Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-A Bài 101-149

Thứ năm - 17/08/2017 07:16
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-A Bài 101-149
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 19 TN-A Bài 101-149

Suy Niệm TN 19-A Phần III:  Bài 101-149

TN19-A101: Phêrô, Người Lái Con Thuyền Ðức Tin Hội Thánh. 1

TN19-A102: Chúa Nhật 19 Mùa Thường Niên, A.. 3

TN19-A103: Đức tin thực nghiệm cần thiết cho đời sống Kitô hữu. 4

TN19-A104: CHÚA NHẬT 19 QUANH NĂM... 6

TN19-A105: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN.. 8

TN19-A106: CHÚA NHẬT 19 QUANH NĂM... 9

TN19-A107: HÃY NHẬN RA CHÚA.. 10

TN19-A108: ĐIỂM TỰA GIÊ-SU.. 10

TN19-A109: SỢ HÃI VÀ TIN TƯỞNG.. 11

TN19-A110:   ĐI TRÊN MẶT BIỂN.. 12

TN19-A111: ĐỨC TIN HIỆN TẠI 12

TN19-A112: MỜI CHÚA LÊN THUYỀN.. 13

TN19-A113: NHÌN THẤY CHÚA TRONG CUỘC SỐNG.. 14

TN19-A114: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN – NĂM A.. 15

TN19-A115: ĐIỂM TỰA DUY NHẤT TRÊN CÕI ĐỜI 15

TN19-A116: UY QUYỀN.. 17

TN19-A117: CHÚA GIÊSU ĐI TRÊN MẶT BIỂN MÀ ĐẾN VỚI CÁC MÔN ĐỆ. 18

TN19-A118: CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN -A.. 19

TN19-A119: BA ĐÀO.. 21

TN19-A120: THUYỀN RA KHƠI 22

TN19-A121: YẾU BÓNG VÍA HAY YẾU ĐỨC TIN?. 23

TN19-A122: CỨ AN TÂM, CHÍNH THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ.. 24

TN19-A123: THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ! 24

TN19-A124: KHÔNG CÓ LÒNG TIN MẠNH TA SẼ CHÌM... 25

TN19-A125: TÍN THÁC VÀO QUYỀN NĂNG THIÊN CHÚA.. 26

TN19-A126: CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN_A.. 30

TN19-A127: LIÊN KẾT.. 31

TN19-A128: Chú giải của Noel Quesson. 31

TN19-A129: CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN.. 33

TN19-A130: Chúa Nhật 19 Thường Niên Năm A.. 34

TN19-A131: CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN.. 35

TN19-A132: Chúa Nhật XIX Thường Niên A.. 36

TN19-A133: Chúa Nhật XIX Thường Niên A.. 37

TN19-A134:  SÓNG GIÓ.. 39

TN19-A135: CHÚA NHẬT 19 QUANH NĂM... 40

TN19-A136: BỐI CẢNH BÀI TIN MỪNG: 42

TN19-A137: Trên sóng biển. 45

TN19-A138: Đừng sợ. 46

TN19-A139: Kêu cầu Danh Thánh Chúa Giêsu. 46

TN19-A140: Giá của một ly sữa. 47

TN19-A141: Những cơn sóng. 48

TN19-A142: Chúa ở đâu khi chúng ta đau khổ?. 49

TN19-A143: Đức tin trưởng thành – Lm Vũ Đình Tường. 50

TN19-A144: Lội nước – Lm Vũ Đình Tường. 50

TN19-A145: Kiên vững trong đức tin và cầu nguyện. 51

TN19-A146: Chúa đi trên biển. 51

TN19-A147: Tôi tin. 52

TN19-A148: Xin cứu con – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu. 52

TN19-A149: Đừng sợ. 55

TN19-A101: Phêrô, Người Lái Con Thuyền Ðức Tin Hội Thánh

Chúa Nhật 19 Thường Niên Năm A

 (1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 14,22-33)

 Phúc Âm: Mt 14, 22-33

"Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy".

Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.

Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: "Ma kìa!", và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!" Phêrô thưa lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy". Chúa phán: "Hãy đến!" Phêrô xuống khỏi thuyền, bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: "Lạy Thầy, xin cứu con!" Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: "Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa".

 Suy Niệm:

Chúa Nhật XVIX Thường Niên A

1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 14,22-33

Lời Chúa hôm nay có thể đem lại nhiều suy tư phong phú. Mỗi bài đọc là một biển mênh mông hay một rừng bát ngát: càng suy lại càng thấy rộng. Tiếc thay, chúng ta chỉ có thể cùng nhau đọc lướt qua và nhặt lấy một vài tư tưởng nổi bật. Các mẫu chuyện về Êlya, Phêrô và Phaolô khi ấy có thể gợi lên cho chúng ta một số nét trong đời sống đức tin. Chúng ta có thể nhìn thấy các phấn đấu của mình trong đời sống của các ngài. Và như vậy, Lời Chúa hôm nay sẽ quý giá cho chúng ta.

 A. Tước Hết, Êlya Là Chiến Sĩ Vô Ðịch Về Ðức Tin

Ông sinh sống vào khoảng cuối thế kỷ IX trước Công nguyên. Có thể nói, ông đã khai mạc thời đại: TN19-A101

Ông sinh sống vào khoảng cuối thế kỷ IX trước Công nguyên. Có thể nói, ông đã khai mạc thời đại các tiên tri lớn trong Cựu Ước.

Không ai biết rõ dòng họ của ông. Như Melkisêdek, có thể nói ông là người không cha không mẹ. Ðiều khác thường này, chứng tỏ ông là người xuất chúng nếu không phải là mầu nhiệm. Người ta biết rõ các công việc của ông vì cả triều đình thời bấy giờ thường phải bận tâm về sự hiện diện và lời ông giảng dạy. Nói chung, tà giáo bấy giờ đang ở thế mạnh. Vua và hoàng hậu nuôi dưỡng từng ngàn tiên tri Baal. Dân chúng tự nhiên cũng muốn chạy theo sự dễ dãi, vì giữ được được đức tin chân chính đòi phải phấn đấu cam go. Nhưng Êlya không sợ đi ngược lại trào lưu. Một mình ông cương quyết bênh vực chính giáo. Lòng nhiệt thành bất khuất ấy hiện ra rõ rệt trong câu chuyện thách đố ở trên núi Karmel.

Toàn dân tập họp lại để xem Yavê hay Baal là Chúa thật. Một bên có tế đàn của gần 1,000 tiên tri tà giáo. Và bên kia trơ trọi một mình Êlya, ông bảo bên họ cứ đặt của lễ lên và cầu khẩn cho to cho khỏa để xin Baal cho lửa trời xuống đốt. Họ tụng kinh inh ỏi từ sớm tới chiều, chẳng bỏ sót một vũ khúc tôn giáo hay một nghi thức ma thuật nào. Kết quả, Baal vẫn như ngủ, như ngơ vì quả thật nó chỉ là ngẫu tượng do trí óc thấp kém và nô lệ của con người bày ra. Bấy giờ Êlya mới giơ tay cầu nguyện. Lập tức Yavê cho lửa xuống thiêu của lễ. Toàn dân kính phục Yavê và tóm cổ bọn tiên tri tà giáo trừng phạt nặng nề.

Nhưng đâu đã hết. Tiếng dân về phe với Êlya, khiến hoàng cung căm phẫn. Hoàng hậu cho người bắn tin sẽ lấy đầu người chiến sĩ vô địch đức tin kia. Và Êlya phải mau mau lẩn trốn vào sa mạc.

Trước đây trận địa ở trước mặt toàn dân. Êlya là người có đức tin sống động. Và đức tin này có việc làm và đã làm việc không quản gian lao. Bây giờ chiến địa là sa mạc. Khó khăn không phải chỉ là khí nóng và hoang vu, nhưng còn là thân thể nhọc mệt và tinh thần chán nản. Êlya nay không còn như một Môsê quyền năng ở đất Aicập và trước mặt Pharaô nữa; nhưng cũng như Môsê và Dân Chúa ngày trước, ông đang đi trong sa mạc, làm lại cuộc hành trình đầy thử thách hầu đức tin được tôi luyện như vàng trong lửa.

Êlya tưởng mình cũng không hơn gì tiền nhân, những người đã tin Chúa, thờ Chúa, bênh Chúa, nhưng rồi đã bị bạc đãi và bắt bớ. Chính lúc ấy Thần Chúa đã đến viếng thăm, đem bánh và nước tới như xưa Dân Chúa đã nhận được manna và nước mát. Và Êlya đã tiếp tục đi thêm 40 đêm ngày như Dân Chúa đã đi 40 năm nơi hoang địa để cuối cùng đến núi Khoreb cũng gọi là Sinai, hầu nhận được mạc khải cao cả, đánh dấu cao điểm của cuộc đời đức tin vững vàng.

Bài đọc 1 hôm nay thuật lại mạc khải này. Chúa cho Êlya thấy Người, không phải trong bão táp, sấm động hay chớp lửa, nhưng trong hơi gió nhẹ nhàng làm mát dịu con người.

Những ai quen biết lịch sử tôn giáo đã thấy ngay đây là một tiến bộ quan trọng. Trước đây, người ta hình dung Thiên Chúa ở đàng sau những hiện tượng kinh hoàng trời long đất lở, sấm chớp hãi hùng. Chính Dân Chúa cũng đã nhìn thấy đỉnh núi Sinai như một lò lửa lớn khi có tiếng Yavê đến gần. Nay với Êlya, Thiên Chúa tỏ ra nhẹ nhàng như thời khai nguyên. Ađam-Evà trước khi phạm tội đã được sống những giây phút thân mật với Ngài, vì vào lúc gió chiều hiu hắt, Ngài đến tản bộ với hai ông bà. Hôm nay Ngài cũng đến với Êlya sau làn gió nhẹ, để ông trở thành mẫu người được hưởng sự êm ái của Thiên Chúa.

Truyền thống Kitô giáo đã mau mắn nhận Êlya là tổ phụ của đời sống chiêm niệm kết hợp với Thiên Chúa, đang khi tâm lý bình dân đã sẵn sàng tôn ông là nhà vô địch về đức tin. Nói đúng ra cuộc đời của Êlya chứng tỏ đời sống đức tin không đơn giản. Người tín hữu phải biết chiến đấu bên ngoài và bên trong, phải có những hành động chứng tỏ niềm trung tín đối với Chúa, nhưng cũng biết sống lặng lẽ để kết hiệp trong sự thân mật với Người.

Và điều này, chúng ta cũng còn thấy trong câu truyện hôm nay về Phêrô và các môn đệ, mặc dầu bài Tin Mừng Matthêô còn muốn nói nhiều hơn nữa.

 

B. Phêrô, Người Lái Con Thuyền Ðức Tin Hội Thánh

Hôm ấy cũng là một ngày rất đặc biệt! Chưa bao giờ người ta được chứng kiến một cảnh tượng như thế. Với 5 ổ bánh và 2 con cá trao vào tay các môn đệ để phát cho dân, Ðức Yêsu đã nuôi no khoảng 5,000 người, không kể đàn bà con trẻ. Làm sao mọi người không phấn khởi! Và tránh sao được vẻ thỏa mãn hiên ngang trên khuôn mặt các môn đồ! Êlya trên núi Karmel chưa chắc đã thỏa mãn hơn. Nhưng để họ khỏi sa chước cám dỗ, Ðức Yêsu buộc họ phải lên thuyền về trước bắt chước Êlya đi vào sa mạc. Còn Người ở lại giải tán dân và lên núi cầu nguyện.

Nhưng thuyền các môn đồ vừa ra xa, thì này sống gió nổi lên dữ dội trong đêm tối. Cho mãi tới gần sáng vẫn còn như vậy. Con thuyền Hội Thánh quả thật ba chìm bảy nổi khi vượt biển trần gian. Chỉ một dấu hiệu khác thường cũng đủ khiến những kẻ ở trong thuyền sợ đến tột độ. Chính vì vậy mà vừa thấy một bóng đi xa xa trên mặt nước, họ đã la lên hoảng hốt: kìa ma! kìa ma!

Nhưng đó lại là chính Ðức Yêsu. Người đã thôi cầu nguyện với Chúa Cha trong nơi vắng vẻ để đi cứu giúp các môn đệ. Người lên tiếng trấn an họ. Phêrô liền xin chạy trên nước để đến với Người. Nhưng thay vì để ý luôn nhìn vào Chúa, ông lại nghĩ đến gió thổi. Và ông sợ. Ông bắt đầu chìm xuống, đến nỗi nếu không có cánh tay của Chúa giơ ra đỡ dậy, sóng nước đã vùi dập ông.

Câu truyện này một lần nữa lại cho chúng ta thấy đời sống đức tin luôn đòi phải phấn đấu. Nếu mẫu truyện về Êlya đã kể lại phấn đấu của một tâm hồn, thì ở đây chúng ta thấy toàn thể Hội Thánh cũng phải phấn đấu. Các môn đồ của Chúa phải biết mau mau gỡ mình ra khỏi sức cám dỗ của thành công đắc chí.

Hơn nữa con thuyền của Hội Thánh trong giai đoạn Chúa đang cầu bầu cùng Chúa Cha ở trên trời luôn gặp sóng gió và phải phấn đấu trong trần gian u tối. Không phải vô ý mà Matthêô đã kể câu truyện này sau phép lạ bánh hóa nhiều. Cũng như ông sẽ kể: ra khỏi phòng Tiệc ly, các Tông đồ hầu như sa ngã. Ðó là thân phận Hội Thánh sau các buổi họp phụng vụ và đi vào thế gian.

Hội Thánh phải phấn đấu; nhưng tự mình vẫn không đạt được hạnh phúc, mà phải là chính Chúa ban cho. Cũng như nếu không nhận được thần lương, Êlya cũng đã ngã gục. Và cũng như phần thưởng cuối cùng ông nhận được là việc chính Chúa tự mạc khải mình cho ông, thì ở đây, bình an cứu độ cũng đã trở về với con thuyền Hội Thánh khi Ðức Yêsu tuyên bố: Này Ta! Người dùng lại chính lời mạc khải trên núi Khoreb, khi Môsê xin cho được biết Danh tánh Chúa. Và như Danh Chúa đã khiến Môsê an tâm ra đi thi hành sứ vụ cứu dân, thì nay thấy Chúa phán: Ta đây, Phêrô cũng muốn làm được công việc phi thường. Ông đã đi được một lúc ở trên nước. Nhưng rồi sợ hãi đã chiếm lấy ông. Ðức tin của ông giảm bớt, khiến thân xác ông muốn chìm theo. May mà ông đã kêu lên để từ đó Hội Thánh thấy rằng chỉ có Chúa cứu được Hội Thánh khỏi sa chìm giữa thế gian.

Bài học này có thể nói chúng ta vẫn nhớ. Ðiều chúng ta dễ quên hơn là dường như chỉ muốn được sống yên hàn trong Hội Thánh và đúng hơn được ở trong Hội Thánh yên hàn. Nhưng như thế là không muốn hiểu đặc tính của đời sống đức tin. Các mẫu truyện trên đây về Êlya và Phêrô chưa làm cho chúng ta thấy rằng đức tin đòi phải phấn đấu; và những khi gặp thử thách về đức tin, ơn cứu độ của chúng ta nằm nơi Danh Chúa. Chúng ta phải cầu nguyện, phải tìm Chúa trong thinh lặng và phải rước Chúa vào lòng. Như vậy cũng mới chỉ giữ đức tin thôi. Ðức tin chân chính phải mạnh mẽ hơn nhiều. Nó còn phải nung nấu tâm hồn chúng ta theo như lời thánh Phaolô chia sẻ trong đoạn thư hôm nay.

 

C. Phaolô Muốn Chết Cho Ðức Tin Ðược Lan Rộng

Ai cũng biết người phải phấn đấu rất nhiều vì chính nghĩa đức tin. Nhiều lần người cũng như Êlya bị người ta lùng bắt chỉ vì đã làm cho nhiều người tin vào Chúa Kitô. Các môn đệ ở Ðama phải bỏ người vào thúng và thòng qua tường thành để cho người chạy trốn. Và nhiều lần người đã gặp sóng gió, đắm tàu và thoát chết, chứ đâu mới chỉ lún xuống nước như Phêrô. Thật, vất vả về đức tin có thể nói ít ai đã như người. Nhưng chính người nói Ơn Chúa vẫn đủ cho người và người luôn luôn lao mình về đàng trước để chạy cho hết cuộc hành trình.

Ðối với người, những thử thách như vậy còn chịu được với Ơn Chúa. Duy có điều sau đây thật là nặng nề. Ðó là việc người Dothái cứng lòng không chịu tuân phục đức tin. Họ là đồng bào của người. Hơn nữa họ là Dân được tuyển chọn. Họ còn là dòng dõi sinh ra Ðức Yêsu. Thế mà sao họ vẫn từ chối ơn cứu độ?

Người đã nỗ lực, có thể nói là quá sức, để lôi kéo họ. Ðặt chân đến nơi nào, người cũng tìm đến Hội đường Dothái, làm quen với những người đồng bào của người, trao đổi với họ về Lời Hứa dành cho Dân tộc. Nhưng mọi cố gắng hầu như thất bại hoàn toàn. Rất ít người chấp nhận đức tin. Phần lớn con cháu Abraham theo xác thịt, không những vẫn không ngấm mà còn chống đối và bách hại giáo lý cứu độ.

Theo tính tự nhiên, có lần Phaolô đã phủi chân tuyên bố sẽ dứt khoát đi đến với dân ngoại. Nhưng nói thế chứ làm sao bỏ được đồng bào và nhất là Dân tộc mang đầy Lời Hứa! Thiên Chúa đã làm bao việc kỳ diệu để gìn giữ Dân tộc ấy; và cuối cùng đã sai Con Ngài mặc xác thể trong dòng máu này. Làm sao Phaolô không quằn quại săn sóc tương lai cho họ? Không những vì họ mà thôi, nhưng nhất là vì Chúa. Dân được chọn trở thành dân bị gạt bỏ sao?

Do đó Phaolô rất buồn và đau đớn không ngừng. Có Chúa Yêsu và Thánh Thần làm chứng như vậy. Và chứng của hai người, hơn nữa của hai Ðấng Thánh như vậy, dĩ nhiên rất giá trị. Cuối cùng, để không ai còn có thể hồ nghi, thì này Phaolô sẵn sàng "bị tuyệt thông" cho anh em đồng bào của người được rỗi.

Ý nghĩ đó là tận cùng rồi. Vì ở thời ấy, bị tuyệt thông, bị loại ra khỏi bộ lạc, có nghĩa là đeo bản án vào thân, không còn quyền làm người trong bộ lạc nữa, ai gặp cũng có thể giết mà không bị tội. Ấy là nói có người còn muốn giết! Vì con người bị khai trừ kia cũng không đáng giết nữa. Có thể coi nó như con chó bị đuổi ra khỏi nhà.

Khi có ý tưởng như vậy, Phaolô thật sự muốn chia sẻ tâm tình cứu thế của Ðức Kitô, vì chính Ngài cũng đã trở nên đồ bị khai trừ vì tội lỗi chúng ta.

Do đó Phaolô không phải chỉ là chiến sĩ vô địch về đức tin như Êlya. Người không nhượng bộ kẻ thù của Thánh giá, dù là một bước. Người cũng không lấy việc chèo lái con thuyền các giáo đoàn qua sóng gió như Phêrô làm cực nhất. Con thuyền đức tin ở trong tay người, sự sống đức tin nơi tâm hồn người không những trông cậy vào ơn Chúa để lướt thắng phong ba, mà còn muốn chọc thủng bức màn còn che mắt đồng bào Israel của người để họ nhận ra Ðức Kitô và thờ lạy Ngài. Và cho được như vậy, người sẵn sàng dâng sinh mạng làm lễ tế cho con thuyền Hội Thánh đi được tới đích.

Chúng ta chắc chưa có đức tin như vậy. Nhưng phải vươn lên. Phải phấn đấu cho đức tin của mình. Phải tha thiết cầu mong cho đồng bào nhận biết Chúa. Phải tham dự thật sự vào lễ tế dâng trên bàn thờ vì phần rỗi mọi người. Phải sống lễ tế mà giờ đây chúng ta đứng lên để cử hành.

 

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa

của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Về đầu trang

TN19-A102: Chúa Nhật 19 Mùa Thường Niên, A

 Trong Nước Trời, ta đã được gặp gỡ Chúa Ki-tô là tình yêu Thiên Chúa nhập thể, khiến cho ta được: TN19-A102

          Trong Nước Trời, ta đã được gặp gỡ Chúa Ki-tô là tình yêu Thiên Chúa nhập thể, khiến cho ta được kết hợp mật thiết với Người và không gì có thể tách ta ra khòi tình yêu ấy.  Phép lạ bánh hóa nhiều gợi lại cho ta câu truyện ông Mô-sê cầu khẩn Chúa ban man-na cho dân Ít-ra-en giữa sa mạc.  Sau khi vượt qua Biển Đỏ và được nuôi dưỡng nhờ man-na, dân Chúa đã đi qua hoang địa mà vào Đất Hứa.  Thánh sử Mát-thêu kể lại câu truyện Chúa đi trên mặt biển sau phép lạ bánh hóa nhiều, hẳn ngài cũng muốn liên kết hai câu truyện với nhau để nói với ta rằng Chúa Ki-tô đã hành động như Thiên Chúa, Người luôn hiện diện bên ta, nuôi dưỡng và dẫn ta vượt qua biển trần gian mà đến với Cha trên trời.

1.  Thiên Chúa hiện diện bên cạnh ngôn sứ Ê-li-a (bài đọc Cựu Ước – 1 V 19:9a.11-13a)

          Thiên Chúa hiện diện nhiều cách.  Trong những lần thần hiện, Thiên Chúa đến với ông Mô-sê hoặc dân Ít-ra-en qua lửa bốc cháy bụi gai, qua cột lửa bảo vệ dân Chúa hay trong đám mây hoặc sấm sét.  Những dấu chỉ ấy mạnh mẽ nên người ta dễ nhận ra sự hiện diện của Người.  Nhưng ngôn sứ Ê-li-a không thể nhận ra sự hiện diện của Chúa qua những dấu chỉ lớn lao ấy, trái lại, ông chỉ nhận ra Chúa hiện diện qua tiếng gió hiu hiu nhẹ nhàng.

          Dấu chỉ để nhận ra Chúa hiện diện thật quan trọng, nhưng ý nghĩa sự hiện diện của Chúa muốn nói cho ngôn sứ Ê-li-a biết điều gì, đó mới quan trọng hơn.  Bị hoàng hậu I-de-ven tìm giết, ngôn sứ Ê-li-a vội vã chạy trốn vào sa mạc.  Phải chạy trốn cực khổ, ông thất vọng đến nỗi ông xin Chúa cho ông được chết quách đi cho rồi.  Nhưng Thiên Chúa có kế hoạch của Người.  Người sai thiên sứ đem bánh và nước đến cho ông ăn uống no nê và “nhờ lương thực ấy bổ dưỡng, ông đi suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm tới Khô-rếp, là núi của Thiên Chúa”.  Núi của Thiên Chúa là nơi người ta có thể gặp gỡ Người, tuy nhiên không hẳn phải là một nơi cố định ở Khô-rếp hay Xi-on mà là ngay tại tâm hồn ta.  Nhiều khi ta đi hành hương xa ngàn dặm để gặp gỡ Chúa và Đức Mẹ, nhưng lại quên đi vào chính tâm hồn mình để tìm gặp Chúa ngự nơi ấy.  Ngôn sứ Ê-li-a trú ẩn tại một cái hang, rồi ông ra khỏi đó để gặp gỡ Chúa, có thể là một hình ảnh biểu tượng cho hoàn cảnh của mỗi người.  Ông khiếp sợ trước sự bách hại của hoàng hậu I-de-ven nên tìm một nơi trú ẩn trần gian và quên đi Thiên Chúa mới là “đá tảng” cho ta nương náu.  Do đó, ông cần phải đi ra khỏi con người khốn khổ để đến với Thiên Chúa, tìm lại sự bình an tựa như gió hiu hiu thổi.  Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, sự hiện diện của Thiên Chúa cũng là lẽ sống còn của đời ông.  Trong cơn gian nan hiện tại, ông được Chúa chăm sóc giữ gìn, để mai mốt ông lại trở về tiếp tục tác vụ ngôn sứ.  Việc ông Ê-li-a gặp gỡ Thiên Chúa cần phải được lập lại trong đời ta.  “Kìa Đức Chúa đang đi qua” là lời nhắc nhở ta từng giây phút trong cuộc sống, nhất là khi ta đang bị khiếp sợ khốn khổ trong lúc gian nan.  Điều quan trọng là ta có nhận biết Chúa qua dấu chỉ, tựa như ngôn sứ Ê-li-a nhận ra Người qua “tiếng gió hiu hiu” hay không.

2.  Chúa Giê-su hiện diện bên các môn đệ Người (bài Tin Mừng – Mt 14:22-33)

          Thiên Chúa luôn ở bên cạnh vị ngôn sứ trung thành của Người là ông Ê-li-a.  Cũng vậy, Chúa Giê-su hằng hiện diện bên các môn đệ Người.  Sự hiện diện ấy được nói lên rõ ràng qua câu truyện Tin Mừng hôm nay.

          Chúa Giê-su hằng quan tâm chăm sóc đám dân chúng đi theo Người.  Cho họ ăn no phần hồn phần xác chưa phải là xong chuyện.  Nhưng Người còn ở lại với họ một lúc và “giải tán” họ, một hình thức kết thúc Thánh lễ của ta ngày nay.  Người muốn nói với họ:  bữa tiệc Nước Trời hôm nay đã xong, chúc anh chị em ra đi bình an.  Trái tim Thiên Chúa của Người đủ chỗ cho toàn thể nhân loại, dân chúng sẽ trở về nhà cũng như nhóm môn đệ đã xuống thuyền để sang bờ hồ bên kia.  “Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện”.  Đây là một cách nữa Người hiện diện với ta.  Tuy Người ở “riêng một mình” trên núi, nhưng tâm trí Người lại đầy ắp sự hiện diện của các môn đệ, của ta và của nhân loại.  Người đưa hết thảy nhân loại vào trong lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa Cha.  Đề tài cầu nguyện của Người không phải là xin điều này điều kia cho mình, nhưng là mối quan tâm lo lắng cho nhân loại.  “Lạy Cha, con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17:20-21).

          Cơn gió đổi chiều khiến Chúa Giê-su nghĩ đến tình trạng khó khăn của các môn đệ trên thuyền.  “Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”.  Chúa Giê-su biết các ông cần có sự hiện diện của Người lúc này.  Thế là Người dùng quyền năng Thiên Chúa để đi trên mặt nước mà đến với họ.  Đi trên mặt nước cũng như truyền cho sóng gió im lặng là những dấu chỉ Chúa có quyền trên thiên nhiên, nhưng cũng là dấu chỉ Người có quyền năng làm cho bão táp tâm hồn phải yên lặng và bình an được tái lập.  Cuộc đời ta khác nào con thuyền trên đại dương, luôn phải chống trả với phong ba bão táp.  Ta tin có Chúa bên cạnh ta trong những lúc quẫn bách ấy.  Nhưng đức tin của ta đôi khi cũng bị thử thách hoặc “kém lòng tin”, giống như ông Phê-rô.  Vừa trước đây vài phút lòng tin của ông còn mạnh mẽ đến độ xin Chúa “truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Chúa”.  Ngay sau đó, lòng tin của ông như biến mất khi “thấy gió thổi thì ông đâm sợ và bắt đầu chìm”.  Thực vậy, lòng tin không phải là cái gì cố định, nhưng thay đổi khi mạnh khi yếu, tùy theo mối quan hệ giữa ta với Chúa.  Bởi vậy, ta cứ phải luôn xin Chúa như ông Phê-rô:  “Xin Thầy thêm lòng tin cho chúng con”.

          Chúa hiện diện với ta không phải chỉ vì ta cần Người cứu giúp, nhưng còn để ta biết nhận ra Người là Đấng nào.  Câu truyện Chúa đi trên mặt nước đến với các môn đệ đưa ta tới một kết luận tất nhiên, đó là các môn đệ tuyên xưng đức tin:  “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”  Các ông tuyên xưng đức tin khi thấy Chúa có mặt thì lập tức sóng gió yên lặng.  Tước hiệu Con Thiên Chúa nói lên sứ mệnh cứu độ Chúa Giê-su sẽ thực hiện.  Như thế các môn đệ đã vượt qua quan niệm bình thường, coi Chúa Giê-su chỉ như một “người làm phép lạ” để bước lên thềm đức tin, nhận biết căn tính và sứ mệnh cao cả của Người.

3.  Lòng tin vào Chúa Ki-tô của thánh Phao-lô (bài đọc Tân Ước – Rm 9:1-5)

          Các môn đệ trên thuyền tuyên xưng đức tin khi chứng kiến việc lạ xảy ra trước mắt các ông.  Còn thánh Phao-lô lại có cách khác để tuyên xưng đức tin của ngài vào Chúa Ki-tô.  Trong thư gửi giáo đoàn Rô-ma, ngài biểu lộ một nỗi bức xúc liên quan tới lòng tin vào Chúa Ki-tô.  Ngài viết:  “Lòng tôi rất đỗi ưu phiền, và đau khổ mãi không ngơi”.  Tại sao thánh Phao-lô lại ưu phiền đến độ ấy?  Lý do chỉ vì Ít-ra-en không tin và không đón nhận Chúa Ki-tô.  Theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Ki-tô được sai đến trần gian để khai mở Triều Đại Thiên Chúa, rao giảng Tin Mừng cứu độ.  Đáng lẽ Ít-ra-en phải nhận biết đặc ân Thiên Chúa chọn họ để ban cho nhân loại Đấng Cứu Thế.  Trái lại, họ lại bất trung và nộp Chúa Ki-tô cho dân ngoại đóng đinh thập giá.  Nỗi ưu phiền của thánh Phao-lô nảy sinh do tình đồng bào ruột thịt của ngài, càng gắn bó với anh chị em Do-thái bao nhiêu, ngài càng cảm thấy đáng thương cho họ bấy nhiêu.  Hơn nữa, thánh Phao-lô còn nghĩ đến tình đồng bào giữa Chúa Ki-tô và anh chị em Do-thái của ngài.  Lòng tin của ngài vào Chúa Ki-tô thúc bách ngài đem Tin Mừng đến với anh chị em Do-thái, nhưng họ từ chối đón nhận nên ngài chẳng đặng đừng phải quay sang với các anh chị em Dân ngoại.  Ra đi, nhưng lòng buồn trĩu nặng.  Tuy nhiên ngài lại nhìn theo cái nhìn của đức tin, nhìn nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, từ việc Ít-ra-en không tin và không đón nhận Chúa Ki-tô thì Tin Mừng lại được rao giảng cho những anh chị em Dân ngoại.

          Điều ta học được nơi thánh Phao-lô là đức tin không giữ lấy cho riêng mình, nhưng cần phải được tuyên xưng.  Cách tuyên xưng của Phao-lô mang kích thước truyền giáo, thúc giục ta đem Chúa Ki-tô đến với anh chị em.  Trước tình trạng nhiều người không tin nhận Chúa Ki-tô, ta không thể thờ ơ, cho đó là điều không ăn nhập gì tới mình.  Nhưng ta phải đồng cảm với Chúa Ki-tô và Giáo Hội.  Chính Chúa Ki-tô đã bức xúc vì người Do-thái không đón nhận Người.  Sách Tin Mừng Gio-an nhiều lần ghi lại tâm tình của Chúa Giê-su khi bị chối từ.  Chúa thương tiếc Giê-ru-sa-lem là một bằng chứng (Lc 19:41-44; Mt 23:37-39).  Thánh Phao-lô cũng mang cùng một tâm tình của Chúa Ki-tô vậy.

4.  Sống Lời Chúa

          Chúa hiện diện ở mọi nơi, nhưng đặc biệt Chúa hiện diện ngay trong cuộc đời ta.  Hẳn ta rất quen thuộc với câu truyện “Vết chân trên cát” kể lại một người phàn nàn với Chúa là trước khi họ gặp hoạn nạn thì còn thấy Chúa đi với họ, vết chân của Chúa và của họ in trên cát bờ biển.  Nhưng khi họ gặp đau khổ thì thấy chỉ còn vết chân một người thôi.  Chúa trả lời:  “Chính lúc ấy Cha bồng con trên đôi tay Cha!”  Thiên Chúa hằng ở với ta cũng như Chúa Ki-tô hằng ở với các môn đệ Người.  Nhưng ta có thực sự tin Người là Thiên Chúa của ta hay không, điều ấy mới nói lên ý nghĩa đích thực của việc Thiên Chúa hiện diện.

Suy nghĩ:  Chúa Giê-su trách ông Phê-rô:  “Hỡi kẻ kém lòng tin!  Sao lại hoài nghi?”  Có khi nào Chúa nói điều này với tôi không?  Tôi hoài nghi điều gì?  Làm thế nào để lòng tin của tôi mạnh mẽ thêm?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa là Đấng an bài mọi sự cách tuyệt vời, Chúa trải rộng vương quyền Đức Ki-tô trên khắp cùng trái đất để mọi dân được hưởng ơn cứu độ.  Xin làm cho Hội Thánh thực sự trở thành dấu chỉ ơn cứu độ cho hết thảy mọi người, đồng thời cũng trở thành nơi Chúa tỏ bày và thực hiện chương trình yêu thương của Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, lễ cầu cho Hội Thánh toàn cầu)

 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Về đầu trang

TN19-A103: Đức tin thực nghiệm cần thiết cho đời sống Kitô hữu

Chúa Nhật thứ 19 Thường Niên

 (7-8-2005)

 ĐỌC LỜI CHÚA

   1 V 19,9a.11-13a: (11) Thiên Chúa nói với Êlia: «Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua».

   Rm 9,1-5: (4) Họ là người Ítraen, được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa.

    TIN MỪNG: Mt 14,22-33

Đức Giêsu đi trên mặt nước

 (22) Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. (23) Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. (24) Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. (25) Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. (26) Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: «Ma đấy!», và sợ hãi la lên. (27) Đức Giêsu liền bảo các ông: «Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!» (28) Ông Phêrô liền thưa với Người: «Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài»(29) Đức Giêsu bảo ông: «Cứ đến!» Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. (30) Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: «Thưa Ngài, xin cứu con với!» (31) Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: «Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?» (32) Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. (33) Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: «Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!»

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

Sự hiểu biết có hai thứ: thứ lý thuyết và thứ thực nghiệm. Đức tin có gì tương tự như thế không? : TN19-A103

1.   Sự hiểu biết có hai thứ: thứ lý thuyết và thứ thực nghiệm. Đức tin có gì tương tự như thế không? Đức tin lý thuyết và đức tin thực nghiệm khác nhau thế nào? Đức tin của bạn thuộc loại nào?

2.   Niềm tin vào Đức Giêsu của Phêrô khi ông đi được trên mặt nước khác với niềm tin của các tông đồ khác còn lại trong thuyền ở chỗ nào? Muốn có một đức tin thực nghiệm như Phêrô, ta phải làm gì?

Suy tư gợi ý:

1.   Hai thứ kiến thức

Sự hiểu biết có hai thứ: hiểu biết như là kiến thức, và hiểu biết như là kinh nghiệm. Chẳng hạn trước khi ra Hà Nội lần đầu, tôi đã nghiên cứu nhiều về thành phố này, bản đồ của Hà Nội như được chụp hình trong tâm trí tôi. Cái biết ấy chỉ là kiến thức, là biết cách lý thuyết. Về sau tôi có dịp ra Hà Nội nhiều lần, sống, làm việc và tiếp xúc với nhiều người ở đây trong nhiều tháng. Tôi có dịp tham quan các hồ, các công viên, các di tích lịch sử… tại đây. Những gì tôi thấy, cảm nghiệm bây giờ đều đúng như những gì tôi biết cách lý thuyết trước khi ra đây. Nhưng cái biết của tôi bây giờ khác với cái biết hồi trước, vì cái biết của tôi bây giờ về Hà Nội là kinh nghiệm, là cái biết thực nghiệm.

Để hiểu biết như là kiến thức, hay hiểu biết cách lý thuyết thì chỉ cần học ở trường, đọc sách, nghe đài, coi truyền hình là có được. Còn hiểu biết như là những kinh nghiệm, hay hiểu biết cách thực nghiệm thì phải từng sống, từng tiếp xúc, từng hưởng thụ hay từng chịu khổ vì người hay vật ta biết. Cái biết sau là cái biết thâm sâu, cái biết đi vào chính hữu thể của đối tượng biết.

2.   Hai thứ đức tin

Một cách tương tự, có hai loại niềm tin: tin cách lý thuyết và tin cách thực nghiệmTin cách lý thuyết là tin rằng đúng, là chân thật điều mình nghe nói, học hỏi, đọc trong sách báo hay trông thấy qua hình ảnh, tivi… Còn tin cách thực nghiệm là niềm tin đã được sống, đã được kinh nghiệm trong thực tế, nhờ đó ta tin một cách thâm sâu và xác tín. – Khi học giáo lý, ta được dạy rằng Thiên Chúa luôn quan phòng, yêu thương bảo vệ ta. Ta tin vì cho rằng đó là những điều Thiên Chúa mặc khải qua Đức Giêsu, được Giáo Hội lưu truyền lại, và người dạy ta (linh mục, giáo lý viên) không hề nói dối hoặc nói sai. Vì thế, khi gặp nhiều nguy hiểm, khó khăn trong cuộc đời, ta áp dụng niềm tin đó vào thực tế bằng cách phó thác mọi sự cho Chúa, thì thấy lần nào Ngài cũng bảo vệ ta thoát khỏi hiểm nguy, giúp ta giải quyết những khó khăn một cách thật kỳ diệu. Lúc ấy niềm tin của ta vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa là một niềm tin thực nghiệm.

Trong Tin Mừng, khi đọc câu chuyện Đức Giêsu đi trên mặt nước thì ta tin như vậy. Đó là tin cách lý thuyết. Nhưng các tông đồ được thấy tận mắt Ngài đi trên mặt nước đến với mình, riêng Phêrô còn đích thân đi trên mặt nước đến với Ngài, thì niềm tin của các ông vào việc Ngài có khả năng đi trên mặt nước là một niềm tin thực nghiệm. Tuy nhiên, tin rằng chính mình có thể đi trên mặt nước được thì tất cả các tông đồ đều tin như vậy, nhưng vẫn chỉ là tin trên lý thuyết; chỉ riêng Phêrô, người đã thật sự đi trên mặt nước, thì niềm tin của ông về điều này mới là niềm tin thực nghiệm. Ông kinh nghiệm rằng chính niềm tin vững chắc của ông vào khả năng ấy khiến ông làm được điều ấy, vì khi ông nghi ngờ về khả năng ấy, lập tức ông bị chìm xuống.

3.   Đời sống tâm linh vững mạnh dựa trên đức tin thực nghiệm

Dường như người Kitô hữu nào sau khi học giáo lý cũng đều tin có Thiên Chúa, tin Ngài có ba ngôi, tin Đức Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, tin có thiên đàng, tin có hỏa ngục… Các nhà thần học thì còn tin cả hàng ngàn tín điều được ghi trong sách Enchiridion Symbolorum dày cả 5,6 trăm trang, do nhà thần học Heinrich Denzinger đã thu thập lại thành sách. Nhưng đức tin ấy đối với phần đông Kitô hữu chỉ là đức tin lý thuyết, cho dù họ có thể tuyên xưng ra ngoài rất mạnh mẽ, và ai tuyên xưng khác với họ thường bị họ kết án hoặc tẩy chay. Tuy nhiên chỉ khi gặp thử thách trong thực tế đời sống, họ mới nhận ra đức tin của mình rất yếu kém, đôi khi có vẻ như chẳng tin gì cả.

Chẳng hạn người Kitô hữu nào cũng tin có thiên đàng, hỏa ngục, luyện ngục, nhưng biết bao người có thể phạm tội một cách dễ dàng dù họ tin rằng phạm tội thì có thể sa hỏa ngục hay phải đền tội ở luyện ngục. Nhiều khi họ phạm tội một cách dễ dàng hơn là phạm một sai lầm về kinh doanh khiến việc làm ăn của họ có thể bị lỗ hay thất bại. Biết bao người sẵn sàng phạm tội chỉ để được một lợi lộc rất chóng qua ở đời này! Điều đó chứng tỏ họ chỉ tin một cách rất lý thuyết chứ không phải tin một cách thực tế! Vì thế, đời sống tâm linh của họ không tiến triển được bao nhiêu suốt bao năm sống đạo, đôi khi còn thụt lùi nữa.

Một người thật sự tin vào tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa thì khó có thể yếu đuối được! Vì đức tin làm nên sức mạnh. Đức Giêsu nói: «Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: rời khỏi đây, qua bên kia! nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được» (Mt 17,20). Vụ lạm dụng tình dục vừa bùng nổ ở Mỹ trong năm qua cho thấy ngay cả những thầy dạy về đức tin vẫn có nhiều người chẳng tin bao nhiêu những điều mình dạy người khác tin. Nhiều hiện tượng khác cũng chứng minh điều ấy.

4. Muốn có đức tin thực nghiệm, phải thật sự sống những điều mình tin

Phêrô thấy Đức Giêsu đi trên mặt nước, ông liền tin rằng Ngài cũng có thể cho ông đi trên mặt nước như Ngài. Nếu ông không thật sự bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước, thì niềm tin ấy mãi mãi chỉ là tin cách lý thuyết. Nhưng ông thử nghiệm ngay điều ông tin xem sao, và ông thấy chính ông đã đi trên mặt nước được. Thế là niềm tin ấy đã trở thành niềm tin thực nghiệm. Khi thử nghiệm những điều tin khác nữa, ông cũng sẽ thấy nó thật sự đúng. Từ đó, đức tin của ông ngày càng vững chắc hơn vì nó mang tính thực nghiệm.

Cũng vậy, không ai có được đức tin thực nghiệm nếu không thử sống thật, sống đúng như những điều mình tin. Khi đem những điều mình tin cách lý thuyết ra để sống trong thực tế, ta sẽ dần dần chứng nghiệm được những điều mình tin ấy là đúng thật. Cứ tiếp tục như thế, đức tin của ta ngày càng vững mạnh hơn. Sở dĩ ta chưa có đức tin thực nghiệm, là vì ta chưa thật sự dấn thân cho niềm tin của mình. Nếu ta đã tin cách lý thuyết vào sự quan phòng của Thiên Chúa, thì ta hãy thử sống niềm tin ấy cách cụ thể khi gặp thử thách xem: chẳng hạn khi lương tâm ta đòi hỏi phải làm một điều gì có thể nguy hiểm cho bản thân mà ta vẫn dám dấn thân, thì chỉ khi ấy ta mới thực nghiệm được sự quan phòng bảo vệ thật sự của Thiên Chúa đối với ta. Hay ta hãy thử dấn thân theo Chúa bằng việc từ bỏ mình và từ bỏ mọi sự cách triệt để, ta sẽ cảm nghiệm lời Chúa nói hoàn toàn chính xác: «Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau» (Mc 10,29-30). Vấn đề cuối cùng là ta có dám thử sống đúng như ta tin hay không!

Việc thử nghiệm đức tin cũng tương tự như có ai chỉ cho ta một phương pháp rất dễ dàng để tăng cường sức khỏe. Ta nghe và biết rất thấu đáo những chỉ dẫn ấy. Đó là cái biết lý thuyết. Nếu ta tin người ấy, thì niềm tin ấy cũng chỉ là niềm tin lý thuyết. Nhưng nếu ta thử thực hành điều người ấy chỉ dẫn để xem phương pháp ấy có hiệu quả không, và ta thấy nó có hiệu quả thật sự, thì niềm tin của ta vào phương pháp ấy là niềm tin thực nghiệm. Để đời sống tâm linh phát triển, ta cần có những kinh nghiệm thật sự và phong phú về Thiên Chúa, về tình yêu và quyền năng của Ngài. Nếu không có kinh nghiệm về Thiên Chúa, dù ta có là tiến sĩ thần học, thông thạo mọi lý thuyết về Thiên Chúa, thì đời sống tâm linh ta vẫn có thể nghèo nàn hơn một bà cụ ít học nhưng luôn cảm nghiệm rõ ràng sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa và tình yêu đầy quyền năng của Ngài trong đời sống bà.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Đức Giêsu đã dạy con rất nhiều điều, con đều chấp nhận và tin hết. Nhưng đời sống con sao vẫn yếu đuối, vẫn buồn phiền, vẫn đau khổ. Đúng ra Tin Mừng của Ngài phải làm con mạnh mẽ và an vui hạnh phúc mới phải, bất chấp những nghịch cảnh xảy tới. Đọc bài Tin Mừng về việc Phêrô đi trên mặt nước đến với Đức Giêsu, con nhận ra rằng con chỉ tin cách lý thuyết, chứ chưa hề thử nghiệm niềm tin ấy như Phêrô, bằng cách thật sự bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước như mình đã tin rằng mình làm được. Vì thế, con vẫn là kẻ ấu trĩ về tâm linh, cho dù con đã tin và hiểu rõ cả hàng ngàn điều Đức Giêsu và Hội Thánh dạy. Đức tin của con vẫn chỉ là đức tin bằng lời nói, chưa phải là đức tin bằng hành động. Xin Cha cho con dám can đảm áp dụng những gì con tin vào đời sống, để con có kinh nghiệm về Cha, về sự hiện diện thật sự và quyền năng của Đức Giêsu trong đời sống của con. Có thế, đời sống tâm linh con mới mạnh mẽ lên và phát triển được.

 Joan Nguyễn Chính Kết

Về đầu trang

TN19-A104: CHÚA NHẬT 19 QUANH NĂM

(Mát-thêu 14: 22-33)

Nhìn lại chủ đề về Giáo Hội được khai triển trong những Chúa Nhật vừa qua, ta nhận thấy Phụng vụ: TN19-A104

          Nhìn lại chủ đề về Giáo Hội được khai triển trong những Chúa Nhật vừa qua, ta nhận thấy Phụng vụ Lời Chúa hôm nay chọn đoạn Tin Mừng kể lại câu truyện Chúa Giê-su đi trên mặt nước chắc chắn phải mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt.  Phép lạ hóa bánh ra nhiều nói lên lòng yêu thương chăm sóc của vị Mục Tử nhân lành đối với đoàn chiên, muốn cho con chiên được nuôi dưỡng đầy đủ trong cuộc lữ hành trên dương gian.  Chúa Giê-su Thánh Thể là lương thực thiêng liêng để ta được sống và sống dồi dào.  Tuy nhiên, cũng trong hành trình ấy, ta cần phải có một lý tưởng, một đức tin hoặc một hướng đi chắc chắn giúp ta vững bước và trung kiên tới cùng.  Vậy đâu là đối tượng duy nhất của đức tin ấy nếu không phải là chính Chúa Ki-tô.  Hình ảnh Chúa Giê-su với bàn tay đưa ra cho ông Phê-rô bám lấy giữa cơn sóng gió trên Biển hồ luôn là hình ảnh không những của toàn thể Giáo Hội, mà cũng là hình ảnh của từng Ki-tô hữu nữa.

 a)  Một cuộc hành trình đức tin

           Ít ra ba sách Tin Mừng, Mát-thêu, Mác-cô và Gio-an đều ghi lại câu truyện Chúa đi trên mặt hồ ban đêm mà đến với các môn đệ trên thuyền và khiến cho gió yên biển lặng, sau khi Người đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng (x. Mc 6:45-52; Ga 6:16-21).  Đặt hai phép lạ này bên cạnh nhau, các thánh sử như muốn gợi lại hai biến cố trong Cựu Ước:  đưa dân Do-thái qua Biển Đỏ và nuôi sống họ bằng man-na trong hoang địa.

          Giáo Hội và Ki-tô hữu đang làm một cuộc vượt qua, từ trần gian này để tiến về quê hương vĩnh cửu trên trời.  Đó là một cuộc vượt qua đầy thử thách, đòi hỏi ta phải có đủ lòng tin vào tình yêu của Thiên Chúa và Đấng Người sai đến để dẫn dắt ta.

          Chúa Ki-tô là đối tượng đức tin của ta, vì ở nơi Người, ta nhận ra được tất cả những gì Thiên Chúa muốn cho ta biết và sống theo.  Ta thường hiểu đức tin một cách hời hợt hoặc mù mờ, nhất là chỉ nghĩ rằng đó là phải chấp nhận tất cả những gì Chúa và Giáo Hội dạy “phải tin”!  Thực ra cách hiểu đơn sơ và đúng nhất về đức tin là:  đức tin là một mối quan hệ sống động liên kết hai chủ thể với nhau.  Thánh Phao-lô nêu lên một thí dụ cụ thể nhất, đó là đức tin của ông Áp-ra-ham (Rm 4:18-22).  Ông nhận ra mình là ai và Thiên Chúa là Đấng nào.  Tin tưởng vào lời hứa hoặc quyền năng của Thiên Chúa, ông đã mạnh dạn bỏ lại tất cả cơ nghiệp đồ sộ để ra đi tới một nơi chưa hề biết, theo lời gọi của Thiên Chúa:  “Ta đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc”.  Lời gọi xem ra hoàn toàn vô căn cứ và trái tự nhiên, vì “thân xác ông cũng như dạ bà Xa-ra đều đã chết” (Rm 4:19).  Một đàng là cơ nghiệp to lớn ông đang nắm trong tay, một đàng là lời gọi phiêu lưu của Thiên Chúa.  Nhưng vì muốn chấp nhận thế giá của Thiên Chúa, ông liều lĩnh chọn lựa bỏ lại mọi sự đang có để ra đi theo lời gọi của Thiên Chúa, mặc cho tương lai vô định và gian nan trước mặt.

          Gương đức tin ấy giúp ta nhìn lại mối quan hệ sống động giữa Chúa Ki-tô với ta.  Ta được mời gọi bước vào một hành trình sống mối quan hệ với Chúa Ki-tô. Người cũng bảo ta phải hối cải và tin vào Tin Mừng, tức là thay đổi con người mình bằng cách bỏ lại những gì ta đang có để vác thập giá hằng ngày đi theo Người trở về nhà Cha.  Cũng như ông Áp-ra-ham lúc nào cũng tin tưởng vào thế giá và lời hứa của Thiên Chúa, ta phải tin vào sứ mệnh và lời giảng của Chúa Ki-tô.  Sứ mệnh của Người là kêu gọi ta hãy đáp lại tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, còn lời giảng của Người vạch ra một lối sống mới, sống theo Thần Khí, để ta xứng đáng làm con cái Thiên Chúa.  Những người được Chúa Giê-su ca tụng là người có đức tin trong sách Tin Mừng là những người đã tin vào con người và sứ mệnh của Chúa.

 b)  “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”

           Có lẽ hơn ai hết, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II là người đã nghe rõ những lời này của Chúa, vì trong suốt triều đại giáo hoàng của ngài, ngài luôn lập đi lập lại lời Chúa Giê-su:  “Đừng sợ!”  Cảm nhận trách nhiệm nặng nề giữa một thế giới thù nghịch với Tin Mừng Chúa Ki-tô, chắc chắn có những lúc ngài thấy nao núng giống như vị tiền nhiệm Phê-rô:  “Thưa Ngài, xin cứu con với!”  Nhưng ngài vẫn một mực can đảm rao giảng chân lý của Chúa Ki-tô và Giáo Hội, bất chấp những chỉ trích chống đối từ mọi phía đạo đời.

          Ta lấy làm lạ tại sao ông Phê-rô là tay đánh cá chuyên nghiệp từng sống trên sông nước lại sợ chết chìm và hoảng hốt kêu cứu với Chúa.  Ta nhận thấy ít nhất có hai nguyên do bên ngoài khiến ông sợ:  trời tối và gió mạnh.  Thêm vào đó là nguyên do tâm lý:  khi phải đối phó với những gì bất ngờ xảy ra, người ta khó mà bình tĩnh và kiểm soát được mình.  Nhưng những nguyên do trên không phải là những điều thánh Mát-thêu cố ý mô tả, mà chỉ là một bối cảnh cho một nguyên do sâu xa hơn thuộc lãnh vực đức tin, tức là khi ông Phê-rô không còn ý thức Chúa Giê-su hiện diện trong đời mình là lúc “ông đâm sợ và bắt đầu chìm”.  Hiểu như thế, ta sẽ ý thức hoàn cảnh này của Phê-rô cũng thường tái diễn trong cuộc đời ta.  Khi ta chỉ thấy hiện diện trong đời ta tiền bạc của cải và tham vọng.  Khi ta cậy vào tài năng của mình, nghĩ mình có thể làm được bất cứ điều gì mình muốn.  Khi ta coi thường việc sống đạo và những bổn phận thiêng liêng...

          Chúa Giê-su đã nhắc nhở Phê-rô và các bạn ông ngay từ đầu:  “Chính Thầy đây, đừng sợ!”  Đó là nhắc nhở về sự hiện diện của Người trong cuộc đời ta.  Chúa muốn nói rằng nếu ta có Chúa ở trong ta, ở với ta, thì ta không phải sợ bất cứ điều gì.  Lời nhắc nhở này cũng là điệp khúc của rất nhiều lời nguyện trong Thánh Vịnh diễn tả sự hiện diện của Chúa che chở đời ta.  Chúa là nơi con nương tựa, nơi con ẩn náu.  Chúa là thành lũy vững bền.  Chúa là núi đá che chở.  Thật nhiều Thánh Vịnh nhắc nhở ta về sự hiện diện của Chúa trong đời ta, để ta xác tín rằng nếu không có Chúa trong đời, cuộc sống ta sẽ chỉ là “buồn nôn” và “vô lý” như mấy ông triết gia hiện sinh chủ trương.

          Sự hiện diện của Chúa Giê-su trong đời ta là cốt tủy của đức tin.  Sống đức tin là sống quan hệ với Người.  Mà nếu Người không ở trong đời ta luôn luôn thì làm sao có quan hệ?  Rồi quan hệ đó phải là quan hệ yêu thương, chứ không phải quan hệ nhu cầu, cả đời chỉ “gặp” Chúa vài lần, khi rửa tội, khi làm đám cưới và khi nằm trong quan tài!

 c)  “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!”

           Câu truyện kết thúc bằng lời tuyên xưng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa.  Một cử chỉ đã được thánh Mát-thêu ghi lại, có lẽ ta ít để ý, nhưng lại hết sức ý nghĩa, đó là “những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người”.  Giáo Hội thường được ví như con thuyền.  Dưới sự lèo lái của thuyền trưởng, mọi người đều chung tay chèo để tất cả tới được bến bờ vĩnh cửu.  Cử chỉ của mọi người trong thuyền là “bái lạy” Chúa Giê-su.  Theo ngôn ngữ Kinh Thánh, việc bái lạy chỉ dành riêng để tỏ lòng phụng sự tôn thờ đối với Thiên Chúa.  Cho nên viết như trên, thánh Mát-thêu muốn nói lên việc tuyên xưng đức tin của mọi thành phần trong Giáo Hội xác tín về con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su:  “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”

          Lời tuyên xưng này cần phải được biểu lộ trong lối sống của Ki-tô hữu.  Chúa Ki-tô không phải thuần túy là một nhãn hiệu dán trên áo của ta, hoặc là một danh xưng trống rỗng ta mượn đỡ, nhưng phải là một lối sống, một hình ảnh sống động, một thực tại hiện diện và có thể nhận thấy được qua cách suy nghĩ, lời nói, cử chỉ và hành động của ta.  Hoặc về phía ta, ta có thể nói được như thánh Phao-lô:  ta là “đại sứ” của Chúa Ki-tô, là “hương thơm” của Chúa Ki-tô, để mọi người khi tiếp xúc với ta có thể nhận biết Chúa Ki-tô vậy.

 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện

           Từ trước tới nay, tôi thường hiểu đức tin là gì?  Cách hiểu ấy có quá ấu trĩ và khiếm khuyết không?

          Tôi cảm nghiệm Chúa hiện diện trong đời tôi như thế nào?  Có thực sự là một quan hệ mật thiết và đầy yêu thương không?  Bàn tay Chúa đã đưa ra nắm lấy tôi trong những hoàn cảnh hay trường hợp nào?

Ai có thể nhận ra được Chúa hiện diện trong đời tôi?  Tôi đã làm gì để giúp họ nhận thấy Chúa ở với tôi?  Hoặc tôi đã làm gì để người khác không nhận thấy Chúa, mà chỉ nhận thấy tôi mà thôi?

 Cầu nguyện

           “Lạy Chúa Giê-su,

          con chẳng dám xin đi trên mặt nước như Phê-rô,

          nhưng nhiều khi con cảm thấy

          sống đức tin giữa lòng cuộc đời

          chẳng khác nào đi trên mặt nước.

          Có bao thứ sóng gió đẩy đưa và lôi cuốn.

          Có bao cám dỗ muốn hút con vô vực sâu.

          Cả sự nặng nề của thân xác con

                   cũng kéo ghì con xuống.

          Đi trên mặt nước cuộc đời chẳng mấy dễ dàng.

          Nhiều khi con thấy mình bàng hoàng sợ hãi.

          Xin cứu con khi con hầu chìm.

          Xin nắm lấy tay con khi con quỵ ngã.

          Xin nâng đỡ niềm tin yếu ớt của con,

          để con trở nên nhẹ tênh

          mà bước những bước dài hướng về Chúa.  A-men.”

                             (Trích RABBOUNI, lời nguyện 55)

 Linh Muc Đaminh Trần Đình Nhi

Về đầu trang

TN19-A105: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

           Tin Mừng nói :

"Ðức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyệnTối đến Người vẫn ở đó một mình."

 Thái độ của Ðức Giê-su ẩn dấu một ý định rõ rệt : tránh sự tung hô, tôn vinh của dân chúng sau một: TN19-A105

 Thái độ của Ðức Giê-su ẩn dấu một ý định rõ rệt : tránh sự tung hô, tôn vinh của dân chúng sau một bữa ăn lạ lùng và no nê. Mọi vinh quang phải thuộc về Cha, và phải quy về Cha. Trong thành ngữ La tinh cổ có câu "Inter se laudant" (chúng bốc thơm nhau) để nói lên một tâm lý nơi nhân thế. Ðể quy chiếu về Cha thì phải ra khỏi cái nhân tình thế thái ấy. Và Ðức Giê-su lên núi một mình. Thánh Phao-lô trong đoạn thư gởi tín hữu Roma hôm nay cũng khẳng định điều ấy khi bàn về phẩm giá và vinh dự của Israel. Người viết : "Họ là người Ít-ra-en, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa;"

          Ra khỏi cái nhân tình thế thái chưa đủ, Ðức Giê-su còn "Cầu nguyện",bởi vì vốn được tạo dựng là loài có ngôn ngữ, có tiếng nói, con người vốn sống cho và sống với người khác. "Cái nhân tình thế thái" là "cái người khác" mà con người phải sống với và sống cho, giờ đây một khi phải rũ bỏ lại, không phải để sống cô độc, và cũng không thể sống cô độc, chính là sống với và sống cho Thiên Chúa Cha để con người vẫn còn là con người trong cơ cấu tạo thành của nó. Và "Cầu nguyện" vì thế không phải là nói nhiều lời, nhưng chỉ là sống với và sống cho Thiên Chúa. Cầu nguyện vì thế còn là sự khẳng định phẩm giá và vinh dự của mình. Phẩm giá và vinh dự được thông hiệp sự sống vĩnh hằng, trong khi "cái nhân tình thế thái" lại chỉ giam hãm con người trong cái bể dâu tang thương nay còn mai mất. "Cái nhân tình thế thái" thật giống như con thuyền trôi dạt bị sóng đánh vật vờ chỉ làm chao đảo lòng người, thậm chí đe dọa ngay cả mạng sống con người. Trong cái vòng luẩn quẩn của nhân tình thế thái ấy, con người không thể phân biệt giả chân. Thậm chí người Thầy họ yêu mến, họ tin tưởng cũng đã biến thành "Ma" từ lúc nào trong lòng họ! Khiến họ một phen hoảng hốt. Một cách đặc biệt hình ảnh Phê rô trong câu chuyện này thật đầy tính người: trong lòng ông có một Thầy Giê-su mà ông dám "sống chết vì Thầy" "Tin chỉ có Thầy có lời ban sự sống", nên ông đã mạnh mẽ bước xuống biển hồ, "Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la" lên. Người Thầy trong lòng ông đã bị thay đổi từ bao giờ ! Hóa ra vị Thầy của lòng ông vẫn chỉ là sản phẩm của một nhân tình thế thái, chưa phải là Vị Thầy của Lòng Tin, chính Chúa Giêsu nhắc nhở ông điều đó "Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?". Thánh Phaolô trong đoạn thư kế tiếp đã phân tích về cái phẩm giá và vinh dự đích thật của Israel bằng một minh giải dựa vào Lời Mạc Khải "Vì không phải tất cả con cháu ông Áp-ra-ham đều là dân Ít-ra-en; cũng như không phải vì họ thuộc dòng dõi ông Áp-ra-ham mà họ đều là con cái ông. Nhưng chính dòng dõi I-xa-ác mới được mang tên ngươi, nghĩa là không phải hễ là con đẻ của ông Áp-ra-ham, thì là con cái Thiên Chúa; nhưng con cái sinh ra do lời Thiên Chúa hứa mới được kể là chính tông" "Như vậy là để giữ vững kế hoạch Thiên Chúa đã tự do chọn lựa, mà chọn không dựa vào việc người ta làm, nhưng dựa vào ý muốn của Thiên Chúa là Ðấng kêu gọi."

          Qua những suy nghĩ trên, chúng ta hiểu được tại sao Chúa Giê-su "liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước" Và tại sao "Người lên núi một mình mà cầu nguyện.", và đó cũng phải là thái độ của chúng ta cần và phải làm để đưa thuyền đời mình cập bến bình an.

Lm. Giuse Nguyễn hữu Duyên

Về đầu trang

TN19-A106: CHÚA NHẬT 19 QUANH NĂM

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu

Kinh Thánh:         Rô-ma 9: 1-5

Trong ba Chúa Nhật tới, Phụng vụ Lời Chúa muốn dùng những đoạn trích thư Rô-ma chương 9-11: TN19-A106

 Trong ba Chúa Nhật tới, Phụng vụ Lời Chúa muốn dùng những đoạn trích thư Rô-ma chương 9-11 để mời gọi chúng ta tiếp tục suy niệm về tình yêu Thiên Chúa biểu lộ trong kế hoạch cứu độ của Người. Thực ra trong những chương này, thánh Phao-lô nói về một vấn nạn liên hệ tới việc ngài rao giảng kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, nhưng Phụng vụ Lời Chúa chỉ trích dẫn những gì cần thiết để trình bày tiếp những đặc nét của tình yêu Thiên Chúa.

 

a) Bắt đầu với một vấn nạn: về số phận của Ít-ra-en

          Một số người hiểu lầm lời giảng của Phao-lô đã nêu lên vấn nạn như sau: Người ta được nên công chính là nhờ tin vào Chúa Ki-tô chứ không phải do việc giữ luật Mô-sê. Nếu như vậy, thì Thiên Chúa thay đổi, bất nhất ư? Nói cách khác, trước kia Thiên Chúa đã lập giao ước với Ít-ra-en tại Xi-nai, ban Lề Luật cho dân Người, giờ đây chẳng lẽ Người không còn trung thành với dân Ít-ra-en khi Người đòi họ phải có đức tin thay cho việc tuân thủ Lề Luật ư? Cho nên khi thánh Phao-lô rao giảng rằng chúng ta được nên công chính là do lòng tin vào tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ nơi Ðức Ki-tô, chứ không phải do việc giữ Luật, có phải ngài muốn nói Thiên Chúa loại bỏ Ít-ra-en không? Có phải Thiên Chúa không còn trung thành với Ít-ra-en không? Và quan trọng hơn nữa, có phải Người không trung thành với chính Người không?

          Trong chương 9-11, thánh Phao-lô không chỉ bàn đến số phận của Ít-ra-en, nhưng ngài muốn đề cập tới sự công chính và trung thành của Thiên Chúa trong lời hứa. Vậy ngài trả lời thẳng là Thiên Chúa không chối bỏ dân Ít-ra-en của Người. Ðể quả quyết điều này, ngài trưng dẫn chính gốc gác Do-thái của mình và của cả Ðức Ki-tô, để nói lên lòng gắn bó tha thiết với dân tộc mình. Ngài còn mạnh mẽ khẳng định: để giữ được tình liên đới với đồng bào, cho dù ngài "có bị nguyền rủa và xa lìa Ðức Ki-tô" thì ngài cũng chấp nhận!

          Vậy cốt lõi của vấn đề không phải là Thiên Chúa thay đổi kế hoạch, bất trung với Ít-ra-en, nhưng là trong Ít-ra-en có một số người đã không muốn chấp nhận đường lối Thiên Chúa thực hiện kế hoạch nhờ và trong Ðức Ki-tô. Thực tại này khiến cho thánh Phao-lô thấy cần phải nhắn nhủ tín hữu Rô-ma: "Thưa anh em, tôi không muốn anh em chẳng hay biết mầu nhiệm này, để anh em đừng tự cho mình là khôn, đó là: một phần dân Ít-ra-en đã ra cứng lòng, cho đến khi các dân ngoại gia nhập đông đủ. Như vậy, toàn thể Ít-ra-en sẽ được cứu độ..." (11:25-26).

 b) Nỗi ưu phiền của Phao-lô

          Là người con dân của Ít-ra-en, Phao-lô nhìn sự kiện một số người Ít-ra-en không tin nhận Ðức Ki-tô dưới lăng kính lòng nhân hậu thương xót của Thiên Chúa, chứ không nhìn với thiên kiến bài Do-thái và thái độ lên án Do-thái đã giết Ðức Ki-tô. Phao-lô chỉ cảm thấy "rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi." Chính vì ý thức liên đới với anh em đồng bào mà Phao-lô đã đặt niềm hy vọng nơi lòng nhân từ của Thiên Chúa, tin tưởng anh em cùng huyết thống với mình sẽ được cứu độ. Phao-lô không chối bỏ gia sản quý báu tổ tiên đã để lại: giao ước, lề luật, nền phụng tự và các lời hứa. Ðó là những ân sủng Thiên Chúa ban cho Ít-ra-en. Nhưng có một ân sủng vĩ đại nhất mà Người ban cho Ít-ra-en, tức là chính Ðức Ki-tô. Tất cả những ân sủng trước đây chỉ là những chuẩn bị cho ân sủng Ki-tô. Thế mà ân sủng Ki-tô lại không được tiếp nhận! Nhận thấy sự mỉa mai trong việc đáp trả ân huệ của Thiên Chúa đã khiến cho Phao-lô phải ưu phiền và đau khổ thay cho anh em đồng bào mình.

 c) Nhưng Phao-lô vẫn lạc quan và tin tưởng

          Bên cạnh thái độ ưu phiền và đau khổ, chúng ta lại thấy rực lên trong lòng Phao-lô một niềm tin tưởng lạc quan dựa trên căn bản tình yêu Thiên Chúa, và đây chính là điều ngài muốn chúng ta phải xác tín về lòng trung thành của Thiên Chúa. Khi nói thêm: Ðức Ki-tô "là Thiên Chúa, Ðấng vượt trên mọi sự", ngài muốn đề cao sự trung thành của Thiên Chúa. Thực vậy, sự trung thành yêu thương của Thiên Chúa không tùy thuộc vào việc đáp trả của chúng ta. Dù Ít-ra-en không muốn tiếp nhận ân sủng Ki-tô, dù chúng ta không đáp lại tình yêu của Người, thì Thiên Chúa vẫn trung thành với Ít-ra-en và vẫn yêu thương chúng ta. Tình yêu của Chúa là vô điều kiện. Không phải là Người sẽ chối bỏ Ít-ra-en nếu Ít-ra-en đã không tiếp nhận Con Một Người. Không phải là Người sẽ không còn thương chúng ta nữa nếu chúng ta không đáp lại tình yêu của Người. Nhưng Thiên Chúa vượt trên mọi sự, trên cả những bất trung và hờ hững của loài người. Do đó, tuy ưu phiền và đau khổ, Phao-lô vẫn tin vào tình yêu vững bền của Thiên Chúa. Ðứng trước tình yêu ấy, con người không biết làm gì hơn là hãy đáp trả và hãy "chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. A-men."

          Hy vọng những suy niệm này của thánh Phao-lô sẽ gợi lên trong lòng Ki-tô hữu một thái độ đúng đắn đối với Ít-ra-en dân Chúa và chia sẻ nỗi thao thức của Giáo Hội Chúa Ki-tô là quy tụ mọi anh chị em về với Người.

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

          Có khi nào tôi nhận ra mình cũng là một người Ít-ra-en cứng lòng không đón nhận Ðức Ki-tô, hoặc là một Ki-tô hữu Rô-ma tự cao tự đại cho mình là hơn hẳn dân Ít-ra-en?

          Tôi có nhìn lại gia sản của mình, tổ tiên, đức tin Công Giáo, giáo xứ, nhóm, tất cả như là ân sủng Thiên Chúa ban không? Nhất là Ðức Ki-tô như quà tặng Thiên Chúa ban chính mình Người cho tôi không?

          Trước những gương xấu trong Giáo Hội, tôi cảm thấy thế nào? Tuy ưu phiền và đau khổ, nhưng không mất tin tưởng chứ?

 Cầu nguyện kết thúc

          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát bài "Chúa là tình yêu", CNLT 35.

Lm. Ðaminh Trần Ðình Nhi

Về đầu trang

TN19-A107: HÃY NHẬN RA CHÚA

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Cuộc sống bon chen tính toán lôi cuốn chúng ta và làm cho chúng ta lãng quên sự hiện diện của Chúa trong cuộc TN19-A107 MTG-ThuDuc

Cuộc sống bon chen tính toán lôi cuốn chúng ta và làm cho chúng ta lãng quên sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời. Đàng khác, có những lúc chúng ta tin Chúa nhưng tự tạo ra một hình ảnh Thiên Chúa theo ý riêng mình, nhằm đáp ứng những đam mê lầm lạc của mình. Và, khi không được như vậy, thì chúng ta bất mãn bỏ Chúa.

 Thánh Matthêu kể lại, vào lúc các môn đệ đang chèo thuyền trong đêm tối, Chúa Giêsu đi trên mặt nước để đến với các ông. Mặc dù mới lúc buổi chiều, các ông còn ở với Chúa, vậy mà giờ đây, các ông không nhận ra Người. Nỗi ám ảnh về quyền lực của biển cả, cộng với đêm tối, đã khiến các ông không nhận ra Thày mình. Không những thế, các ông còn hoảng hốt và nói với nhau :”Ma kìa”. Cách thức và ngôn từ cho chúng ta thấy các ông như những đứa trẻ, đưa hình ảnh ma quỷ để hù dọa nhau. Những chi tiết này phần nào phản ánh cuộc sống của chúng ta trong quan niệm về Thiên Chúa. Có những lúc hình ảnh của Ngài bị con người làm cho biến dạng. Có những khi Ngài được trình bày và quan niệm giống như một “thây ma” của quá khứ. Nhiều người đã quá tự tin vào khả năng của mình. Họ không cần đến Thiên Chúa và họ quả quyết: “Thiên Chúa đã chết rồi!”. Tuy vậy, Thiên Chúa không phải là sản phẩm của trí tuệ con người để họ có thể tạo nên và giết chết. Dù con người tin hay không thì Thiên Chúa vẫn hiện diện. Dù họ ghét bỏ hay yêu mến thì Ngài vẫn là Đấng nhân hậu bao dung. Những ai nhận ra Ngài thì được Ngài chúc phúc.

“Hãy nhận ra Chúa và hãy tôn thờ Ngài!”. Đó là thông điệp mà Phụng vụ muốn gửi đến chúng ta trong Chúa nhật này. Thời nào cũng có những người thử Chúa như ông Phêrô. Ông muốn sự hiện diện của Chúa phải được chứng minh bằng một dấu hiệu cụ thể, đó là việc ông đi trên mặt hồ. Chúa đã làm như ông xin. Tuy vậy, nếu Chúa là Đấng luôn ban cho con người những sức mạnh và khả năng phi thường, thì con người lại tự “chìm xuống” bởi nghi ngờ, sợ hãi, yếu đuối và thiếu niềm cậy trông. Nỗi sợ của Phêrô quá lớn, kể từ lúc những người anh em nói với nhau:”Ma kìa” lúc này vẫn còn ám ảnh ông và làm cho ông chìm xuống nước. Phải chăng vì thế mà cuộc đời chúng ta nhiều lúc bị “chìm sâu” trong biển đời và cảm thấy đang đi lạc loài trong đêm tối?

 Chúa Giêsu đã quở trách ông là kẻ kém lòng tin. Có thể Chúa cũng đang quở trách chúng ta như đã quở trách ông Phêrô. bởi lẽ nhiều lúc chúng ta thiếu tin tưởng ở nơi Người. Điều đó thể hiện qua cách sống, cách cầu nguyện và mối tương quan của chúng ta hằng ngày.

 Ngôn sứ Elia đang bị vua Akháp đuổi và ông trốn chạy (Bài đọc I). Trong cơn gian nan, ông trở về núi Khôrép, thường được gọi là núi của Thiên Chúa. Về nơi này, ông như về với cội nguồn của đức tin. Chính nơi đây, ông gặp lại Thiên Chúa và được Ngài ban cho ông sức mạnh. Về nơi này, ông cũng ngộ ra một điều, là Thiên Chúa không hiện diện trong giông bão, trong bạo lực và trong cách xử sự theo kiểu con người. Khi “chiến đấu” với vua Akháp và hoàng hậu Idêben, ông chưa có niềm xác tín trên đây, nên ông còn hoảng sợ. Trong cuộc trốn chạy, đã có lúc ông xin được chết, vì ông cảm thấy đang đứng trước ngõ cụt của sứ mạng. Trên núi Khôrép, Chúa đã cho ông được bình an và cảm nhận sự dịu dàng của Ngài. Bài học Chúa muốn dạy ngôn sứ Elia, đó là hãy tìm gặp Chúa với tâm hồn thanh thản nhẹ nhàng, trong một không gian tĩnh lặng thanh thoát và với một trái tim khiêm nhường rộng mở. Những tâm hồn chất chứa đầy bon chen tính toán và hận thù sẽ chẳng bao giờ được gặp Chúa.

 “Quả thật, Người là Con Thiên Chúa!”. Đó là lời tuyên xưng đức tin của các môn đệ. Mọi sợ hãi đã qua, còn lại là sự bình an thanh thản. Mọi nghi ngờ đã hết, nhường chỗ là niềm xác tín và tôn thờ. Đó là kết quả mà các ông đã đạt được nhờ việc nhận ra Chúa. Giữa những khó khăn, thử thách và thậm chí là mưu mô chống đối, Thánh Phaolô vẫn kiên trì xác tín. Ông biết rõ Chúa luôn bênh vực và chở che, vì Ông đang thực hiện thánh ý Chúa và xuất phát từ lòng yêu mến dành cho Ngài (Bài đọc II).

 Giữa cuộc đời bấp bênh và đầy nguy cơ này, chúng ta hãy đến với Chúa. Hãy nhận ra Ngài và tuyên xưng nơi Ngài niềm xác tín. Đừng sợ! Người sẽ kéo chúng ta khỏi những hiểm nguy đang rình rập chúng ta. Có Chúa, cuộc đời chúng ta sẽ vui tươi và an bình.

Về đầu trang

TN19-A108: ĐIỂM TỰA GIÊ-SU

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Nhà vật lý học Archimède đã từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên”. Câu TN19-A108

Nhà vật lý học Archimède đã từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên”. Câu nói của ông giúp chúng ta nhận ra một điều vô cùng quan trọng trong cuộc sống đó là “một điểm tựa”.

Một điểm tựa sẽ an ủi, nâng đỡ khi trong cuộc sống chúng ta cảm thấy hẫng hụt, thất vọng, dằn vặt, đau đớn. . . Cho nên, đừng ngạc nhiên khi một lúc nào đó có ai đó gục đầu vào vai chúng ta mà nức nở, dù đó là người khác giới! Hãy lặng im nghe từng giọt nước mắt rơi thấm dần trên vai ấm nồng. Hãy để cho người ấy ôm chặt lấy chúng ta mà khóc, khóc cho tan đi tất cả những muộn phiền.

Và chính chúng ta khi gặp gian nan, thất bại, hiểm nguy chúng ta cũng cần đến một điểm tựa để vượt qua. Điểm tựa ấy có thể là niềm tin, là kỳ vọng, là ước mơ, là mục đích… và còn có thể là tình yêu nữa. Không ai biết trong cuộc đời mình điểm tựa nào là quan trọng, có khi là cái này, có khi là cái khác, thậm chí có người cho rằng họ chẳng cần điểm tựa để tồn tại, họ rời bỏ, và họ cô đơn… Song một lúc nào đó họ nhận ra điểm tựa của mình rồi chấp nhận có khi nó chỉ là một điểm tựa bình thường nhỏ nhoi.

Cuộc sống luôn cần một điểm tựa, để những khoảnh khắc yếu lòng mà sai đường, nhưng vẫn có người, ở đó, chờ đợi và sẵn sàng giang rộng cánh tay bao dung tha thứ cho chúng ta.

Cuộc sống cần một điểm tựa, để những khi thấy nhớ, lạc lõng , cô đơn, chúng ta vẫn có người để điện thoại, để nhắn tin và được nghe giọng nói an ủi, nâng đỡ mà chẳng hề cáu giận dù đêm khuya, nhưng luôn đồng cảm với chúng ta.

Hôm nay Tin mừng cho ta thấy một điểm tựa thật vững chắc là Thầy Giê-su. Khi các môn đệ đang chơi vơi giữa giòng đời, đang chao đảo trước sóng gió, Chúa đã đến với các ông đã an ủi nâng đỡ các ông. Lòng các ông đã bình an khi nhận ra Thầy đang hiện diện giữa các ông.

Sứ điệp lời Chúa hôm nay như vẫn đang mời gọi chúng ta:”Anh em đừng sợ, vì Thầy đã thắng thế gian”. Thầy đã thắng thế gian, đó cũng là tiếng mời gọi các môn đệ của Chúa là chúng ta, hãy cùng với Chúa để chiến thắng sự dữ, để đẩy lùi cái ác ra khỏi thế gian, để xoa dịu những đau thương mất mát trong cuộc đời. Và Chúa vẫn đang mời gọi chúng ta hãy trao vào tay Chúa những khó khăn của cuộc đời để Chúa sẽ giải thoát chúng ta khỏi mọi hiểm nguy.  Đồng thời Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy là điểm tựa để nâng đỡ anh em đang chơi vơi trên dòng đời. Chúa muốn chúng ta hãy là chứng nhân cho tình thương và lòng nhân ái của Chúa, khi chúng ta cùng cầm tay nhau vượt qua những thăng trầm của cuộc đời. Khi chúng ta biết chạnh lòng thương xót trước những bất hạnh của tha nhân. Khi chúng ta không phủi tay trốn tránh trách nhiệm trước những nhu cầu của thời đại. Vâng cuộc đời sẽ ấm áp hơn nếu mỗi người biết liên đới và chia sẻ cho nhau để làm vơi đi những khổ dau, những lắng lo trong cuộc sống.

Chúng ta có thể không có khả năng làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, nhưng chúng ta có khả năng trao vào tay Chúa một chút lương thực ít ỏi, để Chúa có thể nhân rộng cho hàng ngàn người hưởng dùng.

Chúng ta có thể không có khả năng đi trên mặt nước, nhưng chúng ta có thể nâng đỡ, dìu dắt anh em qua những khó khăn của cuộc sống.

Chúng ta có thể không khiến cho sóng gió ba đào im lặng, nhưng chúng ta có thể góp phần đầy lùi sự dữ và xoa dịu những đau thương bằng lòng quảng đại và nhân ái của chúng ta.

Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta lòng mến nồng nàn để sẵn lòng  mang tình yêu và lòng nhân ái đến cho anh chị em chung quanh. Nguyện xin Chúa ban thêm đức tin và đức cậy để chúng ta luôn biết cậy dựa vào ơn trợ giúp của Chúa và an bình sống trong sự quan phòng của Chúa. Amen.

Về đầu trang

TN19-A109: SỢ HÃI VÀ TIN TƯỞNG

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Sợ hãi thường nghịch chiều nhau. Khi quá sợ hãi niềm tin tưởng thường là quá ít và ngược lại niềm tin TN19-A109

Sợ hãi thường nghịch chiều nhau. Khi quá sợ hãi niềm tin tưởng thường là quá ít và ngược lại niềm tin tưởng đủ lớn thì nỗi sợ hãi càng nhỏ lại. Vấn đề không thể dứt bỏ hoàn toàn sợ hãi vì niềm tin tưởng là một quá trình phát triển chưa bao giờ toàn vẹn cho đến khi chết mới hết.

Sợ hãi mang tính tiêu cực:

Sợ hãi có thể gây ra tình trạng thu lại về chính mình, rút vào trong cô đơn, phòng thủ, và nặng hơn rơi vào trầm cảm hoặc tự kỷ. Không sợ hãi thái quá có thể rơi vào tình trạng liều mạng, mất kiểm soát nỗi sợ khi phê ma túy đá hoặc không đủ phân định kết quả tốt xấu…

Nguyên nhân của sợ hãi, theo các bác sỹ thần kinh cho biết, có nhiều nguyên nhân: Sợ hãi khi đã trải qua thực tế – sợ hãi thực sự trong tình huống đáng sợ – sợ hãi do chính mình phóng đại sự việc và lo lắng những tình huống do suy luận mông lung – Sợ hãi do suy nhược thần kinh…

Sợ hãi mang tính tích cực.

Đã có kinh nghiệm vượt qua nỗi sợ hãi và kiểm soát được chúng nhờ có nghị lực và luôn suy nghĩ tích cực trong mọi tình huống. Sợ hãi với những người này luôn biết mình cần thận trọng hơn trong lời nói trong công việc. Kiểm soát được những tiêu cực từ những dư luận không tốt, khi đang chịu áp lực tấn công từ người đang ghét mình (gato: ghen ăn tức ở). Và sợ hãi về chính mình giúp điều chỉnh và tự kiểm soát, để canh chừng chính mình không rơi vào sợ hãi tiêu cực.

Sợ hãi tích cực có thể thấy nơi Thánh Phêrô trong các tình huống:

Ngày đầu gặp Chúa bên bờ hồ Ghennêxarét, sau mẻ cá đầy, ông sợ hãi trước quyền năng của người lạ này, vì sau cả một đêm với kinh nghiệm thuyền chài của ông chẳng bắt được gì mà chỉ lời nói ra khơi thả lưới theo lời người lạ này mà có mẻ cá đầy. Ông đã đến quỳ trước Chúa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc.” (Lc 5, 8 – 9). Và từ ngày ấy Phêrô bước theo Chúa. Sợ hãi này là nhận biết người đang tiếp xúc có uy quyền trong lời nói và việc làm, để chịu khuất phục và đi theo Chúa. Đó là nỗi sợ mỗi người cần có để nhận ra Chúa trong cuộc đời.

Sợ hãi vì thiếu tin tưởng: Khi Chúa Giê su nói ông Phê rô bước đi trên mặt biển để đi đến với Chúa, ông đã lo sợ hoảng hốt: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” (Mt 14, 30). Sợ hãi vì thiếu tin tưởng luôn là vấn đề trong cuộc sống. Kinh nghiệm để thêm tin tưởng đúng với nhiều khía cạnh, nhưng về khía cạnh niềm tin vào Chúa thì không hẳn. Tin vào Chúa là một niềm tin tiệm tiến, đầy bất ngờ, khác với những suy nghĩ của mình với Chúa. Thế nên khi Thánh Phê rô xin Chúa ban thêm niềm tin cho con là một lời cầu xin không ngừng vì niềm tin luôn gặp nhiều thử thách.

Sợ hãi vì khác những gì mình suy nghĩ. Chúa Giê su đặt câu hỏi: Người ta bảo Thầy là ai? Phê rô đã tuyên tín ngay “Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống”, nhưng ngay sau khi Chúa nói Thầy phải chịu nhiều đau khổ, bị nộp vào tay người đời, chịu chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Phê rô đã ngăn cản: “Thầy không thể như thế được” (Xem Mt 16, 13 – 23). Cuộc đời người tin theo Chúa cũng ngỡ ngàng nhiều lần như thế, đôi khi mình đã làm việc hết lòng vì Chúa vì anh chị em mà phải chịu nhiều ganh ghét và gièm pha. Lúc này người tin vào Chúa cũng rơi vào sợ hãi, nhưng Chúa là câu trả lời cuối cùng cho Phê rô và cho những người tin vào Chúa. “Hãy lặng thinh trước mặt Chúa và đợi trông Người. Bạn chẳng nên nổi giận với kẻ được thành công hay với người xáo trá. Dừng cơn phẫn nộ và chớ mãi nổi xung, đừng nổi giận kẻo sinh ra tội lỗi,” (Tv 36, 7 – 8).

Sợ con người dễ thay đổi của mình. Trong bữa tiệc ly, Chúa nói trước về sự vấp ngã của các môn đệ, Phê rô đã thưa: “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không.”” Mc 14, 29). Sau đó Phê rô lại chối Chúa ba lần tại dinh thượng tế. Đấy là con người thật của mỗi chúng ta, nhưng Chúa sẽ chữa lành, nếu chúng ta nhận ra sai lỗi của mình và Chúa lại mở ra một tương lai mới: “Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22, 32).

Sợ Chúa không còn yêu thương mình nữa. Có lẽ Phê rô rất buồn sau khi nghe gà gáy, ngài đã nhớ đến lời Chúa nói: “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần.” (Ga 13, 38). Nhìn thấy ánh mắt Chúa, ngài đã ra ngoài khóc lóc thảm thiết (Mt 26, 74). Có lẽ, Phê rô đã nhớ lại lần Chúa nói: “Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 10 33). Nỗi buồn sâu thẳm trong lòng, ngài đã về lại nghề đánh cá trước kia của mình, mà chẳng đạt được kết quả gì. Nỗi buồn thấm sâu, còn nghị lực nữa đâu mà làm gì được. Đang nỗi buồn sâu thẳm, Chúa lại đến bên bờ hố Tibêria, hạnh phúc tràn đầy khi nghe Gioan nói Chúa đó, ngài đã vội bơi vào bờ để được gặp lại Chúa. Tưởng rằng Chúa đã bỏ mình, nhưng Chúa lại hỏi ba lần :”con có yêu mến Thầy không?”. Câu hỏi đúng lúc như vỡ bờ hạnh phúc, ngài đã thưa: “Thầy biết, con yêu mến Thầy!” (Xem Ga 21).

Lạy Chúa, có những nỗi sợ về chính con người yếu đuối và dại khờ của chúng con. Nhưng, Chúa đã yêu thương tất cả những thiếu sót đó của chúng con, để chúng con không còn sợ khi có Chúa ở cùng con. Xin ban thêm niềm tin cho chúng con.

Về đầu trang

TN19-A110:   ĐI TRÊN MẶT BIỂN

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Câu chuyện Chúa Giêsu đi trên mặt biển có gió to sóng lớn và biển lặng như tờ khi có sự hiện diện TN19-A110

Câu chuyện Chúa Giêsu đi trên mặt biển có gió to sóng lớn và biển lặng như tờ khi có sự hiện diện của Người gây ấn tượng không nhỏ đối với nhiều người và ghi dấu đậm nơi tâm hồn của những người có lòng tin. Thiên Chúa là Đấng tạo nên vũ trụ, trái đất và dựng nên con người. Ngài có toàn quyền trên vũ trụ, thiên nhiên, và ngay cả trên sinh mạng con người. Bài Tin Mừng của thánh Matthêu hôm nay là một trong những bằng chứng để quả quyết điều đó.

Thánh Matthêu trình bày cho chúng ta một toàn cảnh hết sức ý nghĩa và gây nhiều ấn tượng cho con người. Khía cạnh thứ nhất, trình thuật Tin Mừng diễn tả việc Chúa Giêsu cầu nguyện trên núi, Ngài cầu nguyện ở một nơi cao, xa, chứng tỏ Ngài xa cách, không còn vướng bận, không để ý, không quan tâm đến những gì đang xảy đến xung quanh, đặc biệt trong hoàn cảnh các tông đồ đang gặp thử thách lớn, phải chống chọi, chèo thuyền giữa phong ba bão táp trên biển hồ Galilêa.Hồ lúc đó đang gặp bão: sóng to, gió lớn.Các tông đồ đang phải đối diện với thử thách lớn lao, các ngài đang phải chống chọi hết sức khó khăn với nguy hiểm.Mặc dù, các ngài là những ngư phủ lành nghề, đã quen với bão tố cuồng phong, nhưng hôm nay phong ba bão táp lớn đến nỗi gây nguy hiểm cho thuyền, cho ngay chính sinh mạng của các ngài. Hai khía cạnh Tin Mừng đề cập xem ra hoàn toàn không có liên hệ gì với nhau cả, Chúa như vẫn xa lạ, vẫn ở xa khi biến nguy hiểm xẩy đến. Tuy nhiên đó chỉ là lý luận, chỉ là suy nghĩ. Chúa luôn có mặt luôn hiện diện nhưng vì các tông đồ còn yếu đức tin và ngay cả chúng ta cũng nhiều lúc còn quá yếu đức tin. Bởi vì, các tông đồ đã được Chúa mời gọi đi theo Người và ở với Người tương đối đã lâu,Chúa dạy dỗ, uốn năn, làm gương và làm nhiều phép lạ lớn lao như làm cho người chết sống lại, kẻ mù thấy được, kẻ què đi được, chữa lành người phong cùi, làm cho cá và bánh hóa nên nhiều…Chính vì thế, các tông đồ tin mãnh liệt vào Chúa quyền năng, có lần các ngài sau khi được Chúa sai đi rao giảng, đã trở về hân hoan, phấn khởi thuật lại cho Chúa những thành công, những việc tỏa sáng các ngài đã làm được và các ngài đã thưa với Chúa Giêsu :” Ma quỷ đã chạy trốn khi nghe đến Danh thánh của Người “ ( Lc 10, 7 ). Nhưng cái trớ trêu Tin Mừng thuật lại hôm nay, Chúa đã đi trên mặt biển mà đến với các ngài lúc canh tư đêm tối, lúc gian nan giông tố và khi Chúa mời gọi họ đi trên biển mà đến với Chúa thì Phêrô đã vâng lời, nhưng khi thấy gió thổi mạnh, sóng nhô lên to, cảnh mặt hồ náo động, Phêrô đã không còn làm chủ mình, đã quên quyền năng của Chúa, đã quên hết những lời tuyên xưng của mình trước đây với Người, để rồi sợ hãi, hốt hoảng, mất lòng tin đến nỗi sắp chìm xuống biển hồ, Phêrô la tuếnh lên :” Thưa Ngài, xin cứu con với “.Chúa đã trách ông: “Người đâu mà kém tin vậy ! Sao lại hoài nghi “.

Vâng, chúng ta đã theo Chúa, làm con Chúa qua bí tích rửa tội.Chúng ta đã được học Giáo lý, đọc Kinh Thánh, nghe những lời Giáo huấn của Giáo Hội. Chúng ta đã tin và tin nhận Thiên Chúa là Đấng đầy quyền năng, là Đấng yêu thương, chăm sóc và luôn trung thành với chúng ta. Ngài chậm giận nhưng giầu lòng tha thứ. Tuy nhiên, có những lúc chúng ta cũng rơi vào tâm trạng như Phêrô, nên khi gặp thử thách, khó khăn, trắc trở trong cuộc sống, trong cuộc hành trình đức tin, đôi khi chúng ta cũng mất niềm tin nơi Chúa, nơi Đấng mà chúng ta luôn luôn tin tưởng, tín thác.

Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho chúng con, để chúng con tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, luôn biết lắng nghe Lời của Chúa và đem Lời Chúa ra thực hành trong đời sống hằng ngày. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1. Tại sao các môn đệ lại sợ khi sóng to gió lớn nổi lên ?

2. Việc Chúa Giêsu đi trên mặt biển và Phêrô đi trên mặt nước nói gì ?

3. Trong cuộc sống nếu hoài nghi chúng ta sẽ ra sao ?

4. Đức tin giúp gì cho chúng ta ?

5. Bài học Tin mừng hôm nay dạy chúng ta điều gì ?

Về đầu trang

TN19-A111: ĐỨC TIN HIỆN TẠI

Anna Cỏ May

Tiếng gà gáy, tiếng đồng hồ reng reng, mặt trời từ từ xuật hiện, báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Mọi TN19-A111

Tiếng gà gáy, tiếng đồng hồ reng reng, mặt trời từ từ xuật hiện, báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Mọi người háo hức đón ngày mới với bao niềm vui; cũng có khi ta bắt đầu ngày mới với bao âu lo. Xế chiều, kết thúc ngày một làm việc, tạm gác lại mọi công việc và học tập, mọi người cùng trở về với gia đình thân yêu của mình. Mọi người cùng quây quần bên nhau, cùng nhau trò chuyện và giải trí, cùng giữ mái ấm gia đình hạnh phúc.

Với các môn đệ cũng vậy, sau một ngày đi với Thầy, cùng Thầy phục vụ mọi người, Thầy tìm cách đưa các ông rời khỏi dân chúng để cho các ông được nghỉ ngơi. Các ông đi xuống thuyền qua bên bờ bên kia trước, còn Ngài ở lại giải tán dân chúng. Sau khi giải tán dân chúng xong, Ngài trở về với gia đình của mình. Gia đình đầu tiên là Chúa Cha. Ngài đã lên núi để gặp gỡ và trò chuyện với Chúa Cha. Ngài dâng mọi sự và kín múc tình yêu từ suối nguồn vô tận là Chúa Cha. Dừng lại ở điểm này, chúng ta thấy Chúa Giêsu như đang khắc họa đời sống của chúng ta. Chúng ta cũng có hai gia đình. Gia đình trên trời và gia đình trần gian. Gia đình trên trời là nơi Thiên Chúa ngự trị, chúng ta chọn Ngài là Chúa, là Cha, chúng ta có bổn phận yêu mến và hiếu thảo với Ngài. Sự hiếu thảo ấy chúng ta thể hiện mỗi ngày ngay từ khi thức dậy và kết thúc ngày sống. Chúng ta hiếu thảo qua Thánh lễ, trong giờ kinh và giờ cầu nguyện trong gia đình. Ngài cho chúng ta tự do lựa chọn thời gian gặp Ngài. Ngài chờ chúng ta đến với Ngài trong tin tưởng, phó thác và cả trái tim. Ngài muốn chúng ta đến với Ngài để kín múc tình yêu và ân sủng như Ngài đến với Chúa Cha. Ngài đến với Chúa Cha để kín múc tình yêu và nguồn sinh lực để đem về cho các môn đệ. Ngài đã trao ban cho các môn đệ khi các ông đang vật lộn với sóng gió. Ngài đã đi trên mặt biển mà đến với các ông. Các ông thì đang lảo đảo trên thuyền, từ xa xuất hiện một người đi là là trên mặt biển. Các ông hoảng sợ và la lên: “Ma đấy!” (Mt 14,26). Sự hoảng hốt nơi các ông là điều dễ hiểu. Bởi vì, những ai muốn đi qua bờ bên kia phải đi bằng thuyền, bằng đò hay tàu. Trong khi ấy, Ngài không đi bằng phương tiện nào, Ngài đi bằng quyền năng của Ngài. Cũng lúc ấy, màn đêm bao phủ, không còn ai hoạt động trên biển. Vì thế, trong lòng họ lúc ấy sợ và chỉ nghĩ đến là ma thôi. Nghe các môn đệ la, Chúa Giêsu liền bảo: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ!” (Mt 14, 27). Để chắc ăn là Thầy, Phêrô lên tiếng: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. Đức Giêsu bảo: “Cứ đến” (Mt 14, 28-29). Phêrô đã bắt đầu tin, ông từ thuyền bước xuống. Ông đang đi thì gió thổi lên, ông sợ, ông không nhìn Chúa nữa, ông cúi xuống nhìn mặt nước. Ông thấy mình bắt đầu chìm. Đức tin của ông là lúc này đây. Ông đã mất niềm tin vào Chúa ngay lúc gặp khó khăn. Đức tin là chúng ta phải đón nhận, xác tín, phó thác, trung tín và làm chứng cho Chúa. Với ông Phêrô, ông cần một đức tin phó thác vào Thầy mình. Ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!”. Thánh Âu tinh đã nhấn mạnh đức tin theo nghĩa phó thác rằng: “Chúa đã nói là tin vào Ngài chứ không phải tin. Ma quỷ tin Chúa nhưng không tin vào Chúa.”

Trong các bài Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu luôn khiển trách các môn đệ nhiều nhất, không phải vì các ông kém yêu nhưng là kém tin, thiếu lòng tin. Điển hình, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã nói: “Hỡi kẻ kém lòng tin. Sao lại hoài nghi?”  Chúa đã trách các ông thiếu tin tưởng, phó thác vào Chúa. Có lẽ, lời khiển trách ấy không chỉ dành cho các môn đệ mà cho cả chúng ta nữa. Ngày hôm nay, chúng ta ít tin tưởng và phó thác nơi Chúa, vì thế chúng ta dễ chán nản, thất vọng, thiếu sự bình an trong tâm hồn. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu vào lúc cuối đời cũng có lần tuyệt vọng. Chị bị cám dỗ sẽ tự tử từ trên lầu của nhà dòng. Chị đã ghì chặt lan can không rời tay. Khi gặp thách đố, chúng ta hãy bám chặt vào Chúa và phó thác vào Chúa. Đức tin rất cần cho chúng ta, ơn đức tin đến từ Chúa và chúng ta phải nài xin Chúa ban cho chúng ta ơn ấy.  Sợ hãi làm cho các tông đồ không nhận ra Thầy. Sợ hãi khiến Phêrô hoài nghi và bị chìm. Chúng ta sợ hãi bao nhiêu thì đức tin của chúng ta tỏ ra mạnh hay yếu bấy nhiêu. Làm sao để hết sợ hãi? Sợ hãi đến từ sự thiếu tin tưởng và quá lo lắng. Chúng ta hãy để cho lời Chúa hướng dẫn mà bước đi. Khi biết mình có Chúa, lòng ta sẽ bình an và thôi sợ hãi. Chỉ có một điều đáng sợ thôi, đó là: “Anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt được cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục”. ( Mt 10, 28).

Lạy Chúa! Cuộc sống của chúng con luôn có những cơn gió nhẹ, có những cơn sóng và cả bão tố vẫy vùng. Những lúc ấy, chúng con dễ đánh mất đức tin. Xin Chúa cho chúng con luôn biết sẵn sàng để Chúa nắm tay kéo lên thuyền. Con thuyền có Chúa, biển sẽ lặng và tâm hồn con cũng an vui. Amen.

Về đầu trang

TN19-A112: MỜI CHÚA LÊN THUYỀN

Bông hồng nhỏ

 “Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc người giải tán dân chúng.” (Mt 14, 22).

Sau khi cho dân chúng ăn no nê, Thầy và trò đều được ca tụng. Thầy làm phép lạ chỉ xuất phát từ TN19-A112

Sau khi cho dân chúng ăn no nê, Thầy và trò đều được ca tụng. Thầy làm phép lạ chỉ xuất phát từ tình thương và muốn dạy cho các môn đệ bài học về tình thương vô điều kiện. Các môn đệ thì phấn khởi và hân hoan. Thầy được ca tụng cũng có nghĩa là các môn đệ cũng được khen ngợi, được cảm kích. Chắc chắn sau phép lạ hóa bánh này, danh tiếng Thầy Giêsu sẽ còn nổi hơn nữa. Thầy biết rõ tất cả và chính khi lòng các môn đệ bắt đầu dính bén với vinh quang trần thế và hiểu sai việc Thầy làm thì Thầy “liền bắt các ông xuống thuyền qua bờ bên kia”.

Đi đâu khi trời đã tối? Sang bên kia biển hồ mà trên thuyền không có Thầy ư? Lòng các ông không hề muốn xuống thuyền, các ông dùng dằng muốn ở lại, vậy mà Thầy nỡ tâm “bắt các ông xuống thuyền qua bờ bên kia.” Chắc chắn, các ông đã mệt lắm rồi vì cả ngày hôm nay tất bật phụ Thầy chữa bệnh cho đám đông, xế chiều còn luôn tay chia bánh và cá cho hơn năm ngàn người ăn. Sức người có hạn, vậy mà Thầy không biết các học trò đã mệt ư? Vượt biển trong đêm tối không phải là điều dễ dàng. Các ông lên thuyền mà lòng không yên. Chỉ mới đây thôi, bên tai các ông còn tiếng khen và câu ca tụng, người ta quý mến, quyến luyến các ông không muốn rời cũng là chuyện đương nhiên. Chỉ mình Thầy ở lại giải tán dân chúng. Đêm khuya, Thầy vẫn ở trên núi vắng vẻ mà trút bầu tâm sự cùng Chúa Cha. Từ xa, Thầy vẫn thấu suốt tâm tư và những gì xảy đến cho từng người học trò.

Con thuyền lênh đênh trên biển và bị sóng đánh vì ngược gió. Thuyền lướt sóng mà tay chèo mỏi mệt. Cả ngày tất bật bên Thầy tuy mệt nhưng các ông có động lực để phục vụ, lòng các ông phấn khởi vì ít ra người ta vẫn xuýt xoa khen ngợi, mỏi mệt được vơi đi bội phần. Bây giờ, các ông mỏi mệt chèo thuyền mà tâm hồn và trái tim đã gửi lại với dân chúng rồi, vì thế cái mỏi mệt lại nhân lên. Chèo thuyền mà lòng không hiệp nhất thì sóng đến từ trong tâm hồn.

Thầy hiểu rõ tâm tư và nỗi lòng người môn đệ. Đến canh tư, Thầy đi trên mặt biển mà đến với các ông. Trông thấy Thầy, các ông lại tưởng là ma nên hốt hoảng và sợ hãi. Mệt mỏi và sợ hãi khiến các ông mất cảm thức về sự hiện diện của Thầy. Có những khi bao nỗi gian truân bủa vây, giăng mắc khiến lòng ta lo buồn, mỏi mệt và sợ hãi, Thầy đến bên ta mà ta không nhận ra. Thầy trấn an người môn đệ: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” ( Mt 14, 27). Ông Phêrô nghe tiếng Thầy rồi nhưng để chắc chắn hơn, ông xin Thầy một điều lạ lùng: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Ông tin vào quyền năng của Thầy nên nếu ông có thể đến với Thầy như cách ông xin thì chỉ có Thầy mới có quyền năng ban cho ơn ấy. Những khi gặp khó khăn thử thách, ta có dám thưa lên cùng Chúa khát vọng vượt lên trên nỗi sợ để đến cùng Giêsu không? Thầy cho phép ông xuống thuyền và quả thật chân ông đang bước đi nhẹ nhàng trên mặt nước bao la. Có những điều ta thực hiện được không phải đến từ chính năng lực của bản thân mà là nhờ ơn Chúa ban nhưng không. Gió thổi khiến ông sợ hãi và ông bị chìm. Không phải khi đã nhận được ơn Chúa ban là ta đã chắc chắn đạt được điều mình xin nhưng hành trình đến với Chúa cần có một lòng tin kiên vững và không nghi nan dù gặp hiểm nguy. Khi đã vấp ngã và sắp chết chìm, liệu ta có đủ can đảm để xin Thầy: “Thầy ơi, xin cứu con với”! Một ngư phủ tài giỏi như ông chắc chắn biết bơi. Ta cũng vậy, có những khi vì quá tin vào khả năng của bản thân mà ta tự xoay sở với khó khăn mà không cần ai giúp đỡ. Chính sự kiêu ngạo và tự mãn đã nhận chìm ta trong thất bại. Thầy Giêsu đưa tay kéo ông lên mà quở trách: “Hỡi kẻ kém lòng tin! Sao lại hoài nghi?” ( Mt 14, 31). Dù bị quở trách nhưng ông được Thầy thương hơn, thương vì sự yếu đuối của chính ông. Người yếu đuối luôn được quan tâm và nâng đỡ, điều chính yếu là ta có dám tỏ cho Thầy biết sự yếu đuối của bản thân. Không dễ gì để nói cho người khác biết mình yếu đuối. Người ta thường cố tỏ ra mạnh mẽ trong mọi lúc, ngay cả khi người khác biết rõ mình đang gặp khó khăn. Thầy và trò lên thuyền thì biển lặng. Con thuyền không còn chao đảo nữa. Biển đã lặng sóng và tâm hồn người môn đệ cũng không còn sợ hãi nữa. Thầy đang ở cùng các ông và các ông nhận ra: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” ( Mt 14, 33). Ta hãy mời Thầy lên con thuyền của cuộc đời mình. Có Thầy, đời ta sẽ an vui và bình an.

Lạy Chúa! Thuyền trên biển không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, nhưng có những khi sóng đánh vì ngược gió và có cả những con sóng dậy lên từ những tâm hồn bất an. Xin Chúa bước lên con thuyền cuộc đời con, để nhờ đó, con biết đặt cuộc đời con trong quyền năng và tình thương của Chúa. Amen.

Về đầu trang

TN19-A113: NHÌN THẤY CHÚA TRONG CUỘC SỐNG

Lm. GB. Trần Văn Hào

Thánh Augustinô đã viết : “Có một thời để sống, một thời để chết và một thời để đi vào vĩnh cửu. TN19-A113

Thánh Augustinô đã viết : “Có một thời để sống, một thời để chết và một thời để đi vào vĩnh cửu. Thời để sống là lúc chúng ta đi tìm kiếm Thiên Chúa. Thời để chết là lúc chúng ta đến gặp gỡ Chúa và thời đi vào vĩnh cửu là lúc chúng ta chiếm hữu Ngài cách trọn vẹn”. Tiếp nối triền suy tư ấy, thánh nhân đã dâng lên Chúa lời cầu nguyện : ‘Lạy Chúa, linh hồn con khao khát tìm kiếm Chúa, cho tới khi được nghỉ ngơi trong tay Ngài’(trích trong sách Confessio). Như vậy, cuộc lữ hành trần gian của chúng ta hôm nay là một chặng đường dài, trong đó con người phải luôn khát khao đi tìm kiếm Thiên Chúa. Ngài là cùng đích, là đối tượng duy nhất mà chúng ta phải vươn hướng về. Nhưng, chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa ở đâu, gặp dưới dạng thức nào và làm sao chúng ta có thể nhận ra Ngài trong các biến cố cuộc sống đời thường ? Các bài đọc lời Chúa hôm nay gợi mở những phương cách để giúp chúng ta thực hành điều này.

Thiên Chúa đang hiện diện trong cuộc sống của mỗi người

Nietzche, một triết gia vô thần đã ngạo nghễ tuyên bố : “Thiên Chúa đã chết rồi”. Ông muốn khai tử Thiên Chúa và cho rằng, con người ngày nay đã đạt đến cao điểm của nền văn minh khoa học, nên Thiên Chúa không còn lý do để hiện hữu. Ông đã phạm một sai lầm rất lớn khi muốn loại bỏ Thiên Chúa và vào cuối đời, ông đã chết trong tuyệt vọng. Cũng tương tự, triết gia Jean Paul Satre đã trở thành con người vô thần khi chối từ Thiên Chúa. Ông cảm thấy cuộc đời của mình hoàn toàn trống rỗng và vô nghĩa như một cơn buồn nôn. Để diễn tả tâm trạng bất an ấy, ông đã viết cuốn sách ‘La Nausée’ (cơn buồn nôn). Cho dù nhiều người đang cố gắng đào thải Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống để chạy theo chủ nghĩa vô thần hiện sinh, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hiện hữu. Tuy nhiên, chỉ khi nào chúng ta đi sâu vào cảm thức đức tin, chúng ta mới có thể khám phá ra sự hiện hữu của Thiên Chúa và tiếp cận được Ngài.

Trong bài đọc 1, tác giả sách Các Vua đã thuật lại câu truyện về ngôn sứ Elia trên đường đến núi Hô-rep để gặp Chúa. Chúa không ở trong những tiếng động ầm ĩ của bão tố, cũng không ở trong những tiếng rung chuyển của cơn động đất hay trong ngọn lửa hừng hực phun trào trên đỉnh núi cao. Cuối cùng, Chúa đã đến với Elia trong tiếng gió hiu hiu rất âm thầm và nhẹ nhàng. Trong cuộc sống của chúng ta hôm nay cũng vậy, có biết bao tiếng động ồn ào làm cản che đôi tai khiến chúng ta không nghe được tiếng Chúa nói, hoặc bịt kín đôi mắt khiến chúng ta không thể nhận ra dung mạo của Ngài. Sự ồn ào gây nên không phải bởi những tiếng gầm rú của xe cộ ngoài đường phố hay bởi những loa nhạc mở hết công suốt tại các phòng trà. Trên hết, đó là những tiếng động xào xạc của tiền bạc, của lòng tham vô đáy nơi con người khi họ đang hướng về một lối sống hưởng thụ và ích kỷ. Chính cuộc sống duy vật ấy đang dần khai tử Thiên Chúa, và hình ảnh của Thiên Chúa đang trở nên mờ nhạt trong tâm hồn con người ngày hôm nay.

Cũng tương tự như thế, trong trình thuật Tin Mừng, thánh Matthêu thuật lại giai thoại Chúa Giêsu đi trên biển để đến với các môn đệ, nhưng các ông tưởng là thấy ma. Con thuyền lênh đênh giữa biển khơi đầy sóng to và gió lớn khiến các ông khiếp sợ. Sự sợ hãi đã khiến các ông không nhận ra Chúa. Trong cuộc sống hôm nay cũng vậy, chúng ta sẽ không thể nhận ra sự hiện diện của Chúa cho dù Ngài đang đứng bên cạnh chúng ta, đặc biệt mỗi khi chúng ta chìm ngập trong sợ hãi và bị những bóng ma cản che con mắt đức tin. Đó là bóng ma của tiền bạc, của lạc thú, của một nếp sống hưởng thụ khi chỉ nghĩ đến bản thân mình một cách ích kỷ. Phêrô đã dần dần nhận ra Chúa và muốn đến với Ngài. Nhưng khi nỗi sợ hãi dâng cao, ông lại từ từ lún chìm giữa lòng biển khơi ngập sóng. Những bóng ma trong đêm tối dễ làm cho con người chúng ta khiếp sợ. Sự khiếp hãi làm sói mòn đức tin và nó đốt cháy lòng tín thác của chúng ta đặt để nơi Chúa.

Thưa Ngài, xin cứu con với

Đây là lời cầu cứu của thánh Phêrô lúc ông đang từ từ lún chìm vì sợ. Con thuyền của các tông đồ đang lênh đênh giữa biển khơi đầy sóng to và gió lớn khiến các Ngài hoảng loạn. Nỗi sợ hãi tăng cao khi các ông tưởng nhìn thấy một bóng ma đang lù lù tiến đến. Cũng vậy, khi cuộc đời chúng ta cứ bình lặng êm trôi, chúng ta rất dễ hướng lòng về Chúa. Song, khi gặp nhiều thử thách với bao sóng dữ như muốn nuốt chửng, chúng ta dễ bị chao đảo và vuột mất niềm tin nơi mình. Triết gia Karl Marx đã từng mỉa mai nói rằng : “Thiên Chúa chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng nơi phận người đầy khổ đau, là tiếng kêu cứu của một con người bị áp bức mà không biết bấu víu vào đâu. Ảo tưởng đó sẽ bị xóa bỏ, khi xã hội con người đạt đến tự do bình đẳng, không còn người bóc lột người và tất cả được no cơm ấm áo”. Nhận định của ông rất phiếm diện và ngày nay, học thuyết Marxism đang dần dần bị con người đào thải. Niềm tin tôn giáo không phải là một thứ thuốc phiện gây mê như ông đã từng nói. Càng sống sung túc về đời sống vật chất, con người lại càng cảm thấy nhu cầu cần đi tìm kiếm một thực tại linh thánh để có thể khỏa lấp những khát khao sâu xa nơi mình. Chỉ Thiên Chúa mới có thể làm cho con người thỏa mãn những khát vọng sâu xa ấy.

Chúng ta hãy nhìn vào mẫu gương của thánh Phaolô được nói đến trong bài đọc 2 hôm nay. Vị Thánh Tông đồ đã trải qua nhiều đau khổ, nhưng luôn kiên định  trong niềm tin vào Đức Giêsu. Thánh nhân viết : “Lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không nguôi. Nếu tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng” (Rm 9,2-3). Ngài viết tiếp : “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi Đức Kitô, phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ hay gươm giáo (Rm 9,35). Phaolô đã vượt qua được những sóng gió vì Ngài đã cắm sâu vào mầu nhiệm Thập giá cùng với Đức Kitô, đã vượt qua mọi sợ hãi để luôn bình thản trước những cơn sóng dữ của cuộc đời. Vì vậy Thánh nhân đã kết luận : “Không gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Kitô” (Rm 9,39).

Đào sâu cảm thức đức tin

Có rất nhiều nhà khoa học lỗi lạc đã thể hiện niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa như Louis Pasteur, Copernic, Newton, Thomas Edison,v…v… Chúng ta hãy nhìn vào mẫu gương của ông Louis Amstrong, phi hành gia đầu tiên người Mỹ đã đặt chân lên đến mặt trăng. Vừa sau khi phi thuyền đáp xuống, ông đã quỳ gối, giơ tay làm dấu Thánh giá để biểu thị đức tin nơi mình. Cũng vậy, ông Newton, một khoa học gia lỗi lạc, khi nhìn ngắm trăng sao để nghiên cứu bầu trời, đã cảm thấy con người rất nhỏ bé trước sự hùng vĩ của thiên nhiên, là kiệt tác do bàn tay Thiên Chúa tạo thành. Ông luôn sống khiêm tốn để ngày càng đi sâu vào cảm thức đức tin. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa nói với Phêrô : “Hỡi kẻ kém lòng tin, sao lại hoài nghi”. Đây cũng là lời trách cứ Chúa nói với chúng ta, mỗi khi đức tin của chúng ta bị chao đảo. Để đức tin nơi chúng ta được nuôi dưỡng và được kiện cường, điều kiện tiên quyết là phải có một tấm lòng biết mở rộng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Đức Maria là thầy dạy đức tin và cũng là khuôn mẫu nội tâm để chúng ta học hỏi thái độ đức tin nơi Ngài.

Kết luận

Thiên Chúa luôn hiện diện và đang đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường cuộc sống. Dấu chân của Ngài luôn in đậm nét trong mọi biến cố cuộc sống đời thường của mọi người, nhưng nhiều khi chúng ta chưa hoặc không nhận ra Ngài. Kinh nghiệm mà thánh Phêrô cũng như các tông đồ đã trải nghiệm năm xưa trên biển hồ Galilê cũng thường được lập lại trong cuộc sống hiện sinh của chúng ta ngày hôm nay. Cùng với Thánh Phêrô, chúng ta hãy thưa lên với Chúa : “Thưa thầy, xin hãy cứu con. Xin hãy gia tăng lòng tin yếu kém nơi chúng con”.

Về đầu trang

TN19-A114: SUY NIỆM CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN – NĂM A

Lm. Anthony Trung Thành

Có một người nọ ví cuộc đời của mình như một người lữ hành đang đi trên một bãi biển đầy cát. TN19-A114

Có một người nọ ví cuộc đời của mình như một người lữ hành đang đi trên một bãi biển đầy cát. Khi nhìn lại cuộc hành trình, anh nhận ra hai điều kỳ lạ:

Điều thứ nhất: Khi anh thành công, hạnh phúc, vui sướng… anh thấy có bốn dấu chân trên cát. Đó là hai dấu chân của anh và hai dấu chân của Chúa. Thiên Chúa đồng hành để chia sẻ niềm vui với anh.

Điều thứ hai: Khi anh thất bại, đau khổ, buồn sầu…anh chỉ thấy có hai dấu chân trên cát. Và anh nghĩ đó là hai dấu chân của mình. Thiên Chúa đã bỏ rơi khi anh thất bại. Thiên Chúa đã vắng bóng khi anh đau khổ.

Sau đó, anh thắc mắc với Chúa: “Khi con thành công, hạnh phúc thì Chúa lại đồng hành với con, đi với con. Nhưng khi con thất bại, đau khổ là những lúc con cần Chúa nhất thì Chúa lại bỏ rơi con. Tại sao Chúa lại đối xử với con như thế?”

Chúa trả lời: “Khi con vui thì Ta đi bên cạnh con, đi với con, song hành cùng con. Còn khi con buồn, đau khổ, thất vọng thì Ta lại vác con trên vai của Ta. Cho nên dấu chân trên cát là của Ta chứ không phải của con.” (Câu chuyện sưu tầm trên Internet).

Trong cuộc sống, có lẽ những lúc thất bại, đau khổ, buồn sầu chúng ta cũng có cảm giác bị Chúa bỏ rơi như người đàn ông trong câu chuyện trên đây. Nhưng trong thực tế, Ngài không bỏ rơi chúng ta, Ngài luôn ở với chúng ta, đồng hành với chúng ta trong mọi nẻo đường của cuộc sống. Ngài không chỉ đồng hành khi chúng ta hạnh phúc, thành công mà còn đồng hành với chúng ta, ở bên cạnh để an ủi và nâng đỡ mỗi khi chúng ta gặp khó khăn đau khổ. Các bài Lời Chúa hôm nay cũng chứng minh cho chúng ta thấy điều đó.

Bài đọc 1, trích từ sách Các Vua quyển thứ nhất: khi Êlia bênh vực cho dân Chúa, kéo dân Chúa khỏi sự thống trị của tà thần. Ông đã thắng được cả ngàn sư sãi thờ thần Baal của hoàng hậu và nhà vua. Nên ông bị bà hoàng hậu I-de-ven truy bắt. Ông đã phải chạy trốn lên núi Kho-rép. Trong quảng đường chạy trốn đó, có những lúc ông không còn tha thiết với cuộc sống nữa, nhưng Thiên Chúa luôn ở cùng ông. Thiên thần đã dọn bánh cho ông ăn khi đói và nước cho ông uống khi khát (x. 1V 19,1-8). Tại núi Kho-rép, ông còn được Thiên Chúa hiện ra với ông qua làn gió hiu hiu. Sau đó, Thiên Chúa sai ông đi xức dầu cho một số người làm vua và làm ngôn sứ: xức dầu phong Kha-da-ên làm vua A-ram; xức dầu Giê-hu con của Nim-si làm vua Ít-ra-en; xức dầu Ê-li-sa con Sa-phát, người A-vên Mơ-khô-la, làm ngôn sứ (x. 1V 19, 9-18).

Bài Tin mừng hôm nay tiếp nối bài Tin mừng Chúa Nhật tuần trước. Sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua. Nhưng ý muốn của họ không phù hợp với sứ mạng của Ngài. Vì thế, Ngài đã giải tán dân chúng. Trước khi giản tán họ, Ngài đã bảo các môn đệ xuống thuyền đi sang bờ bên kia. Còn Ngài thì lên núi cầu nguyện một mình. Nhưng khi thuyền các môn đệ đi ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió. Cùng lúc đó, Đức Giêsu đi trên mặt nước mà đến với họ. Nhưng các môn đệ tưởng rằng đó là ma và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Ngay lập tức, Đức Giêsu trấn an các ông: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!” Nghe vậy, Thánh Phê-rô đã xin Đức Giêsu “nếu thực sự là Thầy, xin truyền cho con đi trên mặt nước để đến với Thầy. Đây là một lời cầu xin đầy táo bạo và mang tính thách thức. Dầu vậy, Đức Giêsu vẫn chấp nhận lời cầu xin của ông. Phê-rô đã bước xuống khỏi thuyền và đi trên mặt nước. Đó là hành động của niềm tin. Bởi vì, nếu không có niềm tin chắc chắn không ai hành động như thế. Nhưng khi đi được nữa chừng, thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con!” (Mt 14,30). Đức Giêsu đưa tay cứu lấy ông, đồng thời trách nhẹ ông rằng: “Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?” Sau đó, Đức Giêsu đã làm cho sóng gió yên lặng.

Câu chuyện của tiên tri Êlia và câu chuyện của Phê-rô cho chúng ta thấy phảng phất hình ảnh của Giáo Hội, của mỗi người kitô hữu chúng ta trong đó. Thật vậy, lịch sử Giáo Hội và cuộc đời mỗi người kitô hữu chúng ta giống như con thuyền chòng chành trên biển khơi. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Giáo Hội bị bách hại một cách khốc liệt và kéo dài suốt 300 năm. Hầu hết các Tông đồ đều chịu Tử đạo. Vô số các kitô hữu bị giết chết. Từ đó tới nay có lẽ không giây phút nào mà Giáo Hội không bị bách hại. Lịch sử cuộc đời mỗi người kitô hữu chúng ta cũng vậy: Có những khi chúng ta phải chạy trốn “ba thù” như tiên tri Êlia. Có những khi chúng ta bị nhận chìm xuống tận đáy của vực thẳm như Phê-rô bị nhận chìm xuống biển. Đúng như lời Đức Giêsu tuyên bố: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mỗi ngày mà theo Ta.”(Lc 9,23). Thập giá đó là những sự bắt bớ, tù đày, đòn vọt đến từ những người chống đối Giáo Hội. Thập giá đó là khi chúng ta chống chọi với những cám dỗ của thế gian, ma quỷ, xác thịt. Ngoài ra, thập giá cũng có thể là những đau khổ thể xác như bệnh tật, đói khát do thiên nhiên hay do người khác gây nên.

Nhưng cho dù trong hoàn cảnh nào, Giáo Hội và các kitô hữu vẫn có thể vượt qua nếu biết nhìn lên Chúa, biết kêu cầu Ngài giúp đỡ. Vì thế, lời kêu cầu của Thánh Phê-rô “Lạy Chúa, xin cứu con,” cũng là lời kêu cầu của mỗi người chúng ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Hãy xin Chúa cứu giúp khi chúng ta gặp thử thách đau khổ về thể xác cũng như tinh thần. Hãy xin Chúa cứu giúp khi chúng ta gặp thử thách trong đời sống đức tin. Hãy xin Chúa cứu giúp khi chúng ta gặp những thất bại trong cuộc sống. Trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, nếu chúng ta biết nhìn lên Chúa, kêu cầu Ngài, chắc chắn Ngài sẽ nắm lấy tay chúng ta và bảo rằng: “Cứ yên tâm, Thầy đây đừng sợ.”

Lạy Chúa Giêsu, cuộc đời của chúng con nhiều khi cũng cảm thấy hoang mang lo sợ như tiên tri Êlia và Thánh Phê-rô ngày xưa. Xin cho chúng biết cảm nhận được Chúa ở bên cạnh, để luôn biết kêu cầu Chúa và xin Chúa hãy ra tay cứu giúp chúng con. Amen.

Về đầu trang

TN19-A115: ĐIỂM TỰA DUY NHẤT TRÊN CÕI ĐỜI

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Vào canh tư đêm ấy (khoảng ba giờ sáng), đang khi các môn đệ vất vả chèo lái con thuyền ngược TN19-A115

Vào canh tư đêm ấy (khoảng ba giờ sáng), đang khi các môn đệ vất vả chèo lái con thuyền ngược gió giữa sóng cả trùng khơi thì bỗng phát hiện một bóng ma chập chờn trên sóng nước. Mọi người hốt hoảng la lên. Nào ngờ đó lại là Chúa Giê-su. Ngài trấn an họ: “Chính Thầy đây! Đừng sợ!”. Biết vậy, Phê-rô hăm hở đòi đi trên nước như Thầy: “Thưa Thầy, nếu quả là Thầy thì xin truyền cho con đi trên mặt nước và đến cùng Thầy.”

Được Chúa chấp thuận, Phê-rô bước ra khỏi thuyền, bước đi lảo đảo trên sóng nước như người say và đến khi gặp cơn sóng dữ ập đến, Phê-rô quá đỗi kinh hoàng nên bị chìm xuống và hoảng hốt kêu lên: “Lạy Thầy, xin mau cứu con!”

Lập tức, Chúa Giê-su nắm lấy tay Phê-rô, kéo ông lên rồi đưa ông vào thuyền bình an vô sự.

 Sống trên đời nầy, chúng ta cũng như Phê-rô đi trên mặt biển. Mọi sự chung quanh đều chao đảo, bấp bênh. Mạng người quá đỗi mong manh. Kiếp người như ngọn đèn lung linh trước gió, như giấc chiêm bao!

Cuộc đời đầy dẫy tai ương

Những thiên tai xảy ra dồn dập khắp nơi trên thế giới: bão tố, lũ lụt, động đất, sóng thần, lốc xoáy… đã gây ra tổn thất khủng khiếp và cướp đi rất nhiều nhân mạng.

Bên cạnh đó, những tai hoạ do con người gây ra cũng khủng khiếp và tàn bạo không kém: chiến tranh, bạo lực, khủng bố… ở nhiều nơi.

Trước những tai ương hoạn nạn đó, con người biết tìm đâu nơi nương tựa vững bền? Biết bám víu vào ai để bảo toàn mạng sống? Biết dựa vào sức mạnh nào để đương đầu?

Tìm đâu ra một điểm tựa vững bền?

Tựa vào tiền của ư? Tiền của không mua được sức khoẻ và sự sống. Những tỷ phú giàu nhất thế giới cũng không thoát khỏi bệnh tật, tai ương và chết chóc.

Tựa vào địa vị, chức quyền ư? Những tổng thống, vua chúa quyền lực nhất thế gian cũng chỉ được ngồi trên ngai trong thời hạn ngắn rồi bị truất phế và tất cả không trừ ai đã vùi thây dưới mộ.

Tựa vào khoa học kỹ thuật tiên tiến ư? Nền kinh tế lớn mạnh và trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến của Nhật cũng không cứu được dân tộc Nhật Bản khỏi đại họa sóng thần khủng khiếp tàn phá Nhật Bản vào ngày 11 tháng 3 năm 2011.

Mọi thứ đều bấp bênh

Hành trình của con người trên dương gian không khác chi lộ trình của Phê-rô trên mặt nước; nhìn trước, nhìn sau, nhìn lui, nhìn tới, mọi thứ đều chao đảo, tất cả đều bấp bênh, chẳng có gì vững bền như thi hào Nguyễn Công Trứ nhận định: “Ôi nhân sinh là thế: như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao.”

Biết nương tựa vào đâu?

Con người không thể dựa vào người khác vì tất cả những người khác cũng đang ở trong tư thế bấp bênh, chao đảo như mình. Một chiếc tàu sắp đắm không thể cứu vớt chiếc tàu khác cũng đang chìm đắm như mình.

Cần phải có một “quyền lực” nào đó ở bên trên, ở một bờ bến vững vàng, mới có thể cứu vớt những ai đang chìm đắm trong biển đời chao đảo.

Hãy nắm lấy bàn tay Chúa Giê-su

Duy chỉ có bàn tay Chúa Giê-su mới có đủ quyền năng cứu vớt mọi người trên dương thế và bàn tay ấy luôn đưa tay ra để nâng đỡ, dìu dắt, cứu vớt bao người.

Bàn tay Chúa Giê-su đã đẩy lùi bệnh tật cho bao người: chạm đến những người phong hủi khiến những người nầy được sạch (Mt 8,3); đặt lên “những người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn và họ được chữa lành” (Lc 4, 40).

Bàn tay Chúa Giê-su trả lại ánh sáng cho người mù tối: chạm đến mắt người mù khiến y được sáng (Mt 9,29. 20, 34).

Bàn tay Chúa Giê-su đã lôi kéo con người ra khỏi cõi chết: Ngài nắm lấy bàn tay một bé gái đã chết và trả lại sự sống cho em (Mt 9,24).

Và cũng chính bàn tay ấy đã đưa ra nắm lấy tay Phê-rô đang chới với giữa sóng gió hãi hùng, kéo ông khỏi bị chìm đắm và đưa ông vào trong lòng thuyền bình an vô sự (Mt 14, 31).

Lạy Chúa Giê-su,

Chỉ có Chúa và duy chỉ có một mình Chúa mới là điểm tựa duy nhất cho nhân loại đang chơi vơi, chao đảo giữa biển đời tăm tối hãi hùng.

Xin soi sáng cho nhân loại hôm nay khám phá ra bàn tay đầy quyền năng của Thiên Chúa Tình Yêu đang luôn vươn ra để che chở và cứu vớt mọi người.

Xin cho chúng con được trở thành bàn tay nối dài của Chúa, sẵn sàng đưa ra nắm lấy những bàn tay khác đang gặp sóng gió gian nan.

Về đầu trang

TN19-A116: UY QUYỀN

Lm. Trần Việt Hùng

Đoàn dân vui sướng ra về, Ơn lành chan đổ, phủ phê cõi lòng. Môn đồ từ giã theo dòng, Môn đồ TN19-A116

Đoàn dân vui sướng ra về,

Ơn lành chan đổ, phủ phê cõi lòng.

Môn đồ từ giã theo dòng,

Xuống thuyền ra bến, cầu mong yên bình.

Giê-su cầu nguyện một mình,

Tâm tình cảm mến, hết tình yêu thương.

Chập chờn lo lắng vấn vương,

Thuyền khơi gối sóng, tựa nương nơi nào.

Biển đời báo tố thét gào,

Ra công chèo chống, biết bao cực hình.

Chúa thương bước tới thình lình,

Đi trên mặt nước, dủ tình cứu nguy.

Tông đồ sợ hãi nghĩ suy,

Tưởng rằng ma quái, tư duy nhiều điều.

Thầy đây! Đừng sợ sóng triều,

Phê-rô mong muốn, đánh liều bước theo.

Nặng chìm lo sợ kêu reo,

Xin Thầy cứu giúp, kéo theo đừng rời.

Uy quyền phán bảo một lời,

Gió yên biển lặng, cao vời quyền năng.

Trong khi các ông đang đối diện với sóng to và gió lớn, Chúa Giêsu đã đi trên mặt nước đến với các tông đồ. Các ông không nhận ra Chúa. Các ông quá sợ hãi và hoang mang. Các tông đồ đã không ngước nhìn lên mà chỉ loay hoay chèo chống với sóng biển. Các ông cậy dựa vào sức mình đối diện với thiên nhiên, nên đâm ra hoảng sợ và lo lắng.

Có biết bao nỗi sợ hãi vây hãm cuộc sống của chúng ta mỗi ngày. Chúng ta sợ bệnh hoạn, sợ mất mát, sợ đau đớn, sợ thất bại, sợ lỡ hẹn, sợ bóng tối và sợ chết. Chúng ta sợ vì chúng ta không làm chủ được chính mình, hơn nữa chúng ta không thể lường được những gì sẽ xảy ra quanh chúng ta. Chúa mời gọi chúng ta hãy nhận biết quyền năng của Thiên Chúa, Ngài quan phòng mọi sự và không gì xảy ra ngoài ý muốn của Chúa. Hãy biết phó thác mọi sự trong tay Chúa.

Bài phúc âm kể truyện các tông đồ thấy Chúa đi trên mặt nước, họ tưởng là ma, thế là sợ hãi. Chúa liền bảo: “Thầy đây – đừng sợ.” Lời Chúa thật dịu dàng và thân thương. Có Thầy đây, còn phải sợ hãi gì nữa. Thầy có quyền trên tất cả mà. Hãy cậy trông vào quyền năng của Chúa. Hãy chạy đến với Chúa bất cứ khi nào và hãy la lên, “Lạy thầy, xin cứu con.” Chúa sẽ giơ tay ra cứu chữa chúng ta như Chúa đã cứu Phêrô lên thuyền.

Hãy cầu nguyện và luôn tin tưởng vào Chúa.Truyện kể: Có một em học sinh chăm học luôn trả lời các câu hỏi một cách dễ dàng. Cậu bé hỏi lý do làm sao cô có thể nhớ và trả lời như thế. Cô bé trả lời: Trước khi học, tôi đã cầu nguyện. Cậu ta ngạc nhiên và thấy ý kiến hay. Cậu ta nói: Tôi sẽ cầu nguyện và đêm đó cậu đã cầu nguyện. Sáng hôm sau, khi đến lớp, cậu chẳng nhớ chi cả. Đành tìm cô bé để trách cứ vì đã lừa cậu ta. Cô ta nói rằng bạn đã không học được bài học khó này. Dĩ nhiên là không, vì tôi đã cầu nguyện thì tôi đâu cần  phải học nữa. Cô ta nói đó chính là vấn đề. Tôi đã nói với bạn rằng trước khi học, tôi cầu nguyện. Chứ không cầu nguyện thay cho việc học.

Bất cứ khi nào nhận ra tiếng Chúa mời gọi, chúng ta hãy mạnh dạn hướng nhìn thẳng vào Ngài và bước tới cùng Ngài. Chúa sẽ giơ tay đón nhận chúng ta. Cung cách ứng xử của Chúa đối với Phêrô thật nhẹ nhàng và yêu thương. Hãy tin tưởng phó thác cuộc đời của chúng ta trong vòng tay yêu thương của Chúa. Chúa cũng sẽ đón nhận chúng ta nếu chúng ta biết cậy dựa vào Chúa.   Lạy Chúa, xin cứu chúng con.

Về đầu trang

TN19-A117: CHÚA GIÊSU ĐI TRÊN MẶT BIỂN MÀ ĐẾN VỚI CÁC MÔN ĐỆ

P.Trần Đình Phan Tiến

Thưa quý vị, thưa các bạn,

Cuộc sống trần thế của con người nhân thế, như một biển khơi, chúng ta sống trên trần gian khác nào TN19-A117

Cuộc sống trần thế của con người nhân thế, như một biển khơi, chúng ta sống trên trần gian khác nào chúng ta đang đi trên biển, nếu như chúng ta không tin vào Thiên Chúa, thì cuộc đời chúng ta chắn chắc sẽ chìm, chìm vì bởi đủ mọi thứ, chìm vì chính những nhu cầu, những công việc, những ích kỷ, những mưu mô xảo quyệt, nói chung sẽ bị chìm vì tội lỗi của chúng ta. Vâng, nếu Thiên Chúa không ban chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu- Kitô đến trần gian để cứu độ chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ bị chìm, chìm đời đời và chìm trầm luân.

Tin mừng hôm nay ( Mt 14, 22 -33) cho chúng ta một hình ảnh rõ ràng về câu chuyện có thật chứ không phải dụ ngôn, đó là : “Chúa Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.

Hình ảnh của Tin Mừng hôm nay cho thấy biển mà tháh Phê-rô sắp chìm là biển thật, theo nghĩa đen, còn biển trần gian theo nghĩa bóng mà con người nhân thế chúng ta đang sống là chính cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

Xét theo hiện tượng vật lý, người đời mang một trọng lượng nhất định, năng hơn không khí, vì vậy, khi xuống nước không có sức hút và lực đẩy, thì tự nhiên chúng ta sẽ bị chìm. Đó là hiện tượng tự nhiên. Vì vậy, khác với hiện tượng tự nhiên là “HIỆN TƯỢNG SIÊU NHIÊN”, hiện tương siêu nhiên phải được xảy ra với siêu nhiên.

Theo đó, việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước mà đến với các môn đệ là Chúa biểu lộ Thiên Tính cho các môn đệ biết Người là Con Thiên Chúa.

Vâng, như chúng ta biết cuộc đời trần thế nặng nề đủ mọi chuyện chẳng khác nào “tảng đá”, vì vậy nó dễ chìm. Vì vậy, trang Tin Mừng hôm nay rất thiết thực và gần gũi với nhân thế, đặc biệt là người tín hữu.

Đức Phật nói : “ Nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển cả”, vì “ Cuộc đời là bể (biển ) khổ ”. các nhạc sĩ cũng viết : “Cuộc đời là sóng gió , còn ta là con thuyền”. Đạo Cao Đài , họ gọi chiếc quan tài là “ thuyền”. Vâng, biển cuộc đời và đời sống của từng cà nhân trên trần gian, chính là một biển cả. Cụ Nguyễn Du cũng đã viết : “ Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Nhưng, Đao Công giáo không bi lụy với đau khổ, không oán thán đau khổ, nhưng trái lại chấp nhận đau khổ, vì đau khổ là Thập giá, vì Chúa Giêsu nói : ” Ai không từ bỏ mình, vác thập già mình hằng ngày mà theo Ta, thì không xứng đáng làm môn đệ Ta.” .Đau khổ của người Công giáo là một hồng ân, chứ không phải là “án phạt”, bởi vì, chính Chúa Giêsu đã gánh lậy đau khổ cho chúng ta.

Qua Đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy khi các môn thấy Chúa đi trên mặt nước, thì các ông hoảng sợ la lên “Ma dấy !”, Chúa Giêsu bảo :” Chính Thầy đây, đừng sợ !”.

Vâng , thánh giáo hoàng Gioan Phaolo II đã dùng câu Lời Chúa hôn nay mà củng cố đức tin cho mọi Kitô hữu. Vâng, “Đừng sợ”, nhưng , phải có Thầy Chí Thánh Giêsu, nếu không chắc chắn chúng ta sẽ “bị chìm”. Có Chúa trong cuộc đời là một điều hạnh phúc thật sự, từ đó chúng ta “đừng sợ” đau khổ vì chúng ta có Chúa Giêsu.

Thánh Phê-rô sắp bị chìm vì thiếu lòng tin vào Chúa, nhưng ông đã biết kêu cầu Chúa “Thầy ơi, xin cứu con !”. Chúa Giêsu liền đưa tay ra cứu lấy Phê-rô.

Phê-rô vừa được Chúa đưa lên núi Thánh, được thị kiến Dung Nhan Thần Tính của Thầy Chí Thánh, bây giờ lại dược chúng kiến Thầy đi trên mặt nước, lại xin Thầy cũng cho mình đi trên mặt nước, nhưng ông lại yếu tín, liền bị Chúa quở trách, : “Sao kém tin thế !”. Như vậy, thánh Phê-rô thực sự rất yếu đuối, nhưng ngài được giao cho là Tông Đồ trưởng, bởi vì , Chúa không xét theo  giới hạn của Phê-rô, nhưng dựa vào “Lòng Thương Xót” vô biên của Thiên Chúa.

Vì vậy, khi đặt Phê-rô là “ĐÁ” điều đó nghĩa là : ” Chúa muốn xây dựng trên thánh Phê-rô một lòng khiêm nhường như đá, một lòng cứng rắn như đá, một lòng sắt son, chung thủy như đá, và một lòng tin mạnh mẽ như đá.”

Và như vậy, thánh Phê-rô có sức nâng dậy Hội Thánh của Chúa ngay tại trần gian. Đặc tính của đá thật là đáng ca ngợi, Thiên Chúa tạo thành loài người bởi bụi tro, là đất, nhưng, đặt chân lý Tin Mừng trên đá, vâng đó không phải là một mầu nhiệm sao !

Phê-rô là đá nhưng Phê-rô không bị chìm vì Phê-rô có Chúa Giêsu, Đấng “CỨU “mọi linh hồn.

Như chúng ta biết mọi tu luật của các dòng tu đều căn cứ vào đặc tính của ”ĐÁ”, không phải chỉ sự cứng rắn không thôi, mà chính là sự khiêm nhường, bên cạnh sự vững bền, sự cứng rắn, sự hiên ngang, đá mang đặc trưng của sự khiềm nhường muôn thuở.

Chẳng vậy, mà chúng ta thấy người có công xây dựng nhà thờ Đá Phát Diệm – Ninh Bình là cha Phê-rô Trần Lục, một con người Linh mục đa tài, đã chiêm niệm về đặc tính của đá, nên chi , đã để lại cho đời một di tích thờ phượng, đồng thời là một danh thắng đáng ca ngợi muôn đời.

Lạy Chúa Giêsu , Chúa đã đi trên mặt nước mà đến với các môn đệ, xin thương cũng đi trên cuộc đời của mỗi người Kitô hữu, để sóng gió cuộc đời họ được lặng yên vì có Chúa, và xin cho họ nhận ra chỉ có Chúa mới làm được điều đó mà thôi ./. Amen

Về đầu trang

TN19-A118: CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN -A

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

“Cứ yêm tâm! Thầy đây đừng sợ”(Mt 14,27)

Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, Đức Giêsu giục các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia Biển Hồ TN19-A118

Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, Đức Giêsu giục các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia Biển Hồ trước. Còn Ngài thì ở lại giải tán dân chúng, rồi sau đó lên núi cầu nguyện một mình. Giữa đêm, con thuyền các môn đệ gặp sóng to bão lớn, các ông vô cùng sợ hãi.

Chính lúc đó Đức Giêsu đi trên mặt nước mà đến với các ông. Ban đầu các ông tưởng là ma nên càng sợ hơn nữa. Nhưng khi đã nhận biết đó là Thầy mình thì các ông bình an trở lại và tuyên xưng “Thật Thầy là Con Thiên Chúa”(Mt 14,33).

Câu chuyện là như thế nhưng chúng ta có rút ra được một bài học nào không? Tôi tưởng có một vài bài học rất cụ thể, rất cần cho chúng ta nhất là trong cuộc sống hôm nay.

    Đức Tin Lúc An Bình Và Khi Gặp Sóng Gió

Hai hình ảnh về một lòng tin đã được thánh Matthêô nối kết với nhau, như một đối trọng, nói lên sự hiện diện của “Thiên Chúa ở cùng” luôn là điều cần thiết cho các môn đệ năm xưa, cũng như cho mỗi người chúng ta hôm nay. Lòng tin của chúng ta vào Thiên Chúa có những lúc phẳng lặng như một mặt hồ phản chiếu trong suốt soi rõ những vẻ đẹp thiên nhiên. Nhưng nhiều khi chỉ một làn gió nhẹ thôi cũng đủ làm nó gợn sóng, xao động và bao nhiêu vẻ đẹp đều tan biến.

Nhìn lại những thăng trầm của cuộc đời, mỗi khi chúng ta được sống trong bầu khí an vui, được hài lòng với mọi sở nguyện, chúng ta dễ dàng xác tín và cảm nhận mạnh mẽ sự quan phòng của Chúa. Thế nhưng khi gặp phải những khó khăn thử thách, những điều bất hạnh, những nghịch cảnh xảy tới – như các môn đệ xưa giữa cơn sóng gió, chúng ta cũng dễ dàng hoang mang lo sợ và không nhận ra Chúa. Quả thật, lòng tin của chúng ta đã nhiều lúc thật yếu ớt và mong manh!

Một người vô thần rất mê leo núi. Ngày kia anh ta trượt chân té ngã lăn từ đỉnh núi xuống. Nhưng may thay anh bám được vào một cành cây nằm chơ vơ giữa đỉnh cao và vực thẳm. Giữa lúc chỉ còn biết chờ chết, một ý nghĩ chợt đến với anh:

– Tại sao không gọi Chúa đến cứu giúp.

Nghĩ là làm. Anh lấy hết sức lực la lên thật lớn:

– Lạy Chúa!

Tuy nhiên bốn bề chỉ có thinh lặng và anh chỉ nghe được tiếng dội của lời kêu van. Một lần nữa, người vô thần lại kêu xin tha thiết hơn:

– Lạy Chúa, nếu quả thật có Chúa thì xin hãy cứu con. Con hứa sẽ tin Chúa và dạy cho những người khác cũng tin Chúa nữa.

Sau một hồi thinh lặng, bỗng người vô thần nghe một tiếng vang dậy cả vực thẳm và núi cao:

– Gặp hoạn nạn thì ai cũng cầu xin như thế!

– Không! lạy Chúa, nghìn lần không. Con không giống như những người khác. Chúa không thấy sao, con đã bắt đầu tin từ khi nghe tiếng Chúa phán. Nào bây giờ xin Chúa hãy cứu con đi, và con sẽ cao rao danh Chúa cho đến tận cùng trái đất!

Tiếng ấy trả lời:

– Được lắm! Ta sẽ cứu ngươi. Vậy nếu ngươi tin thì hãy buông tay ra!

Người vô thần thất vọng thốt lên:

– Buông tay ra ư, bộ Chúa tưởng tôi điên sao! (Trích “Món quà giáng sinh”)

Mẹ Têrêxa Calcutta nói: “Đức tin là tình yêu trong hành động chứ không phải trong cảm giác. Sự vâng phục mau mắn, đơn thành, tối mặt, vui vẻ đối với Thiên Chúa là bằng chứng của đức tin.”

 Có lẽ chúng ta cũng phải xin Chúa một điều như các tông đồ thuở xưa: “Lạy Thầy xin thêm lòng tin cho chúng con”(Lc 17,5)

    Những Người Đi Trên Mặt Nước

Đức tin không bảo đảm cho người tin khỏi gặp sóng gió nhưng thêm sức cho người ấy có thể bước đi trên mặt nước giữa sóng gió tơi bời. Hiểu như thế thì không phải chỉ một mình Phêrô, mà còn rất nhiều người có thể đi trên mặt nước mà không sợ hãi.

Có một bà nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình tâm trước mọi thử thách. Một bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hi vọng học được bí quyết để sống bình an và hạnh phúc.

Bà hỏi:

– Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao?

– Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn lao, mà chỉ là người có đức tin bé nhỏ đặt vào một Thiên Chúa lớn lao.

Trong cuốn ký sự ghi lại những cuộc du hành của MARCÔ PÔLÔ, nhà hàng hải lừng danh của Italia vào thế kỷ thứ XVI, có thuật lại cuộc gặp gỡ của ông với một số nhà truyền giáo tại Biển Đen. Các nhà truyền giáo cho biết họ đang trực chỉ đến vùng Tarta. Nhìn chiếc thuyền quá đơn sơ của các Tu Sĩ, Marcô Pôlô mới buột miệng đưa ra câu nhận xét:

– Có lẽ các ngài chưa lường hết được những hiểm nguy trên biển cả. Với một cuộc hành trình cam go như thế này mà các ngài lại không mang theo gì hết. Xin các ngài cho biết đã chuẩn bị những gì?

Các nhà truyền giáo mỉm cười đáp:

– Chúng tôi được trang bị bằng đức tin, đức cậy, đức mến, và Chúa chính là Đấng dẫn đường, chỉ lối cho chúng tôi. Chúng tôi nghĩ như thế cũng đầy đủ cho chúng tôi rồi!

    Tin Vào Sự Hiện Diện Của Thiên Chúa.

Cách viết của tác giả bài đọc I hàm chứa một bài học sâu sắc về sự hiện diện của Chúa. Khi ngôn sứ Elia đứng trong một hốc núi Horép, ông thấy một luồng gió mạnh xé núi dời non, nhưng Chúa không ở trong đó. Ông lại thấy một cơn bão rất mạnh làm cho đất rung động, nhưng Chúa không ở trong bão. Ông còn thấy lửa, nhưng Chúa cũng không ở trong lửa. Cuối cùng ông thấy một làn gió hiu hiu: ông được soi sáng cho biết có Chúa ở trong đó, ông liền cung kính lấy khăn che mặt đại để bước ra khỏi hang diện kiến Thiên Chúa.

Vâng! Thiên Chúa không thích hiện diện trong những thứ ồn ào, uy phong, vĩ đại. Ngài thường hiện diện cách êm ả, âm thầm và nhẹ nhàng trong cái rất bình thường của đời sống.

Chúng ta không nhận ra được sự hiện diện của Chúa bởi vì chúng ta cứ mãi tìm Ngài trong những sự phi thường.

Nhà hiền triết Uddalaka thường dùng những dụ ngôn để dạy cho con ông biết nhận ra Thiên Chúa ngay trong cuộc sống thường ngày. Đây là một trong những dụ ngôn đó:

Ngày nọ, ông nói với con ông:

– Hãy bỏ nắm muối này vào nước và sáng ngày mai hãy trở lại gặp cha

Người con làm đúng theo lời cha anh dạy. Hôm sau, cha anh bảo:

– Con hãy lấy cho ta nắm muối con bỏ vào trong nước hôm qua.

– Thưa cha, người con nói, con không thể làm được vì muối đã tan trong nước hết rồi!

– Vậy con hãy nếm dĩa nước bắt đầu từ mép bên phải xem. Uddalaka nói. Con thấy mùi vị gì?

– Muối.

– Bây giờ, con hãy nếm phía mép kia của cái dĩa. Con thấy mùi vị gì?

– Muối.

–  Con hãy ném cái dĩa đi. Người cha nói.

Người con làm y như thế và nhận thấy rằng sau khi nước bốc hơi, muối lại xuất hiện. Lúc đó Uddalaka bèn nói:

– Con ạ, con không thể nào nhận ra Thiên Chúa ở đây, nhưng thật ra Người luôn có đó.

Lạy Chúa! Xin giúp con luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong những biến cố của đời con. Xin ban ơn giúp sức cho con để con vượt thắng mọi thử thách trên đường đời. Quyền năng và tình thương của Chúa luôn làm cho con vững dạ an tâm (Tv.23:4). Amen

Về đầu trang

TN19-A119: BA ĐÀO

Trầm Thiên Thu

Biển luôn có sóng, sóng ngầm hoặc sóng cồn, sóng to hoặc sóng nhỏ, nghĩa là biển luôn dậy sóng (dậy TN19-A119

Biển luôn có sóng, sóng ngầm hoặc sóng cồn, sóng to hoặc sóng nhỏ, nghĩa là biển luôn dậy sóng (dậy sóng – ba: sóng, đào: nổi dậy). Ba đào là con sóng lớn. Sóng không bao giờ lặng. Và người ta có câu: “Bình địa ba đào” – nghĩa là sóng gió nổi lên ở vùng đất bằng, ý nói cuộc tai biến bất ngờ có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc đời con người. Câu “bình địa ba đào” có lẽ phát xuất từ của thơ của cụ Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều: “Gặp cơn bình địa ba đào, Vậy đem duyên chị buộc vào cho em” (câu 3065-3066).

Bình thường, khi nói đến sóng, người ta thường nghĩ ngay tới biển (chứ không nghĩ tới sóng phát thanh, truyền hình hoặc internet). Sóng có lúc rất hiền hòa, rất thơ mộng khi sóng “mơn man vỗ mạn thuyền”, do đó mà người ta áp dụng nghĩa này cho vấn đề trừu tượng và gọi là “lãng mạn”. Sóng cồn dù dữ dội nhưng là sóng nổi, thật đáng sợ nhưng không đáng sợ bằng sóng ngầm, bởi vì sóng ngầm không thể nhìn thấy. Sóng còn khủng khiếp hơn nếu đó là sóng bạc đầu hoặc sóng thần, điển hình là sóng thần tại Nhật Bản ngày 11-3-2011 đã cuốn mất khoảng 16.000 người và quét sạch mọi thứ vào lòng biển khơi.

Cố NS Trịnh Công Sơn đã dùng biển để triết lý về thế thái nhân tình: “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã dưới chân người; biển sóng biển sóng đừng xô nhau, ta xô biển lại sóng về đâu?… Biển sóng biển sóng đừng xô tôi, đừng xô tôi ngã giữa tim người… Biển sóng biển sóng đừng âm u đừng nuôi trong ấy trái tim thù” (Sóng Về Đâu). Ca từ của ông chuyển tải đầy triết lý sống thâm thúy. Biển vừa hiền vừa dữ. Biển sâu thẳm và mênh mông, bao la tình yêu thương, vì thế mà lòng biển không bao giờ lặng, luôn xao động, dù có lúc nhìn biển rất tĩnh. Và biển cũng giống như cuộc đời của con người vậy!

Có nhiều loại sóng. Nhưng có loại sóng dữ dội và dai dẳng hơn các loại sóng, đó là “sóng đời”. Phàm nhân chúng ta đang miệt mài hành trình lữ hành trần gian, lênh đênh trên biển đời, chắc chắn không thể tránh được những đợt “sóng đời” – đủ dạng và đủ cỡ. Không vững tay chèo thì thuyền đời tròng trành, thậm chí còn có nguy cơ “chìm” bất cứ lúc nào. Vì thế, chúng ta luôn phải sẵn sàng phát tín hiệu khẩn cấp: “S.O.S., lạy Thiên Chúa, xin thương cứu con!”.

Mọi nơi và mọi lúc đều có sự hiện diện của Thiên Chúa. Ngài hiện hữu và tác động mọi sự, kể cả những thứ chúng ta cho là không tốt, nhưng Thiên Chúa không làm điều không tốt – nghĩa là Ngài chỉ làm điều thiện, bởi vì Ngài là Đấng Thánh (Lv 11:44-45; Lv 19:2; Lv 20:26; Lv 21:8; Tv 89:36; Tv 99:5 & 9; Is 6:3; Br 4:22; Hs 11:9; Am 4:2; 1 Pr 1:16; Ga 6:69) và nhân lành (Mc 10:18; Lc 18:19; Ga 10:11 & 14). Đau khổ và những thứ không tốt xảy ra cho chúng ta, không phải là Ngài không biết, nhưng Ngài cho phép nó xảy ra theo tự nhiên để cảnh tỉnh chúng ta bằng bài học giá trị. Có thể đó là hậu quả do sai lầm của chúng ta hoặc của người khác, nhưng cũng có thể đó là để làm vinh danh Chúa – như trường hợp người mù bẩm sinh (x. Ga 9:1-3). Quả thật, tội lỗi cũng có tính liên đới.

Một đêm nọ, khi ông Êlia vào một cái hang để nghỉ ngơi, Đức Chúa hỏi ông: “Êlia, ngươi làm gì ở đây?” (1 V 19:9). Rồi Ngài truyền lệnh cho ông: “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua” (1 V 19:11).

Cơn gió lồng lộng, cơn bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong những “sự kiện” đó. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. Ôi, Ngài dịu dàng quá! Vừa nghe tiếng đó, ông Êlia lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Ông nhận biết Đức Chúa đang ở trong làn gió nhẹ đó. Quả thật, lúc đó có tiếng hỏi ông như trước: “Êlia, ngươi làm gì ở đây?” (1 V 19:13). Ông thưa: “Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con” (1 V 19:14).

Thiên Chúa luôn phán dạy nhưng không dễ để lắng nghe tiếng Ngài hoặc nhận biết ý Ngài, vì thế mà chúng ta phải không ngừng cố gắng lắng nghe để nhận biết ý Ngài, rồi tiếp tục cố gắng chấp nhận và thực hiện, người có lòng nhiệt thành đối với Chúa thì sẽ để ý Chúa nên trọn chứ không mong ý mình nên trọn. Về lĩnh vực này, chúng ta lại thường có xu hướng trái ngược, vì chúng ta luôn thích “xin được như ý”.

Rất chân thánh, Thánh Vịnh gia chia sẻ: “Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán, điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người, cho kẻ trung hiếu và những ai hướng lòng trí về Người. Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa, để vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta” (Tv 85:9-10).

Thiên Chúa là Đấng nhân lành, thế nên bất cứ nơi nào Ngài hiện diện thì mọi sự đều tốt đẹp: “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao. Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc và đất chúng ta trổ sinh hoa trái. Công lý đi tiền phong trước mặt Người, mở lối cho Người đặt bước chân” (Tv 85:11-14). Điều này cũng đồng nghĩa với điều này: Ở nơi nào vắng bóng Thiên Chúa thì mọi sự sẽ hoang vu, tiêu điều và nguy hiểm. Thật đáng sợ!

Và vì thế, nghĩa là ai biết sợ cảnh “thiếu vắng Thiên Chúa” thì phải mau đón Chúa vào lòng, càng sớm càng tốt, trước khi công lý được áp dụng, trước khi chấm dứt “thời gian thương xót” của Ngài. Thiên Chúa vẫn kiên trì chờ đợi chúng ta trở về như người cha nhân hậu mong ngóng đứa con hoang đàng trở về (Lc 15:11-32). Ai khôn ngoan thì biết tỉnh thức đợi chờ Ngài như mười trinh nữ khôn ngoan chờ đón chàng rể (Mt 25:1-13), vì “thời gian không chờ đợi ai – time waits for no man”. Lý do? Bởi vì “Chúa đã gần đến” (Pl 4:5), “ngày Chúa quang lâm đã gần tới” (Gc 5:8), và “thời giờ đã gần đến” (Kh 1:3; Kh 22:10). Đó là không ngừng rèn luyện Đức Tin, để khi gặp thử thách sẽ không bị chao đảo, không như hạt giống rơi vào đất sỏi đá hoặc bụi gai.

Ở trong tình trạng “tỉnh thức chờ đón Chúa” như vậy thì không ai có thể ngồi yên, cõi lòng luôn như biển động, luôn nổi sóng, khi sóng nhỏ, lúc sóng to, nhưng không bị dao động. Thánh Phaolô cũng đã luôn đứng ngồi không yên. Ông thề có Đức Kitô chứng giám, rồi nói sự thật chứ không nói dối, nhờ Thánh Thần hướng dẫn: “Lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi” (Rm 9:2). Tại sao như vậy? Thánh Phaolô giải thích: “Giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, tôi cũng cam lòng. Họ là người Ít-ra-en, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa; họ là con cháu các tổ phụ; và sau hết, chính Đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. Amen” (Rm 9:3-5). Ôi chao, có Chúa thì hạnh phúc và vinh dự như thế đấy!

Thế nhưng cứ nói rồi quên, hứa rồi thôi. Phàm nhân thật là khốn nạn lắm thôi. Đôi khi không chỉ nghe người khác nói mà còn chứng kiến tận mắt, thế mà chúng ta vẫn chưa dám tin thật. Ôi thôi, con người ơi! Hỡi tôi ơi!

Rồi vào một buổi chiều, có lẽ hôm đó trời quang mây tạnh, đẹp lắm và thú vị lắm. Sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hàng ngàn người ăn no, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Ngài giải tán dân chúng, vì chắc chắn dân chúng lưu luyến Ngài, khoái Ngài lắm, không thể về được, dù trời đã nhá nhem tối. Mãi mới giải tán được đám đông. Khi giải tán họ xong, Chúa Giêsu lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến, Ngài vẫn ở đó một mình. Chúa Giêsu luôn thích sống tĩnh lặng để kết hiệp với Chúa Cha qua lời cầu nguyện. Ngài luôn căn dặn mọi người phải cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ (Lc 22:40-46), cầu nguyện còn là sức sống và là sức mạnh của linh hồn. Thứ nhất là cầu nguyện, thứ nhì mới là hoạt động. Thật lạ, “người ta chỉ vĩ đại khi cầu nguyện” (Bác học Ampère). Thảo nào Chúa Giêsu bảo chúng ta phải cầu nguyện không ngừng, cầu nguyện liên lỉ.

Lúc Chúa Giêsu chỉ còn một mình và cầu nguyện, chiếc thuyền chở các môn đệ đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, và bị sóng đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư – tức là quá nửa đêm về sáng, Ngài đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Ngài đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14:27). Nghe vậy, ông Phêrô bán tín bán nghi nên liền thưa: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài” (Mt 14:28). Đức Giêsu ôn tồn bảo ông: “Cứ đến!”. Ông Phêrô hí hửng bước ngay xuống khỏi thuyền, đi trên mặt nước mà đến với Đức Giêsu. Vô tư. Rất ngon lành. Thế nhưng khi thấy gió thổi, ông đâm sợ, hồn xiêu phách lạc, chín vía lên mây ráo trọi, và khi bắt đầu chìm, ông la toáng lên: “Sư Phụ ơi, xin cứu đệ tử với!” (Mt 14:30).

Giữa biển đời, chúng ta cũng vậy, có hơn gì ngư phủ Phêrô đâu. Biển đời chỉ mới gợn sóng lăn tăn thôi, vậy mà thuyền đời của chúng ta đã tròng trành, tưởng chừng chìm đến nơi. Lòng tin tích góp bao năm, giờ bỗng “bốc hơi” gần cạn kiệt; cây đức tin vun tưới bao năm, giờ bỗng héo úa mau chóng. Lạy Chúa tôi! Đức tin chỉ “sống” khi dòng đời êm ả, khi tiệc tùng linh đình, khi ung dung rung đùi, khi được người ta tâng bốc lên tận mây xanh,… Còn khi gặp phải gió xoáy hoặc gió lốc, con-thuyền-đức-tin cứ quay tít như chong chóng, như con cù, chẳng còn biết đâu là phương hướng!

Nhìn thấy đệ tử Phêrô ngoi ngóp trong dòng nước, có thể cũng “no nước” rồi, Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà KÉM TIN vậy! Sao lại HOÀI NGHI?” (Mt 14:31). Lời trách nhẹ nhàng mà đau điếng. Và đó cũng chính là lời trách mà Thầy Giêsu đang nói với mỗi chúng ta hôm nay, ngay lúc này.

Phêrô được cứu mạng. Thầy trò cùng lên thuyền. Gió yên, biển lặng ngay lập tức. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Ngài và nói tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa (Mt 14:33). Đó là bài học đức tin vô giá mà Chúa Giêsu dạy chúng ta ngay trong những lúc chúng ta gặp cơn sóng gió của cuộc đời. Ước gì chúng ta khả dĩ nhận biết mình yếu kém về đức tin, nhờ vậy mà có thể cố gắng chăm sóc Cây Đức Tin càng ngày càng phát triển tốt hơn.

Ai cũng biết rằng cuộc đời không như thảm lụa hoặc như chiếu trải hoa hồng. Thiên nhiên còn lúc nắng, lúc mưa, lúc hạn hán, lúc mưa dầm, thậm chí là áp thấp hoặc dông bão kia mà! Cụ Nguyễn Công Trứ đã đặt vấn đề: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?”. Giữa sóng gió cuộc đời, dù nhỏ hay lớn, ước gì chúng ta vẫn luôn khả dĩ xác tín với Đức Giêsu Kitô: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!” (Mt 14:33). Đó là sống đức tin, là làm chứng nhân giữa đời thường bằng chính khả năng của mình.

Có lúc Chúa Giêsu dẹp yên sóng đời để cứu chúng ta, nhưng có lúc Ngài cứ để cho biển đời dậy sóng để dẹp yên sóng lòng của chúng ta. Thánh Ý Chúa mầu nhiệm. Đề cập vấn đề đức tin, Thánh Tiến sĩ Teresa Avila xác định: “Tất cả tội lỗi đều do thiếu đức tin mà ra”. Câu này đáng để chúng ta phải “giật mình” mà cố gắng tự chấn chỉnh và chăm sóc Cây Đức Tin lắm. Tất nhiên không thể quên cấp báo: “S.O.S., lạy Thiên Chúa của con!”.

Mong sao các Kitô hữu luôn biết sống theo Tin Mừng để đem làm chứng sống động về niềm tin, lòng ngay chính và tình yêu thương tha nhân trong hoàn cảnh và môi trường của mình.

Lạy Thiên Chúa, xin cứu khổ cứu nạn và xin giúp con biết tín thác vào Ngài trong mọi hoàn cảnh – như Tổ Phụ Ápraham, như Thánh Gióp, như Đức Maria, và như Đức Giuse, nhất là những lúc biển đời đầy những đợt sóng vỗ vào thuyền đời của con, lúc mạnh lúc nhẹ. Xin giúp con vững tay chèo chống, khéo léo bát cậy, để có thể cập bến an toàn. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về đầu trang

TN19-A120: THUYỀN RA KHƠI

Lm. Jos. DĐH.

Tất cả những con thuyền đều có chung một sứ mệnh vượt sông suối biển cả, chuyên chở người, chở TN19-A120

Tất cả những con thuyền đều có chung một sứ mệnh vượt sông suối biển cả, chuyên chở người, chở hàng, đến bến bờ theo lịch trình xuất phát của chủ nhân. Không phải tự nhiên mà cha ông ta có được kinh nghiệm: thuyền to sóng lớn, dẫu biết rằng thuyền nhỏ hay lớn vẫn có những khó khăn và giới hạn riêng. Thuyền ra khơi, thuyền sẽ cập bến, con thuyền gặp sóng yên biển lặng hay phải đối diện với nguy hiểm gió bão, chủ nhân của chúng luôn xem đó là một quy luật: biển khơi không sóng gió thì đó la ao tù. Tầu thuyền không ra khơi, là thuyền tầu kiểng, chúng được tạo ra để trưng bày, ngắm nhìn. Người không biết lắng nghe, không thể chia sẻ, không màng đến hạnh phúc của mình, chẳng quan tâm đến thao thức của đồng loại, đó chỉ là bức tượng vô cảm mà thôi.

Tiền nhân chúng ta để lại cho hậu thế kinh nghiệm: sông có khúc, người có lúc ; hoặc, người có lúc vinh lúc nhục, nước có lúc đục lúc trong. Nước dưới sông hết trong phải đục, vận người hết thịnh phải suy, không mấy ai còn thắc mắc, vì đó là quy luật. Sau khi hiểu phép lạ hoá bánh ra nhiều đến từ tình yêu thương của Thầy Giêsu, các môn đệ vâng lời Thầy xuống thuyền vượt biển hồ, vì đó là ơn gọi tin yêu và sống tinh thần phục vụ theo Thầy đến cùng tận. Thuyền ra khơi là bắt đầu hành trình, dù dài hay ngắn, thuận lợi hay khó khăn vì thời tiết, tất cả các thuyền viên đều cố gắng với khả năng giới hạn của mình và mong tầu thuyền cập bến bình an.

Cuộc đời mỗi người có thể sánh ví như con thuyền ra khơi, tầu thuyền dù lớn, dù nhỏ, có ra khơi mới có đến được bến bờ. Thuyền lớn thuyền to, người tài giỏi đức độ, người thấp kém giới hạn tội lỗi đều phải đối diện với nhiều thách thức sóng gió trong hành trình, cũng vì thế mà chúng ta có câu: ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Thuyền ra khơi với hy vọng đến bến bờ bình an, người Kitô hữu ra khơi với đầy hứa hẹn hạnh phúc khi tới bến bờ ; và bằng một niềm tin yêu, các thuyền viên mới nghe được lời trấn an của Chúa Giêsu: “hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ”. Thuyền ra khơi, thuyền sẽ cảm nhận được thế giới tự nhiên và thế giới siêu nhiên đầy “kỳ bí”. Người tín hữu có sống hành trình làm con Chúa, ắt sẽ thấy và hiểu, nhờ có sự hiện diện của Chúa Giêsu, người ta mới có niềm vui hạnh phúc thật.

Thuyền ra khơi tuy không cùng một thời điểm, nhưng chắc chắn không có thuyền tầu nào xuất phát lúc thời tiết đang giông bão. Thiên Chúa yêu thương cho ta sinh ra làm người, làm con Chúa, Ngài ban cho ta có điều điện, cơ hội, hầu vượt biển trần gian, Thiên Chúa còn ban Đức Giêsu để trợ giúp ta thắng vượt sóng gió cuộc đời mà đến bến bờ hạnh phúc. Biển có sóng gió, nên các thuyền viên cần phải cảnh tỉnh, không đưỡc phép chủ quan, dù tầu thuyền có to lớn hiện đại như “Tầu Titanic”. Môi trường sống niềm tin của người môn đệ không thể thuần tuý là thuận buồm xuôi gió, vì thế mà người học trò của Đức Giêsu phải vâng nghe, hiểu và tín thác trong ơn gọi theo Ngài.

Trong binh nghiệp người ta nói: thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu ; trong công việc làm ăn buôn bán, người ta nói thất bại là mẹ thành công, đại ý là: nghiêm túc, chăm chỉ và kiên nhẫn, ba điều cần thiết. Ở đời, sóng gió đến với mỗi người nhất định không phải vì hên xui, vô tình, hẳn chúng ta cũng đủ kinh nghiệm là giầu nghèo, thông thái, khờ khạo, đều có cái khó riêng: mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Gió bão, khổ đau, mỗi người, mỗi gia đình kitô giáo, hiện tại không phải là hình phạt, mà là dịp để chúng ta minh chứng niềm tin yêu của ta đối với Thiên Chúa thế nào. Ông Phêrô có nói được: “thật, Thầy là Con Thiên Chúa”, ông đã phải trải qua giữa sóng biển gầm thét, ông sợ hãi vì sắp chìm, ông bị Thầy Giêsu quở trách, đồ hèn tin.

Sinh ra trong đời, dù con nhà giầu hay con đại gia, đầu óc bác học hay nông dân, chúng ta đều là con Thiên Chúa, ai cũng được mời gọi hướng về phía trước, nói thật ra là “phải vượt đại dương”. Thuyền ra khơi, có khi là một trăm năm, có khi chỉ vài chục năm, dài, ngắn, không quan trọng bằng việc ta biết vâng nghe và sống tín thác vào sự hiện diện của Thầy Giêsu đến mức độ nào ? Trong quan hệ làm ăn người ta nói: vì sông nên phải luỵ thuyền, những như đường liền ai phải luỵ ai ? Trong tương quan yêu thương, không phải là “nợ nần”, hay quỵ luỵ theo lý lẽ kẻ trên người dưới, đúng hơn, vì ơn gọi tới bến bờ hạnh phúc, luôn cần mỗi người phải minh chứng tình yêu đối với Chúa và với anh chị em mình.

Hành trình ra khơi của các môn đệ cho thấy: có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo, cả hai vế đều có ý nói biết lội hay biết trèo chưa phải là được hay là mất. Phêrô biết lội, biết bơi, nhưng cũng sợ chết đi được, nếu ông quên không kêu cầu Chúa cứu, có phúc hay có tội, cũng bất lực trước sóng gió cuộc đời, nếu người ta thiếu vắng tình yêu Chúa. “Lạy Thầy xin cứu con”, đó là tiếng kêu cầu đầy kinh nghiệm của người thuyền viên mang tên Phêrô, ông đã nhận ra sức lực ông quá nhỏ bé so với biển cả đầy sợ hãi. Con thuyền của mỗi chúng ta hôm nay đang vươn khơi đến đâu, có thể ta không rõ lắm, nhưng Thầy Giêsu thì biết. Ngài không hiện diện hữu hình, nhưng tình yêu thương của Ngài vẫn thấu biết tất cả, dù ta mến yêu, và sống tín thác vào Ngài nhiều hay ít. Xin Chúa Giêsu tiếp tục củng cố niềm tin và hướng dẫn tất cả những ai theo Chúa đều đến được bến bờ bình an và hạnh phúc. Amen.

Về đầu trang

TN19-A121: YẾU BÓNG VÍA HAY YẾU ĐỨC TIN?

JM. Lam Thy ĐVD.

Bài Tin Mừng hôm nay (CN XIX TN/A – Mt 14, 22-33) trình thuật về biến cố Đức Giê-su đi trên mặt TN19-A121

Bài Tin Mừng hôm nay (CN XIX TN/A – Mt 14, 22-33) trình thuật về biến cố Đức Giê-su đi trên mặt biển, khiến các môn đệ hoảng hồn lại tưởng là ma! Người bộc lộ rõ nhất tâm trạng này lại chính là thánh Phê-rô. Như vậy thì có phải thánh nhân là người “yếu bóng vía” hay không? Nếu tìm hiểu kỹ thì chắc chắn thánh Phê-rô không phải típ người “ngoài mịêng thì hùng hồn, nhưng trong lòng thì… thỏ đế có hạng”. Thánh nhân có một đức tính bộc trực, ngay thẳng, trong lòng nghĩ sao thì nói ra như vậy, không hề màu mè, tô vẽ. Cũng vì đức tính ấy, nên ngài đã nhiều lần bị Thầy quở trách, thậm chí có lần còn bị gọi là “Xa-tan” ngay sau khi vừa tuyên xưng Thầy là Con Thiên Chúa ( “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” – Mt 16, 23). Rõ ràng thánh nhân chẳng “yếu bóng vía” một chút nào.

Nếu không yếu bóng vía thì tại sao vừa mới chia tay Thầy ở bờ bên kia, bây giờ thấy Thầy đi trên mặt biển trở lại với mình, thánh nhân lại la lên “ma đấy”? Thầy đã trấn an: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”, vậy mà còn đặt điều kiện “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Tuy nhiên, Đức Giê-su vẫn bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” (Mt 14, 28-33). Cuối cùng thì có thể kết luận: Thánh Phê-rô (kể cả các môn đệ khác nữa) không “yếu bóng vía”, mà là “yếu đức tin”. Lời Thầy quở trách đã quá rõ ràng “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?”

Cũng chính vì “yếu đức tin” nên không chỉ lần này thánh nhân tuyên xưng “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”, mà sau này còn khẳng định chắc nịch “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16, 16); để rồi sau đó lại chối Thầy 3 lần trong một đêm, trước một đứa tớ gái nhà Cai-pha. Hành trình đức tin của người Ki-tô hữu ngày nay cũng có thể so sánh với cuộc đọ sức của Phê-rô đã trải qua trên mặt biển. Phê-rô có những bước đầu chắc chắn, mạnh dạn. Chúng ta cũng đã có những bước khởi đầu như thế để đi theo Chúa. Rồi năm tháng trải qua, gió ngược nổi lên, bắt đầu nhen nhúm những nghi ngờ khiến lòng hoang mang lo sợ. Và thế là, con người nặng dần và muốn chìm đắm trước sóng gió cuộc đời. Ngày xưa Phê-rô chối bỏ đức tin chỉ vì một đứa tớ gái nhà Cai-pha, ai cũng cho là thỏ đế; nhưng ngày nay còn hơn thế nữa, có không ít người chẳng bị ai cật vấn, tra hỏi, chỉ mới nghe đồn, nghe nói thôi, đã vội vàng cất giấu bàn thờ để chưng ảnh lãnh tụ. “Chưa khảo đã xưng” (tục ngữ VN), chưa ai bắt đã vội vàng khai là “không tôn giáo”! Hoá cho nên, rất cần phải có liều thuốc chữa căn bệnh “yếu bóng vía” và “yếu đức tin”, đó là điều tất yếu.

Để chữa được căn bệnh “yếu bóng vía” thì điều tiên quyết là bản thân phải có một quyết tâm, tiếp theo là phải thực sự va chạm với thực tế các sự kiện diễn ra trong cuộc sống, trong thiên nhiên, để mở rộng đầu óc mà hiểu rằng có một Đấng Quyền Năng quan phòng mọi sự trong vũ trụ. Đấng ấy chỉ có thể là “ông Trời”, là “Thượng đế”, là “Thiên Chúa” mà thôi. Tin vào Đấng ấy, thì ma mị quỷ quái chẳng làm gì được. Còn căn bệnh “yếu đức tin” thì cũng đừng vội bi quan, bởi đó cũng là căn bệnh của những người “yếu bóng vía” và nói chung, của tất cả mọi người trần thế. Duy chỉ có điều, muốn chữa được căn bệnh này, ngoài vấn đề hết sức cần thiết là trau giồi, củng cố cho bản thân một niềm tin vào duy nhất một Thượng đế, còn cần phải ý thức rằng con người là mỏng giòn, là yếu đuối, không thể tự mình làm được công việc to tát ấy nếu không biết cậy dựa vào Đấng Bảo Trợ, Người sẽ bảo vệ và trợ giúp đắc lực tuyệt đối cho những kẻ tin vào Người. Đấng ấy cũng chính là Thượng đế, là Thiên Chúa, và đó chính là Ngôi Ba Thánh Thần vậy.

Xin đừng bao giờ nói: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”, mà hãy luôn luôn nói, mạnh dạn nói, tha thiết nói, nói với tất cả chân tình: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” Vâng, “Libera me, Domine”, Lạy Chúa, xin thương xót con, xin cứu vớt con, bây giờ và mãi mãi, bây giờ và trong giờ lâm tử. Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con đã được phúc gọi Chúa là Cha; xin cho chúng con ngày càng thêm lòng hiếu thảo, hầu đáng được hưởng gia nghiệp Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN XIX/TN-A)

Về đầu trang

TN19-A122: CỨ AN TÂM, CHÍNH THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ

Fx Đỗ Công Minh

Bài Tin mừng hôm nay tiếp theo đọan Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho dân chúng được ăn no nê, Người TN19-A122

Bài Tin mừng hôm nay tiếp theo đọan Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho dân chúng được ăn no nê, Người lên núi cầu nguyện rồi trở ra biển gặp các môn đệ. Một bài học để lại cho chúng con hôm nay: Sau những giờ phút hoạt động, hãy dành thời gian lui vào nơi vắng lặng, đặt mình trước mặt Thiên Chúa và cầu nguyện.

Giữa lúc các môn đệ gặp sóng to, gió ngược, các ông phải gồng mình chống đỡ giữa biển khơi trong lo sợ, mệt mỏi. Đức Giêsu đã đi đến với các ông. Người đi trên biển như đi trên đất, khiến các ông tưởng chừng như gặp ma. Chính lúc ấy Người đã trấn an các ông “Chính Thầy đây, đừng sợ “. Nhưng không hẳn các ông đã tin vào nhửng lời ấy, ông Phêrô lên tiếng dò ý: “ Thưa Ngài, NẾU quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài “.Con người chúng con là như thế ! Vẫn dò dẫm, vẫn nửa tin, nửa ngờ với từ “NẾU “. Một niềm tin mỏng dòn, non yếu. Ngược lại, Đức Giêsu không hề chấp nhất, Người khuyến khích ông: “Cứ đến “. Đến, nhưng trong bụng vừa mừng vừa sợ nên chỉ vài bước Phêrô đã chìm xuống biển. Một biểu hiện lặp đi lặp lại trong cuộc đời của mỗi người chúng con. Theo Chúa nhưng vẫn ngập ngừng, vẫn mặn mà với thực tại trần thế. Và khi thấy hụt hơi mới cầu cứu đến Chúa “ Thưa Ngài, xin cứu con với “.

Hòan cảnh của các môn đệ trên biển khơi ngày ấy,  hôm nay vẫn diễn ra nơi cuộc đời con. Sứ mạng lên đường Chúa truyền dạy, con vẫn vui vẻ chấp hành. Con tưởng mình có thể làm được mọi chuyện theo thiện ý của con, theo năng lực, tài trí của con. Thế nhưng gặp lúc sóng gió biển đời, con tự tin có thể tự mình chèo chống, điều đó chỉ do bản năng sinh tồn của con người. Con quên rằng con vẫn phải cậy dựa nơi Chúa. Chúa để các môn đệ ra khơi nhưng Người vẫn dõi theo các ông, Người không để các ông phải đơn côi. Người đã đi bước trước đến với các ông, đến với nhân lọai này. Những lúc con tưởng chỉ có mình con chống chọi với bao sóng gió cuộc đời thì Chúa vẫn đến bên con. Người vẫn hằng ngỏ lời:  “ Chính Thầy đây, đừng sợ “. Phần con, con có nhận ra Người vẫn ở bên con?  có nhận ra tiếng Người nói với con? Hay chỉ tự vùng vẫy, cậy bằng sức của mình? Những lúc tứ bề quân thù, kẻ dữ, sa đọa, đam mê tội lỗi vây quanh, con tưởng mình đủ lực để vượt thóat. Nhưng rồi con đã vấp ngã, vì cậy sức con, không cậy vào Chúa.

Xin cho con luôn biết cậy dựa vào Chúa. Có Chúa trong cuộc đời, con sẽ đứng vững. Lòng tin của con luôn được củng cố từ nơi Chúa, đấng cứu độ con.

 Lạy Chúa !

“Con tưởng rằng con vững tin, tin vào Chúa là Cha nhân hiền, khi đời sống nhẹ trôi êm đềm ,với tháng ngày lặng lẽ bình yên. Nhưng khi đường đời gieo nguy khó, bên trời ngập tràn cơn giông tố, con lo âu lạc bến xa bờ, con mới biết rằng con chưa vững tin.

Thì lạy Chúa, Chúa biết con yếu đuối và đổi thay, con luôn cần đến Chúa từng phút giây. Nhờ ơn Chúa con kiên trì tín thác kể từ đây, khi an vui cũng như khi sầu đầy. . .( Cho con vững tin – Nguyễn Duy )

Về đầu trang

TN19-A123: THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ!

Pio X Lê Hồng Bảo

Một câu nói ngắn gọn nhưng đầy uy lực! Chúa Giêsu biết các môn đệ tuyệt đối tin vào Người nên TN19-A123

Một câu nói ngắn gọn nhưng đầy uy lực! Chúa Giêsu biết các môn đệ tuyệt đối tin vào Người nên mới nói thế.

Khi tôi còn nhỏ, tôi cũng thường nghe cha tôi nói với tôi như thế trong những tình huống nguy hiểm. Đứa bé nghịch ngợm leo lên cây ổi, cây mận; đến chừng muốn xuống không biết làm sao! Thằng nhóc lắc xắc nhảy xuống chiếc xuồng nghịch ngợm đến nỗi chiếc dây neo bị đứt, xuồng xoay xoay giữa dòng, mặt mũi thằng nhóc méo xệch… Những lúc đó, bóng dáng Ba thật vững chãi và câu nói: “Ba đây, đừng sợ!” mang một uy lực thiêng liêng làm sao! Khi tôi lớn lên thì câu nói ấy thưa dần rồi mất hẳn. Ba tôi biết rằng tôi đã có nhiều lựa chọn khác hơn là tin vào vóc dáng tiều tụy còm cõi của Ba. Thế mà, với các môn đệ dù đã trưởng thành, Chúa Giêsu vẫn không ngại phán một câu đầy quyền uy cỡ đó.

Nỗi sợ có lẽ cũng khai sinh đồng thời với con người trên trần gian này. Từ nguyên thủy, con người đã sợ thua kém Thiên Chúa nên mới phát sinh tội nguyên tổ! Tuy nhiên, có đến hơn 90% nỗi sợ của con người phát sinh từ sự ám thị: Sợ ma, sợ bóng tối, sợ độ cao, sợ gián, sợ chuột… Thêm nữa, ai ai cũng sợ chết dù biết rằng không ai thoát khỏi cái chết, nhưng lại rất ít người sợ sa hỏa ngục!

Trong xã hội ngày nay, con người lại còn lắm cái để sợ, nói chung là sợ mất: Sợ mất việc, sợ mất trộm, sợ mất thể diện, sợ mất uy tín, sợ mất lòng, sợ mất mặt… Nhưng cũng lại rất ít người sợ mất linh hồn!

Có thể nói, sợ đã thành nỗi ám ảnh trong suốt cuộc đời:

    Người buôn bán nhỏ sợ bị cân đong thiếu, sợ bị quỵt…

    Người kinh doanh sợ bị cạnh tranh, sợ bị ăn cắp thương hiệu, sợ đối tác không thực thà…

    Nhà sản xuất sợ nạn đình công, sợ công nhân bớt xén hay trễ nãi…

    Nhà chứng khoán sợ chỉ số lên xuống, giá vàng trồi sụt…

    Nhà cầm quyền sợ nạn bè phái, vây cánh; sợ dân chúng phản đối, biểu tình…

    Bác nông dân sợ mất mùa, mất giá…

    Công nhân viên chức sợ bị cắt thưởng, cắt lương…

    Em học sinh sợ bị lưu ban, sợ thầy cô trù dập…

    Chàng ca sĩ & nàng diễn viên sợ xìcăng-đan, sợ nạn sao chép phim đĩa lậu…

    Anh xe ôm & chị hàng rong cũng bâng quơ sợ chuyện nắng, mưa…

Bị bao vây giữa bao nhiêu nỗi sợ đó, liệu có ai nghe âm vang của Lời Chúa hôm nao: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!” Niềm tin của tôi vẫn mong manh hơn hạt cải: “Nếu quả thực là Chúa, xin truyền cho tôi đi được trên nước mà đến với Người”. Chúa cũng thông cảm cho thân phận mỏng giòn của tôi: “Được, hãy đến đây!” Chúa vẫn đó, trước mặt tôi. Một cơn gió thoảng qua, tôi đâm sợ và… bắt đầu chìm!

“Lạy Chúa, xin cứu con!” Thật may mắn là Phêrô vẫn nhìn thấy Chúa trước mặt và vội vã cầu cứu. Còn tôi? Tôi loay hoay, tôi vùng vẫy, tôi suy nghĩ thiệt hơn, tôi tính toán lợi hại… Và cuối cùng, tôi quên mất Chúa vẫn đứng đó, vẫn hiện diện trong suốt hành trình trần thế của tôi.

Bài học của Phêrô còn đó! Sông nước là môi trường quen thuộc của một ngư phủ như Phêrô. Vậy mà, một chút sóng, một chút gió cũng hoảng lên: “Thầy ơi, chúng con chết mất!” (Mt. 8, 25) Hầu như Phêrô không còn tin chút gì vào bản lĩnh của mình, sở trường của mình khi có Chúa đồng hành. Lắm lúc tôi tự hỏi: Phêrô có phải là một ngư phủ thật sự không? Ngư phủ gì mà vụng về, đuểnh đoảng! Sóng to, gió lớn là cầu cứu Thầy; hì hục cả đêm không được gì, chỉ biết “Vâng lời Thầy, con thả lưới!” (Lc. 5, 5)

Không, Phêrô mới chính là ngư phủ khôn ngoan nhất thế giới. Một ngư phủ khôn ngoan sẽ chọn gì giữa biển khơi khi một bên là chiếc thủy đỉnh mạnh mẽ, tiện nghi, đầy nhiên liệu và một bên là chiếc phao cứu sinh bé tí? Tất nhiên là chọn chiếc thủy đỉnh! Kiến thức và năng lực của bản thân ta chỉ tựa như chiếc phao cứu sinh bé tí kia thôi, Phêrô đã mạnh dạn vứt bỏ đi để bám vào thủy đỉnh vững chãi an toàn, là Thiên Chúa, là Đá Tảng Cứu độ. Một lựa chọn vô cùng sáng suốt của một người ít học, chính vì thế mà Chúa Giêsu đã phải thốt lên: “Con xin tạ ơn Cha vì đã giấu những điều bí nhiệm ấy đối với những người thông thái mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt. 11, 25).

Còn lựa chọn của tôi, phản ứng của tôi?

– Sợ người khác có “ảnh hưởng” hơn mình, mới nghe ai ca ngợi người ấy, tôi liền kiếm cách dèm pha để triệt ngay một thần tượng mới… manh nha.

– Sợ thanh danh, uy tín mình bị tổn hại, tôi sẵn sàng “ăn thua đủ” với bất cứ ai hoặc bất cứ lời đồn đại nào.

– Sợ bị thất thiệt tài sản, tôi nghi ngờ soi mói những ai có hành vi khác lạ.

– Sợ không kiếm được việc làm, tôi phải chạy ngõ sau, luồn ngõ trước…

– Sợ bị sa thải, tôi phải khéo léo lấy lòng cấp trên, chà đạp cấp dưới…

– Sợ mất mối làm ăn, tôi khai thác triệt để những đòn phép, những mánh lới, những thủ đoạn…

– Sợ không thành công, tôi đi đường tắt bằng cách thực hiện những ý đồ đen tối của loài người.

– Sợ phải phụng dưỡng cha mẹ già, tôi phải vận dụng tất cả sự khôn khéo để đẩy phần đó sang anh chị em.

Có lúc nào tôi phản ứng bằng cách thốt lên: “Lạy Chúa, xin cứu giúp con!” chưa? Hay chỉ vì tôi có trình độ, có kiến thức, có mưu lược, có óc kinh bang tế thế… và tôi cứ bám chặt vào mớ hổ lốn đó cho đến khi mệt nhoài thở ra: “Thời đại bây giờ… sao khó quá!” Trong khi đó, luôn có một Đấng mời gọi chúng ta: “Hãy đến với Ta, hỡi những ai vất vả, khó nhọc và gánh nặng. Ta sẽ cho nghỉ ngơi, bồi dưỡng” (Mt. 11, 28). Đấng ấy đang hiện diện trong Nhà Tạm, bên ngọn đèn chầu leo lét và dường như đang rất cô đơn!

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nhận ra Chúa giữa đêm đen cuộc đời, xin cho chúng con biết thắng vượt mọi nỗi sợ hãi khi nghe tiếng Chúa: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!”, xin cho chúng con biết phản ứng trong mọi hoàn cảnh bằng cách thân thưa: “Lạy Chúa, xin cứu con!” để từ nay: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv. 62, 2). Amen. 

Về đầu trang

TN19-A124: KHÔNG CÓ LÒNG TIN MẠNH TA SẼ CHÌM

Lm. Bosco Dương Trung Tín

Thánh Phao-lô nói: “Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị TN19-A124

Thánh Phao-lô nói: “Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Ky-tô thì tôi cũng cam lòng”(x. Rm9.3).

Đó là nỗi lòng của thánh Phao-lô, Ngài mong muốn dân Ít-ra-en được ơn cứu độ. Vì dân Ít-ra-en chỉ tin vào Thiên Chúa và Mô-sê chứ không tin vào Đức Giê-su. Dầu vậy, thánh Phao-lô cũng chỉ “muốn” thôi chứ không thực hành. Có một người đã thực hành điều đó, người đó chính là Đức Giê-su Ky-tô.

Đức Giê-su, vì muốn cứu độ con người mà Ngài phải từ trời xuống thế; có nghĩa là Ngài phải “xa lìa” Thiên Chúa Cha. Và Ngài cũng đã chịu nạn chịu chết trên cây thập giá. Tức là Ngài bị nguyền rủa và bị Chúa Cha ruồng bỏ. Trên thập giá Đức Giê-su đã nói: “Êli, êli, rê-ma xa-bác-tha-ni”, nghĩa là “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con”(x.Mt27,46). 

Thánh Phao-lô cũng nói: “Khi vì chúng ta, chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ”(x.Gal 3,13). Lời chép đó trong sách Đệ nhị luật: “Vì người bị treo là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa”( x.Dnl 21,23).

Đức Giê-su đã bị treo trên cây gỗ là cây thập giá; Người bị Thiên Chúa nguyền rủa vì con người chúng ta. Thế nhưng Đức Giê-su đó lại là Thiên Chúa, “Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự”(x.Rm9,5). Hôm nay trong bài Phúc Âm, Đức Giê-su đã vượt trên biển, đã đi bộ trên sóng nước. Cũng như theo Bài đọc một, Thiên Chúa đó, không ở trong gió bão, nhưng ở“trên” gió bão; Thiên Chúa đó không ở trong động đất nhưng ở “trên” động đất. Thiên Chúa đó không ở trong lửa, nhưng ở “trên” lửa. Thiên Chúa đó ở trong gió hiu hiu, trong sự thinh lặng, trong sự dịu dàng. Có được Thiên Chúa đó thì ta không sợ; có Thiên Chúa đó ta an lòng. 

Quả thật, khi thấy gió bão; động dất, sóng thần, núi lửa phun, lũ lụt,…tức là những thiên tai, làm cho nhiều người chết và đau khổ nên ta sợ. Nhưng có Chúa ta không sợ gì cả. Tại sao? Vì có Chúa là có tất cả; có Chúa là có đời sau. Thật vậy, nếu không có đời sau, cuộc sống của con người trên trần gian này sẽ vô nghĩa. Ta sống trên trần gian để làm gì? Chẳng lẽ chỉ để ăn, để làm, để chơi và để chết sao? 

Và những đau khổ, những mất mát và sự chết ta không thể lý giải được. Tại sao con người phải khổ; tại sao ta phải chết. Người lành phải khổ, phải thiệt thòi, phải chết oan; còn người xấu thì được sung sướng, được gặp may, được sống lâu sao? Công lý ở đâu, nếu không có Chúa, không có đời sau để trả lại công bằng.

Điều đó đòi hỏi ta phải tin có Thiên Chúa, phải tin vào Thiên Chúa. Chúng ta là những tín hữu ky-tô, chúng ta có đức tin, thế nhưng đức tin của ta mạnh hay yếu; chắc là giống như Phê-rô thôi. Gặp thấy gió mạnh là sợ; thấy động đất, sóng thần là sợ; bị bệnh hay ung thư là sợ; thấy vất vả, cực nhọc là sợ; thấy thất bại là sợ, vv… Con người của chúng ta là vậy. 

Bởi đó mà ta cần đến sự trợ giúp của Chúa, của ơn Chúa. Muốn được vậy, ta phải cầu nguyện. Khi gặp tai ương ta xin Chúa cứu giúp; khi gặp khó khăn hay bệnh tật, ta xin Chúa dủ lòng thương. Khi ta yếu hèn, tội lỗi, ta xin Chúa thứ tha. Như thế tâm hồn ta sẽ bình an và thư thái; có sức vượt qua mọi kho khăn. Nếu có chết thì ta cũng mỉm cười mà nhắm mắt, vì được về thiên đàng với Chúa.

Vậy ta hãy luôn tin tưởng vào Thiên Chúa và chấp nhận mọi sự xảy ra trong cuộc đời mình cũng như những thiên tai xảy ra trên thế giới. Chúa không làm ra những sự xấu đó. Nếu có những thiên tai xảy ra, ta hãy cầu nguyện cho người cho người sống cũng như người chết. Người sống thì được cứu giúp; còn người chết thì được về thiên đàng.

Nếu ta chỉ tin cái miệng thôi, đức tin của ta yếu lắm, thì coi chừng ta sẽ bị chìm như Phê-rô đó. A-men.

Về đầu trang

TN19-A125: TÍN THÁC VÀO QUYỀN NĂNG THIÊN CHÚA

Lm. Đan Vinh

I.  HỌC LỜI CHÚA

    TIN MỪNG: Mt 14, 22-33

(22) Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán đám đông. (23) Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện. Chiều đến, Người vẫn ở đó một mình. (24) Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ nhiều dặm, bị sóng đánh vì ngược gió. (25) Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. (26) Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “ma đấy !” và sợ hãi la lên. (27) Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !”. (28) Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. (29) Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. (30) Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với !”. (31) Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy ! Sao lại hoài nghi ?”. (32) Khi Thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. (33) Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa !”.

    Ý CHÍNH: ĐỨC GIÊ-SU KHỐNG CHẾ BIỂN CẢ ĐỂ BÀY TỎ THIÊN TÍNH:

Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều (x. Mt 14,13-21), Đức Giê-su lên núi cầu nguyện và thuyền các môn đệ TN19-A125

Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều (x. Mt 14,13-21), Đức Giê-su lên núi cầu nguyện và thuyền các môn đệ thì đã ra khơi và gặp khó khăn vì ngược gió. Khoảng 3 giờ sáng, Người đã đi trên mặt biển mà đến với thuyền các ông. Người đã trấn an khi các môn đệ sợ hãi vì tưởng mình thấy ma. Người cũng cho phép Phê-rô được đi trên mặt nước và lập tức cứu ông khỏi bị chìm và đưa ông lên thuyền bình an khi ông biết cậy trông kêu cầu Người. Chứng kiến phép lạ này, các môn đệ đã tin người là Con Thiên Chúa.

    CHÚ THÍCH:

– C 22-24: + Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền: Sau phép lạ hóa bánh, dân chúng phấn khởi đoi tôn Đức Giê-su lên làm Vua Thiên Sai trần thế và các môn đệ cũng phấn khích không kém. Đức Giê-su đã giục các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia để tránh cho các ông ảo tưởng về sứ mệnh của Người (x. Ga 6,14-15). + Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện: Đức Giê-su thường dành thời gian yên tĩnh ban đêm để cầu nguyện với Chúa Cha (x. Lc 6,12), nhất là trước khi phải giải quyết những việc trọng đại (x. Mt 26,36; Lc 9,27). + Chiều đến, Người vẫn ở đó một mình: Ở một mình là không có người khác bên cạnh, trừ một mình Chúa Cha hằng ở với người (x. Ga 8,29). + Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ nhiều dặm: Bờ hồ đây là Biển hồ Giê-nê-sa-rét hay cũng gọi là Ti-bê-ri-a hoặc Ga-li-lê (x. Ga 6,1). Biển Hồ này có hình bầu dục dài 21 km, rộng 12 km, mực nước thấp hơn Địa Trung hải 208 mét. Vì quá lớn, nên Biển Hồ thường có sóng to gió lớn (x. Mt 8,23). + bị sóng đánh vì ngược gió: Bấy giờ thuyền các môn đệ đã ra giữa biển và đang bị sóng đánh chập chờn không tiến xa được vì ngược gió. Con thuyền tượng trưng cho Hội thánh ở trần gian phải đương đầu với nhiều trở lực.

– C 25-27: + Khoảng canh tư: Vào thời Đức Giê-su, dân Do Thái cũng theo người Rô-ma, chia ngày thành 12 giờ từ 6 giờ sáng đến 18 giờ chiều, và chia đêm thành 4 canh, mỗi canh kéo dài 3 giờ. Canh tư tức là vào khoảng từ 3 đến 6 giờ sáng. + Người đi trên mặt biển: Cựu Ước nhiều lần nói tới Thiên Chúa đi trên biển (x. G 9,8; Tv 77,20). Người đã từng tỏ uy quyền trên sự hỗn mang khi tạo dựng trời đất, và khống chế Biển Đỏ để giải thoát dân Người. Ở đây Đức Giê-su muốn ám chỉ Thiên Chúa có quyền trên sức mạnh của biển khơi. + Các ông hoảng hốt bảo nhau: “ma đấy !” và sợ hãi la lên: Các môn đệ thấy bóng Đức Giê-su đi trên mặt nước đến gần thuyền thì sợ hãi la lên vì tưởng mình thấy ma. + “Cứ yên tâm, đừng sợ !”: Đức Giê-su đã trấn an các ông. + Chính Thầy đây: Trong Cựu Ước Thiên Chúa hay tự xưng với các tổ phụ Do Thái: “Chính là Ta”, “Ta là Gia-vê”, “Ta là Đấng Hiện Hữu” (x. St 46,3 ; Xh 3,14). Ở đây, khi xưng mình: “Chính Thầy đây”, Đức Giê-su ngầm mạc khải Người là Thiên Chúa.

– C 28-31: + “Nếu quả là Ngài”: Phê-rô vẫn còn nghi ngờ không biết có phải Thầy hay không. + “Thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”: Câu này cho thấy Phê-rô là một người tính khí bốc đồng thiếu chín chắn vì “Mau nói mau lỗi!”. + “Cứ đến !”: Phê-rô được chia sẻ quyền năng siêu nhiên là đi trên mặt nước giống như Thầy. Tuy nhiên ông làm được là nhờ đặt trọn niềm tin và Đức Giê-su. + Thấy có gió thổi thì ông đâm sợ: Đức Giê-su có lần đã ban quyền chiến thắng sự dữ cho Phê-rô (x. Mt 16,18b), nhưng ông có nhận được quyền năng ấy hay không tuỳ vào lòng tin mạnh hay yếu. Bao lâu Phê-rô tập trung vào Đức Giê-su, thì ông còn khống chế được sức mạnh của biển cả. Nhưng khi bắt đầu hoài nghi, thì ông sợ hãi và bị chìm xuống. + “Thưa Ngài, xin cứu con với”: Câu này tương tự như lời các Tông đồ cầu cứu khi thuyền các ông sắp bị gió bão nhấn chìm (x. Mt 8,25). Trong Thánh Vịnh cũng có nhiều lời cầu nguyện của dân Do thái xin Chúa giúp họ vượt qua sức mạnh của nước biển đe dọa (Tv 69,15-16; 144,7). + Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông: Trước lời cầu xin thiết tha của Phê-rô, Đức Giê-su đã mau mắn đáp lại bằng việc đưa tay nắm lấy ông. + “Người đâu mà kém tin vậy ! Sao lại hoài nghi ?”: Lời Người vừa trách yêu đức tin yếu kém của ông, lại vừa khích lệ ông hãy kiên vững đức tin vào Người.

– C 32-33: + Gió lặng ngay: Sự hiện diện của Đức Giê-su đủ đánh tan cơn sóng gió và đem lại bình yên cho con thuyền của các môn đệ. + Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa !: Lời tuyên xưng này mới chỉ nhìn nhận Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, đồng nghĩa với Đấng Cứu thế. Tuy nhiên, Tin Mừng Mát-thêu lại muốn mượn lời tuyên xưng này để trình bày đức tin của Hội thánh thời sơ khai: “Đức Giê-su Ki-tô là Con Một Thiên Chúa, đồng bản tính với Đức Chúa Cha !”.

    CÂU HỎI:

1) Tại sao Đức Giê-su bắt các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia ngay ? 2) Đức Giê-su lên núi làm gì ? 3) Bạn biết gì về Biển hồ được đề cập trong Tin Mừng hôm nay ? 4) Tại sao con thuyền các môn đệ bị chập chờn không tiến xa được ? 5) Canh tư tức là mấy giờ sáng ? 6) Ý nghĩa của việc Đức Giê-su đi trên mặt biển là gì ? 7) Thái độ của các Tông đồ ra sao khi thấy có bóng người đi trên mặt biển đến gần và Đức Giê-su đã làm gì để trấn an các ông ? 8) Qua câu nói: “Chính Thầy đây”, Đức Giê-su đã ngầm mạc khải Người là ai ? 9) Khi xin được đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy, Phê-rô đã biểu lộ tính khí thế nào ? 10) Tại sao Phê-rô đang đi trên mặt biển lại bị chìm đắm và ông làm gì để được Chúa cứu giúp ?

II.  SỐNG LỜI CHÚA

    LỜI CHÚA: Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !”. Phê-rô thấy gió thổi thì ông đâm sợ và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với !” (Mt 14,30).

    CÂU CHUYỆN:

1) CHÚA CHỈ BÁN HẠT GIỐNG CỦA NHỮNG ƯỚC MƠ MÀ THÔI:

 Cha Antony de Mello kể lại giấc mơ  của Paquita như sau : Nàng rảo quanh các quầy hàng của một trong những cửa tiệm lớn nhất hành tinh. Bỗng nhiên nàng nhận ra  Thiên Chúa sau một quầy hàng :

– Lạy Chúa, Ngài bán gì vậy ?

– Tất cả những gì mà lòng con mong ước.

– Con muốn mua sự bình an trong tâm hồn, tình yêu, sự khôn ngoan, những liều thuốc chữa trị mọi thứ sợ hãi.

 – Tốt  lắm, nhưng ở đây không bán trái mà chỉ bán hạt giống thôi.

(André Sève, Sương mai)

2) HÃY TÍN THÁC VÀO QUYỀN NĂNG THIÊN CHÚA:

     Có một bà nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình tĩnh trước mọi thử thách. Một bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hy vọng học được bí quyết để sống bình tâm và hạnh phúc. Bà hỏi :

– Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao ?

        – Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn lao, mà chỉ là một người có đức tin bé nhỏ đặt vào một Thiên Chúa lớn lao.

 3) GIÁ TRỊ CỦA ƠN CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI NGƯỜI TÍN HỮU:

Hôm ấy, tại công trường thành phố lớn kia, dân chúng tụ họp đông đảo để xem cuộc đấu giá một chiếc đàn vĩ cầm cũ kỹ, mặt đàn bị méo mó và trầy trụa. Người bán đấu giá thầm nghĩ là chẳng bõ công để tiêu phí nhiều thì giờ về cây đàn violon, tức là cây đàn vĩ cầm cũ kỹ này. Vừa giơ cây đàn vĩ cầm cũ lên ông vừa nói:

– Tôi phải ra giá cho người bạn thân yêu của tôi bao nhiêu đây?

Ông ta lớn tiếng hơn:

-Ai sẽ bắt đầu ra giá giùm tôi? Một đôla, một đôla thôi. Ai sẽ trả hai đôla nào? Hai đôla, ba đôla. Ai sẽ trả ba đôla? Ba đôla lần thứ nhất, ba đôla lần thứ hai… Tiếp tục vẫn chỉ được ba đô mà thôi.

Kế đó, từ cái phòng ở phía sau, một người đàn ông có bộ tóc bạc tiến tới và cầm cây đàn vĩ cầm lên tay. Sau khi phủi bụi bám đầy trên cây đàn và so lại những sợi dây đàn, ông chơi một giai điệu thanh trong và ngọt ngào. Tiếng đàn ngưng lại và người bán đấu giá lên tiếng với giọng nói nhẹ nhàng, trầm trầm:

– Tôi sẽ ra giá cho cây đàn cũ kia bao nhiêu đây?

Vừa nói ông vừa giơ cây đàn vĩ cầm lên cao:

Một ngàn đô, một ngàn đô. Ai sẽ trả hai? Hai ngàn đô. Ai sẽ trả ba? Ba ngàn đô lần thứ nhất, ba ngàn đô lần thứ hai.

Rồi nhất quyết ông nói:

– Thôi !

Đám đông hò reo, nhưng cũng giữa đám đông có mấy người la lên,

– Chúng tôi chẳng hiểu gì cả. Cái gì đã thay đổi giá trị cây đàn vĩ cầm cũ kỹ kia?

Người bán đấu giá đáp:

– Đó là ngón đàn của người bậc thầy.

Thật vậy, họ đã không nhận ra rằng trong đám đông cuộc bán đấu giá ấy có một ông già là tay chơi đàn vĩ cầm rất lão luyện. Cây đàn vĩ cầm vẫn là cây đàn cũ kỹ không thay đổi, nhưng chính năng khiếu của đôi tay người nhạc công bậc thầy đã làm phát sinh những âm thanh tuyệt vời và làm cho cây đàn có giá trị hơn trước cả ngàn lần.

Mỗi người chúng ta có thể ví như cây đàn vĩ cầm trong câu chuyện trên. Chúng ta sẽ chẳng có giá trị bao nhiêu, nếu không có ơn Chúa trợ giúp. Nhưng nếu chúng ta biết mở lòng ra để thưa chuyện với Thiên Chúa, chúng ta sẽ làm được những việc lớn lao vượt quá sức của chúng ta như lời Chúa Giê-su: “Vì không có Thầy, anh em không làm được gì”.

4) HÃY LUÔN NGƯỚC MẮT LÊN TRỜI CAO:

 Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ. Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm. Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm. Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão, thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

Thấy thế, một thủy thủ già la to lên với cậu :”Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi ! Nhìn lên lại bầu trời đi”. Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.

     Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phê-rô trong bài Tin mừng.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phê-rô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

 5) SỨC MẠNH BIẾN ĐỔI CỦA LỜI CẦU NGUYỆN:

Câu chuyện sau đây chứng minh sức mạnh linh thiêng của lời cầu nguyện; Khi thánh Gioan Maria Vianey tới làng Ars nhỏ bé không mấy ai biết tới, một vài người mỉa mai nói với Ngài: “ở đây không có việc gì làm cả.” Thánh nhân trả lời: “Như vậy là có mọi chuyện để làm rồi đó.” Và Ngài làm ngay. Vậy ngài đã làm gì?

Thức dậy từ 2 giờ sáng. Ngài đến cầu nguyện gần bàn thờ trong ngôi thánh đường tối tăm nhiều giờ. Tràng hạt trong tay, mắt chăm chú nhìn lên nhà Tạm. Với sự miệt mài cầu nguyện của thánh nhân, Chúa Giêsu và Ðức Mẹ Ðồng Trinh dần dần lôi kéo các tâm hồn đền giáo xứ nghèo nàn này, và ngôi nhà thờ nhỏ bé đã trở nên chật chội không đủ chứa đám đông. Nơi tòa giải tội của Cha Sở thánh chen chúc những hàng dài hối nhân không dứt. Cha sở thánh bắt buộc phải giải tội từ 10, 15 đến 18 giờ một ngày.

Sự biến đổi đã xảy ra như thế nào? Từ một ngôi nhà thờ nghèo nàn, một bàn thờ tư lâu không dùng đến, một nhà Tạm bỏ trống, một tòa giải tội cũ kỹ và một linh mục kém tài bất lực, giờ đây, bộ mặt sinh hoạt của giáo xứ cũng như tâm hồn của các tín hữu đã hoàn toàn thay đổi.

Nguyên nhân nào đưa đến sự thay đổi xứ Ars, đến nỗi hàng trăm ngàn, và có lẽ hàng triệu người từ khắp nơi trên thế giới kéo về đây. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm những biến đổi như thế: “Những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có” (1 Cor.1:28).

Ta phải hoàn toàn quy hướng về Ngài, qua sức mạnh của lời cầu nguyện, qua sức mạnh thần linh vô biên của phép Thánh Thể và chuỗi Mân Côi.

6) PHẢI KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN:

Ông Paden Powell kể : Có hai con ếch té nhào vào trong một lu sữa to lớn. Cả hai dẫy dụa và mệt lử. Một con nản lòng và chết đuối. Con kia cũng thất vọng, nhưng mà điều đó càng khiến nó vùng vẫy đến nỗi nó trèo được lên đỉnh một khối bơ, vì nhờ vậy mà nó thoát chết.

7) LỜI CẦU NGUYỆN ĐEM LẠI BÌNH AN CHO TÂM HỒN

KÉT MIU-LƠ ( Keith Miller) tác giả cuốn sách tựa đề “Hương rượu mới” (The taste of new Wine), đã thuật lại một biến cố xảy ra làm thay đổi cả cuộc đời của ông như sau:

Vào một đêm nọ, trên đường về nhà, Két bị một chiếc xe từ sau tông làm anh té nằm bất tỉnh bên lề đường suốt một tiếng rưỡi đồng hồ, chờ xe cứu thương đến mang đi. Khi tỉnh dậy và ý thức tình trạng của mình, anh bắt đầu cầu nguyện với Chúa. Sau khi cầu nguyện xong, tự nhiên anh cảm thấy tâm hồn mình được bình an lạ lùng. Két viết: “Tôi nghĩ thật đáng xấu hổ biết bao khi mà mãi đến bây giờ tôi mới khám phá ra giá trị của lời cầu nguyện. Từ khi ấy, dù đang phải đối diện với cái chết, nhưng tôi không cảm thấy sợ hãi chút nào. Tôi có cảm giác Chúa luôn hiện diện bên tôi và sẵn sàng ra tay cứu giúp tôi”. Sau đó, Két đã được các bác sĩ kịp thời cứu sống và mau chóng bình phục. Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch lớp sinh viên năm thứ hai. Nhưng về sau, bị các hoạt động xã hội lôi cuốn, anh đã thôi không đến nhà thờ nữa và lại tiếp tục lún sâu vào các đam mê tội lỗi như trước.

Sau khi tốt nghiệp đại học, anh lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở tiểu bang Tếch-sớt (Texas). Nhưng cuộc sống gia đình và công việc đã không suông sẻ như anh mong ước. Một hôm Két chơi bài và đã bị thua một số tiền lớn. Bao nhiêu tiền bạc dành dụm bấy lâu giờ đây bị thua hết sạch! Anh bị vợ nặng lời mạt sát và đòi ra tòa ly hôn. Anh buồn chán đánh xe chạy vọt đi mà không biết phải đi về đâu. Sau khi chạy được một lúc, anh tấp xe vào bên lề đường, tắt máy rồi ngồi đó im lặng hút thuốc. Trước đây mỗi lần gặp phải điều gì buồn phiền, anh chỉ cần đi về nhà uống vài ly rượu mạnh rồi nằm vật ra giường ngủ một giấc đến sáng hôm sau là hết. Thế nhưng bây giờ sự thể lại không đơn giản như thế. Anh đã bị dồn đến bờ vực bị phá sản chỉ vì một phút lỡ lầm! Anh nhìn lên trời và la to lên rằng: “Nếu Chúa muốn gì nữa thì xin hãy lấy tất cả đi. Con thực sự muốn như vậy đó!” Ngay lúc ấy, đột nhiên anh cảm thấy tâm hồn được bình an, một cảm giác mà cách đây mười mấy năm anh đã từng trải qua khi bị thương nằm bất tỉnh bên đường. Ngay lúc đó, anh đã hạ quyết tâm phải thay đổi cuộc sống. Dù không có những tia sấm chớp trên trời, cũng chẳng có tiếng nói mầu nhiệm nào của Thiên Chúa, nhưng Két cũng nhận biết rõ điều Chúa muốn anh thực hiện. Người không cần tiền bạc, thời giờ hay sức lực của anh. Người chỉ cần anh dâng cho Người quyết tâm đổi mới ấy, thì Người sẽ lại ban sự bình an cho anh. Có thể nói: Két đã thực sự tái sinh một lần nữa để trở nên một người mới hoàn toàn thuộc về Chúa.          

    SUY NIỆM:

Hôm nay Chúa mời gọi chúng ta hãy nhìn vào mình. Khi chúng ta cảm thấy tâm hồn bất an, chính là lúc chúng ta đã bỏ không nhìn lên Chúa. Khi bị chìm sâu trong các đam mê tội lỗi, là lúc chúng ta hoài nghi tình thương của Chúa và bỏ làm việc đạo đức. Chúng ta hãy noi gương thánh Phê-rô cầu xin với Chúa Giê-su: ‘Lạy Ngài, xin cứu con với!”. Chắc chắn Chúa sẽ đưa tay ra nắm lấy chúng ta và ban bình an cho chúng ta.

1) “CỨ YÊN TÂM, CHÍNH THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ !”:

Khi để chúng ta gặp phải những tai ương, bệnh tật và đau khổ là Chúa muốn huấn luyện đức tin của chúng ta. Đức Giê-su luôn quan tâm đến mỗi người chúng ta và sẵn sàng giúp chúng ta chiến thắng ma quỷ và sự dữ. Nếu thực sự tin vào Người thì chúng ta sẽ không sợ hãi khi gặp bất cứ thử thách nào, nhưng luôn vững tin Chúa sẽ rút từ sự dữ ra sự lành để ta được ơn cứu độ.

2) “THƯA NGÀI, XIN CỨU CON VỚI”:

Tin tưởng và luôn nhìn vào Chúa, ông Phê-rô đã có thể đi trên biển cả giống như thầy mình. Nhưng khi gió mạnh ào đến làm lung lạc đức tin, thì ông bắt đầu bị chìm xuống. Ông vội kêu lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!”. Bàn tay Đức Giê-su đã kịp thời đưa ra nắm lấy ông và đưa ông lên thuyền bình an, kèm theo lời trách nhẹ: “người đâu mà kém tin như vậy! Sao lại hoài nghi?”

3) LUÔN TÍN THÁC VÀO TÌNH THƯƠNG VÀ QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA:

Nhiều khi chúng ta có cảm tưởng đã bị Chúa bỏ rơi khi Người để chúng ta liên tiếp gặp phải các tai nạn rủi ro như người ta thường nói: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Nhưng thực ra đó lại là cách Chúa dùng để huấn luyện đức tin cho chúng ta. Người muốn thử thách đức tin của chúng ta như: “Lửa thử vàng, gian nan thử đức!”. Nếu gặp những tai ương hoạn nạn mà chúng ta lo lắng sợ hãi, bỏ cầu nguyện dự lễ và tin theo bói toán, bùa ngải… thì đức tin nơi ta đã chết. Nhưng nếu chúng ta vẫn trung thành với Chúa, vẫn luôn chu toàn các việc đạo đức và càng năng xin Chúa ban ơn soi sáng để biết mình phải làm gì và làm như thế nào; vẫn luôn tín thác mọi sự xảy đến cho Chúa quan phòng… thì mới chứng tỏ đức tin của chúng ta mạnh mẽ, và chắc chắn chúng ta sẽ nhận được ơn cứu độ của Chúa.

4) PHƯƠNG CÁCH CẦU NGUYỆN TRONG MỌI LÚC:

Đức Tin mạnh biểu lộ qua việc năng cầu nguyện với Chúa. Tuy nhiên, chúng ta thường hay chữa mình: Tôi bận quá không có thời giờ nào rảnh để “vào sa mạc” mà cầu nguyện. Nhưng thật ra Chúa luôn ở bên cạnh và ở trong lòng ta. Chỉ cần thành tâm và có một chút cố gắng là ta có thể tạo ra khung cảnh sa mạc cho bản thân mình. Chẳng hạn: Mỗi ngày chúng ta có biết bao giờ rãnh rỗi để đi chơi, uống một ly cà phê, tán gẫu với chúng bạn hay ngồi hàng giờ trước vô tuyến truyền hình… tại sao ta lại không bớt ra một vài phút để vào sa mạc tâm hồn mà cầu nguyện với Chúa. Mỗi ngày có rất nhiều cơ hội gặp Chúa, mà vì lười biếng, vì thiếu đức tin hay do biết giá trị của lời cầu nguyện mà chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội để gặp gỡ Chúa. Chẳng hạn: Những lúc cửa hàng vắng khách, khi xe tạm dừng để chờ đèn xanh… Khi bị kẹt xe hay khi bất ngờ bị cúp điện không thể tiếp tục làm việc bình thường được. Thay vì bực bội khó chịu, chúng ta hãy ý thức Chúa đang ở trong ta và thưa với Người về công việc đang làm, về những điều ta đang lo lắng đối phó.

    THẢO LUẬN:

1) Mỗi người chúng ta cần học nơi thánh Phê-rô điều gì về sự cầu nguyện ? 2) Chúng ta có thể cầu nguyện với Chúa lúc nào ? 3) Khi gặp thất bại hay rủi ro trái ý, ta cần làm gì để biểu lộ lòng tín thác noi gương thánh Phê-rô ?

    CẦU NGUYỆN:

– LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hội Thánh ngày nay đang gặp rất nhiều khó khăn trở lực nhiều khi không thể tiến triển được. Xin cho các mục tử trong Hội Thánh luôn tin cậy vào tình thương và quyền năng của Chúa. Xin cho chúng con biết chu toàn sứ vụ làm chứng cho Chúa bằng sự quên mình vị tha và yêu thương phục vụ tha nhân. Xin cho chúng con sẵn sàng góp công góp của để cộng tác vào sứ mệnh loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.

– LẠY CHÚA. Chúa muốn con phải luôn vững tin vào Chúa mỗi khi gặp thử thách gian nan. Ngày nay vẫn có những cơn sóng gió làm chúng con bị hoài nghi và suy giảm lòng tin vào Chúa, khiến chúng con ngày một chìm sâu trong các đam mê tội lỗi. Mỗi khi con sắp bị chìm đắm, xin Chúa hãy động viên con như đã động viên các môn đệ trong Tin Mừng hôm nay: “cứ yên tâm. Chính Thầy đây, đừng sợ!”. Xin hãy nắm chặt tay con khi con sắp quỵ ngã, xin hãy nâng đỡ đức tin yếu hèn của con, giúp con đứng vững trước bao sóng gió cuộc đời. Nhất là xin cho con biết luôn ngước nhìn lên Chúa là nguồn hy vọng và là sự trông cậy độc nhất của con.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

Về đầu trang

TN19-A126: CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN_A

Lm. Antôn

Ông bà anh chị em thân mến.

Là những Ki-tô hữu, chúng ta biết đức tin có sức mạnh đảo ngược tình cảnh hay đời người, giúp chúng ta TN19-A126

Là những Ki-tô hữu, chúng ta biết đức tin có sức mạnh đảo ngược tình cảnh hay đời người, giúp chúng ta vượt được gian nan, khó khăn và làm được những việc quá sức tự nhiên của mình, vì vậy chúng ta phải luôn nhìn mọi sự việc xảy ra chung quanh với đôi mắt đức tin, và phải xác tín vào Chúa và quyền năng của Ngài, luôn tin cậy và phó thác vào Chúa.

Sau khi làm phép lạ hóa bánh cá ra nhiều cho hàng ngàn người ăn, Chúa Giê-su bảo các môn đệ xuống thuyền ra khơi trước và đợi Ngài ở phía bên kia Biển Hồ.  Sau khi giải tán đám dân chúng, Chúa lên núi cầu nguyện một mình, trong khi đó thì thuyền của các môn đệ ra khơi và gặp sóng gió lớn sắp chìm.  Sau mấy tiếng đồng hồ chèo chống, lúc ấy vào khoảng canh tư, nghĩa là vào khoảng ba giờ sáng, các môn đệ đã rất mệt mỏi, Chúa Giêsu đi trên mặt biển đến với các ông.  Vừa mệt mỏi và trong đêm tối, các môn đệ thấy có bóng người đi trên mặt biển tưởng là ma nên hoảng sợ. Chúa đã lên tiếng nói với các ông: “Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!”  Khi nghe được tiếng nói quen thuộc trấn an các ông nhận ra Chúa, và Phêrô xin phép được đi trên mặt nước đến gặp Chúa và Chúa bằng lòng. Nhưng vì sóng gió lớn, ông lo sợ và đâm ra hồ nghi, do đó bị chìm dần xuống.  Lúc đó ông lên tiếng kêu xin Chúa cứu giúp: “Lạy Thầy, xin cứu con!” Chúa đã đưa tay ra cứu giúp và trách nhẹ: “Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?”  Sau khi Chúa và Phêrô đã lên thuyền, sóng gió liền yên lặng và mọi người tuyên xưng Chúa: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa.”

Ông bà anh chị em thân mến. Qua bài Tin Mừng này Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta điều gì?  Thứ nhất, Chúa muốn cho chúng ta biết và tin vào Ngài là Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn loài, vì thế Chúa có quyền năng trên thiên nhiên và vạn vật.  Đối với Chúa, việc đi trên mặt biển không có gì là khó khăn, nhưng còn minh chứng quyền năng Thiên Chúa của Ngài. Các môn đệ hôm đó đã chứng kiến tận mắt và ghi nhận quyền năng tỏ tường của Chúa trên sóng biển và truyền cho chúng yên lặng. Vì thế, lòng tin của các môn đệ càng gia tăng.  Là những Ki-tô hữu, chúng ta phải xác tín vào Chúa một cách tuyệt đối, bằng cách sống những lời Chúa dạy, bởi vì như thánh Giacôbê  cho chúng ta biết đức tin không có việc làm là đức tin chết.

Bài học thứ hai, chúng ta phải thú nhận đức tin của chúng ta còn yếu kém và hay thay đổi, nên chúng ta phải thành khẩn cầu xin Chúa rất nhiều, như Phêrô khi thấy Chúa đi trên sóng nước, ông phấn khởi và tin Chúa, nên xin Chúa cho ông đi trên mặt nước đến với Chúa.  Lúc đó lòng tin của ông mạnh mẽ nên ông đi được trên mặt nước.  Nhưng khi thấy gió to, sóng lớn, biển động, ông hoảng sợ và sắp chìm, lòng tin thay đổi yếu kém đi, vì vậy ông đã la lên kêu xin Chúa: “Lạy Thầy, xin cứu con!”  Chúng ta thấy dù sao đây cũng biểu lộ lòng khiêm nhường sâu thẳm, và cũng là lời kêu xin chân thành và đích thực của Phê-rô.  Ông ý thức đức tin yếu kém của mình trước bảo tố, sóng to gió lớn, và sắp bị chìm xuống biển sâu, và thực sự cầu xin Chúa cứu giúp.  Trong cuộc sống, chúng ta thành thực thú nhận sự yếu kém đức tin trước những khó khăn, gian nan và nguy hiểm, vì thế chúng ta cần phải thành khẩn cầu xin Chúa.

Bài học thứ ba mà Chúa muốn dạy chúng ta là nếu có sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống thì mọi sự sẽ thay đổi tốt đẹp hơn.  Chúng ta thấy đang khi các môn đệ gặp sóng gió thì Chúa xuất hiện, và vì sự hiện diện của Chúa cho nên trong khoảnh khắc mọi sự đều thay đổi: sóng gió trở nên yên lặng, sợ hãi biến thành vui mừng, yếu kém trở nên vững mạnh.  Điều này cho chúng ta biết cuộc đời sẽ có bão gió và ở đâu có Chúa là có ân sủng, bình an và hy vọng. 

Nhìn vào thế giới hôm nay, chúng ta nhận ra hiểm họa chiến tranh, xung đột có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, những cuộc đàn áp và xâm lăng đang diễn ra, khủng bố và bách hại đang đè nặng trên cuộc sống của mọi người.  Xã hội Hoa kỳ mà chúng ta đang sống đang diễn ra những cuộc tranh chấp, bạo động và tội ác khắp nơi; gia đình vợ chồng bất hòa; con người sống trong lo âu, sợ hãi và bất an; luân lý, công bằng và ngay thẳng bị loại ra; và nhiều người sống không có đức tin.  Đây có thể coi là một thời điểm “biển động sóng gió” khắp nơi và có người không tin là có Chúa.  Thật vậy, chiến tranh, khủng bố, thù hằn, xâm lăng, tội ác, gian dối và bất an xảy ra vì con người không tìm đến, tin và sống lời Chúa mà thôi!

Ông bà anh chị em thân mến. Cuộc đời của chúng ta cũng có những lúc phải đối diện với gió bão, gian nan và khó khăn, và chúng ta cố gắng dùng sức của mình chèo chống nhưng thất vọng, không thành công.  Hôm nay, Chúa muốn nói với chúng ta đừng bao giờ thất vọng và nghĩ rằng Chúa bỏ rơi chúng ta, hay không để ý đến chúng ta.  Chúa muốn chúng ta đến với Chúa, xác tín và mời Chúa vào hiện diện trong đời sống mỗi người, và vào trong gia đình của chúng ta.  Chúa muốn hiện diện và đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường và Chúa sẽ sẵn sàng trợ giúp chúng ta nếu chúng ta thành khẩn cầu xin Ngài.   

Ông bà anh chị em thân mến.  Nếu chúng ta chú ý đến bài học này thì chúng ta sẽ ý thức khi gặp, đối diện với những gian nan, khó khăn và thử thách, chúng ta hãy vững tin, đến với Chúa và khiêm tốn cầu xin: “Lạy Chúa, xin cứu giúp con!”  Thái độ khiêm tốn và lời cầu xin chân thành biểu lộ lòng xác tín của chúng ta vào quyền năng của Chúa, tôi tin rằng vì yêu thương, Chúa sẽ sẵn sàng cứu giúp chúng ta, và Chúa cũng sẽ nói với chúng ta như đã nói với các môn đệ: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!”

Có sự hiện diện của Chúa, chúng ta sẽ được bình an như lời Tin mừng thuật lại: “Khi Chúa Giêsu lên thuyền thì gió liền yên lặng”, và đức tin của chúng ta sẽ gia tăng, vững mạnh hơn.  Xin bình an và ơn sủng của Chúa luôn hiện diện trong cuộc sống mỗi người, mỗi gia đình và trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta.

Về đầu trang

TN19-A127: LIÊN KẾT

Lm Vũđình Tường

Người ta thường ăn mừng sau khi tổ chức thành công một công việc. Trong tiệc mừng có vang tiếng ca TN19-A127

Người ta thường ăn mừng sau khi tổ chức thành công một công việc. Trong tiệc mừng có vang tiếng ca tụng lẫn nhau, có nhạc nhộn nhịp và có cụng li chúc mừng thành công. Niềm vui sáng rực trên khuôn mặt người tổ chức và hầu như ít ai để í đến vấn đề chính đưa đến thành công nằm ngoài khả năng kiểm soát của con người. Đó là điều kiện khí hậu. Chính khí hậu khô nắng, buổi sáng đẹp trời, nắng ấm là điều kiện tiên quyết mời gọi con người lên đường tham dự ngày đại hội. Con người làm việc vất vả nhưng phải lệ thuộc vào đất trời để có được thành công mơ ước. Nhưng khi tổ chức mừng thành công mấy ai để í đến cám ơn trời mà chỉ nghĩ do công khó của mình làm nên điều đó.

Sau khi nuôi năm ngàn người ăn Đức Kitô sai các môn đệ sang phía bên kia biển hồ, Ngài lưu lại để tổ chức tiệc mừng. Tiệc mừng của Ngài không có nhạc vàng, không có cụng li, có những lời ca tụng, nhưng không phải ca tụng công lao người khác, mà ca tụng Thiẹn Chúa. Tiệc mừng của Ngài là liên kết với Chúa Cha trong tâm tình cảm tạ. Khi các tông đồ khi khỏi Ngài ra bờ biển hướng nhìn về phía các tông đồ, Ngài một mình âm thầm nơi bờ biển, trong cái yên tĩnh của đêm tối. Tâm thần hoà gió bay bổng trời cao, tấm lòng trải rộng trên sóng nước, Ngài nghe tiếng gió biển nhè nhẹ thổi, mắt nhìn ánh trăng mờ chiếu trên sóng bạc, hai gối quì âm thầm cầu nguyện cùng Chúa Cha. Phúc âm không ghi lại Ngài nói gì, những lần trước đó Ngài dâng lời cảm tạ Chúa Cha. Trong tâm tình Ngài không tự nhận công của Ngài nhưng dâng lời Cảm Tạ, liên kết cuộc sống, việc làm hàng ngày cùng Chúa Cha.

Lậy Cha, Con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời Con. Phần Con, Con biết Cha hằng nhậm lời Con, nhưng vi dân chúng đứng quanh đây, nên Con đã nói để họ tin là Cha đã sai Con .Gn 11,41-42.

Nuôi năm ngàn người là do Chính Thiên Chúa nuôi dưỡng. Các tông đồ có nhiệm vụ phân phát bánh và cá. Các ông báo cho Đức Kitô biết em nhỏ có bánh và cá. Việc làm cho bánh ít hoá nhiều là do chính Thiên Chúa. Làm cho bánh hoá nhiều giúp các tông đồ hiểu ít nhiều về việc Chúa dùng chính thân thể mình để nuôi dưỡng nhân loại qua Bí Tích Thánh Thể, Ngài sẽ lập trong bữa Tiệc Li. Điều này cũng nhắc cho nhân loại biết Thiên Chúa là Đấng duy nhất biến đổi bánh rượu thường thành Mình Máu Thánh Con Chúa. Linh mục dâng lễ là dụng cụ của Thiên Chúa và lập lại trên bàn thờ những gì Đức Kitô kêu gọi làm để nhớ đến Ngài Lc 22,19-20. Thiên Chúa biến đổi bánh thành Thịt Ngài và rượu thành Máu Thánh Ngài.

Đức Kitô sai các môn đệ ra đi trong khi Ngài ở lại cảm tạ Thiên Chúa. Khi sóng yên, biển lặng các ông cảm thấy an tâm và làm công việc cách bình thường. Khi sóng to, gió lớn các ông vất vả chèo chống, mệt mỏi lại sợ hãi khi thấy có bóng người đang xuất hiện từ phía xa xa. Trong hoảng hốt và không đường thối lui các ông chỉ biết dán mắt vào hình bóng kia và khi hình bóng đó đến gần các ông vui mừng vì nhận ra đó là hình ảnh Thầy đang lướt sóng đến với các ông. Phêrô vội lên tiếng xin đến cùng Đức Kitô. Một cơn sóng vượt quá đầu bao phủ tầm nhìn và ông đã hoảng hốt xin Thầy cứu. Sau khi cả hai lên thuyền an toàn, Đức Kitô ra lệnh cho sóng êm, gió lặng và các ông càng kinh ngạc hơn khi biết ngay cả sóng biển, bão tố cũng vâng lời Đức Kitô.

Lần nữa các ông hiểu thêm về bí mật quyền năng Thiên Chúa. Dù xưng ra Ngài là Con Thiên Chúa nhưng các tông đồ không hiểu rõ về điều các ông tuyên xưng bởi quyền năng Thiên Chúa vượt khỏi trí tưởng tượng của loài người và con người chỉ có thể nhận biết phần nào Chúa cho tỏ lộ quyền năng Ngài.

Về đầu trang

TN19-A128: Chú giải của Noel Quesson.

Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán TN19-A128

Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán đám đông.

Tại sao Đức Giêsu bắt buộc các môn đệ xuống thuyền? đi trước? Tại sao Đức Giêsu giờ đây giải tán đám đông sau khi đã nói rằng đám đông không cần đi đâu cả (tức vào các làng mạc mua thúc ăn)? Những chi tiết này không phải là không quan trọng. Chúng có một ý nghĩa và được Matthêu và Máccô thuật lại, nhưng chỉ có Gioan đem lại cho chúng ta một lời giải thích: Việc ban bánh trong sa mạc có một ý nghĩa chỉ về Đấng Mêsia đã làm cho nhiệt tình của đám đông bốc cao lên, họ hoàn toàn cuồng nhiệt bởi sự xuất hiện rất nhiều vị thiên sai ở thời kỳ lịch sử này của Israel.

Các đám đông, với những cảm nghĩ mơ hồ thường thấy và những động tác không kiềm chế lúc đó đã muốn kéo Đức Giêsu trong một cuộc phiêu lưu chính trị tôn giáo như đã có nhiều trong những quốc gia bị La Mã đô hộ và sau cùng tất cả đều kết thúc trong sự đàn áp đẫm máu. "Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên người lại lánh mặt, đi lên núi một mình" (Ga 6,15). Đức Giêsu cũng biết rất rõ các môn đệ của Người, còn gắn bó với quan điểm về một Đấng Mêsia trần thế ". Họ dễ dàng buông mình theo sự say sưa muốn biểu dương ấy Đức Giêsu buộc họ phải xuống thuyền đi trước.

Vâng Đức Giêsu đôi lúc thấy mình phải đương đầu với những kiểu vấn đề như thế. Một mình người đối phó với mọi người.

Sau khi giải tán đám đông, Người đi riêng lên núi mà cầu nguyện.

Người ta có thể thử tưởng tượng Đức Giêsu tranh luận tay đôi với những kẻ ngoan cố nhất và cuồng nhiệt nhất không muốn giải tán: không tôi không đến để làm chính trị: nước tôi không thuộc về thế gian này... tôi đâu có trách nhiệm cho các ông ăn mỗi ngày... các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát nhưng để có lương thực thường tồn" (Ga 6,27).

Mệt mỏi vì những cuộc tranh luận ấy, khi còn lại một mình, Đức Giêsu cảm thấy nhu cầu cần phải cầu nguyện. Và chúng ta tưởng tượng Người giờ đây trong màn đêm buông xuống, bước theo con đường sỏi đá để lên núi. Bài đọc đầu tiên của Chúa nhật này nhắc nhở chúng ta nhớ rằng "núi" trong Kinh Thánh là nơi ưu việt để "gặp gỡ Thiên Chúa" (1V 19,9) Đó là một chủ đề mà Matthêu ưa thích một cách đặc biệt: núi của các mối Phúc Thật (5,1 )... núi của sự cám dỗ (4,8)... núi của sự biến hình (17,1)... núi của Đấng sống lại (28,16)... Trong những tháng hè này, một số người đi nghỉ hè ở trên núi. Khi chúng ta có cơ hội lên núi, chúng ta có biết tranh thủ để cầu nguyện trong cô tịch và sự im lặng hay không?

Chiều đến, Người vẫn ở đó một mình...

Phải để cho hình ảnh ấy thâm nhập vào tâm hồn chúng ta thật lâu: Đức Giêsu trên đỉnh núi trong bóng đêm, trong sự im lặng từ trái tim đến trái tim đơn độc, trong sự hiệp nhất với Chúa Cha.

Người ta dễ dàng đoán ra Người đọc kinh nào, đêm hôm đó. Người ta đã thử lái Người ra khỏi sứ mạng chủ yếu. Nhưng như một bản năng Người trở lại sứ mạng của mình: Vai trò của Người thuộc về tinh thần dù vai trò ấy có những hậu quả quan trọng trong lãnh vực vật chất. Một lần nữa, Đức Giêsu phải chiến đấu chống lại ma quỷ của thứ chủ nghĩa Mêsia quốc gia đã "hứa hẹn cho Người tất cả các nước thế gian" (Mt 4,8-10). Một sự cám dỗ khủng khiếp, ám ảnh gần gũi; và lặp lại mãi. Sự quyến rũ của sự thành công tức thời mà Đức Giêsu can đảm đẩy lui bởi sự cầu nguyện. Không, người sẽ không là vị "vua" vinh quang và được tôn vinh. Người sẽ là Đấng Mêsia nghèo khó, sống tróng bóng tối, bị đau khổ và cái chết đánh gục. Chiến thắng của Đức Giêsu sống lại từ cái chết chỉ dành cho những ai tin.

Đức Giêsu cũng cầu nguyện nhiều cho các "môn đệ" Người vừa sai đi trước. Người phải nghĩ về Giáo Hội mà người thành lập, và cơn cám dỗ thường xuyên muốn đưa những phương tiện của con người lên hàng đầu. Phần tôi, tôi có tin vào giá trị cầu nguyện không? Nếu xét về bề ngoài và theo tính chất của con người, thời gian mất đi ấy lại vô cùng quan trọng về mặt tâm linh. Thỉng thoảng tôi có cầu nguyện một mình không?

Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ nhiêu dặm, bị sóng đánh vì ngược gió.

Trong động tác bất ngờ của máy quay phim, cũng như trong một phân cảnh tài tình của phim ảnh. Matthêu đi từ hình ảnh Đức Giêsu trên núi qua hình ảnh chiếc thuyền trên mặt biển. Đạo diễn trước tiên tập trung chú ý trên "chiếc thuyền" bằng việc sử dụng bút pháp dị thường: trong lúc Máccô nói các môn đệ phải vất vả chèo chống (Mc 6,48)... thì Mátthêu cũng bằng những chữ ấy nói rằng chiếc thuyền bị sóng đánh vật vã. Tất cả những nhà chú giải từ những giáo phụ đầu tiên của Giáo Hội đã nhìn thấy trong chiếc thuyền ấy là biểu tượng của Giáo Hội. Vào thời thánh Mátthêu, các cộng đoàn Kitô hữu trong thực tế chỉ là những chiếc thuyền mong manh chèo chống khó khăn trên mặt biển đầy sóng gió của ngoại giáo và đi ngược gió!

Vào khoảng canh tư Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.

Cảnh trước đó (Đức Giêsu cầu nguyện trên núi... chiếc thuyền bị sóng đánh) như thế đã kéo dài suốt đêm!

Đối với nhiều người, cảnh Đức Giêsu đi trên mặt biển có thể chỉ có vẻ như một câu chuyện thần tiên, một giai thoại tuyệt vời chỉ tốt cho trẻ em và những kẻ ngây thơ. Khác với các phép lạ chữa bệnh mà chúng ta tưởng lập tức hiểu hết ý nghĩa bởi vì những phép lạ ấy "có ích", chúng ta ngạc nhiên về những cử chỉ bề ngoài xem ra vô ích: tại sao Đức Giêsu lại không gặp trực tiếp các bạn hữu của mình? vì chúng ta rất hay quên rằng các phép lạ của Đức Giêsu trước hết là những "dấu chỉ": Đó là những cử chỉ nói được, hoặc có một điều gì nói với chúng ta. Tính chất tượng trưng của chúng đứng hàng đầu, không vì thế mà chối bỏ giá trị sự kiện lịch sử của chúng. Các tác giả Tin Mừng rõ ràng đã đọc lại các biến cố, từ ba yếu tố dùng để giát thích: 1. Sự sống lại của Đức Giêsu... 2. Truyền thống của Cựu Ước... 3. Những nhu cầu của các cộng đoàn mà họ kể lại.

Trong toàn bộ Kinh Thánh, biển là hiện thân của sức mạnh thù địch với con người. Những người Do thái, như nhiều dân tộc sống trong đất liền đặt vào biển mọi nỗi sợ hãi lâu đời dưới hình thức những quái vật huyền thoại như: Lêviathan; Raháp (Tv 104,5-9-26; 106, 9 - 74,13-14; Is 51,9-10). Bão tố, trong mọi ngôn ngữ không chỉ được xem như một hiện tướng tự nhiên như một biểu tượng của những sức mạng xấu nhưng mạnh hơn con người. Còn Thiên Chúa được giới thiệu như Đấng "thống trị biển cả", Đấng "đi trên mặt biển" (Ga 9,8; Tv 77,20; Kb 3,15). Như thế Đức Giêsu đi trên mặt biển chứng tỏ Đức Giêsu làm được điều mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm: đó là một "biểu hiện của Thiên Chúa", một sự thần hiện, hình ảnh của sự sống lại...

Những cộng đoàn Kitô hữu HÔM NAY và nói riêng mỗi người chúng ta cần chiêm ngắm Đức Giêsu thống trị sự ác với tất cả quyền Chủ Tể của Người.

Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: "Ma đấy!" và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ!".

Khẳng định: "Đừng sợ!" đối chiếu cảnh này lúc Người đi trên những vực thẳm của sự chết với cảnh trong lễ Vượt Qua lúc: Người biến hình (Mt 17,7) và sống lại (Mt 28,5-10)...

Mỗi lần một người đến gần Thiên Chúa, trong Kinh Thánh, có một cử chỉ điển hình gồm hai khía cạnh: "sự sợ hãi" chiếm lấy con người... "lời mời gọi đừng sợ" mà Thiên Chúa luôn lặp lại..' (St 21,17; Is 7,4; Dn 10,19; Lc 1,13; Cv 18,9; Kh 1,17 ). Than ôi, trong cả một đời người không thiếu bão tố. Biết bao lần chúng ta lại không cảm thấy mình như bị buồn nôn khủng khiếp vì say sóng tưởng trút linh hồn (Tv 107,25-27). Chúng ta không chọn lựa cho mình biển hồ và thời tiết xấu... cũng không chọn bão tố, bóng đêm... cũng không chọn những cơn cám dỗ, những cơn thử thách. Và nỗi sợ hãi chiếm lấy chúng ta!

Giờ đây như các môn đệ của biển hồ Galilê, chúng ta được mời gọi cảm nhận sự "hiện diện của Đấng Vắng Mặt". Lạy Chúa, Chúa ở đây với chúng con trong cơn bão tố này và Chúa lại nói với chúng con: "Chính Thầy đây, hãy cậy trông! Đừng sợ!".

Ông Phêrô liền thưa với Người: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài". Đức Giêsu bảo ông: "Cứ đến!". Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu.

Trong Tin Mừng của Thánh Matthêu, Phêrô được giới thiệu như người đứng đầu các tông đồ, "người phát ngôn" của họ (Mt 10,2; 15,15; 16,16-17; 17,24-27; 18, 21).

Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ và khi bắt đầu chìm, ông la lên: "Thưa Ngài xin cứu! con với!". Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?"

"Người đâu mà kém tin vậy!" Chủ đề "đức tin nhỏ bé" là một trong những chủ đề mà Matthêu không ngừng nhấn mạnh (6,30; 8,26; 14,31; 16,8; 17,20). "Người có đức tin quá nhỏ bé... bước đầu của đức tin... đức tin không hoàn hảo..." chúng ta nhận thấy mình trong cách diễn tả đức tin không phải là một đồ vật làm sẵn, có được một lần là xong. Đúng hơn đó là một "sự sống" đang tăng trưởng hoặc đang suy thoái. Đó là một "lịch sử" đang vận hành và vì là quan hệ giữa hai người nên không ngừng biến đổi.

Đức Giêsu chấp nhận sự yếu đuối đức tin của chúng ta nhưng nmời gọi chúng ta tiến bộ. Và chính trong thử thách, trong bão tố mà "đức tin nhỏ bé, kém cỏi" của chúng ta được thẩm định và thực hành.

Ở đây đức tin được trình bày trong một bối cảnh bi đát như một cuộc chiến đấu chống lại sự hồ nghi và sợ hãi. Phêrô người tín hữu đầu tiên không được đặt lên hàng đầu vì những phẩm chất cá nhân. Chúng ta thấy ông đã hụt chân, như buổi tối mà ông đã chối Chúa ba lần sau khi hung hăng lớn tiến tuyên bố lòng trung tín (Mt 26,35.69.75)

Tuy nhiên giữa lúc hoài nghi, ông cầu nguyện: "Thưa Ngài, xin cứu con với! Kyrie eleison!".

Vậy sơ đồ của đức tin chúng ta là gì: một lời kêu gọi của Đức Giêsu bảo chúng ta "Hãy đến.!" một cuộc hành trình trên những vực thẳmcủa sự phi lý bề ngoài của đức tin..sự hoài nghi làm chao đảo... sự chỉnh đốn hoàn toàn của Đấng cầm tay chúng ta.

Khi Thầy trò lên thuyền, thì gió yên lặng ngay.

Một nhận xét đơn giản bề ngoài không quan trọng đối với người đọc quá nhanh.

Một lần nữa, đây là một chi tiết tượng trưng mà hình ảnh đã lên tiếng: "Thầy trò" cả hai đã lên thuyền, và gió lặng. Đức Giêsu và Phêrô cứu chiếc thuyền này trong cơn tai biến.

Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: "Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!"

Trong sách Tin Mừng Matthêu, đây là sự tuyên xưng đức tin đầu tiên. Chúng ta phải giữ lại trang Tin Mừng này cho cơn bão tố sắp tới của chúng ta. Phêrô suốt đời sẽ nhớ lại điều này, khi ông sẽ bước vào những cơn giông tố khác trầm trọng hơn ở Rôma vào thời của Vua Nêrôn.

Về đầu trang

TN19-A129: CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN

Thiên Chúa hiện diện qua Đức Ki-tô

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (1 V 19:9a, 11-13a;  Rm 9:1-5;  Mt 14:22-33)

Những năm đầu học ở tiểu chủng viện, trong nhà hội chung trước mặt chúng tôi là hàng chữ thật lớn: TN19-A129 Dalat

Những năm đầu học ở tiểu chủng viện, trong nhà hội chung trước mặt chúng tôi là hàng chữ thật lớn:  “Đức Chúa Trời đang ngự trước mặt con”.  Ngày nào dòng chữ ấy cũng nhắc nhở chúng tôi về sự hiện diện của Chúa;  nhưng còn bé nên chúng tôi đã không mấy thắc mắc Chúa hiện diện thế nào.  Sau hơn sáu mươi năm, hôm nay nhờ Phụng vụ Lời Chúa, tôi mới hiểu phần nào về sự hiện diện của Chúa.  Chúa Nhật trước, Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa phán dạy nhân loại qua Đức Ki-tô và Người kêu gọi chúng ta hãy vâng nghe Đức Ki-tô.  Hôm nay Người cho biết Người hiện diện qua Đức Ki-tô và mời gọi chúng ta hãy tin vào Đức Ki-tô.

                Trước hết, chúng ta hãy nghe tác giả sách 1 Vua trong Cựu Ước kể lại cảm nghiệm của ngôn sứ Ê-li-a về sự hiện diện của Thiên Chúa.  Ngôn sứ Ê-li-a bị hoàng hậu I-de-ven lùng bắt nên ngài phải trốn chạy tới núi Khô-rép.  Trong hoàn cảnh tột cùng khó khăn, ngôn sứ cần đến sự hiện diện che chở của Thiên Chúa.  Khô-rép là “núi của Đức Chúa” thì việc đi tìm sự hiện diện của Người cũng là hợp lý. Quả thực Chúa tỏ mình ra cho ngôn sứ, nhưng không giống như cách Người thần hiện trên núi trước mặt dân Ít-ra-en giữa sa mạc và trong cảnh “bão lớn xẻ núi non, động đất hoặc lửa hồng”.  Người đến với Ê-li-a như “tiếng gió hiu hiu”, phù hợp với tâm tình ủi an nâng đỡ vị ngôn sứ đang cần nơi nương tựa.  Đây đích thực là sự hiện diện của một vì Thiên Chúa đầy tình yêu và lòng thương xót, đoái trông đến thân phận cô đơn của người con cái bị bách hại.

                Tiếp đến là qua đoạn thư gửi tín hữu Rô-ma, cũng trong tâm trạng “ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi”, thánh Phao-lô chia sẻ cảm nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa.  Đối với ngài, Thiên Chúa hiện diện qua hành động của Người trong lịch sử Ít-ra-en và nhất là qua kế hoạch cứu độ do Đức Giê-su Ki-tô thực hiện.  Với Ít-ra-en, Thiên Chúa hiện diện giữa họ qua việc “nhận họ làm con, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa”.  Tột đỉnh sự hiện diện của Thiên Chúa là Người sai Con Một là Đức Ki-tô đến để chia sẻ “cùng một nòi giống với họ”.  Riêng với thánh Phao-lô, sự hiện diện của Thiên Chúa qua  Đức Ki-tô là nguồn an ủi và nâng đỡ ngài thắng vượt ưu phiền và đau khổ vì sứ mệnh rao giảng Tin Mừng.

                Đức Ki-tô “đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”.  Người được gọi là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.  Thiên Chúa trở nên giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.  Bài Tin Mừng hôm nay ghi lại Chúa Giê-su, một Thiên Chúa “lên núi một mình mà cầu nguyện”, một Thiên Chúa “đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ” ở trên thuyền bị sóng đánh vì ngược gió.  Các môn đệ này đang phải cố gắng chèo chống và cần đến sự hiện diện của Chúa Giê-su.  Thì đây, Chúa Giê-su xuất hiện trên mặt nước.  Ông Phê-rô muốn “trắc nghiệm” sự hiện diện của Người, nên xin Chúa cho mình cũng được đi trên mặt nước mà đến với Người.  Rồi ông nghi ngờ sự hiện diện của Chúa, nên ông “đâm sợ và bắt đầu chìm”!  Chúa dịu dàng trách ông kém lòng tin, rồi củng cố đức tin của ông bằng cách “đưa tay nắm lấy tay ông”.  Sau cùng, thấy gió lặng biển êm, các môn đệ bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa”.  Sự hiện diện của Thiên Chúa qua Đức Ki-tô vừa mang vẻ toàn năng cao cả của Thiên Chúa chí tôn, vừa chứa đựng một tình yêu ấm áp và sống động của loài người.

Sống sứ điệp Lời Chúa

                Có một điều chúng ta gặp thấy trong cả ba trường hợp, đó là Chúa hiện diện ngay trong hoàn cảnh con người đang gặp gian nan thử thách và đau khổ.  Ngôn sứ Ê-li-a thì bị bách hại;   thánh Phao-lô thì ưu phiền và đau khổ;  các môn đệ Chúa Giê-su thì đang vất vả đối phó với sóng gió.  Tuy nhiên tất cả đều đón nhận sự hiện diện của Thiên Chúa và được Người an ủi vỗ về.  Nói người lại nghĩ đến ta!  Chúng ta tất cả không tránh khỏi những thử thách và đau khổ trong cuộc sống trần gian này.  Điều quan trọng là chúng ta có ý thức sự hiện diện của Chúa ngay trong cuộc đời mình hay không?  Chúng ta mang hình ảnh Người, được hồng ân gọi Người là “Áp-ba, Cha ơi!”, làm em Chúa Ki-tô là trưởng tử nhân loại mới, và nên đền thờ Chúa Thánh Thần.  Thế là ta được đầy tràn sự hiện diện của Chúa rồi!                 

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

Về đầu trang     

TN19-A130: Chúa Nhật 19 Thường Niên Năm A

Phêrô, Người Lái Con Thuyền Ðức Tin Hội Thánh

(1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 14,22-33)

 Phúc Âm: Mt 14, 22-33

"Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy".

Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Ðến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.

Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: "Ma kìa!", và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: "Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!" Phêrô thưa lại rằng: "Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy". Chúa phán: "Hãy đến!" Phêrô xuống khỏi thuyền, bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: "Lạy Thầy, xin cứu con!" Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: "Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?" Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: "Thật, Thầy là Con Thiên Chúa".

 

Suy Niệm:

Chúa Nhật XVIX Thường Niên A

1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 14,22-33

Lời Chúa hôm nay có thể đem lại nhiều suy tư phong phú. Mỗi bài đọc là một biển mênh mông hay một TN19-A130

Lời Chúa hôm nay có thể đem lại nhiều suy tư phong phú. Mỗi bài đọc là một biển mênh mông hay một rừng bát ngát: càng suy lại càng thấy rộng. Tiếc thay, chúng ta chỉ có thể cùng nhau đọc lướt qua và nhặt lấy một vài tư tưởng nổi bật. Các mẫu chuyện về Êlya, Phêrô và Phaolô khi ấy có thể gợi lên cho chúng ta một số nét trong đời sống đức tin. Chúng ta có thể nhìn thấy các phấn đấu của mình trong đời sống của các ngài. Và như vậy, Lời Chúa hôm nay sẽ quý giá cho chúng ta.

 

A. Tước Hết, Êlya Là Chiến Sĩ Vô Ðịch Về Ðức Tin

Ông sinh sống vào khoảng cuối thế kỷ IX trước Công nguyên. Có thể nói, ông đã khai mạc thời đại các tiên tri lớn trong Cựu Ước.

Không ai biết rõ dòng họ của ông. Như Melkisêdek, có thể nói ông là người không cha không mẹ. Ðiều khác thường này, chứng tỏ ông là người xuất chúng nếu không phải là mầu nhiệm. Người ta biết rõ các công việc của ông vì cả triều đình thời bấy giờ thường phải bận tâm về sự hiện diện và lời ông giảng dạy. Nói chung, tà giáo bấy giờ đang ở thế mạnh. Vua và hoàng hậu nuôi dưỡng từng ngàn tiên tri Baal. Dân chúng tự nhiên cũng muốn chạy theo sự dễ dãi, vì giữ được được đức tin chân chính đòi phải phấn đấu cam go. Nhưng Êlya không sợ đi ngược lại trào lưu. Một mình ông cương quyết bênh vực chính giáo. Lòng nhiệt thành bất khuất ấy hiện ra rõ rệt trong câu chuyện thách đố ở trên núi Karmel.

Toàn dân tập họp lại để xem Yavê hay Baal là Chúa thật. Một bên có tế đàn của gần 1,000 tiên tri tà giáo. Và bên kia trơ trọi một mình Êlya, ông bảo bên họ cứ đặt của lễ lên và cầu khẩn cho to cho khỏa để xin Baal cho lửa trời xuống đốt. Họ tụng kinh inh ỏi từ sớm tới chiều, chẳng bỏ sót một vũ khúc tôn giáo hay một nghi thức ma thuật nào. Kết quả, Baal vẫn như ngủ, như ngơ vì quả thật nó chỉ là ngẫu tượng do trí óc thấp kém và nô lệ của con người bày ra. Bấy giờ Êlya mới giơ tay cầu nguyện. Lập tức Yavê cho lửa xuống thiêu của lễ. Toàn dân kính phục Yavê và tóm cổ bọn tiên tri tà giáo trừng phạt nặng nề.

Nhưng đâu đã hết. Tiếng dân về phe với Êlya, khiến hoàng cung căm phẫn. Hoàng hậu cho người bắn tin sẽ lấy đầu người chiến sĩ vô địch đức tin kia. Và Êlya phải mau mau lẩn trốn vào sa mạc.

Trước đây trận địa ở trước mặt toàn dân. Êlya là người có đức tin sống động. Và đức tin này có việc làm và đã làm việc không quản gian lao. Bây giờ chiến địa là sa mạc. Khó khăn không phải chỉ là khí nóng và hoang vu, nhưng còn là thân thể nhọc mệt và tinh thần chán nản. Êlya nay không còn như một Môsê quyền năng ở đất Aicập và trước mặt Pharaô nữa; nhưng cũng như Môsê và Dân Chúa ngày trước, ông đang đi trong sa mạc, làm lại cuộc hành trình đầy thử thách hầu đức tin được tôi luyện như vàng trong lửa.

Êlya tưởng mình cũng không hơn gì tiền nhân, những người đã tin Chúa, thờ Chúa, bênh Chúa, nhưng rồi đã bị bạc đãi và bắt bớ. Chính lúc ấy Thần Chúa đã đến viếng thăm, đem bánh và nước tới như xưa Dân Chúa đã nhận được manna và nước mát. Và Êlya đã tiếp tục đi thêm 40 đêm ngày như Dân Chúa đã đi 40 năm nơi hoang địa để cuối cùng đến núi Khoreb cũng gọi là Sinai, hầu nhận được mạc khải cao cả, đánh dấu cao điểm của cuộc đời đức tin vững vàng.

Bài đọc 1 hôm nay thuật lại mạc khải này. Chúa cho Êlya thấy Người, không phải trong bão táp, sấm động hay chớp lửa, nhưng trong hơi gió nhẹ nhàng làm mát dịu con người.

Những ai quen biết lịch sử tôn giáo đã thấy ngay đây là một tiến bộ quan trọng. Trước đây, người ta hình dung Thiên Chúa ở đàng sau những hiện tượng kinh hoàng trời long đất lở, sấm chớp hãi hùng. Chính Dân Chúa cũng đã nhìn thấy đỉnh núi Sinai như một lò lửa lớn khi có tiếng Yavê đến gần. Nay với Êlya, Thiên Chúa tỏ ra nhẹ nhàng như thời khai nguyên. Ađam-Evà trước khi phạm tội đã được sống những giây phút thân mật với Ngài, vì vào lúc gió chiều hiu hắt, Ngài đến tản bộ với hai ông bà. Hôm nay Ngài cũng đến với Êlya sau làn gió nhẹ, để ông trở thành mẫu người được hưởng sự êm ái của Thiên Chúa.

Truyền thống Kitô giáo đã mau mắn nhận Êlya là tổ phụ của đời sống chiêm niệm kết hợp với Thiên Chúa, đang khi tâm lý bình dân đã sẵn sàng tôn ông là nhà vô địch về đức tin. Nói đúng ra cuộc đời của Êlya chứng tỏ đời sống đức tin không đơn giản. Người tín hữu phải biết chiến đấu bên ngoài và bên trong, phải có những hành động chứng tỏ niềm trung tín đối với Chúa, nhưng cũng biết sống lặng lẽ để kết hiệp trong sự thân mật với Người.

Và điều này, chúng ta cũng còn thấy trong câu truyện hôm nay về Phêrô và các môn đệ, mặc dầu bài Tin Mừng Matthêô còn muốn nói nhiều hơn nữa.

 

B. Phêrô, Người Lái Con Thuyền Ðức Tin Hội Thánh

Hôm ấy cũng là một ngày rất đặc biệt! Chưa bao giờ người ta được chứng kiến một cảnh tượng như thế. Với 5 ổ bánh và 2 con cá trao vào tay các môn đệ để phát cho dân, Ðức Yêsu đã nuôi no khoảng 5,000 người, không kể đàn bà con trẻ. Làm sao mọi người không phấn khởi! Và tránh sao được vẻ thỏa mãn hiên ngang trên khuôn mặt các môn đồ! Êlya trên núi Karmel chưa chắc đã thỏa mãn hơn. Nhưng để họ khỏi sa chước cám dỗ, Ðức Yêsu buộc họ phải lên thuyền về trước bắt chước Êlya đi vào sa mạc. Còn Người ở lại giải tán dân và lên núi cầu nguyện.

Nhưng thuyền các môn đồ vừa ra xa, thì này sống gió nổi lên dữ dội trong đêm tối. Cho mãi tới gần sáng vẫn còn như vậy. Con thuyền Hội Thánh quả thật ba chìm bảy nổi khi vượt biển trần gian. Chỉ một dấu hiệu khác thường cũng đủ khiến những kẻ ở trong thuyền sợ đến tột độ. Chính vì vậy mà vừa thấy một bóng đi xa xa trên mặt nước, họ đã la lên hoảng hốt: kìa ma! kìa ma!

Nhưng đó lại là chính Ðức Yêsu. Người đã thôi cầu nguyện với Chúa Cha trong nơi vắng vẻ để đi cứu giúp các môn đệ. Người lên tiếng trấn an họ. Phêrô liền xin chạy trên nước để đến với Người. Nhưng thay vì để ý luôn nhìn vào Chúa, ông lại nghĩ đến gió thổi. Và ông sợ. Ông bắt đầu chìm xuống, đến nỗi nếu không có cánh tay của Chúa giơ ra đỡ dậy, sóng nước đã vùi dập ông.

Câu truyện này một lần nữa lại cho chúng ta thấy đời sống đức tin luôn đòi phải phấn đấu. Nếu mẫu truyện về Êlya đã kể lại phấn đấu của một tâm hồn, thì ở đây chúng ta thấy toàn thể Hội Thánh cũng phải phấn đấu. Các môn đồ của Chúa phải biết mau mau gỡ mình ra khỏi sức cám dỗ của thành công đắc chí.

Hơn nữa con thuyền của Hội Thánh trong giai đoạn Chúa đang cầu bầu cùng Chúa Cha ở trên trời luôn gặp sóng gió và phải phấn đấu trong trần gian u tối. Không phải vô ý mà Matthêô đã kể câu truyện này sau phép lạ bánh hóa nhiều. Cũng như ông sẽ kể: ra khỏi phòng Tiệc ly, các Tông đồ hầu như sa ngã. Ðó là thân phận Hội Thánh sau các buổi họp phụng vụ và đi vào thế gian.

Hội Thánh phải phấn đấu; nhưng tự mình vẫn không đạt được hạnh phúc, mà phải là chính Chúa ban cho. Cũng như nếu không nhận được thần lương, Êlya cũng đã ngã gục. Và cũng như phần thưởng cuối cùng ông nhận được là việc chính Chúa tự mạc khải mình cho ông, thì ở đây, bình an cứu độ cũng đã trở về với con thuyền Hội Thánh khi Ðức Yêsu tuyên bố: Này Ta! Người dùng lại chính lời mạc khải trên núi Khoreb, khi Môsê xin cho được biết Danh tánh Chúa. Và như Danh Chúa đã khiến Môsê an tâm ra đi thi hành sứ vụ cứu dân, thì nay thấy Chúa phán: Ta đây, Phêrô cũng muốn làm được công việc phi thường. Ông đã đi được một lúc ở trên nước. Nhưng rồi sợ hãi đã chiếm lấy ông. Ðức tin của ông giảm bớt, khiến thân xác ông muốn chìm theo. May mà ông đã kêu lên để từ đó Hội Thánh thấy rằng chỉ có Chúa cứu được Hội Thánh khỏi sa chìm giữa thế gian.

Bài học này có thể nói chúng ta vẫn nhớ. Ðiều chúng ta dễ quên hơn là dường như chỉ muốn được sống yên hàn trong Hội Thánh và đúng hơn được ở trong Hội Thánh yên hàn. Nhưng như thế là không muốn hiểu đặc tính của đời sống đức tin. Các mẫu truyện trên đây về Êlya và Phêrô chưa làm cho chúng ta thấy rằng đức tin đòi phải phấn đấu; và những khi gặp thử thách về đức tin, ơn cứu độ của chúng ta nằm nơi Danh Chúa. Chúng ta phải cầu nguyện, phải tìm Chúa trong thinh lặng và phải rước Chúa vào lòng. Như vậy cũng mới chỉ giữ đức tin thôi. Ðức tin chân chính phải mạnh mẽ hơn nhiều. Nó còn phải nung nấu tâm hồn chúng ta theo như lời thánh Phaolô chia sẻ trong đoạn thư hôm nay.

 

C. Phaolô Muốn Chết Cho Ðức Tin Ðược Lan Rộng

Ai cũng biết người phải phấn đấu rất nhiều vì chính nghĩa đức tin. Nhiều lần người cũng như Êlya bị người ta lùng bắt chỉ vì đã làm cho nhiều người tin vào Chúa Kitô. Các môn đệ ở Ðama phải bỏ người vào thúng và thòng qua tường thành để cho người chạy trốn. Và nhiều lần người đã gặp sóng gió, đắm tàu và thoát chết, chứ đâu mới chỉ lún xuống nước như Phêrô. Thật, vất vả về đức tin có thể nói ít ai đã như người. Nhưng chính người nói Ơn Chúa vẫn đủ cho người và người luôn luôn lao mình về đàng trước để chạy cho hết cuộc hành trình.

Ðối với người, những thử thách như vậy còn chịu được với Ơn Chúa. Duy có điều sau đây thật là nặng nề. Ðó là việc người Dothái cứng lòng không chịu tuân phục đức tin. Họ là đồng bào của người. Hơn nữa họ là Dân được tuyển chọn. Họ còn là dòng dõi sinh ra Ðức Yêsu. Thế mà sao họ vẫn từ chối ơn cứu độ?

Người đã nỗ lực, có thể nói là quá sức, để lôi kéo họ. Ðặt chân đến nơi nào, người cũng tìm đến Hội đường Dothái, làm quen với những người đồng bào của người, trao đổi với họ về Lời Hứa dành cho Dân tộc. Nhưng mọi cố gắng hầu như thất bại hoàn toàn. Rất ít người chấp nhận đức tin. Phần lớn con cháu Abraham theo xác thịt, không những vẫn không ngấm mà còn chống đối và bách hại giáo lý cứu độ.

Theo tính tự nhiên, có lần Phaolô đã phủi chân tuyên bố sẽ dứt khoát đi đến với dân ngoại. Nhưng nói thế chứ làm sao bỏ được đồng bào và nhất là Dân tộc mang đầy Lời Hứa! Thiên Chúa đã làm bao việc kỳ diệu để gìn giữ Dân tộc ấy; và cuối cùng đã sai Con Ngài mặc xác thể trong dòng máu này. Làm sao Phaolô không quằn quại săn sóc tương lai cho họ? Không những vì họ mà thôi, nhưng nhất là vì Chúa. Dân được chọn trở thành dân bị gạt bỏ sao?

Do đó Phaolô rất buồn và đau đớn không ngừng. Có Chúa Yêsu và Thánh Thần làm chứng như vậy. Và chứng của hai người, hơn nữa của hai Ðấng Thánh như vậy, dĩ nhiên rất giá trị. Cuối cùng, để không ai còn có thể hồ nghi, thì này Phaolô sẵn sàng "bị tuyệt thông" cho anh em đồng bào của người được rỗi.

Ý nghĩ đó là tận cùng rồi. Vì ở thời ấy, bị tuyệt thông, bị loại ra khỏi bộ lạc, có nghĩa là đeo bản án vào thân, không còn quyền làm người trong bộ lạc nữa, ai gặp cũng có thể giết mà không bị tội. Ấy là nói có người còn muốn giết! Vì con người bị khai trừ kia cũng không đáng giết nữa. Có thể coi nó như con chó bị đuổi ra khỏi nhà.

Khi có ý tưởng như vậy, Phaolô thật sự muốn chia sẻ tâm tình cứu thế của Ðức Kitô, vì chính Ngài cũng đã trở nên đồ bị khai trừ vì tội lỗi chúng ta.

Do đó Phaolô không phải chỉ là chiến sĩ vô địch về đức tin như Êlya. Người không nhượng bộ kẻ thù của Thánh giá, dù là một bước. Người cũng không lấy việc chèo lái con thuyền các giáo đoàn qua sóng gió như Phêrô làm cực nhất. Con thuyền đức tin ở trong tay người, sự sống đức tin nơi tâm hồn người không những trông cậy vào ơn Chúa để lướt thắng phong ba, mà còn muốn chọc thủng bức màn còn che mắt đồng bào Israel của người để họ nhận ra Ðức Kitô và thờ lạy Ngài. Và cho được như vậy, người sẵn sàng dâng sinh mạng làm lễ tế cho con thuyền Hội Thánh đi được tới đích.

Chúng ta chắc chưa có đức tin như vậy. Nhưng phải vươn lên. Phải phấn đấu cho đức tin của mình. Phải tha thiết cầu mong cho đồng bào nhận biết Chúa. Phải tham dự thật sự vào lễ tế dâng trên bàn thờ vì phần rỗi mọi người. Phải sống lễ tế mà giờ đây chúng ta đứng lên để cử hành.

 

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa

của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm) 

 Về đầu trang

TN19-A131: CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN

Đối phó với sóng gió cuộc đời

 Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Mát-thêu 14:22-33)

Một trong những mục đích của phép lạ Chúa làm, đó là giúp người ta thêm lòng tin vào Người.  Mục đích TN19-A131

Một trong những mục đích của phép lạ Chúa làm, đó là giúp người ta thêm lòng tin vào Người.  Mục đích ấy được nói lên trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay.  Sau khi cho dân chúng được ăn no nê, Chúa Giê-su giải tán họ.  Phép lạ đã đáp ứng nhu cầu sinh tồn nhất thời của con người, nhưng còn nhu cầu thiêng liêng và lâu dài tức là lòng tin thì sao?  Cuộc sống con người cần cơm bánh, nhưng cuộc sống ấy cũng cần có lòng tin nữa, để chúng ta có sức mạnh mà đối phó với sóng gió cuộc đời.

                Trước hết là hình ảnh chiếc thuyền “bị sóng đánh vì ngược gió”, một hình ảnh thật sống động diễn tả cuộc đời của hết thảy chúng ta.  Giống như chiếc thuyền ấy, cuộc đời chúng ta đâu phải lúc nào cũng được yên ổn.  Những lúc sóng gió chính là khi chúng ta cần có lòng tin.  Mà phải là lòng tin tuyên xưng “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa”. 

                Tuần vừa qua một linh mục bạn thân viết cho tôi một cái thiệp, trong đó ngài nhắc tôi hễ thấy chán nản, thì cứ “nghĩ đến Chúa Giê-su”.  Lời khuyên đơn sơ, nhưng thật là sâu sắc.  Chúa Giê-su của tôi không phải là “ma” khiến cho các môn đệ hoảng sợ, nhưng là Đấng lèo lái chiếc thuyền cuộc đời tôi đã phán:  “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”.  Chúa Giê-su của tôi là Đấng quyền năng làm chủ cả sóng gió kêu gọi tôi:  “Cứ đến!”.  Chúa Giê-su của tôi giống như bà mẹ nhìn đứa con chập chững tập đi bước đến với mình và bà sẵn sàng đưa tay ra nắm lấy đứa con khi nó sắp ngã.  Chúa Giê-su của tôi cũng không ngại “mắng yêu” và nhắc nhở khi tôi không nhớ hoặc không nghĩ đến Người:  “Hỡi kẻ kém lòng tin, sao lại hoài nghi?”

                Lòng tin ở đây không chỉ là tin vào quyền năng, nhưng là tin vào tình yêu và sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình.  Chúa Giê-su yêu thương tôi như Người đã yêu thương chăm sóc đám dân chúng theo Người.  Chúa Giê-su đã hiện diện giữa họ để họ không cần phải vất vả đi kiếm đồ ăn ở những làng mạc xa xôi.  Sự hiện diện của Chúa Giê-su giữa các môn đệ thật là thú vị!  Có lần Người hiện diện giữa các ông ở trên thuyền, nhưng Người lại đang ngủ vì mệt.  Hôm nay Người hiện diện ngay trên mặt nước sóng gió để “đến với các môn đệ” và để “nắm lấy tay” ông Phê-rô.  Sự hiện diện ấy dù thế nào thì cũng mang cùng một sứ điệp:  “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”

                Hình ảnh cuối cùng của câu chuyện là “Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng”.  Những môn đệ khác ở trong thuyền bái lạy Người và nói: ‘Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa’.  Có Chúa trong cuộc đời thì nhất định gió sẽ lặng.  Gió lặng là vì có sự hiện diện của Chúa.  Nhưng sự hiện diện của Chúa chỉ là thực khi chúng ta chủ động nhận biết sự hiện diện ấy, hoặc nói rõ hơn, khi chúng ta tuyên xưng sự hiện diện ấy bằng cách nhìn nhận Ngài là Con Thiên Chúa!

Sống sứ điệp Tin Mừng

                Chúng ta được chiêm ngưỡng một Chúa Giê-su yêu thương và hiện diện trong cuộc đời chúng ta.  Nhưng nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta lại thấy rất nhiều lần chúng ta là một Phê-rô, “thấy gió thổi thì đâm sợ và khi bắt đầu chìm, chúng ta la lên:  Lạy Chúa, xin cứu con với!”  Vậy hôm nay hoặc bất cứ khi nào chúng ta phải đối phó với sóng gió cuộc đời, chúng ta cũng cứ làm như ông Phê-rô.  Chắc chắn Chúa không để chúng ta phải chết chìm đâu.

                Tuy nhiên lời trách yêu của Chúa Giê-su cũng phải làm cho chúng ta suy nghĩ về thái độ “kém lòng tin” và “hoài nghi”.  Đâu là những dấu hiệu cho thấy sự kiện kém lòng tin và hoài nghi của chúng ta đối với Chúa?  Có phải là chán nản hay mỏi mệt đã khiến chúng ta buông xuôi, không muốn đến nhà thờ, không muốn cầu nguyện, hoặc thậm chí tìm đến những buông thả và thú vui người đời?  Có phải là chúng ta đã bịt tai lại trước lời nói chắc chắn và đầy khích lệ của Chúa:  “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”?  Vậy thì cứ nghĩ đến Chúa Giê-su!

                Điều quan trọng của lòng tin, đó là nó phải được biểu lộ qua hành động “bái lạy Người”, bái lạy bằng tất cả trái tim chúng ta và sự hoàn toàn phó thác!          

 Lm. Đa-minh Trần đình Nhi       

Về đầu trang      

TN19-A132: Chúa Nhật XIX Thường Niên A

Chính là Ta! Đừng Sợ!

 Mt 14:22-33: 22Rồi lập tức, Ngài bắt buộc môn đồ lên đò qua bờ bên kia trước Ngài, trong lúc Ngài cho dân chúng giải tán. 23Cho dân chúng giải tán rồi, Ngài lên núi riêng một mình cầu nguyện. Chiều đến, chỉ có một mình Ngài ở đó. 24Còn đò thì đã xa đất nhiều dặm lắc lư với sóng, vì có gió ngược. 25 Canh tư đêm tối, Ngài đến cùng họ đi trên biển. 26 Môn đồ thấy Ngài đi trên biển, thì cuống cuồng lên mà nói là ma; và kinh hãi họ kêu lên. 27Lập tức Ðức Yêsu lên tiếng nói với họ rằng: "Hãy vững lòng! Chính là Ta! Ðừng sợ!" 28 Ðáp lại Phêrô nói với Ngài: "Lạy Ngài, nếu quả là Ngài thì hãy truyền cho tôi được đi trên nước mà đến với Ngài.29 Ngài bảo: "Hãy đến!" Và Phêrô bỏ đò xuống đi trên nước, mà đến với Ðức Yêsu. 30Thấy có gió, ông phát sợ, và bắt đầu thụp xuống biển, ông kêu lên: "Lạy Ngài, xin cứu tôi!" 31Lập tức, Ðức Yêsu giăng tay nắm lấy ông, và bảo: "Quân yếu tin! Sao lại hoài nghi!" 32 Cả hai lên đò rồi, thì gió lặng. 33 Những kẻ ở trong đò bái lạy Ngài mà rằng: "Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!"

Như Marcô và Gioan, Matthêô đặt trình thuật “Chúa Giêsu đi trên mặt nước” nầy (14:22-32) ngay TN19-A132

Như Marcô và Gioan, Matthêô đặt trình thuật “Chúa Giêsu đi trên mặt nước” nầy (14:22-32) ngay sau trình thuật về bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người. Cả hai trình thuật đều nhằm trả lời những thắc mắc của dân làng Nazaréth (13:54-56), Hêrôđê (14:2), và cả môn đệ (8:27) về căn tính của Chúa Giêsu đã được nêu ra trước đó. Trong câu chuyện bánh cá hoá nhiều, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân chúng như vị mục tử được Thiên Chúa sai đến để nuôi sống họ. Phần các môn đệ, họ chưa nhận ra Ngài là ai (x. 16:9-10). Trong trình thuật nầy, Chúa Giêsu sẽ tỏ mình vinh quang cho họ qua biến cố trên mặt biển, và chính họ sẽ tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa.

Bối cảnh không gian của câu chuyện được xác định là từ lúc Chúa Giêsu buộc các môn đệ lên thuyền, eis to ploiton (c. 22) và kết thúc là lúc Phêrô đã trở lại trong thuyền; và lúc nầy tất cả các môn đệ đều tuyên xưng Ngài là “Con Thiên Chúa”, eis ton ploiton (c. 32). Cụm từ nầy đóng khung câu chuyện. Hơn nữa, hạn từ eutheōs/euthus xuất hiện ba lần (cc. 22, 27 và 32) và đánh dấu các hành động quyết định của Chúa Giêsu ở khởi đầu, đoạn giữa và kết thúc của câu chuyện. Hạn từ nầy giúp phân đoạn bố cục của câu chuyện như sau: Dẫn nhập (cc. 22-23); Chúa Giêsu với các môn đệ (cc. 24-27); Chúa Giêsu với Phêrô (cc. 28-32); Kết luận (c. 33).

Chủ đề của đoạn 14:22-32 liên quan đến việc tuyên xưng Chúa Giêsu. Matthêô trình bày theo cách tiệm tiến việc các môn đệ nhận biết Ngài: “ma”, phantasma (c. 26), “Chúa”, kyrie (c. 28), và cao điểm là “Con Thiên Chúa”, Theou uios ei (c. 33). Bên cạnh việc tuyên xưng nầy, Chúa Giêsu còn tự mạc khải “Thầy đây”, egō emi (c. 27).

Dẫn nhập (cc. 22-23)

Các môn đệ đã có mặt với Chúa Giêsu vào buổi chiều ngày Ngài làm phép lạ bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người ăn (14: 15). Họ đã chứng kiến phép lạ mà họ không nghĩ đến. Họ đã muốn Chúa Giêsu giải tán dân chúng (14:15), nhưng Chúa Giêsu chỉ làm theo đề nghị của họ sau khi chính Ngài đã cho họ ăn thỏa thuê (c. 22). Ngài đã tự tỏ mình ra cho dân chúng như là vị mục tử tốt lành nuôi sống đàn chiên. Bây giờ Ngài muốn tỏ mình ra cho các môn đệ.

Matthêô không đề cập điểm đến “Bethsaiđa” thuyền của các môn đệ như trong Marcô (Mc 6:45). Thật ra, câu chuyện sẽ không diễn ra ở bờ bên kia, mà trên đường đến bờ bên kia. Matthêô nhấn mạnh là Chúa Giêsu “cầu nguyện riêng một mình trên núi”, kat’ idian proseuzasthai (c. 23) và sau đó Ngài đến với các môn đệ; trong khi Marcô lại trình bày Chúa Giêsu “một mình trên núi” và nhìn xuống Ngài thấy thuyền các môn đệ đang ra giữa dòng và gặp gió bão (x. Mc 6:47), và Ngài đi xuống và đến với họ. Như thế, cụm từ kat’idian, “riêng” như thánh sử đã dùng trong nhiều trường hợp khác (x. 14:13; 17:1; 20:17; 24:3), cho biết trước là Chúa Giêsu sắp sửa mạc khải một điều quan trọng liên quan đến bản thân Ngài.

                Hai phần cc. 24-27 và cc. 28-32 nằm trong khung cảnh là thuyền đang gặp sóng gió và Chúa Giêsu đến với họ. Câu chuyện bắt đầu từ khi sóng gió nổi lên (c. 24) và chấm dứt khi sóng gió yên lặng (c. 32). Hạn từ “gió”, anemos (cc. 24 và 32) đóng khung phần chính nầy.

Chúa Giêsu với các môn đệ (cc. 24-27)

                So sánh với đoạn song song trong tin mừng Marcô (Mc 6:45-52), chúng ta thấy có nhiều điểm khác biệt. Trước tiên Matthêô nhấn mạnh bằng cách đặt đầu câu là “chiếc thuyền” bị lắc lư, to de ploion (c. 24); trong khi Marcô kể là chính “các môn đệ”, autous (Mc 6:48); tiếp đến là Matthêô bỏ yếu tố “Chúa Giêsu thấy” như trong Marcô, thay vào đó, Matthêô ghi nhận là các “môn đệ thấy” Chúa Giêsu đến với họ (c. 26). Sau cùng Matthêô thêm vào yếu tố (lắc lư) “bởi sóng”.

                Trong các câu 24-27 Matthêô cho thấy sự tuơng phản trong thái độ và lời nói của Chúa Giêsu và các môn đệ. Trước tiên thánh sử trình bày cảnh con thuyền trước sóng gió trên biển. Sóng làm lắc lư con thuyền trên đó có các môn đệ. Động từ basanizō, chỉ được dùng 3 lần trong Matthêô diễn tả sự hành hạ trên con người do bệnh tật (8:6), trên ma quỉ do việc Con Thiên Chúa đến (8:29), và trên chiếc thuyền do sóng gió (14:24). Việc các môn đệ đặt câu hỏi về căn tính của Chúa Giêsu sau khi ngài làm cho sóng gió yên lặng (8:27) cho thấy biển cả biểu tượng cho một quyền lực hỗn mang mà con người không thể làm chủ được. Các môn đệ trên thuyền cũng bị lắc lư bởi các đợt sóng. Trong khi đó, Chúa Giêsu “đi trên mặt biển” mà đến với họ. Cách diễn tả nầy có nghĩa là Ngài làm cho biển cả tùng phục Ngài và Ngài thống trị được nó (x. Tv 77:20; Gióp 9:8; Is 43:16; Xh 14:10-15:21; Tv 107:23-32; Khôn ngoan 14:2–4).

                Tiếp đến, Matthêô mô tả các phản ứng tinh thần của các môn đệ (c. 26). Trước tiên họ kinh hãi, tarassō, khi nhìn thấy Chúa Giêsu. Từ phantasma, chỉ xuất hiện nơi đây và có nghĩa là “sự hiện ra”, “ma”. Vua Hêrôđê cũng kinh hãi tương tự khi nghe tin vua dân do thái mới sinh ra (2:3). Như thế, cả hai đều có một phản ứng giống nhau trước sự xuất hiện của Chúa Giêsu Kitô. Phản ứng tiếp theo là sợ hãi, phobos (c. 26). Đây cũng là phản ứng trước các cuộc thần hiện (28:4.8).

                Phần Chúa Giêsu (c. 27), Ngài củng cố các môn đệ bằng lời mạc khải về chính mình. Động từ thapseō, “vững lòng” được dùng chỉ ba lần, và trong hai lần khác được dùng vào cuối trình thuật chữa lành bệnh tật (9:2.22). Có thể nghĩ là Chúa Giêsu chữa lành các môn đệ khỏi sự kinh hãi trước sự đe dọa của sóng gió. Cụm từ egō emi, “Thầy đây”, vừa là một khẳng định đối nghịch với phantasma, “ma”, vừa mang tính mạc khải về căn tính của Ngài. Ngài là Đấng hiện hữu (Xh 3:14; Is 41:4; 43:10; 47:8). Sau cùng là “đừng sợ!” Cụm từ nầy được Matthêô dùng hầu như chỉ trong bối cảnh của cuộc thần hiện (17:7; 28:5.10). Vậy, việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các môn đệ là một biểu lộ vinh quang và căn tính của Ngài cho họ.

                Chúa Giêsu với Phêrô (cc. 28-32)

                Phần nầy là riêng của Matthêô. Thánh sử trình bày câu chuyện của Phêrô như là sự tiếp nối câu chuyện của các môn đệ để đi một mạc khải rõ hơn về căn tính của Chúa Giêsu. Thánh sử dựa trên kết cấu của phần trước và liên kết với nó qua cách diễn tả và lập lại từ vựng.

                Trong phần trước, các môn đệ nói Chúa Giêsu là “ma”; ở đây Phêrô đặt câu điều kiện “Nếu là Thầy” (c. 28) dựa trên khẳng định “Thầy đây” (c. 27), nghĩa là Phêrô đã được khai sáng. Tiếp đến, Phêrô muốn kiểm chứng giả thiết của mình bằng đòi hỏi một phép lạ, được đi trên mặt nước như Chúa Giêsu (cc. 28.29). Sau cùng, thay vì “gió ngược” làm con thuyền lắc lư, và việc thấy Chúa làm các môn đệ sợ hãi (cc. 24.26), ở đây “gió mạnh” mà Phêrô thấy làm cho ông sợ hãi (c. 30). Lần nữa, tương tự như trường hợp của các môn đệ, Matthêô đặt một mạc khải về Chúa Giêsu vào lúc Phêrô sợ hãi: “Lạy Chúa, xin cứu con”. Thánh sử đã dùng cách diễn tả như một số nơi khác trong tin mừng: động từ “thấy” + động từ “sợ hãi” và lời tuyên xưng về Chúa Giêsu (x. 9:8; 14:30; 27:54). Phêrô không chỉ tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa, kyrie, mà cả Đấng có thể cứu vớt ông (1:21; 8:25).

Từ oligospistoi gồm oligos + pistis nghĩa là “ít + lòng tin”, “ít + tin tưởng”. Khác với 8:26, lời khiển trách nầy nhắm thẳng vào Phêrô. Sự thiếu tin tưởng nầy trước tiên bởi ông đặt một câu điều kiện với Chúa Giêsu “Nếu là Thầy”, và tiếp đến là ông xin đến với Chúa Giêsu mà không nhìn vào Chúa, mà nhìn vào gió. Lòng ít tin tưởng nầy được làm mạnh thêm bởi câu hỏi “tại sao lại nghi ngờ”, distazō. Tuy được cho biết đó là Chúa rồi nhưng lòng nghi ngờ vẫn còn (x. 28:17).

                Kết luận (c. 33)

Trình thuật kết thúc với cảnh các môn đệ quỳ gối thờ lạy Chúa Giêsu và tuyên xưng “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa” (c. 33). Thánh sử muốn tập trung vào Chúa Giêsu hơn là các môn đệ. Cao điểm của trình thuật chính là hành động “quỳ gối” và lời tuyên xưng “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.

Chúa Giêsu, Đấng đã làm cho bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người cũng là Đấng đi trên mặt biển và cứu Phêrô khỏi chìm xuống nước. Ngài chính là Con Thiên Chúa, được sai đến trần gian để nuôi sống và cứu độ con người.

 Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Về đầu trang

TN19-A133: Chúa Nhật XIX Thường Niên A

Chính là Ta! Đừng Sợ!

 Mt 14:22-33: 22Rồi lập tức, Ngài bắt buộc môn đồ lên đò qua bờ bên kia trước Ngài, trong lúc Ngài cho dân chúng giải tán. 23Cho dân chúng giải tán rồi, Ngài lên núi riêng một mình cầu nguyện. Chiều đến, chỉ có một mình Ngài ở đó. 24Còn đò thì đã xa đất nhiều dặm lắc lư với sóng, vì có gió ngược. 25 Canh tư đêm tối, Ngài đến cùng họ đi trên biển. 26 Môn đồ thấy Ngài đi trên biển, thì cuống cuồng lên mà nói là ma; và kinh hãi họ kêu lên. 27Lập tức Ðức Yêsu lên tiếng nói với họ rằng: "Hãy vững lòng! Chính là Ta! Ðừng sợ!" 28 Ðáp lại Phêrô nói với Ngài: "Lạy Ngài, nếu quả là Ngài thì hãy truyền cho tôi được đi trên nước mà đến với Ngài.29 Ngài bảo: "Hãy đến!" Và Phêrô bỏ đò xuống đi trên nước, mà đến với Ðức Yêsu. 30Thấy có gió, ông phát sợ, và bắt đầu thụp xuống biển, ông kêu lên: "Lạy Ngài, xin cứu tôi!" 31Lập tức, Ðức Yêsu giăng tay nắm lấy ông, và bảo: "Quân yếu tin! Sao lại hoài nghi!" 32 Cả hai lên đò rồi, thì gió lặng. 33 Những kẻ ở trong đò bái lạy Ngài mà rằng: "Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!"

Như Marcô và Gioan, Matthêô đặt trình thuật “Chúa Giêsu đi trên mặt nước” nầy (14:22-32) ngay sau TN19-A133

Như Marcô và Gioan, Matthêô đặt trình thuật “Chúa Giêsu đi trên mặt nước” nầy (14:22-32) ngay sau trình thuật về bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người. Cả hai trình thuật đều nhằm trả lời những thắc mắc của dân làng Nazaréth (13:54-56), Hêrôđê (14:2), và cả môn đệ (8:27) về căn tính của Chúa Giêsu đã được nêu ra trước đó. Trong câu chuyện bánh cá hoá nhiều, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân chúng như vị mục tử được Thiên Chúa sai đến để nuôi sống họ. Phần các môn đệ, họ chưa nhận ra Ngài là ai (x. 16:9-10). Trong trình thuật nầy, Chúa Giêsu sẽ tỏ mình vinh quang cho họ qua biến cố trên mặt biển, và chính họ sẽ tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa.

Bối cảnh không gian của câu chuyện được xác định là từ lúc Chúa Giêsu buộc các môn đệ lên thuyền, eis to ploiton (c. 22) và kết thúc là lúc Phêrô đã trở lại trong thuyền; và lúc nầy tất cả các môn đệ đều tuyên xưng Ngài là “Con Thiên Chúa”, eis ton ploiton (c. 32). Cụm từ nầy đóng khung câu chuyện. Hơn nữa, hạn từ eutheōs/euthus xuất hiện ba lần (cc. 22, 27 và 32) và đánh dấu các hành động quyết định của Chúa Giêsu ở khởi đầu, đoạn giữa và kết thúc của câu chuyện. Hạn từ nầy giúp phân đoạn bố cục của câu chuyện như sau: Dẫn nhập (cc. 22-23); Chúa Giêsu với các môn đệ (cc. 24-27); Chúa Giêsu với Phêrô (cc. 28-32); Kết luận (c. 33).

Chủ đề của đoạn 14:22-32 liên quan đến việc tuyên xưng Chúa Giêsu. Matthêô trình bày theo cách tiệm tiến việc các môn đệ nhận biết Ngài: “ma”, phantasma (c. 26), “Chúa”, kyrie (c. 28), và cao điểm là “Con Thiên Chúa”, Theou uios ei (c. 33). Bên cạnh việc tuyên xưng nầy, Chúa Giêsu còn tự mạc khải “Thầy đây”, egō emi (c. 27).

Dẫn nhập (cc. 22-23)

Các môn đệ đã có mặt với Chúa Giêsu vào buổi chiều ngày Ngài làm phép lạ bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người ăn (14: 15). Họ đã chứng kiến phép lạ mà họ không nghĩ đến. Họ đã muốn Chúa Giêsu giải tán dân chúng (14:15), nhưng Chúa Giêsu chỉ làm theo đề nghị của họ sau khi chính Ngài đã cho họ ăn thỏa thuê (c. 22). Ngài đã tự tỏ mình ra cho dân chúng như là vị mục tử tốt lành nuôi sống đàn chiên. Bây giờ Ngài muốn tỏ mình ra cho các môn đệ.

Matthêô không đề cập điểm đến “Bethsaiđa” thuyền của các môn đệ như trong Marcô (Mc 6:45). Thật ra, câu chuyện sẽ không diễn ra ở bờ bên kia, mà trên đường đến bờ bên kia. Matthêô nhấn mạnh là Chúa Giêsu “cầu nguyện riêng một mình trên núi”, kat’ idian proseuzasthai (c. 23) và sau đó Ngài đến với các môn đệ; trong khi Marcô lại trình bày Chúa Giêsu “một mình trên núi” và nhìn xuống Ngài thấy thuyền các môn đệ đang ra giữa dòng và gặp gió bão (x. Mc 6:47), và Ngài đi xuống và đến với họ. Như thế, cụm từ kat’idian, “riêng” như thánh sử đã dùng trong nhiều trường hợp khác (x. 14:13; 17:1; 20:17; 24:3), cho biết trước là Chúa Giêsu sắp sửa mạc khải một điều quan trọng liên quan đến bản thân Ngài.

                Hai phần cc. 24-27 và cc. 28-32 nằm trong khung cảnh là thuyền đang gặp sóng gió và Chúa Giêsu đến với họ. Câu chuyện bắt đầu từ khi sóng gió nổi lên (c. 24) và chấm dứt khi sóng gió yên lặng (c. 32). Hạn từ “gió”, anemos (cc. 24 và 32) đóng khung phần chính nầy.

Chúa Giêsu với các môn đệ (cc. 24-27)

                So sánh với đoạn song song trong tin mừng Marcô (Mc 6:45-52), chúng ta thấy có nhiều điểm khác biệt. Trước tiên Matthêô nhấn mạnh bằng cách đặt đầu câu là “chiếc thuyền” bị lắc lư, to de ploion (c. 24); trong khi Marcô kể là chính “các môn đệ”, autous (Mc 6:48); tiếp đến là Matthêô bỏ yếu tố “Chúa Giêsu thấy” như trong Marcô, thay vào đó, Matthêô ghi nhận là các “môn đệ thấy” Chúa Giêsu đến với họ (c. 26). Sau cùng Matthêô thêm vào yếu tố (lắc lư) “bởi sóng”.

                Trong các câu 24-27 Matthêô cho thấy sự tuơng phản trong thái độ và lời nói của Chúa Giêsu và các môn đệ. Trước tiên thánh sử trình bày cảnh con thuyền trước sóng gió trên biển. Sóng làm lắc lư con thuyền trên đó có các môn đệ. Động từ basanizō, chỉ được dùng 3 lần trong Matthêô diễn tả sự hành hạ trên con người do bệnh tật (8:6), trên ma quỉ do việc Con Thiên Chúa đến (8:29), và trên chiếc thuyền do sóng gió (14:24). Việc các môn đệ đặt câu hỏi về căn tính của Chúa Giêsu sau khi ngài làm cho sóng gió yên lặng (8:27) cho thấy biển cả biểu tượng cho một quyền lực hỗn mang mà con người không thể làm chủ được. Các môn đệ trên thuyền cũng bị lắc lư bởi các đợt sóng. Trong khi đó, Chúa Giêsu “đi trên mặt biển” mà đến với họ. Cách diễn tả nầy có nghĩa là Ngài làm cho biển cả tùng phục Ngài và Ngài thống trị được nó (x. Tv 77:20; Gióp 9:8; Is 43:16; Xh 14:10-15:21; Tv 107:23-32; Khôn ngoan 14:2–4).

                Tiếp đến, Matthêô mô tả các phản ứng tinh thần của các môn đệ (c. 26). Trước tiên họ kinh hãi, tarassō, khi nhìn thấy Chúa Giêsu. Từ phantasma, chỉ xuất hiện nơi đây và có nghĩa là “sự hiện ra”, “ma”. Vua Hêrôđê cũng kinh hãi tương tự khi nghe tin vua dân do thái mới sinh ra (2:3). Như thế, cả hai đều có một phản ứng giống nhau trước sự xuất hiện của Chúa Giêsu Kitô. Phản ứng tiếp theo là sợ hãi, phobos (c. 26). Đây cũng là phản ứng trước các cuộc thần hiện (28:4.8).

                Phần Chúa Giêsu (c. 27), Ngài củng cố các môn đệ bằng lời mạc khải về chính mình. Động từ thapseō, “vững lòng” được dùng chỉ ba lần, và trong hai lần khác được dùng vào cuối trình thuật chữa lành bệnh tật (9:2.22). Có thể nghĩ là Chúa Giêsu chữa lành các môn đệ khỏi sự kinh hãi trước sự đe dọa của sóng gió. Cụm từ egō emi, “Thầy đây”, vừa là một khẳng định đối nghịch với phantasma, “ma”, vừa mang tính mạc khải về căn tính của Ngài. Ngài là Đấng hiện hữu (Xh 3:14; Is 41:4; 43:10; 47:8). Sau cùng là “đừng sợ!” Cụm từ nầy được Matthêô dùng hầu như chỉ trong bối cảnh của cuộc thần hiện (17:7; 28:5.10). Vậy, việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các môn đệ là một biểu lộ vinh quang và căn tính của Ngài cho họ.

                Chúa Giêsu với Phêrô (cc. 28-32)

                Phần nầy là riêng của Matthêô. Thánh sử trình bày câu chuyện của Phêrô như là sự tiếp nối câu chuyện của các môn đệ để đi một mạc khải rõ hơn về căn tính của Chúa Giêsu. Thánh sử dựa trên kết cấu của phần trước và liên kết với nó qua cách diễn tả và lập lại từ vựng.

                Trong phần trước, các môn đệ nói Chúa Giêsu là “ma”; ở đây Phêrô đặt câu điều kiện “Nếu là Thầy” (c. 28) dựa trên khẳng định “Thầy đây” (c. 27), nghĩa là Phêrô đã được khai sáng. Tiếp đến, Phêrô muốn kiểm chứng giả thiết của mình bằng đòi hỏi một phép lạ, được đi trên mặt nước như Chúa Giêsu (cc. 28.29). Sau cùng, thay vì “gió ngược” làm con thuyền lắc lư, và việc thấy Chúa làm các môn đệ sợ hãi (cc. 24.26), ở đây “gió mạnh” mà Phêrô thấy làm cho ông sợ hãi (c. 30). Lần nữa, tương tự như trường hợp của các môn đệ, Matthêô đặt một mạc khải về Chúa Giêsu vào lúc Phêrô sợ hãi: “Lạy Chúa, xin cứu con”. Thánh sử đã dùng cách diễn tả như một số nơi khác trong tin mừng: động từ “thấy” + động từ “sợ hãi” và lời tuyên xưng về Chúa Giêsu (x. 9:8; 14:30; 27:54). Phêrô không chỉ tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa, kyrie, mà cả Đấng có thể cứu vớt ông (1:21; 8:25).

Từ oligospistoi gồm oligos + pistis nghĩa là “ít + lòng tin”, “ít + tin tưởng”. Khác với 8:26, lời khiển trách nầy nhắm thẳng vào Phêrô. Sự thiếu tin tưởng nầy trước tiên bởi ông đặt một câu điều kiện với Chúa Giêsu “Nếu là Thầy”, và tiếp đến là ông xin đến với Chúa Giêsu mà không nhìn vào Chúa, mà nhìn vào gió. Lòng ít tin tưởng nầy được làm mạnh thêm bởi câu hỏi “tại sao lại nghi ngờ”, distazō. Tuy được cho biết đó là Chúa rồi nhưng lòng nghi ngờ vẫn còn (x. 28:17).

                Kết luận (c. 33)

Trình thuật kết thúc với cảnh các môn đệ quỳ gối thờ lạy Chúa Giêsu và tuyên xưng “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa” (c. 33). Thánh sử muốn tập trung vào Chúa Giêsu hơn là các môn đệ. Cao điểm của trình thuật chính là hành động “quỳ gối” và lời tuyên xưng “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.

Chúa Giêsu, Đấng đã làm cho bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người cũng là Đấng đi trên mặt biển và cứu Phêrô khỏi chìm xuống nước. Ngài chính là Con Thiên Chúa, được sai đến trần gian để nuôi sống và cứu độ con người.

 Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Về đầu trang

TN19-A134:  SÓNG GIÓ

 Chúa Nhật 19A Thường Niên

 Giữa những sóng gió cuộc đời, đâu là con đường đến với Chúa ?   Con đường đó phải được khai thông, TN19-A134

Giữa những sóng gió cuộc đời, đâu là con đường đến với Chúa ?   Con đường đó phải được khai thông, mọi vấn đề  mới có thể giải quyết.   Hi vọng truyện thánh Phêrô đi trên biển hôm nay sẽ mạc khải con đường ấy.

ĐỜI CHỈ  LÀ BÃO TỐ

Mở đầu và kết thúc câu truyện hôm nay là một cảnh yên tĩnh đầy ý nghĩa.   Làm sao thấy hết được tâm hồn Đức Giêsu bình an tới mức nào khi “Người lên núi riêng một mà cầu nguyện.   Tối đến Người vẫn ở đó một mình” (Mt 14:23) ?   Thật là một cảnh thanh tĩnh tuyệt đối.   Bầu khí thanh tĩnh không dẫn đến hư vô, nhưng tới sự hiện hữu vô cùng phong phú với Thiên Chúa.  

Kết thúc câu truyện là cảnh thanh tĩnh vì “gió lặng” (Mt 14:32) sau khi “chiếc thuyền bị sóng đánh vì ngược gió.” (Mt 14:24)   Cảnh thanh tĩnh tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.    Người đã trấn an các ông : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” (Mt 14:27)   Sự thanh tĩnh này đã dẫn các môn đế đến niềm tin lớn lao : “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa !” (Mt 14:33)    Nhưng  niềm tin đó đã phải trả một giá rất mắc.   Chút xíu nữa Phêrô mất mạng.   Thật vậy, sau khi “từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước” (Mt 14:29), “thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và bắt đầu chìm.” (Mt 14:30)    Tức khắc, “Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông” (Mt 14:21) mà đưa vào thuyền.   Bằng hành động cụ thể Người đã trả lại sự bình an cho ông và các môn đệ.  

 Chỉ trong thanh tĩnh, môn đệ mới nhận ra bản chất con người Đức Giêsu.   Thực vậy,  chính ngôn sứ Eâlia chứng nghiệm : “Đức Chúa không ở trong cơn gió bão.   Đức Chúa không ở trong trận động đất.   Đức Chúa cũng không ở trong lửa.” (1 V 19:11.12)  Nhưng sự bình an đó chỉ đến với những ai thực sự  tin vào sự hiện diện của Thiên Chúa.   Xa Chúa, đời chỉ còn là bão tố.   Kinh hoàng và sợ hãi sẽ bao trùm cả cuộc đời.   Nhờ hiện diện, Thiên Chúa sẽ đem tất cả quyền năng để cứu những ai kêu đến Người.   Không phải đức tin có thể cứu được con người.   Nhưng khi sống với đức tin, con người thiết lập một tương quan với Thiên Chúa.   Nói khác, đức tin là một mời gọi Thiên Chúa đến hiện diện với con người.   Tự bản chất, đức tin không phải là một sức mạnh.   Nhưng Thiên Chúa chỉ hành động nơi những ai có niềm tin mà thôi.   Đó chính là một kinh nghiệm các môn đệ đã đạt được sau cơn bão tố trên biển cả

Chính vì không có niềm tin nơi Đức Giêsu, người Do thái đã làm cho thánh Phaolô “rất đỗi ưu phiền, và đau khổ không ngơi.” (Rm 9:2)   Đáng lẽ Đức Giêsu phải hiện diện với đồng bào của Người sâu xa và mãnh liệt hơn bất cứ đâu.   Vì “chính Đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ.”(Rm 9:5)  Thấy cảnh đồng bào không quan tâm gì tới ơn cứu độ của Đức Giêsu, thánh Phaolô đã phải đau đớn thốt lên : “Giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng.” (Rm 9:3)   Như thế mới thấy tình yêu thánh nhân dành cho dân tộc sâu xa biết chừng nào.   Oâng không thể chịu nổi cảnh dân tộc  xa lìa Đức Kitô.   Không có một dân tộc nào được vinh dự lớn lao như Do thái.     Họ có đủ điều kiện gần gũi hơn bất cứ ai.   Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là vinh quang Đức Chúa Cha, đã đến thực hiện tất cả những điều đã viết trong lề luật và ngôn sứ.   Vậy mà chính người chối bỏ Đức Giêsu lại là dân tộc “đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lệ luật, một nền phụng tự và các lời hứa.” (Rm 9:4)    Thật là chua xót !!!

Không những xa lìa Đức Giêsu, họ còn trở thành những cuộn sóng giận dữ trong lòng “biển cả đây là một chướng ngại tách lìa các môn đệ khỏi Đức Giêsu, tượng trưng cho hiện diện của Thiên Chúa.” (NIB vol. VIII:327)   Tuy thế, người tín hữu luôn tin tưởng chiến thắng cuối cùng vẫn thuộc về Đức Kitô.   Vì “chỉ một mình Thiên Chúa mới bước đi trên biển cả.” (G 9:8; 38:16; Tv 77:19; Is 32:16; 51:9-10; Kb 3:5) (NIB vol. VIII:327)     Nếu Đức Giêsu có cho ông Phêrô “đi trên mặt nước” (Mt 14:29) vì muốn chia sẻ quyền bính với ông mà thôi. Cũng chính Đức Giêsu đã cứu ông dậy khỏi cơn phẫn nộ của trùng dương ngạo nghễ và biến ông thành hoa tiêu đem con thuyền  ra khỏi cơn bão tố.   Nhưng muốn vượt qua cơn hiểm nghèo, tới bến bình an, con thuyền Giáo Hội phải luôn có Chúa hiện diện. Thật vậy “Thiên Chúa ở với chúng ta trong thuyền, thực sự hiện diện trong cộng đoàn đức tin khi làm cho con thuyền Giáo Hội vượt qua cơn bão tố.” (NIB vol. VIII:330)

 GIÁO HỘI HÔM NAY

 Dưới quyền điều khiển của hoa tiêu Gioan Phaolô II, con thuyền Giáo Hội hôm nay đang lao đi giữa biển cả mênh mông.   Không phải lúc nào cũng êm đềm.   Có những lúc sóng gió nổi lên dữ dội.   Thế nhưng, con thuyền lúc nào cũng đầy ắp sự hiện diện của Đức Giêsu. Bởi thế Giáo Hội đã thực hiện được những bước tiến ngoạn mục trong thế giới hôm nay.   Ví dụ cuộc thăm viếng Mỹ Châu tuần qua đã kết thúc ở Mexico.  Khắp đường phố Mexico, 12 triệu người ùa ra đón chào Đức Giáo Hoàng.   Nhiều người đã khóc vì vui sướng khi nhìn thấy người.   Đó không phải dịp để biểu dương quyền lực cá nhân, nhưng là sự hiện hữu của chính quyền bính Giáo Hoàng, và của Giáo Hội nữa, bất chấp những khó khăn hay gương mù.  

Nhân dịp phong chân phước cho Juan Bautista và Jacinto de los Angeles, ĐGH nói : “ Trước dung nhan dịu hiền của Đức Mẹ Guadalupe, Đấng hằng hỗ trợ đức tin con dân Mexico, chúng ta hãy canh tân lời thề Phúc âm hóa, đức tính trổi vượt của hai chân phước.   Chúng ta hãy làm cho các cộng đoàn Kitô hữu chia sẻ công tác này, để họ có thể nhiệt thành loan báo niềm tin  và truyền lại toàn vẹn niềm tin ấy cho thế hệ tương lai.   Phúc âm hóa bằng cách làm kiên cường những giao ước hiệp thông huynh đệ và làm chứng cho niềm tin nhờ một cuộc sống gương mẫu trong gia đình, nơi làm việc và những tương quan xã hội !   Hãy tìm Vương Quốc Thiên Chúa và sự công chính Người ngay tại miền đất này qua sự liên đới huynh đệ với những người cùng khốn nhất và những người ngoài lề xã hội (xc Mt 25:34-35) !   Hãy là những nhà xây dựng niềm hi vọng cho toàn thể xã hội.”  (Zenit 01/08/02)   Chính nhờ sự hi sinh lớn lao của hai vị chân phước, cả tu viện Đa Minh đã thoát chết.   Các ngài rất can đảm khi vượt qua những sóng gió kinh hoàng nhất để “đến với Đức Giêsu” (Mt 14:29) “là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự.” (Rm 9:5)   Sau những trận tra tấn dã man,  
các ngài vẫn cương quyết giữ vững đức tin, mặc cho bao lời dụ dỗ của những người thổ dân nổi loạn.

Xét về mặt xã hội, hai vị chân phước Juan và Jacinto đều là những chưởng ấn.   “Các ngài đã khuyền khích các dân tộc bản xứ hôm nay biết quí trọng văn hóa và ngôn ngữ của mình, và nhất là phẩm giá làm con Thiên Chúa.   Phẩm giá này phải được người khác tôn trọng trong hoàn cảnh đất nước Mexico, do nhiều dân tộc thuộc các nguồn gốc khác nhau nhưng cùng muốn xây dựng thành một gia đình sống  trong công lý và tình liên đới.” (ĐGH Gioan Phaolô II : Zenit 01/08/02)    Đàng khác, hai vị đều là những người chồng và người cha trong gia đình, và được đồng bào thời đó nhìn nhận là những người có phẩm cách cao quí.  Điều đó nhắc nhở các gia đình Mexico hôm nay về ơn gọi cao cả, giá trị của sự trung tín và tình yêu, và lòng quảng đại chấp nhận sự sống.” (Zenit 01/08/02)    Trước cảnh những gia đình bị vùi dập dưới những cơn sóng gió trần gian, hai vị đã trở thành điểm sáng hướng dẫn các gia trưởng lèo lái gia đình thấy rõ con đường “đến với Đức Giêsu,” (Mt 14:29) Đấng cứu độ duy nhất của toàn thể nhân loại.

 Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Về đầu trang

TN19-A135: CHÚA NHẬT 19 QUANH NĂM

(Mát-thêu 14: 22-33)

 Nhìn lại chủ đề về Giáo Hội được khai triển trong những Chúa Nhật vừa qua, ta nhận thấy Phụng vụ TN19-A135

Nhìn lại chủ đề về Giáo Hội được khai triển trong những Chúa Nhật vừa qua, ta nhận thấy Phụng vụ Lời Chúa hôm nay chọn đoạn Tin Mừng kể lại câu truyện Chúa Giê-su đi trên mặt nước chắc chắn phải mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt.  Phép lạ hóa bánh ra nhiều nói lên lòng yêu thương chăm sóc của vị Mục Tử nhân lành đối với đoàn chiên, muốn cho con chiên được nuôi dưỡng đầy đủ trong cuộc lữ hành trên dương gian.  Chúa Giê-su Thánh Thể là lương thực thiêng liêng để ta được sống và sống dồi dào.  Tuy nhiên, cũng trong hành trình ấy, ta cần phải có một lý tưởng, một đức tin hoặc một hướng đi chắc chắn giúp ta vững bước và trung kiên tới cùng.  Vậy đâu là đối tượng duy nhất của đức tin ấy nếu không phải là chính Chúa Ki-tô.  Hình ảnh Chúa Giê-su với bàn tay đưa ra cho ông Phê-rô bám lấy giữa cơn sóng gió trên Biển hồ luôn là hình ảnh không những của toàn thể Giáo Hội, mà cũng là hình ảnh của từng Ki-tô hữu nữa.

 a)  Một cuộc hành trình đức tin

                Ít ra ba sách Tin Mừng, Mát-thêu, Mác-cô và Gio-an đều ghi lại câu truyện Chúa đi trên mặt hồ ban đêm mà đến với các môn đệ trên thuyền và khiến cho gió yên biển lặng, sau khi Người đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng (x. Mc 6:45-52; Ga 6:16-21).  Đặt hai phép lạ này bên cạnh nhau, các thánh sử như muốn gợi lại hai biến cố trong Cựu Ước:  đưa dân Do-thái qua Biển Đỏ và nuôi sống họ bằng man-na trong hoang địa.

                Giáo Hội và Ki-tô hữu đang làm một cuộc vượt qua, từ trần gian này để tiến về quê hương vĩnh cửu trên trời.  Đó là một cuộc vượt qua đầy thử thách, đòi hỏi ta phải có đủ lòng tin vào tình yêu của Thiên Chúa và Đấng Người sai đến để dẫn dắt ta.

                Chúa Ki-tô là đối tượng đức tin của ta, vì ở nơi Người, ta nhận ra được tất cả những gì Thiên Chúa muốn cho ta biết và sống theo.  Ta thường hiểu đức tin một cách hời hợt hoặc mù mờ, nhất là chỉ nghĩ rằng đó là phải chấp nhận tất cả những gì Chúa và Giáo Hội dạy “phải tin”!  Thực ra cách hiểu đơn sơ và đúng nhất về đức tin là:  đức tin là một mối quan hệ sống động liên kết hai chủ thể với nhau.  Thánh Phao-lô nêu lên một thí dụ cụ thể nhất, đó là đức tin của ông Áp-ra-ham (Rm 4:18-22).  Ông nhận ra mình là ai và Thiên Chúa là Đấng nào.  Tin tưởng vào lời hứa hoặc quyền năng của Thiên Chúa, ông đã mạnh dạn bỏ lại tất cả cơ nghiệp đồ sộ để ra đi tới một nơi chưa hề biết, theo lời gọi của Thiên Chúa:  “Ta đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc”.  Lời gọi xem ra hoàn toàn vô căn cứ và trái tự nhiên, vì “thân xác ông cũng như dạ bà Xa-ra đều đã chết” (Rm 4:19).  Một đàng là cơ nghiệp to lớn ông đang nắm trong tay, một đàng là lời gọi phiêu lưu của Thiên Chúa.  Nhưng vì muốn chấp nhận thế giá của Thiên Chúa, ông liều lĩnh chọn lựa bỏ lại mọi sự đang có để ra đi theo lời gọi của Thiên Chúa, mặc cho tương lai vô định và gian nan trước mặt.

                Gương đức tin ấy giúp ta nhìn lại mối quan hệ sống động giữa Chúa Ki-tô với ta.  Ta được mời gọi bước vào một hành trình sống mối quan hệ với Chúa Ki-tô.  Người cũng bảo ta phải hối cải và tin vào Tin Mừng, tức là thay đổi con người mình bằng cách bỏ lại những gì ta đang có để vác thập giá hằng ngày đi theo Người trở về nhà Cha.  Cũng như ông Áp-ra-ham lúc nào cũng tin tưởng vào thế giá và lời hứa của Thiên Chúa, ta phải tin vào sứ mệnh và lời giảng của Chúa Ki-tô.  Sứ mệnh của Người là kêu gọi ta hãy đáp lại tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, còn lời giảng của Người vạch ra một lối sống mới, sống theo Thần Khí, để ta xứng đáng làm con cái Thiên Chúa.  Những người được Chúa Giê-su ca tụng là người có đức tin trong sách Tin Mừng là những người đã tin vào con người và sứ mệnh của Chúa.

 b)  “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ”

                Có lẽ hơn ai hết, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II là người đã nghe rõ những lời này của Chúa, vì trong suốt triều đại giáo hoàng của ngài, ngài luôn lập đi lập lại lời Chúa Giê-su:  “Đừng sợ!”  Cảm nhận trách nhiệm nặng nề giữa một thế giới thù nghịch với Tin Mừng Chúa Ki-tô, chắc chắn có những lúc ngài thấy nao núng giống như vị tiền nhiệm Phê-rô:  “Thưa Ngài, xin cứu con với!”  Nhưng ngài vẫn một mực can đảm rao giảng chân lý của Chúa Ki-tô và Giáo Hội, bất chấp những chỉ trích chống đối từ mọi phía đạo đời.

                Ta lấy làm lạ tại sao ông Phê-rô là tay đánh cá chuyên nghiệp từng sống trên sông nước lại sợ chết chìm và hoảng hốt kêu cứu với Chúa.  Ta nhận thấy ít nhất có hai nguyên do bên ngoài khiến ông sợ:  trời tối và gió mạnh.  Thêm vào đó là nguyên do tâm lý:  khi phải đối phó với những gì bất ngờ xảy ra, người ta khó mà bình tĩnh và kiểm soát được mình.  Nhưng những nguyên do trên không phải là những điều thánh Mát-thêu cố ý mô tả, mà chỉ là một bối cảnh cho một nguyên do sâu xa hơn thuộc lãnh vực đức tin, tức là khi ông Phê-rô không còn ý thức Chúa Giê-su hiện diện trong đời mình là lúc “ông đâm sợ và bắt đầu chìm”.  Hiểu như thế, ta sẽ ý thức hoàn cảnh này của Phê-rô cũng thường tái diễn trong cuộc đời ta.  Khi ta chỉ thấy hiện diện trong đời ta tiền bạc của cải và tham vọng.  Khi ta cậy vào tài năng của mình, nghĩ mình có thể làm được bất cứ điều gì mình muốn.  Khi ta coi thường việc sống đạo và những bổn phận thiêng liêng...

                Chúa Giê-su đã nhắc nhở Phê-rô và các bạn ông ngay từ đầu:  “Chính Thầy đây, đừng sợ!”  Đó là nhắc nhở về sự hiện diện của Người trong cuộc đời ta.  Chúa muốn nói rằng nếu ta có Chúa ở trong ta, ở với ta, thì ta không phải sợ bất cứ điều gì.  Lời nhắc nhở này cũng là điệp khúc của rất nhiều lời nguyện trong Thánh Vịnh diễn tả sự hiện diện của Chúa che chở đời ta.  Chúa là nơi con nương tựa, nơi con ẩn náu.  Chúa là thành lũy vững bền.  Chúa là núi đá che chở.  Thật nhiều Thánh Vịnh nhắc nhở ta về sự hiện diện của Chúa trong đời ta, để ta xác tín rằng nếu không có Chúa trong đời, cuộc sống ta sẽ chỉ là “buồn nôn” và “vô lý” như mấy ông triết gia hiện sinh chủ trương.

                Sự hiện diện của Chúa Giê-su trong đời ta là cốt tủy của đức tin.  Sống đức tin là sống quan hệ với Người.  Mà nếu Người không ở trong đời ta luôn luôn thì làm sao có quan hệ?  Rồi quan hệ đó phải là quan hệ yêu thương, chứ không phải quan hệ nhu cầu, cả đời chỉ “gặp” Chúa vài lần, khi rửa tội, khi làm đám cưới và khi nằm trong quan tài!

 c)  “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!”

                Câu truyện kết thúc bằng lời tuyên xưng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa.  Một cử chỉ đã được thánh Mát-thêu ghi lại, có lẽ ta ít để ý, nhưng lại hết sức ý nghĩa, đó là “những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người”.  Giáo Hội thường được ví như con thuyền.  Dưới sự lèo lái của thuyền trưởng, mọi người đều chung tay chèo để tất cả tới được bến bờ vĩnh cửu.  Cử chỉ của mọi người trong thuyền là “bái lạy” Chúa Giê-su.  Theo ngôn ngữ Kinh Thánh, việc bái lạy chỉ dành riêng để tỏ lòng phụng sự tôn thờ đối với Thiên Chúa.  Cho nên viết như trên, thánh Mát-thêu muốn nói lên việc tuyên xưng đức tin của mọi thành phần trong Giáo Hội xác tín về con người và sứ mệnh của Chúa Giê-su:  “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”

                Lời tuyên xưng này cần phải được biểu lộ trong lối sống của Ki-tô hữu.  Chúa Ki-tô không phải thuần túy là một nhãn hiệu dán trên áo của ta, hoặc là một danh xưng trống rỗng ta mượn đỡ, nhưng phải là một lối sống, một hình ảnh sống động, một thực tại hiện diện và có thể nhận thấy được qua cách suy nghĩ, lời nói, cử chỉ và hành động của ta.  Hoặc về phía ta, ta có thể nói được như thánh Phao-lô:  ta là “đại sứ” của Chúa Ki-tô, là “hương thơm” của Chúa Ki-tô, để mọi người khi tiếp xúc với ta có thể nhận biết Chúa Ki-tô vậy.

 d)  Suy nghĩ và cầu nguyện

                Từ trước tới nay, tôi thường hiểu đức tin là gì?  Cách hiểu ấy có quá ấu trĩ và khiếm khuyết không?

                Tôi cảm nghiệm Chúa hiện diện trong đời tôi như thế nào?  Có thực sự là một quan hệ mật thiết và đầy yêu thương không?  Bàn tay Chúa đã đưa ra nắm lấy tôi trong những hoàn cảnh hay trường hợp nào?

Ai có thể nhận ra được Chúa hiện diện trong đời tôi?  Tôi đã làm gì để giúp họ nhận thấy Chúa ở với tôi?  Hoặc tôi đã làm gì để người khác không nhận thấy Chúa, mà chỉ nhận thấy tôi mà thôi?

 Cầu nguyện

                “Lạy Chúa Giê-su,

                con chẳng dám xin đi trên mặt nước như Phê-rô,

                nhưng nhiều khi con cảm thấy

                sống đức tin giữa lòng cuộc đời

                chẳng khác nào đi trên mặt nước.

                Có bao thứ sóng gió đẩy đưa và lôi cuốn.

                Có bao cám dỗ muốn hút con vô vực sâu.

                Cả sự nặng nề của thân xác con

                                cũng kéo ghì con xuống.

                Đi trên mặt nước cuộc đời chẳng mấy dễ dàng.

                Nhiều khi con thấy mình bàng hoàng sợ hãi.

                Xin cứu con khi con hầu chìm.

                Xin nắm lấy tay con khi con quỵ ngã.

                Xin nâng đỡ niềm tin yếu ớt của con,

                để con trở nên nhẹ tênh

                mà bước những bước dài hướng về Chúa.  A-men.”

                                                (Trích RABBOUNI, lời nguyện 55)

  Linh Muc Đaminh Trần Đình Nhi

 Về đầu trang

TN19-A136: BỐI CẢNH BÀI TIN MỪNG:

Hôm nay Chúa nhật XIX thường niên năm A, Phụng vụ cho chúng ta nghe lại đoạn Tin mừng đã được TN19-A136

Hôm nay Chúa nhật XIX thường niên năm A, Phụng vụ cho chúng ta nghe lại đoạn Tin mừng đã được đọc trong ngày thứ Ba tuần XVIII Thường niên.

Một lần nữa Giáo hội muốn củng cố niềm tin của chúng ta vào Chúa Giêsu khi Ngài thực hiện phép lạ đi trên mặt biển để đến với các môn đệ.

Có lẽ ta cần học lại bài học của các môn đệ khi phải một mình chiến đấu với sóng gió cuộc đời. Ta cũng cần học lại kinh nghiệm của Phêrô khi ông được Chúa cho ông đi trên mặt nước mà đến với Ngài. Kinh nghiệm chới với của Phêrô khi sắp bị nhấn chìm,….

Có nghĩa bài Tin mừng hôm nay sẽ cho ta rất nhiều bài học bổ ích cho đời sống Kitô hữu.

Ngay câu mở đầu Bài Tin mừng sẽ cho ta rất nhiều thắc mắc cần phải giải quyết:

“KHI DÂN CHÚNG ĐÃ ĂN NO, LẬP TỨC CHÚA GIÊSU GIỤC MÔN ĐỆ TRỞ XUỐNG THUYỀN MÀ QUA BỜ BÊN KIA TRƯỚC, TRONG LÚC NGƯỜI GIẢI TÁN DÂN CHÚNG”

Như vậy Bài Tin mừng hôm nay đi liền sau Bài Tin mừng Chúa Giêsu thực hiện Phép lạ hoá bánh ra nhiều lần thứ nhất. (Mt 14, 13 – 21).

Trong phép lạ đó, Matthêu cho biết có đến 5.000 người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con đã được ăn no.

Như vậy, nếu tính tất cả, theo phép thống kê: cứ 1 người đàn ông đem theo vợ và 1 đứa con, thì số người trong phép lạ này cũng khoảng: 5.000 x 3 = 15.000 người. Một con số khá đông như một biển người trên núi.

MỘT CÂU HỎI ĐƯỢC ĐẶT RA:

Tại sao Chúa Giêsu lại giục các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia trước, còn Ngài một mình ở lại giải tán dân chúng? Tại sao Ngài không đi cùng với các môn đệ?

Nếu các môn đệ đi trước, thì lát nữa Ngài sẽ đi bằng gì để đến với các ông. Nên nhớ sau khi dân chúng và các môn đệ đi rồi sẽ không còn chiếc thuyền nào ở đây. Vậy Chúa Giêsu sẽ đi bằng gì?

Với lại một mình Ngài sao có thể giải tán một đám đông như vậy, bao giờ mới xong?

Nên nhớ đi xuống núi bao giờ cũng khó hơn và nguy hiểm hơn lên núi, vì người ta luôn trong tư thế chúi xuống rất dễ lao xuống vực. Mặt khác, đường đi trên núi rất hẹp chứ không rộng rãi, chỉ đủ cho một người đi. Vậy mất bao lâu Ngài mới giải tán xong đám đông này?

Những câu hỏi này sẽ được thánh sử Gioan cho ta câu trả lời.

Bài Tin mừng Phép lạ hoá bánh ra nhiều lần thứ nhất được cả 4 thánh sử cùng tường thuật.

Gioan viết: “Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.” (Ga 6, 15).

Có nghĩa sau Phép lạ hoá bánh, dân chúng muốn tôn Chúa Giêsu làm vua, vì họ tin Ngài chính là Người mà họ mong chờ từ lâu, Ngài có thể giải phóng họ thoát khỏi cảnh nô lệ cho đế quốc La Mã.

Chúa Giêsu biết được ý định đó, vì đây không phải là Sứ vụ của Ngài, nên Ngài đã lánh nên núi một mình, không cho dân chúng thực hiện ý định này, trong khi Chúa Giêsu gợi ý cho các môn đệ sang bờ bên kia trước đến Capharnaum, nhằm cắt cái đuôi đeo bám của dân chúng.

Còn việc Chúa Giêsu sẽ đi bằng gì để đến với các ông ?

NGÀI SẼ ĐI TRÊN MẶT BIỂN. Đó là việc Chúa Giêsu sẽ làm nhằm củng cố niềm tin còn non yếu của các môn đệ.

Còn mất bao lâu Chúa Giêsu mới giải tán xong đám đông ? Điều này không cần quan tâm, vì họ đã được ăn no nên cứ thong thả mà về không còn sợ cảnh đói xỉu dọc đường.

Như vậy đám đông bao giờ giải tán xong cũng được.

Đó là bối cảnh Bài Tin mừng hôm nay.

Chúng ta bắt đầu bước vào Bài Tin mừng:

“KHI DÂN CHÚNG ĐÃ ĂN NO, LẬP TỨC CHÚA GIÊSU GIỤC MÔN ĐỆ TRỞ XUỐNG THUYỀN MÀ QUA BỜ BÊN KIA TRƯỚC, TRONG LÚC NGƯỜI GIẢI TÁN DÂN CHÚNG. GIẢI TÁN HỌ XONG, NGƯỜI LÊN NÚI CẦU NGUYỆN MỘT MÌNH. ĐẾN CHIỀU, NGƯỜI VẪN Ở ĐÓ MỘT MÌNH. CÒN THUYỀN THÌ ĐÃ RA GIỮA BIỂN, BỊ SÓNG ĐÁNH CHẬP CHỜN VÌ NGƯỢC GIÓ.”

“NGƯỜI LÊN NÚI CẦU NGUYỆN MỘT MÌNH”

Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện. Ngài vẫn thường cầu nguyện như vậy, Ngài có thói quen cầu nguyện vào ban đêm và ở nơi thanh vắng. Thánh Matthêu nhắc tới Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện như cho ta thấy Chúa Giêsu là Môsê khác, vì Môsê vẫn lên núi để gặp Thiên Chúa.

“CHÚA GIÊSU GIỤC MÔN ĐỆ TRỞ XUỐNG THUYỀN MÀ QUA BỜ BÊN KIA TRƯỚC”

Bài Tin Mừng hôm nay là một loạt những kinh nghiệm thiêng liêng. Có thể chúng ta ít nhiều đều có những kinh nghiệm này. Chúa Giêsu là một nhà sư phạm đầy kinh nghiệm, Ngài thấu hiểu những suy nghĩ của các môn đệ và rất cương quyết đối với các ông.

Ngài giáo dục các môn đệ bằng cách đưa họ vào những kinh nghiệm. Kinh nghiệm bị Thầy bắt buộc phải qua bờ bên kia , dù họ rất muốn ở lại bờ bên này để nếm dư vị thành công của phép lạ hoá bánh vừa rồi. Sau phép lạ nhân bánh, người ta định tôn Thầy lên làm vua. Chỉ cần Thầy gật đầu là trò cũng được chia sẻ tiếng tăm và quyền lực. Các môn đệ đã bị ép lên thuyền, ngay lập tức, lúc chạng vạng tối. Kinh nghiệm bị sóng đánh vì ngược gió.

“ĐẾN CHIỀU, NGƯỜI VẪN Ở ĐÓ MỘT MÌNH. CÒN THUYỀN THÌ ĐÃ RA GIỮA BIỂN, BỊ SÓNG ĐÁNH CHẬP CHỜN VÌ NGƯỢC GIÓ”

Chúa Giêsu ở trên núi, Ngài có thể quan sát con thuyền của các môn đệ ở đàng xa, mặc dù Thuyền đã xa bờ mấy cây số.

Ngày nay ta vẫn thường nghe Đài Khí tượng nói trong những ngày biển yên sóng lặng: “Tầm nhìn xa trên 10 cây số”

Chúa Giêsu thấy con thuyền các môn đệ bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió, tiến không được, lùi lại cũng không xong. Vào lúc khó khăn ấy lại không có Ngài ở trong thuyền.

Hầu như suốt đêm các môn đệ phải vất vả chèo chống với sóng gió. Họ phải tập chiến đấu trong đêm tối khi không có Thầy ở bên. Họ có nghĩ quyết định của Thầy là sai lầm, vội vã không? Kinh nghiệm hốt hoảng, sợ hãi và được trấn an.

Lời Chúa nhắc chúng ta nhớ đến Giáo Hội hôm nay đang gặp những cơn sóng gió, những khủng hoảng, đang phải đương đầu với nhiều thế lực, những quyền bính, những phong trào: tất cả như những đợt sóng vùng lên muốn nhận chìm Giáo hội.

Chúng ta cũng nhớ đến những khủng hoảng của con người trong xã hội hôm nay. Khủng hoảng của gia đình và của chính bản thân ta. Chúng ta đang bị vật nhào giữa biển đời đầy bất công, hận thù, đang quay cuồng trong dòng sông gian nan vất vả, và linh hồn ta đang thoi thóp giữa cơn sóng gào cám dỗ và tội lỗi.

“CANH TƯ ĐÊM TỐI, NGƯỜI ĐI TRÊN MẶT BIỂN MÀ ĐẾN VỚI CÁC ÔNG. THẤY NGƯỜI ĐI TRÊN MẶT BIỂN, CÁC ÔNG HOẢNG HỒN MÀ NÓI RẰNG: “MA KÌA” VÀ CÁC ÔNG SỢ HÃI KÊU LA LỚN TIẾNG.

LẬP TỨC, CHÚA GIÊSU NÓI VỚI CÁC ÔNG RẰNG: “HÃY YÊN TÂM. THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ”.

PHÊRÔ THƯA LẠI RẰNG: “LẠY THẦY, NẾU QUẢ LÀ THẦY, THÌ XIN TRUYỀN CHO CON ĐI TRÊN MẶT NƯỚC MÀ ĐẾN CÙNG THẦY”. CHÚA PHÁN: “HÃY ĐẾN”. PHÊRÔ XUỐNG KHỎI THUYỀN BƯỚC ĐI TRÊN MẶT NƯỚC MÀ ĐẾN CÙNG CHÚA GIÊSU.

KHI THẤY GIÓ MẠNH, ÔNG SỢ HÃI VÀ SẮP CHÌM XUỐNG NÊN LA LÊN RẰNG: “LẠY THẦY, XIN CỨU CON”.

LẬP TỨC, CHÚA GIÊSU GIƠ TAY NẮM LẤY ÔNG MÀ NÓI: “NGƯỜI HÈN TIN, TẠI SAO LẠI NGHI NGỜ?” KHI CẢ HAI ĐÃ LÊN THUYỀN THÌ GIÓ LIỀN YÊN LẶNG. NHỮNG NGƯỜI Ở TRONG THUYỀN ĐẾN LẠY NGƯỜI MÀ RẰNG: “THẬT, THẦY LÀ CON THIÊN CHÚA!”

“CANH TƯ ĐÊM TỐI, NGƯỜI ĐI TRÊN MẶT BIỂN MÀ ĐẾN VỚI CÁC ÔNG”

Như vậy, đến gần sáng (canh tư: khoảng từ 3g đến 6 giờ sáng) Chúa Giêsu mới đến với các môn đệ. Có thể nói các môn đệ đã vật lộn với sóng biển suốt đêm. Đây có thể nói là kinh nghiệm quý giá mà các môn đệ sẽ nhớ mãi, kinh nghiệm chống chọi với sóng gió một mình mà không có Chúa Giêsu, đó sẽ là một kinh nghiệm quý giá để sau này các ông sẽ vững vàng hơn trong các cơn bách hại của đế quốc Rôma trong thời kỳ Giáo hội sơ khai.

“CÁC ÔNG HOẢNG HỒN MÀ NÓI RẰNG: “MA KÌA” VÀ CÁC ÔNG SỢ HÃI KÊU LA LỚN TIẾNG”

Mãi đến lúc gần sáng, Chúa Giêsu mới đi trên biển mà đến với các môn đệ. Ngài đến, khi họ chưa thấy rõ mặt Ngài. Ngài đến vào lúc bất ngờ và đến theo cách bất ngờ, khiến họ khiếp kinh. Ngài đến đem bình an mà họ tưởng là ma quái đe dọa.

Có lẽ tinh thần của các môn đệ đang bấn loạn thật sự, đã xuống đến mức thấp nhất vì bị trận cuồng phong vùi dập nên khi thấy một bóng trắng xuất hiện đến với mình thì ai cũng nghĩ đó là ma.

Trận cuồng phong, theo quan niệm Do Thái đó là biểu tượng thị uy của thần dữ, của thế lực tối tăm, và cái bóng trắng kia chính là lúc ma quỷ hiện nguyên hình.

Trong Kinh thánh cũng ghi lại vài lần cảm nghĩ các môn đệ khi thấy Chúa đến mà cứ tưởng là ma.

Ta còn nhớ sau này khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài hiện ra với các môn đệ mà các ông cứ nghĩ là ma.

Luca viết: “Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em! ” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma” (Lc 24, 36 – 37).

Chúa Giêsu đã phải trấn an các ông: “”Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây? ” (Lc 24, 38 – 39).

Tại sao Chúa Giêsu là Người Thầy mà các môn đệ luôn gần gũi như hình với bóng mà các ông lại không nhận ra Ngài?

Thưa vì Chúa Giêsu đến với các ông theo một cách thức khác thường, không như những gì các ông thường thấy, vì một người bình thường không thể đi trên mặt nước, chỉ có ma là cái bóng mới lướt trên mặt nước thôi, nên các ông tưởng là thấy ma không có gì lạ.

Chúa Giêsu vẫn đến cuộc đời của mỗi tín hữu như vậy, khiến ta không thể nhận ra Ngài, Ngài đến theo cách lạ quá! Đó có thể là niềm vui bất ngờ trong cơn bất hạnh, đó cũng có thể là một sự giúp đỡ bất ngờ mà ta nhận được từ một người xa lạ,….

“HOẢNG HỒN”

đó là tâm trạng dẫn người ta tới hố sâu vì nó cướp mất của ta lòng tin cậy và yêu mến. Thế rồi, khi lòng tin cậy yếu đuối, làm ta mất sức và những nguy khốn tứ bề ập tới làm mình run sợ mất lòng trông cậy. Lúc đó, ta sẽ là mồi ngon cho các thế lực đe dọa.

“LẬP TỨC, CHÚA GIÊSU NÓI VỚI CÁC ÔNG RẰNG: “HÃY YÊN TÂM. THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ”.

Chúa Giêsu phải lên tiếng trấn tỉnh các môn đệ, Ngài muốn kéo các ông ông ra khỏi nỗi sợ lập tức, không muốn để nỗi sợ vùi dập các ông.

Câu nói này làm cho chúng ta liên tưởng đến một kiểu nói quen thuộc của Cựu Ước để chỉ về Thiên Chúa. Môsê đã dùng câu nói ấy để làm cho dân Chúa an tâm, vững tin. Giờ phút này, chính Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy để làm cho các tông đồ bình an và vững tin vào Ngài: “HÃY YÊN TÂM. THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ”

Bài Tin Mừng hôm nay quả thực là một lời trấn an và là một đảm bảo cho mọi Kitô hữu, và cho Giáo Hội. Có những lúc con thuyền Giáo Hội như tròng trành giữa biển khơi sóng gió. Con người chúng ta đang gặp những thử thách hoang mang.

Nhưng, Giáo Hội và mỗi người chúng ta vẫn cảm thấy như Chúa vẫn im lặng. Một sự im lặng đáng sợ. Chúng ta tự hỏi: “Chúa đang ở đâu?”. Chúa vẫn trả lời cho chúng ta : “HÃY YÊN TÂM. THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ”.

Con thuyền Giáo Hội qua muôn sóng gió, bão táp, nhưng nó vẫn đứng nguyên vì Chúa luôn có mặt nâng đỡ phù trì. “Chúa có đó, nên không có gì có thể phá đổ được”

“Hãy an tâm, có Thầy đây đừng sợ”. Điều phải sợ là những lúc vắng Chúa, lúc chúng ta quên khẩn cầu, quên nài van Chúa, quên kiếm tìm Chúa, những lúc chúng ta đối xử thiếu bác ái với nhau, những lúc chúng ta dựa vào quyền hành, dựa vào đồng tiền v.v…

“PHÊRÔ THƯA LẠI RẰNG: “LẠY THẦY, NẾU QUẢ LÀ THẦY, THÌ XIN TRUYỀN CHO CON ĐI TRÊN MẶT NƯỚC MÀ ĐẾN CÙNG THẦY “.

Một mặt Phêrô vẫn chưa tin trọn vẹn khi ông nói câu: “NẾU QUẢ LÀ THẦY ….”Nhưng mặt khác ông lại rất táo bạo khi dám xin ơn đi trên mặt nước. Ông coi đó là cách chắc chắn nhất để biết có phải là Thầy không. Nếu đúng là Thầy thì Thầy cũng có thể cho mình làm được như Thầy. Chỉ cần Thầy truyền lệnh là đủ.

Phêrô tin như thế.

“CHÚA PHÁN: “HÃY ĐẾN”. PHÊRÔ XUỐNG KHỎI THUYỀN BƯỚC ĐI TRÊN MẶT NƯỚC MÀ ĐẾN CÙNG CHÚA GIÊSU”

Để củng cố niềm tin cho các môn đệ, Chúa Giêsu sẵn sàng chấp nhận lời yêu cầu của Phêrô, mà không hề quở trách, Ngài cho ông cũng đi trên mặt nước để đến với Ngài

“KHI THẤY GIÓ MẠNH, ÔNG SỢ HÃI VÀ SẮP CHÌM XUỐNG NÊN LA LÊN RẰNG: “LẠY THẦY, XIN CỨU CON “

Khi được Thầy cho phép, Phêrô mới dám từ thuyền bước xuống biển động. Và ông đã đi được một quãng không rõ bao xa.

Mặt nước cứng như đá hay người ông trở nên nhẹ bổng?

Có lẽ cả hai, vì chính hành động dám bước xuống biển động đã chứng tỏ niềm tin của ông. Nếu ông chưa tin thì chưa thể bước xuống. Niềm tin này đã làm cho người ông nhẹ nhàng như bay bổng, thoát ra ngoài các định luật vật lý để đi trên mặt biển.

Bây giờ thì đúng là Thầy rồi, chỉ Thầy mới cho mình làm được như vậy. Phêrô sung sướng tiến về phía Thầy với niềm tin đang lớn lên.

“LẬP TỨC, CHÚA GIÊSU GIƠ TAY NẮM LẤY ÔNG MÀ NÓI: “NGƯỜI HÈN TIN, TẠI SAO LẠI NGHI NGỜ?”

Nhưng khi gặp gió thổi mạnh thì ông lại sợ, lại hoài nghi, yếu tin. Phêrô mất tập trung vào sự hiện diện quyền năng của Thầy và bị chìm.

Người ta vẫn có thể bị chìm, ngay khi biết Chúa ở trước mặt. Kinh nghiệm được Thầy nắm tay mà dắt vào thuyền chỉ có Phêrô sở đắc vì ông sẽ là người thủ lĩnh Giáo hội sau này. Khi Phêrô kêu cứu, Chúa đã giữ ông khỏi bị nước nuốt chửng.

” NGƯỜI HÈN TIN, TẠI SAO LẠI NGHI NGỜ?”

Trong đoạn Tin Mừng này, thánh Matthêu muốn làm nổi bật vai trò của thánh Phêrô và sự gần gũi của ông đối với Chúa Giêsu. Tuy rất yêu mến, nể trọng thánh Phêrô vì ông sẽ lãnh đạo Giáo Hội sau này, tuy nhiên, Chúa vẫn nhắc bảo, sửa trị Phêrô khi ông có biểu hiện bất xứng để khi Phêrô trở lại ông sẽ củng cố đức tin cho anh em.

“KHI CẢ HAI ĐÃ LÊN THUYỀN THÌ GIÓ LIỀN YÊN LẶNG. NHỮNG NGƯỜI Ở TRONG THUYỀN ĐẾN LẠY NGƯỜI MÀ RẰNG: “THẬT, THẦY LÀ CON THIÊN CHÚA!”

Sau đó hẳn hai Thầy trò đã cùng nhau đi trên sóng mà về thuyền. Khi cả hai lên thuyền thì gió lặng, không cần Chúa Giêsu dẹp yên sóng gió, vì có Chúa trên thuyền rồi, ma quỷ cũng phải khuất phục.

Chỉ cần có Chúa trong lòng ta thôi là đủ rồi!

Các kinh nghiệm môn đệ vừa trải qua thật kinh khủng, nhưng lại thật gần gũi với ta.

Buồn bực, sợ hãi, căng thẳng, bình an, nghi ngờ, chới với, hạnh phúc. Đời Kitô hữu là một chuỗi những kinh nghiệm như thế. Chúng ta tưởng Chúa bỏ rơi, Chúa vắng mặt, Chúa là ma làm ta sợ hãi. Đơn giản Chúa là Thầy biết cách làm ta trưởng thành qua kinh nghiệm.

Cuối cùng chúng ta sẽ nhìn nhận: “Quả thật, THẦY LÀ CON THIÊN CHÚA!”.

Amen.
_______________________
Giuse Nguyễn Viết Tâm.

Về đầu trang

TN19-A137: Trên sóng biển

Sau khi làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, Chúa Giêsu đã bảo các môn đệ rời bỏ đám đông để qua TN19-A137 LX

Sau khi làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, Chúa Giêsu đã bảo các môn đệ rời bỏ đám đông để qua bờ bên kia, còn Ngài thì lo việc giải tán dân chúng.

So sánh hai đoạn Tin Mừng ấy chúng ta ghi nhận được một chi tiết thú vị. Đó là giữa lúc các môn đệ muốn giải tán dân chúng thì Chúa Giêsu lại yêu cầu các ông giữ họ lại và lo cho họ ăn. Còn bây giờ khi các ông muốn ở lại với họ thì Ngài lại buộc các ông phải rời bỏ họ mà đi nơi khác. Chúa Giêsu xem ra muốn chất dứt niềm hứng khởi của các ông giữa một đám đông vừa mới được thưởng thức phép lạ Ngài làm. Qua đó Chúa Giêsu như muốn dạy các ông một bài học về tinh thần phục vụ đích thực: Hãy phục vụ người khác nhưng đừng tìm cách hưởng thụ hay khai thác những kết quả do việc phục vụ đem lại. Hãy giúp đỡ vì tình trạng cần giúp đỡ của người khác chứ không thể dựa vào lòng biết ơn của họ để tạo thêm uy tín, thanh danh hay ảnh hưởng của riêng mình.

Người môn đệ của Chúa phải luôn ở trong tư thế sẵn sàng từ bỏ nơi của phép lạ hoá bánh ra nhiều, nơi của sự thành công, nơi của những cơ sở đã được gầy dựng, nơi của một chỗ đứng đã được bảo đảm, để đến một nơi xa lạ, một nơi khởi sự làm quen với những bất trắc và những khó khăn có thể gặp phải. Cũng như trên đỉnh Taborê, giữa lúc Phêrô đang tính chuyện dựng lều thì Ngài lại giục các ông phải xuống núi và tiếp tục con đường lên Giêrusalem, là nơi bản án tử hình của Ngài đang được chuẩn bị.

Công cuộc rao giảng Tin Mừng của các môn đệ không phải là không có những bất trắc, những xáo trộn và những hiểm nguy, như xưa trên mặt biển, các ông đã gặp phải phong ba bão táp. Nhưng nếu chỉ nhìn vào những bất trắc, thì người ta dễ thất vọng và thối lui. Thế nhưng Chúa Giêsu vẫn có đó trong đêm tối của phong ba bão táp. Ngài có đó để nói với chúng ta rằng: Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ.

Vấn đề là trong những lúc bất trắc xảy đến, chúng ta phải biết nhận ra sự hiện diện của Ngài để can đảm và vững tâm bước tới. Giữa những âm thanh của biển gầm sóng vỗ, chúng ta phải biết nhận ra tiếng nói của Ngài. Và như thế niềm tin của chúng ta phải là một niềm tin, không xuất phát từ lý luận, từ sách vở, nhưng xuất phát từ việc nhận biết Chúa và tiếng gọi yêu thương của Ngài giữa những sự kiện xảy đến trong cuộc sống của chúng ta.

Về đầu trang

TN19-A138: Đừng sợ

(John.W. Martens - Văn Hào, SDB chuyển ngữ)

“Hãy can đảm lên. Thầy đây, đừng sợ” (Mt 14,27)

Chỉ đảo qua những bản dịch Kinh Thánh cổ xưa chuyển sang Anh Ngữ, ví dụ bản dịch của Douay- TN19-A138

Chỉ đảo qua những bản dịch Kinh Thánh cổ xưa chuyển sang Anh Ngữ, ví dụ bản dịch của Douay-Rheims hay của King James, chúng ta sẽ thấy hạn từ ma (ghost) xuất hiện hơn cả một trăm lần ở mỗi bản dịch. Các bản dịch này chuyển ngữ từ hạn từ Hy Lạp hagios pneuma thành thuật ngữ “Holy ghost” (ma thánh). Trong các bản dịch hiện hành, các dịch giả thường sử dụng từ “Holy Spirit” (thần khí). Từ ngữ “ghost” (ma) trong các văn bản hiện nay chỉ dùng để chuyển ngữ từ tiếng Hy Lạp Phantasma và hạn từ này chỉ xuất hiện trong trình thuật kể lại việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước, như được thuật lại trong Mt 14,26. Tuy nhiên, từ ngữ ghost trong bản dịch của Douay-Rheims và King James không ám chỉ ý niệm ma quái, mà  nói  về một cuộc thần hiện (apparition) hoặc về sự xuất hiện của thần khí (spirit), thì có lẽ chính xác hơn.

Điều này lý giải lý do tại sao ý niệm của từ ngữ này dần dần được chuyển đổi. Ngày nay, người ta dang dần dần loại bỏ những hình ảnh ma quái trong các phim hoạt hình, trong các câu chuyện cho trẻ em, hay trong các hóa trang ngày lễ Halloween (trước lễ các Thánh). Vì thế, thuật ngữ holy ghost (ma thánh thiêng) không còn biểu thị cho 2 khía cạnh “thánh thiện và thiêng liêng” nữa. Ám ảnh sợ hãi không nhất thiết phải gắn liền với hình ảnh ghost (ma). Dẫu sao, khi người ta dùng từ ngữ phantasma  với ý niệm về ma quái, hoặc về thần hiện, hoặc nói về thần khí, rõ ràng từ ngữ này không nhắm đến một con người bằng xương bằng thịt bình thường xuất hiện trước mặt các môn đệ. Cho nên, sự liên tưởng khi nhìn thấy một phantasma (có vẻ giống như ma quái) đang đi trên mặt nước khiến các ông khiếp sợ. Họ la toáng lên “ma kìa” và rất kinh khiếp.

Khi có một người lạ hay một người chúng ta không hề quen biết xuất hiện, thường  chúng ta sợ. Đây là phản ứng tự nhiên của chúng ta cũng như của các tông đồ. Tuy nhiên, trong lần gặp gỡ này, Đức Giêsu muốn vén mở đôi điều về thần tính của Ngài cho các học trò mình. Thoạt đầu, Chúa  đi trên mặt nước cách lạ thường không phải nhằm khải thị thần tính của Ngài, cho dù sự kiện đó rõ ràng biểu hiện năng quyền của Ngài có thể thống trị thiên nhiên. Điều sâu xa Chúa Giêsu muốn truyền đạt cho các môn đệ , giữa lúc các ông đang khiếp hãi, là lời trấn an “Hãy can đảm lên, Thầy đây, đừng sợ”. “Thầy đây” là thuật ngữ dịch từ tiếng Hy Lạp “egô eimi” có nghĩa “Ta là”. Đây cũng là lời bày tỏ căn tính của Đức Chúa Giavê trong cựu ước, được sách xuất hành 3,14 thuật lại. Chúa nói với Môisen: “Ta là (Đấng) Ta Là” – Ego sum qui sum . Đức Giêsu muốn phá tan nỗi khiếp sợ của các môn đệ bằng cách khẳng định sự hiện diện của Ngài giữa cơn giông bão, và sâu xa hơn, đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa nơi hữu thể của Đức Giêsu. Thiên Chúa đang hiển hiện nơi thân xác của chính Đức Giêsu.

Phêrô xuất hiện, và ông đã đáp trả lời trấn an của Thầy mình. Ông tin rằng đây không phải là một bóng ma, một phantasma, nhưng là chính Đức Giêsu Đấng đang gọi mời ông và các môn đệ. Phêrô bắt đầu bước xuống biển và đi trên mặt nước. Nhưng một lần nữa, ông lại sợ khi sóng to gió lớn nổi lên. Quyết tâm của ông bị chao đảo. Ông từ từ lún chìm trong dòng nước. Cho dù Đức Giêsu có nói hay không nói với Phêrô “ Sao kém tin thế”, thì Phêrô cũng đã gào lên với Chúa “Thưa Thầy, xin cứu con”. Đây là một động thái tổng hợp cả hai mặt: vừa nghi ngờ khiến ông bị chìm, vừa bày tỏ lòng tin như một phương sách cuối cùng. Lòng tin đó khởi dẫn ông tìm đến ơn cứu độ giữa lúc bị chìm dưới biển. Không phải chỉ Phêrô, nhưng tất cả những ai lúc đó đang ở trên thuyền, chứng kiến những sự kiện nói lên sự trọng thị đối với Đức Giêsu - chính xác hơn là sự tôn phục Ngài, chúng ta cũng như các tông đồ sẽ phải thốt lên “ Đúng Ngài là con Thiên Chúa”. Đức Giêsu đã mặc khải  uy quyền của Ngài vượt trên sức mạnh thiên nhiên và khuất phục cả những mãnh lực làm chúng ta chảo đảo sợ hãi. Nhưng quan trọng hơn hết, Ngài khải thị cho chúng ta chính thần tính của Ngài và biểu tỏ sức mạnh có thể cứu lấy những gì đã hư mất.

Đa phần chúng ta chưa từng có kinh nghiệm về sự hiện diện linh thánh của Thiên Chúa sâu xa như các môn đệ, và trải nghiệm đức tin giống như các ngài đã kinh qua khi thắng vượt được sự nghi ngờ và nỗi sợ hãi. Các ngài e rằng, mình có thể  rơi vào những ảo giác bên ngoài nhằm đánh lừa , và cái họ thấy trước mắt chỉ là một bóng ma đầy kinh khiếp. Vì thế, đây là mấu chốt khiến câu chuyện ma trong trình thuật Tin Mừng hôm nay trở nên khá thú vị. Không phải lúc nào Thiên Chúa cũng đến với chúng ta trong hình hài thân xác, hoặc giữa cơn bão tố, hay trong lúc chúng ta chao đảo đức tin. Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta trong muôn vàn cách thái khác nhau. Ngôn sứ Elia đã đến một cái hang trên núi Horeb, ngọn núi của Chúa, để gặp Chúa. Nhưng Chúa không hiện diện trong cơn giông bão. Ngài không có mặt trong cơn động đất, trong núi lửa, nhưng Chúa đến trong “tiếng gió hiu hiu nhè nhẹ”. Sau khi Elia nghe những âm thanh nhẹ nhàng này, ông tiến ra đứng trước cửa hang để đón gặp Chúa. Trong sự thanh vắng sau cơn bão tố, Chúa đã xuất hiện , hoàn toàn tĩnh lặng giữa núi rừng. Thần khí của Chúa đã đến với Elia dưới một  một dạng thức thiêng liêng. Người ta có thể sánh ví , Ngài đến giống hệt như một bóng ma vậy.

Về đầu trang

TN19-A139: Kêu cầu Danh Thánh Chúa Giêsu

Thánh Phêrô đã kêu lên: "Lạy Ngài, xin cứu giúp con". Lời kêu xin thật ngắn gọn, và khẩn thiết để TN19-A139

Thánh Phêrô đã kêu lên: "Lạy Ngài, xin cứu giúp con". Lời kêu xin thật ngắn gọn, và khẩn thiết để giúp Phêrô thoát khỏi sóng to gió lớn. Lời kêu cầu đó, Phêrô nhắm vào chính Chúa Giêsu. Vì thế, chúng ta hãy noi gương Phêrô mà kêu cầu Chúa Giêsu, để Ngài ban ơn giúp ta đứng vững trước mọi khó khăn ở đời này và hưởng hạnh phúc ở đời sau.

"Lạy Ngài, xin cứu giúp con". Lời của Phêrô đã thốt lên trong sợ hãi, để xin Chúa Giêsu cứu giúp. Trong hoàn cảnh "ngàn cân treo sợi tóc" Phêrô lo sợ, khi thấy mình nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng! ngay lúc đó Phêrô ý thức Chúa Giêsu đang hiện diện trước mặt ông và sẵn sàng cứu giúp ông. Cho nên, Phêrô đã kêu cầu Danh Thánh Chúa Giêsu một cách dứt khoát và trông cậy vào Ngài. Nhờ đó, Phêrô được Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy và đưa lên ông thuyền bình an. Cho dù, đức tin Phêrô còn yếu kém, như Chúa Giêsu đã khiển trách ông: "Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi".

Trong xã hội Do Thái thời bấy giờ, Danh Thánh Chúa Giêsu luôn vang lên mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh qua môi miệng của mọi hạng người khi gặp Ngài. Lời kêu cầu của họ thật ngắn gọn: như các thánh Tông đồ đã kêu cầu ngài cứu giúp khi thấy thuyền sắp chìm: "Lạy Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất". Hay người mù ăn xin nài nỉ: "Lạy Ngài, xin cho tôi được thấy". Ngay khi Chúa Giêsu bị treo trên Thánh giá, danh Thánh của Ngài cũng vang lên qua anh trộm lành: "Lạy Ngài, khi vào Nước của Ngài, xin nhớ đến tôi". Những lời kêu cầu đó, đôi khi chỉ vì sợ sệt hay muốn Ngài chữa lành bệnh mà thôi. Nhưng, tất cả đều tin rằng ChúaGiêsu sẽ giúp đỡ họ. Đối với Chúa Giêsu thì không từ chối một ai, sẵn sàng đón nhận và giúp họ nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống tại thế cũng như đời sống mai sau.

Chính Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu đã cảm nhận đều này. Thánh nữ luôn kêu cầu danh Thánh Chúa Giêsu mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh: khi gặp gian nan thử thách, đau khổ bệnh tật hay an vui hạnh phúc. Đặc biệt, khi đối diện với cái chết thánh nữ thân thưa: "Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa". Những lời kêu cầu đó như là một sức mạnh giúp ngài chấp nhận tất những gì xảy ra trong cuộc đời của thánh nữ. Cho nên, sau khi từ giã thế gian, nụ cười vẫn rạng rỡ trên môi ngài như lúc còn sống.

Có thể nói, Danh Thánh Chúa Giêsu nằm ở trung tâm kinh nguyện Kitô giáo. Tất cả những lời nguyện trong phụng vụ đều kết thúc bằng công thức: "nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con". Cũng như, tột đỉnh của Kinh Kính Mừng Maria là câu "và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ". Đối với chúng ta, nhiều khi chưa nhận ra giá trị của việc kêu cầu Danh Thánh Chúa Giêsu. Thực tế cho thấy nhiều người khi gặp thất bại, đau khổ, đã kêu Danh Thánh Ngài để trách móc: "Lạy Chúa Giêsu, tại sao để cho con đau khổ, bệnh tật" hay có người đã thốt lên: "Giêsu ơi! Tao đã thua mày". Đây là dịp chúng ta hãy xác tín rằng. Chúa Giêsu luôn hiện diện bên cạnh ta và sẵn sàng giúp đỡ ta trong mọi lúc mọi nơi, nếu chúng ta kêu cầu danh Thánh Ngài, cho dù đức tin của chúng ta con yếu kém: như Ngài đã phán: " Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế". Vì vậy, khi gặp gian nan thử thách, đau khổ, bệnh tật. Chúng ta hãy bày tỏ: "Lạy Chúa Giêsu, xin cứu giúp con. Xin chữa lành con". Chắc hẳn Ngài sẽ cứu chúng ta như đã từng đưa tay nắm lấy Phêrô; Ngài sẽ chữa lành cho chúng ta như từng chữa lành cho người cùi được sạch, người mù được sáng mắt. Đối Chúa Giêsu, Ngài luôn mở rộng bàn tay đón nhận những người tội lỗi biết ăn năn thống hối trở về, như đón nhận Giakêu hay hứa ban cho anh trộm lành được ở với Ngài. Như thế, khi chúng ta tội lỗi, xúc phạm đến Ngài hãy nói với cả con tim mình: "Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con". Cụ thể hơn, một chút nữa, trước khi rước lễ ta hãy ý thức những lời ta sẽ kêu cầu: "Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh". Hơn nữa, khi ta làm việc, khi ăn uống, hay khi nghỉ ngơi...Chúng ta hãy thân thưa: "Lạy Chúa, xin làm việc cùng con,..."

Lời kêu cầu vào Danh Thánh Chúa Giêsu là con đường đơn giản nhất của việc cầu nguyện. Nếu chúng ta thường xuyên lặp đi lặp lại danh Thánh Ngài mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh với một tâm hồn khiêm tốn, tin tưởng, phó thác vào Chúa Giêsu, thì lời kêu cầu này không biến thành những lời lãi nhãi, những giúp chúng ta nắm giữ được Lời Chúa và nhờ lòng kiên nhẫn mà sinh hoa kết quả. Vì, Chúng ta đã ý thức Ngài đang hiện diện và sẵn sàng giúp đỡ ta. Tôi tin chắc rằng Ngài sẽ giúp ta luôn đứng vững trước sống to gió lớn của cuộc đời. Và khi nhắm mắt lìa đời, chúng ta sẽ rạng rỡ môi cười như Thánh nữ Têsêsa: một nụ cười mãn nguyện. Đồng thời, Chúa Giêsu sẽ nói với mỗi người chúng ta như nói với anh trộm lành: "Ngày hôm nay con sẽ ở trên Thiên đàng với Ta". Amen.

Về đầu trang

TN19-A140: Giá của một ly sữa

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Hình ảnh Chúa Giêsu đi trên mặt nước cho chúng ta thấy tình thương của Chúa dành cho các môn TN19-A140

Hình ảnh Chúa Giêsu đi trên mặt nước cho chúng ta thấy tình thương của Chúa dành cho các môn đệ thật cao sâu. Dù đêm tối. Dù giông bão. Điều đó không cản bước để Ngài tiến đến với các môn đệ. Ngài đã đến thật đúng lúc, thật kịp thời. Ngài đến để phá tan giông bão. Ngài đến trả lại sự bình yên cho biển cả và cho cả các tông đồ đang hú hồn bạc vía!

Cuộc sống là bước đi trên biển đời. Có sóng gió. Có giông tố. Có những khó khăn khiến biết bao người chao đảo. Họ đang cần chúng ta làm điều gì đó để cứu giúp họ. Hằng ngày có biết bao bàn tay đang xòe ra cầu cứu chúng ta. Liệu rằng chúng ta có dám thoát ra khỏi sự bình yên của mình để đến với anh em và giúp họ vượt qua khó khăn hay không?

Có thể chúng ta nghĩ mình sẽ chẳng làm được những chuyện phi thường như Chúa Giêsu, điều này cũng chẳng sai, nhưng chúng ta lại có thể làm những chuyện bình thường với trái tim phi thường hết mình vì tha nhân. Những chuyện bình thường thật dễ làm nhưng lại đòi hỏi phải có tình yêu mới có thể tìm được hạnh phúc trong từng điều nhỏ nhặt bình thường.

Người ta kể rằng: Trưa hôm đó, có một cậu bé nghèo bán hàng rong ở các khu nhà để kiếm tiền đi học. Bụng đói cồn cào mà lục túi chỉ còn mấy đồng tiền ít ỏi, cậu liều xin một bữa ăn tại một căn nhà gần đó. Nhưng cậu giật mình xấu hổ khi thấy một cô bé ra mở cửa. Và thay vì xin gì đó để ăn, cậu đành xin một ly nước uống. Cô bé trông cậu có vẻ đang đói nên bưng ra một ly sữa lớn.

Cậu bé uống xong, hỏi "Tôi nợ bạn bao nhiêu?".

"Bạn không nợ tôi bao nhiêu cả. Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt."

Cậu bé cám ơn và đi khỏi. Lúc này, Howard Kelly thấy tự tin hơn nhiều, mạnh mẽ hơn nhiều.

Nhiều năm sau, cô gái đó bị căn bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ trong vùng bó tay và chuyển cô lên bệnh viện trung tâm thành phố để các chuyên gia chữa trị. Tiến sĩ Howard Kelly được mời khám. Khi nghe tên địa chỉ của bệnh nhân, một tia sáng loé lên trong mắt ông. Ông đứng bật dậy và đi đến phòng bệnh nhân và nhận ra cô bé ngày nào ngay lập tức. Ông đã gắng sức cứu được cô gái này. Sau thời gian dài, căn bệnh của cô gái cũng qua khỏi. Trước khi tờ hoá đơn thanh toán viện phí được chuyển đến cô gái, ông đã viết gì đó lên bên cạnh.

Cô gái lo sợ không dám mở ra, bởi vì cô chắc chắn rằng cho đến hết đời thì cô cũng khó mà thanh toán hết số tiền này.

Cuối cùng cô can đảm nhìn, và chú ý đến dòng chữ bên cạnh tờ hoá đơn....

"Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa."

Ký tên

Tiến sĩ Howard Kelly.Nước mắt vui mừng cứ thế dâng trào và lời từ trái tim cô gái thốt lên trong nước mắt: "Cảm ơn ông!."

Đây là câu chuyện có thật. Dr. Howard Kelly là một nhà vât lý lỗi lạc, đã sáng lập ra Khoa Ung thư tại trường Đại học John Hopkins năm 1895.

Cuộc sống luôn mời gọi chúng ta hãy làm điều gì đó có ích cho tha nhân. Bởi chung quanh chúng ta có biết bao mảnh đời bất hạnh lầm than. Cuộc sống luôn đưa đến cho chúng ta biết bao bàn tay đang cần chúng ta dìu họ đi qua những khó khăn, hay giúp họ đứng dạy bước tiếp sau những lần vấp ngã. Việc làm này tưởng chừng như chỉ là một việc tốt nhỏ bé rồi sẽ trôi qua, nhưng thực ra nó sẽ được đền bù khi chúng ta gặp khó khăn. Đó là trường hợp của cô gái đã tặng người bạn nghèo một ly sữa để làm động lực cho câu ta tiến thân và thành danh mai sau.

Vâng, chúng ta có thể không có khả năng đi trên mặt nước, nhưng chúng ta có thể nâng đỡ, dìu dắt anh em qua những khó khăn của cuộc sống. Vì cuộc sống chung quanh chúng ta có quá nhiều những hoàn cảnh đang cần chúng ta thi ân giúp sức.

Chúng ta có thể không có khả năng hô phong hoán vũ nhưng chúng ta có thể xoa dịu những đau thương cho anh em bằng sự chia sẻ, bằng cảm thông liên đới.

Chúng ta có thể không có khả năng ngăn gió chống bão nhưng chúng ta có thể giúp anh em làm lại cuộc đời sau những thất bại làm ăn.

Vâng, chúng ta không cần phải làm những chuyện cao siêu, chỉ cần cho một ai đó ly nước với một tấm lòng chân thành là được. Cuộc sống của chúng ta chỉ cần có tấm lòng như dẫn người già qua đường, nhịn chút quà sáng để cho các em học sinh khó khăn, biết an ủi động viên người đang đau bệnh hay thất bại, tủi hờn... Đó là những việc chúng ta đang làm cho cuộc sống này tốt đẹp hơn.

Cuộc đời ai mà không cần sự nâng đỡ, bao bọc của người khác. Thật không ngoa khi nói rằng chúng ta đều lớn lên trong tình thương giúp đỡ của người khác cụ thể là cha mẹ, là thầy cô, bạn bè... Thế nên, hãy sống có ích cho tha nhân. Hãy làm điều gì đó tốt đẹp cho tha nhân. Hãy đến với tha nhân để xoa dịu nỗi đau cho họ, để dìu họ đi qua những khổ đau, để giúp họ đứng dậy làm lại cuộc đời.

Xin Chúa cho chúng ta có đôi chân nhẹ nhàng, thanh thoát để đến với tha nhân trong tinh thần phục vụ mà không mong đền đáp. Amen.

Về đầu trang

TN19-A141: Những cơn sóng

Thiên Chúa tạo dựng con người. Ngài ban cho họ tự do. Ngài luôn tôn trọng tư tưởng, dự định của TN19-A141

Thiên Chúa tạo dựng con người. Ngài ban cho họ tự do. Ngài luôn tôn trọng tư tưởng, dự định của con người, nhưng với thời gian và qua dòng lịch sử, Ngài thanh lọc, kiện toàn những gì không phù hợp với Nước Trời. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người cũng đi theo đường lối đó, như chúng ta thấy trong bài phúc âm hôm nay.

Sau khi cho dân chúng ăn no nê (Mt 14, 13 - 21) Chúa Giêsu buộc các môn đệ lên thuyền sang bờ bên kia. Giải tán dân chúng xong, Chúa Giêsu để các môn đệ lên thuyền rời khỏi đó; còn phần mình, Ngài lên núi cầu nguyện một mình. Chúa Giêsu phải thúc giục các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia. Chúa Giêsu muốn dạy họ rằng: tránh quan niệm sai lầm của dân chúng muốn tôn Người lên làm vua theo kiểu trần thế. Đàng khác, Người muốn dạy các môn đệ bài học: "phục vụ không phải để được danh vọng, quyền uy".

Vâng lời Thầy nên các môn đệ ra đi, nhưng có lẽ các ông không được hài lòng, các ông không vui vì họ ít ra đã đóng góp trong phần thành công của bữa tiệc no nê hôm nay mà chỉ vỏn vẹn có "năm chiếc bánh và hai con cá" (Mt 14, 17). Phép lạ hoá bánh ra nhiều này là một chiến tích lẫy lừng. Một chiến tích mang lại cho họ những thành công mà họ đang mong mỏi đợi chờ. Một thành công làm cho họ phấn khích. Một thành công xứng với niềm mong mỏi mà các ông đã bỏ công đi theo Thầy Giêsu. Các ông đã hết sức kiên nhẫn chờ đợi ngày Chúa Giêsu làm Vua, cơ hội đó hôm nay đã đến nhưng Chúa lại từ chối. Không những bỏ lỡ cơ hội mà Chúa còn ra lệnh cho các ông lập tức rời bỏ nơi đó, bỏ lại những thành công trước mắt mà không phải hối tiếc. Bỏ lại tất cả để đi vào sứ vụ mới. Đó là ý Chúa Giêsu muốn. Đứng trước lời mời gọi này, các ông hết sức ngỡ ngàng, nuối tiếc; nuối tiếc đã dẫn các ông đến chỗ bất mãn, chán nản. Chán nãn, bất mãn gây cho các ông mệt nhọc. Mệt nhọc làm cho các ông ngã lòng. Các ông đã bước đi nhưng bàn chân rã rời. Chân bước đi nhưng lòng mình còn bị níu kéo. Từng bước đi đang nặng trĩu cõi lòng. Nhịp đập con tim vẫn mãi dan díu. Ánh mắt con người ngoái lại đắng sau.

Hơn ai hết, Chúa Giêsu biết rất rõ tâm trạng của học trò mình. Không những Ngài biết họ bằng ánh mắt và bằng cả cõi lòng khi Ngài cầu nguyện trên triền núi. Bởi vì Ngài là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn mà!  Các môn đệ chèo chống vất vả bởi lẽ thuyền các ông đi ngược với sóng gió và hơn nữa chính các ông còn gặp trở ngại lớn hơn là gặp ngược lại với cả ý muốn. Ý muốn của Chúa Giêsu lại ngược lại với ý muốn, ngược lại với sở thích của mình. Tư tưởng, ước muốn làm cho các ông cứ ở mãi trong vòng lẫn quẫn. Con thuyền đang gặp phải sóng gió chòng chành. Sóng trên biển cả. Sóng trong cõi lòng. Sóng dâng trong ước muốn. Sóng cứ mãi vỗ về. Sóng cứ mãi nhấp nhô. Từng đợt sóng cứ di chuyển. Sóng sau xô sóng trước. Sóng sau cao hơn sóng trước. Sóng đánh mất phương hướng. Sóng làm cho lòng người thêm rối rắm. Sóng vỗ tan vỡ tình người. Sóng vỗ tan tình hiệp thông. Sóng làm lạc xa niềm tin. Sóng làm cho lòng người nôn nao. Sóng càng da diết thì càng làm cho lòng người càng nuối tiếc! Sóng vô hình và hữu hình đang sánh đôi. Sóng vô tình ly tán. Ôi con sóng xôn xao!

Chính lúc đó, Ngài đi trên mặt biển để đến với các ông. Ngài vẫn hiện diện. Ngài đến gần hơn. Ngài làm như thế để các ông hiểu rằng Ngài có quyền năng trên các tạo vật, Ngài có quyền trên bánh ăn no nê, Ngài có quyền trên cơn sóng, Ngài có quyền năng trên biển cả. Ngài có quyền năng  chế ngự thiên nhiên. Ngài có quyền năng và thấu suốt từng cơn sóng trong cuộc đời mỗi người. Ngài có chương trình của Ngài và Ngài sẽ thực hiện chương trình ấy. Đi trên sóng nước, Chúa Giêsu cũng để chuẩn bị cho các môn đệ tin vào thiên tính của Người. Vì chỉ có mình Thiên Chúa mới có được quyền năng như thế. Điều này mời gọi chúng ta tin tưởng vào tình thương và quyền năng cứu sống của Chúa khi chúng ta phải đương đầu với những sự dữ do thiên nhiên hay những sự dữ bởi ma quỷ.

Nếu trong Cựu Ước, Môisen dẫn dân Do Thái đi qua Biển đỏ một cách an toàn thì trong Tân Ước, Thánh sử Matthêu cho chúng ta thấy Chuá Giêsu là Môi sen mới. Đấng nuôi dưỡng dân chúng nơi hoang địa cũng chính là vị Thiên Chúa giải phóng dân Do Thái khỏi ách Aicập: "Con đường Người nằm trên sóng biển" (Tv 77, 20).  Và sự chiến thắng trên sóng nước tử thần này thuộc về Chúa Phục Sinh, vì Chúa chế ngự sóng biển là cách diễn tả Chúa tỏ uy quyền trên thiên nhiên, trên sự dữ và như vậy Người cũng là Đấng chiến thắng sự chết. Ngài đầy quyền năng, có khả năng đem dân Chúa qua biển cuộc đời còn an toàn hơn nhiều và an toàn đến Thiên đàng vĩnh cửu.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng vào quyền năng của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Điều quan trọng không phải là chúng ta bắt Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa. Ngài vẫn hiện diện để sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Hãy phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài và như thế tâm hồn chúng ta sẽ được bình an.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con tin tưởng mạnh mẽ vào Chúa để Chúa làm nên cuộc đời chúng con như ý Ngài muốn. Xin dẹp tan những con sóng xô vô tình đang làm xon xao cõi lòng chúng con. Xin cho chúng con một niềm tín thác vào Chúa. Amen.

Về đầu trang

TN19-A142: Chúa ở đâu khi chúng ta đau khổ?

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

Mới mấy tuần trước đây, trong một tai nạn, một người mẹ mất một lúc ba đứa con, vì bị đuối nước. TN19-A142

Mới mấy tuần trước đây, trong một tai nạn, một người mẹ mất một lúc ba đứa con, vì bị đuối nước. Trong đám tang ấy, người mẹ vật vã gào lên: Ông Trời ơi! Ông ở đâu? Sao ông để như thế này? Tôi có tội tình gì mà sao ông đối xử với tôi như thế?

Thưa quý OBACE, trong lúc người ta đau khổ tột cùng, dù là người có đạo hay không có đạo, họ vẫn như muốn trách móc Thiên Chúa trách Ông Trời, và muốn Thiên Chúa trả lời ngay cho những đau khổ của họ, hoặc là muốn Chúa phải ra tay giải thoát ngay. Trong lúc đau khổ đó người ta thấy dường như Chúa vẫn im lặng trước những nỗi đau của họ? Phải chăng Chúa làm ngơ trước đau khổ của con người?

Các bài đọc của chúa nhật XIX hôm nay trả lời cho chúng ta rằng: Thiên Chúa không im lặng, nhưng Thiên Chúa vẫn đang nói, đang ở kề bên đưa tay ra để nâng đỡ an ủi chúng ta, có điều là chúng ta có nhận ra sự hiện diện an ủi của Ngài, có tin vào quyền năng của Ngài, có đưa tay ra để Ngài kéo ta lên hay không mà thôi?

Bài đọc một kể lại tâm trạng của Elia, sau khi đương đầu với các sư sãi của hoàng hậu Giêzabel, đã bị hoàng hậu trả thù, ông phải trốn lên rừng, chịu đói chịu khát. Trong lúc khốn khổ vì bị lùng bắt như thế, ông cũng cảm thấy như Thiên Chúa không còn ở với ông, Thiên Chúa bỏ rơi ông, ông nghĩ rằng: Dù sao ông cũng đã chiến đấu cho Thiên Chúa, đã hết mình bênh vực giới răn lề luật của Thiên Chúa, tại sao Chúa lại cư xử với ông như thế? Trong lúc ông băn khoăn oán trách Thiên Chúa như thế, thì Thiên Chúa đã hứa cho ông được gặp Ngài. Tuy nhiên Isai lại muốn chờ đợi một vị Thiên Chúa oai hùng như sấm sét giông bão, vì thế ông ra cửa hang để mong gặp Chúa, nhưng Chúa đã không ở trong sấm sét. Rồi ông lại chờ đợi gặp một Thiên Chúa có sức mạnh làm rung chuyển trời đất núi lửa, song ông cũng không gặp được ngài. Mãi đến buổi chiều khi làn gió hiu hiu thổi nhẹ, ông nghe được tiếng Chúa và lấy áo choàng che mặt rồi ra ngoài cửa hang và ông đã gặp được Chúa. Điều đó cho thấy rằng Thiên Chúa vẫn hiện diện bên ông một cách nhẹ nhàng, mơn man như cơn gió nhẹ ban chiều. Chúa vẫn ở bên ông dưới những hình thức rất đỗi bình thường, song ông đã không nhận ra Ngài. Chỉ khi ông bình tâm, ông mới có thể cảm nhận được sư hiện diện nhẹ nhàng của Ngài trong cuộc đời ông.

Thánh Phaolô trong bài đọc hai cũng chia sẻ cùng một kinh nghiệm như tiên tri Isai, khi ông đã miệt mài rao giảng về Chúa Giêsu, song đổi lại, ông đã phải chịu bao nhiêu đau khổ vì những anh em đồng đạo, vì những kẻ đã thụ ơn ông gây ra, ông đã tâm sự: Có Thiên Chúa chứng giám: Lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi khôn nguôi, vì anh em đồng bào đã gây ra cho tôi. Song Phaolô đã nhận ra rằng: Thiên Chúa là Đấng hiểu lòng ông và Ngài chứng giám cho sự nhiệt thành của ông và Ngài chính là nguồn an ủi cho ông.

Thánh Mátthew đã kể lại câu chuyện của Phêrô và các tông đồ đương đầu với sóng gió một mình. Câu chuyện này xảy ra sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho hơn năm ngàn người đàn ông ăn no và còn dư. Trong lúc các tông đồ như đang say mê trong thành công, trong sự nể phục của dân chúng, thì Chúa Giêsu đã làm các ông mất hứng khi Ngài bắt các ông phải xuống thuyền để qua bên kia bờ hồ. Lúc đó có lẽ các tông đồ cũng đang ảo tưởng vì nghĩ rằng các ông đã góp phần vào sự thành công này, thì giờ đây các ông phải xuống thuyền mà không có Chúa đi cùng.

Chính lúc các ông đang còn như tiếc nuối sự thành công, thì đêm tối đã bao phủ lấy thuyền của các ông, và sóng gió bắt đầu nổi lên. Tin Mừng cho thấy, con thuyền và các tông đồ đang chèo chống chính là hình ảnh của Giáo Hội, bóng đêm là những thế lực của thế gian và ma quỷ, sóng gió là những thử thách đang muốn nhấn chìm cả con thuyền của Giáo Hội. Qua chi tiết này kinh Thánh còn cho thấy rằng, một khi không có Chúa Giêsu trong tâm hồn, trong Giáo Hội, thì chắc chắn bóng tối của sự dữ sẽ xâm chiếm tâm hồn và xâm chiếm cả Giáo Hội.

Trong lúc các tông đồ đang phải đương đầu với sóng gió như thế, thì chính Chúa Giêsu đã xuất hiện. Tuy nhiên ngay đến các tông đồ là những người đã bao năm sống với Chúa, chứng kiến bao phép lạ Chúa làm, vậy mà vào lúc gặp sóng gió này, họ cũng không nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu. Khi thấy Ngài đi trên mặt nước mà đến với các ông, các ông hoảng sợ và nghĩ đó là ma. Trong lúc thấy học trò của mình hoảng loạn như thế, Chúa Giêsu đã trấn an các ông: Thầy đây, đừng sợ. Khi sự sợ hãi đi đến tuyệt vọng, thì dường như lời trấn an của Chúa Giêsu lúc đó đã không được các tông đồ đón nhận cách tin tưởng.

Chính vì chưa hoàn toàn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu, nên Simon Phêrô mới lên tiếng: Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Ngài. Một lời cầu xin trong hồ nghi! Với lời xin này, Phêrô như muốn đặt cho Chúa một điều kiện, mà là một điều kiện vượt khỏi lẽ thông thường, hay nói đúng hơn, Phêrô đang muốn thử thách sự hiện diện của Chúa, khi ông đòi đi trên mặt nước để đến cùng Chúa Giêsu.

Đòi đi trên mặt nước, là đòi hỏi một phép lạ, đòi được như Chúa,  tức là có thể giẫm đạp trên các sự dữ và thế lực của ma quỷ. Trước một đòi hỏi như thế, Chúa Giêsu vẫn chiều lòng Phêrô và ra lệnh cho ông bước trên mặt nước mà đến cùng Ngài. Tuy nhiên, Phêrô vẫn không đủ đức tin để hưởng đặc ân này, ông hồ nghi và đã để mình bị chìm trong sợ hãi. Nhưng rất may, trong lúc ông như bị chìm ngập trong sóng to gió lớn của thử thách như thế, ông vẫn còn tin vào sự hiện diện và lời mời gọi của Chúa Giêsu, vì thế ông đã kêu lên: Thầy ơi! Xin cứu con với! Thế là Chúa đã đưa tay ra kéo ông lên thuyền và sóng yên biển lặng. Điều đó cho thấy, dù trong hoàn cảnh dường như tăm tối không lối thoát, nếu chúng ta tin tường và kêu lên như Phêrô: Chúa ơi xin cứu con, thì Chúa sẽ đưa tay ra để đỡ chúng ta chỗi dậy.

Thưa quý OBACE, Trong cuộc sống đã nhiều lần chúng ta phải đương đầu với đau khổ, và cũng nhiều lần, những đau khổ ấy làm cho đức tin của chúng ta bị chao đảo, có những đau khổ và thử thách liên tục vùi dập khiến chúng ta có cảm tưởng như Thiên chúa đã không còn hiện diện. Đã nhiều lần chúng ta trách Thiên Chúa: Tại sao tôi vẫn đi nhà thờ vẫn đi lễ, tại sao tôi vẫn sống tốt, tôi có gian dối tội lỗi gì đâu mà Chúa lại để cho sự khốn khó xảy ra với gia đình tôi thế này? Có những lúc dường như ngã lòng, chúng ta còn đặt vấn đề Thiên Chúa ở đâu? Thiên Chúa có nhìn thấy tôi đau khổ không mà sao Ngài không ra tay cứu giúp tôi?

Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, Ngài không bao giờ đứng ngoài sự đau khổ của chúng ta, và càng không bao giờ muốn chúng ta phải đau khổ thử thách. Tuy nhiên đau khổ sự dữ vẫn xảy ra là do ma quỷ, do con người đã lạm dụng tự do Chúa ban để rồi quay lại gây đau khổ cho anh em. Những lúc đau khổ như thế, Thiên Chúa vẫn đang ở bên ta, nhẹ nhàng như cơn gió chiều để an ủi đỡ nâng. Ngài hiện diện bên ta qua sự yêu thương của cha mẹ, qua sự nâng đỡ của người thân và của bạn bè, và nhất là Ngài đã cùng chung vai để chia sẻ gánh nặng của cuộc sống với chúng ta, và đã dám chấp nhận cái chết để cho chúng ta được sống và ban ơn trợ lực để chúng ta có thể đương đầu với sóng gió thử thách của cuộc đời.

Đừng bao giờ để cho cuộc đời chúng ta thiếu vắng Chúa, vì một khi thiếu vắng Chúa trong cuộc đời, thì sự dữ và ma quỷ sẽ xâm nhập và tấn công chúng ta. Những khi gặp thử thách đau khổ, đừng bao giờ chúng ta oán trách Chúa, vì qua những thử thách ấy chúng ta sẽ nhận ra được sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa và nhận ra bàn tay tình yêu của Ngài. Trong mọi thử thách của cuộc sống, đừng ngại kêu lên như Phêrô: Thầy ơi, cứu con với. Chúa sẽ đưa tay ra để kéo chúng ta lên và trả lại cho chúng ta sự bình an trong tâm hồn.

Thầy đây, đừng sợ! Đó chính là lời khích lệ an ủi cho chúng ta. Đừng bao giờ tuyệt vọng khi đối diện với đau khổ, cũng đừng tuyệt vọng về chính mình, vì cuối đường hầm tăm tối, luôn có một tia sáng hy vọng, giữa nhưng tăm tối của cuộc đời Thiên Chúa vẫn hiên diện, những lúc chán nản mệt mỏi muốn buông xuôi, hãy tin tưởng để nói với Chúa Giêsu rằng: Thầy ơi, xin cứu con, Chúa sẽ trả lời cho mỗi chúng ta: Thầy đây, đừng sợ.

Xin cho mỗi chúng ta dù trong mọi hoàn cảnh sóng gió của cuộc sống, xin cho chúng ta biết tin tưởng đưa tay ra để cho Chúa nâng chúng ta chỗi dậy, vì Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Amen.

Về đầu trang

TN19-A143: Đức tin trưởng thành – Lm Vũ Đình Tường

Sau khi giải tán đám đông Đức Kitô sai các môn đệ xuống thuyền qua bên kia còn Ngài ở lại một mình TN19-A143

Sau khi giải tán đám đông Đức Kitô sai các môn đệ xuống thuyền qua bên kia còn Ngài ở lại một mình cầu nguyện. Khoảng gần sáng Ngài đi trên mặt nước đến với các ông. Các tông đồ vất vả chèo chống, đương đầu với sóng to, gió cả, vất vả đến đứt hơi. Giữa biển sóng chập trùng sao như có bóng người đang đi trên sóng, vững vàng như đi trên đất bằng. Có mơ không, có mệt quá nhìn cá hoá sóng, hay phần hồn át phần xác? Xoa mặt, dụi mắt nhìn vẫn thấy hình ảnh đó. Rõ ràng bóng người đang đi đến, mỗi lúc một gần hơn. Đã sợ còn sợ hơn. Bỗng nhiên bóng đó lên tiếng trấn an, dù gió lớn nhưng nghe giọng rất quen thuộc. Dẫu thế lúc hoảng hốt vẫn không nhận rõ giọng của ai: Đừng sợ, Thầy đây. Phêrô, nửa tin, nửa ngờ, lấy hết can đảm lên tiếng nếu là Thầy xin cho con đến với Thầy. Phêrô bước ra khỏi thuyền, lạ thay, sóng gió thế mà ông bước trên đầu sóng, bình yên,đến cùng Thầy . Cái cảm giác lâng lâng đang diễn ra bỗng thấy con sóng khổng lồ ập đến che khuất Thầy, Phêrô đâm hoảng vội la lớn xin Thầy cứu. Đức Kitô nắm tay ông dẫn đi trên sóng cả. Cả hai vào thuyền an toàn. Đức Kitô nhẹ nhàng nhắc Phêrô hãy tin vào sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa. Bão táp, sóng cả, biển gầm sóng vỗ đều qui phục quyền năngThiên Chúa.

Để được cùng đồng hành với Đức Kitô cần đặt trọn tin tưởng vào Ngài. Ngài là người bạn đường, luôn sóng vai, kề bên, mặc dù không nhìn thấy, nhưng Ngài luôn cùng đồng hành với ta khi an vui cũng như khi hoạn nạn. Ta không thấy Ngài nhưng Ngài thấy ta và cùng đi với ta trên đường đời. Mỗi bước chân ta bước đều có bước chân Ngài bước theo nhưng ta không thấy, không nhận biết bởi Ngài luôn theo sát ta như bóng với hình giữa trưa ánh sáng chan hoà. Bởi không thấy Ngài nên khi gặp hoạn nạn ta hay bối rối quên có Ngài hiện diện. Bởi quên và bối rối nên ta không tìm nương tựa nơi Ngài nhưng lại tin vào những gì nhìn thấy, sờ chạm được vì thế nỗi sợ càng tăng, cô đơn càng đặm và thất vọng chập trùng. Phêrô nơi biển khơi, sóng cả đã có kinh nghiệm đó. May mắn cho Phêrô ông đã lên tiếng kêu cầu và đã nhìn thấy bàn tay Thầy dơ ra cho ông nắm lấy. Bao lần trên đời ta cũng kêu cầu, bàn tay Thầy cũng dơ ra cho ta nắm nhưng ta lại không nhận ra bàn tay thần diệu đó, lại đi nắm bàn tay nhân loại và đặt hi vọng vào bàn tay giới hạn của con người nên vấn nạn đã không được giải quyết thấu đáo mà nhiều khi còn gây phức tạp hơn. Cũng là bàn tay nhưng bàn tay Thầy có thần lực giải quyết mọi khó khăn, trong khi đó bàn tay con người bị tiền tài giới hạn thường làm hỏng chuyện lớn. Bao lần trong đời Thiên Chúa đã ban cho ta nhiều ngạc nhiên. Ngạc nhiên đến độ không ngờ và cũng không ai đoán được. Vì thế khi gặp hoạn nạn, gian nan hãy làm sống lại những ngạc nhiên đó, hãy nhớ lại những lần Thầy cùng đồng hành với ta để chạy đến với Thầy, nắm chặt tay Thầy để được kéo lên thuyền an toàn.

Cuộc sống không thể tránh khỏi bão tố trong đời. Khi bão tố đến đừng tự một mình chống đỡ, đừng đặt trọn niềm tin vào bàn tay thế nhân. Nhờ họ giúp sức, an ủi nhưng cần đặt trọn niềm tin vào lòng Chúa xót thương bởi Ngài không bỏ rơi ta bao giờ. Phêrô trong cơn gió bão đã tự tin vào sức mình và đã bị chìm đắm trong khi bạn ông trên thuyền dù thương tiếc nhưng bất lực. May mắn cho Phêrô trong lúc nguy nan ông nhớ đến và xin Thầy kéo khỏi hố sâu bão táp. Thầy không bao giờ ngờ vực ta chỉ có ta ngờ vực Thầy. Thầy luôn đồng hành với ta và luôn trung tín trong lời Thầy hứa. Thầy sẽ ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế.

Sóng gió cuộc đời nhiều khi to lớn đến độ che phủ cái nhìn của ta, làm ta lầm tưởng tin là sóng gió cuộc đời mãnh liệt đến độ không gì ngăn cản được. Không phải thế, tình yêu và lòng Chúa xót thương lớn hơn sóng to, gió cả, mạnh hơn bão tố có sức tiêu diệt lửa rừng, thác lũ. Khi cứu Phêrô ra khỏi cơn sóng Đức Kitô cũng mời gọi chúng ta hãy vượt qua sóng to, bão tố. bước qua lửa đến với Chúa. Chỉ cần chúng ta dám nhích chân bước tới Thầy sẽ cứu chúng ta khỏi cơn nguy biến. Nhích chân bước đến với Thầy chính là hành động của lòng tin và hành động của lòng tin giúp đức tin triển nở, lớn lên trong tình yêu Thầy.

Về đầu trang

TN19-A144: Lội nước – Lm Vũ Đình Tường

Dân miền quê ai cũng có kinh nghiệm lội nước. Trong thời kì chiến tranh người ta dùng từ 'xe lội TN19-A144

Dân miền quê ai cũng có kinh nghiệm lội nước. Trong thời kì chiến tranh người ta dùng từ 'xe lội nước' để chỉ xe thiết giáp, đi trên khô cũng được mà lội nước cũng được. Tôi muốn nói về trường hợp người không bơi lội trong nước mà đi bằng hai chân hẳn hoi. Lội nước rất gần với đi mà không thấy đường bởi nước không sâu lắm nhưng nước đục che mất tầm nhìn. Ngay cả trường hợp nhìn thấy cũng không chính xác vì nước như lớp kiếng dầy, thay đổi nhãn quang. Đi trong nước là đi trong mò mẫm, dự đoán, phỏng chừng để bước tới. Nếu có hụt hẫng toàn thân chìm sâu vào nước lúc đó phải tận dụng đến bơi lội. Có khi bước vào chỗ trũng toàn thân xiêu nghiêng ngả như người say rượu. Lội nước luôn tiến tới mà không bao giờ đi giật lùi. Lội một mình cần cẩn trọng hơn vì khi gặp nguy không có ai cứu mà tự mình xoay xở thoát hiểm. Người lội nước thường phó mặc cho may rủi. Ai biết dưới sâu kia có miểng chai, cành gai, khúc cây, vỏ tôm, xương cá. Đạp trúng là máu hoà trong nước. Nhiều khi không biết, tối đến thấy đau mới biết bàn chân bị xẻ lúc nào.

Khi biết được người đi trên mặt biển ban đêm là Thầy. Thánh Phêrô mừng lắm, xin Thầy Kitô cho lội nước để đến với Thầy vì lòng mến, vì khát khao được là người trước hết đến với Thầy. Lời yêu cầu được chấp thuận Phêrô nhảy tòm xuống biển, thế mà người không chìm, ông bắt đầu bước đi, được bao xa không rõ, thấy cơn sóng lớn ập đến, Phêrô đâm hoảng, cơn sóng dường như lớn mạnh che phủ, lấn át che khuất tầm nhìn của Phêrô. Trong khoảng khắc ngăn cách ngắn ngủi không nhìn thấy Thầy. Phêrô hoảng sợ, bối rối hoảng hốt, la lớn,

Lậy Thầy, xin cứu con

Đức Kitô đã giơ tay cứu Phêrô. Ngài mắng yêu,

Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?

Hình ảnh Phêrô bước đi trên sóng nước cũng là hình ảnh của mỗi người trong chúng ta bước đi trong sóng nước cuộc đời. Phêrô thực sự chìm sâu trong nước hay con sóng lớn bao bọc che phủ thân hình ông. Điều chắc chắn là Phêrô chưa sặc nước, ông còn đủ tỉnh táo bám víu lấy Thầy. Cuộc đời mỗi chúng ta cũng nhiều khi tưởng ngập chìm trong đau khổ nhưng thực ra đau khổ chỉ bao bọc thân ta, vây quanh như bức tường tù hãm khiến ta cảm thấy mình ngụp lặn trong khổ đau. Những lúc như thế hãy cố nhớ lại việc làm của Phêrô. Lậy Thầy, xin cứu con. Cũng hãy nhớ lại lời Chúa nói cùng Phêrô. Người hèn tin, sao mà nghi ngờ. Quả thế vì yếu tin, vì kém lòng mến cho nên nghi ngờ tình yêu Chúa là điều không thể tránh. Biến cố xảy đến trong đời cách nào đó giúp chúng ta nhận biết tình yêu ta dành cho Chúa mạnh yếu, nhiều ít. Biến cố là thước đo đức tin vào Chúa.

Qua màn đêm, Phêrô nhận ra hình bóng người lướt trên sóng nước. Ông không nhìn rõ đó là hình bóng nào. Mãi cho đến khi Đức Kitô lên tiếng ông mới nhận ra đó là Thầy. Bao lần trong đời chúng ta bỏ qua, làm lơ hình bóng chập chờn, mập mờ trong đầu, nhất là những hình bóng khuyên chúng ta làm việc lành, ngăn cản chúng ta làm sự dữ. Những hình bóng đó như giấc mộng, giấc chiêm bao, không rõ nét nhưng khá thật và khá mạnh bạo. Phải chăng đó cũng là hình ảnh Chúa lúc ẩn, lúc hiện trong cuộc sống mỗi người chúng ta. Đi theo Chúa cũng phải mò mẫm, cũng dò dẫm từng bước để tiến tới. Điều may mắn nếu có vấp ngã Chúa không bắt lỗi nhưng sẵn sàng tha thứ và đến nắm tay trợ giúp.

Chúa đến một cách thanh thiên bạch nhật nhưng hình ảnh Ngài lại mờ ảo. Vì sao? Thưa sóng gió cuộc đời che lấp tầm nhìn. Thưa sóng nước cuộc đời bủa quanh khiến ta lo sợ trong cô đơn. Thưa vì ý định ta đã quyết, định trước cho nên ta từ chối tất cả các ý định khác. Tiếng lương tâm rõ ràng, quyết liệt nhưng không cuỡng bức. Vì sao? Vì Chúa ban cho ta tự do và tôn trọng quyền tự do cá nhân mỗi người. Ngài không định thay ta hay cưỡng ép ta theo ý Ngài. Ta hoàn toàn tự do quyết định và chịu trách nhiệm về hậu quả quyết định ta chọn.

Tiên tri Elia diễn tả sự hiện diện của Chúa trong đời bằng hình ảnh rất dễ thương. Thiên Chúa phán cùng ông hãy đứng trên đỉnh núi đón Chúa đi ngang. Cơn gió mạnh đi qua, cơn bão táp thổi đến, động đất tiếp theo, lửa cháy ào ào. Elia chờ đón mãi mới gặp Ngài trong cơn gió hiêu hiêu thổi. Chúa đến trong đời ta cũng nhẹ nhàng như thế. lời Ngài ban sự sống, đầy sinh động cũng đến nhẹ nhàng như gió thoảng. Chúng ta cầu xin ơn khôn ngoan biết nhận ra Chúa trong những hình ảnh, hoàn cảnh khác nhau trong đời.

Về đầu trang

TN19-A145: Kiên vững trong đức tin và cầu nguyện

Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Chúa Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông TN19-A145

Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Chúa Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ và khi bắt đầu chìm, ông la lên: Lạy Thầy, xin cứu con! Chúa Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: người đâu mà kém tin vậy? Tại sao con nghi ngờ, hỡi kẻ kém lòng tin? (Mt 15,29-31)

Chúng ta vừa đọc lại đoạn trích từ phúc âm theo thánh Mathêu, chương 15, câu 29-31, nói về phép lạ Chúa Giêsu đi trên mặt nước biển hồ Galilêa và cho phép Phêrô chia sẻ quyền năng đi trên mặt nước đến với Ngài. Biến cố nầy xảy ra trong thời điểm khoảng một năm, sau khi Phêrô và các bạn, đã từ bỏ mọi sự mà theo Chúa. Phêrô và các bạn đã lắng nghe những Lời Chúa giảng, đã chứng kiến những phép lạ Chúa thực hiện và đã được chiêm ngưỡng vinh quang Chúa và được Chúa giải thích đặc biệt hơn về Mầu Nhiệm Nước Trời. Hơn nữa, Phêrô và các bạn vừa mới được Chúa chọn riêng ra kết thành nhóm 12, và Phêrô đã được Chúa đặt đứng đầu nhóm. Tóm lại, vào thời điểm nầy, Chúa Giêsu đã mạc khải, tuy chưa trọn vẹn tất cả, cho Phêrô và các bạn biết thực thể thần linh của Chúa và ý định của Ngài về cuộc đời,và về tương lai của Phêrô. Hơn nữa, biến cố "đi trên mặt nước" xảy ra liền sau một phép lạ cả thể khác nữa, mà Phêrô và các tông đồ không những được chứng kiến, mà còn được tham dự vào nữa, đó là biến cố Chúa làm phép lạ cho bánh hóa ra nhiều và trao cho các tông đồ phân phát cho hàng ngàn người ăn no.

Sau phép lạ nầy, dân chúng hồ hởi muốn tôn vinh Chúa lên làm Vua. Nhưng Chúa Giêsu không chiều theo như vậy. Ngài ra lệnh cho các tông đồ xuống thuyền đi sang bên kia bờ hồ, còn Ngài thì ở lại giải tán dân chúng rồi lên núi cầu nguyện. Thuyền các tông đồ bị sóng to gió lớn cản trở. "Vào khoảng canh tư, tức khoảng 3 giờ sáng, Chúa Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Nguời đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: Ma đấy, và sợ hải la lên. Chúa Giêsu liền bảo các ông: Hãy yên tâm. Thầy đây. Đừng sợ! Phêrô liền thưa với Nguời: thưa Thầy, nếu quả là Thầy thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Thầy. Chúa Giêsu bảo ông: Cứ đến! Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Chúa Giêsu. Nhưng thấy gió thổi, thì ông đâm ra sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: Lạy Thầy, xin cứu con! Chúa Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: nguời đâu mà kém tin vậy? Sao lại hoài nghi?

Lạy Thầy, nếu là Thầy, thì xin cho con được đến với Thầy. Vài nhà chú giải cho đây là một lời nói đầy tự phụ của Phêrô muốn kiểm chứng, thử thách quyền năng Chúa. Nhưng, một số khác thì giải thích theo hướng tích cực hơn, cho rằng đây là mong ước tự nhiên của Phêrô, đang phải chiến đấu với cảnh sóng to gió lớn, đang phải đương đầu với những nguy hiểm. Sau nghi nghe được chính giọng nói trấn an của Chúa, và đã biết là Chúa rồi chớ không phải là "bóng ma", thì ao ước tự nhiên của Phêrô là được đến với Chúa, không phải để thử Chúa, mà để được mau ở gần bên Chúa, thoát ra khỏi cảnh nguy hiểm. Phêrô được thôi thúc bởi tình yêu đối với Chúa, và không nghĩ là mình vừa lên tiếng xin Chúa một điều nghịch lại với định luật vật lý tự nhiên: là được đi trên mặt nước. Chúa đáp lại tình yêu nồng nhiệt của Phêrô. Nhưng sau đó, ta có thể nói là Phêrô không còn kiên vững trong Niềm Tin và Tình Yêu đối với Chúa nữa. Vì thế Ông bị nguy, và phải kêu lên: Lạy Thầy xin cứu con.

Đây là điều có thể xả#y ra cho mỗi người đồ đệ của Chúa. Chúa Giêsu đã thực hiện những dấu lạ trong cuộc đời chúng ta. Hay nói cách khác, Chúa cho phép chúng ta được tham dự vào quyền năng thần linh của Ngài, làm chủ trên mọi biến cố thiên nhiên. Nhưng những nguy hiểm, thử thách được Chúa cho phép xảy ra, làm cho chúng ta lung lay trong niềm Tin và Tình Yêu, như Phêrô ngày xưa. Chúa không trách Phêrô dám to gan xin Chúa dấu lạ, nhưng trách, hay đúng hơn, chỉ cho Phêrô nhìn thấy nguyên nhân của nguy hiểm đang tấn công, làm cho ông bị chìm xuống nước, đó là: thiếu tin tưởng vào Chúa. Sao kém tin thế? Tại sao con do dự, hỡi kẻ kém tin? Đức Tin và Tình Yêu kiên vững sẽ cung cấp cho chúng ta sức mạnh để vượt qua được những thử thách nguy hiểm. Nhưng, là con người, có những lúc chúng ta bị lung lay, bị cám dỗ ngã lòng. Đó là những lúc chúng ta cần mau kêu cầu Chúa, như Phêrô: Lạy Thầy, xin cứu con. Đây là lời cầu nguyện đầy ý nghĩa trong cơn thử thách. Chúng ta đừng quên cầu nguyện trong lúc thử thách. Đừng quên Chúa hằng hiện diện bên cạnh và lúc nào cũng sẵn sàng giúp ta khỏi bị chìm. Nơi thơ do thái chương 12, câu 1-2, thánh Phaolô khuyên: "Chúng ta hãy nhìn về Chúa Giêsu. Và hãy chạy tới. Hãy kiên trì trong cuộc đua sức chúng ta đã bước vào". Đời chúng ta là một cuộc đua giữa hai lực tốt và xấu đang tranh nhau chiếm lấy con người chúng ta. Hãy nhìn lên Chúa. Hãy kiên vững trong Đức Tin và Tình Yêu. Hãy cầu nguyện chân thành luôn, lời cầu của Phêrô, của kẻ khiêm tốn chỉ biết đặt niềm tin vào Chúa mà thôi: Lạy Thầy, xin cứu con.

Lạy Chúa, Chúa đã ra lệnh cho con làm công việc của Chúa. Xin đừng để con phải một mình giữa hiểm nguy. Lạy Thầy xin cứu con. Xin đừng để con sa chước cám dỗ. Nhưng xin hãy cứu con khỏi mọi sự dữ. Amen.

Về đầu trang

TN19-A146: Chúa đi trên biển

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Thiên Chúa tỏ ra là một nhà giáo dục đại tài: Ngài luôn tôn trọng tư tưởng, dự định của con người, nhưng TN19-A146

Thiên Chúa tỏ ra là một nhà giáo dục đại tài: Ngài luôn tôn trọng tư tưởng, dự định của con người, nhưng với thời gian và qua dòng lịch sử, Ngài thanh lọc, kiện toàn những gì không phù hợp với Nước Trời. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người cũng đi theo đường lối đó, như chúng ta có thể thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Sau khi cho dân chúng ăn no, Chúa Giêsu buộc các môn đệ lên đò sang bờ bên kia. Giải tán dân chúng xong, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện một mình. Các môn đệ vâng lời Thầy ra đi, nhưng có lẽ các ông không được hài lòng. Các ông đã hết sức kiên nhẫn chờ đợi ngày Chúa Giêsu làm vua, cơ hội đó hôm nay đã đến, nhưng Chúa lại từ chối. Không những bỏ lỡ cơ hội, Chúa còn ra lệnh cho các ông lập tức rời bỏ hiện trường. Bất mãn, chán nản và mệt nhọc làm cho các ông ngã lòng. Chúa Giêsu biết rõ tâm trạng của các ông, không những bằng ánh mắt và bằng cả cõi lòng khi Ngài cầu nguyện trên triền núi. Ngài thấy các ông chèo chống ngược với sóng gió và ngược với cả ý muốn. Chính lúc đó, Ngài đi trên mặt biển để đến với các ông. Ngài đã làm như thế để các ông hiểu rằng Ngài có quyền năng trên các tạo vật, Ngài có chương trình của Ngài và Ngài sẽ thực hiện chương trình ấy khi giờ của Ngài đến.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt tất cả niềm tin vào quyền năng của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Điều quan trọng không phải là chúng ta bắt Thiên Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa, Ngài vẫn hiện diện để sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Hãy phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài và như thế tâm hồn chúng ta sẽ được bình an.

Về đầu trang

TN19-A147: Tôi tin

(Suy niệm của JM)

Thấy Người đi trên mặt biển các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. Đức Giêsu TN19-A147

Thấy Người đi trên mặt biển các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm chính Thầy đây đừng sợ!” Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Đức Giêsu bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” (Mt. 14, 26-30)

Phêrô

Mọi chú ý đổ dồn vào một nhân vật: Phêrô. Ông là tông đồ thứ nhất. Ông nói, làm nhân danh các bạn khác. Hơn nữa, ông là người thứ nhất trong các kẻ tin. Ông tỏ vẻ rất linh hoạt và diễn xuất niềm tin xuất sắc. Ông mạnh mẽ và hiên ngang tuyên bố những lời kêu gọi và lôi cuốn con người. Đó là khát vọng sâu xa hướng về mình, ở bên mình, ở với mình. Đó là bước đường dẫn tới hố sâu vì được người ta tin cậy và yêu mến. Thế rồi, khi lòng tin cậy yếu đuối, lập tức kéo theo sự mất sức căn bản và những nguy khốn tứ bề ập tới làm mình run sợ mất lòng trông cậy. Lúc đó mình là mồi ngon cho các thế lực đe dọa, nếu mình không tìm ngay đến bàn tay của Thầy đến cứu vớt. Có lòng trông cậy, có lòng tin, nhưng quá hèn mọn, quá yếu ớt thì đừng bo bo cậy mình. Chỉ có đức tin vô điều kiện mới mong dẫn dắt các bạn một cách chân chính mà thôi. Điều xảy ra với tông đồ thứ nhất là Phêrô, luôn là gương mẫu cho tất cả những kẻ tin tưởng.

Giáo Hội

Giáo hội toàn thể luôn luôn ở trước tôn nhan Đức Giêsu. Giáo hội đã được bảo đảm thắng vượt mọi gian nan thử thách, có đủ khả năng thoát khỏi mọi nguy biến. Giáo hội biết mình được bảo đảm không bao giờ bị đắm chìm tan biến theo chiều dài của lịch sử ở điều kiện nắm vững đức tin.

Một đức tin đơn sơ

Những câu cuối cùng của đoạn Tin mừng này nhắc nhở chúng ta bài học về Phêrô bước đi trên mặt biển: một bài học về đức tin đơn sơ, không giải thích. Một đức tin biểu lộ bằng cử chỉ, bằng chỉ cần động đến gấu áo Chúa, nhưng đã diễn tả mọi rung động của con tim. “Nếu anh không trở nên trẻ nhỏ…”. Nếu đức tin không như thế, chúng ta phức tạp hóa đức tin của chúng ta, đức tin sẽ mất sức mạnh, mất sức sống! Ước chi chúng ta hãy hết lòng nói với Chúa: “Lạy Chúa, con tin”.

Về đầu trang

TN19-A148: Xin cứu con – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

Suy niệm:

Bài Tin Mừng hôm nay là một loạt những kinh nghiệm thiêng liêng. Có thể chúng ta ít nhiều đều đã có TN19-A148

Bài Tin Mừng hôm nay là một loạt những kinh nghiệm thiêng liêng.

Có thể chúng ta ít nhiều đều đã có những kinh nghiệm này.

Thầy Giêsu là một nhà giáo nhân từ và cương quyết.

Ngài giáo dục các môn đệ bằng cách đưa họ vào những kinh nghiệm.

Kinh nghiệm bị Thầy bắt buộc phải qua bờ bên kia (c. 22),

dù họ rất muốn ở lại bờ bên này để nếm dư vị của thành công vừa rồi.

Sau phép lạ nhân bánh, người ta định tôn Thầy lên làm vua (Ga 6, 15).

Chỉ cần Thầy gật đầu là trò được chia sẻ tiếng tăm và quyền lực.

Các môn đệ đã bị ép lên thuyền, ngay lập tức, lúc chạng vạng tối.

Kinh nghiệm bị sóng đánh vì ngược gió.

Thuyền đã xa bờ mấy cây số, tiến tới không được, lùi lại cũng không xong.

Vào lúc khó khăn ấy lại không có Thầy ở trong thuyền.

Hầu như suốt đêm các môn đệ phải vất vả chèo chống với sóng gió.

Họ phải tập chiến đấu trong đêm tối khi không có Thầy ở bên.

Họ có nghĩ quyết định của Thầy là sai lầm, vội vã không?

Kinh nghiệm hốt hoảng, sợ hãi và được trấn an.

Mãi đến lúc gần sáng, Thầy Giêsu mới đi trên biển mà đến với các môn đệ.

Ngài đến khi họ chưa thấy rõ mặt Ngài.

Ngài đến vào lúc bất ngờ và đến theo cách bất ngờ, khiến họ khiếp kinh.

Ngài đến đem bình an mà họ tưởng là ma quái đe dọa (c. 26).

Quả thật có những lúc không dễ nhận ra là Chúa đang đến với mình.

Chúa đến làm các môn đệ sợ hãi hơn cả sóng gió.

Nhưng “Cứ yên tâm, chính Thầy đây. Đừng sợ!” (c. 27).

Kinh nghiệm tự đưa mình vào một thách đố của lòng tin.

Một mặt Phêrô vẫn chưa tin trọn vẹn khi nói câu: Nếu quả là Thầy…(c. 28).

Nhưng mặt khác ông lại rất táo bạo khi dám xin ơn đi trên mặt nước.

Ông coi đó là cách thức chắc chắn nhất để biết có phải là Thầy không.

Nếu đúng là Thầy thì Thầy cũng có thể cho mình làm được như Thầy.

Chỉ cần Thầy truyền lệnh là đủ, Phêrô tin như thế.

Kinh nghiệm đi trên mặt nước và kinh nghiệm bị chìm.

Khi được Thầy cho phép, Phêrô đã dám từ thuyền bước xuống biển động.

Và ông đã đi được một quãng không rõ bao xa (c. 29).

Mặt nước cứng như đá hay người ông trở nên nhẹ bổng?

Bây giờ thì đúng là Thầy rồi, chỉ Thầy mới cho mình làm được như Thầy.

Phêrô sung sướng tiến về phía Thầy với lòng tin đang lớn lên.

Nhưng khi gặp gió thổi mạnh thì ông lại sợ, lại hoài nghi, yếu tin.

Ông mất tập trung vào sự hiện diện quyền năng của Thầy và bị chìm.

Người ta có thể bị chìm ngay khi biết Chúa ở trước mặt.

Kinh nghiệm được Thầy nắm tay mà dắt vào thuyền.

Khi Phêrô kêu cứu, Thầy Giêsu đã giữ ông khỏi bị nước nuốt chửng.

Sau đó hẳn hai Thầy trò đã cùng nhau đi trên sóng mà về thuyền.

Khi cả hai lên thuyền thì gió lặng, chẳng cần Thầy phải dẹp yên sóng gió.

Các kinh nghiệm môn đệ vừa trải qua thật kinh khủng và gần gũi với ta.

Buồn bực, sợ hãi, căng thẳng, bình an, nghi ngờ, chới với, hạnh phúc.

Đời Kitô hữu là một chuỗi những kinh nghiệm như thế.

Chúng ta tưởng Chúa bỏ rơi, Chúa vắng mặt, Chúa là ma làm ta sợ hãi.

Đơn giản Chúa là Thầy biết cách làm ta trưởng thành qua kinh nghiệm.

Cuối cùng chúng ta sẽ nhìn nhận: “Quả thật Thầy là Con Thiên Chúa” (c. 33).

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,

con chẳng dám xin đi trên mặt nước như Phêrô,

nhưng nhiều khi con cảm thấy

sống đức tin giữa lòng cuộc đời

chẳng khác nào đi trên mặt nước.

Có bao thứ sóng gió đẩy đưa và lôi cuốn.

Có bao cám dỗ muốn hút con vô vực sâu.

Cả sự nặng nề của thân xác con

cũng kéo ghì con xuống.

Đi trên mặt nước cuộc đời chẳng mấy dễ dàng.

Nhiều khi con thấy mình bàng hoàng sợ hãi.

in cứu con khi con hầu chìm.

Xin nắm lấy tay con khi con quỵ ngã.

Xin nâng đỡ niềm tin yếu ớt của con,

để con trở nên nhẹ tênh

mà bước những bước dài hướng về Chúa. Amen.

Về đầu trang

TN19-A149: Đừng sợ

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Biến cố Chúa đi trên mặt biển cũng được tường thuật nơi Phúc Âm thánh Maccô chương 6 và nơi Phúc TN19-A149

Biến cố Chúa đi trên mặt biển cũng được tường thuật nơi Phúc Âm thánh Maccô chương 6 và nơi Phúc Âm thánh Gioan chương 6, nhưng nơi Phúc Âm thánh Mátthêu thì có thêm chủ ý hành văn của tác giả và ý định trình bày một cái nhìn. Các nhà chú giải đồng ý có ba phương diện giúp dễ hiểu đoạn Phúc Âm này hơn:

- Bình diện thứ nhất là bình diện của biến cố khi được tường thuật.

- Bình diện thứ hai là bình diện thần học về việc Chúa mạc khải Thần Khí của Người.

- Bình diện thứ ba là ý nghĩa xã hội học của biến cố.

Trước hết, về bình diện tường thuật biến cố thì câu chuyện được kể đơn sơ, dễ hiểu: "Sau biến cố bánh hóa nhiều, Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ xuống thuyền sang bờ bên kia. Còn Người thì ở lại giải tán dân chúng, rồi lên núi cầu nguyện. Đến khuya, Chúa đi trên mặt biển đang bị động để đến với các tông đồ".

Nhưng nếu nhìn biến cố trong viễn tượng việc Chúa mạc khải chính mình thì biến cố mang một đặc điểm mới. Chúa Giêsu có quyền trên mọi biến cố thiên nhiên. Câu nói của Chúa: "Thầy đây, đừng sợ!" nhắc lại công thức Thiên Chúa mạc khải chính mình bằng lời quả quyết: "Ta là Đấng Ta là".

Ý nghĩa xã hội học được trình bày qua hình ảnh con thuyền tượng trưng cho Giáo Hội Chúa. Thuyền gặp bão, Giáo Hội Chúa gặp thử thách. Nhưng Chúa Giêsu không để cho các tông đồ một mình chống lại với bão táp, không thể để cho Giáo Hội một mình gặp thử thách: "Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế". Chúa muốn cho các tông đồ luôn kiên trì trong đức tin, đừng lo sợ mê man. Chúa đến với các tông đồ, Chúa đến với Giáo Hội trong cơn thử thách. Chúng ta hãy để cho Chúa đến với chúng ta và hiện diện với chúng ta mãi mãi.

Lạy Chúa, Đấng đã kêu gọi mọi người "Đừng sợ".

Xin thương củng cố đức tin chúng con trong những lúc gặp gian nan thử thách.

Về đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây