Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-A Bài 1-50

Thứ bảy - 26/08/2017 05:41
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-A Bài 1-50
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 21 TN-A Bài 1-50

Suy Niệm TN 21-A Phần I: Bài 1-50

TN21-A1: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN.. 1

TN21-A2. Suy Niệm của Lm. Augustine, SJ. 3

TN21-A3. TRÊN TẢNG ĐÁ NÀY.. 5

TN21-A4. Câu trả lời của niềm tin. 6

TN21-A5. CÁC CON BẢO THẦY LÀ AI?. 7

TN21-A6. HÃY GIÚP ĐỠ ĐỨC  GIÁO HOÀNG. 8

TN21-A7. CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG.. 9

TN21-A8. THẦY LÀ ĐỨC KITÔ.. 10

TN21-A9. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương. 11

TN21-A10. GIÁO HỘI CHÚA KITÔ.. 12

TN21-A11. NHẬN LÃNH TRÁCH NHIỆM CHÚA TRAO.. 12

TN21-A12. ĐỨC TIN VỮNG NHƯ TẢNG ĐÁ.. 14

TN21-A13: Các Con Cho Thầy Là Ai? - Lm D. Nguyễn Ngọc Long. 14

TN21-A14: Con Người Là Ai ? - Lm Trọng Thưởng, CMC.. 15

TN21-A15: Hãy Sống Như Chúa Kitô - Lm Nguyễn Bình An. 15

TN21-A16 Anh Phêrô, Anh Là Ịá - Huyền Ịồng: 15

TN21-A17: Nhận biết và Yêu Mến Thiên Chúa - Lm Louis Minh Nhiên,CMC.. 16

TN21-A18: Chìa Khóa Nước TrờI - Lm Minh Trân, CMC.. 16

TN21-A19: Phêrô Tuyên Xưng Ịức Tin - Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT.. 17

TN21-A20: THẦY LÀ AI ?. 18

TN21-A21: SLC – Giáo Hội 18

TN21-A22: SLCTTY/280 – Thầy là ai?. 19

TN21-A23: Giêsu, Ngài là ai? - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb. 19

TN21-A24: Người ta bảo Thầy là ai - Lm Ịan Vinh. 20

TN21-A25: ANH PHÊRÔ, ANH LÀ ĐÁ - Huyền Đồng. 23

TN21-A26: Phê-rô Tuyên Xưng Ịức Giê-su là Con Thiên Chúa - John Nguyễn. 24

TN21-A27: Đi Sau Chúa - Lm Bùi Quang Tuấn CSsR.. 25

TN21-A28: NGƯỜI KI-TÔ HỮU - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 26

TN21-A29: SLCTTY/280 -  Thầy là ai?. 27

TN21-A30: Mầu nhiệm Giáo Hội 28

TN21-A31: THÔØI ÑIEÅM ANH LÍNH MAÙT THÖÙ THIEÄT.. 29

TN21-A32: NIỀM TIN VÀO CON THIÊN CHÚA.. 30

TN21-A33: CON BẢO THẦY LÀ AI?! - Trần Mỹ Duyệt 31

TN21-A34: Con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa. 32

TN21-A35: NỀN TẢNG GIÁO HỘI 32

TN21-A36: Đức Chúa Giêsu mà anh chị đang tin đó là ai ?”. 34

TN21-A37: CẦN MỘT CHỌN LỰA - Lm. Vũ Xuân Hạnh. 34

TN21-A38: Đức tin do Thiên Chúa phú bẩm.. 36

TN21-A39: ĐỐI VỚI CON, THẦY LÀ AI ?”. 36

TN21-A40: Ý Chúa. 37

TN21-A41: Nhận lãnh trách nhiệm Chúa trao. 38

TN21-A42: Ôi Thiên Chúa Nhiệm Mầu! 40

TN21-A43: Trên Đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy. 42

TN21-A44: Đá tảng thật - đá tảng dỏm.. 44

TN21-A45: Những Phê-rô mới cho thời đại hôm nay. 46

TN21-A46: Đức Kitô, Ngài là ai?. 47

TN21-A47: Cêsarêa Philippi và Giêrusalem: biểu tượng cho hai ý nghĩa khác nhau. 48

TN21-A48: CƠ CHẾ HỮU HÌNH.. 49

TN21-A49: Sống đức tin. 50

TN21-A50: HỘI THÁNH CỦA CHÚA - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt 51

 

TN21-A1: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Phêrô tuyên xưng đức tin

Phải luôn lẩn tránh những địch thù quấy nhiễu Ngài, Đức Giêsu dẫn dắt môn đệ của Người đi: TN21-A1

Phải luôn lẩn tránh những địch thù quấy nhiễu Ngài, Đức Giêsu dẫn dắt môn đệ của Người đi vào một chỗ những cuộc tĩnh tâm liên tiếp. Nó đặt cột mốc - vừa về địa lý, vừa về tinh thần - trên chặng đường tìm hiểu căn tính thực của Ngài.

Vừa trải qua cuộc tranh luận với Biệt phái, những kẻ xin Người làm một dấu lạ, này đây Đức Giêsu và các môn đệ sang miền đất dân ngoại, phía nguồn sông Giođan. Césarée Philipphe là thành phố mới được xây dựng do kinh phí của hoàng tử Philipphe, con của vua Hêrôđê Cả. có ý tôn vinh hoàng đế Rôma, nên đã đặt tên là Césarée. C. Tassin chú giải: Dân ở đây là người Siri gốc Hy Lạp, họ thờ cúng thần Pan và thần Nymphe, tạo nên một khung cảnh gần giống với môi trường mà Matthêô đang sống (L'Evange le de Matthieu” (Centurion, trang 173).

Chính tại đây, trước khi khởi hành đi Giêrusalem trong cuộc hành trình cuối cùng mà Đức Giêsu đặt câu hỏi quan trọng mà chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay.

- Con Người, Đức Giêsu hỏi, người ta bảo Con Người là ai?

+ Chúa đã dùng hình ảnh “Con Người”, một hình ảnh mầu nhiệm (xem Danien 7,13) mà Matthêô nhắc lại tới 30 lần trong chính Tin Mừng của ông, để nói về chính mình và sứ mạng của Người: một con người thực thụ có tương quan với Thiên Chúa Đấng Cứu độ.

+ Để đáp lại câu hỏi, các môn đệ đã nêu ra một loạt các ý kiến về Người. Mọi ý kiến đều coi người là một nhân vật đóng vai trò quan trọng, như là Gioan Tẩy Giả đã sống lại từ cõi kẻ chết, như ngôn sứ Êlia mà dân chúng trông đợi trở lại để loan báo Chúa Cứu thế đến, như ngôn sứ Giêrêmia, một vị ngôn sứ phản kháng vì bị phản kháng, như một ngôn sứ nào đó.

- Còn anh em, Đức Giêsu hỏi thẳng ý kiến các ông, anh em bảo Thầy là ai? - Simon Phêrô trả lời, tuyên xưng đức tin “Thầy là Đấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống”. Lúc này ông không những là phát ngôn viên của nhóm môn đệ, nhưng còn là gương mẫu cho việc tuyên xưng đức tin Kitô hữu.

Lời đáp của Phêrô, theo C. Tassin, nhắc lại một mẩu tuyên tín phụng vụ của Hội Thánh thời Matthêô (sđd). Trong đó người Kitô hữu tuyên xưng đức tin cách toàn vẹn.

. “Thầy là Đấng Messia” (tiếng Hy Lạp Christos) nghĩa là Đấng được xức dầu mà các ngôn sứ đã tiên báo; Đấng đáp ứng lòng mong đợi bao thế kỷ của Israel, Đấng thực hiện mọi lời hứa của Thiên Chúa nói với dân Người.

. “Con” nghĩa là Đấng liên kết với Thiên Chúa bằng một dây liên hệ có một không hai.

. “Của Thiên Chúa hằng sống” nghĩa là, theo truyền thống Kinh Thánh, là Thiên Chúa ban sự sống, còn theo quan niệm Kitô giáo, là Thiên Chúa, Đấng làm cho Đức Giêsu từ trong cõi kẻ chết sống lại.

- “Con có phúc”, Đức Giêsu đã thốt lên câu đó, cũng là dạng thức Kinh Thánh của “Bát phúc” để chào mừng “con của Yona”, là người vừa nhìn nhận Người như “con của Thiên Chúa hằng sống”. Bởi vì Simon Phêrô không có thể công bố lời tuyên xưng này phát xuất từ thịt và máu, nghĩa là phát xuất từ bản tính nhân loại yếu giòn, nhưng chỉ có thể phát xuất từ cuộc mạc khải thần thiêng. “Bản văn không đề xuất cho Phêrô công lao đặc biệt nào, cũng không đề cao ông như một anh hùng của đức tin. Tác giả chỉ nhấn mạnh tính chính xác của đức tin nơi Phêrô, bởi vì nó đến từ một mạc khải thần thiêng” (C. Tassin).

2. Sứ mạng “đá” nền tảng của Phêrô.

Những lời long trọng mà Đức Giêsu phán chỉ về Simon Phêrô chỉ có trong Tin Mừng Matthêô.

“Anh là đá, trên đá này...”.

+ Trong Kinh Thánh sự thay tên đổi họ thường chỉ rằng sứ mạng Thiên Chúa trao làm cho người nhận thành một người mới. Cũng như Abram, khi được đổi thành Abraham thì thấy mình được giao sứ mạng trở nên “tảng đá duy nhất”, từ đó phát xuất cả một dân tộc (Is 51,1-2).

+ Trong ngôn ngữ Aramê “Kê pha” “Đá” không phải là một tên riêng, nhưng chỉ là một danh từ. Đặt cho ông cái tên mới này, nó sẽ thay thế hẳn tên cũ, Đức Giêsu tỏ cho thấy Người giao cho ông một sứ mạng: ông sẽ là đá nền, đá tảng, đá sẽ bảo đảm cho toà nhà mà Người sẽ xây dựng được vững chắc.

“Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy...”.

+ Trong Kinh Thánh, từ “Hội Thánh” (nguyên ngữ mang ý nghĩa mời dự hội) chỉ cộng đoàn tôn giáo của Israel, cộng đoàn mà Thiên Chúa đã quy tụ giữa loài người để trở thành dân của Giao ước, dân - dấu chỉ lòng thương xót và tình thương của Thiên Chúa.

+ Từ ngữ này được dùng ở đây, lần đầu tiên trong Tin Mừng Matthêô, ở trên đất ngoại giáo, để chỉ cộng đồng những người mà Đức Giêsu quy tụ, giữa các dân tộc tràn qua mọi biên giới để làm nên một dân của Giao ước mới, dân - dấu chỉ ơn cứu độ cho mọi người.

Nếu cộng đồng này đứng trên tảng đá Phêrô thì quyền lực của sự chết cũng không thể phá đổ được.

“Thầy ban cho con chìa khá Nước Trời”.

+ Không nên nghĩ đến những chiếc chìa khoá hiện đại thời chúng ta, mà phải nghĩ đến những chìa khoá của những thành phố cổ, những lâu đài vua chúa. Loại chìa khoá giống như những thanh sắt khổng lồ mà người ta mang trên vai. Trao chìa khoá cho ai là trao cho người đó nhiệm vụ thủ tướng.

+ Trao cho Phêrô chìa khoá Nước Trời, Đức Giêsu làm cho Phêrô thành thủ tướng. Người trao cho ông quyền lực chính Người nắm giữ, như sách Khải Huyền diễn tả: “Đấng Chân Thật, Đấng Thánh, Đấng giữ chìa khoá của Đavit. Người mở ra thì không ai đóng lại được. Người đóng lại thì không ai mở ra được” (đoạn văn có liên quan với 22 trong bài đọc I).

Chức vụ trao cho ông ở đây là ở dưới đất; ông không phải người canh giữ cửa thiên đàng (C.Tassin): Phêrô là người bảo lãnh, là thông dịch viên của sứ điệp cứu rỗi của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống.

“Sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”.

Cầm buộc/Cởi mở là những thuật ngữ vùng Palestine chỉ ý nghĩa đại khái: toàn bộ quyền lực, như thiết lập luật pháp, như loại trừ một ai ra khỏi cộng đoàn hoặc cho phép một ai gia nhập cộng đoàn.

+ Trong Mt 18,18 quyền cầm buộc cởi mở được hứa ban cho các môn đệ (ở số nhiều) như vậy không chỉ dành riêng cho Phêrô, nhưng Phêrô chia sẻ quyền đó với những người phụ trách khác.

. Dặn dò giữ im lặng

Tin Mừng Chúa nhật hôm nay kết thúc bằng một lời khuyến dụ ngược đời: “đừng nói với ai Người là Đấng Messia”. Tại sao có lời khuyến cáo này sau cuộc tưng xung đức tin cảm động như vậy? Chắc hẳn danh xưng “Messia” còn mang ý nghĩa mơ hồ, còn mang nhiều trông đợi có tính dân tộc quá khích, đi ngược lại sứ mạng mà Người nhận được từ Chúa Cha - phản ứng của Phêrô mà ta sẽ đọc trong Chúa nhật tới minh chứng điều đó.

Chỉ những ai mở tâm hồn đón nhận mạc khải thập giá mới hiểu chính xác danh xưng ấy. Thật vậy, chỉ dưới ánh sáng của cuộc Khổ nạn - Phục sinh danh xưng Messia mới tìm thấy ý nghĩa đích thực, và mọi ngộ nhận sẽ vĩnh viễn bị dẹp tan.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Thầy là Đấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mgr. Daloz, trong cuốn “Le règne de Dieu est approché” Desclée de Brouwer 1993, trang 237-238).

“Đức Giêsu không chỉ là một tôn sư khởi xướng một trào lưu tâm linh; Người không phải một ngôn sứ được sai đến để cảnh tỉnh hoặc kêu gọi người ta trưởng thành với giao ước. Sự nhận biết Đức Giêsu vượt quá điều đó. Với những kẻ Chúa gọi và đã đi theo Người, Chúa đặt câu hỏi: Còn anh em, anh em nghĩ Thầy là ai? Người cũng hỏi chúng ta câu đó. Người muốn chúng ta tiến tới, phát huy trong việc khám phá ra bản ngã đích thực của Người. Ta không thể tự thoả mãn khoác cho Người những mong ước của ta, hoặc phóng lên Người những ước vọng của ta. Cần phải đi xa hơn những ý kiến của những con người, cần lột bỏ những ấn tượng hời hợt, cần chấp nhận rằng không thể nắm bắt và không thể tóm gọn Người vào những ý tưởng và những ước muốn của ta. Như ta đã thấy đó, có một hiểu biết về Đức Giêsu theo cách loài người “Người ta bảo Thầy là ai?”. Từ thời Thượng cổ, trải qua giai đoạn lịch sử đã có rất nhiều câu giải đáp. Những giải đáp ấy vừa không vô nghĩa, vừa không đáng coi thường. Nhưng sự hiểu biết đích thực không chỉ của loài người đâu - Nó là do Thiên Chúa ban cho: “Không ai có thể biết Chúa Con chỉ trừ Chúa Cha” (11,27). Bởi vậy Đức Giêsu nói cho Phêrô biết do đâu ông có sức lực nhận biết và tuyên xưng đức tin của ông: “Simon con Jona, phúc cho con, vì không phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con điều đó, nhưng là chính Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. Một con người, con người rặt chính miệng Simon con ông Jona, nhận quyền do Thiên Chúa quyền kêu đích danh xác thật của Đức Giêsu - Lời tuyên xưng của ông đã trở thành tiêu chuẩn cho các môn đệ Chúa mọi thời đại. Nhưng lời tuyên xưng nó đã không tránh cho ông chối Chúa 3 lần. Ông vẫn còn là con người phàm tục - còn mang tính người với những ưu và khuyết điểm của con người. Tuy nhiên ông được chọn để đáp câu hỏi của Đức Giêsu và để làm điều đó ông nhận được mạc khải do Chúa Cha ban - Từ đó ông trở nên tiêu chuẩn về sự chính xác cho mọi lời tuyên xưng đức tin và cho sự nhận biết chính xác về Thiên Chúa. Nhờ ông mà người tín hữu có thể vượt xa ngoài tầm vóc những lời người ta dư luận. Đức tin của ông nâng đỡ đức tin của chúng ta”.

2. “Con là Đá” (J.Potin trong cuốn “Jésus, l'histoire vraie”, Centurion, 1994, trang 322).

Hội Thánh của Đức Giêsu, ở đây Người kêu là “Hội Thánh của Người”, được xây dựng trên nền tảng là đức tin vào thiên tính của Người. Hội Thánh đó chỉ một mảng dân Israel chấp nhận đi vào giao ước mới. Simon, do việc tuyên xưng, đã trở nên viên đá tảng, trên đó Đức Giêsu xây “Hội Thánh của Người” bởi vì Hội Thánh đó là cộng đoàn những kẻ tin rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Ông nhận được tên mới: Kêpha, Đá - Quyền lực của tử thần (dịch theo chữ: quyền lực hoả ngục), nghĩa là mọi thế lực nhằm chống lại sự thiết lập vương quốc, không có sức phá đổ Hội Thánh đó. Mà ngược lại, Đức Giêsu sẽ ban cho Hội Thánh của Người quyền và thế mà Ngài thi hành ở trong tay Người. Thiên Chúa công nhận Hội Thánh của Con của Người chính thức là dụng cụ đặc trưng để điều hành vương quốc của Người giữa loài người. Những phát quyết và nghị định của Hội Thánh này được Thiên Chúa công nhận là do Chúa ban hành.

Phải chăng Đức Giêsu phán những lời này trong khi đi đường lên Giêrusalem? Có nhiều nhà chú giải đặt những lời này sau biến cố Phục sinh, trong một cuộc hiện ra. Thật vậy, trước khi Chúa chết, từ “Hội Thánh chỉ thấy xuất hiện có một lần duy nhất ở Mt 18,17 nói về đời sống của cộng đồng Kitô hữu.

Lời tuyên bố với Phêrô xem ra diễn tả cách Hội Thánh sơ khai hiểu về chính mình: Hội Thánh tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa. Simon Phêrô đã là phát ngôn viên của lời tuyên xưng. Lời tuyên bố cũng có liên hệ với việc đổi tên Simon ra Kêpha: Đá. Trong tiếng Aramê, Đá không phải là một tên riêng. Tên mới này chí tính cách vững bền của đá tảng mà người ta có thể xây an tâm trên đó... Phêrô là đá tảng mà Đức Giêsu sẽ xây Hội Thánh của Người. Do đó Người sẽ trao ông địa vị ưu tiên trên nhóm Mười Hai. Ông được Hội Thánh nhìn nhận dưới cái tên mới và coi như quên hẳn cái tên cũ kia”. 

Về đầu trang

TN21-A2. Suy Niệm của Lm. Augustine, SJ.

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

"Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16,16)

Hôm đó là ngày 13 tháng 5, 1981 vào lúc 5 giờ chiều thứ tư như thường lệ, Đức Giáo Hoàng: TN21-A2

Hôm đó là ngày 13 tháng 5, 1981 vào lúc 5 giờ chiều thứ tư như thường lệ, Đức Giáo Hoàng xuất hiện trước công chúng tại quảng trường thánh Phêrô. Xe hơi của Đức Giáo Hoàng chở ngài đi một vòng xung quanh quảng trường để vẫy tay chào đám đông dân chúng. Ngài xuất hiện rất thoải mái. Một nữ tu người Ba Lan thốt lên "Giáo Hoàng trông trẻ biết chừng nào!", khi xe đi qua trước mặt bà. Xe còn đi vòng trở lại hai lần nữa. Thình lình xảy ra tiếng súng nổ, Đức Giáo Hoàng trong trang phục áo dài trắng, ngã người ra chạm vào viên quan thị vệ.

Đức ông bí thư Đức Giáo Hoàng là Thành Cát Tư Vinh (Stanislao Dziwisz), hỏi ngài bị thương ở đâu, thì được trả lời "ở bụng". Đức ông còn hỏi "có đau không?" ngài trả lời "đau".

Ngay khi tài xế của Đức Giáo Hoàng nhận ra ngài bị trúng đạn, anh đã lái xe về phía xe cấp cứu gần nhất ở cổng Đ gần Vatican. Vì xe cấp cứu này không có bình ôxy, nên Đức Giáo Hoàng được chở tiếp đến xe cấp cứu thứ hai.

Đức ông bí thư nhớ lại: "Đức Giáo Hoàng đã không hề nhìn chúng tôi. Ngài luôn nhắc đi nhắc lại lời ngỏ cùng Đức Mẹ: "Ôi Maria! Mẹ của con! Ôi Maria! Mẹ của con!" Mắt ngài luôn nhắm. Ngài tỏ ra rất đau đớn. Ngài không hề thốt ra một lời thất vọng và tức giận nào; chỉ có những lời cầu nguyện uyên thâm như bình thường, để át đi sự đau đớn ghê gớm. Về sau, Đức Giáo Hoàng nói với tôi rằng ngài vẫn tỉnh táo cho đến khi chúng tôi tới bệnh viện. Chỉ khi đến đó ngài mới bất tỉnh. Suốt thời gian trên xe, ngài vẫn tin rằng vết thương của mình không hề nguy hiểm đến tính mạng."

Sau này, Đức Gioan Phaolô II đã tâm sự với nhà báo người Pháp là Anrê Phương Sơn (Frossard) rằng: "Trong chớp mắt, tôi đã ngã xuống quảng trường đền thờ thánh Phêrô. Tôi có linh cảm rất rõ rằng tôi vẫn sống và điều chắc chắn này luôn luôn ở bên tôi ngay cả trong khoảnh khắc tồi tệ nhất."

Chuyến đi tới bệnh viện Giang Minh (Gemelli) mất 8 phúc. Với huyết áp đang tụt xuống và nhịp tim dường như yếu hẳn đi, Đức Giáo Hoàng được đưa vào căn phòng cấp cứu ở tầng 7, rồi được chuyển sang phòng mổ. Đức ông bí thư tháp tùng Đức Giáo Hoàng đã lo liệu để ngài nhận lãnh bí tích cuối cùng ngay trước khi mổ.

Ca mổ kéo dài 5 giờ 20 phút. Đức Giáo Hoàng đã mất 60 phần trăm lượng máu trong cơ thể và máu chảy vào trong. Đức ông bí thư nói rằng: "Những tia hy vọng đã lớn dần lên trong suốt ca mổ. Ban đầu vô cùng nặng nề nhưng sau thấy rõ ràng không một bộ phận quan trọng nào bên trong cơ thể bị tổn thương nên Đức Giáo Hoàng kể như đã được cứu sống." Ngài đã bị thương ở vùng bụng, cùi tay bên phải và ngón tay trỏ ở bàn tay trái.

Viên đạn 9mm có sức công phá rất lớn, song nó đã đi theo một quĩ đạo khác thường mà không gây nên sự hủy hoại nghiêm trọng nào đối với cơ thể của Đức Giáo Hoàng.

"Anh thật là người có phúc" (Mt 16,17)

Đức ông bí thư nhận xét: "Nếu viên đạn trúng vào động mạch chủ thì cái chết sẽ xảy ra trong nháy mắt. Nếu nó không chạm vào xương sống hoặc bất cứ một cơ quan quan trọng nào..., điều đó hoàn toàn là một phép lạ phi thường." Đức Giáo Hoàng và các bác sĩ của ngài đã công nhận điều đó.

Sau này Đức Giáo Hoàng nói rằng: "Một người nổ súng và một người khác lại hướng dẫn quỹ đạo đường đạn."

Một ban thầy thuốc riêng được chỉ định cho ca mổ để cắt bỏ đoạn ruột dài chừng 5 tấc rưỡi. Ban thầy thuốc ấy gồm ba bác sĩ phẫu thuật, một chuyên viên gây mê (là người đã làm gẫy một cái răng của Đức Giáo Hoàng khi luồn ống thở qua miệng) và một chuyên gia về tim cùng với đội ngũ thầy thuốc của Vatican. Cần phải tẩy sạch hoàn toàn khoang bụng dưới, cầm máu động mạch, khâu kín đầu ruột già ở một vài chỗ và kiểm tra hệ thống thải tạm thời - ở hậu môn nhân tạo.

Sau đó Đức Giáo Hoàng được chăm sóc chu đáo giữa sự chờ đợi về tin tức khắp nơi trên thế giới liên quan tới sức khỏe của Đức Giáo Hoàng.

Tới nay mưu đồ sát hại Đức Gioan Phaolô II vẫn còn là một trong những bí mật lớn nhất của thế kỷ.

Tại quảng trường đền thờ thánh Phêrô buổi chiều ngày 13 tháng 5, đúng 5 giờ 17 phút, một người Thổ Nhĩ Kỳ là ANÙá (Mehmet Ali Agca) đã dùng khẩu súng tự động kiểu Browning bắn vài phát đạn mà hai trong số đó đã trúng Đức Giáo Hoàng khi ấy chỉ cách người bắn không xa hơn 20 bước chân. Tức khắc Acca bị một nữ tu túm lấy tay và bị đám đông vây chặt.

Acca nhận tội khi mới bị bắt, rằng y hoạt động một mình. Acca đã bị kết án tù chung thân vào ngày 22 tháng 7, 1981. Thế rồi vào tháng 5, 1982, phạm nhân lại tiết lộ thêm một số những người đã dính líu tới vụ mưu sát, gồm ba nhân viên sứ quán Bungari tại Rôma và bốn người Thổ Nhĩ Kỳ, là những kẻ đồng phạm với y. Thế là vụ mưu sát Đức Giáo Hoàng đã trở nên một trong những bí mất lớn nhất thế kỷ, tới nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Riêng với chính nạn nhân là Đức Gioan Phaolô II, câu chuyện xem ra lại khá đơn giản.

"Quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi" (Mt 16,18)

Tháng giêng năm 1980, người đứng đầu cơ quan tình báo Pháp đã gởi một bức điện cho Đức Giáo Hoàng về âm mưu của cộng sản liên quan tới sự sống còn của ngài. Ông Đình Mã Đằng (Alexandre De Marenches) đã tiết lộ: "Tôi đã được báo trước rằng thông tin này quan trọng bởi vì (trong phạm vi Tây Âu) nó rất đáng tin cậy. Nhưng vị giám đốc cơ quan tình báo Pháp đã viết trong hồi ký: "Giáo Hoàng đã trả lời rằng số mệnh của ông nằm trong tay Chúa."

Thế rồi sau khi xảy ra vụ mưu sát, một người thân tín với Đức Gioan Phaolô II, đã hỏi ngài tại sao không cho phép mở phiên toà về Acca và những kẻ đồng mưu với y, thì Đức Giáo Hoàng đã trả lời rằng: "Điều đó không làm cho tôi quan tâm, bởi vì đó là quỷ Satăng thực hiện công việc này. Và quỷ Satăng có thể bày đặt âm mưu theo hàng ngàn cách, nhưng không một cách nào trong đó khiến tôi phải bận tâm."

Đúng ra, Đức Giáo Hoàng chỉ quan tâm về con người của Acca. Ngài đã tới thăm anh ở phòng giam tại một nhà tù ở Rôma. Đức Gioan Phaolô II đã trò chuyện với Acca bằng tiếng Italia trong vòng 20 phút. Về cuối cuộc thăm viếng, ANÙá đã quỳ xuống hôn tay Đức Giáo Hoàng.

Câu chuyện vừa kể cho thấy hình ảnh sống động của vị kế nghiệp thứ 263 của thánh Phêrô, người đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 16,16). Đức Giêsu xác nhận lời tuyên tín ấy do ơn mạc khải của chính Thiên Chúa, không do loài người (c.17). Hơn nữa, Đức Giêsu còn gọi Simon bằng danh xưng là Đá Tảng (tức Kêpha trong tiếng Hipri) trên đó chính Ngài sẽ xây Hội Thánh của Ngài và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.

Chính Đức Giêsu sẽ quy tụ các môn đệ lại để làm nên Giáo Hội nhưng Ngài qui tụ họ lại trên Phêrô với lời tuyên tín nhờ ơn mạc khải làm đá tảng. Tác vụ đứng đầu các tông đồ được giao cho Phêrô để ông phục vụ đức tin của toàn Giáo Hội.

Hội Thánh sẽ đứng vững trước sự tấn công của Satăng; hơn nữa, Hội Thánh còn có sức mạnh giải thoát người ta khỏi nanh vuốt Satăng.

Trong câu chuyện vừa kể trên ta thấy rõ Đấng kế vị thánh Phêrô làm đầu Hội Thánh quả thật đã tỏ ra hết sức vững tin về quyền lực được ban cho ngài để coi thường âm mưu đen tối của kẻ là cha sự dối trá.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Trong câu chuyện kể trên bạn được đánh động nhất do chi tiết nào trong những chi tiết sau đây: Đức Giáo Hoàng luôn nhắc đi nhắc lại lời ngỏ cùng Đức Mẹ "Ơi Maria, Mẹ của con!"?  Ngài không hề thốt ra một lời thất vọng và tức giận nào?  Một người nổ súng và một người khác lại hướng dẫn quỹ đạo của đường đạn?  Số mạng của tôi nằm trong tay Chúa?  Quỷ Satăng có thể bày đặt âm mưu theo hàng ngàn cách, nhưng không một  cách nào trong đó khiến tôi phải bận tâm?  Đức Giáo Hoàng chỉ quan tâm về con người của kẻ mưu sát ngài là Acca?  Ngài đã đến tận nhà tù để thăm Acca và được Acca quỳ xuống hôn tay ngài?

2. Qua bài Tin Mừng hôm nay bạn thấy được điều gì nổi bật về Giáo Hội: Giáo Hội do chính Chúa Giêsu thiết lập trên lời tuyên tín của tông đồ Phêrô mà Ngài đặt làm đầu Giáo Hội?  Lời tuyên tín ấy do chính Thiên Chúa Cha mạc khải?  Bạn có ý kiến khác? 

Về đầu trang

TN21-A3. TRÊN TẢNG ĐÁ NÀY

Suy Niệm

Trong cộng đoàn Hội Thánh, SIMON là khuôn mặt nổi bật trong nhóm Mười Hai. Ông thuộc: TN21-A3

Trong cộng đoàn Hội Thánh, SIMON là khuôn mặt nổi bật trong nhóm Mười Hai. Ông thuộc nhóm những môn đệ đầu tiên theo Đức Giêsu, và là một trong ba môn đệ thân tín nhất. Ông có mặt lúc Chúa hiển dung và trong Vườn Dầu. Ông thường là phát ngôn viên của cả nhóm (x. Mt 19,27). Đức Giêsu phục sinh đã hiện ra cho ông trước tiên (1Cr 15,5), và giao cho ông chăn dắt đoàn chiên của Ngài (Ga 21,15-17).

Simon có bản tính bộc trực, hăng hái. Vì quá tin vào sức mình, ông đã sa ngã, chối Chúa. Bất chấp những yếu đuối và giới hạn của Simon, Đức Giêsu vẫn chọn ông đứng đầu nhóm Mười Hai, và làm nền tảng cho Hội Thánh của Ngài. Ngài đặt cho Simon một tên mới là Phêrô, tiếng Aram gọi là Kêpha, nghĩa là Tảng Đá. Tên mới này phản ánh sứ mạng Chúa giao cho ông.

Phêrô được tuyên bố là người có phúc, vì ông đã được Cha trên trời cho biết Đức Giêsu là ai. Ông đã tin tưởng đón nhận mạc khải ấy. "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Đó là lời tuyên xưng đức tin của Phêrô. Nhưng ông không chỉ tuyên xưng đức tin của mình, ông còn tuyên xưng tình yêu nữa: "Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy."

Với niềm tin-yêu vào Đức Giêsu, Phêrô sẵn sàng chia sẻ sứ mạng Mục Tử của Ngài, sẵn sàng hiến mình vì đoàn chiên. Quả thực, Phêrô đã giang tay chịu chết như Thầy Giêsu, đã theo Thầy và đến nơi mình không muốn đến. Chúng ta ngỡ ngàng trước sự tin tưởng của Đức Giêsu. Ngài cho Phêrô được chia sẻ trách nhiệm với Ngài. dù ông chỉ là một ngư phủ bình thường, ít học. Chỉ mình Đức Giêsu mới là Nền Tảng (x. 1Pr 2,4-5), nhưng Phêrô cũng được làm nền cho Hội Thánh.

Chỉ mình Đức Giêsu nắm giữ chìa khóa (x. Kh 3,7), nhưng Phêrô cũng được trao chìa khóa Nước Trời. Nếu Phêrô có quyền giáo huấn, quyền thánh hoá và quản trị Hội Thánh, thì chỉ nhằm mục đích là phục vụ Dân Chúa.

Hội Thánh đã gặp biết bao khó khăn trong dòng lịch sử. Không phải chỉ là những cuộc bách hại đẫm máu, mà còn là những chia rẽ, tranh chấp nội bộ, những sa sút trầm trọng vì chạy theo thế gian. Hôm nay, Hội Thánh cũng gặp khó khăn không ít, khi nhiều người bỏ nhà thờ, bỏ đức tin, khi ơn gọi giảm sút ở nhiều nơi, khi Đức Thánh Cha bị công kích… Ước gì mỗi người chúng ta ở lại và yêu mến Hội Thánh, cải tổ và canh tân Hội Thánh bằng việc canh tân chính bản thân mình.

 Gợi Ý Chia Sẻ

Khuôn mặt Hội Thánh vẫn còn nhiều vết nhăn, và trở nên khó coi trước mặt mọi người. Theo ý bạn, đâu là điều cần phải sửa trước hết, để Hội Thánh trở nên đáng tin hơn?

Bạn có khi nào cầu nguyện cho Đức Thánh Cha không? Bạn có cảm được gánh nặng trách nhiệm và nỗi âu lo của Đức Thánh Cha trước những vấn đề của Hội Thánh và của thế giới không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội. Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu. Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài. Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó. Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa.  Amen. 

Về đầu trang

TN21-A4. Câu trả lời của niềm tin

Câu trả lời của niềm tin

Dẫn nhập đầu lễ :

Kính thưa ông bà anh chị em,

Cho dầu chúng ta vẫn có mặt nơi đây hằng tuần để thực hành những bổn phận cốt yếu của niềm: TN21-A4

Cho dầu chúng ta vẫn có mặt nơi đây hằng tuần để thực hành những bổn phận cốt yếu của niềm tin như một chu kỳ thường xuyên nghiêm túc; cho dầu chúng ta đã đọc với nhau không biết bao nhiêu lần kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính… và nhất là cho dù chúng ta là con cháu của tổ tiên đã ba bốn đời nắm giữ đức tin Công Giáo “cha truyền con nối” hay đã trở thành con cái Chúa ở giữa lòng Giáo Hội qua bao năm tháng rồi…thì đức tin vẫn luôn là một “câu chuyện tình mới tinh”; và việc thực hành đức tin đúng nghĩa không bao giờ là một hành vi “sao chép theo quán tính” càng không là một đường mòn xơ cứng, một kỷ niệm nhạt nhòa. Và như Lời Chúa gợi ý hôm nay. Đức tin chính là câu trả lời mới mẻ và thường xuyên vấn nạn : “Các con bảo Thầy là ai”. Liệu chúng ta có sẵn sàng như thánh Phêrô để trả lời dứt dạc : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống !”.

Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh Lễ và để việc cử hành nầy trở nên một hành vi đức tin trọn hảo, chúng ta cùng thú nhận tội lỗi…

Giảng Lời Chúa :

Mùa Chay năm vừa qua, cuốn phim “The Passion” (Cuộc Thương Khó) của đạo diển Mel Gibson đã thu hút sự quan tâm của cả thế giới. Đây không phải là lần đầu tiên Chúa Giêsu trở thành đối tượng cho loại hình “Nghệ thuật thứ bảy” nầy. Và nhất là không chỉ có mặt nơi sân khấu điện ảnh, hình tượng Chúa Giêsu còn xuất hiện trong nhiều loại hình văn học nghệ thuật khác : thi ca, tiểu thuyết, âm nhạc, hội họa…Có chỗ Ngài được đề cao như một thần tượng đầy hấp dẫn và thuyết phục tuyệt đối (Qui luật của muôn đời của Dumbatze), nhưng cũng có khi Ngài bị lột trần xúc phạm như một kẻ phàm phu tục tử đến độ làm sôi lên cơn phẫn nộ của giới Kitô giáo (Cơn cám dỗ cuối cùng của Nikos Kazant-zakis)…Thì ra, Giêsu Na-da-rét, sau 2000 năm, vẫn còn sống mãi giữa lịch sử nhân loại. Nói cách khác, Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn còn là một vấn nạn cho muôn con người, một vấn nạn mà chính Ngài đã đặt ra cho các môn sinh cách đây 2000 năm trước : “Phần các con, các con bảo Thầy là ai ?”.

Đức tin của chúng ta, đức tin của người Kitô hữu, phải chăng chính là câu trả lời dứt khoát và thường xuyên cho vấn nạn đó.

1. Đức tin : một lời đáp, một câu trả lời thiết yếu :

Quả thật, trong đời sống, có những câu trả lời thật quan trọng, ảnh hưởng trên toàn bộ vận mệnh của cả một dân tộc, của cả một đời người. Chỉ một câu trả lời “không” của Nhật Hoàng trước đề nghị đầu hàng vô điều kiện của phe Đồng Minh, hai thành phố Hiroshima và Nazasaki của Nhật bị tiêu hủy bởi hai quả bom nguyên tử của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Bởi một câu trả lời của con gái bà Herodia : “Con muốn đầu Gioan Tẩy Giả…”, lập tức cuộc đời của nhà đại tiên tri của cựu ước bị xóa sổ ! Trên thế giới hôm nay, câu trả lời trong những cuộc thương thuyết chính trị hay trong các cuộc mặc cả với các tên khủng bố cũng rất là quan trọng vì có liên hệ đến sinh mệnh và cuộc sống của rất nhiều người…

Nếu quả thật, câu trả lời cho vấn nạn “các con bảo Thầy là ai” chỉ là một cụm từ, một mệnh đề, cho dù là một cụm từ hay mệnh đề hoa mỹ, trau chuốt, nhưng nếu không liên hệ gì đến con người, đến lịch sử nhân loại, đến vận mệnh cuộc đời, đến sự sống sự chết…thì quả thật câu trả lời đó chả cần thiết.

Thật vậy, vào chính thời điểm câu hỏi đó đặt ra, thì đối với những con người như vua Hêrôđê, như quan tổng trấn Philatô, như các bậc đại gia ăn trên ngồi trước và chức quyền đạo đời ung dung bề thế ở thủ đô Giêrusalem, với vợ đẹp con khôn, với tiền bạc và phương tiện dồi dào… thì “Thầy là ai” mặc kệ Thầy, có liên quan gì đến họ, miễn là đừng làm gì ảnh hưởng đến sự an toàn của họ, vị thế chính trị của họi, sự hưởng thụ của họ. Nếu có, coi chừng họ sẽ loại trừ Thầy như nhỗ một cái đinh.

Tuy nhiên, cũng trong thời điểm đó, câu trả lời “Thầy là ai” lại tuyệt đối quan trọng và cần thiết cho rất nhiều người, những người đang dõi mắt trông chờ ngày hiện thực của những lời sấm ngôn thuở trước như : “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài đã xức dầu tấn phong tôi để tôi đem Tin mừng cho kẻ nghèo…”, hay như trích đoạn Lời Chúa hôm nay : “Chìa khóa nhà Đa-vít Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được. nó đóng lại thì không ai mở ra được…” (BĐ 1). Với họ, duy nhất chỉ có câu trả lời : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” thì : Kẻ mù mới hy vọng được sáng mắt, kẻ què mới hy vọng nhảy cửng lên như nai, kẻ phung hủi bị đọa đầy cách ly ngoài hoang mạc mới có cơ may trở về sống kiếp con người, kẻ lầm đường lạc lối như Maria-Mađalêna, Giakê, Matthêu… mới còn sinh lộ làm lại cuộc đời, và kẻ chết như con trai bà góa Naim, như Lazarô ở Bêtania mới có ngày được thấy lại mặt trời sự sống…

Và suốt 2000 năm nay, có hàng hàng lớp người nhờ câu trả lời như thế mà tìm được ý nghĩa cho cuộc đời, tìm được hạnh phúc đích thực. Nếu không có câu trả lời đó, thì làm gì có cuộc tập họp cả 500.000 ngàn người tại La Vang để chỉ được vài ngày sống cảnh màn trời chiếu đất, hay chính hôm nay, tại một quảng trường ở Cologne Đức Quốc, hàng triệu bạn trẻ từ khắp năm Châu bốn bể tập trung về bên cạnh Vị Mục tử tối cao của Giáo Hội reo vang lời của Ba Vị Đạo Sĩ ngày xưa : “Chúng tôi đến để triều bái Người”.

- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để thế giới hôm nay hòa bình hơn, huynh đệ hơn.

- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để những giá trị tinh thần được thăng hoa, để hạnh phúc các gia đình được thiết định trên nền tảng Tin Mừng, để tình yêu hôn nhân được liên kết và vững bền bằng giao ước thánh, để thiếu nhi được chăm sóc yêu thương và giáo dục, để người trẻ sống có lý tưởng và can đảm dấn thân xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống, để những người già được yêu thương và kính trọng…

- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để chúng ta nhìn nhận nhau là huynh đệ một nhà, để người giàu biết sẻ chia, người nghèo biết khiêm nhu đón nhận, kẻ bịnh hoạn tật nguyền luôn mỉm cười hy vọng được ủi an, người tội lỗi biết mở lòng sám hối để làm lại cuộc đời…

Vâng, câu trả lời “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” không chỉ để trả lời một vấn nạn mà là một tuyên xưng niềm tin, một xác tín, một niềm hy vọng ngút ngàn, một tiếng kêu òa vỡ của hạnh phúc và niềm vui khi chợt khám phá ra “Nước Trời đang đến”, ơn cứu độ đã được trao ban, Thiên Chúa đã nhập thể và đang đồng hành cùng nhân loại.

2. Đức tin : lời đáp trả đòi hỏi phải dấn thân lên đường

Tuy nhiên, đó lại là môt câu trả lời kèm theo một đòi hỏi phải dấn thân chọn lựa. Ở đây, chính là chọn lựa đi con đường thập giá mà Đức Kitô đã đi qua để cứu chuộc muôn người. Khước từ con đường nầy, chọn lựa này chính là sự thỏa hiệp với Satan, là chắp cánh cho sự dữ, là ngăn cản công trình của Thiên Chúa. Phêrô mới vừa được khen tặng trước đó với câu trả lời xuất thần “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”, lại bị quở trách thật nặng lời kế liền sau đó cũng chỉ vì muốn tránh né con đường và chọn lựa nầy : “Satan, lui lại đằng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà là của loài người”. Tuy nhiên, cuối cùng Phêrô đã viết lại nguyên vẹn câu trả lời hôm xưa tại vùng Cê-sa-rê Philip bằng chính chọn lựa nghiêm túc của mình : chịu đóng đinh ngược đầu xuống đất để trung thành trọn vẹn với chính Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng mà Ngài phụng sự, yêu mến và loan báo không mệt mõi.

Cũng như Phêrô ngày xưa, hôm nay rất nhiều người trong chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó của Chúa Giêsu một cách gọn ghẽ, ngon ơ. Tuy nhiên, cũng như Phêrô, sẽ có không ít người tránh né chọn lựa con đường thập giá, khước từ chọn lựa những đòi hỏi dấn thân anh hùng và gian khổ của Tin Mừng để uốn mình nô lệ cho những giàu sang và đam mê thế tục.

Trong sứ điệp gởi cho giới trẻ nhân ngày quốc tế giới trẻ lần thứ XX, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã nhắn nhủ các người trẻ hôm nay :

“Hỡi giới trẻ thân mến, các bạn đừng chiều theo những ảo tưởng sai lầm cũng như những thích thú nhất thời thường lưu lại cho các bạn một thứ trống rỗng tâm linh thê thảm! Hãy bài trừ cái dụ dỗ của giầu sang, của hưởng thụ và của bạo lực tinh xảo đôi khi được các phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến.

Việc thờ phượng Vị Thiên Chúa chân thực là một hành động thực sự chống lại tất cả mọi hình thức ngẫu tượng. Các bạn hãy tôn thờ Chúa Kitô: vì Người là Đá Tảng dựng xây tương lai của các bạn và một thế giới công chính và kết đoàn hơn. Chúa Giêsu là Hoàng Tử bình an: mạch nguồn của sự thứ tha và của giải hòa, Đấng có thể làm cho tất cả mọi phần tử thuộc gia đình nhân loại trở thành anh chị em với nhau. “

Chọn lựa Đức Kitô và con đường của Ngài, chính là chọn lựa “Lời ban Sự sống”, là thực thi những giá trị của Tin Mừng, như lời khai mạc đại hội giới trẻ tại Cologne vừa qua của Đức Hồng y Joachim Meisner :

Đối với Đức Kitô, không có lựa chọn khác. Khi một số môn đệ Ngài không đồng ý với giáo huấn của Ngài, họ quyết định bỏ đi nơi khác. Đức Giêsu hỏi những môn đệ còn lại: "Các con không muốn bỏ đi sao?" Và chính Phêrô là người đầu tiên đã đưa ra với Chúa một câu trả lời nói được là kinh tin kính đầu tiên và ngắn nhất trong Thánh Kinh: "Lạy Chúa, chúng con còn biết theo ai? Chúa có lời ban sự sống đời đời". (Ga 6:68). Kinh tin kính của Thánh Phêrô cũng là kinh tin kính của chính chúng ta: "Lạy Chúa, chúng con còn biết theo ai? Chúa có lời ban sự sống đời đời"

3. Đức tin : Lời đáp trả và câu trả lời của cả Giáo Hội

Câu trả lời của Phêrô không chỉ là một trực giác cá nhân và kết quả của ơn thánh, nhưng còn bao hàm một sự liên đới với Nhóm 12, với Tông Đồ đoàn, với cả Hội Thánh mà Phêrô là Đá Tảng. “Con là Tảng Đá, trên Tảng Đá nầy Thầy sẽ xây hội Thánh của Thầy…”. Cũng chính vì thế, đức tin mà Phêrô tuyên xưng và rao giảng, cho dù trãi rộng ra bốn bể năm Châu, trãi dài qua muôn thế hệ, vẫn là một đức tin Tông Truyền, một đức tin hiệp thông và liên đới. Trong một thế giới đa sắc tộc, đa văn hóa, đa chính trị của ngày hôm nay, chủ nghĩa tự do cá nhân và sống phóng túng đang ảnh hưởng không ít trên đời sống đức tin của con cái Chúa. Có không ít người Kitô hữu hôm nay muốn vượt qua mọi hàng rào luân lý truyền thống của Giáo Hội, của Tin Mừng để sống thoải mái và buông thả với cái tôi ích kỷ và nghèo nàn. Đức tin của chúng ta luôn phải là câu trả lời của Phêrô, của Đá Tảng Hội Thánh. Mẹ Hội Thánh có đủ khôn ngoan và kinh nghiệm để dẫn dắt chúng ta tiến bước trong an bình và hạnh phúc. Sống đức tin hôm nay đó chính là biết vui tươi phục vụ cộng đoàn, xả thân lo công việc chung, hăng hái xây dựng tình bác ái huynh đệ, hiệp nhất, đẩy lùi mọi biểu hiện của tiêu cực và ích kỷ, phe nhóm và đố kỵ, thanh tẩy nảo trạng biệt phái và giả hình…

Bàn Tiệc Thánh Thể hôm nay có thể nói được là một câu trả lời hiện thực nhất : “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” cũng có nghĩa : “Thầy là mình máu được trao ban cho chúng con được nuôi sống hôm nay và mang mầm vĩnh cửu, Thầy là lời chân lý và tình yêu được sẻ chia để chúng con no đầy sự sống, Thầy là sự tha thứ và giao hòa để mở đường cho chúng trở về với Chúa Cha và với anh chị em…”.

Lạy chúa Giêsu, chúng con đang thật sự cần Ngài, vì Ngài là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống.
LM. Giuse Trương Đình Hiền


Về đầu trang

TN21-A5. CÁC CON BẢO THẦY LÀ AI?

LỜI CHẤT VẤN

Câu hỏi xưa kia Chúa Giêsu đặt cho các môn đệ: 'Còn các con, các con bảo Thầy là ai . Hôm: TN21-A5

Câu hỏi xưa kia Chúa Giêsu đặt cho các môn đệ: 'Còn các con, các con bảo Thầy là ai . Hôm nay Ngài còn đặt cho mỗi người chúng ta.

Có thể trả lời hai cách.

Hoặc trả như Phêrô : "Thầy là Con Thiên Chúa hằng sống".

Trả lời như vậy là rất đúng. Nhưng sợ rằng dó là một câu trả lời lý thuyết, hiển nhiên, có sẵn, theo sách vở. Chúng ta học trong sách thế nào thì thưa lại như vậy, chứ chưa chắc đã là xác tín của bản thân.

Cách thứ hai là trả lời theo kinh nghiệm bản thân. Sau khi suy nghĩ, cân nhắc mình nghĩ thế nào, cảm nghiệm điều gì thì nói lên trung thực như vậy.

Theo cách này thì trả lời không dễ và mỗi người có câu trả lời riêng của mình.

Bạn sẽ trả lời như thế nào ? Riêng tôi, tôi sẽ thành thật thưa cùng Chúa như thế này: Thầy là người gây rất nhiều phiền toái cho người khác, là một gương mẫu không thế theo nổi nên dễ làm nản lòng... nhưng đồng thời Thầy li là người mà con cần đến nhất, không thế thiếu trong đời con.

MỘT NGƯỜI GÂY PHIỀN TOÁI

Chúa Giêsu gây rất nhiều phiền toái cho mọi người, nhất là cho những ai muốn theo Ngài. Ngài đòi hỏi quá nhiều. Và những điều Ngài đòi hỏi thường đại ngược lại với bản năng của con người. Ngài mời gọi theo con đường hẹp, và qua cửa hẹp, vác thập giá mỗi ngày. Ngài còn đòi hỏi phải từ bỏ tất cả, kể cả chính bản thân.

Nhiều lúc Ngài đặt người môn đệ trước những lựa chọn rất nghiêm trọng và gay cấn. Muốn trung tín với Ngài nhiều khi phải chịu những thiệt thòi rất lớn, chẳng hạn phải hy sinh tiền của, tình yêu, gia đình, sự nghiệp, tương lai.... Và trong thực tế nhiều người đã không có đủ nghị lực để chấp nhận những hy sinh đó.

Có không ít những lời bộc lộ tâm tình thành thực rất đáng được thông cảm. Một nhà kinh doanh nói: Nếu làm đúng theo lương tâm Kitô giáo thì chúng tôi bị thiệt thòi quá lớn, biết lấy gì mà bù lại được! Một bà mẹ gia đình nói lên tình trạng bối rối: Nếu giữ đúng luật Chúa thì đời sống chúng tôi sẽ vô cùng chật vật, bấp bênh. Một đôi trẻ tâm sự: Nếu không phải là người có đạo thì chuyện tình duyên của chúng tôi gỡ rối cũng chẳng có gì khó. Nhưng khổ là mình có đạo nên mới thành bế tắc.

Còn có nhiều lời khác tương tự, nhiều hoàn cảnh bi thảm khác. Quả thật Chúa Giêsu gây không ít phiền toái, rắc rối. . . làm nhiều người đau khổ.

MỘT GUƠNG MẪU DỄ LÀM NẢN LÒNG

Người tín hữu phải theo gương Chúa Giêsu. Nhưng gương tuyệt hảo, cao siêu của Ngài dễ làm người ta choáng váng. Chúa Giêsu không chấp nhận một lối sống tầm thường. Ngài không muốn chúng ta thánh thiện nửa vời. Ngài chỉ cho thấy một lý tưởng cao vút: hãy nên toàn thiện như Chúa Cha trên trời. Ngài vạch ra một con đường khó đi: hãy sống như Ngài, theo gương Ngài.

Theo Chúa Giêsu còn khó hơn leo núi. Mà chiều cao của ngọn núi này không thể đo được bằng thước trần gian. Càng leo càng thấy cao và càng thấy dốc. Làm sao đôi lúc tránh được cơn cám dỗ ác hại nhất là bỏ cuộc vì nản lòng.

NGUỜI MÀ TA CẦN ĐẾN NHẤT

Nhưng xét cho cùng, Chúa Giêsu vẫn là người mà ta cần đến nhất. Thiếu Ngài là ta sẽ chới với, ngả nghiêng. Cuộc đời sẽ chao đảo, lạc hướng, mất hết ý nghĩa.

Cuộc sống cũng như tâm hồn chúng ta có nhiều tầng lớp nông sâu khác nhau. Nhận định và ý nghĩa về mỗi sự việc tùy thuộc vào vị trí chúng ta đứng mà nhìn.

Nếu ngừng lại ở tầng lớp nông cạn bên trên thì chỉ gặp nơi con người  toàn những khát vọng, ưu tư, toan tính về cuộc sống thường ngày, cuộc sống thể xác, vật chất trước mắt. Những khát vọng, ưu tư này dầu có thiết thân đến đâu thì cũng vẫn chỉ có tính giai đoạn, ngắn hạn, nghĩa là tương đối. Về mặt này thì có lẽ Chúa Giêsu cũng chẳng có ích gì nhiều cho chúng ta.

Nhưng càng đại xuống tầng lớp sâu hơn thì càng dễ khám phá ra những ước mơ thầm kín, thâm sâu của con người. Chúng luôn âm ỉ dưới chiều sâu, ẩn giấu. . . nhiều khi chính mình cũng không thế ý thức được hết. Những ước mơ này liên quan đến vận mệnh và ý nghĩa của cuộc sống. Chúng ta nhận ra mình vẫn mơ ước, ít ra một cách mơ hồ, cái gì chân thật hoàn hảo, vĩnh cửu, nghĩa là mơ ước chân lý, sự toàn thiện,

Vấn đề là ai có thể thỏa mãn được những ước mơ thâm sâu và thầm kín đó ?

Chắc chắn chỉ có mình Đấng đã tự giới thiệu mình là Chân lý và là Sự sống: "Ta là Đường, là Sự thật và là Sự sống".

Chúa Giêsu là Chân lý bất biến và tối hậu. Ngài là Sự sống tràn đầy và vô tận. .. trong khi sự sống thân xác chỉ là một tia lửa lóe lên chốc lát rồi lại tắt ngắm trong đêm dài bất tận. Ngài còn là Đường an toàn, chắc chắn, đưa hết thảy chúng ta tới Chân lý và Sự sống trọn vẹn.

Chính vì thế mà Ngài là người mà chúng ta cần đến nhất, một người không thế thiếu.. . mặc dầu sự hiện diện của Ngài có gây phiền toái, và sự thánh thiện của Ngài đôi khi có làm cho chúng ta nản lòng.

Cho nên lời tuyên xưng xưa của Phêrô còn phải trở thành kinh nghiệm riêng của mỗi người chúng ta hôm nay :"Lạy thầy, bỏ Thầy con biết đi theo Ai". 

Về đầu trang

TN21-A6. HÃY GIÚP ĐỠ ĐỨC  GIÁO HOÀNG.

Thomas Edison là một trong những nhà phát minh lớn nhất của mọi thời. Có nhiều người biết được: TN21-A6

Thomas Edison là một trong những nhà phát minh lớn nhất của mọi thời. Có nhiều người biết được Edison, dầu không có đạo, mà có lòng kính mến đặc biệt đối với những người tu hành chân chính. 64 năm trời, ông đã khoản đãi với các nữ tu xin ông giúp đỡ, nhất là đối với các “nữ tu nhỏ của người nghèo”. Ong rất thán phục Đức giáo hoàng Piô XI. Biết được rằng Đức thánh cha hàng ngày tràn ngập với những thư từ làm Ngài phải chú ý nhiều. Ông đã thiết kế một máy đọc cho viết đặc biệt để dâng tặng Ngài. Để tỏ lòng biết ơn, Đức giáo hoàng đã gửi tặng nhà khoa học, một huy chương với sự chúc lành của cá nhân Ngài. Huy chương đó được Edison quý trọng với cảm tình đặc biệt.

Chúng ta vừa nghe Chúa Giêsu chỉ định thánh Phêrô làm giáo hoàng đầu tiên, Chúa chúng ta muốn xây Giáo hội của Ngài trên đá này, không gì có thể phá đổ đá đó, Giáo hội đó. Chúng ta có rất nhiều bằng chứng rằng: Chúa Giêsu có ý định đặt Phêrô làm người lãnh đạo Giáo hội của Ngài, bằng tất cả các đức giáo hoàng đã được chấp nhận như thế, rằng phần đông các Ngài là bậc thánh thiện và thông thái. Nhưng hôm nay tôi muốn chỉ ra rằng nhiều người bạn công giáo, như Thomas Edison, có lòng kính phục con người của đức giáo hoàng, và chức vụ Ngài nắm giữ. Họ nhận biết lòng nhân ái và sự cao cả đích thực.

Chẳng hạn như ông Will Rogers đã có lần dâng tặng vật này cho Đấng Thiên Chúa: “Ngài là Vị lãnh đạo duy nhất trên thế giới ngày nay mà chúng tôi biết điều gì Ngài ám chỉ khi Ngài nói”. Điều đó xác thực biết bao ngay chính trong thời đại chúng ta.

Một số giáo hoàng cách đây, một nhóm nghệ sĩ Mỹ đã viếng thăm Đức giáo hoàng Piô XII, trong số đó, có thượng nghị sĩ Alben Barkley, sau này làm phó tổng thống. Tất cả đều xúc động trước sự hiện diện và lời nói của Đức Thánh cha. Trước khi ban phép lành, đức giáo hàong đã tiếp riêng một vị Thượng nghị sĩ Barkley nắm lấy tay Đức giáo hoàng và kêu lên: “lạy Đấng Thiên Chúa, xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho Ngài – Ngài đang thực hiện một công việc lạ lùng”.

Myzon Taylor, một người thuộc giáo phái trưởng lão, đại diện cho tổng thống Roosevelt ở Vatican đã hết lời ca tụng Đức giáo hoàng, và hệ thống điều hành Giáo hội công giáo. Làm sao mà toàn thế giới, nhất là thế giới ngoài công giáo đã đáp lại tình yêu thương của Đức giáo hoàng Gioan  XXIII nhân lành.

Giáo hội Luther ở thành phố Denver, bang Colorado đã chào đón lễ đăng quang của đức giáo hoàng Phaolô VI với sứ điệp trên tập san của họ: “Xin Thiên Chúa chúc lành  cho Đức giáo hoàng Phaolô VI. Xin Thiên Chúa hướng dẫn và ban sức mạnh cho Đức Phaolô VI, để Ngài lãnh đạo dân Chúa lớn lên trong tình yêu và quan tâm đến mọi dân mọi nước”.

Nhiều người ngoài công giáo rất kính trọng Đức giáo hoàng: còn chúng ta, những người ở trong gia đình đức tin, càng phải có lòng tôn kính sâu xa đối với Đấng Thiên Chúa. Ngài là vị đại diện Chúa Kitô đối với chúng ta, Ngài là tảng đá mà trên đó, Giáo hội được xây dựng nên. Chúng ta sẽ cầu nguyện cho Ngài trong ít phút nữa, với những lời: “... lạy Chúa, xin nhớ đến Hội Thánh Chúa lan rộng khắp hoàn cầu, để kiện toàn Hội Thánh trong đức mến, cùng với Đức giáo hoàng Gioan Phaolô”. Giáo hội Luther đã cầu nguyện cho Đức giáo hoàng, thì chắc chắn chúng ta phải cầu nguyện cho Ngài. Ông Thomas Edison đã dâng cho Đức giáo hoàng một máy đọc biết viết, thì chắc chắn chúng ta có thể làm điều gì thiết thực qua đồng tiền thánh Phêrô.

Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

Về đầu trang

TN21-A7. CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG

Trong những giờ chầu Thánh Thể, ta vẫn hát “này con là Đá ..”.  để cầu nguyện cho Đức Thánh: TN21-A7

Trong những giờ chầu Thánh Thể, ta vẫn hát “này con là Đá ..”.  để cầu nguyện cho Đức Thánh Cha. Lời hát như vang vọng tiếp nối một truyền thống thật xa lên đến giờ phút ở  Xêđarê Philipphê khi Chúa Giêsu lập Giáo Hội với một nhóm nhỏ còn lang thang dong ruổi hành trình rao giảng Nước Trời, chưa hình thành một cơ cấu chặt chẽ và ổn định.

Không biết mỗi tần hát chúng ta có đủ lắng sâu để chiêm ngấm biến cố lạ lùng khi Chúa Giêsu quyết định đặt một con người mỏng manh đến thế để làm đầu Giáo Hội và làm đá tảng để Ngài xây dựng Giáo Hội của Ngài trên đó. Ngay chính khi vào giờ đó Phêrô cũng chưa mường tượng ra được Giáo Hội mà ông được trao phó cho trách nhiệm thánh thiêng và cao quý ngần ấy sẽ như thế nào và sẽ thành hình ra sao?

1. MỘT QUYẾT ĐỊNH DỰA TRÊN MẶC KHẢI

Ở một địa điểm xa với những sinh hoạt chính trị và tôn giáo, Đức Giêsu đã muốn cho các môn đệ của mình có dịp đào sâu mối tương quan thân tình và sâu đậm với Ngài để rồi đến một lúc nào đó khi ân sủng đã đầy tràn, đã tác động nơi những con người mỏng dòn và nhỏ bé này thì Ngài đặt ra cho họ một câu hỏi trở nên căn bản cho mọi thời. .

“Còn các con, các con bảo Thầy là ai?”

Đức Giêsu là ai đối với các môn đệ quả thật là hệ trọng  vì nó xác định mối tương quan thật sự giữa họ và Thầy mình. Điều nầy đã trở nên cốt thiết đến nỗi nó sẽ chi phối toàn thể cung cách sống và hoạt động của họ.

Nếu người ta không gặp và biết Đức Giêsu là ai. Thực sự là ai thì mọi nỗ lực xây dựng đều không có nền móng vững chắc. Chỉ cần một khủng hoảng, một biến động nào đó của hoàn cảnh đủ làm sụp đổ toàn bộ những kiến tạo vừa mới được thiết lập. Người ta có thể theo Chúa Giêsu một khoảng thời gian nào dó để rồi sẽ hối tiếc vì mình đã lầm tưởng và không thể đáp trả trước một đòi hỏi cho là quá lớn của một Đấng, mà mình chưa coi là số một của đời mình. Chúng ta thường thấy Chúa Giêsu nói câu này : Lòng tin của con đã cứu chữa con”  Ngài luôn muốn nối một cây cầu gặp gỡ với những ai lãnh nhận ơn lành của Ngài. Như vậy Ngài không chỉ bằng lòng với việc họ đã nhận được điều nầy điều nọ mà Ngài phải là ai đối với họ.

"Đức Giêsu thực sự là ai? "

Câu trả lời chính xác vẫn không nằm trong tầm tay của ta mà chỉ có ân sủng mới cho ta lời giải đáp trọn vẹn. Lời tuyên tín của Phêrô không phải là thành quả của việc tổng kết các lời nói việc làm của Đức Giêsu dẫn Phêrô đến chỗ khám phá ra chân tính của Đức Giêsu mà là một tác động thần linh đã soi tỏ cho Phêrô biết.

"Anh thật có phúc vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy mà là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời  (Mt 16,17)

Bởi vì những gì thuộc về máu thịt, trí tuệ cùng lắm chỉ là một tiên tri hay tệ hơn chỉ là một vĩ nhân dù đó là vĩ nhãn số một của nhân loại. Nhưng hơn thế nữa: “Ngài là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống”. Để nghiệm được điều đó, đón nhận được mầu nhiệm ấy, không chỉ cần khiêm tốn của trí tuệ mà cần nhận được mặc khải từ nơi Thiên Chúa.

Lời tuyên tín của Phêrô tỏ cho thấy ông được Chúa Cha mặc khải cho mầu nhiệm cơ bản của Nước Trời và là dấu sự chọn lựa của Thiên Chúa. Đức Giêsu biết rằng đã đến lúc Ngài có thể khởi đầu việc đặt nền móng xây dựng một tòa nhà kiên cố liên quan đến toàn bộ chiều dài của lịch sử? “Trên táng đá nàyThầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”  Một quyết định thật bất ngờ nhưng lai dựa trên ý định của Cha nơi mặc khải cua Ngài.

2. HỘI THÁNH TRÊN TẢNG ĐÁ SỐNG

Khi thoáng nhìn một con thuyền nhỏ bé lênh đênh trên biển cả bao la, ta chợt có ý tưởng nghi ngại: một con thuyền như vậy liệu có thể vượt đại dương đầy sóng gió hãi hùng, đầy bão tố hiểm nguy để về đến bến bình yên không.

Cũng như vậy, tự nhiên ta sẽ nghĩ về Phêrô : ông cũng chỉ là một con người với vô vàn khuyết điểm, yếu đuối mà ta đã thấu rõ chất người của ông lúc ông sợ hãi can ngăn Chúa Giêsu lên Giêrusalem, khi ông nhát đảm chối bỏ Thầy trong dinh thượng tế. Thế mà ông lại được chọn để làm nền cho Giáo Hội và mọi quyền lực âm phủ không lay chuyển nổi.

Sự an toàn không ở nơi tảng đá sống đó mà ở nơi lời tác tạo của Đức Giêsu, lời bảo đảm cho công trình của Ngài. Chỉ có lời của Đức Giêsu làm nền tảng thực sự cho Giáo Hội vừa được chính thức thiết lập.

Phêrô - người và những đấng kế vị mãi là những viên đá sống động nên không thiếu những yếu hèn và khuyết điểm. Nhưng Thiên Chúa thì mạnh mẽ và trung tín với lời hứa của Ngài. Nhờ đó chúng ta sẽ không nao núng, hay thất vọng trước những yếu kém nào đó của những con người trong Giáo Hội. Chính Chúa sẽ thi thố quyền năng, giữ gìn và bảo vệ công trình tay Ngài dựng nên.

3. CỘNG TÁC VỚI ÂN SỦNG VÀ KHIÊM TỐN ĐÓN NHẬN

Chúa Giêsu đã không khen Phêrô có công trong lời tuyên tín chuẩn mực của ông. Tất cả đều là ơn nhưng không của Thiên Chúa, nhưng Phêrô diễm phúc vì đã để cho mặc khải của Thiên Chúa được tự do hành động trong con người của mình. Mặc khải đã đến trong tâm hồn, trí tuệ và lời nói của Phêrô đã bật ra thành lời tuyên xưng tuyệt dic. Ông đã không cản trở tác động của ơn thánh mà cộng tác để làm lộ ra mặc khải Thiên Chúa ông đã nhận được nơi bản thân. Điều nầy có vẻ là một thái độ thụ động, nhưng thật ra đây cũng là một thái độ cần thiết đòi hỏi nỗ lực đón nhận và tự do ưng thuận. Thiên Chúa luôn để cho ta được tự do đáp trả điều Ngài muốn làm nơi ta, vì thế sẵn sàng mở cửa cho ơn thánh cũng là một thái độ cộng tác với ơn của Thiên Chúa. Ngài muốn dùng ta như trung gian ân huệ Thiên Chúa.

4. CÂU HỎI DÀNH CHO MỖI NGƯỜI

“Đức Giêsu là ai đối với bạn ? "

Câu hỏi ấy vẫn mãi vang lên trong Hội Thánh và giữa nhân loại. Không biết Đức Giêsu và không biết Ngài là ai đối với mình thì mọi chức vụ đều vô nghĩa. Người ta không thể phục vụ mà lại không biết rõ người sai gởi mình. Chính trong mối tương quan với đức Giêsu mà sau ngày Phục Sinh Đức Giêsu lại tiếp tục hỏi Phêrô về lòng yêu mến. Có biết đức Giêsu và yêu mến Ngài người ta mới có thể sống tận cùng sự phục vụ và yêu mến tha nhân.

Để biết Đức Giêsu, người ta sẽ phải tìm kiếm Ngài, hiểu biết Ngài và nhất là gặp gỡ Ngài. Nhờ những giờ phút gần gũi, những khoảnh khắc lắng nghe Lời Ngài, những thời gian sống cho Ngài, người ta sẽ có được một kinh nghiệm, một tương quan cá vị, và điều này sẽ giúp tăng tiến mối quan hệ với đức Giêsu.

"Đức Giêsu  ai đối với tôi? "

Câu hỏi ấy dành cho chính tôi - Tôi sẽ trả lời thế nào? Không thể lấy lại những gì tôi đã nghe người khác nói về Ngài. Còn bản thân thì chưa biết Ngài như một em bé học giáo lý đã phải khóc thốt nên rằng "Sao ai cũng nói về một người tên là Giêsu, nhưng con chẳng biết ông là ai? Con chưa bao giờ gặp ông ấy !”

Tệ hơn nữa có khi ta vẫn cứ tuyên xưng: Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống mà thực sự ta chẳng hề tin, chẳng hề hiểu và chẳng hề sống lòng tin của mình.

Có lẽ chính chúng ta sẽ phải đi tại hành trình khám phá Đức Giêsu: nhìn lại những sợi dây nối kết chúng ta với đức Giêsu hơn là bằng lòng với những gì người khác nói cho ta về Ngài.

Lời Chúc phúc cho Phêrô hôm nay cũng sẽ là Lời chúc phúc cho tất cả những ai nhận thực Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, để rồi thể hiện rõ nét trong đời sống mình tuyên xưng mà chúng ta vẫn đọc trong Kinh Tin Kính: "Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô Con một Thiên Chúa ... " 

Về đầu trang

TN21-A8. THẦY LÀ ĐỨC KITÔ

Hiệp nhau trong Thánh lễ này, chúng ta xin Chúa ban mọi ơn lành cho cuộc sống của chúng ta: TN21-A8

Hiệp nhau trong Thánh lễ này, chúng ta xin Chúa ban mọi ơn lành cho cuộc sống của chúng ta, nhưng đồng thời chúng ta cũng xin Chúa tha thứ những lỗi tầm vì đã nhiều tần chúng ta không cộng tác với ơn Chúa, đã không dùng ơn Chúa cho nên. Xin Chúa tiếp tục thương đổ muôn ơn lành xuống trên cuộc đời của chúng ta, giúp chúng ta canh tân đời sống để mỗi ngày được trở nên giống Chúa hơn.

Đoạn Tin Mừng hôm nay được suy niệm hai tần: một vào dịp lễ kính thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, và một trong Chúa Nhật XXI Quanh Năm hôm nay. Biến cố được nhắc đến trong đoạn Tin Mừng hôm nay làm nổi bật hai đặc điểm về hai con người nơi thánh Phêrô: Đó là một con người của ân sủng, biết cộng tác với ơn soi sáng của Chúa để tuyên xưng đức. Tin chân thật: thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Và một là con người yếu đuối trần tục suy tưởng theo cách thức trần gian, bị giới hạn trong cái nhìn vụ lợi không chấp nhận, không hiểu chương trình cưu rỗi của Thiên Chúa thực hiện qua mầu nhiệm Thập giá, qua cái chết và sống lại của Chúa Kitô, đến độ thánh nhân đã bị Chúa quở trách: "Hỡi Sa tan, hãy lui ra khỏi Ta, vì con suy tưởng theo lý luận của con người, chứ không theo tư tưởng của Thiên Chúa. Vì con biết những sự thuộc về loài người, mà chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa".

Nơi mỗi người chúng ta, những đồ đệ của Chúa, dù ở bậc nào đi nữa, chắc chắn chúng ta cũng có hai con người này: một con người được ân sủng thánh luyện, thánh hoá, soi sáng và hướng dẫn. Đây là con người mới theo cách nói của thánh Phaolô tông đồ. Và một con người cũ có thói quen tật xấu, suy tư theo những lý luận trần tục xa rời chương trình của Thiên Chúa.

Hơn ai hết, thánh Phaolô tông đồ đã cảm nghiệm được kinh nghiệm sống này nơi chính bản thân, nên có tần ngài đã thốt lên: "Tôi không làm điều tốt mà tôi ưa thích, tôi lại làm điều xấu mà tôi không muốn". Cuộc giằng co giữa ân sủng và tội lỗi này đã làm cho ngài đôi khi mệt mỏi, nên đã phải xin Chúa can thiệp để cất đi điều ngài không muốn. Nhưng Chúa Giêsu đã nâng đỡ thánh Phaolô: "Ơn Ta đủ cho con. Đừng sợ!” Chính vì thế mà hơn ai hết, thánh Phaolô tông đồ đã trình bày cuộc sống với Chúa Kitô, cuộc sống trong ơn nghĩa Chúa như là một cuộc chiến đấu, một cuộc chạy đua, một cố gắng không ngừng để cộng tác với ân sủng của Chúa, để mặc lấy con người mới và từ bỏ con người cũ của mình.

Trở lại bài Phúc âm hôm nay, chúng ta có thể nhận thấy thêm một điểm nữa là mặc dù Phêrô đã nhiều tần, chứ không phải chỉ một tần mà thôi, là ngài đã nhiều tần sống theo con người cũ, con người trần tục Nhưng Chúa Giêsu, Ngài đã không thay đổi chương trình Ngài đã chọn, đã sắp xếp cho Phêrô: "ơn Ta đủ cho con". Chúa đã muốn xây dựng Giáo Hội của Ngài trên con người của Phêrô, trên con người được ơn Thiên Chúa soi sáng: "Phêrô con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và cửa hỏa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá Nước Trời". Ơn Chúa luôn ban xuống tràn đầy, Ngài không muốn bỏ chương trình Ngài đã thực hiện qua mỗi người chúng ta, mặc dù đôi khi chúng ta không đáp lại hết lòng mình về ân sủng của Chúa, Chúa Giêsu đã nhắn nhủ Phêrô: "Khi nào con trở lại, hãy nâng đỡ và củng cố anh em con". Lời nhắn nhủ của Chúa cho Phêrô là hãy biết thông cảm nâng đỡ anh em, vì chính ông cũng đã được Chúa thương tha thứ, nâng đỡ thông cảm khi ông lỗi tầm.

Thêm một bài học nữa cho mỗi người và cho cộng đoàn chúng ta đang sống cũng như cộng đoàn các tông đồ sống quanh Chúa Giêsu ngày xưa, tất cả các cộng đoàn ấy cũng gồm những con người vừa tốt, vừa xấu, vừa thánh thiện vừa tội lỗi, vừa muốn làm điều tốt mà mình không làm được, nhưng lại làm điều xấu mà mình không muốn, vừa cộng tác với ơn Chúa, nhưng đôi khi cũng chối bỏ Ngài.

Chúng ta hãy cố gắng phát triển con người mới, con người được ân sủng Chúa thánh hoá để luôn giữ vững đức tin của mình mà tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và chấp nhận đi trên con đường mà Chúa đã đi qua, con đường cứu rỗi nhân loại qua cái chết và sống lại của Ngài trên Thập giá: "Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình, vác Thập giá mình hằng ngày mà theo Ta".

Chúng ta hãy cố gắng phát triển con người mới nơi cuộc sống của mình và đồng thời biết thông cảm nâng đỡ với những bất toàn tội lỗi của anh em xung quanh. Dù sao đi nữa, chương trình của Thiên Chúa không bị hư đi vì những tội lỗi của con người hay vì những tầm lỗi sai trái của Phêrô, nhưng chỉ vì yêu mà Thiên Chúa luôn thự hiện chương trình cứu rỗi nhân loại. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được vững mạnh trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh Tin Kính.  

Về đầu trang

TN21-A9. Suy Niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống...

Đoạn này cho thấy 3 mức độ hiểu biết về Chúa Giêsu: 1. Mức độ của dân chúng : nếu chỉ Ngài dạy: TN21-A9

Đoạn này cho thấy 3 mức độ hiểu biết về Chúa Giêsu :

1. Mức độ của dân chúng : nếu chỉ thấy những việc Chúa Giêsu làm và nghe những lời Ngài dạy mà không suy nghĩ thêm thì người ta chỉ biết Ngài là một ngôn sứ thôi.

2. Mức độ của Phêrô : được ơn Chúa soi sáng, Phêrô hiểu Chúa Giêsu là Đức Kitô Con Thiên Chúa. Nhưng nếu ơn soi sáng của Thiên Chúa không có sự hợp tác là sự “đi theo” của con người thì dù có hiểu biết Chúa Giêsu, con người vẫn có thể phản đối và cản bước Thiên Chúa.

3. Mức độ Chúa Giêsu đòi hỏi nơi người môn đệ : hiểu biết Chúa Giêsu cộng thêm sự từ bỏ và vác thập giá đi theo Ngài.

B.... nẩy mầm.

1. Tôi hiểu biết Chúa Giêsu tới mức độ nào :

- Coi Ngài là một ngôn sứ. Do đó tôi chỉ liên hệ với Ngài để xin ơn ?

- Coi Ngài là Đức Kitô Con Thiên Chúa, là lẽ sống đời tôi, nhưng lại sợ khó, ngại khổ ?

- Sẵn sàng bỏ tất cả và vác thập giá đi theo Ngài ?

2. “Con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” : cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng và cho Giáo Hội.

3. Chúng ta có nhiều cách để khước từ thập giá : khi không tiếp nhận cuộc sống như một ơn ban, khi chỉ bị quay nhìn về các biến cố và con người, khi bán đứng lương tâm vì chút lợi lộc vật chất, khi đóng kín niềm tin trong các buổi phụng vụ mà quên rằng sống đạo là sống niềm tin kitô trong từng phút giây cuộc sống. ("Mỗi ngày một tin vui")

4. Ngày kia, hoàng đế của một vương quốc lớn đã mời gọi các nghệ sĩ từ nhiều nước đến dự cuộc thi “mô tả chân dung hoàng đế”. Các nghệ sĩ Ấn Độ đến với đầy đủ dụng cụ và các thứ đá hoa kim cương quí nhất. Các nghệ sĩ Ai cập thì mang đến đủ thứ đồ nghề và một khối cẩm thạch hảo hạng. Sau cùng người ta rất nhạc nhiên khi thấy phái đoàn Hy Lạp chỉ mang vỏn vẹn một gói thuốc đánh bóng.

Mỗi phái đoàn dự thi trong một căn phòng đặc biệt của cung điện. Khi thời gian đã hết, Đức vua cho trưng bày các tác phẩm tranh giải. Ông hết sức khen các bức chân dung của chính mình do các nghệ sĩ Ấn Độ và Ai cập tạc nên. Sau cùng đến phòng trưng bày của người Hy Lạp, hoàng đế chỉ thấy duy nhất một bức tường đã được đánh bóng đến độ khi hoàng đế nhìn vào ông thấy khuôn mặt của mình hiện ra từng nét. Và phái đoàn Hy Lạp đã đoạt giải nhất trong cuộc thi đó.

Sứ mệnh căn bản của mỗi kitô hữu là hoạ lại dung nhan của Đức Kitô nơi cuộc sống và tâm hồn của mình. Để đạt được điều đó, chúng ta phải đục đẽo, phải loại bỏ tất cả những gì là gồ ghề, thô nháp, những thói hư tật xấu và phải cầu xin để có một đức tin vững mạnh.

Lạy Chúa, xin cho con biết kiên nhẫn đục đẽo tâm hồn và cuộc sống con để dung nhan Ngài giãi sáng qua mọi hành vi của đời sống con. (Hosanna)

5. Ông Simon Phêrô thưa : “Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16)

Hằng ngày tôi phải đối mặt với biết bao vấn đề, biết bao chuyện mà Thiên Chúa đòi tôi phải làm chứng cho Ngài. Trước bao vấn đề cần sự can thiệp của tôi : kỷ luật trong lớp học, dàn hoà một cuộc cãi nhau hay một xích mích, giúp đỡ kẻ nghèo... Tôi chỉ biết suy nghĩ cách giải quyết này đến cách giải quyết khác. Tất cả chỉ là những lý tưởng. vì chúng chỉ lẩn quẩn trong đầu tôi mà không thể đi tới hành động.

 Ông Phêrô đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, nhưng khi chối Chúa 3 lần, ông đã không dám dấn thân đến cùng cho niềm tin. Và đức tin không có việc làm là đức tin chết !

Lạy Chúa, xin ban Thần Khí của Người, để con mạnh dạn tuyên xưng Chúa bằng chính hành động của con. (Hosanna)  

Về đầu trang

TN21-A10. GIÁO HỘI CHÚA KITÔ

“Con là đá…”

Một tờ báo Ý đã tiết lộ một tin quan trọng về Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tờ báo cho biết: TN21-A10

Một tờ báo Ý đã tiết lộ một tin quan trọng về Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Tờ báo cho biết, khi Đức Giáo Hoàng còn là một sinh viên du học tại La Mã, một hôm đã cùng với các bạn đi thăm Cha đáng kính Piô, một vị Linh mục được Chúa in 5 dấu thánh. Vừa gặp, Chúa Piô ôm chầm lấy Ngài và nói rằng một ngày kia Cha sẽ làm Giáo Hoàng và sẽ chịu đau khổ, máu sẽ chảy. Wojtyla trả lời: Điều ấy tôi không sợ vì tôi sẽ không bao giờ làm Giáo Hoàng. Nhưng Thánh ý Chúa nhiệm mầu! Wojityla đã làm Giáo Hoàng và máu đã chảy trong cuộc mưu sát ngày 13-10-1981 tại công trường Thánh Phêrô được Chúa trao quyền tối thượng. Bài Phúc Âm quan trọng hôm nay nhắc lại sự kiện ấy.

Bài Phúc Âm có thể gồm tóm trong ba câu hỏi trả lời sau đây: Giêsu, Chúa là ai? Phêrô, ông là ai? Giáo Hội là gì?

Trước hết, Chúa Giêsu là ai?

Hôm nay Chúa Giêsu đem các môn đệ đến tận nguồn sông Giođan, dưới chân núi Hermon. Trong cảnh núi rừng, xa quần chúng, Chúa Giêsu đột ngột hỏi các Tông đồ: “Người ta bảo Thầy là ai? Nhiều câu trả lời được nêu ra, nhưng Chúa muốn biết không phải dư luận người khác, mà chính ý nghĩa của các Tông đồ. Nên nhìn vào họ, Chúa hỏi: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô liền thưa: “Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống”. 

Câu chuyện tuyên xưng ấy tật là lớn lao, vừa phát xuất từ cõi lòng của Phêrô, vừa là một ơn soi sáng của Đức Chúa Cha. Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa xuống làm người để cứu chuộc chúng ta, mặc khải cho chúng ta Thiên Chúa và ơn cứu độ. Đó là căn bản đạo Thánh.

Câu chuyện tuyên xưng Đức Tin của Phêrô được Chúa ca ngợi. Và đến lượt Chúa sẽ trả lời cho ta biết Phêrô là ai? Quyền bính mà ông được trao phó, được Chúa mô tả bằng ba hình ảnh:

Phêrô là một tảng đá, là nền móng bất di dịch của Giáo Hội: “Hỡi Phêrô, con là Đá, trên Đá này, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy. Và tất cả quyền lực của hỏa ngục không làm gì được”. Một lời hứa long trọng ghê gớm.

Phêrô là gì nữa? Phêrô vững chắc như bàn thạch giữa ba đào, là một vị thủ lãnh có quyền bính trên trời dưới đất. Để biểu lộ tư tưởng đó, Chúa phán: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời, sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng sẽ cầm buộc, và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng sẽ cởi mở”. Phêrô là vị thủ lãnh quyền năng. Tại Thánh đường Thánh Phêrô, du khách nhìn bên phía tả một kho tượng khổng lồ, Thánh Tông đồ ngồi trên ngai tòa, trên tay cầm một chìa khóa lớn. Bàn chân đã mòn nhẵn vì bao nhiêu người qua bao thế hệ, đã đặt những cái hôn vào đó.

Sau cùng câu hỏi thứ 3, Giáo Hội là ai? Phúc Âm cũng trả lời cho chúng ta. Giáo Hội là thành phần những người tin vào Chúa Kitô, như Phêrô, với Phêrô. Một người có đức Tin là một Giáo Hội. Ta còn nhớ câu trả lời của một em bé, khi nghe tên cán bộ cộng sản nói rồi đây sẽ không còn Giáo Hội, rằng: “Giáo Hội vẫn còn, Giáo Hội là tôi”. Giáo Hội sẽ bị bách hại, Chúa đã tiên báo, nhưng Giáo Hội sẽ cùng Chúa Giêsu chung một số phận, cùng chia sẻ đau thương, thì cùng chung hưởng ngày toàn thắng.

Giáo Hội của Chúa chính là mỗi người chúng ta: “Chúng ta hãy hiên ngang vì được làm con Giáo Hội” (Mẹ Thánh Têrêsa).

Về đầu trang

TN21-A11. NHẬN LÃNH TRÁCH NHIỆM CHÚA TRAO

GỢI Ý GIẢNG

1. Mỗi người chúng ta cũng là một viên đá sống động

Bài Tin Mừng hôm nay kể rằng Thánh Phêrô đã được Đức Giêsu chọn làm tảng đá để xây dựng: TN21-A11

Bài Tin Mừng hôm nay kể rằng Thánh Phêrô đã được Đức Giêsu chọn làm tảng đá để xây dựng Hội Thánh của Ngài trên đó. Nhưng ngoài tảng đá Phêrô, Chúa còn xây dựng Hội Thánh của Ngài trên tảng đá nào khác nữa không ? Đây là một câu hỏi thú vị. Câu hỏi thú vị này lại có câu trả lời thú vị không kém, mà lại là câu trả lời của chính tảng đá Phêrô : Thưa có, mỗi Kitô hữu cũng là một viên đá để xây dựng Hội Thánh. Nguyên văn câu nói của Phêrô trong thư thứ nhất của ngài là : "Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên Đền thờ thiêng liêng" (1Pt 2,5) Như thế, thánh Phêrô không dành độc quyền xây dựng Hội Thánh mà chia quyền ấy cho mọi Kitô hữu. Công đồng Vaticanô II cũng nói không khác với Phêrô : Mọi Kitô hữu đều có sứ mạng xây dựng Hội Thánh, mỗi người trong cương vị của mình, hoàn cảnh của mình và theo khả năng của mình. 

Có một bài cầu nguyện rất đặc biệt mà tôi đã đọc trong một quyển sách. Tôi không còn nhớ tựa đề quyển sách đó, cũng không nhớ tên tác giả, nhưng vẫn nhớ nội dung lời cầu nguyện ấy mặc dù không nhớ kỹ từng lời. Đó là lời cầu nguyện của một viên gạch. Viên gạch này nằm sát chân tường. Đôi khi nó nhìn lên những viên gạch khác và trong lòng nó chợt nảy ra những so sánh, những ước ao, và nó cầu nguyện như sau :

Lạy Chúa, con chỉ là một viên gạch tầm thường nằm sát dưới chân tường.
Con không được như viên gạch xây cửa, ở ngay tầm mắt người ta.
Con không được như viên gạch xây mặt tiền, hãnh diện nhìn người qua kẻ lại và sung sướng được người ta khen đẹp.
Con không được như viên gạch trong phòng khách, hàng ngày được người ta lau chùi đánh bóng. 
Con chỉ là một viên gạch tầm thườg nằm sát chân tường.

Nhưng viên gạch ấy ra suy nghĩ, rồi nó cầu nguyện thêm :

Nhưng lạy Chúa, con vui vì chỗ ở của con, con vui với nhiệm vụ của con. Con mừng vì con cũng có góp phần trong ngôi nhà xinh đẹp này. Không có phần nhỏ bé và âm thầm của con thì bức tường sẽ đổ, ngôi nhà sẽ sập.. .

Mắt tiền xinh đẹp kia không còn, cánh cửa xinh đẹp kia không còn, phòng khách xinh đẹp kia cũng không còn

2. Xây nhà trên đá

Bài Tin Mừng về việc Chúa chọn Phêrô làm đá tảng xây dựng Hội Thánh khiến ta liên tưởng tới một đoạn Tin Mừng khác, Đức Giêsu nói về việc xây nhà trên đá (Mt 7,24-27).

Xây nhà trên đá là gì ? Thưa là biết lắng nghe Lời Chúa và nhất là sau đó đem Lời Chúa ra thi hành. Đức Giêsu bảo người đó là người khôn. Còn kẻ nào không lắng nghe Lời Chúa và nhất là không thi hành lời Chúa thì giống như người ngu xây nhà trên cát.

Mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm xây dựng Giáo Hội, xây dựng giáo xứ, xây dựng xã hội và xây dựng gia đình. Việc xây dựng đầu tiên, làm nền tảng cho mọi cuộc xây dựng tiếp theo, chính là nỗ lực lắng nghe và sống Lời Chúa.

3. Đừng là gánh nặng cho nhau mà hãy là đá để thành chỗ dựa cho nhau.

Trong cuộc sống chung, khi mọi việc đều êm xuôi tốt đẹp thì hòa thuận yêu thương nhau rất là dễ, hạnh phúc như đang bao bọc chung quanh mình. Nhưng khi khó khăn xảy đến thì mọi người đều buồn phiền, bực bội, gắt gỏng... Một chuyện nhỏ cũng có thể gây nên một xung đột lớn. Tại sao thế ?

Thưa vì trong những lúc khó khăn như thế, người ta chỉ còn nghĩ đến nỗi khổ của mình mà không còn nghĩ đến người khác, người ta chỉ nhớ rằng người khác phải có trách nhiệm với mình mà quên rằng mình cũng có trách nhiệm với người khác.

Ai nấy cũng đã khổ rồi, sao còn vô tình làm khổ nhau thêm ? Phải chi mỗi người nhớ đến trách nhiệm của mình để đến an ủi người khác, san xẻ gánh nặng của người khác, và trở thành chỗ dựa cho người khác thì tốt hơn biết mấy

Hạnh phúc không phải do thụ động chờ mà tới. Hạnh phúc phải do con người xây dựng, người này xây dựng cho người kia, mọi người xây dựng cho nhau.

4. Chuyện minh họa.

a/ Trách nhiệm âm thầm

Có một người làm công, ngày ngày đi quét lá rừng rụng xuống, gom lại một nơi rồi hốt đi. Một hôm một đoàn người lên rừng chơi, thấy người quét lá họ rất đỗi ngạc nhiên, và họ càng ngẩn ngơ khi biết rằng chính Hội đồng Thành phố đã thuê với số lương 7000 đồng một tháng.

Sau một hồi vãng cảnh, đoàn người trở về. Một số người tìm đến ông Chủ tịch Hội đồng thành phố đề nghị hủy bỏ phụ khoản chi tiêu cho việc quét lá rừng vì quá vô ích. Ông Chủ tịch cũng như Hội đồng chẳng hiểu căn do của phụ khoản kia, vì họ chỉ làm theo truyền thống, nên cuối cùng quyết định không thuê người quét lá rừng nữa.

Ngay giữa thành phố có một cái hồ rộng lớn, nước trong xanh, cây to in bóng mát, người qua lại dập dìu. Mọi người ca tụng nó là viên ngọc trai điểm trang cho thành phố. Nhưng lạ thay, một tháng sau ngày người quét lá rừng nghỉ việc, nước hồ trở nên đục ngầu bẩn thỉu, không còn thấy bóng người hóng gió ngoạn cảnh, quán xá bên bờ hồ vắng tanh... Cả thành phố trở nên buồn tẻ mà không hiểu tại đâu. Hội đồng Thành phố nhóm ngay phiên họp bất thường để tra xét hiện tượng trên. Và sau cùng họ tìm ra nguyên nhân: do người phu quét là rừng nghỉ việc nên lá rừng rụng xuống, gió đùa lá bay tứ tung trên mặt đường, rồi rơi xuống hồ nước trong xanh, gây nên tình trạng ô nhiễm... ."

Và ngay hôm đó họ tái dụng người phu quét lá với số lương cao hơn xưa. (Trích “Phúc”)

b/ Trung thành với trách nhiệm

Một ngày nọ vào năm 1780 bỗng dưng cả vùng tiểu bang Connecticut bị tối hẳn lại. Ai nấy đều cho rằng đã đến ngày tận thế. Khi đó Hội đồng lập pháp tiểu bang đang họp. Nhiều người yêu cầu hoãn cuộc họp để họ có thể về nhà cùng với gia đình chờ Chúa đến. Nhưng ông chủ tịch nói : "Không biết hôm nay có phải là ngày tận thế hay không. Nếu không thì không cần hoãn họp. Còn nếu phải thì chúng ta càng cần chu toàn nhiệm vụ hơn nữa. Xin thắp nến lên  (Dnnkwater). 

Về đầu trang

TN21-A12. ĐỨC TIN VỮNG NHƯ TẢNG ĐÁ

Khi nhận một chức vụ to lớn, người ta phải long trọng tuyên thệ trước toàn dân, trước pháp luật: TN21-A12

Khi nhận một chức vụ to lớn, người ta phải long trọng tuyên thệ trước toàn dân, trước pháp luật, dù Chủ tịch hay Tổng thống cũng phải nghiêm chỉnh tuyên thệ làm tròn sứ mệnh quốc dân trao phó.

Phêrô trước khi được Thầy đặt làm đá tảng xây tòa nhà Giáo hội, đã phải quyết liệt tuyên xưng đức tin chân thật của mình : “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”.

Những người khác chỉ biết Thầy là Gioan tẩy giả, Thầy là Elia, Giêrêmia hay một tiên tri nào khác. Họ coi Thầy là một người phàm trần, một người nổi hơn người khác về chức vụ. Họ không thể nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa đến cứu độ trần gian.

Riêng Phêrô, ông đã tuyên xưng rõ rệt và dứt khoát Thầy là Đấng hằng sống như xưa Thiên Chúa đã tỏ cho Môsê biết : “Ta là Đấng tự hữu, Đấng hằng có”. Đấng ban sự sống, sự hiện hữu cho muôn loài. Chỉ có Đấng hằng sống mới cứu con người khỏi chết, Phêrô đã nhận ra Đấng ban sự sống cho mình, ông không còn sợ chết nữa.

Ông đã trở nên bất tử, sống trường tồn vững chắc như đá tảng để Thầy xây Hội thánh vững mạnh đến muôn đời. Đồng thời ông cũng là người được nắm giữ chìa khóa nước Trời hằng sống đó.

Chìa khóa đó cũng chính là đức tin của ông, xin ông trao ban chìa khóa đức tin ấy cho chúng tôi để chúng tôi cũng được mơ ước hằng sống cho mình và nhiều người. Chính ông không có chìa khóa đức tin đó. Máu huyết của ông thuộc loài hay chết và không có xác phàm nào cho ông được đức tin hằng sống đó. Chỉ có Cha Thầy là Đấng hằng sống đã ban chìa khóa hằng sống đó cho ông. Vậy ông đã được không công, thì ông hãy cho chúng tôi cách vô vị lợi để ông xứng đáng làm nền tảng Hội thánh cho muôn dân được hằng sống.

Êlyakim trong Bài đọc I (Is. 22, 19-23), cũng như Phêrô, được Thiên Chúa trao cho chức vụ làm tướng phủ của triều đình vua Êzêkia thay cho Shêbna, để làm sứ giả đi điều đình với quân hùng tướng mạnh của vua Sennakia đang đe dọa xâm chiếm Giêrusalem. Sở dĩ Êlyakim được làm tướng phủ và thành công trong việc cứu dân ông là nhờ ông đã vững tin vào lời Chúa phán cùng tiên tri Isaia rằng : “Đừng sợ những lời lộng ngôn của bầy tôi vua Sennakia, Ta sẽ cho nó linh cảm và nghe tin đồn mà lui về quê quán ; và Ta sẽ cho nó ngã gục vào gươm đâm chính ở quê nhà nó” (Is. 37, 6-7).

Êlyakim đã tin lời Chúa và đã cứu dân khỏi chết. Phêrô đã mạnh mẽ tuyên xưng Đức tin vào con Thiên Chúa, đã được làm Thủ tướng tiên khởi của nước Trời.

Chiêm ngưỡng những kỳ công của Thiên Chúa đã làm, Thánh Phaolô đã ca tụng : “Thiên Chúa thật giàu có, khôn ngoan, thông suốt dường bao, vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại. Xin tôn vinh Chúa mãi muôn đời. Amen” (Rm. 11, 33. 36 - Bài đọc II).

Lạy Chúa, Chúa đã làm tất cả mọi sự tốt đẹp như khi Chúa tạo dựng trời đất muôn vật : “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra : và này tốt lành quá đỗi” (St. 1, 31).

Xin cho con biết chiêm ngắm những công trình kỳ diệu đó như Thánh Phaolô, để xin tôn vinh Chúa suốt đời. Xin cho con biết tuyên xưng đức tin mạnh mẽ như Thánh Phêrô để tham gia vào công cuộc xây dựng Hội thánh, xây dựng nước Trời và biết nghe lời Chúa để làm cho dân tộc được hòa bình hạnh phúc như tướng phủ Êlyakim xưa.

Về đầu trang

TN21-A13: Các Con Cho Thầy Là Ai? - Lm D. Nguyễn Ngọc Long

Mt 16, 13-20

Tạp chí Reader’s Digest - Das Best số tháng 4/1999 trang 116 đăng kết quả Bản thăm dò ý kiến: TN21-A13

Tạp chí Reader’s Digest - Das Best số tháng 4/1999 trang 116 đăng kết quả Bản thăm dò ý kiến của người dân Ịức về Ịức Tin vào Thiên Chúa:50 phần trăm người được hỏi ý kiến vào lứa tuổi từ 14 đến 39 tin vào sự sống vĩnh cửu mai sau; trái lại chỉ 38 phần trăm người vào lứa tuổi 60 còn tin vào điều này.70 phần trăm đều cho rằng xã hội bây giờ không tin vào Thiên Chúa nữa. 78 phần trăm những người trẻ thuộc thế hệ từ 14 đến 29 tuổi cảm thấy đời sống tôn giáo càng ngày càng biến mất trong đời sống; và họ cho là tình trạng này xảy đến quá sớm...Hội Thanh Thiếu Niên Công giáo thuộc Giáo phận Munich thăm dò ý kiến 1200 bạn trẻ về vai trò Chúa Giêsu trong đời sống tinh thần của họ... Phần đông cho biết Chúa Giêsu Kitô không còn chiếm địa vị trung tâm đời sống tinh thần họ nữa! Bản đúc kết đi kết luận: Trong đời sống tôn giáo của người trẻ ngày nay, niềm tin Kitô giáo không còn hấp dẫn hay gây nhiều ảnh hưởng nơi họ. Chúa Giêsu dần dần ít được nhắc tới trong các buổi thuyết trình, hay nếu có cũng chỉ được nêu ra như một nhân vật lịch sử.Như thế có thể nói hình ảnh về Thiên Chúa, về Chúa Giêsu, trung tâm điểm của niềm tin Kitô giáo không còn ăn rễ sâu nơi tâm thức con người, ít là nơi những người trẻ tương lai của xã hội, Giáo hội nữa!Vậy đâu là ý nghĩa câu hỏi của Thầy Giêsu năm xưa cho chúng ta ngày nay: “Các con cho Thầy là ai?ỮÔng Phêrô xưa kia nhân danh anh em môn đệ trả lời Thầy mình: “Thầy là Ịức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống!ỮTôi không tin Ông Phêrô trả lời theo cách suy tư lý luận thần học khúc mắc khô cứng với nhiều trích dẫn dài dòng ngày nay. Nhưng câu trả lời đó do Thần Linh Thiên Chúa đánh động tâm hồn Ông nói ra. Câu trả lời ngắn gọn biểu lộ niềm xác tín của tâm hồn đơn sơ mộc mạc của bác sống nghề thuyền chài lưới ngoài sông biển!Vậy niềm tin đó từ đâu mà ông có? Lòng tin đó không phải tự dưng từ trời rơi xuống, nhưng là kết quả của năm tháng ngày giờ tiếp xúc, nghe nhìn tận mắt Thầy Giêsu.Lúc đầu các môn đệ theo Thầy Giêsu cũng nghĩ Thầy mình là một nhà giáo có nhiều tài năng thu hút con người, hay một Tiên Tri như các tiên tri thời Cựu ước, và cũng có thể là một Gioan Tẩy Giả! Nhưng với thời gian gần Thầy, các Ông nhận ra Thầy mình không phải như vậy. Thầy Giêsu giảng dậy không căn cứ vào luật lệ truyền từ xa xưa, vào sách vở. Nhưng lời Ngài nói phát ra luồng mãnh lực, một Người đầy uy quyền: "Các con nghe nói, luật xưa truyền dậy rằng... nhưng Thầy bảo cho các con hay...(Mt 5,21...) Ngài quả quyết, chính Ngài có quyền trên ngày Sabbath (x.x.Mt 12,8). Và dân chúng kính phục uy tín quyền năng Ngài, chính lời Ngài đã đi sâu vào tim óc người dân (x.x. Mt 7,29).Ịời sống, lời giảng dậy của Ngài hoàn toàn khác biệt với các Tiên tri thời Cựu ước. Lời Ngài không phải chỉ là mớ điều khôn ngoan, điều răn đe, kêu gọi phải ăn năn sám hối, nhưng là lời ban ơn tha thứ làm hoà, khoan dung nhân ái, điều này ai có thể làm được, nếu không phải chỉ một mình Thiên Chúa! (Mt 9,2).Mối liên hệ giữa Ngài với Thiên Chúa Cha không phải là tôi tớ, nhưng là liên hệ thân tình cha con. Ngài là sứ giả rao giảng tình yêu Thiên Chúa, nhưng vị Sứ giả đó lại chính là trung tâm của sứ điệp tình yêu (Mc 8,35; Mt10,37).Các môn đệ thán phục Thầy mình, ngày càng nhận ra và tin vào Ngài. Dân chúng kính phục đổ xô đến nghe ngài giảng thuyết. Nhưng những lời quả quyết về Ngài phát xuất từ chính Ngài làm cho người nghe không khỏi bất mãn khó chịu đến nghi ngờ.Phêrô và các môn đệ tin vào Thầy mình không qua do hiểu biết nghiên cứu học hỏi lý luận, nhưng qua gặp gỡ, đối thoại, nghe Ngài giảng thuyết. Chính từ mảnh đất đó Thần Linh Thiên Chúa tác động soi chiếu tâm hồn các ông nhận ra Thầy mình là Ịức Kitô Con Thiên Chúa.Tò mò theo Chúa để tin vào Ngài, hay tin vào Chúa để theo Ngài. Cả hai thái độ đều biểu lộ một tâm hồn sẵn sàng gặp gỡ Chúa, qua việc đọc Lời Chúa, nghe Lời Chúa và ngắm nhìn Chúa trong thiên nhiên, nơi con người.Và qua đó tìm ra trả lời cho câu hỏi: "Các con cho Thầy là ai?"

Lm D. Nguyễn Ngọc Long

Về đầu trang

TN21-A14: Con Người Là Ai ? - Lm Trọng Thưởng, CMC

Mt 16,13-20

Một anh lính giải một nhà sư bị tù lên tỉnh. Anh ta có tính hay quên, nên vừa đi vừa lẩm bẩm: TN21- A14

Một anh lính giải một nhà sư bị tù lên tỉnh. Anh ta có tính hay quên, nên vừa đi vừa lẩm bẩm, kiểm lại người và đồ đạc cho khỏi quên: “Khăn gói đây, dù đây, gông đây, lệnh toà đây, sư đây, mình đây. Khăn gói đây, dù đây, gông đây, lệnh toà đây, sư đây, mình đây...Ữ Nhà sư biết đây là “dân thứ thiệtỮ,nên tìm cách đánh lừa. Sư rủ anh lính vào quán uống rượu, nhậu thịt chó một bữa say mèm. Trong khi anh lăn quay ra ngủ, sư lấy dao cạo trọc đầu anh lính, tháo gông đeo vào cổ anh ta, rồi trốn mất. Khi tỉnh dậy, theo thói quen, anh lính kiểm lại hết mọi sự, miệng lẩm bẩm: “Khăn gói đây, dù đây, lệnh tòa đây, gông đây...Ữ Ịến đó anh giật mình thét lên:- Còn nhà sư đâu mất tiêu rồi.Anh ta cuống quít vo đầu, thấy đầu trọc lóc nên mừng rỡ la lên:- Nhà sư đây rồi!Anh ta chợt sực nhớ lại điều gì nên than thở:- Quái lạ! Còn mình đâu mất rồi mà không thấy đâu?Người lính đãng trí đã không nhớ mình là ai. Tuy nhiên trong đời sống, có nhiều lần chúng ta thật sự không nhớ mình là ai trong hành động, trong những việc chúng ta làm.Trong bài Phúc âm, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ qua từng giai đoạn. Ịầu tiên Chúa hỏi về dư luận quần chúng, người ta gán cho Ngài biệt hiệu gì? Chung chung người ta cho rằng Chúa Giêsu là một tiên tri. Sau đó Chúa mới hỏi các môn đệ nghĩ Ngài là ai. Phêrô đã mau lẹ trả lời thay cho cả nhóm: “Thầy là Ịức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.Ữ Chúa nói cho Phêrô biết, không phải tự bản thân ông biết được điều đó, nhưng chính Chúa Cha mạc khải cho ông điều đó. Dầu vậy, Phêrô hiểu biết chưa tới nơi tới chốn, tuy rằng Chúa đã trao cho ông chìa khoá Nước Trời. Chúa muốn tiếp tục tỏ cho các môn đệ thấy danh xưng Kitô đồng nghĩa với thánh giá đau khổ, tử nạn. Mạc khải này đã bị Phêrô lanh miệng từ chối, nên Chúa Giêsu đã quở mắng ông.Chúa Giêsu không quan tâm đến điều người ta nghĩ Ngài là ai. Chúa dùng đó để mở đầu việc mạc khải chính mình cho các môn đệ. Khác với Chúa, chúng ta thường quá quan tâm đến điều người ta nghĩ về mình. Chúng ta tìm cách làm đẹp lòng người khác để được quý mến, ủng hộ. Chúng ta hùa theo đám đông để cầu an, khỏi bị để ý, chống đối. Vì thế chúng ta sống một cuộc sống giả tạo, không phù hợp với căn tính của mình. Thiên Chúa sai mỗi người vào thế giới với một sứ mệnh, cùng với những tặng ân cần thiết để hoàn thành sứ mạng. Sứ mạng và những tặng ân đó nói cho chúng ta biết mình là ai và phải làm gì. Chúng ta cần quan tâm đến điều đó, hơn là nhìn chung quanh để thấy người ta làm gì thì mình làm theo. Nếu Chúa ban cho khả năng lãnh đạo, có óc tổ chức, chúng ta cần đem tài năng đó để phục vụ giáo xứ cộng đoàn. Ngược lại, nếu Chúa chỉ ban cho chúng ta khả năng phục vụ, làm người thừa hành, chúng ta đừng ham hố danh lợi, trèo cao, giật cho được chức chủ tịch, trưởng ban nọ, ban kia, không làm được gì mà gây hại cho giáo xứ.Chúa mạc khải cho các môn đệ rằng danh xưng Kitô mang ý nghĩa thánh giá, đau khổ, tử nạn. Danh tánh căn bản của mỗi người chúng ta là Kitô hữu. Cuộc sống của chúng ta chắc chắn không khác gì Chúa Kitô. Nếu danh xưng Kitô hữu là điều làm chúng ta hãnh diện, hy vọng, tin tưởng, thánh giá sẽ là vinh quang của chúng ta trong cuộc sống đời đời. Chúng ta hãy luôn ngước mắt chiêm ngắm Chúa Giêsu trên thánh giá, để khi đau khổ, khó khăn đến trong cuộc đời, chúng ta không lanh miệng chối bỏ như Phêrô, nhưng hân hoan reo vang như Phaolô: “Vinh dự của chúng ta là thập giá Ịức Kitô.Ữ

Lm Trọng Thưởng, CMC

Về đầu trang

TN21-A15: Hãy Sống Như Chúa Kitô - Lm Nguyễn Bình An

Mt 16,13-20

Ngồi trong cafeteria thì thầm nhỏ to với mấy bạn đồng hương là một cái thú sau những giờ học: TN21-A15

Ngồi trong cafeteria thì thầm nhỏ to với mấy bạn đồng hương là một cái thú sau những giờ học. Bỗng một cô Mỹ mon men đến làm quen: "Hai! các anh có biết cuốn sách này không?" Vừa nói cô vừa giơ cao cuốn Phúc Âm lên. Tôi nhanh nhảu đáp "chưa hề thấy, cũng chưa hề nghe!" Thế là cô vội vào đề như chộp được mồi "đây là cuốn Thánh Kinh, cuốn sách nói về Thiên Chúa đặc biệt về Ịức Giêsu Kitô." Tôi vội ngắt lời "vậy là sách nói về các nhà thờ, với các cây thánh giá." Cô hớn hở "đúng vậy." Tôi thêm "nhưng tôi có một thắc mắc là thánh giá thì chỉ có một, sao nhà thờ có nhiều tên khác nhau như thế?" Cô hơi khựng lại, rồi tiếp "Vì có nhiều nhóm khác nhau như Episcopal, Lutheran, Methodist, Baptist, Orthodox, Catholic... Tôi vốn trước thuộc Công giáo, nhưng sau không thích nữa bởi họ bắt đọc kinh thay vì Kinh thánh. Họ cổ hủ và nghi lễ buồn chán, dài dòng. Bây giờ tôi thuộc Giêhôva và tôi rất ghét Công giáo." Ngắt lời cô, tôi đề nghị "Xin cô về học thêm về giới răn yêu thương, vì yêu thương là tâm điểm của Thiên Chúa giáo. Thánh kinh của cô có bao giờ dậy ghét người không? Cô mở miệng là chỉ trích và ghét, tôi nghĩa là cô sai từ căn bản rồi. Mời cô trở lại lần sau chúng ta nói chuyện thêm." Cô thất sắc, bối rối rồi như biết đã lỡ, cô mỉm cười cáo lui.Bốn tuần sau cô trở lại, "chào các anh", liếc vội một vòng, cô tiếp "cái anh nói chuyện với tôi bữa trước đâu rồi?" Một trong các bạn trả lời "ông ta bận bữa nay. Cô có biết ông ta là ai không?" Cô thắc mắc: "Ông là ai vậy?" Anh bạn mỉm cười trả lời :"Ông ấy là Linh mục Công giáo." Cô ngạc nhiên đến sững sờ nói "hèn chi!". Rồi từ đó không bao giờ thấy cô trở lại ! Tranh chấp, đã kích chống đối, kình địch giữa các tín hữu là vấn đề của mọi thời. Trong cuộc thánh chiến này, tất cả cùng nhân danh Chúa Kitô lên án, hạ nhục và bôi bẩn nhau. Hình ảnh Chúa Kitô vốn mỹ miều, không tì vết, và tròn trịa bị bóp méo qua những nhóm tín hữu lố lăng, tham lạm và cuồng tín. Quả thật, Chúa không được tỏ lộ mà đang bị đóng đinh. Ịây chính là mối lo và niềm ưu tư Ịức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tỏ lộ trong Tông thư "Bước vào Ịệ Tam thiên niên kỷ": Chúng ta chưa sống niềm tin, chúng ta chưa bày tỏ Ịức Kitô trong đời sống, chúng ta không có tình thương sống động và hoà hợp của Chúa Ba Ngôi trong lòng. Chúng ta không là những người vô thần trên lý thuyết, nghĩa là chúng ta không chối bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa như tín đồ Mác-Lê. Nhưng chúng ta là những người vô thần bằng hành động, khi chúng ta lấy chống đối, bạo động, ghét ghen, kỳ thị, và máu làm phương tiện cho mưu đồ "ăn trên ngồi chốc" và đánh bại đối phương để "được làm vua, thua làm giặc."Sau buổi giáo lý vỡ lòng đầu tiên, em bé tâm sự với mẹ "con không thích học giáo lý", bà mẹ cổ vỏ "Cố gắng lên, rồi con sẽ thích". Ba tuần sau, sem về nhà với bộ mặt thảm não "con không biết Giêsu là ai, con chưa gặp ông bao giờ, thế mà mở miệng là họ nhắc đến tên ông, chán quá!" Như vậy chứng tỏ chánh sách nhồi sọ không còn hợp thời. Hãy sống như Chúa Kitô để họ tâm phục và khẩu phục. Người ta nghĩa thầy là ai? Họ nói thầy là Gioan Tẩy Giả, Êlia, Giêrêmia hay một đại tiên tri. Còn các con, các con nghĩa sao? Tông đồ đoàn nhìn nhau phân vân dù họ đã yêu Chúa, tin Chúa và theo Chúa. Nhưng đích danh thầy là ai thì chưa rõ! Muôn mắt đổ dồn vào Phêrô cầu cứu, vì dẫu sao ông là huynh trưởng. B>"Thầy là Ịức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng sống". Chúa vui mừng "Phêrô, không phải vì huyết nhục mà con rõ chân lý nầy, song Cha Thầy đã tỏ cho con hay..."Hôm nay Chúa đang hiện thân trong hàng tư tế "ai nghe các con là nghe Ta" (Lk 10,16). Ngài ở giữa các nhóm chia sẻ Lời Chúa "khi hai, ba người họp lại nhân danh Ta..."(Mt 18,20). Ngài hiện thân trong những người cơ cực (Mt 25,31-46). Hiến chế "Ánh Sáng Muôn Dân" khơi động đời dấn thân toàn diện và đức tin đích cực, sống động của mọi tín hữu. Chúa Kitô không còn bị giam hãm trong Thánh đường, trong Tu viện, trong buổi Tĩnh tâm hay Họp nhóm. Ngài đang ở siêu thị, trên bãi biển, nơi xưởng thợ, trong người thất thế và hành khất. Ngài đang ở trong ông, trong bà, trong anh, trong chị và trong em. Chúa Kitô sống động trong tâm lòng là phẩm chất và giá trị cao quí nhất của người tín hữu chúng ta.

Lm Nguyễn Bình An

Về đầu trang

TN21-A16 Anh Phêrô, Anh Là Ịá - Huyền Ịồng:

ANH PHÊRÔ, ANH LÀ ỊÁ* PETER, YOU ARE ROCK

Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ/I will thrust you from your officeBài đọc 2:Rom.11,33- 36=Ai đã biết: TN21-A16

* Bài đọc 1: Is.22,15; 19- 23= Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ/I will thrust you from your officeBài đọc 2:Rom.11,33- 36=Ai đã biết tư tưởng của Chúa?/ Who has known the mind of God?Tin Mừng: Mat.16,13- 20=Ngài là con Thiên Chúa hằng sống/ The Son of the Living God.Ịức Giêsu hỏi lại các môn đệ: "Còn anh em, anh bảo Thầy là ai?" Ông Simon Phêrô: TN21-A16A. Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )1/ Ịức Giêsu hỏi lại các môn đệ: "Còn anh em, anh bảo Thầy là ai?" Ông Simon Phêrô thưa: "Thầy là Ịấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Ông Simon nói được là nhờ ơn Chúa Cha mạc khải cho. Khi muốn ai tin và theo Chúa, tôi có sống gương mẫu và cầu nguyện cho họ không?"And you,...who do you say that I am?" Simon Peter answered: "The Son of the living God!" ( Mat. 16, 15- 16)2/ Chúa quay sang nói tiếp với Phêrô: "Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô nghĩa là Tảng Ịá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy..." Hội Thánh chính là Nước Trời ở trần gian, là công bình, yêu thương. Cựu tướng Trần Ịộ đã tranh đấu cho Dân chủ ở Việt Nam có làm theo mạc khải của Thượng Ịế không? Bạn đã làm gì để mình xứng đáng là tảng đá mà Chúa giao phó?I for part declare to you: "You are Rock, and on this rock I will build my Church..." (Mat. 16, 18)3/ Thánh Phaolô đã ca tụng thánh ý nhiệm màu của Chúa: "Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa." Ịúng thế, bao nhiêu dấu chỉ, việc làm của Chúa cho thế giới, quê hương Việtnam và gia đình hiện nay đã chứng tỏ quyết định của Ngài. Tôi có cái nhìn nào về đường lối của Chúa ?...how unsearchable His ways! For who has known the mind of the Lord... (Rom. 11, 33- 34 )4/ Tiên tri Isaia răn đe kẻ mưu mô, bạo quyền: "Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ. Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị." Bạn có thấy Chúa đang cảnh cáo các Công ty tại Mỹ, Giáo hội Hoa Kỳ và đổi mới chính quyền Việt Nam hiện tại không? Bạn cần phải sửa sai ngay những lầm lỗi và tật xấu nào?"I will thrust you from your office and pull you down from your station?" ( Isaia 22, 19)B.Câu Kinh Thánh thúc giục tôi chọn để Sống hôm nay: ( The Best God's Words )PHÊRO LÀ TẢNG ỊÁ, TRÊN TẢNG ỊÁ NÀY THẦY SẼ XÂY HỘI THÁNH CỦA THẦY.(Mat.16,18Ịức Chúa phán: "Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ, Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị". ( Isaia 22, 19)C- Tuần này tôi phải làm gì để Sống theo Lời Chúa kêu gọi: ( So what am I doing/ For action)a/ Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành.b/ Bạn cần dấn thân làm một việc thật xứng đáng với ơn Chúa ban mà không sợ mất mát...D.Tôi cầu nguyện nhiều để Sống cho Giáo hội và Quê hương: ( I pray, practice/ Pray in action)- Lạy Cha, ông Pherô đã nói lên Ịức Kitô là Con của Cha hằng sống, nhưng mắt tâm hồn con bị che khuất bởi biết bao dục vọng! Xin Cha giúp con chu tòan nhiệm vụ con đã lãnh nhận.- Tiên tri Isaia đang nói với con bây giờ: Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ; Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị. Xin Chúa giúp con biết mau mau tỉnh ngộ, để dẹp tính tham lam, ích kỷ hiện nay.Lời hay ý đẹp: CHƠI ỊÙA VỚI TỘI LỖI LÀ ỊÙA CỢT VỚI ÁN PHẠTPlaying with sin is toying with judgment

Huyền Ịồng

Về đầu trang

TN21-A17: Nhận biết và Yêu Mến Thiên Chúa - Lm Louis Minh Nhiên,CMC

Mt 16,13-20

Lần dở Phúc Âm, chúng ta thấy ít nhất bốn trường hợp Chúa Giêsu được nhận biết và tuyên: TN21-A17

Lần dở Phúc Âm, chúng ta thấy ít nhất bốn trường hợp Chúa Giêsu được nhận biết và tuyên xưng là Con Thiên Chúa qua những người và hoàn cảnh khác nhau. Một của Nathanien khi Chúa khen ông thành thật (Ga 1,49). Một của viên đội trưởng khi thấy sự lạ giờ Chúa chịu chết (Mc 15,39). Một của các tà ma trong Phúc âm thánh Marcô (Mc 3,12); và một của Phêrô do ơn linh ứng của Thánh Linh trong bài Phúc âm hôm nay (Mt 16,16).Qua bốn trường hợp trên chúng ta thấy ánh sáng của trời cao đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp con người nhận biết Thiên Chúa.Ịứng trong phòng, nhìn qua khung kính cửa sổ, chúng ta xem thấy người, vật, xe cộ qua lại và chúng ta nhận ra Thiên Chúa sống động trong những sinh hoạt đó; nhưng cũng tấm kính cửa sổ trên chỉ một lớp bạc, lớp thủy ngân được phủ lên, tấm kính cửa sổ đó đã trở nên tấm gương và thay vì nhìn thấy cảnh vật, người, sinh hoạt sống động, chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy chúng ta.Ngày nay con người cũng đang bị bao phủ bởi những lớp bạc đơn giản đó là tình, tiền, tài, danh giá, và tìm mình. Những lớp bạc đó đã làm con người chỉ nhìn thấy toàn là mình, mà không nhận ra Thiên Chúa trong các sự vật và hoàn cảnh chung quanh.Như Gia-kêu xưa đã bị lớp người vây quanh Chúa làm cản trở ông không xem thấy Chúa. Ông đã biết trèo lên cây cao để nhìn xem Chúa. Chúng ta cũng cần biết vượt lên cao khỏi những ràng buộc thế tục làm cản trở chúng ta nhận biết Chúa.Như bà Vêrônica xưa nơi chặng đường thương khó thứ sáu, đã nhận ra Chúa sau những vết bụi bặm, máu me, đất cát dính vào, chúng ta cũng biết nhìn ra Chúa sau những khuyết điểm, những lầm lỗi của anh chị em. Và như bà Vêrônica đã can đảm với lòng yêu dám lau mặt Chúa để khuôn mặt trung thực của Chúa được rõ ràng hơn; chúng ta cũng cần có can đảm và tình yêu dám giúp đỡ anh chị em sửa chữa những khuyết điểm, để hình ảnh Thiên Chúa nơi anh chị em chúng ta được thể hiện mỗi ngày một trung thực hơn.Nhận biết Thiên Chúa là một ơn Chúa ban, nhưng để lãnh nhận được ơn đó đòi phải có những điều kiện thoả đáng. Ịứng trước máy xay lúa và trong khi nhìn gạo chuyển từ máng vào bao, chúng ta rút ra được những bài học sau:1. Một cách thông thường, bao ở bên dưới máng chuyển. Ịiều kiện khiêm nhường.2. Miệng bao phải mở. Nếu miệng bao bịt kín, gạo không thể vào được. Ịiều kiện cởi mở sẵn lòng đón nhận.3. Lòng bao trống rỗng. Nếu bao đầy thứ khác rồi thì không thể dồn gạo thêm được. Ịiều kiện trống rỗng.Ịiều kiện thứ nhất: Khiêm nhường: Nói một cách tổng quát, Thiên Chúa không làm gì khác trật tự nhiên: nước mưa rớt xuống trên đỉnh đồi cũng như ở thung lũng, nhưng lưu lại ở thung lũng. Ơn Thiên Chúa cũng xuống kẻ kiêu ngạo cũng như người khiêm nhường, nhưng lưu lại nơi tâm hồn khiêm nhu.Ịiều kiện thứ hai: Sẵn lòng đón nhận. Lần kia một thanh niên đến xỉ vả Ịức Phật nặng lời. Ịức Phật bình tĩnh lắng nghe và sau khi chàng thanh niên dứt lời, Ngài hỏi: “Cho phép tôi hỏi anh một câu nhé. Nếu một tặng vật được tặng mà không có người nhận thì tặng vật đó thuộc về ai?Ữ. Chàng thanh niên đáp: “Nó sẽ trở về với chủ của.Ữ Ịức Phật liền nói: “Vậy những điều anh nói với tôi vừa rồi, tôi không nhận. Xin anh hãy giữ lại cho riêng anh.Ữ Câu truyện trên cho chúng ta bài học về đức ái: Hãy cho những gì anh chị em có thể đón nhận được. Hơn nữa, nó còn nói lên tính cách quan trọng của việc đón nhận để giúp hoàn tất việc trao ban. Theo Thomas Merton, người ta không thể cho nếu không có người nhận. Ơn Thiên Chúa tuy nhiều, nhưng nếu lòng con người không cởi mở, không đón nhận thì ơn Thiên Chúa vào sao nổi.Ịiều kiện thứ ba: Trống rỗng. Một giáo sự đại học đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Sau nhiều năm và nhiều dặm đường, cuối cùng ông tới gặp một vị ẩn sĩ xin chỉ giáo. Vị ẩn sĩ dẫn ông vào lều, và mời ông dùng trà. Vị ẩn sĩ rót đầy tách trà, và tiếp tục rót làm nước tràn xuống cả sàn nhà. Ông giáo sư chăm chú nhìn nước chảy cho tới khi không thể chịu đựng thêm được nữa, ông nói: “Dừng lại! Ịầy rồi, không thể thêm nữaỮ. Vị ẩn sĩ trả lời: “Như tách nước trà này, lòng ông đầy những tư tưởng, quan niệm, thành kiến... Nếu lòng ông trước hết không trống rỗng, làm sao tôi có thể giúp gì cho ông?Ữ. Con Thiên Chúa và tinh thần thế gian không thế sống chung hoà bình. Nếu lòng con người còn mang nặng tinh thần thế gian thì ơn Thiên Chúa đau có chỗ đứng.Nhận biết và tuyên xưng Con Thiên Chúa là một ơn quan trọng, vì nhận biết là một trong ba yếu tố: biết, tốt và hợp để dẫn tới tình yêu. Cha ông ta thường bảo: “Vô tri bất mộỮ, không biết thì không mến, chúng ta không thể mến yêu một người mà chúng ta không hề quen biết, nhưng nếu chỉ nhận biết không mà thôi thì chưa đủ, chưa trọn vẹn. Vì biết thì chưa chắc đã mến, ma quỉ nhận biết Thiên Chúa rõ ràng (xem Mc 3,12), nhưng chúng đâu có mến yêu Thiên Chúa.Hẳn không ai trong chúng ta muốn nhận biết Thiên Chúa để rồi thù ghét Ngài như ma quỉ, nhưng cũng phải nhận rằng chúng ta chưa nhận biết và yêu mến Chúa cho đủ. Vậy chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau để sau khi nhận biết Thiên Chúa, chúng ta biết đem hết tâm hồn yêu mến Chúa là Ịấng đã chết vì yêu chúng ta. Lm Louis Minh Nhiên, CMC

Về đầu trang

TN21-A18: Chìa Khóa Nước TrờI - Lm Minh Trân, CMC

Chúa Nhật 21 Thường Niên -

Mt 16,13-20

Hôm vừa rồi trong ngày thụ phong linh mục, một trong những món quà tôi nhận được đó là 2 xâu: TN21-A18

Hôm vừa rồi trong ngày thụ phong linh mục, một trong những món quà tôi nhận được đó là 2 xâu chìa khóa (key chains) rất đẹp do một em bé tặng. Một cái hình thánh giá trên đó khắc mấy dòng chữ: “With God, all things are possible.” Nghĩa là, với Chúa, mọi sự đều có thể. Cái kia hình bàn chân, trên đó cũng khắc ghi câu chuyện “dấu chân trên cát” thật đầy ý nghĩa. Lâu nay, sống trong nhà dòng, mọi sự làm của chung, công việc thì cũng chỉ “lính mướn đánh thuê” cho nên chưa có chìa khóa. Có lẽ kỳ này xin cha bề trên cho mấy cái đeo tòong-teng cho oai.

Chìa khóa, theo Thánh Kinh, là biểu tượng của sự tin tưởng, uy quyền, và trách nhiệm. Thánh Matthêu trong bài Tin Mừng hôm nay đã cho thấy rõ điều đó. Chúa Giêsu đã trao chìa khóa cho thánh Phêrô. Chúa đã tin tưởng thánh Phêrô, trao cho Ngài quyền hành và trách nhiệm để hướng dẩn Giáo Hội Chúa trên trần gian: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước Trời: sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở.” Đây là một quyền hành thật cả thể. Vì bản chất của quyền hành ở đây theo từ ngữ chuyên biệt trong tiếng Do thái (rabbinic technical terms) có thể chỉ đến việc cầm buộc ma quỉ trong khi trừ quỉ, trong việc hành luật liên quan đến vạ tuyệt thông và trong những vấn đề phán quyết nghiêm trọng. (NJBC,659).

Ngoài ra, theo một số nhà chú giải Thánh kinh như Kevin O’Sullivan, OFM và Paul J Achtemeier, chìa khóa nước trời ám chỉ đến hình ảnh một người đầy tớ với chìa khóa trong tay để mở cửa các phòng trong nhà. Người có chìa khóa trong tay không chỉ có quyền xác định ai được vào và ai không được vào, mà còn có trách nhiệm toàn quyền trông coi để ý mọi sự trong nhà của chủ mình. (Harper’s Dict 524-525).

Nếu trách nhiệm được trao không chu toàn, nếu quyền hành được ban bị lạm dụng, và bị mất tin tưởng, thì chắc chắn chìa khóa sẽ bị lấy lại. Tiên tri Isaia trong bài đọc 1 đã minh chứng điều đó. Sobna, quan cai đền thờ đã bị cách chức và trục xuất khỏi địa vị cũng chỉ vì đã lạm dụng quyền hành. Ông đã lạm dụng quyền hành bắt ép vua Hezekiah (716-687) nổi dậy chống lại Assyria và chạy đến Ai cập cầu cứu. Tiên tri Isaia đã hoàn toàn phản đối việc này. Ngài kêu gọi Giuđa phải nên tin tưởng vào Thiên Chúa của mình, chứ không phải nơi sự trợ giúp của dân ngoại. Nhưng Giuđa đã không tin tưởng nơi Thiên Chúa, và cuối cùng vào những thế kỷ sau đó, Giuđa và Giêrusalem đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Và như chúng ta được biết, chìa khóa của Sobna đã bị lấy lại và trao cho Êliaqim, con trai Helcia. (Kevin O’Sullivan, OFM, The Sunday Readings (A) 309-314).

Nếu hiểu chìa khóa là biểu tượng nói lên sự tin tưởng, quyền hành, và trách nhiệm thì không chỉ riêng thánh Phêrô đã lãnh nhận chìa khóa Chúa trao; mà qua Ngài, qua Giáo hội, hết thảy mọi người chúng ta cũng đều được lãnh nhận chìa khóa ấy khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chìa khóa ấy không gì khác hơn là tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và đồng thời tin tưởng chúng ta cũng là con Thiên Chúa. Đức tin dạy chúng ta rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Đức tin dạy chúng ta rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa theo bản tính. Tuy nhiên, chúng ta cũng là con Thiên Chúa theo ân sủng. Quyền làm con Thiên Chúa và trách nhiệm đi kèm là một ơn rất trọng đại và cũng chính là “chìa khóa nước trời” cho mỗi người chúng ta và cho những người chúng ta có trách nhiệm liên hệ.

Với Chúa, mọi sự đều có thể” hoặc “ơn được làm con Thiên Chúa” là điều nhắc nhở chúng ta rằng chính đó là CHÌA KHÓA NƯỚC TRỜI. Ước chi những lời này luôn mãi được ghi khắc trong thâm tâm mỗi người chúng ta, và là động lực giúp chúng ta chu toàn trách nhiệm Chúa trao phó. Và ước chi trong những lúc đau khổ chán chường gặp trong cuộc sống, chúng ta vẫn luôn tin tưởng rằng chính lúc đó là lúc Chúa đang ẵm bế chúng ta.

NS Trái Tim Đức Mẹ


Về đầu trang

TN21-A19: Phêrô Tuyên Xưng Ịức Tin - Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Mt 16,13-20

Chúa Nhật 21 Thường Niên - Phêrô Tuyên Xưng Đức Tin

Mt 16,13-20

Đoạn Tin Mừng trích đọc trong thánh lễ sáng nay, nêu bật hai vấn đề quan trọng: Đức Giêsu là ai và: TN21-A19

Đoạn Tin Mừng trích đọc trong thánh lễ sáng nay, nêu bật hai vấn đề quan trọng: Đức Giêsu là ai và Chúa Giêsu đặt Phêrô làm đầu Giáo Hội của Chúa.

Xem ra tìm hiểu đúng, nhận ra Đức Kitô là ai không phải là dễ khi con người không đặt niềm tin trước hết. Hiểu bề ngoài hời hợt về Đức Kitô có thể rất dễ dàng, nhưng hiểu đúng về Chúa không phải là chuyện dễ dàng. Người ta cứ tưởng học vài bài, đọc vài cuốn viết về Đức Kitô là có thể hiểu và biết về Đức Kitô. Không, nói như thế quả con người chưa biết gì về Đức Kitô. Chúng ta còn nhớ Tin Mừng của thánh Matthêô 16, 14- 15 cho ta hay rằng Đức Giêsu sau khi đã kết nạp các môn đệ, sau khi đã sống thời gian tương đối dài với các môn đệ, Ngài đã nghe thấy nhiều khuynh hướng, nhiều tư tưởng, nhiều quan niệm về Chúa Giêsu.

Có người coi Đức Giêsu như một ngôn sứ, có người cho Chúa Giêsu là Gioan tẩy giả, có người cho Chúa Giêsu là Elia, là tiên tri Giêrêmia hay là một trong những ngôn sứ khác. Tuy nhiên, Chúa Giêsu luôn muốn biết các môn đệ của mình nghĩ mình là ai. Hiểu được tư tưởng, quan niệm và suy nghĩ của các môn đệ về Chúa là điều Chúa Giêsu muốn biết. Phêrô, vẫn là ông Phêrô, tuyên xưng đó,nhưng rồi cũng chối Chúa đó, đã có một nhận định đúng nhất về Chúa Giêsu :" Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống".

Đây là câu tuyên xưng của Phêrô làm thay đổi cuộc đời của Phêrô. Về chỉ qua lời tuyên xưng này, Phêrô đã nhận ra con người thật của Phêrô. Một câu nói,một câu tuyên xưng do Chúa Cha mạc khải cho Phêrô( Mt 16, 17 ). Cái trớ trêu vẫn là sau lời tuyên xưng của Phêrô, Chúa thưởng và đặt Phêrô làm thủ lãnh Giáo Hội. Nhưng cũng sau lời tuyên xưng của Phêrô, Chúa Giêsu đã loan báo cuộc thương khó của Chúa. Phêrô vẫn chứng nào tật nấy, vẫn cứng cỏi, nhưng lại mau mềm lòng, đã chối Chúa tới ba lần theo lời Chúa tiên báo.Chúa vẫn yêu thương Phêrô, vẫn muốn cứu Phêrô, Chúa nhìn vào Phêrô, Phêrô quay vào mắt Chúa, Phêrô đã được Chúa cho ơn ăn năn sám hối.

Một cách nào đó, con người ở mọi thời đại nói ngoài miệng :"Lạy Chúa, Lạy Chúa" thì dễ, nhưng nhận ra và tuyên xưng Đức Giêsu như Phêrô đã làm xưa không phải ai cũng làm được vì muốn tuyên xưng Chúa Giêsu là con Thiên Chúa hằng sống, con người phải có đức tin. Nói "Lạy Chúa, lạy Chúa tôi" quả rất dễ, nhưng tin, cậy và phó thác vào Ngài không phải là chuyện một sớm một chiều. Theo Chúa khơi khơi dễ lắm, nhưng vác thập giá theo Chúa không phải là chuyện ai cũng có thể làm được.Câu chuyện một cụ già ngồi trên ghế xích đu chờ mong Chúa hết ngày này qua ngày khác cũng dễ làm, nhưng để nhận ra Chúa đang hiện diện trong mọi biến cố, trong mọi sự việc của cuộc đời đòi hỏi phải có đức tin.

Chúa Giêsu đã đặt Phêrô làm nền tảng và đầu của Giáo Hội nhờ vào đức tin mà Phêrô ( Mt 16, 18 ) tuyên xưng. Hội Thánh tiên khởi được xây dựng trên nền tảng của Phêrô và các tông đồ. Hội Thánh ấy luôn vững bền vì những con người như Phêrô,như các tông đồ khác đã tin vào Tin Mừng và xác nhận Chúa Giêsu là con Thiên Chúa hằng sống. Lòng tin mà Phêrô tuyên xưng sẽ được kế tục do các vị kế tiếp sứ mạng của Phêrô :" củng cố lòng tin của anh em". Giáo Hội của Chúa Giêsu luôn đứng vững vì Chúa hứa:" Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho tới tận thế ".

Tin Mừng của Đức Kitô vẫn luôn được rao giảng, vẫn luôn được loan truyền, giới thiệu, nhưng con người thời nay và muôn thời liệu có mở lòng ra để đón nhận Tin Mừng do các sứ giả của Chúa, của Giáo Hội loan báo hay không ?

Giáo Hội của Chúa có phải là Giáo Hội phục vụ người nghèo và những sứ giả của Chúa có sống tinh thần bác ái, vị tha, cảm thông ?

Gợi ý :

1.Giáo Hội của Chúa Kitô có sống phục vụ như Chúa Giêsu đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ hay không ?

2. Đức tin của ta có vững mạnh hay ta vẫn còn bán tín bán nghi ?

3. Ta nghĩ sao về Giáo Hội ?


Về đầu trang

TN21-A20: THẦY LÀ AI ?

- Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. (Mt.16:16).
Bạn thân mến! 

Trên đây là lời tuyên xưng đức tin của Phêrô đối với Chúa Giêsu. Và đây cũng là lời tuyên xưng hùng:TN21-A20

Trên đây là lời tuyên xưng đức tin của Phêrô đối với Chúa Giêsu. Và đây cũng là lời tuyên xưng hùng hồn nhất, sâu sắc nhất và trang trọng nhất.
Tin Mừng Chúa nhật hôm nay tường thuật rằng:  Thầy trò Đức Giêsu đi bên nhau, đối thoại với nhau, Ngài tế nhị dẫn dắt và nhắc nhở các môn đệ bằng những câu hỏi để gây ý thức nơi các ông. Trước hết Ngài nói: 'Người ta nghĩ Thầy là ai?' (Mt.16:13).  Và dần dần Ngài  dẫn đưa các ông đến câu hỏi quan trọng nhất, xác tín nhất: 'Phần các con, các con bảo Thầy là ai? ' (Mt.16.15)
Đức Giêsu có thể tự giới thiệu về mình, tự nói lên căn tính của mình. Nhưng Ngài đã không làm thế.  Ngài muốn người môn đệ phải tự khám phá ra Ngài, Ngài muốn lời tuyên xưng của người môn đệ phải phát xuất từ nỗ lực tìm hiểu và cảm nghiệm chân thực trong cuộc sống sinh hoạt với Ngài.
Là môn đệ Đức Kitô, mỗi người phải trực tiếp trả lời câu hỏi này bằng đức tin của chính mình.  Người môn đệ phải biết căn tính của thầy mình, phải biết mình đang theo ai và người mình theo từ đâu đến.  Có như thế, người môn đệ mới có thể đi sâu vào trong tình thân mật với thầy mình,  mới tin tưởng những điều thầy mình dạy, mới can đảm thi hành những giáo huấn mà thày mình đã trao ban.
Phêrô đã trả lời câu hỏi này cho phần của ông:  'Thầy là đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng sống'.  Còn bạn và tôi, chúng ta trả lời câu hỏi này ra sao? Nếu Đức Giêsu đến và hỏi tôi và bạn hôm nay 'Thày là ai', tôi sẽ trả lời Ngài ra sao? Nếu người ta hỏi tôi 'Đức Giêsu là ai', tôi sẽ giải thích cho họ như thế nào?
Được biết Đức Giêsu, được nói về Đức Giêsu, được làm chứng cho Đức Giêsu, được  tuyên xưng niềm tin của mình vào Đức Giêsu … Đó là một ân phúc, ân phúc từ trời cao đổ xuống cho con người vững lòng tin vào Đức Giêsu, vì 'không phải phàm nhân mặc khải cho điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.' (Mt.16: 17)
 Sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Đức Giêsu đã mời gọi Phêrô đứng lên để cùng cộng tác trong công trình xây dựng Hội thánh của Ngài : 'Phêrô! con là đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày' (Mt.16:18).  Với lời nói này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh trên trần gian.  Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh.  Phêrô là Đá Tảng nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng được vững bền.  Phêrô giữ chìa khoá nhưng chính Chúa gìn giữ toà nhà.  
Chúa Giêsu đã mời gọi Phêrô làm người lãnh đạo và cai quản Giáo hội.  Còn tôi và bạn, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong vai trò gì? Chúng ta phải làm gì cho Hội Thánh mà Ngài đã thiết lập?

***

'Phêrô! con là đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày' (Mt.16:18).
Lạy Chúa!  Lời Đức Giê-su nói với thánh Phê-rô con cứ nghĩ là Ngài chỉ nói với những vị mà Ngài chọn làm giáo hoàng mà thôi.  Nhưng nghĩ sâu xa và phổ quát hơn, con nhận ra Ngài nói với tất cả mọi người, mọi Ki-tô hữu.  Ngài mời gọi họ trở nên đá tảng để xây dựng căn nhà Giáo Hội.  Lạy Chúa! Xin giúp con biết quảng đại đáp lại lời mời gọi ấy. Amen.

(Trích từ R. Veritas)

Về đầu trang

TN21-A21: SLC – Giáo Hội

Sau khi đọc bài Phúc âm hôm nay, chúng ta có những cảm giác nào ? Điều mà tôi ghi nhận và: TN21-A21

Sau khi đọc bài Phúc âm hôm nay, chúng ta có những cảm giác nào ? Điều mà tôi ghi nhận và muốn chia sẻ giờ đây, đó là Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo Hội như là một tổ chức. Đã là một tổ chức thì phải có người điều hành và phải có những người phục tùng. Đồng thời Giáo Hội cũng phải có đủ mọi quyền hành như cai trị, giáo huấn và thưởng phạt… những quyền này Giáo Hội nhận thẳng từ Đấng sáng lập, chứ không phải do những thế lực trần gian… Giáo Hội ấy được xây dựng trên nền tảng Phêrô, bảo đảm và kiên cố, không một ai kể cả hỏa ngục không thể lay chuyển được. Giáo Hội sẽ tồn tại bao lâu còn con người sống trên mặt đất.

Chúng ta phải tin tưởng và xác tín như thế, vì hằng ngày qua những phương tiện truyền thông, chúng ta ghi nhận những điều làm cho chúng ta hoang mang lo sợ cho tương lai của Giáo Hội. Nào là những khó khăn tự bên trong khiến cho Giáo Hội bị rạn vỡ. Nào là những khó khăn tự bên ngoài như muốn đè bẹp Giáo Hội. Hãy vững niềm tin vì Chúa Giêsu đã phán : Trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và quỷ hỏa ngục cũng không làm chi được.

Đồng thời hãy lo kiến thiết Giáo Hội với khả năng nhỏ bé của mình, vì Giáo Hội là tòa nhà Đức Kitô đã đặt nền móng và chúng ta có bổn phận phải xây dựng thêm.

Tiếp đến, Giáo Hội phát triển không phải bằng những thế lực và sự khôn ngoan trần thế, nhưng là bằng con đường thập giá, bằng những khổ đau, nghĩa là bằng sức mạnh của tình yêu.

Trong thực hành, nếu chúng ta đi đúng vào quan niệm của Chúa thì chúng ta sẽ không bao giờ nản chí và thất vọng. Vì những bách hại và sóng gió đã có trong chương trình của Chúa. Là những người tông đồ, chúng ta không bao giờ dựa trên những thế lực trần tục để phát triển Giáo Hội, vì như thế sẽ không đem lại kết quả, mà có kết quả thì kết quả ấy cũng sẽ không bền vững. Người tông đồ của Chúa là người biết đem hy sinh, đem tình thương để chinh phục… Đó là những thứ khí giới không sức nào chống lại và như vậy thành công sẽ chắc chắn và bền bỉ, vì tình yêu thì mạnh hơn sự chết.

Và sau cùng, đoạn Phúc âm này khiến chúng ta noi gương bắt chước Chúa một điểm, đó là hãy dò hỏi dư luận chung quanh về đời sống của mình. Người ta nghĩ gì về tôi. Khi sống giữa anh em cùng đạo, tôi sẽ nghe họ bàn tán gì về tôi. Là người Công giáo tốt lành tầm thường hay chỉ là kẻ khô khan nguội lạnh, hữu danh vô thực, chỉ có cái tên gọi là Kitô hữu còn đời sống thì không lấy có một phản ảnh nhỏ nhoi nào cho tinh thần của Chúa. Còn những anh em, bè bạn ngoại giáo, họ nghĩ gì về tôi. Hay nhiều lần họ đã mỉa mai. Không ngờ hắn có đạo mà cũng như vậy ư. Tôi tưởng người Công giáo như thế nào, chứ như vậy thì nào có chi đáng nói.

Hãy sống thế nào, để người khác, khi nhìn vào chúng ta cũng phải thốt lên : người này là con Thiên Chúa.

Về đầu trang

TN21-A22: SLCTTY/280 – Thầy là ai?

Rembrandt vẽ Đức Giêsu rất con người với tất cả ánh sáng và bóng tối. El Greco trình bày một: TN21-A22

Rembrandt vẽ Đức Giêsu rất con người với tất cả ánh sáng và bóng tối. El Greco trình bày một Đức Giêsu đòi hỏi và hoang dã, hơi gầy và tình cảm. Còn Angelico miêu tả một Đức Giêsu ngọt ngào giống như thiên thần. Có những hình vẽ Đức Giêsu là Chúa Chiên Lành, hiền từ và yêu thương, ôm lấy những con chiên hay bế trẻ thơ trong cánh tay. Có hình vẽ Đức Giêsu là quan án, nghiêm khắc, ngồi trên ngai, đang nhìn thấu suốt tâm tư của con người.

Điều không ai nghi ngờ là, con người được miêu tả nhiều nhất trong nghệ thuật trải qua bao thế kỷ, là Đức Giêsu Kitô. Ngày xưa cũng như ngày nay, người ta vẫn tiếp tục vẽ ra hình ảnh của Ngài. Bài Phúc âm hôm nay, nói đến sự kiện Chúa Giêsu rút về vùng Caesarea Philippi và hỏi các môn đệ : “Người ta bảo Con Người là ai ?” Họ trả lời : “Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, kẻ thì bảo là Elia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó”. Ngài hỏi thẳng các môn đệ : “Phần các con, các con bảo Thầy là ai ?” Phêrô thưa : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

William Barclay đã nêu lên những lý do rất hợp lý giải thích tại sao Chúa Giêsu lại rút về vùng Caesarea Philippi để dạy cho các môn đệ biết Ngài là ai. Vào thời điểm này, Chúa Giêsu phải đối diện với một vấn đề rất gay go. Cuộc đời trần thế của Ngài quá ngắn ngủi, đã có ai thực sự hiểu và nhận biết Ngài là ai chưa ? Vì thế, Chúa đã chọn lựa rất kỹ lưỡng địa danh này để đặt câu hỏi “Thầy là ai ?”

Theo William Barclay, vùng Caesarea Philippi cách biển Galilêa 25 dặm về phía đông bắc, ngoài vùng đất cai trị của vua Hêrôđê, đa số dân chúng không phải là Do Thái, chịu ảnh hưởng của những thần ngoại đạo, với nhiều đền thờ cổ thờ thần Baal của người Syrian. Vùng này lại có nhiều hang động nằm sâu trong núi. Một trong những hang này được tin tưởng là nơi sinh ra của vị thần Pan, thần của vũ trụ. Những huyền thoại về các thần của người Hy Lạp đã được gom góp lại trên phần đất này. Xa hơn nữa, hang này đã được truyền tụng là nơi xuất phát ra những nguồn suối nước tạo nên dòng sông Giođan. Nhưng quan trọng hơn hết, có một đền thờ vĩ đại bằng cẩm thạch trắng để thờ vị thần của hoàng đế Caesar.

Đang khi nhóm người Do Thái chính thống âm mưu giết Ngài như một kẻ rối đạo, Ngài đi đến một vùng đất thiêng thánh nhất của dân ngoại để mạc khải sự thật của Ngài. Đây là một bối cảnh có ý nghĩa sâu xa và có lẽ cũng là nơi an toàn để Chúa Giêsu cùng với 12 môn đệ tuyên xưng niềm tin. Qua lời tuyên xưng của Phêrô : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu mạc khải về thần tính của Ngài ở địa vị tối thượng trên hết mọi thần linh.

Câu trả lời của thánh Phêrô là kết quả của những ngày tháng gặp gỡ chính con người Đức Kitô. Ông đã quan sát đời sống hằng ngày của Ngài khi giảng dạy, làm phép lạ, chữa lành bệnh nhân, kêu gọi dân chúng thay đổi đời sống, tiếp xúc với những người tội lỗi, phụ nữ và trẻ em, ăn uống, gần gũi và yêu thương những người bị bỏ rơi… Khi sống chung với Đức Giêsu Kitô, sự nhận thức của Phêrô về Ngài được mở ra dần dần. Ông nhìn thấy khuôn mặt của Thiên Chúa trong Đức Giêsu. Lời tuyên xưng phát xuất từ sự gặp gỡ chân thành trong tâm hồn của Phêrô.

Đức Tổng giám mục Oscar Romero của El Salvador, người đã bị bắn chết đang lúc dâng thánh lễ, đã phát biểu một cách hùng hồn rằng : “Kitô giáo không phải là một bộ sưu tập những sự thật để tin, những luật lệ phải tuân giữ… Kitô giáo là một con người… Kitô giáo là Chúa Kitô”.

Chính sự kết hợp mật thiết và gắn bó với Chúa Giêsu mà Phêrô đã được đặt làm thủ lãnh của Giáo Hội : “Con là Đá, trên đá nầy Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được.

Về đầu trang

TN21-A23: Giêsu, Ngài là ai? - Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Chúa nhật 21 thường niên A

Mt 16, 13 – 20

Paneion là tên gọi nguyên thuỷ của thành phố mà vào năm 2 trước công nguyên, tiểu vương Hêrôđê: TN21-A23

Paneion là tên gọi nguyên thuỷ của thành phố mà vào năm 2 trước công nguyên, tiểu vương Hêrôđê Philípphê II tái thiết và đặt tên là Xêdarê để kính nhớ hoàng đế Augustô. Chúng ta gọi thành này là Xêdarê Philípphê nhằm phân biệt với một thành Xêdarê khác ở miền duyên hải. Chính tại thành phố đa nguyên tôn giáo này, Phêrô - nhờ ơn mạc khải đến từ Thiên Chúa, đã dõng dạc tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kytô, Con Thiên Chúa hằng sống- một tước vị độc nhất vô nhị trong Tin mừng.

Căn tính của Chúa Giêsu từ lâu luôn là câu hỏi lớn không chỉ đối với thời đại của Người mà còn cho mọi thời đại: “Giêsu, ông là ai?”. Trên đường rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu luôn là đối tượng để mọi thành phần trong dân chúng thắc mắc và không ngừng tìm hiểu. Ngay Gioan Tẩy giả cũng không hiểu nổi người anh em của mình là người thế nào. Từ trong ngục tù, ông đã phái môn đệ đến hỏi xem ông em họ có phải là “Đấng phải đến” hay không (x. Lc 7, 20). Dân chúng thì lại thắc mắc : “Ông này là ai mà lại tha được tội” (x. Lc 7, 49). Ngay cả Hêrôđê vốn là một ông vua gian dâm, độc ác, xem thường luân thường đạo lý cũng phải suy nghĩ : “ Ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế” (x. Lc 9,9). Thế nhưng sự thật về con người Giêsu vẫn chưa có câu trả lời xác đáng cho đến khi chính Chúa Giêsu đặt vấn đề này với các môn đệ. “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Với câu hỏi này, Chúa Giêsu muốn các môn đệ nói lên chính kiến của mình chứ không dựa theo dư luận quần chúng lúc bấy giờ. “Thầy là Đấng Kytô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Câu trả lời của Phêrô không chỉ là lời tuyên xưng niềm tin vào “Đấng được xức dầu”, vào tôn hiệu Thiên Sai của Chúa Giêsu mà còn là chìa khoá mở vào đường chân lý cho hết những ai muốn thắc mắc và tìm hiểu cuộc đời và giáo huấn của Người. Tước hiệu “Con Thiên Chúa hằng sống” mà Phêrô tuyên tín không chỉ nói lên niềm tin của Giáo hội thời sơ khai mà còn nói lên mối dây liên hệ phụ tử giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu, đồng thời cho thấy đó chính là sứ mệnh mà Chúa Giêsu lãnh nhận từ Thiên Chúa hầu đem ơn cứu độ cho nhân trần.

Chúng ta thấy sở dĩ Chúa Giêsu không cho các môn đệ loan báo điều Phêrô vừa tuyên xưng không phải vì Người chối từ danh hiệu đó mà vì vào thời ấy, sử dụng tôn danh đó còn quá sớm; hơn nữa trong dân chúng, tôn hiệu đó được hiểu rất hàm hồ. Thật thế, trong quan niệm của dân chúng lúc bấy giờ, Đấng Mêsia là người được Thiên Chúa sai đến để giải phóng dân Người khỏi nô lệ, khỏi áp bức của ngoại bang, thiết lập vương quốc tại thế khởi đi từ Giêrusalem. Các môn đệ cũng hiểu như vậy. Chỉ khi chứng kiến cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Thầy, các ông mới hiểu rõ ý nghĩa “Đấng Mêsia Con Thiên Chúa hằng sống” là gì.

Thật vậy, Đấng Mêsia của Thiên Chúa không theo nghĩa mà từ lâu dân chúng vẫn áp đặt, là đến để khôi phục vương quốc bằng sức mạnh, bằng quân sự, bằng tiền tài; trái lại, đó là Đấng luôn luôn lấy hoà bình, lấy yêu thương và lòng khiêm nhường làm kim chỉ nam cho hết những ai muốn mưu cầu xây dựng một vương quốc thánh thiện, công bình, bác ái và phục vụ tha nhân. Công dân của vương quốc đó phải là những ai biết “từ bỏ mình, vác lấy thập giá hằng ngày, liều mất mạng sống mình” bước theo Đức Vua khiêm nhường và tự hạ. Đấng Mêsia Con Thiên Chúa hằng sống là Đấng không đến để được người ta cung phụng mà là Đấng đến để phục vụ, đến để từ bỏ chính mình, để hiến dâng mạng sống mình vì nhân loại.

“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” vẫn là câu hỏi mà Chúa Giêsu muốn chúng ta trả lời. Đó chính là cách thế để chúng ta duyệt xét lại đời sống đức tin của mình trong tương quan với Thiên Chúa. Câu hỏi của Chúa Giêsu không ngừng vang lên trong tâm trí mỗi Kytô hữu như một lời mời gọi để họ luôn sống sao cho xứng đáng là môn đệ của Chúa ngõ hầu những ai đến với họ đều nhận ra căn tính đích thực - căn tính Kytô hữu, là hiện thân của Chúa Kytô nơi trần thế này.


Về đầu trang

TN21-A24: Người ta bảo Thầy là ai - Lm Ịan Vinh

Mt 16, 13-20

I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

1) TIN MỪNG : (c 13) Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : "Người ta nói con người là ai?" (c 14) Các ông thưa :"Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ". (c 15) Đức Giê-su lại hỏi : "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" (c 16) Ong Si-mon Phê-rô thưa : "Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống". (c 17) Đức Giê-su nói với ông : "Này anh Si-mon con ông Giô-na. Anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. (c 18) Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. (c 19) Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời : Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy". (c 20) Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.

2) Ý CHÍNH : ĐỨC GIÊ-SU HỨA XÂY HỘI THÁNH TRÊN NỀN ĐÁ ĐỨC TIN PHÊ-RÔ :

Tin Mừng hôm nay gồm hai ý chính như sau : - Ý thứ nhất (c13-16) Để trả lời cho câu hỏi "Người ta bảo: TN21-A24

Tin Mừng hôm nay gồm hai ý chính như sau : - Ý thứ nhất (c13-16) Để trả lời cho câu hỏi "Người ta bảo Thầy là ai ?", các môn đệ

Tin Mừng hôm nay gồm hai ý chính như sau :

- Ý thứ nhất (c13-16) Để trả lời cho câu hỏi "Người ta bảo Thầy là ai ?", các môn đệ lần lượt kể lại dư luận quần chúng về vai trò và sứ mệnh của Đức Giê-su :Người là Gio-an Tẩy Giả, là Ê-li-a, Giê-rê-mi-a, hay là một Ngôn Sứ… Sau đó, Đức Giê-su đòi các môn đệ cho biết suy nghĩ của các ông, Si-mon đại diện anh em tuyên xưng đức tin :"Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống".

-Ý thứ hai (c 17-20) : Đức Giê-su đã khen ông là có phúc vì đã được Chúa Cha mặc khải chân lý ấy. Người đã đổi tên Si-mon thành Phê-rô, nghĩa là "Tảng Đá". Người còn hứa sẽ xây Hội Thánh trên tảng đá đức tin của ông, và ban cho ông có khả năng chiến thắng ma quỷ. Người cũng trao quyền tối thượng cho ông, tượng trưng bằng chìa khóa Nước Trời. Từ đây, ông sẽ thay Người cầm buộc và tháo cởi những gì liên quan đến đức tin và chân lý.

3) HỎI ĐÁP : Phần chú thích xem trong lễ thánh Phê-rô Phao-lô. Ở đây chỉ xin nêu ra mấy câu hỏi cần thiết như sau :

H1.- Thành Xê-da-rê Phi-líp-phê được hình thành như thế nào ?

ĐÁP : Có hai thành Xê-da-rê : một là thành Xê-da-rê ở bờ biển Địa-trung-Hải, hai là thành Xê-da-rê Phi-líp-phê. Thành này nằm cạnh núi Héc-mon, cách Biển Hồ Ga-li-lê về phía Bắc chừng 50 cây số. Sở dĩ mang tên Xê-da-rê Phi-líp-phê vì do quận vương Phi-líp-phê xây dựng vào năm 2 trước công nguyên, để kính nhớ hoàng đế La-mã Xê-da-rê Au-gút-tô. Về sau để phân biệt hai thành trùng tên, người ta đã gọi thành này là Xê-da-rê Phi-líp-phê.

H2.- Tại sao Đức Giê-su thường tự xưng là "Con Người" ?

ĐÁP: "Con Người" là một tước hiệu mượn trong sách Đa-ni-en, là loại sách khải huyền của Do thái giáo. Tước hiệu này thường được Đức Giê-su dùng để nhấn mạnh đến sự khiêm nhường tự hạ của Đấng Thiên Sai (x Mt 8,20; 11,19; 20,28). Từ "Con Người" đã được Đức Giê-su xử dụng nhiều lần trong cuộc Thương Khó (x Mt 17,22), và trong tường thuật về ngày cánh chung, khi Người sẽ tái lâm vinh hiển (x Mt 24,30), để phán xét chung kẻ lành người dữ (x Mt 25,32).

H3.- Si-mon Phê-rô đã đại diện nhóm Mười ai tuyên xưng Đức Giê-su :"Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống". Vậy danh hiệu Con Thiên Chúa có ý nghĩa thế nào ?

ĐÁP : Thực ra, khi tuyên xưng Thầy là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa, Si-mon Phê-rô vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa sâu xa của tước hiệu này. Ong chỉ mới công nhận đức Giê-su là Con Thiên Chúa theo nghĩa thông thường là được Thiên Chúa nhận làm con (x mt 16,22-23), hầu ứng nghiệm lời tuyên sấm của ngôn sứ Na-than trước đó (x2 Sm 7,14; 1 Sb 17,13). Nhưng ở đây, tước hiệu Con Thiên Chúa là một mặc khải rất quan trọng, mà Chúa Cha đã ưu ái bày tỏ riêng cho Phê-rô (x Mt 16,17). Nôi dung nói lên mối liên hệ phụ tử giữa Thiên Chúa với Đức Giê-su (x Mt 11,25). Đức Giê-su là Con đồng bản tính với Đức Chúa Cha (Mt 16,22-23). Các môn đệ cũng nhận biết Thiên tính của Đức Giê-su khi họ chứng kiến phép lạ Người ra lệnh cho sóng gió và chúng đã phải yên lặng, giống như lời Thiên Chúa phán khi sáng thế xưa (x mt 14,33).

H4.- Đức Giê-su nói : "Anh là Phê-rô nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy" (Mt 16,18). Vậy tại sao Đức Giê-su đổi tên Si-mon thành Phê-rô ? Tại sao Người lại xây Hội Thánh Người trên con người của Phê-rô đầy những khuyết điểm, đang khi chỉ mình Người mới là Tảng Đá đích thực (x 1 Pr 2,4) ?

ĐÁP:

- Phê-rô hay Kê-pha nghĩa là Tảng Đá và có hai nghĩa : Một là viên đá lớn, hai là tên riêng do Đức Giê-su đặt để thay thế tên cũ là Si-mon. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa thường đổi tên kẻ mà Người muốn trao cho nhiệm vụ đặc biệt. Chẳng hạn : tổ phụ Áp-ram được Thiên Chúa đổi tên thành Áp-ra-ham để chứng tỏ Người làm chủ vận mệnh của ông (x St 17,5), và trao cho ông sứ mệnh làm “tổ phụ nhiều dân tộc” (x Rm 4,17).

- Phê-rô tuy yếu đuối và đã từng sa ngã phạm tội chối Thầy ba lần (x Mt 26,69-74), nhưng ông đã được cái nhìn của Đức Giê-su thức tỉnh và lập tức hồi tâm sám hối (x Lc 22,61-62). Ong cũng tuyên xưng lòng mến Thầy ba lần, nên đã được Người gián tiếp tha tội, như Người đã nói về người phụ nữ tội lỗi xưa rằng : “Tội của chị ta rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị ta đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít” (x Lc 7,47).

- Vậy Đức Giê-su hứa sẽ xây dựng Hội Thánh của Người trên tảng đá là Phê-rô yếu hèn hay tảng đá vững chắc là chính Người? Thánh Phê-rô viết : "Anh em hãy lại gần Đức Ki-tô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây lên ngôi ĐềnThờ thiêng liêng… Còn đối với những kẻ không tin thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã. Họ đã vấp ngã vì không tin vào lời Chúa" (1 Pr 2,4-7) Thánh Phao-lô cũng viết trong thư thứ nhất Cô-rin-tô như sau: "Vì không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giê-su Ki-tô" (1 Cr 3,11). Như vậy Tảng Đá góc tường là chính Đức Giê-su. Nhưng các tín hữu là những kẻ tin vào người cũng trở thành những viên đá sống động. Riêng đối với Si-mon Phê-rô, nhờ tuyên xưng đức tin : " Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống", mà ông đã được Người khen là có phúc và được đổi tên từ Si-mon thành Phê-rô nghĩa là Tảng Đá. Trên nền móng là Tảng Đá đức tin vào Đức Giê-su đó mà Hội Thánh đã được xây dựng. Người còn trao chìa khoá Nước Trời với quyền cầm buộc và tháo cởi cho ông. Người hứa sẽ cầu nguyện để ông khỏi mất đức tin, và một khi đã trở lại thì ông có trách nhiệm củng cố đức tin của các anh em (x Lc 22,23). Cuối cùng Người còn trao quyền thay Người chăn dắt đoàn chiên nữa (x Ga 21,15-17).

H5.- Phải chăng Đức Giê-su chỉ trao quyền cầm buộc tháo cởi riêng cho Tông Đồ Phê-rô, chứ không trao cho các Đức Giáo Hoàng là những người kế vị thánh Phê-rô sau này ?

ĐÁP : Nếu hiểu theo sát nghĩa đen thì câu trao chìa khóa với quyền cầm buộc và tháo cởi chỉ được ban riêng cho Phê-rô. Nhưng câu này cũng ngầm ý nói đến Hội Thánh mà Phê-rô được đặt đứng đầu. Thực vậy, Đức Giê-su đã hứa rằng Hội Thánh được xây trên nền đá đưc tin của Phê-rô sẽ trường tồn bất diệt, nên Người cũng muốn quyền được ban cho Phê-rô cũng sẽ tiếp tục được lưu truyền cho các Đức Giáo Hoàng sau này, là những đấng kế vị Phê-rô. Chính vì thế, Giáo Hội đã công nhận rằng : Đức Giáo Hoàng khi đứng trên tòa thánh Phê-rô mà công bố điều gì về đức tin và luân lý thì sẽ được Chúa Thánh Thần ban cho ơn vô ngộ, nghĩa là không thể sai lầm được. Vì cũng như Phê-rô xưa, các Đức Giáo Hoàng có thể sai lầm trong lãnh vực khác, cũng có thể sa ngã phạm tội, nhưng cũng như Phê-rô, Người đã được Đức Giê-su cầu nguyện để khỏi mất đức tin và có nhiệm vụ củng cố đức tin cho các anh em (x Lc 22,31-32).

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA :

!) LỜI CHÚA :

- Ông Phê-rô thưa : "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống". Đức Giê-su nói với ông : "Này anh Si-mon con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16,16-17).

- "Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết; Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời : Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mt 16, 18-19).

2) CÂU CHUYỆN :

- CÂU CHUYỆN VỀ ĐỨC GIÁO HOÀNG GIO-AN PHAO-LÔ II :

Cách đây ít lâu, một tờ báo Ý đã tiết lộ một tin quan trọng về Đức Gio-an Phao-lô II như sau : Khi còn là sinh viên du học tại Rô-ma, một hôm ngài đi cùng các bạn đến thăm linh mục đáng kính là cha Pi-ô rất đạo đức thánh thiện, đã được Chúa in năm dấu thánh trên thân xác. Vừa gặp mặt cậu sinh viên, cha Pi-ô liền ôm chầm lấy cậu và nói tiên tri rằng : " Một ngày kia, con sẽ làm Giáo Hoàng, và đời của con sẽ gặp nhiều trắc trở. Bị đau khổ và còn chịu đổ máu mình ra vì Chúa nữa". Bấy giờ cậu sinh viên trả lời : "Nhưng con không sợ sau này sẽ bị đổ máu, vì con tin rằng con không bao giờ có thể trở thành giáo hoàng được !" Nhưng thánh ý Chúa thật nhiệm mầu! Hồng y Vốt-ti-la (Wojtyla) đã được bầu làm Giáo hoàng với danh hiệu là Phao-lô thứ hai. Ngài là Giáo hoàng thứ 264 kể từ Giáo hoàng tiên khởi là thánh Phê-rô. Rồi về sau Ngài cũng đã bị đổ máu trong cuộc mưu sát bất thành ngày 13 tháng 10 năm 1981 tại quảng trường thánh Phê-rô.

Như vậy, các Đức Giáo hoàng sau này tiếp tục sứ mệnh chăn dắt đoàn chiên Hội Thánh của Đức Giê-su, và cũng có quyền tối thượng là công bố các luật lệ để cầm buộc và tháo cởi.

- TƯỢNG THÁNH PHÊ-RÔ BẰNG ĐỒNG ĐEN :

Tại Đền Thờ thánh Phê-rô ở Rô-ma, bên trái cung thánh có một pho tượng khổng lồ của thánh Phê-rô. Ngài ngồi trên ngai tòa, tay cầm một chiếc chìa khóa lớn. Bàn chân của bức tượng này đã bị mòn nhẵn vì rất nhiều người đến kính viếng đã đặt những nụ hôn lên bàn chân ấy.

Người ta dựng tượng thánh Phê-rô để nói lên lòng tôn kính đặc biệt với Đấng đại diện Đức Giê-su dưới trần gian. Giáo luật quy định, cứ mỗi năm năm, các đức giám mục là những đấng kế vị các tông đồ, có bổn phận phải về Rô-ma để viếng mồ thánh Phê-rô, đặt dưới tầng hầm của Đền thờ thánh Phê-rô, đồng thời cũng để thăm viếng bày tỏ sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng là giám mục thánh Rô-ma, kế vị thánh Phê-rô tông đồ.

- ĐỨC GIÊ-SU LÀ AI ?

Một cô bé lần đầu tiên được mẹ dắt đến theo học lớp giáo lý vỡ lòng để chuẩn bị xưng Tội Rước Lễ lần đầu. Hết giờ học, bà mẹ đi đón con và hỏi rằng : "Này con, hôm nay con học giáo lý có vui không ?" Cô bé trả lời : "Con chẳng thích đi học giáo lý chút nào !" Bà mẹ liền nói : Hôm nay có lẽ là lần đầu tiên đi học, nên con cảm thấy thế thôi. Chỉ cần vài ba buổi học nữa là con sẽ thấy thích ngay thôi mà !". Ba tuần sau, khi đưa con từ lớp giáo lý về nhà, bà mẹ thấy nước mắt cô bé trào ra liền hỏi : "Ô hay, sao vậy con ?"Cô bé liền phụng phịu nói : "Tại lớp giáo lý đó ! Con chẳng muốn đi học nữa đâu !" Bà mẹ hỏi :"Có điều gì không ổn hở con ? " Cô bé trả lời : "Mẹ ơi, con thấy ai cũng nói về Chúa Giê-su nào đó, mà con chẳng biết ông ta là ai. Con chẳng bao giờ gặp thấy ông ấy cả".

Vậy các bạn thiếu nhi chúng ta phải làm gì để giúp cho cô bé gặp được Chúa Giê-su ? Nói cách khác : Muốn gặp được Chúa Giê-su thì chúng ta phải làm gì ?

+ Chúng ta sẽ gặp Chúa Giê-du khi họp nhau cầu nguyện, như Người đã nói : "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ" (Mt 18,20).

+ Chúng ta sẽ gặp Chúa khi nghe giảng Tin Mừng, hay học các lớp giáo lý do Giáo Hội dạy, như Người đã nói : "Ai nghe anh em là nghe Thầy. Ai khước từ anh em là khước từ Thầy. Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy " (Lc 10,18).

+ Chúng ta sẽ gặp Chúa khi tham dự bàn tiệc Thánh Thể như Người đã nói : "Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy ". (Ga 6,56).

+ Chúng ta sẽ gặp Chúa khi chia sẻ cơm bánh vật chất và giúp đỡ kẻ nghèo đói, như Người đã nói : "Ta bảo thật các ngươi; mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40).

3) SUY NIỆM :

- PHÊ-RÔ : TÔNG ĐỒ CỦA ĐỨC GIÊ-SU :

Si-mon là người nổi bật nhất trong nhóm Mười Hai. Ông là một trong bốn môn đệ đầu tiên được Chúa Giê-su kêu gọi và đã lập tức từ bỏ mọi sự mà đi theo Người (x Mt 4,20). Ông cũng là một trong ba môn đệ thân tín nhất, được chứng kiến Thầy biến hình trên núi cao (x mt 17,1-8) cũng như khi Thầy lo buồn hấp hối trong vườn Cây Dầu (x Mt 26,37). Ông thường đứng ra nói thay anh em (x Mt 19,27) và luôn bày tỏ lòng trung thành với Thầy (x Ga 6,68; Mt 26,33). Ông được Chúa Phục Sinh hiện ra trước nhóm Mười Hai (x 1 Cr 15,5). Ông còn được Chúa kiểm tra lòng yêu mến và trao sứ mệnh chăn dắt đoàn chiên của Người ( Ga 21, 15-17). Tuy nhiên, Phê-rô cũng có lần bị Đức Giê-su nặng lời quở trách vì đã theo ý riêng để ngăn cản Thầy chịu khổ nạn, thay vì phải vâng theo ý Chúa Cha 9x Mt 16,22-23) như chính Đức Giê-su đã cầu xin trước cuộc khổ nạn (x Mt 26,39). Vì quá tự tin nên Phê-rô đã có lần vấp ngã chối Thầy ba lần (x Mt 26, 34-35. 69-74). Nhưng dù vậy Đức Giê-su vẫn tín nhiệm chọn ông đứng đầu nhóm Mười Hai (x Mt 10,2), tha tội chối Thầy ba lần cho ông vì đã thành tâm sám hối (x Lc 22, 61-62) và tuyên xưng lòng mến đối với Thầy hơn các anh em khác (x Ga 21,15-17), giống như người phụ nữ tội lỗi đã được tha nhiều vì đã có lòng yêu mến nhiều (x Lc 7,47).

- PHÊ-RÔ : TẢNG ĐÁ ĐỨC TIN :

Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi Đức Giê-su dò hỏi các môn đệ xem dư luận nghĩ gì về Người, thì các ông lần lượt cho biết Người là một trong các vị Ngôn sứ. Bấy giờ Đức Giê-su hỏi các ông xác định xem Người thực sự là ai ? Si-mon Phê-rô đại diện anh em tuyên xưng đức tin :"Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16,16). Đức Giê-su đã khen ông có phúc vì được Chúa Cha mặc khải cho điều ấy (Mt 16,17). Người đổi tên Si-mon thành Phê-rô hay cũng gọi là Kê-pha, nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng đá đức tin này, Người sẽ xây dựng Hội Thánh của Người, Người hứa sẽ làm cho Hội Thánh ấy luôn vững bền, mặc cho quỹ hỏa ngục cản phá ( x Mt 16,18). Cuối cùng Người còn trao tối thượng quyền, tượng trưng bằng chìa khóa Nước Trời, để Phê-rô thay Người mà cầm buộc và tháo cởi (x Mt 16,19). Thực ra chỉ mình Đức Giê-su mới là tảng đá sống động và là nền tảng của Hội Thánh, Nhưng nhờ vững tin vào Người nên Phê-rô cũng trở nên tảng đá nền móng mà trên đó Hội Thánh được xây dựng (x 1 Pr 2, 4-5). Cũng như chỉ mình Đức Giê-su nắm giữ "chìa khóa vua Đa-vít" (x Kh 3,7), nhưng Phê-rô cũng được Người trao cho chìa khóa Nước Trời để giáo huấn, thánh hóa và cai quản Hội Thánh phục vụ Dân Chúa.

- PHÊ-RÔ : VỊ MỤC TỬ CỦA ĐỨC GIÊ-SU :

Không những tuyên xưng đức tin :"Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16,16), Phê-rô còn tuyên xưng lòng yêu mến Đức Giê-su ba lần : "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy" (Ga 21,15-17). Chính nhờ lòng tin yêu ấy, mà Phê-rô đã được Đức Giê-su đặt làm đầu Hội Thánh và được chia sẻ quyền chăn chiên với Người. Người cũng cầu nguyện để Phê-rô khỏi mất đức tin, và khi trở lại, ông có trách nhiệm củng cố đức tin cho các anh em (x Mt 22,32). Cuối cùng Phê-rô đã noi gương Đức Giê-su; thí mạng sống mình vì đàn chiên (xGa 1o,11) : khi về già, ông đã vâng lời Chúa hiện ra để quay vào thành Rô-ma, chung số phận với các tín hữu đang bị hoàng đế Nê-rông bách hại. Ong đã nêu gương can đảm, sẵn sàng giang tay chịu đóng đinh ngược đầu trên thập gía để đi theo Thầy "đến nơi ông chẳng muốn đến" (x Ga 21,18-19).

- BỔN PHẬN CỦA CÁC TÍN HỮU ĐỐI VỚI HỘI THÁNH :

Trong lịch sử hai mươi thế kỷ qua, Hội Thánh đã gặp biết bao khó khăn trở ngại : không những bên ngoài bị vua quan ngoại giáo bách hại, mà còn bị những chia rẽ tranh chấp bên trong. Rồi cũng có lúc đạo đức bị xuống cấp, từ giáo sĩ, tu sĩ đến giáo dân đều chạy theo sự giàu sang hưởng thụ và chịu khuất phục trước quyền lực của thế gian. Hội Thánh hôm nay cũng đang gặp không ít những khủng hoảng và Đức Thánh Cha là người lo lắng nhất : Nhiều nơi đã mất đức tin và nhiều người không còn đến nhà thờ, ơn kêu gọi linh mục tu sĩ bị giảm sút, nhiều mục tử có đời sống gương xấu đã bị công kích ngay trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chính Đức Thánh Cha cũng có lần bị chỉ trích và còn bị ám sát hụt, những phong trào đòi bình đẳng đấu tranh đòi cho phụ nữ làm linh mục… Ứơc gì mỗi tín hữu chúng ta biết noi gương thánh Phê-rô : Trong những lúc khó khăn, cần phải đoàn kết, siêng năng cầu nguyện và phó thác mọi sự cho Chúa quan phòng. Như thánh Phê-rô xưa, chúng ta quyết tâm trung thành và yêu mến Hội Thánh, góp phần với các vị chủ chăn để canh tân Hội Thánh bằng việc học sống Lời Chúa. Xin Chúa Thánh Thần thực hiện một lễ Hiện Xuống Mới cho Hội Thánh hôm nay, để canh tân đời sống từ bản thân mỗi người, rồi đến gia đình, các hội đoàn, giáo xứ và đến giáo phận, xã hội…

4) THẢO LUẬN : Theo ý bạn, Hội Thánh hôm nay, trong đó có mỗi tín hữu chúng ta đang có những khuyết điểm nào cần phải cấp thời sám hối canh tân ? muốn cho việc canh tân bản thân, gia đình và xã hội được hữu hiệu, thì cần áp dụng những phuơng thế thiêng liêng nào ? Bạn có yêu mến và cầu nguyện cho Đức Thánh Cha không ? Bạn sẽ làm gì để cảm thông với những nỗi âu lo của Đức Thánh Cha ?

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1)LẠY CHÚA GIÊ-SU. Chúng con không hiểu tại sao Chúa lại chọn ông Si-mon, một ngừoi thuyền chài ít học, nhiều khuyết điểm và đã có gia đình làm Tông Đồ và làm Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh. Chúng con biết rằng Chúa muốn xây dựng Hội Thánh trên tảng đá đức tin yếu hèn của Phê-rô là để bày tỏ quyền năng mạnh mẽ của Chúa. Khi được kêu gọi, Phe-rô và các tông đồ khác đã mau mắn đáp lại tiếng Chúa để được Chúa huấn luyện và sai đi rao giảng Tin Mừng, trở thành chứng nhân của Chúa đến tận cùng thế giới.

LẠY CHÚA. Hôm nay Chúa cũng kê gọi mỗi tín hữu chúng con theo làm môn đệ Chúa. Xin cho chúng con một chút can đảm của Phê-rô và các tong đồ, để đến với lương dân và rao giảng Tin Mừng cho họ. Xin cho chúng con bỏ đi những mặc cảm yếu hèn tội lỗi quá khứ, nhưng luôn hồi tâm sám hối và sẳn sàng hy sinh mọi sự để làm vinh danh Chúa và vì phần rỗi các linh hồn.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

2) LẠY MẸ MA-RI-A. Khi xưa vì đã tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế Con Thiên Chúa, nên dù Người chưa tỏ mình ra, Mẹ đã cầu cùng Chúa bầu cử cho đôi tân hôn tại tiệc cưới thành Ca-na. Chúng con nài xin Mẹ cũng cầu bầu cùng Chúa Giê-su cho chúng con mỗi lần chúng con yếu đuối vấp ngã, khi tình yêu nơi chúng con lụi tàn, khi chúng con làm các việc đạo đức như dự lễ cầu nguyện một cách khô khan máy móc và nhạt nhẽo vô vị giống như nước lã. Chúng con hy vọng nhờ biết lắng nghe lời Chúa và thành tâm mời Chúa vào nhà như hai môn đệ làng Em-mau xưa, mà đức tin nơi chúng con sẽ biến đổi, sẽ trở nên rượu nồng thơm ngon và đẹp lòng Chúa.

LẠY MẸ. Xin cho chúng con luôn yêu mến, gắn bó và cùng với Hội Thánh cầu nguyện, như Mẹ đã làm sau khi Chúa lên Trời. Xin cho chúng con luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa và biết cách biến các suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng con trở thành lời cầu nguyện, như hương trầm tỏa bay lên trước tôn nhan Thiên Chúa, xứng đáng được Người tiếp nhận.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A. - Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.


Về đầu trang

TN21-A25: ANH PHÊRÔ, ANH LÀ ĐÁ - Huyền Đồng

Chúa nhật 21 Thưởng Niên

21th Sunday in Ordinary Time

Lời Chúa cho hôm nay: ANH PHÊRÔ, ANH LÀ ĐÁ

* PETER, YOU ARE ROCK *

Bài đọc 1: Is.22,15; 19- 23= Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ/I will thrust you from your office

Bài đọc 2:Rom.11,33- 36=Ai đã biết tư tưởng của Chúa?/ Who has known the mind of God?

Tin Mừng: Mat.16,13- 20=Ngài là con Thiên Chúa hằng sống/ The Son of the Living God.

A. Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: ( Reflections, live out and share )

Đức Giêsu hỏi lại các môn đệ: "Còn anh em, anh bảo Thầy là ai?" Ông Simon Phêrô thưa: "Thầy là: TN21-A25

1/ Đức Giêsu hỏi lại các môn đệ: "Còn anh em, anh bảo Thầy là ai?" Ông Simon Phêrô thưa: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." Ông Simon nói được là nhờ ơn Chúa Cha mạc khải cho. Khi muốn ai tin và theo Chúa, tôi có sống gương mẫu và cầu nguyện cho họ không?

"And you,...who do you say that I am?" Simon Peter answered: "The Son of the living God!" ( Mat. 16, 15- 16)

2/ Chúa quay sang nói tiếp với Phêrô: "Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy..." Hội Thánh chính là Nước Trời ở trần gian, là công bình, yêu thương. Cựu tướng Trần Độ đã tranh đấu cho Dân chủ ở Việt Nam có làm theo mạc khải của Thượng Đế không? Bạn đã làm gì để mình xứng đáng là tảng đá mà Chúa giao phó?

I for part declare to you: "You are Rock, and on this rock I will build my Church..." (Mat. 16, 18)

3/ Thánh Phaolô đã ca tụng thánh ý nhiệm màu của Chúa: "Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa." Đúng thế, bao nhiêu dấu chỉ, việc làm của Chúa cho thế giới, quê hương Việtnam và gia đình hiện nay đã chứng tỏ quyết định của Ngài. Tôi có cái nhìn nào về đường lối của Chúa ?

. . .how unsearchable His ways! For who has known the mind of the Lord... (Rom. 11, 33- 34 )

4/ Tiên tri Isaia răn đe kẻ mưu mô, bạo quyền: "Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ. Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị." Bạn có thấy Chúa đang cảnh cáo các Công ty tại Mỹ, Giáo hội Hoa Kỳ và đổi mới chính quyền Việt Nam hiện tại không? Bạn cần phải sửa sai ngay những lầm lỗi và tật xấu nào?

"I will thrust you from your office and pull you down from your station?" ( Isaia 22, 19)

B.Câu Kinh Thánh thúc giục tôi chọn để Sống hôm nay: ( The Best God's Words )

PHÊRO LÀ TẢNG ĐÁ, TRÊN TẢNG ĐÁ NÀY THẦY SẼ XÂY HỘI THÁNH CỦA THẦY.(Mat.16,18

Đức Chúa phán: "Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ, Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị". ( Isaia 22, 19)

C- Tuần này tôi phải làm gì để Sống theo Lời Chúa kêu gọi: ( So what am I doing/ For action)

a/ Tôi có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành.

b/ Bạn cần dấn thân làm một việc thật xứng đáng với ơn Chúa ban mà không sợ mất mát...

D.Tôi cầu nguyện nhiều để Sống cho Giáo hội và Quê hương: ( I pray, practice/ Pray in action)

- Lạy Cha, ông Pherô đã nói lên Đức Kitô là Con của Cha hằng sống, nhưng mắt tâm hồn con bị che khuất bởi biết bao dục vọng! Xin Cha giúp con chu tòan nhiệm vụ con đã lãnh nhận.

- Tiên tri Isaia đang nói với con bây giờ: Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ; Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị. Xin Chúa giúp con biết mau mau tỉnh ngộ, để dẹp tính tham lam, ích kỷ hiện nay.

Lời hay ý đẹp: CHƠI ĐÙA VỚI TỘI LỖI LÀ ĐÙA CỢT VỚI ÁN PHẠT

Playing with sin is toying with judgment.


Về đầu trang

TN21-A26: Phê-rô Tuyên Xưng Ịức Giê-su là Con Thiên Chúa - John Nguyễn

Chúa Nhật 21 Thường Niên - Phê-rô Tuyên Xưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa

ĐỌC LỜI CHÚA

· Is 22,19-23: (22) Chìa khố nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được. (23) Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột, nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó.

· Rm 11,33-36: (33) Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Người, ai dò cho thấu! Đường lối của Người, ai theo dõi được!

· TIN MỪNG: Mt 16,13-20

Ông Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa

(// Mc 8,27-30; Lc 9,18-21)

(13) Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: «Người ta nói Con Người là ai?» (14) Các ông thưa: «Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ». (15) Đức Giê-su lại hỏi: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?» (16) Ông Si-môn Phê-rô thưa: «Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống». (17) Đức Giê-su nói với ông: «Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. (18) Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. (19) Thầy sẽ trao cho anh chìa khố Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy». (20) Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

Khi Phê-rô tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su, ông có thật sự tin ở bên trong, hay chỉ tuyên: TN21-A26

1. Khi Phê-rô tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su, ông có thật sự tin ở bên trong, hay chỉ tuyên xưng ngoài miệng mà thôi? Xét lại những tuyên xưng của chúng ta, chúng ta có xác tín đích thực bên trong rồi mới tuyên xưng ra bên ngoài? hay chỉ là tuyên xưng ngoài miệng mà thôi?

2. Câu Đức Giê-su nói với Phê-rô cần được hiểu thế nào? Đó có thể là một lời mời gọi mọi Ki-tô hữu ý thức hãy trở nên đá tảng làm nền móng Giáo Hội không?

Suy tư gợi ý:

1. Phê-rô tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su

Phê-rô là một trong ba môn đệ được Đức Giê-su yêu quí nhất - hai người kia là Gioan và Gia-cô-bê - vì ông là một con người thuần thành, chân thật và nhiệt tình, mặc dù có chút ít sốp nổi, bốc đồng. Điều đáng quí nhất là tư tưởng, lời nói và hành động của ông là một, không bất nhất, không mâu thuẫn nhau.

Khi tuyên xưng Đức Giê-su là «Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống», thì đích thực ông nghĩ như vậy, ông sống như vậy, và ông hành động đúng như vậy. Vì thế, ông đã tuyên bố những điều phát xuất từ trái tim ông như: «Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã (…) Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy» (Mt 26,33.35). Tuy nhiên, ông không ngờ được sự yếu đuối, hèn nhát vẫn là mẫu số chung của con người, trong đó có ông. Khi nói những điều ấy, ông không ngờ được là có ngày ông bị Đức Giê-su trách: «Si-mon, anh ngủ à? Anh không thức nổi một giờ sao?» (Mc 14,37), hoặc ông không ngờ lời báo trước của Đức Giê-su lại có thể ứng nghiệm được đối với ông: «Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần» (Mc 14,72).

2. Việc tuyên xưng của chúng ta thì sao?

Phê-rô cả đời chỉ tuyên xưng và sống hết mình với niềm tin đó, và ông cũng chết vì niềm tin đó. Ông không kết án những ai không tuyên xưng hoặc tuyên xưng khác với mình. Còn chúng ta thì sao?

Có lẽ có nhiều người trong chúng ta tuyên xưng đức tin rất mạnh, rất lớn tiếng, trong những nghi thức rất long trọng, trước mặt rất nhiều người. Và chúng ta sẵn sàng kết án hoặc tỏ ra khó chịu với những ai không tuyên xưng như chúng ta, hoặc tuyên xưng khác với chúng ta. Nhưng cuộc sống của chúng ta thì lại xem ra khá độc lập với việc tuyên xưng ấy. Chúng ta tuyên xưng một đằng, nhưng sống và hành động một đằng khác. Tại sao thế?

- Vì nhờ tuyên xưng mà chúng ta được lên chức, được gia nhập một cộng đoàn, một tổ chức, một hội nào đấy, rất có thể có lợi cho cuộc sống hay sự thăng tiến của chúng ta. Mà tuyên xưng thì rất dễ, chẳng mất một giọt mồ hôi nào, cho dù có tuyên xưng mạnh mẽ, lớn tiếng hay trọng thể đến đâu. Còn sống theo lời tuyên xưng ấy là cả một vấn đề gay go, phải «đổ mồ hôi, xót con mắt», hoặc phải «trầy da tróc vẩy», phải đau đớn, thậm chí phải chết. Vì thế, rất nhiều người tuyên xưng mà không sống lời tuyên xưng ấy.

- Vì tự bản chất của vấn đề, việc suy nghĩ trong thâm tâm và việc tuyên xưng ra bên ngoài có thể độc lập với nhau hoặc mâu thuẫn nhau, nhất là nơi những người thiếu thành thật. Câu «khẩu Phật, tâm xà» nói lên sự mâu thuẫn ấy có thể xảy ra. Còn việc suy nghĩ và việc hành động lại thường đi đôi với nhau, người ta suy nghĩ thế nào thì họ hành động như vậy: tư tưởng hướng dẫn hành động. Chỉ với những người thành thật và có sức mạnh nội tâm, thì việc suy nghĩ bên trong, tuyên xưng bên ngoài, và hành động hay cách xử sự luôn luôn nhất quán, trùng hợp nhau. Tuy nhiên, với những người ý chí yếu đuối, dù rất thành thật, thì hành động đôi khi đi ngược lại với suy nghĩ và lời nói, vì «lực bất tòng tâm», như trường hợp Phê-rô chối Chúa chẳng hạn.

3. Linh đạo «tuyên xưng» và linh đạo «sống»

Trong đời sống Giáo Hội, việc tuyên xưng ra ngoài miệng đóng vai trò quan trọng. Một số bí tích quan trọng đòi buộc phải có hành vi tuyên xưng như một điều kiện quan trọng không thể thiếu, như rửa tội, truyền chức và hôn phối. Một số nghi thức tôn giáo để gia nhập một cộng đoàn nào đó cũng vậy: khấn dòng, tuyên hứa hay cam kết để gia nhập hội đoàn. Trong thánh lễ, ta tuyên xưng đức tin trong kinh tin kính, trong lời tung hô sau truyền phép. Việc tuyên xưng ấy rất cần thiết, nhưng rất có thể vẫn có nhiều trường hợp người ta tuyên xưng một đằng, mà nghĩ, hành động, hay sống lại một đằng khác. Vì người Ki-tô hữu chúng ta rất thường xuyên tuyên xưng điều này điều kia, nên đôi khi chúng ta tuyên xưng một cách vô ý thức, rất máy móc, và quên không cố gắng sống cho phù hợp với những tuyên xưng ấy. Vô tình hay hữu ý chúng ta có thể trở thành những kẻ «ngôn hành bất nhất», trái với mệnh lệnh của Đức Giê-su: «Hễ "có" thì phải nói "có", "không" thì phải nói "không". Thêm thắt điều gì là do ác quỷ» (Mt 5,37). Muốn biết chúng ta có phải là loại người như thế hay không, hãy thử xét xem ta sống có khác với những người không tuyên xưng như ta hay không, nếu khác thì khác như thế nào, và ở mức độ nào. Lẽ ra người tuyên xưng và kẻ không tuyên xưng phải sống khác xa nhau lắm!

Đối với con người - vốn không đọc được những suy nghĩ bên trong người khác - thì việc tuyên xưng ra bên ngoài là quan trọng. Nhưng đối với Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn người ta, thì việc ta sống đúng theo suy nghĩ hay quyết tâm của ta mới là quan trọng. Vì thế, người sống đạo nội tâm không nên đặt quá nặng việc tuyên xưng. Có những người tự hứa hay tự khấn với Thiên Chúa điều gì, chỉ mình và Thiên Chúa biết với nhau, và họ cố gắng giữ thật trọn vẹn lời khấn hứa ấy. Những người này có giá trị rất lớn lao trước mặt Thiên Chúa, hơn rất nhiều những người tuyên khấn thật trọng thể - trước vô số người tham dự, trong đó có cả những nhân vật cao cấp trong Giáo Hội nghe và nhận lời tuyên khấn ấy - nhưng lại không giữ lời tuyên khấn ấy. Thế nhưng lắm người coi việc làm cho thật trọng thể lời tuyên khấn còn quan trọng hơn cả việc sống trung thực lời tuyên khấn ấy. Họ tuyên khấn thật trọng thể chỉ để khuyên người khác giữ, còn chính họ không thèm giữ!

Thiết tưởng thái độ nội tâm khi tuyên xưng mới là quan trọng, người Ki-tô hữu cần nhấn mạnh đến thái độ đó hơn cả chính việc tuyên xưng ra ngoài! Sự xác tín ở bên trong phải có trước đã, còn việc tuyên xưng tuy cần thiết về mặt xã hội hoặc Giáo Hội, nhưng chỉ là phụ thuộc! Xác tín bên trong không có, mà lại tuyên xưng bên ngoài thì thật là giả dối!

4. Những người xác tín thật sự bên trong rồi mới tuyên xưng ra bên ngoài là những viên đá nền tảng của Giáo Hội

Sau khi Phê-rô tuyên xưng đức tin, một đức tin có thật bên trong, một đức tin mà ông sẵn sàng sống chết với nó, thì Đức Giê-su tuyên bố: «Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi». Điều đó cho thấy những ai có đức tin mãnh liệt thật sự, và chứng tỏ đức tin ấy bằng cuộc sống, bằng những hành động phù hợp, thì Đức Giê-su muốn những người ấy là đá tảng của Giáo Hội. Quả thật Giáo Hội rất cần những Ki-tô hữu như thế, cho dù họ là giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ hay giáo dân! Chức vụ hay phẩm trật của họ trong Giáo Hội không phải là chuyện quan trọng cho bằng phẩm chất Ki-tô hữu của họ! Càng thiếu phẩm chất Ki-tô hữu mà càng giữ những chức vụ cao trong Giáo Hội, thì càng làm hại Giáo Hội, càng làm Giáo Hội suy yếu, chứ chẳng phải là làm nền tảng cho Giáo Hội đâu! Thật vậy, Giáo Hội đã phải nhiều phen điêu đứng và bị lung lay vì những ông giáo hoàng hay giám mục kém phẩm chất! Những vị này chỉ tuyên xưng đức tin ra bên ngoài để được phong chức, mà không có niềm xác tín đích thực bên trong! Những vị ấy dù có là giáo hoàng cũng không thể là đá tảng của Giáo Hội được!

Qua việc tuyên xưng đức tin của Phê-rô và lời tuyên bố tín nhiệm của Đức Giê-su, ta thấy mọi Ki-tô hữu - không trừ ai - đều được kêu gọi trở nên đá tảng của Giáo Hội bằng một đức tin có thật, sâu xa, mãnh liệt, và được tuyên xưng ra bên ngoài không chỉ bằng lời nói, mà chủ yếu bằng hành động, bằng chính đời sống dấn thân của mình. Giáo Hội mà thiếu những Ki-tô hữu như thế - dù họ chỉ là giáo dân - thì đã bị đào thải và sụp đổ từ lâu rồi. Giáo Hội mà có thật nhiều Ki-tô hữu như thế thì «quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi», và sẽ là một nhịp cầu chắc chắn nối liền thế giới với Thiên Chúa. Một Giáo Hội như thế sẽ là một hồng phúc cho cả nhân loại.

Cầu nguyện

Lạy Cha, từ trước đến nay, lời Đức Giê-su nói với thánh Phê-rô con cứ nghĩ là Ngài chỉ nói với những vị mà Ngài chọn làm giáo hoàng mà thôi. Nhưng nghĩ sâu xa và phổ quát hơn, con nhận ra Ngài nói với tất cả mọi Ki-tô hữu, Ngài mời gọi họ trở nên đá tảng của Giáo Hội, bằng cách bắt chước Phê-rô: thật sự xác tín về Thiên Chúa và Đức Giê-su ở bên trong, rồi sau đó tuyên xưng ra bên ngoài bằng chính đời sống của mình. Xin giúp con biết quảng đại đáp lại lời mời gọi ấy. Amen.


Về đầu trang

TN21-A27: Đi Sau Chúa - Lm Bùi Quang Tuấn CSsR

Chúa Nhật 21 Thường Niên -

Is 22,19-23; Rm 11, 33-36; Mt 16,13-20

Đang khi dân chúng còn mù mờ về vai trò và con người của Đức Giêsu thì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên: TN21-A27

Đang khi dân chúng còn mù mờ về vai trò và con người của Đức Giêsu thì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi đã mạnh mẽ tuyên xưng: “Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng sống”. Phêrô được khen là có phúc vì nhận được mạc khải từ trên cao. Thế nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, chính Phêrô lại bị Thầy mình trách là “Satan” vì lòng dạ tăm tối, chỉ “hiểu biết những sự thuộc về loài người” và đang “làm cớ cho Thầy vấp phạm”.Phêrô tuy nhận chân Đức Giêsu là Đấng Cứu thế, nhưng trong cái nhìn của ông, Đấng Cứu Thế sẽ là người hùng mạnh, đánh đông dẹp bắc, chinh phục vua chúa, thâu tóm quyền hành, và rồi đăng quang thống trị thế giới.

Đức Giêsu hiểu rõ quan niệm trần gian của các tông đồ về Đấng Cứu Thế, nên ngay sau lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, Ngài ngăn cấm các ông nói cho người khác những gì họ mới biết. Ngài muốn giúp các ông thay đổi cái nhìn về Đức Kitô. Đức Kitô đúng nghĩa sẽ là đấng phải đau khổ, bị từ khước, chịu giết chết trước khi đi đến toàn thắng. Sức mạnh của Đức Kitô không ở trong binh khí hay chiến mã như bao vua chúa trần gian, song là nơi thập giá khổ đau. Chiến lược của Đức Kitô là đi xuống chỗ tận cùng trong lũng sâu nước mắt của nhân loại để nâng tất cả lên trong vinh quang của Thiên Chúa.

Nhưng nào các tông đồ có hiểu được điều đó! Và đâu phải chỉ có các ông. Chính tôi lắm khi cũng không hiểu nỗi điều đó đấy chứ. Tôi cứ nghĩ Chúa là Đấng quyền năng đầy sức mạnh, phải cứu con người khỏi bao gian nan, khốn khổ, trái ý trên đường đời; phải ra tay làm nhiều phép lạ cho người ta tin; chứ đàng này Chúa lại lặng im như bất lực, thậm chí còn để cho dân Chúa, Giáo hội Ngài chịu biết bao thách đố đau thương.

Cũng như Phêrô, tôi muốn chỉ cho Chúa phương cách cứu thế, chứ làm theo kiểu của Chúa thì e rằng chẳng còn ai tin và Ngài sẽ thất bại ê chề.

Cũng như Phêrô, tôi muốn chận Chúa lại, không cho Ngài tiếp tục cuộc hành trình “kỳ quặc” về Giêrusalem. Tôi muốn “dạy” cho Ngài lối đường nên đi. Tôi muốn Ngài rút bới điều kiện cho mọi người cảm thấy nhẹ nhàng; cung cấp bánh ăn, của cải vật chất dư đầy cho người ta theo đông; làm nhiều phép lạ, ảo thuật giựt gân cho dân chúng thích thú.

Nhưng Chúa Giêsu quát lên: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Ta.”

Có hai lần trong đời mình, Chúa Giêsu đã dùng đến chữ “Satan”. Một lần với tên Cám dỗ và lần này với Phêrô. Satan đối nghịch với Thiên Chúa. Satan làm đảo lộn trật tự thế giớdi. Satan phá hoại chương trình của Thượng Đế nơi con người. Thế nên lời quở mắng “Satan” là lời khiển trách nặng nề nhất.

Nhưng để ý sẽ thấy: trong lần quở mắng tên Cám dỗ, Chúa Giêsu bảo nó “hãy cút đi”, Ngài không còn muốn thấy mặt nó nữa; nhưng khi khiển trách Phêrô, Chúa Giêsu lại nói “hãy lui ra sau Ta”. Như thế Ngài vẫn cho người môn đệ cơ hội hoán đổi hướng nhìn và cách đi. Thay vì đi trước và chỉ lối cho Chúa, tôi phải hướng theo và tiếp bước sau Ngài.

Satan không thể bước theo Chúa vì bản chất kiêu ngạo của nó. Nhưng riêng tôi, dù bao vấp phạm lầm lỡ, dù lắm khi sống theo ý mình, hay từng chạp theo tiếng gọi của ma quỉ, tôi vẫn được ban cho cơ hội làm lại hành trình của người môn đệ Đức Kitô, dẫu biết rằng không môn đệ chân chính nào của Ngài lại không phải mang thập giá: “Ai muốn đi sau Ta thì hãy chối bỏ mình, hãy vác lấy khổ giá mình và theo Ta” (Mt 16,24).

Thánh Phêrô, sau lời khiển trách của Thầy, đã về lại với chỗ đứng đúng nhất của mình: ông không đòi Chúa theo ý mình, song là vâng theo ý Chúa; ông không dẫn đường cho Chúa nhưng là bước theo dấu chân Ngài. Cao điểm của sự “đi theo” này là việc Phêrô chịu đóng đinh thập giá vì Đức Kitô vào năm 69 AD.

Như thế, vị Giáo hoàng tiên khởi, với biết bao yếu đuối sa ngã, cuối cùng đã lấy cái chết của mình để xác minh chân lý thập giá. Từ chỗ muốn dạy cho Thầy mình về sự khôn ngoan của thế gian đến việc khám phá và ôm ấp giá trị sâu xa sự điên rồ của Thiên Chúa. Từ chỗ phủ nhận và ngăn chận Thầy mình bước đi con trên con đường khổ đau, đến việc chính mình anh dũng tiến vào. Nhưng nhờ đâu mà Phêrô có được thái độ và hành vi hào hùng đó? Phải chăng chính nhờ niềm xác tín vào Đức Giêsu, Đấng ông đã tuyên xưng. Nếu không có xác tín, hẳn ông đã chẳng dám theo.

Niềm tin mãnh liệt vào Đức Giêsu thúc đẩy người ta vâng theo lời Ngài. Khi Chúa bảo “Hãy lui ra sau Ta”, Phêrô vâng lời lui ra chứ không giận dỗi bỏ đi. Khi bị mắng là “Satan”, Phêrô vẫn khiêm tốn nhìn nhận tầm nhìn nông cạn của mình chứ không tự ái phản đối.

Thử hỏi tôi có được niềm xác tín làm phát sinh thái độ khiêm tốn và nghe lời Chúa như thế không, hay tôi vẫn khăng khăng chối từ lối đường thập giá?

Một nhà tư tưởng quả quyết: “Luật của thập giá là luật phổ quát. Làm người, không ai thoát khỏi thập giá”. Như thế chối từ thập giá là chối từ làm người đúng nghĩa.

Nhưng phải vác thập giá theo Đức Giêsu - tức là sống theo những giá trị Tin Mừng như vị tha, thanh khiết, chân thật, từ tâm, phục vụ, quên mình...- tôi mới là con người trọn vẹn, một con người phản chiếu dung mạo Thiên Chúa.

NS Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp


Về đầu trang

TN21-A28: NGƯỜI KI-TÔ HỮU - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN

NGƯỜI KI-TÔ HỮU - Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

(Mt 16,13-20)

Trong những dòng cuối của sứ điệp “Hòa bình dưới thế”, vị cố Giáo hoàng Gioan XXIII, được: TN21-A28

Trong những dòng cuối của sứ điệp “Hòa bình dưới thế”, vị cố Giáo hoàng Gioan XXIII, được mệnh danh là vị Giáo hoàng nhân từ, dễ thương, đã đưa ra cho chúng ta một định nghĩa : thế nào là một người Ki-tô hữu chân chính như sau : “Mỗi một tín hữu trong thế giới của chúng ta là một mảnh sao băng, là một tụ điểm của tình yêu, là một thứ men sống động giữa những người anh em của mình. Nếu người tín hữu đóng trọn vai trò ấy, họ sẽ là người Ki-tô hữu chân chính”.

Sống trọn những cam kết trên, quả thật người Ki-tô luôn là một thách thức, một câu hỏi, một sự hiện diện quấy rầy đối với mọi người. Một mảnh sao băng khi chợt sáng lên rồi tắt lịm, nhưng cũng đủ thu hút cái nhìn của con người về một góc trời nào đó. Một hạt men bé nhỏ, mất hút trong khối bột, nhưng cũng đủ sức làm dậy lên cả khối bột. Một thể hiện yêu thương, dù nhẹ nhàng đơn giản, cũng đủ sưởi ấm cõi lòng, đủ sức chinh phục hay cảm hóa bất cứ người nào. Như thế đó, sự hiện diện của người tín hữu luôn có sức thu hút, tạo được ảnh hưởng tốt cho người khác, với điều kiện họ phải sống đúng danh nghĩa người Ki-tô.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng muốn nhắc nhở chúng ta về cuộc sống ấy. Trong những việc làm của mình, và nhất là cuộc sống của mình, Chúa Giêsu đã không ngừng là một câu hỏi cho tất cả chúng ta : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”. Câu hỏi đó Chúa không ngừng đặt ra cho chúng ta và yêu cầu chúng ta sống đúng với niềm tin của mình. Ai trong chúng ta cũng trả lời được Chúa Giêsu là ai ? Là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa đến trần gian để dạy bảo Tin Mừng, để cứu chuộc chúng ta. Rồi đến lượt chúng ta, qua cuộc sống của mình, chúng ta cũng luôn là câu hỏi cho những người chung quanh. Dù âm thầm ẩn dật đến đâu, dù bé nhỏ vô danh đến đâu, sự hiện diện của chúng ta cũng luôn là một câu hỏi cho những người chung quanh. Nghĩa là nhìn vào đời sống chúng ta, họ bảo chúng ta là ai ?

Thực vậy, giữa một xã hội đầy giành giật, đầy bon chen, lấy tiền bạc làm khuôn vàng thước ngọc, người Ki-tô sẽ vẫn là một câu hỏi, nếu chúng ta sống trong tinh thần khó nghèo, chấp nhận thua thiệt, mất mát hơn là bán đứng lương tâm để chạy theo điều phi pháp. Có một số người lấy hận thù, ăn miếng trả miếng làm luật sống, người Ki-tô sẽ mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta vẫn yêu thương với mọi người, sẵn sàng tha thứ và theo Chúa cho đến cùng. Giữa một xã hội mà nhiều người đang buông xuôi, thất vọng, người Ki-tô vẫn mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta biết sống lạc quan, tin tưởng vào một Đấng có tình yêu trong lịch sử con người. Giữa xã hội mà sự thành thật với nhau đã trở thành, một thứ xa xỉ phẩm, người Ki-tô sẽ mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta vẫn tiếp tục sống thành thật, sống tử tế, tốt đẹp với mọi người, ngay cả đối với chính kẻ thù của mình …Sống như thế quả là không dễ, là một đòi hỏi cam go, nhưng Chúa đòi chúng ta phải cố gắng sống được như thế nếu chúng ta muốn là một Ki-tô hữu đúng danh, nếu chúng ta muốn làm chứng cho Chúa.

Trong tiểu sử của thánh Sác đơ Phu-cô kể rằng : sau khi từ Ma-rốc trở về, anh say sưa kể lại cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm đầy kỳ thú của anh qua những khu rừng Phi châu, người chăm chú theo dõi câu chuyện hơn cả là một cô cháu gái chưa đầy 10 tuổi. Khi anh vừa kể xong, bất ngờ cô bé hỏi : “Thưa cậu, cháu thấy cậu làm được nhiều việc rất hay, thế cậu đã làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?”. Câu hỏi ấy như một luồng điện giật làm Sác đơ Phu-cô bất động. Từ bao lâu nay chưa ai đã khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế : anh đã làm được gì cho Chúa Giêsu ? Anh lục soát tâm hồn mình, anh chỉ thấy một lỗ hổng không đáy, anh đã phí phạm tất cả thời giờ và tuổi thanh xuân cho những cuộc ăn chơi trụy lạc và những danh vọng thấp hèn, mắt anh bỗng mở ra để thấy nỗi khốn khổ, nghèo hèn của mình.

Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một linh mục. Anh vào dòng khổ tu, ít lâu sau, anh xin đến Na-da-rét để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu. Một ngày kia, khi đang cầu nguyện sốt sắng trong phòng, bỗng anh nghe thấy từ căn nhà bên cạnh tiếng rên rỉ của một người Hồi giáo, nhớ lại gương bác ái của Chúa Giêsu, anh tự hỏi : tôi có thể giam mình cầu nguyện trong phòng trong lúc có những anh chị em chung quanh đang khốn khổ thất vọng chăng ? Thế là anh quyết định đến sống giữa họ, trở thành người anh em của họ, nhất là của những người cô đơn, lạc lõng, nghèo hèn. Những năm cuối đời, anh sống giữa sa mạc Sa-ha-ra, chia sẻ hoàn toàn cuộc sống cho những người cùng khổ, và chia sẻ đến giọt máu cuối cùng khi phát súng oan nghiệt của kẻ sát nhân bắn gục anh giữa lúc anh đang cầu nguyện.

Mọi Ki-tô hữu chân chính đều phải tự hỏi mình : tôi đã làm được gì cho Chúa Giêsu ? Chúng ta cũng tự hỏi mình như thế. Qua bao nhiêu năm tháng cuộc đời, qua bao nhiêu nhiệm vụ lớn nhỏ đã hoặc đang đảm trách, qua bao nhiêu hồng ân đã lãnh nhận, tôi đã làm được gì cho Chúa Giêsu ? Không phải là cho Chúa Giêsu mãi đâu trên trời, nhưng là cho Chúa Giêsu đang tiếp tục ngự đến, đang tiếp tục hiện diện trong cuộc đời tôi, trong tâm hồn tôi, nơi những người anh em tôi, cũng là anh em của Ngài, nhất là những ai thấp hèn, cùng khổ. Tôi tự hỏi mình, mà chính Chúa Giêsu cũng hỏi tôi mỗi ngày : “Con đã làm được gì cho Cha ?”, cũng có nghĩa là “Con đã làm được gì cho những người anh em bé mọn nhất của Cha ?”. Mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ và trả lời.

Trích Chia Sẻ Tin Mừng Chúa Nhật Năm A


Về đầu trang

TN21-A29: SLCTTY/280 -  Thầy là ai?

Năm 1958 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII được chọn trong cơn khủng hoảng của Giáo Hội về: TN21-A29

Năm 1958 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII được chọn trong cơn khủng hoảng của Giáo Hội về các vấn đề liên hệ đến chức linh mục, đời sống tu trì, hôn nhân và đức tin. Đức Giáo Hoàng đã phải làm việc vất vả nhiều giờ để cố gắng giải quyết những vấn đề này. Vào một buổi tối, sau một ngày làm việc mệt mỏi trong văn phòng, ngài đi đến nhà nguyện để làm Giờ Thánh theo thông lệ hằng ngày trước khi đi ngủ. Vì ngài quá kiệt sức và căng thẳng tới nỗi không thể tập trung tinh thần để cầu nguyện được nữa. Sau một vài phút cố gắng nhưng vô ích, ngài đứng dậy và nói : “Lạy Chúa Giêsu, Giáo Hội thuộc về Chúa. Con đi ngủ đây”. Chính những khó khăn đã đưa dẫn Đức Giáo Hoàng tới việc nhận thức rằng Giáo Hội thuộc về Chúa Kitô.

Nếu hôm nay Chúa Giêsu cũng hỏi chúng ta : “Phần các con, các con bảo Thầy là ai ?” Câu trả lời của chúng ta là gì ? Hầu hết những câu trả lời của chúng ta đã được nghe và đặt thành những tước hiệu về Chúa Giêsu : Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian, Ngôi thứ hai của Ba Ngôi Thiên Chúa, Chúa Chiên Lành, Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống… Những câu trả lời này có thể là của suy luận thần học và thánh Kinh, nhưng chưa phải là câu trả lời phát xuất từ đáy tâm hồn ta !

Chúa Giêsu đang mong đợi những câu trả lời cá nhân của chúng ta. Những câu trả lời do sự liên hệ gặp gỡ thân mật giữa ta với Ngài.

Người đàn bà nhận được điện thoại của người giữ trẻ. Con bé gái của bà ngã bệnh, đang bị sốt cao độ. “Tôi sẽ trở về nhà ngay”, bà nói với người coi trẻ, “nhưng trước hết, tôi sẽ ghé qua tiệm thuốc mua ít viên aspirin cho trẻ con. Phải làm cho nó bớt sốt cái đã”. Bà phóng xe đến tiệm thuốc. Khi trở lại xe với những viên aspirin trong tay, bà nhận ra rằng trong lúc vội vã đã khoá cửa xe mà chìa khoá vẫn còn ở trong xe. “Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con”, bà thành tâm cầu nguyện, “con gái con đang đau, con phải mang thuốc về cho nó”. Sau đó bà nhớ ra rằng một cái móc áo có thể được dùng để mở cửa xe hơi. Nhìn xuống mặt đất xung quanh đó, có một cái móc áo đã bị rỉ sét, lượm lên bà băn khoăn tự hỏi, làm thế nào mà mở cửa xe bây giờ. Lần thứ hai bà lại thành tâm cầu khẩn, “Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con, xin gửi đến cho con người nào biết dùng cái móc áo này”.

Ngay sau lời cầu nguyện có chiếc môtô gầm lên vang trời phóng tới và đậu lại ngay đó. Chàng thanh niên lái xe môtô mặc chiếc áo khoác bằng da đen, cùng với y phục trang sức hiện đại: giày đen, bao tay đen, mũ da đen, mắt kiếng đen, tóc dài với bộ râu quai nón rậm rạp. “Ôi, lạy Chúa Giêsu, Ngài đã nhận lời con cầu nguyện rồi hay sao?” Bà tự nghĩ. Rồi bà giải thích câu chuyện cho chàng lái xe môtô. Con nhỏ bị bệnh, cần đưa thuốc về, chìa khoá xe bên trong. “Đây là cái móc áo rỉ sét”, bà quơ cái móc áo qua lại trước mặt hắn. “Anh có thể giúp tôi được không?” “Được mà”, anh nói. Anh cầm cái móc áo trong tay, chỉ trong 5 giây, đã mở được cửa xe. Vô cùng biết ơn, bà đưa tay ôm choàng lấy gã lái xe môtô, trong cơn xúc động bà nói, “Cám ơn anh hết sức. Anh tốt quá đi !” “Không, tôi không…” gã lái xe môtô nói. “Tôi vừa mới ra khỏi nhà tù hôm nay. Tôi đã bị tù vì tội ăn cắp xe hơi, và vừa mới được thả ra khỏi tù chừng một tiếng đồng hồ thôi”. Người đàn bà đưa mắt lên trời cao thì thầm, “Cám ơn Chúa Giêsu, vì đã gửi đến cho con một tay rất chuyên nghiệp !”

Đây là câu chuyện vui, nhưng đã nói lên điểm chính yếu của bài Phúc âm hôm nay. Vì nếu Chúa Giêsu hỏi người đàn bà đó rằng “Phần con, con bảo Thầy là ai ?” Câu trả lời của bà ấy sẽ là : “Thầy là người săn sóc cho con trong cuộc đời, một người yêu con và giúp đỡ con, một người lúc nào cũng sẵn sàng cho con”. Đây là câu trả lời phát xuất từ con tim mà thánh Phaolô đã gọi là “tài trực giác siêu nhiên” sẽ làm Chúa Giêsu vui lòng.

Điều này rất quan trọng, vì một cảm nghiệm xuất phát từ trái tim chính là một sự khám phá thứ hai : Chúa Giêsu hiện diện trong chúng ta, và dùng chúng ta để tiếp tục sự hiện diện của Ngài trong thế giới này.

Về đầu trang

TN21-A30: Mầu nhiệm Giáo Hội

CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN A

MẦU NHIỆM GIÁO HỘI

Bài đọc 1: Is 22, 19-23;
Bài đọc 2: Rm 11, 33-36
Tin mừng: Mt 16, 13-23

Hôm thứ Năm 18/7/2002, toà án tại quận Ambikapur thuộc bang Chhattisgarh, miền Trung Ấn Độ: TN21-A30

Hôm thứ Năm 18/7/2002, toà án tại quận Ambikapur thuộc bang Chhattisgarh, miền Trung Ấn Độ đã ra lệnh phạt tù Sr. Bridhi Ekka, 56 tuổi, thuộc dòng Ursula, 6 tháng tù giam vì tội đã dám chiêu dụ tín đồ Ấn Giáo trái phép.

Sr. Bridhi bị kết án theo một đạo luật đang gây ra rất nhiều tranh cãi tại Ấn Độ, khi một người muốn được rửa tội theo Công Giáo, người đứng ra rửa tội cần phải báo với đồn cảnh sát gần nhất và chờ đợi cho đến khi nào đồn cảnh sát cho phép thì mới được rửa tội cho người muốn xin theo đạo. Thông thường, trong các trường hợp như vậy, cảnh sát sẽ mời người muốn xin theo đạo lên để hăm dọa, kể cả đánh đập để họ từ bỏ ý muốn xin theo đạo.

Sr. Bridhi Ekka đã rửa tội cho một người đang lúc hấp hối. Sr. đã không báo cáo với cảnh sát và cũng không chờ cho đến khi cảnh sát có ý kiến. Đó là lý do tại sao quan toà bỏ tù Sr. Ngay sau khi quan toà kêu án, Sr. Ekka đã bị lôi ngay vào nhà giam.

Như thế, chúng ta thấy từ khi Đức Kitô, Đấng sáng lập ra Kitô giáo chịu chết treo trên thập giá cho đến tận bây giờ. Giáo Hội của Ngài vẫn liên tục bị bách hại. Thế nhưng, Giáo Hội ấy vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mạnh mẽ đúng như lời của Đức Kitô đã nói trước với Phêrô: “Con là Đá, trên đá nầy Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được” (Mt 16, 18). Do đó, trong giờ chia sẻ này, tôi muốn cùng quý ông bà anh chị em cùng nhau nhìn lại Mầu nhiệm Giáo Hội dưới ánh sáng của phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay.

1. GIÁO HỘI ĐƯỢC CHÍNH ĐỨC KITÔ THIẾP LẬP

Sau những bài giảng và dụ ngôn cùng với những phép lạ, chúng ta thấy công cuộc rao giảng của Đức Giêsu có vẻ thất bại nhiều hơn là thành công. Tin mừng Gioan còn ghi lại rõ sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, nhất là sau bài giảng về “Bánh Hằng Sống” (Ga 6). Nhiều người đã bỏ Ngài mà đi. Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu đã đưa các tông đồ đến miền Césarée Philipphê, tách khỏi đám đông dân chúng, để Ngài có thời gian nhiều hơn cho việc huấn luyện các tông đồ. Chính tại nơi đây, sau khi lời tuyên xưng của thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Đức Giêsu đã thiết lập Giáo Hội trên Tảng đá Phêrô, Ngài nói với Phêrô: “Con là Đá, trên đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt 16, 18). Tuy nhiên, Ngài cũng khẳng định rõ, lời tuyên xưng của thánh Phêrô không do bởi Phêrô, nhưng là do ơn Chúa tác động: “Hỡi Simon, con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 16, 17).

Như thế, chúng ta cũng có thể kết luận rằng, Giáo Hội là do chính Thiên Chúa thiết lập. Vì thế, Giáo Hội luôn có Chúa ở cùng. Và nếu có Chúa ở cùng, Giáo Hội đó chắc chắn sẽ bền vững như lời Đức Kitô đã hứa: “và cửa địa ngục sẽ không thắng được”. Nói đến đây, tôi nhớ đến tác phẩm “Quo Vadis” của một nhà văn Ba Lan, Sionkievich. Trong đó, ông kể lại câu chuyện tình của (Vinius), một sĩ quan dưới triều đại của Néron và nàng Ligia, một thiếu nữ Công giáo. Câu chuyện tình này được đặt nền trên bối cảnh lịch sử của cuộc bách hại đẫm máu người Công giáo dưới thời vua Néron. Khi kết thúc tác phẩm, ông viết: “Thế là qua đi Néron như đã qua đi cơn lốc, như đã qua đi giông bão, hoả hoạn, chiến tranh hay một cơn ác mộng. Còn nhà thờ lớn của ông Phêrô, cho tới nay vẫn đang ngự trị thành đô Roma và thế giới, từ trên ngọn đồi Vatican.”. Vâng Néron đã qua đi, nhưng Giáo Hội vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển cách vững mạnh.

Thế nhưng, Giáo Hội ấy lại được đặt nền trên những con người không những rất bình thường mà còn yếu đuối nữa như Elyakim, như Phêrô. Nhưng cho dù bình thường và yếu đuối, những con người ấy có một đặc điểm chung là hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa. Tể tướng Sobna, trong bài đọc một, khi đứng trước sự đe doạ của nước Assirie, ông đã không tin tưởng vào Thiên Chúa, nhưng lại muốn liên kết với Ai Cập để chống đỡ. Vì thế, ông đã bị mất chức. Quyền hành của ông được trao cho Êlyakim, một người hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa theo sự hướng dẫn của ngôn sứ Isaia. Đức Chúa phán: “
Ta sẽ để chìa khoá nhà Đavít trên vai nó
”. Êlyakim đã tin lời Chúa và đã cứu dân khỏi chết. Còn Phêrô đã mạnh mẽ tuyên xưng Đức tin vào con Thiên Chúa, nên đã được chọn làm nền tảng cho Giáo Hội của Đức Kitô.

Tất cả những điều này cho thấy ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa, ý định của Thiên Chúa khác xa đường lối của con người, như lời lời Ngài phán trong sách ngôn sứ Isaia: “Quả thế, ý nghĩ của Ta không phải là ý nghĩ của các ngươi, và đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi,.. Vì trời cao hơn đất (bao nhiêu), cũng vậy, đường lối của Ta vượt hơn đường lối của các ngươi (bấy nhiêu).” (Is 55, 8-9). Chính thánh Phaolô trong bài đọc hai cũng cảm nghiệm điều đó khi thốt lên: “Ôi sâu thẳm thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa: sự phán quyết của Ngài làm sao hiểu được, và đường lối của Ngài làm sao dò được

(Rm 11, 33). Như thế, Thiên Chúa chọn ai tuỳ Ngài muốn, chứ không do công trạng hoặc tài năng của chính người được chọn.

2. BỔN PHẬN CỦA CHÚNG TA :

Ý thức, Giáo Hội được Đức Kitô thành lập, và chính Ngài mới thực sự là người điều khiển và ban sức sống cho Giáo Hội. Đồng thời, Ngài đã dùng những con người có khi thật yếu hèn để thay Ngài hướng dẫn chúng ta. Hơn nữa, Giáo Hội không chỉ được xây dựng trên nền đá Phêrô, nhưng mỗi người chúng ta cũng là những viên đá sống động góp phần xây dựng nên toà nhà Giáo Hội như lời thánh Phêrô: “cả anh em nữa, ví thể những viên đá sống; hãy để Ngài xây cất anh em làm toà nhà thiêng liêng” (1 Pr 2, 5). Do đó, là thành phần của Giáo Hội, tôi nghĩ chúng ta cần đóng góp phần mình để xây dựng Giáo Hội đó ngày càng thánh thiện hơn như Thiên Chúa là Đấng Thánh. Để làm được việc này, có lẽ điều cần thiết và quan trọng nhất là cầu nguyện cho hàng Giáo phẩm, nhất là Đức Thánh Cha của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện để ngài luôn gắn bó với Chúa, và được đầy tràn Chúa Thánh Thần để các ngài thật sự là những người thay mặt Chúa hướng dẫn chúng ta sống theo ý Chúa. Điều này được phụng vụ Giáo Hội nhắc nhở thường xuyên trong mỗi thánh lễ, nhưng không biết chúng ta có để ý không: “Lạy Cha, xin nhớ đến Hội Thánh Cha lan rộng khắp hoàn cầu, và làm cho Hội Thánh nên hoàn hảo về đức mến, trong niềm hiệp thông với Đức Thánh Cha …, Đức Cha….giám mục giáo phận chúng con, và toàn thể hàng giáo sĩ.”.

Kế đến là tâm tình vâng phục trong đức tin. Xác tín, hàng giáo phẩm là những người được Chúa đặt lên để thay mặt Chúa hướng dẫn chúng ta. Chúng ta cần khiêm tốn đón nhận những giáo huấn của Hội Thánh với tâm tình con thảo. Không chỉ nghe theo những giáo huấn của Đức Thánh Cha, của Đức Giám Mục, nhưng chúng ta còn có bổn phận vâng theo những hướng dẫn của Cha Xứ, người được Đức Giám Mục giáo phận đặt thay mặt ngài ở cạnh chúng ta, nhất là trong lãnh vực đức tin và luân lý. Chính khi thi hành những việc xem ra rất nhỏ này, chúng ta đang góp phần làm nên sự hiệp nhất của Giáo Hội và xây dựng Hội Thánh Chúa ở trần gian này.

Trong tâm tình cảm tạ Thiên Chúa, Đấng đã cho chúng ta được sinh ra và lớn lên trong Giáo Hội của Ngài. Giờ đây, xin mời cộng đoàn cùng đứng lên tuyên xưng đức tin.
Lm Trần Thanh Sơn


Về đầu trang

TN21-A31: THÔØI ÑIEÅM ANH LÍNH MAÙT THÖÙ THIEÄT

Tin Vui Thời Điểm 21A

Truyện kể về một anh sinh viên bị bắt vào lính đi quân dịch. Anh ta bất mãn vì bị như thế, nên tính: TN21-A31

Truyện kể về một anh sinh viên bị bắt vào lính đi quân dịch. Anh ta bất mãn vì bị như thế, nên tính tình trở nên bất thường, suốt ngày cứ nhớn nhác như muốn tìm một cái gì. Khi phải xếp hàng đi tập trên đường mà anh thấy được một tờ giấy văng vãi là thế nào anh ta cũng chạy tới nhặt lên xem. Đọc xuôi một hồi rồi lại lật tờ giấy đọc ngược nữa. Rồi càu nhàu vất đi: không phải cái này!

Cứ thế, ngày này qua ngày khác, lần nào anh ta cũng nhặt lên được mấy tờ giấy đọc rồi lại vất xuống: “không phải cái này.” Người đội trưởng bực mình la hét phạt chán rồi cũng vậy thôi. Còn đồng đội thì cũng đành chịu cái tên “hết thuốc chữa” này mỗi ngày một “mát” quá ra. Một hôm văn phòng gọi anh ta lên. Vị chỉ huy hằn giọng nói ngay: Mày “mát” quá không ai chịu nổi nữa. Đây, mày cầm cái giấy này về ngay!

Anh ta cầm giấy giơ lên đọc. Thì ra là giấy miễn dịch. Anh ta sung sướng reo lên: A, đúng là cái này rồi. Và anh ta vội vã chạy mất.

ĐÂU LÀ LỐI TÌM HẠNH PHÚC?

Hình như mình cũng như nhiều người đang nhớn nhác tìm kiếm một cái gì trong cuộc sống giống như anh chàng quân dịch thì phải. Còn bé thì chỉ mong chóng làm người lớn để tung hoành. Khi lớn thì lam lũ vất vả chỉ mong gom được chút tiền còm để dưỡng già. Mà về già thì lại ngồi tiếc nuối quá khứ vàng son! Nghĩa là chẳng bao giờ bằng lòng với những cái đang có trong hiện tại. Khi chưa có địa vị thì cũng mong có một chỗ đứng cho ra hồn. Nhưng khi đã bước vào cái vòng danh lợi cong cong rồi thì lại muốn hòng ra khỏi: không phải cái này! Đang khi nhiều người lại mong bước vào. Lập gia đình, mua nhà, sắm tiệm, một thời gian rồi cũng rất có thể lại nghĩ quẩn: không phải cái này! Rồi lại hối hả đi tìm kiếm một cái gì khác hơn nữa. Hình như bờ cỏ bên kia xanh hơn. Đứng núi nọ trông núi kia cao.

Xem ra ai cũng hăm hở tìm hạnh phúc, mà sao hạnh phúc khó tìm quá vậy! Đang khi mọi tạo vật đều nhởn nhơ phong lưu: con chim hót líu lo trên cành, con cá lội tung tăng dưới nước, bông hoa nở tươi bên ghềnh đá. Chỉ có con người là nhăn nhó khổ sở, đi tìm hạnh phúc mà lúc nào cũng căng thẳng nghiêm trọng như sắp lên ghế điện lãnh án tử hình! Có cái gì sai trệch căn bản trong đường lối tìm hạnh phúc thật rồi!

Nhân loại đã bước qua một giao điểm quan trọng của thiên niên kỷ mới. Con đường nào mở ra, và bước chân nào đang đi tới?

Có phải là những bước mệt mỏi lê lết trên đường New York, Paris, Tokyo, New Orleans, Los Angeles, Houston, San Jose, Sài Gòn, Hà Nội? Có phải là những bước chùn chân buông xuôi phó mặc cho may rủi của một cuộc vận hành vũ trụ?

Thì đây, Đức Giáo Chủ Công Giáo Gioan Phaolô II đã viết một tông thư cho thời điểm ngàn năm thứ ba này:

“Nay chúng ta đang bước vào đệ tam thiên niên của kỷ nguyên mới, tâm tư chúng ta hướng về những lời nói của tông đồ Phao-lô: “Khi thời gian đã đến buổi trọn đầy, Thiên Chúa gửi Con Mình đến, sinh từ một người phụ nữ.” (Gl 4:4)

“Sự kiện Ngôi Lời vĩnh cửu, trong sự toàn mãn của thời gian đã mặc lấy thân phận của tạo vật, đem lại cho biến cố của Bê-lem cách đây 2000 năm một giá trị hoàn vũ lạ lùng, Nhờ Ngôi Lời, thế giới của các tạo vật được xuất hiện như một hoàn vũ, nghĩa là một vũ trụ được xếp đặt trong trật tự. Và cũng chính Ngôi Lời khi nhập thể, làm mới lại trật tự hoàn vũ nơi các tạo vật.” (tông thư, số 3)

Đức Giáo Chủ có ý nói một điều đơn sơ: để bước vào thiên niên thứ ba, chỉ có một con đường là tìm gặp được Chúa Kitô trong cuộc sống. Ngài đã làm người ở giữa con người, đã trải qua thống khổ, bị tử hình nhưng đã sống lại để mở đường cho con người có thể vươn tới vô biên. Và Ngài mới là Đường, là sự Thật và là Sự Sống. Tất cả những con đường khác chỉ là “sự tìm kiếm Thiên Chúa bằng những bước mò mẫm.” (TĐCV 17:27). Chính cảm nghiệm này đã làm cho các môn đệ đầu tiên đầy hứng khởi bung đi khắp nơi rao truyền tin vui lớn.

Trên đây là một đoạn trích từ sách Đường Nở Hoa Lê Thị Thành của Lm. Trần Cao Tường, viết về đường tu đức của vị thánh nữ duy nhất của Việt Nam. Con mắt thấy được Đức Kitô đang có mặt trong cuộc sống là tất cả bí quyết về chiếc chìa khóa mở cửa hạnh phúc. Đó là con mắt của tâm. Con đường nở hoa hạnh phúc của thánh Lê Thị Thành được Giáo Hội giới thiệu đáp ứng thời điểm thì thật đơn sơ, gần gũi trong tầm tay của mỗi người trong cuộc sống hằng ngày, chứ không phải đi kiếm tìm đâu xa cả.

Vườn Địa Đàng hạnh phúc ở ngay trong gia đình, trong bếp, trong ruộng vườn, trong công sở. Vì nơi nào có Chúa thì ở đó là Thiên Đàng, mà Chúa là Đấng hằng hữu, ở khắp mọi nơi. Chỉ cần mở con mắt tin là thấy liền. Phép lạ xẩy ra mỗi giây phút. Như cái thấy của thánh Têrêsa Mẹ:

“Chúa đang đi giữa những nồi niêu xoong chảo.”

TIN VUI TÌM ĐƯỢC CHÌA KHÓA

Có lần Đức Giêsu đã hỏi các môn đệ xem các ông bảo Ngài là ai? Một vài ông đã trả lời theo cái nhìn của người khác, nghĩa là chẳng thấy gì đặc sắc lắm. Riêng Thánh Phêrô thì quả quyết: Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Và Ngài đã khen ngợi và xác nhận: Con thật có phúc. Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước Trời.

Quả là nhiều người sống bên cạnh Đức Giêsu mà đâu có nhận ra Ngài là ai, cũng bình thường thôi. Nhưng Thánh Phêrô đã nhìn thấy được bằng con mắt của tâm, con mắt của niềm tin, nên đã nắm bắt được chìa khóa mở cửa hạnh phúc ngay trong cuộc sống này. Con mắt tin nhận ra được Chúa toàn năng hằng hữu bên cạnh mình thì còn chi thiếu thốn? Đó là chiếc chìa khóa lạ.

Mình cũng như nhiều người đang nhớn nhác đi tìm một cái gì như anh quân dịch. Bao nhiêu cái đã nhặt được lúc này nhìn lại thấy đều không phải vậy. Thế thì chừng nào mới tìm được cái làm thỏa mãn thật đây để có thể hô to: A, đúng cái này rồi.

Lạy Chúa, con tin nhận để Chúa bước vào cuộc sống của con, và con xin thốt lên lời chân thành như thánh Âu Cơ Tinh sau nhiều kiếm chác mệt mỏi rã rời và đổ vỡ: “Tâm hồn con vật vã mãi cho đến khi gặp được Chúa.”

Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

Tác giả sẵn lòng gửi đến cho quí vị những bài viết như trên mỗi tuần.

Xin liên lạc ghi danh nhận tài liệu tới email: tinvuithoidiem@gmail.com

Lm. Trần Cao Tường

TN21-A32: NIỀM TIN VÀO CON THIÊN CHÚA

Về đầu trang

 (CN 21TN – Mt 16, 13-20) Phêrô Vũ văn Quí CVK64

Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua câu hỏi thứ nhất của Chúa Giêsu: “Người ta nói Con Người là:TN21-A32

                Trong bài Tin Mừng hôm nay, qua câu hỏi thứ nhất của Chúa Giêsu: “Người ta nói Con Người là ai?” và qua câu hỏi thứ hai: “Cón anh em, anh em bảo Thầy là ai?”, tôi cảm nhận được điều quan trọng cần thiết ở đây là Chúa Giêsu ám chỉ có hai cách nhận ra Người rất khác nhau.

Nhiều người có lẽ đã nhìn thấy Người làm phép lạ phi thường hay nghe được lời giảng dậy đầy uy quyền, hoặc được Người cho ăn no nê, thì thường cho rằng Người là một vĩ nhân nào đó trong lịch sử tôn giáo như Gioan Tẩy Giả, như Êlia, như Gêrêmia hay một tiên tri nào khác.

Ngày nay vẫn có nhiều ngừơi nghe người khác mách bảo, hoặc rủ rê đi tìm dấu lạ bên ngoài ở đâu đó, hoặc tham dự những buổi sinh họat có bầu khí vui nhộn, lôi cuốn lạ mắt lạ tai hơn những lễ nghi phụng vụ, thường thì cũng chỉ được một vài ba buổi rồi thì lại đâu vào đó, cũng vẫn sống như những gì họ đã từng sống. Lại có những vị đồng hóa đạo Chúa cũng giống như các đạo khác dậy ăn ngay ở lành chứ nào có khác chi!

Quả thật những ngừơi này là những người chỉ biết Thiên Chúa qua người khác, qua đồn thổi và qua hiếu kỳ!

Còn các môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu rất khác xa họ. Các ngài đã bỏ mọi sự mà theo, mà lắng nghe Người giảng dậy, mà sống gần gũi thân thương với Người và vâng làm theo lệnh truyền của Người nữa. Nhất là các ngài đã học được ở Người sự gắn bó mật thiết với Cha Người. Đây cũng là đặc điểm mà thánh Luca đã khắc ghi: “Hôm ấy, Đức Giêsu cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người.” (Lc 9, 18) Chính qua đời sống cầu nguyện gặp gỡ như Chúa Giêsu đã chỉ dậy, như các ngài đã học được ở mẫu gương của Người mà Chúa Giêsu đã khẳng định với thánh Phêrô:

Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là ngưới có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” (Mt 16, 17)

Chính nhờ thế, nhờ tình thương của Chúa Cha qua cầu nguyện, mà các môn đệ bước ra khỏi khuôn mẫu thường tình và khám phá ra đặc tính duy nhất và có một không hai của khuôn mặt kia: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16, 16) Cũng chính nhờ lời tuyên tín tận sâu trong tâm hồn của thánh Phêrô mà Chúa Giêsu đã giao cho ngài một trọng trách đặc biệt là xây dựng Hội Thánh của Người.

Hơn nữa, khi so sanh ba Tin Mừng Nhất Lãm, tôi cũng cảm nghiệm được sự lớn lên từ từ của lời tuyên tín, và thấy được đức tin cắm rễ theo tiến trình từ kinh nghiệm của các môn đệ.

Thọat tiên, trong Marcô: “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8, 19), rồi trong Luca: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9, 20), và sau cùng trong Matthêu: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16, 16) Như vậy, hành trình đức tin của các môn đệ đi từ cảm nghiệm Đức Giêsu không chỉ là một người được xức dầu như vị mà dân Do Thái đang trông chờ. Nhưng trong Người, một đàng, người ta trông chờ một Đavít mới, một Môsê mới, là vị vua tối cao, vị ra luật mới. Đàng khác, người ta trông đợi chính Thiên Chúa sẽ hành động và đưa tay ra nắm lấy vận mệnh của thế giới. Hai nổi chờ mong trên đã nhập vào nhau trong Đức Kitô. Người là một con người, nhưng chính Thiên Chúa đã bước vào trong Con Người đó.

Như vậy, đức tin không phải là thứ thần dược hóa phép. Nhưng là chìa khóa để tôi có thể tự học, để tôi tự tìm hiểu mình và tự hỏi mình là ai. Để rồi, một khi đã nhận ra mình là ai, thì lúc đó tôi mới hiểu được đức tin và cảm thấy cần gặp gỡ với Chúa Giêsu như các môn đệ đã sống và đã được ở với Người. Chính cuộc gặp gỡ này đòi hỏi kiên trì lắng nghe và nhất là chuyên cần cầu nguyện, tôi mới được Thiên Chúa chúc phúc ban ơn.

Nhờ sống và gặp gỡ Đức Kitô bằng tận sâu trong tâm hồn và trái tim làm nền tảng cho dời sống đức tin vững chắc, mà sau này thánh Phêrô tiếp tục xây dựng Hội Thánh bằng những lời xác tín qua trải nghiệm thâm sâu của mình. Ngài truyền lại kinh nghiệm gặp gỡ ấy cho hậu thế:

Anh em hãy từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha. Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ, nếu anh em đã nghiệm thấy Chúa tốt lành.” (1Pr 2, 1-3)

Không chỉ lắng nghe “Lời Chúa vẫn tồn tại đến muôn thuở muôn đời” xuông thôi, mà ngài còn tha thiết diễn giải như thế nào để xứng đáng với danh xưng “Con là Đá”:

Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Kitô.” (1Pr 2, 4-5)

Ngoài ra, thánh Phaolô, Tông Đồ Dân Ngoại dù không tuyên xưng đức tin trước mặt Thầy Giêsu như thánh Phêrô, nhưng đã sống tận sâu trong tâm hồn của mình và ngài đã bộc bạch niềm tin tuyệt diệu ấy rằng:

Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là ĐứcKitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2, 20)

Lạy Con Thiên Chúa hằng sống,

Nhìn lại mình, quả thật con mới chỉ là người chập chững bước theo Chúa do người khác mách bào cho con thôi, chứ con chưa thực sự để cho Chúa dùng con như những viên đá sống động; bởi con chưa từ bỏ những hèn kém trong con, như xảo trá, giả hình, ghen tuông cùng lời nói xấu gièm pha.

Xin Chúa thứ lỗi cho con và xin tăng cường niềm tin của con để con có thể thưa với Chúa như thánh Phaolô rằng: “Hiện nay con sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến con và hiến mạng vì con.” Amen.

Về đầu trang

TN21-A33: CON BẢO THẦY LÀ AI?! - Trần Mỹ Duyệt

Từ ngày được Chúa Giêsu tuyển chọn và huấn luyện, hôm nay, lần đầu tiên các môn đệ mớ:TN21-A33

Từ ngày được Chúa Giêsu tuyển chọn và huấn luyện, hôm nay, lần đầu tiên các môn đệ mới qua kỳ thi lên lớp. Kỳ thi này thay thế cho những chạy chọt, xin xỏ của anh em Giacôbê và Gioan, hoặc như những lần gấu ó nhau tranh dành ngôi thứ. Đề tài của cuộc thi là chính Đức Kitô. Hình thức thi là “hỏi và đáp”. Nhưng vì không phải là một khoa thi được sửa soạn và tổ chức có trường sở, và vì đề tài và câu hỏi lần này mang tính chất chìm lắng, thâm sâu từ nội tâm con người, do đó, Chúa Giêsu đã dùng một hoàn cảnh có tính cách bất ngờ. Theo tâm lý, thì những phản ứng bất ngờ như nói lỡ lời là một phản ảnh của tiềm thức, tức là ý tưởng ấy đã có sẵn trong đầu óc. Và Chúa Giêsu đã dùng tâm lý phản tỉnh ấy để trắc nghiệm xem các môn đệ đã hiểu và biết về Ngài bao nhiêu. Ngài muốn biết, Ngài đã chiếm vị trí nào trong suy tư, và trong đời sống của các môn đệ Ngài. Và các ông phải trả lời 2 câu hỏi:

  1. “Người ta bảo Con Người là ai?” (Mt 16:13).
  2. “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16: 15).

Thánh ký kể lại, trong khi thầy trò đến địa hạt Cêsarê Philípphê, Chúa Giêsu bất ngờ hỏi các môn đệ: “Người ta bảo Con Người là ai?” (Mt 16:13). Các ông đã dựa vào ý kiến quần chúng trả lời: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Elia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó” (Mt 16: 14). Nếu quần chúng quan niệm và nhìn Chúa Giêsu như những nhân vật vừa kể, thì quả thật, quần chúng không hiểu gì về Ngài. Nhưng điều đó không quan trọng, điều quan trọng là Ngài muốn biết các môn đệ nghĩ gì về Ngài. Do đó, Ngài hỏi tiếp: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16: 15), và Thánh ký không ghi lại câu trả lời của các ông. Sự im lặng này có nghĩa là các ông không hiểu Thầy mình tí nào cả. Cũng như đám đông quần chúng, các ông chỉ biết một cách hết sức lơ mơ và hời hợt về Thầy mình.

Rất may, trong số các ông có một người đã trả lời đúng, và được coi như đỗ thủ khoa: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16:16). Vì là một câu trả lời đúng, nên Chúa Giêsu đã trao bằng và lời khen thưởng ngay: “Simon con Gioan, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay huyết nhục đã cho con biết, nhưng là Chúa Cha trên Trời. Phần Thầy, Thầy cho con biết: Con là đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Giáo Hội Thầy, và cửa Hỏa Ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở (Mt 16: 18-19).

Nhưng đừng tưởng Phêrô chỉ nói suông câu nói ấy, và trả lời theo kiểu “chó ngáp phải ruồi”, tức là ăn may đâu. Không phải thế, mặc dù tính tình của Phêrô có bộc trực, nóng nẩy. Và mặc dù khả năng tri thức của Phêrô lúc bấy giờ chưa chắc đã hiểu thấu đáo những gì ông nói về Chúa Giêsu, về Mầu Nhiệm Nhập Thể, và về Thiên Chúa, nhưng lòng mến và sự nhiệt thành đã cho ông cảm nhận được điều ông tuyên xưng, đặc biệt, ý tưởng ấy đến từ Chúa Cha, Đấng đã mạc khải cho ông. Những điều này đã làm nền tảng cho sự dấn thân và trung thành của Phêrô.

Thật vậy, nếu đọc Thánh Kinh, ta sẽ thấy rằng mặc dù Chúa Giêsu hứa thiết lập Giáo Hội Ngài trên tảng đá Phêrô, nhưng phải đợi đến khi Ngài thật sự thấy được tấm lòng của ông, đó là lần gặp gỡ chót trước khi Chúa về trời. Trên bãi biển Galilê hôm ấy, cũng bằng một thái độ rất tình cờ, Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô một lần nữa về câu hỏi mà Ngài đã hỏi các môn đệ trước đó, nhưng bằng một hình thức khác: “Simon, con Gioan, con có mến Thầy hơn những người này không?” (Gio 21:15). Lần này, Simon - Phêrô - có lẽ còn đang mặc cảm và áy náy về sự “phản bội” của mình, nên không dám mạnh miệng nói là “mến thầy hơn những người này”, nhưng chỉ dám trả lời: “Vâng, Thầy biết con mến Thầy” (Gio 21:15), khiến Chúa Giêsu đã phải lập lại thêm hai lần nữa: “Simon, con Gioan, con có mến Thầy không?” (Gio 21: 16-17). Phêrô, với lòng nhiệt thành và tính bộc trực sẵn có đã trút bỏ được cái mặc cảm tội lỗi của mình, nên tin tưởng và thẳng thắn trả lời: “Lậy Thầy, Thầy biết tất cả. Thầy biết con mến Thầy” (Gio 21:18). Và từ đó, Phêrô đã trở thành Giáo Hoàng, đã trở thành đá tảng của Tòa Nhà Hội Thánh mà Chúa Thánh Thần sẽ khởi công xây cất khi Ngài ngự xuống.

Nếu Chúa Giêsu hôm nay có hỏi mỗi người chúng ta câu hỏi mà Ngài đã hỏi các môn đệ: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16: 15), và câu hỏi mà Chúa Giêsu đã hỏi riêng Phêrô: “Simon, con Gioan, con có mến Thầy không?” (Gio 21: 16, 17), chắc sẽ có nhiều người “rớt đài”, vì trả lời không được, hoặc trả lời không thật với lòng mình. Và đây là điều mà những ai cho mình là môn đệ Chúa Giêsu phải suy nghĩ lại. Nhiều khi ta tự cho mình biết nhiều về Chúa Giêsu, đọc nhiều về Chúa Giêsu, nghe nhiều và nói nhiều về Chúa Giêsu, nhưng tự thâm tâm, ta chưa cảm nhận, chưa sống, và chưa thực hành những gì mình biết về Chúa Giêsu. Do đó, ta không dám nói như Phêrô: “Thầy biết tất cả. Thầy biết con mến Thầy” (Gio 21:18).

Là Kitô hữu, ít nhiều ai cũng biết sơ lược về tiểu sử con người mang tên Giêsu: Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa. Đấng mặc xác phàm làm con Đức Trinh Nữ Maria và dưỡng phụ Giuse. Sinh tại Belem dưới thời vua Hêrôđê. Tuổi thơ cùng với gia đình sống tỵ nạn bên Ai Cập, và sau đó tái định cư tại Nagiarét. Nghề nghiệp là thợ mộc. Bắt đầu hành đạo lúc 30 tuổi. Bị các trưởng tế, kỳ lão, và luật sĩ ghen ghét. Bị cáo gian và kết án tử hình một cách bất công bởi Philatô lúc 33 tuổi. Bị hành quyết trên đồi Golgotha bằng cách đóng đinh. Phục sinh ngày thứ ba. Lưu lại thêm 40 ngày, và về trời sau đó. Nhưng câu hỏi ở đây là làm sao tôi biết được những điều này là thật. Vì việc Chúa đến trần gian là việc được các Thánh Ký ghi lại trong Tin Mừng, và các biến cố ấy đã xẩy ra cách đây 2000 năm, những việc đó tôi nào có thấy. Hoặc cũng chỉ là đọc qua sách vở, nghe qua người này, người khác. Vậy làm cách nào, và bằng hình thức nào tôi có thể trả lời với chính Chúa câu hỏi mà Ngài muốn hỏi tôi. Tôi có dám bằng chính cuộc sống mình chứng minh và xác tín về những điều này không? Mặt khác, Chúa Giêsu lại muốn nghe chính miệng tôi nói về Ngài: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?”. Do đó, bài học của Phêrô, câu trả lời của Phêrô chính là điều mà Chúa Giêsu muốn tìm thấy nơi mỗi Kitô hữu. Không phải là “người ta bảo”, mà là “Thầy biết tất cả. Thầy biết con sẽ trả lời Thầy là ai”.

Thầy là gì? Là tất cả suy tư của con, tất cả lẽ sống của con, tất cả hiểu biết của con, tất cả niềm tin, cậy, và mến của con. Thầy biết tất cả. Thầy biết con biết về Thầy như thế đó. Đến đây, chắc cũng sẽ có người thấy “khớp”, và không dám trả lời, bởi vì “thầy biết tất cả”, thì e rằng Thầy cũng biết rõ là con đang nói xạo, đang muốn làm ra vẻ đạo đức, và đang đóng kịch. Thế thì bậy quá. Tội lỗi quá. Lý do đơn giản là đời sống của con không phản ảnh trung thực điều con biết và điều con nói về Thầy.

- Còn con, con bảo Thầy là ai?

- Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống.

Câu trả lời này Thánh Phêrô đã trả lời rồi. Kitô hữu hôm nay không cần phải lập lại nữa. Nhưng điều mà mọi người phải làm là đặt lại vấn đề rằng trong cuộc sống thường ngày, nhất là trong hành trình Đức Tin, tôi có tin thật như thế không? Hay cũng chỉ là “người ta bảo”. Đức Giáo Hoàng này dậy. Đức Hồng Y kia nói. Đức Giám Mục này bảo. Linh mục kia giảng. Nhà thần học này, nhà tu đức kia, nhà chú giải Thánh Kinh nọ viết, chứ tuyệt nhiên tôi không hề cảm, không hề nhận thức, và không hề chứng minh xác tín ấy trong đời sống hằng ngày của tôi.

Theo Chúa lên núi Taborê để được chia sẻ vinh quang sáng láng, tuy vất vả nhưng cũng là một điều kỳ thú. Theo Chúa trong những lúc Chúa làm phép lạ, bẻ bánh, và được trao bánh cho những người khác, tuy có bận rộn, mệt mã nhưng cũng là một điều hãnh diện, và việc này tạo hứng khởi. Theo Chúa để vào Giêrusalem là một đoạn đường đầy hiển hách, và hãnh diện. Nhưng theo Chúa vào vườn Cây Dầu để cảm thông được với Ngài gánh nặng của tội lỗi nhân loại. Theo Chúa vào dinh Philatô để chứng kiến cảnh Chúa bị tra tấn dã man, kết án bất công để hiểu thế nào về cái giá phải trả cho tội lỗi con người. Sau cùng, theo Chúa lên đồi Canvê để chịu đóng đanh, và chết đi cho tội lỗi để cảm nhận được giá trị của Ơn Cứu Độ. Những cái đó mới là điều mà Chúa Giêsu muốn tôi đáp lại qua câu hỏi của Ngài: “Còn con, con bảo Thầy là ai?”.

Do đó, chỉ khi nào tôi thâm tín và khám phá ra những người chung quanh tôi, những biến cố xẩy ra trong đời tôi để hướng tầm nhìn về với ý nghĩa cứu độ, và nước trời, lúc ấy tôi mới có thể nói như Phêrô đã nói: “Thầy biết tất cả. Thầy biết con mến thầy”. Và lúc ấy câu trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” mới thực sự là câu trả lời của tôi.

Về đầu trang

TN21-A34: Con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa.

Matt. 16,13-20

“Con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa”

Niềm tin và sự sa ngã, “chẳng hiểu biết gì”: tất cả là cuộc hành trình đức tin đầy thử thách mà tất: TN21-A34

Niềm tin và sự sa ngã, “chẳng hiểu biết gì”: tất cả là cuộc hành trình đức tin đầy thử thách mà tất cả người môn đệ Chúa phải trải qua. Chúng ta vừa nghe Chúa khen Phêrô trong lời tuyên tín của ông “Con thật có phúc”. Nhưng rồi đó ông lại bị qưở trách là “hỡi satan, hãy lui ra đằng sau Thầy, con làm Thầy vấp phạm và chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa”. Thật không dễ để lãnh hội được chương trình cứu độ của Thầy mình mà Phêrô can gián Chúa theo “cảm tính” của con người.Ông cảm thấy Thầy không thể để cho người ta xúc phạm. Thầy mình phải có “một vị thế nào đó” trong xã hội bởi chính uy tín và do bởi “nguồn gốc lý lịch” của Thầy.

Ông thật sự không hiểu và không thể hiểu nổi đó chính là con đường cứu chuộc mà Thầy mình chọn lựa. Ông khó mà chấp nhận.Nhưng đó lại là con đường cứu chuộc, con đường “độc đạo” mà Chúa đã chọn. Mầu nhiệm cứu chuộc là mầu nhiệm của tình yêu. Thiên Chúa muốn bộc lộ hết nguồn yêu thương của mình bằng tất cả mọi “biểu cảm mãnh liệt “nhất mà Ngài có thể trao hiến cho con người. Thiên Chúa muốn yêu thương con người bằng chính “tình yêu của con người” và còn hơn thế nữa bằng “tình yêu của Thiên Chúa”: thủy chung và vô tận. Thập gía là con đường “độc đạo” mà Thiên Chúa chọn: bởi có đau khổ mới có vinh quang. Giá trị của ơn cứu chuộc càng cao quý, thì sự đền trả bằng chính sinh mạng của Con Thiên Chúa mới thực sự trở thành của lễ đẹp lòng Thiên Chúa Cha.

Lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, sự hiểu biết của chúng con nhiều khi chỉ dừng lại ở những suy nghĩ, ý thức hời hợt bên ngoài. Chúng con chỉ dám chấp nhận những gì hợp với chúng con, thuộc về chúng con và nhiều khi chúng con chẳng có ý niệm gì về chương trình của Chúa. Xin thêm cho chúng con lòng quảng đại, sự thiện chí để đón nhận tất cả mọi biến cố do thánh ý Chúa gởi đến, bởi chúng con hiểu rằng tất cả đều có lợi cho chúng con. Amen.
Lm JB Phan Kế Sự


Về đầu trang

TN21-A35: NỀN TẢNG GIÁO HỘI

NỀN TẢNG GIÁO HỘI

Chúa Nhật 21 Thường Niên, Năm A

Is 22:19-23; Rm 11:33-36; Mt 16:13-23

Ðá mang ý nghĩa dồi dào trong Thánh kinh. Ðá tượng trưng cho sự vững chắc và kiên cố. Vì thế: TN21-A35

Ðá mang ý nghĩa dồi dào trong Thánh kinh. Ðá tượng trưng cho sự vững chắc và kiên cố. Vì thế Chúa bảo các tông đồ phải xây nhà đức tin trên đá, để khi mưa to, bão lớn, gió cuốn, ngôi nhà vẫn có thể đứng vững. Khi Simon theo Chúa làm tông đồ, Chúa đổi tên ông thành Phêrô, có nghĩa là đá. Và Chúa hứa đặt Phêrô làm nền tảng Giáo Hội. Phúc âm hôm nay ghi lại việc Chúa trao chìa khoá Nước Trời cho Phêrô: Thầy sẽ trao cho con chìa khoá Nước Trời: Dưới đất con ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất con tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy (Mt 13:19). Chìa khoá theo nghĩa Thánh kinh là biểu hiệu của trách nhiệm và uy quyền. Người mang chìa khoá có quyền quyết định cho ai vào và ai không được vào như chìa khoá nhà Ðavít được trao cho Engiakim để canh giữ triều đình (Is 22:21-22). Chìa khoá Chúa trao cho Phêrô tượng trưng cho quyền bính và vai trò lãnh đạo của các vị giáo hoàng.

Phêrô được coi là người phát ngôn viên, đại diện cho các tông đồ bất cứ khi nào có cơ hội đến. Chính Phêrô đã nói thay cho các tông đồ trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Cv 1:15-20; 2:14-16). Phêrô là người đầu tiên chấp nhận người Do thái giáo và cả dân ngoại vào Giáo Hội (Cv 2:37-41; 10:44-48). Chính Phêrô là người đã đề nghị chọn một người làm tông đồ thay thế Giuda (Cv 1:21-26). Và Phêrô là người đã bênh vực các tông đồ khác trước toà án Do thái giáo (Cv 4:8-12; 5:29-33). Cũng chính Phêrô đã triệu tập và chủ toạ công đồng đầu tiên của Giáo Hội ở Giêrusalem (Cv 15:7-11). Ðọc Thư thứ nhất của thánh Phêrô, ta thấy Ngài viết với vẻ uy quyền của người lãnh đạo. Phêrô viết thư ra lệnh cho các vị đại giáo trưởng và môn đệ trong Giáo Hội ở Tiểu Á. Chính Thánh Phêrô đã thiết lập Giáo Hội ở Rôma. Và bởi vì Thánh Phêrô chọn Rôma như là tông toà, cho nên các vị giáo hoàng kế vị được coi là thủ lãnh của Giáo hội Công giáo.

Ðiều giúp ta đánh giá quyền bính của thánh Phêrô, ta cần nhìn vào hoàn cảnh mà Chúa trao chìa khoá nước Trời cho ông. Lúc mà thánh Phêrô nhận ra thiên tính của Thầy mình: Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 13:16) là chính lúc Chúa trao quyền bính cho Phêrô và cũng là lúc mà Thánh Phêrô qui tụ được các tông đồ đến điểm hiệp nhất. Việc mà thánh Phêrô tuyên xưng đức tin vào Ðấng thiên sai là một việc do ơn Chúa, chứ không phải dựa trên tầm hiểu biết của loài người. Vì thế mà Chúa nói với Phêrô: Này anh Simon, con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Ðấng ngự trên trời (Mt 16:17).

Tầm hiểu biết của thánh Phêrô về Chúa lúc bấy giờ vẫn còn giới hạn. Do đó khi thánh Phêrô can ngăn Chúa đừng đi Giêrusalem chịu đau khổ, thì bị Chúa quạt cho một trận. Chúa gọi Phêrô là Satan khi ông cản bước của Chúa vì tư tưởng của ông không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người (Mt 16:23). Ðức tin của thánh Phêrô vẫn còn bị khủng hoảng và cần được củng cố sau khi chối Chúa ba lần (Mt 27:69-75).

Chúa Giêsu thiết lập Giáo Hội bằng việc chọn mười hai tông đồ, đặt Phêrô làm Thủ lãnh và ban cho ông quyền bính. Mục đích của việc thiết lập Giáo Hội với việc chọn Phêrô là người Lãnh đạo là để qui tụ người tín hữu trong việc hiệp nhất đức tin và tinh thần hiệp thông huynh đệ (Lumen Gentium # 18). Suy đi nghĩ lại ta nghiệm thấy rằng đường lối của Chúa thật là khôn ngoan và thông suốt như thánh Phaolô đã nhận ra (Rm 11:33). Trải qua suốt dòng lịch sử Giáo hội, ta thấy quyền bính giáo hoàng đã là đề tài tranh luận và mâu thuẫn, đưa đến chia rẽ trong thế giới Kitô giáo. Và lịch sử đã chứng minh rằng khi mà người ta tách rời khỏi Giáo Hội mà Chúa đã thiết lập: công giáo, thánh thiện, duy nhất và tông truyền (Kinh Tin kính) thì họ còn tiếp tục phân rẽ nếu có sự bất đồng ý kiến về vấn đề thần học và luân lý. Do đó ngày nay người ta thấy có cả hàng trăm giáo phái Kitô giáo khác nhau trên thế giới.

Quyền bính Chúa ban trong Giáo Hội là để phục vụ. Chúa có thể trực tiếp hướng dẫn loài người mà không cần qua trung gian loài người. Tuy nhiên Chúa đã muốn loài người cộng tác vào chương trình cứu chuộc của Chúa, nên mới đặt loài người cai quản Giáo Hội. Các vị cai quản Giáo hội cũng vẫn còn mang trong mình những yếu hèn và tội lỗi. Vì thế Giáo hội cũng trải qua những thăng trầm: cũng có những lạm dụng và lầm lẫn do cá nhân trong Giáo hội gây ra. Và bao lâu còn tại thế thì Giáo hội với tính cách lữ hành luôn trên đường tìm kiếm sự thật và tự thanh lọc khỏi những sai lầm và lạm dụng.

Vậy làm sao người tín hữu sống hiệp nhất và hiệp thông với Giáo hội? Hình ảnh cụ thể và sống động nhất của Giáo hội là giáo xứ. Xây dựng giáo xứ là xây dựng Giáo hội. Có nhiều cách thế để xây dựng giáo xứ như bằng cách gia nhập giáo xứ, tham gia vào sinh hoạt thờ phượng, giáo dục và công tác từ thiện bác ái của giáo xứ, bằng việc góp công lao, thời giờ và tiền của để giáo xứ có phương tiện làm việc tông đồ và bảo trì cơ sở. Ngoài ra gia đình cũng là hình ảnh của giáo hội nhỏ bé. Gia đình là một đơn vị tôn giáo đầu tiên. Chính trong gia đình mà những giá trị đạo đức được truyền đạt xuống cho con cháu và con cháu học được những việc làm đạo hạnh và những nguyên tắc luân lí.

Như vậy xây dựng gia đình và giáo xứ là xây dựng Giáo hội. Và ta có thể cảm thấy vững tâm vào lời Chúa khi Chúa hứa với Phêrô là dù quyền lực tử thần cũng không thắng nổi Giáo hội (Mt 16:18).

Lời nguyện xin cho được ở lại trong Giáo hội:

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã xuống thế làm người,

thiết lập Giáo hội trên tảng đá thánh Phêrô.

Chúa còn cầu nguyện cho các tông đồ được hiệp nhất.

Xin ban cho các giáo phái Kitô giáo

biết khám phá ra căn nguyên cội rễ của mình

để tìm đường trở về hiêp nhất với Giáo hội

mà chính Chúa đã thiết lập.

Và xin cho con được trở nên dụng cụ hiệp nhất

trong cách cư xử, nói năng và viết lách thế nào

để khỏi gây hoang mang và chia rẽ trong lòng Giáo hội.

Cũng xin cho con được sống chết trong Giáo hội. Amen
.
LM. Trần Bình Trọng


Về đầu trang

TN21-A36: Đức Chúa Giêsu mà anh chị đang tin đó là ai ?” 

CHỦ NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN

Tin mừng : Mt 16, 13-20.

Anh chị em thân mến,

Nếu có người hỏi chúng ta : “Đức Chúa Giêsu mà anh chị đang tin đó là ai ?” thì chúng ta sẽ trả lời như: TN21-A36

Nếu có người hỏi chúng ta : “Đức Chúa Giêsu mà anh chị đang tin đó là ai ?” thì chúng ta sẽ trả lời như thế nào đây ? Có lẽ sẽ có người trả lời : “Đức Chúa Giêsu là Thiên Chúa” hoặc là “Đức Chúa Giêsu là Đấng cứu độ trần gian”.v.v...đó là những câu trả lời rất đúng, nhưng đúng với những người Kitô hữu mà thôi, còn những người không phải là Kitô hữu chắc chắn là rất ngạc nhiên không hiểu chúng ta nói gì !

1. Tuyên xưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa mà thôi cũng chưa đủ, bởi vì trên thế gian có rất nhiều người Kitô hữu tuyên xưng Chúa Giêsu là Cứu Chúa của mình, nhưng lại không hề tuân giữ lời của Ngài dạy; bởi vì có rất nhiều người vỗ ngực xưng mình là người tin vào Chúa Giêsu, nhưng cuộc sống của họ thật trái với giáo huấn của Ngài và Hội Thánh của Ngài dạy, đó là vấn nạn lớn nhất mà những người không cùng niềm tin đã không nhìn thấy được Chúa Giêsu trong cuộc sống của chúng ta.

Lời tuyên xưng vào Chúa Giêsu cần phải có hành động cụ thể vào niềm tin của mình, mà hành động cụ thể nhất chính là thực hành lời của Ngài dạy trong cuộc sống. Nói cho người khác nghe về Chúa Giêsu (tuyên xưng) thì cũng phải làm cho họ thấy rằng Ngài đang hiện diện thật sự trong cuộc sống (hành động) của mình bất cứ nơi đâu.

2. “Dưới đất anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng ràng buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy”(Mt 16, 19). Đã rõ ràng quyền tha tội và trói buộc đã được Chúa Giêsu trao cho Hội Thánh qua các tông đồ và những người kế vị các ngài trong thiên chức giám mục và linh mục. Nhưng trước hết điều này dạy mỗi người chúng ta rằng, bất kỳ ai cũng đều có thể và có bổn phận tha thứ cho người khác chứ không trói buộc họ, bởi vì không tha thứ cho người khác thì trên trời cũng sẽ không tha thứ cho chúng ta, dù chúng ta có vào tòa cáo giải để xin Thiên Chúa tha tội.

Tha thứ là điều kiện phải có để tuyên xưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa và là Đấng Kitô, nó (tha thứ) cũng là động cơ kéo ân sủng của Thiên Chúa xuống trên chúng ta, đồng thời cũng là nguyên nhân làm cho người khác tin tưởng và thấy Chúa Giêsu đang hiện diện trong cuộc sống của chúng ta.

Anh chị em thân mến,

Mỗi ngày chúng ta đều có tham dự thánh lễ, đó là chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa và là Đấng cứu chuộc nhân loại, và nếu mỗi ngày chúng ta thực hiện một hành vi bác ái, thì lời và việc làm tuyên xưng ấy của chúng ta sẽ rất có hiệu quả, mà hiệu quả lớn nhất chính là chúng ta đã thực sự trở nên môn đồ của Chúa Giêsu...

Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.

Bài giảng chủ nhật 21 thường niên tại nhà thờ Thánh Tâm-Taiwan.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


Về đầu trang

TN21-A37: CẦN MỘT CHỌN LỰA - Lm. Vũ Xuân Hạnh

1. THẨM ĐỊNH ĐỨC TIN NƠI CÁC TÔNG ĐỒ.

Sau một thời gian tuyển chọn và cho các môn đệ được chứng kiến chính Chúa Giêsu trên hành trình: TN21-A37

Sau một thời gian tuyển chọn và cho các môn đệ được chứng kiến chính Chúa Giêsu trên hành trình truyền giáo khắp nơi, đã đến lúc Chúa muốn cật vấn về chính thái độ tin của các môn đệ. Chúa đòi các ông phải thẩm định lại đức tin của các ông. Với lời hỏi: “Người ta bảo Con Người là ai?” chỉ là lời gợi mở để đi đến xác định chính thái độ của các môn đệ, sẽ khép lại trên chính lòng tin của các ông với câu hỏi tiếp theo: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Người ta nói gì, suy nghĩ gì về Thầy không quan trọng. Điều quan trọng là nơi các con. Đức tin của các con đối với Thầy là thế nào, ở tầm mức nào. Đó mới là điều quan trọng.

Cũng phải thôi, cật vấn về lòng tin là điều tối quan trọng cho thái độ theo Chúa của họ. Hơn nữa, đó là những người mà Chúa biết là Người sẽ cần đến, sẽ trao cho vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa của Người. Vì thế càng phải giúp họ thẩm định đức tin của chính họ.

Bắt đầu từ việc thẩm định đức tin, toàn bộ câu chuyện Tin Mừng Mt 16, 13-23, chia làm ba phần, ăn khớp với nhau. Cả ba phần như cùng tập trung vào mỗi một hình ảnh chính yếu: thánh Phêrô. Bởi việc nhấn mạnh hình ảnh thánh Phêrô, tác giả Mathêô cho thấy ngay từ đây, Phêrô có một vị trí quan trọng:

- Chúa Giêsu cật vấn, và Phêrô đại diện tông đồ đoàn tuyên xưng đức tin.

- Chúa Giêsu trao quyền lãnh đạo Hội Thánh cho Phêrô.

- Chúa Giêsu báo thương khó, thánh Phêrô can ngăn và bị quở trách.

Có lẽ vì tính chất quan trọng của lời tuyên xưng đức tin - bởi ngay sau lời tuyên xưng đó, sẽ bắt đầu một giai đoạn mới: Chúa đưa dẫn các môn đệ đi dần vào cuộc khổ nạn và phục sinh của Người - mà đoạn Tin Mừng này được nhiều người đồng ý rằng, đó là đoạn Kinh Thánh trung tâm hoặc bản lề của toàn bộ tin Mừng theo thánh Mathêô.

Cũng bắt đầu từ đây, tông đồ đoàn nói chung và thánh Phêrô nói riêng, được Chúa Giêsu hướng dẫn để theo Người, không chỉ hôm nay mà còn cả sau này, khi Người không còn hiện diện hữu hình với các ông. Tuy sự giáo dục của Chúa, mãi đến khi Chúa hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua, xem ra các môn đệ vẫn chưa thể thấu đáo hoàn toàn, nhưng cuối cùng các ông sẽ lãnh hội với ân huệ mới: ơn Thánh Thần được ban cho các ông. Với ơn Chúa Thánh Thần, các môn đệ của Chúa Kitô đã làm cho lớn lên và phát triển đến vô cùng, Hội Thánh mà Chúa để lại cho các ông.

Bởi vậy, với một sứ mạng mới, một nhịp bước mới, một hành trình mới, mà nơi đó có biết bao nhiêu gian khó đang chờ đợi phía trước, các môn đệ của Chúa Kitô cần phải có một cái nhìn toàn diện hơn, một tình yêu tinh ròng hơn, một đức tin sắt son hơn, một lòng can đảm và nhiệt huyết hơn. Vì thế, đại diện cho tông đồ đoàn, và cho cả Hội Thánh hôm nay, lời tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16, 16) là tối cần thiết, là điều kiện cấp bách. Nó không chỉ là lời trên môi miệng, muốn nói sao thì nói. Nhưng nó diễn tả cả một tâm hồn thành khẩn của người môn đệ theo bước Thầy mình.”

2.  CHỌN LỰA ĐỨC TIN CỦA CHÚNG TA.

Bạn thân mến, chưa cần đề cập đến các phương diện như khoa học, tôn giáo, đời sống xã hội…, chỉ mới nói tới nghệ thuật mà thôi, ai cũng biết, có một người được miêu tả nhiều nhất trong nghệ thuật, trải qua mấy mươi thế kỷ, đó chính là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người ta đã và vẫn tiếp tục phác họa hình ảnh của Người bằng nhiều cách: điêu khắc, tạc tượng, vẽ ảnh, tranh sơn mài…

Cũng là một hình ảnh được thánh Phêrô khắc họa, nhưng không phải trên giấy, trên vải hay trên gỗ mà trong lòng người, trên đời sống tinh thần của con người, đó là đức tin. Ông không chỉ khắc họa một Đấng Messia trên trần thế, Đấng Cứu độ muôn loài. Lần đầu tiên, thay mặt tông đồ đoàn, thánh Phêrô đã vẽ nên hình ảnh của Chúa Giêsu rất đúng, rất đẹp: vẽ chính thần tính của Người: Chúa Kitô xuất phát từ Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa của muôn loài. “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

Cùng với thánh Phêrô, ta cũng cần phải tuyên xưng đức tin trong suốt hành trình của cuộc đời theo Chúa nơi chính mình. Lời tuyên xưng đức tin ấy cần phải được thốt lên tận đáy của lòng trung thành và yêu mến Chúa nơi mỗi chúng ta. Nói cách khác, lời tuyên xưng trên môi miệng, phải trở thành lời thẩm định chính tâm hồn và đời sống của ta dành cho Chúa. Để có thể làm bằng chứng cho đời sống trung thành với đức tin, tôi muốn chia sẻ một cảm nghiệm thực tiễn.

Khi dạy giáo lý cho dự tòng, - thường những thanh niên thiếu nữ, nhất là đa số trong họ là người sắp lập gia đình với người Công giáo xin học giáo lý, ít thấy người lớn tuổi - tôi hay đặt những câu hỏi để anh chị em dự tòng ghi câu trả lời của họ vào giấy rồi nộp cho tôi. Tôi muốn họ, nhất là các bạn trẻ, khi xin học đạo, phải tự bản thân mình trả lời và xác tín về giáo lý mà các bạn theo học. Qua đó, tôi có thể đánh giá, ít là một phần thiện chí và sự ham muốn học đạo của bản thân họ.

Sau một thời gian dạy học, tôi nhận ra có rất nhiều người đi học đạo cho có, cho rồi, nhất là học giáo lý chỉ để lập gia đình, thì thái độ thiếu thiện chí lại càng dễ xảy ra. Thái độ học tập và những câu trả lời trên giấy của các bạn, cho tôi khẳng định điều đó. Chính vì thế, tôi vẫn nói với các bạn trẻ Công giáo rằng, các bạn hãy cố gắng tìm cho mình một người ăn đời ở kiếp là người Công giáo. Vì nói cho cùng, đời sống Công giáo góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình rất nhiều. Dĩ nhiên ta không loại trừ trường hợp có những người Công giáo rất tệ và cũng có những tân tòng rất tốt.

Đó là những suy nghĩ khi tôi đọc được các câu trả lời từ phía các học viên của tôi. Tuy nhiên, vẫn có những bài viết có thể cho thấy tác giả của nó thành tâm, thành ý. Chẳng hạn, có một bài viết của một bạn nữ viết thế này:

“Mỗi người đều phải đi trên một con đường, dù chông gai hay trải gấm vóc. Tôi quen anh rồi đi học đạo. Thế là bây giờ, tôi lại bước đi trên một con đường khác: Con đường Đức Tin, mà nơi đó có cha là người dẫn đường, soi sáng. Lúc này rất khó để cha nghĩ là tôi có toàn tâm tin Chúa hay không. Nhưng tôi xin đoan chắc, sẽ đem cuộc sống sau khi gia nhập đạo để chứng minh điều mà cha khai sáng hôm nay, có kết quả. Hay nói cách khác, tôi sẽ cố gắng để không phụ lòng người hướng dẫn mình. Nói về giờ học, do nhà xa, đường đi đầy mối đe dọa, học về hơi tối, những hôm không có anh, mẹ tôi phải đi rước. Chỉ tội cho mẹ: con gái không giúp được gì cho mẹ, đến lúc sắp lấy chồng còn hành mẹ.”

Ngay câu mở đầu, bạn trẻ này đã nói:”Mỗi người đều phải đi trên một con đường, dù chông gai hay trải gấm vóc “Bây giờ, tôi lại bước đi trên một con đường khác: Con đường Đức Tin.”

Có bao giờ bạn tự nói với mình một lời như thế chưa? Có bao giờ ta tự ghi khắc trong lòng rằng, mỗi người đều phải đi trên một con đường, dù là hạnh phúc, hay là gian lao, đều phải có một con đường để mà đi? Cũng giống như Chúa đòi nơi các môn đệ của Người một đức tin dứt khoát về chính thân thế của Chúa, mặc cho mọi người có thể lầm tưởng Chúa là ai đi nữa. Cũng vậy, chính trong lúc này, ai khác thì có những con đường riêng của họ. Còn bạn và tôi, một khi xưng mình là Kitô hữu, con đường chúng ta đi phải là con đường đức tin. Đó chính là chọn lựa của chúng ta. Chọn lựa này trở thành chọn lựa quan trọng. Bởi nó sẽ cho ta sự dấn thân cho những gì ta đã chọn lựa. Nếu không có một chọn lựa, không có sự quyết tâm, sẽ không bao giờ có dấn thân, do đó cũng không bao giờ có hạnh phúc. Chọn lựa sống cho đức tin, đi trên con đường đức tin, đòi ta tiếp tục dấn thân cho đức tin của mình, dẫu con đường đức tin mà ta bước đi gập ghềnh hay suông sẻ.

Con đường đức tin cũng chính là con đường mang tên Giêsu. Chỉ có con đường Chúa Giêsu đã đi mới dẫn ta về phía Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, lời tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô ngày xưa, phải là lời thâm tín của chúng ta hôm nay: “Lạy Thầy, Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Bởi chỉ có Chúa Kitô, chỉ có Con Thiên Chúa mới có thể ban cho ta chân lý toàn vẹn về cuộc đời. Chân lý toàn vẹn ấy chính là Lời Chúa, là kho tàng ơn cứu độ mà chính Người đã thực hiện. Đi trên con đường Giêsu, ta sẽ rập khuôn theo đời sống vâng phục, yêu thương, tha thứ của Người mà dấn thân đến cùng cho chính đức tin của mình. Đi trên con đường Giêsu, ta có chính Lời của Người làm chuẩn mực cho thái độ sống của ta. Để chính trên con đường Giêsu, bằng tất cả những gì Chúa Giêsu đã sống, làm phương tiện đưa ta về cùng Thiên Chúa.

Thánh Phêrô đã một lần quả quyết về Chúa Kitô để xác định chính đức tin của mình, dù lúc đó thánh nhân chưa thể hiểu hết đường lối của Chúa. Sự dấn thân của thánh nhân cũng chưa hoàn toàn tinh ròng. Nhưng nó trở nên nền tảng cho những ngày trắc trở đang chờ đợi ở phía tương lai. Nhất là buổi ban đầu sau khi Chúa về trời, cùng lúc với việc xây dựng và phát triển Hội Thánh, cũng chính là lúc phải chấp nhận chịu bắt bớ, bách hại dữ dội, không phải một ngày, hai ngày, nhưng trải qua hàng thế kỷ.

Tiếp tục với bài viết của người bạn trẻ, ta lại thấy một chi tiết khác cảm động: “do nhà xa, đường đi đầy mối đe dọa, học về hơi tối, những hôm không có anh, mẹ tôi phải đi rước. Chỉ tội cho mẹ: con gái không giúp được gì cho mẹ, đến lúc sắp lấy chồng còn hành mẹ.” Dẫu thương mẹ, biết rằng, “đến lúc lấy chồng còn hànhg mẹ,” nhưng người bạn này đã không bỏ cuộc. Cô đã chấp nhận cố gắng đi trên con đường đức tin. Đọc vài cảm nghĩ trong một bài viết ngắn, dù chưa cho thấy hết lòng tin của cô, nhưng sao tôi vẫn cứ hy vọng rằng, cô tìm học giáo lý để bước vào đời sống Kitô hữu không phải chỉ do lấy chồng, nhưng còn là nỗ lực muốn sống đức tin của chính cô. Có thể vì thế mà cô đã đặt đức tin lên trên tình cảm cô dành cho mẹ?

Thôi thì ta cứ tạm tin như thế, để thấy rằng, không phải chỉ với cô gái trong bài viết kia, mà còn đối với chúng ta, hãy là những người biết chọn lựa sống đức tin, để dám sống, dám chết cho đời sống ấy. Bởi chỉ có ai đã chọn lựa đức tin làm lý tưởng, hơn nữa làm lẽ sống, người ấy mới có thể tha thiết dấn thân cho đức tin cách mạnh mẽ. Nếu đã chọn lựa, sự dấn thân sẽ không có bất cứ điều gì, dẫu là thử thách, là thương đau có thể cản lối dấn thân cho đời sống đức tin của mình

Về đầu trang

TN21-A38: Đức tin do Thiên Chúa phú bẩm

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

Trong bài Tin Mừng ta vừa nghe, khi Thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là con Thiên Chúa: TN21-A38

Trong bài Tin Mừng ta vừa nghe, khi Thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là con Thiên Chúa, thì chính Chúa Giêsu nói rõ không phải Thánh Phêrô nhờ xác thịt hay huyết nhục mà biết được chân lý đó, mà chính là ơn của Thiên Chúa Cha, chính là ơn của Thánh Thần đã mặc khải, thì Thánh Phêrô cũng chỉ coi Chúa là một con người thuần túy, một vị tiên tri nào đó thôi. Điều này chứng tỏ đức tin của chúng ta có, không phải do công trạng của mỗi người chúng ta, mà chính là nhân đức được Thiên Chúa phú bẩm. Khi chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy và Bí tích Thên sức, thì Chúa Thánh Thần luôn hiện diện trong con người chúng ta, giúp ta biết cầu xin, giúp ta tin, cậy, mến yêu Chúa.

Trong Tin Mừng Thánh Matthêu chương 10 câu 20, Chúa còn nói rõ cho các môn đệ biết, khi các ngài bị bắt, bị điệu ra tòa, các ngài đừng lo lắng phải nói gì, trả lời ra sao vìchính Chúa Thánh Thần sẽ nói thay cho các ngài.

trong lúc bị giam, Thánh Jean Louis Bonnard Hương (tử đạo ngày 1-5-1852, 28 tuổi) có tâm sự trong một lá thư na gửi ra ngoài:

“Nói chung, trong các buổi khảo cung, tôi đã thấy đúng như lời Chúa phán: “Các con đừng lo phải trả lời thế nào với các quan trần thế, Chúa Thánh Linh sẽ nói thay cho các con.” Thực vậy tôi không bối rối chút nào, không sợ hãi và chưa bao giờ tôi nói tiếng việt lưu loát và dễ dàng đến thế.”

Hơn một tháng tù, Cha Hương bị đưa ra tòa, tra khảo 4 lần. quan tổng đốc hỏi Cha về tên tuổi, quê hương. Lý do đến và những gì làm tại Việt nam. Nhiều lần các quan hỏi về nơi cha đã qua lại và trú ngụ. quan đe dọa đánh đòn nếu Cha không khai. Cha đap: “Các ông muốn đánh thì đánh, chớ đừng mong tìm được một lời khai có hại đến tín hữu. Tôi đến đây phục vụ cho đến chết. Các ông sẽ lầm to nếu nghĩ tôi sẽ tiết lộ điều gì dù rất nhỏ.” Khi các quan bảo Cha đạp lên Thánh giá và dọa kết án tử hình, Cha trả lời: “Tôi đã nói tôi không sơ đòn đánh lẫn cái chết, tôi sẵn sàng chịu tất cả… Tôi không đến đây để chối đạo hay làm gương xấu cho các Kitô hữu.”

Thứ sáu Tuần Thánh Đức Cha Retord Liêu tìm cách sai Cha Lê Bảo Tịnh vào ngục giải tội và đưa Mình Thánh Chúa. Cha Hương tâm sự:

“Đã lâu tôi chưa bao giờ vui đến thế này, được mang trong mình vua cá thiên thần. Quả thật, cần phải vào tù mang gông xiềng để hiểu được sự đau khổ vì Đức Kitô, Đấng chúng ta hằng yêu mến, thật ngọt ngào biết bao, các bạn tưởng gông cùm của tôi nặng lắm sao? Không đâu, ngược lại tôi thấy sung sướng vì tôi biết gông xiềng xích của Đức Kitô còn hơn bội phần, tôi sung sướng vì có thể nói như Thánh Phaolô: Người tù của Đức Kitô.”

Cha Hương cũng viết thư an ủi song thân: “Cha mẹ đừng buồn khi hay con bị bắt giam và đổ máu vì Đức Kitô, Cha mẹ có yêu con thì hãy vui mừng vì con được phúc trọng ấy… Sẽ có ngày cha mẹ và con đòan tụ trên Thiên đàng, khi đó chẳng còn lo phải xa cách nhau nữa.”

Các quan, thấy không làm cho vị chứng nhân trung thành thay đổi ý, bèn viết án gửi vào kinh.

Và đây là bản di chúc của Cha:

“Giờ long trạng đã điểm. Vĩnh biệt, xin chào tất cả mọi người đã thương nhớ đến tôi. Xin hẹn gặp nhau trên trời… Trông cậy vào lònh nhân từ Đức Kitô, tôi xin người tha thứ muôn vàn tội lỗi cho tôi. Tôi tự nguyện hiến dâng máu và mạng sống vì yêu mến Người, và linh hồn mà tôi muốn phục vụ hết mình. Ngày mai, thứ bảy ngày 1 tháng 5, lễ Thánh philipphê và Giacôbê Tông đồ, giáp năm ngày sinh nhật lên trời của Cha Schoeffler Đông, tôi nghĩ sẽ là ngày hiến tế của tôi. Xin cho ý Chúa được thể hiện. tôi vui lòng chịu chết. xin chúc tụng Chúa. Xin chào tất cả trong Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria. trong tay Ngài. Lạy Chúa, con xin phó thác hồn con.”

Quan huyện chỉ giam giữ Cha một đêm, sáng sớm hôm sau áp giải Cha lên thị trấn Nam Định.

Sáng ngày 1-5-1852, Cha Hương rước lễ lần cuối, vui vẻ thao quân lính ra pháp trường Bảy Mẫu. đến nơi, Cha quỳ trên chiếu cầu nguyện. Cha phải chờ một giờ đồng hồ vì quân lính quên mang dụng cụ tháo gông, phải chạy về nhà kiếm. Sau đó, họ trói vị chứng nhân vào cọc. Theo hiệu chiêng trống, lính chém đầu Cha rơi trên cát. Dân chúng ùa vào thấm máu kỷ niệm, nhưng lính dùng roi đuổi tất cả ra xa. Sau đó, họ lấy áo goài, áo lót và hai ống quần của đấng tử đạo cắt ra làm nhiều mảnh bán cho dân. Thân mình và đầu vị tử đạo được đưa lên thuyền bỏ trôi sông. Đức Cha Liêu đã cho người đi một chíc thuyền lảng vảng gần đó kịp thời đưa về Vĩnh Trị. đêm đó, Đức Cha với một số Linh mục âm thầm dâng Thánh lễ và an táng đấng tử đạo trong chủng viện.

Về đầu trang

TN21-A39: ĐỐI VỚI CON, THẦY LÀ AI ?”

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay như là nối tiếp bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ 20 tuần trước, khi: TN21-A39

Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay như là nối tiếp bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ 20 tuần trước, khi mà Chúa Giê-su rời khỏi quê hương xứ sở người Do Thái, để rồi dưới ngòi bút của Thánh Mát-thêu, Ngài đặt chân đến vùng đất của dân ngoại Tia và Si-đôn. Hôm nay, Ngài bước sâu hơn nữa và tiến dần lên phía Bắc, đến một thành phố có tên là Cai-sa-ri-a. Nhưng, chúng ta thấy trong Tin Mừng còn đưa ra một cái tên thứ hai bên cạnh tên Cai-sa-ri-a, đó là Xê-da-rê thuộc quyền Phi-líp-phê. Và như thế, chúng ta có đôi điều cần phải suy nghĩ.

Điều thứ nhất, chúng ta cần suy nghĩ về bước chân của Chúa Giê-su rời khỏi đất nước Do Thái để tiến về vùng dân ngoại. Điều thứ hai, chúng ta cùng nhau đến Cai-sa-ri-a để quan sát thành phố ấy và cùng lắng nghe lời của Chúa Giê-su. Và điều thứ ba là chúng ta dừng lại để suy nghĩ về địa danh Cai-sa-ri-a còn có tên gọi khác là Xê-da-rê.

Trước hết, chúng ta thấy ngay khi Chúa Giê-su đặt chân sang vùng đất của dân ngoại thì phép lạ đầu tiên đã xảy ra bởi Lòng Tin kiên vững của người đàn bà xứ Ca-na-an. Xem ra Chúa Giê-su không tìm được một niềm tin nào kiên vững như thế nơi xứ sở quê hương của Ngài, đến nỗi Ngài phải thốt lên: “Này bà, Lòng Tin của bà mạnh thật ! Bà muốn thế nào thì sẽ được như vậy !”

Bước sang đất dân ngoại mà lại khởi đầu bằng niềm tin của một người dân ngoại, phải chăng Tin Mừng muốn nói với chúng ta rằng: “Từ nay Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa không chỉ còn dành riêng cho người Do Thái, nhưng đã mở ra cho mọi người”.

Mỗi người chúng ta, nếu là những Ki-tô hữu thật sự đi theo bước chân của Chúa Giê-su, thì chúng ta cũng không thể chỉ quanh quẩn mãi ở trong vòng tay thân ái của gia đình yêu quý, của Giáo Xứ thân thương. Chúng ta cần bước ra khỏi cái thân thương yêu quý gần gũi của gia đình, của Giáo Xứ, hay nói rõ hơn, chính mỗi người, mỗi gia đình, mỗi Giáo Xứ của chúng ta phải bước đến những nơi mà người ta chưa biết Chúa, những nơi mà ánh sáng Tin Mừng chưa chiếu soi đến. Chúa Giê-su đã có một kinh nghiệm về Lòng Tin của người dân ngoại, chúng ta chắc chắn sẽ có kinh nghiệm ấy nếu chúng ta theo Ngài bước ra khỏi cái quẩn quanh của mỗi người chúng ta.

Cai-sa-ri-a, một thành phố được xây dựng trên nền tảng núi đá rất đẹp, nơi đó tiết ra những mạch nước nguồn, các dòng suối từ đấy tuôn đổ vào dòng sông Gio-đan. Chúa Giê-su đứng trên một thành phố nguy nga tráng lệ, một thành phố đã được Phi-líp-phê – một người con của vua Hê-rô-đê Cả – xây dựng và dâng hiến thành phố ấy cho Xê-da-rê, hoàng đế Rô-ma.

Một trong những thần mà thần dân Rô-ma hoặc người thuộc quyền Rô-ma phải thờ lạy, chính là hoàng đế Rô-ma. Bao nhiêu những anh hùng tử đạo của các thế kỷ đầu đã chỉ vì không thờ lạy vị thần này mà phải chôn vùi cuộc đời của mình trong các hang toại đạo sâu dưới lòng đất để minh chứng cho đức tin, thậm chí chấp nhận chết để bảo vệ đức tin, chết vì dứt khoát không chịu thờ lạy “vị thần” hoàng đế này.

Hôm nay, Phi-lip-phê, một con người của thời đại, đã xây dựng thành phố ấy; vì thế Cai-sa-ri-a được đổi tên là Xê-da-rê, Xê-da theo tiếng Rô-ma nghĩa là Hoàng Đế. Đứng ở giữa một thành phố mà người ta dâng kính một vị thần là hoàng đế như thế, Chúa Giê-su lại hỏi: “Anh em nói Thầy là ai ?” Những người đi theo Chúa Giê-su, đầu đội trời, chân đạp đất, đang đứng giữa một thành phố thờ lạy một vị thần của thế gian thì phải khẳng định được lập trường Lòng Tin của mình.

Đối với tôi, không phải bài Giáo Lý nói Chúa Giê-su là ai, không phải vị Linh Mục này nói Chúa Giê-su là ai, không phải ông kia bà nọ nói Chúa Giê-su là ai, nhưng là chính mỗi người chúng ta, Chúa Giê-su cần, Chúa Giê-su lắng nghe, Chúa Giê-su xin mỗi người chúng ta trả lời cho Ngài: “Đối với anh, đối với chị, đối với ông bà, đối với bạn, Thầy là ai ?”

Đứng trước lời gọi mời của Chúa Giê-su, mỗi người chúng ta phải trả lời câu hỏi đó, trả lời bằng chính cuộc sống của mình, trả lời bằng chính thái độ và lập trường sống của mình. Mong sao mỗi người chúng ta một khi đã thuộc về Chúa Giê-su qua Bí Tích Thánh Tẩy, thì chúng ta phải trung tín với lời mời gọi của Chúa Giê-su, trung tín với lời hứa của Ngài, trung tín với con đường về ơn gọi của Ngài dẫn chúng ta đi, vì “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Ông Phê-rô đã mau mắn thay mặt cho chúng ta đáp lại câu hỏi của Chúa Giê-su. Ngài gọi đó là sự mạc khải của Thiên Chúa Cha. Vâng, chính tình thương mặc khải của Chúa Cha, mở ra cho ông Phê-rô, cho cả chúng ta hôm nay nhận biết về Chúa Giê-su. Mạc khải tức là mở ra, là vén lên để nhận biết Chúa Giê-su chính là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.

Xin được phép lưu ý, tước vị “Con Thiên Chúa hằng sống” là bản văn tuyên xưng của Giáo Hội  những thế kỷ đầu. Thánh Mát-thêu đã đặt nơi miệng lưỡi của Phê-rô lời tuyên xưng này như là đại diện cho tập thể những con người thuộc về Chúa Giê-su, tin Chúa Giê-su, đón nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế, là Đấng Cứu Độ, và xác tín Ngài là Con Thiên Chúa.

Chúng ta hãy hình dung, đứng giữa một thành phố được xây dựng trên những tảng đá xem ra là bền vững, xem ra là chắc chắn, xem ra là oai phong hoành tráng, thì Chúa Giê-su lại nói với Phê-rô rằng: “Si-mon, từ nay anh là Đá – Kê-pha, Petro, Phê-rô, trên đá tảng nay, Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy, và quyền lực âm phủ không tài nào có thể phá huỷ được”. Nếu một thành phố được xây dựng trên đá, hỏi rằng thành phố ấy sẽ tồn tại được bao nhiêu năm, bao nhiêu thế kỷ ? Rõ ràng chúng ta có kinh nghiệm về tuổi thọ của một thành phố, về tuổi thọ của một viên đá chứ, thế nhưng viên đá ở đây lại không phải là viên đá trần gian, tảng đá ấy không phải là tảng đá của thiên nhiên, nhưng Phiến Đá ấy, Tảng Đá ấy lại chính là tình thương của Thiên Chúa, ân huệ của Thiên Chúa.

Chúa Giê-su đã, đang, và tiếp tục xây dựng một thế giới, một cộng đoàn ngay trên Tảng Đá là ân huệ của Thiên Chúa. Ân huệ của Thiên Chúa dành cho nhân loại và dành cho mỗi người chúng ta, không quyền lực âm phủ nào có thể phá huỷ được Tảng Đá ấy. Và thưa anh chị em, gần 2.000 năm đã trôi qua, tảng đá ấy vẫn vững bền, không phải nghênh ngang hoành tráng theo kiểu của thế gian nhưng trong khiêm tốn, nghèo hèn. Tảng Đá ấy vẫn là Tảng Đá vững bền để cho số sót những con người nhỏ bé của thế giới này vẫn một lòng kiên trung với lòng thương xót của Thiên Chúa, vẫn một lòng kiên trung với sứ mạng loan báo Tin Mừng yêu thương...

Hôm nay, khi được ánh sáng Tin Mừng chiếu rọi vào, chúng ta cần nhớ lại những can thiệp ban đầu của ân huệ Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Bí Tích Thánh Tẩy, và mỗi ngày đời của chúng ta cần phải trả lời những câu hỏi của Chúa Giê-su dành riêng cho mỗi người chúng ta: “Đối với con, Thầy là ai ?”

Xin cho Lòng Tin của chúng ta, Lòng Tin của những con người mà nền tảng là chính Phiến Đá Phê-rô, được kiên vững, được trung tín, và được mãi mãi đi trong bước đường yêu thương của Thiên Chúa, trong quyền năng của Thiên Chúa...

Lm. PHẠM TRUNG THÀNH, DCCT        

Về đầu trang                                                                                                                                                                        

TN21-A40: Ý Chúa

Trong bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu khen ngợi thánh Phêrô. Thực vậy, Chúa Giêsu: TN21-A40

Trong bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu khen ngợi thánh Phêrô. Thực vậy, Chúa Giêsu hỏi các tông đồ: Các con bảo Thầy là ai. Thánh Phêrô thưa: Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Nghe vậy, Chúa Giêsu liền chính thức xác nhận: Tư tưởng con vừa nói ra, không phải của con, nhưng đúng là của Chúa Cha soi sáng cho con.

Với lời đó, Chúa Giêsu đã đánh giá cao quan điểm của Phêrô. Cũng vì thế Chúa Giêsu trao cho Phêrô một nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là nhiệm vụ phải đội trên mình tất cả toà nhà Hội Thánh. Chúa phán: Con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.

Thánh Phêrô hiểu lời đó. Ngài hiểu là chính bản thân mình, với tâm tình, tư tưởng của mình cùng với cuộc đời mình, sẽ phải là một cái nền, để Chúa xây Hội Thánh lên trên. Đó là nhiệm vụ hết sức nặng nề, đồng thời cũng là một vinh dự hết sức lớn lao. Vinh dự làm người đứng đầu Hội Thánh. Thánh Phêrô hiểu rõ mình được Chúa Giêsu tín nhiệm, nên ngài cũng tự nhiên nhìn thấy trước mắt một bổn phận được đặt ra cho mình, đó là phải bảo vệ Thầy mình. Bảo vệ Thầy mình có nghĩa là làm sao cho Thầy mình được an toàn, uy tín của Thầy mình được vẻ vang. Ít là thế, ít là phải thế. Chính vì vậy mà mấy ngày sau, khi nghe Chúa Giêsu nói, Chúa sẽ phải nạp mình chịu chết một cách đau đớn khổ nhục, thì Phêrô liền phản ứng ngay lập tức. Phêrô can ngăn: Xin Thầy đừng làm chuyện đó. Xin Chúa Cha đừng để chuyện đó xảy ra cho Thầy. Sở dĩ Phêrô can ngăn chính là để bảo vệ mạng sống và uy tín của Thầy. Ngài nói lên ý nghĩ của mình. Nhân danh của kẻ đã được chọn đứng đầu Hội Thánh. Phải bảo vệ Chúa. Tôi tưởng rằng, khi nghe lời thánh Phêrô nói, Chúa Giêsu sẽ lại khen như lần trước và Chúa sẽ nói: Tư tưởng của con là được Chúa Cha soi sáng cho con. Thế nhưng sự việc đã xảy ra trái ngược. Chúa Giêsu không những không khen, lại còn nặng lời mắng trách: Satan hãy lui xa Ta, vì tư tưởng vừa nói không phải là do Chúa Cha soi sáng cho con đâu. Rõ ràng, ở đây có mâu thuẫn giữa ý Phêrô và ý Chúa.

Sự mâu thuẫn này, lại xảy ra một lần nữa ở vườn Cây Dầu, tối thứ năm tuần thánh. Phêrô liền tuốt gươm chém đứt tai một người trong bọn họ. Phêrô biết việc mình làm là một đụng độ liều mạng, là một thái độ cứng rắn, mục đích chỉ là để bảo vệ Thầy mình. Phêrô đã làm việc đó với tư cách một người đã được Chúa chọn làm nền tảng Hội Thánh. Tôi tưởng rằng việc làm đó của Phêrô được Chúa khen và Chúa sẽ nói: Việc con vừa làm là do Chúa Cha soi sáng. Nhưng không, Chúa Giêsu không khen, trái lại Chúa còn trách Phêrô đã làm một việc ngăn cản thánh ý Chúa Cha.

Khi suy nghĩ mấy sự việc trên đây nơi thánh Phêrô, tôi thấy lo sợ. Tôi thấy thánh Phêrô là người được Chúa chọn đứng đầu Hội Thánh, được ở gần Chúa. Ngài có những ý nghĩ và việc làm tưởng là đẹp lòng Chúa, tưởng là cần thiết để bênh Chúa, bênh đạo, thế mà Chúa lại không chấp nhận. Ý Chúa khác xa ý ngài. Những trường hợp như thế, có thể đã và đang xảy ra nơi nhiều người chúng ta. Chúng ta cũng như thánh Phêrô, thực sự nhằm mục đích làm sáng danh Chúa, bênh đạo. Mục đích như thế là rất tốt. Mục đích đó chẳng có gì phải trách. Nhưng đều có thể bị Chúa trách, đó là cách ta chọn để đạt mục đích đã thiếu khôn ngoan siêu nhiên. Tôi nghĩ là chúng ta phải khôn ngoan dè dặt, tế nhị nhiều lắm. Phải khiêm tốn nhiều lắm mới có thể nhìn rõ ý Chúa. Chúng ta hãy cầu xin cho chúng ta được sự khiêm nhường nhưng đầy can đảm, sự dè dặt tế nhị đầy sáng suốt, để nhận ra đâu là ý Chúa muốn cho chúng ta phải thực hiện.

Về đầu trang

TN21-A41: Nhận lãnh trách nhiệm Chúa trao

Chủ đề: Nhận lãnh trách nhiệm Chúa trao
'Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời' (Mt 16,19)
Lm. Carolô Hồ Bạc Xái

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Trong anh chị em đang hiện diện ở đây, có người làm cha, có người làm mẹ, có người làm con:TN21-A41

Trong anh chị em đang hiện diện ở đây, có người làm cha, có người làm mẹ, có người làm con... người nào cũng có trách nhiệm trong gia đình.

Ðối với giáo xứ, có người được giao trọng trách trong Hội đồng giáo xứ, trong ban trị sự khu xóm, trong các giới các đoàn thể. Những người khác không có chức tước, nhưng cũng có trách nhiệm xây dựng giáo xứ và Giáo Hội. Ai cũng có trách nhiệm.

Ðối với xã hội và đất nước cũng thế. Không ai được quyền chỉ lo cho mình hoặc chờ người khác lo cho mình. Ai ai cũng có trách nhiệm với người khác.

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp mỗi người chúng ta ý thức trách nhiệm của mình, và xin Ngài giúp sức để chúng ta chu toàn trách nhiệm ấy.

II. Gợi ý sám hối

  • Chúng ta thiếu sót rất nhiều về trách nhiệm đối với gia đình.
  • Chúng ta còn thiếu sót hơn nữa trong trách nhiệm đối với xã hội và Giáo Hội.
  • Nhất là chúng ta có khuynh hướng ích kỷ, lo cho bản thân nhiều hơn lo cho người khác.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Is 22,19-23)

Thời vua Êdêkia làm vua nước Giuđa (thế kỷ thứ 8 trước công nguyên), Sobna làm quan cai đền thờ. Vì ông này không xứng đáng nên bị cách chức, và chức vụ này được trao cho một người khác tên là Êliakim.

Những điều đáng chú ý trong chuyện này là:

  • Chính Thiên Chúa trao trách nhiệm cho con người: mặc dù Êliakim phục vụ cho vua Êdêkia, nhưng trách nhiệm của Êliakim không phải do vua trao, mà do chính Thiên Chúa.
  • Khi Thiên Chúa trao trách nhiệm cho ai thì Ngài cũng ban cho người đó những trợ giúp cần thiết để có thể chu toàn trách nhiệm: Ngài trao cho Êliakim 'áo choàng' và 'đai lưng', tức là những thứ bề ngoài để người lãnh trách nhiệm có một tư cách được người ta nhìn nhận; Ngài cũng trao cho Êliakim 'chìa khóa', nghĩa là thẩm quyền để hành xử trong phạm vi trách nhiệm của mình; Ngài còn hứa 'sẽ đóng nó vào nơi kiên cố như đóng đinh', nghĩa là che chở, trợ giúp để ông thi hành trách nhiệm.

2. Ðáp ca (Tv 137)

Lời cầu xin Chúa cho kẻ khiêm nhường đang chăm lo công việc Chúa giao: 'Lạy Chúa, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa'.

3. Tin Mừng (Mt 16,13-23)

Ðức Giêsu trao cho Phêrô 'chìa khóa Nước Trời', nghĩa là ông được làm người quản trị của Hội Thánh mà Ngài sẽ thành lập. Việc trao trách nhiệm này có một số điều đáng ta lưu ý:

  • Phêrô được giao trách nhiệm sau khi tuyên xưng niềm tin vào Ðức Giêsu: 'Thầy là Ðức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống'. Người lãnh trách nhiệm của Chúa phải có đức tin vào Chúa.
  • Ðức Giêsu bảo đảm rằng Thiên Chúa sẽ hỗ trợ cho trách nhiệm của Phêrô: 'Ðiều gì con cầm buộc trên trời cũng cầm buộc; điều gì con tháo cởi trên trời cũng tháo cởi'.
  • Tuy nhiên người lãnh trách nhiệm không hẳn là người hoàn toàn xứng đáng, thánh thiện: vừa được trao trách nhiệm cao cả, đã can gián Chúa chịu nạn chịu chết và bị Ngài quở trách nặng lời: 'Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy'.

4. Bài đọc II (Rm 11,33-36) (Chủ đề phụ)

Thánh Phaolô ca tụng sự khôn ngoan vô cùng của Chúa: 'Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa. Sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được'

IV. Gợi ý giảng

1. Mỗi người chúng ta cũng là một viên đá sống động

Bài Tin Mừng hôm nay kể rằng Thánh Phêrô đã được Ðức Giêsu chọn làm tảng đá để xây dựng Hội Thánh của Ngài trên đó. Nhưng ngoài tảng đá Phêrô, Chúa còn xây dựng Hội Thánh của Ngài trên tảng đá nào khác nữa không? Ðây là một câu hỏi thú vị. Câu hỏi thú vị này lại có câu trả lời thú vị không kém, mà lại là câu trả lời của chính tảng đá Phêrô: Thưa có, mỗi kitô hữu cũng là một viên đá để xây dựng Hội Thánh. Nguyên văn câu nói của Phêrô trong thư thứ nhất của ngài là: 'Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên Ðền thờ thiêng liêng' (1 Pr 2,5)

Như thế, thánh Phêrô không dành độc quyền xây dựng Hội Thánh mà chia quyền ấy cho mọi kitô hữu. Công đồng Vaticanô II cũng nói không khác với Phêrô: mọi kitô hữu đều có sứ mạng xây dựng Hội Thánh, mỗi người trong cương vị của mình, hoàn cảnh của mình và theo khả năng của mình.

Có một bài cầu nguyện rất đặc biệt mà tôi đã đọc trong một quyển sách. Tôi không còn nhớ tựa đề quyển sách đó, cũng không nhớ tên tác giả, nhưng vẫn nhớ nội dung lời cầu nguyện ấy mặc dù không nhớ kỹ từng lời. Ðó là lời cầu nguyện của một viên gạch. Viên gạch này nằm sát chân tường. Ðôi khi nó nhìn lên những viên gạch khác và trong lòng nó chợt nảy ra những so sánh, những ước ao, và nó cầu nguyện như sau:

Lạy Chúa, con chỉ là một viên gạch tầm thường nằm sát dưới chân tường.
Con không được như viên gạch xây cửa, ở ngay tầm mắt người ta.
Con không được như viên gạch xây mặt tiền, hãnh diện nhìn người qua kẻ lại và sung sướng được người ta khen đẹp.
Con không được như viên gạch trong phòng khách, hàng ngày được người ta lau chùi đánh bóng.
Con chỉ là một viên gạch tầm thường nằm sát chân tường
.

Nhưng viên gạch ấy suy nghĩ, rồi nó cầu nguyện thêm:
Nhưng lạy Chúa, con vui vì chỗ ở của con, con vui với nhiệm vụ của con. Con mừng vì con cũng có góp phần trong ngôi nhà xinh đẹp này. Không có phần nhỏ bé và âm thầm của con thì bức tường sẽ đổ, ngôi nhà sẽ sập. Mặt tiền xinh đẹp kia không còn, cánh cửa xinh đẹp kia không còn, phòng khách xinh đẹp kia cũng không còn.

2. Xây nhà trên đá

Bài Tin Mừng về việc Chúa chọn Phêrô làm đá tảng xây dựng Hội Thánh khiến ta liên tưởng tới một đoạn Tin Mừng khác, Ðức Giêsu nói về việc xây nhà trên đá (Mt 7,24-27).

Xây nhà trên đá là gì? Thưa là biết lắng nghe Lời Chúa và nhất là sau đó đem Lời Chúa ra thi hành. Ðức Giêsu bảo người đó là người khôn. Còn kẻ nào không lắng nghe Lời Chúa và nhất là không thi hành lời Chúa thì giống như người ngu xây nhà trên cát.

Mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm xây dựng Giáo Hội, xây dựng giáo xứ, xây dựng xã hội và xây dựng gia đình. Việc xây dựng đầu tiên, làm nền tảng cho mọi cuộc xây dựng tiếp theo, chính là nỗ lực lắng nghe và sống Lời Chúa.

3. Ðừng là gánh nặng cho nhau, mà hãy là đá để thành chỗ dựa cho nhau

Trong cuộc sống chung, khi mọi việc đều êm xuôi tốt đẹp thì hòa thuận yêu thương nhau rất là dễ, hạnh phúc như đang bao bọc chung quanh mình. Nhưng khi khó khăn xảy đến thì mọi người đều buồn phiền, bực bội, gắt gỏng... Một chuyện nhỏ cũng có thể gây nên một xung đột lớn. Tại sao thế?

Thưa vì trong những lúc khó khăn như thế, người ta chỉ còn nghĩ đến nỗi khổ của mình mà không còn nghĩ đến người khác, người ta chỉ nhớ rằng người khác phải có trách nhiệm với mình mà quên rằng mình cũng có trách nhiệm với người khác.

Ai nấy cũng đã khổ rồi, sao còn vô tình làm khổ nhau thêm? Phải chi mỗi người nhớ đến trách nhiệm của mình để đến an ủi người khác, san xẻ gánh nặng của người khác, và trở thành chỗ dựa cho người khác thì tốt hơn biết mấy!

Hạnh phúc không phải do thụ động chờ mà tới. Hạnh phúc phải do con người xây dựng, người này xây dựng cho người kia, mọi người xây dựng cho nhau.

4. Chuyện minh họa

a/ Trách nhiệm âm thầm

Có một người làm công, ngày ngày đi quét lá rừng rụng xuống, gom lại một nơi rồi hốt đi. Một hôm một đoàn người lên rừng chơi, thấy người quét lá họ rất đỗi ngạc nhiên, và họ càng ngẩn ngơ khi biết rằng chính Hội đồng Thành phố đã thuê với số lương 7000 đồng một tháng.

Sau một hồi vãng cảnh, đoàn người trở về. Một số người tìm đến ông Chủ tịch Hội đồng thành phố đề nghị hủy bỏ phụ khoản chi tiêu cho việc quét lá rừng vì quá vô ích. Ông Chủ tịch cũng như Hội đồng chẳng hiểu căn do của phụ khoản kia, vì họ chỉ làm theo truyền thống, nên cuối cùng quyết định không thuê người quét lá rừng nữa.

Ngay giữa thành phố có một cái hồ rộng lớn, nước trong xanh, cây to in bóng mát, người qua lại dập dìu. Mọi người ca tụng nó là viên ngọc trai điểm trang cho thành phố. Nhưng lạ thay, một tháng sau ngày người quét lá rừng nghỉ việc, nước hồ trở nên đục ngầu bẩn thỉu, không còn thấy bóng người hóng gió ngoạn cảnh, quán xá bên bờ hồ vắng tanh... Cả thành phố trở nên buồn tẻ mà không hiểu tại đâu. Hội đồng Thành phố nhóm ngay phiên họp bất thường để tra xét hiện tượng trên. Và sau cùng họ tìm ra nguyên nhân: do người phu quét là rừng nghỉ việc nên lá rừng rụng xuống, gió đùa lá bay tứ tung trên mặt đường, rồi rơi xuống hồ nước trong xanh, gây nên tình trạng ô nhiễm...

Và ngay hôm đó họ tái dụng người phu quét lá với số lương còn cao hơn xưa. (Trích 'Phúc')

b/ Trung thành với trách nhiệm

Một ngày nọ vào năm 1780 bỗng dưng cả vùng tiểu bang Connecticut bị tối hẳn lại. Ai nấy đều cho rằng đã đến ngày tận thế. Khi đó Hội đồng lập pháp tiểu bang đang họp. Nhiều người yêu cầu hoãn cuộc họp để họ có thể về nhà cùng với gia đình chờ Chúa đến. Nhưng ông chủ tịch nói: 'Không biết hôm nay có phải là ngày tận thế hay không. Nếu không thì không cần hoãn họp. Còn nếu phải thì chúng ta càng cần chu toàn nhiệm vụ hơn nữa. Xin thắp nến lên' (Drinkwater).

V. Lời nguyện cho mọi người

CT: Anh chị em thân mến
Chúa Giêsu thiết lập Hội Thánh để tiếp tục công cuộc cứu độ của Người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1. Ðức Thánh Cha là đấng kế vị Thánh Phêrô / và thay mặt Chúa Giêsu / hướng dẫn dân Chúa trên đường lữ thứ trần gian / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa luôn gìn giữ Người khỏi mọi hiểm nguy / và giúp đỡ Người chu toàn trọng trách của mình.

2. Các Ðức Giám mục là những đấng kế vị các thánh tông đồ / là thầy dạy chân lý cho các kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa luôn soi sáng / hướng dẫn / và nâng đỡ các ngài trong đời sống mục vụ / vốn đầy dẫy những khó khăn và đau khổ.

3. Tuyên xứng đức tin phải là việc làm thường xuyên của những người tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cho các kitô hữu / luôn hiên ngang sống đức ái đã lãnh nhận / bất chấp những thử thách cam go trong cuộc sống thường ngày.

4. Bổn phận của người kitô hữu là luôn yêu mến / vâng lời / và bênh vực Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn trung thành với Hội Thánh / mến yêu hàng giáo phẩm / nhất là biết tích cực cộng tác với các ngài trong việc xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô.

CT: Lạy Chúa, theo Thánh Gioan Tông đồ, tin không phải là tuân giữ một số điều răn, nhưng là gắn bó và dấn thân theo Chúa. Xin cho tất cả chúng con biết cố gắng sống trọn vẹn niềm tin mà thánh Gioan đã nhắc nhở chúng con. Chúng con cầu xin nhờ…

VI. Trong Thánh Lễ

- Trước kinh Lạy Cha: Trong kinh Lạy Cha hôm nay, khi đọc câu 'Xin cho Nước Cha trị đến', chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết nghĩ đến trách nhiệm của mình trong việc xây dựng Nước Chúa.

VII. Giải tán

Chúng ta đã ý thức trách nhiệm của mình đối với Giáo Hội, xã hội và gia đình. Anh chị em hãy ra về và cố gắng chu toàn những trách nhiệm ấy.

Về đầu trang

TN21-A42: Ôi Thiên Chúa Nhiệm Mầu!

Phaolô Phạm Xuân Khôi

Chú giải Thánh Thư Chúa Nhật XXI Thường Niên - A (Rom 11:33-36)

“Thiên Chúa chết rồi. Thiên Chúa vẫn chết. Và chúng ta đã giết hắn!”

Đó là lời Friedrich W. Nietzsche đã tuyên bố năm 1882 trong sách Die fröhliche Wissenschaft. Chỉ:TN21-A42

Đó là lời Friedrich W. Nietzsche đã tuyên bố năm 1882 trong sách Die fröhliche Wissenschaft. Chỉ bảy năm sau đó, thay vì giết được Thiên Chúa thì Nietzsche lại mất trí và chết một năm sau đó vào ngày 25 tháng 8, năm 1900. Ông ra điên vì đã cố gắng dùng lý trí của mình để chứng minh rằng không có Thiên Chúa.

Nhiều học giả về Phật Giáo cũng đang dùng thuyết Duyên Khởi của Đức Phật để chứng minh rằng niềm tin của Kitô giáo vào Thiên Chúa là phản khoa học. Nhưng họ quên rằng trong kinh Tăng Chi Bộ (IV,77), Đức Phật Thích Ca khuyên họ không nên suy luận về bốn điều không tưởng vì những điều này vượt quá khả năng hiểu biết của con người, nếu nghĩ đến, người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Bốn điều ấy là:

  • Những người đã giác ngộ sau khi nhập Niết Bàn sẽ ra sao.
  • Thiền giới của những người nhập thiền thế nào.
  • Kết quả của Nghiệp mà mỗi người làm sẽ ra sao.
  • Nguồn gốc thế giới, vũ trụ.  Dù Thuyết Duyên Sinh chỉ dạy rằng mọi sự do Tứ Đại hợp thành, nhưng Tứ Đại do đâu mà đến thi không nên thắc mắc.

(xem Kinh Không có thể nghĩ được trong Tăng Chi Bộ, IV, 77).

Ngày nay nhiều người cũng dùng thuyết duy lý để chứng minh rằng không có Thiên Chúa và tuyên bố rằng họ chỉ tin những gì mà khoa học có thể chứng minh được. Họ quên rằng chúng ta là loài thụ tạo, bị giam hãm trong thân xác hữu hạn và một thế giới hữu hình, như những con cóc bị giam trong đáy giếng, làm sao mà hiểu được những gì ở ngoài cái giếng?

Dò sông dò biển dễ dò, đố ai lấy thước mà đo lòng người!

Lòng con người chúng ta còn chưa dò nổi nữa thì làm sao chúng ta có thể dùng lý trí mà hiểu hết các mầu nhiệm của Thiên Chúa được. Muốn hiểu biết những gì là siêu nhiên, con người cần được Thiên Chúa mạc khải chứ không thể hoàn toàn dựa vào lý trí mình được. Trong bài Tin Mừng hôm nay, không ai có thể trả lời Chúa Giêsu được căn tính của Người trừ Thánh Phêrô, bởi vì “Đấng Ngự Trên Trời” đã mặc khải cho ngài (x. Mt 16:16). Vì thế khi kết thúc chương 9-11 của thư Rôma là những chương nói về vai trò của dân Do Thái và Dân Ngoại trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Thánh Phaolô phải thốt lên: “Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa”, bởi vì ý định của Ngài quá nhiệm mầu, trí óc loài người không tài nào hiểu thấu!

Câu 33 - Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa: sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được!

Sau những suy tư dài về chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa đối với dân Israel và Dân Ngoại, Thánh Phaolô đã kết luận bằng những lời chúc tụng sự cao cả của Thiên Chúa. Suy tư của Thánh Nhân về chương trình của Thiên Chúa đã mở cõi vô biên ra trước mặt ngài cho ngài thấy một mầu nhiệm mà chính ngài cũng không hoàn toàn hiểu nổi. Ngay khi bắt đầu suy niệm về liên hệ giữa dân Israel và Dân Ngoại, Thánh Phaolô đã thú nhận rằng ngài khó mà có thể giải thích được, và kết luận rằng điều ấy vượt quá sự hiểu biết của ngài. Dù có hiểu đi nữa thì cũng không ngôn ngữ nào của loài người có thể diễn tả được, “như đã chép: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cor 2:9)

Muốn hiểu được phán quyết và đường lối của Thiên Chúa  thì  chúng ta phải “được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa" (1 Cor 2:10-11).

Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo viết:

“Thiên Chúa toàn năng không hề độc đoán: ‘Nơi Thiên Chúa, quyền năng và yếu tính, ý chí và trí tuệ, khôn ngoan và công bình là một, cho nên không có gì trong quyền năng của Thiên Chúa mà không nằm trong ý muốn chí công hay trong trí tuệ khôn ngoan của Người’" (Th. Tôma Aq. , s. th. 125, 5, ad 1) (GLCG 271).

 “Thiên Chúa vô cùng cao cả vượt trên các công trình của Người (x. Hc 43, 28): "Oai phong của Người vượt trên các tầng trời" (Tv 8, 2). "Sự cao cả của Người khôn lường" (Tv 145, 3). Nhưng vì Người là Ðấng Tạo Hóa tối cao và tự do, căn nguyên của tất cả những gì hiện hữu, Người hiện diện nơi thâm sâu nhất của loài thụ tạo: "Nơi Người chúng ta sống, chúng ta cử động và chúng ta hiện hữu"(Cv 17, 28). Theo lời Thánh Âu-tinh: "Người cao cả hơn những gì cao cả nhất trong tôi, thâm sâu hơn những gì thâm sâu nhất trong tôi" (T. Âu-tinh, Conf 3, 6, 11)” (GLCG 300).

Câu 34a - Vì chưng, nào ai biết được ý Chúa?

Ở đây Thánh Phaolô nói rằng chiều sâu của sự hiểu biết của Thiên Chúa không ai có thể dò được. Ngay cả những nhà thần học thông thái nhất cũng không thể biết được ý Chúa. Thánh Tôma Aquinô sau khi bỏ cả đời ra nghiên cứu và viết bộ sách Tổng Lược Thần Học, đã muốn đốt bộ sách này đi vì thấy nội dung quá nghèo nàn không đủ để nói về Thiên Chúa.

Sở dĩ có một số thần học gia trở nên kiêu căng vì họ tưởng rằng mình biết hết về Thiên Chúa mà không ý thức được rằng họ không thể hoàn toàn hiểu biết về Ngài. Họ coi sự hiểu biết của họ là vô ngộ và tự nhận là huấn quyền của các thần học gia (magisterium of theologians) “song song với Huấn Quyền của Đức Thánh Cha và các Giám Mục, có thể dạy đúng những điều trái ngược với những gì mà Huấn quyền theo phẩm trật dạy” (Thomas Storck, What Is the Magisterium?, Catholic Faith Magazine, July/August 2001).  Chỉ có thần học gia nào tin rằng mình biết về Thiên Chúa nhưng chưa biết cách hoàn toàn mới trở nên khiêm nhường, cởi mở và quân bình như trường hợp Thánh Phaolô và Thánh Tôma Aquinô.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa hỏi ông Gióp: “Ngươi ở đâu khi Ta đặt nền móng cho thế giới? Nếu ngươi có tri thức, thì hãy nói cho Ta! Ngươi có biết ai đã định các chiều của nó? và ai đã chăng thước dây đo nó?” (Gp 38:4-5). Ngài cho biết rằng chúng ta được khôn ngoan là nhờ hồng ân của Ngài: “Ai ban cho lòng người sự khôn ngoan? (Gp 38:36). Nhưng sự khôn ngoan của chúng ta chỉ có giới hạn: “Ai có thể dùng khôn ngoan mà đếm các tầng mây?” (Gp 38:37-38)

Trước mặt Thiên Chúa tất cả các quốc gia trên thế gian này đều là không: "Này các quốc gia như thể giọt nước bám miệng thùng, khác nào hạt cát dính bàn cân,… Mọi nước chỉ là không không trước mặt Người, Người coi chúng là hư vô trống rỗng” (Is 40:15,17).

Chỉ có những người được Thiên Chúa mặc khải cho, như các ngôn sứ và các Tông Đồ mới có thể biết về Thiên Chúa và ý định hay thông điệp của Ngài như Thánh Phêrô viết, "Thiên Chúa đã mặc khải cho các ngài biết là các ngài có phận sự truyền đạt thông điệp ấy, không phải cho chính mình, mà là cho anh em. Đó là thông điệp mà nay các người giảng Tin Mừng đã loan báo cho anh em, nhờ tác động của Thánh Thần là Đấng đã được cử đến từ trời. Chính các thiên thần cũng ước mong được tìm hiểu kỹ lưỡng thông điệp ấy” (1 Phr 1:12).

Câu 34b - Hoặc ai đã làm cố vấn cho Người?

Thánh Phaolô nói rằng sự khôn ngoan của Thiên Chúa quá sâu sắc nên Ngài không cần ai làm cố vấn hay chỉ cho Ngài phải điều khiển vũ trụ cách nào. Thiên Chúa không cần ai làm cố vấn cả vì Ngài hằng hữu và thông biết mọi sự: “Thần khí ĐỨC CHÚA, ai đo cho nổi? Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người? Người đã thỉnh ý ai để giúp Người thông hiểu, bảo cho Người biết lối công minh, dạy cho Người mở mang kiến thức, chỉ cho Người con đường trí tuệ?” (Is 40:13-14).

Nhiều người trong chúng ta khi cầu nguyện thay vì nhận mình là không trước mặt Thiên Chúa và tuân phục Thánh Ý Ngài, thì lại bắt Thiên Chúa phải làm hết điều này đến điều khác cho mình, hay trách móc Ngài tại sao lại để cho việc này việc nọ xảy ra. Hành động như thế chẳng khác gì ông Gióp khi ông thách thức Thiên Chúa tranh luận với ông như được kể trong sách Ông Gióp. Hằng loạt những câu hỏi mà Thiên Chúa đặt ra cho ông về khả năng hiểu biết có giới hạn của ông không có ý định đè bẹp ông hay hạ nhục ông, nhưng giúp ông ý thức rằng khả năng con người không thể giải thích được tất cả mọi sự, và đưa ông đến việc chấp nhận là mình không thể có câu trả lời cho tất cả mọi vấn đề. Sau cùng ông đã chịu thua và thưa: “Phải, con đã nói dù chẳng hiểu biết gì về những điều kỳ diệu vượt quá sức con” (Gp 42:3).

Tóm lại, quyền năng, trí thông minh và sự hiểu biết của loài người chỉ có giới hạn. Đó là lý do tại sao chúng ta phải mở lòng ra mà chúc tụng Thiên Chúa trong thinh lặng vì những việc kỳ diệu Ngài làm mà trong đó có những điều chúng ta không thể hiểu nổi. Chiêm niệm trong thinh lặng cho chúng ta hưởng sự hiện diện thương yêu và quan phòng của Thiên Chúa và cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa tận đáy lòng mình mà không ngôn ngữ nào có thể diễn tả nổi.

Câu 35 - Hay ai đã cho Người trước để Người sẽ trả lại sau?

Trong câu này Thánh Phaolô nói về sự sung mãn và đại lượng của Thiên Chúa.  Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn sung mãn vì ngài làm chủ tất cả, Ngài không cần ai biếu hay tặng điều gì. “Ta mà đói, Ta đâu cần nói ngươi hay, vì trái đất với mọi loài, chính Ta làm chủ” (Tv 50:12). Ngài cũng chẳng cần chúng ta thờ phượng hoặc phục vụ Ngài: “Ngài cũng không cần được bàn tay con người phục vụ, như là Ngài cần điều gì, vì chính Ngài ban cho mọi người sự sống, hơi thở và tất cả mọi sự” (Cv 17:25). Nhưng Ngài đại lương với chúng ta và ban cho chúng ta tất cả mọi sự một cách nhưng không: “Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?" (1 Cor 4:7).

Món quà quan trọng nhất là Đức Kitô. Chúa Cha đã ban Con Một của Ngài xuống thế gian chịu chết để cứu độ chúng ta vì Ngài yêu chúng ta trước. “Trong khi chúng ta còn là những người tội lỗi, thì Ðức Kitô đã chết cho chúng ta” (Rom 5:7).

Câu 36 - Vì mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người: nguyện Người được vinh quang đến muôn đời. Amen. 

Thánh Phao lô nhắc cho tất cả mọi người rằng mọi sự chúng ta có đều đến từ Thiên Chúa. Bao lâu chúng ta còn sống được là nhờ Ngài, “vì chính ‘ở trong Ngài mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu’” (Cv 17:28).

Vì “Thiên Chúa có uy quyền trên vạn vật… vì Ngài đã tác tạo nên chúng. Không có gì mà Ngài không làm được (x. Gr 32, 17; Lc 1, 37); Ngài sắp đặt công trình theo ý Ngài (x. Gr 27, 5); Ngài là Chúa cả vũ trụ, đã thiết lập trật tự cho nó, và trật tự đó luôn luôn quy phục Ngài. Ngài làm Chủ lịch sử: hướng dẫn các tâm hồn và các biến cố theo ý Ngài (x. Et 4, 17b; Cn 21, 1; Tb 13, 2). (GLCG 269).

Ý định của Thiên Chúa là “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tim 2:4), trong đó có cả dân Israel và Dân Ngoại. Vinh quang của Thiên Chúa được thể hiện đến muôn đời khi cùng đích của Ngài được thể hiện. Và:

“Cùng đích của toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa là đưa các thụ tạo vào sự kết hợp trọn vẹn với Ba Ngôi diễm phúc (Ga 17, 21-23). Nhưng ngay từ bây giờ, chúng ta được mời gọi trở nên nơi cư ngụ của Ba Ngôi Chí Thánh: ‘Chúa nói: ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở nơi người ấy’" (Ga 14, 23) (GLCG 260).

Ôi Thiên Chúa của con, con thờ lạy Ba Ngôi, xin giúp con quên hẳn mình đi để ở trong Chúa, bất động và bình an như thể hồn con đang sống trong vĩnh hằng; xin đừng để điều gì quấy phá sự bình an của con, và làm con phải ra khỏi Chúa, ôi Ðấng Bất Biến của con, nhưng xin cho mỗi phút đem con vào sâu hơn trong mầu nhiệm của Chúa! Xin cho tâm hồn con được bình an và trở thành thiên đường của Chúa, nơi cư ngụ Chúa yêu thích, nơi Chúa nghỉ ngơi. Xin cho con đừng bao giờ để Chúa một mình, nhưng luôn có mặt , trọn vẹn, tỉnh thức trong đức tin, hết lòng thờ kính, hiến dâng trọn vẹn để Chúa tác tạo (lời nguyện của chân phúc Êlisabeth Ba Ngôi).

Câu hỏi để suy nghĩ và thảo luận

  1. Có khi nào tôi nghi ngờ về sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời tôi vì tôi không có đủ hiểu biết để chứng minh niềm tin của tôi không?
  2. Tôi có thật sự tin rằng Chúa Giêsu hiện diện thật trong Bí Tích Thánh Thể và đối xử với Người cách xứng hợp khi tham dự Thánh Lễ không? Tôi đã làm gì sau khi Rước Lễ? Tôi phải làm gì khác để chứng tỏ lòng tin của tôi
  3. Mầu nhiệm của Thiên Chúa thì vô cùng sâu thẳm. Tôi có bỏ giờ ra học hỏi thêm về Thiên Chúa không? Mục đích để làm gì? Và áp dụng những điều tôi học vào đời sống như thế nào?
  4. Tôi làm sao để giải thích đức tin của tôi cho con cái tôi? cho bạn bè tôi? và cho những người đang đi tìm Thiên Chúa? đặc biệt là cho những người đang dùng lý luận để đánh đổ niềm tin của tôi?
  5. Có khi nào tôi lặng thinh chiêm ngắm những mầu nhiệm của Thiên Chúa được bày tỏ qua thiên nhiên và để cho lòng tôi được đắm chìm trong tình yêu của Ngài không?

TN21-A43: Trên Đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy

Chú Giải Tin Mừng Chúa Nhật XXI Thường Niên - A (Mt 16:13-20)

Phaolô Phạm Xuân Khôi

Tuần trước Chúa Giêsu cho chúng ta thấy đức tin mạnh mẽ của một người phụ nữ ngoại đạo. Dù bị:TN21-A43

Tuần trước Chúa Giêsu cho chúng ta thấy đức tin mạnh mẽ của một người phụ nữ ngoại đạo. Dù bị Chúa từ chối đến ba lần, bà vẫn một mực tin vào Chúa và kêu xin Người cứu giúp. Sau cùng không những Chúa đã nhận lời bà, mà còn đề cao đức tin của bà trước mặt dân Do Thái. Tuần này Chúa hỏi các môn đệ xem các ông có biết Người là ai không. Đồng thời Người cũng chấp nhận lời Thánh Phêrô tuyên xưng Người là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống.” Dựa vào lời tuyên xưng này Người cho các môn đệ biết rằng chính Đức Chúa Cha đã tỏ cho Thánh Phêrô biết điều đó và Người đã đặt Thánh Phêrô làm “Đá” mà trên đó Người sẽ xây Hội Thánh của Người cùng hứa sẽ trao Chìa Khóa Nước Trời cho ngài.

Mt 16:13 - Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Xêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Con Người là ai?"

Xêsarêa Philípphê là một thành huộc chi tộc Naphthali gần núi Libanô, trong tỉnh hạt Iturêa. Tên ngày xưa là Dan (St  14:14). Sau đó gọi là Laish (Laghít) (Tl 18:7). Tiểu vương Philípphê đã xây dựng nó thành một thị trấn lớn và đổi tên là Xêsarêa để tỏ lòng biết ơn Tibêriô Xêsarê, là hoàng đế Rôma thời đó. Ðể phân biệt với một thành phố khác cùng tên nằm bên bờ Ðịa Trung Hải, người ta gọi thành phố này là Xêsarêa Philípphê. Bây giờ thành phố này vẫn còn, nhưng rất bé.

Người ta bảo Con Người là ai?  Có một số bản lại viết rằng: “Người ta nói rằng Thầy, Con Người, là ai?”, nhưng đa số đều không có chữ Thầy. Có lẽ các nhà chép Thánh Kinh đã thêm vào đó để cho giống với Tin Mừng Marcô và Luca (Mc 8:27; Lc 9:18). Con Người ở đây ám chỉ chính Chúa Giêsu như Đấng Mêsia (Đaniel 7:13).

Mt 16:14 - Các ông thưa: "Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó"

Trong câu này các môn đệ thưa lại với Chúa về những ý kiến của người khác về Người. Hêrôđê Antipa nói rằng Người là Thánh Gioan Tẩy Giả đã sống lại (Mt 14:1-2). Còn những người khác đều tin rằng Chúa là một ngôn sứ (xem Mc 6:15; Lkc 9:8).

Mt 16:15 - Chúa Giêsu nói với các ông: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?"

Câu hỏi này Chúa đặt ra cho các môn đệ để các ông xác tín Người là ai, Người có liên hệ gì với đời sống các ông, và các ông có tin vào Người, có yêu mến Người hay không. Ngày hôm nay Chúa cũng hỏi mỗi người chúng ta: “Con nói Thầy là ai?”. Mỗi lần chúng ta rước Chúa vào lòng qua Bí Tích Thánh Thể, chúng ta có thật sự tin là chúng ta rước Chúa không, hay đó chỉ là một tấm bánh vô nghĩa?  Nếu chúng ta tin, chúng ta có ôm ấp, thờ lạy, yêu mến và tâm tình với Người không?  Hay là chúng ta chẳng màng gì đến Người, mà lo để tâm đến những chuyện khác?  Mỗi khi chúng ta chạm trán với những quyết định về luân lý, công bằng, bác ái, chúng ta có thực sự nghe theo tiếng Chúa hay chỉ nghe theo những dục vọng của mình?  Mỗi khi gặp khó khăn, chúng ta có tin và chạy đến với Chúa hay tìm sự giúp đỡ của thế gian?

Mt 16:16 - Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".

Lần này Thánh Phêrô nhanh nhảu đại diện cho các môn đệ mà trả lời Chúa. Từ đầu đến giờ chúng ta thấy Thánh Phêrô đứng đầu danh sách các Tông Ðồ, nhưng ở đây ngài trả lời trước nhất. Vì ngài xác tín rằng Chúa Giêsu là Ðức Kitô, nên đã trả lời ngay mà không do dự gì cả. Danh hiệu Ðức Kitô, hay Ðấng Ðược Xức Dầu, được dùng trong Cựu Ước để chỉ một Vua Tương Lai của Nước Do Thái, nhưng không mấy ai tuyên xưng Ðức Kitô là Con Thiên Chúa Hằng Sống. Còn Thánh Phêrô thì xác quyết điều này trong lòng, và tuyên xưng ra ở đây.

Mt 16:17 - Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.

   Thực ra phải dịch là Simon Bar-Giôna mới đúng, vì đó là cách gọi của người Do Thái có nghĩa là Simon con ông Giôna.

   Xác thịt hay máu huyết - thực ra là xác thịt và máu huyết hay huyết nhục, từ Hy Lạp là σαρξ και αιμα - thịt và máu, có nghĩa bóng là người ta, người phàm. Từ trước đến giờ, Chúa Giêsu đã giảng dạy và làm nhiều phép lạ nhưng các môn đệ vẫn chưa tin chắc rằng Người là Ðức Kitô. Câu chuyện men Pharisiêu ở chương 16 chứng tỏ điều đó. Nhưng nhờ ơn mặc khải của Chúa Cha mà Thánh Phêrô đã hiểu tin chắc rằng Người là Con Thiên Chúa.

Mt 16:18 Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được.

Ðây là lần đầu tiên Chúa Giêsu cho các môn đệ biết rằng Người sẽ lập một Hội Thánh, và đặt Thánh Phêrô làm đá tảng của Hội Thánh này. Ngay khi mới gặp ông Simon, Chúa đã đặt cho ông một tên mới là Kêpha nghĩa là Ðá, mà tiếng La Tinh dịch là Petrus và Hy Lạp là  Πετρος (Ga 1:43), với mục đích là sẽ dùng ông làm nền móng của Hội Thánh Người sau này.

Nhiều người Tin Lành không chấp nhận điều này, vì Chúa gọi Thánh Phêrô là “Πετρος”, rồi nói rằng “επ ταυτη τη πετρα οικοδομησω μου την εκκλησιαν -  Trên chính đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy. Họ lý luận rằng chữ πετραđá ở câu này là chỉ Lời Tuyên Xưng Ðức Tin của Thánh Phêrô, hay chính Ðức Kitô, chứ không phải là Thánh Phêrô, vì Chúa gọi Thánh Phêrô là Πετρος chứ không phải Πετρα. Theo văn phạm Hy Lạp thì một tảng đá lớn gọi là “πετρα” (giống cái), chứ không gọi là πετρος (giống đực). Nhưng cũng theo văn phạm thì Thánh Phêrô là giống đực nên Thánh Matthêu phải dùng Πετρος cho ngài chứ không dùng Πετρα được. Thực ra bàn cãi về văn phạm Hy Lạp ở đây là sai, vì Chúa không nói tiếng Hy Lạp, mà nói tiếng Aram. Trong tiếng Aram thì Kêpha có thể được dịch ra là πετρος hoặc πετρα. Như thế trong ở hợp này, hai chữ chỉ là một, sở dĩ phải viết khác nhau để cho đúng văn phạm Hy Lạp mà thôi. Chính học giả Tin Lành Albert Barns cũng phải công nhận là Giải thích rằng Chúa Giêsu hứa xây dựng Hội Thánh trên lời tuyên xưng của Thánh Phêrô hoặc trên chính Chúa Giêsu là những giải thích gượng ép. Ông viết thêm trong Barnes' New Testament Notes câu Mt 16:18 rằng: “Another interpretation is, that the word rock refers to Peter himself. This is the obvious meaning of the passage” - Một cách cắt nghĩa khác là chữ đá chỉ chính Thánh Phêrô. Ðây là ý nghĩa hiển nhiên của câu này. Hiểu như thế, nhưng ông vẫn không trở lại Công Giáo, vì ông còn nhiều sai lầm khác.

Các cửa địa ngục cũng có thể dịch là các cổng âm phủ. Ðây là dịch câu πυλα αδου ου κατισχυσουσιν αυτης. Chữ αδου được dịch là âm phủ, và hiểu theo nghĩa bóng là địa ngục, vì âm phủ là nơi của người chết, mà sự chết là do tội lỗi mà đến. Sự chết đây phải hiểu là sự chết thiêng liêng, nghĩa là không có ân sủng của Thiên Chúa. Vậy âm phủ được đồng hóa với địa ngục, là chỗ của những  người chết về phần linh hồn, kể cả ma quỷ. Có sách dịch là quyền lực sự chết.

Ðể hiểu rõ câu này chúng ta phải hiểu cổng thành vào thời Chúa Giêsu là gì. Các thành ở Trung Ðông ngày xưa được bao bọc bởi tường thành, trong đó các cổng thành là nơi người ta ra vào, họp chợ, hội họp, xử án,… và thường là nơi được xây dựng vững chắc và canh phòng cẩn thận nhất. Một thành có thể có nhiều cổng. Đôi khi người ta dùng chữ cổng để chỉ quân đội xông ra từ đó. Vậy Chúa Giêsu dùng cổng âm phủ để nói về những âm mưu của ma quỷ và của những người chúng quy tụ làm đồng minh với chúng để phá Hội Thánh, và cả việc ma quỷ mở toang các cổng mà dồn hết quân lực của chúng ra để tấn công Hội Thánh. Chúa hứa là dù ma quỷ có làm gì đi nữa thì Hội Thánh Người xây dựng trên Thánh Phêrô cũng không bị lay chuyển. Sứ vụ căn bản của Thánh Phêrô và các Ðức Thánh Cha và bảo vệ sự hiệp nhất trong đức tin và luân lý của Hội Thánh. Vì hiểu điều này nên trong lịch sử Hội Thánh, khi có những tranh luận về luân lý hay đức tin mà các Ðức Giám Mục không thể giải quyết được đều được trình lên Ðức Giám Mục Rôma, là Ðức Giáo Hoàng, phán quyết. Các Ðức Giám Mục tham dự Công Ðồng Chalcedon, năm 451, viết: Thánh Phêrô đã nói qua miệng (ÐGH) Lêo.... Ai tin không tin như thế sẽ bị vạ tuyệt thông.”

Mt 16:19 - Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời: sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở".

Trong câu này Chúa nói rõ là Người ban cho Thánh Phêrô chìa khóa Nước Trời. Trong Kinh Thánh chìa khóa tượng trưng cho quyền cai quản và điều hành, như Chúa ban cho Êliakim quyền điều hành nhà Ðavid (Is 22:20-22), hoặc quyền hành của Chúa Giêsu trên sự chết (Kh 1:17-18). Còn Nước Trời là Hội Thánh trần gian (Mt 3:2). Nhiều học giả Tin Lành cũng công nhận rằng Chúa ban quyền này cho Thánh Phêrô, nhưng chỉ là quyền mở cửa Nước Trời mà thôi. Họ quyên rằng trong câu này, Chúa cũng ban cho quyền tháo mở, cầm buộc nữa. Quyền tháo mở và cầm buộc gồm cả quyền tha tội mà sau này Chúa cũng ban cho các Tông Ð (Mt 18:18).

Dựa vào những câu Mt 16:17-19; Ga 1:42; 21:15-17 mà Hội Thánh trong Công Ðồng Vaticanô I long trọng tuyên bố và buộc mọi người Công Giáo phải tin ba điều này:

  1. Chúa Giêsu trực tiếp đặt Thánh Phêrô làm thủ lãnh các Tông Ð và là đầu hữu hình của Hội Thánh dưới thế, chứ không phải chỉ là một thủ lãnh danh dự.
  2. Dựa theo sự cắt đặt này của Ðức Kitô, thì những vị kế nghiệp Thánh Phêrô, là các Ðức Giáo Hoàng, cũng có quyền trên toàn thể Hội Thánh như Thánh Phêrô vậy.
  3. Ðức Giáo Hoàng, khi ngồi trên Tòa của Thánh Phêrô (ex cathedra), nghĩa là khi ngài dùng quyền chủ chiên và thầy dạy của tất cả Kitô hữu, qua quyền hành tối thượng mà các Tông Ð truyền lại cho ngài, và quyết định những tín điều liên quan đến đức tin và luân lý, và buộc Hội Thánh Hoàn Vũ phải tuân theo, thì ngài được ơn bất khả ngộ - không thể sai lầm, nhờ sự trợ giúp của Ðấng đã hứa những điều này cùng Thánh Phêrô.

Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, hầu hết các nhà lãnh đạo lạc giáo phát xuất từ Giáo Hội Ðông Phương, kể cả từ các Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople, nhưng chưa có một Ðức Giám Mục Rôma nào (tức là Ðức Giáo Hoàng, dù là những Giáo Hoàng tồi tệ, như có con ngoại hôn) đã long trọng đưa ra những giáo huấn sai lầm. Chỉ có một vi Giáo Hoàng là Ðức Giáo Hoàng Hônôriô I (623-638) bị Công Ðồng Constantinople năm 680 dưới thời Ðức Thánh Giáo Hoàng Agathô kết án là lạc giáo vì một lá thư ngài trả lời Thượng Phụ Giáo Chủ Constanstinople, là Sergiô, trong đó ngài đã không lên án một sai lầm của Sergiô. Một số người Tin Lành dựa vào sự kiện lịch sử này đ đ kích tín điều Vô Ngộ. Nhưng bức thư trả lời Sergiô của Ðức Giáo Hoàng Hônôriô không hội đ những điều kiện kể ra trong mục thứ ba trên, nên tín điều Vô Ngộ không áp dụng cho bức thư này được.

Mt 16:20 - Bấy giờ Người truyền cho các môn đ đừng nói với ai rằng Người là Đức Kitô.

Lần này Chúa đã chính thức cho các môn đ biết Người là ai, nhưng Người vẫn không muốn cho quần chúng biết, vì quan niệm sai lầm về Ðức Kitô của người Do Thái sẽ gây ra rối loạn.

Lạy Chúa, hôm nay Chúa cũng hỏi con, “Con bảo Thầy là ai?” Xin Chúa ban cho con đức tin mạnh mẽ đ xác tín rằngThầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, là “Đấng phải đến trong thế gian”. Xin cho con biết luôn phó thác vào Chúa vì biết rằng Chúa yêu con. Xin cho con biết trung thành với các giáo huấn của Hội Thánh vì tin rằng Chúa luôn giữ gìn Hội Thánh và sức quỷ Hoả Ngục cũng không lay chuyển được, đ con không hiểu biết sai lạc về các Giáo Huấn của Chúa. Amen.

Câu hỏi để suy nghĩ và thảo luận

  1. Tại sao người ta lại nghĩ rằng Chúa Giêsu là ông Gioan Tẩy Giả, ông Êlia, ông Giêrêmia hay một trong các ngôn sứ mà không phải là Ðức Kitô?
  2. Lời tuyên xưng của Thánh Phêrô có ý nghĩa gì đặc biệt? Và trong câu 17 Chúa Giêsu có ý nói gì về ơn gọi của Thánh Phêrô?
  3. Thoạt đọc câu 18, bạn có nghĩ rằng Chúa nói rõ rằng Chúa sẽ xây Hội Thánh của Người trên Ðá là Thánh Phêrô không?  Tại sao?
  4. Cổng âm phủ là gì?  Tại sao cổng âm phủ lại không thắng nổi Hội Thánh xây trên Phêrô?
  5. Trong câu 19, Chúa ban cho Thánh Phêrô quyền gì?  Chìa khóa Nước Trời là gỉ?  Thánh Phêrô có được trao quyền này lại cho người kế vị ngài là các Ðức Giáo Hoàng hay không?  Nếu được, thì việc người Công Giáo tin rằng Ðức Giáo Hoàng không sai lầm khi “long trọng dùng quyền Thánh Phêrô mà công bố những điều liên quan đến đức tin và luân lý cho Hội Thánh Hoàn Vũ” có phải là điều trái với lời Chúa không?  Tại sao?
  6. “Bất cứ sự gì” có nghĩa gì?  Có luật trừ không?  Nếu bạn nghĩ là có thì Chúa nói ở chỗ nào trong Kinh Thánh?
  7. Tại sao Chúa lại cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Ðức Kitô?  Như vậy Người có nhận Mình là Ðức Kitô không?

Về đầu trang

TN21-A44: Đá tảng thật - đá tảng dỏm

 (Chúa nhật 21 TN A Is 22,19-23; Rm 11, 33-36; Mt 16, 13-20)

Lẽ thường tình, khi mà khoa học - kỹ thuật - công nghệ phát triển thì phẩm chất cũng tăng theo:TN21-A44

Lẽ thường tình, khi mà khoa học - kỹ thuật - công nghệ phát triển thì phẩm chất cũng tăng theo nhưng hình như ngược lại. Nói không biết có quá đáng hay không nhưng hầu hết các kết qủa của công trình thời hiện đại này đều kém chất lượng. Thử nghĩ xem từ giáo dục, y tế, xây dựng… cho đến tình người với người trong cuộc sống hiện tại nó cứ làm sao đó !

Với giáo dục thì không thể nào biết được là Việt Nam có bao nhiêu cái bằng giả và bao nhiêu cái bằng thật. Và trong cái đống bằng thật có đó nhưng chắc có mấy cái có chất lượng, mấy cái đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Theo thống kê thì chỉ có 30% sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu của các công ty, các đơn vị sử dụng lao động. Vậy thì 70% những bác sĩ, kỹ sư và thậm chí là tiến sĩ, thạc sĩ sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp, sau khi cầm bằng trong tay ? Phụ huynh ngày nay không còn đơn giản là chạy cơm chạy áo nữa mà còn phải chạy trường !

Y tế thì có ai vào bệnh viện mới hay ! Chẳng hiểu sao những ai vào bệnh viện về đều chỉ xin một điều là “xin Chúa cho tôi ra đi nhanh chóng chứ đừng để tôi phải vào bệnh viện”. Hỏi lý do thì chẳng ai chịu nói cả. Chỉ có ai vào viện mới hiểu được lý do mà thôi.

Tình người với người ngày hôm nay quả là một thực trạng thật đáng buồn thật bi đát. Người ta không còn yêu nhau, đến với nhau bằng mối tình thật nữa nhưng mà bằng tình dỏm. Nó cũng giống như con chuồn chuồn vậy: khi vui thì đậu – khi buồn thì bay. Tình yêu đôi lứa, tình cảm trong gia đình cũng thế, nó nhạt nhạt, nhẽo nhẽo làm sao đó ! Có khi nhìn bề ngoài rất đẹp nhưng mà bên trong đang đứng trước bờ vực của ly tan mà người ngoài không tài nào thấy được.

Ngoài đời là thế ! Gia đình là thế ! Còn trong nhà tu thì sao ? Thật ra nhà tu ngày nay do ảnh hưởng của tục hoá tràn ngập vào bốn bức tường của tu viện để rồi tình cảm của những người đi tu, của những người dâng hiến không còn tinh tuyền, không còn đẹp như xưa nữa. Chuyện này là chuyện hết sức tế nhị và nhạy cảm, không nên nói ra. Chỉ có mỗi người tự vấn trước mặt Chúa và trước mặt lương tâm thì mới thấy mà thôi. Và cười ra nước mắt khi nói đến chuyện Chúa và lương tâm. Hình như “gần chùa gọi bụt bằng anh” hay sao đó nên ở gần Chúa nên người ta quá xem thường Chúa và coi Chúa ngang hàng ngang lứa. Nếu có Chúa thật thì tu sĩ, linh mục đâu có cư xử như thế với anh chị em cùng đi tu với mình, cùng dâng hiến với mình như thế !

Một lãnh vực hết sức gần gũi với con người đó là chuyện xây dựng. Nhan nhản các công trình bị rút ruột, bị ăn sắt, ăn thép nên chất lượng chẳng ra làm sao cả. Có những phóng sự trình chiếu trên tivi thật nực cười: cọc bê tông nhưng ở trong thay vì cốt thép người ta làm bằng tre !

Một lần đang ngồi học trong nhà dòng, cả thầy và cả trò giật bắn người khi nghe một tiếng nổ cái “đùng”. Tưởng cái gì, hoá ra là gạch dưới nền chẳng hiểu sao bỗng nhiên bị nổ tung lên hết. Mọi người đến xem, hoá ra là ở dưới nền người ta trộn hồ toàn là cát chẳng thấy xi măng đâu cả. Ngước mắt nhìn lên toà nhà tu viện được xây trước ngày “miền Nam hoàn toàn giải phóng” sao mà nó vững chải thế, sao mà nó kiên cố thế ! Lẽ ra với máy móc hiện đại, kỹ thuật tiên tiến thì phải tốt hơn ngày xưa chưa có nhiều máy móc như bây giờ chứ !

Thì ra là ngày hôm nay, người ta đánh mất cái nền tảng, cái đá tảng của căn nhà, của tâm hồn và của cuộc đời.

Trang tin mừng khá ngắn mà Thánh Matthêu vừa thuật lại cho chúng ta thấy rõ sự chọn lựa, sự cắt đặt của Chúa cho nền tảng của Giáo Hội.

Sở dĩ Giáo hội luôn bền vững và tồn tại dù trải qua không biết bao nhiêu sóng gió, bao nhiêu bão tố là vì Thiên Chúa đã biết và đã chọn đúng nền móng cho toà nhà Giáo Hội. Thiên Chúa là một chủ đầu tư thật tuyệt vời, Chúa không phải như những nhà đầu tư trần gian đã không biết “chọn mặt gửi vàng”. Chúa nhìn người và Chúa biết người, dẫu rằng một Phêrô thật mong manh và mỏng dòn, nóng tính và vồn vập nhưng Phêrô đã sống trọn vẹn niềm tin của mình vào Chúa và vẹn tròn niềm tin của Chúa đặt nơi Ngài.

Vì sao như thế ? Vì chính Thánh Phaolô trong thư của Ngài gửi tín hữu Rôma một lần nữa minh xác cho chúng ta rằng: “Sự giàu có, sự khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào ! Quyết định của Người ai dò cho thấu ! Đường lối của Người, ai theo dõi được ? Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa ? Ai đã làm cố vấn cho Người ?” (Rm 11, 33-35). Chính vì Thiên Chúa khôn ngoan và thông suốt, Ngài thấy rõ lòng của con người nên Ngài quyết định. Ngài đã ra nghị quyết nào là nghị quyết ấy thật chính xác, thật khôn ngoan chứ không phải ra rồi lại đổi. Ngài giàu lòng thương xót, chậm bất bình và giàu ân sủng. Thiên Chúa đã tin Phêrô và giao con thuyền Giáo Hội cho Phêrô. Thiên Chúa khôn và Phêrô cũng khôn. Nếu như Phêrô tự cao tự đại, tự mãn thì Phêrô không kê cuộc đời của mình vào Chúa nhưng đàng này Phêrô đã tín thác vào Chúa và để cho Chúa quan phòng cuộc đời của mình. Thật sự “đá tảng” Phêrô đã quá tuyệt vời, đã quá khôn ngoan để dựa cuộc đời mình vào cuộc đời của Chúa. “Đá tảng” Phêrô đã quá khôn ngoan để dựa vào “viên đá thợ xây loại bỏ đã trở thành đá tảng góc tường” là chính Chúa Giêsu.

Chính “viên đá thợ xây loại bỏ” mà Phêrô đặt vào là viên đá thật làm cho nền tảng Giáo hội được bình an, được vững chắc !

Nhìn lại những thực tại của xã hội, của con người chúng ta thấy đau đau làm sao đó trong cõi lòng, đau nhưng mà không nói được và có nói ra thì cũng bị người đời xỉ vả dèm pha thôi. Lý do thực tế nhất đã đưa đẩy xã hội, đưa đẩy con người, đưa đẩy người kitô hữu, đưa đẩy tu sĩ linh mục sống mất phẩm, mất chất phải chăng là đã không biết đặt cuộc đòi của mình vào tảng đá thật là chính Chúa.

Thay vì đặt vào đá tảng thật là Chúa thì con người lại đặt cuộc đời của mình vào những tảng đá như quyền lực, danh vọng, địa vị, tiền bạc … Với con người, cứ tưởng chừng đá tảng tiền bạc, địa vị, danh vọng là đá tảng thật nhưng thật ra tất cả là đá dỏm. Tin hay không tin còn ở quan niệm của mỗi người. Có ai mang được quyền lực, tiền bạc, địa vị mà bao nhiêu năm tháng đổ mồ hôi, sôi con mắt và thậm chí phải thức trắng đêm để mưu mô tính toán chiếm đoạt được của người khác xuống mộ phần chăng ?

Một câu chuyện có thật được một Cha trong Dòng kể lại sau khi đi Tây về kể lại là có an viện nọ ở bên Pháp. Chẳng hiểu sao mà du khách đến đan viện thấy cảnh trong tu viện buồn tẻ và u uất đến thế ! Thấy cảnh tượng như thế ai cũng buồn nản. Đan Viện Trưởng bắt đầu cải tổ lại đời sống trong đan viện bằng cách lấy lại đời sống thiêng liêng, đời sống đạo đức, cầu nguyện thì tình hình bắt đầu thay đổi. Từ ngày ấy các vị ẩn sĩ thay đổi đời sống, họ yêu thương nhau hơn và chính tình yêu của họ đã lan toả đến tất cả những người đến thăm đan viện.

Lý do chính để đánh mất đi cái bầu khí yêu thương hiệp nhất trong đan viện đó chính là vì các đan sĩ đã không còn bám vào Chúa nữa. Khi và chỉ khi người ta đánh mất Chúa, đánh mất đá tảng thật của mình thì mới đâm ra đố kỵ, hơn thua, tranh giành, chà đạp, nói hành nói xấu nhau. Nếu có Chúa thật ở trong mỗi đan sĩ của đan viện thì chắc có lẽ không xảy ra tình trạng bi đát trước kia.

Ngày nay đan viện ấy khá nổi tiếng với nhiều du khách khi đặt chân đến thăm viếng đan viện. Đan viện ấy không phải nổi tiếng vì sầm uất, vì hoành tráng nhưng đan viện ấy nổi tiếng vì đã có một đời sống mật thiết gắn kết với Chúa.

Là giáo dân, tu sĩ hay linh mục cũng mang trong mình cái phận người mỏng dòn, mong manh và yếu đuối như Phêrô nhưng chúng ta có biết chỗi dậy sau những lần vấp ngã, sau những lần chối Chúa như Phêrô hay không ? Chúng ta có dám thỏ thẻ với Chúa như Phêrô đã từng thỏ thẻ với Thầy: “Thầy ơi, tin con đi con yêu mến Thầy, tình con tuy phôi pha nhưng chân thành thiết tha !”.

Với Chúa, với anh chị em đồng loại cũng vậy, nếu như chúng ta sống với nhau bằng một lòng tin chân thành, một lòng tin thiết tha thì dù tình chúng ta có phôi pha đi chăng nữa nhưng cuối cùng Chúa cũng như anh chị em đồng loại sẽ tin và yêu chúng ta như Chúa vẫn tin và yêu Phêrô như vậy. Chỉ ngại chăng là chúng ta cứ theo cái thói tục của thế gian là sống không chân thành với anh chị em đồng loại đã đành mà còn không chân thành với Chúa nữa mới chết !

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt cuộc đời chúng ta vào đá thật hay đá dỏm.

Nguyện xin Thánh Phêrô giúp chúng ta biết bắt chước như Ngài là đặt cuộc đời chúng ta vào đá tảng là Thầy Chí Thánh như thánh nhân đã từng đặt.

Nguyện xin Chúa Giêsu là viên đá góc, viên đá tảng giúp mỗi người chúng ta biết đặt cuộc đời chúng ta vào đá tảng thật là Chúa.

LM Anmai, CSsR

Về đầu trang

TN21-A45: Những Phê-rô mới cho thời đại hôm nay

 (Chúa Nhật 21 thường niên A: Matthêu 16, 13-20)

Cũng như thánh Phê-rô hôm xưa, chúng ta có phúc nhận biết Thiên Chúa, một hồng phúc lớn lao: TN21-A45

Cũng như thánh Phê-rô hôm xưa, chúng ta có phúc nhận biết Thiên Chúa, một hồng phúc lớn lao.

Cũng như thánh Phê-rô xưa, chúng ta được chọn làm “viên đá” xây Hội Thánh. Vậy thì, cùng với thánh Phê-rô, chúng ta góp phần xây dựng hội thánh của mình.

Cũng như thánh Phê-rô hôm xưa, chúng ta có phúc nhận biết Thiên Chúa, một hồng phúc lớn lao.

“Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai ?" Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ."

Thế là cho đến lúc đó, chưa có ai trong dân Do-Thái nhận biết thiên tính của Chúa Giê-su.

Đức Giê-su lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?"

Si-môn Phê-rô thưa: "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống."

Một câu đáp gây kinh ngạc! Si-môn Phê-rô đã thấu được căn tính của Chúa Giê-su!

Cho đến lúc đó, chỉ có Si-môn Phê-rô là người duy nhất được đặc ân nầy. Vì thế, Chúa Giê-su ca ngợi và chúc mừng:

"Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.”

Đây quả là hồng phúc lớn lao và hệ trọng.

Hôm nay, Thiên Chúa cũng ban cho chúng ta hồng phúc không thua kém gì Phê-rô xưa.

Trong số 85 triệu người Việt Nam, chỉ có sáu triệu người công giáo, chiếm 7%. Như thế, cứ một trăm người Việt mới có được bảy người công giáo. Chúng ta may mắn được liệt vào con số ít ỏi nhưng đầy diễm phúc nầy.

Điều mà các vị đại ngôn sứ tầm cỡ như Ê-li-a, I-sa-i-a, Mô-sê… và ngay cả các nhà hiền triết, các khoa học gia tên tuổi… chưa từng được nghe, chưa được thấy, chưa từng biết, thì Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta từ lúc mới có trí khôn. Chính Chúa Giê-su cũng nhìn nhận đó là đại phúc:

"Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe”. (Mt 13, 16-17)

Sở dĩ đây là đại phúc vì hiểu biết Thiên Chúa là đầu mối đưa đến ơn cứu độ và hạnh phúc đời đời.

Hồng ân Chúa Cha ban cho chúng ta lớn lao quá đỗi đến nỗi Chúa Giê-su đã từng cất tiếng tạ ơn Thiên Chúa Cha thay cho chúng ta: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, Con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn.” (Mt 11, 25)

Cũng như thánh Phê-rô xưa, chúng ta được chọn làm “viên đá” xây Hội Thánh.

Bên cạnh hồng phúc nhận biết Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, Si-môn Phê-rô còn được phúc thứ hai là được Chúa chọn làm Đá tảng xây Hội Thánh Chúa: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”.

Hôm nay Thiên Chúa cũng ưu ái trao ban hồng phúc đó cho mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng được mời gọi đến với Chúa Giê-su, liên kết với Chúa Giê-su là “viên đá đỉnh góc” (Mt 21,42), là “viên đá sống động bị người ta loại bỏ nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá” (I Pr 2,5) để cùng nhau xây lên Đền thờ Thiên Chúa.

“Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên Đền thờ thiêng liêng” (1Pr 2,5)

Phê-rô là Đá Tảng được Chúa chọn làm nền để xây dựng Hội Thánh hoàn vũ, thì chúng ta cũng là những viên đá khác được Chúa chọn để xây dựng hội thánh nhỏ là gia đình và giáo xứ chúng ta. (Giáo Hội gọi gia đình là hội thánh tại gia)

Thế là trong cương vị người cha người mẹ, người anh chị em trong gia đình, chúng ta trở thành những Phê-rô khác, những “viên đá” khác trong hội thánh tại gia. Hội Thánh toàn cầu được kiên vững nhờ được xây dựng trên Đá tảng Phê-rô thì hội thánh tại gia có được kiên vững hay không là tuỳ vào chúng ta.

Được chọn làm Đá tảng xây dựng Hội Thánh, Phê-rô không thụ động cầu an, nhưng đã anh dũng hy sinh đời mình làm chứng cho Đức Ki-tô phục sinh và làm cho niềm tin vào Người lan toả khắp nơi trên thế giới.

Được chọn làm đá tảng như Phê-rô, chúng ta hãy làm cho gia đình chúng ta, giáo xứ chúng ta, cộng đoàn ta đang sống trở thành tập thể rực sáng niềm tin vào Chúa Giê-su.

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã ban ơn giúp sức cho thánh Phê-rô làm tròn vai trò của người trong cương vị Đá tảng Hội Thánh thì xin Chúa cũng nâng đỡ và giúp sức để chúng con chu toàn vai trò của mình trong cương vị đá tảng của hội thánh tại gia.

LM Inhaxiô Trần Ngà

Về đầu trang

TN21-A46: Đức Kitô, Ngài là ai?

Ngày hôm nay, Chúa đang hỏi chúng ta, - Con nghĩ Thầy là ai? Sống trong một xã hội, tiền:TN21-A46

Ngày hôm nay, Chúa đang hỏi chúng ta,
— Con nghĩ Thầy là ai?
Sống trong một xã hội, tiền bạc là trên hết, có tiền mới có nhà, có bồ, có xe hơi BMW, Mercedez, có, gần như rất nhiều, chúng ta rất dễ dàng quên đi sự hiện hữu của Thiên Chúa. Bởi thế, trước câu hỏi, “Con nghĩ Thầy là ai?”, có thể bạn và tôi bắt đầu gãi đầu, xoa trán, lúng túng tìm kiếm câu trả lời...


Có lẽ danh từ Kitô đã trở nên quá quen thuộc, cho nên nhiều người tín hữu đã quên mất đi ý nghĩa của danh xưng này. Kitô là chữ Việt Nam hay Kristós trong tiếng cổ Hy Lạp, hay Mýh, Mêsia, trong tiếng cổ Do Thái có nghĩa là Đấng [được] Xức Dầu. Vua Saolê và vua Đavít, hai vị vua đầu tiên của dòng lịch sử ơn cứu độ cũng có thể được gọi là KitôMêsia, bởi họ đã từng được Thiên Chúa xức dầu qua bàn tay của ngôn sứ Samuel (1Samuel 9:26-27; 10:1; 16:12-13). Cho nên, khi tuyên xưng Đức Giêsu là Đức Kitô hay Đấng Mêsia, chúng ta đang muốn nói tôi tin rằng Đức Giêsu chính là Vua [được] Xức Dầu. Bàn về danh từ thần học Kitô, câu hỏi được đặt ra trong bài tiểu luận này là, Đức Kitô, Ngài là ai?

Do Thái vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên nằm dưới ách thống trị của đế quốc La Mã. Sống trong tình trạng nô lệ, bị kìm kẹp bởi người ngoại bang, dân Do Thái cầu nguyện và chờ đợi Giavê Thiên Chúa sẽ ra tay can thiệp, gửi tới một Đấng Thiên Sai, hay là Đấng Kitô, hay là Đấng Mêsia. Đấng Thiên Sai này sẽ lãnh đạo dân chúng đánh đuổi người La Mã ra khỏi đất của sữa và mật ong-tương tự như trong thời Cựu Ước, Giavê Thiên Chúa đã từng xức dầu phong vương cho Vua Saolê và Vua Đavít, hai vị vua này đã đánh đuổi người Philistine ra khỏi đất hứa. Sau đó cả hai đã thống nhất và xây dựng nước Do Thái, biến vùng Đất Hứa trở thành một cường quốc trong vùng Trung Đông vào thế kỷ thứ 10 và thứ 9 trước Công Nguyên.

Vào một ngày kia, trong vùng đất của dân ngoại, kế cận thành Cêsarê Phêlípphê, nằm phía đông bắc của Galilê, Đức Giêsu hỏi các môn đệ một câu hỏi bất ngờ,

— Người ta nói Thầy là ai?

Các môn đệ tranh nhau nhắc lại tên của những vị ngôn sứ trong thời Cựu Ước,

— Người ta nói Thầy là Êlia.

— Có người nói Thầy là tiên tri Giêrêmia,

— Có người nói Thầy là Gioan Tẩy Giả.

Sau khi lắng nghe các môn đệ tranh nhau tường thuật lại những điều người dân đương thời đồn đại về căn tính của mình, Đức Giêsu một lần nữa lại cất tiếng hỏi,

— Vậy [riêng các con], các con nghĩ Thầy là ai?

Phêrô khẳng khái trả lời,

— Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 16:13-20).

Thật sự ra Phêrô đang tuyên xưng hai điều,

(1). Ông tin rằng Đức Giêsu chính là Đấng Xức Dầu bởi Thiên Chúa, và nhiệm vụ của Ngài là lãnh đạo dân Do Thái, đánh đuổi người La Mã, giải cứu dân chúng thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang;

(2). Điều này khá mới lạ, Phêrô tin rằng Đức Giêsu chính là Con của Thiên Chúa.

Không giống như các dân tộc lân bang thờ phượng đa thần, người Do Thái chỉ thờ phượng một Giavê Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất, “Hỡi Israel, Giavê là Thiên Chúa của chúng ta, Thiên Chúa duy nhất” (Đệ Nhị Luật 6:4). Nhưng từ cửa miệng của Phêrô, một tư tưởng thần học mới đã hé nụ, đó là, Đức Giêsu Kitô chính là Con Thiên Chúa.

Phêrô là một trong những Kitô hữu đầu tiên, theo như thánh Matthêu, đã tuyên xưng mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, đó là, Giavê Thiên Chúa có ba bản thể (essence): Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Linh. Tín điều này loài người không bao giờ hiểu được, nên được gọi là một Mầu Nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. Cho nên, sau lời tuyên xưng của Phêrô, Đức Giêsu đã cất tiếng khen ngợi người thủ lãnh của nhóm Mười Hai là ông đã được Thiên Chúa chúc lành, bởi chính Thiên Chúa đã mạc khải cho Phêrô biết mầu nhiệm của tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi. Sau đó, Đức Giêsu đổi tên Simon sang Phêrô, Kêphas, nghĩa là đá. Bắt đầu từ giây phút đó, Phêrô trở thành nền đá vững chắc trường tồn của Giáo Hội Kitô. Sau cùng, người ngư phủ Biển Hồ cũng được trao ban chìa khóa Nước Trời. Điều gì Phêrô cầm buộc, trên trời cũng sẽ cầm buộc. Điều gì Phêrô tháo cởi, trên trời cũng sẽ tháo cởi (Matt 16:19).[1]

Một vị tu sĩ kể lại, ngày kia trong khi đang dạo chơi trên những con đường tấp nập người của kinh thành Nữu Ước, ông gặp lại một người bạn cố tri từ hồi bên Việt Nam. Sau một vài câu chuyện hàn huyên tâm sự, người bạn nhìn vị tu sĩ e dè hỏi,

— Ông vẫn tin vào Thượng Đế?

Vị tu sĩ đáp,

— Vâng, tôi vẫn tin vào Thiên Chúa.

Tới phiên vị tu sĩ, ông hỏi lại người bạn,

— Còn ông thì sao, ông tin vào ai?

Người bạn móc ví, lôi ra tờ giấy 20$ đô la xanh lè, cười đáp,

— Tôi, tôi tin vào tấm hình này...

Suy Niệm
Ngày xưa, Đức Giêsu đã hỏi các người thân của mình, “Các con nghĩ Thầy là ai?”. Câu hỏi đó, ngày hôm nay, Chúa không hỏi các môn đệ của Ngài nữa, nhưng Ngài đang hỏi chúng ta,

— Con nghĩ Thầy là ai?

Sống trong một xã hội, tiền bạc là trên hết, có tiền mới có nhà, có bồ, có xe hơi BMW, Mercedez, có, gần như rất nhiều, chúng ta rất dễ dàng quên đi sự hiện hữu của Thiên Chúa. Bởi thế, trước câu hỏi, “Con nghĩ Thầy là ai?”, có thể bạn và tôi bắt đầu gãi đầu, xoa trán, lúng túng tìm kiếm câu trả lời,

— Hình như… Hình như Thầy không còn là nơi con ẩn náu! Hình như Thầy không còn phải là Đấng con kiếm tìm. Hình như Thầy không phải là Thiên Chúa của con nữa, nhưng là tiền, như người bạn của vị tu sĩ trong câu chuyện đã từng khẳng định. Ngày hôm nay, trong một cuộc sống ngập tràn những tiện nghi vật chất, Laptop mỏng dính, iPod nhẹ tênh, hình như con không còn cảm thấy nhu cầu cần phải có sự hiện hữu của Thầy trong đời sống nữa. Trong một cuộc sống siêu hành tinh, siêu liên mạng, siêu điện tử, và siêu xa lộ, Thầy, Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống đã được con hạ bệ.

Lời Nguyện
Lạy Chúa, một lần nữa, con lại xin lỗi Chúa bởi con đang lúng túng với chính con khi Chúa đang hỏi, “Con nghĩ Thầy là ai?” Xin ban lại cho con một quả tim trong sạch. Xin ban lại cho con một niềm tin quyết liệt để con không còn phải lúng túng với niềm tin, với chính con trong ngày hôm nay, ngày mai và vào ngày cuối đời khi con đang đứng trước mặt Chúa.

Chú thích
[1] Thánh Phêrô được minh họa trong tay đang cầm hai chìa khóa. Một vài người thắc mắc là tại sao Phêrô lại cầm tới hai chiếc chìa khóa trong tay? Nguyên văn trong bản tiếng Koiné, thánh sử Mátthêu sử dụng chữ klêdas, có nghĩa là những chiếc chìa khóa. Như vậy, vào ngày hôm đó, Đức Kitô đã trao cho Phêrô không phải chỉ là một chiếc chìa khóa. Bao nhiêu chìa khóa? Rất tiếc, thánh Mátthêu không nhắc đến. Nhưng, có lẽ, dựa vào chi tiết của câu nói tiếp theo sau đó, “... dưới đất con cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc, dưới đất con tháo cởi điều gì, trên Trời cũng sẽ tháo cởi... (Matt 16:19), người họa sĩ vẽ hình Phêrô nghĩ rằng Đức Kitô đã trao cho vị Giáo Hoàng tiên khởi hai chiếc chìa khóa, một chiếc chìa khóa để cầm buộc, một chiếc chìa khóa để tháo cởi.

www.nguyentrungtay.com

Nguyễn Trung Tây, SVD

Về đầu trang

TN21-A47: Cêsarêa Philippi và Giêrusalem: biểu tượng cho hai ý nghĩa khác nhau

Chúa Nhật XXI Mùa Thường Niên/A
(Mt 16,13-20)

Ðể hiểu được bài Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay một cách đầy đủ hơn, chúng ta cần phải giới thiệu:TN21-A47

Ðể hiểu được bài Tin Mừng của Chúa nhật hôm nay một cách đầy đủ hơn, chúng ta cần phải giới thiệu nơi và hoàn cảnh đã xảy ra sự việc, được trình bày trong đoạn Tin Mừng. Thánh sử Má-thêu nêu lên câu hỏi của Ðức Giêsu: «Người ta bảo Con Người là ai?» và tiếp sau đó là câu trả lời của Phêrô: "Thầy là Ðấng Messia, là Con Thiên Chúa hằng sống!», và sau cùng là lời báo trước cuộc khổ nạn: Tất cả đều xảy ra tại miền Cê-sa-ri-a Phi-lip-pi. Chính ở đây, ở dưới chân ngọn núi cao Hermon, tiểu vương Hê-rô-đê Phi-líp-pô chọn làm thủ đô cho tiểu quốc của ông, với công trình xây dựng một đền thờ nguy nga đồ sộ để thờ kính hoàng đế Cê-sa-rê Au-gust-tô quá cố. Vì thế, thành phố đó mang tên là Cê-sa-rê-a Phi-líp-pi. Ở đây có một bức tường thành bằng đá tảng vĩ đại với những khám đục sâu vào trong bức tường để các tượng thần Pan Hy-lạp, vị thần chăn chiên, bởi vì bức tường bằng đá tảng vĩ đại được dâng kính ông thần mục đồng đó. Và từ bức tường đá đó có một cái cửa hầm tự nhiên, trông tựa như một cái miệng khổng lồ phun trào ra một trong các nguồn nước mát ngọt chảy vào sông Gio-đan.

Trong bối cảnh đó của thành phố Cê-sa-rê-a Phi-líp-pi: một nơi đủ các loại thần thánh cũng như những người phàm được dân chúng tôn thờ như những vị thần

thánh, Ðức Giêsu đã nêu lên câu hỏi: «Người ta bảo Con Người là ai?» Ðối mặt với ngọn núi đá và các vị thần ngoại đạo hùng vĩ như thế, thì lời tuyên xưng của môn đồ Phêrô mang đầy tính cách thách đố của nó: «Thầy là Ðấng Messia, là Con Thiên Chúa hằng sống!» Ở đây, trong câu nói của Phêrô, chúng ta nhận ra được sự tuyên xưng đức tin kỳ cựu của Kitô giáo thời khai nguyên. Ngược lại với đại đa số các người đồng thời và đối mặt với các thần thánh và người đồng thời tin thờ, họ đã can đảm tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Ðức Chúa và Chúa Tể cả trời đất, cả khi sự tuyên xưng đó sẽ đưa đẩy họ vào cảnh tù tội và đủ mọi đau khổ khác. Ðiều đó chứng tỏ rằng đức tin vào Ðức Giêsu của các Kitô hữu tiên khởi thật vô cùng vững vàng và mạnh mẽ, khiến họ không còn sợ hãi trước bất cứ quyền lực trần thế cũng như các thần tượng ngoại giáo nào.

Ðức Giêsu đã rời bỏ miền trung bộ xứ Ga-li-lê bằng cách vượt qua biển hồ Ga-li-lê. Cùng với các môn đệ, Người đã đi về phía bắc. Ðó là vùng của những người sùng đạo và đồng thời cũng là những kháng chiến quân Zê-lốt Do-thái. Ở trong miền núi cao hiểm trở này, những người Zê-lốt đã rút vào đó ẩn lánh sự sát hại của quân Roma và để bằng an giữ vững đức tin vào Thiên Chúa Gia-vê, đồng thời cũng từ đây họ tung ra những trận đánh du kích tiêu diệt quân Roma, hy vọng giải phóng được cho đất nước. Nhìn bên ngoài, đoàn người ngày đêm theo sát Ðức Giêsu cũng rất dễ gây cho người ta có ấn tượng là họ giống những người Zê-lốt. Và có lẽ các môn đệ Ðức Giêsu cũng đã nhìn thấy nơi Sư Phụ của họ hình ảnh một vị Thiên Sai đã được sai đến để giải thoát họ ra khỏi ách nô lệ Roma. Vì thế, lời tuyên xưng: «Thầy là Ðấng Messia của Thiên Chúa» chứa đựng hai ý nghĩa. Chắc chắn rằng nhiều người - và trong đó có cả Phêrô nữa – đã coi Ðức Giêsu như là một vị lãnh tụ về chính trị. Nhưng chính Ðức Giêsu lại không hề có khuynh hướng làm chính trị để giải thoát dân ra khỏi ách nô lệ ngoại bang. Vì thế, Người đã muốn làm sáng tỏ vấn đề tuyên nhận sứ mệnh Messia của Người, hầu để tránh đi sự hiểu lầm và những mong đợi sai lạc về Người của các môn đệ cũng như của những người đương thời. Thánh sử Mát-thêu viết tiếp: «Từ lúc đó, Ðức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại» (Mt 16,21).

Sự đối đầu với các kỳ mục và các kinh sư chỉ có thể xảy ra tại thủ đô của Do-thái, tại Giê-ru-sa-lem. Và Giê-ru-sa-lem luôn luôn có một cái gì đó khác với Ga-li-lê-a và Cê-sa-rê-a Phi-líp-pi. Vào thời Ðức Giêsu:

* Giê-ru-sa-lem gồm có đền thờ và hàng ngàn người sống nhờ vào của dâng cúng và các lợi lộc của đền thờ; những người tuy phải sống dưới ách đô hộ hà khắc của ngoại bang, nhưng vẫn có chút an ủi là họ còn có phương kế sinh nhai kiếm sống.

* Giê-ru-sa-lem là nơi có nhiều các trường đào tạo của hai hệ phái Pha-ri-sêu và Sát-đu, những người tuy mang đầy tinh thần dân tộc, nhưng vẫn không dám nổi lên chống lại quân đô hộ, vì sợ hậu quả sẽ tồi tệ hơn, mạng sống họ và các tổ chức của họ sẽ lâm vào cảnh nguy hiểm có thể bị tiêu diệt. Giữa hai cái xấu, họ đành phải chọn cái ít xấu hơn!

* Tiếp đến, Giê-ru-sa-lem là nơi với lầu đài An-tô-ni-a hùng vĩ, tổng hành dinh của viên toàn quyền Phông-xi-ô Phi-la-tô, một người nổi tiếng độc ác và - để bảo vệ chiếc ghế toàn quyền của mình – y sẽ không ngần ngại sử dụng bất cứ biện pháp nào, miễn sao không để xảy các vụ lộn xộn và bất an trên toàn lãnh thổ dưới quyền y, hầu cho hoàng đế ở Roma không can thiệp vào.

Ðó là ba thành phần sống đối mặt với nhau tại Giê-ru-sa-lem. Họ luôn xa lạ và cách biệt với nhau. Họ chỉ có nhất trí với nhau trong một điểm duy nhất là không muốn có sự nổi dậy bất an trong thủ đô.

Ðối với Ðức Giêsu, Người đã ý thức được một cách rõ ràng rằng Người không thể tránh khỏi Giê-ru-sa-lem, một nơi mang tính cách quyết định sứ mệnh của Người, nếu Người vì vâng lời Chúa Cha mà muốn chu toàn sứ mệnh đó.

Thực ra, từ xưa tới nay Giê-ru-sa-lem vẫn là nơi mang tính cách quyết định. Thung lũng Gio-sa-phát, nằm giữa thành phố và núi cây dầu, đã đóng một vai trò quan trọng nơi các vị Tiên tri. Chính ở đây, Thiên Chúa sẽ xét xử các dân tộc. Ðể biết được là người ta đã thận trọng đối với vùng đất của những định đoạt này như thế nào, thì chỉ nhìn vào việc Ma-hô-mét và đoàn quân hùng hổ của ông ta sau đó mấy trăm năm khi tới thung lũng này đã phải kính cẩn xuống ngựa. Các tín đồ Hồi Giáo xác tín rằng có một dây thừng khổng lồ được giăng qua thung lũng, nối liền núi cây dầu và thành Giê-ru-sa-lem. Tất cả mọi người đều phải đi trên dây thừng đó để vào thành. Và chỉ những ai có tay sạch lòng thanh thì mới có thể vào tới thành được, thành phố của hòa bình và của sự sống! Còn tất cả những kẻ khác phải rơi xuống vực sâu.

Vì vậy, Ðức Giêsu phải vào trong thành này. Và Người cũng cảm nhận được rằng Người sẽ không thể đi tiếp đến đó mà lại không phải đối mặt với những xung đột được. Người phải chịu rất nhiều đau khổ. Và những ai muốn đồng hành với Người cũng phải chấp nhận hoàn cảnh tương tự.

Nhưng chúng ta đừng quên rằng, cũng chính ở Cê-sa-rê-a Phi-líp-pi Ðức Giêsu đã công khai gọi Phêrô, cột trụ chính của Giáo Hội, là bức tường đá. Ðối mặt với bức tường đá hùng vĩ của thần Pan thuộc dân ngoại, Ðức Giêsu đã giới thiệu Phêrô như bức tường đá vững chắc kiên cố, đến nỗi mọi quyền lực của âm phủ cũng không sao lay chuyển nổi (x. Mt 16,18). Tuy nhiên, chúng ta biết rằng Phêrô là một người yếu đuối, là một bức tường đá biết khóc. Nhưng cũng như Ðức Giêsu tiến vào Giê-ru-sa-lem không vì bất cứ sứ mệnh chính trị nào; Người chỉ muốn mang lại sư cứu rỗi cho nhân loại bằng cái chết của mình chính ở nơi đây, cũng vậy, Phêrô khi theo chân Thầy và ngay trong chính sự yếu đuối của mình, là một nhân chứng hùng hồn cho Ðức Kitô và là người mang lại niềm hy vọng cho tất cả chúng ta.

Lm Nguyễn Hữu Thy

Về đầu trang

TN21-A48: CƠ CHẾ HỮU HÌNH

 (Chúa Nhật XXI TN A)

Đã có lần người ta giật mình vì câu nói của một vị Bộ Trưởng Việt Nam tại diễn đàn Quốc Hội: “Với: TN21-A48

Đã có lần người ta giật mình vì câu nói của một vị Bộ Trưởng Việt Nam tại diễn đàn Quốc Hội: “Với cơ chế này thì ai cũng có tội cả” ( ông Đào Đình Bình ). Chuyện đời là thế. Còn chuyện nhà đạo, thì ta thỉnh thoảng có nghe câu nói: “Tôi tin Chúa, nhưng tôi không thích Hội Thánh”. Hay nói như Voltaire: “Chúa Kitô hứa ban Nước Trời, thì Hội Thánh lại đến”. Những kiểu nói như trên hầu hết đều nhắm đến Hội Thánh cơ chế hữu hình. Thật vậy, cảm giác như bị tù túng, mất tự do hay thiếu thoải mái là cám dỗ triền miên của kiếp người, một tạo vật có lý trí và tự do. Cảm giác ấy càng tăng thêm khi người ta đối diện với một hệ thống tổ chức chặt chẽ, với một hệ thống luật lệ nghiêm minh và nhất là với một đôi vị nắm quyền có cung cách hành xữ như “ ông kẹ”.

Dù thích hay không thích, dù tích cực tham gia hay hoạt động cách cực chẳng đã, thì Kitô chúng ta vẫn phải nhìn nhận hiện thực: Chúa Kitô đã thiết lập Hội Thánh. Ngoài thực thể siêu nhiên thì Hội Thánh vẫn có đó và phải có đó cơ chế hữu hình. Đã nói đến cơ chế thì không thể phủ nhận phẩm trật hay luật lệ. Đã nói đến cơ chế thì cần chấp nhận những con người cụ thể trong phận “bất thập toàn”. Thế mà Chúa Kitô như đồng hóa chính Người với Hội Thánh Người thiết lập, với cả những con người của cơ chế ấy đến nỗi Người đã từng nói: “Ai nghe anh em là nghe Thầy…Ai đón tiếp anh em là đón tiếp chính Thầy…Anh em cầm buộc điều gì thì trên trời cũng cầm buộc. Anh em tháo cởi điều gì thì trên trời cũng tháo cởi ( x.Mt 16,19 ). Chúa Kitô đã thiết lập Hội Thánh. Điều này nói lên sự hiện hữu của Hội Thánh là cần thiết như tất yếu. Là Kitô hữu ít có ai nghi ngờ sự thật này. Nhưng vấn đề đặt ra là tính hữu hình với cơ chế của Hội Thánh.

Đã là người trong thân phận có xác và hồn, có tinh thần và thể chất, có bên trong và bên ngoài…và có tính xã hội, thì cơ chế hữu hình là điều tất yếu cần thiết. Tính xác thể đòi hỏi có cái hữu hình và tính xã hội đòi hỏi có các quy chế, luật lệ. Phẩm trật, quyền bính, luật lệ…của Hội Thánh cơ chế hiện hữu là do bởi yêu cầu của đoàn dân Thiên Chúa đang còn lữ thứ. Sự tồn tại khách quan của cơ chế hữu hình có nền tảng trên các chức năng mà nó đảm nhận. Ngoài chức năng tổng quát là phục vụ, xin được đề cập một số chức năng cụ thể của các cơ chế hữu hình.

1. Chức năng chuyển giao thông tin: Hội Thánh phẩm trật, cơ chế, đặc biệt qua các Đấng bậc được trao quyền bính chính là phương thế Chúa dùng để bày tỏ thánh ý của Người. Một trong các nhiệm vụ hàng đầu mà Chúa Kitô trao cho các tông đồ là rao giảng tin mừng cho mọi người ( x. Mt 28,19-20; Lc 24,47 ). Giáo luật buộc các linh mục trong ngày Chúa Nhật và Lễ buộc, nếu không có lý do nghiêm trọng thì phải giảng Lễ ( GL 767.2 ). Cơ chế phẩm trật Hội Thánh còn là phương thế Chúa dùng để chuyển giao thông tin giữa con người với nhau và từ con người lên đến Thiên Chúa. Trong Thánh lễ, cách riêng Thánh lễ Chúa Nhật, đoàn tín hữu tụ họp không chỉ để lắng nghe Lời Chúa mà còn để lắng nghe nhau và cùng nhau dâng lên Thiên Chúa tâm tư ước nguyện của mình. Điều này được thực hiện rõ nét trong phần “kinh nguyên đại đồng”( lời nguyện giáo dân ).

2. Chức năng trung gian của sự hiệp thông: Hội Thánh hữu hình là nơi ta gặp gỡ nhau, là nơi tập thể này mở lòng với tập thể khác trong tình một Cha trên trời. Cơ chế hữu hình của Hội Thánh giúp đoàn tín hữu có điều kiện thuận lợi để thông phần sự sống Chúa ban tặng, đặc biệt qua các cử hành phụng vụ và sự sẻ chia trong đức ái. Điều này được thể hiện cách cụ thể khi ta cùng tham dự Nghi Lễ Tạ Ơn ( cử hành Thánh Thể ). Chính khi cùng chia một tấm bánh và nâng cùng một chén, chúng ta được nên một với nhau trong Đức Kitô (x. Cor 10,15-17 ).

3. Chức năng gìn giữ sự công bằng, đặc biệt bảo vệ những người yếu thế, cô thân: Các tổ chức, luật lệ có ra là nhằm nâng đỡ, gìn giữ chúng ta những lúc ta yếu đuối, buông thả. Cái cơ chế hữu hình một cách nào đó chính là dây cương giữ ta khỏi ngã bên này, nghiêng bên kia theo cám dỗ của sự xấu, của ác thần. Ngoài ra, sự hiện hữu của các luật lệ, các tổ chức là một sức mạnh bảo vệ kẻ cô thế, kém phận khỏi những bất công do cảnh cá lớn nuốt cá bé. Như thế, quy tắc luật lệ hay quyền bính hữu hình vừa đảm nhận vai trò gìn giữ sự công bằng xã hội vừa gìn giữ và đòi hỏi chúng ta mãi vươn lên và lướt thắng chính mình.

Cũng như các cơ chế hữu hình khác trong xã hội, Hội Thánh phẩm trật với quyền bính, luật lệ…hiện hữu là tất yếu theo thánh ý của Thiên Chúa, đặc biệt theo ý định minh nhiên của Đức Kitô. Hội Thánh hiện hữu là để tiếp tục công trình cứu độ của Đức Kitô cho đến tận cùng thời gian và không gian. Tuy nhiên một điều chúng ta cần chân nhận với nhau rằng không phải một sớm một chiều mà cơ cấu tổ chức hữu hình của Hội Thánh có ngay và hình thành xem ra khá hoàn bị và có vẻ cồng kềnh như hiện nay.

Nếu nhìn Hội Thánh dưới chiều kích bí tích thì chúng ta cần xác nhận Hội Thánh là một phương thế, một công cụ Chúa Kitô thiết lập, Chúa Kitô dùng để tiếp tục chương trình cứu độ của Người. Đã là phương thế, là công cụ thì không phải cho chính nó nhưng là cho mục đích cần đạt tới, đồng thời cần được chỉnh sửa và hoàn bị luôn mãi. Điều này được lịch sử minh chứng rõ nét. Cả đến cơ cấu tổ chức, quyền bính, cả đến luật lệ và cách thế vận hành của Hội Thánh hữu hình không bao giờ ở mãi một trạng thái nhất định, nghĩa là chỉ có một cách, một kiểu duy nhất không thay đổi. Tuy nhiên dù có thay đổi hay chỉnh sửa Giáo Luật, cơ cấu tổ chức, cách hành xử quyền bính, thì đều nhắm để phụng sự Chúa và phục vụ con người cách hữu hiệu hơn, để thực thi các chức năng chuyển giao thông tin, làm trung gian sự hiệp thông, bảo vệ sự công bằng…cách tốt đẹp hơn.

Chúa Kitô khẳng định chính Người xây dựng Hội Thánh. Vì thế, chúng ta vững tin vào sự cần thiết và sự trường tồn của Hội Thánh trong thời gian lữ thứ này. Thế nhưng niềm tin ấy không loại trừ bổn phận của mỗi người chúng ta trong việc góp phần hoàn thiện Hội Thánh xét về phương diện hữu hình qua cơ cấu tổ chức, quyền bính, luật lệ, thể chế. Con người và các hình thái xã hội ngày mỗi đổi thay không ngừng. Chính vì thế các mối tương quan giữa người với người, giữa tập thể này với tập thể kia cũng ngày càng đa dạng và phức tạp. Các Đức Thánh Cha gần đây đã khẳng định rằng: “con người, chính là con đường của Hội Thánh”. Lời khẳng định này đòi hỏi chúng ta không chỉ chuyên chăm cầu nguyện cho Hội thánh, cho các Đấng bậc mà còn phải tích cực góp phần cách cụ thể, cho dù là bé nhỏ. Công đồng Vatican II đã lật ngược “tòa nhà Kim tự tháp” của quan niệm xưa khi đề cao khái niệm Hội Thánh là đoàn Dân Thiên Chúa. Không phải vì thế mà tín hữu chúng ta thừa cơ tung hoành kiểu “ phép vua thua lệ làng” nhưng phải làm sao để cho chuyện “ ý dân là ý trời” được thể hiện một cách nào đó dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng đang đồng hành với Hội Thánh, Đấng đang cùng với Hội Thánh khẩn khoản nài xin Đức Kitô lại đến ( x. Kh 22,17 ).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Về đầu trang

TN21-A49: Sống đức tin

Trong câu chuyện trao đổi giữa Thầy và trò, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ: - Người ta bảo:TN21-A49

Trong câu chuyện trao đổi giữa Thầy và trò, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ:

- Người ta bảo Thầy là ai?

Các môn đệ liền đúc kết các dư luận quần chúng:

- Người thì bảo Thầy là Êlia, là Giêrêmia, là Gioan Tiền hô hay là một tiên tri nào đó.

Có lẽ lúc bấy giờ Chúa Giêsu đã nhìn các ông và đưa ra một câu hỏi cân não:

- Còn các con, các con bảo Thầy là ai?

Giữa lúc các bạn còn lúng túng, phân vân, suy nghĩ, thì Phêrô đã mạnh dạn thưa:

- Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.

Lời tuyên xưng của Phêrô thật đáng ca ngợi. Thế nhưng, nguyên một lời tuyên xưng mà thôi, thì chưa đủ để bảo đảm phẩm chất của một đức tin, bởi vì còn phải đợi xem đức tin ấy sẽ trải qua những thử thách nào và được tôi luyện trong thực tế ra làm sao? Khi tuyên xưng đức tin, hẳn Phêrô chưa thấy hết được những khó khăn sẽ gặp phải trên con đường tin sau này.

Thực vậy, khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn sắp tới của Ngài, thì Phêrô đã phản ứng một cách dữ dội, ông đã quyết liệt can ngăn Ngài. Thử thách đức tin lớn nhất Phêrô đã trải qua chính là cuộc thương khó. Tại vườn Cây Dầu, ông đã hung hăng chém đứt tai người lính để bảo vệ Thầy, nhưng rồi sau đó, ông cũng đã chạy trốn. Tiếp đến, khi bị người tớ gái nhận mặt và chất vấn, ông đã chối Thầy tới ba lần. Rồi khi được tin báo Chúa Giêsu đã sống lại, thì cũng như các tông đồ khác, Phêrô vẫn chưa chịu tin ngay.

Chỉ khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, đức tin của Phêrô mới thực sự trưởng thành và trở nên kiên vững. Lúc đó đức tin biến thành một xác tín và người tin trở thành một chứng nhân, tuyên xưng niềm tin của mình không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng việc làm, bằng chính cuộc sống của mình.

Con đường Phêrô đã đi qua cho chúng ta thấy: Từ chỗ chấp nhận chân lý đức tin đến chỗ sống đức tin của mình là cả một chặng đường dài, đầy cam go. Con đường dài này là một cuộc thử lửa, một cuộc kiểm tra chất lượng.

Như một sản phẩm, trước khi được tung ra thị trường, cần phải được đưa qua khâu kiểm tra chất lượng để đo độ bền, độ cứng, độ dẻo, sức chịu nhiệt, chịu ẩm… Cũng vậy, chất lượng đức tin của chúng ta cũng cần phải được kiểm tra. Chính cuộc sống mỗi ngày sẽ kiểm tra chất lượng và định đoạt số phận đức tin của chúng ta. Nếu chúng ta sống hợp với điều chúng ta tin, nếu trong gian nan thử thách lòng tin của chúng ta vẫn không bị nao núng, nếu vì đức tin mà dám chịu thiệt thòi… thì quả thực đức tin đó đã được tôi luyện và đã trưởng thành. Đức tin đó không chỉ còn là một thái độ của trí tuệ mà đã trở thành một nếp sống.

Ban đầu đức tin của Phêrô còn non nớt, bởi vì Phêrô mới chỉ tuyên xưng bằng lời nói. Dần dần qua những khó khăn, những thất bại, những cố gắng, những phấn đấu, đức tin đó đã lớn lên và được tuyên xưng bằng chính cuộc sống. Và đó là một sự trưởng thành cần thiết.

Hãy cầu xin cho đức tin của mỗi người chúng ta cũng lớn lên, cũng trưởng thành theo nhịp độ của cuộc sống, giữa những gian nguy thử thách chúng ta gặp phải.

Về đầu trang

TN21-A50: HỘI THÁNH CỦA CHÚA - ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt 16, 13-20

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

“Con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”.

Với lời này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh. Lời Chúa cho ta thấy những đặc tính:TN21-A50

Với lời này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh. Lời Chúa cho ta thấy những đặc tính của Hội Thánh.

Đó là một Hội Thánh cho con người.

Chúa Giêsu xây dựng Hội Thánh trên nền đá Phêrô. Phêrô vốn là một người yếu đuối. Đời ông nhiều thất bại hơn thành công, nhiều yếu đuối hơn mạnh mẽ. Đã từng ra khơi suốt đêm để sáng sớm trở về tay trắng. Đã từng chìm xuống khi muốn đi trên mặt nước. Đã từng ngủ mê khi phải canh thức với Thầy trước giờ tử nạn. Và tệ hại nhất là đã từng chối Thầy ba lần khi Thầy chịu khổ nạn. Nền tảng tượng trưng cho cả toà nhà. Nền tảng Phêrô là một con người yếu đuối cũng như cả Hội Thánh gồm những con người mỏng giòn. Những thất bại của Phêrô thường diễn ra trong bóng đêm. Đánh cả suốt đêm không được gì. Chìm xuống mặt nước lúc ban đêm. Ngủ gật trong vườn Cây Dầu khi trời tối. Chối Thầy trong bóng đêm. Đó là hình ảnh Hội Thánh còn phải lần mò đi trong đêm tối thử thách của thế giới với những yếu đuối của con người. Chúa dùng người yếu đuối để qui tụ những con người yếu đuối. Chúa sử dụng những phương tiện của con người để nâng đỡ con người.

Đó là một Hội Thánh của Thiên Chúa.

Tuy Hội Thánh dành cho con người, gồm những con người yếu đuối, nhưng đó lại là Hội Thánh của Thiên Chúa. Hội Thánh của Thiên Chúa vì chính Thiên Chúa thiết lập. Chúa Giêsu xác định đây là “Hội Thánh của Thầy”. Hội Thánh của Thiên Chúa nên sống bằng sức sống của Thiên Chúa chứ không bằng sức sống của con người. Thật vậy, Hội Thánh rất yếu đuối. Có những yếu đuối khi phải đương đầu với những khó khăn thử thách bên ngoài. Biết bao vua chúa đã muốn triệt hạ Hội Thánh khi Hội Thánh chỉ là một nhóm những người bé nhỏ nghèo hèn. Có những yếu đuối từ trong nội bộ. Biết bao lần chia rẽ, phân ly. Biết bao lỗi lầm tai hại tưởng như khiến Hội Thánh đổ nát tan tành. Nhưng Hội Thánh vẫn đứng vững với thời gian. Vì đó là Hội Thánh của Thiên Chúa.

Hiểu biết như thế, ta phải có thái độ thích hợp.

Vì Hội Thánh là chính chúng ta, những con người mỏng giòn, nên ta cần khiêm nhường. Khiêm nhường nhận biết mình yếu đuối. Khiêm nhường nhận biết Hội Thánh còn chưa thánh thiện. Khiêm nhường như thánh Phêrô suốt đời cầu xin lòng thương xót của Chúa. Khiêm nhường như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công khai lên tiếng xin lỗi về những sai sót của Hội Thánh. Ta không chỉ khiêm nhường khi đấm ngực chuẩn bị dâng thánh lễ, mà còn phải khiêm nhường trong đời sống hằng ngày.

Vì Hội Thánh là cho con người nên ta cần có thái độ cảm thông. Biết mình yếu đuối, tôi sẽ dễ cảm thông với những yếu đuối của anh em. Cảm thông không phải để mặc anh em chìm xuống, những để giúp anh em vượt lên. Như lời Chúa dạy Phêrô: “Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22, 32)

Vì Hội Thánh là của Chúa nên ta phải hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Biết mình u mê, ta sẽ phó thác cho Chúa hướng dẫn cuộc đời. Biết mình yếu đuối, ta sẽ không còn cậy dựa vào sức riêng, nhưng hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, làm việc bằng sức mạnh của Chúa. Như thánh Phêrô giảng đạo trong ngày lễ Ngũ Tuần nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn.

Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh. Phêrô là Đá Tảng nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng vững bền. Phêrô giữ chìa khóa nhưng chính Chúa gìn giữ tòa nhà.

Lạy Chúa, xin thánh hoá Hội Thánh Chúa. Amen.

Về đầu trang

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây