Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN–A Bài 101-108 BÁNH HÓA NHIỀU

Thứ năm - 30/07/2020 10:44
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN–A Bài 101-108 BÁNH HÓA NHIỀU
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN–A Bài 101-108 BÁNH HÓA NHIỀU
Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 18 TN–A Bài 101-108 BÁNH HÓA NHIỀU

TN18-A101: BỮA TIỆC TÌNH THƯƠNG.. 1
TN18-A102: Thu lại những mảnh bánh vụn. 5
TN18-A103:  BÀN TIỆC NƯỚC TRỜI 10
TN18-A104: CŨ VÀ MỚI 18
TN18-A105: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI CN 18 TN A.. 20
TN18-A106: Chính anh em hãy cho họ ăn! 24
TN18-A107: HÃY CÓ LÒNG THƯƠNG XÓT.. 27
TN18-A108: Tình Liên Đới Đồng Loại 30

 

TN18-A101: BỮA TIỆC TÌNH THƯƠNG

 

Trong chuyến hành hương Thánh Địa tháng 5 vừa rồi, chúng tôi có ghé thăm miền đất Tabgha với nhiều: TN18-A101


Trong chuyến hành hương Thánh Địa tháng 5 vừa rồi, chúng tôi có ghé thăm miền đất Tabgha với nhiều địa danh quen thuộc được kể trong Phúc Âm. Vùng Tabgha màu mỡ trải dọc theo hướng Tây Bắc bờ Biển Hồ Galilê. Tên Tabgha bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Heptapegon” nghĩa là “7 con suối” và được thu gọn lại theo tiếng Ả Rập là Tabgha.

Theo truyền thống, tại miền đất này đã diễn ra những sự kiện quan trọng trong sứ vụ của Chúa Giêsu: Phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều; Chúa giảng Bài Giảng trên núi; sau khi phục sinh, Chúa đã hiện ra với các môn đệ trên bờ hồ và trao quyền lãnh đạo cho Simon Phêrô…

Chúng tôi đến thăm “Nhà Thờ Bánh Hóa Nhiều”, giữa một khu vườn rất nhiều cây ôliu và hoa cỏ xanh tươi xinh đẹp. Ngôi Nhà Thờ nguyên thủy được xây dựng dưới thời Byzantine, trong nhiều giai đoạn khác nhau và được trùng tu vào các thế kỷ sau đó. Nhà Thờ vẫn còn lưu giữ một sàn nhà khảm đá ( mosaic ) đã được khám phá tại Thánh Địa. Có lẽ biểu tượng nổi bật nhất, nằm ngay trên đỉnh của bức tranh phía dưới bàn thờ chính là 5 chiếc bánh và 2 con cá, kính nhớ việc Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ tại đây.

Người Ba Tư xâm chiếm vùng này và phá hủy Nhà Thờ vào năm 614. Vương Cung Thánh Đường mới được xây dựng trên nền cổ của ngôi Nhà Thờ, vẫn còn giữ nguyên phong cách cũ đồng thời kết hợp hài hòa những nét cổ xưa và hiện đại. Ngày nay, các thầy Dòng Biển Đức chăm sóc ngôi Nhà Thờ này.

Chúng tôi đọc Phúc Âm câu chuyện phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều và thinh lặng suy niệm. Thánh Mátthêu ở chương 14 mô tả hai bữa tiệc xảy ra nối tiếp nhau để độc giả so sánh và suy nghĩ: bữa tiệc sang trọng với cái đầu của Gioan Tẩy Giả và bữa tiệc của dân nghèo với 5 chiếc bánh và 2 con cá.

Mt 14, 1 – 12: Tại bữa tiệc ở cung điện của vua Hêrôđê với các quan khách sang trọng quý phái. Họ có tất cả mọi sự trên đời: quyền hành, danh vọng, tiền bạc, sắc đẹp, lạc thú, thức ăn cao lương mỹ vị, rượu ngon thoả thích, vũ nữ duyên dáng chân dài chân ngắn… và có cả hận thù ích kỷ, máu đổ đầu rơi.

Mt 14, 13 – 21: Tại bữa tiệc nơi hoang vắng với đám dân nghèo đói. Họ chẳng có gì ngoài sự tin tưởng, hy vọng vào tình thương và sự chia sẻ của Chúa Giêsu. Đây là phép lạ của tình thương. Các môn đệ cũng đóng vai trò quan trọng là cộng tác với Chúa, đi phân phát thức ăn cho dân chúng. Mọi người chia sẻ cho nhau, bánh và cá cứ thế mà tiếp tục nhiều lên.

Chúa không làm phép lạ một núi bánh và cá cho mọi người đến lấy. Chúa làm phép lạ khi mọi người liên đới với nhau, cùng bẻ ra và trao cho nhau. Bữa ăn hôm đó là một biểu tượng của bữa tiệc Thánh Thể. Không còn ranh giới, không còn giai cấp, không còn kẻ trên người dưới. Một tinh thần hoà đồng, tất cả đều là anh chị em trong Chúa Giêsu.

Trong tiệc Thánh Thể, người ta tìm thấy bình an và nguồn hạnh phúc trào dâng trong tâm hồn. Người ta tận hưởng hoa trái tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại, người ta nhận biết giá trị của bình an nội tâm do ân sủng Chúa ban đến.

1.  Bánh Trường Sinh

Phép lạ hoá bánh là dấu chỉ báo trước Thánh Thể: "Ngài cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ" ( Mt 14, 20 ). Trong Tiệc Ly "Ngài cấm lấy bánh, chúc tụng" ( Mc 14, 22 ). Cử chỉ Bẻ Bánh đã trở thành nét đặc trưng của Chúa Giêsu ( Lc 24, 30 ) và của Giáo Hội ( Cv 2, 42).

Ðược bánh ăn, dân chúng muốn "bắt lấy Ngài tôn lên làm vua" ( Ga 6, 15 ). Họ tiếp nối Satan cám dỗ Ngài lần nữa. Chúa Giêsu nhắc nhở họ rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh "Hãy ra công làm việc, đừng vì lương thực hư nát nhưng vì lương thực sẽ lưu lại mãi đến sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ngươi" ( Ga 6, 27 ).

Họ xin cho được ăn mãi thứ bánh ấy và Chúa đã bảo họ: "Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với ta không hề phải đói, ai tin vào ta, chẳng khát bao giờ" ( Ga 6, 35 ).

Chóp đỉnh của mạc khải về Bánh Hằng Sống chính là "Ai ăn thịt ta và uống máu ta thì được sống muôn đời, và ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết" ( Ga 6, 54 ). Ăn thịt, uống máu nhấn mạnh đến cái chết trên thập giá của Chúa.

"Bánh Ta sẽ ban" hướng về cái chết của Chúa Giêsu và gợi đến Tiệc Thánh Thể lưu niệm vĩnh viễn sự chết cứu độ của Chúa trên Thập Giá. Giá trị cứu rỗi của cái chết trên Thập Giá được hiện tại hoá luôn mãi trong Tiệc Tạ Ơn của Giáo Hội. Người tín hữu được sống dồi dào khi ăn uống Mình Máu Chúa Giêsu.

Chúa vẫn tiếp tục đồng hành cùng Giáo Hội, thực hiện công trình cứu độ trong Giáo Hội, qua Giáo Hội và với Giáo Hội. Trao cho chúng ta Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể, Chúa mời gọi chúng ta bẻ ra và trao cho anh em mình.

2.  Bánh Lời Chúa:

"Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta" ( Ga 1, 14 ). Lời Thiên Chúa là Lời Quyền Năng, nhưng Ngài lại trao cho con người sứ mạng công bố lời Ngài "Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các Ngôn Sứ" ( Dt 1, 1 ).

Cũng một sứ mạng ấy được tiếp nối trong Giáo Hội hôm nay "Ngài sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân" ( Lc 9, 2 ). Sứ mạng đó là nhiệm vụ cốt yếu của các tông đồ "Chúng tôi không thể sao nhãng Lời Thiên Chúa để lo giúp việc bàn ăn" ( Cv 6, 2 ) và chính Thánh Phaolô kêu lên "khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng". Thế là, con người tội lỗi được giao trách nhiệm công bố Lời thánh hoá; con người yếu đuối công bố Lời quyền năng; con người giới hạn công bố Lời vĩnh cửu. Một vinh dự quá đổi lớn lao.

Lời Chúa có thể đọc và giải thích ngoài phụng vụ, trong phạm vi cá nhân hoặc khi làm việc đạo đức. Khi đó Lời Chúa là cơ hội ban ơn hiện sủng và hiệu năng ở đây là hiệu năng "do nhân" ( ex opere operantis ), tuỳ thuộc thái độ tâm hồn của người đọc và người nghe.

Lời Chúa được công bố khi cử hành Phụng Vụ, đó là Lời do Chúa Giêsu hoặc Giáo Hội ấn định, được công bố nhân danh Chúa và Giáo Hội bởi Thừa tác viên chính thức. Lời Bí Tích mang hiệu năng "do sự" ( ex opere operato ), qua các Bí Tích Chúa Kitô ban ân sủng cho người lãnh nhận.

Sứ vụ công bố Lời Chúa được thực hiện trong tác động của Thánh Thần. Bởi thế người rao giảng Tin mừng chỉ có thể thực rao giảng Lời Chúa nhờ quyền năng và tác động của Thánh Thần. Chính Thánh Thần tác động lên người nói cũng như người nghe, để Lời được công bố không còn là Lời của người phàm nhưng là Lời Thiên Chúa. Dù ta có cố gắng đến đâu cũng không thể cải hoá lòng người vì: "Không ai có thể tuyên xưng Ðức Giêsu là Chúa mà không do Thánh Thần" ( 1Cr 12, 3 ) và "Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là uổng công" ( Tv 127, 1 ).

Các con có mấy chiếc Bánh Lời Chúa để trao cho anh em ? Chúa vẫn luôn hỏi chúng ta điều ấy mỗi ngày. Bởi đó, cần trau dồi Lời Thiên Chúa, vì người được sai đi để công bố Lời Chúa chứ không phải lời của thế gian, cho dẫu lời ấy có khôn ngoan đến đâu chăng nữa. Ðồng thời cũng phải trau dồi lời con người, là khả năng nói, loan báo, kỹ năng diễn đạt tư tưởng và rao giảng để Lời Chúa chinh phục các tâm hồn.

Công bố Lời Chúa vừa là một hồng ân vừa là một trách nhiệm. Là hồng ân vì con người tầm thường được Thiên Chúa mời gọi làm Ngôn Sứ. Là trách nhiệm vì phải nỗ lực để chu toàn sứ vụ.

3.  Bánh Thánh Thể:

Bánh và rượu tương trưng đầy đủ chính con người chúng ta. Bánh là kết quả công lao khó nhọc của con người. Người ta thường nói: Ðổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có mà ăn. Bánh như thế tượng trưng công lao khó nhọc và chính sự sống con người. Bên cạnh đời sống vật chất còn có đời sống tinh thần. Vì thế cùng với bánh chúng ta dâng rượu. Rượu tượng trưng cho mọi nỗi vui buồn sướng khổ của đời người: khi vui ta uống chén rươụ mừng nhưng khi buồn ta uống chén rượu giải khuây. Dâng lên Chúa bánh và rượu là chúng ta dâng lên tất cả đời sống với mọi nỗi vui buồn sướng khổ, tất cả dệt nên cuộc sống hiện tại của mình.

Ðến Nhà Thờ dâng Lễ, mỗi tín hữu mang lễ vật riêng là chính đời sống của mình, nhưng khi dâng lễ, nó được thu hợp lại thành lễ vật chung của cộng đoàn dâng lên Chúa. Tấm bánh được hình thành bởi trăm ngàn hạt lúa miến đã được xay nát ra và hoà trộn với nhau trong chậu bột. Ly rượu là kết quả của nhiều trái nho được ép ra và hoà tan với nhau. Cả hai tượng trưng đầy đủ ý nghĩa cộng đồng cho lễ vật mỗi người cũng như lễ vật toàn thể cộng đoàn.

Linh Mục đọc Lời Truyền Phép là Lời Chúa Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô. Đồng thời Chúa Kitô cũng biến đổi những hy sinh, những hạnh phúc đau khổ, những trách nhiệm của cộng đoàn trong hiến lễ để rồi khi mỗi người rước lễ, họ đón nhận Mình Máu Chúa là đón nhận lại của lễ mình dâng lên mà giờ đây đã được thánh hiến.

Người tín hữu được lớn lên trong Đức Tin, trong Lòng Mến nhờ ân sủng của Thánh Thể Chúa Kitô. "Chính tôi là Bánh trường sinh. Ai đến với tôi không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ" ( Ga 6, 35 ). "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời" ( Ga 6, 51 ).

Thánh Thể như thế là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa và con người; là quà tặng Thiên Chúa trao ban cho nhân loại, và chính là lương thực thiêng liêng, bảo đảm hạnh phúc trường cửu của chúng ta. Bởi đó tham dự thánh lễ cách đầy đủ tích cực trọn vẹn với tất cả con người là cách tốt nhất đáp lại tình thương của Chúa, yêu mến Thánh Thể.

Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận viết “Con muốn hỏi: ‘Cách gì đẹp lòng Chúa hơn cả ?’ Hãy tham dự Thánh lễ, vì không kinh nào, không tổ chức, nghi thức nào sánh bằng lời nguyện và hy lễ Chúa Giêsu trên Thánh giá”. ( Đường Hy Vọng # 349 ). Bí Tích Thánh Thể là ‘nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu’ ( GH 11 ), là trung tâm điểm của Phụng Vụ vì cử hành mầu nhiệm Vượt Qua, ‘mầu nhiệm Chúa Kitô hoàn tất công trình cứu độ chúng ta’ ( GLCG 1068 ).

Tham dự Thánh Lễ cách “trọn vẹn, ý thức và linh động”, và “qua cuộc sống biểu lộ cho người khác thấy mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Hội Thánh chân chính” ( PV 2 ) là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con một niềm tin nhạy cảm để biết nhận ra bàn tay quan phòng của Chúa. Xin ban cho chúng con tấm lòng quảng đại, để biết sống chia sẻ, hầu cảm nhận được tình yêu của Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Amen !

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN


 

TN18-A102: Thu lại những mảnh bánh vụn


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Phép lạ hoá bánh ra nhiều được bốn thánh sử ghi lại cả trong bốn Phúc âm (X. Mt 14,13-21; Mc 6,31-34; TN18-A102


Phép lạ hoá bánh ra nhiều được bốn thánh sử ghi lại cả trong bốn Phúc âm (X. Mt 14,13-21; Mc 6,31-34; Lc 9,10-17; Ga 6,1-13). Matthêu và Maccô còn kể thêm Chúa làm phép lạ lần thứ hai nữa (X. Mt 15,32-38; Mc 8,1-10).

Nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu chạnh lòng thương. Họ đói khát, nghèo khổ, bệnh tật, bơ vơ. Họ đi tìm Chúa để được chữa lành, được an ủi, được dạy dỗ. Chúa đã yêu thương họ và muốn tặng cho họ một bữa tiệc đơn sơ bất ngờ ở ngoài trời. “Ta mua đâu bánh cho họ ăn đây?”. Chúa muốn đưa các môn đệ đi vào mối bận tâm của Ngài, cần sự cộng tác. Các môn đệ thất vọng vì chỉ có 5 chiếc bánh lúa mạch và 2 con cá nhỏ.

Phản ứng các môn đệ là bế tắc được ghi lại trong 4 phúc âm như sau:

– Matthêu: Ở đây chúng tôi chỉ có 5 chiếc bánh và 2 con cá thôi.

– Marcô: Thế chúng tôi phải đi mua 200đồng bạc bánh mà cho họ ăn sao?

– Luca: Chúng tôi không có hơn 5 chiếc bánh và 2 con cá, hoạ chăng là chúng tôi phải đi mua thức ăn cho cả toàn dân này.

– Gioan: Philipphê thưa: Có mua hết 200đ bạc bánh cũng chẳng đủ phát cho mỗi người một miếng nhỏ. Anrê nói: Ở đây có một em bé có 5 chiếc bánh lúa mạch và 2 con cá nhưng với bằng ấy người thì thấm vào đâu!

Thái độ của các môn đệ là muốn thoái thác: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn” (Mt 14,15). Đó là giải pháp hợp lý. Lo cho hàng ngàn người ăn là ngoài khả năng các môn đệ. Đó cũng là giải pháp nhẹ nhàng, ai lo phần nấy, tự đi mua lấy thức ăn.

Chúa Giêsu không chấp nhận thái độ đó. Chúa muốn các môn đệ nhận lấy trách nhiệm và cùng cộng tác với Ngài: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn đi”.

Chúa Giêsu cầm 5 chiếc bánh và 2 con cá hướng nhìn về trời cao, đọc lời chúc tụng, những bế tắc âu lo của các môn đệ đã được giải toả. Đám đông ăn no nê đầy ứ và còn dư dả phủ phê.

Chúa Giêsu đã cho họ ăn một bữa đã đời và đó cũng là bữa để đời. Để đời vì là lời mời gọi cộng tác và hãy biết quý chuộng ân sủng Chúa ban.

“Anh em hãy cho họ ăn”.
Phép lạ xảy ra do quyền năng Thiên Chúa và sự cộng tác của con người.

“Anh em hãy cho họ ăn”.

Chúa không làm phép lạ từ không ra có. Chúa làm phép lạ từ 5 chiếc bánh và 2 con cá, là phần đóng góp nhỏ bé của con người. Phần đóng góp nhỏ bé, nhưng lại cần thiết. Chúa cần sự cộng tác của con người cho dù sự cộng tác ấy là nhỏ bé, nhưng với tấm lòng rộng lớn thì Chúa sẽ biến sự nhỏ bé thành lớn lao, biến điều tầm thường nên vĩ đại.

Chúa không làm phép lạ ngay tức khắc biến bánh và cá thành một kho thức ăn để người ta tự do đến lấy tùy thích.

Chúa cũng không tự tay phân phát lương thực. Chúa trao bánh và cá cho các môn đệ. Các môn đệ trao cho mọi người. Mọi người trao cho nhau. Đó là bài học lớn lao của phép lạ hoá bánh. Khi mọi người chia sẻ cho nhau, quan tâm giúp đỡ nhau trong tình thương, biết bẻ ra, biết trao đi, thì Chúa Giêsu làm phép lạ hoá nhiều.

Nghèo nàn hay thiếu khả năng, điều ấy không quan trọng. Chỉ có 5 chiếc bánh và 2 con cá mà Chúa đã làm phép lạ ra nhiều. Hãy đóng góp hết khả năng nhỏ bé của mình, phần còn lại Chúa sẽ thực hiện.

“Anh em hãy cho họ ăn”.

Đây còn là lời mời gọi lên đường thực thi đức ái. Giáo hội không bao giờ thờ ơ né tránh các vấn đề nhân sinh của nhân loại. Giáo hội quan tâm đến mọi nhu cầu của con người và thế giới. Chúa Giêsu không chấp nhận thái độ thụ động, viện cớ này nọ để tự biện minh: “Chúng con chỉ có 5 chiếc bánh và 2 con cá, như thế thấm đâu cho ngần ấy người”.

“Anh em hãy cho họ ăn”.

Chúa nhắc nhở Giáo hội phải chủ động đi đến với người nghèo khổ, phải ở bên người nghèo đói và phải bênh vực chăm lo cho người nghèo nàn. Mọi Kitô hữu không thể thờ ơ trước những nỗi đau khổ, nghèo đói, thiếu thốn của anh chị em chung quanh. Nổ lực hết mình góp phần với Thiên Chúa để xoa dịu nỗi đau của tha nhân.

“Anh em hãy thu lấy những miếng thừa kẻo phí đi”.
Đoạn kết Phúc Âm cho biết: sau khi mọi người ăn no thỏa, người ta thu lượm được “mười hai thúng đầy vụn còn dư”. Hồng ân tràn đầy của tình thương Thiên Chúa. Phúc Âm luôn luôn nói về chân lý này: một khi Thiên Chúa ban ơn là Ngài ban dư dật. Người mù xin sáng mắt,Chúa Giêsu cho sáng cả linh hồn; người bất toại xin sức khỏe để vác chõng về nhà, Chúa Giêsu cho sức khỏe cả về phương diện tôn giáo để hội nhập vào nhịp sống cộng đoàn.

Với 5.000 người không để đàn bà con nít, vậy số người rất đông, cả một rừng người. Có cả ngàn ngàn chiếc bánh được phát ra. Bánh nhiều như vậy tại sao Chúa lại tiếc những miếng bánh vụn còn dư? Tại sao Chúa lại bảo thu lại những mảnh vụn?

Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều là vì “chạnh lòng thương”: “Ta thương đoàn dân này”, vì “Ta không muốn để họ đói”, vì “Ta sợ rằng họ lả dọc đường” (Mt 15,32). Chúa Giêsu quý những mẫu bánh vụn vì nó là phép lạ của Ngài. Nó là tình thương, là ơn sủng, là ơn cứu độ của Chúa trao ban. Tình yêu và ân sủng như ngọn pháo bông, khi tung vỡ trên bầu trời, thành trăm ngàn vụn nhỏ thì càng rực rỡ huy hoàng.

Khi tấm bánh được bẻ ra trên bàn thờ, nó trở thành nhỏ bé mỏng manh nhưng vẫn đầy tràn quyền năng và ơn thánh.

Khi hiến lễ đền tội cho nhân loại của Đức Kitô trên đồi Calvê tan ra, vóc dáng Người sụp xuống, đó cũng chính là lúc ơn cứu độ như nắng vỡ, lan ra chảy tràn kín vũ trụ, tỏa sức sống cho nhân sinh.

Chúa Giêsu quý những mảnh bánh vụn, Chúa bảo các môn đệ thu lại để dạy chúng ta đừng lãng phí ân huệ Chúa ban. Sức khoẻ, thời gian, tài năng, trí tuệ đều là ân huệ được ban tặng, cần trân trọng nâng niu gìn giữ. Trong ơn sủng của Chúa, không có gì là những mẫu vụn bé nhỏ tầm thường.

Có một cụ bà đã 73 tuổi (có lẽ là một Kitô hữu {trong hình thấy đeo tràng chuỗi Mân Côi} đi nhặt những mãnh vụn thai nhi, sinh linh bị giết chết, đem về chôn cất. Chuyện rất cảm động và thật cảm phục “Mười năm nhặt xác ba ngàn hài nhi!”. (x. Người Lao Động Online, 26.6.2011).

Gần 10 năm nay, có một bà cụ đã bước sang tuổi 73, vẫn ngày ngày lặn lội khắp nơi để nhặt những thai nhi bị bỏ rơi, đem về chôn cất. Đó là bà Phạm Thị Cường, ngụ xã Nghĩa Thắng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Bà bộc bạch: “Hãy yêu thương những linh hồn bé nhỏ bị bỏ rơi, kể cả khi chúng đã qua đời, bởi những đứa trẻ tội nghiệp ấy đã gánh thay chúng ta những tai họa ở trần gian”.

Ở làng quê nghèo ven biển xã Nghĩa Thắng, không ai còn lạ với hình ảnh một người đàn bà đã vào cái tuổi thất thập cổ lai hy, ngày ngày âm thầm đi gom nhặt thi hài những đứa trẻ khắp nơi về chôn cất. Trên đường về Nghĩa Thắng, khi hỏi thăm nhà bà Cường, chúng tôi đã được nghe nhiều câu chuyện về bà qua những nông dân ở vùng quê này. Ở nơi đây, mọi người vẫn trìu mến gọi bà là bà Cường “hài nhi’’, có lẽ một phần cũng do những công việc mà bà đã và đang làm.

Bà là một người hiền lành, phúc hậu. Đã gần 10 năm nay, không quản ngày nắng cháy da cháy thịt hay đêm đông lạnh giá, bà vẫn lặn lội khắp mọi ngả đường của huyện Nghĩa Hưng, đặc biệt là khu vực thị trấn Đông Bình, để nhặt các hài nhi xấu số bị phá bỏ, về chôn cất.

Cuộc sống của bà Cường chỉ trông vào gánh bán rau quả và những đồ tạp hóa ở khu chợ Đông Bình. Nơi đây, có một số cơ sở nạo phá, hút thai nhi. Mỗi ngày có hàng trăm ca nạo phá thai đã diễn ra, một phần công khai, còn chủ yếu là bí mật, cũng đồng nghĩa với việc hàng trăm hài nhi bị vứt bỏ.

“Mỗi lần nhìn thấy thi hài của các cháu bị vứt bỏ nơi đầu đường, xó chợ, tôi lại không thể kìm lòng, càng thương các sinh linh bé nhỏ bơ vơ chưa kịp cất tiếng khóc chào đời, đã phải chịu thay tội vạ mà cha mẹ chúng đã gây ra. Đáng trách quá!”…

Gần 10 năm nay, họ đã tìm nhặt và an táng hơn 3.000 sinh linh bé bỏng.

Bà Cường tâm sự về “cơ duyên” dẫn mình đến cái nghiệp làm phúc này. Bà cho biết vẫn nhớ như in ngày 8.3.2002. Trên đường đến chợ Đông Bình để bán rau, khi đi đến cầu Đông Bình, bà Cường thấy có một túi nilông màu đen, ruồi muỗi bám đen.

Bà Cường nhớ lại: “Lúc đầu tôi cứ nghĩ đây là túi rác của gia đình nào đó ném ra đây. Nhưng rồi đi được một đoạn, tự dưng trong người tôi như có lửa đốt, cứ bồn chồn chẳng yên, đặc biệt là hình ảnh chiếc túi màu đen cứ như ngay trước mắt mình. Đứng lại suy nghĩ một lúc, tôi quyết định quay lại xem bên trong túi bóng đó chứa thứ gì”.

Bà Cường bàng hoàng và đau xót khi chứng kiến một hài nhi đang thoi thóp thở, thân thể bị kiến bu đầy, nhưng đôi mắt bé mở to nhìn bà chằm chằm như muốn nài nỉ, van xin. “Tôi đem đứa bé về nhà, lau rửa sạch sẽ, rồi đi xin sữa cho cháu bú nhưng cũng chỉ được ít phút sau, cháu đã tắt thở. Tôi cứ bị ám ảnh mãi ánh mắt của cháu, cứ đau đáu nhìn tôi. Nhiều đêm trăn trở suy nghĩ, tôi quyết định phải làm một việc gì đó, chứ không thể để những cảnh thai nhi bị người ta bỏ đi mà không hề được chôn cất”.

Nhiều lúc bà Cường cũng nản khi có quá nhiều đứa bé bị nạo hút như vậy. Nhiều lúc bà định dừng công việc này, nhưng lại nghĩ đến những đứa trẻ bơ vơ, sống không thấy mặt cha mẹ, chưa kịp chào đời đã bị bỏ rơi.

Bà lại thấy mình không thể đứng nhìn được, phải làm việc gì sao cho có ích. “Vì vậy, tôi không kể gì là gian khổ, mưa nắng hay ngày đêm, lúc nào nghe tin ở đâu đó có thi hài bị bỏ rơi, là lại tìm đến để xin về mai táng”.

Nghĩa trang Quần Vinh trong một chiều mùa hạ, bà Cường lặng lẽ thắp những nén nhang thơm lên phần mộ của những hài nhi xấu số. Rồi bà nói trong tiếng nấc: “Các con chưa kịp chào đời đã phải trả giá cho sai lầm của những kẻ sinh thành nên các con. Bà thắp nén nhang thơm, mong các con được an nghỉ”…

Tuy hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, bản thân lại già yếu, nhưng lúc nào bà Cường cũng hiển hiện niềm tin cuộc sống và tình thương yêu con người. Tâm sự với chúng tôi, bà Cường không mong ước điều gì ngoài việc mình được… thất nghiệp. Bà mong sẽ không còn phải ngày ngày đi làm công việc thu gom xác hài nhi đầy đau đớn này nữa. Tuy vậy, bà Cường vẫn khẳng định: “Tôi sẽ tiếp tục công việc này cho đến khi nào còn sức khỏe. Tôi sẽ tiếp tục đi thu gom những hài nhi xấu số về chôn cất, bởi theo tâm niệm của tôi, những đứa trẻ tội nghiệp đó đã quá bất hạnh. Tôi quyết không để các cháu cô đơn mặc dù đã rời trần thế”…

Đức Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận đã từng khuyên rằng: “Muốn nên thánh, con hãy làm những việc thường, có khi xem ra vô ý nghĩa nhất. Nhưng con đặt vào đó tất cả niềm mến yêu của con” (ĐHV 814). “Nhìn cây cổ thụ sum sê, con đừng quên rằng, từng trăm năm trước, nó đã khởi sự từ một hạt giống tí ti” (ĐHV 816). “Tự nhiên có ai lên đỉnh núi Hy-mã-lạp-sơn được? Tự nhiên có ai lên cung trăng được? Thử thách, hiểm nguy, ôn luyện, chuyên cần mỗi ngày, nhiều ngày, mới đạt được đích họ hy vọng” (ĐHV 817).

Suy niệm câu chuyện hóa bánh ra nhiều, nghe Chúa mời gọi chúng ta: hãy mở rộng trái tim để biết “chạnh lòng thương” anh em đồng loại. “Chạnh lòng thương” được thể hiện qua những việc làm cụ thể, bằng sự cộng tác quảng đại, bằng sự tiết kiệm để giúp ích cho nhiều anh chị em.

Chúa muốn trái tim chúng ta vươn lên khao khát những chân trời cao thượng của đời sống tâm linh. Hãy nhìn Chúa Giêsu trong Thánh Kinh. Hãy nhìn Chúa Giêsu trên Thánh Giá. Hãy nhìn Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Tình yêu Thiên Chúa bàng bạc trong Thánh Kinh, Thánh Giá và Thánh Thể. Một tình yêu tha thứ, phục vụ mạnh hơn hận thù. Một tình yêu phục sinh mạnh hơn sự chết. Một tình yêu khiêm tốn bao dung, mạnh hơn mọi kiêu căng và hẹp hòi.


 

TN18-A103:  BÀN TIỆC NƯỚC TRỜI

 

Nước Trời: đó là tình trạng đảo ngược của một nhân lọai đang bị khống chế theo kiểu “mạnh được TN18-A103


Nước Trời: đó là tình trạng đảo ngược của một nhân lọai đang bị khống chế theo kiểu “mạnh được yếu thua, mạnh ai nấy sống”. Mời một người đến dùng bữa tại nhà là dấu chứng một tình bạn đặc biệt. Các tông đồ dường như không thích cho đám đông ăn. Họ tin rằng phải giữ lại cho mình cái ít ỏi mà mình đang có. Nhưng Chúa Giê su không hiểu như thế, với cái ít ỏi đó, Ngài có thể nuôi sống một đám đông và còn bảo họ thu luợm được nhiều miếng bánh vụn. Ai nấy đều trở về lòng tràn ngập bình an và tình yêu.

Sách Tiên tri Isaia 55, 1-3

Người Do thái bị lưu đày sang Babylon vật lộn với những khó khăn hằng ngày để kiếm cơm bánh. Tiên tri Isaia loan báo thời đại mà mọi thức ăn đều được biếu không. Tuy nhiên phải hiểu rằng điều thực sự làm cho con người sống, đó là giao ước với Thiên Chúa.

Thánh Vịnh 144

Chúa là Đấng nưôi sống dân Người trong suốt dòng Lịch sử. Và thức ăn vật chất ấy là lời loan báo thứ lương thực thiêng liêng cho phép Ngài ở với chúng ta cho đến tận thế. Chúa là đấng chậm giận và đầy yêu thương, ban cho chúng ta Bánh bởi trời.

Thư Rm 8, 35.37-39

Thánh Phao lô vừa trình bày cho các độc giả của ngài biết thế nào là sự sống được đổi mới bởi sự khám phá Tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Ngài hân hoan reo lên. Đối với người đã khám phá ra lòng nhân từ của Chúa, thì sự sống trở thành đà sống lạc quan ngay cả trong những khó khăn. Tình yêu sẽ là của ăn đích thực cho đời sống.

Mt 14: 13-21

NGỮ CẢNH

Dù đã khước từ Chúa Giê su ở Nagiarét (13,53-58) và nghe biết cái chết bi thảm của Gioan Tẩy giả (14,1-12), đám đông dân chúng vẫn tuôn đến cùng Ngài (c13). Thấy họ đói khát bơ vơ, Ngài chạnh lòng thương xót (x.14). Toàn bộ trình thuật đều qui hướng vào đám đông và thái độ của Chúa Giê su đối với họ: một dân tộc mới đang được qui tụ và hình thành. Toàn bộ trình thuật xoay chung quanh mệnh lệnh của Chúa Giê su: “Hãy cho.., hãy đem lại đây”. Đấng ra lệnh cũng là đấng thương xót đám đông (c.14) và cũng là Đấng khiêm tốn tạ ơn vì được ban lương thực ngày nầy (c.19).

Có thể đọc đoạn tin mừng theo bố cục sau đây:

1. Chúa Giê su chữa bệnh cho đám đông (14, 13-14)

2. Chúa Giê su hoá bánh ra nhiều để nuôi đám đông (14, 15-20)

3. Kết luận: ghi nhận về bánh hóa ra nhiều (21)

TÌM HIỂU

Chúa Giê su lánh khỏi nơi đó..đến một chỗ hoang vắng riêng biệt: Đây là kiểu nói mô tả phản ứng của Chúa Giê su khi thiên hạ không chịu tin ở Ngài. Trước tình cảnh đó, theo thường lệ, Ngài lánh vào nơi hoang vắng để suy nghĩ và cầu nguyện. Ngài rút lui trước sự cứng tin của quận vương Hêrôđê, kẻ vừa ra lệnh giết Gioan Tẩy giả. Chỗ hoang vắng gợi lại khung cảnh sa mạc, nơi mà qua sự khẩn cầu của Mô sê, Thiên Chúa đã ban manna cho đoàn dân đang đi trong sa mạc tiến về đất hứa (Xh 16; Ds 11).

Chạnh lòng thương: (splagkhna), dịch sát nghĩa là: đau đớn quặn thắt trong lòng. Nhiều lần Mt ghi nhận Chúa Giê su động lòng thương (esplanchnisthê) (9,36; 15,52). Lòng thương xót của Chúa Giê su là chính lòng thương xót của Thiên Chúa Cha. Người âu yếm yêu thương con cái bằng lòng yêu thương của người Mẹ.

Và chữa lành các bệnh nhân của họ: Đám đông vẫn kéo đến cùng Chúa Giê su. Nhưng Ngài không còn ngỏ lời với đám đông nữa, không còn giảng dạy về Nước Thiên Chúa nữa, mà chỉ làm phép lạ thôi. Số phận bi thảm của ngôn sứ Gioan Tẩy giả khiến Ngài quyết định như thế.

Ngả mình trên cỏ: Chi tiết nầy cho thấy đang vào mùa xuân, tức ám chỉ đến lễ Vượt qua. Ngả mình: hình ảnh gợi ý bữa tiệc, các thực khác ngả mình trên những chiếc đi văn thấp.

Năm cái bánh và hai con cá: Bánh và cá là thức ăn căn bản của dân Galilê thời đó. Nhà nghèo ăn bánh lúa mạch, nhà giàu ăn bánh lúa mì.

Dâng lời chúc tụng: Trước mỗi bữa ăn trong các gia đình Do thái, người cha đọc một công thức ngợi khen và tạ ơn Thiên Chúa về các ơn lảnh Ngài đã thương ban. Thí dụ lời chúc tụng nầy: “Xin chúc tụng Ngài, lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, là Vua vũ trụ, là Đấng làm cho đất nảy sinh cơm bánh”. Do vậy, Chúa Giê su là người chủ gia đình muôn dân. Các động từ: cầm lấy..dâng lời chúc tụng..bẻ ra…trao cho.. được dùng trong trình thuật về Bí tích Thánh thể (Mt 26, 26).

Trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng: Các môn đệ là trung gian giữa Chúa Giê su và đám đông. Mt dùng động từ duy nhất “trao cho” trong cả hai trường hợp (so sánh Mc 6, 42; Lc 9, 16). Trong Mt các ông có nhiệm vụ đáp ứng nhu câu của dân chúng bằng cách tiếp nối công việc của chính Chúa Giê su.

Ai nấy đều ăn và được no nê, những mẩu bánh thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy: Bửa ăn no nê nầy gợi lên bữa tiệc cánh chung mà ngôn sứ Isaia đã tiên báo (Is 25, 6; 55, 1; 65, 13); 12 giỏ đầy mảnh bánh dư có lẽ ám chỉ đến 12 chi tộc Israel; sự nghiệp của Chúa Giê su lan rộng đến toàn dân chứ không dừng lại ở những kẻ thụ ân Ngài mà thôi. Biến cố nầy có thể được coi như nghi thức khai mạc thời đại mới.

SỨ ĐIỆP

Bài tin mừng hôm nay đặt chúng ta đối diện với những người đói khát. Làm sao không nghĩ đến hằng triệu con người đói khát ở khắp nơi trên thế giới? Nhiều dân tộc đang chịu đựng cơn đói hành hạ vì hạn hán và những cuộc tranh chấp địa phương. Và ngay cả trong những nước giàu có cũng thế, thỉnh thoảng chúng ta vẫn gặp những người nhiều ngày không được ăn vì họ không có cái ăn. Và bên cạnh cơn đói bánh ăn, chúng ta cũng không quên cơn đói hành hạ con người trong tâm trí và tâm hồn họ. Chúng ta nghĩ đến tất cả những người không thể tìm ra cho đời mình một ý nghĩa và đang sống không có hi vọng.

Bài tin mừng hôm nay cũng cho chúng ta thấy những đám đông đói khát chạy theo Chúa Giê su. Ngài động lòng trước cảnh đói nghèo của những đám người nầy. Bấy giờ Ngài làm ba dấu chỉ để cho họ thấy rằng, ý nghĩa thực sự sứ mạng của Ngài là trao ban sự sống. Ngài sắp cứu chữa những người bệnh tật; Ngài sắp hóa bánh ra nhiều; và tuần tới chúng ta sẽ thấy dấu chỉ thứ ba mà Ngài sẽ thực hiện bằng cách đi trên biển. Đó là ba dấu chỉ cho thấy quyền năng của Thiên Chúa đang hành động chống lại các mãnh lực sự chết.

Dấu chỉ hóa bánh ra nhiều là một hành vi nói nhiều điều với chúng ta. Nó đưa chúng ta về với quá khứ của dân tộc Israel. Bấy giờ họ đang lang thang trên sa mạc. Sa mạc là nơi đói khát, là nơi của thần chết, gợi nhớ bốn mươi năm người Híp pri đã lang thang dưới sự lãnh đạo của ông Mô sê trước khi đi vào đất Hứa. Trong suốt thời gian ấy, Thiên Chúa đã lấy manna nuôi sống họ. Ngày nay, Chúa Giêsu cho tất cả chúng ta thấy rằng Ngài tiếp nối công trình của Chúa Cha với một nỗi niềm y như thế. Điều quan trọng đó là không ai chết vì đói. Ý muốn của Đức Ki tô là làm cho dân Ngài được sống. “Ta đến để cho mọi người được sống và được sống dồi dào” (Ga 1, 10).

Thứ hai, dấu chỉ của Chúa Giêsu loan báo một tương lai rất gần. Tất cả các hành vi của Chúa Giêsu được Thánh Mát thêu ghi lại dẫn chúng ta đến bàn Tiệc li, đến Thánh Thể của ngày thứ năm tuần thánh. Như thế, Ngài loan báo rằng Ngài sẽ trao ban sự sống của Ngài vì tình yêu, rằng chính Ngài là lương thực nuôi dưỡng chúng ta. Thật vậy, bánh và cá là những dấu chỉ Đức Ki tô, được ghi lại trong những bức vẽ cổ xưa ki tô giáo. Các tác giả tin mừng, nhất là thánh Gioan đã nhận ra phép lạ nầy là dấu chỉ Thánh Thể. Trong trình thuật bữa tiệc li trong các sách tin mừng, Chúa Giê su cũng hành động đúng y như thế: “Ngài cầm lấy năm chiếc bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ”. Khi trao ban Mình và Máu Ngài làm lương thực, Chúa phục sinh nuôi sống dân Ngài. “Bánh ta sẽ ban chính là thịt ta để cho thế gian được sống”.

Sau cùng dấu chỉ hóa bánh ra nhiều có một giá trị khác: nó gợi lại sứ mạng của người ki tô hữu. Trong trình thuật nầy, tất cả mọi sự xảy ra đều ngang qua các môn đệ. Ngài đã ra lệnh cho họ: “Anh em hãy cho họ ăn đi; cho họ ngồi xuống”. Chính cho họ mà Ngài trao cho bánh và cá để họ phân phát cho dân. Chính nơi tay của họ thực hiện việc hóa bánh để rồi sau đó phân phát cho dân. Chính ngang qua bàn tay các môn đệ mà Chúa Giê su nuôi sống và cứu độ mọi người. Thế mà vẫn còn dư lại mười hai thúng. Vẫn còn lương thực để nuôi sống các đám đông khác trong tương lai. Đó chính là sứ mạng của chúng ta. Cũng như với các môn đệ ngày xưa, ngày nay Chúa Giê su nói với chúng ta: “Hãy cho họ ăn đi”.

Vì ngày hôm nay, cũng còn những người đàn ông, đàn bà và con nít bị hành hạ bởi những cơn đói khát. Họ đói bánh ăn, họ đói lương thực vật chất. Nhưng thê thảm hơn cả là họ đói lương thực thiêng liêng; họ đang tìm điều gì đó có thể đem lại một ý nghĩa cho đời sống của họ. Chúng ta phải có bổn phận đáp lại cơn đói chân lí của họ. Liệu chúng ta có thể cứ dửng dưng trước bao người trẻ và người lớn quay lưng lại với đức tin không?

 “Chính chúng con hãy cho họ ăn đi!” Đó chính là tình yêu của Đức Ki tô mà chúng ta được mời gọi chuyển giao. Không gì sẽ có thể thực hiện nếu không có phần đóng góp của chúng ta. Chúa Giê su có thể dự liệu một hành động khác, nhưng rõ ràng, phép lạ chỉ có thể xảy ra nhờ một đứa bé đã đóng góp phần lương thực ít oi của nó, năm chíếc bánh và hai con cá; trước tiên đó là phép lạ chia sẻ. Năm cái bánh cho năm ngàn người, quả thật là ít. Nhưng đó là phần của con người vào công trình của Thiên Chúa. Phần đóng góp ấy nằm trong khả năng của chúng ta cả khi nó quá nhỏ bé.

Trong kinh Lạy Cha, chúng ta cầu xin bánh hằng ngày. Chúng ta cũng hãy nghĩ đến việc cầu xin được đói Thiên Chúa, đói nghe lời Ngài và được nuôi sống bằng Thánh Thể của Ngài. Ước gì lương thực ấy thúc đẩy chúng ta trao ban điều tốt nhất của mình: đó là tình yêu mà chúng ta nhận được từ Thiên Chúa.

ĐÀO SÂU

1. HỎI: Sách Isaia thứ hai có nội dung như thế nào?

THƯA: Bài đọc một trích từ phần cuối sách Đệ nhị Isaia (40-55), nội dung hoàn toàn hướng về lúc cuối thời Lưu đày và cuộc trở về đất hứa. Phần nầy bắt đầu bằng các lời an ủi dân kiên trì tin tưởng vào lời hứa Thiên Chúa mang lại ơn cứu thoát, do đó mang tựa đề là “sách An ủi Ít ra ên”.

2. HỎI: Tiên tri nhắc lại cho dân điều gì?

THƯA:Tiên tri nhắc lại cho dân nhớ bốn điều quan trọng sau đây: Ơn ban nhưng không của Thiên Chúa, cuộc chiến đấu chống lại thờ bụt thần, lòng tin tưởng vào Thiên Chúa luôn tín trung với Giao ước của Người.

3. HỎI: Thế nào là ‘Ơn ban nhưng không’ của Chúa?

THƯA: Với những người dân Ít ra ên bị lưu đày đói khát khốn khổ bên đất khách, Isaia dùng hình ảnh những bữa ăn thịnh soạn để nói về ơn ban nhưng không của Thiên Chúa: “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây... đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào”.

4. HỎI: Bài đọc nói về việc chống lại việc thờ bụt thần như thế nào?

THƯA: Cám dỗ thờ bụt thần nơi những người bị lưu đày không phải đã chấm dứt. Trái lại dường như thần linh của bên chiến thắng lại có vẻ mạnh hơn! Vì thế tiên tri khuyến dụ dân đừng tìm kiếm những hạnh phúc nào khác ngoài Thiên Chúa: “Tại sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng?” Chỉ có Thiên Chúa mới nắm giữ chìa khóa hạnh phúc và tự do của chúng ta.

5. HỎI: Thiên Chúa muốn nói gì khi phán dạy: “Hãy lắng nghe Ta thì các người sẽ được sống”?

THƯA: Thiên Chúa muốn dân phải luôn tin tưởng vào Thiên Chúa, luôn gắn bó với Người để được sống.

6. HỎI: Thiên Chúa nhắc đến điều gì khi nói: “Ta sẽ thiết lập với các người một giao ước vĩnh cửu?”

THƯA: Thiên Chúa nhắc lại những lời Người hứa với Vua Đa vít qua tiên tri Na than (2S 7). Ngay từ những ngày đầu tiên của vương quốc, Người hứa từ dòng dõi Đa vít sẽ xuất hiện một đấng Messia vĩnh viễn mang lại tự do và hòa bình cho dân Người.

7. HỎI.  Ngữ cảnh đoạn tin mừng như thế nào?

THƯA. Trong đọan tin mừng hôm nay, thánh Mát thêu đề cập đến cái chết của Gioan Tẩy giả (Mt 14, 3-12). Sau khi biết được tin đó, Chúa Giê su lui vào nơi thanh vắng để ở riêng với Thiên Chúa Cha và các môn đệ (14, 13). Nhưng khi nhìn thấy đám đông chạy theo, Chúa Giê su chạnh lòng thương xót họ vì họ bơ vơ như đàn chiên không có người chăn nên Ngài ra tay chữa lành những người đau yếu và nuôi dưỡng đám đông.

8. HỎI. Tại sao Chúa Giê su muốn cho các tông đồ trở thành những người tham dự vào phép lạ Ngài sắp làm?

THƯA. Là Thiên Chúa làm người, Chúa Giê su biết rõ sự đói khát và làm than của đám đông. Còn các môn đệ thì khác, họ không quan tâm đến việc đó mà chỉ biết nhắc Chúa Giê su: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn" (Mt 14,18). Nhưng Chúa Giê su sẽ hành động để một cách gián tiếp họ trở thành những người tham dự vào phép lạ. Ngài muốn chuẩn bị các tông đồ để vào lúc mà Thiên Chúa muốn, họ sẵn sàng nối tiếp sứ mạng của Ngài.

9.HỎI: Khi kể lại phép lạ hóa bánh, thánh Mát thêu gợi nhớ vị tiên tri nào?

THƯA: Thánh Mát thêu gợi nhớ Tiên tri Ê li sê rao giảng ở Vương quốc phía Bắc 800 năm trước. Một ngày nọ trong cơn đói kém, có người dâng cho ông của đầu mùa là hai mươi chiếc bánh lúa mạch. Tiên tri đã không giữ riêng cho mình mà trái lại, chia sẻ cho những người đang đói. Tất cả đã ăn no, mà vẫn còn dư bánh (2V4, 42-44).

10. HỎI: Đâu là bí quyết làm phép lạ của Chúa Giê su và Ê li sê?

THƯA: Bí quyết của các Ngài thật đơn giản: các Ngài tin rằng dù bánh ít người đông nhưng vẫn có thể chia sẻ cho nhau nên đã phó thác cho Thiên Chúa. Vì thế, tiên tri Ê li sê tin tưởng: “Người ta ăn rồi sẽ còn dư”. Còn Chúa Giê su chúc phúc cho bánh vì coi đó là quà tặng của Thiên Chúa và xin được biết dùng để phục vụ những kẻ đói nghèo.

11. HỎI: ‘Chạnh lòng thương xót’ muốn nói lên điều gì?

THƯA:  Chạnh lòng thương có nghĩa là đau đớn quặn thắt trong lòng. Nhiều lần thánh Mát thêu ghi nhận Chúa Giê su động lòng thương (9, 36; 15, 52). Lòng thương xót của Chúa Giê su là chính lòng thương xót của Thiên Chúa Cha. Người âu yếm thương yêu con cái bằng chính lòng yêu thương của người Mẹ.

12.HỎI: ‘Dâng lời chúc tụng’ là sao?

THƯA: Trước mỗi bữa ăn trong gia đình Do thái, người cha đọc lời ngợi khen và tạ ơn Thiên Chúa về các ơn lành Ngài đã thương ban: “Xin chúc tụng Ngài, lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, là Vua vũ trụ, là Đấng làm cho đất nảy sinh cơm bánh”. Ở đây, với tư cách là người chủ gia đình muôn dân, cgs cũng dâng lời chúc tụng Thiên Chúa Cha trước khi ban bánh nuôi đám đông dân Ngài.

13.HỎI: Bánh còn dư có ý nghĩa gì?

THƯA: Cả hai trình thuật đều ghi chú bánh còn dư để nhấn mạnh ơn ban của Thiên Chúa thật phong phú. Giống như man na trong sa mạc thời Xuất hành: “Các ngươi sẽ được ăn bánh thoả thuê, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi” (Xh 16,12).

14. HỎI: Có điểm chung nào giữa hai trình thuật không?

THƯA: Có. Cả hai đều nói đến sự đói khát của dân. Thời Ê li sê là thời đói kém, và chính tiên tri có ý định chia sẻ phần lương thực của mình. Còn Chúa Giê su, vẫn để cho dân chúng đến với mình dù đã lánh vào nơi thanh vắng.

15. HỎI. Chi tiết “12 thúng đầy bánh vụn” có nghĩa gì?

THƯA. Chi tiết ấy muốn cho thấy rằng trong việc Quan phòng Thiên Chúa rất hào phóng. Người luôn luôn quảng đại đáp ứng những ai cầu xin Người bằng một tâm hồn đơn sơ và phó thác, luôn tin tưởng vào chương trình Cứu độ đời đời của Người.

16. HỎI. Đâu là giáo huấn quan trọng mà Chúa Giê su muốn gửi đến chúng ta qua “phép lạ hóa bánh ra nhiều”?

THƯA. Có nhiều giáo huấn: 1) Thiên Chúa nuôi sống dân riêng của Ngài và mọi tạo vật trong Lịch sử cứu độ; 2) Thiên Chúa đã tạo nên một thế giới có thể nuôi sống mọi người; 3) việc hóa bánh ra nhiều là hình ảnh cho thấy trước việc thiết lập bí tích Thánh Thể.

17. HỎI. Trong trang tin mừng nầy, dường như thánh Mát thêu trình bày cho chúng ta một cách biểu tượng nghi thức Thánh Thể?

THƯA. Đúng. Ở đây thánh Mát thêu trình bày cho chúng ta nghi thức Thánh thể hoàn bị nhất. Chúa Giê su dùng Lời giảng dạy đám đông trước khi ban cho họ tấm bánh bẻ ra của Ngài. Lời và Bánh chính là con người của Chúa Giê su: Đức Ki tô lấy chính thân mình để làm lương thực nuôi sống. Đó cũng chính là cử chỉ trong Bữa Tiệc li Vượt qua. Ngài chính là tấm Bánh được bẻ ra và phân phát cho mọi người. Qua đó, Thiên Chúa tự trao ban cho con người trong một sự hiệp thông sự sống sâu xa, thực sự và phong phú. Rồi Ngài truyền cho các môn đệ phân phát lương thực. Tiếp nối sứ mạng của các Tông đồ như thế, Giáo Hội phải ban cho thế gian điều đã lãnh nhận từ Đức Ki tô: lương thực thần linh đem lại sự sống và ơn Cứu độ đời đời.

18. HỎI. Giáo Hội tiếp tục sứ mạng của Đức Ki tô như thế nào?

THƯA.  Bằng cách loan báo tin mừng, chủ sự các bí tích, nâng đỡ về phần luân lí và vật chất những người bị coi là hèn kém nhất (nhưng được Chúa Giê su coi là lớn nhất trong Nước Trời).


 

TN18-A104: CŨ VÀ MỚI


LỜI CHÚA: Mt 14, 13-21

 

Khi ấy, Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó xuống thuyền đi đến TN18-A104


Khi ấy, Chúa Giêsu nghe tin Gioan Tẩy Giả đã chết, thì Người rời bỏ nơi đó xuống thuyền đi đến nơi hoang địa vắng vẻ. Dân chúng nghe biết, thì từ các thành phố đi bộ theo Người. Ra khỏi thuyền, Người thấy dân chúng đông đảo, thì thương xót họ và chữa những người bệnh tật trong họ.

Chiều tới, các môn đệ đến gần thưa Người rằng: "Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi: xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn".

Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Các ông thưa lại rằng: "Ở đây chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá". Người bảo các ông rằng: "Hãy đem lại cho Thầy".

Khi Người đã truyền cho dân chúng ngồi trên cỏ, Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các ông này phân phát cho dân chúng. Mọi người đều ăn no. Và người ta thu lượm được mười hai thúng đầy những miếng bánh vụn. Số người ăn là năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và con trẻ.

SUY NIỆM

   Tin mừng Matthêu viết cho người Do Thái trở lại, vì thế Matthêu trình bày Chúa Giêsu như là một Môsê mới, thay cho Môsê cũ thời Cựu Ước dẫn dắt dân Chúa. Vì thế bài đọc một sách Dân Số và bài Tin Mừng theo thánh sử Matthêu, như là một bản so chiếu, để thấy được cái cũ và cái mới, nhờ đó dân Do Thái xưa và chúng ta ngày nay, nhận ra nhiệm cục (chương trình) Cứu độ của Thiên Chúa.

1/ Môsê cũ và Môsê mới

Môsê cũ thời Cựu Ước, ông được lệnh dẫn dắt dân, ông nhận những mệnh lệnh của Thiên Chúa mang xuống cho dân, và nhận những ước nguyện của dẫn dãi bầy cùng Thiên Chúa. Tuy vậy đôi lần ông cũng phải than trách rằng: “Sao Ngài lại làm khổ tôi tớ Ngài? Tại sao con lại không đẹp lòng Ngài, khiến Ngài đặt gánh nặng tất cả dân này lên con? Có phải con đã cưu mang tất cả dân này không? Có phải con đã sinh ra nó không mà Ngài lại bảo con: "Hãy bồng nó vào lòng, như vú nuôi bồng trẻ thơ, mà đem vào miền đất Ta đã thề hứa với cha ông chúng? Con lấy đâu ra thịt cho cả dân này ăn, khi chúng khóc lóc đòi con: "Cho chúng tôi thịt để chúng tôi ăn? Một mình con không thể gánh cả dân này được nữa, vì nó nặng quá sức con. Nếu Ngài xử với con như vậy, thì thà giết con đi còn hơn - ấy là nếu con đẹp lòng Ngài! Đừng để con thấy mình phải khổ nữa!”. Môsê cũ dù đã cố sức những vẫn cảm thấy bất lực, trước nhu cầu của dân.

Môsê mới là Đức Giêsu, Ngài mang trọng trách trung gian giữa Thiên Chúa và loài người. Chúa Giêsu nhận ra nỗi khổ của dân trước khi dân kêu cầu, và Ngài đủ quyền năng để thương xót dân, chữa lành kẻ đau bệnh và nuôi dưỡng dân chúng.

Chúa Giêsu chính là Môsê mới, trổi vượt, hoàn hảo và đủ quyền năng dẫn dắt dân mới về Nước Trời.

2/ Dân thánh cũ và dân thánh mới

Dân thánh cũ trong hoang địa, bộc lộ tính cách của con người, ô hợp, thiếu kiên nhẫn, niềm tin yếu kém, và sống theo thỏa mãn đam mê của con người: “Dân Israel bắt đầu thèm ăn, họ khóc lóc mà nói: “Ai sẽ cho chúng ta có thịt ăn đây? Nhớ thuở nào ta ăn cá bên Ai-cập mà không phải trả tiền, rồi nào dưa gang, dưa bở, nào hẹ, nào hành, nào tỏi. Còn bây giờ đời ta tàn rồi; mọi thứ đó hết sạch, chỉ còn thấy manna thôi.”

Dân thánh mới thời Chúa Giêsu, bộc lộ tính cách của dân thánh. “Nghe tin ấy, Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người.” Họ được nuôi dưỡng bằng Lời hằng sống, và tín thác vào Chúa. Đây không phải tính cách ù lì, chờ sung rụng. Nhưng bản văn muốn nói đến đó là dân thánh mới, sống theo tinh thần mới của Chúa Giêsu: “Người ta sống không nguyên chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời  miệng Thiên Chúa phán ra”(Mt 4, 4)

Tam Thái.


 

TN18-A105: BÀI GIẢNG LỄ THIẾU NHI CN 18 TN A


Thiếu nhi chúng con yêu quí,

 

Chúng con vừa nghe một bài Tin Mừng thật đẹp trong Tin Mừng của thánh Mathêô. Mở đầu TN18-A105


Chúng con vừa nghe một bài Tin Mừng thật đẹp trong Tin Mừng của thánh Mathêô.

Mở đầu bài Tin mừng hôm nay, thánh Mathêô cho chúng ta thấy một hình ảnh thật đẹp về cuộc đời của Chúa. “Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương”(Mt 14,14).

Chúa Giêsu thương. Chúa thương tất cả mọi người nhất là những người cần đến Chúa.

Cha hỏi chúng con. Những người được Chúa thương trong bài Tin Mừng hôm nay có phải là bà con, bạn hữu hay là những người quen biết với Chúa không ?

- Thưa cha không!

+ Rất đúng! Không phải là bà con, bạn hữu hay là những người quen biết với Chúa, nhưng thấy họ thì cảm xúc đầu tiên của Chúa là thương. Vâng! Chúa thương tất cả mọi người. Vì mọi người đều là con của Chúa nên Chúa yêu thương.

Nếu chúng con đọc kỹ Tin Mừng chúng con sẽ thấy nhiều lần Tin Mừng nhắc tới việc Chúa chạnh lòng thương như thế.

Thấy dân chúng đi theo Chúa vào tận nơi đồng vắng để nghe Chúa giảng, Đức Giêsu gọi các môn đệ lại mà nói: “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường.” (Mc 8, 32)

Hai người mù ngồi ở vệ đường (Mc 10,29-34)Chúa đi ngang qua Chúa thấy và Chúa thương.

Một lần kia có một người mắc bệnh phong tìm đến với Chúa và Chúa đã thương. (Mt 8,14)

 Tại thành Nain, Chúa thương một bà mẹ góa đang cùng với đám đông đưa đứa con trai duy nhất của mình ra nơi an nghỉ cuối cùng.(Lc 7,13)

Vâng! Chúa là như thế, còn chúng ta hôm nay thì sao ? Cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này. Cha ước mong chúng con cũng bắt chước mà làm như vậy.

Một cậu bé thuộc dòng dõi quí tộc đang đi dạo với người giám hộ dọc theo một bờ ruộng, bên cạnh đó một người tá điền đang cày ruộng cho cha cậu. Ông ta cởi đôi ủng để trên bờ ruộng. Cậu bé tinh nghịch muốn giấu đôi ủng ấy để chọc giận người nông dân. Người người giám hộ nói với cậu:

- Con chớ làm cho người tá điền nghèo khổ này buồn phiền, hãy làm cho ông ta vui thì tốt hơn. Ta khuyên con hãy bỏ tiền vào mỗi chiếc ủng. Chúng ta sẽ núp ở đằng sau, và xem thử ông ta sẽ làm gì.

Cậu bé đã làm như lời dạy của thầy mình. Chờ cho người nông dân không để ý, cậu đã mon men đến gần đôi ủng và bỏ vào mỗi chiếc một đồng bạc.

Một lát sau, người nông dân đã trở lại với đôi ủng của mình. Vừa khám phá ra tiền trong đó, ông đã vội quì xuống và ngước mắt lên trời để cảm tạ Chúa đã cứu giúp ông trong lúc túng cực. Ông cũng xin Chúa chúc lành và trả công cho vị ân nhân vô danh.

Nhìn được tất cả những gì người nông dân đã cầu nguyện, cậu bé cảm động muốn khóc. Đó là ngày đầu tiên cậu cảm thấy hạnh phúc nhất đời mình.

Chúng con hay bắt chước làm như thế để chúng con được giống Chúa Giêsu.

2. Bây giờ cha hỏi tiếp: Chúa thương rồi Chúa làm gì ?

Chúa không chỉ thương bằng môi bằng miệng. Chúa thương bằng việc làm. Việc làm để chứng tỏ Chúa yêu thương thì không sao kể cho hết. Chỉ cần nhìm vào bài Tin Mừng hôm nay chúng con đã thấy.

          Tin Mừng thánh Mathêô hôm nay ghi lại: Chúa chữa lành các bệnh nhân của họ. Rồi sau đó là gì nữa chúng con ? Chúa lo cho dân. Tin Mừng ghi “chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” Đức Giêsu bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” Các ông đáp: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá ! Người bảo: “Đem lại đây cho Thầy !” Rồi sau đó, Người truyền cho đám đông ngả mình trên cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho các môn đệ. Và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con”.

 “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” (Mt 14,16)

Thật là một mệnh lệnh vượt quá sức của con người.

Làm sao cho có bánh để cho một số đông hơn năm ngàn người ăn như thế.

Chúng con thấy chỉ lo cho gia đình chúng con được có cơm ăn mỗi ngày, ba mẹ anh chị chúng con đã phải vất vả thế nào. Hôm rồi cha tuyên uý tổ chức cho chúng con đi Vũng tàu một ngày với số lượng chỉ có mấy trăm em. Thế mà cha đã phải nhờ cậy nhiều người giúp đỡ chúng con mới có được bữa ăn trưa. Ở đây chúng con thấy hơn năm ngàn người, làm sao tìm được đồ ăn trong nơi vắng vẻ này. Thế nhưng Chúa vẫn ra lệnh. “Các con hãy lo cho họ ăn”(Mt 14,16). Họ đói! Các con phải lo cho họ ăn. Đúng là chỉ có Chúa mới làm được như thế. Trái tim đã thương thì bàn tay phải hành động.  Và sau đó là một phép lạ chưa từng có trên trần gian này đã xảy ra.

Ngày xưa thì như thế còn hôm nay thì sao chúng con ? Hôm nay Chúa cũng vẫn muốn như vậy. Tại sao thế chúng con ? Thưa vì tình thương là điều Chúa luôn muốn con người thực hiện. Vì chỉ có tình thương mới làm cho cuộc sống trở thành dễ sống và đáng yêu hơn.

Cha kể cho chúng con câu chuyện đẹp này:

Một cậu bé xuất hiện trước cửa hàng bán chó và hỏi người chủ cửa hàng:

- Giá mỗi con chó là bao nhiêu vậy bác ?

Người chủ cửa hàng trả lời:

- Khoảng từ 30 tới 50 đô la một con!

Cậu bé rụt rè nói:

- Cháu có thể xem chúng được không ạ ?

Người chủ cửa hàng mỉm cười rồi huýt sáo ra hiệu. Từ trong chiếc cũi, năm chú chó con bé xíu như năm cuộn len chạy ra, duy có một chú bị tụt lại sau khá xa. Ngay lập tức, cậu bé chú ý tới chú chó chậm chạp, hơi khập khiễng đó. Cậu liền hỏi:

- Con chó này bị sao vậy bác ?

Ông chủ giải thích rằng nó bị tật ở khớp hông và nó sẽ bị khập khiễng suốt đời.

Nghe thế cậu bé tỏ ra xúc động:

- Đó chính là con chó cháu muốn mua!

Chủ cửa hàng nói:

- Nếu cháu thực sự thích con chó đó, ta sẽ tặng cho cháu. Nhưng ta biết cháu sẽ không muốn mua nó đâu.

Gương mặt cậu bé thoáng buồn, cậu nhìn thẳng vào mắt ông chủ cửa hàng và nói:

- Cháu không muốn bác tặng nó cho cháu đâu. Con chó đó cũng có giá trị như những con chó khác mà. Cháu sẽ trả bác đúng giá. Thực ra, ngay bây giờ cháu chỉ có thể trả bác 2 đô la 37 xu thôi. Sau đó, mỗi tháng cháu sẽ trả dần 50 xu được không ạ ?

- Bác bảo thật nhé, cháu không nên mua con chó đó, người chủ cửa hàng khuyên. Nó không bao giờ có thể chạy nhảy và chơi đùa như những con chó khác được đâu.

Ông vừa dứt lời, cậu bé liền cúi xuống vén ống quần lên, để lộ ra cái chân trái tật nguyền, cong vẹo được nâng đỡ bằng một thanh kim loại. Cậu ngước nhìn ông chủ cửa hàng và khẽ bảo:

- Chính cháu cũng chẳng chạy nhảy được mà và chú chó con này sẽ cần một ai đó hiểu và chơi với nó.(Dan Clark)

Yêu thương là như thế chúng con. Chúng ta không phải chỉ yêu thương con người mà còn yêu thương tất cả những tạo vật của Chúa nữa. Yêu như thế mới được gọi là yêu như Chúa. Amen.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý


 

TN18-A106: Chính anh em hãy cho họ ăn!

 

Đám đông theo Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay khá tử tế. Họ kỳ vọng, họ ước muốn, họ TN18-A106


Đám đông theo Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay khá tử tế. Họ kỳ vọng, họ ước muốn, họ đói và họ khát lời của Ngài. Mặc dù giờ đã muộn, họ vẫn cứ bám theo khi Chúa đi nghỉ. Họ đi bộ quanh bờ hồ. Họ quyết định không cho Chúa nghỉ yên.
Nguyên nhân nào thúc đẩy họ như vậy?

- Phải chăng họ đói lời Ngài?

- Phải chăng họ bị cuốn hút bởi con người Ngài và coi Ngài như là một siêu sao?

- Phải chăng họ muốn trông thấy phép lạ Ngài làm, nên họ dẫn đưa các bệnh nhân đến để Ngài cứu chữa?

Tất cả những nguyên nhân đó không phải là động lực chính thúc đẩy họ. Điều đáng ghi nhận ở đây là họ luôn có khát vọng cao hơn!

Chúng ta hôm nay cũng là một tập thể, cũng là một đám đông.

- Nhưng liệu chúng ta đến đây tham dự thánh lễ với những ước vọng giống như đám đông Dothái thuở ấy không?

- Hôm nay chúng ta đến đây với tâm trạng nào? Đang đói hay là đang no thoả rồi?

Thiên Chúa chẳng có thể làm được gì đối với những ai không ước muốn! Ngài cũng đành chịu bó tay đối với những người ngủ quên đời sống tâm linh hoặc tự mãn cho mình là đủ.

Đứng trước đám đông như vậy, Chúa Giêsu xúc động và một lòng thương xót vô bờ choáng ngập tâm can Ngài. Ngài thấy các bệnh nhân kêu xin Ngài. Ngài thấy những người Dothái trông chờ Đấng Messia, và cả những người dù không có vai trò gì trong tôn giáo thời ấy cũng  đang khát Thiên Chúa. Họ theo Ngài suốt  cả ngày đàng và chiều tối đã đến gần. Chả nhẽ lại cứ để họ như đàn chiên không người chăn ư?

Có rất nhiều lý do chính đáng để Chúa cần ở lại nơi thanh vắng: suốt một ngày làm việc mệt nhọc cần phải nghỉ ngơi một chút, nghỉ ngơi để cầu nguyện và hướng về Cha. Tuy nhiên, lòng thương xót của Ngài đối với đám đông đó không cho phép Ngài đi nghỉ.

Lòng thuơng xót của Chúa ở đây không có tính chất cảm tình chảy nước mắt. Lòng thương xót của Ngài năng động và có hiệu lực. Ngài nghĩ trong thâm tâm: “Giảng dài thêm nữa liệu có lợi không? Bệnh nhân ốm yếu nhiều quá rồi. Chúng ta cần phải chữa họ ngay đi. Hoàng hôn đã buông xuống, họ đói và cái bụng của họ đã rỗng hết. Khi bụng đói, thì nghe cũng chẳng vào. Chúng ta hãy hành động thôi!”

Các tông đồ lúc đó có một giải pháp rất người và cụ thể: “Đây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi, xin Thầy giải tán dân chúng để họ vào các làng mạc mua cái gì đó để ăn”.

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chấp nhận giải pháp đó. Ngài chẳng hề giải tán kẻ quấy rầy, kẻ có tội hoặc ông bố của đứa con gái đau nặng xin Ngài cứu chữa? Phải chăng Ngài đến trần gian để giải tán những người mà Ngài được sai đến hay sao? Cần phải hành động ngay thôi: họ sẽ có bánh ăn! Họ sẽ có một bữa ăn khai trương miễn phí, một tiệm ăn tâm hồn trong rừng vắng.

Điều quan trọng ở đây chúng ta cần chú ý: Chúa Giêsu không phải là nhà ma thuật làm phép lạ hoá bánh ra nhiều để người ta tin Ngài. Vì chưng, Ngài nói với các tông đồ: Chính anh em hãy cho họ ăn! Câu nói này làm các tông đồ hết sức ngạc nhiên, vì họ đâu có phải là những người thợ làm bánh mì.

Lúc bấy giờ ở đó chỉ có 5 chiếc bánh nhỏ và 2 con cá. Thật là nực cười! Nhưng Chúa muốn cho các tông đồ hiểu rằng Ngài cần họ và Ngài sẽ chẳng làm gì nếu họ không cộng tác với Ngài. Thiên Chúa có thể thực hiện những việc cao cả với điều kiện là con người hợp tác với Ngài trong hành động.

Giọt nước mà linh mục khi dâng lễ rót vào chén rượu là phần đóng góp của con người vào việc biến đổi bánh ruợu trở thành Mình Máu Chúa. Khi dâng lễ, mỗi người chúng ta hãy trở nên giống như đứa trẻ trong bài Tin mừng hôm nay có 5 chiếc bánh và 2 con cá, để nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, trong cuộc đời phục vụ của con, con chỉ là đứa trẻ mang một số sản phẩm đến đây, còn việc tiếp theo Chúa biến đổi là việc của Chúa”.

Đứng trước nỗi đói khát của đám đông nhân loại hôm nay, trái tim chúng ta có mở ra đủ để cảm thông với họ chưa? Trong phép lạ hoá bánh ra nhiều hôm nay, Chúa Giêsu không có vẻ đắc chí vì đã cho đám đông đang đói được ăn no nê. Nếu Ngài không giải tán đám đông như lời các Tông đồ yêu cầu, chính là vì Ngài cũng muốn đem đến cho họ một điều gì khác. Ngài muốn tỏ cho họ thấy điều mà chỉ sau này họ mới hiểu được mà thôi: họ đói một loại của ăn khác, không phải là của ăn vật chất này. Đúng vậy! Chúa Giêsu không đến trần gian để làm thoả mãn những nhu cầu vật chất của chúng ta. Ngài không đến để thay hết các thợ bánh mì, các nhà buôn cá, các tiệm ăn và quán ăn bình dân, các thầy thuốc và các dược sỹ.

Ngài đến để trả lời cho cơn khát vô tận còn tiềm ẩn sâu xa bên trong mỗi người. Hãy chú ý bài Tin Mừng hôm nay: Những cử chỉ cho việc hoá bánh ra nhiều cũng chính là những cử chỉ trong bữa Tiệc Ly: “Ngài ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ”. Phép lạ này nhằm mục đích báo trước Ngài sẽ lập Bí tích Thánh Thể. Ngài chuẩn bị cho đám đông hôm nay sẽ nghe những lời khó hiểu: “Tôi sẽ cho anh em thịt tôi để ăn và máu tôi để uống.” Lòng thương cảm của Ngài không phải chỉ gửi đến những cái bụng trống rỗng cồn cào, mà còn gửi đến những con tim đang đói tình yêu thương.

Thế giới hôm nay và cả xã hội chúng ta, có rất nhiều cử chỉ bác ái của những người công giáo đối với những người xấu số thiệt phận và nghèo đói: các nước giàu xoá nợ cho các nước nghèo, xây dựng những ngôi nhà tình nghĩa. Điều đó tốt! Nhưng nếu chỉ có thế thôi thì chưa đủ:

- Lẽ nào người kitô chúng ta lại không xao xuyến và đầy lòng trắc ẩn đối với biết bao người thời nay quên lãng giá trị đích thực?

- Chúng ta có thể lãnh đạm sao được trước biết bao bạn trẻ đã mất đức tin?

- Biết bao sinh viên không có người hướng đạo hoặc đào tạo đầy đủ?

- Biết bao cặp vợ chồng đã không lãnh nhận Bí tích Hôn Phối rồi lại bỏ nhau.

- Biết bao người già không được một linh mục hoặc một nữ tu thăm viếng vì công việc của các ngài chồng chất?

Hãy xin Chúa cho chúng ta ơn biết đói. Biết đói không phải để gầy đi cho đẹp hoặc để bớt độ cao máu, nhưng là để cảm thông với những người đói trên thế giới này. Hãy cầu xin Chúa cho chúng ta biết đói Chúa Kitô để tôn giáo mà chúng ta theo không phải là một ý thức hệ hoặc là đạo cha truyền con nối, nhưng là đạo tình yêu say đắm Tình Yêu.
 
 Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa


 

TN18-A107: HÃY CÓ LÒNG THƯƠNG XÓT


(Is 55,1- 3; Rm 8,35.37- 39; Mt 14,13- 21)

 

Nếu lên mạng rồi vào google.com và đánh típ: “Vị Tổng thống nghèo nhất thế giới” chỉ trong 18 giây TN18-A107


Nếu lên mạng rồi vào google.com và đánh típ: “Vị Tổng thống nghèo nhất thế giới” chỉ trong 18 giây, chúng ta đã có ngay kết quả lên tới 1.210.000 chuyên mục liên quan đến vị tổng thống này. Ông là ai? Thưa ông là Mujica, Tổng thống Uruguay.

“Dinh thự” của Tổng thống Uruguay là ngôi nhà cũ nát nằm ở ngoại ô thủ đô Montevideo, Uruguay. Ông đã sống ở đó gần hết cuộc đời với người bạn thân thiết là 1 chú chó 3 chân. Tài sản giá trị nhất của vị tổng thống này là chiếc ô tô cũ kỹ có giá chưa đến 2 ngàn đô la Mỹ. Ông là vị Tổng thống không thích sống trong nhung lụa.

Tuy nhiên, Mujica được nhiều người trên thế giới ngưỡng mộ không hẳn vì ông sống giản dị và nghèo, nhưng vì đã dành 90% tiền lương của mình, cho công tác từ thiện.

Chúng ta không cần biết ông có theo đạo Công Giáo hay không! Nhưng chúng ta biết chắc rằng: “Ông là người biết ‘thương xót’ người nghèo”.

Hôm nay, bài Tin Mừng cũng cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã “thương xót” dân chúng. Ngài đã chữa lành bệnh tật và làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi họ. Qua đó, Đức Giêsu cũng mời gọi các môn đệ và cả chúng ta hãy tiếp bước trên con đường “thương xót” của Ngài, để làm toát lên vẻ đẹp của Thiên Chúa là Tình Yêu nơi hành động của chúng ta.
1. Đức Giêsu là Đấng “thương xót”

Trong suốt hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu luôn yêu thương, quan tâm đến con người, nhất là những người ốm đau, bệnh tật, những người thấp cổ bé họng và đói khát.

Khởi đi từ việc rời bỏ vinh quang Thiên Quốc để nhập thế và sinh ra trong cảnh nghèo, lớn lên trong sự thiếu thốn, hẳn Đức Giêsu hiểu rõ hơn ai hết nỗi bần cùng của con người. Vì thế, đã nhiều lần, Tin Mừng cho thấy: khi dân chúng đến với Ngài, mang theo những bệnh tật trên thân xác, Ngài đã “thương xót” và chữa lành họ.

Không chỉ chữa lành bệnh tật thể lý, Ngài còn đi xa hơn để chữa trị tâm hồn cho những ai đang hoang mang, bất hạnh và thất vọng.

Vẫn tình thương đó, hôm nay, khi thấy dân theo mình nghe giảng, và khi trời đã xế bóng, Đức Giêsu không nỡ để dân chúng bụng đói ra về, nên Ngài đã ra tay để làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi dân chúng.

Tuy nhiên, điều mà Đức Giêsu đã làm, đã nói và hành động, Ngài không muốn cho các môn đệ ngoài cuộc, bởi vì mai đây chính các ông là những người sẽ thay Ngài để thi hành lòng “thương xót” của Thiên Chúa cho dân. Vì thế, khi được hỏi: "Ðây là nơi hoang địa, mà giờ đã chiều rồi, xin Thầy giải tán dân chúng, để họ vào các làng mạc mà mua thức ăn". Nhưng Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Họ chẳng cần phải đi, các con hãy cho họ ăn". Như thế, qua câu nói của Đức Giêsu, không phải vì vô lý, cũng chẳng phải Ngài thách thức các ông, nhưng:

Trước hết, Đức Giêsu muốn các ông hãy ra khỏi sự ích kỷ của bản thân, sự an phận của vật chất để biết chia sẻ với những ai bất hạnh, nghèo đói, vì: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (Gaudium et Spes, số 1)

Thứ đến, Đức Giêsu muốn mặc khải cho các ông về sứ mạng của chính mình, Đấng đến “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10).

Cuối cùng, Đức Giêsu cũng dạy cho các ông bài học về sự tin tưởng, cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa. Vì: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37,5).

Còn chúng ta, những người tin và theo Đức Giêsu, hẳn mỗi người cũng được mời gọi để thi hành công việc mà chính Ngài đã làm và muốn các môn đệ thi hành khi xưa. Vậy chúng ta phải làm gì?

2. Thực trạng xã hội

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi chúng ta hãy vươn xa tầm nhìn để thấy được trong xã hội loài người gồm hơn 7 tỷ người, trong đó có hàng triệu triệu trẻ em mồ côi, bệnh tật, bị bóc lột sức lao động và buộc làm nô lệ cho tình dục...

Số người chết vì đói, vì thiếu thuốc chữa bệnh cũng lên cả triệu người trên năm. Hàng triệu người vô gia cư, thất nghiệp, mù chữ... Rồi những người mắc phải những căn bệnh thế kỷ, nạn buôn bán phụ nữ để làm gái bán dâm, buôn bán ma túy và tham nhũng cũng tăng lên từng ngày.

Tình trạng loạn luân, phi đạo đức nhan nhản trong xã hội hiện nay. Những chuyện như: cha giết con, con giết cha; vợ giết chồng và ngược lại. Nhiều nạn nhân chết oan uổng chỉ vì một cái nhìn bị cho là “nhìn đểu”, hay chỉ là một câu nói vô tình nào đó...

Như vậy, ngày nay, người ta “bội thực” đủ thứ... nhưng lại “đói khát” đời sống đạo đức và tâm linh hơn bao giờ hết.

Sự thật thà dường như vắng bóng trong học đường, và ngoài xã hội. Niềm tin tưởng lẫn nhau có lẽ quá xa vời đối với thương trường. Sự tương thân tương ái cũng không còn mấy ý nghĩa, mà thực ra chỉ là lợi dụng. Đạo đức gia đình, nghề nghiệp là thứ gì đó xa xỉ phẩm đối với giới trẻ, các ông chủ và ngay cả những người được coi là mang danh đạo đức... Tình trạng thờ ơ, vô cảm và ngăn cấm tôn giáo là điểm “hot”; “nhạy cảm” tại nhiều nơi!

Tất cả những hiện tượng đó, Đức Giêsu không ngừng mời gọi chúng ta phóng tầm nhìn để có một tấm lòng biết “thương xót”. Đồng thời, hãy ra khỏi sự yên thân để cùng nhau lên đường nhằm góp chút men, chút muối và trở thành ánh sáng để ướp đời và soi sáng thế gian.

3. Sống sứ điệp Lời Chúa

Thực ra, chúng ta không thể nào làm thay đổi nổi màu đen trên thế giới!!! Thế nhưng, ngay thời điểm hiện tại và nơi chúng ta sinh sống, không thiếu gì những con người tương tự.

Họ là những người đang đi lạc hướng trong niềm tin, lệch lạc trong lối sống, cách nhìn và suy nghĩ; những người sống trong tội; ham tiền, mê bạc và hám dục... sống dửng dưng, vô cảm với anh chị em đồng loại. Vì thế, không thiếu những Lazarô nghèo ngay bên cạnh người Phú hộ giàu có...

Những hình ảnh trên có thể là chính chúng ta. Nếu quả là vậy, thì chúng ta hãy hối cải và trở về với Chúa. Còn nếu hình ảnh đó là hình ảnh mà người anh chị em chúng ta đang vô tình hay cố ý vấp phải, thì không phải ai, mà là chính chúng ta hãy làm một cái gì đó bé nhỏ như:

Một cái nhìn thân thiện, cảm thông;

Một ly nước cho người đỡ khát, một chén cơm cho khách qua đường;

Một hành động khước từ sự bất chính như cờ bạc, rượu chè, trai gái;

Một thái độ khẳng khái với sự bất công, tham nhũng;

Một lời cầu nguyện, hy sinh để xin Chúa “thương xót” và làm động lòng những người dư giả, để họ giúp cho những người đói khát, bần cùng, để kẻ giàu không no và người nghèo không đói.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con có được “con mắt của Chúa” để chúng con có cái “nhìn giống Chúa”. Xin cho chúng con “con tim của Chúa” để chúng con cũng biết “chạnh lòng thương” như Chúa. Amen.
 
Jos. Vinc. Ngọc Biển


 

TN18-A108: Tình Liên Đới Đồng Loại


 (Mt 14, 13 - 21)

 

Báo cáo của tổ chức vận động chống đói nghèo quốc tế Oxfam có tiêu đề "Nền kinh tế của 99%" TN18-A108


Báo cáo của tổ chức vận động chống đói nghèo quốc tế Oxfam có tiêu đề "Nền kinh tế của 99%", được đưa ra trước thời điểm khai mạc Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sỹ) từ 17-20/1, theo đó, tổng tài sản của 3,6 tỷ người nghèo nhất thế giới chỉ tương đương với tổng giá trị tài sản ròng của 8 người gồm 6 công dân Mỹ, một doanh nhân Tây Ban Nha và một doanh nhân đến từ Mexico. Trong số này có những tỷ phú như Bill Gates - nhà sáng lập Tập đoàn công nghệ danh tiếng Microsoft, Mark Zuckerberg - ông chủ trang mạng xã hội "đình đám" Facebook và Jeff Bezos, nhà sáng lập trang bán hàng trực tuyến Amazon. Ước tính, giá trị tài sản của nhóm người giàu nhất này tăng trung bình 11% mỗi năm kể từ 2009.

Cũng theo cách tính toán mới, con số của năm là 43 người giàu nhất và 3,6 tỷ người (50% dân số thế giới).  

Câu hỏi được đặt ra: Tại sao lại có sự bất bình đẳng và chênh lệch giầu nghèo quá lớn như vậy? Có phải vì con người ích kỷ, hẹp hòi không biết chia sẻ cho nhau không, hay thay vì chế tạo ra bột mỳ, lương thực, thuốc men giúp con người đỡ khổ, thì lại tích luỹ làm giầu, chế tạo súng ống chạy đua vũ trang?

Thật nguy hiểm, khi con người ngày càng giầu về vật chất, nhưng lại nghèo về tinh thần như: đạo lý, công bằng, tình thương, sự thật, tình liên đới và trách nhiệm, kéo theo sự đói nghèo tổng thể. Phải khẳng định rằng, Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh và như họa ảnh của mình (x. St 1,26). Người cũng là Thiên Chúa tình thương (x. 1Ga 4,8), nên con người tự bản chất là tình thương. Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết: “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ là kẻ không thể hiểu được đối với chính bản thân mình, cuộc sống con người mất nghĩa nếu không nhận lấy mạc khải về tình yêu, nếu không gặp tình yêu, nếu không kinh nghiệm tình yêu và không nhận lấy kinh nghiệm đó làm của mình và dự phần vào đó cách mãnh liệt” (Thông điệp Đấng Cứu Chuộc số 10). Không có tình thương, thế giới không còn là thế giới của con người nữa.

“Anh em hãy cho họ ăn”, lệnh Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ phải làm ngay lập tức. Nhìn thấy đám đông, Đức Giêsu chạnh lòng thương. Đây là một đám đông nghèo khổ, đói khát, bệnh tật, bơ vơ không người chăn dắt. Đám đông tội nghiệp đi tìm Đức Giêsu không phải chỉ để được ăn no, nhưng còn để được chữa lành bệnh, nhất là được ủi an, dạy dỗ và bảo ban.

Các môn đệ đã nhìn thấy đám đông đói khát. Các ngài muốn thoái thác, phủi tay: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”. Đó là một giải pháp hợp lý. Lo cho năm ngàn người ăn là ngoài tầm tay của các môn đệ. Đó cũng là giải pháp nhẹ nhàng, ai lo phần nấy, thật dễ dàng. Nhưng, đó là giải pháp không được Chúa chấp nhận. Tại sao vậy? Vì thiếu tình liên đới.

Triệu chứng thờ ơ xuất hiện, gặp người có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn mà không thấy xót xa, không ra tay giúp đỡ dù có điều kiện; đứng trước sự bất công mà không thấy phẫn nộ; thấy điều tốt đẹp, cao thượng mà không ngưỡng mộ, cảm phục. Dù là thờ ơ, dửng dưng, hay mặc kệ, bất cần đều là vô cảm.

Chúa muốn loại bỏ sự vô cảm nơi các môn đệ, Người phán: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn. Họ đói, các con phải lo cho họ ăn”. Một trách nhiệm nặng nề vượt quá sức các môn đệ, nhưng đã đồng cảm thì phải có trách nhiệm. Trái tim cảm thương thật sự phải truyền tới bàn tay.

Đồng cảm là góp phần mình. Chúa không cần những phép tính vĩ mô, năm ngàn người thì cần bao nhiêu bánh? Những tính toán như thế, không thực tế và làm ta lo sợ. Chúa dạy các môn đệ khởi đi từ thực tế: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá”. Thật là ít ỏi, nghèo nàn, Chúa không chê cái ít ỏi nghèo nàn ấy: “Hãy mang lại đây cho Thầy”. Có ít hãy đóng góp ít. Nhưng quan trọng là phải bắt tay vào. Đồng cảm không đòi ta phải quán xuyến mọi sự, nhưng đòi ta góp phần của mình vào việc chung.

Đồng cảm là chia sẻ. Chúa chúc tụng để làm phép bánh và cá như ta thấy, những đóng góp dù ít ỏi của ta đã thành thiêng liêng cao quí. Chúa không làm phép lạ tức khắc biến ngay cá và bánh ra một núi lương thực cho mọi người tự do đến lấy. Chúa cũng không tự tay phân phát lương thực cho mọi người. Chúa trao bánh và cá cho các môn đệ. Các môn đệ trao cho mọi người. Và mọi người trao lại cho nhau. Đó là bài học lớn của phép lạ. Chính khi mọi người trao cho nhau, Chúa làm phép lạ. Bánh và cá cứ tiếp tục sinh sôi bao lâu những bàn tay còn trao cho nhau. Bánh và cá vẫn tiếp tục nhân lên bao lâu mắt con người vẫn còn nhìn nhau. Những tấm bánh của tình liên đới. Những đàn cá của sự chia sẻ nhân lên theo nhịp đập đồng cảm của trái tim. Khi trái tim chan chứa yêu thương, quan tâm, liên đới, lương thực trở nên phong phú, dư thừa.

Thế mà các môn đệ đã vội lo. Cũng như ta thường lo thế giới này quá chật hẹp không đủ chỗ cho mọi người. Lương thực trên thế giới không đủ nuôi mọi người. Hôm nay Chúa dạy ta mỗi người hãy chia sẻ những gì mình có thì thế giới sẽ dư thừa lương thực. Khi trái tim mở ra thế giới sẽ có đủ chỗ cho mọi người.

Quả thật, có lòng thương cảm người khác là một điều tốt, nhưng chưa đủ, cần phải có hành động thực sự nữa. Chúa Giêsu đã làm và dạy chúng ta như thế. Thử nghĩ, trước nỗi đau và túng cực của tha nhân, ta có thái độ thế nào? Ngoảnh mặt làm ngơ hay bưng tai giả vờ làm điếc, không thể chấp nhận được. Chúa không đòi chúng ta làm những việc to lớn, nhưng đòi chúng ta biết chia sẻ những gì trong tầm tay của chúng ta, phần còn lại Chúa sẽ thực hiện. Ngạn ngữ phương tây có nói: Giúp người thì trời giúp cho. Việt Nam ta cũng thường nói: ở xởi lởi thì trời cởi cho, ở xẻn xo thì trời co tay lại.

Hôm nay, Đức Giêsu dạy chúng ta hãy nhìn những người chung quanh bằng ánh mắt của tình liên đới, đừng dửng dưng, vô cảm. Những người già bị bỏ rơi cô đơn, người này đói vì tôi vô tâm hay đã ăn quá nhiều, người kia rách vì tôi đã mê mải chạy theo mốt. Những đứa trẻ này hư hỏng vì tôi đã thiếu quan tâm chỉ bảo. Những đứa trẻ kia rơi vào tội phạm vì tôi đã không làm gương tốt cho chúng. Thế giới này chưa tốt một phần có trách nhiệm của mỗi người chúng ta. Thế giới này chưa công bằng trong đó có phần lỗi của chúng ta. Ý thức về sứ mạng này, chúng ta hãy phấn đấu để trở nên những tông đồ, những sứ giả, những người cổ vũ và kiến tạo nền văn minh tình thương.

Lạy Đức Maria, Đấng chỉ bảo đàng lành, xin cầu cho chúng con. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây