Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 TN-A Bài 51-100 Chúa Giêsu chịuphép

Thứ ba - 07/01/2020 08:13
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 TN-A Bài 51-100 Chúa Giêsu chịu phép rửa
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 1 TN-A Bài 51-100 Chúa Giêsu chịu phép rửa
TN1-A51. LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA.. 2
TN1-A52. Chọn lựa. 4
TN1-A53. Chúa Giêsu chịu phép rửa. 5
TN1-A54. Chúa Giêsu chịu phép rửa. 7
TN1-A55. DÒNG SÔNG NHỎ.. 8
TN1-A56. THẤY, BIẾT RỒI LÀM CHỨNG.. 10
TN1-A57. THIÊN CHÚA RẤT KHIÊM NHƯỜNG.. 12
TN1-A58. NẦY LÀ CON YÊU DẤU CỦA TA.. 14
TN1-A59. VÂNG THEO Ý CHA.. 15
TN1-A60. HIẾN THÂN VÌ YÊU.. 16
TN1-A61. MẦU NHIỆM YÊU THƯƠNG.. 18
TN1-A62. DÒNG SÔNG SÁM HỐI 20
TN1-A63. Một Cuộc Hiển Linh Nhiều Ý Nghĩa. 22
TN1-A64. Lễ Ta Hài Lòng về Người 26
TN1-A65. Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong sứ vụ của Chúa Giê-su. 30
TN1-A66. Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa. 31
TN1-A67. CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA.. 35
TN1-A68. LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA.. 38
TN1-A69. CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA.. 42
TN1-A70. LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA.. 44
TN1-A71. Nét chim thần trong chất máu Việt 46
TN1-A72. DÒNG SÔNG CỨU ĐỘ.. 49
TN1-A73. Phép rửa của đức mến. 51
TN1-A74. Đức tin và cuộc sống. 53
TN1-A75. Suy niệm lễ Hiển Linh. 55
TN1-A76. Tầng trời mở ra. 58
TN1-A77. Lễ Chúa Chịu Phép Rửa. 59
TN1-A78. ƯỚC MƠ VÀ HY VỌNG.. 61
TN1-A79. CHÚA GIÊ SU CHỊU PHÉP RỬA, 63
TN1-A80: KHIÊM NHƯỜNG, LIÊN ĐỚI ĐỂ CỨU ĐỘ.. 65
TN1-A81: KHIÊM TÔN VÂNG PHỤC NHƯ CON THẢO.. 69
TN1-A82: LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA, năm A.. 72
TN1-A83: PHÉP RỬA.. 73
TN1-A84: CHỊU DÌM NHƯ ĐỨC KI TÔ.. 76
TN1-A85: Dấu Thánh Giá. 79
TN1-A86: Dòng sông Chúa dẫn tôi về. 80
TN1-A87: Người Con yêu dấu. 82
TN1-A88: Chúa Giêsu chịu phép rửa. 86
TN1-A89: Chúa Giêsu chịu phép rửa – Damiano. 88
TN1-A90: Chúa Giêsu chịu phép rửa. 90
TN1-A91: Khai mở thời đại mới – Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 92
TN1-A92: Lời chứng của Gioan. 95
TN1-A93: Tiếng Chúa. 97
TN1-A94: Suy niệm của nhóm Đồng Hành. 99
TN1-A95: Con Thiên Chúa và những người tội lỗi 100
TN1-A96: Chúa Giêsu chịu phép rửa. 106
TN1-A97: GIỮ TRỌN ĐỨC CÔNG CHÍNH…... 108
TN1-A98: SỨ VỤ MỚI 110
TN1-A99: NGƯỜI VÂNG PHỤC CHO TRỌN ĐẠO.. 115
TN1-A100: CÚI MÌNH XUỐNG.. 117

 

TN1-A51. LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

Anh chị em thân mến
 

Với lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay, mùa Giáng sinh đã kết thúc. Hài đồng Giêsu mà các đạo sĩ đến:TN1-A51

Với lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay, mùa Giáng sinh đã kết thúc. Hài đồng Giêsu mà các đạo sĩ đến thờ lạy tại Bêlem cùng với các lễ vật, thì hôm nay đã lớn và đến chịu phép rửa của ông Gioan tại sông Giorđanô (xc Mt 3,13). Sách Tin mừng ghi nhận rằng sau khi đức Giêsu đã chịu phép rửa và ra khỏi nước, thì trời mở ra và Thần khí của Chúa đáp xuống trên Người như một chim bồ câu (xc Mt 3,16). Thế rồi người ta nghe một tiếng từ trời nói rằng: “Đây là con rất yêu quý của Ta, Ta rất hài lòng vì Người” (Mt 3,17). Đây là lần đầu tiên đức Giêsu xuất hiện công khai, sau 30 năm sống ẩn dật tại Nazareth. Trong số những chứng nhân của sự kiện độc đáo này, ngoài ông Gioan Tẩy giả ra, còn có các môn đệ của ông ta, và một số đã trở thành đồ đệ của đức Kitô (xc Ga 1,35-40). Như vậy biến cố Hiển linh vừa là sự tỏ hiện của Thiên Chúa vừa sự tỏ hiện của đức Kitô. Đức Giêsu tỏ ra như là Kitô: trong tiếng Hy lạp, Kitô (Christos, tương đương với Mêsia trong tiếng Do thái) có nghĩa là “kẻ được xức dầu”. Đức Giêsu được xức dầu không theo kiểu như các vua và thượng tế của dân Israel, nhưng là do Thánh Linh. Đồng thời, cùng với sự tỏ hiện của Con Thiên Chúa thì cũng tỏ hiện những dấu hiệu của Thánh Linh và Chúa Cha.

Đức Giêsu đã đến chịu phép rửa để tuân theo ý định của Chúa Cha, bất chấp thái độ do dự của ông Gioan (xc Mt 3,14-15). Ý nghĩa của hành vi này là gì? Ý nghĩa sâu xa của việc này sẽ được tỏ lộ vào lúc cuối đời dương thế của đức Giêsu, nghĩa là vào lúc chết và phục sinh. Khi đến chịu phép rửa của ông Gioan cùng với bao nhiêu người tội lỗi khác, Đức Giêsu bắt đầu gánh vác tội lỗi của toàn thể nhân loại, như là Chiên Thiên Chúa xoá tội trần gian (xc Ga 1,29). Người sẽ hoàn tất công cuộc này ở trên thập giá, khi mà chính người sẽ lãnh một phép rửa khác nữa (xc Lc 12,50). Thực vậy, khi hiến mạng sống của mình, Người đã “dìm mình” trong tình yêu của Chúa Cha, và trút đổ Thánh linh, ngõ hầu những ai tin vào Người thì có thể tái sinh vào nguồn mạch vô tận của cuộc sống mới và vĩnh cửu. Tất cả sứ mạng của Đức Kitô có thể tóm lược như thế này: thanh tẩy chúng ta trong Thánh Linh, ngõ hầu giải thoát chúng ta khỏi nô lệ của sự chết và “mở cửa trời” cho chúng ta, nghĩa là cho chúng ta đạt được sự sống đích thực và sung mãn, được chìm ngập trong sự sống bất diệt, và đầy tràn hạnh phúc (Spe salvi, 12).

Đó là điều đã diễn ra cho 13 em bé mà tôi đã ban bí tích thánh tẩy sáng hôm nay trong nguyện đường Sixtina. Chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ gìn giữ các em và thân nhân các em. Chúng ta cũng hãy cầu cho tất cả mọi người Kitô hữu, ngõ hầu họ am hiểu hồng ân của bí tích Thánh Tểy, và nỗ lực sống bí tích ấy cách xứng hợp qua việc làm chứng cho tình thương của Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Linh.

Sau phép lành Toà thánh, đức Bênêđictô XVI nói thêm đôi lời nhân ngày Quốc Tế di dân như sau:

Hôm nay là ngày Thế giới dành cho những người di cư và tị nạn. Năm nay chủ đề hướng đến các thanh niên di dân. Thực vậy trong số người di dân, số lớp người trẻ khá cao. Họ buộc lòng phải rời xa gia đinh và quê hương bởi nhiều lý do khác nhau. Những thành phần gặp nguy hiểm hơn hết là các thiếu nữ và trẻ em. Một số nhi đồng và thiếu niên đã chào đời và lớn lên trong các trại định cư: những người này cũng có quyền lợi được có một tương lai sáng sủa. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những ai đang dấn thân bảo vệ giới trẻ tị nạn, cùng với gia đình của họ, và tìm cách đưa họ vào hội nhập với xã hội và tìm công ăn việc làm. Tôi xin mời gọi các cộng đoàn Giáo hội hãy niềm nở tiếp đón các người trẻ tị nạn, cùng với cha mẹ của các em, bằng cách hiểu biết câu chuyện của họ và giúp cho họ được hội nhập vào xã hội. Các bạn trẻ tị nạn thân mến. Các bạn hãy cố gắng, cùng với những người cùng lứa tuổi, xây dựng một xã hội công bằng và huynh đệ hơn; các bạn hãy chu toàn những nghĩa vụ của mình, tôn trọng luật pháp, và đừng để bị lôi kéo vào vòng bạo lực. Tôi xin ký thác các bạn cho Đức Maria, người mẹ của toàn thể nhân loại.

Như đã nói trên đây vào lúc 10 giờ sáng, đức thánh cha đã cử hành thánh lễ trong nguyện đường Sixtina, và ban bí tích rửa tội cho 13 em bé, con cái của những nhân viên làm việc tại Vatican. Ngoài cha mẹ và những người đỡ đầu tham dự nghi lễ, một chỗ đặc biệt cũng được dành cho anh chị của các bé, cách riêng khi mang lễ vật lên bàn thờ.

Trong bài giảng, đức thánh cha đã suy niệm cách riêng về đề tài sự sống. Các em bé ra đời đã lãnh nhận sự sống. Với việc lãnh bí tích, các em nhận được sự sống mới, sự sống của ân sủng, sống trong tương quan với Thiên Chúa, sự sống sẽ không bao giờ tàn. Tiếc rằng, con người có thể làm tắt ngúm sự sống mới này do tội lỗi, đi đến tình trạng mà Kinh thánh mô tả như là “chết lần thứ hai”. Đang khi con người được mời gọi vào sự sống vĩnh cửu, thì tội lỗi đã tạo ra một hố thẳm vùi dập chúng ta mãi mãi. Vì thương yêu chúng ta, Thiên Chúa đã nghiên mình xuống, giơ tay ra để lôi kéo chúng ta ra khỏi vực chết, và đưa chúng ta vào ánh sáng. Tất cả chúng ta đều mong mỏi sống sung mãn, sống hạnh phúc. Chúng ta có thể lãnh nhận sự sống đó khi đón nhận hồng ân Chúa ban qua việc lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Mầm sống này cần được bồi dưỡng phát triển, nhờ sự đóng góp của cha mẹ, các người đỡ đầu, cộng đoàn Giáo hội. Trong nghi thức cử hành bí tích, vị chủ sự trao cho cha mẹ và người đỡ đầu ngọn đèn, với lời khuyên nhủ hãy gìn giữ nó luôn được thắp sáng. Đó là biểu tượng của việc vun trồng sự sống ân sủng, qua việc lắng nghe lời Chúa, cầu nguyện, tham dự bí tích, thực hành các nhân đức.

Bình Hòa

 

TN1-A52. Chọn lựa

Chúa Giêsu chịu thanh tẩy hẳn không phải là để thú nhận tội lỗi. Tin Mừng cho thấy: Là: TN1-A52

Chúa Giêsu chịu thanh tẩy hẳn không phải là để thú nhận tội lỗi. Tin Mừng cho thấy: Là người Do Thái, Chúa Giêsu đã giữ trọn tất cả những gì lề luật đòi hỏi nơi một người Do Thái. Sinh ra được 8 ngày, Ngài đã chịu phép cắt bì. Rồi khi đã đủ ngày, Ngài được dâng tiến cho Thiên Chúa tại đền thờ. Và năm 12 tuổi, Ngài đã theo cha mẹ đi Giêrusalem vào những dịp lễ lớn. Vì thế, chúng ta cũng không ngạc nhiên khi Chúa Giêsu xuất hiện bên bờ sông Giođan để chịu phép rửa.
Tuy nhiên, đọc lại Tin Mừng chúng ta có thể nhận ra điều này là tuy tham dự tất cả những nghi lễ theo luật dạy, nơi Chúa Giêsu vẫn có một cái gì khác, vượt ra ngoài điều các nghi lễ muốn ám chỉ, khiến cho những nghi lễ ấy có một cái gì mới mẻ hơn, hoàn thiện hơn.
Chẳng hạn khi Ngài chịu cắt bì và được đặt tên. Nhưng tên được đặt cho Ngài lại là tên do thiên thần gọi trước khi Ngài đầu thai trong lòng mẹ. Khi tiến dâng nơi đền thờ, Ngài đã được đón chào như ánh sáng chiếu soi muôn dân.
Hiện tượng vượt khung này lại càng tỏ rõ hơn qua việc Chúa chịu phép rửa ngày hôm nay. Thực vậy Tin Mừng cho chúng ta thấy có sự tương phản giữa Gioan và Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là người đến sau nhưng lại là người quyền thế hơn, mạnh sức hơn. Còn Gioan người đi trước thì chỉ là kẻ tôi tớ, không xứng đáng cởi dây giày cho Ngài. Việc thanh tẩy của Gioan chỉ là một thứ thanh tẩy bằng nước, trong khi đó việc thanh tẩy của Chúa Giêsu lại chính là thanh tẩy bằng Chúa Thánh Thần.
Tuy nhiên, chóp đỉnh của sự kiện này đó là việc giới thiệu Chúa Giêsu, Đấng vừa chịu phép rửa, là Con Thiên Chúa, Đấng sẽ đến để cứu chuộc nhân loại. Đúng thế, công cuộc cứu chuộc không thể được hiểu như một cái gì có thể đạt được qua công nghiệp, nhưng qua cuộc sống. Chúa Giêsu đã sống ơn cứu chuộc nơi mình Ngài. Bởi đó, Ngài đã xuống sông Giocđan như mọi kẻ tội lỗi khác, nhưng lại với tính cách là Con Thiên Chúa. Cả cuộc hành trình cứu chuộc được thu gọn lại nơi việc Chúa Giêsu chịu thanh tẩy.
Sở dĩ như vậy là vì các chi tiết trong việc thanh tẩy đã gợi lại những gì diễn ra trong những giây phút cuối cùng của Chúa Giêsu: Ngài xuống dưới nước như xác Ngài bị chôn trong mồ. Trời mở ra như bức màn của đền thờ bị xé. Thánh Thần đáp xuống với tiếng từ trời phán ra gợi lại việc Chúa phục sinh, ngự bên hữu Đức Chúa Cha và sai Chúa Thánh Thần xuống.
Với chúng ta cũng vậy, là người Kitô hữu, chúng ta đã được chịu phép thanh tẩy, không phải bởi tay Gioan, nghĩa là bằng nước, mà từ sự chết và sống lại của Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Phép thanh tẩy này không chỉ là một nghi lễ tẩy sạch tội tổ tông, mà còn là một biến cố mở đầu cho một cuộc hành trình, hay nói đúng hơn, một cuộc đấu tranh và chiến thắng tội lỗi. Như thế, con đường cứu rỗi là một sự lựa chọn dứt khoát: chọn Thiên Chúa thay vì ma quỷ, chọn điều thiện thay vì điều ác. Phép thanh tẩy như thế không phải chỉ là một bí tích được chịu một lần rồi thôi, mà còn là chính cuộc sống người Kitô hữu nữa.

 

TN1-A53. Chúa Giêsu chịu phép rửa

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
 

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, đánh dấu sự xuất hiện: TN1-A53

Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, đánh dấu sự xuất hiện công khai và bắt đầu cuộc đời rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa của Ngài. Chúng ta biết rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngài xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại và là Đấng hoàn toàn vô tội, nghĩa là không vướng một khuyết điểm hay một tội lỗi nào. Ngài bị cám dỗ nhưng không bị sa ngã. Vậy mà trong bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu lại đến với Gioan để xin lãnh nhận phép rửa. Theo suy luận bình thường, thì Ngài đâu phải lãnh phép rửa của Gioan, vì phép rửa là một dấu hiệu sám hối chỉ dành cho kẻ có tội. Có tội mới cần sám hối, có nhơ bẩn mới cần tẩy rửa, và chính Gioan Tẩy Giả cũng đã thắc mắc điều này. Nhưng ở đây, việc Chúa Giêsu chịu phép rửa của Gioan mang một ý nghĩa đặc biệt. Cá nhân Ngài hoàn toàn vô tội nhưng Ngài mang một sứ mạng là gánh tội trần gian và chịu chết để đền tội cho nhân loại. Nếu Ngài chịu chết để đền tội thay cho toàn thể nhân loại chứ không phải cho riêng Ngài thì cũng vậy, Ngài lãnh nhận phép rửa của Gioan là để lòng sám hối cho cả nhân loại chứ không phải cho bản thân Ngài, vì Ngài luôn luôn và mãi mãi là Đấng hoàn toàn vô tội.
Nếu khởi đầu cho mầu nhiệm nhập thể, Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã chấp nhận mang một thân xác yếu hèn, thì khởi đầu cho một sứ mạng công khai Ngài chấp nhận cho một thân phận tội lỗi, thân phận của người tôi tớ mà đã được ngôn sứ Isaia diễn tả trong bài đọc I: “Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn”. Và đó cũng chính là thân phận của người Con yêu dấu mà Chúa Cha hài lòng về Người. Thánh Giám mục Maximo đã nói: “Nếu Ngài giáng sinh, Ngài sinh ra làm Người từ một trinh nữ thì hôm nay, Ngài sinh ra trong bí tích của mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa”.
Khi tầng trời được mở ra với sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần qua hình ảnh chim bồ câu và tiếng nói của Chúa Cha. Chúa Giêsu đến sông Giođan và Ngài muốn thanh tẩy trong giòng nước không phải để giòng nước thánh hóa Ngài, nhưng để Ngài thánh hóa giòng nước. Và từ đây, giòng nước mang một ý nghĩa thanh tẩy mới trong bí tích rửa tội của Gioan. Khi Ngài bị dìm xuống thì chúng ta được cứu vớt, nhưng khi Ngài bị treo lên chúng ta được giải thoát và khi Ngài chịu chết thì chúng ta được cứu sống.
Việc Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay nhắc chúng ta xác tín hơn vào mầu nhiệm nhập thể làm người của Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô đang ở giữa chúng ta, một Thiên Chúa đã kết thân với con người và gần gũi với nhân loại. Tầng trời bị che lấp bởi tội lỗi nay được mở ra với Đấng Cứu Thế để Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Đấng mà Chúa Cha yêu thương và gọi là “Con Yêu Dấu”. Chính biến cố này còn nhắc nhở chúng ta về ơn phép Rửa Tội mà chúng ta đã lãnh nhận. Chúng ta được tái sinh để trở nên người mới, nghĩa là chúng ta đã thực sự trở nên con cái của Thiên Chúa, đồng thừa tự với Chúa Giêsu. Chúng ta không còn phải là kẻ xa lạ mà là người nhà của Thiên Chúa. Vì chính qua bí tích Thánh Tẩy chúng ta đã được tháp nhập làm chi thể mà Chúa Giêsu là Đầu, chúng ta còn được tham dự vào các chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Giêsu. Những gì Chúa Giêsu đã sống như là “Con Yêu Dấu” duy nhất của Chúa Cha thì tất cả loài người chúng ta cũng đang được mời gọi như thế để sống đúng với con cái của Thiên Chúa.
Xin cho mỗi người chúng ta luôn luôn sống vững mạnh với đức tin để chúng ta mãi mãi là con yêu dấu của Thiên Chúa.

 

TN1-A54. Chúa Giêsu chịu phép rửa.

Một biến cố quan trọng, một lời tuyên bố chính thức từ trời cao đóng ấn vào công cuộc cứu: TN1-A54

Một biến cố quan trọng, một lời tuyên bố chính thức từ trời cao đóng ấn vào công cuộc cứu thế của Ngôi Lời đã xảy ra trong hoang địa vắng vẻ, qua sự khiêm nhường và hạ mình của hai người trong cuộc là Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu. Đang lúc toàn dân nóng lòng chờ đợi Đấng Mêsia, thì Gioan xuất hiện rao giảng thanh tẩy thống hối để được tha thứ tội lỗi. Nhìn vào đời sống thánh thiện và khổ hạnh của Gioan, dân chúng đã lầm tưởng ông là Đấng Mêsia, nên đã vội tuôn đến với ông. Để tránh sự ngộ nhận đó, ông đã vội vàng cải chính: “Sẽ đến sau tôi, Đấng quyền thế hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi giây giầy Ngài”.
Thế nhưng khi Chúa Cứu thế Giáng sinh ở Belem thì chẳng có ai nhận ra Ngài, ngoại trừ các mục đồng và các đạo sĩ.
Các sách Tin Mừng không nói nhiều về thời niên thiếu của Chúa Giêsu tại Nazarét. Điều đó cho thấy quãng thời gian 30 năm ẩn dật của Chúa vẫn là thời gian bị quên lãng. Nhưng rồi một ngày kia, Ngài xuất hiện công khai ở bờ sông Giodan, nơi Gioan đang làm phép rửa, lúc đó Ngài đã 30 tuổi.
Chúa đến với Gioan và xin ông làm phép rửa cho mình. Được ơn soi sáng. Gioan biết mình đang đứng trước mặt Đấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần, nên ông đã từ chối: “Chính tôi cần được Ngài thanh tẩy cho, thế mà Ngài lại đến với tôi”. Nhưng Chúa Giêsu đã thuyết phục Gioan hãy làm theo thánh ý Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu vừa lên khỏi nước, thì trời mở ra và Thánh Thần Chúa lấy hình bồ câu đậu xuống trên Ngài, và có tiếng tự trời: “Con là Con chí ái của Ta, kẻ Ta đã sủng mộ”.
Phép rửa mà Chúa Giêsu đã lãnh nhận đã khai mào cho sứ vụ và con đường cứu thế của Ngài: con đường của người tôi tớ đau khổ. Mỗi kitô hữu chúng ta cũng đã lãnh nhận phép rửa trong Chúa Thánh Thần, nhờ đó chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa. Phép rửa đó đã biến chúng ta thành một tạo vật mới, và chính cuộc sống mới này đòi hỏi chúng ta phải đi vào con đường của Chúa Giêsu: trở thành tôi tớ của Thiên Chúa, đồng thời trở thành tôi tớ mọi người, hiến thân phục vụ vì hạnh phúc của mọi người.

 

TN1-A55. DÒNG SÔNG NHỎ

Khi Minh Sư trở nên già yếu và bệnh tật, các đệ tử van xin ngài đừng sớm lìa trần.  Minh Sư: TN1-A55

Khi Minh Sư trở nên già yếu và bệnh tật, các đệ tử van xin ngài đừng sớm lìa trần.
Minh Sư bảo họ: "Nếu như thầy không rời xa các con, làm sao các con thấy được?"
Các đệ tử hỏi lại: "Chúng con không thấy được cái gì khi thầy còn với chúng con?"
Nhưng Minh Sư im lặng, ngài không nói lời nào. Khi ngài sắp lìa trần, một lần nữa các đệ tử hỏi thêm: "Chúng con sẽ thấy được gì khi thầy đã ra đi?"
Với một cái chớp mắt, Minh Sư nói: "Tất cả những gì thầy đã làm là ngồi bên bờ sông và phân phát nước sông. Sau khi thầy ra đi, chắc chắn các con sẽ nhìn thấy giòng sông…"
(Anthony de Mello, trích trong “One Minute Wisdom”)
***
Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa nhật thứ I mùa Thường niên hôm nay cũng nhắc đến một dòng sông có tên là sông Gio-đan, nơi Chúa Giêsu đã đến sau 30 năm sống âm thầm ẩn dật ở Nazareth. Bên dòng sông này, Chúa Giêsu đã chịu Phép Rửa từ tay Gioan Tẩy giả để bắt đầu sứ vụ rao giảng công khai về Nước Thiên Chúa.
Việc Chúa Giêsu chịu Phép Rửa từ tay Gioan là sự hạ mình sâu thẳm và là một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Cựu ước và Tân ước. Biến cố này không chỉ loan báo trước cuộc khổ nạn của Đức Giêsu mà còn loan báo về sự phục sinh vinh quang của Người.
Nếu đem so sánh với sông Cửu Long mênh mông ghe thuyền qua lại thì dòng sông Gio-đan nơi Gioan làm phép rửa cho Đức Giêsu có thể gọi là con kênh nhỏ. Nếu đặt bên cạnh sông Hồng cuồn cuộn xiết chảy thì dòng sông Gio-đan chỉ là con lạch. Nếu đứng kề bên sông Hương thơ mộng lững lờ trôi thì Gio-đan chỉ là con suối nhỏ. Đứng bên bờ này sông Gio-đan ném hòn đá qua bờ kia, nó có thể đi xa hơn.
Thế mà Đức Giêsu đã chọn dòng sông bé nhỏ này, không phải như Môi-sen hay Giô-sua xưa kia giơ tay cho dòng nước rẽ đôi, nhưng để dìm mình xuống dòng sông nhỏ bé cùng với những tội nhân lãnh nhận phép rửa từ tay Gioan Tẩy Giả.
Thiên Chúa, Đấng cho Cửu Long giang tuôn chảy tưới mát đồng bằng miền Nam; Đấng cho sông Hồng tuôn nước lũ bồi đắp phù sa cho đồng bằng miền Bắc; Đấng cho Hương giang lững lờ lãng mạng gợi hồn thơ đã chọn dìm mình vào dòng nước Gio-đan bé nhỏ.
Trong các dòng sông nổi tiếng khắp thế giới thì dòng sông Gio-đan bé nhỏ ấy là dòng sông quen thuộc nhất đối với Kitô hữu chúng ta. Chính tại đây Đức Giêsu đã đến khai mạc sứ vụ công khai bằng cách đón nhận phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả.
Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” ( Mc.1,5) và chịu “phép rửa sám hối để được ơn tha tội” (Mc.1,4) lại có cả Đức Giêsu. Ngài là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối ? Ngài là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài” lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình được chịu thanh tẩy ?
Trong đêm Giáng Sinh chúng ta đã chứng kiến một Thiên Chúa hạ mình xuống làm người, sinh ra nơi hang đá máng cỏ, làm một người nghèo hèn bé nhỏ, dường như chưa đủ đối với tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa. Hôm nay, Người lại hạ mình xuống thêm một bậc nữa, xuống tận cùng xã hội nhân loại khi đến xin Gioan làm phép rửa cho mình như một người dân tầm thường và tội lỗi. Và đã xuống bậc tận cùng khi Chúa hạ mình thẳm sâu chấp nhận chết trên thập giá như một tên trộm cướp chỉ vì yêu thương.
Biết nói gì về Người bây giờ nếu không phải là cúi đầu cảm phục và tôn thờ sự khiêm hạ thẳm sâu của con Thiên Chúa làm người !
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan là lúc Tân - Cựu ước giao duyên, là lễ bàn giao giữa hai niên đại cũ và mới mà Chúa Giêsu và Gioan là đại biểu. Gioan, ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước gặp gỡ trao đổi bàn giao với Đức Kitô, vị ngôn sứ của thời kỳ mới.
Cuộc gặp gỡ này không phải là một cuộc tranh cãi dành ưu thế, nhưng thật thú vị tuyệt vời khi cả hai đại biểu đều khiêm nhường đón nhận nhau trong sứ vụ. Đức Giêsu từ tốn bước xuống dòng sông Gio-đan và xin Gioan làm phép rửa cho mình. Gioan hân hạnh xin Đức Giêsu rửa cho mình vì ông nhìn thấy đây mới chính là nhân vật ban phép rửa trong Thánh Thần như ông đã loan báo.
Nơi cuộc gặp gỡ lịch sử này, Thiên Chúa đã xuất hiện và chứng nhận. Lúc ấy các tầng trời mở ra, Thánh Thần hiên diện như chim bồ câu và có tiếng Chúa Cha tuyên phán: “Con là Con Ta yêu dấu”. Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ hiện vào chính lúc lịch sử của hai niên đại mới và cũ chuyển giao. Từ nay Đức Giêsu sẽ lên đường vào sứ vụ mới với niềm hy vọng mọi sự sẽ tốt đẹp theo thánh ý Chúa Cha.
Cuộc gặp gỡ giữa hai Đấng tại sông Gio-đan đã làm nên lịch sử và đã được Giáo hội chọn làm khởi điểm cho mùa thường niên là mùa phụng vụ cử hành các mầu nhiệm cuộc đời rao giảng Tin mừng của Chúa Giêsu.
Biến cố này không chỉ là cuộc bàn giao cũ mới mà còn là điểm giao duyên giữa trời và đất, giữa Thần khí và Nước, giữa Tân ước và Cựu ước. Từ nay nhân loại được tái sinh trong đời sống mới. Qua Bí tích Rửa tội của Chúa Giêsu, chúng ta nhận được ấn tín của Chúa Thánh Thần, trở nên con cái Thiên Chúa.
Chúa Giêsu chịu phép rửa từ tay Gioan là một sự hạ mình sâu thẳm, một sự khiêm nhường cao cả đã làm cho cửa trời mở ra, ân sủng tuôn đổ, ơn cứu độ được trao ban và lan truyền. Mỗi người Kitô qua bí tích rửa tội, được thần linh ngự xuống, được nghe tiếng Chúa Cha vang dội: “Này là con yêu dấu của Ta, Ta đặt trọn vẹn yêu thương trên con”. Và tâm hồn mỗi người trở nên Đền Thờ Ba Ngôi Thiên Chúa.
Ước mong mỗi tín hữu chúng ta luôn nhớ mình đã được xức dầu, được mặc áo trắng tinh tuyền, được trao nến sáng Phục sinh, được thanh tẩy trong nước và Thánh Thần để sống xứng đáng mỗi ngày mỗi hơn với ân huệ đã lãnh nhận.
LM. Giuse Nguyễn Hữu An
***
Lạy Chúa Giêsu, sám hối không phải là điều dễ dàng với sức lực của con người, bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn để nhận mình lầm lỗi. Chúng con ngỡ ngàng khi thấy Chúa là Thiên Chúa, là Ðấng Thánh mà lại đứng chung với các tội nhân, chờ Gioan ban phép rửa.
Chỉ vì muốn trở nên bạn đồng hành với thân phận mỏng dòn yếu đuối của con người. Chúa đã đứng chung với các tội nhân để làm gương cho tội nhân lãnh nhận phép rửa sám hối từ Gioan. Xin ban cho con ơn biết sám hối, biết thường xuyên sửa mình, biết thay đổi lối suy nghĩ và mạnh dạn để đi đến những hành động cụ thể trong cuộc sống hằng ngày của đời con. Amen
(BĐ1: Is 42, 1-4. 6-7 – BĐ2: Cv 10, 34-38 – PÂ: Mt 3, 13-17)

 

TN1-A56. THẤY, BIẾT RỒI LÀM CHỨNG

Trong cuộc sống, chúng ta quen nhiều người, nhưng biết thì ít hơn. Gioan cũng thế, trong bài: TN1-A56

Trong cuộc sống, chúng ta quen nhiều người, nhưng biết thì ít hơn.
Gioan cũng thế, trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, hai lần ông khẳng định: "Tôi đã không biết Người" (Ga.1:31-33). Cho đến khi làm phép rửa cho Ðức Giêsu, Gioan thú nhận mình vẫn chưa “biết” Ngài.
Dù Ðức Giêsu là bà con họ hàng của ông (Lc.1:36), dù ông đã có một số thông tin về Ngài, và dù ông biết Ngài cao trọng hơn mình (Mt.3:14), nhưng cái biết ấy, ông vẫn chưa coi là biết thật sự.
Ðược Thiên Chúa mách bảo, ông kiên nhẫn đợi chờ. Làm phép rửa trong nước là cách giúp ông khám phá ra Ðấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần.  Ai được Thần Khí ngự xuống và ở lại, Người ấy là “Đấng Thiên Chúa Tuyển Chọn”. Gioan đã thấy Thần Khí ở lại trên Ðức Giêsu lúc Ngài được ông làm phép rửa.  Bây giờ ông mới có thể nói: ông đã biết Ðức Giêsu. Ông đã “biết” sau khi ông đã “thấy”.
Nếu biết là đi vào một mầu nhiệm, thì mầu nhiệm ấy cứ vẫy gọi người ta tiến sâu hơn. Càng tiến sâu, cái biết càng được thanh luyện. Gioan đã thấy, đã biết, đã làm chứng cho Ðức Giêsu. Làm chứng cho Ðức Giêsu khiến ông trở nên tay trắng. Ông vui khi giới thiệu Ðức Giêsu cho môn đệ của mình. Ông mừng khi thấy dân chúng tuốn đến với Ngài (Ga.3:26). Ông sung xướng khi trở nên lu mờ đi để Ngài được nổi bật lên (Ga.3:30).
Từ cái biết nhờ thấy, Gioan đã trở nên người làm chứng cho Đức Giêsu. Hành trình chứng nhân của Gioan cũng là của bạn và tôi hôm nay: “thấy, biết rồi làm chứng”.
Biết một người là chuyện khó. Biết Ðức Giêsu còn khó hơn. Tôi chẳng thể nào múc cạn được con người Giêsu, Đấng đã là đích điểm giao hòa giữa trời và đất; Đấng là tạo hóa nhưng lại hòa đồng với tạo vật, và cũng là Đấng đã liên kết giữa thần linh thánh thiện và con người tội lỗi.
Ðể biết Ðức Giêsu, ta cần thấy Ngài tỏ mình ra. Nhưng không phải ta sẽ thấy một thị kiến huy hoàng long trọng. Không hẳn Ngài sẽ xuất hiện trong sức mạnh quyền năng.  Ngài vẫn tỏ mình xuyên qua những việc xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, qua những con người đơn sơ ta vẫn gặp. Ta cần tập nhìn thấy Ngài tiềm ẩn sau lớp vỏ bọc xù xì của thực tế đời thường.
Cần thường xuyên làm mới lại “cái biết” về Ðức Giêsu để mối tương quan của ta với Ngài mỗi ngày trở nên thâm trầm hơn, thân mật hơn. Nếu biết là thấy, là có kinh nghiệm riêng tư, là hiệp thông, là gặp gỡ, là chia sẻ chính cuộc đời của Ngài, là để “ta sống trong Ngài và Ngài sống trong ta”, thì cái biết đó phải là nỗ lực của cả một đời người Kitô.
Và lúc này đây, mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy dành ra đôi ba phút ngắn ngủi để đi vào lòng mình; để tìm gặp khuôn mặt Giêsu: Ngài đang ở đâu, ở chỗ nào trong cuộc sống của tôi? Tôi phải làm gì để nhận ra Ngài, bắt gặp Ngài đang sống bên tôi trong cuộc đời tạm bợ này?
Gioan đã giới thiệu Ðức Giêsu là "Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa bỏ tội trần gian."(Ga.1:29).  Còn bạn và tôi, chúng ta sẽ giới thiệu Ðức Giêsu như thế nào cho những người xung quanh ta hôm nay?
***
Lạy Chúa Giêsu!
Xin cho con thấy Chúa thật lớn lao, để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ vô nghĩa.
Xin cho con cảm nhận tình Chúa thật bao la sâu thẳm, để con luôn được sống trong tình yêu thương sâu thẳm bao la ấy.
Xin cho con biết Chúa thật nhân từ và bao dung, để mỗi khi con vấp ngã trên đường đời, con luôn biết chỗi dậy và trở về cùng Chúa.
Giêsu ơi! Xin Ngài hãy đến và cư ngụ trong lòng con luôn mãi, để không còn là con nữa, mà là chính Ngài đang sống trong con. Amen
Tổng hợp từ R. Veritas
(BĐ1:Is 49, 3. 5-6 – BĐ2:1Cr 1, 1-3 - PÂ:Ga 1, 29-34)

 

TN1-A57. THIÊN CHÚA RẤT KHIÊM NHƯỜNG

Mt 3, 13 - 17
 Tội lớn nhất và để lại hậu quả ghê gớm nhất là tội kiêu căng.
 

Vì sao Luxiphe và một số Thiên Thần trở thành Ma Quỉ trong Hoả ngục? Do kiêu căng mà ra: TN1-A57

Vì sao Luxiphe và một số Thiên Thần trở thành Ma Quỉ trong Hoả ngục? Do kiêu căng mà ra. Tại sao loài người phải đau khổ và phải chết? Cũng phần lớn do kiêu căng mà ra! Tại sao có chiến tranh và hận thù? Vì có một số người tự đề cao mình, muốn người khác phục tùng sức mạnh và nguyên tắc của nhóm mình lãnh đạo. Một cách nào đó cũng là muốn tỏ khả năng của mình ra và bắt người khác phải nể phục.
Chính sự kiêu căng dẫn đến đau khổ và chết chóc. Vì vậy, Thiên Chúa đã đến trong thân phận khiêm tốn để giải thoát loài người đang đắm chìm trong ảo vọng. Ngài là Thiên Chúa quyền phép vô cùng mà đến trần gian mang thân phận như một người tôi tớ. Ngài không dùng quyền thống trị mà dùng trái tim nhân từ, thương xót đối với mọi người, kể cả kẻ có tội. Người không bẻ gẫy cây lau bị giập. Cây lau có giá trị gì mà Ngài lại đối xử nhân từ với nó như vậy, nhất là khi nó đã giập rồi. Chúa đối xử với loài người cũng như vậy đó. Loài người đáng là chi mà Chúa để ý chăm nom, nhất là khi loài người nhiều lần chống lại Chúa, đáng bị phạt, đáng tội chết. Vậy mà Chúa lại nương tay và còn đến nâng đỡ dậy nữa. Dân Do Thái bao nhiêu lần lỗi phạm mà Chúa không loại trừ họ. Ngài thật là kiên nhẫn. Thay vì xử phạt loài người, Chúa đến lãnh lấy án phạt đó. Con Một Ngài là Đức Giêsu Kitô tự nguyện đứng vào hàng ngũ tội nhân dù Ngài vô tội. Tội tày đình của con người Chúa lãnh thay. Điều này vượt quá mong đợi của loài người khiến cho thánh Gioan Tẩy Giả không hiểu. Chúa sai Gioan Tẩy Giả đến sông Giođan kêu gọi dân chúng sám hối và làm phép rửa cho kẻ có tội, bây giờ chính Chúa lại  nhờ ông làm cử chỉ đó cho Ngài! Làm sao Đấng trong sạch đến rửa tội cho nhân loại lại xin lãnh phép rửa dành cho tội nhân được? Hành động của Thiên Chúa vượt quá suy nghĩ của Gioan Tẩy Giả và của loài người. Việc chịu phép rửa của Chúa Giêsu là việc làm biểu lộ tình thương vô biên của Thiên Chúa đối với nhân loại. Chúa lãnh án phạt dành cho loài người. Tội của loài người Chúa đền thay, cái chết do ông bà nguyên tổ gây cho nhân loại Chúa lãnh dùm. Còn gì hạnh phúc hơn cho loài người chúng ta. Chính Chúa đã hạ mình đứng chung với tội nhân và xin nhận phép rửa. Chính lòng khiêm tốn của Chúa có sức đền bù tội kiêu căng của loài người chúng ta.
Loài người cho rằng mình giỏi, chinh phục được thiên nhiên. Tuy chúng ta luôn có những khám mới, đạt được nhiều thành tựu đáng hoan nghênh. Nhưng thử hỏi chúng ta đã chinh phục bao nhiêu rồi. Trong vũ trụ có cả trăm tỉ hệ mặt trời, chúng ta đã vượt ra khỏi Thái Dương Hệ của mình hay chưa để đi chinh phục vô số hệ mặt trời khác.
Chỉ vấn đề động đất và tuyết rơi mà loài người cho rằng mình kiểm soát được, nhưng thực tế cho thấy là nhiều lúc chúng ta chưa ngăn ngừa được hậu quả. Điều này cho thấy sức loài người kém cõi, giới hạn. Dù thời nay mệnh danh là thời đại văn minh của khoa học kỹ thuật, vậy mà những gì chúng ta chinh phục được cũng chưa đáng là gì so với những kỳ bí của vũ trụ. Chúng ta vẫn phải tiếp tục khám phá để biết nương theo qui luật của thiên nhiên mà tồn tại chứ không thể bắt nó theo ý mình được.
Ước chi loài người biết khiêm tốn hơn để hiểu được chính mình, hiểu biết Chúa, hiểu được giới hạn của khoa học và tín thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Xin mỗi người biết nhìn nhận tội mình, và trông cậy vào tình thương cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô. Người đã giáng thế để lãnh tội thay cho nhân loại, để những ai tin vào Người thì được Nước Thiên Đàng làm gia nghiệp.

 

TN1-A58. NẦY LÀ CON YÊU DẤU CỦA TA

Mt. 3, 13 - 17.
Anh chị em thân mến.
 

Trong những lần xem Ti Vi, chắc anh chị em không khỏi khó chịu vì những chương trình quảng: TN1-A58

Trong những lần xem Ti Vi, chắc anh chị em không khỏi khó chịu vì những chương trình quảng cáo. Nó cứ làm cho thời gian phải dài ra, nó cứ làm cho những cuộc vui phải bị gián đoạn. Nhưng vì nhu cầu, nên những người làm chương trình không thể đáp ứng đúng với những gì mà mọi người đòi hỏi được.
Có một lần đang chương trình quảng cáo, bỗng dường như có một lời nhắc nhở, vì hiện nay có những người đi khuyến mãi cho mặt hàng đang quảng cáo, nhưng bổn hiệu không có nhờ đến họ, mà họ tự động đi chào hàng. Họ đi giới thiệu mặt hàng không biết xuất xứ từ đâu, nhưng lại mang nhãn hiệu đã được quảng cáo. Nếu ai thông báo để loại trừ được những hành động như thế sẽ được thưởng.
Tôi chợt giật mình và nhớ lại: có rất nhiều người đi giới thiệu sản phẩm, nhưng không biết họ có được chuẩn nhận hay không, hay họ chỉ làm việc theo ý riêng để tìm lợi lộc cá nhân, bất chấp những thiệt hại cho người khác. Nếu như thế họ không bao giờ làm vui lòng ai được, vì họ không mang lợi ích cho mọi người.
Nầy là Con Yêu Dấu của Ta, Con đẹp Lòng Ta.
Tíếng từ trời phán ra, để chuẩn nhận cho sứ mạng Thần Linh mà Chúa Giêsu đang thực hiện. Ngài đến với Gioan, nhưng ông nầy ngần ngại, vì thấy điều nghịch lý. Chúa Giêsu nhắc nhở: "chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế". Gioan cũng đã chu toàn bổn phận, chu toàn những gì mà ông đã được sai đi để thi hành, chu toàn để giúp đỡ cho người khác và mang ích lợi cho nhiều người. Chính vì chu toàn trong vâng phục mà ông chứng kiến được sự chuẩn nhận từ Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng chu toàn sứ mạng trong sự vâng phục, mà sự chuẩn nhận cách long trọng đã được thực hiện.
Nầy Là Con Yêu Dấu Của Ta, Con Đẹp Lòng Ta.
Một lời chuẩn nhận long trọng cho người biết thi hành cách chu đáo sứ mạng được trao. Thi hành sứ mạng trong vâng phục hoàn toàn, để mang lợi ích và niềm vui cho mọi người.
Mỗi người trong chúng đã được trao một sứ mạng. Mỗi người cũng đang thực hiện sứ mạng mà mình đã lãnh nhận. Nhưng chúng ta đang thực hiện sứ mạng với sự vâng phục, để chu toàn cách trọn vẹn hầu mang ích lợi và niềm vui cho nhiều người. Hay chúng ta đang thi hành sứ mạng để tìm những gì cho bản thân riêng tư? Mỗi người để một chút suy tư, để một ít phút để nhìn lại những việc làm đã qua, chúng ta sẽ nhìn thấy được mục đích của cuộc sống, qua đó chúng ta nhận thức được chúng ta đang thi hành sứ mạng cho ai, cho chính mình hay cho Thiên Chúa.
Nếu chúng ta nhìn thấy trong cuộc sống mà bao nhiêu người phải run sợ hay e dè khi nhìn thấy mình. Nếu chúng ta chỉ biết tranh đấu để cho mình được lợi, còn người khác thì không cần biết đến. Nếu chúng ta chỉ biết làm cho thỏa mản những gì mình suy tính mà không cần biết lắng nghe để phân biệt phải trái, tốt xấu. Đó là chúng ta đang thi hành sứ mạng cho bản thân mình. Nếu như thế chúng ta cũng đang trong tình trạng bị những lời khuyến cáo để loại trừ ra khỏi cuộc sống. Khi đó chúng đang thi hành sứ mạng nhưng không được trao ban, mà chúng ta chỉ là một tên giả hiệu, chỉ đội lớp bên ngoài và giả danh chứ thật sự thì hoàn toàn khác.
Có những lần, chúng ta nhìn thấy uy tín của mình bị tổn hại vì một lý do nào đó, mà biết chấp nhận không than phiền, hay tìm cách đòi hỏi phải đền bù xứng đáng cho thỏa mãn tính kiêu căng. Nếu có lần chúng ta nhìn thấy quyền lợi của mình bị chạm đến, của cải riêng tư phải bị tốn hao vì người khác, mà chúng ta biết vui lòng cho đi. Có những lần chúng ta bị tủi nhục dường như không chỗi dậy được, hay bị những hiểu lầm đáng tiếc mà không thể biện minh. Nếu chúng ta biết chấp nhận những điều đó vì lợi ích chung, nếu chúng ta biết chấp nhận vì nhìn thấy Thánh Ý Chúa để rồi vâng phục cách trọn vẹn. Lúc đó chúng ta cũng nhận được lời tuyên bố long trọng: "Đây là con yêu dấu của Ta, con đẹp lòng ta".
Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết trung thành trong Ơn Chúa, để biết lắng nghe và thi hành trọn vẹn những điều Chúa truyền dạy.

 

TN1-A59. VÂNG THEO Ý CHA

Mt 3, 13 - 17
 

Hôm nay chúng ta bước sang giai đoạn I của mùa Thường Niên trong năm Phụng vụ 2007. Mùa: TN1-A59

Hôm nay chúng ta bước sang giai đoạn I của mùa Thường Niên trong năm Phụng vụ 2007. Mùa Thường niên giới thiệu cho chúng ta suy niệm kỹ hơn về tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Tình yêu ấy được thực hiện trọn vẹn nơi Chúa Giêsu - Con Một yêu dấu của Chúa Cha. Trước khi công khai ra đi loan báo Tin mừng, Chúa Giêsu đã lãnh nhận phép rửa của Thánh Gioan Tẩy Giả. Biến cố này cho thấy Chúa Giêsu bắt đầu thực hiện ý định của Chúa Cha từ ngàn đời. Đó là đem ơn cứu rỗi đến cho loài người.
Tiếng Chúa Cha từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người". (Mt 3, 17b) nhằm xác định vị thế thật của Chúa Giêsu. Là Con Một Chúa Cha hằng sống nhưng giờ đây Chúa Giêsu đã tự nguyện sống trong thân phận con người yếu đuối ngoại trừ tội lỗi. Người đã hòa mình với mọi người để đón nhận phép rửa của Gioan. Chính điều đó đã làm vui lòng Chúa Cha.
Không phải chỉ hôm nay mà trọn cả cuộc đời của mình, Chúa Giêsu đã luôn vâng phục trọn vẹn theo thánh ý Chúa Cha. Có lần Người đã nói với các môn đệ: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người" (Ga 4, 34). Ý muốn của Chúa Cha là đem ơn cứu chuộc đến cho con người. Bởi vì Người thấy con người đang phải sống trong cảnh lầm than khốn khổ do tội lỗi mình gây nên.
Trong việc thi hành ý muốn của Chúa Cha nhiều lúc Chúa Giêsu phải chịu bị người ta hiểu lầm. Thấy Chúa Giêsu hòa mình với những người thu thuế và những người tội lỗi thì bị một số người cho Người chính là "tay ăn nhậu" (Mt 11, 19). Người đã thực hiện lời tiên tri Isaia loan báo về người tôi trung của Thiên Chúa: "Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi" (Is 42, 3).
Không chỉ bị người ta hiểu lầm mà Chúa Giêsu còn phải chịu bao điều thiệt thòi và đau đớn về mình. Trong vườn Cây Dầu đứng trước cái chết sắp đến Người đã thưa cùng Chúa Cha: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha." (Mt 26, 39).
Tất cả chỉ vì thương con người nên Chúa Giêsu đón nhận thánh ý Chúa Cha một cách vui vẻ. Đó là của lễ làm đẹp lòng Chúa Cha nhất. Bởi lẽ máu chiên bò và của lễ toàn thiêu Cha không ưng nhận. Cha chỉ nhận những ai biết thi hành thánh ý Cha thôi. (Dt 10, 6 - 9)
Nhờ vâng theo thánh ý Chúa Cha mà Chúa Giêsu đã đem lại ơn cứu độ cho con người chúng ta. Trước hết chúng ta hãy cảm tạ Người với lòng cảm mến sâu xa nhất. Tâm tình cảm tạ đẹp nhất là chúng ta noi gương bắt chước Người mà luôn biết thi hành thánh ý Chúa Cha trong đời sống của mình.

 

TN1-A60. HIẾN THÂN VÌ YÊU

Mt 3, 13 - 17
 

Việc Chúa Giêsu xếp hàng chung với những người khác đến xin Gioan làm phép rửa khiến cho: TN1-A60

Việc Chúa Giêsu xếp hàng chung với những người khác đến xin Gioan làm phép rửa khiến cho Gioan cảm thấy ngỡ ngàng. Theo ông, đó là chuyện ngược đời, nên ông lên tiếng can ngăn Đức Giêsu. Giờ đây, suy gẫm về đoạn Tin mừng này, chúng ta cảm thấy thắc mắc và khó hiểu về quyết định của Chúa Giêsu khi Ngài đến xin Gioan làm phép rửa cho Ngài. Ta đặt câu hỏi: Chúa Giêsu có cần thiết để làm như thế không? Ngài có tội lỗi gì mà cần đến phép rửa cầu xin ơn tha tội? Nhưng việc Đức Giêsu đến với Gioan để xin ông làm phép rửa cho Ngài mang nhiều ý nghĩa thâm sâu. Giờ đây, chúng ta nhắc đến 2 ý nghĩa chính yếu này.
1. Dấu chỉ của sự tự hiến:
Tin mừng thuật lại là Chúa Giêsu rời bỏ xứ Galilê mà đến với Gioan ở sông Giođan để ông làm phép rửa cho Ngài. Đây là quyết định mang tính dứt khoát và tự nguyện của Chúa Giêsu để nói lên rằng, Chúa Giêsu xin chịu phép rửa của Gioan là một sự tự hiến chứ không phải là một sự đòi buộc do tội lỗi, vì Ngài là Đấng vô tội.. Chúa Giêsu tự đồng hoá mình với tội nhân. Ngài muốn liên đới với tội nhân để cứu vớt chính những tội nhân ấy. Ý nghĩa tự hiến nằm ở nơi đây. Khi Ngài tự ý liên đới mình với tội nhân, Ngài vừa cứu chữa họ, vừa giúp họ nhận ra chân lý quan trọng này là: Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, đặc biệt là yêu thương tất cả những ai bị gạt bỏ bên lề cuộc sống, những ai biết hết lòng cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Có chuyện kể rằng: Một gia đình nọ có một đứa con trai duy nhất, nên cha mẹ câu hết lòng yêu thương câu và dành những gì tốt đẹp nhất cho cậu. Dù thế, người cha tỏ ra rất cứng rắn với những sai lỗi của cậu, và người mẹ cũng đồng tình với cách giáo dục đó. Một lần nọ, người con trai của họ vì ham chơi và bị bạn bè quyến rũ, cậu đã trốn học để ra ngoài bãi biển vui đùa và chơi bóng. Người cha biết chuyện không hay đó nên đã kiên quyết xử phạt người con trai rất yêu quí của mình. Ông quyết định để đứa con của mình phải trải qua một đêm trên một căn gác chật chội và nóng nực. Nhưng đêm hôm đó, người cha không tài nào chợp mắt được vì ông quá tội nghiệp người con của mình. Nửa đêm, ông quyết định lấy mền gối lên trên gác để ngủ với con trai của mình. Điều ngạc nhiên là khi ông leo lên tới căn gác thì đã thấy người vợ của ông đã ở đó với người con trai của họ từ hồi nào chẳng biết. Thế là 3 người cùng trải qua một đêm trên căn gác chật chội và nóng nực đó suốt đêm. Chỉ có đứa con phạm lỗi, nhưng 3 người cùng chịu phạt.
Chắc chắn đêm hôm đó là đêm đáng nhớ nhất của người con. Có lẽ, nó sẽ nhận ra tình yêu của cha mẹ nó dành cho nó lớn lao như thế nào. Người cha không bỏ hình phạt mà ông đã ra cho người con; bà mẹ cũng không xin ông tha phạt cho con vì họ muốn người con của họ ý thức hành vi lỗi phạm của mình. Nhưng khi người con bị phạt là cả nhả 3 người cùng chịu phạt. Câu chuyện trên cũng phần nào giúp chúng ta thấy được cách hành động của Thiên Chúa dành cho con người tội lỗi.
Trước lỗi phạm của con người, Thiên Chúa chắc chắn rất xót xa khi Ngài dùng cách thức này hay cách thức khác để sửa dạy họ. Nhưng không khi nào Thiên Chúa dứt tình với con người. Một khi đã làm điều gì rồi, thì Thiên Chúa làm cho tới nơi tới chốn. Một khi đã tạo dựng nên con người là tác phẩm yêu thương của Thiên Chúa, thì Ngài yêu họ đến cùng, dù họ có phản bội hay sai lỗi với Ngài. Thiên Chúa không bỏ rơi con người khi con người sa ngã, mà Ngài tìm cách để gần gũi con người hầu cứu vớt họ và giúp họ nhận ra tình thương của Ngài dành cho họ để họ sống tốt hơn và trung tín hơn trong mọi sự.
2. Nêu gương trong việc chu toàn Bổn phận:
Chu toàn bổn phận có nghĩa là làm cho nó nên trọn nghĩa. Sở dĩ, Đức Giêsu khi chịu phép rửa của Gioan để làm tròn bổn phận đó là vì Ngài vừa khiêm hạ vừa siêu thoát và muốn mặc cho Phép rửa một ý nghĩa tròn đầy. Ý nghĩa này được bày tỏ ra khi Đức Giêsu chịu phép rửa của Gioan: Trời mở ra, Thánh Thần Chúa ngự xuống và có tiếng từ trời phán ra: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta".
Chu toàn việc bổn phận là nên thánh. Không ai trở nên hoàn hảo và thánh thiện nếu không chu toàn việc bổn phận của mình. Van Kaan đã nói: "Việc đạo đức nhất là việc bổn phận. Tránh né việc bổn phận là tránh né Thiên Chúa".Mỗi người chúng ta đều có những cộng việc bổn phận nhất định. Cụ thể là bổn phận của ta đối với Thiên Chúa, đối với chính mình và đối với người khác. Hằng ngày, ta hãy xét mình theo những công việc bổn phận của mình để biết mình sống như thế nào trong ngày hôm đó.

 

TN1-A61. MẦU NHIỆM YÊU THƯƠNG

Mt 3, 13 - 17
 

Lúc còn bé, trong tư tưởng tôi không bao giờ chấp nhận hai hình ảnh trong Kinh Thánh mà tôi cho: TN1-A61

Lúc còn bé, trong tư tưởng tôi không bao giờ chấp nhận hai hình ảnh trong Kinh Thánh mà tôi cho là lạ đời, trái ngược với cuộc sống đời thường. Hình ảnh đầu tiên là Chúa Giêsu mà lại đến xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình. Hình ảnh thứ hai lại càng làm cho tôi khó chấp nhận hơn. Đó là, Thầy Giêsu lại rửa chân cho các tông đồ học trò của mình. Sau này lớn lên tôi mới ngộ ra được, tình yêu mà Thiên Chúa dành cho con người qua những hành động mà ngày trước tôi cho là kỳ lạ đó, thì nay tôi mới cảm nghiệm được Đức Giêsu là người chấp nhận:
1. Sống với tội nhân.
Đức Giêsu đến trần gian để cứu chuộc nhân loại bằng con đường tự hạ, khiêm tốn. Ngài không hề cách xa trong hành động cũng như cách cư xử. Nhất là với tội nhân, Ngài không xem mình như một vị Thiên Chúa đến để xét xử, trừng phạt, mà Ngài đến cho họ được sống và sống dồi dào. Qua cử chỉ Đức Giêsu xin nhận phép rửa chứng tỏ Ngài không bao giờ muốn xa cách tội nhân, luôn tạo điều kiện cho tội nhân dễ gần bằng cách: "Vốn là Thiên Chúa, nhưng lại không coi mình ngang hàng với Thiên Chúa, trái lại Người đã trút bỏ mọi vinh quang để mặc lấy thân phận nô lệ và trở nên giống một phàm nhân" (Pl 2,6). Nếu xét theo cái nhìn tâm lý thì Đức Giêsu là một nhà tâm lý đại tài, Ngài không để cho mình và tội nhân có một khoảng cách nào, nhưng Ngài kéo khoảng cách đó gần đến nỗi tội nhân có thể sống như một người bạn thật thân mật và gần gũi. Ngài cũng chấp nhận bị xã hội bỏ rơi, khinh khi nhục mạ như tội nhân. Ngài hoàn toàn giống họ chỉ trừ tội. Đức Giêsu là trung tâm điểm cho đời sống Kitô hữu, Ngài đã làm như thế, đã hạ mình như thế còn chúng ta thì sao? Trong cuộc sống xung quanh ta có nhiều người thánh thiện lắm! Đi lễ đọc kinh lần hạt mỗi ngày, dưới con mắt người đời họ là những người còn trên cả đạo đức. Nhưng đối với tội nhân thì họ lại tránh xa khinh miệt. Chính sự khinh miệt của ta làm cho người tội nhân không có thiện cảm, chính sự xa cách làm cho họ không thể đến gần. Ta và họ cùng sống trong một họ đạo mà như ở hai thế giới khác nhau. vậy, thì chúng ta là những người đã mặc lấy Đức Kitô thì chúng ta hãy nên giống Đức Kitô.
2. Yêu thương tội nhân.
Đức Giêsu đã tự hạ mình như một tội nhân, mặc dầu Người vô tội. Ngài đã chứng thực tình yêu của mình không phải bằng lời nói suông mà bằng chính cả cuộc sống, không hành động hào hoa bên ngoài, mà yêu thương tận đáy lòng. Cho dù chúng ta có thấp hèn yếu kém đến dâu đi nữa thi Thiên Chúa vẫn như người Cha nhân hậu đang chờ đón ta, Ngài biết tất cả rồi, Ngài không bao giờ hối hận về ta, cho dù chúng ta thánh thiện hay tội lỗi, thành công hay thất bại... Do đó ta không nên tự ti mặc cảm là người tội lỗi phải tránh xa, mà hãy biết nhìn nhận mình là người yếu kém để được nâng đỡ. Đặc biệt là biết xin Gioan Baotixita " Chịu phép rửa" tỏ lòng ăn năn thống hối, để cải tà quy chính trở về với tình thương và xin Ngài tha thứ để được ban tặng cuộc sống mới, một cuộc sống đích thực sinh động và biến đổi tâm hồn chúng ta.
3. Đồng hành cùng tội nhân.
Chắc chắn hôm nay có rất nhiều người kéo đến cùng Gioan Tẩy Giả, trong đó có cả Đức Giêsu, Ngài cũng đồng hành với họ, cũng đứng xếp hàng đợi tới phiên mình, chấp nhận phép rửa thống hối, mặc dù Ngài vô tội. Ngài đã đi trên con đường mà tội nhân đã đi; cũng xếp hàng muốn nhập đoàn vào hàng ngũ để cùng chia sẻ và gánh vác những đời tội lỗi bị người đời xa cách. Ta thấy, Gioan Tẩy Giả là vị ngôn sứ được nhiều người kính nể qua lời nói cũng như hành động. Vậy mà trong tư tưởng của ông cũng không chấp nhận một vị Thiên Chúa mà lại đồng hành cùng với tội nhân như thế. Ông muốn kéo Ngài ra "chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao"
Có thể một khía cạnh nào đó tư tưởng của Gioan Tẩy Giả cũng tương tựa tư tưởng của "những Pharisêu thời nay": tự cho mình là thánh thiện, đạo đức không chịu đi chung thuyền với người khác là những nhà giảng thuyết tuyệt vời nhưng hành động lại thiếu thiết thực. Vẫn chưa dám đồng hành. Ngược lại cũng có rất nhiều người đi theo Đức Giêsu từ bỏ giàu sang danh vọng, hạ mình giúp đỡ trẻ em đường phố, giúp đỡ người bệnh tật, phong hủi, dạy lớp tình thương, cùng sống cùng ăn cùng sinh hoạt cùng chia sẻ... và cuối cùng bị mang bệnh của người anh em. Ôi một Đức Kitô tuyệt vời!

 

TN1-A62. DÒNG SÔNG SÁM HỐI

CHÚA NHẬT CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA, năm A
Mt 3, 13-17
 

Bước đầu của việc muốn trở nên thánh là ăn năn, sám hối. Đọc Đường Tăng trong Tây Du Ký: TN1-A62

Bước đầu của việc muốn trở nên thánh là ăn năn, sám hối. Đọc Đường Tăng trong Tây Du Ký, chúng ta vẫn cảm nhận, Đường Tăng là nhân vật đã cố gắng hết mình, vượt bao thử thách, chông gai để mong tới ngày iết kiến Như Lai để hóa thành Phật.
Cuộc trường chinh khó khăn mất thời gian quá lâu dài nhưng càng tới ngày hóa kiếp thì Đường Tăng càng cảm thấy thế nào đi ấy…Cái thế nào đi ấy là vì Đường Tăng vẫn còn nối tiếc kiếp người, có lẽ chưa sống trọn kiếp người… Muốn nên thánh, muốn lên cao, chắc chắn con người phải sống kiếp người tốt đẹp trước đã. Chính vì thế, Gioan Tẩy Giả rao giảng sự sám hối, ăn năn và rửa tội cho nhiều người trong dòng sông Giorđăng quả thực có ý nghĩa tuyệt vời…Chúa cũng xin Gioan Tẩy Giả rửa tội cho mình quả cũng không nằm ngoài việc làm gương và dạy cho nhân loại bài học thống hối, muốn sống thánh, muốn nên hoàn thiện phải thống hối, phải biết cải thiện…
Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của Người bằng việc loan báo:” Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng “. Chúa rao giảng sự sám hối để cho thấy kiếp người là kiếp mau qua, con người muốn nên thánh phải luôn khởi đầu bằng việc sám hối, ăn năn. Người ta không lạ gì tại sao Gioan Tẩy Giả lại ở bên dòng sông Giorđăng để mời gọi con người thống hối, mời gọi con người quay trở về với cõi thâm sâu của mình để thay đổi lối sống, cởi bỏ con người cũ mà mặc lấy Chúa Kitô. Và quả thực, đã có rất nhiều người đến với Gioan, sắp hàng xin Gioan thanh tẩy cho mình…Con người sở dĩ muốn quay về là muốn trở nên tốt lành hơn, muốn hoàn thiện hơn, nên họ đã nghe lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả, đã thống hối để xin Gioan rửa tội cho mình. Chúa Giêsu cũng sắp hàng cùng với đoàn người bên bờ sông Giorđăng để xin Gioan làm phép rửa cả cho mình nữa. Tại sao giữa đoàn người, chen chúc đông đảo như thế, không ai nhận ra Chúa Giêsu mà chỉ có mình Gioan nhận ra Ngài và nói:” Tại sao Ngài lại đến với tôi, chính tôi mới cần Ngài làm phép rửa chứ !”. Ở đây, chúng ta nhận ra một sự thật thế này là Gioan Tẩy Giả đã cảm nghiệm sự thánh thiện tuyệt đối của Chúa Giêsu. Và khi Gioan từ chối rửa tội cho Chúa Giêsu, thì chúng ta nghe câu trả lời của Chúa:” Bây giờ cứ thế đã, vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính “ ( Mt 3, 15 ). Chúa Giêsu trả lời cách rõ ràng là Ngài xin được rửa tội để giữ trọn đức công chính, mà đức công chính là tuân theo ý của Chúa, thực hiện ý Chúa. Câu chuyện, Chúa Giêsu chịu phép rửa cho chúng ta thấy ngay khi Chúa làm theo thánh ý Chúa Cha khi lãnh nhận phép rửa, Chúa Cha đã dõng dạc tuyên bố:” Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người “ ( Mt 3, 17 ).
Vâng, việc Chúa Giêsu xin chịu phép rửa bởi tay Gioan Tẩy Giả là để làm gương và dạy mỗi người chúng ta:” Hãy sống và làm theo thánh ý Thiên Chúa “. Chính vì thế, sự giàu có đích thực không phải là có nhiều của cải, nhiều ruộng đất, nhiều tài sản , nhưng là luôn trở nên công chính, trở nên hoàn thiện, nghĩa là dám cởi bỏ con người cũ, mặc lấy Đức Kitô, là lắng nghe Cha nói, thực thi ý Cha và trở nên Con yêu của Thiên Chúa Cha.
Để thực hiện ý của Chúa Cha, Đức Kitô đã trút bỏ vinh quang Thiên Chúa, hạ mình làm thân con người, sống hòa mình với con người ngoại trừ tội lỗi ( Philip 2, 1-6 ).
Ngài đã đến trần gian để mang hạnh phúc cho con người, cho loài người và cứu độ con người.Ngày hôm nay, Chúa Giêsu đã hoàn thành 30 năm ẩn dật ở làng quê Nadarét, bằng cuộc khởi đầu sứ vụ công khai, xin Gioan làm phép rửa cho mình dưới dòng nước sông Giorđăng để làm cử chỉ sám hối nêu gương cho mọi người. Chúa đã hòa mình giữa đoàn người tội lỗi để cứu chuộc người tội lỗi.
Chúa Giêsu chịu thanh tẩy nơi dòng sông Giorđăng là hình ảnh của cái chết của Ngài trên thập giá để cứu chuộc cho muôn người, để muôn người được sống lại với Ngài và trở nên con cái của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đánh bại tội lỗi và cái chết. Do đó, nơi Ngài thanh tẩy hay phép rửa không còn là một nghi lễ mà đã biến thành chính cuộc sống của Ngài.
Đối với người Kitô hữu phép rửa cũng không chỉ là một nghi lễ, nhưng nó đã biến con người thành cuộc sống, cuộc sống đẩy lùi bóng tối, tội lỗi và sự chết. Từ đây, người Kitô hữu luôn phải nhớ rằng Đấng Thánh mà còn tự dìm mình sám hối thì người Kitô hữu luôn phải khiêm nhượng cúi mình lãnh nhận bí tích hòa giải và không bao giờ dám tự đắc, kiêu căng coi mình thánh thiện, đạo đức hơn anh em của mình. Người môn đệ có trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả là phải làm sao để tiếng từ trời cũng được lập lại nơi mỗi người trong thế giới, nơi trần gian muôn thuở:” Con là Con yêu dấu của Cha. Con đẹp lòng Cha “.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con càng ngày càng yêu mến Bí tích rửa tội nhiều hơn vì chính phép rửa làm cho chúng con trở thành con của Chúa. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi   DCCT

 

TN1-A63. Một Cuộc Hiển Linh Nhiều Ý Nghĩa

Lễ Chúa Yêsu Chịu Phép Rửa Năm A
 (Ys 42,1-4.6-7; Cv 10,34-38; Mt 3,13-17)
Phúc Âm: Mt 3, 13-17
"Khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống trên mình Người".
Khi ấy, Chúa Giêsu bỏ xứ Galilêa mà đến với Gioan ở sông Giođan, để ông làm phép rửa cho. Nhưng Gioan can Người rằng: "Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?" Chúa Giêsu liền đáp lại: "Không sao, vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế". Và bấy giờ ông Gioan chiều ý Người. Chúa Giêsu chịu phép rửa, rồi bước lên khỏi nước. Này đây các tầng trời mở ra, và Người thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người. Và ngay lúc ấy, có tiếng từ trời phán: "Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta".
 
Suy Niệm:
Lễ Chúa Yêsu Chịu Phép Rửa
(Ys 42,1-4.6-7; Cv 10,34-38; Mt 3,13-17)
 

Chúa Yêsu đến xin ông Yoan làm phép Rửa cho mình. Người làm gì kỳ vậy? Ông Yoan từ chối!: TN1-A63

Chúa Yêsu đến xin ông Yoan làm phép Rửa cho mình. Người làm gì kỳ vậy? Ông Yoan từ chối! Người bảo ông cứ làm đi để vâng lời Thiên Chúa. Chẳng khác gì sau này khi Đức Kitô đem nước đến rửa chân cho Phêrô. Ông này cũng từ chối. Nhưng Người bảo cứ để yên cho Người làm, sau này Phêrô sẽ hiểu...
Vậy sau hơn 2,000 năm rồi, Hội Thánh đã hiểu hết ý nghĩa của việc Chúa Yêsu chịu rửa bởi tay ông Yoan chưa? Hay đây vẫn còn là một mầu nhiệm? Chúng ta cố gắng dựa vào các bài Kinh Thánh hôm nay để tìm hiểu.
 
A. Một Cuộc Hiển Linh Nhiều Ý Nghĩa
Trước hết, Phụng vụ đặt Lễ này trong mùa Hiển Linh và để kết thúc Mùa Hiển Linh này. Do đó, đây là một lễ hiển linh đặc biệt. Nhiều Giáo hội Đông phương mừng lễ này như là một cuộc hiển linh lớn nhất. Chúa Yêsu từ ngày giáng thế không ngớt tỏ mình ra, nhưng cho đến bây giờ, đây dường như là lần tỏ mình ra cho nhiều người nhất và long trọng nhất.
Quả vậy Người đã bắt đầu tỏ mình cho Đức Maria trong thời sứ thần truyền tin. Nhưng Maria chỉ biết ôm mầu nhiệm này trong lòng mà ngẫm nghĩ chứ biết tỏ ra với ai bây giờ? Chính Yuse cũng phải đợi được sứ thần loan báo mới biết Maria đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và Hài Nhi sẽ sinh ra sau này là Cứu Thế. Nhưng Yuse cũng chỉ biết giữ bí mật ấy cho mình. Hôm Hài Nhi chào đời, đã có nhiều mục tử biết; song cảnh hang đá cũng quá tầm thường, đến nỗi không có ánh sao lạ dẫn đường, các đạo sĩ đã chẳng có thể tìm đến chỗ ở của Hài Nhi. Sau đó Maria và Yuse đã đưa con vào dâng trong Đền thờ. Simêôn đã được ẵm bế và bà Anna cũng đã hân hoan đón chào; nhưng sự việc xảy ra cũng không được nhiều người biết. Khi trẻ Yêsu lên 12 tuổi và đi lễ Đền thờ, nhiều luật sĩ đã ngạc nhiên về sự khôn ngoan của Người; tuy nhiên cũng chưa phải là việc vô tiền khoáng hậu. Mãi đến hôm nay, sau khoảng 30 năm sống ẩn dật trong gia đình ở Nagiarét, Đức Yêsu mới xuất hiện. Người chọn nơi tụ họp dân chúng đông nhất thời bấy giờ: nơi ông Yoan làm phép rửa. Tiếng tăm của ông lừng lẫy. Khắp nơi thiên hạ tuốn đến với ông. Cả hàng đầu mục Dothái cũng chen chân lại xin chịu phép rửa. Lính tráng cũng vậy. Do đó đây là những dòng thác người đi tìm ơn cứu độ; là dòng lịch sử nhân loại đang khát khao được ơn cứu vớt. Người đã ở giữa chúng ta; Người ở trong lòng xã hội; Người gắn bó với nhân loại làm một.
Thế nên đây là giáng thế ở mức độ rộng rãi nhất; là nhập thế ở giai đoạn triển nở hơn cả; là hiển linh công khai chưa từng thấy. Đồng thời chiều rộng này lại có cả một chiều sâu không thể nào tưởng tượng được. Người ta đã khó hiểu việc Ngôi Lời đầu thai trong lòng một Trinh Nữ. Người ta đã ngỡ ngàng khi nhìn thấy Hài Nhi nơi máng cỏ. Tuy vậy, hình ảnh một em bé vẫn dễ thương. Thế nên Simêôn không ngại ngùng ẵm bế lấy Hài Nhi mà tuyên sấm... Nhưng hiểu sao một Thiên Chúa đến với loài người như hôm nay. Người đi giữa đám người đang sám hối. Người đến xin ông Yoan rửa cho mình, dường như Người cũng là tội nhân. Dĩ nhiên phép rửa của Yoan không có năng lực tha tội, nên không phải chỉ dành cho tội nhân mà thôi. Nhưng thật sự những người đến với Yoan đều là tội lỗi và đều muốn xưng thú tội mình ra. Đức Yêsu không có tội thì Người đến làm gì? Tiên tri Isaia viết: Người sẽ gánh lấy tội lỗi chúng ta; nên hôm nay Người tỏ ra muốn làm công việc này. Người đi giữa đoàn người sám hối để khởi sự công việc gánh tội thiên hạ. Và ông Yoan sau này đã hiểu đúng việc Người làm hôm nay, nên sẽ tuyên bố cho môn đệ biết Người là Con Chiên gánh tội thiên hạ.
Rõ ràng Người đã đi giữa đám người sám hối nhưng không phải để thú nhận tội lỗi và được tha thứ. Người nói với Yoan cứ làm đi để trọn nghĩa công chính, tức là để làm theo Thánh Ý Thiên Chúa. Sau này Người sẽ bị bắt, bị đem ra xử, rồi bị đóng đinh ở giữa phường bất nhân; nhưng mà Người chẳng có tội nào và chẳng ai bắt bẻ Người được vi phạm nào. Người chịu án của tội nhân nhưng mà không có tội. Và như thế là để làm trọn Thánh Ý Thiên Chúa Cha hầu cứu độ hết thảy tội nhân.
Do đó việc Người chịu rửa hôm nay quả muốn báo trước việc Người sẽ chịu chết sau này. Người ưa làm những hành vi báo trước những gì sẽ xảy ra trong cuộc đời của Người. Hôm nay Người đi giữa quần chúng tội nhân xuống dòng sông Hòa giang để báo trước việc Người sẽ bị điệu đi xử giữa hàng gian phi và bị chôn vùi trong mồ. Nhưng sau này không phải chỉ cóvậy. Chết rồi, Người sẽ phục sinh. Cũng thế, hôm nay không phải chỉ có việc Người chịu rửa. Chịu thanh tẩy xong, Đức Yêsu đã lên khỏi nước, và này trời mở ra, Thánh Thần hiện xuống, Chúa Cha tuyên phong Người là Con Chí Ái, có khác nào trong mầu nhiệm Phục sinh sau này.
Như thế mầu nhiệm chịu phép rửa hôm nay là hình ảnh về mầu nhiệm Tử nạn - Phục sinh. Hôm xuất hiện công khai để đi vào xã hội, Đức Yêsu đã làm cử chỉ này để báo trước công việc cứu thế của Người. Đó là cuộc hiển linh mầu nhiệm và thâm thúy, vừa rộng vừa sâu, như để báo trước rằng rồi đây trước mắt người ta chưa thể thấy Người là Con Thiên Chúa đâu; Người còn phải đi qua gian khổ mới đạt tới vinh quang; chỉ trong mầu nhiệm Phục sinh, thiên hạ mới sẽ thấy bản chất cao cả của Người.
Nhưng có phải mầu nhiệm Người chịu phép rửa hôm nay để Đức Kitô có thể khai mạc những năm hoạt động cứu thế và thi hành những công tác cứu đời. Vì sao vậy?
 
B. Một Lễ Tấn Phong Cần Thiết
Rồi đây người ta sẽ thấy Đức Yêsu bắt đầu "giảng" đạo. Giáo lý của Người rất khác thường. Nhất là sức mạnh từ Lời của Người thoát ra như thanh gươm hai lưỡi mổ xẻ tâm can những ai đón nhận. Người thật là Đấng Tiên tri, nghĩa là vượt hết mọi tiên tri và đúng là Đấng Tiên tri người ta phải trông đợi. Nhưng có tiên tri nào mà không được xức dầu và được Thiên Chúa sai đi?
Cuộc hiển linh hôm nay quả là lễ tấn phong Đức Yêsu làm Thiên sai. Thánh Thần đã xuống trên Người và tiếng Thiên Chúa Cha kèm theo tuyên bố Người là Con Chí Ái. Chẳng nhà tiên tri nào được xức dầu long trọng như vậy. Nhưng phải nói đây là cuộc tấn phong nhiệm mầu, chưa bao giờ thấy xảy ra. Thế nên chẳng ai có thể biết ngay được ý nghĩa. Và nếu không có lời giải thích có uy tín, ai mà hiểu được?
Người giải thích sự kiện trên đây chính là Yoan. Ông là người duy nhất có thế giá để làm công việc này. Chính ông đã chứng kiến cuộc tấn phong ở bờ sông Hòa giang. Và ông đã được Đấng sai ông đến thanh tẩy nói với ông rằng: "Ngươi thấy Thần Khí đáp xuống và lưu lại trên ai, thì chính Ngài là Đấng thanh tẩy trong Thánh Thần" nên ông nói với mọi người: "Tôi đã thấy và xin đoan chứng: chính Ngài là Đấng Thiên Chúa chọn" (Yn 1,33-34).
Nhưng không phải Yoan chỉ làm chứng có vậy, ông còn trỏ vào Chúa Yêsu và nói với môn đệ: "Này là Chiên Thiên Chúa, Đấng khử trừ tội của trần gian" (Yn 1,29.36). Lời giới thiệu thật là khó hiểu, nếu người nghe không biết rõ Yoan. Ông có một kiến thức sâu sắc về tác phẩm của Isaia. Con người và sứ mạng của ông gắn liền với sách của Nhà Tiên tri này. Ông đã chứng kiến cảnh Đức Yêsu đến xin chịu phép rửa và được Thánh Thần cho biết đây là Đấng Thiên Chúa đã chọn, ông liền có thể đồng hóa ngay Đức Yêsu với chân dung Người Tôi Tớ Thiên Chúa trong sách của Isaia. Nhà tiên tri đã nói đến một Người được Thiên Chúa lựa chọn, xức dầu và sai đến trong thế gian dưới hình thức khiêm tốn của một người nô bộc. Người hiền lành và làm ơn ích cho mọi người nhưng lại bị loài người đem đi hành quyết như một con chiên bị dẫn đến lò sát sinh mà không lên tiếng, bởi vì Người mang lấy tội lỗi trần gian. Yoan hiểu việc Đức Yêsu đến chịu phép rửa hôm nay, giữa đám tội nhân như thế, nên ông đoan chứng: Người là Chiên của Thiên Chúa. Và hôm nay Giáo hội có lý do để đọc cho chúng ta nghe bài sách tiên tri Isaia nói về Người Tôi Tớ của Thiên Chúa.
Bài sách tự nó hết sức nhiệm mầu; nhưng đọc trong ánh sáng của ngày lễ hôm nay, nó trở nên sáng sủa. Thiên Chúa giới thiệu con người và sứ mạng của Đấng mà Người đã sai đến cứu độ các dân tộc. Đó là Người Tôi Tớ mà Người sủng mộ. Người đổ Thần Trí xuống cho Đấng được chọn. Vị ấy sẽ khiêm cung và hiền lành, không la lối, không nỡ bẻ cây sậy đã dập; nhưng lại cương nghị không nao núng cho đến khi thi hành hết sứ mạng, là làm giao ước của dân, làm ánh sáng các nước.
Rõ ràng Đức Yêsu đến chịu phép rửa hôm nay rất hiền lành và khiêm tốn. Người tỏ ra cương nghị khi nói với Yoan đến nỗi Nhà Tiên tri thời danh đầy uy tính này phải cúi đầu vâng lệnh. Người được Thánh Thần ngự xuống và được Thiên Chúa tỏ lòng sủng mộ. Đức Yêsu, Chúa chúng ta có đủ mọi tư cách ấy. Người là Vị "Tôi Tớ của Thiên Chúa" nói trong sách Isaia. Người đến làm trọn những lời tiên tri này. Và người ta thấy cuộc đời công khai mà Người khởi sự hôm nay sẽ diễn ra như thế, đặc biệt trong cuộc Tử nạn-Phục sinh.
Nhưng chúng ta có quyền hỏi: Người sống như vậy và làm tất cả những việc ấy để làm gì? Phụng vụ tìm thấy câu trả lời trong bài sách Công vụ hôm nay.
 
C. Một Cuộc Đời Vì Chúng Ta
Phêrô hôm ấy đang ở trong nhà ông Cornêliô, là một người dân ngoại. Hơn nữa ông này còn là một bách quản trong cơ binh Ý đại lợi. Chắc chắn cả vùng ai cũng biết và sợ uy tín của ông ta. Thay mặt hoàng đế ở địa phương, ông cầm quân trong tay, ai mà không nép sợ. Thế mà hôm nay ông lại sốt sắng phái người đi tìm Phêrô đến để được nghe mọi điều Chúa truyền qua miệng người. Phêrô nghe ông kể lại các việc trước sau liền thấy rõ Chúa muốn cho dân ngoại được biết ơn cứu độ của Đức Yêsu Kitô. Vị Tông đồ trưởng không còn nghi ngại gì nữa. Người tạ ơn Chúa đã tỏ lòng muốn cứu vớt mọi dân. Và người khẳng định: Ý Chúa mà tất cả mọi người đang muốn biết để được cứu độ và hạnh phúc, đã được truyền đến cho tất cả loài người nơi Đức Yêsu Kitô, Đấng mà Thiên Chúa đã xức dầu sau khi chịu rửa ở sông Hòa giang. Người đã đi ngang qua mọi nơi thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị quỷ ma áp bức thống trị... để ai tin vào Người thì được lãnh ơn tha tội nhân danh Người.
Phêrô đã nói với đám dân ngoại và cũng đang muốn nói với hết thảy chúng ta. Đức Yêsu mà chúng ta thấy chịu rửa ở sông Hòa giang là Vị Tôi Tớ mà Thiên Chúa sai đến. Người sống khiêm cung hiền từ, nhưng cương nghị thi hành sứ mạng. Người nhẫn nhục mang lấy tội lỗi chúng ta nhưng là để giải thoát chúng ta khỏi quỷ ma áp bức thống trị. Đành rằng ngày nay không còn thấy nhiều những kẻ bị quỷ ám rõ ràng, nhưng ai có thể tự hào đã thoát khỏi sự áp bức thống trị của quỷ ma, tức là tội lỗi và các nết xấu, kể cả những tham vọng, ích kỷ và tội lỗi trong đời sống xã hội? Thành thật và có những nét chưa được trong sáng nơi các tương quan với người khác.
Chúng ta giờ đây cũng là đoàn người thống hối ăn năn, sẽ hướng về bàn thờ để thấy Chúa Yêsu Kitô ngày nay không chịu phép rửa của ông Yoan nữa, nhưng trong mầu nhiệm Tử nạn-Phục sinh. Chúng ta tung hô Người chết đi, sống lại và lại đến. Chúng ta xin Người tha thứ tội lỗi cho chúng ta. Nhưng nhất là chúng ta lãnh nhận Mình Thánh Người, Thần Trí Người để chúng ta noi gương Người mà sống như Người đã trở nên Tôi Tớ khiêm cung và cương nghị hiến đời mình cho hạnh phúc của mọi người. Chúng ta cũng sẽ sống trong xã hội với các tâm tình hiền từ và ngay thẳng chu toàn các phận vụ ở đời vì hạnh phúc tất cả chúng ta.
 
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm) 

 

TN1-A64. Lễ Ta Hài Lòng về Người

Chúa Giêsu chịu Phép Rửa năm A
Mt 3:13-17: 13 Bấy giờ Đức Yêsu bỏ Galilê mà đến với Yoan bên sông Yorddan để được ông thanh tẩy cho. 14 Nhưng ông cản Ngài lại, nói rằng: "Chính tôi cần phải được Ngài thanh tẩy cho, thế mà Ngài lại đến với tôi!" 15 Đức Yêsu đáp lại và bảo ông: "Bây giờ cứ thế đã! Vì đương nhiên là chúng ta phải làm trọn như thế hết nghĩa công chính". Bấy giờ ông mới để mặc Ngài.
16 Chịu thanh tẩy xong, Đức Yêsu liền lên khỏi nước; và này: trời mở ra, vàNgài thấy Thần khí Thiên Chúa đáp xuống như chim câu mà đến trên Ngài. 17 Và này có tiếng tự trời phán: "Ngài là Con chí ái Ta, kẻ Ta đã sủng mộ".
 

Bốn tin mừng đều ghi lại việc Chúa Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:9-11; Lc 3:21-22; Gio 1:29-34): TN1-A64

Bốn tin mừng đều ghi lại việc Chúa Giêsu chịu phép rửa (Mc 1:9-11; Lc 3:21-22; Gio 1:29-34). Lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện sau lời tiên báo của Gioan về Đấng cao trọng hơn ông sẽ đến (3:11). Người đến sông Giorđan để chịu phép rửa mà Gioan đang làm cho dân chúng. Gioan phản đối và không chịu làm phép rửa cho Chúa Giêsu, vì ông thấy mình không xứng đáng (3:14). Tuy nhiên Chúa Giêsu tuyên bố là Người phải làm trọn thánh ý Chúa Cha (3:15). Chúa Cha xác nhận Người là người Con yêu dấu của Người (3:17). Sau đó, Chúa Giêsu sẽ vào sa mạc (4:1-11) và bắt đầu sứ vụ rao giảng. Có thể phân chia đoạn nầy như sau: - Bối cảnh của trình thuật: Chúa Giêsu xuất hiện ở sông Giorđan (c. 13); - Đối thoại với Gioan (cc. 14-15); Thánh Thần ngự xuống trên Người và lời xác nhận của Chúa Cha (cc. 16-17).
Chúa Giêsu xuất hiện ở sông Giorđan (3:13)
Câu nhập đề nầy có cấu trúc song song với câu 3:1. Mục đích là cho thấy con người và sứ vụ của Gioan đang chấm dứt và được thay thế bởi Chúa Giêsu và sứ vụ của Chúa Giêsu. Gioan đã nói với dân chúng về việc nầy (3:11). Matthêô ghi nhận ngắn gọn trong câu nầy những dự kiện chính yếu đã trình bày trước đó. “Chúa Giêsu đến”, như 3:1, Matthêô dùng cách nói nầy để giới thiệu Người như là khuôn mặt chính từ đây trong tin mừng nầy. “Từ Galilêa”, trước đây Giuse đem Hài nhi và mẹ Người về cư ngụ tại Nazaréth, thuộc miền Galilêa (2:23). “Sông Giorđan”, Gioan đang làm phép rửa tại đó cho dân chúng (3:5-6). Họ từ  Giêrusalem và khắp vùng Giuđêa, trong khi một mình Chúa Giêsu đến từ Galilêa. Họ đến xưng thú tội và chịu phép rửa. Chúa Giêsu cũng đến để lãnh nhận phép rửa dù không làm hành vi xưng thú tội. Người muốn đứng chung với những người tội lỗi.

Đối thoại với Gioan (3:14-15)
Matthêô không có chung đoạn nầy với các tin mừng khác. Matthêô không cho biết làm sao Gioan có thể nhận ra Chúa Giêsu; do đó không muốn làm phép rửa cho Người (3:14). Động từ diakôlyô có nghĩa là “ngăn cản” bằng cách đẩy ra xa. Gioan tìm cách đẩy Người ra xa. Ông không muốn làm vì theo lời ông tuyên bố, Người sẽ làm phép rửa “trong Thánh Thần và lửa” (3:11). Những đại danh từ “Người” “tôi” (3:14) nhằm nhấn mạnh căn tính của mỗi bên: chính ông mới là người cần được Người làm phép rửa, chứ không ngược lại.
Câu trả lời của Chúa Giêsu không đề cập gì cả đến quyền hạn và bản tính của Người, mà đến ý của Thiên Chúa, “hoàn tất mọi điều công chính” (3:15). Chúa Giêsu nói đến mục đích của việc Người chịu phép rửa bởi tay Gioan. Động từ plçroô “hoàn tất” thường liên quan đến kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã được tiên báo qua các ngôn sứ. Trong những trường hợp chỉ sự kiện đã xảy ra để “ứng nghiệm” điều đã được nói trước trong Cựu ước, động từ nầy thường ở thể thụ động (1:22; 2:15.17.23…). Và động từ nầy ở thể chủ động khi nói đến những việc Chúa Giêsu làm (3:15; 5:17). Chúa Giêsu đến để hoàn thành mọi ý định cứu độ của Thiên Chúa như đã được nói trong lề luật và các ngôn sứ. Dikaiosynç, “sự công chính” trong Matthêô là một cách diễn tả về sự cứu độ, “Phúc cho ai đói khát sự công chính” (5:6). Sự công chính gắn liền với “Nước Trời” (5:10.20; 6:33), với “Cha trên trời” (6:1). Do đó “hoàn tất điều công chính” đối với Chúa Giêsu là làm theo ý Chúa Cha để cứu độ mọi người. Và Thiên Chúa muốn con người tìm kiếm sự công chính/cứu độ nầy và Nước Trời trước tiên (6:33).
“Mọi sự công chính” mà Chúa Giêsu hoàn tất là gì? - Người đến giữa những người tội lỗi và cứu vớt họ. Chúa Giêsu đứng chung với những người “xưng thú tội” (3:6). Họ là những tội nhân và muốn hoán cải. Ý nghĩa tên của Người là “cứu dân của Người khỏi tội lỗi của họ” (1:21). Đó cũng là sứ mạng của Người sẽ được mặc khải sau nầy: “Tôi không đến để kêu gọi những người công chính mà những người tội lỗi” (9:13). Trong việc làm phép rửa nầy, không chỉ Chúa Giêsu, mà cả Gioan nữa, “chúng ta” (c. 15), cũng phải hoàn tất mọi điều công chính. Gioan không làm phép rửa do sáng kiến riêng của ông, mà do Thiên Chúa muốn (x. 21:25). Do đó, việc ông làm phép rửa cho Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu chịu phép rửa bởi ông là do ý muốn của Thiên Chúa. Không bên nào làm theo ý của mình.
Thánh Thần ngự xuống trên Người và lời xác nhận của Chúa Cha (3:16-17)
Có thể nhận ra khá dễ dàng ba phân đoạn trong hai câu nầy: - Câu tóm lược việc Chúa Giêsu đã chịu phép rửa xong và lên khỏi nước (3:16a); - Một thị kiến trên trời, dẫn đầu với kai idou (3:16b); - Một lời phán từ trời, dẫn đầu với kai idou (3:17). Thiên Chúa Cha có lời cuối cùng về Con của Người.
“Lên khỏi nước” kết thúc việc Chúa Giêsu chịu phép rửa.
Tên “Giêsu” được nêu lên lần nữa ở đây và đặt trong tương quan với Thánh Thần và Chúa Cha. Trong khi đó, trên kia tên “Giêsu” đặt bên cạnh tên “Gioan”, nguời làm phép rửa cho Người. “Trời mở ra” là cách nói chỉ một thị kiến (Cv 7:56; 10:11; Ezk. 1:1), bao gồm hành động của Thiên Chúa (3:16b) và mạc khải của Người (3:17). Động từ ở thể thụ động được hiểu là do Thiên Chúa hành động. Matthêô trình bày Chúa Giêsu trong tình trạng chủ động, “Người thấy Thánh Thần Thiên Chúa như chim câu ngự xuống trên Người” (3:16b). Việc Thánh Thần ngự xuống trên Người chỉ Chúa Giêsu là người tôi tớ của Thiên Chúa tuyển chọn để thi hành sứ vụ cứu độ của Người (12:18; x. 1 Sam 10:6.10; Is 11:2). Đây cũng là khúc quanh quyết định của lịch sử cứu độ. Chỉ sau khi Thánh Thần Thiên Chúa ngự xuống trên Người, Người mới bắt đầu sứ vụ rao giảng công khai (x. Lc 4:14; Cv 10:38).

Mạc khải của Thiên Chúa (3:17)
“Tiếng từ trời” (3:17) chỉ tiếng nói của Thiên Chúa (x. 17:5). Có thể Matthêô kết hợp Tv 2:7 và Is 42:1 trong câu “Đây là Con Ta yêu dấu, người Ta sủng mộ”. Tv 2:7 nói đến việc Thiên Chúa tuyển chọn một người và đặt người ấy làm vua vua. Vị vua nầy được gọi là “Con của Ta”. Is 42:1 nói đến sự hài lòng về người tôi tớ, và đặt người tôi tớ nầy “đem sự công chính đến mọi dân tộc”. Áp dụng ở đây: Chúa Giêsu là Con của Thiên Chúa (1:20.23; 4:3.6…;27:4) được đặt lên như một vị vua (2:2; 27:37.42); đồng thời Người cũng là người tôi tớ (12:18) của Thiên Chúa làm theo ý của Thiên Chúa để mang lại ơn cứu độ cho con người. Cụm từ “Con chí ái, người Ta sủng mộ” đi chung với nhau và chỉ được dùng cho Chúa Giêsu (3:17; 12:18; 17:5). Động từ eudokeô “hài lòng” bao hàm ý nghĩa là Chúa Giêsu được Thiên Chúa yêu thương, hài lòng; do đó Người được tuyển chọn ban Thánh Thần và sai đi rao giảng Tin mừng (12:18). Mọi người phải nghe lời Người để được ơn cứu độ (17:5). Vậy, Chúa Giêsu vừa là “vua” vừa là “tôi tớ”. Thiên Chúa sai Người đến để cứu độ con người. Người đi xuống nước và đứng chung với những tội nhân như một “tôi tớ đau khổ” không phân biệt với họ. Như một vị vua, Đấng Kitô, Người cứu vớt họ. Sự công chính mà Người phải hoàn tất chính là “cứu vớt dân Người” (1:21) theo ý muốn của Thiên Chúa.
Một cách giải thích về “Thánh Thần như chim bồ câu” (J - L. Ska, Cose Nuove e Cose Antiche (Mt 13,52). Pagine scelte del Vangelo di Matteo, Bibbia e Spiritualità, EDB, 2004, no. 22, p. 48-49): “Trong thế giới Kinh thánh, bồ câu là loài chim di trú. Mùa thu bay đi và trở lại vào đầu mùa hạ. Thành thử việc bồ câu trở lại trùng với cuối mùa mưa và đầu mùa ấm áp và xinh đẹp (Nhã ca 2:12). Cũng thế, con bồ câu mang về tàu Nôe một nhành lá ôliu sau đại hồng thủy báo hiệu một mùa mới cho vũ trụ, chấm dứt một mùa mưa gió dai dẳng (Kn 8:10-11; Nhã ca 2:11). Có thể nghĩ rằng tin mừng đã nhìn thấy trong việc Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu dưới hình chim bồ câu lời loan báo của một mùa xuân mới, một mùa mới trong lịch sử cứu độ, vì cùng với Chúa Giêsu “Nước Trời đã đến (3:2)”.
Bởi sứ mạng của Chúa Giêsu là “cứu dân của Thiên Chúa khỏi tội”, Người đã khởi đầu sứ mạng nầy bằng việc đến và đứng giữa những tội nhân, và kết thúc bằng việc đổ máu ra để cứu chuộc họ (26:28). Chỉ ai thú nhận mình là tội nhân mới được Người ban ơn cứu độ và đưa về lại trong thông hiệp hoàn hảo với Thiên Chúa.
Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

 

TN1-A65. Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong sứ vụ của Chúa Giê-su

LỄ CHÚA CHỊU PHÉP RỬA
Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 3:13-17)
 

Chúng ta thấy cảm động trước lòng khiêm tốn của thánh Gio-an Tẩy Giả.  Nhưng chúng ta cũng: TN1-A65

          Chúng ta thấy cảm động trước lòng khiêm tốn của thánh Gio-an Tẩy Giả.  Nhưng chúng ta cũng khâm phục khi ngài tuân lệnh Chúa Giê-su và làm phép rửa cho Người.  Thánh Gio-an hiểu rằng nếu phép rửa của ngài chỉ là dấu hiệu giúp dân chúng bắt đầu cuộc sám hối, thì đối với Chúa Giê-su phép rửa ấy lại là dấu hiệu để Người khởi đầu sứ vụ.  Cốt lõi của dấu hiệu là sự kiện Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu ngự trên Chúa Giê-su và tiếng phán của Chúa Cha.  Phải có sự diện diện của Thánh Thần thì Chúa Giê-su mới bắt đầu thi hành sứ vụ công khai.  Phải có lời sai đi của Chúa Cha “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” thì Chúa Giê-su mới lên đường rao giảng và chữa lành.
          Chúa Giê-su thuyết phục ông Gio-an làm phép rửa cho Người với lý do “nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” là Người muốn trở nên giống với chúng ta mọi sự, trừ tội lỗi.  Người muốn hòa mình với thân phận tội lỗi của chúng ta.  Chính vì lòng khiêm nhượng ấy, Chúa Giê-su đã được Thánh Thần ngự xuống và được nghe tiếng Chúa Cha phát biểu lòng yêu thương đối với Người.  Đây chính là hành trang cần thiết để Chúa Giê-su thi hành sứ vụ:  tinh thần của Thiên Chúa và tình yêu của Người.  Tinh thần của Thiên Chúa qua sự hướng dẫn của Thánh Thần giúp Chúa Giê-su lúc nào cũng đi theo đúng đường lối của Thiên Chúa.  Sách Tin Mừng kể lại cuộc sống của Chúa Giê-su, lập đi lập lại điệp khúc “được Thánh Thần thúc đẩy, được đầy tràn Thánh Thần…”  Tinh thần Thiên Chúa đầy ắp trong lòng, nên Chúa Giê-su mới thắng được những cám dỗ của tinh thần thế gian hoặc ma quỷ.  Tinh thần và đường lối của ma quỷ thế gian đã biểu lộ trong những cám dỗ Chúa chịu ở hoang địa.  Tinh thần ấy xúi giục Người đặt ý mình trên thánh ý Chúa Cha, làm vinh danh mình thay vì làm vinh danh Chúa Cha, theo “đường tắt” thay vì phải chấp nhận cuộc Thương khó và cái chết.  Giữ vững tinh thần Thiên Chúa đã được Chúa Giê-su thực hiện không chỉ trong cám dỗ hoang địa, mà trong suốt sứ vụ.  Có lần Chúa Giê-su đã “nặng lời” với Phê-rô:  “Xa-tan! Lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mác-cô 8:33).
          Cùng với tinh thần Thiên Chúa, Chúa Giê-su còn ôm ấp tình yêu của Thiên Chúa.  Người thi hành mọi sự trong niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa và chân thành đáp lại tình yêu Thiên Chúa.  Tình yêu ấy bao bọc Chúa Giê-su mọi lúc mọi nơi, khi rao giảng cho dân chúng, khi chữa lành bệnh tật, khi khen ngợi đức tin lớn lao của người khác hoặc khi trách mắng người Pha-ri-sêu và kinh sư.  Sứ mệnh của Chúa Giê-su là sứ mệnh tình yêu, làm cho nhân loại biết Thiên Chúa yêu thương họ như thế nào (Gio-an 3:16).  Cho nên Chúa Giê-su phải cảm nghiệm và sống tình yêu ấy trước khi tỏ ra cho người khác.  Cuối cùng, tình yêu của Thiên Chúa đã được Người biểu lộ trọn vẹn qua cái chết trên thập giá.
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Hai sức mạnh chính trong cuộc đời Chúa Giê-su đã giúp Người chu toàn sứ mệnh Thiên Chúa trao ban, đó là tinh thần và tình yêu của Thiên Chúa.  Ki-tô hữu chúng ta có khi nào tự hỏi mình về hai yếu tố ấy không?  Sống giữa trần gian, những chúng ta “không thuộc về thế gian”, không suy nghĩ và hành động theo cách của thế gian         , nhưng theo mẫu gương của Chúa Giê-su.  Chúng ta sống giữa những môi trường thiếu vắng tình yêu, nhưng lại là những người có sứ mệnh đem tình yêu đến cho mọi người.  Tình yêu và tinh thần của Thiên Chúa phải là động lực và đường lối để chúng ta làm mọi sự cho Chúa, cho tha nhân và cho chính bản thân.
Lm. Đaminh Trần đình Nhi

 

TN1-A66. Lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa

Trong suốt mùa Thường niên, Phụng vụ Lời Chúa cho ta cơ hội chiêm ngưỡng Chúa Giê-su: TN1-A66

          Trong suốt mùa Thường niên, Phụng vụ Lời Chúa cho ta cơ hội chiêm ngưỡng Chúa Giê-su thi hành sứ vụ cứu độ, lắng nghe cũng như suy gẫm về những lời giảng và việc làm của Người.  Chúa Cha sai Người đến thế gian để chu toàn sứ mệnh được trao phó.  Trước khi một người bắt tay vào một công việc quan trọng, ta thường được nghe những lời giới thiệu về người ấy.  Các bài đọc hôm nay mượn lời ngôn sứ I-sai-a, lời giảng của thánh Phê-rô Tông đồ và nhất là tiếng Thiên Chúa Cha phán từ trời cao, để chính thức giới thiệu với toàn thế giới Đức Giê-su Ki-tô, Đấng khởi sự sứ vụ rao giảng Tin Mừng và cứu độ nhân loại.
1.  Chúa Giê-su, người tôi trung của Thiên Chúa (bài đọc Cựu Ước – Is 42:1-4,6-7)
          Qua lời ngôn sứ I-sai-a, Thiên Chúa phán với ta:  “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng”.  Ngôi Lời xuống làm người phàm và trở nên giống như chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.  Người đến không mang danh phận cao quý của bậc vua chúa quan quyền, nhưng xin được làm “người tôi tớ trung tín của Đức Chúa”.  Là người tôi tớ trung tín, Chúa Giê-su đã hoàn toàn sống tinh thần vâng phục Thiên Chúa.  Đáp lại, Thiên Chúa luôn “nâng đỡ, tuyển chọn và hết lòng quý mến” người tôi tớ trung tín. 
Lòng trung tín của Chúa Giê-su được biểu lộ qua tất cả cuộc sống, từ tư duy đến hành động, nhất nhất đều rập theo ý muốn của Thiên Chúa, không bao giờ phản bội, đi ngược lại ý muốn ấy, cho dù có phải cam lòng chịu chết khổ nhục trên thập giá.  Sống trung tín đâu phải chuyện dễ dàng đối với con người.  Do đó, Chúa Giê-su “khi còn sống kiếp phàm nhân…, dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5:8).  Đổi lại, Thiên Chúa tiếp tục tuyển chọn, nâng đỡ và quý mến người tôi trung.  Hành vi tuyển chọn, nâng đỡ và quý mến không phải là một lần cho tất cả, nhưng là một mối quan hệ liên tục từng giây phút trong cuộc đời.  Khi nói Thiên Chúa tuyển chọn, nâng đỡ và quý mến Đức Giê-su thì có nghĩa là điều ấy nói lên tấm lòng của Người đối với Đức Giê-su và Đức Giê-su đã đáp lại tấm lòng của Thiên  Chúa.
Sau lời giới thiệu người tôi trung của Đức Chúa, ngôn sứ I-sai-a nói đến cá tính và sứ mệnh của ngài.  Người tôi trung này sẽ phản ánh tấm lòng của Thiên Chúa, tấm lòng từ bi nhân hậu và giàu tình thương (Tv 103).  Thần trí của ngài cũng chính là thần khí của Thiên Chúa.  Người tôi trung này được sai đến một thế giới bị thương và yếu đuối như “cây lau bị giập, tim đèn leo lét” đang cần bàn tay bà mẹ của Thiên Chúa săn sóc chữa lành.  Tuy nhiên ngài cũng xử sự cứng rắn như người cha để “làm sáng tỏ công lý” và chỉ bảo giáo huấn con cái.  Sứ mệnh của ngài là giải phóng nhân loại đang sống trong cảnh tối tăm mù lòa và ngục tù tội lỗi.  Đối chiếu với tất cả những gì các sách Tin Mừng đã viết, ta nhận thấy người tôi trung ấy không là ai khác ngoài Chúa Giê-su, Đấng đã thực hiện hết mọi điều các vị ngôn sứ đã nói về Người.
2.  Chúa Giê-su là Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong (bài đọc Tân Ước – Cv 10:34-38) 
          Tuy nhiên người tôi trung ấy lại khó được người ta chấp nhận, nhất là người Do-thái.  Do đó, trong bài giảng đầu tiên cho người dân ngoại tại nhà ông Co-nê-li-ô, đại đội trưởng người Rô-ma, thánh Phao-lô đã cho họ biết về “Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của mọi người”.  Qua Chúa Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa đã tiếp nhận mọi người, Do-thái cũng như dân ngoại.  Nói về Đức ki-tô, thánh Phê-rô đã tóm tắt như sau:  “Quý vị biết rõ:  Đức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong cho Người.  Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người”.  Quả thực ở đây thánh Tông đồ đã lập lại tư tưởng của ngôn sứ I-sai-a nói về người tôi trung của Đức Chúa như ta vừa nghe ở trên.  Khác một điều là ngài trình bày cuộc đời và sứ mệnh của Chúa Giê-su như “biến cố” cứu độ.  Vậy biến cố ấy là gì?  Đó là Chúa Giê-su, “người Na-da-rét” (Mt 2:23), đã được Thiên Chúa xức dầu để ra đi thi hành sứ vụ cứu độ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần và với quyền năng Thiên Chúa.  Người đã đem ân phúc của Thiên Chúa đến cho loài người và giải phóng họ khỏi nanh vuốt ma quỷ.  Giải phóng phải được thực hiện từ gốc rễ.  Mọi người đều bị ma quỷ kiềm chế dưới ảnh hưởng của nó.  Do đó khi Chúa Giê-su chữa lành mọi bệnh tật thể lý hoặc thiêng liêng là Người hóa giải sự kiềm tỏa của ma quỷ.
          “Biến cố Đức Giê-su Na-da-rét” là Tin Mừng bình an được loan báo, trước hết cho nhà Ít-ra-en, và bây giờ cho các dân ngoại được biểu tượng là gia đình ông Co-nê-li-ô.  Thiên Chúa không dành riêng ơn cứu độ cho Ít-ra-en, nhưng cho “bất cứ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành thuộc bất cứ dân tộc nào”.  Nếu nhìn vào cách xếp đặt của sách Công vụ Tông Đồ, ta sẽ thấy việc thánh Tông đồ Phê-rô rao giảng Tin Mừng cho nhóm dân ngoại đầu tiên là gia đình ông Co-nê-li-ô sẽ khai mào cho công cuộc truyền giáo của vị Tông đồ dân ngoại là thánh Phao-lô.  Như thế, Đức Ki-tô không chỉ “thi ân giáng phúc và chữa lành” trong cõi Giu-đê mà thôi, nhưng Phao-lô và các vị truyền giáo tương lai sẽ giới thiệu Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong đến với muôn dân.
3.  Chúa Giê-su là “Con Yêu Dấu” của Thiên Chúa Cha (bài Tin Mừng – Mt 3:13-17)
          Bài đọc trích sách ngôn sứ I-sai-a và bài giảng của thánh Phê-rô giúp ta đi vào cuộc đăng quang khởi sự sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su.  Không phải là vẻ huy hoàng của một ông vua trần thế hoặc tổng thống trong ngày nhậm chức, nhưng là khung cảnh đơn sơ và khiêm tốn xảy ra bên bờ sông Gio-đan.  Cũng không phải là một buổi lễ được tổ chức riêng biệt, nhưng là biến cố xảy ra trong khu vực ông Gio-an rao giảng sự sám hối đang khi dân chúng lũ lượt đến xin ông làm phép rửa.  Chúa Giê-su “đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình”, cũng như bao người khác.  Không ai có thể ngờ được danh phận của Người ngoại trừ ông Gio-an.  Lúc đầu ông Gio-an không muốn làm phép rửa cho Người và muốn công bố cho mọi người biết Chúa Giê-su là ai.  Nhưng Người đã ngăn cản ông làm chuyện đó.  “Bây giờ cứ thế đã.  Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”.  Chúa Giê-su không muốn “đốt giai đoạn”, nhưng cứ thế đã, nghĩa là cứ để cho người ta tự ý đáp lại ơn cứu độ bằng cách nhìn nhận Người là ai.  Muốn được cứu độ là việc tự ý, chứ Thiên Chúa không cưỡng ép ai.
          Phần chính của biến cố Chúa Giê-su chịu phép rửa không phải là cuộc gặp gỡ giữa Người với ông Gio-an, nhưng là quang cảnh thần hiện của Ba Ngôi Thiên Chúa:  Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Cả Ba Ngôi cộng tác với nhau trong việc cứu độ nhân loại.  Đấng thực hiện kế hoạch cứu độ là Chúa Con, nhưng luôn luôn có sự hiện diện của Chúa Thánh Thần để giúp cho việc thực hiện đi theo đúng đường lối và tinh thần của Thiên Chúa, có sự hiện diện của Chúa Cha để khích lệ nâng đỡ Chúa Con.  Trong hành trình rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su được kể lại trong sách Tin Mừng, từ đây ta sẽ luôn luôn gặp lại những giây phút kết hiệp thân mật giữa Ba Ngôi.  Những hình ảnh Chúa Giê-su được Thánh Thần thúc đẩy hoặc những lúc Người cầu nguyện với Chúa Cha đều nói lên sự cộng tác chặt chẽ của các Đấng trong kế hoạch cứu độ.
          Điểm đặc biệt trong cuộc thần hiện này là cuộc biểu lộ tình yêu Thiên Chúa.  Thánh Thần lấy hình chim câu đáp xuống trên Chúa Giê-su.  Còn Chúa Cha được diễn tả bằng tiếng nói yêu thương từ trời cao.  Hình chim câu và tiếng nói yêu thương quả thực là những biểu tượng sống động cho sự thắm thiết nồng nàn của tình yêu Ba Ngôi.  Như Thần Khí Thiên Chúa lúc nào cũng ngự trên Chúa Con thế nào, thì tiếng nói yêu thương của Chúa Cha lúc nào cũng vang lên trong tâm hồn Chúa Con như vậy.  Chính trong tình yêu sung mãn của Chúa Cha và Thánh Thần mà Chúa Con được sai đến trần gian thì cũng chính trong tình yêu sung mãn ấy mà Chúa Con đáp lại tình yêu của các Ngài bằng cách chu toàn sứ mệnh được trao phó.  Người đã đáp lại tình yêu một cách trọn vẹn đến nỗi “hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15:13).
4.  Sống Lời Chúa
          Phụng vụ Lời Chúa coi biến cố Chúa Giê-su chịu phép rửa như cuộc lên đường khởi sự sứ vụ cứu độ và rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su.  Buổi lễ lên đường này được cử hành với sự hiện diện của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.  Chúa Giê-su đã chu toàn sứ mệnh như thế nào, ta đã được thấy qua sách Tin Mừng.  Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để ta suy nghĩ về danh phận của ta.  Qua Bí tích Rửa tội, ta cũng được gọi là “con yêu dấu” của Thiên Chúa.  Ta cũng được Thánh Thần ngự xuống khi ta được rửa tội và nhất là khi ta lãnh nhận Bí tích Thêm sức.  Nhưng ta có thực sự lên đường hay không và có thi hành sứ mệnh bằng cách sống như một Ki-tô hữu đích thực hay không, thì đó luôn là một mời gọi và thách đố cho ta.
Suy nghĩ:  Thánh Phê-rô nói với gia đình ông Co-nê-li-ô về Chúa Giê-su rằng:  “Quý vị biết rõ:  Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người”.  Vậy Chúa Giê-su đã đi vào tâm hồn tôi chưa?  Ân phúc Người làm cho tôi là những gì và Người chữa lành tôi thế nào?
Cầu nguyện:  Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Đức Ki-tô chịu phép rửa tại sông Gio-đan và Thánh Thần ngự xuống trên Người, Chúa đã long trọng tuyên bố Người là Con chí ái.  Xin cho chúng con là đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, hằng bền vững thi hành ý Chúa.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện nhập lễ, lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa)

 

TN1-A67. CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

Mc 1, 7-11
 

Nhà văn Antoine de Saint Exupéry có viết một câu thế này:" Và bây giờ là bí mật của tôi một: TN1-A67

Nhà văn Antoine de Saint Exupéry có viết một câu thế này:" Và bây giờ là bí mật của tôi một bí mật rất đơn giản ; chỉ bằng con tim mà người ta có thể nhìn thấy   một cách đúng đắn điều cần thấy thì mắt không nhìn thấy được (And now here is my secret,a  very simple Secret ;it is only which the heart that one can see rightly ,what is essential is invisible to the Eye ".Vâng,điều ấy hôm nay thực hiện nơi con người của Chúa Giêsu,Đấng cứu thế,đangxếp hàng giữa giòng người tội lỗi ,để chờ đến lượt mình được Gioan Tẩy Giả dìm vào giòng nước sông Hòa Giang ,chịu phép rửa thống hối .Đây là sự kiện quan trọng khai mạc sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu và là một yếu tố trong cuộc cứu chuộc của Ngài. Điều con người không nhận ra Ngài dù rằng Ngài đang sống giữa họ ,chỉ có con  mắt đức tin con tim mở rộng con người mới có thể nhận ra Chúa Giêsu…
 CHÚA GIÊSU XIN GIOAN TẨY GIẢ LÀM PHÉP RỬA CHO MÌNH: Khi xin Gioan
Tẩy Giả làm phép rửa cho mình ,Chúa Giêsu muốn làm gương cho mọi người thấy rằng mọi người đều phải thống hối vì con người là loài thụ tạo,con người yếu hèn,tội lỗi ,nếu không sám hối ăn năn ,con người sẽ không nhận lãnh được ơn cứu độ,con người không lãnh nhận được hồng ân của Chúa .Phép rửacủa Gioan chỉ là một dấu chỉ,một khởi điểm ,chỉ là một bước đầu tiên trong một cuộc hành trình đức tin,một cuộc hành trình xem ra thật gay go nếu không có Chúa Thánh Thần trợ giúp,hướng dẫn và dắt đi. Phép rửa của Gioan chỉ cho thấy dân chúng đang muốn bắt đầu bằng một cuộc sống mới,một cuộc đổi đời ,một cuộc thay rễ tận gốc,tận căn .Gioan ẩy Giả đã soi dẫn cho ta hay:" Ông rửa bằng nước để giúp mọi  người thấy thiện chí của họ là thống hối ăn năn để chuẩn bị cho phép rửa thứ hai là Thánh Thần và lửa mà Chúa sẽ đem đến cho nhân loại "(Mt 3,11 ). Gioan cho hay thời cũ,thời chuẩn bị,thời dọn đàng đã chấm dứt một thời mới đang xuất hiện với Chúa Giêsu.Chúa Giêsu làm phép rửa tái sinh trong Chúa Thánh Thần.Ngài nói với các môn đệ trước khi về trời:"Anh em hãy đi khắp mút cùng trái đất ,rao giảng cho họ về Nước Trời.Hãy rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần "(Mt 28.19 ). Lãnh nhận phép rửa của Chúa
Giêsu,con người được tham dự vào đời sống Thần Linh của Người . Chính hôm nay, bên giòng sông Giorđan ,Chúa Giêsu đã chứng tỏ Người là con Thiên Chúa .Tôi muốn đan cử một hình ảnh tôi mới đọc được ở một câu chuyện nói về cái cốt lõi của con người,nói về con người thực của mỗi người ,con người thực cứu thế của Chúa Giêsu:"số là bên Miến Điện có nhiều bức tượng Phật bằng vàng ròng,vì sợ bị ngoại xâm ăn cắp,chiếm lấy đồ gia sản quí giá,có vị sư đã lấy một lớp đất sét trét lên các bức tượng ấy để dấu đi cái cốt lõi thật của các bức tượng …nhưng dưới cái lớp vỏ đất sét ấy là cả một khối vàng ròng quí giá .
“Chúa Giêsu lúc đó và ngay cả bây giờ có rất nhiều người đã không nhận ra Người dù rằng Gioan  đã giới thiệu Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và qua phép rửa của Gion,chính Thiên Chúa đã xác nhận Ngài qua những sự kiện siêu phàm::trời mở ra,Thánh Thần ngự xuống và có tiếng phán từ trời "Đây là con Ta yêu dấu ". Bầu trời mở ra có nghĩa Thiên Chúa nhậm lời ngôn sứ Isaia:"Xin Chúa hãy mở toang bầu trời ra và hãy mau xuống cứu dân của Ngưới (Isaia 64,1 ) . Thần khí gợi cho ta về ngày tạo dựng vũ trụ"Thần Khí Thiên Chúa bay là là trên nước đem sinh khí và sự sống,mang lại một thế giới mới,thời đại mới.Thiên Chúa Cha xác nhận:"Đây là con Ta yêu dấu ".Chúa Giêsu là Adam mới đối nghịch với Adong cũ đem lại cái chết cho nhân loại. Phép rửa của Chúa Giêsu là phép rửa diễn ra trong Thánh Thần và quyền năng,phép rửa mạc khải ơn cứu chuộc,mở ra một kỷ nguyên,một thời đại mới:
Chúa là Adam mới,đem lại sự sống trường sinh cho con người .Và ,dưới cái nhìn bình thường ,với con mắt phàm của con người ,nhân loại không nhận ra Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu đang khai mở một kỷ nguyên mới ,một thời đại hồng ân,cứu chuộc.Dưới lớp vỏ cứng nhắc,dưới lớp đất sét cứng đơ,người ta phát hiện ra cốt lõi của các bức tượng là vàng ròng quí hiếm.Dưới con mắt đức tin,chúng ta nhận ra Đấng đang chịu hòa mình với những tội Chúa Giêsu…
 
VẪN LÀ MỘT PHÉP RỬA… Mỗi người Kitô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội là được
tháp nhập với Đức Kitô ,Adam mới,Đấng tới mang ơn cứu độ cho mọi người .Lãnh nhận bí tích rửa tội ,người Kitô hữu được dính liền vào thân nho:"Thầy là cây nho,chúng con là nhành …"Người Kitô hữu trở thành cộng tác viên đắc lực để xây dựng trời mới,đất mới,xây dựng thời hòa bình,trật tự mới .Như Chúa Giêsu,khi ta lãnh nhận bí tích rửa tội:trời cũng mở ra,Thánh Thần cũng xuống trên ta và Thiên Chúa Cha cũng tuyên phán với mỗi người chúng ta:"Đây là con Ta,hôm nay Ta đã sinh ra con "(Tv 2,7 ).
Quả thực,chúng ta sau cái vỏ bề ngoài cứng đơ , khó lột  là con người thật của ta ,người thật với con tim .với cõi lòng đã được đổi mới,cải hóa ,con người thật của ta là cả khối vàng ròng quí giá vì ta đã được biến đổi thực sự qua bí tích rửa tội bằng Thần khí và lửa. Như tấm đá cẩm thạch ,ta được gọt giũa,tỉa bớt và tạc uấn sao cho càng ngày càng giống Chúa Kitô .Đó là con người thật của chúng ta,là bản chất tự nhiên và là thụ tạo mới của chúng ta nhờ bí tích rửa tội .
Xem ra ,nhiều khi ta quên đi rằng con người của ta đã được tái sinh qua cái chết và phục sinh của Chúa  vì  dưới  cái vỏ bề ngoài ,ta còn chứa đựng một chiều sâu thăm thẳm,một bề dầy giá trị vì cốt lõi của ta là sự xả kỷ,dấn thân phục vụ,xây dựng thế giới mới,trật tự mới.Ta hãy nhớ lại lời thánh Phaolô đã nói:" Ai tin theo Chúa Kitô thì phải đóng đinh xác thịt mình vào thập giá với Chúa Kitô ".Nơi khác thánh Phaolô nói:"Hết thảy chúng ta đã được thanh tẩy trong Đức Kitô ,thì chính trong sự chết của Ngài mà ta được thanh tẩy.Vậy,nhờ thanh tẩy ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết,thì cả ta nữa,ta cũng bước đi trong đời sống mới .Vì nếu ta đã nên đồng hình với sự chết của Ngài,thì ta cũng được đồng dạng với sự sống lại của Ngài "(Rm 6,3-5 ).
Và thánh Phaolô kết luận:" Sự sống đích thực của anh em là Đức Kitô và khi Ngài xuất hiện ra thì anh em cũng được xuất hiện với Ngài để chia s3 vinh quang của Ngài "( Cl 3,1-4). Thánh công đồng Vaticanô trong hiến chế Phụng Vụ số 6 có nói:" Nhờ phép rửa,con người được tháp nhập vào mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô:cùng chết,cùng chịu mai táng, cùng sống lại với Đức Kitô ".
Tất cả chúng ta là Kitô hữu chúng ta đều mang một chiều sâu,một cót lõi là Đức Kitô đang sống trong ta:"Tôi sống không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi ".Đó là con người thật của ta  nhờ bí tích thánh tẩy .
 
LỜI CẦU NGUYỆN
-   Lạy Chúa Giêsu ,Chúa vô tội nhưng đã đích thân nhận hòa mình vào đoàn người tội lỗi để làm gương cho mọi người sám hối,ăn năn .Xin cho chúng con luôn sẵn sàng chấp nhận mọi nghịch cảnh để làm chứng cho Chúa chịu chết và phục sinh .
-    Lạy Chúa Giêsu,Chúa muốn cứu độ mọi người không loại trừ một ai.Xin Cho chúng con có cái nhìn bao dung của Chúa để chúng con luôn biết thứ tha hơn là kết án.
-     Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết rao giảng bằng gương sáng cuộc đời và bằng lời Chúa khi thuận tiện để nhiều người quay trở về và lãnh nhận phép rửa .
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
Tại sao Chúa Giêsu lại xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình ?
Phép rửa của Gioan Tẩy Giả và của Chúa Giêsu khác nhau thế nào ?
Có cần phải lãnh nhận Bí Tích rửa tội mới được vào Nước Trời không ?
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 

TN1-A68. LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA

(Mát-thêu 3: 13-17)
 

 Sắp đặt phụng vụ cho mùa Thường niên, Giáo Hội đặt lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa vào Chúa Nhật: TN1-A68

          Sắp đặt phụng vụ cho mùa Thường niên, Giáo Hội đặt lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa vào Chúa Nhật thứ nhất để mở đầu và lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua vũ trụ vào Chúa Nhật sau cùng để kết thúc.  Sắp đặt như thế cho ta thấy được tổng quát sứ vụ của Chúa Giê-su sẽ diễn tiến như thế nào.  Sứ vụ ấy được thi hành do Con Một Thiên Chúa, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và nằm trong kế hoạch của Chúa Cha nhắm mục đích thiết lập nền công chính mới của Thiên Chúa dành cho nhân loại.  Trình bày hình ảnh Chúa Giê-su sau khi ở dưới nước lên có Chúa Thánh Thần ngự trên Người và tiếng Chúa Cha xác nhận Người là Con và là Tôi Tớ (tức là Đấng Mê-si-a), Tin Mừng Mát-thêu muốn nhắm đến một Ít-ra-en Mới sẽ khởi sự được thiết lập trong Chúa Giê-su Ki-tô và hoàn tất trong Chúa Giê-su Ki-tô.
 
a)  Dòng sông Gio-đan
          Cũng như mọi dòng sông khác trên mặt đất, nếu không gắn liền với một biến cố trọng đại nào, Gio-đan sẽ chẳng được ai nói tới.  Gio-đan liên hệ với lịch sử cứu độ.  Trong Cựu Ước, ông Gio-suê đã dẫn dân được tuyển chọn đi qua sông Gio-đan để đi vào đất Thiên Chúa đã hứa ban cho họ.  Dòng sông đã thay đổi số phận Ít-ra-en để sau khi qua đó họ không còn là một đám dân du mục nữa, nhưng là dân tộc phụng sự Chúa và Chúa dùng lịch sử của họ để thực hiện kế hoạch cứu độ.
          Hôm nay, Chúa Giê-su rời Na-da-rét miền Ga-li-lê để tới dòng sông này, không chỉ để ôn lại một biến cố lịch sử của dân tộc Người, nhưng là cùng với nó và tất cả nhân loại để đi vào một triều đại mới, Triều Đại Thiên Chúa.  Từ lòng sông này, con người đã ra khỏi nó để thống hối, chuẩn bị tâm hồn đón nhận Đấng Mê-si-a đến.  Còn Chúa Giê-su, Đấng Mê-si-a đi qua dòng sông này khi nhận phép rửa của Gio-an, sẽ dẫn đưa nhân loại vào Đất Hứa trên trời để trở về với Đấng Tạo dựng của họ.
          Triều Đại Thiên Chúa là triều đại của Tin Mừng được rao giảng, là năm hồng ân, thời gian tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa được tỏ ra cho nhân loại một cách cụ thể, tất cả đều nằm trong sứ vụ Chúa Giê-su bắt đầu từ hôm nay.  Bắt chước bài công bố Tin Mừng Phục Sinh ca tụng tội hồng phúc của A-đam, ta cũng cảm tạ dòng sông Gio-đan đã cho ta Chúa Giê-su, là Gio-suê Mới đưa ta vào vương quốc Ít-ra-en Mới của Người.
 
b)  “Bây giờ cứ thế đã.  Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”
          Lời nói đầu tiên của Chúa Giê-su khi Người bắt đầu cuộc đời công khai thật khó hiểu đối với chúng ta.  Nhưng với Người, những lời ấy đã nêu lên nguyên tắc căn bản để Người sống và thực hiện sứ mệnh Đấng Mê-si-a.  Ta hãy trở lại với cuộc đối thoại giữa Người và ông Gio-an để hiểu ý nghĩa những lời Người nói.  Trước hết Chúa Giê-su đến và tự ý xin ông Gio-an làm phép rửa cho Người.  Ông Gio-an từ chối và nói:  “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!”  Ông Gio-an là người công chính, luôn biết chỗ đứng của mình.  Ông đâu dám so sánh mình với Chúa Giê-su.  Không thể nào có chuyện ngược đời như thế được.  Nhưng Thiên Chúa có đường lối của Người.  Người đã làm chuyện ngược đời khi sai Con Một Người đến sống giữa nhân loại!  Giờ đây, Thiên Chúa làm người lại tiếp tục làm chuyện ngược đời, chuyện “thế mà Ngài  lại đến với tôi”, hoặc chuyện “bây giờ cứ thế đã.” Vậy tại sao lại “bây giờ”?  Và tại sao lại “cứ thế đã”?  Hẳn Chúa Giê-su đã hiểu rõ “bây giờ” là “giờ” của Người, giờ thi hành sứ mệnh và cũng là “giờ” của cuộc Thương khó và vinh hiển như thánh sử Gio-an đã hiểu.  Hiểu rõ thiên ý của Chúa Cha và hoàn toàn vâng phục, đó là ý nghĩa ẩn tàng trong lời nói đầu tiên của Chúa Giê-su.  Do đó, Người cũng mời gọi ông Gio-an hãy “cứ thế đã” (cứ làm phép rửa cho Người), hãy cộng tác với Người để cùng nhau chu toàn thánh ý Chúa Cha là giúp cho đức công chính của nhân loại được thể hiện.  Đức công chính ấy sẽ được thể hiện nơi Chúa Ki-tô, để Người trở nên con người công chính trước mặt Thiên Chúa, và để trong Người, toàn thể nhân loại được nên công chính.
          Những lời nói đầu tiên của Chúa Giê-su khi Người bắt đầu xuất hiện công khai trước dân chúng thật là vô cùng quan trọng.  Chúng đã phát biểu tâm nguyện và nguyên lý hành động của Người là luôn luôn triệt để thi hành thánh ý Chúa Cha.  Sau câu truyện này, nếu đọc tiếp câu truyện Chúa Giê-su chịu ma quỷ cám dỗ (Mt 4:1-11), ta lại càng hiểu rõ hơn tại sao Chúa Giê-su đã thắng các cơn cám dỗ của ma quỷ, dù là những cám dỗ mang hình thức khác nhau, nhưng chung quy vẫn đưa tới mục đích cuối cùng là xúi giục Chúa Giê-su làm theo ý mình chứ đừng làm theo kế hoạch của Chúa Cha.  Đó là Người đã chiến thắng vì Người muốn “giữ trọn đức công chính”.  A-đam đã không giữ trọn đức công chính bởi không tuân phục Thiên Chúa nên ông đưa nhân loại xa Chúa, thì giờ đây, A-đam Mới là Chúa Giê-su sẽ thực hiện đức công chính để đưa con người trở về với Thiên Chúa.
 
c)  Thần Khí Thiên Chúa và tiếng từ trời
          Nguyên lý hành động của Chúa Giê-su để thi hành sứ mệnh được đặt dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.  Thánh Thần củng cố sứ mệnh của Chúa Giê-su qua việc xức dầu tấn phong Người làm Đấng Ki-tô (Is 11:2; 42:1).  Thánh Thần luôn “ngự trên Người” để Người giữ vững nguyên lý và trung thành với sứ mệnh.  Cũng như ngày đầu tạo dựng, Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước để tạo thành vũ trụ và muôn vật, thì giờ đây Thánh Thần bao trùm trên Chúa Ki-tô để thực hiện một cuộc tạo dựng mới.
          Cùng với Thánh Thần là tiếng phán từ trời của Chúa Cha, không chỉ là lời giới thiệu mà thôi, nhưng còn ngầm hiểu là ước vọng của Chúa Cha mong Con Một Người chắc chắn sẽ chu toàn những gì Người trao phó.
          Chúa Giê-su đã vào đời, ra đi thi hành sứ vụ với tất cả hành trang cần thiết:  một lý tưởng vững chắc, một tinh thần sáng tạo và một ý chí sắt son muốn đáp lại nguyện vọng của Chúa Cha.  Đó cũng là hình ảnh của người ra đi rao giảng Tin Mừng Thiên Chúa.  “Đẹp thay bước chân những sứ giả loan báo những tin mừng!” (Is 53:1;  Rm 10:15).
 
d)  Suy nghĩ và cầu nguyện
          Lời nói của ông Gio-an muốn xin Chúa Giê-su làm phép rửa cho ông có phải là một lời khích lệ tôi đến với Chúa Giê-su để xin được ơn tha thứ tội lỗi không?  Tôi đã ý thức thế nào về vai trò tuyệt đối của Chúa Giê-su đối với tình trạng tội lỗi của tôi?
          Đâu là Nguyên lý và Nền tảng cho cuộc sống của tôi?  Để phụng sự và ngợi khen Thiên Chúa có đích thực là ý nghĩa cho cuộc đời tôi không?  Làm sao đời tôi nói lên ý nghĩa ấy?
          Biến cố Chúa Giê-su chịu phép rửa dạy cho tôi điều gì trong cuộc sống Ki-tô hữu?
 
Cầu nguyện:
          “Lạy Cha từ ái,
          cảm tạ Cha đã ban cho chúng con
          ơn nhận biết và tin vào Đức Giê-su Con Cha,
          và được lớn lên trong lòng Giáo Hội...
          Cha muốn chúng con noi gương Đức Giê-su
          chu toàn thánh ý Cha trong cuộc sống.
          Xin cho chúng con mỗi ngày
          biết múc lấy ánh sáng và sức mạnh
          từ những phút giây trầm lặng bên Cha,
          gặp gỡ Đức Giê-su và nhìn lại chính mình.
          Cha đã cho chúng con trí tuệ và quả tim
          để góp phần xây dựng một thế giới
          ấm no và chan chứa tình người.
          Xin cho chúng con biết say mê học tập,
          biết đưa ánh sáng đức tin vào chuyên môn
          và biến tri thức khoa học thành lời tôn vinh Cha không ngừng.
          Cuối cùng, xin Cha nâng đỡ tình bạn giữa chúng con
          để chúng con hiệp thông với nhau
          trong mọi nỗi vui buồn của cuộc sống.
          Ước gì sau một đời yêu thương và phục vụ,
          chúng con lại được cùng sống bên Cha
          và bên nhau trong Nước Trời.  A-men.”
                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 76)
 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN1-A69. CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:      Công Vụ Tông Đồ 10: 34-38
 

Đoạn sách Công Vụ Tông Đồ trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nhắc đến sự kiện Chúa Giê-su: TN1-A69

Đoạn sách Công Vụ Tông Đồ trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nhắc đến sự kiện Chúa Giê-su chịu phép rửa của ông Gio-an. Sự kiện ấy đã được nói đến trong bài giảng của thánh Phê-rô tại nhà một viên đại đội trưởng người Rô-ma.
          Không bao lâu sau khi lãnh nhận Thánh Thần, các Tông Đồ hăng hái lên đường rao giảng Tin Mừng. Qua một thị kiến xảy ra ở nhà ông Phê-rô trọ tại Gia-phô, ông đã được lệnh Chúa truyền phải đến với cả những anh em Dân ngoại nữa. Ngay lúc ấy, Co-nê-li-ô, viên đại đội trưởng Rô-ma, cho người đến mời ông Phê-rô tới giảng Tin Mừng cho tất cả gia đình ông. Họ là những người Dân ngoại đầu tiên được đón nhận vào Giáo Hội do chính tay đấng Đại diện Chúa Ki-tô. Vậy phần trích dẫn bài giảng của thánh Phê-rô muốn trình bày điều gì?
          Trước hết thánh Phê-rô mở đầu bài giảng bằng cách đề cao tình yêu cứu rỗi của Thiên Chúa. Người muốn cứu chuộc mọi người, không phải chỉ những người Do-thái. Người đã sai Đức Giê-su Ki-tô đến loan báo Tin Mừng cứu rỗi cho nhân loại.
          Tiếp theo lời giới thiệu Đức Giê-su Ki-tô, bài giảng của Phê-rô nói vắn tắt về sứ vụ Cứu Thế của Chúa qua những biến cố chính trong cuộc đời dương thế của Người. Đây là bài giảng theo cùng một khuôn mẫu ngắn gọn (kerygma), sơ lược về sứ mệnh Cứu Thế của Chúa Giê-su, như chúng ta đã gặp trong sách Công Vụ Tông Đồ, khi ông Phê-rô giảng cho dân chúng Giê-ru-sa-lem ngày lễ Ngũ Tuần (2:14-36) và tại hành lang Sa-lô-môn cạnh Đền Thờ (3:11-26).
          Nhắc đến biến cố Chúa Giê-su lãnh nhận phép rửa của Gio-an, thánh Phê-rô muốn nhấn mạnh đến việc "Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người." Đối với Chúa Giê-su, chịu phép rửa của Gio-an không có nghĩa là Người đến để lãnh nhận một dấu chỉ từ bỏ đường tội lỗi để quay về với Thiên Chúa, vì Người chẳng có tội, cũng chẳng bao giờ quay mặt xa Thiên Chúa. Điều ấy dành cho mọi người chúng ta là những kẻ tội lỗi. Nhưng Chúa Giê-su đến lãnh nhận phép rửa Gio-an là dịp để Người thay mặt cho toàn thể nhân loại tội lỗi. Hôm ấy, Người thay mặt cho chúng ta là những kẻ tội lỗi để tiếp nhận tình yêu cứu rỗi của Thiên Chúa và Người mở cánh cửa cứu rỗi cho chúng ta. Trong cung cách long trọng ấy, Cha trên trời đã tuyên bố Đức Giê-su là Con của Người và là Tôi tớ trung tín. Quyền năng Thánh Thần xuống trên Người để chứng thực cho lời công bố của Thiên Chúa Cha. Tuyên bố Đức Giê-su, Trưởng tử của nhân loại mới, là "Con yêu dấu", Thiên Chúa Cha đã chấp nhận Đức Giê-su là "hoa quả đầu mùa" của tất cả những hoa quả tiếp theo.
          Đặc điểm của một người con yêu dấu, đó là sự vâng phục hoàn toàn đối với cha. Thánh Phao-lô đã mô tả sự vâng phục của Chúa Giê-su như sau: "Người đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự..." (Pl 2:7-8). Người Con yêu dấu ấy đã làm theo ý Cha nên được Chúa Cha siêu tôn và muôn loài phải tuyên xưng "Đức Giê-su Ki-tô là Chúa" (c.11). Đó cũng chính là danh hiệu thánh Phê-rô đã tuyên xưng về Đức Ki-tô ngay đầu bài giảng của ngài ("nhờ Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của mọi người").
          Sau khi được Thiên Chúa Cha tuyên phong và Thánh Thần chứng nhận, Chúa Giê-su đã lên đường thi hành sứ mệnh cứu thế. "Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người." Thật là một hình ảnh cảm động và trang trọng, nói lên tầm vĩ đại cao quý của một sứ mệnh độc nhất vô nhị. Tất cả việc thi hành sứ mệnh cao cả ấy được gói ghém trong một câu Kinh Thánh ngắn gọn. Có lẽ vì thánh Phê-rô thấy không biết phải dùng ngôn từ nào để diễn đạt được nên ngài chỉ biết nêu lên như một đề tài mời gọi chúng ta suy niệm không ngừng. Những người đang nghe thánh Phê-rô giảng đều "biết rõ" về những gì Chúa Giê-su đã rao giảng và đã hành động. Còn chúng ta ngày nay cũng được ân phúc "biết rõ" qua những gì được ghi chép lại trong sách Tin Mừng và qua những lời giảng dạy.
Vậy lời khẳng định của Thiên Chúa Cha trực tiếp giới thiệu vai trò và sứ mệnh của Chúa Giê-su, thì cũng gián tiếp mời gọi chúng ta hãy "tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được tha tội" (c.43).
Câu hỏi gợi ý chia sẻ
          Có khi nào tôi nhìn việc Chúa Giê-su lãnh nhận phép rửa Gio-an như là một hành động Người làm cho toàn thể nhân loại nói chung và cho cá nhân tôi không? Qua Chúa Giê-su, tôi đã nghe lời tuyên phán của Chúa Cha theo ý nghĩa nào?
          Thánh Phê-rô khẳng định sứ mệnh của ngài là: "Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giê-ru-sa-lem." Tôi sẽ khẳng định sứ mệnh của mình như thế nào?
          Tôi đã suy niệm thế nào về Chúa Giê-su thi hành sứ mệnh của Người? Sách Tin Mừng có thực sự là một dụng cụ hữu hiệu nhất giúp tôi sống lại những ngày tháng Chúa rao giảng Tin Mừng, cầu nguyện, sống với các môn đệ, chịu cuộc Thương Khó, chết và sống lại không?
          Hiểu chỗ đứng của lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa (= Chúa Nhật I mùa thường niên), tôi sẽ có thái độ nào để tiếp tục suy niệm về việc Chúa thi hành sứ mệnh qua Phụng vụ Lời Chúa của các Chúa Nhật mùa thường niên?
Cầu nguyện kết thúc
          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp, hoặc cùng cầu nguyện lại với lời nguyện trong Chúa Nhật IV mùa Vọng (lời nguyện 46, Rabbouni).
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

TN1-A70. LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

          Anh chị em rất thân yêu,
 

Biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa Gioan ở sông Gio-đan được thánh Phêrô nhìn nhận trong bài: TN1-A70

Biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa Gioan ở sông Gio-đan được thánh Phêrô nhìn nhận trong bài "truyền đạo tiên khởi" như là biến cố khởi đầu cho Tin Mừng, như ta đọc thấy trong tường thuật của sách Công Vụ Tông Đồ. Ở đây thánh Phêrô chỉ đề cập đến điểm trọng tâm, điểm cốt lõi của biến cố, khác với Matthêu trong Tin Mừng đã trình bày khá tỉ mỉ những diễn biến. Dẫu sao, dù là Phêrô hay là Matthêu cũng đều cho thấy:
Đức Giêsu đã lựa chọn đứng về phía Gioan Tiền Hô thay vì về phía bất cứ một phe phái nào ở Israel thời đó. Và đó là manh mối cho ta nắm bắt quan điểm, lời dạy và hành động của Ngài. Vào thời Ngài, trong Israel có những nhóm, những phe phái, những giai cấp với những chủ trương rất khác biệt, nhưng nổi bật lên, như một dấu hiệu xét đóan thời đại, là Gioan Tẩy Giả với lối sống và sứ điệp của một Ngôn Sứ:Thiên Chúa sắp can thiệp vào lịch sử Israel, và người thực thi phán quyết ấy chính là "Đấng phải đến". Lời sấm là một lời khuyến cáo, và cũng là một lời hứa theo truyền thống ngôn sứ. Chúng tùy thuộc sự đáp trả tự do của Israel: do đó nó là một lời mời gọi Hóan Cải, một cuộc hóan cải của tất cả và của mỗi con người.
Chắc chắn là khi đứng về phía Gioan, Ngài chỉ muốn khẳng định tính cấp bách và khẩn thiết của lời mời gọi hóan cải tâm hồn để được giải thóat khỏi cơn thịnh nộ, một thảm họa khôn lường, nhưng Đức Giêsu cũng khác biệt hòan tòan với Gioan. Chính Gioan cũng ý thức như thế, vì ông từng nói về Người "là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần", do đó mà ông phải thú nhận hôm nay với Đức Giêsu "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa...". Cả thánh Phêrô cũng như thánh Matthêu đều nhấn mạnh đến điểm khác biệt ấy trong sứ điệp của biến cố hôm nay: "Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người". Còn Chúa Giêsu thì coi đó là "để giữ trọn Đức công chính". Từ "công chính" ở đây theo Thánh Kinh gắn kết con người vào Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa, đồng thời cũng liên kết con người vào lời tán tạ bất tận tôn vinh mọi kỳ công của Thiên Chúa đã làm cho Dân Người. Và kết qủa là "người công chính", "Đấng được xức dầu tấn phong" cũng là "người công bố năm hồng ân" "người thi ân giáng phúc và chữa lành". Tin Mừng phải được công bố cho mọi dân tộc. Và thánh Phêrô đã làm chứng là Đức Giêsu đã không ngừng rảo bước từ ngày đó để rao giảng.
Cũng thế, Giáo Hội tại Á Châu, như tông huấn trình bày, được xức dầu và tấn phong kế thừa Đức Giêsu, Giáo Hội tại Á Châu đã "ra đi tới tận cùng bờ cõi trái đất để loan báo Tin Mừng và quy tụ các cộng đòan tín hữu". Công cuộc đã khởi đầu từ Giêrusalem, tiến sang Antiokia, Roma, tới tận Êthiôpi ở miền Nam, Sythia ở miền Bắc và Ấn Độ ở miền Đông. Năm thế kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ thứ nhất là năm thế kỷ Giáo Hội tại Á Châu đã thực sự là nguồn sinh lực thiêng liêng cho Giáo Hội trong sứ mạng loan báo Tin Mừng. Đúng như lời tiên tri Isaia "Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng, Ta cho Thần Trí Ta ngự trên nó; nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân".
 
Anh chị em thân mến,
Biến cố phép rửa, cùng với giáo huấn của Hội Thánh đòi hỏi chúng ta nhìn lại lối sống đức tin hôm nay. Có lẽ nó không còn cái sinh lực của thời cha ông chúng ta mới đón nhận Tin Mừng: một lối sống tập trung chia sẻ Thánh Thần canh tân và đổi mới, để kiến tạo nên những cộng đòan vang đội lời tán tạ hồng ân và vinh quang Thiên Chúa. Cộng đòan của chúng ta giống như các gia đình Kitô hữu hôm nay có khuynh hướng khép kín, không còn muốn trách nhiệm về người khác. Đáng tiếc thay.
Chớ gì chúng ta có được Thần Trí hóan cải như lòng mong ước của chính Đức Kitô.
Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

 

TN1-A71. Nét chim thần trong chất máu Việt

Những dịp chuyển sang một năm mới, một thế kỷ mới, một ngàn năm mới, con mắt mỗi người: TN1-A71

Những dịp chuyển sang một năm mới, một thế kỷ mới, một ngàn năm mới, con mắt mỗi người tự nhiên mở rộng tầm nhìn, xa hơn và rộng hơn, chứ không chỉ luẩn quẩn ba cái chuyện lẩm cẩm thường ngày. Nhiều điềm cho thấy những thay đổi sâu xa trong tâm khảm con người sau những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật nhưng cũng thật quằn quại sầu thảm với những cuộc cắn xé nhau vì miếng ăn, vì quyền lợi hơn kém, và thấm mệt vì những hồ hởi thấy vậy mà chẳng phải vậy...
NHỮNG DẤU CHỈ LẠ
Tờ The Times-Picayune ở New Orleans dịp đầu năm mới cho biết những chiều hướng của người Mỹ vào những ngày cuối cùng cựa mình bước sang vòng quay mới: những gì sẽ lui đi và những gì sẽ bước tới. Nhiều sở thích mới đang diễn tiến cho thấy những dấu chỉ khá lạ.
Người ta thích hào hứng bàn chuyện điềm thời đại chứ không dửng dưng sống qua ngày.
Thích màu quần áo tươi mát nhiều hơn màu trầm đậm.
Thích ngọc trai hơn là cơn thôi miên ám ảnh kim cương.
Thích làm việc chân tay vận động cơ thể thay vì phải để giờ chạy bộ cho bớt ứ mỡ.
Thích đi dự những buổi hòa nhạc sống động thay vì chỉ nghe đĩa.
Thích đi xem phim ở rạp lý thú hơn thuê băng hình về nhà.
Tin vào máy đo độ nói dối hơn là lời thề suông.
Thích ứng cử viên độc lập hơn người thuộc đảng phái với quyền lợi phe nhóm.
Thích làm vườn hơn là lo nuôi chó nuôi mèo.
Thích để đất trong vườn trồng cây hơn là trồng thảm cỏ.
Thích đọc báo và xem chương trình về nhà cửa và làm vườn hơn là nhạc khích động MTV.
Thích tiến tới tích cực giải quyết hơn là dậm chân tiêu cực than trách.
Thích những gì thực tế hơn là những bài học cũ rích.
Thích đề cao tuổi trưởng thành hơn là chỉ tô điểm và ham hố tuổi trẻ.
Thích tìm sách dạy nấu ăn hơn là học chơi quần vợt.
Thích chụp hình người hơn là cảnh thiên nhiên tổng quát.
Thích tìm đến những tiệm sách đạo thay vì những sách báo dâm ô đã truyền độc làm ung thối.
Thích những nhà khảo cứu Thánh Kinh hơn những tay hùng biện trên màn ảnh Tivi.
Thích đề cao những giá trị tinh thần hơn là những khoe mẽ bề ngoài.

THỜI ĐIỂM ĐI TÌM GIÁ TRỊ MỚI
Cứ nhìn qua những dấu chỉ thời đại thì cũng đủ thấy con người đã nếm đủ trái đắng, đã thấy những hồ hởi kiếm tìm ở ngoài để đo giá trị đời sống là trật đường rầy. Đời nào mà lại đi tin cái bảng quảng cáo bên đường về một tiệm bán quần áo mắc tiền: "Bạn là chính quần áo bạn mặc" (you are what you wear). Nghĩa là từ thâm thâm, không ít người thấy mình rẻ rúng chẳng có giá trị gì, nên phải lo tô điểm bằng quần áo loại sang, xe láng, nhà to, chưa kể cái mặc cảm phải bon chen chôm chỉa chút hư danh cho bớt tủi. Từ văn vẻ thì gọi là vong thân: tôi đánh mất tôi. Từ tâm lý bây giờ gọi là mất tự tin, không cảm thấy có bản lãnh và an toàn bên trong (secure), nên phải lo phóng rọi kiếm chác từ phía ngoài một cách tội nghiệp. Nhưng tâm lý cũng chứng minh một điều: càng phóng tìm càng sa lầy chán chường với kết quả là bị ê càng, giống kiểu cắn phải cục sỏi vậy.
Niềm tin của người Việt là mỗi người đã có sẵn kho tàng giầu có trong tâm. Quí là quí ở tấm lòng. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Nên đến với nhau phải cần xả bỏ những cái mặt nạ che phủ con người thật của mình thì dòng lực tình mới phát khởi được. Người Do Thái có nghi thức rửa tay trước khi vào dự tiệc với nhau, có ý để cho lòng trở nên thanh sạch thì mới đến với nhau thật tình được. Người Việt mình trước đây cũng có nghi thức tương tự: Miếng trầu làm đầu câu chuyện. Mỗi người tự nghiền nát cái ích kỷ của mình ra thì mới phát sinh màu đỏ là màu tình son sắt, và mới gặp gỡ được con người thật của nhau.
Vì không tự tin, không thấy mình là ai, nên con người mới phải lo bon chen chộp giật để che phủ cái bất ổn bên trong. Đó là câu truyện chim phượng hoàng trong đàn gà con.
Truyện kể ngày xưa có một người đi săn nhặt được một cái trứng phượng hoàng trên núi liền đưa về ấp chung với ổ trứng gà ở vườn sau nhà. Được một thời gian thì các trứng đều nở thành một đàn gà con và một chú phượng hoàng bé xíu.
Chú phượng hoàng cứ thế lớn lên trong đám gà, và làm mọi sự như những con gà khác, vì nghĩ mình là gà. Chú ta cũng bới đất tìm sâu mà ăn. Lâu lâu cũng tranh lộn với nhau về những đống rác có nhiều đồ ăn. Chú ta cũng tập kêu "cục tác, cục tác". Thỉnh thoảng chú cũng thử vỗ cánh bay lên sà sà được một chút như những con gà khác. Rồi chú tự nghĩ: "Gà mà! Bay thế nào được."
Thời gian cứ thế trôi qua, phượng hoàng đã lớn và đã già. Một ngày kia nó nhìn lên bầu trời trong xanh thấy một con chim vĩ đại đang bay lượn trong gió lộng, xoè cánh rợp trời, thật oai hùng. Nó đầy vẻ thán phục liền hỏi các con gà khác: "Con gì vậy?" Thì được trả lời: "Đó là chim phượng hoàng, là vua các loài chim... Mà thôi, đừng có ham. Mày và chúng tao đều là gà mà."
Và rồi nó không nghĩ gì thêm nữa, tiếp tục sống như gà. Nó đã chết mà vẫn nghĩ mình là gà ở vườn sau nhà, không bao giờ biết bay lên.
TIN VUI TÔI TÌM THẤY TÔI TRONG CHẤT MÁU VIỆT
Hình ảnh chim phượng vốn nằm sâu trong máu người Việt và trở thành nét văn hóa căn bản: mình là con của chim Tiên. Trứng rồng lại nở ra rồng, chim Tiên lại đẻ ra dòng chim Tiên. Qua các văn hóa khác nhau trên thế giới, chim bay là biểu tượng của tinh thần vươn cao, của hồn thiêng bất tử.
Nhưng chim có bay lên được hay không là do ở con mắt niềm tin được như thế. Đánh mất lòng tự tin về chính mình là căn nguyên của mọi sa đọa đổ vỡ. Chim mà lại không biết bay thì quả là một điều mâu thuẫn và phi lý tự thân. Từ thời mới gọi là vong thân, bật gốc, đánh mất căn tính. Chính vì thế mà tôi cần phải đi tìm tôi.
Truyện Gốc Rễ (Roots) của Alex Haley có đoạn nói về phong tục đặt tên cho con rất cảm động và ý nghĩa thời tổ tiên người Mỹ Đen còn ở Phi Châu. Tối hôm đó, chính người bố bế con ra ngoài trời chỉ cho con nhìn lên cao nơi muôn vàn tinh tú đang lấp lánh, rồi thì thầm nói vào tai con một tên mới: con sẽ vươn lên như vậy con nhá; đời con không chỉ lệt bệt ở mặt đất này.
Đặt tên đúng là nghi thức xác quyết hướng đi của một người. Cũng là lễ điểm đạo của nhiều tôn giáo. Vì thế mà người mình có thói quen chọn tên hiệu trong dịp lễ Quan hay lễ Đinh khi bước chân vào tuổi trưởng thành khai mào cuộc đời hoạt động; trong truyền thống đạo Chúa thì chọn thêm tên trong ngày lễ Thêm Sức ghi mốc tuổi lớn. Tất cả đều nói lên lòng xác quyết tự tin và ý hướng đời mình. Đây cũng là điều quan trọng cho việc tìm đặt tên cho con thời nay. Vì nhiều cái tên chỉ cốt cho kêu, chứ chẳng có nghĩa gì cả, nhất là đặt những cái tên Âu Mỹ cho tiện đi học hay đi làm!
Để khai mào cho giai đoạn hoạt động, Đức Giêsu đã nhận nghi thức Phép Rửa tại sông Gio-Đan.
" Chịu phép rửa xong, Đức Giêsu vừa từ dưới nước đi lên, bỗng trời mở ra, và Người thấy Thần Linh Thiên Chúa tựa như con chim bồ câu đậu xuống trên Người. Và kìa có tiếng từ trời phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:16-17).
Ngài đã lên đường với cái nhìn chính xác về giá trị đời mình là Con yêu dấu của Thiên Chúa, hòa nhập với hình ảnh chim thần đầy lực tỏa sáng, chim bồ câu thanh thoát, chứ không phải những giá trị giả tạo vốn trói buộc và làm nhiều người vong thân. Đây đúng là lễ nghi tấn phong tước vị đích thực của Đức Giêsu khi làm người và của mỗi người sinh ra trên mặt đất này, là những hòang tử hay công chúa của Chúa trời đất.
Lễ Quan hay lễ Đinh của người Việt là thời điểm xác quyết niềm tin về hình ảnh chính mình, hướng đi đời mình: nhận ra mình là dòng chim tiên, chim thần, mang sẵn tiềm lực bay lên được và hồn thiêng bất tử
PHÚT TÌM LẠI ĐƯỢC MÌNH
Hình ảnh chim tiên hay chim thần là con người thật trong mỗi người đây rồi. Cái tôi giả vốn bị che phủ kéo ghì xuống cần phải được tẩy rửa để con người thật hiện hình bay lên được như chim bồ câu. Đây cũng là lúc tôi đi tìm tôi và tìm thấy tôi. Một người hay một dân tộc chỉ có thể vươn lên với con mắt nhìn thấy như vậy về chính mình. Giá trị đã có sẵn bên trong. Con mắt niềm tin này mới tạo được sức mạnh, khơi được thần hứng, phát khởi nguồn phú túc.
Xin được phút giây xả buông mọi bụi bặm phù du ràng buộc để nhận lãnh thần hứng với niềm tự tin Thánh Thần Chúa như chim bồ câu hiện hình qua mình, qua lời Thánh Kinh.
Lòng xác quyết quí hơn vàng bạc
Chọn đúng tên vượt mặt sang giầu.
(Cách Ngôn 22:1)

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường - (từ tác phẩm Khúc Sáo Ân Tình, Thời Điểm xuất bản)

 

TN1-A72. DÒNG SÔNG CỨU ĐỘ

Dòng sông Giođan có lẽ là một dòng sông đặc biệt nhất trên thế giới. Không phải là do vị trí: TN1-A72

Dòng sông Giođan có lẽ là một dòng sông đặc biệt nhất trên thế giới. Không phải là do vị trí chiến lược, kinh tế, hay do vẻ đẹp có tính cách thơ nhạc của nó. Nét trổi vượt nhất của nó chính là ở dòng sông này, đã có một lần Con Chúa Trời giáng thế, Đấng Cứu Độ nhân loại đã tới, và đã trầm mình dưới dòng nước của nó qua hình thức một phép rửa. Nước của nó, do đó, đã một lần rửa sạch và cuốn trôi bao lỗi lầm, bao dằn vặt, và bao đau thương, nước mắt của những người Do Thái thời bấy giờ qua phép rửa thống hối của GioanTiền Hô. Nhưng ngược lại, nước ấy đã làm cho Đấng Vô Tội trở thành “có tội” khi Ngài lãnh nhận phép rửa của Gioan; vì như vậy, Ngài đã mang lấy tất cả tội lỗi, vết nhơ, đau thương, nước mắt, dằn vặt, và tội lỗi của nhân loại.
Chúa Giêsu đến sông Giođan không phải là chịu phép rửa, mà đúng hơn là để lãnh lấy tất cả cái hậu quả tai hại do tội lỗi nhân loại trên mình. Vì dòng nước tha thứ mà Gioan dùng tẩy rửa những ai đến với Ông, đã quyện lấy thân mình thanh khiết và tâm hồn vô tội của Ngài, để Ngài đem nó lên đồi Canvê trong ngày Chịu Nạn đốt cháy, và thiêu rụi cùng với Ngài trong một phép rửa duy nhất của lịch sử cứu độ. Do cái chết thống khổ, nhục nhã, và đớn đau của Ngài trên thập giá. Ngài đã tế lễ mình cho Thiên Chúa Cha vì tội lỗi nhân loại. Ngài là Con Chiên bị sát tế như chính lời Gioan Tiền Hô đã nói: “Đây chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xóa tội trần gian” (Gio 1:29).
Trên dòng sông ấy, nhân loại đã thấy một trời mới, đất mới được khai mở. Con người tội lỗi, vô vọng đã thấy được các tầng trời mở ra, và đã nhìn thấy được vinh quang của Thiên Chúa tỏ hiện. Họ đã được nghe loan báo về Tin Mừng sẽ được rao giảng: “Đây là con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3:17), và lời của Người là lời có sức ban sự sống: “Lậy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời” (Gio 6:68).
Trên dòng sông ấy, đã khai mở một phép rửa mới, thay thế cho phép rửa của Gioan Tiền Hô như chính lời của Ông đã nói: “Phần tôi, tôi rửa anh em bằng nước trong phép rửa thống hối, nhưng một đấng sau tôi, cao trọng hơn tôi, tôi không đáng xách giầy cho ngài. Đấng ấy sẽ rửa anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa” (Mt 3:11). Phép rửa này mới có khả năng tẩy sạch mọi tội lỗi để nhân loại có thể trở thành con Thiên Chúa. Một phép rửa, làm cho con người không còn mang tỳ vết nào khiến Thiên Chúa không nhìn ra họ. Phép rửa mà sau này Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông Đồ và môn đệ của mình: “Các con hãy đi khắp thế gian, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mt 28:19).
Chúa Giêsu, sau khi lên khỏi nước của sông Giođan, thì chính Ngài đã trở thành một dòng sông mới, dòng sông ân sủng, bình an, và cứu độ. Vì từ nơi Ngài, một mạch nước hằng sống đã tuôn trào, đã vọt lên, để cho tất cả những ai đến với Ngài đều được tẩy sạch, được tha thứ và bình an. Trên con đường hành đạo, sau khi chịu phép rửa của Gioan, Chúa Giêsu quả thực đã trở nên dòng sông hạnh phúc, bình an, và tẩy sạch cho mọi người. Người què đi được, người điếc nghe được, người mù thấy được, người cùi hủi được sạch, người chết sống lại, và Tin Mừng của Ngài được loan truyền đến tất cả mọi tâm hồn thiện chí. Cũng kể từ ngày ấy, Ngài trở nên một dòng sông để không những nước của nó xóa bỏ mọi vết dơ bẩn trên thân xác con người, mà còn có khả năng tẩy sạch mọi tội khiên của con người. Tất cả những ai trầm mình trong dòng sông này, hoặc rửa sạch con người mình trong dòng sông ấy đều cảm thấy được an bình, được hạnh phúc, và được cứu độ. Như nước sông Giođan không có khả năng tha tội cho ai, nước giếng rửa tội đổ trên đầu người lãnh nhận tự nó cũng không có sức tẩy rửa mọi lỗi lầm của người đó, nhưng nó phải được liên kết với nước của dòng sông Giêsu và cũng là chính Chúa Giêsu mới tẩy sạch và đem lại sức sống tâm hồn và thể xác cho tất cả những ai đến với Ngài.
Có ai đến với Ngài mà bị từ chối, và phải ra về tay không đâu. Có ai đến với Ngài mà không được Ngài nâng đỡ, ủi an, và chữa lành. Vì chính Ngài đã tình nguyện lãnh nhận và mang vác lấy đất cát, nhơ bẩn tâm hồn và thể xác của chúng ta trên dòng sông Giođan, và đã rửa sạch chúng bằng chính máu Ngài đổ ra trên thập giá. Là dòng sông ân sủng, Ngài còn dẫn chúng ta đến gặp biển cả bao la của tình yêu Thiên Chúa. Biển cả yêu thương ấy không những đem lại cho tâm hồn con người được vui mừng, sảng khoái, và bình an, mà nó cũng chính là viên mãn của hạnh phúc đời sau. Như những giọt nước hòa tan trong đại dương mênh mông, những ai tin nhận Chúa Giêsu, và để mình được chìm lặn trong dòng sông ân tình của Ngài, Ngài cũng dẫn họ đến với đại dương của tình yêu Thiên Chúa, và được hòa tan vào biển rộng mênh mông của tình Ngài. Họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa, là anh em với nhau, và sẽ cùng nhau chung hưởng hạnh phúc nước trời.
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ nhân trần vô tội đã nhận lấy thân phận tội nhân của con người qua phép rửa của Gioan Tiền Hô. Ngài cũng đang xin chúng ta như đã xin với Gioan để được chịu phép rửa, tức là để cho Ngài được mang vác lấy tội lỗi, khuyết điểm và yếu đuối của chúng ta để rửa chúng trong biển tình yêu thương của Thiên Chúa. Ngài xin chúng ta cho Ngài được làm chuyện ấy một cách tự nguyện, vô điều kiện vì tình thương mà Ngài dành cho mỗi người chúng ta, miễn là chúng ta mở rộng tâm hồn mình đón nhận Ngài như trầm mình trong một dòng sông hạnh phúc. Nhưng liệu có bao nhiêu người đã mở rộng lòng mình, và đã đón nhận Ngài.
Trên dòng sông Giođan, Chúa Giêsu đã gánh lấy tội nhân loại, đã mang nó vào mình để rửa nó bằng chính bửu huyết Ngài đổ ra trên thập tự giá và để trở thành dòng sông cứu độ cho tất cả những ai đến rửa sạch tội mình trên đó. Chúa Giêsu – dòng sông ân sủng, cứu độ - dòng sông mát mả và trong lành, nhưng nếu chúng ta chỉ đứng trên dòng sông ấy mà nhìn, hoặc không muốn rửa sạch mình trên dòng sông ấy, thì mãi mãi chúng ta vẫn không được rửa sạch, không được mát mẻ, không được bình an, và ơn cứu độ vẫn không thuộc về chúng ta. (Ts.Trần Quang Huy Khanh-2005)

 

TN1-A73. Phép rửa của đức mến

"Tôi rửa các ngươi bằng nước, nhưng có đấng đến sau tôi cao trọng hơn tôi. Tôi không đáng cởi dây giầy cho ngài. Ngài sẽ rửa các ngươi bằng lửa và Thánh Thần" (Luca 3:16).
 

Đối với chúng ta, đây là nền tảng của ơn gọi và đời sống Kitô hữu. Qua ơn gọi và đời sống này: TN1-A73

Đối với chúng ta, đây là nền tảng của ơn gọi và đời sống Kitô hữu. Qua ơn gọi và đời sống này, chúng ta tiếp cận và gặp gỡ Đức Kitô. Trở thành những bạn thân và là chứng nhân của Ngài giữa thế giới hôm nay.
Gioan rửa bằng nước. Chúa Giêsu rửa bằng lửa và Thánh Thần.
Khi tay, chân, hoặc thân mình bị dơ bẩn, cách duy nhất để trở nên sạch sẽ, thơm tho là đi rửa tay, rửa chân, hoặc đi tắm. Hình ảnh thông thường này tất cả chúng ta đều biết, và đều đã có kinh nghiệm. Nhưng qua phép rửa của Gioan, Chúa Giêsu còn đi xa hơn bằng cách thiết lập một phép rửa mới, phép rửa của đức mến, tức lửa và Thánh Thần.
Như lửa khác với nước và như khả năng con người khác với quyền năng của Thiên Chúa, phép rửa mà chúng ta có hôm nay hoàn toàn khác với phép rửa mà Gioan đã làm khi ông chuẩn bị cho Đấng Thiên Sai, người mà ông gọi là Đấng đến sau ông thực hiện. Phép rửa không chỉ bằng nước mà bằng lòng yêu mến. Lòng yêu mến của con người, và lòng yêu thương của Thiên Chúa.
Ngọn lửa lòng mến:
Ngọn lửa mà qua hình ảnh Gioan đã mô tả ấy là gì, nếu không phải là lòng mến của chúng ta đối với Thiên Chúa. Thiếu ngọn lửa yêu mến này, dù chúng ta có dìm mình dưới dòng sông Giođan như những người Do Thái đương thời Chúa Giêsu đã đến với Gioan và đã được ông dìm dưới dòng sông Giođan, chúng ta vẫn không được trong sạch, không đủ tư cách để đến gần với Chúa được. Chúng ta vẫn không thể làm môn đệ của Ngài được. Và chúng ta vẫn không thể là chứng nhân cho Ngài được. Bởi vì yếu tố yêu mến là ngọn lửa nung nấu, và thiêu đốt chúng ta qua những hy sinh, vất vả vì Chúa. Và cũng chính ngọn lửa yêu mến ấy, sẽ rửa sạch tâm hồn chúng ta để chúng ta có thể đến với Ngài, và hòa nhập vào Ngài được.
Chúng ta có thể tìm thấy hình ảnh này qua ngọn lửa trong lò luyện kim. Nó sẽ làm tan biến tất cả những bụi bặm, dơ bẩn bám chung quanh một khối lượng kim loại. Để rồi, sau khi đã thanh luyện và đốt cháy, nó sẽ tiếp tục làm cho khối lượng kim loại ấy tan chẩy. Và nếu có hai khối lượng kim loại để gần nhau, thì chúng sẽ hòa tan và biến thành một hợp kim đến nỗi, dù muốn cũng không ai có thể tách rời hoặc chia rẽ được.
Thánh Phaolô đã bị ngọn lửa này thiêu đốt. Đối với Phaolô thì tình yêu Đức Kitô đã làm cho ngài phải hao mòn, phải vất vả, phải lao đao, và sau cùng phải bị chém đầu: "Ai có thể tách tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô" (Rom 8:35). Thánh nhân kể ra một lô những chướng ngại có thể đã làm nhiều người vấp nga: thiên thần, quỉ thần, đau khổ, thử thách,đói khát, trần truồng, tù ngục, thiên đàng, hỏa ngục, và cả sự chết. Đối với Phaolô, tất cả những thứ ấy đều không thể và không là gì để có thể tách biệt ngài với Đức Kitô. Lý do duy nhất vì hợp kim Giêsu-Phaolô đã tan chẩy và quyện lẫn với nhau do hai khối lượng kim loại Giêsu và Phaolô mà sức nóng của lòng yêu mến đã làm cho tan chảy và hòa tan với nhau.
Ngọn lửa Thánh Thần:
Tiếp tới ngọn lửa Thánh Thần, tức là tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dùng ngọn lửa này để tự thiêu hủy, và tự làm tan biến chính Ngài để hòa tan với con người. Ngọn lửa cần thiết và có sức mạnh để khiến cho Chúa Con, Ngôi Hai Thiên Chúa, trở nên con người, và vì thế con người có thể kề cận và tiếp xúc được với Ngài.
Không có ngọn lửa Thánh Thần, mãi mãi Thiên Chúa vẫn là xa vời, và con người không bao giờ có thể đụng chạm được với Ngài. Bởi vì con người không thể lên được, đến được, và hiểu được Thiên Chúa. Ngay cả sau khi Thiên Chúa hiện thân qua hình hài một con trẻ, một thanh niên, và một Đấng Thiên Sai, nhiều người cũng đã không nhận ra Ngài. Vì vậy cần ngọn lửa Thánh Thần để đem Thiên Chúa lần lại hơn với con người, soi dọi, và đưa con người đến để hòa nhập với Ngài.
Chính Thánh Thần này đã được Cha sai xuống với nhân loại sau khi Chúa Giêsu đã về trời. Ngài là nguồn sống của Giáo Hội và cũng là hơi thở - tức sức sống - của mỗi Kitô hữu.
Phép rửa của lòng mến:
Cả ba ơn gọi tiên tri, tư tế, và vương giả đều bắt nguồn từ phép rửa. Từ sự thanh luyện và biến đổi con người thành Thiên Chúa, và Thiên Chúa thành con người. Thiên Chúa trở thành "Emmanuel" hay Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Nếu không có phép rửa ấy, con người không thể động chạm đến được Thiên Chúa. Mãi mãi không thể hiểu biết Thiên Chúa là gì. Cũng không biết phải tôn thờ Thiên Chúa như thế nào. Và cũng không biết phải làm gì để loan báo và chỉ cho những người khác biết về Ngài.
"Ngài sẽ rửa các ngươi bằng lửa và Thánh Thần" (Luca 3:16). Rửa bằng lửa và Thánh Thần là rửa bằng tình mến. Tình yêu con người đối với Thiên Chúa. Tình yêu vô bờ bến Thiên Chúa dành cho con người. Đó là ý nghĩa của phép rửa, bí tích Thiên Chúa dùng để tha thứ, thanh luyện để đem con người vào với tình yêu và cuộc sống Thiên Chúa, và biến con người trở thành con Thiên Chúa. (Trần Mỹ Duyệt)

 

TN1-A74. Đức tin và cuộc sống

(Mt 2,1-12)
Chúa nhật Lễ Hiển Linh
 

Cha Kard Rahner, một nhà thần học lỗi lạc, đã đưa ra một nhận xét có vẻ mâu thuẫn và ngược: TN1-A74

Cha Kard Rahner, một nhà thần học lỗi lạc, đã đưa ra một nhận xét có vẻ mâu thuẫn và ngược đời. Ngài nói rằng: “Có những kitô hữu ‘ngoại đạo’, trái lại có những người bên lương mà lại ‘có đạo’.
Để dễ dàng đánh giá đúng nhận định trên, chúng ta hãy đưa sự kiện Chúa sinh ra tại Bêlem để phân tích và tìm hiểu. Khi Chúa sinh ra tại Bêlem, tại sao dân thành Giê ru sa lem cùng với vua Hêrode là những người có đạo lại không nhận biết, không tìm được Chúa Hài nhi ở kề bên mình? Trái lại ba nhà đạo sĩ là những kẻ ngoại giáo , ở tít mãi xa xôi, lại nhận ra và tìm thấy Chúa !
Sở dĩ có hậu quả trái ngược nà là do niềm tin vì khi có một đức tin sống động con người dễ dàng nhận ra và tìm thấy Chúa trong đời mình, trái lại khi có một đức tin ‘chết’ thì không thể nhận biết Chúa được.
Đối với người Do thái bấy giờ là dân Chúa tuyển chọn lâu đời, đáng lẽ ra họ phải đặt trọng tâm vào niềm tin ở Thiên Chúa và Lời Người là ChúaGiêsu, song Chúa đã không gặp được một niềm tin sống động nơi họ nên họ đã không tìm thấy Chúa. Có thể nói đức tin của họ là một đức tin chết, nghĩa là một đức tin chỉ dựa vào những hình thức lễ nghi bên ngoài hơn là thấm nhuầm vào nội tâm, chi dựa vào luật lệ để tìm sự cầu an cho bản thân hơn là cố gắng hy sinh mọi sự để phục vụ Chúa và tha nhân.
Trái lại niềm tin của các nhà đạo sĩ, tuy gọi là ngoại đạo, nhưng lại là một niềm tin ‘sống’ và nhờ niềm tin này mà họ đã tìm thấy Chúa. Để gọi là một niềm tin ‘sống’ phải có những đặc tính sau đây:
+Phải có thái độ và tinh thần căn bản là sống trong tình trạng báo động để nhận ra dấu hiệu có thể dẫn đưa Chúa. Giữa trăm ngàn công việc với bao biến cố trong cuộc sống, chúng ta có thể thao thức nhận ra những dấu hiệu mời gọi của Chúa để nhận ra Ngài không ? Dấu hiệu mời gọi của Chúa thì không thiếu mà chỉ tại chúng ta thiếu một tâm hồn nhạy bén tìm được ý Chúa mà thôi.
+Khi đã nhận ra được dấu hiệu của chúa rồi thì điều kiện kế tiếp là phải lên đường tìm kiếm, nghĩa là ta phải ra khỏi tình trạng an vui tọa hưởng của mình. Nói rõ hơn, muốn sống đúng đức tin đòi hỏi , muốn gặp được Chúa đích thực , ta phải từ bỏ tình trạng sống yên thân, cầu an, phải ra sức dẹp bỏ những rào cản ích kỷ, kiêu căng, ươn lười.
+Thao thức tìm kiếm, hy sinh từ bỏ mọi sự để tìm Chúa chưa đủ. Vì việc tìm Chúa và nhận ra Ngài không phải làm một lần mà là suốt đời, không phải dễ dàng, nhưng sẽ gặp nhiều trở ngại khó khăn. Do đó, phải có một lòng trung kiên bền đỗ tới cùng, luôn hy vọng mà không bao giờ chán nản, luôn tin tưởng và cậy trông.
Niềm tin là ơn cứu sống cho con người khi niềm tin đó thôi thúc con người ra sức tìm gặp được Chúa trong cuộc sống. Không có thứ niềm tin luôn đóng băng vì nó biến con người thành vô dụng và đồ phế thải. Đúng như lời Chúa nói: “Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ thấy...”
Quê Ngọc, Đừng chế giễu Chúa, tập một

 

TN1-A75. Suy niệm lễ Hiển Linh

I. Chú giải
 

 Địa lý: Belem , nơi Chúa sinh ra là một thôn làng nhỏ cách Giêrusalem 6 dặm về phía nam: TN1-A75

- Địa lý: Belem , nơi Chúa sinh ra là một thôn làng nhỏ cách Giêrusalem 6 dặm về phía nam. Itrael thời ấy bị đế quốc Rôma đô hộ. Hêrôđê được Rôma bổ nhiệm cai trị xứ Paléttin 40 năm trước công nguyên. Ông nổi tiếng là người tàn bạo.
- Dân chúng: thời đó họ tin rằng mỗi người có một ngôi sao chiếu mệnh. Ba nhà đạo sĩ đến từ vùng Tiểu Á. Họ là những người thông thái. Sở trường của họ là nghiên cứu về khoa chiêm tinh và được xem là cố vấn của nhà vua về đời và đạo. Họ theo ánh sao đi tìm sự xuất hiện của một Đấng Cứu Thế.
- Lễ vật:
. Vàng: thời xưa, vàng có tính cách quý báu và cao sang, chỉ dành cho vua chúa. Vàng có ý nói hài đồng Giêsu là Vua.
. Nhũ hương: trầm hương chỉ dùng trong việc tế lễ. Hơn thế nửa, trầm hương ở đây nói lên sự ca ngợi và thờ lạy. Trầm hương có ý nói Chúa hài đồng là Thiên Chúa.
. Mộc dược: mộc dược dùng để chữa lành người bệnh và tẩm liệm thi thể người chết thời đó. Mộc dược nói lên nhân tính của hài nhi và cái chết sau này của Chúa Giêsu.

II. Con đường đức tin
1.Hành trình của các đạo sĩ là hình ảnh minh họa cho hành trình cho mọi người tin:
- Đường đức tin đầu bằng một điều gì đó lạ lùng khiến người ta chú ý, như ánh sao lạ chẳng hạn, dấu lạ này mời gọi ta từ bỏ nếp sống đã quen để dấn thân đi tìm một cái gì đó cao hơn, tốt đẹp hơn.
- Kế đến là những bước thăng trầm trong cuộc hành trình, như ánh sao có lúc sáng tỏ trên bầu trời, có lúc nó vụt biến mất. Nhưng nếu ta kiên trì tiến bước thì cuối cùng ta sẽ gặp được Chúa.

2. Tiến bước
Có người ngồi một chỗ như Hêrôđê. Nhưng cũng có người đi tìm kiếm như đạo sĩ, lên đường như Abraham.
Chúa ở đâu ? Ở khắp mọi nơi: trong làng quê heo hút, trong xóm làng, trong gia đình nghèo khó, trong những người ta gặp gỡ hằng ngày, nhất là những người đói khát, bệnh tật. Thiên Chúa ở nơi những người biết mở lòng đón nhận Ngài. Muốn biết Ngài ra sao thì: “Khi Ta đói các ngươi đã cho Ta ăn, Ta khát các người đã cho Ta uống… Ta bảo các ngươi: mỗi lần các ngươi làm cho một trong những kẻ bé nhỏ nhất là anh em Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta" (Mt 25,35-40).
Các luật sĩ, các thầy thượng tế hiểu kinh thánh lắm chứ, nhưng họ chỉ biết trưng dẫn, còn thực hành thì không. Hay Hêrôđê thì dùng Kinh Thánh để tìm cách giết Hài nhi, còn các các đạo sĩ thì, bản thân chẳng biết Kinh Thánh, chỉ được Hêrôđê chỉ dẫn, đã lên được tìm kiếm Đức Giêsu và họ đã gặp Người

3. Khó khăn và thuận lợi
Nhà đại thiên văn Kepler khám phá ra rằng vào năm Chúa Giáng sinh, có một hiện tượng bất bình thường xảy ra giữa các vì sao. Ông nói về hai ngôi sao Jupiter và Saturn rằng: Bình thường chúng vẫn quay cách đều nhau. Năm đó chúng sáp lại gần nhau đến độ ánh sáng của ngôi sao này cộng hưởng với ánh sáng của ngôi sao kia, tạo ra một luồng sáng khác thường và kéo dài đến cả mấy tháng.
" Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông" (Mt 2,2).
Người xưa cho rằng ngày ra đời của các vĩ nhân thường được báo hiệu bằng sự xuất hiện của các ngôi sao lớn. Các chiêm tinh thường nghiên cứu những chuyển động của các vì tinh tú để đoán biết định mệnh con người. Vì thế, khi nhìn thấy ngôi sao lạ, các đạo sĩ đã nhận ra sự sinh hạ của Đấng Cứu Thế, Vua dân Do thái.

Thực sự, người Do thái đã trông đợi Đấng Cứu Tinh từ nhiều thế kỷ, Đấng ấy được ví như một vì sao từ Giacóp, như có lời trong Kinh thánh: "Một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng chỗi dậy từ Itraen " (Ds 24, 17). Tiên tri Mikha cũng đã tiên báo: "Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ítraen " (Mk 5,1).
Thiên Chúa đã dùng cột mây cột lửa để hướng dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về đất hứa, thì Người cũng có thể dùng ngôi sao dẫn đường cho các đạo sĩ đến Belem để gặp Đấng Cứu Tinh. Thế nhưng, thật trớ trêu là: vị Cứu Tinh xuất hiện sau bao thế kỷ đợi chờ, dân Do thái lại thờ ơ lãnh đạm, các thượng tế và kinh sư thì dửng dưng thụ động, cho dù họ hiểu Kinh thánh và biết rõ nơi sinh của Đấng Cứu Thế. Hêrôđê lại còn hoảng hốt vì sợ ngai vàng của mình bị lung lay.
Đại diện cho lương dân, là đạo sĩ hăng hái lên đường tìm kiếm. Nên sau này, Đức Giêsu đã phải thốt lên: "Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, lsaac và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài " (Mt 8,11-12).
Lể Hiển linh hôm nay giúp ta nhìn lại chính mình:
Nếu ta đang đi trong bóng tối của gian dối, hận thù, thì hãy trở thành ánh sao của chân thành, phục vụ và yêu thương. Nếu thế giới đang chìm đắm trong bóng tối của buồn phiền, thất vọng thì ta hãy là những ánh sao của niềm vui, an bình và hy vọng.
Chúa gọi ta: "Chúng con là ánh sáng thế gian" (Mt 5, 14), thì đó là một vinh dự vô cùng lớn lao, nhưng cũng là một trách nhiệm nặng nề. Ta đừng nguyền rủa bóng tối, nhưng hãy dấn thân thắp lên những ngọn nến sáng của tin yêu và hy vọng, của bác ái và vị tha, để cả trái đất này tràn ngập ánh sáng tình yêu Chúa.
Ta hãy tin vào Lời Chúa. Tin là dựa vào Chúa để dấn thân và vượt qua gian nan thử thách.
Các đạo sĩ khi nhìn thấy ánh sao lạ, họ đã tin tưởng vào một Đấng Cứu Tinh mà ngôi sao là dấu chỉ, họ vội vã lên đường mà không biết ngôi sao sẽ dẫn đi đâu. Khi ánh sao biến mất họ không thất vọng, không bỏ cuộc, nhưng dò hỏi kiếm tìm. Hành trình của họ là hành trình Đức tin, con đường của họ là con đường thánh giá. Để trắc nghiệm đức tin, cần phải xem phản ứng lúc đau khổ và thử thách, chứ không phải lúc đời lên hương, thuận buồm xuôi gió.
III. Truyện minh hoạ, ông vua thứ tư
Có một truyền thuyết cho rằng những người khách từ phương Đông tìm đến thờ lạy Chúa Hài Đồng là 3 vị vua, tên là Gaspar, Balthasar và Melchior. Có một truyền thuyết khác lại cho rằng ngoài 3 vị ấy, còn một vị vua thứ tư nữa, tên là Artaban. Sau đây là truyền thuyết về ông vua thứ tư ấy.
Cũng như 3 vị vua kia, Artaban thấy ngôi sao lạ. Sau khi chuẩn bị lễ vật gồm một viên bích ngọc, một viên hồng ngọc và một viên ngọc trai, ông lên đường đến điểm hẹn cùng 3 vị kia. Tuy nhiên dọc đường ông gặp một người bị thương nặng nằm bên vệ đường, ông dừng lại đưa người đó đến một quán trọ và nhờ người chăm sóc. Khi đến điểm hẹn thì 3 vị kia đã đi mất rồi.
Đến Bêlem cũng trễ, Thánh Giuse và Đức Maria đã đem Chúa Hài đồng lánh nạn sang Ai cập. Artaban đành tìm một quán trọ để nghỉ đêm. Trong quán ông gặp một người đàn bà bế một đứa trẻ mới 1 tuổi đang sợ hãi trốn tránh cuộc lùng bắt của đám lính Hêrôđê. Dù vậy, cuối cùng đám lính cũng tìm tới. Artaban ra cửa gặp chúng và đưa viên hồng ngọc để chúng khỏi vào trong quán. Ông rất buồn vì lễ vật định dâng Chúa Hài Đồng chỉ còn có mỗi một viên ngọc trai. Viên bích ngọc cũng đã đổi lấy lạc đà để đi qua sa mạc.
Ông tiếp tục lên đường tìm Chúa Hài Đồng. Nhưng ông luôn bị trễ: nghe tin Đức Giêsu đang ở đâu ông đều tìm đến, nhưng khi đến nơi thì Ngài đã đi nơi khác. Khoảng 30 năm sau, ông đến Giêrusalem. Ông hốt hoảng khi nghe tin người ta sắp đem Đức Giêsu đi đóng đinh trên đồi Golgotha . Ông vội vã tìm đến, hy vọng là với viên ngọc trai còn lại, ông có thể cứu sống Ngài. Tuy nhiên trên đường đến Golgotha , ông gặp một cô gái đang bị quân lính rượt bắt. Cha của cô thiếu nợ quá nhiều nên người ta định bắt cô để bán làm nô lệ trừ nợ. Artaban đưa viên ngọc trai ra, và quân lính để cô gái được tự do. Giờ đây Artaban chỉ còn đôi bàn tay trắng.
Chiều hôm ấy, khi mặt trời bắt đầu lặn, một cơn động đất khiến các nhà cửa đều rung rinh. Một viên ngói rơi trúng đầu ông. Thế là ông chết trước khi đến được ngọn đồi Golgotha . Ông đã không gặp được Đức Vua mà bao nhiêu năm qua ông đã khổ cực tìm kiếm.
Vâng, tuy không gặp được Chúa theo cách thức mình muốn, nhưng xét về đường đức tin thì Artaban đã thực sự gặp được Chúa, vì bao nhiêu năm nay Ngài đã ngự trị trong lòng ông. Ngài đã làm cho lòng ông thành quảng đại, dạy ông làm những việc bác ái và luôn duy trì niềm hy vọng trong suốt cuộc hành trình của ông.
Thanh Thanh - Tinvui.org

 

TN1-A76. Tầng trời mở ra

Theo quan niệm của các tiên tri thì tầng trời được chia ra làm 3 tầng. Tâng 1 là thiên đàng, nơi: TN1-A76.

Theo quan niệm của các tiên tri thì tầng trời được chia ra làm 3 tầng. Tâng 1 là thiên đàng, nơi Chúa Ba Ngôi, các thánh ngự trị. Tầng thứ hai dành cho loài người. Còn tầng chót gọi là âm phủ dành cho con người sau khi chết.
Từ khi Adam Evà phạm tội, trái đất sinh ra khác “Con người sẽ phải chết, ông bà sẽ phải làm lụng đổ mổ hôi xôi nước mắt mới có của ăn, cây cối sinh ra cằn cội, súc vật có con sẽ không vâng phục loài người nữa. Tất cả sinh ra tồi tệ hơn”. Vì thế các đấng thánh đã cầu xin Chúa “xé bầu trời mà xuống” (Is 64:1). “Hỡi các tầng trời hãy đ sương mai, hỡi ngàn mây hãy mưa đấng công chính, đất hãy mở ra và trổ sinh Đấng Cứu Chuộc” (Is:45,8). Thánh Vịnh thì cầu: Lạy Chúa, xin vén màn trời đến với chúng con (Tv.144:5). Trời cao hãy mưa đấng công chính”.
Hôm nay nếu chúng ta đọc bài Phúc Âm sẽ thấy: “Bầu trời mở ra và có chim bồ câu bay đến đậu trên đầu Ngài và có tiếng tư trời phán xuống: Này là Con Ta yêu dấu, Con làm đẹp long Ta mọi đàng”.
Nghĩa là Chúa đã chấp nhận lời cầu xin của các thánh nhân, nghĩa là một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người xuất hiện, và thần trí Chúa tỏa lan như hình chim bồ câu bay lượn trên Ngài, nghĩa là ánh sáng Chúa như thần khí bay lượn trên mặt nước, một cuộc tạo dựng mới xuất hiện như lời tiên tri Isaia tiên báo: “Tá sẽ xây dựng một trời mới đất mới tràn đầy hạnh phúc và vui mừng” (Is. 65:17-18). Và tiếng Chúa đã xác nhận Ngài là Adam mới, là trưởng tử mới của mọi tạo vật. Thánh Phao lô viết “Ngài từ trời mà xuống” (1 Cor. 15:47).
Như vậy chúng ta là người của sự chết được tái tạo trong Chúa Adam mới là đức Kitô, là người cảm được sự yếu hèn của vật chất mà cũng là người của sự sống. “Tôi không làm điều mình muốn mà lại làm điều mình chẳng muốn” (Rom. 7:15).
Tóm lại bài Tin Mừng muốn chúng ta hiểu mình là con người được tái tạo trong đức Kitô, được rửa tội trong Ngài, vì Ngài và với Ngài, chúng ta được chia sẻ sự sống với Ngài. (Phép Rửa 9.1.2005).
Lm. Thu Băng, CMC

 

TN1-A77. Lễ Chúa Chịu Phép Rửa

Is 42: 1-4, 6-7/ Acts 10: 34-38/ Mt 3: 13-17
Thực Thi Ý Chúa Vì Yêu
 

Một mẩu truyện khôi hài về một người phụ nữ.  Ngày nọ, chị ấy quyết định đọc Phúc Âm để: TN1-A77

Một mẩu truyện khôi hài về một người phụ nữ.  Ngày nọ, chị ấy quyết định đọc Phúc Âm để tìm hiểu trong đó viết những gì.  Vài tháng sau, chị ấy lãnh nhận Bí tích thánh tẩy.  Trong khi lãnh nhận bí tích này, chị phấn khởi bày tỏ: "Tôi cảm thấy Thánh Thần Chúa ngự trên tôi.  Tôi rất vui khi được là một tín hữu.  Tôi nhận thấy một sự khác biệt xảy đến trong tôi, trong đó, có người cậu mà tôi ghét cay ghét đắng.  Bởi vì, tôi đã một lần thề hứa: 'Nếu cậu tôi chết, tôi sẽ không đến tiễn biệt.'  Nhưng nay, tôi thấy thật hạnh phúc và tự nhủ lòng: mình sẽ có mặt trong ngày cậu qua đời, bất cứ lúc nào, giờ nào."
Khung cảnh Lời Chúa hôm nay miêu tả việc Chúa Giêsu chịu phép rửa.  Ngài đã một lần hiện diện chốc lát trong đền thờ Giêrusalem vào lúc mười hai tuổi.  Mười tám năm sau, Ngài xuất hiện một lần nữa, lãnh nhận phép rửa tại sông Giođăng, nơi Gioan tiền hô đang rao giảng, làm phép rửa thống hối cho toàn dân.  Mặc dầu thánh Gioan một mực từ chối vì ông nhận ra thần tính của Ngài, nhưng ông buộc phải thi hành ước nguyện của Chúa Giêsu vì, để làm trọn thánh ý Thiên Chúa (Mt 3:15).  Thiên Chúa dùng bối cảnh này như tác động khởi đầu, hướng dẫn Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời rao giảng công khai cho toàn dân.  Một quang cảnh tuyệt vời hơn nữa khi Thánh Linh ngự trên Chúa Giêsu dưới dạng chim bồ câu.  Sau đó tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (x 3:16-17)  Chúa Cha hài lòng vì Con đã mau mắn, mạnh dạn đáp lại lời mời gọi của Cha, luôn tìm và hoàn thành ý Cha cách trọn hảo.
Nhiều nhà thần học cho rằng: trọng tâm toàn bộ Tin Mừng đều hướng đến khởi điểm là biến cố Chúa chịu phép rửa.  Vì thế, khi nói đến đề tài này thì vô cùng.  Dẫu sao, ta cùng cần tìm ra điều gì ích lợi cho mình qua bối cảnh này.  Qua Thầy Giêsu, Thiên Chúa cũng gọi ta và mong ta dõi theo đường lối Người.  Hơn nữa, Ngài rất "hài lòng" khi ta mau mắn đáp trả và để Ngài hướng cuộc đời ta theo Thánh ý của Ngài. 
Đường lối Chúa thì khác biệt nhưng mỗi đường đều phù hợp cho mỗi người, theo từng hoàn cảnh và môi trường sống. Theo thường tình, Chúa Giêsu cũng cần lãnh nhận sự linh hướng nơi Cha Ngài: vào những lúc đêm về, những lần lánh ra nơi thanh vắng cầu nguyện, dưới sự thúc đẩy của Thánh Linh thật nhẹ nhàng và thanh thản.  Đôi lúc xảy ra tương tự như truyện Thánh Phaolô bị ngã ngựa, lúc đó: trời mở ra, ánh sáng chói lòa và có tiếng phán, đưa Ngài về với Giáo Hội mà Ngài đang dự định tầm nã.  Phần chúng ta, hầu hết Thiên Chúa đến với mỗi người trong tĩnh lặng của tâm hồn, hay bằng một cơn gió nhẹ nhẹ thoáng qua.  Đường lối Chúa thường gây ngạc nhiên cho đương sự, giống như việc Thánh Gioan tiền hô từ chối làm phép rửa cho Chúa Giêsu và trái lại xin Ngài làm phép rửa cho mình.   Cuối cùng ông nhìn theo mẫu gương của Chúa Giêsu là nhận ra ý Chúa và làm trọn thánh ý Người.
Thật thiệt hại lớn lao cho chúng ta khi không dành hết tâm hồn để tìm ra ý Chúa.  Nhiều tâm hồn không muốn có một chút tĩnh lặng để: nghiêm chỉnh nhận ra mình là ai, làm gì và nên làm điều gì?  Trái lại, họ vận động mọi cách để làm theo ý mình, đặt cảm tình và ước muốn mình vượt lên trên ý Chúa.  Bề ngoài họ cầu nguyện xin theo đường lối Chúa, bên trong họ lại lái Chúa phải làm thế này, thế kia.  Thay vì cầu: "Lạy Chúa, Chúa muốn điều gì nơi con?"; họ lại nguyện:"Lạy Chúa, con phải làm việc này, việc nọ vì con thấy rất ích lợi…!"
Một khi ta thật sự mở rộng cõi lòng, Thiên Chúa sẽ dẫn đưa ta vào công việc mục vụ, với một tình yêu tinh ròng đến mọi người.  Chính Chúa Giêsu đã thực hiện từ đầu đời rao giảng và mọi người nhận ra Ngài là "Con Người cho mọi người".  Cũng thế, một khi ta bước theo đường Người vạch vẽ, chắc chắn ta sẽ khám phá ra một sự thật là: đôi tay ta sẽ dang rộng ra, trái tim yêu trong tâm hồn ta triển nở, lòng cảm thông, lòng từ ái… đều qui hướng đến mọi người.  Lời Chúa hôm nay kêu mời ta cụ thể hóa trong cuộc sống, dù ta hiện giờ trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy nhận ra và dõi theo đường lối Chúa, Ngài sẽ dậy ta biết sống và yêu thương như Con của Ngài, là gương mẫu tuyệt hảo cho nhân loại.
Vào một đêm sương mù dầy đặc tại một bờ biển thuộc tiểu bang Maine.  Có hai chiếc tầu buồm hướng về hải cảng Cape Porpoise, với ước vọng tới cảng an toàn.  Tầu đi đầu được điều khiển bởi hai thuỷ thủ rất lý sự.  Tầu thứ hai theo sau là cặp vợ chồng đang vui hưởng tuần trăng mật, họ phải dành dụm hai năm trời cho chuyến đi đầu tiên này. Vì sương mù, tầu đi đầu quẹo lạc hướng,  tầu thứ hai không biết liền theo sau.  Kết quả là vài phút sau đó, hai tàu bị va vào đá ngầm gần đảo Folly, vỡ tan tành nhưng không ai thiệt mạng.  Vài ngày sau đó, bầu trời quang đãng, một chiếc tầu chở dầu báo hiệu cho tài công điều khiển tầu vào hải cảng.  Nhưng không biết vì lý do gì, anh tài công này đã dẫn tàu đi lệch đường và đụng phải đá ngầm, khiến gần bốn trăm ngàn lít dầu chảy ra biển, thiệt hại bao hải vật và ô nhiễm hàng trăm dặm trên vùng biển Maine.  Dù là những người kinh nghiệm, thông thạo, nhiều hiểu biết mà còn mắc phải sai lầm, thì những bậc làm cha, mẹ, bạn bè cũng có lúc dẫn ta lạc lối.  Do đó những luật sư, bác sĩ và ngay cả các bậc giáo sĩ, tu sĩ cũng không ai dám chắc là mình hướng dẫn đúng lối.  Chúng ta không thể hình dung được những thiệt hại khi sống giữa áp lực của xã hội, những quyết định từng lúc, từng ngày, khiến ta không biết đâu là điều tốt hơn hết.  Vì thế, hãy nhận lãnh những chỉ dẫn tốt lành, rồi đặt mặt mình dưới ánh nhìn của Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo dựng nên ta sẽ trợ giúp ta, Ngài sẽ hướng dẫn ta trên những nẻo đường tình thương trong suốt đời ta.  Hơn nữa, Ngài sẽ làm cho ta trở nên những dụng cụ phục vụ trong tin yêu và vì tình yêu.

 

TN1-A78. ƯỚC MƠ VÀ HY VỌNG

Đức Giêsu đến xin ông Gioan làm phép rửa để bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Hành động của Ngài: TN1-A78

Đức Giêsu đến xin ông Gioan làm phép rửa để bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Hành động của Ngài khiến ông Gioan thực sự bất ngờ và bối rối, ông từ chối và cho rằng chính ông mới cần được làm phép rửa từ Ngài. Lời giải thích: "Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” ( Mt 3, 15 ) đã khiến cho ông Gioan xiêu lòng và chấp thuận làm phép rửa cho Ngài.
Lời giãi bày xem ra rất dễ nghe, không quá khó hiểu, nhưng để hành động được như vậy không phải là chuyện dễ dàng. Vậy mới có câu từ lý thuyết đến thực hành đôi khi còn cách xa nhau như thiên đàng – hỏa ngục. Và trong mọi thời, bao giờ người ta cũng cần hành động.
Thân phận là Thiên Chúa, là Đấng công chính vô tội, thế mà chẳng hiểu tại sao Đức Giêsu lại tìm đến ông Gioan xin làm phép rửa tỏ lòng thống hối ăn năn ? Người vô tội làm gì có lỗi để mà ăn năn hay hối lỗi ? Nói như thế chúng ta mới thấy được tình thương Thiên Chúa dành cho nhân loại cao lớn đến dường nào. Không chỉ gánh lấy tội của con cái loài người, Ngài còn đồng hóa với thân phận của họ để sẻ chia những gánh nặng vui buồn của kiếp người.
Có được một người thân, có được một người bạn yêu mình cách chân thành trên thế giới này đã như mò kim đáy biển. Đôi khi người ta còn cho rằng, chỉ trong thế giới thần tiên huyền thoại mới có. Thế nhưng, ở đây là người thật, là Thiên Chúa thật, Người đã đến thế gian, làm người như nhân loại, sống và chết cho nhân loại. Vậy mà chẳng hiểu tại sao, con người vẫn cảm thấy cô đơn trống trải và tuyệt vọng ?
Niềm tin là nền tảng để con người có sự sống vĩnh cửu. Chỉ cần tin có Thiên Chúa thật và Ngài yêu thương chúng ta thật. Chỉ cần tin vào quyền năng và lòng thương xót của Ngài là chúng ta đã thực sự hạnh phúc. Thế giới vẫn đau khổ, con người vẫn khổ đau chỉ vì không có, không còn niềm tin vào Thiên Chúa.
Hành động tự nguyện nhìn nhận mình là người có lỗi và xin được làm phép rửa đế nhận ơn tha tội của Đức Giêsu, cũng còn là lời mời gọi nhân loại hãy học lấy gương khiêm nhường tự hối. Đó chính là điều kiện tiên quyết để được ơn biến đổi. Nếu ai đó chẳng bao giờ biết nhìn lại mình, thì muôn đời chẳng bao giờ cần xin ơn tha thứ. Một ai đó luôn cảm thấy mình cần được cảm thông, tha thứ, người ấy bắt đầu đặt chân lên ngưỡng cửa thiên đàng. nơi mà Thiên Chúa Cha sẽ hoan hỉ vui mừng: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” ( Mt 3, 17 ) như hôm nay Ngài đã tuyên bố với Con Một chí thánh của mình, Đấng trọn đời vâng phục thánh ý Cha.  
Lạy Chúa, người đời có thể bỏ ra hàng ngàn vạn bạc vàng châu báu chỉ để có được những lời ca tụng hào phóng của nhau, riêng con, chỉ xin có được một lời dịu ngọt êm đềm của Thiên Chúa. Con biết tự sức mình, con chẳng thể có được bao giờ. Nhưng thôi thì mơ ước và hy vọng vẫn mãi mãi là ước mơ và hy vọng. Chỉ cần có được một nơi nhỏ bé trong cung lòng Thiên Chúa, con đã đủ cảm thấy vô cùng hạnh phúc.
Xin giúp con biết học đòi gương khiêm nhường tự hạ của Đấng Cứu Thế, can đảm nhìn nhận lỗi lầm thiếu sót của mình. Nếu Đức Giêsu đã dám buông bỏ tất cả vì con, sao con không thể vì phần rỗi của đời mình mà buông bỏ tham vọng cơ chứ ?
Xin giúp con, cho dẫu có phải đối diện với bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc sống, cũng luôn can đảm mạnh mẽ xin vâng theo ý Chúa đã định mà thôi.
M. HOÀNG THỊ THÙY TRANG

 

TN1-A79. CHÚA GIÊ SU CHỊU PHÉP RỬA,

CẢ TRẦN GIAN ĐƯỢC THÁNH HÓA
Mt 3, 13 - 17
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Tiếp theo lễ Chúa Hiển Linh, Phụng vụ của Giáo Hội mời gọi chúng ta cử hành lễ Chúa Giêsu: TN1-A79
http://www.giaophanvinhlong.net/Chua-Nhat-Chua-Giesu-Chiu-Phep-Rua-A.html 

Tiếp theo lễ Chúa Hiển Linh, Phụng vụ của Giáo Hội mời gọi chúng ta cử hành lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, kết thúc mùa Giáng sinh. Lễ này đã được các Giáo phụ quan tâm đặc biệt ngay từ những thời kỳ đầu, vì tầm quan trọng đặc biệt có tính cổ thời của nó. Đây là lễ được mừng sớm nhất, chỉ sau lễ Phục sinh, vì nó bao hàm lời rao giảng của các Tông Đồ, là điểm khởi hành cho tất cả những việc mà các Tông Đồ phải làm chứng cho (x. Tđcv 1, 21-22; 10, 37-41). Thứ đến, đây là lần đầu tiên, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc khải một cách đầy đủ và rõ ràng. Lý do nữa là phép rửa của Chúa Giêsu nơi sông Giordan loan báo trước cho phép rửa bằng Máu của Chúa trên Thập Giá, và tượng trưng cho toàn bộ những hoạt động có tính cách bí tích của Ðấng Cứu Thế. Để thực hiện ơn cứu rỗi nhân loại, Ngài đặt mình vào hàng ngũ các tội nhân, mặc dù Ngài là Đấng vô tội, nhưng Ngài đã mang trên mình tất cả tội lỗi của nhân loại. Hành động khiêm nhường và tự hủy này, đã được Chúa Cha chứng dám: " Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta" (Mt 3, 17). Cùng với Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần xuất hiện dưới hình chim bồ câu đậu xuống trên Người, để chỉ cho chúng ta tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh mà chúng ta sẽ thấy trường hợp tương tự diễn ra tại biến cố Chúa Biến Hình.
Câu hỏi được đặt ra trước hết là tại sao Chúa Giêsu là Đấng vô tội sao lại đến xin Gioan làm phép rửa?
Thánh Ghê-gô-ri-ô, giám mục Na-di-en cho biết: "Có thể là Chúa muốn thánh hoá kẻ sắp làm phép rửa cho Chúa, nhưng chắc chắn để chôn vùi trọn vẹn con người A-đam cũ trong dòng nước. Thật vậy, trước khi thanh tẩy ta và để thanh tẩy ta, Chúa thánh hoá sông Gio-đan ; vì Người vừa là thần khí vừa là xác phàm, nên Người cũng muốn nhờ Thần Khí và nước để đưa chúng ta vào đạo". Nên dù Gioan đã can ngăn "Chính tôi phải được Ngài rửa", đó là đèn nói với Mặt Trời, tiếng nói với Lời, phù rể nói với Chàng Rể, người cao trọng nhất trong số những người sinh bởi đàn bà nói với Trưởng Tử mọi loài thọ sinh, người nhảy mừng trong dạ mẹ nói với Đấng được thờ lạy ngay khi còn trong lòng mẹ, người tiền hô hiện tại và tương lai nói với Đấng vừa xuất hiện và sẽ xuất hiện. Quả thật, Gioan biết rằng mình sẽ được thanh tẩy bằng cuộc tử đạo. (Trích bài giảng của thánh -gô-ri-ô, giám mục Na-di-en).  Thánh Phê-rô Kim Ngôn giải thích rằng, khi Gioan làm phép rửa cho Chúa Giêsu  thì: "Tôi tớ đóng vai chủ, con người đóng vai Thiên Chúa, ông Gio-an đóng vai Đức Ki-tô ; ông đóng vai đó để lãnh ơn thứ tha chứ không phải để ban phát".
Người thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu, và đậu trên Người (Mt 3,17). Đây là phép lạ vĩ đại đã xảy ra sau khi Đấng Cứu Thế chịu phép rửa ; phép lạ này là khúc dạo đầu cho những gì sẽ xảy ra. Đây không phải là Thiên Đàng khi xưa đóng lại vì tội của Ađam nay mở ra, mà chính trời mở ra: "Giêsu chịu phép rửa, rồi bước lên khỏi nước. Này đây các tầng trời mở ra " (Mt 3,16).
Tại sao các tầng trời lại mở ra sau khi Chúa Giêsu bước lên khỏi nước?
Chúa Giê-su bước lên khỏi nước lúc ấy các tầng trời mở ra là Chúa Giêsu nâng thế gian lên cao với Ngài. Vì xưa kia, khi bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng và bị lưỡi gươm lửa cấm đoán, chính A-đam đã đóng cửa trời lại, không cho mình mà cũng không cho con cháu vào. Nay nhờ Chúa Giêsu mà cửa trời được mở ra.
Trời mở ra, còn mạc khải cho Gioan Tẩy Giả và những người Do Thái biết rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Theo thánh Gioan Kim Khẩu, điều này muốn dạy chúng ta rằng, một sự tương tự vô hình cũng xảy ra khi chúng ta chịu Phép Rửa Tội: Chúa Thánh Thần cũng ngự vào tâm hồn của chúng ta. Ngài không ngự đến một cách hữu hình, bởi vì chúng ta không cần: đức tin hiện nay là đủ... Thiên Chúa mở cửa trời để kêu gọi chúng ta hướng về trời, vì quê hương chúng ta là quê trời, và mách bảo chúng ta rằng, chúng ta không có gì ở dưới đất.
Tại sao Chúa Thánh Thần lại lấy hình một con chim bồ câu mà hiện xuống?
Lý do là vì chim bồ câu rất dịu dàng và trong sạch, và Chúa Thánh Thần là thần khí dịu êm và an bình . Chim bồ câu cũng nhắc cho chúng ta nhớ lại một sự kiện chúng ta đọc thấy trong Cựu Ước khi trái đất bị ngập do lũ lụt và toàn thể loài người trong nguy cơ hư mất, chim bồ câu ngậm cành ôlui xuất hiện để báo sự chấm dứt của cơn đại hồng thủy, tin vui hòa bình cho toàn thế giới. Giờ đây, tất cả những điều này cũng tiên báo về tương lai. Khi tất cả đã hư mất, nay được giải thoát và đổi mới, điều gì đã xảy ra khi nước lũ đến ngày hôm nay như là một lũ lụt của ân sủng và lòng thương xót Chúa... Chim bồ câu, thay vì ngậm một cành ô liu báo cho Noe là người duy nhất bước ra khỏi tầu để đặt chân lên mặt đất.  Nay Chim bồ câu báo tin trận hồng thuỷ tràn ngập thế gian đã lui đi, thế gian không còn phải chìm ngập trong cảnh trầm luân muôn đời nữa, phẩm giá ơn gọi làm con Thiên Chúa của chúng ta được phục hồi, và lôi kéo hết thảy mọi người lên Thiên Đàng.
Lời ngôn sứ nói: "Tiếng Chúa vang rền trên nước... Tiếng Chúa uy linh tung sấm sét" (Tv 28). Tiếng nào vậy ? "Đây là Con yêu dấu của Ta; Con đẹp lòng Ta"(Mt 3, 17). Đây là tiếng từ trời vọng xuống để làm chứng cho Đấng từ trời mà đến. Tiếng đó bày tỏ lòng tôn trọng thân xác dưới hình chim bồ câu, vì thân xác đã được thần hoá, khi Thiên Chúa tự tỏ mình ra trong thân xác.
Vậy, phép của Chúa Giêsu và phép rửa của chúng ta có liên kết chặt chẽ với nhau. Phụng Vụ của ngày lễ này đã hát lên như sau: "Đức Kitô chịu phép rửa, cả trần gian được thánh hoá, chúng ta được tha thứ tội lỗi, được thanh tẩy nhờ nước và Thánh Thần." (Tiền xướng của Kinh Bênêdictus, của Giờ Kinh Sáng). Chúng ta hãy thanh tẩy mình cho thanh sạch, hãy tiếp tục thanh tẩy cho thanh sạch hoàn toàn và đem lòng tôn kính mà tưởng niệm ngày Đức Ki-tô chịu phép rửa, và hãy mừng lễ cách xứng đáng. Amen.

 

TN1-A80: KHIÊM NHƯỜNG, LIÊN ĐỚI ĐỂ CỨU ĐỘ

Mt 3, 13 - 17
Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

Từ lễ Giáng Sinh đến hôm nay, Giáo Hội không ngừng mời gọi con cái của mình chiêm ngắm và: TN1-A80

Từ lễ Giáng Sinh đến hôm nay, Giáo Hội không ngừng mời gọi con cái của mình chiêm ngắm và sống sứ điệp mầu nhiệm Giáng Sinh nơi Hài Nhi Giêsu. Các sứ điệp tuy nhiều, nhưng có lẽ điểm nhấn trọng yếu vẫn là sự khiêm nhường và tính liên đới của Ngôi Hai Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay, một lần nữa thánh Mátthêu làm toát lên sự khiêm nhường đó khi trình thuật sự kiện Đức Giêsu xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình.
1. Ý nghĩa của phép rửa nơi Gioan Tẩy Giả
Để chuẩn bị cho dân chúng đón nhận Đức Giêsu, Gioan đã kêu gọi mọi người ăn năn sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi, canh tân đời sống để được ơn cứu độ. Đời sống của ông đã đi đôi với hành động của mình khi chọn lối sống đơn sơ, nghèo khó trong hoang địa: ông đã "Mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn" (Mt 3, 4), nhằm sống triệt để tinh thần khiêm nhường và trọn vẹn ý nghĩa của sự chay tịnh để chờ mong Đấng Cứu Thế đến cũng như chu toàn vai trò là người dọn đường cho Vị Thiên Sai. Đỉnh cao của sứ điệp mà Gioan mời gọi đó là đón nhận phép rửa sám hối và canh tân đời sống để được ơn tha thứ.
Khi nói đến phép rửa của Gioan, chúng ta cũng nên nhắc đến các nghi thức phép rửa của người đương thời với ông. Phép rửa thời bấy giờ gồm có phép rửa của những người tòng giáo, nhằm tẩy uế. Phép rửa của những người Étxem là một nghi thức hằng ngày, có tính cách giúp người ta sống trong sạch. Nhưng phép rửa của Gioan thì khác hẳn với các phép rửa trên. Phép rửa mà Gioan cử hành nói lên tinh thần sám hối để chuẩn bị cho phép rửa trong Thánh Thần và Lửa mà Đức Giêsu sẽ cử hành sau này. Tuy nhiên, phép rửa mà Gioan cử hành trên sông Giođan chỉ là một nghi thức tượng trưng. Phép rửa này chưa phải là một Bí tích và thực chất cũng chưa có khả năng tẩy xoá tội lỗi và cứu độ được con người, bởi chưng, chưa có năng lực ban ơn thánh hoá. Vì thế, phép rửa này có tính sám hối. Chính vì thế, thánh nhân mới quả quyết rằng: "Phần tôi, tôi đã rửa anh em trong nước, nhưng Người, Người sẽ rửa anh em trong Thánh Thần" (Mt 1,7).
Trong đoàn người lũ lượt đến với Gioan để xin lãnh nhận phép rửa do ông cử hành, Đức Giêsu cũng tháp nhập vào đoàn người đông đảo ấy để xin Gioan làm phép rửa cho mình. Khi thấy Đức Giêsu, ông đã tỏ vẻ ngỡ ngàng vì tại sao lại có thể xảy ra sự ngược đời như thế được? Một vị Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất; Đấng là khởi đầu và kết thúc; Đấng xóa tội trần gian; Đấng trong sạch không tỳ tích; Đấng thánh thiện vẹn toàn; Đấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và Lửa mà lại đến để xin mình lãnh nhận phép rửa tỏ lòng sám hối từ chính một người cũng cần được cứu độ? Có lẽ đây là một điều khó hiểu đối với Gioan: "Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?" (Mt 3, 14) Nhưng khi nghe Đức Giêsu giải thích, ông đã hiểu được ý nghĩa sâu xa sứ mạng của Đấng Cứu Độ.
2. Đức Giêsu cứu độ nhân loại bằng con đường khiêm nhường và tinh thần liên đới
Thật vậy, Đức Giêsu đã đến trần gian để cứu chuộc con người. Ngài đã trở nên như không cho con người có tất cả. Ngài đã thực hiện thánh ý của Chúa Cha cách tuyệt đối. Tuy bản thân Ngài hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài là Đấng gánh tội trần gian, nghĩa là Ngài chất đầy tội lỗi của nhân loại trên bản thân mình. Vì thế, trước mặt Thiên Chúa, với tư cách đại diện cho toàn nhân loại, Ngài phải tự liệt mình vào hàng tội nhân cần phải sám hối. Và Ngài sám hối thay cho toàn nhân loại, tương tự như Môsê (x. Xh 9,27; 32,31-32; Lv 8,14-15), Nêhêmi (x. Nkm 1,6-7), Ét-ra (x. Er 10,1.6) và Đanien (x. Đn 10,2) đã từng làm. Đức Giêsu đã lãnh nhận phép rửa sám hối và ghi nhận hành vi sám hối này để liên đới với hết mọi người Do thái thời bấy giờ, đồng thời chia sẻ phân phận khổ đau, nghèo đói và bệnh tật của con người. Ngài muốn trở nên người thầy, người anh, người bạn của tất cả chúng nhân, nhất là những người thấp cổ bé họng, những người cô thế, cô thân... Ngài muốn chung phần đau khổ với hết mọi cảnh đời, nhất là những kẻ tội lỗi, yếu đuối để nâng con người lên và giải thoát họ khỏi quyền lực của sự chết. Vì thế, Ngài đã "không lớn tiếng", "không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn leo lét". Ngài chính là "Người Tôi Tớ" mà tiên tri Isaia đã loan báo (x. Is 42, 1-4). Qua hành vi đó, Đức Giêsu muốn diễn tả một vị Thiên Chúa thật gần gũi với loài người, một vị Thiên Chúa nghe được, thấu được và cảm được được nỗi đau khổ, yếu đuối của loài người. Mặt khác, khi lãnh nhận phép rửa sám hối, Đức Giêsu muốn mặc khải và nhấn mạnh đến khía cạnh cứu độ chứ không phải khía cạnh thống trị bằng quyền bính như người Dothái mong chờ. Ngài đến để biến đổi nhân loại từ bên trong, bằng cách chia sẻ thân phận nghèo hèn và khốn khổ của họ, hơn là từ bên ngoài, bằng xét xử phán đoán. Bởi vậy, Ngài hoàn toàn từ chối kiểu thống lãnh bằng vũ lực và quyền bính, nhưng bằng con đường tình yêu và tự hủy (x. Mt 4, 1-11; 11,2-6; 16, 13-23).  Chính vì thế, khi Gioan tỏ vẻ từ chối vì thấy mình không xứng: "Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?", ngay lập tức, Đức Giêsu đã nói với ông: "Không sao, vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế" (x. Mt 3, 14), cần phải hoàn thành sự công chính là trung thành với Thiên Chúa cách tuyệt đối. Thật thế, Đức Giêsu là Tôi Tớ Giavê, nên Ngài chẳng nề hà khi cùng chịu đau khổ vì tội của dân mình. Khi lãnh nhận phép rửa của Gioan, Ngài vừa trở nên chi thể, vừa trở nên thủ lĩnh của một nhân loại tội lỗi cần được thánh hóa và cứu chuộc. Thành ra, mặc dầu chẳng phạm tội, Chúa Giêsu cũng phải cúi xuống và dìm mình dưới dòng sông Giodan để chịu phép rửa thống hối chỉ vì muốn liên đới, gánh vác tội lỗi của con người và chia sẻ với họ niềm hy vọng (x. 2 Cr 5, 21; Dt 2, 14- 17). Khi khiêm tốn lãnh nhận phép rửa của Gioan, thì cũng là lúc Ngài chính thức khai mở một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của ơn cứu độ, đồng thời biểu lộ bản chất Cứu Chúa của mình.   
Chính khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Thiên Chúa Cha đã tấn phong Đức Giêsu là Đấng Mêsia, để Đấng Kitô thi hành sứ vụ, và cũng từ đây Ngài đi khắp nơi để ban phát ơn lành (x. Ex 1,1; Kh 19,11; Cv 7,56...)
Thật vậy, Thần khí Đức Giêsu lãnh nhận cũng chính là Thần khí đã ngự xuống trên các ngôn sứ và vua chúa để ban cho họ khả năng thi hành nhiệm vụ; nhưng hơn hẳn các nhân vật quá khứ, Ngài lãnh nhận Thần khí một cách dư đầy (x. Is 11,2).
Cũng chính lúc này, các tầng trời mở ra biểu hiện sự giao hòa. Giao hòa giữa trời và đất, giao hòa giữa Thiên Chúa và con người.
Đây là một biến cố quan trọng, bởi vì Chúa Cha đóng ấn vào công cuộc cứu chuộc của con người qua sự khiêm hạ của Đức Giêsu.
3. Sứ điệp Lời Chúa
Mừng lễ Đức Giêsu chịu phép rửa, mỗi người chúng ta hãy nhớ lại ngày ta được lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Khi đó, ta được trở nên con Thiên Chúa, được Chúa hứa ban gia nghiệp vĩnh cửu. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở những đặc ân nội tại của riêng ta, nhưng qua đó, chúng ta cũng còn lãnh nhận một trách nhiệm khác nữa, đó là phải trở nên ngôn sứ của Đức Giêsu. Nói cách khác, chúng ta phải có trách nhiệm loan truyền Đức Giêsu cho người khác.
Nhưng điều đáng nói ở đây là chúng ta loan báo bằng cách nào?
Hình ảnh của Đức Giêsu khiêm nhường để cúi xuống cho Gioan làm phép rửa nhắc cho chúng ta trước, trong và sau khi loan báo hãy lấy thánh ý Thiên Chúa lên trên và phải khiêm nhường. Nếu không có sự khiêm nhường thẳm sâu thì chúng ta sẽ làm đổ vỡ chương trình của Thiên Chúa và thay vào đó là ý định của ta. Thật vậy, không có Chúa, chúng ta chẳng làm được chuyện gì, bởi vì: "Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công" (Tv 126,1). Mỗi lúc như thế, chúng ta cũng nhớ lại sự xác tín của thánh Phaolô: "Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên" (1 Cor 3:6). Khi xác định như thế, ấy là lúc chúng ta ý thức được vai trò của chúng ta chỉ là đầy tớ cho ông chủ; là thợ trong vườn nho; là dụng cụ trong tay người thợ. Chúa mới là người quyết định thành bại: "Ngoài Ta ra các ngươi không thể làm gì được !" (Ga 15,5c). Thực ra, người ta có gì mà không do lãnh nhận từ Trên ban cho (x Ga 3,27). Chỉ khi nào chúng ta lắng nghe  tiếng Chúa để khám phá ra mặt linh hồn của mình quá ô uế, vì Lời Chúa là gương soi mặt linh hồn (x Gc 1,23). Quả thật, "Chỉ ngang qua Lề Luật, ta mới biết mình có tội" (Rm 7,7). Và, khi đã nhận ra con người khốn nạn của mình, vì đã biết ý Chúa mà không làm, thì không còn dám kiêu căng, lên mặt, coi thường Thiên Chúa, khinh dể người anh em, lúc đó, ta làm sao mà dám lên mặt vênh váo với ai? Bởi lẽ: "Không ai công chính, không một ai [... ] hết thảy đều lầm lạc hư đốn cả lũ! [...] và tất  cả thế gian phải tự nhận mình mắc án của Thiên Chúa" (x. Rm.3,10-20).
Cũng noi gương Chúa hoàn toàn vâng phục và chết vì yêu. Ngài thiết lập Nước của Ngài không phải súng đạn, binh đao và quyền lực. Nhưng hoàn toàn bằng tinh thần yêu thương, liên đới và tự hủy. Qua hình ảnh và hành động đó của Đức Giêsu, mỗi chúng ta cũng ý thức rằng: mọi sự rồi cũng qua đi, chỉ có Chúa và tình yêu của Ngài mới tồn tại: Vì "Không phải nhờ gươm, nhờ giáo mà Chúa ban chiến thắng, vì chiến đấu là việc của Chúa" (1Sm 14,47a). 
Trong mỗi một tập thể hay nơi gia đình, nếu mỗi người đều có tinh thần của của thánh Âutinh: "Cứ yêu đi, rồi làm gì thì làm!" ắt mọi chuyện sẽ được êm đẹp. Cứ xét mình trước rồi hãy xét đoán anh chị em thì sẽ thấy đôi khi tội mình nặng hơn họ. Cứ đặt mình vào cương vị bị người khác hạ nhục, hiểu lầm, bị quát nạt và xấc láo thì mới thấy thương và cảm thông với người khác hơn là trách mắng họ, nhất là đặt mình vào cương vị một người trên mà bị bề dưới sỉ vả hay hỗn xược thì mới thấy được cái cay đắng của những lần mình hỗn láo với những người đáng tuổi ông bà, cha mẹ của mình. Họ cũng đau, họ cũng buốt và nhất là họ thất vọng.
Mong sao trong mọi mối tương quan, ta hãy có tình bác ái và thông cảm cho nhau như Đức Giêsu đã vâng lời và khiêm nhường khi cùng đoàn người đến xin Gioan làm phép rửa thống hối cho mình. Qua đó Ngài muốn liên đới, cảm thông và nâng đỡ những ai đang vất vả, lầm lạc và khổ đau. Và cũng hy vọng hình ảnh một Đức Giêsu hiền hậu, khiêm nhường và hay tha thứ không bị lu mờ đi vì tấm gương quá bẩn, quá xấu của chúng ta.
Hy vọng lời ca ngợi của nhiều anh chị em không đồng đạo với chúng ta vẫn thường nói rằng: đạo Công Giáo là đạo tình yêu; đạo tha thứ; đạo khiêm nhường; đạo của "những người yêu nhau" sẽ không bị phản chứng khi ngay trong chính lối sống và cách hành xử nội bộ nơi con cái Chúa trong Giáo Hội. 
Lạy Chúa Kitô, xưa Ngài đã làm đẹp lòng Chúa Cha bằng cách sống hòa đồng, chia sẻ phận người với chúng con. Xin Chúa giúp chúng con trong tình tương thân huynh đệ, cùng giúp nhau sống tốt về mọi mặt, để xây dựng một Giáo Hội hiệp nhất, yêu thương. Amen.

 

TN1-A81: KHIÊM TÔN VÂNG PHỤC NHƯ CON THẢO

CỦA THIÊN CHÚA
Mt 3, 13 - 17
 1. LỜI CHÚA: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !" (Mt 3,14).

2. CÂU CHUYỆN: "TRÈO CAO TÉ ĐAU"
 

Trong kho tàng truyện thần thoại Hy-lạp, có một câu chuyện về hai cha con nhà kia. Người cha tên là: TN1-A81

Trong kho tàng truyện thần thoại Hy-lạp, có một câu chuyện về hai cha con nhà kia. Người cha tên là I-đam và con là I-ka. I-đam là một kiến trúc sư kiêm nghề điêu khắc. Chính ông đã được nhà vua trao nhiệm vụ xây một bát quái đồ để giam giữ một con quái vật đầu người mình thú rất hung dữ, hầu bảo vệ dân lành khỏi bị nó giết hại. Nhưng về sau, do hiểu lầm hai cha con I-đam và I-ka có âm mưu làm loạn, nên vua Mi-nos đã hạ lệnh tống giam cả hai vào bát quái đồ đó. Nhưng rồi "cái khó ló cái khôn": Trong lúc bị giam cầm, hai cha con này đã tìm ra cách trốn thoát bằng cánh chim bay lên cao. Họ đã dùng sáp ong nối nhiều lông chim lại thành hai bộ cánh chim và đã thoát ra khỏi nhà tù qua một lổ nhỏ trên mái. Quá phấn khởi trước thành công bất ngờ, anh con trai càng lúc càng bay lên cao, bỏ ngoài tai những lời khuyến cáo khẩn thiết của cha mình. Khi bay cao gần đến mặt trời, thì sáp dính các lông chim trên đôi cánh bay bị nóng quá tan chảy ra và anh con trai đã rơi từ độ cao xuống đất chết tan xác.
Chính thói kiêu hãnh về sự thành công đã làm cho người con trai không vâng lời cha, nên cuối cùng đã bị rơi xuống đất chết thảm. Ngày nay, sự kiêu ngạo cũng làm cho người ta coi thường và bỏ ngoài tai những lời khuyên can khôn ngoan đầy kinh nghiệm của các bậc cha bác, thầy cô giáo và những bậc cao niên. Nếu mỗi người chúng ta chỉ lo chiều theo các đam mê ích kỷ của mình, thì chắc chắn sẽ phải chuốc lấy thất bại đau thương.
3. SUY NIỆM:
1) Gương khiêm tốn của Gio-an Tẩy Giả: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !":
Vào năm 30 trước Công Nguyên, Gioan Tẩy giả đã xuất hiện tại sông Gio-đan, ăn mặc như ngôn sứ Ê-li-a (x. Mt 3,4), rao giảng cùng một sứ điệp về sự phán xét công thẳng của Thiên Chúa như Ê-li-a, đồng thời Gio-an đã kêu gọi mọi người: «Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần» (Mt 3,2). Ông còn làm phép rửa cho những ai thành tâm sám hối để chuẩn bị tâm hồn họ đón nhận Đấng Thiên Sai sắp đến (x. Cv 19,4). Gio-an cũng khiêm tốn khi nói về vai trò và sứ mạng của Đấng Thiên Sai như sau: "Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa» (3,11). Còn chúng ta hôm nay: Chúng ta có biết nhận trách nhiêm những thất bại xảy ra để noi gương khiêm tốn của thánh Gio-an không ?
2) "Giữ trọn đức công chính" là vâng phục thánh ý Thiên Chúa:
Khi Đức Giê-su đến xếp hàng xin chịu phép rửa tại sông Gio-đan, ông Gio-an đã thưa với Người rằng: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !". Rồi khi nghe Đức Giê-su nói: "Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính" (Mt 3,15), thì Gio-an đã làm phép rửa cho Người. Như vậy "Giữ trọn đức công chính" là vâng lời để làm theo ý muốn của Thiên Chúa.
Về sau, thánh Phao-lô cũng dạy về sự khiêm nhường vâng phục của Chúa Giê-su như sau: "Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự". Sự vâng lời ấy thể hiện qua việc Người xin chịu phép rửa dìm mình trong dòng sông Gio-đan, biểu tượng cuộc tử nạn và phục sinh của Người lúc cuối đời. Phao-lô viết tiếp: "Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu" (Pl 2,9-11). Qua đó, Phao-lô dạy các tín hữu phải noi gương Đức Giê-su "giữ trọn đức công chính" bằng việc vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Còn chúng ta hôm nay hãy năng cầu nguyện với Chúa Giê-su như tông đồ Phao-lô sau khi bị té ngựa ở cửa thành Đa-mát: "Lạy Chúa, con phải làm gì ?" (Cv 22,10).
3) Phải ứng xử thế nào để nên con thảo của Thiên Chúa?: Khi Đức Giê-su chịu phép Rửa xong và từ dưới nước trồi lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và kìa có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người" (Mt 3,16-17). Ngày nay muốn được Thiên Chúa thừa nhận là con yêu dấu như đã xác nhận Đức Giê-su, chúng ta cần có lối ứng xử khiêm tốn cụ thể như sau:
- Khiêm tốn nhận lỗi mỗi khi được người khác góp ý: Ai trong chúng ta ít nhiều cũng đều sai lỗi, nhưng chúng ta thường giả hình che đậy để được người khác đánh giá tốt về mình. Khi bị người khác phê bình chỉ trích, chúng ta thường bực tức và thù ghét kẻ dám phê phán nói xấu ta. Khi bị thất bại hay có sự cố bất lợi, ít khi chúng ta nhận sai sót, mà thường hay đổ lỗi cho người dưới hay hoàn cảnh. Mỗi người nên ý thức rằng: thái độ khiêm tốn nhận lỗi và thành tâm sửa sai sẽ giúp chúng ta nên hoàn thiện hơn và gây được thiện cảm với người khác là điều kiện để mọi việc làm được thành công.
- Khiêm tốn bỏ qua những điều nhỏ mọn: Khi thấy người dưới sai lỗi không nghiêm trọng, chỉ nên nhẹ nhàng nhắc bảo với lòng bao dung nhân hậu. Tránh hay rầy la to tiếng làm mất sự bình an và tình đoàn kết nội bộ .
- Cần khiêm tốn sửa lỗi cho tha nhân theo lời Chúa dạy: Việc sửa lỗi phài do tình thương chứ không do ác cảm thù ghét. Muốn sửa lỗi cho tha nhân cách hiệu quả cần tiến hành cách khôn khéo từng bước theo lời Chúa dạy như sau: Một là phải âm thầm gặp riêng người có lỗi để tránh cho họ bị mất tiếng tốt. Hai là phải tế nhị rào trước đón sau để chuẩn bị tinh thần giúp kẻ có lỗi sẵn sàng lắng nghe. Ba là phài nhẫn nại chờ đợi và tránh thái độ nóng vội. Chỉ nên đưa ra cộng đoàn xử lý nghiêm nếu kẻ kia cố chấp không chịu sám hối và trong những trường hợp lỗi lầm của họ gây hậu quả nghiêm trọng cho cộng đoàn nếu không kịp thời chấn chỉnh (x. Mt 18,15-17).
4. THẢO LUẬN:
1) Thế nào là nhân đức khiêm nhường ? Đối lập với đức khiêm nhường là thói xấu nào?
2) Cuộc đời của Đức Giê-su là một chuỗi những hành động khiêm nhường thể hiện qua hành đông vâng phục ý Chúa Cha và phục vụ tha nhân. Vậy bạn sẽ làm gì để thực tập khiêm nhường trong quan hệ với tha nhân noi gương Đức Giê-su ?
5. NGUYỆN CẦU:
LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin ban cho chúng con luôn biết điều chỉnh cách suy nghĩ nói năng và hành động, cho phù hợp với gương khiêm tốn và vâng phục ý Thiên Chúa noi gương Chúa xưa. Xin cho chúng con biết khôn ngoan để tránh ảo tưởng về mình, biết thành thật để khỏi tự dối lòng mình. Ước gì chúng con biết luôn sám hối và hoán cải, sám hối bằng hành động hơn bằng môi miệng. Xin cho chúng con biết chấp nhận để Lời Chúa tỉa sạch những thói hư, nhất là tránh tự đề cao mình và khinh thường tha nhân. Xin cho chúng con biết ứng xử khiêm tốn .
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

TN1-A82: LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA, năm A

Mt 3, 13 - 17
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Thực tế, thời thơ ấu của Chúa Giêsu đã chấm dứt.Lễ Giáng Sinh và Mùa Giáng Sinh cũng đã lui vào: TN1-A82

Thực tế, thời thơ ấu của Chúa Giêsu đã chấm dứt.Lễ Giáng Sinh và Mùa Giáng Sinh cũng đã lui vào dĩ vãng. Bây giờ là thời rao giảng công khai của Chúa Giêsu. Bởi vì, khi được 30 tuổi, Chúa Giêsu đã rời khỏi Quê hương của mình là Nadaret để đi khắp nơi công bố Nước Trời và kết nạp các môn đệ, các tông đồ.Hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu xuất hiện trước công chúng trong tư thế sẵn sàng khởi đầu sứ vụ Thiên Chúa Cha đã trao cho Ngài...

Các bài đọc ngày lễ hôm nay đều giới thiệu với chúng ta rằng Chúa Giêsu là Người được Thiên Chúa Cha yêu dấu.Bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia cho biết Chúa Giêsu là Người được tuyển chọn, nâng đỡ, an ủi, quý mến. Bài đọc hai, thánh Phêro làm chứng Thiên Chúa Cha luôn ở với Ngài. Hai bài đọc này, nhằm cho chúng ta hiểu sâu xa hơn về Đức Kito, Đấng được Thiên Chúa Cha từ trời gọi là " Này là Con Ta yêu dấu, Cha hài lòng về Con ".

Đọc các bài đọc này, chúng ta càng lấy làm bỡ ngỡ, ngạc nhiên về việc Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, được Chúa Cha ca tụng khen ngợi, thế mà khi khai mạc sứ vụ công khai, Ngài đã xếp hàng cùng với tội nhân để xin ông Gioan Baotixita làm phép rửa cho ở sông Giorđăng. Như thế phải chăng Chúa Giêsu cũng là tội nhân sao ? Thưa không phải bởi vì đã có lần Chúa Giêsu tuyên bố rằng " Ai trong các ông có thể bắt lỗi tôi vì tội gì ?". Chúa Giêsu là Đấng xóa tội trần gian, Ngài là Đấng đã gánh lấy tội lỗi của thế gian như có lần Gioan Tẩy Giả đã chỉ vào Chúa Giêsu và nói:" Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian ". Chúa Giêsu xóa tội trần gian bằng cách gánh lấy tội con người, gánh lấy tội trần gian. Ngài đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ. Ngài khai mạc sứ vụ công khai bằng cử chỉ loan báo:" Thời giờ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng ". Chính các môn đệ lúc đó cũng chưa hiểu được ý Chúa. Họ nghĩ rằng theo Thầy Giêsu khi Thầy lên làm Vua thì các môn đệ sẽ được chia chác nhau ngôi vị, chỗ đứng trong nội các của Chúa Giêsu. Do đó, mới có việc hai con của ông Giêbêđê cùng đi với mẹ tỏ ước vọng muốn một người ngồi bên tả, một người ngồi bên hữu trong Vương Quốc của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã cho các Ông hiểu rõ quan điểm và ý hướng của Chúa. Các con có uống được chén của Cha sắp uống không, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả là thuộc quyền của Cha....Chén ở đây là chén thống khổ, sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Chén hay cuộc thông khổ không chỉ là nước thanh tẩy trong sông Giorđăng và do bàn tay của Gioan Tẩy Giả mà bằng chính máu của Chúa Giêsu đổ ra trên Thập Giá. Chúa Giêsu làm gương cho nhân loại bằng việc chịu phép rửa thống hối ở sông Giorđăng. Đây là hình bóng của nhân loại được thanh tẩy trong máu của chúa Giêsu đổ ra trên Thập Giá, và sự phục sinh của Ngài và để con người đã được tái sinh sẽ trở thành con của Thiên Chúa. Câu chuyện của Nicôđêmô trong đêm tối tới gặp Chúa Giêsu nói lên điều đó. Con người phải được tái sinh nghĩa là trở nên con người mới, được dìm trong máu của Chúa Giêsu đã đổ ra để cứu chuộc con người và được phục sinh với Ngài...

Đọc lại Tin Mừng chúng ta nhận ra điều này Chúa Giêsu chính là sự sống, do đó, phép rửa hay thanh tẩy không chỉ còn là nghi lễ mà đã trở thành cuộc sống mới cho nhân loại, cho con người, cho mọi người. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, tội lỗi và ma quỷ. Phép rửa không chỉ còn là một nghi thức để gia nhập Giáo Hội, làm con Thiên Chúa một cách máy móc, nhưng phép rửa đã là một cuộc tái sinh, một cuộc sống mới, một sự đẩy lùi tội lỗi trường kỳ ra khỏi thế gian để rồi cuộc sống của người Kito hữu luôn là cuộc sống mới trong sự tái sinh bằng máu, sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu.

Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa chúng ta nhớ tới bí tích rửa tội chúng ta đã lãnh nhận ngày chúng ta được rửa tội. Qua phép rửa chúng ta được trở nên Con của Thiên Chúa và Con của Giáo Hội.

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Đức Kito chịu phép rửa tại sông Gio-đăn và Thánh Thần ngự xuống trên Người, Chúa đã long trọng tuyên bố Ngươi là Con chí ái. Xin cho chúng con là đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, hằng bền vững thi hành ý Chúa.( Lời nguyện Nhập lễ lễ Chúa Giêsuchịu phép rửa ).


 

TN1-A83: PHÉP RỬA

Mt 3, 13 - 17
Lm. Giuse Trần Việt Hùng

 

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa khởi đầu mùa Phụng Vụ của Chúa Nhật thứ nhất Quanh Năm. Chúa: TN1-A83

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa khởi đầu mùa Phụng Vụ của Chúa Nhật thứ nhất Quanh Năm. Chúa Giêsu bắt đầu khai mạc sứ mệnh rao giảng tin mừng cứu độ. Thánh Gioan Tẩy Giả đã tiến dẫn Chúa Giêsu cho đại chúng. Các biến cố lớn nhỏ đều có vai trò quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ. Tiên tri Isaia đã tiên báo về Ngài: Đây là lời Chúa phán: "Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta chọn, Ta hài lòng về người. Ta ban Thần trí Ta trên người. Người sẽ xét xử chư dân (Is 42, 1). Tất cả mọi sự đều qui về Chúa Giêsu Kitô là nguồn ơn cứu độ. Toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước là sự thể hiện một giao ước giữa Thiên Chúa và loài người. Thiên Chúa trung thành giữ lời đã hứa với các tổ phụ của chúng ta. Cho dù lòng con người có đổi thay, phản bội hay chối từ. Thiên Chúa vẫn giữ trọn lời đã hứa: Ta là Chúa, Ta đã gọi con trong công lý, đã cầm lấy tay con, đã gìn giữ con, đã đặt con thành giao ước của dân, và nên ánh sáng của chư dân (Is 42, 6).

Chúa Giêsu đã giáng thế làm người. Qua thời gian năm tháng, Chúa Giêsu đã được sinh ra tại Belem, rồi tránh xa kẻ lùng bắt nên trốn sang nước Ai-cập và âm thầm trở về làng quê Nazareth sống cuộc đời dân dã lao động. Khi tới tuổi trưởng thành, tam thập như lập, Chúa Giêsu công khai xuất hiện rao giảng tin vui cho mọi người. Chúa Giêsu đã đến với Gioan Tẩy Giả để lãnh nhận phép rửa sám hối. Chúa Giêsu đã hạ mình xuống tận đáy lòng sông để rồi từ đó, Chúa cất nhắc mọi người lên cùng Chúa: Chúa Giêsu chịu phép rửa, rồi bước lên khỏi nước. Này đây các tầng trời mở ra, và Người thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người (Mt 3, 16). Thánh Matthêô ghi lại sự kiện: Và ngay lúc ấy, có tiếng từ trời phán: "Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta" (Mt 3, 17).

Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta cùng nhau ôn lại giáo lý về Bí tích Rửa Tội. Bí tích Rửa Tội còn được gọi là Bí tích Thánh Tẩy. Bí Tích làm cho ta được sinh vào đời sống mới trong Chúa Kitô. Theo ý muốn của Chúa, Bí tích Thánh Tẩy cần thiết để được ơn cứu độ. Hoa trái của Bí Tích là tha tội nguyên tổ và mọi tội riêng đã phạm để sinh vào đời sống mới. Nhờ đó, con người trở thành dưỡng tử của Chúa Cha, làm chi thể của Chúa Kitô và là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Người lãnh nhận Bí tích Rửa Tội được gia nhập vào Hội Thánh Chúa Kitô và được tham dự vào chức Tư Tế của Người (x. GLCG số 1279). Bí tích Rửa Tội in vào linh hồn dấu ấn thiêng thiêng không thể xóa nhòa. Mỗi người chỉ lãnh nhận Bí tích Rửa Tội một lần trong đời. Nghi thức Rửa Tội gồm có: Bày tỏ sự đồng ý của ứng viên, phụng vụ Lời Chúa, kinh cầu các Thánh, lời nguyện trừ tà và xức dầu dự tòng (OS), làm phép nước, hứa từ bỏ tà thần và tuyên xưng đức tin, nghi lễ rửa tội, xức dầu thánh (SC), trao áo trắng, trao nến sáng, cầu nguyện và phép lành.

Từ rất xa xưa, Hội Thánh đã có truyền thống ban Bí tích Rửa Tội cho các trẻ sơ sinh. Các trẻ sơ sinh được thanh tẩy trong đức tin của Hội Thánh và gia nhập đời sống Kitô Giáo đạt tới tự do đích thực. Thừa tác viên của Bí tích Rửa Tội là các giám mục, linh mục, thầy sáu và trong trường hợp khẩn cấp, mọi tín hữu đều có quyền và có bổn phận rửa tội. Ngay cả người không trong đạo Công Giáo cũng có quyền, nếu được cắt đặt trong trường hợp khẩn cấp (thí dụ: các y tá ở bệnh viện), miễn là làm theo đúng nghi thức và ý của Giáo Hội. Bình thường, Bí tích Rửa Tội được cử hành trong nhà thờ hay nhà nguyện của Giáo Xứ. Sau khi cử hành Bí tích Rửa Tội, cần phải ghi vào sổ bộ một cách rõ ràng tên của thừa tác viên, cha mẹ đỡ đầu và các nhân chứng.

Bí tích Rửa Tội cần thiết cho được rỗi linh hồn, nhưng chúng ta nhận biết lòng thương xót của Chúa mở rộng cho mọi người, dù chưa lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, họ cũng có thể được phần với Chúa, thí dụ: Kẻ trộm bị đóng đinh cùng Chúa Giêsu, anh ta thưa: Ông Giêsu ơi, khi vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi. Chúa nói: Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng (Lc 23, 42-43). Hoặc câu truyện ông Gia-kêu, Chúa Giêsu nói: Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham (Lc 19, 9). Vậy những người không lãnh nhận bí tích Rửa Tội cũng có thể được ơn cứu độ là những người chết vì đức tin, tất cả những người tuy không biết Hội Thánh nhưng do ân sủng thúc đẩy mà chân thành tìm kiếm Chúa và nỗ lực chu toàn thánh ý Người (x. GLCG số 1281).

Một vài cách thực hành mục vụ, ai cũng có thể rửa tội cho các thai nhi hay các trẻ em trong những trường hợp khẩn cấp. Những người lớn tuổi muốn được rửa tội để gia nhập đạo thánh Chúa cần có thời gian chuẩn bị học hỏi và tuyên xưng đức tin. Các ứng viên phải bày tỏ ý muốn được rửa tội, được hướng dẫn về sự thật của niềm tin và những bó buộc của đời sống Kitô hữu. Họ phải trải qua thời kỳ thanh luyện, chứng tỏ sự đổi mới và tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa và Hội Thánh. Trong trường hợp nguy tử, những người này có thể lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, nếu họ có một sự hiểu biết về những nguyên lý sự thật của đức tin, bày tỏ ý muốn được lãnh nhận Bí Tích và hứa tuân giữ các giới luật và điều răn của đạo Công Giáo (x. GL. số 865).

Với các thừa tác viên ngoại thường: Xin đừng rửa tội cho một người đã trưởng thành, trừ khi họ thật sự yêu cầu hay thỉnh nguyện (request) được rửa tội. Đừng rửa tội cho một người lớn trong khi họ bị hôn mê (unconscious). Đừng rửa tội cho một người mà họ đã được rửa tội trong một Hội Thánh khác. Nếu chúng ta chỉ là thừa tác viên (giáo dân), cần nhớ rằng không nên rửa tội cho một người đã trưởng thành, nếu có các linh mục và phó tế có thể sẵn sàng hiện diện. Nếu các linh mục và phó tế chối từ rửa tội cho một người, thừa tác viên cũng đừng tự ý rửa tội cho họ. Nếu linh mục và phó tế chỉ dẫn rằng không nên rửa tội cho họ vì không cần thiết, các thừa tác viên giáo dân không nên rửa tội. Nghi lễ của Bí tích Rửa Tội là lấy nước lã đổ trên đầu kẻ lãnh Bí tích Rửa Tội, vừa đổ vừa đọc rằng: Tên...cha (tôi) rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Trong trường hợp khẩn cấp, sau khi rửa tội tại Nhà Thương, các thừa tác viên phải bá cáo đầy đủ chi tiết cho văn phòng để ghi vào sổ lưu và bá cáo cho Giáo Xứ thuộc quyền để ghi tên vào Sổ Bộ Rửa Tội.

Bí Tích Rửa Tội do Chúa Giêsu đã lập để sinh ta lại làm con Chúa và con Hội Thánh. Chính Chúa Kitô là Đấng ban phát mọi ân sủng cứu độ. Sách Tông Đồ Công Vụ đã tuyên xưng: Thiên Chúa đã sai Lời Người đến cùng con cái Israel, loan tin bình an, nhờ Chúa Giêsu Kitô là Chúa muôn loài (Tđcv 10, 36). Chúng ta không dựa vào danh nào khác ngoài Danh Chúa Giêsu Kitô. Ngài là trưởng tử của mọi loài có uy quyền trên tất cả vạn vật: Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong cho Người. Người đi qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở với Người (Tđcv 10, 38). Chúa Giêsu là nguồn ban sự sống và là sự sống lại. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được sinh lại bởi nước và Chúa Thánh Thần. Chúng ta cùng được thông dự vào sự sống đời đời với Đức Kitô.

Lạy Chúa, Chúa đã bước xuống dòng sông Giođan để thánh hóa nguồn nước trong lành. Chúa đã lập Bí tích Thanh Tẩy để tẩy sạch tâm hồn chúng con khỏi vết nhơ tội khiên. Xin cho chúng con biết gìn giữ tâm hồn tinh sạch như chiếc áo trắng tinh tuyền của ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Chúng con sẽ cùng được chung hưởng hạnh phúc với Chúa trong cõi sống trường sinh.


 

TN1-A84: CHỊU DÌM NHƯ ĐỨC KI TÔ

ĐỂ ĐƯỢC CÙNG VINH HIỂN VỚI NGÀI
Mt 3, 13 - 17
Anmai, CSsR

 

Hôm nay, Chúa Giêsu làm cái chuyện hết sức "ngược đời". Chúa Giêsu bước xuống dòng sông: TN1-A84

Hôm nay, Chúa Giêsu làm cái chuyện hết sức "ngược đời". Chúa Giêsu bước xuống dòng sông Giođan để chịu phép rửa của Gioan.

Chúng ta kỷ niệm việc Chúa Giêsu được Gioan làm phép rửa trong nước sông Giođan. Chúng ta thấy rằng không hề mang một lỗi lầm nào nhưng Chúa Giêsu vẫn tự buộc mình phải theo nghi thức này, như Ngài đã từng bắt mình phải tuân theo những điều khoản khác của Lề luật. Là con người, Người tuân theo những điều luật hướng dẫn và ràng buộc đời sống của dân Israel, những người được Thiên Chúa tuyển chọn để dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Gioan Tẩy Giả hăng hái thi hành sứ mạng ngôn sứ và khơi gợi lòng ăn năn sám hối như một cách chuẩn bị gần để chào đón Vương quốc của Đấng Mêsia đang đến.

Trên bờ sông Gio-đan. ! Con sông này, tất cả đã khởi đầu trên bờ của nó ! Một con sông độc nhất vô nhị trên thế gian, kể cả nói về mặt địa lý. Tiếng "Gio-đan", trong ngôn ngữ Do Thái có nghĩa là "người đi xuống", từ gốc "yarad" "đi xuống Con sông Gio-đan, thực tế là con sông độc nhất phải xuống quá thấp ! Nó bắt nguồn trên đồi Héc-môn, cao 520 mét, dài 220 cây số, chấm dứt ở Biển Chết, ở sâu 394m dưới mực nước biển. Thật là quá thấp ! Chỗ thấp nhất trên hành tinh này ! Hành động này của Chúa Giêsu diễn tả rằng Thiên Chúa đã hạ mình xuống để gặp gỡ con người tội lỗi. Chúa Giêsu. .. sinh ra, chịu khổ hình thập giá chết, táng trong mồ xuống nơi luyện hình. .. một cuộc đi xuống thật lạ lùng, một sự khiêm hạ sâu thẳm !

Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giodan cho chúng ta thấy Người muốn cứu chuộc nhân loại bằng cách nào. Người đã dìm mình xuống dòng nước sông Giodan, cũng có nghĩa là dìm mình trong vũ trụ của các tội nhân, dưới tận đáy khiêm nhường. Lúc Chúa Giêsu chịu dìm dưới dòng nước sông Giođan, nghĩa là trong vũ trụ của các tội nhân, dưới tận đáy khiêm nhượng, thì Chúa Cha đến gặp Người và đặt Người làm "Kitô và Chúa" (Cv 2, 33): ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.

Khi chấp nhận liên đới với kẻ tội lỗi, Chúa Giêsu tỏ ra muốn phản đối quan niệm của vị Tẩy giả về Nước trời và về cuộc giáng lâm của Đấng Messia: thay vì xuất hiện như Thẩm phán cánh chung đến quét sạch sân lúa trong cơn Hỏa nộ, Chúa Giêsu lại tự hủy trong dòng nước Giođan. Trình thuật Mt như thế kín đáo ám chỉ cuộc Tử nạn, qua việc đồng hóa Chúa Giêsu với người Tôi tớ của Thiên Chúa (Is 42, 1; Mt 3,17), đấng đã gánh lấy mọi yếu hèn của ta (Is 53,4; Mt 8,17). Chính trình thuật Tử nạn của Chúa Giêsu (27, 45-56) cũng chứa đựng nhiều yếu tố của cảnh này, như chúng ta sẽ thấy về sau khi nghiên cứu cuộc Khổ nạn.

Người đứng về phía các tội nhân mà Người đến tha thứ và cứu vớt. Người mong biến đổi nhân loại, nhưng là từ bên trong, bằng cách chia sẻ thân phận nghèo hèn và khốn khổ của họ hơn là từ bên ngoài, hơn là bằng xét xử phán đoán. Người từ chối thống trị chinh phục với vũ lực bắt buộc người ta phải thừa nhận Người, từ đầu sứ vụ, Người cho thấy chỉ muốn cứu nhân loại bằng cách tự huỷ mình cho đến chết và chết trên thập giá

Chúa Giêsu muốn liên đới với con người trong nỗi khốn cùng và sự yếu hèn của họ. Người muốn đợi chúng ta chính nơi đó. Vì thế đừng luống công làm ra vẻ quan trọng, tự đắc, cho mình xứng đáng với tình yêu của Người. Chính trong đáy vực sâu tội lỗi mà Người gặp gỡ và phục hồi ta.

Thánh Augustinô nói: Chúa ước ao chịu phép rửa để qua sự khiêm nhường Người có thể nói rõ điều gì là cần thiết cho chúng ta.

Ai chịu thanh tẩy là đi vào đời sống nghĩa tử với Chúa Giêsu: người ấy được làm con cái Thiên Chúa theo cách riêng của mình và cũng nhận được Thần khí Chúa Cha và Chúa Con.

Qua việc chịu phép rửa của Gioan, Chúa Giêsu để lại cho chúng ta Bí tích Rửa tội Kitô giáo. Bí tích này được Chúa Giêsu trực tiếp thiết lập với những yếu tố cơ bản mà sau này sẽ được xác định thêm, và được thiết định như một luật phổ quát kể từ ngày Người lên trời. Trước khi rời khỏi các môn đệ để về Trời, lời mời gọi trao gửi cho các môn đệ của Chúa Giêsu vẫn còn đó: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần"

Để thanh tẩy bản tính nhân loại và giải thoát nó khỏi đau khổ thê thảm do thứ tội mà chúng ta mang lấy từ khi mới sinh gây nên, Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta Bí tích Rửa tội như một phương thế hết sức đặc biệt. Nước thiên nhiên biểu thị việc rửa sạch thì nước rửa tội hoạt động một cách thật sự, biểu thị điều mà công dụng của nước và đi xa hơn một bước nữa đó là thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ tội lỗi.

Thánh Lêô Cả nói: "Nhờ Bí tích Thánh tẩy, các con đã được biến đổi trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần. Ngài hô hào chúng ta: Các con đừng bao giờ xua đuổi vị thương khách bằng hành vi tội lỗi của các con, cũng đừng bao giờ khuất phục quyền lực của quỷ dữ: vì giá chuộc các con là chính máu Đức Kitô".

Lãnh Bí tích Rửa tội, chúng ta nhận được đức tin và ân sủng. Ngày chúng ta được rửa tội là ngày quan trọng nhất trong đời chúng ta. Như đất khô cằn không sản sinh hoa trái nếu không có mưa xuống, thì cũng vậy chúng ta tựa như cây khô héo chỉ có thể trổ sinh hoa trái sự sống nếu chúng ta tự do lãnh nhận cơn mưa ân sủng tuôn đổ dồi dào từ trời cao. Trước khi rửa tội, chúng ta ở bên ngoài cánh cổng Thiên đàng bị khóa chặt, không thể nào sản sinh được hoa trái thiêng liêng.

Bí tích Rửa tội khai sinh chúng ta trong đời sống Kitô hữu. Đó thật sự là một cuộc sinh ra trong đời sống siêu nhiên. Đó là đời sống mới mà các môn đệ đã rao giảng và như Chúa Giêsu đã nói với Nicôđêmô: "Thật Tôi bảo thật ông, không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt, cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí".

Hoa trái của đời sống mới này là con người được thần hóa thật sự, nhờ đó họ được ban cho sức mạnh đơm bông kết trái siêu nhiên. Thật không may, phẩm giá của người đã được rửa tội thường bị che phủ bởi những hoàn cảnh thường ngày của đời sống, vì thế cũng như các thánh chúng ta phải nỗ lực hết mình để sống xứng đáng với phẩm giá ấy bằng bất cứ giá nào.

Phẩm giá cao trọng nhất của chúng ta, phẩm giá của con cái Chúa, được ban cho chúng ta qua Bí tích Rửa tội, là kết quả của việc chúng ta tái sinh. Nếu như việc sinh hạ con người đưa đến hệ quả là quan hệ "cha" và "con", thì cũng thế những ai được Thiên Chúa sinh ra thật sự là con cái của Người. Anh em hãy xem Chúa Cha yêu thương chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ.

Phép lạ của cuộc tái sinh xảy ra ngay khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, qua ân sủng Chúa Thánh Thần đổ xuống trên linh hồn. Nước rửa tội được làm phép trong đêm Phục Sinh và trong lời cầu chúng ta nguyện xin: Cũng như Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Maria và ban cho lòng Mẹ khả năng sinh hạ Đức Kitô thế nào, thì Ngài cũng ngự xuống trên Hội Thánh và ban cho cung lòng Hội Thánh (nghi thức rửa tội) khả năng tái sinh con cái Chúa như vậy.

Thực tại sâu xa ứng với kiểu nói đầy hình ảnh này là người vừa mới rửa tội được tái sinh trong sự sống mới, sự sống của Thiên Chúa, và do vậy trở thành "con" của Người: Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô.

Khi lãnh Bi tích Rửa Tội, mỗi kitô hữu là chi thể của Chúa Giêsu và Hội Thánh. Ý định của Thiên Chúa thánh hóa và cứu rỗi nhân loại, không phải từng người riêng rẽ, tách biệt khỏi những người khác hay không hợp thành một dân, nhờ đó họ có thể nhận biết thánh ý Người trong chân lý và phục vụ nó trong sự thánh thiện. Bí tích Rửa tội là cánh cửa qua đó chúng ta được gia nhập vào Hội Thánh.

Nếu chúng ta cùng chịu dìm như Đức Kitô chúng ta sẽ được vượt qua tội lỗi, qua cái chết và sống đời sống mới như Ngài. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta được mời gọi nên thánh. Mỗi người chúng ta trong từng bậc sống và điều kiện của mình hãy nên thánh mỗi ngày. Xin Chúa Giêsu đã thánh hóa chúng ta qua Bí tích Thanh Tẩy thì cũng thương xóa cho chúng ta tất cả những lỗi phạm vì yếu đuối của phận người để ngày sau chúng ta cùng được vinh phúc Thiên Đàng như Ngài đã hứa.


 

TN1-A85: Dấu Thánh Giá

Câu chuyện sau đây xảy ra vào thời Giáo Hội bị cấm cách tại một địa phương truyền giáo. Hôm: TN1-A85

Câu chuyện sau đây xảy ra vào thời Giáo Hội bị cấm cách tại một địa phương truyền giáo. Hôm ấy trong một nhà nguyện chặt ních người dự lễ, khi thanh lễ vừa mới bắt đầu. thì một người lính trang bị đầy đủ vũ khí xuất hiện ngay trước cửa của nhà nguyện khiến mọi người hết sức lo sợ. Vị linh mục bình tĩnh, ngài quay ra nhìn người lính. Anh ta cảm thấy một sức hút kỳ lạ, anh mỉm cười và làm dấu thánh giá. Hiểu ý, vị linh mục gật đầu mỉm cười và quay vào bàn thờ để tiếp tục thanh lễ. Dấu thánh giá chứng tỏ rằng anh lính đó là người có đạo, là người công giáo.
Nhiều lần chúng ta dùng nước phép để làm dấu thánh giá. Nghi thức này có nhiều ý nghĩa. Trước hết nó nhắc nhở cho chúng ta việc Đức Kitô bước xuống sông Giođan, cũng như bí tích Rửa Tội, nhờ đó chúng ta được gia nhập cộng đoàn dân Chúa, là Giáo Hội. Đồng thời còn nói lên việc thanh tẩy tâm hồn để được xứng đáng tiến đến với Chúa. Ngoài ra nó còn nhắc nhở chúng ta hãy loại bỏ những chia trí, những cám dỗ của thế gian để được thuộc hẳn vào Chúa. Hơn thế nữa nó còn cho chúng ta thấy: Chúa Giêsu đã chịu chết trên thập giá vì tất cả chúng ta, người ngay lành thánh cũng như kẻ tội lỗi.
Mỗi khi làm dấu thánh giá, thì niềm tin của chúng ta được củng cố. Niềm tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Dấu thánh giá còn tỏ ra sự dâng hiến hồn xác con người để phụng sự Chúa. Nó là lời tuyên xưng thật đơn sơ, nhưng lại vô cùng đẹp đẽ. Nó chứng tỏ chúng ta là người công giáo.
Cũng như người lính trong câu chuyện đã làm dấu thánh giá để tỏ ra anh là người công giáo. Đối với anh lính đó, cũng như đối với chúng ta, dấu thánh giá chứng tỏ rằng chúng ta là thành phần của một cộng đoàn, được tụ hợp để thờ phượng Thiên Chúa.
Ngay khi được mai táng với Đức Kitô trong bí tích Rửa Tội, chúng ta cũng được sống lại với Ngài. Sự chết và phục sinh của Ngài được làm lại mỗi ngày trong thánh lễ. Rồi trước khi ra về, chúng ta cũng làm dấu thánh giá để được thêm sức mạnh, để được khích lệ hầu sống xứng đáng là những chứng nhân Đức Kitô giữa lòng cuộc đời.
Chính vì thế, với những ý nghĩa phong phú kể trên, chúng ta hãy làm dấu thánh giá cho trang nghiêm và sốt sắng. Đồng thời chúng ta hãy ý thức rằng thánh giá là dấu chỉ của một tình yêu cao vời mà Chúa đã dành cho chúng ta, như lời thánh Phaolô: Chúa đã yêu thương tôi và đã nộp mình chịu chết vì tôi.

 

TN1-A86: Dòng sông Chúa dẫn tôi về

(Suy niệm của Lm. Giuse Lê Quan Trung)
 

Mỗi khi có dịp xem lại những bộ phim tường thuật lại cuộc đời sứ vụ của Đấng Cứu Thế, tôi luôn cảm: TN1-A86

Mỗi khi có dịp xem lại những bộ phim tường thuật lại cuộc đời sứ vụ của Đấng Cứu Thế, tôi luôn cảm thấy gai người, cảm thấy lạ lùng, cảm thấy hạnh phúc, khi thấy Đấng Cứu Độ thong thả hòa mình cùng đoàn người nhấn mình vào dòng sông Gio-đan để đến cùng vị Tiền Hô, bày tỏ lòng sám hối về những lầm lỗi trong quá khứ của mình. Một hình ảnh cảm thông và đồng hành quá đẹp! Một hình ảnh sẻ chia và nâng đỡ, mà trước đó chưa từng có, và mãi mãi ngàn sao cũng không thể tìm!  Một hình ảnh khởi báo cho dụ ngôn “Người Cha nhân hậu” mà thánh sử Luca sẽ ghi lại sau này (Lc 15,11-32) để tôi hiểu được: Chúa không chỉ diễn tả lòng yêu thương của Đấng Tạo Thành dành cho nhân loại bằng lời, mà Ngài còn thể hiện lòng yêu thương ấy bằng cách đến với, ở với và sống với thụ tạo mà Ngài yêu thương nhất qua hành động cụ thể, rõ ràng và thiết thực nhất. Một bài học sống động hình thành trọn vẹn Giới Luật Yêu Thương.
Không chỉ có thể, đọc lại trình thuật của thánh sử Matthêu ghi lại quang cảnh trên (Mt 3, 13-17), chính thái độ đối đáp giữa đôi anh em bạn dì, nơi mà mỗi vị điều mang một sứ vụ rất đặc biệt trong Chương Trình Cứu Độ mà Thiên Chúa đã trao ban, Hai Đấng đã giúp tôi hiểu ra nhiều điều mà lâu nay tôi vẫn lầm lẫn trong đời Sống Đạo của mình.
I. Giữ luật Giáo Hội là sống đúng theo Thánh ý Chúa:
Đấng Cứu Thế tự nguyện đến gặp vị Tiền Hô để xin ông làm phép rửa cho mình với lời khẳng định: “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15). Một Đấng toàn thiện toàn hảo! Một Đấng trong trắng vẹn tuyền! Một Đấng không chút ô nhơ! Vậy mà Người chấp nhận phép rửa sám hối của Gioan Tiền Hô để trở nên “người công chính” đúng nghĩa của nhân gian: giữ và sống đúng luật mà Thiên Chúa đã mách bảo, đã hướng dẫn, đã quy định cho các tổ phụ từ ngàn xưa. Vậy mà tôi…
- Khi thấy luật Giáo Hội có lúc không giống như ý mình muốn! Có lúc không hợp với cung cách sống của mình! Có lúc như rào cản làm mình không thể thực hiện sự tự do theo quan niệm cá nhân! Tôi đã vội trách Chúa, lên án Giáo Hội, và lắm khi còn lăm le trở thành đối nghịch nữa!!! Thật đáng thương nhưng cũng đáng sợ cho cách sống đạo của tôi. “Chiến thắng chính mình”! quả không phải lúc nào cũng dễ!
- Nhìn lại quá khứ sống đạo của bản thân, tôi mới thấy thấm thía cho sự bộp chộp, nóng vội của mình vì cạn nghĩ, vì không thấm sâu lời Chúa, vì tầm nhìn chỉ đóng khung trong tính tự ái cao ngạo của mình! Từ đó lắm khi chính tôi đã tự đẩy mình ra khỏi dòng nước tái sinh mà chính Chúa đã làm mẫu mực để tôi biết sống vâng phục hơn, để đời tôi được thanh thản hơn, để dòng nước Gio-đan thánh thiêng giúp tôi gội sạch ý mình đúng như ý Chúa hơn!
II. Giữ luật Giáo Hội là cùng Chúa đến với tha nhân:
Khung cảnh Chúa Giêsu trầm mình dưới làn nước trong xanh của sông Gio-đan qua sự tuân phục của vị Tiền Hô khi cử hành nghi thức sám hối đã đưa tôi đến sự cảm phục cả hai Đấng: tất cả ý riêng đã được gạt hẳn một bên để ý Thiên Chúa Cha được thể hiện trọn vẹn. Dòng nước không chỉ ôm lấy Đấng Cứu Độ, Đấng Tiền Hô, mà còn mở rộng, ôm hết tất cả những ai thành tâm đến với nó. Tình liên đới của Hai Đấng đã giúp tôi hiểu được một điều: Chúa muốn tôi nổ lực thoát vòng kiềm chế của sự ác. Sự nỗ lực ấy luôn được sự cổ vũ, sự đồng hành, sự đỡ nâng của Người trên mọi nẻo đường đời, bởi Chúa vẫn biết: tâm nguyện thì thiện hảo nhưng thân xác lại bất toàn. Chuyện đứng lên lại vấp té dúi dụi trên con đường lữ hành là chuyện thường tình. Điều quan trọng là tôi có dám đứng lên để tiếp tục đi nữa hay không thôi!
Có vấp ngã, có té trợt, có bưu đầu sứt trán, tôi mới dễ cảm thông với sơ suất của người khác. Tôi mới có thể tự nguyện hòa mình vào dòng nước mát để đến với họ hầu giúp nhau gội sạch bụi trần: “Người là Cha giàu lòng lân ái, và Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ, ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm vào cảnh gian nan khốn khó” (2 Cr 1,3-4). Hình ảnh tự nguyện, hình ảnh vâng phục, hình ảnh đồng hành của Đấng Cứu Độ đã soi rọi cho tôi rất là nhiều điều, để: TRÍ của tôi được sáng suốt hơn! TÂM của tôi được mở rộng hơn! Ý của tôi được đúng đắn hơn! Dòng sông nội tâm sẽ giúp tôi hiểu được tình Chúa đang dành cho tôi, và sự mát mẻ thần thiên ấy Chúa muốn tôi cùng Chúa chuyển đến cho bất cứ ai mà tôi có dịp gặp gỡ trên đường đời: một lời chào thân mật! Một nụ cười thân thiết! Một nghĩa cử thân quen! Tình yêu của dòng Gio-đan năm ấy, Chúa muốn tôi chuyển tải trọn đời…
Bây giờ tôi đã hiểu: bao lâu tôi còn đắm mình trong dòng sông hạnh phúc với Chúa, dù nhớp nhơ vẫn chưa tẩy sạch, bởi lâu ngày chày tháng rong rêu phủ đầy, tôi vẫn được bình an và hạnh phúc! Bởi vì chính Chúa, phải chính Người đang đích thân kỳ cọ, tắm rửa cho tôi! Hạnh phúc thật giản đơn! Mãi tới giờ này, vẫn có người sao vẫn chưa tìm thấy? Bởi tại ai?

 

TN1-A87: Người Con yêu dấu 

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Tiếng)
Thái độ ỷ lại của con người.
 

Thật, người ta khó tìm trong Tân Ước tâm tình sám hối, ít nhất là cách thể hiện bề ngoài, của những: TN1-A87

Thật, người ta khó tìm trong Tân Ước tâm tình sám hối, ít nhất là cách thể hiện bề ngoài, của những người Pharisêu và các Kinh sư. Có một trường hợp hiếm hoi khi nhiều người thuộc phái Pharisêu và Xa-đốc, hòa vào dòng người đông đảo từ nhiều nơi, cùng đến xin chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả ở sông Gio-đan, nhưng những người Pharisêu này chẳng những bị ông từ chối làm phép rửa sám hối cho họ, mà còn hơn thế nữa, ông đã lên án nặng nề thái độ của họ, vì cho rằng họ chỉ là những kẻ giả hình.
“Thấy nhiều người thuộc phái Pharisêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: ‘nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy ? Các anh hãy sinh hoa quả xứng với lòng sám hối. Và đừng tưởng có thể nghĩ bụng rằng: chúng ta đã có tổ phụ Ápraham. Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham. Cái rìu đã  đặt sẵn gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quẳng vào lửa” (Mt.3,7-10).
Thái độ ỷ lại vào Ápraham mà Gioan đề cập, đã có nhiều người suy gẫm đến thái độ của những người đã được Rửa Tội, đã có Đức Tin Công Giáo đạo giòng, hay, đã là Kitô hữu. Hơn thế nữa, là tu sĩ, Giáo sĩ, những nhà Tu Đức thông thái...
Một sự ỷ lại vào “cội nguồn” như vậy, nghe có vẻ chắc chắn, nhưng rõ ràng, rất nguy hiểm, dễ đưa con người đến sự trống rỗng bề trong, “hữu danh vô thực” !
Chuyện Đời cũng thế, biết bao người “con ông cháu cha”, ỷ lại vào bề thế “gia phả, “lý lịch”, “cái ghế của cha ông, làm sụp đổ cả đời, có khi làm liên lụy, lung lay cả gốc rễ mình nương tựa!
Ngày xưa còn đi học, nhớ trong lớp có một thằng bạn du côn lắm, nó đánh lộn 6 lần, mà vẫn không bị đuổi học, vì nó là “con” một ông Cha giáo. Nó thông minh và học giỏi, nhưng sự ỷ lại vào bố nuôi của nó đã làm hỏng ước nguyện của nó. Nó không thể sửa đổi tính tình của nó.
Sự ỷ lại vào người khác làm mất sự phát huy tiềm năng của bản thân mình. Đó là loại cây không còn khả năng sinh hoa trái tốt. “Không ai là hoàn thiện”. “Nhân vô thập toàn”. “Bảy mươi chưa gọi mình lành”. “Sai lầm là thường tình của con người”. Sự ỷ lại dễ đưa người ta đến sai lầm và không biết ăn năn sám hối. Người Pharisêu là một thí dụ. Con người không biết sám hối, không thể thăng tiến được. Lòng sám hối đem lại hoa quả xứng đáng cho con người. “Hãy sinh hoa quả xứng với lòng sám hối”. Sám hối không phải là nghi lễ bên ngoài, mà là hành động ở bên trong. “hãy xé lòng chứ đừng xé áo”.
Biết hối hận, ăn năn, con người sẽ làm những điều lành để phục thiện, từ đó, cây sẽ lại sinh hoa kết trái.  Ngược lại, con người lún sâu trong lầm lỗi, lấy điều dữ làm lẽ sống, như cây không còn có khả năng sanh quả lành trái ngọt. Lúc ấy  “Cái rìu đã  đặt sẵn gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quẳng vào lửa” (Mt.3,10).
Khi đó, dù là Abraham có muốn cứu giúp, cũng chẳng thể nào được.
“Lạy tổ phụ Ápraham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ lên lưỡi con cho mát, vì ở đây, con bị lửa thiêu đốt khổ lắm ! Ông Ápraham đáp: ‘Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc.16,24-26).
Niềm tin vào Giêsu.
Cũng tự xếp vào hàng những người tội lỗi, Chúa Giêsu đến với Gioan để chịu phép rửa sám hối. Gioan cũng từ chối không chịu thực hiện phép rửa cho Chúa Giêsu, nhưng không phải từ chối vì Chúa Giêsu không thật lòng sám hối, như đã từ chối đối với Pharisêu và Xa-đốc, nhưng vì Ngài không có gì để sám hối. Ngài là Đấng Thánh. Gioan còn khẳng định: chính ông mới là người cần được Chúa Giêsu làm phép rửa.  “Bấy giờ, Đức Giêsu từ miền Galilê đến sông Giođan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông một mực can Người và nói: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!" (Mt.3,13-14).
Chúa Giêsu không chịu phép rửa sám hối vì bản thân mình - “Ngài xuống thế mang thân phận hoàn toàn như con người ngoại trừ tội lỗi” – nhưng, vì thân phận tội lỗi của nhân loại mà Ngài tự nguyện gánh lấy. Ngài chịu dìm mình xuống sông Gio-đan thay cho con người để rồi sẽ chết thay cho con người và rửa sạch tội trần gian bằng dòng máu hiến tế của Ngài. Ngài là Đấng Cứu Thế. “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian” (Ga.1,29).
Tất cả nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Và chương trình cứu độ ấy được mạc khải tỏ tường sau khi “Thiên-Chúa-làm-người” chịu trầm mình dưới sông Gio-đan vì nhân loại.
“Khi Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt.3,16-17).
Sự hài lòng của Thiên Chúa là vì con Thiên Chúa đã vâng phục theo thánh ý Chúa Cha. "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt.3,17).
Chúng ta hạnh phúc biết bao nếu một ngày nào ta gọi Thiên Chúa là Cha: “Cha ơi !”, và được Ngài đáp lại bằng lời khen ngợi âu yếm ngọt ngào: “Con là con yêu dấu của Ta, ta hài lòng về con”.
Ước mơ ấy đòi hỏi ta đi theo con đường Chúa Giêsu Kitô. “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống”. (Ga.14,6).
Đi trọn con đường đó, ta được Chúa Kitô thánh hiến và trở nên là đứa con đẹp lòng Thiên Chúa. “Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Con xin thánh hiến chính mình con cho họ, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Ga.17,18-19).
Đi trọn con đường đó là con đường khiêm hạ theo Chúa Giêsu từ sự nghèo nàn cùng cực ở Hang Đá Bê-lem đến sự nhục nhã tận cùng trên Thập Giá đồi Can-vê.
Đi trọn con đường đó là con đường yêu thương phục vụ từ cúi xuống rửa chân cho các môn đệ đến hiến mạng sống vì người mình yêu.
Không thể đi con đường đó nếu con người không biết khiêm nhường, hạ mình, theo gương Đấng Cứu Thế.
Nói như cách nói của ĐHY Nguyễn Văn Thuận “Không một thánh nhân nào không có một quá khứ, vì thế, chẳng có một tội nhân nào mà chẳng có một tương lai”.
Quá khứ để biết ăn năn, và tương lai để có niềm hy vọng.
Ăn năn trong niềm tin yêu, chứ không phải ăn năn trong sợ hãi.
“Tình yêu không biết đến sợ hãi ; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt, và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga.4,18).
Hy vọng vào chân lý vững chắc chứ không phải hy vọng mơ hồ.
“Tôi biết tôi đã tin vào ai và xác tín rằng: Đức Kitô là vị thẩm phán chí công có đủ quyền năng bảo toàn Giáo lý đã được giao phó cho tôi. Mãi cho tới ngày Ngài ngự đến” (2Tm 1,12; 4,8).
Tương lai ấy là Thiên Đàng Hạnh Phúc, nếu chúng ta chung thủy đến cùng đối với Tình Thương đến cùng của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
“Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loại thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta. (Rm.8,38-39).
Lạy Chúa Giêsu,
Xin nâng đỡ con,
để con được luôn gần gũi Chúa,
để con được hồn nhiên gọi Chúa là Cha,
và được Chúa ôm vào lòng trìu mến:
“Con là con yêu dấu  của Cha !”. Amen.

 

TN1-A88: Chúa Giêsu chịu phép rửa

(Trích từ ‘LÀM NỤ HOA TRẮNG’ – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống)
 

Tuần trước là lễ Ba vua cũng gọi là lễ Hiển Linh. Một em bé đến với tôi tâm sự và cho biết: gọi: TN1-A88

Tuần trước là lễ Ba vua cũng gọi là lễ Hiển Linh. Một em bé đến với tôi tâm sự và cho biết: gọi là lễ Ba Vua thì em hiểu có ba vua dâng của lễ như Phúc Âm đã tường thuật và như Hang đá thường trình bày, nhưng gọi là Hiển Linh thì em không hiểu. Em xin giải thích cho em hiểu “hiển linh” là gì. Tôi giải thích bằng cách cắt nghĩa chữ đơn giản: hiển là tỏ lộ ra, linh là linh thánh (là Thiên Chúa); hiển linh là Chúa tỏ mình ra. Em “vâng dạ, nhưng nhìn vào mắt em tôi biết em chưa hiểu.
Trên bàn tôi lúc đó có tấm phim nhựa nhỏ và tấm ảnh màu rửa cỡ lớn. Tôi đưa tấm phim cho em xem và hỏi em có nhìn thấy không. Em xoay ngược xoay xuôi xoay ngang xoay dọc biết rằng có hình người nhưng chịu không nhìn rõ ai cả. Tôi đưa tiếp cho em tấm ảnh mới rửa từ tấm phim ấy và em reo lên mừng rỡ đồng thời kể tên vanh vách những người trong ảnh. Thấy em vui tôi cũng vui lây. Và trong niềm vui ấy tôi tiếp tục giải thích cho em về chữ “hiển linh” một cách cụ thể. Thiên Chúa vẫn có đó như hình vẫn có ở trong phim, nhưng ta chỉ thấy Ngài khi Ngài tự tỏ mình ra như hình được in rõ ra trong tấm ảnh vậy. Tôi thấy mắt em cười và bước ra khỏi phòng tôi trong tư thế nhảy chân sáo như vừa khám phá ra một điếu gì lớn lao lắm. Tôi nhìn theo em và thầm nghĩ: có lẽ Thiên Chúa đang tỏ mình ra cho em.
Thiên Chúa tỏ mình ra là một chủ đề lớn đã trở thành mối bận tâm cho mọi người Kitô hữu trên đường tìm Chúa, mà em bé tôi kể ở trên chỉ là một điển hình; đồng thời đó cũng là chủ đề xuyên suốt cả toàn bộ Kinh Thánh. Trong Cựu Ước, các chiến tích lẫy lừng, và cũng rất thường  trong những biến cố kinh thiên động địa như biến cố “Vượt Qua” với vách nước vựng đứng mở lối cho dân Do Thái ra đi trên biển, rồi cột lửa soi sáng ban đêm và áng mây tạo bóng mát ban ngày… Nhưng từ ngày Con Chúa làm người, Thiên Chúa lại chỉ tỏ mình ra qua con đường tự hạ. Bài Phúc Âm hôm nay là khởi đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu tự hạ chịu phép Rửa và tỏ mình trong vinh quang Ba Ngôi là một ví dụ rõ rệt. Nhưng Chúa Giêsu tự hạ thế nào và tỏ mình ra sao trong suốt cuộc đời của Người? Ngày nay Chúa còn tỏ mình ra cho con người hay không?
Tự hạ.
Ngày Giáng Sinh, Thiên Chúa đã tự bỏ trời cao bước xuống thế trần để nhận lấy kiếp người trong Hình hài một thơ nhi bé bỏng, lại sinh ra trong cảnh thiếu thốn nghèo hèn. Ngài là Thiên Chúa vinh quang nhưng đã để vinh quang đó lại trên trời như lời hoan ca của các thiên thần xác định, mà chỉ ôm hai chữ “bình an” xuống thế làm một con người bình thường giữa muôn người bình thường khác.
Thiên Chúa sinh ra mọi loài nay chịu sinh ra bởi một người phụ nữ. Thiên Chúa vô hình nay bước xuống hữu hình, Thiên Chúa vô biên nay đón nhận mình vào những giới hạn. Thiên Chúa giàu sang nay tự hạ làm kẻ nghèo hèn.
Khởi đầu cuộc sống công khai, Thiên Chúa làm người ấy – Chúa Giêsu, lại tự hạ hơn một bước nữa khi rước vào đời mình kiếp sống tội nhân đến song Giođan và xin ông Gioan chịu phép Rửa. Người chấp nhận bầu bạn và đánh chén với những người tội lỗi đã đành như Phúc Âm vẫn kể, Người còn chịu nhận mình là một tội nhân xếp hàng đứng chung với những tội nhân khác để đợi tới phiên mình cuối đầu xin ơn tha thứ. Thiên Chúa đã thánh thiện mà nhận mình là người tội lỗi, Thiên Chúa tuyệt đối không mang tì vết mà lại cầu xin ơn tha thứ làm lại cuộc đời như một người hư hỏng. Sự tự hạ của Chúa thật không hiểu nổi. Chưa hết, kết thúc cuộc đời trần thế, trên đỉnh Núi Sọ cũng gọi là cao điểm tuyệt đối của sự tự hạ, Chúa Giêsu chịu chết nhục hình giữa hai tên trộm cướp. Người bị giết như một kẻ tử tội. Cái chết thê thảm mà ngày nay các tượng thánh giá bằng kim loại quý đeo trên ngực hay được vẽ vời đánh bóng trong các giáo đường không diễn tả được. Phúc Âm kể: Người chết dữ.
Thiên Chúa quyền uy đã để cho người ta trói lại và xét xử. Thiên Chúa hằng sống đã tự hạ để người ta giết chết. Ôi lạ lùng!
Tỏ mình.
Nhưng tự hạ lạ lung đến thế để làm gì? Nếu để phô trương danh thế tiếng tâm thì chỉ là dại dột mà kẻ dại nhất trong loài người cũng không dại dột đến thế. Sự tự hạ của Chúa Giêsu là một phương tiện để Người tỏ mình ra:
Sinh ra như một trẻ nghèo hèn giữa cánh đồng trong Hang đá Bêlem, Người tỏ mình ra là một Thiên Chúa vinh quang, như lời hát đồng thanh của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh: “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời…”
Bước xuống đất đen của con người cần được thanh tẩy và xếp hàng đứng chung với các tội nhân chờ được dìm xuống trong nước, Người tỏ mình ra là Thiên Chúa thánh thiện tuyệt đối có quyền quyết định trên trời dưới đất, như Phúc Âm mô tả: “các tầng trời mở ra”. Lãnh nhận phép Rửa trong nước, Người tỏ mình ra là Đấng sẽ khai sinh phép Rửa trong Thánh Thần, như hoạt cảnh Tin Mừng trình bày: “Chúa Thánh Thần ngự xuống trên người như chim bồ câu”. Mang vào mình thân phận tội lỗi nhân loại  đến tận gốc nguồn là sự phản bội của Adam, Người tỏ mình ra là Con Chí Ái của Chúa Cha từ thuở đời đời, như tiếng từ trời giới thiệu: “Này là con Ta yêu dấu hằng làm đẹp lòng Ta”.
Và chính khi trần trụi bên dòng nước cầu ơn tha thứ, Người xuất hiện là một ngôi vị trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa ngời sáng uy linh. Nếu có bài hát “lung linh lung linh hai tiếng gia đình”, thì ở đây có lẽ phải hình dung là ca khúc “uy linh uy linh gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi”.
Cuối cùng, chết nhục hình như tên tử tội bị kết án, Người tỏ mình ra là Thiên Chúa hằng sống, Đấng ban ơn cứu độ giải xá cho hết mọi người.
Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình.
Thiên Chúa vinh quang tỏ mình ra cho nhân loại bằng con đường tự hạ. Cái sang của đạo dường như ấn giấu trong bức màn tăm tối, đúng như Lão tử nhận xét về một đạo chân chính: “Minh đạo nhược muội”. Nếu lịch sử cứu độ là lịch sử của Thiên Chúa tỏ mình ra, thì ngày nay Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình ra cho ta, dĩ nhiên trong Phụng Vụ, Bí Tích và Giáo Hội, nhưng Ngài còn thích hơn khi tỏ mình ra cho ta qua cuộc sống thường nhật, qua những biến cố, những sự kiện, qua những con người ta gặp gỡ và qua những bổn phận âm thầm mỗi ngày. Cánh Ngài tỏ mình ra cũng vẫn là cách tự hạ khiêm nhường nhỏ bé tối tăm và thầm lặng.
Trời chỉ mở ra với vinh quang Ba Ngôi Thiên Chúa khi Chúa Giêsu vì yêu thương đứng chung với hàng ngũ tội nhân và cầu nguyện. Muốn gặp thgấy Thiên Chúa tỏ mình, chúng ta cũng phải liên kết với Ngài bằng sám hối cầu nguyện và bằng tinh thần liên đới yêu thương chia sẻ cuộc sống với những người khác.
Giữa năm 1984, ở Thụy Sĩ người ta đã phát thử thành công tivi màu với hình ảnh nổi, nghĩa là có chiều sâu của khung cảnh và người xem dường như thấy mình đang góp mặt trong khung cảnh ấy. Nhưng muốn thưởng thức, phải mang một gọng kính có hai tròng mắt khác màu nhau, một xanh một đỏ và phải ngồi đúng vị trí đối diện trực tiếp với màn ảnh. Thiên Chúa vẫn tỏ mình nổi bật trên cuộc sống từng người. Muốn gặp Ngài, hãy ngồi vào vị trí đức tin và đeo gọng kính với hai tròng cầu nguyện và yêu thương.

 

TN1-A89: Chúa Giêsu chịu phép rửa – Damiano

(Trích từ ‘Sống Lời Chúa’)
 

Thánh lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay mang một ý nghĩa quan trọng trong chương trình: TN1-A89

Thánh lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay mang một ý nghĩa quan trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, mở đầu cuộc đời công khai của Chúa Giêsu như là Đấng Messia, thời kỳ cuối cùng của chương trình cứu độ.
Có người thắc mắc: Chúa Giêsu có tội tình gì mà phải chịu phép rửa?
Vì Chúa đến gánh tội trần gian,
Vì Chúa lập Bí tích rửa tội thật, phép rửa trong Chúa Thánh Thần, mà phép rửa của Gioan chỉ là phép rửa thống hối chuẩn bị cho phép rửa này mà thôi. Phép rửa này được Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần công nhận: Trời mở ra, Chúa Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và có tiếng Chúa Cha phán: đây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người.
Thánh Grêgôriô viết: Chúa Giêsu chịu phép rửa để chôn vùi trọn vẹn con người Adam cũ trong dòng nước.
Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, tầng trời liền mở ra. Tội Adam đã đóng cửa trời lại, nay phép rửa của Chúa Giêsu, Adam mới, là chìa khóa lại mở cửa trời ra, mở đầu cho một giai đoạn mới.
Thánh Gioan Tẩy Giả nói với Chúa Giêsu: Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa. Và thánh giáo phụ Grêgôriô viết: đó là đèn nói với mặt trời, tiếng nói với Lời, phụ rể nói với chàng Rể, người cao trọng nhất trong số người do người nữ sinh ra nói với Trưởng Tử mọi loài thọ sinh, người nhảy mừng trong dạ mẹ nói với Đấng được thờ lạy từ trong lòng mẹ, người tiền hô hiện tại và tương lai nói với Đấng vừa xuất hiện và sẽ xuất hiện.
Chim bồ câu xưa kia đã báo tin cho ông Noê là đại hồng thủy đã bắt đầu bị đẩy lùi, Bồ câu hôm nay từ trời đến cũng để nói lên rằng thời kỳ hồng thủy của tội lỗi đã bắt đầu bị đẩy lùi, đem đến niềm vui cho nhân loại. Thiên Chúa lại đến với xác phàm để con người trong xác phàm trở thành con cái Thiên Chúa. Nhờ Đức Kitô, Đấng đẹp lòng Thiên Chúa mọi đàng mà con người chúng ta có khả năng sống đẹp lòng Thiên Chúa.
Phép rửa của Chúa Giêsu thúc dục mọi người chúng ta tiếp tục thanh tẩy mình sạch mọi vết nhơ tội lỗi. Việc thanh tẩy này đòi hỏi chúng ta phải hy sinh và từ bỏ rất nhiều, như Đức Kitô phải chịu thanh tẩy trong máu sau nầy.
Cuộc đời Kitô hữu là để hoàn thành những gì mà phép rửa tội đã mở đầu, là tiếp tục thống hối ăn năn để thánh hóa con người chúng ta. Những đau khổ thử thách trong cuộc sống chỉ mang bộ mặt tiêu cực đối với mọi người, nhưng đối với người Kitô hữu lại có giá trị cứu chuộc vì nó đang giúp ta hoàn thành phép rửa của chúng ta. Bởi lẽ khi chịu phép rửa, người Kitô hữu hứa bước theo Đức Kitô, chiến đấu với tội lỗi, chấp nhận mọi đau thương của cuộc đời như Đức Kitô đã chấp nhận những đau khổ của cuộc đời Ngài để thánh hóa chúng ta.
Thánh lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay mời gọi mọi người chúng ta dứt khoát với tội lỗi, lên đường xông vào cuộc chiến với Đức Kitô, tự thánh hóa mình mỗi ngày.
Vui vì được giải phóng.
Trong một trại giam những người nô lệ ở Nam Mỹ, những người da đen ban ngày thì lam lũ làm việc quần quật trên nương mía, dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt, ăn không đủ no, bị hành hạ đánh đập như một đàn vật; ban đêm lại bị lùa vào giam trong trại như một đám tù nhân. Bổng một đêm nọ một người trong bọn họ rỉ tai với những người chung quanh rằng một người da đen đang tìm cách để giải thoát họ. Dấu hiệu để nhận ra người đó là một cây Thánh Giá trên trán người ấy. Niềm hy vọng dâng trào trong tâm hồn của tất cả mọi người; mấy đêm liền họ không sao chợp mắt được, sống trong hồi hợp đợi chờ. Rồi giây phút đó đã đến: trong đêm khuya, một người da đen, đã đến, lẻn vào mở cửa và giải thoát họ, dẫn họ chạy, chạy suốt đêm và cuối cùng họ đã đến miền đất tự do. Rồi người da đen đó biến mất. Đêm hôm sau, sau một buổi nhảy múa vì niềm vui được tự do, mọi người an giấc thì bổng một luồng ánh sáng giữa đêm khuya làm sáng rực cả cánh rừng nơi họ đang ngủ. Mọi người choàng tỉnh dậy, thì thấy Chúa Giêsu hiện đến với họ với cây Thánh Giá trên trán. Họ liền nhận ra người đã đến giải thoát cho họ chính là Chúa Giêsu.
Bị giam hãm trong cảnh nô lệ tội lỗi, chúng ta cũng đã được Chúa đến giải thoát, nhưng ta có sẵn sàng chạy theo Chúa Giêsu đến miền đất tự do hay không? Hay ta lại làm như một người Israel đã ra khỏi đất nô lệ Ai cập nhưng lại muốn quay trở lại với những củ hành Ai cập xưa?

 

TN1-A90: Chúa Giêsu chịu phép rửa

(Trích từ http://vi.radiovaticana.va – Suy niệm của Hà Thanh Bình)
Quý vị và các bạn thân mến,
 

Để ra mắt dân chúng nhân dịp nào đó, người ta thường phô trương uy tín và quyền lực của họ: TN1-A90

Để ra mắt dân chúng nhân dịp nào đó, người ta thường phô trương uy tín và quyền lực của họ. Nhưng Đức Giêsu thì ngược lại, Ngài khởi đầu sứ vụ công khai của mình bằng một cử chỉ không mấy oai phong: chịu phép rửa tỏ lòng sám hối. Ngài chấp nhận đứng vào hàng tội nhân để đến xin ông Gioan làm phép rửa. Con Thiên Chúa khai trương công việc của Thiên Chúa bằng một dấu chỉ khiêm tốn nhất mà con người có thể làm được.
Đức Giêsu là Con Thiên Chúa vô tội, nhưng Ngài hoà mình vào đoàn người sám hối để cùng chia sẻ thân phận tội nhân của anh em đồng loại. Ngài là Đấng Cứu Độ, đến để cứu tội nhân, nhưng Ngài không tỏ ra xa cách họ, ngược lại Ngài đặt mình ngang hàng với họ. Cùng với đoàn người xin chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng đã đứng xếp hàng để chờ đến lượt mình. Gương mặt của một Đấng Cứu Thế dường như bị lẫn trong đám đông. Tuy nhiên, không vì thế mà vai trò Cứu Thế của Ngài bị hạ giá; ngược lại, chính vì cùng hòa mình với tội nhân nên Ngài có thể cứu được hết mọi người, kể cả những người thấp bé nhất.
Không phải vì vô tình hay theo phong trào mà Đức Giêsu đã xin ông Gioan làm phép rửa cho mình. Chính Ngài ý thức rõ việc Ngài làm: Ngài biết Ngài là ai và phép rửa ông Gioan dành cho ai.
Ông Gioan đã làm phép rửa để tỏ lòng sám hối. Ai đến với ông đều nhận thức rằng mình có tội. Tuy nhiên, lãnh nhận phép rửa của Gioan người ta cũng chưa được tha tội, bởi vì phép rửa của Gioan không phải để tha tội. Phép rửa ấy chỉ để tỏ lòng sám hối về tội lỗi của mình. Muốn được tha tội, người ta phải cần phép rửa của Đấng đến từ Thiên Chúa, vì chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Vậy mà Đức Giêsu, Đấng đến để tha tội lại xin Gioan làm phép rửa. Đức Giêsu biết về chính mình; và chính Gioan cũng biết Đức Giêsu – người đang xin ông làm phép rửa – là ai, và ông nhận mình mới là người cần được Đức Giêsu làm phép rửa.
Hãy chiêm ngắm sự giằng co giữa hai thế đứng trên dòng sông Gio-đan. Một bên là kẻ dọn đường, bên kia là nhân vật chính. Ai trọng hơn ai? Điều khiến cả người ngoài cuộc lẫn kẻ dọn đường phải ngạc nhiên là: nhân vật chính cúi mình xin kẻ dọn đường làm phép rửa cho mình để tỏ lòng sám hối!
Đức Giêsu đã sám hối thật. Ngài không có thái độ giả tạo khi bước xuống dòng sông Gio-đan. Ngài không có tội, nhưng Ngài sám hối cho và vì tội lỗi của anh em đồng loại. Khi dấn thân cho con người, Đức Giêsu đã để sang một bên địa vị Thiên Chúa của Ngài. Để cứu con người, Ngài phải cùng đi với con người và cùng san sẻ kiếp người với anh em. Thánh Phaolô đọc thấy tấm lòng của Đức Giêsu và Ngài chia sẻ cùng các tín hữu Philipphê rằng: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế (Pl 2,6-7).
Từ nay, Ngài thiết lập một nền công chính mới. Nơi đó không còn cảnh kẻ có tội tự khép mình trong tội lỗi, còn kẻ thấy mình trong sạch thì đứng ra tố cáo. Ngược lại, chính Đấng hoàn toàn vô tội đang đứng ra mang lấy gánh nặng tội lỗi thay cho anh em mình. Ngài thiết lập nền công chính mới để ai bước theo Ngài cũng biết dấn thân cho sự công chính ấy. Nơi đó, không còn có nguyên cáo hay bị cáo nữa, nhưng chỉ còn những con người nâng đỡ nhau trong hành trình mà ai cũng có những yếu đuối. Yếu đuối của người này có thể là điểm mạnh của người kia, và ngược lại. Nhờ thế, bước chân khập khiểng của người này sẽ được người kia nâng dậy; lỗ hổng của người kia sẽ được người này bù đắp. Trong sự công chính mới, người ta cần đến nhau để bổ túc cho nhau. Nơi đây, những người bước theo chân Đức Giêsu sẽ học được từ thầy chí thánh của mình mẫu gương san sẻ gánh nặng và đau khổ với anh chị em đồng loại.
Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta được mời gọi làm mới lại ân sủng của Bí Tích Rửa Tội mà mình đã lãnh nhận. Đức Giêsu đã chịu rửa trong nước để ban cho chúng ta ân huệ được rửa trong Thánh Thần. Ngài đã tỏ lòng sám hối từ phép rửa trong nước, để chúng ta được tha tội nhờ phép rửa trong Thánh Thần; và hơn thế nữa, được trở nên con người mới, được làm con Thiên Chúa với quyền thừa kế nước của Người (x. Rm 8, 16-17). Một khi nhận ra giá trị của Bí Tích Rửa Tội, chúng ta sẽ sống xứng đáng hơn với ơn mà Bí Tích này mang lại, như lời khuyên của Thánh Phao-lô dành cho các tín hữu Roma: chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu... hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu (Rm 6, 3.11).
Biến cố khai mạc công trình cứu độ của Thiên Chúa được xác chuẩn bởi cuộc thần hiện của cả Ba Ngôi. Nơi đó, chính Chúa Cha đã chứng thực cho Đức Giêsu. Vì thế, những ai bước theo con đường của Đức Giêsu, trong phép rửa của Ngài, sẽ không sợ lạc lối.

 

TN1-A91: Khai mở thời đại mới – Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

Thưa qúy OBACE,
 

Báo chí thế giới trong những ngày cuối năm 2012 đã bầu chọn 10 gương mặt quyền lực có ảnh: TN1-A91

Báo chí thế giới trong những ngày cuối năm 2012 đã bầu chọn 10 gương mặt quyền lực có ảnh hưởng nhất thế giới trong năm 2012, thì người đứng đầu danh sách là Tổng thống Mỹ, kế đến là Thủ tướng Đức, Tổng thống Nga, Bill Gates và kế đến là Đức Giáo Hoàng Benedicto 16. Những con người này được ghi nhận đã có những ảnh hưởng lớn nhất trên toàn thế giới trong năm qua. Riêng đối với Đức giáo Hoàng, Ngài không phải là một nhà lãnh đạo chính trị hay quân sự, cũng không phải là người đứng đầu một quốc gia giàu có to lớn như nước Mỹ, Ngài cũng không phải là nhà điều hành kinh tế như Bill Gates, vậy mà tiếng nói và ảnh hưởng của Ngài vẫn lan rộng trên thế giới và góp phần xây dựng hòa bình cho thế giới và làm thay đổi bộ mặt thế giới. Vậy thì quyền lực và sức mạnh của Đức Giáo Hoàng đến từ đâu? Thưa quyền lực và sức mạnh ấy đến từ chính Đức Giêsu, và sứ mạng của ngài là tiếp nối sứ mạng của chúa Giêsu là đem tình yêu thương cứu độ và bình an đến cho toàn thế giới.
Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa để khai mở một thời kỳ mới, một sứ mạng mới. Nếu như với màu nhiệm Giáng Sinh, Đức Giêsu đã đến trần gian trong âm thầm đơn sơ dưới hình hài của một em bé, và liền sau đó là những năm sống đời ẩn dật một cách bình thường tại thôn làng Nazareth, thì hôm nay, với biến cố chịu phép rửa tại sông Giodan, Chúa Giêsu đã chính thức, và công khai bắt đầu sứ mạng rao Giảng Tin Mừng của Nước Thiên Chúa cho mọi người.
Tin Mừng Luca hôm nay đã phân biệt rõ ràng cho chúng ta về sứ mạng của Gioan và sứ mạng của Chúa Giêsu, cũng như phép rửa của Gioan và của Chúa Giêsu sau này. Sống trong một thời kỳ khao khát Đấng Cứu Thế, thì việc xuất hiện của Gioan, với lời giảng mạnh mẽ và cương quyết, với sự thu hút đám đông và việc làm phép rửa, thì nhiều người đã nghĩ rằng Gioan chính là Đấng Mesia. Gioan đã không ảo tưởng về mình, ông cũng không vượt quá giới hạn của mình, chỉ là người dọn đường, vì thế ông đã không ngại ngần để thanh minh cho mọi người khỏi sự lầm tưởng khi quả quyết với họ rằng: Tôi không phải là Đấng Mesia. Ông đã nói về sự giới hạn của mình để làm nổi bật sứ mạng và sự vô hạn của Đấng đến sau ông: Tôi rửa anh em bằng nước, nhưng có Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi… sẽ rửa anh em bằng Thánh Thần và bằng lửa. Như thế Gioan đã xác định cho thấy phép rửa của ông không có sức mạnh tha tội, mà chỉ là một dấy hiệu bày tỏ lòng sám hối để đón chớ một phép rửa thực sự bằng thánh Thần và bằng lửa, tức là một phép rửa trong quyền năng và lòng yêu mến.
Giữa đám đông như thế, Chúa Giêsu - Đấng không hề có tội, lại khiêm nhường bước xuống dòng sông, đứng chung hàng với tội nhân và cũng xin được chịu phép rửa từ tay Gioan. Việc làm này không chỉ diễn tả sự hạ mình thẳm sâu của Thiên Chúa, mà còn là đánh dấu một thời đại mới, thời mà Thiên Chúa không còn ở xa, nhưng Ngài đã bước đến để tìm kiếm con người để gánh vác tội lỗi con người. Thánh Luca đã thuật lại: Đang khi Người cầu nguyện thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu. Tác giả muốn nhấn mạnh rằng chính lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đã khiến cho cửa trời mở ra, hình ảnh này gợi nhớ lại ngày xưa khi Adam Eva cắt đứt mối dây liên hệ với Thiên Chúa, phá hủy các cuộc chuyện trò với Thiên Chúa, đã làm cho cửa trời đóng lại, thì hôm nay Đức Giêsu là Adam mới đã nối lại mối dây thân tình với thiên Chúa, qua những cuộc trò chuyện và cầu nguyện thân mật với Thiên Chúa. Cửa trời được mở ra kể từ đây, qua Chúa Giêsu,Thiên Chúa có thể dễ dàng đến với con người và con người cũng có thể dễ dàng đến với Thiên Chúa.
Kể từ biến cố này sứ mạng loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu đã bắt đầu, và sứ mạng này đã được ghi dấu bởi sức mạnh và sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, đó là sứ mạng yêu thương và phục vụ, tha thứ và cứu chữa, tìm kiếm và chăm sóc cho nhân loại chúng ta. Tiếng từ trời phán: Con là con yêu dấu của cha, cha hài lòng về con, vừa là lời Thiên Chúa cha giới thiệu Đức Giêsu của cho toàn thể nhân loại, vừa là lời xác định về sứ mạng mà Thiên Chúa cha đã trao phó cho Ngài mà Đức Giêsu đã hoàn toàn vâng phục đón nhận. Chính từ sự hài lòng về sứ mạng của Chúa Giêsu và hiến tế của Ngài mà Thiên Chúa Cha đã ban ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.
Sứ mạng của Chúa Giêsu đã mở ra một thời kì mới và có ảnh hưởng trên toàn thể thế giới cho đến ngày tận thế, tuy nhiên để có thể tiếp nhận và sống trong thời đại mới, thì cũng cần phải có những con người mới, thích ứng được với những đòi hỏi mới như lời Isai đã kêu gọi: Thời nô dịch thời hủy diệt đã mãn, và hãy mở một con đường thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi, để cho Thiên Chúa ngự đến. Lời kêu gọi này là một đòi hỏi canh tân đổi mới, uốn nắn lại cuộc đời và sống cho ngay thẳng trước mặt Thiên Chúa và mọi người, vì để tiếp nhận được Tin mừng của Đức Kitô, đòi mỗi người phải chấp nhận một cuộc biến đổi, lột xác để trở nên con người mới, con người của Tin mừng, để có thể sống trong tình yêu thương chăm sóc của vị mục tử Giêsu.
Bài đọc hai, Thánh Phaolô đã chỉ rõ cho chúng ta phải sống con người mới của Tin mừng như thế nào. Tất cả chúng ta đã lãnh nhận phép rửa trong Thánh Thần và lửa của Đức Kitô, và được tha thứ tội lỗi và được đón nhận vào nhà Thiên Chúa, chính vì thế Thánh Phao lô mời gọi chúng ta phía từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, sống chừng mực công chính và đạo đức ở trần gian này.
Thưa quý OBACE, qua Bí Tích Rửa tội, chúng ta đã được cứu chuộc, được tái sinh và trở nên con cái Thiên Chúa, đó là một ân phúc Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta. Tuy nhiên ân phúc này sẽ chỉ sinh hiệu quả và đem lại hạnh phúc cho chúng ta khi chúng ta tích cực cộng tác và làm cho những ơn này trổ sinh trong cuộc đời mỗi người. Trở nên con cái Thiên Chúa đòi chúng ta phỉ sống cho xứng đáng với vinh dự ấy, tức là phải loại trừ những gì là phàm tục tầm thường ra khỏi cách sống, cách suy nghĩ và hành động của chúng ta, và phải tích cực làm nhiều việc thiện việc tốt cho mình và cho mọi người; là những người được cứu chuộc, chúng ta không thể để mình bị rơi lại vào sự ràng buộc của tội lỗi dục vọng và tật xấu, vì Thiên Chúa đã ban cho ta sức mạnh Thánh Thần của Ngài giúp ta chiến đấu và chiến thắng trước những ràng buộc lôi kéo đó, hãy dựa vào sức mạnh của Thánh Thần để chống trả lại những tấn công của ma quỷ và cám dỗ.
Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay nhắc cho mỗi người nhớ đến sứ mạng của mình trong đời sống thường ngày, là những bậc cha mẹ, chúng ta cũng cần tẩy rửa chính bản thân mình khỏi những đam mê như rượu che cờ bạc, cá độ, lô đề nó đang bôi bẩn hạnh phúc và sự bình an của gia đình, thanh tẩy khỏi gia đình mình khỏi sự gian dối, chửi bới cãi vã, mà thay vào đó là sự quan tâm thông cảm chia sẻ với nhau nhiều hơn, và mỗi người hãy góp phần làm cho gia đình nên ấm cúng thuận hòa, cùng nhau vun đắp cho hạnh phúc gia đình mình bằng những giờ kinh những giờ cầu nguyện sớm tối, sống như thế là chúng ta đang chung tay đổi mới gia đình và con cái nên những con người được Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc.
Ngày lễ này cũng nhắc cho các bạn trẻ nhớ rằng mỗi người chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội và thuộc về Đức Kitô, vì thế chúng ta không thể để mình thuộc về hay là rơi vào tay của ma quỷ và sự xấu, nhưng đòi mỗi người phải dám sống cho xứng đáng là một người Kitô hữu trong xã hội hôm nay, tự hào vì mang danh là Kitô hữu. Vì đã thuộc về Đức Kitô, nên chúng ta cũng phải thi hành sứ mạng mà Chúa trao phó cho mỗi người, tùy theo hòan cảnh môi trường sống của mình, sứ mạng ấy là tiếp tục đem tình yêu thương đến cho thế giới, cùng nhau xây dựng một môi trường sống tốt đẹp hòa bình, cùng nhau làm cho tinh thần của Tin Mừng lan tỏa trong xã hội hôm nay, nơi nhà trường, nơi xí nghiệp, nơi gia đình của mỗi người.
Khi mỗi người chúng ta cố gắng sống với một quyết tâm đổi mới bản thân, gia đình và xã hội, hoàn thành tốt sứ mạng Chúa đang trao phó, thì Nước Trời cũng sẽ mở ra cho chúng ta và cho mọi người và chính Thiên Chúa cũng sẽ nọi với ta rằng: Con là con yêu dấu của ta, ta hài lòng về con. Amen

 

TN1-A92: Lời chứng của Gioan

(Trích từ ‘Cùng Nhau Suy Niệm’ – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Có ai đó đã nói rằng: "Thà thắp lên một ánh nến còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối". Lời này thật: TN1-A92

Có ai đó đã nói rằng: "Thà thắp lên một ánh nến còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối". Lời này thật đúng vào thời Chúa Giêsu tại thế. Lúc đó dân tộc Israel đang sống trong bóng tối lầm than, đoạ đầy. Họ ao ước Đấng cứu tinh sẽ tới để giải thoát họ khỏi kiếp nô lệ cho ngoại bang. Họ chờ mong Đấng cứu tinh sẽ đến để xoay chuyển vận mạng cho dân tộc và cho chính bản thân của từng người khỏi kiếp sống lầm than. Và một tia hy vọng đã bừng sáng lên khi Gioan xuất hiện. Ông xuất hiện như một nguời hùng của dân tộc, như một nhà cách mạng giải cứu cho dân tộc. Ông đưa ra một phương thế có thể thay đổi vận mạng dân tộc: đó là hãy ăn năn sám hối, hãy trở về với Thiên Chúa Giavê và hãy trung thành với giao ước của Người. Đó cũng là cách để tránh khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vì: "cái rìu đã kề sẵn gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị đốn chặt đi". Vì ngày thanh luyện trần gian đã đến. Thiên Chúa sẽ dùng nia mà sàn lọc, phân loại tốt xấu. Kẻ tốt sẽ được trọng thưởng, kẻ xấu sẽ bị quăng vào lửa trầm luân muôn đời.
Lời rao giảng của Gioan đã thức tỉnh lương tâm hàng vạn, hàng vạn người. Người ta thấy trong số đông lũ lượt kéo xuống dòng sông Gioađan năm ấy để lãnh phép rửa có đủ mọi thành phần. Từ anh chàng cù bất cù bơ không cửa không nhà đến hạng quyền qúy cao sang, nhà cao cửa rộng. Từ những con người có chức có quyền đến hạng dân đen thấp cổ bé miệng đều cảm thấy mình cần phải sám hối hầu tránh khỏi cơn thịnh nộ của trời đất, của Đấng tạo thành.
Dòng sông hôm ấy dường như náo nhiệt hơn mọi ngày, vì dòng người tấp lập, vì những lời bàn tán xôn sao về ngày thanh luyện trần gian đã tới. Nhưng một sự kiện còn làm họ bàng hoàng kinh ngạc hơn nữa, khi bầu trời trong sáng lạ thường hơn, cửa trời như được mở toang. Ánh sáng từ trời đã tập trung vào một con người đang nài xin Gioan làm phép rửa cho mình.
Gioan đã lưỡng lự, phân vân, vì ông biết đây chính là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội gian trần. Ông không hiểu nổi tại sao Con Thiên Chúa, Đấng thánh thiện vô cùng lại cần đến phép rửa của ông. Ông tự biết mình đâu xứng đang cởi dây giầy cho Người thì làm sao ông có diễm phúc đổ nước trên đầu một con chiên không tỳ vết, chính là Thiên Chúa của ông. Nhưng rồi, ông đã vâng lời để đổ nước cho Đấng mà bản thân ông phải nhỏ bé đi để Người được lớn lên trong ông. Tức thì ông nghe một tiếng nói từ trời phán ra. Không phải là tiếng xót xa tìm kiếm ngày nào của Giavê khi Adam lẩn trốn vì phạm tội. "Ađam - Ađam ngươi đang ở đâu?". Đó cũng không phải là lời luận tội vì tội Ađam mà luỵ đến con cháu muôn đời. Nhưng đó là lời giao hoà của Thiên Chúa với con người: "Đây là con Ta yêu qúy, hãy nghe lời Người".
Kính thưa, quý Ông Bà Anh Chị Em
Ngày chúng ta lãnh nhận phép rửa tội, là ngày chúng ta được nhận làm con yêu qúy của Thiên Chúa. Qua cha mẹ và những người đỡ đầu, ánh sáng của đức tin đã được thắp lên trong cuộc đời chúng ta. Nhưng liệu với tuổi đời chồng chất theo thời gian năm tháng. Ta có còn là con yêu qúy của Thiên Chúa và Thiên Chúa có hài lòng về cuộc sống của ta hay không? Hay ta đã bán đi tất cả gia sản của cha mình để buông mình trong những đam mê lầm lạc, trong bóng tối của sa đoạ, tội lỗi, trong những hư danh của trần gian và khước từ ân huệ là con của Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay không chỉ mời gọi chúng ta gìn giữ ân huệ cao cả được làm con Thiên Chúa mà còn mời gọi chúng ta hãy trở thành một Gioan cho thời đại hôm nay.
Thế giới hôm nay rất cần một con người như Gioan để thức tỉnh nhân loại hãy ăn năn sám hối, hãy trở về với Thiên Chúa hòng tránh cơn thịnh nộ của Đấng tạo hoá chí công.
Thế giới hôm nay rất cần một con người như Gioan dám hy sinh vì chân lý, vì tin mừng cho dù phải trả giá bằng sự nghèo đói, đoạ đầy và cả tính mạng của mình.
Thế giới hôm nay rất cần một con người như Gioan để giới thiệu Chúa cho tha nhân, ngõ hầu muôn dân khắp mặt đất cùng một tâm tình, một ước nguyện, một lời kinh dâng lên Đấng tạo thành trời đất và muôn vật. Xin cho mỗi người chúng ta luôn biết khiêm tốn để Chúa được tỏ hiện trong đời sống của chúng ta. Amen.

 

TN1-A93: Tiếng Chúa

Tục ngữ Việt Nam có câu: - Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ: TN1-A93

Tục ngữ Việt Nam có câu:
- Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Với câu tục ngữ trên, người xưa muốn bảo chúng ta rằng: qua giọng nói của người đối diện, chúng ta có thể đoán biết được phần nào tính tình của họ.
Cho dù nghe giọng noi mà bắt hình dong, nếu không được đúng trăm phần trăm, thì ít nữa cũng biết được rằng: lời nói là một kho tàng cao quí nhất của con người.
Đúng thế, lời nói là một phương tiện Chúa đã trao ban để chúng ta chia sẻ những ý nghĩ, những ước muốn, nhờ đó mà hiểu biết nhau hơn và xích lại gần nhau hơn. Vì thế, người xưa cũng đã khuyên:
- Lời nói chẳng mất tiền mua,
 Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Và chúng ta cũng có thể xác quyết:
- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói.
Nhờ lời nói, chúng ta có thể diễn đạt được bản thân chúng ta cho người khác. Nhờ lời nói, chúng ta có thể bày tỏ cho người khác những ước vọng mình đang theo đuổi. Nhờ lời nói chúng ta không phải chỉ đạt tới những điều mình muốn diễn tả, mà hơn thế nữa còn đi vào con đường tương giao mật thiết, tạo được sự cảm thông với những người chung quanh.
Dù khoảng cách giữa người nói và kẻ nghe có là một đại dương bao la chang nữa, thì người nói vẫn cảm thấy mình đang hiện diện một cách mật thiết với kẻ nghe.
Bằng cách thức ấy, Thiên Chúa cũng đã nói với mỗi người và với mọi người chúng ta. Tin mừng hôm nay kể lại rằng: Khi Chúa Giêsu vừa lên khỏi nước, thì trời mở ra và từ trời có tiếng phán:
- Này là con ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng. Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài.
Trong Cựu ước, chúng ta thấy có lần tiên tri Samuel cũng đã khao khát được nghe tiếng Chúa:
- Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.
Còn chúng ta thì sao? Có lẽ đôi lúc chúng ta cũng đã nhủ thầm:
- Nếu Chúa thực sự hiện diện, thì xin hãy nói với con. Nếu Chúa thực sự yêu thương, thì xin hãy xuống khỏi trời cao để nhìn xem những gì đang xảy ra trong cõi nhân sinh.
Qua biến cố Chúa chịu phép rửa ở sông Giócđan, một nhịp cầu cảm thông nối liền trời với đất được được thiết lập: Trời mở ra và tiếng nói của Thiên Chúa đã vang vọng đến tai con người:
- Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài.
Thánh Phaolô trong bức thư gửi tín hữu Do Thái cũng đã xác quyết:
- Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Con Một Ngài.
Như thế, toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu đã trở thành một lời tâm sự, giãi bày tình yêu thương của Thiên Chúa đối với con người. Chỉ với tiếng nói của Người Con yêu dấu ấy, chúng ta mới thấy được dung mạo đích thực của Thiên Chúa.
Đồng thời, nhờ bí tích Rửa tội, người Kitô hữu cũng đã lãnh nhận một sứ mệnh, đó là trở thành tiếng nói của Thiên Chúa vang lên cho người khác, bởi vì trong cuộc sống của mình, người Kitô hữu có bổn phận phải giới thiệu, phải trình bày khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa.
Nếu trời đã mở ra cho tiếng nói của Thiên Chúa được vang vọng đến con người khi Chúa Giêsu vừa bước lên khỏi nước, thì cũng vậy, qua bí tích Rửa tội, người Kitô hữu có bổn phận tiếp tục làm thế nào cho tiếng nói ấy được mọi người lắng nghe và chấp nhận. Người Kitô hữu có bổn phận làm chứng nhân cho tình yêu của Thiên Chúa giữa lòng cuộc đời.

 

TN1-A94: Suy niệm của nhóm Đồng Hành

Chi Tiết Hay
 

Matthêu đã dựa vào Máccô để viết bài tường thuật này. Cách diễn tả thẳng và thiếu khéo léo của Máccô: TN1-A94

(c.14) Matthêu đã dựa vào Máccô để viết bài tường thuật này. Cách diễn tả thẳng và thiếu khéo léo của Máccô đã làm cho Giáo Hội sơ khai phải lúng túng không ít, vì Đức Giêsu là Đấng vô tội thì không thể nào lại phải nhận phép rửa tha tội của Gioan. Vì vậy Matthêu đã bỏ đoạn của Máccô nói về sự tha tội và thêm cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và Gioan.
(c.15) "công chính" (có sách viết là "công lý") - câu này làm ta liên tưởng đến đoạn Isaia 42:6 trong bài đọc thứ nhất "Ta đã gọi ngươi trong công lý", có nghiã là để chu toàn ý định của Ta về lịch sử cứu rỗi nhân loại. Vì thế, việc Đức Giêsu nhận phép rửa của Gioan Tẩy Giả đã được Thiên Chúa dự định trước trong kế hoạch của Ngài, và để Đức Giêsu được giới thiệu như là người tôi tớ của Yavê.
(c.16) Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống trên Đức Giêsu là dấu chỉ Ngài được xức dầu tấn phong là Đấng Mêsia (CV 10:37-38)
(c.17) "tiếng từ trời" - Theo Máccô, tiếng đó nói rằng "Con là", nhưng trong Matthêu tiếng đó nói "Đây là" có ý muốn giới thiệu cho những người khác đang hiện diện ở đó rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Một lần nữa Đức Giêsu được tỏ ra cho nhân loại, như một lễ Hiển Linh thứ nhì.
Một Điểm Chính
Đức Giêsu được Cha giới thiệu là người Con duy nhất hiểu ý Thiên Chúa. Ngài là "người tôi tớ", "ngưòi Con yêu dấu", "người được chọn", người mà Thiên Chúa "hài lòng".
Suy Niệm
Hãy ý thức và suy niệm về Thánh Ý của Chúa trong cuộc đời của bạn.
Nhớ lại một lần bạn đã cảm thấy một cách thấm thía Chúa yêu thương bạn.

 

TN1-A95: Con Thiên Chúa và những người tội lỗi

 (Mt 3,13-17 – Phép Rửa - A)
1.- Ngữ cảnh
 

Về phương diện lịch sử, kinh nghiệm Đức Giêsu trải qua như bản văn chúng ta đọc hôm nay mô tả: TN1-A95

Về phương diện lịch sử, kinh nghiệm Đức Giêsu trải qua như bản văn chúng ta đọc hôm nay mô tả, là điều không thể kiểm chứng được. Lần đầu tiên Người hé cho dân chúng thấy được điều gì đó về thân thế của Người là trong cuộc gặp gỡ với Gioan, vị Tiền Hô; chỉ các Tin Mừng mới ghi lại cuộc gặp gỡ này (Mc 1,9-11; Lc 3,21-22; x. Ga 1,29-34).
          Cuộc gặp gỡ Giođan không phải là một cuộc hẹn, cũng chẳng phải là một cuộc gặp gỡ tình cờ. Đây là tổng hợp những tương quan giữa Đức Giêsu và Gioan. Nếu ta nghĩ rằng đây là cuộc đối thoại đầu tiên hoặc duy nhất, thì ta quên tính cách cách-điệu hoặc hệ-thống-hóa quen thuộc của các Tin Mừng.  Hợp lý có lẽ nên giả thiết là đã có những cuộc gặp gỡ trước để trao đổi tầm nhìn, trao đổi các nhận định, và biến cố hôm nay chỉ là kết luận cho các gặp gỡ ấy.
          Mẩu đối thoại ở cc. 14-15 chỉ có trong TM Mt, phản ánh một chiều hướng biện giáo. Sự kiện Đức Giêsu được Gioan ban phép rửa đã sớm tạo ra những khó khăn cho các Kitô hữu (so với Lc 3,21t; Ga 1,29-34): (i) Ngược lại với những gì chính Gioan đã loan báo về sự cao cả của Đấng Mêsia, ở đây các vai trò dường như bị đảo lộn; (ii) Phép rửa của Gioan, có kèm theo việc thú tội, được ban cho những người có tội; vậy khi đến nhận phép rửa, dường như Đức Giêsu ý thức mình có tội. Mẩu đối thoại cung cấp câu trả lời cho vấn nạn (i), còn  cuộc thần hiển tiếp đó trả lời cho vấn nạn (ii).
Trong bài, có những chi tiết lấy từ các Bài Ca về Người Tôi Trung của Đức Chúa (Mt 3,17: Is 42,1). Đức Giêsu là Người Tôi Trung đã sẵn sàng đến chia sẻ thân phận khốn cùng của kẻ tội lỗi, khi đến xếp hàng chờ được nhận phép rửa, là nhận lấy những yếu đuối của loài người, như Mt nói sau này (Mt 8,17: Is 53,4). Như thế, tác giả đã kín đáo ám chỉ cuộc Thương Khó (x. Mt 27,45-56).

2.- Bố cục
Bản văn có thể chia làm hai phần:
1) Phép rửa của Đức Giêsu (3,13-15);
2) Cuộc thần hiển (3,16-17).

3.- Vài điểm chú giải
- chúng ta nên làm như vậy (15): Prepon estin (“nên; điều xứng hợp là”) hầu như tương đương với động từ dei (“phải; cần thiết”), diễn tả nhiệm vụ phát xuất từ ý muốn của Thiên Chúa. 
- giữ trọn (15): Trong TM Mt, động từ plêroô, “làm cho đầy; làm trọn” không có nghĩa là chu toàn một lệnh truyền, mà là thực hiện một kế hoạch của Thiên Chúa.
- đức công chính (15): Dikaiosynê không phải là một nhân đức luân lý (“công bình”), nhưng là một lối sống, một cách xử sự tương hợp với kế hoạch và ý muốn của Thiên Chúa. Mt dùng từ ngữ này đặc biệt trong Bài Giảng trên núi. Trong bối cảnh chung của tư tưởng tôn giáo Híp-ri, “đức công chính” đây là việc thực hiện các ý muốn của Thiên Chúa, quy phục Luật Giao ước thật kỹ càng. Mt cũng đứng trong truyền thống thần học này: con người nên công chính khi, nhờ có cảm thức sắc bén về tính siêu việt và sự thánh thiện của Thiên Chúa, họ tìm cách sống hoàn toàn phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Như vậy, Thiên Chúa đã quy định rằng Đấng Mêsia phải nhận phép rửa của Gioan và xuất hiện ra như một người tội lỗi. Vì sao? Ngữ cảnh không cung cấp một lý do rõ ràng nào giúp giải thích ý muốn này của Thiên Chúa. Nhưng toàn bộ Tân Ước thì cung cấp hai lý do:
(1) Lý do thứ nhất dựa trên Mt 20,28 và 26,28: Đức Giêsu phải tạ tội cho “một số đông” (= muôn người). Cv 8,32-35 (trích Is 53,7-8) cho thấy Đức Giêsu là như Người Tôi Trung của Đức Chúa, chịa đau khổ vì tội lỗi của dân mình, cho dù bản thân Người không có tội. Thánh Phaolô diễn tả rõ ràng: Nhờ việc nhập thể, Đức Giêsu đã “mang thân xác giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8,3), Người đã trở nên thành viên và thủ lãnh của một nhân loại tội lỗi. Vậy, mặc dù không có tội, Đức Giêsu đã phải lãnh nhận phép rửa bày tỏ sự thống hối do liên đới với loài người tội lỗi (x. 2 Cr 5,21; Dt 2,14-17).
(2) Lý do thứ hai, tương tự lý do thứ nhất, nhưng nhìn dưới một góc độ khác: không nhìn Đức Giêsu tự đồng hóa với các tội nhân, nhưng tự đồng hóa với những người-tội-lỗi-hoán-cải. Bởi vì khi nhận phép rửa của Gioan, người Do Thái phải đáp ứng một yêu cầu về sự công chính, nghĩa là phải bày tỏ lòng thống hối, ước muốn trở lại với Thiên Chúa và lại sống trung thành với những đòi hỏi của Giao ước. Sự công chính Kitô giáo, theo như Mt hiểu, về cơ bản có một ý nghĩa tương tự sự công chính theo Giao ước cũ (nhưng vượt xa sự công chính này): là trung thành với những đòi hỏi của Giao ước mới, quy phục luật mới do Đức Kitô ban cho (x. ch. 5–7). Như thế, khi Đức Kitô “giữ trọn đức công chính”, Người vừa nhận cho mình thái độ của những người Israel “công chính” trung thành với Giao ước, vừa đưa sự trung thành đó đến mức hoàn hảo cuối cùng. Có lẽ đây đúng là ý nghĩa của phép rửa Đức Giêsu nhận: khi ấy, Người trở nên liên đới với đoàn dân đang quay về để sống trung thành. Khi nhận phép rửa, Đức Kitô lôi kéo theo với Người và trong Người tất cả những người tin, đi vào cuộc quay trở về để sống trung thành, đi vào thái độ vâng phục thảo hiếu đối với Chúa Cha. Và Người sẽ diễn tả thái độ hiếu thảo này ra hết sức rõ ràng trong cuộc Khổ Nạn (x. 26,39), là lúc mà đức công chính được giữ trọn. Lời nói đầu tiên của Đức Giêsu trong TM Mt cũng tóm tắt toàn thể cuộc đời Người.
- các tầng trời mở ra (16): Mt sử dụng cùng một động từ với Is 63,19 LXX, “mở ra” (anoigô), trong khi bản Híp-ri là “xé ra”, qr‘ (“Phải chi Ngài xé trời mà xuống”), nhưng ý nghĩa vẫn là một: niềm hy vọng cánh chung được vị ngôn sứ loan báo, nay đã được thực hiện.
- như chim bồ câu (16): “Như; giống như” (hosei) bổ nghĩa cho động từ “xuống” chứ không phải cho danh từ “Thần Khí”. Trong Do Thái giáo, không bao giờ con chim bồ câu được coi là hình ảnh của Thần Khí cả, nhưng có một vài bản văn so sánh chuyển động của Thần Khí Thiên Chúa với chuyển động của một con chim bồ câu “bay lượn trên đàn con rất gần, mà không chạm vào chúng”. Sách St viết: “Thần khí bay lượn trên nước” (1,2). Hình ảnh này muốn nói: (1) Thần Khí không phải là một sức mạnh phát xuất từ thiên nhiên hay con người, mà là một hữu thể siêu việt; (2) Thần Khí hoạt động vừa dịu dàng vừa gần gũi. Bản văn Mt cũng như Mc không muốn nói đến dáng vẻ bề ngoài (như Lc), mà là cách thức Thần Khí đến và tác động trên Đức Giêsu.
- Đây là Con yêu dấu của Ta (17): Lời Chúa Cha nhắc lại Tv 2,7: “Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con” và Is 42,1: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng, Ta cho thần khí Ta ngự trên nó”. Có nhiều bản văn Cựu Ước trong đó Thiên Chúa gọi Israel là “con” (x. Xh 4,22; Hs 11,1 …) khiến ta có thể nghĩ rằng ở đây Mt gợi ý Đức Giêsu là “Israel mới”. Câu truyện “Cám dỗ” (4,1-11) sẽ nêu rõ sự song đối này.
Câu nói từ trời được lặp lại y nguyên trong bài tường thuật Hiển Dung (x. 17,5). Hẳn là Mt muốn tạo một tương quan thần học giữa hai biến cố. Cũng như biến cố Hiển Dung báo trước việc Đức Giêsu được tôn vinh khi sống lại (sự tôn vinh này là hoa trái của sự tự hạ trong cuộc Thương Khó), biến cố tiếng nói và Thần Khí xuống cũng loan báo Đức Kitô được tôn vinh; sự tôn vinh không chỉ là hoa trái của Khổ Nạn mà còn của cả cuộc đời tự hạ của Đức Kitô, khởi đầu với sự tự hạ trong phép rửa. Tất cả những điều này xác nhận rằng truyện Phép Rửa đúng là một cuộc thần hiển, như cuộc Hiển Dung, chứ không phải là một thị kiến của riêng Đức Giêsu. Cuộc thần hiển này được ngỏ với các độc giả Tin Mừng, nay đã là môn đệ Đức Giêsu (bởi vì Mt không nhắc tới đám đông dân chúng nào cả), cũng như cuộc Hiển Dung chỉ được ngỏ với ba tông đồ.    

4.- Ý nghĩa của bản văn
Bước đầu đưa Đức Giêsu đi vào hoạt động công khai xảy ra trong bối cảnh là phép rửa do Gioan cử hành. Đức Giêsu từ Galilê đến sông Giođan và muốn được Gioan làm phép rửa cho. Chính diễn tiến của phép rửa chỉ được nhắc qua (3,16). Nhưng phép rửa này tạo cơ hội cho Gioan, Đức Giêsu và Thiên Chúa lên tiếng và những phương diện cốt yếu của hoạt động của Đức Giêsu được tỏ bày. Gioan phản đối viẹc Đức Giêsu xin được ban phép rửa, vì ông coi là chuyện không hợp (3,14). Những lời đầu tiên Đức Giêsu nói khẳng định rằng Người có nhiệm vụ đưa trọn ý muốn của Chúa Cha đến chỗ hoàn tất (3,15). Rồi Thiên Chúa nhìn nhận Đức Giêsu là Con yêu dấu của Ngài (3,17).

* Phép rửa của Đức Giêsu (13-15)
Bản văn này có giọng tường thuật.
Gioan đã dùng ba cách để tuyên bố Đức Giêsu là Đấng có ưu thế hơn (3,11-12): 1) Người là Đấng mạnh hơn, Người vượt xa Gioan bằng sức mạnh thực thụ. 2) Người có phẩm giá cao vời: ngay đến việc xách dép cho Người, Gioan cũng không xứng đáng. 3) Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần, trong khi Gioan chỉ làm phép rửa trong nước. Nước có là gì đâu trước Thần Khí Thiên Chúa, trước sự sống chan hòa của chính Thiên Chúa? trước sinh lực dồi dào và niềm hạnh phúc của Thiên Chúa? Ai là Đấng có thể làm phép rửa với Thánh Thần? Thế mà chính Đấng đã được Gioan loan báo như thế lại muốn được ông làm phép rửa cho. Được  làm phép rửa bằng nước có ý nghĩa gì đối với Đấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần? Xếp hàng nối vào những người không có Thánh Thần có ý nghĩa gì đối với Đấng sẽ thông ban Thánh Thần? Gioan có một ý tưởng khác về điều phù hợp với Đức Giêsu, ông không thấy vị trí của Người bên cạnh những người đến xin ông ban phép rửa. Nhưng ông xin Đức Giêsu giáo huấn mình. Suốt hành trình, Đức Giêsu sẽ bị người ta cật vấn về cách xử sự của Người, đặc biệt là cách xử sự của Người đối với những kẻ tội lỗi (x. 9,11). Các đối thủ của Người sẽ có những ý tưởng sai lạc về những gì xứng hợp với Đấng Thiên Chúa sai đến.
Lời đầu tiên Đức Giêsu nói có một đặc tính căn bản: “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (3,15). “Đức công chính” có nghĩa là những gì “công chính” trước mặt Thiên Chúa, những gì tương ứng với ý muốn của Ngài. Chuyện Đức Giêsu được Gioan làm phép rửa cho thuộc về ý muốn của Thiên Chúa. Người làm như thế không phải theo một ý riêng, nhưng bởi vì Thiên Chúa muốn thế. Chính trong sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa mà Đức Giêsu xin Gioan làm phép rửa cho mình và bắt đầu hành trình.
Đức Giêsu nhận biết là ý Thiên Chúa muốn Người hòa mình vào số những người đến xin Gioan làm phép rửa. Họ là những người đã nghe lời kêu gọi hối cải và công khai thú nhận mình là người tội lỗi (3,6). Người không đứng vào hàng ngũ những người chắc chắn về mình, những người nghĩ rằng mình công chính và vô phương trách cứ. Thật ra, Người không phải trách mình về bất cứ tội nào; nhưng quan hệ của Người với Thiên Chúa là thế nào, thì lát nữa chính Thiên Chúa sẽ phải tỏ ra. Đức Giêsu như đang nhắc lại tên của Người: “Chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (1,21) và giới thiệu sứ mạng của Người: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (9,13). Người bắt đầu trợ giúp người tội lỗi bằng cách không giữ khoảng cách đối với họ, mà là đến ở giữa họ: như một người trong số họ, Người xin Gioan làm phép rửa cho. Qua hành vi này, Đức Giêsu nhìn nhận giá trị của phép rửa Gioan, nghĩa là Vị Tẩy Giả rao giảng và làm phép rửa không do sáng kiến loài người, nhưng theo nhiệm vụ Thiên Chúa giao phó (x. 21,25). Đồng thời, Người tỏ thái độ đối với những kẻ mà Người được gửi đến phục vụ: Người ở bên cạnh họ và chăm sóc họ bằng cách sống giữa họ. Toàn thể hoạt động của Người cho đến chết trên thập giá được quy định bởi chiều hướng và sứ mạng này.
Khi tỏ ra liên đới với người tội lỗi, Đức Giêsu phản đối quan niệm của Vị Tẩy Giả về Nước Trời và về Đấng Mêsia: thay vì tự giới thiệu như là Vị Thẩm Phán cánh chung đến quét sạch sân lúa của mình trong Cơn Thịnh Nộ và trong lửa, Đức Giêsu đã trầm mình vào dòng sông Giođan. 
* Cuộc thần hiển (16-17)
Bản văn này có giọng điệu khải huyền.
Lời Thiên Chúa phán sau đó cho thấy người hành động như thế là ai và Thiên Chúa ở về phía Người như thế nào: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (3,17). Lời này cũng căn bản và chất chứa cả một chương trình như lời tuyên bố của Đức Giêsu về việc Người vâng theo ý muốn của Chúa Cha (3,15). Đấng vâng phục Thiên Chúa và đứng về phía người tội lỗi chính là Con yêu dấu của Thiên Chúa. Tương quan của Người với Thiên Chúa không hề bị tội lỗi làm cho rối loạn. Người đứng bên những kẻ tội lỗi và có thể trợ giúp họ chính là vì Người không phải là một người trong số họ. Thiên Chúa yêu thương Người bằng một tình yêu độc nhất vô nhị, hài lòng về Người, hoàn toàn đồng ý với Người và với cách hành động của Người. Người là Con, được hiệp nhất với Chúa Cha theo cách hoàn toàn đặc biệt; Thần Khí Thiên Chúa ngự trên Người; Người đầy sức sống và sức mạnh Thiên Chúa; đó là sức tạo thành và làm cho sống.
Bản văn cho hiểu là Chúa Cha chấp nhận sự vâng phục của Đức Giêsu, khi mô tả việc Thần Khí ngự xuống và nhắc đến “tiếng nói từ trời”. Như vậy, phép rửa giống như một lễ tấn phong Đức Giêsu làm Đấng Mêsia (x. 11,2; Ge 3,1-2).
+ Kết luận
          Bằng cách đó, Đức Giêsu được chuẩn bị cho sứ mạng Người và có thể đưa phép rửa bằng Chúa Thánh Thần như đã được loan báo đến chỗ được thực hiện. Trong phép rửa của Đức Giêsu, có tỏ hiện những đường nét của toàn thể hoạt động của Người. Người đến không phải cho những người công chính, nhưng đến sống giữa những người tội lỗi. Người làm như thế vì vâng theo thánh ý của Thiên Chúa và trong tư cách Con yêu dấu của Ngài, sống hiệp thông hoàn toàn với Chúa Cha. Điều mà người tội lỗi bị thiếu, thì Đức Giêsu được Thiên Chúa ban cho ở mức hoàn hảo. Như thế, Người có thể tha thứ tội lỗi và đưa người ta đến hiệp thông với Thiên Chúa.

5.- Gợi ý suy niệm
1. Hôm nay, chúng ta được mời gọi nghe tiếng nói từ trời giải thích ý nghĩa những sự việc đang xảy ra tại sông Giođan. Đến lượt Đức Giêsu ra đi dùng cuộc đời, lời nói và các việc làm, mà trở thành tiếng nói của Chúa Cha cho loài người. Rồi Người sẽ gọi một số người, trong đó có chúng ta, nối tiếp Người trong sứ mạng này. Hôm nay, chúng ta có thể tự hỏi: Lâu nay, nghe những lời tôi nói và nhìn cách tôi sống, người khác nhận ra được sứ điệp nào của Chúa Cha?
2. Khi đến xin nhận phép rửa, Đức Giêsu xếp hàng với những người tội lỗi, là những kẻ mà Người đến để tha thứ và cứu độ. Đấy là cách thức làm việc của Người. Người cứu độ bằng cách chia sẻ tình trạng bần khốn, nghèo hèn của nhân loại, để biến đổi nhân loại từ bên trong. Người sẽ đi tới cùng trong lập trường này khi chấp nhận tự hủy trong cái chết trên thập giá. Khi chọn lựa như thế, Đức Giêsu đã phác ra cho các Kitô hữu một phương cách làm việc tông đồ: không phải là đứng từ trên mà phê phán, thống trị, nhưng hòa mình vào để chia sẻ.
3. Khi Đức Giêsu đã phải chọn lựa đứng vào hàng ngũ các tội nhân và trầm mình vào dòng sông Giođan, Người cho hiểu rằng chúng ta đang ở tại đó, tại đáy thẳm cuộc đời, trong tình trạng nghèo hèn, và Người sẵn sàng đến gặp để đưa chúng ta đi lên. Như thế, chẳng ai trong loài người có thể tự hào rằng mình sống xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa, mình được chiếu cố vì đã sống ngay chính.
4. Trong bí tích rửa tội, người Kitô hữu được cùng chết với Đức Kitô và cùng sống lại với Người. Khi đó, người ấy như được nghe Chúa Cha nói về mình như đã nói về Đức Giêsu xưa kia: “Đây là Con yêu dấu của Ta”. Nhưng khi đó, người tín hữu cũng hiểu rằng mình phải lên đường đi cứu thế như và cùng với Đức Giêsu, Con yêu dấu của Chúa Cha. Trách nhiệm của người Kitô hữu cũng như trách nhiệm của Đức Giêsu, là giới thiệu cho thấy Thiên Chúa là Cha và truyền thông tình yêu của Chúa Cha cho anh chị em mình.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm

 

TN1-A96: Chúa Giêsu chịu phép rửa

08-01-2014 | Gm. Giuse Vũ Duy Thống
 

Tuần trước là lễ Ba vua cũng gọi là lễ Hiển Linh. Một em bé đến với tôi tâm sự và cho biết: gọi là: TN1-A96

Tuần trước là lễ Ba vua cũng gọi là lễ Hiển Linh. Một em bé đến với tôi tâm sự và cho biết: gọi là lễ Ba Vua thì em hiểu có ba vua dâng của lễ như Phúc Âm đã tường thuật và như Hang đá thường trình bày, nhưng gọi là Hiển Linh thì em không hiểu. Em xin giải thích cho em hiểu “hiển linh” là gì. Tôi giải thích bằng cách cắt nghĩa chữ đơn giản: hiển là tỏ lộ ra, linh là linh thánh (là Thiên Chúa); hiển linh là Chúa tỏ mình ra. Em “vâng dạ”, nhưng nhìn vào mắt em tôi biết em chưa hiểu. Trên bàn tôi lúc đó có tấm phim nhựa nhỏ và tấm ảnh màu rửa cỡ lớn. Tôi đưa tấm phim cho em xem và hỏi em có nhìn thấy không. Em xoay ngược xoay xuôi xoay ngang xoay dọc biết rằng có hình người nhưng chịu không nhìn rõ ai cả. Tôi đưa tiếp cho em tấm ảnh mới rửa từ tấm phim ấy và em reo lên mừng rỡ đồng thời kể tên vanh vách những người trong ảnh. Thấy em vui tôi cũng vui lây. Và trong niềm vui ấy tôi tiếp tục giải thích cho em về chữ “hiển linh” một cách cụ thể. Thiên Chúa vẫn có đó như hình vẫn có ở trong phim, nhưng ta chỉ thấy Ngài khi Ngài tự tỏ mình ra như hình được in rõ ra trong tấm ảnh vậy. Tôi thấy mắt em cười và bước ra khỏi phòng tôi trong tư thế nhảy chân sáo như vừa khám phá ra một điếu gì lớn lao lắm. Tôi nhìn theo em và thầm nghĩ: có lẽ Thiên Chúa đang tỏ mình ra cho em.
Thiên Chúa tỏ mình ra là một chủ đề lớn đã trở thành mối bận tâm cho mọi người Kitô hữu trên đường tìm Chúa, mà em bé tôi kể ở trên chỉ là một điển hình; đồng thời đó cũng là chủ đề xuyên suốt cả toàn bộ Kinh Thánh. Trong Cựu Ước, các chiến tích lẫy lừng, và cũng rất thường  trong những biến cố kinh thiên động địa như biến cố “Vượt Qua” với vách nước vựng đứng mở lối cho dân Do Thái ra đi trên biển, rồi cột lửa soi sáng ban đêm và áng mây tạo bóng mát ban ngày… Nhưng từ ngày Con Chúa làm người, Thiên Chúa lại chỉ tỏ mình ra qua con đường tự hạ. Bài Phúc Âm hôm nay là khởi đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu tự hạ chịu phép Rửa và tỏ mình trong vinh quang Ba Ngôi là một ví dụ rõ rệt. Nhưng Chúa Giêsu tự hạ thế nào và tỏ mình ra sao trong suốt cuộc đời của Người? Ngày nay Chúa còn tỏ mình ra cho con người hay không?
Tự hạ.
Ngày Giáng Sinh, Thiên Chúa đã tự bỏ trời cao bước xuống thế trần để nhận lấy kiếp người trong Hình hài một thơ nhi bé bỏng, lại sinh ra trong cảnh thiếu thốn nghèo hèn. Ngài là Thiên Chúa vinh quang nhưng đã để vinh quang đó lại trên trời như lời hoan ca của các thiên thần xác định, mà chỉ ôm hai chữ “bình an” xuống thế làm một con người bình thường giữa muôn người bình thường khác. Thiên Chúa sinh ra mọi loài nay chịu sinh ra bởi một người phụ nữ. Thiên Chúa vô hình nay bước xuống hữu hình, Thiên Chúa vô biên nay đón nhận mình vào những giới hạn. Thiên Chúa giàu sang nay tự hạ làm kẻ nghèo hèn.
Khởi đầu cuộc sống công khai, Thiên Chúa làm người ấy – Chúa Giêsu, lại tự hạ hơn một bước nữa khi rước vào đời mình kiếp sống tội nhân đến sông Giođan và xin ông Gioan chịu phép Rửa. Người chấp nhận bầu bạn và đánh chén với những người tội lỗi đã đành như Phúc Âm vẫn kể, Người còn chịu nhận mình là một tội nhân xếp hàng đứng chung với những tội nhân khác để đợi tới phiên mình cúi đầu xin ơn tha thứ. Thiên Chúa đã thánh thiện mà nhận mình là người tội lỗi, Thiên Chúa tuyệt đối không mang tì vết mà lại cầu xin ơn tha thứ làm lại cuộc đời như một người hư hỏng. Sự tự hạ của Chúa thật không hiểu nổi. Chưa hết, kết thúc cuộc đời trần thế, trên đỉnh Núi Sọ cũng gọi là cao điểm tuyệt đối của sự tự hạ, Chúa Giêsu chịu chết nhục hình giữa hai tên trộm cướp. Người bị giết như một kẻ tử tội. Cái chết thê thảm mà ngày nay các tượng thánh giá bằng kim loại quý đeo trên ngực hay được vẽ vời đánh bóng trong các giáo đường không diễn tả được. Phúc Âm kể: Người chết dữ. Thiên Chúa quyền uy đã để cho người ta trói lại và xét xử. Thiên Chúa hằng sống đã tự hạ để người ta giết chết. Ôi lạ lùng!
Tỏ mình.
Nhưng tự hạ lạ lùng đến thế để làm gì? Nếu để phô trương danh thế tiếng tâm thì chỉ là dại dột mà kẻ dại nhất trong loài người cũng không dại dột đến thế. Sự tự hạ của Chúa Giêsu là một phương tiện để Người tỏ mình ra:
-       Sinh ra như một trẻ nghèo hèn giữa cánh đồng trong Hang đá Bêlem, Người tỏ mình ra là một Thiên Chúa vinh quang, như lời hát đồng thanh của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh: “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời…”
-       Bước xuống đất đen của con người cần được thanh tẩy và xếp hàng đứng chung với các tội nhân chờ được dìm xuống trong nước, Người tỏ mình ra là Thiên Chúa thánh thiện tuyệt đối có quyền quyết định trên trời dưới đất, như Phúc Âm mô tả: “các tầng trời mở ra”.
-       Lãnh nhận phép Rửa trong nước, Người tỏ mình ra là Đấng sẽ khai sinh phép Rửa trong Thánh Thần, như hoạt cảnh Tin Mừng trình bày: “Chúa Thánh Thần ngự xuống trên người như chim bồ câu”. Mang vào mình thân phận tội lỗi nhân loại  đến tận gốc nguồn là sự phản bội của Adam, Người tỏ mình ra là Con Chí Ái của Chúa Cha từ thuở đời đời, như tiếng từ trời giới thiệu: “Này là con Ta yêu dấu hằng làm đẹp lòng Ta”.
-       Và chính khi trần trụi bên dòng nước cầu ơn tha thứ, Người xuất hiện là một ngôi vị trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa ngời sáng uy linh. Nếu có bài hát “lung linh lung linh hai tiếng gia đình”, thì ở đây có lẽ phải hình dung là ca khúc “uy linh uy linh gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi”. Cuối cùng, chết nhục hình như tên tử tội bị kết án, Người tỏ mình ra là Thiên Chúa hằng sống, Đấng ban ơn cứu độ giải xá cho hết mọi người.
Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình.
Thiên Chúa vinh quang tỏ mình ra cho nhân loại bằng con đường tự hạ. Cái sang của đạo dường như ấn giấu trong bức màn tăm tối, đúng như Lão tử nhận xét về một đạo chân chính: “Minh đạo nhược muội”. Nếu lịch sử cứu độ là lịch sử của Thiên Chúa tỏ mình ra, thì ngày nay Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ mình ra cho ta, dĩ nhiên trong Phụng Vụ, Bí Tích và Giáo Hội, nhưng Ngài còn thích hơn khi tỏ mình ra cho ta qua cuộc sống thường nhật, qua những biến cố, những sự kiện, qua những con người ta gặp gỡ và qua những bổn phận âm thầm mỗi ngày. Cánh Ngài tỏ mình ra cũng vẫn là cách tự hạ khiêm nhường nhỏ bé tối tăm và thầm lặng.
Trời chỉ mở ra với vinh quang Ba Ngôi Thiên Chúa khi Chúa Giêsu vì yêu thương đứng chung với hàng ngũ tội nhân và cầu nguyện. Muốn gặp thấy Thiên Chúa tỏ mình, chúng ta cũng phải liên kết với Ngài bằng sám hối cầu nguyện và bằng tinh thần liên đới yêu thương chia sẻ cuộc sống với những người khác.
Giữa năm 1984, ở Thụy Sĩ người ta đã phát thử thành công tivi màu với hình ảnh nổi, nghĩa là có chiều sâu của khung cảnh và người xem dường như thấy mình đang góp mặt trong khung cảnh ấy. Nhưng muốn thưởng thức, phải mang một gọng kính có hai tròng mắt khác màu nhau, một xanh một đỏ và phải ngồi đúng vị trí đối diện trực tiếp với màn ảnh. Thiên Chúa vẫn tỏ mình nổi bật trên cuộc sống từng người. Muốn gặp Ngài, hãy ngồi vào vị trí đức tin và đeo gọng kính với hai tròng cầu nguyện và yêu thương.
Trích từ ‘LÀM NỤ HOA TRẮNG’ – ĐGM. Giuse Vũ Duy Thống

 

TN1-A97: GIỮ TRỌN ĐỨC CÔNG CHÍNH…

Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” Đức Giêsu đã trả lời Gioan như:: TN1-A97

“Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” Đức Giêsu đã trả lời Gioan như thế, khi ông từ chối thực hiện nghi thức thanh tẩy cho ngài. Gioan từ chối là đúng thôi; nhưng tại sao Đức Giêsu lại muốn thực hiện nghi thức đó ? Nghi thức này đâu phải là điều luật định. Vậy thì khi nói “chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”, thực ra Đức Giêsu muốn ám chỉ điều gì ?
Mọi người Do Thái đều hiểu: đã là người, thì đức công chính là điều cơ bản nhất: công chính đối với họ còn mang nội dung rất cụ thể, đó là căn kẽ tuân giữ các lề luật. Và luật pháp là cần thiết, như Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma ( chương 7 ) cho biết, chính là vì sự yếu đuối và tội lỗi của con người. Đối với con người tự bản chất là tội lỗi và yếu đuối thì cách duy nhất để trở nên công chính là chu toàn lề luật. Luật Môsê qui định mọi người mẹ mới sinh con, nhất là con nối giòng ( con trai đầu lòng ), đều phải được thanh tẩy.
Khi Đức Giêsu đòi giữ trọn đức công chính, Người đã trọn vẹn tự đặt mình vào tư thế một con người nhân loại: tội lỗi và yếu đuối. Truyền thống Giáo Hội vẫn luôn coi việc Đức Giêsu bước xuống sông Giođan để biểu lộ tâm trạng sám hối qua việc thực hiện nghi thức thanh tẩy là một cuộc nhập thể lần thứ hai hay nhập thể theo chiều sâu. Nếu nhờ cuộc Giáng Sinh thứ nhất tại Bêlem, Giêsu đã mặc lấy hình hài hèn yếu của một hài nhi, thì qua việc lãnh nhận phép rửa sám hối tại sông Giođan, Giêsu đã mặc lấy trọn thân phận tội lỗi yếu hèn của con người nhân loại. Lúc đó Người công khai biểu lộ tình trạng trở nên giống chúng ta mọi đàng, cả về thể lý lẫn về tinh thần.
Thế nhưng Người làm như thế với mục đích gì ?
Gioan và nhóm Êtxen của ông, cũng như nhiều tôn giáo khác, có truyền thống coi việc sám hối tội lỗi như khởi điểm của quyết tâm cải tà qui chính, hoán cải đời sống, sửa mình và vươn lên. Do đó ông kêu gọi dân chúng chịu phép rửa là để thi hành điều này. Nhưng kể từ lúc Đức Giêsu làm cùng một hành vi đó, phép rửa sám hối bắt đầu mang một nội dung và mục tiêu hoàn toàn mới: chân nhận thân phận hèn yếu tội lỗi của mình là để mở lòng đón nhận Tin Mừng cứu độ Thiên Chúa ban cho cách vô điều kiện. “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ), “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” ( Mt 4, 17 ). Trong ý nghĩa đó, khi Giêsu khiêm hạ hòa mình vào giữa đám đông sám hối, bước xuống dòng nước Giođan và dìm mình trong đó với thân phận con người hèn yếu, chính là lúc Người, trong thân phận con người, đang mở rộng mình ra để đón lấy hồng ân cứu độ đầy xót thương của Thiên Chúa.
Điểm tiếp nối giữa Cựu Ước và Tân Ước chính là ở đây: một mẫu công chính mới đã xuất hiện. Vì là Ađam mới nên Đức Giêsu cũng khai mở một nhân loại mới, trong đó con người dầu tự bản chất vẫn hèn yếu, đã có thể trở nên công chính và thánh thiện, không phải vì nắm giữ luật pháp hay sống luân lý lành mạnh, nhưng trong sức mạnh của Thần Khí và tình yêu nhân ái của Thiên Chúa. Chính lúc chịu phép rửa Giêsu trong tư cách Ađam mới đã được tuyên dương là con yêu dấu, và làm Thiên Chúa hài lòng là vậy. “Thần khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”.
Câu tuyên bố long trọng trong Mt 3, 16 – 17 là nói lên nội dung bí tích rửa tội đang trở thành một hiện thực đối với mọi tín hữu. Có lẽ vì hiểu được điều này mà Thánh Phaolô, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, cho dầu biết rất rõ các tội lỗi còn tồn tại nơi cộng đoàn này như loạn luân ( 1Cr 5 ), tranh chấp, tà dâm ( 1Cr 6 ), cúng bái bụt thần ( 1Cr 8; 10 ), chia rẽ ( 1Cr 11 ), vẫn không ngần ngại gọi họ là ‘những người đã được hiến thánh trong đức Kitô Giêsu’. Ông quả quyết mình “hằng cảm tạ Thiên Chúa… về ân huệ Người đã ban cho anh em…” vì họ đã “trở nên phong phú về mọi phương diện… khiến anh em không thiếu một ân huệ nào…” ( 1Cr 1, 2.5.7 ) Có hợp lý không khi ông khảng định sự hiến thánh và phong phú về mọi phương diện của nhóm tín hữu Côrintô trước cả khi họ có thời gian sửa chữa các lỗi lầm sai phạm ? Phaolô sẽ trở thành hoàn toàn phi lý nếu ta không chấp nhận khái niệm và nội dung công chính mới: công chính là tiếp nhận Tin Mừng qua việc sám hối tội lỗi.
Bí Tích Rửa Tội ‘đã’ làm cho ta nên công chính, chứ không phải ‘sẽ’ làm…, và do đó Kitô hữu chân chính phải là người liên tục sống Bí Tích Rửa Tội của mình, ngay giữa những yếu đuối và sa ngã của cuộc sống thường ngày. Kitô hữu chúng ta có thực sự hãnh diện về ơn rửa tội mà mình đã lãnh nhận hay không ?
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã cho phép con lãnh Bí Tích Rửa Tội, và cùng với Bí Tích này, lãnh nhận một sự công chính hoàn toàn mới mẻ và phong phú. Xin cho con biết không ngừng sống nền công chính mới này, bất chấp mức độ con có tiến triển được nhiều hay ít trong việc sửa chữa các khuyết điểm của mình hay tập tành các nhân đức. Vì chỉ một khi sở đắc được sự công chính mới này, con mới có thể mở lòng ca ngợi cảm tạ hồng ân cứu độ của Chúa suốt đời con. Amen.
Lm. Gioan NGUYỄN VĂN TY, Dòng Don Bosco

 

TN1-A98: SỨ VỤ MỚI

Sự kiện Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là gạch nối giữa giai đoạn quan trọng: sống ẩn dật và rao giảng: TN1-A98

Sự kiện Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là gạch nối giữa giai đoạn quan trọng: sống ẩn dật và rao giảng công khai. Sau 30 năm sống âm thầm với gia đình tại Nadarét, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng. Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa cũng là gạch nối giữa hai mùa: Giáng Sinh và Thường Niên. Giáo Hội đã cùng sống với Chúa Giêsu qua các biến cố Giáng Sinh và Hiển Linh. Hôm nay Chúa Nhật I Thường Niên, Giáo Hội sẽ cùng đồng hành với Người qua các biến cố của đời rao giảng.
1.      Chúa Giêsu chịu Phép Rửa
Khởi đầu cuộc sống công khai, lúc đã 30 tuổi, tức là đã trưởng thành trọn vẹn như người Á Đông vẫn quan niệm “tam thập nhi lập”, Chúa Giêsu tìm đến sông Giođan để xin Gioan Tẩy Giả cử hành phép rửa cho mình. Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” ( Mc 1, 5 ) và chịu “phép rửa sám hối để đước ơn tha tội” ( Mc 1, 4 ) lại có Chúa Giêsu. Người là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối ? Người là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài” lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình được chịu thanh tẩy ? Đây là động thái gây kinh ngạc cho con người thời nay, vì khó hiểu: Đấng không có tội lại đi nhận phép rửa làm gì ?
Thế nhưng người ta cũng sớm hiểu ra rằng: phép rửa của Gioan Tẩy Giả chỉ là nghi thức mang tính tẩy trần, nếu có giá trị thì chỉ theo quy định của lề luật thôi, còn chưa có hiệu quả đích thực tôn giáo. Chính Gioan Tẩy Giả đã minh định: “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng đến sau tôi sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và trong lửa”. Khi Chúa Giêsu nhận phép rửa này, ngoài việc “nhập thế đến cùng”, khiêm tốn xếp hàng đứng chung với các tội nhân đợi chờ đến phiên, Người còn hữu ý qua động thái có một không hai đó, công khai khởi đầu cuộc sống mới: cuộc rao giảng Tin Mừng cho mọi người.
Tất cả các tiên trưng trong Cựu Ước đều được thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Để “chu toàn thánh ý Thiên Chúa" ( Mt 3, 15 ), Chúa Giêsu tự nguyện chịu phép rửa của thánh Gioan, dành cho những người tội lỗi. Cử chỉ này cho thấy Chúa Giêsu đã đi vào mầu nhiệm “tự hạ” ( Pl 2, 7 ). Chúa Thánh Thần xưa kia đã bay là là trên mặt nước trong cuộc sáng tạo thứ nhất, nay ngự xuống trên Đức Kitô như khúc nhạc dạo đầu của bản giao hưởng sáng tạo mới, và Chúa Cha giới thiệu Chúa Giêsu là “Con Chí Ái” của Ngài ( Mt 3, 16 – 17 ).
Trong cuộc Vượt Qua, Đức Kitô đã khơi nguồn Bí Tích Rửa Tội cho mọi người. Người nói về cuộc tử nạn sẽ phải chịu tại Giêrusalem như “một Phép Rửa” Người phải lãnh nhận ( x. Mc 10, 38; Lc 12, 50 ). Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người bị đâm thâu trên thập giá ( Ga 19, 34 ) tiên trưng cho Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể là những Bí Tích ban sự sống mới ( x. 1Ga 5, 6 – 8 ); từ giây phút ấy, chúng ta có thể “sinh ra nhờ nước và Thánh Thần” để được vào Nước Thiên Chúa ( Ga 3, 5 ).
Bí Tích Rửa Tội là cánh cửa phân chia tách bạch đời sống, một đàng là khép lại quá khứ của bóng tối, tội lỗi, chết chóc, và đàng khác là mở ra tương lai của ánh sáng, thánh ân, sự sống. Bí Tích Rửa Tội cần thiết cho ơn cứu rỗi, nên Bí Tích này cũng là khởi đầu cho một sự hiện diện mới: từ kẻ ngoại đạo trở thành người đã tòng giáo; từ một lương dân trở nên tín hữu; từ kẻ xa lạ trở thành người nhà của Thiên Chúa. Quả là một hồng ân vô cùng lớn lao cho những ai đón nhận trong lòng tin.
2.      Ân Sủng của Bí Tích Rửa Tội
Khi ban Bí Tích Rửa Tội, thừa tác viên Giáo Hội đổ nước trên đầu thụ nhân và đọc công thức “Cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Đơn giản trong cung cách cử hành, nhưng hiệu quả ơn thánh lại phong phú bội phần. Bằng những hình ảnh do Thánh Kinh gợi ý, người ta trở thành thành viên trong Dân của Chúa Cha, chi thể trong Thân Mình Chúa Kitô và viên đá sống động kiến tạo Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Con người mới chính là con cái Thiên Chúa và được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa hằng sống.
Bí Tích Rửa Tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cửa ngõ dẫn vào đời sống thần linh và mọi Bí Tích khác. Nhờ Bí Tích này chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và tái sinh làm con cái Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô, được gia nhập và tham dự sứ mạng của Hội Thánh ( GLCG 1213 ).
Bí Tích Rửa Tội tha thứ nguyên tội, mọi tội cá nhân và các hình phạt do tội. Bí Tích Rửa Tội cho tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ ơn thánh hoá, nhờ ơn công chính hoá giúp tháp nhập vào Đức Kitô và Hội Thánh. Bí Tích này cho tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và tạo nền tảng cho sự hiệp thông với tất cả các Kitô hữu. Bí tích này trao ban các nhân đức đối thần và các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Người lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội thuộc về Đức Kitô luôn mãi: họ được đóng ấn không thể xóa được của Đức Kitô ( GLCG 263 ).
Như vậy, có hai hiệu quả chính yếu của Bí Tích Rửa Tội là thanh luyện tội lỗi và tái sinh trong Chúa Thánh Thần ( x. Cv 2, 38; Gl 3, 5 ).
a.       Được tha thứ tội lỗi
Nhờ Bí Tích Rửa Tội, mọi tội lỗi đều được tha: nguyên tội, mọi tội riêng cũng như mọi hình phạt do tội ( x. DS 1316 ). Những người đã được tái sinh sẽ được vào Nước Thiên Chúa và không còn gì ngăn cản họ, dù là tội Ađam, tội riêng của họ, những hậu quả của tội, kể cả hậu quả trầm trọng nhất là xa lìa Thiên Chúa.
Tuy nhiên, người đã được rửa tội còn phải chịu một số hậu quả tạm thời của tội như: đau khổ, bệnh tật, chết chóc hay những bất toàn trong cuộc sống như tính tình yếu đuối... và một sự hướng chiều về tội mà Truyền Thống quen gọi là vật dục hay nói bóng bẩy là “cái nôi của tội”. “Thiên Chúa để vật dục lại cho chúng ta chiến đấu. Vật dục không có khả năng làm hại những ai không đồng tình mà còn can đảm chống lại nó nhờ ân sủng của Đức Kitô. Hơn nữa, “không đoạt giải nếu không thi đấu theo luật lệ” ( 2Tm 2, 5 ) ( x. Công Đồng Trentô: DS 1515 ).
b.      “Trở nên thụ tạo mới”
Bí Tích Rửa Tội không chỉ rửa sạch mọi tội lỗi, mà còn làm cho người tân tòng trở nên “một thụ tạo mới” ( 2Cr 5, 17 ), thành nghĩa tử của Thiên Chúa ( x. Gl 4, 5 – 7 ), “được thông phần bản tính Thiên Chúa” ( 2 Pr 1, 4 ), thành chi thể Đức Kitô ( x. 1Cr 6, 15; 12, 27 ) và đồng thừa tự với Người ( Rm 8, 17 ), thành đền thờ Chúa Thánh Thần ( x. 1Cr 6, 19 ).
Chúa Ba Ngôi Chí Thánh ban cho người được rửa tội ơn thánh hóa, ơn công chính hóa để người đó:
- Có khả năng tin tưởng, trông cậy và yêu mến Người nhờ các nhân đức đối thần.
- Có thể sống và hành động dưới tác động của Chúa Thánh Thần nhờ các hồng ân.
- Ngày càng hoàn thiện hơn nhờ các nhân đức luân lý.
Toàn bộ đời sống siêu nhiên của người Kitô hữu đều bắt nguồn từ Bí Tích Rửa Tội.
Bí Tích Rửa Tội làm cho chúng ta thành chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô, “bởi thế, chúng ta là phần thân thể của nhau” ( Ep 4, 25 ). Bí Tích Rửa Tội tháp nhập chúng ta vào Hội Thánh. Dân Thiên Chúa của Giao Ước Mới phát sinh từ giếng rửa tội. Dân này vượt trên mọi ranh giới tự nhiên hay nhân trần, quốc gia, văn hóa, chủng tộc và giới tính. “Tất cả chúng ta đều đã chịu Phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” ( 1Cr 12, 13 ).
Những người đã được rửa tội trở nên “những viên đá sống động... để xây nên ngôi đền thờ của Thánh Thần, xây dựng hàng tư tế thánh” ( 1Pr 2, 5 ). Nhờ Bí Tích Rửa Tội, họ tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, vào sứ mạng ngôn sứ và vương đế của Người: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công vĩ đại của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối vào nơi đầy ánh sáng dịu huyền” ( 2Pr 2, 9 ).
Bí Tích Rửa Tội cho các tín hữu tham dự vào chức tư tế cộng đồng của Dân Chúa. Người đã được rửa tội trở thành phần tử của Hội Thánh, họ “không còn thuộc về mình, nhưng thuộc về Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta” ( 1Cr 6, 19 ). Do đó, họ được mời gọi để phục tùng nhau ( x. Ep 5, 21; 1Cr 16, 15 – 16 ) và phục vụ nhau ( x. Ga 13, 12 – 15 ) trong tình hiệp thông của Hội Thánh. Họ được mời gọi vâng lời và phục tùng các vị lãnh đạo của Hội Thánh ( x. Dt 13, 17 ) với lòng kính trọng và quý mến ( x. 1Tx 5, 12 – 13 ). Bí Tích Rửa Tội đã trao cho người lãnh nhận những trách nhiệm và bổn phận, đồng thời cũng cho họ được hưởng những quyền lợi trong lòng Hội Thánh: được lãnh nhận các Bí Tích, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và được Hội Thánh nâng đỡ bằng các trợ giúp thiêng liêng. ( x. LG 37 ).
3.      Đón nhận một sứ vụ mới
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan là lúc Tân – Cựu Ước giao duyên, là lễ bàn giao giữa hai niên đại cũ và mới mà Chúa Giêsu và Gioan là đại biểu. Gioan, Ngôn Sứ cuối cùng của Cựu Ước gặp gỡ trao đổi bàn giao với Đức Kitô, vị Ngôn Sứ của thời kỳ mới. Nơi cuộc gặp gỡ lịch sử này, Thiên Chúa đã xuất hiện và chứng nhận. Lúc ấy các tầng trời mở ra, Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và có tiếng Chúa Cha tuyên phán: Con là Con Ta yêu dấu. Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ hiện vào chính lúc lịch sử của hai niên đại mới và cũ chuyển giao.
Từ nay Chúa Giêsu sẽ lên đường vào sứ vụ mới với cuộc sống công khai, chính thức rao giảng Tin Mừng và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân chúng. Lời Người nói là Lời chân lý khai quang tâm hồn, dẫn người người về đường ngay nẻo chính Nước Trời, và việc Người làm là việc giải thoát đem lại ơn cứu rỗi, đưa toàn thể nhân loại vào trong tình nghĩa thiết ngàn đời với Thiên Chúa tình thương. Chúa Giêsu khai mở kỷ nguyên cứu rỗi.
Thánh Phaolô gọi Bí Tích Rửa Tội là tắm trong Chúa Thánh Thần, để được tái sinh và đổi mới ( x. Tt 3, 5 ). Được tái sinh làm con Thiên Chúa, những người đã được rửa tội có bổn phận tuyên xưng trước mặt mọi người Đức Tin mà họ nhận lãnh từ Thiên Chúa qua Hội Thánh ( x. LG 10 ), tham dự vào hoạt động tông đồ và truyền giáo của Dân Thiên Chúa ( x. LG 17; AG 7, 23 ).
Thánh Giúttinô gọi Bí Tích Rửa Tội là ơn soi sáng, vì những người được đạo lý giáo huấn thì tâm trí được soi sáng. Người chịu phép rửa, vì đón nhận Ngôi Lời là “ánh sáng đích thực chiếu soi mọi người” ( Ga 1, 9 ), nên sau khi “đã được soi sáng” ( Dt 10, 32 ), họ trở thành “con cái sự sáng” ( 1Tx 5, 5 ) và là “ánh sáng” ( Ep 5, 8 ).
“Bí Tích Rửa Tội là hồng ân cao đẹp nhất và kỳ diệu nhất trong các hồng ân của Thiên Chúa... Chúng ta gọi là hồng ân, ân sủng, xức dầu, soi sáng, mặc lấy sự bất tử, tắm để tái sinh, ấn tín và tất cả những gì quý giá nhất. Là hồng ân, vì được ban cho những người trắng tay. Là ân sủng, vì được ban cho cả những người có lỗi. Dìm xuống, vì tội lỗi bị nhận chìm trong nước. Xức dầu, vì có tính cách linh thiêng và vương giả ( như những người được xức dầu ). Soi sáng, vì đó là ánh sáng chói lọi. Mặc, vì che đi nỗi tủi nhục của chúng ta. Tắm, vì làm cho chúng ta sạch. Ấn tín, vì gìn giữ chúng ta và là dấu chỉ về quyền tối cao của Thiên Chúa” ( Thánh Grêgôriô Nadien, Bài giảng 40, 3 – 4 ).
Nhờ Bí Tích Rửa Tội, trong tư cách là “Kitô hữu thuộc về Chúa Kitô”, chúng ta được nhắc nhớ về sứ mạng phải làm triển nở sự sống của Chúa Kitô nơi mình và nơi những người lân cận bằng lòng tin và bằng tình yêu chân thành và trung tín.
Trong tư cách “Kitô hữu hướng về Chúa Kitô”, chúng ta cũng được hun đúc để luôn biết sống bằng niềm hy vọng và bằng lời kinh phó thác, nhất là trong lúc gặp thử thách gian truân.
Trong tư cách “Kitô hữu tìm về Chúa Kitô”, chúng ta còn biết sẵn sàng thanh tẩy đời sống qua việc sám hối hòa giải để đón nhận lòng thương xót của Chúa một cách dồi dào hơn.
Trong phép lần hạt Năm Sự Sáng, gẫm thứ nhất, chúng ta vẫn đọc: “Thứ nhất thì ngắm, Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa”. Theo gương Mẹ Maria, chúng ta xin được sống gắn bó với Chúa Giêsu mật thiết hơn, để xứng đáng là những người con yêu dấu của Thiên Chúa.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

TN1-A99: NGƯỜI VÂNG PHỤC CHO TRỌN ĐẠO

Dịp này năm ngoái, ngày 14.1.2013, hàng triệu người trên đất Ấn Độ đã cùng nhau xuống tắm tại sông: TN1-A99

Dịp này năm ngoái, ngày 14.1.2013, hàng triệu người trên đất Ấn Độ đã cùng nhau xuống tắm tại sông Ganges ( sông Hằng ) và sông Yamuna ở vùng Allahabad của Ấn Độ, đánh dấu ngày khởi đầu lễ hội Kumbh Mela – lễ hội tôn giáo lớn nhất hành tinh, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa hết sức đặc sắc. Tính tới cuối ngày, ít nhất 10 triệu người tham gia hành hương đi dự lễ hội Kumbh Mela, đã nhảy xuống tắm ở sông Hằng và sông Yamuna.
Người Hindu tin rằng việc trầm mình xuống sông trong dịp lễ hội, sẽ giúp tẩy sạch tội lỗi và giúp cứu rỗi linh hồn. Lễ hội thường bắt đầu vào bình minh ngày thứ Hai. Mọi con đường dẫn tới các vùng đất nằm trong lễ hội Kumbh Mela đều đã có tới hàng trăm ngàn người hành hương đang di chuyển.
Lễ hội Kumbh Mela có nguồn gốc trong tín ngưỡng Hindu giáo. Người ta tin rằng khi các vị thần và quỷ dữ tranh giành nhau một chiếc bình đựng thứ nước uống có thể giúp trường sinh bất tử, vài giọt trong bình đã rơi xuống các thành phố Allahabad, Nasik, Ujjain và Haridwar – 4 địa điểm nơi lễ hội Kumbh Mela đã diễn ra trong hàng thế kỷ. Kể từ đó, lễ hội Ardh ( nửa chu kỳ ) Kumbh Mela được tổ chức sau mỗi 6 năm tại Haridwar và Allahabad. Lễ hội Purna ( đầy đủ ) Kumbh Mela tổ chức sau mỗi 12 năm, như năm 2013 này, tại 4 thành phố Allahabad, Haridwar, Ujjain, và Nashik. Lễ hội Maha Kumbh Mela sẽ được tổ chức sau 12 lần tiến hành lễ hội Purna Kumbh Mela, tức khoảng 144 năm, ở Allahabad ( Theo BBC ).
Với Kitô hữu, Bí Tích Thanh Tẩy còn có ý nghĩa siêu việt hơn nhiều. Hôm nay, trích thuật Tin Mừng theo Thánh Mátthêu trình bày Đức Giêsu chịu phép Thánh Tẩy, trong bối cảnh cả đoàn người tấp nập đến với Ngôn Sứ Gioan Tiền Hô để hoán cải, trầm mình xuống sông Giođan. Tuy Người là Thiên Chúa, nhưng mặc lấy xác phàm, Người hạ mình làm con chiên chuộc tội, gánh lấy tội lỗi nhân loại.
Vâng phục
“Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” ( Mt 3, 15 ). Câu nói đầu tiên của Đức Giêsu trong Tin Mừng theo Thánh Mátthêu tóm gọn cả cuộc đời tương lai của Ngài. Ngài chỉ muốn giữ trọn, làm trọn điều Thiên Chúa muốn. Trước cuộc khổ nạn kinh hoàng, Người cũng khiếp sợ, nhưng vẫn một mực vâng theo Thánh Ý Chúa Cha.“Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” ( Mt 26, 39 ).
Người vô tội, chẳng hề măc tội tổ tông, chẳng hề làm mất lòng Chúa Cha, thế mà vẫn tuân thủ nghiêm nhặt chương trình cứu độ, hoàn toàn vâng phục luật lệ của Thiên Chúa, chịu phép rửa từ tay phàm nhân Gioan. Vậy tôi là ai, mà dám báng bổ, chê bai những khiếm khuyết trong cơ cấu Giáo Hội ? Tôi là ai mà dám chỉ trích, phê phán và bất phục, bất tuân các đấng bản quyền ?
“Không vâng lời, dù có thực hiện những công trình vĩ đại cũng không đẹp lòng Chúa. Chúa chỉ quý lòng con, Chúa không cần công trình con, Chúa tạo dựng cả vũ trụ không cần con” ( Đường Hy Vọng, số 400 ).
Tự hạ
Trước mặt đám đông dân chúng và trước mặt ông Gioan Tiền Hô, Đức Giêsu hạ mình xin chịu phép thanh tẩy như các hối nhân, các phàm nhân sám hối. Mặc dù Gioan biết Người là ai, liền từ chối, Người vẫn một mực khiêm nhường, hóa thân thành tội nhân xin ơn tha thứ. Rồi Người còn tự dìm mình thật sâu trong dòng nước không khác chi mọi người, cùng chia sẻ một dòng nước với những hối nhân.
Chính lúc Ngài tự hạ vì vâng phục, Thiên Chúa lại muốn long trọng tôn vinh Ngài. "Vừa ở dưới nước lên, thì kìa các tầng trời mở ra." Tầng trời mở ra là dấu hiệu Thiên Chúa muốn ngỏ lời. Chính khi tự hạ, Người giải thoát mọi người khỏi tội tổ tông, tội kiêu ngạo, tự cao tự đắc, thách thức quyền năng Thiên Chúa. Người tự hạ để lôi kéo, nâng mọi người lên cao, trở thành con cái Thiên Chúa. “Chỉ người khiêm nhượng thật mới được an vui như Chúa Giêsu dạy: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng và các con sẽ tìm thấy bình an trong tâm hồn” ( Đường Hy Vọng, số 516 ).
Phục vụ
"Con Người đến không phải để được phục vụ, mà là để phục vụ và để hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người" ( Mt 20, 28 ). Trong tâm tình người con hiếu thảo, Đức Giêsu đã vâng phục, tự hạ, mặc lấy xác phàm, gánh tội nhân loại, phục vụ loài người thoát khỏi án phạt trầm luân.
Thế nên khi Người vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra, Thần Khí Chúa ngự trên Người, và có tiếng phán từ trời cao: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người” ( Mt 3, 17 ).
“Con người chỉ giống hình ảnh Chúa khi hiến mình liên lỉ, như mỗi Ngôi trong Thiên Chúa là:
Hoàn toàn hiến dâng, hoàn toàn tương quan, Hoàn toàn yêu thương” ( Đường Hy Vọng số 606 ).
Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã đồng hành cùng con người mỏng dòn yếu đuối để xin được phép rửa. Xin mở lòng chúng con biết vâng theo Thánh Ý Chúa, biết tự hạ, khiêm nhường, nhận ra những tội lỗi vấp phạm, để ăn năn sám hối, biết quên đi bản thân, tích cực yêu thương phục vụ tha nhân, hầu được Ơn Cứu Độ.
Lạy Mẹ Maria, xưa Mẹ đã mau mắn “Xin Vâng”, xin dạy chúng con biết vâng phục Giáo Hội, vâng phục tuân giữ các giới răn, tín điều, các đấng Chủ chiên, để chúng con được hiệp thông với Giáo Hội làm chứng cho Đấng Cứu Thế giữa thế gian. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

TN1-A100: CÚI MÌNH XUỐNG

Hôm nay, Gioan Tiền Hô bị “sốc” nặng: Đấng mà ông tự nhận là mình “không đáng cởi quai dép: TN1-A100

Hôm nay, Gioan Tiền Hô bị “sốc” nặng: Đấng mà ông tự nhận là mình “không đáng cởi quai dép cho Người” bỗng dưng lại đến xin ông làm phép rửa cho.
Vừa trải qua Mùa Giáng Sinh đủ để cảm nghiệm sự hạ mình của Ngôi Lời Thiên Chúa. Từ một vì Chúa Tể Trời Đất, vũ trụ nằm trong lòng bàn tay, vậy mà sẵn sàng tự hạ mình sinh xuống làm con nhà nghèo. Chưa đủ, đã nghèo còn lận đận, ra đời trong cảnh lữ khách dặm trường không chốn nương thân, và máng cỏ bò chiên là nôi Vua Trời sinh hạ. Đã thế, hôm nay Người còn cúi mình thật thấp để Gioan làm phép rửa cho. Tư thế cúi mình đó cũng chưa đủ để diễn tả tâm thế khiêm hạ như lời Người nói với Gioan: “Vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế”.
Giáo Lý Công Đồng Vatican II dạy tôi rằng: “Sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự ngoại trừ tội lỗi” ( GS 22 ). Vậy mà Người vẫn cúi đầu chịu phép rửa của Gioan để làm gương cho chúng ta.
Vâng, suốt cuộc đời của Người là một cuộc hành trình “cúi xuống”. Người “cúi xuống” với anh lùn Dakêu, Người “cúi xuống” với cô gái giang hồ Maria thành Magdala, Người “cúi xuống” với anh mù Bartimê, Người “cúi xuống” ăn uống với những người tội lỗi… và phút cuối cùng trên thập giá, Người còn “cúi xuống” với tất cả những kẻ tội đồ như chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết việc chúng làm” ( Lc 23, 34 ). Một sự “cúi xuống” thật sự chứ không phải màu mè tô vẽ. Người không trưởng thành trong giới tư tế, luật sĩ hay biệt phái. Người muốn đồng hàng với những người tội lỗi để cứu chữa họ theo phương châm “kẻ yếu nhược mới cần đến thầy thuốc” và tôn chỉ “đi tìm chiên lạc” của Người. Và hệ quả tất yếu là Người bị chính những người trong hàng giáo phẩm chê bai, ghét bỏ để rồi tìm mọi cách mưu hại Người. 
Sự khiêm hạ mà Chúa Giêsu làm gương và muốn tôi thực thi không phải chỉ là nhận mình hèn kém, bất tài… mà còn phải tự nhận mình là kẻ tội lỗi. Tôi chợt nhớ mấy câu của nhạc sĩ Lê Hựu Hà:
“Hãy nhìn xuống chân để thấy thua loài côn trùng…”
“Hãy nhìn xuống chân dế giun đang cười con người”
Một cảm nghiệm thật tuyệt vời ! Tôi cũng thường cúi xuống nhưng không nhìn xuống chân mà chỉ để liếc nhìn lên chờ cơ hội “cho thiên hạ biết tay”.
Trong một tiệc cưới cách đây mấy hôm, tôi bỗng ngạc nhiên khi thấy một anh chàng “củ mỉ cù mì” lớn tiếng quát tháo chàng MC và ban nhạc: “Cứ chơi tới chiều đi, hết bao nhiêu tao trả !” Tôi tò mò tìm hiểu, thì ra chẳng phải anh say nhưng chỉ vì mới… trúng mùa dưa ! Dưa năm nay cao giá, anh trúng bạc tỉ. Thôi thì, cũng là Trời bù đắp cho anh qua những năm khốn khó. Khổ nỗi, nhưng năm khốn khó phải đong gạo ký, nợ từ bà tạp hóa đến cô cháo lòng, đi đâu cũng gằm mặt xuống, nay có cơ hội để “ngước mặt nhìn đời” thì sao phải nhịn ?
Tôi chợt giật mình thấy tâm tư mình cũng chẳng khác chi anh chàng “củ mỉ cù mì” nọ.
“Ôi con người hư ảo khoác chút uy quyền,
người đang diễn giữa trời mây những hài kịch kỳ khôi làm cho các thiên thần rơi nước mắt.”
( Shakespeare )
Thuở còn đạp xích lô kiếm sống, một anh bạn xích lô vong niên vốn là một luật sư của chế độ cũ đã truyền đạt cho tôi khá nhiều bài học tâm lý. Anh và tôi cùng đỗ xe ở góc xa nhất chợ vì không dám chen vào trong tranh giành với các bạn nghề dày dạn hơn, nhưng nhờ kinh nghiệm “coi tướng” người mà anh luôn có “mối sộp”. Anh phân tích cho tôi từ dáng dấp, thái độ cách cư xử từ xa để đoán được ai có tiền, ai có quyền, ai trưởng giả, ai bình dân… Và lời mời chào của anh luôn có hiệu quả ! Thì ra, dáng dấp và thái độ đều bộc lộ thân phận của từng người. Anh cười giễu tôi: “Mai mốt cậu có tiền có quyền, cậu sẽ ăn nói đi đứng khác hẳn thằng đạp xích lô cho mà xem !”
Tạ ơn Chúa, cho đến bây giờ tôi vẫn không có tiền và không có quyền, và anh bạn “xích lô” Việt kiều vẫn còn nhận ra dáng đi của thằng đạp xích lô trong tôi mặc dù tôi không còn hành nghề cũ.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết “cúi mình xuống” nhận mình là kẻ tội lỗi và luôn cầu xin ơn tha thứ. Nhờ đó, chúng con cảm nghiệm nhiều hơn về thân phận mỏng dòn của con người và biết sống “cúi mình xuống” với anh em chúng con. Amen.
 Pio X LÊ HỒNG BẢO
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây