Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-B Phần II Bài 51-100: Yêu như Thầy đã yêu

Thứ tư - 02/05/2018 07:12
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-B Phần II Bài 51-100: Yêu như Thầy đã yêu
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-B Phần II Bài 51-100: Yêu như Thầy đã yêu
Phục Sinh 6-B Phần II Bài 51-100: Yêu như Thầy đã yêu
PS6-B51. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU.. 2
PS6-B52. Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU VÀ SINH HOA KẾT TRÁI - Lm PX Vũ Phan Long, ofm.. 11
PS6-B53. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH - Lm Carôlô Hồ Bă#c Xái 15
PS6-B54. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH - Lm. Ignatiô Hồ Thông. 22
PS6-B55. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH - Lm. Augustine,SJ. 27
PS6-B56. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - Lm. Anphong Trần Đức Phương. 30
PS6-B57. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 31
PS6-B58. NHƯ THẦY ĐÃ YÊU -  Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR.. 36
PS6-B59. HÃY Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THẦY - Lm Trần Bình Trọng. 38
PS6-B60.  ĐỂ THUỘC VỀ CHÚA, YÊU THƯƠNG NHAU  - Lm. Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb. 40
PS6-B61. GIEO GÌ GẶT NẤY - Lm Giuse Tạ Duy Tuyên. 41
PS6-B62. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - Lm Giacôbê Tạ Chúc. 42
PS6-B63. Ý-TÂM-THÂN HÒA ĐIỆU - Lm. An Phong,OP. 44
PS6-B64. ĐÔI BẠN CHÂN TÌNH - Lm. Giuse Đỗ Văn Lực, OP. 45
PS6-B65. MỘT HỘI THÁNH SỐNG LÒNG MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI - Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm.. 47
PS6-B66.  Giới răn tình yêu. 51
PS6-B67. Tình đáp tình. 54
PS6-B68. Phúc nào hơn được làm Bạn với Chúa. 57
PS6-B69. CHỦ NHẬT 6 PHỤC SINH.. 59
PS6-B70.  HÃY Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THẦY.. 60
PS6-B71. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 62
PS6-B72.  Ai tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa  người đó sẽ nhận được giúp đỡ. 64
PS6-B73.  Phải có hoa hồng trên cây hồng – Guy Morin. 65
PS6-B74. Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU VÀ SINH HOA KẾT TRÁI 67
PS6-B75. YÊU THƯƠNG NHƯ THẦY.. 71
PS6-B76.  YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU.. 72
PS6-B77. Ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa. 74
PS6-B78. Như Thầy Đã Yêu Thương Anh Em.. 75
PS6-B79.  ĐỂ TIN VUI ĐƯỢC LAN TỎA.. 77
PS6-B80.  Chúa Nhật VI Phục Sinh, B.. 79
PS6-B81: CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH.. 82
PS6-B82: YÊU NHƯ THẦY.. 84
PS6-B83: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 86
PS6-B84: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 88
PS6-B85: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 90
PS6-B86: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 91
PS6-B87:HÃY YÊU THƯƠNG NHAU.. 92
PS6-B88: YÊU NHƯ CHÚA YÊU.. 94
PS6-B89: DƯA HẤU LÀ CẬU BÍ NGÔ.. 96
PS6-B90:  BIẾT RỒI, VẪN PHẢI NÓI 98
PS6-B91: HÃY RA ĐI VÀ MANG NHIỀU HOA TRÁI 100
PS6-B92:  ĐỂ THUỘC VỀ CHÚA, HÃY YÊU NHAU.. 102
PS6-B93: HÃY LƯU LẠI TRONG TÌNH YÊU.. 103
PS6-B94: ĐIỀU RĂN CỦA THẦY.. 104
PS6-B95: DÒNG SUỐI YÊU THƯƠNG.. 105
PS6-B96: TÌNH YÊU THẦM LẶNG CỦA CHA.. 107
PS6-B97: TỪ TÍN HỮU ĐẾN BẠN HỮU.. 109
PS6-B98: TUYÊN NGÔN TÌNH YÊU.. 110
PS6-B99:  ANH EM LÀ BẠN HỮU THẦY.. 112
PS6-B100: Thời điểm HÀNH MỸ VÀNG.. 114

 

PS6-B51. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU

A. DẪN NHẬP
 

Phụng vụ Chúa nhật hôm nay nhấn mạnh đến một giới răn quan trọng nhất trong đạo: đó là giới răn: PS6-B51

Phụng vụ Chúa nhật hôm nay nhấn mạnh đến một giới răn quan trọng nhất trong đạo: đó là giới răn yêu thương. Giới răn này đã có trong Cựu ước, nhưng một lần nữa, trước khi đi vào cuộc tử nạn, Đức Giêsu nhấn mạnh đến giới răn này dưới khía cạnh tình yêu huynh đệ.

Thánh Gioan Tông đồ khẳng định:”Thiên Chúa là Tình yêu”(1Ga 4,7). Ngài yêu thương chúng ta trước nên đã dựng nên ta, nhất là ban Con Một của Ngài cho thế gian để mọi người được cứu chuộc. Đáp lại, chúng ta cũng phải yêu mến Ngài và yêu thương nhau.

Nhưng yêu thương bằng cách nào ? Hay nói cách khác, làm thế nào mà biết được tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa là chân thật ? Qua các bài đọc của Thánh lễ hôm nay, chúng ta có thể khẳng định mà không sợ sai lầm: đó là chúng ta trung thành giữ các giới răn của Chúa và yêu thương nhau bằng những việc làm cụ thể, chứ không chỉ yêu thương nhau trên đầu môi chót lưỡi.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Cv 10,25-48

Trong Giáo hội sơ khai, có một vấn đề gai góc cần phải được giải quyết: đó là có thể chấp nhận cho những lương dân chịu phép rửa mà không đòi buộc họ giữ các Lề luật Do thái không ? Nhiều người không chấp nhận. Nhưng thánh Phêrô được Chúa Thánh Thần soi sáng đã tuyên bố: ”Thiên Chúa yêu thương mọi người không thiên vị ai, tất cả mọi người được chấp nhận tham dự vào nguồn mạch sự sống của Thiên Chúa”. Vì thế, ngài đã rửa tội cho viên sĩ quan Rôma tên là Cornêliô và nhận ông vào Hội thánh Chúa.

Trước biến cố này, thánh Luca tin rằng đó là một biến cố quyết định đối với tương lai Kitô giáo, nên trong dịp này, ngài không ngại cho chúng ta chứng kiến lễ Thánh Thần hiện xuống lần nữa, lần này trên các dân ngoại. Những ơn khi Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống lần đầu tiên cũng được ban cho họ, ngày cả trước khi họ chưa chịu phép Rửa.

+ Bài đọc 2: 1 Ga 4,7-10

Thánh Gioan khẳng định:”Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,7) và mọi tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Không phải chúng ta đã yêu Ngài nhưng Ngài đã yêu chúng ta trước. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ cho chúng ta trong việc này:”Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống... và sai Con Một Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta”.

Từ đó sinh ra những hệ luận:

- Chúng ta phải yêu thương nhau.

- Ai yêu thương thì biết Thiên Chúa, còn ai không yêu thương thì không biết

Thiên Chúa.

+ Bài Tin mừng: Ga 15,9-17

Tiếp tục dụ ngôn cây nho và cành nho, trong bài diễn từ ở nhà Tiệc ly trước giờ phút chịu tử nạn, Đức Giêsu khuyên các Tông đồ hãy kết hợp với Ngài:”Hãy ở lại trong Tình yêu của Thầy”. Đồng thời Ngài cũng đưa ra một điều răn quan trọng để các ông thực hiện:”Đây là giới răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”(Ga 15,12)

Tình yêu mà Đức Giêsu muốn cho các ông thực hành có những đặc tính này:

- Yêu như Chúa yêu:”Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thuơng các con”.

- Yêu đấn tận cùng:”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn

hữu mình”.

- Tình yêu phải được thể hiện trong việc làm: ”Nếu như các con giữ điều răn củaThầy”.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Các con hãy yêu thương nhau

Bài Tin mừng hôm nay tiếp nối bài Tin mừng tuần trước nói về cây nho và cành nho, nhắc cho chúng ta hãy sống kết hợp với Chúa như cây nho và cành nho. Hôm nay Đức Giêsu lại đưa ra cho chúng ta một bài học nữa về sự liên kết giữa các cành nho. Đó là đức Bác ái mà các Kitô hữu phải thi hành đối với nhau:”Đây là giới răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”.

I. TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA

1. Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,7)

Con người từ bản tính ai cũng biết yêu, tuy mức độ và sắc thái có khác nhau. Nhưng làm sao con người lại biết yêu ? Trong bài đọc 2, thánh Gioan Tông đồ đã trả lời cho chúng ta: ”Vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa”(1Ga 4,7). Thiên Chúa là nguồn gốc tình yêu, Ngài ban cho chúng ta tình yêu ấy để chúng ta yêu Ngài và yêu nhau.

a) Tình yêu trong tạo dựng:

Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, cho nên ngay từ bẩm sinh, mỗi người chúng ta đều có khả năng biết yêu thương.

Khi Thiên Chúa dựng nên Evà, thì Adong nói:”Này là xương tự xương tôi, thịt là thịt tôi”(St 2,23). Tình yêu đồng loại chớm nở từ đó. Từ lúc Thiên Chúa dựng nên hai người, hai người đã chân thành thương yêu nhau như chính mình, coi nhau như một xương một thịt. Ngày nay chúng ta thường nói:”đồng bào ruột thịt”. Đồng bào có nghĩa là chung một bào thai sinh ra, đồng một nguồn gốc, một máu mủ, ruột thịt.

b) Tình yêu cứu chuộc

Ban đầu, Thiên Chúa trao ban tình yêu của Ngài trực tiếp cho con người, nhưng đã thất bại. Loài người không yêu Thiên Chúa, lại cũng không biết thương yêu nhau như Thiên Chúa yêu thương con người. Lại một lần nữa, Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương con người trong việc cứu chuộc. Tình yêu ấy đã được thánh Gioan Tông đồ diễn tả:”Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ”(Ga 3,16-17).

Thiên Chúa không những yêu thương con người, đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, lại còn ban ơn cứu độ, nâng con người sa ngã lên, một việc làm còn lớn lao hơn việc tạo dựng.

2. Tình yêu của Thiên Chúa Cha qua Đức Giêsu

Chúng ta không thể nào ban tặng tình yêu, trừ phi chúng ta đã đón nhận tình yêu từ trước đó. Một lò sưởi không thể nào toả ra sức nóng, trừ phi nó đã được đón nhận sức nóng từ trước đó. Điều này cũng đúng cả đối với Đức Giêsu. Ngài nói với các môn đệ của Ngài:”Như Cha đã yêu mến Thầy, nên Thầy cũng yêu mến các con”. Tình yêu mà Ngài chia sẻ một cách quảng đại cho các môn đệ của Ngài, và cho mọi người nói chung, chính là tình yêu mà Ngài đã đón nhận từ Thiên Chúa Cha.

Tình yêu đã được lãnh nhận ấy thật là tuyệt vời. Tình yêu chia sẻ ấy đã được thánh Gioan tông đồ mô tả:”Căn cứ vào điều này chúng ta biết tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta”(1Ga 3,16). Ngài đã dám gánh tội chúng ta, đã chịu chết để đền tội cho ta. Ngài không trút tội lỗi của chúng ta lên đầu chúng ta. Đây là thứ tình yêu rộng lượng tha thứ, vô cùng lớn lao, quảng đại:”Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người thí mạng vì người yêu”(Ga 15,13).

Ngoài ra, Ngài cũng còn tỏ lòng thương yêu chúng ta bằng cách tôn chúng ta lên làm bạn hữu của Ngài: ”Thầy không gọi chúng con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Còn các con, Thầy gọi các con là bạn hữu”. Thực sự, chúng ta không xứng đáng được gọi là tôi tớ Thiên Chúa vì chúng ta là vật thọ tạo đã dám xúc phạm đến Ngài, đến Đấng đã tạo dựng nên mình. Đây là một vinh dự quá lớn lao mà Ngài dành cho chúng ta.

II. TÌNH YÊU CỦA CHÚNG TA

1. Lệnh truyền của Đức Giêsu

Đức Giêsu có những lời tâm huyết muốn truyền lại cho các tông đồ trong bữa Tiệc ly. Một trong những lời tâm huyết ấy là:”Đây là điều răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12). Đức Giêsu có ý nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc yêu thương nhau, vì yêu thương là một lệnh truyền duy nhất gồm tóm mọi lệnh truyền khác (x. Mc 12,28-34). Lệnh truyền này là chúng ta yêu thương nhau như chính Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta. Và khuôn mẫu của tình yêu thương là Đức Giêsu yêu thương chúng ta. Tình yêu này có rất nhiều đặc tính mà chúng ta cùng tìm hiểu để áp dụng vào đời sống thường ngày của chúng ta.

2. Những đặc tính của tình yêu

a) Yêu không giới hạn

Trong bài Tin mừng này, Đức Giêsu nói:”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Chúng ta nên lưu ý đến chữ nhau và chữ như, hai chữ ấy nói lên mức độ của tình yêu cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

* Chữ NHAU. Nói lên chiều rộng của tình yêu. Chúa bảo chúng ta phải yêu thương nhau. Chữ “nhau” giả thiết phải có hai người trở lên. Vậy phải yêu ai và yêu bao nhiêu người ? Chúa không bảo hai vợ chồng hay hai tình nhân yêu nhau, mà bảo phải yêu thương tất cả mọi người vì tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa. Vì thế, ta không nên hiểu chữ “nhau” này theo nghĩa hẹp, chỉ nhằm đến lòng yêu thương đối với một ít người thân thiết với ta mà thôi, mà phải hiểu theo nghĩa rộng, chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người.

Cha Zosima nói trong cuốn sách “Anh em nhà Karamazov” của Dostoevsky: ”Bạn phải yêu thương tất cả những gì mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên, toàn bộ thế giới của Người, và mọi hạt cát trong đó. Nếu bạn yêu thương tất cả mọi sự, thì bạn cũng sẽ nắm bắt được mầu nhiệm có trong tất cả mọi sự”(Flor McCarthy).

Thánh Augustinô khi nói về mức độ của tình yêu thì ngài nói rất chí lý:”Mức độ của tình yêu là không có mức độ nào”.

Câu nói của Đức Khổng Tử cũng tương tự:”Tứ hải giai huynh đệ”: bốn bể là anh em.

* Chữ NHƯ. Nói lên chiều sâu của tình yêu. Phải yêu thương mọi người không trừ ai, lại còn phải yêu thương với một tình yêu sâu đậm như Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta.

Trong Thông điệp “Ánh sáng rạng ngời”, Đức Gioan Phaolô 2 đã viết:”Chữ “như” này đòi hỏi phải bắt chước Đức Giêsu, tình yêu của Người, mà rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể... Chữ “như” cũng chỉ mức độ mà Đức Giêsu đã yêu thương các môn đệ của mình, và các môn đệ của Người cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy”(Số 20).

b) Yêu thương là trao ban

Một trong các đặc tính của tình yêu là “trao ban”, là cho đi. Yêu là không muốn giữ lại cho mình mà muốn chia sẻ cho người khác. Chính trong việc cho đi mà người ta tìm được hạnh phúc trong tình yêu như Paul Bourget nói: ”Không khi nào người ta yêu như người ta đã được yêu, vì vậy, muốn đạt được hạnh phúc trong tình ái, chúng ta phải cho tất cả mà không đòi hỏi gì ca”.

Nếu tu viện trưởng Saint-Pierre quả quyết rằng:”Yếu tính của mọi tôn giáo, nền tảng của mọi chân lý, vương miện của mọi nhân đức căn cứ trên sự CHO và tha thứ”, thì thánh nữ Têrêsa Hài đồng đã thực hiện trong tình yêu đối với Chúa Giêsu trong mấy vần thơ mà thánh nữ sáng tác:

Sống yêu đương chính là cho tất cả,

Trên đời này không đòi hỏi công lao.

Không tính toán, không kể cho là bao,

Vì đã yêu có khi nào suy tính.

Truyện: Hai biển hồ

Palestine có hai biển hồ... Hai biển hồ này hoàn toàn khác nhau. Một biển hồ thường được gọi là biển hồ Galilêa. Đây là một biển hồ rộng lớn với nước trong xanh mà người ta có thể uống và cá cũng có thể sống trong đó. Chung quanh hồ là những vườn cây và thảm cỏ xanh tươi.

Biển hồ thứ hai tại Palestine là Biển Chết. Đúng như tên gọi của nó, không có sự sống nào ở trong cũng như chung quanh biển hồ này. Nước mặn đến nỗi cá không thể sống nổi mà người cũng có thể trở nên bệnh hoạn nếu uống phải. Mùi hôi thối từ Biển Chết xông lên, khiến không ai muốn sống gần đó.

Có điều kỳ lạ là hai biển hồ này đều nhận nước từ cùng một nguồn là sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào Biển hồ Galilêa rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch khác. Hồ Galilêa nhận lãnh để rồi chia sẻ cho những hồ nhỏ khác, nhờ đó nước của nó luôn trong sạch và mang lại sức sống cho cây cỏ, muông thú cũng như con người.

Biển Chết cũng nhận nước từ sông Jordan, nhưng nó giữ lấy riêng cho mình, do đó nước của nó trở thành mặn chát và hôi thối.

“Cho thì có phúc hơn nhận”. Càng trao ban, càng được nhận lãnh. Chúa đã yêu thương chúng ta vô bờ bến, và Ngài không muốn cho chúng ta giữ lại cho riêng mình, nhưng là chia sẻ tình yêu ấy cho mọi người chung quanh.

(Cử hành Phụng vụ Chúa nhật, năm B, tr 154)

c) Yêu là hy sinh

Tục ngữ Tây phương có câu:”Partir, c’est mourir un peu”: ra đi là chết trong lòng một ít. Lìa xa nhau là một hy sinh, hy sinh làm ta đau khổ và đau khổ được coi như chết trong lòng một ít. Tình yêu chân thật đòi phải hy sinh, mà hy sinh càng lớn thì tình yêu càng sâu đậm, càng tha thiết: ”Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất nước hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật”(Pierre l’Ermite).

Yêu là hy sinh và hy sinh lớn nhất là cho đi chính mạng sống của mình như Đức Giêsu đã nói: ”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình”(Ga 15,13). Nếu đọc cuốn tiểu thuyết “Anh phải sống” của nhà văn Khái Hưng, ta thấy cũng có một nhân vật dám thực hiện lời khuyên trên của Đức Giêsu. Câu truyện ấy gồm tóm như sau: Hai vợ chồng nghèo đi kiếm củi trên ngàn để bán lấy tiền nuôi con. Hôm đó trời giông bão, họ bị nước cuốn trôi. Chỉ có một khúc cây đủ sức cho một người bám. Người chồng bảo vợ hãy bám vào khúc cây, vì”em phải sống để lo cho các con”. Người vợ cũng bảo chồng “Anh phải sống”. Cuối cùng người vợ buông tay, tự tìm lấy cái chết cho mình, để nhường sự sống lại cho chồng và các con.

Tình yêu có cái giá của nó. Yêu là chấp nhận rằng chúng ta có thể phải chết đi bằng một cái chết khác, trước khi chúng ta chết thật. Con đường yêu thương là con đường của thánh giá, và chỉ thông qua con đường thánh giá, mà chúng ta mới đến được với sự sống lại. Nếu nỗi đau khổ dạy chúng ta về cách thức yêu thương, thì không có gì là khủng khiếp, khi phải chịu đôi chút đau khổ trên trái đất này.

d) Yêu đòi sự thành thật

Thánh Gioan Tông đồ luôn khuyên nhủ tín hữu hãy yêu thương nhau. Yêu thì có năm bảy đường yêu, nhưng tình yêu đòi hỏi sự chân thật. Ngài khyên: ”Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu nhau nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm; căn cứ vào điều đó chúng ta biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa”(1Ga 3,16-18).

Nhiều người chỉ yêu thương hời hợt bên ngoài, lòng họ chẳng yêu gì, đúng là họ chỉ yêu trên đầu môi chót lưỡi như thánh Gioan đã nói ở trên. Vì thế người ta nói:

Tôi yêu anh vạn

Tôi mến anh nghìn.

Anh có ăn thuốc đưa tiền tôi mua.

Những người này người ta liệt vào loại:

Thương miệng thương môi

Thương miếng xôi miếng thịt.

Truyện vui: Cớ sao ông lại chết ?

Trong một bãi tha ma tối đen như mực, có một người đàn ông đã 5 ngày liền ngồi buồn rầu trên một nấm mồ và luôn miệng nói một câu thảm thiết “Cớ sao ông lại chết ? Cớ sao ông lại chết để tôi khổ thế này”?

Người hầu tìm thấy ông ta, muốn an ủi, bèn hỏi:

- Người quá cố là cha hay anh ông vậy ?

Con người khốn khổ rên rỉ:

- Không phải cha, không phải anh. Đó là người chồng trước của vợ tôi đấy !!!

3. Đức Giêsu khuôn mẫu của tình yêu

Giới trẻ ngày nay thích đi chọn thần tượng cho mình để học đòi bắt chước. Đối với họ, thần tượng của họ là lý tưởng của đời mình, họ ra công học đòi bắt chước để trở nên giống thần tượng của họ trong cách ăn mặc, nói năng, đi đứng... Vì thế, họ đi tìm thần tượng của họ nơi các ca sĩ nhạc trẻ, nơi các cầu thủ bóng đá, nơi người trí thức, nơi các nhà chính trị xuất sắc...

Nhưng có một người mà suốt 2000 năm nay đã rất nổi tiếng, đã được người ta suy tôn là thần tượng tuyệt vời mà họ không biết, đó là Đức Giêsu Kitô. Thần tượng này đã dám khuyên mọi người hãy bắt chước cách sống của mình để trở nên giống mình:”Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”(Mt 11,29). Biết bao người đã say mê thần tượng đó, người ta đã tin theo và bảo vệ thần tượng đó mặc dầu phải hy sinh mạng sống mình.

Thần tượng ấy đã làm gương và khuyên nhủ chúng ta một điều mà mọi người cần phải thực hiện: ” Đây là điều răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”(Ga 15, 13).. Rất nhiều người đã thực hành lời khuyên đó bằng cách thể hiện ra trong những việc làm cụ thể hằng ngày.

Truyện: Ngôi nhà thờ

Trong một ngôi làng tại dẫy núi Alpes ở Thụy sĩ, có một nhà thờ nhỏ bé đã được sử dụng để làm nơi thờ tự, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Mặc dù không có một tác phẩm nghệ thuật nào, nhưng người dân địa phương luôn luôn dùng một tình cảm đặc biệt cho ngôi nhà thờ này. Điều này khiến cho nơi đây mang vẻ rất tươi đẹp trong đôi mắt của cư dân. Đó chính là nhờ câu chuyện ngôi nhà thờ được xây dựng trên mảnh đất đặc biệt này như thế nào. Câu chuyện đó như sau:

Có hai anh em tạo dựng một nông trại gia đình, cùng chia sẻ sản phẩm và lợi nhuận cho nhau. Người anh đã kết hôn, người em còn độc thân. Khí hậu khắc nghiệt đưa đến hậu quả là đôi khi, huê lợi trở nên hiếm hoi.

Ngày kia, người em tự nhủ “Thật không công bình khi chia sản phẩm bằng nhau. Mình còn độc thân, nhưng anh mình còn phải nuôi cả một gia đình”. Vì thế, thỉnh thoảng, người em lại đi ra ngoài vào ban đêm, mang theo một túi hạt từ trong kho thóc của riêng mình, lặng lẽ băng qua cánh đồng nằm giữa hai ngôi nhà của hai anh em, và đổ vào thùng của người anh.

Đồng thời, người anh cũng có đồng một ý tưởng đó và tự nhủ “Thật không công bình khi chia sản phẩm bằng nhau. Mình có cả gia đình nâng đỡ mình, nhưng em mình vẫn độc thân”. Vì thế, thỉnh thoảng, người anh lại đi ra ngoài vào ban đêm, mang theo một túi hạt từ trong kho thóc của riêng mình, âm thầm đổ vào thùng của người em.

Việc này tiếp diễn trong nhiều năm, mỗi người đều thắc mắc không hiểu sao kho lúa của họ không bao giờ hao hụt đi. Thế rồi vào một đêm kia, họ đụng chạm với nhau trong bóng đêm. Sau khi nhận ra sự việc, họ bỏ túi hạt xuống, và ôm nhau. Đột nhiên, có một giọng nói xuất phát từ trên trời “Tại nơi đây, Ta sẽ xây dựng một ngôi nhà thờ. Bởi vì ở đâu con người gặp gỡ nhau trong lòng yêu thương, thì ở đó, có sự hiện diện của Ta”.

(Flor McCarthy, Phụng vụ Chúa nhật, năm B, tr 271-272)

Lm Giuse Đinh lập Liễm

Giáo xứ Kim phát

Đà lạt

Giuse Đinh Lập Liễm
 

PS6-B52. Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU VÀ SINH HOA KẾT TRÁI - Lm PX Vũ Phan Long, ofm

Gioan 15,9-17
I. NgỮ cẢnh
      Xin xem lại bài Gioan 15,1-8. 
2.- BỐ cỤc
 

Bản văn đầy đủ là 15,1-17. Ta có thể xác định được ranh giới các phân đoạn (15,1-8.9-11.12-17) nhờ các: PS6-B52

Bản văn đầy đủ là 15,1-17. Ta có thể xác định được ranh giới các phân đoạn (15,1-8.9-11.12-17) nhờ các câu “đóng khung” (“Cha Thầy”: 15,1.8; “sinh hoa trái”: 15,2.8; “nhiều”: 15,2.8; “điều răn/truyền dạy”: 15,12.17; “để anh em thương yêu nhau”: 15,12.17).
Riêng bản văn hôm nay có thể chia thành hai phần:
 
  1. Ở lại trong tình yêu của Đức Giêsu và của Chúa Cha (15,9-1;
  2. Điều răn của Đức Giêsu: hãy yêu thương nhau (15,12-17). 
III. Vài điỂm chú giẢi
- Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy (9): Hai động từ “yêu mến” (agapêsen; agapêsa) ở thì quá khứ aorist, diễn tả những biến cố rõ rệt và cụ thể trong quá khứ (“Chúa Cha đã yêu mến Thầy”) , bây giờ chạm đến chúng ta (“Thầy cũng yêu mến anh em”).
- vì bạn hữu của mình (13): “Vì” (hyper) có nghĩa là “nhân danh”. Cái chết của Đức Giêsu nhằm mưu ích cho chúng ta. Xem Lc 22,19-20; 1 Cr 11,24.
- cắt cử (16): Động từ Hy-lạp tithenai có nghĩa là “đăït một người vào một nhiệm vụ”, đồng thời bảo đảm, cung cấp cho người ấy mọi phương tiện để thi hành nhiệm vụ đó thật hữu hiệu (x. Cv 13,47; 20,28; 1 Cr 12,28; 2 Tm 1,11). Nhóm môn đệ được ký thác nhiệm vụ truyền giáo (x. Mc 3,14; 6,7; Mt 10,1; Lc 9,1). 
IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn
* Ở lại trong tình yêu của Đức Giêsu và của Chúa Cha (9-11)
Đức Giêsu dùng hình ảnh cây nho để mô tả tương quan của Người với các môn đệ, ngay khi Người vắng mặt về thể lý. Người là cây nho “thật”, còn chúng ta là cành, mà cành thì phải ở lại (menô) trên cây nho để sinh hoa kết trái, hoa trái tình yêu (một trong những đề tài chính của Gioan). Đức Giêsu đã lệ thuộc Cha của Người trong mọi sự. Bây giờ Người cho chúng ta thấy rằng Cha của Người là nguồn mạch của mọi tình yêu: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng đã yêu mến anh em như vậy” (15,9). Hai động từ đều cùng ở một thì quá khứ (aorist) nói lên những biến cố rõ rệt trong quá khứ. Đức Giêsu ở an toàn trong tình yêu của Cha Người đến mức Người có thể cho thấy tình yêu của Người đối với các môn đệ bằng cách rửa chân cho họ (x. 13,1-5). Tình yêu vâng phục của Đức Giêsu với Cha Người chính là nền tảng và điển hình cao vời cho cuộc sống ki-tô hữu.   
Chúng ta phải “ở lại” (menô) trong tình thương của Đức Giêsu, cũng như Người “ở lại” trong tình thương của Cha Người: có nhiều cách. Chúng ta cũng có thể “ở lại” (menô) trong tình thương của Đức Giêsu bằng cách để cho Người yêu thương ta, không đặt một trở ngại nào gây khó khăn cho tình thương ấy. Chúng ta cũng có thể “ở lại” bằng cách tuân giữ các điều răn của Cha Người, vì như thế là hài hòa các ý muốn (c. 10). Đề tài đã được đề cập tới trước đây là “ở lại trong tình thương nhờ vâng phục [giữ các điều răn; giữ lời]” (x. 14,15.21.23-24) nay tái xuất hiện và được liên kết với niềm vui. Đức Giêsu giải thích tất cả những điều đó là để “niềm vui của Thầy ở trong anh em” và “niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (c. 11). Trước đây Người đã bảo các môn đệ rằng họ phải vui mừng vì Người đi về cùng Chúa Cha (14,28). Đề tài niềm vui này sẽ còn được triển khai sau này (16,20-33).
Như thế, Đức Giêsu ở lại trong tình thương của Cha Người bởi vì Người giữ điều răn của Ngài để chuyển tình thương sang cho các môn đệ. Các môn đệ sẽ ở lại trong tình thương của Đức Giêsu nếu họ giữ điều răn của Người. Điều răn của Người cũng giống như điều răn của Cha Người: yêu thương như anh em đã được yêu thương. Mục tiêu của mạc khải cao cả này là niềm vui. Niềm vui của Đức Giêsu là tuôn đổ tình yêu Người đã nhạân từ Chúa Cha vào lòng các môn đệ. Vậy các môn đệ được chia sẻ không những tình yêu mà cả niềm vui của người ban tặng tình yêu. Nhưng niềm vui của Đức Giêsu được Người thông ban chỉ là một hương vị khởi đầu. Quy luật của sự hoàn tất cho thấy rằng bạn chỉ hiểu điều bạn đã nhận khi bạn tặng nó đi. Như thế, các môn đệ sẽ nhận được niềm vui trọn vẹn khi yêu thương nhau như Đức Giêsu đã yêu thương họ. Đây chính là sự sống vĩnh cửu: tương giao đón nhận và trao tặng tình yêu không ngừng.  
* Điều răn của Đức Giêsu: hãy yêu thương nhau (12-17)
Như Chúa Cha đã yêu thương Đức Giêsu và Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta, chúng ta phải ở lại trong tình thương của Người (c. 9). Như thế, Họâi Thánh là một cộng đồng yêu thương, tại đó người ta sống điều răn mới. Đức Giêsu đang nhắc lại cho các môn đệ việc rửa chân: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (15,12 nhắc lại 13,34). Thì quá khứ của “Thầy đã yêu thương anh em” phải được thể hiện trong tình yêu của chúng ta đối với nhau trong hiện tại. Hành vi tiêu biểu của Đức Giêsu nhằm nói lên tình yêu của Người là chính lễ hy sinh của Người, là hành vi hy sinh mạng sống “vì bạn hữu của mình”, “nhân danh bạn hữu mình” (c. 13). Điều này đã được báo trước nơi việc người mục tử hiến mạng sống vì đoàn chiên (10,11) và nay Người đang chuẩn bị cho họ đón nhận cái chết hy sinh của Người. Nếu chúng ta yêu thương nhau như Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta, thì chúng ta phải sẵn sàng thực hiện hành vi hy sinh tối hậu.
Khi nói đến việc hy sinh tính mạng “vì bạn hữu của mình”, Đức Giêsu lại được đưa đến chỗ gọi các môn đệ không phải là “tôi tớ”, nhưng là “bạn hữu” (philoi). Chúng ta chứng tỏ chúng ta là “bạn hữu” của Người do tình yêu của chúng ta đối với Người, khi tuân giữ điều răn của Người (c. 14; x. 15,10). Dĩ nhiên không có gì sai trái khi làm “tôi tớ của Thiên Chúa”. Nhiều ngôn sứ, tư tế và vua chúa vui mừng được gọi như thế (Gs 24,29; Tv 89,20). Chính Đức Giêsu đã nhận lấy vai trò tôi tớ khi rửa chân cho các môn đệ, nhưng trong tư cách là Thầy, Người chấp nhận họ như là các tôi tớ (x. 13,13-16). Nhưng nay Người gọi họ là “bạn hữu”, như Môsê xưa kia là “bạn hữu” của Thiên Chúa (x. Xh 33,11). Vòng các “bạn hữu” thân tín của hoàng đế Rôma chính là các cố vấn của ông. Như thế, Đức Giêsu muốn cho các môn đệ yêu dấu của Người biết tất cả mọi sự (c. 15).
Các kinh sư thường không tìm môn sinh. Những người trẻ nào muốn tìm một vị thầy thì rảo quanh, thăm viếng và chọn lấy vị thầy nào họ muốn. Đức Giêsu thì không như thế, Người nhắc các môn đệ nhớ rằng chính Người đã chọn họ, và Người làm như thế vì nhắm một mục tiêu, đó là họ “ra đi và sinh được hoa trái” (c. 16). Hoa trái này được nhắm “ở lại [= tồn tại; menô)” và có kết quả do chỗ Chúa Cha đáp lại những lời họ cầu xin (x. 14,13; 15,7). Thế rồi Người nhắc lại lệnh truyền cuối cùng, “hãy yêu thương nhau” (c. 17).     
+ Kết luận
Lời cáo biệt thường hàm chứa những lời nói hoặc những chỉ thị cuối cùng; chúng ta rất trân trọng các lời này và cố gắng thực hiện. Đức Giêsu vừa ký thác bí mật cuối cùng và quí báu nhất của trái tim Người; Người đã tâm sự về những điều thâm sâu nhất, đã diễn tả ra các lời nhắc nhở cuối cùng. Dường như Người muốn để lại cho các môn đệ di chúc thiêng liêng của Người. Điểm nổi bật là Người tha thiết nhấn mạnh trên tình yêu đối với nhau. Các môn đệ của Đức Giêsu là các “bạn hữu” của Người, được Người yêu thương cũng như Người được Cha của Người yêu thương, và Người muốn họ trở thành một cộng đồng tình yêu, trong đó mỗi người yêu thương nhau. Người không muốn các môn đệ chỉ biết loay hoay vun quén với nhau và cho nhau, làm thành một thứ Họâi Thánh ấm cúng đóng kín, nhưng muốn chúng ta “ra đi và sinh được hoa trái, và hoa trái tồn tại”, vươn tới thế giới chung quanh chúng ta.
Ở tại trung tâm các lời này của Đức Giêsu, có sứ điệp liên hệ đến Chúa Cha. Khi các môn đệ được gặp lại Đức Giêsu Phục Sinh, các ông sẽ trải nghiệm về Thiên Chúa như là Cha và hiểu Ngài đã dành tất cả tình yêu và tất cả quyền năng của Ngài cho Con của Ngài.  
V. GỢi ý suy niỆm
1. Những gì Đức Giêsu vẫn ao ước cho tới giờ này, là đưa các môn đệ đến với Chúa Cha. Với cuộc Phục Sinh, công trình của Người đạt được một phẩm chất mới: Ngài sẽ loan báo về Chúa Cha công khai cho các môn đệ, chứ không che giấu nữa (16,25). Không phải là y như thể Người nói với họ về Chúa Cha với các lời mạc khải mới; trái lại chính họ phải đạt tới một khái niệm về Chúa Cha. Chúa Cha chính là nguồn mạch tình yêu từ đó Đức Giêsu đã đi ra và hướng về đó, Đức Giêsu dẫn chúng ta về. Chúng ta chỉ có thể về tới đó nhờ giữ điều răn của Chúa Cha và cũng là điều răn của Đức Giêsu: yêu thương nhau.     
2. Từ “điều răn” được Đức Giêsu sử dụng bốn lần nhằm cho thấy rằng “yêu thương” là một tuyệt đối, mà không ai được đặt thành vấn đề nữa. Đây là thực tại chính yếu, đây là mối lo lắng cốt yếu, đây là điểm bận tâm duy nhất của những ai tự hào mình thuộc về Đức Giêsu và đứng vào hàng ngũ những kẻ thừa kế thiêng liêng của Người. Nếu Đức Giêsu nhấn mạnh như thế, phải chăng là vì nguy hiểm, cũng là sự cám dỗ và sự sai lầm, chính yếu và thường xuyên nhất, đã từng đe dọa các môn đệ xưa kia cũng như sẽ đe dọa mọi thế hệ môn đệ tương lai, chính là tình trạng thiếu lòng yêu thương?    
3. Chúng ta thường qua bận bịu với việc làm tôi tớ Thiên Chúa, “làm việc cho Đức Giêsu”, mà quên rằng Người muốn chúng ta trở thành bạn hữu của Người, muốn chúng ta yêu thương Người và được Người yêu thương. Nếu hiểu rằng ta là những mắt xích trong sợi xích tình yêu, một dây tương quan đi từ Chúa Cha đến Đức Giêsu, từ Đức Giêsu đến với mỗi người, từ mỗi người đến với người khác, thì chúng ta sẽ đi từ một cuộc sống khắc  khoải, cô lập, sang sự hiệp thông thánh thiêng. Khi đó, không cần phải nắm lấy, hoặc sở hữu đời sống này, y như thể hòng có được một chút tiện nghi thoải mái. Đời sống này dồi dào không mức độ. Thiên Chúa không cân đo Thánh Thần. Sống trong vòng lưu chuyển yêu thương này, thì không còn tôi tớ không biết đường lối của chủ, nhưng chỉ còn những người bạn an nhiên sống và hành xử trong tình yêu của Chúa Cha.
4. Nói với những con người đang sống trong một cuộc sống xô bồ, Đức Giêsu nhắc các bạn hữu Người nhớ lại một vài điểm căn bản. Đừng nghĩ rằng họ đang dùng sức họ để vào được một cuộc sống cao đẹp hơn, để mà tỏ ra ngạo mạn. Đừng nghĩ rằng họ đang biết phấn đấu hết sức mình, để mà tự hào tự phụ. Thật ra, họ đã được Chúa Cha và Đức Giêsu chọn làm một mắt xích trong chuỗi tình yêu. Và Chúa Cha không yêu cầu người ta làm những chuyện họ không được chuẩn bị trước. Nhưng cách chuẩn bị trước lại dường như không hào nhoáng gì đối với các môn đệ: “ở lại trong Đức Giêsu”, “ở lại trong tình yêu của Người” và “yêu thương nhau”. Chúng ta hãy để cho mình được bao trùm, được ấp ủ trong tình yêu của Người; như thế là đừng từ chối những gì Người ban tặng cho ta. Đây là cách quan trọng duy nhất để có thể ra đi và sinh được hoa trái.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm 
 

PS6-B53. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH - Lm Carôlô Hồ Bă#c Xái

Chủ Ðề: Nhấn mạnh thêm về cuộc sống yêu thương
I. DẪn vào Thánh lỄ
Anh chị em thân mến
 

Bấy lâu nay, chúng ta cứ tưởng mình đã biết Thiên Chúa. Nhưng trong Thánh lễ này, thánh Gioan: PS6-B53

Bấy lâu nay, chúng ta cứ tưởng mình đã biết Thiên Chúa. Nhưng trong Thánh lễ này, thánh Gioan khuyến cáo chúng ta rằng "Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa". Thánh Gioan còn nói "Phàm ai yêu thương thì được Thiên Chúa sinh ra". Hóa ra bấy lâu này chúng ta chưa thực sự là con cái Thiên Chúa.
Chúng ta hãy tha thiết xin Chúa giúp chúng ta biết sống yêu thương để từ nay xứng đáng là con cái của Ngài.
II. GỢi ý sám hỐi
Xin Chúa tha thứ những việc làm, lời nói và ý tưởng của chúng ta nghịch lại với đức yêu thương.
Xin Chúa tha thứ vì tình thương của chúng ta còn quá giới hạn và ích kỷ, chưa biết yêu "như Chúa đã yêu".
Xin Chúa tha thứ vì chúng ta chưa dám hy sinh vì những người mình yêu.
III. LỜi Chúa
1. Bài đọc I Cv 10, 25-26. 34-35. 44-48
Việc Phêrô rửa tội cho Cornêliô đánh dấu một bước ngoặc rất quan trọng trong cuộc sống của Giáo Hội.
Do thái giáo xưa nay coi ơn cứu rỗi là độc quyền của dân do thái, cho nên không bao giờ chấp nhận cho một người dân ngoại làm tín hữu chính thức. Cùng lắm, nhưng người "ngoại" ấy chỉ được làm "kẻ kính sợ Chúa" mà thôi.
Cornêliô là một người ngoại. Còn Phêrô đang là lãnh đạo của Giáo Hội. Việc Phêrô rửa tội cho Cornêliô đã mở toang cánh cửa Giáo Hội để từ nay bất cứ người nào cũng có thể gia nhập Giáo Hội.
Bước ngoặc quan trọng này do Chúa Thánh Thần thúc đẩy (chính Chúa Thánh Thần đã khuyến khích Phêrô đến nhà ông Cornêliô) và Chúa Thánh Thần chuẩn nhận (Khi Phêrô đang nói thì Thánh Thần ngự xuống trên tất cả những người đang có mặt trong nhà ông Cornêliô).
2. Ðáp ca Tv 97
Lời Tv rất thích hợp để diễn tả tâm tình hân hoan sau sự kiện Phêrô rửa tội cho gia đình ông Cornêliô: "Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công... Chúa đã mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân... Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta".
3. Bài đọc II 1 Ga 4, 7-10
Câu quan trọng nhất trong đoạn thư này là câu định nghĩa "Thiên Chúa là Tình yêu". Từ đó sinh ra những hệ luận:
Chúng ta hãy yêu thương nhau.
Ai yêu thương thì biết Thiên Chúa, ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa.
4. Tin Mừng Ga 15, 9-17
Tiếp tục dụ ngôn Cây nho và cành nho.
Ðức Giêsu dạy: "Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân giữ lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy".
Lòng "Yêu mến nhau" mà Ðức Giêsu muốn các môn đệ mình có phải vươn tới những mức độ sau đây:
"Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con"
"Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình"
IV. GỢi ý giẢng
* 1. "Ðâu có tình yêu thương ở đấy có Ðức Chúa Trời"
Trong dãy núi Alps ở Thuỵ Sĩ có một ngôi làng, và trong làng có một nhà thờ nhỏ. Mặc dù nhà thờ này chẳng có một tác phẩm nghệ thuật nào cả nhưng lại được dân làng quý mến một cách hết sức đặc biệt. Câu chuyện sau đây sẽ cho biết lý do.
Có hai anh em cùng canh tác mảnh vườn của gia đình và chia lợi tức đồng đều cho nhau. Người anh đã có gia đình, người em còn độc thân. Năm đó thời tiết khắc nghiệt nên thu hoạch rất kém. Một hôm, người em tự nhủ: "Nếu chia đều phần thu hoạch thì không công bình, vì mình thì độc thân, còn anh mình thì còn phải lo cho gia đình". Thế là mỗi đêm người em vào kho nhà mình lấy một bao lúa, đi ngang qua miếng ruộng giữa hai nhà và mang đến bỏ vào kho của người anh. Trong lúc đó, người anh cũng tự nhủ: "Nếu chia đều phần thu hoạch thì không công bình, vì mình thì đã có gia đình đỡ đần, còn em mình thì độc thân không ai giúp đỡ". Thế là mỗi đêm người anh vào kho nhà mình lấy một bao lúa, đi ngang qua miếng ruộng giữa hai nhà và mang đến bỏ vào kho của người em. Ðêm nào hai anh em cũng làm như thế. Nhưng lạ thay ai cũng thấy kho lúa nhà mình chẳng vơi đi tí nào cả. Một đêm kia, hai anh em gặp nhau giữa miếng ruộng. Họ cảm động quá, vất bao lúa xuống đất và ôm nhau khóc. Thình lình, một tiếng từ trời vọng xuống: "Tại đây Ta sẽ xây nhà thờ của Ta, vì nơi nào người ta thương yêu nhau thì Ta sẽ ngự ở đó". Thế là có một ngôi nhà thờ mọc lên tại nơi đó.
* 2. Thiên Chúa là tình yêu
Ngày xưa có một chàng thanh niên hồ nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Một hôm anh tìm đến một tu sĩ nổi tiếng là đạo đức và hỏi:
 
  • Ngài có tin Thiên Chúa không?
  • Vâng, tôi tin. Vị tu sĩ trả lời.
  • Nhưng dựa vào đâu mà ngài tin như thế?
  • Tôi tin Thiên Chúa vì tôi biết Ngài. Tôi cảm nhận được sự hiện diện của Ngài trong tôi mỗi ngày.
  • Nhưng làm sao mà cảm nhận được như thế?
  • Khi ta yêu thì ta sẽ cảm nghiệm được Thiên Chúa, và những nỗi hồ nghi sẽ tan biến như sương mai phải tan biến lúc mặt trời mọc.
Chàng thanh niên suy nghĩ một hồi, rồi hỏi tiếp:
 
  • Xin Ngài chỉ rõ cho tôi phải làm điều đó bằng cách nào?
  • Bằng cách thực hiện những việc yêu thương. Anh hãy cố gắng yêu thương những người chung quanh anh, yêu thương tích cực và không ngừng. Khi anh học biết yêu thương ngày càng nhiều hơn thì anh cũng sẽ càng ngày càng xác tín hơn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự bất tử của linh hồn. Việc này đã được thử nghiệm rồi đấy. Ðó là sự thật.
Vị tu sĩ trên chẳng nói gì khác hơn điều Thánh Gioan viết trong bài đọc II hôm nay: "Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình yêu"
Thực vậy, Tình yêu là điều kiện tiên quyết để hiểu biết cuộc sống và đặc biệt là hiểu biết Thiên Chúa. Van Gogh nói: "Cách tốt nhất để biết Thiên Chúa là hãy yêu nhiều. Hãy yêu bạn mình, yêu vợ mình, yêu một cái gì đó. Rồi bạn sẽ thấy mình đang đi đúng đường dẫn tới chỗ biết Thiên Chúa".
Tình yêu là người thầy tốt nhất chúng ta có. Nhưng người thầy này không tự đến, chúng ta phải cực nhọc tìm kiếm. Thông thường phải tốn nhiều năm nỗ lực cách kiên trì người ta mới đạt được đến khả năng yêu thương.
Có một vực thẳm ngăn cách giữa việc biết Chúa và việc yêu Chúa. Không yêu Chúa thì không biết Ngài. Nhưng khi chúng ta yêu thì bực thẳm được lấp đầy ngay. Yêu là biết Chúa. Nơi nào có tình yêu thì nơi đó có Chúa, cũng như nơi nào có Chúa thì nơi đó có tình yêu. Nhưng nên lưu ý: Yêu không phải là chứng minh hay là giải thích.
Vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, cho nên mỗi người chúng ta đều có khả năng yêu thương. Tuy nhiên để được như thế thì con tim chúng ta phải lành mạnh. Thực tế là con tim chúng ta dễ bị những chứng bệnh như lạnh nhạt, trống rỗng, hẹp hòi. Chúng ta cần phải chữa trị những chứng bệnh đó để con tim chúng ta lành mạnh hầu có thể sinh những hoa trái tình yêu. (Viết theo Flor McCarthy).
* 3. Yêu thương và tôn trọng
Nhà văn nữ Harriet Beecher Stove có viết một quyển tiểu thuyết nhan đề "Túp lều Bác Tôm" kể chuyện đời của một người nô lệ da đen tên là Tôm. Chủ của bác Tôm là một trong số rất ít những người chủ da trắng biết thương yêu những người nô lệ da đen của mình. Ðáp lại Bác Tôm cũng rất yêu thương chủ và tận tụy hết lòng phục vụ chủ. Nhưng ông chủ này vì làm ăn thua lỗ nên đã nợ một món tiền rất lớn. Một tên da trắng khác chuyên buôn bán nô lệ đã tìm cách nắm được các giấy nợ và dùng chúng để làm áp lực với ông Senbi, tên của ông chủ da trắng nhân hậu ấy. Hắn buộc ông phải bán bác Tôm cho hắn để trừ nợ. Lúc đầu ông Senbi nhất định không chịu. Nhưng vì tên lái buôn hăm doạ sẽ tịch thu tất cả tài sản của ông, nên cuối cùng ông đành phải bán bác Tôm. Sau đó cuộc đời bác Tôm đã phải lao đao lận đận chịu đủ thứ khổ sở và cuối cùng phải chết.
Câu chuyện này đã giúp ta hiểu rõ hơn bài Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay. Trong bài Tin Mừng này, Ðức Giêsu nói "Chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con". Trong câu này, có 3 chữ then chốt, là: yêu thương, nhau, và như.
Chữ thứ nhất yêu thương thì chúng ta dễ hiểu, bởi vì Ðức Giêsu luôn luôn dạy chúng ta phải sống yêu thương. Yêu thương là điều răn quan trọng nhất của Chúa, là điều răn gồm tóm tất cả mọi điều răn khác.
Chữ thứ hai: nhau. Yêu thương nhau là yêu thương ai? Ðây không phải là câu Chúa nói với hai vợ chồng hay với một cặp tình nhân, người này yêu thương người kia và người kia yêu thương người này. Nhưng Chúa nói với tất cả mọi người. Vì thế ta không nên hiểu chữ nhau này theo nghĩa hẹp, chỉ nhắm đến lòng yêu thương đối với một ít người thân thiết với ta thôi, mà phải hiểu theo nghĩa rộng, chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người. Giới răn của Chúa là như vậy. Nhưng thực tế, chúng ta chỉ mở rộng con tim để yêu thương một số người rất ít thôi, có thể đếm trên đầu ngón tay, như: cha mẹ, anh chị em ruột, một vài bạn bè thân thiết, và người yêu của chúng ta. Chỉ thế thôi. Còn lại biết bao nhiêu người khác chúng ta chưa yêu thương, chúng ta không muốn yêu thương, và thậm chí chúng ta còn ghét nữa. Vì thế, vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta có thể yêu thương hết tất cả mọi người như giới răn Chúa đã dạy?
Chữ thứ ba là chữ như. Ðây là chữ quan trọng nhất trong câu. Nếu muốn yêu thương tất cả mọi người, thì chúng ta phải làm như Ðức Giêsu đã làm. Vậy, Ðức Giêsu đã làm như thế nào? Ta hãy đọc tiếp đoạn Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Thầy không coi các con là tôi tớ, nhưng Thầy coi các con là bạn hữu của Thầy". Ðức Giêsu là Chúa, là Thầy; còn các môn đệ là người, là đệ tử. Cho nên nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ thì cũng được thôi. Nhưng không, Chúa không muốn coi họ là tôi tớ thấp hèn, mà muốn coi họ là bạn hữu ngang hàng với Chúa. Nghĩa là Chúa tôn trọng họ. Tình yêu của Chúa là tình yêu đi đôi với lòng tôn trọng. Vậy nếu chúng ta muốn có thể yêu thương tất cả mọi người thì chúng ta cũng phải tôn trọng tất cả mọi người, như Ðức Giêsu đã yêu thương.
Có những người mà tự nhiên ta cảm thấy xa cách, khó ưa và không thể nào yêu thương được. Chẳng hạn như trong chế độ buôn bán nô lệ, rất khó có được tình yêu thương giữa một người da trắng tự do và một người da đen nô lệ. Những người da trắng thời đó coi những người nô lệ da đen như một con vật biết nói, bắt họ phải làm việc cho mình, đánh đập họ, khi chán họ thì bán cho người khác, khi tức giận thì còn có thể giết họ bỏ. Thời đó người da trắng không thể nào yêu thương người da đen. Tại sao? Vì họ khinh miệt người da đen, nói khác đi, họ không tôn trọng người da đen. Như Bác Tôm là một người da đen, bác rất tốt, bác làm việc giỏi, bác lại có lòng đạo đức. Thế nhưng những đức tính ấy không khơi lên lòng tôn trọng và do đó lòng yêu thương của tên lái buôn nọ. Ngược lại, bác càng tốt càng giỏi chừng nào thì hắn càng muốn bắt Bác đi làm món hàng mua bán chừng nấy, vì chính những đức tính ấy càng làm cho bác thành một món hàng cao giá. Còn đối với ông Senbi, tuy là một chủ da trắng nhưng lại yêu thương bác Tôm là một người nô lệ da đen, tại sao? Vì ông Senbi biết đánh giá đúng những đức tính của Bác. Ông không Tôm bằng thằng, bằng mày, mà gọi bằng Bác. Ông không coi Tôm là tôi mọi nhưng coi như người nhà. Ðối lại Tôm cũng rất thương ông Senbi. Người ta đã xúi bác Tôm trốn đi trước khi bị tên lái buôn bắt đi bán. Nhưng Bác đã từ chối "Nếu ông chủ buộc lòng phải bán tôi để khỏi phải bán tất cả những người khác và để khỏi phải phá sản thì thôi cũng được". Tóm lại, người da trắng và người da đen này thương nhau vì hai người đã biết rõ tấm lòng của nhau, vì họ tôn trọng nhau.
Trong truyện "Túp lều Bác Tôm", ta thấy hai điều: thứ nhất, tên lái buôn da trắng không thể nào yêu thương được người nô lệ da đen là vì không có lòng tôn trọng người ấy; thứ hai, giữa bác Tôm và ông chủ da trắng có tình thương yêu nhau là vì họ tôn trọng nhau. Như vậy, tôn trọng phá tan mọi hàng rào ngăn cách để cho người ta đến gần nhau và tình yêu thương nhau. Hơn nữa, tôn trọng còn là cái nền tảng vững chắc giúp cho tình yêu của những người đã yêu thương nhau lại càng bền vững hơn.
Ðến đây chúng ta có thể rút ra những kết luận thực hành:
Chúng ta đang thương một số người, như cha mẹ, anh chị em, bạn bè, chồng vợ, người yêu của mình. Ðể cho những tình yêu thương ấy được bền vững, chúng ta hãy biết tôn trọng nhau. Dù những người đó có điều gì trái ý ta, dù có điểm tính tình họ khác ta, ta cũng phải tôn trọng họ, bởi vì mọi người là một cá thể độc đáo không ai hoàn toàn giống ai. Ta không được bắt buộc ai phải giống như mình. Ta phải tôn trọng cái quyền họ có quyền khác với ta,. Có thế mới tránh được những xung đột, sứt mẻ trong tình yêu thương nhau.
Và còn rất nhiều người mà chúng ta chưa yêu thương. Tuân giữ giới răn của Chúa, ta cũng phải cố gắng yêu thương họ. Muốn vậy, việc đầu tiên phải làm là ta phải dẹp bỏ mọi thành kiến, mọi kỳ thị, phải tôn trọng họ: tôn trọng những điểm khác biệt nơi họ, tôn trọng quyền tự do của họ, ngay cả khi họ có những khuyết điểm lỗi lầm ta vẫn phải tôn trọng con người của họ, bởi vì lỗi lầm là lỗi lầm, nhưng con người vẫn là con người, vẫn có nhân phẩm, và ta yêu thương là yêu thương chính con người đó, yêu thương chính nhân phẩm đó.
Ðức Giêsu nói "Chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con". Theo Lời Chúa dạy, chúng ta hãy cố gắng yêu thương tất cả mọi người, và theo gương Chúa làm, chúng ta hãy cố gắng tôn trọng tất cả mọi người.
* 4. Vài suy nghĩ vụn vặt về tình yêu
a. "Yêu thương", "Tình gia đình", "Huynh đệ", "Chia xẻ", "Hiệp thông" v. v. là những từ ngữ được nói quá nhiều nhưng nhiều khi chỉ là sáo ngữ, rỗng tuếch, ngôn hành tương phản. Chính con cũng rất nhiều lần nói như thế. Từ nay con muốn nói những chữ ấy một cách thật lòng, nhất là nói với những người cùng niềm, cùng lý tưởng với con.
b. Yêu thương, nếu chỉ là một cảm giác dễ chịu thì chưa phải là tình yêu thật. Tình yêu thật là phải cho đi, phải hy sinh. Cho đi càng nhiều, hy sinh càng lớn thì tình yêu càng đúng nghĩa. Bởi thế Ðức Giêsu nói: "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình"
c. "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình". Câu Tin Mừng này khiến tôi liên tưởng tới một câu chuyện tôi đã đọc hồi còn nhỏ, tựa đề "Anh phải sống": hai vợ chồng nghèo đi kiếm củi trên ngàn để bán lấy tiền nuôi con. Hôm đó trời giông bão, họ bị nước cuốn trôi. Chỉ có một khúc cây đủ sức cho một người bám. Người chồng bảo vợ hãy bám vào khúc cây, vì "em phải sống để lo các con". Người vợ cũng bảo chồng "Anh phải sống". Cuối cùng người vợ buông tay, tự tìm lấy cái chết cho mình, để nhường sự sống lại cho chồng và các con.
* 5. Ở lại trong tình thương
Ðức Giêsu bảo: "Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy".
Chữ "ở lại" mà Ðức Giêsu dùng khiến tôi hình dung tình thương của Chúa như một mái nhà. Mái nhà tình thương này luôn có chỗ cho tôi. Chúa bảo tôi hãy ở trong đó mãi, đừng bỏ nhà ra đi. Nghĩa là Chúa luôn thương tôi, chỉ có tôi là có khi không ở trong tình thương đó.
Ở trong mái nhà tình thương của Chúa, khi tôi đói thì được ăn, khi khát thì được uống, khi mệt mỏi thì có thể nghỉ ngơi, khi bệnh tật thì được chăm sóc, khi buồn phiền thì có người an ủi...
Chúa khuyên tôi ở lại vì Ngài biết tôi có thể bỏ đi. Tôi bỏ đi khi tôi không còn coi đó là nhà mình nữa, tôi tìm một chỗ khác mà tôi nghĩ là nhà mình; Tôi bỏ đi khi tôi tưởng là trong nhà đó người ta không thương tôi nữa do tôi đã lầm lỡ thế nào đó.
Nhưng khi Chúa bảo tôi "hãy ở lại" nghĩa là Ngài khẳng định rằng dù tôi thế nào đi nữa thì tôi vẫn được Ngài thương yêu, và không chỗ nào khác ở ngoài là nhà thực sự của tôi.
* 6. Như Thầy đã yêu.
Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 16-9-1999 đã đưa tin: "10.645 người nghèo đã khỏi mù". Theo Hội Bảo Trợ Bệnh Nhân Nghèo TP. HCM từ đầu năm 1999 đến nay các đoàn phẫu thuật ghép thủy tinh thể nhân tạo của thành phố và các quận huyện đã đem lại ánh sáng cho 10.645 người nghèo bị mù (đạt 88% kế hoạch 1999). Trong tháng 8-1999 đã có 108 lượt tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đóng góp hơn 2 tỷ đồng ủng hộ quỉ hội (tăng 205% so với tháng 7-1999). Hội cũng đã tài trợ cho Bệnh viện Nhi Ðồng 2 trên 79, 5 triệu đồng giúp phẫu thuật cho 21 trẻ em không có hậu môn bẩm sinh, và giúp Trung Tâm Răng Hàm Mặt phẫu thuật cho 178 trẻ em bị sứt môi, hở hàm ếch tại Bình Ðịnh.
|||
Hầu như đọc bất cứ tờ báo nào, chúng ta cũng thấy nhan nhản các tổ chức, cá nhân đầy lòng quảng đại từ tâm. Những tâm hồn biết chăm lo cho người nghèo đói, bất hạnh. Những con tim tràn đầy yêu thương dã cùng nhịp đập với Thầy Giêsu. Những tấm lòng mau mắn đáp lại tiếng mời gọi tha thiết của Người: "Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con" (Ga. 15, 12).
Kể từ khi Ngôi Hai nhập thể để bày tỏ tình yêu của Ngôi Cha dành cho con người, thì mối liên hệ giữa Thiên Chúa và nhân loại hoàn toàn thay đổi: Không còn là Tạo hóa và thụ tạo, không còn là Thượng đế và phàm nhân, không còn là Chủ ông và tôi tớ, nhưng chính là "Bạn hữu thân tình".
Tình yêu đã khiến Thiên Chúa hạ mình xuống với con người, cảm thông và chia sẻ với thân phận thụ tạo: "Tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết" (Ga. 15, 15). Tình yêu đó đã đến chỗ tuyệt đỉnh, đến nỗi thánh Gioan viết: "Người đã yêu thương họ đến cùng" (Ga. 13, 1). Yêu thương đến cùng có nghĩa là yêu cho đến chết, và chết trên thập giá. Thánh Bênađô dạy: "Mức độ của tình yêu là yêu không mức độ".
Nguồn tình yêu ấy phát xuất từ Cha xuống Con, và không dừng lại như nước ao tù, nhưng luân chuyển đến mọi trái tim con người trên toàn thế giới. Nếu tình yêu đã liên kết chúng ta với Chúa, thì cũng chính tình yêu ấy sẽ liên kết cha lại với nhau: "Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con" (Ga. 15, 12), vẫn biết rằng, con người chẳng bao giờ yêu nhau tới mức "Như Thầy đã yêu". Nhưng lời mời này vẫn giục giã chúng ta hướng lên mãi theo đường Thầy đã đi.
Ðức Gioan Phaolô II trong Thông điệp Ánh Sáng Rạng Ngời Chân Lý, số 20 viết: "Chữ "như" này đòi hỏi phải bắt chước Ðức Giêsu, tình yêu của Người, mà việc rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể… Chữ "như" cũng chỉ mức độ mà Ðức Giêsu đã yêu thương các môn đệ của mình, và các môn đệ của người cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy.
Thế giới ngày nay khao khát tình yêu đích thực. Người tín hữu Kitô phải là nhân chứng của tình yêu ấy. Chúng ta không có dịp để chết cho tha nhân như Ðức Kitô, nhưng chúng ta có rất nhiều dịp để sống cho tha nhân. Sống cho tha nhân là chết cho chính mình. Chết trong những hy sinh âm thầm hằng ngày. Chết không đổ máu, nhưng đổ mồ hôi và nước mắt. Chết không chỉ một lần, nhưng chết dần chết mòn cho hạnh phúc của tha nhân, Kahil Gibran viết: "Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi".
|||
Lạy Chúa, Chúa đã yêu thương chúng con rất nhiều, nhưng chúng con đáp lại chẳng được bao nhiêu. Chúa đã đặt tha nhân bên cạnh chúng con, để chúng con có thể làm cho họ điều mà chúng con không thể làm cho Chúa. Xin cho chúng con nhận ra khuôn mặt Chúa nơi tha nhân, để chúng con yêu thương họ như Chúa đã yêu thương chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
V. LỜi nguyỆn cho mỌi ngưỜi
Chủ tế: Anh chị em thân mến, dấu chỉ chúng ta sống hiệp thông với Ðức Giêsu là tuân giữ giới răn yêu thương mà Người đã trối lại. Chúng ta hãy dâng lên Chúa những ý nguyện sau đây:
1. Sứ mệnh Hội thánh là phải trở nên dấu chỉ tình thương của Chúa giữa lòng thế giới / Xin cho mỗi thành phần trong Hội thánh / luôn ý thức và thực thi sứ mệnh ấy cho những người chung quanh mình.
2. Sứ mệnh của các nhà cầm quyền trong xã hội là phục vụ công ích cho mọi người / Xin cho các nhà cầm quyền khắp nơi / biết dẹp bỏ tư lợi của bản thân và của bè phái mình / để phục vụ tất cả mọi người.
3. Chung quanh chúng ta nhiều người bệnh tật già yếu, dốt nát / bị gia đình cũng như xã hội bỏ rơi / Xin cho có nhiều người biết quan tâm để yêu thương an ủi giúp đỡ họ.
4. Sứ mệnh của mỗi Kitô hữu là phải trở nên dấu hiệu tình thương của Chúa cho mọi người chung quanh gặp gỡ / Xin cho anh chị em trong họ đạo chúng ta không một ai trở thành dấu hiệu của bất công gian dối, hận thù và chia rẽ.
Chủ tế: Lạy Chúa, chúng con được hiệp thông với Chúa nhờ lời Chúa và Thánh Thể Chúa, xin giúp chúng con biết sinh hoa kết quả trong việc tha thứ giúp đỡ mọi người, để chúng con trở thành chứng nhân tình yêu Chúa cho mọi người. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô Chúa chúng con.
Lm Carôlô Hồ Bặc Xái
 

PS6-B54. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH - Lm. Ignatiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay tập trung vào chủ đề chính yếu của thánh Gioan: Thiên Chúa là: PS6-B54

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay tập trung vào chủ đề chính yếu của thánh Gioan: Thiên Chúa là tình yêu.
Cv 10: 25-26; 34-35; 44-48
Đoạn trích sách Công Vụ tường thuật thánh Phê-rô viếng thăm nhà viên sĩ quan Rô-ma, Co-nê-li-ô: Chúa Thánh Thần tuôn đổ những ân ban của Ngài trên viên sĩ quan lương dân nầy và thân bằng quyến thuộc của ông, như vậy, cho thấy rằng tình yêu Thiên Chúa được ban cho hết mọi người không loại trừ bất kỳ ai.
1Ga 4: 7-10
Trong đoạn trích thư thứ nhất của thánh Gioan, thanh nhân ca ngợi Thiên Chúa là tình yêu: “Tình yêu cốt ở điều nầy: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta”.
Ga 15: 9-17
Sau dụ ngôn “cây nho thật” được trích dẫn từ bài diễn từ từ biệt của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài sau bữa Tiệc Ly, Chúa Giê-su nói lên tình yêu của Ngài đối với các môn đệ Ngài và đối với tất cả những ai mà Ngài yêu thương và vì họ Ngài sẽ ban sự sống của Ngài.
BÀI ĐỌC I (Cv 10: 25-26; 34-35; 44-48)
Câu chuyện nầy là một biến cố đặc biệt nhất trong sự nghiệp tông đồ của thánh Phê-rô và có tính quyết định nhất đối với việc phát triển của Giáo Hội tiên khởi: chấp nhận một lương dân và thân bằng quyến thuộc của người nầy vào trong cộng đoàn Ki tô giáo, không cần qua lề luật Mô-sê, nhất là phép cắt bì. Một cách nào đó, Chúa Thánh Thần đã bắt vị lãnh tụ các Tông Đồ thực hiện điều nầy.
Người lương dân nầy tên là Co-nê-li-ô, một sĩ quan trong quân đội Rô-ma đồn trú ở thành phố Xê-da-rê. Viên sĩ quan nầy là một thiện cảm viên của Do thái giáo, một trong số những người được gọi “những kẻ kính sợ Thiên Chúa”. Họ nhận ra vị Thiên Chúa Ít-ra-en là Thiên Chúa độc nhất, cầu nguyện với Ngài và cứu trợ cộng đồng Do thái, nhưng không gia nhập vào cộng đồng nầy, khác với những tân tòng, nghĩa là những người chấp nhận phép cắt bì, tuân giữ ngày sa-bát và những đòi hỏi khác của lề luật Mô-sê.
1. Thái độ khác thường của thánh Phê-rô.
Thánh Phê-rô chấp nhận lời mời của ông Co-nê-li-ô đến tại nhà ông. Hoạt cảnh mà thánh Lu-ca tường thuật thật cảm động. Việc thánh Phê-rô vào nhà một người lương dân, không sợ tiếp xúc với một “kẻ ô-uế” thì thật khác thường. Như chúng ta biết, những phong tục tập quán, chứ không lề luật, đã thiết lập muôn vàn rào chắn giữa người Do thái và lương dân, trước hết nhằm tránh tất cả sự nhiễm uế tôn giáo; tiếp đó tuân giữ luật thanh sạch một cách nghiêm nhặt và phức tạp như thanh tẩy, kiêng cử thức ăn.
Thái độ của ông Co-nê-li-ô cũng khác thường: “Khi thánh Phê-rô bước vào nhà, ông Co-nê-li-ô đích thân ra đón và phủ phục dưới chân vị Tông Đồ mà bái lạy”. Cử chỉ của viên quan Rô-ma nầy thật đáng ngạc nhiên. Việc phủ phục là một nghi lễ đông phương, được dành cho các vị thần linh và các bậc vua chúa.
Thánh Phê-rô phản ứng liền ngay: một cử chỉ như vậy chỉ dành cho Thiên Chúa: “Bản thân tôi đây cũng chỉ là người phàm”. Có lẽ thánh nhân nghĩ đến hình ảnh của người phong hủi và người đàn bà tội lỗi đã phủ phục dưới chân của Thầy mình: Ngài là Chúa, là Thiên Chúa. Thánh Phê-rô chỉ là một người môn đệ khiêm tốn của Ngài.
2. Bài diễn từ khác thường của vị lãnh tụ Tông Đồ.
Bài diễn từ của thánh nhân cũng khác thường. Số người tham dự thì đông: “Ông Co-nê-li-ô cho mời thân bằng quyến thuộc đến”. Lúc đó, thánh Phê-rô công bố những điều thật bất ngờ: không còn một dân ưu tiên nữa, Thiên Chúa không thiên vị người nào hay dân tộc nào; “nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì bất cứ họ thuộc dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận”. Vị lãnh tụ Tông Đồ nhận ra chiều kích mới của dân Thiên Chúa
3. Hoạt động khác thường của Chúa Thánh Thần.
Sau cùng, hoạt động của Chúa Thánh Thần thì khác thường. Sách Công Vụ làm chứng rằng Chúa Thánh Thần đóng một vai trò lớn lao trong việc phát triển của Giáo Hội tiên khởi. Vì thế không phải là vô căn cứ khi sách Công Vụ Tông Đồ được gọi là “sách Tin Mừng về Chúa Thánh Thần”.
Chính Chúa Thánh Thần đã xếp đặt cuộc gặp mặt giữa thánh Phê-rô và ông Co-nê-li-ô. Chính Ngài đã ban cho cả hai thị kiến hay xuất thần; chính Ngài làm gián đoạn bài diễn từ của vị Tông Đồ để tỏ mình ra và ngự xuống trên mọi người.
Có mấy người anh em ở Gia-phô, tức các tín hữu gốc Do thái, cùng đi với thánh Phê-rô (Cv 10: 23). Họ vô cùng kinh ngạc vì những dấu chỉ đặc sủng làm chứng sự hiện diện của Chúa Thần ở nơi lương dân nữa, ngay cả trước khi những lương dân nầy chịu phép Thánh Tẩy hay nghi thức đặt tay!
Lễ Ngũ Tuần của lương dân nầy, khá giống với Lễ Ngũ Tuần trước đó, cho thấy Thiên Chúa có sáng kiến ban tặng những thiên ân cho những ai ăn ngay ở lành.
Đối với Giáo Hội tiên khởi, đây là một mặc khải và là một cuộc cách mạnh. Chính thánh Phê-rô, vị lãnh tụ Giáo Hội, ý thức đầu tiên về điều nầy. Với những người lương dân nầy mà Chúa Thánh Thần chỉ định, thánh nhân mở rộng cánh cửa Nước Trời khi “truyền làm phép Rửa cho họ nhân danh Đức Giê-su Ki tô”.
BÀI ĐỌC II (1Ga 4: 7-10)
Chúng ta tiếp tục suy niệm thư thứ nhất của thánh Gioan. Trong đoạn trích nầy, chúng ta gặp lại chủ đề mà thánh Gioan không ngừng lập đi lập lại: Thiên Chúa là tình yêu, vì thế, chúng ta hãy yêu thương nhau. Lời khuyên bảo nầy được xoay quanh hai ý tưởng. Trước hết, Thiên Chúa là tình yêu, vì thế tình yêu là lối ngõ đi vào trong cuộc sống tâm giao với Thiên Chúa. Sau nữa, tình yêu Thiên Chúa được chứng thực ở nơi việc Ngài đã ban cho nhân loại Người Con của Ngài.
1. Tình yêu là lối ngõ đi vào trong cuộc sống tâm giao với Thiên Chúa.
Như Đức Giê-su trong bữa Tiệc Ly, thánh Gioan cũng gọi cộng đoàn Ki tô hữu của mình bằng những lời đầy âu yếm nầy: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ”. Cách xưng hô nầy rất xứng hợp để giới thiệu sự phát triển trên tình yêu. Những lời đầy yêu thương nầy khơi động sự chú ý và loan báo tầm quan trọng của giáo huấn.
Trong vài lời, thánh Gioan đặt nền tảng của “cái ngộ” Ki tô giáo đích thật. Trái với những khẳng định của các ngôn sứ mạo danh, những kẻ làm xao động các tín hữu, thánh nhân quả quyết rằng chúng ta biết Thiên Chúa không bởi ơn thần khải, cũng không bởi những suy luận thuần túy trừu tượng, nhưng từ thành quả của một kinh nghiệm: kinh nghiệm của đức ái, yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương chúng ta. “Tình Chúa đối với chúng ta” là khuôn mẫu và là nguồn mạch của mọi tình yêu.
Thần học nầy, thánh Gioan đã nêu lên rồi trong Tin Mừng của mình: “Sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha” (Ga 17: 3). Thuật ngữ “biết” trong Tin Mừng Gioan chất chứa trọn “tâm tư tình cảm”, như từ ngữ Do thái tương đương. Vả lại di sản Do thái rất dể nhận ra ở nơi đoạn trích dẫn nầy. Lời quả quyết vừa theo hình thức khẳng định: “Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” vừa theo hình thức phủ định: “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa” là nét đặc trưng của cách hành văn Do thái.
Như vậy, “biết Thiên Chúa” thông qua đức ái nầy: vừa trải rộng cho hết mọi người vừa hướng về Thiên Chúa là cội nguồn của tình yêu, đưa chúng ta vào trong sự cộng sinh với Thiên Chúa, dự phần vào Thiên Tính. Chúng ta nên ghi nhận rằng thánh Gioan không giới hạn viễn cảnh vào đức ái Ki tô hữu: “Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra”. Cũng như trong Tựa Ngôn, khi định nghĩa Thiên Chúa là ánh sáng, thánh Gioan nhấn mạnh rằng ánh sáng nầy “đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1: 9).
2. Tình yêu Thiên Chúa được chứng thực ở nơi việc Người ban cho chúng ta Con của Ngài.
Trong bức thư nầy, những lời khuyên bảo và những lời nhắc nhở về đạo lý không ngừng được quyện vào nhau một cách khó nắm bắt. Điều quan trọng là giúp các Ki tô hữu kiên vững trong niềm xác tín của mình khi phải đối mặt với những lời nói vớ vẩn liên quan đến con người của Đức Ki tô, của những kẻ muốn trút bỏ sức nặng của Nhập Thể khỏi Tin Mừng, và vì thế, đánh mất cả ơn Cứu Chuộc.
Ấy vậy, sự kiện Nhập Thể - nhờ đó, Đức Ki tô mới có thể dâng hiến thân xác của mình thành của lễ – hình thành nên bằng chứng xác thực nhất và cao cả nhất của tình yêu Thiên Chúa đối với con người.
“Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian”. Diễn ngữ nầy chỉ được gặp thấy nơi bút pháp của thánh Gioan. Trong bức thư nầy, trong Tựa Ngôn và trong Tin Mừng, tư tưởng đồng nhất với nhau: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3: 16).
Nhập Thể đã dẫn tình yêu Thiên Chúa còn đi xa hơn nữa: ban Con của Ngài để tha thứ tội lỗi. Như vậy, Nhập Thể, Ơn Cứu Chuộc không thể nào bị loại ra khỏi Ki tô giáo; chúng không là những khái niệm xuất phát từ những suy luận nhân loại nhưng là những sáng kiến đến từ Thiên Chúa và chứng thực chân lý hàng đầu và căn bản nầy: Thiên Chúa là tình yêu.
Trong bốn tác giả Tin Mừng, thánh Gioan nhấn mạnh hơn ai hết tình yêu Thiên Chúa. Bản Tin Mừng hôm nay dâng hiến cũng những âm vang như thư thứ nhất nầy.
TIN MỪNG (Ga 15: 9-17)
Đoạn Tin Mừng hôm nay được trích dẫn từ “bài diễn từ từ biệt” của Đức Giê-su với các môn đệ của Ngài sau Tiệc Ly. Đoạn Tin Mừng nầy tiếp liền sau dụ ngôn “cây nho thật” được đọc vào Chúa Nhật trước.
Trong dụ ngôn “cây nho thật” Chúa Giê-su đã cho thấy rằng cành nho chỉ có thể sinh hoa kết trái nếu nó gắn liền với thân nho. Cũng vậy, các môn đệ dự phần vào cuộc sống Thiên Chúa và sinh hoa kết trái chỉ khi nào họ kết hợp với Ngài.
Qua hình ảnh nầy, Đức Giê-su diễn tả mối liên hệ mới mà Ngài đã đến thiết lập giữa Thiên Chúa và con người: mối liên hệ thâm giao của tình yêu.
1. Tình yêu của Đức Giê-su đối với các môn đệ của Ngài.
Vào những giây phút sau cùng nầy, Đức Giê-su nói với các môn đệ của Ngài, những người mà Ngài yêu mến, bằng một cung giọng rất mực trìu mến: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy như thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy”.
Ở đây, chúng ta chạm đến đỉnh cao của Mặc Khải: Chúa Con mặc khải cho chúng ta Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương, Đấng mà Chúa Con gìn giữ mối liên hệ của tình Phụ Tử duy nhất. Ấy vậy, điều đáng chú ý chính là trong Tin Mừng thứ tư, những mối liên hệ giữa Cha và Con hiếm khi được nêu lên mà không theo liền ngay những viễn cảnh liên quan đến nhân loại. Điều nầy hé mở rằng tình yêu liên kết Ba Ngôi Thiên Chúa, thay vì tập trung trên chính mình, tất yếu hướng về thụ tạo. Tất cả những gì Chúa Con lãnh nhận từ Chúa Cha, chính là để ban cho chúng ta. Tình yêu mà Chúa Cha yêu Chúa Con cũng chính là tình yêu Chúa Con yêu các môn đệ của mình.
2. Tình yêu của các môn đệ đối với Ngài.
Đến lượt mình, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ của Ngài hãy yêu mến Ngài, không là một thứ tình cảm trừu tượng, nhưng là một lòng trung thành với các điều răn của Ngài. Ngài đã nói với họ rồi trước đó một chút: “Ai có và giữ các giới răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (14: 21).
Chúng ta đã thấy rồi, động từ “ở lại” là một từ chủ chốt của từ vựng Gioan. Trong chương 15 nầy, từ “ở lại” nầy, xuất hiện mười ba lần, nhấn mạnh sự hiện diện thường hằng của Thiên Chúa trong đời sống “nội tâm” của người Ki tô hữu. Như vậy, đức ái mà Đức Giê-su đề cao tạo nên một chuyển động kép: bên ngoài: thực hành những huấn lệnh Tin Mừng, bên trong: tăng cường mối liên hệ với Đức Ki tô.
“Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn”. Thật là mâu thuẩn biết bao, “niềm vui” nầy được công bố bởi người sắp phải đối đầu với những xao xuyến tận mức! Và cũng thật mâu thuẩn biết mấy, Ngài hứa niềm vui tròn đầy cho những người sắp phải chịu cơn choáng váng đến tận cùng tuyệt vọng về cái chết của Ngài. Tuy nhiên niềm vui nầy được định vị vào trung tâm của lập luận: vui trong bầu khí thân tình nầy, đó sẽ là hình thức hiện diện vô hình của Ngài ở nơi họ, sự hiện diện lòng bên lòng, nhờ đó họ sống cuộc sống của Ngài và lòng tràn đầy niềm vui mà “không ai lấy mất đi được” (16: 22) như Ngài sẽ xác định một chốc sau.
3. Tình yêu của các môn đệ đối với nhau.
Bài diễn từ từ biệt này, những lời dặn dò sau cùng nầy, hình thành nên những lời trăn trối của Đức Giê-su, những lời trăn trối nầy được cô động ở nơi một lệnh truyền duy nhất: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”.
Tình yêu Chúa Cha đối với Ngài là khuôn mẫu tình yêu của Ngài đối với họ; đến phiên họ, tình yêu của Ngài đối với họ phải là khuôn mẫu tình yêu của họ đối với nhau.
Đức Giê-su đã công bố lệnh truyền nầy rồi với một cung giọng đầy cảm xúc, vào lúc bữa tiệc vừa chấm dứt, ngay liền sau cuộc ra đi của Giu-đa: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi… Thầy ban cho anh em một giới răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (13: 33-34).
“Lệnh truyền mới” nầy cốt yếu là gì? Người ta đã đọc thấy từ lâu trong sách Lê-vi: “Hãy yêu người thân cận như chính mình ngươi”. Diễn ngữ “yêu thương nhau” đã gặp thấy trong những lời khuyên dạy của các kinh sư, nhất là của kinh sư Hillel danh tiếng. Không phải Khổng Tử cũng đã dạy: “Tứ Hải Giai Huynh Đệ” sao?
Tuy nhiên, Đức Giê-su ban cho các môn đệ của Ngài một lệnh truyền mà tầm mức của nó vượt ra ngoài mọi mức độ, sự quy chiếu của nó không còn đến tình yêu mà người ta quy chiếu về chính mình, nhưng đến tình yêu vô biên của Thiên Chúa “hy sinh mạng sống mình cho những người mà Ngài yêu”.
“Những người mà Ngài yêu”, trước hết chính là các môn đệ của Ngài đang vây quanh Ngài và lắng nghe lời Ngài; những người mà Ngài gọi là những bạn tâm phúc của Ngài và trao gởi cho họ sứ điệp của Ngài; những người mà Ngài đã chọn để tiếp tục công việc của Ngài. Sự tuyển chọn nầy tấn phong họ là những người được Ngài sai đi, những nhà truyền giáo “thu được kết quả và kết quả tồn tại mãi”.
“Những người mà Ngài yêu”, chính cũng là, ở bên kía các môn đệ của Ngài, tất cả những ai mà Ngài đã hy sinh mạng sống mình cho họ. Lệnh truyền “hãy yêu thương nhau” phải bao la rộng mở như tình yêu của Đức Giê-su: chết cho tất cả mọi người.
Tuy nhiên, cung giọng trực tiếp của Ngài là cung giọng chứa chan tình thương mến, vừa nhân loại vừa Thiên Chúa. Chính bằng cung giọng chan chứa tình thương mến nầy mà Đức Giê-su ngỏ lời với các Tông Đồ vào lúc từ giả các ông ra đi. Trái tim phàm trần của Ngài để lộ chiều sâu thẳm của tình yêu Thiên Chúa nầy.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
 

PS6-B55. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH - Lm. Augustine,SJ

Con sông duy nhất
 

Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mời gọi các Kitô hữu tiến tới hiệp nhất bằng những lời tha thiết: PS6-B55

Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mời gọi các Kitô hữu tiến tới hiệp nhất bằng những lời tha thiết nhất khi viết: "Con sông duy nhất có nhiều nhánh sông mang nước về. Năm 2000 mời gọi chúng ta gặp gỡ nhau với một sự trung thành mới và bằng một sự hiệp thông sâu xa hơn trên bờ sông của con sông lớn này, con sông Mạc Khải, con sông Kitô giáo và con sông Giáo Hội chảy qua lịch sử nhân loại, bắt đầu bằng biến cố Nadarét, rồi ở Bêlem, cách đây 2000 năm. Ðây đúng là "con sông" với các "nhánh" của mình, theo cách nói của Thánh Vịnh "đem niềm vui cho thành đô nước Trời." (Tv 45/46,5 - Tiến tới Thiên Niên Kỷ thứ 3, số 25).
Ðức Gioan Phaolô II đã khai mạc tông thư này với lời Thánh Phaolô đồng hoá sự viên mãn của thời gian với mầu nhiệm Nhập Thể: "Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa sai con mình tới, sinh làm con một người đàn bà. (Gl 4,4). Vậy là vị đương kim Giáo Hoàng tha hồ ngược xuôi giòng lịch sử để qui tất cả về Ðức Kitô theo ý niệm cũng như theo cách cử hành và chuẩn bị cử hành Năm Thánh 2000. Chẳng hạn nhân dịp năm 2000, Thật là điều rất có ý nghĩa khi có thể viếng thăm tất cả các nơi nằm trên con đường lưu lạc của dân Chúa trong Cựu Ước, từ những vùng đất do Abraham và Môsê đã rong ruổi, băng qua Ai Cập và núi Sinai, cho tới Damas, thành phố nơi thánh Phaolô trở lại (số 24).
Tuy nhiên, niềm vui của mọi lễ kỷ niệm đặc biệt là niềm vui vì sự ăn năn hối lỗi, niềm vui của sự hoán cải? (số 32).
Do đó, trong khi chúng ta đang sống trong thiên niên kỷ mới của năm 2000 này, thật là đúng đắn khi Giáo Hội mang lấy tội lỗi của con cái mình, với một ý thức mãnh liệt hơn, trong khi nhớ lại tất cả những hoàn cảnh mà trong lịch sử của mình, những người con này xa rời Thánh Thần và Phúc Âm của Ðức Kitô, trình bày cho thế giới không phải chứng tá của một cuộc sống được linh ứng do những giá trị của đức tin, nhưng toàn bộ những cách suy nghĩ và hành động thực sự là những hình thức phản chứng và tai tiếng? Mặc dù thánh thiện nhờ sát nhập vào Ðức Kitô, Giáo Hội đã không ngừng kêu gọi sám hối: Giáo Hội luôn thừa nhận trước Thiên Chúa và trước con người, những con cái tội lỗi của mình. Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân nói về vấn đề này như sau: "Bao gồm những người tội lỗi, Giáo Hội vừa thánh thiện vừa được kêu gọi thanh luyện và không ngừng nỗ lực sám hối và đổi mới" (số 33).
Tội phạm đến sự hiêp nhất
Trong số các tội cần có nỗ lực sám hối và hoán cải, dĩ nhiên phải kể đến những tội phạm đến sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn có đối với dân Ngài (số 34). Ðể xứng đáng là những môn đệ của Ðức Kitô trong thiên niên kỷ mới của năm 2000, Giáo Hội mời gọi tất cả chúng ta tự vấn lương tâm và đưa ra những sáng kiến đại kết có ích, để hoàn thành sứ mệnh của Ðức Kitô để lại cho chúng ta: "Xin cho chúng hiệp nhất nên Một, như Cha ở trong Con, và như Con ở trong Cha". Việc cầu nguyện này đã được gia tăng nhiều sau Công Ðồng nhưng nó còn phải phát triển hơn nữa và người Kitô phải luôn dấn thân cầu nguyện nhiều hơn nữa, nhất là trong thiên niên kỷ mới của năm 2000 này, trong tinh thần của lời cầu khẩn thiết tha của Ðức Kitô trước cuộc khổ nạn: "Lạy Cha? xin cho chúng nên một." (Ga 17,21 - TNKTB số 34).
Ðức Gioan Phaolô không bi quan vì thấy vẫn có ánh sáng do Chúa Thánh Thần khơi dậy trong Giáo Hội. Ðức Giáo Hoàng đặc biệt lưu ý tới việc tiếp nhận các đoàn sủng và thăng tiến giáo dân nhiệt tình vì công cuộc hiệp nhất mọi Kitô hữu (số 46).
Sáng kiến đại kết
Tông thư Tiến Tới Thiên Niên Kỷ thứ ba được viết ngày 10 tháng 11, 1994, thì hai năm sau diễn ra cuộc họp đại kết lần thứ mười bốn của những Giám mục thân hữu của phong trào hiệp nhất thế giới do chị giáo dân Chiara Lưu Bích đảm trách. Các dự viên gồm 18 Giám mục đến từ Toà Thượng Phụ Chính Thống Constantinople, từ Giáo Hội Chính Thống Rumani, Giáo Hội Chính Thống Kerala Aán Ðộ, Giáo Hội Anh Giáo, Giáo Hội Lutherô Ðức Quốc và Giáo Hội Lutherô Thụy Ðiển. Riêng về phía Giáo Hội Công Giáo Rôma, có tất cả 8 Giám mục mà cao cấp nhất là Ðức Hồng Y MILOSLAV VIK, Tổng Giám Mục Prague của Tiệp Khắc, đồng thời còn là chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Aâu Châu, và là người bảo vệ cho cuộc họp đại kết của các Giám mục thân hữu Phong trào hiệp nhất này.
Ðược hỏi "Cuộc họp đại kết này độc đáo về tính quốc tế của các dự viên nhằm đạt những mục tiêu nào?" Ðức Hồng Y trả lời: "Mục đích của cuộc họp là để các giám mục thuộc các Giáo Hội Kitô khác nhau là những người đã từng quen biết, từng quí chuộng và có thái độ rộng mở đối với linh đạo hiệp nhất thì nay được thấy nền linh đạo ấy sống động như thế nào qua kinh nghiệm. Nhiều cuộc họp loại này từng được tổ chức những năm qua trong tháng 11, tại Rôma cũng như tại những thành phố khác như Istanbul. Cuộc họp dự kiến cho năm 1997 sẽ được tổ chức tại Luân Ðôn."
Ðược hỏi "Tại sao chọn Tân Ðô, tức Trentô, làm địa điểm cho cuộc họp này?" Ðức Hồng Y trả lời: "Có hai lý do. Một là năm nay kỷ niệm 450 năm cuộc họp của Công Ðồng Tân Ðô. Hai là vì Thiên Chúa đã cho ra đời Phong Trào Focolare tại Tân Ðô, là phong trào nhằm mục tiêu hiệp nhất? Hiệp nhất đạt được không chỉ do những cuộc nói chuyện chính thức giữa các ủy ban thần học, nhưng còn đạt được qua mốt tương quan sống động. Cuộc họp này xác chuẩn tầm quan trọng đó. Dĩ nhiên, nó không loại bỏ những phương thức khác."
Ðáp lại câu hỏi về những điểm nổi bật của cuộc họp đại kết tại Tân Ðô, Ðức Hồng Y nêu sự kiện Phúc Aâm là di sản chung của mọi tham dự viên, dầu là Tin Lành, Anh Giáo, Chính Thống Giáo hay Công Giáo Rôma. Nhưng có Phúc Aâm là di sản chung chưa đủ, mà còn phải đưa Lời Tin Mừng của Chúa áp dụng vào đời sống chung hiệp giữa nhau. Có kinh Lạy Cha cũng chưa đủ, nhưng còn phải cầu nguyện chung với nhau lời kinh đó.
Ðiều quan trọng cuối cùng là các dự viên còn phải thể hiện tình yêu, là quà tặng mà Chúa Thánh Linh gieo vào trái tim mỗi dự viên. Ðó là điều ai nấy đều nghiệm thấy về cuối cuộc họp. Như cuối cuộc họp đại kết những năm trước, các dự viên đã kết thúc cuộc họp bằng lời cam kết với nhau là họ sẽ sống mối tình như Chúa Giêsu đã ban, để ai nấy lo chu toàn lời nguyện của chính Chúa Giêsu là: Ðể họ nên một như chúng ta (Ga 17,11).
Như vậy, cuộc họp đại kết lần thứ mười bốn của các giám mục thân hữu của phong trào hiệp nhất thế giới qui về ba điều cũng chính là đề tài Tin Mừng Gioan 17, đó là: một là tình hiệp nhất khắng khít giữa Ðức Giêsu và Chúa CHA; hai là mối giây hiệp nhất phải nối kết các môn đệ lại trong hiện tại cũng như tương lai; ba là tầm quan trọng của tình yêu như được Tin Mừng mạc khải về Chúa CHA.
Mối tình hiệp nhất khăng khít giữa Chúa Cha và Chúa Con phải là cơ sở cho mọi cuộc chung hiệp Kitô giáo, không riêng gì hiệp nhất đại kết mà thôi. Hễ đã Kitô hữu cần hiệp nhất với nhau thì cơ sở phải là sự hiệp nhất của chính Chúa Giêsu với Cha Người.
Họa tiết được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong lời cầu của Chúa Giêsu là xin cho các môn đệ được nên một. Sự nên một ấy phải bén rễ nơi tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu, tình yêu ấy các môn đệ được ban cho để tham dự (Ga 17,26)
Tình yêu được đề cập là tình yêu Chúa Cha dành cho các môn đệ (c.23), tình yêu Chúa Cha dành cho Chúa Giêsu (cc 23-24) và tình yêu Chúa Cha dành cho Chúa Giêsu và các môn đệ (c.26). Trong suốt lời cầu của Chúa Giêsu, Giáo Hội được Người thiết lập phải là một cộng đoàn yêu thương, đồng thời phải là dấu chỉ hoặc bí tích của tình yêu qua lại giữa Chúa Cha và Chúa Con.
Cho nên lời mời gọi hiệp nhất giữa các Kitô hữu, trước tiên phải là lời cầu để chiêm ngưỡng tình yêu mà Chúa Cha dành cho Chúa Giêsu và các môn đệ. Trước mối tình lớn lao ấy mọi Kitô hữu đều phải đấm ngực ăn năn về sự bất xứng của mình, hầu được Chúa thương ban ơn cứu độ.
  Một số câu hỏi gợi ý
 
  1. Khi Ðức Gioan Phaolô II nói đến những cách suy nghĩ và hành động thực sự là những hình thức phản chứng và tai tiếng?(TNKTB, số 33) dĩ nhiên Ðức đương kim Giáo Hoàng có ý nói tới những hành động phản chứng lớn trong lịch sử, chủ yếu là những hành động khiến Giáo Hội bị chia rẽ như hiện nay. Nhưng khi Ðức Gioan Phaolô II trích lời Công Ðồng Vaticanô II nói rằng "Bao gồm những người tội lỗi, Giáo Hội vừa thánh thiện vừa được kêu gọi thanh luyện và nỗ lực sám hối và đổi mới" bạn hiểu tại sao nói Giáo Hội vừa thánh thiện lại vừa cần nỗ lực sám hối và đổi mới? Bạn nghĩ lời của Vaticanô II có thể được áp dụng với bạn và gia đình bạn là Kitô hữu chăng?
  2. Lời Chúa Giêsu nói rằng "Ðể họ nên một như chúng ta" (Ga 17,11). Lời đó nên được hiểu như thế nào? Lời đó có thể được áp dụng với bạn và gia đình bạn là Kitô hữu chăng?
Lm. Augustine,SJ
 

PS6-B56. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - Lm. Anphong Trần Đức Phương

Chúng ta có nhiều tên để xưng với  “Thiên Chúa”: Thông thường chúng ta gọi Ngài là: PS6-B56

Chúng ta có nhiều tên để xưng với  “Thiên Chúa”: Thông thường chúng ta gọi Ngài là “Trời” hay “Thượng Đế” (Vua trên hết các vua; các vua trần gian được gọi là “Thiên Tử” “Con của Trời” ), Hoàng Thiên (Hoàng Thiên hữu nhãn, Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhân!), Đấng Tạo Hóa (vì Ngài dựng nên con người và muôn loài thụ tạo).
 Trong Bài Đọc II (Gioan 4: 7-10) trong Thánh Lễ hôm nay, Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Bản tính Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình Yêu đời đời. Tình Yêu duy nhất trong Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần.”
 Thiên Chúa Tình Yêu đã tạo dựng “Con người giống hình ảnh Chúa” (Khởi Nguyên 1: 27), đã tạo nên vũ trụ và muôn loài cho con người (Gioan 1: 1-3), và đã trở nên chính con người và ở giữa chúng ta  (Gioan 1: 14) để sống và rao giảng Phúc Âm Tình Yêu cho con người, đã chịu mọi khổ đau, chịu chết để cứu chuộc con người.
Trong Bài Phúc Âm hôm nay (Gioan 15: 9-17), Chúa Giêsu bảo chúng ta : “Chúng con yêu thương nhau như chính Cha đã yêu thương chúng con!”
 Nhưng yêu thương không phải ‘chỉ bằng lời nói, nhưng bằng chính việc làm’ (1Gioan 3:18). Khi chúng ta được chịu Phép Thánh Tẩy và được đầy tràn Chúa Thánh Thần (Bài Đọc I Thánh Lễ hôm nay: Cv. 10: 25-26, 34-35, 44-48), chúng ta trở nên con cái Chúa, bạn hữu của Chúa, và “là dòng dõi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Chúa, để loan báo các kỳ công của Chúa…” (1 Phêrô 2: 9).
 Như vậy, là các ‘tín hữu’, ‘Kitô hữu’, chúng ta có bổn phận thánh hóa bản thân và rao giảng Tình Yêu Chúa cho mọi người, để mọi người nhận biết Chúa và thờ phượng Chúa. Chúng ta phải đem Tình yêu Chúa và Đức tin vào thực hành trong việc phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khó (Giacôbê, chương 2): “Đức Tin không có việc làm là Đức Tin chết!” “Yêu thương là phục vụ!”  “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống cho người khác” (Gioan 15: 13). Chính do “Tình Yêu Thiên Chúa thúc đẩy” (2 Corinto 5,14) mà có nhiều người đã hy sinh cả cuộc đời để trở nên các Linh Mục, Tu sĩ, Giáo dân đi khắp nơi trên thế giới  loan truyền Tình Yêu Chúa  bằng những công tác xã hội, y tế, văn hóa để phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật, những người bị xã hội bỏ rơi.
Mỗi khi bắt đầu một ngày mới, hay khởi đầu một công việc đạo đức, chúng ta thường đọc hay hát Kinh Chúa Thánh Thần để xin Chúa Thánh Thần “xuống tràn ngập lòng chúng ta…, đốt lửa kính mến Chúa trong lòng chúng ta …, yên ủi chúng ta làm những việc lành…”. Chúng ta hãy đọc hay hát với tất cả tâm hồn chúng ta, tha thiết xin Thánh Thần Tình Yêu thánh hóa chúng ta, soi sáng cho chúng ta biết yêu thương, tha thứ, và phục vụ mọi người trong Tình Yêu Chúa. Khi chúng ta  biết yêu thương và ‘phục vụ Chúa trong mọi người’ (Kinh Hòa Bình),  chúng ta sẽ xây dựng được những gia đình sống hạnh phúc trong hòa hợp yêu thương giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái; chúng ta sẽ góp phần vào việc xây dựng hòa bình và yêu thương trên thế giới: giữa các chủng tộc, các tôn giáo, các dị biệt khác nhau do hoàn cảnh sinh sống. Vì “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời. Đâu có lòng từ bi, ở đấy có ân sủng Người. Đâu có tình bác ái, thì Chúa chúc lành không ngơi. Đâu ý hợp tâm đầu, ở đấy chứa chan niềm vui… (“Đâu Có Tình Yêu Thương”, Vinh Hạnh).
Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

PS6-B57. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - Lm Giuse Đinh lập Liễm

Bài Tin mừng hôm nay tiếp nối bài Tin mừng tuần trước nói về cây nho và cành nho,  nhắc: PS6-B57

Bài Tin mừng hôm nay tiếp nối bài Tin mừng tuần trước nói về cây nho và cành nho,  nhắc cho chúng ta hãy sống kết hợp với Chúa như cây nho và cành nho. Hôm nay Đức Giêsu lại đưa ra cho chúng ta một bài học nữa về sự liên kết giữa các cành nho. Đó là đức Bác ái mà các Kitô hữu phải thi hành đối với nhau:”Đây là giới răn của Thầy : các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”.
 I. TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA.
1. Thiên Chúa là Tình yêu (1Ga 4,7).
Con người từ bản tính ai cũng biết yêu, tuy mức độ và sắc thái có khác nhau. Nhưng làm sao con người lại biết yêu ? Trong bài đọc 2, thánh Gioan Tông đồ đã trả lời cho chúng ta :”Vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa”(1Ga 4,7). Thiên Chúa là nguồn gốc tình yêu, Ngài ban cho chúng ta tình yêu ấy để chúng ta yêu Ngài và yêu nhau.
 a) Tình yêu trong tạo dựng :
Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, cho nên ngay từ bẩm sinh, mỗi người chúng ta đều có khả năng biết yêu thương.
Khi Thiên Chúa dựng nên Evà, thì Adong nói:”Này là xương tự xương tôi, thịt là thịt tôi”(St 2,23).  Tình yêu đồng loại chớm nở từ đó. Từ lúc Thiên Chúa dựng nên hai người, hai người đã chân thành thương yêu nhau như chính mình, coi nhau như một xương một thịt. Ngày nay chúng ta thường nói:”đồng bào ruột thịt”. Đồng bào có nghĩa là chung một bào thai sinh ra, đồng một nguồn gốc, một máu mủ, ruột thịt.
 b) Tình yêu cứu chuộc.
Ban đầu, Thiên Chúa trao ban tình yêu của Ngài trực tiếp cho con người, nhưng đã thất bại. Loài người không yêu Thiên Chúa, lại cũng không biết thương yêu nhau như Thiên Chúa yêu thương con người.  Lại một lần nữa, Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương con người trong việc cứu chuộc. Tình yêu ấy đã được thánh Gioan Tông đồ diễn tả:”Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ”(Ga 3,16-17).
 Thiên Chúa không những yêu thương con người, đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, lại còn ban ơn cứu độ, nâng con người sa ngã lên, một việc làm còn lớn lao hơn việc tạo dựng.
 2. Tình yêu của Thiên Chúa Cha qua Đức Giêsu.
Chúng ta không thể nào ban tặng tình yêu, trừ phi chúng ta đã đón nhận tình yêu từ trước đó.  Một lò sưởi không thể nào toả ra sức nóng, trừ phi nó đã được đón nhận sức nóng từ trước đó. Điều này cũng đúng cả đối với Đức Giêsu. Ngài nói với các môn đệ của Ngài:”Như Cha đã yêu mến Thầy, nên Thầy cũng yêu mến các con”. Tình yêu mà Ngài chia sẻ một cách quảng đại cho các môn đệ của Ngài, và cho mọi người nói chung, chính là tình yêu mà Ngài đã đón nhận từ Thiên Chúa Cha.
 Tình yêu đã được lãnh nhận ấy thật là tuyệt vời. Tình yêu chia sẻ ấy đã được thánh Gioan tông đồ mô tả:”Căn cứ vào điều này chúng ta biết tình yêu là gì : đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta”(1Ga 3,16). Ngài đã dám gánh tội chúng ta, đã chịu chết để đền tội cho ta. Ngài không trút tội lỗi của chúng ta  lên đầu chúng ta. Đây là thứ tình yêu rộng lượng tha thứ, vô cùng lớn lao, quảng đại:”Không có tình yêu nào lớn lao  hơn tình yêu của người thí mạng vì người yêu”(Ga 15,13).
 Ngoài ra, Ngài cũng còn tỏ lòng thương yêu chúng ta bằng cách tôn chúng ta lên làm bạn hữu của Ngài :”Thầy không gọi chúng con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Còn các con, Thầy gọi các con là bạn hữu”. Thực sự,  chúng ta không xứng đáng được gọi là tôi tớ Thiên Chúa vì chúng ta là vật thọ tạo đã dám xúc phạm đến Ngài, đến Đấng đã tạo dựng nên mình. Đây là một vinh dự quá lớn lao mà Ngài dành cho chúng ta.
 II. TÌNH YÊU CỦA CHÚNG TA.
 1. Lệnh truyền của Đức Giêsu.
Đức Giêsu có những lời tâm huyết muốn truyền lại cho các tông đồ trong bữa Tiệc ly. Một trong những lời tâm huyết ấy là:”Đây là điều răn của Thầy : các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12). Đức Giêsu có ý nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc yêu thương nhau, vì yêu thương là một lệnh truyền duy nhất gồm tóm mọi lệnh truyền khác (x. Mc 12,28-34).  Lệnh truyền này là chúng ta yêu thương nhau như chính Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta. Và khuôn mẫu của tình yêu thương là Đức Giêsu yêu thương chúng ta.  Tình yêu này có rất nhiều đặc tính mà chúng ta cùng tìm hiểu để áp dụng vào đời sống thường ngày của chúng ta.
 2. Những đặc tính của tình yêu.
 a) Yêu không giới hạn.
Trong bài Tin mừng này, Đức Giêsu nói:”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”.  Chúng ta nên lưu ý đến chữ nhau và chữ như, hai chữ ấy nói lên mức độ của tình yêu cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
 * Chữ NHAU.  Nói lên chiều rộng của tình yêu. Chúa bảo chúng ta phải yêu thương nhau. Chữ “nhau” giả thiết phải có hai người trở lên. Vậy phải yêu ai và yêu bao nhiêu người ?  Chúa không bảo hai vợ chồng hay hai tình nhân yêu nhau, mà bảo phải yêu thương tất cả mọi người vì tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa.  Vì thế, ta không nên hiểu chữ “nhau” này theo nghĩa hẹp, chỉ nhằm đến lòng yêu thương đối với một ít người thân thiết với ta mà thôi, mà phải hiểu theo nghĩa rộng, chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người.
Cha Zosima nói trong cuốn sách “Anh em nhà Karamazov” của Dostoevsky :”Bạn phải yêu thương tất cả những gì mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên, toàn bộ thế giới của Người, và mọi hạt cát trong đó. Nếu bạn yêu thương tất cả mọi sự, thì bạn cũng sẽ nắm bắt được mầu nhiệm có trong tất cả mọi sự”(Flor McCarthy).
Thánh Augustinô khi nói về mức độ của tình yêu thì ngài nói rất chí lý:”Mức độ của tình yêu là không có mức độ nào”.
Câu nói của Đức Khổng Tử cũng tương tự:”Tứ hải giai huynh đệ” : bốn bể là anh em.
 * Chữ NHƯ . Nói lên chiều sâu của tình yêu.  Phải yêu thương mọi người không trừ ai, lại còn phải yêu thương với một tình yêu sâu đậm như Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta.
Trong Thông điệp “Ánh sáng rạng ngời”, Đức Gioan Phaolô 2 đã viết:”Chữ “như” này đòi hỏi phải bắt chước Đức Giêsu, tình yêu của Người, mà rửa chân cho các môn đệ là một dấu chỉ cụ thể... Chữ “như” cũng chỉ mức độ mà Đức Giêsu  đã yêu thương các môn đệ của mình, và các môn đệ của Người cũng phải yêu thương nhau bằng mức độ ấy”(Số 20).
 b) Yêu thương là trao ban.
Một trong các đặc tính của tình yêu là “trao ban”, là cho đi. Yêu là không muốn giữ lại cho mình mà muốn chia sẻ cho người khác. Chính trong việc cho đi mà người ta tìm được hạnh phúc trong tình yêu như Paul Bourget nói :”Không khi nào người ta yêu như người ta đã được yêu, vì vậy, muốn đạt được hạnh phúc trong tình ái, chúng ta phải cho tất cả mà không đòi hỏi gì ca”.
Nếu tu viện trưởng Saint-Pierre quả quyết rằng:”Yếu tính của mọi tôn giáo, nền tảng của mọi chân lý, vương miện của mọi nhân đức căn cứ trên sự CHO và tha thứ”, thì thánh nữ Têrêsa  Hài đồng đã thực hiện trong tình yêu đối với Chúa Giêsu trong mấy vần thơ mà thánh nữ sáng tác :
Sống yêu đương chính  là cho tất cả,
Trên đời này không đòi hỏi công lao.
Không tính toán, không kể cho là bao,
Vì đã yêu có khi nào suy tính.
 Truyện : Hai biển hồ.
Palestine có hai biển hồ... Hai biển hồ này hoàn toàn khác nhau. Một biển hồ thường được gọi là biển hồ Galilêa. Đây là một biển hồ rộng lớn với nước trong xanh mà người ta có thể uống và cá cũng có thể sống trong đó. Chung quanh hồ là những vườn cây và thảm cỏ xanh tươi.
Biển hồ thứ hai tại Palestine là Biển Chết. Đúng như tên gọi của nó, không có sự sống nào ở trong cũng như chung quanh biển hồ này. Nước mặn đến nỗi cá không thể sống nổi mà người cũng có thể trở nên bệnh hoạn  nếu uống phải. Mùi hôi thối từ Biển Chết xông lên, khiến không ai muốn sống gần đó.
 Có điều kỳ lạ là hai biển hồ này đều nhận nước từ cùng một nguồn là sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào Biển hồ Galilêa rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch khác. Hồ Galilêa nhận lãnh để rồi chia sẻ cho những hồ nhỏ khác, nhờ đó nước của nó luôn trong sạch và mang lại sức sống cho cây cỏ, muông thú cũng như con người.
 Biển Chết cũng nhận nước từ sông Jordan, nhưng nó giữ lấy riêng cho mình, do đó nước của nó trở thành mặn chát và hôi thối.
 “Cho thì có phúc hơn nhận”. Càng trao ban, càng được nhận lãnh. Chúa đã yêu thương chúng ta vô bờ bến, và Ngài không muốn cho chúng ta giữ lại cho riêng mình, nhưng là chia sẻ tình yêu ấy cho mọi người chung quanh.(Cử hành Phụng vụ Chúa nhật, năm B, tr 154)
c) Yêu là hy sinh.
Tục ngữ Tây phương có câu:”Partir, c’est mourir un peur” : ra đi là chết trong lòng một ít.  Lìa xa nhau là một hy sinh, hy sinh làm ta đau khổ và đau khổ được coi như chết trong lòng một ít.  Tình yêu chân thật đòi phải hy sinh, mà hy sinh càng lớn thì tình yêu càng sâu đậm, càng tha thiết :”Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất nước hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật”(Pierre l’Ermite).
 Yêu là hy sinh và hy sinh lớn nhất là cho đi chính mạng sống của mình như Đức Giêsu đã nói :”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình(Ga 15,13).  Nếu đọc cuốn tiểu thuyết “Anh phải sống” của nhà văn Khái Hưng, ta thấy cũng có một nhân vật dám thực hiện lời khuyên trên của Đức Giêsu. Câu truyện ấy gồm tóm như sau : Hai vợ chồng nghèo đi kiếm củi trên ngàn để bán lấy tiền nuôi con. Hôm đó trời giông bão, họ bị nước cuốn trôi. Chỉ có một khúc cây đủ sức cho một người bám. Người chồng bảo vợ hãy bám vào khúc cây, vì”em phải sống để lo cho các con”. Người vợ cũng bảo chồng “Anh phải sống”. Cuối cùng người vợ buông tay, tự tìm lấy cái chết cho mình, để nhường sự sống lại cho chồng và các con.
 Tình yêu có cái giá của nó. Yêu là chấp nhận rằng chúng ta có thể phải chết đi bằng một cái chết khác, trước khi chúng ta chết thật. Con đường yêu thương là con đường của thánh giá, và chỉ thông qua con đường thánh giá, mà chúng ta mới đến được với sự sống lại. Nếu nỗi đau khổ dạy chúng ta về cách thức yêu thương, thì không có gì là khủng khiếp, khi phải chịu đôi chút đau khổ trên trái đất này.
d) Yêu đòi sự thành thật.
Thánh Gioan Tông đồ luôn khuyên nhủ tín hữu hãy yêu thương nhau. Yêu thì có năm bảy đường yêu, nhưng tình yêu đòi hỏi sự chân thật.  Ngài khyên :”Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu nhau nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm; căn cứ vào điều đó chúng ta biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa”(1Ga 3,16-18).
 Nhiều người chỉ yêu thương hời hợt bên ngoài, lòng họ chẳng yêu gì, đúng là họ chỉ yêu trên đầu môi chót lưỡi như thánh Gioan đã nói ở trên. Vì thế người ta nói :
Tôi yêu anh vạn
Tôi mến anh nghìn.
Anh có ăn thuốc đưa tiền tôi mua.
Những người này người ta liệt vào loại :
Thương miệng thương môi
Thương miếng xôi miếng thịt.
                                    Truyện vui : Cớ sao ông lại chết ?
Trong một bãi tha ma tối đen như mực, có một người đàn ông đã 5 ngày liền ngồi buồn rầu trên một nấm mồ và luôn miệng nói một câu thảm thiết “Cớ sao ông lại chết ? Cớ sao ông lại chết để tôi khổ thế này”?
Người hầu tìm thấy ông ta, muốn an ủi, bèn hỏi :
          - Người quá cố là cha hay anh ông vậy ?
Con người khốn khổ rên rỉ :
          - Không phải cha, không phải anh . Đó là người chồng trước của vợ tôi đấy !!!
 3. Đức Giêsu khuôn mẫu của tình yêu.
Giới trẻ ngày nay thích đi chọn thần tượng cho mình để học đòi bắt chước. Đối với họ, thần tượng của họ là lý tưởng của đời mình, họ ra công học đòi bắt chước để trở nên giống thần tượng của họ trong cách ăn mặc, nói năng, đi đứng... Vì thế, họ đi tìm thần tượng của họ nơi các ca sĩ nhạc trẻ, nơi các cầu thủ bóng đá, nơi người trí thức, nơi các nhà chính trị xuất sắc...
 Nhưng có một người mà suốt 2000 năm nay đã rất nổi tiếng, đã được người ta suy tôn là thần tượng tuyệt vời mà họ không biết, đó là Đức Giêsu Kitô. Thần tượng này đã dám khuyên mọi người hãy bắt chước cách sống của mình để trở nên giống mình:”Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”(Mt 11,29).  Biết bao người đã say mê thần tượng đó, người ta đã tin theo và bảo vệ thần tượng đó mặc dầu phải hy sinh mạng sống mình.
 Thần tượng ấy đã làm gương và khuyên nhủ chúng ta một điều mà mọi người cần phải thực hiện :” Đây là điều răn của Thầy : các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”(Ga 15, 13).. Rất nhiều người đã thực hành lời khuyên đó bằng cách thể hiện ra trong những việc làm cụ thể hằng ngày.
 Truyện : Ngôi nhà thờ.
Trong một ngôi làng tại dẫy núi Alpes ở Thụy sĩ, có một nhà thờ nhỏ bé đã được sử dụng để làm nơi thờ tự, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Mặc dù không có một tác phẩm nghệ thuật nào, nhưng người dân địa phương luôn luôn dùng một tình cảm đặc biệt cho ngôi nhà thờ này. Điều này khiến cho nơi đây mang vẻ rất tươi đẹp trong đôi mắt của cư dân. Đó chính là nhờ câu chuyện ngôi nhà thờ được xây dựng trên mảnh đất đặc biệt này như thế nào. Câu chuyện đó như sau:
Có hai anh em tạo dựng một nông trại gia đình, cùng chia sẻ sản phẩm và lợi nhuận cho nhau. Người anh đã kết hôn, người em còn độc thân. Khí hậu khắc nghiệt đưa đến hậu quả là đôi khi, huê lợi trở nên hiếm hoi.
Ngày kia, người em tự nhủ “Thật không công bình khi chia sản phẩm bằng nhau. Mình còn độc thân, nhưng anh mình còn phải nuôi cả một gia đình”. Vì thế, thỉnh thoảng, người em lại đi ra ngoài vào ban đêm, mang theo một túi hạt từ trong kho thóc của riêng mình, lặng lẽ băng qua cánh đồng nằm giữa hai ngôi nhà của hai anh em, và đổ vào thùng của người anh.
Đồng thời, người anh cũng có đồng một ý tưởng đó và tự nhủ “Thật không công bình khi chia sản phẩm bằng nhau. Mình có cả gia đình nâng đỡ mình, nhưng em mình vẫn độc thân”. Vì thế, thỉnh thoảng, người anh lại đi ra ngoài vào ban đêm, mang theo một túi hạt từ trong kho thóc của riêng mình, âm thầm đổ vào thùng của người em.
Việc này tiếp diễn trong nhiều năm, mỗi người đều thắc mắc không hiểu sao kho lúa của họ không bao giờ hao hụt đi. Thế rồi vào một đêm kia, họ đụng chạm với nhau trong bóng đêm. Sau khi nhận ra sự việc, họ bỏ túi hạt xuống, và ôm nhau. Đột nhiên, có một giọng nói xuất phát từ trên trời “Tại nơi đây, Ta sẽ xây dựng một ngôi nhà thờ. Bởi vì ở đâu con người gặp gỡ nhau trong lòng yêu thương, thì ở đó, có sự hiện diện của Ta”.
(Flor McCarthy, Phụng vụ Chúa nhật, năm B, tr 271-272)
          Lm Giuse Đinh lập Liễm
 

PS6-B58. NHƯ THẦY ĐÃ YÊU -  Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Sống yêu thương và hành động như Chúa Giêsu là điều mỗi Kitô hữu phải suy nghĩ, phải noi: PS6-B58

Sống yêu thương và hành động như Chúa Giêsu là điều mỗi Kitô hữu phải suy nghĩ, phải noi gương và bắt chước. Trên thế giới ngày nay nhiều nơi nhiều nước ngoài việc làm giàu cho nước mình, nhiều Chính phủ, nhiều Bộ ngành đã biết mở rộng cái nhìn của mình để chia sẻ, giúp đỡ những người nghèo khổ, để ý tới những người neo đơn, cô thân cô thế vv…Đọc báo, nghe đài, truy cập mạng, chúng ta thấy nhan nhản các tổ chức, các cá nhân đầy lòng quảng đại, đầy từ tâm. Những con người này có trái tim nhạy cảm, có tấm lòng mở rộng sâu xa, biết chăm lo cho những người nghèo đói, những người bất hạnh, những người bị đẩy ra bên lề xã hội.Đây là những con người có trái tim như Chúa Giêsu biết nhạy cảm trước những nỗi khổ đau của nhân loại, biết trắc ẩn trước lời mời gọi của Chúa Giêsu :” Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con:” ( Ga 15, 12 ).
 TÌNH YÊU VÔ BIÊN GIỚI :
Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta luôn bắt gặp một Chúa đầy lòng nhân từ, một Chúa luôn trắc ẩn trước nỗi đau khổ, thiếu thốn, đói khát của đám đông. Vâng, chúng ta có thể bắt gặp một Thiên Chúa thứ tha, một Thiên Chúa yêu thương đến tột cùng, một Thiên Chúa đầy lòng nhân nghĩa. Thử xem người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang và Chúa đã đối xử làm sao, đối xử như thế nào ? Một Thiên Chúa nhân từ đối với người phụ nữ bị cho là tội lỗi tràn đầy : cô Maria Mađalêna. Trước cái chết của người thân, người quen thuộc : Lagiarô đã chôn trong mồ bốn ngày rồi. Trước con bà góa thành Naim, trước đám đông dân chúng đi theo Chúa Giêsu khát khao lời của Ngài và đang lâm cơn khát, đói vv…Chúa Giêsu đã luôn để ý tới từng nhu cầu của từng nhóm, từng người. Tình yêu của Chúa quả không giới hạn và vô biên Người cảm thông với con người, với tất cả mọi người mà Ngài đã dựng nên:” Tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết “ ( Ga 15, 15 ). Tình yêu của Chúa Giêsu đã đi tới chỗ tuyệt đỉnh, đã đi cho tới cùng :” Người đã yêu thương họ đến cùng “ ( Ga 13, 1 ). Tình yêu tận hiến, vô vị lợi :” Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu ( Ga 15, 13 ) hoặc “ Khi nào ta bị treo lên khỏi mặt đất Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta “. Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu phát xuất tự Thiên Chúa Cha, tình yêu này luân chuyển từ Người đến con người và giữa con người với con người:” Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con “ ( Ga 15, 12 ).
 YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU :
Yêu như Chúa yêu quả thực không phải là chuyện dễ nhưng lời mời gọi của Chúa luôn thúc bách mọi người hãy hướng tới người khác và bắt chước gương của Thầy Giêsu đã sống, đã thực hiện và nhất là đã yêu. Gương của các môn đệ bên Chúa Giêsu, đã được Ngài yêu thương, chăm sóc và các môn đệ đã yêu thương nhau như thế nào vẫn là điều thôi thúc mỗi người chúng ta vươn lên, vươn lên mãi và sống, yêu như mức độ Thầy Giêsu đã sống, đã yêu. Hãy chiêm ngắm gương thánh Maximilianô Kolbê, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, thánh Phanxicô khó khăn, mẹ Têrêsa Calcutta, Đức Cha Jean Cassaigne, Đức thánh Cha gioan Phaolô II vv…Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở trong Thiên Chúa là ở trong tình yêu. Yêu như Thầy đã yêu là yêu cho đến cùng và chết trên thập giá.
 ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :
Trước một thế giới chạy theo lợi nhuận, chạy theo đà phát triển của văn minh, nhiều khi con người quên đi sự cảm thông, tình bác ái,lòng yêu thương chân thật. Một nụ cười giữa sa mạc khô cằn sẽ nâng đỡ, khuyến khích con người rất nhiều. Thế giới đang khao khát tình yêu.Người tín hữu phải là chứng nhân cho tình yêu đích thực, tình yêu nở hoa, tình yêu của Đức Giêsu Kitô. Con người của chúng ta không có cơ hội để chết như Đức Kitô, nhưng chết cho tha nhân là chấp nhận hao mòn hằng ngày để cho người khác được niềm vui và hạnh phúc.Bởi vì như bài hát Kinh Hòa Bình đã viết :” Chính khi chết đi là khi vui sống muôn đời “.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết nhận ra bộ mặt của Chúa nơi tha nhân để chúng con yêu thương họ như Chúa đã yêu thương chúng con.Amen.
 Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 
 

PS6-B59. HÃY Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THẦY - Lm Trần Bình Trọng

Ga 15:9-17
 

Đọc Thánh kinh Tân ước, người ta thấy toàn bộ Phúc âm theo thánh Gioan, người môn đệ được : PS6-B59

Ðọc Thánh kinh Tân ước, người ta thấy toàn bộ Phúc âm theo thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu, chứa đựng đầy dẫy từ ngữ yêu mến. Ðó là lý do tại sao, Phúc âm thánh Gioan được mệnh danh là Tin mừng yêu mến. Theo truyền thuyết kể lại thì khi về già, thánh Gioan chỉ giảng một câu vắn tắt: Hỡi đoàn con nhỏ, hãy thương yêu nhau. Lời giảng dạy đó được lặp đi lặp lại nhiều lần trong vòng một thời gian khá lâu. Ðiều đó làm giáo dân chán ngấy, tưởng rằng thánh nhân đã bị mất trí, nên xin ngài nói điều gì mới lạ hơn cho họ khỏi nhàm. Ðể trả lời, thánh Gioan nói sẽ cứ tiếp tục giảng vể tình yêu mến bao lâu họ chưa biết thương yêu nhau. Thư thứ nhất của thánh Gioan có ghi: Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4:8). Và tình yêu của Thánh Thần Thiên Chúa xuống cả trên các dân ngoại nữa (Cv 10:45), chứ không phải chỉ hạn chế vào một dân tộc nào thôi.
Trong Phúc âm hôm nay, thánh Gioan ghi lại lời xác quyết của Ðức Giêsu bày tỏ tình yêu cho loài người: Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy (Ga 15:9). Vậy ta thử xét coi Ðức Giêsu yêu mến loài người như thế nào. Và ta cũng chỉ giới hạn cái việc Ðức Giêsu yêu mến loài người theo như Phúc âm hôm nay ghi lại mà thôi. Nếu xét tất cả những việc Ðức Giêsu làm vì yêu mến loài người trong toàn bộ Phúc âm, thì không biết bao giờ ta mới nói hết. Chúa Giêsu đã yêu mến loài người bằng cách chấp nhận cuộc tử hình thập giá để chuộc tội loài người. Ðó là lời Chúa phán trong Phúc âm hôm nay: Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15:13). Thổ lộ cho ai về cảnh ngộ cá nhân hay gia đình, ngay cả những tâm tư và bí mật của đời mình là dấu chỉ mình tín nhiệm người đó kín đáo, muốn gần gũi với người đó và muốn mở lòng để người đó đi vào đời mình. Ðó là cách thế Ðức Giêsu đã làm để trở nên bạn hữu với ta: Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thẩy đã cho anh em biết (Ga 15:15).
Bạn hữu nhất là bạn cùng ăn một mâm, cùng nằm một chiếu là người quan tâm đến ta, và ta quan tâm đến bạn. Bạn hữu là người gắn bó với ta khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi yếu đau cũng như lúc mạnh khoẻ. Bạn hữu là người ta có thể tin cậy. Bạn hữu thường trung thành với nhau, giúp đỡ nhau, sống chết có nhau. Trong một xã hội phong kiến hay dưới một thể chế quân chủ, khi một người nhỏ tuổi hoặc cùng đinh mà gọi người lớn tuổi hay phú quí là bạn, có thể bị coi là chơi trèo, hỗn xược, vì cha ông ta dạy kính lão đắc thọ. Chúa Giêsu còn cao trọng hơn ta gấp bội phần, nhưng Người đã tự hạ mình xuống làm bạn với ta. Chúa bảo các tông đồ và qua các tông đồ, Chúa cũng bảo ta: Anh em là bạn hữu của Thầy (Ga 15:14). Vậy được gọi là bạn hữu với Chúa, là một ân huệ lớn lao dường bao! Ðiều thắc mắc ở đây là ta có thực sự tin rằng Ðức Giêsu là bạn với ta không? Ta có thể tin, vì Chúa nói như vậy. Tuy nhiên ta có cảm nghiệm được tình yêu và tình bạn với Chúa hay không lại là chuyện khác.
Trong Phúc âm hôm nay Chúa căn dặn ta: Hãy ở lại trong tình yêu của Thày (Ga 15: 9). Có linh mục kia khi về Việt nam vào tiệm sách đạo thấy bầy bán vật kỉ niệm có ghi chính lời Phúc âm hôm nay (Ga 15:9) trên tám mảnh trúc xinh xắn, nối vào nhau bằng mười bốn khúc trúc nhỏ xíu như tám nấc thang, trông khá nghệ thuật. Thấy hay hay lại thích hợp, linh mục đương sự mua liền, đem về treo để nhắc nhở mình. Vậy ở lại trong tình yêu của Chúa nghĩa là gì? Khi người ta nói đứa con đã mất nghĩa với cha mẹ, ta hiểu rằng đứa con đã súc phạm đến cha mẹ và làm khổ tâm cha mẹ. Cũng vậy khi phạm tội, ta làm tổn thương đến tình yêu với Chúa. Ở lại trong tình yêu của Chúa là còn ơn nghĩa với Chúa. Ở lại trong tình yêu của Chúa là có được sự bình an trong tâm hồn. Trong một buổi nói chuyện với giới trẻ tại một giáo xứ kia, một linh mục hướng dẫn có cho giới trẻ thảo luận câu hỏi: Thế nào là hạnh phúc. Có một nhóm trả lời hạnh phúc là khi cảm thấy tâm hồn bình an. Ta thấy câu trả lời đó bao hàm tất cả ý nghĩa của hạnh phúc vì nếu không có bình an trong tâm hồn, thì dù có mọi sự khác cũng không có hạnh phúc.
Ở lại trong tình yêu của Chúa là ở lại trong tình bạn hữu với Chúa. Cảm nghiệm ta có về tình bạn với Chúa giống như cảm nghiệm của hai người yêu. Hai người yêu luôn cảm thấy gần gũi nhau. Khi xa nhau, họ vẫn tưởng nhớ đến nhau, nhớ bóng dáng người yêu, ánh mắt của người yêu và cả tiếng thì thầm của người yêu. Nói cách khác, họ cách mặt mà không xa lòng. Cảm nghiệm của ta có được về tình yêu và tình bạn với Chúa cũng tương tự như vậy. Có được cảm nghiệm về tình yêu/ tình bạn với Chúa, ta sẽ cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong ta, bên ta và xung quanh ta. Khi ăn uống, làm việc, giải trí và cả khi ngủ nghỉ, ta cũng cảm nghiệm sự diện diện của Chúa. Có được cảm nghiệm này, ta không còn cảm thấy thiếu thốn chi trong lòng, không còn muốn đổi chác lấy gì khác, mà bị mất cảm nghiệm thần linh này. Ở lại trong tình yêu của Chúa là muốn được gần gũi với Chúa, muốn đặt niềm tin cậy phó thác vào Chúa, muốn Chúa làm chủ đời sống và làm lẽ sống cho cuộc đời.
Vậy làm thế nào để được ở lại trong tình yêu của Chúa? Trong Phúc âm hôm nay chính Chúa Giêsu dạy ta làm sao để được ở lại trong tình yêu Chúa: Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở trong tình yêu của Thầy (Ga 15:10). Tuân giữ các điều răn của Chúa là loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn là tội lỗi và các thứ tính mê nết xấu. Tuân giữ các điều răn của Chúa là tuân theo thánh ý Chúa, sống theo đường lối Phúc âm. Ðó là khởi điểm của mối liên hệ mật thiết với Chúa. Cảm nghiệm được thế nào là ở lại trong tình yêu và tình bạn với Chúa, ta sẽ cảm thấy vui sống đức tin. Nếu lỡ phạm tội làm mất sự bình an, ta lại ao ước muốn trở về sống trong tình yêu và tình bạn với Chúa.
Lời cầu nguyện: xin cho được ở lại trong tình yêu Chúa:
Lậy Ngôi Hai Thiên Chúa! Con xin tạ ơn Chúa, đã mời gọi con ở lại trong tình yêu Chúa và cho con được làm bạn với Chúa. Xin cho con cảm nghiệm được Chúa, thế nào là được sống trong tình yêu của Chúa và tình bạn nghĩa thiết với Chúa. Amen.
Lm Trần Bình Trọng
 

PS6-B60.  ĐỂ THUỘC VỀ CHÚA, YÊU THƯƠNG NHAU  - Lm. Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Ga 15, 9-17 Có thể nói, gia sản quý nhất Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội, cho thế giới: PS6-B60

Ga 15, 9-17 Có thể nói, gia sản quý nhất Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội, cho thế giới chính là nghĩa cử hy sinh chính mạng sống mình vì tình yêu thương nhân loại. Hôm nay Giáo hội mời gọi con cái mình suy niệm đề tài về Tình yêu- đề tài mà Chúa Giêsu đã dùng trong diễn từ ly biệt được xem như những “di ngôn bảo bối” để giáo huấn các tông đồ sau bài giảng về Cây nho và cành nho ở Chúa nhật trước. Đây là bài giáo huấn vô cùng quan trọng của Chúa và cũng là chủ đề rất riêng của thánh sử Gioan- ngợi ca tình yêu Thiên Chúa cách đặc biệt.
Tin mừng cho chúng ta biết, một trong những lý do để Chúa Giêsu đưa ra lời nhắn nhủ các tông đồ “hãy yêu thương nhau” là vì “Chúa Cha đã yêu mến Thầy” và “Thầy đã yêu mến anh em”. Như thế, tình yêu rõ ràng xuất phát từ chính Ba Ngôi Thiên Chúa, và, một trong những biểu hiện cho tình yêu ấy được triển nở giữa lòng nhân loại là con người cũng hãy yêu thương nhau. Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Thiên Chúa ngự trị. Đây là chân lý thật hiển nhiên. Bởi nơi nào không có tình yêu Thiên Chúa ngự trị thì nơi đó ngập tràn màn đêm tối, ngập ngụa sự thù hận và chia rẽ.
Biểu lộ của tình yêu ấy được minh chứng bằng chính hành động nào? Chúng ta tìm thấy câu trả lời của Chúa Giêsu. Đó là “tuân giữa các điều răn của Thầy”. Điều này thật dễ hiểu bởi như thánh Gioan từng nói : “Căn cứ vào điều này chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa: đó là chúng ta tuân giữ cá điều răn của Người. ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở trong người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2, 3-5).
Không dừng lại ở đó, tình yêu của Thiên Chúa trao ban cho con người vượt qua mọi tính toán đôi khi rất logic của con người. Bởi, cứ theo lẽ tự nhiên, con người – vốn là loài hữu hạn, tương đối, không thể nào sánh ví với Thiên Chúa – Đấng vô cùng, tuyệt đối. Thế mà giờ đây, vì Tình yêu, chính Chúa Giêsu đã “san bằng” giới hạn ấy khi tuyên bố rằng, Người không gọi chúng ta là “tôi tớ”, thay vào đó, Người gọi chúng ta là “bạn hữu” nghĩa thiết với Người – một lời tâm sự tuyệt vời làm sao mà Thiên Chúa dành cho loài người. Chúng ta có cảm nghiệm hết tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta trước lời tâm sự này không?
Chính vì xem chúng ta là bạn hữu thân tình mà Chúa Giêsu chả giấu chúng ta điều gì. Vì đã là bạn hữu nghĩa thiết thì có gì mà phải che giấu, rào đón. “Tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”. Đúng là tận cùng, là tuyệt đỉnh của tình yêu mà Chúa Giêsu đã dành cho chúng ta. Còn chúng ta thì sao?
Giới răn cao quý nhất Chúa để lại cho chúng ta đó là giới răn yêu thương. Thế nhưng yêu thương là gì? Phải chăng đó là nhìn nhận địa vị và tôn trọng địa vị của người khác, giúp họ phát triển tài năng? Phải chăng là việc cho người ta cơm bánh nhưng lại chà đạp giá trị nhân phẩm của họ? Phải chăng vì tôn trọng người khác nên cứ để họ lầm lạc mà không lên tiếng căn ngăn? Giới răn yêu thương của Chúa đòi hỏi chúng ta phải hy sinh, đòi hỏi phải quên mình vì người khác, đòi hỏi phải nhìn nhận hình ảnh Chúa nơi tha nhân để chúng ta tôn trọng và yêu mến họ.
Thực thi giới răn yêu thương – điều ước mong của Chúa Giêsu, không phải là điều dễ dàng, đôi khi đó là một thách đố với đời sống đức tin của người Kytô. Thế nhưng, chỉ có cách thế này, chúng ta mới trở nên bạn hữu với Chúa và được Chúa yêu thương. Xin cho Lời Chúa hôm nay thêm sức mạnh cho chúng ta, để, tuỳ vào khả năng, tuỳ vào bậc sống của mỗi người, Chúa cho chúng ta có những phương cách để làm bạn với Chúa thông qua con đường Tình yêu. Lý do là vì chỉ nhờ con đường này, chúng ta mới thuộc trọn về Chúa mà thôi.
Lm. Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
 

PS6-B61. GIEO GÌ GẶT NẤY - Lm Giuse Tạ Duy Tuyên

Tục ngữ có câu “có gieo có gặt”, nhưng thành quả gặt hái lại tuỳ theo giống loài mà chúng: PS6-B61

Tục ngữ có câu “có gieo có gặt”, nhưng thành quả gặt hái lại tuỳ theo giống loài mà chúng ta gieo trồng. Vì “gieo gì gặt nấy”. Mình gieo yêu thương sẽ tìm được hạnh phúc an bình. Mình gieo thù hận sẽ phải đón nhận sự trả đũa oán hận, vì “gieo gió ắt gặp bão”.
Có thể nói cuộc đời là một chuỗi ngày dài gieo giống. Mỗi ngày ta gieo một vài lời nói, một vài hành động và rồi năm tháng trôi qua chúng ta sẽ có ngày gặt hái những gì chúng ta đã gieo vãi. Mặc dù là khoảng thời gian có thể là rất xa. Một năm. Hai năm. Hay có khi cả đời. Nhưng chắc chắn một điều là mùa gặt sẽ tới. Có những điều chúng ta sẽ phải gặt trước khi từ giã cõi đời, nhưng cũng có điều chúng ta phải gặt ở cõi đời sau.
Có một người đàn ông rất giầu có đã đến tuổi về hưu. Ông trao ban gia tài cho đứa con trai duy nhất, chỉ mong được sống an nhàn tuổi già bên con cháu cho đến hết cuộc đời. Thế nhưng, người con dâu lại không muốn bố chồng ở mãi trong nhà. Cô đã đề nghị chồng phải đưa bố đi ở nơi khác. Người con không muốn mất tình cảm với vợ, nên đã quyết định đưa cha vào viện dưỡng lão, nhưng lại là nơi rẻ tiền nhất theo lời căn dặn của vợ.
Một tuần sau đó, hai cha con đi bộ đến nơi mà người cha sẽ ở. Đi được một lúc bỗng nhiên người cha già bật khóc. Lương tâm người con không chịu nổi, anh nghẹn ngào nói lời xin lỗi cha. Sau một vài phút, người cha bị hắt hủi nghẹn ngào nói: “Con ơi! Cha không khóc vì con đưa cha vào đây. Cha khóc vì cách đây bốn mươi năm trước, cha cũng bước đi trên lối này với ông nội của con, và cũng đưa ông nội con vào viện dưỡng lão tồi tàn này. Cha chỉ “gieo gì gặt nấy thôi!”.
Thực vậy, “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”. Những gì chúng ta đã và đang nhận trong cuộc đời này hoàn toàn tuỳ thuộc vào những điều chúng ta đã gieo vãi, vun trồng ngày hôm qua. Cùng một môi trường nhưng có người nhiều bạn bè, và ngược lại có người chẳng được ai chơi. Có người được yêu thương, đùm bọc. Có người chỉ nhận được sự khinh bỉ, dửng dưng xem thường. Có người được hàng xóm bao bọc “tối lửa tắt đèn có nhau”. Có người lại bị anh em loại trừ. Có người vui vì sự chơi đẹp của tha nhân. Có người dở khóc dở cười vì sự chơi xấu của tha nhân. Tất cả điều đó cho thấy, những gì chúng ta nhận được là do chính chúng ta đã gieo vãi vun trồng tuỳ theo cách sống của chúng ta.
Hôm nay, Chúa bảo chúng ta hãy đi gieo vãi yêu thương. Chúa cầu mong chúng ta sinh hoa kết trái. Chính Chúa đã gieo vào lòng chúng ta hạt giống yêu thương. Chúng ta được lớn lên trong tình yêu thương của Chúa. Chúng ta được sống trong tình yêu quan phòng của Chúa. Chúa còn tuyển chọn chúng ta nên bạn hữu của Chúa. Chúa còn làm tất cả để chúng ta được hạnh phúc. Chúa đã quên cả chính mình để chúng ta được sống. Chúa không đòi chúng ta đền đáp cho Chúa. Chúa chỉ mong chúng ta hãy theo gương Ngài mà đối xử với nhau trong yêu thương. Chúa bảo chúng ta “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Yêu như Thầy đã yêu là tiếp tục gieo vãi hạt giống yêu thương của Chúa cho muôn người. Hãy đem yêu thương vào nơi oán thù. Hãy trồng cây yêu thương vào trong thế gian để thế gian được hái những trái ngọt của hạnh phúc, của tình người.
Nhưng có mấy ai đã thực sự sống yêu thương mà không toan tính, hay pha chút ích kỷ, nhỏ nhoen? Có mấy ai đã yêu tha nhân như chính mình để rồi có thể chia sẻ buồn đau với tha nhân? Có mấy ai đã vì bạn hữu mà quên mình? Có lẽ có, nhưng chắc chắn có rất ít!
Nhìn lại những gì đang diễn ra nơi gia đình, nơi xứ đạo và trên thế giới, dường như những nghĩa cử yêu thương đang thiếu dần, mà thay vào đó là sự ích kỷ, là độc đoán, là lỗi bác ái yêu thương tràn lan. Có mấy ai đã tự vấn lương tâm để thấy rằng mình làm hại anh em thì nhiều mà làm điều tốt thì ít? Có mấy ai dám tự trách mình vì những lời mình nói, vì những việc mình làm đã mang lại khổ đau cho anh em? Có mấy ai đã dám nói lời xin lỗi với gia đình, với cộng đoàn vì sự tắc trắc của mình mà làm cho gia đình xào xáo, bất đồng ý kiến, đố kỵ và ghen tương? Có mấy ai đã thực sự dấn thân để xây dựng hoà bình khởi đi từ những nghĩa cử yêu thương và tôn trọng tha nhân?
Nhân loại hôm nay rất biết ơn những con người biết xây dựng hoà bình từ yêu thương. Năm 1963, tại Washington, khoảng 200.000 người đã lắng nghe Martin Luther King, vị mục sư da đen, người đoạt giải Nobel hoà bình nói chuyện. Ông nói rằng: “Tôi ước mơ một ngày kia, trên những cánh đồng miền Georgia, con cháu của những người nô lệ và của những chủ nô sẽ ngồi chung với nhau trong một bàn tiệc huynh đệ. Tôi ước mơ một ngày kia, 4 người con của tôi về sống trong một nước mà chúng không còn bị xét xử vì màu da nữa, nhưng vì công lao. . . “
Ước mơ của ông cũng là ước mơ của hàng triệu con người trên thế giới. Nhưng khao khát hoà bình thì nhiều, còn gieo vãi niềm an bình hạnh phúc thì chẳng có mấy ai! Người ta nặng lời kết án nhau thì nhiều mà nói lời xin lỗi thì còn quá ít. Người ta nói xấu thì nhiều mà nói tốt cho nhau vẫn còn khiêm tốn. Thế nên, thế giới vẫn còn đó sự nghi kỵ, hiểu lầm và thù oán. Thể giới vẫn phải đón nhận đoạ đầy khổ đau bởi sự dữ do chính con người đã gieo vào trần gian.
Xin Chúa giúp chúng ta luôn học bài học yêu thương của Chúa để đem ra thực hành trong cuộc sống thường ngày, ngõ hầu góp phần kiến tạo niềm an vui và hạnh phúc cho trần gian. Amen
Lm Giuse Tạ Duy Tuyên
 

PS6-B62. THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU - Lm Giacôbê Tạ Chúc

 (1Ga 4,8)
 

Khởi đi từ định nghĩa củaThánh Gioan và dựa vào Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu của Đức: PS6-B62

Khởi đi từ định nghĩa củaThánh Gioan và dựa vào Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu của Đức Thánh Cha Bênêdictô 16, phải chăng Tin Mừng của chúa nhật VI Phục sinh cũng là đề tài về”Tình yêu”. Nhưng tình yêu thì có muôn vàn cách để hóa giải, Xuân Diệu cũng đã có lần bất chợt thốt lên rằng:
Làm sao giải nghĩa được tình yêu
Có khó gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu
Con người thì không thể, nhưng Thiên Chúa thì có thể, bởi vì Ngài chính là Nguồn của mọi tình yêu. Là con người, ai cũng cũng biết yêu thương,chỉ trừ ra những người không còn khả năng, không có lý trí, hay bị mất trí, bị tâm thần…thì không biết yêu là gì, còn tất cả, bao lâu tim còn đập là bấy lâu con người vẫn phải yêu:” Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”(1Ga 4, 8). Khi nói như vậy thì có quá lắm không, vì những anh em theo các tôn giáo khác hoặc không theo một tôn giáo nào, họ đâu đã biết Chúa, vậy họ không biết yêu? Không hẳn như vậy, tình yêu cũng như những cơn sóng cuồn cuộn trong đại dương bao la bất tận. Nó cũng như những thác nước ầm ầm vượt mọi chướng ngại vật đổ xuống. Tình yêu là trừu tượng, nhưng con người là cụ thể. Người Hy lạp dùng động từ”Eros” để diễn tả tình yêu. Còn Kitô Giáo thì dùng động từ” Agapê”. Ở giữa hai từ này còn có từ” Philia.
Eros là tình yêu vụ lợi, là một sự ham muốn, một tình cảm lôi cuốn của người khác khi nơi họ có điều gì đó hợp với mình. Eros là một khát vọng, một sự thèm muốn để chiếm đọat. Eros như những nấc thang giúp con người đi từ thế giới khả giác đến thế giới tâm linh. Đức Thánh Cha trong thông điệp Thiên Chúa là tình yêu đã sử dụng động từ Eros rất nhiều lần. Còn philia là tình yêu vô vị lợi, thường dùng để chỉ tình bạn, tình bạn này chỉ căn cứ ở sự hợp tính nhau, nó giới hạn trong một số người. Còn tình yêu của người Kitô Hữu, nó có sức mạnh và vượt lên trên thứ tình cảm của eros và Philia. Đó chính là AGAPÊ, Agapê là tình yêu vô vị lợi, tự do và dựa trên sự tín nhiệm, không căn cứ trên sự hợp tính nhau. Người kitô hữu thương mến nhau không chỉ là bạn hữu, nhưng còn là chi thể, là anh em trong Chúa Kitô. Tình yêu này phổ quát, vì mọi người là chi thể của Chúa Kitô. Như vậy phải có yếu tố mến Chúa như là lý lẽ tối hậu của lòng yêu người. Người Kitô Hữu nhìn thấy Chúa trong con người anh em. Vậy đối tượng của đức mến là Thiên Chúa và anh em là tạo vật của người. Agapê không nằm trong sự chiếm hữu mà là sự cho đi. Thiên Chúa là tình yêu cho đi một cách trọn vẹn nhất. Tình yêu Agapê xuất phát từ Thiên Chúa, nó không đòi hỏi một sự đáp đền, Agapê là tình yêu dâng hiến hòan tòan và trọn vẹn cho tha nhân, tình yêu vô vị lợi. Chính tình yêu này( Agapê) đã làm cho Đức Giêsu chịu chết trên thập tự Giá để mang lại ơn cứu độ cho con người:” không có tình yêu thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”( Ga 15, 13).
“Tình yêu chính là đặc thù của nhân bản con người”, “ Con người không thể thiếu tình yêu và con người được kêu gọi để trở nên những người có khả năng yêu”( Thông Điệp Thiên Chúa là tình yêu). Suy niệm về tình yêu Thiên Chúa, triết gia KierKegaard viết:”Thiên Chúa là tình yêu, và tình yêu có tương quan đảo ngược với sự vĩ đại và cao cả của đối tượng. Kẻ bị bỏ rơi ở trần gian là người được Thiên Chúa yêu thương nhiều nhất.
Lm Giacôbê Tạ Chúc
 

PS6-B63. Ý-TÂM-THÂN HÒA ĐIỆU - Lm. An Phong,OP

Tin mừng hôm nay nhắc đến Luật Vàng Kitô giáo là "Mến Chúa yêu người". Hai chiều kích: PS6-B63

Tin mừng hôm nay nhắc đến Luật Vàng Kitô giáo là "Mến Chúa yêu người". Hai chiều kích "hiệp thông" (mến Chúa) và hướng tới (yêu người) này làm nên toàn bộ thái độ sống Kitô giáo.
Con người, nếu có một sự hòa điệu tuyệt vời giữa mình với chính mình, sẽ sống bình an, hạnh phúc. Thật vậy, cuộc sống con người thường được nói đến như là "một bãi chiến trường"; là sự "giao tranh giữa điều muốn làm và điều phải làm"; hoặc sống trong tình trạng "điều tôi muốn, tôi không làm; điều tôi không muốn tôi lại làm"; hoặc "điều thiện và điều ác giành giật cắn xé nhau trong tôi"; đó là nguyên nhân của sự bất an, hỗn độn, thậm chí hủy hoại nữa.
Nói khác, Ý chỉ đạo, Tâm cởi mở lòng ra và Thân hành động cho được, đó là một sự hoà điệu lý tưởng của con người. Ý phán đoán ngay chính, Tâm đón nhận bao dung, thì Thân mới có thể diễn đạt nên hành động "yêu người"; Ý tốt, Tâm tốt thì hành động sẽ tốt.
Ðó cũng là cửa ngõ để con người có thể sống hòa điệu với người khác; có thể nói nếu có hòa điệu của Ý-Tâm-Thân sẽ có hòa điệu giữa ta với Chúa, ta với người và ta với chính mình.
Nhưng nói thì dễ, sống được mới khó. Bi kịch của nhân loại bắt đầu từ đây. Có khi Ý phán đoán nghiệt ngã, phê bình khắc khe; có khi Tâm thiếu bao dung, tị hiềm; và Thân thì tìm sung sướng cho mình chứ không hành động để xây dựng. Giữa cuộc đời, vẫn còn có nhiều người nghĩ (ý) rất hay nhưng không hề "giơ ngón tay lay động" (thân). Hoặc người ta dễ dàng mủi lòng, thậm chí rớt vài giọt nước mắt (tâm) nhưng lại chỉ là tình cảm thoáng qua, nhất thời, không dễ gì khơi dậy hành động (thân).
Làm sao cho Ý ta sáng, Tâm ta bao dung và Thân ta hành động quảng đại ? Làm sao để ta sống giữa cuộc đời trong sự hài hòa của tình yêu thương nhân ái ? Chúa Giêsu mở một con đường để mời gọi chúng ta đạt đến sự hài hòa tuyệt vời ấy : "Anh em hãy ở trong tình thương của Thầy; nếu anh em giữ các giới răn của Thầy, anh em sẽ ở trong tình thương của Thầy; như Thầy đã giữ các giới răn của Cha Thầy và ở trong tình thương của Người".
Với tình yêu của Chúa Giêsu, chúng ta được sống hòa hợp với Chúa, với mình và với anh chị em.
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa để lại cho chúng con một giới răn thôi,
giới răn của tình yêu;
Nhưng chỉ một giới răn đó thôi,
chúng con cũng không làm nổi.
Xin Chúa đổ xuống trên chúng con tình yêu của Chúa,
tình yêu lớn lao trong tấm bánh nhỏ nhoi này;
để chúng con không sợ yêu;
không lùi bước trước những thách đố của tình yêu;
để chúng con được "ở trong Chúa", và "Chúa ở trong con".
Lm. An Phong,OP
 

PS6-B64. ĐÔI BẠN CHÂN TÌNH - Lm. Giuse Đỗ Văn Lực, OP

Không dễ gì kiếm được một người bạn. Người bạn đem lại nguồn an ủi, cơ hội và niềm vui: PS6-B64

Không dễ gì kiếm được một người bạn. Người bạn đem lại nguồn an ủi, cơ hội và niềm vui lớn lao. Tình bạn có thể chia sẻ và hi sinh tất cả cho nhau. Thử tưởng tượng thế giới sẽ ra sao nếu vắng hẳn tình bạn. Về một phương diện, tình bạn còn quan trọng hơn mọi thứ tình yêu khác. Vả lại, thường tình yêu cũng bắt đầu bằng tình bạn và lớn lên trong tình bạn. Tình bạn đẹp đến nỗi Ðức Giêsu cũng muốn lên một sự thật : "Anh em là bạn hữu của Thầy" (Ga 15:14).
TRI ÂM
Ðức Giêsu muốn yêu thương con người bằng một tình bạn thắm thiết. Người không muốn có một cách biệt quá xa như chủ tớ, mặc dù giữa Người và nhân loại khoảng cách còn xa hơn ngàn lần. Nhưng tương quan phải thật gần gũi mới cảm thấu được tình yêu sâu đậm dành cho nhau. Người như quên tất cả địa vị của mình. Làm sao một tạo vật như chúng ta có thể dám mơ ước trở thành người bạn tri âm của Thiên Chúa ? Nhưng Người từng tâm sự : "Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu" (Ga 15:15). Như thế, con người đã được nâng lên hàng bạn thân của Chúa. Nếu cứ để nhân loại trong hàng nô lệ hay tôi tớ, làm sao Thiên Chúa bắc nổi nhịp cầu tri âm ? Một khi đã coi các môn đệ là tri âm, Ðức Giêsu đã chia sẻ cho họ sự hiểu biết về Chúa Cha (Ga 14:20). Như thế Người đã làm cho họ mãn nguyện. Người đã có thể tâm sự sâu xa với họ về cái chết của Người cho toàn thể nhân loại. Vì yêu thương, Người đã săn sóc họ tận tình, đến nỗi đã quì xuống rửa và hôn chân họ. Ðó là một bài học nhưng cũng là dấu chỉ báo trước sự hi sinh cực kỳ sâu xa. Cúi xuống thật sâu để nâng họ lên ngang hàng với mình. Một khi đã được nâng lên, họ hoàn toàn được tin tưởng và ủy thác tất cả sứ mạng cứu độ muôn dân. Chính trong tình yêu, Thầy đã "cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái của anh em tồn tại" (Ga 15:16).
Muốn thế, trước tiên các môn đệ phải được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Ðó là một hồng ân cao cả, là điều kiện tối thiểu để có thể đi sâu vào tình yêu Thiên Chúa. Chỉ vì yêu thương, Thiên Chúa đã ban tặng một giá trị và địa vị tuyệt vời cho nhân loại. Trong tương quan này, Thiên Chúa đã trao hiến một cách vô thường. Không thể tìm đâu một sự trao hiến kỳ diệu hơn thế. Quả thực, nơi thập giá, Ðức Giêsu cho thấy "không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15:13). Họ đáng hưởng tình yêu cao cả đó, vì đã được nâng lên hàng tri âm của Chúa. "Những bạn hữu của Ðức Giêsu là những người có quan hệ gắn chặt với Chúa (Ga 13:23 tt; 19:26; 11:3). "Mình với ta tuy hai mà một". Họ sung sướng vì được trở nên "đồng thừa kế với Ðức Kitô" (Rm 8:17). Như thế, họ là những người đặc biệt đón nhận mạc khải về Chúa Cha và được kết hiệp bằng những mối ràng buộc trong 'nhà' Thiên Chúa (Ga 14:20)" (Faley 1994:350). Họ có thể đi lại tự nhiên và hưởng dùng mọi thứ trong ngôi nhà đó, vì từ đây "tất cả những gì của Cha là của con" (Lc 15:31).
Hạnh phúc đó vượt quá lòng mong đợi của các môn đệ. Chính nhờ hạnh phúc đó mà "niềm vui của anh em được nên trọn vẹn" (Ga 15:11). Muốn niềm vui trọn vẹn, phải "ở lại trong tình thương của Thầy" (Ga 15:9). Nếu không, sự chia cắt sẽ gây nên nhức nhối. Cả Thầy lẫn môn đệ đều không vui. Chính Ðức Giêsu cũng chỉ giữ được niềm vui trọn vẹn với Chúa Cha, nếu "ở lại trong tình thương của Người" (Ga 15:10). Tình yêu là giây nối kết bền vững giữa Chúa Cha và Ðức Giêsu, giữa Ðức Giêsu và các môn đệ. Tình yêu đó không phải là một thứ lượm ngoài đường, nhưng phải là kết quả của mồ hôi nước mắt khi nỗ lực "giữ các điều răn của Thầy" (Ga 15:10). Ðiều răn của Thầy không phức tạp và khó khăn như luật lệ Do thái hay dân ngoại. Rất đơn giản. "Ðây là giới răn của Thầy : "anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15:12). Nghĩa là, thực tế "Thầy yêu thương anh em đến nỗi thí mạng vì anh em. Ðến lượt anh em cũng phải thí mạng cho nhau". Ðó là mức hi sinh lớn lao do tình yêu đòi hỏi. Không hi sinh, chắc chắn không thể có tình yêu. Ðó là mức đo tình yêu Ðức Giêsu đối với Chúa Cha, và tình yêu môn đệ đối với Ðức Giêsu.
Trong tình yêu, Thiên Chúa luôn đưa ra sáng kiến trước. Người làm tất cả để chiếm đoạt trái tim con người. Người muốn gần gũi như bạn tri âm, để nói cho biết về lòng hăng say hăm hở lùng kiếm tình yêu như thế nào. Nhưng trong rừng người trước mặt, tại sao chỉ có một số được tuyển chọn ? Lọt vào mắt xanh của Chúa, quả thực là một đại phúc. "Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em" (Ga 15:16). Họ không được tuyển chọn để sống một mình, nhưng để sống thành cộng đoàn. Ơn gọi và sứ mệnh Kitô hữu luôn đòi phải sống trong tương quan với người khác. Ðó là lý do tại sao Ðức Giêsu phải lên tiếng : "Ðiều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau" (Ga 15:17).
SỨC MẠNH TRI ÂM
Ðức Giêsu đã xác định rõ tương quan bằng hữu giữa Người và các môn đệ. Kitô hữu có nghĩa là người bạn của Chúa Kitô. Một khi đã tâm đầu ý hợp, tình tri âm này sẽ biến thành một sức mạnh vạn năng, đến nỗi "tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em" (Ga 15:16). Từ đầu, nhờ nên một với Ðức Giêsu, Giáo hội đã cầu xin Chúa Cha ban Thánh Linh mở rộng sứ mạng truyền giáo cho Dân Ngoại. Chúa Cha đã nhận lời. Thánh Linh chính là tình yêu, một "tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa" (1 Ga 4:7). Hơn nữa, "Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4:8). Do đó, tình yêu không biết đến bất cứ ranh giới nào. Tình yêu đã được thể hiện một cách vô cùng mãnh liệt khi Thiên Chúa "sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta" (1 Ga 4:10). Thiên Chúa cũng không ra khỏi định luật đòi hỏi của tình yêu : HI SINH.
Chính vì hi sinh lớn lao đó, Giáo hội mới có khả năng đến với muôn dân. Trên bước đường đến với muôn dân, Giáo hội luôn bị cám dỗ co cụm lại chính mình. Trong Giáo Hội tiên khởi, những tín hữu thuộc giới cắt bì đã trở thành kỳ đà cản mũi. Nếu Thánh Linh không can thiệp, chắc chắn không ai có thể dẹp nổi những não trạng cục bộ đó. Thực tế, "những tín hữu thuộc giới cắt bì đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa" (Cv 10:45). Giáo Hội đã có đà phóng tới. Cái nhìn Giáo Hội đã mở rộng đến nỗi thánh Phêrô có thể cả quyết : "Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì bất cứ họ thuộc dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận" (Cv 10:35). Không phải tới công đồng Vatican II, Giáo Hội mới khám phá ra các thánh ngoại giáo. Ngay từ đầu, Thánh Linh đã cho thấy những khuôn mặt hết sức dễ thương trong cộng đồng dân ngoại.
Tuy thế, tới nay cám dỗ vẫn còn đó. Giáo Hội vẫn luôn luôn phải đương đầu với những thứ kỳ đà cản mũi. Ngay trong cộng đồng dòng tu, vẫn có những cơ cấu hay con người bảo vệ một thứ quyền lợi riêng tư nào đó. Chẳng hạn, có những tỉnh dòng Ða Minh chỉ nhận những người gốc Ái Nhĩ Lan. Có những tranh chấp lớn nhỏ giữa triều và dòng khắp nơi trong Giáo Hội. Tại sao Giáo Hội lại đánh mất tính phổ quát ngay chính nơi cần phải làm chứng đặc tính Công giáo hơn bất cứ nơi nào ? Một tình yêu đánh mất chiều kích vô biên, có còn phát xuất từ Thiên Chúa không ? Nếu không phát xuất từ Thiên Chúa, tình yêu đó làm chứng cho cái gì ?
Thế nên, Giáo Hội vẫn cần đến Thánh Linh để canh tân chính mình hầu xứng đáng là bạn tri âm của Chúa. Chỉ trong tình tri âm với Chúa, Giáo Hội mới có thể nghe được tất cả mạc khải về tình yêu và nói về tình yêu cho người khác. Giáo Hội đang mất thế đứng tại nhiều nơi trên thế giới vì đã bị những quyến rũ của quyền bính kéo Giáo Hội xa lìa mối tình tri âm đó. Hơn lúc nào, cần phải cầu nguyện cho Giáo Hội, một người bạn tình của Chúa !
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP
 

PS6-B65. MỘT HỘI THÁNH SỐNG LÒNG MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI - Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Cv 10,25-26.34-35.44-48; 1Ga 4,7-10; Ga 15,9-17
 Phúc Âm: Ga 15, 9-17
"Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình".
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người. Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn. Ðây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền. Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là các con hãy yêu mến nhau".
 Suy Niệm:
 

Chúng ta có thể nghĩ những bài Kinh Thánh hôm nay không dạy chúng ta điều nào mới mẻ hơn các Chúa PS6-B65

Chúng ta có thể nghĩ những bài Kinh Thánh hôm nay không dạy chúng ta điều nào mới mẻ hơn các Chúa nhật trước. Vẫn những giáo lý phải lưu lại trong lòng mến Chúa và yêu thương anh em. Nhưng đó là những điều luôn luôn phải được đào sâu thêm. Và khi đó chúng sẽ mở ra những chân trời luôn luôn mới.
Quả vậy, Hội Thánh là đề tài suy nghĩ của Phụng vụ trong suốt mùa Phục sinh. Hôm nay các bài Kinh Thánh cũng nói về đề tài đó, nhưng dưới ánh sáng mới và theo quan điểm mới, khiến những giáo lý về lòng mến Chúa yêu người là luật sống của Hội Thánh, cũng được khai triển phong phú hơn.
Chúng ta hãy bắt đầu bằng sách Công vụ các Tông đồ để hân hoan trước một hiện tượng mới.
 1. Một Hội Thánh Ðang Phát Triển
Phêrô bước vào nhà ông Cornêliô. Ðó là một sự mới mẻ chưa bao giờ thấy xảy ra... Phêrô là một người Dothái, trước kia làm nghề chài lưới và bây giờ là thủ lãnh của một đạo mới thành hình. Mặc dù mới và bị đạo cũ đàn áp, thứ tôn giáo này vẫn giữ nề nếp của Dothái giáo. Phêrô và cấp lãnh đạo vẫn đinh ninh và hãnh diện tiếp nối sự nghiệp của Israel cũ. Tin Mừng cứu độ mà họ vừa lãnh nhận để đem đi rao giảng khắp nơi, theo họ nghĩ, đã được hứa ban cho con cái Israel mà thôi. Thế nên họ không hề có ý tưởng tiếp xúc với dân ngoại. Họ còn sợ việc đó nữa, vì nó sẽ làm họ ra ô uế theo quan niệm sạch và dơ của Dothái giáo.
Còn phía bên ông Cornêliô, thành kiến cũng nhiều và nặng lắm. Ông là quan ở "mẫu quốc" sang đây cai trị, vì khi ấy Dothái là đất bảo hộ của đế quốc Rôma. Làm sao ông có thể có ý tưởng sai người đi mời một anh ngư phủ người Dothái đến để dạy khôn cho mình?
Tuy nhiên Phêrô và Cornêliô, hai con người của hai thế giới và của hai nền văn minh rất khác nhau, và kình địch nhau nữa, lại có chung một mẫu số. Họ đều "kính giới Thiên Chúa và làm lành, nên đều được Thiên Chúa chiếu cố" (c.36). Người cho Phêrô thấy một thị kiến và bảo phải nuốt cả những vật mà Phêrô vẫn bảo là dơ. Và Người sai một thần sứ đến nói với Cornêliô phải cử người đi mời Phêrô đang ở nhà một người thợ thuộc da đến, để cả nhà được cứu độ. Cả Phêrô lẫn Cornêliô đều đã vâng lời. Và chúng ta thấy có cuộc gặp gỡ hôm nay như lời sách Công vụ kể.
Mỗi người chúng ta về nhà hãy tìm đọc lại câu chuyện từ đầu chí cuối. Nó rất dễ hiểu và hứng thú. Phụng vụ ở đây chỉ trích một vài đoạn cần thiết để làm nổi bật một hai ý tưởng.
Trước hết như chúng ta vừa xem, bài sách muốn nhấn mạnh đến tình thương của Chúa đối với mọi con người có lòng đạo đức và có thiện ý. Người không tây vị và kỳ thị ai, dù cho họ thuộc dân tộc và nền văn hoá nào. Ơn cứu độ của Người, tuy đi qua người Dothái, nhưng vẫn muốn đến với hết mọi dân tộc. Và Israel đích thực là Nước Trời mở rộng cho mọi người có niềm tin chứ không phải là quê hương của nguyên những người có dấu cắt bì trong xác thịt.
Ðiều này đối với chúng ta ngày nay là chân lý hiển nhiên. Nhưng ở thời Phêrô và Cornêliô, đó là điều không thể tưởng tượng được. Bức tường đã được dựng lên giữa Dothái và dân ngoại, dài, rộng và chắc hơn Vạn Lý Trường Thành nhiều. Hôm nay trong bài sách Công vụ này, nó đã bị chọc thủng, chứ chưa bình địa đâu. Phêrô đã đi qua để đưa ơn cứu độ từ Dothái sang dân ngoại. Nhưng phải đợi Phaolô, và nhiều tông đồ khác làm việc mạnh mẽ thì lối đi kia mới dần dần rộng ra, khiến bức tường phân rẽ giữa hai bên sẽ có ngày bình địa hoàn toàn. Sách Công vụ sau này sẽ cho thấy có nhiều lực lượng muốn bịt lại cái lối đi mà Phêrô đã mở ra hôm nay. Nhiều tín hữu gốc Dothái vẫn muốn phản đối việc thâu nhận dân ngoại vào sản nghiệp của các lời hứa, nếu không chịu Dothái hóa, tức là giữ một số tập tục của Dothái. Nhưng sức loài người nào cưỡng lại được lòng thương của Chúa?
Là vì không phải Cornêliô hay Phêrô đã có sáng kiến và can đảm chọc thủng được bức tường chia rẽ vạn niên kia. Bài sách Công vụ hôm nay thuật lại: đó là việc Thiên Chúa làm. Chính Người dùng Phêrô và Cornêliô để đưa Hội Thánh mở sang tất cả thế giới. Chính Người sáng tạo con đường Tin Mừng cứu độ đi vào lòng các dân tộc.
Thế nên, phụng vụ hôm nay chỉ trích lại câu đầu tiên trong bài giảng của Phêrô: "Thiên Chúa không hề tây vị, nhưng bất cứ nơi dân tộc nào, ai kính sợ Người và làm lành đều được Người vui lòng chiếu nhận". Ông đã nói lên lòng thương yêu rộng lớn của Thiên Chúa muốn ôm ấp hết mọi dân tộc. Thiện chí của người ta chỉ như mảnh đất sẵn sàng để hạt giống Tin Mừng gieo xuống mà thôi. Nó buộc đóng vai trò chủ động, nhưng chỉ là chuẩn bị và đón nhận. Chính Thiên Chúa chủ trì và lãnh đạo lịch sử. Chính Thiên Chúa muốn và đưa các dân tộc vào tình yêu cứu độ.
Rồi phụng vụ bỏ qua tất cả bài giảng của Phêrô, để kết thúc bằng việc mô tả ơn Thánh Thần đã xuống trên các người nghe, khiến Phêrô phải sửng sốt nói rằng: "Ai có thể ngăn cấm những người này chịu thanh tẩy, những kẻ đã chịu lấy Thánh Thần một thể như chúng ta?". Nghĩa là một lần nữa, chúng ta lại thấy ý Chúa muốn cứu độ dân ngoại, điều mà Hội Thánh cho tới lúc bấy giờ chưa nhận ra một cách cụ thể và chắc chắn.
Như vậy bài sách Công vụ hôm nay không đem đến cho dân Chúa một giáo lý mới sao? Rõ ràng Hội Thánh của Chúa từ nay phải mở rộng, mở xa; phải nhìn xem ơn Chúa đang làm việc nơi các dân tộc; phải nồng nhiệt đón nhận những người trước đây xa lạ vào gia đình của Chúa; phải hết tự tôn vì dân ngoại cũng đã chịu lấy Thánh Thần như thể chúng ta.
Một bài học như thế vô cùng phong phú và chưa mất giá trị tức thời đâu. Cho đến nay, chúng ta và giáo xứ chúng ta không có nếp sống bưng bít với lương dân và xã hội hay sao? Ý Chúa trong bài sách Công vụ hôm nay dạy bảo chúng ta không được như vậy nữa. Và thái độ mới này không phải chỉ có hệ tới tương quan của chúng ta với những con người và tập thể chưa Kitô giáo, mà còn chi phối cả nếp sống nội bộ và nội tâm của cộng đoàn dân Chúa nữa. Ðiều này chúng ta sẽ nhờ hai bài Thánh thư và Tin Mừng để tìm hiểu.
 2. Một Hội Thánh Sống Lòng Mến Chúa Yêu Người
Vì hai bài đọc này của cùng một bút pháp lấy tên là Yoan và cùng nói về một đề tài, nên chúng ta sẽ học chung, không phân biệt bài Thánh thư và bài Tin Mừng. Cả hai đều nói về lòng mến Chúa yêu người. Cả hai đều nhấn mạnh việc yêu người, nhưng dạy rằng nó phát xuất từ lòng mến Chúa.
Ðấy là luận lý của Yoan dùng miệng lưỡi Ðức Yêsu mà nói: Như Cha đã yêu mến Ta, Ta đã yêu mến các ngươi... Các ngươi là bạn hữu của Ta, nếu các ngươi làm điều Ta truyền dạy các ngươi là hãy yêu mến nhau. Nêu lên như vậy, nhưng Yoan đã không chứng minh các vế của hai câu luận lý trên một cách đồng đều. Có thể nói, người không cần làm chứng về tình yêu mà Chúa Cha đã dành cho Ðức Yêsu. Người nói nhiều hơn về tình yêu của Ðức Yêsu và của Thiên Chúa dành cho môn đệ để thúc giục họ yêu mến nhau như người đã yêu mến họ.
Ðối với chúng ta, sẽ thật là cổ điển nếu còn làm chứng lại về tình yêu của Ðức Yêsu và của Thiên Chúa dành cho loài người. Nhưng hôm nay chúng ta cũng không bỏ qua một vài tư tưởng sâu sắc của Yoan. Người nói: tình của Ðức Yêsu mến chúng ta giống như tình của Chúa Cha yêu mến Ngài. Nó là chính tình yêu mến đó. Cả hai chỉ là một. Vì Chúa Cha yêu thương Chúa Con thế nào, thì Chúa Con cũng yêu thương chúng ta như vậy. Chúng ta cứ nhìn vào tình yêu sau để hiểu tình yêu trước, vì tình yêu sau đã tỏ hiện nơi chúng ta.
Thật vậy, rõ ràng Chúa đã yêu chúng ta trước, khi chúng ta còn ở trong tội lỗi, Người đã sinh ra và hy sinh vì chúng ta. Người đã đi bước trước. Tình yêu khởi sự từ Người. Nó khác hẳn tình yêu nơi chúng ta. Nó là bác ái, vì nó yêu khi chúng ta chưa có gì đáng yêu. Vì chính nó sẽ làm ra những gì đáng yêu nơi chúng ta. Nó thật là huệ ái theo nghĩa là ân huệ nhưng không Chúa ban cho chúng ta. Ðừng bảo nó là lòng thương hại. Không, Chúa không gọi chúng ta là tôi tớ nữa, nhưng là bạn hữu của Người. Kẻ tôi tớ được thương. Nó được hưởng nhiều ơn của chủ, nhưng không được đi sâu vào tâm sự của chủ và biết việc chủ làm. Nhất là nó vẫn đứng ngoài, không hiểu hết được lòng chủ... Ðàng này, Chúa Yêsu thương chúng ta như bạn hữu đưa chúng ta vào sống sự thân mật của Người tỏ cho ta mọi điều Người nghe được nơi Chúa Cha. Chúng ta hãy cân nhắc những lời này. Việc Người tỏ cho ta mọi điều Người nghe được nơi Chúa Cha không nói lên sự tín cẩn, thắm thiết của Người dành cho chúng ta là bạn hữu của Người sao?
Cuối cùng mối tình của Người cụ thể phong phú vô lường. Người đã thí mạng mình vì bạn hữu; Người đặt bạn hữu ra để họ đi sinh trái và trái trăng của họ còn mãi. Ai có thể dùng những lời nào hơn để diễn tả sự chân thật, thắm thiết, phong phú của tình Chúa thương ta? Yoan chẳng thể kết luận thế nào khác hơn điều này: là chúng ta hãy lưu lại trong lòng mến của Chúa.
Nhưng khi viết câu này, Yoan đã ý thức sâu xa về sự khác biệt giữa tình yêu ở nơi Chúa và ở nơi chúng ta. Nơi Người, nó luôn luôn trung tín. Không những Chúa Con không bao giờ ngơi lưu lại ở trong lòng mến của Chúa Cha; mà chính lòng mếm của Thiên Chúa đối với chúng ta không bao giờ ngắt quãng. Nếu có phút nào Người không yêu chúng ta nữa, thì chúng ta chẳng còn. Kinh nghiệm lịch sử Israel cho thấy rõ. Có khi Chúa "bỏ rơi" dân này trong tay các cường quốc vì tội lỗi bất trung của nó. Người vẫn không ngớt duy trì tình yêu cứu độ để rồi vung cánh tay quyền lực cho nó thấy tình yêu của Người thật trung kiên bền vững. Khốn thay, lòng mến của chúng ta lại không như vậy. Giống như Israel, nó luôn luôn tráo trở. Vì thế trong Cựu Ước Chúa luôn kêu gọi Israel trở lại thế nào thì trước khi từ giã môn đệ, trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Yêsu cũng luôn kêu gọi chúng ta lưu lại ở trong tình yêu của Người.
Và cho được như thế hãy giữ lệnh truyền của Người, cũng như Người hằng giữ các lệnh truyền của Chúa Cha. Chúng ta có thể tự hỏi Chúa Cha đã ra những lệnh truyền nào cho Ðức Yêsu? Sách Thánh trả lời là Chúa Cha muốn Ðức Yêsu học biết được gì nơi Chúa Cha thì thông ban lại cho loài người. Nhưng hỏi có gì cần biết nơi Chúa Cha nếu không phải là chính tình yêu cứu độ của Người? Thiên Chúa là tình yêu. Hiểu biết Thiên Chúa là hiểu biết tình yêu của Người. Người không giống những quan niệm siêu hình về Thượng đế ở nơi các triết gia. Người là Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta biết về Người đều quy vào kế hoạch cứu độ tình thương mà Người đã tự ý sáng tạo khi chưa có tạo dựng. Chúa Cha muốn Chúa Con mang tình yêu lớn lao ấy xuống thế, để khi Ðức Yêsu chết trên thập giá, người ta biết Thiên Chúa yêu thương con người đến mức nào. Thế nên, Ðức Yêsu đã giữ lệnh truyền của Chúa Cha, khi làm công việc cứu thế. Và bây giờ Người bảo chúng ta cũng hãy bắt chước Người mà giữ lệnh truyền của Người.
Lệnh truyền này cũng nằm trong chiều hướng với lệnh truyền của Chúa Cha, là: như Cha đã yêu Ta và Ta đã yêu các ngươi, thì các ngươi hãy yêu mến nhau. Phàm ai yêu mến thì đã sinh bởi Thiên Chúa và biết Thiên Chúa. Còn ai không yêu mến thì đã không biết Người. Những lời này đối với chúng ta bây giờ dễ hiểu; vì chúng ta đã biết lòng yêu mến đích thực bởi Thiên Chúa mà đến vì Người là tình yêu. Chỉ ai sinh bởi Thiên Chúa mới có lòng yêu mến ấy; và khi có lòng yêu mến này, người ta biết Thiên Chúa và biết Người là đấng yêu mến và Người muốn chúng ta yêu mến. Còn ai không yêu mến sẽ không biết Người, sẽ không biết Người đã yêu thương chun�ng ta trước và thí mạng sống vì chúng ta để đến lượt chúng ta thí mạng sống mình vì anh em. Vì thế lòng yêu mến anh em sẽ trắc nghiệm lòng chúng ta mến Chúa. Lòng Hội Thánh yêu thương các linh hồn chứng tỏ lòng mến Chúa ở trong Hội Thánh, bởi vì khi nhập thể Chúa đã gọi hết mọi người là anh em của Chúa, thì khi dạy chúng ta phải yêu thương anh em, Người muốn chúng ta phải làm cho mọi tạo vật trở nên môn đệ của Người.
Bài học cuối cùng của hai đoạn Thánh thư và Tin Mừng hôm nay lại đưa chúng ta về ý nghĩa của bài sách Công vụ. Lòng mến Chúa yêu người mà Hội Thánh phải duy trì và phát triển ở trong lòng mình sẽ đẩy Hội Thánh đến với lương dân và đi vào xã hội, để tỏ hiện sức mạnh tình yêu thiên nhiên và bền vững của Thiên Chúa.
Giờ đây khi cử hành thánh lễ, chúng ta lại được dịp chứng nghiệm tình yêu thắm thiết của Thiên Chúa cứu độ. Rõ ràng Người là tình yêu. Người yêu chúng ta trước. Người yêu chúng ta đến nỗi thí mạng mình vì chúng ta để tình yêu của Người đến với chúng ta, lưu lại nơi chúng ta và thúc đẩy chúng ta yêu mến anh em và truyền giáo cho anh em, tức là làm cho mọi người biết tình yêu khôn tả của Thiên Chúa. Chúng ta hãy tham dự thánh lễ này sốt sắng. Nhưng nhất là chúng ta phải thi hành tinh thần của thánh lễ cũng như những bài học của Lời Chúa hôm nay trong đời sống hàng ngày.
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
 

PS6-B66.  Giới răn tình yêu

Con người ai cũng có nhu cầu của trái tim khao khát hướng về tình yêu, về bình an và về hài hòa: PS6-B66

Con người ai cũng có nhu cầu của trái tim khao khát hướng về tình yêu, về bình an và về hài hòa. Nhưng tại sao con đường đi đến đó lại luôn có nhiều vướng trở khó khăn, có nhiều trường hợp lại không sao đạt được? Tình yêu là gì?

Nếu cho rằng đó là một sức mạnh huyền nhiệm ẩn dấu nơi mỗi người, hay là những cảm gíac của trái tim của tầng thần kinh con người, thì đó cũng chỉ là những phần mảnh quan sát suy luận về tình yêu thôi, cho dù những điểm đó là phần căn bản nói về tình yêu.

Xưa nay trong nghệ thuật hội họa hay âm nhạc, trong văn chương thơ văn, người ta đã có rất nhiều sáng tác diễn tả nói về tình yêu. Nhưng dẫu vậy, cũng không sao nói lên hết ý nghĩa cùng định nghĩa tình yêu như thế nào.

Có bài thơ với âm điệu phổ nhạc nói về tình yêu như „trò chơi linh hoạt cùng rất họa hiếm!“

Có thể hiểu cùng diễn tả tình yêu như một trò chơi được không?

Tình yêu là nhu cầu cuộc sống con người, cùng thi vị. Nó linh hoạt, nhưng bảo là trò chơi thì e rằng không xứng hợp, cùng không kính trọng nhìn nhận đúng gía trị và vị trí của tình yêu.

Từ khi còn thơ bé đến khi thành người trưởng thành, ai cũng có kinh nghiệm về tình yêu. Nhưng hầu như không ai có thể nói vẽ diễn tả tình yêu như thế nào. Nếu có nói về tình yêu, chỉ nhiều khi vắn tắt: tình yêu êm đẹp trong sáng cùng sôi nổi, và cũng gần như mù lòa!

Vì tình yêu là tiếng nói của trái tim, cùng làm gì có hình hài mầu sắc, cho dù người ta thường lấy bông hoa hồng mầu đỏ thẫm làm biểu tượng diễn tả về tình yêu. Nhưng tình yêu có thể quan sát ngắm nhìn được bằng con mắt thường được.

Không nhìn thấy tình yêu. Nhưng em bé nhận ra tình yêu qua cử chỉ âu yếm, săn sóc của cha mẹ trao tặng cho em.

Đôi bạn nam nữ, vợ chồng cũng không nhìn thấy tình yêu của nhau. Nhưng qua nụ cười, ánh mắt lời nói cùng sự quan tâm cho nhau là tín hiệu hình ảnh tình yêu họ gửi cho nhau.

Sự liên đới trong nếp sống bác ái tình người với nhau là nhịp cầu diễn tả nói về tình yêu giữa con người, cho dù họ không nhìn thấy tình yêu.

Tình yêu được diễn tả cùng nhận ra qua việc làm đời sống cụ thể.

Chúa Giêsu trong ba năm rao giảng về tình yêu nước Thiên Chúa cho con người, Ngài cũng đã dùng việc bác ái tình người để nói về tình yêu. Ngài quan tâm đến lớp người bị bỏ rơi, bị khinh miệt, những người bị bệnh tật sống trong nghèo đói thất vọng. Những lớp người đó là phụ nữ, trẻ con, người bị phong cùi, người bị bại liệt, người mù lòa, người bị coi là tội lỗi thuộc hàng thu thuế, bị xã hội thời đó khinh miệt coi thường bỏ rơi.

Sự quan tâm của Ngài là sống sát gần gũi con người, giúp họ thoát ra mặc cảm yếu kém bị chê bỏ, giúp phục hồi nhân phẩm danh dự làm người cho họ.

Sự quan tâm của Ngài là mang đến cho họ niềm vui mừng hy vọng, vì được sống trở lại trong cộng đồng xã hội con người.

Và sau cùng, chính Chính Chúa Giêsu đã hy sinh đời mình chịu khổ nhục hình chết trên cây thánh gía để cho linh hồn con người được cứu rỗi khỏi hình phạt tội lỗi.

Trước khi trở về trời, Chúa Giêsu đã trối lại cho các Tông đồ, cho Giáo Hội, cho mọi người tin theo Ngài:“ Anh em hãy yêu thương nhau“ ( Ga 15,12)

Giới răn tình yêu thương, mà Chúa Giêsu nhắn nhủ con người luôn cần phải duy trì phát triển, không nằm trong vòng giới hạn luật lệ nào. Nó ở ngay trong cuộc sống hằng ngày, như lời nói đầy thân thiện, tha thứ xây dựng hòa bình, như sự để ý quan tâm đến nhu cầu tinh thần của người khác…Tình yêu thể hiện trong mối tương quan đời sống xã hội con người giữa nhau.

Chính sức mạnh này là nền tảng của nước Thiên Chúa, nước tình yêu thương.

„ Chúng ta chưa nhìn thấy Thiên Chúa. Nhưng nếu Ngài ban cho Bạn, cho vạn vật nét đẹp mỹ miều, thì chính Ngài phải đẹp đến nỗi ta không thể tưởng tượng ra được.

Chúng ta chưa nghe thấy tiếng Thiên Chúa nói. Nhưng nếu Ngài ban cho Bạn, cho vạn vật âm thanh tiếng nói thanh thoát, thì tiếng nói Ngài phải phát tỏa đi âm thanh tốt dễ chịu lắm.

Chúng ta chưa khám phá ra Thiên Chúa. Nhưng nếu Ngài đã tạo dựng ra Bạn, nên vạn vật, thì Ngài phải là là Đấng nhân lành không sao thấu hiểu nổi.

Chúng ta chưa tìm ra chứng minh về Thiên Chúa. Nhưng nếu Ngài ban cho Bạn, cho vạn vật khả năng sức lực tình yêu, thì Ngài là Đấng tràn đầy yêu mến mà không gì có thể so sánh với.

Chúng ta chưa đụng chạm sờ vào Thiên Chúa. Nhưng nếu Ngài che chở gìn giữ Bạn và vạn vật trong vòng tay Ngài, thì Ngài luôn luôn phải là người cùng đồng hành với trong đời sống.“ ( Vô danh).

LM. Đaminh Nguyễn Ngọc Long
 

PS6-B67. Tình đáp tình

VietCatholic News (16 May 2009 04:26)
CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH B (Cv 10, 25-26.34-35; 1 Ga 4,7-10; Ga 15, 9-170
 

Tình yêu ! Có quá đáng chăng khi gọi Tình yêu là mầu nhiệm. Được lắm chứ vì lẽ chẳng ai có thể định: PS6-B67

Tình yêu ! Có quá đáng chăng khi gọi Tình yêu là mầu nhiệm. Được lắm chứ vì lẽ chẳng ai có thể định nghĩa được tình yêu. Chỉ có ai đang yêu mới hiểu tình yêu là gì. Tình yêu thật chỉ đáp trả lại bằng tình yêu thật chứ không phải là dục vọng, danh vọng và vật chất. Thậm chí tình yêu ấy có thể trả bằng một giá rất đắt đó chính là trả giá bằng mạng sống mình vì người mình yêu.

Nếu tình yêu chỉ dựa vào vật chất, danh vọng và dục tình thì đó không phải là tình yêu thật mà là một tình yêu giả tạo.

Định nghĩa của thánh Gioan Tông đồ thật đơn giản: Thiên Chúa là tình yêu ! Định nghĩa thế thôi chứ nào Gioan giải thích được vì lẽ tất cả những ngôn từ của con người dành cho tình yêu của Thiên Chúa chẳng bao giờ đủ cả vì lẽ tình yêu của Thiên Chúa quá lớn, vượt quá trí hiểu của con người.

Thánh Gioan vừa mới khẳng định cho chúng ta qua thư của Ngài về tình yêu Thiên Chúa:

Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau,
vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra,
và người ấy biết Thiên Chúa.
Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa,
vì Thiên Chúa là tình yêu.
Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta
được biểu lộ như thế này:
Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian
để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống.
Tình yêu cốt ở điều này:
không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa,
nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta,
và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta
”. (1 Ga 4, 7-10)

Ta hãy gẫm suy tình yêu của Chúa
Tình Chúa ôi quá bao la
Ngay khi lúc ta còn là tội nhân
Thì Chúa, Chúa đã chết Ngài chết cho ta
Nay khi chúng ta được ơn giải oán
Nhờ máu nước của Ngài
…”

Thế đấy ! Tình yêu ấy nhiệm mầu, bao la đến độ linh mục nhạc sĩ Thành Tâm đã diễn ý của Thánh Phaolô tông đồ thành dòng nhạc đi vào lòng người.

Có gẫm, có suy cho đến ngất trí đi chăng nữa nhưng làm sao hiểu được tình yêu của Thiên Chúa dành cho những con người có tội và nhất là chính tôi đây là kẻ tội lỗi. Dẫu tôi đây yếu đuối, tội lỗi nhưng chẳng hiểu sao Thiên Chúa lại yêu tôi đến như vậy.

Tình yêu Thiên Chúa thật bao la, thật nhiệm mầu đối với cuộc đời Gioan để rồi trong toàn bộ tác phẩm Tin mừng thứ tư của mình, Thánh Gioan cứ xoáy đi xoáy lại về cái tình yêu nhiệm mầu mà Thiên Chúa dành cho Gioan, dành cho mọi người và dành cho chính bản thân tôi.

Mở đầu trang Tin mừng theo Thánh Gioan mà chúng ta vừa nghe đấy chúng ta thấy mối tương quan giữa Chúa Cha với Đức Giê-su và, bên kia, mối tương quan giữa Đức Giê-su với các môn đệ được đối chiếu với nhau. Một bên, Chúa Cha yêu mến Đức Giê-su và Đức Giê-su yêu mến các môn đệ.

Đằng khác, các môn đệ hãy ở trong tình thương của Đức Giê-su, cũng như Đức Giê-su ở trong tình thương của Chúa Cha.

Như vậy, tình thương bắt nguồn từ Chúa Cha (1 Ga 4,8.16), từ Chúa Cha bước sang Đức Giê-su, để rồi từ Đức Giê-su bước sang các môn đệ. Và, ngược lại, tình thương ấy phải từ các môn đệ sang Đức Giê-su, để rồi từ Đức Giê-su trở về cùng Chúa Cha.

Điều kiện phải có để ở trong tình thương, là tuân giữ các điều răn: các môn đệ phải tuân giữ các điều Đức Giê-su dạy, cũng như Đức Giê-su đã tuân giữ các điều Chúa Cha dạy.

Điều răn của Thầy là gì ? Ga 15,12-14.15b cắt nghĩa Ga 15,9-10. Muốn ở trong tình thương, thì phải tuân giữ các điều răn Người dạy (15,10). Điều răn nào ? Thưa là tất cả (êntôlas), mà trước hết là điều răn “thương yêu nhau” (15,12). Hơn nữa, phải thương yêu nhau như Đức Giê-su đã yêu thương các môn đệ, nghĩa là yêu thương đến nỗi hy sinh mạng sống. Lắm khi, giá trị món quà nói lên kích thước của tình yêu: yêu nhiều, tặng nhiều, yêu ít, tặng ít. Mà, đối với con người, không gì quí hơn mạng sống. Nên hy sinh mạng sống là thương yêu vô cùng. Đúng là tình yêu mạnh hơn tử thần.

Cái chết của Đức Giê-su trên thập giá bắc hai nhịp cầu. Chết như vậy, Đức Giê-su nói lên một cách tuyệt đối rằng Người thương yêu Chúa Cha đến nỗi vâng lời Người mà tự nguyện chịu chết (4,34; 5,30; 6,38; 14,30). Đằng khác, chết như vậy, Đức Giê-su đồng thời cũng nói lên rằng Người thương yêu vô cùng những kẻ Người đã chọn làm bạn hữu (13,1.34). Tình yêu của Đức Giê-su là nền tảng và là tiêu chuẩn của điều luật yêu thương anh em (15,12).

Chính cái chết của Chúa Giêsu là đỉnh điểm của tình yêu tự hiến mà Ngài đã ban tặng cho con người. Thử hỏi trong cuộc đời, mấy ai dám chết như Thầy Chí Thánh Giêsu ? Chỉ những ai dám hy sinh ngay cả mạng sống của mình mới minh chứng tình yêu thật của mình.

Có đôi vợ chồng trẻ nọ, chồng là giảng viên Đại học, vợ là diễn viên và là người dạy thú của đoàn xiếc. Hai con người, hai nghề nghiệp và hai tính khí hoàn toàn khác nhau. Trước khi lấy nhau, hai người đã nghe không biết bao nhiêu người khuyên rằng:

- “Họ sẽ không bao giờ hạnh phúc bên nhau”.

Chồng thì ngồi nghế giảng viên Đại học, vợ suốt ngày cầm roi dạy cọp trong chuồng thú của đoàn xiếc, nhưng tình yêu đưa họ bay lên với những giấc mơ tuyệt đẹp. Người chồng giảng viên Đại học mặc dù thấy nghề dạy thú của vợ mình có một cái gì đó không xứng đáng lắm, nhất là mùi cọp lúc nào cũng hăng hắc toả ra từ thân thể của vợ, nhưng anh vẫn yêu vợ tha thiết. Cái mùi cọp thật khó chịu nhưng người diễn viên dạy thú thì không thể không cần đến cái mùi ấy. Chính cái mùi ấy mà bầy cọp dữ mới nhận ra cô và vâng lời ngoan ngoãn.

Cho đến một hôm, hai người giận nhau, tình trạng ấy kéo dài nhiều ngày. Cuối cùng, người vợ chủ động làm lành. Cô chọn một giải pháp rất bất ngờ đối với người chồng và cũng rất xa lạ đối với cô. Đó là tẩy sạch mùi cọp và thay vào đó mùi nước hoa thơm phức. Thế là họ đã làm hòa với nhau. Thế nhưng, một hậu quả thật bi đát đến với cô: Đêm hôm sau người vợ ấy chết!

Người nữ diễn viên dạy thú ấy đã chết dưới nanh vuốt của con cọp dữ mà chính cô đã thuần hoá. Nó không nhận ra cô nữa vì mùi cọp quen thuộc không còn mà chỉ có mùi nước hoa hồng xa lạ. Con cọp hốt hoảng trước mùi lạ lẫm đó và đã tự vệ bằng cách tấn công. Chỉ trong khoảnh khắc người nữ diễn viên dạy thú đã tan xác vì những móng vuốt sắc nhọn của con cọp mà cô đã hết lòng thương yêu.

Câu chuyện “Mùi cọp” trên đây như một ngụ ngôn về sự hy sinh chính mình cho tình yêu. Người vợ vì yêu thương chồng đã chấp nhận gột rửa chính mình và cuối cùng đành phải hy sinh mạng sống mình. Một tình yêu đích thực là dám quảng đại quên mình đi, dù phải hy sinh, để bảo vệ hạnh phúc cho người mình yêu.

Thật sự ra mà nói, không phải thử thách tình yêu một cách nghiệt ngã như hai vợ chồng trên đây là phải làm như vậy nhưng ngay trong đời sống thường ngày, chúng ta có thể diễn tả tình yêu thương ấy một cách hết sức dễ dàng. Chúng ta có thể thực thi giới luật yêu thương của Chúa mọi lúc và mọi nơi.

Bất cứ nơi đâu và lúc nào, chúng ta đều có thể sống cái tình yêu hay nói đúng hơn và đáp trả tình yêu được. Có khi chỉ là bớt một lời nói chanh chua, bớt đi một chút của ánh mắt tị hiềm, bớt đi cái thái độ hung hăng của ta đó chính là cử chỉ, thái độ của những người biết sống cách đáp tình.

Cái khó của cái có thể ở đây là liệu rằng chúng ta có cảm nhận được chúng ta yêu hay không mà thôi ? Chúa lúc nào cũng yêu ta còn ta lúc nào cũng quay lưng lại với Chúa. Anh chị em đồng loại yêu ta lắm đấy chứ nhưng với cái bản chất ích kỷ và con người nhỏ nhen đã làm cho chúng ta không nhận ra tình yêu. Không nhận ra thì làm sao chúng ta có thể đáp lại mối tình mà Thiên Chúa cũng như anh chị em đồng loại dành cho ta.

Xin Chúa Giêsu là vua của Tình yêu đến và ở lại với chúng ta, soi sáng cho chúng ta để chúng ta nhận ra rằng Chúa yêu chúng ta hơn chúng ta tưởng, anh chị em đồng loại yêu chúng ta hơn chúng ta biết để rồi khi ấy chúng ta cũng thay đổi lối sống, thay đổi cuộc đời là đáp trả tình yêu mà chúng ta đã nhận được từ Thiên Chúa, từ anh chị em đồng loại.

Anmai, CSsR
 

PS6-B68. Phúc nào hơn được làm Bạn với Chúa

VietCatholic News (16 May 2009 03:55)
Chúa Nhật VI Phục Sinh
 

Có người nói vui rằng Chúa Giêsu ở trên trời không có mẹ, không có anh em, không có bạn hữu. “Buồn: PS6-B68

Có người nói vui rằng Chúa Giêsu ở trên trời không có mẹ, không có anh em, không có bạn hữu. “Buồn quá”, nên Ngài đã tự nguyện nhập thể làm người để được làm con một người mẹ (Đức Maria), được làm anh em và đặc biệt là được làm bạn hữu với loài người. Nói thế cũng đúng phần nào nếu đặt trong bối cảnh của bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay: “Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.

Quả vậy, Chúa Giêsu khi đến trần gian, Ngài không viết một tác phẩm nào, cũng không xây một ngôi nhà thờ nào. Nhưng Ngài đến để thiết lập một tương quan mới với con người, tương quan bằng hữu.

Dĩ nhiên tình bằng hữu của Chúa Giêsu đối với chúng ta vượt lên trên tất cả tình bạn tự nhiên của con người. Bởi vì tình bạn ấy được mặc cho một giá trị vô cùng cao quý nhờ cái chết hy hiến của Ngài trên thập giá: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống vì bạn hữu mình”.

Nhưng tại sao Chúa Giêsu lại đưa con người vào trong tương quan tình bạn, chứ không phải là một tương quan nào khác ?

Người ta nói rằng mọi thứ tình, kể cả tình yêu đôi lứa, khi phát triển đến mức hoàn hảo đều qui về tình bạn. Nếu đúng như vậy thì rõ ràng đây quả là một quà tặng, một diễm phúc lớn lao mà Thiên Chúa ân ban cho con người chúng ta. Không lớn lao sao được khi con người thân hèn phận mọn được cất nhắc lên địa vị ngang hàng với con Thiên Chúa. Không cao cả sao được khi kẻ thụ tạo yếu đuối tội lỗi được biết tất cả, tất cả chứ không phải chỉ 1/4 hay 1/2 những gì thâm sâu bí nhiệm của cõi thiên giới, như lời Chúa Giêsu quả quyết: “Tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho anh em biết”.

Từ đây, con người được được sống trong mối thân tình với Đấng hoá công, được trở nên đồng vai đồng vế với Con Thiên Chúa. Vì là bạn hữu mà ! Được gọi danh Giêsu một cách thân thiết, danh mà cả triều thần thiên quốc phải kính tôn; được tâm sự với Ngài một cách thân thương và cởi mở đến độ không còn khoảng cách nữa.

Trước hồng ân cao vời đó, chúng ta được mời gọi sống thế nào, nếu không phải là luôn mặc lấy tâm tình cảm tạ tri ân. Cảm tạ Chúa Cha vì Ngài đã đưa ta vào trong tương quan tình bạn với Ngài. Tri ân Chúa Con vì Ngài đã để lại cho ta một kiểu mẫu tình bạn tuyệt vời, tình của người “hiến mạng sống vì bạn hữu mình”.

Chuyện kể rằng: Nạn đói xảy ra trong vùng. Một người ăn xin bên góc đường bước đến bên đại văn hào Nga, Tolstoi, đang đi ngang qua đó. Tolstoi dừng lại, lấy tiền cho người ăn xin, nhưng không còn đồng nào. Ông nói với sự nuối tiếc: “Này người anh em, đừng giận tôi. Tôi chẳng mang theo gì”.

Mặt người ăn xin sáng lên và nói: “Ông gọi tôi là anh em, đó đã là món quà lớn nhất rồi”.

Chúa Giêsu không những gọi chúng ta là anh em, Ngài còn gọi chúng ta là bạn hữu, nghĩa là cho ta được trở nên ngang hàng với Ngài. Lẽ nào ta lại không có được tâm tình như người ăn xin trong câu chuyện trên ?

Chúng ta còn được gọi mời sống thế nào nữa, nếu không phải là sống tốt tương quan tình bạn với Chúa Giêsu và với anh em mình. Sống tốt tình bạn với Chúa Giêsu, qua việc ở lại trong tình yêu của Ngài, tức là giữ các giới răn. Đồng thời để cho Lời của Ngài ở lại trong ta, cụ thể là năng tâm sự với Ngài và lắng nghe Lời Ngài. Sống tốt tình bạn với anh em, qua việc nổ lực yêu thương anh em bằng chính tình yêu mà Chúa Giêsu đã dành cho ta. Được như vậy, chúng ta mới xứng đáng là bạn hữu đúng nghĩa của Chúa.

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long
 

PS6-B69. CHỦ NHẬT 6 PHỤC SINH

Tin Mừng: Ga 15, 9-17.

“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu.”

Bạn thân mến,

 

Bạn đã yêu và đã cảm nghiệm được tình yêu đẹp như thế nào rồi, tình yêu có thể làm cho bạn yêu đời: PS6-B69

Bạn đã yêu và đã cảm nghiệm được tình yêu đẹp như thế nào rồi, tình yêu có thể làm cho bạn yêu đời và cũng có thể làm cho bạn chán đời. Nhưng tình yêu cao quý và đẹp nhất vẫn cứ là tình yêu hy sinh mạng sống cho người mình yêu.

Con người thời nay thường đòi hỏi tình yêu của người khác, đòi hỏi người khác phải vì mình mà cống hiến mọi sự, chứ không dám thực sự hy sinh cho tình yêu ấy, bởi vì tình yêu ấy không dựa trên nền tảng tình yêu của Thiên Chúa, mà chỉ đặt trên nền tảng xác thịt, vật chất và hưởng thụ mà thôi. Do đó mà thế gian vẫn mãi mãi không tìm thấy được hòa bình, không tìm thấy được sự cảm thông của nhau trong cuộc sống hằng ngày.

Chúa Giê-su đã chết trên thập giá, không phải chỉ yêu một người, nhưng là yêu cả nhân loại tội lỗi, Ngài hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu, và để các bạn hữu của Ngài được sự sống đời đời.

Mỗi ngày đọc báo hoặc coi tin tức trên đài truyền hình, bạn thấy rất nhiều tin tức “giật gân”, nào là giết chết người yêu của mình vì nàng muốn chia tay, nào là tạt a- xít vào vợ mình vì ghen tuông, nào là tự tử vì thất tình.v.v...Bạn và tôi cảm thấy đời thật chán ngán khi đọc những tin tức ấy, nhưng là người có đức tin, là môn đệ của Chúa Giê-su, chúng ta biết rằng tình yêu chân thật không bi quan yếm thế, cũng không phải là chiếm đoạt, nhưng là thông cảm, hy sinh và chân thành, bởi vì đó chính là tình yêu được thánh hóa bởi tình yêu hiến mạng sống của Chúa Giê-su.

Bạn thân mến,

Bạn và tôi mỗi người đều đã trãi nghiệm được tình yêu trong cuộc sống của mình, và nhận ra tình yêu của Thiên Chúa dành cho mình rất cao quý, và do đó chúng ta đều cố gắng yêu mến Thiên Chúa qua cuộc sống của mình. Nhưng có lúc nào bạn càm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa qua tình yêu của cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu và tha nhân chưa ? Bạn có lúc nào nghĩ rằng:

- Bạn yêu mến và chăm sóc quan tâm đến cha mẹ của mình là yêu mến Thiên Chúa không ?

- Bạn yêu mến và giúp đỡ anh chị em mình là yêu mến và giúp đỡ Thiên Chúa không ?

- Bạn yêu thương bà con và bạn hữu mình, và hy sinh cho họ là yêu thương và hy sinh cho Thiên Chúa không ?

Hy sinh mạng sống cho bạn hữu mình là điều khó khăn và ít xảy ra trong cuộc sống hôm nay, nhưng bạn và tôi có thể hy sinh danh dự, hy sinh vật chất, hy sinh thời giờ quý báu, hy sinh chịu đựng nhẫn nhục vì bạn hữu, thì chắc chắn –nhờ ơn Chúa- và tình yêu chân thành của mình đối với bạn hữu, mà chúng ta có thể làm được như lời dạy của Chúa Giê-su: không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu hiến mạng sống cho bạn hữu mình...

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
---------------------------
http://www.vietcatholic.net/nhantai
http://360.yahoo.com/jmtaiby
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
 

PS6-B70.  HÃY Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU CỦA THẦY

Chúa Nhật 6 Phục Sinh, Năm B
Cv 10:25-26, 31-35, 44-48; 1Ga 4:7-10; Ga 15:9-17

 

Ðọc Thánh kinh Tân ước, người ta thấy Phúc âm theo thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu: PS6-B70

Ðọc Thánh kinh Tân ước, người ta thấy Phúc âm theo thánh Gioan, người môn đệ được Chúa yêu, chứa đựng đầy dẫy từ ngữ yêu mến. Ðó là lý do tại sao, Phúc âm thánh Gioan được mệnh danh là Tin mừng yêu mến. Theo truyền thuyết kể lại thì khi về già, thánh Gioan chỉ giảng một câu vắn tắt: Hỡi đoàn con nhỏ, hãy thương yêu nhau. Lời giảng dạy đó được lặp đi lặp lại nhiều lần trong vòng một thời gian khá lâu. Ðiều đó làm giáo dân chán ngấy, tưởng rằng thánh nhân đã bị mất trí, nên xin ngài nói điều gì mới lạ hơn cho họ khỏi nhàm. Ðể trả lời, thánh Gioan nói là cứ tiếp tục giảng vể tình yêu mến bao lâu họ chưa biết thương yêu nhau. Thư thứ nhất của thánh Gioan có ghi: Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4:8). Và tình yêu của Thánh Thần Thiên Chúa xuống cả trên các dân ngoại nữa (Cv 10:45), chứ không phải chỉ hạn chế vào một dân tộc nào thôi.

Trong Phúc âm hôm nay, thánh Gioan ghi lại lời Ðức Giêsu bày tỏ lòng Người thương yêu nhân loại: Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy (Ga 15:9). Vậy ta thử xét coi Ðức Giêsu yêu mến loài người như thế nào. Và ta cũng chỉ bàn về lòng Ðức Giêsu yêu mến loài người theo như Phúc âm hôm nay ghi lại mà thôi. Nếu xét tất cả những việc Ðức Giêsu làm vì yêu mến loài người trong toàn bộ Phúc âm, thì không biết bao giờ ta mới nói hết. Chúa Giêsu đã yêu mến loài người bằng cách chấp nhận cuộc tử hình thập giá để chuộc tội loài người. Ðó là lời Chúa phán trong Phúc âm hôm nay: Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15:13). Thổ lộ cho ai về cảnh ngộ cá nhân hay gia đình, ngay cả những tâm tư và bí mật của đời mình là dấu chỉ mình tín nhiệm tính kín đáo của người đó, muốn gần gũi với người đó và muốn mở lòng để người đó đi vào đời mình. Ðó là cách thế Ðức Giêsu đã làm để trở nên bạn hữu với các tông đồ: Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thẩy đã cho anh em biết (Ga 15:15).

Bạn hữu nhất là bạn cùng ăn một mâm, cùng nằm một chiếu là người quan tâm đến ta, và ta quan tâm đến bạn. Bạn bè là người gắn bó với ta khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi yếu đau cũng như lúc mạnh khoẻ. Bạn bè là người ta có thể tin cậy. Bạn bè thường trung thành với nhau, giúp đỡ nhau, sống chết có nhau. Trong một xã hội phong kiến hay dưới một thể chế quân chủ, khi một người nhỏ tuổi hoặc cùng đinh mà gọi người lớn tuổi hay phú quí là bạn, có thể bị coi là chơi trèo, hỗn xược, vì cha ông ta dạy kính lão đắc thọ. Chúa Giêsu còn cao trọng hơn ta gấp bội phần, nhưng Người đã tự hạ mình xuống làm bạn với ta. Chúa bảo các tông đồ và qua các tông đồ, Chúa cũng bảo ta: Anh em là bạn hữu của Thầy (Ga 15:14). Vậy được gọi là bạn hữu với Chúa, là một ân huệ lớn lao dường bao! Ðiều thắc mắc ở đây là ta có thực sự tin rằng Ðức Giêsu là bạn với ta không? Ta có thể tin, vì Chúa nói như vậy. Tuy nhiên ta có cảm nghiệm được tình yêu và tình bạn với Chúa hay không lại là chuyện khác.

Có linh mục kia khi về Việt nam vào tiệm sách đạo thấy bầy bán vật kỉ niệm có lời Phúc âm hôm nay: Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy (Ga 15:9) được ghi trên tám mảnh trúc xinh xắn, nối vào nhau bằng mười bốn khúc trúc nhỏ xíu như tám nấc thang, trông khá mĩ thuật. Thấy đó chính là khẩu hiệu sống của đời mình, linh mục đương sự mua liền tại chỗ, đem về treo ở văn phòng để nhắc nhở mình. Vậy ở lại trong tình yêu của Chúa nghĩa là gì? Khi người ta nói đứa con đã mất nghĩa với cha mẹ, ta hiểu rằng đứa con đã xúc phạm đến cha mẹ và làm khổ tâm cha mẹ. Cũng vậy khi phạm tội, ta làm tổn thương đến tình yêu với Chúa. Ở lại trong tình yêu của Chúa là còn ơn nghĩa với Chúa. Ở lại trong tình yêu của Chúa là có được sự bình an trong tâm hồn. Trong một buổi nói chuyện với giới trẻ tại một giáo xứ kia, một linh mục hướng dẫn có cho giới trẻ thảo luận câu hỏi: Thế nào là hạnh phúc. Có một nhóm trả lời: Hạnh phúc là khi cảm thấy tâm hồn bình an. Ta thấy câu trả lời đó bao hàm tất cả ý nghĩa của hạnh phúc vì nếu không có bình an trong tâm hồn, thì dù có mọi sự khác cũng không có hạnh phúc.

Ở lại trong tình yêu của Chúa là giữ vững tình bằng hữu với Chúa. Cảm nghiệm ta có về tình bạn với Chúa giống như cảm nghiệm của hai người yêu đối với nhau. Hai người yêu luôn cảm thấy gần gũi nhau. Khi xa nhau, họ vẫn tưởng nhớ đến nhau, nhớ bóng dáng người yêu, ánh mắt của người yêu và cả tiếng thì thầm của người yêu. Nói cách khác, họ cách mặt mà không xa lòng. Cảm nghiệm của ta về tình yêu và tình bạn với Chúa cũng tương tự như vậy. Có được cảm nghiệm về tình yêu/ tình bạn với Chúa, ta sẽ cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong ta, bên ta và xung quanh ta. Khi ăn uống, làm việc, giải trí và cả khi ngủ nghỉ, ta cũng cảm nghiệm sự diện diện của Chúa. Có được cảm nghiệm như vậy, ta không còn cảm thấy thiếu thốn chi trong lòng, không còn muốn đổi chác lấy gì khác, mà bị mất cảm nghiệm thần linh này. Ở lại trong tình yêu của Chúa là muốn được gần gũi với Chúa, muốn đặt niềm tin cậy phó thác vào Chúa, muốn Chúa làm chủ đời sống và làm lẽ sống cho cuộc đời.

Vậy làm thế nào để được ở lại trong tình yêu của Chúa? Trong Phúc âm hôm nay chính Chúa Giêsu dạy ta làm sao để được ở lại trong tình yêu Chúa: Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở trong tình yêu của Thầy (Ga 15:10). Tuân giữ các điều răn của Chúa là loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn là tội lỗi và các thứ tính mê nết xấu. Tuân giữ các điều răn của Chúa là tuân theo thánh ý Chúa, sống theo đường lối Phúc âm. Ðó là khởi điểm của mối liên hệ mật thiết với Chúa. Cảm nghiệm được thế nào là ở lại trong tình yêu và tình bạn với Chúa, ta sẽ cảm thấy vui sống đức tin. Nếu lỡ phạm tội làm mất sự bình an, ta lại ao ước muốn trở về sống trong tình yêu và tình bạn với Chúa.

Lời cầu nguyện: xin cho được ơn ở lại trong tình yêu Chúa:

Lậy Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể!
Con xin tạ ơn Chúa,
đã mời gọi con ở lại trong tình yêu Chúa
và cho con được làm bạn với Chúa.
Xin cho con cảm nghiệm được rằng,
thế nào là được sống trong tình yêu của Chúa
và tình bạn nghĩa thiết với Chúa. Amen.

LM. Trần Bình Trọng
 

PS6-B71. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Ga 15, 9-17
TÌNH YÊU CŨNG CÓ CỘI NGUỒN
 

Trên mặt đất chỗ nào cũng đầy rắc rối, phức tạp. Khía cạnh nào cũng đầy rắc rối, từ kinh tế, đến chính: PS6-B71

Trên mặt đất chỗ nào cũng đầy rắc rối, phức tạp. Khía cạnh nào cũng đầy rắc rối, từ kinh tế, đến chính trị; từ miếng ăn đến cái mặc. Nhưng rắc rối nhất vẫn là trong lĩnh vực tình yêu. Tình yêu rắc rối vì nó hiện hữu khắp nơi, nhưng lại vô hình, nhưng lại có thể làm cho người ta cười, người ta khóc. Nó ẩn hiện man mác, tàng hình. Có khi, có được nó rồi mà cứ tưởng chưa có. Chưa có được nó mà cứ an tâm nắm chặt nó rồi. Nhưng có một sự thật lạ lùng cần phải nói đến: Là ai đó, nếu chưa được ai yêu bao giờ sẽ chẳng bao giờ biết yêu. Chữ “biết” ở đây phải hiểu cho tròn nghĩa. Bài học hôm nay của Chúa Nhật VI phục sinh này, là bài học cốt lõi về tình yêu. “Điều Thầy truyền dạy anh em, là hãy yêu thương nhau”. Nhưng thưa Thầy, cho con được hỏi : Yêu là thế nào? NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG CÁC CON. Nhưng Thầy đã yêu con làm sao?
          1- Thầy sẽ không gọi các con là tôi tớ, mà là bạn hữu. Nghĩa là phải có một mặt bằng bình đẳng, phải coi nhau cùng chung mẫu số là người. Không còn địa vị cao thấp, giàu, nghèo, giỏi dốt. Cái cung cách cha chú, gia trưởng, phong kiến, cúi xuống ban ơn; sẽ là tên đao phủ chém chết tình yêu. Vì là bạn, cho nên phải tôn trọng nhau, không được coi nhau bằng nửa con mắt.
          2- Là phải biết tha thứ cho nhau. Thông cảm mới chỉ là bước đầu. Tha thứ mới là bước cần thiết phải làm. Phải tha thứ 77 lần 7 như Thầy đã quỳ xuống trước mặt mà rửa chân; rửa hết những bụi đời, rửa hết những bước chân sai lầm lỡ. Rửa hết cả sự dại khờ phản bội kiểu Phêrô, cách Giuđa.
          3- Phải biết hy sinh đến quên mình. Chẳng cần kể dài dòng, con hãy đọc kỹ lại những đau thương Ta đã chịu từ lúc ở vườn cây dầu, đến đỉnh đồi núi sọ, thì con hiểu được cái nghĩa cốt lõi của tình yêu là gì? Ta tan biến đời Ta, trong bão giông đau khổ, để đời nhân loại chúng con được hạnh phúc. Giản đơn thế thôi: Con hiểu chiều sâu của tình yêu là gì rồi.
          Nhưng sao Chúa lại trải nghiệm tình yêu đời mình cách lạ lùng làm vậy? Con không hiểu sao, Ta yêu các con lạ lùng như thế, bởi Ta đã nhận được tình yêu diệu kỳ từ nơi Chúa Cha. Chúa Cha với Ta là một, Ngài yêu Ta vô cùng. “Này là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng”. Thế nhưng Ngài cứ muốn Ta đi vào đau khổ. Dù không thích nhưng Ta vẫn xin vâng, cam đảm bước vào những đau khổ của tột cùng, Ta mới gặp được khuôn mặt đích thực của tình yêu. Và Ta hiểu rằng: Sự đau khổ là điều cần thiết trong tình yêu. Và sự nghịch lý trong tình yêu là một điều diệu kỳ, để khuôn mặt tình yêu hiện hữu. Càng hy sinh thân mình, thì càng gặp được hương vị ngọt ngào, và khuôn mặt mỹ miều của tình yêu.
Gợi ý suy niệm:
1- Rất trung thực, bạn hãy trả lời: Bạn có cảm nghiệm được là Thiên Chúa yêu bạn không?
2- Bạn có thấy, bạn đang yêu hết mình người sống trong nhà bạn không, và nhà hàng xóm của bạn không?
 Lm Đaminh Đỗ Văn Thiêm Long Xuyên
 

PS6-B72.  Ai tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa  người đó sẽ nhận được giúp đỡ

Ở Lại trong Chúa. Ai tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa, người đó sẽ nhận được giúp đỡ: PS6-B72

Ở Lại trong Chúa. Ai tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa, người đó sẽ nhận được giúp đỡ.
Vatican (Vat. 6/05/2012) - Quý vị thính giả thân mến. Chúa nhật 6 tháng 5 năm 2012, trời Rô-ma có mưa nhẹ nhưng tại quảng trường thánh Phê-rô tín hữu và khách hành hương vẫn quy tụ về đông đảo cách lạ thường để cùng hiệp thông với Đức Thánh Cha Biển Đức 16 trong kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng. "Ai tin tưởng vào sự trợ giúp của Chúa, người đó sẽ nhận được giúp đỡ" là thông điệp Đức Thánh Cha nhấn mạnh trong bài huấn dụ của mình.
Anh chị em thân mến,
Tin Mừng Chúa Nhật thứ năm mùa Phục sinh mở ra cho chúng ta hình ảnh vườn nho. "Chúa Giê-su nói với các môn đệ:'Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho'" (Ga 15,1). Trong Kinh Thánh, rất nhiều lần dân It-ra-en được so sánh với vườn nho sai trái khi trung tín với Thiên Chúa; nhưng một khi họ xa Chúa, sẽ trở thành khô héo, không còn khả năng làm ra "loại rượu làm phấn khởi lòng người", như chúng ta đọc thấy trong Thánh vịnh 104, câu 15. Vườn nho thật của Thiên Chúa, cây nho thật là Chúa Giê-su, với tình yêu hy sinh, đã đem lại ơn cứu chuộc cho chúng ta và mở đường cho chúng ta đến vườn nho thật. Như Đức Ki-tô ở lại trong tình yêu của Chúa Cha, các môn đệ cũng thế, những người được cắt tỉa nhờ Lời của Thầy mình. Nếu các môn đệ gắn kết với Thầy cách thâm sâu, họ trở thành những nhành nho sai trái, làm cho vụ mùa bội thu. Thánh Phan-xi-cô de Sale viết: "Cành liên kết với thân và sinh trái không bởi tự chính nó nhưng là nhờ thây cây: hiện nay chúng ta được gắn kết trong tình mến với Đấng Cứu Độ như chi thể với đầu. Vì thế, những việc lành phúc đức hưởng nhờ từ Ngài đem lại cho chúng ta sự sống vĩnh cửu" (Trattato dell'amore di Dio, XI, 6, Roma 2011, 601).
Trong ngày chúng ta lãnh nhận phép Rửa tội, Giáo Hội đã tháp nhập chúng ta như những nhành cây vào Mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Giê-su, đồng thời cũng trong Cuộc thương khó của Người. Từ cội rễ này chúng ta nhận lãnh nhựa sống hầu được tham dự vào cuộc sống vĩnh hằng. Như các môn đệ, chúng ta cũng vậy, nhờ sự trợ giúp của các Mục tử trong Giáo Hội, chúng ta lớn lên trong vườn nho của Chúa, được bao bọc trong tình yêu của Người. "Nếu hoa trái của chúng ta là tình yêu, thì điều tạo ra hoa trái này chính là việc "ở lại" cách thâm sâu và trung tín với Chúa" (Gesù di Nazaret, Milano 2007, 305). Điều quan trọng là luôn gắn kết với Chúa Giê-su, phụ thuộc vào Người bởi không có Ngài chúng ta không thể làm được gì (x. Ga 15,5). Trong một lá thư của Ngôn sứ Gio-an, người sống trong hoang mạc ở Gaza vào thế kỷ thứ năm, một tín hữu hỏi ngài rằng: Làm thế nào để dung hoà giữa tự do của con người và việc phụ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa? Vị ẩn tu trả lời: Nếu con người nghiêng lòng mình vào sự thiện và xin Chúa giúp đỡ, họ sẽ nhận được sức mạnh cần thiết để làm được điều ấy. Bởi tự do của con người và quyền năng của Thiên Chúa song hành với nhau. Điều này khả thi bởi sự thiện đến từ Thiên Chúa nhưng sự thiện được thực thi nhờ người tín hữu. (x. Ep. 763, SC 468, Paris, 2001, 206). "Ở lại" trong Chúa Ki-tô cách đích thực được đảm bảo trong lời cầu nguyện liên lỉ, như vị Chân phước Dòng Xi-tô Guerrico d'Igny đã nói: "Lạy Chúa Giê-su, không có Ngài chúng con chẳng làm được gì. Ngài chính là người làm vườn, người sáng tạo đích thực; Người trồng tỉa và chăm sóc vườn nho của Ngài. Ngài đã ươm mầm bằng lời của mình, tưới bằng thần linh và làm cho lớn mạnh nhờ quyền năng của Ngài" (Sermo ad excitandam devotionem in psalmodia, SC 202, 1973, 522).
Các bạn thân mến,
Mỗi người chúng ta là một nhành nho và chỉ sống mạnh nếu lớn lên mỗi ngày trong cầu nguyện, tham dự các Bí tích, trong việc thiện và gắn kết với Thiên Chúa. Ai yêu mến Chúa Giê-su, Đấng là cây nho thật, sẽ sinh hoa trái đức tin cho một vụ mùa bội thu những hoa trái thiêng liêng. Chúng ta cùng hướng đến Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa hầu chúng ta có thể ở lại trong Chúa Giê-su cách liên lỉ và để mỗi hành động của chúng ta được khởi sự và hoàn tất trong Người.
Sau kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, Đức Thánh Cha nhắc đến Ngày gặp gỡ các gia đình lần thứ bảy sẽ diễn ra ở Milan và ngài cũng ngỏ ý cảm ơn giáo phận chủ nhà cũng như các giáo phận trong vùng về việc tổ chức sự kiện này.
Trong lời chào bằng tiếng Anh, Đức Thánh Cha ân cần thăm hỏi một đoàn hành hương đến từ Indonesia và ngỏ ý cầu nguyện cách đặc biệt cho mọi người trên khắp thế giới như là con cái Thiên Chúa để họ lớn lên trong tình yêu và hiệp nhất hầu họ biết kiên trì và chăm lo cho sự sống thiêng liêng đã được gieo trồng trong thâm tâm mỗi người.
Tiếp đó, Đức Thánh Cha cũng chào mừng các đoàn hành hương đến từ Đức, Slovenia, Slovakia, Balan, Tây Ban Nha và Italia.
Trong tiếng Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha nhắc lại ý nghĩa bài Tin Mừng và mời ngọi tín hữu sống gắn kết với Chúa như cành nho gắn liền với thân nho; kết hợp với Chúa Ki-tô là nguồn sự sống và chính Ngài giúp chúng ta sinh nhiều hoa trái. Hôm qua cũng là dịp 50 năm dịp phong thánh cho Thánh Martin de Porres, người đã có công trong việc tái truyền giáo và khơi lại sự thánh thiện trong lòng Giáo Hội. Xin Mẹ Maria đồng hành với chúng ta trên mọi bước đường đời.
Sau cùng Đức Thánh Cha cầu chúc mọi người ngày Chúa Nhật an lành.
Đặng Thế Nhân
(Radio Vatican)
 

PS6-B73.  Phải có hoa hồng trên cây hồng – Guy Morin.

Chúng ta đã quen với qui luật về hiệu năng. Tại nhà máy, người ta cho thôi việc người thợ: PS6-B73

Chúng ta đã quen với qui luật về hiệu năng. Tại nhà máy, người ta cho thôi việc người thợ nào sản xuất kém. Cũng vậy, người công dân đòi hỏi phải có những cảnh sát hữu hiệu, bắt được tội phạm. Người làm vườn không thể chấp nhận một cây hồng mà lại không sinh hoa. Ai trong chúng ta chịu để một cây hoa tàn héo trong bồn hoa nhà mình?
Mặc dù Tin Mừng đầy dẫy những cử chỉ nhưng không thế mà người ta cũng gặp nơi đó qui luật về hiệu năng. Chúa Kitô chúc dữ cho cây vả không có trái, kết án người đầy tớ đã chôn vùi nén bạc của mình. Lời Ngài, hạt giống gieo vào lòng con người, phải sinh hoa kết quả. Bản thân Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi qui luật này. “Nếu hạt lúa mì rơi vào lòng đất có chết đi thì nó mới sinh nhiều bông hạt”.
Chúa nhật trước chúng ta đã đọc câu chuyện về cây nho mà người ta tỉa những cành không sinh trái. Chúa Giêsu đã nói: “Điều làm vinh danh Cha Thầy là các con mang nhiều hoa trái, và như vậy các con sẽ trở thành môn đệ của Thầy”. Bài Tin Mừng hôm nay nói cho chúng ta biết phải sinh hoa trái nào.
Hoa trái, đó là đức ái huynh đệ.
“Các con là bạn hữu của Thầy nếu các con làm điều Thầy truyền dạy. Điều Thầy truyền dạy các con là hãy yêu thương nhau”. Qui luật về hiệu năng được áp đặt cho người môn đệ đó là đức bác ái. Không gì thay thế được. Không phải là chuyện xây cất một tòa nhà hay một vương cung thánh đường nhưng là xây dựng Thân Mình Chúa Kitô bằng tình yêu thương. Giáo Hội có thể triển nở mà không cần nhà thờ nhưng không thiếu những mối tương quan huynh đệ được. Hoa quả làm vinh danh Chúa Cha, đó là xây dựng Thân Mình Chúa Kitô. Thánh Giacôbê tóm tắt qui luật này một cách mạnh mẽ rằng đạo thật là viếng thăm trẻ mồ côi và kẻ góa bụa lâm cảnh cơ cực.
Đức ái huynh đệ không phải là tình cảm cũng không phải là thiện cảm tự nhiên nhưng là vâng phục Thiên Chúa trong và bằng việc phục vụ người đồng loại. Việc phục vụ cụ thể: chia sẻ của cải, nâng đỡ tinh thần, quan tâm đến người nghèo và những người bên lề xã hội, tôn trọng tha nhân. Đối với kẻ thù, việc phục vụ này là kiên nhẫn chịu đựng và cầu nguyện cho họ. Đây là đức ái vô vị lợi. Cho mà không mong đáp trả và không điều tra về công trạng của người được yêu thương. Cứu giúp mọi người và cho đi cách rộng rãi như Thiên Chúa đã làm cho chúng ta nơi Chúa Giêsu Kitô.
Những dấu chỉ nội tâm để nhận ra đức ái huynh đệ.
Khi người Kitô hữu, môn đệ của Chúa Giêsu thực thi đức ái, đức ái này được biểu lộ nơi những cử chỉ, những thái độ, những lời nói, những cách nhìn và đối xử với người khác. Đó là những dấu chỉ bên ngoài. Nhưng thánh Gioan nêu cho chúng ta ba dấu chỉ nội tâm: biết Thiên Chúa, lời cầu xin được chấp nhận, niềm vui.
Ở khởi điểm, người Kitô hữu trở thành môn đệ bởi vì họ đón nhận tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải nơi Chúa Giêsu. Về sau, nhờ thực thi đức ái huynh đệ, họ đào sâu kinh nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa. Quả thật, mỗi một cử chỉ huynh đệ nhắc nhở họ nhìn nhận rằng Thiên Chúa đã yêu thương họ trước nơi Chúa Giêsu Kitô. Như vậy, họ càng ngày càng cởi mở đối với tình yêu của Chúa Cha. Vì tình yêu lớn lên khi tự hiến mình đi.
Một dấu chỉ nội tâm khác, đó là lời cầu xin được chấp nhận: “Tất cả những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con”. Tên Giêsu nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Những lời cầu xin của chúng ta nhân danh Chúa Giêsu tức là hướng về ơn cứu độ, thì sớm hay muộn, chắc chắn Chúa Cha cũng sẽ chấp nhận. Dấu chỉ này không hiển nhiên. Nhiều Kitô hữu than phiền là Thiên Chúa làm thinh. Tuy nhiên, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta nhận ra lời đáp của Chúa đối với lời cầu xin của chúng ta. Một lời đáp khó hiểu hoặc làm ta phải bỡ ngỡ.
“Thầy đã nói với các con điều này để cho niềm vui của Thầy ở trong các con và niềm vui của các con được trọn vẹn”. Niềm vui cũng là một dấu chỉ nội tâm cho những ai thi hành đức bác ái. Khi sự sống được triển nở, đó là niềm vui. Mỗi lần đức ái huynh đệ được thể hiện, thì sự sống của Thiên Chúa và ơn cứu độ của Ngài tăng thêm nơi chúng ta hơn một chút và trở thành cụ thể. Triều đại của Thiên Chúa tiến một bước vì loài người cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa đối với họ qua tình yêu của người anh em. Lúc đó, chúng ta là dấu chỉ cho nhau rằng Thiên Chúa tiếp tục hành động và cứu độ. Do đó mà niềm vui, dù niềm vui này thường đi chung với đau khổ.
Sứ điệp.
Hôm nay, Chúa mời gọi tôi sinh hoa kết quả, hoa quả của đức ái. Đức ái sẽ xiết chặt những mối liên hệ giữa tôi với Ngài, sẽ làm cho lời cầu nguyện của tôi mang lại hiệu quả và sẽ ban cho tôi niềm vui của Ngài. Lẽ nào tôi từ chối?
 

PS6-B74. Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU VÀ SINH HOA KẾT TRÁI

(Gioan 15,9-17 ­ CN VI PS - B)
1.- Ngữ cảnh
 

Qua bài ẩn dụ Cây nho (Ga 15,1-8), Đức Giêsu khẳng định một cách hết sức rõ ràng với các môn: PS6-B74

Qua bài ẩn dụ Cây nho (Ga 15,1-8), Đức Giêsu khẳng định một cách hết sức rõ ràng với các môn đệ rằng mọi sự tùy thuộc vào sự hợp nhất của các ông với Người. Các môn đệ ở lại trong Đức Giêsu nếu các lời của Người ở lại trong các ông (x. 15,7) và nếu các ông tuân giữ các điều răn của Người (15,10). Tất cả xuất phát từ Đức Giêsu: các lời và các điều răn. Nhiệm vụ các của môn đệ là đón nhận sáng kiến này của Đức Giêsu. Như thế, các ông được liên kết với Người và có thể sinh hoa kết trái. Trong tương quan này, vị trí của Chúa Cha được Đức Giêsu diễn tả một cách độc đáo.
2.- Bố cục
          Bản văn đầy đủ là 15,1-17. Ta có thể xác định được ranh giới các phân đoạn (15,1-8.9-11.12-17) nhờ các câu “đóng khung” (“Cha Thầy”: 15,1.8; “sinh hoa trái”: 15,2.8; “nhiều”: 15,2.8; “điều răn/truyền dạy”: 15,12.17; “để anh em thương yêu nhau”: 15,12.17).
          Riêng bản văn hôm nay có thể chia thành hai phần:
          1) Ở lại trong tình yêu của Đức Giêsu và của Chúa Cha (15,9-11);
          2) Điều răn của Đức Giêsu: hãy yêu thương nhau (15,12-17).

3.- Vài điểm chú giải
- Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy (9): Dịch sát là “Như (kathôs) Cha đã yêu mến (êgapêsen) Thầy, thì Thầy cũng yêu mến anh em (kagô hymas êgapêsa)”. Kathôs ở mệnh đề chính dùng với kai ở mệnh đề phụ thì dịch là “Như ... thì cũng...”. Egô là chủ từ được nêu ra minh nhiên để nhấn mạnh, còn túc từ hymas được đặt liền với chủ từ cũng là để nhấn mạnh và cho thấy dây liên kết mật thiết với chủ từ egô. Hai động từ “yêu mến” (êgapêsen; êgapêsa) ở thì quá khứ aorist, diễn tả những biến cố rõ rệt và cụ thể trong quá khứ (“Chúa Cha đã yêu mến Thầy”), bây giờ chạm đến chúng ta (“Thầy cũng yêu mến anh em”).
- tình thương của Thầy (9): Công thức này (hê agapê hê emê ) nói về tình thương của chủ thể (Đức Giêsu) đối với các môn đệ.
- như Thầy đã giữ các ... và ở lại ... (10): Kathôs và kai đều bắt đầu hai mệnh đề phụ, nên chỉ có thể dịch là “như ... và...”. Động từ têreô ở thì quá khứ hoàn thành (perfect), với ý là lúc này đây, Đức Giêsu đã giữ trọn các điều răn của Chúa Cha.
- vì bạn hữu của mình (13): “Vì” (hyper) có nghĩa là “nhân danh”, “chiếu cố đến”. Cái chết của Đức Giêsu nhằm mưu ích cho chúng ta. Xem Lc 22,19-20; Rm 8,31; 1 Cr 11,24.
- cắt cử (16): Động từ Hy Lạp tithêmi có nghĩa là “đăt một người vào một nhiệm vụ”, đồng thời bảo đảm, cung cấp cho người ấy mọi phương tiện để thi hành nhiệm vụ đó thật hữu hiệu (x. Cv 13,47; 20,28; 1 Cr 12,28; 2 Tm 1,11). Động từ này ở thì quá khứ aorist, để nói rằng Đức Giêsu chỉ cắt đặt một lần mà thôi, nhưng điều này có giá trị suốt đời người môn đệ.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Ở lại trong tình yêu của Đức Giêsu và của Chúa Cha (9-11)
          Đức Giêsu dùng hình ảnh cây nho để mô tả tương quan của Người với các môn đệ, ngay khi Người vắng mặt về thể lý. Người là cây nho “thật”, còn chúng ta là cành, mà cành thì phải ở lại (menô) trên cây nho để sinh hoa kết trái, hoa trái tình yêu (một trong những đề tài chính của Ga). Đức Giêsu đã lệ thuộc Cha của Người trong mọi sự. Bây giờ Người cho chúng ta thấy rằng Cha của Người là nguồn mạch của mọi tình yêu: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy, thì Thầy cũng đã yêu mến anh em” (15,9). Hai động từ đều cùng ở một thì quá khứ (aorist) nói lên những biến cố rõ rệt trong quá khứ: Đức Giêsu đã từ Chúa Cha mà đến thế gian. Người vẫn ở an toàn trong tình yêu của Cha Người đến mức Người có thể cho thấy tình yêu của Người đối với các môn đệ bằng cách rửa chân cho họ (x. 13,1-5). Tình yêu vâng phục của Đức Giêsu với Cha Người chính là nền tảng và điển hình cao vời cho cuộc sống người môn đệ. 
Chúng ta phải “ở lại” (menô) trong tình thương của Đức Giêsu, cũng như Người “ở lại” trong tình thương của Cha Người bằng nhiều cách. Chúng ta cũng có thể “ở lại” (menô) trong tình thương của Đức Giêsu bằng cách để cho Người yêu thương ta, không đặt một trở ngại nào gây khó khăn cho tình thương ấy. Chúng ta cũng có thể “ở lại” bằng cách tuân giữ các điều răn của Cha Người, vì như thế là hài hòa các ý muốn (c. 10). Đề tài đã được đề cập tới trước đây là “ở lại trong tình thương nhờ vâng phục [giữ các điều răn; giữ lời]” (x. 14,15.21.23-24) nay tái xuất hiện và được liên kết với niềm vui. Đức Giêsu giải thích tất cả những điều đó là để “niềm vui của Thầy ở trong anh em” và “niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (c. 11). Trước đây Người đã bảo các môn đệ rằng họ phải vui mừng vì Người đi về cùng Chúa Cha (14,28). Đề tài niềm vui này sẽ còn được triển khai sau này (16,20-33).
Như thế, Đức Giêsu ở lại trong tình thương của Cha Người bởi vì Người giữ điều răn của Người để chuyển tình thương sang cho các môn đệ. Các môn đệ sẽ ở lại trong tình thương của Đức Giêsu nếu họ giữ điều răn của Người. Điều răn của Người cũng giống như điều răn của Cha Người: yêu thương như anh em đã được yêu thương. Mục tiêu của mạc khải cao cả này là niềm vui. Niềm vui của Đức Giêsu là tuôn đổ tình yêu Người đã nhạn từ Chúa Cha vào lòng các môn đệ. Vậy các môn đệ được chia sẻ không những tình yêu mà cả niềm vui của người ban tặng tình yêu. Nhưng niềm vui của Đức Giêsu được Người thông ban chỉ là một hương vị khởi đầu. Quy luật của sự hoàn tất cho thấy rằng bạn chỉ hiểu điều bạn đã nhận khi bạn tặng nó đi. Như thế, các môn đệ sẽ nhận được niềm vui trọn vẹn khi yêu thương nhau như Đức Giêsu đã yêu thương họ. Đây chính là sự sống vĩnh cửu: tương giao đón nhận và trao tặng tình yêu không ngừng.
* Điều răn của Đức Giêsu: hãy yêu thương nhau (12-17)
          Như Chúa Cha đã yêu thương Đức Giêsu và Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta, chúng ta phải ở lại trong tình thương của Người (c. 9). Như thế, Hội Thánh là một cộng đồng yêu thương, tại đó người ta sống điều răn mới. Đức Giêsu đang nhắc lại cho các môn đệ việc rửa chân: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (15,12 nhắc lại 13,34). Đức Giêsu bắt đầu nói “các điều răn” y như thể có nhiều điều răn (c. 10), rồi ngay sau đó lại nói “Đây là điều răn của Thầy”, y như thể chỉ có một điều răn mà thôi. Vậy thì có bao nhiêu điều răn? Các vị thầy thời ấy bảo rằng có 613 điều răn. Các tác giả Mc, Mt và Lc bảo là Đức Giêsu đã giảm thiểu lại còn hai: tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người lân cận (Mc 12,28-31; Mt 22,36-40; Lc 10,25-27). Tác giả Ga thì khẳng định là hai điều này đã được giản lược thành một: tình yêu đối với người lân cận trong thực tế là cách thức duy nhất để bày tỏ tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa (Ga 4,20; x. Phaolô: Gl 5,14; Rm 13,8-10).
Thì quá khứ của “Thầy đã yêu thương anh em” (c. 9) phải được thể hiện qua tình yêu của chúng ta đối với nhau trong hiện tại. Hành vi tiêu biểu của Đức Giêsu nhằm nói lên tình yêu của Người là chính lễ hy sinh của Người, là hành vi hy sinh mạng sống “vì bạn hữu của mình”, “nhân danh bạn hữu mình” (c. 13). Điều này đã được báo trước nơi việc người mục tử hiến mạng sống vì đoàn chiên (10,11) và nay Người đang chuẩn bị cho họ đón nhận cái chết hy sinh của Người. Nếu chúng ta yêu thương nhau như Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta, thì chúng ta phải sẵn sàng thực hiện hành vi hy sinh tối hậu.
          Khi nói đến việc hy sinh tính mạng “vì bạn hữu của mình”, Đức Giêsu lại được đưa đến chỗ gọi các môn đệ không phải là “tôi tớ”, nhưng là “bạn hữu” (philoi, c. 14). Chúng ta chứng tỏ chúng ta là “bạn hữu” của Người do tình yêu của chúng ta đối với Người, khi tuân giữ điều răn của Người (c. 14; x. 15,10). Dĩ nhiên không có gì sai trái khi làm “tôi tớ của Thiên Chúa”. Nhiều ngôn sứ, tư tế và vua chúa vui mừng được gọi như thế (x. Gs 24,29; Tv 89,20). Chính Đức Giêsu đã nhận lấy vai trò tôi tớ khi rửa chân cho các môn đệ, nhưng trong tư cách là Thầy, Người chấp nhận họ như là các tôi tớ (x. 13,13-16). Nhưng nay Người gọi họ là “bạn hữu”, như Môsê xưa kia là “bạn hữu” của Thiên Chúa (x. Xh 33,11). Vòng các “bạn hữu” thân tín của hoàng đế Rôma chính là các cố vấn của ông. Như thế, Đức Giêsu muốn cho các môn đệ yêu dấu của Người biết tất cả mọi sự (c. 15) và muốn họ làm việc với Người để thực hiện chương trình của Người.
Các kinh sư thường không tìm môn sinh. Những người trẻ nào muốn tìm một vị thầy thì rảo quanh, thăm viếng và chọn lấy vị thầy nào họ muốn. Đức Giêsu thì không như thế, Người nhắc các môn đệ nhớ rằng chính Người đã chọn họ, và Người làm như thế vì nhắm một mục tiêu, đó là họ “ra đi và sinh được hoa trái” (c. 16). Hoa trái này được nhắm “ở lại [= tồn tại; menô)” và có kết quả do chỗ Chúa Cha đáp lại những lời họ cầu xin (x. 14,13; 15,7). Thế rồi Người nhắc lại lệnh truyền cuối cùng, “hãy yêu thương nhau” (c. 17).   
+ Kết luận
          Lời cáo biệt thường hàm chứa những lời nói hoặc những chỉ thị cuối cùng; chúng ta rất trân trọng các lời này và cố gắng thực hiện. Đức Giêsu vừa ký thác bí mật cuối cùng và quý báu nhất của trái tim Người; Người đã tâm sự về những điều thâm sâu nhất, đã diễn tả ra các lời nhắc nhở cuối cùng. Dường như Người muốn để lại cho các môn đệ di chúc thiêng liêng của Người. Điểm nổi bật là Người tha thiết nhấn mạnh trên tình yêu đối với nhau. Các môn đệ của Đức Giêsu là các “bạn hữu” của Người, được Người yêu thương cũng như Người được Cha của Người yêu thương, và Người muốn họ trở thành một cộng đồng tình yêu, trong đó mỗi người yêu thương nhau. Người không muốn các môn đệ chỉ biết loay hoay vun quén với nhau và cho nhau, làm thành một thứ Hội Thánh ấm cúng đóng kín, nhưng muốn chúng ta “ra đi và sinh được hoa trái, và hoa trái tồn tại”, vươn tới thế giới chung quanh chúng ta.
          Ở tại trung tâm các lời này của Đức Giêsu, có sứ điệp liên hệ đến Chúa Cha. Khi các môn đệ được gặp lại Đức Giêsu Phục Sinh, các ông sẽ trải nghiệm về Thiên Chúa như là Cha và hiểu Người đã dành tất cả tình yêu và tất cả quyền năng của Người cho Con của Người.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Những gì Đức Giêsu vẫn ao ước cho tới giờ này, là đưa các môn đệ đến với Chúa Cha. Với cuộc Phục Sinh, công trình của Người đạt được một phẩm chất mới: Người sẽ loan báo về Chúa Cha công khai cho các môn đệ, chứ không che giấu nữa (16,25). Không phải là y như thể Người nói với họ về Chúa Cha với các lời mạc khải mới; trái lại chính họ phải đạt tới một khái niệm về Chúa Cha. Chúa Cha chính là nguồn mạch tình yêu từ đó Đức Giêsu đã phát xuất ra và quy hướng về đó, Đức Giêsu dẫn chúng ta về. Chúng ta chỉ có thể về tới đó nhờ giữ điều răn của Chúa Cha và cũng là điều răn của Đức Giêsu: yêu thương nhau.     
2. Từ “điều răn” được Đức Giêsu sử dụng 4 lần nhằm cho thấy rằng “yêu thương” là một tuyệt đối, mà không ai được đặt thành vấn đề nữa. Đây là thực tại chính yếu, đây là mối lo lắng cốt yếu, đây là điểm bận tâm duy nhất của những ai tự hào mình thuộc về Đức Giêsu và đứng vào hàng ngũ những kẻ thừa kế thiêng liêng của Người. Nếu Đức Giêsu nhấn mạnh như thế, phải chăng là vì nguy hiểm, cũng là sự cám dỗ và sự sai lầm, chính yếu và thường xuyên nhất, đã từng đe dọa các môn đệ xưa kia cũng như sẽ đe dọa mọi thế hệ môn đệ tương lai, chính là tình trạng thiếu lòng yêu thương?     
3. Chúng ta thường quá bận bịu với việc làm “tôi tớ” Thiên Chúa, “làm việc cho Đức Giêsu”, mà quên rằng Người muốn chúng ta trở thành “bạn hữu” của Người, muốn chúng ta yêu thương Người và được Người yêu thương. Nếu hiểu rằng ta là những mắt xích trong sợi xích tình yêu, một dây tương quan đi từ Chúa Cha đến Đức Giêsu, từ Đức Giêsu đến với mỗi người, từ mỗi người đến với người khác, thì chúng ta sẽ đi từ một cuộc sống khắc khoải, cô lập, sang sự hiệp thông thánh thiêng. Khi đó, không cần phải nắm lấy, hoặc sở hữu đời sống này, y như thể hòng có được một chút tiện nghi thoải mái. Đời sống này dồi dào không mức độ. Thiên Chúa không cân đo Thánh Thần. Sống trong vòng lưu chuyển yêu thương này, thì không còn tôi tớ không biết đường lối của chủ, nhưng chỉ còn những người bạn an nhiên sống và hành xử trong tình yêu của Chúa Cha.
4. Nói với những con người đang sống trong một cuộc sống xô bồ, Đức Giêsu nhắc các bạn hữu Người nhớ lại một vài điểm căn bản. Đừng nghĩ  rằng họ đang dùng sức họ để vào được một cuộc sống cao đẹp hơn, để mà tỏ ra ngạo mạn. Đừng nghĩ rằng họ đang biết phấn đấu hết sức mình, để mà tự hào tự phụ. Thật ra, họ đã được Chúa Cha và Đức Giêsu chọn làm một mắt xích trong chuỗi tình yêu. Và Chúa Cha không yêu cầu người ta làm những chuyện họ không được chuẩn bị trước. Nhưng cách chuẩn bị trước lại dường như không hào nhoáng gì đối với các môn đệ: “ở lại trong Đức Giêsu”, “ở lại trong tình yêu của Người” và “yêu thương nhau”. Chúng ta hãy để cho mình được bao trùm, được ấp ủ trong tình yêu của Người; như thế là đừng từ chối những gì Người ban tặng cho ta. Đây là cách quan trọng duy nhất để có thể ra đi và sinh được hoa trái.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm
 

PS6-B75. YÊU THƯƠNG NHƯ THẦY

SUY NIỆM TIN MỪNG  CN VI PHỤC SINH B:
Ga 15,9-17
1.Lời Chúa: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12):
2.Câu chuyện: Tình yêu mạnh hơn sự chết.
-Sẵn sàng chịu chết cho em gái được sống:
 

Có hai anh em nhà kia, cậu bé trai 8 tuổi và cô em gái của cậu 6 tuổi. Cả hai đều gầy yếu và: PS6-B75

Có hai anh em nhà kia, cậu bé trai 8 tuổi và cô em gái của cậu 6 tuổi. Cả hai đều gầy yếu và thường đau ốm luôn. Một hôm cậu bé bị một cơn đau gan cấp tính, được cha mẹ đưa vào cấp cứu tại bệnh viện gần nhà. Sau thời gian hai tuần lễ điều trị, cậu bé đã thoát khỏi tình trạng nguy hiểm và đang nằm viện thêm ít ngày để hồi sức. Nhưng sau đó, lại đến lượt cô em gái bị chứng xuất huyết nội và được mang đi cấp cứu tại cùng bệnh viện với anh. Cô bé bị mất máu khá nhiều cần được mau chóng tiếp máu. Thế nhưng bệnh viện lại không có sẵn máu cùng nhóm để truyền. Rất may là máu của cậu bé cùng nhóm máu với cô em. Khi được hỏi có muốn cho máu để cứu sống em gái không, thì lúc đầu cậu bé hơi ngần ngại và lo lắng một chút. Nhưng ngay sau đó, cậu ta đã lấy lại bình tĩnh và trả lời bác sĩ rằng: “Vâng, con bằng lòng hiến máu cho em con. Xin bác sĩ hãy cố gắng cứu sống nó. Vì con thương em con lắm”. Sau đó bác sĩ đã lấy máu của cậu truyền cho cô em. Một lúc sau tỉnh dậy, cậu bé đã làm cho mọi người trong phòng ngạc nhiên và buồn cười khi nói: “Ô hay! Con chưa bị chết hay sao? Vậy bác sĩ đã tiếp máu cho em con chưa? Em con bây giờ ra sao rồi?” Thì ra cậu bé đã tưởng lầm rằng khi bằng lòng hiến máu cho em, là cậu phải cho em tất cả số máu trong con người mình! Nhưng vì quá thương em và không muốn cho em bị chết, nên sau khi ngần ngại một chút, cậu đã quyế#t định hy sinh chịu chết để cho em gái mình được sống!
-Tình nguyện chết thay cho một bạn tù:
"Tôi là một linh mục công giáo Ba-lan, tôi đã già, Tôi muốn được chết thay cho ông này, vì ông còn có vợ con". Đây là lời của cha Kôn-bê (Maximilianus Maria Kolbe) đã nói với viên cai ngục Đức Quốc Xã, trong lúc hắn đang chọn ra 10 tù nhân phải chết để đền tội thay cho một tù nhân mới vượt ngục đêm qua. Quyết định anh hùng của cha Kônbê đã cứu tù nhân Phăng-xít (Francis) thóat chết, khi ông là người cuối cùng được chọn phải ra xếp hàng vào hầm chết đói. Sau đó, cha Kôn-bê đã phải chịu số phận chết chung với 9 tù nhân kia. Suốt thời gian ở trong ngục tối nhịn đói chờ chết, thay vì những tiếng la hét chửi rủa mọi khi, người ta chỉ nghe thấy những lời kinh tiếng hát của nhóm tù nhân sắp chết nhờ sự động viên của cha Kônbê. Câu chuyện tình nguyện chịu chết thay cho người khác của cha Kôn-bê cho thấy “Tình yêu mạnh hơn sự chết”. Sự hy sinh tình nguyện chết thay cho người khác của cha Kônbê cho thấy tình yêu của cha thật lớn lao giống như Chúa Giêsu và như lời Người đã tâm sự với các môn đệ: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).
3.Suy niệm:
-Bài Tin Mừng hôm nay có thể tóm lại ý chính như sau: Một là hãy ở lại trong tình thương của Chúa: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”. Hai là phải thực hành các giới răn: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy, và ở lại trong tình thương của Người”. Ba là quyết tâm sống giới răn mới của Chúa là: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
-Chỉ có một dòng nhựa tình yêu lưu chuyển từ thân cây là Chúa Giêsu sang các cành nho là các tín hữu và lưu chuyển giữa các cành nho với nhau: “Như Thầy đã yêu anh em, anh em cũng phải yêu thương lẫn nhau”. Tình yêu của chúng ta không được giới hạn trong một số người thân thuộc hay những người đáng yêu, nhưng phải yêu hết mọi người, kể cả những kẻ thù ghét và làm hại chúng ta.
-Ngày nay có lẽ chúng ta ít có dịp biểu lộ tình yêu cao cả là chết thay cho người khác như cha Kôn-bê, nhưng chúng ta vẫn có thể biểu lộ tình thương như: Luôn biết nghĩ đến người khác, lắng nghe để tìm hiểu và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu, quảng đại cho đi hơn nhận lãnh, năng khen ngợi động viên người khác... 
-Muốn nên môn đệ thực sự của Chúa Giêsu đòi ta phải biết hy sinh qiên mình, nghĩa là sẵn sàng chấp nhận sự thua thiệt, như những cái chết nho nhỏ cho các ý riêng theo tính xác thịt của mình. Những cái chết nho nhỏ đó chuẩn bị cho cái chết lớn hơn khi cần phải thể hiện. Mỗi khi thấy trái tim sắp hóa chai cứng như đá, chúng ta hãy cầu xin Chúa Giêsu đổ Thần Khí Phục Sinh của Người xuống biến đổi trở thành trái tim bằng thịt biết yêu thương.
Trong Mùa Phục Sinh này, mỗi người chúng ta sẽ làm gì để thể hiện tình yêu thương đối với những người thân trong gia đình, với hàng xóm láng giềng, với bạn bè và nhất là những người đau ốm liệt giường nghèo đói, bất hạnh hoặc đang bị bỏ rơi … ?
4.Lạy Chúa Giêsu: Xin cho chúng con mỗi ngày biết chết đi cho thói ganh ghét, ích kỷ vụ lợi cùng các thòi hư tật xấu khác. Xin cho ánh sáng Phục Sinh của Chúa chiếu soi vào cuộc đời chúng con. Nhờ đó, chúng con sẽ biết cảm thông với nỗi đau của đồng loại. Xin cho chúng con biết luôn nở nụ cười thân thiện và đi bước trước đến làm quen với những người mới tiếp xúc. Xin cho chúng con biết chủ động làm hòa với những người thù ghét nói xấu chúng con, biết quên mình phục vụ những người đau khổ... Xin cho chúng con trở thành khí cụ bình an của Chúa để làm chứng cho Chúa và đưa được nhiều người về làm con Chúa Cha hiệp thông trong đại gia đình Hội Thánh. AMEN.
LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com
 

PS6-B76.  YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH, năm B
Ga 15, 9-17
 

Sống trên trần gian người ta hơn nhau không chỉ có tiền, của cải, vật chất, nhưng điều quí giá: PS6-B76

Sống trên trần gian người ta hơn nhau không chỉ có tiền, của cải, vật chất, nhưng điều quí giá, đáng trân trọng nhất là tấm lòng. Con người nhiều khi quên đi điều nghĩa thiết là lòng nhân ái, đức yêu thương. Tuy vậy, chung quanh chúng ta vẫn có nhiều tâm hồn quảng đại, sống bác ái yêu thương, sống tốt lành, những tâm hồn này cùng nhịp đập con tim với Chúa Giêsu. Họ sống yêu thương, giúp đỡ, họ sống vì mọi người, sống cho mọi người. Những tâm hồn này đã mau mắn đáp trả lại tiếng mời gọi của Thầy chí thánh Giêsu :” Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con “ ( Ga 15, 12 ).
Đọc lại Tin Mừng và học hỏi, hiểu biết sâu xa về Giáo lý của Chúa Giêsu, chúng ta thấy từ khi Chúa Cha sai Chúa Giêsu tới trần gian để sống với con người, sống vì con người và sống cho con người, Chúa Giêsu đã coi con người là bạn hữu :” Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc anh em làm.Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu …” ( Ga 15, 15 ).
Chính vì tình yêu, chính vì yêu thương con người, con Thiên Chúa đã chấp nhận làm người, cảm thông, quảng đại, chia sẻ với con người như lời Ngài nói :” Tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết “ ( Ga 15, 15 ). Tình yêu của Chúa Giêsu đã đi đến chỗ tuyệt đỉnh :” Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình “ ( Ga 15, 13 ). Vâng, tình yêu của Chúa Giêsu đã đến chỗ cao vời, tuyệt mỹ đến nỗi thánh Gioan đã phải thốt lên : “ Người đã yêu thương họ đến cùng “ ( Ga 13, 1 ). Yêu thương con người đến cùng có nghĩa là yêu thương không giới hạn, không mức độ, yêu thương đến chết trên thập giá.
Tình yêu của Chúa Giêsu phát xuất từ Chúa Cha bởi vì “ Thiên Chúa là Tình Yêu “. Tinh yêu của Chúa Cha đến với Chúa Giêsu và từ Chúa Giêsu luân chuyển đến mọi người như thân nho dính liền với với các nhành nho, nhờ đó hoa trái sẽ trổ sinh thật tốt đẹp. Chính vì thế, tình yêu của Chúa Giêsu sẽ không ngừng lại, sẽ không đọng lại như nước ao tù, mà chính tình yêu của Chúa Giêsu sẽ liên kết tất cả mọi người lại với nhau :” Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu các con “ ( Ga 15, 12 ).
Chúa Giêsu đã nói :” Hãy ở lại trong Thầy. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy “. Điều căn bản và chứng tỏ con người là môn đệ của Chúa là ở lại trong Chúa và điều kiện này biểu tỏ họ sẽ được ở trong tình yêu của Người . Chúa cũng nói :” Ai muốn ở lại trong tình yêu của Thầy, thì phải giữ lời của Người “ ( Ga 15, 10 ). Muốn ở lại trong Chúa phải giữ lời Chúa và điều quan trọng là hãy yêu thương nhau.
Tình yêu làm nên những sự kỳ diệu, làm nên những phép lạ nơi những con người tin vào tình yêu và thực hiện tình yêu.
Tình yêu là điều kỳ diệu, là năng lực quí giá mà con người trên thế giới này đều có dù họ là nam hay nữ, dù họ thuộc mầu da nào, ngôn ngữ nào, dù họ thuộc tôn giáo nào, dù họ được hấp thụ bởi nền văn minh nào. Tình yêu không dành riêng cho bất cứ ai: người khỏe, cũng như người đau, người yếu, người nghèo cũng như người giầu, kẻ khôn ngoan hay kẻ kém khôn ngoan. Tình yêu dành cho mọi người. Tình yêu giúp con người bình đẳng, bình đẳng trước mặt Thiên Chúa và bình đẳng trước mặt anh em, trước mặt nhau.
Tin Mừng chứa đựng trong các bài đọc Chúa Nhật VI Phục Sinh, năm B là tình yêu.Tin Mừng này có sức biến đổi thế giới, biến đổi lòng người. Tin Mừng tình yêu đòi hỏi chúng ta hãy công bố cho mọi người.Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu (Ga 15, 12 ).  Nếu mỗi người chúng ta sống tình yêu và thực hành tình yêu như Chúa muốn, chúng ta có thể biến đổi tất cả, chúng ta có thể làm được những việc lạ lùng, những việc diệu kỳ, những phép lạ như Chúa Giêsu đã làm khi Ngài còn sống nơi dương thế.
Tình yêu quả thực là phép lạ vô biên khiến Chúa đã chạnh thương những người bơ vơ, vất vưởng, đói khát khi theo Chúa, nghe Chúa giảng dạy khiến Chúa làm phép lạ cho bánh và cá hóa nên nhiều. Tình yêu khiến Chúa làm cho con bà góa thành Naim và con ông Giairo sống lại. Tình yêu khiến Chúa ban sự sống cho Lazarô đã chết chôn trong mồ bốn ngày được sống lại. Cũng chính vì yêu, Chúa đã chấp nhận ý Chúa Cha, gánh tội trần gian và hy sinh chịu chết trên thập giá để cứu độ con người.
Tình yêu là một mầu nhiệm bởi vì như ca nhập lễ viết :” Hãy vui mừng loan báo
Cho mọi người được nghe,
Rao truyền đi đến tận cùng cõi đất
Rằng : Chúa đã giải phóng dân Người “ ( Is 48, 20 ).
Lạy Thiên Chúa toàn năng, trong những ngày vui này, xin cho tất cả chúng con biết đem lòng sốt sắng mừng Đức Kitô Phục Sinh, để Người hiện diện trong cuộc đời chúng con và làm cho chúng con được đổi mới…( Lời nguyện nhập lễ, lễ Chúa nhật VI Phục Sinh ).
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1.Yêu như Chúa yêu là sao ?
2.Hãy mến nhau như Thầy đã yêu mến các con.Đây là lời khuyên hay là lệnh truyền ?
3.Tình yêu là gì ?
4.Tình yêu dành riêng cho ai ?
5.Tại sao Chúa Giêsu chết mới nói lên lời ?
 

PS6-B77. Ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Gio-an 15:9-17)
 

Chúng ta đã nhiều lần nghe Chúa Giê-su lập đi lập lại hai từ “ở lại”.  Ở lại trong Chúa như: PS6-B77

Chúng ta đã nhiều lần nghe Chúa Giê-su lập đi lập lại hai từ “ở lại”.  Ở lại trong Chúa như con chiên kề bên mục tử.  Ở lại trong Chúa Giê-su như cành nho gắn liền với cây nho.  Nhưng đâu là động lực để chiên và mục từ, cành nho và cây nho, “ở lại” với nhau?  Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta câu trả lời ngắn gọn:  động lực ấy là lòng yêu thương!
          Trước hết chúng ta phải xác tín rằng Chúa Giê-su tự nguyện muốn ở lại với chúng ta, bởi vì Người mong chúng ta “được hưởng niềm vui trọn vẹn” của Người.  Niềm vui ấy nảy sinh từ tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Giê-su.  Tuy nhiên niềm vui này không phải là ngồi yên đấy mà hưởng thụ, nhưng là vui qua hành động khi Chúa Giê-su “giữ các điều răn của Chúa Cha”.  Nói khác đi, vì yêu mến Chúa Cha nên Chúa Giê-su đã chu toàn sứ mệnh Chúa Cha trao ban và điều ấy đem lại niềm vui cho Người.  Như vậy, chúng ta nhận thấy có ba điều liên hệ với nhau:  ở lại trong tình yêu, giữ các điều răn và được hưởng niềm vui.  Ba điều này nói lên sự sống động của mối tương quan giữa Chúa Cha và Chúa Con.  Giờ đây Chúa Giê-su muốn kéo chúng ta vào trong mối tương quan ấy và Người đi trước chúng ta khi Người “hy sinh tính mạng” trên thập giá vì bạn hữu là tất cả chúng ta.
          Chúa Giê-su áp dụng cùng một khuôn mẫu tương quan giữa Người với Chúa Cha vào trong mối tương quan giữa Người với chúng ta.  Người mời gọi chúng ta ở lại trong tình thương của Người.  Nghĩa là Người xin chúng ta đừng trốn tránh tình yêu của Người.  Tình yêu của Người thật là lớn lao.  Lớn lao vì Người đã chết do yêu thương chúng ta.  Lớn lao vì Người đã đưa chúng ta từ vị trí tôi tớ lên địa vị bạn hữu của Người.  Lớn lao vì Người không giấu diếm chúng ta điều gì, nhưng “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.  Lớn lao vì chính Người đã “chọn” chúng ta trước, chứ không phải chúng ta chọn Người.
          Vậy chúng ta “ở lại” với Chúa bằng cách nào?  Đơn giản thôi!  “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy”.  Nếu chúng ta thắc mắc hỏi Chúa rằng “Các điều răn của Thầy” là gì, Người sẽ lập tức trả lời:  “Đây là điều răn của Thầy:  anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.  Nói loanh quanh rồi Chúa cũng dẫn chúng ta về khởi điểm là tình yêu.  Tình yêu phát xuất từ Chúa Cha sang Chúa Giê-su, rồi từ Chúa Giê-su sang mỗi người chúng ta, tiếp theo là từ chúng ta sang anh chị em, cuối cùng lại trở về khởi điểm là Thiên Chúa.  Chiêm ngưỡng cái vòng luẩn quẩn này của tình yêu, thánh Gio-an không ngần ngại định nghĩa:  Thiên Chúa là Tình Yêu.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Chúa Giê-su đã “chọn” chúng ta và “cắt cử chúng ta ra đi để sinh hoa trái”.  Người chọn chúng ta không như chọn hàng hóa, lựa rau cỏ, nhưng chọn bằng trái tim và bằng cả tính mạng của Người.  Rồi Người trao cho chúng ta sứ mệnh phải ra đi để sinh hoa trái, hoa trái của tình yêu chúng ta biểu lộ cho nhau.  Chính tình yêu của Người đã sinh hoa trái cho chúng ta trước, đó là ơn cứu độ.  Giờ đây đến lượt tình yêu của chúng ta phải sinh hoa trái cho anh chị em.  Những hoa trái tình yêu của chúng ta nhiều không kể xiết.  Có thể là một người thiếu thốn được chúng ta giúp đỡ.  Có thể là một người bạn không còn sống đạo được chúng ta đem về lại với Chúa.  Cũng có thể là bà mẹ chồng thay đổi thái độ cay nghiệt đối với con dâu.  Hoặc hoa trái tình yêu là bầu khí cởi mở, nâng đỡ nhau giữa mọi người trong gia đình…
          Tất cả những hoa trái của tình yêu đều đem lại niềm vui.  Chúa Giê-su đã làm cho Chúa Cha vui lòng (Mát-thêu 3:17).  Người cũng muốn niềm vui của hết thảy chúng ta được trọn vẹn.  Rồi khi chúng ta biểu lộ lòng yêu thương anh chị em bằng những hành vi bác ái, nâng đỡ, khích lệ, chúng ta cũng cảm nhận được niềm vui.  Đến lượt những người được chúng ta yêu thương, chính họ cũng nhận ra niềm vui nữa.  Tất cả đều là nhờ “ở lại trong tình yêu thương” mà thôi.  Ước gì đó cũng là luật sống của chúng ta!                      
Lm. Đa-minh Trần đình Nhi

 

PS6-B78. Như Thầy Đã Yêu Thương Anh Em

Chúa Nhật VI Phục Sinh B
Gv 15,9-17: 9 Như Cha đã yêu thương Thầy, Thầy cũng yêu thương anh em. Anh em hãy lưu lại trong tình yêu của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ lưu lại trong tình yêu của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và Thầy đang lưu lại trong tình yêu của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn. 12 Đây là điều răn của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.13 Không ai có tình yêu  nào cao cả hơn người trao ban mạng sống mình cho  bạn hữu của  mình. 14  Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy đang truyền cho anh em. 15 Thầy không còn gọi anh em là những  tôi tớ nữa, vì người tôi tớ đã  không biết việc người chủ đang làm; nhưng Thầy đã gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã  nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết. 16 Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, và sinh hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, để bất cứ những gì anh em cầu xin cùng  Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền cho anh em là anh em hãy yêu thương nhau.
 

Đoạn 15:9-17 nầy liên kết chặt chẽ với đoạn tin mừng của Chúa nhật V Phục sinh B. Chủ : PS6-B78

Đoạn 15:9-17 nầy liên kết chặt chẽ với đoạn tin mừng của Chúa nhật V Phục sinh B. Chủ đề của đoạn nầy là tình yêu; đối nghịch là sự căm ghét được bàn đến trong đoạn tiếp theo (15:18-16:4). Đoạn nầy có thể chia thành hai. Những câu 15:9-11 nói đến việc lưu lại trong tình yêu của Chúa Giêsu; những câu 15:12-17, trái lại, tình yêu lẫn nhau.

Đoạn 15:9-17 không phải là sự đọc lại những đoạn 13:31-35 và 14:15.21.23-24 tuy trong đó tìm thấy những yếu tố chung. Trung tâm của đoạn nầy là Chúa Giêsu: tình yêu và giới răn của Người. Cấu trúc “như…., Thầy cũng…”, tiêu biểu của Gioan, muốn nhấn mạnh mẫu gương và bản chất của hành động. Một đàng, việc Chúa Cha yêu thương Chúa Giêsu là mẫu gương cho Người để Người có thể yêu thương các môn đệ. Đàng khác, việc Người yêu thương các môn đệ là gương mẫu cho họ để họ có thể yêu thương nhau. Bản chất của tình yêu nầy cũng được hiểu trong chiều hướng đó. Tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Giêsu, cũng như của Người đối với các môn đệ, và của họ đối với nhau chỉ là một (x. 6:57; 10:15;17:21; 20:21). Khi kêu gọi các môn đệ lưu lại trong tình yêu của Người, Chúa Giêsu dùng cũng cách nói ấy là như chính Người đã giữ giới răn của Chúa Cha, nên Người đang ở lại trong tình yêu của Cha Người; các môn đệ cũng phải làm như vậy. Kết quả sau cùng của việc lưu lại trong Chúa Giêsu là được hưởng niềm vui trọn vẹn. Niềm vui nầy có tính cánh chung, như Gioan đã vui cách trọn vẹn vì thấy Chúa Giêsu đến (3:29), như các môn đệ trong ngày Người về cùng Chúa Cha  (x. 16:24; 17:13).
Đoạn tiếp theo giải thích nghĩa chữ “giới răn” và đưa ra những khía cạnh cụ thể của nó, mà Chúa Giêsu đã đề cập đến trong phần trên (15:12-17). Cụm từ “yêu thương nhau” đóng khung đoạn nầy (cc. 12 và 17); qua đó nói lên nội dung của đoạn nầy là tình yêu lẫn nhau. Giới răn ở đây trước tiên chỉ mệnh lệnh từ Chúa Giêsu là phải hành động như Người đã hành động: đó là yêu thương lẫn nhau như Chúa đã yêu thương mình. Người tuyệt đối không nói gì cả về điều kiện người khác phải có để được yêu thương; vì nếu yêu thương người khác do họ hội đủ những tiêu chuẩn mình muốn, đó là cách yêu thương của dân ngoại (x. Mt 5:46-47).
Tiếp đến, cách thực hành cụ thể của giới răn yêu thương ấy là trao ban mạng sống cho bạn hữu (x. 10:11.15.17-18). Chữ “người bạn” (philos) xuất phát từ gốc động từ “yêu thương”(philein); do đó, yêu thương ai là xem người ấy như bạn hữu (5:20; 11:3; 16:27; 20:2), là thông tri cho nhau biết và hiệp thông với nhau như Chúa Cha đối với Chúa Con (c. 15). Điều nầy không tìm thấy trong tương quan giữa chủ - tớ; như thế, chữ “bạn hữu” đối nghĩa với “tôi tớ”. Chúa Giêsu chọn các môn đệ để họ có thể sống theo cách của Người. Chỉ khi nào sống như Người, họ mới sinh nhiều hoa trái và được Chúa Cha nhận lời (cc. 16-17).
Không ai xứng đáng để được yêu thương, thế mà Thiên Chúa đã yêu thương và trao ban Con của Người (x. Rom 5:7-8). Con người yêu thương nhau là làm lại cho người khác hành vi yêu thương nhưng không mà Chúa Giêsu đã làm cho họ.
Lm. Đặng Quang Tiến
 

PS6-B79.  ĐỂ TIN VUI ĐƯỢC LAN TỎA

Sau 33 năm “trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2, 7), nhất là sau 3 năm gắn : PS6-B79

Sau 33 năm “trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2, 7), nhất là sau 3 năm gắn bó với các tông đồ, những môn đệ yêu dấu, Đức Giêsu rất hiểu tâm tính của nhân loại nói chung và của các ngài, nói riêng. Một trong những bất toàn mà các ngài đã có lần tranh giành nhau địa vị làm trưởng nhóm, hay ít ra cũng được làm phó. Trong một nhóm nhỏ đã từng sát cánh, từng chia sẻ ngọt bùi bên Người đến như thế mà còn có những tham vọng cao thấp, trên dưới, thầy trò, trước sau như vậy thì làm sao có thể làm cho Tin Mừng Yêu Thương lan tỏa ra được. Và để chuẩn bị cho chương trình loan báo “Thiên Chúa Là Tình Yêu” (1Ga 4, 8) mà “Thầy đã chọn anh em và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái” (Ga 15, 16), Đức Giêsu đã không những thể hiện bằng việc làm rửa chân cùng với mẫu gương tuyệt vời là “nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14), mà Người còn để lại lệnh truyền “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12). Người đã không còn coi các môn đệ là tôi tớ, là học trò,  là bề dưới mà là bạn hữu thân tình và còn là anh em con cùng một Cha trên trời. Và để liên kết chặt chẽ với nhau hầu công cuộc loan báo Tin Mừng được sinh nhiều hoa trái dồi dào, Người nhấn mạnh đến bí quyết thành công đem lại hoa trái trường tồn mà Người đã từng trải qua. Đó chính là đời sống cầu nguyện, vì “tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha, nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em” (Ga 15, 16).
Với cảm nghiệm đơn sơ, chân thành và rất người của Đức Giêsu qua những lời tâm sự cuối cùng của Người trong Tin Mừng Gioan đoạn 15, từ câu 12 câu đến 17 mà tôi nhận ra trong chương trình “Tin Vui Cho Người Bệnh Nghèo” có một sức lan tỏa rất ư là kỳ diệu. Sức lan tỏa không chỉ nhìn trên không gian và thời gian, sau một tháng Tin Vui này được truyền đi. Tin Vui trên không chỉ đọng lại nơi vùng cao nguyên Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột mà đã lan sang Đà Lạt, Vinh, Huế, rồi Đồng Nai, Saigon và cả một xóm nhỏ miệt Vĩnh Long. Sức lan tỏa không chỉ tính trên số lượng dầu dừa tăng cao trong 2 tuần đầu từ con số 18 can lên đến 30 can trong 2 tuần lễ kế tiếp. Vị chi, mới trong một tháng từ 14/04/2009 đến 14/05/2009, tổng số dầu dừa gửi đến các nơi đã vượt lên 48 can tức 1.440 lít.
Sức lan tỏa này có sự kỳ diệu bởi sức bật của lòng yêu thương nhau được hòa quyện cùng với “niềm vui được cắt tỉa” đã được Đấng Phục Sinh chúc phúc ban thêm nguồn sức sống mới.
Vị linh mục quản hạt nọ, sau khi được anh em giáo dân giới thiệu liệu pháp nhai và sử dụng dầu dừa chữa bệnh, đã mau mắn mời gọi những người phụ trách các giáo xứ trong hạt để cùng nhau bàn thảo, phổ biến về công hiệu của phương pháp mới này và cùng nhau phân phối đến tay người bệnh nghèo, nhất là các anh chị em dân tộc đang sinh sống nơi những vùng hẻo lánh xa xôi trong hạt. Mọi người ngồi lại với nhau trong một tinh thần thân hữu liên kết cùng nhau lo lắng cho những người đang cần sự giúp đỡ sẻ chia. Để rồi sau đó, mỗi đơn vị nhận được số dầu dừa ban đầu đang còn hạn chế và đang trong thời kỳ thử nghiệm thiết yếu.
Một dòng tu kia, sau khi nhận được “Tin Vui Cho Người Bệnh Nghèo” từ vị linh mục linh hướng của nhà dòng hiện đang phục vụ tại Ai Cập, cũng đã sắp xếp công việc bề bộn của mình để rồi cùng với nhóm bác ái liên kết với nhà dòng tìm đến địa chỉ cần thiết hầu tiếp sức cho các bệnh nhân đang mang mầm bệnh của thế kỷ, bệnh AIDS, mà mọi người đang ra sức giành giựt lại sự sống vốn quí của họ. Chỉ sau 2 tuần áp dụng liệu và phương pháp điều trị mới các bệnh nhân đã có tín hiệu vui do tính đơn giản và hiệu quả bất ngờ của cách chữa trị rất mới mẻ lại rẻ tiền này.
Một nhóm nhỏ khác đang trao đổi kinh nghiệm với nhau về dự án chữa bệnh nhân AIDS tại một trung tâm điển hình nào đó. Trong nhóm này, có người là linh mục đáng kính ở Kinh Thành Rôma, có người là giáo dân ở vùng tuyết lạnh Oklahoma, có con chiên ngoan ngoãn ngụ tại Hố Nai, Biên Hòa, có người là công nhân mẫn cán của một công ty tại Saigon sôi động. Tất cả, bất luận ở phương trời nào, ở cương vị phẩm trật nào đều cùng nhau động não tìm ra một biện pháp khả thi nhất để giúp đỡ những con người đang lầm than và đang rất cần những tấm lòng nhân ái bao la.
Một nhóm khuyết tật gồm 15 anh chị em đa số phải ngồi trên xe lăn cũng nương tựa vào nhau để liên lạc với “Tin Vui Cho Người Bệnh Nghèo” nhằm giải quyết những tồn tại còn đang hằn lên vết đau thương trên cơ thể đã héo tàn của họ. Mọi người cứ như hớn hở chia nhau món qùa nhỏ mọn nhưng thật ấm cúng tình người chan chứa. Niềm vui cũng rạng rỡ khi phần nào đã xoa dịu được cơn đau sau 2 tuần mải mê với nhai, súc, với uống ăn và xoa bóp dầu dừa nơi những vùng đang làm họ xót xa buốt đau.
Một chị nữ tu nào đó, khi cùng ngồi trên xe buýt, đã mạnh dạn mách bảo cho một hành khách cùng giới khác về Tin Vui trên để rồi sau đó, chị ta đã không ngần ngại đường xá xa xôi để có được nguồn dầu dừa như mong đợi.
Cứ thế, cứ thế, từ một người bệnh ngay trong cơ thể khiếm khuyết của mình cho đến các tu sĩ nam cũng như nữ và cả những vị chủ chăn, tất cả đều cùng hướng nhìn về những người bệnh nghèo khổ, bởi chính những người này là hiện thân của Chúa Kitô, là anh em với nhau. Tất cả họ đang ôm ấp “niềm vui được cắt tỉa” và đang ra sức liên kết lại với nhau và cùng nhau thực hiện lệnh truyền của Chúa Giêsu, cũng như đang lắng nghe được tiếng réo rắt mời gọi của vị Tồng Đồ đã từng được kề bên trái tim sống động yêu thương của Chúa Giêsu, khi ngài tha thiết nhắn nhủ và xác tín: “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 8).
Lạy Cha nhân ái,
Xin Cha chúc lành cho chúng con để “Tin Vui Cho Người Bệnh Nghèo” được lan tỏa vì Chúa Giêsu, Con Yêu Dấu của Cha đã mặc khải cho chúng con rằng: “Tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha, nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em”. Amen.
Chúa Nhật VI PS, 17/05/2009
Phêro Vũ văn Quí CVK64
Email: peterquivu@gmail.com
 

PS6-B80.  Chúa Nhật VI Phục Sinh, B

2009
 

Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa là tột đỉnh của Mầu nhiệm Phục Sinh và Phụng vụ Lời Chúa: PS6-B80

Tình yêu cứu độ của Thiên Chúa là tột đỉnh của Mầu nhiệm Phục Sinh và Phụng vụ Lời Chúa các Chúa Nhật Phục Sinh đều cố gắng trình bày những khía cạnh khác nhau của tình yêu ấy.  Tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ qua cái chết và sống lại của Chúa Ki-tô:  Người đã chết để chuộc tội lỗi ta và đã sống lại để ban cho ta đời sống mới trong Thánh Thần.  Để chuẩn bị cho  ta được lãnh nhận Thánh Thần, Lời Chúa hôm nay bắt đầu giới thiệu với ta về vai trò của Thánh Thần là tình yêu của chính Thiên Chúa Ba ngôi. 
1.Chúa Thánh Thần được sai đến để tiếp nối công trình cứu độ của Chúa Ki-tô trong Giáo Hội (bài đọc Tân Ước – Cv 10:25-26.34-35.44-48)
          Sách Công vụ Tông Đồ đã kể lại những lần các Tông Đồ rao giảng và việc hàng ngàn người trở lại đạo.  Mỗi lần như vậy ta lại thấy sự kiện Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên họ.  Sau khi giảng Tin Mừng cho gia đình ông Cô-nê-li-ô là những người dân ngoại, Thánh Thần cũng ngự xuống trên họ.  Điều này đã gây nên một phản ứng mạnh cho ông Phê-rô và “những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông”.  Tất cả đều “kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống cả trên các dân ngoại nữa” (Cv 10:44).  Điều này đã giúp cho ông Phê-rô đi tới một quyết định hết sức cách mạng, đó là quyết định làm phép rửa tội cho cả những anh em dân ngoại “nhân danh Đức Giê-su Ki-tô”.
          Đúng vậy, vai trò của Thánh Thần là hợp nhất, là phá bỏ mọi ranh giới ngăn cách nhân loại với nhau và với Thiên Chúa.  Cây cầu tình yêu nối trời với đất và nối người với người đang hoạt động ráo riết.  Thánh Thần đã ngự xuống trên các Tông đồ và anh chị em tín hữu khắp nơi là để qui tụ họ lại thành một nhân loại mới của Thiên Chúa.  Người sẽ “canh tân bộ mặt trái đất” để đưa mọi người vào Giáo Hội Chúa Ki-tô, Đấng là con đường, sự thật và sự sống (Ga 14:6).  Ông Phê-rô đã nói về bước đầu để gia nhập vào Giáo Hội ấy khi ông tuyên bố với gia đình ông Cô-nê-li-ô:  “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào.  Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10:34-35).
          Có lẽ ta thắc mắc không hiểu sao Giáo Hội sơ khai lại phát triển một cách mau lẹ và mạnh mẽ như vậy.  Chính là vai trò của Chúa Thánh Thần, Đấng đã “mở rộng cửa đón Đức Ki-tô” (chủ đề của Năm Thánh 2000) cho tất cả những ai muốn tìm về chân lý.  Thêm vào đó, vị đại diện Chúa Ki-tô là Phê-rô đã mau mắn nói lên “quyết định của Thánh Thần và chúng tôi [các Tông đồ]” (xem Cv 15:28) không đòi hỏi điều gì khác nơi những anh chị em muốn quay về với Chúa Ki-tô, miễn là họ “kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành”, có thiện chí muốn trở thành môn đệ của Người.
          Thánh Thần ngự xuống chính là dấu chỉ và bảo đảm rằng ơn cứu độ của Thiên Chúa có tính cách phổ cập, kế hoạch cứu độ là dành cho toàn thể nhân loại chứ không riêng gì một dân tộc được tuyển chọn.  Chúa Ki-tô đã khởi đầu kế hoạch ấy bằng cái chết và sự sống lại của Người.  Người sắp trở về với Chúa Cha, nhưng không phải là bỏ dở công việc.  Trái lại, kế hoạch vẫn tiếp tục và chuyển sang một giai đoạn mới, là giai đoạn Thánh Thần tức Thần Khí của Chúa Ki-tô tiếp tục tác động trên nhân loại và thay đổi bộ mặt địa cầu.  Sự hiện diện của Chúa Ki-tô ở trần gian cần thiết cho việc rao giảng Tin Mừng, làm dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa bằng cái chết trên thập giá.  Nhưng chính Thần Khí của Người mới thực là sức mạnh rời chuyển núi non, đấu tranh với quyền lực ma quỷ để giành lại nhân loại, qui tụ họ về một mối là Tình Yêu Thiên Chúa.
2.  Thánh Thần là Tình Yêu liên kết Ba Ngôi với nhau và với nhân loại (bài Tin Mừng – Ga 15:9-17)
          Trong cuộc đàm thoại giữa Thẩy trò với nhau trong đêm họp mặt cuối cùng, Chúa Giê-su nói thật nhiều, làm như không còn cơ hội nào để họ quây quần với nhau trong sự hiện diện thể xác của Người.  Chúa Giê-su không nói thẳng về Chúa Thánh Thần trong đoạn Tin Mừng hôm nay, nhưng ở lúc đầu cuộc đàm thoại (Ga 14:16-17.26).  Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc đàm thoại, ta hiểu rằng các ý tưởng của Chúa Giê-su vẫn liên tục, điều này soi sáng cho điều kia.  Do đó, những gì Người đang nói với các môn đệ về tình yêu cũng chính là những gì Người đang suy niệm về vai trò của Chúa Thánh Thần.
          Vậy trước hết Chúa Giê-su nói về nguồn cội Tình yêu là chính đời sống yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa.  “Chúa Cha đã yêu mến Thầy”, thực tại này nói lên bản chất của Thiên Chúa.  Mối liên kết yêu thương giữa Cha-Con là chính Thánh Thần.  Tình yêu ấy phải được đổ tràn xuống tạo vật là nhân loại.  Cho nên khi Chúa Giê-su “tỏ tình” rằng “Thầy cũng yêu mến anh em như vậy” là Người muốn nói về tình yêu của Thiên Chúa dành cho ta.  Người yêu ta bằng tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu vô điều kiện, tình yêu sẵn sàng hy sinh mạng sống vì người mình yêu.  Khi có được tình yêu đích thực, nó sẽ biến đổi thân phận và cuộc đời ta.  Kinh nghiệm sống đã cho ta thấy điều ấy.  Bao nhiêu cuộc đời đã thay đổi nên tốt đẹp chỉ vì người ta có được một tình yêu chân thành.  Ở đây, Chúa Giê-su muốn nêu lên một hoa trái thực tiễn của đời sống yêu thương:  Người gọi sống yêu thương là “một niềm vui” là niềm vui Người cùng hưởng trong tình Ba Ngôi Thiên Chúa và người mời gọi ta chung hưởng niềm vui ấy với Người.  “Các điều ấy [về tình yêu], Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11).
          Nhưng xác định tình yêu để làm gì nếu không phải là Chúa muốn dạy ta noi theo mẫu gương yêu thương ấy.  Vậy bài học đầu tiên về tình yêu Người dạy ta là phải biểu lộ tình yêu chân thành bằng việc làm, cụ thể là “giữ các điều răn của Thầy”.  Yêu theo kiểu thế gian là yêu “bằng đầu môi chót lưỡi”, lấy lời nói để che lấp sự giả dối của họ.  Tiếp đến là hãy yêu thương đến cùng, hãy trung thành trong tình yêu.  Đó mới là mức độ của yêu thương.  Người ta không thể đo lường tình yêu bằng những giá trị vật chất, nhưng bằng hy sinh, từ hy sinh nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày cho tới “hy sinh tính mạng”, tức là những hy sinh to lớn gắn liền với cái tôi của ta. 
          Bài học kế tiếp là sức mạnh biến đổi của tình yêu.  Tình yêu đích thực của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ đã biến đổi thân phận họ.  Thánh Thần của Người đã xóa đi sự ngăn cách giữa Người và các môn đệ.  Thánh Thần đã thăng hoa địa vị của các môn đệ Chúa Giê-su:  từ chỗ đứng tôi tớ, họ đã được nâng lên làm “bạn hữu của Thầy”.  Là bạn hữu của Chúa Giê-su, họ sẽ được nghe “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”.  Nghĩa là Chúa Giê-su muốn để cho tình yêu của Người đem các môn đệ Người vào tận cung lòng của Thiên Chúa Ba Ngôi, chia sẻ tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa, để “niềm vui” của họ được nên trọn vẹn.
          Bài học sau cùng về tình yêu là tình yêu đích thực phải “sinh hoa trái tồn tại mãi mãi”.  Cụ thể là tình yêu Thiên Chúa đến với ta qua Chúa Giê-su đã để lại hoa trái tốt đẹp và vững bền, đó là tình yêu thay đổi căn tính của ta ngay từ đời này và qua Chúa Thánh Thần sẽ dẫn ta về quê hương vĩnh cửu.  Tuy nhiên việc sinh hoa trái tình yêu không đơn phương về phía Thiên Chúa, mà còn tùy thuộc vào việc đáp trả của ta có thi hành những gì Chúa Giê-su đã dạy hay không.
3.  Thánh Gio-an giúp ta ôn lại bài học yêu thương của Chúa Giê-su (bài đọc Tân Ước – 1 Ga 4:7-10)
          Một lần nữa cụ già Gio-an lại muốn lũ con cháu ôn lại bài học yêu thương.  Bài học này quả thực dễ quên lắm, nên cứ phải lập đi lập lại hoài!  Trước hết ngài đặt lại vấn đề căn bản:  tại sao phải yêu thương.  Câu trả lời của ngài thật đơn giản:  vì yêu thương là trở về nguồn.  Nguồn gốc của tình yêu chính là Thiên Chúa, và nguồn gốc của ta cũng chính từ Thiên Chúa mà ra, vì ta “đã được Thiên Chúa sinh ra” do tình yêu.  Thiên Chúa đã tạo dựng ta, đóng dấu ấn tình yêu của Người, để ta trở nên khí cụ đem tình yêu của Người đi khắp nơi, biến thế giới này thành lò lửa (Focolare) của Thiên Chúa, giống như Chúa Giê-su, Đấng đem lửa yêu thương của Thiên Chúa đến trần gian và mong ước ngọn lửa ấy bừng cháy lên.
          Vậy bài học yêu thương thánh Gio-an muốn lập lại ở đây là:  yêu thương nghĩa là trao tặng tất cả những gì mình có.  Gương mẫu trao tặng là chính Thiên Chúa, vì Người đã “sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống”.  Hóa ra sự sống của ta còn nặng ký hơn cả sự sống của Con Một Thiên Chúa hay sao?  Đúng như vậy đó.  Bằng chứng là Chúa Ki-tô đã thực sự chết trên thập giá vì ta.  Người lấy cái chết để cho ta được sống, sống như con cái Thiên Chúa.
          Điểm thứ hai trong bài học yêu thương của Thiên Chúa là nếu yêu thương đích thực thì phải biết đi trước.  Thiên Chúa đã đi bước trước nhân loại.  Người không ngồi đấy chờ ta đến với Người trước, nhưng Người đích thân đến với ta trước.  Người có sáng kiến đến với ta trước qua Con Một là Chúa Giê-su Ki-tô.  Người không đợi ta đến tạ tội với Người, nhưng Người đến với ta trước để “làm của lễ đền tội cho chúng ta”.
          Chỉ hai điểm này thôi cũng qua đủ để ta tập tành yêu thương suốt đời rồi!  Với bản chất ích kỷ của con người, ta khó mà chấp nhận hy sinh và đi bước trước trong tình yêu như Thiên Chúa đã làm.  Tình yêu của ta thường so đo, tính toán hơn thiệt chứ không muốn chịu thiệt thòi.  Tự sức riêng ta, ta không thể yêu thương theo mẫu agape, tức là yêu thương đến độ “hoàn toàn trút bỏ vinh quang” (Pl 2:7), sẵn sàng hy sinh mạng sống vì bạn hữu.  Nhưng với ơn Chúa và nhất là với người bạn đồng hành của ta trên con đường yêu thương lại là chính Chúa Giê-su, thì chắc chắn ta sẽ làm được những gì ta không thể.  “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:6).  Sức mạnh tình yêu là Thánh Thần không chỉ thúc đẩy Chúa Giê-su, mà còn thúc đẩy tất cả những ai “ở lại” trong Người.
4.  Sống Lời Chúa
          Với những bài đọc liên hệ đến đề tài yêu thương, Phụng vụ Lời Chúa muốn chuẩn bị tâm hồn ta đón nhận Chúa Thánh Thần và nhất là đời sống mới trong Thần Khí Chúa Ki-tô.  Yêu thương luôn luôn là điều nói dễ làm khó.  Tuy nhiên khó không có nghĩa là không thể.  Ta học bài học yêu thương không phải qua những gì vĩ đại, khác thường, nhưng là qua những cách cư xử nhỏ nhặt hằng ngày, để sống dễ thương như thế, người ta sẽ nhận ra chân tính của ta là con Thiên Chúa và anh chị em với Đức Ki-tô.
Suy nghĩ:  Thánh Gio-an giúp tôi ôn lại bài học yêu thương, là muốn yêu thì phải chấp nhận hy sinh và phải đi bước trước đối với người mình yêu thương.  Điều này đòi tôi phải xét lại cách yêu thương của tôi trong gia đình, nơi sở làm, trong cộng đoàn, trong xã hội và trong Giáo Hội như thế nào?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng, trong những ngày vui này xin cho tất cả chúng con biết đem lòng sốt sắng mừng Đức Ki-tô phục sinh, để Người hiện diện trong cuộc đời chúng con và làm cho chúng con được đổi mới.  Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật VI Phục Sinh).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
 

PS6-B81: CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:        1 Gio-an 4: 7-10
 

Trong phần thứ nhất, Thư 1 Gio-an thường nói về đức tin và đức ái.  Giờ đây thánh Gio-an: PS6-B81

Trong phần thứ nhất, Thư 1 Gio-an thường nói về đức tin và đức ái.  Giờ đây thánh Gio-an so sánh hai nhân đức đó với nhau và mời gọi chúng ta tìm đến nguồn cội của hai nhân đức đối thần ấy.  Trong bài đọc hôm nay, Phụng vụ Lời Chúa trình bày đức ái bắt nguồn từ Thiên Chúa.  Truy nguyên này còn giúp chúng ta đi xa hơn nữa, tức là nhận biết Thiên Chúa không chỉ là nguồn đức ái, nhưng Người còn là chính Tình Yêu.
          Đời sống mới của Ki-tô hữu là sống yêu thương.  Nhưng sống yêu thương phải đặt trên căn bản nào?  Thánh Gio-an trả lời:  trên chính Tình Yêu là Thiên Chúa.  Theo dòng tư tưởng, trước hết ngài đề cập tới bổn phận của Ki-tô hữu là phải thương yêu nhau, rồi giải thích lý do chúng ta phải yêu thương nhau là vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta.  Tuy nhiên để giúp chúng ta thực hành yêu thương, chúng ta sẽ suy gẫm về tình yêu của Thiên Chúa như gương mẫu, sau đó suy nghĩ về bổn phận yêu thương của chúng ta.
a)  Vì Thiên Chúa là tình yêu
          Đó là câu trả lời ngắn gọn, nhưng giải đáp được mọi sự, từ khao khát căn bản của con người cho tới những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống.  “Thiên Chúa là tình yêu” là một trong ba kiểu diễn tả về Thiên Chúa chúng ta đọc thấy trong sách Tin Mừng và Thư I của thánh Gio-an.  Diễn tả “Thiên Chúa là Thần Khí” trong Ga 4:24 nhắc nhở chúng ta về một sự thờ phượng mới và đích thực, không nhất thiết phải ở địa điểm núi này núi kia hay tại Giê-ru-sa-lem, nhưng là trong tinh thần và sự thật.  Diễn tả “Thiên Chúa là ánh sáng” trong 1 Ga 1:5 nói cho chúng ta biết Thiên Chúa là nguồn sự thật và thánh thiện, tức Thiên Chúa của những ai đã được sinh lại trong sự sống mới;  do đó từ nay họ phải “đi trong ánh sáng” và “hành động theo sự thật.”
          Chúng ta là con cái của Sự Sáng nên phải đi trong ánh sáng, cũng vậy, chúng ta là con cái của Tình Yêu nên phải sống yêu thương.  Lý lẽ thánh Gio-an sử dụng để biện minh cho một lối sống Ki-tô hữu đích thực bao giờ cũng dựa trên căn bản chúng ta là con cái Thiên Chúa, như chúng ta thấy qua các bài đọc từ Chúa Nhật 2 Phục Sinh trở đi.
          Diễn tả Thiên Chúa là tình yêu, thánh Gio-an không có ý sử dụng một ý niệm tình yêu trừu tượng của triết học, tình yêu “nơi đầu môi chót lưỡi” (3:18), nhưng là tình yêu tích cực, sáng tạo và sống động được biểu lộ bằng hành động cụ thể.  Ngài nêu lên hai hành động cốt yếu của tình yêu Thiên Chúa:  sai Con Một đến thế gian để chúng ta được sống, và yêu thương chúng ta trước khi chúng ta yêu mến Người.  Quả thực là tình yêu của Cha dành cho con cái!  Cha lúc nào cũng nghĩ tới và lo lắng cho sự sống của con cái.  Cha lúc nào cũng yêu thương con cái trước khi con cái biết yêu mến mình.  Tuy nhiên tình yêu người cha thế gian cũng chỉ là tương đối, không thể hoàn toàn nói lên được tình yêu tuyệt đối và vô điều kiện của Cha trên trời.  Tình yêu tạo dựng của Thiên Chúa đã phong phú bao la, thì tình yêu cứu chuộc của Người lại có vẻ còn tràn đầy sung mãn hơn nữa.  Chính vì thế Người đã không tiếc Con Một, để cho Chúa Giê-su “làm của lễ đền tội vì tội lỗi chúng ta.”
 b)  Bài học vỡ lòng về tình yêu:  Ai yêu thương thì biết Thiên Chúa
          Ngay từ khi đứa bé bắt đầu bập bẹ trên lòng mẹ, nó đã được dạy những lời yêu thương như gọi mẹ, gọi ba, nói I love you, hoặc những cử chỉ yêu thương như hôn, hôn gió, ôm... để biểu lộ mối quan hệ giữa nó với người khác.  Thánh Gio-an cũng gợi lên ở đây bài học vỡ lòng về yêu thương với một khẳng định ngắn gọn, rõ ràng:
          Ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra:  Yêu thương không phải đơn thuần là một cử chỉ trong một khoảnh thời gian và dành cho một người nào đó mà thôi.  Nhưng yêu thương là một thái độ, một quan hệ, một lối sống hoặc một hành trình liên tục mà mỗi người chúng ta phải giữ gìn và phát triển.  Cũng vậy, “được Thiên Chúa sinh ra” không có nghĩa là sau khi tôi được rửa rội, thế là tôi đương nhiên làm con cái Thiên Chúa vĩnh viễn!  Nhưng là tôi phải tiếp tục tập “làm con cái Thiên Chúa,” tiếp tục trở nên những con người sống yêu thương như Cha muốn tôi sống.  Nói cách khác và vắn gọn:  Khi tôi sống yêu thương thì đích thực tôi là con cái Thiên Chúa.
          Trái lại, ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa:  Đây chỉ là một cách trình bày khía cạnh tiêu cực của cùng một khẳng định.  “Không biết Thiên Chúa” là lối nói ám chỉ những người không thuộc về Thiên Chúa, không phải là con cái Người, không sống trong mối quan hệ mật thiết với Người.
          Vậy chúng ta phải sống yêu thương như thế nào?  Biết sao thì sống như vậy.  Chúng ta biết Thiên Chúa đã yêu thương đến cùng, không giữ lại gì cả, như Chúa Cha đã cho đi Con Một của mình, như Chúa Con đã chết trên thập giá, và như Chúa Thánh Thần đã được trao ban “vô ngần vô hạn” (Ga 3:34).  Chúng ta biết Thiên Chúa đã yêu thương trước;  Người không đặt điều kiện, không tính toán.  Quan trọng hơn nữa, đó là chúng ta có dám sống những điều mình biết không.  Để giải đáp cho thách đố này, chúng ta hãy trở lại với chân lý:  Vì Thiên Chúa là tình yêu.
 Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Đoạn thư của thánh Gio-an đòi chúng ta phải xác định lại căn tính đích thực của mình.  Vậy Thiên Chúa là tình yêu, và tôi là con Thiên Chúa nên tôi là con của Tình Yêu.  Tôi xác tín điều này như thế nào trong qua khứ?  Xác tín “lơ mơ” về căn tính của mình đã ảnh hưởng tới cuộc sống quá khứ của tôi thế nào?
          Yêu thương hết lòng và không điều kiện là đặc tính của tình yêu Thiên Chúa.  Tôi áp dụng những điểm ấy vào cuộc sống hằng ngày đối với những người chung quanh tôi như thế nào?
          Tôi có hiểu được cách Phụng vụ Lời Chúa trình bày qua bài đọc Tân Ước về chủ đề sống như con cái Thiên Chúa như thế nào không?  Tôi đọc lại từ Chúa Nhật 2 Phục Sinh để có một cái nhìn nhất quán.
 Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, hát bài “Đâu có tình yêu thương”, hoặc cầu nguyện với lời nguyện sau đây:
Lạy Chúa, xin cho con quả tim của Chúa.
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa, vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thườngđể mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.
Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, mọi trả thù ti tiện.
Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng, không một biến cố nào làm xáo trộn, không một đam mê nào khuấy động hồn con.
Xin cho con đừng quá vui khi thành công, cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.
Xin cho quả tim con đủ lớn để yêu người con không ưa.
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở để có thể ôm cả những người thù ghét con.
 (Trích RABBOUNI, lời nguyện 3)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
 

PS6-B82: YÊU NHƯ THẦY

Ga 15, 9 - 17
"Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương ".
 

Trước khi đi vào con đường khổ giá, Chúa Giêsu đã không để lại một tài sản có thể liệt kê: PS6-B82

Trước khi đi vào con đường khổ giá, Chúa Giêsu đã không để lại một tài sản có thể liệt kê, cũng chẳng để lại một kho tàng có thể hoá giá, mà chỉ để lại một tâm sự gởi gấm được coi như bí mật cuối cùng và quý giá nhất của Ngài. Đó là lệnh truyền: "Anh em hãy yêu thương nhau". Trước đây Chúa Giêsu đã đề cập nhiều đến giới luật yêu thương rồi, nhưng trong giờ phút chia tay thì đó là mối bận tâm lớn nhất của Ngài. Yêu thương nhau là dấu hiệu rõ nhất để nhận ra ai là kẻ thuộc về Ngài "Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy, là chúng con yêu thương nhau".
Chúa Giêsu muốn thấy các môn đệ mình yêu thương nhau và Ngài muốn cảnh giác mối nguy cơ chính yếu luôn rình rập các môn đệ, đó là sự thiếu lòng yêu thương nhau. Vì vậy, đây là một trăn trở lớn nhất cần được nói ra một lần thay cho tất cả. Và Chúa Giêsu đã nói: "Điều răn của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau" (Ga 15, 12). Thế là lời trăn trở củaThầy đã biến nên lời trăn trối cho các môn đệ trong phút biệt ly. Như một tâm sự sau cùng cần phải ghi nhớ, như một di chúc thiêng liêng tuyệt đối  không bao giờ được đặt lại vấn đề và là một lệnh truyền nhất thiết phải thể hiện bằng được trong cuộc sống. Nên " yêu thương nhau" đã là một bổn phận chi phối toàn bộ đời người môn đệ Chúa Giêsu và làm nên căn cước cho họ " Ai yêu thương thì bởi Thiên Chúa mà ra".
Sống yêu thương thì dễ hiểu rồi, bởi vì là con người thì ai ai cũng biết mình có bổn phận phải yêu thương. Yêu thương là điều răn quan trọng nhất, là điều răn gồm tóm tất cả mọi điều răn khác. Nhưng phải yêu thương ai?  Chắc chắn đây không phải chỉ nói với những người lập gia đình, sống đời hôn nhân nhưng Chúa Giêsu nói với tất cả mọi người. Vì thế ta phải hiểu chữ yêu thương nhau theo nghĩa rộng, chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người. Giới răn của Chúa là như vậy. Nhưng nhìn lại thực tế, chúng ta chỉ yêu thương một số người như cha mẹ, anh chị em ruột, một vài bè bạn thân thiết, vài người yêu thương của chúng ta. Còn lại biết bao nhiêu người khác chúng ta chưa yêu thương, chúng ta không muốn yêu thương, và thậm chí chúng ta còn thù ghét nữa. Vì thế, vấn đề đặt ra là làm thế nào để chúng ta có thể yêu thương hết tất cả mọi người như Chúa đã dạy chúng ta? Hơn nữa, Chúa bảo chúng ta hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con. Vậy yêu thương như Chúa Giêsu là yêu thương như thế nào? Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Thầy không coi các con là tôi tớ, nhưng Thầy coi các con là bạn hữu của Thầy". Chúa Giêsu là Thầy, là Chúa; còn các môn đệ là người, là học trò. Cho nên nếu Chúa muốn coi các ông là tôi tớ thì cũng được. Nhưng không, Chúa không muốn coi họ là tôi tớ thấp hèn, mà muốn coi họ là bạn hữu ngang hàng với Chúa. Nghĩa là Chúa tôn trọng họ. Tình yêu của Chúa là tình yêu đi đôi với lòng tôn trọng. Vậy nếu chúng ta muốn yêu thương tất cả mọi người thì chúng ta cũng phải tôn trọng tất cả mọi người, như Đức Giêsu đã tôn trọng. 
Chúng ta đang yêu thương một số người, như cha mẹ, anh chị em, bạn bè, chồng vợ, người yêu thương của mình. Để cho những tình yêu thương ấy được bền vững, chúng ta biết tôn trọng nhau. Dù những người đó có điều gì trái ý ta, dù có điểm tính tình họ khác ta, ta cũng phải tôn trọng họ, bởi vì mọi người là một cá thể độc đáo không ai hoàn toàn giống ai. Ta không được bắt buộc ai phải giống như mình. Ta phải tôn trọng quyền của họ có khác với quyền của ta. Có như vậy mới tránh được những xung đột, sứt mẻ trong tình yêu thương nhau.  Và còn rất nhiều người mà chúng ta chưa yêu thương. Tuân giữ giới răn của Chúa, ta cũng phải cố gắng yêu thương họ. Muốn vậy, việc đầu tiên phải làm là ta phải dẹp bỏ mọi thành kiến, mọi kỳ thị, phải tôn trọng họ, tôn trọng những điểm khác biệt nơi họ, tôn trọng quyền tự do của họ, ngay cả khi họ có những khuyết điểm lỗi lầm ta vẫn phải tôn trọng con người của họ, bởi vì lỗi lầm là lỗi lầm, nhưng con người vẫn là con người, vẫn có nhân phẩm, và ta yêu thương là yêu thương chính con người đó, yêu thương chính nhân phẩm đó. Chúa Giêsu nói "Chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương chúng con". Theo lời Chúa dạy, chúng ta hãy cố gắng yêu thương tất cả mọi người, và theo gương Chúa làm, chúng ta hãy cố gắng tôn trọng tất cả mọi người.
Hơn nữa, chúng ta phải yêu người như Chúa yêu ."Cha đã yêu mến Thầy thế nào,Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em". Đó là một tình yêu mở ra cho hết mọi người không giới hạn cũng chẳng trừ ai (x.bài đọc 1), một tình yêu san bằng mọi hố sâu ngăn cách, dẹp bỏ mọi hàng rào cản trở để người người gần gũi nhau hơn. Tình yêu đó chủ động đi bước trước (x.bài đọc 2), cho tôi tớ trở thành bạn hữu, người xa lạ trở thành thân quen. Để nếu cần, tình yêu đó sẵn sàng mạo hiểm đến liều mạng sống : "Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì bạn hữu".    
Tình yêu đáp lại tình yêu. Nhận ra mình là kẻ được Chúa yêu, chúng ta phải biết đáp trả bằng một tình yêu trung tính đối với Thiên Chúa và tình yêu chân thành đối với mọi người anh em. Phải biết "Yêu như Chúa yêu" và "yêu người như yêu Chúa". Yêu như Chúa yêu nghĩa là không đóng khung giới hạn, biết đến với mọi người. Yêu người như yêu Chúa, nghĩa là không chỉ nhận ra trong những con người chúng ta phải yêu mến khuôn mặt của người anh em, mà còn là khuôn mặt của chính Đấng đã yêu chúng ta bằng tình yêu lớn nhất của Ngài.
Mỗi thánh lễ là một cử hành về tình yêu lớn nhất, qua đó Chúa Kitô hiến thân cứu độ muôn người. Xin cho chúng ta hôm nay gặp lại chính mình là kẻ biết yêu người khác. Và xin Chúa luôn thanh luyện tình yêu của chúng ta để từng ngày chúng ta biết chân thành yêu như Chúa yêu, yêu người như yêu Chúa, vì Chúa là tình yêu.
Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa giúp chúng con luôn nhớ lời căn dặn của Chúa, để chúng con luôn biết sống yêu thương nhau, yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương chúng con, để chúng con luôn làm tròn sứ mạng Chúa đã trăn trối, để chúng con luôn là môn đệ đích thực của Chúa. Amen.
 

PS6-B83: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Ga. 15, 9 - 17.
 

Trải qua hằng bao nhiêu thế kỷ, các văn nhân, thi sĩ, tốn rất nhiều giấy mực để ca tụng một vấn: PS6-B83

Anh chị em thân mến.Trải qua hằng bao nhiêu thế kỷ, các văn nhân, thi sĩ, tốn rất nhiều giấy mực để ca tụng một vấn đề rất cổ xưa nhưng cũng rất hiện đại, và có lẽ vấn đề nầy sẽ còn rất nhiều người nói đến mãi, cho đến khi nào không còn con người hiện diện trên trái đất nầy mới thôi. Đó là vấn đề Tình Yêu. Trong trào lưu ca tụng tình yêu, cố thi sĩ Xuân Quỳnh cũng có bài thơ đã được phổ nhạc mang tên: "Thuyền và Biển."

Trong đó có mấy câu dể gây cảm xúc cho người nghe:Chỉ có thuyền mới hiểu,Biển mênh mang nhường nào.Chỉ có biển mới biết,Thuyền đi đâu về đâu.Những ngày không gặp nhau,Biển bạc đầu thương nhớ.Những ngày không gặp nhau,Lòng thuyền đau - rạn vỡ.

Thuyền và biển làm cho nhau thêm phong phú. Nếu không có thuyền trên biển, biển sẽ yên lặng trong cô đơn, hay chỉ là những cơn cuồng nộ giận dữ. Nếu không có biển thì con thuyền cũng trở nên vô dụng, vì không thể phát triển được những gì của con thuyền đòi hỏi.

Chúa Giêsu luôn kêu gọi mọi người sống trong tình yêu. Hôm nay một lần nữa chúng ta lại nghe Ngài nói về tình yêu một cách cụ thể hơn. Ngài kêu gọi mọi người hãy đến và ở lại trong tình yêu bao la của Thiên Chúa Cha. Điều làm cho con người được phong phú : Đó là tình yêu. Tình yêu bao la của thiên Chúa bao bọc con người, để cho con người có thể ngụp lặn trong biển tình tuyệt vời đó. Sống trong tình yêu Thiên Chúa, con người được trở nên phong phú, cuộc đời mới có giá trị. Nếu tách rời khỏi biển tình yêu Thiên Chúa, con người sẽ trở nên vô dụng, cuộc đời sẽ từ từ đi vào cỏi chết. Sống mà không có tình yêu thì không phải là sự sống đích thực."Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy."

Con thuyền cuộc đời của chúng ta, được Thiên Chúa trang bị thật đầy đủ, để có thể ra khơi trong biển Tình yêu bao la của Thiên Chúa. Chẵng lẽ con thuyền ra khơi mà không định hướng, không mục đích. Không lẽ con thuyền ra khơi mà trên thuyền không mang theo một vật dụng gì hết. Không thể chấp nhận được, khi con thuyền đi vào biển cả mà không có một sự chuẩn bị nào cho xứng đáng.

Ra khơi trên biển Tình Yêu của Thiên Chúa, con thuyền phải được trang bị bằng những chất liệu của Tình Yêu. Từ chất liệu của con thuyền cho đến những thứ hành trang mà con thuyền mang theo.

Nhìn lại con thuyền cuộc đời của mỗi người chúng ta, Thiên Chúa đã trang bị bằng chất liệu Tình Yêu thật hoàn hảo. Con người chúng ta Thiên Chúa đã tạo dựng bằng Tình Yêu thương của Ngài. Những chất liệu đó giờ đây, có lẽ nó đã bị biến chất phần nào, nó đã bị hao mòn với thời gian, nó không còn đủ mạnh và vững chắc để có thể ra khơi cách an toàn. Nên nhiều khi chúng ta ngại không dám ra khơi trong biển Tình của Thiên Chúa. Chúng ta sợ nó bị hao mòn, chúng ta cũng sợ nó bị chòng chành vì những cơn sóng tình. Một sự sợ hãi còn lớn lao hơn nữa, là chúng ta sợ bị mất hút trong biển Tình yêu bao la của Thiên Chúa. Khi đó vì chúng ta chỉ biết nghĩ đến chính mình, chỉ biết lo cho mình, bảo vệ bản thân, nên chúng ta quá lo sợ.

Chính vì thế mà chúng ta không thể sống đúng được lệnh truyền của Tình Yêu. Những lúc như thế, chúng ta chỉ biết yêu thương có chính mình, ngoài ra, chúng ta chẵng biết yêu thương ai hết. Như thế thì cuộc đời chúng ta giống như con thuyền thật tốt đẹp, thật hoàn hảo, chính vì sự tự hào với dáng vẽ tốt đẹp đó, mà nó sợ không dám đưa mình xuống nước để hoạt động, nên nó mãi ở trên nơi khô cạn. Suốt đời nó cũng là vô ích, mặc dù nó tốt đẹp, nhưng nó không hoạt động được, vì thế nó là một con thuyền chết, là đồ phế thải, vì nó vô dụng. Chẵng lẽ con thuyền cuộc đời của chúng ta lại trở nên vô dụng như thế sao. Chẵng lẽ con thuyền chúng ta không dám ra khơi để lênh đênh trong biển tình của Thiên Chúa sao ?

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho chúng ta biết dùng Tình Yêu để sống với nhau, để con người của mình được ở trong Chúa như con thuyền trong biển cả.

 

PS6-B84: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Ga. 15, 9 - 17.  
 

Có một tác giả nọ nhận định như thế này : "Nếu bạn có thực phẩm để ăn, có quần áo để mặc: PS6-B84

Có một tác giả nọ nhận định như thế này : "Nếu bạn có thực phẩm để ăn, có quần áo để mặc, có một mái nhà che đầu và một nơi để nghĩ qua đêm, là bạn đã giàu hơn 75% dân số trên thế giới này. Nếu bạn có tiền trong ví để xài, có tiền ban phát cho người nghèo, có tiền để dành trong ngân hàng, là bạn đang ở trong 8% những người giàu nhất trên thế giới.

Thưa anh chị em! Chẳng biết điều đó có chính xác hay không, nhưng chúng ta cũng thấy được rất rõ rằng: Giữa người giàu và người nghèo có một khoảng cách rất là xa khi mà thế giới đang theo đuổi cái xu hướng mà người ta gọi là Toàn Cầu Hóa. Và cái nghèo mà người ta nói tới nhiều nhất là cái nghèo về cơm áo gạo tiền. Người ta lo sợ rằng : Với một đà tăng dân số như ngay hôm nay thì sẽ có lúc trái đất này không còn đủ lương thực cho con người nữa.

Thế nhưng, nếu nhìn kỹ một chút, chúng ta sẽ thấy rằng, đó không phải là điều đáng sợ lắm, mà cái đáng sợ hơn hết là cái nghèo đói tình thương trong thế giới ngày hôm nay. Vì nghèo đói tình thương cho nên chiến tranh chưa bao giờ kết thúc. Vì nghèo đói tình thương cho nên mới có cái cảnh "Người ăn không hết, kẻ lần không ra". Vì nghèo đói tình thương cho nên những xung đột, những cãi vã, những tranh giành vẫn xảy ra hàng ngày ở chung quanh chúng ta.

Lời Chúa trong Thánh Lễ chiều hôm nay mời gọi từng người trong chúng ta hãy can đảm dùng một chút thiện chí của mình để góp phần đẩy lùi nạn đói tình thương đang hoành hành nơi bản thân và nơi môi trường sống của chúng ta, qua việc thực hiện lời gọi của Đức Kitô Phục sinh, vị sứ giả của tình thương : "Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con". Và cũng kể từ đây, giới luật yêu thương đã trở thành giới luật mới quan trọng nhất. Nói là kể từ đây có nghĩa là giới luật này nó đã có từ rất lâu. Nơi Cựu Ước chúng ta đã nghe là : "Hãy yêu thương đồng loại như chính mình".

Tôi yêu bản thân tôi như thế nào thì cũng phải yêu người khác như vậy. Nhưng trong Tân Ước, Đức Giêsu đã đẩy những đòi hỏi của giới luật này lên đến một cấp đột mà có lẽ không ai dám nhìn tới : "Hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương các con". Như vậy giới răn mà Chúa gọi là giới răn mới này đòi hỏi chúng ta không phải là lấy chính mình để làm tiêu chuẩn nữa. Bởi vì tiêu chuẩn của con người dù có hào hoa rộng rãi đến đâu đi nữa, thì cũng có yếu tố chủ quan và tiêu cực trong đó, mà phải lấy Chúa làm tiêu chuẩn :"Yêu người như Chúa yêu". Muốn biết đựơc Chúa yêu thương như thế nào, chúng ta phải nhìn lại cuộc đời dương thế của Chúa, mà rõ ràng nhất là trong ba năm rao giảng Tin Mừng : "Không có ai đến với Chúa mà phải ra về tay không, phải ra về trong cay đắng thất vọng cả : Người mù đựơc sáng mắt, kẻ què đi được, người chết được sống lại, kẻ tội lỗi được thứ tha".

Đối với Đức Giêsu, tất cả những kẻ đang đứng trước mặt Người đều là những người rất quan trọng và rất đáng thương. Và sau cùng, Đức Giêsu đã tự nguyện chấp nhận một cái chết tủi nhục trên thập giá để muôn đời trở nên một kiểu mẫu tình yêu cho mọi người : "Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người dám thí mạng sống mình vì bạn hữu". Tình yêu của Chúa đẹp đẽ quá, lý tưởng quá, làm sao tôi có thể trở nên giống như Người được? Thế nhưng bao lâu chúng ta còn hiện diện trong cuộc đời này là bấy lâu chúng ta được Chúa mời gọi : "Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con".

Thưa anh chị em! Có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ đạt đến cấp độ "Như Thầy yêu thương" một cách hoàn hảo đâu. Bởi vì Chúa thì quá tuyệt vời thánh thiện, còn chúng ta thì ngược lại có quá nhiều giới hạn, nhiều thiếu sót mà giáo lý nhà Phật gọi là "tham, sân, si".

Thế nhưng, chúng ta không vì thế mà tự cho phép mình xao lãng hay miển chuẩn giới răn đặc biệt quan trọng đó. Chúa không đòi hỏi chúng ta phải tự treo mình trên Thánh Giá vì anh chị em, Chúa cũng không buộc chúng ta phải trở nên một Têrêsa Calcutta vĩ đại suốt đời lo lắng cho người khác, hay một cha Thánh Maximilianô Kolbê anh hùng chết thay cho người bạn tù của mình.

Thế nhưng, chúng ta lại có rất nhiều dịp để thể hiện tình thương của mình cho người khác, để sống cho tha nhân. Mà sống cho tha nhân là chết cho chính mình. Chúng ta không thể chết như Chúa được thì hãy chết trong mồ hôi và nước mắt, chết trong những hy sinh âm thầm hằng ngày qua những lần chúng ta rộng rãi thể hiện sự bác ái của mình đối với tha nhân. Có một thanh niên nọ, trong lúc chờ đón xe về Thành Phố Cần Thơ, bỗng nhìn thấy có một chiếc xe đạp đang từ phía Cần Thơ chạy về hướng Vĩnh Long. Và có lẽ không chú ý hay như thế nào đó mà cô bạn sinh viên điều khiển chiếc xe đạp ấy ngang nhiên đâm vào một chiếc xe Honda đang dừng trước mặt. Vì xe đạp chạy không nhanh lắm nên chẳng ai có hề hắn gì cả, chỉ có chiếc xe Honda bị bể chiếc vè sau mà thôi.

Trước những lời bắt chẹt thô thiển và cái giá phải bồi thường mà chủ xe Honda đã đưa ra thì cô bạn sinh viên đó chỉ còn biết đứng khóc mà thôi. Hơi ngập ngừng một chút và vì biết chắc rằng một cách bất ngờ như thế thì cô bạn sinh viên ấy không thể có đủ số tiền để bồi thường. Anh thanh niên đó đã mạnh dạn tiến tới ra tay nghĩa hiệp trả tiền chiếc vè sau mới, thay cho cô bạn kia.

Anh thanh niên này quyết định làm chuyện đó hoàn toàn không phải vì cô ấy trẻ, cô ấy là sinh viên, mà bởi vì lúc đó tự nhiên anh ta cảm thấy có một cái gì đó thúc đẩy anh ta phải làm việc bác ái này. Vã lại anh ta quyết định làm việc đó một phần cũng là vì muốn nói với chủ xe Honda rằng : "Chúng ta đừng nên hiếp đáp bắt chẹt những con người yếu thế hơn mình". Anh thanh niên hơi tào lao đó chính là người đang đứng trước mặt anh chị em đây.

Thưa anh chị em! Hoàn toàn không bao giờ dám coi đó là một kinh nghiệm tốt lành để gọi là khoe khoang với người ta, nhưng con muốn chia sẽ một tình huống cụ thể của bản thân mình đó, để mạnh dạn lặp lại một lần nữa bài học này : "Ngày nào bạn từ chối thắp lên ngọn lửa yêu thương, ngày đó sẽ có nhiều người chết vì giá lạnh".
 

PS6-B85: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Ga 15, 9-17
"Đây là điều răn của Thầy, chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con." (Ga 15,12)
 

Tình yêu đẹp biết bao! Vì thế, người ta đã tốn biết bao giấy mực, bài hát để ca tụng nó, nhưng: PS6-B85

Tình yêu đẹp biết bao! Vì thế, người ta đã tốn biết bao giấy mực, bài hát để ca tụng nó, nhưng tình yêu thực sự chỉ đẹp khi có sự tự hiến, hy sinh đi kèm. Chim Pelican tự mỗ bụng mình ra để cho con đang cơn đói, ăn chính thịt mình mà sống. Còn cảnh nào cao đẹp hơn? Chúa Kitô vì yêu chúng ta đã chết cho chúng ta. Bài Tin Mừng hôm nay muốn cho ta suy niệm về chủ đề này.
1. Gợi ý :
a. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá, là cái chết cho Tình Yêu. Điều này minh chứng Thiên Chúa chính là Tình Yêu. Vì yêu nhân loại, Thiên Chúa sẵn sàng nộp chính Con Yêu của mình làm của lễ hiến tế, để cho ta được sống, để ta trở nên bạn nghĩa thiết với Chúa. Thật lạ lùng quá! Nhờ đó, ta mới thấy rõ lòng của Thiên Chúa tốt biết bao, tốt hơn con người tưởng nhiều; rồi nhìn lại con người chúng ta, ta thấy lòng mình tệ quá, tham lam, nhỏ nhen, ích kỷ, bè phái... Nhìn lên TC, rồi nhìn lại chính mình, tự thâm tâm làm sao ta không hổ thẹn, bởi vì con người có chi để so bì với TC, để đòi Thiên Chúa phải yêu thương ta. Vậy mà Ngài vẫn muốn làm bạn với ta, muốn trở thành thân hữu với ta, muốn ta ngang hàng với Ngài. Ôi, lạ lùng và cao cả làm sao, Tình Yêu của Thiên Chúa!

b. Cha Maximilien Kolbe đã chết thay cho bạn tù. Ta có thể coi đó là hành động điên rồ, nhưng thực ra là điên vì Tình Yêu Chúa Kitô. Đây không phải là câu trả lời cho cái chết của Chúa Giêsu trên Thánh giá sao? Vào năm 1981, ĐGH Gioan Phaolô II đã bị bắn một viên đạn vào ngực, suýt chết; vậy mà sau khi lành bệnh, ngài đến nhà tù thăm chính người đã bắn mình và giơ tay lên tha tội cho anh ta. Hình ảnh này không chỉ làm ta cảm động, nhưng còn nói lên nhiều điều: vì Đức Kitô mà người ta có thể tha thứ cho kẻ thù của mình, và còn yêu mến họ nữa.
Thánh Têrêsa đi tu khi còn nhỏ, mới 15 tuổi; chín năm sau đã từ trần; vậy mà đã để lại cho hậu thế một đường lối nên thánh tuyệt hảo, gọi là con đường nhỏ, một tấm gương sáng về lòng nhiệt thành yêu mến Chúa và yêu mến các linh hồn. Têrêsa nói: "chỉ khi nào người ta hy sinh chính mình, mới thật là yêu."
Mẹ Têrêsa Calcutta, đặc biệt thương yêu trẻ em và người nghèo khổ. Mẹ là một Thần tượng của Thiên Niên Kỷ mới và được nhiều người biết đến.
2. Suy niệm:
" Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em". Ngày hôm nay, tin vào Lời nói, tin vào một con người đã chết cách đây 2000 năm, có phải là lỗi thời và không cần thiết không? Một cái xác chết trên thập giá, buồn tẻ, xem ra thất bại. Vậy cái chết để minh chứng Tình Yêu, liệu có còn đánh động ta không? Câu trả lời thẳng thắng: Có. Qua 20 thế kỹ, hàng hàng lớp lớp các anh hùng tử đạo, các bậc hiển tu đã dám đem cả mạng sống mình để minh chứng cho Tình Yêu này. Họ là những nhà bác học, nông dân... đủ mọi thành phần, và ngay cả trong thời đại văn minh của chúng ta, như những vị được nêu ở trên đây. Như vậy chưa đủ minh chứng cho bạn sao?

"Thầy không gọi các con là tôi tớ, mà là bạn hữu, Hãy ở lại trong Tình Yêu của Thầy" : Chúa Giêsu tha thiết mời gọi chúng ta tham dự vào sự sống thân hữu của Chúa, vào tình yêu nghĩa thiết ngọt ngào của Ngài; vì Ngài xem ta là bạn hữu của Ngài cho dù chúng ta bất xứng. Ta có ngạc nhiên không? Tại sao ta từ chối, khi hiểu tình yêu của Ngài dành cho ta thật quảng đại và lớn lao?
 

PS6-B86: CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Ga 15, 9-17
 

Trong Cựu Ước, Môsê đã dạy luật yêu thương: "phải yêu thương tha nhân như chính mình": PS6-B86

Trong Cựu Ước, Môsê đã dạy luật yêu thương: "phải yêu thương tha nhân như chính mình". Tới khi Chúa Giêsu xuống thế làm người, Ngài đã giảng dạy yêu thương và thực hiện yêu thương cách trọn vẹn tuyệt vời. Điều đặc biệt mới mẻ trong luật yêu thương Chúa Giêsu dạy là Ngài đã nâng luật yêu người lên ngang hàng với luật mến Chúa, đồng thời coi những hành động yêu thương như dấu chỉ để mọi người nhận ra môn đệ Ngài và đây cũng là tiêu chuẩn để xét xử chúng ta sau này.
" Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Đây là lệnh truyền của Chúa Giêsu cho hết thảy những ai bước đi theo Ngài. Có lẻ không một ai dám lấy mình làm tiêu chuẩn, làm tấm gương cho người khác trong mọi lãnh vực, nhất là trong lãnh vực yêu thương như Chúa Giêsu. Sỡ dĩ Chúa Giêsu dám nói như vậy vì Người đã chứng minh cách tuyệt đối tình yêu thương của Người cho tất cả nhân loại chúng ta bằng cái chết và sự Phục Sinh vĩ đại của Người.
Sách Phúc âm miêu tả một Chúa Giêsu biết cảm thương, đó là một xúc cảm khiến người ta ruột gan xáo trộn. Thật vậy, Đức Giêsu xúc động thể lý và cảm nghiệm nỗi đau khổ, trái tim Người rướm máu trước dân nghèo, bị ruồng bỏ, bị xua đuổi, bị chà đạp. Có cái gì đó ở trong Người khiến Người không chịu nỗi thái độ giả hình và thói bất công đối với người thấp hèn, tàn tật, yếu đuối, túng thiếu.
Đức Giêsu động lòng thương khi thấy người phong cùi kêu xin Ngài cứu chữa. Người cùi bị mọi người xua đuổi, khai trừ, đi đến đâu đều phải lắc cái chuông nhỏ, cảnh báo cho người ta biết mà tránh xa. Không ai được đến gần họ, vì sẽ bị lây nhiễm mà trở nên ô uế. Người cùi lớn tiếng van xin: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi được sạch". Đức Giêsu giơ tay ra, chạm đến anh như cử chỉ chào đón và tôn trọng nhân phẩm của anh, rồi chữa cho anh lành mạnh. Nhất là Người còn chữa lành con tim tan vỡ và lòng tự trọng đã bị sức mẻ của anh.
Đức Giêsu luôn biết cảm thông và tha thứ. Nhiều người bị giam hãm trong mặc cảm tội lỗi, tâm hồn họ tan rã vì sợ Thiên Chúa, sợ bị trừng phạt. Họ còn bị ruồng rẫy bởi những người tự coi mình là thanh sạch. Đức Giêsu đến là để bày tỏ dung mạo khoan dung của một Thiên Chúa luôn thương xót và tha thứ, chứ không phải một Thiên Chúa kết án và trừng phạt những vi phạm lề luật.
Một ngày kia những người Pharisêu và kinh sư bắt tại trận một phụ nữ đang ngoại tình. Như đàn sói hung hãn đang săn mồi, họ tóm lấy người phụ nữ còn mình trần, lôi đến trước mặt Đức Giêsu, lúc đó đang giảng dạy trong đền thờ.
Họ hỏi Chúa Giêsu: "Ông Môsê dạy hạng đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình này phải bị ném đá cho chết. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao ? Bọn người hung dữ, cuồng tín giữ luật này nghĩ rằng họ giăng bẫy Đức Giêsu. Đức Giêsu không nói gì, chỉ cúi xuống viết trêt cát. Họ gặng hỏi: "Thầy nghĩ sao ? Chúa đứng dậy ra giọng đĩnh đạc nói: "Ai vô tội thì hãy ném viên đá đầu tiên đi". Bọn họ thẹn thùng bỏ đi hết. Chúa Giêsu nhìn người phụ nữ nói "tôi không kết án chị, hãy đi và đừng phạm tội nữa". Người phụ nữ ra về, được tình thương đổi mới, hết bị mặc cảm tội lỗi ràng buộc và sống một cuộc đời mới.
Chúa Giêsu đã sống yêu thương và dạy chúng ta phải biết đối xử với người khác bằng sự yêu thương, có nhiều cách thể hiện sự yêu thương đối với nhau nhưng chúng ta cần phải đi từng bước và có những thực hành cụ thể. Xin gợi lên những thực hành giúp chúng ta thực hiện sự yêu thương trong đời sống mình: hãy đối xử nhân hậu với nhau, đừng nóng nảy tức giận nhau, đừng bao giờ nói hành nói xấu nhau.
 

PS6-B87:HÃY YÊU THƯƠNG NHAU

Ga 15,9-17
 

Đôi khi có người nhờ tôi đánh máy di chúc, cách chung những người viết di chúc đều mong: PS6-B87

1. Đôi khi có người nhờ tôi đánh máy di chúc, cách chung những người viết di chúc đều mong muốn con cái họ hoà thuận, thương yêu nhau ngay lúc họ còn sống và nhất là sau khi họ qua đời, nói rõ hơn là họ muốn con cái họ đừng tranh giành của cải họ để lại. Đức Giêsu Chúa chúng ta trước khi bước vào cuộc khổ nạn cũng có những lời tâm huyết dặn dò các môn đệ của mình đó là "anh em hãy yêu thương nhau". Lời này được lập đi lập lại 2 lần trong một đoạn văn ngắn, chứng tỏ thao thức của Đức Giêsu đối với các môn đệ về điều này như thế nào ?
2. Thực ra trong cuộc sống, chúng ta vẫn yêu thương nhau, yêu và được yêu là nhu cầu tất yếu của con người, nhưng thường thì ta dễ yêu một người khi người đó đem lại lợi ích vật chất, tinh thần hoặc thoả mãn một nhu cầu nào đó của ta. Tình yêu như vậy đó là thứ tình yêu vị kỷ, yêu người khác vì mình.
Ở đây, Đức Giêsu dạy chúng ta yêu thương nhau ở mức độ cao hơn, yêu vì làm vui lòng, lợi ích cho người mình yêu, đó là tình yêu vị tha. Tình yêu này xuất phát từ Chúa Cha đến với Đức Giêsu, rồi từ Đức Giêsu đến với con người và con người với nhau :" Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy" và "anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em".
3. Chúa Cha yêu Chúa Con bằng tình yêu tôn vinh, chính khi Chúa Con bị treo trên cây thập giá, xem ra là thất bại nhưng là lúc cao điểm Thiên Chúa Cha tôn vinh Đức Giêsu (Ga 13,31), qua cuộc Vượt qua, Chúa Cha đã trao ban mọi quyền hành cho Đức Giêsu.
Đối lại, Chúa Con yêu Chúa Cha bằng tình yêu vâng phục : "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người"(Ga 4,34). Chúa Cha không những yêu thương Chúa Con mà còn yêu thương cả loài người tội lỗi nữa. Vì yêu thương đến nỗi ban Con Một của Người cho chúng ta (Ga 3,16).
Phần Đức Giêsu, Ngài yêu thương loài người chúng ta thế nào ? Ngài sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để ban sự sống mới cho ta : "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13).

Vậy Chúa Cha và Chúa Con yêu thương nhau không vì mình mà vì Ngôi kia, Cha dành cho Con, Con dành cho Cha mọi sự tốt đẹp. Chúa Cha và Chúa Con yêu thương loài người vì lợi ích, hạnh phúc của loài người. Yêu là trao ban, yêu là muốn cho người mình yêu được tốt hơn... đó là kiểu mẫu cho mọi tình yêu thương của chúng ta đối với nhau.
4. Khi chúng ta có tình yêu chân thật đối với nhau, theo kiểu mẫu của Thiên Chúa, chắc hẳn sẽ dễ tha thứ và làm hoà với nhau như Thiên Chúa đã đi bước trước đến với loài người chúng ta dù ta vong ân, bội nghĩa.
Khi chúng ta có tình yêu chân thật đối với nhau, thì xã hội này không còn chỗ cho con cái của ma quỷ nương tựa. Làm sao ta có thể lừa đảo, gian dối, nói xấu, làm điều trái phép công bằng... với ai đó khi ta thực sự yêu họ ? Khi chúng ta có tình yêu chân thật đối với nhau chắc chắn xã hội sẽ tốt hơn, bởi chúng ta làm việc với tinh thần trách nhiệm cao ; hy sinh, phục vụ với tất cả khả năng cho người mình yêu, cho gia đình, cộng đoàn, xã hội...
5. Hãy yêu thương nhau bằng tình yêu chân thật, để chứng tỏ chúng ta là môn đệ của Đức Kitô : "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này : là anh em có lòng yêu thương nhau." (Ga 13,35). Chúng ta không co cụm, khép kín mà theo lệnh truyền của Chúa, chúng ta cũng hãy yêu hết mọi người (Mt 5,44), bằng tình yêu như Chúa dạy ; nhưng hãy khởi đầu từ những người thân, những người gần gũi với mình, để lấy đà tiến xa hơn. Bởi một người mà không biết yêu thương, bác ái đối với anh chị em mình, thì khó mà sống yêu thương bác ái đối với người khác. Xin khép lại bài chia sẻ với câu chuyện đầy tình yêu thương sau đây mà tôi đọc được trong "Sợi Chỉ Đỏ", Chúa Nhật VI Phục Sinh, của lm Carôlô, để chúng ta tiếp tục cầu nguyện suy nghĩ :
"Trong dãy núi Alps ở Thuỵ Sĩ có một ngôi làng, và trong làng có một nhà thờ nhỏ. Mặc dù nhà thờ này chẳng có một tác phẩm nghệ thuật nào cả nhưng lại được dân làng quý mến một cách hết sức đặc biệt. Câu chuyện sau đây sẽ cho biết lý do. Có hai anh em cùng canh tác mảnh vườn của gia đình và chia lợi tức đồng đều cho nhau. Người anh đã có gia đình, người em còn độc thân. Năm đó thời tiết khắc nghiệt nên thu hoạch rất kém. Một hôm, người em tự nhủ : "Nếu chia đều phần thu hoạch thì không công bình, vì mình thì độc thân, còn anh mình thì còn phải lo cho gia đình".

Thế là mỗi đêm người em vào kho nhà mình lấy một bao lúa, đi ngang qua miếng ruộng giữa hai nhà và mang đến bỏ vào kho của người anh. Trong lúc đó, người anh cũng tự nhủ : "Nếu chia đều phần thu hoạch thì không công bình, vì mình thì đã có gia đình đỡ đần, còn em mình thì độc thân không ai giúp đỡ". Thế là mỗi đêm người anh vào kho nhà mình lấy một bao lúa, đi ngang qua miếng ruộng giữa hai nhà và mang đến bỏ vào kho của người em.

Đêm nào hai anh em cũng làm như thế. Nhưng lạ thay ai cũng thấy kho lúa nhà mình chẳng vơi đi tí nào cả. Một đêm kia, hai anh em gặp nhau giữa miếng ruộng. Họ cảm động quá, vất bao lúa xuống đất và ôm nhau khóc. Thình lình, một tiếng từ trời vọng xuống : "Tại đây Ta sẽ xây nhà thờ của Ta, vì nơi nào người ta thương yêu nhau thì Ta sẽ ngự ở đó". Thế là có một ngôi nhà thờ mọc lên tại nơi đó".

 

 PS6-B88: YÊU NHƯ CHÚA YÊU

Ga 15, 9-17
 

Trong những dòng suy niệm Lời Chúa của chúa nhật VI Phục sinh hôm nay. tôi không làm gì : PS6-B88

Trong những dòng suy niệm Lời Chúa của chúa nhật VI Phục sinh hôm nay. tôi không làm gì khác hơn là chỉ kể chuyện cho anh chị em và các bạn nghe. Vì tôi tưởng rằng những câu chuyện này, tuy đơn sơ thôi, nhưng lại diễn tả hết những gì mà tôi muốn nói.
Câu chuyện thứ nhất:
"Có hai anh em nhà kia, cậu bé trai 8 tuổi và cô em gái của cậu 6 tuồi. Cả hai đều gầy yếu và đau ốm luôn. Một hôm cậu bé bị đau gan cấp tính được cha mẹ đưa vào cấp cứu tại bệnh viện gần nhà. Sau hai tuần lễ điều trị, cậu bé đã thoát khỏi tình trạng nguy hiểm và đang nằm viện thêm ít ngày để hồi sức. Nhưng sau đó, lại tới lượt cô em gái bị chứng xuất huyết nội và được mang đi cấp cứu tại một bệnh viện với anh. Cô bé bị mất máu khá nhiều và cần đuợc tiếp máu. Thế nhưng bệnh viện không có sẵn loại máu cùng nhóm máu của cô để truyền cho cô. Rất may là máu của cậu bé anh cô lại cùng một loại với cô. Khi được hỏi có muốn cho máu để truyền cứu sống cô em gái hay không, thì lúc đầu cậu bé hơi ngần ngại và lo lắng một chút. Nhưng sau đó cậu ta bình tĩnh lại và can đảm trả lời bác sĩ rằng: "Vâng, con bằng lòng hếin máu cho em con. Xin bác sĩ hãy cố gắng cứu sống nó. Vì con thương em con lắm"
Sau đó các bác sĩ đã tiếp máu của cậu bé cho cô em gái. Khi tỉnh dậy mọi người trong phòng đều ngạc nhiên và buồn cười khi nghe cậu bé hỏi: "Ô hay! con vẫn còn sống đấy à?
Suy tư:
1. Hóa ra cậu bé trong câu chuyện tưởng lầm rằng khi cho máu thì mình sẽ phải chết. Vì các bác sĩ sẽ lấy hết máu của cậu và tiếp sang cho đứa em gái. Vì quá thương em và không muốn em chết, nên cậu ta quyết định chết thay cho em.
2. Đức Giêsu dạy: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Yn 15, 12) Đó là điều răn mới. Cái mới trong điều răn này không phải ở chỗ yêu thương nhau. Nhưng mới ở chỗ yêu thương như Thầy đã yêu thương. Yêu bằng cái chết của mình để người khác được sống.

Câu chuyện thứ hai:
"Có hai vợ chồng nhà kia, hằng ngày cùng nhau vào rừng kiếm củi bó thành từng bó rồi chất lên một chiếc thuyền, xuôi dòng ra chợ bán. Họ phải vất vả kiếm tiền nuôi một gia đình gồm bốn miệng ăn. Hai vợ chồng và hai đứa con thơ.

Một hôm, trên đường chèo thuyền về nhà thì trời bổng tối sầm và đổ mưa tầm tả, mặt sông dậy sóng. Chiếc thuyền nhỏ bé của họ đầy nước đang trôi nhanh giữa dòng sông và rồi bị lật úp. Hai vợ chồng bị văng ra khỏi thuyền. Rất may là họ đã bám được vào một thân cây đang trôi gần đó. Tuy nhiên thân cây chỉ đủ cho một người bám. Bấy giờ chị vợ ôm chặt lấy cổ chồng đang khi anh chồng môt tay bám vào thân cây, tay còn lại cố bơi vào bờ. Nhưng phần vì bị sóng gió vùi dập, phần phải đỡ vợ nên anh dần dần đuối sức. Cảm thấy mình quá mệt và có nguy cơ cả hai vợ chồng có thể bị chết chìm. Người chồng nói với vợ rằng: "Em hãy buông anh ra và bám vào khúc cây rồi cố bơi vào bờ. Em phải sống để nuôi các con em nhé!" Nhưng chị vợ đáp: "Không! Anh phải sống và nuôi con!" Rồi chị đã buông tay ra cho chìm xuống để anh chồng đủ sức bơi vào bờ.
Sáng sớm hôm sau, người ta thấy người chồng và hai đứa con thơ, đầu chít khăn tang, dắt dìu nhau ra bờ sông lập bàn thờ và thành tâm khấn vái cầu xin hương hồn phù hộ cho ba cha con.
Suy tư:
Câu chuyện này là một chú thích và là một minh họa cho điều Chúa Giêsu đã nói: " Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình" (Yn 15,13)


Thay cho kết luận:
1. Không biết nhữn câu chuyện trên đây có thật không. Nhưng chắc chắn đấy không phải là những huyền thoại.
2. Đức Giêsu không giống như những bậc vĩ nhân thường được nhắc đến trong lịch sử nhân loại. Người không viết một cuốn sách nào, cũng không để lại môt công trình hay một kiệt tác nào. Nhưng tôi tưởng rằng cả cuộc đời Người đã sống, toàn bộ sứ diệp mà Người đã ấp ủ và rao giảng được đúc kết chỉ vỏn vẹn trong một câu thôi: "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con." Yêu như Thầy yêu là: "Không có tình yêu nào cao quý hơn mối tình của người đã hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình. (x Yn 15,13)
3. Không biết lời dạy của Chúa Giêsu có lý tưởng quá không, có quá khó để sống không. Nhưng trong cuộc đời này, đã có một Gioan Phaolô II, đã có một Têrêsa Calcuta và đã có một Maximilia Kolbe....là những chứng từ sống động và hùng hồn nhất cho tình yêu đó.
4. Còn chúng ta thì sao? Có thể chúng ta ít có cơ hội để chết cho người khác. Vì chúng ta vẫn thường sợ chết, vẫn thường hèn nhát. Nhưng mỗi ngày, ta có rất nhiều dịp để sống cho người khác, sống cho tha nhân với những cái chết nho nhỏ.
Người ta quen nghĩ rằng chết là mất tất cả, chết là không tồn tại, chết là một điều khủng khiếp, nên người ta sợ chết. Chết như thế là chết vì ích kỷ. Trái lại chết vì yêu là chết vì hiến trao. Chết vì yêu là chết vì người khác và cho người khác. Vì thế, mặc dù ta chết nhưng ta vẩn sống vẫn tồn tại. Vì tình yêu của ta sẽ đọng lại mãi trong lòng mọi người, rất sâu và rất lâu.
Cuối cùng tôi xin mượn tâm tình trong một lời cầu nguyện, đơn sơ thôi nhưng lại rất thấm thía. Tôi muốn mượn tâm tình này như một lời tự tra vấn mình và là lời nhắn nhủ đến tất cả. Tâm tình của lời cầu nguyện ấy thế này:
"Lạy Chúa, xin khoan để cho con chết đi. Bởi vì con chưa yêu đủ". Amen.
 

PS6-B89: DƯA HẤU LÀ CẬU BÍ NGÔ

Ga 15, 9 - 17
"Các con hãy ở lại trong tình yêu của Thầy"
 

Đã có một lần nghe lại những câu buồn cười và cười buồn: con cua và con còng đấu phép; PS6-B89

Đã có một lần nghe lại những câu buồn cười và cười buồn: con cua và con còng đấu phép; đấu bao nhiêu con còng cũng vẫn thua hết, vậy mà con cua lại [bị xử là] thua con còng. Đồng dao về sự đời chua chát là thế, lại lắt léo câu chuyện liên hệ họ hàng khó tin: Dưa hấu là cậu bí ngô;bí ngô là cô đậu nành; đậu nành là anh dưa chuột,..Nhưng nếu tìm hiểu sâu rộng hơn, sẽ thấy đây là những lời châm biếm đối với những quan hệ cấm kỵ, thậm chí là loạn luân ở cuối thời Lý đầu nhà Trần, mà mục đích chỉ là để bảo vệ ngôi báu,quyền lực. Vì vậy chẳng lạ gì những mối liên hệ "siêu"huyết thống, khi tất cả đều vì là "họ nhà chim": Bồ các là bác chim gi; chim gi là dì sáo sậu; sáo sậu là cậu sáo đen; sáo đen là em tu-hú; tu-hú là chú bồ-các...!

Mở những trang đầu của "Bổn Lẽ cần cho được rỗi linh hồn" (trước đây) của địa phận Vinh, ta đọc thấy: "Hỏi: Đức Chúa Trời là Đấng nào?"; "Thưa: Đức Chúa Trời là Đấng thiêng liêng, vô thuỷ vô chung, phép tắc vô cùng, thông minh vô cùng, lọn tốt lọn lành, ở khắp mọi nơi". Hình như cho tới nay vẫn chưa có một 'định nghĩa' nào gọn gàng, đầy đủ và hay hơn về Đức Chúa Trời, tóm tắt những gì một tín hữu Công giáo nghĩ về Chúa của họ, giúp phân biệt hết sức rõ ràng với bụt thần và vô số thần thánh trong tín ngưỡng Á Đông, trong đó có Việt-Nam. VÔ THỦY VÔ CHUNG là ý niệm rõ ràng nhất trong cái trừu tượng thời gian, cái mà toán học dùng ± # để diễn tả sự vô tận. Bên cạnh đó, con người là loài được tạo dựng, càng nên thấp hèn vì đã phạm tội vong ân bội nghĩa. Nhưng cho dù không phạm tôi, thì việc "bắt quàng làm họ" với Đấng Tạo Hoá đã là chuyện không tưởng, ngông cuồng. Ấy vậy mà chuyện 'đũa mốc chòi mâm son' lại thành hiện thực. Trời cao đất thấp gặp nhau: Thiên Chúa là Đấng vô thuỷ vô chung. Và chính Thiên Chúa khi tạo dựng con người theo hình ảnh của Người, chính là ban cho nó cũng được "vô chung". Bù lại,chính cái 'hữu thuỷ' ấy nhắc nhở chúng ta điều mà Chúa Giêsu nói: "Các con hãy ở lại trong tình yêu của Thầy". Thiên Chúa là Tình Yêu (x. I Ga), Tình Yêu - viết hoa - vô thuỷ vô chung. Tình yêu chúng ta - hữu thủy từ bản thể, nhưng bắt nguồn từ Thiên Chúa - Tình Yêu vô thuỷ vô chung, cho nên đã trở thành 'vô chung". Sự tồn tại và giá trị có được là do bắt nguồn,thông hiệp và gắn chặt vào Tình Yêu vô thuỷ vô chung. Đó là ý nghĩa sâu xa của Mầu Nhiệm Nhập Thể.

Tạo dựng chính là Thiên Chúa cho vũ trụ và con người một cái "thuỷ" để từ đó sẽ được phú ban cho sự vô chung, đơn giản là vì tất cả đi vào quỷ đạo Tình Yêu (viết hoa) là Thiên Chúa. Lực hút ly tâm - Tình Yêu vô thuỷ vô chung - từ đó sẽ "nâng cấp" và làm cho mọi loài thọ tạo gắn bó vĩnh viễn với Thiên Chúa,"ở lại trong Tình Yêu Chúa"(Ga 15,9 b). Chỉ những ai tự để một lực khác chi phối và cuốn hút mạnh mẽ ra khỏi lực ly tâm Tình Yêu, thì mới tự loại trừ. Lực ly tâm ấy chính là các giới răn của Chúa, rút cuộc vẫn là 'tình yêu': yêu Chúa và yêu anh em. Khi người ta cho Tạo Dựng (creation)và Tiến Hoá (evolution) cái 'đuôi' "ism", (thuật ngữ chuyên môn là thuyết, chủ nghĩa, hoặc đơn giản là: 'duy'), tức là người ta muốn áp đặt suy nghĩ và tác động của mình, gạt bỏ vai trò Đấng Tạo Hoá và ban cho Tiến Hoá là Thiên Chúa. Tiến hoá vì thế chỉ là bắt đầu cuộc hành trình hữu thuỷ tiến về vô chung. Vũ trụ và con người ví được như cổ máy: Thiên Chúa dựng nên và cho khởi động với đích đến là vô chung, nôm na là muôn thuở muôn đời. Con người, vì thế, lệ thuộc vào Thiên Chúa, vào Đấng Vô Thủy. Khi dựng nên con người, Thiên Chúa muốn nó 'vô chung' như Người. Khác biệt duy nhất, ấy là con người luôn phải hướng về vô chung để hoàn thiện mình trong sự kính uý thờ phượng Thiên Chúa; trong khi Thiên Chúa tự bản thể là Đấng vô chung như đã là vô thủy: một cuộc tiến hoá thiêng liêng, cao lên mãi, tăng thêm mãi, tinh luyện trong tình yêu và trong tạ ơn của cái hữu thuỷ đối với Đấng vô thủy vô chung, để chính bản thân được 'vô chung'. Đó chính là ý nghĩa của Lời Chúa phán với ông Môsê ở biến cố Bụi Cây Cháy: "Je Suis" - Tà Là - Tự Hữu - Vô Thuỷ Vô Chung.

Những năm qua,do khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, đời sống nhà nông ngày càng bấp bênh và bị hấp dẫn bởi những hào nhoáng của đời sống thị thành, lớp thanh niên ở nông thôn kéo nhau ra thành phố kiếm công ăn việc làm. Nhiều gia đình chỉ để lại cha mẹ già trông coi nhà cửa vườn tược, hoặc gửi con nhỏ cho cha mẹ già, để vào nam lập nghiệp. Chưa kể đến những hậu quả tinh thần và đạo đức mà làng xóm truyền thống phải gánh chịu, mà nó còn phương hại đến hôn nhân và gia đình. Người ta đem sức lao động "xuất khẩu": quả là có đổi đời, đổi nhà đất nhà ngói sang mái bằng, từ thiếu thốn sang đầy đủ tiện nghi hiện đại, nhưng cũng đổi theo chúng là hạnh phúc gia đình đổ vỡ vô phương cứu chữa và vô số tệ nạn thâm nhập vào gia đình và hôn nhân. Nhà nước Việt Nam không thấy được và cũng chẳng màng tới chuyện luân lý,đạo đức, mà chỉ lo một ngày gần đây cạn kiết lực lượng sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực sẽ bị đe doạ nặng nề, nên đã nghĩ ra đủ kế sách để giữ chân lớp lao động trẻ ở lại nông thôn. Chính sách "ly nông bất ly hương" so ra không mấy khác với ý nghĩa lời Chúa Giêsu hôm nay, ngoại trừ lý do và động cơ. Chẳng ai chấp nhận một cuộc sống bán mặt cho đất bán lưng cho trời quanh năm suốt tháng, chịu bao bất công, thiệt thòi, mà rút cuộc cũng chẳng nuôi nỗi bản thân, để 'ly nông bất ly hương'. Khi hàng hoá ế ẩm dồn cục, không xuất khẩu được, người ta mới chợt nhó đến nông thôn. Chẳng khác nào dụ khị con nít. [1.000 đồng/ngày là thu nhập bình quân của nông dân làm ruộng. Tính theo năng suất bình quân thu được từ một sào ruộng trong điều kiện canh tác tốt, thời tiết thuận lợi đạt 2,0 - 2,2 tạ thóc/vụ, quy sang tiền là 400 - 440 nghìn đồng.Trừ hết mọi khoản còn lãi gần 100 nghìn đồng chia cho 90 ngày (Trích từ Báo Lao Động số 326 Ngày 21.11.2004)]. Khi tâm tư, suy nghĩ,hành động không hề có chút thuỷ chung, không hề có tình thương, mà chỉ giáo điều,vụ lợi, thì không thể nào có sự gắn bó, không ai có thể gắn bó. Mọi cố gắng móc nối, liên kết, ràng buộc "họ hàng" nếu không sai trái, thì cũng chỉ là giả tạo.

Dưa hấu là cậu bí ngô: đây không phải là mơ tưởng huyển hoặc từ phía con người; không phải là lời động viên, hứa hẹn từ Thiên Chúa, mà là một thực tại do sáng kiến của Đấng Tạo Hoá muốn con người - một khi được Thiên Chúa cho hiện diện trên trần gian, - cũng sẽ hướng về sự sống đời đời, tức là vô chung, trong Thiên Chúa. Tình Yêu Vô Biên là đáp số của những lắt léo, mầu nhiệm nầy. "Với Thiên Chúa, không có gì là không thể được" (Lc 1,27). Thiên Chúa là Tình Yêu: với Tình Yêu, đâu chỉ có"dưa hấu" trở thành "cậu bí ngô!

Tình Ca 154
 

PS6-B90:  BIẾT RỒI, VẪN PHẢI NÓI

Ga 15, 9 - 17
"Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" ( Ga 15,12 )
 

Hai từ "yêu thương" đã quá quen thuộc với con người, cách riêng với Kitô hữu. Tình yêu là: PS6-B90

Hai từ "yêu thương" đã quá quen thuộc với con người, cách riêng với Kitô hữu. Tình yêu là một đề tài vừa phong phú, vừa hấp dẫn của văn chưong, nghệ thuật, phim ảnh...và luôn mang tính thời sự. Tình của mỗi thời dường như mỗi vẻ và cách kiểu yêu của mỗi giới, mỗi người, thì mang mỗi sắc mầu, nhưng bản chất tình yêu thì trước sau như một. Biết rằng chúng ta phải yêu thương nhau nếu muốn sống như con người, thế nhưng thử hỏi thế nào là yêu thương thì quả thật không dễ trả lời cách rõ ràng và có tính thuyết phục. Ngay cả những việc to lớn như "đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt" thì cũng chưa hẳn là đã yêu thương ( x. 1 Cor 13,3 ).

Có thể nói tình yêu là huyền nhiệm vì "Thiên Chúa là Tình Yêu" ( 1 Ga 4,8 ). Tuy nhiên thánh Gioan Tông đồ lại cho chúng ta một cái nhìn về tình yêu: " Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta" ( 1Ga 4,10 ). Như thế chúng ta có thể nói yêu thương là thực hiện điều tốt đẹp, tốt đẹp nhất cho người mình yêu trong sự tự nguyện đi bước trước và có trả giá cách nào đó.

1. Thực hiện điều tốt đẹp, tốt đẹp nhất cho người mình yêu: Yêu thương là không chỉ muốn điều tốt cho người mình yêu mà còn thể hiện ước muốn ấy bằng hành vi cụ thể, thực tế. Trong tình yêu đích thực không có sự nửa vời hay giới hạn. Đã yêu là yêu đến cùng. Chính vì thế tình yêu đòi hỏi ta thực thi điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu. Cứu sống nhân loại, giải thoát nhân lại khỏi ách nô lệ thần dữ, đưa nhân loại vào hàng con cái, được thừa hưởng gia nghiệp trên trời, chính là việc Thiên Chúa đã thực hiện để bày tỏ tình Người yêu thương nhân loại chúng ta.

"Sông sâu còn có người dò...", nhưng để đo mức độ của ước muốn thì như không thể. Làm sao để minh chứng rằng ước muốn của tôi không triệt để ? Làm sao để khẳng định rằng tôi chỉ muốn điều tốt loại hai, loại ba cho người tôi yêu mà không phải là điều tốt nhất ? Quả thật, khi đã ước muốn thì người ta khó biết mức độ ít nhiều, có giới hạn hay đến cùng. Tuy nhiên qua hành động, thì ta có thể kiểm chứng mức độ một cách nào đó khả dĩ được nhiều người chấp nhận. Thực tế có đó chuyện ta nghĩ rằng mình có muốn điều tốt nhất cho người mình yêu, nhưng chỉ thực hiện điều tốt nhì, tốt ba, tốt thứ tư, điều tốt có hạn chế mà thôi. Khi đã có cái giới hạn thì hình như đã có sự tính toán. Đã có tính toán, có so đo hơn thiệt, thì chưa thực sự là yêu thương. Sự thường: "ăn thì cho và buôn thì so". Biên giới của tình yêu là tình yêu không biên giới.

2. Đi bước trước: Đã yêu thì không đợi "con khóc mẹ mới cho bú". Thánh Kinh trình bày Thiên Chúa là Đấng luôn đi bước trước trong việc thể hiện tình yêu với con người. Ngay khi nguyên tổ sa ngã, thì Thiên Chúa đã hứa ban Đấng cứu độ. Người đã đi bước trước trong việc chọn gọi Abraham để thành lập một dân được tuyển lựa hầu chuẩn bị cho Ngôi Lời vào đời thực hiện công trình cứu độ. Thánh Tông đồ dân ngoại khẳng định rằng Đức Kiô đã chết vì chúng ta, cho chúng ta, ngay khi chúng ta còn là kẻ phản nghịch cùng Người.

Trong động thái đi bước trước, phía người yêu thương thì thể hiện qua việc có sáng kiến, và phía người được yêu thương thì biểu lộ sự kinh ngạc, sững sờ. Kinh Thánh cho ta thấy điều này: Mỗi khi Thiên Chúa trực tiếp can thiệp vào một biến cố lịch sử nào đó thì dân chúng nói chung và những người được tuyển chọn nói riêng đều bàng hoàng, kinh sợ. Các trang Tin mừng cũng tường thuật hiện tượng này rất nhiều lần. Sau mỗi kỳ công mà Chúa Giêsu thực hiện để thi ân giáng phúc, thì dân chúng đều kinh hãi và ca ngợi Thiên Chúa. Có thể nói đây là một tình trạng sững sờ khi chứng kiến một điều kỳ diệu hay được yêu thương bằng một tình yêu vượt quá tầm luận lý thường tình. Đêm Tiệc ly, Phêrô và các bạn đã sững sờ khi Thầy Chí thánh cúi xuống rửa chân cho mình, đến nỗi ông đã vội phản ứng: " Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu !" ( Ga 13,8 ).

Sống yêu thương thì không thể ngồi chờ. Vẫn có đó những lý lẽ để bào chữa rằng chưa đủ tài, chưa đủ lực hay chưa đến lúc đến thời...cho những người chưa biết hay không biết yêu thương. Dù chưa đến thời viên mãn thì Thiên Chúa cũng đã tự tỏ bày chương trình yêu thương của Người qua các tổ phụ, các ngôn sứ ( x. Dt 1,1 ). Đã yêu thương thì luôn có đó những việc phải thực hiện, ngay hôm nay và chúng sẽ không ở ngoài tầm tay của chúng ta.

3. Để sống yêu thương thì phải vác thập giá: Tiền nào của nấy ( you get what you pay ), câu ngạn ngữ của nền kinh tế thị trường một cách nào đó có thể áp dụng cho tình yêu. Tình yêu thì vô giá. Và hoa trái của tình yêu là kết quả của nhiều nỗ lực hy sinh, quên mình. Yêu thương cách đích thực thì sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống ( x. Ga 15,13 ). Của rẻ là của ôi. Đã ngại khó, sợ khổ, tránh né hy sinh, thì sẽ chẳng bao giờ có được bảo vật đáng trân trọng là tấm lòng biết yêu thương.

Vì yêu thương nhân loại Chúa Kitô đã tự nguyện hy sinh vinh quang và danh dự của một vị Thiên Chúa, để mặc lấy thân phận tôi đòi như chúng ta. Vì yêu thương nhân loại đến cùng, Người đã hy sinh cả phẩm giá của một con người bình thường để rồi chịu chết bằng án hình thập giá nhục nhã, như một tội nhân ( x. Phil 2,6-8 ). Vì yêu thương, Người đã tự nguyện ở lại với chúng ta trong hình bánh rượu. Yêu thương nhân loại, Chúa Kitô không chỉ trao ban những gì Người có bằng quyền năng của Người mà Người còn trao ban chính cái Người là, tức chính bản thân, danh dự, phẩm vị, sự sống của Người.

Nhiều người nói rằng mình yêu thương khi sẵn sàng cho đi tiền bạc và cả thời giờ, nhưng lại không chịu được khi bị mất một chút danh dự hay uy quyền, chưa kể là chính mạng sống. Cho đi chút của tiền, quả là không dễ, vì đồng tiền dính liền khúc ruột, nhưng vẫn có thể cho đi cách này cách khác, lúc này lúc kia, và nhất là khi khúc ruột ấy là "khúc ruột thừa". Cho đi ít thời giờ, cũng không mấy dễ, vì thời giờ là vàng bạc, nhưng vẫn có thể cho đi, nhất là những lúc rảnh rỗi, không biết làm gì. Còn cho đi cái phẩm vị, cái danh dự của mình, thì dường như là quá khó, vì đó chính là bản thân tôi. Thế nhưng, nếu không vượt qua cái khó này thì đừng nói chuyện yêu thương.

"Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em". Dù nhiều người đã biết những cũng cần phải nói: Đây là lệnh truyền, là giới răn mới và cũng là một lời trối trăng của Thầy Chí Thánh. Để thực sự là môn đệ của Người, chúng ta không thể xao lãng hay tránh né nó ( x. Ga 13,35 ). Xin đừng yêu nhau bằng môi miệng nhưng hãy can đảm vác thập giá hằng ngày để có sáng kiến, đi bước trước trong việc thực hiện điều tốt đẹp, tốt đẹp nhất cho người mình yêu thương và cho cả những người không yêu thương mình.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
 

PS6-B91: HÃY RA ĐI VÀ MANG NHIỀU HOA TRÁI

Ga 15,9-17
 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Kitô đã trao ban cho chúng ta một sứ điệp cao trọng : PS6-B91

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Kitô đã trao ban cho chúng ta một sứ điệp cao trọng : « ... Thầy đã chọn các con và cắt cử các con để các con ra đi, sinh được hoa trái và hoa trái của các con tồn tại ». Chúng ta, những con người yếu hèn, có thể mang lại hoa trái ! Nhưng điều đó có ý nghĩa gì với cuộc sống cụ thể của chúng ta ?

Chúng ta chỉ có khả năng sinh hoa kết quả, nếu chúng ta ra đi, nếu chúng ta biết vùng dậy ra đi ! Thái độ « ra đi » và « vùng dậy ra đi » ở đây chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa, chứ không chỉ võn vẹn « lên đường và ra đi » mà thôi ! Thái độ đó còn có nghĩa là : mở rộng lòng mình, luôn có tâm hồn sẵn sàng, luôn biết lắng nghe và biết đón nhận !

Nhưng làm thế nào để cuộc sống chúng ta mang lại hoa trái ? Đó là khi chúng ta biết mở rộng tâm hồn mình để đón nhận thánh ý Thiên Chúa, để cộng tác với kế hoạch cứu độ của Người, biết nghe theo những thúc đẩy chính đáng của nội tâm mình hay từ bên ngoài. Ngược lại, nếu chúng ta sống theo những phạm trù, những định kiến cá nhân bất di dịch và khô cứng cũng như với một thái độ khép kín, cuộc sống chúng ta sẽ không bao giờ sinh hoa kết quả được. Chúng ta cần phải vùng lên, mở rộng lòng mình, hãy sống cởi mở và hòa đồng với người khác, và hãy sống trưởng thành đúng với nhân vị của mình. Chỉ có thê, cuộc sống chúng ta mới có thể mang lại hoa trái.

Dĩ nhiên, việc chúng ta mang lại hoa trái không đồng nghĩa với việc chúng ta thực hiện được một điều gì đó. Vì thực hiện được một điều gì đó, tôi có thể cố gắng đem hết sức mình để đạt cho bằng được, hoặc công việc đó có thể bị áp đặt, có thể bị ngoại cảnh đòi hỏi, hoàn toàn ngoại tại và xa lạ với tôi. Trong khi đó, việc đời sống tôi đâm hoa kết trái lại bắt nguồn từ những gì nội tại trong tôi, bắt nguồn từ bản chất riêng biệt của cá nhân tôi. Những gì được đặt để trong con người và nhân vị của tôi, đạt tới sự trọn vẹn của chúng khi chúng đâm hoa kết quả. Nhưng việc đâm hoa kết quả chỉ thành đạt, khi chính tôi thành đạt trong suốt cuộc diễn biến đó, khi nhân vị tôi được phát huy và triển nở.

Tiếp đến, một hoa quả cần phải phát triển từ búp non cho tới hồi chín vàng. Nó cần phải có không gian phát triển, nghĩa là những điều kiện sống tốt, những nhu cầu săn sóc vun xới cẩn thận và sự kiên nhẫn. Chúng ta có thể giúp cho một quả cây chín vàng tốt đẹp, nhưng chúng ta không thể áp đặt được chuyện đó. Như vậy, một đàng chúng ta đóng góp phần năng động của mình, đàng khác chúng ta lại phải tôn trọng sự diễn biến tự nhiên. Cả hai thái độ đó đòi hỏi sự nhẫn nại và sự cần mẫn, và cả hai đều là những đặc tính của một người làm vườn rành nghề. Vậy, để cuộc sống của chúng ta đâm hoa kết trái và đạt tới mức độ chín vàng, chính chúng ta phải là những thợ làm vườn thông thạo, trong đó tính năng động không thể thiếu được.

Trong cuộc sống của chính mình, chúng ta phải bắt đầu vui mừng và hài lòng với những hoa quả nho nhỏ thường nhật, như :

 
  • Kết quả của khả năng mình sau một thời gian trau dồi học tập lâu dài (thi tốt nghiệp, thi ra trường, thành công trong khi tiếp xúc với các kỷ thuật mới mẽ,v.v...)
  • Kết quả của sự tự tín chắc chắn qua những khả năng của chính mình, qua sự công nhận và sự đuợc tiếp nhận bởi xã hội.
  • Kết quả của tình đồng loại, chẳng hạn : những thành công trong các cuộc hội đàm, trong các cuộc trao đổi tốt đẹp, những thành công trong việc hòa giải với nhau sau những va chạm đụng độ, những thành công trong việc giáo dục con cái, v.v...
Tiến sâu hơn nữa, đó chính sự trưởng thành cá nhân của chúng ta. Vâng, khả năng làm cho chúng ta trở nên một nhân vị có phẩm chất và bản lãnh riêng biệt, là một ân huệ Thiên Chúa ban cho mỗi người. Thành quả trở nên một nhân vị với đầy đủ tư cách của một người trưởng thành là ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc sống chúng ta. Vì thế, một khi chúng ta hiện thực được thành quả đó, nó sẽ trở nên nguồn suối làm tươi mát được biết bao đồng loại. Vâng, nếu chính chúng ta càng trở nên trưởng thành và đứng đắn, chúng ta càng dễ dàng thông cảm với người khác hơn, cả khi họ hoàn toàn khác biệt với chúng ta. Chúng ta có thể trở thành nguồn an ủi và nâng đỡ cho đồng loại, khi chính chúng ta đã từng trải và trưởng thành trong cuộc sống, biết chấp nhận và thăng tiến kẻ khác. Nhưng nghị lực giúp chúng ta trong suốt tiến trình đạt tới sự trưởng thành, chúng ta chỉ tìm gặp được trong tình yêu. Trong bầu không khí mọi người biết chấp nhận nhau một cách thân hữu, nhân vị mỗi người sẽ có thể phát huy và triển nở, cuộc sống của mỗi người sẽ mang lại hoa trái tốt đẹp. Và khi trong chính chúng ta hoa trái của sự phát huy chính mình càng trở nên chín muồi, thì chúng ta càng có thể đưa mắt trông nhìn đến hoa trái của kẻ khác và giúp đỡ được họ trong việc làm cho hoa trái của họ được chín muồi.

Nói tóm lại, mỗi người trong chúng ta có thể mang lại hoa trái và qua đó tham phần vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, không chỉ với tính cách là một thụ tạo, nhưng chính chúng ta cũng phải mang tính cách sáng tạo, chính chúng ta cũng phải hành động nữa. Trong lời hứa của Đức Kitô nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay : « ... và để hoa trái của các con tồn tại », điều đó có nghĩa : Giữa sự tạm bợ chóng qua của cuộc sống trần thế, những hoa quả của đời sống đức tin : Những việc lành phúc đức, những việc bác ái yêu thương của chúng ta sẽ tồn tại bền vững và cùng đồng hành với chúng ta vào trong cuộc sống bất diệt trên quê Trời.

Lm.Nguyễn Hữu Thy
 

PS6-B92:  ĐỂ THUỘC VỀ CHÚA, HÃY YÊU NHAU

Ga 15, 9-17
 

Có thể nói, gia sản quý nhất Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội, cho thế giới chính là nghĩa cử hy : PS6-B92

Có thể nói, gia sản quý nhất Chúa Giêsu để lại cho Giáo hội, cho thế giới chính là nghĩa cử hy sinh chính mạng sống mình vì tình yêu thương nhân loại. Hôm nay Giáo hội mời gọi con cái mình suy niệm đề tài về Tình yêu- đề tài mà Chúa Giêsu đã dùng trong diễn từ ly biệt được xem như những "di ngôn bảo bối" để giáo huấn các tông đồ sau bài giảng về Cây nho và cành nho ở Chúa nhật trước. Đây là bài giáo huấn vô cùng quan trọng của Chúa và cũng là chủ đề rất riêng của thánh sử Gioan- ngợi ca tình yêu Thiên Chúa cách đặc biệt.

Tin mừng cho chúng ta biết, một trong những lý do để Chúa Giêsu đưa ra lời nhắn nhủ các tông đồ "hãy yêu thương nhau" là vì "Chúa Cha đã yêu mến Thầy" và "Thầy đã yêu mến anh em". Như thế, tình yêu rõ ràng xuất phát từ chính Ba Ngôi Thiên Chúa, và, một trong những biểu hiện cho tình yêu ấy được triển nở giữa lòng nhân loại là con người cũng hãy yêu thương nhau. Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Thiên Chúa ngự trị. Đây là chân lý thật hiển nhiên. Bởi nơi nào không có tình yêu Thiên Chúa ngự trị thì nơi đó ngập tràn màn đêm tối, ngập ngụa sự thù hận và chia rẽ.

Biểu lộ của tình yêu ấy được minh chứng bằng chính hành động nào? Chúng ta tìm thấy câu trả lời của Chúa Giêsu. Đó là "tuân giữa các điều răn của Thầy". Điều này thật dễ hiểu bởi như thánh Gioan từng nói : "Căn cứ vào điều này chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa: đó là chúng ta tuân giữ cá điều răn của Người. ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở trong người ấy. Còn hễ ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy, tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo" (1 Ga 2, 3-5).

Không dừng lại ở đó, tình yêu của Thiên Chúa trao ban cho con người vượt qua mọi tính toán đôi khi rất logic của con người. Bởi, cứ theo lẽ tự nhiên, con người - vốn là loài hữu hạn, tương đối, không thể nào sánh ví với Thiên Chúa - Đấng vô cùng, tuyệt đối. Thế mà giờ đây, vì Tình yêu, chính Chúa Giêsu đã "san bằng" giới hạn ấy khi tuyên bố rằng, Người không gọi chúng ta là "tôi tớ", thay vào đó, Người gọi chúng ta là "bạn hữu" nghĩa thiết với Người - một lời tâm sự tuyệt vời làm sao mà Thiên Chúa dành cho loài người. Chúng ta có cảm nghiệm hết tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta trước lời tâm sự này không?

Chính vì xem chúng ta là bạn hữu thân tình mà Chúa Giêsu chả giấu chúng ta điều gì. Vì đã là bạn hữu nghĩa thiết thì có gì mà phải che giấu, rào đón. "Tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết". Đúng là tận cùng, là tuyệt đỉnh của tình yêu mà Chúa Giêsu đã dành cho chúng ta. Còn chúng ta thì sao?

Giới răn cao quý nhất Chúa để lại cho chúng ta đó là giới răn yêu thương. Thế nhưng yêu thương là gì? Phải chăng đó là nhìn nhận địa vị và tôn trọng địa vị của người khác, giúp họ phát triển tài năng? Phải chăng là việc cho người ta cơm bánh nhưng lại chà đạp giá trị nhân phẩm của họ? Phải chăng vì tôn trọng người khác nên cứ để họ lầm lạc mà không lên tiếng căn ngăn? Giới răn yêu thương của Chúa đòi hỏi chúng ta phải hy sinh, đòi hỏi phải quên mình vì người khác, đòi hỏi phải nhìn nhận hình ảnh Chúa nơi tha nhân để chúng ta tôn trọng và yêu mến họ.

Thực thi giới răn yêu thương - điều ước mong của Chúa Giêsu, không phải là điều dễ dàng, đôi khi đó là một thách đố với đời sống đức tin của người Kytô. Thế nhưng, chỉ có cách thế này, chúng ta mới trở nên bạn hữu với Chúa và được Chúa yêu thương. Xin cho Lời Chúa hôm nay thêm sức mạnh cho chúng ta, để, tuỳ vào khả năng, tuỳ vào bậc sống của mỗi người, Chúa cho chúng ta có những phương cách để làm bạn với Chúa thông qua con đường Tình yêu. Lý do là vì chỉ nhờ con đường này, chúng ta mới thuộc trọn về Chúa mà thôi.

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb
 

PS6-B93: HÃY LƯU LẠI TRONG TÌNH YÊU

Ga 15, 9 - 17
 

Bài Tin mừng hôm nay thánh Gioan tiếp tục quảng diễn về tình yêu, một chủ đề xưa như : PS6-B93

Bài Tin mừng hôm nay thánh Gioan tiếp tục quảng diễn về tình yêu, một chủ đề xưa như trái đất nhưng cũng luôn mới mẻ như tình yêu và quá quen thuộc với từng người Kitô hữu chúng ta. Thế nhưng hãy coi chừng với hệ luận theo sau " Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy"(c.10) mà điều răn của Thầy là " anh em hãy yêu thương nhau"(c.12).

Tình yêu lý tưởng là tình yêu Chúa Cha đối với Chúa Con, đó là tình yêu kiểu mẫu. Chúa Giêsu muốn nói : Tình yêu của Thầy đối với chúng ta là tình yêu tuyệt đối vô cùng, nhờ đó ta hiểu được " Hãy lưu lại trong tình yêu của Thầy, vì không thể tìm được tình yêu nào hơn tình yêu tuyệt vời vô hạn đó. Khi nào ta còn thèm khát, thiếu thốn một tình yêu khác ngoài Chúa Giêsu, là ta chưa nhận rằng tình yêu của Chúa Giêsu đối với ta là tình yêu lý tưởng.

Vâng, Chúa Giêsu mời gọi hãy lưu lại trong tình yêu của Chúa, mà lưu lại là chấp nhận ở trong tình yêu tuyệt vời của Người - Tình yêu hiến mạng. Lưu lại cũng có nghĩa là giữ lệnh truyền. Nếu chúng ta giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu thì lưu lại trong Chúa Giêsu, như Chúa Giêsu giữ lệnh truyền của Chúa Cha nên Người lưu lại trong tình yêu của Cha. Các môn đệ giữ lệnh truyền của Chúa Giêsu thì sẽ ở trong tình yêu của Người như Người đã giữ lệnh truyền của Cha và ở lại trong tình yêu của Người. Lệnh truyền của Chúa Giêsu xuất phát từ tình yêu, mệnh lệnh của tình yêu nói lên điều Chúa Giêsu khao khát trong lòng. Xem ra là lệnh mà thực sự là điều Chúa ao ước.

Việc tuân giữ lệnh truyền không như là một lực thúc đẩy từ bên ngoài, nhưng là do sức thúc đẩy từ bên trong vì Chúa Giêsu cũng tuân giữ lệnh Cha Người do tình yêu của Người đối với Cha. Việc ta giữ lệnh truyền của Chúa có một sự ngăn cản do mầm mống tội lỗi. Mệnh lệnh của Chúa Giêsu truyền là để ta sống bản tính thực sự của con người. Thiên Chúa tạo dựng con người để sống yêu và được yêu. Đó là căn tính của con người giữ lệnh truyền là sống theo sức thúc đẩy của tình yêu, là lưu lại trong tình yêu để cho tình yêu Chúa Giêsu thúc đẩy ta yêu. Mà tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu hiến mạng, tình yêu phục vụ, yêu đến cùng. Như thế khi chúng ta yêu thương mà mới chỉ là một cảm giác dễ chịu thì chưa phải là tình yêu thực, vì tình yêu thật phải cho đi, phải hi sinh, cho đi càng nhiều, hi sinh càng lớn thì tình yêu càng đúng nghĩa. Như vậy lưu lại trong tình yêu của Chúa Giêsu có nghĩa là để tình yêu Chúa Giêsu hành động trong ta, khiến ta yêu thương như Người yêu thương các môn đệ, yêu bằng tình yêu phục vụ.

Tình yêu khiến Thiên chúa hạ mình xuống với con người, cảm thông và chia sẻ với tha nhân, tình yêu của Chúa Giêsu đi đến tuyệt đỉnh " yêu thương đến cùng". Tình yêu ấy phát xuất từ Cha, xuống Con và luân chuyển đến mọi trái tim con người. Chính tình yêu ấy liên kết chúng ta với Chúa thì cũng chính tình yêu ấy sẽ liên kết chúng ta lại với nhau.

Thế giới này đang khao khát tình yêu đích thực và người Kitô hữu phải làm chứng nhân cho tình yêu ấy. Chắc chúng ta không có dịp để chết thay cho người khác như cha Kolbe đã chết thay cho bạn tù, hay như Chúa Giêsu chết thay cho chúng ta, nhưng chúng ta có dịp để sống cho tha nhân, mà sống cho tha nhân là chết cho chính mình, chết trong những hi sinh âm thầm hằng ngày.

Lạy Chúa, xin tình thương của Chúa lấp đầy những hố sâu ngăn cách của chia rẽ, hận thù, bất hòa, ghen ghét nơi các dân tộc để mọi người dược hưởng một nền hòa bình đích thực trong nhân ái và công bình.

Sr Mai An Linh OP
 

PS6-B94: ĐIỀU RĂN CỦA THẦY

Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

Nếu Chúa Nhật trước tôi đã suy niệm tầm quan trọng của việc ‘ở lại trong Thầy…ở lại trong: PS6-B94

Nếu Chúa Nhật trước tôi đã suy niệm tầm quan trọng của việc ở lại trong Thầy…ở lại trong tình thương của Thầy’, thì câu hỏi được đặt ra hôm nay là làm thế nào để ‘ở lại trong Thầy’? Câu hỏi đã được chính đức Giê-su giải đáp và xem ra thật đơn giản và dễ hiểu: Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy”. Tuy nhiên câu giải đáp lại chẳng dễ hiểu chút nào bao lâu tôi chưa xác định được, ‘các điều răn của Thầy’ là điều răn nào?
          Trong chương 14 và 15, Phúc âm Gio-an lập đi lập lại, không dưới bảy lần, điều răn hay lệnh truyền của Người (14: 15.21.25; 15: 10a.10b.11.12.17). Cho tới nay tôi vẫn thường được nghe giải thích một cách dễ dãi: ‘điều răn của Chúa’ đương nhiên phải là mười điều răn Đức Chúa Trời và sáu luật điều Giáo Hội. Cách giải thích này xem ra không ổn, vì căn cứ theo mạch văn của đoạn Tin Mừng Gio-an, đức Giê-su hình như đang đề cập tới thứ điều răn nào đó có nội dung rất khác với thập giới của Cựu Ước hay sáu ‘qui định’ của Hội Thánh. Điều răn này phải có tầm quan trọng lớn lắm, vì là điều kiện thiết yếu để chính đức Giê-su gắn kết được với Cha Người, cũng như để người môn đệ ở lại trong tình thương của Thầy mình. “…Anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người”. Nếu vậy, cụ thể điều răn đó có nội dung gì?
          Thú thực cho tới giờ này tôi vẫn chưa tìm được câu giải thích thỏa đáng cho một vấn nạn nhỏ: tại sao khi đề cập tới điều răn cách chung chung (14: 15.21; 15: 10a.10b.11) tác giả Gio-an luôn sử dụng số nhiều các điều răn, nhưng khi nói cụ thể thì chỉ là một duy nhất Đây là điều răn của Thầy… Điều Thầy truyền dạy anh em là… (15: 12.17)? Phải chăng, đối với các môn đệ có truyền thống Do Thái, giới răn nói chung (thập giới) luôn là số nhiều (trừ khi nói về từng giới luật một)? Ngay cả khi phải tóm gọn các giới răn đó lại, đức Giê-su vẫn còn xác định hai điều căn bản: mến Chúa và yêu người (Mt. 22, 36-40). Có tác giả thì cho rằng: đức Giê-su sử dụng từ ‘các giới răn’ đồng nghĩa với ‘các lời’ Thầy nói với anh em’ (14,23) . Tuy nhiên khi phải xác định rõ nội dung các giới răn của Thầy là gì, thì đức Giê-su lại chỉ khảng định có một duy nhất mà thôi: Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (c.12)… Điều thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.” Tại sao lại chỉ là một mà không phải là hai?
           Nếu Cựu ước coi việc ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn là quan trọng hơn cả, thì ‘điều răn của Thầy’ lại không hề đề cập tới điều này. Tôi thiết nghĩ, đức Giê-su nắm rất rõ bản tính con người: yêu mến hết lòng là điều hầu như không ai làm được. Yêu mến là do Thiên Chúa tình yêu chủ động. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một… Điều Người yêu cầu Ki-tô hữu làm lại khá thụ động, Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy”. Nhận biết Thiên Chúa yêu thương là tất cả đối với niềm tin người tín hữu. Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy”. ‘Ở lại trong tình thương của Thầy là điều bất cứ tín hữu nào cũng có thể làm được, cho dầu tội lỗi nhất . ‘Ở lại’ này không đòi phải cảm thấy mình có cháy lửa yêu mến Chúa hay không, hoặc tới mức độ nào. ‘Ở lại’ chỉ để giữ cho được điều răn duy nhất là yêu thương nhau. Đúng vậy, ta chỉ có thể yêu thương nhau nếu nắm bắt được Thầy đã yêu thương như thế nào. Đồng thời phải chăng đó cũng là thứ hoa trái Chúa muốn chúng ta sinh nhiều và tồn tại mãi?
          À, thì ra thế! Lúc đầu khi tôi đọc cuốn sách ‘Be My Light’ viết về Mẹ Tê-rê-xa Can-cut-ta  gần 50 năm sống trong tăm tối thiêng liêng, hầu như mất đức tin, vậy mà Mẹ vẫn lao mình vào các việc bác ái không mỏi mệt, tôi cho là quá nghịch lý. Sự thể đã rõ ràng: đơn giản là Mẹ đã liên tục ở lại trong tình thương của Thầy’. Và nếu hoa trái nơi Mẹ chưa phải là yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, thì nó đã là yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương’… Đó chính là ‘điều răn’ duy nhất của Thầy mà Mẹ đã nắm giữ, để Mẹ ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của Mẹ tồn tại’.
          Lạy Thầy Giê-su từ nhân, ‘điều răn của Thầy’ thật quá đơn giản. Chính bản thân con cũng đã từng nghiệm thấy ‘yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn’ khó quá, ít ai đạt được. Thầy chỉ tha thiết đòi con ‘ở lại trong tình thương của Thầy’ kể cả khi yếu đuối tội lỗi nhất. Con xin Thầy cho con sớm đạt được hoa trái ‘yêu thương nhau’, nhờ liên tục trầm mình trong ‘như Thầy đã yêu’. Amen
Lm Gioan Nguyễn Văn Ty SDB
 

PS6-B95: DÒNG SUỐI YÊU THƯƠNG

Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

Nếu có ai đó chưa biết gì về đạo thánh Chúa, yêu cầu chúng ta: “Bạn có thể giúp tôi hiểu cách: PS6-B95

Nếu có ai đó chưa biết gì về đạo thánh Chúa, yêu cầu chúng ta: “Bạn có thể giúp tôi hiểu cách vắn gọn về bản chất của đạo Thiên Chúa trong vòng năm phút được không?”
Đề nghị nầy có thể làm cho chúng ta lúng túng. Trước một vấn đề quan trọng như thế thì dễ gì tóm gọn trong dăm ba phút? Thế nhưng lời Chúa hôm nay có thể giúp chúng ta giải quyết phần nào vấn nạn nầy.
Có thể hiểu cách đơn giản rằng Đạo Chúa không gì khác hơn là Dòng Suối Yêu Thương với ba chiều kích:
1. Dòng Suối Yêu Thương bắt nguồn từ Chúa Cha.
2. Dòng Suối Yêu Thương thông qua Chúa Con đến cùng chúng ta.
3. Dòng Suối Yêu Thương thông qua chúng ta đến với tha nhân.
          Theo quy luật tự nhiên, các suối đầu nguồn luôn trao hết, trút hết nguồn nước của mình vào lòng các dòng sông. Suối sẵn sàng cho đi luôn mãi, không nghỉ không ngừng.
Các dòng sông, một khi đã nhận được nước từ những con suối ở thượng nguồn, cũng không ngừng cho đi, cho đi ngày đêm không ngơi nghỉ, trút hết nguồn nước của mình cho vùng hạ lưu và cho ra biển cả.
Thiên Chúa là Tình Yêu, mà đặc tính của tình yêu là thông ban, là lưu chảy như nước từ khe suối đầu nguồn trút hết vào các dòng sông rồi tuôn chảy vào đại dương.
Dòng suối Yêu Thương bắt nguồn từ Chúa Cha
Thiên Chúa Cha là Cội Nguồn Tình Yêu. Tình yêu của Người như Suối đầu nguồn. Tình yêu ấy được thể hiện qua việc Chúa Cha yêu thương Chúa Con đến nỗi trao ban tất cả mọi sự cho Chúa Con như Lời Chúa Giê-su xác nhận: “Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy” (Gioan 5, 26).
“Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Con” (Gioan 3, 35). Bởi vì Chúa Cha đã trao ban mọi sự cho Chúa Con nên Chúa Giê-su khẳng định: “Tất cả những gì Cha có đều là của Thầy” (Gioan 17, 10)
Dòng suối Yêu Thương thông qua Chúa Con đến cùng chúng ta.
Chúa Giê-su chẳng những không giữ lại những gì Chúa Cha trao cho mình, mà còn đem tặng ban tất cả cho nhân loại, kể cả mạng sống của Người. Tình yêu của Chúa Giê-su lên đến cao điểm khi nâng con người phàm hèn lên hàng bạn hữu nghĩa thiết và hiến ban cả mạng sống mình cho họ: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Gioan 15,13). “Yêu thương nhân loại đến cùng” (Gioan 13,1) là châm ngôn sống của Chúa Giê-su.
Dòng Suối Yêu Thương thông qua chúng ta đến với tha nhân.
Chúa Cha như suối đầu nguồn đã trút hết tình yêu cho Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su như dòng sông cả đón nhận tình yêu của Chúa Cha và đã trút hết tình yêu ấy cho chúng ta.
Đến lượt mình, chúng ta được kêu mời trút hết tình yêu cho tha nhân như Chúa Giê-su đã trút hết tình yêu của Người cho chúng ta.
“Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Gioan 15,12)
Thế là dòng suối Yêu Thương xuất phát từ Thiên Chúa Cha, qua Chúa Giê-su, tuôn tràn xuống chúng ta và thông qua chúng ta để đến với mọi người khắp nơi trên thế giới. Cứ thế, dòng suối Yêu Thương lưu chảy không ngừng, không nghỉ… đem lại hạnh phúc và sự sống cho tất cả mọi người.
Đừng cản trở dòng Suối Yêu Thương
Thỉnh thoảng có những thân cây to lớn bên bờ ngã xuống lòng suối hoặc những ghềnh đá làm cản trở dòng chảy của con sông khiến nước không thể chảy xuôi về nuôi những cánh đồng phía dưới.
Đừng để cho hận thù, chia rẽ, nghi kỵ… trong lòng ta trở thành những chướng ngại vật cản trở dòng chảy của tình yêu Thiên Chúa đến với anh chị em chung quanh.
Khi không còn thương mến nhau, chúng ta tự loại mình ra khỏi gia đình yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa. Như thế chúng ta tự làm cho mình trở thành kẻ lạc loài và cô độc.
Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con luôn “ở lại trong Tình Thương” của Chúa như Chúa “hằng ở lại trong Tình Thương” của Chúa Cha (Ga 15, 9-10) bằng cách chân thành yêu mến phục vụ những anh chị em mà chúng con gặp gỡ hằng ngày.
Lm. Inhaxiô Trần Ngà
 

PS6-B96: TÌNH YÊU THẦM LẶNG CỦA CHA

Lm. John Nguyễn
 

Cô gái được sinh ra trong gia đình có người cha bị câm điếc bẩm sinh, nên cô ta thường xuyên: PS6-B96

Cô gái được sinh ra trong gia đình có người cha bị câm điếc bẩm sinh, nên cô ta thường xuyên bị trêu chọc, chế giễu của bạn bè ở trường. Từ đó, cô gái trở nên ác cảm với người cha của mình. Dù không thể nghe và nói như một người bình thường, nhưng ông ta vẫn hiểu được nỗi buồn và mặc cảm của cô con gái mình. Vì vậy, ông luôn quan tâm, động viên, chăm sóc và cố gắng làm con gái vui hơn trong mỗi bữa ăn. Ông đã dành tất cả tình yêu thương cho người con gái yêu quý.
Nhân dịp ngày sinh nhật của cô con gái, ông ta đã âm thầm chuẩn bị một cái bánh mừng sinh nhật, và viết những lời nhắn nhủ cho cô con gái: “Con gái yêu quý, cha bị câm điếc ngay từ khi mới sinh ra, cha xin lỗi con vì điều đó. Cha không thể nói được như những ông cha khác, nhưng cha muốn con biết rằng, cha yêu con bằng cả trái tim mình”.
Thật là đáng tiếc, cô con gái chưa kịp đọc lời nhắn nhủ của ông, thì cô đã tự tử đúng vào ngày sinh nhật của mình. Vì bị mặc cảm và áp lực quá lớn, cô không thể vượt qua bản thân, nên cô ta tìm đến cái chết. Khi nhìn thấy con gái trong cơn hấp hối, người cha  rất đau lòng, ông bế con chạy tới bệnh viện, cầu xin các bác sỹ cứu sống cô con gái bé bỏng của mình. Với lời cầu khẩn tha thiết của ông, may mắn là cô con gái đã được cứu sống bằng chính những giọt máu của ông. Khi tỉnh lại, cô con gái chỉ biết nắm tay cha và khóc.
Câu truyện viết về tình yêu của người cha thật là cảm động, bao la, và cao quý. Một tình yêu âm thầm, lặng lẽ và hy sinh mà ông ta đã dành cho đứa con gái yêu quý của mình. Thế nhưng, cô ta vẫn không nhận ra tình yêu vô biên đó của cha. Một thông điệp rất có ý nghĩa cho cuộc sống hôm nay, đó là: “ Không có người cha hoàn hảo, mà chỉ có người cha luôn dành yêu thương hoàn hảo nhất cho những đứa con của mình”
Khi nói đến tình yêu thầm lặng của người cha trên trần gian, nó nhắc nhớ chúng ta hiểu và ý thức hơn về tình yêu tuyệt vời của Chúa Cha trên trời, Ngài là khởi nguồn của tình yêu và ban phát tình yêu cho con người, và tình yêu đó được diễn tả trong thư thứ nhất của thánh Gioan: “ Thiên Chúa là tình yêu”. Do đó, người Ki-tô hữu phải yêu thương nhau bởi vì tình yêu đến từ Thiên Chúa. Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa. Thiên Chúa  thể hiện tình yêu của Ngài cho chúng ta qua Người Con Một của Ngài là Đức Giê-su đã đi vào thế gian để chuộc tội cho nhân loại và cho chúng ta được sống. Chính nơi Đức Giê-su, chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa và chia sẻ sự sống của Ngài.
Điều này được thuật lại trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giê-su nói rằng: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu anh em giữ giới răn của Thầy. Điều răn đó là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Tình yêu là điều kiện tiên quyết để nhận biết về cuộc sống, đặc biệt là về Thiên Chúa. Van Gogh nói: “ Điều tốt nhất để nhận biết Thiên Chúa là yêu thương tất cả: yêu gia đình, yêu bạn bè, yêu vợ con, yêu tha nhân, yêu cuộc sống…, đó là những con đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa, và người dẫn dắt chúng ta là Chúa Giê-su”. Và nơi đâu có tình yêu là ở đó có Thiên Chúa. Ngược lại, nơi nào không có tình yêu thì nơi đó không biết Thiên Chúa.
Tuy nhiên, ngày nay nhân loại vẫn có một khoảng trống rất lớn về sự hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa. Người ta vẫn thường đặt câu hỏi: Có Thiên Chúa không? Tại sao con người phải đau khổ?. Sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, con gái của một vị giảng thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình, và người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô ta như sau: “Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xẩy ra một thảm họa khủng khiếp như vây?”
Cô ta trả lời như sau: “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao năm nay,chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta. Ngài là người “Quân tử” nên đã lẳng lặng rút lui. Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin Ngài để mặc chúng ta một mình?”
Về những biến cố mới xảy ra như là tấn công, khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh v.v., tôi nghĩ rằng mọi sự đã bắt đầu với Madeleine Murray O’Hare, khi bà ấy than phiền là không nên đọc kinh trong trường học nữa. Và chúng ta đã đồng ý. Rồi lại một người khác lại có ý kiến là chúng ta không nên đọc Kinh Thánh nơi trường học, chính quyển Kinh Thánh trong đó dạy chúng ta: “Chớ giết người, chớ trộm cắp, nhưng hãy yêu thương tha nhân như chính bản thân mình, v.v.”,và chúng ta cũng đã đồng ý.
Sau đó, bác sĩ Benjamin Spock lại nói, chúng ta không được đánh con cái mình khi chúng làm gì xấu, vì chúng ta có thể làm sai lệch nhân cách trẻ nhỏ của chúng ta và làm cho chúng không biết tự quý trọng bản thân mình nữa. Con trai của chính vị bác sĩ ấy khốn thay đã tự tử. Người ta lại nói rằng, một chuyên viên chắc chắn phải biết mình nói gì, còn ông ấy nói với chúng ta điều gì, thì chẳng quan trọng, và chúng ta cũng đồng ý luôn.
          Bây giờ, chúng ta lại tự hỏi: Tại sao chúng ta lại không có lương tâm, không phân biệt được thiện ác, và chúng ta có thể nhẫn tâm giết chết một người lạ, một người thân hay chính mình?. Có thế sau khi suy niệm chín chắn, chúng ta đi đến kết luận rằng: “Chúng ta gieo nhân nào thì sẽ gặt quả ấy”. Thật kỳ lạ khi con người có thể vứt bỏ Chúa một cách dễ dàng, rồi sau đó lại tự hỏi tại sao thế giới biến thành địa ngục. Thật kỳ lạ khi chúng ta lại có thể tin những gì báo chí nói mà lại nghi ngờ những gì Kinh Thánh dạy. Thật kì lạ khi chúng ta lại lo sợ người đời nghĩ sao về mình hơn là những gì Thiên Chúa nghĩ về chúng ta.
Qua những dòng suy tư trên, chúng ta nhận thấy rằng, Thiên Chúa là Người Cha nhân từ, Người Cha thầm lặng luôn dành những tình yêu thương tốt nhất cho con cái của Ngài. Cho dù, chúng ta có phản bội, bất trung, phủ nhận Thiên Chúa, thì Ngài vẫn yêu thương chúng ta đến cùng, bằng chính Người Con Một là Đức Giê-su chịu chết trên cây thập giá. Nơi cây thập, tình yêu Thiên Chúa tỏ lộ cho chúng ta. Nơi cây thập giá của Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã mạc khải ơn cứu độ cho nhân loại. Tất cả những điều đó không chứng minh đủ tình yêu của Thiên Chúa cho chúng ta sao?.
 Lm. John Nguyễn, Utica, New York.
 

PS6-B97: TỪ TÍN HỮU ĐẾN BẠN HỮU

PM. Cao Huy Hoàng
 

Là Tín Hữu trong Hội Thánh Chúa Kitô là một vinh dự lớn lao, bởi vì Đức Tin không do khả: PS6-B97

Là Tín Hữu trong Hội Thánh Chúa Kitô là một vinh dự lớn lao, bởi vì Đức Tin không do khả năng của lý trí nhưng là hồng ân nhưng-không của Thiên Chúa ban cho. Và còn vinh dự nào hơn nữa, khi Chúa Giêsu lại tặng cho các tín hữu danh hiệu là “Bạn Hữu” của Ngài, cũng có nghĩa là bạn hữu của Thiên Chúa, những người sống và yêu tha nhân như Chúa đã yêu.
Tin Mừng hôm nay đã chứng minh sự trân trọng của Chúa Giêsu đối với các tín hữu biết yêu thương anh em mình như Ngài đã yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì Bạn Hữu của mình. Anh em là Bạn Hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là Bạn Hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” ( Ga 15, 13 – 15 ).
            Chúa Giêsu Kitô định nghĩa tình yêu thương là “hy sinh thí mạng vì Bạn Hữu của mình”. Và chính Ngài đã làm cho định nghĩa ấy không dừng lại ở tình trạng lý thuyết, hay một triết lý suông, nhưng đã được thực hiện qua chính cái chết của Ngài vì yêu thương nhân loại.
Các Tông Đồ cũng sẽ là Bạn Hữu của Chúa Giêsu, được ngài yêu thương thí mạng cho, với điều kiện “anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy”, nghĩa là anh em biết “yêu thương nhau như Thầy đã yêu anh em”. Nói cách khác, ai yêu thương anh em và thí mạng mình vì anh em thì trở nên Bạn Hữu của Chúa và được Ngài yêu thương thí mạng mình cho họ.
Chúa Giêsu đã thân mật gọi các Tông Đồ là Bạn Hữu, không coi là tôi tớ nữa, vì các ngài đã được Chúa Giêsu thông ban cho Tình Yêu của Chúa Cha và căn tính của Tình Yêu ấy chính là sự tự hiến. “Thầy gọi anh em là Bạn Hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết”. Một xác nhận đầy tín nhiệm nơi các Tông Đồ, đồng nghĩa với việc sẵn sàng ban ân sủng để các ngài thực hiện tình yêu thương như Thiên Chúa muốn.
Tin Mừng hôm nay cũng gửi đến mỗi tín hữu chúng ta một niềm vui, niềm vinh dự lớn lao là sẽ trở nên bạn hữu của Thiên Chúa nếu chúng ta biết yêu thương tha nhân, hy sinh mạng sống mình cho tha nhân, phục vụ tha nhân tận tình. Chúa Giêsu luôn sẵn sàng chờ đợi và cho chúng ta trở nên bạn hữu của Ngài. Hay nói cách khác, Chúa đang chờ chúng ta thực hành điều răn yêu thương phục vụ để ta được trở nên bạn chí thiết của Ngài. Bao lâu chưa thực hành điều răn yêu thương như Chúa dạy thì bấy lâu mỗi tín hữu vẫn còn ở trong tình trạng của tín hữu có Đức Tin mà chưa có việc làm, chưa thể tiến lên mức thành toàn trong Chúa Kitô với danh hiệu bạn hữu.
Khi Mẹ Têrêxa Calcutta nói: “Hoa trái của Đức Tin là TÌNH YÊU, hoa trái của TÌNH YÊU là PHỤC VỤ”, hẳn là Mẹ đã khám phá bước chuyển diệu kỳ của danh hiệu “tín hữu” tiến tới danh xưng “Bạn Hữu” trong hành trình Đức Tin chúng ta.
Thế mà, chúng ta rất vô tình, không lấy gì làm vinh dự, không đón nhận danh xưng vinh dự ấy, bởi vì chúng ta không chấp nhận hy sinh phục vụ anh em. Thật đáng tiếc. Cứ nhìn thực tế trong cuộc đời sẽ rõ: ai cũng muốn lân la đánh bạn với những kẻ có thế giá, có danh phận có chức tước quyền thế, có ai muốn làm Bạn Hữu với Chúa Giêsu đâu. Đánh bạn với vinh quang, với nhàn hạ, với của cải danh vọng vẫn thích thú hơn làm Bạn Hữu với Người suốt đời vác thánh giá, đi đâu cũng thánh giá, cũng phải hy sinh với gánh chịu mọi thua thiệt. Ai cũng muốn đánh bạn với những điều hư ảo. Thật đáng tiếc !
Mới đây, có một nhà thơ qua đời. Nhà thơ ấy là bạn cùng lớp với một Đức Cha nọ. Một ông lớn tuổi trong nhóm làm thơ thông báo cho anh em 3 giờ chiều đi viếng xác, kính vòng hoa thương tiếc và phúng điếu. Nghe tin Đức Cha vào viếng bạn thơ, ông lớn bèn bỏ anh em luôn, bê cả hoa, cả bì thư phúng điếu đi theo với đoàn Đức Cha viếng bạn lúc 9g sáng. Chiều, 3g anh em kéo nhau đi viếng xác. Chờ hoài không thấy ông lớn đến điểm hẹn cùng đi, anh em gọi, ông nói: “Xong cả rồi !”
Tôi bỗng nhớ chuyện cách đây một năm. Trong một buổi tĩnh tâm các anh chị em hội viên Legio, một Linh Mục thuyết trình viên vừa trình bày việc “Ở lại trong Chúa Giêsu”, được trở nên “Bạn hữu của Chúa Giêsu”“được cùng Chúa Giêsu hy sinh hiến thân mình cho bạn hữu” Đến giờ giải lao, một hội viên khôi hài ý kiến: “Cha ơi, cha giảng thiệt hay. Nhưng con chỉ khoái làm bạn của mấy ông lớn như Đức Cha, hơn là làm bạn hữu của Chúa Giêsu. Bởi vì, bạn của các ông lớn đi đâu cũng được tiếp đón đàng hoàng, có vỗ tay, trống nhạc, cờ hoa, có chụp hình, quay phim, rồi lên mạng nữa. Hình đẹp lắm ! Còn Bạn Hữu của Chúa hả ? Con không muốn làm Bạn Hữu với Chúa Giêsu đâu. Ối giời ơi, đi với Chúa hả ? Đi đâu chẳng ai tiếp đón, chẳng ai ngó tới, chẳng ai biết, thậm chí, người ta xem con như một gã khùng. Đôi khi còn bị họ xua đuổi, xít chó cắn, không tiếp, đóng cửa, sai thằng nhỏ trần trụi chạy ra nói “ba má tui hổng có nhà”. Thì thôi, xem như là vác thánh giá đi, cũng được. Thế mà chưa xong đâu cha à ! Vác mệt thấy kinh, vào được đến nhà người ta còn phải nín thinh không dám nói một lời phiền trách, lại còn phải lựa lời mà nói sao cho ngon ngọt, cho bùi tai, cho dễ chịu người nghe ! May ra, họ mới trở lại Nhà Thờ mà xưng tội, mà dự lễ, mà giữ đạo…”
Nghe như chuyện khôi hài, nhưng thật là mẫu gương yêu thương sống động. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì đang có từng bước từng bước thầm của những người cùng đi với Mẹ khiêm tốn, đến hết mọi hang cùng ngõ hẻm, nghe bao điều cay đắng của cuộc đời, đựng ở trong lòng biết bao nỗi sầu nhân thế, bao tình cảnh éo le nghiệt ngã, chia sẻ túi gạo nắm cơm manh áo cũ cho người đau thương. Những tín hữu ấy đang thực sự là Bạn Hữu của Chúa Kitô. Hoa trái của họ là sự hy sinh phục vụ rất âm thầm. Từ Tín Hữu, những người tin Chúa Kitô, họ đã nên Bạn Hữu của Chúa Kitô vì lòng yêu và cách yêu của họ: “hy sinh thí mạng vì người mình yêu”.
Lạy Chúa, xin cho chúng con “ở lại trong Chúa Giêsu”, để sinh hoa kết trái là yêu thương và phục vụ tha nhân theo cách yêu của Chúa Giêsu. Xin cho chúng con biết lấy làm vinh dự nhất đời khi được Chúa cho làm bạn hữu của Chúa Giêsu Đau Khổ và Vinh Quang. Amen.
PM. Cao Huy Hoàng,  9-5-2012
 

PS6-B98: TUYÊN NGÔN TÌNH YÊU

A.M Trần Bình An
 

Ngay sau khi lấy hình ảnh cây nho, tượng trưng cho sự liên kết chặt chẽ mật thiết với các: PS6-B98

Ngay sau khi lấy hình ảnh cây nho, tượng trưng cho sự liên kết chặt chẽ mật thiết với các môn đệ, Chúa Giêsu công khai tuyên bố về một Tình Yêu vĩ đại, vô song, vô hạn, vượt không gian, thời gian, tuyệt mỹ duy nhất.
1.Tình Yêu nguyên thủy
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu anh  em như vậy.” (Ga 15,  9) Người muốn nói đến Tình Yêu nguyên bản và nguyên thủy, phát xuất từ Đức Chúa Cha, truyền sang Người, đến các môn đệ, những người tin theo Người. Tình Yêu nguyên sơ, thánh thiêng, tinh tuyền của Thiên Chúa đối với loài thọ tạo. Con người chỉ yêu khi thấy nhau, gần nhau và cảm nhận nhau, nhưng Thiên Chúa vượt trội, yêu con người từ trước khi con người được sinh ra, dù vẫn biết con người bất toàn, bất tín, bất nghĩa. 
2.Tình Yêu vâng phục
Tình Yêu này không mang tính bạo lực, chiếm đoạt, áp đặt, mà chí hòa, tự do, tự nguyện vâng phục, tuân theo và hiệp nhất, bất khả phân ly, như mối tương giao giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Chúa Giêsu còn thân mật mời gọi con người cùng đồng hành, tuân theo những điều Người răn dạy, cũng như chính Người đã tuân giữ các điều răn của Chúa Cha. Một sự hiệp nhất hoàn toàn viên mãn trong Tình Yêu.“Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh  em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người.” (Ga 15, 9 -10). Hiệp thông vào tình yêu hiệp nhất, Người mời gọi con người luôn bác ái, thương yêu nhau, để phản ảnh và minh chứng Tình Yêu chân chính đó .“Điều Thầy truyền dạy anh  em là hãy yêu thương nhau.” ( Ga, 15, 17)
3. Tình Yêu tận hiến
Chúa Giêsu loan báo cuộc khổ nạn và cái chết nhục nhã trên thánh giá, mà Người sắp gánh chịu, để cứu chuộc con người tội lỗi, thoát khỏi án phạt muôn đời. Đó chính là Tình Yêu tận hiến, hy sinh trọn vẹn cho con người được yêu. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 13) Thánh Gioan sau này cũng xác quyết: “Căn cứ vào điều này chúng ta biết tình yêu là gì: Đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy tất cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em(1 Ga 3, 16)
4. Tình Yêu  thánh hóa
Khi sống trong tình yêu của Chúa, tích cực tuân thủ theo Tin Mừng, con người được nâng lên thành bạn hữu của Người, đồng dạng với Người. “Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh  em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy được nghe nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” (Ga, 15, 14-15) Từ thân phận tôi tớ, Chúa thân thương cất nhắc con người lên hàng khanh tướng, tư tế, ngôn sứ, đồng hạng với Người, nếu con người đích thực đồng tâm theo Người.
 5.Tình Yêu vị tha
Khi chịu đóng đinh, treo lên thập giá, Chúa Giêsu nguyện lời cưối cùng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23, 34) Chỉ có tình yêu vĩ đại và vẹn tuyền mới có thể độ lượng đến thế, tha cho những kẻ âm mưu, hành hạ và giết mình. Trước đó, Người cũng nhắc đến lòng lân tuất, lòng thương xót vô bờ của tình yêu vị tha. Như khi trả lời ông Phê rô hỏi, phải tha thứ cho anh  em mấy lần, Người đáp: Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy. (Mt 18, 22). Hoặc qua dụ ngôn Người Con Hoang Đàng, Người xóa sạch lỗi lầm khi con người thức tỉnh, sám hối trở về.
6.Tình Yêu vô biên
Không chỉ yêu người thân, bạn hữu, đồng hương, mà Người còn đòi hỏi tình yêu quảng đại đến kẻ xa lạ, thậm chí đến cả kẻ thù. “Thầy bảo anh  em, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người soi sáng kẻ xấu, cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính, cũng như kẻ bất chính.” (Mt 6, 44-45) Chúa không hề đối xứ phân biệt kẻ dữ, người lành. Tất cả đều được Chúa thương yêu săn sóc. Tình Yêu vượt qua mọi dị biệt và mâu thuẫn, không hề có biên giới.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho con noi gương Chúa, để yêu thương anh em, sẵn sàng hy sinh, từ bỏ mình để sống vị tha, hòa hợp với mọi người, hầu sinh hoa kết trái theo như thánh ý Chúa.
Lạy Mẹ Maria nhân từ, xin giúp con sống bác ái, yêu thương, để con xứng đáng trở nên chứng nhân tình yêu của Chúa. Amen.
A.M . Trần Bình An 
 

PS6-B99:  ANH EM LÀ BẠN HỮU THẦY

Thấy người sang bắt quàng làm họ”. Câu nói bình dân của người Việt Nam này hàm ý chế: PS6-B99

“Thấy người sang bắt quàng làm họ”. Câu nói bình dân của người Việt Nam này hàm ý chế nhạo những kẻ chỉ thích nổi nang, khoe khoang dựa vào thế giá, danh tiếng và địa vị của kẻ khác.
Bạn đã được bắt tay Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI chưa? Bạn đã được ngài mời vào Vatican dùng bữa và trò truyện thân mật được mấy lần rồi? Nếu có thì bạn có nên tự hào và cho rằng mình là bạn của Giáo Hoàng Biển Đức không?
Bạn đã được tổng thống George W. Bush mời vào Bạch Ốc để tâm sự, tham khảo ý kiến, và dùng cơm thân mật lần nào chưa? Nếu có bạn có thể tự hào và cho rằng mình là bạn thân của tổng thống Hoa Kỳ không?
Bạn đã được nhà tỷ phú Bill Gate mời đến nhà riêng dùng cơm tối, và chuyện vãn thân mật lần nào chưa? Nếu có thì bạn có thể tự hào và cho rằng mình là người bạn thân của nhà tỷ phú giầu có nhất thế giới không?
Có thể bạn và tôi không được những cái may mắn và vinh dự trên, nhưng giả dụ nếu được dùng cơm với Giáo Hoàng Biển Đức, được mời vào Bạch Ốc trao đổi và trò truyện với Tổng Thống Hoa Kỳ; hoặc được Bill Gate mời đến nhà riêng, hay xuống du thuyền của ông ăn cơm và nói truyện, cũng chưa hẳn bạn là bạn của những vị ấy.
Nhưng tôi bảo đảm với bạn rằng tôi có một người bạn còn giầu có hơn Bill Gate, quyền uy hơn George Bush, và tuyệt vời hơn cả Giáo Hoàng Biển Đức kia. Người bạn ấy là Giêsu Nazareth, hay còn gọi là Đức Giêsu Kitô, Cứu Chúa nhân loại. Điều hãnh diện hơn ở đây, là tôi được đích thân Đức Kitô mời và mong được làm bạn với tôi, chứ không phải tôi mong tìm kiếm vinh dự ấy: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ mình làm. Nhưng thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe nơi Cha thầy, thì thầy đã cho anh em biết” (Gioan 15:15). Hơn thế nữa, chính Đức Kitô đã đề nghị tình bạn này với tôi: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng thầy đã chọ anh em” (Gioan 15:16).
Tâm lý sống thường ngày có một điều xem như nghịch lý nhưng vẫn thường xẩy ra, đặc biệt trong lãnh vực tình cảm. Đó là người thích mình, mến mình, và yêu mình thì mình lại hay lơ là và coi thường. Ngược lại, người mà mình thích, mình mến, và mình yêu lại đối xử với mình xem như lạnh nhạt và thờ ơ.
Áp dụng những nhận xét về mối tương quan tình cảm trên vào tình yêu và tình bạn của Chúa Giêsu với những Kitô hữu, chúng ta cũng có một cảm nhận tương tự. Trong khi Satan, ma quỉ, và thế gian rất tàn bạo, độc ác với linh hồn và cuộc sống con người, thì con người lại hăm hở chạy theo, tìm kiếm, và thao thức mong cho được làm bạn. Ngược lại, Thiên Chúa và Đức Kitô tốt lành, thương yêu con người vô cùng muốn được làm bạn với con người thì lại bị con người từ chối, xa tránh. Phải chăng bì làm bạn với Chúa Giêsu thì không được đời kính trọng, nể vì. Không giầu có và sang trọng. Không được đa mê, dâm dật. Phải tiết độ, phải nhân từ, và phải trong sạch. Những điều này, con người cho là “thánh giá” và “thử thách”.
Một hôm Thánh Têrêsa D’avila và một vài nữ tu trên đường đi thăm một đan viện. Khi đi ngang qua một sườn núi hẹp, bỗng mây đen bao phủ, sấm chớp đùng đùng nổi lên, và mưa rơi, gió rít rất sợ hãi. Con lừa chở đồ sợ quá nhẩy chồm xuống vực thẳm, khiến Thánh Têrêsa và các nữ tu phải vất vả lắm mới lôi nó lên được. Vừa tới nu viện, Thánh Têrêsa liền vào ngay nhà nguyện, đến trước Thánh Thể và hỏi Chúa Giêsu một câu:
 
  • Sao Chúa đối xử với bạn hữu Chúa như vậy?
  • Vì ta muốn thế!
  • Thảo nào mà ít bạn. Thánh nữ đáp lại.
Đó là cách thức và hình ảnh mối tương quan bạn hữu giữa Chúa Giêsu và linh hồn. Nó không hào nhoáng, hãnh diện và được đời trọng dụng. Nhiều khi lại bị thua thiệt và liều mình mất mạng. Khác với tình bạn và tương quan tình bạn thế gian, nhất là tình bạn giữa Satan và con người, giữa con người và những đồ đệ của thế gian.
Nhưng như Chúa Giêsu đã nói, Ngài muốn chúng ta trở thành bạn hữu Ngài, vì chính Ngài đã chọn, và đề nghị tình bạn ấy: “Thầy đã chọn anh em và sai anh em đi để mang lại hoa trái, và để hoa trái ấy được tồn tại” (Gioan 15:16).
Vậy hoa trái đây là gì, nếu không phải là tình bạn thắm thiết giữa ta và Ngài. Nếu không phải là đức ái thực hành do việc thực hiện ý muốn của Ngài. Nếu không phải là những việc làm, qua đó chúng ta trở thành nhân chứng sống động và đích thực của tình yêu Ngài. Những hoa trái này được Chúa Giêsu coi là quan trọng và cần thiết vì nó nói lên tình bạn giữa chúng ta với Ngài Hai người thân và mến nhau thì luôn tìm cách làm vui lòng nhau. Không những thế, cả Chúa Cha trên trời cũng hài lòng và thỏa mãn về mối tình bạn này.
“Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa, nhưng là bạn hữu”. Điều này cũng cho biết thêm một chi tiết quan trọng là trước khi Chúa Giêsu chính thức gọi chúng ta là “bạn” của Ngài, thực sự chúng ta chỉ là “tôi tớ”. Không chỉ là tôi tớ của Thiên Chúa, mà còn là tôi tớ của tội lỗi, của đam mê, và của Satan. Một trạng thái nô lệ không chỉ làm cho con người sống trong tội lỗi, lầm than, mà còn tước đoạt khỏi con người quyền làm con Thiên Chúa, quyền thừa hưởng nước trời. Và khi Chúa Giêsu gọi chúng ta là bạn hữu, cùng một nghĩa, Ngài kêu mời chúng ta và phục hồi danh dự con Thiên Chúa của chúng ta, khiến chúng ta được quyền thừa hưởng nước trời. Trước ân sủng và hạnh phúc lớn lao ấy, Kitô hữu chúng ta phải làm gì?
 
  • Chúng ta có cho là một niềm vui và hãnh diện lớn lao vì được Chúa Giêsu coi là “bạn hữu” của Ngài không?
  • Chúng ta có trân qúi tình bạn ấy không?
  • Chúng ta có tìm cách thăng hoa tình bạn ấy không?
Ngày tận thế, nhiều người khi thấy Chúa xuất hiện vinh quang cũng sẽ đến nhận họ, nhận bạn. Lúc đó, Chúa Giêsu sẽ nói gì với họ thì Thánh Kinh đã ghi rõ: “Ta không biết các ngươi là ai”. Có nghĩa là Ngài từ chối tình bạn hữu giữa Ngài và họ. Có nghĩa là những người ấy sẽ không được vinh dự thừa hưởng nước trời, nhưng là bị luận phạt. Nhưng đối với chúng ta và những Kitô hữu hằng ngày biết trân qúi tình bạn, và hãnh diện vì được Chúa Giêsu coi là bạn, nhất là tìm cách làm cho tình bạn ấy ngày thêm khăng khít thì chắc chắn chúng ta không sợ câu “thấy sang bắt quàng làm họ”. Vì Chúa Giêsu, đấng đã chọn và đã trao cho chúng ta tình bạn sẽ nhận ra chúng ta, và sẽ hài lòng đón nhận chúng ta vào vinh quang của Ngài.
 Trần Mỹ Duyệt
 

PS6-B100: Thời điểm HÀNH MỸ VÀNG

Sau mấy chục năm, nhiều người giật mình nhận ra rằng phần khá lớn người Việt sống tại Mỹ đã: PS6-B100

Sau mấy chục năm, nhiều người giật mình nhận ra rằng phần khá lớn người Việt sống tại Mỹ đã có quốc tịch Mỹ; về pháp lý như vậy là đã trở thành Mỹ Vàng. Các ông bà già cũng đi thi để thành người Mỹ. Được hỏi ai là người làm ra bản quốc ca Mỹ, các cụ trả lời ngay: Phan Xít Xi Xì Cót Kì, hỏi mãi mới biết là Francis Scott Key.
Đây là xứ nhiều chủng tộc mà, có Mỹ trắng, Mỹ đen, Mỹ đỏ, Mỹ vàng. Lại có dân Mỹ tuy trắng mà vẫn bị coi là Mỹ hạng nhì đó là Mỹ Xì. Mỹ Do Thái thì không đông mà lại mạnh thế vì nắm được túi tiền và các đài nói, khiến dân họ có thể cầm chân cả khối Ả Rập với chiến thắng ngay tại New York và Washington. Sắc dân nào mạnh thì lấn lướt, tự nhiên có quyền đưa ra tiêu chuẩn với những nét văn hóa, quan niệm, kiểu sống, khiến các dân khác phải theo. Trào lưu Mỹ gốc Á cũng đang lên mạnh. Nếu kiểu Mỹ vốn được hiểu là Mỹ gốc Anh, gốc Âu, thì bây giờ người Mỹ Vàng cũng phải có cái gì đóng góp để nói lên một kiểu mới là kiểu Mỹ...Việt, với nếp sống đạo, những nét văn hóa, những giá trị mới về gia đình, về tình người. Và đồng thời cũng không bao giờ quên tạo thế mạnh cho tập thể mình mà góp phần vào cuộc phục hưng tộc Việt.
Làm một cái gì cho dân mình ngóc đầu lên đi chứ!
Đó là lời vẳng đâu đây tâm huyết của triết gia Kim Định nhắn gửi khi qua đời ngày 25 tháng 3 năm 1997. Là một người công giáo, là một linh mục, Ngài cũng là một người Việt có trách nhiệm với vận mạng dân tộc mình, suốt đời đi tìm cho ra thực chất văn hóa Việt tộc với ba chục cuốn sách để lại. Ngài đã đi theo đúng con đường của Hội Thánh Công Giáo trong việc nhập thể và nhập thế vào văn hóa dân tộc, như mẫu gương Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II. Trước tiền đồ nước mình, triết gia Kim Định đã tâm sự:
"Đối với quê hương đất nước thì tôi phải làm gì cho ổn với lương tâm người công giáo Việt nam. Cầu nguyện chăng? Nhất định rồi, nhưng như thế mới may ra xong vai Thiên Chúa. Còn vai tổ quốc thì sao? Tôi không hề bao giờ nghĩ đến ruồng bỏ làm người Việt nam... Tôi phải đi tìm người đồng tâm đồng chí để cùng nhau đặt kế hoạch làm cho quê hương một cái gì."
Vất kiến lửa vào người
Linh Mục Kim Định đã "làm một cái gì cho dân mình ngóc đầu lên". Điều này thật hiển nhiên. Nhưng quan trọng vẫn là Ngài đang thách đố lớp người Việt còn sống sót phải làm một cái gì cho dân tộc mình. Và nhất là đối với những người Việt đang sống rải rác trên khắp thế giới, việc tìm ra con đường mở hướng cho cuộc ra đi của mình vẫn luôn là một trăn trở và cũng là cách tìm lại hùng khí cho mình.
Truyện kể về một người bị bệnh mỡ đã khiến nội tạng hư hết: tim tắc, gan sưng, ruột xoắn, dạ dày bị nhọt... Thế là phải đi hết bác sĩ này đến bác sĩ kia, nhưng chữa được bệnh này thì lại phát sinh bệnh khác, mà tình trạng càng ngày càng tệ hơn. Một hôm không biết làm sao hơn, người này nghĩ ra cách hay là tìm đến một nhà hiền triết mong sẽ được chỉ dạy cách nào khá hơn.
- Thưa Thầy, bệnh con đã đến thời kỳ nặng lắm, đủ mọi chứng, nhất là bệnh mỡ. Con đã đọc sách tìm hiểu, nhiều người bảo con phải năng tập thể dục, chịu khó đi bộ nhiều thì người khỏe hơn, nhưng con mệt quá không sao làm được. Thầy có cách nào chỉ cho con?
Nhà hiền triết nhìn bệnh nhân một hồi thì nhận ra ngay: tên này mắc bệnh của dan "thành phố" cứ ngồi lì một chỗ nên sinh ứ mỡ, vậy phải làm cho vận chuyển thì khỏi ngay. Vì thế ông liền cất giọng hỏi:
- Anh thực sự muốn khỏi bệnh? Vậy anh có dám để tôi chữa bất cứ bằng cách nào không?
Bệnh nhân gật đầu thì nhà hiền triết lẳng lặng bỏ đi. Một lúc sau ông trở lại với một vốc kiến lửa, rất nhanh tay vất ngay vào trong áo bệnh nhân. Thế là người bệnh phải bỏ chỗ đang ngồi hoảng hốt nhảy tưng tưng giẫy giụa la hét... Cứ thế, cứ thế mà chả bao lâu người bệnh hết cả bệnh luôn, cơ thể chuyển động đều hòa không còn ăn không ngồi rồi cả ngày khiến bị ứ đọng trì trệ sinh ra đủ chứng.
Đi kiếm chút bơ thừa sữa cặn?
Quả thực, ai đã chạm tới đường hướng tư tưởng của triết gia Kim Định thì như bị vất kiến lửa vào người vậy, không cách nào có thể ngồi yên an thân được nữa. Có cái gì thôi thúc nhức nhối không ngừng khiến phải rời bỏ chỗ đang ngồi, phải chuyển hướng hoạt động, cũng như chính Ngài đã chia sẻ tâm huyết như vậy.
Nhân loại đã bước vào thiên niên kỷ 3. Thế giới đã tiến quá xa. Người mình tự phản tỉnh hỏi lại lương tri: Cuộc ra đi của mình có mang một sứ mạng gì không, hay chỉ là một cuộc chạy thoát tìm an thân phì gia qua ngày, sống chết mặc bay? Lê Bi trong ”Một Đoạn Thơ Xuôi" (Thế Kỷ 21, tháng 8.90 trang 46) đã diễn tả: “Có người bảo đất nước chúng ta may mắn có hàng triệu ông bà đại sứ. Có người bảo đó là hàng triệu du học sinh. Có người bảo đó chỉ là những kẻ đi kiếm bơ thừa sữa cặn!”, mà lại là bơ thừa sữa cặn của cái xã hội cũng đang quá thừa mứa đến mệt mỏi cố tìm lối thoát một cách tuyệt vọng như vụ 39 người tự tử ở San Diego vào tháng 3 năm 1997. Có thể mình cũng đã nuốt nhục nghe mà chưa sao tìm nổi lời biện bạch.
Tin vui mở lên viễn kiến mới từ cảnh mịt mù (Chúa nhật 6 Phục Sinh)
Từ cảnh lưu đầy của dân Do Thái bên Babylon đầy sầu thảm thất vọng như những bãi tha ma ngổn ngang xương trắng, tiên tri Ezekiel đã diễn lên thị kiến một cuộc phục hưng đầy Thần Khí. Đó là niềm tin vào Thiên Chúa vẫn đang dẫn đầu lịch sử của dân tộc mình khi phải đương đầu với một tương lai mịt mù đen tối. Niềm tin này cũng đang được thể hiện nơi một Việt Nam thống khổ cúi mặt. Qua bao đen tối hãi hùng, người tin Chúa vẫn cảm nhận được lời Chúa Giêsu: "Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Các điều này Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn" (Gioan 15:9,11).
Việt là vượt. Con người Việt Nam cứ phải chạy hoài: vượt sông, vượt núi, vượt biển. Từ vùng sông Dương Tử vượt xuống sông Hồng. Rồi đến đầu thế kỷ 14 thì vượt xuống sông Hương do công chúa Huyền Trân dám hy sinh đời mình để mở cõi giang san cho dân tộc. Rồi cứ đà tiến, do sự hy sinh của hai công nương Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, dân Việt lại vượt xuống sông Đồng Nai, rồi sông Cửu Long. Bờ cõi nước mình tới được Sài Gòn mới chưa đầy 400 năm, và tới Hà Tiên Cà Mau khoảng trên 250 năm thôi. Và bây giờ đã vượt Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, tới sông Mississippi bên xứ Mỹ, dựng được cộng đồng mới, làng Việt, phố Việt, báo Việt, cơ sở tôn giáo, hội trường. Bờ cõi bỗng mở ra khắp thế giới. Đây lại chẳng phải là lúc nhận ra bàn tay Chúa vẫn dẫn mình đi sao? Và cũng là lúc mình sực tỉnh nhận lấy trách nhiệm phải làm một cái gì cho dân mình ngóc đầu lên được, xây đắp biên cương mới ở ngay cộng đồng mình, và sánh vai với những sắc dân khác.
Như thế, cảm tạ Chúa mọi nơi mọi lúc đúng là lời cầu nguyện của người mở được con mắt thứ ba là con mắt của niềm tin như thánh vịnh 139:
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
Công trình Ngài xiết bao kỳ diệu,
Hồn con đây biết rõ mười mươi.

Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy,
Mọi ngày đời được dành sẵn cho con
Đều thấy ghi trong sổ sách Ngài,
Trước khi ngày đầu của đời con khởi sự.

Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện,
Đến ở nơi chân trời góc biển phương tây,
Tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn,
Cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.

 Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây