Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-C Bài 1-50 Ai yêu Thầy sẽ giữlời

Thứ ba - 21/05/2019 09:52
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-C Bài 1-50 Ai yêu Thầy sẽ giữ lời Thầy
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-C Bài 1-50 Ai yêu Thầy sẽ giữ lời Thầy
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6 PS-C Bài 1-50 Ai yêu Thầy sẽ giữ lời Thầy
PS6-C1. ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG - Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm.. 2
PS6-C2. THÁNH THẦN SẼ NHẮC NHỞ CÁC CON MỌI ĐIỀU.. 3
PS6-C3. PHÚC KẺ GIỮ LUẬT CHÚA - Lm. Minh Vận. 5
PS6-C4. THẦY BAN BÌNH AN CỦA THẦY CHO CÁC CON.. 8
PS6-C5. Đến Và Ở Lại 10
PS6-C6. kẻ có lòng thanh sạch - Nhóm Đồng Hành. 11
PS6-C7. HỒNG ÂN BÌNH AN – Lm. Minh Vận. 12
PS6-C8. BÌNH AN THẬT - B.M. Thiện Mỹ. 16
PS6-C9. TUÂN GIỮ LỜI CHÚA.. 18
PS6-C10. HRK/113- BÌNH AN.. 20
PS6-C11. HRK/334- BÌNH AN.. 21
PS6-C12. CSTM/125- LO ÂU.. 23
PS6-C13. NTGT/144- BÌNH AN.. 25
PS6-C14. SCĐ/306- BÌNH AN.. 27
PS6-C15. SCĐ/307- VẮNG MẶT.. 28
PS6-C16. Giáo lý về Chúa Ba Ngôi - Lm. Trọng Hương. 30
PS6-C17. Chìa khóa đổi đời- Lm. Barthôlômêô Ân Sử. 33
PS6-C18. Frédéric Ozanam - Lm. Augustine. 35
PS6-C19. Kitô hữu tự bên trong- Lm. Giuse Nguyễn trung Điểm.. 39
PS6-C20. Bình An từ trời- Lm. Pet. Hà ngọc Đoài 40
PS6-C21. Thầy ra đi, nhưng Thầy vẫn ở lại- Lm. Nguyễn hưng Lợi 41
PS6-C22. BÌNH AN TỪ TRỜI  - Lm Peter Hà Ngọc Đoài 43
PS6-C23. THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN VÀ BAN AN BÌNH.. 43
PS6-C24. NHỮNG DẤU HIỆU.. 47
PS6-C25. SỢ HÃI - NMS/78. 49
PS6-C26. BÌNH AN - CS/96. 51
PS6-C27. HÒA BÌNH 1 - MNMTV/273. 52
PS6-C28. HÒA BÌNH 2 - MNMTV/255. 53
PS6-C29. XA MẶT, KHÔNG CÁCH LÒNG  - VIKINI 55
PS6-C30. ĐƯỜNG LỐI CHÚA KHÁC ĐƯỜNG LỐI TA.. 57
PS6-C31. THẦY ĐỂ LẠI BÌNH AN CHO ANH EM - ASTY.. 58
PS6-C32. Hãy tuân giữ lời Thầy. 60
PS6-C33. Thầy để lại bình an cho anh em.. 67
PS6-C34. Dấu chỉ tình yêu. 69
PS6-C35. Chứng tá của cộng đoàn các Kitô hữu thế kỷ đầu. 72
PS6-C36. Bình an mà Chúa ban thì nhân loại không ban nổi 76
PS6-C37. Đấng bảo trợ là Thánh Thần. 77
PS6-C38. Thực thi ý định của Chúa Cha. 80
PS6-C39. YÊU THƯƠNG MÀ CHẲNG NÓI RA! - Mark Link S.J. 81
PS6-C40. TÌNH YÊU VÀ GIỚI HẠN - Gm. Arthur Tonne. 83
PS6-C41. Bình an là kết quả của tình yêu. 85
PS6-C42. Âm thanh. 89
PS6-C43. Diễn từ giả biệt 90
PS6-C44. THẦY BAN CHO ANH EM SỰ BÌNH AN CỦA THẦY.. 92
PS6-C45. SỰ HIỆN DIỆN LIÊN TỤC CỦA CHÚA GIÊSU.. 95
PS6-C46. Chơi trò hoà bình. 100
PS6-C47. BỊ THIÊU ĐỐT VÌ TÌNH YÊU.. 102
PS6-C48. CHUNG SỐNG VỚI THIÊN CHÚA.. 103
PS6-C49. VINH QUANG CỦA CHÚNG TA.. 105
PS6-C50. BÌNH AN CỦA ĐẤNG PHỤC SINH. 107

 

PS6-C1. ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG - Lm. Jos. Phạm Thanh Liêm  

Chúng ta đang ở Chúa Nhật thứ sáu phục sinh, thứ năm tới là lễ Chúa Thăng Thiên nếu nơi đó: PS6-C1

Chúng ta đang ở Chúa Nhật thứ sáu phục sinh, thứ năm tới là lễ Chúa Thăng Thiên nếu nơi đó không dời vào Chúa Nhật tới, và Chúa Nhật tới nữa là lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Ai yêu Ta thì giữ Lời Ta
Theo Tin Mừng, Đức Yêsu nói với các tông đồ rằng: “Ai yêu mến Ta thì giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu mến người đó, và chúng ta sẽ đến và ở với người đó”.
Yêu mến ai, thì vâng lời người đó, làm theo điều người đó muốn. Không vâng lời ai, là không yêu người đó, ít nhất là không yêu đến độ bỏ ý riêng mà vâng lời. Thánh Y-nhã nói: “tình yêu hệ tại ở việc làm hơn tại lời nói”. Chúa Yêsu đã nói: “không phải những người nói ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Thiên Chúa” (Mt.7, 21).
Ai vâng nghe Lời Chúa, được Thiên Chúa ở cùng, và người đó trở thành dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện cho người khác nữa.
Thánh Thần sẽ dạy các con mọi sự
Đấng Bầu Chữa, Thánh Thần được Thiên Chúa Cha gởi tới nhân danh Chúa Yêsu, sẽ dạy các tông đồ mọi sự, và sẽ nhắc nhớ các tông đồ những gì Đức Yêsu đã nói với các ngài.
Chính trong Thánh Thần và nhờ Thánh Thần, Đức Yêsu ban bình an của Ngài cho chúng ta. Bình an Chúa Yêsu ban cho chúng ta, không ai có thể cướp được, ngay cả những người quyền thế có thể giết người, cũng không thể cướp được bình an ấy. Bình an Chúa ban, là hậu quả của xác tín được Chúa thương yêu vô cùng. Người có ơn bình an Chúa ban, cảm nhận Chúa là tất cả đối với mình. Ngài là Đấng không gì có thể đánh đổi được, Ngài là “mối lợi tuyệt vời” mà người được ơn nhận ra.
Chúa Thánh Thần luôn ở với chúng ta. Ngài dạy chúng ta mọi sự, Ngài giúp chúng ta làm những gì làm đẹp lòng Thiên Chúa. Thánh Thần giúp chúng ta tự do với tất cả. Trong bài đọc thứ nhất, một số ki-tô hữu gốc Do Thái đòi các ki-tô hữu gốc dân ngoại phải cắt bì, vì họ cho rằng có như vậy, các tín hữu dân ngoại mới được cứu độ. Để bảo vệ và làm sáng tỏ Tin Mừng, Phao-lô vàBarnabas đã quyết làm sáng tỏ vấn đề: ki-tô hữu được cứu độ không do cắt bì nhưng do tin vào Đức Yêsu. Và “quyết định dưới tác động Thánh Thần” của các tông đồ đồ, là các ki-tô hữu không phải cắt bì. Thánh Thần giúp chúng ta sống trong bình an và tình yêu, chứ không sống trong sợ hãi hay nô lệ. Thánh Thần Thiên Chúa, làm chúng ta tự do đích thực.
Ánh sáng soi thành là Con Chiên
Để có thể nhìn thấy vật gì đó, vật đó cần ánh sáng chiếu rọi và hình ảnh được phản chiếu vào mắt, nhờ vậy người ta có thể nhìn được. Con Chiên là đèn soi thành, Đức Yêsu là ánh sáng, là tiêu chuẩn giúp người ta nhận định được đâu là điều hay để làm và điều xấu để tránh.
Thế gian có tiêu chuẩn riêng của nó, và những người theo thế gian sống theo tiêu chuẩn thế gian: tiền bạc, danh vọng, địa vị. Hậu quả của việc đi tìm tiền bạc, danh vọng, không là hạnh phúc đích thực. Tiền bạc, danh vọng, khoái lạc, có “xiềng xích” riêng của nó, nó có thể trói buộc con người và biến con người thành nô lệ.
Ước gì mỗi người nhận ra Đức Yêsu là “đường, sự thật và sự sống”, và để Chúa trở thành tiêu chuẩn và ánh sáng cho từng người, để chúng ta được tự do đích thực.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Theo Chúa, bạn được giải phóng khỏi nô lệ điều gì?
2. Bạn có kinh nghiệm Thiên Chúa gần gũi với bạn không? Xin bạn chia sẻ.
3. Ai yêu mến Ta thì giữ lời Ta! Điều nào Chúa dạy khó nhất đối với bạn? Tại sao?


 

PS6-C2. THÁNH THẦN SẼ NHẮC NHỞ CÁC CON MỌI ĐIỀU

THẦY ĐÃ NÓI VỚI CÁC CON - Lm. Thu Băng
 

Lời Chúa hôm nay được trích trong Tin Mừng Thánh Gioan trong bữa tiệc ly sau khi Juda phản: PS6-C2

Lời Chúa hôm nay được trích trong Tin Mừng Thánh Gioan trong bữa tiệc ly sau khi Juda phản bội ra đi nộp Ngài. Chúa Giêsu thoải mái nhắn nhủ các môn đệ thâm tín (Jn 14:23-29).
- Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người đó và chúng ta sẽ đến và ở trong họ;
- Ai yêu mến Thầy thì giữ lời Thầy và Đấng Bảo Trợ sẽ đến và ban bình an cho họ.
Có câu chuyện kể rằng: Một thanh niên chân thành muốn đi tìm thầy để học đạo. Anh từ giã cha mẹ để lên đường. Cha mẹ khuyên anh ở nhà để học theo gương cha mẹ cho đắc đạo. Nhưng anh không muốn những đạo lý thông thường cha mẹ dạy mà muốn học hỏi cao siêu hơn. Trên đường đi anh gặp một đạo tặc đầy uy tín, ra lệnh một lời là người ta phăm phắp nghe theo. Nhưng một hôm đi hành nghề, vị đạo tặc lại chạy trốn một toán quân của nhà vua đang tầm nã, khiến anh đâm ra nghi ngờ vị đạo tặc này cũng không có uy thế bằng quân lính nhà vua. Anh liền bỏ vị đạo tặc và đi theo xin phò nhà vua.
Cũng chẳng được bao lâu, nhân dịp nhà vua mở một lễ tế tôn phục thượng đế nhân vụ mùa màng Thượng đế cho tốt đẹp. Anh nghĩ đức vua cũng còn thua vị Thượng Đế này nên anh xin phép được đi suy phục Thượng Đế. Đi một hồi, anh đến đồi Thánh Giá, thấy Chúa Giêsu treo trên đó. Ngài phán: "Ai yêu mến Ta thì giữ lời Ta. Cha Ta và Ta sẽ yêu mến và chúng ta sẽ ở trong người ấy và tâm hồn họ sẽ được bình an thư thái"..
Anh suy phục Chúa và xin làm môn đệ. Chúa truyền cho anh trở về làng và gặp bất cứ ai đi chân đất, tay cầm tràng hạt và sống công chính, giữ luật và an vui với cuộc sống thì hãy theo người đó mà học đạo.
Anh trở về, trên đường anh để ý quan sát có người nào giống như vậy không để bái phục, nhưng chẳng thấy. Gần tới nhà thì trời đã xẩm tối, anh đành phải về xin trọ đêm. Vừa gõ cửa nhà cha mẹ, ông bà đang đọc kinh tối, nghe tiếng gõ cửa, bà liền chạy ra không kịp đi dép, tay cầm cỗ tràng hạt đọc kinh với dáng vẻ bình an thư thái. Anh liền hiểu ra lời Chúa dạy trên Thánh Giá. Cha mẹ đạo hạnh giữ lời khuyên của Chúa, yêu mến Chúa hết lòng, thi hành đức bác ái yêu thương.... Anh suy phục cha mẹ học đạo làm người theo gương Chúa dạy.
Tuân giữ lời Chúa bằng việc giữ lời khuyên dạy của cha xứ, vị đại diện Thiên Chúa.
Tuân giữ lời Chúa bằng việc chu toàn bổn phận thờ phượng Chúa mỗi ngày Chúa Nhật.
Tuân giữ lời Chúa bằng việc giữ bổn phận thờ Chúa trong gia đình.
Tuân giữ lời Chúa bằng việc nghe lời giáo huấn của Giáo Hội.
Tuân giữ lời Chúa bằng giữ đức công bằng và xa tránh các tội lỗi, đam mê, ham ước cách bất công.
Tuân giữ lời Chúa bằng việc sống đạo hạnh, nhân từ thương yêu đồng loại...
Được như vậy Chúa Ba Ngôi sẽ ngự trị trong gia đình, trong tâm hồn, ơn Chúa sẽ đổ tràn cho chúng ta. Chúng ta sẽ được bình an, được thảnh thơi thư thái, được sống trong ơn Chúa soi động mỗi ngày, mỗi việc, được sống hạnh phúc và an hòa.
Gia đình yêu mến Chúa thì giữ lời Chúa, chu toàn giới luật của Chúa, siên năng cầu kinh thì gia đình sẽ được bình an.

 

PS6-C3. PHÚC KẺ GIỮ LUẬT CHÚA - Lm. Minh Vận

Một ngày kia, bà vợ quan Phutipha vì say mê cậu Giuse là tôi tớ trong nhà, tìm mọi cách cám: PS6-C3

Một ngày kia, bà vợ quan Phutipha vì say mê cậu Giuse là tôi tớ trong nhà, tìm mọi cách cám dỗ cậu phạm tội với bà, Giuse cự lại và nói với bà: "Có lý nào tôi đang tâm làm truyện đồi bại và lỗi phạm đến Thiên Chúa của tôi sao?" (Gn 39:9) Chính vì không chấp nhận điều bất xứng đó, mà Giuse đã bị vu khống là dụ dỗ bà phạm tội, nên cậu đã bị quan Phutipha chồng bà tống ngục, nhưng Chúa hằng phù trợ, khiến Giuse được ơn trước mặt quan giám ngục.
Cũng một mẩu truyện tương tự: Một phụ nữ trắc nết kia dụ dỗ một Tu Sĩ phạm tội với cô, Thầy đã dùng lời khôn ngoan để thức tỉnh lương tâm khi nói với cô: "Chúng ta hãy ra chợ". Cô ta đã bẽ mặt rút lui vì sợ con mắt người đời. Vậy chúng ta càng phải sợ hơn biết bao trước nhan Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, khi tưởng nhớ Ngài hằng hiện diện khắp mọi nơi, cả những nơi kín nhiệm nhất trong tâm hồn con người.
I. GIỚI LUẬT CÔNG BẰNG
Đọc Cựu Ước, chúng ta thấy Do Thái là một dân tộc kiêu hùng, vì họ luôn tự hãnh diện là một Dân Riêng Chúa tuyển chọn và được Chúa yêu thương cách đặc biệt. Do đó, có thể nói họ là một dân tộc cứng đầu cứng cổ. Mặc dầu Chúa vẫn tỏ ra là một Thiên Chúa đầy khoan dung và hay tha thứ; nhưng nhiều lần Ngài cũng đã phải minh chứng Ngài là một Thiên Chúa đầy uy quyền và công thẳng, trừng phạt cân xứng vì tội bất tuân, bỏ Ngài để tôn thờ ngẫu tượng tà thần của dân ngoại. Chẳng hạn truyện tổ phụ Maisen lên núi cầu nguyện và được Chúa trao cho bia đá khắc 10 giới luật của Chúa; khi trở lại với dân, thấy họ đang thờ cúng tượng bò vàng mà họ đã yêu cầu ông Aaron đúc cho họ, nên đã bị Chúa nổi cơn thịnh nộ trừng phạt họ; vì, Do Thái đã hiểu sai tinh thần luật Chúa, họ giữ luật do óc nô lệ sợ hãi, chứ không do lòng kính mến tuân giữ luật để làm hài lòng Ngài.
II. GIỚI LUẬT TÌNH THƯƠNG
Chúa Kitô đến trần gian, Ngài khai mào một kỷ nguyên Tình Thương, đồng hóa lề luật với lòng thương xót, như trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã phán dạy: "Ai yêu mến Thầy, sẽ tuân giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". Trái lại: "Kẻ không yêu mến Thầy, thì cũng không tuân giữ lời Thầy truyền dạy" (Jn 14:23-24). Những ai tuân giữ lời Chúa, không những được Chúa Cha yêu thương, mà còn được Chúa Ba Ngôi đến lập cư trong linh hồn, biến người đó trở nên Đền Thờ sống động Chúa hiển ngự, nên Thiên Đàng Chúa ưa thích. Đó là vinh hạnh của chúng ta, một thụ tạo hèn mạt mà được Thiên Chúa, Đấng cao cả vô cùng hạ cố tới và còn lấy làm vui sướng hạnh phúc ngự trong tâm hồn chúng ta.
Để tỏ cho chúng ta thấy giáo lý của Chúa là Bác Ái, lề luật của Chúa là Tình Thương, nên nơi khác trong Tin Mừng, Chúa đã kêu gọi: "Các con hãy mang lấy ách của Cha, hãy học cùng Cha, vì Cha nhân từ và khiêm nhường trong lòng" (Mt.11:30). Chúa còn thêm: "Ách của Cha thì êm ái, gánh của Cha thì nhẹ nhàng" (Mt 11:30). Luật của Chúa sẽ trở nên ách êm ái và gánh nhẹ nhàng cho những ai yêu mến Chúa. Nhưng nếu thực sự khi nào chúng ta cảm thấy luật Chúa nặng nề, thì chính Chúa lại kêu gọi: "Nếu chúng con là những kẻ mệt nhọc vì gánh vác nặng nề, hãy đến, Cha sẽ nâng đỡ và bổ sức cho các con". Ban lề luật cho chúng ta, không phải là Chúa bắt chúng ta phải chịu khổ cực, nhưng là vì muốn cho chúng ta được hạnh phúc. Luật lệ xã hội cũng chứng minh điều đó.
III. PHÚC CHO AI GIỮ LUẬT CHÚA
Nói đến lề luật, tự nhiên ai cũng cảm thấy là khó khăn, gò bó, khắt khe, là trừng phạt, là công bình; nhưng trái lại, những ai ý thức được giá trị đích thực của lề luật, thì phải chân nhận lề luật đáng yêu đáng qúi, vì lề luật đưa con người đến hạnh phúc. Chính vì thế mà Chúa đã ban lề luật cho chúng ta, để chúng ta được hạnh phúc. Chúa đã cầu phúc: "Phúc cho những ai suy ngắm và tuân giữ luật Chúa đêm ngày".
Vinh dự và hạnh phúc của chúng ta được ngay ở đời này, là được chính Chúa Ba Ngôi yêu thương và ẩn ngự trong linh hồn, nếu chúng ta tuân giữ luật Chúa, có ơn nghĩa với Người. Được hưởng sự bình an hạnh phúc, thứ bình an hạnh phúc đích thực mà người tội lỗi không bao giờ được nếm hưởng, dầu họ có quyền uy thế lực, nhiều tiền lắm của tới đâu, họ cũng không bao giờ được hưởng. Chính Chúa đã quả quyết: "Thầy ban sự bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thứ bình an Thầy ban không phải là thứ bình an của thế gian ban tặng. Lòng các con đừng xao xuyến và sợ hãi".
Chúa còn phán: "Những điều Thầy nói với các con bây giờ khi Thầy còn ở với các con; nhưng khi Đấng Phù Trợ là Thánh Thần sẽ được Cha nhân danh Thầy sai đến với các con, Ngài sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con". Nếu chúng ta yêu mến và tuân giữ luật Chúa, có ơn nghĩa với Người, chắc chắn chúng ta sẽ luôn được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, nhắc nhở, soi sáng qua tiếng lương tâm chân chính, để chúng ta biết làm điều thiện tránh điều ác. Chúa luôn soi sáng trí khôn, kích thích lòng muốn, tăng cường ý chí và lòng can đảm thực hiện điều Chúa muốn, để có nghị lực làm điều thiện tránh điều ác, đồng thời được Chúa cho hưởng nếm nguồn an bình hạnh phúc. Nhờ đó, chúng ta biết tuân giữ lề luật của Chúa cách dễ dàng, bằng tất cả tấm lòng yêu mến và tình con ngoan thảo, chỉ muốn làm hài lòng Cha nhân từ của mình.
Kết Luận
Xin Mẹ Maria giúp chúng ta được nếm hưởng nguồn an vui hạnh phúc của con cái Chúa, bằng việc tuân giữ lề luật của Người với lòng yêu mến, luôn làm hài lòng Chúa Ba Ngôi đang hiển ngự trong tâm hồn chúng ta. Đừng bao giờ xua đuổi Chúa ra khỏi tâm hồn chúng ta bằng cách chấp nhận tội lỗi, vong ân bội nghĩa với Chúa. Khi chu toàn được điều đó rồi, chúng ta không còn sợ hãi bất cứ điều gì và rồi có thể quả quyết được như Thánh Tông Đồ Phaolô: "Ai có thể làm tôi xa lià được tình yêu Chúa Kitô?" Thánh Nhân lại tự trả lời: "Không ai, không thụ tạo nào có thể làm tôi xa lià được tình yêu Chúa Kitô".

 

PS6-C4. THẦY BAN BÌNH AN CỦA THẦY CHO CÁC CON

 Sr. Eileen Thu Phượng
 

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại lời từ biệt của Đức Kitô trong bữa tiệc cuối cùng. Suốt 3 năm: PS6-C4

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại lời từ biệt của Đức Kitô trong bữa tiệc cuối cùng. Suốt 3 năm trời Thầy trò sát cánh bên nhau trong sứ mệnh được ủy thác, nhưng có một số điều vẫn được dành riêng cho những giây phút cuối cùng để nói lên sự nghiêm trọng của nó. Giờ đây, Chúa Giê-su không còn bôn ba, bận rộn trong việc giảng dậy, chữa bệnh và làm phép lạ nữa, mà Thầy trò bên nhau cùng sống những giờ còn lại. Khi người ta hấp hối, mỗi giây phút sống với người thân là những thời giờ quí báu, và những điều quan trọng nhất thường được dặn dò vào giờ phút cuối cùng này.
Thường tình, khi nghĩ đến mình sắp nhắm mắt lià đời, những người có nghề nghiệp lo truyền nghề lại cho con cháu; người có toa thuốc qúy trối lại cho hậu thế; gia tài sản nhiệp thì sang tên; những người lắm tiền nhiều của thường để lại một gia tài kếch xù cho con cái hưởng dùng; hoặc rộng lòng hơn, họ dâng cúng vào các hội từ thiện. Những người không sẵn tiền, thì cố gom góp hàng tháng để đóng bảo hiểm nhân thọ, hy vọng sau khi qúa cố, người thân có bạc triệu tiêu dùng thoải mái. Con người qúy vàng trọng của, nên họ cho của cải bạc tiền là món qùa qúy nhất trên đời để lại cho người thân, cho dù cả đời họ phải nai lưng tìm kiếm, bòn góp, phải cầy hai "jobs", phải cặm cụi sáng tối quên cả sống cuộc sống độc nhất họ có để thu tích.
Là Thiên Chúa thật và là Người thật, hẳn Chúa Giê-su cũng quan tâm đến điều di chúc trước khi từ gĩa các môn đệ yêu dấu để về cùng Chúa Cha. Là chủ trái đất, Ngài không nghĩ đến bạc vàng vì biết nó tạm bợ, không để lại bài thuốc thần vì nó cũng chỉ phục vụ sự sống mau qua, không để lại gia tài vì cũng chỉ giúp cho vài ba người. Báu vật Người để lại cho các môn đệ yêu dấu là Thánh Thần Chân Lý và sự Bình An. Thần Chân Lý sẽ nhắc nhở cho các môn đệ tất cả những gì Chúa Giê-su đã nói trong suốt ba năm giảng dậy. Còn sự Bình An là chính Ngôi Hai thì Thiên Chúa đã trao tặng con người trong đêm Giáng Sinh "Bình an dưới thế cho người thiện tâm", nhưng con người vẫn không lưu tâm đến, và chưa lãnh nhận được, ngay cả đến hôm nay sau đã hơn hai thiên niên kỷ. Chúa Giêsu chính là Chúa sự Bình An, Ngài luôn sống trong sự Bình An của Thiên Chúa Cha và nay Ngài tặng Bình An lại cho các môn đệ yêu quí của Ngài khi trở về cùng Cha. "Thầy để lại Bình An cho các con. Thầy ban Bình An của Thầy cho các con, không giống như thế gian ban tặng."
Chúng ta nhìn lại cuộc đời cuả Đức Kitô để hiểu sự Bình An quan trọng như thế nào: Nằm trong hang bò lừa, thiếu thốn đủ điều, Chúa Bình An. Khi Đức Mẹ và Thánh Giu-se lo lắng tìm con trong đền thờ, Chúa vẫn Bình An. Khi bị cám dỗ trong sa mạc, Chúa vẫn Bình An. Khi bị dân chúng quấy rầy giờ nghỉ ngơi, Chúa vẫn Bình An. Khi phải vất vả rao giảng Tin Mừng, Chúa Bình An. Khi các môn đệ hốt hoảng vì bão biển, Chúa vẫn giữ được Bình An. Khi bị người khác ghen ghét, chống đối Chúa vẫn Bình An. Khi bị luận án, Chúa vẫn Bình An. Khi vác thánh gía giữa những người chế nhạo, chúa vẫn Bình An. Khi bị bỏ rơi trên Thánh giá Chúa vẫn Bình An vì Ngài biết Cha luôn ở với Ngài bởi Ngài luôn tìm ý Cha, và Ngài luôn cầu nguyện với Chúa Cha.
Trong cuộc sống ngày nay, những nghịch cảnh bên ngoài thường đe doạ sự Bình An của chúng ta như: chiến tranh, thiên tai, khủng bố, tai nạn, chết chóc... Rồi những lo toan, bận rộn của cuộc sống làm chúng ta dễ đánh mất sự Bình An nội tâm. Chúng ta cảm thấy khó giữ sự Bình An nếu không có ơn Chúa giúp. Những hoàn cảnh bên trong nội tâm hoặc gia đình như: khi đối diện với thử thách, việc làm không ổn, con cái chểnh mảng việc học, gia nhập băng đảng, bệnh tật nan y; khi gặp cám dỗ thử thách trong đời sống gia đình; khi sống trong xã hội mà việc ly dị trở nên luật tự nhiên... Những lúc đó hỏi thử chúng ta còn giữ được sự Bình An không? Còn Đức tin và còn lòng cậy trông vững vàng? Lời chúc Bình an của Chúa trở nên cấp bách vì chỉ có sự Bình An giúp chúng ta tìm lại nguồn hi vọng, sự kiên nhẫn và lòng phó thác.
Vậy Bình an của Chúa khác với bình an của thế gian như thế nào? Đó là sự Bình An của một tâm hồn trong sạch, Bình An của sự phó thác, Bình An của sự kiên nhẫn chấp nhận mọi nghịch cảnh, mọi đau thương, mọi cám dỗ với niềm tin tưởng phó thác vào quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa. Phải, chính Ngài là Vua Bình An. Khi nào bạn cảm nghiệm sự bình an, thì bạn cảm nghiệm chính Thiên Chúa. Vì chính Chúa ước mong để sự Bình An của Ngài cho bạn. Vậy chúng ta không những năng cầu xin Chúa ban sự Bình An của Ngài cho tâm hồn chúng ta, cho người thân, cho giáo xứ, cho đất nước cũng như cho thế giới; mà xin chính Chúa Giê-su cùng đồng hành với ta trong mọi hoàn cảnh. Cho dù cuộc đời có đảo điên, điên đảo đến đâu đi nữa, nếu tâm hồn chúng ta gần gũi với Chúa, cắm sâu chôn chặt trong Ngài, sự Bình An Ngài để lại sẽ chan hòa tràn ngập vào lòng ta, môi trường ta sống, và làm cho chúng ta thành sứ giả hoà bình. Chúa ở đâu thì sự Bình An sẽ ngự trị ở đó và tâm hồn cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa sẽ được tràn đầy Bình an. Đồng hành với Ngài, cuộc lữ hành đầy cam go và gây cấn trần thế trở thành một hành trình Bình An, đầy hy vọng và chan chưá niềm vui. Nguyện xin ân sủng của Đức Kitô Phục Sinh và sự Bình An của Ngài ở với bạn.

 

PS6-C5. Đến Và Ở Lại

Suy Niệm
 

Khi được hỏi Đức Kitô hiện diện ở đâu, chúng ta thường nghĩ ngay tới nhà thờ, nhà Tạm. Tiếc: PS6-C5

Khi được hỏi Đức Kitô hiện diện ở đâu, chúng ta thường nghĩ ngay tới nhà thờ, nhà Tạm. Tiếc thay lắm khi chúng ta dừng lại ở đó. Chúng ta ít nghĩ đến một lối hiện diện khác của Ngài. Không phải chỉ là ở với, ở bên, ở trước mặt, mà còn là ở trong con người yếu đuối của ta. Chúng ta ít nghĩ, vì chúng ta không dám tin vào hồng ân quá đỗi lớn lao đó.
Chính vào lúc sắp chia tay các môn đệ để về với Cha, Đức Giêsu đã long trọng loan báo chuyện Ngài ở lại: "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy,Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Chúng ta sẽ đến với người ấy và sẽ làm nhà nơi người ấy" (Ga 14,23).
Đại từ Chúng Ta ở đây để chỉ Chúa Cha và Chúa Con, mà ở đâu có Chúa Cha, Chúa Con thì cũng có Thánh Thần.
Vì yêu Đức Kitô, tôi được đón nhận thế giới Ba Ngôi. Vì yêu tôi, Ba Ngôi muốn đến thăm tôi và cư ngụ tại đó. Trong tình yêu hai chiều này, thiên đàng chớm nở. Thiên đàng thật gần, ngay trong lòng tôi. Thiên đàng ấm áp ở nơi nghèo hèn, bé nhỏ, nơi tâm hồn biết yêu Đức Kitô và tuân giữ lời Ngài.
Đôi khi tôi cần tự hỏi Thiên Chúa có ở trong tôi không. Tôi có cảm nghiệm được chút nào sự hiện diện đó chăng? Có bao giờ tôi thờ lạy sự hiện diện đó của Ngài không?
Kitô hữu không chỉ là bạn hữu của Đức Kitô, mà còn là người có Đức Kitô nơi chính mình. Họ là những cung thánh, những nhà thờ lưu động. Họ không chỉ chứa đựng Đức Kitô như một Nhà Tạm, họ còn nên một với Ngài trong tình yêu.
Các bí tích chúng ta lãnh nhận đều nhằm mục đích làm cho tình yêu giữa ta với Đức Kitô được lớn lên.
Trước khi tôi rước lễ, Đức Kitô đã ở trong tôi rồi. Sau khi tôi rước lễ, Ngài cũng chẳng bỏ tôi. Nhưng mỗi lần rước lễ, sự hiện diện Ngài lại tăng trưởng. Ngay cả khi không thể đến nhà thờ, tôi vẫn có thể gặp Đức Kitô nơi cung lòng mình. Chỉ cần để lòng mình lắng xuống, là tôi có thể gặp Ngài và bước vào cuộc đối thoại.
"Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy"
Yêu mến Đức Kitô không phải chuyện dễ. Yêu một người ta chưa gặp mặt và sống xa ta 20 thế kỷ.
Giữ lời Đức Kitô chẳng phải chuyện dễ. Lời đòi chúng ta ra khỏi mình và bay lên cao.
Chính Thánh Thần sẽ giúp ta thấy Đức Kitô thật gần để có thể say mê Ngài, thấy Lời Tin Mừng trở nên sống động và bừng sáng để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.
Hội Thánh của chúng ta sẽ là một Hội Thánh vô hồn, nếu chẳng có sự hiện diện của Chúa nơi lòng các tín hữu.
Gợi Ý Chia Sẻ
Trong thánh lễ, linh mục chúc bình an cho giáo dân và mời họ chúc bình an cho nhau. Bạn thấy mình có bình an hơn nhờ tham dự thánh lễ không? Theo bạn, thế nào là người có tâm hồn bình an?
Bạn có quen ai mà bạn tin là có Chúa ở trong người ấy không? Dựa vào đâu mà bạn tin như vậy?
Cầu Nguyện
Ngài đã xuống tận đáy lòng con, xin cho con chỉ tập trung vào tận đáy lòng con.
Ngài là thượng khách của lòng con, xin cho con bước vào nhà là chính đáy lòng con.
Ngài chọn cư ngụ trong lòng con, xin cho con biết ngồi yên ngay tại đáy lòng con.
Duy Ngài ở lại trong con, xin cho con biết chìm sâu xuống tận đáy lòng con.
Duy Ngài hiện diện trong lòng con, xin cho con biết xóa mình khi Ngài ở bên con.
Khi con đã gặp Ngài, không còn con và Ngài nữa.
Con chẳng là gì cả, và Ngài là tất cả.

 

PS6-C6. kẻ có lòng thanh sạch - Nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Đoạn Thánh Kinh trên là câu trả lời của Đức Giêsu sau khi một môn đệ hỏi (c. 22): "Thưa Thày: PS6-C6

Đoạn Thánh Kinh trên là câu trả lời của Đức Giêsu sau khi một môn đệ hỏi (c. 22): "Thưa Thày, tại sao Thày chỉ tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ mình cho thế gian?". Người đã trả lời câu này trong Mt 5:8, "Phúc cho những kẻ có lòng thanh sạch, vì họ sẽ được xem thấy Chúa!" Ở đây Đức Giêsu giải thích thêm.
(cc.23-24) Đức Giêsu gọi những người tuân giữ lời Người là môn đệ (người yêu mến Chúa). Những người thuộc về thế gian thì không giữ lời Chúa và không yêu mến Người. Và Đức Giêsu nói đến phần thưởng cho những người trong chúng ta đang tuân giữ lời Chúa:
1. (c.23) Ngôi Cha và Ngôi Con sẽ ở với chúng ta; đền thờ của Chúa sẽ là chính chúng ta.
2. (c.26) Chúa Thánh Thần sẽ đến với chúng ta. Ý của câu 26 là Chúa Thánh Thần sẽ không dạy những gì ngoài mạc khải trong Chúa Kitô. Có nghĩa là Chúa Thánh Thần giúp chúng ta hiểu về những điều Chúa Giêsu đã nói và đã làm.
3. (c.27) Chúng ta sẽ có bình an, không phải bình an "như thế gian ban", mà là bình an đến từ sự hiện diện của ba Ngôi trong lòng chúng ta.
Một Điểm Chính
Ngôi Cha, Ngôi Con, và Ngôi Thánh Thần sẽ ở cùng chúng ta, dạy dỗ chúng ta, và ban cho chúng ta bình an.
Suy Niệm
Chúa Giêsu nói: "Ai yêu mến Thày, thì tuân giữ lời Thày". Tôi xin cho tình yêu của mình đối với Chúa Giêsu thúc đẩy tôi học hỏi lời Chúa, cho lời Người đâm rễ sâu trong tâm hồn tôi, và để tôi thực hành lời Chúa trong cuộc sống của tôi.
Bình an có thể là không có chiến tranh, không có xung đột. Hay tôi cũng có thể có bình an ngay trong chiến tranh. Bình an nào tôi đang tìm kiếm, và làm sao để tôi có được bình an?

 

PS6-C7. HỒNG ÂN BÌNH AN – Lm. Minh Vận

Sau khi từ cõi chết sống lại, mỗi lần Chúa hiện ra với các Tông Đồ, Chúa đều chào chúc các: PS6-C7

Sau khi từ cõi chết sống lại, mỗi lần Chúa hiện ra với các Tông Đồ, Chúa đều chào chúc các ông: "Bình an cho các con!". Bình an là một hồng ân cao quí nhất Chúa ban tặng cho con cái yêu dấu của Chúa; vì chỉ có sự bình an mới làm cho con người được hạnh phúc, chỉ có sự bình an mới làm cho trần gian nên đáng yêu đáng quí và đáng được Chúa chúc phúc.
Sứ điệp Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nhắc lại lòng khát khao của Chúa: "Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con". Chính vì sự bình an của Chúa cần thiết cho cuộc sống con người, mà hằng ngày trong khi cử hành Thánh Lễ, sau khi Giáo Hội dạy chúng ta hợp nhau dâng lên Chúa là Cha chúng ta lời cầu nguyện: "Lạy Cha chúng con ngự trên trời". Giáo Hội lại muốn chúng ta kêu cầu cùng Chúa Giêsu: "Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã phán với các Tông Đồ rằng: Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban sự bình an của Thầy cho các con. Xin Chúa đừng chấp tội lỗi chúng con, nhưng xin nhìn đến Đức Tin của Hội Thánh Chúa, xin đoái thương ban cho Hội Thánh được bình an và hiệp nhất như ý Chúa muốn".
I. BÌNH AN TRẦN GIAN BAN TẶNG
Vậy, bình an là gì?
Chắc chắn sự bình an của Chúa ban tặng chúng ta, không phải là thứ bình an tạm bợ mau qua theo quan niệm trần gian, vì chính Chúa đã quả quyết: "Thầy ban bình an cho các con, không phải thứ bình an như thế gian ban tặng".
Bình an theo quan niệm trần gian là không có chiến tranh, không hận thù chém giết, không gây nên những cuộc tranh dành đẫm máu, tan cửa nát nhà, phân tán chia ly, tha hương cầu thực, như biết bao người trong anh chị đồng bào chúng ta, đang phải hứng chịu cái hậu quả tàn khốc của chiến tranh hận thù.
Bình an cũng không phải chỉ là được giầu sang phú quí, được thịnh vượng, được văn minh tiến bộ, được quyền hành thanh thế có thể áp đảo điều khiển được những kẻ yếu kém.
Tất cả các điều trên đây tuy là những dữ kiện quí báu để góp phần xây dựng hạnh phúc cho cuộc sống con người trên mặt đất; nhưng chúng vẫn chưa phải là điều kiện chính yếu, để có thể làm cho nhân loại được hưởng sự bình an chân thật, là thứ bình an mà Chúa trao ban cho những con cái yêu dấu của Người.
II. BÌNH AN CHÂN THẬT CỦA CHÚA
Điều kiện để được tận hưởng sự bình an chân thật của Chúa ban tặng, chính là tâm hồn trong sạch, luôn sống trong ơn nghĩa thánh, như những tôi trung con thảo của Người, luôn trông cậy tín thác mọi sự nơi lòng thương yêu quan phòng khôn ngoan của Chúa, luôn hết lòng phụng sự và tận tình yêu mến Ngài, luôn khát khao làm hài lòng Ngài.
Chỉ có tâm hồn khiêm hạ, luôn biết chân nhận thân phận thụ tạo yếu hèn tội lỗi của mình, không những trước tôn nhan Chúa mà còn trước mặt nhân loại; vì thế, không bao giờ họ dám tự kiêu tự đại đưa mình lên trên người khác, không khinh dể ai, nhưng luôn biết tôn trọng mọi người. Không mưu mô xảo trá, không quanh quéo quỉ quyệt, không dối trá tham lam... Không bao giờ họ là nguyên nhân gây nên sự chia rẽ bất thuận, xáo trộn hận thù, làm tổn thương tình bác ái huynh đệ trong gia đình hay trong cộng đồng. Bất cứ ai họ cũng cư xử lịch thiệp như bạn thân, vì không coi ai là kẻ thù của họ; họ sống thân thiện hòa nhã với mọi người. Bởi thế, họ luôn có thêm bạn hữu và giảm bớt kẻ thù nghịch.
Hơn nữa, họ còn sẵn sàng chịu nép vế, chịu thua thiệt, chịu hiểu lầm, để giữ được hòa khí trong anh chị em, mang lại nguồn an vui hạnh phúc cho gia đình, sự an hòa yêu thương cho cộng đồng và niềm hân hoan vui tươi cho xã hội... Do đó, không những tâm hồn họ đáng được tận hưởng sự bình an chân thật Chúa ban, mà còn trở nên sứ giả đem lại an bình cho mọi người.
III. SỨ GIẢ HÒA BÌNH CỦA CHÚA
Là con cái Chúa, là những Tông Đồ tình yêu thương của Chúa, chúng ta phải là những Sứ Giả Hòa Bình. Ngày lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, được diễm phúc trở nên con cái Chúa, Chúa đã ủy thác cho chúng ta sứ mạng đem sự bình an của Chúa đến cho nhân loại. Chính Thánh Phanxicô Khó Khăn đã thấu hiểu sứ mạng cao cả Chúa trao, nên Ngài đã sung sướng dâng lên Chúa lời khẩn nguyện tha thiết, xin Chúa ban cho ngài được trở nên Sứ Giả Hòa Bình của Chúa, để ngài có thể chu toàn được sứ mạng: "Đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm" (Kinh Hòa Bình).
Đây một tấm gương trong sáng, như vị sứ giả hòa bình do Chúa gởi đến: Tại thành phố Tokyo Nhật Bản, có một khu vực thật nghèo nàn, dơ dáy, bẩn thỉu với biết bao tệ đoan thương luân bại lý, khiến ai cũng chán ghét khinh bỉ; không ai muốn nhòm ngó quan tâm đến, ngoại trừ những cảnh sát giữ an ninh, luôn rình rập để thộp cổ những con người phạm pháp, những băng đảng giết người cướp của... Vì thế, nơi đây người ta thường gọi bằng cái tên là "khu ổ chuột" hay "sào huyệt trộm cướp".
Trong lúc mọi người đều khinh bỉ, thì cô Maria, một nữ sinh viên đại học y khoa, lại thường hay lui tới quan sát, thăm hỏi trong những lúc rảnh rỗi của những ngày cuối tuần... Động lòng thương những con người xấu số, cô đã quyết định bỏ học, bỏ cả một tương lai đầy mộng mơ với nhiều hy vọng, để đến đây chung sống với họ trong cảnh nghèo nàn. Cô đã đi gõ cửa từng gia đình, các nhà hảo tâm, các cơ quan từ thiện, xin quần áo, đồ dùng, thuốc men, tiền bạc đem về giúp đỡ họ. Sau một thời gian vắn, cái "khu ổ chuột" và "sào huyệt trộm cưóp" này đã được biến đổi, cảnh nghèo nàn bớt dần, những tội ác không còn nữa, và điều đáng vui mừng hơn cả là nhiều người đã tìm thấy chân lý, tự nguyện xin học giáo lý trở lại Đạo Công Giáo. Mọi người đều cảm phục trước tấm lòng hy sinh bác ái cao cả của cô nữ sinh viên trẻ tuổi, đến nỗi họ đã tôn cô như vị đại ân nhân và như một người mẹ hiền của họ, ai ai cũng mến phục, tôn trọng và nghe lời chỉ giáo của cô. Nhưng mới chỉ một thời gian chưa đầy một năm, vì quá lao tâm lao lực lo cho họ, cô đã lâm trọng bệnh và qua đời cách thánh thiện. Mọi người đều thương tiếc và tôn trọng cô như một vị Thánh, như một sứ giả của Tình Thương Chúa gởi đến trong xã hội hận thù giữa thời đại hôm nay. Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận Tokyo đã đích thân đến chủ tọa Lễ An Táng và ca ngợi công đức của cô, cùng với nhiều vị quan khách trong Giáo Quyền cũng như trong Chính Quyền, và một số đông đảo quần chúng từ khắp nơi tuôn về tham dự, vì đã từng được nghe biết và ngưỡng mộ cô.
Kết Luận
Câu truyện cô nữ sinh viên y khoa trên đây đã là một thách đố cho chúng ta. Một cô gái mới chỉ 27 xuân xanh, đã dám hy sinh cả cuộc đời còn lại của mình, làm một việc anh hùng, để đem an vui hạnh phúc đến cho những con người xấu số trong xã hội nhiều đau khổ và đầy hận thù này.
Còn chúng ta, Chúa không đòi chúng ta phải làm những việc anh hùng vượt quá khả năng, ngoài tầm tay mình; nhưng chúng ta có dám vì yêu mến Chúa, quảng đại hy sinh, nhường nhịn, thông cảm, để làm cho gia đình chúng ta được vui tươi hạnh phúc không?
Chúng ta có dám vì yêu mến Chúa bớt chút thời giờ, sức lực, tiền của, để tìm đến với những người xấu số, đem lại cho họ niềm an ủi hạnh phúc, hầu chinh phục họ về với Chúa không?
Xin Mẹ Maria, Nữ Vương Hòa Bình, giúp chúng ta là con cái yêu dấu của Mẹ, được xứng đáng tận hưởng sự bình an chân thật của Chúa và trở nên sứ giả đem sự bình an của Chúa đến cho mọi người.

 

PS6-C8. BÌNH AN THẬT - B.M. Thiện Mỹ

Có người thợ giày ngày ngày vui vẻ ca hát. Lúc nào trẻ con trong xóm cũng đến ca hát với anh: PS6-C8 chuyện o FB

Có người thợ giày ngày ngày vui vẻ ca hát. Lúc nào trẻ con trong xóm cũng đến ca hát với anh.
Đối diện với anh là một ông nhà giàu, suốt đêm lo đếm tiền, đến sáng mới ngủ nhưng không sao ngủ được vì tiếng hát ồn ào của thợ giày.
Ông mời ông thợ giày sang nhà, tặng anh môt túi đầy tiền vàng. Anh thợ giày mừng quýnh, đem về đếm cả ngày. Thấy đám trẻ đến nhìn, anh sợ chúng biết anh có nhiều tiền nên đuổi chúng đi.
Ban đêm anh sợ mất túi tiền, không dám ngủ rán thức canh giữ. Mòn mỏi quá, anh buộc lòng đem giấu, nhưng vẫn sợ mất, nên chỗi dậy giấu chỗ khác. Thế là anh không còn ca hát vui vẻ gì được nữa, đám trẻ xa lánh, đêm ngày anh càng gầy ốm xanh xao!
Thế là anh không chịu nổi nữa. Anh mang túi vàng trả lại cho ông nhà giàu. Từ đó anh lại vui vẻ thoải mái, ca hát với các trẻ hằng ngày. (Theo Wille Hoffsemmer).
-----------------
Anh thợ giày dính bén tiền của, ham mê quá sinh ra rối lòng, từ đó ảnh hưởng đến tâm sinh lý; ăn không ngon, ngủ không yên, mất cả niềm vui thân thuộc, càng ngày càng suy thoái về tinh thần lẫn thể xác. May thay anh lại biết từ bỏ một đối tượng không lành mạnh để trở về cuộc sống an lành bình thường.
Phải chăng nhờ ảnh hưởng của Tin Mừng mà anh đã biết chỗi dậy không để cho của cải chi phối cuộc sống đến mức tai hại. Chúa đã nói rằng: “ Nếu tay ngươi làm cho ngươi vấp ngã, hãy chặt nó đi… Nếu chân ngươi làm cho ngươi vấp ngã, hãy chặt nó đi…. Nếu mắt ngươi làm cho ngươi vấp ngã, hãy khoét nó đi… (Mc.9,42-48)
Trong cuộc sống còn quá nhiều điều làm chúng ta mất bình an: Tội lỗi sinh ra rối lòng, mất tình yêu với Thiên Chúa, và khi xúc phạm đến tha nhân ta lại lỗi đức ái. Mỗi lần lỗi phạm chúng ta lại phải tái lập sự bình an trong tâm hồn, hoà giải với Thiên Chúa và tha nhân.
Ngoài tội lỗi ra những điều làm chúng ta mất bình an đó là đam mê thái quá. Những ham muốn ở đời này, tự nó là tốt, nếu đi trong lề lối của Thiên Chúa. Nhưng ham mê quá độ, đi vượt quá giới răn Chúa, lại là thảm hoạ cho chính mình, cho tha nhân, cho xã hội. Cũng như anh thợ giày ham mê túi tiền vàng, thì ở đời này còn rất nhiều thứ làm cho người ta hấp dẫn. Chẳng hạn. Chúa ban cho loài người có nam có nữ để nâng đỡ nhau, bổ túc cho nhau và để tạo nên một hương thơm tình yêu tuyệt vời, nhưng khi sự hiện diện của chàng hay nàng chiếm đoạt tâm hồn đến ngày tưởng đêm mơ, nó bắt đầu đi đến phiền toái. Ham quá hoá ra tội lỗi, bệnh tương tư, thủ đoạn chiếm hữu, tệ hại nhất là bất chấp lề luật Chúa, kể cả xung đột, để được theo ý mình. Những chuyện đại loại như thế vẫn thường xảy ra trong cuộc sống thường ngày. Ngay cả trong Kinh Thánh, cũng không thiếu những chuyện giống như thế: Quan Pô-ti-pha mua Giuse từ chợ bầy bán nô lệ đem về nhà, thế mà đã lọt vào đôi mắt long lanh của bà vợ ông quan. Nàng dụ dỗ Giuse phạm tội:
- Anh nằm với em đi!
Từ xáo trộn nội tâm của nàng, làm rối rắm thêm cho tâm hồn Giuse, kèm theo bao tai hoạ khác nữa.
Trong con người chúng ta còn có rất nhiều đam mê không thể nào kể cho xiết, nếu chúng ta không tự chủ được, nó sẽ đảo lộn tâm hồn, làm mất bình an nội tâm. Chỉ có đường lối Thiên Chúa và ơn thánh của Ngài mới kìm hãm con người yếu đuối của ta được. Nếu chúng ta đi tìm tình yêu, thì hãy “ở lại trong tình yêu của Chúa” (Ga. 15,9). Nếu chúng ta đi tìm tiền của cũng là để dùng nó để mua chuộc nước trời mà thôi. Chúa Giêsu xuống thế làm người là để làm lại trật tự cho thế gian, đem bình an cho thế giới. Những trang đầu của sách Tin Mừng đã viết về lời chúc của Sứ thần khi Đấng Cứu Thế vừa mới ra đời:
 “Vinh danh Chúa cả trên trời.
Bình an dưới thế cho người lòng ngay.” (Lc.2,14)

Nguồn bình an từ đó cứ tiếp tục chan chảy trên địa cầu. Ngài đến để xua đuổi mọi xáo trộn, đem lại niềm vui cho tâm hồn. Chính Đấng Cứu Thế sẽ đem lại phúc lộc bình an tuyệt vời nhất: “Lúc đó sự công chính nở rộ và bình an lớn lao tới khi mặt trăng khuất bóng”. (Tv. 72,7). Những ai thành tâm tìm kiếm Ngài sẽ tìm được yên vui. Các thánh Tông đồ là những vị theo sát chân Chúa, nên đã được nếm hưởng nguồn ơn phúc bao la. Bình an của Chúa để lại cho các Tông đồ trước khi Ngài về trời, không phải là lời bình an như phong tục người Do Thái chào chúc nhau mỗi khi từ giã, mà đây là sự trao ban bình an cho các Tông đồ: “Thầy ban cho chúng con sự bình an của Thầy” (Ga.14,27).
Hiệu quả ơn bình an của Chúa Giêsu rất dồi dào, các môn đệ không còn lo âu sợ hãi, dù Thầy mình đã khuất bóng. Trái lại các môn đệ còn phải vui mừng vì Thầy mình đã hoàn tất sứ vụ Cứu độ ở trần gian, mang hào quang vinh thắng trở về với Chúa Cha. Hơn nữa các Ngài còn được Chúa Thánh Thần dẫn dắt, nhắc nhở những việc phải làm, ban ơn sức mạnh phi thường để các Ngài hăng say đi vào giữa lòng thế giới, đem Tin Mừng Cứu Độ cho muôn dân. Dù phải túng thiếu, xa xôi, vất vả, hiểm nguy, bắt bớ, đòn đánh, tù ngục, cuối cùng sẵn sàng chịu chết vì Đức Kitô và cho muôn thế hệ mai sau.

 

PS6-C9. TUÂN GIỮ LỜI CHÚA

Vào một buổi chiều mùa đông, thánh Antôn đang quì cầu nguyện trong căn phòng nhỏ bé: PS6-C9 FB

Vào một buổi chiều mùa đông, thánh Antôn đang quì cầu nguyện trong căn phòng nhỏ bé của mình, thì bỗng nghe thấy tiếng gõ cửa.  Thánh nhân đứng dậy và ra mở cửa. Thấy một em bé có khuôn mặt sáng sủa đang đứng đó với chiếc bị trên vai. Thánh nhân liền hỏi :
- Em là ai ?
Em bé trả lời :
- Ta là con của đức vua.
Thánh nhân hỏi tiếp :
- Vậy em từ đâu mà đến ?
Em nói :
- Ta từ trời cao mà đến.
Thánh nhân tò mò :
- Thế em định tìm gì trên mặt đất này ?
Em be chớp chớp đôi mắt và trả lời :
- Ta đi ăn xin tình yêu của loài người.
------------------------------------------
Em bé ấy chính Chúa Giêsu Hài đồng, đã hiện ra với thánh Antôn. Với chúng ta cũng vậy. Mặc dù Chúa Giêsu Hài đồng không hiện ra một cách cụ thể dưới hình ảnh một em bé với khuôn mặt sáng sủa và chiếc bị trên vai, nhưng Ngài hiện ra trong tâm hồn chúng ta. Ngài đang đứng đó và gõ cửa. Ngài chờ chúng ta đứng dậy và ra mở cửa để van xin chúng ta một tấm tình yêu. Ngài sẽ hỏi chúng ta như ngày xưa đã hỏi Phêrô :
- Con có yêu mến Thầy không ?
Dĩ nhiên, chúng ta cũng sẽ hăng hái thưa lên với Chúa như Phêrô ngày xưa :
- Có chứ, con yêu mến Chúa là cái chắc.
Thế nhưng, chúng ta phải làm thế nào để biểu lộ được tình yêu chúng ta dành cho Chúa ? May mắn thay, qua đoạn Tin mừng hôm nay, chính Ngài đã chỉ cho chúng ta một phương thế chắc chắn nhất và bảo đảm nhất. Ngài nói :
- Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ những lời Thầy truyền dạy.
Thực vậy, có lần Ngài đã kể lại câu chuyện về một người cha có hai đứa con trai (Matthêu 21,28-32). Vào một buổi sáng đẹp trời, ông nói với đứa con thứ nhất :
- Con hãy vác cuốc ra làm vườn nho cho cha.
Nó vâng vâng dạ dạ, nhưng sau đó nó lại không đi làm.
Ông lại nói với đứa con thứ hai :
- Con hãy vác cuốc ra làm vườn nho cho cha.
Lúc đầu nó tỏ ra ngần ngại, nhưng sau đó nó đã vác cuốc ra vườn làm cỏ.
Như thế, đứa con thứ 2 đã yêu thương cha nó hơn đứa con thứ nhất. Một người con ngoan trong gia đình chắc chắn không phải là một đứa con vùng vằng cãi trả mỗi khi cha mẹ sai bảo điều gì, trái lại phải là một đứa con mau mắn, vui vẻ vâng lời cha mẹ. Đối với Chúa cũng vậy. Để yêu mến Chúa, chúng ta phải tuân giữ những điều Ngài truyền dạy.
Chúng ta có nhiều cách để nói lên tình yêu thương dành cho một người nào đó. Chẳng hạn khi yêu thương ai, chúng ta có thể cầu nguyện cho họ, nghĩ tốt về họ và thầm mong cho họ được nhiều may mắn. Thế nhưng, ý  nghĩ và tư tưởng thì trừu tượng, khó mà kiển chứng. Chẳng hạn khi yêu thương ai, chúng ta có thể ca tụng họ và nói tốt về họ. Thế nhưng, lời nói nhiều khi trở thành bôi bác và giả hình. Tuy nhiên, có một phương tiện chắc chắn nhất để biểu lộ tình yêu thương, đó là việc làm. Đức tin không việc làm, thì chỉ là một đức tin đã chết. Tình yêu không việc làm thì cũng chỉ là một tình yêu đã chết mà thôi. Chúng ta không thể chỉ cho người khác thấy một tình yêu không việc làm. Trái lại, căn cứ vào những việc làm, người ta sẽ đánh giá được tình yêu thương của chúng ta. Và đối với Chúa, việc làm đẹp lòng Ngài hơn cả, chính là tuân giữ những điều Ngài truyền dạy.
Thiên Chúa đã cho mặt trời mọc lên để soi sáng và sưởi ấm, đã cho mưa xuống để ruộng đồng được xanh tươi. Thế nhưng, muốn có được cơm gạo, bác nông phu đã phải làm lụng vất vả suốt ngày dưới ánh nắng gay gắt. Cũng vậy, để được Chúa yêu thương, chúc phúc và cứu độ, chúng ta cần phải cộng tác với Ngài, ít nữa bằng cách tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, bởi vì chính Ngài đã xác quyết với chúng ta qua đoạn Tin mừng hôm nay : Ai yêu mến Thầy, thì tuân giữ lời Thầy và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy.

 

PS6-C10. HRK/113- BÌNH AN

Thầy để lại bình an cho các con. Những lời chúc ấy thật là cần thiết và nâng đỡ, thoa dịu êm: PS6-C10

Thầy để lại bình an cho các con. Những lời chúc ấy thật là cần thiết và nâng đỡ, thoa dịu êm thắm lòng tôi.
Thật vậy, bình an Chúa hứa ban cho thật là cần thiết và an ủi, nhất là khi Người bảo chúng ta : “Đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. Bình an Thầy ban cho anh em không phải như thế gian đã ban tặng…” Thật vậy, bình an của Chúa ban không phải là một thứ an tâm trong cám dỗ và thiếu xót, không phải là tránh lương tâm dưới áp lực của tội lỗi và tật xấu, không phải là đầu hàng để sống sai trái và bất công. Song bình an của Chúa là niềm hân hoan, vì tâm hồn được hòa giải với chính mình, với tha nhân và với Thiên Chúa. Dù có đau khổ trong tinh thần hay thân xác, cả những lo âu trăn trở thì những đau khổ, những lo âu ấy cũng được chấp nhận, chia sẻ, và nó có một giá trị với những đau khổ của Chúa như một chia sẻ của những khó khăn và thử thách đối với người mình yêu thương.
Để được hưởng sự bình an ấy, chúng ta cần sống hòa giải với Chúa, với tha nhân và với chính mình, nghĩa là không để tội lỗi làm mình bất nhân, bất nghĩa với Chúa. Không để lòng mình bị những khuấy động sôi sục vì những ghen ghét, vì những bon chen ước muốn quyền lực, danh vọng… Chúa ban bình an cho chúng ta là để chúng ta mang bình an của Ngài cho tha nhân, để chúng ta trở thành dụng cụ bình an của Chúa đối với người khác.
Như vậy, bình an của Chúa nói đây là một lời trăn trối cuối cùng của Ngài khi Ngài sắp ra đi chịu chết và cũng là bình an của niềm vui khi Ngài sống lại. Bình an đó là điều qaun trọng, vì đó là ơn của Chúa Thánh Thần ban, nó chính là hạnh phúc đích thật mà chúng ta đang tìm kiếm. Bình an đó Thiên Chúa còn muốn cho mọi người, cho mọi quốc gia trên thế giới đều được hưởng mà chúng ta gọi là hòa bình.
Hòa bình ấy trong bài giảng ngày 29.9.1979 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói : “Trong lịch sử nhân loại chưa bao giờ hòa bình được người ta tha thiết ước mong như ngày nay, nhưng rồi mỗi ngày người ta phải chứng kiến nó đang bị phá hoại và tiêu hủy, hòa bình là kết quả quan liêu, là thái độ tụ tập lại. Đó là những sản phẩm bận tâm về luân lý đạo đức của những nguyên tắc đạo đức dựa trên Phúc âm và được củng cố bởi Phúc âm”.
Hòa bình phải dựa trên con người, dựa trên ý thức bất khả xâm phạm của con người, dựa trên sự chấp nhận nguyên tắc bình đẳng giữa con người với con người, dựa trên tình huynh đệ lẫn nhau, sự kính trọng và yêu thương con người, chỉ vì tất cả con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

 

PS6-C11. HRK/334- BÌNH AN

Cách đây khoảng năm, mười năm tại Malina này, hầu như mọi người lớn tuổi cũng như giới: PS6-C11

Cách đây khoảng năm, mười năm tại Malina này, hầu như mọi người lớn tuổi cũng như giới trẻ, ai ai cũng nói đến truyện phim khoa học giả tưởng có tựa đề là “Người ngoài hành tinh trái đất”. Với dung mạo kỳ dị khác mọi người trong trái đất này, nhưng lại có một tâm hồn hiền lành, tràn đầy tình yêu thương. Người ngoài hành tinh này bị đi lạc vào trái đất, và những con người mà người hành tinh được dịp tiếp xúc trên mặt đất này đều tỏ ra nghi kỵ, lo sợ, không hiểu và không chấp nhận những cử chỉ yêu thương của người hành tinh, chỉ có một em bé xem ra như đã vượt qua được sự ngăn cách, cảm thông được với người ngoài hành tinh. Nhưng sự cảm thông này cũng không đủ để giữ người ngoài hành tinh này ở lại trái đất, và người ngoài hành tinh sẽ tìm mọi cách để trở về với thế giới của mình, thế giới ở bên kia, khác với thế giới con người.
Truyện phim khoa học giả tưởng này có thể gợi ý cho chúng ta phần nào để lĩnh hội sứ điệp của Chúa Giêsu được nhắc đến trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu một cách nào đó có thể được so sánh như một người ngoài hành tinh, ngoài trái đất này. Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa, sống trong thế giới khác biệt với thế giới chúng ta, một thế giới của Thiên Chúa Ba Ngôi từ cõi đời đời, thế giới của tình yêu thương, của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng khác với người hành tinh, Chúa Giêsu Con Thiên Chúa đã không bị đi lạc vào trong thế giới của chúng ta, nhưng Ngài đã cố ý đến với thế giới chúng ta, trở thành con người như chúng ta để cứu rỗi chúng ta, biến chúng ta trở thành giống Người nhiều hơn, sống sự sống của Người trong yêu thương. Trọn cả cuộc đời của Ngài trên trần gian là để dạy sứ điệp tình thương.
Người ngoài hành tinh rời trái đất trở về thế giới khác, để lại cậu bé trong niềm luyến tiếc, vì em bé này biết rằng mình vĩnh viễn sẽ không bao giờ gặp lại người bạn tốt này nữa. Chúa Giêsu thì lại khác, Ngài từ giã các tông đồ để trở về lại cùng Thiên Chúa Cha không phải để vĩnh viễn xa chúng ta luôn mãi, nhưng là để dọn chỗ cho chúng ta. Nơi Ngài đi chúng ta cũng sẽ tới, nếu chúng ta chấp nhận cuộc sống của Ngài, đó là cuộc sống yêu thương như Ngài đã dạy. Ngài biết chúng ta đã được dựng nên bằng gì ? Có những yếu đuối như thế nào ? Người đã không giảng dậy xuông mà còn thực hiện qua hành động cụ thể để ban cho chúng ta chính sức mạnh của Người, đó là ban Chúa Thánh Thần để hiện diện và hướng dẫn chúng ta luôn mãi. Ngài chỉ nài nỉ một điều duy nhất là hãy ở lại trong tình yêu Ngài, hãy duy trì sự hiệp nhất với Ngài.
Giữa thế giới của người ngoài hành tinh và thế giới của chúng ta không có sự liên lạc nào là hoàn toàn xa cách và người ngoài hành tinh hãy trở về lại với thế giới của mình. Thế giới của Thiên Chúa tuy khác với thế giới của mỗi người chúng ta, nhưng không hoàn toàn cách biệt, vì giữa hai thế giới này có sự liên hệ mật thiết với nhau và mỗi người chúng ta có thể bước vào trong thế giới của Chúa, nếu chúng ta chấp nhận sống giống như Chúa, sống kết hiệp với Chúa, chu toàn giới răn yêu thương của Chúa.
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta được ơn khiêm tốn đủ để đón nhận lời dạy của Chúa và xin Ngài cũng ban cho chúng ta được ơn can đảm để sống những gì Chúa truyền dạy. Chúng ta đừng chỉ đứng nhìn trời, chỉ mơ ước Thiên Chúa làm mọi sự cho chúng ta hưởng dùng, nhưng hãy nhìn vào anh chị em xung quanh, hãy nhìn vào thế giới chúng ta đang sống với muôn vàn thử thách với tâm hồn tràn đầy xác tín, tuân phục giáo huấn của Chúa, tràn đầy tình thương và sức mạnh của Ngài để thực thi giáo huấn của Ngài.
Đây là cách hữu hiệu nhất để chúng ta bước vào trong thế giới của Thiên Chúa, bước vào Nước Chúa trong hiện tại, ngay bây giờ và trong tương lai vĩnh cửu của nước hằng sống. Xin Chúa thương ban cho mỗi người chúng ta được ơn bước vào trong thế giới của Chúa. Xin Chúa thương nâng đỡ sự dấn thân của chúng ta và nâng đỡ đức tin của chúng ta mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

 

PS6-C12. CSTM/125- LO ÂU

Nếu có một người nào đó hỏi chúng ta : “Ông bà, anh chị có yêu mến Chúa không?”. Chắc chắn: PS6-C12

Nếu có một người nào đó hỏi chúng ta : “Ông bà, anh chị có yêu mến Chúa không?”. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng trả lời được ngay. Không những trả lời được mà còn cho người đó hỏi một câu dư thừa, vớ vẩn. Nhưng nếu người đó hỏi thêm một câu nữa : “Làm sao ông bà, anh chị biết được mình yêu mến Chúa, hay dựa vào bằng chứng nào để tôi biết được ông bà, anh chị yêu mến Chúa ?”. Câu hỏi này anh chị em trả lời được không ? Dĩ nhiên là được. Nhưng có lẽ sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau.
Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã trả lời thay cho chúng ta, Chúa đã chỉ dạy cho chúng ta một dấu hiệu, một bằng chứng, đó là chúng ta tuân giữ lời Chúa hay không ? : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy… Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy”. Một câu Kinh Thánh đó thôi đủ định nghĩa thế nào là người yêu mến Chúa, nghĩa là dấu hiệu hay bằng chứng để chúng ta biết được hay người khác biết được chúng ta yêu mến Chúa là chúng ta tuân giữ lời Chúa. Và đây cũng là thước đo lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa nhiều hay ít, đó là chúng ta tuân giữ lời Chúa nhiều hay ít. Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu xem : Chúa bảo chúng ta tuân giữ lời Chúa, vậy lời Chúa ở đâu ? Và chúng ta phải tuân giữ Lời Chúa thế nào ?
Lời Chúa ở đâu ? Nếu trả lời một cách ngắn gọn, chúng ta có thể nói : Lời Chúa chứa đựng trong sách Thánh, tức là trong Kinh Thánh. Nhưng nếu hiểu rộng ra, chúng ta có thể nói : Lời Chúa còn chứa đựng trong thánh truyền, tức là một phần mạc khải được lưu lại dưới hình thức truyền khẩu và trong giáo huấn của các giáo phụ. Lời Chúa còn chứa đựng trong phụng vụ, tức là những gì Giáo Hội sống và thể hiện trong sinh hoạt phụng tự. Và Lời Chúa còn chứa đựng trong đời sống của Giáo Hội, tức là những giáo huấn của các công đồng, các Đức Giáo hoàng, các giám mục. Tóm lại, Kinh Thánh, thánh truyền, phụng vụ và giáo huấn của Giáo Hội, đó là những kho tàng chứa đựng lời Chúa. Nhưng thông thường và cụ thể, mỗi khi nói đến Lời Chúa, chúng ta thường hiểu là Kinh Thánh, nhất là Tin Mừng.
Tại sao chúng ta phải giữ lời Chúa và giữ lời Chúa thế nào ? Chúng ta giữ lời Chúa để chứng tỏ lòng chúng ta yêu mến Chúa. Yêu mến ai, chúng ta muốn ở gần người đó, tâm sự trò chuyện quan hệ mật thiết với người đó, thì chúng ta đối với Chúa cũng vậy, và còn hơn thế nữa, là để chúng ta nên giống Chúa. Tục ngữ có câu : “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Gần bạn hiền sẽ nên hiền. Và tục ngữ Tây phương cũng nói : “Anh nói cho tôi biết, anh đọc sách gì, anh bầu bạn với ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người thế nào”. Chúng ta cần tâm sự với Chúa Giêsu, chúng ta muốn nên giống Chúa, nay Chúa đã khuất mặt, thì chỉ còn một cách là đọc lời Ngài, suy gẫm cuộc đời Ngài, chúng ta sẽ học được những ý tưởng, những tâm tình của Ngài. Vì thế, ai muốn quan hệ mật thiết với Chúa, muốn nên giống Chúa, chỉ còn một cách là luôn luôn đọc lại bộ Tân ước, nhất là Tin Mừng, để thấy rõ chân tướng của Chúa Kitô mà học hỏi bắt chước.
Cũng thế, người ta thường nói : “Có đầy trong lòng mới trào ra ngoài miệng”. Do đó, muốn suy nghĩ, nói năng, hành động, phản ứng như Chúa, thì điều quan trọng là phải có đầy Chúa trong tâm hồn, phải thấm nhiễm tinh thần của Chúa, phải in sâu hình ảnh dịu hiền của Chúa, những gương sáng Chúa đã thực hiện, lời Chúa dạy dỗ, giáo huấn vào đầu óc của mình. Để được như vậy, chỉ có cách duy nhất là hằng ngày chăm chỉ đọc Lời Chúa trong Kinh Thánh và suy niệm. Nhờ đó Lời Chúa dần dần chi phối đời sống chúng ta và trở thành nguyên tắc hướng dẫn mọi hành vi, cử chỉ của chúng ta và biến đổi chúng ta nên giống Chúa.
Tuy nhiên, chúng ta đọc và suy niệm lời Chúa là rất tốt rồi, nhưng điều quan trọng hơn nữa, là chúng ta phải áp dụng, phải thực hành lời Chúa, vì đây là thước đo lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa : chúng ta sẽ là kẻ không yêu mến Chúa khi chúng ta làm không đủ tiêu chuẩn như lời Chúa dạy. Chúng ta sẽ là người ghét Chúa khi chúng ta làm sai lời Chúa dạy. Chúng ta sẽ là kẻ phản bội lời Chúa nếu chúng ta tránh né, coi thường hay lười biếng không làm những việc đáng phải làm. Nếu chúng ta nói yêu mến Chúa mà không tuân giữ lời Chúa, thì có khác gì đứa con gọi dạ bảo vâng, nhưng không chịu làm theo lời cha mẹ dạy. Đó là thứ tình yêu giả hình và là thứ tình yêu đầu môi chót lưỡi mà thôi. Tình yêu phải được thử thách, phải được chứng nghiệm bằng việc làm… Vì thế, yêu Chúa thì phải thực hành lời Chúa. Thực hành lời Chúa dù ở nhà thờ hay ở nhà mình, nơi làm việc hay ngoài đường phố, chợ búa. Nếu như mọi người đều nhiệt tình áp dụng và thực hành lời Chúa thì nhân loại này yêu thương nhau biết mấy. Nhưng đáng tiếc, lời Chúa dạy : “Các con hãy yêu thương nhau”, chúng ta chưa thực hành đến nơi đến chốn.
Yêu mến Chúa là giữ lời Chúa truyền dạy. Giữ ở đây không hiểu theo nghĩa thụ động, nghĩa là đem chôn giấu lời Chúa, nhưng phải hiểu theo nghĩa tích cực, nghĩa là có sáng kiến đem lời Chúa ra thực hành trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Nhưng lời Chúa là lời nào ? Tất cả lời của Chúa gồm tóm rất gọn trong một tiếng này, đó là “yêu”. Yêu Chúa với tình yêu của một người con hiếu thảo và yêu đồng loại với tình yêu như Chúa đã yêu chúng ta.
Đàng khác, sống ở trần gian, ai cũng phải trải qua những giây phút lo âu. Lo âu về tương lai, về gia đình, về con cái, về tiền bạc, về công việc làm ăn, về sức khỏe… Lời Chúa hôm nay an ủi và khích lệ chúng ta đừng xao xuyến và sợ hãi. Chúng ta hãy dâng lên Chúa mọi lao công vất vả, mọi lo lắng buồn phiền. Chúng ta hãy phó thác cuộc đời mình cho Chúa và xin Chúa ban sự bình an. Bởi vì có Chúa thì màng nhện cũng sẽ trở nên tường thành. Còn không có Chúa thì tường thành cũng chỉ là màng nhện mà thôi.

 

PS6-C13. NTGT/144- BÌNH AN

Trên những chuyến xe buýt, các bến xe… người ta thường thấy những hàng chữ “chúc quý khách: PS6-C13

Trên những chuyến xe buýt, các bến xe… người ta thường thấy những hàng chữ “chúc quý khách thượng lộ bình an”, người tài xế Công giáo treo hình Đức Mẹ trên xe có kèm theo hàng chữ “Nữ Vương ban sự bình an”. Người tài xế Phật giáo treo hình Đức Phật, dù có hay không có hàng chữ nào, trong lòng họ vẫn cầu mong Đức Phật ban bình an.
Những vấn đề vừa nêu trên cho thấy bình an luôn luôn là nhu cầu thiết yếu của con người dù không nói ra. Có nhu cầu bình an tất nhiên cũng cần phải kiếm nơi cung cấp nhu cầu bình an.
Vấn đề được đặt ra là những ai đứng ra cung cấp nhu cầu bình an, cung cấp như thế nào và liệu có thực sự đem lại bình an cho thân chủ hay không ?
Nếu chỉ dựa trên qui luật “cung cầu”, bất cứ ai cũng có thể có được bình an miễn là có tiền, chỉ cần bỏ tiền ra thuê một vài vệ sĩ ở các “công ty dịch vụ vệ sĩ” là có thể có bình an. Bình an theo cách này chẳng khác nào lời Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng “bình an thế gian ban tặng”. Bình an dựa trên qui luật cung – cầu có thực sự bình an không ?
Trong tháng 1- 2001 tổng thống Kabila của cộng hòa dân chủ Công-gô, dù được bảo vệ, canh phòng rất cẩn thận, nhưng ông vẫn bị ám sát ; người ám sát ông không phải ai xa lạ hay tổ chức chính trị đối lập, mà chính cận vệ thân tín của ông, người có nhiệm vụ bảo vệ ông và luôn sát cánh bên ông.
Điều này càng cho thấy sự bình an dựa trên qui luật cung cầu, quy luật mua bán trao đổi hay nói theo lời của Đức Giêsu “bình an thế gian ban tặng” xem ra chẳng có gì bảo đảm, nói không sai là rất mong manh. Rốt cuộc bình an luôn là ước mơ, nhu cầu sống còn của con người.
Vẫn biết bình an là nhu cầu sống còn của con người, nhưng cách thức ban bình an của Đức Giêsu trái ngược hoàn toàn với cách thức của con người, bình an trong những tình huống bất an.
Trong khi người đời cần phải có phương tiện bên ngoài, tỷ như có vệ sĩ bảo vệ… mới được bình an. Đức Giêsu hứa ban một thứ bình an như lời Ngài khẳng định “… không như thế gian ban”. Bình an Đức Giêsu không có gì bảo đảm bên ngoài mà chỉ dựa vào lời hứa của Đức Giêsu “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em… anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi”. Đây mới là sự khác biệt cơ bản giữa bình an “thế gian ban tặng” và “bình an Đức Giêsu ban tặng”.
Thật vậy, bài Tin Mừng cho thấy một bối cảnh thật xúc động, Thầy Giêsu chuẩn bị chia tay với các môn đệ. Trước đó các sách Tin Mừng và Công vụ Tông đồ thuật lại mỗi lần Đức Giêsu hiện đến đều thấy các môn đệ hội họp trong nhà, còn cửa vẫn đóng kín vì sợ người Do thái. Khi Đức Giêsu hiện diện, sự sợ hãi của các môn đệ cũng tan biến và ngược lại.
Như thế, nguyên nhân khiến các ông sợ hãi là không thấy sự hiện diện bằng thể lý của Đức Giêsu. Chính trong lúc không còn gì để bám víu, để lệ thuộc, mà chỉ tin vào lời hứa của Đức Giêsu : “Thầy ra đi và đến cùng anh em”, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”, lúc đó các ông mới cảm nhận sự bình an Đức Giêsu ban cho. Nói như Phaolô “Bình an của Thiên Chúa là bình an không ai hiểu thấu”. Bình an Đức Giêsu ban bất chấp sự đe dọa bên ngoài. Bình an Đức Giêsu ban không có gì khoa trương bên ngoài rất âm thầm, sâu lắng nhưng rất mãnh liệt… làm cho chúng ta bình an thật sự dù có bị tối tăm vây quanh, dù có bị sóng gió cuộc đời quật ngã ta vẫn không bị tiêu diệt… cũng chính Phaolô đã nói lên kinh nghiệm xương máu của ông trong các cuộc hành trình truyền giáo “Chúng tôi bị dồn ép tư bề nhưng không bị đè bẹp ; hoang mang nhưng không tuyệt vọng ; bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi, bị quật ngã nhưng không tiêu diệt”. Đơn giản vì Phaolô luôn mang trong mình lời hứa bình an của Đức Giêsu. Bình an Đức Giêsu hứa ban không chỉ dành riêng cho các môn đệ mà còn cho tất cả những người tin vào Đức Giêsu – các Kitô hữu. Vậy làm thế nào để có được sự bình an này ?
Đứng trước những thách đố, sóng gió trong đời sống gia đình, tỷ như thiếu gạo, tiền đóng học cho con, tiền điện nước… ta chỉ ngồi đó than thân trách phận, “đóng cửa” lại như các môn đệ để tìm bình an sao ? Đó không phải là bình an của Đức Giêsu, bình an của Đức Giêsu là “bung ra”, làm ăn chân chính, làm hết sức mình để lo cho gia đình dù kết quả không như mong muốn, ta vẫn thấy sự bình an của Đức Giêsu hiện diện. Sự bình an của Đức Giêsu được thể hiện bằng tiếng cười, niềm vui trong gia đình, đôi khi ta không nhận ra.
Hoặc là đứng trước những chọn lựa sống, sống không ngay thẳng trong làm ăn buôn bán làm ta giàu hơn, còn sống trung thực đôi khi lại làm ta mất đi những món lợi lớn. Bình an của Đức Giêsu ở đây chính là sự thật. Ta cảm thấy bình an khi mình sống ngay thẳng, sống theo sự thật. Thiết tưởng thước đo để xét xem ta có sự bình an của Đức Giêsu hay không đã nằm sẵn trong bài Tin Mừng “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”.
Một vị ẩn sĩ già có hai môn sinh, ông hướng dẫn họ sống lời Chúa, sau một thời gian người thứ nhất cảm thấy vui tươi hạnh phúc, đường tu trì có nhiều tiến bộ, còn người thứ hai luôn buồn bực và nhăn nhó. Khi được hỏi lý do, người thứ nhất trả lời : “Con giữ lời Chúa dạy vì con yêu mến Chúa” và sự bình an của Đức Giêsu ở trong anh. Còn người thứ hai cho biết : “Con giữ lời Chúa dạy vì thầy dạy phải giữ như vậy”, thật ra anh không có lòng yêu mến. Sau một thời gian ngắn người thứ hai bỏ vị ẩn sĩ già để ra đi, vì anh không có được sự bình an trong đường tu trì.
Lời hứa ban bình an của Đức Giêsu là lời bảo đảm chắc chắn nhất cho những ai tin tưởng vào Ngài. Xin cho sự bình an của Đức Giêsu luôn ngự trị trong tâm hồn chúng ta.

 

PS6-C14. SCĐ/306- BÌNH AN

Trong triều của một vua nọ có hai họa sĩ rất tài ba nhưng luôn ganh ghét đố kỵ nhau. Một hôm: PS6-C14

Trong triều của một vua nọ có hai họa sĩ rất tài ba nhưng luôn ganh ghét đố kỵ nhau. Một hôm nhà vua phán : “Ta muốn phán quyết một lần dứt khoát ai trong hai người là người giỏi nhất. Vậy hai ngươi hãy vẽ mỗi người một bức tranh theo cùng một đề tài, đó là bình an”.
Hai họa sĩ đồng ý. Một tuần sau họ trở lại, mỗi người mang theo bức vẽ của mình. Bức họa của người thứ nhất vẽ một khung cảnh thơ mộng : những ngọn đồi nhấp nhô bao quanh một cái hồ rộng với mặt nước phẳng lì không một gợn sóng. Toàn cảnh gợi lên một cảm giác thanh thản, thoải mái. Sau khi xem xong, nhà vua nói : “Bức họa này rất đẹp, nhưng nó làm ta buồn ngủ quá”. Bức họa của người thứ hai vẽ một thác nước. Hình ảnh rất sinh động đến nỗi nhìn nó người ta như nghe được tiếng nước đổ ầm ầm xuống vực thẳm. Nhà vua nói : “Đây đâu phải là một cảnh bình an”. Họa sĩ thứ hai bình tĩnh đáp : “Xin bệ hạ nhìn kỹ hơn một chút nữa xem”. Nhà vua nhìn kỹ và khám phá một chi tiết mà nãy giờ ông chưa chú ý : Trong một nhành cây nép mình sau dòng thác lũ, có một tổ chim. Trong tổ, chim mẹ đang ấp trứng, đôi mắt nửa nhắm nửa mở. Chim mẹ đang bình thản chờ các con mình nở ra. Nhà vua nói : “Ta rất thích bức tranh này. Nó đã chuyển tải được một ý tưởng độc đáo về bình an, đó là vẫn có thể sống bình an ngay giữa những xáo trộn của cuộc đời”. Và nhà vua đã đặt tác giả của nó là người họa sĩ hạng nhất của triều đình.
Chúa Giêsu đã nói : “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban bình an cho các con không theo kiểu thế gian. Lòng các con đừng xao xuyến, các con đừng sợ hãi”. Những lời này Ngài nói giữa bữa tiệc ly. Phải chăng đây là một thời điểm không thích hợp để nói về bình an, vì khi ấy hoàn cảnh bên ngoài rất là xáo trộn ? Không, trái lại rất thích hợp. Bởi vì bình an là thông hiệp với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đang hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa nên Ngài vẫn có thể nói về bình an ngay cả khi kẻ thù của Ngài đã đến gần và sắp giết chết Ngài.
Bình an không phải giống như yên ổn, vì yên ổn là ở bên ngoài còn bình an thì ở bên trong. Bình an là tình trạng của một tâm hồn đang có tương quan tốt với Thiên Chúa và với tha nhân. Thành tố quan trọng của bình an là sự công chính. Bởi thế, không có bình an cho kẻ dữ.
Bình an là kết quả của lòng trông cậy vào Chúa và khi ước muốn làm đẹp lòng Chúa là điều qaun trọng bậc nhất trong đời. Đây là điều mà ta có thể có ngay giữa những xáo trộn, xung đột và những vấn đề rắc rối chưa giải quyết được.
Đó chính là thứ bình an mà thế gian không thể ban tặng được.

 

PS6-C15. SCĐ/307- VẮNG MẶT

Có một nhà chuyên môn sưu tầm các loài bướm. Ngày nọ, khi bước vào một công viên, ông: PS6-C15

Có một nhà chuyên môn sưu tầm các loài bướm. Ngày nọ, khi bước vào một công viên, ông đã gặp tổ kén lạ. Ông liền bứt cành cây đem kén bướm về nhà. Ít ngày sau, ông thấy nhúc nhích bên trong kén, nhưng con bướm vẫn chưa phá kén bay ra.
Hôm sau, kén lại nhúc nhích, nhưng chẳng có gì khác lạ. Lần thứ ba, vẫn thấy như trước, ông liền lấy dao rạch kén, thế là con bướm bò ra ngoài. Tuy nhiên, bướm không tăng trưởng và chẳng bao lâu thì chết.
Sau này, ông được người bạn là nhà sinh vật học cắt nghĩa như sau : Thiên nhiên đã xếp đặt cho con bướm phải đấu tranh mới thoát ra khỏi cái kén, vì nhờ đấu tranh gian khổ mà nó có thể phát triển mạnh mẽ để sinh tồn.
Suy niệm: Muốn làm cánh bướm bay trên ngàn hoa rực rỡ, bướm phải làm kiếp sâu lặng lẽ, cô tịch trong vỏ kén lặng lờ, khuất nẻo. Muốn làm con bướm bay trong bầu trời xanh ngắt, bướm phải là con sâu đen đủi xấu xa, vặn vẹo đau đớn trong tổ kén đợi chờ.
Để trở nên những tín hữu Kitô vững mạnh, tăng trưởng về đường thiêng liêng, chúng ta phải trải qua một thời kỳ gian khổ để tiến triển về mặt tâm linh, chúng ta cũng phải vượt qua đấu tranh thử thách. Nhưng trong những thời điểm ấy, Thiên Chúa luôn bên cạnh chúng ta, cho dù chúng ta không nhìn thấy Người.
Lúc sắp sửa ra đi, để trấn an các tông đồ, Chúa Giêsu đã hứa rằng, dù vắng mặt, nhưng Người vẫn luôn hiện diện giữa các ông và ban bình an cho các ông. Sự hiện diện của kẻ vắng mặt ! Đó là cảm nghiệm mà chỉ có những kẻ yêu nhau mới nhận ra mà thôi. Từ sau biến cố Phục sinh, Chúa Giêsu đã trở nên con người của mọi thời đại.
Người hiện diện trong những kẻ yêu mến Người : “Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy”.
Người hiện diện trong những kẻ thực hành và giữ lời Người : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy… Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy”.
Người hiện diện không chỉ đơn độc, nhưng là hiện diện cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Cả Ba Ngôi cùng đến thăm và ở lại trong những ai yêu mến Chúa Giêsu và tuân giữ lời Người.
Nếu Chúa Cha chính là Thiên Chúa trong tình trạng vô hình, thì Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa đã hiện diện, nói năng, hành động để cứu chuộc con người ; và Thánh Thần cũng là Thiên Chúa, Đấng kéo dài cách thiêng liêng sự hiện diện, lời nói và hành động của Chúa Giêsu và Chúa Cha.
Vì thế, Thánh Thần sẽ thông truyền trọn vẹn sự sống của Thiên Chúa cho con người, khi soi sáng dạy dỗ con người dần dần hiểu lời Thiên Chúa, Lời đó chính là Chúa Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha : “Thánh Thần sẽ dạy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.
Với lời hứa này, kể từ ngày lễ Hiện Xuống đầu tiên, Thánh Thần đã soi sáng và hướng dẫn Giáo Hội hiểu thấu triệt lời Chúa trong Kinh Thánh, để trình bày một cách sáng tỏ hơn, và để giải quyết những vấn đề mới mẻ cho từng thời đại. Vì thế mà các Công đồng liên tiếp được triệu tập dưới sự bảo trợ của Thánh Thần.
Suy niệm2:  Từ câu chuyện trên chúng ta đi vào cuộc sống hằng ngày. Thực vậy có những lúc chúng ta cảm thấy như gánh nặng cuộc đời với những khổ đau và bất hạnh đè xuống trên đôi vai nhỏ bé của chúng ta. Còn Thiên Chúa chúng ta tin yêu thì lại vắng bóng hay lánh mặt.
Chẳng hạn: trước đây chúng ta đã từng cảm nghiệm được sự bình an và hạnh phúc mỗi lần cầu nguyện, thế mà bây giờ chúng ta lại chán ngán. Hoặc lúc trước, chúng ta đã từng cảm thấy đức tin thật mạnh mẽ, khả dĩ có thể dời núi chuyển non, thế mà giờ đây, dường như nó không nhắc nổi một viên sỏi nhỏ. Chúng ta cảm thấy Chúa như bỏ rơi và không còn yêu thương chúng ta nữa.
Thực ra Chúa vẫn luôn yêu thương chúng ta, nhưng Ngài cũng biết rằng đã đến lúc chúng ta cần khởi đầu một giai đoạn mới để được trở nên trưởng thành. Chẳng hạn như đã đến lúc chúng ta phải nhận ra rằng việc cầu nguyện không hệ tại những cảm xúc riêng tư. Và trong những lúc tâm hồn bị chai cứng thì chúng ta lại càng phải cầu nguyện và lời cầu nguyện trong một hoàn cảnh như thế lại thường là lời cầu nguyện tuyệt hảo nhất. Chính Chúa cũng đã xác quyết qua đoạn Tin Mừng hôm nay: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.
Đã đến lúc chúng ta phải hiểu rằng đức tin không chỉ là một cảm giác mà là một dâng hiến, một phó thác, một xin vâng với Chúa. Chúng ta chẳng khác gì chú bướm trong câu chuyện vừa nghe. Thiên Chúa muốn chúng ta phải đấu tranh gian khổ để nhờ đó chúng ta được tiến triển về phương diện thiêng liêng. Vào một thời điểm nào đó, chúng ta phải cố gắng, phải nỗ lực trong gian nan cực khổ. Trong những giây phút đen tối ấy, Chúa vẫn ở bên chúng ta, nâng đỡ chúng ta để đức tin của chúng ta được trở nên vững mạnh và tinh ròng hơn.

 

PS6-C16. Giáo lý về Chúa Ba Ngôi - Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...
 

Có thể coi đoạn Tin Mừng này là một bài giáo lý về Chúa Ba Ngôi: Trong đoạn Tin Mừng này: PS6-C16

Có thể coi đoạn Tin Mừng này là một bài giáo lý về Chúa Ba Ngôi: Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu nhắc tới cả 3 ngôi Thiên Chúa: "Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ.... Ai yêu mến Thầy, sẽ được Cha Thầy yêu mến... Đấng Phù Trợ, là Thánh Thần mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Ngài sẽ dạy các con mọi điều và sẽ nhắc nhở các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con".
Như thế, giáo lý cơ bản về Ba Ngôi là:
- Chúa Cha là Đấng sai Chúa Con đến với loài người
- Chúa Con vâng lời Chúa Cha đến với loài người để dạy loài người những lệnh truyền
- Chúa Thánh Thần lại được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Con, để dạy loài người hiểu sâu hơn những lệnh truyền của Chúa Con.
Thái độ con người phải có đối với Ba Ngôi:
- Yêu mến Chúa Con nên tuân giữ những điều Ngài dạy.
- Chúa Thánh Thần sẽ giúp đỡ họ làm điều đó
- Kết quả: Ba Ngôi sẽ "yêu mến", "tỏ mình ra" và "ở trong" người ấy.
B.... nẩy mầm.
1. Làm kitô hữu là được gia nhập gia đình yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Mỗi Ngôi Thiên Chúa đều tận tình yêu thương và chăm sóc chúng ta. Đó là một vinh dự và một hạnh phúc to lớn. Cám ơn Chúa.
2. Thái độ đối xử đúng nhất của kitô hữu với Ba Ngôi Thiên Chúa là "nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ", vì như thế ta tỏ ra mình yêu mến Thiên Chúa, ta được Ngài yêu mến, tỏ mình ra và ở trong ta.
3. Hai cha con thỏa thuận: ông sẽ mua cho cậu một xe hơi nếu cậu cạo râu, cắt mái tóc dài và đọc Thánh Kinh mỗi ngày. Xe mua về, cậu đọc sách nhưng không cắt tóc và cạo râu.
Khi ông đe dọa, cậu nói: "Con đang đọc về Chúa Giêsu, Ngài để tóc dài và râu".
Ông bố nói: "Đúng, Ngài đã để râu và tóc, nhưng Ngài còn luôn thi hành ý Cha". (Góp nhặt)
4. Trong cuốn sách The Living Stone có một câu chuyện như sau: Jonathan làm được những việc phi thường, phần lớn vì hấp thụ được từ vị thầy khả kính. Ngày vị Thầy này sắp lìa trần, ông cho gọi Jonathan trở về để gặp thầy lần cuối. Jonathan hy vọng thầy sẽ truyền cho bí quyết đặc biệt mà suốt đời thầy còn cất giữ. Nhưng lời trăn trối cuối cùng của ông chỉ vỏn vẹn mấy chữ "Hãy hành động vì lòng yêu mến".
Chúa Giêsu trước khi giã biệt các môn đệ cũng nhắn nhủ các ông về điều căn bản "Ai nghe và giữ các giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy". Chúa Giêsu không đòi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc cảm tính... Tuy nhiên một tình yêu đúng nghĩa là luôn luôn tìm cách làm đẹp lòng người yêu, sẵn sàng cho đi tất cả vì người yêu, chứ không dừng lại ở những rung động của thân xác phần nào nói lên tính vị kỷ của mình ("Mỗi ngày một tin vui")
5. "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy".
Mỗi lần, bạn ấy xin ba mẹ đi chơi, chúng tôi đều cười nhạo: "Lớn rồi mà còn xin với xỏ. Mình trưởng thành rồi, muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm tùy ý". Bạn ấy đã giải thích một cách đơn sơ nhưng thật hợp lý hợp tình: "Hẳn ba má không cần tôi xin, nhưng chắc chắn ba má tôi rất vui khi tôi xin phép như vậy. Tôi làm thế để được làm con và làm con thảo của ba mẹ tôi".
Hẳn Chúa cũng rất vui khi tôi quan tâm lắng nghe và tuân giữ Lời Ngài, để Ngài có thể đưa tôi vào sự hiệp thông tình yêu của ba ngôi Thiên Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con biết yêu mến và thực hành lời Chúa để luôn được hiệp thông với Người. (Epphata)
6. "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy". (Ga 14,23)
Hôm chúng tôi chia tay, tôi đã khóc rất nhiều. Qua màn nước mắt, tôi thấy anh cũng vội lau những giọt lệ mà anh gọi là bụi khói. Anh vẫn cương quyết và bản lĩnh như ngày nào.
Anh nói: "Không phải Ba Mẹ không chấp nhận em, không phải anh không còn yêu em; anh sẽ đợi, nếu...
"Nhưng điều kiện của anh khó quá. Tôi ngắt lời.
"Không!" Anh nghiêm giọng, "tại vì em không muốn hy sinh thôi..."
Vâng, tôi đã không muốn hy sinh, hy sinh tự do, sở thích, thú vui phù phiếm của tôi. Vâng, tôi đã không yêu anh như tôi tưởng!
Lạy Chúa, tình yêu đòi hỏi những biểu hiện đích thực của sự hy sinh, đôi khi chỉ cần giữ lời... Chúa ơi, xin giúp con yêu Ngài, yêu tha nhân, để được phục sinh trong tình yêu của Thiên Chúa. (Hosanna)
7. "Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng" (Ga 14,27)
Cho tôi xin hai chữ "bình an".
Với tôi và đa số người trẻ, bình an là: không bị ai làm phiền, muốn đi đâu và làm gì tuỳ ý, có tiền tiêu xài thỏa thích... Nhưng đó có phải là bình an đích thực không?
Bình an mà Đức Giêsu đem lại là bình an trong tâm hồn. Bình an đó chỉ có được khi tôi chiến thắng được kẻ thù khủng khiếp nhất là ích kỷ và phóng túng để vươn tới thiên đàng của công bằng và yêu thương.
Lạy Chúa, con muốn được tự do và bình an của Chúa (Hosanna)

 

PS6-C17. Chìa khóa đổi đời- Lm. Barthôlômêô Ân Sử

Trong một Khóa Thánh Linh, một bà VN trên 60 tuổi, ở Garden Grove, Cali, đã kể lại cho Linh: PS6-C17

Trong một Khóa Thánh Linh, một bà VN trên 60 tuổi, ở Garden Grove, Cali, đã kể lại cho Linh mục hướng dẫn Khóa: "Sáng nay, con nghe lời cha tối qua, con dậy thật sớm, rồi quì gối dang tay để mở lòng con ra bằng: tha thiết thống hối, tha thứ cho "kẻ thù", tin Chúa thương con, nhìn nhận Chúa là Chúa của con, và con tha thiết nài xin Đức Mẹ bầu cử (3 lần kinh Hãy Nhớ rất chậm và tin tưởng), cuối cùng như cha bảo, con dang tay tha thiết nài xin Đức Chúa Thánh Thần:
"Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng: (1) Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con, là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, (2) và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con" chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống (3) sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con".
"Con tha thiết hết sức đọc kinh Chúa thánh Thần, như cha bảo. Lần thứ Nhất 10 lần, rồi lần thứ Hai 10 lần, và lần thứ Ba cũng 10 lần nữa... Thế mà cha ôi, con tha thiết cầu xin cả 30 lần rồi, mà "nòng (lòng) con nó cứ tơ tơ (trơ trơ)"!!! Sau đó, con nhớ cha bảo đừng có nản, nên con lại quyết tâm, lần này, con sẽ tha thiết hết lòng cầu nguyện như thế, không phải 10 lần, 10 lần, 10 lần, nhưng là 50 lần nữa!
"Lần quyết tâm 50 này, con vừa đọc đến lần thứ Ba, thì Chúa Thánh Thần đã xuống tràn đầy linh hồn con: Toàn thể con người con run lên, trái tim con đập mạnh, làm nóng ran khắp người" linh hồn con tràn ngập bình an, vui mừng và lạ lùng" rồi miệng con cảm thấy ngọt ngào đầy hương vị khi đọc kinh Chúa Thánh Thần!... Thế là từ lúc ấy cho đến sáng, con cứ cầu nguyện kinh Chúa Thánh Thần, không biết mấy trăm lần... Lúc này con nói với cha mà lòng con đang nóng ran lên!"...
Truyện bà cụ đây là một trong hàng 100 triệu trường hợp hiện đang xẩy ra, ngay giữa người VN hải ngoại, và trong cả thế giới Công giáo (1967-2001). Đúng như lời Chúa Giêsu đã loan báo trong Phúc âm hôm nay:"Đấng Phù Trợ là Thánh Thần, mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều, và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con" (Ga 14:26). Và một khi chúng ta được Chúa Thánh Thần tràn đến trong đời, chúng ta sẽ đạt được hai mục đích, mà Phúc âm hôm nay Chúa Giêsu đã hứa ban: (1) Yêu mến Chúa, và được Chúa Cha và Chúa Giêsu đến ngự trong ta" (2) được Chúa ban cho tâm hồn sự bình an tuyệt vời, bình an khác biệt với trần gian (Lc 14:24, 27). Như vậy Chúa Thánh Thần sẽ là chìa khóa đổi đời của chúng ta.
Kinh nghiệm trước mắt chúng ta, Chúa Thánh Thần đã là chìa khóa "đổi đời" của bà cụ Việt Nam và của hàng 100 triệu Tín hữu Công giáo hiện nay. Thời đại chúng ta đang sống, như lời Đức Gioan Phaolô II, "là thời đại của Chúa Thánh Thần và của Đức Maria".
Thời đại chúng ta, cũng đúng như lời tiên tri Joel, cách đây 2300 năm, đã tiên báo: "Sẽ xẩy ra là sau đó, Ta sẽ đổ Thánh Thần của Ta trên mọi người. Con trai con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, các vị bô lão sẽ được chiêm bao, trai tráng của các ngươi sẽ được thị kiến, và cả trên các tôi nam tớ nữ của các ngươi, trong những ngày đó, Ta sẽ đổ tràn đầy Thánh Thần của Ta" (Joel 3:1-2).
Ơn "đổ tràn Thánh Thần" xuống trên mọi người, mà tiên tri Joel nói đây, là ơn dành cho tất cả mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi cấp bậc, chứ không chỉ dành riêng cho một ai. Chỉ cần họ có thành tâm thiện chí, sẵn sàng "Mở lòng" ra đón nhận Chúa Thánh Thần. Nhưng bạn thắc mắc "Mở lòng" bằng cách nào? Thưa bằng cách rất thông thường, bằng 5 việc: Thống hối xưng tội - Tha thứ (quan trọng nhất là tha thứ cho "kẻ thù") - Tin Chúa thương mình - Tôn nhận Chúa làm Chúa hạnh phúc đời mình - Tha thiết xin nài Chúa ban tràn đầy Chúa Thánh Thần để canh tân đời mình.
Ơn được tràn đổ Thánh Thần này, theo Thánh Kinh và Thánh Truyền, cũng như Giáo Lý Công giáo, chúng ta, hết thảy các Tín hữu Công giáo, đã được khi lãnh nhận bí tích Khai tâm (Rửa Tội, Thêm Sức, Mình Thánh Chúa). Nhưng vì quá nhiều lý do và nguyên nhân, đời sống Tín hữu của chúng ta không còn thấy được các hiệu quả, của các Bí tích ấy hiện tỏ và hữu hiệu nhiều nữa! Do đó định nghĩa và mục đích của "ơn tràn đổ Thánh Thần" đây, chỉ là ơn Chúa Thánh Thần đến canh tân đời sống Tín hữu, và làm sống lại những ơn mà các Tín hữu đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa Tội và Thêm sức xưa. Chính vì lý do này, nhiều Linh mục và đông đảo giáo dân, ngay giữa VN hải ngoại, đã bỏ đi những hiểu lầm và thiên kiến về Phong trào "Đoàn Sủng Canh Tân".
Qua ít dòng trên, chắc quí vị và quí bạn đã hiểu sơ lược thêm về Chúa Thánh Thần là "Chìa Khóa Đổi Đời" cho Giáo sĩ, Tu sĩ và Tín Hữu. Chìa khóa này có tầm rất quan thiết, vì qua đó, Chúa Thánh Thần sẽ canh tân đời sống mới trong ta, và ơn Ngài sẽ làm đời Tín hữu chúng ta nên tươi vui đầy hoan lạc, ngay hiện nay trên trần thế, và vĩnh hằng trong Thiên Chúa là hạnh phúc thật đời đời. Xin khuyến khích quí vị và các bạn noi gương cầu nguyện "đổi đời" như bà cụ VN!

 

PS6-C18. Frédéric Ozanam - Lm. Augustine

Ô-da-nam (Frédéric Ozanam 1813-1853) là nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp: PS6-C18

Ô-da-nam (Frédéric Ozanam 1813-1853) là nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp và thượng tuần thế kỷ 19. Ông đã trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng về đức tin khi còn là sinh viên đại học.
Cầu nguyện
Hôm ấy Ô-da-man bước vào một nhà thờ cổ ở thủ đô Paris để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện nơi hàng ghế đầu. Đến gần, Ô-da-man mới nhận ra đó chính là nhà bác học Ampe (André Marie Ampère 1775-1836). Chàng sinh viên không ngừng theo dõi cử chỉ cầu nguyện của vị giáo sư vật lý và hoá học nói trên. Khi ông đứng dậy ra về, chàng liền bước tới phòng làm việc của ông.
Thấy chàng thanh niên đứng trước cửa phòng dáng vẻ rụt rè, giáo sư Ampe liền cất tiếng hỏi:
- Này, người bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?
Chàng thanh niên nhỏ nhẹ trả lời:
- Thưa giáo sư, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm. Xin giáo sư cho phép con được hỏi một chút về vấn đề đức tin mà thôi.
Giáo sư Ampe khiêm tốn đáp lại:
- Đức tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp ích cho anh về điều gì, tôi sẽ lấy làm hân hạnh.
- Thưa giáo sư, người ta có thể vừa là nhà bác học vĩ đại vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường được chăng?
Giáo sư Ampe ngỡ ngàng trước câu hỏi vừa nêu. Với cặp môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:
Chúng ta chỉ vĩ đại khi cầu nguyện
- Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!
Câu trả lời vừa nêu của giáo sư Ampe gợi lại câu nói thời danh của nhà toán học kiêm triết gia Pascal (Blaise Pascal 1623-1662), khi ông nói: "Con người vĩ đại khi quì cầu nguyện." Thực ra, câu nói đó chỉ có ý nghĩa nhờ ánh sáng đức tin do chính Chúa Giêsu chiếu dãi khi Người trả lời một loạt những câu hỏi do các môn đệ nêu nơi bữa Tiệc Ly.
Khi ấy Giuđa đã bước ra khỏi phòng tiệc và "trời đã tối" (Ga 13, 30). Đó là lúc Đức Giêsu ngỏ lời với những môn đệ mà Người yêu quí cách riêng. Một số các ông là Phêrô, Tôma, Philiphê và Giuđa không phải là Giuđa Ít-ca-ri-ốt, lần lượt nêu câu hỏi giúp ta hiểu được phần nào ý nghĩa của hai chữ đức tin.
a) Phần dẫn nhập (13, 31-35) cho thấy sự ra đi của Giuđa khai mào cho một loạt những biến cố trực tiếp dẫn đến biến cố cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. Đức Giêsu sẽ được tôn vinh có nghĩa là chính Thiên Chúa được tôn vinh, bởi lẽ tình yêu vô hạn của Thiên Chúa sẽ được biểu lộ nơi Đức Giêsu. Người để lại cho các mon đệ điều răn mới: Đó là họ phải yêu thương nhau (c.34). Điều mới mẻ nơi giới răn này là tình yêu của chính Đức Giêsu dành cho các môn đệ; tình yêu ấy là khuôn vàng thước ngọc cho tình yêu của các môn đệ đối với nhau. Đó chính là dấu chỉ không thể thiếu nơi người môn đệ của Đức Giêsu.
b) Phêrô (13, 36-14,4) khiến cho câu chuyện tại bữa tiệc ly được rõ nét về đích nhắm với câu hỏi là "Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?" (13, 36). Tuy Phêrô có chối Thầy nhưng rồi ông sẽ được nối kết với Thầy khi ông chết (c.36).
Các môn đệ không khỏi xao xuyến (14, 1.27). Đức Giêsu nhấn mạnh về niềm tin các ông cần có. Người cho các ông biết Người đi là để dọn chỗ cho các ông và Người sẽ trở lại đưa các ông đi với Người (c.3).
c) Câu trả lời của Đức Giêsu khiến ông Toma nói tiếp: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường." (14, 5-7). Và Đức Giêsu cho Tôma cũng như các môn đệ hiểu rằng niềm hy vọng của người Kitô không phải là một phương pháp, một thủ tục, nhưng là một bản vị. Chính Đức Giêsu là "Đường, Sự Thật và là Sự Sống" (c.6). Chính ngang qua Đức Giêsu và ở nơi Đức Giêsu mà các Kitô hữu đến được với Cha, biết được Cha và nhìn thấy Cha.
Được mãn nguyện
d) Philiphê (14,8-21) như muốn tóm gọn toàn bộ ơn mạc khải lại nơi Chúa Cha: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện" (c.8). Và chúng ta như nghe thấy tiếng thở dài của Thầy Giêsu khi Ngài nói: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philiphê, anh chưa thấy Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha" (c.9).
Đức Giêsu tiếp tục vạch cho các môn đệ thấy mối dây kết hiệp Người lại với Chúa Cha một cách trọn vẹn: cả trong lời nói lẫn việc làm (cc.10-11). Rồi Người chú ý tới chính các môn đệ: Họ cũng sẽ làm được những công việc Đức Giêsu đã làm, bởi lẽ Người sẽ đáp lời họ xin để Thiên Chúa được biểu lộ nơi Con. Tình yêu mà Người dành cho các môn đệ sẽ được biểu lộ qua việc Đấng Bảo Trợ khác là Thần Khí của sự thật, Đấng ấy sẽ ở lại với các môn đệ mãi mãi (c.16). Theo ý nghĩa ấy, Đức Giêsu sẽ không để các môn đệ mồ côi vì Người sẽ trở lại với họ (c.18).
Độc giả có thể bị choáng váng: Tại sao Đức Giêsu nói về việc Người đi để chuẩn bị nơi ở cho các môn đệ (14,3) và Người sẽ trở lại để đem họ đi với Người, thế rồi Người lại nói nơi ở ấy được định vị ngay nơi các môn đệ! (cc.20-21). Một cách nào đó, việc Đức Giêsu trở lại liên quan tới việc Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Linh được phái đến hoạt động thay Đức Giêsu với tư cách vừa là Đấng Bào Chữa, vừa là Đấng Mạc Khải (Đức Giêsu cũng được gọi là Đấng Bảo Trợ trong 1Ga 2,1).
Đức Giêsu ra đi nhưng Người sẽ trở lại qua Đấng Bảo Trợ được phái đến. Việc đó cắt nghĩa điều mà Đức Giêsu nói là "Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống" (c.19). Cũng như các môn đệ được thấy Thầy Giêsu tận mắt tại bữa tiệc ly, họ cũng sẽ được biết việc Người kết hiệp với Cha. Việc kết hiệp ấy chính họ được tham dự. Họ mà biết yêu theo giới răn mới thì sẽ được cả Cha và Con yêu thương. Con sẽ tự mạc khải cho họ ngang qua Đấng Bảo Trợ (c.21). Tất cả điều họ hy vọng cho tương lai sẽ sớm được thực hiện ngay nơi trần thế này tuy còn trong niềm tin mà họ đặt nơi Thiên Chúa.
e) Vì ở trên Đức Giêsu có nói "chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy" (c.19), cho nên ông Giuđa không phải là Giuđa Ít-ca-ri-ốt, nêu câu hỏi "Tại sao Thầy phải tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ mình ra cho thế gian?" (c.22). Đức Giêsu không trả lời thẳng câu hỏi vừa nêu mà chỉ nhấn mạnh điều Người đã công bố: Tức là Người và Cha sẽ đến cư ngụ nơi những ai yêu mến và giữ lời Người (cc. 23-24). Đó chính là việc Đức Giêsu trở lại trực tiếp liên quan tới Đấng Bảo Trợ mà Cha sẽ phái tới để dạy dỗ và nhắc nhở các môn đệ. Các môn đệ được vững tin vì có Thần Khí của Đức Giêsu ở với họ để nhắc nhở và cắt nghĩa cho họ hiểu những lời Đức Giêsu đã nói và lẽ khôn ngoan Người muốn truyền đạt.
Đức Giêsu từ biệt các môn đệ bằng cách chúc họ được bình an theo phong tục người Trung Đông. Nhưng Người cho họ biết ơn bình an mà Người ban cho họ, thế gian không thể nào cho họ được (c.27) vì ơn đó bao gồm mọi của cải thiêng liêng thuộc về ơn cứu độ.
Mọi sự được thành tựu
Đức Giêsu cho biết Chúa Cha cao trọng hơn Người (c.28) bởi lẽ chính từ Chúa Cha nên mới có mọi sự. Chính Chúa Cha đã khiến cho mọi sự thành tựu. Cả việc Đức Giêsu được phái đến cũng như việc Người trở về trong vinh quang của Cha, tất cả đều được thể hiện theo ý muốn của Chúa Cha. Chính theo ý nghĩa ấy Đức Giêsu đã khẳng định rằng: "Chúa Cha cao trọng hơn Thầy" (c.28).
Đấng cao trọng như vậy mà lại chiếu cố đến ở với các môn đệ. Thử hỏi còn có điều gì vĩ đại hơn thế?
Một số câu hỏi gợi ý
1. Trong các câu hỏi mà các môn đệ nêu nơi bàn ăn tại bữa tiệc ly, bạn lấy làm tâm đắc về câu hỏi nào? Tại sao? Hay bạn lấy làm tâm đắc về điều khác không phải là những câu hỏi vừa nói khi cầu nguyện với bài Tin Mừng hôm nay?
2. Bạn hiểu thế nào về ý nghĩa của câu nói do nhà bác học Ampe là: "Chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi."
3. Theo bạn, hai chữ "Đức Tin" có ý nghĩa gì?

 

PS6-C19. Kitô hữu tự bên trong- Lm. Giuse Nguyễn trung Điểm

Trong việc chọn lựa người bạn đời trong hôn nhân, ở Việt Nam ta có câu: "Cha mẹ đặt đâu, con: PS6-C19

Trong việc chọn lựa người bạn đời trong hôn nhân, ở Việt Nam ta có câu: "Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó". Quan niệm nầy mất ảnh hưởng dần dần, người trẻ ngày nay được nhiều tự do hơn để chọn lựa. Câu nói: "Con yêu anh ấy và anh ấy yêu con" là lập luận người trẻ thường dùng để tranh đấu cho sự tự do chọn lựa người bạn trăm năm. Không chỉ trong hôn nhân mà ở mọi bình diện khác, tự do chính là một giá trị lớn lao quý giá thế hệ ngày nay nhiều ít đã đạt được. Tự do đôi khi bị hiểu sai là đồng nghĩa với việc muốn làm gì thì làm và không cần phải giữ những bó buộc. Tuy nhiên, đa số vẫn nhìn nhận ý nghĩa của tự do chính là khả năng có thể nói năng hoặc hành động từ động lực bên trong thâm tâm con người, chứ không bị hoàn cảnh hoặc thế lực bên ngoài ép buộc.
Phẩm giá cao quý đó chính Thiên Chúa cũng nhìn nhận. Người không muốn là kẻ độc tài dùng giới răn và cấm cản để thống trị con người. Tin Mừng nói đến thứ tự do đích thực đó: niềm tin của kitô hữu phát xuất từ kinh nghiệm nội tâm: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy". Qua việc vâng giữ lời Chúa Giêsu và để cho lời Người uốn nắn cuộc sống mình, người kitô hữu được Chúa Giêsu thấm nhập vào con tim mình. Trong cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu, họ cảm nghiệm được những điều tốt đẹp cao quý Người mang đến cho họ, hiểu được cuộc sống sung mãn Người hứa ban, hiểu được sự bình an mà chỉ Thiên Chúa ban được. Việc vâng giữ lời Chúa khi ấy không là hành động tuân giữ một lệnh truyền từ bên ngoài, nhưng là việc lắng nghe tiếng gọi thâm sâu kêu mời con người hướng đến một cuộc sống đích thực như họ ước muốn tự thâm tâm. Chúa Giêsu đã vâng lời Chúa Cha trong cách thế ấy. Sự vâng lời đó không làm Người xa lạ với bản thân, nhưng giúp Người thể hiện cuộc sống riêng biệt đích thực của Người .
Cuộc sống kitô hữu thể hiện tự bên trong, tự niềm tin và sự xác tín sâu xa. Tin Mừng làm rõ thêm tư tưởng nầy: "Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy". Chúa Giêsu và Cha Người sẽ đến ở lại, cư ngụ trong họ. Thiên Chúa chúng ta tin không phải là Đấng từ trên cao thống trị con người, bó buộc con người phải quỵ lụy dưới ách thống trị và sự kiểm soát của Người. Nhưng Người là Đấng Thiên Chúa chúng ta có thể khám phá ngay trong chúng ta như là mầu nhiệm của cuộc sống sung mãn, Đấng giúp chúng ta hiểu biết ơn gọi làm người của mình. Như thế, thánh ý Chúa và ước vọng sâu xa của con người không phải là 2 điều khác nhau. Người cư ngụ trong con người, để giúp con người khám phá ra: thánh ý Người chính là điều con người thiết tha ước muốn tự thâm tâm. Thánh ý Người chính là điều con người ước vọng sâu xa trong tâm hồn. Vì vậy, chúng ta là kitô hữu đích thực không phải khi gập mình trước Thiên Chúa, miễn cưỡng tuân giữ các lề luật và chấp nhận định mệnh khắc khe được áp đặt trên chúng ta; nhưng khi chúng ta dành chỗ cho Người trong tâm hồn chúng ta, để Người có thể cư ngụ trong chúng ta và làm chúng ta hiểu sự hiệp nhất giữa thánh ý Người và niềm vui sâu xa của chúng ta, giữa dự án tình thương của Người và ý nghĩa cuộc đời của chúng ta.
Một linh mục đã trải qua 6 năm trong tù biệt giam. Trong những khó khăn từ thể chất, tâm lý đến tinh thần, lời Tin Mừng nầy đã giúp cha lướt qua được những giây phút khủng hoảng: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy". Trong những giây phút đen tối dài vô tận và không biết khi nào chấm dứt, cha đã cố gắng áp dụng lời nầy cho từng giây phút hiện tại. Khi đã qua rồi, nhìn lại cha đã ngạc nhiên không hiểu làm sao mình đã có thể lướt qua được như vậy. "Thầy ban cho anh em bình an của Thầy", bình an của Chúa giúp chúng ta lướt thắng được mọi ngăn cách giữa Thiên Chúa và chúng ta, cũng như giữa con người với nhau. Bình an của Chúa ban tự bên trong có khả năng giúp chúng ta hoà giải với Thiên Chúa, với bản thân và với người khác.

 

PS6-C20. Bình An từ trời- Lm. Pet. Hà ngọc Đoài

Thầy ban Bình An cho các con. Đừng sợ hãi nữa.
 

Nếu ta có Bình An trong tâm hồn là dấu hiệu ơn Chúa đang ở trong ta. Một người dù sống trong: PS6-C20

Nếu ta có Bình An trong tâm hồn là dấu hiệu ơn Chúa đang ở trong ta. Một người dù sống trong nhà cao cửa rộng, dinh thự đền đài, tiên nghi và giàu sang, có cận vệ canh cổng giữ rào, nếu trong tâm hồn không có bình an thì người đó vẫn sống bất hạnh! Trong họ vẫn có chiến tranh xé nát tâm hồn! Bình an trong tâm hồn là phần thưởng cho những người làm việc thiện. Chuyện kể một gia đình nghèo ở miền quê. Ngày kia người vợ đau yếu, vào một đêm tối trời người cha nhờ đứa con nhỏ đi ra khu chăn nuôi tìm vài qủa trứng và ít ngũ cốc để làm món ăn cho vợ. Ít phút sau người cha nghe tiếng kêu cứu của người con vọng về: "Ba ơi con sợ bóng tối qúa!" Người cha khích lệ con bằng cách treo một bóng đèn ngoài hiên, dặn rằng thỉnh thoảng ngoảnh mặt lại mà thấy bóng đèn tức là người cha đang hiện diện và theo dõi bước chân con. Người con an tâm và làm theo lời cha dặn để giúp người mẹ. Ai cũng sợ bóng tối của cuộc đời. Đường dài muôn lối, tương lai mờ ảo, nếu không có ánh sáng của Chúa trong tâm hồn, nếu không có ân sủng nâng đỡ từng bước chân, thì ta sẽ không thể chu toàn sứ mạng được giao phó mỗi ngày.
Thực Hành: "Người chỉ cho tôi thấy thành thánh do Thiên Chúa từ trời gửi xuống." (Apoc. 21:10) Hành trình của mỗi Kitô hữu là hướng về thành thánh vĩnh cửu. Nhờ sự chết và sống lại của Đức Kitô, qua Bí Tích Rửa Tội thân xác của Kitô hữu trở nên đền thờ của Chúa giữa trần gian. Xin Chúa ban ơn cho con biết giữ gìn đời con là đền thờ xứng đáng cho Chúa ngự.

 

PS6-C21. Thầy ra đi, nhưng Thầy vẫn ở lại- Lm. Nguyễn hưng Lợi

Mới đây đọc lại nhật ký truyền giáo của Cha Piô Ngô Phúc Hậu, tôi cảm nghiệm nhiều về công: PS6-C21

Mới đây đọc lại nhật ký truyền giáo của Cha Piô Ngô Phúc Hậu, tôi cảm nghiệm nhiều về công cuộc truyền giáo, việc loan báo Tin Mừng cho anh chị em ở vùng quê nghèo nàn, nhưng toàn là những con người đơn sơ, chất phác. Thì ra, người rao giảng ở muôn thời vẫn luôn gặp những thách đố của nơi chốn, của con người mà mình tiếp xúc, đối diện. Cha Hậu đã viết nhiều đoạn rất dí dỏm, toát lên cả cuộc đời loan báo Chúa Kitô của mình. Với những từ ngữ địa phương miền sông nước, Cha Piô đã đưa nhiều người đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác của đời truyền giáo. Đọc những trang nhật ký của Ngài, rồi nghe lời Chúa Giêsu phục sinh dặn dò các môn đệ khi Người sắp lià các môn đệ thân tín để về cùng Chúa Cha, chúng ta không khỏi suy nghĩ.
CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI DẶN DÒ VÀ TRĂN TRỐI VỚI CÁC MÔN ĐỆ:
Trong cuộc đời rao giảng, giới thiệu Nước Trời của Chúa Giêsu, kề cận là những đệ tử thân tín suốt ba năm khai mở Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dậy các môn đệ đủ điều, đã làm gương về lời nói, cách ăn, nết ở và làm nhiều phép lạ, kèm với những lời răn bảo, chỉ đường, đưa lối cho các môn đệ. Chúa phục sinh đã hiểu tường tận các môn đệ của mình. Thời rao giảng của Chúa, các môn đệ cứ tưởng Chúa kêu mời họ để họ được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi, được ăn trên ngồi trốc, được lãnh đạo dân, chỉ tay năm ngón, ra lệnh cho dân phải thi hành luật này luật nọ. Sống với một vị Thầy có đầy đủ quyền năng:” có thể làm cho người mù thấy được, kẻ câm nói được, kẻ điếc nghe được, kẻ què đi được, kẻ bị quỷ ám được chữa lành, kẻ chết được làm cho sống lại và người nghèo được nghe giảng Tin Mừng”, các môn đệ cứ đinh ninh Thầy mình sẽ khôi phục lại Vương Quốc Israen và các Ngài sẽ tha hồ chia chác quyền hành với vị Thầy đáng yêu, đáng kính. Nhưng không, Chúa đã sống hoàn toàn trái ngược với sự suy nghĩ của các Ngài. Biến cố Thầy bị bắt, bị kết án, rồi Thầy sống lại, đang ở với các Ngài gần 40 ngày rồi, vẫn còn làm choáng ngợp các Ngài.. Chúa phục sinh hôm nay lại đưa ra những lời nhắn nhủ các môn đệ thật chân tình, thật khích lệ và rồi Ngài trăn trối cho các Ngài những lời thật tâm huyết trước khi Ngài lià xa các môn đệ để về với Chúa Cha.
“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy… Anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (Ga 14, 23-27). Chúa Giêsu phục sinh dặn dò các môn đệ nếu yêu mến Ngài, phải giữ lời của Ngài đã dậy, đã truyền. Mến Chúa, yêu Chúa làm sao được nếu không giữ lời Chúa ? Và quả thật, Chúa đã nói với các môn đệ nhiều lần:’ các con hãy thương yêu nhau như Thầy đã thương các con “. Đây là giới luật mới của Chúa. Yêu thương Chúa được thể hiện qua việc yêu mến anh em đồng loại. Vì “ Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”(Ga 14, 23).
CHÚA PHỤC SINH SẼ Ở LẠI VỚI NHỮNG AI GIỮ LỜI CỦA NGÀI VÀ ĐEM LỜI CỦA NGÀI RA THỰC HÀNH TRONG CUỘC SỐNG:
Chúa phục sinh đã nói rõ với các môn đệ và nhân loại lời tâm huyết trước khi Ngài về trời. Ngài luôn ước vọng cho những ai tin vào Ngài phải giữ lời Ngài, phải đem lời Ngài ra thực hiện trong cuộc sống của mình. Con người, nhân loại luôn khao khát tìm được hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc không phải cái có đó ta chỉ cần lấy tay bắt lấy và thừa hưởng. Hạnh phúc của những con người đi tìm Chúa, gặp được Chúa, họ phải phấn đấu sống hy sinh, quên mình vì người khác, từ bỏ ngay đến cả mạng sống của mình vì hạnh phúc của những người khác. Thực hiện được như thế, Chúa Giêsu cùng với Cha của Ngài sẽ đến và ở với họ.
Theo Chúa, phục vụ Chúa và phục vụ Giáo Hội, người rao giảng luôn phải cảm nghiệm sự êm đềm của thập giá Đức Kitô. Do đó, ngay trong cuộc sống vất vả đời thường, người tin vào Chúa sẽ cảm thấy phúc bình an khi họ luôn nhiệt thành với công việc phục vụ, luôn hy sinh vì phần rỗi của muôn người., luôn mất mát vì hạnh phúc của những người khác. Cha Piô Ngô Phúc Hậu đã viết :” Cha Quản Hạt, dì Mười, dì Manu, dì Chín, và mình thì lấy vỏ lãi làm một vòng Kinh Giữa, Biện Tràng, Kinh Cùng, Kinh Thổ và Đập Vườn để thấy tận mắt nỗi đau thương và cảnh tan nát của Cái Rắn. Chỉ trong một ngày, đống đổ nát đã cuốn gói đi theo bão số 5. Đi về đâu ? Không biết. Chỉ biết là nhà xứ bây giờ lại ấm cúng như xưa, nhà trường lại khang trang như thuở nào và tình người thì chan chứa. Bão số 5 thì đi, còn tình người thì đến. Bão đến rồi đi. Tình đến rồi ở lại “( Trích nhật ký truyền giáo của Cha Piô Ngô Phúc Hậu trang 254 ). Cái bình an và hạnh phúc của những kẻ tin là thế. Tin là đem lại niềm vui, cái phúc cho những kẻ khác, biến cái họa thành cái phúc và đó cũng là lời Chúa phục sinh đã dặn dò và trăn trối cho các môn đệ, cho nhân loại, cho mỗi người.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin cho chúng con biết lắng nghe, tuân giữ lời Chúa và đem lời Chúa ra thực hiện trong đời sống hằng ngày của chúng con.
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
1. Tại sai Chúa lại dặn dò các môn đệ ?
2. Giữ và tuân giữ lời Chúa là làm sao ?
3. Phúc bình an của Chúa phục sinh là gì ?


 

PS6-C22. BÌNH AN TỪ TRỜI  - Lm Peter Hà Ngọc Đoài

Thầy ban Bình An cho các con. Đừng sợ hãi nữa. (Jn 14:27) Nếu ta có Bình An trong tâm hồn: PS6-C22

Thầy ban Bình An cho các con. Đừng sợ hãi nữa. (Jn 14:27) Nếu ta có Bình An trong tâm hồn là dấu hiệu ơn Chúa đang ở trong ta. Một người dù sống trong nhà cao cửa rộng, dinh thự đền đài, tiên nghi và giàu sang, có cận vệ canh cổng giữ rào, nếu trong tâm hồn không có bình an thì người đó vẫn sống bất hạnh! Trong họ vẫn có chiến tranh xé nát tâm hồn! Bình an trong tâm hồn là phần thưởng cho những người làm việc thiện. Chuyện kể một gia đình nghèo ở miền quê. Ngày kia người vợ đau yếu, vào một đêm tối trời người cha nhờ đứa con nhỏ đi ra khu chăn nuôi tìm vài qủa trứng và ít ngũ cốc để làm món ăn cho vợ. Ít phút sau người cha nghe tiếng kêu cứu của người con vọng về: "Ba ơi con sợ bóng tối qúa!" Người cha khích lệ con bằng cách treo một bóng đèn ngoài hiên, dặn rằng thỉnh thoảng ngoảnh mặt lại mà thấy bóng đèn tức là người cha đang hiện diện và theo dõi bước chân con. Người con an tâm và làm theo lời cha dặn để giúp người mẹ. Ai cũng sợ bóng tối của cuộc đời. Đường dài muôn lối, tương lai mờ ảo, nếu không có ánh sáng của Chúa trong tâm hồn, nếu không có ân sủng nâng đỡ từng bước chân, thì ta sẽ không thể chu toàn sứ mạng được giao phó mỗi ngày.

Thực Hành: "Người chỉ cho tôi thấy thành thánh do Thiên Chúa từ trời gửi xuống." (Apoc. 21:10) Hành trình của mỗi Kitô hữu là hướng về thành thánh vĩnh cửu. Nhờ sự chết và sống lại của Đức Kitô, qua Bí Tích Rửa Tội thân xác của Kitô hữu trở nên đền thờ của Chúa giữa trần gian. Xin Chúa ban ơn cho con biết giữ gìn đời con là đền thờ xứng đáng cho Chúa ngự.


 

PS6-C23. THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN VÀ BAN AN BÌNH

Lm Phêrô Phan Văn Lợi
 

Cho tới đây, Đức Giêsu của Gioan đã nói nhiều về đức tin, về ánh sáng và sự sống: “Nếu anh: PS6-C23

Cho tới đây, Đức Giêsu của Gioan đã nói nhiều về đức tin, về ánh sáng và sự sống: “Nếu anh em đã biết Thầy, nếu anh em đã thấy Thầy, nếu anh em đã tin Thầy...”. Bây giờ Người nói đến tình yêu: “Nếu anh em yêu mến Thầy... Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy”, và đến bình an: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi”.

1... nếu chúng ta tuân giữ giới răn Đức Kitô

“Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”. Làm sao nghe điều đó mà không mơ mộng? Nhưng Đức Giêsu lay giũ các giấc mơ này. “Kẻ yêu mến Thầy ư? Đó là kẻ đã nhận lấy các lệnh truyền của Thầy và tuân giữ”.

Chúng ta luôn bị cám dỗ nhảy phóc lên và đi ngay đến lời hứa hẹn: Cha Thầy với Thầy sẽ đến ở lại với người ấy. Và chúng ta thất vọng vì đã chẳng suy nghĩ đủ về các điều kiện của việc Thiên Chúa cư ngụ như thế trong chúng ta. Tuy nhiên Đức Giêsu rất chính xác: “Kẻ yêu mến Thầy, chính là kẻ trung tín với lời Thầy”. Nghĩa là kẻ nghe lời đó cách rất chăm chú và làm điều mình được yêu cầu, dù với bất cứ giá nào đi nữa.

Điều này có vẻ rất đơn giản, nhưng thực tế chúng ta vẫn ở trong mơ mộng. Chúng ta thấy rất rõ những việc cần làm, rất muốn làm những việc này, nhưng chúng ta vẫn đứng bên bờ mà chẳng chịu nhảy xuống. Nhiều chuyện vĩ đại nằm ở tầm tay ta, nhưng mỗi lần đều bị chắn ngang bởi một chữ “Nếu” to tướng: “Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”.

Như đã thấy, câu nói này đưa chúng ta lên tới nhiều đỉnh cao, vào trong lắm êm dịu, nhưng có bốn từ gắn chúng ta với thực tế mà chúng ta không muốn nghe: “sẽ giữ lời Thầy”.

Giữ lời, hay giữ các lệnh truyền, không phải là một loại hậu quả ít nhiều tùy tiện của nhiệt tình chúng ta đối với Đức Giêsu. Thậm chí đó cũng chẳng phải là một kết luận hợp lý: nếu yêu mến Đức Giêsu, thì tôi sẽ phải giữ các giới răn Người. Từ “nếu” liên kết mạnh mẽ hơn nhiều ước muốn yêu mến Đức Giêsu của chúng ta với thái độ của chúng ta trong cuộc sống: tôi chỉ yêu mến khi vâng lời Người, bởi lẽ tình yêu đích thực, cụ thể của tôi, đó là những gì tôi làm.

Các thất bại của chúng ta bắt nguồn nơi đây: từ khước nhìn thấy rằng tình yêu không phải là một từ, một ước mơ, một rung động con tim, nhưng là một thái độ sống, một cách ăn ở. Khi suy niệm với thánh Gioan, thái độ sống này rất rõ rệt: “Chúng ta phải mến thương anh em” với tình yêu Đức Giêsu đã dùng để thương mến, tình yêu được kín múc và sống trong mối quan hệ với Chúa Cha. Cách cư xử huynh đệ của chúng ta kéo dài những gì được sống trong Ba Ngôi Thiên Chúa.

Mối dây mạnh mẽ liên kết ước muốn yêu Chúa rất thật của chúng ta với cái chúng ta làm cụ thể từ sáng tới chiều bằng trí tuệ và đôi tay mình, qua những cuộc gặp gỡ huynh đệ là như thế đấy. Nếu trong tất cả những điều đó không có tình yêu, thì đừng nói đến lòng mến Thiên Chúa. “Chính khi thương anh em, Đức Giêsu bảo, mà con yêu chính Thầy”.

Dưới ánh sáng ấy, bản văn hôm nay, được lấy cách rộng rãi từ câu 15 đến câu 29, cho chúng ta thấy làm sao sự khiếm diện bên ngoài của Thiên Chúa vẫn có thể là một kinh nghiệm liên tục về việc Người hiện diện... Hiện diện bộ tam, hiện diện ba ngôi, như đã được xác định từ đầu: “Nếu anh em yêu mến Thầy, Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban Thần Khí cho anh em”. Khi gia tăng các kinh nghiệm về tình bác ái huynh đệ, chúng ta cảm nếm nỗi êm dịu được sống với Đức Giêsu chính kinh nghiệm làm Con của Người, trong luồng tình yêu mầu nhiệm mà chúng ta gọi là Thần Khí.

Nhưng tất cả cái đó có thể chỉ cho một cảm giác khiếm diện cách tàn nhẫn nếu chúng ta không quyết chí tìm sự hiện diện của Chúa trong thái độ sống thường nhật của chúng ta. Mỗi lần muốn suy niệm về mối tương quan của chúng ta với Cha, Con và Thần Khí, hãy bắt đầu bằng cách ngồi lọt thỏm trong các mối tương quan huynh đệ của chính mình. Chính các mối tương quan này bảo đảm cho ta thực sự tiếp cận Thiên Chúa. Người ta chỉ có thể kinh nghiệm về việc Chúa hiện diện trong kinh nghiệm của giới răn tình yêu.
Mà chỉ có một tình yêu đích thực: thường xuyên để mình bị kích thích bởi hai câu hỏi nhỏ rất ngờ nghệch, nhưng duy chúng mới có sức mạnh kéo ta khỏi những ý hướng mơ hồ: Đức Kitô nơi anh em đợi gì ở tôi trong lúc này? Phải chăng trong lúc này tôi làm điều đó? Mà trong lúc này, anh em tôi, cộng đoàn tôi, dân nước tôi ở trong hoàn cảnh ra sao?

2.... nếu chúng ta chiến thắng xao xuyến và sợ hãi

Đi kèm sự hiện diện của Ba Ngôi trong tâm hồn kẻ yêu mến Đức Giêsu cách cụ thể chính là nỗi an bình: “Thầy để lại bình an cho anh em”.

Đối với người quen thuộc Thánh Kinh, bình an không chỉ là vắng bóng tranh chấp, tĩnh lặng tâm hồn, mà nhất là được dồi dào sức khỏe, sung mãn hạnh phúc, dư tràn ơn cứu độ. Và chỉ duy mình Thiên Chúa mới có thể ban bình an ấy. Vì đó là phúc lộc tuyệt vời nhất: “Triều đại Người, đua nở hoa công lý; và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72,7). Đức Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến, là Trung gian của bình an đó, nên Người có thể ban bình an. Không phải là thứ bình an giả tạo mà nhiều lần các ngôn sứ đã cảnh giác và Đức Giêsu đã từ chối đem xuống mặt đất, nhưng là bình an đích thực của Thiên Chúa, mà để ban cho thế gian, Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống mình.

“Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”. Tại sao lại là bình an của Thầy? Đức Giêsu xác định điều này bằng cách thêm: “Anh em đừng xao xuyến”. Các thứ bình an khác, “bình an của thế gian”, không thoát khỏi những xao xuyến. Chính Đức Giêsu đã nếm biết xao xuyến trước cái chết của Ladarô, ở vườn Ghétsêmani, trên cây thập tự. Ở đây, ngay trước cái chết của mình, Đức Giêsu nói đến bình an của mình như đến một xác tín về chiến thắng cuối cùng trên mọi xao xuyến. Chính bình an này được thánh Phaolô đưa ra như một thách thức sau khi đã liệt kê mọi lo âu sầu khổ của đời chúng ta: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” (Rm 8,37).

Bình an của Đức Kitô là một thứ bình an nội tâm đến độ không gì có thể thực sự đe dọa nó bao lâu nó gắn kết với niềm xác tín mình được Người yêu thương. Khi Đức Giêsu nói: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”, điều đó có nghĩa: Thầy yêu thương anh em, không gì nghiêm trọng sẽ có thể động tới anh em nếu anh em tin vào tình yêu của Thầy. Vì cần phải tin! Hễ còn sợ, dù ít dù nhiều, là chúng ta như muốn nói với Đức Giêsu: con không thật sự tin rằng Chúa là Đấng chiến thắng, Chúa có thể làm cho chúng con thành những kẻ chiến thắng.

Khi mở đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Gioan-Phaolô đã kêu mời mọi tín hữu công giáo: “Đừng sợ hãi!”. Trong tông thư mới nhất: “Ngàn năm thứ ba đã khởi đầu”, Đức Thánh Cha cũng lặp lại y như vậy. Với Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta không có gì để sợ. Thế nhưng, biết bao môn đệ của Đấng chiến thắng thế gian vẫn còn kinh hãi trước thế gian, trước bạo quyền. Bình an họ mong được không phải là thứ “bình an của Thầy” (thứ bình an họ phải chinh phục nhờ chiến đấu với thế gian tội lỗi và nhờ chấp nhận thập giá đau khổ), nhưng là sự yên thân, an nhàn, chẳng bị thế gian quấy rối, phiền nhiễu, chẳng bị thế gian cất mất các ân huệ nhỏ giọt, những ân huệ được khôn khéo ban cho để bảo đảm nơi họ thái độ cam chịu, thụ động, cầu an, ù lì. Bình an của họ là thứ bình an của “im lặng đồng lõa”, của “chịu đấm ăn xôi”, của “khôn ngoan nín tiếng”, của “lì lợm ngậm miệng”, mặc bao ngôn sứ đang cô đơn gào thét và mặc bao nạn nhân anh em của họ đang đau xót kêu trời!


 

PS6-C24. NHỮNG DẤU HIỆU

Ngày hôm nay, người ta thường dùng rất nhiều những dấu hiệu để nói lên một điều gì đó. Dấu: PS6-C24

Ngày hôm nay, người ta thường dùng rất nhiều những dấu hiệu để nói lên một điều gì đó. Dấu hiệu ngoài đường phố, dấu hiệu tại phi trường, dấu hiệu trong lớp học…Chẳng hạn một tấm bảng vẽ hai em nhỏ cắp sách, đó là dấu hiệu gần tới trường học, xe cộ phải thận trọng,
Trong lãnh vực tôn giáo, chúng ta cũng thường dùng những dấu hiệu bên ngoài để nói lên tâm tình, ý nghĩa hay ơn thánh bên trong. Chẳng hạn chúng ta quì gối để tỏ lòng tôn kính khi tham dự thánh lễ hay khi lãnh nhận các bí tích.
Tuy nhiên, điều đáng buồn đó là chúng ta chỉ chú trọng tới những dấu hiệu, những nghi thức bên ngoài mà quên mất điều chính yếu, đó là ý nghĩa và tâm tình bên trong.
Có những người tín hữu cận thận chu toàn những dấu hiệu bên ngoài như làm dấu thánh giá, đi nhà thờ và xưng tội rước lễ, khiến cho mọi người cứ tưởng rằng họ là những kẻ đạo đức và tốt lành.
Một bài thánh ca tuyệt vời và những nghi thức trang trọng có thể làm cho những người chung quanh cảm động đến rơi cả nước mắt. Tuy nhiên, nào có ích gì khi họ không mang lấy những tâm tình bên trong.
Nếu chỉ chạy theo hình thức và chỉ sống đạo trong nhà thờ, thiết tưởng chúng ta nên nhớ lại lời khuyên nhủ sau đây của thánh Giacôbê tông đồ :
- Anh em hãy thực thi lời Chúa, chứ không phải chỉ nghe suông mà thôi. Kẻ nghe mà không thực thi Lời Chúa cũng giống như một người soi gương. Hắn nhìn rồi bỏ đi và quên mất khuôn mặt mình như thế nào.
Phải chăng nhiều người trong chúng ta cũng đã nghĩ và làm như vậy ?
Khi đi tham dự thánh lễ, họ chăm chú cầu nguyện thật sốt sắng. Ở trong nhà thờ, họ là những chú chiên ngoan. Thế nhưng, khi cánh cửa nhà thờ khép lại, ném họ vào giòng chảy cuộc đời, thì họ bỗng quên mất tất cả, họ vội hóa kiếp thành một loài lang sói : cũng gian tham, cũng độc ác, cũng thù oán…Họ chẳng bao giờ ý thức được rằng cuộc sống phải là như một thánh lễ nối dài. Họ chỉ sống đạo trong nhà thờ mà không sống đạo trong lòng cuộc đời. Hay nói cách khác, đời sống của họ dường như đã được chia thành những ngăn và đạo đức cũng chỉ là một ngăn nhỏ bé, hoàn toàn tách biệt, chẳng liên can và chẳng ảnh hưởng gì tới ngăn nghề nghiệp, ngăn nghĩ ngơi, năn ăn uống, ngăn gia đình, ngăn xã hội…
Nếu chỉ sống đạo một cách hời hợt bên ngoài như thế, thì Kitô hữu cũng như Kitô giáo sẽ chẳng thể nào trờ nên men trong bột, ánh sáng trong đêm tối, muối mặn trong thức ăn, hầu cảm hóa được gia đình, xã hội và những người chung quanh.
Đức tin không phải chỉ là một bộ quần áo đẹp chúng ta mặc vào trong những ngày lễ lớn khi đến nhà thờ, rồi sau đó, cởi bỏ và cất kỹ trong tủ. Trái lại đức tin phải bén rễ sâu và thấm nhiễm vào từng tư tưởng, từng lời nói và từng việc làm của chúng ta, như lời thánh Phaolô đã khuyên nhủ :
- Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm vì Đức Kitô.
Trái đất xoay quanh mặt trời thế nào thì toàn bộ cuộc sống của chúng ta cũng phải xoay quanh Đức Kitô như vậy, để rồi chúng ta có thể nói lên như thánh Phaolô :
- Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi.
Người Kitô hữu phải dám liều, dám hy sinh, dám dấn thân vào những môi trường xã hội để làm chứng cho Tin mừng. Người Kitô hữu phải sống đạo ở mọi nơi và trong mọi lúc. Hay nói một cách   khác : trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người Kitô hữu cũng phải sống Lời Chúa, tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, như lời Ngài đã phán qua đoạn Phúc âm hôm nay  :
-  Ai yêu mến Thày, thì sẽ giữ lời Thày. Cha Thày sẽ yêu mến người ấy. Và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy. Trái lại, ai không yêu mến Thày, thì không giữ lời Thày. Và lời các con nghe đây không phải là của Thày, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thày.
Trong khi sống lời Chúa, thực thi những điều Ngài truyền dạy, chúng ta vừa làm chứng cho Tin mừng và biểu lộ được lòng yêu mến, trung thành và gắn bó của chúng ta đối với Chúa.
Để kết luận, tôi xin kể lại một mẩu chuyện như    sau :
Ngày kia, Đức Khổng tử đã hỏi các học trò của mình :
- Các con có nguyện vọng gì về tương lai, thì hãy nói lên để chia sẻ cho mọi người cùng biết.
Trước hết, Tử cống liền nói :
- Con muốn làm một vị tướng đem quân tiêu diệt hết mọi kẻ thù cho đất nước được an bình thịnh vượng,
Tiếp đến, Tử lộ bèn thưa :
- Con muốn làm một nhà ngoại giao, đem ba tấc lưỡi đi giàn xếp mọi nỗi bất hòa giữa các dân các nước trong thiên hạ.
Còn Nhan tử, chần chừ một lúc rồi mới nói :
- Nguyện vọng của con là đem nhân nghĩa truyền bá sâu rộng, để mọi người thực thi câu tứ hải giai huynh đệ, bốn bể đều là anh em. Một khi đã yêu thương nhau, thì khỏi phải đem quân đi dẹp loạn, cũng như khỏi phải mang ba tấc lưỡi đi hòa giải…
Với chúng ta cũng thế. Hãy lắng nghe và thực thi Lời Chúa, nhất là tuân giữ giới luật yêu thương, nhờ đó bản thân chúng ta được hạnh phúc, gia đình chúng ta được hòa thuận, xã hội chúng ta được an vui, đồng thời nhờ đó chúng ta còn biểu lộ được lòng yêu mến và trung thành của chúng ta đối với Chúa như lời Ngài đã phán : Ai yêu mến Thày thì tuân giữ lời Thày.

 

PS6-C25. SỢ HÃI - NMS/78

Chúa Giêsu và một thanh niên cùng đi trên một bãi cát dài ven biển. Bốn vết bàn chân hằn in: PS6-C25

Chúa Giêsu và một thanh niên cùng đi trên một bãi cát dài ven biển. Bốn vết bàn chân hằn in rõ trên mặt cát. Nhưng khi chàng thanh niên chẳng may gặp phải khó khăn thử thách, anh ta liền nhìn xuống mặt cát thì thì thấy còn lại hai dấu bàn chân. Anh kinh ngạt thất vọng kêu lên : “Thưa Thầy, lúc nãy Thầy trốn đi đâu để con bước đi một mình ?”. Chúa Giêsu khẽ bảo anh  ta : “Con thử nhìn kỹ lại xem, coi đó là những vết của ai ?”. Nghe lời Chúa, anh thanh niên nhìn kỹ lại thì mới tỉnh ngộ ra đó là những dấu chân của Chúa. Anh ta vội thắc mắc la lên : “Vậy thưa Thầy, lúc đó con ở đâu?” Chúa âm yếm trả lời : “Con ạ, những lúc con gặp khó khặn gian nan, chính khi đó Thấy biết con không đủ sức chịu đựng nên Thầy đã vác con trên vai Thầy để cứu giúp con khỏi họạ nạn đấy”.
Dĩ nhiên, đây là một câu chuyện tưởng tượng, nhưng lại là một câu chuyện đầy ý nghĩa vì nó nói lên được một sự thật mà có lẽ ngày xưa các Tông đồ cũng như ngày nay chúng ta đều không nhận ra hoặc chưa tìm hiểm cặn kẽ : đó là Chúa luôn luôn hiện diện bên ta để bênh vực giúp đỡ ta.
Một chân lý thật đơn giản và rõ ràng. Vì suốt trong thời gian truyền đạo,riêng tư cũng như công khai, Chúa Giêsu luôn nhắc đi nhắc lại câu nói : “Thầy ở với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Thế thì tại sao trong cuộc sống hằng ngày, nhất là những lúc gặp gian nan khốn khó chúng ta hầu như quên sự hiện diện của Chúa, thậm chí đôi lúc có những người đối xử, ăn nói kiểu như không có Chúa nữa ? Sở dĩ có tình trạng đau buồn này do nhiều nguyên nhân gây nên, nhưng tựu trung tóm gọn lại trong hai nguyên nhên chính yếu sau đây :
Thiếu một đức tin sâu sắc. Bởi vì, để nhận ra được sự hiện diện huyền diệu, đích thực của Chúa ở bên ra và sống kết hiệp mật thiết với Ngài thì ta cần phải có một đức tin mạnh mẽ, siêu việt. Trong khi phần đông chúng ta cứ lầm lạc duy trì một thứ đức tin vụ hình thức, công nạn hoặc thứ đức tin ấu trí, non nớt.
Thật vậy, nếu khi đức tin của chúng ta chỉ dựa trên những sự kiện bên ngoài như thị kiến phi thường, nhưng phép lạ hiển nhiên hoặc dựa trên những hình thức rầm rộ như lễ nghi long trọng, rước xách linh đình, đông đúc vui vẻ mới cho là có Chúa hiện diện. Còn khi bình thường, thầm lặng, riêng tư, buồn sầu thì dường như cuộc sống của chúng ta vắng bóng Chúa, không can hệ gì tới Ngài. Như Chúa đã phán : “Phúc cho ai không thấy mà tin”, điều đó có nghĩa là Đấng Phục Sinh đã từ bỏ đời sống trần thế, vượt qua giới hạn không gian và thời gian, Ngài khuất mắt ta để từ đây luôn hiện diện bên ta theo cách thế hiện hữu bao quát hơn. Cho nên, chúng ta không chỉ dựa vào khả giác để nhận ra Chúa mà phải dựa vào một đức tin sâu sắc để có thể vượt qua những trở ngại, khó khăn mà không mất niềm tin tưởng nơi Ngài. Hơn nữa, nếu một đức tin quá no nớt, nghĩa là khi bình an vô sự thì dễ dàng tin Chúa, còn khi gặp gian nan thử thách thì hoảng sợ lao đao, thất vọng buông xuôi, thì cũng không thể tìm gặp được Chúa.
Thiếu lòng mến nồng nàn. Cứ nhìn vào trường đời, chúng ta sẽ thấy nhiều cảnh huống đến khó tin : có nhiều người sống gần nhau xem ra thương nhau thắm thiết, nhưng khi xa nhau thì hững hờ nhạt nhẽo, chóng quên nhau; lại có những bề ngoài cứ anh anh em em luôn miệng, tưởng như sống chết có nhau, nhưng khi gặp hoạn nạn thì nghoảnh mặt làm ngơ, coi như không quen biết. Cũng thế, cõ lẽ khi chúng ta yêu Chúa với một tình yêu đã bôi bên ngoài, giả dối hời hợt, thay lòng đổi dạ mau chóng thì thử hỏi làm sao còn nhớ đến Chúa, muốn ở bên Chúa ?
Thêm vào đó, nhiều khi chúng ta cứ lầm tưởng rằng tuân giữ các giới răn một cách máy móc hay tham dự các nghi thức lễ lạy với một tâm hôn trống rỗng đã đủ yêu Chúa rồi, không có gì đáng phàn nàn chê trách. Sồng và yêu Chúa như thế thì mãi mãi chúng ta là kẻ xa lạ với Chúa. Do đó, để thấy được Chúa, để sống nhờ Ngài với Ngài, ta phải biết thiếp lập mỗi tương quan với Ngài bằng một tình yêu cao độ. Tình yêu này được thể hiện cách sống động nhờ việc tuân giữ và thực hành lời Chúa với cả quết tâm nhiệt thành và tôn kính. Bởi vì, lời nói là một điều cụ thể, một biểu thị rõ nét nhất của một người còn sống hay khuất bóng. Và nó cũng còn là một bảo chứng sống động cho mối giây liên hệ giữa người này với người khác. Cho nên, muốn kết hiệp với Chúa, muốn tìm thấy sự hiện diện gần gũi của Ngài, mỗi người chúng ta ra sức yêu mến và sống lời Ngài hết tình.
Tóm lại, với một đức tin sâu sắc, trưởng thành và với một tình mến thắm thiết, cao độ thì cuộc đời mỗi người đâu còn cô đơn, xao xuyến, sợ hãi giữa bao thử thách gian nan, đâu còn lung lay, sa ngã giữa bao đam mê quyến rũ vì có Chúa luôn đồng hành, nâng đỡ ta.

 

PS6-C26. BÌNH AN - CS/96

Tại Việt nam, chiến tranh đã chấm dứt cách đây hơn 25 năm rồi, nhưng cuộc sống của người dân: PS6-C26

Tại Việt nam, chiến tranh đã chấm dứt cách đây hơn 25 năm rồi, nhưng cuộc sống của người dân Việt nam còn trải qua nhiều nỗi bất ổn và bất định. Bất ổn và bất định về kinh tế, về tài chánh, về giá cả, về thời tiết, về tai ương hoạn nạn, về bệnh tật, về công ăn việc làm…Tất cả những bất ổn và bất định ấy đè nặng trong tâm tư mỗi người, tạo nên sự sợ hãi và lo lắng triền miên. Vì sợ hãi và lo lắng, nên người ta khao khát kiếm tìm sự an toàn và bình yên.
Thông thường người ta nghĩ rằng quyền lực, danh vọng, địa vị, tiền bạc, của cải sẽ là những cứ điểm an toàn cho cuộc sống. Vì suy nghĩ như vậy nên có những người chấp nhận đánh đổi những giá trị tinh thần, chấp nhận chà đạp chân lý, chấp nhận bóp chết tiếng nói của lương tâm để có được những điểm tựa nói trên. Nhưng những điểm tựa kể trên có thực sự đem lại bình an cho cuộc sống con người hay không ? Thánh Gioan đã cho ta câu trả lời khi người tường thuật lại những lời nói tâm huyết của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly.
Bầu khí của bữa tiệc ly thật ngột ngạt, vì tâm hồn của các tông đồ mang nặng những ưu tư và sợ hãi. Ưu tư vì cuộc thương khó và tử nạn của Thầy Giêsu mỗi lúc một gần hơn. Sợ hãi vì nếu Thầy phải chết cách đau thương như Người đã loan báo, thì số phận của các ông quả là đen tối vì sẽ bị liên lụy. Chính khi tâm tư của các tông đồ đang bị nhận chìm bởi những nỗi sợ hãi ấy thì Chúa Giêsu lên tiếng trấn an các ông : “Anh em đừng xao xuyến và sợ hãi. Này đây, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em. Thầy ban bình an không như cách thế gian ban”.
Thì ra còn có một sự bình an khác với sự bình an mà con người suy tưởng. Có một điểm tựa an toàn khác với những điểm tựa của thế gian. Đó là sự bình an của Đức Kitô, Đấng mà khi vừa sinh ra đã phải trốn chạy sự ruồng bắt của con người. Đấng mà khi ban bình an cho các tông đồ vẫn còn in hằn những dấu đinh trên tay và dấu đòng nơi cạnh sườn. Như vậy, sự bình an mà Chúa Kitô ban không loại trừ những đau thương và gian khổ trong đời. Vẫn còn đó những vất vả và lo toan trải dài theo năm háng. Nhưng cùng với lời hứa ban bình an, Chúa Giêsu cũng hứa ban Thánh Thần cho những kẻ tin Người. Và Thánh Thần sẽ thông ban sức mạnh để những người tin Chúa Giêsu có can đảm đón nhận mọi sự, can đảm đặt bàn chân mình vào dấu chân của Chúa và đi trên đường lối của Người. Dĩ nhiên đi trên con đường của Chúa sẽ có nhiều gian khổ, sẽ phải hy sinh và từ bỏ, nhưng chính lúc đó chúng ta sẽ cảm nhận được sự bình an và niềm vui đích thực.
Chúng ta tin tưởng vì đó là lời hứa của Chúa Kitô Phục sinh.

 

PS6-C27. HÒA BÌNH 1 - MNMTV/273

Bất thần tôi cảm thấy xao xuyến lo âu khi nghĩ đến những người Công giáo Đức. Tôi không: PS6-C27

“Bất thần tôi cảm thấy xao xuyến lo âu khi nghĩ đến những người Công giáo Đức. Tôi không biết họ cảm nghĩ thế nào, khi chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh. Tôi cảm thấy nhu cầu cần phải dâng việc rước lễ để cầu nguyện cho nước Đức. Tôi hiểu rằng chúng ta cần phải cầu nguyện cho sự canh tân luân lý và tinh thần của xứ sở đã từng sống dưới sự cai trị của Đức Quốc Xã”.
Những dòng tâm sự trên đây được trích từ Nhật ký thiêng liêng của một người đàn bà Pháp được xem là người đã khởi xướng phong trào Pax Christi – Hòa bình của Chúa Kitô. Sinh ra trong một gia đình trưởng giả, nhưng bà Marc đã có một đức tin sống động và nhiệt thành. Trong thời Đức Quốc Xã chiếm đóng Pháp, dưới sự hướng dẫn của cha linh hướng, bà đã bắt đầu viết nhật ký thiêng liêng và chính những trang nhật ký này đã làm phát sinh một phong trào về sau sau được gọi là “Hòa bình của Chúa Kitô”.
Cuối năm 1944, vào giữa lúc thế chiến thứ II còn sôi động, bà xác tín rằng cần phải cầu nguyện cho sự hoán cải của nước Đức. Ý tưởng này không được nhiều người đón nhận, bởi vì chiến tranh vẫn còn sôi sục và người ta khó chấp nhật tinh thần hòa giải. Tuy nhiên, bà vẫn kiên trì trong việc thành lập một phong trào cầu nguyện cho nước Đức được ơn trở lại. Sau khi nước Đức đầu hàng, phong trào đã lan rộng tại nhiều nước Âu Châu. Ngoài mục đích cầu nguyện và gây ý thức về hòa bình. Từ 50 năm qua, đóng góp lớn lao nhất của phong trào này không chỉ là cổ võ cho hòa bình thế giới, mà thiết yếu là làm cho thế giới hiểu được hòa bình mà Chúa Kitô mang lại cho con người.
“Hòa bình của Chúa Kitô”. Quả thực chỉ có Chúa Kitô mới đem lại hòa bình đích thực cho con người. “Ta để lại bình an cho các con, Ta ban bình an của Ta cho các con”. Sự bình an mà Chúa Kitô đem lại cho con người không giống như bình an hay hòa bình mà thế gian hứa hẹn. Sau thế chiến thứ II quả thực ở qui mô thế giới, tiếng súng đã hầu như im tiếng. Tuy nhiên lịch sử cho thấy : sau thế chiến thứ II, nhân loại vẫn chưa có hòa bình đích thực, lò thuốc súng vẫn còn đó, chiến tranh bằng súng đạn không diễn ra giữa hai khối kình địch nhau nhưng lửa hận thù lại bùng nổ ở nhiều nơi khác.
Hòa bình mà Chúa Kitô đem lại cho con người trước tiên và thiết yếu là bình an trong tâm hồn. Hòa bình đó, bình an đó chỉ có khi con người chiến thắng được kẻ thù khủng khiếp nhất là tính tham lam, ích kỷ, hận thù. Bom đạn có im tiếng, nhưng bao lâu lòng tham lam, ích kỷ hận thù vẫn còn sôi sục trong tâm hồn con người, thì bấy lâu chiến tranh vẫn còn đó.
Chúa Giêsu là nguyên ủy của hòa bình. Ngài đã thực sự chiến thắng được kẻ thù căn cội và khủng khiếp ấy bằng cả cuộc sống hiến thân và hy sinh đến giọt máu cuối cùng. Chỉ Ngài mới có thể đem lại hòa bình đích thực cho nhân loại. Người Kitô hữu tin như thế và họ đón nhận sức sống thần linh của Ngài để nhờ đó cũng chiến thắng được kỷ thù căn cội của hòa bình là ích kỷ, tham lam, hận thù.
Hòa bình của Chúa Kitô, đó là hồng ân cao cả mà chúng ta phải không ngừng cầu xin và đó là hòa bình mà chúng ta luôn được mời gọi thể hiện bằng cuộc sống quảng đại, yêu thương và tha thứ.

 

PS6-C28. HÒA BÌNH 2 - MNMTV/255

Một người đàn ông nọ vừa về hưu, ông mua một căn nhà bên cạnh một trường học. Những tuần: PS6-C28

Một người đàn ông nọ vừa về hưu, ông mua một căn nhà bên cạnh một trường học. Những tuần lễ đầu chỗ ông ở tương đối yên tĩnh, nhưng rồi năm học mới bắt đầu, mọi sự không còn như ông tưởng nữa. Chỉ mới ngày đầu tiên, chỗ ở yên tĩnh của ông đã bị xáo trộn vì tiếng gõ vào các thùng rác inh ỏi do ba học sinh vừa ra khỏi trường học cầm cây gõ vào. Ngày qua ngày, cho đến một lúc không chịu nổi nữa, người đàn ông liền nghĩ cách đối phó. Một hôm khi ba cậu học sinh đang gõ thùng, ông tiến lại tươi cười nói : “Mấy cậu vui tính quá : ngày xưa khi bằng tuổi mấy cậu, tôi cũng đã từng chơi như thế. Tôi có thể nhờ các cậu một điều được không ? Tôi sẽ cho mỗi cậu một đồng, nếu các cậu hứa đi qua đây mỗi ngày và gõ vào thùng rác này. Dĩ nhiên ba cậu học sinh không thể tưởng tượng được rằng cái trò tinh nghịch của mình lại trở thành cái nghề được trả lương đàng hoàng.
Sau vài ngày, người đàn ông đến gặp ba cậu và  nói : “Xin lỗi mấy cậu, tôi đang kẹt tiền, từ hôm nay, tôi xin được trả cho mỗi người 50 xu mà thôi”. Những tên phá rối không hài lòng lắm, nhưng có còn hơn không. Mấy ngày sau, người đàn ông lại đến gặp ba cậu và  nói : “Này các cậu, rất tiếc là tôi chưa nhận được tiền an sinh xã hội, cho nên tôi chỉ có thể trả mỗi người 25 xu mà thôi”. Nghe thế, những tên phá rối liền phản đối : “Ông tưởng chúng tôi phải mất thời giờ gõ thùng mà mỗi lần chỉ nhận được 25 xu thôi sao. Ông điên rồi, chúng tôi xin chào ông vậy”. Nói xong, bọn trẻ thối chí bỏ đi, và kể từ hôm đó con đường trước nhà người đàn ông lại được yên tĩnh.
Ngạn ngữ Latinh có câu : “Muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh”. Hòa bình thường được trả bằng một giá đắt, có khi đó là giá của chính mạng sống. Cái chết của Mahatma Gandbi, của Luther King, của Robert Kennedy, của Y. Rabin cho chúng ta thấy rõ điều đó.
Là nguyên ủy của sự bình an, dĩ nhiên Chúa Giêsu chỉ rao giảng và thể hiện sự bình an mà thôi. Nhưng hòa bình hay bình an mà Chúa Giêsu mang đến như Ngài xác nhận trong bài Tin mừng hôm nay không phải là thứ hòa bình thế gian ban tặng. Hòa bình hay bình an của thế gian thường chỉ là hai chữ bình an đồng nghĩa với an phận, với trốn tránh, với thỏa hiệp. Hòa bình hay bình an Chúa Giêsu mang đến chỉ có thể có được bằng một giá đắt : nó đòi hỏi sự chiến đấu, chấp nhận mất mát, có khi cả mạng sống mình. Hòa bình hay bình an ấy chỉ có khi con người có thể thốt lên như thánh Phaolô : “Lương tâm tôi không trách cứ tôi điều gì”. Chỉ khi lương tâm không trách cứ chúng ta điều gì, lúc đó chúng ta mới có được bình an hay hòa bình thực sự trong tâm hồn.
Xin Chúa gìn giữ chúng ta luôn được bình an thư thái. Xin Ngài soi sáng để chúng ta biết chân thành nhận ra thiếu sót, lỗi lầm, và khi chúng ta đã xưng thú tội lỗi, xin cất khỏi những lo âu đang đè nặng trên lương tâm chúng ta.

 

PS6-C29. XA MẶT, KHÔNG CÁCH LÒNG  - VIKINI

Câu nói : “Xa mặt cách lòng” tiết lộ một sự thật chua chát của lòng con người. Khi xa nhau thì: PS6-C29

Câu nói : “Xa mặt cách lòng” tiết lộ một sự thật chua chát của lòng con người. Khi xa nhau thì người ta dễ quên nhau. Bao nhiêu đôi vợ chồng đỗ vỡ vì sống xa nhau. Bao nhiêu con cái xa cha mẹ, thì dễ thành bất hiếu, bất nhân, bụi đời, hư hỏng. Bao nhiêu đầy tớ khi chủ vắng nhà thì như gà mọc đuôi tôm. Đúng như dụ ngôn đầy tớ bất trung (Mt. 24, 48-51)
Đức Giêsu muốn đề phòng cho các môn đệ khỏi lâm vào cảnh đau lòng xa mặt cách lòng, nên trước khi về trời, về cùng Chúa Cha, Người đã đảm bảo với môn đệ rằng về phía Thiên Chúa không có chuyện xa mặt cách lòng, và về phía con người cần phải giữ lời Thầy để xa mặt, nhưng không cách lòng.
1- Về phía Thiên Chúa : Xa mặt, không cách lòng. Để đảm bảo chắc chắn dù Đức Giêsu về trời, về cùng Chúa Cha, thì “Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở với anh em”, “Cha Thầy còn phái đến nhân danh Thầy, Đấng bào chữa là Thánh Thần sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”. Đức Giêsu còn đoan hứa rõ ràng : “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Chứ không để anh em mồ côi đâu”. “Vì Thiên Chúa đã thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho thế gian được sống và sống dồi dào”. Như vậy, cả Ba ngôi Thiên Chúa đều đến ở trong anh em, anh em được yêu mến, dậy dỗ, được bào chữa, nâng đỡ và được ban phúc bình an, không còn phải xao xuyến, sợ hãi, mà còn  được vui mừng vì Thầy về cùng Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Vậy, về phía Đức Giêsu, càng xa mặt về phần xác bao nhiêu, thì về phần thiêng liêng càng gắn bó kết hợp với anh em ở khắp mọi nơi, và khắp mọi lúc.
2- Về phía con người : Xa mặt, phải làm sao để không cách lòng ?
Để đề phòng khi xa mặt Chúa, mà lòng mình không xa Chúa; khi chủ vắng nhà, đầy tớ không bất trung mọc đuôi tôm, thì Đức Giêsu đã bảo : “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy” giữ lời Thầy, thực thi lời Thầy, sống lời Thầy, truyền bá lời Thầy, mới chứng tỏ lòng yêu mến Thầy. Như thế, xa mặt, nhưng không cách lòng. Giữ lời Thầy là một trắc nghiệm rõ nhất, chính xác nhất về lòng mến Chúa. “Lửa thử vàng, gian nan thử đức” thì giữ lời Thầy là lửa thử lòng mến Thầy. Trong khoa học, để biết chắc một giả thuyết đúng, người ta phải thử bằng thí nghiệm, bao lâu chưa chứng nghiệm chắc chắn, thì chỉ là giả thuyết, chưa có giá trị khoa học. Nhà bác học Pasteur đã bác bỏ giả thuyết tự vật chất sinh ra sinh vật. Ông đã làm thí nghiệm nhiều lần đem dấm lên núi cao, nơi không khí trong sạch không có vi khuẩn, dấm không bao giờ lên men. Dấm chỉ lên men khi có vi khuẩn. Nhờ thí nghiệm đó, Pasteur đã phát minh ra khoa vi trùng học để chữa bao nhiêu chứng bệnh của con người.
Đức Giêsu đã dậy chúng ta khám phá ra lòng mến Chúa bằng phương pháp “giữ lời Chúa”. Hãy làm thí nghiệm xem chúng ta có lòng mến Chúa thật hay giả : “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”.
¯ Các môn đệ sống với Thầy bằng xương bằng thịt, ai cũng tỏ ra yêu mến Thầy. Nhưng khi xa mặt Thầy, khi Thầy về cùng Chúa Cha, các ông muốn biết mình còn yêu mến Thầy nữa không, thì phải xem mình có thực thi lời Thầy không ? Nếu các ông giữ lời Thầy, sống theo lời Thầy, chứng tỏ chắc chắn các ông còn yêu mến Thầy. Quả thực, trừ Giuda, hết thảy các môn đệ chẳng những giữ lời Thầy, sống lời Thầy, mà còn rao giảng lời Thầy, viết sách truyền bá lời Thầy cho muôn dân, muôn thế hệ. Các ông còn hy sinh chịu chết để chứng tỏ lời Thầy thật là lời hằng sống, lời của Chúa Cha ban ơn cứu độ, ban sự sống hạnh phúc muôn đời cho những ai tin và giữ lời Thầy : “Lời Thầy nói với anh em là Thần khí và sự sống” (Ga. 6, 63) “Ai nghe lời Thầy và tin vào Đấng đã sai Thầy thì có sự sống đời đời” (Ga. 5, 24). “Ai tuân giữ  lời Tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 8, 51). Các môn đệ đã giữ lời Thầy để chứng tỏ lòng mến Chúa và nhờ đó các ông được phần thưởng vinh quang muôn đời.   
¯ Phần chúng ta thì sao ? Có bao giờ chúng ta dùng phương pháp “giữ lời Thầy” để thử mình có lòng mến Chúa không ?
¯ Thường thì chúng ta tưởng mình có lòng mến Chúa bằng đi lễ, đọc kinh, dâng hoa, rước kiệu, tổ chức Giáng sinh, Phục sinh long trọng vui vẻ… Như thế là yên tâm mình đã giữ đạo, là có lòng mến Chúa. Sợ rằng chúng ta chỉ kính bằng môi miệng mà lòng xa Thiên Chúa !
¯ Có người tưởng mình giữ trọn mười điều răn như chàng thanh niên giầu có trong Tin Mừng “đã giữ tất cả các điều đó từ thuở nhỏ” (Mt. 19, 16-22 ; Lc. 18, 18-23). Anh tưởng như thế là được sống đời đời ! Thật lầm to ! Lời Chúa không phải chỉ có mười điều răn theo lối sống tiêu cực của anh, anh chưa có lòng mến Chúa và yêu người tích cực.
Chúng ta phải tích cực giữ lời Chúa, sống lời Chúa, thực thi lời Chúa và loan truyền lời Chúa như các môn đệ đã thi hành và ghi chép lại trong Tin Mừng.
Ca dao có câu : “Cá không ăn muối, cá ươn. Con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Nếu chúng ta không sống lời Chúa, mặc nhiên là cãi lời Chúa, chắc chúng ta sẽ chẳng được sống đời đời. Người xưa còn khuyên : “Con ơi muốn nên thân người. Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha”. Lời mẹ cha là phàm nhân còn có sức huấn luyện con cái nên người tốt : Huống chi lời Chúa, làm sao chúng ta không lắng nghe ?
Lạy Chúa Giêsu, thân phận con là loài hình hài thể xác, luôn bị hấp dẫn bởi hình danh sắc tướng mầu mè cụ thể trước mắt. Khi xa mặt, dễ cách lòng, xin nâng đỡ phận hèn mệnh bạc của con, để con tận tình giữ lời Chúa. Xin Lời Chúa sẽ soi sáng con yêu mến Chúa và gắn bó với Chúa luôn mãi.

 

PS6-C30. ĐƯỜNG LỐI CHÚA KHÁC ĐƯỜNG LỐI TA

 Dòng Đồng Công
 

Một trong những cố vấn của Tổng thống Nixon bị kết án tù vì vụ Watergate là Charles Colson: PS6-C30

Một trong những cố vấn của Tổng thống Nixon bị kết án tù vì vụ Watergate là Charles Colson. Không lâu trước khi bị kết tội, Colson trải qua một cuộc hoán cải tôn giáo. Ông trở lại với Chúa Giê-su. Một buổi sáng thứ hai, khi đang trong tù, Colson tự thắc mắc không biết tại sao Chúa lại để ông vào tù. Ông không thấy điều tốt nào ra từ việc chôn vùi sau bức màn sắt. Ông cảm thấy bị Chúa bỏ.
Ông mở Kinh thánh ra và gặp lá thư gửi tín hữu Do thái. Đoạn này nói lý do tại sao Chúa Giê-su đến trần gian và sống giữa chúng ta như người anh em. Đột nhiên, một tư tưởng đến trong đầu Colson. Colson nghĩ rằng Thiên Chúa cũng có chương trình cho ông. Sống giữa những bạn tù, ông cũng phải dẫn họ đến với ơn cứu độ. Sau này, ông nói: “Từ những tư tưởng bất ngờ này một mạc khải mới lạ được nẩy lên. Chúa gọi tôi làm tông đồ cho người tù”.
Sau khi Colson ra khỏi tù, ông thiết lập một chương trình Prison Fellowship (Hội Ái hữu những người tù). Hiện thời, chương trình này lan rộng khắp quốc gia. Số tham dự lên tới 25 ngàn tù nhân trong hơn 500 trại tù. Chương trình cũng cung cấp sự trợ giúp vật chất cũng như tinh thần cho gia đình của họ.
Câu chuyện của Colson mô tả một điểm quan trọng mà Chúa Giê-su nói trong bài Tin mừng hôm nay. Các môn đệ đang xôn xao và lo sợ khi họ nghe nói Chúa Giê-su sắp rời xa họ. Họ không biết phải làm sao nếu không có Chúa Giê-su bên cạnh. Họ cũng không thấy lợi điểm nào khi Chúa Giê-su rời xa họ.
Chúa Giê-su đã nói rằng Ngài không để các môn đệ mồ côi. Ngài sẽ sai Chúa Thánh Linh đến hướng dẫn họ. Và đã xảy ra như thế, Chúa Thánh Linh đã ngự trên các môn đệ và giúp họ làm những việc lớn lao mà họ chưa hề mơ tưởng đến.
Có một bài học quan trọng chúng ta cần học từ chuyện Chúa Giê-su rời xa các môn đệ: Sẽ có lúc trong cuộc đời, Chúa Giê-su dường như bỏ chúng ta. Sẽ có lúc, dường như Chúa để chúng ta chiến đấu một mình. Chẳng hạn, có lúc chúng ta cầu nguyện và tìm được bình an vui sướng nhưng có lúc chúng ta cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì. Có lúc đức tin chúng ta mạnh mẽ như có thể dời được núi nhưng lúc này khó mà dời được hạt cát. Có khi chúng ta cảm thấy hăng hái giúp người nghèo, làm việc cho nhà thờ, hay tự nguyện giúp những công việc bác ái. Nhưng bây giờ chúng ta không cảm thấy vui khi làm những việc này. Dường như Chúa bỏ rơi chúng ta. Chúng ta tự hỏi tại sao Chúa đối xử với chúng ta như vậy. Chúng ta chẳng thấy lợi điểm nào trong những đau thương chúng ta đang gặp.
Thật ra, Chúa không bỏ rơi chúng ta. Ngài tạm lánh mặt. Ngài biết chúng ta phải tiến tới một bước mới trong đời sống thiêng liêng. Thiên Chúa hoạt động trong đời sống chúng ta một cách mới. Ngài muốn chúng ta bắt đầu lớn lên theo cách thức mà chính chúng ta không hề nghĩ tới.
Thí dụ, Chúa muốn dạy rằng chúng ta chỉ cầu nguyện chân thành khi sự việc không xảy ra theo ý chúng ta. Thật ra, lời cầu nguyện tốt nhất khi lòng không cảm thấy gì nhưng vẫn làm với niềm tin tưởng. Chúa muốn dạy chúng ta đức tin không phải là cảm tính nhưng là một dấn thân, phó thác hoàn toàn cho Chúa, thưa tiếng xin vâng với Chúa chỉ vì Chúa là Thiên Chúa. Chúa muốn dạy chúng ta, những hoạt động tông đồ không phải để được vui tươi nhưng để phục vụ chính Chúa Ki-tô. Chúng ta hăng say sinh hoạt tông đồ vì Chúa dạy chúng ta làm, vì chính Ngài đã hăng say hoạt động.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận ra rằng mọi sự xảy đến cho chúng con đều có lý do, xin giúp chúng con nhận ra rằng nếu chúng con tin tưởng vào Chúa thì mọi sự đều nên tốt cho chúng con.

 

PS6-C31. THẦY ĐỂ LẠI BÌNH AN CHO ANH EM - ASTY

“Anh em đừng sợ hãi và xao xuyến”.
 

Chúa Giê-su kêu mời chúng ta chớ xao xuyến, lo âu và sợ hãi là bởi vì Ngài đã sống lại và Ngài: PS6-C31

Chúa Giê-su kêu mời chúng ta chớ xao xuyến, lo âu và sợ hãi là bởi vì Ngài đã sống lại và Ngài đang sống trong cuộc sống của chúng ta, Ngài đang đồng hành với chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống.
Với tất cả tin tưởng chúng ta đến với Ngài, xin Ngài ban cho chúng ta sức sống, xin Ngài hâm nóng niềm hy vọng của chúng ta, và xin Ngài cũng tha thứ, nâng đỡ chúng ta để chúng ta được tiếp tục bước theo Ngài.
Cuộc chuyển biến tại Thái lan đã làm cho thế giới chú ý đến vai trò của nhà vua nước này. Một trong những hình ảnh đáng chú ý và cảm động nhất hẳn phải là cảnh tượng của thủ tướng và đối thủ của ông là tướng Chamlon cùng ra trước mặt quốc vương phủ phục và lắng nghe những lời khuyên nhủ của ông. Những lời lẽ của một ông vua được toàn dân yêu mến và tuân phục đã có sức thuyết phục tướng Chamlon từ bỏ con đường tham vọng của ông. Cơn khủng hoảng của Thái lan đã kết thúc, mọi người ca ngợi sự dàn xếp của quốc vương Thái lan. Trong lịch sử Thái lan, quốc vương vẫn được dân chúng xem như là một nguyên thủ hợp lý của đất nước. Theo truyền thống, các vua Thái lan trước khi lên ngôi phải tu luyện cho đủ mười điều đức hạnh của đạo Phật về khoan nhượng và vị tha, họ phải trở thành điều mà dân Thái lan gọi là “vua của mọi giai cấp, mọi nhóm xã hội và mọi chủng tộc”.
Hình ảnh của quốc vương Thái lan trên đây hẳn phải mời gọi chúng ta suy nghĩ về sứ mệnh hòa bình, sứ mệnh hòa giải của người Ki-tô hữu. Lời Chúa trong bài Tin mừng hôm nay có thể tóm gọn trong cả chủ đề của Lời Chúa trong Chúa nhật thứ 6 Phục sinh: “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban bình an của Thầy cho anh em. Thầy ban bình an của Thầy không như thế gian ban tặng”. Chúa Giê-su không chỉ trao ban bình an cho chúng ta như là một quà tặng mà Ngài còn ủy thác cho chúng ta một sứ mệnh, đó là sứ mệnh xây dựng “hoà bình”. Ngôn ngữ Việt Nam chúng ta có lẽ đủ thâm thúy để diễn tả điều Chúa Giê-su muốn nói với chúng ta. Thật thế, hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có một danh từ để chỉ hòa bình. Nhưng ngôn ngữ Việt Nam của chúng ta ít nhất có hai từ để nói về ý niệm này. Chúng ta nói: “bình an” để chỉ một trạng thái của tâm hồn. Chúng ta dùng hai chữ “hòa bình” để chỉ mối tương quan giữa người với người hoặc quốc gia với quốc gia.
Chúa Giê-su đã phân biệt hai bình diện ấy của hòa bình khi Ngài nói với chúng ta rằng: bình an mà Ngài ban tặng cho chúng ta không phải là thứ hòa bình của thế giới vẫn thường nói đến. Khi nói đến hòa bình của thế giới thì ám chỉ đến một trật tự không có chiến tranh, không có tiếng súng, không có xung khắc, một thứ hòa bình lén lút, giả tạo và chóng qua. Đàng sau một thứ trật tự như thế còn có biết bao nhiêu suy tính của tham vọng, của thù hận, của đe dọa, chỉ chờ đợi để bùng nổ. Chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông-Tây đã chấm dứt, thế nhưng thế giới đã thực sự hưởng được hòa bình chưa ?
“Bình an” hay “hòa bình” đích thực mà Chúa Giê-su hứa ban cho chúng ta thiết yếu là sự bình an trong tâm hồn. Chỉ khi nào con người có được sự bình an đích thực cho tâm hồn thì mới có thể xây dựng được hòa bình với người khác. Bình an nội tâm là điều tiên quyết để xây dựng hòa bình. Bao lâu tâm hồn chúng ta vẫn còn cưu mang hận thù, tham lam, ích kỷ, đố kỵ, ghen ghét … thì bấy lâu bình an không thể có trong chúng ta và hòa bình ấy cũng không thể đến với người xung quanh được, dù ở bất cứ quy mô nào cũng không bao giờ có được sự hòa bình đích thực ấy.
“Bình an” hay “hòa bình” đích thực là một công trình xây dựng không ngừng đòi hỏi hy sinh và phấn đấu trong chính nội tâm của mỗi người, nó đòi hỏi con người chiến đấu để thắng vượt những nhỏ nhen ích kỷ của mình để trung thành với những cam kết của mình, để ra khỏi chính mình và đến với tha nhân nhiều hơn.
“Bình an” hay “hòa bình” đích thực thiết yếu là một quà tặng của Chúa. Quà tặng ấy cũng chính là Chúa. Thiên Chúa tự trao ban cho chúng ta khi tâm hồn con người được Chúa chiếm trọn, khi tâm hồn con người chọn được chính Chúa. Khi con người chọn chính Chúa làm gia nghiệp của mình thì lúc đó con người sẽ có được bình an đích thực. Hiểu như thế thì sứ mệnh xây dựng hòa bình của người Ki-tô hữu chúng ta chính là chia sẻ quà tặng ấy với mọi người xung quanh.
Trong một xã hội mất định hướng thì người Ki-tô hữu thực thi sứ mệnh thiên định của mình, và thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Trong một xã hội băng hoại vì giành giật, ích kỷ, người tín hữu Ki-tô thực thi sứ mệnh hòa bình bằng chính cuộc sống vị tha, quảng đại, quên mình. Trong một xã hội mà con người không biết mình đang đi về đâu thì người Ki-tô hữu thực thi sứ mệnh hòa bình bằng một niềm tín thác kiên vững vào tình yêu của Thiên Chúa.
Nguyện xin Chúa Ki-tô, nguyên ủy của hòa bình ban cho chúng ta bình an đích thực của Ngài để chúng ta đáng được chúc phúc là những người xây dựng hòa bình.

 

PS6-C32. Hãy tuân giữ lời Thầy

Ga 14,23-29
TÌM HIỂU LỜI CHÚA
 

Tin Mừng hôm nay trích trong bài từ biệt các Tông đồ của Đức Giêsu và gồm hai điểm chính như: PS6-C32

1) Ý CHÍNH : Tin Mừng hôm nay trích trong bài từ biệt các Tông đồ của Đức Giêsu và gồm hai điểm chính như sau :

- Hãy tuân giữ lời Thầy : Đức Giêsu khuyên các Tông đồ hãy chứng tỏ lòng yêu mến Người bằng cách tuân giữ Lời Người dạy, để nhờ đó sẽ được kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi.

- Hứa ban bình an : Đức Giêsu hứa ban bình an cho các Tông đồ, một thứ bình an thực sự và nội tâm. Do đó, các ông đừng bối rối sợ hãi khi thấy những sự bắt bớ bách hại bên ngoài xảy ra. Đức Giêsu cũng hứa sẽ ở lại với các Tông đồ cách thiêng liêng vô hình mãi mãi.

2) CHÚ THÍCH :

- Đức Giêsu đáp : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (C 23) :

+ Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy : Đức Giêsu đòi các môn đệ của Người phải chứng tỏ lòng yêu mến thực sự bằng hành động chứ không phải bằng lời nói hay tình cảm ủy mị. Hành động đây chính là sự vâng giữ các lời giáo huấn của Người.

+ Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy : Kẻ nào yêu mến Đức Giêsu như vậy thì sẽ được Chúa Cha yêu mến. Vì yêu mến Đức Giêsu cũng là yêu mến Chúa Cha.

+ Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy : Cha Thầy và Thầy ám chỉ Thiên Chúa Ba Ngôi, vì Chúa Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con nhiệm xuất ra. “Đến và ở lại” là nói đến sự kết hiệp hoàn toàn giữa Thiên Chúa với ai yêu mến và thi hành giáo huấn của Đức Giêsu.

- Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy (c 24) :

+ Ai không yêu mến Thầy thì không giữ lời Thầy : Câu này nhắc lại câu trên dưới hình thức tương phản, để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự thực hành lời Đức Giêsu.

+ Lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy : Đức Giêsu muốn chứng minh việc giữ lời Người là giữ lời Chúa Cha. Vì Đức Giêsu là Ngôi Lời, do Chúa Cha sai xuống trần gian, và Ngôi Lời ấy đã Nhập Thể, hóa nên người phàm và ở giữa chúng ta, để bày tỏ sự thật về Thiên Chúa cho chúng ta (x. Ga 1,1.14.18).

- Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em (c 25) : Khi ở trần gian, Đức Giêsu đã ban bố giáo huấn của Thiên Chúa cho loài người.

- Nhưng Đấng bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy. Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em (c 26) :

+ Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha : Đức Giêsu đã loan báo sẽ xin Chúa Cha sai Thánh Thần, Đấng bảo Trợ khác đến với các Tông đồ và sẽ ở với các ông luôn mãi (x. Ga 14,16). Đấng ấy sẽ đến nhân danh Đức Giêsu và chính là Ngôi Ba Thiên Chúa.

+ Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em : Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ tất cả những gì các ông phải biết mà Đức Giêsu chưa nói hết. Người cũng sẽ giúp các ông hiểu ý nghĩa của lời rao giảng và các dấu lạ của Đức Giêsu, mà các ông trước đây chưa nắm được (x. Ga 13,7).

- Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng. Lòng anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (c.27) :

+ Thầy để lại bình an cho anh em : Người Do Thái thường chào nhau bằng lời chúc “Bình an”. Bình an này thuộc lãnh vực tự nhiên và đồng nghĩa với hòa bình, không chiến tranh…Nhưng ở đây : Đức Giêsu để lại sự bình an thuộc lãnh vực đức tin và chính là lời chào của Đức Giêsu Phục Sinh (x. Ga 20,19-21). Đây là ơn giải thoát loài người khỏi tội lỗi và sự chết, đồng nghĩa với ơn cứu độ.

+ Lòng anh em đừng xao xuyến, cũng đừng sợ hãi : Do đó, khi các Tông đồ gặp phải gian nan bách hại thì cũng đừng xao xuyến sợ hãi, vì các ông luôn có Chúa Phục Sinh hiện diện và Người sẽ ban cho các ông sự bình an trong tâm hồn.

- Anh em đã nghe Thầy bảo : “Thầy ra đi và đến cùng anh em. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đến cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy (c.28) :

+ Thầy ra đi : ra đi là để chịu khổ nạn.

+ Đến cùng anh em : Cũng có kiểu dịch khác là “trở lại cùng anh em”. Đức Giêsu sẽ đến hay sẽ trở lại bằng sự phục sinh vinh quang, hay đến trong bí tích Thánh Thể, đến trong các biến cố lịch sử của nhân loại, đến trong ngày Tận Thế.

+ Bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy : Xét về bản tính Thiên Chúa thì Đức Giêsu là Ngôi Thứ Hai hay Ngôi Con, đồng bản tính và ngang hàng với Ngôi Thứ Nhất là Cha. Nhưng xét về tư cách Đấng Thiên Sai, thì Đức Giêsu là Ngôi Con đã trở nên một người phàm, vâng lời cho đến chết trên cây thập tự, nên được Chúa Cha siêu tôn làm Chúa (x. Pl 2,6-11).

- Bây giờ, Thầy nói với anh em, trước khi sự việc xảy ra, để anh em tin khi sự việc ấy xảy ra” (c 29) : Đức Giêsu báo trước cho các môn đệ về việc Người ra đi chịu chết, để khi việc ấy xảy ra thì các ông không nản lòng, nhưng vững tin vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA :

1) LỜI CHÚA : Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy(Ga 14, 23).

2) CÂU CHUYỆN : Giới răn Chúa là đường giúp ta đến đích.

Một linh mục kia cho một sinh viên đại học quá giang về nhà chơi vào ngày cuối tuần. Trong khi đi đường, câu chuyện giữa hai người dần dần dẫn đến sự tranh luận về đức tin tôn giáo. Anh sinh viên tự hào về cái nhìn tân tiến của mình. Anh ta phát biểu về Mười Điều Răn như sau : “Tôi không hiểu rõ về mười điều răn cho lắm. Nhưng tôi thấy sao nó có vẻ độc đoán quá : phải làm điều này, cấm điều kia…Trong thời đại văn minh hiện nay người ta không thích ai chỉ bảo hay cấm đoán, mà muốn được quyền tự quyết định con đường đi của riêng mình”. Một lát sau, tới một ngã ba đường, thay vì chạy theo đường thẳng, vị linh mục cho xe quẹo vào con đường rẽ trái mà dấu hiệu bên đường cho thấy là đường khúc khuỷu cấm đi…Anh sinh viên thấy vậy liền lên tiếng : “Sao cha lại đi con đường này ? Cha không thấy bảng chỉ đường báo đây là đường nguy hiểm, khúc khuỷu khó đi đó sao ?” Vị linh mục liền nói : “Thế đây không phải là con đường hay sao ? Còn bảng báo hiệu kia thì tôi chẳng tin. Nó độc đoán quá : Cấm đi đường này, phải chạy chậm 5 km/giờ, sắp tới đoạn đường khúc khuỷu…Tôi thích chọn đi con đường riêng của mình”. Anh sinh viên hiểu ý vị linh mục và bối rối nói với ngài : “Thưa cha, con đã hiểu rồi : Các điều răn của Chúa không phải độc đoán, mà chỉ hướng dẫn cho con người sống sao cho tốt mà thôi !”.

Câu chuyện trên cho chúng ta thấy : Nếu ta vâng giữ lời Chúa, thì ta sẽ không gặp tai nạn, sẽ bình an về tới cùng đích đời mình là hưởng hạnh phúc thiên đàng đời sau.

- Cái kén và con bướm :

Ngày nọ, một chuyên gia sưu tầm các loài bướm vào một công viên, thấy một cái kén lạ treo lơ lửng trên cành cây, ông ta liền bứt lấy cành cây ấy và đem kén bướm về nhà nghiên cứu. Ít ngày sau, ông thấy có cái gì động đậy bên trong kén. Ông biết là sắp tới lúc con bướm nở. Hôm sau, cái kén lại nhúc nhích, nhưng cũng chẳng có gì khác xảy ra. Ngày thứ ba vẫn thấy kén nhúc nhích mà con bướm bên trong cũng không ra được. Nghĩ rằng tại cái kén mà bướm không ra được, ông lấy con dao sắc ra rạch vỏ kén giúp nó ra ngoài. Có điều sau một ngày mà con bướm vẫn không bay được, và cuối cùng chết.

Về sau, ông được một người bạn thân là nhà côn trùng học cho biết lý do con bướm không bay được, là do thiên nhiên đã xếp đặt cho nó phải tự phấn đấu để thoát ra khỏi cái kén. Ngày nào nó phát triển đến độ tự mình đạp bể cái kén chui ra ngoài thì mới chứng tỏ nó phát triển đầy đủ và mới có khả năng sinh tồn được trong thiên nhiên. Muốn làm con bướm bay trên ngàn hoa rực rỡ, thì bướm phải trải qua thời kỳ làm con sâu lặng lẽ, rồi phải ẩn mình trong cái kén một thời gian, đợi ngày phát triển đầy đủ. Còn nếu ông rạch cái kén giúp nó ra ngoài trước thời hạn, là ông vô tình tiêu hủy khả năng phát triển và sinh tồn của nó.

Cũng vậy, để trở nên những người tín hữu có đức tin vững mạnh, Thiên Chúa đã xếp đặt cho chúng ta trải qua một thời kỳ gian khổ, để ta trưởng thành về tâm linh. Nhưng trong suốt thời gian chịu đựng thử thách đó, Thiên Chúa không bỏ rơi ta. Người luôn ở trong ta để động viên và giúp ta vượt qua gian khổ, để đức tin của ta ngày càng mạnh mẽ trưởng thành hơn.

- Thầy đi thì ích lợi cho anh em :

Me-ri-ơn Oét (Mation West) là một bé gái 4 tuổi. Ngày nào bé cũng vui mừng nhảy nhót khi thấy mẹ từ sở làm tới đón bé về nhà ăn trưa. Vì bận làm việc nên từ sáng sớm, mẹ cô bé đã đem con nhờ người hàng xóm tốt bụng trông giúp. Rồi đến trưa tranh thủ ra khỏi sở làm, bà lại đến đón con, và hai mẹ con hối hả về nhà ăn trưa và vui đùa bên nhau. Rồi đến một giờ chiều, mẹ lại từ giã bé để vào sở tiếp tục làm việc. Sau đó, bao giờ Me-ri-ơn cũng âu sầu ngồi im lặng hằng giờ đồng hồ. Thế rồi,theo lời khuyên của một chuyên gia tâm lý, một ngày kia, mẹ bé không về nhà vào buổi trưa để đón bé. Hôm ấy, bé Me-ri-ơn tỏ ra buồn bã không thiết gì đến ăn uống. Nó cứ thắc mắc tại sao mẹ nó lại không về nhà ăn trưa và chơi giỡn với nó ? Nhưng rồi lâu ngày nó cũng quen dần và trở nên vui vẻ như trước. Nhiều năm sau đó, khi trở thành thiếu nữ, Me-ri-ơn mới được mẹ kể cho biết lúc đó hằng ngày bà vẫn trở về nhà, nhưng không ghé sang đón cô. Bà thường ngồi bên cửa sổ nhà bếp để vừa ăn trưa vừa có thể nhìn con vui chơi với chúng bạn bên sân nhà hàng xóm. Bà ao ước được chạy lại ôm ấp cô cho thỏa lòng. Nhất là khi thấy cô buồn khóc. Nhưng vì muốn cho con được trưởng thành, vì muốn lợi ích lớn hơn cho con, mà bà phải nén lòng lại, để con quen dần với sự vắng mặt của mẹ, mà có thể lớn lên bình thường như bao trẻ khác. Giờ đây khi đã khôn lớn, Me-ri-ơn mới hiểu được lý do tại sao mẹ cô lại làm như thế, và cô lại càng biết ơn mẹ nhiều hơn.

3) SUY NIỆM : Câu chuyện trên rất giống với nội dung Tin Mừng hôm nay. Đức Giêsu đã nói với các môn đồ : “Anh em đã nghe Thầy bảo : Thầy ra đi và đến cùng anh em” (Ga 14,28). Sau đó, Người còn nói : “Thầy nói thật với anh em : Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em. Nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em” (Ga 16,7).

Như thế điều thích hợp và hữu ích đối với cô bé 4 tuổi Me-ri-ơn, đối với môn đệ Đức Giêsu cũng là điều thích hợp và hữu ích đối với chúng ta. Có những lúc, chúng ta có cảm tưởng như mình bị Chúa bỏ rơi : Chẳng hạn, có lúc chúng ta không còn cảm thấy sự ngọt ngào bình an khi cầu nguyện. Thay vào đó là sự buồn chán. Có những lúc đức tin của chúng ta yếu đuối khác hẳn với sự mạnh mẽ trước đó đến nỗi ta có cảm tưởng dời được núi non. Cũng có khi chúng ta không còn thấy hứng thú với những hoạt động tông đồ bác ái như hội họp, đi kẻ liệt, thăm hỏi giúp đỡ các đôi vợ chồng sắp tan vỡ, quét dọn nhà Chúa, ca hát…như trước nữa. Bấy giờ chúng ta có cảm tưởng giống như cô bé Me-ri-ơn bị mẹ bỏ rơi, hay như Chúa Giêsu trên thập giá có cảm tưởng như bị Chúa Cha bỏ rơi, nên đã phải thốt lên rằng : “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con. Sao Ngài bỏ rơi con ?” (Mc 15,34).

Thực ra Chúa yêu thương ta rất nhiều và hằng yêu thương ta mãi mãi. Ngài muốn gần gũi chăm sóc chúng ta. Nhưng Chúa biết rằng : Nếu Ngài lánh mặt đi thì sẽ có lợi cho chúng ta hơn. Chúa biết đã đến lúc chúng ta cần bắt đầu tăng trưởng về tâm linh, giống như mẹ bé Me-ri-ơn biết sự lánh mặt của mình có lợi cho con hơn, hay như Chúa Giêsu thấy sắp đến lúc phải lìa bỏ các môn đệ để đem lại lợi ích dồi dào cho các ông. Đây cũng là lúc chúng ta phải nhận ra rằng : việc cầu nguyện không hệ tại cảm xúc riêng. Lời cầu nguyện tuyệt hảo nhất là lúc tâm hồn chúng ta khô khan như đá, lúc chúng ta không cảm thấy sốt sắng gì cả.Nhưng lại chính là lúc ta cầu nguyện bằng đức tin và lời cầu của ta có giá trị hơn cả. Qua đó, chúng ta hiểu rằng : Đức tin không phải là sự cảm xúc, mà là một sự dâng hiến, một thái độ phó thác trong tay Chúa quan phòng, một lời thưa “Xin Vâng” ý Chúa Cha như Chúa Giêsu và Mẹ Maria (x. Mt 26,39; Lc 1,38), Dù rằng chúng ta không cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa, nhưng đó mới là đức tin đúng nghĩa nhất và đem lại hạnh phúc nhiều hơn cho chúng ta, như lời Chúa Phục Sinh nói với Tôma : “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20,29).

4) THẢO LUẬN : a) Đức Giêsu đòi các môn đệ phải yêu mến Người bằng những việc gì ? Bạn sẽ làm gì để chứng tỏ lòng yêu mến Chúa Giêsu trong cuộc sống hằng ngày ? b) Có khi nào bạn trải qua cơn khủng hoảng về đức tin không ? Nhờ đâu mà bạn có thể vượt qua cơn khủng hoảng đức tin ấy ? c) Trong thánh lễ, bạn chúc bình an theo cách thường làm đã đủ chưa? Bạn sẽ làm gì để lời chúc bình an ấy được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động nữa ?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) Lạy Chúa Giêsu, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã hứa rằng : sau khi Chúa ra đi thì Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần sẽ được Chúa Cha sai đến, để tiếp tục dạy dỗ và làm cho các môn đệ nhớ lại mọi điều Chúa đã dạy trước đó. Chính Thánh Thần sẽ giúp Giáo Hội, trong đó có mỗi người chúng con thêm lòng yêu mến Chúa để có thể thực hành được giới răn mến Chúa yêu người.

Lạy Chúa, Cho tới bây giờ hầu như chúng con mới chỉ yêu thương người khác bằng việc đọc kinh, bằng lời nói hơn bằng việc làm. Xin Chúa sai Thánh Thần đến canh tân lòng trí chúng con. Xin cho chúng con ý thức tình yêu phải được thể hiện bằng sự năng nghĩ đến người khác, biết quên mình và hy sinh phục vụ tha nhân, biết quảng đại chia sẻ giúp đỡ người nghèo có đủ cơm ăn áo mặc, bệnh nhân có thuốc chữa bệnh, người đau khổ được thông cảm và an ủi, người đang lạc xa Chúa được thăm hỏi và dẫn về nẻo chính đường ngay.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria, qua lời Chúa dạy hôm nay, chúng con biết rằng : Tình yêu mến không chỉ dừng lại ở tình cảm suông, nhưng phải trở thành động lực thúc bách chúng con hành động giúp ích tha nhân như thánh Phaolô đã viết : “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”.

Lạy Mẹ, xin giúp chúng con biết thể hiện lòng yêu mến Chúa bằng việc tuân giữ lời Chúa dạy, nhờ đó chúng con sẽ được Chúa Cha yêu mến, được Ba Ngôi Thiên Chúa đến ngự trong chúng con. Nhờ chăm chỉ nghe Lời Chúa giáo huấn, nhờ lãnh nhận được ơn thánh hóa của Chúa Thánh Thần qua các phép bí tích, chắc chắn chúng con sẽ ngày một đổi mới, trở nên con người mới, xứng đáng được Chúa Cha xác nhận là Con Rất Yêu Dấu như Chúa Giêsu trong ngày Hiển Dung xưa.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Trích Hiệp sống Lời Chúa.
Lm. Đan Vinh


 

PS6-C33. Thầy để lại bình an cho anh em

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH

Ga 14, 23-29

 

Nằm trong khung cảnh bữa Tiệc ly và tiếp tục những nhắn nhủ trong diễn từ ly biệt, lần này, Chúa Giêsu: PS6-C33

Nằm trong khung cảnh bữa Tiệc ly và tiếp tục những nhắn nhủ trong diễn từ ly biệt, lần này, Chúa Giêsu nói với các môn đệ về sự “ra đi” của mình. Chúa Giêsu đi về với Chúa Cha, điều đó thật rõ ràng, nhưng đối các môn đệ thì không đơn giản hiểu rõ như vậy. Chính vì thế, để các môn đệ khỏi ngỡ ngàng trước những gì sẽ xảy ra, Chúa Giêsu đã cho các ông biết trước những điều quan trọng sẽ đến khi sự hiện diện cách thể lý của Người không còn nữa. Đó chính là sự hiện hiện của Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần, Bình an của Chúa Kytô và lòng yêu mến của Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến Người.

Khi Chúa Giêsu ra đi, trở về với Chúa Cha, khi không còn sự hiện diện thể lý của Người ở trần gian này, Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần sẽ đến thay thế, sẽ hoàn tất mọi sự trong công trình cứu rỗi nhân loại. Có thể nói, bất ngờ đến độ hụt hẫng của các môn đệ khi nghe Chúa Giêsu loan báo sự ra đi để trở về cùng Chúa Cha bao nhiêu thì các ông lại cảm thấy được an ủi vỗ về bấy nhiêu khi hay tin chính Chúa Thánh Thần - người thay thế Thầy mình, sẽ đến dạy dỗ và đồng hành cùng các ông. Sau khi Chúa Giêsu về trời, công việc của Chúa Thánh Thần được khai mở và công việc của Người thật rõ ràng như Chúa Giêsu đã từng loan báo: “Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em”. Có thể nói, những gì Chúa Giêsu đã rao giảng, những việc Chúa Giêsu đã làm, các môn đệ chưa thể hiểu thấu, chưa nắm bắt trọn vẹn thì nay, công việc của Chúa Thánh Thần là tiếp tục hướng dẫn, dạy dỗ và giúp các ông hiểu cách thấu đáo những ý nghĩa của lời rao giảng và việc làm đó của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu trở về cùng Chúa Cha không có nghĩa là Người “thay ca”, hết trách nhiệm, không còn liên đới gì với các môn đệ cũng như với thế gian này nữa. Trái lại, Chúa đã hứa sẽ “ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20b), sẽ đồng hành với các môn đệ, với Giáo hội trên mọi nẻo đường. Cách thức Chúa “ở cùng” đó chính là sự Bình an của Người. “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy”. Chúng ta có thể hiểu bình an ở đây không thuộc lãnh vực tự nhiên, tức không phải là sự yên ổn hay tình trạng không có hận thù, chia rẽ; cũng không phải tình trạng của con người không còn bị dằn vặt, khổ đau hay sảng khoái vui tươi, đầy đủ về phương diện vật chất,… mà đây chính là sự bình an trong tâm hồn, một sự bình an trong tương quan hướng về Thiên Chúa và hướng đến tha nhân trong tình yêu. Như thế, bình an ở đây chính là sự bình an của người công chính, sự bình an của lòng cậy trông, tín thác vào Thiên Chúa giữa muôn vàn khó khăn gian khổ ở đời.

Có bình an của Chúa Kytô, có sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, điều đó thật rõ ràng, vấn đề ở chỗ chúng ta có biết đón nhận những ân huệ nhưng không mà Thiên Chúa ban tặng để làm nảy sinh hoa trái trong đời sống hiện tại hay không, tất cả đều nằm trong tầm tay của chúng ta. Thật vậy, khi chúng ta biết đón nhận nhận bình an từ chính Chúa Kytô, biết lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần, hiệu quả tất yếu sẽ làm nảy sinh trong tâm hồn chúng ta chính là lòng yêu mến. Lòng yêu mến thúc bách chúng ta không chỉ tuân giữ những giáo huấn Chúa Giêsu, thực thi công bình bác ái, mà còn biến đời sống, tâm hồn chúng ta trở nên “đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa” ngự trị. "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy”. Như thế là, cách thức Ba Ngôi Thiên Chúa nói chung và Chúa Kytô Phục sinh nói riêng hiện diện trong mỗi người chúng ta không phải vì chúng ta mang danh kytô hữu, quyền cao chức trọng trong giáo hội hay xã hội, giàu sang phú quý được nhiều người nể vì,… mà chính là mức độ chúng ta yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Khi chúng ta yêu mến Chúa Kytô và tuân giữ lời Người, một điều chắc chắn là tâm hồn chúng ta sẽ là nơi ngự trị của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Ước gì Lời Chúa ngày hôm nay trở nên niềm vui bình an cho chúng ta và ước gì trọn cuộc sống, tâm hồn mỗi người chúng ta sẽ là ngôi đền thiêng liêng cho Ba Ngôi Thiên Chúa trong đó tình yêu của Chúa Cha, bình an của Chúa Kytô Phục sinh và ơn thông hiểu của Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta trở nên con cái Chúa ngày một thuần thành hơn.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb


 

PS6-C34. Dấu chỉ tình yêu

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH C

Bài đọc 1: Cv 15, 1-2. 22-29

Bài đọc 2: Kh 21, 10-14. 22-23

Tin mừng: Ga 14, 23-29

 

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta thường sử dụng lời nói để diễn tả những suy nghĩ, những tâm: PS6-C34

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta thường sử dụng lời nói để diễn tả những suy nghĩ, những tâm tư tình cảm của mình đối với người khác. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, lời nói cũng không thể diễn tả cách trọn vẹn được mọi suy nghĩ của chúng ta. Do đó, chúng ta lại dùng những điệu bộ bên ngoài như nét mặt, ánh mắt … để diễn tả những điều chúng ta muốn nói. Chẳng hạn như chúng ta thường biểu lộ niềm vui bằng tiếng cười, nỗi buồn bằng tiếng khóc, hay nỗi mệt nhọc bằng những tiếng thở than ai oán … Chính vì thế khi nghe thấy những tiếng khóc, tiếng cười, tiếng than thở đó, thì cho dù đương sự không nói ra, người khác cũng phần nào hiểu được nỗi lòng của người thốt ra những tiếng đó.

Đối với tình yêu cũng thế, người ta không thể nói “Tôi yêu anh chừng một tạ, hay một tấn”, hoặc là nói: “Tôi mến anh dài 20, 30 km” được. Nhưng khi muốn diễn tả tình yêu, người ta thường dùng những hành động cụ thể để nói lên mức độ yêu mến của mình. Chỉ cần nhìn cảnh người cha, người mẹ sẵn sàng thức khuya, dậy sớm, ăn đói, mặc rách cho con cái được ấm no là mọi người hiểu được tình thương trời bể của cha mẹ dành cho con.

Tương tự như vậy, tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa cũng cần được biểu thị bằng một dấu chỉ, một hành vi thật cụ thể. Dấu chỉ đó chính là sự vâng giữ lời của Người như lời Đức Giêsu trong bài Tin mừng: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy… Kẻ không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy”.

Nhìn lại cuộc sống thường ngày, chúng ta sẽ thấy có một điều hết sức tự nhiên, đó là khi yêu mến ai, chúng ta thường cố gắng bằng mọi cách để làm vui lòng người mình yêu. Và một trong những phương thế chúng ta thường thực hiện để làm vui lòng người mình yêu mến, đó là cố gắng nhanh chóng thực hiện mọi ý muốn của người đó. Cứ quan sát các đôi bạn trẻ đang yêu nhau, chúng ta sẽ thấy rõ điều này. Họ luôn muốn làm đẹp lòng nhau. Do đó, họ luôn để ý đến nhau, chỉ cần phát hiện một ánh mắt, một nhíu mày, một cử chỉ, hay một ý muốn cỏn con nào đó của người này, thì lập tức người kia sẽ cố gắng thực hiện cho bằng được.

Tương tự như thế, việc chúng ta tuân giữ lời Thiên Chúa cũng sẽ là dấu chỉ rõ ràng nhất để chúng ta chứng tỏ lòng yêu mến của mình đối với Thiên Chúa. Càng yêu mến Thiên Chúa nhiều, chúng ta sẽ càng cố gắng thực hiện những điều Ngài ước muốn. Chính Đức Giêsu trong bài Tin mừng cũng đã khẳng định: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy”. Tuy nhiên, lời mà Đức Giêsu nói ở đây không phải là lời chết trên trang giấy, bởi lẽ nói như thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Corinhtô: “Văn tự thì giết chóc, Thần Khí mới tác sinh” (2 Cr 3, 6b). Như thế, khi mời gọi các môn đệ và mỗi người chúng ta lắng nghe và giữ “lời” của Ngài, nghĩa là Đức Giêsu muốn chúng ta giữ đúng ý muốn của Ngài, sống theo tinh thần của Ngài, chứ không chỉ dừng lại ở mặt chữ, vì như cha ông chúng ta vẫn thường nói “ý tại, ngôn ngoại”, lời nói không thể diễn tả hết được ý muốn của người nói.

Cũng chính vì chưa thật sự hiểu rõ ý muốn của Đức Giêsu và giá trị cứu độ do bởi cuộc Vượt Qua của Ngài, nên ngay từ thuở ban đầu, một số kitô hữu gốc Do Thái nghĩ rằng: khi trở lại với Kitô giáo, các anh chị em lương dân cũng phải tuân giữ các lề luật của Môisen mới được cứu độ. Họ nói với những người vừa trở lại rằng: “Nếu anh em không chịu cắt bì theo luật Môisen, thì không được cứu độ”. Và bởi đó đã xảy ra một cuộc tranh luận gắt gao giữa Phaolô, Barnaba với những người trong bọn họ, và nhất là đã làm cho các kitô hữu mới trở lại hoang mang, xao xuyến.

Trước hoàn cảnh đó, các tông đồ đã nhóm họp lại để cùng nhau tìm hiểu rõ ý muốn của Đức Giêsu đối với vấn đề này. Đây có thể nói được là Công đồng đầu tiên của Giáo Hội và cũng khởi từ đây, mỗi khi trong Giáo Hội cần giải quyết vấn đề gì lớn, đều họp Công đồng. Khi tụ họp lại với nhau để tìm hiểu Thánh Ý của Thiên Chúa như thế, đó là lúc Giáo Hội thể hiện niềm tin tưởng vững chắc của mình vào lời hứa của Đức Giêsu: “Thánh Thần mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, chính Người sẽ dạy các con mọi điều và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con”. Chính trong niềm tin Thánh Thần luôn hoạt động trong Giáo Hội nên khi công bố kết quả của cuộc họp, các tông đồ đã tuyên bố: “Thánh Thần và chúng tôi xét rằng…”. Nói như thế, các tông đồ muốn chúng ta hiểu rằng điều mà các ngài nói không phải là của các ngài, nhưng là của Thánh Thần, mà Thánh Thần là Đấng được sai đến để nhắc cho chúng ta lời của Đức Giêsu.

Do đó, nếu chúng ta trung thành tuân giữ các giáo huấn của Hội Thánh cũng là lúc chúng ta tuân giữ “lời của Đức Giêsu”, hay nói cách khác, lúc chúng ta tuân giữ giáo huấn của Hội Thánh cũng là lúc chúng ta biểu lộ lòng yêu mến của chúng ta đối với Đức Giêsu, Đấng đã hiến thân vì chúng ta.

Mặt khác, việc chúng ta tuân giữ lời của Đức Giêsu không chỉ là một dấu chỉ biểu lộ lòng yêu mến của chúng ta đối với Ngài, nhưng còn là cơ hội để mỗi người chúng ta hưởng được tình yêu của Chúa Cha, như lời khẳng định của Đức Giêsu: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy”. Chúng ta được Chúa Cha yêu mến vì chúng ta đã tuân giữ lời Đức Giêsu, Người Con Một mà Chúa Cha hằng yêu dấu. Và không chỉ được Chúa Cha yêu mến, chúng ta còn được vinh dự đón tiếp cả Ba Ngôi đến ngự trong tâm hồn của chúng ta như lời Đức Giêsu đã hứa: “Chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy”.

Và nếu có cả Ba Ngôi Thiên Chúa ở trong chúng ta, mỗi người chúng ta thật sự xứng đáng là đền thờ của Thiên Chúa. Một đền thờ không phải được xây bằng gỗ đá, nhưng là một đền thờ thiêng liêng, một thành thánh Giêrusalem mới từ nơi Thiên Chúa mà đến như lời tiên báo của sách Khải huyền mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc hai.

Lắng nghe lời Chúa trong bối cảnh của xã hội hôm nay, một xã hội hưởng thụ, thực dụng, đánh giá mọi sự dựa theo những giá trị vật chất trước mắt, chắc chắn là không dễ dàng gì. Tuy nhiên, để xứng đáng là người môn đệ của Chúa, và nhất là để minh chứng lòng yêu mến của chúng ta đối với Đức Giêsu, Đấng đã sẵn sàng hiến thân vì chúng ta, mỗi người chúng ta cũng hãy mau mắn tuân giữ các lời dạy của Ngài bằng cả tấm lòng thành của mình. Chúng ta hãy can đảm sống theo lời dạy của Đức Giêsu và tuân theo các giáo huấn của Hội Thánh với cả niềm tín thác, cậy trông. Chúng ta hãy mở lòng mình đón nhận sự hướng dẫn của các vị chủ chăn được Thiên Chúa sai đến với chúng ta. Con cái vâng lời cha mẹ, và những người hướng dẫn mình. Nếu mỗi người chúng ta đều hết lòng khiêm tốn đón nhận và vâng giữ lời Chúa với cả tấm lòng thành như thế, chắc chắn mọi người đang sống chung quanh chúng ta sẽ nhận ra được lòng yêu mến của chúng ta đối với Thiên Chúa của chúng ta. Amen.
Lm Trần Thanh Sơn


 

PS6-C35. Chứng tá của cộng đoàn các Kitô hữu thế kỷ đầu

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH C

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

 

Chúng ta chẳng lạ gì khi Phụng vụ Mùa Phục sinh tạo nhiều cơ hội cho chúng ta nhìn xem, chiêm: PS6-C35

Chúng ta chẳng lạ gì khi Phụng vụ Mùa Phục sinh tạo nhiều cơ hội cho chúng ta nhìn xem, chiêm ngắm và suy tư về Cộng đoàn Kitô hữu thế kỷ đầu. Các bài Thánh Kinh Chúa nhật 06 Phục Sinh hôm nay cung cấp đủ chất liệu cho chúng ta nghiên cứu, chiêm niệm và học hỏi cùng cộng đoàn ấy, để chúng ta làm sống lại các đặc điểm của Cộng đoàn ấy vào cộng đoàn giáo xứ (dòng tu) và giáo phận của chúng ta ngày nay. Nhất là trong khung cảnh Năm Thánh Truyền Giáo 2004 này là dịp Giáo hội Việt Nam mừng 470 năm Tin Mừng Cứu độ được rao giảng và đón nhận trên quê hương này, thì việc tìm hiểu và làm sống lại nếp sống của Cộng đoàn Kitô hữu thế kỷ đầu là việc làm vô cùng ý nghĩa và cần thiết.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA

2.1 Bài đọc 1: Cv 15, 1-2.22-29: (a) Cv 14,21b-27: là tường thuật của Luca về cách giải quyết bất đồng quan điểm hay xung đột trong cộng đoàn Kitô hữu thời sơ khai: Vấn đề đặt ra là những anh em dân ngoại khi gia nhập Kitô giáo có bị bắt buộc phải chịu phép cắt bì không? (là điều bắt buộc đối với mọi người nam Do Thái). Có hai quan điểm khác nhau và đối nghịch nhau về vấn đề này: (1o) Người dân ngoại trở lại Kitô giáo phải chịu phép cắt bì; (2o) Người dân ngoại gia nhập Kitô giáo không phải chịu phép cắt bì theo luật Môsê. Ý kiến thứ nhất là của một số người từ Giuđê đến Antiôkhia là nơi Phaolô và Barnaba đang giảng đạo. Ý kiến thứ hai là của hai vị này. Để giải quyết vấn đề gay go có nguy cơ gây phân hóa và làm tan rã cộng đoàn, Hội thánh Antiôkhia quyết định cử Phaolô, Barnaba và một ít người khác lên Giêrusalem để gặp các Tông đồ và kỳ mục, để bàn về vấn đề tranh luận này. Kết quả là sau khi cầu nguyện và bàn bạc, các Tông đồ và các kỳ mục, cùng với toàn thể Hội thánh Giêrusalem quyết định chọn Giuđa và Xila là những người có uy tín trong cộng đoàn, để phái hai ông đến Antiôkhia cùng với Phaolô, Barnaba cùng với bức thư của Hội Thánh Giêrusalem gửi Hội Thánh Antiôkhia. Nội dung bức thư được tóm gọn trong câu:“Thánh Thần và chúng tôi quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này…” Thế có nghĩa là anh em lương dân không bị bắt buộc phải chịu cắt bì khi gia nhập Đạo mới là Kitô giáo. Bao tâm hồn được giải tỏa khỏi nỗi lo âu và khó chịu, vì đối với người Do Thái thì việc cắt bì là một chuyện bình thường, vì đã được dân tộc này thực thi từ ngàn năm, nhưng đối với những người gốc lương dân thì việc ấy gây khó chịu không nhỏ.

(b) Khách quan mà nói: Hội thánh Công giáo thế kỷ đầu đã biết giải quyết vấn đề tranh chấp, bất đồng hay xung đột quan điểm về giáo lý và phong hóa Kitô giáo một cách hết sức tài tình: vừa có tình vừa có lý, vừa tôn trọng truyền thống Do Thái vừa tôn trọng sự khác biệt giữa các dân tộc các nền văn hóa địa phương của các tân tòng mới gia nhập Kitô giáo. Cách giải quyết của Hội thánh lúc ấy lại phân biệt điều nào là chính, điều nào là phụ, tạo thuận lợi cho những người mới làm quen và gia nhập Đạo. Sở dĩ Hội thánh sơ khai giải quyết được vấn đề gay cấn trên một cách êm đẹp là vì ai nấy đều tin tưởng vào Chúa Thánh Thần và chạy đến với Người. Ngoài ra các Tông đồ và kỳ mục là những người có uy tín hết sức lớn trong cộng đoàn nên được mọi tín hữu mến yêu, tin tưởng và vâng nghe.

2.2 Bài đọc 2: Kh 21,10-14.22-23: Thánh Gioan kể lại thị kiến về Thành thánh Giêrusalem huy hoàng rực rỡ và nguy nga tráng lệ. Không hẳn là Thành thánh Giêrusalem theo nghĩa đen, mà là Vương quốc rộng lớn của Thiên Chúa. Đây là nơi dung nạp và đón nhận hết mọi người, hết mọi dân. Các Tông đồ là rường cột của Vương quốc. Còn trung tâm của Vương quốc là chính Con Chiên, tức Chúa Giêsu Kitô: Người vừa là đền thờ, vừa là ánh sáng chiếu tỏa toàn Vương quốc.

2.3 Bài Tin Mừng: Ga 14,23-29: Nội dung đoạn Tin Mừng này của Gioan gồm ba ý chính như sau:

(1o) Các môn đệ mà yêu mến Thầy Giêsu thì phải thể hiện lòng yêu mến ấy bằng việc tuân giữ lời hay giáo huấn của Thầy cũng chính là lời hay giáo huấn của Chúa Cha, Đấng đã cử Thầy đến. Mối tương quan tốt đẹp ấy không chỉ dừng lại giữa Thầy và trò, mà còn mở rộng và nâng cao lên tận Chúa Cha: “Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy”. Vì thế cộng đoàn các môn đệ là cộng đoàn hiệp thông với Thiên Chúa và chan chứa Tình Yêu của Thiên Chúa.

(2o) Chẳng những Thầy đã hết sức ân cần dạy dỗ và chỉ bảo mọi điều cho các môn đệ mà Thầy còn xin Chúa Cha gửi Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ đến với các môn đệ để Người dạy họ mọi điều và làm cho họ nhớ lại những điều Thầy Giêsu đã nói đã dạy trước mà họ chưa đủ sức mà hiểu, mà đón nhận.

(3o) Đức Giêsu ban bình an là quà tặng riêng của Người cho các môn đệ để họ không còn phải sợ hãi bất cứ một điều gì mà vững tin và phó thác vào Tình yêu và sự trợ giúp đầy yêu thương của Chúa Giêsu Phục Sinh và của Chúa Thánh Thần.

III. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

3.1 Cộng đoàn Hội thánh thế kỷ đầu: Cả ba bài Thánh Kinh đều gợi ý cho chúng ta suy niệm về Cộng đoàn tín hữu của Chúa Giêsu Phục Sinh ở thế kỷ đầu. Cộng đoàn ấy xuất phát từ biến cố Phục Sinh và Ngũ Tuần. Cộng đoàn ấy có sứ mạng làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh. Ai nấy chúng ta đều biết rằng không phải người đương thời nào cũng tin theo Chúa Giêsu khi Người còn sống. Cũng không phải người môn đệ đương thời nào cũng được thấy Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra. Người có hiện ra với nhiều người thật, nhưng không phải là với tất cả mọi người. Vậy làm sao để cho những người đương thời, những người ở xa Giêru-salem, những người thuộc các thế hệ sau có thể tin rằng Đức Giêsu đã phục sinh. Cộng đoàn Hội thánh thời sơ khai có trách nhiệm nặng nề ấy. Cộng đoàn ấy đã rao giảng bằng lời, nhưng nhất là đã chứng minh bằng việc làm và bằng đời sống. Nếu người ta không nhìn thấy Chúa Kitô Phục Sinh, nếu người ta chưa tin nhận Người là Chúa, thì người ta phải thắc mắc tại sao những người Kitô hữu kia lại có một cách sống “lạ đời” như thế! Lạ đời vì bình thường thi người ta không sống như thế, vì ngược với xu hướng và ý thích tự nhiên của con người. Nổi bất nhất trong các đặc điểm của cộng đoàn tín hữu đầu tiên là sự yêu thương, giúp đỡ, san sẻ cho nhau giữa những người cùng đạo, cùng tin Chúa Giêsu đã Phục Sinh. Ba bài Thánh Kinh hôm nay phác họa Cộng đoàn Kitô hữu ở thế kỷ đầu với những nét tiêu biểu như sau:

* Đó là Cộng đoàn của Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần yêu thương, chăm sóc và bảo vệ các môn đệ của Chúa Giêsu. Tình yêu hiệp thông gắn kết mọi thành viên của cộng đoàn nên một gia đình. Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ nên Người giáo huấn các môn đệ để giúp họ hiểu sâu và gắn bó với Thầy Giêsu. Thánh Thần là sức mạnh và ánh sáng soi đường cho các môn đệ biết cách phải sống và biết cách phải cư xử với nhau như thế nào cho xứng danh là cộng đoàn môn đệ Đấng Phục Sinh.

* Đó còn là Cộng đoàn vừa đa dạng vừa hiệp nhất: vì Cộng đoàn được tạo nên bởi nhiều người nên trong cộng đoàn có suy nghĩ, quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược mâu thuẫn với nhau là chuyện bình thường, ngay cả trong những vần đề hệ trọng liên quan tới đức tin và phong hóa. Nhưng cộng đoàn của Chúa Kitô Phục Sinh có Chúa Thánh Thần ở cùng, nên luôn biết tìm ra phương cách giải quyết mọi khác biệt và xung đột để bảo toàn sự hiệp nhất. Nguyên lý của hiệp nhất của Cộng đoàn là mọi người suy nghĩ, trao đổi, bàn bạc với nhau và với Chúa Thánh Thần để tìm ra biện pháp tốt nhất, yêu thương và đoàn kết nhất.

3.2 Cộng đoàn Hội thánh ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XXI: Nhìn vào đời sống các giáo xứ và các giáo phận ở Việt Nam, chúng ta thấy có khá nhiều vấn đề phải suy nghĩ: cách sống đạo ù lì và lạc hậu của đại đa số giáo dân, lòng ham muốn chức quyền, danh vọng, giầu sang của một ít người, thậm chí cả ở hàng giáo sĩ, việc giáo dục đức tin yếu kém và việc truyền giáo không hiệu quả v.v.. Nhưng có lẽ vấn đề quan trọng nhất là sự đoàn kết, tình hiệp thông, tình huynh đệ và đời sống yêu thương san sẻ giữa các thành viên của cùng một cộng đoàn chưa được phát huy đúng mức. Chính vì thế mà nhìn vào các cộng đoàn ấy, người ta không thấy có gì hấp dẫn, thu hút, khiến phải bận tâm suy nghĩ và đặt vấn đề. Thậm chí, có một số trường hợp, càng nhìn sâu vào các cộng đoàn ấy, hay cành biết rõ nội bộ của các cộng đoàn ấy, người ta càng thấy phát chán và thất vọng, vì các cộng đoàn ấy mang nặng dấu ấn của những con người trần tục với đủ thứ sân si tầm thường và thấp hèn.

3.3 Quyết tâm: Góp sức vào việc xây dựng cộng đoàn của mình theo các đặc điểm (tiêu chuẩn) của Cộng đoàn Hội thánh thế kỷ đầu.

IV. CẦU NGUYỆN

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã căn dặn các môn đệ rằng: “Người ta cứ dấu này mà nhận ra chúng con là môn đệ của Thầy, là chúng con yêu thương nhau” Chúng con phải thể hiện tình huynh đệ với nhau một cách cụ thể: bằng sự đoàn kết, gắn bó, hiệp thông, san sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, bổ sung cho nhau và quí trọng nhau chân tình. Chính nhờ chứng tá này của Cộng đoàn Hội thánh đầu tiên mà có rất nhiều người xin gia nhập Đạo. Xin Chúa cho các cộng đoàn Giáo hội ngày nay, nhất là những người có trọng trách lãnh đạo, biết làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã Phục Sinh và hiện vẫn đang sống và hoạt động trong thời đại ngày nay qua Thánh Thần của Người. Amen.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.


 

PS6-C36. Bình an mà Chúa ban thì nhân loại không ban nổi

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH, C

Cv 15:1-2, 22-29; Kh 21:10-14, 22-23; Ga 14:23-29

 

Cách đây hơn hai ngàn năm khi Chúa cứu thế sinh ra tại Bêlem, các sứ thần ca hát vang dội: Vinh danh: PS6-C36

Cách đây hơn hai ngàn năm khi Chúa cứu thế sinh ra tại Bêlem, các sứ thần ca hát vang dội: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm (Lc 2:14). Khi sai các môn đệ đi rao giảng tin mừng cứu độ, Chúa dặn họ chúc bình an cho dân chúng. Khi Người sống lại từ cõi chết, lời đầu tiên của Người thốt ra cho các môn đệ là lời chào bình an. Và khi Chúa về trời, Người hứa ban cho họ bình an. Đôi khi ta tự hỏi: tại sao Chúa cứu thế đến hứa ban bình an mà nhân loại vẫn phải chịu cảnh chiến tranh bạo động? Theo dòng lịch sử nhân loại, chiến tranh đã xẩy ra liên tiếp giữa các quốc gia, phe nhóm, bộ lạc khi những vấn đề tranh chấp không được giải quyết cách ổn thoả.

Hiện tại trên thực tế thì cái chiến tranh về ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản được coi là đã ngưng. Khi mà dân đói thì cũng không còn ý thức hệ nữa. Sau khi thế giới cộng sản sụp đổ, thì có người đã tiên đoán sẽ xẩy ra những vấn đề tranh chấp về lãnh thổ, nòi giống, tôn giáo và kinh tế. Sau khi thế giới cộng sản đổ trừ ra vài ba nước còn bám víu lấy chế độ để sinh tồn, thì người cộng sản lại thi nhau phát triển về kinh tế với sự trợ giúp của các nước tư bản. Người ta sẽ chém giết nhau vì lý do kinh tế nếu có chuyện quốc gia nọ bao vây kinh tế của quốc gia kia, hoặc nước này thao túng thị trường kinh tế của nước khác.

Hoà bình thực sự là điều mà đa số loài người ta mong muốn, nhưng ít ai đạt được. Hoà bình hay bình an mà Chúa hứa ban khác với cái bình an của thế gian. Bình an hiểu theo nghĩa loài người là vắng bóng chiến tranh, không còn tiếng súng đạn. Tuy nhiên mầm gốc chiến tranh không phải là do súng đạn. Mầm gốc chiến tranh là do từ bên trong phát ra: do lòng tham lam ích kỉ của con người, cái mà người ta gọi là lý do kinh tế. Mầm gốc chiến tranh cũng có thể do lòng kiêu căng thù ghép, muốn làm bá chủ hoàn cầu, như là chiến tranh ý thức hệ. Mầm gốc chiến tranh cũng do lòng ghen tuông, hận thù, ganh tị gây ra.

Vì vậy súng đạn chỉ là phương tiện người ta dùng để chém giết lẫn nhau. Đời xa xưa khi chưa có súng đạn, người ta dùng đá ném nhau, dùng cung tên để bắn nhau. Nếu không có gì khác để đánh nhau, người ta có thể dùng miệng lưỡi để hạ sát nhau. Trong Phúc âm hôm nay Chúa phán: Ta ban cho anh em bình an của Thày … không phải theo kiểu thế gian (Ga 14: 27). Đó là thứ bình an mà các sứ thần ca hát vang dội trong đêm Giáng sinh. Thứ bình an đó phải phát xuất tự trong tâm hồn mỗi người. Bình an là cái sứ điệp Chúa trao ban cho các môn đệ và là sứ điệp mà Giáo hội rao giảng.

Ít ai trong lịch sử loài người đã góp phần đem hoà bình đến cho các phe nhóm xung đột hơn là Thánh Phanxicô, một vị thánh tự sống nghèo. Kinh nguyện hoà bình của Thánh Phanxicô đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau để người ta cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin biến đổi con thành dụng cụ hoà bình của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nới lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem niềm tin vào nơi nghi kỵ, đem trông cậy vào nơi thất vọng, đem ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui tới chốn u sầu.

Lạy Chúa, xin dạy con, tìm an ủi ngưòi, hơn được người ủi an; tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người, hơn được người mến yêu. Vì chính khi cho đi, là khi được nhận lãnh, chính lúc thứ tha, là khi được tha thứ; chính lúc chết đi, là khi vui sống muôn đời.


NS Dân Chúa Mỹ Châu
Lm Trần Bình Trọng, USA


 

PS6-C37. Đấng bảo trợ là Thánh Thần

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH C / 6th Sunday of Easter

Lời Chúa cho hôm nay: ĐẤNG BẢO TRỢ LÀ THÁNH THẦN

* The Advocate, the Holy Spirit *

 

Bài này tiếp bài đọc 1 Chúa nhật vừa qua, Phaolô và Banaba đã rửa tội cho dân ngoại không cần cắt: PS6-C37

* BÀI ĐỌC 1: Công vụ 15, 1- 2; 22- 29= Bài này tiếp bài đọc 1 Chúa nhật vừa qua, Phaolô và Banaba đã rửa tội cho dân ngoại không cần cắt bì./ This passage continues the first reading of last Sunday...had baptized Gentiles without circumci.

* BÀI ĐỌC 2: Khải huyền 21, 10- 14; 22- 23= Thành phố của Chúa: Tiếp tục đọc thị kiến trên trời của thánh Gioan trong các Chúa nhật mùa Phục sinh này./ We continued to read John’s heavenly vision during the Sundays of Eastertime.

* TIN MỪNG (Gospel): Gioan 14, 23- 29= Một lần nữa chúng ta trở lại Lời Chúa Giêsu nói trong bữa tiệc ly. Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần sẽ đến./ Once again we return to the Words of Jesus spoke at the Last Super. The coming of Holy Spirit.

a. Bạn và tôi cùng Cảm-Nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

1/ Bài Tin Mừng hôm nay nói các môn đệ thắc mắc hỏi, Đức Giêsu đáp: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ Lời Thầy,...và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy.” Câu này tôi đã đọc rất nhiều lần, hôm nay tôi có sách Phúc Âm nhưng rất ít đọc và suy niệm riêng cho mình và Gia đình. Chúa nhật tôi đi lễ để giữ luật chứ không để lòng lắng nghe, thực hành Lời Chúa vào đời sống. Tôi nghĩ rằng chỉ đi lễ ngày Chúa nhật là đủ rồi, còn đời sống không cần thay đổi gì cả. Tôi đã tích cực làm gì cho chính mình Gia đình? (Hành đạo)

“Whoever loves Me will keep My Word, and... We will come to him and make Our dwelling with him.” (Ga 14, 23)

2/ Đức Giêsu nhắn nhủ tiếp: “Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ gởi đến...sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em.” Những gì được nhắc nhở trong tâm hồn, qua Giáo hội, qua người chung quanh, qua các biến cố... trong đời đều do Thánh Thần làm việc trong bạn, nên lắng nghe để cầu nguyện, suy niệm, bàn hỏi và thi hành. Thần khí đang làm gì trong Giáo hội và thế giới? (Học đạo)

“The Advocate, the Holy Spirit, whom the father will send...will teach you everything and...all that I told you” (Ga 14, 36)

3/ Trong bài đọc 1, sách Công vụ viết về giữ luật như sau: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào...” Các tông đồ nhận quyền này từ Đức Kitô và được Thánh Thần linh hứng, luôn phù hợp với Tín hữu Do Thái và lương dân. Do đó, tôi không nên giữ luật quá hình thức và cứng ngắc, bó buộc, làm người khác nản lòng. Vì ách của Chúa là ách êm ái và nhẹ nhàng, Ngài muốn mọi ngườiđến với Ngài một cách tự do. Tôi đã làm gì để anh em lương dân dễ thấy Chúa?(Sống đạo)

“It is the decision of the Holy Spirit and of us not to placce on you any burden...” (Cv 15, 28)

4/ Sách Khải Huyền diễn tả thành Giêrusalem mới trên trời mà Gioan đã thị kiến: “Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông đồ của Con Chiên.” Ở đây chính 1à Nhóm mười hai Tông đồ, những người đi theo và thực hành Lời Đức Kitô. Hôm nay bạn đang được bình an, không lo lắng, sợ hãi và vui mừng vì giữ Lời Ngài. Chia sẻ những ơn bạn đang lãnh nhận bởi Chúa ban?(Sùng đạo)

“The wall of the city had twelve courses of stone...on which were inscribed the twelve apostles of the Lamb.” ( Kh 21, 14)

B. Câu Kinh Thánh tôi chọn làm Châm ngôn Sống Lời Chúa tuần này: (The Best God’s Word)

AI YÊU MẾN THẦY THÌ SẼ GIỮ LỜI THẦY ( Gioan 14, 23 )

Whoever loves Me will keep my Word

C. Ngay bây giờ tôi phải làm gì cụ thể để Sống Lời Chúa: ( So what am I doing / For Action )

Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cãm-Nghiệm Sống và Chia sẻ ở phần A để thực hành vào đời sống hay một việc làm khác.

D. Tôi dựa vào Lời Chúa để cầu nguyện và Sống lơì cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )

Lạy Cha, Đức Kitô đã dạy: ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ Lời Thầy, Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Xin cho con biết giữ Lời Chúa bằng những việc làm cụ thể cho người anh em chúng con gặp hàng ngày. Vì Lời Chúa là nguồn vui của con hôm nay.
Ptế Nguyễn Định


 

PS6-C38. Thực thi ý định của Chúa Cha

VietCatholic News (07/05/2004 )

Thực thi ý định của Chúa Cha

 

Sứ mạng của Chúa Giêsu nơi trần gian sắp đến hồi chung cuộc, và thánh ý Chúa Cha sắp được: PS6-C38

Sứ mạng của Chúa Giêsu nơi trần gian sắp đến hồi chung cuộc, và thánh ý Chúa Cha sắp được tỏ hiện rõ ràng cho muôn dân được thấy. Tất cả những gì đã dấu kín từ trước, nay sắp sửa được tỏ bày, và mọi người sẽ biết rằng Chúa đã có chương trình riêng của Ngài không ai có thể dò thấu.

Nơi Chúa Giêsu đi lúc này, tuy Ngài đã tiên báo, nhưng không ai có thể hiểu được là Ngài sẽ đi đâu cả, có vài người cũng nghi ngờ rằng có thể Ngài tự tử? Đâu có ai ngờ rằng một người đang ở giữa tuổi thanh xuân và ‘tột đỉnh danh tiếng’ lại có thể chấm dứt cuộc đời hết sức đột ngột! Và chấm dứt trong điều kiện thật bi đát, không có giá trị gì trước mặt người đời! Một kết thúc chỉ là cái thất bại thê thảm không thể sinh ích lợi gì cho ai cả! Ấy thế mà Thiên Chúa đã dùng ngay cái thất bại, cái khốn khổ mà con người xa tránh, trốn chạy, để làm phương thuốc chữa trị ngay cái yếu đuối nhất của con người. Phương thuốc này gây cho con người nhiều đau đớn và sợ hải; nhưng chỉ có Thiên Chúa mới đủ sức mạnh để tỏ cho con người biết rằng không cần phải khiếp sợ trước một uy quyền nào. Là con cái của Thiên Chúa, của tự do, là khanh tướng cần phải sống hiên ngang, ngẩng cao đầu để trực diện với mọi thách đố. Chúa là Thiên Chúa toàn năng, không muốn để con cái Ngài phải bị khống chế bởi một quyền lực nào, nhưng phải được hoàn toàn tự do hết mọi sợ hãi, để được tự do phát triển toàn vẹn cho đến mức thập toàn. Đấy là hồng ân cao quí mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban cho con người. Hoàn toàn vượt xa những suy nghĩ và mong đợi của phàm nhân. Bởi vì con người quá non dại, ăn chưa no, lo chưa tới; thành ra không trân trọng giá trị cao quí món quà của Thiên Chúa ban tặng!

Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Vinh quang của Thiên Chúa sẽ được tỏ hiện ngay ở chỗ con người cảm thấy yếu đuối, bất lực và đầu hàng; và đó là quyền năng siêu vượt của Thiên Chúa mà con người không thể dò thấu được.
Lm Trần văn Trợ, SJ


 

PS6-C39. YÊU THƯƠNG MÀ CHẲNG NÓI RA! - Mark Link S.J.

Bài đọc: Cv 15,1-2, 22-29; Kh 21;10-14, 22-23; Ga,14, 23-29
Chủ đề:
Đôi khi Thiên Chúa dường như muốn lánh mặt đi để chúng ta tiến đến gần Ngài hơn…..
 

Marion West là một bé gái bốn tuổi. Ngày nào bé .............. Câu chuyện trên có điểm tương đồng: PS6-C39

Marion West là một bé gái bốn tuổi. Ngày nào bé cũng mừng rỡ nhảy và la lên khi thấy mẹ từ sở làm tới đón bé về nhà ăn trưa. Vì bận rộn nên mẹ bé phải gởi bé cho người hàng xóm, rồi mỗi buổi trưa, hai mẹ con hối hả trở về nhà cùng ăn bữa  trưa và đùa giỡn với nhau. Nhưng khi bà mẹ quay lại sở làm sau bữa ăn thì bé thường trở nên thờ thẫn như người mất trí. Thế rồi, một ngày nọ, mẹ bé thôi không về nhà ăn trưa nữa. Marion cảm thấy buồn quá. Bé tự nhủ: Sao mẹ không về ăn trưa và nô đùa với mình nữa nhỉ? Không hiểu mẹ còn yêu quí mình như thuở trước nữa không? Mãi đến vài năm sau Marion mới vỡ lẽ ra là hồi đó mẹ bé mỗi ngày vẫn ghé về nhà, và bà thường ngồi bên cửa sổ nhà bếp vừa ăn trưa, vừa ngắm nhìn Marion nô đùa bên sân nhà hàng xóm. Suốt thời gian đó bà mơ ước được gần gũi ôm ấp bé, nhất là khi thấy cô bé khóc, nhưng vì muốn đem lại lợi ích cho bé, bà đã phải nén lòng. Dần dà Marion quen với sư vắng mặt của mẹ, nhờ đó bé lớn lên một cách lành mạnh. Giờ đây nghĩ lại, Marion đã hiểu được tại sao hồi đó buổi trưa mẹ đã không ghé đón cô, đó là vì bà muốn cho đời sống cô được tăng trưởng thuận lợi hơn.
Câu chuyện trên có điểm tương đồng với bài Phúc Âm hôm nay. Vì trong Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã thiết thực báo cho các tông đồ. “Các con sẽ buồn vì nghe nói Ta phải rời xa các con. Lòng các con sẽ sầu đau và sợ hãi, nhưng này Ta bảo cho các con biết: Ta ra đi sẽ tốt hơn cho các con, vì khi ấy, Cha Ta sẽ sai Thánh Linh đến để giúp các con tăng trưởng theo một cách thức mới. Nói cách khác, Chúa Giêsu nói cho các tông đồ biết đã đến giờ họ phải bắt đầu một giai đoạn mới trong việc phát triển tâm linh, đã đến giờ họ cần được phát triển theo một phương cách mới.
Như thế điều thích hợp và hữu ích đối với cô bé 4 tuổi Marion và đối với các môn đệ Chúa Giêsu cũng là điều thích hợp và hữu ích đối với chúng ta. Có những lúc trong đời hình như Chúa bỏ rơi chúng ta, hình như Chúa tạm lánh mặt chúng ta. Chẳng hạn trong việc cầu nguyện: Trước đây chúng ta từng cảm nghiệm được sự bình an sâu xa mỗi lần cầu nguyện, còn lúc này sao cảm thấy ngán ngẩm thế. Hoặc là lúc trước đức tin chúng ta sao lại mạnh mẽ thậm chí đến độ có thể dời núi chuyển non được, thế mà lúc này đây, dường như nó chả nhắc nổi một hòn đá nhỏ nữa! Hoặc trước đây chúng ta rất hăng say khi tham gia vào các hoạt động tôn giáo, chẳng hạn như tham gia vào hội hồng thập tự quốc tế, hoặc làm thừa tác viên phục vụ bí tích thánh thể, thế mà giờ đây ta chẳng còn vui thú gì với các hoạt động ấy nữa. Dường như Chúa đã bỏ rơi chúng ta rồi! Và chúng ta bắt đầu thắc mắc không hiểu Chúa còn yêu thương chúng ta nhiều như trước nữa không, y hệt như bé Marion bắt đầu thắc mắc về tình yêu của bà mẹ cô. Thực ra Chúa luôn luôn yêu thương chúng ta rất nhiều và vẫn mãi yêu ta như trước. Ngài rất ao ước gần gũi chúng ta, nhưng Chúa biết rằng nếu Ngài tạm lánh mặt thì chúng ta sẽ được lợi ích nhiều hơn. Chúa biết rằng đã đến lúc chúng ta cần bắt đầu một giai đoạn mới trong việc tăng trưởng tâm linh, y hệt như trường hợp của cô Marion và trường hợp các môn đệ của Chúa Giêsu. Chẳng hạn như đã đến lúc chúng ta cần nhận ra rằng việc cầu nguyện không hệ tại cảm xúc riêng của chúng ta. Thực thế, lời cầu nguyện tuyệt hảo nhất thường là lời cầu nguyện lúc tâm hồn chúng ta xem ra bị chai cứng như đá, và chúng ta chẳng thấy cảm xúc gì cả; vì lúc ấy chúng ta mới thực sự cầu nguyện bằng đức tin. Đã đến lúc chúng ta phải hiểu rằng đức tin không phải là một cảm giác mà là một sự dâng hiến, một sự “phó thác” cho Chúa, một lời nói “vâng” với Ngài, dù lòng chúng ta chẳng hề cảm thấy Ngài hiện diện, hệt như bé Marion đã không hề cảm thấy mẹ bé có mặt bên bé. Tóm lại, đã đến lúc chúng ta cần nhận thức rõ ràng động cơ thúc đẩy sự dấn thân tôn giáo của chúng ta trước tiên không bắt nguồn từ thoả mãn mà Tôn Giáo mang lại cho chúng ta.
Chúng ta dấn thân là vì Chúa Giêsu đã yêu cầu chúng ta, vì Ngài đã truyền dạy chúng ta và đồng thời vì chính Ngài đã đích thân làm gương cho chúng ta.
Có một người nọ chuyên môn sưu tầm các loài bướm. Ngày nọ, khi bước vào một công viên, ông ta gặp được cái kén của một loại bướm hiếm lạ treo trên một cành cây. Ông liền bứt nhánh cây ấy và mang kén bướm về nhà. Ít ngày sau ông thấy có nhúc nhích bên trong kén, nhưng con bướm vẫn chưa phá kén bay ra. Ngày hôm sau ông thấy trong kén lại nhúc nhích, nhưng cũng chẳng có gì xảy ra. Đến lần thứ ba vẫn thấy như trước, ông bực mình quá lấy dao rạch kén bướm, thế là chú bướm bò ra ngoài. Tuy nhiên, nhà sưu tầm nọ rất thất vọng vì chú bướm không tăng triển được và chẳng bao lâu thì chết. Về sau bạn ông ta là một nhà sinh vật học đã cắt nghĩa cho ông ta hiểu lý do. Nhà khoa học nói rằng thiên nhiên đã dàn xếp cho một con bướm phải đấu tranh mới thoát ra được cái kén của mình, vì nhờ đấu tranh gian khổ nó mới có thể phát triển mạnh mẽ để sinh tồn. Nhà sưu tầm bướm tưởng rằng dùng dao rạch kén ấy thì sẽ giúp chú bướm được thuận lợi hơn, nào ngờ làm thế ông đã tiêu hủy khả năng phát triển và sinh tồn của chú.
Chúng ta cũng chẳng khác gì chú bướm nọ: Thiên Chúa đã hoạch định cho chúng ta phải đấu tranh gian khổ để nhờ đó chúng ta được tiến triển về mặt tâm linh. Chúa đã an bài mọi sự để vào một số thời điểm trong cuộc sống chiêm niệm của chúng ta, vào một số thời điểm trong cuộc sống tín trung của chúng ta, vào một số thời điểm trong cuộc sống thiêng liêng của chúng ta, chúng ta phải nỗ lực gian khổ. Vào những thời điểm ấy, Thiên Chúa ở rất gần chúng ta, không khác gì bà mẹ của bé Marion luôn kề cạnh bé lúc bé gặp thử thách, buồn đau. Chúa biết rõ chúng ta cần phải gánh chịu gian khổ một thời gian vì lợi ích riêng của chúng ta, vì nhờ những gian khổ này, chúng ta mới được tăng trưởng về mặt thiêng liêng để trở thành những Kitô hữu vững mạnh.
Chúng ta hãy kết thúc bằng một bài thơ bình dân, hàm chứa tất cả những điều chúng ta muốn nói lên hôm nay:
“Mọi ân sủng chúng ta chất chứa,
“Mọi khổ đau nặng trĩu bể dâu,
“Muộn phiền đầy ắp trên đầu,
“lệ tuôn đổ xuống lẽ nào ra không?
“Đớn đau cô quạnh đêm đông,
“Lẽ nào chẳng có ánh hồng ẩn soi?
“nên hãy cứ tín thành vào Chúa,
“Ngài luôn lo thiện ích cho ta,
“Lý do Ngài biết rõ mà!”.
                 (Tác giả vô danh)

 

PS6-C40. TÌNH YÊU VÀ GIỚI HẠN - Gm. Arthur Tonne

TÌNH YÊU VÀ GIỚI HẠN - Gm. Arthur Tonne
 

Thánh Phanxicô Assisis có lòng mến Chúa và yêu người sâu xa. Một hôm Ngài gặp một người bạn: PS6-C40

Thánh Phanxicô Assisis có lòng mến Chúa và yêu người sâu xa. Một hôm Ngài gặp một người bạn, ông này thú nhận rằng mình không thể yêu Chúa. Khi hai người đi dạo, họ gặp một người hành khất què và mù. Thánh Phanxicô hỏi người hành khất: “Nói cho tôi nghe. Nếu tôi chữa anh thấy đường và chân anh khoẻ lại, anh có yêu mến tôi không?”
Người hành khất trả lời: “A, không những tôi yêu mến ông, mà tôi còn làm nô lệ cho ông suốt quãng đời còn lại”.
Thánh Phanxicô nói với người bạn vẫn biện hộ là mình không thể yêu Chúa:  “Thấy không, người Hành khất này yêu mến tôi nếu tôi cho anh ta sự sáng và sức khoẻ. Tại sao anh lại không yêu Chúa, đấng tạo dựng nên anh với hai mắt sáng và đôi chân vững mạnh”.
Thiên Chúa cũng hỏi mỗi người chúng ta câu hỏi đó: “Tại sao Con không yêu Ta, Đấng đã ban cho con sức khoẻ và vô vàn ơn lành như của ăn, áo mặc, nhà ở, giáo dục và bạn bè”. Chúng ta phải nói với Chúa những lời người hành khất nói với thánh Phanxicô: “Con không chỉ yêu Chúa, mà còn làm nô lệ Chúa suốt cuộc đời còn lại”.
Đó là điều Chúa Giêsu nói với chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay: “Ai yêu Thầy, kẻ ấy giữ lời Thầy” Yêu Chúa Kitô, có nghĩa là muốn làm điều Chúa Kitô muốn. Điều Chúa Kitô và Cha Người trên trời muốn là tuân giữ mười điều răn. Hãy tự hỏi: Tôi cố gắng làm điều Chúa muốn chưa? Nếu thật sự bạn đã cố gắng, bạn đang yêu Chúa rồi đó.
Ngày nay, có một số người sai lầm chủ trương rằng: Tất cả những gì chúng ta phải làm là yêu Chúa. Đừng lỗi các giới răn. Giả dụ có ai nói với vợ rằng; “Anh yêu em” nhưng rồi lại làm những cái mà vợ không muốn: chửi thề, rượu chè quá độ, không bao giờ dẫn vợ đi chơi, trễ bữa ăn vô cớ…. Quả thực anh chẳng yêu vợ chút nào.
Đó là điều Chúa Kitô nói tới hôm nay: Nếu các con yêu mến Thầy, các con sẽ cố gắng làm điều Thầy muốn.
Không phải là vấn đề cái này hay cái kia – yêu Chúa hay giữ các giới răn, mà là yêu Chúa và giữ các giới răn. Chúng ta sẽ chứng tỏ tình yêu của chúng ta với Chúa bằng việc làm những gì Chúa muốn và tránh những gì Chúa không muốn, vì Chúa tự Ngài là tốt lành và vì Chúa tốt lành vô cùng với chúng ta. Như người hành khất trong câu chuyện chúng ta không chỉ nói: chúng ta yêu Chúa, mà chúng ta còn tự nguyện làm nô lệ của Người. Người nô lệ mến yêu của Người.
Chúng ta hãy cầu nguyện với tình yêu và ý nghĩa những lời trong kinh nguyện thánh thể 2: “Xin làm cho chúng con xứng đáng tham dự sự sống đời đời… với những ai đã thi hành ý Chúa trong suốt cuộc đời”. Những lời trong kinh Lạy Cha: “Ý Cha thể hiện” có một ý nghĩa đặc biệt trong việc phụng tự thánh hôm nay.
Chính Chúa Giêsu cho chúng ta tấm gương trọn hảo của tình yêu: Người yêu Cha của Người ở trên trời. Người chứng tỏ tình yêu ấy bằng việc tuân theo ý Cha của Người. Xin Chúa Giêsu giúp chúng ta làm đúng như thế.
Xin Chúa chúc lành bạn. Amen.

 

PS6-C41. Bình an là kết quả của tình yêu

VietCatholic News (10/05/2004 )
 

Hôm nay, khi suy niệm Tin Mừng của Chúa Kitô: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và: PS6-C41

Hôm nay, khi suy niệm Tin Mừng của Chúa Kitô: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong Người ấy…. Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con… Nếu các con yêu mến Thầy, thì các con hãy vui mừng vì Thầy về với Cha, bởi lẽ Cha trọng hơn Thầy”, Tôi muốn nói tới sự cao quý của ơn bình an. Nhưng để có được bình an trong cuộc đời, đòi ta phải tha thứ cho nhau. Nhưng tha thứ sẽ không thực hiện được nếu không có lòng yêu mến..

Người ta kể rằng, tại An Độ, trong thời chiến giữa người An giáo và người Hồi giáo, một lần nọ, một người đàn ông An giáo đến gặp Mohandas Gandhi và kể rằng: Một người Hồi giáo đã giết chết con trai của ông. Trong cơn tức giận, ông đã giết chết người đàn ông Hồi giáo để trả thù cho con mình. Người đàn ông An giáo cho biết: “Từ khi chuyện xảy ra, tôi không thể nào tìm thấy bình an”. Gandhi suy nghĩ một lúc rồi nói: “Nếu đúng là sự bình an mà anh muốn, thì đây là điều cần thiết, anh phải làm. Người đàn ông đã bị giết cũng có một người con trai. Anh đã làm cho nó không có cha. Anh phải là cha của nó, nó phải là con trai của anh. Anh phải nuôi dạy nó như con riêng của mình, và phải là cha như cha thật của nó, dạy dỗ nó như một người Hồi giáo dạy con mình. Nếu làm được như thế, mới mong tìm được một chút bình an”.

Chúng ta không đề cập xem người đàn ông An giáo có làm được điều mà Gandhi đã dạy hay không, hay lỗi lầm là của ai, bởi ai đã gây ra trước, cùng một hành động giết người, nhưng người Hồi giáo hay người An giáo, ai mang tội nặng hơn.

Điều tôi muốn rút ra trong câu chuyện kể, đó là khi muốn có bình an, người ta phải tha thứ cho nhau. Biết bao cảnh huynh đệ tương tàng, biết bao nỗi oan khuất, căm thù, đổ máu… chỉ vì lòng người không thể tha thứ. Nhân loại rất cần bình an. Mọi người đều hiểu bình an là vốn liếng quý giá trên mọi thứ của cải. Nhưng thực tế lại quá trớ trêu, vì chính nhân loại cũng lại là thủ phạm giết chết bình an một cách tàn nhẫn.

Nếu đã lỡ giết chết bình an, dù là tìm cách lấy lại bằng sự hối hận ăn năn thật lòng, may ra cũng chỉ “tìm lại được một chút bình an” mà thôi. Hóa ra người ta giết chết bình an thì dễ nhưng tìm lại bình an thì khó vô cùng.

Cả người Palextine lẫn người Israel, lòng khoan dung, tha thứ thiếu vắng, nên sự xung đột và bạo động diễn ra như cơm bữa. Bình an chưa có một ngày nào tại Trung đông, từ khi Palestine đòi đất của mình.

Không thể tha thứ, cho nên cả hai phía, người Mỹ - kẻ chiến thắng trong chiến sự, và người Apganixtan hay người Iraq, không một ngày nào, không đối diện với bạo động, mất bình an. Nhưng không chỉ có người Mỹ hay những quốc gia nạn nhân của họ, sự bất bình an, nạn khủng bố còn đe dọa từng ngày trên đầu của mọi người dân trong các quốc gia tham dự vào quân đội đồng minh.

Thời gian gần đây, khi mà lương tâm nhân loại còn đang uất ức vì quá nhiều người bị bắt cóc, bị giết, bị hành hạ, thì những hình ảnh diễn tả cảnh chà đạp nhân phẩm tù binh của kẻ say chiến thắng, càng làm cho lòng người lương thiện đau đớn, nhức buốt.

Như vậy sự chiến bại, bây giờ không chỉ dừng lại ở chỗ quốc gia này hay quốc gia kia thất trận. Sự chiến bại ấy còn khủng khiếp hơn, vì đó chính là sự chiến bại của lương tâm và đạo đức con người. Bao nhiêu quyền lực, bao nhiêu hệ thống chính trị, bao nhiều tỷ người trên thế giới, lại không thể bảo vệ một số ít anh chị em của mình, dẫu họ là tù binh đi nữa. Đó là chưa kể, biết bao nhiêu người vì niềm tin vào Thượng Đế, Tin nơi Thiên Chúa, đã đành chấp nhận để người ta tước mất tự do của mình.

Đâu chỉ có thế, bình an còn trở nên hiếm hoi trong đời sống cộng đồng hoặc của từng cá nhân trong cuộc sống hằng ngày khi những cá nhân ấy thiếu lòng yêu thương tha thứ. Biết bao nhiêu cảnh trả thù, chém giết, ít là oán hận nhau, nhớ mãi lỗi lầm của nhau vẫn cứ diễn ra. Những kiểu nói “sống để bụng, chết đem theo” hay “không đội trời chung”… là những kiểu nói chất chứa sự thù oán mà không phải ít, nhưng nhiều lần chúng ta phải nghe. Tệ hơn, nếu những lời ấy lại chính là lời diễn tả tâm hồn của bạn và tôi.

Suy nghĩ cho tới cùng, ta sẽ nhận ra rằng, hình như lịch sử loài người từ tạo thiên lập địa, chưa có một ngày bình an. Từ nguyên khởi, lúc mà hạnh phúc của con người còn chan chứa thứ hạnh phúc của trời cao, của thiên đàng, con người đã sát hại nhau. Lúc Cain giết chết Abel, đứa em trai của mình, chính là lúc Cain khai mạc lòng hận thù, bạo động tàn nhẫn của con người trên thế giới.

Đọc lại câu chuyện về những lần tha thứ của vua Đavit, chúng ta cảm thấy thèm khát lòng yêu thương quá. Đọc truyện vua Đavit, ta cũng cảm nhận lòng yêu thương sao mà đẹp quá đỗi. Chỉ cần một chút yêu thương, như một hạt muối bỏ vào cả một chén đầy hận thù, thế là nở ra cả một biển trời bình an. Vua Đavit đã làm được điều đó khi ông tha thứ cho người cha vợ của mình là vua Saul và đứa con trai ngỗ nghịch là Apsalon. Không phải tha một lần, nhưng Đavit đã tha rất nhiều lần, vì thế biển trời bình an xung quanh ông vốn đã rộng, lại cứ nở thêm, nở thêm…

Trở lại Tin Mừng của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Chúa không nói: “Thầy chúc bình an cho các con”, nhưng lại nói: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy Ban bình an của Thầy cho các con”, “Thầy Ban…”, “Thầy để lại…” nghĩa là gì, nếu không là những kiểu nói của quà tặng, của ân huệ. Bình an chính là ơn Chúa ban nhưng không cho trần gian.

Nhưng có thật là Chúa đã ban bình an cho trần gian hay chẳng có Chúa, chẳng có bình an nào? Bình an đã được ban, vì sao thế giới cứ mãi ngụp lặn trong bất an, trong bóng tối tăm của thù hận, trong máu và sự chết của chiến tranh? Đúng là một thử thách quá lớn cho đức tin chúng ta, vì có một khoảng cách quá xa giữa Lời Chúa với thực tế của thế giới và của bản thân từng người.

Thật ra Lời Chúa không hề mâu thuẫn. Vì chỉ trong một bản văn ngắn, có đến hai lần Chúa Giêsu đòi hỏi con người phải có lòng yêu mến. Trước khi ban bình an, Chúa nói: “Ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở lại nơi Người ấy”. Cũng vậy, sau khi trao ban bình an, Chúa lại đòi: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì các con hãy vui mừng vì Thầy về với Cha”.

Như vậy có hai điều kiện trên hết mọi điều kiện để thế giới và để lòng người có sự bình an, đó là: “YÊU MẾN THẦY”; “GIỮ LỜI THẦY”. Nhờ yêu mến và giữ lời Chúa Giêsu, ta được Chúa Cha và Chúa Con ngự trong lòng mình. Vì: “Chúng Ta sẽ đến và ở lại nơi người ấy”. Mà nơi nào có Chúa Cha, Chúa Con, thì cũng có Chúa Thánh Thần. Làm sao tâm hồn ta có thể hiềm thù, nổi loạn, chiến tranh, khủng bố khi lòng mình có Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn Bình An tuyệt đối, nguồn Bình An có sức cứu độ và đưa ta vào thế giới vô biên, ngự vào!

Lòng yêu mến mà con người cần phải có đối với Thiên Chúa, sẽ như một dòng chảy tất yếu: yêu Thiên Chúa đưa đến yêu con người. Khi có tình yêu, con người sẽ dễ tha thứ cho anh chị em của mình. Có tình yêu, có lòng tha thứ, chắc chắn sẽ không bao giờ thiếu vắng bình an. Đó là chưa kể, khi một tâm hồn bình an có Thiên Chúa ngự trị, tâm hồn ấy sẽ tràn đầy tình yêu, bất bạo động và rất khoan dung.

Bởi vậy, nếu ngày nào thế giới và mỗi con người trong thế giới chối từ Chúa, còn xua đẩy Lời của Người ra khỏi lòng mình, ngày ấy nhân loại vẫn còn đó nỗi chết chóc vì chiến tranh; lòng người vẫn còn đó thù hận vì mất bình an. Cá nhân này với cá nhân kia, tập thể này với tập thể kia, đảng phái này với đảng phái kia, quốc gia này với quốc gia kia… vẫn còn đó sự đối kháng, sự trả thù vì thiếu tha thứ.

Chính vì lý do thiếu vắng tình yêu và tha thứ này, ta hiểu được vì sao ơn bình an đã được Chúa ban, vẫn cứ xa vời. Ta cũng hiểu được vì sao từ thuở tạo thiên lập địa đến nay, nhân loại không có được một ngày bình an. Thế giới mãi sống trong đe dọa, lòng người cứ mãi sống trong sợ hãi, long đong.

Bạn và tôi là Kitô hữu, tức đã thuộc về Chúa Kitô. Bởi vậy, dù cho thế giới quanh mình có thế nào đi nữa, ta vẫn phải ưu tiên sống Lời Chúa và đặt lòng yêu mến Thiên Chúa của mình lên trên hết mọi sự. Vì nếu, ngay cả người Kitô hữu mà còn không yêu mến và giữ Lời Chúa, thì làm sao có thể mong ước thế giới hết chiến tranh, loài người sống bình an, người với người tha thứ cho nhau?

Bạn và tôi cũng hãy ghi nhớ: khi bình an đã bị đánh, dẫu có tìm lại, cũng chỉ có thể “tìm lại được một chút bình an” mà thôi.Tấm gương tha thứ đến mức tuyệt vời của vua Đavit là bài học quý giá cho tất cả chúng ta. Vì nếu một Đavit, nhờ lòng tha thứ, mở ra cả một biển trời bình an, mỗi chúng ta biết tha thứ cho nhau, biển trời bình an ấy được nhân lên vô cùng nhiều.

Ngoài ra, ta còn phải cầu nguyện cho ơn bình an nữa. Trước hết, xin Chúa ban cho chính lòng mình tràn ngập bình an, để sống với anh chị em xung quanh. Sau nữa là xin Chúa tiếp tục tuôn đổ bình an cho thế giới, để nhân loại biết yêu thương và tha thứ cho nhau. Xin Chúa hãy làm cho mọi người hiểu rằng, giết chết bình an thì dễ, nhưng để có bình an, khó lắm! Vì thế, nếu đã không nỗ lực để kiến tạo bình an, thì cũng đừng tìm cách chà đạp bình an của thế giới, của lòng người, nhất là đối với những người vô tội.
Lm. Vũ Xuân Hạnh


 

PS6-C42. Âm thanh

Tin mừng : Ga 14, 23-29.

Anh chị em thân mến,

 

Chủ nhật này tôi xin chia sẻ với anh chị em hai điểm sau đây có liên quan đến đời sống tín ngưỡng: PS6-C42

Chủ nhật này tôi xin chia sẻ với anh chị em hai điểm sau đây có liên quan đến đời sống tín ngưỡng của chúng ta.

1. Âm thanh quen thuộc

Trên đường phố tấp nập người qua lại, xe cộ ồn ào, nhiều âm thanh hổn độn, có hai người bạn cùng đi bộ trên lề đường, một người Mỹ da đỏ và một người Mỹ da trắng ở thành phố, đột nhiên người Mỹ da đỏ dừng lại lắng nghe và nói : có tiếng dế kêu. Người Mỹ da trắng không tin vì ông ta không nghe tiếng dế kêu mà chỉ nghe âm thanh xe cộ tiếng người, nhưng sau một hồi tìm kiếm thì cả hai người thấy một con dế đang bò trên bụi cây trường sinh. Đi một quảng khá xa đột nhiên người Mỹ da đỏ cố ý đánh rơi một đồng bạc, âm thanh khô khốc, người Mỹ da đỏ vẫn thản nhiên bước đi nhưng người Mỹ da trắng thì dừng lại tìm kiếm vì nghĩ rằng người Mỹ da đỏ không nghe âm thanh của đồng bạc rơi trên nền đá, chỉ có người Mỹ da trắng là nghe được...

Người Mỹ da đỏ giải thích : “Tiếng dế kêu đối với tôi rất là quen thuộc, ở quê tôi mỗi ngày đều nghe nên tôi không thể lầm lẫn với tiếng kêu khác, cũng vậy, anh ở thành thị âm thanh leng keng của đồng bạc đối với anh không lạ gì, cho nên giữa bao âm thanh hổn độn anh vẫn có thể nhận ra tiếng của đồng bạc rơi...” (Trích trong Viên Ngọc Trai bản dịch của Lm. Nhân Tài, csjb. Địa chỉ : http://vietcatholic.net/nhantai).

2. Lắng nghe bằng tâm

Mỗi tuần tôi đều đi dâng thánh lễ tại viện dưỡng lão, có khoản hơn hai mươi cụ già tham dự, các cụ đi đứng khó khăn, mắt mờ tai kém, nhưng các cụ rất sốt sắng tham dự thánh lễ thành tâm nghe giảng và rất tích cực hát lễ dù là hát câu trước mất câu sau. Những con người thể xác đã đến lúc mòn mỏi tàn tạ và cuộc đời chẳng có là bao, các cụ đã dùng tâm mình để nghe tiếng Thiên Chúa, dùng tâm của mình để hát ca tụng Thiên Chúa, dùng tâm của mình để ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa.

Sau thánh lễ tôi có thói quen trò chuyện với các cụ vài phút trước khi đưa Mình Thánh Chúa cho một vài cụ đi đứng bất tiện ở tuốt tầng 5 và tầng 6, tôi hỏi : “Các cụ già rồi đi lễ có nghe được con giảng gì không ?”. Các cụ cười và trả lời : “Thì nghe tiếng được tiếng mất, nhưng phải cố gắng mà nghe cha giảng Lời Chúa, nếu nghe không được thì cầu nguyện với Chúa vậy...”

Anh chị em thân mến,

Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta rằng ai yêu mến Ngài thì tuân giữ lời Ngài, người Mỹ da đỏ nghe được tiếng kêu của con dế ngay tại thành phố, người Mỹ da trắng nghe được tiếng âm thanh của đồng bạc giữa muôn vàn âm thanh hổn độn, bởi vì tiếng kêu của con dế quá quen thuộc với người Mỹ da đỏ và âm thanh của đồng bạc rơi quá quen thuộc với người Mỹ da trắng.

Lời Chúa qúa quen thuộc với chúng ta, và chắc chắn chúng ta không thể quên được Lời Chúa trong cuộc sống, chỉ có những cám dỗ vật chất, chỉ có những thói quen xấu, chỉ có những kiêu ngạo ích kỉ mới làm chúng ta phớt lờ Lời Chúa kêu gọi chúng ta mà thôi.

Thước đo tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa là tuân giữ lời của Ngài, là thực hành lời của Ngài qua cuộc sống của mình, là đem hết tâm hồn yêu mến Ngài qua thánh lễ và các bí tích thánh như các cụ già trong viện dưỡng lão đã tham dự...

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 6 Phục sinh tại nhà thờ Phục Sinh-Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb


 

PS6-C43. Diễn từ giả biệt

Ga 14,15-21
A. Haït gioáng...
 

Đoạn Tin Mừng này là một phần của diễn từ giả biệt Chúa Giêsu nói với các môn đệ Ngài trước: PS6-C43

Đoạn Tin Mừng này là một phần của diễn từ giả biệt Chúa Giêsu nói với các môn đệ Ngài trước khi ra đi chịu chết, gồm 2 ý chính :
- Nếu anh em yêu mến Thầy thì hãy tuân giữ các điều răn của Thầy.
- Thầy không để anh em mồ côi, nhưng Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đó là Thần khí Sự thật.
B.... nẩy mầm.
1. Khi hứa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã bảo : “Đó là Thần khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận”.
Chúa Thánh Thần vẫn là Đấng Bảo trợ luôn ở bên cạnh chúng ta, nhưng nếu ta đối xử với Người như “thế gian” thì ta không thể đón nhận người. Còn nếu muốn nhận được Người thì ta phải cư xử như “môn đệ”. Ở những chỗ khác trong Tin Mừng Ga, Chúa Giêsu đã dạy rõ cách cư xử ấy. Muốn được đón nhận sự bảo trợ của Chúa Thánh Thần, ta phải :
- Ôn đi ôn lại những lời Chúa Giêsu dạy, bởi vì CTT là Đấng giúp chúng ta hiểu sự thật toàn vẹn của những lời Chúa Giêsu đã dạy (x Ga 16,12-15.26).
- Có thiện chí đi tìm sự thật chứ không phải chỉ đi tìm những gì mình thích, bởi vì CTT chính là Thần khí Sự thật.
- CTT được ban cho Giáo Hội, do đó phải tìm Ngài trong Giáo Hội, nghĩa là trong nếp sống hiệp nhất cộng đoàn, bằng sống chung, chia xẻ, tương thân tương trợ… dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội.
2. “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy” (c 21).
Có một huyền thoại kể rằng ngày kia một vị thiên thần rảo khắp đường phố, một tay cầm một ngọn đuốc còn tay kia xách một thùng nước. Người đi đường lấy làm lạ hỏi thì thiên thần giải thích : “Với ngọn đuốc này, ta sẽ thiêu rụi hết những toà nhà trên thiên đàng ; còn với thùng nước này, ta sẽ dập tắt hết mọi đám lửa dưới hoả ngục”. Người ta càng ngạc nhiên hơn nữa và hỏi tại sao. Thiên thần giải thích : nhờ đó mà Thiên Chúa sẽ biết những ai yêu mến Ngài thật, chứ không phải chỉ sống tốt vì hàm phần thưởng thiên đàng hoặc vì sợ hình phạt hoả ngục.
3. “Bàn tay không thể mở ra để nhận điều gì mà con tim không ước muốn” (Tục ngữ Đức).
4. Mầm khác :

 

PS6-C44. THẦY BAN CHO ANH EM SỰ BÌNH AN CỦA THẦY..

THẦY RA        ĐI VÀ TRỞ LẠI VỚI ANH EM”
Gioan 14,23-29
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Loan báo một sự hiện diện khác.
 

Sách Bài đọc Chúa nhật này trích trong chương 14 của Tin Mừng thánh Gian, một đoạn: PS6-C44

Sách Bài đọc Chúa nhật này trích trong chương 14 của Tin Mừng thánh Gian, một đoạn xoay quanh chủ đề "ra đi", chủ đề được diễn tả bởi những từ được lặp đi lặp lại: "ra đi", "đi", “trở về", "con đường"... Tin Mừng ám chỉ hành trình nào? Đức Giêsu trở về với Chúa Cha. Rõ rồi. Nhưng, đây cũng còn là hành trình của các môn đệ được Người hướng dẫn về với Cha.
- Với Đức Giêsu, sự ra đi .của Người đã đến gần. Các lôn đệ ưu phiền vì viễn tượng này. Người nói với họ rằng người đi, rồi trở lại với họ, để bắt đầu giữa họ và trong họ một cách hiện diện khác, nhiệm mầu, chỉ dành cho những ai trung tín với lời Người. Người không có ý đề cập đến sự trở lại với hình dạng thể lý, cũng không phải sự trở lại huy hoàng ngày thế mạt; nhưng, ngay từ bây giờ, là sự hiệp thông nghĩa thiết với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy ".
- Một thời kỳ đã kết thúc, thời kỳ người ta thấy được bằng mắt, nghe được bằng tai. Với biến cố phục sinh, một thời kỳ mới bắt đầu, một cách thế khác cho liên hệ giữa Người với ác môn đệ. Thời kỳ của Chúa Thánh Linh mà "Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy ". Người sẽ dẫn các ông tới chỗ hiểu thấu đáo lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu.
X Léon-Dufour giải thích rằng: “tiếp theo thời kỳ mạc khải của Đức Giêsu Nadarét, là thời kỳ của Đấng Bầu Chữa. Người tỏ lộ cùng một mạc khải, nhưng đầy đủ, trọn vẹn. Sứ vụ trần gian của Đức Giêsu kết thúc, nhưng đối với các môn đệ, Chúa Thánh Linh còn rọi sáng những lời Đức Giêsu dạy rõ hơn khi các ông nghe lúc trước” (“Lecture de l'Evangile se lon Jean ", Seuil, trong 129)
Hai từ ngữ chỉ chức vụ đã được uỷ thác cho Chúa Thánh Linh, Đấng Bầu Chữa: "dạy dỗ, nhắc lại”
*Người sẽ dạy dỗ họ tất cả những gì Đức Giêsu thừa lệnh Chúa Cha thông truyền cho nhân loại. Như vậy, những gì mà các ngôn sứ loan báo sẽ thực hiện ngoài sự trông đợi: "mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo” (Is 54,13; xem thêm Giêrêmia 31,33ss).
*Người sẽ nhắc họ nhớ lại tất cả những, gì Đức Giêsu đã nói với họ. Không phải chỉ là ôn lại, nhưng theo cách nói của Kinh Thánh, là khám phá ra ý nghĩa những lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố phục sinh.
X Léon-Dufour chú giải: "Khi nhắc các môn đệ nhớ lời của Đức Giêsu, Chúa Thánh Linh không chỉ lặp lại giọng điệu của Thầy cho những trí nhớ quá tệ, nhưng Ngài còn giải nghĩa dưới ánh sáng Phục sinh cho các ông nắm bắt được ý nghĩa mà, cho tới lúc này, còn rất tối tăm đối với các ông.... Nhiệm vụ giải thích của Chúa Thánh Linh liên quan tới sứ điệp của Ngôi Con, nhằm làm cho cộng đoàn thành nơi mạc khải luôn được tiếp tục và hiện thực một cách sáng tạo trong đời sống các tín hữu. Như thế lời Đức Giêsu luôn sống động qua thời gian "(Sđd, Trong 132).
2. Ơn bình an
Rồi để từ biệt những người thân của mình, và vào lúc sắp sửa vượt qua thung lũng Cédron để tới Giếtsêmani, như báo trước lời đầu tiên của Đấng phục sinh, Đức Giêsu ban bình an cho các các môn đệ.
Bình an, đối với người quen thuộc Thánh Kinh, không phải chỉ là sự vắng bóng bạo hành, tĩnh lặng trong tâm hồn, mà chính là sức khỏe, sự thịnh vượng, hạnh phúc sung mãn, ơn cứu độ và chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban bình an này.
Vì đó là phúc lộc cứu độ tuyệt vời nhất: "Lúc dó, sự công chính nở rộ và bình an lớn lao tới khi mặt trăng khuất bóng " (TV 72.7).
Đức Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến, là Đấng trung gian của sự bình an này, nên Người có thể gọi đó là sự bình an của mình: " Thầy ban bình an của Thầy cho anh em"
Không phải là thứ bình an giả tạo mà nhiều lần các ngôn sứ đã cảnh báo và Đức Giêsu đã từ chối đem xuống trên mặt đất những là bình an đích thực của Thiên Chúa, mà để ban cho thế gian, Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống.
Hiệu quả của ơn bình an này là: các môn đệ không còn xao xuyến nữa, dù trước viễn lượng Đức Giêsu sẽ khuất dạng, hay trước nhiệm vụ đang chở họ, chính họ sẽ là những người đem Tin Mừng cứu độ vào giữa lòng thế giới.
II. BÀI ĐỌC THÊM
1. Một tạm biệt cho hôm nay
(X. Léon-Dufour, trong "Lecture de l'Evangile selon Jean, Seuil, trg 147-148).
Lời tạm biệt của Đức Giêsu không để đành tới ngày mai, nhưng là ngay hôm nay. Người ta suy diễn từ sự hỗn độn trong cách dùng thì của động từ. (Ngôn ngữ tây phương rõ rệt hơn). Có lúc Đức Giêsu nói trong thì hiện lại: "Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến với anh em. " (14,28), nhưng chỉ một lúc sau đó, Người lại nói ở thì tương lai: "Chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy" (14,23); và rồi, Người lại dùng thì hiện tại: "Thầy ra di và trở lại cùng anh em " (14,28). Đức Giêsu đến làm đảo lộn thời Gian chúng ta vẫn quen: Điều này có nghĩa là Đức Giêsu đến từ một thế giới khác, nhưng cũng có nghĩa là Người làm chủ tiến trình lịch sử: với kẻ lin, Đức Giêsu còn thực hiện những công trình lớn lao hơn những điều Người đã thực hiện khi còn sống đời đương thế, và qua hành động này của Đức Kitô, các môn đệ cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Giêsu. Đấng luôn ở với họ.
Có thể suy diễn như thế về những người đã ra đi trước chúng ta không Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã can đảm nêu lên: "Tôi muốn rời trời cao để đi gieo hạnh phúc cho trái đất”. Đối với chị, những bậc "chân phước " không thể làm ngơ trước thân phận con người còn tại thế. Người chết hiện diện trước mắt ta, một sự hiện diện như chính sự có mặt của Đức Kitô. Dĩ nhiên, chúng ta không có ý đề cập đến lời nói và chữ viết cầu cơ. Sự hiện diện này tương tự với sự hiện diện của Thánh Linh do Chúa Con sai đến. Mầu nhiệm của sự hiệp thông sâu xa này chắc chắn không được tô lộ rõ ràng; đó là mầu nhiệm mà thần học gọi là "các thánh cùng thông công".
2. Chìm ngập trong Thánh linh Đấng Bầu Chữa
(Henri Denis, trong "100 từ ngữ diễn tả đức tin ", DDB , trg 161-162).
Đấng Bầu chữa, đó là từ dịch từ tiếng Hy Lạp, lúc đầu có nghĩa tố tụng là trạng sư, người bênh vực, trợ giúp. Rồi nghĩa rộng là Đấng an ủi, chuyển cầu. Điều hơi lạ là lúc đầu, chữ này dùng chỉ Đức Kitô (Trong thư thứ nhất của thánh Gian 2,1) "Nếu có ai phạm tội, chúng ta có Đấng Bầu Chữa trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính". Nhưng phần nhiều dùng chỉ Chúa Thánh Linh. Và nếu hiểu về Chúa Thánh Linh với tất cả những đức tính nêu trên, chúng ta sẽ nhận ra rằng: ở trần gian này, không thể một mình mà trung tín với Đức Kitô được.
Tuy nhiên, Đức Giêsu đã tiên liệu một phương thế: các con sẽ không cô độc đâu. Đức Kitô khuất dạng đã nhường chỗ cho Đấng biện hộ. Ngài đem đến cho các Kitô hữu một liều thuốc kháng độc cần thiết để họ sống đúng đời Tin Mừng giữa trần Gian nhiều thử thách.
Thật là đúng khi tin tưởng rằng -từ khi Đức Giêsu ra đi, tức lúc Người lên trời - Tất cả những gì Đức Kitô thực hiện cách tỏ tường trong thế giới này đều được thực hiện bởi những người dám liều mình vì đức tin, nhiều khi hy sinh cả mạng sống nữa.
Họ không cô độc là thế? Đấng thi công vĩ đại, khi hợp nhất mọi người, hợp nhất chính Giáo Hội, chính là Đấng Bầu Chữa vô hình. Ngươi đem sức mạnh đổ xuống tràn đầy trên người yếu đuối, đem dũng cảm đổ xuống tràn đầy trên người sợ sệt. Đó là ơn an ủi của Chúa Thánh Linh, như một ngọn lửa cháy lan lừ Kitô hữu này sang Kitô hữu nọ, từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Để kết thúc, đề nghị bạn cùng tôi đọc những câu đầu trong thư thứ hai của thánh Phaolô gởi tín hữu Côrintô  (1,3-7) và thay những từ trạng sư, bênh vực an ủi, bằng chính từ Hy Lạp Paraclitos. Bạn sẽ cảm thấy một ấn tượng kỳ lạ. Nhờ lặp lại nữa đi (Chín lần). Bạn sẽ hiểu chúng ta thực sự chìm ngập trong Paraclitos, Thánh Linh-Bầu Chữa.
"Chúc tụng Thiên Chúa là thân phụ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Người là 'Thiên Chúa mọi niềm an ủi; Người đã ban Đấng Bầu Chữa cho chúng ta trong mọi nỗi gian trên, để chúng ta có thể trở thành kẻ bầu chữa cho tất cả những ai trong cơn hoạn nạn nhờ Đấng Bầu Chữa là Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Và cũng như chúng ta chia sẻ muôn nỗi khổ ải của Đức Kitô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi. Chúng tôi phải chịu gian nan ư? Chính là dể anh em được ủi an là cứu hộ. Chúng tôi nhận lãnh Đấng Bầu Chữa ư? Cũng là dể anh em dược nhận lãnh Đấng Bầu Chữa. Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng được thông phần an ủi như vậy".

 

PS6-C45. SỰ HIỆN DIỆN LIÊN TỤC CỦA CHÚA GIÊSU

Ga 14,23-29
 

Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đừng bối rối trước viễn ảnh ra đi của Ngài (c.1): Chúa Cha sắp: PS6-C45

1. Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đừng bối rối trước viễn ảnh ra đi của Ngài (c.1): Chúa Cha sắp gởi đến cho họ một đấng phù trợ khác trong ngôi vị Thánh Thần (c.16-17); còn Ngài, Ngài sắp trở lại với họ dưới một hình thức mà thế gian không thấy, nhưng những ai tin vào Ngài mới thấy (c.18-21).
Việc TC đến ở đây khác xa với ý nghĩ của những người Do thái cũng như của các môn đệ. Được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện CƯ, các thị kiến tiên tri, các quang cảnh có tính cách Khải huyền, họ mơ đến một cuộc thần hiện dị thường, chói lòa vinh quang TC (Is 60), một cuộc phán xét toàn diện chấm dứt dòng lịch sử để thiết lập vương quyền TC và các thánh (Đn 7). Giuda bày tỏ sự ngạc nhiên của tất cả các môn đệ: “Thưa Ngài tại sao có thế này: là Ngài chỉ tỏ mình ra cho chúng tôi, chứ không cho thế gian ?” (c.22). Ông ta mơ đến một cuộc hiển hiện khả giác. Ông không hiểu rằng việc Chúa Giêsu và thánh linh chỉ được nhận biết trong đức tin.
Thoạt nhìn, câu trả lời của Chúa Giêsu (c.23) như bất biết câu hỏi và sự ngạc nhiên của Giuda. Thực ra Ngài trực tiếp trả lời câu hỏi đó, khi loan báo sự mạc khải mầu nhiệm của Ngài và nói lên nguyên nhân khiến thế gian không hiểu được mạc khải ấy. Ngài bỏ qua mọi viễn tượng cánh chung, để chỉ nói việc TC đến trong Giáo hội và trong thời gian. Đó là một quan điểm hoàn toàn mới mẻ được đưa vào nhân câu hỏi của Giuda.
Để tiếp đón TC, phải tin nhận lời Ngài và đáp trả bằng tình yêu. Tất cả truyền thống Thánh kinh đã tuyên bố như vậy. Biết TC là có tương quan với Ngài trong nội tâm và tình yêu. Tám thế kỷ trước Chúa Giêsu, Ôse đã loan báo sự cứu độ Israel như là cuộc đính hôn và biểu thị đặc tính của nó bằng sự “nhận biết” TC: “Ta sẽ đính hôn với ngươi muôn thuở, cưới ngươi trong công bình, chính trực, dịu hiền và yêu mến; Ta sẽ đính ước với ngươi trong chung thủy, và ngươi sẽ biết Giavê” (Os 2,20-22). Theo kiểu nói phúc âm, các môn đệ biết rằng yêu Chúa Giêsu đầu tiên cốt tại “giữ lời Ngài” (c. 15 và 21), nghĩa là nhận ra trong sứ điệp của Ngài những đòi hỏi và những ân huệ của tình yêu TC và đáp trả bằng sự dấn thân cả đời sống cách đích thực và quảng đại.
Đối với những ai yêu Ngài như thế, Chúa Giêsu hứa hẹn rất tuyệt diệu Ngài không nói đến tình yêu mà NGÀI đương nhiên dành cho họ, nhưng Ngài loan báo cho họ tình yêu và hồng ân kỳ diệu của Chúa Cha: đó là cùng với Chúa Con (c.18-21), chính Chúa Cha sẽ đến ở với các tín hữu. Các Ngài sẽ đến cư ngụ trong họ như trong đền thờ của mình (x.4,21-24).
CƯ đã biết việc TC đến, ví dụ việc Ngài đến thăm Abraham dưới cây sồi Membré (St 18,1-15), nhưng đó chỉ là một sự gặp gỡ tạm thời dưới hình dáng bên ngoài. Các tiên tri đã loan báo một cuộc thần hiện vinh quang vào thời cánh chung (Is 60), nhưng sự thể hiện kỳ diệu này không để chỗ cho sự thân mật sâu xa giữa TC và tín hữu Ngài, với lại không có vấn đề cho cuộc sống này. Còn Chúa Giêsu hứa ban cho các người của Ngài, ngay từ đời này, được kết hợp thân mật cá vị với TC trong chốn sâu thẳm của đời sống Ba Ngôi. Ngài không dùng chữ “tỏ mình” nữa (c.21) vì trong câu hỏi của Giuda, chữ đó dễ gây hiểu lầm (c.22). Việc TC đến mà Ngài loan báo vượt lên trên tất cả những mơ tưởng của Do thái giáo và những kỳ vọng của các tiên tri: đó là sự hiện diện trực tiếp của chính TC trong nội tâm và tình yêu; lời hứa tuyệt vời của phúc âm là vậy.
Những ai chối từ tình yêu TC (c.24) thì không thể thấu triệt việc TC Ba Ngôi đến cách vô hình mà Chúa Giêsu vừa loan báo cho những ai yêu mến Ngài. Họ không “biết” Chúa Giêsu vì đã khước từ sứ điệp của Ngài. Họ không thể “biết” Chúa Cha, nguồn sứ điệp này (3,31-34; 5,37-38; 7,16-17; 8,47; 12,48-50). Ở đây, Giuda tìm thấy lời giải đáp cho câu hỏi của ông: chỉ biết được Chúa Giêsu nhờ đức tin (1,9-12), Ngài chỉ tỏ mình ra cho những kẻ tin (14,19).
Đã có một thời gian Chúa Giêsu hiện diện cách hữu hình với môn đệ; họ có thể nghe lời Ngài qua giác quan (c.25). Nhưng bây giờ thời gian này không còn nữa, và phục sinh sắp mở đầu một thời gian mới trong đó tương quan giữa thày và trò thay đổi cách thức (Lc 24,44). Sự lưu truyền lời chúa phán trong cuộc đời tại thế vẫn còn. Và chính sự lưu truyền này phát sinh ra phúc âm. Tuy nhiên nó sẽ được đổi mới hoàn toàn.
3. Thật vậy, sự lưu truyền lời Chúa Giêsu trong Giáo hội không phải là một sự tồn kho bất động, một việc sưu tập những lời cổ kính, bởi lẽ chính Thánh Thần làm nên sự lưu truyền này (c.26). Theo các lời từ biệt khác của Chúa Giêsu, Thánh thần là đấng bàu chữa công lý bênh vực Chúa Giêsu và môn đệ của Ngài trước tòa án của thế gian này (15,16; 16,7-11; Mt 10,20; Mc 13,11; Lc 12,12). Ở đây cũng như trong các tiên tri, Ngài (Chúa Thánh Thần) là đấng linh ứng lời TC. Trong sứ mệnh tại thế, Chúa Giêsu đã nói được “những lời của TC, Đấng ban dư đầy THÁNH THẦN cho Ngài” (Ga 3,34) những lời này là “thần trí và là sự sống” (Ga 6,63). Và nếu Thánh Thần được ban cho môn đệ trong ngày phục sinh (Ga 20,22; 7,37-39), đó là để đặc biệt nhắc nhở họ nhớ lại sứ điệp. Không phải một việc ghi vào ký ức cách vật chất; thánh Gioan hai lần ghi chú trong phúc âm là các môn đệ chỉ thấu triệt ý nghĩa lời Chúa Giêsu cũng như các hành động của Ngài khi “nhớ lại” chúng dưới ánh sáng phục sinh (Ga 2,22; 12,16), nghĩa là dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh thần, Đấng giúp họ quán triệt ý nghĩa thâm sâu. (Vai trò soi chiếu của Thánh Thần đã được phác họa trong Ga 16,12-14).
Chúa Giêsu đã loan báo trong diễn từ (14,16) là sẽ xin Cha sai Thánh Thần bàu chữa đến với họ. Ở đây Ngài cũng thêm là Cha sẽ sai đến nhân danh Ngài. Cả hai cách nói tương đương và tạo nên một trong những công thức chính xác rõ ràng nhất về thần học TC Ba Ngôi trong TƯ. TC Ba Ngôi hiện diện trong tín hữu, có cùng một mục đích là làm cho họ nhận biết sứ điệp TC và cho họ thông hiệp vào mầu nhiệm sự sống của Ngài.
3. Khi đã bảo đảm cho họ về một ánh sáng sống động sắp đến, Chúa Giêsu mới có thể từ giã họ. Ngài từ giã theo phong tục người Do thái, với lời chào: Shalôm: bình an. Tuy nhiên đây không phải là một lời từ giã thông thường: “Ta ban bình an của Ta cho các con”. Thế gian chỉ có thể chúc bình an, còn Ngài ban bình an, bình an riêng của Ngài. Theo não trạng người Hy Bá, chữ “bình an” diễn tả một cái gì còn hơn sự an tĩnh của tâm hồn. Nó bao gồm tất cả những thiện hảo mà người ta có thể cầu chúc; đó chính là sự an lạc. Nhưng sự bình an của Chúa Phục sinh (20,19.21.26) còn hơn sự an lạc vật chất hay hạnh phúc nhân bản. Bình an hệ tại việc chiếm hữu chân lý (theo nghĩa đã giải thích ở trên) với sự hiện diện viên mãn của TC. Sự chiếm hữu này làm cho các môn đệ thoát khỏi những thăng trầm của cuộc sống này, bằng cách bảo đảm cho họ rằng họ sẽ vượt qua tất cả các chướng ngại vật thế gian gây ra cho các việc chứng nhân của họ: “Hãy vững lòng, Ta đã thắng thế gian” (16,33). Lời từ biệt này có thể làm cho họ bối rối (14,1), nhưng họ chẳng có gì phải sợ, vì sự ra đi này không phải là một sự chia cách.
4. “Cha lớn hơn Ta”. Các giáo phụ và các thần học gia, nhất là những vị đã từng tranh luận về TC Ba Ngôi, đã bối rối vì mấy chữ đó, và đã dựa vào chúng để bàn cãi sôi nổi về mối liên hệ giữa Ngôi Cha và Ngôi Con, cũng như việc phân biệt hai bản tính trong Đức Kitô và về nguồn gốc của Chúa Con. Nhưng những cuộc bút chiến này, nếu không đi sai đường, thì cũng đi vào ngõ cụt. Tình yêu của môn đệ chỉ nhằm đến vẻ bề ngoài của con người Chúa Giêsu. Họ còn yêu Ngài trong mức độ họ còn có thể đụng chạm Ngài dưới hình thức nhân loại của Ngài và tùy theo địa vị mà họ ao ước nắm giữ trong vương quốc thiên sai. Họ đã phán đoán và yêu Ngài từ bên ngoài. Nhưng con người của Ngài bám chặt cách thâm sâu vào Chúa Cha, Cha trở nên hữu hình trong Ngài (x.14,9). Cái quan trọng không phải là cái mà họ đã nắm chắc được nơi Ngài cho tới bây giờ, nhưng là Chúa Cha qua Ngài. Chính trong nghĩa này mà Gioan đã có thể viết mà không sợ đụng chạm đến đức tin tí nào: “Cha trọng hơn Ta”, có nghĩa là trọng hơn cái mà các con đã thấy nơi ta. Chúa Giêsu kém cao trọng xét như là người mạc khải Cha. Sự phân biệt đó không nhằm đối chiếu bản tính loài người và bản tính TC (như truyền thống đã cắt nghĩa) nhưng nhằm đối chiếu cái môn đệ hình dung, trình bày về Ngài (sa “prêsentation humaine") (trong tư thế một vị thiên sai) với ý nghĩa thiện linh trọn vẹn của Ngài (sa pleine signification divine) là mạc khải Chúa Cha. Đây là vấn đề nhận biết Chúa Cha trong Chúa Giêsu. Khi các môn đệ nhận biết điều đó rồi, thì không còn vấn đề hơn thua, vì Cha và Ngài chỉ là một.
KẾT LUẬN
Nhờ suy tư sau khi gần hoàn tất phúc âm, thánh Gioan ngày càng thấu triệt khiếm diện và hiện diện của Chúa Giêsu trong các môn đệ. Từ lúc Chúa chết trên thập giá, ông đã sống trong sự khiếm diện siêu việt của Chúa. Ông có thể kết luận cuốn phúc âm của mình: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,29). Vì ông kinh nghiệm rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu đối với các môn đệ không cốt tại các thị kiến phi thường, cũng không phải trong các lần hiện ra ngắn ngủi và dành riêng cho một vài nhân chứng sau khi sống lại, nhưng sự hiện diện luôn có đối với những ai tìm kiếm Ngài với niềm tin. Được nâng lên trong vinh quang TC, hiệp nhất cách mầu nhiệm với Cha và Thánh Thần, Đấng Phục sinh đã từ bỏ đời sống trần thế, là đời sống đã làm cho Ngài có thể nhận biết một cách khả giác. Nhưng khuất mắt ta để từ đây luôn luôn hiện diện với chúng ta theo cách thế của TC (Mt 28,20)
Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG
1. Trái ngược với việc tuân giữ cách máy móc và mệt nhọc những giới luật tỉ mỉ, không sống động, thích hợp chút nào với tâm hồn tín hữu, Chúa Giêsu thiết lập các tương quan giữa Ngài với các môn đệ trên mối liên lạc tình yêu. Để thấy Chúa Giêsu, để sống nhờ Ngài, với Ngài, thì phải “giữ lời Ngài” (c.24). Sự sống này, như Chúa Giêsu xác định, là chính sự sống của Ngài nhận từ Cha, sự sống mà Ngài có với Cha, nghĩa là mối dây tình yêu.
2. Lúc sắp lìa xa các môn đệ, lúc sắp được nâng lên, Đức Kitô loan báo cho họ biết Ngài hằng hiện diện luyôn mãi qua lời Ngài. Bài giã từ trong chương 14 của Gioan không mang một mục đích nào khác ngoài việc tỏ cho biết sự hiện diện mới mẻ này.
Đối với người Semit, lời nói là cái gì cụ thể; cũng như tên gọi, lời nói là biểu thức của một hữu thể, một ngôi vị; hơn tất cả các phương tiện khác, nó bảo đảm được mối giây liên lạc sống động mà mỗi người cố nối kết với tha nhân; đó là cơn mưa đưa sự sống đến cho trái đất, làm nẩy mầm những hạt lúa sẽ trở thành cơm bánh (Is 55,8-11)
Sự hiện diện của Chúa Giêsu đã biến đổi cuộc đời các tông đồ khi đi sâu vào trong những xác tín của họ. Lúc Chúa Giêsu rời bỏ họ, họ nhớ lại kinh nghiệm đặc biệt mà họ vừa có mà Chúa Giêsu tóm lại trong một chữ: Lời ta. Bằng ấy nói lên tất cả con người của Ngài đối với họ (x.1Ga 2,23; 4,15; 2Ga 9).
Sự hiện diện này sẽ sinh hiệu quả trong họ như sự hiện diện của TC đã sinh hiệu quả suốt lịch sử Israel. Sự hiện diện đó là Shékinah đã theo dân trong sa mạc, đã bao phủ đền thờ trong ngày Salomon cung hiến, đã nâng đỡ những người bị lưu đày, đã hoàn lại sự sống cho “nhóm còn lại”, đã ngập tràn tâm hồn mỗi người trong niềm mong chờ sự hiện diện sung mãn.
Khi theo Chúa Giêsu, các tông đồ đã sống lại lịch sử dân Do thái và thấy mình được kêu gọi sống thông hiệp thân mật với Đấng đã nói với Môisen “như bạn nói với bạn” (Xac 33,11).
Việc khám phá ra sự hiện diện cao quí vô giá sẽ Giáo hội được thực hiện hàng ngày, qua kinh nghiệm của cuộc sống thường nhật, dưới sự phù trợ của Thánh Thần, Đấng làm sống lại tạo vật mới đang thoát dần khỏi bóng tối của sự bách hại, sự chia rẽ và sự chết. Không gì có thể lay chuyển được sự hiện diện đó do Thánh Thần ban.
3. Sự ra đi của Đức Kitô, tức cuộc tử nạn, Phục sinh của Ngài, là cần thiết để các tông đồ khám phá một cách rõ ràng Chúa Giêsu là ai: là nhân chứng đặc biệt của Cha và của tình yêu Ngài. Họ phải khám phá thấy tình yêu đó còn lớn hơn tất cả những gì họ đã khám phá ra nơi Đức Kitô. Như vậy, Chúa Giêsu mời gọi họ khám phá ra điều họ đã tiên cảm. Làm sao họ lại không vui cho được.
4. Sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu không phải là tất cả. Sự hiện diện vô hình trong tâm hồn cao quí hơn nhiều. Cũng như thánh Phaolô, chúng ta không nuối tiếc vì đã không sống vào thời phúc âm. Thật là mối nguy hiểm nếu chỉ nhận biết Chúa Giêsu qua ngoại diện (theo xác thịt) mà không sống kết hiệp nội tâm với Ngài theo Thánh thần (2Co 5,16).
5. Tuần tới, chúng ta sẽ cử hành lễ Chúa Thăng thiên, một cuộc ra đi cần thiết để ban Chúa Thánh Thần xuống cho ta. Ngay từ bây giờ, chúng ta hãy tin tưởng mong đợi Chúa Thánh Thần. Để được như vậy, chỉ cần biết chấp nhận bình an của Đức Kitô và tuân giữ lời Ngài, nghĩa là tin và để lời đó phát sinh trong ta hoa trái đã được Chúa loan báo trước. Chúng ta sắp thông phần với hy tế của Ngài, sắp lãnh nhận Ngài làm của ăn; ước gì sự hiện diện sống động của Ngài là sức mạnh và kiên nhẫn cho chúng ta. Chớ gì bình an vượt quá mọi sự của Ngài tràn ngập chúng ta.

 

PS6-C46. Chơi trò hoà bình

Một ông nhà văn ngồi trên ghế đá công viên, đưa mắt quan sát nhìn xem mấy em nhỏ đang chơi: PS6-C46

Một ông nhà văn ngồi trên ghế đá công viên, đưa mắt quan sát nhìn xem mấy em nhỏ đang chơi đùa với nhau nơi thảm cỏ. Ông lên tiếng hỏi:
- Này các em, các em đang chơi trò gì thế?
Các em trả lời:
- Chúng cháu đang chơi trò chiến tranh. Chúng cháu đang chơi trò đánh nhau.
Nghe thế, ông hơi cau mặt, gọi các em lại và giải thích:
- Tại sao các em lại cứ thích chơi tró chiến tranh, chơi trò đánh nhau. Chiến tranh và đánh nhau thì có gì là tốt đẹp. Vậy tại sao các em lại không chơi trò hoà bình.
Cả bọn tụm đầu vào nhau và bàn tán. Thấy chúng đón nhận ý kiến của mình, ông nhà văn mỉm cười hài lòng và bước đi. Tuy nhiên, chưa bước đi được bao xa, các em đã đuổi theo và hỏi:
- Bác ơi! Chơi trò hoà bình là như thế nào? Chúng cháu không biết.
Phải, làm sao các em có thể chơi trò hoà bình, trong khi các em chỉ thấy người lớn chơi trò chiến tranh. Làm sao các em có thể chơi trò hoà bình, trong khi trên báo chí, truyền thanh và truyền hình, các em chỉ thấy hình ảnh những người lớn bắn giết nhau. Làm sao các em có thể chơi trò hoà bình, trong khi tại gia đình các em chỉ thấy các anh các chị và đôi khi ngay cả cha mẹ cũng lớn tiếng cãi cọ và mắng chửi lẫn nhau, nhiều lúc còn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau nữa.
Rồi trong thực tế, bầu khí người lớn tạo ra để cho các em được phát triển, không phải là một bầu khí hoà bình, mà là một bầu khí chiến tranh. Đến bao giờ người lớn mới thực tâm tìm phương thế giải quyết những mâu thuẫn, những bất đồng với nhau. Mỗi ngày trên thế giới, người lớn đã bỏ ra hằng tỷ mỹ kim cho việc nghiên cứu và trang bị vũ khí, đang khi đó có tới tám trăm triệu người sống trong cảnh nghèo đói và túng thiếu, có tới hơn sáu trăm triệu người mù chữ. Chỉ có bốn trong số mười em sinh ra là được cắp sách đến trường cho hết bậc tiểu học. Và cứ mười em được sinh ra trong cảnh cơ hàn, thì đã có hai em bị chết đói trong năm đầu tiên.
Thế giới người lớn phải bắt tay ngay vào việc loại trừ chiến tranh, nếu họ muốn cho các em thiếu nhi noi gương họ mà chơi trò hoà bình. Đồng thời, phương thức để loại trừ chiến tranh và xây dựng hoà bình, không gì hữu hiệu hơn cho bằng sống tinh thần hoà giải.
Thực vậy, hoà bình chỉ là kết quả đương nhiên của việc hoà giải mà thôi. Chúng ta phải hoà giải với Thiên Chúa bằng việc sám hối ăn năn và lãnh nhận ơn tha thứ. Đồng thời chúng ta còn phải hoà giải với anh em bằng việc lấy tình thương xoá bỏ hận thù. Chính vì thế, trong đêm giáng sinh, các thiên thần đã hát vang trên cánh đồng Bêlem:
- Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Và sau khi sống lại, lúc hiện ra với các môn đệ, sau lời chào chúc bình an, thì lập tức Chúa Giêsu đã trao ban cho các ông quyền cầm buộc và cởi mở. Hay nói đúng hơn, Ngài đã trao ban cho các ông quyền tha thứ, quyền hoà giải:
- Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giư
Để kết thúc, chúng ta hãy cùng nhau ghi nhớ và suy gẫm lời kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assie:
- Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

 

PS6-C47. BỊ THIÊU ĐỐT VÌ TÌNH YÊU

Ngạn ngữ Ấn-độ có câu: “Tất cả những gì chúng ta cống hiến cho tha nhân sẽ không bao giờ mất cả”: PS6-C47

Ngạn ngữ Ấn-độ có câu: “Tất cả những gì chúng ta cống hiến cho tha nhân sẽ không bao giờ mất cả”. Quên mình để cống hiến cho tha nhân mỗi ngày một nhiều hơn thì sẽ không bao giờ thua lỗ mất mát, mà chính là lớn lên mỗi ngày. Vì sự triển nở và trưởng thành của bản thân dần tăng lên với mức độ và khả năng tự hiến. Những ai càng quên mình, càng tự nguyện hy sinh thì lại càng đầy tràn, giàu có. Thiên Chúa cứ theo nhịp độ xả thân của họ mà trải rộng tình thương và làm cho họ lớn lên mãi để lại càng cống hiến nhiều hơn nữa cho nhân loại.
Những ai đã tự hiến và quyết không giữ lại gì cho mình nữa thì không còn có thể nghỉ ngơi. Hết việc này tới việc nọ đến xô đẩy họ tới tấp. Họ tưởng như kiệt sức, nhưng rồi lại hăng say bước tới vì Thiên Chúa là Sức Mạnh, Người sẽ bù đắp sự yếu đuối và bất lực của họ.
Nhờ họ, nhân loại có bộ mặt tươi đẹp, đáng yêu đáng kính, vì bớt vị kỷ, bớt hiếu thắng. Nhân loại sẽ dần dần đủ sức chinh phục trái đất này để chia sẻ cho mọi người tất cả mùa màng hoa trái. Nhờ sự tự do sâu thẳm trong tâm hồn họ, nhân loại cũng được tự do hơn. Thông qua họ, loài người tiến bước trên lộ trình yêu thương và gắn bó cùng nhau.
Với họ và với những ai bị thiêu đốt vì tình yêu kẻ khác, mặt đất này sẽ mặc lấy bộ y phục dịu dàng của nhân ái từ bi, nhuộm màu tinh khiết của tấm lòng cho đi mà không hề tính toán.
Những tấm lòng ấy là những bản nhạc thơm, những khúc hoan ca làm đẹp lòng Thiên Chúa. Vì còn có gì đẹp hơn những quả tim luôn mở rộng đón tiếp mọi người. Mà đã như vậy, làm sao tránh được hy sinh, hiểu lầm, đau khổ. Do đó mà đời họ là khúc ca hùng tráng từ đất thấp vọng đến trời cao.
Nhờ nhiều người như họ, địa cầu vốn cằn cỗi âm u vì tham lam và ích kỷ, sẽ đâm nở mùa hoa dịu ngọt của những cuộc đời tận hiến mà Thiên Chúa sẽ biến thành một tế phẩm kỳ bí của Tình Yêu.
Một Nữ Tu, trích NỐI LỬA CHO ĐỜI số 4

 

PS6-C48. CHUNG SỐNG VỚI THIÊN CHÚA

Vào giờ vĩnh biệt.
 

Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta phải tói lên những lời đánh dấu những điểm mốc quan: PS6-C48

Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta phải tói lên những lời đánh dấu những điểm mốc quan trọng, mỗi khi xẩy ra những biến cố lớn lao của đời nình .
Những lúc này dù càng ngày càng hiếm hoi trong một xã hội dễ làm ta bị phân tán bởi nhịp sống tất bật và quá thường là hời hợt, lại mang một tầm quan trọng lớn đối với những kẻ biết cho những biến cố ấy một ý nghĩa.
Chúa Giêsu không bỏ qua một giây phút nào khi mà lời Ngài phải được nói và đón nhận, nhất là vào giờ phút cuối cùng tức là giờ ăn bữa Tiệc ly với các môn đệ của Ngài. Ngài không chụp lấy giờ phút này như một con bướm bắt một con sâu, nhưng Ngài đã chuẩn bị những lời được gọi là những lời di chúc. Ta hãy tưởng tượng điều Chúa Giêsu phải cảm thấy trước ngày Ngài trở về với Chúa Cha ... Sứ vụ của Ngài đã hoàn tất. Sự lựa chọn mà Ngài đã làm đối với cuộc sống của Ngài đã dẫn Ngài đến nơi mà Chúa Cha muốn. Ngài đã xác tín điều này vào giờ vĩnh biệt. Và chiều hôm ấy tâm hồn Ngài tràn trề yêu thương. Ngài vừa mới rửa chân cho các tông đồ của Ngài : Dấu chỉ về cách thế mà từ nay chúng ta phải đối xử với nhau.
Ngài vừa bị hạ nhục vì sự phản bội của Giuda. Giuda chìm sâu vào trong đêm tối, trong lúc Chúa Giêsu đi từ bóng tối của sự chết đến ánh sáng vinh quang. Đây là giờ quyết định trong đó Chúa Giêsu có nhiều điều để nói; giờ mà, một đàng bóng tối phủ lấp tâm hồn tất cả các Giuđa trên trần thế bởi vì Lời Chúa một cách bí nhiệm không được đón nhận, và đàng khác, giờ mà, đối với tất cả bạn hữu của Chúa Giêsu, bóng tối bị đẩy lui bởi ánh sáng của tâm hồn, và cũng một cách bí nhiệm như thế họ đón nhận Lời Chúa.
Bảo đảm cho hồng ân.
Chúa Giêsu nói : "Ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời Thầy". Giữ lời Chúa theo thánh Gioan hiểu tức là yêu mến quí trọng và sống nhờ được nuôi dưỡng bằng lời Chúa, chứ không phải giữ lời Chúa bằng cách chôn dấu đi như người chỉ nhận được một nén bạc. Khi mời gọi chúng ta yêu mến Ngài, Chúa Giêsu ban cho chúng ta bảo đảm Tình yêu của Ngài : "Cha Thầy sẽ yêu người ấy, chúng ta sẽ đến với người ấy, chúng ta sẽ lưu lại nơi người ấy". Hồng ân vô biên được hứa ban, trong lúc chúng ta vô cùng cách biệt với Thiên Chúa: Ngài là Đấng vô biên, còn chúng ta là kẻ hữu hạn. Ngài là tất cả, còn chúng ta là không ; Ngài là Thiên Chúa còn chúng ta là người phàm, những kẻ mang tội lỗi của dòng giống Adam. Tội này, cùng với những tội mà chúng ta phạm mỗi ngày, không ngớt đào sâu mãi hố ngăn cách giữa Thiên Chúa và những thụ tạo của Ngài. Tuy nhiên, nhờ Con Một của Ngài, Ngài đến gặp gỡ chúng ta và bày tỏ ước muốn của ngài là "lưu lại nơi chúng ta và chúng ta nơi Ngài". Bởi vì Ngài là tình yêu, nên Ngài có những ước muốn của vị Lang Quân ... Ngài ước mong được ở với những kẻ yêu mến Ngài, mang lại cho họ niềm vui, hôm nay và mãi mãi.
Thánh Thần, đấng bào chữa.
Để nhấn mạnh tầm quan trọng mà Ngài gán cho tình thân mật này với mỗi người trong chúng ta, Ngài lấy Chúa Thánh Thần làm chứng, Đấng bào chữa, Thần khí sự thật mà Ngài đối lập với tinh thần thế gian. Tinh thần thế gian là tinh thần nào ? Chúng ta hãy quay về cuộc sống cá nhân của chúng ta. Có bao giờ chúng ta bị những người thân thích gây tổn thương không? Bị những kẻ mà chúng ta đã phục vụ từ bỏ? Bị kết án không hy vọng hòa giải được? Bao giờ cũng có một kẻ bị thua trong một vụ án và một lời kết án của quan tòa.
Với Chúa Giêsu chúng ta sẽ không bao giờ thua. Nếu có vụ án, thì đây là một vụ án giao ước. Và Đấng bào chữa cho chúng ta, Đấng đã làm chứng cho chính Chúa Giêsu, Đấng đã kéo Người ra khỏi bóng sự chết, đã tôn vinh Người bên cạnh Chúa Cha, chính Đấng ấy sẽ bênh vực cho chúng ta. Ngài sẽ không hành động theo cách thế gian, đi bênh vực bên này hoặc bên kia tùy tư lợi của mình, nhưng theo cách của một Thiên Chúa làm tất cả để bảo vệ giao ước tình yêu với dân của Ngài và hứa cho họ một "nơi Ơ vĩnh viễn " với Ngài.
Anh em đừng sợ.
Thân mật đến thế với một Thiên Chúa có thể làm cho chúng ta sợ không? Trong mối tương quan thương yêu thật sự thì không có sợ hãi. Chỉ có sợ hãi trong tất cả những mối tương quan giữa kẻ thống trị và bị trị. Đố không phải là thứ tương quan mà Chúa Giêsu hứa vào cuối đời Ngài. Ngài muốn chúng ta trở thành bạn hữu của Ngài. Vác một mình trên vai sức nặng của công cuộc cứu độ, Ngài cũng muốn chúng ta đi từ thế giới này đến cùng Chúa Cha khi ban cho chúng ta sự bình an trong tâm hồn và cùng với sự bình an Ngài cũng ban niềm vui nữa.
Niềm vui này không phải là sự rung cảm tự nhiên khi mà người ta sẽ quên hẳn đi được nỗi buồn của buổi chiều vĩnh biệt ; Cũng không phải là một thứ thúc đẩy mù quáng bản tính chúng ta tìm kiếm những gì mình thiếu để được hoàn toàn hạnh phúc: Đây là một hành động của ý chí tự do khiến chúng ta yêu mến Thiên Chúa như Ngài muốn. Đó chính là điều mà Chúa chờ đợi nơi bạn hữu của Ngài vào buổi chiều tiệc ly: Sự đáp trả tự do của tình yêu chúng ta đối với tình yêu Ngài.
Chúa Thánh Thầnchúng ta
Hành động này của ý chí không đè nặng trên chúng ta bằng những nghĩa vụ được nhắc đến trong bài đọc một trích sách Tông đồ Công vụ. Vì nếu chúng ta chu toàn những nghĩa vụ ấy là chúng ta đã mến yêu rồi. Như vậy chúng ta có thể nói : Chúa Thánh Thần và tôi đã quyết định dấn thân vào cuộc mạo hiểm tuyệt vời này là .yêu mến Thiên Chúa và dược Ngài yêu thương. Lúc đó, "thời gian của Thiên Chúa" được thánh Gioan nhìn thấy trong cuộc thị kiến khải huyền sẽ biến đổi tất cả những kẻ tin vào Ngài.
CLARISSE FOURNIER

 

PS6-C49. VINH QUANG CỦA CHÚNG TA

Chúng ta có thể nói được là Nước Chúa không đễ thiết lập. Khi người ta muốn làm điều mới: PS6-C49

Chúng ta có thể nói được là Nước Chúa không đễ thiết lập. Khi người ta muốn làm điều mới mẻ trong cuộc sống dù là trong công việc hay trong đời sống cá nhân của mình, ta phải đương đầu với đủ thứ chống đối: trong công việc làm, đó là các đồng nghiệp hoặc ông chủ chống lại tất cả những gì không giống với phương pháp của họ, và trong đời sống cá nhân của chúng ta đó là những thói quen cũ chống đối những cách làm hay ứng xử mới mẻ của chúng ta.
Một khởi điểm khó khăn.
Những bước đầu của Nước Trời đã được đánh dấu bởi một sự từ chối hầu như tổng quát về phía những người Do thái : trong suốt cuộc sống công khai của Chúa Giêsu, họ đã tìm cách làm cho Ngài im hơi lặng tiếng bằng việc gây ra đủ thứ khốn khổ cho Ngài.
Họ đã đi đến chỗ đóng đinh Ngài trên thập giá với tội danh "phản quốc", vì Ngài loan báo cho họ một vương quốc mà họ tuyệt đối không muốn, bởi lẽ vương quốc ấy gây phiền phức cho họ, bắt họ phải thay đổi tất cả các thói quen. Ta có thể dễ dàng hình dung được tất cả những gì mà mọi kẻ đã tham gia vào việc xây dựng Nước Chúa đã phải gánh chịu : các tông đồ sau ngày Chúa Phục Sinh và đặc biệt là thánh Têphanô vị tử đạo tiên khởi mà chúng ta nghe tường thuật trong bài sách Tông đồ công vụ hôm nay.
Têphanô theo hình ảnh Chúa Ki tô.
Bài đọc một nêu bật hình ảnh phó tế Têphanô như một bản sao của Chúa Giêsu. Ông trách người Do thái cứng cổ, đã chống lại Chúa Thánh Thần, đã bách hại các ngôn sứ, thậm chí đã phản bội giết Chúa Giêsu. Người Do thái bịt tai lại và giết ông. Và như Chúa Giêsu, Têphanô đã tha thứ cho họ. Những lời cuối cùng của Chúa Giêsu và của Têphanô giống nhau. Dường như chìa khóa Nước Trời, "chìa khóa mở cửa thành đô, như thánh Gioan nói, là sự tha thứ; đó là di chúc giúp ta đạt đến Nước Trời.
Di chúc tình yêu.
Ai bảo tha thứ là yêu nhiều hơn nữa ? Đúng vậy, tha thứ cho ai tức là vượt lên trên những gì làm cho ta đau khổ, làm cho ta "chết", như đôi khi người ta nói, để gặp lại người ấy trong cái tốt nhất của họ. Có lẽ cần phải có lòng can đảm nhưng chắc chắn là cần phải tin tưởng mạnh mẽ nơi kẻ mà chúng ta tha thứ.
Vì vậy nên Chúa Giêsu, trước hôm chịu chết, đã cầu nguyện cho các bạn hữu của Ngài và những kẻ, nhờ "lời của họ ", sẽ tin nơi Ngài. Di chúc này dưới hình thức một lời cầu nguyện vạch ra cho chúng ta cả một chương trình : nếu chúng ta muốn ở với Ngài, trong Ngài, ngay từ bây giờ, thì điều này chỉ có thể thực hiện được trong tình thương yêu kẻ khác "để mọi người nên một" như Chúa Cha và Ngài là một trong tình yêu. Bao giờ cũng phải có tình yêu! Ta không thể ra khỏi tình yêu được! Nếu ta liều mình ra khỏi con đường tình yêu thì ta thuộc về thế gian "đã không biết Ngài" và như vậy là ta làm tan Vương Quốc mà Chúa muốn. Do cách chúng ta yêu thương "theo tinh thần Kitô" mà chúng ta sống như những kẻ thừa hưởng đ sản có khả năng làm cho những ơn đã nhận được sinh hoa kết quả.
Vinh quang Ngài đã ban cho chúng ta.
Vinh quang đến làm gì ở đây ? Chúa đã ban cho chúng ta vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Ngài, cũng một vinh quang đó. Tác giả sách Tin mừng đã đặt nơi miệng Chúa Giêsu một lời khẳng định như thế, và ông biết mình nói gì. Chúng ta biết rằng một ngày kia, chúng ta sẽ sống lại ; Chúng ta hy vọng được hưởng vinh quang như Chúa Giêsu phục sinh đã được như Têphanô đã được. Nhưng trong những lời của thánh Gioan, còn điều gì hơn nữa, Chúa đã ban cho chúng ta vinh quang của Chúa Cha tức khắc, và lúc này đây vinh quang đó thuộc về chúng ta mỗi ngày vì Nước Chúa đã bắt đầu, ngay hôm nay đây, khi chúng ta yêu mến như Chúa Cha yêu chúng ta, như Chúa Con yêu chúng ta: nói cách đơn giản hơn, trực tiếp hơn : Vinh quang chính là tình yêu !
Kết luận.
Nhu cầu lớn lao của con người bao giờ cũng là yêu và được yêu. Mọi người đều đồng ý về điểm này, nhưng Kitô hữu chúng ta nên biết rằng nguồn tình yêu lớn lao, ngày này qua ngày khác, phát xuất từ vinh quang của Chúa Cha và vinh quang của Chúa Con để đến gặp chúng ta trong cuộc sống. Thánh lễ của chúng ta phải thực sự là một lễ tạ ơn, một cử chỉ cám ơn lớn lao vì quyền năng mà chúng ta có là thương yêu.
BRUNO PREBSCOTT

 

PS6-C50. BÌNH AN CỦA ĐẤNG PHỤC SINH.

Bình an làmtrận tự đặt dưới quyền bính tối cao đầy nhân ái. Thực vậy, khi Ađam, Eva không: PS6-C50

Bình an làmtrận tự đặt dưới quyền bính tối cao đầy nhân  ái.
Thực vậy, khi Ađam, Eva không muốn đặt mình dưới quyền Thiên Chúa nhân ái, thì đời sống họ bị mất bình an: "Gai góc mọc lên cho họ, họ sợ hãi mỗi khi nghe tiếng Chúa, nên phải trốn!" (xem St 3, 10-18).
Trên đời này không ai mạnh và nhân ái bằng Con Thiên Chúa đã Phục Sinh, vì cả quyền binh đao (DoThái Giáo) và đời (Roma) hợp với quyền lực ma quỷ muốn chôn vùi xuống lòng đất (xem Lc 4,13), nhưng Ngài đã sống lại để trở thành nguyên nhân cứu độ duy nhất cho cả nhân loại tội lỗi (xem Cv 4,12). Do chỉ có Ngài đem bình an đích thực cho ai muốn ở dưới bàn tay che chở của Ngài. Bởi thế, bình an của Ngài khác hẳn với mọi bình an của thế gian ban tặng:
BÌNH AN CỦA THẾ GIAN
1- Dựa trên sức mạnh của chính trị, vũ khí, kinh tế.
2- Diệt đối kháng.
3- Giátrị dừng lại trên đời.

BÌNH AN CỦA CHÚA GIÊSU PHỤC SINH
1- Dựa trên tình thương và sự toàn năng của Thiên Chúa.
2- Biến dữ ra lành.
3- Giá trị vượt thời gian, đời đời.

Ai muốn được hưởng bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh, thì họ phải được Ngài ở cùng, mà ai được Thiên Chúa ở cùng, họ sẽ lướt thắng mọi khó khăn, và làm được mọi việc vượt khả năng tự nhiên của họ. Đơn cử:
Môsê đang run sợ và trốn tránh quyền lực đế quốc Ai Cập đang truy nã, ông lại mang  tật nói ngọng! Nhưng khi được Chúa ở cùng, ông đã dám đương đầu với quyền lực Ai cập để dẫn dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ (xem Xh 3,12t).
Giêrêmia thưa với Chúa: "Tôi chỉ bằng con nít, lại bị bao kẻ ác muốn nuốt sống tôi, họ đã từng quăng tôi xuống giếng cạn! Làm sao tôi cókhả năng dạy bảo kẻ ác phải sửa cách sống để theo ý Chúa được! Nhưng Chúa bảo: "Có Ta ở với ngươi". Thế là Giêrêmia trở thành ngôn sứ tuyệt vời của Chúa (xem Ger 1,1-8), rồi cả đến ngôn sứ Isaia cũng vậy (Xem Is 41,10-20).
Khi Môsê biết mình sắp qua đời, muốn trao cho Giosua sứ mệnh tiếp tục dẫn dắt dân DoThái vào đất hứa, mà Giosua chỉ là đồ đệ của Môsê, ngay chính bản thân Môsê khi bị dân chống đối, ông muốn chết quách đi cho rồi, thì làm sao Giosua có thể thế sứ mệnh của Môsê được? Nhưng Môsê nói với Giosua: "Có Chúa ở cùng con!". Thế là Giosua đãthành công trong sứ mệnh được giao phó! (xem Gios. 1,6-9).
Đặc biệt nhất là vào thời Thiên Chúa khai mào, thực hiện ơn cứu độ cho nhân loại, Ngài dùng cô Maria, quê ở Nazarét, chẳng có gì hay (xem Ga 1,46). Nhưng khi Thiên thần nói: "Chúa ở cùng bà!" thì Maria dù chẳng liên hệ với namgiới mà vẫn sinh Con Thiên Chúa và con Thiên Chúa cũng phải vâng phục Mẹ Maria trong sứ mệnh cứu Thế Giới! (Lc 1-2).
Khi Chúa về trời, Ngài trao quyền cho một cộng đoàn bất toàn về số lượng (11/12), còn bất toàn cả về phẩm chất đức tin: Họ còn hồ nghi về Thầy của họ! Thế nhưng, Chúa vẫn tín nhiệm vàsai họ đi khắp thế gian để cứu đời, bởi vì Ngài hứa cùng họ: "Ta ở với các con mọi ngày cho đến tận thế!" (xem Mt 28,16-20).
Này nay, ai muốn được Chúa ở cùng, để có được sự bình an của Chúa Phục Sinh, họ phải thực hiện hai điều này:
Trước nhất, họ phải thuộc Hội thánh Chúa Kitô. Cụ thể, ông Matthia muốn trở nên tông đồ cho Chúa, ông phải được Chúa đưa vào Hội thánh, vì thế ông không được các tông đồ chọn mà là trúng thăm! Như  vậy ông đã được Chúa Thánh thần chọn để thay thế Giuđa, kẻ đã tự tách mình ra khỏi cộng đoàn Hội thánh tiên khởi! (xem bài đọc 1: Cv 15, 1-2.22-29).
Sau là phải tích cực tham dự các Thánh lễ cách ý thức vì như trong Tin Mừng hôm nay Chúa nói: "Ai yêu mến Ta, thì  giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến nó, và Chúng Ta (Ba Ngôi Thiên Chúa) sẽ đến với nó, và sẽ đặt chỗ nơi mình nó" (Ga 14,23).
Quả thật giá trị trên đậy chỉ xảy đến cho ai tham dự Thánh lễ mà thôi. Chúa nói tiếp: Ai không mến Ta, thì sẽ không giữ lời Ta" (Ga 14,24a). Cụ thể là Giuđa, chính hắn đã bỏ tiệc Thánh mà băng mình vào đêm tối (Sự chết). (Ga 13,30).
Cả đến Con Thiên Chúa đã Phục Sinh, khi chưa về cùng Cha trên trời, tức là chưa được Chúa Cha ở cùng, thì Ngài còn nhỏ hơn Cha (Ga 14,28). Vậy chỉ khi nào Ngài được Cha ở cùng (Về Trời), thì Ngài mới trở thành Đấng Toàn Năng ban ơn cứu độ cho ai cầm lấy Ngài (rước lễ) (xem Ga 20,17).
Như vậy, chỉ những ai Tham dự Thánh Lễ cách ý thức và trọn vẹn, họ mới đáng được hưởng phúc bình an của Chúa Giêsu Phục Sinh. Phúc Âm đã minh chứng điều này: Chúa Phục Sinh chỉ ban bình an cho ai đang hội họp trong ngày Chúa Nhật với các tông đồ! (xem Lc 24,36; Ga 20,19-26). Quả thật, chị Maria Mađalena gặp Chúa ở mộ, môn đệ gặp Chúa ở Emmau, Ngài đâu có chúc bình an cho họ! (xem Ga 20,11-18; Lc 24,13-35).
Nhưng phúc bình an của Chúa Phục Sinh chỉ ban trọn vẹn và hoàn hảo trong ngày cách chung cho những ai xây dựng đời mình trên giáo lý của 12 tông đồ, và được các Ngài dẫn lối đưa đường đến vui hưởng "đèn soi cho cả thành" (Hội thánh) là "Chiên Con" (Giêsu Phục Sinh), mà không cần đến ánh sáng mặt trời, mặt trăng chiếu soi họ! (xem bài đọc 2: Kitô hữu 21,10-14. 22-23).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây