Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 PS-C Bài 51-100 Mục Tử nhân lành

Thứ tư - 08/05/2019 06:58
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 PS-C Bài 51-100 Mục Tử nhân lành
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 PS-C Bài 51-100 Mục Tử nhân lành
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4 PS-C Bài 51-100 Mục Tử nhân lành
PS4-C51: VÔ SỐ MỤC TỬ.. 2
PS4-C52: CHIÊN VÀ CHỦ CHIÊN CỦA THIÊN CHÚA. 4
PS4-C53: CHỦ CHĂN LẮNG NGHE. 6
PS4-C54: Ta biết chiên của Ta. 7
PS4-C55: CHUYỆN BA NGƯỜI TÍN HỮU.. 13
PS4-C56: MỘT NHÃN GIỚI LẠC QUAN.. 16
PS4-C57: CÂU CHUYỆN TÌNH - Mark Link S.J. 18
PS4-C58: EM BIẾT TIN AI BÂY GIỜ ?! 21
PS4-C59: MỤC TỬ NHÂN LÀNH YÊU ĐÀN CHIÊN.. 25
PS4-C60: Chuyện: “CHIÊN TÔI THÌ NGHE TIẾNG TÔI”. 29
PS4-C61: Cầu nguyện cho ơn thiên triệu. 30
PS4-C62: CHÚA CHIÊN LÀNH THÌ SỐNG CHẾT VÌ CHIÊN.. 32
PS4-C63: Chúa chiên lành. 37
PS4-C64: Vị chủ chăn nhân lành. 38
PS4-C65: Hoà hợp tiền định. 40
PS4-C66: Hiệp nhất: yêu thương và vâng lời trọn vẹn. 41
PS4-C67: LẮNG NGHE VÀ BƯỚC THEO.. 45
PS4-C68: Mục tử. 48
PS4-C69: Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. 49
PS4-C70: Chúa Chiên Lành - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 53
PS4-C71: Con chiên của Chúa Giêsu. 55
PS4-C72: Chú giải của Noel Quesson. 58
PS4-C73: Suy niệm của nhóm Nha Trang. 62
PS4-C74: CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH.. 65
PS4-C75: BẮT ĐẦU TỪ TÌNH YÊU.. 67
PS4-C76: MỤC TỬ NHÂN LÀNH.. 69
PS4-C77: MỤC TỬ TỐT LÀNH.. 70
PS4-C78: CHÚA LÀ MỤC TỬ.. 73
PS4-C79: CHIÊN TA THÌ NGHE TIẾNG TA.. 75
PS4-C80: TIN MỪNG CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH (Năm C) 76
PS4-C81: LỜI KÊU CẦU CỦA CON CHIÊN.. 79
PS4-C82: AN TOÀN TRONG TAY THIÊN CHÚA.. 81
PS4-C83: ĐÂU LÀ MỤC TỬ ĐÍCH THẬT ?. 85
PS4-C84: CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH.. 91
PS4-C85: CHÚA NHẬT CHÚA CHĂN CHIÊN LÀNH.. 93
PS4-C86: Cánh đồng truyền giáo bát ngát cho đến mút cùng trái đất 95
PS4-C87: Chúa Nhật IV Phục Sinh, C.. 102
PS4-C88: Tôi Biết Chúng. 103
PS4-C89: CHÚA CHIÊN NHÂN LÀNH.. 105
PS4-C90:  TIẾNG GỌI THÂN THƯƠNG. 107
PS4-C91: Chúa Nhật IV Phục Sinh. 112
PS4-C92: CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN NHÂN LÀNH.. 116
PS4-C93: CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH.. 120
PS4-C94: CHÚA CHIÊN LÀNH.. 124
PS4-C95: CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH C.. 125
PS4-C96: CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH.. 128
PS4-C97: NGHE VÀ BƯỚC THEO MỤC TỬ GIÊSU.. 130
PS4-C98: MỤC TỬ NHÂN LÀNH.. 132
PS4-C99: CHÚA CHIÊN LÀNH. 133
PS4-C100: CHA MẸ TRONG VAI TRÒ MỤC TỬ.. 135

 

PS4-C51: VÔ SỐ MỤC TỬ

Chúa nhật thứ tư phục sinh.
 

Chúa nhật này được Giáo hội gọi nó là "Chúa nhật cầu cho ơn gọi khi nghe Chúa Kitô đã tự: PS4-C51

Chúa nhật này được Giáo hội gọi nó là "Chúa nhật cầu cho ơn gọi khi nghe Chúa Kitô đã tự giới thiệu như là Mục Tử tốt lành, chúng ta được mời gọi nghĩ đến tất cả những ai, trong Giáo hội, nhận và thực thi một ơn gọi nối dài ơn gọi của Chúa Kitô.
Ơn gọi ? Những tiếng quen thuộc, nhưng từ vài chục năm nay ý nghĩa của chúng đã thay đổi nhiều. Ngày xưa người ta dùng cụm từ ấy khi nói về ơn gọi của linh mục, tu sĩ nam nữ. Ngày nay, chúng ta dùng để áp dụng cho tất cả những ai đã chịu phép rửa. Ngày rửa tội, mỗi kitô hữu được xức dầu Thánh để trở thành chi thể của Chúa Kitô: một thành viên được giáo sứ vụ làm việc trong môi trường của mình để thể hiện sứ vụ của Chúa Kitô. Ngài đã loan báo Tin mừng khắp nơi và nơi nào Ngài đã đi qua Ngài đã ban những dấu chỉ ơn cứu độ của Thiên Chúa cho những người thiện chí. Các chi thể của Chúa Kitô phải hành động như Ngài. Chính vậy mà họ được rửa tội. Chúng ta có lý mà nhấn mạnh đến tầm quan trọng đối với mỗi người chúng ta trong việc góp phần bé nhỏ của mình - và nếu được phần lớn lao của mình - để làm cho người ta biết Chúa Kitô và sứ điệp của Ngài, để làm cho Giáo hội trở thành một cơ thể sống động mạnh mẽ. Loan truyền Tin mừng và thực sự giúp những người thời đại chúng ta khám phá ra Chúa Kitô phải chiếm chỗ ưu tiên trong cuộc sống của họ.
Tất cả chúng ta, cách này hay cách khác đều phải trả lẽ về trách nhiệm của mình. Chúng ta phải cố gắng truyền đạt cho kẻ khác niềm tin mà chúng ta đã nhận được. Chúng ta phải bắt chước Chúa Kitô, phải là những mục tử như Ngài. Đây là một ơn gọi chung. .
Mục tử là ai ? Mục tử cần những đức tính nào ? Chúng ta có thể trả lời cho những câu hỏi này bằng lời khẳng định của Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay.
"Tôi biết các chiên tôi '
Chúa Giêsu nói : "Tôi là mục tử tốt lành" . Rồi Ngài thêm : "Tôi biết chiên của tôi". Vậy đức tính đầu tiên của người mục tử là biết những người mà mình ngỏ lời với. Vào thời đại chúng ta, không dễ mà biết rõ được người khác. Chúng ta sống vội vã. Rất thường chúng ta đi bên cạnh nhiều người mà không hề để ý đến họ. Chúa Giêsu biết cách dừng lại, chuyện trò. Ngài dành cho ta tất cả thì giờ cần thiết. Ngài để cho họ nói. Ngài biết lắng nghe họ. Sẽ không bao giờ là một mục tử tốt lành, nếu không dành thì giờ để quen biết những kẻ mình lui tới.
"Tôi ban cho chúng sự sống đời dời"
Chúa Giêsu còn nói: "Tôi ban cho chiên của tôi sự sống đời đời". Tức là: Tôi cho chúng tiếp xúc với Thiên Chúa là cha của tôi, tôi hướng chúng về cõi vô biên, tôi cho chúng thấy rằng khi gắn bó với tôi và tuân theo giáo huấn của tôi là chúng tiến về cuộc sống vĩnh cửu. Chúng ta quá thường sống mà cứ đăm đăm nhìn vào trần thế. Là mục tử tốt lành, khi giúp anh em mình sống ở trần thế nhưng không quên rằng còn có một thiên đàng. Là mục tử tốt lành khi dạy cho anh em mình bước đi trên trần thế mà vẫn hướng về nơi vĩnh cửu.
"Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi '?
Chúa Giêsu cũng nói: "Không ai cướp được chiên ta khỏi tay tôi". Ngài tự giới thiệu là người bênh vực những ai Chúa Cha đã giao phó cho Ngài, như người sán sàng chịu khổ và đấu tranh để che chở những kẻ mình thương yêu. Và Ngài khẳng định rằng ai ở trong tay Thiên Chúa thì có thể thắng hết mọi sự. Người ấy có thể thắng mọi sự bởi vì Thiên Chúa che chở họ và bởi vì Ngài thông ban cho họ sức mạnh của Ngài. Vậy người nào cố gắng làm cho những kẻ quanh mình hiểu rằng họ ở trong tay Thiên Chúa, và cùng với Ngài, họ có thể băng qua sóng gió mà không bị thất bại hủy diệt, người ấy sẽ là mục tử tốt lành như Chúa Kitô.
Kết luận.
Đôi khi chúng ta lo lắng: Các linh mục ngày càng già yếu và càng ít đi? Cả các tu sĩ nam nữ nữa? Hầu như không còn ơn gọi? Điều gì sẽ xảy ra cho Giáo hội, trong mười, mười lăm năm nữa? Khó trả lời. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là bởi vì thời buổi khó khăn nên chúng ta hết thảy đều được mời gọi sống quảng đại hơn nữa. Bởi vì các mục tử, như chúng ta đã biết, ngày càng hiếm, vậy ta phải tự hỏi xem Thiên Chúa có đòi hỏi nhiều hơn nơi mỗi người chúng ta không. Và nên xét xem bằng cách nào, mỗi người trong môi trường sống của mình, chúng ta có thể là những mục tử tốt lành. Ơn gọi này không chỉ là một ơn gọi cho người khác thôi ; nó còn là ơn gọi cho chúng ta nữa.
JEAN-YVES GARNEAU

 

PS4-C52: CHIÊN VÀ CHỦ CHIÊN CỦA THIÊN CHÚA.

Chúa nhật này gọi là Chúa Nhật của "Ơn Thiên Triệu" là nhằm mục đính quy tụ loài người thành: PS4-C52

Chúa nhật này gọi là Chúa Nhật của "Ơn Thiên Triệu" là nhằm mục đính quy tụ loài người thành một "đoàn chiên của Thiên Chúa". Để trở thành một đoàn chiên, phải có những chiên biết nghe tiếng chủ chiên, và phải có chủ chiên liều mạng cho bầy chiên được sống cách dồi dào. Vì vậy, mỗi người Kitô hữu vừa phải là chiên ngoan của Thiên Chúa, vừa phải là mục tử của mọi người như Đức Kitô đối với mình.
I. Chiên ngoan của mục tử Giêsu:
1. Để trở thành chiên ngoan của Mục tử Giêsu họ phải:
a/ Biết nghe Lời Chúa như lời Đức Giêsu nói: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta" (Ga 10,27), họ được tái sinh bởi Lời Chúa (Ga 10,18), chứ không phải họ được sinh ra bởi máu thịt các Thánh.
Bài đọc 1 đã xác định điều ấy: Bất cứ ai - Do Thái (dòng giống các Đấng thánh như Abraham, Giacóp...) hay dân ngoại, được ví như loài chó (xem Mt 15,21t) mà biết nghe Lời Chúa qua các chủ chăn của Hội thánh, thì họ đều là chiên của Thiên Chúa. Trái lại, ai chống đối, cho dù là dòng giống của Abraham, thì cũng bị loại ra khỏi đoàn chiên của Thiên Chúa (xem bài đọc 1).
b/ Biết thanh tẩy mình trong phục vụ của Hội thánh:
Thánh Gioan đã nhìn ra giá trị này nên ông viết: "Một đoàn ngũ đông đảo không biết cơ man nào mà kể, họ thuộc mọi dân, mọi tiếng nói, họ mặc áo trắng tinh nhờ giặt bằng máu Chiên Con, họ phụng sự đêm ngày trong điện thờ của Chúa, Chiên Con đứng giữa ngai sẽ chăn dắt họ, dẫn đưa họ tới nguồn mạch sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ" (xem bài đọc 2).
c/ Biết gắn bó và theo Thiên Chúa như vợ chồng gắn bó với nhau và cùng đồng hành, như lời của Thiên Chúa nói: "Ta biết chúng và chúng theo Ta" (Ga 10,27b).
"Biết" trong Thánh Kinh là đời sống vợ chồng với nhau (xem St 4,1;Lc 1,34).
"Theo Giêsu" là đi đường khổ giá với Ngài (Mt 10).
Người như thế mới xứng đáng thuộc về chiên của Thiên Chúa, được Ngài cứu độ, cụ thể:
Bài đọc 1: Phaolô và Barnaba vì nhiệt tình rao giảng Lời Chúa mà bị bọn Do Thái bách hại, loại trừ (Cv 13,44.50).
Bài đọc 2: Gioan được nhìn thấy những người được Chúa cứu độ: "Một đoàn lũ đông đảo mặc áo trắng tinh, tay cầm cành lá vạn tuế, họ là những người từ cuộc bách hại lớn lao đến" (Kh 7,14).
2/ Chúa Giêsu, vị mục tử tốt lành chăm sóc chiên của Ngài:
Ngài ban cho ta sự sống đời đời (Ga 10,28): dấu hiệu sự sống đời đời: dù bị bách hại vì Chúa, lòng vẫn hân hoan như Phaolô và Barnaba (xem bài đọc 1). Dù họ đã chết cách nào, thì vào ngày cách chung, xác hồn họ được sống lại, họ không còn đói khát, không còn nóng bức, Đức Giêsu dẫn họ đến nguồn mạch sự sống, Thiên Chúa lau sạch nước mắt cho họ (Kh 7,16-17).
Không sự dữ nào diệt được mạng sống của Thiên Chúa (Ga 10, 28b); xác họ có thể bị giết, nhưng hồn họ không thể bị tiêu diệt, vì có Đức Giêsu Phục Sinh giữ gìn họ (Mt 10,28-30).
Không quyền lực nàod ựt ta ra khỏi Đức Giêsu (Xem Ga 10,28b): Dù ta còn bất xứng như vợ của ông Ôsê, Đức Giêsu còn thương ta hơn Ôsê đối với cô vợ dâm đãng ngoại tình: "Phen này ta sẽ lột trần cái đĩ già của vợ ta trước mặt các gã tình lang, để không có anh chàng nào giựt nó khỏi tay ta" (Os. 2,12).
Bởi vì cả vũ trụ trên trời dưới đất Cha trên trời đã trao vào tay Chúa Giêsu (Mt 28,18), nhưng không có sự gì quý hơn người mà Chúa Cha đã tách họ ra khỏi thế gian mà ban cho Đức Giêsu (xem Gioan 17,6). Do đó, Đức Giêsu nói: "Cha, Đấng ban chúng cho ta, thì lớn lao hơn tất cả mọi sự, nên không ai giựt chúng khỏi tay Ta và Cha Ta được" (Ga 10 ,29).
Hình ảnh "Chiên ở trong tay Ta và tay Cha Ta" cho ta nhớ đến Tv 138 (139), 5-10: "Chúa chặn con trước (tay Ta), Ngài ngừa con sau (tay Cha). Bàn tay của Ngài (con và Cha) đặt trên con mãi, và tay hữu Ngài (tay quyền năng và yêu thương) nắm lấy thân con".
II. Mỗi Kitô hữu phải trở nên mục tử đối với người khác như mục tử Giêsu đối với mình:
Phao lô đã làm gương cho chúng ta trong nhiệm vụ này, như ông đã thể hiện trong bài đọc 1: Phaolô hết lòng lo cho mọi người biết Lời Chúa, được thuộc về Chúa Giêsu Kitô, dù ông bị ngược đãi, ông vẫn cầu nguyện phó thác họ cho Chúa. Đó là hình ảnh ông rũ bụ chân ra đi -một cử chỉ của người Do Thái từ đất dân ngoại về quê hương- coi họ như dân ngoại là phó thác họ cho Chúa. Vì Đức Giêsu còn ở trần thế, Ngài rất ưu ái với dân ngoại, mặc dù với cách sống như thể Ngài bị người Do thái chống đối Ngài! (xem Mt 4,15; Mt 8,5t; Mt 15,21t).
Khi Phaolô khi bị bắt, ông rất thương những người còn ở lại, ông nói: "Tôi xin phó thác anh em cho lời ân sủng của Thiên Chúa, lời có sức ban phần cơ nghiệp cho anh em, do đó, tôi không dấu anh em điều gì, tôi không thiếu sót việc rao giảng, mọi người ôm lấy Phaolô và oà lên khóc, vì họ sẽ không còn được thấy Phaolô! (xem Cv 20,25-38).
Chính đời sống mục tử gương mẫu của Phaolô tốt như thế,nên ông hân hoan nói với các tín hữu: "Anh em hãy bắt chướng tôi như tôi đối với Đức Kitô" (1 Cr 11,1).

 

PS4-C53: CHỦ CHĂN LẮNG NGHE.

Một lần viêng Luân Đôn, Đức ông Ratti, sau này là Giáo hoàng Piô XI, hỏi đường cảnh: PS4-C53

Một lần viêng Luân Đôn, Đức ông Ratti, sau này là Giáo hoàng Piô XI, hỏi đường cảnh sát để tới nhà thờ chánh tòa Westminster. Người sảnh sát mở tấm bản đồ cũ rồi tô viết chì con đường phải đi. Ít phút sau người cảnh sát đuổi theo vị giáo hoàng tương lai, gần đứt hơi, ông nói: “Tôi đã chỉ đường sai, thay vì quẹo tay trái tôi lại vẽ tay mặt”. Sau này Đức Thánh Cha khôi hài nhắc lại “Người cảnh sát Luân đôn đã săn đuổi Người”.
Đây là một trường hợp vị chủ chăn lắng nghe con chiên. Chúng ta biết rằng rất cần con chiên lắng nghe tiếng chủ chăn, vị đại diện Chúa Kitô trên trần gian - Đức Thánh cha, các giám mục và các linh mục. Nhưng nhưng cũng rất quan trọng vị chủ chăn thiêng liêng lắng nghe tiếng con chiên của mình – Một vị chủ chăn đích thực phải nói được rằng: “Tôi nghe tiếng chiên của tôi”.
Chúa Giêsu lắng nghe con chiên trong thời đại của Người. Người mù kêu lên: “Lạy Chúa, xin cho con được thấy”. Chúa Giêsu đã cho anh thấy ánh sáng. Mẹ của Người nói nhỏ: “Họ hết rượu rồi”. Chúa Giêsu ban rượu cho tiệc cưới Cana. Viên sĩ quan Roma kêu xin: “Con tôi bị bệnh”. Chúa Giêsu chữa lành em bé. Các trông đồ nói với Chúa: “Họ không có gì ăn”. Chúa Giêsu đã cho năm ngàn người ăn no. Người cũng lắng nghe kẻ trộm trên thập giá và hứa cho anh nước trời.
Cảm tạ Chúa. Các vị lãnh đạo gia đình Chúa đang lắng nghe càng ngày càng nhiều những tiếng kêu đau khổ, đói khát, bất công, chiến tranh và nghi kỵ.
Để đáp lại những rtiếg kêu cứu ấy, giáo dân của Hội Thánh phải góp ý, phải trợ giúp và thực hiện. Hãy nói với chúng tôi phải làm thế nào để giúp người thiếu thốn trên thế giới, rồi giúp chúng tôi thực hiện.
Còn một lãnh vực nữa, con chiên không những được phép nói, mà còn phải nói lên và vị chủ chăn phải lắng nghe. Đó là lãnh vực truyền bá đức tin, đem Chúa Kitô đến với thế giới, việc quản lý tài nguyên vật chất của Giáo hội, việc liên lạc với những con chiên ngoài đoàn chiên của Chúa Kitô. Các vị chủ chăn không những phải lắng nghe, mà còn khích lệ các bạn nói lên như công đồng Vaticanô II đã làm.
Xin gợi ý: khi bạn phát biểu với tư cách cá nhân hay đoàn thể, gãy cố gắng phát biểu một cách kính cẩn, thận trọng và thanh lịch. Bạn chỉ phát biểu ý kiến sau khi đã suy nghĩ và cầu nguyện. bạn có thể cho chúng tôi những sáng kiến hay như viên cảnh sát tả cho vị giáo hoàng tương lai. Nhưng bạn cũng phải thay đổi ý kiến khi cần như  viên cảnh sát ấy – không sao – hãy nói lên.
Trong thánh lễ, Chúa Kitô vị chủ chăn tối cao nói với chúng ta qua các bài đọc. Rồi chúng ta nói với Chúa, chủ chăn nói, con chiên nghe. Con chiên nói, chủ chăn nghe.
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen.

 

PS4-C54: Ta biết chiên của Ta

Dẫn vào Thánh lễ và sám hối
 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu – Đấng Chăn Chiên Lành nói với chúng ta : "Ta: PS4-C54

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa GiêsuĐấng Chăn Chiên Lành nói với chúng ta : "Ta biết chiên của Ta. Chúng lắng nghe tiếng Ta và bước đi theo Ta." Chúng ta hãy hồi tâm trong giây lát về những lầm lỗi của ta trong việc đáp trả tình yêu và sự chăm sóc của Chúa Giêsu – Đấng Chăn Chiên Lành đã dành cho ta.
Lạy Chúa Giêsu, Ngài gọi chúng con trở nên dân của Ngài, là đoàn chiên của Ngài.
Chúa giúp chúng con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước đi theo Chúa.
Chúa dẫn đưa chúng con đến đồng cỏ xanh của sự sống đời đời .
Dẫn vào các bài đọc
Bài đọc 1 : Cv 13,4.43-52
Phaolô và Banaba rao giảng Tin Mừng trước tiên cho người Do Thái nhưng họ đã khước từ, sau đó các ngài rao giảng cho dân ngoại, họ đã đón nhận với niềm vui.
Bài đọc: 2 : Kh 7,9. 14- 1 7
Bài đọc cho thấy hình ảnh của những người sẽ đến, sau khi trải qua các thời kỳ bị ngược đãi, nay được chia sẻ vinh quang trên trời với Đức Kitô.
Tin Mừng : Ga 10,27-30
Chúa Giêsu - Đấng Chăn Chiên Lành sẽ không để cho bất cứ ai cướp đi từ đàn chiên Người săn sóc, mà Chúa Cha đã trao cho Người.
Bài giảng 3
THUỘC VỀ ĐÀN CHIÊN CỦA CHÚA
Hình ảnh Chúa Giêsu như người mục tử chăn dắt đoàn chiên của Chúa Cha là một trong những hình ảnh tuyệt đẹp chúng ta có về Người. Và chúng ta phải nên đồng hình đồng dạng với Người. Đây là cách thức Người đã diễn tả chính Người và sứ vụ của Người.
Chúa Giêsu không phải là kẻ chăn thuê. Kẻ chăn thuê, vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy. Chúa Giêsu là vị Mục Tử nhân lành. Chiên thuộc về Người, và Người sẵn sàng chết vì chiên.
Chúa Giêsu đã thực hiện lời hứa tuyệt hảo nhất cho những ai thuộc về Người. Người nói không ai trong họ sẽ bị hư mất. Không ai cướp được chiên trong đàn chiên Người chăm sóc mà Chúa Cha đã giao phó. Chiên nào thuộc về Người sẽ được an toàn bởi vì quyền năng của Cha ở trong Người (Người và Cha Người là một). Và Người sẽ dẫn đưa họ tới đồng cỏ xanh của sự sống vĩnh cửu. Cảm giác thuộc về Chúa Giêsu, được Người biết và được Người yêu mến là sự an ủi rất lớn và vững tâm. Ai là kẻ, không muốn thuộc về đàn chiên của Người ? Nhưng làm sao chúng ta có thể nói được rằng chúng ta thực sự thuộc về đàn chiên của Người ? Đòi hỏi chúng ta phải có những bổn phận nào ? Cơ bản có ba điều.
Điều kiện trên hết và cần thiết cơ bản đó là tin vào Người. Chúng ta nhập vào đàn chiên bởi việc chúng ta trở nên những người tin. Nhưng đức tin chỉ là khởi điểm. Điều kiện thứ hai là lắng nghe tiếng Người : "Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta." Lắng nghe tiếng Người là chú ý đến lời giảng dạy của Người. Và điều kiện thứ ba là bước đi theo Người : "Chiên Tôi thì theo Tôi." Theo Người làm theo lời của Người. Đây là những điều tóm tắt chúng ta phải nhớ. Thật sự hết sức đơn giản.
Rõ ràng mối tương quan có được phải là mối tương quan hai chiều. Chiên có sự lựa chọn thuộc về ai. Chúa Giêsu không thể cứu con người khi con người không muốn. Nhưng thật là nguồn an ủi tuyệt vời khi chúng ta nhận thức rằng nếu chúng ta ước muốn chân thành và cố gắng để được thuộc về Người (bước theo Người và thực hiện điều Người dạy), Người sẽ chăm sóc ta khi sống cũng như khi chết. Người hứa ban cho ta sự sống đời đời. Chúng ta đặt hy vọng của chứng ta vào lời Người : tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong."
Thuộc về Chúa Giêsu, không có nghĩa là sẽ bảo đảm cho chúng ta sống trên trần gian này một cách dễ dàng. Điều trái ngược thì thích hợp hơn với tình huống này. Những ai thuộc về Chúa Giêsu thì sẽ bị thế gian ngược đãi, nhưng những ai kiên vững trong niềm tin xuyên qua những thứ thách, sẽ được chia sẻ vinh quang với Người trên trời (bài đọc 2). Thử thách và đau khổ là cơ hội để chứng tỏ đức tin và lòng vâng phục của ta với Thiên Chúa.
Đàn chiên là hình ảnh của cộng đoàn. Ngay cả trên phương diện con người, chúng ta phải ý thức sâu xa sự cần thiết của cộng đoàn. Chúa Giêsu biết rõ điều này. Đó là lý do tại sao Người muốn những ai theo Người phải sống cộng đoàn. Trong cộng đoàn, chúng ta nhận được sự nâng đỡ lẫn nhau, sự khích lệ động viên, và tình bạn. Chúng ta không thuộc về Chúa Giêsu, chúng ta cũng không thuộc về đàn chiên của Người. Đặc ân thuộc về không phải là điều bantặng cho một số người được tuyển chọn, nhưng là cho tất cả mọi người, Do Thái và dân ngoại (bài đọc 1).
Bài giảng 3
ĐẤNG CHĂN CHIÊN LÀNH BIẾT CHIÊN CỦA NGƯỜI
Khoảng giữa thế kỷ XIX, thánh Gioan Bosco bắt đầu công việc của ngài với những bạn trẻ nghcò và du côn sống ở thành phố Turin nước Ý. Các bạn trẻ chẳng bao lâu nhận ra rằng Gioan Bosco là người bạn thật sự của chúng. Chúng rất yêu ngài, có lần ngài trở bệnh nặng, chúng kêu gào lên trời với lời cầu nguyện, một số trẻ đến mức sẵn sàng Đấng hiến cuộc sống của chúng thay cho cha Bosco. Nhờ đó mà cha Gioan Bosco đã bình phục. Mối dây ràng buộc tốt đẹp này không thể tồn tại nếu không có sự gần gũi thân mật, và sự gần gũi thân mật này đòi hỏi phải biết và được biết.
Chúa Giêsu, Đấng Chăn Chiên Lành, nói: "Ta biết chiên của Ta." Người biết rõ chiên của Người bởi vì Người là chủ chiên tốt. Có nhiều mức độ trong sự biết. Có những người chúng ta chỉ biết mặt và tên của họ. Những người khác chúng ta quen biết sơ sài. Có những người khác nữa chúng ta biết họ như những người bạn.
Thật đáng buồn khi không biết người nào đó. Elie Wiesel, một nhà văn Do Thái, rất gắn bó với cha của ông - người đã chết tại Auschwitz năm 1944. Tuy nhiên, khi viết tự truyện, ông công bố :
Tôi thực sự chẳng biết gì về cha tôi. Thật đau thương khi thú nhận điều đó. Tôi biết rất ít về một người mà tôi yêu mến nhất trên trần gian này, người mà chỉ cần một thoáng nhìn có thể lay động tôi. Tôi tự hỏi những người con khác có gặp vấn đề như tôi đây không. Họ có biết gì hơn về cha của họ, hay chỉ biết đó là một nhân vật độc đoán rời nhà vào buổi sáng và trở về vào chiều tối, kiếm miếng ăn cho gia đình ?
Tôi e ngại rằng đây là dư luận chung. Con cái không biết về cha mẹ của chúng, cha mẹ không biết con cái của họ. Để biết, đòi hỏi phải có thời gian và sự cố gắng, nhưng lại sinh nhiều hoa trái. Khi sự nhận thức này không có thì thành quả cũng mất đi rất nhiều. Đời sống qua đi rất nhanh. Chúng ta phải biết rõ mỗi một người khác. Chúng ta không thể yêu một người mà chúng ta chưa biết họ.
Hiểu biết là chi tiết quan trọng đối với người chăm sóc. Chăm sóc cho ai thì mình phải biết rõ về người mà mình chăm sóc. Biết tên của họ chỉ là một việc tốt khởi đầu. Nhưng để thực sự biết về họ thì phải biết tiểu sử cuộc đời của họ.
Loại hiểu biết mà chúng ta đang nói đến đòi hỏi thời gian, sự kiên nhẫn và hy sinh. Nhưng hết sức bổ ích. Không có vấn đề sao chúng ta lại có thể không thích một cá nhân nào đó, một khi chúng ta biết quá khứ của họ, thái độ của. chúng ta về họ sẽ nhẹ nhàng hơn.
Tuy nhiên sự hiểu biết này phải có tương quan hai chiều. Chúa Giêsu, Đấng Chăn Chiên Lành biết rõ chiên của Người. Nhưng chiên cũng biết Người : "Chiên Ta biết Ta." Chúa Giêsu không e sợ khi người ta biết rõ về chính Người. Còn chúng ta đôi khi chúng ta lại lo sợ. Chúng ta từ chối để người khác can dự vào cuộc sống của ta. Không ai được biết những cảm nghĩ, nhu cầu, vết thương và niềm hy vọng thực sự của chúng ta là gì.
Có thể nỗi sợ hãi bị loại bỏ đã kiềm chế chúng ta. Chúng ta sợ rằng khi người khác biết sự thật về ta là một con người không hoàn hảo, họ sẽ loại trừ ta. Hậu quả là chúng ta chỉ biết hình ảnh mà chúng ta tưởng tượng ra hơn là chính con người thật của ta. Thật đáng buồn khi sống và chết không bao giờ được biết rõ, không bao giờ được nói về chính cuộc đời thật của ta.
Làm sao chúng ta có thể thắt chặt mối tương quan với người khác nếu chúng ta còn giữ khoảng cách với họ, ngăn cản họ nhận biết về ta ? Chúng ta có thể khiển trách họ nếu họ quá giữ khoảng cách với ta, và hậu quả đưa đến là họ sẽ không tin cậy hoặc e ngại ta ?
Chúa GiêsuĐấng Chăn Chiên Lành. Ngài muốn chúng ta có cuộc sống hiện tại và sự sống đời đời mai sau. Nhưng đó phải có tương quan hai chiều. Chúng ta phải đáp lại tình yêu của Người. Những con chiên trung thành lắng nghe tiếng và đi theo người chăn chiên. Chúng ta phải biết Chúa, lắng nghe tiếng Chúa và làm theo lời Người.
Nếu chúng ta có con tim của người mục tử nhân lành, bất cứ nơi đâu chúng ta hiện diện, chúng ta đều tìm thấy lối thoát cho tình yêu của chúng ta. Quan tâm là trở nên gần gũi với mọi người, như Chúa Giêsu, Đấng Chăn Chiên Lành hằng gần gũi ta.
Bài giảng 3
HY SINH MẠNG SỐNG VÌ ĐÀN CHIÊN
Chúa Giêsu nói : "Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi , Chúa Giêsu nhấn mạnh, đối với Người, đàn chiên thật quý giá biết là chừng nào. Người sẽ giúp đỡ để không điều gì xấu xảy ra với bất cứ một ai trong chúng.
Sói chẳng khó khăn gì để cướp chiên khi người chăn thuê chăm sóc đàn chiên. Ngay khi kẻ chăn thuê thấy sói xuất hiện, hắn đã bỏ rơi đàn chiên. Suy nghĩ duy nhất của hắn là tránh cho hắn khỏi bị thương tích. Không như người chăn chiên tốt. Người chăn chiên tốt bảo vệ đàn chiên, chống lại với sói dữ, cho dẫu phải mất mạng sống.
Chúng ta sống trong một thế giới thật đáng thương, những con chiên, và đặc biệt những con cừu non, thường bị tha đi mất và làm kiệt sức cho đến chết. Nhưng đó là thế giới nơi đó hơn bao giờ hết đang cần người chăn chiên tốt. Ngày nay, mọi thứ nhắm đến số lượng lớn và tập trung. Điều này không làm cho việc hiểu biết và sự chăm nom dễ dàng, vì mọi thứ đều quá khép kín. Trong loại hệ thống này, người ta chỉ là kẻ làm thuê và đề cao hiệu quả, không còn chỗ cho tình yêu và sự chăm sóc mà người ta có khả năng bày tỏ.
Ngày nay, người chăn chiên tốt không nghĩ đến việc đối mặt với bầy sói. Nhưng người ấy phải đổi diện với những thứ còn tệ hơn - đoàn lũ những tội phạm. Philip Lawrence là hiệu trưởng của trường học công giáo St. Geogre ở Luân Đôn. Vào một ngày tháng 12 năm 1995, ông bị đâm bên ngoài trường học trong khi ông cố gắng bảo vệ một trong số học sinh của ông bị một băng tấn công, và ông đã chết vì vết thương. Ông đã được các thính giả của đài BBC đề cử là người nổi tiếng trong năm.
Philip Lawrencengười chăn chiên tốt với các học sinh của ông. Ông đã cố gắng thiết lập môi trường an toàn cho các em được học và lớn lên với niềm tự hào về chính bản thân của chúng. ông không thể hình dung một học sinh nào đó của ông bị bọn tội phạm tấn công mà ông không can thiệp vào để bảo vệ em. Philip Lawrence là lời nhắc nhở chúng ta tình yêu đích thực là gì, và cái giá của nó. Điều đó vẫn chưa đủ đề yêu thương bọn trẻ, bọn trẻ phải biết rằng chúng được yêu thương. Lời thỉnh cầu này không chỉ dành cho nhà trường mà còn cho các gia đình.
Lawrence đã biểu lộ sức mạnh và niềm cảm hứng từ đức tin người Kitô hữu. Ông đã mô phỏng tình yêu của Chúa Giêsu - Đấng Chăn Chiên Lành, đã hiến Đấng mạng sống cho đàn chiên. Cuộc sống của Chúa Giêsu không ai lấy đi được Ngài đã hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Người hy sinh mạng sống vì đàn chiên. Người đã làm những điều đó để đưa chúng ta đến đồng cỏ của sự sống đời đời.
Mỗi Kitô hữu cũng được mời gọi để yêu thương và chăm sóc cho con người . Chúa nhật hôm nay là ngày lễ của những người chăm sóc. Nó mang lại sự khích lệ và nâng đỡ cho tất cả những ai đang cố gắng hoạ theo hình ảnh của Đức Giêsu, đấng Chăn Chiên Lành, và cũng là lời nhắc nhở với những kẻ chăn thuê.
Những ai bước đi trên con đường yêu thương sẽ mở ra cho họ khả năng của một niềm hạnh phúc vô biên mà họ chưa từng nghĩ tưởng đến, và kèm theo đó là nỗi đau.
LÔI NGUYỆN CHUNG
Chủ tế : Chúng ta hãy Đấng những nhu cầu của chúng ta lên Chúa - Đấng hằng trung tín qua bao thế hệ và tình yêu Người bền vững muôn năm.
Xướng : Cầu cho Đức Thánh Cha và các Đức Giám Mục : để các ngài trung thành và yêu men chăm sóc đoàn chiên Đức Kitô đã trao phó.
Xướng : Cầu cho các bác sĩ, y tá và tất cả những ai có trách nhiệm chăm sóc bệnh nhân : đề Chúa đổ tràn xuống trên họ sức mạnh và tình yêu quảng đại.
Xướng : Cầu cho ơn gọi linh mục và tu sĩ : để Chúa thúc đẩy những người nam và nữ hiến Đấng cuộc đời để chăm sóc cho đàn chiên Chúa.
Xướng : Cầu cho những người đang hiện diện nơi đây, để mỗi người chúng ta, trong hoàn cảnh sống cụ thể của mình, biết quan tâm chăm sóc cho anh chị em quanh ta.
Chủ tế : Lạy Cha trên trời, xin ban xuống cho chúng con những điều mà chúng con vừa thân thưa với Cha, để chúng con tin tường với trọn con tim và thực hành trong cuộc sống cua chúng con. Chúng con cầu xin ...

 

PS4-C55: CHUYỆN BA NGƯỜI TÍN HỮU

Người ta kể chuyện có ba tín hữu nọ một người nghèo, một ông thì giàu và một tên bất lương đều chết: PS4-C55

Người ta kể chuyện có ba tín hữu nọ một người nghèo, một ông thì giàu và một tên bất lương đều chết trong cùng một ngày và phải ra trước toà Chúa phán xét. Thiên Chúa hỏi anh nhà nghèo: Vì lý do gì mà anh không lo tìm hiểu và tuân giữ Lời Chúa ? " Anh nhà nghèo thưa : Lạy Chúa, vì con nghèo quá nên phải đầu tắt mắt tối lo kiếm gạo nuôi thân, không còn giờ cho sự gì cả ". Thiên Chúa trả lời : "Ông  Hy lem nghèo hơn anh rất nhiều. Thế thà có một chút tiền là ông ấy để dành một nửa đóng tiền học luật Chúa và khi nào không có tiền trả lộ phi, thì ông nhịn đói đứng ngoài cửa sổ trường học nghe lỏm Rabbi giảng dạy Lời Chúa. Thiên Chúa quay sang hỏi ông nhà giàu: "Còn ngươi tại sao ngươi không tìm học hỏi và tuân giữ luật Chúa ". Ông thưa : "Dạ tại vì con phải lo công việc quản trị tiền bạc của cải và các dịch vụ làm ăn liên tiếp, còn giờ đâu mà học hỏi chuyện gì ". Thiên Chúa phán : ngươi đâu có giàu bằng Salazoi, y có đến 100 chiếc tàu buôn đủ mọi thứ hàng hoá và rất bận rộn với công việc kinh doanh, nhưng  Salazoi vẫn tìm ra thời giờ để học  hỏi luật Chúa ". Sau cùng, Thiênt Chúa hỏi người bất lương : "Còn ngươi hỡi kẻ gian ác, tại sao ngươi lại đã không học lề luật Chúa? ". Tên nọ tìm cách chữa lỗi: ' Lạy Chúa, con bị các đam mê lôi cuốn quá nên không còn nghĩ đến gì khác nữa." Thiên Chúa bảo anh ta " Ngươi đâu có bị người ta cám dỗ và say mê như Giuse khi sông bên Ai Cập xưa kia, ngày đêm bị vợ của quan Phutipha níu kéo cám dỗ phạm tội với bà ta mà vẫn chống trả tới cùng ". Thế là cả ba người đều phải án phạt sống xa rời Thiên Chúa và chôn vùi trong nơi khổ ải.
Là Kitô hữu ai trong chúng ta cũng đều có bổn phận học hiểu, lặng nghe và tuân giữ Lời Chúa. Đây là một bổn phận thiêng liêng vô cùng quan trọng, vì nó định đoạt cho phần rỗi của chúng ta. Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã không đề nghị với con người điều gì khác, ngoài bổn phận tìm hiểu Thiên Chúa. Đó là điểm thần học nổi bật trong sứ điệp của các bài đọc Chúa nhật hôm nay.
"Hư mất" là động từ chìa khoá thần học giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của tường thuật Chúa Giêsu Kitô mục tử nhân lành, như thánh Gioan ghi trong chương 20,27-30. Trong ngôn ngữ của Kinh Thánh, từ "hư mất" ám chỉ biến cố con người thất bại hoàn toàn trong cuộc sống ơn gọi làm người và làm con cái Chúa của mình, phải chết đời đời và xa rời Thiên Chúa vĩnh viễn. Là thụ tạo phát sinh từ bàn tay tạo dựng nhân hiền của Thiên Chúa, con người được đặt định trở về với đôi bàn tay yêu thương ấy, nhưng con người đã phá đổ chương trình ấy của Thiên Chúa khi phạm tội, khước từ Thiên Chúa và tự tôn mình lên địa vị của Chúa. Vì thế, Thiên Chúa mới phải sửa chữa lại bằng cách cho Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và giao cho Chúa Giêsu một chương trình cứu độ cần phải hiện thực qua cuộc sống và Lời giảng dạy của Người. Chúa Giêsu đến trần gian chính là để tìm những gì đã hư mất. Đôi bàn tay của Ngài cũng là đôi bàn tay của Thiên húa. Chương trình cứu độ Ngài hiện thực qua Tin Mừng Nước Trời cũng chính là chương trình của Thiên Chúa.
Hình ảnh về mục tử nhân lành, diễn tả sứ mạng cứu độ ấy của Chúa Giêsu đối với nhân loại và không ai có thể đánh cắp, giựt mất đoàn chiên tín hữu khỏi bàn tay của Ngài. Tường thuật Chúa Giêsu mục tử nhân lành bao gồm một số động tử diễn tả các bổn phận của chủ chăn và bổn phận của tín hữu. Nếu biến chúng thành hai cột song song, chúng ta thấy có tới bốn động từ diễn tả bổn phận của chủ chăn đó là : "nói, hiểu biết, hiến mạng sống và giữ gìn". Trong khi đó thì chỉ có hai động từ diễn tả bổn phận tín hữu là "lặng nghe và đi theo ".
Bổn phận đầu tiên của vị chủ chăn là nói, nghĩa là giảng dạy, huấn luyện, đào tạo, khuyên nhủ, kêu mời, đề nghị, góp ỷ kiến. Đây là động từ bao gồm tất cả mọi sinh hoạt rao giảng Lời Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Từ việc tổ chức những khoá tĩnh tâm, huấn luyện đào tạo mọi thành phần nhân lực mục vụ của cộng đoàn địa phương cho tới việc dùng các phương tiện và kỹ thuật truyền thông xã hội, báo chí, sách vỡ, tài liệu, phim ảnh, băng hình, đại phát thanh và truyền hình... để phổ biến, để rao truyền Lời Chúa, phát triển lòng tin của tín hưu. Nói, chớ không phải là nóng nảy bần gắt, la hét và mắng chửi, trù ẻo theo nghĩa này. Nói là cả một nghệ thuật gồm nhiều phẩm chất nội dung và kiến thức mà vị chủ chăn cần phải thường xuyên học hiểu và trao đổi tập quyền mỗi ngày. Từng giọng điệu và kiểu cách cho tới các cử chỉ, từ ngữ vô hình ảnh làm sao để giọng nói được ôn tồn, thông cảm và truyền cảm. Hình ảnh được đơn sơ, sáng sủa, rõ ràng, nhưng ý nghĩa súc tích và thích hợp hầu có thể chuyển đạt sứ điệp Tin Mừng của Chúa đến cho tín hữu một cách hữu hiệu hơn, xác tín và sâu xa hơn. Làm thế nào để lời vị chủ chăn rao giảng luôn làm giàu cho người nghe, thắp sáng lên trong tâm hồn họ tia lửa tinh thần, nung nấu đốt cháy con tim họ, và thúc đẩy họ tiến đến gần Thiên Chúa .
Bổn phận thứ hai của vị chủ chăn tức là các Giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo dân lãnh đạo cộng đoàn là hiểu biết. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, hiểu biết có nghĩa là bước vào trong tương quan hiệp thông với tha nhân. Vì thế, vị chủ chăn phải là người có liên hệ huynh đệ nhân bản với tín hữu. Biết chú ý đến sự khác biệt, không lẫn lộn tinh thần hiệp nhất với sự đồng nhất, máy móc một chiều; không lẫn lộn cuộc sống với cảnh chạy việc; không lẫn lộn trật tự với cảnh rậm rạp, vô hồn. Nhưng để có thể hiểu biết tín hữu, vị chủ chăn cần phải biết tiếp xúc với, nhất là can phải biết lắng nghe họ nói. Biết cố gắng nhìn mọi người với con tim của mình, sẵn sàng học hỏi nơi tín hữu của mình. Mà tín hữu có thể cho các chủ chăn biết bao nhiêu là bài học quí giá trên mọi bình diện cuộc sống, từ các đức tính xã hội, nhân bản, cho đến các nhân đưc Kitô là tin, cậy, mến và sự thánh thiện.
Bổn phận thứ ba của vị chủ chăn là hiến mạng sống mình cho cộng đoàn tín hữu, chết cho họ và vì họ. Nói đúng ra, trừ các trường hợp bắt đạo bình thường thì các vị chủ chăn ít phải chết vì tín hữu. Nhưng điều mà Thiên Chúa và mọi tín hữu đều mong chờ là các chủ chăn sống hoàn toàn và trọn vẹn cho cộng đoàn, dành trọn khả năng, sức lực, thời giờ, mọi của cải và toàn cuộc sống mình cho tín hữu. Biết noi gương Chúa Giêsu kiên nhẫn, quảng đại, sống chết với tín hữu. Chia sẻ mọi vui buồn, âu lo của họ và trở thành người anh em đại đồng cho mọi người, nghĩa là vị chủ chăn không sống cho mình mà sống cho Chúa và cho cộng đoàn.
Bổn phận thứ tư của vị chủ chăn là giữ gìn tín hữu khỏi bị sói dữ cắn xé, để họ không xa Chúa, rời bỏ Giáo Hội và mất đức tin. Trong thế giới ngày nay nhiều khi rất khó nhận diện ra sói dữ, nhưng muốn bảo vệ cộng đoàn, vị chủ chăn phải để lợi ích thiêng liêng và hạnh phúc của tín hữu lên trên hết các việc thường ngày, chớ không phải các lợi lộc riêng tư, danh dự của mình, hay thứ gì khác.
Về phần các tín hữu, bổn phận thứ nhất là biết lắng nghe, nghĩa là để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng mình và quyết định sống theo những gì Chúa nói, thực hành giáo huấn của Chúa trong mọi hoàn cảnh sống thường ngày. Thái độ vâng lời ấy phải được thể hiện ra trong việc cộng tác tham gia, đóng góp vào các sinh hoạt của cộng đoàn, tuỳ theo các tài khéo và khả năng vật chất cũng như tinh thần của mình. Làm sao để cải tiến cộng đoàn để biến nó trở thành một môi trường sống động, tươi vui, tràn đầy yêu thương bác ái, tương trợ lẫn nhau như trong cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các thánh tông đồ. Cộng tác tham gia và đóng góp chứ không phải đứng ngoài chỉ trích phê bình, chửi rủa hay phá đám. Bởi vì nếu nghe Lời Chúa mà không tích cực hoán cải và thay đổi nếp sống cá nhân, gia đình, cộng đoàn và xã hội, thì đó là khước từ Chúa, từ chối Lời Ngài và chối bỏ lòng tin của mình.
Bổn phận thứ hai của các tín hữu là đi theo, bước theo chân Chúa Giêsu Kitô Phục sinh, để tiến về cuộc sống vĩnh cửu, để tiến..về đất Hứa. Do đó hành trình của Kitô hữu phải là một hành trình tươi vui phấn khởi, cuộc sống của Kitô hữu phải là một cuộc sống sinh động nhiều sáng kiến, nhiều đóng góp. Khi ý thức rõ ràng được mục đích đời mình, Kitô hữu mới sẵn sàng dấn thân hy sinh và kiên trì trong những lúc gặp chướng ngại, thử thách khó khăn và cám dỗ. Với ý thức đó, vâng lời có nghĩa là hiểu biết trách nhiệm cao độ mình phải có đối với các chủ chăn và các anh chị em khác trong cộng đoàn. Thông cảm những khó khăn, những yếu đuối, khả năng hạn hẹp của họ với cố gắng xây dựng bù đắp cho nhau.

 

PS4-C56: MỘT NHÃN GIỚI LẠC QUAN

Tất cả các bài đọc hôm nay mở cho chúng ta một nhãn giới lạc quan. Với niềm tin tưởng vào sức: PS4-C56

Tất cả các bài đọc hôm nay mở cho chúng ta một nhãn giới lạc quan. Với niềm tin tưởng vào sức mạnh Phục sinh của Chúa Giêsu, sự sống lại của Chúa Giêsu biến đổi cả vũ trụ không phải như chiếc đữa thần, mà là do sự cố gắng liên lỉ và kiên trì, và sự hoán cải đầy đủ ý nghĩa trọn vẹn với ý chí hiểu biết và ý chí cương quyết. Cho nên sự sống lại của Chúa Giêsu không tiêu diệt tức khắc đau khổ và sự chết nơi con người, nhưng ban cho con người tiềm năng biến đổi sự sống thân xác phàm trần hay chết này.
Bài đọc thứ nhất bao hàm ý nghĩa sự sống lại của Chúa thay đổi hoàn toàn các tông đồ, từ những con người yếu đuối hèn nhát, các ngài đã trở nên mạnh mẽ can đảm. Nhất là khi các ngài ý thức được sứ mạng của mình, các ngài đã tuyên bố dõng dạc rõ ràng với tất cả thành tâm thiện chí của những người nhận rõ bổn phận của mình rằng : Chúa đã truyền lệnh cho chúng tôi. "Ta đã đặt các ngươi làm ánh sáng muôn dân để người nên ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất". Như thế với Chúa Giêsu Phục sinh, nhãn giới các tông đồ cũng thay đổi. Ơn cứu độ không phải chỉ giới hạn nơi vương quốc Do Thái hay với người Do Thái mà thôi, nhưng ơn cứu độ đó bao trùm tất cả mọi người sinh ra trên trần gian này. Dầu vậy, bài đọc sách Tông đồ Công vụ cũng cho chúng ta thấy ngay từ buổi đầu của Giáo hội, không phải tất cả mọi người đều chấp nhận Tin Mừng. Nhưng tất cả những ai chấp nhận như sách Tông đồ Công vụ kể đều hân hoan trong lòng và ca tụng Thiên Chúa.
Bài đọc thứ hai cho chúng ta thấy cùng một diễn biến đó và Chúa Giêsu Phục sinh đã biến đổi hoàn toàn những kẻ theo Người, từ đau khổ nơi trần gian đến vinh quang Phục sinh trường cửu. Dầu bao nhiêu người không chấp nhận, dầu bao nhiêu thể chế đàn áp, bách hại, nhất định tiêu diệt những người tin vào Chúa Giêsu Phục sinh nhưng họ đã không làm gì được. Trong bài sách Khải Huyền, thánh Gioan cho thấy một đám đông không thể đếm được thuộc đủ mọi dân tộc, mọi tiếng nói mặc áo trắng dài, tay cầm nhành vạn tuế đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên. Lòng trung thành của Thiên Chúa đã giúp được họ vượt qua tất cả, nhất là khi họ biết kết hợp những đau khổ của mình với hy lễ thập giá của Chúa Kitô, mà sách Khải Huyền đã dùng hình ảnh họ giặt áo và tẩy nó trắng trong máu Con Chiên. Khi Con Chiên vô tội đã bị sát tế và được Phục sinh vinh quang, thì những chứng nhân trung thành đến cùng trong đau khổ thử thách đó, cũng được sống lại nhờ máu của Con Chiên.. Đám đông vô số không thể đếm được, hợp lại thành một cộng đoàn thiên quốc và mọi đau khổ đã chất dứt. Con Chiên đã trở thành thủ lãnh và là sức sống của đoàn.
Vai trò của Con Chiên thủ lãnh đó, Chúa Giêsu đã nói rõ trong bài Phúc âm : "Chiên tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất".Với hình ảnh đó, với lời dạy đó chúng ta quen Chúa Giêsu là Đấng chăn chiên lành, Người hướng dẫn đoàn chiên của Ngài, Ngài để tâm săn sóc từng con chiên trong đàn. Các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi cũng thấy nơi Đức Kitô, Người mục tử nhân lành, Đấng hướng dẫn tất cả chúng ta những con chiên của Người về cùng Thiên Chúa. Như thế vị mục tử này, không những dẫn con chiên của mình đến đồng cỏ xanh nước mát, mà còn dẫn đến đích điểm tận cùng là sự sống đời đời với Thiên Chúa là Cha trên trời. Và cùng đích đó không phải chỉ đạt được sau cuộc sống ở đời này mà thôi. Chúa Giêsu đã bảo : "Ta thí mạng sống Ta vì đoàn chiên để cho đoàn chiên luôn luôn được sống, được bao đảm an toàn" Trên trần gian, Người đã thí mạng sống của mình ngay cả đời này, thì các chiên của Người cũng phải được hưởng sự sống sung mãn ngay ở đời này. Đời sống trường cửu là đời sống phải được bắt đầu ở đây, bây giờ ngay trong cuộc sống này. Đời sống đó chúng ta cảm nghiệm được bằng cách chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, tiếng gọi của Thiên Chúa, tình yêu thương của Người trong những biến cố, những con người mà chúng ta gặp hằng ngầy trong đời sống của mình và cố gắng bước theo Chúa trong đường lối của Người với hết lòng tin tưởng.
Tin tưởng nơi Thiên Chúa cả những lúc chúng ta không hiểu được tại sao Thiên Chúa để điều nọ việc kia xảy ra. Hảy vững tin rằng ngày nào đó, khi mọi sự đã ổn đinh, chúng ta sẽ hiểu được những gì ngày nay chúng ta đang khắc khoải chịu đựng mà không hiểu được tại sao. Nhìn Đấng chiên lành Giêsu, con người phải cảm nhận được hạnh phúc của mình vì đã có được Đấng từ trời xuống thế để dẫn dắt chúng ta về trời. Người đã biết được, Người đã hiểu chúng ta cần gì cho cuộc hành trình trên con đường về quê trời đó. Chúng ta hãy tin tưởng bước theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu, vị Chủ chăn duy nhất, Con một Thiên Chúa nhập thể làm người đó.
Và trong cuộc hành trình về cùng Thiên Chúa Cha này, chúng ta cùng đi với các anh chị em chúng ta trong Giáo Hội, chúng ta cùng nhận ơn các phép bí tích, được thông ban qua công cụ của Giáo Hội do chính Chúa Giêsu đã lập. Vì thế Chúa nhật này cũng là ngày của Giáo Hội cầu nguyện cho các giáo sĩ cũng như tu sĩ. Chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người hiến đời mình để phục vụ Thiên Chúa và đoàn chiên Chúa, Giáo Hội. Và nhất là cầu nguyện xin Chúa ban ơn khuyến khích những người trẻ, biết đáp lại một cách ngay lành và quảng đại ơn gọi của Chúa để phục vụ những anh chị em khác, giúp mọi người nghe và hiểu được lời mời gọi của vị chủ chăn đuy nhất trên con đường tiến đến sự sống đời đời
Hơn nữa mỗi người nhất là giáo dân chúng ta phải biết quảng đại, hy sinh phục vụ dân Chúa trong cộng đoàn họ đạo chúng ta bằng những lời xây dựng yêu thương, khuyến khích nhau, bằng những đóng góp kẻ công người của để phục vụ cộng đoàn của mình. Tóm lại, mỗi người phải luôn ý thức rằng mọi việc trong họ đạo không phải chỉ là việc của linh mục, mà là của tất cả mọi người. Qua sự cộng tác với nhau, mỗi người trong khả năng và nhiệm vụ của mình cùng nhau phụng sự cộng đồng dân Chúa dưới sự hướng dẫn của linh mục chủ chăn hữu hình, đại diện chủ chăn duy nhất là Đức Kitô.
Để có việc làm cụ thể trong tuần này, tôi ý thức rằng Giáo Hội cách này hoặc cách khác luôn cần nhờ sự cộng tác cụ thể của tôi, để giúp cho cộng đoàn Kitô hữu nơi tôi cư ngụ sốt sắng hơn, linh hoạt hơn và sống có trách nhiệm hơn. Những điều kiện tôi cần có để thực hiện việc cộng tác đó là biết và yêu mến Chúa Giêsu và Tin Mừng của Người, sẵn sàng hy sinh thời giờ của mình cho họ đạo, sẵn sàng đem tài năng Chúa ban để phục vụ anh chị em mình và nhất là ước muốn chia sẻ niềm tin và hy vọng của mình cho người khác. Thực hiện được sự hy sinh phục vụ đó, chúng ta sẽ cảm thấy được niềm vui và đời sống sẽ được sung mãn.
 

PS4-C57: CÂU CHUYỆN TÌNH - Mark Link S.J.

CÂU CHUYỆN TÌNH
Mark Link S.J.
Bài đọc; Cv 13 ; 14, 43-52; Kh 7 ; 14-17: Ga 10 : 27-30
Chủ đề:
Thiên Chúa mời gọi chúng ta học biết và yêu mến Ngài để mãi mãi được sống hạnh phúc bên Ngài.
 

Cách đây nhiều năm, có một bộ phim được rất nhiều người hâm mộ tựa đề là Laura (nàng Laura).: PS4-C57

Cách đây nhiều năm, có một bộ phim được rất nhiều người hâm mộ tựa đề là Laura (nàng Laura). Thỉnh thoảng phim ấy lại được chiếu lại trên màn ảnh truyền hình. Chuyện phim kể về một thám tử trẻ nọ được mời đi điều tra vụ thảm sát một phụ nữ xinh đẹp tên là Laura. Chuyện xảy ra là một đêm nọ, có kẻ đột nhập vào căn hộ của Laura, rút súng và bắn một phát đạn vào mặt cô khiến cô bị tử thương. Những ngày kế tiếp sau đó, chàng thám tử trẻ tuổi dồn hết thời gian lục xét căn hộ Laura. Chàng xem xét tỉ mỉ tất cả mọi thứ liên quan đến cô như áo quần, sách vở, tập nhạc, hình ảnh và còn đọc cả những thư từ, nhật ký riêng của cô hầu tìm ra mấu chốt liên quan đến vụ thảm sát. Thế rồi, một điều thật lạ lùng đã xảy ra, chàng thám tử từ từ bị hình ảnh Laura hoàn toàn xâm chiếm, chàng cảm thấy xúc động và bỗng dưng say đắm nàng. Dĩ nhiên chàng cũng nhận ra mình đang yêu một người phụ nữ đã chết. Thế rồi một đêm nọ, đang lúc chàng ngồi trong căn hộ của Laura gắng sức tìm giải pháp để điều tra cho ra, thì bỗng dưng chàng nghe có tiếng chìa khóa tra vào ổ. Rồi cánh cửa mở ra, chàng thám tử không thể tin nổi mắt mình. Laura đang đứng ở đó Nàng vội lên tiếng hỏi: “Anh làm gì trong căn hộ tôi thế?” Chàng liền cắt nghĩa cho nàng mọi sự  việc đã xảy ra… Để rút ngắn câu chuyện, tôi xin tóm lược như sau. Laura đã đi về miền quê tìm nơi hoàn toàn yên tĩnh để nghỉ ngơi ít ngày. Trong suốt thời gian ấy, cô chẳng nghe máy truyền thanh cũng chẳng đọc báo chí nên đã chẳng hay biết gì về cái chết của mình. Té ra là người phụ nữ bị giết nọ là một kẻ nào đó đã sử dụng căn hộ của cô trong thời gian cô vắng mặt, cuốn phim đã kết thúc với cảnh Laura và chàng thám tử yêu nhau, lấy nhau và sau đó sống với nhau hạnh phúc suốt đời.
Cuốn phim trên đây gồm ba phần: Phần nhất diễn lại cảnh chàng thám tử nghiên cứu, lục xét căn hộ của Laura để rồi si mê nàng. Phần hai diễn tả lúc Laura tình cờ xuất hiện trên ngưỡng cửa căn hộ và chàng thám tử nhận ra nàng. Phần ba diễn tả cảnh chàng thám tử tán tỉnh Laura sau đó thành hôn với nàng. Chuyện phim gồm ba phần ấy giống hệt kế hoạch Thiên Chúa vạch ra cho mỗi người chúng ta. Trong đó phần một là Chúa tạo dựng chúng ta trên thế gian này, để chúng ta học hỏi, tìm hiểu về Ngài, giống như chàng thám tử nọ được phái đến căn hộ của Laura để nghiên cứu về cô ấy. Tiếp đó, phần hai, Thiên Chúa biểu lộ chính mình qua Chúa Giêsu, Đấng đã đến trần gian để chúng ta có thể nhận ra Ngài, giống như Laura vừa bước vào căn hộ thì được chàng thám tử nhận ra ngay. Và phần cuối của kế hoạch Chúa dành cho chúng ta là chúng ta yêu mến và sống hạnh phúc mãi mãi với Ngài, giống như chàng thám tử nọ say đắm Laura và được cùng nàng trăm năm hạnh phúc.
Chuyện phim về nàng Laura và bản lược đồ tóm tắt kế hoạch của Thiên Chúa trên sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn bài Phúc Âm hôm nay. Bài Phúc Âm hôm nay phản ảnh ba phần y hệt như trên. Trước hết, Chúa đã cho dân Ngài tuyển chọn được sống trong bầu không khí Cựu ước để họ có cơ hội tìm hiểu về Ngài. Tiếp đó, vào thời gian thuận tiện, Ngài đã tự biểu lộ chính mình trong lịch sử qua con người của Đức Giêsu Kitô. Và cuối cùng, những kẻ nhận biết Đức Giêsu là Chúa thì nghe tiếng Ngài, bước theo Ngài, và lãnh nhận nơi Ngài sự sống vĩnh cửu. Đây chính là điều Chúa Giêsu tuyên bố trong Phúc Âm hôm nay liên quan đến những kẻ nhận biết Ngài “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta… và bước theo Ta. Ta sẽ cho họ sự sống đời đời”. Bởi vì “Cha Ta và Ta là Một”.
Chúng ta sẽ áp dụng tất cả những điều đó vào cuộc sống như thế nào?
Để trả lời, chúng ta hãy trở lại với chàng thám tử trong phim. Chàng đã nghiên cứu căn hộ của Laura kỹ lưỡng, tỉ mỉ biết bao!  Chàng không bỏ sót một chi tiết nào có thể giúp chàng hiểu biết thêm về nàng, vì thế, chàng bỗng say mê nàng dù chưa bao giờ gặp mặt. Đó chính là điều mỗi người chúng ta phải làm tại thế giới này. Chúng ta phải tìm hiểu cho tường tận mọi bí mật, mọi vẻ đẹp, và cả những khổ đau của thế giới này để rồi yêu mến Thiên Chúa dù chưa lần nào gặp mặt Ngài. Đồng thời chúng ta phải tìm hiểu cặn kẽ mọi điều liên quan đến Chúa Giêsu Kitô, vì nơi Ngài chúng ta gặp được Thiên Chúa mặt đối mặt y hệt chàng thám tử nọ đã gặp được Laura nơi cửa căn hộ nàng. Hẳn chúng ta không quên lời Đức Giêsu đã nói; “Ai thấy Ta là Thấy Cha Ta” (Ga 14:9) Và cuối cùng, chúng ta phải hết lòng phó thác đời mình cho Chúa Giêsu để được sống vĩnh cửu, và sau đó được sống hạnh phúc mãi mãi bên Ngài, giống như chàng thám tử dâng tặng cuộc đời cho Laura, kết hôn với nàng và sau đó họ sống mãi mãi hạnh phúc bên nhau. Nói cách khác, Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta tìm hiểu, học hỏi về Chúa qua mọi vật Ngài đã tạo dựng ở trần gian này. Chúng là những gì then chốt cho ta biết về Chúa giống như áo quần sách vở của Laura là những yếu tố giúp chàng thám tử biết rõ con người nàng.
Bài Phúc Âm cũng mời gọi chúng ta tìm hiểu học hỏi về Chúa Giêsu để say mê và bước theo Ngài hầu được sống hạnh phúc bên Ngài mãi mãi, giống như chàng thám tử nọ đã say đắm, kết hôn với Laura, và sau đó hai người sống đầm ấm bên nhau mãi mãi.
Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:
Lạy Chúa là Cha chúng con, Cha đã tạo dựng chúng con và ban cho chúng con sự sống. Cha đã đặt chúng con vào trần gian xinh đẹp mầu nhiệm này để chúng con tìm hiểu, suy tư và học hỏi về Cha. Nhưng bình thường chúng con đã chẳng chịu làm như thế. Vẻ kiều diễm của trần gian thường mê hoặc chúng con rời xa Cha hơn là lôi chúng con đến với Cha. Tuy vậy, Cha vẫn không từ bỏ chúng con, Cha đã kêu gọi, đã hô hào, khiến chúng con phải mở tai ra. Cha đã toả chiếu vinh quang của Cha để chúng con phải mở mắt ra. Và bỗng nhiên chúng con bắt đầu nghe được tiếng Cha trong từng hơi thở, trong mỗi bài ca, chúng con bắt đầu nhìn thấy bóng hình Cha lấp lánh nơi mỗi vì sao, nơi từng bông lá, và vào một ngày kia không thể nào quên, chúng con được nghe tiếng Cha và nhìn thấy dung nhan Cha nơi Chúa Giêsu Con Cha.
Vậy xin Cha giúp chúng con lắng nghe lời Chúa Giêsu, bước đi theo Ngài, để được Ngài ban sự sống vĩnh cửu. Xin Cha giúp chúng con chu toàn kế hoạch Cha đã định cho chúng con, để chúng con được sống hạnh phúc bên Cha mãi mãi.

 

PS4-C58: EM BIẾT TIN AI BÂY GIỜ ?!

 (Ga 10:27-30)
đã viết ngày: 29.04.2007 
 

Sau khi thoát khỏi chiến tranh lạnh kéo dài hàng bao thập niên, nhân loại tưởng sẽ bước vào: PS4-C58

Sau khi thoát khỏi chiến tranh lạnh kéo dài hàng bao thập niên, nhân loại tưởng sẽ bước vào một thế kỷ mới đầy hạnh phúc.  Nhưng rõ ràng thế giới không bao giờ hòa bình.  Cuộc xung đột ý thức hệ chưa chấm dứt, thì cuộc đối đầu về tôn giáo diễn ra ác liệt.  Tình hình thế giới hôm nay  khó tìm một giải đáp.  Con người tự hào về sự hiểu biết quá nhiều và một chiều về tôn giáo của mình.  Niềm tin quá mạnh đến độ cuồng tín đã đẩy cả xã hội và con người vào lò lửa chiến tranh như tại Trung Ðông hiện nay.
Ðàng khác, nhân loại đang trải qua cuộc khủng hoảng về gia đình, xã hội, luân lý, đạo đức v.v.  Con người đang mất hướng chỉ vì quá chú tâm vào những phương tiện sống hơn là chính sự sống.  Nguyên do vì càng ngày con người càng ít biết về tôn giáo, nguồn cung cấp lẽ sống. Theo thống kê, ngay tại nước nổi tiếng Công giáo một thời như Ái Nhĩ Lan, có tới 95 phần trăm người lớn không hề biết về Ðiều Răn Thứ Nhất trong Mười Ðiều Răn.[1]  Kiến thức một chiều hay không có kiến thức về tôn giáo đều dẫn nhân loại đến chỗ chết. Nhiều người như bị lạc hướng hay bị xé rách giữa những giằng co của bao chủ thuyết và niềm tin.   
“Em biết tin ai bây giờ ?” 
Giữa cảnh hoang mang đó, Ðức Giêsu lên tiếng mạnh mẽ : “Tôi chính là Mục Tử nhân lành.  Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10:11)  Thực tế, Chúa có xứng đáng với danh hiệu đó không ?  Người có đủ khả năng dẫn con người ra khỏi vòng luẩn quẩn của kiếp người không ?
Ngoài Ðức Kitô, con người không thể kiếm được con đường cứu thoát nào khác. Thực vậy, muốn đạt đến ơn cứu độ, con người cần phải biết Thiên Chúa và Thánh ý Người như đã mạc khải trong thánh sử.  Bởi đấy, trước hết, Chúa Giêsu phải bày tỏ cụ thể thánh ý Thiên Chúa, tức những huấn chỉ và lời hứa, cho con người (x. Ga 17:3; Dt 1:1-5).  Chỉ mình Người mới có thể biết và làm cho người khác biết thánh ý huyền nhiệm của Thiên Chúa Cha vĩnh hằng (x. Mt 1:27).  Ðức Kitô đầy quyền năng trong lời giảng dạy.  Người cho nhân loại biết muốn được cứu rỗi, cần phải tin và nhận biết Người là Ngôi Lời Thiên Chúa. 
Ngôi Lời đến trần gian để rao giảng Nước Thiên Chúa và kêu gọi mọi người sám hối.  Không sám hối, không thể nhận biết Người là vua.  Người sinh xuống trần gian để đem sức mạnh sự thật giải thoát nhân loại (x. Ga 18:37).  Như thế, Người xứng đáng là một Mục Tử đầy uy quyền, khôn ngoan và quả cảm.  Bởi thế, trước cuộc đời đầy thách đố và hiểm nguy, Người không tìm an nhàn thư thái hay yên ổn cho bản thân.  Người cũng không hy sinh đoàn chiên để đạt mục tiêu riêng.  Trái lại, Người sẵn sàng liều mạng để cứu sống đoàn chiên.  Người không thể ngồi yên khoanh tay nhìn sói dữ cắn xé đoàn chiên.  Sự hy sinh bất vụ lợi đó là tiêu chuẩn đánh giá người mục tử đích thực.  Người không thể sống theo nước đôi.  Vừa muốn danh dự và uy quyền của một mục tử vừa muốn toàn mạng, chứ không phải đối đầu với đàn sói, làm sao có thể có một thứ mục tử dễ dàng đến thế !  Không !  Người dứt khoát đem tất cả sức mạnh bảo vệ đoàn chiên, dù phải trả bất cứ giá nào !  Chính vì thế, Người trở thành trung tâm thu hút và sức mạnh quy tụ đoàn chiên.  Tình yêu đã khiến Người hy sinh tất cả cho hạnh phúc và sự sống đoàn chiên. 
Sở dĩ dám hy sinh tất cả cho đoàn chiên, vì Người ý thức rất rõ về trọng trách Chúa Cha giao phó đoàn chiên cho mình.  Nếu con người chẳng có một giá trị nào, tại sao Chúa Cha lại giao phó cho Chúa Con ?  Tại sao Chúa Con lại đón nhận như một tặng phẩm quý giá hay như một bửu bối ?   Người hiểu biết rất rõ về giá trị của từng con chiên và của cả đoàn chiên : “Tôi biết chúng.” (Ga 10:27)   Sự hiểu biết đó không phải là một kiến thức khô cứng hay một lý thuyết vô hồn.  Trái lại, đó là sự hiểu biết toàn vẹn bao hàm tình yêu và đưa đến sự hy sinh hoàn toàn. 
Chỉ có Mục Tử như thế mới làm cho đoàn chiên cảm phục và quây quần chung quanh để lắng nghe và đi theo (x. Ga 10:27) mà thôi.  Không sống chết với đoàn chiên, dĩ nhiên không thể được mến chuộng đến như thế.  Mục tử không biết hy sinh đến quên mình, đoàn chiên không thể gắn bó.  Bởi đấy, khi không can đảm bảo vệ đoàn chiên, mục tử sẽ mở đường cho chó sói cắn xé và phân tán đoàn chiên.  Vị Mục Tử tối cao luôn đi sát đoàn chiên để hướng dẫn và chỉ bảo đoàn chiên giữa những ồn ào và nanh vuốt của bầy sói.  Ðó là lý do tại sao Chúa dám cả quyết: “Không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.” (Ga 10:28)
Làm cách nào Chúa có thể bảo đảm như thế ?  Chúa đã dùng phương thế gì ?  Chúa đã bảo vệ đoàn chiên “bằng lời chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa, (và) lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ.” (2 Cr 6:7)  Như thế, nếu Chúa cứ im lặng,  đoàn chiên sẽ lắng nghe cái gì và làm sao đi theo Người ?  Trước những bất công là vũ khí của loài sói dữ, chỉ có Lời Chúa và sự công chính mới đương đầu nổi.  Thánh Linh chính là sức mạnh Thiên Chúa giúp Người chiến đấu chống lại kẻ thù.  Nhờ chiến đấu can trường, không những Người có thể cứu đoàn chiên, mà còn làm cho “sự sống đời đời” (Ga 10:28) như mạch suối chảy dào dạt trong con chiên nữa.
Càng chiến đấu chống lang sói để bảo vệ đoàn chiên, Người càng mạc khải rõ căn tính và sứ mệnh của mình.  Không phải vô tình Người đứng ra lấy thân cản trở sói lang để cứu đoàn chiên.  Nếu không được Chúa Cha ủy thác và sai phái, Người không bao giờ đảm lãnh trách vụ đó.  Có thể nói Chúa Cha đang ôm trọn đoàn chiên trong vòng tay của Người là Ðức Giêsu.  Còn thành trì nào vững chắc hơn ? 
Trong vòng tay đầy yêu thương đó, Chúa Cha quy tụ muôn tín hữu “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ.” (Kh 7:9)  Chỉ đức tin mới có sức mạnh vượt qua mọi giới hạn tự nhiên mà thôi.  “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Ðức Kitô.” (Rm 10:17)  Chính vì thế, lời Chúa có sức mạnh quy tụ muôn dân và lôi cuốn họ theo Người .  Nếu không có Lời, Chúa sẽ trở thành xa lạ đối với đoàn chiên và đoàn chiên cũng không biết nhau nữa.  Nói khác, chính Lời khiến đoàn chiên thuộc về Chúa và thuộc lẫn nhau.  Theo thánh Augustinô, “tâm hồn thuộc về Chúa Giêsu Kitô, thì nghe tiếng Chúa, hiểu Lời Chúa : người lạ không nghe thấy gì cả.”[2][1]  Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần nghe tiếng Chúa để biết cách hành xử kịp thời và thích hợp.
Vậy đứng trước tình hình GHVN hôm nay, chúng ta phải có thái độ nào ?  Tuần vừa qua, mọi người đều thấy những vị lãnh đạo GHVN không còn giữ im lặng trước vụ linh mục Nguyễn Văn Lý nữa.  Có Vị cao cấp trong HDGMVN cho biết phải đợi tới tháng 10.2007 mới có thể biết thái độ của HÐGMVN.  Vấn đề còn tùy thuộc vào sự góp ý của TGM Huế nữa.[3]  Lạ thật !  Chẳng lẽ cơ chế GHVN nặng nề đến thế ư ?   Trả lời như thế chỉ là một cách tránh né vấn đề và thoái thác trách nhiệm mà thôi.  Thái độ của các GMVN khác hẳn với các gm Nam Hàn.  Trước vụ thảm sát tại đại học Virgina Tech.vừa qua, chẳng lẽ HÐGM Nam Hàn phải đợi đến kỳ họp thường niên mới phản ứng à !  Ngay lập tức, ÐHY Nicholas Cheong Jin-suk, TGM thủ đô Seoul Nam Hàn, đã lên tiếng và phân ưu với các gia đình nạn nhân.  Cả Hội Ðồng Liên Tôn Nam Hàn cũng có một thái độ tương tự.
Trong một cuộc phỏng vấn của VietCatholic, trước vấn đề của linh mục Nguyễn văn Lý, giám mục Chủ tịch HDGMVN cho biết linh mục không được làm chính trị đảng phái, vì sẽ gây chia rẽ.  Giám mục còn như trách móc cha Lý không vâng lời tgm Huế trong công việc chính trị.  Nếu đúng thế, tại sao các giám mục cho phép hay khuyến khích các linh mục tham gia Mặt trận Tổ Quốc và quốc hội ?  Ðó có phải là sinh hoạt chính trị không ?  Nếu có, tại sao không cấm ?  Các giám mục Việt nam đã theo tiêu chuẩn nào để phân biệt giữa việc làm của cha Lý và các linh mục đó ?  Các ngài đã theo  tiêu chuẩn kép.  Các ngài chỉ bắt nạt những linh mục yếu thế, nhưng không dám đụng đến  các linh mục quốc doanh, vì sợ đàng sau các linh mục này còn có cả một lực lượng đang đe dọa mạng sống các ngài.  Thế mới biết các ngài “khôn ngoan” thật ! 
Nếu quả thực có từ chối vâng lời tgm Huế trong cộng việc chính trị, cha Lý  không hoàn toàn xúc phạm đến quyền bính đâu.  Cha Lý cố ý nghe theo lời ÐGH Gioan Phaolô II sau đây: “Đừng hiểu chính trị theo nghĩa hẹp ! Giáo Hội có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng, mà trong Tin Mừng có con người, tức là có nhân quyền, nhân phẩm, tự do và lương tâm cùng tất cả những gì thuộc về con người. Nếu tất cả những cái đó có một giá trị chính trị thì tôi làm chính trị, vì tôi bênh vực con người.”[4] ÐGH Gioan Phaolô II đã phải lấy cả cuộc đời để chứng minh nhận định sâu sắc đó.  Không bao giờ có thể quên tấm gương  cao cả và dũng đảm của vị giáo hoàng khả kính !
Chính khi bị bịt miệng là lúc cha Lý nói nhiều và nói to hơn hết ! Cả thế giới nghe thấy tiếng cha !  Thực sự, người ta không mong đợi các GMVN hãy nói thay cha.  Nhưng người ta kỳ vọng các GMVN cùng cha tranh đấu cho nhân quyền tại Việt nam.  Trước nhiều vấn đề, nhất là vấn đề nhân quyền, các ngài luôn chọn giải pháp dễ dãi, phù hợp với thái độ cầu an của mình !
Xin các vị lãnh đạo GHVN nhớ lại lời cảnh giác sau đây của Hội Ðồng Giám Mục Á Châu : “Trước hết chính trị phải trở thành một hoạt động chung, toàn thể dân Chúa được mời gọi dấn thân vào hoạt động chính trị ấy, vì Phúc Âm đòi hỏi Kitô hữu đưa Phúc Âm và những giá trị Nước Trời- là tình thương và công bình- xâm nhập vào những lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, và xã hội của Châu Á. Ai tuyệt đối khước từ đòi hỏi thay đổi chính trị ở Châu Á, ắt là một cách nào đó, cũng phủ nhận căn tính Kitô của mình.”[5]   Cơ hội đang đến với các GMVN !  
Vì không hiểu biết nhiều về giáo lý và giáo luật, giáo dân Việt nam chỉ biết vâng lời tối mặt các đấng bề trên mà thôi.  Nhiều giám mục và linh mục hành xử như những “ông trời con.”  Cha phán là Chúa phán.  Giám mục tưởng chừng vô ngộ hơn cả giáo hoàng !  Rõ ràng vì thiếu hiểu biết về giáo lý, giáo dân Việt nam không thể trở thành những công dân có ảnh hưởng và hoạt động hữu hiệu.  Sự thiếu hiểu biết về giáo lý nguy hiểm hơn các hình thức vô tri khác, vì tôn giáo có  một vai trò quan trọng trong văn hóa và như là một sức mạnh trên thế giới.[6]  Nhưng mấy ai dám nhận mình thiếu hiểu biết như thế ? ! 
Phản ứng theo sự thiếu hiểu biết lại càng nguy hiểm cho Giáo hội. 
Lạy Chúa, xin cứu vãn GHVN !  Xin cho các vị lãnh đạo GHVN trở thành những mục tử can đảm bênh vực và hướng dẫn đoàn chiên Chúa. Amen.

 

PS4-C59: MỤC TỬ NHÂN LÀNH YÊU ĐÀN CHIÊN

 BẰNG TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC
CÂU HỎI GỢI Ý:
 

Tại sao chiên của Mục Tử Giê-su lại nghe Ngài và theo Ngài ? Điều gì hấp dẫn dân chúng đến: PS4-C59

1. Tại sao chiên của Mục Tử Giê-su lại nghe Ngài và theo Ngài ? Điều gì hấp dẫn dân chúng đến với Ngài, và tuân theo những lời dạy dỗ của Ngài ?
2. Điều gì khiến cho Mục Tử Giê-su có thể “hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” ? Tại sao kẻ chăn thuê “khi thấy sói đến thì bỏ chiên mà chạy” ?
3. Tình yêu chân thật là gì ? Có thứ tình yêu nào không chân thật không ? Nghĩa là hành động thì có vẻ là yêu, nhưng do một động lực vị kỷ chứ không không do tình yêu thúc đẩy ?
4. Mục Tử có phải là một nghề nghiệp không ? Người Mục Tử nào coi việc làm Mục Tử của mình như một thứ nghề nghiệp, có thể hy sinh cho đàn chiên không ? Tại sao ?
SUY TƯ GỢI Ý:
1. MỤC TỬ NHÂN LÀNH THẬT SỰ YÊU THƯƠNG CHIÊN CỦA MÌNH
Tại sao chiên của Đức Giê-su lại nghe và theo Ngài ? – Thông thường, dân chúng chỉ nghe theo, ủng hộ và thậm chí dấn thân cho những ai thật lòng yêu thương họ, sẵn sàng hy sinh cho họ. Đó cũng chính là thái độ và tấm lòng của Đức Giê-su đối với dân chúng. Rất nhiều lần, lời nói và việc làm của Ngài chứng tỏ lòng yêu thương chân thành và bao la của Ngài đối với mọi người, nhất với những người nghèo, bệnh tật, tội lỗi, và đang đau khổ.
– Thánh Kinh dùng từ “chạnh lòng thương” để nói lên lòng thương xót của Ngài khi thấy dân chúng bị đau khổ, lầm than: “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” ( Mt 9, 36 ); “Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ” ( 14, 14 ); “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường” ( 15, 32 ).
– Không chỉ “chạnh lòng thương” như một cảm xúc xuông, mà cảm xúc ấy luôn luôn đi đến hành động cứu giúp thật sự. Thấy người khốn khổ, đói khát, bệnh tật... Ngài luôn ra tay cứu giúp vô điều kiện: nào là chữa bệnh, làm người chết sống lại, trừ quỷ ám, nào là hóa bánh ra nhiều để giải đói cho hàng ngàn người, nào là cứu người bị kết án vì ngoại tình, giao tiếp với người tội lỗi để hoán cải họ, làm cho họ cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, v.v... Sách Tông Đồ Công Vụ viết: “Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” ( Cv 10,38 ).
Điều quan trọng của người Mục Tử là phải có cái tâm yêu thương thật sự và bao la. Khi đã thật sự yêu thương thì tình yêu sẽ thúc đẩy người Mục Tử làm những gì cần thiết cho tha nhân. Và chỉ những hành động được thúc đẩy bởi tình yêu mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Tất cả những hành động có vẻ yêu thương – như bố thí, chữa bệnh, giúp đỡ... – nếu không xuất phát từ tình yêu thì đều không có giá trị trước Thiên Chúa.
2. TÌNH YÊU CHÂN THẬT CỦA ĐỨC GIÊ-SU ĐỐI VỚI ĐÀN CHIÊN
Điều khiến cho một Mục Tử trở thành Mục Tử nhân lành chính là tình yêu chân thành và bao la đối với quần chúng, được biểu lộ bằng hành động thật sự.
Tình yêu của Đức Giê-su đối với đàn chiên của Ngài là một tình yêu chân thật, nghĩa là một tình yêu dám xả thân, dám “hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” ( Ga 10, 11.15 ), “để cho chiên được sống và sống dồi dào” ( 10, 10 ). Nếu không có tình yêu chân thật, người Mục Tử sẽ có thái độ: “Khi thấy sói đến thì bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn” ( 10,12 ).
Tình yêu chân thật không phải là tình yêu ngoài môi miệng. Nếu người Mục Tử chỉ rao giảng về tình yêu, cho dù rất hay, kêu gọi mọi người yêu thương và hy sinh cho nhau, nhưng chính mình lại không thật sự yêu thương quần chúng, không dám hy sinh, chịu đau khổ, mất mát, thiệt thòi, thậm chí liều mạng vì họ, thì không phải là Mục Tử nhân lành.
Tình yêu chân thật không phải là thứ tình yêu biểu dương. Những người ham danh, muốn được mọi người ca tụng là đạo đức, là thương người, cũng có những hành động có vẻ đầy yêu thương, như bố thí, giúp đỡ, hy sinh... Nhưng nếu họ chỉ làm những hành động tốt đẹp ấy vì động lực vị kỷ thì đó không phải là yêu thương.
Tình yêu chân thật không phải là thứ tình yêu chức năng. Nhiều người phải tỏ ra yêu thương, ân cần, săn sóc người khác, là vì nghề nghiệp hay chức vụ họ đòi buộc. Họ có thể là cán sự xã hội, bác sĩ, y tá, thầy dạy học, đại lý bảo hiểm, Linh Mục, Mục Sư, Thượng Tọa... là những nghề cao quí đòi hỏi những lý tưởng cao thượng. Thái độ và hành vi yêu thương của họ có thể xuất phát từ tình yêu chân thực, mà cũng có thể do nghề nghiệp hay chức vụ đòi buộc. Nếu những hành động tốt đẹp ấy chỉ được thúc đẩy thực hiện do nghề nghiệp hay chức vụ đòi buộc, thì đây là thứ tình yêu mang tính nghề nghiệp ( professional love ) hay chức năng ( functional love ). Tình yêu loại này cũng là tốt, nhưng chưa phải là thứ tình yêu chân thật của người Mục Tử nhân lành.
Một thí dụ điển hình về tình yêu chức năng: Một phụ nữ “vượt biên” nọ kể cho tôi câu chuyện của cô như sau: Khi cô từ trại tỵ nạn đến nước mà cô định cư, có một bà cán sự xã hội được công ty của bà phái đến đến thăm cô, tìm hiểu nhu cầu của cô để họ giúp đỡ. Bà ấy nói năng với cô rất vui vẻ, niềm nở, tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ cô trong bất kỳ trường hợp nào cô cần đến. Bà yêu cầu cô khi nào cần thì cứ gọi điện đến sở cho bà, trong giờ làm việc ( giờ hành chánh ). Cô ấy liền nghĩ mình may mắn quá, sao lại có người tốt với mình như vậy ?! Nhưng tuần lễ sau, khi đi lễ Chúa Nhật, lễ xong, cô thấy bà ở cuối nhà thờ đang chuẩn bị ra về. Cô bèn chạy đến với bà lòng mừng khấp khởi như gặp người ân nhân. Nhưng tại đây, thái độ của bà hoàn toàn khác hẳn: mặt bà lạnh như tiền, có vẻ như chưa hề gặp cô bao giờ và không muốn nói chuyện với cô. Cô chưng hửng và lòng đầy thắc mắc, hụt hẫng. Về sau cô khám phá ra rằng bà chỉ tỏ ra niềm nở và đầy lòng tốt với cô trong giờ hành chánh, khi bà làm công tác cán sự xã hội của bà mà thôi. Công việc của bà đòi hỏi bà phải làm như vậy: nếu không, bà sẽ không đạt hiệu quả trong công việc, và bà sẽ bị công ty của bà sa thải.
3. MỤC TỬ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT NGHỀ NGHIỆP, MÀ LÀ THIÊN CHỨC CỦA TÌNH YÊU
Khi kêu gọi Phê-rô làm Mục Tử để chăn dắt đàn chiên, Đức Giê-su hỏi Phê-rô đến 3 lần cùng một câu hỏi: “Này Si-môn, con Gio-an, anh có yêu mến Thầy ( hơn các anh em này ) không ?” ( x. Ga 21, 15-19 ). Điều đó có nghĩa gì ? – Có nghĩa là: để làm Mục Tử, điều thiết yếu nhất phải có là tình yêu chân thành và tha thiết đối với Đức Giê-su. Mà đối với Đức Giê-su, yêu Ngài có nghĩa là yêu mọi người, đặc biệt những người nghèo hèn, khốn khổ, bị áp bức ( x. Mt 25, 40.45 ). Như vậy, tình yêu là điều kiện tiên quyết phải có để làm Mục Tử. Có tình yêu đã rồi mới làm Mục Tử được, và tình yêu ấy là tình yêu “tiên thiên”. Chứ không phải là làm Mục Tử trước rồi mới tìm cách biểu lộ tình yêu sao cho phù hợp với thiên chức của mình. Tình yêu “hậu thiên” này không phải là tình yêu đích thực, mà chỉ là thứ “tình yêu chức năng” hay “tình yêu nghề nghiệp” mà thôi. Với thứ tình yêu này, người ta chỉ có thể yêu khi người ta còn giữ nghề nghiệp ấy, chức vụ ấy. Khi không còn thực thi nghề nghiệp hay chức vụ ấy, thì tình yêu cũng tan biến theo.
Một trong những dấu hiệu rất dễ thấy của thứ tình yêu này là người ta chỉ phục vụ tha nhân một cách giới hạn trong lãnh vực mà chức vụ của họ chính thức đòi hỏi mà thôi. Họ thường không muốn phục vụ ngoài giới hạn đó. Chẳng hạn: chỉ phục vụ trong giờ hành chánh, trong những ngày làm việc, không phục vụ ngoài những ngày hay giờ làm việc. Nếu chức vụ họ chủ yếu là phục vụ về tinh thần, thì họ sẽ không màng tới việc phục vụ về mặt thể chất, cho dẫu đối tượng của họ cần được phục vụ mặt đó. Những Mục Tử có tình yêu loại này không thể hy sinh “vượt mức” cho đàn chiên, nhất là trong lãnh vực an ninh, sức khỏe, đòi hỏi họ phải liều ( “vượt mức” ở đây chỉ có nghĩa là quá mức hay quá nhiều đối với họ ). Họ sẽ tìm đủ mọi cách khôn ngoan để tránh né những lãnh vực ấy.
Hiện nay, điều rất đáng tiếc trong Giáo Hội, là có những Mục Tử coi việc làm Mục Tử như một thứ nghề nghiệp: một thứ nghề danh giá, có thu nhập cao, có địa vị, có quyền hành, mà không đòi hỏi nhiều tài năng, nhiều công sức... Vì thế, “nghề nghiệp” này nhiều khi thu hút những người không có tình yêu và khả năng. Do đó, khi chính thức trở thành “Mục Tử”, họ không thể là một “Mục Tử nhân lành”, không thể hy sinh vì đàn chiên như Đức Giê-su mong muốn và đòi hỏi được. Những Mục Tử loại này khiến người ta nghĩ tới hình ảnh “kẻ chăn thuê” “đàn chiên không thuộc về anh”, nên “khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy” ( Ga 10, 12 ).
Cầu mong cho trong Giáo Hội, số Mục Tử chân chính nhiều hơn những người hành nghề Mục Tử. Vì bổn phận Mục Tử trên nguyên tắc rất nặng nề, đòi hỏi người Mục Tử rất nhiều tình yêu, năng lực, tinh thần hy sinh... mới có thể chu toàn được. Chỉ những Mục Tử này mới làm Giáo Hội thăng tiến, và hoàn thành được sứ mạng mà Đức Giê-su trao cho Giáo Hội.
CẦU NGUYỆN
Lạy Cha, xin hãy thương ban cho Giáo Hội của Cha những Mục Tử đích thật, những Mục Tử có tình yêu thật sự, những Mục Tử dám hy sinh và sống chết với đàn chiên của mình. Xin hãy ban sức mạnh và củng cố tình yêu nơi tất cả các Mục Tử của Cha, để Giáo Hội, nhờ ơn Cha, có đủ sức biến cải xã hội và thế giới nên tốt đẹp hơn.    
Gs. NGUYỄN CHÍNH KẾT

 

PS4-C60: Chuyện: “CHIÊN TÔI THÌ NGHE TIẾNG TÔI”

Tại một bệnh viện phụ sản thủ đô Paris nước Pháp, người ta chuẩn bị cho một cuộc thử nghiệm: PS4-C60

Tại một bệnh viện phụ sản thủ đô Paris nước Pháp, người ta chuẩn bị cho một cuộc thử nghiệm, bằng cách mời gọi một bà mẹ đặt tên trước cho đứa bé trai 5 tháng tuổi còn trong bào thai. Đứa bé được chọn tên là Nicolas. Trong suốt mấy tháng trời, ngày nào bà mẹ cũng gọi tên con, trò chuyện với đứa bé trong bụng.
Đến ngày sinh, đứa bé được cho cách ly, nằm riêng trong một cái nôi. Người ta chọn thêm 3 người phụ nữ có âm giọng tương tự như bà mẹ đẻ của em bé. Tất cả ngồi trong căn phòng, cách em bé đang ngủ say một khoảng bằng nhau. Thế rồi, lần lượt, ba phụ nữ kia gọi tên Nicolas nhiều lần cách quãng nhau, chú bé vẫn tỉnh bơ như không. Đến đúng bà mẹ đẻ lên tiếng: “Nicolas !”, cậu nhỏ liền cựa quậy, rồi mở mắt, rồi khóc ré lên đòi được gặp mẹ.
Cuộc thí nghiệm được lập lại nhiều lần, kết quả đều y như thế ! Hơi mẹ, sữa mẹ, và nhất là tiếng mẹ đã khiến cho đứa con nhận ngay ra sự hiện diện của mẹ mình. “Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi. Tôi biết chúng và chúng theo Tôi” ( Ga 10, 27 )
AN-PHONG, theo bộ phim LE BÉBÉ EST UNE PERSONNE. Trích Nối Lửa Cho Đời số 6

 

PS4-C61: Cầu nguyện cho ơn thiên triệu

CHỦ NHẬT 4 PHỤC SINH (Năm C)

(Ngày cầu cho Ơn Thiên Triệu)

Tin mừng : Ga 10, 27-30.

Anh chị em thân mến,

 

Hôm nay chủ nhật 4 phục sinh, Giáo Hội dành riêng chủ nhật này để cầu nguyện cho ơn thiên: PS4-C61

Hôm nay chủ nhật 4 phục sinh, Giáo Hội dành riêng chủ nhật này để cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục, tu sĩ, để ngày càng có thêm nhiều người hiến dâng cuộc sống của mình để phục vụ Thiên Chúa trong ơn gọi của mình, trong niềm xác tín vào ơn gọi linh mục mà tôi đã lãnh nhận từ nơi Giáo Hội, tôi xin chia sẻ với anh chị em ba điểm này :

1. Ơn thiên triệu là một sáng kiến của Thiên Chúa.

Thiên Chúa, Đấng vì yêu thương nhân loại mà có những sáng kiến độc đáo trổi vượt để cứu chuộc nhân loại, trong đó có sáng kiến : kêu gọi một số người sống đời tận hiến để thay mặt Ngài dâng lễ hiến tế và tha tội, phục vụ tha nhân và loan truyền Phúc Âm cho mọi người, đó chính là các linh mục, tu sĩ nam nữ và những người tự nguyện sống trong các cộng đoàn tu hội đời được Giáo Hội chấp thuận.

Ơn Thiên Triệu tự nó đã nói lên được lòng ưu ái của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi, bởi tự bản chất của nó là mời gọi là triệu tập con người ta đi theo lời mời gọi của Ngài để trở nên một dụng cụ mới hơn, đắc lực hơn trong công tác rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc. Sáng kiến này được Chúa Giêsu thực hiện đầu tiên khi Ngài kêu gọi các tông đồ đi theo Ngài để tiếp tục sứ mạng cứu chuộc của Ngài ở trần gian, và hơn hai ngàn năm nay Thiên Chúa -qua Giáo Hội- vẫn tiếp tục mời gọi những tâm hồn thiện chí biết quên mình để phục vụ và yêu thương Ngài nơi tha nhân, chính ơn gọi này đã làm cho nhân loại ngày càng tốt tươi hơn, gần gủi với nhau hơn và thấy rõ được tình yêu Thiên Chúa hơn qua đời sống tận hiến của các linh mục và các tu sĩ nam nữ trong Giáo Hội.

Bởi vì Ơn Thiên Triệu là một sáng kiến độc đáo của Thiên Chúa, nên chỉ có Thiên Chúa mới độc quyền kêu mời và tuyển chọn ai thì theo ý muốn của Ngài mà thôi, và như thế thì thật vinh dự cho người được chọn vậy...

2. Linh mục là món quà Thiên Chúa ban cho thế gian.

Chúa Giêsu -Đấng cứu độ trần gian- đã vì yêu thương nhân loại mà thiết lập chức linh mục -bí tích Truyền Chức Thánh- để qua bí tích này, nhân loại đón nhận vô vàn ân sủng của Thiên Chúa ban cho qua các linh mục, và chính nhờ bí tích này mà Chúa Giêsu -qua bí tích Thánh Thể- đã trở nên của ăn của uống nuôi dưỡng linh hồn những người tin vào Ngài. Đây là một hồng ân và là một món quà vô giá mà chỉ có Thiên Chúa mới hào phóng ban tặng cho nhân loại mà thôi, bởi vì không một cá nhân, tổ chức nhân loại nào được có quyền tự mình làm linh mục hoặc đặt người trong tổ chức của mình làm linh mục nếu không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo và Đức Giáo Hoàng tại La Mã.

Các tín hữu Công Giáo càng ý thức mình là người Kitô hữu thì càng đề cao vai trò của các linh mục trong đời sống thiêng liêng của mình, bởi vì từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt lìa đời, người Kitô hữu đã được hưởng biết bao ơn lành của Thiên Chúa từ tay các linh mục, đó chính là hồng ân và là quà tặng của Thiên Chúa ban cho họ, chính qua bí tích Truyền Chức Thánh mà linh mục trở nên Chúa Kitô thứ hai để tiếp tục sứ mạng và công việc của Chúa Kitô tại trần gian này là dâng lễ hiến tế, tha tội và thông ban ân sủng của Thiên Chúa cho người giáo dân.

Không có linh mục thì không có thánh lễ, không có thánh lễ thì không có tiệc thánh Mình và Máu Chúa Kitô, tức là không có hy tế dâng lên Chúa Cha để xin Ngài ban ơn và tha tội cho nhân loại tội lỗi, do đó mà giáo dân cần phải yêu mến, trân trọng và gìn giữ món quà quý giá mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại, đó là các linh mục của Chúa Kitô.

3. Cầu nguyện, hy sinh và yêu thương các linh mục, tu sĩ nam nữ.

Anh chị em thân mến,

Có giáo dân khóc vì có một số linh mục không làm tròn bổn phận cao quý của mình, có một vài giáo dân bực mình vì có một số linh mục cũng như các tu sĩ nam nữ chưa thực sự dấn thân vì Tin Mừng và vì tha nhân, có những người chống đối và chỉ trích cách sống của một số linh mục không giống với những gì mà họ đã lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa và Giáo Hội...

Trách cứ, buồn phiền, chỉ trích của chúng ta với các linh mục là do những bức xúc mà có, nhưng nếu chỉ trích mà không cầu nguyện, buồn phiền mà không yêu mến, trách cứ mà không tha thứ thì -xét cho cùng- cũng chẳng cải thiện được gì, mà có khi còn mở đường cho người khác chống đối các linh mục và Giáo Hội của chúng ta.

Trong ngày cầu nguyện cho Ơn Thiên Triệu hôm nay, tôi xin mời anh chị em trong giáo xứ của mình tăng gia lời cầu nguyện và làm các việc hy sinh để cầu nguyện cho các linh mục và các tu sĩ nam nữ trong Giáo Hội, bởi vì chỉ có cầu nguyện, hy sinh và yêu thương là những phương thế chữa lành cũng như sức mạnh giúp cho các linh mục và các tu sĩ nam nữ đi trọn con đường tận hiến của mình mà thôi...

Xin Thiên Chúa và Mẹ Maria -Mẹ của các linh mục- chúc lành cho tất cả chúng ta.

Bài giảng chủ nhật cầu cho Ơn Thiên Triệu tại nhà thờ Phục Sinh-Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

PS4-C62: CHÚA CHIÊN LÀNH THÌ SỐNG CHẾT VÌ CHIÊN

 [CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM C (29.04.2007)]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Tôi nghĩ rằng nhiều người Công giáo và không Công giáo Việt Nam chẳng xa lạ gì với cha: PS4-C62

          Tôi nghĩ rằng nhiều người Công giáo và không Công giáo Việt Nam chẳng xa lạ gì với cha Phanxicô Trương Bủu Diệp và địa danh Tắc Sậy. Nhiều người lương giáo tìm đến với cha ở đây để cầu ơn, vì dân gian đồn thổi rằng cha Bủu Diệp “thiêng” lắm! Nhưng theo tôi thì điều quan trọng hơn mà cha Bửu Diệp - vị linh mục nhà quê, gốc xứ đạo Cồn Phước thuộc vùng sông nước Cửu Long - để lại cho hậu thế là tấm gương chết vì con chiên. Vì thế mà chúng ta có quyền nhắc đến cha Bủu Diệp trong phần “DẪN VÀO PHỤNG VỤ” của Chúa nhật IV Phục Sinh, được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành và được Hội Thánh dành riêng cho việc cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ. Hơn bao giờ hết, Hội Thánh đang gặp phải hai vấn đề khó khăn liên quan tới tình trạng thiếu ơn gọi linh mục tu sĩ một cách trầm trọng ở một số địa phương (quantity) và tình trạng đời sống tu trì sa sút về phẩm chất ở một số địa phương khác (quality).
II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Lắng nghe Lời Chúa trong ba bài Thánh Kinh.
(1) Bài đọc 1: Cv 13, 14.43-52:  Này đây, chúng tôi quay về phía dân ngoại.
                     14 Ngày ấy hai ông Phao-lô và Bác-na-ba rời Péc-ghê tiếp tục đi An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a. Ngày sa-bát, hai ông vào hội đường ngồi tham dự.
                     43 Tan buổi họp, có nhiều người Do Thái và nhiều người đạo theo, tức là những người tôn thờ Thiên Chúa, đi theo hai ông. Hai ông nói chuyện với họ và khuyên nhủ họ gắn bó với ơn Thiên Chúa. 44 Ngày sa-bát sau, gần như cả thành tụ họp nghe lời Thiên Chúa. 45 Thấy những đám đông như vậy, người Do Thái sinh lòng ghen tức, họ phản đối những lời ông Phao-lô nói và nhục mạ ông. 46 Bấy giờ ông Phao-lô và ông Ba-na-ba mạnh dạn lên tiếng: "Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại. 47 Vì Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất."
                     48 Nghe thế, dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa, và tất cả những người đã được Thiên Chúa định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo. 49 Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy. 50 Nhưng người Do Thái sách động nhóm phụ nữ thượng lưu đã theo đạo Do Thái, và những thân hào trong thành, xúi giục họ ngược đãi ông Phao-lô và ông Ba-na-ba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ. 51 Hai ông liền giũ bụi chân phản đối họ và đi tới I-cô-ni-ô. 52 Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần.
(2) Bài đọc 2: Kh 7,9.14b-17: Con Chiên sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh
                    9 Tôi là Gio-an, tôi thấy: kìa một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên. 15 Vì thế, họ được chầu trước ngai Thiên Chúa, đêm ngày thờ phượng trong Đền Thờ của Người; Đấng ngự trên ngai sẽ căng lều của Người cho họ trú ẩn. 16 Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. 17 Vì Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh. Và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ."
(3) Bài Tin Mừng: Ga 10,27-30: Tôi ban sự sống đời đời cho chiên của tôi.
          27 Khi ấy Chúa Giê-su nói với người Do Thái rằng: chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. 28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. 29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. 30 Tôi và Chúa Cha là một."
2.2 Trong ba bài Thánh Kinh trên, chúng ta khám phá ra Thiên Chúa là Đấng nào?    
(1) Bài đọc 1 (Cv 13, 14.43-52) là đoạn Sách Tông Đồ Công Vụ miêu tả hoạt động tông đồ của Phao-lô và Bác-na-ba tại An-ti-ô-khi-a. Lúc đầu hai Tông Đồ rao giảng Tin Mừng cho cả người Do Thái lẫn dân ngoại. Nhưng vì người Do Thái không muốn đón nhận lời rao giảng của các ngài, nên Thiên Chúa soi sáng cho các ngài hướng về dân ngoại…
Trong đoạn sách Cv 13, 14.43-52 trên chúng ta thấy tình thương và ơn cứu độ của Thiên Chúa vượt trên ranh giới địa dư và chủng tộc. Ơn cứu độ là ơn phổ quát; tin mừng cứu độ là dành cho hết mọi người, mọi dân tộc. Ít-ra-en là dân riêng của Chúa, nhưng kế hoạch của Chúa là thiết lập một Ít-ra-en mới, quy tụ mọi dân, mọi nước, mọi ngôn ngữ, mọi sắc tộc.  Các tông đồ Phao-lô và Bác-na-ba… là công cụ  Chúa dùng để thiết lập Ít-ra-en mới này!
(2) Bài đọc 2 (Kh 7, 9.14b-17) là thị kiến của Tông Đồ Gio-an về các thành phần trong Vương Quốc của Thiên Chúa, gồm đủ mọi hạng người, mọi sắc dân, mọi chủng tộc, qui tụ xung quanh Con Chiên. Tất cả mọi thành phần ấy đã chứng thực lòng tin và tình yêu đối với Con Chiên là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết để cứu rỗi họ và đưa họ vào Vương Quốc của Thiên Chúa Tình Thương.
Trong đoạn thư Kh 7,9.14b-17 trên, chúng ta cũng thấy nổi bật hình ảnh của Chiên Thiên Chúa, Đấng đã hy sinh mạng sống để quy tụ nhân loại, sau khi đã thanh tẩy và thánh hóa mọi người, bằng máu và bằng ơn sủng.
(3) Bài Tin Mừng (Ga 10,27-30) là những lời của chính Chúa Giê-su nói về mối tương quan thân tình và gắn bó mật thiết giữa người và những người thuộc về Người. Trong Thánh Kinh hình ảnh người chăn chiên suốt đời tận tụy hy sinh vì đàn chiên là một hình ảnh rất đẹp, vừa gần gũi  vừa sâu sắc ý nghĩa.
          Qua Bài Phúc Âm Ga 10,27-30 chúng ta không thấy tấm lòng và hành động yêu thương của Chúa Giê-su Ki-tô dành cho những người đi theo Chúa. Quả Người là Chúa Chiên Lành và các tín hữu là chiên của Chúa.
2.3 Qua ba bài Thánh Kinh trên, Thiên Chúa muốn gửi sứ điệp gì cho chúng ta?    
          Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay được tóm gọn trong hai vế:
          * Vế thứ nhất là mỗi người nỗ lực sống tư cách là chiên của Chúa để được Chúa chăm sóc phần hồn phần xác như lời Chúa đã dạy: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi."
          * Vế thứ hai là mỗi người cố gắng luyện tập cho có tấm lòng và cách thức chăn chiên của Chúa Giê-su Ki-tô, để chăm sóc những người mà Chúa giao cho chúng ta là vợ/chồng, cha mẹ/con cái/anh chị em, nhân viên/hội viên/giáo dân, người nghèo/ tàng tật/neo đơn….
III. SỐNG LỜI CHÚA HÔM NAY
Để thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay, tôi xét mình trong hai khía cạnh sau:
3.1 Tôi có nỗ lực sống đầy đủ tư cách và vinh dự là chiên của Chúa không? Tôi có biết Chúa và có nghe tiếng Chúa không? Tôi có đón nhận sự sống đời đời mà Chúa muốn ban cho tôi không?   
3.2 Tôi có cố gắng học cùng Chúa Giê-su Ki-tô là Chúa Chiên Lành để có một tấm lòng yêu thương và biết cách chăm sóc những người Chúa giao cho tôi  phục vụ và yêu thương không?
IV. CẦU NGUYỆN  (Có thể dùng làm Lời Nguyện Giáo Dân)
          4.1 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một."
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Ki-tô Phục Sinh, Chúa đã ban cho chúng con ơn được làm chiên của Chúa, được Chúa yêu thương, chăm sóc và bảo vệ.
Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa.
Chúng con xin Chúa ban cho chúng con ơn sống tin cậy phó thác và ngoan ngoãn phục tùng đối với Chúa là Chúa Chiên Lành của chúng con !
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.2 “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi.”
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Ki-tô Phục Sinh, Chúa đã ban cho chúng con ơn được làm chiên của Chúa, được Chúa yêu thương, chăm sóc và bảo vệ. 
Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa.
Chúng con xin Chúa ban cho chúng con ơn biết Chúa, ơn lắng nghe Lời Chúa và ơn đi theo Chúa để chúng con trở nên những con chiên khỏe mạnh, béo tốt.        
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.3 “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.”
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Ki-tô Phục Sinh, Chúa đã ban cho chúng con ơn được làm chiên của Chúa, được Chúa yêu thương, chăm sóc và bảo vệ. 
Chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa.
Chúng con xin Chúa ban cho chúng con sự sống đời đời mà Con Chúa đã đem đến cho chúng con nhờ cuộc Khổ Nạn Thập Giá và Phục Sinh vinh quang của Người.        
          Lạy Chúa, chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhận lời chúng con.
4.4 “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.”
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Ki-tô Phục Sinh, Chúa đã ban cho chúng con ơn được làm chiên của Chúa, được Chúa yêu thương, chăm sóc và bảo vệ.
Chng con cảm tạ, ngợi khen v chc tụng Cha.
Chng con xin Cha ban cho cc chủ chăn trong Hội Thnh l Đức Gio Hồng, cc Gim Mục v cc Linh Mục, một đời sống thnh thiện, siu thốt của cải, chức quyền, danh vọng v luơn hy sinh qun mình cho đn chin của Cha.
          Lạy Cha, chng con cầu xin Cha. Xin Cha nhận lời chng con.
4.5 “Ny đây, chúng tôi quay về phía dn ngoại.”
Lạy Thin Cha l Cha của Cha Ki-tơ Phục Sinh, Chúa đ ban cho Phao-lơ v Bc-na-ba sứ mạng đem Tin Mừng cho dn ngoại.
Chng con cảm tạ, ngợi khen v chc tụng Cha.
Chng con xin Cha ban cho Hội Thnh Việt Nam nhiều tm hồn nhiệt thnh l cc linh mục, tu sĩ, tông đồ gio dn v chính chng con đây, để “dn ngoại vui mừng tơn vinh lời Cha, v tất cả những người đ được Thin Cha định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo” nhờ lời rao ging v chứng t kin cường của chng con!       
          Lạy Cha, chng con cầu xin Cha. Xin Cha nhận lời chng con.
Girơnimơ Nguyễn Văn Nội. 
Sigịn ngy 17.04.2007.

 

PS4-C63: Chúa chiên lành

Có một ông bố đã tâm sự với một giáo viên, đã từng dạy học cho các con ông như sau : Mặc: PS4-C63

Có một ông bố đã tâm sự với một giáo viên, đã từng dạy học cho các con ông như sau : Mặc dù các con tôi không còn chung sống với tôi nữa, nhưng tôi vẫn yêu thương chúng và muốm biết chúng học hành ra sao ? Ngoài ra ông cũng còn cho hay hoàn cảnh gia đình ông : Ông là một nhà thầu lo việc xây dựng. Suốt ngày ông bận rộn với công việc của mình, đến nỗi không còn thời giờ để gặp gỡ và sống với vợ con. Ông nói : Tôi rất ước ao sắm sửa mọi thứ cho vợ và các con tôi. Nhưng vì mải mê với công việc làm ăn, tôi không còn để tâm tới một điều mà vợ và các con tôi cần thiết và quan tâm hơn cả, đó là họ cần một người chồng, một người cha thường xuyên gần gũi để yêu thương và giúp đỡ họ. Kết quả là người vợ và bốn đứa con của ông đã lìa bỏ ông. Sự việc này đã làm cho ông rất đau buồn và chua xót. Ông khổ đau trước một sự mất mát quá lớn, bởi lẽ những người ruột thịt thân thương nhất, không còn thuộc về ông, không còn ở trong tầm tay của ông nữa.
       Từ mẩu chuyện trên chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng hôm nay với hình ảnh về người mục tử. Thực vậy, hình ảnh người mục tử là hình ảnh rất quen thuộc đối với người Do Thái, bởi vì một số người trong họ đã sống bằng nghề chăn nuôi súc vật. Đồng thời người Do Thái cũng đã mượn hình ảnh này để diễn tả về sự chăm sóc của Thiên Chúa. Tiên tri Êgiêkien trong Cựu ước đã từng so sánh Thiên Chúa là người mục tử tuyệt vời khi nói : Chính Ta sẽ chăn dắt chiên Ta. Con nào bị mất Ta sẽ tìm kiếm. Con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về. Con nào bị thương, Ta sẽ băng bó. Con nào bệnh tật, Ta sẽ bồi dưỡng. Con nào béo tốt và khỏe mạnh, Ta sẽ canh chừng.
       Trong Phúc âm, Chúa Giêsu cũng đã sánh ví mình như là một vị mục tử lý tưởng với nét đặc sắc : Ngài biết các chiên của Ngài để chăm sóc và yêu thương vì chúng thuộc về Ngài. Chính Ngài đã ban cho chúng sự sống đời đời.
       Người cha trong câu chuyện vì miệt mài với sinh kế, nên đã bỏ bê vợ và các con. Còn Chúa Giêsu thì khác, Ngài là mục tử và chúng ta là những con chiên của Ngài. Ngài đã đến và sống giữa chúng ta, để chia sẻ những vui buồn và cực nhọc. Ngài sẵn sàng lên đường để tìm kiếm những con chiên bị lạc mất. Và hơn thế nữa, Ngài đã chịu chết trên thập gíá, đã hy sinh mạng sống mình vì yêu thương chúng ta và giải thoát chúng ta khỏi án phạt của tội lỗi. Đồng thời, Ngài muốn xác quyết với chúng ta rằng: Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.
       Còn chúng ta thì sao ? Chúng ta phải làm gì để đáp trả sự chăm sóc đầy yêu thương mà Ngài đã dành cho chúng ta. Tôi xin thưa : rất đơn giản, đó là chúng ta hãy bước đi dưới sự dẫn dắt của Ngài, hay thực thi những điều Ngài truyền dạy. Có như vậy chúng ta mới trở nên những con chiên đích thực của Ngài, như Ngài đã phán : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Để rồi, ước vọng cuối cùng của Ngài sẽ được thực hiện, đó là chỉ có một đoàn chiên và một chủ chiên.

 

PS4-C64: Vị chủ chăn nhân lành

Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chăn Chiên Lành, ngày cầu nguyện cho các ơn: PS4-C64

Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chăn Chiên Lành, ngày cầu nguyện cho các ơn gọi linh mục, tu sĩ nam nữ. Bài Phúc Âm nhắc chúng ta nhớ lại mối tương quan giữa Chúa Giêsu và mỗi tín hữu. Chúa Giêsu là Đấng chăn chiên tốt lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên.
Cuốn phim về cuộc đời ông Bach Adams, trình bày cho chúng ta thấy một phần nhân cách phi thường, khác thường đến độ bị kẻ khác xét như một người điên. Đó là nhân cách của ông Bach Adams: ông khám phá ra chiều kích nhân bản tương quan giữa người với người trong việc chữa trị bệnh nhân. Bệnh nhân sẽ bình phục mau chóng hơn khi mối tương quan giữa bác sĩ và đương sự được tốt đẹp. Thái độ của ông Bach Adams rất khác biệt với thái độ cứng nhắc, vô tâm, vô tình của bác sĩ tâm thần không màng nghe người bệnh. Thái độ của ông Bach Adams bị thử thách khi người mang ơn những trợ giúp nhân đạo của ông không những không biết ơn mà còn hành động tàn bạo giết chết người yêu của ông. Adams cảm thấy sự hy sinh của mình bị xúc phạm, bị lợi dụng và muốn bỏ cuộc. Tác giả cuốn phim cho chúng ta thấy rằng chỉ khi nào Adams chấp nhận hy sinh, cho đi tất cả, thực sự cho đi tất cả, thì ông mới trung thành được với sứ mạng. Đây có thể nói là một cách sống thí mạng cho kẻ khác, cách sống của vị chủ chăn chiên hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.
Lòng quảng đại suông không bị thử thách, không quảng đại hy sinh, không phải thí mạng cho kẻ khác thì chưa phải là lòng quảng đại của vị chăn chiên nhân lành. Ngày ơn thiên triệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã từng mời gọi các bạn trẻ hãy quảng đại đáp lại lời mời gọi theo Chúa, đây không phải là thứ lòng quảng đại lãng mạn, quá lý tưởng, không được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động hy sinh cụ thể. Và do đó sẽ không kiên trung kéo dài lâu, gặp khó khăn sẽ dễ dàng nản lòng. Hy sinh là định luật để được trưởng thành và vững mạnh.
Một ngày kia, Chúa Giêsu đã hiện ra cho thánh Giêrônimô và hỏi:
- Này Giêrônimô, hôm nay con có gì để dâng cho Ta không?
Thánh Giêrônimô đáp:
- Con dâng cho Chúa tất cả những bộ sách con đã viết và nhất là bộ Kinh Thánh con vừa mới dịch xong.
Chúa Giêsu mỉm cười chấp nhận nhưng chưa hoàn toàn thỏa mãn, Ngài hỏi thêm:
- Con còn có gì nữa để dâng cho Ta không?
Thánh Giêrônimô không chút do dự trả lời:
- Con dâng cho Chúa tất cả những hy sinh, khổ cực con gặp thường ngày từ trước tới giờ. Con dâng cho Chúa trọn cả cuộc đời tu trì của con đây.
Chúa Giêsu chấp nhận nhưng vẫn chưa mãn nguyện, Ngài lại hỏi lần thứ ba:
- Con còn có gì để dâng cho Ta nữa không?
Lần này, thánh Giêrônimô tỏ vẻ phân vân và nhỏ nhẹ thưa cùng Chúa:
- Thì con đã dâng cho Chúa tất cả rồi, còn gì tốt đẹp nữa đâu mà con có thể dâng cho Chúa được.
Chúa Giêsu nhìn Giêrônimô với đôi mắt nhân từ, tràn đầy yêu thương và phán:
- Giêrônimô, tại sao con không dâng cho Ta những tội lỗi, những tật xấu của con? Con giữ nó làm gì? Ta đã xuống thế, chịu chết trên thập giá là để đền tội lỗi con mà.
Thánh Giêrônimô dâng cho Chúa tất cả, kể cả những tội lỗi của mình.
Câu chuyện này phần nào diễn tả tất cả tâm hồn tràn đầy yêu thương của Chúa đối với mỗi người chúng ta. Ngài biết rõ chúng ta như chủ chăn biết rõ từng con chiên. Ngài đến với mỗi người chúng ta và đặt ra cùng một câu hỏi: "Con có gì dâng cho Ta hôm nay không?", ngoài những gì tốt đẹp nhất mà sức hèn con người có thể thực hiện để dâng cho Chúa, chúng ta còn được Chúa âu yếm mời gọi đừng sợ, hãy dâng cho Chúa cả những tội lỗi của mình. Chúa yêu thương chúng ta, thật khác với mọi lãnh tụ trần gian, chỉ muốn thuộc hạ dâng cho mình điều tốt. Chúa Giêsu, Đấng chăn chiên nhân lành, vì Chúa là Chúa, nên muốn chúng ta dâng cho Ngài những điều tốt lẫn những điều xấu, vì Ngài có đủ quyền năng để biến đổi những điều xấu, thanh tẩy những tội lỗi chúng ta nếu chúng ta muốn.
Hình ảnh vị chủ chăn nhân lành nhắc nhở chúng ta nhớ lại tình thương yêu, bảo vệ và hướng dẫn của Chúa. Hãy dâng cho Chúa tất cả, kể cả những tội lỗi của chúng ta. "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta". Chúng ta hãy đến dâng cho Chúa tất cả cuộc sống của mình, tất cả những điều tốt đẹp, kể cả những điều xấu, những tội lỗi để cho ân sủng Chúa thanh tẩy mỗi người chúng ta mỗi ngày được nên tốt đẹp hơn.

 

PS4-C65: Hoà hợp tiền định

Đang là mùa đông, người ta mừng lễ cung hiến ở Giêrusalem. Chúa Giêsu đi lại trong đền thờ: PS4-C65

Đang là mùa đông, người ta mừng lễ cung hiến ở Giêrusalem. Chúa Giêsu đi lại trong đền thờ. Một nhóm người Do thái vây quanh, yêu cầu Chúa nói trắng ra về thân thế Người. Người có đúng là Đấng Messia hay không? Thật vậy, Thầy đã công khai nói xa xôi cho người ta hiểu Thầy chính là Đấng Messia. Có những người đơn sơ, không rắc rối, có thiện chí, đã hiểu được về bí mật thân thế Chúa và tin vào Chúa, chẳng hạn người phụ nữ Samaria và kẻ mù bẩm sinh. Người ta cảm thấy những kẻ chất vấn Chúa nhiều phần thắc mắc khó chịu về Chúa, hơn là sẵn lòng nghe Chúa với một tâm hồn cởi mở. Chúa muốn cho những kẻ nặng óc thành kiến phải bỡ ngỡ. Chúa không theo lối suy diễn của họ. Vì lẽ họ cho rằng hệ thống suy diễn của mình không thể sai lầm, ông Giêsu này nhất định sẽ lộ hình tích, chính ông sẽ đưa ra một lời khai đúng cách, lúc đó họ sẽ có quyền ném đá ông. Chúa Giêsu không do dự. Người đưa ra câu đáp trên hai bình diện: tâm tình thích hợp để dễ dàng tiếp nhận chân lý và Kinh Thánh với một giá trị không thể bác bỏ (Lời Chúa viện dẫn Kinh Thánh tiếp ngay sau đoạn Phúc Âm hôm nay). Hai câu hỏi được đặt ra:
1) Tại sao người Do thái ngoan cố chối bỏ Chúa Giêsu? Chúa bắt đầu bằng cách mời gọi họ thấy gì thì hãy tin thế, bởi những việc Người làm nhân danh Cha Người đều làm chứng cho Người. Tuy nhiên, Chúa nói tiếp ngay, nếu họ bác bỏ bằng chứng ấy, chính vì cớ tâm hồn họ không phù hợp với sứ điệp của Chúa. Họ đã nhất quyết lối xét đoán sự việc của họ là tốt. Thế mới biết con mắt người ta nhìn thực tại theo khuynh hướng của mình. Nếu thực tại không phù hợp với hệ thống suy diễn của mình, người ta cho rằng chính thực tại là sai. Nhận định này có giá trị sâu sắc đối với hành vi tin. Để thực hiện một hành vi tin, trước hết con người phải chấp nhận để cho ân huệ chuẩn bị tâm hồn cách bí nhiệm. Nhưng nhận định này cũng có giá trị đối với phẩm chất của hành vi tin. Nhiều người tự nhận mình tin vào Chúa Giêsu. Nhưng tin vào Chúa Giêsu nào? Dưới khía cạnh triết lý, xã hội, chính trị, v.v… nào? Luôn luôn chúng ta có lý để băn khoăn không biết con mắt chúng ta có đủ trong sáng không để nhìn Chúa Giêsu Kitô?
2) Ý nghĩa câu: “Không ai giựt chúng khỏi tay Ta được!” là gì? Câu đó có nghĩa: không một quyền năng ngoại giới nào có thể giật người Kitô hữu rời khỏi tay Chúa Kitô. Sự trợ giúp của Chúa sẽ mạnh vô cùng để thắng những khó khăn ngoại giới. Tuy nhiên tại sao có những vụ bất trung bất nghĩa, có cả những vụ bỏ đạo, chối Chúa nữa? Sở dĩ như vậy vì quyền năng vô biên của Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do tư tưởng của con người. Khi một Kitô hữu xa lìa Chúa, không phải vì Chúa bỏ kẻ ấy, mà chính vì kẻ ấy bỏ Chúa. Cả trong trường hợp đó, Chúa Kitô không rút lại niềm thương yêu của Chúa. Chúng ta hãy nhớ lại dụ ngôn con chiên lạc. Tới đây chúng ta đối diện với một vực thẳm bí nhiệm thứ hai. Không những tâm hồn có thể từ chối phù hợp với hành vi tin, mà còn có thể huỷ diệt niềm tin của mình sau khi đã dâng hiến. Chúng ta không được choáng váng trước bí nhiệm ấy, mà phải tăng cường cảnh giác trong niềm trung tín. Nói đơn giản hơn, chúng ta hãy tin chắc rằng, đáp ứng thiện chí hằng ngày của chúng ta, Chúa nắm vững chúng ta trong tình yêu của Người.

 

PS4-C66: Hiệp nhất: yêu thương và vâng lời trọn vẹn

Hai tháng đã trôi qua sau khi Chúa Giêsu chữa lành người mù và giảng dạy vào dịp Lễ Lều. Sau: PS4-C66

Hai tháng đã trôi qua sau khi Chúa Giêsu chữa lành người mù và giảng dạy vào dịp Lễ Lều. Sau đó Ngài trở lại Galilê, nhưng giờ đây Ngài trở lại thủ đô để dự một quốc lễ gọi là lễ kỷ niệm việc tẩy uế Đền Thờ sau khi bị vua Syria là Antiochus dày xéo.
Chúa Giêsu đang đứng ở hành lang phía đông của Đền Thờ gọi là hành lang Salomon, để tránh mưa và lạnh của tháng chạp. Kẻ thù vây quanh Ngài và yêu cầu Ngài nói thẳng ra Ngài có phải là Đấng Messia hay không. Chắc chắn ẩn phía sau câu hỏi này có hai thái độ khác nhau. Một số người thật sự muốn biết rõ, họ đang nóng lòng trông chờ. Ý niệm của họ về Đấng Messia có thể không giống ý niệm của Chúa Giêsu, nhưng họ đang nóng lòng muốn biết, phải chăng cuối cùng thì Đấng Giải Phóng hứa cho họ từ lâu đã đến. Nhưng với một số khác, câu hỏi đó là một cái bẫy họ giăng ra. Họ gài bẫy, để khi Chúa Giêsu đưa ra một câu trả lời mà họ có thể bóp méo được, rồi tố cáo Ngài về tội lộng ngôn và toà án của họ có thể buộc tội, hoặc để tố cáo Ngài về tội phản loạn mà quan tổng trấn Rôma có thể kết án.
Chúa Giêsu đáp, Ngài đã cho họ biết về Ngài là ai rồi, và quả thật Ngài đã không dùng nhiều lời để nói ra điều đó, vì như Gioan kể lại, hai lời tự xưng quan trọng của Chúa đều được đưa ra trong chỗ riêng tư. Với người đàn bà ở giếng Giacóp, Ngài tiết lộ chính Ngài là Đấng Messia; với người mù bẩm sinh, Ngài tự xưng là Con Thiên Chúa. Nhưng có một số lời tự xưng không cần phải nói ra, nhất là với đám thính giả đủ trình độ hiểu được vấn đề. Có hai điều về Chúa Giêsu khiến lời tự xưng của Ngài trở nên rõ ràng không thể nghi ngờ được, cho dù có nói ra bằng lời hay không. Trước hết ‘việc làm’ của Ngài, đó là giấc mơ về thời đại hoàng kim của Isaia: “Bấy giờ, mắt những kẻ mù sẽ sáng, tai kẻ điếc sẽ thông; bấy giờ kẻ què sẽ nhảy như nai, lưỡi kẻ câm sẽ hát”. Đó chính là điều Chúa Giêsu đang làm. Mỗi phép lạ của Ngài đều là một lời công bố lớn tiếng về kỷ nguyên của Thiên Chúa đã bắt đầu, Đấng Messia đã đến. Thứ hai, những ‘lời’ Ngài phán dạy, Môse đã báo trước rằng Thiên Chúa sẽ cho nổi dậy một nhà tiên tri mà mọi người phải nghe theo. Giọng nói đầy uy quyền của Chúa Giêsu, cách thức Ngài bác bỏ thật dễ dàng những điều khoản của bộ luật cũ kỹ, thay vào đó bằng những lời giáo huấn của Ngài, là một lời xác nhận chính Thiên Chúa đang nói trong Ngài, Ngài là tiếng nói của Thiên Chúa nhập thể và đến với loài người. Bất kỳ ai đã nghe Chúa Giêsu, đã theo dõi hành động của Ngài, đều không cần thêm một lời tự xưng nào của Ngài nữa. Những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu là một lời tự xưng liên tục, Ngài là Đấng được xức dầu (Messia) của Thiên Chúa.
Nhưng một số đông người Do thái không chấp nhận lời tự xưng đó. Tại Palestine, chiên quen biết tiếng gọi đặc biệt của người chăn và đáp lại chúng thuộc về người chăn và quen biết tiếng người chăn. Nhưng số người Do thái này không thuộc về bầy chiên của Chúa Giêsu. Trong Phúc Âm của thánh Gioan, ẩn phía sau mọi điều đó là một giáo lý về tiền định. Mọi việc luôn luôn xảy ra như Thiên Chúa đã định cho chúng xảy ra. Thánh Gioan đã bảo số người Do thái này đã bị định trước là sẽ không đi theo và không đáp ứng lời kêu gọi của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, toàn thể Tân Ước đã giữ cân bằng hai ý niệm trái ngược này: mọi việc xảy ra đều nằm trong chủ đích của Thiên Chúa, thế nhưng mọi việc này xảy ra theo cách mà ý chí tự do của con người phải chịu trách nhiệm. Số người Do thái này đã tự khiến mình rơi vào chỗ bị định trước là không chịu tin nhận Chúa Giêsu. Dưới cái nhìn của thánh Gioan, điều đó vẫn không làm cho họ hết chịu trách nhiệm về thái độ không tin.
Một số khác đã tin nhận Chúa Giêsu, và Ngài hứa ban cho họ ba điều:
1) Ngài hứa ban cho họ sự sống viên mãn
Ngài hứa cho họ được nếm trước sự sống, vốn là sự sống của Thiên Chúa. Ngài hứa nếu họ chịu tin Ngài làm Chủ, làm Chúa, nếu họ trở thành bầy chiên của Ngài, thì mọi điều nhỏ nhen trong cuộc sống trần gian này sẽ qua đi, và họ sẽ nếm biết vẻ huy hoàng rực rỡ từ cuộc sống của Thiên Chúa.
2) Ngài hứa ban cho họ sự sống không bao giờ chấm dứt.
Họ sẽ chẳng chết mất bao giờ. Sự chết thể xác không là chấm dứt mà là bắt đầu. Họ sẽ chẳng bao giờ bị diệt vong hay đi vào cõi u minh, nhưng họ sẽ biết rõ vinh quang của sự sống bất diệt.
3) Ngài hứa cho họ sự sống an toàn.
Chẳng có gì giật họ khỏi tay Chúa được. Điều đó không có nghĩa là họ sẽ không bị đau buồn, khổ nạn và chết, nhưng trong giờ phút đau đớn và tối tăm hơn hết, họ vẫn luôn ý thức được có đôi cánh tay đời đời ở gần, nâng đỡ, bao bọc họ. Ngay cả khi thế giới bị nghiền nát tan tành vì đại hoạ, họ vẫn được sự thanh thản của Thiên Chúa.
Cùng với lời tự xưng phi thường của Chúa Giêsu, chúng ta thấy lòng tin cậy phi thường của Ngài nơi Chúa Cha. Chúa Giêsu vừa nói về chiên và bầy chiên của Ngài, Ngài khẳng định chẳng ai cướp nổi chiên khỏi tay Ngài, Ngài là người chăn bảo vệ cho chiên được an toàn vĩnh viễn. Thoạt nhìn, nếu Ngài dừng lại ở đó, thì dường như Chúa Giêsu đặt lòng tin cậy trọn vẹn vào quyền năng bảo vệ của chính Ngài. Nhưng chúng ta được thấy mặt thứ hai của vấn đề: chính Chúa Cha đã ban chiên cho Ngài, cả Ngài lẫn chiên đều ở trong tay Cha. Chúa Giêsu tin chắc vào chính mình, bởi vì Ngài tin chắc vào Thiên Chúa. Thái độ của Chúa Giêsu đối với đời sống không phải là sự tự tin, nhưng là tin cậy Thiên Chúa. Chúa Giêsu không trông cậy vào chính năng lực của Ngài, mà trông cậy nơi quyền năng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu tin quyết vào sự an toàn tuyệt đối và sự chiến thắng tối hậu, không phải vì Ngài đã thu hết quyền năng về cho chính mình, nhưng vì Ngài đã trao phó tất cả quyền phép cho Thiên Chúa.
Bây giờ chúng ta suy đến lời tự xưng của Chúa Giêsu: “Ta với Cha là một”. Nói như thế, Ngài ngụ ý gì? Đây là một huyền nhiệm tuyệt đối hay chúng ta có thể hiểu được chút gì chăng? Nhờ Kinh Thánh giải nghĩa câu này, chúng ta thấy rất đơn giản đến nỗi người đơn sơ chất phác nhất cũng có thể lĩnh hội được. Chúa Giêsu muốn nói gì khi bảo rằng Ngài với Chúa Cha chỉ là một? Trong lời Chúa Giêsu cầu nguyện cho những kẻ thuộc về Ngài trước khi đi chịu chết: “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ chúng nhờ Danh Cha, mà Cha đã ban cho Con, ngõ hầu chúng nên một như Chúng Ta” (Ga 17,11). Qua câu này, chúng ta thấy quan niệm của Chúa Giêsu về sự hiệp nhất giữa Kitô hữu với Kitô hữu, cũng giống như sự hiệp nhất giữa Ngài với Thiên Chúa. Ngài đã dùng khá nhiều lời để nói lên điều đó và tiếp: “Con không chỉ cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho những kẻ nhờ lời chúng mà sẽ tin vào Con, để hết thảy chúng nên một, cũng như, lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong Chúng ta, và thế gian tin là Cha đã sai Con. Phần Con, Con đã ban cho chúng vinh quang Cha đã ban cho Con để chúng nên một như Chúng Ta là một”. (Ga 17,20-22). Chúa Giêsu đã nói thật đơn giản, thật rõ ràng, không ai có thể hiểu lầm được; cứu cánh của đời sống Kitô hữu, ấy là tất cả các Kitô hữu đều trở nên một, như Ngài với Chúa Cha là một vậy.
Vậy sự hiệp nhất phải có giữa các Kitô hữu là gì? Điều gì khiến cho Kitô hữu này hiệp nhất với Kitô hữu khác? Bí quyết của mối hiệp nhất đó là tình thương: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới: là hãy yêu mến nhau. Như Ta đã yêu mến các ngươi, các ngươi cũng hãy yêu mến nhau” (Ga 13,34). Kitô hữu hiệp làm một, vì thương yêu nhau. Cũng vậy, Chúa Giêsu làm một với Chúa Cha, vì Ngài yêu thương Chúa Cha. Nhưng chúng ta phải đi xa hơn: điều gì là bằng chứng bảo đảm duy nhất cho tình yêu thương? Xin hãy nghe lời Chúa Giêsu phán: “Ai có các lịnh truyền của Ta và giữ lấy, người ấy mới là kẻ yêu mến Ta, mà ai yêu mến Ta, thì được Cha Ta yêu mến, và Ta sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ mình ra cho nó". “Ai mến Ta, thì sẽ giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến nó, và Chúng Ta sẽ đến với nó, và sẽ đặt chỗ ở nơi mình nó. Ai không mến Ta, thì không giữ các lời của Ta. Mà lời các ngươi nghe đây không phải là của Ta, nhưng là của Cha, Đấng đã sai Ta” (Ga 14, 21.23-24). “Như Cha đã yêu mến Ta, Ta đã yêu mến các ngươi. Hãy lưu lại trong lòng yêu mến của Ta. Nếu các ngươi giữ các lịnh truyền của Ta, Các ngươi sẽ lưu lại trong lòng yêu mến của Ta, cũng như Ta đã giữ các lịnh truyền của Cha Ta, và lưu lại trong lòng yêu mến của Người” (Ga 15,9-10).
Đây là yếu tính của vấn đề: dây ràng buộc sự hiệp nhất là tình yêu thương, bằng chứng của tình yêu thương là sự vâng lời. Kitô hữu hợp nhất với nhau khi càng bị ràng buộc bởi sợi dây yêu thương và cùng vâng lời Chúa Cứu Thế. Chúa Giêsu là một với Chúa Cha, vì Ngài vâng lời và yêu thương Chúa Cha một cách chưa hề có ai vâng lời và yêu thương như vậy. Sự hiệp nhất cùng Thiên Chúa của Ngài là sự hiệp nhất trong tình yêu thương tuyệt đối, phát xuất từ sự vâng lời trọn vẹn.
Khi Chúa Giêsu nói: “Ta với Cha là một”, Ngài không nói theo nghĩa trừu tượng, siêu hình, mà Ngài nói theo nghĩa mối liên quan giữa các cá nhân, giữa con người với nhau. Ngài nói theo kiểu hiểu đồng một lòng một ý. Hiệp nhất của Chúa Giêsu với Chúa Cha là do hai sự kiện song hành là: tình yêu trọn vẹn và vâng lời trọn vẹn. Ngài là một với Chúa Cha vì yêu thương Chúa Cha trọn vẹn và vâng lời Chúa Cha trọn vẹn. Ngài đã đến thế gian này để chúng ta nên giống như Ngài.
 

PS4-C67: LẮNG NGHE VÀ BƯỚC THEO

Hình ảnh Chúa Giê-su trong tư cách là Chúa Chiên Lành đối với đàn chiên của Chúa Cha la: PS4-C67

Hình ảnh Chúa Giê-su trong tư cách là Chúa Chiên Lành đối với đàn chiên của Chúa Cha là một trong những hình ảnh đẹp đẽ nhất, mà ta có về Người. Người đã mượn hình ảnh rất thân quen của dân Do Thái về người chăn chiên để nói về Người là Đấng Chăn Chiên Tốt Lành. Đối với người Do Thái, con chiên là con vật rất gần gũi với họ, khi Chúa Giê-su nói đến người chăn chiên và con chiên thì họ hiểu liền. Con chiên có những đặc điểm mà các con vật khác không có: con chiên là con vật hiền lành và nó có khả năng nhận ra tiếng của chủ nó và người đi chăn chiên thì đi đằng trước còn chiên thì theo phía sau.
Chúa Giê-su đã thực hiện những lời hứa tuyệt vời nhất đối với những ai thuộc về người. Người nói rằng không một ai trong số họ sẽ bị hư mất. Không ai sẽ phải ở ngoài sự quan tâm chăm sóc, mà Chúa Cha đã tin tưởng giao phó cho Người. Đàn chiên thuộc về Người sẽ được an toàn bên Người, bởi vì năng quyền của Chúa Cha ở với Người, bởi vì Người không phải là kẻ làm thuê mà là Mục Tử Nhân Lành sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ đàn chiên, để cho chiên được sống và sống dồi dào. Người sẽ hướng dẫn họ đến với đồng cỏ của Sự Sống đời đời.
Chúng ta là những con chiên trong đàn chiên của Chúa. Mỗi buổi sáng, chủ chăn mở cửa chuồng chiên, ân cần gọi tên từng con và dẫn tất cả đến đồng cỏ xanh và tới dòng suối mát. Ban chiều, chủ chăn đưa chiên về chuồng và tận tụy canh giữ chúng qua đêm. Vì thế, con chiên muốn được nuôi sống, muốn được bảo vệ an toàn, thì bản thân nó không những phải biết nghe tiếng chủ chăn gọi mà còn phải có can đảm bước theo sự dẫn dắt của chủ chăn nữa.
Chúa Giê-su nói rằng: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời” ( Ga 10, 27 – 28 ). Điều ấy ngày hôm nay Chúa Giê-su cũng đang nói với mỗi người chúng ta. Quý ông bà và anh chị em sẽ lãnh nhận được Sự Sống đời đời, với điều kiện quý ông bà và anh chị em nghe tiếng Chúa và đi theo Người. Đi theo Chúa Giê-su không có nghĩa là chúng ta được bảo đảm thoát khỏi mọi khó khăn và có được một cuộc sống dễ dàng ở nơi đây, trên trái đất này. Theo Chúa là chúng ta lội ngược dòng đời, là đi con đường hẹp, là từ bỏ chính mình và vác thập giá mỗi ngày.
Chúa đang nói với chúng ta qua Giáo Hội, qua các giờ Kinh Nguyện, qua Thánh Lễ, qua các Bí Tích, qua những người mà chúng ta gặp gỡ... Thế nhưng, làm sao chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa, khi chúng đi tham dự Thanh Lễ Chúa Nhật thì đi trễ về sớm, lại không ngồi đúng chỗ quy định, cứ thích đứng ở lề đường, ngoài khuôn viên Nhà Thờ...
Chúng ta nghe tiếng Chúa làm sao được khi đời sống chúng ta không gắn kết với các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Hòa Giải ? Làm sao chúng ta nghe được tiếng Chúa, khi chúng ta luôn luôn bận rộn với việc kiếm tiền, củng cố địa vị và danh lợi đến nỗi nó chiếm hết thời gian, làm cho ta không còn khoảnh khắc nào để đến với Chúa, thậm chí sẵn sàng bỏ cả Lễ Chúa Nhật để lo kiếm tiền ? Làm sao ta nghe được tiếng Chúa, khi quanh ta có quá nhiều tiếng ồn ào náo động của thế gian và lòng trí ta chất chứa đầy những thông tin vô bổ, chất chứa đầy những hình ảnh tuyên truyền quảng cáo và hưởng thụ giải trí...
Chúa Giê-su là Mục Tử Nhân Lành, người mời gọi chúng ta hãy noi gương bắt chước Người, ngõ hầu chúng ta cũng được trở nên những mục tử nhân lành cho thế giới hôm nay, một thế giới đang sống trong nền văn minh của sự chết. Chúng ta hãy là những mục tử nhân lành trong suy nghĩ, lời nói, ứng xử và việc làm. Đâu phải chỉ có hàng Giáo Sĩ và Tu Sĩ mới có ơn gọi, mà mỗi người Giáo Dân chúng ta cũng đều có ơn gọi riêng giữa đời, vậy mỗi người cũng hãy chu toàn ơn gọi và công việc của mình một cách tốt nhất.
Hỡi những ai là người có trách nhiệm cầm cân nẩy mực, có trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, hãy là những mục tử nhân lành dẫn đưa đoàn dân của mình đi ngang qua mọi thăng trầm của thế giới, để họ được an cư lạc nghiệp, được sống trong hòa bình, và nhất là được hưởng tự do tôn giáo, sống đúng phẩm giá con người.
Hỡi những ai là y tá hay bác sĩ, hãy sống đúng lời thề của mình, “lương y như từ mẫu”, đừng vì lợi nhuận mà bán rẻ lương tâm, đừng dửng dưng và vô tâm trước nỗi đau của người khác; hãy là những mục tử nhân lành qua việc tận tình chăm sóc cho bệnh nhân.
Hỡi những ai là giáo viên, đừng chạy theo thành tích, đừng chạy theo lợi nhuận nữa, hãy là những mục tử nhân lành qua việc tận tâm tận lực giáo dục các học trò của mình thành những người hữu ích cho cuộc sống hôm nay, hãy giáo dục chúng về các đức tính cá nhân và xã hội: Cần, kiệm, liêm, chính, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; công, dung, ngôn, hạnh...
Hỡi những ai là ông bà, cha mẹ, đừng tìm lợi ích cho chính mình nữa, đừng ngoại tình, ly dị, đừng rượu chè, cờ bạc bê tha nữa, hãy là mục tử nhân lành qua việc tần tảo hy sinh cho nhau và cho con cháu, hãy dạy dỗ con cháu của mình về Chúa, về đạo lý làm người trong xã hội và về cách sống đạo trong Hội Thánh.
Hôm nay là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, Giáo Hội mời gọi chúng ta cầu nguyện đặc biệt cho ơn thiên triệu Linh Mục và Tu Sĩ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhiều bạn trẻ biết quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa qua việc hiến thân trong đời sống tu trì và phục vụ.
Để có những ơn gọi cho Giáo Hội, để có những thợ gặt cho cánh đồng truyền giáo, thì Chủng Viện đào tạo ơn gọi trước tiên phải là gia đình, gia đình phải là cái nôi nuôi dưỡng ơn gọi. Vậy những người làm bố làm mẹ phải làm gì đây ?
Thứ nhất là bố mẹ phải sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái mà Chúa ban. Gia đình chỉ có một hoặc hai con thì bố mẹ khó mà cho con mình đi tu, bản thân những đứa con ấy cũng khó mà ao ước dấn thân.
Thứ hai là bố mẹ phải nêu gương sáng ở đời sống hằng ngày qua đời sống đạo như: siêng năng cầu nguyện, tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật và các Bi Tích, sống chứng tá Tin Mừng ngay giữa đời thường.
Thứ ba là giáo dục con cái về toàn diện mà cụ thể nhất là: Giáo dục tôn giáo để con cái mình có Lòng Tin vững chắc; giáo dục về ngôn từ văn hóa để con cái mình biết nói năng và cư xử lễ độ; giáo dục sức khỏe để con cái biết tôn trọng thân xác là Đền Thờ Chúa Thánh Thần; giáo dục các đức tính nhân bản xã hội để con cái biết quan tâm đến người khác chứ không sống ích kỷ chỉ tìm lợi ích cho riêng mình; giáo dục giới tính để con cái mình có cái nhìn đúng đắn về giới tính và đó cũng là chìa khóa giúp chúng quân bình về tâm sinh lý là điều cần thiết cho mọi thành công trên đường đời; giáo dục tương lai để con cái mình xác tín và trung thành với ý hướng và ơn gọi của mình...
Chúng ta tuyên xưng Chúa Giê-su là Mục Tử Nhân Lành. Xin Chúa cho chúng ta cũng là con chiên tốt lành của Chúa, tức là luôn biết lắng nghe tiếng Chúa và sống theo lời mời gọi của Chúa. Xin chúa ban cho chúng ta nhiều mục tử khôn ngoan, thánh thiện và tài giỏi để tập họp mọi người và dẫn dắt mọi người biết yêu thương nhau, hầu tất cả sẽ trở nên một đàn chiên duy nhất của chúa.
Xin Chúa Giê-su là Mục Tử Nhân Lành chúc lành và thánh hóa mọi dự định và quyết tâm của chúng con, để những gì chúng con nói trên môi miệng, tin tưởng trong lòng cũng sẽ là những thực hành trong cuộc sống. Amen.
Lm. HOÀNG XÔ BĂNG, DCCT

 

PS4-C68: Mục tử

Thế giới ngày nay không ngừng biến đổi, làm cho chúng ta, những người già, dường như : PS4-C68

Thế giới ngày nay không ngừng biến đổi, làm cho chúng ta, những người già, dường như choáng váng, không theo nổi. Chúng ta thương tiếc cho một dĩ vãng vàng son, ở đó trật tự và tương lai được bảo đảm.
Thế nhưng, thương tiếc mà làm chi, vì cái dĩ vãng đâu còn nữa. Không có gì là bền vững vì cuộc sống không ngừng đổi thay. Cái hôm nay tồn tại, thì ngay mãi sẽ bị thay thế, từ những kiểu thời trang cho đến những hiệp ước, từ những loại xe cộ cho đến những thữ vữ khí, từ những lập trường cho đến những phương thuốc trị liệu… Thế giới như quay cuồng, đầy những phân rẽ và bất đồng trong dư luận, trong đảng phái, cũng như trong chính tâm hồn mình.
Con người như chao đảo, ngả bên này, nghiêng bên kia. Nghe truyền thanh, xem truyền hình, đọc báo chí, chúng ta cảm thấy như người đang nói với chúng ta là có lý. Nhưng cái có lý ấy chẳng kéo dài được bao lâu, bởi vì khi kẻ đối lập với ông ta lên tiếng, chúng ta lại cảm thấy phần có lý ấy lại chuyển sang phe đối lập. Vì thế, chúng ta khó có thể tìm thấy chân lý, khó có thể nhận ra sự thật.
Giữa những cái trái ngược nhau như vậy, lời Chúa hôm nay vang lên, như muốn xác định cho chúng ta một lập trường dứt khoát và chắc chắn: Ta là mục tử nhân lành. Lời xác quyết này thắp lên trong chúng ta một tia sáng hy vọng, đồng thời tỏ cho chúng ta thấy một góc cạnh mới về Thiên Chúa.
Ta biết các chiên Ta. Phải, Ngài biết chúng ta không như viên kỹ sư biết một chiếc máy. Ngài biết chúng ta không như thầy cô giáo biết những người học trò. Trái lại, Ngài biết chúng ta như một người bạn biết một người bạn, và sẵn sàng hy sinh cho nhau: Ta hiến mạng sống mình đàn chiên.
Hình ảnh người mục tử nhân lành phải là hình ảnh của một người chủ chăn luôn canh giữ chuồng chiên, để đoàn chiên được an toàn. Người mục tử ấy luôn sống giữa bày chiên và luôn chăm sóc đến các con chiên, sẵn sàng chiến đấu chống lại sói dữ, không quản ngại vất vả, để lên đường tìm kiếm những con chiên lạc.
Trái tim của con người thời nay dường như đã trở nên chai đá và băng giá. Họ ít lưu tâm đến những người chung quanh. Trong vũ trụ bao la này, con người chỉ là một số không. Chẳng ai hỏi han đến chúng ta và khi chúng ta lên tiêng nói, thì cũng chẳng ai buồn nghe. Chỉ mình Đức Ki tô, vị mục tử nhân lành, luôn tồn tại giữa những đổi thay. Ngài biết chúng ta và hằng chăm sóc cho chúng ta.
Vào những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã trải qua những năm tháng dài bị bắt bớ và cấm cách. Các tín hữu luôn bị đe doạ và gặp phải muôn vàn khó khăn, thế nhưng dưới những hang toại đạo, hình ảnh được vẽ nhiều nhất trên những bức tường, đó là hình ảnh người mục tử nhân lành. Chính hình ảnh này đã đem lại cho họ niềm ai ủi và khích lệ.
Con người thời nay đặt niềm tin tưởng của mình vào những bài diễn văn của các chính khách, nhưng rồi đến một lúc nào đó, họ nhận ra những trò bịp bợm trong lãnh vực chính trị và những mánh khoé trong phạm vi tuyên truyền, để mà bóp méo sự thật. Bấy giờ, họ cay đắng cảm thấy mình bị lừa gạt.
Còn chúng ta thì khác. Chúng ta đã đặt trót niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu. Ngài là Đấng trung thành, không phải chỉ nói suông, không phải chỉ hứa cuội, mà Ngài còn thực hiện, còn hành động. Vì thế, trải qua hơn hai ngàn năm, hình ảnh người mục tử nhân lành vẫn còn là một hình ảnh sống động và thời sự, bời vì Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta và đã chết thay cho chúng ta trên thập giá.
Hãy tin tưởng và yêu mến Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành, để rồi bản thân và cuộc đời chúng ta sẽ được bình an dưới sự dẫn dắt và chăm sóc của Ngài.

 

PS4-C69: Chiên Ta thì nghe tiếng Ta

Người ta kể lại câu chuyện sau đây: Có ba tín hữu nọ, một ông nhà nghèo, một ông nhà giàu: PS4-C69

Người ta kể lại câu chuyện sau đây: Có ba tín hữu nọ, một ông nhà nghèo, một ông nhà giàu và người thứ ba là kẻ bất lương đều chết trong một giờ và sau đó phải ra tòa Chúa phán xét.
Thiên Chúa hỏi ông nhà nghèo:
- Vì lý do gì mà ngươi không lo tìm hiểu và tuân giữ Lời Chúa ghi trong sách Koran.
Anh nhà nghèo gãi tai và thưa:
- Dạ! Lạy Chúa, vì con nghèo quá, nên phải đầu tắt mặt tối lo kiếm gạo nuôi thân, không còn gì cả.
Chúa trả lời:
- Ông Hellen đã nghèo hơn ngươi rất nhiều thế mà có được chút tiền là ông để dành một nửa để học luật Chúa và khi nào không có tiền trả lệ phí thì ông nhịn đói, đứng ngoài trường học nghe lóm Rabbi Eliaza giảng giải Lời Chúa.
Và Thiên Chúa quay sang hỏi ông nhà giàu:
- Còn ngươi. Tại sao con lại không tìm học hỏi và tuân giữ luật Chúa?
Ông nhà giàu thưa:
- Dạ, tại vì con phải lo công việc quản trị của cải, tiền bạc và các dịch vụ làm ăn. Bận bịu tíu tít, còn giờ đâu mà học hỏi sự gì?
Thiên Chúa phán:
- Ngươi đâu có giàu có bằng thầy Rabbi Eliaza, ông ấy có một trăm chiếc tàu buôn bán đủ mọi thứ hàng hóa và rất bận rộn với công việc kinh doanh, nhưng Rabbi Eliaza vẫn tìm ra giờ để học hỏi luật Chúa.
Sau cùng, Chúa hỏi tên bất lương:
- Còn ngươi, kẻ gian ác. Tại sao ngươi đã không học hỏi luật Chúa?
Tên bất lương tìm cách chữa lỗi:
- Lạy Chúa, con bị các đam mê lôi cuốn quá, nên không còn nghĩ đến gì khác nữa.
Thiên Chúa bảo hắn:
- Ngươi đâu có bị người ta cám dỗ và say mê như Giuse khi sống bên Ai Cập xưa kia. Ngày đêm bị vợ quan tổng quản Putipha níu kéo, rủ rê cám dỗ phạm tội với bà ta mà vẫn chống trả tới cùng.
Thế là cả ba người đều phải án phạt sống xa rời Thiên Chúa và chôn vùi trong nơi khổ ải của âm ty, âm phủ.
Anh chị em thân mến!
Là người Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng đều có bổn phận học hỏi, lắng nghe và tuần giữ Lời Chúa. Đây là một bổn phận thiêng liêng vô cùng quan trọng. Vì nó làm cho phần rỗi chúng ta được bảo đảm.
Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã không đề nghị với con người điều gì khác ngoài bổn phận lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Đó là điểm thần học nổi bật trong sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay. Đây là chìa khóa thần học giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của trình thuật Chúa Giêsu Kitô, Người Mục Tử nhân lành như thánh Gioan ghi lại trong bài Tin Mừng hôm nay.
Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, từ "hư mất" ám chỉ tội lỗi, con người thất bại hoàn toàn trong cuộc sống ơn gọi làm người và làm con cái Thiên Chúa của mình, phải chết đời đời và xa rời Thiên Chúa vĩnh viễn. Là thụ tạo được phát minh từ bàn tay nhân hiền của Thiên Chúa, con người được đặt định trở về với bàn tay yêu thương ấy, nhưng con người đã phá đổ chương trình ấy của Thiên Chúa khi phạm tội khước từ Thiên Chúa và tự tôn mình lên địa vị của Thiên Chúa.
Vì thế, Thiên Chúa mới phải sửa chữa lại bằng cách cho Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và giao cho Chúa Giêsu chương trình cứu độ cần phải hiện thực qua cuộc sống và lời giảng dạy của Ngài. Chúa Giêsu đến trần gian chính là để kiếm tìm những gì đã hư mất. Đôi bàn tay của Ngài cũng là đôi bàn tay của Thiên Chúa. Chương tình cứu độ của Ngài thực hiện qua Tin Mừng cứu độ. Nước Trời cũng chính là chương trình của Thiên Chúa.
Hình ảnh người mục tử nhân lành diễn tả sứ mệnh ấy của Chúa Giêsu đối với nhân loại và không ai có thể giật mất đoàn chiên tín hữu khỏi bàn tay của Ngài.
Trình thuật Chúa Giêsu là vị mục tử nhân lành gồm một số động từ diễn tả các bổn phận của chủ chăn và bổn phận của tín hữu. Nếu viết chúng thành hai cột song song, chúng ta thấy có tới bốn động từ diễn tả bổn phận của chủ chăn. Đó là nói, hiểu biết, hiến mạng sống và gìn giữ. Trong khi đó chỉ có hai động từ diễn tả bổn phận của tín hữu là lắng nghe và đi theo. Bổn phận đầu tiên của vị chủ chăn là nói, nghĩa là giảng dạy, huấn luyện, đào tạo, khuyên nhủ, kêu mời, đề nghị, góp ý kiến. Đây là động từ bao gồm tất cả mọi sinh hoạt rao giảng của Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Từ việc tổ chức các khóa tĩnh tâm, huấn luyện, đào tạo mọi thành phần nhân lực mục vụ của cộng đoàn địa phương cho tới việc dùng các phương tiện và kỹ thuật truyền thông xã hội, báo chí, sách vở, tài liệu, phim ảnh, băng hình, truyền hình... để phổ biến, rao truyền Lời Chúa và phát triển lòng tin của tín hữu.
"Nói" chứ không phải là nóng nảy, bẳn gắt, la hét và mắng chửi tín hữu. Trong nghĩa này, "nói" là cả một nghệ thuật gồm nhiều tập luyện mỗi ngày, từ giọng điệu và kiểu cách cho tới các cử chỉ, từ ngữ và hình ảnh làm sao để giọng nói được ôn tồn, đầm ấm, và truyền cảm, hình ảnh được đơn sơ sáng sủa, rõ ràng, xúc tích và thích hợp hầu có thể truyền đạt Tin Mừng của Chúa đến cho tín hữu một cách hữu hiệu, xác tín và sâu xa hơn. Làm thế nào để vị chủ chăn rao giảng luôn làm giàu cho người nghe, thắp sáng lên trong tâm hồn lòng họ ngọn lửa tinh thần, nung nấu đốt cháy con tim họ và thúc đẩy họ tiến gần Thiên Chúa.
Bổn phận thứ hai của vị chủ chăn, tức là các Giám Mục, nam nữ Tu Sĩ và Giáo Dân lãnh đạo cộng đoàn là hiểu biết. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, hiểu biết có nghĩa là bước vào trong tương quan hiệp thông với tha nhân. Hơn ai hết, vị chủ chăn phải là người có các liên hệ huynh đệ nhân bản với tín hữu, biết chú ý đến sự khác biệt, không lẫn lộn tinh thần hiệp nhất với sự đồng nhất máy móc một chiều, không lẫn lộn cuộc sống với cảnh chạy việc, không lẫn lộn trật tự với cảnh rộn ràng vô hồn. Nhưng để có thể hiểu biết tín hữu, vị chủ chăn cần phải tiếp xúc và nhất là biết lắng nghe họ nói, biết cố gắng nhìn mọi người với con tim của mình, sẵn sàng học hỏi nơi tín hữu của mình. Các tín hữu có thể cho các vị chủ chăn biết bao nhiêu là bài học quí giá trên mọi bình diện cuộc sống, từ các đức tính xã hội, nhân bản cho đến các nhân đức Kitô, lòng tin, cậy, mến và sự thánh thiện.
Bổn phận thứ ba của chủ chăn là hiến mạng sống mình cho cộng đoàn tín hữu, chết cho họ và vì họ. Nói đúng ra, trừ các trường hợp bắt đạo bình thường thì chủ chăn ít khi phải chết vì tín hữu. Những điều mà Thiên Chúa và mọi tín hữu đều mong chờ là các chủ chăn sống hoàn toàn và trọn vẹn cho cộng đoàn, dành trọn khả năng, sức lực, thời giờ, của cải và toàn cuộc sống của mình cho tha nhân. Biết noi gương Chúa Giêsu kiên nhẫn, quảng đại, sống sát với tín hữu.Chia sẻ mọi vui buồn âu lo của họ và trở thành anh em đại đồng của mọi người. Nghĩa là vị chủ chăn không sống cho mình mà sống cho Chúa và cho cộng đoàn.
Bổn phận thứ tư của chủ chăn là giữ gìn để tín hữu khỏi bị sói dữ cắn xé để họ không xa Chúa, rời bỏ Giáo Hội, và mất đức tin. Trong thế giới ngày nay, nhiều khi rất khó nhận diện ra sói dữ, nhưng muốn bảo vệ cộng đoàn, vị chủ chăn phải để lợi ích thiêng liêng mà các linh hồn và hạnh phúc của tín hữu lên trên hết trong mọi sinh hoạt thường ngày chứ không phải các lợi lộc riêng tư, danh dự của mình hay thứ gì khác.
Về phần các tín hữu bổn phận thứ nhất là biết lắng nghe để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng mình và quyết định sống theo những gì Chúa nói, thực hành mọi giáo huấn của Chúa trong mọi hoàn cảnh sống thường ngày. Thái độ vâng lời ấy phải thể hiện ra trong việc cộng tác, tham gia, đóng góp vào các sinh hoạt của cộng đoàn tùy các tài khéo và bằng khả năng vật chất cũng như tinh thần của mình làm sao để cải tiến cộng đoàn, để biến nó thành một môi trường sinh động tươi vui, tràn đầy yêu thương, bác ái tương trợ lẫn nhau như trong cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các thánh tông đồ. Cộng đoàn tham gia và đóng góp chứ không phải đứng ngoài chỉ trích, phê bình chửi rủa hay phá đám. Bởi vì nếu nghe Lời Chúa mà không hoán cải và thay đổi nếp sống cá nhân, gia đình cộng đoàn và xã hội tức là khước từ Chúa; từ chối Lời Ngài là chối bỏ lòng tin của mình.
Bổn phận thứ hai của tín hữu là đi theo, bước theo Chúa Kitô Phục Sinh để tiến về cuộc sống vĩnh cửu, để tiến về Đất Hứa. Do đó, hành trình của Kitô hữu phải là hành trình tươi vui, phấn khởi. Cuộc sống của Kitô hữu phải là cuộc sống sinh động, nhiều sáng kiến nhiều đóng góp. Khi đóng góp rõ ràng được mục đích của mình, Kitô hữu mới sẵn sàng hiến thân hy sinh và kiên trì trong những lúc gặp chướng ngại, thử thách, khó khăn và cám dỗ. Với ý thức đó, vâng lời có nghĩa là hiểu biết trách nhiệm cao độ mình phải có đối với các chủ chăn và các anh em khác trong cộng đoàn, thông cảm những khó khăn, những yếu đuối và khả năng hạn hẹp của họ và cố gắng xây dựng bù đắp cho nhau.

 

PS4-C70: Chúa Chiên Lành - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Hình ảnh chiên cừu dễ gây ngộ nhận vì người ta cho rằng chiên cừu chẳng biết làm gì hơn: PS4-C70  FB

Hình ảnh chiên cừu dễ gây ngộ nhận vì người ta cho rằng chiên cừu chẳng biết làm gì hơn là ngoan ngoãn vâng lời. Nhưng con chiên trong bài Tin Mừng ta vừa nghe hoàn toàn không có tính cách thụ động như thế. Trái lại phải tích cực, chủ động. Sự tích cực chủ động của đoàn chiên được Chúa Giêsu diễn tả bằng những từ “nghe” và “theo”: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”.
Nghe. Chúa Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa, nên ta phải nghe Người. Nhưng nghe được Lời của Thiên Chúa không phải dễ.
Không dễ, vì Lời Thiên Chúa nhẹ nhàng như lời thì thầm của mây gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương, im lặng và bí hiểm như tiếng vỗ của một bàn tay. Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ lại ồn ào như một ngày hội, gào thét như cuồng phong và điên loạn như chiến tranh.
Không dễ, vì Lời Thiên Chúa mời gọi người ta vào con đường chật hẹp của từ bỏ mình, dẫn ta lên một ngọn đồi gai góc của thập giá hy sinh và thách thức ta phục vụ đến hy sinh cả mạng sống. Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ mở ra đại lộ thênh thang của danh vọng, dẫn ta đến dìm mình trong đại dương hưởng thụ và hứa ban tặng cho ta tất cả vinh hoa phú quý trên đời.
Vì thế, để nghe được Lời Chúa, ta phải có một đôi tai thật bén nhạy, được hướng dẫn bởi trí phán đoán sáng suốt và một trái tim yêu mến nồng nàn. Nghe Lời Chúa với một thái độ như thế sẽ dẫn ta đến chỗ theo Chúa.
Theo. Theo ai là quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình vào đời người đó. Như thế theo ai là từ bỏ chính mình, cuộc đời mình để chia sẻ cuộc sống với người khác.
Theo tâm lý học, trong tình yêu có ba mức độ. Mức độ thứ nhất: Thích nhìn, nghe người mình yêu. Mức độ thứ hai: Trong mọi chương trình, tính toán của đời mình đều có bóng dáng của người yêu. Mức độ cuối cùng: Chia sẻ tất cả những gì mình có, kể cả cuộc sống vì người yêu.
Như thế, theo tức là yêu thương ở cao độ. Con chiên đi theo Chúa như thế phải hoàn toàn chủ động và nhất là thiết lập một quan hệ mật thiết với Chúa là Chủ đoàn chiên. Hành động của Chúa chiên tốt lành được Chúa Giêsu tóm gọn trong hai động từ: “biết” và “cho”.
Biết. Người chăn chiên tốt lành biết rõ từng con chiên. Ông biết tên từng con. Ông biết tình trạng sức khoẻ cũng như nhu cầu của từng con chiên. Tương tự như thế, Chúa Giêsu biết rõ mỗi người chúng ta. Người không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta. Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư? Người cũng đã biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội. Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư? Chúa Giêsu cũng đã sinh ra không nhà, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá. Ta tuyệt vọng vì cuộc đời không lối thoát ư? Chúa Giêsu đã trải qua những giờ phút đen tối trong vườn Giếtsimani và trên thập giá. Ta cô đơn vì bị mọi người xa lánh ư? Chúa Giêsu cũng đã bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người. Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư? Chúa Giêsu đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ tội đồ nô lệ.
Chúa Giêsu là người chăn chiên tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, nên có thể chăm sóc an ủi từng người chúng ta.
Cho. Chúa Giêsu là mục tử tốt lành vì đã tặng ban cho tất cả đoàn chiên món quà quý giá nhất là sự sống đời đời, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự sống của chính bản thân Ngài. Sống sự sống của Thiên Chúa rồi, đoàn chiên sẽ kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Không ai cướp được đoàn chiên khỏi tay Người, vì Người dùng chính mạng sống mình mà bảo vệ. Người ràng buộc đời mình vào sinh mạng của đoàn chiên. Từ nay đoàn chiên và chủ chiên trở thành một cộng đồng sinh mệnh, sống chết có nhau, kết hợp với nhau trong một tình yêu thương không có gì có thể tách lìa được.
Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy thay đổi. Cuộc sống đang mở ra những chân trời mới đầy quyến rũ nhưng cũng đầy nguy hiểm cho đời sống tâm linh chúng ta. Những giá trị bị đảo lộn. Những con chiên đang bị lôi kéo rời xa đoàn chiên. Nhu cầu cuộc sống xô đẩy chúng ta ra khỏi cộng đoàn khiến nhiều người trở thành những con chiên bơ vơ không người chăn dắt. Trong một hoàn cảnh mới mẻ như thế, chúng ta rất cần có những vị mục tử thực sự hiểu rõ nhu cầu của đoàn chiên và thực sự hiến mình phục vụ đoàn chiên. Chúng ta hãy cầu nguyện cho có nhiều người trẻ biết đáp lời Chúa mời gọi, hiến mình cho Chúa để phục vụ anh chị em trong nhiệm vụ mục tử. Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục của chúng ta trở thành những mục tử tốt lành noi guơn Vị Mục Tử duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Lạy Chúa là là Mục Tử chăn giữ đời con, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa. Amen.
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1. Đã bao giờ bạn nghe được tiếng Chúa nói trong sâu thẳm tâm hồn bạn chưa?
2. Có lần nào bạn cảm nghiệm được sự ngọt ngào được sống thân mật với Chúa chưa?
3. Bạn cũng là Mục Tử của gia đình bạn, xóm bạn ở, sở nơi bạn làm việc. Bạn có là Mục Tử tốt lành không?

 

PS4-C71: Con chiên của Chúa Giêsu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
Anh chị em thân mến,
 

Chúng ta vẫn quen gọi các giám mục, các linh mục là các mục tử hay chủ chăn, và anh chị em: PS4-C71

chúng ta vẫn quen gọi các giám mục, các linh mục là các mục tử hay chủ chăn, và anh chị em giáo dân cũng vẫn quen nhận mình là “con chiên”. Kiểu nói nầy bắt nguồn từ trong Kinh Thánh. Ngay từ thời Cựu Ước, tiên tri Êzêkiel đã dùng hình ảnh đàn chiên và chủ chiên để báo trước rằng: chính Chúa sẽ đến chăn dắt dân Israel như mục tử chăn dắt đàn chiên, thay thế hết các người lãnh đạo dân từ trước đến nay. Khi Chúa Giêsu đến, Ngài đã xưng mình là mục tử và là mục tử tốt lành, đích thực, khác với những kẻ chăn thuê, những mục tử già.
Tin Mừng hôm nay vắn tắt có bốn câu nói về “con chiên” nhiều hơn là chủ chiên, tức là nói về “người giáo dân” hơn là hàng giáo sĩ. Người giáo dân là con chiên của Chúa Giêsu, là người biết “nghe tiếng Chúa”, dám “bước theo Chúa” để không bao giờ phải hư mất, nhưng “được sống đời đời”.
Trước đây, anh chị em có nghe nói mình là “con chiên của các cha” thì lấy làm thường tình, chẳng thắc mắc gì. Nhưng ngày nay, hình ảnh con chiên dễ làm cho người ta hiểu lầm và mặc cảm cho là hạ phẩm giá con người giáo dân - người ta là con người mà coi như con vật - coi giáo dân còn ấu trĩ và thụ động trong Giáo Hội.
Cách đây mấy chục năm, Đức Hồng Y Gasquet trong một cuốn sách nói về người giáo dân, có kể câu chuyện như sau: Một người sắp theo đạo hỏi linh mục về vai trò của giáo dân trong Giáo Hội như thế nào? Linh mục trả lời: “Giáo dân có hai vai trò: một là quỳ gối trước bàn thờ, hai là ngồi quay mặt về tòa giảng”. Và Đức Hồng Y Gasquet hóm hỉnh viết thêm: “Người ta quên mất một vai trò thứ ba, đó là móc ví tiền ra”.
Câu chuyện trên phản ảnh một quan niệm lệch lạc về địa vị giáo dân. Vai trò của người giáo dân bị giản lược vào mấy việc: xem lễ, nghe giảng và góp tiền vào nhà thờ! Ngày nay, Công Đồng Vatican II đã quan niệm Giáo Hội trước tiên là “Cộng đồng Dân Chúa”. Giáo Hội trước hết là giáo dân chứ không phải Giáo hoàng, Giám mục hay Linh mục. Ngày nay, giáo dân phải đứng hàng đầu trong Giáo Hội. Nói như thế không có nghĩa là giáo dân điều khiển tất cả, nhưng có nghĩa là giáo dân phải lãnh phần trách nhiệm sống đạo chủ động của mình, như những người trưởng thành giữa xã hội ngày nay.
Sống đạo trong xã hội “dân chủ tập thể” hôm nay dĩ nhiên giáo dân vẫn phải là những “con chiên” của Chúa, hiền lành yêu thương, đừng hung bạo ác ôn, nhưng cũng phải từ bỏ thái độ ấu trĩ, vô trách nhiệm và thụ động. Chúng ta muốn làm những con người tín hữu đứng hàng đầu, những con người có tinh thần trách nhiệm, dám nhận lãnh sứ mạng, dám sống bổn phận của mình cách chủ động. Với điều kiện đó, chúng ta mới “nghe tiếng Chúa” và “bước theo Chúa” cách đúng đắn và phù hợp với những đòi hỏi của xã hội ngày nay. “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Chúng theo Ta, và Ta ban cho chúng sự sống đời đời. Không ai giựt chúng khỏi tay Ta được”. Nghe tiếng Chúa là tin nhận Lời của Chúa và bước theo Chúa là dấn thân sống Lời Chúa một cách tự do và chủ động. Nghe và theo Chúa là sống gắn bó thiết thân với Chúa. Bởi vậy, nghe và theo Chúa Kitô tức là bước vào cuộc sống bất diệt ngay từ đời nầy.
Tiếng Chúa hôm nay đang vang lên từ quả tim của từng con người nghèo khổ, bị áp bức, bị bóc lột. Tiếng Chúa hôm nay là tiếng kêu của đồng bào, của cả đất nước, của cả xã hội loài người đang cần nhau để sống, để có cơm ăn áo mặc đầy đủ, để tạo được hạnh phúc chung. Tiếng Chúa đang vang dội từng ngày, từng giờ mời gọi thúc bách chúng ta xung phong đi đầu, dấn thân theo Chúa trên mọi nẻo đường yêu thương, phục vụ, hy sinh. Yêu thương, phục vụ đến chỗ không còn tìm kiếm gì cho riêng mình, không giữ lấy gì cho riêng mình và đến chỗ dám liều chết cho anh em được sống, như chủ chiên dám liều mạng sống vì đàn chiên.
Làm con chiên nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa là như thế. Làm người có đạo hôm nay dám sống đạo thật là như thế. Nghe tiếng Chúa và dám bước theo Chúa trong xã hội chúng ta hôm nay phải như thế, và như thế nhất định chúng ta sẽ được sống đời đời, không một sức lực nào có thể cướp giựt chúng ta khỏi tay Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến,
Chúa nhật hôm nay với chủ đề mục tử và đàn chiên được Giáo Hội chọn làm Ngày Thế Giới cầu nguyện cho ơn gọi Giáo sĩ và Tu sĩ. Giáo Hội đang thiếu các mục tử và nhất là các mục tử tốt lành. Tiếng báo động nầy đang vang đến tai chúng ta hôm nay ở nơi nầy, trên đất nước chúng ta. Hiệp ý với toàn thể Giáo Hội hoàn cầu, chúng ta hãy cầu xin cho giới trẻ biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và nhất là có đủ can đảm để bước theo tiếng gọi đó bằng cuộc sống dâng hiến trọn vẹn cho Chúa để phục vụ tha nhân, nhất là những người nghèo khổ, ốm đau, bệnh tật, cô đơn, già yếu…
Sự hy sinh hầu như tuổi trẻ có thừa, nhưng cần rất nhiều yếu tố xã hội góp phần để tuổi trẻ thực hiện quyết định hy sinh quảng đại của mình: cha mẹ, gia đình, và giáo xứ có đóng góp phần đào tạo ơn gọi thì ơn gọi mới nẩy nở và mới được bảo đảm. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu đã viết: “Tôi nói với bậc cha mẹ, dựa vào lòng tin, rằng họ có thể nếm hưởng niềm vui của ân sủng sẽ vào nhà họ, khi một con trai hay con gái của họ được Chúa gọi để phục vụ Ngài… Đặc biệt, tôi hướng về giới trẻ của thời nay và tôi nói với họ: Hãy để cho Đấng Vĩnh Cửu quyến rũ các bạn, và tôi lập lại lời Ngôn sứ Giêrêmia (20,7): “Ngài đã làm cho tôi say mê, lạy Chúa… Ngài đã chinh phục tôi và Ngài đã mạnh hơn tôi”… “Hãy để Đức Kitô quyến rũ bạn. Hãy để gương Ngài lôi cuốn các bạn. Hãy để tình yêu của Thánh Thần yêu mến các bạn… Hãy say mê Đức Kitô để sống cuộc đời của Ngài, hầu nhân loại có sự sống trong ánh sáng Tin Mừng…”. Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh: “Thời đại chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu sự hiện diện của những cuộc đời dâng hiến cho tình yêu trở nên khan hiếm. Xã hội chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu không được thúc đẩy để ngước nhìn lên nơi có những niềm vui chân thật! Giáo Hội chúng ta cũng sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu thiếu những gì biểu lộ một cách cụ thể và mạnh mẽ tính thời sự vĩnh cửu của việc dâng hiến cuộc đời vì Nước Trời”.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha giao phó giới trẻ cho Đức Trinh Nữ Maria, đặc biệt các thanh thiếu niên đã được gọi bước theo Chúa Giêsu. Mẹ biết rõ tất cả những khó khăn, chiến đấu và trở ngại các bạn trẻ phải trải qua. Xin Mẹ giúp các bạn trẻ biết nói lên câu: “Xin Vâng” đáp trả tiếng gọi của Chúa, như Mẹ đã thưa khi được Sứ thần truyền tin.

 

PS4-C72: Chú giải của Noel Quesson

Tôi là…
 

Cần phải đặc biệt chú ý tới hai từ trên mà Đức Giêsu đã không ngần ngại sử dụng nhiều lần: PS4-C72

Cần phải đặc biệt chú ý tới hai từ trên mà Đức Giêsu đã không ngần ngại sử dụng nhiều lần trong Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 4,26; 7,29; 8,58; 13,19; 14,20; 17,24; 18,5) Ta cũng biết rằng, hai từ đó gợi lên kiểu viết "bốn chữ cái không phát âm được là "Tên mầu nhiệm" mà chính Thiên Chúa đã tự mạc khải cho Môsê trong sa mạc Sinai.
YHVH được chuyển dịch thành YaHVeH và đọc là “Adonai", "Đức Chúa”.
Hơn nữa, qua nhiều câu trích dẫn như dưới đây, Tin Mừng theo thánh Gioan đã sử dụng tới ba mươi lần hai từ trên "Tôi là...", kèm theo một phẩm tính:
- "Tôi là Bánh hằng sống" (Ga 6,35-42,48-51).
- “Tôi là ánh sáng thế gian" (Ga 8.12-9,5).
- "Tôi là Sự sống lại và là sự Sống" (Ga 11,25).
-"Tôi là Cây nho thật" (Ga 15,l-5).
-"Tôi là Cửa cho chiên ra vào" (Ga 10,7-9).
-“Tôi là Mục tử nhân lành" (Ga 10,11-14).
Theo các nhà chú giải Kinh Thánh đúng đắn, những kiểu nói trên muốn diễn tả hữu thể thần linh của Đức Giêsu. Thánh Gioan đã viết: "Ngôi Lời đã trở nên người phàm" (Ga l,14).
Tôi là Mục tử nhân lành (người chăn chiên đích thực).
Ở đây, Đức Giêsu không chỉ sử dụng một hình ảnh đẹp dân gian và đồng quê, nhưng trước hết đó là một kiểu nói Kinh Thánh vô cùng phong phú. Trong khắp vùng Đông Phương cổ, các vua chúa thường tự coi mình như mục tử chăn dắt dân nước. Chính Giavê cũng đóng vai trò đó khi giải thoát dân riêng khỏi Ai Cập: "Người lùa dân Người đi ví thể đàn chiên, Người dẫn dắt chúng như đàn cừu ngang qua sa mạc" (Tv 78,52). Đavit, một trong những nhà lãnh đạo chính trị đầu tiên của Israel, là một cậu chăn chiên tại Bêlem (1 S 17,34-35). Ông Vua lý tưởng của tương lai, Đức Mêxia, Đavit mới, cũng được loan báo như một “Mục tử”: "Ta sẽ chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng. Đó là Đavit, tôi tớ của Ta" (Ed 34,23).
Mọi thính giả của Đức Giêsu, cũng như chính Người, đều hiểu rõ những trích dẫn Kinh Thánh trên, đặc biệt là chương 34 nổi tiếng của ngôn sứ Êdêkien, diễn tả khá dài những mục tử xấu ác (các vua thời đó) không quan tâm chăm sóc đoàn chiên của họ trước khi quả quyết rằng, Thiên Chúa Giavê phán thế này: Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và Ta sẽ chăm nom chúng. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng tán loạn. Ta sẽ chăn nuôi chúng nơi bãi cỏ tốt. Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta, sấm của Đức Chúa Giavê. Chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm" (Ed 34,1-31).
Như thế, rõ ràng của Đức Giêsu cũng không thể lầm về địa vị đó. Họ rất hiểu ý định của Chúa: "Nhiều người trong nhóm họ nói: ông ấy điên khùng rồi? 'Kẻ khác bảo: ông nói phạm thượng, ông là người phàm mà lại tự cho mình, là Thiên Chúa" (Ga 10,20-33). Chính vì thế, họ lấy đá để ném Đức Giêsu.
Có lẽ chúng ta nên cầu nguyện lâu hơn dựa vào hình ảnh "Mục tử" biểu trưng này, chẳng hạn dùng Thánh Vịnh 22: "Chúa là Mục tử chắn dắt tôi, Tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tưới, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi đến dòng nước trong lành, và bổ sức cho tôi”.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang dẫn con đi. Lạy Chúa Giêsu, Chúa đang chăm sóc. Lạy Chúa Giêsu, Chúa yêu mến con. Và cầu nguyện như thế, không phải là một kiểu cầu nguyện chủ quan, nặng tình cảm và trống rỗng: Chúng ta sẽ nhận ra, Đức Giêsu còn tiếp tục gọi lên cho ta nội dung cầu nguyện phong phú hơn.
Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi.
Ngày nay, hình ảnh con cừu, hình ảnh đoàn vật dễ mang một nghĩa xấu: Đừng có u lì như lũ cừu? Đừng có tinh thần. đoàn vật? Thực sự, hình ảnh của Kinh Thánh mang ý nghĩa ngược lại. Ở đây, ba động từ được Đức Giêsu nói lên, là những động từ tác động rất phù hợp với con người: nghe, biết, theo.
“Nghe": đó là một trong những thái độ cốt yếu, trong tương quan giữa hai người. Biết lắng nghe, là dấu chỉ của tình yêu đích thực. Biết bao lần, ngay trong một nhóm người, ngay lúc tụ họp chung quanh một bàn tròn, ngay trong một cuộc trao đổi mệnh danh là đối thoại, thế mà thực sự ta, chưa biết lắng nghe. Trong Kinh Thánh, các ngôn sứ không ngừng mời gọi Israel biết lắng nghe. "Hỡi Israel, hãy nghe đây?" (Đnl 6,4; Am 3,1; Tv 29,3-9). Lắng nghe, đó là khởi sự của lòng tin. Thánh Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu như Ngôi Lời, Lời Thiên Chúa mà Chúa Cha muốn ngỏ cùng thế gian. "Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người" (Mt 17,5).
“Theo": đó là một hành động không có gì là thụ động cả, nhưng diễn tả một thái độ tự do: dính kết toàn thân một người nào đó vào thân phận một kẻ khác. Theo nghĩa là gắn bó với... Đức Giêsu mời gọi: "Hãy theo tôi" (Ga l,42).
“Biết”: trong Kinh Thánh, từ này trước hết không mang một ý nghĩa tri thức. Chính tình yêu mới làm cho ta nhận biết người nào đó một cách đích thực, đến nỗi đoán được cả tâm tính họ. Sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau, yêu mến sâu xa, hiệp thông tâm hồn, trí não, thân xác... là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng (St 4,l).
Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.
Đây đúng là một cộng đồng sinh mệnh giữa Mục tử và đoàn chiên, giữa Đức Giêsu và "những kẻ nghe tiếng Người và theo Người". Đúng là một sự liên kết vĩnh viễn.
Lạy Chúa, khi cầu nguyện, con cố tưởng tượng ra, thực sự con đang ở trong "bàn tay Chúa". Bàn tay mà Chúa đã giơ ra cho người bệnh để cứu chữa họ. Bàn tay Chúa đã chìa ra cho Phêrô lúc ông chìm sâu dưới lòng biển. Bàn tay đã cầm Bánh hằng sống, vào chiều Thứ Năm Thánh. Bàn tay mà Chúa đã dang rộng trên thập giá tại đồi Gôngôtha. Bàn tay bị thương tích do đinh đâm thấu qua, mà Chúa đã minh chứng với Tôma. Trong bàn tay đó, Chúa đã nắm chặt lấy con và không ai có thể cướp được con! Lạy Chúa Giêsu xin tạ ơn Chúa.
Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.
Như thế, chúng ta được cả "hai bàn tay" giữ gìn.
Như một bé thơ được cả cha mẹ giữ gìn, và hướng dẫn trong an toàn tuyệt đối, hình ảnh đó đẹp biết bao!
Lạy Chúa, con muốn dùng hình ảnh trên để cầu nguyện cùng Chúa. 'Lạy Chúa Giêsu và Chúa Cha, xin giữ gìn những người con thương mến trong bàn tay của Chúa.
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận ra rằng, đó không phải là cảnh sắc màu mè diễn tả những "mục tử hiền lành" và các chú cừu con lông xoăn". Người mục tử Đông phương là một người du mục đáng gườm, một thứ lính chiến, có khả năng bảo vệ đoàn vật mình khỏi thú dữ... gấu hay sư tử đến để cướp đoạt một con chiên khỏi đàn (1 S 17,34-35).
Đức Giêsu, khi Người nói những lời đó, đã nghĩ đến cuộc giao chiến khốc liệt mà Người sẽ phải đường đầu trong cuộc Thụ khổ để đối phương "không cướp được" một chiên nào khỏi tay Người. Khác với kẻ chăn thuê, thường chạy trốn trước sói dữ, Đức Giêsu sẽ phó nộp và đành mất mạng sống mình vì chiên của Người (Ga 10,12-15).
Cùng với Đức Giêsu, tôi có khả năng, chiến đấu để cứu sống anh em tôi không?
Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.
Thế nhưng, lạy Chúa, làm sao giải thích được những hiện tượng bỏ hàng ngũ, bất trung thường thấy chung quanh chúng con, hay ngay trong đời sống chúng con?
Đó là mầu nhiệm của tự do! Nhưng một điều chúng ta cần biết, đó là không khi nào Chúa buông bỏ! Chỉ có con người rời bỏ bàn tay Chúa. Và ngay khi con người rời bỏ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tìm liên hệ lại. "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?" (Lc 15,4-7). Vậy chúng ta đã tự tạo hình ảnh sai lầm nào về Thiên Chúa, để nghĩ rằng Người có thể kết án những tội nhân? Chớ gì chúng ta cần cố gắng ít phạm tội đối với Thiên Chúa yêu thương!
Tôi và Chúa Cha là một.
Các chiên của Đức Giêsu, Người nói chúng đã được Chúa Cha, Thiên Chúa trao phó cho Người. Nhưng chúng vẫn luôn ở trong bàn tay của Thiên Chúa.
Những kiểu nói như trên đã dẫn chúng ta bước vào một vực thẳm choáng váng, khi đứng trước con người Giêsu Nadarét: trong con người thực sự đã được sinh ra từ một phụ nữ, đã lớn lên, sắp phải đổ máu và bị giết đi, lại chính là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng và hành động. Đức Giêsu, chính là Thiên Chúa tự mạc khải trong tình thân hữu với con người. "Tôi và Chúa Cha là một”. Các Công đồng sẽ phải nỗ lực xác định và đưa ra những quan niệm, nhưng sẽ không khi nào có được một kiểu nói giúp ta hiểu được mầu nhiệm của con người Giêsu. Tất cả những gì đã nói, trong công thức trên, chỉ có thể phải "lắng nghe" trong đức tin: "Chúa Cha và tôi, chúng tôi là một... Thiên Chúa và tôi, Giêsu, chúng tôi là một"
Đó là lý do Đức Giêsu dám quả quyết, Người “ban sự sống đời đời".
Đó là lý do, như chính Thiên Chúa, Người có thể tuyên bố: "Tôi là...".
Đó là lý do Người đã bị buộc tội là một kẻ phạm thượng, bị người đời đóng đinh, nhưng được Thiên Chúa “minh chính hóa", bằng cách cho Người từ cõi chết sống lại.

 

PS4-C73: Suy niệm của nhóm Nha Trang

“Ta ban cho các chiên ta được sống đời đời”.
I. Ý CHÍNH:
 

Bài Tin Mừng hômnay ghi lại lời tuyên bố quan trọng của Chúa Giêsu về việc Người tự xưng: PS4-C73

Bài Tin Mừng hômnay ghi lại lời tuyên bố quan trọng của Chúa Giêsu về việc Người tự xưng đồng bản tính với Thiên Chúa Cha để trả lời cho những người Do Thái đến tranh luận với Người về chính nguồn gốc của Người.
II. SUY NIỆM:
Chúa Giêsu đang ở Giêrusalem trong dịp lễ cung hiến đền thờ. Tại đây xảy ra cuộc tranh luận với người Do Thái về vấn đề người có phải là Đấng Thiên Sai không và cuối cùng Người đã tự xưng mình là Con Thiên Chúa (Lc 22,70) bằng cách tuyên bố rằng Cha Người ở trong Người và Người ở trong Cha trong sự hiệp thông trọn vẹn đời sống và việc làm (Lc 10,22-41).
Bài Tin Mừng hôm nay là một phần trích trong cuộc tranh luận và ghi lại lời Chúa Giêsu quả quyết Người đồng bản tính với Chúa Cha.
1. “Chúa Giêsu nói rằng: chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”
Trước khi trả lời dứt khoát, Người đồng bản tính với Chúa Cha, Chúa Giêsu tuyên bố sự khác biệt nhau giữa người Do Thái và “Chiên của Người”, tức là những kẻ tin theo Người. Đối với những người Do Thái, những lời Người nói và những việc Người làm là các phép lạ, không đủ thuyết phục họ, vì xét cho cùng họ có dã tâm và không muốn tin. Ngược lại, chiên của Người là những người biết ngoan ngoãn đón nhận. Vì họ không cần đến nhiều dấu lạ bên ngoài để làm điều kiện cho việc đi theo Người.
Động từ “nghe” ở đây bao hàm ý nghĩa tin tưởng và đón nhận. Nghe Chúa Giêsu là tin tưởng và đón nhận Ngài.
2. “Tôi biết chúng và chúng theo Tôi”:
a) Tiếng “biết” ở đây bao hàm ý nghĩa chủ động, tức là do sáng kiến từ Thiên Chúa.
• Thiên Chúa biết Abraham (St 18,19) biểu lộ ý nghĩa Thiên Chúa tuyển chọn và chăm sóc Abraham.
• Thiên Chúa biết dân Người “Trong các dân tộc trên hoàn cầu Ta chỉ biết duy một mình có ngươi thôi” (Am 3,2). Ở đây có ý nói Chúa Giêsu tuyển chọn và chăm sóc các chiên của Người.
b) Chúng theo Tôi: Tiếng “theo” ở đây bao hàm ý nghĩa liên đới trong sự lệ thuộc. Theo ai là dõi theo bước chân người đó là bước theo sát bước chân người đó. Ở đây có ý nói các chiên dõi theo Chúa Giêsu để rập theo khuôn mẫu sống của Người. Hay nói cách khác theo Chúa là đáp trả lời mời gọi của Chúa.
3. “Ta cho chúng được sống đời đời…”:
Con chiên đi theo chủ chăn thì sẽ được dẫn đến dẫn đến đồng cỏ xanh tươi bảo đảm cho sự sống. Cũng vậy, những ai thực sự đi theo Chúa, tức là để Chúa dẫn dắt, thì sẽ được bảo đảm đưa đến sự sống đời đời.
Sự sống này, một đàng không thể mất được vì đã được chính Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống bảo đảm, đàng khác cũng không bị ai cướp đi được, vì một khi đã được Chúa chăn dắt thì không còn sợ vấn đề Người không đủ khả năng chăm sóc và bảo vệ cho đàn chiên nữa.
Ở đây muốn nói khi đi theo Chúa Giêsu thì sẽ được Người ban sự sống đời đời và được Người đảm bảo sự sống ấy cách chắc chắn không thể mất được.
4. “Điều mà Chúa Cha ban cho Tôi”
Chúa Cha trao ban cho Chúa Giêsu những con chiên, chúng được coi như là những món quà tặng quý giá nhất. Vì tính cách quý giá như thế nên Chúa Giêsu phải giữ gìn món quà tặng đó như Chúa Cha đã gìn giữ vậy. Ở đây cho chúng ta thấy Chúa Cha và Chúa Con cùng làm việc bảo vệ gìn giữ đàn chiên. Và như vậy Chúa Giêsu liên kết Cha Người vào công trình của Người vì Cha Người là nguồn mạch mọi ơn huệ.
5. “Tôi và Cha Tôi là một”
Lời tuyên bố này có ý nói đến sự hiệp thông thân mật của Chúa Giêsu với Chúa Cha, và đây là một mạc khải quan trọng rõ ràng nhất về thần tính của Chúa Giêsu và mầu nhiệm sâu sa của Thiên Chúa.
Cũng cần lưu ý rằng các Thần học gia từ Tertulien đến Augustinô đã dùng lời tuyên bố này của Chúa Giêsu làm nền tảng cho việc chứng minh Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính nhưng khác ngôi vị, để chống lại lạc thuyết Ariô vốn phủ nhận thần tính của Chúa Giêsu.
III. ÁP DỤNG:
A. Áp dụng theo Tin Mừng:
Giáo Hội muốn dùng bài Tin Mừng này trong mùa Phục sinh để nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu sau khi Phục Sinh, vẫn còn chăm sóc đàn chiên của Người và Giáo Hội, và vì vậy chúng ta phải xác tín vào vai trò hoạt động của Chúa Giêsu trong Giáo Hội và trong từng con chiên là các Kitô hữu.
B. Áp dụng thực hành:
a. Nhìn vào Chúa Giêsu:
1. Xem việc người làm:
- Chúa Giêsu đã lấy hình ảnh con chiên để ví người Kitô hữu và mục tử là chính Người để dạy cho chúng ta về sự chăm sóc của Người đối với mỗi người chúng ta. Noi gương Chúa Giêsu chúng ta phải chăm sóc nhau, nhất là những người có trách nhiệm liên đới tới tha nhân như người mục tử chăm sóc đàn chiên và lưu tâm từng con chiên.
- Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta về thiên tính của Người, để dạy cho chúng ta biết những công việc của Người làm là công việc của Thiên Chúa. Noi gương Chúa Giêsu chúng ta phải biểu lộ ý hướng ngay lành trong công việc chúng ta làm để gây nên niềm tin tưởng cho tha nhân.
2. Nghe lời Chúa nói:
- Chiên Tôi nghe tiếng Tôi: là con chiên đích thực của Chúa thì phải biết nghe Chúa bằng cách tin và đón nhận lời Chúa vào cuộc sống của mình.
- “Tôi biết chúng…”: Chúa chăm sóc những ai sống theo Người. Những ai biết chăm chỉ dõi theo Chúa bằng sự suy niệm, cầu nguyện để sống mỗi ngày một hoàn thiện “như Cha của các con ở trên trời là Đấng hoàn thiện” thì sẽ được bảo đảm sự sống đời đời.
- “Không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi”: Nhờ ân sủng của Chúa, chúng ta sẽ vượt thắng được mọi gian nan thử thách và không việc gì có thể tách rời ta ra khỏi Chúa được.
- “Cha Tôi và Tôi là một”: Chúa Giêsu mạc khải cho ta về sự hiệp thông của Chúa Cha và Chúa Con. Vì vậy ai hiệp thông với Chúa Giêsu qua các Bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể thì cũng được hiệp thông với Thiên Chúa. Thật là diễm phúc cho những ai biết ý thức sự hiệp thông với Thiên Chúa mỗi khi nhận lãnh Bí tích, nhất là khi rước lễ.

 

PS4-C74: CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH

(C