Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-A Bài 101-114 Hiền lành và khie

Thứ năm - 06/07/2017 06:10
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-A Bài 101-114 Hiền lành và khiêm nhường
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-A Bài 101-114 Hiền lành và khiêm nhường

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 14 TN-A Bài 101-107 Hiền lành và khiêm nhường



 

TN

TN14-A101: Ai vất vả mang gánh nặng nề. 1
14-A101: Ai vất vả mang gánh nặng nề. 1
TN14-A102: Hãy cầm lấy và đọc! 3
TN14-A103: Suy niệm của Lm. Giuse Trương Đình Hiền. 6
TN14-A104: TRI ÂN.. 9
TN14-A105: “Hãy đến với Ta”. 16
TN14-A106: Những kẻ bé mọn. 17
TN14-A107: “Hãy đến với Tôi” (Bài giảng Chúa nhật XIV thường niên A) 19
TN14-A108: Ách là hiền lành và khiêm nhường. 21
TN14-A109: Suy niệm của Lm Trầm Phúc. 24
TN14-A110: Thiên Chúa yêu thương người nghèo. 26
TN14-A111: Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Minh. 29
TN14-A112: Trở nên hèn mọn – AM Trần Bình An. 32
TN14-A113: Học trường Giêsu - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ. 34
TN14-A114: HÃY ĐẾN VỚI TÔI 37
TN14-A115: ÁCH TA ÊM ÁI, GÁNH TA NHẸ NHÀNG.. 40
TN14-A116: HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG.. 43
TN14-A117: ĐÔI VAI 46
TN14-A118: CHA ĐÃ GIẤU.. 52
TN14-A119: Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà. 54
TN14-A110: Gạn sạch tâm hồn – Lm. Ignatiô Trần Ngà. 56
TN14-A111: Chúa Nhật 14 Thường Niên. 58
TN14-A112: Nghịch lý thập giá Chúa Kitô -Lm Phêrô Hồng Phúc. 60
TN14-A113: Hãy mang lấy ách của Tôi và hãy học cùng Tôi 63
TN14-A114: Chú giải và suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông. 66
 

14-A101: Ai vất vả mang gánh nặng nề


 (Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty)
 

Hãy đến với ta….!” Đối tượng của lời kêu mời tâm tình nhất Đức Giêsu từng làm là ‘những ai đang TN14-A101


“Hãy đến với ta….!” Đối tượng của lời kêu mời tâm tình nhất Đức Giêsu từng làm là ‘những ai đang vất vả mang gánh nặng nề’. Nhưng họ là những ai? Câu trả lời không viển vông chút nào và rất cần thiết, vì nếu không xác định rõ, rất có thể chính tôi sẽ tự loại mình ra khỏi số đối tượng được Chúa kêu mời cách khẩn thiết nhất.

Tra cứu một số nhà chú giải kinh thánh để tìm đáp án, tôi đã khám phá ra điều đáng kinh ngạc. Ngoài ý nghĩa gánh nặng luật pháp mà người Do Thái thời đó phải gánh chịu, với vô vàn các nghi lễ và qui định đè nặng trên đầu trên cổ, căn cứ vào đoạn sách Công Vụ Tông Đồ 15,10, phần đa các tác giả, dựa vào Thánh Vịnh 38 (37), nhất trí coi ‘ai mang gánh nặng nề’ là những kẻ tội lỗi “Tội chồng chất ngập đầu ngập cổ, như gánh nặng vượt quá sức con (câu 5). Xin đan cử ra đây lời chú giải tiêu biểu của Barnes: ‘Không còn nghi ngờ gì nữa, đối tượng Ngài kêu mời chủ yếu là các tội nhân đáng thương, lầm lạc và quị ngã: những con người bị đè bẹp dưới gánh nặng của ý thức những lỗi lầm đã phạm, run rẩy trước hiểm nguy bị luận phạt, và tìm mọi cách để được giải cứu. Trước tình trạng đó, một lối thoát đã được mở ra. Đức Ki-tô kêu mời họ tới với Ngài, tin vào Ngài, và phó thác cho Ngài, và chỉ mình Ngài mà thôi, hầu được giải thoát và cứu rỗi. Thực hành điều này, Ngài sẽ cho họ an nghỉ - an nghỉ khỏi tội lỗi mình phạm, an nghỉ khỏi lương tâm cắn rứt, an nghỉ khỏi các luật pháp đáng khiếp sợ, và an nghỉ khỏi nỗi sợ hãi phải trầm luân muôn đời.’

Cuộc thổ lộ tâm tình nhất của Thánh tâm Giêsu (Thánh Phanxicô Sa-lê gọi là ‘heart speaks to hearts’) có đối tượng duy nhất là các tội nhân. Ai tự cho mình là thánh thiện, là đạo đức, là khôn ngoan thông thái… đều tự tách mình ra khỏi lời mời gọi này. Quả không sai khi Người dâng lời tạ ơn lên Chúa Cha vì ‘… đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn!’ Điều này hoàn toàn ăn khớp với lời Người từng tuyên bố ngay từ thời gian đầu của sứ vụ rao giảng: ‘Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năm’ (Lc 5, 31-32). Trong thổ lộ tâm tình này, tầng số mà hai con tim cùng rung lên, cùng đập để rồi gắn chặt lại với nhau là cực thấp cực trầm. Tầng số đó không gì khác hơn là khiêm hạ, khiêm nhường thẳm sâu. “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”. Về phía Thiên Chúa, khiêm hạ có vẻ là điều không tưởng vì địa vị quyền uy tột bậc của ngài, nhưng qua Đức Giêsu trong việc nhập thể trở nên giống chúng ta mọi đàng, nó đã trở thành nét đặc sắc nhất của Thiên Chúa. Còn lại là phía chúng ta. Vẫn tưởng rằng khiêm nhường sẽ dễ lắm, nhưng thực tế không phải vậy. Kinh nghiệm cho thấy, gợi nhớ sự thấp hèn và tội lỗi của thân phận mình vẫn là điều cực kỳ khó khăn, kinh tởm, hầu như không thể vượt qua nổi đối với phần đa mọi người chúng ta. Thậm chí ngay trong nỗ lực sống lành thánh, nhiều khi ta vẫn còn thấy lởn vởn đâu đó nỗi sợ hãi phải nhìn nhận thân phận tội lỗi và thấp hèn của mình.

Lòng tôn sùng Thánh Tâm vì thế đòi nơi tôi điều kiện sine qua non là đi sâu vào con người vất vả gánh nặng của mình. Con tim tôi càng nặng nề, Trái Tim Chúa càng dễ dàng tiếp nhận và bao bọc lấy; đồng thời, trong cái lỗ vết thương sâu hoắm của tội lỗi và luận phạt, nó càng có khả năng đón nhận trọn vẹn lòng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa. Vinh quang lớn nhất của Thánh Tâm Chúa chính là đây, “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen cha!”

Lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa được phổ biến sâu rộng trong thế kỷ 17 với thánh nữ Magarita A-la-cốc (1647-1690) đã dẫn tới tôn sùng lòng thương xót Chúa vào thế kỷ 20 với thánh nữ Faustina (1905-1938). Mong rằng hai ‘tôn sùng’ này không dừng lại ở một vài việc đạo đức, mà sớm trở thành nét nổi bật nhất của Tin Mừng (cả trong suy tư thần học nữa), để giúp Ki-tô hữu chúng ta khám phá ra dung mạo đích thực nhất của Thiên Chúa.

Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, qua vết thương do lưỡi đòng khoét sâu nơi con tim Chúa, thánh Gioan đã nhận ra tình yêu ‘làm của lễ đền tội’ (1Ga 4,10). Con biết mình chỉ có thể vào sâu trong Trái Tim Chúa khi chân thành thú nhận tội lỗi mình đã phạm. Xin cho con học thuộc bài học khiêm nhường mà Thánh Tâm Chúa là thày dạy lỗi lạc nhất. Xin dìm con ngập sâu trong tội lỗi mình để con suy tôn và thờ lạy Thánh Tâm Giêsu Tình Yêu cách chân thật nhất. Amen.


 

TN14-A102: Hãy cầm lấy và đọc!

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
 

Chúa Giêsu không chỉ giảng dạy về đời sống đức tin và siêu nhiên mà còn dạy cách sống nhân bản. TN14-A102


Chúa Giêsu không chỉ giảng dạy về đời sống đức tin và siêu nhiên mà còn dạy cách sống nhân bản. Những ai học theo giáo huấn của Người sẽ trở thành con người sống dễ thương, dễ mến và do đó sẽ thành công trong cuộc đời.

Sứ điệp Chúa Giêsu gởi đến Chúa nhật hôm nay là: “Anh em hãy học với Tôi, vì Tôi hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29).

- Hiền lành là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo, không cứng cỏi. Hiền lành là nhân đức bao gồm tâm thế bên trong và phản ứng bên ngoài. Tâm thế bên trong luôn êm ái, hoà nhã, nghĩ tốt về người khác, yêu thương, khoan dung, thông cảm; phản ứng bên ngoài luôn nhẹ nhàng, tôn trọng.

- Khiêm tốn là chấp nhận đứng thấp, ở dưới như Gioan Tẩy Giả khiêm tốn “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”.

Chúa Giêsu hiền lành, dễ thương trong lòng. Người luôn yêu thương người khác. Đặc biệt là những người bé mọn. Người luôn muốn và làm điều tốt cho mọi người. Người không lên án, không thành kiến với những người mà xã hội coi là xấu xa, tội lỗi. Lời nói và hành động của Người luôn toả ra sự dịu dàng, nâng đỡ, khích lệ, ủi an. Người không nặng lời, không kết án, Người sống bằng tình thương. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, Chúa Giêsu chẳng những dễ thương với người phụ nữ mà còn dễ thương đối với những người đã tố cáo chị ta. Những người này tự cho mình là công chính. Chúa Giêsu không la, không quát, không hét, không hò, Người chỉ thinh lặng cúi xuống hiền từ dùng ngón tay viết lên cát. Bị hỏi mãi Chúa mới trả lời: “Ai trong các ông sạch tội, hãy ném đá trước đi”. Họ rút lui bắt đầu từ những người lớn tuổi. “Tôi cũng không kết án chị đâu, chị hãy ra về và từ nay đừng phạm tội nữa” (x.Ga 8,1-11).

Chúa Giêsu dạy chúng ta sống hiền lành, dễ thương. Người khuyên chúng ta bắt chước người mục tử trong dụ ngôn “Con chiên lạc” (Lc 15, 4-7). Người mục tử không hề đánh đập, giận dữ, quát tháo, hay kéo lê con chiên lạc về mà lại tử tế đặt nó lên vai mình, vác về đàn. Chúa Giêsu cũng khuyên chúng ta bắt chước người cha trong dụ ngôn “Đứa con hoang đàng” (Lc 15,11-32). Người cha không mắng chửi đứa con đầy lầm lỗi trở về, cũng không cãi cọ, không xua đuổi mà lại ôm hôn và dọn tiệc ăn mừng. Chúng ta có thể kể rất nhiều ví dụ trong Phúc âm về sự hiền lành, dễ thương của Chúa Giêsu.

Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Người không ngừng đi xuống. Từ trời cao, Người đã hạ mình xuống trần thế. Từ thân phận là Thiên Chúa, Người đã hạ mình xuống làm một người lao động bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là Đấng thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tôi đòi. Là Đấng Hằng Sống, Người đã tự nguyện chết khổ đau. Suốt cuộc đời, Người không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Thiên Chúa đã quỳ trước mặt nhân loại, Thiên Chúa rửa chân cho con người. Ôi lạ lùng thay! sự khiêm nhường thẳm sâu của Thiên Chúa. Trong khi con người kiêu ngạo, muốn vươn lên làm Chúa thì Thiên Chúa lại hạ mình xuống làm người. Trong khi con người thấp hèn, muốn nâng mình lên bằng cách chà đạp người khác thì Thiên Chúa cao cả lại hạ mình xuống nâng con người lên. Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là hèn nhát mà trái lại là dũng mãnh cam đảm, hạ mình để phục vụ. Khiêm tốn như Chúa Giêsu không phải là nô lệ, nhưng trái lại là một cử chỉ đầy tình yêu. Hạ mình là con đường của Thiên Chúa. Khiêm tốn là khuôn mặt của Thiên Chúa. (ĐTGM Ngô Quang Kiệt).Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống nên những ai kiêu căng, tìm cách nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường, nhỏ bé mới gặp được Người. Vì thế, Chúa Giêsu đã “ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp lòng Cha” (Mt 11,25-26).

Trang Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: Hãy học cùng Tôi vì Tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng. (Mt 11,29).

Vậy hãy ghi danh vào học trường Giêsu. Hãy học bài học hiền lành, dễ thương, không những chúng ta sẽ gặp được Thiên Chúa mà Thiên Chúa sẽ rũ sạch mọi vất vả, âu lo và chúng ta sẽ tìm được nguồn bình an cho tâm hồn (Mt 11,28). Hãy học bài học Giêsu, hãy học với Thầy Giêsu.

Augustinô là một thanh niên có tư chất thông minh nhưng lỡ đi lạc đường. Về phương diện trí thức, Augustinô ỷ mình thông thái, dùng kiến thức của mình để truy tìm những học thuyết uyên bác. Kết quả là lạc vào bè rối Manikê. Về phương diện luân lý, Augustinô sống buông thả theo những đòi hỏi của xác thịt, kết quả là một cuộc sống tội lỗi. Thế rồi một hôm, trong lúc tâm hồn đang trống rỗng, vô vị, Augustinô bỗng nghe một tiếng nói từ đâu đó vang lên: “Tolle et lege” (hãy cầm lấy và đọc). Augustinô thấy trước mặt một cuốn Kinh Thánh, Ngài cầm lên, mở ra và gặp ngay đoạn thư Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Rôma: “Đừng sống theo xác thịt nữa, mà hãy sống theo Thánh Thần”. Cuộc hoán cải của Augustinô đã được dọn đường nhờ sự cầu nguyện và hãm mình của mẹ Ngài là thánh Monica, nhưng chính câu Thánh kinh này là yếu tố quyết định thay đổi cuộc đời Thánh nhân. Trở nên một giáo phụ, một triết gia, một thần học gia, một vị thánh lỗi lạc, rất mực thánh thiện của Giáo hội, Augustinô nhờ việc học hỏi về Chúa Giêsu qua Thánh kinh.

Chúng ta cũng hãy học với Thầy Giêsu qua Lời Chúa mỗi ngày. Yêu mến Lời Chúa, sống Lời Chúa để Lời Chúa biến đổi đời chúng ta sống theo hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Hãy học hỏi Tin mừng và hãy để Tin Mừng soi sáng lòng trí của mình. Hãy múc lấy sức mạnh từ ân sủng của Bí tích Hoà Giải và Bí tích Thánh Thể. Hãy siêng năng Chầu Thánh Thể. Đó là sứ điệp Lời Chúa gởi đến cho chúng ta trong Chúa nhật này.

Học với Thầy Giêsu suốt đời, lột bỏ những tự hào về khôn ngoan thông thái, sống hồn nhiên khiêm tốn như trẻ thơ, đó là điều cần thiết để mỗi người được Thầy Giêsu mạc khải và đưa vào thế giới của Thiên Chúa.
 
 


 

TN14-A103: Suy niệm của Lm. Giuse Trương Đình Hiền


KHI CÁI ÁCH MANG TÊN TÌNH YÊU
Kính thưa ông bà và anh chị em,
 

Trong những tuần lễ qua, cả hành tinh đang nóng lên cùng với quả bóng đang lăn trên các sân vận TN14-A103


Trong những tuần lễ qua, cả hành tinh đang nóng lên cùng với quả bóng đang lăn trên các sân vận động tại quốc gia Brazil. Nước mắt và nụ cười, thành công hay thất bại, ở lại hay ra đi…tất cả đã làm nên một bức tranh tuyệt vời của cuộc sống, của xã hội, của kiếp người.

Có một điều không ai phủ nhận là, nét đặc trưng của kỳ world cup nầy chính là hình ảnh của bức tượng Chúa Cứu Thế, một biểu tượng của thành phố lớn Rio de janeiro, luôn thấp thoáng trên màn ảnh tv trong các chương trình world cup. Đó là chưa kể, trong mọi cuộc thi đấu bóng đá, hầu hết các cầu thủ của vùng Nam Mỹ, Trung Mỹ và một số các nước Châu Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nhà, Croatia, Ý…mỗi khi ra sân hay rời sân, họ đều làm Dấu Thánh Giá, một cử chỉ, một biểu tượng của niềm tin vào Chúa Giêsu…

Mà không chỉ biểu tượng thôi đâu ! Cả câu chuyện của Thánh Kinh cũng được nhắc đến. Chẳng hạn như trong trận Hà Lan gặp Costa Rica, một bình luận viên trên kênh VTV3 đã ví von rằng: đội Costa Rica như một chàng Đa-vít tí hon đang chiến đấu với gã khổng lồ Goliat Hòa Lan…

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, chàng chăn chiên Đa-vít, con út của Giê-sê, thuộc dân Ít-ra-en chiến đấu tay đôi với đại tướng Goliat của dân Philitinh, và đã chiến thắng ngoạn mục chỉ với vài viên đá cuội và chiếc ná. Tuy nhiên, trước đó, khi đối diện với tên Goliat, Đa-vít đã mạnh mẽ và xác tín tuyên bố rằng: “Mầy mang gươm, mang giáo, cầm lao đến với tao. Còn tao, tao đến với mầy nhân danh Đức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa các hàng ngũ Ít-ra-en mà mầy thách thức…” (1 Sm 17,45).

Có lẽ đây là mô hình mẫu cho mọi cuộc chiến đấu của niềm tin mà Thiên Chúa đã vạch ra trên suốt chiều dài của lịch sử cứu độ. Ngài đã sử dụng những con người, những phương tiện xem ra bé nhỏ, giản đơn, nghèo hèn, để chiến thắng những đầu óc ngông cuồng, những trái tim kiêu căng hợm hĩnh. Một Môsê bé bỏng trôi nổi bồng bềnh trong cái thúng đã vươn lên chiến thắng Pharaô kiêu hùng…; một Juđitha liễu yếu đào tơ đã chặt đầu đại tướng Hôlôphecnê (Gđt 13, 1-17), một Esther hoàng hậu cùng với dân tộc Ít-ra-en đứng bên bờ vực thẳm của sự tiêu diệt, đã quật ngược thế cờ (Et 7, 1-10)… Và đến thời Tân ước, lại những chuyện lạ lụng, vĩ đại vẫn cứ được ký thác nơi những thân phận bé nhỏ nghèo hèn: Đức Maria, Thánh Giuse, các anh dân chài chất phác, thất học bên bờ hồ Gailiê, cô gái làng chơi Maria Mađalêna…Vâng, chính những con người bé mọn ấy, những thân phận khiêm tốn ấy đã làm cho công trình cứu độ vĩ đại của Thiên Chúa từng bước hiện thực trong lịch sử trần gian, đã mang Tin Mừng Cứu Độ giải sáng khắp thế giới.

Và trên hết, như cách diễn tả của sứ ngôn Gia-ca-ri-a trong Bài đọc 1 hôm nay, Đấng Cứu Thế là “Đấng chính trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ…”. Nhưng lại là Đấng “quét sạch chiến xa khỏi Ep-ra-im và chiến mã khỏi Giê-ru-sa-lem…”. Đó chính là hình ảnh tiên trưng về Chúa Giêsu, Đấng đã tiến vào Giê-ru-sa-lem cũng trong cung cách hiền lành như thế để hoàn tất sứ mệnh cứu thế bằng cái chết tủi nhục thương đau trên thập giá, một sự hạ mình khiêm nhượng thẳm sâu, một sự hiền lành cho đến mức cuối cùng.

Chắc chắn, chính trong cái trực cảm sâu sắc và đầy xác tín nầy, Chúa Cứu Thế đã thốt lên lời nguyện tạ ơn sốt sắng với Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã dấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn…”.

Và như thế, bài học đầu tiên, xuyên suốt và cuối cùng mà Đức Ki-tô đề nghị với chúng ta hôm nay vẫn là hoán cải để trở nên khiêm hạ, bé nhỏ: “hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền lành và khiêm nhường”.

Thế nhưng, đối với nhiều người, chấp nhận đi con đường của Đức Ki-tô, chấp nhận thực hành bài học khiêm nhường và hiền lành của Chúa Cứu Thế, con đường của Tám Mối Phước Thật…vẫn luôn là một cái “ách”, một “gánh nặng” mà họ không thể mang nổi, hay nếu có mang, thì cũng trầy trật, dở dang, chẳng đem lại ích lợi gì. Bằng chứng là đã có biết bao người đã ra đi khỏi mái nhà Hội Thánh, đã chọn những bước chân tự do của Giu-đa Is-ca-ri-ốt ra đi trong “bóng tối” với 30 đồng bạc phản bội, thay vì ở lại nơi Bàn Tiệc Lý với Thầy và anh em.

Cũng y chang như thế, ngày hôm nay, có biết bao đôi vợ chồng đã vất đi cái “ách của bí tích Hôn Phối” mà họ đã long trọng cử hành để được được tự do chạy theo những xúc cảm và đam mê của riêng mình ; đối với họ đã “xưa rồi diễm ơi cái thứ hôn nhân một túp lều tranh hai trái tim vàng”, còn chăng chỉ là một “của nợ” phải thanh toán, một địa ngục phải thoát ra…. Biết bao bạn trẻ đã khức từ cái “gánh nặng của nhân đức khiết tịnh, trong sạch” để được tự do luyến ái trước hoặc ngoài hôn nhân ; biết bao những người mẹ, ông cha sẵn sàng vất đi mạng sống của chính con mình vì sợ “gánh nặng phải đẻ đau, nuôi dạy hay những phiền phức khác cho hạnh phúc cá nhân…”…

Nói chung, vẫn còn biết bao người Ki-tô hữu vẫn xem các giá trị của Tin Mừng và bao lề luật khác của Chúa và Hội Thánh như một cái “ách khó chịu” chẳng cần phải giữ, và mọi cuộc dấn thân để phục vụ cho Tin Mừng và xây dựng Hội Thánh như một “gánh nặng nề” chẳng đáng để dấn thân…Bởi vì trên đôi vai và cái cỗ của họ không bao giờ xuất hiện một bóng dáng tình yêu như trên vai và trên cỗ của người cha Lê Văn Hồng, đã cõng người con là Lê Xuân Bách suốt 18 năm[1], hay đã lâu rồi, như trên cuộc đời thủy chung, tha thiết của tình yêu nơi người chồng Trương Văn Chín và người vợ tật nguyền đi xe lăn Nguyễn Thị Phương[2]…

Và như thế, với sứ điệp lời Chúa được đề nghị hôm nay, chúng ta lại được dẫn tới một bài học thứ hai: để học được với Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhượng thì trước hết và trên hết, chúng ta phải đón nhận tất cả trong tình yêu, phải nhận ra cái “ách” và cái “gánh nặng” trên đôi vai cuộc đời chính là “tình yêu”.

Thế nhưng, muốn được như thế, Lời Chúa hôm nay lại đề nghị: phải cầu nguyện với Chúa Thánh Thần. Bởi vì, chỉ có những ai mang Thần Khí của Đức Ki-tô thì mới thuộc về Ngài và mới có cuộc sống mới để bước đi trên những nẻo đường của Ngài (Bđ 2). Nói cách khác, chính Chúa Thánh Thần sẽ biến đổi con tim và cuộc sống để từ hôm nay, cái “ách” và “gánh nặng” của Tin Mừng, của Chúa Giêsu sẽ mang một tên mới, đó là “Tình Yêu”. Amen.

--------------------------------
[1] Ông Lê Văn Hồng cõng con là thí sinh Lê Xuân Bách, bị teo cơ, lên Hà Nội thi vào Đại học. Ông đã cõng con như thế suốt từ 18 năm nay, kể từ Lê Xuân bách lên 4 tuổi. bản tin của trang mang vnExpress đăng ngày 5/7/2014.

[2] Chị Nguyễn Thị Phương, người phụ nữ nằm liệt giường suốt 9 năm trời, và anh Trương Văn Chín, một người đàn ông khỏe mạnh bình thường, đã vì tình yêu cũng như tình thương sâu sắc mà hy sinh cuộc đời, chấp nhận làm chồng của chị mặc dầu chị bị tật nguyền.

 
 
 

TN14-A104: TRI ÂN

Tri ân là một trong những cảm xúc mạnh mẽ nhất mà con người khả dĩ có được trong cuộc sống hàng TN14-A104 Ephata


Tri ân là một trong những cảm xúc mạnh mẽ nhất mà con người khả dĩ có được trong cuộc sống hàng ngày của mình. Động thái tri ân liên quan việc đền ơn đáp nghĩa bằng một cách nào đó. Cựu nghị sĩ Hạ Viện Les Brown ( sinh 1945, Hoa Kỳ ) có cách ví von đơn giản mà thú vị: “Người ngồi trong bóng râm ngày hôm nay là nhờ đã trồng cây từ lâu về trước”. Người trồng đó có thể là chính mình hoặc một người nào đó, thường là người khác đã trồng cho chúng ta được hưởng.

Tri ân là biết ơn, trái ngược với vô ơn. Con người chẳng có gì, tất cả đều do Chúa ban, nhưng con người lại làm toán trừ rất nhanh: vô ơn ! Mười người cùi được Chúa Giêsu chữa lành, nhưng chỉ có một người quay lại để cảm ơn, người đó là người ngoại giáo ( Lc 17, 11-19 ); bao người được Chúa Giêsu thi ân, nhưng không có ai giúp Ngài khi Ngài phải vác Thập Giá, chỉ có một người ngoại đã làm điều đó: ông Simôn, người Kyrênê ( Mt 17, 32; Mc 15, 21; Lc 23, 26 ); không ai dám lên tiếng bênh vực Chúa Giêsu, chỉ có tướng cướp Dimas, người chịu đóng đinh với Ngài ( Lc 23, 40-41 ). Chúng ta vô cùng xấu hổ, thế mà vẫn ra vẻ “ta đây”. Thật tồi tệ !

Thi sĩ Ralph Waldo Emerson ( 1803-1882, Hoa Kỳ ) có nhận định khá độc đáo: “Ai trong đời rồi cũng phải cảm ơn những khiếm khuyết của mình”. Sai lầm mà phải cảm ơn ư ? Hãy nghe Tuân Tử lý giải: “Người chê ta mà chê đúng, đó là thầy ta; người khen ta mà khen đúng, đó là bạn ta; những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy”. Một dạng triết lý sống không phải ai cũng có thể hiểu ra và chấp nhận.

Cảm Ơn và Xin Lỗi là hai động thái cần thiết trong cuộc sống thường nhật, trong mọi lĩnh vực. Cảm ơn là tạ ơn, là cảm tạ, cảm ơn, biết ơn, nhớ ơn – tức là TRI ÂN. Sống trên đời, không ai là một ốc đảo, nghĩa là luôn có mối liên đới với người khác, bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hoặc gián tiếp. Không ai lại không thọ ân của người khác, đơn giản nhất là nhờ ông bà, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, thầy cô, bạn bè... Tục ngữ nói: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đó là tiền nhân muốn nhắc nhở chúng ta về tâm tình tri ân.

Tri ân là biết tự trọng, biết tôn trọng người khác, là người có giáo dưỡng, là người khiêm tốn và trọng chữ tín. Trong cuốn sách “Những Lời Khai Thị Vàng Ngọc”, Tịnh Không Pháp Sư viết: “Hãy biết ơn những người khiển trách ta, vì họ giúp ta tăng trưởng định tuệ; hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn; hãy biết ơn những người bỏ rơi ta, vì họ đã dạy cho ta biết tự lập; hãy biết ơn những người đánh đập ta, vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta; hãy biết ơn những người lường gạt ta, vì họ tăng tiến kiến thức cho ta; hãy biết ơn những người làm hại ta, vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta; hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được kiên định và thành tựu”. Những ý tưởng thật là cao thượng, ai sống đúng được như vậy thì đúng là vĩ nhân rồi !

Là một phàm nhân mà biết được như vậy thì thật đáng quý, đáng trân trọng. Có lẽ vì thế mà chúng ta không còn ngạc nhiên, và có thể hiểu được lý do Chúa Giêsu bảo chúng ta phải yêu kẻ thù: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” ( Lc 6, 28 ).

Luật yêu của Chúa Giêsu khác Cựu Ước – tương đương mà dị biệt, có vẻ “ngược đời” lắm, nhưng đó lại là nghịch-lý-thuận. Cựu Luật dựa trên nền tảng công bằng: “Mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, mạng đền mạng” ( Xh 21, 24; Lv 24, 20; Đnl 19, 21 ). Đó là luật báo phục tương xứng. Thế là “huề cả làng”, nhưng như vậy còn ở mức tiêu cực. Còn Tân Luật dựa trên nền tảng yêu thương, mà yêu thương thì phải tha thứ. Rất lô-gích. Tân Luật chủ động và tích cực. Quả thật, hiểu cho sâu xa thì ai cũng là ân nhân của chúng ta, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, nghĩa là chúng ta luôn phải biết ơn người khác. Đối với Thiên Chúa, chúng ta càng phải biết tạ ơn nhiều hơn và tạ ơn không ngừng. Tạ ơn phải được lặp đi lặp lại rất nhiều lần như một điệp khúc của bài trường ca vậy !

Thánh Vịnh gia đã tự vấn và tự trả lời: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho ? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa” ( Tv 116 [114-115], 12-13 ). Tạ ơn Thiên Chúa là bổn phận của chúng ta, và công việc chúng ta thể hiện đó chẳng thêm gì cho Ngài nhưng lại sinh ơn cứu độ cho chính chúng ta. Kỳ diệu quá !

Khi đề cập động thái tạ ơn, chúng ta có thể nhớ lại chuyện mười người phong hủi, chuyện thật chứ không là dụ ngôn hoặc ngụ ngôn. Cả mười người đều được sạch, nhưng chỉ có một người ngoại bang trở lại tạ ơn Chúa Giêsu ( Lc 17, 11-19 ). Như vậy, chắc chắn chín người kia là “đạo gốc”, chính đạo chứ không tà đạo, thế nhưng người ta vẫn “vô tư” vô ơn vì có lẽ tưởng mình, là “số dzách”, là “number one”. Ái chà, “ngon” dữ nghen ! Câu chuyện này vừa “nhắc khéo” vừa “nguyền rủa” chúng ta về việc vô ơn bội nghĩa đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Câu chuyện này cũng phần nào liên quan thánh ngôn của Chúa Giêsu khi Ngài nói về người môn đệ chân chính: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa ! lạy Chúa !’ là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” ( Mt 7, 21 ). Có những người nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ, làm nhiều phép lạ,... nhưng Chúa Giêsu lại không hề biết họ, và Ngài “phang” thẳng thừng: “Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác !” ( Mt 7, 23 ). Họ làm những việc “đạo đức tốt lành” mà Chúa Giêsu lại bảo là “điều gian ác”. Tại sao ? Bởi vì giả hình và khoe mẽ trước bàn dân thiên hạ, làm lấy tiếng khen, lấy bằng tri ân, lấy danh dự khi tên mình được khắc vào bia đá... Coi chừng “ý tứ” và “cách làm”, nếu không thì chúng ta rất có thể ở trong đám người ấy, và nếu như thế thì thật khốn nạn biết bao !

Còn những người khiêm nhường, họ biết mình và biết người, họ vui vẻ nhớ ơn chứ không ưu sầu. Thánh Vịnh gia lên tiếng mời gọi: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò ! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” ( Dcr 9, 9 ). Lý do để chúng ta vui mừng rất rõ ràng.

Thiên Chúa đến với chúng ta bằng nhiều cách, dạng phổ biến nhất là Hồng Ân. Thánh Ân của Ngài cũng lạ “phép lạ” luôn xảy ra trong cuộc đời hằng ngày của mỗi chúng ta – đơn giản mà cần thiết là không khí. Không cần phải rỉ tai nhau đi tìm “sự lạ” ở nơi kia, chỗ nọ. Phép lạ Thánh Thể hằng ngày không ngừng xảy ra ngay tại nhà thờ của giáo xứ hoặc cộng đoàn của mình, còn phải đi đâu mà tìm ? Vì thế, chúng ta không thể không biết tạ ơn Ngài. Ngài còn đến với chúng ta qua từng người chúng ta gặp hằng ngày, và rồi chúng ta cũng phải biết ơn những người chúng ta gặp – dù họ là ai, bởi vì ai cũng có cái để chúng ta học hỏi – nếu họ đúng thì mình theo, nếu họ sai thì mình tránh. Lợi cả đôi đàng !

Rất nhiều thứ để chúng ta phải tri ân. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài là Đấng cứu thoát chúng ta khỏi kẻ thù và làm cho chúng ta được sống bình an và an cư lạc nghiệp: “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Épraim và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” ( Dcr 9, 10 ). Vả lại, “chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban” ( Ga 3, 27 ). Vậy thì tại sao không thể hiện lòng tri ân ? Có những thứ người ta gọi là ngẫu nhiên hoặc tình cờ, nhưng thực ra đó là ý Chúa quan phòng, cho phép chúng ta gặp điều này hoặc sự nọ.

Bài ca nguyện tuyệt vời và cần thiết là Điệp Khúc Tạ Ơn. Tình Khúc này phải được lặp đi lặp lại hằng ngày trong suốt cuộc đời: “Lạy Thiên Chúa con thờ, là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời” ( Tv 145, 1-2 ). Thiên Chúa vui lòng thì có lợi cho chúng ta vô cùng. Tuy nhiên, chúc tụng Chúa khi cuộc đời chúng ta xuôi chèo mát mái thì không có gì đáng nói, nhưng thật “đáng nói” nếu cuộc đời chúng ta luôn gặp trắc trở, số kiếp luôn lận đận, gặp xui chứ chẳng hên, toàn là “họa vô đơn chí”.

Và Thánh Gióp là tấm gương sáng chói điển hình để chúng ta soi vào. Sau khi bị mất tất cả, từ tài sản tới con cái, bản thân ông cũng bị bệnh tật, mọi người đều xa tránh, nhưng ông vẫn tận trung với Thiên Chúa. Ông minh định rạch ròi: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa !” ( G 1, 21 ). Cả đời chúng ta cũng không thể so sánh với một góc nhỏ của Thánh Gióp. Có xách dép cho ông thì cũng chỉ đi xa xa thôi, mấy ai đủ “trình độ” mà đi gần ông Gióp. Có nhiều người đã nên thánh nhờ “xách dép” theo ông Gióp. Đau khổ ( tinh thần hoặc thể lý ) là “visa” để nên thánh đấy !

Ôi, Đức Tin của Thánh Gióp lớn lao quá ! Nhưng niềm tin đó không mơ hồ hoặc ảo tưởng, mà hoàn toàn chính xác, đúng như Thánh Vịnh gia nói: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng, để nhân loại được tường những chiến công của Chúa, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang” ( Tv 145, 8-12 ).

Chẳng có ai khác hoặc thần linh nào khác, mà chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, Ngài “đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên” ( 1Sm 2, 6; Kn 16, 13 ), Ngài “bắt phải nghèo và cho giàu có, hạ xuống thấp và nhắc lên cao” ( 1Sm 2, 6-7 ). Nghe có vẻ “oải” quá ! Nhưng không phải vậy đâu. Ngài vẫn “thành tín trong mọi lời Ngài phán, và đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm. Ai quỵ ngã, Ngài đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên” ( Tv 145, 13-14 ). Thánh Vịnh gia đã trải nghiệm và chân thành tạ ơn: “Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống” ( Tv 30, 4 ). Đúng là Hồng Ân chồng lên Hồng Ân nhờ Đức Tin quyện vào Đức Mến và Đức Cậy. Quả thật, tri ân Thiên Chúa là điều hoàn toàn hợp lý !

Tuy nhiên, trong cuộc sống của mỗi chúng ta lại thường xuyên có động thái trái ngược, biết mà không làm. Thế mới chết ! Do đó, Chúa Giêsu đã phải cảnh báo: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” ( Mt 26, 41; Mc 14, 38 ). Thân xác thật nặng nề, nặng hơn đá đeo ! Chúng ta vẫn lòng chai dạ đá, “máu” lắm, bởi vì chỉ “ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối” ( Tv 4, 3 ).

Với kinh nghiệm “xương máu”, Thánh Phaolô chia sẻ: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn” ( Gl 5, 17 ). Thần Khí Chúa rất quan trọng trong đời sống chúng ta, vì chính Chúa Thánh Thần đã tác động và biến đổi chúng ta, như Thánh Phaolô nói: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô thì không thuộc về Đức Kitô” ( Rm 8, 9 ).

Một cách cặn kẽ hơn, Thánh Phaolô giải thích: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới. Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” ( Rm 8, 11-13 ). Quả thật, chúng ta luôn là “con nợ” của Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng mặc dù là “con nợ” cũng vẫn phải biết ơn, bởi vì mắc nợ cũng là một dạng mang ơn vậy. Thọ ân thì phải tri ân. Lẽ tất nhiên thôi !

Đối với Thiên Chúa, Hồng Ân lớn nhất mà chúng ta mắc nợ Chúa Giêsu, và phải tri ân Ngài, đó là ơn cứu tử của Ngài dành cho chúng ta, điều mà chính Chúa Giêsu đã minh định: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” ( Ga 10, 15 ). Vâng, chính cái chết của Ngài là Hồng Ân cao cả, không gì sánh bằng, và chẳng bao giờ chúng ta có thể đền ơn đáp nghĩa cho cân xứng. Nhưng Ngài không đòi hỏi gì nhiều ở chúng ta, mà Ngài chỉ cần chúng ta biết tin yêu Ngài và biết cảm tạ Ngài trong mọi hoàn cảnh – dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ, dù hên hay xui. Điều kiện có khó gì đâu, thế mà chúng ta vẫn chỉ “hứa lèo”, có máu di truyền của Chú Cuội, hứa nhiều mà giữ chẳng bao nhiêu. Thiết tưởng cũng nên tự trách: “Tôi tồi tệ thật !”

Về động thái tri ân, chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” ( Mt 11, 25-26 ). Ngài là Sư Phụ hiền lành và khiêm nhường ( Mt 11, 29 ) nên Ngài chỉ thích những con người “hèn mọn” mà thôi. Chắc chắn là thế !

Sau khi dâng lời tạ ơn, Chúa Giêsu cho biết: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” ( Mt 11, 27 ). Ai khiêm nhường thì Ngài sẽ mặc khải cho những điều bí ẩn. Chắc chắn như vậy. Và Ngài luôn mời gọi mọi người, không trừ ai: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” ( Mt 11, 28-30 ).

Quả thật, ách của Ngài là ách êm ái, gánh của Ngài là gánh nhẹ nhàng. Không ai lại không vất vả và mang gánh nặng nề, không cách này thì cách khác, dù theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen, có nghĩa là không ai lại không cần đến Ngài để được Ngài nâng đỡ.

Cuộc đời có rất nhiều thứ chúng ta phải “gồng mình” mà chịu đựng, thậm chí có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi và hầu như kiệt sức. Cái ách thô ráp và cái gánh nặng trĩu ở đâu cũng có, dù trong gia đình hoặc cộng đồng tu trì. Nhưng có lẽ chúng ta chưa thực sự kề vai vào gánh vác Ách và Gánh của Chúa Giêsu nên chúng ta vẫn thường “than” đủ thứ, “thở” đủ điều, và “trách” đủ kiểu. Thế mới biết phàm nhân yếu hèn và khốn nạn quá sức, vậy mà vẫn “chảnh” lắm, lúc nào cũng chỉ rình nổi loạn mà thôi !

Đối với mỗi chúng ta, được sinh ra làm người là một đại ân, được có vóc dáng và tâm trí bình thường lại là một đặc ân nữa, được lành lặn và khỏe mạnh lại thêm một đại ân nữa. Hôn thế nữa, chúng ta lại được Chúa Giêsu cứu độ, đó là một đặc ân cao cả khác nữa. Ơn chồng lên ơn. Quá nhiều.

Như vậy, chúc tụng và tạ ơn là một trong các bổn phận ưu tiên hàng đầu mà chúng ta phải thực hiện đối với Thiên Chúa. Có nhiều cách thể hiện, một cách đơn giản là tránh tội: “Hãy run sợ, và đừng phạm tội nữa, trên giường nằm, suy nghĩ và lặng thinh” ( Tv 4, 5 ). Một cách khác cũng đơn giản là ca hát: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” ( Ep 5, 19 ).

Tương tự, con cái không thể nào trả hiếu cho cha mẹ, và cha mẹ cũng không đòi hỏi gì nhiều, chỉ cần con cái ngoan ngoãn là trả hiếu rồi.

Thật chí lý khi ca dao Việt Nam nhắn nhủ: “Ai mà phụ nghĩa quên công / Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”. Quả thật, lòng biết ơn rất quan trọng, dù chúng ta đang đứng trên đỉnh núi Tabor hoặc Canvê. Thật dễ tạ ơn khi phấn khởi đứng trên đỉnh Tabor, nhưng rất khó tạ ơn khi ủ rũ sầu thảm trên đỉnh Canvê. Hằng ngày, một lời cảm ơn rất đơn giản nhưng lại rất thường bị lãng quên ! Cuộc đời chúng ta phải là bản “trường ca tri ân” vô tận, đối với ai cũng vậy mà thôi. Trong đó có những “nốt tình” khác nhau về trường độ và cao độ, mỗi “nốt” có vị trí khác nhau nhưng vẫn luôn hài hòa để tạo thành bản tổng phổ hoàn chỉnh để ca tụng Lòng Thương Xót bao la của Thiên Chúa dành cho chính mình, cho gia đình, và cho tha nhân.

Tri ân có thể là đền ơn. Việc đền ơn nên luôn được sử dụng trong cách hành xử. Theo nghiên cứu tâm lý, người ta cảm thấy hạnh phúc hơn nếu biết ơn về những điều tích cực trong cuộc sống ( tức là những gì mình có ) hơn là cứ lo lắng về những gì mình không có.

Nhà từ thiện William Clement Stone ( 1902-2002, Hoa Kỳ ) đặt vấn đề: “Nếu thực sự có lòng biết ơn, bạn sẽ làm gì ? Hãy chia sẻ với mọi người”. Còn nữ tác giả Betty Smith ( 1896-1972, Hoa Kỳ ) xác định: “Quan tâm tới mọi việc xung quanh cho dù đó là gặp lần đầu hay lần cuối, và rồi cuộc sống của bạn sẽ trở nên hạnh phúc”. Cuộc sống vốn dĩ nhiêu khê vì bao nỗi khổ, thế nên hãy đơn giản hóa và đi xuyên qua đau khổ để gặp được hạnh phúc ngay trong tâm hồn của mình, và như thế sẽ gặp được Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Hạnh Phúc.

Lạy Thiên Chúa, con thật tồi tệ, bởi vì đã bao lần con vô ơn bội nghĩa với Ngài và với tha nhân. Con thành tâm xin lỗi Ngài. Xin ban thêm cho con được dồi dào ba đức đối thần và các đức đối nhân để con thanh thản bước đi khi vác thập giá hằng ngày, xin giúp con đủ sức lên tới đỉnh Canvê. Xin giúp con thể hiện tình yêu thương và tâm tình tri ân Ngài qua mọi người để con khả dĩ hoàn thiện như Ngài. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU


 

TN14-A105: “Hãy đến với Ta”

Chúa mời gọi tất cả chúng ta: hãy đến với Ngài. Chúa hiểu rõ chúng ta hơn chính chúng ta hiểu mình. TN14-A105


Chúa mời gọi tất cả chúng ta: hãy đến với Ngài. Chúa hiểu rõ chúng ta hơn chính chúng ta hiểu mình.Ngài muốn cất nhẹ gánh lo cho chúng ta, để chúng ta được thanh thản, phó thác và cậy trông Ngài. Ngài sẵn sàng chia sẻ và đồng hành để chúng ta được vơi nhẹ bao nỗi lo toan chất chồng.

Chúa muốn tất cả chúng ta hãy trút tất cả gánh lo đời người vào Ngài, bởi những lo toan có thể làm cho cuộc đời chúng ta “bị tràn ngập” và không có lối thoát. Người ta vẫn luận “Cuộc đời là bể khổ”, mà khổ thật. Bởi chẳng có gì là hạnh phúc thật, mà chỉ là sự lừa dối và bất ổn. Tìm cho mình một chỗ dựa, kiếm cho mình một lối thóat,chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy vơi nhẹ gánh lo và tìm gặp được bình an.

Ngài mời gọi chúng ta hãy đến với Ngài, bởi Ngài muốn tham dự, đồng hành và chia sẻ với cuộc đời mỗi người. Thực thế, Ngài là chỗ dựa an toàn và bình an nhất cho chúng ta. Chẳng ai thương và bảo vệ chúng ta, ngay cả cha mẹ hay người thân ở trần gian, ngoại trừ Chúa

Ngài muốn chúng ta hãy học với Ngài bởi Ngài hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng. Với giáo lý yêu thương của Ngài, Chúa muốn chúng ta hãy học tha thứ, đón nhận anh em, sống khiêm nhường và phó thác. Học với Ngài để chúng ta đón nhận và làm cho cuộc sống mình hài hòa với mọi người, sống hiệp nhất và nên giống Ngài.

Trong tình thương Thiên Chúa, chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc thật mà trên trần gian không ai có thể ban tặng. Đón nhận tình thương của Thiên Chúa, được học nơi trường: khiêm nhường và hiền lành của Ngài, tâm hồn chúng ta như được yên nghỉ an toàn và tìm được con đường dẫn đến sự sống.

Khiêm nhường và hiền lành thật khi chúng ta biết chia sẻ, cảm thông và giúp đỡ anh em như Chúa, bởi tình thương của Ngài không loại trừ hay xua đuổi ai, và để xây dựng sự hiệp nhất trong anh em.

Khiêm nhường và hiền lành thật khi chúng ta không cướp công của người khác mà biết trân trọng và đánh gía đúng công sức của anh em mình, để tránh được căn bệnh ung thư di căn “cả vú lấp miệng em”, phí phạm hoặc đối xử kiểu “vắt chanh bỏ vỏ” trên chính anh em hoặc cộng sự mình

Khiêm nhường và hiền lành thật cũng chính là biết phục vụ với hết khả năng và biết tự ẩn mình như người đầy tớ bé nhỏ,để ngăn ngừa phần nào căn bệnh “say mê quyền lực, đánh bóng tên tuổi” bằng chính công sức của người khác, nhưng biết cảm thông và chia sẻ với những yếu đuối của anh em như của chính mình.

Khiêm nhường và hiền lành thật là không khoe khoang hay lên mặt với anh em mình dẫu rằng mình có hơn họ một mặt nào đó, bởi “Không có Thầy, chúng con chẳng làm được việc gì!”

Khiêm nhường và hiền lành thật còn là sẵn sàng chịu phần thiệt về mình để anh em được chia sẻ, được hạnh phúc. Có mất mát, có đau đớn, có chịu thiệt thòi mới hiểu và thương xót được anh em mình. Bởi trước mặt Chúa, chúng ta đã chẳng là gì và sẽ mãi mãi chẳng là ai cả!

Lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin dạy chúng con sống khiêm nhường và hiền lành trong trường học yêu thương của Chúa. Xin dạy chúng con luôn biết cho đi mà không tính toán và củng chẳng bao giờ đòi hỏi quyền lợi. Xin dạy chúng con biết quên mình khi phục vụ, để phần lợi luôn thuộc về anh em, để Chúa được biết đến và lớn lên; còn chính chúng con “phải nhỏ lại”. Amen.


 

TN14-A106: Những kẻ bé mọn

Suy niệm:
 

Lạy Cha là Chúa trời đất, con xin chúc tụng ngợi khen Cha... vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé mọn”. TN14-A106


Lạy Cha là Chúa trời đất, con xin chúc tụng ngợi khen Cha... vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé mọn”. Chữ bé mọn đây không phải là dáng người thấp bé hay là trẻ con. Nhưng là người có tấm lòng đơn thành như trẻ con, một tấm lòng biết mình là nhỏ bé trước Nước trời bao la, biết mình túng thiếu đơn độc mà bám vào tay Thiên Chúa quan phòng. Là những ai tự hạ tự khiêm phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Đã có một lần nào Chúa xác nhận “nếu các ngươi không trở nên giống trẻ thơ, các ngươi sẽ không được vào nước trời” (Mt 18,3).”Ai trong các ngươi lớn nhất là người bé nhỏ nhất” (Lc 9,48). “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Ta, vì Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” (Mc 10,14)

Tại sao Chúa Giêsu cứ lấy mẫu mấy em bé làm gương vậy? Chúng ta có thấy và có biết cái gì đã từng làm những bậc cha mẹ không thể cầm lòng được trước một đứa con nhỏ. Cái gì đã làm Chúa những người lớn đều ưa thích trẻ nhỏ? Thưa, đó chính là sự yếu đuối nhỏ bé. Vâng, chính cái sự yếu đuối nhỏ bé đó làm cho mọi người dễ thương dễ mến. Chính cái yếu đuối ấy của chúng ta là sức mạnh của tuổi thơ măng sữa. Đúng như lời thánh Phaolô “Lúc tôi yếu đuối nhất là lúc tôi mạnh mẽ” (2C 12,9-10). Nếu chúng ta trao phó hoàn toàn cho Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lo trọn vẹn cho chúng ta như một người mẹ nuôi con thơ.

Con thơ còn trẻ chẳng biết gì. Chúng không biết ăn, chúng chẳng biết mặc, không biết đi, không biết nói. Các bà mẹ lành nghề đều công nhận các bà cưng chiều đứa con mình khi chúng nhỏ xíu “Nâng như trứng, hứng như hoa”. Khi chúng lớn lên, khi chúng càng có thể tự túc, thì các bà bớt quyến luyến, hoặc khi chúng tự cao khinh dể mình. Tình mẫu tử rất gần với tình yêu Thiên Chúa đối với con người. Thật sự không gì làm cho Thiên Chúa xa lánh loài người, cho bằng tính kiêu ngạo, tự mãn, tự phụ. Tính này phá hủy các nhân đức. Những mẫu gương tự cao tự đại vẫn còn đó, với Adong, Eva, Luxife, babel, với các nền văn minh xa xưa còn đâu...

Trong Tân ước, đã mấy lần Chúa Giêsu phàn nàn về nhóm biệt phái cũng mắc bệnh này, là tự cho mình chữ nghĩa đầy mình, đầy dẫy sự khôn ngoan, cho mình là đủ và tự tạo ra ơn cứu rỗi. Chúa Giêsu đã mấy lần cảnh cáo (Mt 23,13). Ai tin vào sức mạnh của mình sẽ bị Thiên Chúa để mặc và tất cả trở về hư vô cát bụi. Trái lại, kẻ tự khiêm sẽ được Thiên Chúa nhìn đến. Thánh Phaolô nói “Thiên Chúa thích dùng người khiêm nhường, bị thế gian bỏ chê để tỏ lộ mình ra” (1C 25,28t). Kẻ khiêm nhường được Thiên Chúa tha tội (Lc 18,14). Thánh nhân còn đặt khiêm nhường bên cạnh đức tin (Gal 5,22).

Thánh Augustinô nói “Đâu có khiêm nhường, đấy có đức ái”. Sự khiêm nhường là dấu chỉ thuộc về đức Kitô. Kinh thánh còn nói trong cơn thử thách ai hạ mình xuống dưới cánh tay toàn năng của Thiên Chúa thì đến bây giờ họ sẽ được Thiên Chúa tôn vinh như Đức Kitô và được thông phần vinh quang của con Thiên Chúa. Gương khiêm nhường của David trước Goliath, của Mẹ Maria, của chính Chúa Giêsu (Mt 11,29) của Têrêsa hài đồng, của một Cha sở xứ Ars.

Chúng ta hãy suy niệm câu nói của thánh nữ Têrêsa Lixieux “Chính Chúa Giêsu đã làm hết tất cả trong tôi, tôi chỉ trở nên bé nhỏ và hèn yếu”.

“Hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ bổ sức cho” (c.28)

Câu nói này hiểu được trên hai phương diện. Trên phạm vi siêu nhiên, Chúa Giêsu nói đến những lề luật Cựu ước và luật lệ mới của biệt phái không giải thoát con người tội lỗi để được cứu rỗi. Cho nên cần phải đến với Ngài và qua Ngài. “Không ai đến được với Thiên Chúa mà không qua Ngài”. Câu nói trên cũng hiểu được là những ai đau khổ bất an tinh thần vật chất cũng hãy đến để Ngài nâng đỡ.

Có một điều cần ghi nhận giữa những đau khổ ở đời, nếu chúng ta chỉ một mình loay hoay dậm chân tại chỗ, thì không giải quyết được gì. Một gánh nặng mà đã để xuống là khó mang đi nữa. Chúa Giêsu căn dặn chúng ta: “Hãy vác thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16,24). Và Chúa kêu mời “hãy đến với Ta...” (c.28). Chúng ta hãy đến với Chúa hôm nay để thực sự cảm nghiệm được sức nâng đỡ đó. Có một điểm cần lưu ý trong câu trên là Chúa nói: Ngài bổ sức cho chúng ta thôi, chứ Ngài không cất hết gánh nặng đi cho đâu. Chắc chắn Chúa Giêsu xuống trần gian, không phải vì mục đích để làm cho hết khổ đâu. Ngài qủa quyết là quê trời mới hết khóc than. Mặc dầu đã nhiều phép lạ chữa bệnh tật đau khổ phần xác, nhưng Chúa Giêsu chỉ muốn đem lại cho đau khổ một giá trị thực tiễn của Nước trời.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, chính Chúa đã dâng lời ngợi khen Cha vì đã mặc khải cho những kẻ bé mọn. Tinh thần nhỏ bé khiêm tốn luôn được Chúa đề cao, được mọi người trân trọng. Biết thế, nhưng Chúa ơi! Ở đời chúng con vẫn ham danh vọng, trọng quyền lợi. Chỉ có tình yêu Chúa mới uốn mềm lòng chúng con nên khiêm nhường bé nhỏ. Xin Chúa biến đổi tâm hồn chúng con trở nên nhỏ bé trước Thiên Chúa để chúng con được Ngài đổ đầy lòng chúng con hồng ân của Ngài.
Lạy Chúa, hôm nay là ngày thế giới xin ơn thánh hóa các Linh mục. Xin Chúa ban ơn nâng đỡ các Linh mục là những người Chúa chọn để chăm sóc đoàn chiên Chúa. Xin cho các Ngài ơn khôn ngoan thánh thiện. Một đời sống thánh đức sẽ toát lên qua việc cầu nguyện trong khiêm tốn. Để trong cầu nguyện, các Linh mục sẽ tiếp nhận được nguồn tình yêu và sức mạnh từ trái tim nhân hậu của Chúa hầu chuyển trao cho đoàn chiên sức sống dồi dào. Amen.


 

TN14-A107: “Hãy đến với Tôi” (Bài giảng Chúa nhật XIV thường niên A)

Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả ». Chúa Giêsu hiểu thấu những gian truân của thân TN14-A107


“Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề !». Chúa Giêsu hiểu thấu những gian truân của thân phận con người. Người muốn đồng hành với họ để nâng đỡ họ trong hành trình trần gian.

Giữa biển đời đầy sóng gió ba đào, lời mời gọi "Hãy đến với Tôi" của Chúa Giêsu giúp chúng ta vững tin, nhờ đó ta có thêm can đảm nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Bởi lẽ, có những lúc chúng ta cảm thấy đang đứng trước ngõ cụt của cuộc đời mà không tìm được lối thoát. Chúa Giêsu chính là niềm hy vọng và yên ủi cho những ai đang đau khổ và bế tắc trên đường đời. Hãy đến với Người. Người đang chờ đợi chúng ta.
 
Tin Mừng Chúa nhật hôm nay là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Không chỉ gồm những tâm tình thân thưa với Chúa Cha, lời cầu nguyện này còn nhằm mạc khải, soi sáng cho các môn đệ về sứ mạng thiên sai của Người. Người từ Chúa Cha mà đến, nên biết rõ Chúa Cha, cũng như biết rõ thánh ý của Ngài. Khi khẳng định những điều này, Chúa Giêsu cũng muốn giúp các môn đệ kiên vững lòng tin, để rồi, những lúc đối diện với khó khăn thử thách, các ông không ngã lòng.
 
Nếu chúng ta được mời gọi đến với Chúa, là vì trước hết Người đã đến với chúng ta. Lịch sử Cứu độ đã chứng minh Thiên Chúa chủ động đến với con người để can thiệp và giải thoát họ. Cuộc gặp gỡ với ông Môisen trong sách Xuất Hành đã chứng minh điều đó. Chúa nói với ông: "Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của Dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than, vì bọn cai hành hạ. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật…" (Xh 3,7-8).
 
Mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời là bằng chứng của tình thương Thiên Chúa và việc Ngài chủ động đến với con người. Đức Giêsu khiêm nhường hạ mình mang lấy thân phận con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Thiên Chúa không còn chỉ ở trên cao, mà "hạ giới" làm người để gặp gỡ những mảnh đời bất hạnh. Người là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta".
 
Vì Thiên Chúa hiện diện với chúng ta, nên ngôn sứ Dacaria mời gọi chúng ta hãy vui lên. Ngôn sứ đã nhắc tới hình ảnh rất sinh động và bình dân, đó là các thiếu nữ Sion, trong trang phục truyền thống, múa nhảy reo hò chạy ra đón Đức Vua (Bài đọc I). Đây là ngày hội tưng bừng cho cả toàn dân. Đức tin Kitô giáo phải luôn diễn tả niềm vui và tinh thần của lễ hội, bởi lẽ Chúa hiện diện giữa chúng ta. Đó là niềm vui cao cả và tuyệt vời nhất. Tiếc thay, có nhiều người không cảm nghiệm được niềm vui này, nên cuộc đời của họ luôn âu sầu buồn bã.
 
Chúa đang hiện giữa giữa chúng ta, và Ngài mời gọi chúng ta đến với Ngài. "Hãy đến với Tôi". Đó vừa là lời diễn tả sự gần gũi thân tình, vừa là lời khích lệ những ai còn sợ sệt vì thấy mình bất xứng. Lịch sử ghi nhận biết bao người đã đến với Chúa và gánh nặng cuộc đời của họ đã trở nên êm ái nhẹ nhàng hơn. Đến với Chúa, họ vừa được tha thứ tội lỗi, vừa có sức mạnh vươn lên làm lại cuộc đời.
 
Hãy đến với Chúa để học sự khiêm nhường. Chúa Giêsu là bậc thày. Người dạy chúng ta về sự khiêm nhường. Cuộc đời và giáo huấn của Chúa luôn thể hiện nhân đức khiêm nhường. Vì khiêm nhường mà Chúa đã hạ mình làm người. Vì khiêm nhường mà Chúa đến với mọi người đau khổ. Vì khiêm nhường mà Chúa đã chết trên thập giá. Chúa dạy chúng ta hãy học dưới mái trường của Người, để sống khiêm tốn, hy sinh, vì tha nhân và vì công ích. Sống khiêm nhường hạ mình sẽ giúp chúng ta thanh thản vui tươi hơn, nhờ đó cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn.
 
«Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề !». Chúa Giêsu hiểu thấu những gian truân của thân phận con người. Người muốn đồng hành với họ để nâng đỡ họ trong hành trình trần gian. Khi được thụ giáo tại ngôi trường của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nên giống như Người đến nỗi trở thành đồng hình đồng dạng với Người. Hãy đến với Chúa Giêsu để được Người giáo huấn và dẫn đưa về cùng Chúa Cha. Bởi lẽ Người từ Chúa Cha mà đến. Người còn là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Đến với Chúa Cha để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, đó cũng là đích điểm của cuộc sống chúng ta.
 
Đến với Chúa là một hành trình liên lỉ lâu dài. Trên hành trình này, có những cám dỗ cam go. Thánh Phaolô đã gọi đó là sự giao tranh giữa Thần Khí và tính xác thịt. Ai thiện chí sống theo Thần Khí thì sẽ chiến thắng mọi cám dỗ, trở nên hoàn thiện, diệt trừ được con người ích kỷ, sống đời sống mới trong Chúa Giêsu Kitô (Bài đọc II). Lối sống theo xác thịt luôn mang nhiều màu sắc lấp lánh hấp dẫn. Nó dễ làm cho chúng ta ảo tưởng lầm lạc. Xin Thần Khí Chúa soi sáng và hướng dẫn chúng ta biết khôn ngoan chọn lựa những gì đem lại ích lợi lâu bền, vĩnh cửu. Amen
 

+Gm Giuse Vũ Văn Thiên


 

TN14-A108: Ách là hiền lành và khiêm nhường

(Suy niệm của Lm. Jos. Quang Nguyễn)

 

Tục ngữ Việt nam có câu: ách giữa đàng mang vào cổ. Như thế người ta quan niệm cái ách như TN14-A108


Tục ngữ Việt nam có câu: ách giữa đàng mang vào cổ. Như thế người ta quan niệm cái ách như cái gông, tượng trưng cho cái gì gánh nặng đè nén, làm cho con người mất tự do. Vậy mà hôm nay Chúa Giêsu nói hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường trong lòng. Thế nhưng chúng ta hiểu thế nào là ách của Chúa và thế nào là hiền hậu và khiêm nhường của Chúa chưa? Trước hết, cái ách mà Chúa Giêsu nói ở đây có phải là cái ách của con bò được làm bằng gỗ không? Trong Thánh lễ khai mạc sứ vụ Giáo Hoàng, Đức Bênêđitô XVI nói rằng ách của Chúa chính là thánh ý mà chúng ta đón nhận. Và thánh ý Chúa chúng ta đón nhận không phải là gánh nặng bề ngoài đè nén và tước đọat quyền tự do của chúng ta. Trái lại, ách của Chúa nhẹ nhàng, bởi thánh ý của Chúa không làm chúng ta bị tha hóa nhưng thanh tẩy chúng ta dù phải đau khổ, đau thương hay súng sướng. Qủa thế, trong bài đọc 2, Thánh Phaolô nói: “Nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính”.

Vì vậy, Chúa Giêsu hôm nay nói hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành. Nhưng thử nhìn lại cuộc đời Chúa Giêsu, Chúa Giêsu có hiền thiệt không? Đọc Tin Mừng chúng ta thấy các Thánh sử kể Chúa tức giận quát mắng quỷ dữ cũng như con người. Thánh Máccô kể rằng “Đức Giêsu và các môn đệ đi vào thành Ca-phác-na-um. Ngay ngày sa-bát, Người vào hội đường giảng dạy. Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư. Lập tức, trong hội đường của họ, có một người bị thần ô uế nhập, la lên rằng: "Ông Giêsu Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!" Nhưng Đức Giêsu quát mắng nó: "Câm đi, hãy xuất khỏi người này!" (Mc 1,21-24). Hay là: “Gần đến lễ Vượt Qua của người Do-thái, Đức Giêsu lên thành Giê-ru-sa-lem. Người thấy trong Đền Thờ có những kẻ bán chiên, bò, bồ câu, và những người đang ngồi đổi tiền. Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ” (Ga 2,13-15). Như vậy, Chúa Giêsu hiền lành cỡ nào? Như thế mình học nỗi không, theo nỗi không? Có lẽ chúng ta hiểu sai về sự hiền lành của Chúa rồi, bởi vì chúng ta đồng hóa sự hiền lành với nhu nhược. Hiền lành của Chúa Giêsu không phải là như nhược mà có lập trường, lập trường của chân lý. Cụ thể, Chúng ta nhớ lại đi, khi có một anh lính vả vào mặt Chúa Giêsu, Chúa không vả lại, dù Ngài chỉ cần thổi một phát anh đó bay xuống chín tầng đại ngục. Nhưng Ngài không vả, không thổi không phạt gì cả, mà Ngài cũng không im lặng, Ngài hỏi lại anh ta: nếu tôi nói phải sao anh đánh tôi, nếu tôi nói sai thì anh chỉ tôi sai chỗ nào. Rồi trong công cuộc rao giảng, Chúa Giêsu rao giảng giáo lý một cách hiền hòa, không chua cay, nóng nảy, bực tức hay thách đố những người chống đối, xuyên tạc và bắt bẻ Ngài. Đối với các môn đệ quê mùa, nóng tính, tham vọng. Ngài bình thản chấp nhận và nhẹ nhàng dạy bảo. Trước tòa án Do thái, người ta đổ vạ vu oan cho Ngài đủ điều, Ngài chỉ làm thinh. Tại dinh Philatô cũng thế, Ngài không nói nửa lời để minh oan, bào chữa, đến nỗi Philatô phải ngạc nhiên. Bị tát vào má, nhổ vào mặt, đánh trên lưng, đội vòng gai trên đầu, bị nhạo cười mắng nhiếc, Ngài chịu đựng tất cả, không một lời phản đối, bực tức hay phẫn uất. Trên thập giá, Ngài còn biện hộ cho những người làm khổ mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Như vậy sự hiền lành của Chúa Giêsu là sự hiền lành là tự chủ, kiên nhẫn, chịu đựng và tha thứ hết lòng hầu cho thánh ý Chúa Cha được nên trọn.

Bên cạnh nhân đức hiền lành, Chúa Giêsu khuyên bảo chúng ta học nơi Ngài gương khiêm nhường. Vâng, nói đến sự khiêm nhường chúng ta nghĩ ngay đến sự khiêm nhường của Con Một Thiên Chúa, Đức Giêsu là Đấng Messia khiêm nhường mà Dacaria đã loan báo rằng: “Hãy báo thiếu nữ Xion: kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ” (Mt 21,5). Qủa thế, Đức Giêsu Kitô không phải chỉ là một người phàm, mà còn là Chúa (Rm 8,3) Ngài ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã huỷ mình ra không đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta (Pl 2,6tt) nhờ đó chúng ta khỏi hư mất (Lc 19,10).

Lão Tử dạy quân tử trong phép xử thế rằng “Bậc thượng thiện giống như nước; nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh, ở chỗ nào mà người ta đều ghét, nên gần với đạo. Ở thì hay lựa chỗ thấp; lòng thì chịu chỗ thâm sâu, xử thế thích dùng đến lòng nhân” (Đạo Đức Kinh, chương 66), vì vậy, “hãy lấy nhu thắng cương, nhược thấy cường. Lấy cường xử hạ, nhu nhược xử thượng” (Đạo Đức Kinh, chương 76). Qủa thật, khiêm nhường một đức tính không thể thiếu trong mọi tương giao và xử thế bởi; nếu “Tôi kiêu căng sắc xảo, tôi thành tôi sắc tối; mà huênh hoang huyền hoặc tôi thành tôi huyền tồi; tự ái tôi nặng nề tôi thành tôi huyền tội” (Cha Quang Uy, bài hát “đơn giản tôi là”), như thế đời tôi còn ý nghĩa gì? Chẳng đẹp như ước mơ!

Chúa Giêsu mục tử nhân lành, hiền hậu và khiêm nhường đã nêu gương cho chúng ta trước và “Người để lại mẫu gương cho chúng ta dõi bước theo, vì Người không hề phạm tội, chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà không hề ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công minh” (1Pr 2,21-23). Như vậy, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải có lòng khiêm nhường thẳm sâu nhất, đó là phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, dùng tình yêu mà hạ mình xuống để tôn vinh Thiên Chúa và cứu vớt mọi người. Cho nên, Đức nguyên Giáo Hoàng Bênêđictô khẳng định rằng: “Tình yêu trong sự thuần khiết và vô tư là chứng cớ tốt nhất về Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta tin và thúc đẩy chúng ta yêu thương” (Thông Điệp, Thiên Chúa là Tình Yêu, số 31).

Qủa vậy, tình thương của Kitô giáo được xây dựng trên nền tảng sự khiêm nhường, vì chưng, Thánh Tôma Aquinô nói: “Kiêu ngạo là thích được đề cao hơn người khác, và kiêu ngạo là khoe khoang, là cay đắng, là tàn nhẫn, là chỉ nghĩ đến bản thân, cho nên kiêu ngạo khiến ta đố kỵ nhau. Bởi vậy, muốn yêu thương phải bắt đầu để cho tâm hồn mình thấm nhuần sự khiêm nhường và hiền lành”. Cho nên, có khiêm nhường, chúng ta mới nhận được tình yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta phục vụ yêu thương tha nhân một cách dễ dàng và thanh thản, không so đo tính toán và không vụ lợi. Vì vậy, Thánh Phaolô nói: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương, nên anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm cung, hiền hòa và nhẫn nại để dạy bảo nhau” (Cl 3,12) và “Hãy biểu lộ cho mọi người biết tình yêu Thiên Chúa giữa lòng thế giới, nhờ chứng tá đặc biệt trong sứ mạng của Đức Kitô được hoàn tất khi chúng ta tận hiến hoàn toàn cho Chúa; hãy nêu gương sáng cho mọi người cả Kitô hữu lẫn ngoài Kitô hữu; hãy khiêm tốn, hiền lành và yêu thương phục vụ, nhất là những người bé nhỏ” (Tông huấn Á Châu, số 44) ngõ hầu tất cả mọi người trên mặt đất hiệp nhất trong tình yêu Thiên Chúa nhờ giáo huấn của Chúa Giêsu Kitô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Vậy, Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta sống nhân đức của Chúa đó là ách của Chúa, chính là sống thánh ý Ngài giữa cuộc sống dù có gian nan, dù khi sung sướng hãy luôn để Thánh ý Chúa được thực hiện nơi chúng ta hầu chúng ta sống dồi dào và bình an. Thứ hai đó là hãy tập sống hiền như Chúa Giêsu hầu tạo nên trong gia đình một bầu khí hòa thuận và êm ấm. Và cũng chính sự hiền lành sẽ bắt được một nhịp cầu cảm thông sẽ tạo được những mối liên hệ tốt ngoài xã hội giữa chúng ta với nhau bởi vì: - Giận quá thì mất khôn. Sự nóng giận là như dầu đổ vào lửa, làm cho lửa bùng cháy lên. Trong khi đó, sự hiền lành bao giờ cũng xoa dịu, cũng hàn gắn.

Lạy Chúa xin cho chúng con biết sẵn sàng mang lấy ách của Chúa và sống hiền như Chúa hầu chúng con càng ngày càng giống Chúa. Amen.


 

TN14-A109: Suy niệm của Lm Trầm Phúc

Một đôi khi trong các sách Tin Mừng, các thánh sử ghi lại những lúc Chúa Giêsu cầu nguyện với TN14-A109


Một đôi khi trong các sách Tin Mừng, các thánh sử ghi lại những lúc Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha. Thường thì các ngài nói vắn tắt rằng, Ngài lên núi cầu nguyện thâu đêm, nhưng trong một vài trường hợp, các ngài ghi lại cả những lời cầu nguyện của Chúa, nhất là trong những lúc ở giữa các môn đệ. Những lời cầu nguyện này thường cho thấy mối liên hệ mật thiết của Ngài với Chúa Cha, một mới liên hệ mật thiết mà chúng ta không thể hiểu được, chứng tỏ rằng Chúa Giêsu với Cha Ngài là một. Ngài không làm gì ngoài ý Chúa Cha. Hôm nay Ngài cầu nguyện và ngợi khen Cha vì đã không cho những người khôn ngoan theo thế gian biết, mầu nhiệm Nước Trời, mà chỉ mạc khải cho những người hèn mọn. Vì sao? Vì những người khôn ngoan theo thế gian thường tự phụ, tưởng rằng mình đã khôn ngoan đủ và không muốn theo ý của ai khác. Họ khép kín trong sự hiểu biết của họ. Chúa chỉ yêu thích những tâm hồn bé mọn luôn rộng mở đón tiếp những gì tốt đẹp của tha nhân mà không đòi hỏi vòng vo. Thánh Phêrô khi tuyên xưng Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Chúa Giêsu đã nói gì? “Phêrô, anh có phúc vì không phải thế gian hay xác thịt đã cho anh biết điều đó, mà Cha trên trời đã cho anh biết. Phêrô chính là một tâm hồn bé mọn mà Chúa chấp nhận. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã chúc phúc cho những người nghèo khó. Theo tiếng Do Thái, nghèo khó có nghĩa là thấp hèn, đơn sơ, không tự ái xét nét. Tâm hồn nghèo khó như một trang giấy trắng, luôn sẵn sàng đón nhận nét bút của Chúa. Họ vẫn giữ được nét ngây thơ của tuổi thơ, vì thế, Chúa cũng bảo chúng ta trở nên như trẻ thơ, hồn nhiên và trong sáng, và như thế Chúa Cha mới in lên đó những nét bút của Ngài, vẽ lên nét đáng yêu của Mầu Nhiệm Nước Trời. Mầu Nhiệm đó chính là Giêsu, Con yêu dấu của Chúa Cha, vì không ai biết rõ Người Con, trừ Chúa Cha; cũng không ai biết rõ Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ người Con mạc khải cho. Chúa Con chính là hiện thân hữu hình của Chúa Cha. Vì thế, muốn hiểu biết Mầu Nhiệm Nước Trời, phải trở nên hèn mọn như Chúa Giêsu, vì Ngài đến trong thế gian trong thân phận một con người hèn mọn, mặc dù Cha tôi giao phó mọi sự cho tôi.

Tiên tri Dacaria đã nhấn mạnh đến sự thấp hèn của Chúa khi đến với con người. Ngay cả những lúc được tung hô vạn tuế, Ngài chỉ vào thành thánh ngồi trên lưng một con lừa con, vì Ngài đến thực hiện sứ mệnh cứu rỗi của Ngài trong khiêm hạ và nghèo khó. Tất cả những ai muốn bước vào Nước Trời phải đi vào con đường khiêm nhu và hèn mọn đó.

Vì thế, Chúa Giêsu lên tiếng kêu gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, vì tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”.

Chúng ta có nghe tiếng Chúa kêu mời không? Ai trong chúng ta không mang gánh nặng nề, lao đao trong cuộc sống? Ai trong chúng ta luôn sống trong bình an và hạnh phúc? Ngày nào mà không lo toan tính toán đủ mọi thứ? Hãy đến với Chúa, vì Chúa sẽ cùng với chúng ta vượt lên trên mọi khó khăn cực nhọc, thắng vượt những nặng nề của xác thịt, của đam mê vật chất, cho chúng ta được sống trong Thánh Thần là nguồn suối bình an và hoan lạc. Chúa không hứa sẽ cất gánh nặng cho chúng ta, Ngài chỉ hứa cho chúng ta được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Những ai đã nghe lời Ngài, đến với Ngài, đều đã cảm nghiệm được niềm hoan lạc của Thánh Thần, dù sống trong những hoàn cảnh hết sức cùng cực và nguy hiểm. Trong thế gian không có gì bảo đảm cho chúng ta cả. Một cơn bệnh hiểm nghèo, một tai nạn bất thần có thể phá đổ tất cả. Chúa Giêsu mới là nơi an toàn duy nhất thôi. Dù mọi sự quanh ta có thay biến thế nào, Chúa vẫn là nơi ẩn náu duy nhất. Chúa vẫn là thuẫn đỡ khiên che. Và những ai trông cậy vào Chúa sẽ không bao giờ thất vọng.

Chúng ta vẫn được vinh dự ăn lấy Chúa, có thể là mỗi ngày, thì chúng ta còn sợ gì những lao nhọc cực khổ? Chúng ta đã được nuôi dưỡng bằng mình và máu Chúa, đã mang Chúa trong con người thì có gì mà phải e sợ lo lắng? Chỉ khi nào chúng ta tách rời ra khỏi tình yêu Chúa, chúng ta mới sợ, vì lúc đó chúng ta chỉ còn là yếu đuối và mong manh. Tiền bạc và quyền lực thế gian không thể bảo đảm hạnh phúc của chúng ta. Chỉ có Chúa thôi.

Nhưng đến với Chúa, không chỉ là lo hạnh phúc cho chính mình, mà là để đến với anh em. Nếu Chúa là nơi nương ẩn cho chúng ta, chúng ta cũng có thể là nơi nương ẩn cho những người anh em khốn khổ khác, những người chưa biết Chúa là nguồn bình an của họ. Khi đã mang Chúa trong tâm hồn, chúng ta sẽ là sứ gỉả của tình yêu Chúa cho mọi người chung quanh. Đó là điều Chúa mong muốn. Vì Chúa đã thương chúng ta, chúng ta phải yêu thương anh em, đó là lời khuyên nhủ của thánh Gioan. Mầu Nhiệm Nước Trời chính là mầu nhiệm của tình yêu muôn thuở của Chúa đối với nhân loại. Những người hèn mọn đã được mạc khải Mầu Nhiệm Nước Trời, phải dấn thân yêu thương như Chúa đã yêu, nếu không, giữ đạo là một điều vô ích. Người ta sẽ không thể hiểu một người Kitô hữu mà không biết yêu thương. Thánh Gioan cũng nói: “Ai nói mình yêu mến Chúa mà không thương yêu anh em là kẻ nói dối”… Vì Thiên Chúa là Tình Yêu”.

Chúa Giêsu lại buộc chúng ta học một bài học duy nhất mà chúng ta có thể tìm thấy, đó là: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng”. Một bài học duy nhất. Trong  Tin Mừng, chỉ có một lần duy nhất Chúa bảo chúng ta phải học với Ngài. Chúng ta có thực sự học bài học đó không? Hiền lành và khiêm nhượng là hai đức tính hiếm hoi trong xã hội loài người. Ai cũng muốn được một chỗ đứng trong mặt trời. Ai cũng muốn danh giá, quyền lực. Ai cũng muốn “có danh gì với núi sông”. Chỉ có Chúa Giêsu dạy chúng ta khiêm tốn và hiền lành. Điều kiện tất yếu của tình yêu. Yêu mà không khiêm nhường là tình yêu giả hiệu, và yêu mà không hiền lành là tình yêu dối trá. Chúng ta đến với anh em không phải để đòi hỏi mà để cho đi. Và cho đi thì phải hiền lành và khiêm tốn, thì việc cho đi mới trọn vẹn. Đó mới là tình yêu đích thực. Hãy nhìn Chúa Giêsu  hiền lành và khiêm tốn, chúng ta mới hiểu thế nào là yêu thương.


 

TN14-A110: Thiên Chúa yêu thương người nghèo

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.)

 

Người đời thường coi trọng người khôn ngoan giầu sang quyền quý, nhưng Tin Mừng hôm nay TN14-A110


Người đời thường coi trọng người khôn ngoan giầu sang quyền quý, nhưng Tin Mừng hôm nay cho thấy Thiên Chúa yêu thương người nghèo, và mặc khải những gì kín ẩn cho những người bé nhỏ nghèo hèn.

1. Thiên Chúa yêu thương cả những người khôn ngoan

Những người khôn ngoan thông thái, học cao hiểu rộng, thường được mọi người tôn trọng. Người ta thường hiểu rằng những người này dễ dàng đón nhận chân lý, và hiểu biết những điều mà những người bình dân ít học không hiểu được. Tuy vậy, Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Yêsu tạ ơn Thiên Chúa Cha, vì Ngài đã dấu những điều kín ẩn với những người khôn ngoan quyền thế, nhưng lại mặc khải cho những kẻ bé mọn.

Người “bé nhỏ” được Thiên Chúa mặc khải ở đây, là những người có tinh thần mở rộng, sẵn sàng đón nhận sự thật, sẵn sàng để được dạy dỗ từ bất cứ ai, sẵn sàng đón nhận chân lý từ bất cứ người nào. Những người “khôn ngoan thông thái” là những người cho mình là người hiểu biết, không sẵn sàng mở lòng học nơi người khác vì họ cho rằng họ hơn người khác, được học hơn người khác, hiểu biết hơn người khác, thông minh hơn người khác. “Tạ ơn Cha vì Cha đã che dấu những người khôn ngoan thông thái nhưng mặc khải cho những người bé mọn nghèo hèn”. Không phải Thiên Chúa không yêu thương và không mặc khải cho những người khôn ngoan giầu sang, nhưng vì những người này không thể đón nhận những gì Thiên Chúa mặc khải khi họ cho rằng họ không có gì để học nơi những người “bình thường” như Đức Yêsu.

Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người. Ngài yêu thương cả người khôn ngoan giầu có quyền năng cũng như những người nghèo. Ngài làm mặt trời mọc trên kẻ dữ lẫn người lành. Đức Yêsu tạ ơn Cha, vì những người nghèo đã mở lòng đón nhận điều Thiên Chúa mặc khải qua Ngài.

2. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa

Theo kinh nghiệm, không phải những người “có học” lập gia đình với nhau là có lối sống văn minh và đời sống hạnh phúc. Kiến thức và mức độ trưởng thành về đời sống nhân bản là hai lãnh vực khác nhau. Kinh nghiệm cho thấy có những người có bằng cấp, ăn nói rất giỏi, lý luận vững chắc nhưng lại có đời sống nhân bản không cao lắm. Với những người “hữu tài mà vô đức”, ai sống với họ quả là một bất hạnh. Một người có tài mà không có đức là một mối họa cho xã hội nhiều hơn là một người vô đức nhưng bất tài.

Một người có học, có thể học biết nhiều để nói về Thiên Chúa, học biết những điều những người khác hiểu về Thiên Chúa. Tuy vậy, không phải tất cả những người có học đều là những người hiểu biết và gặp gỡ Thiên Chúa hơn những người ít học. Lời Chúa viết trong thư thứ nhất của thánh Yoan: “Ai yêu thương thì biết Thiên Chúa, ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu”. Một người có học thường nói giỏi về điều mình học, nhưng không hàm chứa sống điều đó hơn người khác. Một người học thần học, không luôn luôn hàm chứa người đó yêu mến Thiên Chúa hơn những người bình dân không được học nhiều về thần học; một người học về tâm lý, không luôn luôn hàm chứa người đó có cách cư xử đẹp lòng người hơn người không học tâm lý.

Biết và sống là hai lãnh vực khác nhau. Một người có thể biết hay nói giỏi nhưng lại sống rất dở. Một người có thể có bằng cấp thần học, nhưng lại “mất đức tin”. Một người có thể có tiếng là Kitô-hữu nhưng lại sống không giống như một Kitô-hữu: “không phải tất cả những kẻ nói Lạy Chúa Lạy Chúa là được vào nước Thiên Chúa, nhưng là kẻ làm theo ý Thiên Chúa.”

3. Hãy mang lấy ách của Ta

Có một số người cho rằng “là Kitô-hữu” là một bất lợi, vì họ phải giữ mười giới răn nên không được ăn trộm ăn cắp, không được lang chạ vợ chồng, phải đi lễ ngày Chúa Nhật, phải sống lương thiện, không được thù ghét nhưng phải sống yêu thương. Tuy nhiên, suy nghĩ của những người này không đúng, vì lối sống của Kitô-hữu là lối sống mang lại cho người ta hạnh phúc đích thực. Người ta không thể sống hạnh phúc, nếu người ta không sống theo lương tâm, không ăn ngay ở lành, không sống yêu thương.

Cái ách của Đức Yêsu, chính là lề luật của Thiên Chúa, là những điều Đức Yêsu dạy. Sống theo điều Đức Yêsu dạy, theo lề luật của Thiên Chúa, cũng đòi người ta phải hy sinh, phải chống lại những xu hướng bình thường của xác thịt. Tuy nhiên, khi làm như vậy, người ta sẽ sống bình an; những người sống bên cạnh người đó cũng cảm thấy an toàn hơn; và người ta sẽ hạnh phúc hơn.

Lý tưởng mỗi người, là chính Đức Yêsu Kitô. Đức Yêsu đã sống an bình, Ngài đã chỉ cho con người cách sống đem lại hạnh phúc đích thực. Lối sống của Ngài, làm con người sống hạnh phúc không chỉ ở đời sau, nhưng ngay ở đời này nữa. Lối sống của Ngài, không chỉ làm Ngài sống an bình hạnh phúc, nhưng giúp người khác sống an bình và hạnh phúc nữa.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Theo đạo, có là một gánh nặng đối với bạn không? Tại sao?

2. Đâu là điều tuyệt nhất của đạo đối với bạn?

3. Xin bạn so sánh cuộc sống của bạn và cuộc sống của Đức Yêsu về khía cạnh kinh tế, tương quan xã hội, cảm nghiệm hạnh phúc, và ao ước làm cho thế giới này tươi đẹp hơn.


 

TN14-A111: Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Minh

“Thiên Chúa mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những kẻ bé mọn”

I. Dẫn vào phụng vụ lời Chúa:

 

Sau khi khiển trách những thành ven biển hồ đã không tin Ngài vì cậy vào sự thông thái của mình TN14-A111


Sau khi khiển trách những thành ven biển hồ đã không tin Ngài vì cậy vào sự thông thái của mình, Chúa Giêsu lên tiếng tạ ơn và chúc tụng Chúa Cha đã mặc khải mầu nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn, tức là những người “nghèo trong tinh thần” mà Ngài đã nói trong bát phúc: những người tội lỗi, những kẻ ít học.

Ngài còn nói: “vì ý Cha muốn an bài như vậy”. Nghĩa là thái độ hoặc tin hoặc cứng tin mà Chúa Giêsu gặp chẳng phải là chuyện may rủi, cũng chẳng phải do tài năng hoặc bất tài của Ngài, mà là chương trình khôn ngoan của Thiên Chúa: Ngài luôn ưu ái những kẻ bé mọn và hạ bệ những hạng khôn ngoan thông thái tự  cao.

Con người có thể khước từ Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ từ bỏ con người: Ngài luôn mời gọi con người trở về để lãnh nhận ân sủng và sự sống của Ngài. Thiên Chúa mời gọi mỗi người không phân biệt, nhưng để đáp trả con người có thể có một trong hai thái độ: thái độ của những kẻ bé mọn khiêm tốn để cho Chúa dạy dỗ; và thái độ của những kẻ thông thái tự cao, cho mình là nhóm nhỏ tách khỏi đại đa số dân chúng. Những kẻ thông thái được Chúa Giêsu trực tiếp nhắm đến trong Tin Mừng hôm nay là nhóm biệt phái đang đứng trong hàng lãnh đạo sinh hoạt Tôn Giáo và chống đối Chúa. Họ cho rằng chỉ cần am tường luật Môsê trong Kinh Thánh cũng như những tập tục truyền khẩu là con người có thể đến với Chúa: họ tự phụ mình biết Thiên Chúa, nhưng thực ra họ lìa xa Ngài.

Kinh Thánh, nhất là Tân ước hay đối lập kẻ nghèo hèn bé nhỏ với người giàu sang quyền thế, và người nghèo hèn bé mọn thường được đề cao. Chính Đức Maria trong bài ca “Magnificat” cũng đã thốt lên: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1,52-53).

II. Đức Giêsu hân hoan dâng lời tạ ơn và ca tụng Chúa Cha

Hôm nay, Chúa lại nói trong bài Tin Mừng: con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm nước trời, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn  (Mt 11,25).

Người bé mọn là người sống khiêm tốn đơn sơ chất phác, dễ dàng tin vào lời dạy dỗ khôn ngoan vì hứa hẹn thành tín của Thiên Chúa, không thắc mắc nghi nan, không kiêu hãnh tự mãn mà biết tìm tới chân lý và thuận phục ý Chúa.

Chúng ta cần trở nên những người bé mọn theo tinh thần Phúc âm, để cảm mến tin theo và sống hiệp thông với Thiên Chúa. Một con người khiêm tốn có thể có đức tin sâu xa hơn một nhà thông thái. Đức tin là một hồng ân cần được lãnh nhận hơn là kết quả của sưu tầm trí thức của con người. Thánh Têrêsa Avila, tuy không học hành nhiều, nhưng đã có kinh nghiệm sống động về Thiên Chúa và đã trình bày kinh nghiệm thiêng liêng của mình một cách tốt đẹp, đến nỗi đã được đặt làm tiến sĩ Hội thánh, vì giáo huấn của thánh nữ để lại là kho tàng thiêng liêng quí báu giúp mọi thành phần Giáo hội đến với mầu nhiệm Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, ở đây Chúa Giêsu không có ý loại trừ những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng chỉ có ý cảnh tỉnh những ai cậy dựa vào sự thông thái của họ mà tự mãn chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô sẽ không gặp được Thiên Chúa, không thể đạt được tới sự hiệp thông với Thiên Chúa và được cứu rỗi.

Nói chung con đường Chúa Giêsu  mạc khải để giúp con người đến với Thiên Chúa chính là tâm hồn đơn sơ khiêm tốn.

III. Đức Giêsu mời gọi lắng nghe sứ điệp của Người (c.28-30)

Một tư tưởng nữa của Tin mừng hôm nay đó là lời kêu gọi những kẻ đói khát, những ai mệt nhọc hãy đến với Ngài: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” và “anh em hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.”

- Trong ngôn ngữ Thánh Kinh “gánh” chỉ lề luật.

- “Mang lấy ách” là một kiểu nói bóng của các Thầy Rabbi xưa quen dùng, hàm ý nhận ai làm Thầy.

- Ách và gánh của Chúa Giêsu là đạo lý Tin Mừng, đạo lý này bao gồm 3 điểm:

* Tin: Thụ giáo để trở thành môn đệ.
* Khiêm nhường: là thái độ của người môn đệ đối với Chúa.
* Hiền lành: là thái độ của người môn đệ đối với tha nhân.

- Học với Chúa Giêsu là học được tính hiền lành và khiêm tốn.
- Luật của Ngài là luật yêu thương.
- Bởi thế ai mang lấy ách của Ngài và học với Ngài thì tâm hồn người đó sẽ gặp được bình an.

Những kẻ vất vả mang gánh nặng mà Tin Mừng hôm nay nhắc đến được các nhà chú giải hiểu là những con người đơn sơ khiêm tốn, sẵn sàng để Thiên Chúa dạy dỗ hướng dẫn, như được nói đến trong đoạn Tin Mừng trước đó.

Tâm hồn họ đã sẵn sàng, giờ đây Chúa Giêsu mời gọi họ đến với Ngài để được Ngài nâng đỡ bổ sức cho, để Ngài giải thoát khỏi gánh nặng – Gánh nặng nào? Đó là gánh nặng của lề luật mà các nhà thông luật chất trên vai những con người đơn sơ, hèn mọn. Họ bó gánh nặng lên vai người khác, còn chính họ thì không muốn động ngón tay vào, như lời Chúa trách cứ thái độ giả hình của những người biệt phái, tinh thần vụ luật, vụ hình thức đã làm cho những vị lãnh đạo Do Thái giáo không còn có quả tim thông cảm nữa.

Chúa Giêsu mời gọi dân chúng đến với Ngài để được Ngài giải thoát khỏi gánh nặng và được nâng đỡ bổ sức. Chống lại những người biệt phái, Chúa Giêsu đề ra một cái ách mới cho những ai chấp nhận Ngài. Đây chẳng phải là không còn lề luật, bởi vì giáo huấn của Chúa Giêsu đòi hỏi không thua gì lề luật của Môsê. Nhưng điều làm cho luật của Chúa trở thành êm ái đó là tình yêu, và những kẻ tuân giữ luật Chúa được sức mạnh tinh thần nâng đỡ an ủi, đó là sức mạnh của Thánh Thần mà Ngài đã ban cho các môn đệ để họ tuân giữ luật Chúa, và như vậy luật Chúa trở nên nhẹ nhàng, dễ chu toàn.

Người tín hữu không lẻ loi một mình, không tự sức mình tuân giữ luật Chúa. Hàng ngày họ được nuôi dưỡng bằng chính Mình Máu Thánh Ngài và được ban cho tràn đầy Thánh Thần. Sống theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, họ sẽ cảm nghiệm được rằng đời sống đức tin với tất cả những hệ lụy, những đòi buộc của nó sẽ không còn là gánh nặng, mà là niềm tin và sức mạnh trong mọi biến cố, mọi hoàn cảnh cuộc đời.

Xin Chúa cho chúng con biết lắng nghe lời mời gọi đến với Chúa, tin tưởng vào Chúa và lấy tình yêu đáp trả tình yêu để “ách Chúa trở nên êm ái và gánh Chúa trở nên nhẹ nhàng cho chúng con”. Vì chỉ nơi Chúa, chúng con mới kín múc được niềm vui và sự bình an đích thực.


 

TN14-A112: Trở nên hèn mọn – AM Trần Bình An

Năm 1979, trên đường trở về từ Oslo, sau khi nhận giải Nobel Hòa Bình, mẹ Têrêsa Calcutta dừng lại TN14-A112


Năm 1979, trên đường trở về từ Oslo, sau khi nhận giải Nobel Hòa Bình, mẹ Têrêsa Calcutta dừng lại tại Roma. Các ký giả chen chúc chờ đợi gặp mẹ trong khuôn viên nhỏ bé của ngôi nhà cộng đoàn các nữ tu Thừa Sai Bác Ái ở Monte Celio. Mẹ Têrêsa không để cho các ký giả tấn công. Trái lại, mẹ tiếp họ như những người con. Mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay mỗi người một ảnh đeo Đức Mẹ Vô Nhiễm. Các ký giả ráo riết bao vây mẹ để chụp hình và để phỏng vấn. Một ký giả táo bạo hỏi:

- "Thưa mẹ, năm nay mẹ 70 tuổi. Khi mẹ qua đời thế giới cũng sẽ như trước! Vậy đâu có gì thay đổi sau bao nhiêu cực nhọc?" Mẹ Têrêsa đăm đăm nhìn chàng ký giả trẻ tuổi và nở một nụ cười thật tươi, nụ cười như một cái vuốt ve trìu mến, rồi mẹ từ tốn nói:

- "Anh thấy đó, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có thể thay đổi thế giới. Tôi chỉ tìm cách trở thành một giọt nước trong, một giọt nước lóng lánh rạng ngời Tình Yêu Thiên Chúa, thế thôi. Anh cho là quá ít sao?" Chàng ký giả trẻ tuổi lúng túng. Các ký giả khác đứng im không nhúc nhích. Mẹ Têrêsa thản nhiên tiếp tục cuộc đối thoại:

- "Anh cũng nên cố gắng trở thành một giọt nước trong, như thế, sẽ có hai giọt nước trong. Anh lập gia đình chưa?".

- “Dạ rồi,” chàng ký giả đáp.

- "Vậy anh cũng nên nói với vợ và như thế chúng ta sẽ là ba giọt nước trong. Anh có con chưa?"

- Thưa mẹ, ba đứa!

- "Tốt lắm. Vậy anh cũng nên nói với các con anh, và như thế, tất cả chúng ta sẽ là 6 giọt nước trong! (Sr Jean Berchmans Minh Nguyệt. Mẹ Têrêsa Calcutta)

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu cảm tạ, ngợi khen Đức Chúa Cha đã thương yêu mặc khải cho những kẻ bé mọn mầu nhiệm Nước Trời. Mẹ Têrêsa Calcutta cũng tự nhận mình bé mọn, chỉ là một giọt nước trong, một giọt nước long lánh rạng ngời Tình Yêu Thiên Chúa, dù Mẹ đã làm biết bao kỳ công giúp đỡ người nghèo khổ tại Ấn Độ và khắp nơi trên thế giới.

Hèn mọn bản thân

Khi Chúa Giêsu giáng sinh tại Bêlem với dáng dấp hài nhi bé bỏng yếu đuối, thì những kẻ chăn chiên, những mục đồng bé mọn lại là những người đầu tiên được vinh dự đến thăm Hài Nhi. Đến khi đi rao giảng, Người mời gọi mọi người hãy sống đơn sơ, ngây thơ, trong trắng, chân chất, thật thà, thân thiện, hòa nhã như trẻ em, để được Ơn Cứu Độ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không quay trở lại, mà nên như trẻ em, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.”(Mt 18, 3)

Bí quyết cải lão hoàn đồng không phải trẻ lại thân xác mau hư nát, mà canh tân, đổi mới tâm hồn, bỏ đi những thói hư tật xấu, toan tính, lọc lừa, tất cả cái khôn ngoan thế gian, mà sống vô tư, phó thác hoàn toàn vào Chúa Quan Phòng, như em bé âu yếm nép vào lòng mẹ che chở.

Trở nên hèn mọn như Mẹ Maria tự cảm nhận qua Kinh Maginificat: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới,” chính là gương mẫu hoàn hảo cho toàn thể Kitô hữu noi theo, để xứng đáng ân hưởng tình yêu Chúa.

Hèn mọn với tha nhân

Trở nên bé mọn với tha nhân là khiêm nhường, hạ mình xuống, nhu mì, nhân ái, xóa tan đi cái tôi tự cao, tự đại, mà tình nguyện coi mình là người đầy tớ phục vụ tha nhân, như Đức Giêsu đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. “Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.” (Ga 13, 14)

Trở nên bé mọn là hiền lành và nhẫn nhục, nhường nhịn, nhân ái, không còn kiêu căng, ngạo mạn, củng cố địa vị, chỗ đứng, so đo, ganh đua, kèn cựa với bất kỳ ai. “Ai muốn kiện tụng hầu đoạt chiếc áo cánh của ngươi, hãy nhường cả áo ngoài cho họ. Ai bắt ngươi đi một dặm đường, ngưoi hãy đi với nó hai dặm nữa. Ai xin ngươi cứ cho, họ muốn vay mượn ngươi đừng từ chối.” (Mt 6, 40-42)

Trở nên hèn mọn là vui lòng chịu đựng những sự khốn khổ do cường quyền, ác nhân áp bức, hành hạ, tra tấn, bỏ tù, sát hại, bức tử vì danh Chúa. “Đừng chống cự với người ác. Trái lại, nếu ai tát má bên phải ngươi, hãy đưa má kia cho họ nữa.” (Mt 6, 39)

Thánh Phaolô cũng hết lòng khuyên nhủ sống khiêm hạ: “Đừng làm chỉ vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.” (Pl 2,3)

Hèn mọn với Thiên Chúa

Noi gương Đức Giêsu, Người trở nên hèn mọn trước mặt Đức Chúa Cha, hóa thân làm phàm nhân, người Kitô hữu cũng nhìn nhận mình là tạo vật hèn mọn, chẳng là chi cả trước Thiên Chúa, như bắt chước người thu thuế đứng đàng xa, thậm chí chẳng dám ngước mặt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng:” Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.“ ( Lc 18, 13 )
Hoặc khi làm được bất cứ việc chi tốt lành, hãy nhận lấy thân phận hèn mọn, đầy tớ bất xứng mà thưa cùng Chúa, như Người đã từng dạy: "Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm."(Lc 17, 10)

Thánh Phêrô còn minh định thêm về đức khiêm nhường: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định.” (1Pr 5, 5-6)

Khi một viên chức cao cấp của chính phủ Ấn Độ chúc mừng Mẹ Têrêsa được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1979, thì Mẹ vui vẻ đáp lại: “Tất cả vì vinh quang Chúa!”

“Người khiêm nhượng như hạ mình sát đất, không còn ngã xuống đâu nữa. Người kiêu ngạo như leo trên tháp cao, rất dễ nhào và ngã nặng khủng khiếp.” (Đường Hy Vọng, số 517)

Lạy Chúa Giêsu, luôn hiền hậu và khiêm nhường, xin ban cho chúng con biết sống hèn mọn ngay với bản thân, với tha nhân và nhất là với Thiên Chúa cao cả, để có hiệp thông vào mầu nhiệm Nước Trời.

Lạy Mẹ Maria, kính xin Mẹ dạy chúng con noi gương Mẹ, trở nên đầy tớ hèn mọn, để được Chúa đoái thương nhìn đến. Amen.


 

TN14-A113: Học trường Giêsu - Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Mở đầu đoạn Tin Mừng hôm nay là lời chúc tụng tạ ơn của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha. Khi TN14-A113


Mở đầu đoạn Tin Mừng hôm nay là lời chúc tụng tạ ơn của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha. Khi Chúa cầm lấy chén, tạ ơn (x. Mt 26,27); Lời tạ ơn diễn tả tâm tình của tạo vật đối với Đấng Tạo Hóa. Chúa Kitô thường quen tạ ơn. Người tạ ơn vì biết trước rằng Chúa Cha đã nhận lời. Người tạ ơn vì sức mạnh uy quyền toàn năng của Thiên Chúa hiển hiện nơi Người để Người tỏ uy quyền toàn năng của Đấng Tạo Hóa ra trước mặt thiên hạ. Người tạ ơn vì công trình cứu chuộc Người đã hoàn tất, và Người tạ ơn vì việc Người làm để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

Như vậy, hiện tại hóa hy tế đời đời của Chúa Kitô trên thập giá trong Thánh Lễ được hiểu như là một hành động tạ ơn cao cả nhất. Chính trong nghĩa đó mà từ "Thánh Thể" là hành động tạ ơn được nên trọn vẹn. Chúa Giêsu đã dâng hiến thân mình thay cho mọi tạo vật trên thế giới. Người cũng mời gọi các tạo vật phải tạ ơn Đấng Tạo Hóa cho xứng.

Tiếp theo hành động tạ ơn là lời Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến trường Giêsu và học bài “Hiền Lành Và Khiêm Nhường”. Bài đọc I cho thấy, Đấng Messia mà Giacaria nói tới trong Cựu Ước, Đấng ấy không đến trong quyền uy với vũ khí hủy diệt, nhưng đến với một thứ vũ khí đặc biệt là “hiền lành và khiêm nhường”. Vua hòa bình ngồi trên lưng lừa, không đến để giết chết mà để cứu sống (x. Dcr 9,8-10).

Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì Ngài quí chuộng những kẻ bé mọn, hiền lành và khiêm nhường. Chính Ngài đã mạc khải cho họ, trong khi lại giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy (x. Mt 11,25-30).

Nhân dịp này, Chúa Giêsu cũng khuyên những người bé mọn đó hãy “mang lấy ách của Chúa” và “hãy học cùng Chúa” bài học: “Hiền lành và khiêm nhường” trong cuộc sống hằng ngày để làm môn đệ Chúa.

Hiền lành, theo nguyên ngữ Hy lạp được dùng trong Kinh Thánh thì nó có nghĩa là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo, cứng cỏi. Như thế hiền lành phải có cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên trong thì phải êm ái, hòa nhã, yêu thương, khoan dung, thông cảm. Bên ngoài thì phải nhẹ nhàng, không có hành động cứng rắn hay thô bạo. Hiền lành thì phải tránh tính nóng nảy. Hiền lành hay hiền hậu là đức tính tốt lành của người có lòng thương người, không độc ác, nhưng có đức hạnh và hay làm điều thiện.

Lịch sử minh chứng, con người ở mọi nơi mọi thời thường say mê quyền lực và muốn thống trị, sai khiến người khác theo ý mình, nên theo một số người thì hiền lành và khiêm nhường có thể bị coi như một thái độ hèn nhát, nhu nhược. Trái lại, cũng có rất nhiều người cho rằng, người có bản lĩnh vững vàng cao thượng mới có thể thực hiện được nhân đức khiêm nhường và hiền lành, họ đáng được ca tụng.

Hiền lành và khiêm nhường ngày nay không còn được đánh giá cao như xưa. Trước kia, lời khen ngợi tốt nhất mà ta có thể trao tặng cho người khác khi gọi họ là “người hiền lành khiêm nhường”. Nhưng ngày nay, bạo lực lại phổ biến hơn hiền lành dễ thương.

Người hiền triết và khôn ngoan, thường khó đi vào trong các mầu nhiệm Nước Trời, vì họ không mở lòng mình ra để đón nhận các mạc khải của Thiên Chúa; Thiên Chúa không ngừng mạc khải chính mình, nhưng họ thì lại tự tin vào hiểu biết của chính mình; vì thế, mạc khải của Thiên Chúa không làm họ ngỡ ngàng được. Trái lại, người đơn sơ như trẻ nhỏ lại đón nhận được mạc khải của Thiên Chúa; họ giống như tấm bọt biển khô hấp thấm nước vậy, họ ngỡ ngàng và thán phục trước mạc khải của Thiên Chúa. Dĩ nhiên, cũng có trường hợp, họ là học giả khôn ngoan, nhưng khiêm tốn trước Thiên Chúa, họ có thể hiểu biết về Thiên Chúa.

Ngược lại với thái độ của những kẻ tầm thường chỉ biết hành động theo tình tư dục, những bậc hiền nhân quân tử có cái nhìn khác. Những kẻ tầm thường không có cái suy nghĩ và hành động như các vị đó.

Thánh Francois de Sales nói: “Tất cả đều được chinh phục bởi hiền lành chớ không phải bạo lực”.

Nhà hiền triết Mạnh Tử nói: “Thiên đạo vô thân. Thường dữ thiện nhân (Đạo trời không riêng một người, Luôn gia ân cho kẻ hiền lành).

Ông Gandhi nói: “… Tôi tin rằng Ấn độ không phải là vô lực. 100.000 người Anh làm gì mà đến 300 triệu người Ấn kia phải sợ? Bất bạo động đâu phải chịu lụy kẻ làm hại mình. Bất bạo động, là dùng sức mạnh của cả tâm hồn để chống lại với cường quyền của kẻ độc tài”.

“Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” là thông điệp Đức Giêsu gửi đến mỗi người chúng ta. Người đã làm gương trước, chúng ta chỉ việc học đòi bắt chước Người thôi.

Vậy, chúng ta hãy thực hiện được lời Chúa dạy, cố gắng vượt thắng tính nóng nảy và hay trả thù của mình. Đứng trước tấm gương của những người hiền lành nhịn nhục, không ai dám coi họ là những người hèn nhát mà phải suy tôn họ là anh hung.

Trong bài giảng “Tám Mối Phúc Thật” (Mt 5,1-12). Chúa Giêsu đã khẳng định: “Phúc cho ai có tinh thần hiền lành vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. Chỉ có người theo học trường Giêsu, quyết học bài học hiền lành và khiêm nhường cả đời, chỉ có người biết cư xử với lòng khoan nhân, mới tìm được an bình và hạnh phúc trên cõi đời nầy cùng sự nghỉ ngơi miên viễn khi đã ‘ra trường’.

Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết khiêm nhường thật trong lòng, để chúng con được kể vào số những kẻ bé mọn của Tin Mừng, những người Thiên Chúa Cha hứa mạc khải cho biết mầu nhiệm Nước Trời. Amen.


 

TN14-A114: HÃY ĐẾN VỚI TÔI

+ ĐTGM Giuse Vũ Văn Thiên

 

Vào những lúc gặp khó khăn đau khổ, người ta thường đặt câu hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Trong lúc TN14-A114


Vào những lúc gặp khó khăn đau khổ, người ta thường đặt câu hỏi: Thiên Chúa ở đâu? Trong lúc đại dịch viêm phổi Vũ Hán (Covid-19) lan rộng toàn cầu, đã có người đặt vấn nạn: tại sao Thượng đế lại cho phép một dịch bệnh tàn khốc như vậy xảy ra? Đây cũng là câu hỏi đã được đặt ra trước sự kiện Tháp đôi bị đánh sập tại Hoa Kỳ năm 2001. Để trả lời cho vấn nạn này, một tác giả đã nói: Tại sao các bạn lại đổ lỗi cho Thiên Chúa, trong khi chính các bạn đã loại bỏ và xua đuổi Ngài ra khỏi bệnh viện, học đường, gia đình và nơi công cộng? Các bạn bênh vực và cổ võ phá thai, trong khi đó nhiều người có lương tâm trên thế giới phản đối và coi như một tội ác. Các bạn bênh vực hôn nhân đồng tính, trong khi nhiều người lên án như một việc trái tự nhiên. Các bạn ủng hộ ly dị trong khi nhiều người lên án là vô đạo đức. Và, bây giờ tội ác xảy ra thì các bạn lại đổ lỗi cho Thiên Chúa. Quả vậy, khi Thiên Chúa không diện diện trong cuộc đời, thì thay vào đó sẽ là bạo lực, sa đọa và giết chóc. Trong những ngày này, qua đài truyền hình, chúng ta nhận những thông tin thời sự về phong trào biểu tình ở Hoa Kỳ sau cái chết của một người da đen là anh George Floyd. Những người biểu tình cướp phá siêu thị, dỡ bỏ một số tượng đài của các nhân vật lịch sử và cựu tổng thống Hoa Kỳ. Trong cơn bạo loạn, họ đe dọa sẽ phá bỏ tượng Chúa Giêsu. Một đất nước ghi trên đồng tiền đô-la “Chúng tôi trông cậy nơi Chúa – In God we trust” mà lại ngông cuồng đến mức phá bỏ tượng của Chúa. Một nền văn hóa thường kết thúc những diễn văn quan trọng bằng câu” Chúa chúc lành cho nước Mỹ - God bless America!” mà lại phỉ báng chính Con Thiên Chúa. Một khi loại bỏ Thiên Chúa, cuộc đời sẽ chỉ còn là một bãi chiến trường, thảm khốc và đau thương. Cũng may, giữa cảnh náo loạn này, Tổng thống Hoa Kỳ, ông Donald Trump đã cảnh báo: một khi ông còn tại vị tổng thống, không ai được phép phá hủy tượng Chúa Giêsu!

Giữa những xáo trộn của cuộc sống đầy bất an, Kitô hữu là người chọn Chúa Giêsu và tin tưởng phó thác nơi Người. Mặc dù có những nhân vật, những phong trào hùng hổ giơ tay loại trừ Thiên Chúa, vẫn có hàng hàng lớp lớp những người yêu mến, tôn thờ và cậy trông nơi Ngài. Quả vậy, Đức tin vào Chúa không chỉ thể hiện khi được an vui, mà còn cả trong khi bị thử thách. Đức tin cũng không phải là hành động ùa theo đám đông, nhưng là bản lĩnh và là niềm xác tín của con người. Tin Mừng hôm nay là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Không chỉ gồm những tâm tình thân thưa với Chúa Cha, lời cầu nguyện này còn nhằm mạc khải, soi sáng cho các môn đệ về sứ mạng thiên sai của Người. Người từ Chúa Cha mà đến, nên biết rõ Chúa Cha, cũng như biết rõ thánh ý của Ngài. Khi khẳng định những điều này, Chúa Giêsu cũng muốn giúp các môn đệ kiên vững lòng tin, để rồi, những lúc đối diện với khó khăn thử thách, các ông không ngã lòng.

“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến với tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”. Giữa biển đời đầy sóng gió ba đào, lời mời gọi “Hãy đến với Tôi” của Chúa giúp chúng ta vững tin, nhờ đó ta có thêm can đảm nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Bởi lẽ, có những lúc chúng ta cảm thấy đang đứng trước ngõ cụt của cuộc đời mà không tìm được lối thoát. Chúa Giêsu chính là niềm hy vọng và yên ủi cho những ai đang đau khổ và bế tắc trên đường đời. Hãy đến với Người. Người đang chờ đợi chúng ta. Chúa Giêsu hiểu thấu những gian truân của thân phận con người. Người muốn đồng hành với họ để nâng đỡ họ trong hành trình trần gian. Người còn là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Đến với Chúa Cha để hưởng hạnh phúc vĩnh cửu, đó cũng là đích điểm của cuộc sống chúng ta.

“Hãy đến với Tôi”, đó vừa là lời diễn tả sự gần gũi thân tình, vừa là lời khích lệ những ai còn sợ sệt vì thấy mình bất xứng. Lịch sử ghi nhận biết bao người đã đến với Chúa và gánh nặng cuộc đời của họ đã trở nên êm ái nhẹ nhàng hơn. Đến với Chúa, họ vừa được tha thứ tội lỗi, vừa có sức mạnh vươn lên làm lại cuộc đời.

Hãy đến với Chúa để học sự khiêm nhường. Chúa Giêsu là bậc thày. Người dạy chúng ta về sự khiêm nhường. Cuộc đời và giáo huấn của Chúa luôn thể hiện nhân đức khiêm nhường. Vì khiêm nhường mà Chúa đã hạ mình làm người. Vì khiêm nhường mà Chúa đến với mọi người đau khổ. Vì khiêm nhường mà Chúa đã chết trên thập giá. Chúa dạy chúng ta hãy học dưới mái trường của Người, để sống khiêm tốn, hy sinh, vì tha nhân và vì công ích. Sống khiêm nhường hạ mình sẽ giúp chúng ta thanh thản vui tươi hơn, nhờ đó cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn. Khi được thụ giáo tại ngôi trường của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ nên giống như Người đến nỗi trở thành đồng hình đồng dạng với Người. Hãy đến với Chúa Giêsu để được Người giáo huấn và dẫn đưa về cùng Chúa Cha. Bởi lẽ Người từ Chúa Cha mà đến.

Đến với Chúa là một hành trình liên lỉ lâu dài. Trên hành trình này, có những cám dỗ cam go. Thánh Phaolô (trong Bài đọc II) đã gọi đó là sự giao tranh giữa Thần Khí và tính xác thịt. Ai thiện chí sống theo Thần Khí thì sẽ chiến thắng mọi cám dỗ, trở nên hoàn thiện, diệt trừ được con người ích kỷ, sống đời sống mới trong Chúa Giêsu Kitô. Lối sống theo xác thịt luôn mang nhiều màu sắc lấp lánh hấp dẫn. Nó dễ làm cho chúng ta ảo tưởng lầm lạc. Nhờ Thần Khí Chúa soi sáng và hướng dẫn, chúng ta biết khôn ngoan chọn lựa những gì đem lại ích lợi lâu bền, vĩnh cửu.

Hành trình đến với Chúa cũng là hành trình nên thánh. Muốn đến được với Chúa, phải học với Người để trở nên khiêm nhường như Người. Trong lời cầu nguyện với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã thân thưa: “Con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”. Người “bé mọn” mà Chúa Giêsu nói tới ở đây, chính là những người khiêm tốn, luôn luôn tín thác và cậy trông vào Chúa và chuyên tâm thực thi thánh ý của Ngài. Trong truyền thống Thánh Kinh, những người bé mọn luôn được Chúa yêu thương và bênh vực. Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa đứng về phía người nghèo khó và bé mọn. Người nghèo trong Thánh Kinh không chỉ là người nghèo khó về vật chất, nhưng còn là người luôn cậy trông vào Chúa, dù phong ba bão táp của cuộc đời.

Nếu chúng ta được mời gọi đến với Chúa, là vì trước hết Người đã đích thân đến với chúng ta. Lịch sử Cứu độ đã chứng minh Thiên Chúa chủ động đến với con người để can thiệp và giải thoát họ. Cuộc gặp gỡ với ông Môisen trong sách Xuất Hành đã chứng minh điều đó. Chúa nói với ông: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của Dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than, vì bọn cai hành hạ. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật…” (Xh 3,7-8). Mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời là bằng chứng của tình thương Thiên Chúa và việc Ngài chủ động đến với con người. Đức Giêsu khiêm nhường hạ mình mang lấy thân phận con người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Thiên Chúa không còn chỉ ở trên cao, mà "hạ giới" làm người để gặp gỡ những mảnh đời bất hạnh. Người là Emmanuel, tức là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Vì Thiên Chúa hiện diện với chúng ta, nên ngôn sứ Dacaria mời gọi chúng ta hãy vui lên. Ngôn sứ đã nhắc tới hình ảnh rất sinh động và bình dân, đó là các thiếu nữ Sion, trong trang phục truyền thống, múa nhảy reo hò chạy ra đón Đức Vua (Bài đọc I). Đây là ngày hội tưng bừng cho cả toàn dân. Đức tin Kitô giáo phải luôn diễn tả niềm vui và tinh thần của lễ hội, bởi lẽ Chúa hiện diện giữa chúng ta. Đó là niềm vui cao cả và tuyệt vời nhất. Tiếc thay, có nhiều người không cảm nghiệm được niềm vui này, nên cuộc đời của họ luôn âu sầu buồn bã.

Cuộc sống hôm nay còn bao gian nan vất vả. Tuy vậy, người tin vào Chúa vẫn khám phá những niềm vui. Quả thế, còn gì vui bằng có Chúa ở với chúng ta? Hãy cùng chung tay làm cho niềm vui Đức tin lan tỏa đến mọi nẻo đường của cuộc sống, vì “Cung nỏ chiến tranh sẽ bị bẻ gãy, và Người sẽ công bố hòa bình cho muôn dân, Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng trái đất”.  Đó chính là xã hội tương lai mà chúng ta đang cố gắng để đạt tới. Như thế, thay vì bạo loạn đòi phá hủy tượng Chúa Giêsu và loại trừ Người khỏi cuộc sống, thế giới hãy yêu mến tôn thờ Người, vì Người chính là Vua hòa bình và là Đấng Cứu độ trần gian.


 

TN14-A115: ÁCH TA ÊM ÁI, GÁNH TA NHẸ NHÀNG

VÀ TA THÌ HIỀN LÀNH

Bác sĩ Nguyễn iến Cảnh, MD

 

Con người khi vui thì cười, khi buồn thì khóc. Trong bài Tin Mừng Mátthêu hôm nay, Chúa Giêsu TN14-A115


Con người khi vui thì cười, khi buồn thì khóc. Trong bài Tin Mừng Mátthêu hôm nay, Chúa Giêsu nói “Hãy mang lấy ách của ta và hãy học cùng ta, vì ta dịu dàng và khiêm nhường trong lòng; và tâm hồn các ngươi sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng….” (Mt 11:29). Chúa dịu dàng và hiền lành chắc Chúa phải luôn luôn tươi cười?

CHÚA GIÊSU CÓ CƯỜI KHÔNG?

Có ai thấy Chúa Giêsu cười không? Người thì nói Chúa luôn luôn cười. Người thì nói chưa thấy Chúa cười bao giờ vì trong Tân Ước chẳng có chỗ nào nói Chúa cười. Có thể Chúa diễn tả cảm súc của Chúa khác chúng ta. Nhưng chắc chắn Chúa đã khóc trước cái chết của ông Lazaro và nổi giận ở trong đền thờ vì thấy người ta biến chỗ này làm nơi buôn bán. Người cũng tỏ ra khó chịu khi thấy mấy vị lãnh đạo tôn giáo đặt câu hỏi để gài bẫy người. Có bao nhiêu lần Người bực bội vì thấy các môn đệ tối dạ không hiểu được ý Người nói qua những dụ ngôn, những tiên đoán về khổ nạn và việc Chúa sắp lìa xa các ông?

Có người thắc mắc không hiểu tại sao Kinh Thánh lại không nói Chúa cười dù chỉ là mỉm cười, hoặc cười đùa với các môn đệ? Sao Chúa lại không cười khi trẻ con vui đùa bu quanh Chúa? Diện mạo Chúa thế nào khi nhìn Zacchaeus trèo lên cây sung ở Jericho để được thấy mặt Chúa? Tôi đoán chắc cũng có những lúc Chúa mỉm cười hoặc cười lớn tiếng khi vui đùa giải trí. Lúc ở sườn đồi Galile, sau một bài giảng dài trong khi đám đông đói bụng đi tìm thức ăn, lúc ngồi nghỉ xả hơi thư dãn chắc Chúa cũng cười đùa với các môn đệ chứ. Khi nói về những kẻ giả hình nhân đức, Chúa cũng nói vài điều về chính Người. Ngày nay nhiều người trong Giáo Hội cũng tỏ ra lạnh nhạt không cười đùa như Chúa Giêsu. Có lẽ họ muốn tỏ ra mình nghiêm trang, quan trọng, công minh và khắc khe, để đừng ai hy vọng gì ở họ!

Bàn về cái cười của Chúa Giesu vì qua bài Phúc Âm hôm nay Chúa mời gọi những ai mang gánh nặng và khó nhọc hãy đến với Chúa, Chúa sẽ nâng đỡ bổ túc cho…vì Chúa hiền lành và khiêm nhường. Chúa hiền lành vui tươi chẳng lẽ Chúa lại không cười?

CÂU CHUYỆN VUI VỀ CẦU NGUYỆN CỦA CHÚA GIÊSU

Ở đời, những người khiêm nhường thường dễ thay đổi do yêu cầu hơn là những kẻ luôn coi mình là quan trọng và tài giỏi hơn người. Trong bài Tin Mừng Mátthêu hôm nay, Chúa cho chúng ta bài học về cầu nguyện rất phấn khởi, nói rõ Chúa là ai và Chúa ước ao mọi người nhận biết Chúa giống ai.

Bài Phúc Âm có ba chuyển động. Chuyển động thứ nhất, Chúa Giêsu nói về mình với Chúa Cha. Người vui mừng thấy Chúa Cha yêu thương kẻ nghèo khó và thấp hèn như Chúa đã làm. Tiếp theo, Chúa Giesu nói rõ căn tính của mình. Chúa là Con biết rõ về Chúa Cha. Trọng điểm sứ mệnh của Chúa Con nói lên Chúa Cha. Sau cùng, Chúa Giêsu trực tiếp nói với tất cả những ai mong ước được an ủi, chia sẻ gánh nặng và được thoải mái. Trong mỗi chuyển động Chúa Giêsu đều đã mỉm cười, thở phào nhẹ nhàng vì tràn đầy niềm vui về những gì đang xẩy ra giữa các môn đệ. Người mỉm cười với lòng trắc ẩn khi mời gọi những kẻ gẫy gánh giữa đường, những kẻ buồn phiền, bị áp bức và thấp hèn muốn được an bình thoải mái.

CHÚA ƯU TIÊN CHO TÌNH LIÊN ĐỚI

Nói là mang lại nghỉ ngơi, an ủi và bằng an cho những kẻ gẫy gánh và mang ách nặng, nhưng nghĩ kỹ, chuyện này không phải dễ đâu. Chúa Giesu đã từng nói:“Ai yêu cha mẹ, anh em, con cái mình hơn Thầy thì không xứng đáng với Thấy…”(Mt 10:37). Vì Chúa đã coi tình liên đới giữa cha me và con cái là ưu tiên nên bản văn phải được hiểu theo nguyên gốc nghĩa là những mất mát đã xẩy ra vào khoảng thế kỷ I, khi những người theo phong trào Kitô giáo họ đã bỏ lại tất cả mọi sự mình đang có từ ông bà cha mẹ, con cháu đến của cải dù nhiều hay ít là những thứ làm cho họ dễ chịu, vui sướng ở trần gian. Bài Tin Mừng hôm nay trả lời trực tiếp cho những ai tự mình bỏ hết mọi sự trần thế, thì Chúa Giesu là thầy an ủi sẽ mở rông cánh tay chào đón họ cũng như những ai bị đàn áp, đánh đập, chối bỏ, ruồng rẫy và mang ách nặng sẽ được Chúa giúp đỡ. Câu này trong Mátthêu (11:25-26) giống như trong Luca (10:21-22) trừ một vài chi tiết nhỏ, đều nói lên một niềm vui là trong khi những kẻ khôn ngoan, học thức, những tên Pharisêu từ chối lời giảng của Chúa thì những trẻ đơn sơ bé mọn lại chấp nhận.

CHẤP NHẬN ÁCH NẶNG CỦA CHÚA

Chấp nhận gánh nặng của Chúa Kitô thì Chúa là Thầy hiền từ và khiêm nhường sẽ bảo đảm có được an vui. Mọi gánh nặng được chấp nhận vì tình yêu hỗ tương thì sẽ trở nên nhẹ nhàng. Bài Phúc Âm hôm nay là một trong những thông điệp rất phổ thông trong Kinh Thánh. Ai mà không cảm động khi được Chúa Giêsu an ủi giúp đỡ: “Những ai đang vất vả mang gánh nặng hãy đến với ta, ta sẽ cho bồi dưỡng nghỉ ngơi. Hãy mang lấy ách của ta và học với ta vì ta hiền lành và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng, ví ách ta êm ái và gánh ta nhẹ nhàng” (Mt 12:28-30).

Từ “Ách” là một ẩn dụ dùng để tả những gì trấn áp, điều khiển đời sống con người. Dân quê luôn luôn mang ách vì phần lớn họ là những kẻ làm thuê bị chủ đất ức hiếp bóc lột. Đời sống của họ lại bị thống trị bởi những tên lảnh đạo tôn giáo, ngồi mát ăn bát vàng trong đền thờ, không hề nghĩ đến người nghèo khó. Những tên biệt phái đặt 613 điều luật trên vai họ là những điều mà chúng gọi là phải giữ để làm vừa lòng Thiên Chúa. Đối với người Do Thái, thuộc nằm lòng và sống theo sách Đệ Nhị Luật: Câu “Hỡi Israel, hãy nghe đây. Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ hết sức…”(Đnl 6:4) được biết là “ách nặng của vương quyền Thiên Chúa.”

Chúa Giêsu nhắn nhủ người nghe: “Hãy học nơi ta vì ta là mẫu mực”. Lời nhắn nhủ này là dư âm của Khôn Ngoan trong sách Huấn Ca/Sirach (51:23,26): “Hỡi những kẻ không được giáo huấn, hãy đến gần ta và ở trong nhà giáo huấn của ta….Hãy đưa ách vào cổ, và để tâm hồn thu nhận giáo huấn.” Để thay cho ách lề luật đã bị các luật sĩ cắt nghĩa rối tung, Chúa Giêsu mời gọi những người gánh nặng hãy chấp nhận ách vâng Lời Chúa thì sẽ được nghỉ ngơi (Gr 6:16). Chúa Giêsu đưa ra cho họ một cách sống, là chấp nhận ách; nó khác hẳn cái ách mà các nhà lãnh đạo các tôn giáo khác đã dạy vào thời Chúa. Người hứa ách êm ái và gánh nhẹ nhàng. Chẳng lạ gì có nhiều người nghèo khó nhận thấy Lời Chúa dễ thương vô cùng! Chúa không nói suông, Lời Chúa nói luôn luôn đi đôi với việc Chúa làm; Chúa đã cho chúng ta một gương sáng tuyệt vời cần phải giữ lấy và thực hành hàng ngày. Tôi tưởng tượng Chúa Giesu đang nói lời an ủi với nụ cười hiền hòa và trong sáng.

TẠI SAO CHÚA GIÊSU NGÀY NAY VẪN CÒN HẤP DẪN

Hồi xưa Chúa Giêsu đã hấp dẫn rồi, bây giờ Chúa vẫn còn hấp dẫn, lôi cuốn cả hàng triệu triệu người. Thiên sứ đến giữa chúng ta không như chiến sĩ đi chinh phục nhưng là kẻ hèn yếu và an hòa. Không giống ông vua cuối cùng xứ Giuđa ngồi trên xe tứ mã  (Gr 17:25; 22:4) nhưng như ông hoàng ngồi trên lưng lừa (St 49:11; Tl 5:10; 10:4). Các thánh sử đã thấy lời tiên tri được hoàn thành trọn vẹn như trong bài đọc 1 sách Zechariah, đấng cứu thế khải hoàn đi vào Jerusalem (Mt 21:4-5; Ga 12:14-15) .

Đức Giêsu thành Nazareth đã được tung hô nhiệt liệt. Tất cả dân từ tỉnh thành đến thôn quê, giàu nghèo, già trẻ, dân chài lưới, kẻ thu thuế, đàn bà như Mary Magdalene và quân đội đều đổ xô ra đường chào đón hoan hô Chúa Giêsu tưởng chừng như chưa bao giờ có. Tôi dám chắc Chúa có một sức quyến rũ đầy quyền uy, nhưng với một nụ cười dịu hiền và trong sáng xen lẫn hài hước và tràn ngập yêu thương. Căn tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu - dù sứ mệnh đắng cay sắp tới trên thập giá và sống lại vinh hiển - đã cho thấy Chúa là con người phi thường có khả năng nối kết với mọi người. Làm sao Chúa lại không cười khi thốt nên Lời: “…Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Hãy mang lấy ách của tôi và học nơi tôi vì ách tôi thì êm ái, gánh tôi nhẹ nhàng”. Đây khó có thể là những lời nhắc nhở với cái nhìn nghiêm khắc và giọng nói nặng nề! Đây là những lời thoát ra từ miệng một người bạn hiền chí tình, một người đầy tình yêu tha nhân.

CUỘC SỐNG NGƯỜI KITÔ HỮU LÀ MỘT THÁCH ĐỐ LIÊN TỤC

Sau khi cảnh cáo giáo hữu Rôma (ch.7) về việc hoàn thành mục đích thánh một cách sai lầm (Rm 6:22), thánh Phaolô đã đưa ra cách sửa đổi. Người Kitô hữu còn giữ xác thịt, nhưng xác thịt đó lại xa lạ đối với con người mới của họ vì đời sống của họ bây giờ có chúa Thánh Thần nên đã trở nên mới, được hướng dẫn và điều khiển bởi Chúa Thánh Thần (Rm 8:9; 11-13). Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu có khả năng hoàn thành ước muốn của Thiên Chúa (Rm 8:4). Cùng một Thánh Thần đã khích lệ người Kitô hữu nên thánh sẽ làm cho thân xác họ sống lại vào ngày sau cùng (Rm 8:11). Do đó đời sống người Kitô hữu là một thử thách có tính thách đố liên tục để dẹp bỏ mọi nhu cầu tội lỗi của thân xác, vươn tới đời sống thánh đức có Chúa Thánh Thần ngự trị (Rm 8:13).


 

TN14-A116: HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Chúa Giêsu giảng dạy về đời sống đức tin và siêu nhiên và cả cách sống nhân bản. Những ai học TN14-A116


Chúa Giêsu giảng dạy về đời sống đức tin và siêu nhiên và cả cách sống nhân bản. Những ai học theo giáo huấn của Chúa sẽ trở thành con người sống dễ thương, dễ mến và nhờ đó sẽ thành công trong cuộc đời.

Sứ điệp nhân bản Chúa dạy hôm nay: “Anh em hãy học với Tôi, vì Tôi hiền lành và khiêm nhường”.

– Hiền lành là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo, không cứng cỏi. Hiền lành là nhân đức bao gồm tâm thế bên trong và phản ứng bên ngoài. Tâm thế bên trong luôn êm ái, hòa nhã, nghĩ tốt về người khác, yêu thương, khoan dung, thông cảm; phản ứng bên ngoài luôn nhẹ nhàng, tôn trọng. Người ở hiền sẽ có hậu: “Ở hiền gặp lành”, “Cha mẹ hiền lành để đức cho con”.

– Khiêm tốn là chấp nhận đứng thấp, ở dưới như Gioan Tẩy Giả “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”. Khiêm tốn thể hiện qua lời nói cử chỉ hành động cách chân thành. Người khiêm tốn luôn biết lắng nghe, tìm thấy cái tốt nơi người khác.

Chúa Giêsu hiền lành, dễ thương trong lời nói và việc làm. Người luôn yêu thương mọi người. Lời nói và hành động của Chúa luôn toả ra sự dịu dàng, nâng đỡ, khích lệ, ủi an. Chúa không nặng lời, không kết án, nhưng luôn yêu thương. Người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, Chúa Giêsu chẳng những dễ thương với người phụ nữ mà còn dễ thương đối với những người đã tố cáo chị nữa. Họ tự cho mình là công chính. Chúa Giêsu chỉ thinh lặng cúi xuống dùng ngón tay viết lên cát. Bị hỏi mãi Chúa mới trả lời: “Ai trong các ông sạch tội, hãy ném đá trước đi”. Họ rút lui bắt đầu từ những người lớn tuổi. “Tôi cũng không kết án chị đâu, chị hãy ra về và từ nay đừng phạm tội nữa” (x.Ga 8,1-11).

Chúa Giêsu dạy hãy sống hiền lành, dễ thương. Người khuyên chúng ta bắt chước người mục tử trong dụ ngôn “Con chiên lạc” (Lc 15, 4-7); người mục tử không hề đánh đập, giận dữ, quát tháo, hay kéo lê con chiên lạc về mà lại tử tế đặt nó lên vai mình, vác về đàn. Chúa Giêsu cũng khuyên chúng ta bắt chước người cha trong dụ ngôn “Đứa con hoang đàng” (Lc 15,11-32); người cha không mắng chửi đứa con nhiều lầm lỗi trở về, cũng không nóng nảy, không xua đuổi mà lại ôm hôn con và dọn tiệc ăn mừng. Còn rất nhiều câu chuyện trong Phúc âm kể về sự hiền lành, dễ thương của Chúa Giêsu.

Hiền lành và khiêm nhường nơi Chúa Giêsu là luôn tự ý bước xuống và trút bỏ vinh quang. Thánh Phaolô viết: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa.Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2, 6-8).

Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống nên những ai kiêu căng, tìm cách nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường, nhỏ bé mới gặp được Người. Vì thế, Chúa Giêsu đã “ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp lòng Cha” (Mt 11,25-26).

Hãy ghi danh vào học trường Giêsu. Hãy học bài học hiền lành, dễ thương, không những chúng ta sẽ gặp được Thiên Chúa mà Người sẽ rũ sạch mọi vất vả, âu lo và chúng ta sẽ tìm được nguồn bình an cho tâm hồn.

Augustinô là một thanh niên có tư chất thông minh nhưng lỡ đi lạc đường. Về phương diện trí thức, Augustinô ỷ mình thông thái, dùng kiến thức của mình để truy tìm những học thuyết uyên bác. Kết quả là lạc vào bè rối Manikê. Về phương diện luân lý, Augustinô sống buông thả theo những đòi hỏi của xác thịt, kết quả là một cuộc sống tội lỗi. Thế rồi một hôm, trong lúc tâm hồn đang trống rỗng, vô vị, Augustinô bỗng nghe một tiếng nói từ đâu đó vang lên: “Tolle et lege” (hãy cầm lấy và đọc). Augustinô thấy trước mặt một cuốn Kinh Thánh, Ngài cầm lên, mở ra và gặp ngay đoạn thư Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Rôma: “Đừng sống theo xác thịt nữa, mà hãy sống theo Thánh Thần”. Cuộc hoán cải của Augustinô đã được dọn đường nhờ sự cầu nguyện và hãm mình của mẹ Ngài là thánh Monica, nhưng chính câu Thánh kinh này là yếu tố quyết định thay đổi cuộc đời Thánh nhân. Trở nên một giáo phụ, một triết gia, một thần học gia, một vị thánh lỗi lạc, rất mực thánh thiện của Giáo hội, Augustinô nhờ việc học hỏi về Chúa Giêsu qua Thánh kinh.

Khi còn là một chủng sinh, thánh Gioan Vianney học hành rất kém. Một lần kia, thấy thầy Vianney quá kém cỏi, một cha giáo tức bực hét lên : “Thầy dốt như một con lừa !”. Thầy Vianney rất mực khiêm tốn trả lời : “Thưa cha giáo, ngày xưa, chỉ với một cái hàm của con lừa, Samson đã đánh đuổi cả đội quân Philitinh. Giờ đây, với cả một con lừa như con, chẳng lẽ không giúp ích gì được cho Hội Thánh sao ?”. Thánh Vianney đã giúp ích rất nhiều cho Hội Thánh. Như một kẻ bé mọn hiền lành và khiêm tốn, ngài đã dẫn đưa rất nhiều tâm hồn về với Chúa.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII. Khi làm khâm sứ ở Bungari và Thổ, Ngài nhận được bức thư của một linh mục chỉ trích ngài đủ mọi thứ. Ngài đọc thư và không nói gì. Sau đó ngài làm Hồng Y, rồi làm Giáo Hoàng (1958). Sau này, có dịp vị linh mục đó cùng với giáo dân sang Rôma để yết kiến Đức Giáo Hoàng. Vị linh mục đã kể lại buổi yết kiến đáng nhớ: trong khi đứng chờ, đầu óc của tôi cứ nghĩ tới bức thư ngày trước và vừa hối hận vừa lo sợ. Thời gian lâu rồi chắc Đức Thánh Cha đã quên? Không ngờ vừa mới gặp, Đức Thánh Cha kéo lá thư trong cuốn sách kinh ra. Tôi hoảng sợ, chuyện gì sẽ xảy ra cho mình đây? Nhưng Ngài ôn tồn nói: “Con đừng sợ, cha cám ơn con. Cha để lá thư trong sách để mỗi ngày đọc và xét mình. Hầu dứt khoát với những khuyết điểm còn tồn tại và tránh những lầm lỡ có thể xảy ra trong tương lai. Mỗi lần như thế cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con”.

Trong Tin Mừng, tất cả những câu mệnh lệnh của Chúa Giêsu đều nói đến việc “làm”, như: “Hãy tin”, “hãy từ bỏ”, “hãy cầu nguyện”, “hãy tha thứ”, “hãy yêu thương nhau”… Và chỉ có một câu duy nhất này, Chúa bảo “hãy học”. Như vậy, hẳn là môn học mà Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy học, ấy là môn học quan trọng lắm. Đã vậy Chúa lại bảo “hãy học cùng Ta”, không học ở nơi thầy nào khác, cho thấy rằng chỉ có Chúa Giêsu mới xứng đáng là thầy dạy môn học này. Môn học đó là “hiền lành và khiêm nhượng trong lòng”. Chúng ta cũng hãy học với Thầy Giêsu qua Lời Chúa mỗi ngày. Yêu mến Lời Chúa, sống Lời Chúa để Lời Chúa biến đổi đời chúng ta sống theo hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Hãy học hỏi Tin mừng và hãy để Tin Mừng soi sáng lòng trí của mình. Hãy múc lấy sức mạnh từ ân sủng của Bí tích Hoà Giải và Bí tích Thánh Thể. Hãy siêng năng Chầu Thánh Thể.

Học với Thầy Giêsu suốt đời, lột bỏ những tự hào về khôn ngoan thông thái, sống hồn nhiên khiêm tốn như trẻ thơ, đó là điều cần thiết để mỗi người được Thầy Giêsu mạc khải và đưa vào thế giới của Thiên Chúa. Nhờ vậy, người hiền lành khiêm nhường luôn sống hiệp thông với mọi người, dễ thu hút người xung quanh; luôn biết quên mình, và chỉ muốn phục vụ người khác; sống tế nhị chân thành với mọi người, biết đền đáp những người làm ơn, trân trọng với hết mọi người, không làm mất lòng ai; luôn cảm thấy tâm hồn bình an, hạnh phúc trong Chúa và với mọi người. Chúa ưa thích ai sống hiền lành và khiêm nhường và sẽ ban thưởng phần phúc Nước Trời cho họ. “Phúc thay ai có tâm hồn (khiêm nhường) nghèo khó. Vì Nước Trời là của họ.Phúc thay ai hiền lành. Vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5, 3-4).


 

TN14-A117: ĐÔI VAI

Trầm Thiên Thu

 

Thiên Chúa tạo dựng con người rất cân đối với nhiều cặp đôi: hai bán cầu não, đôi mắt, đôi tai TN14-A117


Thiên Chúa tạo dựng con người rất cân đối với nhiều cặp đôi: hai bán cầu não, đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân, đôi vai. Có lẽ khổ nhất là đôi vai – một vai tình và một vai nợ. Vì cần tình mà nhận tình, vì nhận tình mà mang nợ. Và nợ tình chẳng bao giờ trả hết, thế nên suốt đời vẫn phải mang ơn.

Nhưng “nợ tình” thì rất đáng vay: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái.” (Rm 13:8a) Tạ ơn là cảm tạ, cảm ơn, tri ân, biết ơn, nhớ ơn. Sống trên đời, không ai là một ốc đảo, nghĩa là luôn có mối liên đới với người khác, bằng cách này hay cách khác, trực tiếp hoặc gián tiếp. Không ai lại không thọ ân của người khác, đơn giản nhất là nhờ ông bà, cha mẹ, anh chị em, hàng xóm, thầy cô, bạn bè,... “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” và “Uống nước nhớ nguồn” là những câu tục ngữ nhắc nhở về lòng biết ơn.

Biết ơn là một “khoản” trong đạo lý làm người. Thế nào là biết ơn? Biết ơn là biết tự trọng, biết tôn trọng người khác, thể hiện sự giáo dưỡng, sống khiêm tốn và trọng chữ tín. Trong cuốn “Những Lời Khai Thị Vàng Ngọc,” Tịnh Không Pháp Sư viết: “Hãy biết ơn những người khiển trách ta, vì họ giúp ta tăng trưởng định tuệ; hãy biết ơn những người làm ta vấp ngã, vì họ khiến năng lực của ta mạnh mẽ hơn; hãy biết ơn những người bỏ rơi ta, vì họ đã dạy cho ta biết tự lập; hãy biết ơn những người đánh đập ta, vì họ đã tiêu trừ nghiệp chướng cho ta; hãy biết ơn những người lường gạt ta, vì họ tăng tiến kiến thức cho ta; hãy biết ơn những người làm hại ta, vì họ đã tôi luyện tâm trí của ta; hãy biết ơn tất cả những người khiến ta được kiên định và thành tựu.” Tư tưởng cao cả, bất cứ ai sống đúng như vậy thì đúng là vĩ nhân rồi – và cũng thực sự là thánh nhân vậy.

Cũng chỉ là phàm nhân mà người ta còn biết như thế thì thật đáng quý trọng. Và có lẽ nhờ đó mà chúng ta không còn ngạc nhiên, đồng thời cũng hiểu được lý do Chúa Giêsu bảo chúng ta PHẢI yêu kẻ thù: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.” (Lc 6:28) Luật yêu của Ngài khác Cựu Ước, có vẻ “ngược đời” lắm, nhưng đó lại là nghịch-lý-thuận. Quả thật, hiểu cho sâu xa thì ai cũng là ân nhân của chúng ta, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, nghĩa là chúng ta luôn phải biết ơn người khác. Với Thiên Chúa, con người càng phải biết tạ ơn nhiều hơn. Tâm tình tạ ơn phải được lặp đi lặp lại rất nhiều lần như một điệp khúc của bài trường ca, từng ngày và suốt đời.

Thật vậy, cảm thấy lòng luôn bồi hồi nên Thánh Vịnh gia đã tự vấn – và tự trả lời: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Người đã ban cho? Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Chúa.” (Tv 116 [114-115]:12-13) Tạ ơn Thiên Chúa là bổn phận và trách nhiệm của mỗi tín nhân – các thụ tạo, mặc dù việc đó chẳng thêm gì cho Ngài nhưng lại sinh ơn cứu độ cho chính chúng ta. Thật là kỳ diệu vô cùng. Điều đó chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương chúng ta tới mức chúng ta không thể tưởng tượng được.

Liên quan vấn đề biết ơn, chúng ta có thể nhớ lại chuyện mười người phong hủi, chuyện thật chứ không là dụ ngôn. Cả mười người đều được sạch, nhưng chỉ có một người ngoại bang trở lại tạ ơn Chúa Giêsu. (Lc 17:11-19) Như vậy, chắc chắn chín người kia là “đạo gốc,” nhưng họ lại vô ơn, có lẽ họ tưởng mình là “ngon lành” rồi. Câu chuyện này “nhắc khéo” về việc chúng ta thường vô ơn không chỉ với tha nhân, mà đáng quan ngại là vô ơn với Chúa. Cầu nguyện thì xin đủ thứ, chẳng thấy tạ ơn chi ráo trọi. Tệ thật!

Quả thật, khi Ngài nói về người môn đệ chân chính, Chúa Giêsu nói thẳng: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai THI HÀNH ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7:21) Có những người nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ, làm nhiều phép lạ,... nhưng Chúa Giêsu không hề biết họ: “Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!” (Mt 7:23) Chúng ta làm những việc mà chúng ta tưởng là “đạo đức” nhưng với Chúa thì chỉ là tồi tệ. Cái thói “chảnh” thật đáng quan ngại, vì không khéo thì chúng ta có thể ở trong đám người ấy. Lạy lắm mỏi gối, mỏi lưng, mỏi tay,… cũng vô ích nếu chẳng thật lòng mà chỉ có ý… khoe. Nếu thế thì “chết” thật!

Khiêm nhường không phải là “ra vẻ,” và rồi người ta cũng biết. Người khiêm nhường thì biết ơn người khác, vui vẻ chứ không ưu sầu hoặc khó chịu. Kinh Thánh mời gọi: “Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.” (Dcr 9:9) Lý do để sống vui mừng rất rõ ràng. Thiên Chúa đến với loài người bằng nhiều cách, dạng phổ biến nhất là Thánh Ân của Ngài. Vì thế, chúng ta không thể không biết tạ ơn Ngài. Ngài còn đến với chúng ta qua từng người chúng ta gặp hằng ngày, và rồi chúng ta cũng phải biết ơn những người chúng ta gặp – dù họ là ai, vì ai cũng có cái để chúng ta học hỏi – họ đúng thì mình theo, họ sai thì mình tránh. Nợ tình cứ chồng chất thêm, vai đời cứ trĩu xuống. Suốt đời như thế.

Là con người, dù cuộc sống có như thế nào, chúng ta vẫn phải tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài là Đấng cứu thoát chúng ta khỏi kẻ thù và làm cho chúng ta được an cư lạc nghiệp: “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Épraim và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất.” (Dcr 9:10) Vả lại, “chẳng ai có thể nhận được gì mà không do Trời ban.” (Ga 3:27) Và Chúa Giêsu nói rất cụ thể: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15:5)

Có vẻ như Thánh Vịnh gia không lúc nào an tâm: “Lạy Thiên Chúa con thờ, là Vua của con, con nguyện tán dương Chúa và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời.” (Tv 145:1-2) Thiên Chúa vui lòng thì có lợi cho chúng ta vô cùng. Tuy nhiên, chúc tụng Chúa khi cuộc đời chúng ta xuôi chèo mát mái thì không có gì đáng nói, nhưng thật đáng nói nếu cuộc đời chúng ta luôn gặp trắc trở với số kiếp lận đận, mơ không thấy, ước không xuôi, hầu như thua kém mọi người. Thánh Gióp là tấm gương sáng chói về vấn đề đó. Mặc dù bị mất tất cả, từ tài sản tới con cái, bản thân ông cũng bị bệnh tật, mọi người đều xa tránh, nhưng ông vẫn trung tín với Thiên Chúa.

Ông xác định: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21) Cả đời chúng ta cũng không thể so sánh với một góc nhỏ của Thánh Gióp. Lý do ông đưa ra đơn giản mà… nhiêu khê, nhưng rất cụ thể, bởi vì ai cũng sinh ra và vào đời với hai bàn tay trắng. Chúa biết nên Ngài ban cho đôi vai để chúng ta chịu đựng khi sống ở cõi tạm này.

Quả thật, niềm tin của Thánh Gióp vô cùng lớn lao! Niềm tin của ông không mơ hồ hoặc ảo tưởng, mà hoàn toàn chính xác, đúng như Thánh Vịnh gia đã xác định: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ, kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài, nói lên rằng: triều đại Ngài vinh hiển, xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng, để nhân loại được tường những chiến công của Chúa, và được biết triều đại Ngài rực rỡ vinh quang.” (Tv 145:8-12)

Chắc chắn chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, Ngài “đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên,” (1 Sm 2:6; Kn 16:13) Ngài “bắt phải nghèo và cho giàu có, hạ xuống thấp và nhắc lên cao.” (1 Sm 2:6-7) Nghe có vẻ “oải” lắm, nhưng không phải như vậy, bởi vì Ngài vẫn “thành tín trong mọi lời Ngài phán, và đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm. Ai quỵ ngã, Ngài đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Ngài cho đứng thẳng lên.” (Tv 145:13-14) Thánh Vịnh gia đã trải nghiệm: “Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống.” (Tv 30:4) Đúng là Hồng Ân chồng lên Hồng Ân, thế nên tạ ơn Chúa là điều hoàn toàn hợp lý. Và Ngài không hề quên đâu!

Trong cuộc sống, có lẽ chúng ta vẫn thường hành động trái ngược: biết mà không làm. Chúa Giêsu cũng đã nhắc nhở: “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn.” (Mt 26:41; Mc 14:38) Thân xác thật nặng nề lắm, đến nỗi người ta ví von là “nặng như đá đeo.” Vẫn lòng chai dạ đá, con người chỉ “ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối.” (Tv 4:3) Chẳng khác dân Israel xưa: cứng lòng và thách thức. (x. Tv 95:8-9)

Với kinh nghiệm đầy mình, Thánh Phaolô chia sẻ: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn.” (Gl 5:17) Thần Khí Chúa rất quan trọng trong cuộc sống, bởi vì chính Chúa Thánh Thần luôn tác động để biến đổi chúng ta: “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô thì không thuộc về Đức Kitô.” (Rm 8:9) Không thuộc về Ngài bởi vì không có ngài. Không có Ngài bởi vì không thương xót tha nhân. (x. G 6:14)

Rất cặn kẽ với lời giải thích của Thánh Phaolô: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới. Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống.” (Rm 8:11-13) Quả thật, chúng ta luôn là “con nợ” của Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng con nợ cũng vẫn phải biết ơn, vì mắc nợ cũng là một dạng thọ ân vậy. Mọi điều người khác làm cho mình đều là ân huệ đối, nhận biết như vậy là biết sống khiêm nhường.

Chắc chắn Hồng Ân lớn nhất mà chúng ta mắc nợ Chúa Giêsu, và phải nhớ mà tạ ơn Ngài, đó là ơn cứu tử của Ngài dành cho chúng ta: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10:15) Vâng, chính cái chết của Ngài là Hồng Ân cao cả, không gì sánh bằng, và chẳng bao giờ chúng ta có thể đền đáp cân xứng. Loại phản ứng này không thể cân bằng như phản ứng hóa học. Tuy nhiên, Ngài không đòi hỏi gì nhiều ở chúng ta, mà Ngài chỉ cần chúng ta biết hết lòng tin yêu Ngài và tạ ơn Ngài trong mọi hoàn cảnh – dù vui hay buồn, dù sướng hay khổ: “Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện.” (Pl 4:6)

Chính Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta khi Ngài cất tiếng tạ ơn Chúa Cha: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.” (Mt 11:25-26) Ngài là Sư Phụ hiền lành và khiêm nhường (Mt 11:29) nên Ngài chỉ thích những con người “hèn mọn” mà thôi.

Chúa Giêsu “bật mí” điều quan trọng: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” (Mt 11:27) Ai khiêm nhường thì Ngài sẽ mặc khải cho những điều bí ẩn. Chắc chắn như vậy. Và Ngài luôn mời gọi mọi người, không trừ ai: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11:28-30)

Không ai lại không vất vả và mang gánh nặng nề, không cách này thì cách khác, dù theo nghĩa bóng hoặc nghĩa đen, có nghĩa là không ai lại không cần đến Ngài. Cuộc đời có rất nhiều thứ chúng ta phải “gồng mình” mà chịu đựng, thậm chí có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi và hầu như kiệt sức. Cái ách thô ráp và cái gánh nặng trĩu ở đâu cũng có, dù trong gia đình hoặc cộng đồng tu trì. Nhưng có lẽ chúng ta chưa thực sự kề vai vào gánh vác Ách và Gánh của Chúa Giêsu nên chúng ta vẫn thường “than thở” đủ thứ, than trách đủ kiểu. Thế mới biết phàm nhân yếu hèn quá đỗi, vậy mà vẫn “chảnh” lắm, thế nên lúc nào cũng chỉ rình nổi loạn.

Ơn nối tiếp ơn, phúc chồng lên phúc. Được sinh ra làm người là một đại ân, được lành lặn và khỏe mạnh là một đại ân nữa. Rồi chúng ta lại được Chúa Giêsu cứu độ, đó là một đặc ân khác. Như vậy, chúc tụng và tạ ơn là một trong các bổn phận hàng đầu mà chúng ta phải thực hiện đối với Thiên Chúa. Có nhiều cách, một cách đơn giản là tránh tội: “Hãy run sợ, và đừng phạm tội nữa, trên giường nằm, suy nghĩ và lặng thinh.” (Tv 4:5) Một cách khác cũng đơn giản là ca hát: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa.” (Ep 5:19) Có điều rất đặc biệt này: Tạ ơn Chúa là làm vinh danh Ngài. (x. Tv 50:23)

Thật thú vị và thấm thía với ca dao Việt Nam: “Ai mà phụ nghĩa quên công, Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.” Quả thật, lòng biết ơn rất quan trọng, dù chúng ta đang hưng phấn trên đỉnh Ta-bor hoặc rũ rượi trên đỉnh Can-vê. Rất dễ dàng tạ ơn khi phấn khởi ở Ta-bor, nhưng rất khó tạ ơn khi ủ rũ ở Can-vê. Hằng ngày, một lời cảm ơn rất đơn giản nhưng lại rất thường bị lãng quên!

Chữ gánh thật hay, vì “gánh” có hai bên, biết gánh thì có thể giữ thăng bằng, không biết gánh thì không thể giữ thăng bằng. Ách và Gánh đều liên quan đôi vai. Chắc hẳn không ngẫu nhiên mà có hai vai – chứ không một vai. Hai vai để có thể sử dụng luân phiên, mỏi vai này thì chuyển vai kia. Khi vác thập giá cũng cứ làm như vậy thì không lo sợ “bán đồ nhi phế” đâu. Thiên Chúa quan phòng, tiền định, và lo liệu. Thật kỳ diệu!

Lạy Thiên Chúa, xin cảm tạ Ngài về mọi sự – dù vui hay buồn. Xin gia tăng ba đức đối thần và các đức đối nhân để chúng con đủ sức vác thập giá bằng cả hai vai, đồng thời có thể học thuộc bài học khôn ngoan từ Thập Giá của Đức Kitô. Xin giúp chúng con không ngừng nỗ lực hoàn thiện với một vai tình và một vai nợ, như hai nhánh ghép thành thập giá để đóng đinh tính xác thịt là cái tôi tồi tệ của chính mình.

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân lành, một số nơi trên thế giới vẫn khốn khổ vì sự dữ Corona, xin Ngài thương xót mà ngăn chặn cho con cái Ngài được bình an tôn thờ Ngài, đặc biệt xin ban cho chúng con được hưởng Công Lý và Bình An, vì còn nhiều người bị oan ức quá. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại. Amen.


 

TN14-A118: CHA ĐÃ GIẤU

Lm. JB. Nguyễn Minh Hùng

 

Với lời cầu nguyện: “Con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái TN14-A118


Với lời cầu nguyện: “Con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn”, Chúa Giêsu phân biệt rõ hai hạn người: “khôn ngoan thông thái” và “những kẻ bé mọn”.

1. NGƯỜI BÉ MỌN DỄ ĐÓN NHẬN CHÂN LÝ.

Ðấng Cứu Thế đến trần gian mang ơn cứu độ cho nhân loại. Ơn cứu độ của Chúa đã được ban rộng rãi, nhưng không phải ai cũng có thể đón nhận. Chúa Giêsu chỉ đích danh hạn người khó đón nhận ơn cứu độ, đó là kẻ “khôn ngoan thông thái”.

Bởi một khi cậy mình khôn ngoan, có kiến thức, hiểu biết nhiều, chắc chắn họ sẽ không thể thông hiểu những kín nhiệm của Trời cao, khó đón nhận chân lý Tin Mừng, chân lý đức tin. Những chân lý ấy không thể lĩnh hội chỉ bằng lý trí, vì đó là những thực tại đứng ngoài lý trí.

Bởi thế, càng kiêu ngạo, càng muốn đem kiến thức để giải thích chân lý đức tin, họ càng xa rời đức tin, xa rời Tin Mừng của Chúa. Một khi đã xa cách Chúa, chắc chắn không bao giờ họ có thể có Chúa ở bên để mà cậy dựa.

Chân lý Tin Mừng đòi phải nỗi lực sống từng ngày, cảm nghiệm từng ngày, liên lỷ cầu nguyện trong chân thành, khiêm tốn, mới có thể tiếp cận và khám phá.

Chỉ những tâm hồn đơn sơ, khiêm hạ mới có thể hội đủ điều kiện đón nhận Chúa, đón nhận chân lý đức tin, chân lý Tin Mừng. Nói cách khác, đơn sơ, khiêm hạ chính là cánh cửa mở ra để loài người bước vào ơn cứu độ của Chúa.

Thiên Chúa yêu người hèn mọn. Người bênh vực người yếu đuối. Chính Chúa Giêsu cho thấy điều ấy khi Người cảm tạ Chúa Cha vì Chúa Cha đã yêu thương nâng đỡ và kêu gọi người nhỏ bé, hèn mọn.

Chính trong sự nhỏ bé của con người, huyền nhiệm tình yêu được tỏ bày. Chỉ có người bé mọn mới dễ đến và tín thác đời mình trong tay Chúa.

Chỉ người nghèo của Chúa mới có thể thấu hiểu thâm sâu tấm lòng của Chúa. Chính Chúa Giêsu khi ở thế gian, thường đến nhà những kẻ thấp bé, bình dân. Chúa lưu tâm đến người nghèo hèn thống khổ. Người không là gì trước mắt nhân loại, lại có vị trí đáng kể trong trái tim nhân từ của Chúa.

Càng trí thức, giàu có, không ngoan…, thì càng phải siêu thoát, càng tập luyện tinh thần khó nghèo, dẹp bỏ thói cậy mình có tất cả, hơn tất cả mới có thể nhận ra Chúa hiện diện, đến gần Chúa, và mang Chúa trong tâm tư mình.

Ngụp lặn theo kiểu thế gian dễ làm ta kiêu ngạo. Mà kiêu ngạo sẽ đưa tới thất bại trên đường tìm Chúa. Nó còn làm ta xa rời đồng loại, mất ân nghĩa với Chúa, dễ đi vào lối mòn của satan, kẻ đã từng phản bội Chúa.

2. CHÚNG TA CẦN CHỌN LỰA KHÔN NGOAN TRONG CHÚA.

Để thánh thiện như Thiên Chúa, ta phải có tâm hồn trẻ thơ trong trắng, đơn sơ, khiêm nhường. Ta cần nhìn nhận mình chẳng là gì, chẳng có gì. Tất cả chỉ nhờ Chúa và do Chúa mà thôi.

Hãy luôn khiêm nhường để được nương tựa bên Chúa. Chính lúc được nương tựa bên chúa, là lúc ta được Chúa bảo vệ, nâng đỡ. Người cứu giúp để ta không vướng vào vòng nguy hiểm của tội lỗi và cám dỗ.

Cần trở nên những người bé mọn theo tinh thần Phúc Âm, để cảm nếm và sống hòa hiệp với Thiên Chúa. Ðức tin Kitô giáo hướng dẫn ta đến một con người cụ thể, chứ không phải những lý lẽ thần học cao siêu. Con người cụ thể ấy là Chúa Giêsu Kitô. Người là vị Thiên Chúa chấp nhận sống với con người.

Hãy nhớ, một người khiêm tốn có thể có đức tin sâu xa hơn một nhà thông thái. Ðức tin là hồng ân cần được lãnh nhận hơn là kết quả do sưu tầm trí thức của con người.

Thánh Têrêsa Avila, tuy không học nhiều, nhưng đã có kinh nghiệm sống động về Thiên Chúa và đã trình bày kinh nghiệm thiêng liêng của mình một cách sâu sắc, đến nỗi thánh nữ được đặt làm tiến sĩ Hội Thánh, vì giáo huấn của thánh nữ để lại là kho tàng thiêng liêng quí báu giúp mọi thành phần dân Chúa đến với mầu nhiệm Thiên Chúa.

Xin Chúa mở rộng tâm hồn chúng ta để lắng nghe Lời Chúa với sự khiêm tốn, mến yêu. Xin cho chúng ta biết sống theo ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần để đến với Thiên Chúa và anh em.


 

TN14-A119: Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà


HỌC SỐNG HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỢNG VỚI CHÚA GIÊSU

 

Nhiều người cho rằng muốn trở nên hùng mạnh và thắng được người khác thì mình phải hung tợn TN14-A119


Nhiều người cho rằng muốn trở nên hùng mạnh và thắng được người khác thì mình phải hung tợn hơn, tàn ác hơn, phải dùng sức mạnh để quật ngã, phải dùng khí giới để huỷ diệt và khủng bố kẻ thù... Nhưng suy nghĩ như thế là thiển cận và sai lầm.

Lịch sử loài người cho thấy những bạo chúa hung tàn bậc nhất như Nê-rô thời xưa, Hitler, Polpot thời nay hay bất kỳ một thế lực bạo tàn nào… tuy họ nắm được quyền lực trong tay và dùng bạo lực cường quyền để uy hiếp người khác, nhưng rốt cuộc, họ đều bị hạ bệ, bị người đời lên án và chuốc lấy thất bại não nề.

Trong khi đó, lịch sử đánh giá rất cao những con người hiền lành, khiêm nhượng, ôn hoà bất bạo động như Mahatma Gandhi, Martin Luther King và nhiều hiền nhân khác đã biết dùng sự hiền hậu, dịu dàng để chiến thắng sự hung bạo một cách hiệu quả và vẻ vang. Nhân loại qua bao thời vẫn nhìn nhận họ là những bậc vĩ nhân đáng ngưỡng mộ, biết dùng “nhu để thắng cương”, biết “dụng nhược để thắng cường” (Lão Tử).

Thế nên, mặc dù Chúa Giêsu có rất nhiều phẩm chất cao đẹp đáng nêu gương, nhưng phẩm chất đầu tiên mà Ngài kêu gọi mọi người nên học với Ngài là đức tính hiền hậu và khiêm nhường. Qua Tin mừng Mát-thêu chương 11 câu 29, Chúa Giêsu mời gọi: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhượng.” (Mt 11, 29) và “Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5, 4).

Hiền hậu là lợi khí của người khôn

Trong vườn Dầu, khi Phê-rô tuốt gươm ra để bảo vệ Chúa trước đám đông binh lính xông đến bắt Ngài, Chúa Giêsu bảo ông: “Hãy xỏ gươm vào bao. Ai dùng gươm sẽ phải chết vì gươm.” (Mt 26,52)

Bạo lực không là giải pháp khôn ngoan, nên người khôn không bao giờ dùng bạo lực để kháng cự bạo lực, không dùng hận thù để trả đũa hận thù, nhưng biết dùng tính khiêm nhường hiền hậu để ứng xử với mọi người, ngay cả khi bị người khác đối xử tàn ác, thô bạo với mình.

Khi búa tạ tấn công vào đá; đá sẽ dùng sự cứng rắn của mình để kháng cự lại nên bị vỡ tan. Đá thất bại hoàn toàn.

Khi búa tấn công nước; nước sẽ dùng sự mềm mại dịu hiền của mình để đối lại. Bằng cách nầy, nước không hề bị sứt mẻ hư hao, còn búa thì bị chìm lĩm xuống tận đáy bùn! Thế là nước thắng lớn, búa thua to.

Khi búa hung hăng đập vào tường; bức tường sẽ dùng sự cứng rắn của mình chống lại sự thô bạo của búa; thế là bức tường cao sẽ bị sập xuống. Tường thất bại.

Thế nhưng, khi búa đập vào bức màn; tấm màn sẽ dùng sự dịu dàng của mình né tránh sự thô bạo của búa. Màn bình yên vô sự, còn búa sẽ bị mất thăng bằng và bị lao vào khoảng không. Thế là màn chiến thắng.

Như thế, với tấm lòng hiền hậu, khiêm nhường, dịu dàng, mềm mại… người ta có thể thắng được sự thô bạo, hung hăng của người khác.

Ngoài ra, với đức tính khiêm nhường hiền hậu, người ta không chỉ thắng được những lực đối kháng bên ngoài mà còn chinh phục được lòng người. Như nước luôn luôn chảy về chỗ trũng, thì lòng yêu thương quý mến của nhiều người khác cũng dồn về cho những người có tâm hồn hiền hậu, khiêm nhường.

Gương hiền hậu, khiêm nhường của Chúa Giêsu

Trong cuộc khổ nạn, tấm gương hiền lành và khiêm nhường của Chúa đã được nêu cao: Mặc dù là Thiên Chúa quyền năng cao cả, là Con Một của Thiên Chúa Cha, Ngài đã chấp nhận cho người đời hèn mọn nhạo cười, phỉ báng, lăng nhục, khạc nhổ vào mặt, đánh đập tơi bời, lại còn chịu vác thập giá, chịu đóng đinh và chết ô nhục trên thập giá… mà vẫn không oán hờn hay kháng cự; hơn nữa, còn cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ gây đau khổ cho mình.

Lạy Chúa Giêsu,

Khiêm nhường và hiền hậu là tính cách nổi bật nhất nơi con người và cuộc đời của Chúa.

Khiêm nhường và hiền hậu là nhân đức được toả sáng trong cuộc thương khó của Ngài.

Khiêm nhường và hiền hậu là một trong những bài học quan trọng nhất mà Chúa kêu mời chúng con phải học với Chúa từng ngày.

Lẽ nào chúng con là những môn đệ đã chọn Chúa làm Thầy và là mẫu mực cho mình, lại gạt bỏ ra khỏi tâm hồn mình bài học quý báu nầy sao!

Xin cho chúng con luôn noi gương bắt chước Chúa để sống khiêm nhường hiền hậu như Chúa đã nêu gương.


 

TN14-A110: Gạn sạch tâm hồn – Lm. Ignatiô Trần Ngà


Bấy giờ, Đức Giêsu cất tiếng nói: “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.”

 

Thoạt nghe câu nói trên, có người tưởng rằng Thiên Chúa phân biệt đối xử, bạc đãi những người khôn TN14-A110


Thoạt nghe câu nói trên, có người tưởng rằng Thiên Chúa phân biệt đối xử, bạc đãi những người khôn ngoan thông thái và ưu ái những người bé mọn.

Thiên Chúa là Cha chung của mọi người, của người giàu cũng như kẻ nghèo, của người khôn cũng như kẻ dại… Mọi người đều được yêu thương và đối xử như nhau. Thế thì tại sao Thiên Chúa lại che giấu “kho tàng” của Ngài đối với những bậc khôn ngoan thông thái mà lại mạc khải cho những người bé mọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa đối xử bất công với con cái Ngài sao?

Chắc chắn Thiên Chúa không thiên vị ai, nhưng sở dĩ có người được nhận nhiều hồng phúc của Chúa, kẻ khác không được gì, là do con người chứ không phải do Thiên Chúa.

Hai hình ảnh sau đây giúp ta hiểu rõ điều này:

Hình ảnh thứ nhất:

Có hai chiếc ly được đặt cạnh nhau, ly lớn chứa đầy cát còn ly nhỏ thì rỗng không. Nếu ta muốn rót sữa hay một thức uống bổ dưỡng cho đầy hai chiếc ly đó thì chỉ có chiếc ly nhỏ nhận được đầy tràn chất dinh dưỡng, còn chiếc ly lớn thì chẳng được chút nào. Như thế, không phải vì người rót thiên vị, nhưng là vì chiếc ly lớn đã đầy cát thì không thể đón nhận thêm bất cứ thứ gì.

Những người tự cao tự đại, tự cho mình khôn ngoan thông thái, học rộng tài cao… lẽ ra phải nhận được nhiều điều khôn ngoan của Thiên Chúa, thế nhưng, vì tâm hồn họ tràn đầy kiêu căng tự phụ, giống như những chiếc ly đầy cát, nên Thiên Chúa không thể rót gì thêm vào tâm trí họ được.

Trong khi đó, tâm hồn những người bé mọn, khiêm nhu, chất phác… giống như những chiếc ly rỗng, sẵn sàng đón nhận thiên ân, nên được Thiên Chúa đong đầy.

Hình ảnh thứ hai:

Một ao nước có đầy dẫy rác rến cũng như rong rêu sinh trưởng dày đặc trong đó, khiến nước ao trở nên dơ bẩn, đen ngòm… nên không thể in bóng những cụm mây lướt qua bầu trời bên trên mặt nước.

Trái lại, một ao nước khác rất trong lành, không bị vẩn đục vì rác rưởi, không bị các thứ rong, tảo hoặc các loại bèo… xâm chiếm, chắc chắn sẽ in được cả những gợn mây rất mỏng, cả những cánh én nhỏ bé bay qua vòm trời và mỗi khi đêm về, có thể in bóng vô số vì sao trên bầu trời khuya.

Tương tự như thế, những tâm hồn bị vẩn đục bởi tính tự mãn tự kiêu, tự cho mình là khôn ngoan thông thái… thì không thể đón nhận chân lý do Thiên Chúa mặc khải được. Còn tâm hồn của người người đơn sơ khiêm tốn… như một hồ nước trong veo, sẽ dễ dàng đón nhận sự khôn ngoan đích thực do Thiên Chúa thông ban.

Hãy làm rỗng chiếc ly của mình

Vào thời Minh Trị Thiên Hoàng ở Nhật (1860-1912), có một vị thiền sư tên là Nan-in đón tiếp một giáo sư đại học đến hỏi về thiền. Nan-in mang trà đãi khách. Ông rót trà đầy tách của khách nhưng vẫn tiếp tục rót thêm. Vị giáo sư ngồi nhìn nước trong tách trà tràn ra cho đến khi không kìm mình được nữa nên thốt lên: “Thưa thầy, tách trà đầy quá rồi, xin đừng rót nữa.”

Vị thiền sư trả lời: “Thưa ngài, đầu óc của ngài cũng đầy ắp những quan niệm, những tư tưởng… làm sao tôi có thể bày tỏ thiền cho ngài được, trừ phi ngài làm cạn cái tách của ngài trước đã.”

Lạy Chúa Giêsu,

Nếu tâm hồn chúng con như chiếc ly đầy cát, đó là tính kiêu căng tự phụ, tự cho mình khôn ngoan thông thái, thì xin giúp chúng con đổ hết thứ cát bẩn này ra, để được Chúa đong đầy ân phúc.

Nếu tâm hồn chúng con như ao nước đục ngầu vì bị ô nhiễm bởi nhiều loại rác rến như đam mê tội lỗi, ước vọng thấp hèn… thì xin giúp chúng con gạn sạch tâm hồn để hình bóng Chúa được in sâu.

Nguyện xin Chúa giúp chúng con dứt khoát trút bỏ tất cả những gì làm cho tâm hồn trở nên hẹp hòi, khô cứng… để tâm hồn chúng con như chiếc ly rỗng, như tách trà không… nhờ đó, được Chúa rót đầy ân sủng và tình yêu.


 

TN14-A111: Chúa Nhật 14 Thường Niên

 

Chúa Giêsu Kitô xuống trần gian để mạc khải tình thương của Thiên Chúa cho con người và mời TN14-A111


Chúa Giêsu Kitô xuống trần gian để mạc khải tình thương của Thiên Chúa cho con người và mời gọi con người trở về với tình thương ấy. Hôm nay, Ngài mạc khải cho chúng ta về chính Ngài: "hiền lành và khiêm nhường". Ngài mời gọi ta hãy đến với Ngài, học với Ngài và mang lấy ách của Ngài: "Hãy đến cùng ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng... hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng" (Mt 11, 28 - 29).

Mang thân phận con người, người ta phải chấp nhận sống khổ đau, khổ cực, khổ luỵ; cuộc đời con người bấp bênh, dường như không có gì là bền vững, là đảm bảo,.. Hơn nữa người ta phải chấp nhận quy luật " mạnh được yếu thua" hoặc "được làm Vua thua làm giặc"...gần như là tất yếu và phổ biến. Thấu hiểu kiếp người như thế nên Chúa Giêsu đã mời gọi "hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng" (Mt 11, 29). Hiền lành và khiêm nhượng là hai đức tính đặc biệt nổi bật nhất nơi Chúa Giêsu. Thánh Phaolo đã nói: "Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Pl 2, 6 - 8). Như thế, Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường đến nỗi đã tự nguyện vâng lời chết trên thập giá vì tội lỗi nhân loại. Điều đó cho thấy sự hiền lành và khiêm nhường tột cùng của một Vì Thiên Chúa yêu thương nhân loại.

Mang thân phận loài người, Chúa Giêsu được sinh ra trong chuồng súc vật, lớn lên trong một gia đình nghèo nàn nơi làng quê Nagiareth không có gì tiếng tăm, đi giảng đạo cũng nghèo đến nỗi "không có chỗ gối đầu" và cuối cùng chết cũng trần trụi trên thập giá cho thấy sự nghèo nàn tột cùng. Ngài mốn đón nhận tất cả mọi người không loại trừ ai, kể cả những người Pharisêu ương ngạnh vì muốn họ thay đổi cái nhìn và lối sống thích hợp với thời đại Tân ước nên Ngài không ngừng dạy dỗ thậm chí là bề ngoài Ngài nói có vẻ cứng rắn và thẳng thắn nhưng bên trong lòng Ngài vẫn dành cho họ một chỗ yêu thương: Ngài làm bạn và cùng đồng bàn với người thu thuế và người tội lỗi.

Như thế, Chúa Giêsu thật là Đấng hiền lành và khiêm nhường. Ngài yêu thương và luôn bênh vực những tâm hồn bé nhỏ và khiêm nhường. Những người có tâm hồn như thế dễ dàng đón nhận chân lý mạc khải của Ngài. Trong lời cảm tạ Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nói: "Lạy Cha, con ngợi khen Cha vì đã giấu không cho nhữn bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời mà lại mạc khải cho người bé mọn". Trang Phúc âm còn cho chúng ta biết những kẻ bé mọn là những người nghèo khổ, những kẻ đang vất vả và mang gánh nặng. Người ta mang ách nặng của công việc làm ăn, người ta còn mang ách nặng nề của lề luật Do Thái lúc bấy giờ mà cụ thể là do các kinh sư và Pharisêu đang chất lên vai người ta. Thấy điều đó là bất công, Chúa Giêsu không thể chấp nhận những kẻ thông thái đạo đức giả chỉ cậy dựa vào thành tích giữ luật của mình để rồi sống bất công với người ta. Ngài loan bào Tin Mừng và cho người ta biết về luật lệ trong Vương quốc của Ngài: "ách êm ái và gánh nhẹ nhàng". Ví đó là gánh đó và ách yêu thương.

Là người Kitô hữu, chúng ta cũng được mời gọi bước theoi Chúa Giêsu, mang lấy ách êm ái yêu thương của Ngài. Đồng thời, Chúa Giêsu cũng muốn mời gọi chúng ta hãy dành cho tha nhân ách yêu thương đó. Có thể trong gia đình chúng ta con cái là một gánh nặng nhưng dạy dỗ cho chúng nên người càng trở nên là gánh nặng hơn, vợ chồng là gánh nặng của nhau vì những điều trái ý bất đồng đôi chút, công ăn việc làm là một gánh nặng, việc đi lễ giữ đạo là một gánh nặng. Thế nhưng, sống trong thế trần, làm sao con người có thể thoát ra cảnh "đời là bể khổ". Có thể có đôi lần chúng ta muốn tháo chạy, muốn buông xuôi mặc kệ dòng đời trôi dạt. Hãy nhìn lên Chúa Giêsu trên thập giá. Ngài đớn tột cùng. Ngài đau khổ gấp ngàn lần. Tình yêu của Ngài đã bị thất đoạt, đã bị từ chối và thậm chí đã bị phản bội. Dù vậy, Ngài không thể tránh né, không thể bỏ cuộc. Ngài vẫn phó thác cuộc đời trong tay Cha. Ngài đi trọn con đường của mình. Hãy nhìn lên Ngài. Hãy bước đi theo Ngài. Hãy phó thác cuộc đời mình cho Ngài. Hãy dâng những đau buồn, sướng khổ, lo âu..tất cả cho Ngài. Hãy cùng với Ngài đọc lại những dấu chỉ trong cuộc đời mình: con cái là hồng ân, dạy chúng nên người theo ý Chúa là chia sẻ trách nhiệm với Chúa; vợ chồng là món quà tuyệt vời của Đấng Tạo Hoá, những cái bất thường, trái ý làm cho cuộc đời này thêm phong phú và nhờ đó người t khám phá và thể hiện tinh thần đùm bọc, chở che. Cuộc sống lao động là vất vả nhưng đó lại là một quyền lợi mà Thiên Chua 1trao ban cho con người cộng tác với Ngài trong việc "làm bá chủ thiên nhiên", lao động sáng tạo, con người giúp cho mình và thiên nhiên vạn vật về cùng đích là Chúa Kitô. Do đó, chúng ta hãy để Chúa Giêsu chia sẻ và cùng đồng hành với chúng ta. Chúng ta hãy an tâm vì "Thầt đây, đừng sợ" và " ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng"

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con cảm nghiệm Chúa yêu thương chúng con để chúng con theo Chúa, sống giữa thế trần nhưng biết khao khát Chúa, cảm nhận Chúa luôn yêu thương luôn ở ngay bên chúng con. Ngài sẽ giúp chúng con sống vui, sống tốt và sống thành công giữ luật êm ái yêu thương của Chúa và cũng biết đối xử êm ái yêu thương cho tha nhân. Amen.


 

TN14-A112: Nghịch lý thập giá Chúa Kitô -Lm Phêrô Hồng Phúc

 

Thập giá Đức Giêsu Kitô là một cớ vấp phạm cho người Do Thái và điên rồ đối với dân ngoại (x. 1Cr 1,23) TN14-A112


Thập giá Đức Giêsu Kitô là một cớ vấp phạm cho người Do Thái và điên rồ đối với dân ngoại (x. 1Cr 1,23). Tức là một nghịch lý của cuộc đời, cho đến bây giờ vẫn thế và còn cho đến tận thế. Lúc nào Thập giá cũng là một thách đố rất lớn đối với mọi thời đại. Thập giá cũng là một chướng ngại rất lớn đến với từng con người. Đức Giêsu đã khẳng định ngay từ đầu rằng, Ngài là một viên đá - một viên đá làm cớ vấp phạm đối với những ai không nhận ra Ngài, không nhận ra chương trình cứu độ của Ngài.

Khi chỉ nhìn nhận những thực tại bên ngoài mà thôi, Thập giá là một hình phạt nặng nề của những người Roma dành cho những người tử tội. Đức Giêsu đã nhận cho mình hình phạt này. Đó không phải là một sự tôn vinh, bởi vì, Thập giá là biểu hiện của sự chết. Thập giá chỉ được tôn vinh sau khi Đức Giêsu Kitô hoàn tất chương trình cứu độ. Ngay khi Ngài ở trên Thập giá, chính Ngài cũng đã bị lời sỉ nhục của những kẻ qua đường chế nhạo, thậm chí Ngài còn bị những lời sỉ nhục của những kẻ cùng đóng đinh với Ngài trên Thập giá. Như vậy, Thập giá vẫn là một sỉ nhục, một cực hình dành cho những ai bị kết án. Đức Giêsu cũng là người bị kết án, Ngài bị kết án do tòa án của nhân loại, mà Philato tuyên án. Ngài là người bị kết án do chính những người con cái trong nhà: "Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó đi!". Thập giá mãi mãi vẫn là một bản án, một bản án đóng trên đầu Đức Giêsu Kitô: "Đức Giêsu Nadaret, Vua dân Do Thái". Như vậy, Thập giá không có gì đáng để tôn vinh: Thập giá là đau khổ; là kết án; là sự chết.

Vậy tại sao chúng ta suy tôn Thập giá Đức Giêsu Kitô như vậy?

Vâng! Đúng là chúng ta suy tôn Thập giá Đức Giêsu Kitô vì Đức Giêsu Kitô đã dùng Thánh giá mà cứu chuộc nhân loại. Đó là ý nghĩa mà chúng ta đang đi sâu vào tìm hiểu. Nếu Thập giá chỉ là một bản án tử hình, chỉ là một huyền thoại, một sự kết án thì mãi mãi Thập giá là một sự hổ ngươi cho tất cả những người Kitô hữu. Nhưng nếu Đức Giêsu Kitô đã dùng Thánh giá mà cứu chuộc thế gian thì đây chính là triết lý của sự khôn ngoan; triết lý của sự sống. Như vậy, trong nghịch lý hàm chứa một chân lý; ở trong bản kết án ấy lại chính là một sự xóa án. Tất cả diễn ra nơi Thập giá Đức Giêsu Kitô. Chúng ta nhìn thấy sự sống và sự chết ở cùng trên Thập giá Đức Giêsu Kitô, Ngài đã nói những lời cuối cùng, Ngài phó linh hồn cho Đức Chúa Cha. Sự sống của Đức Giêsu Kitô trên Thập giá và sự chết của Đức Giêsu Kitô cũng trên Thập giá. Sự sống và sự chết gặp nhau trên Thập giá của Đức Giêsu Kitô. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng sự sống và sự chết của Đức Giêsu trên Thập giá cũng chính là sự sống và sự chết của chúng ta. Bởi lẽ từ cạnh sườn bị đâm thâu, máu và nước chảy ra, từ đó phát sinh ra Bí tích của Hội Thánh như trong Kinh Tiền Tụng chúng ta đọc. Vậy từ Thập giá Đức Giêsu Kitô, máu và nước chảy ra: nước tượng trưng cho Bí tích Rửa Tội. Nhờ đó mà chúng ta được đi từ cõi chết đến cõi sống. Và máu, tượng trưng cho các Bí tích, những Bí tích của tình yêu thương, để tha tội, để thêm sức, để thánh hóa những tâm hồn. Chúng ta hình dung một Đức Giêsu Kitô hiến mạng sống của mình để hướng tới cái chết. Và từ cái chết ấy, mà chúng ta bắt đầu nhận được trở lại sự sống của Thiên Chúa, sự sống thật của con người theo thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa khi tạo dựng con người.

Cái sống và cái chết không chỉ đấu tranh trong con người Đức Giêsu Kitô mà trong toàn thể Hội Thánh, là nhiệm thể của Đức Kitô. Nếu Đức Giêsu Kitô không chết trên Thập giá thì không có sự hoàn tất chương trình cứu độ của Ngài. Nếu Đức Giê su Kitô không chấp nhận cái chết trên Thập giá thì bản án của nhân loại mãi mãi vẫn còn. Vì vậy trong bản án được treo trên đầu Đức Giêsu Kitô đã nói rõ vương quyền của dân Thiên Chúa: Tiên tri, Tư tế, Vương giả. Chúng ta, những người Kitô hữu cũng mang trong mình một danh Kitô, mà danh ấy là Vua Do Thái. Như vậy, trong bản án mà Đức Giêsu phải chịu bao hàm cả chức vụ Tư tế, Tiên tri, Vương đế của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Nếu không có Thập giá thì những danh hiệu ấy không có ý nghĩa gì. Cho nên, người Kitô hữu chúng ta hôm nay, đứng trước Thập giá Đức Giê su Kitô là đối diện với một mầu nhiệm, một mầu nhiệm hàm chứa nghịch lý, chân lý đan xen nhau. Không phải ai cũng nhận ra chân lý của Thập giá. Vì thế, thánh Phaolo đã diễn tả những cách thức mà mỗi một thời đại, mỗi một dân tộc tượng trưng cho một ý thức hệ, một quan điểm khác nhau, rằng: Thập giá Đức Giêsu Kitô là cớ vấp phạm cho người Do Thái và là sự điên rồ đối với dân ngoại; hoặc là sự khôn ngoan cho những người được tuyển chọn, vì đó chính là những gì mà con người được sàng lọc, được trắc nghiệm đi sâu vào tâm hồn mình để nhận ra Thập giá. Người đời đã biết áp dụng nguyên tắc Thập giá theo triết lý "Lửa thử vàng, gian nan thử đức", rằng "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay". Đó là triết lý của Thập giá áp dụng trong cuộc sống, vì ai cũng sợ đau khổ, ai cũng sợ sự chết. Nhưng "Lửa thử vàng, gian nan thử đức" và "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay" nghĩa là những người có ở trong tình trạng đau khổ (đoạn trường = đứt ruột) mới hiểu được,và trong đau khổ ấy người ta mới tìm được giá trị của Thập giá. Cho nên ngay ở trường đời, cũng có giá trị thập giá và người ta đã tìm ra triết lý khôn ngoan của nó. Các thánh mô tả Thập giá là sự khôn ngoan. Bởi vì Thập giá Đức Giêsu hiện nguyên hình là sự chết, vì khi không qua đau khổ và sự chết con người sẽ không đạt tới đích thật sự sống của mình.

Vì vậy, chúng ta nói về Thập giá, suy tôn Thánh giá là chúng ta đang nói tới tình yêu thương và chân lý mà Thiên Chúa muốn chúng ta đi qua sự chết để vào cõi sống; để nhìn qua những đau khổ, sự chết của Đức Giêsu Kitô nhận ra chương trình cứu độ. Vì vậy, đối với những người được tuyển chọn, Thập giá là ơn cứu độ, còn mãi mãi vẫn là cớ vấp phạm và sự điên rồ đối với những kẻ không tin hay với người quá khích.

Hôm nay và mãi mãi cho đến tận thế, Thập giá dạy chúng ta những bài học khôn ngoan để chúng ta nhận ra chân giá trị của cuộc đời. Thập giá mãi mãi vẫn là trường dạy chúng ta sự khiêm tốn, sự khôn ngoan và cho chúng ta hiểu tình yêu - một tình yêu đích thật.

Những người Kitô hữu hôm nay, đeo Thánh giá trên cổ, lần tràng hạt trên tay có Thánh giá và đặt Thánh giá trên nóc đỉnh cao của tháp Nhà thờ; Thánh giá ngày xưa còn dùng làm dấu hiệu của những người theo Đạo hay không theo Đạo, sống hay là chết: bước qua Thập giá là bỏ Đạo, là sự sống trước con mắt thế gian, còn không bước qua Thập giá là chết trước con mắt thế gian. Nhưng đó lại là các Thánh Tử Đạo!

Thập giá như là một đường ngang, đường xích đạo phân đôi địa cầu của chúng ta; đường dọc như là trục giữ cho trái đất giữ của chúng ta định vị trong vũ trụ. Đường dọc, đường ngang ấy đã tạo nên Thập giá. Đường dọc đi tới tận Thiên Chúa để Ngài tuôn đổ ơn lành xuống cho trái đất của chúng ta, không bị sai lạc vị trí của mình. Đường ngang ôm chặt lấy trục để cho chúng ta hiểu biết là: trong Thập giá, chúng ta có tình huynh đệ, tình yêu thương và chúng ta gặp gỡ nhau trong Đức Kitô.


 

TN14-A113: Hãy mang lấy ách của Tôi và hãy học cùng Tôi

 

Có lẽ chúng ta sẽ nghĩ rằng bài trích sách Dacaria nên đọc vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá khi Đức TN14-A113


Có lẽ chúng ta sẽ nghĩ rằng bài trích sách Dacaria nên đọc vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá khi Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem. Thực ra, bài này đã được thánh Mathêu trích dẫn (Mt 21,1-11) và được đọc ngay khi bắt đầu cuộc rước. "Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ"

Dacaria không chỉ nói mơ hồ. Ông cho biết rõ ràng Đấng Messia thuộc Dòng Đavit sẽ như thế nào. Dacaria đã mong một Đấng Mesia như một thủ lãnh không dùng bạo lực. Chỉ cần liếc qua những đầu báo hôm nay cũng thấy những đàn áp vũ lực đối với các cuộc biểu tình ở Syri và Liby. Nhưng ngay cả các nước dân chủ cũng chưa chắc không dính đến bạo lực. Ngược với những kinh nghiệm thông thường của chúng ta. Dacaria mời gọi thính giả của mình chiêm ngưỡng một đấng cứu thế hiền lành, cưỡi trên lưng một con lừa, loài súc vật chở đồ cho người nghèo, chứ không phải chiến mã của các bậc đế vương.

Dacaria chờ mong đấng Messia sẽ chấm dứt các quốc gia hùng mạnh tự mãn về chính mình. Ngài sẽ không phải là một chiến binh, nhưng dẹp qua một bên những vũ khí, chiến xa, chiến mã, cung tên để loan báo hòa bình. Được một người không có đất đai, chư hầu, Đấng không muốn làm người điều khiển cỗ máy chiến tranh đứng ra lãnh đạo - đối với ngày nay có lẽ đó là kiểu lãnh đạo hoàn toàn khác biệt! Chúng ta đã từng nghe những bài phát biểu của các ứng cử viên tổng thống tiềm năng sẵn sàng cho cuộc đua đến chức tổng thống. Cái nhìn của Dacaria chắc chắn thách thức công tác lãnh đạo hiện nay và tiềm năng của đất nước chúng ta, cũng như nhận thức của chúng ta về việc lãnh đạo.

Nơi Đức Giêsu, chúng ta bắt gặp một Đấng cứu thế mà Dacaria đã tiên đoán, trong Bài Giảng Trên Núi, chúng ta nghe Người công bố luật của sự sống cho những ai đón nhận Người. Hôm nay, chúng ta được mời gọi đi vào lời cầu nguyện của Đức Giêsu, tạ ơn Chúa Cha vì đã ban cho Người các môn đệ, những kẻ bé mọn, hiền lành và khiêm nhường.

Thế giới của chúng ta không xem hiền lành và hèn mọn như những lối sống. Thực ra, đó chính là "những kẻ bé nhỏ" bị thế giới quyền lực gạt qua một bên. Người hiền lành không chỉ bị hãm hại, họ còn bị miệt thị, lợi dụng và thậm chí bị giết. Vì thế, sức mạnh và sự quả quyết thì cần thiết để chống lại sự bóc lột những kẻ cô thế cô thân để họ có thể sống trọn vẹn cuộc sống nhân loại. Làm thế nào chúng ta có thể cân bằng giữa việc làm "những kẻ bé mọn" như Đức Giêsu tán dương với Chúa Cha với nhu cầu của chúng ta hiện nay phải dùng sức mạnh để giúp con người thôi bị áp bức? Đó là một vấn đề nan giải. Làm thế nào kẻ mạnh mẽ cũng có thể hiền lành và nhẹ nhàng, thành một trong những "kẻ bé mọn" của Đức Giêsu? Sức mạnh và quyền lực không xóa bỏ sự ôn hòa, hiền lành và phó thác nơi Thiên Chúa.

Ngay trong đoạn trước của bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu bị các Pharisêu cũng như những người trong các thành Người đến rao giảng tẩy chay Người (11,20-24). Ngay cả lúc bị loại trừ, Đức Giêsu vẫn tạ ơn Thiên Chúa vì đã mạc khải sự khôn ngoan cho "những kẻ bé nhỏ". Trong bài đọc hôm nay, một lần nữa Người trình bày cho các môn đệ biết những phẩm cách của những ai là thành viên của Thiên Quốc.
Cái "ách" của luật Dothái được xem như đặc quyền của những người Dothái nhiệt thành, vì nó cho thấy hồng ân của sự khôn ngoan của Thiên Chúa tỏ ra trong sống hàng ngày. Giờ đây, Đức Giêsu xem mình như là sự khôn ngoan của Thiên Chúa và ban tặng những cái ách ấy cho ai đón nhận Người. Con người có thể học từ luật lệ, phong tục và giáo huấn của đạo, nhưng nguồn mạch căn bản giúp chúng ta hiểu đường lối của Thiên Chúa thì không hệ tại nơi những kến thức đó. Nhưng là nơi việc đón nhận Đức Giêsu và sứ điệp của Người. Thực ra, việc tuân giữ lề luật cách tỉ mỉ có thể khiến cho cho người ta ra tối tăm trước tự do của Thần Khí mà Đức Giêsu ban tặngcho chúng ta. Đức Giêsu cho rằng hiểu biết về Thiên Chúa thì không phải chỉ nhờ vào những theo đuổi của con người - dù là với ý hướng tôn giáo tốt nhất. Người nói, "Cha đã giao phó mọi sự cho tôi". "Mọi sự" - mạc khải trọn vẹn về Thiên Chúa mà chúng ta tìm thấy nơi Đức Giêsu. Người sẵn sàng bày tỏ "mọi sự" về Thiên Chúa cho chúng ta.

Đức Giêsu nói cho những người nghèo, kẻ dốt nát và những ai bị áp bức. Họ phải lo lắng, vật lộn để sống qua ngày. Họ không có nhiều thời gian và cũng chẳng được đi học để mà nghiên cứu những luật lệ, truyền thống về niềm tin của họ như cách các Pharisêu thường làm. Đức Giêsu kết án các Pharisêu chất những gánh nặng lên vai người nghèo còn bản thân họ lại chẳng buồn đưa lấy một ngón tay để nhấc những gánh nặng ấy. Những người phải bươn trải kiếm sống không thể đọc hay nghiên cứu luật, vì thế họ vô tình phạm luật, và kết quả là bị những kẻ thông luật kết án.

Đức Giêsu mời gọi những người bị xem như "kẻ phạm luật", "hãy theo Tôi". Người ban cho họ một cái ách, là sự đón nhận tình yêu và ơn tha thứ của Thiên Chúa mà Người ra giảng. Chẳng phải họ thấy nhẹ hơn khi biết rằng mình không phải là những tội nhân, những kẻ bên ngoài như họ từng bị cáo buộc sao? Nay, qua Đức Giêsu, họ cảm nhận được lòng tha thứ của Thiên Chúa và lối sống của Đức Giêsu. Chúng ta cũng nên tắc mắc: chẳng phải sứ điệp của Đức Giêsu về tình yêu của Thiên Chúa và sự sẵn sàng tha thứ mang lại cho chúng ta một gánh nhẹ nhàng hơn và cảm nhận đến gần Thiên Chúa khi chúng ta cần đó sao?

Trong đoạn văn này của Mathêu, chúng ta có hai chọn lựa - tin hay không tin. Nhưng việc tin tưởng vào Thiên Chúa thì không hê tại ở nỗ lực của chúng ta. Nhưng, tin là hồng ân của Thiên Chúa và không tin là vì sự ngạo mạn và kiêu hãnh của những người từ chối tặng phẩm của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Hôm nay, Đức Giêsu nói cho chúng ta biết Người chính là mặc khải về Thiên Chúa và ý muốn của Thiên Chúa cho chúng ta. Người mời gọi những ai bị áp bức hãy tin vào người. Vì họ, "những kẻ bé mọn", sẽ không phải mang những gánh nặng hay trói buộc tôn giáo nào. Những "kẻ bé mọn" là những người xuất hiện trong toàn bộ Tin mừng, chẳng hạn như những người thu thuế, gái điếm và những người tội lỗi, những người đã lắng nghe và đón nhận giáo huấn của Đức Giêsu. Giờ đây, Đức Giêsu mang lại sự nghỉ ngơi lâu dài và mãi mãi của thời đại Messia, là thành quả của việc Người đến thế gian.

Chẳng phải lạ lắm sao khi mà vừa nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi lại vừa nghĩ đến chuyện mang ách?Ách là một công cụ để làm việc, cho cả con người và súc vật. Cái ách là để thi hành một tác vụ. Đối với chúng ta, đó là để phục vụ Đức Kitô. Chúng ta có đón nhận cái ách mà Đức Giêsu ban cho hay không? Một điều chúng ta thấy được từ Đức Giêsu là cái ách của Người không phải là gánh nặng; thánh Phaolô nói cái ách đó dẫn chúng ta đến tự do. Khi chúng ta đón nhận cái ách của Đức Giêsu thì chúng ta cũng đón nhận Ngài như người luôn trợ giúp chúng ta, một người "cùng mang ách" với chúng ta. Điều đó giải thích việc làm thế nào người Kitô hữu có thể hoàn thành được những nhiệm vụ hết sức khó khăn và thậm chí bất khả thi, cho dù là tử đạo, nhờ Danh Đức Giêsu.

Chúng ta đã cố hết sức để có được nền giáo dục đào tạo mà chúng ta cần để sống nốt cuộc đời này. Chúng ta muốn sự yên ổn cho chính chúng ta và gia đình mình. Chúng ta có lẽ cũng đã tăng cường vốn kiến thức và kỹ năng cho mình bằng những khóa học thêm, cố gắng hơn và tốn kém hơn. Chúng ta có lý do chính đáng để thu thập được càng nhiều kiến tthức càng tốt. Đó không phải là những gì Đức Giêsu phê phán khi người đề cập đến những kẻ "khôn ngoan và thông thái" - trừ khi việc "khôn ngoan và thông thái" ấy che đậy bản chất mỏng dòn của chúng ta và cho chúng ta cảm giác sai lầm về sự an toàn ở ngoài Thiên Chúa. Chúng ta có thể vừa "khôn ngoan và thông thái" vừa ở trong số "những kẻ bé mọn" mà hôm nay Đức Giêsu đã dâng lời cầu nguyện và tạ ơn cho.

Ở đoạn trước trong Tin mừng Mathêu, Đức Giêsu chúc phúc cho những ai "có tinh thần nghèo khó" (Mt 5,3) như thể đã có được nước trời làm sản nghiệp. Những người đọc Sách Thánh sẽ nhận ra rằng khi Đức Giêsu nói đến "những kẻ bé mọn" là người đang lấy lại hình ảnh của Kinh Thánh bản Hippri, từ "anawim" - có nghĩa là những người hèn mọn và khiêm nhường. Họ là những người không có uy thế, quyền lực, địa vị hay chức vụ cao sang. Họ chẳng có gì để có thể khoe khoang thế giới. Vì thế, họ chấp nhận phó thác nơi Thiên Chúa mà không chút do dự hay kiêu hãnh giả tạo nào.

Trong Thánh lễ này, giống như những "anawin", chúng ta đón nhận sự khao khát Thiên Chúa của chúng ta và khiêm tốn nài xin: "Con chẳng có gì để kiêu hãnh trước mặt Chúa, lạy Thiên Chúa Chí Thánh. Con hoàn toàn phụ thuộc vào ân sủng của Người". Thiên Chúa thấy được sự trống trải của chúng ta và đổ đầy trong chúng ta nguồn lương thực tốt nhất, là Mình và Máu của Đấng đang mời gọi chúng ta hôm nay, "Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường".


 

TN14-A114: Chú giải và suy niệm của Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

Phụng Vụ Chúa Nhật 14 Thường Niên năm A này trổi lên cung giọng hân hoan. Bài Đọc I và TN14-A114


Phụng Vụ Chúa Nhật 14 Thường Niên năm A này trổi lên cung giọng hân hoan. Bài Đọc I và Tin Mừng ca ngợi giá trị cao cả của con người. Bài Đọc II ca mừng cuộc chiến thắng của Thần Khí trên xác thịt, sự sống trên sự chết.

Dcr 9, 9-10

Bài Đọc I, được trích từ sách Da-ca-ri-a, là một lời mời gọi hãy vui lên, được gởi đến dân thành Giê-ru-sa-lem, vì Vua của họ sẽ trở lại viếng thăm họ, cỡi trên một con lừa con: Vua Mê-si-a là một vị vua khiêm tốn và hòa bình.

Rm 8, 9. 11-13

Trong thư gởi các tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô công bố rằng người Ki-tô hữu sống theo Thần Khí thì chiến thắng tính xác thịt và tội lỗi, vì Thần Khí là sự sống và là sự sống lại.

Mt 11, 25-30

Đoạn Tin Mừng Mát-thêu là bài “thánh thi ngợi ca”. Đức Giêsu vui mừng vì Cha Ngài mặc khải những điều bí nhiệm của mình cho những người bé mọn và khiêm hạ.

BÀI ĐỌC I (Dcr 9, 9-10)

Bản văn này được trích dẫn từ phần thứ hai của sách Da-ca-ri-a, nhưng tác giả không phải là ngôn sứ Da-ca-ri-a. Ngôn sứ Da-ca-ri-a thật sự sống vào thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên vào thời kỳ Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được tái thiết (521-515 trước Công Nguyên) sau thời lưu đày Ba-by-lon. Trong khi phần thứ hai của sách mang tên của vị ngôn sứ thì khoảng hai thế kỷ sau đó. Phần này bao gồm từ chương 9 đến chương 14 được gán đúng hơn cho nhiều tác giả dưới danh xưng là Da-ca-ri-a đệ nhị. Tác phẩm hỗn hợp này quy tụ nhiều mảnh văn khác nhau, vô danh và không có niên biểu. Nó được định vị vào thời kỳ giữa truyền thống ngôn sứ biến mất và sự khai sinh các sách khải huyền. Vào lúc đó, người ta đọc lại những tác giả thời quá khứ, giải thích và làm mới lại sứ điệp của họ. Bản văn mà chúng ta đọc thì đầy những hồi ức của I-sai-a, Xô-phô-ni-a, Mi-kha, hai sách Các Vua, vân vân.

Đề tài về Đấng Thiên Sai nối kết những yếu tố rời rạc giữa chúng. Đấng Thiên Sai được tuyên sấm qua ba dung mạo, cả ba dung mạo này đều có âm vang lớn lao mà các tác giả Tin Mừng: 1- dung mạo vị vua thiên sai, khiêm hạ và hòa bình; 2- dung mạo người mục tử nhân lành bị các lãnh tụ của dân Ngài loại bỏ; 3- sau cùng dung mạo của một Đấng Bị Đâm Thâu mầu nhiệm.

Trong phần thứ nhất này, bản văn gợi lên cho chúng ta dung mạo của Vua Thiên Sai:

1. Vua Thiên Sai tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem:

“Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ!

Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng rao hò!

Vì kìa Đức Vua đến với ngươi” (Dcr 9: 9)

 “Thiếu nữ Xi-on” và “thiếu nữ Giê-ru-sa-lem” là hai diễn ngữ Do thái được dùng để chỉ dân cư thành thánh Giê-ru-sa-lem và ngọn đồi Xi-on.

Bài hoan ca, loan báo Vua Thiên Sai ngự đến, được gợi hứng bởi những tiếng hoan hô phụng vụ tán dương vương quyền của Đức Chúa. Các Thánh Vịnh cung cấp nhiều ví dụ như Tv 47: 2:

“Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi!

Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo!

Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả úy,

là Vua Cả thống trị địa cầu”.

Hay Tv 95: 1-3:

“Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa,

tung hô Người là Núi Đá độ trì ta,

vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,

cùng tung hô theo điệu hát cung đàn.

Bởi Đức Chúa là Chúa Trời cao cả,

là Đại Vương trổi vượt chư thần”.

Ngôn sứ Xô-phô-ni-a cũng đã tán dương các thánh thi phụng vụ này như vậy rồi:

“Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on,

hò vang dậy đi nào, nhà Ít-ra-en hỡi!
Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy nức lòng phấn khởi.
….
Đức Vua của Ít-ra-en đang ngự giữa ngươi, chính là Đức Chúa” (Xp 3: 14-15).

2. Ngài là Vua khiêm tốn:

Vị vua tương lai này sẽ là “Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Năng”. Tác giả lấy lại những phẩm chất quen thuộc trong truyền thống thuần túy về trào lưu Vua Thiên Sai (x. I s 9: 6; 11: 4; 16: 5; Gr 23: 5; vân vân). Tuy nhiên, danh xưng “Đấng Chính Trực” gợi lên sự thánh thiện của Ngài hơn là phẩm chất của Đấng Thiên Sai Thẩm Phán; còn về danh xưng được dịch “Đấng Toàn Năng”, theo nguyên ngữ có nghĩa “được giải thoát khỏi những thù địch của Ngài”. Tác giả ghi nhận sự toàn năng, vì ông muốn nhấn mạnh một phẩm chất cốt yếu khác của Vua Thiên Sai: đức khiêm tốn.

“Khiêm tốn ngồi trên lưng lừa,

một con lừa hãy còn theo mẹ” (Dcr 9: 9)

Con lừa là con vật mà các vị lãnh tụ thời xưa của dân Ít-ra-en cỡi, sau đó được thay thế bởi con ngựa vì cần thiết cho chiến binh xung trận. Thường dân vẫn cỡi lừa.

Bản văn của Da-ca-ri-a đệ nhị này là bản văn Cựu Ước duy nhất – không kể đến những gợi ý của Người Tôi Trung – trình bày Đấng Thiên Sai ngự đến dưới những đường nét của một nhân vật rất mực khiêm tốn. Sấm ngôn này sẽ được thực hiện bởi Đức Giêsu, Ngài tiến vào Giê-ru-sa-lem cỡi trên một con lừa con trong tiếng reo mừng hân hoan của đám đông.

3. Ngài là Vua bình an:

 “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im,

và chiến mã khỏi Giê-ru-sa-lem;

cung nỏ chiến tranh sẽ bị bẻ gãy” (Dcr 9: 10).

Tác giả muốn nói rằng kỷ nguyên Mê-si-a sẽ là kỷ nguyên của sự thống nhất hai vương quốc. Ngài là Vua đem lại bình an, vì thế, tất cả bộ máy chiến tranh sẽ bị hủy bỏ. Nhiều ngôn từ nhắc nhớ nhiều bản văn Kinh Thánh: ngôn sứ Hô-sê đã loan báo:

“Trong ngày đó, vì dân Ta,

….

Ta sẽ bẻ gãy cung nỏ gươm đao,

chấm dứt chiến tranh trên toàn xứ sở,

và Ta sẽ cho chúng được sống yên hàn” (Hs 2: 20).

Chúng ta cũng đọc thấy tại Mi-kha:

“Ta sẽ cho ngựa của ngươi biến khỏi xứ,

sẽ hủy diệt xe trận của ngươi” (Mk 5: 9).

Hòa bình phải là điều thiện hảo tuyệt mức của thời Thiên Sai. Vua Thiên Sai “sẽ công bố hòa bình cho muôn dân” (Dcr 9: 10). Diễn ngữ này hoàn toàn kinh điển như Is 57: 19: “Bình an! Bình an cho khắp xa gần!” (x. Tv 46 và 72), tức là bình an cho cả dân Do thái (dân ở gần) lẫn muôn dân (dân ở xa). Đó cũng là vai trò của Người Tôi Trung là trở nên ánh sáng muôn dân và đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất.

Bất chấp cái mâu thuẫn bên ngoài, Đấng Thiên Sai hòa bình sẽ mở rộng vương quyền của Ngài trên một lãnh địa rộng lớn:

“Người thống trị từ biển này qua biển nọ,

và từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Dcr 9: 10).

Được hiểu sát từ, những lời tiên báo này đặt nền tảng trên những niềm hy vọng của dân Chúa chọn vào sự khôi phục nền quân chủ thời Đấng Thiên Sai. Đây là niềm mơ ước bền bỉ mà Chúa Giêsu sẽ còn gặp phải khi các môn đệ hỏi Ngài sau biến cố Phục Sinh: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không?” (Cv 1: 6). Nhưng đó không là viễn cảnh của vị ngôn sứ, ông đã để cho hiểu rằng “sự thống trị” của vị vua hòa bình sẽ không thuộc lãnh vực trần thế.

BÀI ĐỌC II (Rm 8, 9. 11-13)

Với một lập luận vững chắc, thánh Phao-lô đã cho thấy rằng Thần Khí đang hoạt động ở nơi biến cố Phục Sinh của Đức Ki-tô, bởi vì Thần Khí là nguồn sống, Ngài bảo đảm cùng một sự sống lại cho con người phải chết của chúng ta, ở đó Ngài thiết lập chỗ ở của Ngài.

Sau khi đã gợi lên sự nghèo nàn về phương diện luân lý của nhân loại dưới quyền lực của tội lỗi, khởi đi từ chương 8 của thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô phác họa đời sống mới của người Ki-tô hữu: được Chúa Ki-tô công chính hóa, từ nay họ sống dưới quyền lực của Chúa Thánh Thần.

Trong một phản đề mạnh mẽ, thánh Phao-lô đối lập bản tính yếu đuối và tội lỗi của con người mà thánh nhân gọi “tính xác thịt” với bản tính được ân sủng đổi mới thì sống theo tác động của Thần Khí. Ở đây chúng ta nên lưu ý rằng thánh Phao-lô liên tục nói về Thần Khí của Thiên Chúa và Thần Khí của Đức Ki-tô trong một phương trình hoàn hảo.

Dưới sức mạnh của Thần Khí này, từ nay chúng ta có thể chiến thắng những sức mạnh của sự dữ, “diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi chúng ta”. Thần Khí ở trong con người phải chết của chúng ta, chính Ngài thanh tẩy, thánh hóa và thần hóa chúng ta; chính Ngài bảo đảm sự phục sinh của chúng ta.

TIN MỪNG (Mt 11, 25-30)

Lời cầu nguyện tạ ơn này Chúa Giêsu ngỏ lời với Chúa Cha đều được thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca ghi lại. Thánh Lu-ca đặt lời cầu nguyện này vào lúc bảy mươi hai môn đệ hoan hỷ trở về từ sứ mạng của mình, vào lúc đó Chúa Giêsu cùng vui với họ và tạ ơn Cha Ngài về sứ mạng thành công. Lời cầu nguyện này xem ra được đặt vào trong bối cảnh này (Lc 10, 21-22).

Khi trình bày lời cầu nguyện này trong một bối cảnh khác, thánh Mát-thêu cho nó một chiều kích thần học có lẽ sâu xa hơn. Đức Giêsu vừa chịu những thất bại: sự chống đối của những người Pha-ri-sêu càng tăng lên, nhất là trong ba thành phố miền Ga-li-lê: Ca-phác-na-um, Bết-sai-đa và Khơ-ra-din. Chúa Giêsu báo trước án phạt đối với các thành này: chúng sẽ bị triệt hạ.

1. Thánh thi chúc tụng:

Ấy vậy, thay vì cảm thấy sự cay đắng, Chúa Giêsu lại chúc tụng Cha Ngài. Lời cầu nguyện của Ngài theo thể văn xuôi Hy-lạp có vần có điệu, cũng được gọi là “thánh thi chuc tụng”. Nên nghĩ rằng những lời nói của Đức Giêsu, được thốt lên bằng tiếng A-ram, bao gồm một sự cấu trúc tương tự, theo văn phong nói thông thường của người Do thái, ở đó vần điệu giúp cho việc ghi nhớ được dễ dàng.

2. Tán dương “những người bé mọn”:

Chúa Giêsu ngợi khen Cha Ngài vì đã khai lòng mở trí cho “những người bé mọn” hiểu, trong khi lại giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời. Chúa Giêsu chủ yếu nhắm đến những giới kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu, họ tự phụ về sự hiểu biết của mình và giam hãm mình vào trong sự khôn ngoan nhân loại. Các ngôn sứ đã loan báo điều này, như I-sai-a:

“Vì thế, Ta sẽ tiếp tục làm cho dân này phải sững sờ kinh ngạc

vì bao nhiêu dấu lạ điềm thiêng.

Bấy giờ sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan sẽ chuốc lấy thất bại,

và trí thông minh của người thông minh sẽ tan thành mây khói” (Is 29: 14)

Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã ngỏ lời với các kinh sư Giê-ru-sa-lem:

“Những hạng khôn ngoan ấy

sẽ thẹn thùng, run sợ, và sa vào cạm bẫy.

Này, lời Đức Chúa thì chúng khinh miệt,

chúng khôn ngoan nỗi gì?” (Gr 8: 9).

“Những người bé mọn” trước tiên chỉ ra các môn đệ của Chúa Giêsu - sau này Ngài sẽ gọi họ như vậy nhiều lần - nhưng cũng những người khiêm hạ trong đám đông lắng nghe lời Ngài, vì họ không bị bối rối bởi tính tự hào tự phụ về sự hiểu biết của mình.

Chúa Giêsu còn nhiều lần khác sẽ ca ngợi tinh thần trẻ thơ. Chính xác thánh Mát-thêu thuật lại một sự cố có ý nghĩa. Trong khi lũ trẻ reo hò trong Đền Thờ: “Hoan hô con vua Đa-vít”, thì các thượng tế và kinh sư tức tối. Đức Giêsu trích dẫn Tv 8: 2 nói với họ: “Lời này các ông chưa bao giờ đọc sao: Ta sẽ cho miệng con thơ trẻ nhỏ cất tiếng ngợi khen?” (Mt 21: 14-16).

3. Chúa Cha và Chúa Con:

Qua lời thân thưa này: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất”, Chúa Giêsu không còn có thể khẳng định địa vị Con Thiên Chúa của Ngài rõ ràng hơn nữa.

“Không ai biết Chúa Con, trừ Chúa Cha: cũng như không ai biết Chúa Cha, trừ Chúa Con, và người mà Chúa Con muốn mặc khải cho”. Cung giọng của đoạn văn rất gần với cung giọng của Tin Mừng Gioan, ở đó, thánh Gioan nhắc đi nhắc lại nhiều lần những mối liên hệ mật thiết hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con trong sự hiểu biết và tình yêu.

Khi khẳng định: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi”, Chúa Giêsu xem ra nói trước lời khẳng định mà Ngài sẽ công bố sau khi Ngài sống lại: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28: 18). Trong bối cảnh định vị những lời này, chắc hẳn Chúa Giêsu gợi lên công trình cứu độ mà Ngài có sứ mạng thực hiện và nay các môn đệ được mặc khải cho biết. Chúa Giêsu là Đấng Trung Gian duy nhất. Về vấn đề này Tin Mừng Gioan cung cấp sự bổ túc tốt nhất, như “Thật vậy, Chúa Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người” (Ga 17: 2).

4. “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi”:

Trong Tin Mừng Mát-thêu chứ không Tin Mừng Lu-ca, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu được theo với một bản văn được liệt vào trong số những hạt ngọc Tin Mừng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”.

Gánh nặng và cái ách là hai hình ảnh rất nổi tiếng của đạo Do Thái để chỉ Lề Luật. Thánh Vịnh 19 công bố rằng:

“Luật Pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn.

Thánh ý Chúa thật là vững chắc, cho người dại nên khôn” (Tv 19: 8-9).

Nhưng vì phó mặc cho các nhà lãnh đạo Do thái quá chi ly, Lề Luật đã bị chất quá tải với những tuân giữ nặng nề. Luật của Đức Giêsu, Luật yêu thương, mang sức mạnh giải thoát:

“Quả thật, yêu mến Thiên Chúa

là tuân giữ các điều răn của Người.

Mà các điều răn của Người

có nặng nề gì đâu” (1Ga 5: 3).

Khi tuyên bố: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học gương tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng”, Chúa Giêsu mượn cách nói của ngôn sứ Giê-rê-mi-a:

“Hãy dừng lại trên các nẻo đường mà coi,

hãy tìm hiểu những đường xưa lối cũ

cho biết đâu là đường ngay nẻo chính, rồi cứ đó mà đi:

tâm hồn các ngươi sẽ bình an thư thái” (Gr 6: 16).

Đức Giêsu, Đấng “có lòng hiền hậu và khiêm nhường”, kêu gọi chúng ta trở nên môn đệ Ngài. Thánh Mát-thêu là thánh ký duy nhất ghi nhận tấm lòng dịu dàng này của Đức Giêsu, cũng như thánh nhân là thánh ký duy nhất trích dẫn bức chân dung Người Tôi Trung của I-sai-a: “Người không lên tiếng giữa phố phường, không đành bẻ gảy cây lau bị giập, chẳng nở tắt đi tim đèn leo lét”, và áp dụng vào Đức Ki-tô (Mt 12: 18).
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây