Linh mục Mễn

https://linhmucmen.com


Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 101-105

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 22 TN-A Bài 101-105

Suy Niệm TN 22-A Phần III: Bài 101-105

TN22-A100: Đường lối Chúa - Lm Vũ Đình Tường. 1

TN22-A101: Từ bỏ mình, vác thập giá mình. 1

TN22-A102: Theo Chúa, chúng ta tìm và mong đợi điều gì?. 2

TN22-A103: CHÚA NHẬT 22 QUANH NĂM... 3

TN22-A104:  CHÚA NHẬT 22 TN - A.. 5

TN22-A105:  Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa nhật XXII thường niên A.. 7

TN22-A100: Đường lối Chúa - Lm Vũ Đình Tường

Phêrô muốn đi theo con đường Đức Kitô hướng dẫn nhưng khi Đức Kitô nói về những thách đố, TN22-A100

Phêrô muốn đi theo con đường Đức Kitô hướng dẫn nhưng khi Đức Kitô nói về những thách đố, chông gai trong việc bước theo Phêrô trở nên ngần ngại, lo lắng. Đức kitô cho biết để trở thành môn đệ chân chính, đích thực điều tiên quyết là phải chấp nhận ‘thí bản thân mình’ cho tha nhân. Chính việc ‘thí thân’ này làm cho Phêrô trở nên khắc khoải bởi ông không thể mường tượng ra được việc ‘thí thân’ đòi hỏi những gì. Đức Kitô nói rõ hơn đó là vác thập giá bước theo. Cùng tâm trạng với chúng ta Phêrô chân thành muốn theo nhưng lại sợ thử thách, chông gai và vác thập giá.

Không có thập giá, không có sự sống lại thì việc hy sinh bản thân trở nên vô nghĩa. Có sống tất nhiên có chết vì thế mỗi ngày đều có chết một cách nào đó. Chết đây không thuần nghĩa chết về thể xác mà chết bằng nhiều cách khác nhau dưới dạng hy sinh. Có thể là chết hay hy sinh những đòi hỏi bất chính, tham vọng hay ích kỉ cá nhân để mang lợi ích cho người khác. Có thể là hy sinh ước vọng hay suy tư riêng để mang bình an cho gia đình. Có thể là hy sinh tập quán, đam mê xấu để trưởng thành trong nhân đức. Có thể là hy sinh tính kiêu căng, tự mãn để tâm linh phát triển. Chúng ta tự do trong việc quyết định đi theo Đức Kitô hay theo đường lối riêng tự chọn, đường lối thế gian. Chọn theo đường lối thế gian cũng vẫn không tránh khỏi hy sinh nhưng những hy sinh đó sẽ chết vĩnh viễn; trong khi chọn hy sinh hiến thân chết theo đường lối Chúa thì những hy sinh đó sẽ được Đức Kitô làm cho sống lại muôn đời bởi Ngài sống lại từ cõi chết và không bao giờ chết nữa nên chọn hy sinh chết trong Đức Kitô sẽ được Ngài kết hợp với sự chết của Ngài và khi sống lại Ngài cũng làm cho sụ chết của chúng ta sống lại vĩnh cửu.

Kitô hữu tin rằng sự sống vĩnh cửu quan trọng hơn cuộc sống tạm bợ thế trần. Một số người lại chối bỏ sự sống vĩnh cửu tin rằng không có sự sống vĩnh cửu. Điều họ khẳng định dựa vào khôn ngoan lí luận của con người. Kitô hữu tin vào sự sống vĩnh cửu bởi niềm tin đó không đặt trên quan điểm lí luận sản phẩm của khối óc mà đặt căn bản trên Lời Chúa, trên giáo huấn của Đức Kitô khi Ngài phán:

Ta là đường, là sự thật và là sự sống. Ai tin ta sẽ không chết bao giờ Gn 14,7.

Tuyên bố trở thành môn đệ Đức Kitô chỉ là bước đầu trong việc đi theo. Đi theo đòi hỏi phải đi theo đường lối Chúa. Đi là tiến tới, không phải tiến lui, giật lùi. Tiến tới đây là tiến tới trên đường nhân đức, tiến lên trong việc học nên thánh mỗi ngày trong cuộc sống. Đức Kitô tuyên bố Ngài là đường nhưng con đường đó không được vẽ ra rạch ròi như trên bản đồ mà là hướng đi. Bởi đi theo hướng nên rất dễ sai đường, trật hướng. Sai đường xảy ra khi ta quá tự tin vào khả năng chuyên môn của ta hay của tha nhân. Không những đã sai mà còn là vật cản, ngăn đường, chặn lối đường ta tiến đến với Chúa.

Mấy phút trước Đức Kitô khen Phêrô và đặt Phêrô lãnh đạo Giáo Hội và trao chìa khoá nước trời cho Phêrô. Mấy phút sau Đức Kitô khiển trách Phêrô gây nguyên cớ ngăn cản chương trình cứu độ của Chúa. Phêrô với tất cả tấm lòng chân thành yêu mến không muốn điều gì xấy xảy ra cho Đức Kitô. Khi Đức Kitô tâm sự cùng các ông Ngài sẽ vác thập giá và chịu đóng đanh chết trên thập tự, Phêrô nêu í kiến can ngăn Đức Kitô tránh xa thập giá. Đức Kitô cho Phêrô biết điều ông suy nghĩ xem ra có vẻ tốt lành nhưng không phải đến từ trời cao mà đến từ trần thế. Ý kiến trần thế của Phêrô vấp phải hai lỗi lầm. Thứ nhất Phêrô không hiểu rõ sứ mạng của Đức Kitô. Sứ nạng đó là hy sinh chết cho người mình yêu. Thứ hai Phêrô cũng không thể mường tượng ra được đòi hỏi chết bằng cách hy sinh của người lãnh đạo trong Giáo Hội Chúa. Chết bằng cách hy sinh không có nghĩa là trở thành cuồng tín tôn giáo mà là dấu chỉ cho biết tình yêu chân chính, đích thực gắn liền với hy sinh.

Về đầu trang

TN22-A101: Từ bỏ mình, vác thập giá mình

Đọc đoạn Phúc âm hôm nay, chúng ta thấy tư tưởng chính yếu được đúc kết thành những chữ: từ bỏ TN22-A101

Đọc đoạn Phúc âm hôm nay, chúng ta thấy tư tưởng chính yếu được đúc kết thành những chữ: từ bỏ mình, vác thập giá mình và bước theo Chúa Giêsu.

Thật vậy, cuộc sống hằng ngày cho chúng ta một kinh nghiệm quá quý giá. Đón là chọn lựa. Cuộc sống là một chuỗi những sự chọn lựa. Chọn lựa đi đôi với từ bỏ. Chọn lấy cái này thì đương nhiên chấp nhận từ bỏ cái kia. Đó là quy luật tất yếu của cuộc sống. Vì thế, chúng ta không cảm thấy ngạc nhiên khi nghe Chúa Giêsu bảo chúng ta: chọn lựa theo Chúa thì phải từ bỏ mình, vác thập giá mình và đi theo Chúa. Xem ra ba điều kiện này hoàn toàn đi đôi với nhau. Cái này không thể thiếu cái kia và ngược lại. Chúng ta thử nghĩ xem: từ bỏ mình, vác thập giá mà không theo Chúa Giêsu cũng không được. Hay theo Chúa Giêsu mà không tử bỏ mình thì càng không được hơn nữa. Do đó cách tốt nhất cho người môn đệ là từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày và đi theo Chúa Giêsu. Chúng ta xem xét những cụm từ này.

Trước hết, chữ từ bỏ mình nghĩa là từ bỏ những gì là của mình, từ bỏ những gì liên hệ thậm chí là gắn bó mật thiết với mình, nó là từ bỏ những gì trở nên chính mìn hay người ta gọi là cái tôi của mình. Để từ bỏ mình thì tôi phải biết mình, biết những gì làm cho tôi bám víu, trì hoãn, không phát triển được đời sống của mình. Lẽ thường, từ bỏ cho ta một cảm giác thật khó chịu, khó lòng và chắc chắn khó khăn. Khó chịu là bởi vì cuộc sống đã làm cho mình trở nên cái nếp, trở nên thói quen nên nếu có thay đổi thì làm cho ta khó chịu. Khó lòng là bởi vì những cái đi theo mình, những sản phẩm mình tạo ra mà lại từ bỏ à! Nếu không có ơn Chúa giúp, ta không muốn từ bỏ mình đâu! Hơn nữa, nếu từ bỏ những thứ đã có sẵn mà làm theo cái mới như Chúa Giêsu đòi hỏi thì quả thực là rất khó khăn.

Tư tưởng của con người là muốn mọi sự dễ dãi, tiện nghi, không vất vả. Cứ nhìn vào cuộc sống hôm nay tôi sẽ thấy rõ điều ấy. Khi xem tivi, tôi muốn ngồi một chỗ và dùng bộ phận điều khiển từ xa, dùng cái Remote, khỏi mất công đi lại điều chỉnh. Hay nếu ngại nấu ăn thì đã có mì ăn liền, có cháo ăn liền, có cà phê uống liền khỏi mất công pha chế. Muốn lên lầu cao thì đã có thang máy, không phải leo lên từng bậc vất vả...Tâm lý thích dễ dãi này tự nó không phải là điều xấu. Trái lại, nó là điều tốt vì nó thúc đẩy những phát minh khoa học để phục vụ đời sống con người nhưng điều đáng nói là người ta lại áp dụng tâm lý thích dễ dãi ấy vào chuyện Nước Trời. Người ta cũng muốn mình chiếm được Nước Trời một cách dễ dàng thoải mái như vậy. Càng ít phải cố gắng, ít phải hy sinh bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Rút ngắn giờ kinh lễ, giảm thiểu việc ăn chay hãm mình, giữ đạo một cách tối thiểu sao cho khỏi sa hỏa ngục là được...như thế là tôi còn quá ấu trĩ. Thỉnh thoảng, thậm chí là lâu lâu đi xưng tội một lần, cho ổn "tâm lý" mà thực ra chưa chuẩn bị kỹ càng, điều đó càng cho thấy đức tin yếu kém, không ý thức đó chính là bí tích, là sự sống đức tin, là niềm an bình hạnh phúc của người Kitô hữu.

Hôm nay Chúa Giêsu mời gọi tôi từ bỏ mình hay đúng hơn Ngài muốn tôi trở lại con người mình, nhìn thấy rõ thân phận của mình, thân phận là một con người, một người con đã được cứu chuộc. Một nhân vị cao quý lắm thay! Nhìn nhận để thay đổi lối sống, thay đổi thái độ ứng xử, thái đổi hành vi và tập quán, thay đổi thói quen ấu trĩ, sẵn sàng nghe và làm theo tiếng nói của Chúa, của lương tâm, của lề luật, của Thánh Kinh và những giáo huấn của Giáo Hội. và càng hơn nữa, tôi càng biết từ bỏ mình, vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha như chính Chúa Giêsu đã làm (Mt 26, 39). Đó chính là điều kiện để trở nên môn đệ của Ngài.

Kế đến, chúng ta nhìn xem thập giá mình. Mang thân phận con người, ai ai cũng có thập giá trong đời mình. Những trái ý, những thất bại...nó chi phối cuộc đời chúng ta. Có người nhìn những trái ý ấy chính là cái khổ, là nghiệp chướng,...Tuy nhiên, Chúa Giêsu nhìn những điều đó chính là điều kiện tỏ lòng quý mến và vâng theo thánh ý Chúa Cha. Con đường Chúa Giêsu đi là con đường vâng theo ý Chúa Cha, con đường vác khổ giá. Vì thế, người Kitô hữu không thể đi khác con đường Chúa Giêsu đã đi, phải bắt chước Chúa Giêsu, chẳng những chấp nhận vác khổ giá đời mình mà còn vui lòng vác khổ giá vì Chúa Kitô. Chúa Kitô đã qua đau khổ rồi mới đến vinh quang. Sau chặng đường vất vả khổ giá vì Chúa Kitô, chúng ta sẽ được vui sướng hạnh phúc giống như Ngài, vui bằng niềm vui của ngài, sống bằng sự sống chính Ngài đã khổ công, khổ nhọc đi qua và làm nên chứng tích tình yêu của mình.

Cuối cùng là bước theo Chúa Giêsu. Rõ ràng người kitô hữu được xác định phương hướng là bước theo Thầy. Hành trình trong cuộc đời này, tôi đi với Thầy Giêsu và đi theo Chúa Giêsu. Có Chúa cùng đồng hành, tôi sẽ bình an và vui vẻ tiến bước. Dù cuộc đời cò nhiều gập ghềnh sỏi đá, có nhiều thử thách, có nhiều cam go...nhưng lòng an vui vì tôi đang bước theo và bước với Chúa Giêsu.

Từ bỏ mình, vác thập giá mình và bước theo Chúa Giêsu là những yếu tố cấu tạo nên đời sống của người môn đệ Chúa Giêsu. Những điều kiện mà Chúa Giêsu đề ra cho các môn đệ cũng là những điều kiện Ngài đề ra cho tôi. Thoạt nghe lúc đầu thì đây quả thật là những điều kiện không mấy dễ dàng thực hiện, tuy nhiên Chúa Giêsu loan báo khổ nạn và Ngài cũng loan báo phục sinh vinh quang. Và đó cũng là điều đã được thực hiện. Chắc hẳn ai ai cũng thích sống dễ dãi, tự do, hưởng thụ và theo lối sống của mình. Nhưng Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống cao cấp hơn, sống theo lời mời gọi tình yêu từ thượng giới. Đức Hồng Y Suhard đã nói: "Chúng ta đừng bao giờ tìm Chúa Kitô mà không có thánh giá và cũng đừng tìm thánh giá mà không có Chúa Kitô".

Mỗi lần cử hành Thánh Lễ là mỗi lần tái diễn hy tế trên thập giá của Chúa Giêsu.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con, khám phá ra từ mỗi thánh Lễ mà chúng con cử hành, đó là mầu nhiệm tình yêu và cứu chuộc, đồng thời chúng con biết lấy tình yêu đáp đền tình yêu, để nhờ thập giá mà chúng con kết hợp với Chúa Giêsu hằng ngày giúp chúng con đến đích điểm của cuộc đời là được phục sinh với Chúa Giêsu Kitô. Amen.

Về đầu trang

TN22-A102: Theo Chúa, chúng ta tìm và mong đợi điều gì?

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

Người ta tìm thấy lá thư của một người tù Do Thái tại trại giam Auschwitz. Lá thư viết bằng máu, TN22-A102

Người ta tìm thấy lá thư của một người tù Do Thái tại trại giam Auschwitz. Lá thư viết bằng máu, được nhét trong một lọ thủy tinh. Lá thư có nội dung như sau: Tôi là một người Do Thái, tôi tin vào Thiên Chúa của tôi, tôi yêu chuộng lề luật của Ngài. Làm người Do Thái thì khổ lắm vì đã nhiều lần bị Thiên Chúa của mình hành hạ gần như đến chết mới thôi. Thế nhưng, tôi vẫn tin và vẫn yêu mến Thiên Chúa của tôi. Tôi thượng tôn lề luật của Ngài, dù có những lúc Ngài đánh tôi, hất hủi tôi, nhưng tôi vẫn tin vào lề luật của Ngài, dù như có những lúc Ngài làm mọi cách để tôi từ bỏ Ngài, từ bỏ lề luật đáng kính của Ngài, nhưng tôi vẫn yêu Ngài, vẫn theo Ngài cho dù Ngài có bỏ tôi đi nữa….

Thưa quý OBACE, đọc tâm sự trong lá thư trên của một người tù Do Thái đang cận kề với cái chết trong trại tập trung kinh khủng nhất của nhân loại, mà ông vẫn thể hiện lòng tin và sự trung thành với Thiên Chúa và lề luật của Ngài như thế, quả là điều xúc động và đáng để chúng ta suy nghĩ. Ngày nay, nhiều người trong chúng ta bị giằng co khi tin Chúa, theo Chúa. Nhiều người nghĩ rằng tin Chúa, theo Chúa là tìm kiếm một chỗ dựa tinh thần, một cuộc sống thoải mái, dễ dãi, hoặc nhìn Thiên Chúa không khác gì một người thủ kho hoặc người bảo vệ để canh gác và là người giải quyết những khó khăn khi cần, mà quên mất đòi hỏi của Chúa khi tin và theo Ngài. Theo Chúa, chúng ta tìm và mong đợi điều gì? Chúa đòi chúng ta điều gì?

Tâm sự của Giêrêmia trong bài đọc một cho thấy ông đã bị cuốn hút, bị khuất phục bởi Thiên Chúa và bước đi theo sự dẫn dắt của Ngài. Tuy nhiên, ông cho thấy, theo Chúa không phải là điều dễ dàng. Có thể nói rằng, trong tất cả các ngôn sứ, Giêremia là một trong những người khổ sở nhất: Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ nhạo báng. Vì Lời của Chúa mà con đây bị xỉ nhục và chế giễu suốt ngày. Có những lúc, vị tiên tri cảm thấy chán nản vì sứ vụ của mình và muốn bỏ cuộc: Tôi tự nhủ là tôi sẽ không nghĩ đến Người nữa, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa. Thế nhưng, Lời Ngài cứ như ngọn lửa cháy bừng trong tim, âm ỉ trong xương cốt khiến con phải hao mòn. Tâm sự của Giêremia có lẽ cũng là tâm trạng của nhiều người trong chúng ta khi thấy mình tin Chúa, theo Chúa, giữ lề luật của chúa mà dường như chỉ thấy gặp toàn điều xui xẻo; có khi còn rơi vào cảnh tù đày, bị hắt hủi, bị đề phòng hoặc rơi vào chán nản, thất vọng.

Tin Mừng cho thấy, Chúa Giêsu đến là để đem lại niềm vui, hân hoan và hy vọng cho cuộc sống này như khi Ngài hóa bánh ra nhiều, hoặc hóa nước thành rượu ngon, chữa lành người què khiến cho dân chúng vui mừng. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không hề hứa hẹn, bảo đảm cho ai một cuộc sống dễ dãi, thoải mái ở đời này; trái lại, Chúa luôn đòi hỏi mọi người tin theo Chúa phải chấp nhận một sự từ bỏ dứt khoát để đạt được hạnh phúc và niềm vui Nước Trời. Điều này không hề dễ dàng để chấp nhận, ngay đến Phêrô cũng đã không muốn chấp nhận điều đó.

Câu chuyên trong Tin Mừng cho thấy, sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu: Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống và ông đã được Đức Giêsu khen trước mặt mọi người. Phêrô nghĩ rằng, ông đang đi trên con đường thênh thang, chỉ cần tuyên xưng như thế là đủ mà không cần phải làm thêm việc gì nữa. Thế nhưng, Chúa Giêsu cho thấy việc tuyên xưng của Phêrô chỉ là khởi đầu của một cuộc hành trình theo Chúa cách quyết liệt, đó là phải cùng Ngài đi lên Giêrusalem, chịu đau khổ do các kỳ mục gây ra, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Chính vì thấy không được như mong đợi, Phêrô đã muốn can ngăn Chúa, hay đúng hơn, ông muốn dắt Chúa đi theo suy nghĩ, con đường của ông và ước mộng của ông. Cho đến lúc này, Phêrô và các tông đồ vẫn nuôi một hy vọng hết sức trần thế, đó là nếu Thầy của các ông thành công thì chắc chắn các ông sẽ được chia sẻ quyền lực, danh vọng. Đi theo Thầy, các tông đồ muốn tìm vinh quang trần thế hơn là tìm chính Chúa. Vì thế, Phêrô đã đứng ra can ngăn Chúa, ông còn nhân danh Thiên Chúa để ngăn cản Thầy của mình: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy.

Lần này, Chúa hết sức nặng lời với Phêrô khi mắng ông: Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa. Vì muốn một cuộc sống vinh hoa của thế gian, nên Phêrô không muốn nghe nói về đau khổ; vì muốn cuộc sống dễ dãi, Phêrô không muốn thập giá. Hơn nữa, vì không muốn theo ý Chúa nên Phêrô muốn Chúa theo ý mình, đáp ứng cho mình. Thấy được tư tưởng của Phêrô như thế, Chúa đã không ngần ngại gọi ông là satan, là kẻ cản đường. Lời trách mắng này muốn Phêrô tỉnh ngộ và trở về đúng với vị trí của mình là môn đệ của Chúa: Hãy lui ra đàng sau Thầy. Vì ông không thể cho mình là người dẫn đường cho Chúa, mà trái lại, Chúa mới là người dẫn đường, là người đi trước và bất cứ ai muốn làm môn đệ của Chúa, thì phải đi sau Ngài và đi theo con đường ấy.

Con đường mà Chúa Giêsu muốn là con đường: từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Chúa. Đấy chính là điều kiện bắt buộc cho tất cả những ai muốn theo Chúa. Chúa luôn để mở cho sự tự do của con người: Ai muốn theo tôi thì hãy từ bỏ mình và vác thập giá mình mà theo. Khi đã muốn, đã quyết định, thì phải chấp nhận hai bước quan trọng, đó là từ bỏ chính mình và kế đó là vác thập giá của mình và bước theo. Chúa không ép buộc bất cứ ai, Ngài hoàn toàn tôn trọng tự do và chọn lựa của con người, ai muốn thì chọn và khi đã chọn thì chấp nhận tất cả những điều kiện kèm theo. Chúa cũng cho thấy những thử thách mà người theo Chúa gặp phải, đó là chịu thiệt thòi, mất mát ở đời này thì sẽ được hạnh phúc đầy tràn đời sau. Trái lại, nếu chỉ lo tìm kiếm vật chất đời này, tìm kiếm lợi lộc trần gian, thì sẽ đánh mất hạnh phúc Nước Trời.

Từ bỏ chính mình là từ bỏ những gì? Thưa, đó là từ bỏ bản thân, là cái tôi ích kỷ nhỏ nhen, là những dục vọng ham muốn, là những tham lam lợi lộc, là những bon chen thiệt hơn, là sự tự ái, tự cao…. Kinh nghiệm cho thấy, có những người có thể làm được nhiều việc to lớn, nổi danh nổi tiếng, nhưng lại không thể vượt qua được bản thân mình, không thể làm chủ được con người của mình, hay đúng hơn không từ bỏ được chính bản thân. Cái tôi hay còn gọi là bản thân mình là thứ virus ở sâu trong mỗi con người. Nó như một thứ nội thù nằm bên trong mỗi người. Một khi chúng ta không thắng nó, không từ bỏ được nó thì sẽ bị nó làm chủ và biến chúng ta thành nô lệ, và chúng ta không thể nhẹ nhàng để bước theo Chúa Giêsu được.

Vác thập giá mình hằng ngày là vác những gì? Chúa không đòi chúng ta phải vác thập giá của Chúa. Chúa cũng không buộc chúng ta phải vác thập giá cho anh em, nhưng Chúa muốn chúng ta vác thập giá của chính mình. Thập giá của ai, vừa vai người ấy. Thập giá của chính mình chính là những bổn phận thường ngày của mỗi người, là sự khiếm khuyết cùng với sự bất toàn, bất túc của con người. Thập giá của mình là những hoàn cảnh hiện tại của bản thân, của gia đình. Đó có thể là cái khổ của sự sung túc, bệnh tật, nghèo khó, hoặc là những trách nhiệm làm ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu cùng với khó khăn vất vả, mồ hôi nước mắt. Khi chúng ta đón nhận thập giá ấy với lòng yêu mến và vui vẻ bước theo Đức Kitô thì chúng ta mới có thể trở thành môn đệ của Ngài.

Thưa quý OBACE, theo Đức Kitô luôn là một đòi hỏi và là một thách thức. Là đòi hỏi vì con đường này chắc chắn sẽ là con đường hẹp, đòi hỏi phải hy sinh, phải từ bỏ, chứ không phải là con đường dễ dãi, thoải mái. Theo Chúa là phải dám chấp nhận bước vào con đường của Chúa, không thể đi đường ngang hay đi tắt đón đầu, mà là một hành trình cố gắng bước đi từng ngày, theo sát Đức Kitô từng bước, nên giống Đức Kitô, sau cùng là chịu đóng đinh cùng với Đức Kitô. Theo Chúa luôn là một thách thức, vì không phải bất cứ ai cũng có thể bước theo, mà phải là những người được Chúa tuyển chọn, những người đặt niềm tin vào Chúa, cùng với sự cố gắng, quyết tâm vượt lên chính mình, làm chủ bản thân cùng những dục vọng trong con người của mình. Là một thách thức, vì khi theo Chúa, có nghĩa là bước vào một cuộc chiến đấu liên tục, đương đầu với ma quỷ dục vọng, thế gian là những kẻ thù khi ẩn khi hiện, là kẻ thù giấu mặt nguy hiểm.

Là những người được chọn để trở nên môn đệ Chúa Kitô, chúng ta không tìm kiếm lợi lộc của thế gian này làm gia nghiệp, mà là tìm Đức Kitô làm gia nghiệp, là hạnh phúc đời đời. Vì thế, chúng ta không thể tránh né thập giá, cũng không thể từ chối con đường của Đức Kitô. Chúa đang muốn các linh mục tu sĩ vác thập giá của bản thân và đi qua con đường tu trì tận hiến, tuân giữ những lời khuyên Phúc âm để bước theo Chúa. Chúa đang muốn các tín hữu khác đi qua con đường gia đình, tuân giữ giới răn lề luật của Chúa, bước theo Chúa. Vì thế, mỗi chúng ta đừng chần chừ, cũng đừng đứng đắn đo, mà hãy vui vẻ đón nhận hoàn cảnh và cuộc sống hiện tại của mình, chu toàn thật tốt đẹp nhiệm vụ là linh mục tu sĩ, là cha mẹ vợ chồng, con cháu, cùng nhau bước theo lời mời gọi của Đức Kitô. Chúng ta sẽ tìm được niềm vui, và hạnh phúc cùng với sự sống đời đời Chúa ban tặng cho những ai đi trọn con đường Chúa muốn. Amen.

Về đầu trang

TN22-A103: CHÚA NHẬT 22 QUANH NĂM

(Mát-thêu 16: 21-27)

Những câu truyện Tin Mừng trong mấy Chúa Nhật vừa qua cho ta cơ hội để suy nghĩ về đức tin,  TN22-A103

Những câu truyện Tin Mừng trong mấy Chúa Nhật vừa qua cho ta cơ hội để suy nghĩ về đức tin, một hồng ân Chúa ban cho ta do lòng quảng đại của Người.  Nhưng đó không phải là món quà ta cất kỹ làm kỷ niệm, mà để sống và làm cho cuộc sống ta mỗi ngày một phong phú thêm.  Hơn nữa, đức tin đem lại cho ta một sứ mệnh, mời gọi ta lên đường giống như Áp-ra-ham ngày xưa đã rời bỏ quê cha đất tổ để ra đi xây dựng một dân tộc mới.  Lời gọi lên đường ấy Chúa Giê-su nói với ta sẽ là một khởi đầu mới cho cuộc đời ta, tức là từ nay ta sẽ tập làm môn đệ Người, hoặc cũng có thể là một nhắc nhở, khích lệ nếu ta đã đáp lại lời gọi của Người.  Dù trong trường hợp nào, theo Chúa vẫn luôn là một hành trình có cả vui lẫn buồn, thất bại lẫn thành công, một đề tài để ta suy nghĩ và không ngừng cầu nguyện với Chúa Giê-su, Đấng kêu gọi ta bước theo sau Người.

 a)  Những mốc điểm của hành trình đức tin

                 Mặc khải và đức tin đi song song với nhau.  Mặc khải là việc tỏ mình của Thiên Chúa và đức tin là đáp lại của con người khi lãnh nhận mặc khải.  Trong Cựu Ước, hành trình đức tin của dân Chúa có những mốc điểm, thí dụ biến cố ông Mô-sê và dân Do-thái lãnh nhận Lề Luật Chúa tại Xi-nai (Xh 20:1-21), giao ước tại Mô-áp (Đnl 29:1-20), hoặc tại Si-khem ông Gio-suê xác nhận lòng trung thành tuyệt đối của Ít-ra-en với Đức Chúa (Gs 24:1-28).  Ở mỗi mốc điểm ấy, Thiên Chúa có thể cho thấy những điều mới của mặc khải và cũng đòi dân Người phải trung thành gắn bó với Người hơn.  Trong các diễn từ của ông Mô-sê hoặc ông Gio-suê, điểm được lập đi lập lại vẫn luôn là dân Chúa phải tránh thờ các thần ngoại và phải một lòng nhận Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất của họ.  Hành trình đức tin của Ít-ra-en đã trải qua những mốc điểm này để được thanh luyện và tiến tới mức trưởng thành hơn.

                Khi ông Phê-rô tuyên xưng Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, hành trình đức tin của ông cũng được đánh dấu bằng một mốc điểm.  Mặc khải Thiên Chúa Cha ban cho ông vạch ra một đoạn đường mới cần phải được Chúa Giê-su giải thích rõ ràng, nhất là về sứ mệnh Đấng Ki-tô.  Nhưng cũng chính giải thích này sẽ là một khúc quanh quan trọng của hành trình đức tin đòi hỏi Phê-rô phải can đảm dấn thân hơn nữa.  Từ lúc bỏ lưới theo Thầy tới giờ, Phê-rô chỉ thấy được một khía cạnh của sứ mệnh Chúa Giê-su:  Người là nhân vật của quần chúng, lôi cuốn do tài ăn nói, có quyền năng làm phép lạ, sẽ trở thành một lãnh tụ siêu việt...  Giờ đây, Thiên Chúa hé mở cho ông một hình ảnh mới về Chúa Giê-su.  Mặc khải ban đầu chỉ là khẳng định đơn giản:  “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa.”  Ông Phê-rô và các bạn chưa hiểu được hết ý nghĩa về Đấng Ki-tô, ngoài ý nghĩa giống như vị cứu tinh dân tộc.  Họ cần phải vượt lên trên những ý niệm loài người ấy để chấp nhận một Đấng Ki-tô trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, một Đấng Ki-tô đi ngược với ước vọng thuần túy con người của họ, một Đấng Ki-tô phải chịu đau khổ, bị giết và sẽ sống lại.  Nhưng ông Phê-rô vẫn cố chấp níu kéo ý niệm riêng của ông và can gián Chúa đừng làm Đấng Ki-tô theo như Người đã giải thích.  Ông trở thành kỳ đà cản mũi không những cho Chúa, mà còn bị sa lầy trong chính hành trình đức tin của ông.  Chúa Giê-su thẳng thắn uốn nắn ông:  “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy!  Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.  Mỗi lần bị trách mắng là mỗi lần Phê-rô vươn lên trong sức mạnh mới để càng gắn bó và yêu mến Chúa Giê-su hơn.  Lần trước trên Biển hồ, ông bị Chúa gọi là “người đâu mà kém tin vậy!”, và lần này là “Xa-tan”.  Vẫn chưa hết.  Lần sau cùng Chúa không nói, Người chỉ dùng tiếng gà gáy để nhắc nhở ông phải trung thành trong niềm tin mến thôi.

 b)  Hành động chính của đức tin:  bước đi theo sau Chúa

                 Khi Chúa Giê-su “nặng lời” với Phê-rô, Người không giận dữ, nhưng chỉ nghiêm khắc sửa dạy người môn đệ.  Người không nói với ông như Người đã thẳng tay nói với tên cám dỗ Xa-tan:  “Xa-tan kia, xéo đi!” (Mt 4:10), nhưng Người bảo ông:  “Lui lại đằng sau Thầy!”, nghĩa là Người muốn ông hãy trở về vị trí của mình là người môn đệ để tiếp tục bước đi theo Thầy.

                Đến đây, bài học làm môn đệ không còn là cho riêng Phê-rô nữa, nhưng là cho tất cả những ai muốn làm môn đệ Chúa.  Lời hiệu triệu dành cho những ai muốn làm môn đệ mang tính cách long trọng và dứt khoát:

                “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.  Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất;  còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16:24-25).

                Lời hiệu triệu nhắm tới điều kiện duy nhất ta phải thi hành nếu muốn theo Chúa, đó là từ bỏ cái tôi của mình.  Những từ “chính mình” và “mạng sống” được lập đi lập lại để nói lên cái tôi to lớn của ta.  Vì cái tôi của ta quá to lớn nên ta không muốn từ bỏ nó, mà chỉ muốn “cứu” và bám víu vào nó kẻo sợ mất.  Để nhấn mạnh việc từ bỏ cái tôi, Chúa Giê-su đã tài tình sử dụng lối nói nghịch lý kiểu Do-thái khi Người nêu lên hai đối tượng để ta chọn lựa:  Chúa và cái tôi của ta, cứu và để mất, liều mất và tìm được.  Theo lẽ thường, bao giờ ta cũng muốn giữ và cứu cái tôi của ta.  Còn Chúa thì lại muốn ta buông cái tôi của ta cho nó mất đi, để ta chỉ còn bám vào Chúa, lệ thuộc vào Chúa.  Người muốn ta bỏ đi cuộc sống tội lỗi và thù nghịch với Chúa (tức là mạng sống mình) để ta tìm được sự sống đích thực là chính Chúa.  Ta càng lu mờ đi thì Chúa càng nổi bật lên.  Nguyên lý ấy của thánh Gio-an Tiền hô (Ga 3:30) nói lên tiến trình Ki-tô hóa mà mỗi người cần phải theo nếu ta muốn làm môn đệ Chúa.  Việc từ bỏ mình và trở nên giống Chúa Ki-tô mỗi ngày một hơn quả thực là công việc khó khăn, do đó việc từ bỏ ấy được Chúa Giê-su nôm na gọi là “vác thập giá mình hằng ngày”.  Rồi cũng vì là một công việc khó khăn cho nên ta cần có một gương mẫu để bắt chước, do đó Chúa bảo ta cứ bước theo sau Người, Người làm thế nào ta làm như vậy.  Người đã từ bỏ mọi ý riêng mình để thi hành thánh ý Chúa Cha, thì ta cũng phải làm những gì Chúa muốn chứ không phải ta muốn.  Người đã yêu thương kẻ thù, một thánh giá thật nặng, thì ta cũng phải yêu thương cả những người ghét ta, một việc ta chẳng thích làm chút nào...

                Tại sao ta làm những điều trái khoáy với lối suy nghĩ của người đời?  Tại sao ta lại “không giống ai” như vậy?  Đó là vì đức tin vào Chúa.  Chấp nhận lời giảng và lối sống của Chúa Giê-su, ta chọn đi theo Người và đi ngược lại với người đời, liều mình bị loại ra khỏi cộng đồng của họ, để biểu lộ lòng tin và lòng mến của ta đối với Chúa Giê-su.

 c)  Theo Chúa, con đường một chiều

                Con đường một chiều đưa ta tới hướng duy nhất và không có chọn lựa nào khác.  Chúa Giê-su đã thẳng thắn lên án thái độ chân trong chân ngoài, làm tôi hai chủ, tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau.  Nhận thức được tầm quan trọng của điều kiện từ bỏ mình để theo Chúa, tất cả bốn sách Tin Mừng đều ghi lại lời hiệu triệu của Chúa Giê-su như một đòi hỏi tuyệt đối và không thể thay thế.  Lời lẽ của các thánh sử giống hệt nhau.

                Từ lịch sử Giáo Hội cho tới lịch sử cá nhân Ki-tô hữu, con đường theo Chúa bao giờ cũng gặp bách hại, thiệt thòi.  Nếu muốn sống đức tin, tức là trung thành theo Chúa, ta phải quay lưng lại với thế gian.  Chẳng vậy mà Chúa Giê-su đã nêu lên điều này ngay từ đầu:  “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4:17).  Vì trung thành với Chúa Ki-tô, hằng triệu người đã đành lòng “liều mất mạng sống mình vì Thầy”.  Bao nhiêu người đã không được dành cho công việc tốt chỉ vì họ là Ki-tô hữu đích thực.  Hằng trăm ngàn sinh viên học sinh không được tiếp tục việc học hành vì họ là người Công giáo.  Môn đệ thực chỉ nhìn thấy trước mặt họ hình ảnh Chúa Giê-su, Đấng mà thánh Phao-lô đã hãnh diện gọi là “Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi” (Pl 3:8).  Thánh tông đồ dân ngoại đã diễn tả con đường theo Chúa của ngài:  “Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước.  Tôi chạy chẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 3:13-14).

 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện

                 Biến cố nào trong đời tôi đã đánh dấu mốc điểm hành trình đức tin?  Biến cố ấy mang ý nghĩa gì?

                “Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa”.  Điều Chúa Giê-su nhắc nhở Phê-rô có ý nghĩa gì đối với tôi?  Những cái nhìn nào của tôi đã không phản ảnh cái nhìn của Chúa Giê-su?

                Có khi nào tôi tiến lên trước Chúa để cản lối Người không?  Hoặc có khi nào tôi muốn Chúa lệ thuộc tôi, chứ không phải tôi lệ thuộc Chúa?

                Tôi có sợ phải trả giá đắt khi làm môn đệ Chúa không?  Thí dụ một vài thiệt hại cụ thể tôi phải chịu chỉ vì tôi muốn trung thành làm môn đệ Chúa.

 Cầu nguyện:

                 “Lạy Chúa, xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu,

                và trọn cả ý muốn của con,

                cùng hết thảy những gì con có,

                và những gì thuộc về con.

                Mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con,

                lạy Chúa, nay con xin dâng lại cho Chúa.

                Tất cả là của Chúa,

                xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa.

                Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng.

                Được như thế, con hoàn toàn mãn nguyện.  A-men”.

                                (Kinh Dâng hiến của thánh I-Nhã, trích RABBOUNI, lời nguyện 42)           

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 Về đầu trang

TN22-A104:  CHÚA NHẬT 22 TN - A

Mt 16,21-27

 Thiếu nhi chúng con yêu quí,

 Chúng ta vừa nghe một đoạn Tin Mừng thánh Mathêô thuật lại.

 Trong đoạn Tin Mừng hôm nay Chúa dạy chúng ta nhiều điều mà điều nào cũng có ích cho chúng ta.

 1. Lời Chúa dạy thứ nhất Chúa bảo “Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”. Chúa không ép chúng ta theo Ngài, Chúa không buộc chúng ta bỏ mình và vác thập giá. Ngài chỉ mời chúng ta và cho chúng ta tự do. Nếu chúng ta muốn theo thì hãy bỏ mình và vác thập giá, nếu không thì thôi.

 Sau đó Chúa cũng cho biết những sự lợi hại của việc theo Chúa: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”(Mt 16,25)

 Cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này: Một hôm, Chúa Giêsu dẫn hai người trong số các môn đệ đến đầu đường, trao cho mỗi người một cây thánh giá giống nhau và bảo:

 Mỗi người chúng con vác thập giá của mình đi đến cuối đường trước mặt kia. Thầy đợi các con ở đó.

Hai môn đệ vâng lời, vác thập giá mình đi. Người thứ nhất vác cách dễ dàng, chân nhanh bước, dường như thập giá không cản trở hay gây phiền hà gì cho anh. Chẳng bao lâu anh đã đến cuối đường, gặp Chúa đang đợi ở đó. Và Thầy trò vui mừng hớn hở.

 Còn người thứ hai vác đi nặng nề, dường như anh vác không nổi, kéo lê thập giá đến chỗ Chúa Giê su chỉ định, và anh đã kiệt sức. Vừa thấy Chúa, anh đã phàn nàn:

 Chúa bất công quá! Chúa trao cho con cây thánh giá quá nặng; còn trao cho anh kia cây thánh giá nhẹ hơn, nên anh đã đi đến trước con.

Chúa buồn đáp:

 Con ơi! Thầy không đối xử bất công với con đâu. Cả hai thập giá đều giống nhau và nặng bằng nhau, không cây nào nặng cây nào nhẹ. Sở dĩ con cảm thấy nó quá nặng đối với con, vì con không sẵn sàng chấp nhận. Suốt trên đường đi, con luôn than phiền trách móc nó nặng, càng than trách thì thập giá càng trở nên nặng cho con. Bạn con đã vác đến trước vì tâm hồn tràn đầy yêu thương. Tình yêu làm cho thập giá trở nên nhẹ nhàng.

Vui lòng vác thánh giá, thánh giá sẽ trở nên nhẹ nhàng. Càng kéo lê thánh giá, thánh giá càng trở nên nặng nề hơn.

 2. Lời dạy thứ hai “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy".(Mt 16,25)

Khi quân đội Nga tiến vào thủ đô Budapest của nước Hung-ga-ri để trấn áp một cuộc bạo động, có một viên sĩ quan trẻ hung hăng trong tư thế một kẻ chiến thắng, đã tìm đến nhà một vị mục sư.

 Bước vào phòng, đóng xập cửa lại, anh ta chỉ lên cây Thánh Giá treo trên tường và bảo ông mục sư:

 - Này, ông có biết không, cái đó là một sự dối trá, mê hoặc dân nghèo để bọn người giàu có thể kìm hãm họ trong sự ngu dốt. Bây giờ chỉ có ông và tôi, ông hãy thú nhận là không hề tin cái ông Giêsu nào đó là Con của Thiên Chúa...”

 Vị mục sư điềm tĩnh nhỏ nhẹ trả lời:

 - Không thể được, tôi thật sự tin vào Người!

 Viên sĩ quan rút súng ra và bảo:

 - Ông đừng có đùa với tôi! Nếu ông không nói điều đó là sự dối trá, tôi sẽ nổ súng giết ông ngay!”

 Vị mục sư đứng thẳng người, nhìn sâu vào đôi mắt anh ta và dõng dạc trả lời:

 - Tôi không thể nói khác được. Đức Giêsu thật sự là Con Thiên Chúa!

 Thật không ngờ, nghe đến đây, tay viên sĩ quan run lên, khẩu súng rớt xuống nền nhà, ông chạy lại ôm chầm lấy vị mục sư, vừa khóc vừa nói:

 - Xin lỗi ông, tôi chỉ muốn thử xem ông có trung thực hay không! Đúng thế, tôi cũng đã âm thầm lặng lẽ tin trong suốt nhiều năm qua như ông đã tin! Nhưng giờ đây, tôi đã khám phá ra rằng: có ít nhất một người dám chết cho Đức Tin của mình, chính ông, ông đã củng cố Đức Tin cho tôi!

 “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”(Mt 16,25)

 3. Lời dạy thứ ba: “Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?”(Mt 16,26)

 Hãy nghe một câu chuyện nữa: Thomas Morus (1478-1453) thủ tướng nước Anh, dưới thời  Henry VIII, bị tống ngục vì không chịu chối đạo. Sau đó ông bị kết án tử hình. Vợ liền tới thăm và hỏi chồng :

 - Tại sao mình không lo cứu sống?

 - Này em theo em nghĩ thi anh sống ở trần gian này được bao lâu nữa?

  - Sức khỏe anh hứa hẹn ít nhất được 20 năm nữa.

 - Em đề nghị cho anh một hành động hết sức điên dại: để sống 20 năm mà phải hy sinh cả cuộc sống đời đời sao!

 “Người nào được lời lãi cả thiên hạ mà thiệt phần tinh hồn hỏi có ích chi? Lấy gì đổi được tinh hồn mình?.”(Mt 16,26)

 Chúng con yêu quí,

 Chúng ta đừng quên rằng, sẽ đến một ngày nào đó Thiên Chúa đòi chúng ta phải tính sổ với Chúa. Không phải là sổ ghi chép của cải vật chất mà chúng ta gắn bó, nhưng chính là sổ cuộc sống trần gian mà chúng ta đã sống, cũng như những ơn lành Thiên Chúa đã ban phát để giúp ta sống cách xứng đáng.

 Vì thế, vấn đề rất quan trọng mà mỗi người chúng ta phải quan tâm là sự sống của linh hồn và đời sống vĩnh cửu của chúng ta. Chúng ta hãy suy nghĩ câu nói này: Sẽ có ngày bạn phải đi về thế giới bên kia mà bạn không biết khi nào ngày ấy sẽ đến? Khi ấy, bạn sẽ không mang theo những gì bạn có, mà chỉ mang theo những gì bạn đã làm.

 Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho con một tâm hồn nghèo khó, chỉ làm giàu cho mình nhờ chiếm được chính Chúa. Xin ban cho con một tâm hồn luôn hướng về tha nhân, quan tâm đến những nhu cầu và ước muốn của họ. Xin ban cho con một tâm hồn luôn kết hiệp với Chúa và chỉ kín múc lấy nguồn sống từ nơi Chúa mà thôi. Amen.

 Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Về đầu trang

TN22-A105:  Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa nhật XXII thường niên A

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII Thường Niên Năm A nêu bật một bài học: đường lối của TN22-A105

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII Thường Niên Năm A nêu bật một bài học: đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người, vì thế người Kitô hữu phải có một lập trường dứt khoát là không chạy theo xu hướng thời đại, không tìm cách rập khuôn theo thói đời.

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII Thường Niên Năm A nêu bật một bài học: đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người, vì thế người Kitô hữu phải có một lập trường dứt khoát là không chạy theo xu hướng thời đại, không tìm cách rập khuôn theo thói đời.
Gr 20: 7-9
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a vẫn nhất mực trung thành loan báo sứ điệp của Thiên Chúa, cho dù sứ điệp ấy ngược lại với bản tính của ông và những kỳ vọng của những người đương thời với ông.
Rm 12: 1-2
Thánh Phao-lô cảnh giác các tín hữu Rô-ma sống giữa môi trường dân ngoại: “Anh em đừng có rập theo đời nầy, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý muốn Thiên Chúa”.
Mt 16: 21-27
Trong Tin Mừng, thánh Phê-rô không thể nào chấp nhận ý định của Thiên Chúa theo đó Đấng Mê-si-a phải trải qua đau khổ và sự chết. Nhưng Đức Giê-su khẳng định với thánh nhân: “Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”.
BÀI ĐỌC I (Gr 20: 7-9)
Trong lịch sử trào lưu Ngôn Sứ Kinh Thánh, chắc chắn ngôn sứ Giê-rê-mi-a là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất.
1.Bối cảnh lịch sử:
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem, giữa năm 626 và 587 tCn; nghĩa là ông đã sống vào thời kỳ bi thảm nhất của vương quốc Giu-đa: hai lần thành thánh Giê-ru-sa-lem bị đế quốc Ba-by-lon vây hãm (598-587), và cuối cùng thành thánh bị tàn phá và Đền Thánh bị thiêu hủy. Ông đã loan báo tai họa sắp giáng xuống mà không được ai quan tâm đến, kêu gọi hoán cải để được thứ tha mà không được ai lắng nghe. Ông trở nên trò đùa, bị nhạo báng, bị xem như kẻ phản quốc, bị tống giam. Đó thật sự là một bi kịch diễn ra trong lòng của vị ngôn sứ.
2.Bi kịch nội tâm:
Đoạn văn hôm nay trích từ “lời trần tình” hay lời tự sự của vị ngôn sứ ngỏ với Thiên Chúa. Đây là một trong những đoạn văn thống thiết nhất. Đoạn trích nầy nói lên tất cả tấm bi kịch của trào lưu Ngôn Sứ: lãnh nhận sứ vụ mà không thể thoái thác, phân biệt ý muốn của Thiên Chúa ngược lại với ý muốn của phàm nhân, nhất mực trung thành loan báo sứ điệp của Thiên Chúa mà không nhận được bất cứ điều gì ngoài những lời nhục mạ và cam chịu vì không được ai hiểu.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a phân trần với Thiên Chúa về ơn gọi bất khả kháng của mình:
“Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con,
và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.
Suốt ngày con đã trở nên trò cười cho thiên hạ để họ nhạo báng con” (20: 7).
Vốn bản tính hiền hòa, đa cảm và không muốn làm mất lòng một ai, ấy vậy ông phải trung thành loan báo những sứ điệp của Thiên Chúa, ngược lại với con người của ông và những kỳ vọng của những người đương thời với ông. Vì thế, ông rất khổ tâm và không ngừng bị các giới lãnh đạo cả đời lẫn đạo cũng như dân chúng sỉ nhục và chế giễu suốt ngày:
“Mỗi lần nói năng là con phải la lớn,
phải kêu lên: ‘Bạo tàn! Phá hủy!’
Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày” (20: 8)
Đó thật sự là một sự thử thách nặng nề mà ông phải gánh chịu vì sứ mạng của mình. Đôi lần ông muốn thoái thác sứ mạng ấy:
“Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người,
cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa” (20: 9a)
Ông đã phải ra sức cố kiềm nén lại, nhưng vô ích, không sao cưỡng kháng được:
“Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa cháy bừng trong tim,
ầm ỉ trong xương cốt.
Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được” (20: 9b)
Không bản văn nào hơn bản văn nầy giúp chúng ta thấu hiểu bản chất ơn gọi ngôn sứ, nguồn gốc thần linh của nó, và đồng thời quyền năng của nó ngự trị tận cõi thâm sâu nhất của con người. Ngôn sứ Giê-rê-mi, bị người đời ruồng bỏ, quay về với Thiên Chúa trong một lời khẩn nguyện khôn nguôi, dưới hình thức đối thoại hay độc thoại rất cô động. Ông thật xứng danh là “cha của lời khẩn nguyện”. Cũng chính ông loan báo “giao ước mới được ghi khắc trong lòng” và cũng là người đầu tiên sống giao ước mới mà ông loan báo.

BÀI ĐỌC II (Rm 12: 1-2)

Với chương 12, khởi sự phần luân l‎ý của thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô ngỏ lời với toàn thể cộng đoàn tín hữu Rô-ma (dù họ xuất thân từ đâu, Do thái hay dân ngoại). Trong phần nầy, thánh Phao-lô vừa mới ca ngợi lòng xót thương vô bờ của Thiên Chúa, vì thế thánh nhân khai triển chủ đề nầy. Trong phần trích dẫn hôm nay, chúng ta đọc thấy hai lời khuyên cô động của thánh nhân: “phụng thờ đích thật”“đổi mới tâm thần”.

1.Phụng thờ đích thật:

Trong lời khuyên thứ nhất: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”, thánh Phao-lô đối lập “của lễ sống động”, tức là cả một đời sống được dâng hiến cho Thiên Chúa, với “của lễ chết”, tức là những tế vật được hiến dâng thành hy lễ trên bàn thờ. Tất cả cuộc đời Ki-tô hữu phải là một đời phụng vụ, đó mới thật sự là “của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”. Thánh Phao-lô đã áp dụng từ ngữ tế tự vào chính bản thân mình. Thánh nhân xem sứ vụ của mình như một hành vi tế tự như trong lời kết của thư gởi tín hữu Rô-ma nầy: “Ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi là làm người phục vụ Đức Giê-su Kitô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hóa mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 15: 16). Trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lo ám chỉ đến cái chết gần kề của mình khi viết: “Nhưng nếu tôi phải đổ máu ra hợp làm một với hy lễ mà anh em lấy đức tin dâng lên Thiên Chúa, thì tôi vui mừng và chia sẻ niềm vui với tất cả anh em” (Pl 2: 17).
Dâng hiến chính bản thân mình lên Thiên Chúa, đó là “cách thế xứng hợp để anh em thờ phượng Thiên Chúa”. Tỉnh từ Hy lạp “logikon”, được dịch “xứng hợp”, thuộc về từ ngữ tôn giáo Do thái hay Hy lạp, được dùng để đánh dấu một sự khác biệt giữa tế tự hình thức và tế tự đòi hỏi dấn thân toàn thể con người. Tế tự đòi hỏi dấn thân toàn thể con người là cách thức phụng thờ Thiên Chúa xứng hợp nhất.

2.Đổi mới tâm thần:

Lời khuyên thứ hai nhắm đến việc đổi mới tâm thần: “Anh em đừng có rập theo đời này, những hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần”. Việc đổi mới tâm thần đòi hỏi hai chuyển động đồng lúc: đừng rập khuôn theo đời nầy nhưng hãy cải biến con người mình.
Do thái giáo phân biệt thế giới hiện tại và thế giới sắp đến: vương quốc Thiên Chúa. Đối với thánh Phao-lô, thế giới hiện tại là thế giới tội lỗi, thế giới ngoại giáo. Đối với thế giới nầy, người tín hữu phải có thái độ không theo thời, không tìm cách thích nghi với đời. Đó thật sự là một thử thách khủng khiếp thường ngày đối với các Kitô hữu hiện sống trong thủ đô của Đế Quốc Rô-ma. Thánh Phao-lô sẽ không ngừng lập đi lập lại: Hãy trở nên một con người mới “hầu có thể nhận ra đâu là ý muốn của Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo”.

TIN MỪNG (Mt 16: 21-27)

Tin Mừng của Chúa Nhật nầy nối tiếp với Tin Mừng của Chúa Nhật tuần trước. Sau khi đã nghe lời tuyên xưng của thánh Phê-rô: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Đức Giê-su nghĩ rằng đây là giây phút thuận tiện để dẫn đưa các môn đệ của mình vào mặc khải mầu nhiệm của Ngài: đây là lần đầu tiên (sẽ còn hai lần khác nữa) Chúa Giê-su loan báo cho chỉ một mình các môn đệ thân tín của Ngài cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài: “Người phải chịu nhiều đau khổ, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Mỗi lần loan báo về cái chết của mình, Ngài luôn liên kết viễn cảnh Tử Nạn của Ngài với biến cố Phục Sinh.
Điều tất yếu mà Đức Giê-su nêu lên ở đây: “Người phải…”, không phải là cái tất yếu của một định mệnh, nhưng là cái tất yếu thuộc trật tự thần học, cái tất yếu của kế hoạch Thiên Chúa. Cuộc Tử Nạn không là một tai nạn mà biến cố Phục Sinh sẽ đền bù, nhưng dự phần vào mầu nhiệm cứu độ con người. Đức Giê-su không cho các môn đệ bất cứ giải thích nào khác ngoài cái tất yếu “phải” nầy (tất cả các từ “phải” quan trọng của Tân Ước đều quy về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa).

1.Phản ứng của Thánh Phê-rô:

Chúng ta hiểu phản ứng của thánh Phê-rô. Thánh nhân quan niệm về Đấng Ki-tô (Mê-si-a) vinh quang và toàn thắng. Trong tư tưởng của thánh nhân, những viễn cảnh về một vị vua Ki-tô trần thế bách chiến bách thắng chắc chắn vẫn còn hiện diện.
Rất tế nhị, thánh Phê-rô kéo Thầy mình ra khỏi các bạn đồng môn và nói riêng với Thầy: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” Chắc chắn thánh nhân lầm khi muốn lôi kéo cả Thiên Chúa vào việc gìn giữ Thầy mình cho “tai qua nạn khỏi”. Tuy nhiên, tiếng kêu của thánh nhân không chỉ bày tỏ những kỳ vọng mà ông đặt vào Đức Giê-su, nhưng cũng gói trọn tấm lòng yêu mến của ông đối với Thầy mình. Chắc chắn chúng ta không thể nào chấp nhận người mình yêu mến phải chịu đau khổ và phải chết.

2.Phản ứng của Đức Giê-su:

Tuy nhiên, thánh Phê-rô gặp phải một phản ứng quyết liệt của Chúa Giê-su. Trước đây, Chúa Giê-su đã phản kháng triệt để cơn cám dỗ của Xa-tan trong hoang địa khi nó ra sức thuyết phục Ngài thực hiện sứ mạng của một Đấng Ki-tô đầy quyền năng chứ không một Người Tôi Trung chịu đau khổ: “Xa-tan, hãy xéo đi”, giờ đây Ngài cũng đáp lại thánh Phê-rô cũng tương tự như thế: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy”. Từ “Xa-tan” theo tiếng Híp-ri có nghĩa “kẻ cản lối”, tự nguồn gốc là một danh từ chung.
Với diễn ngữ: “lui lại đằng sau Thầy”, Đức Giê-su không xua đuổi vị tông đồ, nhưng mời gọi thánh nhân hãy sống trong tư thế của người môn đệ chứ không tìm cách cản lối Thầy. Ngài muốn thánh Phê-rô hiểu rằng đức tin mà ông đã tuyên xưng, cuộc tấn phong mà ông đã lãnh nhận, đòi hỏi ông phải dứt khoát dấn thân trọn vẹn vào trong cùng một vận mệnh với Ngài. Ngay lúc đó, quay về các môn đệ, Ngài cũng nói với họ một cách như thế: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”

2.Theo Đức Giê-su:

Sau nầy, mỗi lần gợi lên cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài, Đức Giê-su đều liên kết số phận của các môn đệ vào với vận mệnh Ngài, yêu cầu họ bước đi trên cùng một con đường của Ngài.
Khi sử dụng hình ảnh “thập giá”, không phải Đức Giê-su không gợi lên ở nơi các môn đệ của Ngài tất cả ý nghĩa của từ nầy sao? Trước đây, thánh Mát-thêu đã gợi lên hình ảnh thập giá nầy rồi: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10: 38). Hình phạt đóng đinh vào thập giá được chính quyền Rô-ma hành hình tập thể đã xảy ra ở Giê-ru-sa-lem rồi. Thánh Lu-ca, trong một bản văn đối chiếu, đã thêm diễn ngữ chỉ thời gian: “hằng ngày” vào diễn ngữ “vác thập giá” đem lại cho lời công bố của Đức Giê-su nghĩa bóng: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9: 23), nghĩa là chấp nhận mọi gian nan khốn khó xảy ra hằng ngày trong cuộc đời.

3.Bài học của mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh:

 Lời khẳng định của Đức Giê-su: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” được cả bốn tác giả Tin Mừng ghi lại, thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca đến hai lần (Mt 10: 38; 16: 25; Mc 8: 35; Lc 9: 24; 17: 33; Ga 12: 25). Một âm vang sâu đậm như thế hàm chứa rằng họ đã hiểu tất cả ‎ý nghĩa của lời công bố này và ghi khắc lời công bố này vào lòng như một bài học lớn lao về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô. Theo bối cảnh của những lần báo trước cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, cái chết của Ngài không bao giờ là dấu chấm hết, nhưng mở ra sự sống, bởi vì cuộc Tử Nạn và Phục Sinh là kế hoạch Chúa Cha hoạch định cho Con của Ngài để cứu độ muôn người, như chính Đức Giê-su công bố: “Mạng sống của tôi không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10: 18).
Thánh Mát-thêu viết những lời nầy trong bối cảnh của những năm 80, bối cảnh của những bách hại khắc nghiệt nhất, người tín hữu nào liều mất mạng sống mình vì Đức Giê-su và Tin Mừng, chính là đảm bảo cho mình một cuộc sống trong Vương Quốc Nước Trời.

4.Đối lập giữa sự sống trần thế với sự sống Nước Trời:

Lời công bố của Đức Giê-su: “Vì nếu người ta được cả thế giới, mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” để lại sự phân vân cho người đọc, bởi vì nó diễn tả điều quá thường tình. Tin Mừng không quen với những kiểu nói tầm thường như vậy. Có vấn đề về ngôn ngữ ở đây. Chữ “mạng sống” được dịch từ tiếng Hy lạp: “psyché” có nghĩa “linh hồn”, như cách dịch truyền thống: “Vì nếu người ta được cả thế giới, mà phải thiệt mất linh hồn, thì có lợi gì?”. Bản dịch hiện nay chọn từ “mạng sống” thay cho “linh hồn” bởi vì chữ “linh hồn” gợi lên nhị nguyên thuyết Hy-lạp, xa lạ với tư tưởng Kinh Thánh. Thực ra, Đức Giê-su đã sử dụng tiếng “sinh khí” như trong sách Sáng Thế: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh linh” (St 2: 7). Rõ ràng ở đây Đức Giê-su đối nghịch việc sở hữu của cải vật chất – mà diễn ngữ “người ta được cả thế gian” gói trọn tất cả ý nghĩa nầy – với việc thiệt mất của cải tinh thần, thiệt mất “mạng sống”, được hiểu theo nghĩa mạnh: “sự sống đời đời”. Vì thế, bản dịch sát ‎ý nghĩa nhất phải là: “Vì nếu người ta được cả thế gian, mà phải thiệt mất ơn cứu độ của mình, thì có lợi gì?”. Câu hỏi mà Đức Giê-su nêu lên: “Người ta sẽ lấy gì mà đổi lấy mạng sống mình?”, cũng diễn tả theo cùng một tư tưởng: “ơn cứu độ” đời đời, vô giá. Vả lại, Đức Giê-su kết hợp viễn cảnh chung cuộc nầy với ngày Quang Lâm của Ngài: “Bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”.
Vì thế, để sở hữu Sự Sống Đích Thật, một con đường duy nhất được ban cho các môn đệ - và sau họ, cho tất cả các Kitô hữu không gì khác ngoài việc noi gương Đức Giê-su, từ bỏ chính mình, như Ngài, cho đến chết. Lời khẳng định nghiêm túc, không hoa mỹ, nhưng chan chứa niềm hy vọng vinh quang. Chúng ta ghi nhận rằng Đức Giê-su không đòi buộc nhưng đề nghị: “Ai muốn …”.


Về đầu trang

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây