhưng mỗi ngày ta có nhiều dịp để sống cho người khác.
Sống cho tha nhân đòi hỏi những cái chết nho nhỏ. Những cái chết nhỏ chuẩn bị cho cái chết lớn khi cần.
Mỗi lần trái tim ta héo khô và chai cứng, hãy trở lại với Đức Giêsu như suối nguồn để được Ngài tưới đẫm yêu thương.
Gợi Ý Chia Sẻ
Mọi tội lỗi đều bắt nguồn từ thiếu yêu thương. Bạn đánh giá thế nào về tình yêu thương trong gia đình, khu xóm, trường học, giáo xứ, nơi làm việc... của bạn? Các Kitô hữu ở đó có làm chứng về yêu thương không?
Có khi nào bạn cảm thấy yêu thương người khác là điều quá khó không? Làm sao để thoát ra khỏi nỗi tức bực và hờn oán của mình đối với người khác?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con. Có những ngày, đón nhận những người khác, là điều vượt quá sức con, vì con kiêu hãnh, tự hào và yếu đuối.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con. Có những ngày, con không thể nào kính trọng kẻ khác được, vì ý kiến, vì mau da, vì cái nhìn của người ấy.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con. Có những ngày, mà yêu mến người khác, làm cho tim con đau nhói, vì nỗi sợ hãi, nỗi khổ đau và những giới hạn của bản thân con.
Lạy Chúa là Thiên Chúa của con. Trong những ngày khó khăn đó, xin hãy nhắc cho con nhớ rằng tất cả chúng con đều là con cái Chúa và đừng để con quên Lời Chúa nói: "Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho chính Ta."

PS6-B12. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Trong bài hát ”Niềm tâm sự”, hầu hết các nhà thờ ở Việt Nam đều biết đến, nhạc sĩ Anh Linh: PS6-B12

Trong bài hát ”Niềm tâm sự”, hầu hết các nhà thờ ở Việt Nam đều biết đến, nhạc sĩ Anh Linh đã mượn Kinh Thánh để phổ những dòng nhạc thật êm dịu ngọt ngào:” Yêu nhau chính là giới răn riêng Thầy. Yêu nhau như Thầy yêu dấu chúng con, để cho thế gian hiểu biết rằng chúng con chính là môn sinh của Thầy”. Đây là lời bộc bạch của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly với các môn đệ sau khi Giuđa, một trong nhóm mười hai phản bội đi ra khỏi phòng ăn. Lời tâm sự cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi Ngài thi hành ý định của Thiên Chúa Cha cứu độ nhân loại.
Lời trăn trối của Chúa Giêsu
Trước khi nhắm mắt lìa đời, những lời cuối cùng của một con người bao giờ cũng mang một ý nghĩa quan trọng bộc lộ cả một tấm lòng, cả tâm huyết của con người. Chúa Giêsu trước khi bị trao nộp, Ngài đã dùng bữa cuối cùng với các môn đệ và trong bữa ăn này sau khi đã làm một cử chỉ rửa chân đầy ấn tượng, gây ngạc nhiên cho các tông đồ, Giuđa đi ra khỏi phòng, Chúa Giêsu đã thổ lộ tất cả những gì cần nói với các môn đệ. Qua cuộc trao đổi, đàm đạo, tâm sự đầy thân mật, các môn đệ đã trở nên nghĩa thiết, trở thành bạn hữu của Chúa:” Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết"( Ga 15, 15 ). Trong cuộc tâm sự, bộc bạch, dặn dò này, Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại các tông đồ:” Hãy yêu thương nhau”. Đây là cốt lõi của Tin Mừng của Chúa Giêsu và cũng là giáo huấn chủ yếu của Đạo Kitô giáo. Lõi tủy của đạo do Chúa Giêsu thiết lập xem ra thật đơn giản, nhưng đầy thâm thúy, sâu sắc:”Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”( Ga 15, 12 ). Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ, nhưng đồng thời Ngài cũng truyền lệnh cho các ông:” yêu thương nhau”. Để làm gương cho các ông, Chúa Giêsu không bao giờ nói suông, nói lý thuyết, mơ hồ, nhưng chính Ngài đã làm gương cho các ông về tình huynh đệ, về sự khiêm nhượng, về sự tận tình. Tình yêu thương lớn nhất, cao cả nhất là:” Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”( Ga 15, 13 ). Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là bằng chứng tình yêu của Ngài đối với cha của Ngài, nhưng đồng thời cũng là chóp đỉnh của tình yêu thương của Ngài đối với con người. Đây là mẫu mực và là nền tảng của tình yêu xả kỷ, tình yêu vô vị lợi, tình yêu chỉ mong hạnh phúc cho tha nhân. Chúa Giêsu đã đưa các môn đệ đi vào tình liên đới với Thiên Chúa Cha vì tình yêu của Ngài phát xuất tự Thiên Chúa Cha:” Chúa Cha yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”( Ga 15,9)
Đây cũng là cốt lõi của công trình cứu chuộc vì khi đưa các môn đệ đi vào tình thân mật với Thiên Chúa Cha và qua đó ở lại với Chúa Giêsu trong tình yêu mến, và như thế cũng phải yêu mến anh em. Hai vế yêu Chúa, yêu tha nhân không thể tách rời nhau. Thánh Phaolô cũng xác quyết manh mẽ lệnh truyền của Chúa Giêsu:” Nếu ai nói yêu Chúa mà không thương yêu anh em mình thì kẻ đó nói láo”. Với lòng yêu thương mà Chúa Giêsu tiết lộ, các môn đệ đang sống trong thời cứu chuộc:” niềm vui của anh em được nên trọn vẹn”( Ga 15, 11 ). Niềm vui này là niềm vui phục sinh, các môn đệ đang được chia sẻ trong cuộc sống mới của Chúa Kitô sống lại. Các môn đệ yêu thương nhau còn là dấu chỉ của sự hiện diện của lòng yêu thương của Thiên Chúa đối với con người và nhân loại sẽ nhận biết các môn đệ là bạn hữu của Chúa Giêsu:” Anh em hãy yêu thương nhau…mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau”( Ga 13, 35 ).
Trọng tâm của đạo Kitô là tình thương
Giới luật yêu thương Chúa truyền cho các môn đệ cũng là lệnh Chúa ban cho mọi Kitô hữu, những người được mời gọi đi theo Đức Kitô. Như thế, xét cho cùng đạo của Chúa Giêsu thiết lập là đạo tình thương. Chúa Giêsu không tới trần gian để dạy những lý thuyết suông, những luật lệ cứng ngắc, những giới răn không hồn. Chúa không bao giờ nói mà không làm. Những lời nói của Chúa hết sức thực tế, những phép lạ của Chúa làm hết sức ấn tượng và luôn phù hợp với đời thường, với những gì diễn ra ở xã hội, ở trần gian. Tin Mừng Chúa nhật hôm nay của thánh Gioan 15, 9-17 đặt mọi người Kitô hữu trước thúc bách của Phúc Am, đưa mọi người Kitô hữu vào trọng tâm của Đạo, vào cốt lõi của Đạo:” Đạo của Chúa là Đạo tình thương, của lòng yêu mến”. Mọi đường hướng, chỉ đạo, dậy bảo nếu chúng nằm ngoài sự yêu mến, nằm ngoài tình thương của Chúa thì chúng đi ngược lại với Tin Mừng, nằm ngoài Kitô giáo. Nên, muốn đi đúng hướng, đi đúng đường, muốn loan báo, rao giảng, làm chứng cho công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu, cho tình thương của Ngài, nhân loại phải thực thi lệnh truyền của Chúa:” Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”( Ga 15, 12). Lời ca trong niềm tâm sự của nhạc sĩ Anh Linh vẫn vang lên mỗi lần nhà thờ chọn để hát. Niềm tâm sự của Chúa vẫn nhẹ nhàng, đầy tâm huyết, đầy nhiệt tình:” Yêu nhau như Thầy yêu dấu chúng con, để cho thế gian hiểu biết rằng, chúng con chính là môn sinh của Thầy “. Kahil Gibran đã để lại một câu bất hủ:” Bạn chỉ cho đi quá ít, khi cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi “.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho mọi người chúng con luôn biết thực thi giới luật yêu thương của Chúa.

PS6-B13. HÃY Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THÀY - Lm Trần Bình Trọng

Đọc Phúc âm, ta thấy toàn bộ Phúc âm theo Thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu chứa: PS6-B13

Đọc Phúc âm, ta thấy toàn bộ Phúc âm theo Thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu chứa đựng đày dãy từ ngữ yêu mến. Đó là lý do tại sao, Phúc âm thánh Gioan được mệnh danh là Tin mừng yêu mến. Theo truyền thống kể lại thì khi về già, thánh Gioan chỉ giảng một lời vắn tắt : Hỡi đoàn con nhỏ, hãy thương yêu nhau. Lời giảng dạy đó được lặp đi lặp lại nhiều lần trong vòng một thời gian khá lâu. Điều đó làm giáo dân chán ngấy, nghĩ rằng thánh nhân đã bị mất trí, nên xin ngài nói điều gì khác lạ hơn. Thánh Gioan trả lời ngài sẽ dừng nói về tình yêu mến, khi mà điều ngài giảng được thực hiện.
Trong Phúc âm hôm nay, thánh Gioan ghi lại cái lời xác quyết của Chúa bày tỏ tình yêu cho loài người : Như Cha đã yêu mến thày, thày cũng yêu mến các con (Ga 15:9). Vậy ta hãy thử xét coi Chúa yêu mến loài người như thế nào. Và ta cũng chỉ giới hạn cái việc Chúa yêu mến loài người theo như Phúc âm hôm nay ghi lại mà thôi. Nếu xét tất cả những việc Chúa làm vì yêu mến loài người trong toàn bộ Phúc âm, có thể cả năm ta cũng chưa nói hết. Chúa Giêsu đã yêu mến loài người bằng cách chấp nhận cái chết trên thập giá để chuộc tội loài người. Đó là lời Chúa phán trong Phúc âm hôm nay : Không ai yêu hơn kẻ hy sinh mạng sống vì người mình yêu (Ga 15:13). Chúa Giêsu còn yêu mến ta bằng cách đưa ta lên hàng bạn hữu với Chúa: Thày không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Thày gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thày nghe biết nơi Cha thày, thì Thày đã cho các con biết (Ga 15:15).
Bạn hữu là người quan tâm đến ta, và ta quan tâm đến họ. Bạn hữu là người gắn bó với ta khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại. Bạn hữu là người ta có thể tin cậy. Bạn hữu thường trung thành với nhau, giúp đỡ nhau, sống chết có nhau. Trong cái xã hội phong kiến, khi một người nhỏ tuổi gọi người lớn là bạn, có thể bị coi là chơi trèo, hỗn xược, vì cha ông ta dạy kính lão đắc thọ. Chúa Giê-su còn cao trọng hơn ta gấp bội phần, nhưng Người đã tự hạ mình xuống làm bạn với ta. Vậy được gọi là bạn hữu với Chúa, là một ân huệ lớn lao. Điều thắc mắc ở đây là ta có thực sự tin rằng Chúa là bạn với ta không? Chắc rằng ta tin, vì Chúa nói như vậy. Tuy nhiên ta có cảm nghiệm được cái tình yêu và tình bạn với Chúa hay không lại là chuyện khác.
Trong Phúc âm hôm nay Chúa căn dặn ta : Hãy ở lại trong tình yêu của Thày (Ga 15: 9). Vậy ở lại trong tình yêu của Chúa nghĩa là gì ? Khi người ta nói đứa con đã mất ơn nghĩa với cha mẹ, ta hiểu là đứa con đã xúc phạm đến cha mẹ và làm khổ cha mẹ. Cũng vậy khi phạm tội, ta tự tách ra khỏi tình yêu của Chúa. Vậy ở lại trong tình yêu của Chúa là còn ơn nghĩa với Chúa. Ở lại trong tình yêu của Chúa là có được sự bình an của Chúa trong tâm hồn. Trong một buổi nói chuyện với giới trẻ tại một giáo xứ kia, một linh mục hướng dẫn có cho giới trẻ thảo luận câu hỏi thế nào là hạnh phúc. Có một nhóm trả lời hạnh phúc là khi cảm thấy tâm hồn bình an. Ta thấy câu trả lời đó bao hàm tất cả ý nghĩa của hạnh phúc vì nếu không có bình an trong tâm hồn, thì dù có mọi sự khác cũng không có hạnh phúc. Ở lại trong tình yêu của Chúa là ở lại trong tình bạn hữu với Chúa. Tuy nhiên khi hai người bạn làm mất lòng nhau, hoặc phản bội nhau, và nếu không làm hoà, thì không thể nào duy trì cái tình bạn cũ. Cũng vậy khi ta xúc phạm đến Chúa, ta làm sứt mẻ tình bạn với Chúa, ta tự cảm thấy hổ thẹn vì lương tâm ta bảo như vậy. Ở lại trong tình yêu của Chúa là muốn được gần gũi với Chúa, muốn đặt niêm tin cậy phó thác vào Chúa, muốn Chúa làm chủ đời sống.
Vậy làm thế nào để được ở lại trong tình yêu của Chúa ? Trong Phúc âm hôm nay chính Chúa dạy ta làm sao để được ở lại trong tình yêu Chúa : Các con sẽ ở lại trong tình yêu của Thày, nếu các con tuân giữ lệnh Thày truyền (Ga 15:10). Tuân giữ lệnh Chúa truyền, nghĩa là tuân giữ giới răn Chúa, tuân theo thánh ý Chúa, sống theo đường lối Phúc âm. Cảm nghiệm được thế nào ở lại trong tình yêu Chúa và tình bạn với Chúa, người ta sẽ cảm thấy vui sống đức tin. Nếu lỡ phạm tội làm mất sự bình an, họ lại ao ước muốn trở về sống trong tình yêu và tình bạn với Chúa.

PS6-B14. CÁC CON LÀ BẠN HỮU CỦA THẦY - Lm. Phêrô Trần Minh Đức

Tôi thực là khó mở miệng khi giới thiệu một người với người khác rằng: “Đây là bạn của tôi”. Khó: PS6-B14

Tôi thực là khó mở miệng khi giới thiệu một người với người khác rằng: “Đây là bạn của tôi”. Khó bởi vì bạn bè có rất nhiều loại: bạn nối khố, bạn cùng lớp, bạn đồng nghiệp, bạn nhậu, người thân quen... Bạn bè kiểu này thì ai cũng có. Bạn bè đúng nghĩa như Đức Kitô nói tới trong bài Phúc âm hôm nay quả thực hiếm có trên đời. Bạn bè tri kỷ là thứ bạn bè không phải ai cũng có. Không phải hễ muốn là có ngay. Kiếm bạn tri kỷ nhiều khi còn khó hơn tìm người yêu. Bởi vì đó là một kho tàng vô giá mà trời trao ban. Con người không thể mua bằng mánh khoé hay dùng tiền bạc để trao đổi.
Tình bạn là một ngôn từ thuộc loại đao to búa lớn. Khi có một người đứng bên cạnh, tôi không còn cô đơn lẻ loi, không có nghĩa là tôi có bạn. Tình bạn với người khác, tình bạn với Đức Kitô là một hình thức đặc biệt của lòng tin tưởng. Ai nhận một người làm bạn, ai được diễm phúc có Thiên Chúa làm bạn, kẻ đó phải sống vị tha và hoàn toàn đặt tin tưởng. Ai nhận một người bạn, kẻ đó phải sống vị tha và hoàn toàn đặt tin tưởng nơi người đó. Tình bạn không có nghĩa đơn thuần là đánh giá cao, tôn trọng một người, cũng không phải là: Kẻ đó không phải sống quanh quẩn trong phạm vi kiểm soát của cảm giác của mình, nhưng có thể tự vén bức màn bí mật của mình, sẵn sàng chia sẻ niềm vui buồn với người bạn.
Một tương quan tốt đẹp như thế phải có những lý lẽ chính đáng. Lẽ dĩ nhiên người bạn luôn mong muốn những gì tốt đẹp nhất cho đời sống, tương lai và chính bản thân tôi. Nhưng tình bạn chân thật luôn đi xa hơn một bước. Tình bạn không những được nuôi dưỡng bằng lý trí, mà còn bằng mạo hiểm. Tình bạn giữa con người với nhau dù tri âm đến đâu đi nữa vẫn có thể có ngày bị tan vỡ, vẫn có thể bị bạn mình lật lọng hạ bệ!
Con người không ai giống ai. Nhưng tình bạn giữa con người với nhau có thể nói là “môn đăng hộ đối”. Tình bạn giữa con người với Đức Kitô là một thứ tình bạn hoàn toàn không cân xứng Bởi vì một đàng là Con Thiên Chúa, một đàng chỉ là chịu hạ mình làm bạn với một người thứ dân. Phương chi bây giờ nói đến tình bạn giữa Đấng tạo dựng trời đất với phàm nhân, tạo vật mà chính mình dựng lên. Thật là một vinh dự lớn lao dành cho tôi khi chính Đức Kitô gọi tôi là bạn.
Bạn bè cần sự gần gũi, cần sự trao đổi. Mặc dù khác biệt nhưng người này luôn nhận được một cái gì đó nơi người kia. Tôi tự hỏi một cách thẹn thùng: Đức Kitô nhận được gì nơi tôi?
Tôi luôn luôn đón nhận sự trợ giúp, lòng trung thành, lời hứa của Ngài dành cho tương lai và cuộc sống vĩnh cửu của tôi. Có thể nói những gì tôi đã có, đang có và sẽ có, đều do tấm lòng rộng rãi của Ngài ban cho. Nhưng Ngài nhận được gì từ nơi tôi? Hoàn toàn không có gì khác hơn là đức tin của tôi, lòng chuộc con người và đã sống lại để con người được dự phần vào đời sống vĩnh cửu. Đức tin là của duy nhất mà con người có thể dùng để đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mình. Phúc thay cho tôi, bởi vì Đức Kitô không đòi hỏi gì khác ngoài lòng tin vào Ngài. Tình bạn giữa tôi với Đức Kitô còn làm cho tôi nhận biết giá trị đặc biệt của tôi trước mặt Thiên Chúa.

PS6-B15. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU NHƯ THẦY YÊU THƯƠNG ANH EM - Lm. Đan Vinh

TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1) Ý chính : Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em.

Tin Mừng hôm nay tiếp theo dụ ngôn cây nho và cành nho. Đức Giêsu nói về mối tương quan: PS6-B15

Tin Mừng hôm nay tiếp theo dụ ngôn cây nho và cành nho. Đức Giêsu nói về mối tương quan mật thiết giữa các cành nho là tình yêu thương giữa các môn đệ, các tín hữu với nhau. Như Chúa Cha đã yêu thương Chúa Con thế nào, thì Đức Giêsu cũng yêu thương các môn đệ như vậy, và người truyền cho các môn đệ cũng phải yêu thương nhau giống như Người đã yêu thương và hy sinh chịu chết để cứu độ họ.
2) Chú thích :
- Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu mến anh em như vậy, Anh em hãy ở trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy giữ các điều răn của Cha Thầy, và ở lại trong tình thương của Người (Ga 15,9-10) :
+ Chúa Cha đã yêu mến Thầy : Đức Giêsu nhiều lần nói về tình yêu của Chúa Cha dành cho Người (x. Ga 3,35; 5,20; 17,24). Chúa Cha cũng nhiều lần xác nhận điều này (x. Mt 3,17; 17,5). Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con là thứ tình yêu chia sẻ và trao ban, và tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha là thứ tình yêu tôn kính và vâng phục.
+ Thầy cũng yêu mến anh em : Noi gương Chúa Cha, Đức Giêsu cũng yêu thương các môn đệ bằng một tình yêu như vậy.
+ Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy : Đây là lời mời gọi tha thiết của Đức Giêsu đối với các môn đệ. Người kêu gọi họ hãy luôn kết hiệp với Người, và đừng bao giờ từ chối hay phản bội tình yêu của Người.
+ Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy : Giữ các giới răn là một cách thế diễn tả tình yêu của các môn đệ đối với Đức Giêsu. Đó cũng là dấu chỉ cho thấy các ông đang “ở lại trong” tình thương của Người.
+ Nếu Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy : Trong suốt cuộc sống ở trần gian, Đức Giêsu luôn xin vâng theo thánh ý Chúa Cha (x. Ga 6,38; 8,29; Dt 10,9). Người vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập giá (x. Pl 2,8). Nhờ tuân giữ các giới răn của Chúa Cha, là bằng chứng cho thấy Đức Giêsu luôn “ở lại trong” tình thương của Người.
- Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em, để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn. Đây là điều răn của Thầy : Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,11-13) :
+ Để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn : Niềm vui hân hoan mà Đức Giêsu cảm nhận được là kết quả của việc Người đã tuân giữ các giới răn của Chúa Cha, luôn làm theo Thánh Ý Chúa Cha. Niềm vui ấy các môn đệ cũng sẽ nhận được, nếu các ông biết tuân giữ giới răn yêu thương nhau như Đức Giêsu đã truyền dạy.
+ Đây là điều răn của Thầy : Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em : Điều răn mà các môn đệ phải thi hành là yêu thương nhau không phải bằng tình cảm suông hay lời nói cử chỉ bề ngoài, nhưng tình yêu phải thể hiện qua việc tình nguyện hiến thân chịu chết vì anh em, noi gương Đức Giêsu yêu thương và đã phó nộp mình chịu chết để đền tội thay cho các môn đệ và các tín hữu chúng ta.
+ Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình : Tình thương đòi phải hy sinh và cho đi. Món quà trao tặng càng có giá trị thì tình yêu càng lớn lao. Sự trao tặng cả mạng sống của mình là dấu hiệu một tình yêu tột đỉnh. Đức Giêsu đã sẵn sàng chịu chết để đền tội thay cho môn đệ, thay cho mọi tín hữu chúng ta. Người cũng địi môn đệ phải noi gương Người để sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì anh em (x. 1 Ga 3,16; Pr 2,21).
- Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tối tớ nữa, vì tối tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết (Ga 15,14-15) :
+ Anh em là bạn hữu của Thầy : Các môn đệ là học trò sẽ được Đức Giêsu nâng cấp lên trở thành bạn hữu của Người, với điều kiện họ thực thi những điều Người truyền dạy.
+ Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa nhưng là bạn hữu : Tình bạn đưa tới sự hiệp thông về tư tưởng, tâm tình vàsức sống. Đức Giêsu đã cư xử với các môn đệ bằng thứ tình bạn này, vì Người đã bày tỏ cho các ông biết tất cả những gì Người đã đón nhận được từ nơi Chúa Cha.
- Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại. Hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là : Hãy yêu thương nhau (Ga 15,16-17) :
+ Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em : Ơn gọi trở thành môn đệ của Đức Giêsu không phải do các ông có công xứng đáng và chủ động chọn Người, nhưng chính Người đã tuyển chọn và kêu gọi các ông trước và các ông đã sẵn sàng đáp lại bằng việc từ bỏ mọi sự mà đi làm môn đệ Người, như hai đôi anh em : Simon Phêrô và Anrê, Giacôbê và Gioan (x. Mt 4,19.21).
+ Và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại : Chính Đức Giêsu đã huấn luyện và sai các môn đệ ra đi truyền giáo bằng việc rao giảng Tin Mừng Nước Trời và làm chứng nhân cho Người (x. Mt 10,1-10; 28,19; Cv 1,8). Nhờ kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu và nhờ Ơn Thánh Thần tác động mà các ông đã đem lại nhiều hoa trái tốt là đưa nhiều người gia nhập vào Hội Thánh (x. Ga 20,22-23; Cv 2,37-41).
+ Những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em : Trong sự hiệp thông với Đức Giêsu như cành nho liên kết với thân cây nho, thì những lời cầu xin nhân danh Đức Giêsu sẽ được Chúa Cha chấp nhận.
+ Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau : Yêu thương nhau là một giới răn mới và quan trọng nhất nên được Đức Giêsu nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tình yêu ấy là dấu hiệu người môn đệ đích thực của Đức Giêsu.
HỌC SỐNG LỜI CHÚA
1) “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12) :
- Câu chuyện : Tình yêu mạnh hơn sự chết.
Có hai anh em nhà kia, cậu bé trai 8 tuổi và cô em gái của cậu 6 tuổi. Cả hai đều gầy yếu và hay đau ốm luôn. Một hôm cậu bé bị đau gan cấp tính, được cha mẹ đưa vào cấp cứu tại bệnh viện gần nhà. Sau thời gian hai tuần lễ điều trị, cậu bé đã thoát khỏi tình trạng nguy hiểm và đang nằm viện thêm ít ngày để hồi sức. Nhưng sau đó, lại đến lượt cô em gái bị chứng xuất huyết nội và được mang đi cấp cứu tại cùng một bệnh viện với anh. Cô bé bị mất máu khá nhiều cần phải được tiếp máu. Thế nhưng bệnh viện lại không có sẵn loại máu của cô để truyền cho cô. Rất may là máu của cậu bé anh cô lại cùng một loại với em. Khi được hỏi có muốn cho máu để truyền cứu sống em gái hay không, thì lúc đầu cậu bé hơi ngần ngại và lo lắng một chút. Nhưng ngay sau đó, cậu ta đã bình tĩnh lại và can đảm trả lời bác sĩ rằng : “Vâng, con bằng lòng hiến máu cho em con. Xin bác sĩ hãy cố gắng cứu sống nó. Vì con thương em con lắm”. Sau đó các bác sĩ đã tiếp máu của cậu bé cho em. Khi tỉnh dậy, mọi người trong phòng đều ngạc nhiên và buồn cười khi nghe cậu bé hỏi : “Ô hay ! Con vẫn còn sống đấy ư ? Vậy bác sĩ đã tiếp máu cho em gái con chưa ? Em con bây giờ ra sao rồi ?”
- Suy nghĩ và quyết tâm : Thì ra cậu bé tưởng lầm rằng khi cho máu, thì mình sẽ phải hy sinh mạng sống của mình cho em, vì bác sĩ sẽ lấy hết máu của cậu mà tiếp sang cho đứa em gái ! Vì quá thương em và không muốn em chết, nên sau một lúc ngần ngại, cậu đã can đảm hy sinh mạng sống của mình để cho em cậu được cứu sống ! Quả thật, trong trường hợp này : “Tình yêu mạnh hơn sự chết”. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình’ (Ga 15,13). Con Thiên Chúa đã yêu các môn đệ là chúng ta đến cùng, nên đã hy sinh chịu chết trên thập giá để đền tội thay và đã sống lại để cứu sống chúng ta để ban cho chúng ta sự sống đời đời. Vậy trong Mùa Phục Sinh này, bạn quyết tâm làm gì để biểu lộ tình thương đối với các người thân yêu trong gia đình mình, noi gương Chúa Giêsu như cậu bé trong câu chuyện trên đã thể hiện ?
2) Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy :
- Câu chuyện : Mục sư Mác-tin Lu-tơ Kinh (Martin Luther King) :
Vào năm 1963, tại Thủ đô Wa-sinh-tân (Washington), 200.000 người đã lắng nghe vị mục sư da đen là Mác-tin Lu-tơ kinh, người đã đoạt giải No-ben Hòa Bình nói chuyện. Nội dung bài phát biểu của ông được cô đọng trong mấy lời như sau : “Tôi ước mơ một ngày kia, trên những cánh đồng miền Gioóc-giơ (Georgia), con cháu của những người nô lệ và của những chủ nôsẽ ngồi chung với nhau trong một bàn tiệc huynh đệ. Tôi mơ ước một ngày kia, 4 người con của tôi sẽ trở về sống trong một đất nước mà chúng sẽ không bị đánh giá, đối xử bất công dựa trên màu da, nhưng là trên những công lao đóng góp xây dựng của chúng …”. Ong luôn cố gắng thực hiện ước mơ đó, dù gặp biết bao khó khăn trở ngại, ganh ghét đố kỵ. Đến năm 1968, Mác-tin lu-tơ Kinh đã ngã gục dưới làn đạn của những kẻ thù ghét ông. Nhưng chương trình hành động của ông vẫn được tiếp tục. Bởi vì ước mơ hòa bình và bình đẳng giữa các dân tộc của ông đã được hàng triệu người trên thế giới đồng cảm cùng quyết tâm thực hiện.
- Suy nghĩ và quyết tâm : Hiện nay tại môi trường bạn đang sống như : khu xóm, trường học, xí nghiệp, nhà máy, công sở, bệnh viện, nhà thờ…có sự kỳ thị về Nam Bắc, tôn giáo, cũ mới, nam nữ…hay không ? Bạn sẽ làm gì để khắc phục tình trạng kỳ thị ấy, hầu xã hội của chúng ta ngày một công bình nhân ái hơn ?
3) “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13) :
- Câu chuyện : “Anh phải sống”.
Có hai vợ chồng nhà kia, hàng ngày cùng nhau vào rừng từ sáng sớm để kiếm củi bó thành từng bó rồi chất lên một chiếc thuyền, xuôi dòng ra chợ bán. Họ phải vất vả kiếm tiền nuôi một gia đình gồm 4 miệng ăn : hai vợ chồng và hai đứa con thơ : Đứa lớn được 7 tuổi và đứa em mới 4 tuổi. Một hôm, vào buổi chiều, trên đường chèo thuyền về nhà thì trời bổng tối sầm và đổ mưa tầm tã. Sấm chớp ầm ầm và gió mạnh làm mặt sông dậy sóng. Chiếc ghe nhỏ bé của họ đầy nước đang trôi nhanh giữa dòng sông và rồi bị lật úp, khiến hai vợ chồng bị văng ra khỏi ghe. Rất may là họ đã bám được vào một thân cây đang trôi gần đó. Tuy nhiên thân cây chỉ đủ cho một người bám. Bấy giờ chị vợ ôm chặt lấy cổ chồng đang khi anh chồng một tay bám vào thân cây, còn tay kia cố bơi vào bờ. Nhưng phần vì bị sóng gió vùi dập, phần phải đỡ vợ nên anh dần dần đuối sức. Cảm thấy mình quá mệt và có nguy cơ cả hai vợ chồng có thể đều chết chìm, người chồng nói với vợ rằng : “Em hãy buông anh ra và bám vào khúc cây rồi cố bơi vào bờ để nuôi các con em nhé!”. Nhưng chị vợ đáp : “Không ! Anh phải sống mà nuôi con !”, rồi chị đã tự buông tay ra cho chìm xuống để anh đủ sức bơi được vào bờ. Sáng sớm hôm sau, người ta thấy người chồng và hai đứa con thơ, đầu chít khăn tang, dắt dìu nhau ra bờ sống lập bàn thờ và thành tâm khấn vái để cầu xin hương hồn người chết phù hộ cho ba bố con.
- Suy nghĩ và quyết tâm : Cao cả thay tình thương của một người vợ, người mẹ ! Chị đã quên mình, sẵn sàng hy sinh chịu chết để cho chồng và con được sống ! Đúng như lời Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Còn bạn, bạn quyết tâm làm gì trong những ngày Mùa Phục Sinh này để chứng tỏ tình thương đối với các người thân yêu ruột thịt của mình ?
HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU
1) Lạy Chúa Giêsu, Con hiểu rằng : Đạo của Chúa lấy giới răn Mến Chúa Yêu người làm căn bản. Nhưng trong thực tế, con đã chưa làm theo giới răn ấy. Lòng chúng con còn đầy sự ích kỷ vụ lợi, trong khi lẽ ra con phải vị tha bác ái. Gia đình chúng con chưa thực sự có tình yêu của Chúa, chưa hiệp nhất yêu thương nhau, trên thuận dưới hòa như Chúa đã dạy. Các bậc cha mẹ hay cãi lộn nhau, vợ chồng chưa quên mình và hy sinh cho nhau, con cái chưa hiếu thảo với cha mẹ, anh chị em chưa thực sự tôn trọng lẫn nhau và chia sẻ tình thương cho nhau.
Vậy lạy Chúa, xin ánh sáng Phục Sinh của Chúa chiếu dọi vào tâm trí chúng con. Xin ngọn lửa tình yêu của Chúa sưởi ấm và biến đổi lòng chúng con ngày một quảng đại hơn. Xin cho tình yêu đích thực của Chúa luôn ngự trị và tỏa sáng trong chúng con. Xin cho chúng con luôn biết cảm thông chia sẻ đón nhận người khác và sẵn sàng quảng đại cho đi. Nhất là xin cho chúng con biết yêu thương đến độ dám hy sinh quên mình để noi gương Chúa xưa. Nhờ đó, ánh sáng vinh quang của mầu nhiệm Phục Sinh sẽ tỏa chiếu rạng ngời trên chúng con.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.
2) Lạy Mẹ Maria. Xưa trong cuộc thương khó của Đức Giêsu, Mẹ đã luôn hiện diện và kết hiệp mật thiết với Người. Mẹ đã cảm thông và chia sẻ với nỗi đau khổ của Chúa. Mẹ đã chấp nhận đi đường thương khó của Chúa, để cùng chết và cùng sống lại vinh quang với Người.
Giờ đây, xin Mẹ giúp chúng con biết noi gương Mẹ : luôn sống mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh trong cuộc đời chúng con, thể hiện trong cách suy nghĩ, nói năng và hành động. Xin cho chúng con mỗi ngày biết chết đi cho những sự ganh ghét hận thù, ích kỷ vụ lợi, đam mê lạc thú bất chính và các thói hư tật xấu. Xin cho ánh sáng Phục Sinh của Chúa chiếu soi vào mọi sinh hoạt của chúng con. Xin cho chúng con biết chia sẻ cảm thông với nỗi đau khổ của người khác. Xin cho chúng con biết nở nụ cười cởi mở để giơ tay ra trước làm hòa với người không ưa chúng con, sẵn sàng đi bước trước đến với người chúng con chưa quen biết. Xin cho chúng con biết nhìn nhận người khác là anh chị em để quên mình mà phục vụ họ, nhất là đối với những người đang đau khổ thể xác cũng như tâm hồn. Xin Mẹ giúp con luôn ý thức rằng : yêu thương không phải chỉ là tình cảm suông, nhưng là hành động cho đi, là luôn hy sinh để làm cho người yêu được hạnh phúc. Xin cho chúng con biết yêu thương bằng tình yêu của Đức Giêsu, Đấng đã tặng cả mạng sống của mình, sẵn sàng chịu chết để chúng con được sống. Nếu chúng con thực hành tình yêu như thế là chúng con đang hòa nhịp với trái tim yêu thương của Chúa, đang làm chứng rằng ‘Thiên Chúa là Tình yêu”, và hy vọng chúng con sẽ trở thành khí cụ bình an của Chúa, và đưa được nhiều anh em về làm con cái Chúa với chúng con.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. -Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

PS6-B16. Hãy yêu thương nhau - Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

Cuộc sống cần tình yêu. Nhân loại cần tình yêu. Mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần: PS6-B16

Cuộc sống cần tình yêu. Nhân loại cần tình yêu. Mỗi người sống trong cuộc đời này đều cần tình yêu. Bạn và tôi cũng thế: rất cần tình yêu. Có thể nói, tình yêu là lẽ sống, là niềm hạnh phúc, là sự bình an của tất cả mọi người không trừ ai. Vì tình yêu quan trọng đến thế, cho nên trước khi rời bỏ thế gian, trước lúc chia tay các tông đồ, những người được Chúa Giêsu yêu thương nhiều, Người đã không để lại một tài sản nào, không trối trăn một kho tàng vật chất lớn lao nào, nhưng chỉ để lại lời di chúc ngắn ngũi, qua đó gởi gắm một tâm tư quí báu: “Các con hãy yêu thương nhau”. Nhờ các con yêu thương nhau, mà tình yêu ấy trở thành dấu chỉ để “mọi người nhận biết các con là môn đệ Thầy”.
Năm 1999, báo Tuổi Trẻ có mở một cuộc thi viết mang tên : “Viết về cha tôi”. Trong cuộc thi này có rất nhiều người con viết về cha mình. Tuy có những người cha không làm tròn bổn phận làm cha, để lại sự u uất có lúc là tất cả nỗi thèm khát tình cha của những đứa con. Nhưng những câu chuyện về những người cha thiếu trách nhiệm không nhiều. Độc giả cảm thấy vui vì những bài viết ca tụng người cha nhiều hơn. Những đứa con ca tụng cha mình, bởi cha nó yêu thương nó.
Sau cuộc thi “Viết về cha tôi” đó, báo Tuổi Trẻ đã gom những bài viết hay thành cuốn sách với tựa đề: “Cao hơn đỉnh Thái”. Trong đó tác giả Nguyên Hương kể về kỷ niệm thời chiến tranh của mình. Giữa lúc bom đạn khói lửa như mưa của tháng 3. 1975, để cứu lấy mạng sống của chính mình, gia đình phải chạy loạn. Chắc lúc đó Nguyên Hương chỉ mới là chú bé 12 hay 13 tuổi gì đó, cũng theo gia đình chạy loạn vào chùa. Trong chùa có vô số người chạy giặc. Sân chùa lớn là thế, bỗng chốc trở thành cả sân người. Ai cũng lộ rõ nét hồi hộp lo sợ trên gương mặt mình. Hình như nỗi hoảng sợ khiến con người ta ít nói hơn. Cả sân người đông đúc nhưng tiếng ồn ào không lớn, nghe như tiếng rì rào của gió.
Giữa lúc mọi người đang nơm nớp sợ hãi, bỗng nhiên tiếng khóc của một đứa bé trên tay một người mẹ trẻ ré lên xé không gian. Tiếng khóc ré đòi sữa của đứa bé bất chấp tiếng đạn réo ngang trời và khói xám mịt mù. Bên cạnh người mẹ trẻ ấy là người cha của đứa bé cũng còn trẻ lắm, đang cố gắng đổ từng muỗng sữa vào miệng con. Người cha đã toát cả mồ hôi mà đứa bé vẫn không chịu uống một giọt nào. Bao nhiêu sữa đổ vào lại trào ra đầy mặt, chảy xuống cổ. Nó nhất định không chịu uống sữa bằng cách đổ từng muỗng vào miệng, chỉ đòi cho được cái chai và núm cao su mà nó vẫn thường mút, vì vội chạy nên cha mẹ của nó đã bỏ quên ở nhà. Tiếng khóc đòi hỏi rất quyền hành, càng lúc càng lớn. Một lúc sau, đứa trẻ đã hết hơi để khóc. Thấy con mình càng lúc càng tái đi vì đói và khóc, người mẹ cũng khóc theo. Thấy vậy, người cha đứng bật dậy, nói với vợ: “Để anh về lấy chai sữa cho con”. Người cha cúi xuống hôn con, rồi nắm tay vợ. Biết đâu đây là lần cuối cùng, anh nựng con, vì ngoài kia, tiếng đạn vẫn cứ réo ngang réo dọc. Người vợ nước mắt chảy dài thương chồng. Chị ôm chân chồng, miệng lắp bắp: “Lỡ có gì…”. Nhưng người chồng gỡ tay vợ ra. Anh chạy đi trong làn đạn mịt mù, ai nhìn thấy cũng thương tâm, hồi hộp lo lắng cho anh…
Mọi người chờ đợi, chờ đợi. Rất lâu, rất lâu sau… Thật may mắn, anh đã trở lại: Và chai sữa trên tay. Tác giả kết luận bằng một câu thật ý nghĩa: “Người cha có còn nhớ lúc liều mình chạy về phía khói lửa hay đã lãng quyên như bao điều cha mẹ đã quyên mình cho con được bình yên”.
Chắc bạn biết, cuộc đời có rất nhiều thứ tình yêu: tình yêu đôi lứa, tình yêu bạn bè, tình yêu đồng đội, tình yêu của anh chị em một nhà… và câu chuyện trên đây là tình yêu của cha mẹ với con cái. Tất cả những tình yêu đó đều cao đẹp, đều phù hợp ý Chúa.
Vì yêu thương là điều Chúa dạy, hơn nữa đó là lệnh truyền của Chúa: “Thầy truyền cho các con điều này là: các con hãy yêu mến nhau”, vì thế không ai có quyền từ chối yêu thương, càng không có quyền thù nghịch anh chị em mình. Có yêu nhau thật lòng, người ta mới có thể sống cho nhau, chết vì nhau. Vì yêu con, người cha trong câu chuyện bên trên đã quên cả mạng sống của mình. Nhưng đâu phải chỉ có tình yêu cha mẹ với con cái mới huyền nhiệm như thế, tất cả chúng ta đều có thể làm gì đó để gọi là yêu thương đối với anh chị em mình. Thử tưởng tượng, một thế giới không có tình yêu, không ai yêu ai, thì thế giới sẽ kinh khủng biết chừng nào. Bởi đi tới đâu, ta cũng chỉ thấy thù hận, bạo động, diệt chủng… Hãy yêu thương, hãy trao tặng cho nhau tình yêu thật lòng để cuộc đời đáng yêu và đáng sống. Tình yêu sẽ làm cho cả ngường đang yêu lẫn người được yêu bình an và hạnh phúc.
Mỗi thánh lễ đều là một cử hành về Tình Yêu lớn lao vô bờ, không phải giữa những con người mà là Thiên Chúa đối với con người. Dâng thánh lễ Chúa nhật thứ VI phục sinh hôm nay, xin cho bạn và tôi gặp lại chính mình là kẻ đã được Chúa yêu, để càng ngày càng ý thức hơn tình yêu bản thân với anh chị em xung quanh. Và xin Chúa luôn thanh luyện tình yêu trong ta để từng lúc, ta biết chân thành yêu Chúa nhiều hơn và yêu người như yêu Chúa, yêu người như Chúa yêu ta.

PS6-B17. Sự kỳ diệu của tình yêu – Gier. Nguyễn Văn Nội.

Sau khi nói về mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa Thày và các môn đệ tựa như mối quan hệ: PS6-B17

Sau khi nói về mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa Thày và các môn đệ tựa như mối quan hệ giữa cành nho với Cây nho, Đức Giêsu hé mở cho các môn đệ nhiều điều. Chúng ta hãy lắng nghe và tìm hiểu Lời Chúa để đón nhận và sống mạc khải của Chúa Giêsu trong các bài Thánh Kinh Chúa nhật VI Phục Sinh này: Đó là sự kỳ diệu của Tình Yêu Thiên Chúa!
Bài Tin Mừng: Ga 15,9-17: Là những lời tâm sự của Đức Giêsu tiếp nối những lời khẳng định về mối quan hệ khắng khít giữa Người và các môn đệ. Có thể coi đây là những bộc lộ hết sức chân tình và cởi mở mà Chúa Giêsu Kitô dành cho các môn đệ. Nếu nói một cách chuyên môn hay bác học, chúng ta sẽ nói rằng: đây là những mạc khải về Mầu Nhiệm Thiên Chúa. Nội dung của những chân lý ấy gắn kết chặt chẽ với nhau:
1o) Chúa Cha yêu mến Chúa Giêsu thế nào thì Chúa Giêsu cũng yêu thương các môn đệ như vậy. Chúa Cha yêu Chúa Giêsu vì Chúa Giêsu đã giữ các điều răn của Cha. Còn Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ đến độ dám hy sinh tính mạng vì các ông: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.”
2o) Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ ở lại trong tình thương của Người để đáp lại tình thương vô biên của Người. Bằng cách tuân giữ các điều răn của Người - như Người đã giữ các điều răn của Cha - mà điều răn lớn nhất là yêu thương nhau, như Chúa đã yêu thương.
3o) Chúa Giêsu đã coi các môn đệ là bạn hữu thân thiết nên đã bộc lộ cho họ biết những điều Người đã biết đã nghe được nơi Cha, tức bản chất thần linh và kế hoạch cứu độ chúng sinh của Cha. Bản chất thần linh của Thiên Chúa là Tình Yêu. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là “Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10,34-35). Điển hình là Thiên Chúa đã ban Thánh Thần cho những người ngoại có mặt tại nhà ông Conêliô, mặc dù họ chưa chịu Phép Rửa.
4o) Chính Chúa Giêsu đã chọn các môn đệ, chứ không phải ngược lại. Người chọn họ để sai họ đi rao giảng, làm chứng cho Nước Trời và cho Tình Thương của Thiên Chúa. Người chọn họ để họ sinh nhiều hoa trái không hư nát.
ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP CỦA LỜI CHÚA: SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
1.Thiên Chúa là Tình Yêu:
Mạc khải cũng là sứ điệp trọng tâm của ba bài Thánh Kinh hôm nay là về bản chất thần linh của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì là Tình Yêu nên mọi việc Thiên Chúa làm, mọi lời Thiên Chúa nói, mọi kế hoạch Thiên Chúa thực hiện đều xuất phát từ Tình Yêu, đem lại Tình Yêu và Sự Sống cho những người được yêu (là hết mọi người) và mời gọi sự đáp trả bằng Tình Yêu. Vì thế kinh nghiệm Tình Yêu phải là kinh nghiệm trung tâm của đời sống con người. Đó chính là điều mà Thánh Gioan đã ám chỉ khi nói: “Ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa” Thiên Chúa Cha đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người cho thế gian. Đức Giêsu đã hiến mạng sống mình cho các môn đệ và toàn nhân loại. Còn Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa mà không quản ngại họ đã hay chưa được thánh tẩy trong Nước.
2. Tình Yêu của Chúa Giêsu đã biến chúng ta trở thành bạn hữu nghĩa thiết của Người.
Một trong những tính chất độc đáo nhất của Tình Yêu là xóa bỏ khoảng cách hay hố phân chia giữa người yêu và người được yêu và làm cho hai người gần nhau, nên giống nhau. Đó là sự san sẻ, là sự bổ sung cho nhau giữa những người yêu nhau. Điều đó đúng trong Tình Yêu Nhân Linh và càng đúng trong Tình Yêu Thần Linh. Trong Tình Yêu Nhân Linh hai người nam nữ yêu nhau và cùng nhau xây dựng một mái ấm, một gia đình, trong đó của chồng là của vợ, của vợ là của chồng; vui buồn sướng khổ của người này là vui buồn sướng khổ của người kia; thành công hay thất bại của người này cũng là thành công hay thất bại của người kia. Vì yêu thương nhau nên không còn ngăn cách giữa hai người. Nếu hai vợ chồng, một người là hoàng tử, một người chỉ là cô bé lọ lem tức thuộc hàng thứ dân, thì chúng ta càng thấy rõ sự san sẻ hay san bằng (về địa vị, quyền thế, tài sản…) giữa hai vợ chồng ấy. Còn trong Tình Yêu Thần Linh, Đức Giêsu đã yêu thương con người đến độ từ bỏ mọi vinh quang của Thiên Chúa, hạ mình làm người và tự hủy ra không, hy sinh cả mạng sống vì con người. Hơn nữa Người còn làm cho con người trở thành bạn hữu nghĩa thiết của Người. Nếu giữa người Cứu (Chúa Giêsu Kitô) và kẻ được cứu (chúng ta) còn có thể có ngăn cách, thì giữa bạn bè thân thiết không thể còn có ngăn cách. Đó chính là điều Chúa Giêsu đã muốn và đã thực hiện cho chúng ta. Vì chúng ta là bạn hữu nghĩa thiết của Người, nên Chúa Giêsu mới bộc lộ tấm lòng, mới vén bức màn ngăn cách giữa Người với chúng ta để (mạc khải) cho chúng ta thấy bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu và sự kỳ diệu của Tình Yêu Thiên Chúa.
3.Tình Yêu đáp trả Tình Yêu:
Vì yêu thương chúng ta vô chừng vô đỗi và vì muốn chúng ta được hạnh phúc vĩnh cửu, Chúa Giêsu tha thiết mời gọi chúng ta hãy ở lại trong Tình Thương của Người, tức đón nhận và tuân giữ các giới răn, các lệnh truyền, các chỉ thị của Đức Giêsu. Trong mọi giới răn, thì yêu thương là giới răn bao hàm tất cả, thống lĩnh tất cả, vượt trội tất cả. Đó là Tình yêu đáp trả Tình Yêu! Chúa đã yêu chúng ta, Chúa chỉ muốn chúng ta yêu lại Người và yêu mọi người cũng là con cái của Chúa như chúng ta, cũng được mời làm bạn với Chúa Giêsu như chúng ta. Yêu thương theo cách, theo mức độ mà Chúa Giêsu đã thể hiển.
* Trước hết chúng ta đáp trả Tình Yêu của Chúa trong đời sống cá nhân bằng cách sống mật thiết gắn bó với Chúa Giêsu, với Thiên Chúa và thể hiện lòng Mến Chúa trên hết mọi sự, tức Mến Chúa hết trí khôn, hết linh hồn, hết sức lực của chúng ta.
* Kế đến chúng ta đáp trả Tình Yêu của Chúa trong đời sống gia đình bằng đời sống hy sinh, phục vụ những người thân với một tình yêu vô vị lợi, không tính toán so đo và giúp mọi người trong gia đình biết yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như Chúa dạy.
* Sau cùng chúng ta đáp trả Tình Yêu của Chúa trong đời sống xã hội bằng đời sống “mình vì mọi người” nhằm mưu ích chung cho cộng đồng, nhất là cho những người yếu kém nhất trong xã hội.
CẦU NGUYỆN
Lạy Thiên Chúa Cha là Tình Yêu, chúng con chúc tụng ngợi khen cảm tạ Cha về sự kỳ diệu của Tình Yêu mà chúng con đã cảm nhận: Vì yêu thương chúng con, Cha đã dựng nên chúng con, đã cứu độ chúng con, đã ban Con Một Cha là Đức Giêsu Kitô cho chúng con. Xin Cha cho chúng con cảm nghiệm mỗi ngày mỗi sâu sắc hơn Tình Yêu của Cha, để chúng con không ngừng ca ngợi Tình Yêu của Cha và làm chứng cho Tình yêu ấy trong mọi môi trường gia đình và xã hội.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con chúc tụng ngợi khen cảm tạ Chúa vì Chúa đã cho chúng con được diễm phúc trở thành bạn hữu nghĩa thiết của Chúa; vì Chúa đã hé mở những bí mật của Thiên Chúa cho chúng con; và vì Chúa đã mời gọi chúng con sống luật yêu thương của Chúa. Xin cho chúng con biết trân trọng Tình Yêu và cách đối xử tuyệt vời của Chúa và biết cách lấy Tình Yêu đáp lại Tình yêu: Yêu Chúa hết lòng hết sức hết linh hồn hết trí khôn. Yêu tha nhân như chính mình, như chính Chúa đã yêu và hy sinh mạnh sống vì người mình yêu.

PS6-B18. Giới răn mới - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn

Chúa Nhật 5 Phục Sinh vừa qua, phụng vụ cho chúng ta thấy hình ảnh của Giáo Hội như là cây: PS6-B18

Chúa Nhật 5 Phục Sinh vừa qua, phụng vụ cho chúng ta thấy hình ảnh của Giáo Hội như là cây nho. Trong đó, Chúa Cha là người trồng nho, Đức Giêsu là thân nho và mỗi người chúng ta là nhành. Tiếp tục những suy tư về Giáo Hội, Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy đâu là nhựa sống nuôi dưỡng cây nho đó và hoa trái của nó là gì. Nếu đọc kỹ bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy chữ “yêu mến” được lập lại tới 9 lần, và nếu tính chung cả các bài đọc thì chữ “yêu, thương yêu, tình yêu” được nhắc tới tất cả là 18 lần. Điều đó cho thấy Tình yêu có một vị trí quan trọng đặc biệt trong Giáo Hội mà Đức Giêsu mới thiết lập. Tình yêu phát xuất từ Chúa Cha qua Đức Giêsu, chính là nguồn nhựa sống phong phú nuôi dưỡng và làm phát triển cả cây nho là Giáo Hội.
Do đó, trong giờ chia sẻ này, tôi muốn được cùng quý ông bà anh chị em, một lần nữa, tìm hiểu về tình yêu của Thiên Chúa đối với từng người chúng ta, để rồi đến lượt mình, chúng ta cũng biết đáp lại tình yêu đó bằng cách sống yêu thương đối với những người đang cùng chúng ta chung sống.
1. Tình yêu của Thiên Chúa: (L’Amour de Dieu)
Trước hết, chúng ta cần xác tín lại với nhau một điều: đó là mọi tình yêu chân thật đều phát xuất từ chính Thiên Chúa, như lời thánh Gioan: “Tình yêu bởi Thiên Chúa mà ra”. Hay nói một cách khác, Thiên Chúa chính là nguồn mạch của mọi tình yêu. Chính trong Tình yêu mà Chúa Cha đã sinh Chúa Con. (Dieu est la source de l’amour)
Như thế, chúng ta nhận ra đặc tính đầu tiên của tình yêu Thiên Chúa, đó là không đóng kín nơi mình mà mở ra cho một đối tượng khác bên ngoài mình, hay nói một cách khác, tình yêu chân thật phải là một tình yêu hướng tới một ai đó khác với mình. Tình yêu của Chúa Cha đã hướng tới Đức Giêsu và chúng ta lại là đối tượng cho tình yêu của Đức Giêsu. Tất cả những điều đó, đã được Đức Giêsu tóm tắt thật ngắn gọn nhưng thật súc tích khi nói: “Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con”. Và đến lượt mình, chúng ta cũng phải yêu thương anh chị em, như lời mời gọi của Đức Giêsu: “Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con”. Như thế, mở ra chính là một trong những dấu hiệu đầu tiên của một tình yêu chân thật. (L’amour ouvert)
Câu chuyện mà chúng ta vừa nghe trong bài sách Công vụ Tông đồ là một minh hoạ cụ thể cho sự mở ra của tình yêu Thiên Chúa. Đoạn trích từ sách Công vụ hôm nay thuật lại việc thánh Phêrô đến nhà Cornêliô để thanh tẩy và ban Thánh Thần cho ông. Chúng ta nên biết rằng, Cornêliô là một viên quan bách quản của Roma, một người dân ngoại dưới cái nhìn của người Do thái. Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu một giai đoạn mới trong sự phát triển của Giáo Hội, bởi vì theo quan niệm của các tín hữu gốc Do thái lúc bấy giờ, Giavê chỉ là Thiên Chúa của riêng họ, dân được Chúa chọn mà thôi. Thế nhưng, tình yêu của Thiên Chúa không thể bị giới hạn bởi suy nghĩ của con người, như lời thánh Phêrô nói ngay khi bước vào nhà Cornêliô,: “Quả thật tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận”. Tình yêu của Thiên Chúa là như thế đó, nó luôn rộng mở sẵn sàng đón nhận hết mọi người, mọi dân tộc, mọi lứa tuổi thuộc mọi nền văn hoá trên khắp thế giới, trong đó có quý ông bà anh chị em và tôi. Từng người chúng ta đang hiện diện trong ngôi Thánh Đường này, ngay trong giờ phút này đây cũng đang được bao phủ bởi Tình yêu mở ra của Thiên Chúa.
Kế đến, dấu chỉ thứ hai của một tình yêu chân thật là luôn tôn trọng người mình yêu. Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đã nói rõ: “Các con là bạn hữu của Thầy”. Mặc dù có một khoảng cách bao la giữa Thiên Chúa chí thánh và chúng ta là thụ tạo đầy tội lỗi, nhưng vì yêu chúng ta, Đức Giêsu vẫn vượt qua, để đến với từng người chúng ta và coi chúng ta như một người bạn tâm phúc, đến nỗi Ngài có thể chia sẻ trọn nỗi niềm của Ngài cho chúng ta như lời Ngài nói: “Thầy gọi các con là bạn hữu vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết”. Vì yêu thương, Ngài đón nhận trọn vẹn con người của chúng ta như chúng ta là, nghĩa là Ngài đón nhận toàn thể con người chúng ta với tất cả những ưu điểm cũng như những yếu đuối của chúng ta. Ngài đón nhận để rồi tha thứ cho chúng ta như lời thánh Gioan: “Điều này biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là Thiên Chúa chúng ta đã sai Con Một Người đến trong thế gian, để nhờ Ngài mà chúng ta được sống… Chính Người đã yêu thương chúng ta trước, và đã sai Con Một Người đến hy sinh đền thay vì tội lỗi chúng ta”.
Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là thế đó. Nó bao la, rộng mở như tấm lòng Người Cha nhân lành chiều chiều vẫn ra đứng trước ngõ để chờ đón chúng ta là những người con tội lỗi trở về mà không một lời trách mắng (x. Lc 15, 11-32). Cũng như dòng nhựa trong cây nho không dừng lại ở bất cứ một điểm nào, nhưng lưu truyền khắp nơi để nuôi sống cây nho, khi trao ban cho chúng ta tình yêu luôn mở ra của Ngài, Thiên Chúa cũng muốn chúng ta sống tình yêu đó với anh chị em của mình. Đây cũng chính là lệnh truyền và là ước vọng của Đức Kitô: “Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con”.
2. Sống tình yêu: (Pratiquer l’amour dans la vie quotidienne)
Tuy nhiên “không ai có thể cho điều mình không có”. Do đó, để có thể sống yêu thương như Đức Kitô đã dạy, điều đầu tiên, mỗi người chúng ta cần, là phải có tình yêu của Đức Kitô trong chúng ta. Mà muốn có tình yêu của Đức Kitô, chúng ta chẳng còn cách nào khác hơn là thực hiện điều Ngài dạy chúng ta: “Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người”.
Hơn nữa, sống yêu thương không những là một lệnh truyền, nhưng còn là một dấu chỉ chứng tỏ rằng chúng ta đã được sinh ra bởi Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa. Đây là điều mà thánh Gioan, vị thánh của tình yêu đã nói lên với tất cả xác tín của mình: “Hễ ai thương yêu thì đã sinh bởi Thiên Chúa, và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”.
Khi yêu thật, yêu theo cách của Thiên Chúa người ta không chỉ nghĩ đến mình, cho bằng nghĩ đến lợi ích và nhu cầu của người mình yêu. Đây là một điều thật tự nhiên, nhưng có lẽ trong cuộc sống thường ngày, tôi và quý ông bà anh chị em chưa sống đủ. Mỗi khi làm bất cứ việc gì, chúng ta vẫn thường nghĩ đến mình trước: điều này đem lại cho tôi lợi ích gì? Những quyền lợi này không chỉ là quyền lợi vật chất, nhưng có khi là một lời khen, một tấm bằng danh dự… Do đó, chúng ta chỉ thực sự sống yêu thương nhau theo mẫu gương của Đức Kitô khi chúng ta biết nghĩ đến những nhu cầu và hoàn cảnh của người khác, và luôn mở rộng tấm lòng, sẵn sàng đón nhận họ với những giới hạn của họ để giúp họ lớn lên, và thăng tiến theo khả năng, hoàn cảnh riêng của họ chứ không phải theo sự áp đặt chủ quan của chúng ta. Đây là điều không phải dễ đối với sức tự nhiên của chúng ta, nhưng với ơn Chúa thì mọi sự đều có thể.
Giờ đây, ý thức sự giới hạn của mình, mỗi người chúng ta hãy dọn tâm hồn sốt sắng để đón nhận Nguồn Tình yêu là Đấng Phục Sinh trong bí tích Thánh Thể, và nhờ sức mạnh của Ngài nâng đỡ, chúng ta sẽ biết cách sống yêu thương tha nhân như Ngài đã yêu chúng ta. Amen.

PS6-B19. PHÉP LẠ CỦA TÌNH YÊU - Mark Link S.J.

Bài đọc: Cv 10 : 25-26. 34-35, 44-48;1 Ga 4 : 7-10 ; Ga 15 : 9-17
Chủ đề:
Tình yêu làm nên những phép lạ nơi những kẻ tin vào tình yêu và thực hiện tình yêu.

Cách đây mấy năm tập san Reader’s Digest có thuật lại một câu chuyện cảm động về một em: PS6-B19

Cách đây mấy năm tập san ReaderỴs Digest có thuật lại một câu chuyện cảm động về một em bé trong bệnh viện Milwaukee. Em này bị mù, đần độn, lại còn bị liệt não nữa. em chỉ khá hơn loài thảo mộc một chút là biết đáp ứng lại âm thanh và sự ve vuốt mà thôi cha mẹ em đã bỏ rơi em. Nhưng bệnh viện cũng chả biết xử lý thế nào với trường hợp của em. Thế rồi có một người nhớ đến May Lempke, cô y tá 52 tuổi sống gần đấy. Cô nầy đã từng nuôi nấng năm đứa con của chính mình, nên cô sẽ biết cách chăm sóc cho một đứa trẻ như thế. Họ yêu cầu cô chăm sóc đứa bé và bảo: ẪThằng bé có lẽ sẽ chết yểu!Ữ. May trả lời: ẪNếu tôi chăm sóc đứa bé, nó sẽ không chết yểu đâu, và tôi rất sung sướng được chăm sóc cho nóỮ.
Thế là May đặt tên cho cậu bé là Leslie. Chăm sóc cho cậu bé quả thật không dễ dàng chút nào. Ngày nào cô cũng phải xoa bóp toàn thân đứa bé, cô đã cầu nguyện cho nó, đã khóc vì nó, cô đã đặt đôi tay nó lên những giọt lệ của cô. Một hôm, có người nói với cô: ẪTại sao cô không gởi đứa bé ấy vào viện? Nó chỉ làm phí cuộc đời của cô thôi?
Leslie càng lớn thì càng có nhiều vấn đề phải đặt ra cho May. Cô phải giữ nó chặt vào một chiếc ghế để nó khỏi bị té xuống. Thời gian trôi qua, năm mười, mười lăm năm. Mãi đến khi Leslie 16 tuổi, May mới có thể tập cho nó đứng một mình được. Suốt thời gian đó, May vẫn tiếp tục yêu thương và cầu nguyện cho cậu bé. Ngoài ra cô còn kể cho cậu bé nghe những mẩu chuyện về Chúa Giêsu dù xem ra cậu chẳng nghe được tiếng cô.
Thế rồi một ngày nọ, May chợt nhận thấy Leslie dùng ngón tay của mình búng vào một sợi dây căng thẳng trên một gói đồ. Cô tự hỏi; điều ấy có ý nghĩa gì? biết đâu Leslie lại nhạy cảm với âm nhạc chăng? Và May bắt đầu cho Leslie nghe âm nhạc. Cô chơi đủ loại hình âm nhạc mà cô tưởng tượng ra được với hy vọng có một loại nào đó có thể lôi cuốn cậu bé. Cuối cùng, May và chồng cô mua được một chiếc dương cầm cũ kỹ đã xài rồi. Họ đặt nó vào giường ngủ của Lislie. May cầm những ngón tay của Leslie đặt vào tay nàng và tập cho cậu bé biết cách nhấn phím xuống, nhưng xem ra cậu ta chả hiểu.
Thế rồi vào một đêm đông năm 1971, May bừng thức giấc vì nghe có tiếng đờn của ai đó đang chơi bản hoà tấu dương cầm số 1 của Tchaikovsky. Cô lay lay chồng đánh thức ông dậy, và hỏi xem ông có quên tắt radio không. Ông ta nói rằng không, nhưng họ quyết định tốt hơn là nên xem xét lại. Và họ khám phá ra một điều vượt khỏi mọi giấc mơ kỳ quái nhất của họ. Cậu Leslie đang ngồi tại chiếc dương cầm. Cậu đang mỉm cười và chơi đàn một cách ngẫu hứng không thể nào tin được đây là sự thật!
Trước đây Leslie chưa bao giờ bước ra khỏi giường một mình. Trước đây cậu bé chưa bao giờ tự mình ngồi vào chiếc dương cầm được, cậu cũng chưa bao giờ tự dùng tay ấn được vào phím đàn. Thế mà bây giờ đây cậu lại đang chơi đàn tuyệt vời như thế ! May vội quì gối xuống và thốt lên: « Lạy Chúa ! Con xin cảm tạ Ngài, Ngài đã không bỏ quên Leslie ».
Chẳng bao lâu, Leslie bắt đầu kiếm sống bằng cây dương cầm. Cậu chơi được nhạc cổ điển, nhạc đồng quê miền tây, nhạc trữ tình, nhạc dạo và cả nhạc Rock nữa. Hoàn toàn không thể nào tin nổi. Tất cả những bài nhạc May đã từng chơi cho cậu nghe đều tồn trữ trong óc cậu và giờ đây tuôn trào ra trên phím dương cầm qua đôi tay cậu. Giờ đây ở tuổi 28, Leslie bắt đầu nói chuyện. Tuy không thể đối thoại lâu giờ. Nhưng cậu có thể đặt câu hỏi, trả lời những câu đơn giản và phát biểu được những lời phê bình ngắn gọn. Chẳng hạn, một buổi tối kia, đang xem một vở hài kịch trên Truyền hình, cậu cảm thấy cuộc đối thoại chán ngắt, cậu bèn nói:
« Tốt hơn là chúng ta nên tắt nó đi, cả bọn chỉ toàn là lũ điên ! ».
Dạo này, Leslie chơi nhạc hoà tấu cho những ca đoàn nhà thờ, cho các cơ quan dân sự, cho các nạn nhân liệt não và cha mẹ họ, cậu còn xuất hiện cả trên đài truyền hình quốc gia nữa ! các bác sĩ mô tả Leslie như là một người thông thái bị mắc một loại tâm bệnh, nghĩa là một người chậm phát triển về trí tuệ do tổn thất nơi não nhưng lại cực kỳ tài năng. Họ không thể cắt nghĩa được hiện tượng dị thường này cho dù họ biết về nó gần 200 năm rồi. May Lempke cũng không thể cắt nghĩa được điều ấy nhưng cô biết chắc rằng nhờ tình yêu mà tài năng ấy được khai mở.
Chúng ta cần đọc đi đọc lại nhiều lần câu chuyện của May Lempke với những gì cô đã làm được cho Leslie nhờ tình thương không mệt mỏi của cô. Nó đặc biệt thích hợp với chúng ta ngày nay vì ba lý do;
Thứ nhất, bằng một cốt chuyện gây cảm động, câu chuyện cụ thể hoá sứ điệp hàm chứa trong các bài đọc hôm nay, được gọi là giáo huấn của Đức Giêsu về việc yêu thương nhau.
Thứ hai, nó đã cụ thể hoá thành một cốt chuyện lý do tại sao chúng ta lại dành ngày hôm nay để làm ngày CÁC BÀ MẸ, bởi vì, thông thừơng, các bà mẹ sống lời Đức Giêsu dạy về tình thương một cách kiên nhẫn và trung thành hơn bất cứ nhóm người nào khác.
Sau cùng, câu chuyện cũng cụ thể hoá năng lực kinh khủng của tình yêu. Những gì mà May đã làm vì tình yêu cho Leslie qủa thật là lạ lùng. Đó chính là những gì Đức Giêsu đòi hỏi phải có cho một tình yêu thương đích thực. Đó là một phương cách để tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại này, đúng như cách Đức Giêsu đã tạo nên những phép lạ trong đời sống của những người thuộc thời đại Ngài.
Qua tình yêu, Thiên Chúa đã để chúng ta tùy nghi sử dụng cái năng lực mãnh liệt nhất, trên thế gian này, đó là thứ năng lực mà mọi tiền của trên thế gian không thể mua được. Đó là thứ năng lực mà mọi tri thức trên thế gian không thể tạo ra được. Đó là thứ năng lực mà mọi lãnh tụ trên thế giới không thể chiếm hữu được. Đó cũng là thứ năng lực mà mọi đạo quân trên trần thế không thể tập trung lại được. Và kiều kỳ diệu hơn nữa, Tình yêu là năng lực mà mọi người đều có.
Bất chấp nam hay nữ
Bất kể thuộc tôn giáo nào
Bất kể thuộc quốc tịch nào
Bất kể được giáo dục theo phương pháp nào.
Tình yêu chẳng dành riêng cho người khoẻ mạnh
Cũng chẳng dành riêng cho người giàu có
Cũng chẳng dành riêng cho kẻ khôn ngoan
Cũng chẳng dành riêng cho người danh giá.
Tình yêu dành cho tất cả mọi người
Tình yêu làm cho tất cả chúng ta bình đẳng
trước mặt Thiên Chúa và bình đẳng đối với nhau.
Đây chính là Tin Mừng chứa đựng trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay. Đây là Tin Mừng có khả năng biến đổi thế giới chúng ta một cách tuyệt hảo chẳng khác nào tình yêu của May Lempke đã biến đổi thế giới của Leslie. Đây chính là Tin Mừng mà chúng ta phải rao to từ trên mái nhà và sống nó thật trọn vẹn.
Và nếu chúng ta là được thế, chúng ta cũng có thể làm được những phép lạ bằng tình yêu của chúng ta ngay trong kiếp sống này y như Đức Giêsu đã làm nên những phép lạ nhờ vào tình yêu của Ngài trong thời gian Ngài sống trên dương thế.

PS6-B20. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - N. Quesson

ẪKhông có tình yêu nào mạnh hơn là thí mạng sống vì bạn hữuỮ

Trong một thị trấn nhỏ ở Liên xô, một số người Do Thái giáo đang chờ vị giáo trưởng của họ. Từ: PS6-B20

Trong một thị trấn nhỏ ở Liên xô, một số người Do Thái giáo đang chờ vị giáo trưởng của họ. Từ lâu rồi, cộng đoàn này không có người lãnh đạo. Vị giáo trưởng lại quá xa nên mỗi năm ông chỉ tới thăm cộng đoàn được một lần. Hôm nay ông lại tới, ai cũng chuẩn bị sẵn nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc mong được ông giải đáp. Khi vị giáo trưởng tới ai nấy đều vui mừng chờ vị giáo trưởng lên tiếng. Ông im lặng nhìn cử toạ một lúc rồi cất tiếng, hát lên một bài quen thuộc, mọi người hoà giọng hát theo. Ai cũng tưởng đó là một lối bắt đầu buổi sinh hoạt. Nhưng hết bài hát mở đầu, vị giáo trưởng lại bắt lên một bài hát nữa. Và ông đứng lên rời bàn chủ toạ, xuống giữa cộng đoàn vừa hát vừa nhảy múa theo điệu ca. Mọi người đều đứng dậy và nhảy theo ông. Cả cộng đoàn cùng nắm tay nhau, hoà mình vào điệu nhạc, vui tươi khắng khít trong cảm thông, hiệp nhất& chất dứt các vũ điệu, ai nấy về chỗ ngồi. Vị giáo trưởng hỏi: ẪChắc anh chị em có nhiều điều muốn nói?Ữ. Nhưng ai nấy đều quên hết mọi băn khoăn thắc mắc và đều thấy thoả mãn, không cần hỏi han gì nữa,.
Câu chuyện nhỏ làm ta nghĩ tới thái độ Thiên Chúa đối với nhân loại. Sau nhiều năm tháng khao khát chờ mong, Thiên Chúa đã giáng sinh làm người ở giữa chúng ta. Thái độ thân mật và khiêm tốn đó đã là một bài học quan trọng và đầy đủ nhất cho nhân loại. Cốt lõi của bài học cho thấy Thiên Chúa chính là Tình yêu.
Thiên Chúa là Tình yêu. Thiên Chúa không cô đơn âu sầu, nhưng là một niềm hân hoan trong tình yêu trao đổi không ngừng giữa các Ngôi vị. Chúa Cha yêu Chúa Con. Tình yêu này chan hoà niềm vui tới Chúa Thánh Thần. tình yêu đó đã trở thành hữu hình khi Ngôi Hai nhập thể: Chúa Giêsu Nagiaret.
Ngôi Hai nhập thể để thể hiện tình yêu. Tình yêu Thiên Chúa nơi trần gian. ẪCha Thầy yêu Thầy thế nào, Thầy cũng yêu các con như vây&Ữ. Kể từ Chúa Giêsu, liên hệ giữa Thiên Chúa và nhân loại hoàn toàn thay đổi. Không còn là chủ và tớ, không còn là Thượng Đế và phàm nhân nhưng thành bạn hữu: ẪThầy không còn là Thượng Đế và phàm nhân nhưng thành bạn hữu: ẪThầy không gọi các con là tôi tớ, nhưng là bạn hữuỮ. Một tình yêu ngang hàng, chia sẻ, cảm thông. ẪTất cả những gì Thầy biết về Cha, Thầy đều cho các con biếtỮ. Không còn gì bí mật, giấu ẩn. và mức độ tình yêu đó với con người đã tới điểm cao nhất, tới mức vô biên: ẪNgười vốn thương những kẻ thuộc về Mình nơi trần thế, Người đã yêu thương họ tới cùngỮ. (Ga 13,1). Tới cùng nghĩa là đến chết vì họ, chết vì bạn hữu, chết khổ nhục trên thập giá.
Tình yêu Thiên Chúa chan hoà cho nhân loại cốt để loài người yêu thương nhau.
Yêu nhau, yêu người này người nọ, đó là những người chung quanh, những người trong gia đình, trong môi trường sống, trong nơi làm việc. Tất cả mọi người tôi gặp gỡ, tôi đều có trách nhiệm yêu thương như yêu thương Chúa, và tới mức độ như Chúa đòi, như Chúa đã yêu thương.
Như vậy tình yêu giữa chúng ta không phải chỉ là một chuyển thông ngang hàng, mà còn là chiều hướng đi lên. Vừa tỏa lan theo đường lối Chúa, vừa trao đổi giữa ta với Chúa trên cao độ: ẪHãy ở trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân giữ lời ThầyỮ.
Khi người ta biết yêu thương người khác, và bày tỏ tình yêu qua hành vi dù đơn sơ nhỏ bé chỉ với mục đích tạo niềm vui cho người mình yêu thì tất cả những bực bội, hiểu lầm hiềm khích, giận hờn& sẽ tan đi như những giọt sà bông đẩy tan những vết dầu loang.
Lạy Chúa xin giúp chúng con yêu mến Chúa trọn vẹn, vì Chúa đã yêu thương chúng con thật tình. Và xin giúp chúng con yêu thương mọi người như Chúa đã yêu thương chúng con.

PS6-B21. GIÚP NGƯỜI YÊU MẾN - Gm. Arthur Tonne

Một trong những câu chuyện hấp dẫn của Đức Giáo Chủ Gioan XXIII có kể rằng: một lần Ngài: PS6-B21

Một trong những câu chuyện hấp dẫn của Đức Giáo Chủ Gioan XXIII có kể rằng: một lần Ngài hội thảo về một vấn đề nền tảng của đức tin với một số vị lãnh đạo của Giáo hội. Ngài hỏi: Qúi vị nghĩ đâu là mục đích của đời sống? Các vị lần lượt trả lời, những câu trả lời bình thường, đúng. Đó là : Mục đích của cuộc sống là nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa trong cuộc đời này để được hạnh phúc với Chúa đời đời trên trời. Đức Giáo chủ Gioan mỉm cười, nhưng người lắc đầu. Sau cùng người nêu lên câu trả lời người muốn hỏi Ẫquí vị trả lời đúng, như từ xưa tới nay. Mục đích của đời sống là nhận biết yêu mến và phụng sự Chúa. Nhưng chưa đủ. Chúng ta còn phải giúp người khác nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa nữa.
Cũng như nhiều giáo huấn và thực hành của đức tin công giáo. Đức Giáo chủ đã cho chân lý nền tảng của đạo chúng ta một chiều kích khác, một góc cạnh quan trọng khác. Một góc cạnh mà chúng ta áp đụng điều Đức Giêsu nói với chúng ta hôm nay: một bằng chứng lớn lao về tình yêu của chúng ta đối với Chúa là tuân giữ các giới răn của Chúa. Chúng ta tuân giữ không phải như một đầy tớ, mà như một người bạn, không với tinh thần sợ hãi nô lệ, nhưng với lòng mến yêu chân thật đối với Cha.
Đức Giêsu nói thêm: ẪTa truyền cho các con một điều này: ẪHãy yêu thương nhauỮ
Một phương cách yêu người là giúp người yêu Chúa. Làm sao chúng ta có thể giúp người khác yêu Chúa, nghĩa là làm đẹp lòng Chúa? Thưa: Bằng cách giúp họ tuân giữ các giới răn: các giới răn này cho chúng ta biết những gì làm vui lòng Chúa. Những gì làm mất lòng Chúa. Mỗi lần cắt nghĩa giới luật của Chúa cho một người khác, là chúng ta giúp người ấy biết điều gì làm đẹp lòng Chúa. Bạn giữ luật Chúa là cách giảng lề luật hiệu nghiệm nhất. cha mẹ là thày. Thầy dạy trước nhất và hữu hiệu nhất những gì Chúa muốn họ chứng tỏ tình yêu của họ cho con cái bằng cách giúp con trai, con gái của họ biết cái gì là phải, cái gì là sai, đó là động lực và là lý do cho mọi người dạy về các giới răn.
Giới thiệu báo chí công giáo, giáo lý, sách hay, ấn phẩm cho những người không phải Kitô hữu, hoặc không phải công giáo cũng có thể là bước đầu giúp họ yêu Chúa.
Tôi xin giới thiệu vài phương cách điển hình để giúp người khác yêu Chúa. Một phụ nữ mang thai bất đắc dĩ, nàng bị cám dỗ giết con nàng. Bạn hãy giúp nàng, bằng mọi cách bạn hãy cứu đứa nhỏ. Và như vậy bạn giúp nàng làm đẹp lòng Chúa.
Với việc đến đây thờ phụng Chúa đều đặn, bạn đang khích lệ người khác công giáo cũng như không công giáo giữ ngày của Chúa.
Bằng việc tôn kính danh thánh Chúa, bạn cũng giúp người khác tôn kính như vậy. Bằng cách làm việc chu đáo, trả lương đầy đủ, trả nợ sòng phẳng, tôn trọng tài sản của người khác là bạn đã giúp người ta giữ luật Chúa: ẪNgươi đừng trộm cắpỮ.
Bằng cách tránh những lời đàm tiếu, cố gắng nói tốt cho mọi người, bạn đã giúp họ gia đình  bạn, bạn bè của bạn tôn trong danh dự người khác.
Bằng sự trong sạch trong lời nói, việc làm, bạn giúp người khác giữ luật trong sạch giới răn thứ sáu. Nhất là giữ luật Chúa. Điều đó chứng tỏ bạn yêu họ hơn là bạn để cho họ làm mất lòng Chúa, bởi phá luật của Chúa với tình yêu giả dối.
Hãy xin Chúa trong và qua Hy tế thánh này giúp chính bạn nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa và giúp bạn, giúp người khác nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa.
Xin Chúa chúc lành bạn.

PS6-B22. Như Thầy đã yêu thương anh em.

Sách "DIEU SI PROCHE" (Thiên Chúa thật gần)

Trước Đức Giêsu , Đức Khổng Tử đã khuyên mọi người hãy đối xử thân ái với nhau vì người trong: PS6-B22

Trước Đức Giêsu , Đức Khổng Tử đã khuyên mọi người hãy đối xử thân ái với nhau vì người trong bốn bể đều là anh em với nhau. Nhưng chưa có ai giảng dạy về tình yêu một cách đơn giản, trực tiếp và cụ thể như Đức Giêsu . Có lẽ vì vậy mà chúng ta tưởng đã hiểu hết được lời Ngài . Còn gì để dễ hiểu hơn câu: "Anh em hãy thương yêu nhau". Thực ra chúng ta thường hay quên vế sau: "Như Thầy đã yêu thương anh em". Với vế sau này, Chúa dậy chúng ta phải yêu thương đồng loại như thế nào. Không phải một tình yêu chung chung mơ hồ nào đó, mà là tình yêu của Trái tin Đức Giêsu , là lò lửa mến hằng cháy. Chúa đã đem lửa đến thế này, để làm nên một đám cháy rừng vĩ đại. Để thay đổi hẳn bộ mặt của địa cầu đầy ghét ghen thù hận này. Chúa đến để làm một cuộc cách mạng, rung chuyển tận gốc rễ xã hội. Chúa đến để phá bỏ hàng rào xã hội loài người đặt ra để ngăn cách những người tội lỗi với những người tự phong là lành thánh, ngăn cách giữa những người ngu si mê muội và những kẻ vỗ ngực là thông kim bác cổ, giữa những người giầu và những người nghèo, giữa những kẻ bị loại trừ và các quan viên ăn trên ngồi trước. Không còn những vách ngăn, không còn những rào cản kỳ thị, mọi người sẽ là anh em, vì là con cùng một Cha trên trời, " Đấng đã yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban chính Con một Ngài cho thế gian". Cho nên Đức Giêsu đã đưa ra một mẫu gương khác: "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy". Nghe câu nói này, chúng ta đã tiếp cận tầng sâu kín của mầu nhiệm về Tình yêu Thiên Chúa . Yêu thương đối với chúng ta, từ nay sẽ là khởi động trong cuộc sống phàm trần của chúng ta một nguồn năng lượng rực sáng, tốt lành, sáng tạo xuất phát từ  chính Thiên Chúa . Yêu thương là sống cuộc sống của Thiên Chúa và cùng với Thần Khí của Ngài , biến đổi thế giới thù hận thành thế giới yêu thương, vị tha.
Nếu mỗi người chúng ta từng giây phút đón nhận sự sống của mình như một ân huệ và lại đem trao tặng sự sống ấy cho người đồng loại, thì chẳng bao lâu mùa xuân yêu thương sẽ đến trên địa cầu này. Lúc đó, địa cầu này sẽ không còn là "chốn khách đầy, là nơi khóc lóc" nữa, mà là thiên đàng hạ giới vậy.

PS6-B23. HÃY YÊU MẾN NHAU NHƯ THẦY YÊU MẾN ANH EM

Nếu chúng ta chú ý sẽ nhận ra trong suốt mấy tuần vừa qua, và sẽ còn thêm một tuần nữa cho: PS6-B23

Nếu chúng ta chú ý sẽ nhận ra trong suốt mấy tuần vừa qua, và sẽ còn thêm một tuần nữa cho tới Lễ Đức Giê-su Thăng Thiên, cả ngày thường lẫn Chúa Nhật, Phụng Vụ Lời Chúa đã chọn đọc liên tiếp các chương 14, 15 và 16 của Tin Mừng theo Thánh Gio-an. Đó là những lời cáo biệt cuối cùng của Đức Giê-su trước khi Ngài ra đi chịu chết. Do vậy, cũng có thể xem đây như là những lời trăn trối thống thiết nhất, một di chúc thiêng liêng của Thầy đối với trò, của Thiên Chúa đối với nhân loại, đối với mỗi người chúng ta.
Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa cùng nhau công bố hôm nay có thể nói là nằm ở ngay chính giữa bối cảnh đầy xúc động ấy, là đỉnh cao của lời di huấn trực tiếp từ miệng, từ nỗi lòng của Đức Giê-su. Để thấm thía với từng lời quý giá ấy, xin mời chúng ta cùng nhau đọc ít là 3 lần, với 3 cách đọc khác nhau, với 3 kiểu xưng hô khác nhau ở 3 thời điểm khác nhau.
Lần đọc thứ nhất: Chính Đức Giê-su nói với chúng ta
Đức Giê-su muốn bày tỏ tấm lòng yêu mến của Ngài đối với các môn đệ, cũng là đối với chính mỗi người chúng ta hôm nay. Ngài chọn cách thức so sánh tương đồng ngang bằng nhau: Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào thì Thầy cũng yêu mến anh em y như vậy ! Không hề có khác biệt, không hề có một chút gì sút giảm, xuống thang từ cấp độ giữa Chúa Cha và Ngài trong cõi của Thiên Chúa, và giữa Ngài với con người trong cõi trần gian này. Chúa Cha đã yêu mến Chúa Giê-su thế nào thì Chúa Giê-su cũng yêu mến chúng ta y như vậy !
Thật tuyệt vời ! Lời bộc bạch của Đức Giê-su giống như một lời cam kết được công bố cho chúng ta, thật đúng là một Tin Vui, một Tin Lành, một Tin Mừng trong thời buổi vàng thau lẫn lộn này, đang khi chúng ta cảm thấy dường như chẳng còn có ai trên đời này yêu mến chúng ta một cách trọn vẹn, vô vị lợi. Giả như có ai đó cư xử tốt với chúng ta, chúng ta cũng vẫn cứ ngờ ngợ hồ nghi, sợ lại bị lừa bị gạt như đã từng bị lừa bị gạt nhiều lần đau đớn trong đời mình.
Lần đọc thứ hai: Chúng ta nói với nhau bằng Lời của Đức Giê-su
“Chúa Cha đã yêu mến Chúa Giê-su thế nào, thì Chúa Giê-su cũng đã và mãi luôn yêu mến tất cả chúng ta như vậy... Chúng ta hãy ở lại trong tình thương của Chúa Giê-su. Nếu chúng ta tuân giữ các điều răn của Chúa Giê-su giống như Chúa Giê-su đã luôn tuân giữ các điều răn của Chúa Cha và luôn ở lại trong tình thương của Chúa Cha, thì chúng ta cũng sẽ được ở lại trong tình thương của Chúa Giê-su y như thế... Tất cả các điều ấy, Chúa Giê-su đã nói với chúng ta là để cho niềm vui của Chúa Giê-su luôn ở trong chúng ta, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn...
Đây là điều răn của Chúa Giê-su: Đó là chúng ta hãy yêu thương nhau y như Chúa Giê-su đã yêu thương chúng ta. Không ai có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Chúng ta được coi là bạn hữu của Chúa Giê-su, nếu như chúng ta thực hiện những điều Chúa Giê-su đã truyền dạy...
Chúa Giê-su không còn gọi chúng ta là tôi tớ nữa, vì tôi tớ thì chẳng thể nào biết được việc ông chủ làm. Nhưng Chúa Giê-su gọi chúng ta là bạn hữu, vì tất cả những gì Chúa Giê-su đã nghe được nơi Chúa Cha, Chúa Giê-su đã cho chúng ta được biết hết...
Không phải chúng ta đã chọn Chúa Giê-su, nhưng chính Chúa Giê-su đã chọn chúng ta, và cắt cử chúng ta để chúng ta ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của chúng ta sẽ tồn tại mãi mãi, hầu tất cả những gì chúng ta xin cùng Chúa Cha nhân danh Chúa Giê-su, thì Chúa Cha sẽ nhậm lời mà ban cho chúng ta... Điều Chúa Giê-su truyền dạy chúng ta, đó là chúng ta hãy yêu thương nhau”.
Chúng ta có thể hình dung ra: kể từ khi Đức Giê-su nói những lời bộc bạch tâm huyết như thế, những lời di chúc chân tình như thế với các môn đệ, trải qua hàng năm qua, ở đây ở đó, lúc này lúc khác, trên thế giới, giữa lòng nhân loại vẫn có những đôi vợ chồng thủ thỉ với nhau những lời nhắn nhủ như thế; vẫn có những người cha người mẹ lập lại những lời khuyên dạy ấy cho các con; vẫn có những bài giảng của các Linh Mục lặp lại lệnh truyền ấy cho cộng đoàn tín hữu trong các Giáo Xứ; vẫn có những Nhóm Chia Sẻ Lời Chúa quây quần bên nhau cùng ôn lại những lời mời gọi tha thiết ấy. Và hôm nay, chính mỗi người chúng ta cũng vừa đọc đi đọc lại mấy lần, vẫn là đoạn Tin Mừng ấy...
Nhưng tại sao Hội Thánh lại cứ phải cất lên mãi một lời mời gọi như thế ?
Là bởi vì trên thế giới vẫn còn đó những chiến tranh hận thù; vẫn còn đó những khủng bố bạo động; vẫn còn đó những tập đoàn kinh tế chỉ biết chạy theo lợi nhuận mà bất chấp lương tri !
Nhưng tại sao Hội Thánh lại cứ phải nhắc nhở mãi một lệnh truyền như thế ?
Là bởi vì trong xã hội vẫn còn đó quốc nạn hối lộ tham nhũng; vẫn còn đó những ông chủ lớn và nhỏ bóc lột người làm công – đa số là người di dân nghèo từ nông thôn về thành thị – ngày một tinh vi và tàn nhẫn hơn; vẫn còn đó những mảnh đời bị bạc đãi và chà đạp; vẫn còn đó những nghèo thiếu ăn thiếu mặc, mù chữ, bệnh tật, vẫn còn đó hơn hai triệu ca phá thai hàng năm chỉ riêng tại Việt Nam; vẫn còn những đường dây buôn lậu, cung cấp thuốc phiện, ma túy để hủy họai giới trẻ; vẫn còn đó những em bé sơ sinh bị vất bỏ ở bãi rác; vẫn còn đó những trẻ bụi đời lang thang nơi hè phố, moi móc những đống rác trong hang cùng ngõ hẻm; vẫn còn đó hàng trăm ngàn căn nhà ổ chuột rách nát không xa những khách sạn, vũ trường sa hoa lộng lẫy; vẫn còn đó biết bao nhiêu gia đình đổ vỡ tan nát vì rượu chè, cờ bạc, cá độ, bạo hành và ngoại tình; vẫn còn đó rất nhiều đứa con bất hiếu với cha mẹ; vẫn còn đó không hiếm những học trò làm nhục thầy cô giáo; vẫn còn đó một số bác sĩ, dược sĩ thiếu lương tâm đối với các bệnh nhân nghèo; vẫn còn đó sự khinh miệt kỳ thị đối với người anh em dân tộc miền cao, với người bệnh phong, người bệnh HIV – AIDS...
Nhưng tại sao Hội Thánh lại cứ phải xét mình sám hối mãi trước một điều răn như thế ?
Là bởi vì, đau đớn thay, ngay cả trong nội bộ Giáo Hội cũng vẫn còn đó những chia rẽ khích bác nhau và ly giáo; ngay trong Giáo Xứ, trong các Đoàn Thể vẫn còn đó những tranh giành địa vị quyền lợi; vẫn còn đó những vị chủ chăn chưa yêu thương chăm sóc đoàn chiên của mình một cách tận tụy chu đáo; vẫn còn đó những án tuyệt thông được vung lên vô tội vạ về phía những người Giáo Dân thấp cổ bé miệng...
Và để làm chi vậy ?
Lệnh truyền yêu thương của Đức Giê-su vẫn cứ luôn được công bố, được xướng lên giữa cộng đoàn, giữa gia đình, giữa lòng thế giới, chính là để Hội Thánh, để bản thân mỗi Ki-tô hữu chúng ta thường xuyên có dịp nhìn lại đời mình, xét lại lòng mình mà xin lỗi Chúa, mà giải hòa tha thứ cho nhau. Có như vậy, chúng ta mới là những môn đệ đúng nghĩa của Thầy Chí Thánh, mới là bạn hữu đúng nghĩa của Chúa Giê-su, mới là anh em thật sự của nhau trong đại gia đình của Thiên Chúa...
Lần đọc thứ ba: Chúng ta nói với Đức Giê-su như một lời nguyện:
“Lạy Thầy Giê-su là Chúa của chúng con, Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng đã và mãi luôn yêu mến chúng con như vậy. Chúng con xin được luôn ở lại trong tình thương của Thầy. Chúng con xác tín, nếu chúng con biết tuân giữ các điều răn của Thầy, chúng con sẽ luôn được ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Chúa Cha và ở lại trong tình thương của Chúa Cha. Các điều ấy, Thầy đã nói với chúng con chỉ cốt để niềm vui của Thầy ở trong chúng con, và niềm vui của chúng con được nên trọn vẹn.
Chúng con xin ghi nhớ điều răn của Thầy: đó là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con. Chúng con biết rõ: Không ai có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Chúng con sẽ được coi là bạn hữu của Thầy, nếu như chúng con thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy đã không bao giờ gọi chúng con là tôi tớ, vì tôi tớ làm sao mà biết được việc chủ làm. Nhưng Thầy đã gọi chúng con là bạn hữu của Thầy, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Chúa Cha là Cha của Thầy, Thầy đã cho tất cả chúng con được biết.
Chúng con nhận ra rằng: không phải chúng con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn chúng con, và cắt cử chúng con để chúng con ra đi, sinh được nhiều hoa trái tốt đẹp, và hoa trái cuộc đời chúng con sẽ được tồn tại mãi. Chúng con cũng vui mừng tin rằng: tất cả những gì chúng con khẩn khoản nài xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Chúa Cha sẽ ban cho chúng con...
Điều Thầy truyền dạy chúng con là chúng con hãy yêu thương nhau. Chúng con xin ghi lòng tạc dạ và cố gắng thực hành ngay từ trong gia đình chúng con, trong cộng đoàn chúng con, giữa lòng xã hội hôm nay. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen”.
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT

PS6-B24. TÌNH YÊU CAO QUÝ

Văn hào Anh, William Oscar Wilde có viết một huyền thoại về tình yêu: "Họa mi và bông: PS6-B24

                Văn hào Anh, William Oscar Wilde có viết một huyền thoại về tình yêu: "Họa mi và bông hồng đỏ":
Một sớm mùa hè, con họa mi làm tổ trên cành dương đã nghe trọn lời than thở của một chàng trai bên cửa sổ: "Nếu anh không kiếm nổi bông hồng đỏ để em cài ngực áo trong buổi dạ hội đêm nay, em sẽ xa anh mãi mãi". Họa mi dư hiểu chàng trai đã lang thang khắp các nương đồng. Nhưng tìm đâu một bông hồng màu đỏ dưới nắng cháy mùa hạ này ? Trời ơi, người tình sẽ chắp cánh bay xa mất thôi. Họa mi không chịu nổi dằn vặt bi thương của chàng. Họa mi phải ra tay giúp đỡ. Họa mi khép cánh trước cây hoa hồng bên giếng nước nài xin:
- Chị hồng ơi, chị có vui lòng tặng em một bông hồng đỏ thắm không ?
- Họa mi ơi ! Em vô tâm như những chiếc gai trên thân chị. Mùa hạ nắng cháy sao em lại xin hoa hồng đỏ ?
Chị hồng rung rung cành lá giận dỗi. Họa mi tiếp tục tìm kiếm. Nàng nép mình đậu trên một cành hồng ngoài xa hàng dậu.
- Chị hồng ơi, có phép mầu nào làm nở cho em một bông hồng đỏ chăng ?
- Họa mi ơi, đời cần hoa chi cho thương đau ?
- Sao cũng được, miễn là em kết chặt một mối tình.
- Được, những phép mầu cần phải có máu đỏ.
- Bằng mọi giá chị ạ.
- Bằng giá sinh mạng ư ?
- Kể cả sinh mạng em.
- Họa mi ơi ! Hãy đặt cổ em trên gai nhọn của chị, hãy hót cho chị, cho cây cỏ, cho đất trời khúc tình ca thắm thiết nhất đời em. Hãy đổ máu đỏ cho bông hồng nở. Hãy nhuộm máu cho bông hồng đỏ. Mình sẽ có một bông hồng đỏ như máu đẹp nhất trần gian.
Họa mi đã hót say mê đến giây phút cuối cuộc đời, đã đổ đến giọt máu cuối cùng, đã chết rũ trên cành hồng bên cạnh đóa hồng bí nhiệm đỏ thắm nở tươi. Chàng trai mừng vui cất tiếng cười vang. Đóa hồng được hái về trau chuốt trước khi có mặt trong dạ hội.
Điều lạ lùng nhất và cũng phi lý nhất, phi lý như chính cuộc đời phi lý, là người tình đã khước từ đóa hồng bí nhiệm, vì trên ngực áo cô gái một bông hồng giả đang ngự trị... Sáng hôm sau, dân làng bắt gặp một đóa hồng bị nghiền nát, nằm tả tơi dưới vết bánh xe bò .
Họa mi yêu người, đã lấy máu và sinh mạng đổi lấy bông hồng. Người thiếu nữ nhận bông hồng giả để chối từ một tình yêu chân thật.
Câu truyện chỉ là một huyền thoại nhưng chở chuyên một nội dung rất thực: Đó là nét thực của tình yêu, của tự do, của hy sinh. Tình yêu phải được nuôi dưỡng bằng hy sinh, bằng máu, bằng cả sinh mạng. ”Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”.
Họa mi đã cất tiếng hót bi thương trước khi chết vì muốn hiến tặng đóa hồng. Chúa Giê-su trước khi chịu khổ nạn, chịu chết đã để lại cho các môn đệ những lời tâm huyết rất chân thật và cũng là những chỉ thị cuối cùng của Ngài. ”Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Chỉ thị này bao hàm mọi chỉ thị khác.
Chữ “như” ở đây thật quan trọng.Chúa Giê-su đã so sánh: Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em. Anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em.
Như Cha đã yêu mến Thầy. Đức Giê-su đã nhiều lần nói về tình yêu của Chúa Cha dành cho Người ( x. Ga 3, 35; 5, 20; 17, 24 ). Chúa Cha cũng nhiều lần xác nhận điều này ( x. Mt 3, 17; 17, 5 ). Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con là tình yêu chia sẻ và trao ban. Tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha là tình yêu tôn kính và vâng phục. Chúa Con yêu các môn đệ như tình yêu Chúa Cha đối với Người.
Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 trong thông điệp Sự Rạng Ngời Chân Lý số 20 đã viết: ”Chữ như này đòi hỏi phải bắt chước Chúa Giê-su, nơi tình yêu của Người mà việc rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể. Chữ như cũng chỉ mức độ mà Chúa Giê-su đã yêu thương các môn đệ và các môn đệ cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy.
Yêu như Thầy đã yêu là yêu như thế nào ? Thầy chấp nhận cái chết thập hình để chuộc tội nhân loại: “Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”. “Thầy không coi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy coi anh em là bạn hữu của Thầy”. Ngài là Thầy, là Chúa. Các môn đệ là người, là đệ tử. Nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ cũng được, nhưng không, Chúa đã coi họ là bạn hữu ngang hàng với Ngài. Bạn hữu tri âm tri kỷ nên “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.
Cả cuộc đời của Chúa đã sống Tình Yêu Nhập Thể và hiến dâng cho tất cả mọi người.Chúa không để ai về tay không khi đến với Người: kẻ mù được sáng, người què đi được, kẻ điếc nghe được, người câm nói được, những kẻ tội lỗi, những cô gái điếm tìm được ơn thứ tha...
Tình yêu của Chúa cao đẹp quá, cao quý quá. “Anh em hãy yêu như Thầy đã yêu”. Quả thật là quá khó đối với con người ! Vẫn biết rằng con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức ”như Thầy đã yêu”, nhưng lời mời gọi của Chúa vẫn luôn giục giã chúng ta hướng theo đường Chúa đã đi, lấy tình yêu của Chúa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động, làm khụôn vàng thước ngọc cho mọi suy nghĩ, lời nói việc làm của chúng ta.
Cội nguồn của dòng sông tình yêu phát xuất từ Chúa Cha qua Đức Giê-su tuôn chảy đến nhân loại.Tình yêu là nguồn sự sống, là động lực chính yếu của cuộc đời và sau hết tình yêu cũng là cứu cánh của cuộc đời: ”Vạn sự đã do tình yêu sáng tạo, vạn sự được Tình yêu nâng đỡ, vạn sự đi về tình yêu và đi vào trong tình yêu” ( R. Tagore ).
Chính Tình Yêu Thiên Chúa đã gọi chúng ta vào trường đời để dạy chúng ta sống yêu thương, bác ái; chính tình yêu Thiên Chúa đã cứu sống chúng ta và chính nhờ Tình Yêu ấy mà chúng ta được sống, cũng như cành nho chỉ sống nhờ kết hợp với cây nho.
Nguyện xin Chúa giúp chúng con tập sống yêu thương ”như Thầy đã yêu” khi thực thi lời Chúa dạy: “Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho cho chính Ta”.
Lm. Giu-se NGUYỄN HỮU AN, Giáo Phận Phan Thiết

PS6-B25. Yêu thương nhau - Lm Gioan Trần Khả

Bài Đọc 1; TĐCV 10:25- 26, 34- 35, 44- 48
Khuynh hướng kỳ thị và thiên vị không nhiều thì ít ai trong chúng ta cũng có. Thoạt đầu Phêrô cũng nghĩ rằng Phúc âm và Giáo Hội của Đức Kitô chỉ thuộc về người Do Thái. Nhưng sau này ông đã được ơn nhận ra rằng Thiên Chúa là Đấng không thiên vị, nhưng bất cứ dân tộc nào hay bất cứ người nào kính sợ Chúa và làm đúng thì đều được Thiên Chúa tiếp nhận. Điểm đặc biệt là khi Phêrô nhận thức ra được điều này, ông đã có thái độ cởi mở sẵn sàng thay đổi quan niệm để đón nhận yêu thương những người khác. Đây là một sự thay đổi tấm lòng đáng ngưỡng mộ. Sự thay đổi này đã giúp cho cộng đoàn Kitô hữu ban đầu mở cửa đón nhận những người dân ngoại; nhờ đó Giáo Hội phát triển.
- Khi nhận ra được điều sai của mình, bạn đã có thái độ như thế nào? Chấp nhận sửa sai hay cố chấp ngụy biện cho cái sai của mình?
- Tại sao Thiên Chúa không thiên vị còn chúng ta lại dễ thiên vị và kỳ thị nhau? Có bao giờ bạn gặp một người có tinh thần cởi mở đón nhận người khác khiến bạn thấy cảm phục và muốn trở nên giống như họ không? Tại sao họ có được tinh thần cởi mở như thế?
Bài Đọc 2: 1 Gio 4:7- 10
"Các con thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau bởi vì Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa... Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta." Đây là hai điểm chúng ta cần lưu ý: Thứ nhất, dấu chỉ để biết một người biết Thiên Chúa hay không biết Thiên Chúa là người đó có yêu thương tha nhân hay không và yêu bao nhiêu. Thứ hai, tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta là tình yêu vô vị lợi và Ngài luôn luôn tiến tới với chúng ta trước. Bổn phận của chúng ta là đáp lại tình yêu của Ngài.
- Từ trước đến nay, những động lực nào xui khiến bạn yêu thương gia đình, bạn hữu, và những người khác?
- Thánh Gioan nói nếu một người yêu thương tha nhân tức là họ biết Thiên Chúa, và sinh bởi Thiên Chúa. Còn bạn, bạn dùng những tiêu chuẩn nào để nói là bạn biết Thiên Chúa?
Bài Phúc Âm: Gio 15:9- 17
Hai điều Đức Giêsu truyền. Thứ nhất: "Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy (9)." Dấu cho biết một người ở lại tong tình thương yêu của Đức Giêsu là tuân giữ các điều răn của Ngài. Hiệu quả cho người giữ các điều răn của Đức Giêsu là họ được hưởng niềm vui trọn vẹn. Thứ hai: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (12)." Đức Giêsu truyền dạy phải yêu thương bởi vì tình yêu không đặt trên căn bản của xúc cảm, nhưng đặt trên căn bản ý chí của lòng muốn. Tình yêu cao cả là tình yêu hy sinh quên mình cho người khác. Cao cả hơn hết là hy sinh tính mạng mình cho bạn hữu.
- Bạn thường chờ đợi đến khi cảm thấy thích yêu rồi mới yêu thương hay bạn sống yêu thương vì Đức Giêsu muốn bạn yêu thương?
- Bạn đã và đang hy sinh những gì cho người khác để nói lên tình yêu của bạn?
Bài giảng gợi ý

Truyện kể rằng ngày kia tướng quỷ cố gắng tìm cách đột nhập vào Thiên đàng nên hắn đã cải: PS6-B25

Truyện kể rằng ngày kia tướng quỷ cố gắng tìm cách đột nhập vào Thiên đàng nên hắn đã cải trang giả làm Đức Kitô Phục Sinh. Hắn dẫn theo một đoàn quỷ con cũng cải trang thành như các Thiên Thần. Đoàn rước tiến về phía cổng Thiên Đàng. Vừa đi vừa ca hát thánh vịnh: "Hãy ngẩng đầu lên, hỡi cửa ngày thu, hãy mở cửa ra để Vua Vinh Quang ngự tới!"
Các Thiên Thần đứng ở trên thành nhìn xuống tưởng là Đức Kitô vua của họ và đoàn tùy tùng đang trở về trong chiến thắng vinh quang sau phục sinh. Do đó các ngài đã xướng hát đáp lại: "Vua vinh quang là ai vậy!"
Tướng quỷ liền cao hứng mạnh dạn giơ tay lên và giang ra tuyên bố: "Vua vinh quang chính là Ta!"
Nhưng hắn đã làm một sự sai lầm vì khi giơ tay ra, bàn tay của hắn không có những dấu đinh in lại; không có những dấu thương tích của tình yêu. Do đó các Thiên thần phát hiện ra sự giả tạo của hắn và đã đóng sập cổng lại.
Trước khi về trời Đức Giêsu đã truyền dạy các môn đệ: "Đây là giới răn của Thầy: Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em. Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (13). Yêu như Chúa đã yêu và yêu hy sinh tính mạng là hai yếu tố tình yêu Đức Giêsu muốn các môn đệ của Ngài thực hiện trong cuộc sống.
Yêu Thương Nhau
Chúng ta thấy có quá nhiều cái đang phân cách làm chúng ta xa nhau. Có nhiều ranh giới không cho chúng ta xích lại gần nhau. Mỗi người chúng ta là một cá nhân. Chúng ta phân cách khỏi nhau bởi sự khác biệt cá tính; khác biệt giới tính; khác biệt gia đình; khác biệt địa chỉ nhà ở hay thành phố; khác biệt giai cấp; khác biệt nghề nghiệp; khác biệt tôn giáo; khác biệt chủng tộc; khác biệt văn hóa; khác biệt mầu da; khác biệt ngôn ngữ; khác biệt chủ nghĩa chính trị... Tất cả những yếu tố này và nhiều yếu tố khác đã và đang ngăn cách làm chúng ta xa nhau. Chỉ một cái có thể đưa chúng ta xích lại gần nhau cách chân thật đó là Tình yêu.
Thánh Gioan trong bài đọc hai nhắn nhủ: "Các con thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau bởi vì Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa... Ai không yêu thương có nghĩa là người ấy không biết Thiên Chúa" (7-8). Trong bài đọc thứ nhất, Thánh Phêrô cũng quả quyết: "Tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều đươc Người tiếp nhận" (34). Với tình yêu sẽ không còn ranh giới. Tình yêu là khí giới và mãnh lực bất cứ ai cũng có. Sức mạnh của khí giới tình yêu càng trở nên hữu hiệu khi chúng ta biết liên tục xử dụng nó trong cuộc sống. Tình yêu sẽ đưa chúng ta xích lại gần nhau khi chúng ta đem áp dụng nó trong cách đối xử với tha nhân. Thánh Phao-lô nhận định rằng: "Tình yêu thì khoan dung nhân hậu; không ghen tương; không vênh vang; không tự mãn; không làm điều bất chính; không tìm tư lợi; không nóng giận; không nuôi hận thù; không mừng khi thấy sự gian ác; biết vui khi thấy điều chân thật. Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Tình yêu không bao giờ tàn tạ..." (1 Cor 13:4-8). Tình yêu là yếu tố làm cho tất cả mọi người chúng ta trở nên đồng vị trước mặt Thiên Chúa.
Ngày nay người ta nói nhiều về tình yêu. Tình yêu được ca tụng và trình diễn trong các chương trình truyền hình, các truyện tiểu thuyết, các bài hát, các tác phẩm văn nghệ, và trong các cuộc đàm thoại hàng ngày của mọi giới. Các câu truyện về tình yêu sẽ vẫn còn được tiếp tục xuất hiện trên khấu trường nhân loại. Tình yêu mang lại niềm vui, hạnh phúc, bình an, yên ủi, sức mạnh, và lý lẽ để sống. Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, thời nay dường như cũng là lúc mà xã hội cảm thấy thiếu vắng tình yêu nhất. Nhiều người sống cô độc, khao khát được yêu thương. Nhiều cuộc chiến nóng bỏng có, lạnh lẽo âm thầm cũng có. Người ta chối bỏ nhau, ly dị nhau, chém giết nhau, làm khổ nhau, đưa nhau ra tòa kiện cáo... Thực ra có lẽ điều sai lầm là chúng ta nói về tình yêu, bàn về tình yêu, phân tích về tình yêu, viết về tình yêu, ca ngợi tình yêu, nhưng ít người sống tình yêu. Và đó là lý do tại sao chúng ta vẫn còn xa cách nhau. Đã đến lúc mỗi người chúng ta phải dừng lại để lắng nghe lời của Đức Giêsu một cách chú tâm: "
"Đây là giới răn của Thầy: Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em. Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (13).
Giá Cả Tình Yêu
Tình yêu chân thật phải được trả bằng giá cả đắt đỏ. Đức Giêsu đã trả giá cho tình yêu chân thật bằng cái chết của Ngài trên thập giá. Ngài dạy chúng ta hãy yêu nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta. Tình yêu của Đức Giêsu dành cho chúng ta là tình yêu đặt trên căn bản của ý chí muốn dấn thân trọn vẹn không tính toán, không điều kiện. Cây Thập giá, Bí tích Thánh Thể và phép Giải tội là ba dấu rõ ràng nói lên tình yêu của Đức Giêsu dành cho chúng ta. Ngài yêu chúng ta hết mình đến nỗi hy sinh mạng sống của Ngài chết trên thập giá để trả giá ơn cứu độ cho chúng ta được sống. Ngài yêu chúng ta hết mình đến nỗi đã trở nên của ăn và của uống hằng sống cho chúng ta trong bí tích Thánh Thể. Và ngài Yêu thương chúng ta và luôn sẵn sàng tha thứ cho mọi tội lỗi của chúng ta qua phép Giải Tội trong Giáo Hội.
Đây chính là cách thức yêu thương mà Đức Giêsu muốn chúng ta thực hiện cho nhau trong cuộc sống. Ngài muốn chúng ta yêu bằng ý chí dấn thân hy sinh chết đi cho nhau như Ngài đã hy sinh chết đi cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta trở nên của ăn nuôi dưỡng và khích lệ nhau như Ngài đã trở nên của ăn của uống nuôi dưỡng chúng ta. Và Ngài muốn chúng ta sẵn lòng tha thứ cho nhau như Ngài sẵn lòng tha thứ cho chúng ta.
Trích Người Tín Hữu
Lm. Gioan Trần Khả

PS6-B26. YÊU NHAU LÀ MẾN CHÚA - Lm. Minh Vận, CMC

Cha già "Lựu Đạn", đây là một danh xưng mà Chị Nữ Tu Antoinette thường gọi thế, khi nhắc: PS6-B26 chuyện

Cha già "Lựu Đạn", đây là một danh xưng mà Chị Nữ Tu Antoinette thường gọi thế, khi nhắc đến ông lính già khó tính nhất trong bệnh viện Chị đang phục vụ. Gặp ai ông cũng nhăn nhó, nạt nộ; có truyện gì không vừa ý, ông la lối rùm beng.
Ngày kia, đang mải mê phục vụ, Chị Antoinette nghe tiếng cha già Lựu Đạn hét lớn: "Đem cho tôi vài quả trứng luộc". Chị Antoinette vui vẻ đem đến.
- Trứng chưa chín đủ mà cũng đem tới à? Chị Antoinette tươi cười đem trứng đi luộc lại.
- Trứng chín quá. Luộc gì mà kỹ quá vậy? Chị Antoinette chẳng biết làm sao hơn được. Chị đi lấy một cái bếp đem đến kê ở cạnh giường và trao cho ông cha già Lựu Đạn vài quả trứng để ông tự luộc lấy cho vừa ý. Ông thấy thế, liền nổi cơn lôi đình, đạp đổ bếp, quang xoong nước và trứng xuống nền nhà, miệng quát lớn: "Sơ không biết tôi là bệnh nhân sao! Bệnh nhân mà đi luộc trứng à?"
Chị Antoinette chẳng nói nửa lời, chỉ thinh lặng cúi xuống thu dọn, quét tước, lau lọt... Một lát sau, Chị lại đem đến cho ông già vài quả trứng khác và nói: "Ông cố gắng dùng thử cái này, tôi luộc vừa chín tới thôi"... Tỉnh ngộ, ông lính già tỏ vẻ cảm động vì khâm phục trước tấm lòng bác ái, nhịn nhục của Chị Dòng khiêm nhu dễ thương, miệng lắp bắp nghẹn ngào nói: "Cảm ơn Sơ, tôi ăn trái trứng mà cũng là ăn cả tấm lòng tốt của Sơ nữa".
I. CÁC CON HÃY THƯƠNG YÊU NHAU
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay nhắc lại lệnh Chúa truyền: "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con". Sách Tông Đồ Công Vụ nêu lên một Đức Bác Ái đại đồng. Nhân loại được Chúa tạo dựng với mục đích là để tôn thờ, phụng sự, kính mến Chúa và để được hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa trên Quê Trời. Như thế, tất cả nhân loại đều là anh chị em với nhau, là con một Cha Chung trên trời.
Hồi Giáo Hội sơ khai, các Tín Hữu gốc Do Thái lầm tưởng rằng: Dân ngoại muốn tòng giáo, đều phải chịu phép cắt bì theo luật Maisen. Hôm nay, tất cả mọi người hiện diện tại nhà ông Cornelio dự tòng, những người hiện diện đều mục kích một sự việc tỏ rõ thánh ý Chúa. Thánh Phêrô đã tuyên bố: "Quả thật, tôi nghiệm biết rằng, Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành công lý, đều được Người đón nhận". Các Tín Hữu gốc Do Thái đều ngạc nhiên tự hỏi: "Phải chăng Thánh Linh đã xác nhận lời Phêrô là đúng? Tất cả là con cái Chúa, là anh chị em với nhau sao?" Thánh Phêrô lại quả quyết: "Ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước mà thanh tẩy những người này, khi họ đã lãnh nhận Thánh Thần như chúng ta?"
Cha ông chúng ta cũng thường nói rất đúng rằng: "Tứ hải giai huynh đệ". Lời đó quả quyết cho chúng ta thấy: Tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau, đã là enh chị em, chúng ta không còn được phân biệt mầu da tiếng nói, đẳng cấp xã hội, nô lệ hay tự do, Dân Chúa hay dân ngoại. Vì, "Bốn bể đều là anh chị em", là con một Cha Chung trên trời, nên chúng ta phải thương yêu nhau. Thánh Gioan trong bài đọc hai đã nêu rõ, Bác Ái bắt nguồn từ Tình Yêu Thiên Chúa: "Anh chị em thân mến, chúng ta phải thương yêu nhau, vì tình yêu bởi Thiên Chúa mà ra. Vì: Thiên Chúa là Tình Yêu". Cùng một tình yêu kết hợp chúng ta với Chúa và liên kết chúng ta với nhau. Càng mến Chúa, tấm lòng và đôi tay càng mở rộng ra đón tiếp người anh chị em cần đến mình.
II. NHƯ CHÚA ĐÃ THƯƠNG YÊU CHÚNG TA
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã long trọng ban huấn lệnh: "Thầy truyền cho các con điều này là các con hãy yêu mến nhau".
Để thực thi huấn lệnh đó, Chúa đã đặt cho chúng ta một mẫu gương để chúng ta noi theo bắt chước: "Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu thương của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu thương của Thầy; cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha, nên Thầy ở lại trong tình yêu thương của Người". Chúa kết luận: "Thầy nói điều đó, để niềm vui của các con được nên trọn" (Jn 15:9-11).
Chúa còn trịnh trọng nhắc lại: "Đây là lệnh truyền của Thầy là: Các con hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu các con". Yêu thương anh chị em như Chúa đã yêu thương chúng ta. Đó là mẫu mực chúng ta phải noi theo, phải đạt tới. Chúa đã yêu thương chúng ta đến hiến mạng sống mình, chịu chết vì chúng ta; chúng ta cũng phải hy sinh, chịu thiệt thòi, chịu nếp vế, phải nhường bước... và nếu cần còn phải hy hiến cả chính bản thân mình để mưu lợi ích thiêng liêng, tìm cầu phần rỗi cho anh chị em nữa.
Chúa đã phán: "Không có tình yêu thương nào cao cả hơn tình yêu thương của người hiến mạng sống mình vì bạn hữu, mà chính các con là bạn hữu của Thầy" (Jn 15:13). Chúa cũng đòi chúng ta phải hiến mạng sống mình vì phần rỗi anh chị em chúng ta như vậy.
III. THỰC HÀNH TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY
Để thực thi Đức Bái Ái trong cuộc sống hằng ngày, Đức Phaolô VI đã đặt một dấu chỉ để chúng ta kiểm xét: "Dấu chỉ của Bái Ái Huynh Đệ chân thật gặp thấy trong sự đơn sơ, vui tươi; nhờ đó, mỗi người đều cố gắng tìm hiểu xem mỗi người ước ao điều gì hơn cả" (C.T.P.A. # 39). Để đạt được lợi ích đó, Ngài còn khuyên nhủ: "Chúng con đừng quên rằng, Đức Ái Huynh Đệ phải là niềm hy vọng linh hoạt, làm cho tha nhân có thể đạt được mục đích họ mong muốn, nhờ sự giúp đỡ huynh đệ của chúng con" (C.T.P.A. # 39).
Để dễ thực thi giáo huấn của vị Đại Diện tối cao của Chúa, chúng ta cần:
1. Trong đời sống gia đình: Cha mẹ, vợ chồng, con cái cần có lòng thương cảm biết yêu đương, đùm bọc, bù trừ, nhường nhịn, hy sinh cho nhau.
2. Trong đời sống xã hội: Mọi người cần biết tha thứ, không chấp nhất, không bủn xỉn, nhưng quảng đại cao thượng, tương trợ lẫn nhau.
3. Trong đời sống cộng đồng: Các phần tử cần có lòng hợp nhất, mỗi người phải biết xả kỷ vị tha, để cùng nhau xây dựng công ích.
Kết Luận
Nếu mỗi người chúng ta noi theo gương Chúa, biết hy sinh chính bản thân mình, chịu thiệt thòi, nép vế, thua thiệt vì tha nhân, chắc chắn chúng ta sẽ đem lại hạnh phúc cho nhau. Chính lòng Bác Ái đó sẽ biến đổi gia đình chúng ta trở thành tổ ấm yêu đương; đoàn thể chúng ta sẽ trở thành cộng đồng hạnh phúc; Giáo Hội chúng ta sẽ trở thành Thiên Đàng nơi Chúa hiển ngự. Đạt được ước nguyện đó, tất cả chúng ta sẽ trở thành những chứng nhân của tình thương yêu Thiên Chúa, sẽ chinh phục nhân loại về với Chúa, làm nên một Đoàn Chiên duy nhất, một đại gia đình yêu thương của Chúa Kitô trên trần gian.
Vì: "Yêu là tự hy hiến chính mình", luôn luôn cố gắng làm hài lòng tha nhân vì Chúa. Như Chị Nữ Tu Antoinette chỉ muốn cho bệnh nhân là "Cha Già Lựu Đạn" được vui lòng, nên Chị đã cảm hóa được ông cho Chúa. Chính Mẹ Maria đã nêu cho chúng ta mẫu gương Bác Ái cao cả tại tiệc cưới Cana và Mẹ cũng đã dạy chúng ta, các con ngoan thảo của Mẹ một bài học: "Mỗi người chúng con hãy cố làm cho người khác được sung sướng, được hạnh phúc".
Xin Mẹ giúp chúng con biết thương yêu nhau như dấu chứng lòng chúng con yêu mến Chúa và là con ngoan thảo của Mẹ.
Trích Dongcong.net
Lm. Minh Vận, CMC

PS6-B27. Hãy ở trong tình yêu - T.s.Trần Quang Huy Khanh

Gioan định nghĩa về Ngài: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Gio 4:8). Theo ông: “Tình yêu bởi: PS6-B27

Gioan định nghĩa về Ngài: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Gio 4:8). Theo ông: “Tình yêu bởi Thiên Chúa mà ra” (1 Gio 4:7). Nhưng chính điều này lại làm con người khó hiểu, và cũng khó có câu trả lời một cách rõ ràng về Thiên Chúa, vì xưa nay có ai đã định nghĩa được tình yêu như thế nào đâu. Do đó, nếu nói “Thiên Chúa là tình yêu”, thì Thiên Chúa chỉ là một ấn tượng huyền hoặc và trừu tượng. Mặt khác, sự thật về Thiên Chúa lại là một điều mà hầu như không ai có thể chối bỏ được.
Vì không thấy tình yêu, không sờ được tình yêu, và nhất là không định nghĩa được tình yêu, nên tình yêu đã tự nó linh thiêng, cao quí lại càng trở thành huyền hoặc và khó lòng diễn tả. Ta có thể xác quyết là chưa có ai và cũng chẳng có bao giờ có người nào định nghĩa được tình yêu. Tuy nhiên tình yêu vẫn có một mẫu số chung là, không ai có thể che dấu được tình cảm của mình khi đang yêu và được yêu. Người ta không thấy điện, không thấy gió nhưng vẫn cảm được gió qua khí trời mát mẻ, cũng như biết là có điện khi nhìn vào bóng đèn đang cháy sáng.
Có ai mà không một lần được yêu, và yêu. Nếu thế, ai có thể chối bỏ được cảm nhận và hình ảnh của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Vì thế, khi nghe Chúa Giêsu tâm sự với các môn đệ của Ngài về tình yêu và những rung động mà Ngài dành cho các ông, ta thấy thật sự Thiên Chúa gẫn gũi và ở ngay trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Sự có mặt của Ngài không gì hơn, chính là tình yêu mà Ngài đã ban tặng cho mỗi người. Không những thế, với ngôn từ của con người và qua cái nhìn của con người, Ngài còn trở thành một kẻ si tình, và yêu cuồng nhiệt bằng một thứ tình yêu sôi sục, thiêu đốt, và làm cháy lỏng con tim của những kẻ tình si: “Không ai có tình yêu cao cả hơn kẻ thí mạng sống mình vì bạn hữu mình” (Gio 15:13). Về phương diện này, Thiên Chúa đã si tình hơn cả con người, vì Ngài là Tình Yêu. Chỉ mình Ngài mới có thể nói và làm được như thế. Ngài đã ra điều kiện cho mình, và Ngài đã đi vào những thách đố của điều kiện để minh chứng tình Ngài đối với con người qua cái chết, và cuộc khổ nạn.
Yêu và được yêu là một nhu cầu. Do nhu cầu này, Thiên Chúa cũng cảm thấy cô đơn trước sự hững hờ của con người. Và vì quá yêu thương con người, nên xem ra như Ngài đã van xin tình yêu của con người: “Hãy ở trong tình yêu Thầy” (Gio 15:9). Phần con người, nhu cầu này cũng là một đòi hỏi cấp thiết cho cuộc sống tâm linh. Thánh Augustine đã tự thú: “Trái tim tôi đã được dựng nên cho một mình Thiên Chúa, và nó không ngừng thao thức cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”. Đối với Augustine, thì tất cả những gì đã từng làm rung động trái tim ông trước đó đều không có nghĩa lý gì nếu đem so sánh với vẻ hấp dẫn và tuyệt vời của tình yêu Thiên Chúa.
Yêu là một nhu cầu cao nhất đối với những nhu cầu khác vì nó không những liên quan trực tiếp đến đời sống bình thường, mà còn liên quan cả tới phần tâm linh và tri thức nữa. Form, nhà tâm lý chuyên phân tích về tình yêu, đã nói về tình yêu này và cho rằng tình yêu giữa Thượng Đế và loài thụ tạo là mối tình cao cả nhất, và đáng kính nhất. Nhận định về tình yêu như thế, có lẽ ông đã muốn diễn tả ý nghĩa lời Thánh Kinh là: “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn” (Mt 22:37). Và lời do chính Chúa Giêsu đã dùng để nói về những thách đố của tình yêu: “Không ai có tình yêu cao cả hơn kẻ thí mạng sống mình vì bạn hữu mình” (Gio 15:13).
Tình yêu không chỉ là một nhu cầu, nó còn là một quà tặng quí giá của Thượng Đế trao ban cho con người, để con người trao tặng lại cho nhau. Do đó, nó dính liền, gắn bó, và tan hòa trong đời sống của con người. Từ khi sinh ra cho đến chết, mọi người đều có khả năng yêu và mong được yêu. Thiếu tình yêu, con người không thể sống quân bình và hạnh phúc được. Tình yêu, do đó, vượt trên cả những nhu cầu thuộc bản năng sinh tồn khác như ăn, uống, ngủ, nghỉ. Chỉ có con người mới trao nhau tình yêu và nhận lấy từ người mình yêu quà tặng này.
Tuy nhiên, tình yêu chỉ có giá trị khi có người nhận ra, trân trọng, nâng nưu và bảo vệ nó. Như vậy, cả người trao và kẻ nhận đều hạnh phúc, đều vui mừng vì đã yêu và được yêu. Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người cũng không ngoại lệ. Ngài cũng muốn con người đón nhận và trân quí nó: “Hãy ở trong tình yêu Thầy” (Gio 15:9). Nhưng trong thực tế, đã có mấy ai đón nhận, hiểu, và trân quí mối tình này.
Trích Dongcong.net
T.s.Trần Quang Huy Khanh

PS6-B28. Nhái Thầy... - Lm. Bm. Minh Trân, CMC 

Dịp Tết Nguyên Đán vừa qua, tôi có dịp về thăm quê hương Việt Nam và dâng lễ tạ ơn. Trong: PS6-B28

Dịp Tết Nguyên Đán vừa qua, tôi có dịp về thăm quê hương Việt Nam và dâng lễ tạ ơn. Trong chuyến đi này tôi học hỏi được nhiều điều. Một trong những điều tôi còn nhớ là "nhái." Nhái ở đây không phải là cóc, nhái. Nhưng là bắt chước người khác. Ở Việt Nam có nhiều mặt hàng họ "nhái" rất tài. Nếu không phải trong nghề, hoặc không để ý cẩn thận, người ta sẽ bị lầm một cách dễ dàng. Chiếc xe honda "Spacy" đời mới của Nhật trị giá $85 triệu. Nhưng chiếc xe honda "Spacy" của Trung Quốc, "nhái" y như thật vậy, thì chỉ có $23 triệu thôi.
Thánh Gioan trong đoạn Tin Mừng hôm nay ghi lại rằng Chúa Giêsu cũng đã "nhái" Chúa Cha và muốn mỗi người chúng ta "nhái" Chúa trong việc yêu mến nhau. Chúa truyền dạy: "Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con... Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con."
"Yêu mến nhau" ở đây không phải là lời khuyên, nhưng là lệnh truyền. Do đó, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề này. Có nghĩa là, không làm không được. Không làm sẽ chết. Thật thế, tìm hiểu Thánh Kinh, chúng ta thấy điều Chúa truyền dạy ở đây được ghi lại ngay sau dụ ngôn cây nho và cành nho (15:1-8). Trong dụ ngôn cây nho và cành nho này, thánh Gioan ghi rõ rằng cành nho chỉ có thể sống và sinh hoa kết quả một khi ở lại với cây nho. Lìa cây, cành sẽ chết. Tương tự, trong đoạn Tin Mừng này, thánh Gioan đã nhắc đi nhắc lại 2 lần rằng "hãy ở lại trong Thầy." Ở lại trong Thầy có nghĩa là "tuân lệnh Thầy truyền." Và lệnh truyền đó không gì khác hơn chính là: "hãy yêu mến nhau." Nói ngược lại, không yêu mến nhau là không tuân lệnh Thầy truyền, không ở lại trong Thầy... và hậu quả của nó sẽ dẫn đến sự chết.
Yêu mến nhau bằng cách nào? Yêu làm sao? Hiến mạng sống mình? Thượng tuần tháng 3 vừa qua, trong chuyến đi mục vụ tại Houson, Texas, tôi có được nghe câu chuyện thật cảm động và đầy ý nghĩa của một chị trong ca đoàn thuộc Giáo xứ các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Chị bị tai nạn xe hơi, gãy xương vai và què chân... và trong lúc này, chị đang mang thai được 5 tháng. Chị được đưa vào phòng cấp cứu. Bác sĩ nói chị cần giải phẫu để đưa đứa bé ra. Tại vì, để chữa trị cho chị cần phải chích thuốc mê và do đó sẽ ảnh hưởng đến mạng sống của đứa bé. Chị nói bác sĩ cứ việc chữa trị, không có thuốc mê cũng không sao. Chị không muốn mất con. Chị kể lại rằng những lần con dao mổ rạch xuống thân mình, "nó đau... đau không thể tả được... đau muốn chết được... nhưng tất cả vì con."
Chết cho người mình yêu để minh chứng tình yêu của mình, chết như Chúa Giêsu đã chết cho chúng ta được sống, có lẽ chúng ta không có nhiều dịp. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể "nhái" Chúa trong việc sống cho người mình yêu. Để thật sự hoàn toàn sống cho người mình yêu, chắc hẳn cũng đòi chúng ta phải nỗ lực hết mình trong việc chết đi cho chính mình, chết đi hằng ngày hằng giờ, chết đi trong những ước muốn cá nhân, chết đi qua những lần trao ban thì giờ, của cải, sức lực... và một khi thực sự chết đi như thế, chắc hẳn chúng ta sẽ cảm thấy sự sống tươi vui và dào dạt là dường nào.
Người ta thường nói:
"Sướng gì hơn sướng làm lành
Cho bao nhiêu của để dành bấy nhiêu."
Tôi cũng xin nhái:
"Nhái gì hơn nhái Thầy mình
Yêu thương trao hiến... trọn tình... mới dza."
NS. Trái Tim Đức Mẹ
Lm. Bm. Minh Trân, CMC

PS6-B29. Các con hãy yêu thương nhau - Lm. Thu Băng, CMC

Jn 15:9-17

Đức Thánh Cha Joan 23 trong phiên họp Hội Đồng Giám Mục để bàn luận về nền tảng Đức Ái của: PS6-B29

Đức Thánh Cha Joan 23 trong phiên họp Hội Đồng Giám Mục để bàn luận về nền tảng Đức Ái của đời sống Kitô Giáo. ngài hỏi: "Chư Huynh nghĩ xem đâu là cùng đích của đời sống Kitô Giáo ?"
Các ngài trả lời hầu như giống nhau rằng: "Cùng đích của đời sống Công giáo là: Nhận biết - Yêu mến - Phụng sự Chúa ở đời này để được nước Thiên đàng đời sau."
Đức Thánh Cha nói cười vui vẻ: "Chư Huynh nghĩ vậy chưa đủ, còn có phần ích kỷ. Phải có phần giúp đỡ người khác cùng nhận biết, cùng yêu mến, cùng phụng sự Chúa, cùng vui hưởng thiên đàng".
Đó là khía cạnh rộng lớn Chúa truyền dạy qua bài Phúc âm hôm nay "Các con hãy yêu thương nhau".
Yêu và giúp người khác thực hiện điều đẹp lòng Chúa, tránh xa những gì mất lòng Chúa và mất lòng người ta.
Việc giúp đỡ người khác của chúng ta không phải như cái giúp của ông thầy, của sư phụ dạy truyền cho đệ tử. Nhưng là cái giúp thực hành ngay trong cuộc sống mình:
- Giữ giới luật Chúa - cho người khác noi theo.
- Giữ lời nói đoan chính
- ăn mặc xứng kỳ đức.
- ăn uống không phàm phu tục tử, không bê bối.
- Đời sống vợ chồng lành mạnh, ấm êm.
- Dạy con cái cho phải phép.
- Trước một ngưòi khác tôn giáo, biết tỏ lối sống đạo giáo của mình.....
Mội điều chúng ta đang thực hiện cách tốt đẹp, có điều cần chú ý hơn trong giai đoạn này là: khía cạnh dạy con theo gương cha mẹ.
Dạy con từ thuở lên ba
Dạy vợ từ thuở về nhà làm dâu.
Cha mẹ sinh con trời sinh tính
Nhưng : Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Hiện trạng ngày nay: Trẻ con lang thang, cao bồi, phá phách xóm làng, quần áo theo thời theo mốt....
Các anh chị làm dáng làm đẹp (Ok): Bồng bềnh mái tóc mây, bộ tóc Kenedy (Ok). Bộ áo đầm xòe dễ coi (Ok). Những điều đó xứng kỳ đức lắm. Mặc đẹp sẽ không dám ba trợn ở dọc đường.

Các em nhỏ chưa đến tuổi thành niên:
Mặc áo mùa đông cho mùa hè - Cha mẹ nhìn con ăn mặc không thấy chướng mắt. Các em mặc áo người lớn khi còn đang là con nít. Quần xắn móng heo, chân đi dép Nhật. Nếu để làm hề thì trên sân khấu đã có đạo diễn, còn ở ngoài đường không ai là đạo diễn cả. Cha mẹ hãy dạy cho con hiểu và chúng sẽ nghe, đừng bảo "Con tôi nó đâu có vậy".
Nó có vậy khi không có mặt bố mẹ ở đó. Muốn biết con ai không khó gì, cứ ra các quán hàng là thấy mặt thôi. Muốn biết nghe nói con ai, nghe nói nó làm gì, cứ đến nhà thờ trước giờ Thánh Lễ là phân biệt được kẻ tốt người xấu thôi. Đừng để con hư hổ mặt mẹ cha. Tóm lại, vì mến Chúa, thương người, chúng ta sống sao cho trọn đạo, sống sao cho xứng kỳ đức và răn dạy con cái để nên gương cho mọi người. "Ai yêu mến Ta thì giữ lời Ta và dạy người khác yêu mến và làm như vậy" (5-2003).
Trích Dongcong.net
Lm. Thu Băng, CMC

PS6-B30. Yêu thương nhau - Lm. Nguyễn Văn Phan, CSsR.

Cv 10.25-26.34-35.44-48;1Ga 4.7-10; Ga 15.9-17

Không thể tránh né một sự thật này, đó là điều quan trọng nhất Đức Chúa Giêsu đòi hỏi chúng: PS6-B30

Không thể tránh né một sự thật này, đó là điều quan trọng nhất Đức Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta thực hiện, thậm chí ra lệnh chúng ta phải làm chính là yêu thương nhau. Vào đêm trước khi chịu chết, Người đã trao cho chúng ta một lệnh truyền giản đơn: ẪHãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.Ữ Mẫu mực và tiêu chuẩn cho cuộc sống Kitô hữu chính là Tình Yêu mà Đức Kitô đã thực hiện trước mắt chúng ta trên cây Thập giá. Đòi hỏi duy nhất trong quà tặng tình yêu của Thiên Chúa là khiêm tốn bước tới đón nhận để mà ra đi chia sẻ cho người khác. Tình yêu dành cho những người mà chúng ta còn có thể nhìn thấy được sẽ giúp chúng ta, ngay trên trần thế này, được đến gần hết sức, dấn sâu hơn vào Tình Yêu Thiên Chúa, Đấng chúng ta chẳng có thể nhìn thấy bao giờ. Để cảm nghiệm được tình yêu Đức Kitô, chúng ta phải nhổ bỏ tận gốc rễ cả tính ích kỷ và bắt đầu nghĩ đến tha nhân nhiều hơn chúng ta: Khi chúng ta từ chối chia sẻ cho người khác, chúng ta tự kết án giam mình trong mùa Đông của cô đơn, tự khoanh mình trong bốn bức tường ngăn mọi người ở ngoài hay ít ra là ở một khoảng cách an toàn.
Là những môn đệ của Đức Kitô, chúng ta được kêu gọi trở nên những con người sống cho người khác, vì người khác, theo gương Đức Kitô. Tình yêu là một cuộc tự hiến luôn đòi chúng ta phải cho đi không chỉ tất cả những gì chúng ta có mà còn phải cho đi chính bản thân chúng ta, thời giờ, và khả năng chúng ta nữa. Xin đơn cử một ví dụ, các bậc làm cha làm mẹ có thể làm chứng cho Đức Kitô trong đời sống hằng ngày của mình bằng chính công việc sinh kế quên cả mệt nhọc của mình để nuôi sống gia đình, chăm sóc con thơ bệnh tật và hết lòng dạy dỗ chỉ bảo con cái những khi chúng băn khoăn không biết hỏi ai... Làm tất cả chuyện đó thật là vất vả và đáng làm, vì đó thực là cuộc đấu tranh ngược dòng và kiên trì với nhiều ghềnh lắm thác, nhưng khi làm được như thế họ được bảo đảm là sẽ được tìm thấy Thiên Chúa va hạnh phúc. Nơi đâu có tình yêu nơi đó Thiên Chúa hiên diện. Sứ điệp Tin mừng này phải được rao giảng bằng cả lời nói và gương mẫu nữa. Cách thông truyền tình yêu hữu hiệu nhất chắc chắn phải là cư xử đối đãi với tha nhân như là bạn hữu, dành cho họ đầy đủ lòng kính trọng đúng mức.
Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta vượt qua mọi điều chúng ta có thể tưởng tượng. Mỗi người trong chúng ta được Thiên Chúa yêu thương cách riêng từng người sâu xa mật thiết. ẪNhư Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng yêu anh em.Ữ Chúng ta không xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa đâu, tự sức mình chúng ta cũng không thể nào dành được tình yêu ấy. Một chân lý nền tảng cần nhắc đến là chính Thiên Chúa đã đi bước trước, chọn gọi chúng ta, dẫn đưa chúng ta đi, yêu thương chúng ta từ buổi ban đầu, ngay trước khi chúng ta chào đời. Chính vì yêu thương chúng ta mà Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài xuống trần gian để gánh vác tội lỗi chúng ta. Những phút gian truân thử thách, những khi mọi người như thù nghịch quay lưng với mình, và những lúc cay đắng chua chát ngập tràn con tim, chúng ta cần nhớ lại rằng tình yêu của Đức Kitô không hề giới hạn vào những người Chúa yêu thương mà thôi đâu, nên phần chúng ta, chúng ta cũng nên khép chặt cánh cửa tâm hồn đừng bao giờ để cho tư tưởng báo thù nào len lỏi xâm phạm vào tâm hồn chúng ta. Thay vào đó chúng ta nên hướng tâm trí chúng ta vào tình yêu diệu kỳ mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta, nhất là đã mời gọi chúng ta làm con cái của Ngài; tham dự vào sự sống thần linh của Ngài. Giữ trọn lệnh truyền yêu thương sẽ giúp chúng ta bước vào đại gia đình Thiên Chúa. Vào lúc cuộc đời xế chiều, chúng ta sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán theo những yếu đuối lỗi lầm của chúng ta những theo mức độ tình yêu chúng ta đã trao cho tha nhân. Vì thế, chúng ta hãy yêu thương nhau.
NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Lm.Nguyễn Văn Phan, CSsR.

PS6-B31. Quên mình vì bạn hữu - Huyền Đồng

Chúa Nhật 6 Phục sinh –B = 6th Sunday of Easter
Lời Chúa cho hôm nay : QUÊN MÌNH VÌ BẠN HỮU
* to lay down one’s life for oneỴs friends *
* BÀI ĐỌC 1: Cvụ 10, 25- 26; 34- 35;44- 48= Chúa yêu thương mọi người: Quà tặng của Chúa Thánh Thần đã đổ xuống cho dân ngoại.
God love all: The gift of the Holy Spirit was poured out on the Gentiles.
* BÀI ĐỌC 2: 1 Gioan 4, 7- 10 = Thiên Chúa là Tình yêu: Ngài đã làm việc này khi Ngài sai Đức Giêsu chịu chết vì yêu cho chúng ta.
God is love: God did this when He invited Jesus to die out of love for us.
* BÀI TIN MỪNG(Gospel): Ga 15, 9- 17= Yêu thương nhau: Thánh Gioan dạy ta về yêu Chúa, người lân cận và bạn hữu là đầy đủ ý nghĩa của cuộc sống: “sinh nhiều hoa trái”
Love one another: John teach us about love of God and neighbor, frienship and complete result in a meaningful life. “bearing fruit”.
A. Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

Đức Giêsu nói về tình yêu chân thật như sau: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người: PS6-B31

1/ Đức Giêsu nói về tình yêu chân thật như sau: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu...” Chúa muốn nói đến tình yêu cụ thể qua cái chết của Ngài cho tôi. Làm sao để tôi sẽ được gọi là bạn hữu của Ngài. Nói lên những việc làm của tôi cho Gia đình hôm nay.
No one has greater than this, to lay down oneỴs life for noeỴs freinds... ( Gioan 15, 13 )
2/ Cuối bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em...” Thực vậy, vì yêu Chúa đã gọi bạn trong chức vụ hôm nay, bạn đã thực hành thế nào? Tại sao bạn lại được Chúa chọn ở chức vụ này? Bạn làm gì đáp lại những hồng ân bạn đang có?
It was not you chose Me, but I who chose you and appointed you to go and bear fruit that will remain... (Gioan 15, 16)
3/ Sách Công vụ nói: Ông Phêrô xưng mình chỉ là người phàm và nói: “Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì bất cứ họ thuộc dận tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhân.” Thiên Chúa rất công bằng, Tôi có đạo có sống đạo và ăn ở hơn người vô đạo không? Kể vài việc làm hòa đồng của tôi với mọi người?
In truth, I see that God shows no partiality. Rather, in every nation whoever fears Him acts... (Cvụ 10, 35)
4/ Ông Phêrô làm phép Rứa cho dân ngoại: “Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe Lời Thiên Chúa...Họ kinh ngac vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần trên cả các dân ngoại nữa.”
Bạn thấy Thánh Thần không phân biệt ai như bạn tưởng; các Tông đồ giảng nhiều hơn là ban hành các Bí tích. Chính Thánh Thần biến đổi họ nên con Chúa. Bạn nói vài việc làm cho người bên lương biết Chúa?
The Holy Spirit fell upon all who were listening to the Word...poured out on the Gentiles also. ( Cvụ 10, 44- 45)
B. Câu Kinh Thánh đánh động tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: (The Best GodỴs Word )
ĐIỀU THẦY TRUYỀN DẠY ANH EM LÀ HÃY THƯƠNG YÊU NHAU (Gioan 15, 17)
“The command I give you is this, that you love one another .”
C. Ngay bây giờ tôi phải làm gì để Sống Lời Chúa dạy hôm nay: ( So what am I doing / For Action)
a/ Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.
b/ Bạn cần thay đổi não trạng coi thường và lên án người khác tại sao họ không giống như bạn.
D. Tôi cầu nguyện với Lời Chúa và thực hành lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )
1/ Lạy Cha, thánh Gioan đã khuyên: Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu. Xin Cha dạy cho con biết yêu thương mọi người không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, màu da.
2/ Những người đang lắng nghe ông Phêrô giảng rất kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần trên cả các dân ngoại nữa. Xin giúp con biết yêu thương và kính trọng những anh em chưa biết Chúa nữa.
Lời hay ý đẹp: ĐỂ YÊU NHIỀU HƠN, HÃY CẦU NGUYỆN NHIỀU HƠN
To love more, pray more
Huyền Đồng

PS6-B32. SLC - Yêu thương anh em

Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.

Ai trong chúng ta cũng đã biết: con người đầu đội trời, chân đạp đất. Vì thế, sống trong cuộc đời: PS6-B32

Ai trong chúng ta cũng đã biết: con người đầu đội trời, chân đạp đất. Vì thế, sống trong cuộc đời, chúng ta có hai loại bổn phận phải chu toàn. Bổn phận hàng dọc và bổn phận hàng ngang. Bổn phận đi lên và bổn phận đi xuống. Bổn phận đối với trời và bổn phận đối với đất. Hay nói một cách cụ thể hơn đó là bổn phận đối với Thiên Chúa và bổn phận đối với anh em.
Chính Chúa Giêsu đã xác quyết điều ấy :
- Giới răn thứ nhất, đó là hãy kính mến Thiên Chúa hết lòng, còn giới răn thứ hai cũng quan trọng như giới răn thứ nhất, đó là hãy yêu thương anh em như chính mình. Hai giới răn này gồm tóm mọi điều Kinh Thánh truyền dạy.
Thế nhưng, chúng ta có cảm tưởng là dường như Chúa Giêsu đặt nặng vấn đề thương người, hơn cả mến Chúa, bởi vì như lời Ngài đã phán:
- Khi các ngươi lên đền thờ dâng của lễ mà sực nhớ người anh em có điều chi bất bình với các ngươi thì hãy để của lễ đó, trở về làm hòa với người anh em mình trước đã, rồi hãy tới mà dâng của lễ sau.
Sở dĩ như thế cũng là điều dễ hiểu bởi vì Thiên Chúa là tình yêu, tất cả mọi thứ tình yêu chân thật của chúng ta đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, để rồi cuối cùng sẽ lại qui hướng về Ngài. Hơn nữa, chính tình yêu đối với anh em là dấu chỉ chắc chắn nhất để xác quyết về lòng kính mến của chúng ta đối với Thiên Chúa như Ngài bảo:
- Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau.
Hay như thánh Gioan cũng đã xác quyết:
- Ai nói rằng mình kính mến Thiên Chúa mà lại ghét bỏ anh em thì người đó là một kẻ nói dối. Bởi vì anh em là những người sống bên cạnh mình mà chẳng yêu thương thì làm sao có thể kính mến Thiên Chúa là Đấng chẳng hề thấy bao giờ.
Thế nhưng, chúng ta phải đối xử với anh em như thế nào ? Đâu là cái tiêu chuẩn để hướng dẫn chúng ta trong phạm vi này ?
 Truyền thống của người Do Thái có một câu chuyện kể lại như sau:
Ngày kia một người tìm đến với thầy Samai, thuộc phái giải thích luật một cách nghiêm khắc và cho biết mình có ý định tìm kiếm chân lý. Ông hỏi:
- Thầy có thể dạy tôi tóm lược tất cả các lề luật trong thời gian tôi đứng trên một chân. Vì tôi không thể ở lại Giêrusalem lâu được.
Nghe nói thế, thầy Samai nổi giận và truyền đuổi ông ra khỏi nhà mình. Không mất niềm hy vọng, ông ta tìm đến với thầy Gillen, một người vừa thông thái, vừa cởi mở lại vừa phóng khoáng. Có kẻ cho rằng Gillen chính là người mà Chúa Giêsu khi lưu lại trong đền thờ ba ngày vào năm lên 12 tuổi, đã chất vấn ông về lề luật.
Trước cùng một câu hỏi được đưa ra, thầy Gillen đã trả lời ngay không cần phải suy nghĩ:
- Đừng làm cho người khác điều anh không muốn họ làm cho anh. Đó là cái cốt lõi của lề luật. Tất cả những thứ khác, chỉ là để giải thích cho giới luật này mà thôi. Anh hãy đi và suy nghĩ chín chắn về điều tôi vừa nói.
Phải chăng đó chính là bước đầu tiên để chu toàn giới luật:
- Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con.
Đừng làm cho người khác điều anh không muốn họ làm cho anh. Tuy mang tính cách thụ động và tiêu cực, nhưng nếu tuân giữ cho trọn vẹn, thì chúng ta còn phải thực hành rất nhiều điều tích cực, chẳng hạn như không nói xấu, không ganh tỵ, không trộm cắp và hàng lô những cái không khác nữa, nhờ đó cuộc sống sẽ được an vui và bản thân sẽ được hạnh phúc. Nhất là nhờ đó chúng ta sẽ trở nên những môn đệ đích thực của Đức Kitô.

PS6-B33. Họ đã đóng đinh được Chúa Giêsu

VietCatholic News (01/02/2005)

Thứ Sáu Tuần Thánh

Ga 18,1-19,42

Như thế là những thượng tế, biệt phái và luật sĩ đã thành công theo cái nhìn trần tục của họ : họ đã: PS6-B33

Như thế là những thượng tế, biệt phái và luật sĩ đã thành công theo cái nhìn trần tục của họ : họ đã đóng đinh được Chúa Giêsu. Vâng, những thượng tế và ngay cả nhiều người Do Thái lúc đó đã mở cờ trong bụng, đã ăn mừng vì Giêsu người ta gọi là ĐẤNG CỨU THẾ đã chết ! Nếu nhiều người thời đó và ngay cả ngày nay đã có những suy nghĩ, đã có cái nhìn về Chúa Giêsu như thế: Họ đã lầm hay nói cách nôm na hơn họ đã u tối thật sự vì cái chết của Chúa Giêsu theo ý Chúa Cha đã làm cho Ngài được vinh quang, chiến thắng. Chết mới nói lên lời. Chết mới mở ra sự sống mới. Bản án của Chúa Giêsu mà dân chúng thời đó bị mua chuộc, bị xúi giục la ó : đóng đinh Chúa vào thập giá vẫn muôn đời còn đó và bản án cho người công chính vô tội mà Philatô tuy biết vì ghen ghét, họ đã trao nộp Chúa Giêsu cho Ông sẽ đời đời hằn sâu trên mặt Philatô vì Ông đã hèn nhát, thiếu bản lãnh để nói ít nhất là một câu cho Chúa Giêsu : Người vô tội.

I. Hạng người đã không gặp Chúa : Đám đông người qua đường. Những người qua đường,đám đông đã không thông cảm với Chúa Giêsu, họ đã hoàn toàn xấu xa,nhẫn tâm, chửi rủa,mắng nhiếc Chúa Giêsu, muôn đời họ đã không gặp được Chúa.

II. Hạng người không gặp được Chúa :Bọn lính. Những người thi hành lệnh của cấp trên, nếu xét về lý họ không có tội, nhưng họ đã hùa theo, không cảm thông với Chúa Giêsu, họ đã đánh đập, mắng nhiếc Chúa. Họ quả thực dã tâm đã không thương tiếc Chúa dù rằng họ chả có quyền gì. Họ đáng tội vì hùa theo mà thách thức làm nhục Chúa Giêsu.

III. Hạng người không gặp được Chúa:Trưởng tế, Biệt Phái, Luật Sĩ. Chính họ đã ganh ghét Chúa Giêsu, luôn rình rập để bắt bẻ và kén án Chúa Giêsu. Họ đắc chí vì đã mua chuộc được Giuđa phản bội, bán Chúa Giêsu 30 đồng bạc. Họ qúa dã man và ác tâm.

IV. Hạng người không gặp được Chúa: tên trộm dữ. Tin mừng cho thấy rõ tội của y tầy trời, nhưng y đã tỏ ra nhỏ nhen vào hùa với người khác để mắng nhiếc,nói lời lộng ngôn và thách thức Chúa Giêsu.

V. Hạng người đã gặp được Chúa : người trộm lành. Người trộm lành chấp nhận tội lỗi của mình và nhận bản án của mình là đúng, đồng thời bênh vực Chúa Giêsu là người vô tội và chê trách tên trộm dữ là lộng ngôn, vô phép không biết điều. Người trộm dữ đã được Chúa thương cứu độ, phong thánh và cho vào nước Chúa ngay vào lúc ông nại tới tấm lòng thương xót của Chúa Giêsu. "Lạy Ngài khi nào Ngài về nước Ngài xin nhớ đến tôi với". Người trộm lành đã gặp được Chúa vì ông có lòng thương người. Chính lòng thương người đã giúp ông nhận ra Chúa trong khi biết bao người đã hùa theo, la ó đòi đóng đinh Chúa vào thập giá. không một ai dám lên tiếng bênh vực Chúa Giêsu vộ tội, ngay cả các môn đệ cũng thế.

Đối diện với bản án của Chúa Giêsu và đi hết cuộc hành trình thập giá tiến về núi sọ.Ta thuộc hạng người nào ?

PS6-B34. Yêu như Chúa yêu – ĐTGM Ngô Quang Kiệt.

Yêu là một từ ngữ được sử dụng nhiều nhất, nhưng lại là một từ ngữ dễ gây hiểu lầm nhất. Vì: PS6-B34 FB

Yêu là một từ ngữ được sử dụng nhiều nhất, nhưng lại là một từ ngữ dễ gây hiểu lầm nhất. Vì người ta hiểu từ ngữ này theo những cách khác nhau. Có người hiểu yêu là những quan hệ thân xác. Có người hiểu yêu là quản lý chặt chẽ. Có người hiểu yêu thuộc lĩnh vực cảm tính. Để tránh những hiểu lầm, khi truyền cho ta yêu thương, Đức Giêsu đã đưa ra một khuôn mẫu cho tình yêu. Khuôn mẫu đó là: yêu như Chúa yêu.
“Anh em hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương anh em”. Không còn nhầm lẫn nào nữa. Muốn làm môn đệ Chúa, không phải yêu bằng bất cứ tình yêu nào, nhưng phải yêu như Chúa. Tình yêu của Đức Giêsu không phải tự Người nghĩ ra, nhưng phát xuất từ Chúa Cha: “Như Cha đã yêu mến Thày thế nào, Thày cũng yêu mến anh em như thế”. Thế là đã rõ. Tất cả bắt nguồn từ cùng một tình yêu. Đức Chúa Cha là nguồn cội. Từ nguồn mạch ấy, tình yêu tràn ra, lan toả đến mọi người. Mọi tình yêu, muốn chân thực, phải quy chiếu về trái tim Chúa Cha.
Tình yêu của Chúa Cha như thế nào? Đọc trong Tin Mừng, ta thấy Đức Giêsu đã nói nhiều về tình yêu Chúa Cha.
Trước hết tình yêu của Chúa Cha là một tình yêu phổ quát. Khác với tình yêu bình thường của con người chỉ yêu những người yêu mình, thù ghét những người ghét mình, chỉ yêu những người nào dễ yêu, ghét những người dễ ghét, chỉ giới hạn tình yêu vào một số người thân quen. Tình yêu của Chúa Cha là một tình yêu phổ quát. Tình yêu ấy lan tới tất cả mọi người không phân biệt tốt xấu. Tình yêu ấy không loại trừ một ai dù lành dù dữ. Thế nên “Người cho mặt trời mọc lên soi kẻ lành cũng như người dữ. Và cho mưa rơi xuống trên cả người công chính lẫn kẻ gian ác” (Mt 5,45). Tình yêu ấy lan toả tới súc vật cỏ cây: “Hãy xem chim trời, chúng không gieo không gặt, thế mà Cha trên trời vẫn nuôi chúng. Hãy xem bông huệ ngoài đồng. Chúng không dệt không may, thế mà Cha trên trời mặc cho chúng bộ áo đẹp hơn cả áo vua Salomon” (Lc 12,24-27).
Tình yêu Chúa Cha là một tình yêu hy sinh. Vì yêu thương, Đức Chúa Cha đã dựng nên con người. Vì yêu thương, Người đã nhận con người làm con, cho hưởng hạnh phúc với Người. Nhưng loài người vô tình không những không yêu mến mà còn muốn chống lại Thiên Chúa. vì thế, loài người đã bị phạt. Nhưng Đức Chúa Cha vẫn yêu thương loài người, nên đã có kế hoạch cứu độ loài người. Chính ở điểm này ta nhận biết tình yêu vô cùng tha thiết của Đức Chúa Cha. Không những Ngài không giận ghét loài người, không tự ái vì bị loài người xúc phạm, mà còn bày tỏ một tình yêu thương mãnh liệt không ai dám ngờ tới. Tình yêu thương mãnh liệt ấy đã thúc đẩy Ngài hy sinh Con Một yêu dấu để chuộc tội cho loài người. Vì yêu thương Chúa Cha đã hy sinh tất cả những gì có thể để cứu chuộc loài người.
Tình yêu Chúa Cha là một tình yêu tha thứ. Tha thứ là dấu hiệu của tình yêu. Khi yêu, người ta sẵn sàng tha thứ. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu nói nhiều về tình yêu tha thứ của Đức Chúa Cha. Cảm động nhất là dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu. Tóm tắt như sau: Người Cha có hai con trai. Đứa út xin Cha chia gia tài cho nó. Được rồi, nó cầm tiền, bỏ nhà ra đi, ăn chơi phung phí. Khi nó tiêu hết tiền thì vùng ấy xảy ra nạn đói. Đói bụng nó phải đi chăn lợn. Nó muốn ăn cám lợn mà chủ không cho. Bấy giờ nó hối hận và nghĩ: ở nhà cha mình các đầy tớ còn được ăn no, còn mình ở đây phải chết đói. Thế rồi, nó chỗi dậy, trở về nhà. Cha nó ngày nào cũng ra đầu ngõ chờ mong con trở về. Khi thấy nó về, ông chạy lại ôm lấy nó mà hôn lấy hôn để, rồi ông gọi gia nhân mang áo đẹp, nhẫn, giầy ra cho cậu và ra lệnh mở tiệc ăn mừng (cf Lc 15). Người cha ấy là hình ảnh Đức Chúa Cha. Thật là kỳ diệu tình yêu Người. Người quên hết những lỗi lầm của ta. Người yêu yêu ta trước khi ta yêu Người. Người tha thứ cho ta trước khi ta xin lỗi Người.
Đức Giêsu muốn chúng ta hãy noi theo tình yêu của Chúa Cha. Biết đối xử với nhau như Chúa Cha đối xử với chúng ta. Hãy yêu thương hết mọi người không loại trừ một ai. Nhất là hãy yêu thương những người bé nhỏ, cùng khổ, bất hạnh. Hãy biết tha thứ những lỗi lầm của người khác. Tha thứ không phải chỉ một lần mà tha thứ rất nhiều lần. Và hãy dám hy sinh, chấp nhận chịu thiệt thòi vì tình yêu. Yêu như Chúa yêu. Đó mới là tình yêu đích thực. Chỉ có tình yêu bắt nguồn từ Chúa mới bền vững và đem lại hạnh phúc cho nhân loại.
Lạy Cha, xin cho con hiểu được tình yêu của Cha. Xin cho con trở nên giống Cha, biết yêu thương bằng tình yêu của Cha. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1- Từ trước tới nay, bạn hiểu tình yêu thế nào?
2- Mỗi khi nghĩ đến Đức Chúa Cha, bạn nghĩ đến đặc tính nào của Người: yêu thương, quyền năng, thưởng phạt công minh…?
3- Đối với bạn, yêu thương người khác dễ hay khó?
4- Hãy kể ra những đặc tính của tình yêu của Chúa Cha.

PS6-B35. SNLC/327 - Dấn thân

Ngày nay, bạn đã nghe nói nhiều về việc chọn lựa Chúa Giêsu. Người ta nói đến việc cam kết: PS6-B35

Ngày nay, bạn đã nghe nói nhiều về việc chọn lựa Chúa Giêsu. Người ta nói đến việc cam kết dấn thân theo Chúa Giêsu, quyết định bước theo Chúa Giêsu và dâng hiến trọn vẹn cuộc đời cho Người. Tôi nghĩ loại ngôn ngữ này rất quan trọng. Chúng ta phải cam kết dấn thân cho Chúa Giêsu. Chúng ta phải quyết định theo sát Chúa Giêsu hay là không.
Việc chúng ta cam kết dấn thân theo Chúa Giêsu thì rất quan trọng, nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là chúng ta cần phải nhớ Chúa Kitô đã cam kết dấn thân cho chúng ta. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng điều đó: “Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”. Nếu phản tỉnh về đời sống của mình, chúng ta sẽ dễ dàng nhớ đến những lần mình đã bội nghĩa bất trung với Chúa. Nhưng Chúa Giêsu vẫn trung tín với giao ước mà Người đã cam kết dấn thân với chúng ta. Chúa Giêsu yêu thương chúng ta và tình yêu đó đã thúc đẩy Người dấn thân chịu chết trên đồi Canvê vì chúng ta. Sự bất trung của chúng ta không bao giờ có thể làm biến đổi tình yêu trung tín của Người dành cho chúng ta.
Cuộc đời của thánh Matthia cho chúng ta thấy rõ sự dấn thân của Chúa Giêsu cho chúng ta. Thánh Matthia được chọn lựa là tông đồ sau khi Chúa Giêsu đã chịu chết và đã sống lại. Ngài thay thế cho tông đồ Giuđa, kẻ đã tự tử. Hãy nhớ lại ngài đã được tuyển chọn như thế nào để trở thành một người trong nhóm mười hai ? Họ đã rút thăm và ông Matthia đã trúng thăm. Matthia biết rằng ông không quyết định trở thành một thành viên của nhóm mười hai, nhưng ông đã được chọn lựa và được chọn bởi chính Chúa Giêsu.
Chúng ta cũng được Chúa kêu gọi và tuyển chọn. Lời cam kết dấn thân của chúng ta chỉ là một cách đáp ứng lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Người đã chọn bạn và cả cuộc đời của bạn phải trở nên một lời đáp trả yêu thương đối với lời mời gọi đó.
Ở đây có nét tương tự như lời cầu hôn. Chúa Giêsu ngỏ lời với bạn, mời gọi bạn, và đề nghị với bạn. Người nói với bạn là Người yêu thương bạn, và Người hỏi bạn có yêu Người không ?
Lạy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa vì lời mời gọi yêu thương của Chúa. Xin Chúa ban cho con ơn biết cam kết dấn thân cho Chúa.

PS6-B36. CSTM/126 - Yêu thương

Dọc theo triền núi Trường Sơn, có một ngôi mộ đã lâu đời, trên bia mộ có khắc dòng chữ: PS6-B36

Dọc theo triền núi Trường Sơn, có một ngôi mộ đã lâu đời, trên bia mộ có khắc dòng chữ: “Tôi thương người, nhưng rất sợ lòng người”. Đây là câu nói của Hy Thanh, người nằm trong mộ. Tại sao lại khắc dòng chữ đó trên mộ của anh ta ? Câu chuyện như sau: thời bấy giờ, Hy Thanh chịu khó đi học nghề tìm mạch nước. Bạn bè khinh chê: “Dưới đất lúc nào chẳng có nước, học chi cái nghề vô dụng ấy”, gia đình cũng rủa chàng: “Học cái nghề vô ích ấy làm gì, đi đâu thì đi” Hy Thanh ra đi, ngày kiếm ăn, đêm tìm đến chùa ngủ, cắn răng chịu đựng và vẫn tiếp tục theo đuổi cái nghề ấy. Hai mươi năm trôi qua, gặp thời đại hạn, giếng khô cạn, nhiều người chết vì khát. Lúc bấy giờ người ta chợt nhớ đến chàng, chạy tới cầu cứu. Hy Thanh tìm ra mạch nước, nước chảy lênh láng khắp nơi. Dân chúng từ bốn phương hay tin đến uống, họ vui mừng ca ngợi chàng. Tuy nhiên, có kẻ vì khát lâu ngày, nay uống quá độ nên ngã lăn ra chết. Người ta quay lại mạt sát chàng, đám người có thân nhân bị chết xông vào đánh đập chàng cho đến chết. Trước khi chết, chàng nói: “Tôi thương người, nhưng rất sợ lòng người”.
Đó là câu chuyện ngày xưa, sau đây là chuyện ngày nay: Trên báo Tuổi Trẻ Chúa Nhật số 18 năm 1989 có một câu chuyện tựa đề là “Máu Cá”, tức là máu lạnh, trích trong tập “Ngồi buồn viết mà chơi” của nhà văn Nguyễn Minh Châu như sau: Tại sân ga Hàng Cỏ vào lúc tờ mờ sáng, khách đứng xếp hàng chuẩn bị lên tàu, khách ngồi chờ đợi rất đông, cùng với số lượng hàng hóa chất cao từng đống. Giữa cảnh đông đúc chen chúc như vậy, có một người đàn bà còn trẻ, y như một người mất trí, cứ hét vang cả sân: “Các ông các bà, có ai thương tôi, cứu tôi với”. Chị ta kêu đến khản cả giọng mà chung quanh chẳng ai đoái hoài. Người ta chỉ quay nhìn chị một cách thờ ơ. Có chuyện gì xảy ra vậy ? Thì ra thế này: chị ta xuống tàu trong đêm với hai đứa con: đứa ba tuổi, đứa nửa tuổi, ngồi chờ sáng. Lúc trời gần sáng, chị bảo đứa con lớn ngồi trông em để đi giặt đồ. Giặt xong, quay trở lại thì mẹ mìn đã dụ dỗ đem đứa lớn đi, chỉ còn đứa nhỏ nằm ngửa giữa sân ga một mình. Nghe xong câu chuyện, tôi (tác giả Nguyễn Minh Châu) chạy đến gặp một đồng chí công an đề nghị: “Các đồng chí nói loa đi, yêu cầu hành khách thấy ai khả nghi thì giữ lại, đứa dụ dỗ đứa trẻ, thế nào cũng có vẻ khả nghi, biết đâu nó còn quanh quẩn đâu đây, yêu cầu mọi người giúp chị ta”. Đồng chí công an chẳng nói chẳng rằng, chẳng trả lời tôi lấy một lời, còn hàng ngàn con người thì vẫn dửng dưng. Người đàn bà đau khổ vẫn kêu gào giữa hàng ngàn hành khách sân ga Hàng Cỏ như kêu gào giữa sa mạc.
Kể lại hai câu chuyện trên tôi muốn nói lên nhân tình thế thái, nói lên lòng người đối với nhau, như là gợi ý để mọi người suy nghĩ một chút về lệnh truyền và cũng là lời trăn trối, lời di chúc của Chúa Giêsu nói với các môn đệ trước khi từ biệt các ông để đi chịu nạn chịu chết trong bài Tin Mừng: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em… Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau”.
Yêu thương là một trạng thái tình cảm xưa như trái đất, tức là ngay từ khi có con người trên mặt đất đã có vấn đề yêu thương. Dân tộc nào cũng dậy yêu thương, tôn giáo nào cũng dậy yêu thương. Trong Cựu Ước, lề luật Do Thái cũng đã có luật yêu thương, chẳng hạn luật Môsê dạy: “Phải yêu thương tha nhân như chính mình”. Tới khi Chúa Giêsu xuống thế, Ngài đã giảng dạy yêu thương, thực hiện yêu thương trọn vẹn tuyệt vời. Điều đặc biệt mới mẻ trong luật yêu thương Chúa dạy là Ngài nâng luật yêu người lên ngang hàng với luật mến Chúa, đồng thời coi những hành động yêu thương như dấu chỉ để mọi người nhận ra môn đệ Ngài và là tiêu chuẩn Ngài căn cứ vào đó để khen thưởng sau này.
Như vậy, luật yêu thương nhau không những là một lời khuyên mà còn là một lệnh truyền, một sứ mệnh của người Kitô hữu. Vậy chúng ta phải thực hành luật này thế nào ? Nói khác đi, chúng ta phải yêu thương nhau thế nào ? Xin đề nghị ba điều :
Thứ nhất, yêu thương là đối xử nhân hậu với nhau. Nhân hậu là biết chịu đựng và nhường nhịn: chín bỏ làm mười, một nhịn chín lành ; nhân hậu là biết đón nhận những chướng tai gai mắt, những quê mùa nông cạn của người khác, không tranh chấp cãi cọ, tránh lời thóa mạ, cộc cằn, mỉa mai. Chúng ta hãy nhớ: khi chúng ta sống khó tính, nóng nảy, trịch thượng, bất mãn, bất đồng, thì bị mọi người xa lánh và mình làm khổ mình. Trái lại, nhân hậu là bùa mê, là nam châm thu hút lòng người.
Thứ hai, yêu thương là không nổi giận. Tức giận là một tình cảm thông thường của con người. Nói theo Á Đông, tức giận là một trong thất tình của con người. Con người có vui, có buồn, có ham muốn, có giận dữ. Vì vậy, vấn đề không phải là có giận hay không, nhưng là tại sao giận, giận ai, giận gì việc gì… Dù lý do nào đi nữa, chúng ta cũng hãy nhớ: người giận mất khôn, giận dữ chẳng được ích gì, nóng giận làm tan vỡ tất cả.
Thứ ba, yêu thương là không nói hành nói xấu. Người ta thường đổ tội nói hành nói xấu cho cái lưỡi để nói lên sự nguy hại của nó: lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, tay đã dài mà lưỡi còn dài hơn, không nọc độc nào nguy hại bằng cái lưỡi. Lời nói hành nói xấu được ví như một mũi tên tẩm thuốc độc, bắn một phát giết chết ít nhất ba người ; giết kẻ bị nói xấu, giết kẻ nghe nói xấu và giết chính kẻ nói xấu. Chúng ta hãy nhớ lời cầu nguyện sau: “Lạy Chúa, xin đừng để con rơi vào số phận của kẻ nói xấu nói hành, mà phần phạt của họ là ở trong hồ lửa diêm sinh cháy bừng bừng”.
Tóm lại, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy yêu thương nhau, và chúng ta cũng đã biết có rất nhiều cách để thể hiện lòng yêu thương đối với nhau, hôm nay chúng ta hãy nhớ ba điều: hãy đối xử nhân hậu với nhau, đừng nóng nảy tức giận nhau, và đừng bao giờ nói hành nói xấu nhau.

PS6-B37. HÃY YÊU THƯƠNG NHAU - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

VietCatholic News (04/05/2006)

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH B

Ga 15, 9-17

Cứ mỗi lần nghe bài hát:” Thầy yêu chúng con lời ai nói cho cùng…Yêu nhau chính là giới răn của: PS6-B37

Cứ mỗi lần nghe bài hát:” Thầy yêu chúng con lời ai nói cho cùng…Yêu nhau chính là giới răn của Thầy “, tôi lại như có một cái gì đó xôn xao, thúc giục tôi phải bắt chước Chúa:” yêu và yêu thật nhiều”. Xưa trước khi từ giã các môn đệ thân yêu của Người, Chúa Giêsu đã tâm sự, đã trối lại cho các ông một giới răn mới, giới luật yêu thương.

Giới luật này khác với luật lệ của con người :” Chúa bảo phải yêu thương như Chúa, còn con người cứ sự thường yêu những người nào yêu mến họ”. Đây là điểm đặc biệt và khác lạ của giới luật yêu thương của Chúa Giêsu: “ yêu mọi người ngay cả kẻ thù của mình nữa “

CÁI “ LOGÍC “ YÊU THƯƠNG : Đức ái buộc người Kitô hữu phải yêu thương hết mọi người kể cả những kẻ thù ghét họ ( Lc 6,27-35 ). Yêu người sẽ gặp Chúa và yêu Chúa sẽ gặp người. Đọc đoạn Tin Mừng 15, 9-17 của thánh Gioan, ta có cảm tưởng Chúa nhấn mạnh đến điểm phải yêu thương người khác mà quên đi điểm thứ nhất là yêu mến Thiên Chúa. Thực ra không phải thế vì mọi tình yêu thứ thiệt đều phát xuất tự Thiên Chúa. Hãy đọc chậm rãi đoạn Tin Mừng này, ta sẽ bắt gặp cái logíc của Chúa Giêsu trong phần đầu của đoạn Tin Mừng này.” Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” ( Ga 15,9a ). Chữ như làm nổi bật câu nói và sự nhấn mạnh của Chúa Giêsu. Chúa yêu mến con người như Chúa Cha đã yêu mến Ngài. Do đó,” anh em hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em “( Ga 15, 12 ). Chính chữ như là móc nối làm ta hiểu rõ giới răn mới của Chúa Giêsu. Trong giới răn mới đã bao hàm giới răn thứ nhất vì ở đây không chỉ nói tới một loại tình yêu hời hợt, một thứ tình yêu bề ngoài nhưng là một tình yêu cao vời, tình yêu hy sinh, tình yêu tự hiến:” Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người dám hy sinh cho người mình yêu” ( Ga 15, 13 ). Ở đây, Chúa còn đi xa hơn nữa là đòi con người chia sẻ tâm tư của Người: đó là ý nghĩa của kiểu nói giữ các điều răn của Thầy ( Ga 15, 10 ). Ở trong Chúa, con người sẽ trở nên bạn hữu của Người, hiểu biết Chúa là Đấng yêu thương con người và hành động nơi con người. Nên, con người sẽ sinh hoa trái đích thực của tình yêu, trên cây nho duy nhất là Chúa Giêsu. “ Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã thương yêu chúng ta trước, và đã sai con Một Người đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta”. Thiên Chúa Cha đã sai Con của Người là Đức Giêsu đến thế gian để yêu thương con người và loài người. Chúa Giêsu đến để chia sẻ thân phận làm người với chúng ta và để yêu thương con người. Chúa Giêsu tự hạ mình để sống kiếp người ngoại trừ tội lỗi.. Đây là cốt lõi của tình yêu Thiên Chúa: Con của Người là Đức Giêsu đã tự hiến chết trên thập hình để cứu rỗi nhân loại.

TÌNH YÊU TỰ HIẾN CỦA CHÚA GIÊSU VÀ SỰ CHIA SẺ TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI CHO HỘI THÁNH VÀ CHO MỖI NGƯỜI: Thánh Gioan đã cảm nghiệm sâu xa tình yêu của Giêsu. Ngài nhắc đi nhắc lại trong Tin Mừng thứ tư và trong các thư của Ngài :” chúng con hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”. Chúng ta đếm được 70 lần lời nhắc đi nhắc lại này. Ở lại trong Thầy là sống gắn bó, mật thiết với Đức Giêsu Kitô như Người vẫn ở trong Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Do đó, Chúa Giêsu luôn nhắn nhủ các môn đệ, những người sẽ làm môn đệ của Người và mọi người, mọi thế hệ hãy sống xa cái cám dỗ là sống trong tình trạng thiếu tình thương. Thiên Chúa là tình yêu. Do đó, mọi tình yêu đều bắt nguồn từ Thiên Chúa. Sự cám dỗ thúc đẩy con người hận thù, ghen ghét. Chiến tranh, bạo lực, khủng bố, sida, ma túy là những cám dỗ tai hại nhất khiến con người rời xa tình yêu của Thiên Chúa. Nói đúng hơn, vì không gắn bó thân thiết và mật thiết với Đức Giêsu mà con người sống lại tình trạng của Cain giết Abel. Chúa Giêsu đã tâm sự và nhắn nhủ các môn đệ. Người bảo các môn đệ :” Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Tuy nhiên Người còn đi xa hơn nữa là bảo các môn đệ và mọi người yêu thương cả kẻ thù nghịch, cả những kẻ mà chúng ta không thiện cảm, không thích bao nhiêu.

Giới luật của Chúa Giêsu là chúng ta hãy yêu mến người khác, như thể Người không muốn tình yêu mà Người đã trao ban cho chúng ta sẽ không hoàn trả lại Người, nhưng đổ tràn trên người khác. Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu không cần đáp trả, tình yêu cao vời, tình yêu tự hiến. “ Cho thì vui hơn nhận “( cvtđ 20, 35 ). Chúa Giêsu cho chúng ta thấy tình yêu của Người cao xa như thế nào, lớn lao như thế nào đối với nhân loại, đối với chúng ta. Chúa tặng ban nhưng không tình yêu của Người cho Giáo Hội, cho nhân loại, cho mỗi người. Người chia sẻ kinh nghiệm tình yêu dâng hiến của Người cho các môn đệ, cho Giáo Hội và cho mỗi người chúng ta. Người cho Hội Thánh, cho chúng ta hiểu niềm vui của Người, niềm vui tròn đầy, hạnh phúc viên mãn mà Người đã trao ban cho toàn nhân loại qua cái chết của Người trên thập giá. Đây là đỉnh cao nhất của tình yêu của Chúa Giêsu: chết mới nói hết, chết mới được nên lời.

Lời của Chúa Giêsu hôm nay tự vấn lương tâm của mỗi người, của mọi người trong Hội Thánh:” Hãy xét lại tinh thần hy sinh của chúng ta “. Kahil Gibran viết một câu thật chí lý:” Bạn chỉ cho đi quá ít khi cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi”.

Lạy Chúa Giêsu xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con biết yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng con.

PS6-B38. Hội Thánh được an ủi - Lm. Jude Siciliano, OP

VietCatholic News (01/02/2005)

Chúa Nhật 6 Phục Sinh B

Ga 15,9-17

Thưa quí vị,

Suốt các tuần lễ mùa Phục sinh, Phúc âm nói đến việc Chúa Giêsu sống lại và hiện ra với các Tông: PS6-B38

Suốt các tuần lễ mùa Phục sinh, Phúc âm nói đến việc Chúa Giêsu sống lại và hiện ra với các Tông đồ. Nhưng tuần vừa qua và tuần này có một chút chuyển hướng. Phụng vụ trích đọc từ bài huấn dụ cuối cùng của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly. Mặc dầu chúng ta vẫn còn đang ở trong mùa Chúa sống lại hiển vinh, nhưng tại sao các bài đọc Tin mừng lại nói về đêm ngay trước cuộc tử nạn? Tức những lời chăng chối Chúa Giêsu dành cho môn đệ? Dụng ý phụng vụ có thể là vì trong bài huấn dụ, Chúa Giêsu nói nhiều về chia ly, hứa hẹn, cam đoan, dặn dò, di chúc, thích hợp cho việc chuẩn bị mừng lễ Chúa lên trời. Khi ấy, các môn đệ chẳng còn được trông thấy Chúa nữa, nhưng Hội Thánh và thế giới vẫn được bảo đảm sẽ cảm nhận sự hiện diện của Ngài cách khác. Ngài lên ngự bên hữu Thiên Chúa Cha và gởi Thần Khí xuống Giáo hội, tức lễ Hiện xuống. Như vậy các môn đệ và Hội Thánh được an ủi. Bởi Ngài giống như các cha mẹ, tuy tạm thời lìa bỏ con cái, nhưng vẫn lo liệu cho chúng được an lành. Những đứa con mà Ngài biết còn phải ở lại thế gian để tiếp tục công việc cứu nhân độ thế của Ngài.

Do đó, một điểm rõ nét trong bài đọc Tin mừng Chúa nhật này là Chúa Giêsu cam đoan hằng ở lại trong mối tương quan mật thiết với Hội Thánh. Ngài không giống như những bậc hiền triết thế gian, xuống thế chỉ trong một thời gian ngắn nào đó, khởi sự công việc, rồi trẩy đi nơi xa, hẹn ngày trở lại để kiểm tra công việc của các môn đệ. Nói cách khác, Ngài không xuống thế gian để thiết lập một mẫu người lý tưởng cho chúng ta bắt chước, rồi rời bỏ chúng ta mà về trời, mặc chúng ta tự thân sống theo gương Ngài. Hiện Ngài không đứng trên Cổng Đền Vàng Thiên Cung, chờ đợi chúng ta hoàn thành công việc, thẩm tra xem chúng ta đã cố gắng thế nào trong tiến trình theo gương Ngài, rồi tuyên án thưởng phạt cho cân xứng.

Thực tế, chúng ta chẳng cần một thần tượng để sống rập theo khuôn. Chúng ta cần một vị Cứu tinh. Đấng đã một lần sống chết cho nhân loại. Đấng luôn ở với nhân loại để ban sức mạnh và hướng dẫn chúng ta sống chết theo gương Ngài, bằng chính cuộc đời mình. Hôm nay cũng như Chúa nhật vừa qua, sứ điệp quan trọng nhất của Chúa Giêsu là ở lại trong Ngài. Đó là đường lối để chúng ta thi hành lệnh truyền yêu thương của Ngài. Chính Ngài ban ơn để chúng ta sống đời sống của Ngài. Sự thật là tự mình, chúng ta chẳng thể sống như vậy. Không liên kết với Ngài, dù cố gắng đến mấy đi nữa chúng ta chỉ như ngành nho khô héo. Không ơn Ngài, không ở lại trong Ngài, không có sự hiện diện của Ngài, thì dù Giáo hội hoặc mỗi cá nhân, không thể sống ơn gọi thương yêu mà bài Tin mừng hôm nay đề cập tới: “Hãy thương yêu nhau, như Thầy đã thương yêu anh em.” Tình yêu của Ngài là tình yêu hy sinh mạng sống cho người khác. Chúng ta có thể làm được chuyện đó mà không cần ơn Ngài trợ giúp?

Một số người phàn nàn rằng từ sau Công đồng Vat. II Hội Thánh đã trở nên mềm yếu, toàn nói về tình yêu. Họ muốn trở lại thời kỳ trước Công đồng, cứng rắn và bất khoan dung, trắng ra trắng, đen ra đen, không mập mờ nước đôi. Họ nhớ lại thời niên thiếu của mình, mà hối tiếc nếp sống kỷ luật cũ. Nhưng chúng ta không còn là trẻ con. Lệnh truyền yêu thương đã có từ thời Chúa Giêsu. Đấng sáng lập Hội thánh, chứ không phải sáng kiến của Vat.II hoặc xu thế của thời đại mới. Chính Chúa Giêsu đã ban lệnh truyền : “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (15,12). Ngài còn thêm: “Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy.” (15,14). Nghĩa là Ngài không nói với Giáo hội, với các Tông đồ trong tư thế một ông chủ (nói với nô lệ) mà là người bạn (với bạn hữu mình). Tôi tớ, nô lệ phải chấp hành kỷ luật của ông chủ. Đời sống của họ được ông chủ hoạch định và chỉ huy. Nếp sinh hoạt của các tín hữu không theo mẫu mực đó. Ngược lại tình yêu là căn bản để họ sống. Ngài bảo đảm Thiên Chúa đã thương yêu họ trước, chẳng phải vì công lênh mỗi người, nhưng hoàn toàn vì ân huệ. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thể hiện lòng yêu mến đó. Chúng ta là bạn hữu của Ngài cho nên Ngài yêu cầu chúng ta sống như bạn hữu với nhau, không thù hận, không ghen tương. Từ “bạn” trong mạch văn có nghĩa là những “người được mến yêu”. Chúng ta phải sống đúng tiêu chuẩn đó, bởi chúng ta là những môn đệ được Ngài yêu thương.

Trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, các tín hữu dùng những danh từ khác nhau mà miêu tả mình, khi sang trọng, như “ngôn sứ”, đại diện, đại sứ, môn đệ, sứ giả của Ngài, khi khiêm nhượng, như bầy tôi, nô lệ, thuộc hạ… Trong Kinh thánh đôi lúc cũng dùng các từ đó. Nhưng ở trường hợp này, trước lúc ra đi, Chúa Giêsu gọi các môn đệ là bạn hữu dấu yêu và Ngài sẽ hy sinh mạng sống để cứu vớt họ. Thật là một tình yêu cao cả. Bởi đây là giây phút nghiêm trọng nhất trong cuộc đời Ngài, không thể khách sáo hay giả hình. Hoàn toàn là sự thật và chân thành. Những tác giả viết các dòng trên là môn đệ nhiệt thành của Chúa Giêsu. Họ có ấn tượng sâu sắc về các điều quan trọng Thầy mình đã dạy, cho nên họ không thể viết sai chân lý. Những điều họ để lại cho nhân loại hoàn toàn đúng với sự thật mà họ đã được nghe và chứng kiến. Chúng ta không thể nghi ngờ về nội dung họ viết ra, chỉ có điều chúng ta thực hiện hay không! Chúa Giêsu biết rõ thế gian sẽ đối xử tàn tệ với các môn đệ và những người vâng theo giáo lý của Ngài, cho nên Ngài bảo đảm với họ, dù thế nào đi nữa, tồi tệ đến đâu đi nữa, thì họ vẫn được Ngài yêu dấu. Trong Tin mừng hôm nay, Ngài nhắc đi, lặp lại nội dung đó nhiều lần. Thành công của họ trên thế giới không phải theo tiêu chuẩn loài người : địa vị, tài sản công danh, tiền bạc… mà là trung tín với những lời sau đây: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”. (15,9). Quí vị nghĩ sao? Còn điều gì tha thiết hơn được nữa? Vậy xưa nay chúng ta đáp trả lòng quí mến của Chúa Giêsu thế nào? Nếu chưa được nghiêm chỉnh thì hôm nay chính là thời điểm thuận tiện để chúng ta hạ quyết tâm trung thành với lời mời gọi của Chúa.

Còn điểm sau đây nữa cũng phải bàn cho thấu đáo, tuy rằng có khi trước đây đã nghe giảng giải nhiều lần. Nhưng hễ gặp chữ yêu thương mà Chúa Giêsu nói tới, nhiều người tưởng tượng là thứ tình yêu khả giác chúng ta dành cho cha mẹ, ông bà, con cái, họ hàng, bạn bè và các thành viên khác của gia đình. Không đúng vậy. Từ mà Chúa Giêsu dùng ở đây là “Agape” (bác ái). Tức yêu thương rộng rãi, không loại trừ. Nó không phải là yêu thương dành cho thân thuộc mà thôi, nhưng cho hết mọi thành viên trong nhân loại, dầu tốt, dầu xấu. Nó không phải là tình yêu theo bản năng, ưa thích những gì đẹp đẽ nơi người khác, mà là sẵn lòng vươn tới tha nhân, hành động vì lợi ích của họ, dù người đó có liên hệ với mình hay không, miễn là họ cần đến sự trợ giúp của mình. Nhiều lúc còn phải hy sinh tiền của, thời giờ, sức lực nữa. Chúa Giêsu đã làm gương về lòng yêu mến kiểu “Agape” này. Ngài đã hy sinh chính bản thân cho nhân loại. Thiên Chúa yêu trần thế một cách vô điều kiện, tức không đòi hỏi ở chúng ta tính đáng yêu, đáng mến trong ngôn ngữ thế gian. Sự chết của Chúa Giêsu trên thập tự phản ánh một cách hoàn hảo tình yêu Đức Chúa Trời dành cho loài người. Ngài yêu chúng ta cho nên Ngài đã đi bước trước để chứng tỏ tình yêu đó. Ngài hành động nguyên vì sự an lành của nhân loại.

Cho nên, “mang nhiều hoa trái” là hệ quả đương nhiên của trạng thái ở lại trong Chúa Giêsu. Cằn cỗi, vô sinh là bằng chứng chúng ta không còn ở lại trong tình yêu của Ngài. Chúng ta đã bị cắt đứt khỏi thân nho. Như vậy cũng dễ thẩm định hiện trạng của mỗi linh hồn. Hằng ngày chúng ta phải hồi tâm suy nghĩ để xem mình còn thực sự ở lại trong Chúa hay không? Thực ra, ẩn dụ: “mang nhiều hoa trái” có nhiều ý nghĩa, áp dụng được vào rất nhiều tình huống. Theo Tin mừng Gioan, mang nhiều hoa trái là rao giảng và làm chứng tình yêu của Chúa Giêsu cho thế gian. Mặc dầu Ngài sắp lìa bỏ các môn đệ, nhưng các ông vẫn liên kết chặt chẽ với Ngài trong lòng yêu mến, mang nhiều hoa trái và ở lại trong tình thương của Ngài.

Tuy nhiên làm thế nào Chúa Giêsu duy trì liên hệ với nhân loại, một khi đã về trời? Xin thưa, cũng giống như mọi mối liên hệ khác: Bằng tương giao. Chúa Giêsu tiếp tục làm mưa Thần Khí của Ngài trên các Tông đồ và Hội Thánh. Các Tông đồ và Hội thánh vừa lãnh nhận, vừa đáp ứng sự hiện diện của Thần Khí. Trong Phúc âm hôm nay, sự đáp ứng đó, như Chúa Giêsu nói, là niềm vui trọn vẹn: “Các điều ấy, Thầy nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.” (15,11). Cũng như các Tông đồ thuở xưa, ngày nay người tín hữu phải gieo rắc và làm chứng nhân cho niềm vui của Thiên Chúa. Tác giả Leon Bloy viết: “Người Kitô hữu chỉ có nỗi buồn duy nhất: Mình chưa phải là một vị thánh.” Ngoài ra không còn nỗi buồn nào khác. Có thể thế gian còn làm cho chúng ta đau khổ, có thể nó còn rình chờ để nuốt chửng Hội thánh. Nhưng ở lại trong Chúa Giêsu bảo đảm sự hiện diện của Ngài. Nhờ sự hiện diện này, linh hồn mỗi người tràn ngập niềm vui. Các thánh đều đã cảm nghiệm được như vậy. Có vị suốt đời hớn hở vui mừng dù phải chịu muôn vàn cực hình thể xác. Theo kinh nghiệm truyền giáo của Hội thánh, nhiều tín hữu tốt cũng thường được hưởng niềm vui này. Do đó, nếu có ai (tu sĩ hay giáo dân) cảm thấy bất hạnh trong bậc sống của mình, thì đó là vì không còn ở trong con đường thánh thiện nữa. Xưa nay vẫn thường xảy ra bất mãn, rồi tìm cớ đổ lỗi cho hoàn cảnh. Không có hoàn cảnh nào làm cho người tín hữu mất vui, mất hạnh phúc, nếu như còn ở lại trong tình yêu của Chúa Giêsu ! Thế gian đã không thắng được Ngài thì ở lại trong Ngài chắc chắn sẽ đưa chúng ta đến hạnh phúc. Tôi được quen biết nhiều gia đình giáo dân, bên ngoài xem ra bất hạnh, như bệnh tật, tuổi già, nghèo khổ. Nhưng kỳ thật, họ rất hạnh phúc, và làm chứng cho nhau về niềm vui của Thiên Chúa. Họ phục vụ nhau trong hoan hỉ vui tươi khiến tôi phải mủi lòng và xấu hổ. Khi vua Napoleon của nước Pháp thất bại, bị bệnh gần chết ở đảo Saint Hélène, người ta tiến lại gần giường nhà vua, hỏi xem ngày nào là ngày hạnh phúc nhất của ông. Nhà vua quay mặt ra cửa sổ nhìn biển xanh, rồi trả lời: “Ngày tôi được rước lễ lần đầu. Có Chúa Giêsu ngự trong linh hồn tôi”. Đúng vậy, muốn được hạnh phúc thật, người ta phải ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa. Ngoài ra là bất hạnh. “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của thầy cho anh em. Thứ bình an mà thế gian không thể ban tặng.” (14,27). Amen, Alleluia.

PS6-B39. TÌNH YÊU CAO QUÝ - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

VietCatholic News (01/02/2005)

Chúa Nhật 6 Phục Sinh B

Wiliam Oscar Wilde đã viết về một huyền thoại tình yêu : "Hoạ mi và bông hồng đỏ". Một sớm mùa hè: PS6-B39

Wiliam Oscar Wilde đã viết về một huyền thoại tình yêu : "Hoạ mi và bông hồng đỏ".

Một sớm mùa hè, con hoạ mi làm tổ trên cành dương đã nghe trọn lời than thở của một chàng trai bên cửa sổ :"Nếu anh không kiếm nổi bông hồng đỏ để em cài ngực áo trong buổi dạ hội đêm nay, em sẽ xa anh mãi mãi". Hoạ mi dư hiểu chàng trai đã lang thang khắp các nương đồng. Nhưng tìm đâu một bông hồng màu đỏ dưới nắng cháy mùa hạ này ? Trời ơi, người tình sẽ chắp cánh bay xa mất thôi. Hoạ mi không chịu nổi dằn vặt bi thương của chàng. Hoạ mi phải ra tay giúp đỡ.Hoạ mi khép cánh trước cây hoa hồng bên giếng nước nài xin :

- Chị hồng ơi, chị có vui lòng tặng em một bông hồng đỏ thắm không ?

- Hoạ mi ơi ! em vô tâm như những chiếc gai trên thân chị. Mùa hạ nắng cháy sao em lại xin hoa hồng đỏ ?

Chị hồng rung rung cành lá giận dỗi. Hoạ mi tiếp tục tìm kiếm. Nàng nép mình đậu trên một cành hồng ngoài xa hàng dậu.

- Chị hồng ơi, có phép mầu nào làm nở cho em một bông hồng đỏ chăng?

- Hoạ mi ơi, đời cần hoa chi cho thương đau ?

- Sao cũng được, miễn em kết chặt một mối tình

- Được, những phép mầu cần phải có máu đỏ.

- Bằng mọi giá chị ạ.

- Bằng giá sinh mạng?

- Kể cả sinh mạng em.

- Hoạ mi ơi ! Hãy đặt cổ em trên gai nhọn của chị, hãy hót cho chị, cho cây cỏ, cho đất trời khúc tình ca thắm thiết nhất đời em. Hãy đổ máu đỏ cho bông hồng nở. Hãy nhuộm máu cho bông hồng đỏ. Mình sẽ có một bông hồng đỏ như máu đẹp nhất trần gian.

Hoạ mi đã hót say mê đến giây phút cuối cuộc đời, đã đổ đến giọt máu cuối cùng, đã chết rũ trên cành hồng bên cạnh đoá hồng bí nhiệm đỏ thắm nở tươi.

Chàng trai mừng vui tiếng cười mở hội. Bông hồng được hái về trau chuốt trước khi có mặt trong dạ hội. Điều lạ lùng nhất và cũng phi lý nhất, phi lý như chính cuộc đời phi lý, là người tình đã khước từ đoá hồng bí nhiệm, vì trên ngực áo cô gái một bông hồng giả đang ngự trị … Sáng hôm sau, dân làng bắt gặp một đoá hồng bị nghiền nát, nằm tả tơi dưới vết bánh xe bò.

Hoạ mi yêu người,đã lấy máu và sinh mạng đổi lấy bông hồng. Người thiếu nữ nhận bông hồng giả để chối từ một tình yêu chân thật.

Câu chuyện là một huyền thoại, chuyên chở một nội dung rất thực : Đó là nét thực của tình yêu, của tự do, của hy sinh. Tình yêu phải được nuôi dưỡng bằng hy sinh, bằng máu, bằng cả sinh mạng.”Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”

Hoạ mi đã cất tiếng hót bi thương trước khi chết vì muốn hiến tặng đoá hồng. Chúa Giêsu trước khi chịu khổ nạn,chịu chết đã để lại cho các môn đệ những lời tâm huyết rất chân thật và cũng là những chỉ thị cuối cùng của Ngài.”Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Chỉ thị này bao hàm mọi chỉ thị khác.

Chữ “như” ở đây thật quan trọng. Chúa Giêsu đã so sánh : như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em, anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em.

Như Cha đã yêu mến Thầy. Đức Giêsu đã nhiều lần nói về tình yêu của Chúa Cha dành cho Người ( x.Ga 3,35;5,20;17,24). Chúa Cha cũng nhiều lần xác nhận điều này(x Mt 3,17;17,5). Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con là tình yêu chia sẽ và trao ban.Tình yêu của Chúa Con đối với Chúa Cha là tình yêu tôn kính và vâng phục. Chúa Con yêu các môn đệ như tình yêu Chúa Cha đối với Người.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong thông điệp Sự Rạng Ngời Chân Lý số 20 đã viết: Chữ như này đòi hỏi phải bắt chước Chúa Giêsu, nơi tình yêu của Người mà việc rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể. Chữ như cũng chỉ mức độ mà Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ và các môn đệ cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy.

Yêu như Thầy đã yêu là yêu như thế nào?

Thầy chấp nhận cái chết thập hình để chuộc tội nhân loại “Không có tình thương nào cao hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”

Thầy không coi anh em là tôi tớ, nhưng Thầy coi anh em là bạn hữu của Thầy. Ngài là Thầy, là Chúa.Các môn đệ là người, là đệ tử. Nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ cũng được, nhưng không,Chúa đã coi họ là bạn hữu ngang hàng với Ngài. Bạn hữu tri âm tri kỷ nên “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy,Thầy đã cho anh em biết”.

Cả cuộc đời của Chúa đã sống tình yêu nhập thể và hiến dâng cho tất cả mọi người.Chúa không để ai về tay không khi đến với Người. Kẻ mù được sáng, người què đi được, kẻ điếc nghe được, người câm nói được, những kẻ tội lỗi, những cô gái điếm tìm được ơn thứ tha…

Tình yêu của Chúa cao đẹp quá, cao quý quá.Anh em hãy yêu như Thầy đã yêu. Quả thật là quá khó đối với con người !Vẫn biết rằng con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức ”như Thầy đã yêu”, nhưng lời mời gọi của Chúa vẫn luôn giục giã chúng ta hướng theo đường Chúa đã đi, lấy tình yêu của Chúa làm tiêu chuẩn cho mọi hành động, làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi suy nghĩ, lời nói việc làm của chúng ta.

Cội nguồn của dòng sông tình yêu phát xuất từ Chúa Cha qua Đức Giêsu tuôn chảy đến nhân loại.Tình yêu là nguồn sự sống, là động lực chính yếu của cuộc đời và sau hết tình yêu cũng là cứu cánh của cuộc đời:”Vạn sự đã do tình yêu sáng tạo, vạn sự được Tình yêu nâng đỡ, vạn sự đi về tình yêu và đi vào trong tình yêu” ( R.Tagore)

Chính tình yêu Thiên Chúa đã gọi chúng ta vào trường đời để dạy chúng ta sống yêu thương,bác ái;chính tình yêu Thiên Chúa đã cứu sống chúng ta và chính nhờ tình yêu ấy mà chúng ta được sống, cũng như cành nho chỉ sống nhờ kết hợp với cây nho.

Nguyện xin Chúa giúp chúng con tập sống yêu thương ”như Thầy đã yêu” khi thực thi lời Chúa dạy “ Điều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho cho chính Ta”.

PS6-B40. Yêu là hiến thân trọn vẹn - Lm. Peter Hà Ngọc Đoài

Lời Chúa: Acts 10:25-26,34-35,44-48; 1Jn 4:7-10; Jn 15:9-17

Chủ Đề: Yêu là hiến thân trọn vẹn - Lm. Peter Hà Ngọc Đoài

Suy Niệm: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình “ (Jn 15:9-17)

Đức Giêsu đã dùng hình ảnh cây nho. Thân nho chuyển nhựa sống cho các cành. Mỗi cành không: PS6-B40

Đức Giêsu đã dùng hình ảnh cây nho. Thân nho chuyển nhựa sống cho các cành. Mỗi cành không thể sống tách biệt khỏi thân. Hôm nay, Đức Giêsu dùng hình ảnh mật thiết hơn để diễn tả sự thông truyền sự sống. Sự trao thân của vợ chồng cho nhau vẫn là hình ảnh đẹp nhất. Vợ chồng trở nên một xương thịt. Vào tháng 12 năm 1999. Một gia đình Công Giáo đã sống trọn vẹn trong mối tình này. Người chồng mắc nhiều chứng bệnh, cơ thể bị tàn tạ do các chứng bệnh hành hạ! Trong bi cảnh đó những người trong gia đình cùng phải đau khổ triền miên: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ “. Ngày kia, sau những lần khám bệnh, bác sĩ cho biết rằng nếu có ai trong gia đình hiến tặng một trong các cơ phận sẽ cứu sống được bệnh nhân. Người vợ hiền, cho dù liễu yếu đào tơ, đã sẵn sàng hiến tặng cho chồng một phần cơ thể. Trước đây họ trao thân cho nhau để cho con cái sự sống. Nay vợ trao thân cho chồng để chồng được sống! Sự hiến trao thật trọn vẹn, thật sắt son. Nghĩa cử này, diễn tả rộng hơn trăm ngàn trang giấy trong các tác phẩm về tình yêu. Người vợ đã trao một phần thân thể để cứu người yêu ởđời này, nhưng thiên ý lại định cách khác. Ngài thưởng công và nâng cao sự sống của nguời chồng nơi cõi trời vinh phúc. Trước đây người vợ hiền, trung tín thờ chồng ở trần gian, nay từ thiên quốc được chồng cầu ơn phúc cho cả giađình.

Thực Hành: “Chúng ta phải thương yêu nhau, vì tình yêu bởi Thiên Chúa mà ra “ (1Jn 4:7) Tình yêu tự nhiên của loài người thì có khuynh hướng chiếm hữu và thống trị người mình yêu. Trái lại tình yêu của Thiên Chúa thì trao ban và thăng hóa người yêu. Lay, Chúa, xin cho con cảm nhận sâu xa tình yêu Chúa để con yêu tha nhân như Chúa yêu con.

PS6-B41. CỐT YẾU CỦA ĐẠO KI-TÔ LÀ YÊU THƯƠNG!

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH NĂM B (17.05.2009)
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ       

Sáng Chúa Nhật Phục Sinh năm nay, tôi đến một Dòng Nữ. Khi nói chuyện với tôi, chị phụ trách đào tạo: PS6-B41

Sáng Chúa Nhật Phục Sinh năm nay, tôi đến một Dòng Nữ. Khi nói chuyện với tôi, chị phụ trách đào tạo của Dòng này dặn dò tôi rằng: “Khi có dịp nói chuyện hay chia sẻ với giáo dân thì xin anh nhấn mạnh đến việc các Ki-tô hữu cần phải sống bác ái yêu thương, vì tôi thấy còn rất nhiều giáo dân thiếu sót trong việc hệ trọng ấy! ” Lời dặn dò của chị nữ tu làm tôi nhớ lại bài ca đức ái của Thánh Phao-lô trong chương 13 của thư thứ nhất Cô-rin-tô mà tôi đã có nhiều dịp đọc đi đọc lại và quảng diễn cho các Khóa Thánh Phao-lô trong thời gian vừa qua. Theo giáo huấn của Chúa Ki-tô cũng như của Thánh Phao-lô thì cốt yếu của Ki-tô giáo là yêu thương. Nói yêu thương thì dễ nhưng thực hành đức ái thì quả là không dễ chút nào! Nhưng cốt yêu của Đạo Ki-tô lại chính là yêu thương tha nhân như chính mình! Các bài Sách Thánh của Chúa Nhật VI Phục Sinh Năm B hôm nay nhắc cho chúng ta nhớ và thực hiện điều cốt yếu ấy! 
II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Bài đọc 1 (Cv 10,25-26.34-35.44-48): Thiên Chúa ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại.
 (25) Khi ông Phê-rô bước vào nhà ông Co-nê-li-ô, thì ông liền ra đón và phủ phục dưới chân ông mà bái lạy. (26) Nhưng ông Phê-rô đỡ ông ấy lên và nói : "Xin ông đứng dậy, vì bản thân tôi đây cũng chỉ là người phàm."  
(34) Bấy giờ ông Phê-rô lên tiếng nói: "Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. (35) Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận.
(44) Ông Phê-rô còn đang nói những điều đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. (45) Những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phê-rô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa,  (46) bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Bấy giờ ông Phê-rô nói rằng:  (47) "Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?" (48) Rồi ông truyền làm phép rửa cho họ nhân danh Đức Giê-su Ki-tô. Sau đó họ xin ông ở lại ít ngày.
2.2 Bài đọc 2 (1 Ga 4,7-10):  Thiên Chúa là tình yêu.
(7) Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. (8) Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu. (9) Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. (10) Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta.
2.3 Bài Tin Mừng (Ga 15,9-17): Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của Người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu.
 (9) Khi ấy Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. (10) Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. (11) Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.
 (12) “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (13) Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. (14) Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. (15) Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.
(16) “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. (17) Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”
III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG & SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
3.1 Chân dung của Thiên Chúa:
3.1.1 Bài đọc 1 (Cv 10,25-26.34-35.44-48) là tường thuật việc Thánh Thần Thiên Chúa được ban cho những người chưa chịu Phép Rửa mà Tông đồ Phê-rô gặp tại nhà ông Co-nê-li-ô. Trước cảnh tượng lạ lùng và bất ngờ ấy, Tông đồ Phê-rô phải tuyên bố: “Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?”
Qua sự kiện trên chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng không thiên vị ai: do lòng yêu thương, Người đã ban Thánh Thần và niềm tin cho mọi người thành tâm thiện chí tìm kiếm Người.
3.1.2 Bài đọc 2 (1 Ga 4,7-10) là lời giảng dạy của Tông đồ Gio-an dành cho các môn đệ:  hãy yêu nhau vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa: “Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa.” Thế có nghĩa là những ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.  Thiên Chúa thể hiện Tình yêu của Người đối với nhân loại bằng việc sai Con Một Người đến thế gian để nhờ Con Một ấy mà con người được sống. Trong Tình Yêu Thiên Chúa là Đấng đi trước khi dựng nên chúng ta, cứu chuộc chúng ta, chọn chúng ta làm con, làm bạn hữu nghĩa tình.
3.1.3 Bài Tin Mừng (Ga 15,9-17) là những lời tâm sự của Đức Giê-su tiếp nối những lời khẳng định về mối quan hệ khắng khít giữa Người và các môn đệ. Cả một kho tàng phong phú được chính Chúa Giê-su mạc khải và trao ban cho chúng ta:
(a) Chúa Cha yêu mến Chúa Giê-su thế nào thì Chúa Giê-su cũng yêu thương các môn đệ như vậy. Chúa Cha yêu Chúa Giê-su vì Chúa Giê-su đã thực thi trọn vẹn thánh ý và kế hoạch của Cha. Chúa Giê-su đã yêu thương các môn đệ đến hy sinh mạng sống mình vì họ: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.”
(b) Chúa Giê-su mời gọi các môn đệ đáp lại tình thương vô biên của Người là ở lại trong tình thương của Người. Bằng cách tuân giữ các điều răn, nhất là điều răn yêu thương  - như Người đã vì yêu thương mà giữ các điều răn của Cha.
(c) Chúa Giê-su đã coi các môn đệ là bạn hữu thân thiết nên đã bộc lộ cho biết những điều Người đã nghe/biết được ở nơi Cha. Và Người đã chọn các ông trước, chứ không phải ngược lại. Người chọn các ông để sai họ đi rao giảng, làm chứng cho Nước Trời và cho Tình Thương của Thiên Chúa. Người chọn các ông để họ sinh nhiều hoa trái không hư nát.
3.2 Sứ điệp của Lời Chúa:    
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU CHO ĐI. Cụ thể là: (a) Thiên Chúa Cha đã yêu thương loài người đến nỗi đã ban Con Một Người  cho nhân loại; (b) Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa, đã hiến mạng sống mình vì các môn đệ và mọi người và đã kết bạn với các môn đệ; (c) Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa cho dù họ chưa được thánh tẩy bằng nước. Vì thế Thiên Chúa muốn chúng ta đáp lại Tình Yêu của Người bằng sống yêu thương bác ái với đồng loại.
IV. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Chúng ta sống sứ điệp của Lời Chúa hôm nay bằng cách đáp lại Thiên Chúa là TÌNH YÊU CHO ĐI: 
Trước hết chúng ta đáp lại Thiên Chúa là TÌNH YÊU CHO ĐI trong đời sống cá nhân bằng một đời sống mật thiết gắn bó với Chúa Giê-su, với Thiên Chúa và thể hiện lòng Mến Chúa trên hết mọi sự.
Kế đến chúng ta đáp lại Thiên Chúa là TÌNH YÊU CHO ĐI  trong đời sống gia đình bằng một đời sống hy sinh, phục vụ những người ruột thịt  với một tình yêu vô vị lợi, không tính toán và giúp mọi người trong gia đình biết yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như Chúa dạy.
Sau cùng chúng ta đáp lại Thiên Chúa là TÌNH YÊU CHO ĐI trong đời sống cộng đồng và xã hội bằng một đời sống mình vì mọi người nhằm mưu ích chung cho mọi người, nhất là cho những người yếu kém nhất trong xã hội.                          
V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ NHÂN LOẠI
5.1 “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Cha, vì Cha đã mạc khải cho chúng con biết Cha là Tình Yêu. Chúng con nguyện xin Cha ban ơn biết yêu thương nhau cho mọi thành phần Dân Chúa, như ý Cha mong muốn. 
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.2 “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Cha, vì Con Yêu Dấu của Cha đã ban cho chúng con điều răn riêng của Người là chúng con phải yêu thương nhau. Xin Cha ban cho các vị lãnh đạo trong Hội Thánh nói chung và Hội Thánh tại Việt Nam nói riêng, biết sống giới răn yêu thương.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.3 “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen, chúc tụng Con Cha là Chúa Giê-su Ki-tô đã đưa ra tiêu chuẩn của tình yêu cho chúng con để chúng con nỗ lực noi theo.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.4 “Anh em là bạn hữu của Thầy.” Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Con của Chúa Cha trên trời và là Cứu Chúa của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa vì Chúa cho chúng con được làm bạn hữu, nghĩa thiết của Chúa. Xin Chúa làm cho càng ngày càng có nhiều người cảm nghiệm được niềm hạnh phúc vô biên ấy và ban cho họ ơn biết sống như một người bạn thân tình với Chúa.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa.  Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

PS6-B42. Mến Chúa và yêu người

Chúa Giêsu đã quan niệm về hạnh phúc như thế nào? Theo tôi nghĩ Ngài đã quan niệm hạnh: PS6-B42

Chúa Giêsu đã quan niệm về hạnh phúc như thế nào? Theo tôi nghĩ Ngài đã quan niệm hạnh phúc như là sự hòa hợp của mối tương quan ba chiều: Thiên Chúa, bản thân và tha nhân.
Trong toán học, hễ có ba điểm trong không gian thì người ta có thể vẽ được một vòng tròn cố định. Cái vòng tròn hay tình trạng viên mãn của hạnh phúc cũng phải được hình thành từ mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa, cũng như giữa con người với nhau. Chẳng hạn trong đời sống gia đình, hạnh phúc hệ tại mối tương quan hòa hợp giữa cha mẹ và con cái, cũng như giữa con cái với nhau. Thực vậy, con cái không thể nào hạnh phúc nếu chỉ hòa thuận với cha mẹ mà không hòa hợp với anh chị em. Hay trái lại, không thể hạnh phúc nếu chỉ hòa thuận với nhau mà không hòa hợp với cha mẹ.
Điểm mới lạ Chúa Giêsu đem đến chính là khẳng định tính cách ngang bằng và bất khả phân ly giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân, hay nói đúng hơn chỉ có một tình yêu liên kết con người với Thiên Chúa và liên kết con người với con người. Cũng như hai mặt của một đồng tiền. Nếu nó rách bên này thì cũng rách bên kia, không thể có sự nguyên vẹn của mặt này nếu mặt kia không có hay đã nhàu nát.
Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã phán: Điều răn thứ nhất đó là kính mến Chúa hết lòng. Còn điều răn thứ hai cũng quan trọng như điều răn thứ nhất, đó là hãy yêu mến tha nhân như chính bản thân mình. Và chúng ta thấy, cây thập giá là biểu tượng cho sự gắn bó và hòa hợp giữa tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân: chiều dọc biểu tượng cho mối tương quan đối với Thiên Chúa, còn chiều ngang biểu tượng cho mối tương giao giữa người với người. Không có thanh dọc, thì thanh ngang chỉ có thể nằm dưới đất, không thể nâng cao được. Trái lại nếu thiếu thanh ngang thì cây thập giá chỉ còn là một cái cọc chơ vơ. Không có tình yêu Thiên Chúa thì tình yêu con người khó có thể được nâng cao và không thể đạt tới viên mãn, nhưng nếu không có tình yêu con người thì tình yêu Thiên Chúa cũng không thể đến với con người, bởi vì chẳng ai thấy được Thiên Chúa bao giờ.
Vì thế, tình yêu của Ngài đối với chúng ta đã được biểu lộ qua trung gian của tình yêu huynh đệ giữa chúng ta. Nếu chúng ta yêu thương nhau thì Thiên Chúa luôn kết hợp với chúng ta và tình yêu của Ngài mới đạt tới mức hoàn hảo nơi chúng ta. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đã trở thành Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, mang một khuôn mặt của con người, sống hoàn toàn như một con người trần thế, ở giữa mọi người và hơn thế nữa, còn hạ mình sống thân phận một kẻ nô lệ để có thể phục vụ và chết cho mọi người. Ngài đã lấy chính cái chết trên thập giá để mạc khải trọn vẹn chân tính của mình là Thiên Chúa hằng hữu. Sự hy sinh dâng hiến ấy, đối với Ngài, chính là nguồn vui, an bình và vinh quang. Con người chỉ có thể đạt tới hạnh phúc khi thể hiện lòng kính mến Thiên Chúa qua tình yêu thương đối với tha nhân, với một ý thức rằng cho một kẻ bé mọn một chén cơm, một manh áo, một ly nước là phục vụ cho chính Chúa. Hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào tha nhân cũng như hạnh phúc của tha nhân tùy thuộc vào chính chúng ta.

PS6-B43. Chỉ là một nhịp đập của tim.

Đoạn 15 của Phúc Âm thánh Gioan là “điệu nhạc chậm rãi” của một đại hòa tấu ca ngợi Đức: PS6-B43

Đoạn 15 của Phúc Âm thánh Gioan là “điệu nhạc chậm rãi” của một đại hòa tấu ca ngợi Đức Ái. Không phong phú về từ ngữ bằng Thánh thi ca ngợi Đức Ái của thánh Phaolô, đoạn Phúc Âm của thánh Gioan có những chuyển điệu tha thiết hơn, với những dấu nhạc, những âm thanh không thể nào quên được. Đoạn này trích trong diễn từ thứ hai của Chúa Giêsu ở bữa Tiệc ly, mà chúng ta đọc hôm nay, mở ra cho chúng ta tư tưởng thân mật của Chúa. Đề tài thực đơn sơ, đơn sơ như một nhịp đập của con tim, song nhịp đập đó đã làm sống cả thân thể. Thiên Chúa là tình yêu. Người yêu tất cả mọi người trong Đức Giêsu Kitô. Loài người yêu Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Loài người phải yêu thương nhau trong Đức Giêsu Kitô. Giáo huấn đó được ban ra qua những khúc phục tấu nhịp nhàng, thanh thản, nhẫn nại và trìu mến với giọng điệu tâm sự:
1) Chúa muốn truyền đạt niềm vui của người cho các môn đệ. Ta nói điều đó để sự vui mừng của Ta ở trong các con và sự vui mừng của các con nên trọn. Niềm vui của Chúa Giêsu là niềm vui nào? Niềm vui đó hệ tại nơi việc Chúa tự biết mình là Con Thiên Chúa, là khả năng loan báo cho mọi người biết Tin Mừng ơn cứu độ; là mạc khải Thiên Chúa là Cha. Chúa Giêsu không phải là không biết cuộc Khổ nạn của mình đã gần kề, nhưng Người biết rằng, nhờ cuộc Khổ nạn ấy, Chúa cứu chuộc loài người. Người nghĩ đến sự Phục Sinh của Người và mầu nhiệm đời sống mới Người sẽ thiết lập trên trái đất. Chúa Giêsu sống trong bầu không khí thiêng liêng trong đó ngự trị niềm vui trọn vẹn: Người phó thác trong tay Chúa Cha, Người múc lấy nơi Thân Phụ lòng can đảm và niềm an ủi, linh hồn Nguơì mở rộng ra thành những lời cảm tạ và không khen. Đó là tất cả những gì Người muốn truyền đạt cho các môn đệ Người.
Người ta vui mừng, khi người ta cảm thấy trong toàn thân mình chiếm hữu được một của gì. Niềm vui ấy trọng vẹn, nếu người ta biết rõ ràng: của ấy quý giá và nếu người ta biết chắc chắn của ấy thuộc về mình vĩnh viễn. Vậy thì niềm vui ấy chính là niềm vui của Chúa Giêsu. Là Con Thiên Chúa, Người có được của cải tuyệt đối, viên mãn, không nhuộm bóng lo âu. Của cải tuyệt đối là tình yêu của Chúa Cha. Người muốn mở lòng các môn đệ Người cho tình yêu âý. Nhờ đó, Người muốn đặt niềm vui của Người vào các môn đệ. Con người đón nhận niềm vui của Thiên Chúa, từ lúc mà họ ý thức là họ được Thiên Chúa yêu thương. Biết mình được yêu, biết chắc chắn điều đó, và tự nhủ mình là được Thiên Chúa Cha yêu, đó là nguồn gốc của niềm vui lớn lao nhất.
2) Thày gọi chúng con là bạn hữu, vì Thày đã tỏ cho chúng con biết mọi điều Thày đã nghe nơi Cha Thày. Chúa Giêsu không ngần ngại nhắc nhở cho các môn đệ Người, là họ là những tôi tớ, và hơn thế nữa là những tôi tớ không cần thiết. Nhưng Người đã chọn họ. Chính Thày đã chọn các con. Sự chọn lựa của Chúa Giêsu dành cho một người nào thì nâng người đó lên đến độ cao của những lý lẽ chứng minh cho sự chọn lựa ấy. Vậy những lý lẽ ấy là những lý lẽ nào? Điều cốt yếu là tỏ ra cho biết tình yêu của Thiên Chúa Cha. Tức khắc, họ không còn là những kẻ thừa hành mệnh lệnh mà họ chẳng hề hiểu ý nghĩa lẫn lý do. Họ là những sứ giả của tình yêu sống động và truyền cảm qua trái tim của Đức Kitô. Chúa Giêsu nâng các môn đệ Người lên đến độ cao của trái tim Người, và gọi họ là bạn hữu.
Bởi thế cho nên Người dẫn dắt họ vào tận chỗ thâm sâu của tư tưởng Nguơì. Người cho họ biết những gì Người đã học được từ nơi Cha Người. Sau này, công việc soi sáng và thêm sức nơi họ, sẽ do Chúa Thánh Thần hoàn tất. Nhưng ngay từ bữa Tiệc ly, họ đã là những kẻ tham gia và là chứng tá cho tình yêu cao cả, họ trở nên bạn hữu. Ngày nay Chúa có gọi chúng ta là bạn hữu không? Điều đó tuỳ thuộc chúng ta.

PS6-B44. Yêu như Chúa yêu.

Ngày 10.10.1982, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Cha Maximilien Kolbe: PS6-B44

Ngày 10.10.1982, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Cha Maximilien Kolbe lên bậc hiển thánh, vì Cha đã thực hiện từng chữ lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”. Trong thánh lễ phong thánh, Đức Thánh Cha đã nói: “Như anh chị em đã biết, giữa những thử thách bi đát nhất, vốn làm cho thời đại chúng ta chìm trong vũng máu, Thánh M. Kolbe đã tự nguyện biến mình chịu chết để cứu một người anh em mà chính ngài không thân thuộc, đó là ông Francis Gajouniseck. Ông là một người vô tội bị kết án tử hình để trả thù cho một ngươi tù đã vượt ngục. Vị tử đạo anh hùng đã bị kết án chết đói ngày 14.8.1941 tại trại tập trung Đức Quốc Xã ở Auschwitz, Ba lan. Linh hồn tốt lành của ngài đã về cùng Chúa sau khi đã nâng đỡ ủi an các bạn tù cùng số phận khốn khổ như ngài… chính tình yêu cao cả đã giúp ngài vượt qua cơn thử thách rùng rợn khủng khiếp và đã để lại chứng tích lạ lùng của tình yêu thương anh em, của lòng tha thứ cho kẻ giết hại mình. Ước gì gương sáng và sự hộ giúp của Thánh Maximilien Kolbe hướng dẫn chúng ta biết yêu thương chân thành, yêu thương vô vị lợi, xứng đáng là người Kitô hữu, đối với tất cả các anh chị em trong một thế giới mà hận thù không ngừng giày xéo cuộc sống con người…”
Khi chia tay với các tông đồ để ra đi nộp mình chịu chết, Chúa Giêsu đã không để lại một tài sản có thể liệt kê, cũng chẳng để lại một kho tàng có thể hoá giá, mà chỉ để lại một tâm sự gởi gắm được coi như bí mật cuối cùng và quí giá nhất của tâm hồn Ngài. Đó là lệnh truyền: “Anh em hãy yêu thương nhau”. Trước đây, Ngài đã đề cập nhiều đến giới luật yêu thương này rồi, nhưng chỉ trong giời phút chia tay này mới thấy đó là mối bận tâm lớn nhất của Ngài. Yêu thương nhau là dấu hiệu rõ nhất để nhận ra ai là kẻ thuộc về Ngài: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau”.
Chúa Giêsu muốn thấy các môn đệ mình yêu thương nhau và Ngài muốn cảnh giác mối nguy cơ chính yếu luôn rình rập các môn đệ, đó là sự thiếu lòng yêu thương nhau. Vì vậy, đây là một trăn trở lớn nhất cần được nói ra một lần thay cho tất cả. Và Chúa Giêsu đã nói: “Đây là giới răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau”. Thế là lời trăn trở một mình đã biến nên lời trăn trối cho các môn đệ trong phút biệt ly. Như một tâm sự sau cùng cần phải ghi nhớ, như một di chúc thiêng liêng tuyệt đối không bao giờ được đặt lại vấn đề và một lệnh truyền nhất thiết phải thể hiện bằng được trong cuộc sống. Nên “yêu thương nhau” đã là một bổn phận chi phối toàn bộ đời người môn đệ Chúa Giêsu và làm nên căn cước của họ “Ai yêu thương thì bởi Thiên Chúa mà ra”.
Nhưng, thưa anh chị em, lệnh truyền yêu thương nhau không phải muốn thực hiện thế nào cũng được, mà phải quy chiếu khít khao và chính tình yêu của Chúa Giêsu- một tình yêu vốn đã quy chiếu vào tình yêu Chúa Cha – bây giờ trở nên kiểu mẫu và cội nguồn tình yêu cho nhưng kẻ thuộc về Ngài: Yêu như Chúa yêu. “Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”. Đó là một tình yêu mở ra cho hết mọi người không giới hạn cũng chẳng trừ ai (x. Bài đọc 1), một tình yêu san bằng mọi hố sâu ngăn cách, dẹp bỏ mọi hàng rào cản trở để người người gần gũi nhau hơn. Tình yêu đó chủ động đi bước trước (x. Bài đọc 2), cho tôi tớ trở thành bạn hữu, cho xa lạ trở thành thân quen, cho mỗi niềm riêng tư trở thành tâm sự muốn chia sẻ,và cho môn đệ được trở thành những người cộng sự với đầy đủ hành trang lên đường sứ mạng. Để nếu cần, tình yêu đó sẵn sàng mạo hiểm đến liều mạng sống: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì bạn hữu”. Thật ra, Chúa Giêsu đã yêu những kẻ thuộc về Ngài bằng chính tình yêu lớn nhất đó trong suốt cả đời công khai của Ngài, nhưng qua cuộc tử nạn Phục Sinh, chúng ta nhận ra tình yêu lớn nhất khi Ngài để lại bí tích Thánh Thể làm bảo chứng và chết trên Thánh Giá làm hy lễ cứu độ, để rồi bước vào Phục Sinh, mở ra sự sống và niềm hy vọng cho hết mọi loài.
Tình yêu đáp lại tình yêu. Nhận ra mình là kẻ được Chúa yêu, chúng ta phải biết đáp trả bằng một tình yêu trung tín đối với Chúa và tình yêu chân thành đối với mọi người anh em: Phải biết “yêu như Chúa yêu” và “yêu người như yêu Chúa”.
Yêu như Chúa yêu, nghĩa là không đóng khung giới hạn, không kéo bè kết cánh, cũng chẳng chọn lựa thành phần này để loại trừ thành phần khác, mà trái lại, biết đến với mọi người. Tình yêu như vây làm bùng phá mọi thứ hàng rào cản trở, kể cả hàng rào muôn thuở của sự oán thù.
Yêu người như yêu Chúa, nghĩa là không chỉ nhận ra trong những con người chúng ta phải yêu mến khuôn mặt của người anh em, mà còn là khuôn mặt của chính Đấng đã yêu chúng ta bằng tình yêu lớn nhất của Ngài. Tình yêu như thế luôn luôn là một mạo hiểm của mầu nhiệm Tử Nạn-Phục Sinh, nhưng bên trong lại là một niềm vui bất tận.
Tuy nhiên, thưa anh chị em, nói yêu bao giờ cũng dễ, chính khi thực hành yêu thương chúng ta mới thấy hết những nét quyết liệt của lệnh truyền này. Ở quy mô hẹp như một gia đình đã có những va chạm nhiều khi đưa đến sứt mẻ; ở quy mô rộng hơn như một giáo xứ, lại cho thấy những đụng chạm có nguy cơ rơi vào đổ vỡ. Cũng vì tính nết ích kỷ, đầu óc hẹp hòi, nếp nghĩ giới hạn, tầm nhìn phe cánh… Cũng vì quyền lợi hay quyền lực, để rồi nhắm mắt trước giới luật yêu thương. Và rộng hơn nữa là quy mô của một xã hội, ở đó thường diễn ra cảnh huynh đệ tương tàn, chém giết, hận thù, chiến tranh…
Vậy, hỏi rằng lệnh truyền yêu thương nhau của Chúa Giêsu có còn là một trăn trở thường xuyên cho đời tín hữu không? Biết đến bao giờ người hết là lang sói cho nhau? Hàng loạt những câu hỏi như vậy có thể được đặt ra, nhưng chỉ có được lời giải đáp nếu lệnh truyền yêu thương của Chúa Giêsu được tôn trọng. Cho nên để có được niềm vui đích thực của người sống trong sự Phục Sinh của Đấng Cứu Thế, chúng ta hãy bắt đầu bằng quyết tâm sống yêu thương chan hoà.
Mỗi Thánh Lễ là một cử hành về tình yêu lớn nhất, qua đó Chúa Kitô hiến thân cứu độ muôn người. Xin cho chúng ta hôm nay gặp lại chính mình là kẻ đã được Chúa yêu, để sống được là kẻ biết yêu người khác. Và xin Chúa luôn thanh luyện tình yêu của chúng ta để từng ngày chúng ta biết chân thành yêu như Chúa yêu, yêu người như yêu Chúa, vì Chúa là Tình yêu.

PS6-B45. Chú giải của William Barclay

ĐỜI SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN
(Ga 15,11-17)

Điều chính trong đoạn này là Chúa Giêsu cho các môn đệ Ngài biết, chính Ngài đã chọn họ: PS6-B45

Điều chính trong đoạn này là Chúa Giêsu cho các môn đệ Ngài biết, chính Ngài đã chọn họ. Không phải chúng ta đã chọn Chúa, nhưng bởi ân sủng và tình thương, Chúa đã kêu ghọi, chọn lựa chúng ta.
Từ đoạn này, chúng ta có thể liệt kê những điều tuyệt diệu khi được chọn và được gọi.
Chúng ta được chọn để vui mừng. Dù đường đi của Kitô hữu có khó khăn đến đâu trong cả hành trình lẫn mục đích, vẫn là con đường. Trong việc làm phải, làm đúng, bao giờ cũng có niềm vui. Kitô hữu là người luôn vui mừng. Kitô hữu u sầu là một điều mâu thuẫn. Thật sự Kitô hữu nào cũng là tội nhân, nhưng là tội nhân đã được tha thứ và cứu chuộc, niềm vui nằm ngay trong sự kiện đó. Làm sao không vui mừng khi chúng ta đang đi trên con đường sống với Chúa Giêsu.
Chúng ta được chọn để yêu thương. Chúng ta được sai đi vào thế gian để yêu thương. Nhiều khi chúng ta sống như thể được sai đến thế gian để tranh đua, cãi lẫy và đánh đấm nhau. Nhưng Kitô hữu đã được sai vào thế gian, để vừa sống vừa chứngminh cho người khác thấy ý nghĩa của tình yêu đối với nhau. Ở đây, Chúa Giêsu nêu ra một lời tự xưng quan trọng khác. Nếu chúng ta hỏi Ngài: Thầy lấy quyền gì mà đòi hỏi chúng tôi phải yêu thương nhau? Ngài đáp: Chẳng có tình yêu nào lớn hơn là phó mạng sống vì bạn mình, và Ta đã làm như thế. Nhiều người dạy người ta yêu mến lẫn nhau, nhưng cả cuộc đời họ cho thấy việc đó họ làm sau cùng. Chúa Giêsu ban bố một mệnh lệnh mà chính Ngài đã làm trước nhât.
Chúng ta được gọi để trở thành bạn của Chúa Giêsu. Chúa bảo Ngài không gọi các môn đệ là đầy tớ (douloi) nữa, mà gọi họ là bạn hữu. Câu này có ý nghĩa cho những nguơì nghe lần đầu tiên hơn là cho chúng ta ngày nay. Danh hiệu “douloi”, nô lệ, đầy tớ, tôi tớ của Chúa không phải là danh hiệu đáng xấu hổ, nhưng là một vinh dự lớn. Môsê là một douloi, nô lệ tôi tớ của Chúa (Đnl 34,5), Giôsê cũng vậy (Gs 24,29), Đa-vít cũng thế (Tv 89,20). Phaolô kể danh hiệu này là một vinh dự (Tt 1,1) và Giacôbê cũng vậy (Gc 1,1). Những nhân vật lỗi lạc nhất trong quá khứ hãnh diện khi được Chúa gọi là douloi (tôi tớ) của Chúa. Chúa Giêsu phán: “Ta còn có một điều cao trọng hơn cho các ngươi, các ngươi không còn là tôi tớ nữa mà là bạn thân của Ta”. Chúa Giêsu ban tặng một địa vị thân thiết với Ngài, mà ngay đến các nhân vật lỗi lạc nhất vẫn không biết, cho tới khi Ngài đến thế gian.
Nhưng ý niệm làm bạn với Chúa có một bối cảnh lịch sử. Abraham là bạn của Chúa (Is 41,80). Sách Khôn Ngoan 7,27 cho biết sự khôn ngoan làm cho người ta trở thành bạn của Chúa. Nhưng từ này còn được minh hoạ bằng một tập tục vốn có trong triều đình các hoàng đế Rôma lẫn các vua phương Đông. Trong các triều đình ấy, có một nhóm người được tuyển chọn, họ được gọi là bạn của vua. Họ được diện kiến nhà vua bất cứ lúc nào, họ được quyền vào cả phòng ngủ của vua lúc sáng sớm. Nhà vau thảo luận với họ trước khi họp bàn với các tướng lãnh và các quan chức. Các bạn của vua là những nhân vật có liên hệ gần gũi, thân cận nhất với vua.
Chúa Giêsu đã gọi chúng ta để làm bạn với Ngài và với Thiên Chúa. Đó là một đặc ân kỳ diệu. Chúng ta không còn phải đứng từ xa, nhìn về phía Ngài mà chờ đợi. Chúng ta không còn là những nô lệ chẳng có chút quyền ra mắt chủ, không như đám đông chỉ đứng xa nhìn thoáng bóng nhà vua đi ngang qua nhân một cơ hội hết sức hiếm hoi. Chúa Giêsu làm một việc lạ lùng: Ngài cho phép chúng ta được sống gần gũi, thân mật với Thiên Chúa. Thiên Chúa không còn là người lạ cách biệt chúng ta, nhưng là bạn thân của chúng ta.
Chúng ta được gọi để làm bạn cộng tác với Chúa Giêsu. Ngài không chỉ gọi và chọn chúng ta để ban cho một loạt các đặc ân diệu kỳ, mà Ngài muốn chúng ta trở thành bạn cộng tác với Ngài. Nô lệ chẳng bao giờ là bạn cộng tác,người cùng hùn hạp làm ăn với chủ. Theo luật Hy Lạp, nô lệ được định nghĩa là một công cụ sống, chủ chẳng bao giờ trao đổi ý kiến với nô lệ, nô lệ bị sai bảo phải làm việc mà không được giải thích lý do. Nhưng Chúa Giêsu bảo chúng ta: “Các bạn không phải là nô lệ mà là bạn cùng cộng tác với tôi. Tôi đã nói cho các bạn biết mọi việc. Tôi đã nói cho các bạn những gì Thiên Chúa Cha đã nói với tôi”. Chúa Giêsu dành cho chúng ta danh dự làm bạn cộng tác với Ngài, Ngài chia sẻ tâm sự với chúng ta, cho ta biết kế hoạch, mục tiêu và kỳ vọng của Ngài. Một sự lựa chọn quan trọng được đặt ra trước mắt chúng ta. Chúng ta có thể chấp nhận hoặc khước từ việc cộng tác với Chúa Giêsu trong việc đưa thế gian trở về với Thiên Chúa.
Chúa chọn chúng ta làm sứ giả. Ngài phán: “Ta đã chọn các con để sai các con đi”. Ngài không muốn chúng ta sống đời ẩn tu, trốn trách thế gian. Khi một hiệp sĩ đến chầu vua, người ấy không muốn cả đời chỉ yến ẩm tiệc tùng và bầu bạn với vua, người ấy đã xin “Xin hãy phái thần đi làm nhiêm vụ để bệ hạ và toàn dân được ích”. Chúa Giêsu chon chúng ta, trước hết để chúng ta đến với Ngài, sau đó là để ra đi, đến với người thế gian. Đó là mầu mực và nhịp điệu hằng ngày của đời sống chúng ta.
Chúng ta được chọn để trở thành người truyền giáo. Ngài chọn chúng ta để ra đi và mang lại kết quả. Những kết quả vững bền qua mọi thời gian. Phương pháp truyền giáo là sống đời sống Kitô hữu, phương pháp đưa người ta đến với niềm tin là chỉ cho họ thấy kết quả của đời sống Kitô hữu. Chúa Giêsu không sa chúng ta đi tranh luận để bắt người ta theo đạo, chũng không để doạ để họ theo đạo, nhưng thu hút họ đến với đạo Chúa. chúng ta phải sống sao cho đời sống đạt kết quả diệu kỳ, đến nỗi nhiều người khác cũng ao ước được như thế.
Chúa chọn chúng ta để trở thành con cái tràn đầy đặc ân trong gia đình của Chúa. Ngài chọn chúng ta để bất luận chúng ta nhân danh Ngài cầu xin điều gì, thì Chúa Cha sẽ làm cho. Một lần nữa chúng ta đối diện với một trong những khẳng định quan trọng, liên hệ đến việc cầu nguyện mà chúng ta cần thấu triệt. Nếu nghĩ không kỹ thì dường như câu này có nghĩa là Kitô hữu, người được chọn của Chúa Kitô, sẽ nhận được tất cả những gì mình cầu xin. Chúng ta đã đề cập đến vấn đề, nhưng cũng nên suy gẫm thêm lần nữa. Tân Ước có quy định một số luật lệ rõ ràng về vấn đề cầu nguyện.
a. Cầu nguyện phải bởi đức tin (Gc 5,15). Nếu chỉ theo hình thức, chiếu lệ, thói quen nhắc đi nhắc lại những lời đúng theo một công thức, ước lệ nào đó, thì lời cầu nguyện ấy sẽ không được chấp nhận. Khi lời cầu nguyện không có hy vọng thì không thể linh nghiệm được. Nếu xin Chúa thay đổi mình, mà không tin mình có thể thay đổi được, lời cầu nguyện sẽ chẳng ích lợi. Muốn cầu nguyện nơi tình yêu trọn vẹn của Thiên Chúa.
b. Phải cầu nguyện trong danh Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta không thể xin điều gì mà Chúa không đồng ý. Chúng ta không thể xin để nhận được gia tài bất hợp pháp của một người nào đó hay để được những điều bị cấm đoán. Chúng ta không thể xin cho một tham vọng nào đó được thành tựu nếu nó khiến người người khác bị tổn thương, hoặc thiệt hại. Chúng ta không thể nhân danh Đấng Yêu Thương để xin Ngài báo thù các kẻ thù của mình. Bất cứ lúc nào chúng ta cố gắng biến cầu nguyện thành điều giúp mình thực hiện các tham vọng riêng tư, để thoả mãn các ước muốn cá nhân, lời cầu nguyện sẽ không linh nghiệm, vì như thế không phải là cầu nguyện.
c. Cầu nguyện phải thuận theo ý Chúa. Mỗi khi cầu nguyện, trước hết phải nhận biết mình chẳng bao giờ hiểu biết hơn Chúa. Yếu tính của lời cầu nguyện không phải để thay đổi ý Chúa, nhưng để xin “Ý Cha thể hiện”. Vì vậy, lời cầu nguyện đích thực không phải là xin Chúa đem đến điều mình muốn, nhưng xin Ngài cho chúng ta sẵn sàng chấp nhận điều Ngài muốn.
d. Lời cầu nguyện không bao giờ được vị kỷ. Thoạt nghe qua thì tưởng Chúa Giêsu đưa ra một vấn đề hết sức dễ dãi. Ngài phán nếu hai người đồng ý với nhau để xin điều gì, Ngài sẽ ban cho (Mt 18,19). Chúng ta không nên hiểu câu này theo nghĩa đen nông cạn, vì như thế có nghĩa đơn giản là nếu bạn “động viên” để nhiều người cùng cầu xin một điều gì đó, thì việc đó sẽ xảy ra. Nhưng câu ấy có nghĩa là: Khi cầu nguyện, không nên chỉ nghĩ đến các nhu cầu của riêng mình mà thôi. Thí dụ đơn giản nhất là vào ngày nghỉ, người công nhân chắc phải xin trời nắng tốt, trong khi có lẽ bác nông dân lại xin trời mưa. Khi cầu nguyện, chúng ta không nên hỏi, “điều này có lợi gì cho tôi?” mà phải hỏi “Việc này có ích cho tất cả mọi người không?”. Sự cám dỗ lớn nhất trong khi cầu nguyện là dường như chỉ có vấn đề của mình là quan trọng, còn vấn đề của người khác thì chẳng cần quan tâm tới. Một lời cầu nguyện như vậy sẽ không thể linh nghiệm được.
Chúa Giêsu đã chọn chúng ta để trở thành những thành viên được đặc ân, ưu quyền trong gia đình Chúa. Chúng ta có thể và nên dâng mọi sự lên cho Chúa trong khi cầu nguyện. Nhưng không nên tìm câu trả lời theo sự hiểu biết hạn hẹp, hay theo ước muốn bất toàn của mình, mà phải chấp nhận câu trả lời của Chúa theo sự khôn ngoan và tình yêu trọn vẹn của Ngài. Càng yêu mến Chúa chúng ta càng vâng phục ý Chúa.

PS6-B46. Chú giải mục vụ của Alain Marchabour

CÁC MÔN ĐỆ HAY ĐIỀU RĂN YÊU THƯƠNG

Phần thứ hai của diễn từ chỉ hướng đến các môn đệ là những kẻ đã khéo léo lựa chọn. Trong: PS6-B46

Phần thứ hai của diễn từ chỉ hướng đến các môn đệ là những kẻ đã khéo léo lựa chọn. Trong phần này, chỉ còn những kẻ thân tình với Chúa Giêsu ở lại. Danh từ “yêu thương” vang lên 12 lần, và sự bao hàm với động từ “yêu thương” (cc. 9-17) bao trùm và tô điểm toàn bộ bài diễn từ.
Ở đây rõ ràng ẩn dụ trở thành tỷ dụ: các hình ảnh lần lượt được giải thích cặn kẽ. “Sinh hoa trái” tương đồng với “yêu thương”. Trong khi mà Chúa Giêsu yêu thương đến cùng (13,1), Người mời gọi các môn đệ tự ghép vào chính tình yêu đó. Tính tương hỗ là luật yêu thương vận dụng cách kỳ diệu trong đoạn này: Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy… Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em hãy yêu thương nhau. Trong tình huống này, sự hoàn lại và sự đáp nghĩa, luật của mọi tình yêu, luôn luôn hướng đến một đối tượng khác là nguồn mạch của nghĩa tình. Việc Chúa Giêsu đáp trả lại tình yêu của Chúa Giêsu dành cho họ phải được hướng đến mọi người anh em.
Từ “như” được lặp lại hai lần quả là quan trọng, vì nó nói lên mầu nhiệm sâu kín nhất của mặc khải: trước hết đó không phải là một sự so sánh; mà chính yếu là một sự ăn rễ sâu, một nền tảng. Tình yêu của Chúa Cha và của Chúa Giêsu biểu lộ trong sự nhập thể mà sự chết tỏ hiện cùng đích và ý nghĩa. Nhiều người đã nhận thấy trong việc nhấn mạnh về mối tương hỗ Cha / Con, Chúa Giêsu / cộng đoàn, môn đệ / môn đệ một giới hạn của tình yêu vô bến bờ trong Mt 5,44.46: “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù… như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi?”. Nhưng mà ở đây Gioan nói về vấn đề khác, về tình yêu sâu xa giữa Chúa Cha và Chúa Con, tỏ hiện trên thập giá (3,16), khuôn mẫu và điểm quy chiếu để thiết lập cộng đoàn mới: “Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,19). Trong phân đoạn này của diễn từ, không còn có chỗ cho sự đe dọa hình phạt, những kẻ đối nghịch đã biến mất, dành chỗ cho bạn hữu, là những người đã được chọn và đã chọn.
Ở đây Chúa Giêsu nêu ra tiêu chuẩn để nhận ra bạn hữu của Người: đó là những ai thực hiện những điều Chúa Giêsu truyền dạy cho họ (c.14), nghĩa là những kẻ yêu thương nhau (cc. 15-17). Trong Tin Mừng, tình yêu luôn hiện hữu trong mọi bản văn Kinh Thánh: một đòi buộc cụ thể, một sự trung thành trong mọi hành động. Vốn là tôi tớ, các môn đệ đã trở thành bạn hữu. Chúa Giêsu đã chia sẻ với các môn đệ điều Người tâm đắc nhất, sự hiểu biết Chúa Cha (17,26) trong hết mọi sự (16,15). Nhờ Người, các môn đệ được Chúa Cha yêu mến như Người (16,27). Qua mọi thời đại, sự thân mật với Thiên Chúa là ước mơ của mọi người. Trong Cựu Ước, có vài bạn hữu của Thiên Chúa, như Abraham, đã gặp gỡ Thiên Chúa như gặp một người thân cận. Ông Môsê cũng đã kinh qua kinh nghiệm huyền nhiệm này. “Ông thân thưa cùng Chúa, diện đối diện, khác nào người ta chuyện vãn với bạn mình vậy” (Xh 33,11). Điều chỉ là đặc ân của một vài người, nhờ Chúa Giêsu, đã được trao ban cho tất cả những ai chấp nhận và trở thành môn đệ của Người.
Thật vậy, tình yêu này không thể là thành quả do quyết định duy nhất của người tín hữu: Chính Chúa Giêsu đã chọn bạn cho mình (6,70; 13,18). Đó là một ân nhưng không mà con người không nên tự phụ.

PS6-B47. Chú giải của Noel Quesson

Theo Thánh Gioan, vài giờ trước khi chết, Đức Giêsu đã bày tỏ cho các bạn của Người viễn ảnh: PS6-B47

Theo Thánh Gioan, vài giờ trước khi chết, Đức Giêsu đã bày tỏ cho các bạn của Người viễn ảnh "Chương trình của Thiên Chúa trên thế giới”, và ý nghĩa của việc hiến dâng sự sống cho đến chết của Người.
Trong trang sách đáng yêu này của Thánh Gioan là một bài hát ca tụng tình yêu. Danh từ “yêu" "tình yêu" “ban”, được lặp lại 11 lần... và được dùng với từ “giới răn”. Đối với Đức Giêsu, niềm vui của người được yêu, đó là làm theo ý muốn của người yêu mình.
Ta không thể không để ý đến sự “sinh động" trong trang sách này: Như một bài hát nội tâm, những điệp khúc có cùng một trọng tâm xuất hiện, biến đi và trở lại như những đợt sóng vỗ vào bờ, như giòng thác từ trên đổ xuống từ Thiên Chúa rồi lại trở về nguồn là chính Người.
Trọng tâm của mạc khải này là: Niềm vui "Ta đã nói những điều này cho các con để chia sẻ ‘niềm vui của Ta’, và để các con được tràn đầy niềm vui".
Vào giờ Đức Giêsu bước từ thế giới này sang bên kia với Chúa Cha, Người nói với các môn đệ: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy”.
Đây là những lời tâm sự cuối cùng của Đức Giêsu, đêm trước người "ra đi". Đối với Đức Giêsu, tất cả bắt đầu trong huyền nhiệm của Thiên Chúa, trong vực thẳm vô hình là "Nguồn" của tất cả mọi sự. Nơi Thiên Chúa, không có sự cô độc không có buồn bã, nhưng có niềm vui yêu thương luôn hiện diện giữa ba Ngôi vị hằng yêu thương nhau.
Thiên Chúa là tình yêu: Chúa Cha yêu Chúa Con, và hai Đấng thông chuyển niềm vui yêu thương này cho Chúa Thánh Thần. Tình yêu vô hình đó, một ngày kia đã hiện thân trong một con người, là Giêsu thành Nagiarét. Huyền nhiệm tình yêu Thiên Chúa đã trở nên hữu hình, có thể ngắm nhìn và cảm nhận được tình yêu này đã làm xúc động trái tim một con người: "Chúa Cha đã yêu thương Thầy”.
Thầy cũng đã yêu thương anh em.
Nhưng giờ đây, trong con người Chúa Giêsu, mãnh lực tình yêu bắt đau lan ra khắp nhân loại. Thiên Chúa chia sẻ tình yêu của Người, nơi Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta không bao giờ được quên Chúa Giêsu đã hành động thế nào để yêu thương chúng ta.
Không ai có tình yêu lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu.
Câu nói: "Thầy thương yêu anh em" của Chúa Giêsu hàm ẩn sự mê say. Một say mê tình yêu điên cuồng và vô biên: Người vẫn thương yêu những kẻ thuộc về mình còn ở trên trần gian, Người thương yêu họ đến tận cùng" (Ga 13,1). Tột đỉnh của tình yêu chính là Thập giá vinh quang. Đấy là vinh quang của Chúa Giêsu và niềm vui tình yêu vô tận.
Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Còn anh em, Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã tỏ cho anh em biết.
Chúa Giêsu dám nói rằng, Người xóa bỏ sự phân biệt giữa "Thầy và tôi tớ", giữa "Thiên Chúa" và "Con người". Từ nay chỉ còn là "Bạn hữu”. Không có gì giấu diếm nhau. Tình yêu có khuynh hướng chia sẻ để tất cả là của chung.
“Tất cả những gì 'Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã tỏ cho anh em biết". Tình yêu khước từ sự "thống trị" người khác nhưng luôn tôn trọng và làm cho người kia "bằng" chính mình.
Qua những kinh nghiệm về tình yêu của con người, chúng ta biết rằng, hai người yêu nhau thường hướng đến sự trong sáng: tình yêu là trao đổi, là hiệp thông. Ta tự tỏ ra cho người kia biết. Chúa Giêsu đã nói: Tất cả những gì Thầy đã nghe được ở Chúa Cha, Thầy đã tỏ ra cho anh em biết. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã nói hết tất cả, không còn gì khác để biết về Thiên Chúa nữa. Thiên Chúa đã nói tất cả những gì có thể nói về Thiên Chúa.
Đây là điều răn của Thầy: "Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương yêu anh em".
Giòng sông tình yêu của Thiên Chúa vẫn tuôn chảy. Nước của giòng thác, khi rơi xuống đất, trải ra, bắn tung lên. Con người khi được Thiên Chúa "yêu thương" chính họ cũng phải trở nên tình yêu theo hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa: “như Chúa Cha thương yêu Thầy, Thầy thương yêu anh em” "Như Thầy thương yêu anh em, anh em hãy thương yêu nhau”.
Chúng ta đừng đọc lướt quá nhanh chữ "cũng như” huyền nhiệm này. Lạy Chúa, Chúa dẫn chúng con đi tới đâu? Chúa yêu cầu chúng con thương yêu đến mức nào? tình yêu của Chúa đã đưa Chúa đến đâu? "Không ai có tình yêu lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu”. Yêu thương đến hy sinh mạng sống của chính mình. "Đây là Mình Thầy, bị trao nộp, đây là Máu Thầy bị đổ ra. Anh em hãy làm việc này để nhớ đến Thầy, hãy làm việc này như chính Thầy" Giới hạn của tình yêu đó là trao tặng không hạn giới mức độ đo lường. Tình yêu là Thập giá. Thương yêu, thương yêu và yêu thương. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói: Yêu thương là giới răn của Chúa và dường như chỉ có một giới răn duy nhất đó. Giới răn này làm Chúa quan tâm nhất. Khi con yêu thương tha nhân, con làm điều mà Chúa đã luôn luôn làm. Khi yêu thương, chúng ta làm cho "Thiên Chúa ngự trị" và tạo được một khung trời đẹp cho con người. Tôi duyệt xét lại cuộc sống cụ thể của tôi dưới ánh sáng này. Người này, người kia đối với tới họ là ai? Tôi phải thương yêu ai? Tôi phải chịu trách nhiệm về ai? Ai đang mong đợi gì ở tôi? thái độ của tôi đối với người xung quanh, gia đình và đồng nghiệp thế nào?
Anh em hãy ở trong tình yêu của Thầy. Nếu anh em giữ các điều của Thầy, anh em sẽ ở trong tình thương của Thầy. Anh em là bạn hữu của Thầy. Nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy.
Đối với nhiều người trong thời đại chúng ta, động lực tình yêu dừng lại ở sự đoàn kết với anh em. Những đôi vợ chồng, những gia đình, và các chủng tộc cần phải thương yêu lẫn nhau. Lúc bấy giờ ta có thể nói đến "chân trời tình yêu” (tình yêu theo một chiều ngang); vũ trụ của con người giới hạn ở chân trời trên mặt đất.
Đối với Chúa Giêsu, rõ ràng có một "chiều dọc thẳng đứng" kép đôi xuyên qua con người: Tình yêu từ trên cao Thiên Chúa đến với chúng ta, cũng phải trở về chốn cao sang, trở về với Thiên Chúa. Còn phải có một số rất đông người trở thành "Môn đệ của Chúa", nghĩa là những người ý thức được những gì đang diễn ra tuồng tình yêu ở nơi trần thế. Phải nhận ra tình yêu, phải nhận biết Thiên Chúa và yêu mến người. Và chúng ta thấy Chúa Giêsu đòi hỏi tình yêu này: "Anh em hãy trung tín, và ở trong tình yêu của Thầy, anh em hãy là bạn hữu của Thầy. Những môn đệ của Chúa Giêsu, các Kitô hữu, là thành phần của nhân loại đang mến Chúa Giêsu một cách có ý thức: Trách nhiệm vô cùng lớn lao!
Nói cho cùng loài vật cũng thương yêu lẫn nhau. Nhưng con người trong vũ trụ chẳng những có khả năng sống năng lực tình yêu lớn lao này, mà còn biết được khả năng này từ đâu đến, và sẽ đi về đâu, để tạ ơn Thiên Chúa nguồn mạch tình yêu.
Cũng như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở trong tình thương của Người.
Lúc bấy giờ vòng chuyển động đã hoàn tất. Chuyển động vĩ đại, phát xuất từ Chúa Cha, đã trở về với cội nguồn, và chúng ta có thể chiêm ngắm viễn tượng mà Chúa Giêsu đang có về con người. Một nhân loại được Thiên Chúa thương yêu. Một Thiên Chúa Cha. Một nhân loại huynh đệ, thương yêu lẫn nhau. Một nhóm môn đệ, một Hội Thánh biết nhận ra tình yêu của Thiên Chúa Cha.
Các điều ấy Thầy đã nói với anh em, để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.
Niềm vui của Chúa Giêsu là được Chúa Cha thương yêu và yêu thương anh em, là nhận ra Chúa Cha và yêu mến Người. Niềm vui phải là đặc tính của người Kitô hữu, đó cũng là đặc tính của Chúa Giêsu.
Thế mà có một số người thường hỏi: trở nên người Kitô hữu thì có khác gì.

PS6-B48. Chú giải của Fiches Dominicales

GIỚI RĂN MỚI
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1) “Như Cha đã thương Thầy, Thầy cũng thương anh em”

Bài Tin Mừng trích trong chương 15 của thánh Gioan nối tiếp đoạn Tin Mừng tuần trước. Như: PS6-B48

Bài Tin Mừng trích trong chương 15 của thánh Gioan nối tiếp đoạn Tin Mừng tuần trước. Như bức tranh in chìm trong giấy, biểu tượng Cây Nho chỉ tái hiện vào cuối đoạn Tin Mừng. Nó nhường chỗ cho điều làm nền tảng cho nó: Tình yêu phát nguồn từ Chúa Cha, tình yêu làm nền tảng cho tình yêu của Đức Giêsu đối với nhân loại. Chuyển động vòng tròn của việc độc thoại về đời sống cộng đoàn các môn đệ sau khi Người "về" cùng Cha, vốn là tiêu biểu của tư tưởng của thánh Gioan. Một tình yêu duy nhất, nhưng không ngừng trào tràn:
- từ Chúa Cha qua Chúa Con: "Như Cha đã yêu Thầy"
- từ Chúa Con qua các môn đệ: "Thầy cũng yêu anh em"
- rồi giữa các môn đệ với nhau: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Như thế là trung tín với giới răn của Người và ở lại trong tình yêu của Người, như thế họ sẽ được "tràn đầy niềm vui”.
Từ ngữ chìa khoá của chuyển động vòng tròn này là "tình yêu" (tiếng Hy lạp: agape), được sử dụng 12 lần trong bản văn này, dưới những hình thức khác nhau. A.Marchadour đưa ra một nhận xét lý thú: Trong trường hợp này, hoàn trả và tặng đáp lễ, luật của tình yêu, luôn hướng về một đối tượng khác với người đã trao tặng. Sự đáp trả của Đức Giêsu đối với tình yêu của Chúa Cha lại hướng về các môn đệ. Cũng thế sự đáp trả của các môn đệ đối với tình yêu của Đức Giêsu dành cho mình lại hướng về anh em (Tin Mừng theo thánh Gioan Centurion, trang 202).
2) “Như Thầy đã thương anh em, anh em hãy thương nhau”
Vừa khẳng định: "Như Cha đã thương Thầy, Thầy cũng thương anh em”, Đức Giêsu nói tiếp ngay: "Giới răn của Thầy là anh em hãy thương nhau như Thầy đã thương anh em”. Hai từ "như” nói lên mầu nhiệm sâu xa nhất của mặc khải. Marchadour lưu ý ta: Đó không phải là một lối so sánh, nhưng là một đào sâu, một thiết lập nền tảng. Ở đây Gioan nói về tình yêu mật thiết giữa Chúa Cha và Chúa Con, đã biểu lộ trên thập giá (3,16), là kiểu mẫu phải qui chiếu, tình yêu đó là nền tảng của cộng đoàn mới: "Phần chúng ta, chúng ta yêu thương vì Người đã yêu thương ta trước" (1 Ga 4, 19)" (Sđd, trang 202).
Chính do cách thực hiện lời Người truyền: yêu nhau, mà Đức Giêsu nhận ra họ là môn đệ Người, mà Người trở nên "bạn hữu" của họ khi Người chia sẻ cho họ điều thiết thân nhất: sự hiểu biết Chúa Cha.
Từ bao đời, sự gần gũi với Thiên Chúa là ước mơ của con người. Trong Cựu ước, vài người bạn của Thiên Chúa như Abraham, đã gặp gỡ Thiên Chúa như gặp một người thân. Môsê cũng đã sống cái kinh nghiệm thần bí ấy, "Yahvê đã chuyện trò với Môsê diện đối diện, như người ta chuyện vãn với bạn bè" (Xh 33, 11).
Đó là đặc quyền Đức Giêsu dành cho những ai chấp thuận làm môn đệ Người. Thực ra, tình yêu này không phải do người tín hữu chọn mà được; chính Đức Giêsu chọn lựa bạn hữu của Người (6,70; 13,18). Đó là một ân ban nhưng không để con người không thể tự mãn (Sđd, trang 202).
BÀI ĐỌC THÊM.
1) "Con đường tình yêu”.
(Đức Cha L.Daloz, trong "Chúng tôi đã thấy vinh quang của Người", DDB, trang 194).
Đức Giêsu đã ban cho các môn đệ Người một giới răn mới (13,34). Người nhắc đi nhắc lại 2 lần: "Điều răn của Thầy là: anh em hãy thương nhau như Thầy đã thương anh em. Điều Thầy truyền cho anh em là: anh em hãy thương nhau”. Người dạy ta một cách yêu thương mới. Tình yêu tự nhiên bộc phát phải chăng là mối tình có lợi cho ta, giúp ta phát triển. Một tình yêu dựa trên sự hấp dẫn, cảm tình; một tình yêu không những trong đó ta vẫn là ta, mà ta còn cảm thấy mình được đánh giá cao, có cảm giác mình lớn lên khi cho và nhận. Thứ tình yêu bè bạn, tình yêu hôn phối như thế đúng là một lý tưởng giúp ta triển nở. Tự nhiên ta dễ cảm xúc trước mặt tình yêu như vậy. Chính Đức Giêsu cũng đã biết đến thứ tình bạn rất nhân loại ấy, Người yêu thương Mátta, em gái bà và Ladarô (11, 5).
Nhưng Người muốn ta tiến xa hơn trong tình yêu. Người muốn đưa ta lên đến tận ngọn nguồn tình yêu: "Như Cha đã thương Thầy, Thầy cũng thương các con: Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy”: Điều Đức Giêsu mong đợi, mời gọi các môn đệ, đó là hãy tháp nhập vào tình yêu phát xuất từ Chúa Cha, để yêu như Thiên Chúa.
Tình yêu Thiên Chúa hoàn toàn nhưng không. Đó thật là một quà tặng. Tình Yêu Thiên Chúa thì phổ quát Người cho mặt trời mọc lên soi người lành cũng như kẻ dữ, cho người công chính cũng như kẻ bất lương! Trái tim Thiên Chúa vui rộn ràng khi thấy kẻ tội lỗi ăn năn hối cải, Người không ngừng kêu gọi, Người sẵn sàng tha thứ cho bất cứ ai trở về với Người. Thiên Chúa yêu thương trần gian đến nỗi đã ban Con Một mình! Tin Mừng có gì khác hơn là một mặc khải về tình yêu vô biên của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã biểu lộ khi Người yêu ta đến cùng? Thiên Chúa là tình yêu. Làm sao ta có thể yêu như Thiên Chúa được?
Đức Giêsu vạch cho ta một con đường. Nếu muốn học yêu như Chúa, ta hãy để Người chỉ dạy. Ta đâu phải là người mở ra con đường tình yêu. Chính Lời Chúa chỉ cho ta. Ta phải nghe và trung thành tuân giữ Lời Chúa. Như thế là ta thực tập yêu theo đường lối của Thiên Chúa: "Nếu anh em tuân giữ điều răn của Thầy anh em sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy tuân giữ điều răn của Cha nên Thầy ở trong tình yêu của Cha”. Đó không phải chỉ là cảm tính. Đó là sự hoà hợp giữa ý muốn của ta với ý muốn của Chúa. Đó là sự hoà hợp giữa đời sống của ta với đời sống của Đức Giêsu. "Không ai có tình yêu lớn hơn người dám hy sinh mạng sống cho bạn hữu”. Đức Giêsu, người mục tử tốt lành, đã hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Người kêu mời ta; hãy làm đầy tớ phục vụ anh em, hãy hiến mạng sống vì anh em. Người mời gọi ta yêu đến cùng như Người: "Như Thầy đã yêu anh em ".
Lời mời gọi này quả là một thách đố bất khả kham nếu chỉ nhắm vào sức riêng của ta. Tình yêu trong ta không phải là kết quả của năng lực riêng của ta. Nếu Đức Giêsu trao phó cho ta sứ mệnh yêu như Người, thì chính Người làm trổ sinh trong ta những hoa trái của một tình yêu như thế: "Chính Thầy đã tuyển chọn và cắt đặt anh em để anh em ra đi và sinh nhiều hoa trái và để hoa trái của anh em tồn tại”. Vì thế chỉ có ta mới có thể loan báo tình yêu đến cùng và làm chứng về tình yêu ấy bằng chính đời sống của ta. Biết được nguồn mạch phát sinh tình yêu ấy rồi, ta sẽ tin tưởng trở về với Đấng duy nhất có thể khơi nguồn tình yêu ấy trong ta. "Tất cả những gì các con xin Chúa Cha nhân danh Thầy, người sẽ ban cho các con”.
2) "Như” từ ngữ chìa khoá nhưng thường bị cố ý bỏ qua và rất thường bị quên lãng.
(F. Deleclos, trong "Hãy cầm lấy mà ăn Lời", Centurion-duculot, trang 124).
Hãy yêu thương nhau. Lời trích dẫn thiếu sót ấy có thể chẳng đi đến đâu nếu ta không quy chiếu về khuôn mẫu, không vượt qua được những khía cạnh cảm tính, hời hợt và chiếm hữu của tình yêu.
Để hiểu biết thực tại, phải ngụp lặn trong dòng sông huyền nhiệm mà Tin Mừng thánh Gioan trình bày cho ta. Không mơ mộng đâu, nhưng đó là lời tâm huyết của con Người. Một xâm chiếm khu vườn bí ẩn của Thiên Chúa nhập thể, một tuyên ngôn tình yêu, thú nhận một tâm tình dịu dàng vô biên: “Như Cha đã thương Thầy, Thầy cũng thương anh em”. Khó tin, nhưng có thật! Người nói với cả tôi nữa đấy. Người nài nỉ: "Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy; để niềm vui của Thầy ở trong anh em và anh em được tràn đầy niềm vui”. Nhưng tình yêu có qui luật ở lại trong ta để trái tim ta có thể đập nhịp đập của trái tim Người; để tâm tư, hành động của ta rập khuôn theo tâm tư và hành động của Người: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. "Như”, từ chìa khoá nhưng thường bị cố ý bỏ qua và rất thường bị lãng quên.

PS6-B49. Chú giải của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt

DẤU CHỨNG TÌNH YÊU LỚN NHẤT
CHÚ GIẢI CHI TIẾT

Như Cha đã yêu mến Ta, Ta cũng đã yêu mến các ngươi": Tình yêu vâng phục của Chúa: PS6-B49

"Như Cha đã yêu mến Ta, Ta cũng đã yêu mến các ngươi": Tình yêu vâng phục của Chúa Giêsu đối với Cha Người, mà tương ứng là tình yêu tôn vinh Người của Chúa Cha, tạo nên nền tảng và mẫu mực cao cả cho đời Kitô hữu, một cuộc đời từ đây được phô diễn ra bằng đức ái.
"Hãy lưu lại trong tình yêu của Ta": Nguyên tự: "hãy ở trong tình yêu vốn thuộc về Ta" (xe lu Abel, Gl:ammaire du treo biblique 33r Rem.I) nghĩa là ‘trong tình yêu Ta dành cho các ngươi’. Cả bản văn toàn là thuộc cách chủ thể (génihfs Subectifs): tình yêu của Cha đối với Ta, tình yêu của Ta đối với các ngươi (trong đó các ngươi phải lưu lại), các lệnh truyền của Ta (c.10), các lệnh truyền của Cha Ta, và, lần nữa, tình yêu của Cha Ta đối với Ta.
"Để niềm vui của Ta ở trong các ngươi và niềm vui các ngươi được trọn vẹn": Là dấu hiệu của một đời sống triển nở, niềm vui được Cựu ước xem như là điểm đặc trưng của thời cứu độ và của bình an cánh chung (Is 9,2; 35,10; 55,12; 65,18; Xp 3,14; Tv 126,3-5) và chủ đề này xuất hiện lại trong các Tin mừng (Mt 25,21.23; Lc 1,14; 2,10). Nơi Gioan, niềm vui của Chúa Kitô phục sinh được chia sẻ ngay từ bây giờ cho các môn đồ sống sự sống mới; niềm vui này phải chiếm hữu tất cả con người và như vậy phải đạt được sự sung mãn nào đó (x. Ga 17,13; 1Ga 1,4; 2Ga 12). Hiện giờ, nó có thể cùng đồng hành với đau khổ (16,20-24;14,28).
“Không có tình yêu nào lớn hơn": Nếu cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là biểu thức cao cả nhất của tình yêu Người đối với Chúa Cha (14,30), thì nó cũng là chóp đinh của tình yêu Người đối với những kẻ Người đã chọn làm bằng hữu (13,1.4). Đó chính là nền tảng và quy phạm của tình anh em.
"Và đã cắt cử anh em để anh em ra đi": Động từ Hy lạp tithenai, như công thức Hy Bá tương ứng, diễn tả sự kiện đặt một người nào trong một chức vụ gì đó đồng thời bảo đảm cho kẻ ấy những phương thế để thực thi một cách kiến hiệu (x. Cv 13,47; 20,28; 1Cr 12,28; 2Tm 1,11). Như vậy là nhóm môn đồ, nhờ một hồng ân của Chúa, được trao ban trách nhiệm truyền giáo (x. Mc 3,14; 6,7; Mt 10,1; Lc 9,1).
KẾT LUẬN
Niềm vui hoàn hảo là hậu quả của lời mặc khải của Chúa Con và của việc tuân giữ các lệnh truyền mà lời đó bắt buộc. Bao giờ cũng vậy khi người ta tiếp xúc với những sự xếp đặt của chương trình Thiên Chúa: chương trình này thường đòi hỏi khổ chế hy sinh nhưng cũng bao hàm một sự tiền nếm niềm vui mà chúng ta sẽ được trên trời khi kết hiệp hoàn toàn với chiến thắng của Chúa Kitô.
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1) Chúa Giêsu vừa cho chúng ta biết bí mật cuối cùng và quý giá nhất của tâm hồn Người. Trong một màn độc thoại dài "trước khi qua khỏi thế gian này mà về với Cha'', Người trút những tâm sự sau hết, nói lên những dặn dò cuối cùng; Người xem ra muốn để lại cho các sứ đồ một di chúc thiêng liêng. Thoạt nghe đoạn văn của diễn từ sau Tiệc ly này, điều đánh động chúng ta là việc Chúa Giêsu nhấn mạnh đến tình yêu mà các sứ đồ cần có đối với nhau. Trong một đoạn rất ngắn như đây mà Người đã lặp lại chữ "lệnh truyền" bốn lần cả thảy. Như thế Người muốn nhắc nhở một điều tuyệt đối, không bao giờ được đặt lại vấn đề; như thể đó là thực tại chủ chốt, ưu tư thiết yếu, nỗi bận tâm duy nhất của những ai tự cho là thuộc về Người và đáng được vào số những kẻ thừa kế thiêng liêng của Người.
2) Việc nhấn mạnh này của Chúa Giêsu làm chúng ta bối rối lắng lo. Phải chăng Người không muốn qua đó nói rằng: nguy hiểm chính yếu luôn rình rập nhóm sứ đồ rồi những người sẽ trở nên môn đồ quanh họ, rồi tất cả những ai trong các thế hệ kế tiếp sẽ được quy tụ trong cộng đoàn những kẻ tin vào Chúa Giêsu Phục sinh, chính là sự thiếu tình yêu. Điều này cũng là cám dỗ thường xuyên nhất là có lẽ là sai lầm thường gặp nhất.
3) Có lẽ! Vì dù sao, xét lại thái độ hiện thời của chúng ta và những nứt rạn mà mỗi thế hệ không ngừng tạo ra trong sự duy nhất của thân thể Chúa Kitô, chúng ta có thể nghĩ rằng Chúa Kitô đã chẳng quá nhấn mạnh. Không cần phải nói đến gương xấu của việc các Giáo hội ly khai, những mối bất hòa lớn lao trong mỗi Giáo hội, hay biết bao tranh chấp của các phong trào ngay trong mỗi Giáo hội địa phương; không cần phải xét đến những gì xảy ra chung quanh chúng ta mà thực sự không tùy thuộc chúng ta, chỉ cần mỗi người hãy nhìn đến mình là đủ, vì mỗi người chỉ có trách nhiệm về chính mình, về phương cách: để tuân giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu, chúng ta yêu mến thế nào? Dù trả lời ra sao đi nữa, thì mỗi một người, nếu thành thật, đều biết mình có thể tiến bộ hơn. Để được như vậy, phải nghe Chúa. Người vừa nói với chúng ta: "Hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu các ngươi". Mẫu gương của tình yêu chính là Người. Thành thử phải đọc lại Tin mừng, khám phá trong mỗi lời nói, mỗi hành vi của Chúa Giêsu, làm sao đã tỏ lộ cái tình yêu hằng có trong Người, để biết được chúng ta phải cư xử thế nào đến phiên chúng ta. Đừng mất công tìm đâu xa; trong diễn từ mới nghe lúc nãy, Chúa cho chúng ta thấy quá rõ Người yêu mến ra sao.
4) Ngay từ đầu cuộc đàm đạo; Người đã bảo chúng ta: "Hãy lưu lại trong tình yêu của Ta" sau khi quả quyết: "Ta đã yêu các ngươi". Người không đòi hỏi chúng ta đáp trả tình yêu của Người đối với chúng ta, không đòi hỏi chúng ta yêu mến Người. Người chỉ xin chúng ta hãy lưu lại, hãy để mình bị bao bọc, để mình chìm đắm trong tình yêu mà Người đang bao phủ chúng ta và đừng làm gì phá vỡ việc lưu lại ấy. Điều tùy thuộc chúng ta là đừng chối từ những gì Người ban cho chúng ta. Người bảo dấu hiệu cho biết ta lưu lại trong tình yêu Người là tuân giữ lệnh truyền Người, một điều thực ra không liên hệ tới Người. Lệnh truyền của Người, ấy là đến phiên chúng ta yêu thương kẻ khác; như thể Người không muốn tình yêu Người ban trở về lại với Người, nhưng đổ tràn trên kẻ khác; tình yêu Người biểu lộ như thế sánh được với một con sông luôn tuôn chảy, chẳng bao giờ trở lại về nguồn. Xa hơn Người sẽ nói: "Không có tình yêu nào lớn hơn là hiến mạng sống vì bạn hữu”. Tình yêu mà Chúa dành cho chúng ta không giống tình yêu của chúng ta, thứ tình yêu luôn thắc mắc về sự đáp trả nó nhận được: sự đáp trả này đã đủ chưa? Có thành thật và không giả hình chăng? Có bền vững chăng? tình yêu Thiên Chúa là một tình yêu luôn tiến tới, không chờ đợi đáp trả tí nào. Đó là tình yêu của Chúa Giêsu, tình yêu không trở lại với chính nó. Nó phong phú luôn mãi; đấy là lý do giải thích mềm vui của Chúa Giêsu mà Người có đề cập chỗ khác: "Cho thì vui hơn nhận" (Cv 20,35).

PS6-B50. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU, NGÀI LÀM TẤT CẢ VÌ YÊU - Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ

Thiên Chúa là ai? Sau những năm tháng cảm nghiệm và nghiền ngẫm về Thiên Chúa, tác giả: PS6-B50

Thiên Chúa là ai? Sau những năm tháng cảm nghiệm và nghiền ngẫm về Thiên Chúa, tác giả thư Gioan diễn tả: Thiên Chúa là tình yêu. Ngài là Đấng làm mọi sự vì yêu: tạo dựng tất cả vì yêu, làm vũ trụ này tiếp tục hiện hữu vì yêu, tuyển chọn dân Do Thái vì yêu, và ban Thánh Thần giúp dân ngoại đón nhận tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh cũng vì yêu.

1. Dân Ngoại Đón Nhận Tin Mừng
Thiên Chúa yêu thương dân Do Thái. Ngài đã kêu gọi Abraham, đã can thiệp vào cuộc đời Giacóp, đã ở với Giuse bên Aicập, và đã đưa dân Do Thái từ Ai cập trở về đất hứa. Lịch sử dân Do Thái cho thấy Thiên Chúa hiện diện và thương yêu dân tộc Do Thái cách đặc biệt. Ngài đã ban cho dân những thẩm phán để giải phóng và hướng dẫn dân, đã ban cho dân các tiên tri để nói với dân nhân danh Ngài.

Đã có thời, người Do Thái tưởng rằng Thiên Chúa chỉ yêu thương dân tộc Do Thái mà thôi, vì Thiên Chúa đã chọn dân Do Thái là dân riêng. Dường như chính Đức Giêsu cũng đã có lúc Ngài tưởng mình chỉ được sai tới với người Do Thái, nhưng qua biến cố gặp gỡ chị phụ nữ vùng Tia và Xiđôn, Ngài đổi ý vì nhận ra ý định của Thiên Chúa (Mt.15, 21-28). Hôm nay Phêrô cũng nhận ra ý định của Thiên Chúa đối với dân ngoại khi Thiên Chúa can thiệp để Phêrô tới rao giảng cho gia đình Cornêliô. Thiên Chúa đã ban Thánh Thần giúp Phêrô nhận ra ý định của Thiên Chúa muốn dân ngoại thuộc dân Thiên Chúa qua việc lãnh nhận phép rửa.

“Thiên Chúa không thiên tư tây vị người nào” (Cv.10, 34). Thiên Chúa thương tất cả mọi người, Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc. Thiên Chúa không chỉ yêu thương dân tộc Do Thái, nhưng Ngài yêu thương mọi dân tộc như yêu thương dân tộc Do Thái. Với biến cố dân ngoại đón nhận Tin Mừng, người ta có cảm tưởng Thiên Chúa yêu thương dân ngoại hơn dân Do Thái nữa, nhưng thực ra Thiên Chúa không thiên tư tây vị: Ngài yêu dân ngoại như yêu dân tộc Do Thái. Như dân Do Thái đã nhận ra Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử dân Do Thái thế nào, thì mỗi dân tộc cũng phải nhận ra Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử dân tộc mình như vậy. Dân Do Thái là mẫu, để các dân tộc khác tập nhận ra Thiên Chúa đã đang yêu thương và đã đang can thiệp vào lịch sử dân tộc mình.

2. Đức Giêsu- Lời Thiên Chúa Nói Với Con Người
Đức Giêsu là dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa cho con người. “Chúa Cha yêu mến thầy thế nào, thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Hãy ở lại trong tình yêu thầy”. Đức Giêsu yêu con người vô cùng. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng vì người mình thương. Đức Giêsu đã hiến mạng sống Ngài cho con người. Ngài là tấm bánh bẻ ra nuôi sống con người. Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Qua Ngài, với Ngài và trong Ngài, con người tìm được đường chân thực đi tới sự sống.

Đức Giêsu là mẫu gương tuyệt vời cho con người. Cuộc sống của Đức Giêsu giống cuộc sống của mỗi người chúng ta. Tôi gặp khó khăn gì trong cuộc sống, Đức Giêsu cũng gặp như vậy, cả những ao ước, những cám dỗ, những thách thức. Đức Giêsu đã gặp khó khăn với những người sống với Ngài, như khi Phêrô can ngăn Ngài đi trên con đường Thiên Chúa muốn, khi các tông đồ do dự không muốn lên Giêrusalem. Đức Giêsu cũng bị bỏ rơi khi gặp hoạn nạn, rồi cả cái chết, và là cái chết nhục nhã trần trụi trên thập giá. Những gì con người thường gặp, thì Đức Giêsu cũng đã gặp. Ngài là mẫu gương trong cách hành xử. Ngài là ánh sáng soi những lúc tối tăm của kiếp người. Ngài là ý nghĩa cho những đau khổ con người phải chịu.

Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nói với con người. Con người học bằng nghe, bằng nhìn. Đức Giêsu là con người cụ thể, con người có thể nhìn để thấy để học; Đức Giêsu là Lời, con người có thể nghe để hiểu. Nhìn Đức Giêsu, con người có thể nhận ra bài học Thiên Chúa muốn dạy con người. Đức Giêsu là tình yêu Thiên Chúa cho con người. Đức Giêsu là Lời Thiên Chúa nói với con người. Đức Giêsu là mặc khải của Thiên Chúa cho con người.

3. Thánh Thần- Tình Yêu Thiên Chúa
Đức Giêsu nói: “đây là giới răn của thầy: các con hãy yêu thương nhau”. “Ai giữ giới răn của thầy, thì ở lại trong tình yêu của thầy”. Thánh Gioan tông đồ viết:“chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu đến từ Thiên Chúa”.Chỉ có mỗi một điều quan trọng trên đời, đó là yêu thương. Ai yêu thương thì ở trong Thiên Chúa, thì biết Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong người đó. Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.

Khi người ta yêu thương, người ta là con cái Thiên Chúa, vì người ta đang giống Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Đấng chỉ biết yêu. Thiên Chúa làm mọi sự vì yêu. Thiên Chúa không phạt con người. Những đau khổ con người chịu, là do thù hận. Thù hận làm con người khổ, làm con người không hạnh phúc, là hỏa ngục theo một nghĩa nào đó. Ai yêu thương, theo một nghĩa nào đó, đang hạnh phúc. Nên, một nghĩa nào đó, để biết mình có yêu thương không, là có thấy mình đang hạnh phúc không. Một người yêu thương, là người để người khác có thể sống thoải mái với mình, để họ được tự do.

Thánh Thần là tình yêu của Thiên Chúa. Chính Thánh Thần giúp con người sống trong tình yêu, và nhận ra Thiên Chúa là tình yêu. Một dấu chỉ để biết con người có Thiên Chúa ở với mình không, là xem con người có sống yêu thương không. Yêu thương là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện, là dấu chỉ của Thánh Thần đang ở với người đó, và đang hoạt động nơi người đó. Mỗi người đều bởi Thiên Chúa mà được sinh ra, nhưng còn có một sự sinh ra khác: “ai yêu thương thì sinh bởi Thiên Chúa vì Thiên Chúa là tình yêu”. Ai yêu thương, thì đang được sinh ra bởi và trong Thánh Thần.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ
1. Theo bạn, yêu thương mang gì lại cho con người?
2. Bạn nghĩ sao khi có người nói: khi yêu thương, là người ta đang nên giống Thiên Chúa, và người ta đã đang hạnh phúc rồi?
3. Bạn nghĩ sao về câu: ai thù hận, là đang hành xử giống ma quỷ, là đang sống trong hỏa ngục?
Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây