Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-A Bài 101-117

Thứ bảy - 19/08/2017 08:55
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-A Bài 101-117
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 TN-A Bài 101-117

Suy Niệm TN 20-A Phần III: Bài 101-117

TN20-A101:  Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty. 1

TN20-A102: Đức tin là một lộ trình. 2

TN20-A103: Ai là người Israel – Lm. Vũ Đình Tường. 3

TN20-A104: Kỳ thị – Lm. Vũ Đình Tường. 3

TN20-A105: Tình Mẹ cao quý. 4

TN20-A106:  TẤT CẢ VÌ YÊU.. 6

TN20-A107: Ơn cứu độ được ban cho mọi người 6

TN20-A108: CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN A.. 8

TN20-A109: Khi đời không mỉm cười – Thiên Phúc. 9

TN20-A110: Kiên trì và vững tin. 10

TN20-A111:  Suy niệm Tin mừng Chúa nhật 20 Thường niên, năm A, của Đỗ Công Minh. 11

TN20-A112: Suy niệm Tin mừng Chúa Nhật XX TN, năm A, của Trầm Thiên Thu. 11

TN20-A113:  ĐỨC TIN VỮNG MẠNH.. 13

TN20-A114: Đức Tin Của Một Người Mẹ. 14

TN20-A115:  CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN.. 15

TN20-A116: CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN A.. 15

TN20-A117:  Này Bà Lòng Tin Của Bà Mạnh Thật! 18

 

TN20-A101:  Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi…  Lời cầu xin trên của người đàn bà Ca-na-an TN20-A101

“Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi… Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” Lời cầu xin trên của người đàn bà Ca-na-an có gì khác không nhỉ với lời kêu cứu của Phê-rô “Thưa ngài, xin cứu con với!”? Người môn đệ ruột có quyền được Thầy mình cứu vớt, thế nhưng lời cầu khẩn đó của ông lại bị Đức Giêsu coi như một biểu hiện của thiếu tin tưởng, của hoài nghi, do đó đáng bị quở trách, “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” (Mt 14, 31) Còn lời cầu xin thương xót của người đàn bà Ca-na-an ngoại giáo và bất xứng này lại được Đức Giêsu đề cao: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật!”

Quả thế, đoạn tin mừng hôm nay hầu như muốn lột tả tới từng chi tiết tình trạng bất xứng của người đàn bà này trước ân huệ được xót thương: là người Ca-na-an thuộc miền Tia và Si-đôm mà người Đo Thái khinh bỉ gọi là vùng đất dân ngoại (một đối nghịch và loại trừ rõ ràng so với danh xưng ‘đất hứa của dân riêng Đức Chúa’). Con gái bà bị quỉ ám lại càng cho thấy gia đình bà thuộc hạng xấu xa bất hạnh. Đức Giêsu, qua thái độ và lời nói, càng như muốn nhấn mạnh trên sự bất xứng, không đáng được bố thí thương xót chút nào: ‘Người không đáp lại một lời’. Trước sự can thiệp bất đắc dĩ của nhóm môn đệ chỉ vì muốn được yên thân khỏi bị quấy rầy, Thầy Giêsu càng tỏ ra lạnh nhạt, “Thầy chỉ được sai đến với các con chiên lạc của nhà It-ra-en mà thôi”. Thái độ khinh bỉ khước từ đạt tới đỉnh điểm trong câu chối từ không nể nang: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con!” Thế đấy, nếu người Do Thái nói chung và các môn đệ nói riêng (điển hình nhất là Phê-rô) tự coi mình là thành phần được tuyển chọn, là xứng đáng hơn ai hết lãnh nhận sự ưu ái, che chở và cứu vớt của Thiên Chúa, thì người dàn bà Ca-na-an này chỉ là con số không, thâm chí còn dưới không nữa. Thế nhưng chính ở điểm này mà lòng thương xót thần linh biểu lộ được nội dung sâu xa và độc đáo nhất của nó.

Còn về phía người đàn bà Ca-na-an, bà không hề muốn che dấu sự bất xứng của mình, ngược lại xem ra bà còn muốn đề cao nó hơn nữa: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Quả thế, nếu đã xứng đáng thì chẳng cần gì tới lòng thương xót, ngược lại càng bất xứng bao nhiêu thì lòng thương xót càng tỏa sáng bấy nhiêu: một định luật dễ hiểu. Ai kể mình xứng đáng để được ân thưởng, người đó sẽ được áp dụng luật công bằng với các cân đong đo đếm rất chi li (qua hình ảnh cán cân tội phúc vẫn thường được sử dụng). Còn đối với lòng thương xót, Đức Giêsu hình như muốn cho thấy nó thật chan hòa tới độ, chỉ cần duy một điều kiện độc nhất là khiêm tốn đón nhận, thế là nó tuôn trào vô giới hạn - “Bà muốn sao thì sẽ được vậy”. Chính lúc khiêm tốn nhìn nhận sự bất xứng của mình mà người đàn bà Ca-na-an hầu như đã hoàn toàn điều khiển được quyền năng xót thương của Thiên Chúa, ‘từ giờ đó con gái bà được khỏi’. Ôi thật lạ lùng và tuyệt diệu thay sức mạnh của khiêm tốn đón nhận xót thương!

Trước đó cũng đã từng có một người nữ khác khám phá ra và khai thác được định luật này cách triệt để hơn nhiều, đó là trinh nữ Ma-ri-a tại thôn xóm Na-da-rét. Trinh nữ này đã hiểu ra sức mạnh vô địch của khiêm nhường (tức nhìn nhận mình bất xứng) khi xác quyết bằng lời ngợi ca Magnificat: một khi Đức Chúa nhận thấy phận nữ tì hèn mọn của tôi, thì Đấng giầu lòng xót thương xót sẽ thi thố nơi tôi biết bao điều cao cả, tới độ từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Niềm vui lớn nhất làm cho trinh nữ đó hớn hở vui mừng không phải là các ơn huệ nhận được (nhân đức, thánh thiện hay trở thành vô nhiễm hay làm Mẹ Thiên Chúa…) mà chính là: vì mình được Thiên Chúa cứu độ và xót thương. Ân huệ nào thì cũng có giới hạn, nhưng lòng thương xót thì vô bờ và tồn tại mãi cho tới muôn đời.

Có lẽ đây là khía cạnh dễ bị quên lãng nhất mỗi khi Kitô hữu chúng ta quyết tâm noi gương hay học đòi Mẹ Ma-ri-a. Khiêm nhường là nhân đức không được mấy ai đề cao, và cũng ít ai nhận ra tầm quan trọng lớn lao hầu như tuyệt đối của nó. Nếu Phúc âm vẫn hay đề cập tới hai khuôn mặt Ma-ri-a, và đặt gần kề bên nhau trong nhiều tình huống của hành trình cứu độ, có lẽ cũng có một ý nghĩa nào đó? Ma-ri-a Na-da-rét và Ma-ri-a Mác-đa-la bổ xung cho nhau cách tuyệt diệu lắm thay, và điểm giao thoa gặp gỡ giữa hai người phụ nữ có lý lịch rất khác biệt nhau này chính là các ngài đã biết mở rộng cõi lòng khiêm tốn để đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa từ nhân.

Lạy Mẹ Maria, xin dạy con bài học quan trọng và cao quí nhất này là nhìn nhận sự bất xứng tột cùng của mình để có thể khai thác được sức mạnh vô địch của lòng thương xót Chúa. Xin cho con xác tín chân nhận ‘Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con…’ để mỗi khi rước lễ, con chạm tới được lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa - Đấng cứu chuộc con. Xin cho con biết hàng ngày hiệp lời ca ngợi lòng thương xót hải hà Chúa dành cho Mẹ và cho tất cả các con cái của Mẹ đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Về đầu trang

TN20-A102: Đức tin là một lộ trình

Tháng 12 năm 1987 một trận động đất kinh hoàng đã xảy ra tại Armênia, đã cướp đi sinh mạng TN20-A102

Tháng 12 năm 1987 một trận động đất kinh hoàng đã xảy ra tại Armênia, đã cướp đi sinh mạng hàng ngàn người, trong số những người bị chôn vùi trong đống đổ nát có mẹ con bà Suzanna may mắn nằm gọn trong một khoảng trống của những bức tường sụp đổ. Lương thực họ có được là một hủ mứt nhỏ, nhưng chẳng bao lâu hủ mứt hết sạch, đứa con nói với bà mẹ: "mẹ ơi con khát", bà mẹ không biết tìm đâu ra nước cho đứa con, nhưng tình mẫu tử đã thôi thúc bà nẩy ra một hành động táo bạo, bà đưa tay nhặt lấy miếng kính vỡ cắt đầu ngón tay cho máu chảy ra rồi đưa lên miệng cho đứa con 4 tuổi mút, nhưng không lâu thì đứa con lại kêu lên nữa, bà cắt ngón thứ hai, rồi ngón thứ ba... nhưng may mắn lại đến với mẹ con bà là đội cứu hộ tìm đến và đưa hai mẹ con ra khỏi đống đổ nát an toàn, nhiều người đến chúc mừng và hỏi thăm động lực nào khiến bà làm chuyện đó? Bà chỉ trả lời "tôi muốn con tôi được sống". Báo chí đã nhiều ngày ca tụng tình mẫu tử và sự hy sinh của bà mẹ xứ Armênia này.

Hôm nay thánh Matthêu cũng giới thiệu cho chúng ta một người mẹ xứ Canaan chấp nhận và hy sinh mọi sự chỉ vì đứa con, nhưng Chúa Giêsu không khen ngợi tình mẫu tử, mà Ngài lại khen ngợi về đức tin. Tại sao một người ngoại giáo mà lại được Chúa Giêsu khen ngợi về đức tin?

Thật vậy, Đức Giêsu khen ba ta vì những nguyên nhân sau:

1. Đức tin đến từ việc nghe nói

Điều chắc chắn người phụ nữ Canaan này đã nghe nói về Con Người Giêsu, về những phép lạ Ngài làm, về những lời rao giảng của Ngài... vì danh tiếng của Người lan rộng ra khắp vùng (Mc 3,8). Người phụ nữ này với một tia hy vọng là gặp được ông Giêsu để xin một phép lạ cho con gái bà. Còn chúng ta có được đức tin là ngay từ nhỏ đã nghe nói nhiều về Chúa Giêsu từ trong gia đình, từ trong khu xóm, họ đạo... nhưng tôi có nói cho những người ngoại giáo dang sống chung quanh tôi biết về Chúa Giêsu không? Họ chính là những người Canaan thời đại ở quanh ta.

2. Đức tin có được là nhờ sự kiếm tìm

Người phụ nữ Canaan sau khi nghe về Chúa Giêsu, bà luôn luôn nghe ngóng về tin tức với hy vọng sẽ gặp để xin một phép lạ cho con gái bà. Khi Chúa Giêsu tới Tyr và Sidom thì bà vội vã ra khỏi Canaan mà đến để xin Người "Lạy con vua Đavit, xin dủ lòng thương xót tôi..." danh hiệâu này bà biết được cũng là nhờ nghe nói. Trước lời kêu xin của người phụ nữ này, Chúa Giêsu không những lặng thinh mà con lên tiếng chối từ "Ta được sai đến với những con chiên lạc nhà Ísrael mà thôi". Sự thinh lặng và thái độ chối từ của Chúa Giêsu đã làm cho các tông đồ phải thắc mắc, vì thầy mình vừa dạy "Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho" thế mà hôm nay, trước lời kêu xin của người đàn bà này thì thầy mình lại chối từ. Còn thái độ của chúng ta thì sao? Hằng ngày tôi chạy đi tìm Chúa để xin hết ơn này đến ơn khác, nếu được nhận lời thì coi như là việc của Chúa phải làm, còn Chúa thinh lặng, hay chối từ thì ta buồn phiền, giận ghét, bỏ đạo hay chạy theo những thế lực trần gian, hay còn tệ hơn nữa là chạy theo tà thần. Riêng người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay thì vẫn khiêm tốn, không tuyệt vọng, không than phiền, không thắc mắc...bà không những kêu xin bằng miệng, mà bà còn kêu xin bằng cả con người. Trước sự khiêm tốn đó làm cho Chúa Giêsu không thể chối từ được, nên Ngài dẫn bà vào cuộc thử thách.

3. Đức tin cần được thử thách

Trước sự kiên trì của người phụ nữ, Chúa Giêsu lên tiếng "không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con", một thử thách dường như quá nặng, quá khó đối với người ngoại giáo này. Nếu người mẹ xứ Armênia chỉ hy sinh những giọt máu để cứu đưa con, thì bà mẹ Canaan lại hạ mình xuống ngang với "con cho" cũng vì đứa con. Nhưng chính lòng khiêm tốn của bà lại làm cho các tông đồ phải ngạc nhiên "Thưa Thầy đúng lắm, nhưng mà chó con cũng đáng được hưởng những mảnh vụn từ trên bàn của chủ nó rơi xuống". Trước câu trả lời đầy khiêm tốn này đã làm cho Chúa Giêsu "phải bó tay" mà thốt lên "Đức tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì được như vậy".

Đứng trước những thử thách trong cuộc sống, chúng ta có chấp nhận hay kêu ca? Phải chăng nhiều lần tôi có thái độ hoán hận Thiên Chúa vì những khó khăn tôi gặp phải. Lúc đó tôi không đủ khiêm tốn để nhận ra ý Chúa trong những thử thách, mà tôi muốn Chúa phải làm theo ý của tôi. Chúng ta đã nghe nói nhiều về Chúa, đã đi tìm Chúa trong suốt thời gian qua, nhưng tôi có hiểu được ý Chúa chưa? Trong đời sống, tôi có đủ khiêm tốn để chấp nhận cho Chúa thử thách không? Mỗi người chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của mình và hãy tín thác đời mình cho Chúa. Chúng ta phải tin rằng: "Chúa không bao giờ chơi xấu" Ngài biết sức chịu đựng của ta. Vậy mỗi người hãy biết sống khiêm tốn như người phụ nữ Canaan và dùng lời kêu xin như một lời nguyện tắt để ta có thể kêu lên Chúa bất cứ lúc nào trong ngày: "Lạy Chúa, xin thương xót con", "Lạy Chúa, xin thương gia đình con", "Lạy Chúa, xin thương xót họ đạo con", "Lạy Chúa, xin thương xót Giáo Hội Việt Nam chúng con". Amen!

Về đầu trang

TN20-A103: Ai là người Israel – Lm. Vũ Đình Tường

Nếu mỗi lần muốn sao được vậy có lẽ cuộc đời sẽ không lắm ưu phiền vì muốn thế nào thì được như TN20-A103

Nếu mỗi lần muốn sao được vậy có lẽ cuộc đời sẽ không lắm ưu phiền vì muốn thế nào thì được như thế ấy. Suy nghĩ như thế có vẻ không ổn thoả chút nào vì điều ước muốn thì vô vàn, không bao giờ cùng. Những gì vô cùng thì không thể thoả mãn. Vì thế tư tưởng muốn sao được vậy có lẽ làm cho cuộc đời phiền toái nhiều hơn là làm cho cuộc đời đơn giản hơn. Cái nghịch lí thứ hai trong việc muốn sao được vậy là vấn đề ai đủ khả năng thoả mãn điều ước muốn. Ngoài Chúa ra, mọi người phàm đều có giới hạn nên điều ước muốn không thể thực hiện. Vừa lo thoả mãn ước muốn của mình vừa lo thoả mãn ước muốn của người quả là một việc làm ngoài khả năng.

Ước muốn vì thiếu thốn, khao khát, muốn có điều chưa có hay có nhưng chưa cảm thấy đủ. Ước muốn theo nghĩa đó nói lên cái nghèo nàn trong cuộc sống hay cái nghèo trong tâm hồn hoặc cả hai cùng. Nghèo từ trong ra ngoài. Một khi đầy đủ thoả mãn, đâu cần ước muốn. Trường hợp bà mẹ thành Canaan là trường hợp bà ước muốn điều cao thượng. Cao thượng vì bà không ước muốn cho chính mình nhưng vì tình thương mến cho người con. Lòng mến của bà mãnh liệt đến độ không nề hà, sẵn sàng van nài nơi công cộng. Bà dẹp bỏ tự ái, danh dự cá nhân vì hạnh phúc của người con. Phúc âm thuật lại bà van nài mãi mà Đức Kitô không đáp lại. Lời van nài khẩn thiết, dai dẳng đến độ các tông đồ không vì ngại ngùng cũng vì ngượng ngập, hoặc ngay cả muốn được yên thân. Cũng có thể các ngài nghe lời van xin cảm động chạnh lòng thương lên tiếng xin dùm bà ta.

Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi.c.23

Đức Kitô giải thích lí do tại sao Ngài không đáp lại lời bà kêu cầu, van nài.

Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel.c.24

Câu trả lời khá mạch lạc, rõ ràng. Bà không phải là chiên lạc nhà Israel nên chưa đến lượt bà xin. Bà là dân ngoại. Ưu tiên một dành cho chiên lạc nhà Israel.

Nghe lời đó bà không nản lòng, chán nản, tiếp tục van xin. Từ van xin câu chuyện chuyển sang đối thoại. Sự việc diễn tiến có nhiều hy vọng hơn. Từ im lặng không đáp, chuyển sang đáp. Từ đáp chuyển sang đối thoại. Từ đối thoại chuyển sang giúp chỉ còn là một bước nhỏ.

Nơi đây chúng ta tìm gặp một tấm lòng chân thành, khiêm nhường hết mực. Bà đáp, Thưa Ngài đúng lắm. Ưu tiên một dành cho con cái trong nhà, chiên lạc nhà Israel. Mẹ con chúng tôi không dám xin chia phần dành riêng đó. Chúng tôi chỉ dám xin mảnh vụn, phần dư thừa, phần không dùng đến cũng chẳng để lại tích trữ. Phần đó xin dành cho mẹ con chúng tôi.

Điểm thứ hai, ngôn từ bà xử dụng cho biết bà có một tâm hồn trong sáng, kính trọng người khác hết lòng. Bà luôn đáp lại Đức Kitô bằng câu 'Thưa Ngài', 'Lậy Ngài'. Từ nói lên lòng kính trọng, tôn kính.

Điểm thứ ba, 'Lậy Ngài', xin cứu giúp tôi. Bà vừa bái, lậy, vừa xin cứu vừa xin giúp. Chỉ một câu ngắn gọn trên cho chúng ta hình dung ra một người đàn bà, trên đường phố, giữa đám đông người chân quì, tay chắp bái, lậy, miệng van xin điều muốn xin.

Thứ tư, đau đớn, bệnh tật, khổ sở của con bà được bà coi như của chính cá nhân mình. Bà không phải xin cứu giúp con bà nhưng xin cứu giúp tôi. Chữ tôi cho biết bà sẵn sàng mang lấy bệnh tật, khắc khoải của con bà.

Thứ năm, Đức Kitô nhìn bà với con người đức tin, người có lòng tin mãnh liệt, vững vàng trong cơn thử thách. Cơn thử thách đây lại đến từ chính Đức Kitô.

Bấy giờ Chúa trả lời cùng bà ấy. Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy. Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành.c.28.

Bà là người ngoài, là dân ngoại không thuộc vào chiên lạc nhà Israel. Những người ngoài Israel không được Đức Kitô cứu chữa. Nhưng trường hợp của bà Đức Kitô cứu chữa. Như vậy câu hỏi đặt ra cho chúng ta. Ai là người Israel? Thưa dân Israel là dân Chúa chọn. Một dân Chúa mong muốn họ sống đời sống hết mực khiêm nhường, đầy yêu thương, giầu bác ái. Một dân đặt trọn niềm tin vào Chúa. Bà phụ nữ thành Canaan đang từ dân ngoại biến thành dân Israel, dân Chúa chọn, nên Ngài chữa bệnh cho con bà theo lời bà cầu xin.

Như thế dân Israel là bất cứ ai sống đời sống hết mực khiêm nhường, đầy yêu thương, giầu bác ái và có lòng tin vững mạnh đều là dân Chúa chọn. Những người đó khi kêu cầu Chúa sẽ nhận lời cầu xin. Chúng ta cầu xin sống trung thành điều Chúa mong muốn, mời gọi.

Về đầu trang

TN20-A104: Kỳ thị – Lm. Vũ Đình Tường

Dân Israel kì thị dân thờ ngẫu tượng, cho họ là những người tội lỗi và coi họ như kẻ thù. Câu chuyện TN20-A104

Dân Israel kì thị dân thờ ngẫu tượng, cho họ là những người tội lỗi và coi họ như kẻ thù. Câu chuyện Đức Kitô chữa con gái bà goá thành Canaanite cho biết Đức Kitô không kì thị bất cứ ai. Trong quá khứ bà thờ ơ tôn thờ Thượng Đế nhưng tôn trọng thờ thần ngoại bang. Con gái bà bệnh không thuốc chữa bà van nài ngẫu thần đến mệt mỏi vẫn không được đáp trả. Cuối cùng không còn cách nào khác bà đến nài xin Đức Kitô chữa và Đức Kitô đáp lời bà nài van sau cuộc đối thoại giữa Ngài và bà.

Khởi đầu cuộc đối thoại người ta có cảm tưởng như Đức Kitô từ chối, xua đuổi bà. Nhận xét đó đến từ phán đoán cục bộ, nhìn từ bên ngoài. Người ta phải đợi đến cuối cuộc đàm thoại mới biết rõ. Kết quả cho thấy Đức Kitô đón nhận bà với tình yêu của một Thiên Chúa đầy yêu thương. Qua cuộc đối thoại Đức Kitô muốn cho mọi người tại hiện trường nhận biết sức mạnh của lòng tin. Những ai đặt trọn vẹn niềm tin nơi Đức Kitô sẽ không bao giờ phải thất vọng, dù họ phải trải qua thử thách nhưng thử thách làm cho đức tin phát triển, lớn mạnh trong Ngài. Bà nhận biết Đức Kitô thuộc dòng dõi vua Đavid và bà may mắn cũng đến từ dòng dõi vinh quang đó và là con dân của đức vua. Vì thế bà tin rằng con dân, dù hoang đàng, khi trở lại, thống hối, cũng đáng hưởng ân lộc vua ban.

Bà rất kiên nhẫn xin Đức Kitô cứu con bà. Kiên nhẫn nài van đến độ làm cho các môn đệ Đức Kitô phải lên tiếng. Có thể các ông cảm thấy phiền toái nhưng với Đức Kitô ơn kiên nhẫn trên lại là bằng chứng rõ ràng cho biết niềm tin trọn vẹn của bà. Bà thực sự từ bỏ ngẫu thần và đặt trọn vẹn niềm tin nơi Thiên Chúa. Việc chữa lành cho con gái bà là khởi đầu việc giao hoà rạn nứt giữa người Israel and dân tôn thờ ngẫu tượng. Ngoài Đức Kitô ra không một ai khác có thể đong đầy hố ngăn cách lịch sử này. Bà goá tin một mình Đức Kitô có thể làm được việc đó và bà đặt trọn niềm tin vào Ngài. Việc dân Israel coi bà là người ngoài không làm bà chùn bước trong việc xin Đức Kitô chữa cho con bà; trái lại bà tin là những ai đặt niềm tin vào Đức Kitô đều là con cái Chúa và con cái thì nhận đuợc yêu thương từ cha mẹ.

Dân Israel là dân tuyển chọn nhưng chính dân này lại từ chối đón nhận Đức Kitô là Đấng Thiên sai và còn mong đợi một đấng khác sẽ đến; trong khi bà goá bị coi là người ngoại bang lại vui lòng đón nhận Đức Kitô là Đấng Thiên Sai và đặt trọn niềm tin vào Đấng đó. Có lẽ bà goá được nghe ít nhiều về phép lạ Đức Kitô hoá bánh ra nhiều. Điều này càng làm cho bà vững tin hơn con bà sẽ được Đức Kitô chữa lành bệnh.

Chia rẽ hoặc đòi đặc quyền, đặc lợi và kì thị xuất hiện khắp nơi nhưng điều này trở nên khủng khiếp khi nó xảy ra trong gia đình hay trong chủng tộc. Kì thị tôn giáo hiện đang hoành hành gây tai hại ở thời đại chúng ta sống. Mãnh liệt và kinh khủng nhất là nó đang xảy ra tại Iraq nơi nhiều ngàn người là nạn nhân của kì thị tôn giáo. Thật là tệ hại khi người ta nhân danh Thượng Đến giết chết những người tin theo Thượng Đế. Nhà thờ, nơi thờ phượng bị phá tan tành, ảnh tượng các thánh và ảnh Chúa bị chà đạp dưới gót giầy của kẻ có vũ khí trong tay. Trường học bị phá sập, nhà cửa bị đốt cháy thành tro bụi và đoàn người tay xách, nách mang kéo nhau chạy trốn trong vùng xa mạc ngày nóng cháy da, đêm lạnh thấu xương, không lương thực. Tai hoạ đến chỉ vì kì thị tôn giáo. Nó xảy ra khi một cá nhân hay một nhóm người tự nhận mình là công chính, còn kẻ không theo họ là bất chính và kẻ công chính thì tự cho quyền chà đạp kẻ cưỡng lại họ. Tự nhận mình công chính để hại người khác. Đức Kitô có lần cho biết trên cõi đời này không ai công chính trừ một mình Thiên Chúa. Mat 19,16. Tự nhận nhóm mình là công chính là một sai lầm và kẻ lầm đường, tương tự như người say, thường không bao giờ nhận mình lầm.

Đức Kitô đón nhận và tha cho bà goá khi bà tỏ lòng thống hối ăn năn, đón nhận bà vào gia đình Chúa. Điều này cho biết Chúa đến để thu tóm không phải chia rẽ.

Về đầu trang

TN20-A105: Tình Mẹ cao quý

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

Tình mẹ thương con, bao la như trời như biển. Không có thứ tình cảm nào đậm đà và cao quý như tình TN20-A105

Tình mẹ thương con, bao la như trời như biển. Không có thứ tình cảm nào đậm đà và cao quý như tình mẹ thương con. Đã có biết bao nhiêu thi ca nhạc phẩm, đã có vô vàn câu hò điệu hát ca tụng tình mẹ thiêng liêng.

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào.

Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào.”

Với giai điệu mượt mà sâu lắng, với ca từ thấm đẫm chất thơ gợi lên những hình ảnh bình dị, gần gũi, nhạc sĩ Y Vân đã viết ca khúc tuyệt vời ca ngợi tình mẹ.

Thương con mẹ nào có quản nắng mưa, có ngại gì sớm khuya vất vả… Tình mẹ mãi mãi là như thế. Dẫu ở thời nào, dẫu thuộc nền văn minh văn hóa nào và dẫu ở đâu, tình mẹ muôn đời vẫn thế.

Vào tháng 12 năm 1987 một cơn động đất lớn đã xảy ra ở xứ Armênia thuộc Liên Xô cũ, đã chôn vùi hằng ngàn người. Trong số những người bị chôn dưới đống gạch vụn có hai mẹ con bà Suzanna. Hai mẹ con may mắn nằm lọt vào trong một khoảng trống nhỏ. Tất cả lương thực họ có chỉ là một hủ mứt nhỏ. Nhưng chẳng bao lâu hũ mứt cũng hết sạch. Lúc đó đứa con 4 tuổi kêu lên: "Mẹ ơi con khát quá". Bà Suzanna không biết tìm đâu ra nước cho con. Nhưng tình mẫu tử đã gợi cho bà một sáng kiến táo bạo: bà dùng một miếng kính vỡ cắt đầu ngón tay mình cho máu chảy ra và đưa vào miệng đứa con cho nó mút. Một lúc sau nữa nó lại kêu khát, bà lại cắt một đầu ngón tay nữa. Cứ như thế cho đến cuối cùng người ta cứu hai mẹ con ra. Sau khi ra ngoài, bà mẹ cho biết rằng: "Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết. Nhưng tôi muốn con tôi sống".

Bà mẹ Armênia trong câu chuyện và bà mẹ Canaan trong bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay là một hình ảnh sống động minh họa cho tình mẫu tử thiêng liêng cao cả.

Thương đứa con gái bị quỷ ám, bà đã lặn lội đi tìm Chúa Giêsu, nài nỉ van xin, bị xua đuổi bà vẫn kiên trì, bị nói nặng là "đồ chó", bà vẫn không nản. Kiên trì và khiêm tốn chứng tỏ nơi bà có một tình yêu mãnh liệt và một lòng tin mạnh mẽ.

Thật cảm động trước tình thương dạt dào của người mẹ Canaan. Thật cảm phục một lòng tin kiên vững của người phụ nữ ngoại giáo. Tình yêu và lòng tin ấy cứ xoắn quyện với nhau. Tình yêu dẫn đến lòng tin. Tình yêu kiện cường lòng tin. Biểu lộ của lòng tin cũng chính là biểu lộ của tình yêu. Lòng tin và tình yêu đi đôi với nhau giúp cho con người một sức mạnh để can đảm, kiên trì và khiêm tốn.Lòng tin và tình yêu cho bà mẹ Canaan có được một sức mạnh thật kỳ diệu, vượt thắng mọi thử thách và đi đến cùng trong việc cứu chữa con gái.

Thương con,bà đã chạy thầy chạy thuốc khắp nơi. Không rõ nhờ đâu mà bà biết được Chúa Giêsu, nhưng khi thấy Người bà tin rằng cơ may đã đến. Bà gọi Người là Con Vua Đavít, bà đặt trọn niềm tin vào Người, vị cứu tinh duy nhất của bà.

Dẫu biết rằng bà thuộc dân ngoại, còn Chúa Giêsu là người Do Thái, hai dân tộc có mối thù truyền kiếp không giao du tiếp xúc với nhau, nhưng lòng thương con đã khiến bà bất chấp ranh giới cấm kỵ hận thù để đến với Chúa trong tư thế một người xin ơn.

Thương con nên khổ vì con. Người mẹ Canaan xin với Chúa Giêsu: “Xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỉ nhập khổ sở lắm.” Đứa con bị quỉ nhập khổ sở là đúng rồi. Thế nhưng thực tế ai khổ hơn ai, đứa con hay bà mẹ? Con đau khổ một, còn mẹ khổ mười. Mỗi lần con rên, con quằn quại là lòng mẹ quặn đau như muối xát, mẹ ước gì được lãnh lấy mọi cơn đau của con. Chắc hẳn, các bà mẹ đều đã trải qua những kinh nghiệm như thế. Chính vì thế thay vì nói “Xin dủ lòng thương con tôi” bà lại nói: “Xin dủ lòng thương tôi!”

Bà xin Chúa nhìn đến nỗi đau của một bà mẹ, đau vì nỗi đau của đứa con. Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại một lời. Tại sao Chúa lại lãnh đạm với nổi đau của con người như vậy? Chúa thinh lặng để bà thấm thía được sự bất lực của mình, và nhờ đó mà thấy được rõ hơn rằng, Thiên Chúa là nơi nương tựa duy nhất của con người.

Bà chẳng ngã lòng trước thái độ lạnh lùng của Chúa Giêsu. Bà cứ lẽo đẽo theo sau mà nài nẵng xin mãi xin hoài đến nổi các môn đệ không chịu được những lời lẽo nhẽo ấy nên trình với Chúa để đuổi bà về.

Mặc kệ thái độ khó chịu của các môn đệ, bà trực tiếp giáp mặt Chúa Giêsu và nài xin cứu giúp. Lần này thì bà lãnh đủ một gáo nước lạnh: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.”. Sao lạ vậy? Chúa Giêsu mới làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi năm ngàn người, vậy mà Người lại nhẫn tâm khước từ mẩu bánh nhỏ cho người đàn bà khốn khổ này ư? Những lời khó nghe Chúa dùng cũng là lời nói với mọi người, để cho ai cũng thấy được ơn cứu độ là một hồng ân Chúa ban bởi lòng thương xót, chứ không phải bởi sự xứng đáng của bất cứ ai.

Câu chuyện đã đi đến cao điểm, thử thách đã đến cùng tột. Chính trong cơn thử thách như thế ta mới thấy hết vẻ đẹp của tình mẫu tử và lòng tin của bà.

Bà chấp nhận lối so sánh của Chúa. Bà không dám mong được những ân huệ như dân Do Thái, bà chỉ xin chút vụn vặt thừa thãi cho con bà, bởi vì “lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.”

Đến đây thì Chúa Giêsu chẳng còn lý do gì để chối từ, Người nói: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn sao thì được như vậy.” Nhận biết mình hèn mọn nên hoàn toàn cậy dựa vào lòng trắc ẩn của Chúa. Đó là sức mạnh của người mẹ Canaan. Thiên Chúa đầy lòng thương xót không thể từ chối lời nài van của một người không sao tìm ra một nơi nương tựa nào khác ngoài lòng trắc ẩn của Ngài, và Chúa Giêsu nói: “Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy”.

Làm sao mà Chúa có thể chối từ được trước tình yêu bao la và niềm tin mạnh mẽ đến vậy. Không phải Người đã từng bảo: “Hãy xin thì sẽ cho, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở” đó sao? Hơn nữa, Người cũng có một bà mẹ là Đức Maria. Rồi sẽ có ngày Mẹ Người sẽ khổ đau đi theo con trên chặng đường thương khó, trái tim Mẹ như bị lưỡi gươm đâm thâu khi đứng dưới chân thập giá. Có lẽ nổi đau khổ của bà mẹ Canaan này khiến Chúa Giêsu chạnh nghĩ đến mẹ của mình. Người hiểu tấm lòng của các bà mẹ, nên chẳng nỡ chối từ những gì các bà mẹ trong cơn đau khổ cầu xin.

Lòng tin và tình yêu giống như đôi cánh đã giúp người mẹ Canaan bay lên rất cao và bay đi rất xa. Cao lên tới Thiên Chúa. Xa khỏi những ngăn cách trắc trở. Đến với Chúa Giêsu bằng lòng tin và tình yêu, người mẹ Canaan nhận được một tình yêu quyền năng. Thánh Phaolô chia sẽ kinh nghiệm này: “Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13).

Bà mẹ Canaan là tấm gương cho các bậc làm cha làm mẹ. Cha mẹ nào mà chẳng thương con. Vì thương con nên mới khổ vì con. Chắc hẳn, con đau bệnh không làm khổ lòng cha mẹ cho bằng con hư hỏng. Bao cha mẹ đã bạc mái đầu vì những đứa con ngỗ nghịch hư hỏng, bao bà mẹ đã khóc hết nước mắt vì có đứa con lỡ vướng vào các tệ nạn vào ma tuý… Trong trường hợp đó, lòng thương con của các bậc cha mẹ có xoắn quyện chặt chẽ với lòng tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa hay không? Các bậc cha mẹ đã làm hết cách, đã tha thiết cầu xin, đã kiên tâm cầu khẩn, đã tin tưởng cầu nguyện như người mẹ Canaan này chưa?.

Chúa Giêsu đã khen ngợi đức tin của người đàn bà ngoại giáo. Chúa đã đánh giá lòng kiên nhẫn của bà là một bằng chứng đức tin. Chúa đề cao một mẫu gương về đức khiêm tốn, kiên trì và phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa.

Tình mẹ cha yêu thương với tất cả hy sinh chịu đựng luôn đóng ấn và trải dài suốt những năm tháng của cuộc đời con.

Tình mẹ thương con là tình cảm thiêng liêng cao quý nhất. Chính Con Một Thiên Chúa Nhập Thể làm người cũng đã nhận lấy con đường bình thường mà trân quý ấy. Maria, người nữ Sion đã vâng phục ngay từ ngày đầu khi thiên sứ truyền tin. Từ đó, Mẹ đã nhận lấy những nhọc nhằn vất vả của vai trò làm mẹ. Mẹ đã đảm nhận trọn vẹn thiên chức cao quý nhưng không thiếu gian truân khổ đau như bất cứ người mẹ nào trong nhân loại. Trong lòng tin, người Mẹ ấy đã âm thầm vâng phục, đón nhận, lắng nghe và bước theo Con của mình trong hành trình cứu độ. Cuối cùng, người nữ ấy được Thiên Chúa đoái thương cất nhắc về Trời cả hồn lẫn xác, một trong bốn đặc ân cao cả Thiên Chúa đã ban cho Mẹ.

Mẹ Maria đang được hưởng niềm vui thiên quốc. Mẹ hằng yêu thương con cái trên đường hành hương về quê trời. Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin rằng có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở.Trong niềm hy vọng sẽ được về trời với Mẹ, chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của lòng cậy trông, kiên nhẫn với tin yêu và hy vọng.

  Về đầu trang

TN20-A106:  TẤT CẢ VÌ YÊU

Tuần 20 TN-A. Mt 15, 21-28

(Lm. Jos. DĐH. Gp. Xuân Lộc)

Xã hội thời nào cũng có những người đáng nể phục: khởi đi từ khả năng hiểu biết, thành công trong TN20-A106

Xã hội thời nào cũng có những người đáng nể phục: khởi đi từ khả năng hiểu biết, thành công trong lãnh vực kinh tế xã hội, vẻ vang trong ơn gọi gia đình hạnh phúc. Chẳng cần thống kê, đong đo mức độ hoạt động nhiều hay ít, mọi người dù không công khai thì cũng âm thầm đang mưu ích cho gia đình, người thân, đang góp công sức cho đất nước phồn vinh. Tốt danh hơn lành áo ; trẻ vui nhà, già vui chùa, dân gian từ xa xưa vẫn đề cao danh phận, không ai vô duyên vô dụng dù là trẻ thơ hay già lão. Thực ra, thời gian chính là cơ hội để từng người sống và chia sẻ “số vốn” mà ta đang có, với tấm lòng quảng đại phục vụ công ích, sẵn sàng bác ái vì tình yêu tha nhân.

 Tất cả vì yêu là tiếng chuông thức tỉnh những ai chưa đủ kiên nhẫn trong tư cách là nhà giáo dục, tất cả vì yêu cũng là lời an ủi vỗ về các bậc làm cha mẹ, hãy thật bình tĩnh. Đừng quên mình được sinh ra và lớn khôn trong tình yêu, đừng khi nào vì sĩ diện mà làm khổ mẹ cha, đừng vì giầu sang mà vô tâm vô tình với người anh chị em mình. Đừng quên rằng: đời này chỉ là cõi tạm mà thôi, giầu sang nghèo khó, chết rồi cũng như nhau. Nếu không phải vì yêu, chẳng ai phải cầu cạnh ai làm gì, không lẽ lại lì lợm đến độ bị xúc phạm, bị xua đuổi mà người phụ nữ Canaan không hay biết ? Tất cả vì yêu nên người mẹ dù có bị khinh thường, bị coi là “mặt dầy”, bị xếp ngang hàng với “chó ki”, người mẹ ấy không hề mất kiên nhẫn !

 Tình mẹ thương con, sửa dạy khi con sai sót, khích lệ khen thưởng khi thấy con ốm đau, cần chữa trị ; vì đó là yêu, là trách nhiệm, không phải hoàn toàn do “cố đấm ăn xôi”. Thiên Chúa yêu tất cả, Người lắng nghe kẻ thánh thiện, Người cũng không ngoảnh mặt làm ngơ trước kẻ tội lỗi sám hối, vì yêu thật và muốn con người được hạnh phúc thật, nên Thiên Chúa cần ta bày tỏ một tình yêu chân thật. Nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen, đúng là Đức Giêsu đã làm thinh, đã cho thấy có sự phân biệt Do-thái giáo và ngoại giáo, đã hất hủi tới mức: “không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó”. Nếu không phải vì yêu, Đức Giêsu sẽ không quan tâm đến lời kêu xin của người Canaan, không phải giằng co với chị ta làm chi. Nếu không vì yêu, người phụ nữ ngoại giáo kia đúng là chỉ kêu xin Thầy Giêsu trên môi miệng: “lạy Ngài là Con Vua Đavít xin thương xót tôi”.

 Xã hội luôn kêu cầu mọi người hãy tin: “lương y như từ mẫu”, Hải Thưởng Lãn Ông Lê Hữu Trác, ông tổ ngành y đã từng nói: “không có nghề nào nhân đạo bằng nghề cứu người, ...”. Đức Giêsu vì yêu, Ngài đến trần gian với chủ trương chữa mọi bệnh hoạn tật nguyền. Tất cả vì yêu, vì phần rỗi các linh hồn, vì ơn cứu độ, vị trí của Ngài không chỉ dừng lại là “lương y”, người ngoại giáo còn biết gọi Ngài: “lạy Thầy Giêsu Con Vua Đavít, xin thương xót tôi”. Vì là Con Vua Đavít Ngài đến kêu gọi người tội lỗi sám hối, chữa lành mọi thứ bệnh, Ngài không thể chọn lựa đối tượng để cứu chữa, Ngài cần mỗi người thể hiện niềm tin Ngài là Con Thiên Chúa bằng việc làm.

 Nếu chỉ lập lại một cách máy móc: lạy Thầy là Con Vua Đavít, lạy Thầy Giêsu xin thương xót con, xin thương xót gia đình Con, hẳn không khó tí nào, già trẻ, giầu nghèo, chúng ta đều kêu xin dễ dàng. Ở đời khi bị từ chối cho vay mượn đã là một xúc phạm, bị phủi tay làm ngơ, không được giúp đỡ chia sẻ sự mất mát, thất bại, với hoàn cảnh đáng thương của mình đã là khổ lắm rồi. Trong Đức Giêsu, tất cả vì yêu chính là câu hỏi và là câu trả lời: “Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel”. “Này bà, bà có lòng mạnh tin, bà muốn sao thì được vậy”. Khi công bố niềm tin mạnh mẽ của người phụ nữ Canan, hẳn cũng là lời nhắc nhớ biết bao người mắc bệnh nan y, họ từng gặp Thầy thuốc Giêsu, họ đang ở sát gần Đức Giêsu, họ đúng là con cháu Abraham, vì sao họ chưa kêu xin Thầy Gisêsu chữa trị ?

 Kinh nghiệm người xưa cho rằng: đừng bao giờ níu kéo một ai cả, đơn giản khi người ta muốn ở lại thì có đuổi thế nào cũng không đi ; nếu người ta muốn đi, có giữ thế nào họ cũng không ở lại. Người phụ nữ Canaan hôm xưa, phải chăng vì các lương y tài giỏi bó tay, hết thuốc chữa, hay vì phản ứng tự nhiên, có bệnh vái tứ phương ? Vâng, tất cả vì yêu, vì tin vào đức ái cao dầy của Thầy Giêsu, người phụ nữ đó không kêu xin Thầy thương xót cách máy móc, không lý sự để ăn thua đạo lý làm người với Đức Giêsu. Đúng, chị ta đã được thuyết phục bởi Thầy Giêsu khai mở niềm tin và chị biết hành động bằng đức khiêm tốn yêu thương.

 Vì yêu, Thầy Giêsu đã minh chứng cho các môn đệ, cho chúng ta hôm nay, cảm nghiệm rõ hơn thế nào là công bằng tình yêu thương, vì yêu, vì tin, tất cả đều trở nên Con Thiên Chúa. Đức Giêsu là Thầy thuốc quảng đại vô song, Ngài thương thật và không hề có ý thương hại, Ngài dẫn dắt người phụ nữ ngoại giáo từ “cái biết” lý thuyết đến với hành động của đức tin. Ngài biến đổi kiểu cách lý sự của người phụ nữ Canaan trở nên tâm phục khẩu phục, biết rõ và xác tín hơn Thiên Chúa không thiên vị ai, Ngài luôn rộng rãi thi ân với những ai biết sống niềm tin yêu. Phép lạ chữa trị thể xác tâm hồn sẽ không xảy ra, nếu mỗi người chúng ta không phải vì yêu, vì tin Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu độ. Amen.

Về đầu trang

TN20-A107: Ơn cứu độ được ban cho mọi người

(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)

Trong tập sách “Những mẩu bánh vụn” của Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, đã TN20-A107

Trong tập sách “Những mẩu bánh vụn” của Tôi Tớ Chúa, Đức Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, đã kể lại một câu chuyện: Một người bạn tù với Ngài là người ngoại giáo, nhưng ông ta rất cảm mến Đức Hồng Y. Ông ta được ra tù trước và sau này kể lại: Nhà ông ở gần Trung tâm Lavang, vì thế mỗi ngày, ông đều đến với Đức Mẹ Lavang để cầu nguyện cho Đức Hồng Y Thuận. Khi được hỏi: Ông là người ngoại, ông cầu nguyện thế nào? Ông đáp: Tôi nói với Bà Ấy (Đức Mẹ) rằng: Thưa bà, tôi chưa biết Bà là ai, song tôi đến đây để cầu xin Bà thương đến một người bạn của tôi là ông Thuận còn ở trong tù, xin Bà thương cứu giúp ông ấy. Thế là không bao lâu sau, Đức Hồng Y Thuận cũng được ra tù và hai người gặp lại nhau trong sự xúc động.

Người ngoại có tin Chúa và có cầu nguyện không? Trong thực tế, có nhiều người được gọi là ‘bên lương”, là dân ngoại, song họ lại có một niềm tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa, mặc dù họ chưa thực sự theo Chúa. Đối với những người dân ngoại này, chỉ cần một lòng tin đơn sơ chân thành, thì Thiên Chúa vẫn ghi nhận sự chân thành ấy và ban ơn trợ giúp cho họ. Nếu có dịp đến Lavang, Tàpao, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự thành tâm của những người ngoài Công Giáo. Họ đến đây với lòng tin vào quyền năng của Thiên Chúa và sự trợ giúp của Đức Mẹ. Họ thành tâm xin Chúa và Đức Mẹ che chở, chữa lành.

Có một suy nghĩ thường xảy ra nơi người Do Thái và nơi chúng ta hôm nay, đó là chúng ta thường đóng khung Thiên Chúa trong những người có đạo, cho mình là những người độc quyền chiếm giữ Thiên Chúa và loại trừ người khác ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Tuy nhiên Lời Chúa hôm nay cho thấy, Thiên Chúa không hề giới hạn tình yêu của Ngài. Bất cứ ai, dù là là dân ngoại hay Do Thái, nếu tin tưởng vào Thiên Chúa, thì đều được Ngài ra tay cứu độ. Tiên tri Isai đã loan báo về ơn cứu độ của Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại, không chỉ người Do Thái, mà người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa, phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cũng trở nên tôi tớ của Người. Những ai tuân giữ lề luật, thì cũng được lên núi thánh của Chúa… và Thiên Chúa sẽ ưng nhận lễ toàn thiêu của họ. Với lời này của Isai, quả thật đã phá đổ hoàn toàn suy nghĩ của người Do Thái, vì họ tự hào mình là dân riêng của Chúa, và ngược lại, Chúa là của riêng Israel mà thôi. Isai cho thấy, Thiên Chúa không hề bị giới hạn, hay nói đúng hơn, ơn cứu độ của Thiên Chúa được ban tặng không chỉ cho Israel, mà là cho tất cả nhân loại. Những ai tin và tuân giữ giới răn lề luật của Chúa thì trở thành dân của Chúa.

Câu chuyện Thánh Matthew thuật lại hôm nay khiến cho nhiều người thắc mắc: Chúa Giêsu đi về vùng Tia và Sidon, tức là vùng đất của dân ngoại, thì có một người đàn bà chạy đến và kêu lên: Lạy Ngài là Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm. Với lời kêu cầu này, bà đã thể hiện lòng tin vào Đức Giêsu. Bà tin Đức Giêsu là Con vua Đavít, tức là Đấng cứu thế. Tuy nhiên Thánh Matthew cho thấy, Chúa Giêsu dường như dửng dưng trước lời kêu cầu này. Khi các môn đệ lên tiếng giùm bà, thì Chúa Giêsu còn trả lời: Thày chỉ được sai đến với con chiên lạc nhà Israel thôi. Đến khi bà ấy nài nỉ thì Chúa đã nói với bà: Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con.

Có nhiều nhà chú giải đã cố gắng giải thích những lời lẽ xem ra từ chối nặng nề này của Chúa Giêsu. Chúng ta không đi sâu và những giải thích này, nhưng chúng ta nhìn vào đức tin và sự kiên nhẫn của người phụ nữ trong khi cầu xin. Người đàn bà này đang gặp đau khổ, đó là con bà đau bệnh gần chết. Trong lúc tuyệt vọng, bà chỉ còn biết chạy đến với Thày Giêsu, mà có lẽ bà đã từng nghe biết về Ngài. Tuy nhiên khi đến với Chúa Giêsu, bà dường như lại gặp một thử thách khác, đó là sự im lặng làm ngơ của Thiên Chúa trước lời cầu xin của bà. Người phụ nữ này vẫn không thất vọng, dù có lúc bà như bị Thiên Chúa không chỉ im lặng mà còn từ chối thẳng thừng lời cầu xin của bà. Thế nhưng, bà vẫn kiên trì trước câu trả lời của Chúa, bà thưa lại với Chúa: Thưa Ngài đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống. Với câu trả lời này, bà đã thể hiện lòng tin của bà nơi Chúa Giêsu dù trước đó bà đã bị từ chối.

Người phụ nữ Canaan không hề tự ái trước lời từ chối của Chúa. Trái lại, bà càng khiêm tốn hơn để “lý lẽ” với Chúa như thế, vì tin rằng con của bà chỉ có thể được chữa lành nhờ quyền năng “dư thừa” của Thày Giêsu. Bà còn nhận mình không xứng đáng được đồng bàn hoặc được chia sẻ tấm bánh ân phúc của Chúa, mà chỉ dám nhận mình là đám chó con, chờ đợi và cầu xin một chút ân lộc dư thừa từ bàn ăn của chủ rơi xuống, chứ cũng không dám mong được ông chủ ném cho một miếng bánh. Chúa Giêsu hết sức ngạc nhiên trước lý lẽ và lòng tin của bà và ngài đã không thể không đáp ứng lời cầu xin của bà: Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy. Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh. Có thể nói, Chúa Giêsu đã phải xiêu lòng và chịu thua trước đức tin mạnh mẽ của một người phụ nữ như thế.

Thánh Phaolô đã nhận ra sự kỳ diệu trong kế hoạch của Thiên Chúa, khi dân ngoại được mời gọi chia sẻ niềm tin và thừa hưởng lời hứa ban ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho người Do Thái. Mặc dù dân Do Thái đã được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn để thừa hưởng gia nghiệp Nước Trời, thế nhưng dường như, họ đã coi thường ân phúc này. Họ đã từ chối ân huệ của Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã dành ân huệ ấy cho dân ngoại và cho tất cả những ai có lòng tin. Phúc lành mà Thiên Chúa hứa ban cho dân Do Thái qua các tổ phụ, giờ đây lại được ban cho dân ngoại. Theo Thánh Phaolô, những người Do Thái muốn được hưởng ân phúc này đòi phải có một điều kiện tiên quyết, đó là quay trở lại với thái độ vâng phục Thiên Chúa.

Thưa quý OBACE, cũng đã có một thời, vì tự mãn với ơn gọi làm con Thiên Chúa, được hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Giáo Hội, chúng ta cũng rơi vào tình trạng cực đoan, loại trừ những người dân ngoại, khi tuyên bố rằng: Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi. Từ quan niệm này, nhiều người sống đạo không khác gì dân Do Thái, tức là giữ đạo thụ động, không cố gắng, không hoán cải. Nhiều người khác rơi vào tình trạng giữ đạo theo công thức, theo thói quen, thiếu chiều sâu của đức tin, không thực hành đạo, vì thế khi gặp khó khăn thử thách, họ thất vọng oán trách Thiên Chúa.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào đức tin của những người bị coi là dân ngoại, để biết tôn trọng đức tin chân thành của họ và còn để rà xét lại đời sống đạo và đức tin của mình. Thiên Chúa cho chúng ta rất nhiều cơ hội và ân phúc, nhưng nhiều khi chúng ta lại coi đó là những điều tự nhiên, may mắn, hơn là nhận ra tình yêu thương ban tặng của Chúa. Giống như người Do Thái, chúng ta thờ ơ với ơn cứu độ của mình, từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa. Nếu chúng ta không hoán cải đời sống, thì cũng sẽ có ngày người từ đông chí tây được mời vào dự tiệc nước Thiên Chúa, còn chúng ta bị loại ra ngoài.

Kế đến, hãy học nơi tấm gương tin tưởng kiên trì và khiêm tốn của người phụ nữ Canaan hôm nay: đừng bao giờ thất vọng trước sự im lặng của Thiên Chúa. Vì để tôi luyện, thử thách đức tin của chúng ta, đôi khi Chúa dường như im lặng hoặc từ chối lời kêu cầu của chúng ta; nhưng nếu chúng ta cứ kiên trì, cứ nài xin, chắc chắn Chúa sẽ ra tay và cho chúng ta được như sự thỉnh cầu.

Người phụ nữ hôm nay quả là tấm gương cho các bậc làm cha mẹ. Nhiều người, nhiều gia đình đang rơi vào cảnh cùng quẫn, đau khổ vì vợ chồng đau yếu, con cái ngỗ nghịch hư hỏng; nhiều người đã ngã lòng vì thấy lời cầu xin của mình chưa được Chúa nhận lời. Họ trách Thiên Chúa: Tôi đi lễ mỗi ngày, đã đi xin khấn ở nhiều nơi mà vẫn chẳng được… Nhiều người thì xin những người đạo đức, thánh thiện thêm lời kêu khấn cho mình. Đó là điều tốt, thế nhưng đừng quên chính bản thân cần phải hoán cải, cần lắng nghe để nhận ra tiếng nói và sự chỉ dẫn của Chúa qua từng biến cố xảy ra trong cuộc sống. Hãy tin tưởng, kiên trì để thưa với Chúa: Lạy Chúa, xin dủ lòng thương con và gia đình con. Chúa sẽ nghe lời chúng ta.

Nhiều người trẻ vì bị mê hoặc bởi khoa học công nghệ, bị mãnh lực của đồng tiền chiếm trọn cả thời giờ và ưu tư, khiến họ không còn chỗ cho Thiên Chúa. Họ đã để cho đức tin của mình bị mờ nhạt, èo uột khi rời xa gia đình hoặc khi lăn xả vào vòng quay của xã hội. Họ đánh mất thói quen cầu nguyện mỗi ngày, bỏ qua việc xưng tội rước lễ, xa rời với những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ. Những dấu hiệu ấy cho thấy một đức tin đang bị khô héo, mất sức sống. Chúng ta cùng cầu xin Chúa củng cố đức tin của chúng ta, đặc biệt cho những người đang lung lạc đức tin vì thử thách, và xin Chúa giúp chúng ta luôn tin tưởng, cậy trông nơi Chúa dù lúc vui hay lúc buồn, khi thành công hay thất bại. Chúng ta tin rằng, Thiên Chúa luôn ở bên và sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Amen.

  Về đầu trang

TN20-A108: CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN A

 Thiếu nhi chúng con yêu quí.

Chúng con vừa nghe một bài Tin Mừng thuật lại việc Chúa làm phép lạ chữa cho một người con gái TN20-A108 LX

Chúng con vừa nghe một bài Tin Mừng thuật lại việc Chúa làm phép lạ chữa cho một người con gái của người đàn bà xứ Canaan bị quí ám.

 1. Chúng con đã có bao giờ nghe thấy người ta nói về quỉ bao giờ chưa?

 - Dạ thưa chưa.

 - Cha kể cho chúng con câu chuyện này: Câu chuyện có thật trong cuộc đời của cha Gioan Maria Viannney. Câu chuyện di chính cha Vianney kể lại:

 Một hôm, nhân dịp mở tuần đại phúc tại một xứ trong hạt, người ta đã mời cha Vianney cùng nhiều Linh mục khác đến giúp. Sau buổi cơm tối, cha Vianney nhẹ nhàng nói với anh em: "Thưa các cha, con hay bị ma quỷ quấy phá, nhất là áp những hôm con cứu được nhiều linh hồn tội lỗi nặng. Vì thế, để đề phòng, con xin trình các cha trước, nếu đêm nay ma quỷ có làm gì thì xin các cha cứ biết vậy và an tâm. Nó phá một lúc rồi sẽ hết!”, Cha Vianney vừa dứt lời, các cha khác đã cười rộ lên:

 - Lại chuyện ma quỷ! Sao mà cứ nghe cha nói toàn là những chuyện giật gân tào lao không à! Có thật không? Hay cha bị ám ảnh thế?

 - Đây là dịp tốt, cha khác bảo, mình cứ nghe hoài câu chuyện ma quỷ phá rối cha Vianney mà chẳng bao giờ chứng kiến được, may ra tối nay mình sẽ được một lần xem tận mắt! Cha Vianney cứ yên trí ngủ đi. Tụi này không sợ ma quỷ gì đâu, trái lại còn mong xem thấy tận mắt là khác!

 Cả nhà tắt đèn đi ngủ. Nửa đêm, giữa lúc mọi người đang say sưa giấc điệp thì nhà xứ rung động dữ dội, ghế bàn chạy đi chạy lại, đồ đạc thì lăn lóc rơi xuống vung vãi trên sàn nhà, cột nhà thì kêu răng rắc như muốn gãy đôi... Các cha hớt hơ hớt hải mang áo ngủ lùng thùng chạy ra sân, mình toát cả mồ hôi hột, miệng không ngớt kêu lên:

 - Dễ sợ quá! Chưa bao giờ thấy chuyện khủng khiếp như thế này! Cái gì thế? Động đất lớn à?

 - Thế còn ông Vianney đâu mất?

 - Chắc ông ở trên phòng! Đợi yên ta lên tìm xem. Các cha kéo nhau lên gác, gõ cửa:

 "Cốc, cốc”. Có tiếng guốc khua trên sàn nhà, cha Vianney mở cửa, các cha ái ngại hỏi:

 - Cha đang ngủ à?

 - Vâng, con đang ngủ!

 - Thế cha không nghe gì cả sao? Chúng tôi kinh khiếp quá!

 - Có, con có nghe. Thì.... hồi tối, ở nhà cơm, con có trình các cha rồi! Ma quỷ nó hay quấy phá con như thế lắm! Xin các cha cứ an tâm, có đêm nó làm con nhiều lần như thế, nhưng không sao cả! Vì nó thua to, nó cay cú thì nó quấy phá vậy thôi!

 Nói xong, ngài chào các cha và đi ngủ. Các cha cũng trở về lại phòng, nhưng suốt đêm không sao nhắm mắt được. Cơn ác mộng kinh hoàng vừa xảy ra cứ bám chặt vào tâm trí các cha như đỉa đói.

 Sáng hôm sau, vào giờ điểm tâm, các cha lại nhắc đến câu chuyện khiếp sợ hồi hôm và nói:

 - Cha Vianney, bây giờ chúng tôi tin thực đúng là “băng hoả ngục" nó quấy phá cha. Mấy lâu nay chúng tôi chế nhạo cha nhưng đêm vừa rồi chúng tôi phải một phen kinh hồn bạt vía và cảm thấy xấu hổ với cha quá! Xin cha thông cảm và tha thứ lỗi lầm cho anh em chúng tôi. Nhưng nay chúng tôi yêu cầu cha một điều: suốt tuần đại phúc này, chiều nào cha cũng phải về xứ Ars để ngủ rồi sáng mai lại chịu khó đến đây. Chứ nếu cha ngủ đây thì chúng tôi phải di tản hết. Khiếp quá chịu không thấu”.

 - Con xin vâng lời các cha. Khởi sự chiều nay, con sẽ về nhà ngủ

 Đó là câu chuyện do cha Gioan Maria Vianney kể.

 2. Bây giờ chúng ta trở lại với bài Tin Mừng.

 Hôm đó một người mẹ kia có đứa con gái bị quỷ ám. Bà là dân ngoại, còn Ðức Giêsu là người Do thái. Vì là người Do Thái nên ít khi Chúa đến vùng đất quê hương của người dân ngoại.

 Chúng ta không rõ nhờ đâu mà bà biết được Ðức Giêsu.

 Khi thấy Chúa, bà tin rằng cơ may đã đến, con bà hoàn toàn có hy vọng được chữa khỏi. Và quả thực là như thế. Điều cha muốn nói với chúng con ở đây là lời khen của Chúa Giêsu đối với người đà bà ngoại giáo này. Chúa khen làm sao thì chúng con đã nghe. Chúa khen bà có đức tin mạnh.

 Đức tin mạnh là đức tin như thế nào chúng con?

 Đọc lại đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta sẽ thấy.

 Đức tin mạnh là đức tin biết kiên trì khi bị thử thách.

 Trước hết cha kể cho chúng con câu chuyện này: Có một người nông dân nọ có một con lừa già. Một hôm, con lừa bị rơi xuống một cái giếng hoang khô cạn và đau đớn kêu la thảm thiết.

 Sau khi bình tĩnh đánh giá lình hình, vì thương cho con lừa người nông dân đã quyết định nên nhanh chóng giúp nó kết thúc sự đau đớn của nó. Anh gọi thêm mấy người hàng xóm để giúp anh cùng lấp đất chôn con lừa tội nghiệp.

 Lúc đầu, con lừa hoảng loạn vì những gì người ta đang làm đối với nó. Nhưng khi từng tảng đất được hất xuống giếng liên tiếp theo nhau ập trên vai nó, một ý nghĩ chợt lóe lên: cứ trỗi lần một tảng đất rơi đè lên vai, nó lại lắc mình cho đất rơi xuống và đứng lên trên.  Cứ như thế! Cuối cùng, nó đã được cứu thoát.

 Người đàn bà hôm nay cũng vậy. Bà đã chẳng ngã lòng trước sự thinh lặng lạnh lùng đến độ như vô cảm của Chúa.

 Bà xin Chúa nhìn đến nỗi đau của một người mẹ, đang đau vì nỗi đau của đứa con. Nhưng Ðức Giêsu không đáp lại một lời.

 Phải chăng Chúa lạnh lùng trước nỗi đau, lãnh đạm trước điều Ngài có thể làm được?

 Nhiều khi khi cầu nguyện chúng ta cũng gặp sự thinh lặng như thế.

 Chúng ta khắc khoải tự hỏi: Chúa có nghe gì không? Chúa có thấy gì không?

 Bị thất bại nhưng bà cứ đi sau mà kêu, kêu hoài, kêu mãi.

 Rồi bà trực tiếp giáp mặt Ngài, và nài xin Ngài cứu giúp.

 Kết quả lại là một lời từ chối không khoan nhượng, mặc dầu đã có thêm lời hỗ trợ của các môn đệ: "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Is-ra-en mà thôi."(Mt 15,24)

 Vẫn chưa chịu thua, bà đến sụp lạy dước chân của Chúa để nài xin. Lần này không còn phải là một lời từ chối mà còn như một sự xỉ nhục: "Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con."

 Bà có bị sốc không khi Ðức Giêsu ví dân ngoại với chó con nuôi trong nhà, không đáng được hưởng phần bánh của con dân Ít-ra-en?

 Chắc chắn bà đã chẳng thất vọng trước lời ví von này.

 Bà chấp nhận lối so sánh xem ra có vẻ khiêu khích của Ðức Giêsu. Bà chấp nhận mình chỉ là chó con, chỉ dám trông chờ những vụn bánh từ bàn rơi xuống. Bà không dám mong được phần ăn của các con.

 Quả đúng là bà kiên trì thật.

 Trong cuộc sống chúng ta hiếm gặp được một người biết kiên trì như thế. Và đây là yếu tố làm cho đức tin của bà nên mạnh, mạnh đến nỗi làm thay đổi được trái tim của Chúa.

 Cuối cùng chúng con thấy sao? Chúa đã để cho mình bị chinh phục và chấp nhận theo như lời người đàn bà kêu xin. Con bà đã được cứu  và câu chuyện đã được kết thúc có hậu. Kết quả đã hết sức tốt đẹp.

 Chúng ta hãy xin với Chúa ban thêm đức tin cho chúng ta để chúng ta được can đảm theo Chúa và luôn được sống an bình. Amen.

LM. Giuse Đinh Tất Quý

Về đầu trang

TN20-A109: Khi đời không mỉm cười – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Chuyện kể rằng: một em bé vâng lời mẹ xách giỏ ra tiệm tạp hóa. Em cẩn thận đọc cho người bán hàng TN20-A109

Chuyện kể rằng: một em bé vâng lời mẹ xách giỏ ra tiệm tạp hóa. Em cẩn thận đọc cho người bán hàng tên của từng món đồ mà mẹ em đã ghi trên mảnh giấy. Người bán hàng nhìn em và để ý theo dõi từng cử chỉ cẩn thận của em một cách thích thú.

Sau khi đã xếp gọn các món vào giỏ cho em, ông dẫn em đến trước cái hộp đầy kẹo. Vừa mở nắp hộp ông vừa bảo em thò tay vào lấy kẹo. Em bé vui mừng rút ra một viên kẹo. Người bán hàng bèn khích lệ em và nói:

- Cháu hãy bốc cho đầy lòng bàn tay của cháu đi.

Em bé mỉm cười đáp:

- Vậy ông hãy bốc kẹo giùm con.

Người bán hàng ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao vậy?

Em bé dí dỏm trả lời:

- Tại vì bàn tay của ông lớn hơn bàn tay của con rất nhiều.

***

Như em bé nhìn nhận cái bé nhỏ của mình trước sự lớn lao của người khác, nên đã được ban cho dư đầy, thì người đàn bà ngoại giáo xứ Canaan cũng khiêm tốn nhận mình nhỏ bé như “chó con” được ăn “những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”.

Bà còn hết lòng tin tưởng vào bàn tay lớn lao quyền phép của Thiên Chúa, nên bà xứng đáng lãnh nhận hồng ân cao cả, là con bà tức thì được chữa khỏi quỉ ám.

Đó chính là thái độ cần phải có khi cầu nguyện.

Chỉ có những lời cầu nguyện khiêm tốn, nhận mình là không và Chúa là tất cả, chẳng đòi hỏi gì mà chỉ trông đợi lòng thương xót Chúa, mới là những lời cầu nguyện đẹp nhất.

Chỉ có những lời cầu nguyện kiên trì, không bao giờ thất vọng nản chí cả khi Chúa xem ra như bỏ quên, như chối từ, mới là những lời cầu nguyện phát sinh sức mạnh.

Sức mạnh của lời cầu nguyện chính là đức tin. Sau khi đã chối từ lời cầu xin của người đàn bà ngoại giáo với lý do chính đáng: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel”, thậm chí Người còn nặng lời với bà: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Thế mà Đức Giêsu, cuối cùng đã để bà chinh phục: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì sẽ được vậy”. Đứng trước lòng khiêm tốn, kiên trì và phó thác, Thiên Chúa sẽ không nỡ chối từ. Đức Giêsu không những đã ban cho người đàn bà được thỏa lòng mong ước mà còn công khai khen ngợi đức tin mạnh mẽ của bà trước các môn đệ.

Nếu Đức Giêsu đã không tiếc lời khen ngợi đức tin của người đàn bà ngoại giáo, hẳn là Người muốn đưa ra một mẫu gương khi cầu nguyện: khiêm tốn, kiên trì và phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa.

Nếu người đàn bà ngoại giáo cầu xin mà cũng được nhận lời, thì chứng tỏ Chúa không bị giới hạn trong phạm vi Giáo Hội, mà Người muốn ban ơn cho ai là tùy ý Người.

Có thể nói, đức tin là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa, vì thế, nhà toán học kiêm triết gia Pascal đã nói: “Để có đức tin, con người phải quỳ gối cầu xin”. Cầu xin là nhìn nhận Chúa là tất cả, là đặt thánh ý Chúa trên hết, là nhận biết mình yếu đuối, và chỉ cậy trông một mình Người mà thôi.

***

Lạy Chúa, có ai khiêm tốn cầu xin mà Chúa chẳng nhận lời, có ai kiên trì phó thác mà chúa chẳng ban ơn. Xin thêm Đức Tin cho chúng con, để chúng con luôn tin tưởng cả khi Chúa xem ra như thinh lặng, để chúng con cậy trông cả khi cuộc đời không mỉm cười với chúng con. Vì chúng con tin chắc rằng cuối cùng Chúa vẫn luôn chọn phần tốt nhất cho chúng con. Amen.

Về đầu trang

TN20-A110: Kiên trì và vững tin

(Bài giảng Chúa nhật XX thường niên A)

Thứ năm - 17/08/2017 12:02      Số lượt xem: 248

Câu chuyện người đàn bà trong Tin Mừng hôm nay muốn dạy chúng ta về sự kiên trì trong lời cầu TN20-A110 Thái Bình

Câu chuyện người đàn bà trong Tin Mừng hôm nay muốn dạy chúng ta về sự kiên trì trong lời cầu nguyện. Thiên Chúa không ngủ say. Ngài cũng không dửng dưng trước nỗi khổ của con người. Trái lại, Ngài vẫn ra tay cứu giúp những ai cầu nguyện với tấm lòng chân thành và sự bền bỉ kiên trì.


“Con tưởng rằng con vững tin…”. Lời bài thánh ca quen thuộc muốn nói với chúng ta rằng, những lúc gặp thử thách gian nan, chúng ta mới giật mình ngộ ra rằng đức tin của mình còn non yếu và mờ nhạt. Như vậy, những gian nan thử thách cũng là dịp để chúng ta chứng minh đức tin vào Chúa và niềm tín thác nơi Ngài.
 
Trong thực tế, dường như Chúa ít khi nhận lời chúng ta cầu nguyện. Bởi thế, chúng ta thấy những gì chúng ta xin với Chúa không được Ngài nhận lời. Câu chuyện người đàn bà trong Tin Mừng hôm nay muốn dạy chúng ta về sự kiên trì trong lời cầu nguyện. Thiên Chúa không ngủ say. Ngài cũng không dửng dưng trước nỗi khổ của con người. Trái lại, Ngài vẫn ra tay cứu giúp những ai cầu nguyện với tấm lòng chân thành và sự bền bỉ kiên trì. Cũng có thể Ngài cho chúng ta một ơn khác, mang lại điều tốt lành ơn cho chúng ta.
 
“Lạy Thày, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm!”. Lời cầu nguyện xuất phát từ tấm lòng người mẹ. Bà có thể hy sinh mọi sự cho con mình. Bà chấp nhận mọi điều phiền toái, thậm chí cả những điều xỉ nhục, miễn là con gái bà được chữa khỏi. Trước lời kêu van này, dường như Chúa Giêsu vẫn dửng dưng. Hơn nữa, Người còn sánh ví người đàn bà như một con chiên lạc, thậm chí như một chó con. Bà không buồn vì điều đó, lại khiêm tốn khẳng định mình chỉ xin làm một con chó con chờ đón những mụn bánh rơi xuống từ bàn ăn. Cách lý luận ấy ẩn chứa một đức tin vững vàng và một kỳ vọng chắc chắn nơi quyền năng của vị ngôn sứ mà bà kêu cầu với danh hiệu “Con vua Đavít”.  Sự bền bỉ kiên trì của bà đã sinh hoa trái: Chúa đã nhận lời cầu xin và con gái bà được chữa lành.
 
Nếu chúng ta cậy trông tin tưởng nơi Chúa, là vì chúng ta tin Ngài là Đấng nhân hậu và Cha của muôn dân tộc. Giáo huấn về Thiên Chúa là Cha của nhân loại được nhấn mạnh trong các tác phẩm ngôn sứ và văn chương Cựu ước. Tuy vậy, một số người Do Thái, nhất là những luật sĩ và biệt phái, thì lại chủ trương ngược lại với giáo huấn này. Chúa Giêsu muốn phá đổ những hàng rào ngăn cách do chủng tộc, địa vị xã hội và tôn giáo, hầu xây dựng một xã hội hợp nhất trong tương lai, như một chủ chiên và một đàn chiên. Nếu Thiên Chúa đã khẳng định qua ngôn sứ Isaia: “Nhà Ta là nhà cầu nguyện cho muôn dân” (Bài đọc I), thì Giáo Hội hôm nay chính là Nhà Chúa, là điểm quy tụ muôn dân để thực thi công bình và xây dựng hiệp nhất yêu thương. Một số người công giáo vẫn còn giữ thói quen kỳ thị khinh miệt những người khác vì họ mắc ngăn trở, hoặc vị địa vị của họ hèn kém trong làng xã. Họ cũng giống như những người biệt phái xưa kia trong Tin Mừng, tự coi mình là hoàn hảo và loại trừ người khác. Cộng đoàn giáo xứ là hình ảnh của Giáo Hội  thu nhỏ. Mục đích và đường hướng hoạt động của cộng đoàn này phải luôn theo sát và phù hợp với định hướng chung của Giáo Hội hoàn vũ, tức là trở nên ánh sáng muôn dân, là điểm quy tụ mọi người trong tình hiệp thông và là phương tiện chuyên chở con người về với Chúa.
 
Câu chuyện người phụ nữ Canaan vừa dạy chúng ta bền chí trong lời cầu nguyện, vừa nhắc chúng ta quan tâm đến người khác, vì hết thảy đều là anh chị em con một nhà và đều được Thiên Chúa yêu thương. Chúa Giêsu đã khen đức tin của người phụ nữ này rất mạnh mẽ và kiên trì. Đức tin của chúng ta sẽ như thế nào, nếu như một ngày kia chúng ta phải đối diện với những thử thách cám dỗ, nhất là những lúc chúng ta cảm thấy dường như bị Thiên Chúa lãng quên?
 
“Nếu người ngoại bang theo Chúa để phụng sự Chúa và mến yêu danh Người, để trở nên tôi tớ Chúa, tất cả những ai giữ ngày Sabát, không hề sai lỗi và trung thành với giao ước của Ta, Ta sẽ dẫn chúng lên núi thánh, và Ta sẽ cho chúng niềm vui trong nhà cầu nguyện” (Bài đọc I). Những lời ngọt ngào trên đây đã chứng minh Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc và hết thảy những ai kêu cầu Danh Ngài được được đón nhận.
 
Là người được trao phó sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, Thánh Phaolô trân trọng và cần mẫn trong trách nhiệm. Đối với thánh nhân, việc dân ngoại nhận biết Chúa là niềm vui lớn lao, nên ngài sẵn sàng chấp nhận mọi gian lao, tù đày và nhục nhã để sứ vụ này mang lại những kết quả (Bài đọc II). Chắc chắn còn những mâu thuẫn, phân bì, nhưng lòng đạo đức, tâm tình cầu nguyện và nghĩa cử bác ái của mọi thành phần Dân Chúa, sẽ góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng Giáo Hội của Chúa Kitô.
 
+Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Về đầu trang

TN20-A111:  Suy niệm Tin mừng Chúa nhật 20 Thường niên, năm A, của Đỗ Công Minh

Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi

Trên các trang mạng Công Giáo những ngày vừa qua tràn ngập các bài viết, bản tin, Clip video trên TN20-A111

Trên các trang mạng Công Giáo những ngày vừa qua tràn ngập các bài viết, bản tin, Clip video trên Facebook, các website tường thuật liên tiếp 3 ngày liền đại hội Thánh Mẫu La Vang lần thứ 31. Các bản tin cho biết có hàng chục ngàn người khắp nơi trên cả nước về dự với chủ đề: “Sống tinh thần Sứ điệp FATIMA”, nhân năm kỷ niệm lần thứ 100 Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Các bản tin tường thuật cho thấy những người giáo dân ở miền Đông Nam bộ, miền Cửu Long vượt hàng trăm cây số ra dự. Đông đảo giáo dân ở miền Trung, ở miền Bắc xa xôi như Lạng Sơn, Phú Thọ, Nam Định, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nội. . . cũng vào. Nhiều người trong số đó là những người ngọai, chưa tin nhận Thiên Chúa, chưa hề biết về Giáo hội Công Giáo. Họ nghe biết về Đại hội La Vang, đã bỏ mọi công việc riêng để cùng hành hương với những người tín hữu, cầu nguyện với Mẹ Maria, xin những ơn cần thiết. Không ít người trong số họ đã được Mẹ chuyển cầu lên Chúa, họ đựoc Chúa nhận lời và được những ơn lạ. Phải chăng như lời Đức Kitô trong Tin Mừng hôm nay nói với người phụ nữ Canaan: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào sẽ được như vậy”.

      Bài Tin Mừng hôm nay Thánh Matthêu tường thuật về việc Chúa Giêsu trên bước đường rao giảng, Ngài lui về miền Tia và Xiđôn. Đây là miền mà những người cư ngụ hầu hết không theo đạo Do Thái, quen gọi là người ngọai. Người phụ nữ xứ Canaan, dù là người ngọai, nhưng hẳn bà đã nghe nói về Đức Giêsu và ít nhiều bà tôn nhận Chúa là một vị ngôn sứ, nên đã lớn tiếng kêu cầu: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỉ ám khổ sở lắm!”. Tiếng kêu thảm thiết của bà chắc lớn lắm, khiến các môn đệ cũng cảm thấy phiền hà. Các ông cho rằng Chúa không nên đến với người ngọai, nên các ông đã can ngăn Người: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”. Thái độ đó của các ông xem ra cũng bình thường, các ông không muốn Thầy mình bị quấy rầy về điều mà các ông cho rằng cũng hợp với ý Thầy. Nhưng để trả lời các ông, những người học trò “bảo thủ”, “cục bộ”; đồng thời còn là để thử thách niềm tin của người phụ nữ dân ngọai. Đức Giêsu đã lên tiếng: “Thầy chỉ được sai đến với những chiên lạc của nhà Israel mà thôi”. Những tưởng nghe điều đó người phụ nữ sẽ im tiếng và bỏ đi, nhưng bà đã chạy đến trước mặt Người bái lạy và lớn tiếng: “Lạy Ngài xin cứu giúp tôi”. Thử thách bước vào cao trào khi Đức Giêsu tỏ ra vô tình: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Một sự xúc phạm chăng? Thực ra là Người muốn đối thọai với bà, thử xem bà kiên trì đến mức nào. Không ngờ lòng tin của bà mạnh tới mức nhận ra thân phận hèn kém của mình, nhưng vẫn tin rằng Chúa sẽ lắng nghe và chấp nhận cho lời van xin: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Một lời đối đáp chân thành, một lời tuyên xưng gây rúng động. Đức Giêsu đã phải thốt lên: “Này bà! Lòng tin của bà mạnh thật…”.

       Trong cuộc sống hôm nay, biết bao lần con chứng kiến việc Chúa làm những việc lạ lùng, cho những người chưa nhận biết Chúa. Lẽ ra trong những tình huống ấy con phải nhìn lại đời sống đạo của mình, nhìn lại đức tin của mình. Thế nhưng nhiều khi con lại ngã lòng, thậm chí phiền trách Chúa là không ưu ái con, là con cái Chúa từ thuở lọt lòng mẹ. Mỗi khi cầu nguyện, con có tỏ ra khiêm tốn nhìn nhận mình là người tội lỗi, không xứng đáng trước mặt Chúa? hay tự hào kể công đã giữ đạo nhiều chục năm, hơn bao người khác. Làm biết bao việc đạo đức, góp công góp của vào giáo họ, giáo xứ, tham gia vào nhiều đoàn thể… hy sinh thời gian, công sức cho Chúa. Con có kiên trì như người phụ nữ Canaan xưa? Chúa thử thách lòng tin của con, liệu con có vững vàng biểu thị niềm tin ấy mãnh liệt nơi Chúa?

      Lạy Chúa,

      Xin cho con luôn biết nhìn lại mình, nhìn lại đời sống đạo của con. Với biết bao lầm lỗi, thiếu sót, lòng tin  của con thật sự còn non yếu. Nếu trong khi kêu cầu lên Chúa, con  biết khiêm tốn, kiên trì như người phụ nữ xứ Canaan, lắng nghe Lời Chúa, đạt niềm tín thác, cậy trông nơi Người. Con tin rằng, con sẽ được Chúa nhận lời, như Người đã nhận lời của biết bao người tin vào Chúa. AMEN.

Fx Đỗ Công Minh

Về đầu trang

TN20-A112: Suy niệm Tin mừng Chúa Nhật XX TN, năm A, của Trầm Thiên Thu

KIÊN TÂM VỮNG CHÍ

Chúa Giêsu đã căn dặn: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh TN20-A112

Chúa Giêsu đã căn dặn: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:41; Mc 14:38). Với lời khuyên ngắn gọn nhưng Ngài đề cập hai vấn đề: Cầu Nguyện và Kiên Nhẫn. Cầu nguyện giúp chúng ta kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, và làm cho chúng ta trở nên vĩ đại.

Kiên nhẫn là “loại cỏ” luôn phải đặt vào hành lý cuộc đời để đem theo mình, nó như “bùa hộ mệnh” cần thiết cho mọi người. Kiên tâm vững chí là tình trạng không dao động trước mọi hoàn cảnh hoặc bất cứ lời nói của ai. Cứ là chính mình, và cố gắng giữ vững như kiềng ba chân, chắc chắn điều tất yếu sẽ xảy ra: “Có chí thì nên”. Thật vậy, Saint Exupéry có lời khuyên hữu ích: “Đừng đánh mất kiên nhẫn, vì đó là chiếc chìa khóa cuối cùng mở được cửa”.

Sự kiên định và sự thận trọng có liên quan với nhau. Edward Bulwer Lytton (1803-1873, tiểu thuyết gia, thi sĩ, kịch tác gia và chính trị gia người Anh) cho biết: “Ai thận trọng quan sát và kiên quyết vững vàng sẽ tự nhiên dần dần trở thành bậc anh tài”. Người kiên định và thận trọng cũng là người có đủ can đảm để đương đầu với nghịch cảnh. Herbert Kaufman (1878-1947, văn sĩ và ký giả người Mỹ) nhận định:“Thất bại chỉ là thành công tạm thời bị trì hoãn, chừng nào lòng can đảm còn tôi luyện cho khát vọng. Thói quen kiên định chính là thói quen chiến thắng”.

Bất kỳ ai cũng cần kiên trì, và trong mọi tình huống hoặc công việc. Đối với cuộc sống đời thường đã vậy, đối với đời sống tâm linh càng cần lòng kiên nhẫn hơn bao giờ hết – đặc biệt là khi cầu nguyện, chứ không thể tùy hứng – vui thì cầu, chán thì thôi. Kiên tâm cầu nguyện không chỉ có giá trị đối với chính mình mà còn có hiệu quả đối với người khác. Gương Thánh Monica là tấm gương to lớn và sáng tỏ về việc cầu nguyện kiên định. Cách cầu nguyện của bà Rút thật tuyệt vời: “Xin Thiên Chúa giáng phúc cho người đã quan tâm đến con!” (Rút 2:19). Lời cầu đó như đóa hoa tươi nở, chắc chắn Thiên Chúa rất vui lòng. Cầu nguyện cũng không chỉ là xin (cho mình hoặc cho người khác) mà còn phải có tâm tình tạ ơn: “Tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều tốt, và không có gì phải loại bỏ, nếu biết dùng trong tâm tình tri ân cảm tạ (1 Tm 4:4).

Từ xa xưa, tiền nhân đã xác định: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Kinh nghiệm sống đã chứng tỏ cho chúng ta thấy thật đúng như thế. Ngạn ngữ Phi châu có câu: “Biển lặng chẳng tạo nên thủy thủ tài ba”. Thật vậy, thử thách càng cao thì cơ hội càng lớn. Thời thế tạo anh hùng nhiều hơn là anh hùng tạo thời thế, như cụ Phan Bội Châu (1867-1940) đã đặt vấn đề: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?”. Nếu anh cũng như tôi, tôi cũng như chị, chẳng có gì hơn nhau thì cũng chẳng có gì đáng nói. Không có bột mà gột nên hồ, thế mới là người đáng cho thiên hạ phải ngưỡng mộ và tâm phục khẩu phục.

Cách so sánh của Garrison Keillor thật thú vị: “Cuộc sống cũng giống như cuộc chiến, nếu mọi thứ bỗng trở nên yên lặng thì có nghĩa là bạn đang thua trận”. Thế đấy, cuộc sống luôn đầy những thử thách, kinh nghiệm này ai cũng có thể tích lũy theo thời gian. Nếu không có thử thách, làm sao chúng ta có thể biết và nhận ra sức mạnh tuyệt vời vẫn đang tiềm ẩn trong chúng ta? Vả lại, cuộc sống bình lặng sẽ nhàm chán vì đơn điệu, rồi lại hóa điên rồ: “Nhàn cư vi bất thiện”. Chắc hẳn đã kinh nghiệm đường đời nên Toni Malliet mới nói: “Thử thách không là gì cả, nhưng cơ hội ẩn chứa đằng sau thử thách đó mới là điều đáng nói”.

Người ta thích chứng tỏ “bản lĩnh” của mình, nhưng loại “bản lĩnh” đó lại thường là rởm, dạng ngày nay gọi là “chảnh”. Không ai sợ người nói nhiều, người ta chỉ sợ người im lặng. Đó mới là bản lĩnh đích thực. Họ biết mà không nói, vì chưa đến lúc cần nói. Nếu bạn tỏ ra yếu mềm trước thử thách thì bạn thật là “bé nhỏ”, và sức lực của bạn thật là yếu đuối. Vì thế, chẳng lạ gì khi Chúa Giêsu luôn động viên chúng ta nên cố gắng “đi qua cửa hẹp” (Mt 7:13-14; Lc 13:24), tự tôi luyện trong gian khổ chứ không ung dung tự tại. Chắc chắn Ngài không “xúi dại”, và hẳn là mọi thử thách đều có giá trị cao, bởi vì chính những nỗi gian nan mới khiến người ta trưởng thành đúng nghĩa – gọi là “thành nhân”.

Thuở xưa, Thiên Chúa đã truyền dạy: “Hãy tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công minh, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới, và đức công chính của Ta sắp được biểu lộ” (Is 56:1). Thời gian là của Chúa, chúng ta chỉ là những người quản lý, không thể biết thời gian còn dài hay ngắn. Do đó, sự tỉnh thức luôn cần thiết và cấp bách. Tỉnh thức là một dạng thử thách. Chính sự thử thách khiến chúng ta phải coi chừng để mà khéo léo (khôn ngoan) “canh me” hoặc “liệu cơm gắp mắm”.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Thiên Chúa chí nhân nhưng cũng tuyệt đối công bình và chính trực, không thiên vị bất kỳ ai: “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân” (Is 56:6-7). Đừng ảo tưởng! Dù là ai, từ giáo hoàng tới giáo dân, từ bề trên tới người giúp việc, từ tổng thống tới người ăn xin,… không ai có thể viện cớ gì mà tự biện hộ: NẾU, TẠI, VÌ, BỞI, GIẢ SỬ, GIÁ MÀ, PHẢI CHI,… Không bao giờ có “chuyện ví dụ” chi ráo trọi!

Nếu cảm thấy mình thiếu thốn gì thì cứ xin – xin nghiêm túc chứ không “xin xỏ”. Khi thấy người khác xin thì chúng ta phải cho, nếu có thể (vì phải có mới cho được). Vả lại, đó là sự công bằng. Ở đây là “xin–cho” trong tương quan yêu thương và bác ái, chứ không “xin–cho” theo kiểu “chế độ ban phát”. Tất cả chúng ta đều là những “người làm công” trong Vườn Nho của Chúa, chẳng ai có quyền gì mà “chảnh” với nhau. Ý thức được như vậy, chúng ta mới khả dĩ ước vọng như Thánh Vịnh gia: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài” (Tv 67:2-3). Ở đây sử dụng đại danh từ số nhiều chứ không số ít.

Chúng ta là phàm nhân, mà phàm nhân thì bất trác và bất túc, thế nên luôn có rất nhiều mong ước về nhiều thứ – cả tinh thần lẫn vật chất. Nhưng ước mong về tâm linh mới là ước mong quan trọng nhất: “Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này. Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài” (Tv 67:5-6). Công lý và công bình phải được tôn trọng thì con người mới được tôn trọng đúng mức: Nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền.

Mỗi khi cầu chúc nhau điều gì thì phải thật lòng, không thể chỉ “xã giao”. Trong Thánh Lễ có nghi thức “chúc bình an”. Nghi thức là để tránh lộn xộn chứ đừng chỉ theo nghĩa đen của nghi thức. Tuy nhiên, một số người tỏ ra thụ động trong khi cúi chào để thể hiện việc chúc bình an cho nhau, có người chỉ “co cái cần cổ” chút xíu, nhìn vẻ rất miễn cưỡng, có người lại cứ đứng “ngay cu đơ”. Ngay cả chủ tế cũng có người thụ động, gật đầu theo nghi thức, hai cậu lễ sinh chả sơ múi gì! Trong tình hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta rất cần chân thành cầu chúc nhau: “Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người!” (Tv 67:8).

Với lòng chân thành, “lão gia” Phaolô bộc bạch: “Tôi xin ngỏ lời với anh em là những người gốc dân ngoại. Với tư cách là Tông Đồ các dân ngoại, tôi coi trọng chức vụ của tôi, mong sao nhờ vậy mà tôi làm cho anh em đồng bào tôi phải ganh tị, và tôi cứu được một số anh em đó. Thật vậy, nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hoà giải với Thiên Chúa thì việc họ được thâu nhận lại là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống?” (Rm 11:13-15). Ông cựu Biệt Phái Saolê muốn người ta “ganh tị” chứ không “ghen tị” hoặc “ghen ghét”, nhưng phải là ganh tị về điều thánh đức, muốn cứu các linh hồn, chứ không ganh tị về những thứ trần tục.

Đúng như thế, Thánh Phaolô đã xác quyết: “Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi thì Người không hề đổi ý” (Rm 11:29). Ông cho biết thêm rằng “trước kia chúng ta đã không vâng phục Thiên Chúa, nhưng nay chúng ta đã được thương xót, vì họ không vâng phục; họ cũng thế: nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người thương xót chúng ta, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót. Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục để thương xót mọi người” (Rm 11:30-32). Một triết lý đầy “chất” thần học và rất đậm “chất” của thức giả Phaolô.

Chúa Giêsu đã từng bị người ta ghen ghét vì cách nói của Ngài “chẳng giống ai” và luôn “gây sốc”. Một hôm, Đức Giêsu đang trên đường lui về miền Tia và Xi-đôn, có một người đàn bà Ca-na-an kêu lớn tiếng: “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” (Mt 15:22). Thế nhưng Ngài làm ngơ, không đáp lại chi cả. Thế nhưng rồi Ngài lại xác định: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi” (Mt 15:24). Nghe nói mà “nóng gáy” ghê đi chứ!

Mặc dù bị từ chối thẳng thừng như vậy, người phụ nữ đáng thương ấy vẫn cố lấn đến để bái lạy Ngài và thưa: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” (Mt 15:25). Người gì mà lắm mồm, léo nhéo dai còn hơn đỉa đói! Thấy phụ nữ này coi bộ “ngon lành” dữ nghen, thế nên Ngài còn nói “sốc” hơn:“Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con” (Mt 15:26). Mèn ơi, chịu gì nổi chứ! Ấy vậy mà bà ấy vẫn thản nhiên phân bua: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Bấy giờ Đức Giêsu nhìn bà ấy, vừa cười vừa âu yếm nói: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15:28). Từ giờ đó, con gái bà được khỏi. [Cũng nên biết rằng chó là vật cưng, chứ chó không bị coi thường như ở Việt Nam. Văn hóa của họ không như văn hóa Việt Nam].

Và đó chỉ là cách Chúa Giêsu “thử thách” để phụ nữ kia chứng tỏ niềm tin của mình. Tuy nhiên, Ngài thử thách không phải là để “dò tìm” như chúng ta, vì Ngài đã biết rõ cõi lòng ai sâu hay rộng thế nào, trái tim người nào cứng hay mềm, nghĩa là Ngài không cần thử thách vì Ngài là Thiên Chúa, Ngài thấu suốt mọi sự (x. Sbn 28:9; Gđt 8:14; Et 5:1; 2 Mcb 7:35; 2 Mcb 9:5; 2 Mcb 12:22; 2 Mcb 15:2; G 28:27; Tv 139:2; Cn 16:2; Cn 21:2; Cn 24:12; Kn 1:6; Kn 7:23; Hc 23:19; Hc 42:20; Gr 11:20; Gr 20:12; 1 Cr 12:4-6). Ngài muốn làm như vậy để cho mọi người biết chân giá trị của nỗi gian truân, của đức tin, và của lòng kiên nhẫn, đồng thời Ngài cũng tạo “công trạng” cho chính người chịu đựng sự thử thách.

Và như thế thì thử thách và đau khổ cũng là hồng ân, chứ không chỉ những gì “xuôi chèo mát mái” như chúng ta tưởng. Tất nhiên chúng ta cũng phải biết tạ ơn về loại hồng ân “khác người” như vậy. Vâng, “khác người” chứ không “chết người” đâu!

Lạy Thiên Chúa nhân lành và giàu lòng thương xót, con chỉ là một con chó nhỏ bé nhất, yếu đuối nhất và nhơ nhớp nhất, xin thương xót dù con hoàn toàn bất xứng. Dẫu con là kẻ vô duyên và bất tài, nhưng con luôn khao khát nên giống Ngài, ngày đêm tín thác vào Ngài qua từng nhịp thở của đời con, xin cho con được hưởng những vụn-bánh-yêu-thương thừa rơi xuống từ Bàn Tiệc Thương Xót của Ngài. Con chân thành tha thiết cầu xin Cha, nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng nhân. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Về đầu trang

TN20-A113:  ĐỨC TIN VỮNG MẠNH

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN, năm A

Mt 15, 21 – 28

 Người Do Thái luôn tự hào, tự cao, tự mãn vì mình là dân của Thiên Chúa, được Ngài tuyển chọn TN20-A113 Dalat

Người Do Thái luôn tự hào, tự cao, tự mãn vì mình là dân của Thiên Chúa, được Ngài tuyển chọn, xứng đáng được Ngài cứu độ và đổ xuống muôn vàn ơn phúc, còn dân ngoại, dân Canaan thì không được bất cứ hồng ân nào của Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong khung cảnh của Tin Mừng, của Lòng Thương Xót của Chúa, ơn huệ của Thiên Chúa được biểu lộ ra cách lạ lùng và phi thường.

Chúa Giêsu được sinh ra và lớn lên trong văn hóa Do Thái, Ngài hiểu rất rõ điều này, hiểu tường tận quan niệm của dân Do Thái. Thế nhưng, trong hoàn cảnh bi đát của hai mẹ con người Canaan,Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa không dừng lại  nơi quan niệm ích kỷ của Người Do Thái. Thiên Chúa sai Con Một của Người là Đức Giêsu đến trân gian để cứu độ con người, cứu rỗi mọi người, chứ ơn cứu rỗi không dành riêng cho một dân tộc nào, một người nào vv…Bởi vì, “ Ơn cứu chuộc chứa chan nơi Đức Kitô “, ơn cứu độ trải rộng đến mọi người, miễn là con người biết mở rộng lòng để đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã để lại một câu nói rất thời danh :” Thiên Chúa dựng nên con người không cần đến con người, nhưng cứu độ con người cần sự cộng tác của con người “. Chúa Giêsu đến trần gian để cứu chuộc con người, cứu độ loài người. Nên, trong cuộc sống, Ngài đã đến với mọi lớp người, Ngài đã đến với những người bệnh hoạn tật nguyền, đã đến với mọi những người nghèo khó, neo đơn, mồ côi, góa bụa.Ngài đã đến với những người tội lỗi, những kẻ thấp cổ bé họng vv…Chúa nhân từ với hết mọi người. Nhìn thấy lũ người đói khát, bơ vơ vất vưởng, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương xót, đã truyền lệnh cho các tông đồ : “ Hãy cho họ ăn “. Hôm nay, trước cảnh khốn khổ của hai mẹ con người Canaan, Chúa động lòng xót thương họ, Ngài hiểu họ, thương và quan tâm cứu vớt họ. Do đó, Chúa chạnh lòng xót thương hoàn cảnh bất hạnh, khổ sở của hai mẹ con, Ngài cứu vớt cô con gái của bà quê Canaan  bằng một phép lạ, chỉ bằng lời nói quyền uy của Ngài :” Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy “. Vâng , lời nói của Chúa Giêsu vừa diễn tả quyền năng tuyệt đối của Chúa, vừa khen ngợi niềm tin mạnh mẽ và sự khiêm nhường thâm sâu của người phụ nữ ngoại giáo.

Thật vậy, vì có niềm tin mạnh mẽ, đức tin thâm sâu, người phụ nữ Canaan mới vượt qua được sự soi mói, quan niệm ích kỷ của người Do Thái và câu nói của Đức Giêsu :” Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con “. Người Do Thái quan niệm người ngoại đều là chó má vv…Nhờ có đức tin tiềm ẩn sâu xa, nhờ có niềm tin son sắt, và lòng khiêm nhượng thẳm sâu, người phụ nữ Canaan mới vượt được tất cả để đến với Chúa Giêsu và kêu van Ngài giúp đỡ. Người phụ nữ ngoại giáo này tự nhận mình chỉ là “ chó con “ bơ vơ, yếu hèn, cần sự giúp đỡ, cứu chữa của Chúa Giêsu. Người phụ nữ Canaan đã rất khiêm nhường vì tin rằng Chúa Giêsu đầy uy quyền sẽ giải thoát và cứu vớt con của mình khỏi sự dữ, ma quỷ và bệnh hoạn.

Trước Thiên Chúa tối cao, đầy quyền phép uy nghi, con người phải hết sức khiêm tốn, hạ mình để xin ngài cứu vớt. Thiên Chúa là Đấng giầu lòng thương xót luôn chạnh lòng trắc ẩn, yêu thương, cứu vớt mọi người. Con người luôn phải có đức tin và lòng khiêm nhượng.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm đức tin cho chúng con và ban cho chúng con lòng khiêm nhường thâm sâu để chúng con luôn tín thác vào Ngài và tin tưởng tuyệt đối, phó thác vào sự quan phòng vô biên của Chúa. Amen.  

 GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

 1.Tại sao người phụ nữ Canaan không tự ái trước lời nói của Chúa Giêsu ?

2.Người Do Thái coi dân ngoại là người thế nào ?

3.Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến với ai ?

4.Ơn cứu độ là ơn nào ? và thuộc về ai ?

5.Đức tin có cần cho con người nhận ơn cứu độ không ?

Về đầu trang

TN20-A114: Đức Tin Của Một Người Mẹ

Chúa nhật XX thường niên năm - A

(Mt 15, 21-28)

Lời hát : “Tình mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào” của nhạc sĩ Y Vân cho chúng ta thấy tình cảm TN20-A114

Lời hát : “Tình mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào” của nhạc sĩ Y Vân cho chúng ta thấy tình cảm bao la của mọi người mẹ nóichung dành cho con từ khi mang thai cho đến khi sinh con ra trên cõi đời này, rồi chăm sóc và nuôi dạy con với bao khó khăn, thử thách của cuộc đời, chỉ mong con lớn khôn thành người. Vì vậy “Mẹ”  khởi hứng cho biết bao tác giả thơcachuyện tình tiểu thuyếtkhôn kể xiết. Khi viết về mẹ, Chế Lan Viên đã có câu: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ, đi suốt cuộc đời lòng mẹ vẫn theo con”. Tình mẹ thương con vượt lên trên cả chính mình.

Hôm nay, chúng ta quan sát người một phụ nữ điển hình  người mẹ trong Kinh Thánh không thuộc về Do Thái Giáo màthuộc xứ Cannaan dân ngoại, đã vì muốn con gái đang ốm bệnh,  bị quỉ ám lâu năm được khỏi, nên khi nghe nói về Chúa Giêsu, bà đã lặn lội đến tìm gặp Chúa. Chúng ta biết, giữa người Do thái và dân ngoại có một bức tường ngăn cách, thánh Phaolô gọi đó là "bức tường hận thù" (x. Eph 2, 14). Chính sự ngăn cách này mà Chúa Giêsu cũng bảo môn đệ đừng đi theo đường của dân ngoại, cầu nguyện "đừng có lải nhải như dân ngoại" (Mt 6, 7). Và nếu ai đó muốn nhục mạ người nào trong dân Israel, thì hãy "đối xứ với họ như dân ngoại " (x. Mt 18, 17), nên không có lạ gì khi môn đệ ngạc nhiên thấy Thầy tiếp chuyện với người phụ nữ xứ Samaria dân ngoại. Thế mới biết người đàn bà xứ Canaan can đảm biết chừng nào, bà đã vượt qua tất cả rào cản về tôn giáo, địa lý, niềm tin, nhất là về thân phận phụ nữ của chính bà. Vì ngay người nữ Do thái còn không được nhắc đến trong lời cầu nguyện, lời chứng của họ không có giá trị pháp lý, không giải quyết được gì ở nơi công cộng, huống hồ là đàn bà dân ngoại.

Chúa Giêsu không đề cập đến những vấn đề trên. Tuy nhiên, bà này vượt qua ranh giới dân ngoại, bản chất và tình thương của một người mẹ vượt qua cả thù hận để kêu xin một người Do thái với lòng kính trọng : "Lạy Ngài là con Vua Đavít, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm" (Mt 15,22). Bà kể bệnh tình của con  với Chúa, cầu xin Chúa thương xótvới hy vọng sẽ đượcChúa chữa lành.

 xin thì mặc  xinChúa Giêsu vẫn như giả điếc làm ngơTại sao vậy thể  Chúa đã ghi nhận đức tin của   muốnbà tin mạnh hơn sụp lạy xuống trước mặt ChúaĐức tin  bà thể hiện rất khiêm nhường, đến nỗi các môn đệ thấy cũng độnglòng xin hộ : : "Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi" (Mt 15, 23). Các ông muốn Chúa nhận lời ngaycho . Được đà tiếp tục kêu xinSự thinh lặng của Chúa Giêsu được giải thích rằngNgười chỉ được sai đến nhà Israël. Sứ mạng màsau khi sống lạiChúa mới sai các môn đệ đi : "Anh em hãy đi khắp thế gianRao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo" (Mc 16,15).

Thật khó hiểu về sự im lặng của Chúa trong lúc nàyim lặng đến ngỡ ngàngChúng ta cũng  kinh nghiệm về sự Chúa khôngđáp lời lúc chúng ta cầu xin đôi khi than phiền về sự lặng im của ChúaNgười đàn  xứ Canaan  một bằng chứng sấp mìnhxuốngquì lạy  van xinĐây  cử chỉ tôn thờ ChúaẤy vậy  Chúa Giêsu vẫn không đoái hoàichẳng những thế  lại trả lời một cách cay nghiệt : "Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó". Lời của Chúa không làm  thất vọngnhủn chísờn long. Bà đáp : "Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống" (Mt 15,26-27).

 thật can đảm không tự ái  tức giận nói lời lộng ngôn đồng ý với Chúa Giêsu nên thưa : "Vânglạy Ngài".  khi thưanhư vậy  đến bên cạnh Chúa Giêsu để thưa với Chúa vângtôi  một con chónhưng con chó ấy được Thầy nuôi nấng dạy dỗ vàcho ăn. Lời bà van xin không được xét đến, xin mãi bị từ chối, lại còn bị miệt thị như chó. Chúng ta tự hỏi : điều gì đã khiến cho bà dám làm tất cả? Thưa vì yêu. Với tình mẫu tử, bà không đành lòng ngồi nhìn đứa con mình bị ma quỉ hành hạ, bà đi khắp đó đây tìm thầy chạy thuốc, vượt qua cả những nơi bị xem là cấm kỵ. Yêu con, bà chấp nhận tất cả, không những đến với Chúa Giêsu là người Do thái, lại còn tin Chúa có quyền năng thống trị được ma quỉ, tin Chúa có lòng thương xót sẽ ra tay cứu chữa, tin Chúa có trái tim rộng mở để không phân biệt người ngoại, kẻ đạo. Ý ngay lành kèm theo lòng tin mạnh mẽ đã thuyết phục được Chúa Giêsu, ma quỉ bị trục xuất, con gái bà được giải thoát. Đáng ngưỡng mộ cho một người mẹ.

Chúng ta học được nhiều điều ở  mẹ nàyThứ nhất, nhờ đức tin, Chúa cho chúng ta được đồng bàn tình thương của Chúa, được trở nên con cái Cha trên trời : "Không còn Do Thái hay Hi lạp; không còn nô lệ hay tự do, không còn nam hay nữ; vì hết thảy anh em là một trong Ðức Kitô Yêsu"(Gal 3, 28). Thánh Gioan nói với chúng ta rằng chúng ta có quyền là con. Tất cả những ai đón nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa (x. Ga 1, 12).

Thứ hai, Thiên Chúa là Đấng luôn có lý. Vì thế, trước nhan thánh Chúa, chúng ta đừng bao giờ cho rằng ý chúng ta là chính đáng và bắt Chúa phải đáp ứng nhu cầu. Vậy, khi ta cầu xin bất cứ sự gì thì hãy kết thúc bằng lời sau đây : "Lạy Chúa, con tin  xin cho ý Cha được thể hiện".

Xin cho các  mẹ ngày hôm nay chẳng những cưu mang, sinh hạ, dưỡng dục hồng ân Chúa ban  con cái,  con thông truyềnđức tin cho con cái nữa. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


Về đầu trang

TN20-A115:  CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN

Thiên Chúa quảng đại kêu gọi mọi người

Lắng nghe sứ điệp Lời Chúa  (Is 56:1, 6-7;  Rm 11:13-15, 29-32;  Mt 15:21-28)

 Lúc còn nhỏ sống ở miền Bắc Việt Nam, nhiều người chúng ta sinh hoạt trong những “làng  TN20-A115

Lúc còn nhỏ sống ở miền Bắc Việt Nam, nhiều người chúng ta sinh hoạt trong những “làng Công giáo” đóng kín và ít giao thiệp với người ngoài đạo.  Nhiều linh mục bấy giờ vẫn còn mang não trạng hẹp hòi, nên không mấy quan tâm giảng giải cho giáo dân về thái độ cởi mở và đón nhận những người không Công giáo.  Ngày nay có thể tình trạng kỳ thị ấy vẫn còn, nhưng không quá đáng như trước kia nữa.  Để giúp chúng ta hiểu và đón nhận thái độ cởi mở và thân thiện, Phụng vụ Lời Chúa hôm nay cho chúng ta cơ hội để chiêm ngưỡng đôi tay mở rộng của Thiên Chúa “dẫn những người ngoại bang lên núi thánh của Người”, và để xác tín lòng quảng đại của Thiên Chúa, Đấng kêu gọi hết mọi người đến với mình.  Lòng quảng đại ấy được biểu lộ sống động qua việc Chúa Giê-su chữa lành cho con gái của một phụ nữ Ca-na-an ngoại giáo.

          Trước hết qua ngôn sứ I-sai-a, Thiên Chúa loan báo cho dân ngoại một tin vui:  Người ban ơn cứu độ không riêng cho dân Do-thái được tuyển chọn, mà còn cho bất cứ “người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh”. Như thế rõ ràng là ơn cứu độ phổ quát đã được loan báo rồi, chứ không cần phải đợi cho đến khi Chúa Giê-su sai các tông đồ “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mác-cô 15:15).  Thiên Chúa hứa sẽ dẫn những người ngoại bang lên núi thánh của Người, ở đó có “nhà” của Người, nhà được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân.  Đúng vậy, nhà của Thiên Chúa phải được gọi là “nhà cầu nguyện của muôn dân”.  Đã là nhà thì trong đó có cha mẹ, con cái, anh chị em.  Tất cả chúng ta chẳng phải là con cái Thiên Chúa đã được Chúa Ki-tô quy tụ về chung quanh Đấng chúng ta gọi là Cha sao?  Rồi “cầu nguyện” là gì nếu không phải là sống mối tương quan với Chúa và với anh chị em.  Nhà của Thiên Chúa khác nào đôi cánh gà mẹ ấp ủ đàn con!

          Đối với thánh Phao-lô, sự kiện Thiên Chúa kêu gọi và cứu độ anh chị em gốc dân ngoại là vấn đề cốt lõi trong sứ mệnh của ngài. Vì thế, “với tư cách là Tông đồ các dân ngoại”, ngài không ngần ngại viết riêng cho các Ki-tô hữu gốc dân ngoại những lời thư đầy khích lệ.  Ngài hãnh diện về sứ vụ của ngài.  Ngài khẳng định với các tín hữu ấy rằng:  “Khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không đổi ý”.  Ban ơn và kêu gọi ở đây nghĩa là ban ơn cứu độ và kêu gọi người ta hãy đón nhận.  Mà Thiên Chúa đã ban và đã kêu gọi thì Người sẽ trước sau như một, không hề đổi ý, vì Người là Đấng luôn trung thành.  Nếu Người đã trung thành giữ những lời đã hứa với dân riêng Do-thái, Người cũng trung thành giữ lời hứa với người dân ngoại!

          Trước đây, ngôn sứ I-sai-a loan báo:  “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người…, đều được Người dẫn lên núi thánh”.  Thì đây, hôm nay trong bài Tin Mừng, người đàn bà Ca-na-an là người ngoại bang và ngoại giáo đã “gắn bó” cùng Chúa Giê-su.  Dù có bị Chúa thử thách, nếu không nói là bị khinh miệt, bà vẫn kiên trì gắn bó theo Chúa, lải nhải xin Chúa chữa lành con gái bà.  Bà biểu lộ đức tin phi thường khiến Chúa phải ngạc nhiên và thốt lời khen ngợi:  “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật!”  Trong câu chuyện này, Chúa Giê-su là hiện thân của một vì Thiên Chúa quảng đại, đón nhận cả những đứa con bị mang danh ngoại giáo.  Chúa Giê-su đã phá bỏ bức tường ngăn cách Do-thái với dân ngoại, để tất cả chúng ta thấy được dung nhan của một Thiên Chúa yêu thương và muốn ôm ấp hết mọi người trong vòng tay chí ái.

Sống sứ điệp Lời Chúa

          Có khi nào bạn nhìn người ngoài Công giáo với ánh mắt mang chút kỳ thị không?  Bạn không thấy thoải mái khi nói chuyện với họ.  Bạn không ưa họ vì nghĩ rằng niềm tin của họ khác với đức tin Công giáo của bạn.  Tệ hơn nữa, đôi khi bạn không giữ được bình tĩnh khi tranh luận với họ về những đề tài đức tin hoặc luân lý.  Còn nếu cuồng tín một chút, bạn cũng giống như mấy môn đệ Chúa khi họ tỏ thái độ với người đàn bà Ca-na-an:  “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”.  Bạn ơi, xin đừng như vậy.  Họ và chúng ta đều là con cái Chúa, đều được Người kêu gọi đến lãnh nhận ơn cứu độ.  Người đã đem chúng ta lên núi thánh, vào trong nhà của Người thì Người cũng sẽ đem những anh chị em ngoại giáo về với Người.  Người còn nhờ chúng ta đem họ về với Người nữa đấy!                    

Lm. Đa-minh Trần đình Nhi      

Về đầu trang

TN20-A116: CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN A

Is 56,1.6-7; Rm 11,13-15.19-32; Mt 15,21-28

 CẦU NGUYỆN THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC CHẤP NHẬN ?

 I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mt 15,21-28

(21) Ra khỏi đó, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đon. (22) thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở miền ấy đi ra, kêu lên rằng: “Lạy Ngài là Con Vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi ! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm !”. (23) Nhưng Người không đáp lại một lời. Các môn đệ lại gần xin với Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !”. (24) Người đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi”. (25) Bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi !” (26) ngườiđáp: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. (27) Bà ấy nói: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng đượcăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. (28) Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy”. Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.

2. Ý CHÍNH: ĐỨC GIÊ-SU CHỮA CON GÁI NGỪƠI ĐÀN BÀ XỨ CA-NA-AN:

Khi nghe người đàn bà ngoại giáo xứ Ca-na-an kêu xin giúp con gái của bà đang bị quỷ ám, Đức TN20-A116

Khi nghe người đàn bà ngoại giáo xứ Ca-na-an kêu xin giúp con gái của bà đang bị quỷ ám, Đức Giê-su im lặng và khi môn đệ cầu bầu thì Người giải thích lý do “chỉ được sai đến với chiên lạc nhà It-ra-en mà thôi”. Tuy nhiên các lời bà đối đáp đã chứng tỏ bà có một đức tin mạnh mẽ, nên cuối cùng bà đã được Đức Giê-su khen ngợi có đức tin mạnh và đã ban cho bà được thỏa mãn.

3. CHÚ THÍCH:

- C 21-22: + Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đon: Tia va Xi-đon là hai thành phố của dân ngoại. Khi âm thầm lui về miền đất ngoại giáo này (x. Mc 7,24), có lẽ Đức Giê-su muốn tránh sự dòm ngó của nhóm Pha-ri-sêu, cũng như tránh sự nồng nhiệt của quần chúng muốn tôn Người lên làm vua sau phép lạ nhân bánh ra nhiều (x. Ga 6,15). Ngoài ra, điều này còn tiên báo: Vì dân Do thái đã từ chối ơn cứu độ ưu tiên cho họ, nên dân ngoại sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ ấy. + “Lạy Ngài là Con Vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !”: Sở dĩ người đàn bà ngoại giáo biết và tuyên xưng Đức Giê-su bằng danh hiệu Con Vua Đa-vít là do bà đã ra khỏi miền đất dân ngoại và được nghe nhiều người Do Thái truyền đạt đức tin về Đức Giê-su (x. Mc 3,8).

- C 23-24: + Nhưng Người không đáp lại một lời: Khi không nghe lời cầu xin của người đàn bà này, Đức Giê-su muốn thử thách để biết tình trạng đức tin của bà, để gia tăng lòng tin cho bà. + Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !: Các môn đệ muốn Đức Giê-su thỏa mãn lời cầu xin để khỏi tiếp tục bị quấy rầy. Còn Đức Giê-su lại muốn chứng tỏ Người ban ơn cho ai là tùy lòng tin yêu của họ. Ở đây không những Người ban cho con gái bà khỏi bị quỷ ám, mà còn ban cho chính bà đức tin vào Người là điều kiện để được hưởng ơn cứu độ. + Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi: Sinh thời, Đức Giê-su chỉ rao giảng cho người Do Thái, là những người được thừa kế các lời hứa cho họ là con cái Thiên Chúa (x Rm 9,5; 15,8). Do đó, khi sai các môn đệ đi giảng đạo, Đức Giê-su cũng chỉ giới hạn trong lãnh thổ dân Ít-ra-en (x. Mt 10,5-6). Nhưng rồi thực tế cho thấy: dân Do Thái đã từ chối ơn ấy, nên cuối cùng họ đã bị mất quyền ưu tiên gia nhập Nước Trời (x. Cv 18,17).

- C 25-26: + “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi”: Người đàn bà tỏ ra kiên trì trong lời cầu xin: xin một lần chưa được, bà xin hai, rồi ba lần. Khi cầu xin mà chưa được nhận lời, bà vẫn bền đỗ chứ không nản lòng bỏ cuộc (x Lc 18,1). + “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”: Không nên lấy Nước Trời được hứa ban cho con cái trong nhà là dân It-ra-en, để đem cho người ngoài là dân ngoại bị khinh dể như loài vật. Từ chó con ở đây là để làm dịu bớt sự khinh miệt theo quan điểm của dân Do thái.

- C 27-28: + Chó con: là con vật nuôi trong nhà và được mọi người cưng chiều. + Cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống: Câu nói của người đàn bà cho thấy bà có lòng khiêm tốn. Bà công nhận dân Do thái có quyền ưu tiên hơn dân ngoại trong chương trình cứu độ. Điều này cho thấy đức tin của bà thật vững mạnh. + Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy: Khi thấy người đàn bà tỏ lòng khiêm hạ và vững lòng phó thác cậy trông, Đức Giê-su đã khen ngợi đức tin của bà và đã ban cho con gái bà khỏi bệnh như ý bà xin.

4. CÂU HỎI:

1) Người đàn bà ngoại giáo kêu xin Đức Giê-su bằng danh hiệu nào ? Tại sao bà ta biết được danh hiệu ấy ? 2) Tại sao Đức Giê-su làm như không biết không nghe thấy lời kêu xin khẩn thiết của người đàn bà này ? 3) Các môn đệ yêu cầu Đức Giê-su thuận theo ý người đàn bà nhằm mục đích gì ? 4) Đức Giê-su cho môn đệ biết sứ mệnh của Người là gì ? 5) Tại sao Đức Giê-su khen đức tin của người đàn bà ngoại giáo và cuối cùng đã ban theo ý bà xin ?

HỎI: TẠI SAO CHÚA IM LẶNG TRƯỚC LỜI CẦU XIN CỦA CHÚNG TA ?       

ĐÁP: Khi ta cầu xin mà Chúa vẫn im lặng không nhậm lời thường do mấy nguyên nhân chính như sau:

+ Có thể Chúa đang thử thách để xem đức tin của ta mạnh hay yếu ? Trưởng thành hay ấu trĩ ? Ta cần noi gương người đàn bà ngoại giáo trong Tin Mừng: kiên trì cầu nguyện và không ngã lòng cậy trông. Xin một lần chưa được, hãy xin thêm nhiều lần. Phải xin với sự xác tín Chúa sẽ ban điều tốt lành cho ta, như Đức Giê-su phán: “Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 7,7).

+ Có thể lời cầu xin của ta mới chỉ mang tính cá nhân. Ta hãy xin cộng đoàn hợp ý cầu nguyện như lời Đức Giê-su dạy: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời sẽ ban cho” (Mt 18,19). Ta cũng nên xin các thánh và các linh hồn trong luyện ngục cầu bầu cùng Chúa cho ta dựa theo tín điều "Các Thánh Cùng Thông Công".

+ Có thể lời cầu xin của ta chưa khiêm tốn đủ: Do ta phô trương lòng đạo đức để tìm tiếng khen nơi người đời (x. Mt 6,5-6). Có thể do ta đòi Chúa phải ban theo ý riêng của ta, thay vì phải xin vâng theo thánh ý Thiên chúa như lời Đức Giê-su cầu xin trước khi bị bắt: “Ba ơi ! Nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).

+ Có thể lời cầu xin của ta còn thiếu sự hy sinh: ta hãy cầu xin, kèm theo những việc đạo đức như xưng tội rước lễ, và các việc hy sinh hãm mình, kèm theo sự tha thứ làm hòa như Đức Giê-su dạy: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ đó lại trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24).

+ Có thể ta xin những điều có hại cho phần rỗi của ta mà ta không biết: Đừng đòi Chúa phải ban theo ý mình, nhưng hãy tin cậy vào lòng từ bi của Chúa, Đấng hằng muốn ban ơn cứu độ cho ta như Đức Giê-su đã dạy: “Vậy nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho con cái mình những thứ tốt lành. Phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời. Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin người” (Mt 7,7-11; Lc 11,13).

+ Có thể do ta cầu nguyện với lòng ích kỷ hại nhân: Xin những gì có lợi cho mình mà hại cho người khác như hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an đã nhờ mẹ mình đến xin Đức Giê-su cho được ngồi hai bên tả hữu Người trong Nước mà Người sắp thiết lập (x. Mt 20-21), hoặc xin Chúa làm điều trái nghịch với lòng từ bi nhân hậu của Chúa như hai anh em Gia-cô-bê và Gio-an xin Thầy sai lửa trời xuống thiêu hủy làng Sa-ma-ri vì đã dám từ chối đón tiếp Thầy trò ở trọ (x. Lc 9,53-54)… nên những lời cầu xin ấy không đựơc Chúa chấp nhận (x. Mt 20,23; Lc 9,55). Ta nên chú trọng xin những ơn tinh thần như trong kinh Lạy Cha (x. Mt 6,9-14), vì sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn là xin các ơn vật chất phần xác, vì liên quan đến luật tự nhiên do Chúa đã an bài khi sáng tạo vũ trụ vạn vật.

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Một người đàn bà Ca-na-an kêu lên rằng: “Lạy Ngài là Con Vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !”… “Lạy Ngài xin cứu giúp tôi !” (Mt 15, 22a.25b). Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15,28a).

2. CÂU CHUYỆN: TÌNH YÊU VÀ ĐỨC TIN LUÔN ĐỒNG HÀNH VỚI NHAU:

Trong tác phẩm: “Anh em nhà Ka-ra-ma-dốp” (the Brothers Karamazov) của Đớt-tốp-ki (Dostoevski) có kể câu chuyện về một bà lão kia. Bà cảm thấy đức tin của bà bị suy thoái theo với sự suy yếu sức khoẻ về thể xác. Ngày nọ bà đến gặp một vị linh mục già tên là DỐT-SI-MA (Zossima). bà đã tâm sự về tình trạng đức tin của bà như sau: “Thưa cha, kỳ này con thường hoài nghi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Không biết Người có quan tâm đến hết mọi loài do Người dựng nên, trong đó có con hay không ? Sau khi chết rồi con sẽ đi đâu ? Ngoài thế giới đời này còn có đời sau không ?…” Vị linh mục già chăm chú nghe bà nói và cuối cùng ông đã trả lời rằng: “thực ra chẳng có cách nào chứng minh cụ thể về những điều mà bà đang hoài nghi kia. Tuy vậy tôi đề nghị bà hãy áp dụng một phương pháp giúp bà luôn vững tin vào những chân lý ấy”. Bà lão ngạc nhiên hỏi: “Thưa cha, bằng cách nào vậy ?” Vị linh mục liền đáp: “Bằng tình yêu. Phải, Bà hãy yêu thương người khác cách thành thật. Càng yêu thương người khác bao nhiêu thì bà lại càng vững tin vào Thiên Chúa bấy nhiêu và sẽ tin vào đời sau hơn. Càng yêu nhiều, thì đức tin của bà càng lớn lên, và các sự ngờ vực kia cũng tự nhiên tan biến hết. Đấy là một phương pháp đã được nhiều người áp dụng và tất cả đều chứng thực là rất hữu hiệu để củng cố đức tin”.            

3. SUY NIỆM:

Một người đàn bà ngoại giáo Ca-na-an có đứa con gái bị quỷ ám đã đi tìm Đức Giê-su để xin Người chữa cho con gái bà lành bệnh. Nhờ có đức tin mạnh mà bà đã được Người ban cho như ý. Vậy để lời cầu xin của chúng ta xứng đáng được Chúa chấp nhận, chúng ta cần phải cầu nguyện với lòng tin như thế nào?

- CẦN CÓ MỘT ĐỨC TIN TRƯỞNG THÀNH: Người đàn bà này đã kêu to lên để xin Đức Giê-su thương cứu con gái bà đang bị quỷ ám. Bà nói: “Lạy Ngài là Con Vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi ! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm !” Nhưng Đức Giê-su im lặng không đáp lại một lời ! (22-23). Thực ra không phải Người thờ ơ lãnh đạm trước nỗi khổ đau của người khác. Nhưng Người muốn thử thách để xem đức tin của bà mạnh yếu thế nào ? Nếu bà không kêu xin nữa thì đức tin nơi bà chỉ là tin vụ lợi: “Tin Chúa để được Người ban ơn như ý !” như người ta thường nói: “Theo đạo lấy gạo mà ăn”; “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi. Cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ !”.Nhiều khi chúng ta cũng gặp phải sự im lặng của Chúa như thế. Khi ấy, chúng ta có hồ nghi sự hiện hữu của Chúa và tự hỏi: “Thiên Chúa có hiện hữu hay không ? Ngài có nghe thấy lời cầu xin của tôi không ? Có nhìn thấy những khó khăn của tôi và sẵn sàng ra tay cứu giúp không ?”.

- CẦN CÓ MỘT ĐỨC CẬY VỮNG VÀNG: Người đàn bà này đã không ngã lòng trông cậy dù bị Đức Giê-su giả điếc làm ngơ. Bà luôn vững tâm và kiên trì kêu xin Người cứu giúp: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi !” (23b-25) Cuối cùng bà đã được như ý. Nhiều tín hữu chúng ta khi cầu xin mà không được nhậm lời, thì liền chán nản ngã lòng trông cậy, không cầu nguyện nữa và bắt đầu “hữu sự vái tứ phương” là chạy đến với thầy bói, thầy ngải hay làm những điều mê tín dị đoan khác….

- MỘT ĐỨC TIN KHIÊM TỐN VÀ PHÓ THÁC: Nghe Đức Giê-su trả lời: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”, bà ta thưa: “Thưa ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Bà sằn sàng chịu đựng những lời miệt thị của người Do Thái, vì họ coi dân ngoại như loài chó. Chính sự khiêm tốn ấy khiến bà được Chúa yêu mến. Như vậy, tin không phải là cầu xin để đòi Chúa ban theo ý mình, nhưng là kiên nhẫn và vững lòng cậy trông, phó thác cho Chúa quan phòng định liệu.

4. THẢO LUẬN:

1) Khi gặp tai ương họan nạn, bạn thường cầu xin với Thiên Chúa, với Chúa Giê-su hay với Đức Mẹ và các thánh làm phép lạ ? 2) Qua kinh Lạy Cha, bạn thấy lời cầu nguyện do chính Đức Giê-su dạy có những đặc điểm nào ? 3) Từ nay bạn quyết tâm sẽ cầu nguyện ra sao từ khi thức dậy ban sáng đến lúc đi ngủ ban đêm ?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA CHA NHÂN ÁI. Con xin cảm tạ Cha vì biết bao hồng ân Cha đã đổ xuống trên con. Rất nhiều ơn Cha ban mà con cứ tưởng là chuyện tự nhiên như: khí trời con thở, cơm bánh con ăn, áo quần con mặc, đồ dùng con sử dụng… Thế mà con lại đau khổ khi không được Cha ban theo điều con xin, hay những khi Cha để con gặp phải những sự rủi ro trái ý. Con đã quên rằng đời con luôn được Cha bao bọc bằng muôn ngàn hồng ân lớn lao hồn xác.

- LẠY CHA. Con xin cảm tạ Cha vì những gì Cha đã không ban, vì con tin chắc rằng Cha biết điều ấy có hại cho phần rỗi đời đời của con, hoặc vì Cha muốn ban nhiều ơn khác có ích cho phần rỗi đời đời của con hơn. Xin cho con luôn vững tin vào tình thương quan phòng của Cha như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh. Nhờ đó khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi đuợc may lành như ý cũng như khí gặp phải những sự trái ý cực lòng... Xin cho con luôn biết cậy trông và phó thác trọn vẹn nơi tình thương quan phòng của Cha.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM

  Về đầu trang

TN20-A117:  Này Bà Lòng Tin Của Bà Mạnh Thật!

Chúa nhật XX thường niên A

(Mt 15,21-28)

Đọc Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu khen thì ít, mà chê thì nhiều. Tuy khen ít chê nhiều, nhưng lời khen TN20-A117

Đọc Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu khen thì ít, mà chê thì nhiều. Tuy khen ít chê nhiều, nhưng lời khen chê của Chúa đều rất xác đáng.

Những người bị Chúa chê là giới chức đạo Dothái, các tông đồ, như tông đồ Phêrô chẳng hạn (x. Mt 14,31; 16,8).

Những người được Chúa khen duy nhất có mình ông Na-tha-na-en là người Israel (x. Ga 1,47), còn toàn là những người ngoại giáo, như viên sĩ quan Rôma (x. Mt 8,10) và người đàn bà xứ Ca-na-an trong Tin mừng hôm nay.

Người đàn bà Ca-na-an hôm nay đến xin Chúa trừ quỷ cho con mình: “Lạy con Vua Đavid, xin thương xót tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”

Nhưng Chúa làm thinh, chẳng đáp lời nào. Thấy thế bà càng năn nỉ kêu xin, năn nỉ đến nỗi làm cho các môn đệ phải thưa với Chúa rằng: “Xin Thày thương giúp bà ấy, kẻo bà ấy cứ theo chúng ta mà kêu mãi!”

Chúa liền bảo: “Thày chỉ được sai đến với chiên lạc nhà Israel mà thôi!”

Không ngã lòng, bỏ cuộc, người đàn bà vẫn kiên trì kêu xin: “Lạy Ngài, xin hãy đến cứu giúp tôi!”

Chẳng cần úp mở nữa, Chúa bèn nói một cách cửng cỏi, sỗ sàng:“Không thể lấy bánh của con cái mà ném cho chó!”

Không phật lòng, không tự ái trước lời nói của Chúa, người đàn bà nhã nhặn khiêm nhường đáp lại: “Đúng vậy, thưa Ngài, nhưng những con chó nhỏ cũng được ăn miếng bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn của chủ.”

Thật độc đáo! Hiếm thấy người đàn bà nào như thế! Thái độ của bà khiến Chúa phải ngỡ ngàng và cất lên lời khen ngợi: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào sẽ được như vậy!”

Không biết trong cộng đoàn chúng ta có người đàn ông đàn bà nào như người đàn bà Ca-na-an hôm nay hay không? Nếu có thì xin cho biết?

Người đàn bà ngoại giáo đã vượt qua được thử thách mà Chúa đưa ra, để bày tỏ lòng tin chân thành vào Chúa và được Người khen ngợi. Còn chúng ta thì sao? Trong mọi thử thách, đau thương của cuộc đời, chúng ta có vượt qua được không?

Chắc chắn nhiều lúc chúng ta đã ngã lòng và oán trách Chúa khi gặp phải những tai ương hoạn nạn, chứ không vững lòng tin tưởng như người đàn bà ngoại giáo xứ Ca-na-an.

Ý thức mình yếu đuối như vậy, chúng ta hãy cùng nhau xin Chúa tha thứ, cùng nhau tuyên xưng đức tin, để niềm tin của chúng ta được ngày thêm vững vàng và được Chúa khen ngợi như người đàn bà xứ Ca-na-an hôm nay.

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hữu

Về đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây