Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-A Bài 51-74 Vác thập giá theo

Chủ nhật - 28/06/2020 10:21
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-A Bài 51-74 Vác thập giá theo Thầy
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-A Bài 51-74 Vác thập giá theo Thầy
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 13 TN-A Bài 51-74 Vác thập giá theo Thầy

TN13-A51: ĐỨc Giêsu và Phêrô. 1
TN13-A52: Đòi hỏi người môn đệ - Huệ Minh. 7
TN13-A53: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành. 10
TN13-A54: Làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?. 13
TN13-A55: Suy niệm của Lm. Trầm Phúc. 16
TN13-A56: Sống xứng với Chúa - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ. 17
TN13-A57: Đòi hỏi của Tin Mừng. 20
TN13-A58: Liều mạng sống. 22
TN13-A59: Thiên Chúa trên hết 23
TN13-A60: Ðòi hỏi và vinh dự của môn ðệ. 26
TN13-A61: Theo Chúa. 31
TN13-A62: Bát nước lã - Ts. Trần Quang Huy Khanh. 33
TN13-A63: Chú giải của Noel Quession. 35
TN13-A64: Suy niệm của Lm Augustine, SJ. 40
TN13-A65: Chấp nhận vác thập giá theo Chúa để sống vui 44
TN13-A66: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI CN 13 TN.. 52
TN13-A67: TỪ BỎ.. 55
TN13-A68: Hãy ưu tiên cho Chúa Kitô. 59
TN13-A69: Đón tiếp tha nhân như đón tiếp chính Chúa. 61
TN13-A70: Suy Niệm Chúa Nhật XIII Thường Niên A.. 63
TN13-A71: Suy niệm CN XIII TN A: Chỉ một bát nước lã! 65
TN13-A72: Những gian nan và phần thưởng của người môn đệ Đức Kitô. 67
TN13-A73:TIẾP ĐÓN CÁC SỨ GIẢ CỦA CHÚA.. 69
TN13-A74: Chúa Nhật 13 Thường Niên năm A.. 72

 

TN13-A51: ĐỨc Giêsu và Phêrô


(Mátthêu 16,13-20 – Lễ 29-6)

 1.- Ngữ cảnh

 

Với đoạn Tin Mừng này, chúng ta đi tới trung tâm của TM I. Lần đầu tiên Đức Giêsu hỏi các môn đệ về TN13-A51


Với đoạn Tin Mừng này, chúng ta đi tới trung tâm của TM I. Lần đầu tiên Đức Giêsu hỏi các môn đệ về bản thân Người và Phêrô đã minh nhiên tuyên xưng tư cách Mêsia của Đức Giêsu. Câu trả lời vang lên như một điểm tới và như hoa quả của hoạt động trước đây của Đức Giêsu. Đồng thời câu trả lời cũng là tiền đề cho nhiệm vụ mà Người sẽ ký thác cho Phêrô. Toàn bản văn là chứng từ duy nhất về lập trường lạ lùng và về uy quyền của Đức Giêsu.

Đây cũng là lần đầu tiên Đức Giêsu loan báo các đau khổ và sự sống lại của Người. Cuối cùng, ngay sau đoạn văn này, bài tường thuật tập trung vào đề tài cuộc Khổ Nạn (x. 17,22-23; 20,17-19).
 
2.- Bố cục

          Bản văn có thể chia thành ba phần:
          1) Câu hỏi về chân tính Đức Giêsu (16,13-16):
a) Ý kiến của dân chúng (cc. 13c-14),
b) Ý của của các môn đệ (đại diện là Simôn Phêrô) (cc. 15-16);
2) Tuyên bố về tư cách của Phêrô (16,17-19);
3) Kết: Lệnh cấm (16,20).
 
Bản văn này có một chức năng quan trọng trong toàn tác phẩm. Không những nó nhắc lại các ký ức ở 14,2.5 (c. 14), 14,33 (c. 16) và 13,16-17 (c. 17), mà còn đặc biệt gợi tới bản văn căn bản nói về mạc khải của Con Người, 11,25-27. Bản văn này mở đầu không những cho 18,18 (c. 19b.c) và cho 23,13 (c. 19a), nhưng đặc biệt cảnh mạc khải trước Thượng Hội Đồng ở 26,61-64).

Bản văn này cũng liên kết chặt chẽ với đoạn 16,21-28, để tạo thành một cấu trúc chuyển hoán:

          a) cc. 13-15;
b) cc. 16-19
c) c. 20
c’) cc. 21-22
b’) cc. 22-23
          a’) cc. 24-28
 
3.- Vài điểm chú giải

- Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (16): Khi so với câu tuyên xưng ngắn ngủi trong Mc (8,29), các nhà chú giải có nhiều ý kiến về bản văn Mt: (a) Mt đã tuyên xưng thần tính của Đức Giêsu (Benoît); (b) Mt chỉ tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Mêsia mà thôi; (c) Mt đã nối dài lời tuyên xưng là để tránh những âm vang quân sự chính trị của danh hiệu Mêsia (Viviano). Cũng khó mà chọn hẳn ý kiến nào, bởi vì cũng rất có thể lời tuyên xưng lúc đầu chỉ nói về Đấng Mêsia (như Mc 9,29 và Lc 9,20), đã được “đọc lại” dưới ánh sáng cuộc Phục Sinh và diễn giải theo chiều hướng một lời công bố về thần tính của Đức Giêsu. Ngày hôm nay, chúng ta hoàn toàn có thể và phải hiểu theo nghĩa này.

- không phải phàm nhân (17): dịch sát là “thịt và máu”. Đây là một kiểu nói Híp-ri để chỉ các tài nguyên của con người tự nhiên, các sức lực riêng của con người
- Phêrô, nghĩa là Tảng Đá (18): Ta hiểu được kiểu chơi chữ này do biết từ A-ram gốc là kepha ở nam tính.

- Hội Thánh (18): Từ ngữ Hy Lạp ekklêsia chưa có tất cả ý nghĩa định chế như từ ngữ “Hội Thánh” sau này. Do đó, từ Hội Thánh dù được dùng để dịch từ ekklêsia, không cung cấp ý nghĩa nguyên thủy cho từ ekklêsia. Hầu chắc ekklêsia dịch từ cụm từ Híp-ri qahal Yhwh, mà Bản LXX diễn ra là ekklêsia tou theou (x. Cv 7,38). Cộng đoàn Kitô hữu là Israel chân chính đã nên hiện thực (x. 10,1.5), là cuộc quy tụ dân tuyển chọn của thời cuối cùng.

- chìa khóa Nước Trời (19): Ta nhớ đến Is 22,22 trong đó nhắc lại lời Thiên Chúa nói là Ngài  sẽ đặt chìa khóa trên vai Engiakim để ban cho ông quyền mở và đóng cửa vào hoàng cung, tức quyền cho phép hoặc ngăn cản nhà vua ra vào. Trong sách Kh (3,7), chính Đức Giêsu tự giới thiệu như là Đấng nắm chìa khóa nhà Đavít. “Nước Trời” là một công thức Mt song song với ekklêsia của câu trước. Đây vẫn là một thực tại duy nhất nhưng nhìn theo những trương độ khác. Nước Trời vượt quá các biên cương (lịch sử) của ekklêsia; đây không phải là một định chế mà là sự thể hiện ơn cứu độ.

- ràng buộc và tháo cởi (19): Đây là ngôn ngữ của các trường phái kinh sư. “Ràng buộc hoặc tháo cởi” có nghĩa là đảm nhận một nhiệm vụ ngăn cấm hoặc cho phép về những điểm còn gây tranh cãi trong giáo huấn chính thức. Hai động từ này cũng có nghĩa là tuyên bố một giáo thuyết là đúng hay sai lạc, một kiểu thực hành luân lý là hợp pháp hay không hợp pháp. Họa hoằn lắm công thức này mới có nghĩa là loại trừ khỏi cộng đoàn hoặc nhận vào lại.
 
4.- Ý nghĩa của bản văn

* Câu hỏi về chân tính Đức Giêsu (13-16)

Khi đến miền Xêdarê Philípphê, Đức Giêsu không xin các môn đệ cho ý kiến về Bài Giảng trên núi hoặc về phần nào đó của công trình Người; Người hỏi họ là họ nghĩ gì về bản thân Người. Câu hỏi đã cho thấy rằng đối với Đức Giêsu, điểm này có tầm quan trọng quyết liệt. Người muốn đưa các ông đến chỗ hiểu biết rõ ràng về Người và một lời tuyên xưng đức tin không mập mờ vào Người. Tất cả ý nghĩa củasự hiểu biết này tuỳ thuộc Người là ai. Ở tại trung tâm, ta không thấy lời loan báo về Người, nhưng có bản thân Người.

Ngay dân chúng cũng có một ý kiến cao trọng về Người, nhưng không nhận ra vị trí đặc biệt của Người. Nếu Người chỉ là một ngôn sứ, thì Người là một ngôn sứ giữa biết bao vị khác: trước Người, đã có nhiều vị đến rồi, và sau Người sẽ có thể có nhiều vị khác đến nữa. Ngược lại, Phêrô nhận biết tư cách của Đấng hoàn toàn đặc biệt đối với loài người và tương quan của Đấng hoàn toàn đặc biệt với Thiên Chúa. Trong tư cách Mêsia, Đức Giêsu là Vị Vua và Mục Tử duy nhất, cuối cùng và vĩnh viễn của dân Israel, đã được Thiên Chúa cử đến để ban cho dân này và toàn thể nhân loại sự sống dồi dào. Trong tư cách là Con, Người sống với Thiên Chúa một tương quan duy nhất, với đặc điểm là sự hiểu biết hỗ tương và sự bình đẳng với nhau (x. 11,27). Vị Thiên Chúa ấy là vị Thiên Chúa hằng sống, vị Thiên Chúa duy nhất chân thật và thực hữu, là sự sống nơi chính mình, đã tạo thành mọi sự sống và đã chiến thắng sự chết bằng quyền lực của Ngài. Là Đức Vua và Mục Tử, Thiên Chúa phải dấn thân phục vụ sự sống của dân Ngài. Phêrô nhận biết Đức Giêsu là Đấng Mêsia có liên hệ mật thiết với chính quyền lực sự sống, với Thiên Chúa hằng sống.
 
* Tuyên bố về tư cách của Phêrô (17-19)

          Do lời tuyên xưng ấy, Simôn được tuyên bố là có phúc. Đức Giêsu ngỏ lời với ông bằng cách gọi tên và tên họ ông, tức là thể theo đúng thực tại nhân loại và nguồn gốc của ông, và tỏ cho ông biết ân ban phi thường đã làm cho ông có thể tuyên xưng như thế: chính Cha trên trời đã ban cho ông sự hiểu biết ấy (“mạc khải”, apekalypsen. Xem 11,27; 17,5); sự hiểu biết này, người ta không thể đạt tới bằng sức loài người (“thịt và máu”). Simôn không chỉ được Đức Giêsu kêu gọi (4,18t), mà còn được Chúa Cha tuyển chọn từ trước. Do đó, ông có phúc; ông có mọi lý do để vui lên.
          Đức Giêsu ngỏ lời với Simôn bằng một tên mới và loan báo một nhiệm vụ mới. Người gọi ông là “Phêrô”, nghĩa là tảng đá. Ở Ga 1,42 và trong các thư Phaolô, tên này có dạng gốc A-ram là “Kêpha”. Tên này là một sáng tạo mới của Đức Giêsu. Như người cha xác thịt đặt tên cho con, Thiên Chúa hoặc một người có quyền thế có thể ban một tên mới cho một người đã đi vào một cuộc sống mới do một nhiệm vụ mới (x. St 17,5.15; Ds 13,16; 2 V 24,17). Với lời tuyên xưng do Chúa Cha ban và với một nhiệm vụ mới do Đức Giêsu trao, có thể nói một cuộc sống mới đã bắt đầu với Simôn. Đức Giêsu trong tư cách Đức Chúa ban cho ông một tên liên hệ đến bản chất của nhiệm vụ của ông.

          Nhiệm vụ này được mô tả với ba hình ảnh. (1) Phêrô là tảng đá, trên đó Đức Giêsu sẽ xây dựng Hội Thánh Người (c. 18). Hội Thánh, cộng đoàn những người tin vào Đức Giêsu, diễn tả cùng một lời tuyên xưng như Phêrô, ở đây được ví với một tòa nhà. Đức Giêsu sẽ dựng lên tòa nhà, nhằm quy tụ các tín hữu Người. Nền móng của tòa nhà này là đích thân Phêrô, như một con người sống, đã được Thiên Chúa ban cho lời tuyên xưng chân thật. Ông phải cung cấp sự chắc chắn và bền bỉ cho cộng đoàn các tín hữu. Với cộng đoàn này, Đức Giêsu hứa ban cho sự bền bỉ trường tồn: quyền lực sự chết và sự tàn tạ sẽ không chạm tới cộng đoàn này được.

          Với hình ảnh (2) các chìa khóa (c. 19), Đức Giêsu không muốn nói rằng Phêrô được giao cho nhiệm vụ giữ cửa trời, nhưng được đặt như là người quản lý thay mặt chủ nhà và hành động theo sự ủy quyền của ông chủ (x. Is 22,22). Trong cộng đoàn các tín hữu, ông phải hành động thay cho Đức Chúa; (3) ông phải ràng buộc và tháo cởi (c. 19b); thậm chí ông có quyền và có nhiệm vụ tuyên bố điều gì bị cấm và điều gì được phép đón vào trong cộng đoàn Hội Thánh. Trong Bài Giảng trên núi và trong các giáo huấn khác, Đức Giêsu chỉ bận tâm tỏ bày ý muốn của Thiên Chúa và trình bày cho thấy những cách sống cần thiết để được vào Nước Trời (x. 5,20; 7,21). Phêrô phải tiếp tục nhiệm vụ này. Giáo huấn của ông đòi hỏi đến mức có thể loại trừ khỏi cộng đoàn những ai không theo và có thể đưa trở lại cộng đoàn những ai hối lỗi. Đức Giêsu không bỏ mặc cộng đoàn các tín hữu, nhưng ban cho cộng đoàn này một người lãnh đạo có uy quyền lớn lao.
 
* Kết: Lệnh cấm (20)

Niềm tin của đám đông rõ ràng còn phiến diện, nhưng niềm tin của các tông đồ cũng chưa hoàn chỉnh. Nhất là trong Mc (“Thầy là Đức Kitô”) và trong Lc (“Thầy là Đức Kitô của Thiên Chúa”), niềm tin ấy dường như còn bám rễ vào một quan niệm Thiên Sai ái quốc và duy quốc gia. Do đó đến cuối Đức Giêsu đã buộc các ông phải im lặng, không được nhắc đến các khẳng định ấy (Mc 8,30; Lc 9,21). TM Mt cũng có lệnh cấm tương tự, bởi vì một lời tuyên xưng đúng đắn vẫn không đảm bảo cho một đức tin trung thực. Và điều này được chứng minh ngay sau đó, qua phản ứng của Phêrô khi nghe Đức Giêsu loan báo Thương Khó (x. 16,22).
 
+ Kết luận

          Do sự kiện là qua trung gian Phêrô, các tông đồ khám phá ra ý nghĩa của danh xưng huyền bí “Con Người” và nhìn nhận Đức Giêsu là Đấng Mêsia siêu việt, các ông đã tách ra khỏi những người Do Thái không tin, các ông đã trở thành phần “Dư tồn” từng được các ngôn sứ loan báo và hứa sẽ được nhận ơn cứu độ. Từ đó, Đức Giêsu có thể giao phó cho Phêrô quyền “ràng buộc” và “tháo cởi”. Do một sự hạ cố đầy ưu ái của Thiên Chúa, quyền chìa khóa này dựa trên đức tin của Phêrô, vừa là người có tội vừa là người có đức tin.
 
5.- Gợi ý suy niệm

1. Hội Thánh, cộng đoàn các tín hữu, vẫn thuộc về Đức Kitô; chính Người quy tụ, xây dựng, điều khiển, còn Phêrô là tảng đá trên đó các yếu tố khác nhau của Hội Thánh được thu gom lại và kết cấu hài hòa. Nhưng chính vì thế, vai trò của Phêrô rất quan trọng. Trong Hội Thánh trần thế, là con đường đưa tới Nước Trời, không phải mọi sự đều tinh trong hoặc đã hoàn tất. Phêrô có vai trò phục vụ sự biện phân. Chính ông phê phán là các thành viên Hội Thánh đang sống phù hợp với dự định của Đức Kitô hay không.

2. Bảo rằng mình có thể đi tới với Đức Kitô không cần qua Hội Thánh, bảo rằng mình có thể trực tiếp tự mình gặp Đức Giêsu không cần nhờ đến Giáo Hội, là liều lĩnh. Làm như thế là xây dựng cho mình một Đức Kitô theo tầm mức của mình, là tưởng tượng ra một Đức Chúa cho vừa vặn với lòng dạ mình, là từ khước Đức Giêsu như Người đã tự mạc khải ra cho chúng ta.

3. Quyền chìa khóa được ban cho các mục tử là để phục vụ việc đi theo Đức Kitô, trở thành môn đệ của Người, chứ không phải là quyền sinh sát trên đoàn chiên. Quyền này được trao ban để phục vụ sự sống, chứ không phải để ép buộc đoàn chiên phải đi theo sở thích hoặc ngẫu hứng của riêng mình. Quyền bính là phương tiện phục vụ sự tăng trưởng (auctoritas, do động từ augere có nghĩa là “làm lớn lên”).

4. Hội Thánh là thực tại nhỏ bé nhất, nghèo hèn nhất, yếu đuối nhất, vì quy tụ quanh một máng cỏ và một cây thập giá. Nhưng Hội Thánh cũng là thực tại cao cả nhất, giàu có nhất, vinh hiển nhất, mạnh mẽ nhất, bởi vì con trẻ sinh ra trong máng cỏ, con người chịu đóng đinh trên đồi Sọ, đã sống lại, và đang hiển trị trên muôn loài muôn vật.

5. Trong buổi tiếp kiến ngày 7-6-2006, Đức giáo hoàng Bênêđitô XVI đã dạy: “Anh là Phêrô, và trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy… Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì; trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”. Ba ẩn dụ Đức Giêsu vận dụng rất rõ ràng: Phêrô sẽ là nền móng, đá tảng, trên đó tòa nhà Hội Thánh dựa vào; ngài sẽ có chìa khóa Nước Trời để mở ra hay đóng lại cho người nào mà ngài thấy dường như là đúng; cuối cùng, ngài có thể cầm buộc hoặc tháo cởi, theo nghĩa là ngài có thể quy định hoặc cấm đoán điều gì ngài nghĩa là cần thiết đối với đời sống Hội Thánh, hiện là và vẫn là Hội Thánh của Chúa Kitô.

Sau cuộc Phục Sinh, ta cũng thấy sự cao trọng ấy mà Đức Giêsu đã muốn gán cho Phêrô (Mc 16,7; Ga 20,2.4-6)… Trong số các tông đồ, Phêrô sẽ là chứng nhân đầu tiên về cuộc hiện ra của Đấng Phục Sinh (Lc 24,34; 1 Cr 15,5). Vài trò của ngài, được cương quyết nêu bật (Ga 20,3-10), ghi dấu sự nối tiếp giữa tư cách cao trọng ngài đã có trong nhóm các tông đồ và sự cao trọng ngài sẽ tiếp tục có trong cộng đoàn sinh ra với các biến cố Phục Sinh… Nhiều bản văn chìa khóa liên hệ đến Phêrô có thể đưa trở lại khung cảnh là Bữa Tối cuối cùng, trong đó Đức Kitô ban cho Phêrô tác vụ là củng cố anh em (Lc 22,31t)…

Việc đặt vị trí tối thượng của Phêrô vào khung cảnh là Bữa Tối cuối cùng, vào lúc thiết lập Bí tích Thánh Thể, Cuộc Vượt Qua của Chúa, cho thấy thêm nữa ý nghĩa tối hậu của vị trí trí tối thượng ấy: cho mọi thời, Phêrô phải là người gìn giữ sự hiệp thông với Đức Kitô. Ngài phải đưa đến sự hiệp thông với Đức Kitô. Ngài phải quan tâm để tấm lưới đừng bị rách (Ga 21,11) và nhờ thế, sự hiệp thông phổ quát có thể trường tồn. Chỉ nhờ ở cùng với nhau, chúng ta mới ở với Đức Kitô, là Chúa của mọi người. Như thế trách nhiệm của Phêrô là bảo đảm sữ hiệp thông với Đức Kitô bằng tình bác ái của Đức Kitô, bằng cách đưa đến chỗ thực hiện tình bác ái này trong đời sống mỗi ngày. Chúng ta hãy cầu nguyện để cho vị trí tối thượng của Phêrô, được ký thác cho những con người nghèo hèn, có thể được thực thi theo nghĩa nguyên thủy như Chúa muốn, và như thế để cỏ thể ngày càng được nhận biết theo nghĩa đúng dắn bởi các anh em chưa hoàn toàn hiệp thông với chúng ta”.

Lm FX Vũ Phan Long, ofm


 

TN13-A52: Đòi hỏi người môn đệ - Huệ Minh

 

Trang Tin Mừng hôm nay nói rất rõ. Chúa Giêsu tuyên bố: ai yêu mến cha mẹ, con cái hơn Người TN13-A52


Trang Tin Mừng hôm nay nói rất rõ. Chúa Giêsu tuyên bố: ai yêu mến cha mẹ, con cái hơn Người thì không xứng đáng là môn đệ của Người. Và Người còn đòi hỏi hơn nữa khi tuyên bố tiếp theo: "Kẻ không vác lấy khổ giá mình mà theo Ta, ắt không xứng với Ta". Nếu được phép làm một phân tích văn chương nho nhỏ, chúng ta có thể nói các đòi hỏi đã được đưa ra càng ngày càng gắt gao hơn. Ðầu tiên Chúa chỉ đòi người môn đệ phải yêu Người hơn cha mẹ; rồi Người bảo họ phải yêu Người hơn cả con cái là những giọt máu của chính bản thân mình; cuối cùng Người lại buộc họ phải vác lấy khổ giá mà đi theo Người tức là phải yêu Người đến nỗi không sợ chết và dám bỏ mạng sống vì Người.

Ta thấy các tông đồ được Chúa Giêsu tuyển chọn để trở nên những sứ giả của lòng thương xót Chúa. Họ còn được Chúa dặn dò phải vững tin ở sự quan phòng đầy tình thương và quyền năng của Chúa, để không sợ hãi trước bất cứ thế lực trần gian nào và kiên trung chu toàn sứ vụ đã được Chúa trao ban. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã tỏ cho các tông đồ biết, vì được chính Chúa kêu gọi, tuyển chọn và sai đi để thực hiện sứ vụ của chính Ngài nên họ thực sự là những ngôn sứ của giao ước mới. Và vì thế, tiếp đón họ cũng là tiếp đón chính Chúa Kitô và tiếp đón chính Thiên Chúa.

Có thể nói nội dung bài Tin Mừng hôm nay xoay quanh một chữ YÊU. Và các môn đệ Đức Giêsu được mời gọi phải làm cho tình yêu mình dành cho Thầy sinh những quả ngọt trái lành như đã được liệt kê lần lượt trong bản văn.

Trước hết, tình yêu cho hoa trái đầu tiên của nó là sự phân rẽ xem ra cay nghiệt hơn cả việc đối đầu và loại trừ như đã thấy trong các cuộc xung đột hay chiến tranh, đó là sự phân rẽ giữa cha mẹ với con cái và với người thân trong nhà. Điều này đau đớn khác nào cắt từng khúc ruột mỗi người.

Ta thấy tình yêu đòi sự ưu tiên xem ra quá sức người, đó là phải đặt Chúa lên trên cả đấng sinh thành và dưỡng dục mình. Tiếp theo đó, tình yêu đòi phải mở cửa lòng tiếp nhận không chỉ chính Chúa, mà là những người được Chúa sai đến, rồi lại cả những người nghèo hèn bé nhỏ.

Người yêu cầu phải “ghét” cha mẹ, vợ con, anh em, chị em. Chẳng phải là điều răn yêu thương người thân cận đã bị đảo lộn rồi sao? Nghĩa là để đi theo Đức Giêsu, người ta phải thay thế tình yêu đối với người thân cận bằng sự ghét bỏ đối với họ? Nhưng ý nghĩa của từ “ghét” ở đây được làm sáng tỏ nhờ Mt 10,37: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy”. Điều này có nghĩa là ai muốn đi theo Đức Giêsu thì phải yêu mến Người hơn tất cả những người khác, kể cả những người gần gũi với mình nhất. Người ấy lại còn phải yêu mến Người hơn cả chính bản thân mình. Đức Giêsu yêu cầu người ta dành cho Người một vị trí đặc biệt và duy nhất. Vì thế, “ghét” đây cũng có thể phải hiểu là “dứt khoát” với những quan hệ nào đó nếu can, để có thể trung thành với Tin Mừng. Chính tương quan duy nhất với Đức Giêsu sẽ điều hành mọi tương quan của ta với những người khác.

Như lời Chúa Giêsu nói với các tông đồ trong tin mừng hôm nay, khi chúng ta tiếp đón các tông đồ và các giáo huấn của các ngài, chúng ta tiếp đón chính Chúa Kitô và giáo huấn của Ngài. Các tông đồ của Chúa Kitô ngày nay chính là các giám mục--những người kế vị các tông đồ ngày xưa--có sự thông hiệp trọn vẹn với đức giáo hoàng, đấng kế vị Thánh Phêrô và là Vị Ðại Diện Chúa Kitô làm Ðầu Hữu Hình của Hội Thánh ở trần gian. Trong sự hiệp thông với đức thánh cha và các đức giám mục, tất cả các linh mục, phó tế vàø mọi tín hữu trong Hội Thánh cũng được thông dự vào sứ vụ của các tông đồ theo những mức độ và chiều kích khác nhau tùy đấng bậc mình để phục vụ và xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô.

Khi tỏ lòng kính yêu và vâng phục các vị thẩm quyền đang phục vụ Hội Thánh, chúng ta thực sự tỏ lòng kính yêu và vâng phục chính Chúa Kitô và được lãnh nhận tất cả những phúc lộc Thiên Chúa dành cho những tín hữu chân thực của Người. Trái lại, phủ nhận hay chống đối Huấn Quyền của Hội Thánh cũng là phủ nhận và chống đối Chúa Kitô và giáo huấn của Người. Ðây cũng là điều Ðức Cha Nguyễn Văn Thuận đã ân cần khuyên nhủ chúng ta trong tác phẩm Ðường Hy Vọng của ngài: "Suốt đời con hãy ghi lòng tạc dạ: luôn luôn kính trọng người của Hội Thánh, bí tích của Hội Thánh, chỉ thị của Hội Thánh, phụng vụ của Hội Thánh. Chúa sẽ chúc lành cho con" (# 266).

Nói cách khác, Chúa đòi người môn đệ phải từ bỏ tất cả, ngay cả mạng sống mình để đi theo và yêu mến Người. Người không cho phép môn đệ nào được lấy cớ yêu cha yêu mẹ, yêu con cái hay sự sống của mình mà từ chối với Người một điều gì khiến Người thấy tình yêu của môn đệ đối với Người chưa thật hoàn toàn và Người chưa là tất cả đối với họ. Người đòi hỏi tình yêu tuyệt đối, nên Người không nhận làm môn đệ những kẻ muốn đi theo Người nhưng lại còn xin phép về nhà lo an táng cha hay thu xếp những công việc khác. Người có thể đòi hỏi như thế bởi chính Người đã từ bỏ tất cả vì môn đệ và để cho người ta trở thành môn đệ. Chúng ta đã thấy Người đã nộp mình chịu chết cho những kẻ Người thương yêu như thế nào. Tình yêu lớn lao như vậy và tuyệt đối như thế chỉ thấy người môn đệ xứng đáng khi họ cũng yêu tuyệt đối và lớn lao như vậy.

Ai muốn đi theo Đức Giêsu, phải đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Vì trân trọng ý muốn của Ngài, người ta phải chấp nhận đau khổ, tủi nhục, bị khinh bỉ và tất cả những gì đối lập lại với một cuộc đời thú vị, thậm chí đến chỗ mất mạng sống mình. Hẳn là chúng ta muốn tạo ra một hình thái Kitô giáo vừa tầm với chúng ta, làm chúng ta vui thích. Đức Giêsu nói với người ta rằng họ chỉ có thể bước theo Người theo những điều kiện của Người. Ai muốn thuộc về Đức Giêsu, thì phải quyết định theo Đức Giêsu toàn thể, với trọn con đường của Người.

Những đòi hỏi này của tình yêu dễ khiến tôi, bạn và anh chị mệt mỏi, dễ đặt ta vào tình cảnh nghi vấn, hoang mang không biết yêu như thế có ổn chăng, không biết mình có thể trung thành với đường yêu này đến bao giờ, dẫu rằng tâm ta vẫn thiện đủ để khát mong yêu Chúa, lòng ta vẫn sáng đủ để chọn cho mình một đối tượng và một cách yêu đúng đắn giữa muôn vàn sắc màu và cung bậc của tình yêu trong thời đại này.

Thật vậy, đáng lẽ ra, đã yêu thì phải nên một, đã thương thì phải đoàn kết. Đàng này, yêu lại gây chia lìa. Đơn giản là vì cách yêu của Chúa không như kiểu yêu phàm trần, vì lối yêu của Chúa là đường đẹp, đường thánh nhưng chẳng mấy ai thích đi. Đây chính là gốc rễ của chia rẽ và giáo gươm.

Thêm vào đó, còn những thách đố không hề nhỏ, đó là thách đố từ việc chỉ vì yêu Chúa mà nếu cần, ta lại phải sẵn sàng đặt tình cảm gia đình sang một bên mà dấn bước cho lòng mến Chúa, phải ngưng lo cho cha mẹ mà chu toàn bổn phận với Chúa.

Những nghịch lý trên khiến ta cảm nhận từ đáy lòng mình chút gì đó xót đau, khiếp khủng, thậm chí oan ngang mà không phải ai cũng có thể vượt qua.

Nếu yêu Chúa, ta có dám đứng một mình khi mọi người đứng ở phía đối diện chăng? Đó là lúc tất cả chọn oán thù mà ta lại muốn yêu thương. Đó là lúc ta muốn giữ lại bào thai trong bụng mình mà cha mẹ hoặc người chồng bắt ta phải phá. Đó là lúc ta chọn đến nhà thờ mà mọi người muốn ở nhà xem đá bóng. Đó là lúc ta muốn cất lên lời kinh tạ ơn sau một ngày mệt nhọc mà con cái ta lại muốn bật máy karaoke để giải trí.... Dám đứng một mình là đồng nghĩa với việc chấp nhận sự phân rẽ, chấp nhận sự đối đầu, chấp nhận bị loại trừ,...

Bước theo Đức Giêsu: hoặc là một cuộc bước theo trọn vẹn, hoặc chẳng phải là một cuộc bước theo. Người ta không được chỉ chọn ra một vài nét thuộc về hành trình của Đức Giêsu mà người ta thích. Hoặc là người ta sẵn sàng đi với Người trọn chuyến đi, hoặc có bắt đầu cũng chẳng ích gì. Thập giá của Đức Giêsu là dấu chỉ cụ thể về sự trung thành vô điều kiện của Người đối với thánh ý Chúa Cha, với định mệnh của Người và với sứ mạng của Người. Đối với Người, sự trung thành này còn quý giá hơn chính mạng sống Người.


 

TN13-A53: Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành

 

Vào một đêm mưa bão cách đây đã nhiều năm, có một cặp vợ chồng già bước vào gian tiền sảnh TN13-A53


Vào một đêm mưa bão cách đây đã nhiều năm, có một cặp vợ chồng già bước vào gian tiền sảnh của một khách sạn nhỏ ở thành phố Philadelphia của Mỹ và hỏi thuê phòng. Họ ghé vào tránh bão và hy vọng có thể mướn được căn phòng trọ qua đêm.

Tiếp đón họ là một chàng trai có nụ cười rất dễ mến. Chàng trai giải thích rằng trong thành phố của họ đang có ba hội nghị lớn nên tất cả các phòng đều đã có người thuê. Chàng trai ngập ngừng một lát rồi nói tiếp:“Nếu thời tiết tốt, tôi sẽ gửi hai vị đến một khách sạn khác, nhưng làm sao tôi có thể để một đôi vợ chồng đáng mến như hai vị ra ngoài trong trời mưa gió như thế này vào lúc một giờ khuya được? Hai vị có thể ở tạm trong phòng của tôi được không? Nó không phải là phòng sang trọng gì cho lắm, nhưng nó cũng gọn gàng và sạch sẽ. Vì tôi phải trực vào khoảng thời gian này nên tôi có thể nghỉ ngơi ở đây cũng được. Xin ông bà đừng ngại.”

Cặp vợ chồng rất biết ơn và nhận lời trọ lại trong căn phòng đó của anh. Chàng nhân viên nhìn cặp vợ chồng già và mỉm cười với họ, và họ cũng mỉm cười lại với anh.

Nhiều năm sau đó, khi chàng trai trẻ dường như đã quên câu chuyện này, thì bất ngờ, anh nhận được một lá thư kèm cặp vé máy bay. Lá thư là từ cặp vợ chồng già. Họ nhắc lại đêm mưa bão hôm đó với lòng biết ơn sâu sắc cùng lời mời cậu đến thăm New York.

Chàng trai trẻ có đôi chút ngạc nhiên. Cả đêm đó, cậu không ngủ được và nằm suy nghĩ ngẩn ngơ: có lẽ ngày mai họ sẽ dẫn mình đi thăm thành phố một vòng và dùng bữa ở một nhà hàng sang trọng nào đó chăng? Nhưng nghĩ lại, cậu thấy mọi thứ có vẻ hơi quá, vì chỉ là một sự giúp đỡ nhỏ thôi, liệu có cần phải tới mức như vậy không?

Sáng hôm sau, cậu đáp máy bay xuống New York. Cặp vợ chồng già có vẻ như đã đứng đợi cậu ở đó từ lâu. Họ mỉm cười, vẫy tay chào từ xa và đón cậu lên một chiếc xe sang trọng. Sau khi đi qua vài con phố, cặp vợ chồng già đưa cậu tới góc ngã tư đại lộ Fifth Avenue, người chồng đưa tay chỉ tòa nhà tráng lệ mới xây ở đó – một cung điện toàn bằng đá đỏ với những ngọn tháp cao vươn thẳng trên nền trời xanh, rồi nói với chàng trai: “Đây là tòa khách sạn mà tôi xây cho cậu, và tôi hy vọng cậu có thể quản lý nó”.

“Ông không đùa đấy chứ?” – Cậu ngỡ ngàng.

“Không. Đây là một đề nghị hoàn toàn nghiêm túc”, người chồng già trả lời bằng một giọng chắc nịch với nụ cười thấp thoáng trên môi.

Công trình tráng lệ kia chính là khách sạn nổi tiếng Waldorf Astoria – nơi tụ họp của tầng lớp quý tộc lớn của New York vào thời điểm đó. Đây cũng là nơi mà các nhân vật cao cấp trên toàn thế giới thường xuyên lui tới để nghỉ ngơi, đặc biệt là các Tổng thống Mỹ khi họ đang còn tại chức.

Người đàn ông già trong câu chuyện này chính là William Waldorf Astor của dòng họ Astor, một trong những gia đình giàu có nhất ở New York vào thế kỉ đó. Còn chàng trai tốt bụng kia chính là George Charles Boldt – vị giám đốc đầu tiên của khách sạn này! (Nguồn: daikynguyenvn.com).

Thái độ đầy ắp tình người của chàng trai tốt bụng trong câu chuyện trên đây, phần nào giúp chúng ta hiểu sứ điệp của Lời Chúa trong Chúa Nhật hôm nay. Ở bài đọc I, trích sách các vua quyển thứ hai kể lại rằng, trên con đường đi thi hành sứ mạng, tiên tri Êlisa đi ngang qua Su-nêm và được một phụ nữ sang trọng mời ở lại dùng bữa tại nhà bà. Mỗi lần lưu lại đây, tiên tri Êlisa được bà đón tiếp một cách chu đáo. Không những thế, bà còn coi vị Tiên tri như một Đấng Thánh đến từ Thiên Chúa và muốn dọn cho vị Tiên tri một nơi ở xứng đáng trong nhà của mình. Bà nói với chồng rằng: “Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn, để mỗi khi đến, ông ở đó” (2V 4,9-10). Sự hiếu khách của bà đã làm cho tiên tri Êlisa hết sức cảm kích. Vì thế, khi biết vợ chồng bà đã già mà chưa có con, Êlisa đã khẩn cầu cùng Chúa, và lời khẩn cầu của Ngài đã được Thiên Chúa chấp nhận. Tiên tri Êlisa nói với bà rằng: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai” (2V 4,16).

Cùng một sứ điệp ấy, sau khi đòi buộc các môn đệ và những ai muốn theo Ngài phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự, trên cả cha mẹ và mạng sống của mình, bài Tin mừng hôm nay cũng đề cập tới việc Đức Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta thể hiện lòng hiếu khách bằng sự đón tiếp và giúp đỡ. Chắc chắn, Ngài mong muốn chúng ta đón tiếp và giúp đỡ hết mọi thành phần trong xã hội, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, khỏe mạnh hay ốm đau, bạn hay thù, chủng tộc hay màu da. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu chỉ mời gọi chúng ta đón tiếp ba thành phần sau:

Thứ nhất, đón tiếp các môn đệ: “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy.” (Mt 10,40). Chính Đức Giêsu đã đồng hóa mình với các môn đệ, cũng như Ngài tự đồng hóa mình với Chúa Cha. Có lẽ cũng vì sự đồng hóa đó mà trong thực tế chúng ta thấy, từ thời Đức Giêsu cho đến hôm nay, các môn đệ và các đấng kế vị Ngài đi đâu cũng được đón tiếp một cách trân quý. Đặc biệt, ở Việt Nam chúng ta, các Giám mục, linh mục, tu sĩ, những người làm việc nhà Chúa đi bất cứ nơi đâu cũng được người giáo dân yêu mến, và đón tiếp một cách trang trọng như là đón tiếp chính Chúa vậy. Ở cuối đoạn Tin mừng, Đức Giêsu còn cho biết: “Kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu”(Mt 10,42). Những kẻ bé mọn ở đây không chỉ hiểu là các môn đệ của Chúa, mà còn là những nạn nhân của cường quyền, bạo lực, những người đang phải chịu cảnh đói khát, trần truồng, bệnh tật, hay tù đày(x. Mt 25,35-36). Như vậy, giúp đỡ kẻ bé mọn chính là giúp đỡ các môn đệ, giúp đỡ kẻ bé mọn tức là giúp đỡ chính Đức Giêsu.

Thứ hai, đón tiếp các tiên tri: “Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri.”(Mt 10,42). Các “tiên tri” ở đây được hiểu là các kitô hữu. Đặc biệt là các kitô hữu được giao nhiệm vụ thi hành một tác vụ nào đó trong Giáo hội: nhiệm vụ dạy giáo lý; nhiệm vụ làm việc bác ái; nhiệm vụ loan báo Tin mừng cho dân ngoại…Họ có thể gặp khó khăn hay bị bách hại trong khi thi hành nhiệm vụ. Họ có thể phải chạy trốn “từ thành này qua thành khác”. Những lúc như thế, họ cần đến sự đón tiếp và chở che của mọi người. Vì vậy, nếu ai đón tiếp họ, nhất là trong những lức nguy hiểm như thế thì chắc chắn sẽ được Chúa ghi công, được Chúa trao “phần thưởng của tiên tri.”

Thứ ba, đón tiếp những người công chính: Đây là thành phần được tôn trọng trong cộng đoàn Giáo hội. Họ là những tấm gương phản chiếu lối sống mẫu mực: mẫu mực trong đời sống gia đình; mẫu mực trong đời sống cộng đoàn; mẫu mực trong đời sống bác ái yêu thương; mẫu mực trong đời sống đức tin... Vì vậy, họ xứng đáng để được mọi người đón tiếp và tôn trọng. Cho nên, Đức Giêsu mới nói: ai đón tiếp họ thì sẽ được đón nhận phần thưởng của người công chính (x. Mt 10, 41).

Như vậy, lòng hiếu khách không chỉ là một đức tính thiết yếu, một việc bổn phận “cho khách độ nhà” mà còn mang lại cho chúng ta những phần thưởng cao quý. Từ mẫu gương hiếu khách của chàng trai tốt bụng trong câu chuyện trên đây đến mẫu gương hiếu khách của người phụ nữ giàu sang tại Su-nêm và những giáo huấn của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay, mỗi người chúng ta hãy nhìn lại chính mình để xét xem: Tôi có lòng hiếu khách không? Tôi có sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ những kẻ bé mọn là hiện thân của Chúa không? Tôi có sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ những sứ giả của Chúa không?

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con biết chu toàn bổn phận “cho khách độ nhà”, biết sống quảng đại, sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ các sứ giả của Chúa, nhất là những kẻ bé mọn. Nhưng trước hết, xin cho chúng con có lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Amen.


 

TN13-A54: Làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
 

Một buổi tối, vừa khi từ Marốc trở về, Charles de Foucauld say mê kể cho gia đình nghe những cuộc TN13-A54


Một buổi tối, vừa khi từ Marốc trở về, Charles de Foucauld say mê kể cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm kỳ thú của anh qua những khu rừng Phi Châu.Người chăm chú theo dõi câu chuyện hơn cả là một cô cháu gái chưa đầy mười tuổi.

Khi anh vừa chấm dứt thì cô bé đã bất thần hỏi:

- Thưa cậu, cháu thấy cậu làm được nhiều việc lạ quá. Vậy cậu đã làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?

Câu hỏi ấy như một luồng điện giựt, khiến anh bất động. Từ bao lâu nay, chưa ai đã khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế: “Anh đã làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?”. Charles de Foucauld lục soát tâm hồn mình để chỉ thấy một lỗ hổng không đáy. Anh đã phí phạm tất cả thời giờ và tuổi thanh xuân cho những cuộc ăn chơi truỵ lạc và những danh vọng phù phiếm. Mắt anh bỗng mở ra để thấy được nỗi khốn khổ nghèo nàn của mình. Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một vị linh mục. Sau đó anh từ bỏ tất cả, xin vào dòng khổ tu. Rồi ít lâu sau, anh lại xin đến Nagiarét để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu.

Một ngày nọ, giữa lúc đang đắm mình trong cầu nguyện, anh bỗng nghe từ căn nhà bên cạnh có tiếng rên của một người Hồi giáo. Nhớ đến gương bác ái của Chúa Giêsu, anh tự hỏi, anh có thể giam mình cầu nguyện giữa lúc có những người anh em đang rên rỉ trong đau thương, thất vọng được chăng? Thế là anh quyết định đến sống giữa họ, trở thành người anh em của họ, nhất là của nhưng người cô đơn, lạc lõng, nghèo hèn hơn cả.

Những năm cuối đời, Charles de Foucauld sống giữa sa mạc Sahara, chia sẻ hoàn toàn cuộc sống với những người cùng khổ. Và anh đã chia sẻ tới giọt máu cuối cùng của anh khi phát súng oan nghiệt của kẻ sát nhân bắn gục anh giữa lúc anh đang cầu nguyện vào đầu tháng 12 năm 1916. Ngày nay, các Tiểu đệ và Tiểu muội của Chúa Giêsu tiếp tục lý tưởng sống của anh. Các anh chị ấy sống giữa người ngheo nhất trong xã hội. Tất cả cuộc sống và sự hiện diện âm thầm của họ là một cố gắng làm một cái gì cho Chúa Giêsu.

Anh chị em thân mến,

Một Kitô hữu chân chính cũng đều phải tự hỏi: “Tôi đã làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?”. Không phải là cho Chúa Giêsu mãi đâu trên trời, nhưng cho Chúa Giêsu đang tiếp tục đến, đang tiếp tục hiện diện trong cuộc đời tôi, trong tâm hồn tôi, nơi những người anh em tôi, cũng là anh em của Ngài, nhất là những ai thấp hèn, cùng khổ. Tôi tự hỏi, mà chính Chúa Giêsu cũng hỏi tôi mỗi ngày: “Con đã làm được gì cho những người anh em bé mọn nhất của Cha chưa?”. Bởi vì trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã nói: “Ai đón tiếp Đấng đã sai Thầy”… “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”.

Người Kitô hữu chúng ta thường đề cao việc đọc kinh, cầu nguyện, những việc làm cho Chúa mà coi những việc làm cho tha nhân, nhất là những việc nhỏ nhặt tầm thường, như cho anh em một ly nước lã, là những việc làm chẳng có ý nghĩa và giá trị nào. Nhưng đối với Chúa Giêsu thì không như vậy, đón tiếp một em nhỏ, cho người thấp kém trong xã hội dù chỉ một ly nước lã, cũng là một việc làm đáng được ân thưởng trên trời. Lý do giản dị là Chúa đã tự đồng hoá mình với những kẻ mọn hèn (x. Mt 25,40-45).

Thưa anh chị em,

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta ân cần tiếp đón anh em. Tin Mừng nói đến Chúa Giêsu như một người khách mà người ta niềm nở đón tiếp hay là thờ ơ xua đuổi. Ngài đến cách riêng với những người bị loại trừ, những người tội lỗi, để có dịp kêu gọi họ trở lại, như tại nhà ông Matthêu (Mt 9,10-18) và ông Giakêu (Lc 19,5-10). Ngài đến với gia đình quen thân của hai chị em Matta và Maria (Lc 10,38-42), cung chỉ để nói lên một điều cần thiết là lắng nghe và thực thi Lời Chúa. ngài đến như một người khách lạ đến khuấy động lòng người, đặt lại mọi vấn đề. Vì thế, Thánh Gioan nói: “Ngài đến trong nhà Ngài mà các gia nhân Ngài đã không tiếp đón Ngài” (Ga 1,11). Vì thế chúng ta phải ân cần tiếp đón người anh em trong niềm tin, người hành khất đến gõ cửa, người hèn mọn không ai nghĩ tới, người lạc loài, không cửa không nhà, những người ấy chính là Ngài. Những người anh em ấy có thể là những người ở ngay đường phố, cùng chung cư, hàng xóm. Cũng có thể là những người trong gia đình, nhưng chúng ta đã cố tình quên họ trong cảnh sống cô đơn, goá bụa, già cả cua họ… Tiếp đón họ là tiếp đón Chúa.

Câu chuyện người thiếu phụ ở Sunêm được kể lại trong bài đọc thứ nhất là một mẫu gương tiếp đón niềm nở, vô vụ lợi. Bà đã tiếp đón Ngôn sứ Êlisê, người của Thiên Chúa, và đã tạo điều kiện cho ông thi hành sứ mạng. Vì thế, bà được Thiên Chúa thưởng công. “Ai tiếp đón một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lành phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính”.

Anh chị em thân mến,

Được mời gọi đi theo Chúa Giêsu, chúng ta phải quyết định chọn lựa. Chỉ có sự chọn lựa tình yêu Chúa Giêsu mới cho phép chúng ta xứng đáng được gọi là môn đệ của Ngài. Một khi đã chọn lựa Ngài thì phải đặt tất cả tình cảm gia đình, tình yêu tự nhiên tuỳ thuộc vào Ngài, đi sau tình yêu đối với Ngài. Khi chọn lựa như thế chúng ta sẽ khong tránh được các mất mát, từ bỏ, hy sinh. Tuy nhiên, Thiên Chúa không để cho những kẻ theo Chúa phải thiệt thòi. Ngài sẽ đền bù, một sự đền bù vượt quá sự mong đợi. Trước mặt Thiên Chúa không có gì bị bỏ quên, dù mot bát nước lã cũng được đền bù xứng đáng. Vì thế, chúng ta đừng sợ mất phần thưởng, nhưng hãy sợ mình không trung thành bước theo Chúa Giêsu.

Anh Charles de Foucauld đã từ bỏ tất cả để đi theo Chúa Giêsu và để làm một cai gì cho Chúa Giêsu, anh đã từ bỏ mình để sống cho anh em, nhất là cho những người nghèo hèn, nhỏ bé. Chúng ta hãy quan tâm làm một cái gì cho Chúa Giêsu bằng cách tiếp đón Ngài đang đến với chúng ta trong bí tích Thánh The để tình yêu của Ngài thúc đẩy chúng ta tiếp đón những người anh em nghèo hèn, nhỏ bé, cũng là những anh em của Chúa Giêsu và là hiện thân của Chúa Giêsu vậy.


 

TN13-A55: Suy niệm của Lm. Trầm Phúc

Đây là những lời căn dặn của Chúa Giêsu trước khi sai các môn đệ đi rao giảng. Và đây là đoạn TN13-A55


Đây là những lời căn dặn của Chúa Giêsu trước khi sai các môn đệ đi rao giảng. Và đây là đoạn cuối cùng. Nhưng đoạn này là một tổng hợp nhiều lời Chúa nói trong những hoàn cảnh khác nhau, được gom lại, vì thế không ăn khớp với nhau cho lắm, nhưng mỗi lời Chúa nói đều là những bài học cho chúng ta.

“Ai yêu mến cha mẹ… con cái hơn Thầy, người ấy không xứng đáng với Thầy”. Chúa muốn cho thấy rằng người môn đệ của Ngài phải dành trọn tình yêu của mình cho Ngài. Ngài phải là trung tâm của cuộc sống. Không thể so sánh với một ai ở trần gian. Ngài là Thiên Chúa, là Đấng tuyệt đối, là hạnh phúc duy nhất của chúng ta. Phải yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự. Chúng ta đọc đi đọc lại câu nói đó rất nhiều lần, nhưng chúng ta có để ý đến đó không? Yêu mến Chúa hết lòng là thế nào? Khi yêu nhau, chúng ta luôn nhớ nhau, nhớ không phút nào ngơi, lòng trí chúng ta luôn hướng tới người yêu. Yêu mến Chúa hết lòng thì lòng trí chúng ta chỉ nghĩ đến một mình Chúa. Chúa trở thành niềm thương nhớ không nguôi của chúng ta. Đi đâu cũng nhớ, làm gì cũng nhớ. Tình yêu của chúng ta được đo bằng thương nhớ. Chúng ta có nhớ Chúa không?

Yêu mến Chúa hết sức là gì? Nhìn vào thánh Phaolô, chúng ta sẽ thấy ngài yêu mến như thế nào. Ngài đã không ngơi nghỉ, loan báo Chúa Giêsu cho mọi người không mỏi mệt. Ngài chỉ sống cho một mình Chúa. Chúng ta không rao giảng như ngài, nhưng nếu chúng ta yêu mến Chúa thật, chúng ta sẽ làm gì cũng làm cho Chúa, làm vì yêu mến Chúa chứ không chỉ làm việc vì tiền, vì lợi lộc. Dùng tất cả sức lực để làm cho Chúa được yêu thương hơn.

Chúa không cấm chúng ta yêu thương con cái, bạn bè, trái lại Ngài dạy chúng ta phải yêu thương nhau nhưng không thể yêu hơn Chúa. Ngài phải là ưu tiên tuyệt đối. Tình yêu loài người chỉ là tạm thời, ngắn ngủi, tình yêu Chúa luôn bền vững muôn năm. Không thể nào so sánh Thiên Chúa với con người. Thế nhưng, chúng ta có yêu mến Chúa không? Chúa đòi buộc chúng ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự, không phải vì Ngài cần tình yêu của chúng ta. Tình yêu của chúng ta có lợi gì cho Chúa đâu! Chỉ vì Ngài quá yêu chúng ta, Ngài muốn chúng ta hạnh phúc, và chỉ có Ngài mới giúp chúng ta hạnh phúc và hạnh phúc thật, hạnh phúc muôn đời.

Muốn đạt đến hạnh phúc tuyệt vời đó, Chúa đòi hỏi chúng ta vác thập giá của mình. Chúa Giêsu đã vác thập giá của Ngài trước. Ngài chấp nhận vác thập giá và chết trên thập giá đó vì yêu thương chúng ta. Có ai đã dám yêu thương chúng ta như Ngài không? Đối với Ngài, thập giá là dấu hiệu của tình yêu tuyệt đối của Ngài. Ngài vác thập giá chính là gánh lấy tội lỗi của chúng ta, gánh lấy án phạt thay cho chúng ta. Chúng ta vác thập giá là để yêu mến Ngài, đáp trả lại tình yêu của Ngài. Thập giá của chúng ta là những lao nhọc hằng ngày, là gia đình, là bệnh hoạn, là tất cả cuộc sống vất vả nhọc mệt của chúng ta. Chúng ta chưa đến nỗi phải đổ máu. Hãy can đảm gánh lấy mọi cực phiền lao nhọc vì yêu mến Ngài chứ không chỉ là chịu đựng, rên siết. Vả lại, chúng ta không vác thập giá một mình đâu. Chúa Giêsu biết chúng ta yếu đuối, mỏng giòn, Ngài đã hứa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, Ngài không để chúng ta mồ côi, Ngài đến với chúng ta. Ngài đến bằng một phương tiện rất nhỏ bé, là một tấm bánh. Ngài bảo chúng ta ăn lấy Ngài để Ngài có thể đồng hóa với chúng ta, trở thành một với chúng ta, lao nhọc với chúng ta, vui buồn với chúng ta. Ngài đến để biến tất cả cuộc sống chúng ta thành yêu thương như Ngài. Với Ngài, chúng ta dấn thân vào cuộc sống, không phải với sự chán buồn bi quan, nhưng với can đảm và niềm vui. Chúa đến đồng hành với chúng ta, chia sẻ mọi lao nhọc buồn lo cho chúng ta, chúng ta có chấp nhận đồng hành với Ngài không?


 

TN13-A56: Sống xứng với Chúa - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

Chúa Giêsu hôm nay cất tiếng mời gọi con người, cách riêng là người môn đệ, chẳng những lắng TN13-A56


Chúa Giêsu hôm nay cất tiếng mời gọi con người, cách riêng là người môn đệ, chẳng những lắng nghe, đi theo, mà còn phải hy sinh và từ bỏ nữa. “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 37).

Nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu ở trên, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn để làm môn đệ Chúa Giêsu, với đòi hỏi thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải yêu Chúa hơn cha mẹ, con cái.. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng, Điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Chúa Giêsu, người ta phải dành hết tình yêu đối với Chúa, người theo phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất. Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Ngài là Đấng dựng nên cả cha mẹ chúng ta, nên Chúa Giêsu yêu cầu con người dành cho Ngài một vị trí đặc biệt và cao nhất.

Tuy nhiên, dường như trở ngại lớn nhất không phải là người thân cận hoặc cha mẹ anh chị em, của cải … mà là cái tôi. Cái tôi cũng phải nhường bước cho dây liên kết với Chúa Giêsu, nên Ngài thêm: “Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó” (Mt 10, 38-39).

Thì ra con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Con đường “chịu mất chính mình”, để tìm lại được chính mình, như Đức nguyên Giáo hoàng Benedictô XVI viết: con đường “chịu mất chính mình”, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (Ðức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).

Ngày nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Vác thập giá mà theo” (Mt 10, 38). Theo Chúa khi chấp nhận thập giá của mình với lòng yêu mến. Dưới con mắt thế gian, đây là một thất bại. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết như sau: “Một cách nhiệm mầu chính Chúa Kitô chấp nhận... chết trên một thập giá để nhổ tận gốc rễ tội kiêu căng khỏi trái tim con người, và biểu lộ một sự vâng phục toàn vẹn con thảo”t (Es. ap. Gaudete in Domino 9 maggio 1975, AAS 67 (1975) 300-301). Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu mang lấy thập giá của tất cả mọi người và trở thành suối nguồn ơn thánh cứu độ cho toàn dân. Thánh Cirillo thành Giêrusalem giải thích rằng: "Thập giá chiến thắng đã soi sáng những ai bị mù lòa vì ngu muội, đã giải thoát người bị tội lỗi giam cầm, đã đem lại ơn cứu độ cho toàn nhận loại" (Catechisis Illuminandorum XIII,1; de Christo crucifixo et sepulto: PG 33, 772 B).

Người ta hỏi: Chúa Giêsu có thích khổ đau và thập giá không? Không, Chúa Giêsu đã không đi tìm thập giá và đau khổ, y như thể Ngài thích. Nhưng Ngài vác trên mình thập giá và sự đau khổ, đến mất mạng, khi phải đáp ứng điều này hầu giữ được lòng trung thành với Thiên Chúa. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu, phải đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Vác thập giá mình là từ bỏ ý mình, vâng theo ý Chúa. Ý Chúa muốn là hy sinh và từ bỏ để sống trọn vẹn cho Chúa và cho tha nhân. Cơ bản, vác thập giá mình mà theo Đức Giêsu là liều thuốc chữa chúng ta khỏi căn bệnh ghê sợ là “sự trì trệ”, ù lì, tê liệt và khép kín lòng mình.

Không phải ngẫu nhiên Chúa Giêsu nói đến “Thập Giá”. Vác thập giá bước theo Chúa Giêsu không phải là vác đi với những bước nhẹ nhàng. Vác lấy thập giá mà theo Chúa Giêsu có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận bất cứ hy sinh nào vì tình yêu đối với Chúa. Nhưng chúng ta không vác thập giá một mình, vì có Chúa cùng đi, Ngài đi trước để chúng ta tiếp bước theo sau, Ngài đi mau để chúng ta được lúi kéo dắt dùi, Ngài nâng đỡ chúng ta bằng sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.

Quyết định theo Chúa Giêsu, là gạt bỏ tất cả, hướng về Chúa là sự giầu có đích thực của chúng ta, không gì hơn Ngài, không đặt cái gì trước Ngài, toàn bộ phải qui hướng về Ngài. Ngài cũng khẩn khoản mời gọi chúng ta dùng mọi cách để đi đến tận cùng là trở nên những môn đệ Đức Giêsu. Theo Chúa Kitô, chúng ta không mất gì hết, chúng ta được tất cả. Như Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh trong bài giảng khai mào sứ vụ Giám mục Rôma: “Ai chấp nhận cho Chúa Kitô bước vào trong cuộc đời họ, thì người đó không mất đi điều gì cả, tuyệt đối không mất điều gì làm cho cuộc đời được tự do, tươi đẹp và cao cả. Không! Chỉ trong tình bạn với Chúa Kitô này mà các cửa sự sống được mở rộng ra. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà những khả năng to lớn của cuộc sống con người được thể hiện đích thực. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà chúng ta cảm nghiệm được điều gì là tươi đẹp và điều gì là tự do”. Với sức mạnh cao cả và với niềm xác tín lớn lao, dựa trên những năm dài kinh nghiệm cá nhân về cuộc sống, Đức Giáo hoàng nói với chúng con rằng: “Anh em đừng sợ Chúa Kitô. Chúa không đến lấy mất đi điều gì cả, nhưng ban cho đủ mọi sự. Ai hiến thân cho Chúa, thì được nhận gấp trăm. Phải, hãy mở ra, hãy mở rộng mọi Cửa cho Chúa Kitô, và chúng con sẽ gặp được sự sống thật” (Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, 24/4/ 2005).

Lạy Chúa, trong niềm tin, chúng con yêu mến Chúa trên hết mọi sự, xin đến giúp chúng con để chúng con thấy rằng trên đường đi, có chúa là sức mạnh để chúng con tiến bước theo Chúa cho đến trọn đời. Amen.


 

TN13-A57: Đòi hỏi của Tin Mừng


(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Minh)
“Ai không vác thập giá, thì không xứng với Thầy. Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy”

I. Ngữ cảnh Phụng vụ Lời Chúa
 

Cộng đoàn chúng ta đang suy niệm bài diễn từ về Truyền giáo của Tin Mừng Matthêu nói đến TN13-A57


Cộng đoàn chúng ta đang suy niệm bài diễn từ về Truyền giáo của Tin Mừng Matthêu nói đến vấn đề “Ra đi loan báo Tin Mừng” (Mt 10, 5-42). Sau khi tuyển chọn 12 Tông đồ, Đức Giêsu đào tạo rồi sai các ngài đi. Nhưng trước khi đi, Người dạy một số điều: các ngài ra đi phải nói những gì, và nhất là phải sống làm sao. Những cuộc bách hại sẽ đến, nhưng đừng sợ, và hơn nữa, phải chấp nhận những khó khăn đến từ nhiều phía, ngay cả trong gia đình.

Bài Tin Mừng trong thánh lễ hôm nay (Mt 10, 37-42) là phần cuối của bài giảng về sứ mạng Tông đồ. Chúa Giêsu thẳng thắn cho biết những đòi hỏi khó khăn của Tin Mừng. Do đó, người môn đệ phải từ bỏ mình vác thập giá đi theo Chúa và ai tiếp đón người môn đệ là tiếp đón Chúa.

1. Người môn đệ phải ưu tiên chọn lựa Đức Giêsu (10, 37-39)

Bài Tin Mừng hôm nay cho ta thấy hệ quả của bước đường đi theo Chúa. Theo Chúa người môn đệ phải chấp nhận thua thiệt: họ có thể bị chống đối từ ngoài xã hội đến trong gia đình, và một cách nào đó, Chúa Giêsu cũng bị xem là nguyên cớ của các tranh chấp chống đối. Người nhận xét rằng người ta sẽ không đồng ý với nhau về Ngài: Kẻ theo, người chống, sẽ có những bất hòa, đoạn tuyệt, những đấu tranh khắp nơi trên thế giới và ngay cả bên trong các gia đình, vì Ngài và giáo huấn của Ngài.

Thật thế, làm sao không có đối nghịch giữa ánh sáng và bóng tối, giữa Chúa Giêsu và thế gian, giữa quyền lực Thiên Chúa và quyền lực thế gian. Bước theo Chúa người môn đệ phải đích thân chọn lựa, và phải đặt tình yêu Chúa Kitô trên ngay cả những liên hệ, những tình cảm thân thiết nhất, trên mọi liên quan gia đình, trên chính mạng sống mình nữa: “Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy... Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được”.

Ở đây, Chúa Giêsu không có ý dạy sự bất hiếu, bất kính với cha mẹ trong gia đình. Người chỉ muốn nói rằng đứng trước ý muốn của Thiên Chúa, công việc của Thiên Chúa, bản thân Ngài, mọi giá trị khác và mọi người khác đều phải xuống hàng thứ yếu.

Khi chọn lựa như vậy, người môn đệ không tránh khỏi những mất mát, thua thiệt: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng đáng với Thầy”.

Đây phải hiểu là sự xứng đáng hiện sinh. Ai không đoạn tuyệt với những liên hệ thân thương nhất để đi theo Chúa Giêsu thì đã tự làm cho mình nên bất xứng với Người.

2. Tiếp đón các Tông đồ là đón tiếp Đức Giêsu

Tuy nhiên, Thiên Chúa sẽ không để những môn đệ phải thất vọng. Chính Chúa Giêsu, kết thúc bài giảng thừa sai bằng một lời hứa khác thường cho những kẻ được sai đi cũng như những kẻ đón tiếp họ: “Ai đón tiếp một tiên tri sẽ nhận được phần thưởng dành cho một tiên tri; ai đón tiếp người công chính sẽ nhận được phần thưởng dành cho người công chính; ai đón tiếp kẻ rao giảng sẽ nhận được phần thưởng cho kẻ rao giảng”.

Ở đây, Chúa Giêsu đã dùng từ “ngôn sứ” và “người công chính” để ám chỉ các Tông đồ. Như vậy, các Tông đồ được coi là ngang hàng với các ngôn sứ và các người công chính thời Cựu ước.

Vì thế, tiếp đón các Tông đồ được coi như là tiếp đón Đức Giêsu, và đón tiếp Đức Giêsu thì cũng như tiếp đón chính Thiên Chúa, Đấng đã sai phái Đức Giêsu. Mười hai Tông đồ là những sứ giả của Đức Giêsu, còn Đức Giêsu thì được Thiên Chúa cử đi. Nguồn mạch tối hậu của mọi sứ vụ là chính Thiên Chúa, Đấng đồng thời là chủ mùa gặt, và là Đấng sai phái các thợ gặt.

Mặc dù, ra đi loan báo Tin Mừng, các môn đệ phải chấp nhận đời sống truyền giáo trong nếp sống nghèo khó và khiêm tốn, nhưng Đức Giêsu đã đồng hóa mình với họ, vì qua họ, Người đến với loài người và nói với loài người. Từ nay họ thực sự là người của Thiên Chúa. Ai đón nhận họ tức là đón nhận chính Đức Kitô. Cả phần thưởng cho việc đón tiếp cũng dựa trên sự liên kết ấy giữa các cuộc sai phái.

Người môn đệ đã vì Người mà chấp nhận những rạn nứt và thập giá thì cũng được đồng hóa với người trong ân thưởng.

II. Người Kitô hữu sống gắn bó với Đức Kitô

Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được lắng nghe tiếng Chúa hôm nay, nhớ lại hồng ân Chúa đã ban cho và đồng thời, vừa ý thức được trách nhiệm Chúa đòi hỏi mỗi người chúng ta, để mỗi ngày chúng ta được trở nên giống như Chúa nhiều hơn.

Xin Chúa ban cho chúng ta tình thương, cho chúng ta được biết đặt Chúa trên hết mọi sự, trên hết mọi người và cho chúng ta được càng ngày càng yêu mến Chúa nhiều hơn, để chúng ta được đồng hóa với Chúa: “Ai đón tiếp chúng con là đón tiếp Thầy và kẻ nào đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”. Tất cả mỗi người chúng ta là con đường để giúp anh chị em đến với Chúa Giêsu Kitô và đến với Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con hiểu thế nào là tình yêu tận hiến của Ngài, để luôn biết sống quảng đại dấn thân cứu sống anh em mình mà không sợ hy sinh hay hiểm nguy. Xin Chúa Thánh Thể bổ sức cho chúng con.


 

TN13-A58: Liều mạng sống

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chủ Nhật’)
 

Trong đoạn Phúc Âm này, chúng ta dừng lại câu: “Ai cố giữ sự sống mình sẽ bị mất, ai mất TN13-A58


Trong đoạn Phúc Âm này, chúng ta dừng lại câu: “Ai cố giữ sự sống mình sẽ bị mất, ai mất sự sống mình vì Ta, sẽ tìm thấy”. Các sách dậy khôn ngoan của Do Thái giáo vào thời Đức Kitô có chứa nhiều câu tương tự, nhưng Chúa thêm vào đó hai chữ mà đối với người Do Thái thật quá lẽ: “vì Ta”. Nói cách khác, Đức Kitô tự đặt mình làm giá trị tuyệt đối, xứng đáng cho người ta hy sinh mạng sống. Một cách điềm tĩnh, bằng những lời đơn giản và sáng sủa, Chúa Giêsu tự đặt làm mục đích đáng giá của đời sống. Người nào về Ngài, tức là quy hướng về Thiên Chúa. Theo ngôn ngữ thần học có thể nói, Chúa Giêsu ấn định sự đồng nhất giữa “quy hướng về Thiên Chúa” và “quy hướng về Chúa Kitô”. Có thể nói hơn nữa rằng: người Kitô hữu chỉ có thể chọn Thiên Chúa làm trung tâm cuộc sống của mình, nếu quyết định đặt Đức Kitô làm tâm điểm. Mất và tìm thấy ở đây có nghĩa gì?

1) Ai cố giữ sự sống mình sẽ bị mất. Tại sao? Sự sống ở đây là gì? Đó là sự sống của con người trong tình trạng tội lỗi đã phó mặc cho những khuynh hướng tự nhiên tách lìa khỏi Thiên Chúa, con người xa lìa suối nguồn tạo ra mình, làm cho mình nên có, ban sự sống cho mình. Con người mang trong mình một khuynh hướng ngược lại với sáng tạo và sự sống, nghĩa là quay về hư không và sự chết. Con người hướng dẫn đến đến chỗ đánh mất cả bản thể lẫn sự sống của mình. Nhưng con người không thể tự do sáng tạo nên bản thân. Vậy khi có theo những khuynh hướng của cuộc sống tách lìa khỏi Thiên Chúa có được hậu quả gì? Hậu quả là sự tàn phá các nối kết nội tâm đến độ sự đau khổ chính lại là ước ao vô vọng đạt đến một hư vô không thể đạt. Con người mất sự sống đáng lẽ mình được sống và không thể tiêu huỷ sự sống đang dày vò mình. Có lẽ ở đây phải nói đến chữ đáng sợ là hoả ngục. Dĩ nhiên những gì xảy ra trước đó nằm trong phạm vi một tự do hoàn toàn sáng suốt và những quyết định hoàn toàn hữu trách, nhưng hai điều kiện ấy mãi mãi là điều kiện của Thiên Chúa.

2) May thay Chúa cống hiến cho chúng ta một viễn ảnh tích cực. Ai mất sự sống mình vì Ta sẽ tìm thấy. Mất sự sống mình bắt đầu ở chỗ nào? Ở tác động tin vào Đức Kitô. Khi tự hiến lòng tin cho Đức Kitô, ta từ bỏ tiện nghi của những giới hạn thông thường của trí khôn, ta chấp nhận vượt quá, chịu lao mình và một khoảng trống trí thức. Nhưng trong khoảng trống ấy có ánh sáng hiểu biết chờ đợi chúng ta, tuy không phải là sự tỏ tường đối với trí khôn, nhưng vẫn là một gặp gỡ đối với “tấm lòng”, nghĩa là đối với khả năng cảm biết trong thâm sâu của bản thể chúng ta, nó giúp chúng ta có thể đón nhận Chân Lý vô biên. Đặt lòng tin vào Đức Kitô giả thiết là tự ý bỏ đi một số điều mà thánh Phaolô kể ra trong thơ gởi tín hữu Côlôsê: tính ích kỷ, tà dâm, tự phụ, kiêu ngạo, cuộc sống duy vật (Col 3,5-8). Mất sự sống mình vì Đức Kitô cũng có thể có nghĩa là các Kitô hữu thà từ bỏ của cải trần gian, còn hơn là chối bỏ Thiên Chúa, khi mà xã hội đối nghịch với Thiên Chúa ra tay bắt bớ họ. Việc ngày không phải chỉ xảy ra trong quá khứ, đó là một việc thời sự, một biến cố đương thời. Ngày nay có nhiều Kitô hữu chịu mất mát nhiều sự, có khi cả mạng sống mình, chứ không bỏ đức tin. Chúng ta chấp nhận “mất sự sống chúng ta” vì Đức Kitô ở điểm nào để tìm thấy sự sống ưu đẳng?


 

TN13-A59: Thiên Chúa trên hết


(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, S.J.)
 

Con vật sống theo bản năng. Con người có lý trí, nên con người khác con vật khi sống theo lý TN13-A59


Con vật sống theo bản năng. Con người có lý trí, nên con người khác con vật khi sống theo lý trí hướng thiện. Trong cuộc sống, con người được mời gọi lựa chọn để sống tốt mỗi ngày; điều này hàm chứa quyết định chọn Thiên Chúa trên hết, dù rõ ràng hay mặc nhiên.

1. Chọn lựa giữa con người và Thiên Chúa

Đức Yêsu nói: “Ai yêu cha mẹ hay con cái hơn Ta thì không xứng với Ta. Ai không vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta thì không xứng với Ta”. Đức Yêsu đòi người ta phải chọn Ngài trên tất cả, cho dù người đó phải chọn lựa giữa Thiên Chúa và cha mẹ, anh chị em, con cái, hay vợ chồng của họ. Hơn thế nữa, Đức Yêsu còn đòi người ta phải chọn Ngài trên cả chính bản thân và sự sống họ nữa: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai sẵn sàng mất sự sống vì Ngài thì sẽ tìm lại được”.

Giữa con người và Thiên Chúa, con người phải chọn Thiên Chúa. Điều răn thứ nhất dạy: “thờ phượng Thiên Chúa và kính mến Người trên hết mọi sự”. Chọn tạo vật, cho dù tạo vật đó là chính mình, cũng là tôn thờ ngẫu tượng. Khi chọn Thiên Chúa trên tất cả, con người không đánh mất chính mình, nhưng là sống ơn gọi làm người trọn vẹn hơn. Thiên Chúa luôn luôn là Thiên Chúa Tình Yêu, Ngài luôn muốn điều tốt cho con người, Ngài luôn muốn con người được hạnh phúc thật. Chọn Ngài, là chọn sự sống đích thực, là chọn hạnh phúc đích thực.

Có những điều con người chủ quan thấy là tốt cho mình, nhưng khách quan điều đó không tốt thực cho con người. Trí khôn hữu hạn của con người làm sao so sánh với quyết định khôn ngoan tuyệt vời của Thiên Chúa!

2. Thiên Chúa yêu thương con người qua trung gian hữu hình

Ngay từ thuở tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đã luôn ở với con người. Ngay khi con người phạm tội và trốn tránh Thiên Chúa, Ngài vẫn đi tìm và nối lại tương quan với con người bằng việc tra vấn họ. Trong dòng lịch sử, Thiên Chúa vẫn chọn một con người cụ thể để nói với con người, chẳng hạn qua các tiên tri. Bài đọc thứ nhất hôm nay cho thấy Thiên Chúa yêu thương bà Shumen và chồng bà qua tiên tri Elisha. Tiên tri báo trước bà sẽ có con vào “ngày này năm sau”. Hành vi của bà Shumen đối với tiên tri diễn tả tâm tình và thái độ của bà đối với Thiên Chúa. Bà đã dành phòng cho tiên tri, nuôi cơm tiên tri. Thiên Chúa qua tiên tri Elisha “đáp trả” tấm lòng chân thành của bà, bằng việc cho bà có con như bà ước nguyện.

Qua những cặp vợ chồng son, người ta nhận ra con cái là hồng ân của Thiên Chúa. Mỗi người được chào đời, hàm chứa người đó được cha mẹ chấp nhận và yêu thương. Những người con “chết trong dạ mẹ” do hành vi từ khước tình yêu của người cha người mẹ đối với người con đó, và cũng là hành vi từ khước tình yêu Thiên Chúa dành cho người người cha người mẹ đó. Đã đành nuôi dưỡng một người con tốn nhiều tiền của công sức, nhưng bù lại Thiên Chúa cũng cho người cha người mẹ được an ủi qua những người con. Ai không yêu thương cụ thể qua hy sinh chấp nhận con cái, người đó không yêu thương và cộng tác với Thiên Chúa trong hành vi tạo dựng.

Bài Tin Mừng hôm nay Đức Yêsu nói: “nếu một người giúp người nghèo chỉ một chén nước lã, họ cũng được thưởng công”. Ở một chỗ khác, tin mừng Matthêu cho thấy: ai làm cho một trong những người nghèo khó nhất, cũng là làm cho Thiên Chúa, và ai không làm cho những người nghèo khó là không làm cho Thiên Chúa. Không chỉ có các tiên tri là hình ảnh của Thiên Chúa, nhưng cả những người nghèo đều là hiện diện của Thiên Chúa. Không yêu thương người nghèo, là không yêu thương Thiên Chúa. Không chấp nhận người con “còn trong bào thai trong dạ mình” là không chấp nhận Thiên Chúa.

3. Đức Yêsu Con Thiên Chúa

Đức Yêsu yêu thương con người. Ngài thương cảm dân chúng bơ vơ không người chăm sóc như chiên cừu không người chăn. Người chăn chiên có nhiệm vụ bảo vệ đàn chiên khỏi thú dữ và dẫn đàn chiên tới suối nước trong lành. Đức Yêsu yêu thương con người và là biểu hiện tình yêu Thiên Chúa cho con người.

Nếu chỉ là người như bao người khác, Đức Yêsu không được phép đòi người ta phải chọn Ngài trên những người thân yêu như cha mẹ, anh chị em, con cái. Thực sự Đức Yêsu đã đòi hỏi điều này, và như vậy, người ta hiểu Ngài là Đấng đặc biệt, hơn chỉ là một con người. Ngài là Con Thiên Chúa theo một nghĩa rất đặc biệt, Ngài là Thiên Chúa theo một nghĩa nào đó, và các nhà thần học diễn tả Ngài là Thiên Chúa Con.

Đức Yêsu đã tới để làm chúng ta thành con người mới. Ngài tới mang niềm hy vọng cho con người trong cuộc đời dương thế nhiều phong ba bão tố. Ngài là nguồn hy vọng của Kitô-hữu.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Trong cuộc sống hằng ngày, tiêu chuẩn lựa chọn của bạn là gì?

(Lợi: tiền bạc, công việc? Danh: tiếng khen, kính phục? Quyền lực? Điều thiện hảo: tốt lành cho người ta và cho mình?)

2. Bạn có đồng ý quan điểm chỉ cần làm việc thiện giúp người chứ không cần tham dự các bí tích không? Xin trình bày và bảo vệ quan điểm của bạn.

3. Phải chăng Thiên Chúa đòi con người chọn Ngài trên tất cả, là Ngài ích kỷ?

4. Chọn Thiên Chúa trên tất cả, có làm suy giảm hạnh phúc của con người không? Tại sao?


 

TN13-A60: Ðòi hỏi và vinh dự của môn ðệ


(Trích trong ‘Giải Nghĩa Lời Chúa’ - Những Bài Suy Niệm Lời Chúa Chúa Nhật của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

Với ba bài Kinh Thánh hôm nay, chúng ta có thể suy nghĩ nhiều điều về đời sống của người môn TN13-A60


Với ba bài Kinh Thánh hôm nay, chúng ta có thể suy nghĩ nhiều điều về đời sống của người môn đệ đi theo Chúa Yêsu. Ðó cũng là đời sống của chính chúng ta, xét về mặt đạo đức thiêng liêng. Chúng ta đã thực thụ trở thành môn đệ Chúa Yêsu khi cùng chịu mai táng và sống lại với Người trong bí tích Rửa tội, như bài Thánh thư hôm nay nói. Từ ngày đó chúng ta không ngừng phải vác Thập giá hàng ngày để đi theo Người, nhưng đồng thời cũng nhận được vinh dự của người môn đệ đi theo Thầy, như Người đã hứa trong bài Tin Mừng. Và trong Hội Thánh luôn có những Ngôn sứ muốn sống triệt để ơn gọi làm Môn đệ của Chúa như Êlisê ngày trước mà bài sách các Vua còn kể lại nhiều mẩu truyện rất ý nghĩa. Chúng ta thử đọc về đời sống của người môn đệ đi theo Chúa, tức cũng là ơn gọi của chính chúng ta.

A. Chúng Ta Ðã Trở Thành Môn Ðệ

Ðoạn thư Rôma hôm nay được chọn để đọc một cách long trọng đặc biệt trong Canh thức Phục sinh. Chúng ta nên dùng để suy nghĩ mỗi khi có nghi thức Rửa tội. Nhưng bất cứ khi nào tự hỏi về ơn gọi Kitô hữu của mình, chúng ta cũng có thể đem đọc để thấy rõ mình đã trở nên môn đệ của Chúa như thế nào.

Vẫn biết ơn Chúa kèm theo lời rao giảng Tin Mừng đã ban nhân đức tin cho chúng ta. Chúng ta đã bắt đầu đi theo Chúa ngay từ khi chúng ta để Lời Chúa và tình yêu của Người lôi cuốn chúng ta. Có thể nói được chúng ta đã là tín hữu của Chúa vì chúng ta đã tin Người có lời ban sự sống cứu độ chúng ta. Một phần nào chúng ta đã là môn đệ của Chúa rồi, vì theo Thánh Kinh người môn đệ luôn để tai nghe Lời Chúa. Tuy nhiên, chưa có hành vi nào xác nhận chúng ta là tín hữu và môn đệ. Phải đợi đến ngày chúng ta chịu phép Rửa nhân Danh Chúa Yêsu Kitô.

Phép Rửa này độc nhất vô nhị. Không thể so sánh với một nghi lễ tôn giáo nào, kể cả phép rửa của Yoan Tẩy giả. Thánh Kinh nói rõ và chính Yoan đã khẳng định: "Tôi rửa trong nước; còn Người rửa trong Thánh Thần". Do đó đây không phải là biểu tượng và lễ nghi, nhưng là hoạt động của Thánh Linh. Sức mạnh của Thiên Chúa làm việc thật sự trong Hội Thánh dội nước trên con người. Nước chảy trên đầu không phải chỉ diễn tả ơn thanh tẩy tội lỗi. Và việc chịu phép Rửa không phải chỉ là một nghi lễ phải làm để được công nhận là tín hữu và môn đệ. Có hoạt động thật sự của Thiên Chúa trong việc dội nước và làm nghi lễ này. Thánh Phaolô trong bài thư hôm nay nói: Chúng ta đã chịu phép Rửa trong Ðức Kitô, tức là đã chịu mai táng với Người. Chúng ta cùng chết với Người trong cái chết xóa sạch tội lỗi mà Người đã chịu trên thập giá. Vì chấp nhận muốn cùng chết với Người cho tội lỗi như vậy mà chúng ta được tha tội và nước dội trên đầu chúng ta có sức mạnh thanh tẩy tâm hồn. Thế nên mọi người lớn, khi chịu phép Rửa tội, đều phải có lòng thống hối ăn năn và từ bỏ tội lỗi. Và tất cả chúng ta, khi muốn ý thức lại ơn trở thành môn đệ và tín hữu của Chúa đều phải tuyên xưng lại ý chí muốn chết cho tội lỗi và các khuynh hướng xấu xa. Không có việc muốn kết hiệp với Ðức Yêsu Kitô trong mầu nhiệm chết cho tội lỗi dù người ấy có lòng thống hối ăn năn và chịu rửa như nhiều người dưới thời ông Yoan Tẩy giả. Mọi hành vi thú nhận tội lỗi và ăn năn thống hối của con người đều không làm cho con người được khỏi tội. Chỉ có lòng từ bỏ tội lỗi trong tinh thần kết hiệp với Ðức Yêsu Kitô trong mầu nhiệm tử nạn cứu thế của Người mới mang lại ơn thanh tẩy tâm hồn.

Vì sao vậy?

Vì mọi lễ đền tội mà loài người dâng lên đều bất xứng và không được chấp nhận nếu không tựa vào lễ hy sinh đền tội mà Người Con Chí Ái của Thiên Chúa đã dâng lên khi Người chịu chết trên Thập giá. Thiên Chúa đã tỏ ra ưng thuận lễ dâng này khi cho Con Người sống lại từ kẻ chết. Người đã chết vì tội lỗi loài người, thì khi phục sinh Người trong sự chết này, Thiên Chúa đã tỏ ra chấp nhận tha thứ hết mọi tội lỗi cho loài người chúng ta. Sự sống lại của Con Thiên Chúa là ơn tha thứ tội lỗi vậy. Người ta được ơn tha thứ tội lỗi không phải khi kết hiệp với Ðức Yêsu Kitô trong sự chết của Người nhưng là khi được cùng Người sống lại trong sự phục sinh của Người. Không thể tách rời việc cùng chịu mai táng với Ðức Kitô và việc cùng Người sống lại, vì sự chết của Người chỉ có giá trị cứu thế khi Thiên Chúa phục sinh Người từ kẻ chết. Thế nên chết đi cho tội lỗi là việc của con người, nhưng ban ơn thanh tẩy đổi mới tâm hồn là ơn của Thiên Chúa ban cho. Thiên Chúa hoạt động và ban Thánh Thần cho con người khi họ chấp nhận chết đi cho tội lỗi trong mầu nhiệm Tử nạn cứu thế của Ðức Yêsu Kitô. Nhờ và trong bí tích Rửa tội, con người tội lỗi cũ kỹ đã chết đi để Thánh Thần tạo dựng con người mới sạch tội và thánh thiện trong Con Thiên Chúa.

Như vậy lễ nghi Rửa tội không phải chỉ là nghi thức phải làm để được công nhận là tín hữu và môn đệ. Và Nước Rửa tội không phải chỉ diễn tả ơn thanh tẩy tâm hồn. Nhưng thật sự Thiên Chúa hành động trong lễ nghi này. Người dùng Thánh Thần để mai táng tội lỗi trong sự chết của Ðức Kitô và để tạo dựng con người mới trong sự phục sinh của Người. Có một biến đổi thật sự nơi người chịu phép Rửa. Từ thân phận một kẻ xa lạ thù địch với Thiên Chúa, con người nhờ ý chí kết hiệp với Ðức Yêsu Kitô trong mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh của Người, trở nên tạo vật mới đối với Thiên Chúa, không những sạch tội mà còn thánh thiện vì đã đồng hình, đồng dạng, đồng hóa với Con Thiên Chúa. Chúng ta không còn thuộc về thế giới tội lỗi nữa, nhưng đã được đưa sang Nước sáng láng của Chúa Yêsu Kitô phục sinh. Người đang sống sự sống mới và ban sự sống mới ấy cho hết thảy những ai sống trong Nước của Người.

Như vậy việc trở nên tín hữu và môn đệ của Người thật là vô thường, không thể dùng nghi thức xã hội nào để so sánh được. Trong mọi nghi thức xã hội công nhận một môn sinh hay môn đệ, chỉ có sự công nhận có thể nói là bề ngoài, không thay đổi gì bản chất con người môn đệ. Còn ở đây, trong bí tích Rửa tội, có sự biến đổi, tạo dựng thật sự, khiến một kẻ trước đây là tội nhân nay trở nên công chính; trước đây là xa lạ, thù địch, nay là nghĩa tử và là con cái Thiên Chúa; trước đây ở ngoài Ðức Kitô, nay là Kitô hưũ và kết hiệp với Người như cành với thân cây, như chi thể với thân thể.

Ai hiểu như vậy mà không quý trọng ơn của bí tích Rửa tội? Ai thấy như thế mà không xác tín về nội dung của ơn làm môn đệ của Ðức Kitô? Chúng ta hết thảy đã trở thành môn đệ của Người khi chịu phép Rửa tội. Chúng ta phải sống ơn gọi môn đệ ấy thế nào đây?

B. Ðòi Hỏi Và Vinh Dự Của Môn Ðệ

Bài Tin Mừng hôm nay nói rất rõ. Chúa Yêsu tuyên bố: ai yêu mến cha mẹ, con cái hơn Người thì không xứng đáng là môn đệ của Người. Và Người còn đòi hỏi hơn nữa khi tuyên bố tiếp theo: "Kẻ không vác lấy khổ giá mình mà theo Ta, ắt không xứng với Ta". Nếu được phép làm một phân tích văn chương nho nhỏ, chúng ta có thể nói các đòi hỏi đã được đưa ra càng ngày càng gắt gao hơn. Ðầu tiên Chúa chỉ đòi người môn đệ phải yêu Người hơn cha mẹ; rồi Người bảo họ phải yêu Người hơn cả con cái là những giọt máu của chính bản thân mình; cuối cùng Người lại buộc họ phải vác lấy khổ giá mà đi theo Người tức là phải yêu Người đến nỗi không sợ chết và dám bỏ mạng sống vì Người.

Nói cách khác, Chúa đòi người môn đệ phải từ bỏ tất cả, ngay cả mạng sống mình để đi theo và yêu mến Người. Người không cho phép môn đệ nào được lấy cớ yêu cha yêu mẹ, yêu con cái hay sự sống của mình mà từ chối với Người một điều gì khiến Người thấy tình yêu của môn đệ đối với Người chưa thật hoàn toàn và Người chưa là tất cả đối với họ. Người đòi hỏi tình yêu tuyệt đối, nên Người không nhận làm môn đệ những kẻ muốn đi theo Người nhưng lại còn xin phép về nhà lo an táng cha hay thu xếp những công việc khác. Người có thể đòi hỏi như thế bởi chính Người đã từ bỏ tất cả vì môn đệ và để cho người ta trở thành môn đệ. Chúng ta đã thấy Người đã nộp mình chịu chết cho những kẻ Người thương yêu như thế nào. Tình yêu lớn lao như vậy và tuyệt đối như thế chỉ thấy người môn đệ xứng đáng khi họ cũng yêu tuyệt đối và lớn lao như vậy.
Tuy nhiên luận lý như trên hãy còn quá đơn giản. Chúng ta chưa hiểu bản chất con người đòi hỏi như vậy là ai. Không phải Người đã yêu và làm cho môn đệ như vậy nên Người đòi môn đệ phải yêu và phải làm như thế. Thực ra khi tuyên bố những đòi hỏi kia, Ðức Yêsu Kitô chưa nộp mình chịu chết cho môn đệ và môn đệ chưa thấy Người vác Thập giá đi trước để bảo mình phải vác khổ giá đi sau. Ðức Yêsu đã đưa ra những đòi hỏi tuyệt đối, không phải nhân danh sự chết của mình cho những người mình yêu thương, nhưng nhân danh bản tính Thiên Chúa ở nơi mình và vì mình là Thiên Chúa. Và Thiên Chúa và chỉ có Thiên Chúa mới có thể đòi hỏi một cách tuyệt đối như vậy. Mọi sự, mọi người và nhất là sự sống đều là của Thiên Chúa ban cho chúng ta. Người có quyền đòi chúng ta phải dâng tất cả lại cho Người, nhất là khi hiến dâng đây, chúng ta không những không mất mát mà còn được lãnh nhận gấp trăm, gấp nghìn.

Ðó là ý tưởng của Lời Chúa tiếp theo. Người tuyên bố: Kẻ cố tìm sự sống mình thì sẽ mất, còn kẻ đành mất sự sống mình vì Ta thì sẽ gặp lại. Ðừng vội kết luận rằng sự hy sinh của người Kitô hữu cuối cùng vẫn có tính cánh vụ lợi và tính toán. Vẫn biết có lần Chúa Yêsu đã trả lời cho Phêrô khi ông này lên tiếng: "Này chúng tôi từ bỏ mọi sự mà đi theo Thầy". "Qủa thật, Người nói, không ai bỏ nhà cửa, hay anh chị em, hay cha mẹ, hay con cái, hay ruộng nương vì Ta và vì Tin Mừng, mà lại không lĩnh lấy gấp trăm bây giờ ở đời này... và sự sống đời đời trong thời sẽ đến" (Mc 10,28-31). Nhưng nếu đọc kỹ, đọc hết mọi lời của Chúa, chúng ta sẽ thấy Người đã mau lẹ chuyển từ bình diện tự nhiên sang bình diện siêu nhiên, từ những sự ở đời này sang những thực tại vô hình. Những hy sinh mà người môn đệ phải chịu rất là thực tế, còn phần thưởng dành cho họ vẫn đòi hỏi một niềm tin. Thế nên không thể nói đến sự hy sinh của họ không thoát khỏi vòng danh lợi. Ngược lại chính để thoát khỏi vòng danh lợi giam hãm con người trong vũ trụ vật chất chóng qua mà họ chấp nhận hy sinh để đạt được những giá trị và chân lý mà cùng lắm những giá trị đời này chỉ là hình ảnh.

Ở đây chúng ta không cần suy tư triết học. Chúng ta ý thức rõ ràng Chúa Yêsu Kitô đòi người môn đệ phải dám hy sinh tất cả cho Người để chứng tỏ tình yêu tuyệt đối đối với Người và để minh chứng Người thật là Thiên Chúa. Và khi hy sinh như vậy họ tìm được sự sống.

Trong khi ấy họ đẹp lòng Thiên Chúa đến nỗi Người sẵn sàng thưởng công cho những ai có một cử chỉ tốt lành nào đó đối với họ, dù chỉ cho họ một bát nước lã mà thôi. Với lời hứa này Người khuyến khích mọi người yêu mến các môn đệ của Người, cho dù họ thật bé mọn trước mặt thế gian. Và như thế chúng ta có thể tạm kết luận về bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Yêsu tuyên bố rõ ràng là người môn đệ đi theo Người phải có lòng yêu mến Người đến nỗi sẵn sàng hy sinh đến cả mạng sống vì Người. Và điều này phù hợp với lời thư Phaolô hôm nay nói: người môn đệ hãy tự kể mình như đã chết cho tội lỗi và nay sống cho Thiên Chúa trong Ðức Yêsu Kitô. Ðó là nếp sống mới, nếp sống của người môn đệ đối với Thiên Chúa. Còn đối với nhau họ được vinh dự như là "báu vật" của Người đến nỗi ai làm cho họ việc gì tốt đều không mất phần thưởng trên Nước Trời. Từ đó họ phải sống bác ái phục vụ nhau như thế nào!

C. Những Bậc Thang Giá Trị

Bài sách các Vua có thể dùng để nói về việc phục vụ này. Quả vậy, bà lớn ở thành Shunem nọ đúng là "người đã đón tiếp một vị tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, nên đã lãnh phần thưởng của nhà tiên tri". Bà là người sang trọng. Bà thấy tiên tri Êlisê đến thăm thành mình. Bà mời ông quá bộ đến ở tại nhà bà vì bà là con người đạo đức, nghĩ rằng Thiên Chúa đã cho mình có của thì mình phải phục vụ những "người của Thiên Chúa", tức là các môn đệ đặc biệt của Người. Và hiểu rằng nhà tiên tri có nhiều dịp qua lại Shunem, bà bàn với chồng phải trang bị cho người một phòng đặc biệt dành riêng và ở trên gác cao để người được tự do giao tiếp với Thiên Chúa. Bà ta thật tế nhị và am hiểu các đòi hỏi của đời sống một tiên tri: không thể để người chung đụng với phàm tục. Thái độ và cử chỉ của bà thật quý hóa. Nhà tiên tri mủi lòng, và muốn thưởng công. Ông hứa cho bà sẽ sinh con trong tuổi già của người chồng.

Chắc chắn đó là phần thưởng quá mức mong đợi đối với hai người. Nhưng câu nói của bài Tin Mừng hôm nay như muốn so sánh và bảo chúng ta rằng: đó chỉ là phần thưởng của một tiên tri cho một việc lành đối với nhà tiên tri. Còn phần thưởng của Thiên Chúa cho người làm phúc cho môn đệ của Người một bát nước lã, còn đáng trông đợi hơn nhiều!

Nhưng chúng ta cũng có thể đọc câu truyện trên về phía nhà tiên tri để thấy Êlisê cũng là hình ảnh người môn đệ đi theo Chúa. Ông như không có gia cư và không bám vào đâu cả. Ông sống cho Thiên Chúa và luôn đi làm theo ý của Người. Người ta thấy rõ ông đã thoát tục, chết cho thế gian này nên bà lớn kia khi rước ông vào nhà đã dọn cho ông một phòng riêng biệt và ở trên gác cao, để ông xa tránh phàm tục và sống cho Thiên Chúa. Chắc chắn ông thông thạo các việc của Người, nhưng khi muốn khen thưởng người đã có công đối với mình, ông phải nhờ đến ý kiến của người tiểu đồng đi theo. Anh này gần các thực tại thế gian này hơn. Anh biết gia đình chủ nhà đây đang cần gì hơn hết. Nhà tiên tri cho gọi bà chủ. Bà này lên đứng ở ngoài cửa để vẫn kính trọng nhà tiên tri là người đã thuộc về Thiên Chúa. Và nhà tiên tri đã thưởng công cho bà.

Như vậy, ngay từ thời Cựu Ước, người ta đã ý thức rằng đời sống của con người sống cho Thiên Chúa phải như đã chết đi cho thế gian và tội lỗi. Ðó là giáo lý của bài Thánh thư và của bài Tin Mừng. Tuy nhiên đây không phải là sự chết mất mát, từ bỏ và tiêu hủy những giá trị chân thật. Nhà tiên tri sống cho Thiên Chúa nhưng vẫn quan tâm đến hạnh phúc của người khác và nhất định muốn chu toàn nghĩa vụ đối với tha nhân. Khi nói chết cho thế gian, chúng ta chỉ có ý nói đến việc chết cho tội lỗi và những sự xấu xa, để tỉnh táo và đầy đủ hơn đối với những việc lành phải làm.

Vậy, nếu trong thánh lễ sắp cử hành đây chúng ta muốn nhắc lại việc Chúa Yêsu chịu chết để hủy diệt tội lỗi nơi chúng ta, thì chịu lấy Mình Thánh Người để nuôi sống mình chúng ta phải quyết tâm sống cho Thiên Chúa. Không những chúng ta phải tỏ ra muốn yêu mến Người trên hết mọi sự và trên hết mọi người; mà chúng ta cũng phải làm đầy đủ mọi nghĩa vụ đối với tha nhân và xã hội. Việc thi hành tốt mọi phận vụ ấy không bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa đâu. Chính những việc làm như vậy chứng tỏ chúng ta là môn đệ tốt của Người. Nhờ các bài Kinh Thánh hôm nay, chúng ta cứ suy nghĩ thêm về ơn gọi, đời sống, đòi hỏi cũng như vinh dự của người môn đệ đi theo Chúa, để đời sống chúng ta mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn.


 

TN13-A61: Theo Chúa

 

Nghe Chúa giảng, người ta đã trầm trồ khen ngợi: - Chưa từng có ai nói hay như Ngài. Hơn nữa TN13-A61


Nghe Chúa giảng, người ta đã trầm trồ khen ngợi:

- Chưa từng có ai nói hay như Ngài.

Hơn nữa Ngài còn đòi hỏi người ta phải hy sinh. Đúng thế, Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự, kể cả những tình cảm vừa hợp pháp lại vừa thiêng liêng nhất:

- Ai yêu cha mẹ hơn ta, thì không xứng đáng với ta.

Có nghĩa là Ngài luôn luôn phải chiếm vị trí ưu tiên, phải chiếm chỗ nhất trong trái tim và cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Mặc dù chúng ta phải thảo kính cha mẹ, nhưng trong những trường hợp xung khắc, Đức Kitô phải luôn luôn phải là nhân vật số một.

Tiếp theo Chúa Giêsu đã xác định:

- “Ai không vác thập giá mà theo ta, thì cũng chẳng xứng đáng với ta”.

Thập giá mà chúng ta phải vác lấy trong cuộc sống, không chỉ là những bắt bớ, những cấm cách về đức tin, mà còn là tất cả những khổ đau, những buồn phiền chúng ta gặp phải . Ngài còn nói tiếp:

- “Ai tìm kiếm sự sống thì sẽ mất, còn ai vì ta mà mất sự sống thì sẽ tìm thấy được nó”.

Thoạt nghe qua, chúng ta thấy lời xác quyết ấy thực là vô lý, nhưng nếu suy nghĩ, chúng ta sẽ thấy nó thật sâu xa, thật thấm thúy… Sự sống ở đây bao gồm hai ý nghĩa, đó là sự sống phần xác, sự sống đời này và sự sống vĩnh cửu, sự sống đời sau.

Đây quả thực là một niềm an ủi khích lệ lớn cho chúng ta khi gặp phải những bắt bớ, những cấm cách, những khó khăn vì đức tin. Thực vậy, ai luôn chiều theo bản thân và miệt mài tìm kiếm những vui thú cho mình thì sẽ mất đi sự sống vĩnh cửu.

Trái lại, ai từ bỏ mình và những vui thú xác thịt, nghĩa là săn sàng chịu chết vì Đức Kitô thì sẽ tìm thấy được sự sống vĩnh cửu và niềm hạnh phúc nước trời ở đời sau, cũng như sẽ tìm thấy niềm vui mừng và sự bình an ngay từ đời này.

Không ai trên trần gian này hạnh phúc cho bằng các thánh, như lời thánh Phaolô đã xác quyết:

- “Tôi ngập tràn niềm vui giữa những thử thách”.

Hãy vào những nhà dòng khổ tu với một nếp sống khắc khổ và chúng ta sẽ thấy được những khuôn mặt chan hòa niềm vui.

Trái lại, bước chân vào những chốn ăn chơi, chúng ta chỉ thấy những khuôn mặt thất vọng và trống rỗng. Có những người đã tự tử ngay trên tiền bạc và danh vọng của mình.

Trong khi đó, các thánh là những người đã chết với nụ cười bình an trong tình thương của Chúa.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã hy sinh cho Chúa những gì trong cuộc sống bình thường của chúng ta?

Cầu nguyện

Lạy Chúa, qua đoạn Tin mừng hôm nay, Chúa đòi hỏi chúng con phải từ bỏ mình, có nghĩa là phtừ bỏ những tư tưởng, những lời nói và những việc làm, khi chúng đi ngược lại với những điều Chúa đã truyền dạy. Đồng thơi Chúa bảo chúng con phải vác thập giá mình hằng ngày. Thập giá đời thường của chúng con, đó chính là những hy sinh gian khổ, những bực bội buồn phiền, những mệt mỏi vất vả chúng con gặp phải trong cuộc sống. Tất cả đã kết thành cây thập giá đời thường Chúa muốn chúng con vác lấy để bước theo Chúa. Có từ bỏ mình và chấp nhận thập giá, chúng con mới thực sự trở thành những người môn đệ của Chúa.


 

TN13-A62: Bát nước lã - Ts. Trần Quang Huy Khanh

 

Nếu hôm nay có một linh mục, giám mục, hồng y, hay giáo hoàng đến thăm gia đình bạn trong TN13-A62


Nếu hôm nay có một linh mục, giám mục, hồng y, hay giáo hoàng đến thăm gia đình bạn trong tư cách một người thân, hoặc người bạn, thì tôi sẽ định cho những vị ấy uống gì? Rượu mạnh, rượu chát, trà quí, cà phê hảo hạng, nước ngọt, hoặc nước lọc. Tôi nghĩ là tất cả. Tất cả những gì là quí giá, đắt tiền, ngon, lành, và bổ. Lý do đơn giản, vì không những họ là một người bạn, người thân, mà còn là người bạn, người thân có địa vị cao cả trong giáo hội. Một cách tương tự, nếu một người bạn thân của gia đình tôi là bộ trưởng, tổng trưởng, thủ tướng, tổng thống, thì cách thức đón tiếp cũng mang một hình thức trang trọng như vậy.

Ngược lại, nếu cũng là một người bạn, mà là người tầm thường. nghèo khổ, và thường ngày vẫn quen nhau thì sao? Thì thế nào cũng xong, nước lã đun sôi, hoặc nước trà bình thường thôi. Ở đây, thì lý do đơn giản là, chỗ quen biết, và bạn bè bình dân lâu năm.

Cũng là một người bạn, cũng là một hình thức thăm viếng, nhưng có hai lối cư xử, đón tiếp, mà sự cách biệt ấy không gì khác, chỉ là vì cái địa vị của một người. Chính vì nhìn nhau bằng cặp mất “địa vị” như vậy, cho nên đức tin của tôi không trưởng thành, và không phát triển. Và cũng vì lối nhìn ấy, mà Chúa Giêsu cũng bị tôi đối xử một cách bất công, nếu không muốn nói là coi thường, và rẻ rúng. Vì có bao giờ “chúng tôi có bao giờ thấy Chúa khát mà cho uống đâu” (Mt 25:37). Nhưng rồi Chúa Giêsu đã trả lời cho những kẻ hỏi ngài, người lành cũng như kẻ dữ: “Khi các ngươi làm việc ấy cho một kẻ bé nhỏ trong anh em ta đây, là các ngươi đã làm cho chính ta” (Mt 25:40).

Những anh em bé nhỏ của Chúa. Thật khó mà tưởng tượng được, một người nghèo đói, tàng tật, vất vưởng đầu đường xó chợ kia lại là chính Chúa. Và cũng chính vì Chúa như thế, nên ít người đã nhận ra ngài. Vì chỉ có ngài mới có thể nói với tôi: “Kẻ nào cho một trong những kẻ bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì qủa thật, thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu” (Mt 10:42).

Thì ra thế, bát nước cho một người bé mọn vì Chúa sẽ chẳng mất phần thưởng. Và kẻ bé mọn thì chung quanh tôi có đầy: Những người tàng tật tinh thần và thể xác. Những người nghèo đói tình thương và cơm bánh. Những người bị bõ rơi và quên lãng. Những người bị hà hiếp và chèn ép. Những trẻ thơ không cha mẹ, không người thân thuộc. Những cô nhi và quả phụ. Những nạn nhân chiến tranh và lòng thù ghét của đồng loại. Tóm lại, những người mà Chúa Giêsu bảo là bạn hữu của Chúa thì không hiếm. Nhưng cái khó là làm sao nhận ra họ, nhận ra họ là chứng nhân, là kẻ được Chúa sai đến với mình. Vì bao lâu không nhìn ra cái ấn tín chứng nhân nơi họ, không nhìn ra ý nghĩa của lần gặp gỡ với họ, tôi sẽ không nhận ra họ, và cũng không bao giờ chấp nhận cái sứ vụ của người sai họ đến với mình.

Không nhận ra họ, và không nhận ra sứ vụ của họ, là chối bỏ người sai họ. Như việc người ta chối bỏ môn đệ của Chúa. Trường hợp ấy, làm gì có nước mà cho uống, vì đã không coi họ như những người thân thiện, những đại diện của đấng đã sai họ, làm gì tôi có thể vui lòng và tiếp đón họ.

Thật vậy, ai cũng biết rằng tự nó, bát nước lã không đem lại công trạng để được tưởng thưởng. Nó cũng chẳng có lý do được phần thưởng đời đời như thánh Mátthêu đã ghi trong bối cảnh của ngày chung thẩm, trong đó một trong những lý do người lành được thưởng vì đã cho một người bé mọn một bát nước lã. Cũng như một trong những lý do kẻ dữ phải đọa đầy, vì đã từ chối không cho anh chị em nhỏ bé mình một ly nước khi họ khát (xem Mt 25:46).

Nhưng lý do để người lãnh thưởng và kẻ bị chúc dữ vì những bát nước là vì đã cho “những kẻ bé nhỏ nhất trong anh em ta” và “vì họ là môn đệ ta”. Thái độ đón tiếp ấy, cái nhìn tâm linh ấy là những gì Chúa Giêsu muốn được nhìn thấy trong sinh hoạt của tôi, và trong cách cư xử, đối đãi hằng ngày với nhau của tôi. Đây là một cái nhìn xuyên thấu tâm hồn, phát xuất từ đức tin và đức mến hành động. Điều mà có thể làm cho chúng ta khám phá ra Chúa Giêsu trong những anh chị em chung quanh mình. Không phải vì cái vỏ bên ngoài, hay địa vị xã hội, hoặc giáo hội, mà là người đó là hình ảnh, là hiện thân, là sứ giả của Chúa Giêsu. Cũng với lối nhìn ấy, chúng mới có thể tiếp đón mọi người đến với tôi thường ngày, và nhìn ra họ là “sứ giả”, là môn đệ được sai tới từ Thiên Chúa đến với tôi trong bối cảnh này, trong tình huống ấy, và trong thời điểm ấy. Nhận ra họ, và qua họ nhìn thấy Chúa, lúc ấy, tôi sẽ đón tiếp họ và qua họ, đón tiếp Chúa.

Như vậy, khi Chúa Giêsu lấy đơn vị một bát nước, và một người anh em hèn mọn nhất, để đo lường và cân nhắc thái độ đón tiếp của tôi dành cho nhau, cũng như tình cảm mà tôi dành cho anh chị em mình là như nhắn gửi tôi rằng, trong hoàn cảnh nào, và trong bất cứ ai, thì Chúa Giêsu vẫn có mặt, và đến với tôi. Ngài đến không chỉ để ban thưởng, mà còn để xin tôi, mong đón nhận nơi tôi một lời an ủi, một nụ cười thông cảm, và một ánh mắt yêu thương. Như một người đang đi đường nhận được bát nước giải khát vậy.

Chúa Giêsu cần an ủi không? Và Chúa Giêsu cần được khuyến khích không? Có chứ. Chúa Giêsu đã chẳng nói với các Tông Đồ trong vườn Cây Dầu: “Các con hãy ở đây và thức với thầy”. Và người nói với người thiếu phụ Samaritanô: “Cho tôi uống với” (Gioan 4:7). Đây là một mời mời gọi, lời mở ra từ cõi lòng Thiên Chúa, Ngài muốn trao ban cho nhân loại cái cơ hội để tiếp cận và gần gữi Ngài. Nước thì làm gì mà Ngài không có. Ngài muốn ăn gì, uống gì mà không có. Và điều này đã phản ảnh lời mà Ngài đã nói với thiếu phụ Samaritanô bên giếng nước Giacob: “Nếu chị biết ơn Thiên Chúa và người đang nói với chị là ai, hẳn chị sẽ xin người ban nước hằng sống cho” (Gioan 4:10).

Chúa xin mà là Chúa cho. Ngài chỉ muốn tạo cơ hội cho con người nhận ra Ngài, tiếp nhận Ngài, và đón Ngài vào nhà mình. Bằng mọi cách, Ngài muốn cho con người hiểu Ngài yêu thương con người, và chỉ cần một đáp trả rất nhỏ mọn thôi, như cho người bạn mình một bát nước vì Ngài, Ngài cũng mủi lòng, cũng cảm động, và cũng ghi ơn. Tiền bạc thì tôi không có. Hạt xoàn thì tôi không có. Vàng bạc thì tôi không có. Nhưng chẳng lẽ tôi không có lấy một bát nước cho người nghèo quang mình. Và chỉ cần bằng một lòng yêu mến, kính trọng, và thái độ khiêm nhường là tôi thấy Chúa ở ngay bên mình: “Kẻ nào cho một trong những kẻ bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì qủa thật, thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu” (Mt 25:42).


 

TN13-A63: Chú giải của Noel Quession

 

Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu được cấu tạo trên năm bài giảng của Đức Gỉêsu, kết hợp với TN13-A63


Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu được cấu tạo trên năm bài giảng của Đức Gỉêsu, kết hợp với năm giai đoạn “Ký thuật”

Dĩ nhiên, đây là những tổng hợp mà Mát-thêu tập họp từ các yếu tố thường được tìm thấy trong các văn cảnh khác trong sách Luca và Mác-cô. Ngày hôm nay chúng ta đọc phần cuối của "Bai giảng về các Tông Đồ”, "bài giảng thứ hai trong soạn thảo của Mát-thêu. Ơ đây, Đức Giêsu cho các Tông Đồ mà Người đã bổ nhiệm" để thay thế Người. (Mt 10, 1.2.5-11,1) những chỉ thị cho việc tông đồ. Đó là những phán quyết theo mẫu câu nói, vô cùng mạnh mẽ... nghịch lý, gọt giũa nhu những câu châm ngôn, mà một khi đã nghe, người ta không còn quên được.
Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy.

Những lời này cứng rắn không thể trạng! Những lời thiếu tình người có thể bị hiểu sai, ở một thời đại mà cha mẹ rất khó chịu vì những quan hệ khó khăn với con cái như thời đại chúng ta. Có vẻ như Đức Giêsu khuyên con cái không yêu cha mẹ chúng! Giới răn thứ tư của Thiên Chúa vẫn là một giới răn thiêng liêng: "Thảo kính cha mẹ?". Chính Đức Giêsu đã làm gương về sự vâng lời và trung tín tế nhị đối với Mẹ Người (Lc 2,50; Ga 19,26). Người cũng nhắc lại rằng sự giúp đỡ cụ thể cha mẹ cũng vượt qua trước "của lễ dâng trong Đền Thờ" (Mt 15,3-6). Vậy Đức Giêsu muốn nói gì bằng những lời cứng rắn mà Người phát biểu ở đây? Một cách chính xác, Đức Giêsu quan niệm về bổn phận thiêng liêng nhất, và nói với chúng ta một cách mạnh mẽ nhất, rằng người ta phải yêu mến Người hơn tất cả những người đáng yêu nhất, những người mà chúng ta phải yêu nhiều nhất. Theo Đức Giêsu, trở thành tín hữu, đôi lúc có thể gấy ra sự chống đối của những người thân yêu nhất của chúng ta. Lúc đó, Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta phải yêu mến Người hơn. Và chúng ta biết rõ ở thời đại chúng ta điều đó rất thường xảy ra. Tin Mừng đề nghị chúng ta một sự chọn lựa dứt khoát dẫn đến sự dấn thân trọn vẹn cho một quan niệm sống. Vì sự chọn lựa ấy triệt để nên nó làm cho người ta không sống như trước đây, Đức Giêsu thường trở thành một nguyên nhân của những sự bất hòa ngay trong những gia đình đoàn kết nhất bởi tình cảm tự nhiên. Qua bản văn cổ này được viết ra từ 2000 năm nay, cuộc xung đột ấy không mới mẻ như người ta tưởng. Lạy Chúa, xin giúp chúng con trung tín với Chúa dù với giá máu của trái tim con.

Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.

Câu thứ hai này hoàn toàn song song với câu trên: sau mối quan hệ của con cái đối với cha mẹ... giờ đây là mối "quan hệ của cha mẹ đối với con cái...” Đức Giêsu đòi hỏi vị trí hàng đầu trong tình yêu của chúng tạ; Yêu sách này không thể chấp nhận được, không thể hiểu được, nếu Người không phải Thiên Chúa! Trong tất cả những vị sáng lập các tôn giáo, Đức Giêsu là người duy nhất nói như thế, những vị khác nói rằng: "phải yêu mến Thiên Chúa. Còn tôi, tôi chỉ là người phát ngôn của Thiên Chúa". phải, trong mọi tôn giáo, người ta đặt Thiên Chúa lên trên mọi sự. Nhưng ở đây chính là Đức Giêsu. Táo bạo biết bao? Anh hãy ghi nhận chữ Thầy (Tôi) không ngừng được lặp lại trong các công thức đó: không xứng với Thầy"... "không xứng với Thầy" Vậy Thầy là ai?”

Vào thời đại chúng ta, chúng ta nhạy cảm với sự hiệp nhất của những tình yêu. Chúng ta thường nói rằng khi yêu thương những người khác là chúng ta yêu mến chính Thiên Chúa. Và thật vậy? Theo chiều hướng này, sự liên đới của chúng ta là chính và được Thiên Chúa mong muốn. Và thật thảm hại nếu chúng ta sử dụng những công thức của Tin Mừng ấy để biện minh cho sự thiếu tình yêu thương của chúng ta, sự co quắp của chúng ta trên những lợi ích cá nhân, sự bất lực ích kỷ của chúng ta không chịu đựng, dung thứ như những người thân yêu. Vả lại, yêu cha mẹ, yêu con cái còn đi xa hơn khung cảnh gia đình chật hẹp. Đó cũng là thừa nhận cội rễ di truyền, địa phương, văn hóa, xã hội: dù muốn hay không, chúng ta là con cái và cha mẹ… chúng ta phụ thuộc và chúng ta tạo ra sự phụ thuộc! Chúng ta là thành phẩm của một "môi trường", một "thời đại Nhưng các sự liên đới ấy dù rất quan trọng, không thể trở thành một cái cớ biện minh cho việc chúng ta không đi theo Đức Giêsu. Biết bao thanh niên hoặc biện minh sự bỏ đạo của họ, bằng sư bỏ đạo của mọi người xung quanh họ!

Ai yêu "môi trường" của mình hơn cả Thầy không xứng với Thầy.

Ai yêu bạn bè mình hơn chính Thầy không xứng với Thầy.

Ai yêu hoàn cảnh, nghề nghiệp của mình hơn chính Thầy không xứng đáng với Thầy.

Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy.

Đó là cấp độ thứ ba của nấc thang từ bỏ: trên hết là phải từ bỏ chính mình. Sự ám chỉ thập giá ấy làm chúng ta nghĩ rằng hẳn Đức Giêsu không bao giờ đề nghị những sự hy sinh như thế nếu Người đã không sống chúng trước tiên. Mọi thập giá được chúng ta vác... là một thập giá "đi theo" Đức Giêsu. Bạn đang đau khổ... bạn đi theo sau thập giá của Người.

Vác thập giá của mình! Chúng ta có thể bị cám dỗ làm cho cách diễn đạt ấy mất hết sức mạnh và sự khốc liệt của nó. Đối với Mát-thêu, vấn đề không phải là một hình ảnh sùng đạo, một ngôn ngữ quy ước để nói về những hy sinh nho nhỏ của đới sống. Vào thời đại của Đức Giêsu, sự đóng đinh thập giá vẫn là hình phạt dành cho những kẻ nô lệ, hình phạt tàn ác và ô nhục nhất trong các cực hình Người bị kết án phải hứng chịu sự giận dữ của quần chúng, hấp hối trong sự đau đớn khủng khiếp dưới sự chứng kiến của đám đông. Xem ra Đức Giêsu có thể đã thấy những kẻ bị đóng đinh, trước khi chính Người cũng bị đóng đinh? Ở Pa-lét-tin, vùng đất mà người La Mã chiếm đóng đó là cách xử tử thông thường. Một sử gia của thời đó đã thuật lại rằng khi Hê-rô-đê cả chết, thủ lãnh của đạo quân La Mã, Varus đã ra lệnh đóng đinh cùng một lúc hai ngàn người Do Thái! Thập giá không còn là một vật để thờ phượng hay để điểm trang!

Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được.

Đây còn là một lời tuyên bố mà bề ngoài như nói ngược lại tất cả những gì thế giới hiện đại đòi hỏi: Ngày nay, sự tìm tòi cao nhất là để "tự thực hiện" bản thân, “phát triển mình", "tự thể hiện mình": Còn Đức Kitô đề nghị chúng ta "mất. mạng sống mình" để "theo Người"!

Tuy nhiên, nếu chúng ta chịu suy nghĩ một chút thì bên trên sự đụng chạm ban đầu, chúng ta khám phá trong tư tưởng của Đức Giêsu một trong những luật căn bản của đời sống chúng ta. Một người không có khả năng từ bỏ mình vì người khác thì người đó không có khả năng yêu thương. Kinh nghiệm hiện sinh hàng ngày của chúng ta cho chúng ta khám phá rằng "phải đánh mất mình đi" để thật sự phát triển trong tình yêu người khác. Vả lại, nghịch lý ấy chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng Phục Sinh, chính Đức Giêsu đã sống nghịch lý đó trước tiên. Đánh mất sự sống... để chiếm lấy sự sống!

Lời của Đức Giêsu không có đặc tính gì là thích tự hành hạ mình, tiêu cực, buồn bã; đó là một lời tích cực và vui tươi Vấn đề là phải chiếm lấy". Đức Giêsu đề nghị chết cho chính chúng ta để thật sự sống. "Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" (Ga 10,10). Vậy, đây không phải là một sự bàng hoàng dũng cảm của thuyết hư vô và dù ít dù nhiều cũng là sự tự tử, mà đây là tình yêu thương mỗi ngày đòi hỏi chúng ta phải đánh mất mình vì những người khác... và là sự phát triển cao thượng nhất! Không hề phá hủy con người, sự hy sinh từ bỏ tạo thành những người đàn ông và đàn bà cao cả nhất. Chỉ cần nghĩ đến Charles de Foucault, Mẹ Têrêxa Can-quýt-ta, Martin Luther Kinh và nhiều người khác!

Còn nếu co quắp vào tính ích kỷ nhỏ bé của mình, sự phát triển của cá nhân mình thì như Đức Giêsu đã nói đó là phương tiện chắc chắn nhất làm hỏng cuộc đời mình. Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu được lời Chúa và ban cho chúng con sức mạnh để sống lời ấy. Thánh Phaolô đã nói "được rửa tội" chính là chịu đóng đinh với Đức Kitô để sống với Người" (Rôm 6,6-8) Và mỗi thánh thể nhắc chúng ta rằng Đức Giêsu đã "nộp sự sống của Người".

Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.

Đoạn văn bắt đầu bằng những lời này là phần kết luận của "Bài giảng về các Tông Đồ". Và thật ra chúng ta luôn ở trong cùng một luồng tư tưởng: luôn là vấn đề của lòng yêu thương... và yêu thương dưới hình thức đơn giản nhất là đón tiếp người khác.

Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì ngườ ấy là ngôn sứ thì sẽ được lãnh nhận phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ, ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.

Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

Thế giới hiện đại này có vẻ đề cao sự phát triển cá nhân kể cả bằng sự đè bẹp những người khác (ví dụ như trong việc phá thai và nhiều hoàn cảnh khác...) cũng thế giới ấy đã tìm thấy công thức tàn bạo: "Tha nhân là hỏa ngục!"

Còn Đức Giêsu đề cao lòng hiếu khách, cởi mở, đón tiếp chúng ta có dành cho người xa lạ một chỗ khiêm tốn nơi bàn ăn của chúng ta không? Người khách được đón tiếp vào nhà chúng ta là một sự hiện diện của Đức Chúa. Hỡi vị khách xa lạ, hãy nói cho chúng tôi nghe điều bí mật của bạn.

Tiếp đón niềm nở chính là hình thức vui tươi của lòng yêu thương.

Đó là một ơn thường gặp nhất mà người ta có thể thực hiện ở mọi lúc dù khi quá nghèo và người ta không có gì để cho ngoài tính cách của sự đón tiếp Đức Giêsu đã gợi ra ba loại thành viên của cộng đoàn:

Các ngôn sứ, các người công chính và các kẻ bé nhỏ! Hai loại người trên đã được tôn kính trong đạo Do Thái. Nhưng Đức Giêsu còn thêm những "kẻ bé nhỏ", những "môn đệ bình thường", những người mà người ta luôn -liều lĩnh bỏ quên họ để chỉ quan tâm đến các Kitô hữu siêu hạng các chiến sĩ đức tin, các người dấn thân cao cả? Trong một thế giới rất dễ dành mất tình người và lại luôn đi tìm những môi trường mới cho sự hiệp thông nhân loại, lời mời gọi Đức Giêsu luôn có giá trị. Các kỹ thuật viên của mọi hệ thống, các chuyên gia về "nhóm năng động", các người nhiệt thành truyền bá các ý thức hệ xứng đáng... đều phải tìm cách thực hiện động tác đơn giản cho người đang khát một chén nước: chỉ là một chén nước lã! Biểu tượng cho tương quan con người đơn giản nhất. Tin Mừng xem ra không đơn giản. Đức Giêsu cảnh báo sự dửng dưng và vô tâm của chúng ta. Tha nhân! Người khác! Kẻ bé nhỏ nhất.


 

TN13-A64: Suy niệm của Lm Augustine, SJ.

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
Lũ trẻ từ bỏ mình vì yêu Hài Nhi Giêsu

 

Ðó là một buổi chiều mùa đông tuyết phủ đầy mặt đất, bốn đứa trẻ của gia đình ông bà Mặc Ðăng TN13-A64


Ðó là một buổi chiều mùa đông tuyết phủ đầy mặt đất, bốn đứa trẻ của gia đình ông bà Mặc Ðăng Nghinh (Mc Donald) bị bó cẳng, không ra ngoài chơi được, nên cãi lộn, trêu chọc và phá hỏng đồ chơi của nhau. Chúng làm thế chỉ vì hiếu động nhưng cũng có màn gay cấn. Chẳng hạn, từ phòng khách bà mẹ nghe rõ mồn một:

- Con mụ kia! Của tôi mà!

- Không phải đâu anh "phệ"! Tôi dành được trước mà.

Giáng sinh mới qua có mấy ngày mà lũ trẻ đã om sòm cãi nhau về những đồ chơi chúng nhận được vào dịp lễ.

Bà Nghinh sực nghĩ tới một sáng kiến để giúp bọn trẻ thực sự sống ơn bình an và hoà giải mà Chúa Giáng sinh mang lại. Nhiều năm trước, bà nội có kể cho bà nghe về một phong tục Giáng sinh cổ truyền. Người ta đã giúp trẻ em khám phá ra ý nghĩa đích thực của Giáng sinh qua một trò chơi độc đáo.

Vậy người mẹ đã tập hợp bốn đứa nhóc lại và hỏi: các con có muốn chơi trò chơi Giáng sinh mới không? Ðiều cần thiết là phải giữ bí mật. Ai có thể chơi môn chơi bí mật này?

- Con! Ðức (Eric) mau miệng nói trước.

- Con có thể giữ bí mật hơn anh ấy, Bé Hiền cướp lời anh. Nó tên là Hiền mà chẳng hiền chút nào. Lúc nào cũng muốn gây gỗ với anh lớn hơn nó một tuổi.

Hai đứa nhỏ nhất cũng huà theo tuy chưa rõ chuyện ất giáp ra sao: Con cũng làm được - Con cũng làm được.

Người mẹ giải thích:

- Ðược rồi, đây là nội dung trò chơi: chúng ta sẽ mừng lễ Giáng sinh lại vào ngày 25 tháng Giêng sắp tới, và sẽ chuẩn bị cho Hài Nhi Giêsu một máng cỏ êm ái nhất thế giới để Hài Nhi Giêsu ngủ ngay ở đây trong căn nhà của chúng ta. Chúng ta sẽ chất rơm đầy máng cỏ giúp tạo hơi ấm để Hài Nhi có thể ngủ ngon. Và đây là ý nghĩa của trò chơi. Mỗi cọng rơm đặt vào máng cỏ tượng trưng cho một việc tốt chúng ta làm cho một người nào đó, từ bây giờ đến lễ Giáng sinh. Càng nhiều việc tốt, máng cỏ càng có nhiều cọng rơm và Hài Nhi Giêsu càng được êm ấm. Ðiều phải giữ kín là: chúng ta không được kể cho ai biết việc tốt đó được thực hiện cho bất cứ ai.

Bé Hiền là người đầu tiên thắc mắc: "Làm thế nào mà Chúa Hài Ðồng Giêsu biết đó là giường của Ngài?"

Người mẹ trả lời: Ngài sẽ biết thôi, Ngài sẽ nhận ra tình yêu chúng ta đặt nơi máng cỏ nhờ sự êm ái máng cỏ.

- Nhưng chúng ta sẽ làm việc tốt cho ai? Ðó là thắc mắc của Ðức, đứa lớn nhất.
Người mẹ trả lời: Ðơn giản thôi, chúng ta sẽ thực hiện việc tốt cho nhau. Mỗi tuần, từ bây giờ đến lễ Giáng sinh đó, chúng ta sẽ để tất cả tên chúng ta trong chiếc mũ này, cả tên của mẹ và tên của bố. Rồi mỗi người sẽ rút một tên và làm việc tốt cho người đó trong cả tuần.

Nhưng đây mới là điều khó: Chúng ta không được cho ai biết tên người rút được và phải cố gắng làm nhiều điều tốt cho người mình rút được tên. Mỗi khi làm một việc tốt, chúng ta sẽ đặt một cọng rơm vào máng cỏ.

Bé Hiền cau mày nói: Nhưng nếu con rút phải tên người con không thích thì sao?
Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy

Người mẹ suy nghĩ một chút rồi nói: Con có thể dùng những cọng rơm lớn hơn dành cho việc việc tốt con làm cho người đó, vì việc tốt loại đó được thực hiện cách khó khăn. Dĩ nhiên những cọng rơm lớn sẽ mau làm đầy máng cỏ. Thế rồi vào đêm Giáng sinh, Hài Nhi Giêsu sẽ cảm thấy êm ái biết bao khi Ngài nằm trên máng cỏ với những cọng rơm bự chất chứa nhiều tình yêu loại đó! Mẹ cho rằng Chúa Hài Ðồng sẽ rất vui vẻ khi ta bày tỏ tình yêu dành cho Ngài.

Vấn đề được nêu lên là "Ai sẽ làm máng cỏ?" Vì Ðức lớn nhất và là đứa duy nhất được phép sử dụng dụng cụ, nên nó xuống ngay nhà hầm và hí hoáy thực hiện công trình mà nó lấy làm hãnh diện. Trong hai giờ đồng hồ từ nhà hầm vang lên tiếng lưỡi cưa xèn xẹt, rồi tiếng búa đập trên đinh. Một lúc lâu, tất cả đều im bặt không còn tiếng động nữa. Cuối cùng, Ðức trèo lên nhà với chiếc máng cỏ trong tay. Nó cười toe:

- Ðây rồi, chiếc máng cỏ đẹp nhất thế giới! Con làm có một mình đấy nhé!

Mọi người đều đồng ý và bà Nghinh có thể tiến hành trình bày trò chơi Giáng sinh của bà: Bây giờ chúng ta cần những cọng rơm.

Thế là năm mẹ con lên xe. Bà Nghinh lái xe tới một mảnh đất bỏ hoang đầy cỏ dại. Bây giờ là cuối tháng mười hai, cỏ đã khô và ngả sang màu vàng trông giống như rơm. Chỉ trong chốc lát chiếc hộp bằng các tông nơi thùng xe chứa đầy cọng cỏ khô giống như rơm.

Sau bữa cơm tối, ai nấy trong bàn ăn đều rút thăm lấy một mảnh giấy đã gập lại trong đó có ghi tên một người trong gia đình gồm hai bố mẹ và bốn con.

Bé Hiền rút trước, lập tức nó khúc khích cười. Tiếp theo là Lan rút ngay miếng giấy bố nó đã viết khiến bố nó che miệng tủm tỉm cười. Ðến lượt hai ông bà rút thì cả hai đều nghiêm túc không tỏ thái độ. Út Minh là người duy nhất chưa biết đọc, nên bố nó phải đọc thầm lá thăm vào tai nó. Ðức là người rút thăm cuối cùng. Người ta thấy rõ nét mặt nó tỏ ra không hài lòng. Nó nhét cái tên vào túi áo, không nói gì.

Tuần lễ sau, nhiều bất ngờ xảy ra. Dưới nhà hầm, có người đã quét sạch mạt cưa thay cho Ðức. Còn bé Hiền đánh răng rồi về phòng thì thấy phòng mình đã được dọn dẹp tươm tất. Nơi nhà bếp có ai đã lau quét tươm tất khi bà Nghinh ra cổng lấy thư về. Mỗi buổi sáng bố hỏi: Giày của bố đâu rồi? Không ai trả lời cả, nhưng trước khi đi làm, bố lại thấy đôi giầy của mình đã được đánh bóng và để vào chỗ cũ.

Dáng dấp của phần thưởng không bị mất

Bà Nghinh để ý thì thấy những thay đổi quan trọng hơn xảy ra trong tuần: Lũ trẻ không trêu chọc nhau hoặc đánh lộn nhau nhiều như trước. Ðôi khi có nổ ra cuộc tranh cãi, nhưng bỗng im bặt không vì một lý do rõ ràng. Ngay cả bé Hiền và Ðức cũng tỏ ra hoà hoãn với nhau hơn. Thực ra, lũ trẻ đều có những nụ cười bí mật và đôi khi bật thành tiếng khúc khích.

Bốn tuần lễ "Mùa Vọng" (theo trò chơi) đầy những bất ngờ mà bất ngời cuối cùng là do bé Ðức. Nó liên tục rút phải tên bé Hiền nên nó dứt khoát muốn bỏ nhà ra đi để cho mọi người ăn lễ Giáng sinh đó xong mới về. Mẹ phải tìm đủ cách thuyết phục, Ðức mới đổi ý. Ðức đã đặt nơi máng cỏ cọng rơm cuối cùng, loại bự!

Câu chuyện vừa kể giúp làm sáng tỏ phần chót của bài giảng về sứ mạng truyền giáo (Mt 10,1-42). Ở phần chót của bài giảng này, điều được nhấn mạnh là từ bỏ (cc 37-39) và phần thưởng (cc 40-42).

Bài giảng về sứ mạng truyền giáo đã lần lượt dạy các môn đệ về việc phải làm (cc 5-15) về tình hình thù địch phải đối phó (cc. 16-25) về niềm tin tưởng vào Thiên Chúa cần được duy trì (cc. 26-33).

Bây giờ để kết thúc, Ðức Giêsu đòi các môn đệ trong bối cảnh tình yêu mà ai cũng dễ dàng nghiệm thấy được, đó là bối cảnh gia đình. Nhưng ở phần cuối này, Ðức Giêsu còn đòi các môn đệ phải xác định rõ mối tình lớn lao hơn mối tình đối với cha, với mẹ, với con trai, con gái của mình (c.37). Ở đây Ðức Giêsu chỉ nhẹ nhàng ám chỉ về tình yêu của "Ðấng đã sai Thầy" (c.40). Ðó là Ðấng không xa lạ với các môn đệ vì Ngài ở thâm sâu nơi cõi lòng họ: chính Ngài dạy họ phải nói gì khi bị điệu ra trước vua chúa quan quyền (c.18). Thực ra chính "Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em" (c.20). Thiên Chúa đã yêu ta trước (x. 1Ga 4,10). Trước khi ta biết yêu thương là gì thì Thiên Chúa đã lo để ta có cha có mẹ luôn ứng trực săn sóc và vỗ về, để ta tồn tại và nên người. Nay Thiên Chúa còn phái Ðức Kitô, Con của Người đến cứu ta khỏi tội (Mt 1,21). Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của Ðức Kitô, Ðấng hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu (x. Ga 13,13). Nào Ngài chẳng có quyền đòi ta phải yêu Ngài hơn cha mẹ và con cái ta sao?

Phần chót của bài giảng về sứ mạng truyền giáo nhắc nhở ta về điều cơ bản của bài giảng, đó là niềm tin. Các môn đệ đại diện cho chính Ðức Giêsu, nên đón nhận họ không những là đón nhận chính Ðức Giêsu, nhưng còn là đón nhận Ðấng phái Ðức Giêsu đến trần gian để cứu chuộc muôn người. Sẽ có phần thưởng xứng hợp dành cho những ai đón nhận các ngôn sứ, các thánh nhân và cả các tín hữu Kitô bình thường.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn nghĩ vì ai mà bọn trẻ của gia đình bà Nghinh từ bỏ mình? Bạn có thấy dáng dấp về phần thưởng chúng nhận được ngay trong bầu khí bình an của gia đình chăng? Phần thưởng ấy sẽ như thế nào sau này theo niềm tin của bạn?

2. Bạn hiểu thế nào về câu nói "Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được? (c.39). Bạn có thấy các thánh tử đạo minh hoạ điều vừa nói chăng?


 

TN13-A65: Chấp nhận vác thập giá theo Chúa để sống vui


(Suy niệm của Lm. Đan Vinh)

I. HỌC LỜI CHÚA
CHÚ THÍCH:
 

C 37: + Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy…: Ở đây Đức Giê-su tỏ ý “ghen TN13-A65


- C 37: + Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy…: Ở đây Đức Giê-su tỏ ý “ghen tương” giống như sự ghen yêu của Đức Chúa đối với dân Ít-ra-en trong thời Cựu Ước (x. Đnl 29,17-19; 32,16-21). Đức Giê-su không chấp nhận bất cứ tình yêu nào cạnh tranh với tình yêu phải được dành riêng cho Người. Kẻ nào muốn theo làm môn đệ Đức Giê-su mà còn quá quyến luyến với gia đình, thì chẳng xứng đáng với tình yêu của Người. Kẻ nào không nhìn nhận sự tối thượng của Người cũng không thể làm môn đệ của Người được. Sở dĩ Người đòi hỏi trung thành tuyệt đối như vậy, vì Người chính là Thiên Chúa làm người, đến để chịu chết đền tội thay cho loài người.

HỎI: Với đòi hỏi như thế, phải chăng đi theo Chúa là phải hoàn toàn từ bỏ mọi liên hệ gia đình ruột thịt, có thể bị người đời kết tội là bất hiếu?

ĐÁP: Thực ra không phải như vậy. Vì chính Đức Giê-su là một người con hiếu thảo: Người vâng lời cha mẹ trong suốt thời gian ẩn dật tại Na-da-rét (x. Lc 2,51). Dù “giờ” chưa tới, nhưng Người sẵn sàng nghe lời cầu bầu của Đức Mẹ, để làm phép lạ đầu tiên giúp đỡ đôi tân hôn là hóa nước thành rượu ngon (x. Ga 2,4.5-8). Trước khi tắt thở trên cây thập giá, Người trối Đức Mẹ làm Mẹ của môn đệ Gio-an, để ông đem ngài về nhà mình mà phụng dưỡng thay cho Người (x. Ga 19,25-27). Người dạy người ta về sự thực hành cách cụ thể giới răn “Phải thảo kính cha mẹ”, trái với lời dạy lỗi bổn phận hiếu thảo của các luật sĩ (x. Mc 7,10-13). Nhưng đối với Đức Giê-su, sự vâng lời cha mẹ phải được đặt sau Thánh Ý Chúa Cha (x. Lc 2,49). Mẹ và anh em của Người chính là những ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa (x. Mc 3,33-35). Trong câu này, Đức Giê-su chỉ muốn nói rằng: khi cần phải chọn một trong hai tình yêu dành cho cha mẹ và dành cho Đức Giê-su, thì môn đệ phải biết đặt tình yêu trung thành với Người trên tình yêu dành cho cha mẹ.

- C 38: + Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy: Lúc đầu có lẽ các môn đệ đi theo Đức Giê-su do muốn được lợi lộc vật chất (x. Mt 19,27-30), được địa vị cao khi Người lên làm vua (x. Mt 18,1-4). Nhưng Người lại không chiều theo ý họ, mà đòi họ phải đi con đường hẹp, leo dốc và đầy gai chông, ít người chịu theo (x. Mt 7,13-14). Đó là đường “từ bỏ mình, vác thập gia mình hàng ngày mà theo chân Người” (x. Mt 16,24).

- C 39: + Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất…: Giữa hai sự sống tự nhiên và siêu nhiên, thì môn đồ phải biết chọn sự sống siêu nhiên. Nếu họ chỉ lo tìm sự sống thân xác, đến nỗi từ chối Chúa để khỏi bị giết chết, thì họ sẽ bị mất sự sống siêu nhiên ở đời sau. Ngược lại, nếu họ bằng lòng chịu chết vì đức tin, thì sẽ được Chúa ban lại sự sống siêu nhiên sau này.

- C 40: + Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy…: Ở đây Đức Giê-su áp dụng một nguyên tắc thông thường về ngoại giao là: “Kẻ được sai đi đồng hóa với người đã sai mình”. Đón tiếp môn đệ là đón tiếp Đức Giê-su, cũng là đón tiếp chính Thiên Chúa là Đấng đã sai Người. Sự đón tiếp ở đây là phải sẵn sàng đón nhận Tin Mừng do các tông đồ thừa sai rao giảng.

- C 41: + Ai đón tiếp một ngôn sứ… một người công chính: Có người nghĩ rằng: Ngôn sứ và công chính đồng nghĩa với tông đồ, nên ai tiếp đón các tông đồ với danh nghĩa là ngôn sứ và người công chính, thì sẽ được phần thưởng của các ngài. Nhưng một số các nhà chú giải hiện nay lại cho rằng: Thời Giáo hội sơ khai, chức vụ ngôn sứ khác với chức vụ tông đồ, còn người công chính thì không phải chức vụ, nhưng là người có lối sống công bình và ngay chính, được cộng đoàn kính trọng, như ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a người công chính (x. Mt 1,19), ông Giu-se hay Ba-sáp-ba, biệt danh Rô-ma là Gút-tô, nghĩa là công chính (x. Cv 1,23). + Thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ… cho bậc công chính: Đức Giêsu áp dụng nguyên tắc: “Người được sai đi đồng hóa với Đấng sai mình”, để nói rằng: kẻ đón tiếp các ngôn sứ và người công chính cũng sẽ được phần thưởng giống như phần thưởng mà các bậc ngôn sứ và người công chính sẽ được, là sự sống và được sự sống đời đời.

- C 42: + Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này…: Kẻ bé nhỏ đây ám chỉ các môn đệ của Đức Giê-su là tông đồ thừa sai. + Người đó sẽ không mất phần thưởng đâu: Đức Giê-su hứa sẽ ban thưởng Nước Trời cho những ai thành tâm cộng tác vào sứ mệnh truyền giáo của các môn đệ, thì cũng sẽ được thưởng giống như các ngài sẽ được ở đời sau.

SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy (Mt 10,38).

2. CÂU CHUYỆN:

1) Chấp nhận thập giá để sống vui.

Có một thiếu nữ kia trẻ đẹp và là con một gia đình quý tộc ở Ái Nhĩ Lan. Tuy sống trong cảnh giàu sang, nhưng cô lại muốn sống đời thánh hiến cho Chúa. Khi tới tuổi trưởng thành, cô từ chối khi các chàng trai quý tộc đến dạm hỏi, và được cha mẹ cho phép, cô tìm đến một đan viện có lối sống nhiệm nhặt khắc khổ để xin được dâng mình cho Chúa. Mẹ bề trên thấy cô vừa trẻ đẹp, lại vừa là con nhà quyền quý giàu có, nên chưa dám nhận ngay. Bà muốn thử thách ơn gọi của cô nên đã cố ý trình bày những luật lệ khắt khe của đan viện về nhiệm vụ cầu nguyện và lao động nhiều giờ mỗi ngày. Nghe xong, cô gái giữ im lặng như suy nghĩ. Một lát sau, bà bề trên hỏi tiếp: “Bây giờ con còn muốn dâng mình cho Chúa nữa thôi?”. Cô đáp: “Thưa mẹ, con chỉ còn một thắc mắc này là: Không biết trong tu viện có nhiều cây thánh giá không?”. Mẹ bề trên trả lời: “Con đừng lo. Khắp nơi trong nhà, không chỗ nào là không có thánh giá cả”. Bấy giờ cô gái tươi nét mặt và nói: “Thế thì thưa mẹ, con sẵn sàng xin vào tu viện, vì con chắc sẽ không gặp gì khó khăn cả. Bởi vì theo con nghĩ: Nếu mọi nơi mọi lúc con đều nhìn thấy thánh giá Chúa, đều thấy Người đang cùng chịu đau khổ với con, thì con hy vọng có thể chịu đựng được mọi đau khổ”.

2) Chu toàn bổn phận đối với gia đình trước khi đi theo Chúa:

Vào năm 1994 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước cho chị Mác-đa-la Mô-ra-nô, là một nữ tu thuộc dòng Đức Mẹ Phù Hộ. Ngay từ thuở niên thiếu, Mác-đa-la đã phải nếm mùi đau khổ: Chỉ trong một tháng, người cha và chị cả trụ cột nuôi gia đình lần lượt bị chết, khiến cho bà mẹ và bốn đứa con thơ dại hết sức lo lắng cho tương lai gia đình.

Lúc đó em Mác-đa-la mới được 8 tuổi, nhưng đã tỏ ra khôn ngoan và chín chắn. Thấy mẹ lo buồn, em thường an ủi mẹ: “Mẹ đừng khóc nữa, chẳng bao lâu con sẽ khôn lớn và con hứa sẽ giúp mẹ thật nhiều như bố và chị Phanxica đã giúp mẹ vậy”. Nhưng không phải đợi tới lúc khôn lớn mà ngay từ lúc đó, vì nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn của gia đình, Mác-đa-la đã bỏ học để ngồi vào guồng tơ dệt chỉ mà chị Phanxica đã làm để kiếm tiền hằng ngày nuôi gia đình.

Một hôm, tình cờ người bác họ là cha Bandenla đến chơi và khi biết hoàn cảnh của Mác-đa-la, cha đã hứa phụ giúp nhu cầu vật chất của gia đình và giúp học phí sách vở cho Mác-đa-la đến trường học. Sau hơn mười năm chăm chỉ đèn sách, chị đã tốt nghiệp và trở thành một giáo viên giỏi dạy ở trường làng để phụ giúp gia đình. Suốt 16 năm trời, chị đã giữ lời hứa với mẹ, chuyên cần làm việc và âm thầm dành dụm. Đến ngày sinh nhật thứ 30, Mác-đa-la đã dẫn mẹ đến xem mảnh đất với căn nhà và khu vườn mà mẹ hằng mong ước. Chị âu yếm thưa với mẹ: “Thưa mẹ, đây là món quà con tặng mẹ, con chỉ xin mẹ cho phép con được tận hiến cuộc đời còn lại để theo ơn Chúa kêu gọi phụng sự Người”.

Quyết định của Mác-đa-la đã gây đau khổ nhiều cho mẹ chị, cho cha xứ, bạn bè và các phụ huynh học sinh của chị, vì họ mất đi một người con hiếu thảo, một người bạn tốt, một giáo viên gương mẫu, một người giáo dân nhiệt thành việc tông đồ. Ngày chia ly không khỏi ngậm ngùi đau xót, nhưng chị đã tìm được sức mạnh nơi tình yêu và lời Chúa phán: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với thầy”. Đồng thời chị cũng được sự an ủi vì tin vào lời Chúa đã hứa: “Quả thật, Thầy bảo cho anh em, không ai bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con, anh chị em vì nước Thiên Chúa mà lại chẳng lãnh nhận gấp trăm ở đời này và sẽ được sống đời sau”. Thật vậy, lời hứa ấy đã thể hiện qua suốt 30 năm sống đời tận hiến mà trong đó, hơn 25 năm hăng say với sứ mệnh tông đồ giữa giới trẻ nghèo khổ và bị bỏ rơi tại đảo Xi-xi-li-a. Cuối cùng chị đã được Hội Thánh tôn phong lên bậc chân phước để mọi người tôn kính và học tập noi gương.

3) Ai không đón tiếp tha nhân là đã từ chối đón chính chúa Giêsu:

Tiểu bang Minnesota ở phía trung bắc nước Mỹ, giáp với Canada, vào mùa đông thường có những trận bão tuyết và nhiệt độ tụt xuống -30 hay -40 độ âm Farenheit. Vào một đêm bão tuyết, chiếc xe hơi của người phụ nữ bị chết máy trên đường tới Rochester. Chị biết rằng sẽ bị chết cóng nếu cứ ngồi lại ở trong xe. Tuy là vùng miền quê, nhưng trên trục lộ chính, cũng có một số nhà dọc theo đường lộ. Chị đã đến gõ cửa lần lượt hơn một chục căn nhà, nhưng chẳng có ai chịu ra mở cửa. Sau cùng, có một người lái xe ngang qua thấy chị nằm gục bên vệ đường bèn xuống xe đưa chị vào nhà thương cấp cứu. Chị đã được cứu sống, nhưng tất cả các ngón tay, ngón chân và một bàn chân đã bị hoại tử vì chịu giá lạnh trong một thời gian quá lâu.

Có điều đáng nói là các căn nhà chị đến gõ cửa đêm hôm ấy, mọi người đều ở trong nhà và đều nghe có tiếng gõ cửa. Mọi người đều là các tín hữu sống tại vùng quê hiền hòa, nhưng không một ai chịu ra mở cửa, vì sợ có thể sẽ bị kẻ cướp vào nhà trấn lột!

4) Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm thấy được:

Vào một sáng mùa đông tuyết lạnh, SADHU và một người bạn cùng nhau đi du lịch qua một miền núi phía Bắc Ấn Độ. Thình lình một cơn bão tuyết ào ào đổ tới, gió lạnh gào thét bên tai họ, khiến họ phải rất vất vả để chống trả với cơn bão tuyết.

Bấy giờ họ thấy một người đàn ông bị lạnh cóng đang nằm thoi thóp bên đường chờ chết. Sadhu muốn dừng lại cứu giúp người gặp nạn, nhưng anh bạn kia lại không đồng ý vì cho rằng nguyên việc làm sao để cứu mạng mình lúc này cũng đã khó khăn vất vả lắm rồi, và anh ta cương quyết bỏ đi. Chạnh lòng xót thương, Sadhu ở lại bên kẻ bất hạnh, xoa nóng tay chân cho người sống dở chết dở ấy. Sau đó với sức lực còn lại, Sadhu cố gắng cõng anh ta trên lưng và tiếp tục đi qua vùng bị bão tuyết. Hơi ấm của hai thân thể hòa quyện lấy nhau khiến người kia dần hồi sinh và cả hai dìu nhau đi tiếp. Đi khoảng mươi dặm, cả hai kinh ngạc khi nhìn thấy một xác chết vì bị lạnh cóng đang nằm bên vệ đường. Họ càng ngạc nhiên hơn khi nhận ra đó không ai khác hơn là anh bạn đã cùng đi với Sadhu trước đó.

Hành động yêu thương xả thân cứu người của Sadhu đã minh chứng cho lời Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay: ”Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”. Anh bạn của Sadhu do đã cố giữ mạng sống của mình nên cuối cùng đã bị mất mạng, còn Sadhu do liều mất mạng vì tha nhân nên đã được cứu. Đó là điều nghịch lý mà Đức Giêsu đã trải qua và dạy các tín hữu noi theo. Người đã sẵn lòng chịu chết thập giá rồi sống lại vinh quang, để dạy chúng ta hãy đi con đường yêu thương: hy sinh mạng sống mình vì lòng mến Chúa yêu người, và chắc ta sẽ nhận được ơn cứu độ của Chúa.

5) Chia sẻ giúp đỡ người nghèo là làm cho chính Chúa:

Mác-tanh thành Tua (Martin de Tour) là một mẫu gương về đức bác ái cụ thể. Bấy giờ Mác-tanh là người đầu tiên được Hội Thánh tôn kính như một vị thánh mà không do chịu tử vì đạo. Ngài sinh ra tại Pháp vào lúc cuộc bách hại đạo sắp chấm dứt. Trước đó chưa có người nào được các tín hữu tôn kính như một vị thánh giống như ngài.

Mác-tanh đã nêu cao chân lý: yêu thương tha nhân là yêu chính Chúa Giê-su. Trong lúc Mác-tanh đang học giáo lý dự tòng thì ngài đã ở trong quân đội. Vào một đêm đông giá rét, khi Mác-tanh đang ngồi trên lưng ngựa đi tuần tra thì gặp một người ăn xin nghèo khổ đang đi trên đường. Ông ta bị rét run vì quần áo ông đang mặc chỉ là một mớ giẻ rách. Mác-tanh liền thương cảm cởi chiếc áo choàng bằng dạ đang mặc, rút gươm cắt thành hai mảnh và đưa một mảnh cho người ăn xin nghèo khổ kia. Sau đó, trong giấc ngủ, Mác-tanh đã nằm mơ thấy Chúa Giê-su trên cây thập giá đang khoác mảnh áo mà ông mới cắt cho người ăn xin. Mác-tanh nghe Người phán: “Hỡi Mác-tanh, tuy đang học giáo lý, mà con đã cho Ta chiếc áo này”.

3. SUY NIỆM:

1) Đón tiếp tha nhân là đón tiếp chính Đức Giêsu.

“Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.”

- Người khác là ai?: Giăng Pôn Sát (Jean Paul Sartres) một triết gia hiện sinh vô thần đã nói: “Hỏa ngục chính là người khác!”. Đây là một câu nói hận đời, trái ngược với tinh thần yêu thương của Đức Giê-su. Vì đối với các tín hữu chúng ta thì người khác chính là hiện thân của Đức Giê-su như Người đã nói: “Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các người đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Nhưng người khác là ai? Họ không phải là một người trừu tượng, nhưng là những người sống bên chúng ta. Họ là La-da-rô nghèo đói đang ở cửa nhà chúng ta. Họ là những người yếu đuối, già cả neo đơn, là những người vô gia cư, vô nghề nghiệp. Có thể họ cũng là một người trong gia đình ta, một người hàng xóm hay ở cùng một đường phố với chúng ta. Họ có thể là hỏa ngục hay là thiên đàng của ta tùy theo cái nhìn của ta đối với họ.

- Lòng hiếu khách: Trong một xóm đạo nọ, vào buổi sáng khi ánh mặt trời vừa ló rạng, cánh cửa mọi nhà trong xóm đều được mở ra đón ánh nắng ban mai. Rồi từ đầu xóm, một gã hành khất đeo bị và tay chống gậy xuất hiện. Qua các cánh cửa, người ta phát hiện ra gã. Thế là từng nhà dọc theo xóm, vội vã đóng và chốt cửa lại, kéo rèm che cửa sổ. Bấy giờ gã hành khất đến từng nhà gõ cửa, nhưng không ai ra mở cửa. Cảm thấy nhục nhã buồn tủi, gã lặng lẽ đi ra khỏi xóm. Khi gã vừa khuất dạng, các rèm cửa lại được kéo lên, mọi cửa nhà lại được mở toang đón nhận nắng ấm tràn vào trong nhà. Mọi người trong xóm đều vui vẻ ra mặt vì như vừa thoát khỏi sự quấy rầy của một kẻ không mời mà đến.

Hoạt cảnh trên đây vẫn thuờng xảy ra đó đây là do lòng ích kỷ của con người. Người ta thường chỉ mở cửa nhà và cửa lòng để đón mời một số người nào đó trong gia đình ruột thịt, các người bạn thân quen, đồng nghiệp, hay những kẻ mà họ hy vọng sẽ đem lại cho mình lợi lộc… và họ sẵn sàng khép cửa lại khi gặp một người lạ, nhất là những kẻ dáng vẻ nghèo nàn.

- Chúng ta phải làm gì đối với họ?: Đức Giê-su dạy chúng ta hãy ân cần tiếp đón tha nhân. Tùy theo thái độ của chúng ta mà họ sẽ thành niềm vui mang lại hạnh phúc hay trở nên nỗi bất hạnh của chúng ta: các chủ quán ở Bê-lem xưa đã từ chối đôi vợ chồng nhà quê nghèo khó là Giu-se và Ma-ri-a, nhưng họ lại không ngờ mình đã từ chối đón nhận Đấng Cứu Thế trong đêm Người giáng sinh (x. Lc 2,7); Hai người thu thuế trong Tin Mừng là Mát-thêu và Da-kêu đã mở rộng cửa nhà đón tiếp Đức Giê-su và đã được ơn cứu độ (x. Mt 9,10; Lc 19,5-10); Gia đình Bê-ta-ni-a đón tiếp Đức Giê-su và đã được Người dạy cho biết điều cần thiết nhất (x. Lc 10,39-42). Hai môn đệ làng Em-mau nhờ mời vị khách bộ hành vào tạm trú trong nhà, mà các ông đã nhận ra Đức Giê-su phục sinh (x. Lc 24,29-31). Ngày nay Đức Giê-su vẫn đang hiện thân trong những người đau khổ nghèo đói, những kẻ đứng ngoài cửa nhà chúng ta và gõ. Ai mở cửa đón rước Người, thì Người sẽ vào trong nhà linh hồn của họ và ngồi vào bàn dùng bữa tối thân tình với họ.

XÉT MÌNH: Tôi thường có thái độ thế nào đối với những kẻ mình không ưa hay những khách lạ không mời mà đến? Tại sao người ta đóng cửa nhà hay cửa lòng với những người nghèo đói ăn xin? Khi các người làm tông đồ đến nhà, tôi có niềm nở đón tiếp và cộng tác vào việc rao giảng Tin Mừng của họ hay không?

2) Tình yêu đối với Đức Giêsu.

- Gương vác Thánh Giá:

Từ lễ Giáng Sinh năm 1969, mục sư ÁC-THƠ BƠ-LÉT-SÍT (Arthur Blessit) đã khởi đầu một cuộc hành trình đi bộ vòng quanh thế giới. Trên vai vác một cây thập giá dài 3,6m, ngang 1,8m nặng 18 ki-lô. Sau 26 năm vất vả, ông đã lập được một kỷ lục thế giới về đi bộ, khi vượt qua một quãng đường dài tới hơn 50 ngàn cây số, ngang qua nhiều quốc gia. Sau này ông đã thuật lại chuyến đi ấy như sau: “Tôi đã đi qua nhiều sa mạc và rừng già, đã từng bị dã thú như voi, rắn, cá sấu tấn công. Tôi bị bắt giam 21 lần vì bị nghi là làm gián điệp và có lần suýt bị dân da đỏ hành hình…” Động lực thúc đẩy ông làm được việc phi thường ấy là tình yêu mến Chúa Giê-su. Ông muốn mang thánh giá đến mọi nơi trên thế giới, như lệnh Người truyền: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,20). “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8b).

- Phải vác thập giá nào?

Đức Giê-su mời mọi người hãy vác thập giá mình hằng ngày mà theo chân Người (x. Mt 16,24). Đường thập giá là con đường chính Đức Giê-su đã đi chịu chết. Đây là con đường khó nghèo khiêm hạ ở Bê-lem, lao động vất vả ở Na-da-rét, là đường rao giảng Tin Mừng và làm phép lạ cứu nhân độ thế từ Ga-li-lê đến Giê-ru-sa-lem, là đường lo buồn trong vườn Cây Dầu, bị xét xử bất công, chịu đánh đòn, đội mão gai, vác thập giá lên đồi Can-vê; là đường chịu đóng đinh và chết nhục nhã như một tên đại gian ác. Nhưng con đường đó lại là điều kiện để vào vinh quang phục sinh, như ba lần Người đã báo trước (x. Mt 16,21; 17,22-23; 20,18-19).

Các tín hữu chúng ta cũng được Đức Giê-su mời gọi đi con đường thập giá của Người. Thập giá mà chúng ta vác không phải là cây gỗ thập giá của Đức Giê-su, nhưng là những gánh nặng việc bổn phận đối với gia đình xã hội và Giáo hội, là đòi hỏi phải từ bỏ của cải vật chất, quyền hành, là những người mà chúng ta tuy không ưa, nhưng vẫn phải sống chung một nhà. Đức Giê-su đã làm gương cho chúng ta khi với tính tự nhiên, Người bị lo buồn sợ hãi trước Giờ Tử Nạn, nhưng Người đã can đảm chấp nhận vâng theo ý Chúa Cha (Mt 26,39). Chỉ vì yêu mến Cha mà Người sẵn sàng từ bỏ ý riêng để chấp nhận khổ hình thập giá. Cũng vậy, chỉ khi nào ta thực sự yêu mến Chúa Giê-su thì ta mới dám hy sinh quên mình, dấn thân theo Chúa trên con đường thánh giá, và mới dám hiến mạng sống mình vì mến Chúa và yêu tha nhân.

- Phải yêu Chúa thế nào?

Đức Giê-su đòi những ai muốn theo làm môn đệ Người phải dành trọn tình yêu cho Người: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37). Nếu Đức Giê-su không phải là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa và nếu Người đã không chịu chết vì yêu loài người trước, thì chắc Người không dám đòi môn đệ phải hy sinh như vậy. Từ ngày Đức Giê-su về trời đến nay, có biết bao vị thừa sai tông đồ đã dám sống đến cùng tình yêu mà Đức Giê-su đòi hỏi ấy. Truyền giáo không phải chỉ là rao giảng Lời Chúa, nhưng còn là thông truyền đức tin và tình yêu Chúa cho người khác; Là giới thiệu Đức Giê-su cho tha nhân nhận biết, tôn thờ, yêu mến cậy trông vào Người. Muốn làm được điều này thì chính chúng ta phải cảm nghiệm được tình yêu của Chúa nơi bản thân và sẵn sàng dâng cả cuộc đời để đáp lại tình yêu ấy. Ước gì chúng ta yêu mến Đức Giê-su trên hết mọi người, mọi vật, chấp nhận bỏ đi cái tôi ích kỷ hẹp hòi, để tình yêu Chúa ngày một lớn lên khi ta biết khiêm tốn phục vụ tha nhân.

4. THẢO LUẬN: 1) Ta cần từ bỏ những gì và phải vác thập giá nào để nên môn đệ của Chúa? 2) Theo kinh Cải Tội Bảy Mối, muốn bỏ một tật xấu như tự kiêu, bủn xỉn, mê đắm xác thịt, hay giận hờn, say xỉn, ghen ghét, lười biếng… Ta phải tập những nhân đức đối nghịch nào?

5. LỜI CẦU

- Lạy Chúa Giêsu. Xin dạy con biết yêu mến Chúa cho xứng đáng: biết cho đi mà không cần tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, biết làm việc mà không cần an nghỉ, biết xả thân mà không cần một phần thưởng nào khác, ngoài việc biết mình đã làm theo thánh ý Chúa (Thánh I-NHA-XI-Ô).

- Lạy Chúa. Xin nhận lấy tất cả tâm tư tình cảm và ước muốn của con, tất cả những gì con có và những gì thuộc về con. Mọi sự ấy đều do Chúa đã ban cho con, thì hôm nay con lại xin dâng chúng cho Chúa. Tất cả là của Chúa. Xin hãy sử dụng theo ý Chúa muốn. Con chỉ xin Chúa ban cho con lòng yêu mến Chúa nồng nàn và sau này được Chúa ban ơn cứu độ. Được như vậy là con đã thỏa mãn lắm rồi.

X) Hiệp cùng Mẹ Maria.- Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.


 

TN13-A66: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI CN 13 TN


Thiếu nhi chúng con yêu quí,
 

Chúng con vừa nghe một bài Tin Mừng. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa nói với chúng ta về TN13-A66


Chúng con vừa nghe một bài Tin Mừng. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa nói với chúng ta về hai điều cần thiết cho tất cả chúng ta. Đó là việc theo Chúa và việc đón tiếp nhau trong cuộc sống hằng ngày.

A. Cha hỏi chúng con: Chúng con có muốn theo Chúa hay không?

- Dạ thưa có.

Rất đúng! Ai trong chúng ta mà lại chẳng muốn theo Chúa.

Không ai ai mà lại không muốn theo Chúa hết. Thế nhưng muốn theo Chúa, chúng ta phải làm gì? Đây chúng con hãy nghe chính Chúa nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”.

Cha thú thật với chúng con khi đọc lại những lời này của Chúa, nhiều lúc cha cũng cảm thấy rất sợ. Để được theo Chúa, Chúa đòi hỏi chúng ta nhiều quá: Chúa đòi phải hy sinh và từ bỏ quá nhiều.

Cha tự hỏi tại sao Chúa đòi hỏi như vậy? Chúa không thấy khi đòi hỏi khó khăn như thế thì sẽ chẳng có ai dám theo Chúa hay không!

Nghĩ thì nghĩ như vậy nhưng khi nhìn lại thực tế thì cha lại thấy khác. Thực tế thì lại có rất nhiều người muốn theo Chúa. Có rất nhiều người. Ho theo Chúa rất can đảm. Họ rất vui mừng theo Chúa. Dường như họ không biết sợ là gì. Họ còn cảm thấy rất vui khi được từ bỏ và hy sinh vì Chúa.

Cha kể cho chúng con câu chuyện này. Đây là câu chuyện có thật đã xảy ra:

 Thánh Giáo phụ Basilio bị điệu ra tòa án Roma trước mặt Hoàng đế:

- Người bỏ đạo, ta sẽ ban cho chức cao lộc hậu.

- Lời dạy bảo của bệ hạ chỉ dạy dỗ được trẻ con. Kinh Thánh tôi dạy khác hẳn, nên thà chết hơn lìa bỏ đấng Kitô.

- Ngươi không biết trẫm là ai sao?

- Tôi không tuân lệnh bệ hạ đâu.

- Ngươi không biết ta có quyền ban chức tước cho ngươi sao?

- Chức tước bổng lộc có thể thay đổi như chính bệ hạ.

Thấy không thể lay chuyển lòng thánh nhân vua đe tịch thu tài sản, tra tấn tù tội và giết.

- Tâu bệ hạ tôi chẳng có gia tài cho bệ hạ tịch biên. Lưu đày chăng? Tôi có quê thiên đàng. Tra tấn ư? Tôi sẵn sàng chịu vì Chúa. Giết tôi ư? Càng sớm về trời.

- Ngươi thật điên cuồng!

 Tôi mong được điên mãi như thế này.

Hoàng Đế và triều thần phải thua cuộc trước đức tin của Basilio.

B. Việc đón tiếp nhau trong cuộc sống hằng ngày.

Đây chúng con hãy nghe chính Chúa nói: “ Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy. Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính. Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”(Mt 10,40-42)

Đón tiếp - Tiếp đón là việc Chúa rất yêu thích. Hơn nữa Chúa còn hứa ban phần thưởng cho những ai làm việc này.

a. Thánh Kinh có ghi lại những cuộc tiếp đón rất đẹp lòng Chúa và rất dễ thương.

* Thí dụ Abraham thấy 3 người khách lạ đang đi trong sa mạc. Ông chạy ra năn nỉ họ vào nhà và ân cần chăm sóc họ. Đó là 3 sứ giả của Thiên Chúa. Đáp lại tấm lòng của Abraham, 3 sứ giả này ban ơn cho vợ chồng son sẻ của Abraham có con trai đầu lòng (St 18);

* Một gia đình ở Sunam chẳng những tiếp đón ngôn sứ Elisê, mà còn dọn hẳn cho ông một căn phòng để những lần sau ông tới có chỗ trọ. Đáp lại, Elisê cũng giúp họ thoát khỏi tình trạng son sẻ (bài đọc I);

* Gia đình Matta, Maria và Lazarô ở Bêtania là nơi thường xuyên tiếp đón Đức Giêsu và các môn đệ. Đáp lại, Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại.

b. Hơn nữa Chúa còn coi việc đón tiếp anh em, đón tiếp các sứ giả của Chúa, đó tiếp các ngôn sứ, đó tiếp người công chính...như là đón tiếp chính Chúa. Việc đón tiếp đó có phí tốn dù chỉ là một bát nước lã thì Chúa cũng không quên.

Chúa hứa với một người đàn bà là Ngài sẽ đến thăm bà vào ngày đó. Bài rất hãnh diện về điều này. Bà cọ rửa, lau chùi, đánh bóng, quét bụi và xếp đặt mọi thứ sẵn sàng. Rồi bà ngồi và đợi Chúa đến.

Đột nhiên có tiếng gõ cửa. Bà vội chạy ra. Vừa đẩy cửa, bà thấy một người ăn xin đứng đó. Bà liền nói: “Không, hôm nay tôi không giúp anh được, vì Chúa luôn ở với anh rồi. Tôi đang nóng lòng đợi Chúa đến, không thể giúp anh điều gì”. Bà đuổi anh và đóng cửa lại.

Mấy phút sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở cửa nhanh hơn trước. Thấy gì? Vài người già nghèo nàn. “Rất tiếc, tôi đang đợi Chúa đến. Hôm nay tôi không thể giúp đỡ các ông”. Rồi bà đóng sầm cửa lại.

Một lát sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở và lại thấy một người ăn xin rách rưới. Anh xin ăn và nghỉ qua đêm. “Ồ, hãy để tôi yên. Tôi đang đợi Chúa đến. Tôi không thể tiếp anh”. Người ăn xin ra đi và bà tiếp tục ngồi chờ.

Hàng giờ trôi qua và màn đêm buông xuống, nhưng cũng chẳng thấy dấu hiệu gì của Chúa. Bà băn khoăn không biết Ngài ở đâu.

Cuối cùng, bà đành lên giường nằm chờ. Rồi bà ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Trong giấc mơ bà thấy Chúa đến và nói với bà: “Hôm nay Ta đã đến với con 3 lần và cả 3 lần con đều đuổi Ta đi”.

Sau khi được Thiên Chúa kêu gọi, Apraham đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa và đến cắm lều trên vùng đất Chúa hứa ban cho dòng dõi ông.

Một hôm, ông đang đứng trước cửa lều thì một người ăn xin rách rưới đến xin ông bố thí. Động lòng trắc ẩn, tổ phụ Apraham mời người vào và làm tiệc thiết đãi.

Trước khi ngồi bàn tiệc, ông mời người ấy cùng dâng lời chúc tụng và cảm tạ Chúa. Nhưng vừa nghe nói đến Chúa, anh ta liền mở miệng nói những lời lộng ngôn xúc phạm đến Ngài.

Apraham nổi giận, túm cổ người ăn xin và tống ra khỏi lều.

Đêm ấy, khi Apraham quỳ gối cầu nguyện, ông nghe tiếng Chúa phán:

- Này Apraham, ngươi có biết không, người anh xin ấy đã nhục mạ Ta suốt 50 năm rồi đó. Vậy mà mỗi ngày Ta vẫn ban lương thực cho hắn. Còn ngươi. ngươi không thể yêu thương và cho hắn một bữa ăn sao?

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đến mặc khải cho chúng ta là một người Cha yêu thương tất cả mọi con cái mình.

Không những Ngài chỉ yêu thương những đứa con hiếu thảo, mà còn yêu cả những đứa con bất hiếu, ngỗ nghịch, bởi chúng có một chỗ đặc biệt trong trái tim Ngài. Ngài là Đấng cho mặt trời mọc lên, cho mưa rơi xuống trên người lành cũng như kẻ dữ. Vì tất cả đều là con cái của Ngài.

Khi mặc khải cho chúng ta về Thiên Chúa là Cha yêu thương tất cả mọi người. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cũng hãy nên hoàn thiện như Thiên Chúa, Cha chúng ta, nghĩa là yêu thương tất cả, không loại trừ ai.

Lm Giuse Đinh Tất Quý


 

TN13-A67: TỪ BỎ

 

Bài Tin Mừng hôm nay có thể chia này thành 2 phần tương đối rõ rệt: * Phần đầu (các câu 37-39) TN13-A67


Bài Tin Mừng hôm nay có thể chia này thành 2 phần tương đối rõ rệt:

* Phần đầu (các câu 37-39) Đức Giêsu dạy các môn đệ về sự từ bỏ.

* Phần sau (các câu 40- 42) dạy về sự tiếp đón.

A. Về sự từ bỏ

1. Có nhiều loại từ bỏ

- Tôi soạn lại tủ áo của tôi. Nhiều áo quá. Có những chiếc đã cũ và lỗi thời, tôi có thể bỏ bớt để đem cho người nghèo.

- Trong sân nhà tôi có hai cây mọc cạnh nhau. Nếu cứ để như thế thì hai cây vẫn sống, nhưng không cây nào lớn mạnh tốt được. Tôi nên bỏ bớt một cây để cây kia mọc tốt hơn.

- Nha sĩ khám thấy có một chiếc răng của tôi đang bị hư nặng. Ông bảo phải bỏ nó đi, nếu không, nó sẽ lây cho những chiếc bên cạnh.

Đức Giêsu kêu gọi người đi theo Ngài hãy từ bỏ. Bỏ những gì và bỏ cách nào?

- Có những thứ ta có thể bỏ. Thí dụ bớt chút thức ăn, bớt chút giờ ngủ khi ta ăn chay hãm mình.

- Có những thứ ta nên bỏ để cuộc sống của ta nên tốt hơn. Thí dụ khi ta nhường nhịn không trả đũa, không đòi lại của cải hoặc danh dự bị người khác làm tổn thương, mất mát.

- Có những thứ ta bó buộc phải bỏ như: tội lỗi, thói xấu, dịp tội.

2. Xét như thế thì Chúa muốn chúng ta từ bỏ để được nên tốt hơn.

Người ta kể lại rằng: khi nhà danh họa Léonard de Vinci đem bức tranh nổi tiếng của mình là bức tranh vẽ Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly ra trưng bày cho mọi người thưởng lãm. Đây là một bức tranh rất đẹp. Chúa Giêsu ở giữa và chung quanh là các môn đệ của Người. Lúc triển lãm bức tranh, tác giả cố ý núp ở một chỗ trong một phòng kín có ý để quan sát. Ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy điểm thu hút sự chú ý của mọi người không phải là khuôn mặt của chúa Giêsu mà là cánh hoa ông vẽ bên góc bức họa. Ngay lập tức ông đã nhận ra sự sai lầm của mình đó là đã thêm một cánh hoa vào bức tranh làm cho người xem bị phân tâm không còn chú ý tới trọng tâm của bức tranh là Chúa Giêsu nữa. Ông liền lấy cọ bôi bỏ cánh hoa đó. Và sau đó thì mọi người xem đều dán chặt mắt vào khuôn mặt Chúa Giêsu.

Việc bỏ cánh hoa là việc rất nên. Chính vì thế mà Léonard de Vinci đã đạt được uớc nguyện của mình.

Đàng khác vấn đề mất và được ở trên thế gian này có gì là tuyệt đối đâu.

Ngày xưa có một ông lão ở gần cửa ải mất một con ngựa. Có người đến thăm chia buòn vì sự rủi ro đó. Ông đáp:

- Biết đâu chuyện mất ngựa chẳng là điều may.

Vài ngày sau, con ngựa cũ trở về lại rủ thêm được một con ngựa Hồ rất hay. Có người cho đó là điều may mắn nên đến chúc mừng. Ông nói:

- Chưa hẳn được ngựa là may đâu.

Ông có đứa con trai, thấy ngựa Hồ hay, liền bắt cỡi thử, chẳng may bị ngã ngựa té gãy chân. Nhiều người cho rằng xui xẻo. Ông lại nói chưa biết chừng đây là điềm báo trước điều phúc cho gia đình ông. Qua năm sau, giặc Hồ tràn sang nước ông. Theo lệnh vua, các trai tráng trong làng đều phải sung vào cơ ngũ đi dẹp loạn, 10 người chỉ sống sót được một. Con trai ông vì tàn tật nên được miễn dịch, nhờ đó mà thoát chết, gia đình ông được an toàn. Nên việc họa phúc không biết đâu mà ngờ được.

Sống theo chúa Giêsu là đặt Ngài làm trọng tâm của cuộc sống, nhìn thấy Ngài trong mọi sự. Đó là bí quyết của các thánh. Chúa Giêsu không chỉ là bậc Thầy, vạch ra một con đường cho người khác đi theo. Ngài còn tự xưng mình là con đường duy nhất, Ngài đòi hỏi con người phải đi theo Ngài một cách tuyệt đối, nghĩa là vì Ngài sẵn sàng từ bỏ tất cả và từ bỏ tức khắc: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy... không xứng với Thầy... Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất... (x. Mt 10,37.39). Đi theo chúa, bỏ tất cả, hiến mạng sống làm gia nghiệp đó là đòi hỏi Chúa Giêsu đã kể ra trong Tin mừng hôm nay cho chúng ta.

Đi theo chúa Giêsu cũng có nghĩa là sống thế nào để mọi người nhìn vào đều thấy được gương mặt của Ngài. Một cuộc sống như thế đòi nhiều hy sinh từ bỏ, cũng như nhà họa sĩ sẵn sàng bôi bỏ một cánh hoa để thu hút sự chú ý của khán giả vào gương mặt của Chúa Giêsu. Cũng thế, người môn đệ của Chúa luôn sẵn sàng tháo gỡ và dứt bỏ mọi thứ vướng bận để chỉ sống cho Chúa và làm cho mọi người nhận ra gương mặt của Chúa qua cuộc sống của chính mình” (Theo “Phút cầu nguyện cuối ngày” - tập II).

B. Vần Đề Thứ hai về sự tiếp đón

1. Thánh Kinh đã ghi lại những cuộc tiếp đón rất đẹp và rất dễ thương.

a. Abraham thấy 3 người khách lạ đang đi trong sa mạc. Ông chạy ra năn nỉ họ vào nhà và ân cần chăm sóc họ. Đó là 3 sứ giả của Thiên Chúa. Đáp lại tấm lòng của Abraham, 3 sứ giả này ban ơn cho vợ chồng son sẻ của Abraham có con trai đầu lòng (St 18);

b. Một gia đình ở Sunam chẳng những tiếp đón ngôn sứ Elisê, mà còn dọn hẳn cho ông một căn phòng để những lần sau ông tới có chỗ trọ. Đáp lại, Elisê cũng giúp họ thoát khỏi tình trạng son sẻ (bài đọc I);

c. Gia đình Matta, Maria và Lazarô ở Bêtania là nơi thường xuyên tiếp đón Đức Giêsu và các môn đệ. Đáp lại, Đức Giêsu đã làm cho Ladarô sống lại.

2. Phần thưởng của tấm lòng quảng đại ấy là gì?

Là sự sống: Một đứa con cho cặp vợ chồng già, hai đứa con trai đầu lòng cho hai vợ chồng son sẻ, và mạng sống được trả lại cho Ladarô đã chết 4 ngày. Xét cho cùng, ơn ban sự sống ấy không phải do những người khách, mà chính Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống, ban cho họ.

Những câu chuyện rất đẹp trên đây khuyến khích chúng ta hãy quảng đại tiếp đón:

- Tiếp đón không chỉ là đón người vào trọ trong nhà mình, cho họ ăn, cho họ nghỉ, mà còn là biết quan tâm tới nhu cầu của người khách và đáp ứng theo khả năng của mình.

- Khi tiếp đón, dĩ nhiên chúng ta phải mất mát: mất giờ, mất tiền của, mất công... Nhưng Thiên Chúa sẽ trọng thưởng chúng ta: Ngài sẽ cho sức sống thần linh của Ngài thêm lớn mạnh trong sự sống chúng ta.

Chúa hứa với một bà là Ngài sẽ đến thăm bà vào ngày đó. Bài rất hãnh diện về điều này. Bà cọ rửa, lau chùi, đánh bóng, quét bụi và xếp đặt mọi thứ sẵn sàng. Bà ngồi và đợi Chúa đến.

Đột nhiên có tiếng gõ cửa. Bà vội chạy ra. Vừa đẩy cửa, bà thấy một người ăn xin đứng đó. Bà liền nói: “Không, hôm nay tôi không giúp anh, vì Chúa luôn ở với anh rồi. Tôi đang nóng lòng đợi Chúa đến, không thể giúp anh điều gì”. Bà đuổi anh và đóng cửa lại.

Mấy phút sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở cửa nhanh hơn trước. Thấy gì? Vài người già nghèo nàn. “Rất tiếc, tôi đang đợi Chúa đến. Hôm nay tôi không thể giúp đỡ các ông”. Rồi bà đóng sầm cửa lại.

Một lát sau lại có tiếng gõ cửa. Bà mở và lại thấy một người ăn xin rách rưới. Anh xin ăn và nghỉ qua đêm. “Ồ, hãy để tôi yên. Tôi đang đợi Chúa đến. Tôi không thể tiếp anh”. Người ăn xin ra đi và bà tiếp tục ngồi chờ.

Hàng giờ trôi qua và màn đêm buông xuống, nhưng cũng chẳng thấy dấu hiệu gì của Chúa. Bà băn khoăn không biết Ngài ở đâu.

Cuối cùng, bà đành lên giường nằm chờ. Rồi bà ngủ lúc nào không biết. Trong giấc mơ bà thấy Chúa đến với Ngài nói: “Hôm nay Ta đã đến với con 3 lần và cả 3 lần con đều đuổi Ta”.


 

TN13-A68: Hãy ưu tiên cho Chúa Kitô

Thánh Phaolô nói: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi TN13-A68


Thánh Phaolô nói: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi”. Thật vậy, Lời Chúa không hơn không kém là một Tin Mừng. Tin Mừng không có nghĩa là ru ngủ, nhưng là lời thôi thúc. Chúa Giêsu đến trần gian không phải là để tạo nên những con người yếu ớt, nhưng là những người con Thiên Chúa.

Sự không nhân nhượng của Tin Mừng không có nghĩa là Thiên Chúa Toàn Năng bắt buộc mọi người  tốt xấu phải bằng lòng với tất cả sự đòi hỏi của Ngài, nhưng là một Tình Yêu dẫn tới một tình yêu triển nở hơn. Thánh Bênadô nói “Thiên Chúa đòi hỏi được yêu, vì Ngài biết rằng tất cả những ai yêu Ngài sẽ hạnh phúc bằng chính tình yêu đó”. Chúa Giêsu muốn Ngài được ưu tiên hoàn toàn và tuyệt đối, cũng là để mở cho chúng ta một con đường hạnh phúc đích thực

Người Dothái đạo đức rất dễ hiểu sự đòi hỏi căn bản này, vì ngày nào họ cũng đọc kinh nguyện: “Hỡi Israel, hãy nghe đây, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi tạc vào lòng. Anh em em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như lúc thức dậy”.

Lẽ đương nhiên, Chúa Giêsu cũng là người Dothái đạo đức và Ngài còn nhắc chúng ta phải giành quyền ưu tiên đó cho một mình Thiên Chúa. Phải chăng Ngài cũng là một Thiên Chúa ghen tương?

Phải chăng người đàn ông đã có vợ lại đi bỏ vợ mình, hoặc người cha phải bỏ con mình, hay là người con gái phải ghét cha mẹ để theo Chúa Kitô?

Yêu Chúa Kitô không có nghĩa là phải ngất xỉu chỉ vì lời mời gọi của Ngài. Một người con gái trẻ có thể xúc động trước bạn trai của mình hơn là khi tham dự Bí tích Thánh Thể và rước Mình Thánh Chúa. Chúng ta có thể nói được rằng người con gái đó yêu bạn trai mình hơn Chúa Kitô không? Yêu Chúa Kitô, trước hết không phải là một việc làm cảm tình, nhưng là thực thi thánh ý Ngài. Ưu tiên cho Ngài, chính là làm điều Ngài muốn trước hết, và ý Ngài muốn cũng là chúng ta phải yêu người mình yêu, yêu mến cha mẹ, con cái… Thánh nữ Teresa Lisieux nói: “Lạy Chúa, Chúa biết đó, con đã không bao giờ ước ao mến Chúa mà lại không khát khao hạnh phúc nào khác”.

“Ưu tiên cho Chúa Kitô” sẽ làm triển nở và biến đổi đời sống nhân bản của chúng ta hơn. Càng ưu tiên cho Chúa Kitô tất cả, chúng ta càng tràn đầy hơn. Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Bạn muốn cứu lấy mạng sống của bạn ư?  Đúng, bạn rất có lý! Nhưng để làm điều này, bạn phải cho đi mạng sống bạn trước đã ”.

Khi giành ưu tiên tất cả cho Chúa Kitô, Chúa Kitô sẽ không tạo nên trong chúng ta những thần tượng. Vấn đề ở đây, không phải là để chúng ta ghét những người chung quanh, nhưng là để chúng ta đừng coi họ như những thần tượng, và đừng tỏ tình yêu mến họ một cách tuyệt đối. Nhiều bạn trẻ hôm nay yêu nhau đến nỗi lý tưởng hoá người mình yêu, coi người mình yêu như là lẽ sống duy nhất cho mình: “Anh là tất cả của em, anh chỉ sống cho em mà thôi”.  Với não trạng như vậy, liệu khi người mình yêu chết đi, lúc đó họ sẽ trở nên cái gì cho nhau, có phải là tất cả cho nhau nữa không?

Nhiều cha mẹ quá nuông chiều yêu thương con cái, coi con cái như là thần tượng, giành cho con cái tất cả và không dám quở phạt hoặc trách móc con cái. Con cái tưởng mình như là ông vua bà chúa và cuối cùng trở thành đứa con hư đốn, để lại sự đau khổ triền miên cho cha mẹ.

Không giành ưu tiên cho Chúa Kitô, chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng thần tượng hoá chính mình và thần hoá một con người nào đó. Khi thất vọng về chính mình và về người mà mình thần tượng hoá đó, cuối cùng một thảm hại ê chề sẽ ập đến.

Khi đặt Chúa Kitô là trên hết trong đời sống chúng ta, tất cả những tình cảm khác đương nhiên sẽ tìm được chỗ của nó. Tình yêu trên hết mà chúng ta giành cho Chúa  Kitô cho phép chúng ta không rơi vào chủ nghĩa thần tượng hoá bất cứ một ai hoặc lạnh lùng thờ ơ đối với tha nhân.

Càng đặt Chúa Kitô là trên hết trong đời sống, chúng ta càng trở nên Chúa Kitô hơn cho người khác. Như Chúa Kitô là hình ảnh của Chúa Cha, thì người tín hữu chúng ta cũng phải trở nên những kitô khác.

Tin Mừng có thể làm chúng ta chưng hửng vì những lời đòi hỏi của Chúa quá gắt gao, nhất là những lời nghịch lý mà chúng ta thường gặp: Ai muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất. Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó. Phúc cho những ai khóc lóc.

Thực ra những lời nói này của Chúa Kitô cho chúng ta ý nghĩa đích thực của Tin Mừng. Chúng ta không có thể nhốt con người vào trong những định nghĩa quá đơn giản được. Con người là vô tận vì giống hình ảnh của Thiên Chúa. Con người vô tận này chỉ có thể tới gần nhau bằng những con đường đối kháng và nghịch lý. Tin Mừng tỏ ra cho chúng ta một vị Thiên Chúa hiện hữu vừa quyền năng, lại vừa dễ bị thương tổn, vừa đòi hỏi chúng ta nhưng cũng vừa yêu say đắm chúng ta, vừa sáng láng nhưng cũng lại vừa huyền nhiệm. Ngài nói với con người về con đường thập giá để dẫn con người tới đỉnh cao hạnh phúc.
 
Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa


 

TN13-A69: Đón tiếp tha nhân như đón tiếp chính Chúa

 

Trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu dạy “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng TN13-A69


Trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu dạy “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37); “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy” (Mt 10,40)...

Nếu nhìn Thầy Giêsu như bao vị thầy, giáo sư hay tôn sư khác thì lời dạy của Ngài quả là khó nghe, quá đáng. Một lương dân mà nghe như vậy thì lắc đầu ngao ngán bỏ đi vì không thể chấp nhận một người đòi mình yêu người đó hơn cả cha mẹ. Một cách tương tự, một người vẫn khăng khăng không cho con cái theo đạo vì sợ con cái bỏ ông bỏ bà.

Nhưng nếu nhìn thấy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người thì Lời Chúa hôm nay vang vọng lại lệnh truyền của Chúa cho dân Israel và được Chúa Giêsu nhắc lại. Khi ấy, có người trong nhóm luật sĩ hỏi Chúa Giêsu: “Trong các giới răn điều nào trọng nhất?” Chúa Giêsu đáp: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó” (Mc 12,29-31).

“Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”, dĩ nhiên có nghĩa là yêu hơn cả cha mẹ. Vậy, Đức Giêsu là Thiên Chúa thì Ngài đương nhiên đòi hỏi chúng ta yêu mến Ngài hết lòng hết sức, yêu mến hơn cả cha mẹ.

Tuy nhiên, cái hay cái tuyệt vời, trong giáo huấn của bài Tin Mừng hôm nay đó là một Thiên Chúa làm người, có thân xác linh hồn như chúng ta, lại muốn đồng hóa với những môn đệ Ngài, và cũng muốn đồng hóa mình với những người bé mọn. Đón tiếp các môn đệ của Ngài cũng là đón tiếp chính Ngài; đón tiếp những kẻ bé mọn cũng là đón tiếp Ngài. Và khi đón tiếp Ngài như vậy cũng có nghĩa là đón tiếp chính Đấng đã sai Ngài, tức là đón tiếp Thiên Chúa Cha. Cái hay, cái tuyệt vời ở chỗ Yêu Chúa lại được thực hiện qua yêu tha nhân.

Trong thực tế, thực hiện được giáo huấn này của Chúa Giêsu, tuy vậy, cũng không dễ. Có thể dễ khi ta đón tiếp một Giám mục, một linh mục, một tu sĩ, nhưng không dễ gì đón tiếp những kẻ bé mọn, không dễ gì đón tiếp những kẻ khác màu da sắc tộc, không dễ gì đón tiếp kẻ bất đồng ý kiến, kẻ tội lỗi...

Một ngày Chúa Nhật ở Pari bên Pháp, một cộng đoàn các sơ thường xuyên có một linh mục già đến dâng lễ vào lúc 4 giờ chiều. Vào ngày đó vị linh mục vì đau yếu nên không thể đến dâng lễ được, vì thế ngài nhờ một linh mục người Nigeria da đen, là một người bạn tình cờ đến thăm ngài,  đến cộng đoàn dâng lễ thay ngài. Lúc 4 giờ kém 5 vị linh mục người Nigeria đến cổng tu viện và bấm chuông.

Theo thói quen ở Pari vào thời ấy, ngài mặc thường phục chứ không mặc áo giáo sĩ. Chị nữ tu giữ cổng nhanh nhẹn mở cổng vì nghĩ rằng cha đến làm lễ. Nhưng khi thấy một người Phi Châu, da đen, sơ không kịp để cho người này nói được câu nào, mà sơ vội nói như xua đuổi  ngay: “Xin lỗi tôi không có gì để giúp ông. Chúng tôi sắp dâng lễ ngay bây giờ. Khi khác ông hãy tới.” “Cám ơn sơ”, vị linh mục Nigeria nói và quay lưng đi.

Vài phút sau đó chuông điện thoại reng ở nhà vị linh mục già. Đó là điện thoại các sơ gọi. Các sơ nói rằng họ đang đợi cha đến để làm lễ nhưng chưa thấy tới, xin cho biết lúc nào cha đến. Và họ được vị linh mục già trả lời rằng: “Ngài đã đến, nhưng các sơ đã nói với ngài rằng hãy đi và ngày khác hãy đến”.

Giống như vị nữ tu, tuy vẫn ý thức  rằng cần phải sống yêu thương, cần phải đón nhận tha nhân, không được kỳ thị… nhưng chúng ta cứ vẫn chưa làm được.

Chúng ta vẫn chưa làm được vì sao?

Đó là bởi vì con người chúng ta vẫn thường thấy mình là đúng là tốt và thấy người khác là sai, là dở, là vô lý, là vô đạo đức... Và vì thế mới cảm thấy bực mình, mới giận, mới phê bình chỉ trích. Ngoài ra, chúng ta còn thấy người khác làm ta bị hại, bị mất mát…

Ví dụ một người mẹ chồng chỉ thấy nàng dâu lười biếng chỉ lo son phấn; một người vợ chỉ thấy chồng là người vô trách nhiệm; một người chỉ thấy chị hàng xóm tham lam hà tiện… Nếu chỉ thấy như vậy, thì làm sao tâm hồn mình thư thái bình an được, mà ngược lại thấy mình đang chịu đựng một gánh nặng, chịu một bức xúc cho đến một ngày nó bùng ra, rồi cải vả, rồi phê bình chỉ trích, cải vả, oán ghét lẫn nhau.

Chúng ta cần nhớ lại Lời Chúa dạy: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy”, “và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi . . ., thì người đó không mất phần thưởng đâu.”

Đúng hơn, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta một cái nhìn đổi mới về tha nhân.  Với cái nhìn này, thì người khác, không chỉ là một người cho tôi những điều lợi này hay mang đến cho tôi điều hại kia; người khác không chỉ là dễ yêu hay dễ ghét theo xét đoán bình thường nữa; người khác không chỉ là đúng đắn hay vô lý nữa; là đạo đức hay tội lỗi nữa…, mà người khác chính là Đức Giêsu đang hiện diện. Khi đón tiếp tha nhân thì cũng là đón tiếp chính Chúa. Và do đó cái nhìn về tha nhân là cái nhìn kính trọng và yêu mến. Họ như là một hồng ân Chúa ban cho ta. Ta yêu mến họ cũng có nghĩa là ta yêu mến Thiên Chúa.


 

TN13-A70: Suy Niệm Chúa Nhật XIII Thường Niên A

Lm Gioan Phan Tiến Dũng
 

Hạnh phúc cho những ai khi sống tri ân và cảm tạ. Đây là sứ điệp của các bài đọc Lời Chúa. Bởi TN13-A70


Hạnh phúc cho những ai khi sống tri ân và cảm tạ. Đây là sứ điệp của các bài đọc Lời Chúa. Bởi vì suy cho cùng, dù bất cứ ai, giàu-nghèo, địa vị cao sang-thấp hèn; tất cả những gì mà họ có và lãnh nhận được đều là ơn ban; do đó thật là hợp lý khi chúng ta sống đáp trả với tâm tình tri ân cảm tạ, biết quảng đại và chia sẻ những ơn ban này.

Bài đọc 1 từ sách các Vua cho thấy một người phụ nữ giàu có đã sống quảng đại với người của Thiên Chúa-Tiên tri Êlisê. Khi tiếp đón một người khách lạ, bà đã đi bàn bạc với chồng mình, để có những điều kiện đặc biệt nhất cho khách, sau đó bà đã không ngần ngại để dành cho Êlisê những điều kiện tốt nhất như phòng, giường, bàn, ghế…, điều mà đáng ra bà phải dùng cho chính mình hay cho thuê để lấy lợi tức. Điều tốt lành ở đây là bà đã ý thức và nhận ra rằng, vị khách này không làm việc cho lợi ích của bản thân, mà ông làm vì thánh ý Chúa, làm cho lợi ích của anh chị em. Đây là hành động của lòng biết ơn và tri ân đối với người của Thiên Chúa. Chính khi đón nhận được sự quảng đại của người phụ nữ này, Tiên tri cũng đã cầu xin ơn Chúa và đã hứa ban ơn Thánh cho bà, một người son sẻ chưa có con.

Bài đọc 2, Thánh Phaolo mời gọi chúng ta, hãy nhìn lại những hồng ân mà chúng ta đã lãnh nhận được để sống cảm tạ Chúa và sống trọn vẹn với ơn gọi của mình. Hồng ân mà chúng ta đã lãnh nhận là gì? Đó là Bí tích Thánh Tẩy-Bí tích sự sống. Đây là hồng ân được làm con cái của Thiên Chúa, hồng ân này là cửa ngõ-con đường mở ra để dẫn tới tất cả các ơn lành khác mà Chúa sẽ ban cho. Qua Bí tích Thánh tẩy, chúng ta được chia sẻ với Đức Kitô Giêsu sự sống, cái chết và Phục sinh của Ngài. Đức Kitô đã đón nhận tình yêu thương từ Chúa Cha, do đó, nên Ngài đã vâng phục hoàn toàn với Thánh ý Chúa Cha trong cuộc khổ nạn; đây là hành động tự hiến, hành động yêu thương. Cực hình và tử nạn không phải là hình phạt, nhưng là tâm tình cảm tạ tri ân, đáp đền với hành động của yêu thương. Đồng thời Chúa muốn trao ban những gì tốt nhất cho con người. Điều tốt nhất đó chính là ơn cứu độ, sự sống đích thực, tình yêu thương, sự tha thứ …và trên hết là ban ơn Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Thật vậy, nhắc nhớ về hồng ân của Bí tích cao trọng này, để giúp chúng ta sống tri ân và cảm tạ.

Tin mừng hôm nay chính Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nhìn lại về ơn gọi của chúng ta là gì? Chúng ta đang làm gì, làm cho ai và vì ai? Vì thông thường, ai trong chúng ta cũng sẽ làm mọi chuyện vì lo cho ích lợi của bản thân, của gia đình và những người thân yêu. Thế nhưng, Tin mừng hôm nay chính Chúa Giêsu mời gọi: những ai yêu cha mẹ, con cái và ngay cả yêu chính mạng sống của mình hơn Chúa thì không xứng đáng với Ngài. Như vậy, Chúa Giêsu muốn chúng ta trong tất cả mọi sự và trên hết; kính mến Chúa phải là vị trí ưu tiên số một và là hàng đầu. Tại sao lại như vậy, ai có thể làm được điều mà Chúa Giêsu muốn chăng? Xem ra điều Chúa mời gọi và dạy quá nghịch lý? Nhưng suy xét cho thấu đáo, chúng ta sẽ thấy đây là lời dạy đầy khôn ngoan và tình yêu thương mà Chúa dành cho chúng ta. Vì căn tính của tình yêu dành cho Chúa là ở chỗ này. Ai đón tiếp và làm cho một trong những kẻ bé mọn này vì danh Chúa, tức là chúng ta đã làm cho Chúa và dành tình yêu cho Chúa. Thật là đúng khi chúng ta làm mọi việc vì lòng mến Chúa thì chính Chúa sẽ ban ơn giúp sức; chính những lúc đó không phải chúng ta làm với sức của mình, nhưng Chúa ban ơn nâng đỡ và hành động qua chúng ta. Thánh Terexa HĐ. Giêsu là mẫu gương rất tuyệt vời cho chúng ta trong cách sống này. Vì trong bất cứ mọi công việc, hành động, hay suy nghĩ, Terexa luôn bắt đầu: “Lạy Chúa, con làm việc này vì yêu mến Chúa, và vì muốn cứu rỗi các linh hồn”.

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, nguồn mạch của tình yêu, xin ban cho chúng con sức mạnh của tình yêu Chúa, để trong mọi sự chúng con luôn biết chọn Chúa, sống tín thác cho Chúa qua tha nhân với tâm tình cảm mến-tri ân.  Nhờ đó mà chúng con trở nên những người được Chúa chúc phúc. Amen.


 

TN13-A71: Suy niệm CN XIII TN A: Chỉ một bát nước lã!

- Lm. Xuân Hy Vọng
Thứ sáu - 26/06/2020 16:15  130
Kính thưa quý ông bà và anh chị em rất thân mến!
 

Một số nơi đã trở lại với các sinh hoạt như Thánh lễ chung, các trường học Công giáo được mở TN13-A71


Một số nơi đã trở lại với các sinh hoạt như Thánh lễ chung, các trường học Công giáo được mở cửa trở lại bắt đầu năm học tiếp theo hoặc năm học mới. Tuy nhiên, mọi thứ không thể như trước kia! Và khi bài suy niệm này đến với anh chị em, có thể tình hình dịch bệnh được kiểm soát!

          Nhưng dù gì chăng nữa, việc sống đạo, tuân giữ giới răn yêu thương, làm việc bác ái vẫn tiếp diễn như chính hơi thở của chúng ta. Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta một lần nữa “kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, người ấy không mất phần thưởng đâu” (Mt 10, 42). Vậy đối với bản tôi, ai là ‘người bé mọn’ và hành động cho ‘một bát nước lã’  với danh nghĩa là môn đệ có nghĩa gì?

          Trong một lớp giáo lý nọ, một em chạc tuổi lớp 3 liền giơ tay phản ứng, muốn trình bày cho chị giáo lý viên đứng lớp vừa cắt nghĩa xong đoạn Tin mừng trên, em đơn sơ hỏi: dạ thưa cô, nhà em không có nước lã, thế thay vì cho người khác một bát nước lã, em cho họ uống coca-cola được không ạ? Chị giáo lý viên nhoẽn miệng cười và nói: nếu được vậy thì tốt quá!!!

          Thiết nghĩ, đôi lúc chúng ta cũng có suy nghĩ như em nhỏ trong câu chuyện này mỗi lúc làm việc tốt lành, thánh thiện; tuy vậy chúng ta nên tìm ra ý Chúa muốn nói với mỗi chúng ta trong đoạn Tin Mừng hôm nay một cách thấu đáo có thể nhất.

          Trước hết, ‘người bé mọn’ chẳng phải chỉ ám chỉ đến những người có thân hình, dáng vóc bé nhỏ như các trẻ em, những ai suy dinh dưỡng, thiếu ăn thiếu mặc; mà ‘người bé mọn’ này có thể là chúng ta đang cần sự chia sẻ, đang cần tình thương, lòng quan tâm, ‘người bé mọn’ này cũng có thể là những người trong gia đình của chúng ta, không hẳn chỉ nhắm tới ai đó ngoài kia đang cần sự giúp đỡ của chúng ta mà thôi. Hơn nữa, ‘người bé mọn’ này là những người thấp cổ bé miệng, chẳng có địa vị, bị xã hội vứt bỏ, bị bỏ mặc trong gia đình, bị bạn bè cô lập…tất cả những ai đang gặp khó khăn, trắc trở, cần đến bàn tay đỡ nâng, đón nhận của chúng ta, cần đến ánh mắt yêu thương đầy lòng cảm mến, cần đến cử chỉ bỏ mình chia san của chúng ta. Và mỗi khi chúng ta làm gì tốt lành cho ‘người bé mọn’ này cũng chính làm cho chính Chúa, như Chúa đã từng nói trong dụ ngôn ngày cánh chung “kẻ nào làm cho một người bé mọn nhất của Ta đây, cũng đã làm cho chính Ta vậy” (x. Mt 25, 40) và ngược lại, “kẻ nào không làm cho một người bé mọn nhất của Ta đây, cũng đã không làm cho chính Ta” (x. Mt 25, 45). Tương tự điều mà người phụ nữ giàu sang vùng Su-nêm đã nhận ra và đón tiếp nồng hậu tiên tri Ê-li-sha khi ông ghé đến trọ, “bà ấy nói với chồng: này ông! tôi biết người thường ghé vào nhà chúng ta là một vị thánh nhân của Thiên Chúa…” (x. 2V 4, 9). Thật sự, bà đã nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi tiên tri Ê-li-sha, và tất cả mọi việc bà cất công chuẩn bị, bà chia sẻ với tiên tri (người của Thiên Chúa) cũng chính là làm cho Thiên Chúa, “ai đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và ai đón tiếp Thầy, là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10, 40).

          Và đây là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ đến động lực mỗi khi làm việc bác ái (hay nói theo ngôn từ xã hội: làm việc từ thiện) đó là: tôi đang làm vì lòng mến hay chỉ muốn phô trương? tôi đang làm với danh nghĩa môn đệ của Chúa, hay chỉ muốn phô diễn, giới thiệu danh tánh của nhóm-công ty-tập đoàn của tôi? tôi đang làm đơn giản vì sống giới răn yêu thương, hay muốn cho người khác biết tôi thánh thiện nhường bao và mọi người nên học đòi nơi tôi? Những tư tưởng này ít nhiều diễn ra trong chúng ta. Lắm lúc nó lẫn lộn, khiến chúng ta rối bời không biết đâu là động lực đúng đắn, đâu là điều Chúa muốn mỗi lúc chúng ta sống bác ái.

          Thật sự, Chúa không đòi hỏi chúng ta phải cho đi những gì sang trọng, quý giá cho bằng việc chia san mọi sự nhỏ nhoi và thông thường, nhưng với cả tấm lòng của một người môn đệ đúng nghĩa! Mẹ Thánh Tê-rê-sa miền Cal-cút-ta đã từng cảm nghiệm sâu sắc qua lời này: ‘chúng ta không thể làm nên những việc vĩ đại trong đời, nhưng chúng ta có thể thực hiện những điều nhỏ nhoi với lòng mến lớn lao’ ("In this life we cannot do great things. We can only do small things with great love.”). Nếu chúng ta đối chiếu giữa ‘bát nước lã’ (nội dung chia sẻ/chia san) với hành vi ‘làm với danh nghĩa là môn đệ’ (động lực chia sẻ/chia san), thì chúng ta có thể nhận ra: Chúa không quá chú trọng đến nội dung chia san, cho bằng động lực sẻ chia! Giả như Chúa đòi hỏi chúng ta phải cho ‘người bé mọn’ một lon coca-cola, một chai nước khoáng, một bình nước trái cây…hay thứ gì đắt giá, thì chúng ta có thể kêu trời than đất vì không có khả năng; nhưng đây Chúa chỉ mong mỗi chúng ta cho đi một bát nước lã (một thứ có thể quá bình thường, ai trong chúng ta cũng có thể có hằng ngày, dẫu không có nhiều thì ít!) nhưng với tâm tình của một người môn đệ đích thật của Ngài, cụ thể: là người yêu mến Chúa trên hết mọi sự, hơn cả tình cảm ruột rà, máu mủ, và trung thành vác thập giá mình mà bước theo Chúa mỗi giây phút trong đời (x. Mt 10, 37-38).

          Giờ đây, chúng ta cùng nhau dành ít thời giờ ngắn ngủi này trở về với lòng mình, nhìn sâu vào con người chúng ta hầu xét mình: mỗi lúc tôi làm bác ái với tâm thế như thế nào? làm với tâm tình như Chúa đã mong muốn tôi làm hay chưa? v.v…

                   Lạy Chúa, tuy Chúa chẳng cần
                   Lời con ca tụng ân cần ngày đêm!
                   Nhưng được tụng ca êm đềm
                   Con được gần Chúa, ấm êm cõi lòng.
                   Chân thành con thơ ước mong
                   Sống đời bác ái chẳng trông đáp đền
                   Dẫu rằng cuộc sống lênh đênh
                   Ngài luôn tha thiết cạnh bên con hiền. Amen!
 
                                                          Lm. Xuân Hy Vọng

 

TN13-A72: Những gian nan và phần thưởng của người môn đệ Đức Kitô

Jaime L. Waters
 

Các bài đọc Lời Chúa của Chúa nhật XIII Thường niên hôm nay nêu bật những lợi ích của đức TN13-A72


Các bài đọc Lời Chúa của Chúa nhật XIII Thường niên hôm nay nêu bật những lợi ích của đức tin vào Thiên Chúa. Các bài đọc cũng cho thấy những rủi ro cũng như những đòi hỏi đi kèm với người môn đệ.

Trong bài đọc thứ nhất, một “người phụ nữ giàu có” tỏ lòng hiếu khách với ngôn sứ Êlisa. Nhận ra ông là người của Thiên Chúa,  bà mời ông dùng bữa và ngay cả chuẩn bị cho ông một căn phòng có sẵn đồ dùng khi ông có dịp ghé thăm. Nơi những câu mà bài đọc không trích đọc (các câu 12-13), Êlisa cảm kích trước sự quảng đại của bà, đã gợi ý can thiệp để bà có sự giúp đỡ về chính trị và quân sự, nhưng bà từ chối và cho rằng bà đang sống ở giữa dân, những người thân thuộc với bà. Giêkhadi, tôi tớ của Êlisa, cho biết người phụ nữ này có chồng đã già và không có con trai, khiến có thể nghĩ rằng bà không thể mang thai. Êlisa  báo trước rằng bà sẽ được bế con trai, và sau bài đọc hôm nay trình thuật tiếp tục với việc bà hạ sinh đứa trẻ kỳ diệu này. Đứa trẻ lớn lên nhưng rồi lại đột ngột qua đời. Người phụ nữ đến nhờ vị ngôn sứ giúp đỡ, và cuối cùng ông đã hồi sinh con trai bà.

Có nhiều bài học qua câu chuyện này. Đặc biệt, trình thuật dạy chúng ta về lòng hiếu khách, sự kiên trì và lòng biết ơn. Người phụ nữ thật tốt bụng với Êlisa mà không hề mong ông đáp đền gì. Đổi lại, Êlisa bày tỏ lòng biết ơn và giúp bà được  thụ thai. Tuy nhiên, bà đã cảm nghiệm sự mất mát của đứa con  và đã kiên trì cầu xin Êlisa hồi sinh con trai của bà. Bài Tin mừng hôm nay cũng vang vọng những chủ đề về lòng hiếu khách và quyền năng của ngôn sứ.

Cũng như trong Chúa nhật XII Thường niên, bài Tin mừng hôm nay trích từ diễn từ về sứ vụ (Mt 10,1-11,1) trong đó Chúa Giêsu tiên báo những gì mà các môn đệ sẽ trải qua khi họ rao giảng Tin mừng. Chúa Giêsu tuyên bố “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy. Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ.” (Mt 10,40-41). Sứ điệp này cho thấy trước một số người trên thực tế sẽ từ chối các Tông đồ và sứ điệp Tin mừng. Chúa Giêsu làm nổi bật giá trị của việc chấp nhận Tin mừng. Việc cởi mở đón tiếp các môn đệ Đức Giêsu sẽ giúp người ta đón nhận Đức Kitô, và qua Ngài để đón nhận Cha trên trời. Hơn nữa, Chúa Giêsu liên kết các hành động ngôn sứ,  như những hành động kỳ diệu của Ngài gợi lại những gì mà Êlisa và Êlia đã làm, với việc đón nhận phần thưởng.

Ngoài những phúc lợi trên, Chúa Giêsu còn đưa ra những yêu cầu và những quyết định khó khăn mà các môn đệ của Ngài sẽ phải đối mặt. Chúa Giêsu đòi hỏi những ai theo Ngài phải yêu Ngài hơn chính cha mẹ và con cái của họ. Tương tự như vậy, họ phải “vác lấy  thập giá của mình”, bao hàm hành động hy sinh bản thân. Chúa Giêsu thậm chí còn ám chỉ đến việc tử đạo khi khẳng định rằng những ai chịu từ bỏ mạng sống mình vì niềm tin vào Ngài sẽ có được sự sống đời đời, một ý tưởng cũng xuất hiện trong bài đọc thứ hai trích từ thư của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Phần thưởng của việc đón nhận Tin mừng thật tuyệt vời, nhưng những đòi hỏi cũng thật nặng nề. Chúa Giêsu muốn các môn đệ nhận ra đầy đủ những hàm ẩn nơi quyết định đức tin của họ. Niềm tin thì không thụ động hay dễ dàng. Đó là một sự dấn thân tích cực đối với Thiên Chúa và cộng đoàn. Dâng hiến chính bản thân mình cho Chúa sẽ đưa đến cuộc sống hy sinh vì người khác. Chúa Giêsu cho thấy trước những công việc của người môn đệ chân chính và mời gọi họ noi gương Ngài, trong khi nhận  ra những lợi ích và những thách thức mà họ có thể gặp phải.

Nguồn: https://www.americamagazine.org/faith/2020/06/12/costs-and-rewards-christian-discipleship

Chuyển ngữ: ĐCV Sao Biển


 

TN13-A73:TIẾP ĐÓN CÁC SỨ GIẢ CỦA CHÚA


Lời Chúa: “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy, và kẻ nào đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10,40).

Nhập lễ:

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
 

Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 13 thường niên hôm nay cho chúng ta thấy, nhờ Bí tích Thánh tẩy TN13-A73


Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật 13 thường niên hôm nay cho chúng ta thấy, nhờ Bí tích Thánh tẩy người Kitô hữu được tham dự vào sứ mệnh Tông đồ của Chúa Kitô. Vì thế, chúng ta phải biết trân quý tiếp đón các sứ giả của Chúa:

Bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi,

Ngôi Hai xuống thế cứu người trần gian.

Tông đồ được gọi thông ban,

Nguổn ơn cứu thế tuôn tràn khắp nơi.

Mến yêu kính trọng những người,

Được Ngài sai đến khắp nơi mọi thời.

Hiệp dâng thánh lễ hôm nay, xin Chúa giúp chúng ta bước đi theo Chúa mỗi ngày trên con đương khổ giá. Đồng thời biết bắt chước bà Sunam khiêm tốn, sẵn sàng giúp đỡ tiếp đón các sứ giả của Chúa như những vị thánh. Trong tâm tình đó, giờ đây chúng ta hãy thành tâm sám hối.

Sám hối:

X. Lạy Chúa, Chúa mời gọi chúng con bước đi trên con đường khổ giá, là đường dẫn đến hạnh phúc Nước Trời. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa Kitô, Chúa dạy chúng con ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy và là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

X. Lạy Chúa, Chúa đã hứa ai cho một trong những kẻ bé mọn dù chỉ một ly nước lã, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.

Kết: Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

CĐ: Amen.

Suy niệm:

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Trong xã hội, thành ngữ “Tôn sư trọng đạo” xuất phát từ quan điểm của Nho giáo đã trở thành truyền thống đạo lý mang đậm nét giá trị nhân văn của dân tộc Việt nam xưa và nay. ‘Tôn sư’ có nghĩa là sự đề cao vai trò và vị trí của người thầy. Thầy được coi là thần tượng thiêng liêng, là “khuôn vàng thước ngọc” của đạo đức, nhân cách để môn sinh noi theo thầy mà trở thành người có tài đức. ‘Trọng đạo’ nghĩa là đề cao việc học vấn, xem việc học vấn và kiến thức là quan trọng. Đạo có nghĩa là Đường, là Chân lý mà thầy truyền giảng. Vì thế, “Tôn sư trọng đạo” nói lên sự trân quý vai trò của thầy và sự hiếu kính của môn sinh trước chân lý thầy truyền dạy. Lời Chúa hôm nay nhắc nhớ chúng ta phải biết trân quý và hiếu kính tiếp đón các sứ giả của Chúa để xứng đáng trở nên môn đệ Người: “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy, và kẻ nào đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.

Thưa anh chị em, Tông đồ có nghĩa là người được sai đi, là sứ giả của Chúa. Bài đọc 1 hôm nay trích sách Các Vua quyển thứ hai thuật lại rằng, Ngôn sứ Êlisê trên đường đi thi hành sứ vụ đã ghé thăm nhà một người đàn bà ở Sunam. Bà này đã tỏ ra sự hiếu kính và tiếp đón vị sứ giả của Chúa, vì bà coi Êlisê là vị thánh của Thiên Chúa. Bà nói với chồng bà rằng: “Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một cây đèn để mỗi khi đến, ông ở đó”. Được sự đồng ý của chồng, bà đã dọn cho vị Ngôn sứ một căn phòng ở trên lầu với đầy đủ những thứ cần thiết, để bất cứ lúc nào Ngôn sứ Êlisê cũng có thể đến trú ngụ. Đáp lại lòng thành kính của họ, Ngôn sứ Êlisê đã cầu khẩn Thiên Chúa ban tặng cho bà một đứa con vì bà hiếm muộn và chồng bà đã già. Không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được. Êlisê nói với bà: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai”. Bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu còn cho chúng ta thấy địa vị cao quý hơn của các Ngôn sứ: “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy, và kẻ nào đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”. Như thế, người Tông đồ của Chúa được kính trọng như Chúa Giêsu và còn hơn thế nữa, như Đấng đã sai Người, tức là Thiên Chúa. Để xứng đáng với địa vị cao cả này, người Tông đồ phải thuộc trọn về Chúa Kitô, phải nhìn nhận quyền tối thượng của Người trong mọi tương quan với tha nhân, kể cả cha mẹ, anh chị em, của cải và với bản thân. Chúa Giêsu còn đặt trọng tâm của sự liên kết này qua người nghèo và mời gọi người Tông đồ hãy làm cho mối liên hệ này được trở nên sống động hơn: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Như thế, Thiên Chúa không chịu thua trước lòng quảng đại của con người và Ngài sẽ trả ơn gấp bội phần.

Kính thưa quý ông bà anh chị em,

Với Lời Chúa hôm nay chúng ta nhận ra rằng, người Tông đồ đã được đồng hoá với Chúa Giêsu. Thánh Phaolô khuyên bảo chúng ta rằng, chúng ta đã được tái sinh trong phép rửa tội, chúng ta phải chết đối với tội lỗi để sống cho Thiên Chúa. Đức tin mà chúng ta được đón nhận phải đưa chúng ta vào trong sự sống mới của Chúa Giêsu, mà sự sống mới của Chúa Giêsu chính là vâng lời Chúa Cha tuyệt đối và yêu con người đến cùng. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống cho Chúa, biết bắt chước bà Sunam khiêm tốn, sẵn sàng giúp đỡ tiếp đón các sứ giả của Chúa như những vị thánh. Sự đón tiếp này có tầm quan trọng và ngoài việc đón tiếp, còn cần đến sự vâng phục. Chính Chúa Giêsu đã “vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá”.

Nguyện xin Chúa giúp chúng ta biết trân quý và hiếu kính tiếp đón các sứ giả của Chúa để chúng ta xứng đáng trở nên môn đệ của Người. Xin cho chúng ta bước đi trên con đường khổ giá, là đường dẫn đến hạnh phúc Nước Trời. Amen.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Quang.


 

TN13-A74: Chúa Nhật 13 Thường Niên năm A

Lời Chúa: Mt 10,37-42
 

Hôm nay Giáo Hội đề nghị cho chúng ta suy nghĩ một đoạn Tin Mừng khá phức tạp vì có nhiều TN13-A74


Hôm nay Giáo Hội đề nghị cho chúng ta suy nghĩ một đoạn Tin Mừng khá phức tạp vì có nhiều vấn đề được thánh Matthêu gom lại với nhau, nhưng liên can đến đời sống của những người loan báo Tin Mừng.

Người loan báo Tin Mừng không thể thương cha mẹ, con cái hơn Chúa. Đó là một điều kiện xem ra hơi lạ lùng nhưng đó là một điều kiện cần thiết. Chúa không cấm chúng ta yêu thương cha mẹ anh em, Chúa đã ra luật là phải hiếu thảo với cha mẹ. Luật đó vẫn được áp dụng trong Giáo Hội và trong các xã hội ngoại giáo người ta vẫn đòi buộc con cái phải hiếu thảo đối với cha mẹ. Nhưng vấn đề là yêu thương cha mẹ hơn Chúa. Chúa phải là trên hết. Chúa Giêsu là người con lý tưởng của Mẹ Maria. Ngài đã vâng phục Mẹ Maria suốt ba mươi năm, nhưng khi cần phải làm những gì Chúa Cha dạy bảo, Ngài không ngần ngại để mẹ ở nhà và bước ra thi hành sứ vụ.

Giáo Hội dạy chúng ta cầu nguyện và hằng ngày chúng ta vẫn đọc: “Con kính mến Chúa hết lòng hết sức, trên hết mọi sự”. Điều răn nầy đã có trong Cựu Ước: “Nghe đây, hỡi Itraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa của anh em, hết lòng  hết dạ, hết sức anh em…” Chúng ta phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự, hơn cả cha mẹ anh em, vì Chúa là người cha đầu tiên của chúng ta, chính Ngài tạo nên chúng ta trước chứ không phải cha mẹ. Vì thế yêu mến Chúa hơn cha mẹ là một điều tự nhiên chứ không lạ lùng gì. Vì thế, ai yêu cha mẹ con cái hơn Chúa là không xứng đáng với Chúa, nghĩa là không xứng đáng làm môn đệ Chúa. Chúa không cấm chúng ta yêu thương cha mẹ anh em, nhưng cha mẹ anh em không trọng hơn Chúa. Chúa có quyền đòi hỏi chúng ta tuyệt đối, vì Chúa là nguồn  sống, là hạnh phúc của chúng ta. Ngoài Chúa, không gì có thể làm cho chúng ta hạnh phúc. Những người bám vào của cải đời nầy, thường thất vọng vì mọi sự qua đi, và cái chết đang rình chờ.

Chúa có quyền đòi hỏi tuyệt đối vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng. Không có Ngài thì cũng không có gì cả. Ngài là cùng đích của cuộc đời. Sống trên trần gian nầy để làm gì nếu không có Ngài?

Theo Chúa, đó là con đường duy nhất dẫn chúng ta đến hạnh phúc mà trần gian nầy không thể có. Nhưng Chúa đòi hỏi một điều kiện hết sức gắt gao đó là vác thập giá theo Ngài, bỏ mạng vì Ngài. Chàng thanh niên giàu có mong ước theo Chúa, nhưng anh không thể bỏ đi gia tài trần gian của anh. Chúng ta có thể đáng giá anh chàng đó là không đủ can đảm, nhưng chúng ta dám không? Các  tông đồ theo Chúa vẫn còn mơ ước ngồi chỗ nhất. Phêrô, đứng trước một đứa đầy tớ cũng không dám nhận mình là môn đệ Thầy. Chúng ta cần đặt lại vấn đề: “Chúng ta có yêu mến Chúa thật không? Nếu chúng ta yêu mến Chúa, thì sẽ phải làm gì?” Chúa không thể chấp nhận những người theo Chúa nửa vời, theo Chúa mà vẫn giữ mọi quyền lợi riêng tư, theo Chúa mà đòi hỏi những lợi lộc vật chất, theo Chúa mà không có cây thập giá trên vai.

Chúa Giêsu dám đi tới cùng, dám chết cho bạn hữu, thì chúng ta cũng phải dám liều mạng cho Ngài, không phải đưa đầu cho người ta chém, nhưng là dám dâng hiến đời mình để loan truyền tình yêu, sống cho tình yêu, dám liều mất mạng sống cho Ngài. Sống cho tình yêu cũng là đón tiếp anh em, những người gặp khó khăn trong cuộc sống, đón tiếp như đón tiếp Chúa.

Chúa Giêsu dám đi tới cùng, tới thập giá, tới cái chết đau thương tột cùng, và hôm nay vẫn tiếp tục sống cho mọi người, trở thành tấm bánh hằng sống cho mọi người. Tình yêu của Ngài là vô tận. Ngài tiếp tục cuộc sống trần gian của Ngài trong mỗi người chúng ta. Chúng ta còn đòi hỏi Ngài làm gì hơn cho chúng ta? Hãy nhìn vào Ngài và bước đi theo Ngài với thập giá trên vai. Đó là con đường dẫn đến sự sống vĩnh hằng và hạnh phúc. Mất tất cả để được tất cả, vì Chúa không bao giờ bỏ qua những gì chúng ta làm cho Ngài dù chỉ là một ly nước lả. Ăn lấy Ngài, chúng ta trở thành một thân thể với Ngài và với nhau. Yêu thương nhau trong Ngài để tình yêu của Ngài được lan rộng trong mọi tâm hồn và trong thế giới quanh ta.

Lm. Trầm Phúc

Gp. Mỹ Tho
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây